Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

    Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

    Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-L%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-C%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-D%C6%B0%E1%BB%A3c-H%E1%BA%ADu-Giang.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang

     

    1      PHẦN GIỚI THIỆU

    1.   LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nâng cao lợi nhuận là mục tiêu kinh tế hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Bởi trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi mặt của doanh nghiệp như đảm bảo tình hình tài chính vững chắc, tạo điều kiện nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, tăng tích luỹ đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Ngoài vai trò đối với doanh nghiệp lợi nhận còn là nguồn tích luỹ cơ bản, là nguồn để mở rộng tái sản xuất xã hội. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải hạch toán lợi nhuận (hoặc lỗ) rồi từ đó nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Sự tham gia đóng góp này của các doanh nghiệp được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp đã nộp. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sự điều tiết của nhà nước đối với lợi nhuận thu được của các đơn vị sản xuất kinh doanh, để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động viên một phần lợi nhuận của cơ sở kinh doanh cho ngân sách nhà nước, bảo đảm sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người lao động.

    Công Ty Cổ Phần Dược Hậu Giang (HG.PHARM) có quá trình hình thành và phát triển trên 30 năm, với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất – kinh doanh dược phẩm, các loại trà thảo dược thiên nhiên, xuất nhập khẩu trực tiếp thuốc và các nguyên liệu sản xuất thuốc, trang thiết bị y tế… Sản phẩm của DHG được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam Chất Lượng cao trong nhiều năm liền. DHG đã được công nhận là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành công nghiệp dược Việt Nam.

    Qua nhiều năm hoạt động DHG đạt được nhiều hiệu quả, được biểu hiện qua lợi nhuận của doanh nghiêp hằng năm. Vì đối với doanh nghiệp mục tiêu lợi nhuận luôn quan trọng, mức lợi nhuận cao là cần thiết cho việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo đời sống cho người lao động cũng như khuyến khích họ tận tụy với công việc. Qua đó cũng tạo được uy tín và lấy được lòng tin với khách hàng. Nhưng trong điều kiện nền kinh tế của nước ta hiện nay, bên cạnh những cơ hội và thuận lợi mới  được mở ra thì cũng tồn tại song song đó là những thách thức và khó khăn đang phải đối diện. Chính vì vậy, nhóm chúng em chọn đề tài “Phân tích tình hình Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang” làm chuyên đề môn Phân tích hoạt động kinh doanh. Từ đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm gia tăng  lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2.   MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

    2.1    Mục tiêu chung

    Phân tích tình hình lợi nhuận của công ty Cổ Phần DHG và đề ra những giải pháp thích hợp nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2.2    Mục tiêu cụ thể

    • Đánh giá chung tình hình lợi nhuận của công ty qua 2 năm 2008 -2009.
    • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận từ đó đề ra các giải pháp gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    3.   PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    3.1    Phương pháp thu thập số liệu

    Thông tin về doanh nghiệp và số liệu dùng để phân tích chủ yếu lấy từ Website của công ty cổ phần DHG qua các báo cáo tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty hằng năm.

    Ngoài ra nhóm còn nghiên cứu, tham khảo thêm sách, báo, tạp chí, Website chuyên ngành, các luận văn mẫu để hỗ trợ cho việc phân tích, nghiên cứu và đánh giá.

    3.2    Phương pháp phân tích số liệu

    Nhóm sử dụng 2 phương pháp chính:

    • Phương pháp so sánh: Lợi nhuận thực hiện năm 2009 so với lợi nhuận năm 2008 để xem xét tốc độ tăng trưởng tình hình lợi nhuận,
    • Phương pháp gián tiếp (xác định lợi nhuận qua các bước trung gian): để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận (được trình bày ở phần nội dung – 2).

    4.   PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    4.1    Phạm vi nghiên cứu

    • Không gian: trường Đại học Cần Thơ.
    • Thời gian: đề tài thực hiện nghiên cứu số liệu trong 2 năm 2008 và 2009, thời gian nghiên cứu từ tháng 02 đến 03 năm 2010.

    4.1    Đối tượng nghiên cứu

    Tình hình lợi nhuận  của DHG.

    2      PHẦN NỘI DUNG

    4.1  GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

    2..1           Lịch sử hình thành và phát triển

    • Lịch sử hình thành

    Thành lập ngày 2/9/1974: Doanh nghiệp Nhà nước;

    Tháng 11/1975 chuyển thành Cty Dược phẩm Tây Cửu Long;

    Năm 1976 Cty Dược phẩm Tây Cửu Long đổi tên thành Cty Dược thuộc Ty Y tế tỉnh Hậu Giang;

    Từ năm 1976 – 1979: Cty Dược thuộc Ty Y tế tỉnh Hậu Giang tách thành 03 đơn vị độc lập: Xí nghiệp Dược phẩm 2/9, Cty Dược phẩm và Công ty Dược liệu;

    Ngày 19/9/1979, 3 đơn vị trên hợp nhất thành Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang;

    Năm 1996 đơn vị được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao động thời kỳ đổi mới (1991-1995);

    Năm 1997: năm đầu tiên DHG được người tiêu dùng bình chọn HVNCLC liên tục cho đến nay (12 năm liền);

    Năm 2002: nhận chứng chỉ ISO 9001:2000, nhà máy được công nhận tiêu chuẩn ASEAN-GMP/GLP/GSP, Phòng kiểm nghiệm được công nhận tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2001;

    Ngày 2/9/2004: Cổ phần hóa, vốn điều lệ ban đầu 80 tỷ đồng – Nhà nước giữ 51%;

    Năm 2004 năm đầu tiên DHG thực hiện mục tiêu doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp dược Việt Nam;

    Năm 2005 Doanh nghiệp đầu tiên thử tương đương lâm sàng 2 sản phẩm thuốc bột Haginat và Klamentin tại Viện Nhi Trung Ương;

    Năm 2006 đứng trong Top 100 Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam;

    Năm 2006 nhà máy được công nhận tiêu chuẩn WHO-GMP/GLP/GSP;

    Cổ phiếu Công ty cổ phần Dược Hậu Giang (mã DHG) trong phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 21/12/2006 đã đạt mức giá 320.000 đồng, gấp 32 lần mệnh giá, trở thành một blue-chip (top những cổ phiếu đắt giá nhất thị trường).

    • Quá trình phát triển

    Từ năm 1988 khi nền kinh tế cả nước chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty vẫn còn hoạt động trong những điều kiện khó khăn: máy móc thiết bị lạc hậu, công suất thấp, sản xuất không ổn định, áp lực giải quyết việc làm gay gắt, …. Tổng vốn kinh doanh năm 1988 là 895 triệu đồng, Công ty chưa có khả năng tích lũy, tái sản xuất mở rộng. Doanh số bán năm 1988 đạt 12.339 triệu đồng, trong đó giá trị sản phẩm do Công ty sản xuất chỉ đạt 3.181 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 25,8% trong tổng doanh thu).

    Trước tình hình này, Ban lãnh đạo DHG đă thay đổi chiến lược: “giữ vững hệ thống phân phối, đầu tư phát triển mạnh cho sản xuất, mở rộng thị trường, tăng thị phần, lấy thương hiệu và năng lực sản xuất làm nền tảng”.

    Kết quả  của việc định hướng lại chiến lược kinh doanh đó là nhiều năm liên tiếp Công ty đạt mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển sản phẩm, tăng thị phần, tăng khách hàng, nâng cao thu nhập người lao động, đóng góp ngày càng cao vào ngân sách Nhà nước.

    Qua hơn 32 năm hình thành và phát triển, hiện nay, DHG được công nhận là doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp Dược Việt Nam. Sản phẩm của Công ty trong 11 năm liền (từ năm 1996 – 2006) được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” và đứng trong “Top 05 ngành hàng dược phẩm”. Thương hiệu “Dược Hậu Giang” được người tiêu dùng bình chọn trong “Top 100 Thương hiệu dẫn đầu Việt Nam” trong 02 năm liền (2005 – 2006) do Báo Sài G̣òn Tiếp thị tổ chức, “Top 10 Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam” do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức, đoạt giải “Quả cầu vàng 2006” do Trung tâm phát triển tài năng – Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức và cũng là “Thương hiệu được yêu thích” thông qua bình chọn trên trang web www.thuonghieuviet.com cùng với những giải thưởng khác về thương hiệu.

    Hệ thống quản lý chất lượng được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Nhà máy đạt các tiêu  chuẩn: WHO GMP/GLP/GSP. Pḥòng Kiểm nghiệm được công nhận phù hợp với tiêu chuẩn ISO/IEC 17025. Đây là những yếu tố cần thiết giúp DHG vững bước trên con đường hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

    2..2           Các sản phẩm, dịch vụ và ngành nghề kinh doanh chủ yếu

    Sản xuất kinh doanh dược; Xuất khẩu: dược liệu. dược phẩm theo qui định của Bộ Y tế; Nhập khẩu: thiết bị sản xuất thuốc, dược liệu, dược phẩm theo qui định của Bộ Y tế; Sản xuất kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm chế biến. In bao bì; Dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ; Gia công, lắp đặt, sửa chữa điện, điện lạnh; Nhập khẩu trực tiếp trang thiết bị y tế; Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị sản xuất thuốc tự chế tạo tại Công ty; Dịch vụ du lịch và vận chuyển lữ hành nội địa; Kinh doanh bất động sản. Sản xuất, Kinh doanh, xuất khẩu các mặt hàng thực phẩm chức năng, mỹ phẩm; Kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên liệu thuốc thú y, thức ăn gia súc, gia cầm và thủy hải sản; Kinh doanh, xuất nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu dùng làm thuốc cho người. Nhập khẩu thành phẩm dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng.

     

    2..3           Sơ đồ tổ chức và quản lý của Dược Hậu Giang

     

    4.1  PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

    Bảng 1. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY QUA 2 NĂM THỰC HIỆN 2008- 2009

    Đơn vị tính: đồng

    STT Chỉ tiêu Năm Chênh lệch
    2008 2009 Tuyệt đối %
    1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.518.436.877.452 1.769.376.517 251.255.499.065 16,55
    2 Các khoản khấu trừ 32.973.054.953 24.322.485.821 (8.650.132) -26,24
    3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.485.463.822.499 1.745.369.890.696 259.906.068.197 17,50
    4 Giá vốn hàng bán 694.444.594.610 818.625.724.207 124.181.129.597 17,88
    5 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 791.019.227.889 926.744.166.489 135.724.938.600 17,16
    6 Doanh thu hoạt động tài chính 22.329.305.076 32.813.088.553 10.483.783.477 46,95
    7 Chi phí tài chính 38.495.242.865 23.744.201.219 (14.751.041.646) -38,32
    8 Chi phí bán hàng 521.504.942.048 410.400.779.740 (111.104.162.308) -21,30
    9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 103.918.190.916 115.752.271.846 11.834.080.930 11,39
    10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 149.430.157.136 409.660.002.237 260.229.845.101 174,15
    11 Thu nhập khác 1.530.843.862 13.831.277.305 12.300.433.443 803,51
    12 Chi phí khác 6.077.378.067 11.843.438.660 5.766.060.593 94,88
    13 Lợi nhuận khác (4.546.534.205) 1.987.838.645 6.534.372.850 143,72
    14 Phần lãi, lỗ trong liên doanh, liên kết 141.77.333 (95.272.636) (237.044.969) -167,20
    15 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 145.025.395.264 411.552.568.246 266.527.172.982 183,78
    16 Thuế thu nhập doanh nghiệp 15.030.801.641 40.000.330.965 24.969.529.324 166,12
    17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 129.994.593.623 371.552.237.281 241.557.643.658 185,82

    (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh DHG 2009)

    2..4           Đánh giá tình hình lợi nhuận chung

    Phân tích chung tình hình lợi nhuận giúp chúng ta đánh giá được sự biến động của lợi nhuận năm nay so với năm trước của công ty nhằm thấy được khái quát tình hình lợi nhuận và biết được mức đóng góp của các lợi nhuận thành phần như thế nào.

    Bảng 2. TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY QUA 2 NĂM

    Đơn vị tính : đồng

    Chỉ tiêu Năm Chênh lệch
    2008 2009 Tuyệt đối %
    Tổng doanh thu 1.542.438.798.723 1.816.241.469.739 273.802.671.016 17,75
    Tổng chi phí 1.397.413.403.459 1.404.688.901.493 7.275.498.034 0,52
    Lợi nhuận trước thuế 145.025.395.264 411.552.568.246 266.527.172.982 183,78

    ( Nguồn : tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của DHG)

    Thuế thu nhập doanh nghiệp là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng do thuế là khoản đóng góp bắt buộc và cố định theo luật quy định nên thuế không nằm trong phạm vi điều chỉnh chủ quan cho lợi nhuận của doanh nghiệp, do đó trong bài phân tích này chúng tôi chỉ phân tích đến lợi nhuận trước thuế của công ty.

    Lợi nhuận trước trước thuế = doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ – các khoản giảm trừ – giá vốn hàng bán – chi phí bán hàng – chi phí quảnlí  lãi (lỗ) hoạt động tài chính   lãi (lỗ) hoạt động khác .

    Dựa vào bảng 1 và bảng 2, ta thấy lợi nhuận trước thuế của công ty qua 2 năm đều dương. Lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2009 là 411.552.568.246 đồng tăng 266.527.172.982 đồng (tức tăng 183,78%) khá cao so với năm 2008. Nguyên nhân là do doanh thu năm 2009 tăng 273.802.671.016 đồng (tức tăng 17,75%) so với năm 2008, chi phí năm 2009 cũng tăng 7.275.498.034 đồng (tức 0,52%) nhưng  không đáng kể so với năm 2008. Vì tốc độ tăng của chi phí thấp hơn của doanh thu  nên cho lợi nhuận trước thuế năm 2009 tăng khá nhiều so với năm 2008. Một nguyên nhân khác là lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong lợi nhuận trước thuế của công ty năm 2009 lại tăng cao (17,6%) so với năm 2008.

    2..5           Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

    Do hạn chế về thời gian, năng lực cũng như đặc thù kinh doanh của công ty nên nhóm tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty theo phương pháp gián tiếp. Phương pháp này căn cứ trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất của công ty năm 2009.

    Giải thích cách tính bảng 1: Phương pháp gián tiếp

    Chúng ta xác định lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách tiến hành tính dần lợi nhuận của doanh nghiệp qua từng khâu trung gian. Để xác định được kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận ròng của doanh nghiệp chúng ta cần tính lần lượt các chỉ tiêu sau:

    1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
    2. Các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu)
    3. Doanh thu thuần về bán hàng (= 1 – 2 )
    4. Trị giá vốn hàng bán
    5. Lợi nhuận gộp về hoạt động kinh doanh (= 3 – 4)
    6. Doanh thu hoạt động tài chính
    7. Chi phí tài chính
    8. Chi phí bán hàng
    9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
    10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh (=5 + 6 – 7 – 8 – 9)
    11. Thu nhập khác
    12. Chi phí khác
    13. Lợi nhuận khác (=11 – 12 )
    14. Phần lãi hoặc lỗ trong công ty liên kết, liên doanh
    15. Lợi nhuận kế toán trước thuế (=10 + 13 + 14)
    16. Thuế thu nhập doanh nghiệp
    17. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (=15 – 16 )

    Cách tính này cho phép người quản lý nắm được quá trình hình thành lợi nhuận và tác động của từng khâu hoạt động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đó là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận ròng). Phương pháp này giúp chúng  ta có thể lập Báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên, nhờ đó chúng ta dễ dàng phân tích và so sánh được kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ trước so với kỳ này. Mặt khác chúng ta có thể thấy được sự tác động của từng khâu hoạt động tới sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó sẽ giúp chúng ta tìm ra những giải pháp điều chỉnh thích hợp góp phần nâng cao lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Bảng 3. TỔNG HỢP CÁC LOẠI DOANH THU QUA 2 NĂM 2008 – 2009

    Đơn vị tính : đồng

    STT Chỉ tiêu Năm % Đóng góp của mỗi chỉ tiêu vào tổng doanh thu
    2008 2009 Năm 2008 Năm 2009
    1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1.518.436.877.452 1.769.692.376.517 98.44 97.43
    2 Doanh thu hoạt động tài chính 22.329.305.076 32.813.088.553 1.44 1.80
    3 Thu nhập khác 1.530.843.862 13.831.277.305 0.099 0.76
    4 Phần lãi hoặc lỗ trong công ty liên kết, liên doanh 141.772.333 (95.272.636) 0.009 (0.0052)
    5 TỔNG DOANH THU 1.542.438.798.723 1.816.241.469.739    

    (Nguồn : tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của DHG)

    Để có thể thấy rõ hơn các chỉ tiêu tạo nên tổng doanh thu của công ty. Ta tiến hành phân tích phần trăm đóng góp của mỗi chỉ tiêu vào tổng doanh thu, từ đó có thể đề xuất các giải pháp làm tăng doanh thu cũng như đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tổng doanh thu từ các doanh thu thành phần. Theo bảng 3, trong hai năm 2008 và 2009 thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đều chiếm tỷ trọng lớn lần lượt là 98.44% và 97.43%. Kế đến là doanh thu từ các hoạt động tài chính, thu nhập từ các hoạt động khác và khoản thu do liên kết, liên doanh. Dựa vào kết quả này thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là nguồn thu nhập chủ yếu của công ty, do đó cần có các khoản đầu tư nhiều hơn cho hoạt động này, như nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, mở rộng kênh phân phối, và thực hiện các chiến lược marketing hiệu quả để tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Tuy doanh thu từ các hoạt động tài chính chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu doanh thu nhưng so sánh mức tăng trưởng ta thấy doanh thu từ hoạt động này tăng 46.95% (xem bảng 1). Điều này cho thấy các hoạt động đầu tư tài chính của công ty ngày càng có hiệu quả, cho nên đây cũng là một thế mạnh mà công ty cần đầu tư thêm để tăng doanh thu cho công ty. Đối với các loại thu nhập khác, qua tình hình hoạt động hai năm vần chiếm tỷ trọng rất nhỏ, do đó công ty không nên đầu tư nhiều trong các hoạt động này. Còn riêng các hoạt động liên kết, liên doanh trong năm 2008 chỉ đóng góp được 0.009% vào tổng doanh thu và đến năm 2009 thì hoạt động này không những không làm tăng mà còn làm giảm tổng mức doanh thu. Do đó, công ty cần thận trọng hơn trong các hoạt động đầu tư liên kết, liên doanh, cần có những nghiên cứu kỹ trước khi thực hiện các dạng đầu tư này.

    Tương tự như tổng mức doanh thu, tổng chi phí của công ty cũng bao gồm nhiều chi phí thành phần mà ta cần phân tích để thấy rõ ảnh hưởng của các chi phí này đến tình hình lợi nhuận của công ty.

    Đơn vị tính: đồng

    Bảng 4. TỔNG HỢP CÁC CHI PHÍ QUA 2 NĂM 2008 – 2009

    STT Chỉ tiêu Năm % Đóng góp của mỗi chỉ tiêu vào tổng chi phí
    2008 2009 Năm 2008 Năm 2009
    1 Các khoản giảm trừ 32.973.054.953 24.322.485.821 2.35 1.73
    2 Giá vốn hàng bán 694.444.594.610 818.625.724.207 49.69 58.27
    3 Chi phí tài chính 38.495.242.865 23.744.201.219 2.75 1.69
    4 Chi phí bán hàng 521.504.942.048 410.400.779.740 37.31 29.21
    5 Chi phí quản lý doanh nghiệp 103.918.190.916 115.752.271.846 7.43 8.24
    6 Chi phí khác 6.077.378.067 11.843.438.660 0.43 0.84
    7 TỔNG CHI PHÍ 1.397.413.403.459 1.404.688.901.493    

    (Nguồn : tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 của DHG)

    Dựa vào bảng trên thì giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của công ty. So với năm 2008 thì chi phí này tăng 17.88% ở năm 2009 (Bảng 1). Trong khi đó doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ của năm 2009 so với năm 2008 chỉ tăng 16.55%, nhỏ hơn tốc độ tăng của chi phí giá vốn hàng bán. Do đó công ty cần xem xét lại mức chi phí chiếm tỷ trọng lớn này để có biện pháp cải thiện tình hình lợi nhuận. Loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong tổng chi phí đó là chi phí bán hàng. Mặc dù số lượng hàng hóa dịch vụ năm 2009 tăng so với năm 2008 (thuyết minh báo cáo tài chính năm 2009), nhưng chi phí bán hàng năm 2009 lại giảm 111.104.162.308 đồng (tức giảm 21.3%) so với năm 2008. Điều này cho thấy một tín hiệu tốt trong việc quản lý chi phí bán hàng của công ty, góp phần lớn trong việc làm giảm tổng mức chi phí và tăng mức lợi nhuận. Do đó, công ty cần có những kế hoạch rút kinh nghiệm và phát huy thế mạnh quản lý chi phí bán hàng trong thời gian tới. Ngoài hai chi phí chiếm tỷ trọng lớn nêu trên, thì chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là chỉ tiêu quan trọng mà công ty cần quan tâm. Vì nó là một chi phí bắt buộc đối với bất kỳ một công ty nào, bên cạnh đó chi phí này cũng có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng điều hành, lãnh đạo của công ty. So với năm 2008 thì ở năm 2009 chi phí này tăng 11.39% và là một trong ba loại chi phí có tốc độ tăng cao (Bảng 1). Mặc dù trong chiến lược phát triển tổng thể của công ty thì cũng có những giai đoạn chúng ta phải đầu tư mạnh cho chi phí này để phát triển và hoàn thiện tổ chức, tuy nhiên đây là chi phí chiếm tỷ trọng khá cao (chỉ sau giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng) do đó công ty cũng cần có những nghiên cứu trong việc sử dụng chi phí này sao cho hợp lý.

    2..6           Phân tích các chỉ tiêu tỷ số lợi nhuận

    Tỷ suất lợi nhuận (doanh lợi) chính là các chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp, các chỉ tiêu này luôn luôn được các nhà quản trị tài chính quan tâm, bởi chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả  hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định. Tỷ suất lợi nhuận là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và còn là một luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai.

     

    Bảng 5: KẾT QUẢ CHỈ TIÊU TỶ SUẤT LỢI NHUẬN

      Năm Chênh lệch
    2008

     

     

    (%)

    2009

     

     

    (%)

    Lợi nhuận trên doanh thu thuần 9.76 23.58 13,83
    Lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân 14,00 31,51 17,51
    Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân 21,74 47,78 26,04

    (Nguồn: Tính từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và cân đối kế toán của DHG 2009)

    2.3.1                      Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần

    Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đồng doanh thu mà Công ty thực hiện kinh doanh trong kỳ có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Theo bảng 5 ta có: tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần của năm 2009 tăng so với năm 2008 là 13,83 đồng (tức là cứ 100 đồng doanh thu thuần của năm 2009 sẽ có 13,83 đồng lợi nhuận tăng thêm so với 100 đồng doanh thu thu được năm 2008). Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của công ty hiệu quả.

    2.3.2                      Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân

    Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng tài sản bình quân. Chỉ tiêu này dùng để đo tỷ suất sinh lời của tài sản. Theo bảng 5, ta có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân năm 2009 tăng 17,51 đồng so với năm 2008. Cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản có xu hướng ngày càng tăng, việc quản lý và sử dụng tài sản của công ty có hiệu quả.

    2.3.3                      Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

    Mục tiêu hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là tạo ra lợi nhuận ròng lớn. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (hay còn gọi là doanh lợi vốn chủ sở hữu) là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện của mục tiêu này. Qua hai năm ta thấy tỷ suất này có xu hướng tăng, cụ thể năm 2009 tăng 26,04 đồng so với năm 2008. Tỷ số này đánh giá được khả năng sử dụng được nguồn vốn chủ sở hữu hiệu quả của công ty, đây là thế mạnh cần phát huy trong tương lai.

    Qua phân tích tình hình lợi nhuận chung, các nhân tố ảnh hưởng và các tỷ số tài chính phản ánh tình hình lợi nhuận. Chúng tôi nhận thấy, tình hình lợi nhuận của công ty DHG qua hai năm 2008 và 2009 có chuyển biến tốt. Về tổng thể, tình hình lợi nhuận có xu hướng tăng qua hai năm (tốc độ tăng doanh thu tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí), một số chỉ tiêu doanh thu có tốc độ tăng nhanh (doanh thu do liên doanh, các hoạt động tài chính, doanh thu từ các hoạt động khác), bên cạnh đó thì một số chỉ tiêu về chi phí lại có xu hướng giảm mạnh (chi phí tài chính, chi phí bán hàng) càng làm cho mức lợi nhuận của công ty tăng cao. Ngoài ra, thông qua các tỷ số lợi nhuận, ta thấy được rằng tình hình sử dụng các nguồn lực của công ty ngày càng hiệu quả hơn, đây là những ưu điểm  mà công ty cần phát huy để cải thiện và nâng cao mức lợi nhuận. Tuy nhiên, qua phân tích tình hình lợi nhuận của công ty, chúng tôi nhận thấy vẫn tồn tại những yếu tố ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận (phần lãi lỗ trong các công ty liên kết liên doanh, các khoản giảm trừ, giá vốn hàng bán,chi phí quản lý doanh nghiệp) mà công ty cần nghiên cứu thêm để có những hướng giải quyết nhằm làm tăng lợi nhuận của công ty trong tương lai.

    4.1  GIẢI PHÁP

    3.1    Chi phí giá vốn hàng bán

    Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên làm cho tình hình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của công ty gặp không ít khó khăn. Một trong những khó khăn đó đòi hỏi công ty phải giảm giá bán hàng hóa dịch vụ để kích thích tiêu dùng. Đây là nguyên nhân chính làm giảm tốc độ tăng trưởng của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Trong khi đó chi phí giá vốn hàng bán ngày càng tăng cao, làm ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận. Do đó, trong dài hạn công ty cần có những biện pháp làm giảm giá vốn hàng bán để thích ứng tốt hơn trong điều kiện nền kinh tế hiện nay. Nhóm chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau:

    • Giảm chi phí nguyên vật liệu đầu vào. Nguyên, nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, thường vào khoảng 60% đến 70%. Bởi vậy, phấn đấu tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảm giá vốn hàng bán. Muốn tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao công ty phải xây dựng định mức tiêu hao tiên tiến và thực hiện theo kế hoạch đã đề ra để khống chế sản lượng tiêu hao, cải tiến kỹ thuật sản xuất và thiết kế sản phẩm nhằm giảm bớt số lượng tiêu hao cho mỗi đơn vị sản phẩm, sử dụng vật liệu thay thế và tận dụng phế liệu phế phẩm, cải tiến công tác thu mua, công tác bảo quản để vừa giảm tối đa nguyên vật liệu hư hỏng kém phẩm chất vừa giảm được chi phí mua nguyên vật liệu. Bên cạnh đó công ty cần chủ động tìm kiếm các nhà cung cấp nguồn nguyên liệu với chất lượng tốt nhưng có giá thành thấp hơn các nhà cung cấp hiện nay. Còn đối với các nhà cung cấp hiện tại công ty cần có những thương lượng để đạt được mức giá tốt nhất.
    • Tăng năng suất lao động. Nâng cao năng suất lao động làm cho số giờ công tiêu hao để sản xuất ra mỗi đơn vị sản phẩm giảm bớt hoặc làm cho số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng thêm. Kết quả của việc nâng cao năng suất lao động làm cho chi phí về tiền lương của công nhân sản xuất và một số khoản chi phí cố định khác trong chi phí giá vốn hàng bán được hạ thấp. Nhưng sau khi năng suất lao động tăng thêm, chi phí tiền lương trong mỗi đơn vị sản phẩm hạ thấp nhiều hay ít còn phụ thuộc vào chênh lệch giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng lương bình quân. Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch và quản lý quỹ tiền lương phải quán triệt nguyên tắc: tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn tốc độ tăng lương bình quân sao cho việc tăng năng suất lao động một phần dùng để tăng thêm tiền lương, nâng cao mức sống cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp, phần khác để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp, đảm bảo phát triển sản xuất. Muốn không ngừng nâng cao năng suất lao động để hạ thấp giá thành sản phẩm, công ty phải nhanh chóng đón nhận sự tiến bộ của Khoa học công nghệ, áp dụng những thành tựu về khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Tổ chức lao động khoa học tránh lãng phí sức lao động và máy móc thiết bị, động viên sức sáng tạo của con người, ngày càng cống hiến tài năng cho doanh nghiệp.
    • Giảm bớt những tổn thất trong sản xuất. Những tổn thất trong quá trình sản xuất của công ty là những chi phí về sản phẩm hỏng và chi phí ngừng sản xuất. Các khoản chi phí này không tạo thành giá trị sản phẩm nhưng nếu phát sinh trong sản xuất đều dẫn đến lãng phí và chi phí nhân lực, vật lực, giá thành sản phẩm sẽ tăng cao. Bởi vậy, công ty phải cố gắng giảm bớt những tổn thất về mặt này. Muốn giảm bớt sản phẩm hỏng phải không ngừng nâng cao kỹ thuật sản xuất, công nghệ và phương pháp thao tác. Nâng cao ý thức trách nhiệm trong sản xuất, vật liệu và máy móc thiết bị dùng trong sản xuất phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, xây dựng và chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kiểm tra chất lượng sản xuất ở các công đoạn sản xuất, thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất khi xảy ra sản phẩm hỏng.

    2..7           Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí này phản ánh những chi phí thực tế phát sinh trong quá trình quản lý doanh nghiệp gồm các chi phí về tiền lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng liệu, công cụ lao động, khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế muôn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng).

    Qua các năm ta thấy, chi phí quản lý doanh nghiệp của chiếm từ 7% đến 9% trong tổng chi phí của công ty, đây là một trong những chi phí quan trọng làm ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận. Chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau :

    • Cần xây dựng ý thức tiết kiệm chi phí trong toàn thể cán bộ nhân viên công ty và Ban lãnh đạo phải là người gương mẫu để khuyến khích nhân viên tham gia. Chẳng hạn có ý thức trong việc tiết kiệm vật liệu văn phòng, điện, nước, chi phí điện thoại công, phương tiện đi lại, … Việc kiểm soát chi phí của công ty không chỉ là bài toán về giải pháp tài chính mà còn là giải pháp về cách dùng người của nhà quản lý và là vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập.
    • Công ty nên hạn chế, tiết kiệm các khoản chi phí bằng tiền trực tiếp như hội nghị khách hàng, tiếp khách bằng cách lên kế hoạch tài chính chi tiết, rõ ràng và tiết kiệm.

    2..8           Các hoạt động liên kết liên doanh

    Công ty Cổ phần DHG có xu hướng phát triển như một tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề. Do đó các hoạt động liên kết liên doanh trong lĩnh vực đầu tư phát triển là không thể thể tránh khỏi. Theo số liệu cho thấy các hoạt động này mang lại doanh thu không lớn, thậm chí có năm (2009) hoạt động đầu tư này còn làm giảm doanh thu của công ty. Cho nên chúng tôi đề xuất những biện pháp sau:

    • Cần xây dựng một tổ chuyên trách trong vấn đề nghiên cứu đầu tư liên doanh với các đối tác. Tổ nghiên cứu này sẽ có trách nhiệm trong việc tìm hiểu đối tác, nghiên cứu thị trường về ngành nghề công ty sẽ dự định liên doanh đầu tư. Đồng thời, tổ nghiên cứu này cũng chịu trách nhiệm về tình hình lợi nhuận trong hoạt động này.
    • Có sự liên kết giữa các phòng ban trong công ty để hỗ trợ trong việc đề ra các chính sách đầu tư vào hoạt động liên kết liên doanh. Chẳng hạn: phòng marketing có thể hỗ trợ trong việc nghiên cứu thị trường, tìm năng phát triển của ngành nghề dự định đầu tư, phòng nhân sự có thể tuyển chọn những nhân viên giỏi để tham gia tư vấn và bổ sung nhân sự cho những dự án đầu tư.
    • Thiết lập danh mục đầu tư riêng cho hoạt động liên kết liên doanh để đảm bảo nguồn tài chính hợp lý cho từng dự án đầu tư này góp phần hạn chế rủi ro.

     

    3      PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    4.1  KẾT LUẬN

    Trước những chính sách nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới của Đảng và Nhà Nước cùng với sự nổ lực hết mình của Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong công ty và sự tín nhiệm của người tiêu dùng nên tình hình lợi nhuận  trong năm 2009 của công ty có bước chuyển biến đáng kể so với năm 2008.

    Cụ thể như sau:

    • Doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ (chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn thu của công ty) tăng đáng kể trong năm 2009.
    • Doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính (tuy chiếm tỷ trọng không cao trong tổng nguồn thu) có mức tăng trưởng khá ấn tượng trong năm 2009 so với năm 2008 (gần 47%). Đây là một thế mạnh nên công ty cần đầu tư nghiên cứu để làm tăng hơn nữa nguồn thu từ hoạt động này.
    • Doanh thu từ hoạt động liên kết, liên doanh: đây là vấn đề mà công ty nên quan tâm vì trong năm 2009 công ty đã phải chịu lỗ từ hoạt động này góp phần làm giảm doanh thu.
    • Về tình hình chi phí: công ty đã làm giảm được chi phí bán hàng nhưng giá vốn hàng bán và chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn còn tăng.
    • Quy mô sản xuất của công ty không ngừng được mở rộng chẳng những trong nước mà còn vươn ra thế giới, nhiều sản phẩm mới ra đời đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu của người tiêu dùng.

    Dược Hậu Giang cần phát huy hơn nữa những ưu thế cũng như những mặt đạt được trong năm 2009, đồng thời  phải biết tận dụng những điểm mạnh này để khắc phục những điểm yếu cũng như những mặt chưa đạt được trong năm 2009.

    4.1  KIẾN NGHỊ

    • Đối với công ty

    Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, công ty nên thành lập nhóm chuyên gia phụ vụ cho việc lập kế hoạch kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ.

    Công ty cần khai thác nhiều dòng sản phẩm phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau về sức khỏe của người tiêu dùng để tăng nguồn thu cho doanh nghiệp.

    Không ngừng cập nhật, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới tiên tiến trên thế giới vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như quản lý doanh nghiệp.

    Cần có những hoạch định chiến lược cũng như kế hoạch rõ ràng trong việc thực hiện hoạt động liên doanh, liên kết nhằm cải thiện và tạo nguồn thu từ các hoạt động này.

    Đối với việc mở rộng quy mô sản xuất doanh nghiệp cần chú ý đến nguồn cung ứng, kho bãi để giảm giá thành nguyên liệu, hư hao trong qua trình vận chuyển, bảo quản.

    • Đối với Nhà Nước

    Cần có những chính sách khuyến khích ngành Dược phát triển, bình ổn giá cả để giúp các nhà sản xuất Dược phẩm nói chung và của DHG nói riêng giảm được giá thành nguồn nguyên vật liệu đầu vào góp phần giảm giá vốn hàng bán, giá thành sản phẩm.

    Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tránh tình trạng hàng giả, hàng nhái kém chất lượng ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, tại môi trường cạnh tranh lành mạnh trong ngành Dược, ngành ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.

    Quyết liệt hơn nữa trong việc quản lý chất lượng sản phẩm ngành Dược, đặc biệt là những sản phẩm mới thì cần được kiểm nghiệm kỹ về công dụng cũng như những tác dụng phụ của thuốc đối với người sử dụng.

    Bên cạnh đó, cần khuyến khích nhà sản xuất có những chính sách ưu đãi đối với nhân dân vùng sâu, vùng xa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phạm Văn Dược (2008), Phân tích hoạt đông kinh doanh, Nxb. Thống kê;
    2. Nguyễn Quang Thu (2007), Quản trị tài chính căn bản, Nxb. Thống kê;
    3. Địa chỉ Website tham khảo :
    • Dược Hậu Giang : dhgphrma.com
    • Hiệp hội sản xuất kinh doanh Dược Việt Nam : vnpca.org.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Câu hỏi trắc nghiệm môn Mạng máy tính (Có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/B%C3%A1o-c%C3%A1o-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-X%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-kinh-doanh-v%C3%A0-Ph%C3%A2n-ph%E1%BB%91i-l%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-TNHH-SX-TM-%E2%80%93-DVXD-L%C3%BD-T%C3%A0i-Ph%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo tốt nghiệp Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát

    PHẦN MỞ ĐẦU

        1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Trước xu hướng kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, kinh tế Việt Nam đang vững bước chuyển mình và hội nhập. Ñể tồn tại và phát triển được buộc các doanh nghiệp phải có đủ trình độ, sự nhạy bén để đưa ra những phương pháp chiến lược kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận có thể đạt được. Vì thế,vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải làm sao cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng hiệu quả, nguồn vốn kinh doanh luôn luôn ổn định và phát triển. Để đạt được mục tiêu đòi hỏi những mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh phải đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trong nước cũng như  ngoài nước.

    Lợi nhuận kinh doanh phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp.Kế toán xác định kết quả kinh doanh là một công cụ rất quan trọng trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp. Hiện nay việc xác định kết quả kinh doanh là rất quan trọng vì căn cứ vào đó các nhà quản lý có thể biết được quá trình kinh doanh của doanh nghiệp mình có đạt hiệu quả hay không, lời hay lỗ như thế nào? Từ đó định hướng phát triển trong tương lai. Vì vậy công tác xác định kết quả kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả  của việc quản lý ở doanh nghiệp.

    Do thấy được tầm quan trọng của việc xác định kết quả kinh doanh nên em đã chọn đề tài báo cáo tốt nghiệp của mình là “Kế toán Xác định kết quả kinh doanh và Phân phối lợi nhuận” tại công ty TNHH SX-TM – DV&XD Lý Tài Phát.

    Do hạn chế về kiến thức của bản thân và thời gian học tập có hạn, vì vậy trong Chuyên đề này chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Em kính mong được sự chỉ dẫn của quý thầy cô cùng các bạn để Chuyên đề được hoàn thiện tốt hơn.

        2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

    Thực hiện đề tài nhằm  so sánh giữa lý thuyết đã học và công tác kế toán tại doanh nghiệp. Qua đó tự mình có thể củng cố và rút ra những kiến thức đã học, so sánh với thực tế từ đó có thể học hỏi những kinh nghiệm giúp cho công tác sau này.

        3.PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

             3.1.Phạm vi nghiên cứu:

    – Nội dung nghiên cứu:

    Xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận tại công ty TNHH SX-TM-DV&XD LÝ TÀI PHÁT.

    – Không gian nghiên cứu:

    Thực tập tốt nghiệp tại công ty TNHH SX-TM-DV&XD LÝ TÀI PHÁT.

    – Thời gian thực tập:

    Từ ngày 30-03-2009 đến ngày 22-05-2009.

             3.2.Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp thu thập số liệu thông qua chứng từ, sổ kế toán có liên quan

    –  Phương pháp phân tích: phân tích các thông tin thu thập được trong quá trình tìm hiểu thực tế.

    1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

    Thu thập, tổng hợp và phân tích các chứng từ, sổ kế toán liên quan đến chuyên đề. Nội dung nghiên cứu của thời gian thực tập tại công ty là Xác Định Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh và Phân Phối Lợi Nhuận của công ty,nhằm đánh giá, xác định một năm hoạt động kinh doanh của công ty và từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp giúp công ty có những hướng phát triển hơn trong xu thế kinh tế toàn cầu như hiện nay.

     

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN

    XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN

    1.1.KẾ TOÁN DOANH THU:

        1.1.1.Khái niệm doanh thu:

    Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán,phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được từ hoạt động bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hay bán hàng hoá mua vào nhằm bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

        1.1.2. Điều kiện ghi nhận doanh thu:

    Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mản tất cả 5 điều kiện sau:

    1/ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.

    2/Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.

    3/Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

    4/Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

    5/Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

        1.1.3. Nguyên tắc hạch toán doanh thu:

    – Doanh thu phát sinh từ các giao dịch được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại,giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

    – Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp ghi nhận doanh thu bán hàng trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm  phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu.

    – Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua thì chưa được coi là tiêu thụ và không được ghi nhận doanh thu mà chỉ ghi vào bên có vào tài khoản tiền đã thu của khách hàng, khi giao hàng cho người mua thì mới ghi nhận vào  TK “Doanh Thu”.

    – Đối với các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho yêu cầu của nhà nước, được nhà nước trợ cấp,trợ giá theo quy định thì doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được nhà nước chính thức thông báo, hoặc thực tế trợ cấp trợ giá.

        1.1.4.Chứng từ hạch toán:

    – Hoá đơn giá trị gia tăng

    – Hoá đơn bán hàng

    – Các bảng kê bán lẻ hàng hoá,dịch vụ;bảng thanh toán hàng đại lý,kí gửi

    – Sổ chi tiết bán hàng

        1.1.5.Tài khoản sử dụng:

             1.1.5.1. Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”

    Bên Nợ:

    – Số thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu phải nộp tính theo doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ,

    – Thuế GTGT phải nộp ở doanh nghiệp áp dụng phương pháp trực tiếp.

    – Chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ.

    – Giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ.

    – Doanh thu của hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ.

    – Kết chuyển doanh thu thuần để tính kết quả kinh doanh.

    Bên Có:

    – Doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ.

    Tài khoản  511 không có số dư cuối kỳ

    TK 511 có 4 TK cấp 2:

    – TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”

    – TK 5112 “Doanh thu bán sản phẩm”

    – TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”

    – TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”

    Các tài khoản này lại có thể chi tiết theo từng loại hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đã bán.

             1.1.5.2.TK 512 “Doanh thu nội bộ”

    Tài khoản này có nội dung kết cấu tương tự như TK 511

    Tài khoản này ghi nhận doanh thu được tiêu thụ trong nội bộ công ty.

             1.1.5.3.TK 338 (3387) “Doanh thu chưa thực hiện”

    Bên Nợ:

    – Kết chuyển doanh thu chưa thực hiện sang tài khoản “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” hoặc TK “Doanh thu hoạt động tài chính”.

    Bên Có:

    – Doanh thu chưa thực hiện phát sinh trong kỳ

    Số dư bên có:

    – Doanh thu chưa thực hiện lúc cuối kỳ.

        1.1.6.Sơ đồ tài khoản tổng hợp:

    :

    TK 521,532                                 TK 511                                                   TK 111,112

    Kết chuyển chiết khấu TM

    giảm giá hàng bán phát                                            TK131

    sinh trong kỳ               Giá bán chưa

    có thuế                                                                                                                                                                                                                                                                                  TK635                                                                                               Chiết khấu

    TK531                                                                                              thanh toán                                         Kết chuyển giá bán chưa có                                           tính trừ cho

    thuế hàng bán bị trả lại phát                                               khách hàng

    sinh trong kỳ

             TK 532, 521                                                                                                           Giảm giá chiết

    khấu thương

    mại hàng bán

    TK 911                                                                                              TK 333(1)                                                                                                                                                                             Kết chuyển doanh thu thuần

                      TK531

                             TK333(1)                                         Hàng bán                                                                                                                  bị trả lại                                                                                                                                                      TK152(611)                                                      Thuế GTGT                                       Trao đổi hàng                                                                                                                                    có hoá đơnGTGT                                                                                                             loại được khấu trừ                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                               TK334                  TK 133

    Thanh tóan

    Cho CNV

     
       

    1.2.KẾ TOÁN CÁC KHOẢN GIẢM TRỪ DOANH THU:

        1.2.1.Kế toán chiết khấu thương mại:

    TK 521 “Chiết khấu thương mại” dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do người mua hàng đã mua với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc cam kết mua, bán hàng.

    Bên Nợ:

    – Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận cho khách hàng được hưởng

    Bên Có:

    Kết chuyển số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán.

    Tài khoản 521 không có số dư cuối kỳ.

    TK 521 có 3 TK cấp 2:

    TK 5211: “Chiết khấu hàng hoá”

    TK 5212: “ Chiết khấu thành phẩm”

    TK 5213:  “Chiết khấu dịch vụ”

        1.2.2.Kế toán hàng bán bị trả lại:

    TK 531 “Hàng bán bị trả lại” dùng để phản ánh trị giá của số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị mất hoặc kém phẩm chất, hàng không đúng chủng hoặc quy cách.

    Bên Nợ:

    – Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho khách hàng hoặc tính trừ vào số tiền khách hàng còn nợ.

    Bên Có:

    – Kết chuyển trị giá của hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán.

    Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ.

        1.2.3.Kế toán giảm giá hàng bán:

    TK 532 “Giảm giá hàng bán” dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ kế toán cho khách hàng được hưởng do hàng bán kém phẩm chất; không đúng quy cách theo yêu cầu trong hợp đồng đã ký kết.

    Bên Nợ:

    Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho khách hàng được hưởng.

    Bên Có:

    Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ vào Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác đinh doanh thu thuần của kỳ hạch toán.

        1.2.4.Chứng từ sử dụng:

    – Biên bản xác nhận hàng bán bị trả lại

    – Biên bản xác nhận giảm giá hàng bán.

    – Phiếu chi.

    – Giấy báo nợ.

    – Các chứng từ gốc khác,…

        1.2.5.Sơ đồ  tài khoản:

      TK 111, 112, 131                      TK 521, 531, 532                                  TK511                                      

    (2)

    (1)

        TK 3331

       

     

        * Giải thích sơ đồ:

    (1) Chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán thực hiện trong kỳ.

    (2) Cuối kỳ kết chuyển giảm trừ sang TK 511 để xác định doanh thu thuần.

    Riêng đối với trị giá hàng bán bị trả lại đồng thời với việc ghi giảm doanh thu, phải ghi giảm giá vốn

    1.3.KẾ TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN

        1.3.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Giá vốn hàng bán là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh số tiền được trừ ra khỏi doanh thu thuần để tính kết quả kinh doanh của từng kỳ kế toán, trong điều kiện doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, giá vốn hàng bán là một chi phí thường được ghi nhận đồng thời với doanh thu theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu với chi phí được trừ.

    Nội dung cơ bản của chỉ tiêu giá vốn hàng bán ở các doanh nghiệp sản xuất là giá thành sản xuất thực tế của các loại sản phẩm đã bán được từng kỳ kế toán.Ngoài ra còn những khoản khác cũng tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ:

    – Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, công nhân trực tiếp trên mức bình thường.

    – Dự phòng giảm  giá hàng tồn kho

    – Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho,sau khi trừ phần bồi thường trách nhiệm do cá nhân gây ra.

        1.3.2.Tài khoản sử dụng:

    Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”

    Bên Nợ:

    – Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.

    – Khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường vật chất.

    – Chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập ở năm trước.

    Bên Có:

    – Giá vốn hàng bán đã bị trả lại.

    – Chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay nhỏ  hơn số dự  phòng đã lập ở năm trước.

    – Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thu trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh.

    Tài khoản 632 không có số dư cuối kỳ.

        1.3.3.Sơ đồ kế toán tổng hợp:

    1.4.KẾ TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG:

         1.4.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Chí phí bán hàng là các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ các loại sản phẩm hàng hoá hay cung cấp dịch vụ như:

    – Tiền lương và các khoản chi phí tính theo lương của nhân viên bán hàng,tiếp thị,đóng gói, bảo quản…

    – Khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng ,chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ đồ dùng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền như: quảng cáo, giao dịch, giao hàng, hoa hồng bán hàng….

    Trong quá trình hạch toán chi phí bán hàng phải được theo dõi chi tiết theo yếu tố chi phí và tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp chi phí bán hàng có thể được kết hợp theo dõi dưới những nội dung khác nhau để giám đốc chặt chẽ công dụng và hiệu quả kinh tế của chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí từng đợt bán hàng….

        1.4.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 641 “Chi phí bán hàng”

    Bên Nợ:

    – Chí phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ

    Bên Có:

    – Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng

    – Kết chuyển chi phí bán hàng để tính kết quả kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ chi phí bán hàng cho những sản phẩm sẽ tiêu thụ ở kỳ sau

    TK 641 không có số dư cuối kỳ

    TK 641 có 7 tài khoản cấp 2:

    – TK 6411 “ Chi phí nhân viên”

    – TK 6412 “ Chi phí vật liệu, bao bì”

    – TK 6413  “ Chi phí dụng cụ đồ dùng”

    – TK 6414  “ Khấu hao TSCĐ”

    – TK 6415 “ Chi phí bảo hành”

    – TK 6417 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”

    – TK 6418 “ Chi phí khác bằng tiền”

     

        1.4.3.Sơ đồ tài khoản:

    TK 334,338                                                 TK 641                            TK138,111

    Tiền lương và các khoản             Ghi giảm chi phí bán hàng

           
       
         
     

    trích theo lương được tính

    vào chi phí bán hàng

    TK 152,153                                                                                                   TK335

    Giá trị vật liệu,công cụ                Số trích trước lớn hơn chi

    tính cho bộ phận bán hàng        chiphí thực tế, ghi giảm chi                                                                                                     phí bán hàng

    TK 142,335                                                                                            TK142(1422)

    Khi phân bổ chi phí trả trước                   Chi phí bán hàng chuyển

    hoặc trích trước chi phí sửa chữa            sang kỳ sau

    TSCĐ ở bộ phận bán hàng

     

    TK214                                                                                                            TK911

    Khấu hao TSCĐ ở bộ phận         Kết chuyển chi phí bán

    bán hàng                            hàng để tính kết quả kinh

    doanh kỳ này

    TK 331

    Chi phí                  TK 133                                                                                                   điện nước,

    điện

    thoại…

    TK111.112                                       

    1.5.KẾ TOÁN CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP:

        1.5.1.Khái niệm:

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản chi phí tính theo lương của ban giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban,chi phí vật liệu, đồ dùng cho văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế,lệ phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài văn phòng doanh nghiệp và các chi phí bằng tiền chung cho toàn doanh nghiệp như: phí kiểm toán,chi phí tiếp tân, khánh tiết,công tác phí, tiền nộp quỹ quản lý tổng công ty và các khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động theo chế độ.

        1.5.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 642 “Chí phí quản lý doanh nghiệp”

    Bên Nợ:

    – Các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ.

    Bên Có:

    – Các khoản ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.

    – Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp để tính kết quả kinh doanh trong kỳ hoặc phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp cho những sản phẩm chưa bán được lúc cuối kỳ.

    TK 642 không có số dư cuối kỳ.

    TK 642 có 8 tài khoản cấp 2:

    – TK 6421 “ Chi phí nhân viên”

    – TK 6422 “ Chi phí vật liệu quản lý”

    – TK 6423 “ Chi phí đồ dùng văn phòng”

    – TK 6424 “ Khấu hao TSCĐ”

    – TK 6425 “ Thuế ,phí và lệ phí”

    – TK6426 “ Chi phí dự phòng”

    – TK 6427 “ Chi phí dịch vụ mua ngoài”

    –  TK 6428 “Chi phí khác bằng tiền”

        1.5.3.Sơ đồ tài khoản

    TK 334.338                                                         TK 642                               TK 138.111

    Lương  và các khoản trích                            Ghi giảm chi phí

     
       

    theo lương

    TK152,153                                                                                                            TK 335

    Giá trị vật liệu, công cụ

    dùng cho quản lý

    TK 142.242.335

    Khi tính trước chi phí sửa                                                  TK 142(1422)

       

    chữa lớn TSCĐ ở bộ phận

    Chi phí QLDN chuyển

    TK 214

    Khấu hao tài sản dùng

     
       

    chung cho doanh nghiệp                                                                   TK 911

    TK 139

    Khoản dự phòng được tính                  Kết chuyển chi phí quản lý

           
         
       
     

    vào chi phí QLDN                                doanh nghiệp để tính kết

    quả kinh doanh kỳ này

    TK 333

    Thuế môn bài, nhà đất

     
       

    phải nộp

    TK 331

    Khi phát sinh

     
       

    TK 133

    TK 111.112

    Chi phí được tính vào Chi

     
       

    Phí QLDN

    1.6.KẾ TOÁN DOANH THU HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ CHI PHÍ TÀI CHÍNH:

        1.6.1.Kế toán doanh thu hoạt động tài chính:

             1.6.1.1.Khái niệm:

    Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản doanh thu do hoạt động tài chính mang lại như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.

             1.6.1.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính”

    Bên Nợ:

    – Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp

    – Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính thuần sang tài khoản 911

    Bên Có:

    – Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    TK 515 không có số dư cuối kỳ.

    1.6.1.3.Sơ đồ tài khoản:

        TK 3331                                        TK 515                 TK 111,112,131,138

    (1)                                             (3)

           
           

                TK 911                                                                                 TK 413

    (2)                                           (4)

    TK121.221.222

    (5)

     

      * Giải thích sơ đồ:

    (1). Xác định thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp đối với hoạt động  tài chính (nếu có).

    (2). Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

    (3).  Thu nhập hoạt động tài chính, nhận được thông báo lãi chứng khoán,lãi do bán ngoại tệ, chiết khấu thanh toán được hưởng,doanh thu cơ sở hạ tầng, doanh thu bất động sản,…

    (4). Kết chuyển chênh lệch tỷ giá hối đoái trong kỳ và đánh giá lại cuối kỳ (sau khi đã bù trừ).

    (5). Thu nhập về lợi nhuận được chia bổ sung góp vốn liên doanh, lãi cho vay, lãi kinh doanh chứng khoán bổ sung mua chứng khoán.

        1.6.2.Kế toán chi phí hoạt động tài chính:

             1.6.2.1.Khái niệm:

    Chi phí tài chính là những chi phí và những khoản lỗ liên quan đến hoạt động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính, bao gồm:

    – Lỗ chuyển nhượng chứng khoán, chi phí giao dịch bán chứng khoán.

    – Chi phí góp vốn liên doanh.

    – Chi phí cho vay và đi vay vốn.

    – Lỗ do bán ngoại tệ, lỗ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.

    – Chiết khấu thanh toán chấp nhận cho khách hàng được hưởng khi khách hàng thanh toán trước thời hạn…

    1.6.2.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 635 “ Chi phí tài chính”

    Bên Nợ:

    – Các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    Bên Có:

    – Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.

    – Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ chi phí và các khoản lỗ về hoạt động tài chính để xác định kết quả kinh doanh.

    TK 635 không có số dư cuối kỳ.

             1.6.2.3.Sơ đồ tài khoản:

           TK 129,229                                    TK 635                                  TK 129,229

    (1)                                                (6)

      TK 111,112,131,141                                                                            TK 911

    (2)                                                          (7)

       TK 121,128,221,222

    (3)

            TK 228,413

                                             (4)

      TK 111,112,311,315

     

    (5)

         * Giải thích sơ đồ:

    (1). Lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, dài hạn ( lập lần đầu, lập bổ sung ).

    (2). Khoản chiết khấu thanh toán cho người mua hàng hoá, dịch vụ được hưởng. Chi phí phát sinh cho hoạt động vay vốn, chi phí hoạt động đầu tư chứng khoán, chi phí hoạt động tài chính; số lỗ về tỷ giá do bán ngoại tệ.

    (3). Lỗ về đầu tư thu hồi ( số tiền thực thu nhỏ hơn vốn đầu tư thu hồi).

    (4). Kết chuyển lỗ do chênh lệch tỷ giá; trị giá vốn đầu  tư bất động sản.

    (5). Lãi tiền vay đã trả hoặc phải trả.

    (6). Hoàn nhập dự phòng đầu tư ngắn hạn, dài hạn.

    (7). Kết chuyển chi phí tài chính để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.

    1.7.KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THU NHẬP KHÁC VÀ CHI PHÍ KHÁC:

        1.7.1.Kế toán các khoản thu nhập khác:

             1.7.1.1.Khái niệm:

    Thu nhập khác là các khoản thu từ hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, gồm:

    – Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ.

    – Thu các khoản nợ khó đòi do xử lý xoá nợ.

    – Các khoản thuế được ngân sách nhà nước hoàn lại,…

             1.7.1.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 711 “Thu nhập khác”

    Bên Nợ:

    – Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp đối với các khoản thu nhập khác (nếu có).

    – Cuối kỳ kết chuyển các khoản thu nhập khác sang TK 911

    Bên Có:

    – Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    TK 711 không có số dư cuối kỳ.

             1.7.1.2.Sơ đồ tài khoản:

    TK 3331                                      TK711                      TK111,112,131

    (1)                                           (3)

          TK 911                                                                     TK 338,344,334

    (2)                                           (4)

     

    TK 331,338,3331

    (5)

         * Giải thích sơ đồ:

    (1). Xác định thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp đối với hoạt động khác ( nếu có).

    (2). Cuối kỳ kế toán, kết chuyển các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    (3). Thu về thanh lý TSCĐ, thu phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng kinh tế, tiền bảo hiểm được các tổ chức bảo hiểm bồi thường, nợ khó đòi đã sử lý sau đó thu được nợ.

    (4). Khoản tiền phạt khách hàng khấu trừ vào tiền ký cược, ký quỹ ngắn hạn, dài hạn, khấu trừ lương của CB – CNV.

    (5). Các khoản nợ phải trả mà chủ nợ không đòi được tính vào thu nhập khác, số thuế GTGT được giảm trừ vào số thuế GTGT phải nộp trong kỳ.

        1.7.2.Kế toán các khoản chi phí khác:

             1.7.2.1.Khái niệm:

             Chi phí khác là khoản chi phí của hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu của đơn vị, gồm:

    – Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý,nhượng bán (nếu có).

    – Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.

    – Khoản bị phạt thuế, truy nộp thuế.

    – Các khoản chi phí khác…

             1.7.2.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 811 “Chi phí khác”

    Bên Nợ:

    – Các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ.

    Bên Có:

    – Cuối kỳ kết chuyển toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ vào tài khoản 911.

    TK 811 không có số dư cuối kỳ.

             1.7.2.3. Sơ đồ tài khoản:

    TK 111,112,141                                 TK 811                                     TK911        (1)                                                  (4)

            TK 211,213

    (2)

            TK 333,338

     
       

     

    (3)

        * Giải thích sơ đồ :

    (1). Chi phí phát sinh khi khắc phục tổn thất do gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

    (2). Giá trị còn lại của tài sản cố định mang đi thanh lý, nhượng bán.

    (3). Tiền phạt phải nộp về vi phạm hợp đồng kinh tế, phải nộp về khoản doanh nghiệp bị truy thu thuế.

    (4). Cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ chi phí khác phát sinh trong kỳ để xác địmh kết quả kinh doanh.

    1.8. KẾ TOÁN CHI PHÍ THUẾ TNDN

        1.8.1. Khái niệm:

    Chi phí thuế TNDN là tổng chi phí thuế TNDN hiện hành và chi phí thuế thu nhập hoãn lại khi xác định lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ.

        1.8.2. Tài khoản sử dụng và nguyên tắc hạch toán:

    TK 821 “Chi phí thuế TNDN” có 2 TK cấp 2:

    – TK 8211 – Chi phí thuế TNDN hiện hành

    – TK 8212 – Chi phí thuế TNDN hoãn lại

        * TK 8211 – chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

    Quy định hạch toán:

    1) Hàng quý, kế toán căn cứ vào tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp để ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp vào chi phí thuế thu nhập hiện hành.

    2) Cuối năm tài chính căn cứ vào tờ khai quyết toán thuế, nếu số thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành tạm phải nộp trong năm < số phải nộp cho năm đó, kế toán ghi nhận số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thêm vào chi phí thuế thu nhập hiện hành. Trường hợp số thuế thu nhập tạm phải nộp trong năm > số phải nộp của năm đó, kế toán phải ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là số chênh lệch giữa số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm phải nộp trong năm > số phải nộp.

    3) Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước liên quan đến khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước, doanh nghiệp được hạch toán tăng (hoặc giảm) số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế thu nhập hiện hành của năm phát hiện sai sót.

    4) Kết thúc năm, kế toán kết chuyển giữa chi phi thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành phát sinh trong năm vào TK 911 để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

    Bên Nợ:

    – Thuế TNDN phải nộp tính vào chi phí thuế TNDN hiện hành phát sinh trong năm.

    –  Thuế TNDN của các năm trước phải bổ sung do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi tăng chi phí thuế TNDN hiện hành của năm hiện tại.

    Bên Có:

    –  Số thuế TNDN thực tế phải nộp trong năm nhỏ hơn số thuế thu nhập tạm nộp được giảm trừ vào chi phí thuế TNDN hiện hành được ghi nhận trong năm.

    –  Số thuế TNDN phải nộp được ghi giảm do phát hiện sai sót  không trọng yếu của các năm trước được ghi giảm chi phí thuế TNDN hiện hành trong năm hiện tại.

    –   Kết chuyển chi phí thuế TNDN hiện hành vào bên Nợ TK 911.

        * TK 8212 – Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

    Quy định hạch toán:

    1) Cuối năm tài chính, kế toán phải xác định số thuế thu nhập hoãn lại phải trả để ghi nhận vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại. Đồng thời phải xác định tài sản thuế thu nhập hoãn lại để ghi nhận vào thu nhập thuế thu nhập doanh nghiệp “Ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại”.

    2) Kế toán không được phản ánh vào TK này tài sản thuế thu nhập hoãn lại hoặc thuế thu nhập hoãn lại phải trả phát sinh từ các giao dịch đươc ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu.

    3) Cuối năm tài chính, kế toán phải kết chuyển số chênh lệch giữa số phát sinh bên Nợ và số phát sinh bên Có TK 8212 vào TK 911.

    Bên Nợ:

    – Chi phí thuế TNDN hoãn lại phát sinh trong năm từ việc ghi nhận thuế TNDN hoãn lại phải trả.

    – Chi phí thuế TNDN hoãn lại được ghi nhận từ số chênh lệch giữa tài sản thuế thu nhập hoãn lại được hoàn nhập trong năm lớn hơn tài sản thuế TNDN hoãn lại phát sinh trong năm.

    – Kết chuyển chênh lệch giữa số phát sinh Bên có lớn hơn Bên nợ TK 8212 phát sinh trong năm  vào TK 911.

    Bên Có :

    – Ghi giảm chi phí thuế TNDN hoãn lại (chênh lệch giữa tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh trong năm lớn hơn tài sản thuế thu nhập hoãn lại được hoàn nhập trong năm).

    – Ghi giảm chi phí thuế thu nhập hoãn lại (Số chênh lệch giũa số thuế thu nhập hoãn lại phải trả được hoàn nhập trong năm).

    – Kết chuyển chênh lệch giữa số phát sinh Bên có nhỏ hơn Bên nợ TK 8212 vào TK 911.

        1.8.3.Sơ đồ tài khoản:

    TK 3334                                         TK 821                                         TK 911

    Kết chuyển chí phí thuế       Kết chuyển chí phí thuế                                                                     TNDN phải nộp                TNDN vào TK 911

    1.9.KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH:

        1.9.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Kết quả hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu với giá thành toàn bộ của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ và nộp theo quy định của pháp luật (trừ  thuế thu nhập doanh nghiệp ) của từng kỳ kế toán.

    – Khi xác định kết quả hoạt động kinh doanh cần tôn trọng các nguyên tắc sau đây:

    + Kết quả hoạt động kinh doanh phải được hạch toán chi tiết theo từng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã thực hiện của bộ phận sản xuất khác nhau trong doanh nghiệp.

    +  Phải đảm bảo mối quan hệ tương xứng giữa doanh thu với các chi phí được trừ. Những chi phí phát sinh trong kỳ  này nhưng có liên quan đến doanh thu được hưởng ở kỳ sau thì phải chuyển sang chi phí hoạt động của kỳ sau, khi nào thu dự kiến đã thực hiện được thì chi phí có liên quan mới được trừ để tính kết quả kinh doanh.

    – Không được tính chi vào chi phí của hoạt động kinh doanh các khoản sau:

    + Chí phí hoạt động tài chính và các chi phí bất thường .

    + Các khoản thiệt hại được nhà nước trợ cấp hoặc cho phép giảm vốn và các khoản thiệt hại được bên gây ra thiệt hại và công ty bảo hiểm bồi thường.

    + Chi phí công tác nước ngoài vượt định mức do nhà nước quy định.

    +Các khoản chi do các nguồn khác đài thọ như: chi sự nghiệp, chi cho nhà ăn tập thể, chi phí hoạt động của các tổ chức Đảng đoàn thể,….

        – Cách xác định kết quả kinh doanh:

    Kết quả                            Kết quả                         Kết quả                         Kết quả

    hoạt động                 =     hoạt động           +        hoạt động           +        hoạt động

    kinh doanh                      bán hàng                       tài chính                        khác

        Trong đó:

    Kết quả                                                                                                          Chi phí

    hoạt động       =      Doanh thu  –   Giá vốn    –    Chi phí        –           lý doanh

    bán hàng                   thuần             hàng bán          bán hàng                     nghiệp

        Mà:

    Doanh thu         Tổng doanh          Thuế              Chiết khấu     Giá trị       Giảm  giá bán hàng     =   thu hàng        –    phải nộp    –    thương     –  hàng  bán  –  hàng bán

    thuần                   bán hàng                                         mại            bị trả lại

    Kết quả hoạt                                      Doanh thu hoạt                                    Chi phí tài

    động tài chính          =                      động tài chính                  –                  chính

    Kết quả hoạt

    động khác                  =                      Thu nhập khác          –           Chi phí khác

    1.9.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”

    Bên Nợ :

    – Trị giá vốn của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.

    – Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ.

    – Chi phí hoạt động tài chính và bất thường phát sinh trong kỳ.

    – Kết chuyển lợi tức trước thuế của hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.

    Bên Có :

    – Doanh thu thuần về số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.

    – Thu nhập hoạt động tài chính và các khoản bất thường .

    TK 911 không có số dư cuối kỳ

    1.9.3. Sơ đồ kế toán tổng hợp và xác định kết quả kinh doanh:

    TK632                                                    TK911                                     TK511

    Kết chuyển giá vốn hàng bán                Kết chuyển doanh thu

    sản phẩm tiêu thụ                                         bán hàng thuần

    TK641                                                                                                            TK 515

    Kết chuyển chi phí bán hàng                Kết chuyển doanhn thu

    phát sinh trong kỳ                                       hoạt động tài chính

        TK 642

                     TK711

    Kết chuyển chi phí quản lý                           Kết chuyển thu nhập khác

    doanh nghiệp phát sinh trong kỳ

          TK 635                                                                                                         TK421

    Kết chuyển chi phí hoạt động             Kết chuyển lỗ hoạt                                 tài chính phát sinh trong kỳ               động kinh doanh trong kỳ

    TK811

    Kết chuyển chi phí khác

    phát sinh trong kỳ

          TK 821

    Kết chuyển chi phí thuế TNDN

    hiện hành

    TK142(1422)          

    Tính và kết chuyển chi phí bán hàng,

    chi phi quản lý doanh nghiệp còn lại

    kỳ trước vào chi phí hoạt động kinh

    doanh kỳ này

    TK 421

    Kết chuyển lãi hoạt động

    kinh doanh trong kỳ

    1.10.KẾ TOÁN PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP

    1.10.1.Nội dung và nguyên tắc hạch toán:

    Lợi nhuận hoạt động cả năm là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận hoạt động kinh doanh và lợi nhuận hoạt động khác.

    Theo chế độ hiện hành đối với các doanh nghiệp nhà nước, lợi nhuận được phân phối theo trình tự sau:

    – Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

    – Trả tiền phạt như: tiền phạt vi phạm kỷ luật, thu nộp ngân sách, tiền vi phạm hành chính, phạt vi phạm hợp đồng, phạt nợ quá hạn, các khoản chi phí hợp lệ chưa được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

    – Trừ các khoản lỗ không được trừ vào lợi nhuận trước thuế.

    – Chia lãi cho các đối tác gốp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

    – Phần lợi nhuận còn lại trích lập các quỹ của doanh nghiệp như sau:

    + Quỹ đầu tư phát triển: trích từ tỷ lệ quy định là 50% trở lên không hạn chế mức tối đa.

    + Quỹ dự phòng tài chính: trích 10% số dư của quỹ này tối đa không được vượt quá 25% vốn điều lệ.

    + Số còn lại sau khi trích các quỹ trên được trích lập quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi.

        1.10.2.Tài khoản sử dụng:

    TK 421 “ Lợi nhuận chưa phân phối”

    Bên Nợ:

    – Số lỗ về hoạt động kinh doanh của doannh nghiệp.

    – Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

    – Trích lập các quỹ

    – Chia lợi nhuận cho các bên tham gia liên doanh, cho các cổ đông.

    – Bổ sung nguồn vốn kinh doanh.

    – Nộp lợi nhuận cho cấp trên.

    Bên Có:

    – Số lợi nhuận thực tế của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tronh kỳ.

    – Số lợi nhuận cấp dưới nộp lên, số lỗ của cấp dưới được cấp trên cấp.

    – Xử lý các khoản lỗ về hoạt động kinh doanh.

    Số dư bên Có:

    – Số lợi nhuận chưa phân phối hoặc chưa sử dụng

    Số dư bên Nợ:

    – Số lỗ hoạt động kinh doanh chưa xử lý

    TK 421 có 2 tài khoản cấp 2:

    – TK 4211 “ Lợi nhuận năm trước”

    – TK 4212 “ Lợi nhuận năm nay”

        1.10.3.Sơ đồ tài khoản tổng hợp:

    Tạm phân phối lợi nhuận năm nay

    TK333(3334)                               TK421(4212)                                       TK 911

    Số thuế thu nhập doanh                  Lãi về hoạt động kinh

    nghiệp phải nộp                                doanh trong kỳ

    TK111,112,338

    Chia lãi cho các bên tham

    gia liên doanh,cổ đông

    TK414,415,431

    Phân phối vào các quỹ

    doanh nghiệp

    TK421(4211)

    Kết chuyển vào cuối năm

    CHƯƠNG 2

    GIỚI THIỆU KHÁT QUÁT VỀ

    CÔNG TY TNHH SX- TM-DV& XD LÝ TÀI PHÁT

    2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY:

        2.1.1/ Lịch sử hình thành và phát triển của Doanh nghiệp :

    Doanh nghiệp tư nhân Lý Tài Phát được thành lập và họat động tuân theo Luật Doanh Nghiệp được Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa X thông qua ngày 12/06/1999

    Ngày thành lập: 10/01/2006

    Ngày chính thức hoạt động: 27/03/2006

    Tên Doanh Nghiệp: – Doanh nghiệp lấy tên: Cty TNHH Lý Tài Phát

    – Mã số Thuế:       1 7 0 0 4 8 7 7 6 8

    Địa chỉ: Quốc Lộ 80 – Ấp Mỹ Lộ – Xã Mỹ Đức – TX. Hà Tiên – Kiên giang

    Vốn điều lệ: 6,000,000,000 VND (Sáu Tỷ Đồng Việt Nam).

    Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc LÝ BẢN LẢNH

    Phạm vi trách nhiệm: Chịu trách nhiệm toàn bộ về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Doanh Nghiệp.

        2.1.2/ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp :

    *Hình thức hoạt động :  Kinh doanh tư nhân

    *Lĩnh Vực Kinh Doanh : Thương mại – xuất khẩu

        2.1.3/ Thuận lợi và khó khăn :

        *Thuận Lợi :

    – Về Kinh Tế: Do nằm ngay trục đường chính gần biên giới cửa khẩu Quốc Tế Hà Tiên. Nên rất thuận lợi cho việc buôn bán và giao hàng tại khu biên giới. Tạo thu nhập cao, nâng cao đời sống của công nhân viên trong doanh nghiệp.

    – Về Xã Hội: Tạo được công ăn việc làm cho rất nhiều công nhân biên giới, đặt biệt là người dân tộc

    *Khó khăn :

    Chưa đáp ứng được hết nhu cầu tối đa của khách hàng, do tính chất của hàng hóa đa dạng. Phương tiện vận chuyển, đường xá đi lại của bên xuất khẩu còn nhiều khó khăn.

              2.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA DOANH NGHIỆP:

             2.2.1/ Sơ đồ tổ chức.

    Do là Công ty vừa và nhỏ và tính chất công việc đơn giản đòi hỏi ít người làm nên cơ cấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp chỉ có:

    – Chủ doanh nghiệp: 1 người

    – Thủ quỷ:1 người

    – Kế toán: 1

    – Thủ kho: 2 người

    – Nhân viên bán hàng: 4 người

    – Nhân viên giao hàng: 4 người

        SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ

     

     

     

     

        2.2.2/ Chức năng nhiệm vụ của bộ máy doanh nghiệp:

    – Chủ doanh nghiệp : là người quản lý, giám sát quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng là người có nghĩa vụ pháp lý.

    – Kế toán:

    + Lập sổ kế toán, ghi chép sổ sách, hóa đơn, chứng từ theo qui định của pháp luật.

                + Tiến hành lập báo cáo tài chính trung thực, chính xác, chịu sự kiểm tra của cơ quan nhà nước.

    + Hằng ngày tập hợp, phân loại chứng từ ghi chép vào sổ sách liên quan, cuối tháng làm căn cứ  xác định kết quả kinh doanh,.

    – Nhân viên bán hàng : là người trực tiếp bán hàng và xuất hóa đơn cho khách hàng.

    – Thủ Kho : là người chịu trách nhiệm kiểm tra hàng hóa. Tồn, xuất bao nhiêu, kiểm kê hàng nhập kho. Từ đó điều chỉnh mức mua bán phù hợp.

    – Thủ quỹ : là người có trách nhiệm về việc thu, chi các khoản tiền mặt đầy đủ, chính xác, biết bảo quản tiền quỹ tốt, đồng thời cuối tháng nên đối chiếu với kế toán xem có khớp không.

    2.3.TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY :

        2.3.1. Hình thức tổ chức:

    Là DNTN vừa và nhỏ nên bộ máy kế toán khá đơn giản. Tất cả các hóa đơn chứng từ, được nhân viên bán hàng tập hợp và giao cho kế toán. Kế toán tập hợp phân loại chứng từ có liên quan và ghi sổ sách liên quan. Đến cuối kỳ kế toán lập báo cáo tài chính, báo cáo thuế và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời giải thích cho doanh nghiệp thấy được hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như tình hình sử dụng tài chính của đơn vị mình.

    2.3.2. Hình thức hạch toán kế toán:

        * Đặc điểm :

             – Đơn vị tiền tệ sử dụng : VNĐ

    – Nguyên tắc hạch toán  TSCĐ : theo nguyên giá

    – Phương pháp khấu hao : Bình quân

    – Tỷ lệ khấu hao: Nguyên giá/năm/tháng

    – Hạch toán giá vốn theo phương pháp :nhập trước- xuất trước

    * Phương pháp kế toán hàng tồn kho:

    – Nguyên tắc ghi nhận hàng tồn kho: ghi nhận theo giá gốc

    – Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho cuối kỳ : Bình quân gia quyền

    – Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: kê khai thường xuyên

        * Sổ kế toán sử dụng :

    – Sổ nhật ký- sổ cái

    – Sổ theo dỏi tiền mặt

    – Sổ chi tiết mua hàng

    – Thẻ kho

        * Hình thức ghi sổ :

    Do tính chất đa dạng của hàng hóa và để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình theo dỏi và kiểm tra hàng hóa doanh nghiệp đã chọn hình thức : Nhật Ký – sổ Cái

        2.3.3.Sơ đồ bộ máy kế toán:

    Do doanh nghiệp nhỏ nên sơ đồ bộ máy kế toán tổ chức tương đối đơn giản,gọn nhẹ chỉ bao gồm kế toán trưởng, kế toán viên và thủ quỹ.

     
       

        2.3.4.Sơ đồ lưu chuyển chứng từ:

     
       
    Sổ, thẻ kế toán chi tiết
    Sổ quỹ
           
       
         
     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ghi chú:                   Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu, kiểm tra

    CHƯƠNG 3

    KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TNHH SX – TM – DV& XD LÝ TÀI PHÁT

    3.1.KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH:

        3.1.1.Kế toán doanh thu bán hàng:

    Do doanh nghiệp có quy mô  vừa và nhỏ nên chỉ phát sinh tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng, không có các khoản làm giảm trừ doanh thu nên doanh thu bán hàng chính là doanh thu thuần.

             3.1.1.1 Chứng từ kế toán:

             – Hoá đơn GTGT

    – Hoá đơn bán hàng

    – Các bảng kê bán hàng hoá

    – Sổ chi tiết bán hàng

             3.1.1.2 Thủ tục và trình tự luân chuyển chứng từ:

    Hoá đơn bán hàng do người bán lập khi bán hàng theo mẫu sổ của Bộ tài chính quy định để làm căn cứ ghi sổ. Hoá đơn được lập thành 3 liên:

    + Liên 1: lưu làm hồ sơ gốc.

    + Liên 2: giao cho người mua hàng làm chứng từ đi đường và ghi sổ kế toán đơn vị mua.

    + Liên 3: Người bán giữ để làm chứng từ thu tiền và ghi nhận doanh thu hoặc cuối ngày mang cùng tiền mặt, séc nộp cho kế toán để làm thủ tục nhập quỹ và ghi sổ kế toán có liên quan. Nếu khách hàng thanh toán bằng tiền thì đóng dấu “Đã thu tiền”. Nếu khách hàng chưa thanh toán tiền thì ghi Nợ phải thu.

    Trình tự luân chuyển chứng từ: Khi có khách hàng đến mua hàng với số lượng lớn thì thủ kho và nhân viên bán hàng tiến hành lập hoá đơn bán hàng, vô sổ sách chứng từ có liên quan, trình để ký đóng dấu và đưa cho kế toán trưởng ký tên xác nhận và tiếp tục chuyển lên Ban giám đốc ký tên và đóng dấu rồi đem xuống kho. Tại kho, thủ kho sẽ xuất số lượng thực tế theo số lượng được ghi trên hoá đơn xuất hàng và đóng dấu “ Đã giao hàng”. Sau đó, thủ kho giao liên đỏ cho người mua, người mua nhận hàng, ký tên xác nhận và liên xanh được chuyển lên phòng kế toán để thanh toán tiền. Cuối cùng, kế toán sẽ hạch toán vào các sổ sách liên quan như: sổ chi tiết bán hàng, Sổ Nhật ký – Sổ Cái

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 511- Doanh thu bán hàng

    Ngày Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ :    
            Tháng 4 Phải thu khách hàng 1311   10.508.665.559
    Tháng 5 Phải thu khách hàng 1311   13.573.916.383
    Tháng 6 Phải thu khách hàng 1311   14.530.175.947
    Tháng 7 phải thu khách hàng 1311   11.248.813.300
    Tháng 8 Phải thu khách hàng 1311   8.782.495.828
    Tháng 9 Phải thu khách hàng 1311   7.478.207.800
    Tháng 10 Phải thu khách hàng 1311   12.125.829.131
    Tháng 11 Phải thu khách hàng 1311   15.874.386.432
    Tháng 12 Phải thu khách hàng 1311   15.540.360.500
      Xác định KQKD 911 109.662.850.880  
    Phát sinh 109.662.850.880 109.662.850.880
    Lũy kế    
    Số dư cuối kỳ    

             3.1.1.3.Sơ đồ hạch toán:

    Cuối năm kế toán tổng hợp số liệu và khoá sổ chi tiết bán hàng.Sau đó tổng hợp chi tiết (số liệu được kiểm tra đối chiếu với số phát sinh trên Nhật ký – Sổ cái), sau cùng kế toán áp dụng số liệu trên để lập báo cáo tài chính.

        TK 911                                 TK 511                                   `TK112,131

    109.622.850.880                                 109.622.850.880

        3.1.2.Kế toán doanh thu hoạt động tài chính:

    Các khoản thu nhập hoạt động tài chính bao gồm : Lãi tiền gửi ngân hàng,chênh lệch tỷ giá ngoại tệ

    3.1.2.1.Chứng từ sử dụng:

    – Sử dụng các hoá đơn

    –  Các chứng từ thu tiền liên quan

             3.1.2.2.Sổ kế toán:

         SỔ CÁI TỔNG HỢP

              Năm 2008

    TK 515 –Doanh thu hoạt động tài chính

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Tiền gửi ngân hàng –

     

    tiền Việt Nam

    1121   8.559.221
    Xác định KQKD 911 8.559.221  
    Phát sinh: 8.559.221 8.559.221
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

             3.1.2.3.Sơ đồ hạch toán:

    TK911                                           TK 515                                  TK1121

    8.559.221                              8.599.221

        3.1.3.Kế toán giá vốn hàng bán:

             3.1.3.1.Chứng từ sử dụng:

    – Phiếu xuất kho

    – Bảng kê hàng hoá mua vào

             3.1.3.2.Sổ kế toán

    Giá vốn hàng bán được kế toán phản ánh ngay khi xuất kho bán hàng.Sau đó  ghi vào nhật ký sổ cái để cuối kỳ tiến hành đối chiếu số liệu dùng làm báo cáo.

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 632- Giá vốn hàng bán

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Hàng hoá 1561 106.421.587.363  
    Xác định KQKD 911   106.421.587.363
    Phát sinh: 106.421.587.363 106.421.587.363
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

    3.1.3.3.Sơ đồ hạch toán:

           TK 156                                       TK 632                                    TK 911

    106.421.587.362                  106.421.587.362

        3.1.4.Kế toán chi phí bán hàng:

              3.1.4.1.Chứng từ sử dụng:

    – Phiếu chi

    – Chứng từ gốc

           3.1.4.2.Trình tự luân chuyển chứng từ

               Hàng  ngày có các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến bộ phận bán hàng, kế toán sẽ ghi sẽ ghi vào sổ Nhật ký – sổ cái.Sau đó  được ghi vào Sổ, Thẻ kế toán chi tiết có liên quan..

             3.1.4.3.Sổ kế toán :

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 641- Chi phí bán hàng

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Khấu hao TSCĐ 2141 7.959.616  
    Chi phí chuyển tiền 338 8.955.888  
    Phân bổ CCLĐ 242 7.185.953  
    Lương bán hàng 3443 136.800.000  
    Chi lệ phí hải quan 3339 12.660.000  
    Xác địnhKQKD 911   173.561.457
    Phát sinh: 173.561.457 173.561.457
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

             3.1.4.4:Sơ đồ tài khoản:

    TK2141                                              TK 641                                           TK 911

    7.959.616                      7.959.616        173.561.457            173.561.457

    TK 338

    8.955.888                       8.955.888

    TK 242

    7.185.953                    7.815.983

    TK 3343

    136.800.000              136.800.000

    TK 3393

    12.660.000                     12.660.000

    173.561.457        173.561.457

     

        3.1.5.Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp:

              3.1.5.1.Chứng từ sử dụng:

    – Chứng từ chi

    – Phiếu chi

    – Giấy đề nghị chi

    – Bảng tính lương và các khoản trích theo lương

    – Hoá đơn điện, nước, điện thoại

    – Giấy thông báo nộp thuế

             3.1.5.2.Trình tự luân chuyển :

    Sau khi hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hằng ngày có liên quan đến việc quản lý doanh nghiệp vào chứng từ gốc. Căn cứ vào chứng từ gốc, nhân viên kế toán sẽ ghi vào sổ Nhật ký – sổ cái. Đến cuối tháng, kế toán sẽ hạch toán vào Sổ, Thẻ kế toán chi tiết có liên quan.

             3.1.5.3.Sổ kế toán:

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 641- Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Lương gián tiếp 3341 157.500.000  
    BHXH + BHYT 3383 30.753.000  
    Chi BHTS 242 10.878.091  
    Văn phòng phẩm 1111 5.511.700  
    Chi tiếp khách 1111 7.400.000  
    Chi trả tiền điện-nước , điện thoại 1111 9.998.819  
    Thuế môn bài 3338 2.000.000  
    Chi khác 1121 48.219.589  
    X ác định KQKD 911   272.261.199
    Phát sinh: 272.261.199 272.261.199
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

            3.1.5.4.Sơ đồ tài khoản:

    TK1111                                         TK 642                                              TK911

    22.910.519            22.810.519

    272.261.199              272.261.199

          TK1121

     

    48.219.589            48.219.589

     

          TK242

    10.878.091               10.78.091

             TK 3341

    157.500.000          157.500.000

    TK 3338

    2.000.000               2.000.000

         TK 3383

     

    30.753.000             30.753.000

     
       

    272.261.199           272.261.199

     

        3.1.6.Kế toán chi phí tài chính:

    Trong năm 2008,doanh nghiệp không có hoạt động nào phát sinh chi phí tài chính.

        3.1.7.Kế toán thu nhập khác:

               3.1.7.1.Chứng từ sử dụng:

    – Sử dụng hoá đơn

    – Các chứng từ thu tiền liên quan

              3.1.7.2.Sổ kế toán:

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 711 – Thu nhập khác

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Tiền mặt –

     

    Tiền Việt Nam

    1111 6.014.776.249  
    Xác định KQKD 911   6.014.776.249
    Phát sinh: 6.014.776.249 6.014.776.249
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

             3.1.7.3.Sơ đồ kế toán:

    TK 911                              TK 711                             TK 1111

     

     

                             6.014.776.249                      6.014.776.249

     

     

     

        3.1.8.Kế toán chi phí khác:

             3.1.8.1.Chứng từ sử dụng:

    – Phiếu chi

    – Biên bản xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế

              3.1.8.2.Sổ kế toán:

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 811 – Chi phí khác

     

    Diễn giải Tài khoản

     

    đối ứng

    Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Tiền mặt

     

    Tiền Việt Nam

    1111 5.349.033.221  
    Xácđịnh KQKD 911   5.349.033.221
    Phát sinh: 5.349.033.221 5.349.033.221
    Luỹ kế:    
    Số dư cuối kỳ:    

              3.1.8.3.Sơ đồ hạch toán:

    TK 911                           TK 811                             TK1111

     

                            5.349.033.221           5.349.033.221

     

        3.1.9.Kế toán xác định kết quả kinh doanh:

              3.1.9.1.Sổ kế toán:

    Cuối kỳ kế toán tập hợp doanh thu ,chi phí để xác định kết quả lãi lỗ kinh doanh trong kỳ.

     

    SỔ CÁI TỔNG HỢP

    Năm 2008

    TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh

     

    Diễn giải Tài khoản đối ứng Số tiền phát sinh
    Nợ
    Số dư đầu kỳ:    
    Giá vốn hàng bán 632 106.421.587.363  
    Chi phí bán hàng 641 173.561.457  
    Chi phí quản lý doanh nghiệp 642 272.261.199  
    Doanh thu tài chính 515   8.599.221
    Doanh thu bán hàng 5111   109.662.850.880
    Thu nhập khác 711   6.014.776.249
    Chi phí khác 811 5.349.033.221  
    Lợi nhuận năm nay 4212 3.469.783.110  
    Phát sinh: 115.686.226.350 115.686.226.350
    Luỹ kế:    
    Dư cuối:    

        3.1.9.2.Sơ đồ hạch toán:

        TK 632                                TK 911                                   TK 5111

    106.421.587.363                       109.662.850.880

           
           

    TK 641                                                                          TK 515

     
       

    173.561.457                                      8.599.221

    TK 642                                                                                     TK 711

           
           

    272.261.199                                      6.014.776.249

           
           

    TK 811

     
       

    5.349.033.221

    TK 421

    3.469.783.110

                               115.686.226.350               115.686.226.350

     

         
         
     
       

     

     

     

     

     

     

     

       

    Cty TNHH SX – TM – DV& XD LÝ TÀI PHÁT

    Địa chỉ: Căn 14, lô 6 khu Trung TâM TM Trần Hầu

    MST :1700568093 

    Mẫu số B 02 – DNN

                 (ban hành theo QĐ số 48/2006/QĐ –BTC

                       ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC

                     BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

                                             Năm 2008

                                                                                        Đvt: Đồng

    CHỈ TIÊU MÃ SỐ Thuyết minh Năm 2008
    A B C 1
    1.Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1   109.662.850.880
    2.Các khoản giảm trừ doanh thu 2    
    3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (10 = 01 – 02 ) 10   109.662.850.880
    4.Giá vốn hàng bán 11   106.421.587.363
    5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ ( 20 = 10 – 11 ) 20   3.241.263.517
    6. Doanh thu hoạt động tài chính 21   8.599.221
    7. Chi phí tài chính 22    
    Trong đó: Chi phí lải vay 23    
    8. Chi phí quản lý kinh doanh 24   445.822.656
    9. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh ( 30 = 20 + 21 – 22 – 24 ) 30   2.804.040.082
    10. Thu nhập khác 31   6.014.776.249
    11. Chi phí khác 32   5.349.033.221
    12. Lợi nhuận khác ( 40 = 31 – 32 ) 40   665.743.028
    13. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế ( 50 = 30 + 40 ) 50   3.469.783.110
    14. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 51    
    15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp ( 60 = 50 – 51 ) 60   3.469.783.110

    3.2.KẾ TOÁN PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN:

             Qua quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,doanh nghiệp sẽ có khoản thu nhập sau khi đã bù đắp các khoản chi phí có liên quan, phần còn lại là lợi nhuận.

    Lợi nhuận của doanh nghiệp là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nói lên sự nỗ lực phấn đấu của từng bộ phận, từng công nhân viên trong doanh nghiệp, nhất là sự lãnh đạo của Giám Đốc công ty.

    Do là doanh nghiệp tư nhân không có trích lập các quỹ cho doanh nghiệp nên phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệp chủ yếu sử dụng để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ kế tiếp.

    CHƯƠNG 4

    KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

    4.1.NHẬN XÉT:

         4.1.1.Nhận xét về công tác kế toán:

    Công tác kế toán tại Công ty TNHH SX – TM – DV & XD Lý Tài Phát được tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt,có tính khoa học.Hình thức mở sổ kế toán của doanh nghiệp đúng theo chuẩn mực của nhà nước quy định.

    Trong tổ chức bộ máy kế toán của Công ty theo hình thức tập trung, vì tất cả các công việc hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng, trong năm của Công ty đều được tập trung giải quyết tại phòng Kế Toán nên đảm bảo được tính thống nhất, chặt chẽ, tiết kiệm, việc xử lý và cung cấp thông tin nhanh nhạy. Nhờ đó Công ty cũng dễ dàng trong việc theo dõi, quản lý và chỉ đạo công tác kế toán một cách có hệ thống.

    4.1.2.Nhận xét về chế độ kế toán sử dụng:

    Hiện nay doanh nghiệp đã áp dụng chế độ kế toán đúng với Quyết định số: 48/2006 /QĐ-BTC về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC.

    Nhằm đảm bảo cho việc thu thập, xử lý thông tin và kiểm tra, kiểm soát, kế toán doanh nghiệp đang vận dụng chế độ kế toán từ Nhật ký – sổ cái, hệ thống tài khoản kế toán đến việc tổ chức, vận dụng sổ sách kế toán, hệ thống báo cáo kế toán đều thực hiện đúng chế tài chính kế toán quy định hiện hành theo các văn bản của Bộ tài chính.

    Doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm kế toán vào hạch toán, hệ thống mẫu sổ sách, báo cáo được thiết lập sẳn, do đó số liệu được rút trích tự động,  điều đó đã giảm nhẹ rất nhiều trong công tác kế toán. Trên cơ sở đó luồng thông tin giữa các pḥòng ban được cung cấp nhanh chóng, chính xác giúp các bộ phận phối hợp hoạt động, ban Giám đốc ra quyết định kịp thời, tránh những tình trạng tiêu cực trong quản lý.

    Mọi hoạt động thu, chi đều phải dưạ trên chứng từ đã được ký duyệt, thể hiện sự kiểm soát tốt tình hình thu chi tiền mặt. Những hoạt động khác từ các bộ phận đều phải thông qua sự xét duyệt của ban Giám đốc Doanh nghiệp hoặc người có thẩm quyền.

    Một điều đáng chú ý nữa là doanh nghiệp rất quan tâm đến đời sống của nhân viên luôn có chế độ ưu đăi đối với họ. Chính vì thế nên nhân viên làm việc rất nhiệt tình, thoải mái luôn hoàn thành tốt công việc được phân công.

    4.2.Kiến nghị

    Trong quá trình thực tập tại Doanh nghiệp, so sánh giữa thực tế ở Doanh nghiệp và kiến thức đã thu thập trong nhà trường. Em xin được đưa ra một số kiến nghị sau :

    – Thường xuyên tạo điều kiện để cán bộ, nhân viên kế toán tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn nhằm nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn.

    – Doanh nghiệp cần phải liên tục cập nhật những chuẩn mực kế toán mới áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để công tác kế toán ngày càng chính xác hơn.

    – Tuy phần mềm kế toán đã giúp không ít cho công việc kế toán của Công ty nhưng kế toán cũng cần phải rà soát các số liệu thật kỹ nhằm tránh xảy ra sai xót.

    4.3.Kết luận:

    Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, tiêu thụ hàng hóa là thực hiện giá trị của hàng hóa, kết thúc tuần hoàn vốn kinh doanh và nhằm thực hiện giá trị sử dụng với khách hàng mua từ nhiều mục đích khác nhau. Thực hiện quá trình tiêu thụ sẽ đồng nghĩa với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhất là trong việc chuyển đổi môi trường kinh tế, tiêu thụ hàng hóa trở thành mối quan tâm hàng đầu thì việc tổ chức kế toán tiêu thụ hàng hóa càng đòi hỏi phải hoàn thiện. Thực hiện quá trình tiêu thụ quyết định sự giàu nghèo của doanh nghiệp.

    Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp, lợi nhuận phản ánh kết quả kinh doanh và trình độ quản lý của Doanh nghiệp, đồng thời là phương tiện để duy trì và mở rộng hoạt động. Xác định kết quả kinh doanh là công cụ để nhà quản lý kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác tiêu thụ, công tác quản lý, đánh giá thành quả hoạt động, xác định lợi nhuận. Do đó công tác tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh trở nên bức thiết trong hoạt động kinh doanh của đơn vị và cả những người bên ngoài có quan tâm.

    Để đảm bảo hiệu quả trong công tác hạch toán tiêu thụ, xác định kết quả đơn vị ngoài việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả còn phải không ngừng hoàn thiện hệ thống kế toán.

    Vì vậy kế toán xác định kết quả kinh doanh vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiển cao.

    Do thời gian thực tập không nhiều, bước đầu tiếp cận với thực tế, kiến thức còn hạn hẹp nên bài viết không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, giúp đỡ của Thầy Cô giáo để chuyên đề được hoàn thiện hơn, thực tiển hơn.

    Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Cô Huỳnh Thị Đăng Khoa đã giúp em hoàn thành báo cáo thực tập này.

    cce&fdd


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyên đề tốt nghiệp Phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-thu%E1%BA%BF-quan-v%C3%A0-phi-thu%E1%BA%BF-quan-trong-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-Ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-c%E1%BB%A7a-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản

    LỜI NÓI ĐẦU

    1.Tính cấp thiết của đề tài :

    Ngày nay, trong hoạt động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia, hoạt động ngoại thương giữ vị trí vô cùng quan trọng. Một trong những công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu của chính sách thương mại là dựa vào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.

    • Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, dưới sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách thuế quan và phi thuế quan ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đối với một nước mà kinh nghiệm thị trường còn ít, thì việc học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển , đặc biệt là kinh nghiệm về chính sách Ngoại thương của Nhật Bản – đất nước được cho rằng “đã đạt tới sự phát triển thần kỳ” là vô cùng cần thiết.

     

    1. Mục đích nghiên cứu :
    • Phân tích ảnh hưởng của chính sách thuế quan và phi thuế quan đối với ngoại thương của Nhật Bản.

     

    • Từ sự nghiên cứu tìm hiểu thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản rút ra những bài học từ kinh nghiệm và khả năng áp dụng đối với Việt Nam trong việc phát triển ngoại thương hiện nay.

     

    1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

    Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận này chỉ nghiên cứu thuế nhập khẩu, các biện pháp phi thuế quan quản lý nhập khẩu của Nhật Bản những năm gần đây, từ đó rút ra bài học trong việc vận dụng đối với Ngoại thương ở Việt Nam.

    __________________________________________________________

    _____________

    1

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    4.Kết cấu khóa luận :

    Ngoài Lời nói đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương như sau :

    Chương I: Tổng quan về các công cụ của chính sách Ngoại thương

    Chương II:                    Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan trong chính sách Ngoại thương của Nhật Bản.

    Chương III: Bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện chính sách phát triển ngoại thương Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như : phương pháp phân tích tổng hợp, duy vật biện chứng & duy vật lịch sử, phương pháp thống kê số liệu, so sánh đối chiếu …

    Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô trong Khoa Kinh tế Ngoại thương, đặc biệt là Thạc sỹ Nguyễn Quang Minh đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý thực hiện đề tài để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành đúng thời hạn.

    CHƯƠNG I

     

    TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ CỦA

     

    CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG

     

    __________________________________________________________

    _____________

    2

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia. Đây là một hệ thống các nguyên tắc và các biện pháp kinh tế, hành chính, pháp luật thích hợp mà nhà nước áp dụng để đạt được nhữngmục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương. Bản chất của chính sách ngoại thương thể hiện bản chất của chế độ xã hội và do chế độ xã hội quyết định, vì vậy nó luôn được điều chỉnh một cách mềm dẻo để phù hợp với từng thời kỳ phát triển. Mặc dù được điều chỉnh liên tục nhưng chính sách ngoại thương vẫn phải luôn luôn đảm bảo mục tiêu : tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng nhanh qui mô xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới trong khi vẫn bảo vệ được thị trường nội địa, hạn chế được những cạnh tranh bất lợi từ bên ngoài.

    Có rất nhiều hình thức và công cụ trong chính sách ngoại thương nói chung và mỗi quốc gia sẽ tự chọn lựa cho mình một công cụ phù hợp nhất. Tuy nhiên, trong các công cụ của chính sách ngoại thương, hầu hết các quốc gia đều chọn thuế quan và các biện pháp phi thuế quan làm công cụ mũi nhọn. Điều này chứng tỏ rằng thuế quan và các biện pháp phi thuế quan có những ưu thế mà những công cụ khác khó có thể so sánh được. Đây chính là đặc điểm mà chúng ta nên nghiên cứu.

    I.                   CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.

     

    1.     Khái niệm:

    Chính sách ngoại thương là một hệ thống nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành chính và pháp luật liên quan đến hoạt động ngoại thương mà Nhà nước áp dụng để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của một đất nước trong một thời kỳ nhất định. Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói chung của Nhà nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    3

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Mục tiêu cơ bản của chính sách ngoại thương là hướng tới việc sử dụng và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Chính sách ngoại thương vùa thể hiện chính tất mở của nền kinh tế, vừa thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.

    2.Nhiệm vụ và vai trò của chính sách ngoại thương.

    Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi nhất nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như thông qua đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các doanh nghiệp. Đồng thời chính sách ngoại thương còn phải góp phần bảo hộ hợp lý sản xuất nội địa , hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.

    Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm soát hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.

    Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng cách tạo ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp, để khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay tiền…. thì hộ biết mình phải làm gì, hoặc có thể học được cách thực thi việc đó.

    Doanh nhân phải biết tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn kinh doanh ở nước ngoài. nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương không phủ nhận một thực tế là chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính sách ngoại thương là một qúa trình tất yếu. chính sách ngoại thương tác động đến chiều hướng phát triển của nền kinh tế, đến công thương nghiệp thông qua ảnh hưởng của chúng đến các chi phí troa đổi và sản xuất. Vì vậy tác động của chính sách ngoại thương đến nền kinh tế , dến chính sự phát triển ngoại thương theo chiều hướng nào phụ thuộc vào chính sách đó có quan tâm đến lợi ích của doanh nhân và người tiêu dùng hay không. Do đó chính sách ngoại thương phải bắt đầu

    __________________________________________________________

    _____________

    4

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    từ lợi ích của các nhà kinh doanh, của giới tiêu dùng. Tuy nhiên các chính sách ngoại thương sẽ hận chếmột số lựa chọn của nhà sản xuất và tiêu dùng. Đảm bảo sự hài hoà lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và quốc gia trong hoạt động ngoại thương là mục tiêu quan trọnh của chính sách ngoại thương. Tuy là bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế nói chung của nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định nhưng chính sách ngọai thương có những đặc điểm riêng. Đó là:

    • Việc ban hành chính sách ngoại thương là công việc nội bộ của mỗi quốc gia, phải xuất phát từ lợi ích nước mình nhưng không được gây tổn hại đến lợi ích nước khác.
    • Chính sách ngoại thương làm cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho một quốc gia hội nhập về kinh tế với các nền kinh tế khu vực và quốc tế theo những bước đi có hiệu quả.
    • Chính sách ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toán thu chi. Các hoạt động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát triển vầ cân đối nền kinh tế quốc dân mà còn có nhiệm vụ đặc thù là cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

    II.               CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG.

     

    1.     THUẾ QUAN

    1.1. Khái niệm

    Là loại thuế lấy vật phẩm xuất nhập qua biên giới quốc gia hay quá cảnh làm đối tượng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của nhà nước do hải quan thực hiện. Một số hiệp định quốc tế đã đưa ra định nghĩa rõ ràng hơn về thuế quan là “ Thuế thu theo tỷ suất thuế kê rõ trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu”. khái niệm này mmột mặt tách đối tượng nghiên cứu với thuế trong nước, mặt khác tách biệt thuế quan với các loại thuế khác thu được từ xuất khẩu, nhập khẩu như thuế chống phá giá, thuế trả đũa… các loại thuế như vậy chuyên thu với hàng nhập khẩu không gắn với thuế quan.

    __________________________________________________________

    _____________

    5

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2. Vai trò của thuế quan

    Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình. Mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia, ở vào các thời kỳ khác nhau không giống nhau. Trong xã hội phong kiến, thu thuế chủ yếu là tăng thu nhập tài chính quốc gia. Bước sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, thuế quan không chỉ là nguồn thu tài chính mà còn là công cụ thực hiện chính sách ngoại thương của các nước. Tuy nhiên, trong tất cả các nền kinh tế xã hội, thuế đều có vai trò như sau:

    1.2.1. Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

    Trong nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản thu như : thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách chính phủ. Trong các khoản thu đó, có thể nói rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước.

    Suốt thời kỳ dài của lịch sử từ sau khi thuế quan ra đời, nhìn chung mục đích thu thuế là để cho giai cấp thống trị hoặc thu nhập tài chính quốc gia hoặc cung đình. Sau khi kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, để bảo vệ sản xuất và phát triển kinh tế của mình, các nước lợi dụng thuế quan làm phương tiện bảo vệ bảo hộ, từ đó xuất hiện thuế quan bảo hộ nhưng thuế quan tài chính vẫn là nguồn thu nhập tài chính của quốc gia.

    Từ kinh nghiệm của các nước, có hai vấn đề có tính nguyên tắc cần chú ý trong chính sách thuế quan để có thể tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách là :

    • Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại không gây cản trở, thậm trí còn kích thích sự phát triển kinh tế xã hội. Thuế không được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
    • Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế bớt cảm thấy gáng nặng của thuế.

    __________________________________________________________

    _____________

    6

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân

    Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà nước, tạo ra một nguồn nhất định dự phòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những điều kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó khăn.

    Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế suất phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, có chính sách ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.

    1.2.3. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :

    Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính phủ các nước hay sử dụng là đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu để làm tăng giá thành hàng hoá nhập khẩu, dẫn đến giảm mức cạnh tranh với sản phẩm trong nước. Thuế quan bảo hộ nói chung là bảo hộ cho công nghiệp nội địa còn yếu kém và hàng hoá mẫn cảm cạnh tranh. Tỷ lệ thuế quan bảo hộ về lý thuyết sẽ không thấp hơn mức chênh lệch giữa giá trong nước và giá nhập khẩu. Nhưng trong thực tế thì tỷ lệ thuế cao hay thấp còn phụ thuộc vào tình hình cung cầu cũng như điều kiện thay đổi cung cầu gây ảnh hưởng đến giá cả hàng nhập khẩu.

    1.2.4. Thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại :

    Có thể nói, thuế quan là biện pháp hay sử dụng để thực hiện phân biệt đối xử giữa các nước trong quan hệ thương mại. Các nước có thể thực hiện thuế ưu đãi đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc hoặc những thoả thuận ưu đãi riêng và áp dụng thuế trả đũa đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước có thực hiện các biện pháp bán phá giá, trợ giá của chính phủ hoặc từ những nước có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của nước mình.

    __________________________________________________________

    _____________

    7

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.2.5. Góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối:

    Trong nền kinh tế tập trung, tình trạng phân cực giàu nghèo là khó có thể tránh khỏi. Tình trạng này không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Vì vậy sự can thiệp, điều tiết của chính phủ rất quan trọng, trong đó thuế là một công cụ hữu ích. Thông qua thuế, chính phủ có thể thực hiện điều tiết thu nhập bằng cách đánh thuế cao đối với những công ty, cá nhân có thu nhập cao và đánh cao vào những hàng hoá dịch vụ cao cấp mà đối tượng phục vụ chủ yếu là tầng lớp có thu nhập cao và ngược lại.

    Có thể nói thuế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính sách ngoại thương của mọi quốc gia. Trong xu hướng đưa hoạt động ngoại thương và thương mại quốc tế vào môi trường tự do cạnh tranh, các quốc gia đều cố gắng giảm dần mức thuế quan xuống, tiến tới xoá bỏ các rào cản thương mại. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã đề xướng tự do thương mại, huỷ bỏ hoặc cắt giảm các rào cản thương mại. Trong 7 vòng đàm phán (1948-1994) các thành viên GATT đã đạt được thoả thuận giảm thuế cho 89.900 hạng mục hàng hoá. Tỷ lệ thuế quan nói chung đã giảm đi nhiều, theo hiệp định Urugoay (kết quả của vòng đàm phán thứ 8 của GATT), mức thuế quan trung bình giảm 40%. Khi đó mức thuế nói chung ở các nước công nghiệp phát triển còn khoảng không quá 5%, trừ hàng dệt và may mặc, mức trung bình khoảng 10-40% chủ yếu là đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Mức thuế quan trung bình ở các nước Đông Á chỉ còn từ 5-15%, Nam Á 10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu Phi 10-25%.

    1.3.Phân loại thuế quan:

    1.3.1. Phân loại theo mục đích đánh thuế :

    • Thuế tài chính (còn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá để tăng thu cho ngân sách nhà nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    8

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm cho giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm sức cạnh tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.

    1.3.2. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :

    • Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.
    • Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai chức năng về tài chính và bảo hộ.
    • Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay lãnh thổ của một quốc gia.

    1.3.3. Phân loại theo phương pháp tính thuế :

    • Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của lô hàng.
    • Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng lượng của lô hàng.
    • Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.

    1.3.4. Phân loại theo mức tính thuế :

    • Thuế suất ưu đãi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước hay những khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sơ ký kết các thoả thuận dành cho nhau những ưu đãi về thuế quan.
    • Mức thuế phổ thông : là mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ những nước hoặc khu vực không có thoả thuận dành cho nhau ưu đãi về thuế quan.

    __________________________________________________________

    _____________

    9

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Mức thuế tự vệ : là mức thuế do chính phủ quyết định áp dụng trong từng trường hợp cụ thể. Ví dụ : khi hàng hoá nước ngoài được bán phá giá trong thị trường nước mình hoặc hàng hoá nhập khẩu từ một nước có chính sách bảo hộ, trợ giá cho hàng xuất khẩu.

    2.            CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

    2.1. Khái niệm :

    Phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan làm cản trở tự do thương mại. Trước kia các nước thường hay sử dụng biện pháp phi thuế quan với mục đích chủ yếu là để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hiện nay cùng với xu thế quốc tế hoá ngày càng mở rộng, biện pháp này dần dần được xoá bỏ và thay thế bằng các biện pháp thuế quan.

    2.2 Vai trò của phi thuế quan :

    Phi thuế quan cũng thường được sử dụng với những mục đích tương đối giống thuế quan. Tuy nhiên, theo thời gian, đi đôi với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế là sự phát sinh nhiều vấn đề và vai trò của phi thuế quan đã được mở rộng, gây ảnh hưởng gián tiếp đến những quan hệ khác. Một trường hợp điển hình là nó được sử dụng như là một trong những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường – một vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu hiện nay. Vấn đề này cũng ảnh hưởng đến chính sách ngoại thương giữa các nước, đặc biệt là quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, liên quan đến việc chuyển vốn và công nghệ.

    Theo nguyên tắc lợi thế so sánh, ngoại thương sẽ tạo ra lợi nhuận cho cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, nhưng đối với những nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, không khí, đất đai mà mọi người nghĩ là vô tận thì không thể phản ánh được chi phí môi trường vì chi phí để bảo vệ, làm sạch hầu như không thể hiện.

    __________________________________________________________

    _____________

    10

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    GATT thừa nhận những trường hợp ngoại lệ của việc tự do hoá ngoại thương như đưa ra những biện pháp qui định để bảo vệ sức khoẻ con người, tài nguyên thiên nhiên nhưng vấn đề bảo vệ môi trường cũng không được qui định một cách rõ ràng. Trên thực tế, các nước vẫn đưa ra những biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường đối với hoạt động ngoại thương, trong đó tích cực sử dụng các biện pháp phi thuế quan như đặt ra những tiêu chuẩn về vệ sinh đối với mặt hàng lương thực thực phẩm, tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với mặt hàng máy móc thiết bị …

    2.3. Các biện pháp phi thuế quan.

    2.3.1 Hạn ngạch nhập khẩu.

    Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực hiện vì thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà nước quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh. toán.

    2.3.2 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).

    Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.

    Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối đe dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.

    2.3.3 Giấy phép nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    11

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của Nhà nước. Nó đòi hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan quản lý Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép nhập khẩu, yêu cầu các nhà nhập khẩu phải đệ trình đơn hoặc các tài liệu khác cho cơ quan quản lý hành chính có liên quan như là một số điều kiện để nhập khẩu.

    Giấy phép nhập khẩu có hai loại thường gặp: Giấy phép tự động và giấy phép không tự động. Với loại giấy phép thứ nhất: Người nhập khẩu xin phép nhập khẩu thì cấp gay không cần đòi hỏi gì cả. Với loại giấy phép thứ hai: nmgười nhập khẩu bị ràng buộc bởi các hạn chế nhập khẩu.

    Giấy phép nhập khẩu ngày nay ít được sử dụng hơn so với trước. Mặc dù vậy, hệ thống giấy phép này vẫn cần để quản lý nhập khẩu một số mặt hàng.

    2.3.4 Chế độ hạn ngạch thuế

    Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ trong đó quy định áp dụng dụng mức thuế thấp hơn hoặc bằng không (0%) đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng số lượng quy định, nhằm bảo đảm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

    Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm bảo hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất nội địa. Vì vậy, Chính phủ thường nghiên cứu kỹ càng việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế đối với từng mặt hàng trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trong nước để đề ra mức thuế olần một, lần hai và thời hạn áp dụng… nhằm thúc đẩy tự do hoá ngoại thương.

    Như vậy chế độ hạn ngạch nhập khẩu, nhà nhập khẩu chỉ được phép nhập khẩu trong phạm vi số lượng quy định., Còn trong chế độ hạn ngạch thuế, nhà

    __________________________________________________________

    _____________

    12

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng quy định nhưng phải nộp thuế theo mức thuế quy định (mức thuế lần 2) đối với phần vượt đó.

    Theo quy định của GATT/ WTO, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối sử với tùng nước.

    2.3.5 Các biện pháp mang tính hành chính – kỹ thuật hạn chế nhập

    khẩu.

    Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng xuất, nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đưa ra những biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau để kiểm soát hàng hoá xuất khâủ, nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    13

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    CHƯƠNG II

    CÁC BIỆN PHÁP THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

    Như chúng ta đã biết Nhật Bản là một quần đảo với diện tích là 372.815 km2. Mặc dù diện tích lớn hơn diện tích nước ta (khoảng 15%), song Nhật Bản lại là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên. Rừng núi chiếm 2/3 diện tích cả nước, diện tích đất trồng trọt được chỉ chiếm 15%. Khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua. Đối với các nguyên liệu cơ bản như đồng, chì, kẽm, nhôm…. Nhật Bản đều phải phụ thuộc

    vào nhập khẩu từ nước ngoài. Thêm vào đó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề nền kinh tế đất nước. Tài nguyên duy nhất của Nhật Bản để phục hồi kinh tế đó là con người.

    Trong điều kiện khó khăn như thế, Nhật Bản đã biết phát huy lợi thế của mình để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế, coi ngoại thương là nhiệm vụ sống còn của đất nước. Vì vậy, chính sách ngoại thương , cụ thể là chính sách xuất khẩu và nhập khẩu của Chính phủ trong lĩnh vực ngoại thương hết sức quan trọng.

    Trong chương này chúng ta sẽ lần lượt xem xét nghiên cứu các chính sách thuế quan và sự phát triển của ngoại thương Nhật bản trong những năm gần đây.

    I. CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN

    1. Các loại thuế

    1.1. Thuế theo giá : Là loại thuế đánh theo tỷ lệ giá hàng hoá nhập khẩu, do đó số tiền thuế biến động theo sự thay đổi của giá hàng nhập khẩu. Trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp thì tiền thuế thấp và chức năng bảo hộ sản

    __________________________________________________________

    _____________

    14

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    xuất trong nước không rõ ràng. Bên cạnh đó, thuế theo giá cũng có nhược điểm là cơ quan tính thuế sẽ gặp khó khăn trong việc xác định chính xác giá hàng nhập khẩu để đánh thuế.

    1.2. Thuế theo lượng : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa trên số lượng, dung tích, trọng lượng … hàng nhập khẩu, do đó mức thuế sẽ không phụ thuộc vào giá cả hàng hoá nhập khẩu. Theo phương pháp này, có thể tính toán số tiền thu thuế một cách đơn giản, nhưng khi giá hàng hoá biến động thì sẽ phát sinh sự không công bằng trong việc chịu thuế giữa các đối tượng bị đánh thuế.

    1.3. Thuế giá chênh lệch : Là loại thuế đánh vào hàng hoá dựa vào mức chêch lệch giữa giá hàng nhập khẩu và giá tiêu chuẩn do nhà nước qui định. Áp dụng loại thuế này sẽ không bị thất thu trong trường hợp giá hàng nhập khẩu thấp hơn mức giá tiêu chuẩn. Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng loại thuế này đối với lợn, thịt lợn và các mặt hàng chế biến từ thịt lợn.

    1.4. Thuế theo mùa : Là loại thuế mà mức thuế áp dụng sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nhập khẩu. Chẳng hạn, trong thời kỳ hàng hoá sản xuất trong nước đang mùa thu hoạch thì người ta sẽ đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu có sức cạnh tranh với hàng hoá đó để bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước. Nhưng khi chuyển sang các mùa khác thì người ta lại đánh thuế thấp để có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ở Nhật Bản thường hay áp dụng phương pháp tính thuế này đối với các loại trái cây sản xuất trong nước có chi phí cao, không trồng được quanh năm và rất khó cạnh tranh với các loại trái cây nhập khẩu giá rẻ như chuối, cam …

    1.5. Các loại thuế khác :

    • Thuế lựa chọn : áp dụng đối với những hàng hoá đồng loại, số lượng lớn. Người ta qui định cả 2 cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng và có thể chọn một trong hai cách tính theo số tiền thuế cao hay thấp.

    __________________________________________________________

    _____________

    15

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Thuế hỗn hợp : là tổng hợp cách tính thuế theo giá và thuế theo lượng, cũng áp dụng đối với hàng hoá đồng loại số lượng lớn.
    • Chế độ hạn ngạch thuế : là chế độ áp dụng mức thuế suất thấp hoặc bằng 0 khi hàng hoá nằm trong một số lượng qui định nhưng khi số lượng vượt quá mức qui định thì sẽ áp dụng mức thuế cao đối với phần vượt đó.

    Mỗi cách tính thuế đều có ưu điểm và nhược điểm. Tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất trong nước, tính chất của hàng hoá … mà chọn cách tính thuế phù hợp để vừa có thể đảm bảo tiền thu thuế cao vừa thực hiện chức năng bảo hộ sản xuất trong nước mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng.

        Biểu đồ 1: Các loại thuế
    CIF+ Thuế          
        CIF+ Thuế
    __________________________________________________________
        _____________
      CIF 16
     
            Thuế
             
             

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nguồn: Nihon no kanzei, NXB Zaikeiyohosha- 1998

    2. Các loại mức thuế

    Nhật Bản có hai loại mức thuế quốc định qui định trong luật và mức thuế hiệp định trong các hiệp ước.

    2.1. Mức thuế quốc định:

    __________________________________________________________

    _____________

    17

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Mức thuế cơ bản : theo luật thuế hải quan, đây là mức thuế được áp dụng trong thời gian dài. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 6.952 mặt hàng.
    • Mức thuế tạm thời : theo luật thuế tạm thời, đây là mức thuế mang tính tạm thời được áp dụng thay cho mức thuế cơ bản trong một thời gian nhất định trong trường hợp khó áp dụng mức thuế cơ bản. Số lượng mặt hàng áp dụng mức thuế này tính đến năm 1997 là 1.010 mặt hàng.
    • Mức thuế ưu đãi : là mức thuế được áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển và thấp hơn so với mức thuế qui định đối với hàng nhập khẩu từ các nước phát triển.

    2.2. Mức thuế hiệp định:

    Là mức thuế được thoả thuận trong các hiệp định với nước ngoài, theo đó sẽ chỉ đánh thuế thấp hơn một mức nhất định đối với một mặt hàng nào đó. Hiện nay, mức thuế qui định trong GATT là loại mức thuế hiệp định duy nhất ở Nhật Bản. Mức thuế hiệp định được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên của GATT một cách tự động. Trên thực tế, mức thuế hiệp định cũng được áp dụng đối với những nước có thoả thuận áp dụng chính sách tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Nhật Bản. Trong trường hợp các nước muốn sửa đổi lại mức thuế đã thoả thuận thì các nước cần thiết phải thương lượng với nhau.

    3. Chế độ thuế quan

    3.1. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)

    Theo nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc không phân biệt đối xử, bất kỳ nước nào là thành viên của GATT đều được hưởng mức thuế ưu đãi mà các nước thành viên dành cho nhau. Trong những qui định của GATT có đưa ra những điều kiện như không mở rộng số nước được hưởng ưu đãi … Thế nhưng, từ sau năm 1950 dưới sức ép mạnh mẽ của một loạt các nước Châu Á, Châu Phi mới giành được

    __________________________________________________________

    _____________

    18

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    độc lập từ tay thực dân Anh, Pháp … thì cuối cùng GATT đã cho tất cả các nước đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập.

    Trải qua những cuộc thảo luận ở GATT, OECD, tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển lần thứ 2, Nhật Bản cùng 18 nước phát triển khác đã từng tuyên bố cho hưởng ưu đãi đã thực hiện chế độ ưu đãi thuế phổ cập

    Hơn nữa, từ khoảng năm 1980, các nước phát triển còn áp dụng các biện pháp đặc biệt về thuế quan ưu đãi đối với các nước chậm phát triển (LDC) nơi có GDP bình quân đầu người rất thấp. Vào năm 1978, Bangladesh đại diện cho 30 nước LDC, đã yêu cầu hãy cho các nước LDC hưởng ưu đãi và đến năm 1990 Nhật Bản đã chấp nhận.

    Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu áp dụng ưu đãi của các nước chủ

      yếu   Đơn vị tính: 1.000.000USD
                   
      Nhập khẩu từ các Nhập khẩu từ các nước được hưởng chế độ ưu đãi  
      nước trên thế giới            
                 
            Nhập khẩu những mặt hàng thuộc đối  
            tượng được hưởng ưu đãi  
                   
                Kim ngạch nhập khẩu  
                áp dụng ưu đãi  
               
    EC (Năm 1992) 567,688 149,164 74,454 35,727  
               
    Mỹ (Năm 1992) 532,654 117,900 35,700 16,700  
               
    Nhật (Năm 1996) 347,948 184,701 42,418 17.623  
                   

    ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

    Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/8/1971. Nó dựa trên hiệp ước của hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển năm 1970 và được dự định thực hiện trong 10 năm, nhưng cuối cùng được gia hạn áp dụng tới ngày 31/3/2001. Nội dung chủ yếu của chế độ này bao gồm những vấn đề sau :

    3.1.1. Danh mục hàng hóa được hưởng ưu đãi :

    __________________________________________________________

    _____________

    19

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nông thuỷ sản (từ chương 1 đến chương 24 thuộc hệ HS) : 73 mặt hàng đã được công nhận hưởng qui chế ưu đãi (hệ thống danh sách tích cực). Các mặt hàng này được lựa chọn sau khi đã cân nhắc các ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp trong nước khi chúng được hưởng quy chế ưu đãi. Thuế quan ưu đãi không áp dụng đối với các sản phẩm không có tên trong “danh sách tích cực”.

    * Các

    hệ  HS): tất

    sản phẩm từ

    bộ phận của

    sản phẩm công nghiệp, khai mỏ (từ chương 25 đến chương 97 thuộc cả đều được hưởng ưu đãi trừ 27 mặt hàng như dầu thô, đồ da, các các loại lông, gỗ dán, lụa thô, sợi lụa, vải lụa, sợi bông, giầy và các giầy … (hệ thống danh sách tiêu cực).

    3.1.2. Mức thuế ưu đãi :

    • Hàng hoá nông thuỷ sản : có mức thuế thấp hơn 10% đến 100% so với mức thuế chung hiện hành của các loại hàng hoá cùng loại.
    • Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc sẽ không phải chịu thuế nhập khẩu, tuy vậy có 66 mặt hàng mà thuế nhập khẩu không thể giảm đến 0 bởi cần tính đến các ngành sản xuất trong nước như các loại cặp bằng da, quần áo

    … Thay vào đó, các mặt hàng này chỉ phải chịu 50% so với mức thuế chung hiện hành.

    3.1.3. Phương thức về cấp thuế quan ưu đãi :

    • Nông, thuỷ sản : Thông thường, nông, thủy sản đủ tiêu chuẩn quy chế ưu đãi thì không chịu giới hạn của hạn ngạch. Tuy nhiên nếu như quy chế ưu đãi đối với hàng nhập khẩu có thể gây ảnh hưởng xấu tới ngành nông, thuỷ sản trong nước thì một qui định về trường hợp ngoại lệ sẽ được đưa ra để tạm hoãn quy chế ưu đãi của các sản phẩm này.

    Để áp dụng qui định, cần phải chứng minh được việc áp dụng thuế ưu đãi sẽ dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu của nông, thuỷ sản và chứng minh các sản phẩm nhập khẩu đó sẽ phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc

    __________________________________________________________

    _____________

    20

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    cạnh tranh trực tiếp của các ngành. Bên cạnh đó, phải chứng minh rằng cần phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước.

    • Các sản phẩm công nghiệp, khai mỏ : về nguyên tắc cũng được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan giống như nông, thủy sản và đối với một số trường hợp ngoại lệ các sản phẩm đó cũng không được hưởng ưu đãi. Nhật Bản cũng đặt ra hạn ngạch trần đối với 146 mặt hàng cần thiết ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và áp dụng mức thuế ưu đãi đó trong phạm vi hạn ngạch đó. Các sản phẩm nhập khẩu đã sử dụng hết hạn ngạch thì không được hưởng ưu đãi thuế quan.

    3.1.4. Biện pháp ưu đãi đặc biệt đối với các nước chậm phát triển :

    Đối với 42 nước chậm phát triển (LLDC) , ngoài việc áp dụng mức thuế 0% đối với nông, thuỷ sản, các sản phẩm công nghiệp, khai thác mỏ Nhật Bản còn không đưa ra mức hạn ngạch trần đối với các sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ.

    Đến thời điểm 1997, Nhật Bản đã cho 155 quốc gia và 25 khu vực (trong đó tất cả đều là thành viên của UNCTAD và hầu hết là các nước đang phát triển) được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan.

    Về kim ngạch nhập khẩu có áp dụng ưu đãi, thì năm 1972 đạt 109.800 triệu Yên, đến năm 1991 tăng lên tới 1.621.900 triệu Yên, trong vòng gần 20 năm đã tăng 15 lần. Nếu so với mức tăng 5 lần của tổng kim ngạch nhập khẩu trong thời gian này thì con số trên là rất lớn và nó góp phần vào việc đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển. So với 18 nước cho các nước đang phát triển hưởng chế độ ưu đãi thuế quan ưu đãi, như EC : 2 tỷ USD, Nhật Bản: 14,2 tỷ USD, Mỹ : 10 tỷ USD.

    Nước đang hưởng ưu đãi thuế quan nhiều nhất của Nhật Bản là Hàn Quốc, tiếp theo là Đài Loan, Trung Quốc, Braxin, ASEAN. Hơn nữa, do hoạt động ngoại thương, sản xuất công nghiệp của các nước NIES châu Á ngày càng phát triển, nên vào năm 1989 Mỹ đã huỷ bỏ quy chế thuế quan ưu đãi đối với các

    __________________________________________________________

    _____________

    21

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nước Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông. Ngay cả EC cũng chấm dứt việc cho Hàn Quốc hưởng quy chế ưu đãi trong một thời gian do những vướng mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì những lý do đó mà trong thời gian gần đây người ta chia các nước đang phát triển thành các nước thương mại Đông Á, Đông Nam Á và các nước con nợ lớn và vẫn tiếp tục thảo luận việc chấm dứt cho hưởng quy chế này.

    Bảng 2: Những nước và khu vực được hưởng chế độ GSP

      LDC LLDC
         
    1971 96 nước
         
    1975 110 nước và 28 khu vực
         
    1980 117 nước và 29 khu vực 29 nước
         
    1985 123 nước và 25 khu vực 34 nước
         
    1990 130 nước và 25 khu vực 38 nước
         
    1995 147 nước và 25 khu vực 41 nước
         
    1997 155 nước và 25 khu vực 42 nước
         

    LLDC:Các nước kém phát triển nhất

    LDC: Các nước kém phát triển

    (Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr.31)

    Biểu đồ 2: Kim ngạch nhập khẩu được hưởng ưu đãi của các nước từ

                                    Nhật             Tr¨m triÖu yªn
                                                     
    0 1000 2000   3000 4000   5000 6000
                                                                 
    Tæng Asean                                                          
                                                             
                                                               
    Singapore                                                          
                                                             
                                                             
                                                               
    Morocco                                                          
                                                             
                                                             
                                                               
    Braxin                                         Kim ng¹ch 95          
                                                     
                                                     
                                                         
                                                       
    Philippin                                         Kim ng¹ch 96          
                                                     
                                                         
                                                         
    Indonexia                                                 _____________
                                                   
                                                     
    Malayxia                                                
                                                   
                                                   
                                                              22
    Th¸i Lan                                                      
                                                         
                                                             
                                                               
    §μi Loan                                                          
                                                             
                                                             
                                                                 
                                                                 

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997, tr31

    3.2 Chế độ thuế quan đặc biệt

    Thuế quan đặc biệt hiện nay của Nhật Bản bao gồm 3 loại: thuế khẩn cấp, thuế đối kháng và thuế chống phá giá hàng hoá.

    3.2.1 Thuế khẩn cấp: là loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ kịp thời ngành sản xuất trong nước khi có sự tăng nhanh nhập khẩu do giá hàng hoá của nước ngoài rẻ.

    3.2.2 Thuế đối kháng: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để bù lại việc các nhà sản xuất và nhập khẩu được hưởng trợ cấp của chính phủ.

    3.2.3 Thuế chống phá giá hàng hoá: là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu để bảo vệ cho những ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại do việc các nhà sản xuất và xuất khẩu được hưởng trợ cấp từ chính phủ hoặc là do việc bán phá giá hàng hoá.

    Theo nguyên tắc WTO, các biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng khi nó gây thiệt hại đối với nền công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu. Thuế quan chống phá giá của Nhật Bản được quy định rất rõ ràng, chặt chẽ dựa theo hiệp định GATT và pháp lệnh Nhà nước. Cụ thể là :

    Bước 1: Yêu cầu đánh thuế quan chống phá giá

    Trước hết những nhà sản xuất trong nước phải chứng minh được một cách đầy đủ việc hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá và hàng hoá nhập khẩu đó làm phương hại tới việc sản xuất các mặt hàng tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp của các ngành, sau đó đưa lên Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét.

    __________________________________________________________

    _____________

    23

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Bước 2 : Chính phủ sẽ bắt đầu điều tra khi thấy đơn yêu cầu đánh thuế đã được chứng minh đầy đủ. Thời gian đưa ra quyết định có bắt đầu tiến hành điều tra hay không kéo dài trong 2 tháng kể từ khi nhận được đơn yêu cầu.

    Bước 3 : Điều tra

    Ban điều tra bao gồm đại diện của Bộ Tài chính, Bộ trực thuộc, Bộ thương mại. Việc điều tra sẽ hoàn thành trong vòng 1 năm kể từ sau khi bắt đầu điều tra.

    Bước 4 : Đánh thuế

    Sau khi chứng minh được hàng hoá nhâp khẩu được bán phá giá và có thiệt hại, chính phủ sẽ thực hiện đánh thuế chống phá giá trong phạm vi chênh lệch của mức giá thấp hơn.

    Tại vòng đàm phán Tokyo, người ta đã xây dựng những hiệp định về các biện pháp trợ cấp đối kháng và hiệp định chống phá giá. Vì vậy, Nhật Bản đã tiến hành sửa đổi luật, sửa đổi pháp lệnh của chính phủ và soạn thảo những qui định về thủ tục từ việc bắt đầu điều tra đến việc quyết định mức thuế. Sau đó, dựa vào những qui định trong quan điểm hướng dẫn liên quan đến những thủ tục của thuế đối kháng và thuế chống phá giá mà Nhật Bản đã làm rõ các vấn đề thủ tục, cơ sở áp dụng thuế.

    Nhìn vào sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương thế giới và tiềm lực kinh tế của Nhật Bản người ta có thể dự đoán rằng sản xuất trong nước sẽ ngày càng phải chịu nhiều thiệt hại do việc nhập khẩu hàng nước ngoài với số lượng lớn. Vì vậy, Nhật Bản đã áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt một cách thích hợp.

    3.                 Miễn giảm và hoàn trả thuế

     

    4.1. Miễn giảm thuế:

    __________________________________________________________

    _____________

    24

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Khi hàng hoá nhập khẩu đáp ứng được các điều kiện nhất định thì sẽ được miễn giảm một phần hoặc toàn bộ tiền thuế. Hàng hoá được miễn một phần thuế hải quan gọi là giảm thuế còn nếu hàng hoá được miễn toàn bộ thuế gọi là miễn thuế. Việc xem xét miễn giảm thuế xuất phát từ những yêu cầu mang tính chính sách của kinh tế, xã hội, văn hoá và trong nhiều trường hợp cũng căn cứ vào tập quán, hiệp ước quốc tế, quan hệ ngoại giao …

    Miễn giảm thuế gồm có 2 loại là miễn giảm vô điều kiện như đối với hành lý xách tay của du khách nước ngoài, đồ dùng của người tàn tật và miễn giảm thuế có điều kiện.

    Bên cạnh đó, căn cứ vào luật mà theo đó hàng hóa được hưởng miễn giảm thuế thì miễn giảm thuế được chia làm 2 loại là miễn giảm thuế tạm thời nếu theo Luật tính thuế tạm thời và miễn giảm thuế lâu dài nếu theo Luật thuế hải quan.

    * Theo Luật thuế hải quan, các hàng hoá sẽ được miễn thuế lâu dài là :

    • Hàng tiêu dùng, sinh hoạt : khi giá nhập khẩu của những mặt hàng như lương thực thiết yếu (gạo, bột mỳ … ) cao, khi giá cả trong nước lẫn giá nhập khẩu của thịt lợn và đường là những mặt hàng có giá biến động lớn đồng loạt tăng cao thì những hàng hóa này được miễn giảm thuế.

    Ngoài những mặt hàng có quan hệ mật thiết tới đời sống hàng ngày như lương thực, quần áo … thì ngay cả với những mặt hàng khác khi giá nhập khẩu tăng vọt mà đó lại là những mặt hàng rất cần thiết để đảm bảo đời sống nhân dân hoặc không ảnh hưởng tới sản xuất trong nước thì cũng có thể được miễn giảm thuế.

    • Vật tư nguyên liệu dùng để sản xuất : là vật tư, nguyên liệu cần thiết để sản xuất ra những hàng hoá chuyên dụng như thức ăn gia súc …
    • Hàng hoá có mục đích sử dụng đặc biệt : là những hàng hoá dùng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục, hàng là quà tặng, quà biếu cho các hoạt động

    phúc lợi xã hội.

    __________________________________________________________

    _____________

    25

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Hàng hoá của các nhà ngoại giao: miễn thuế cho hàng hoá được sử dụng trong đại sứ quán …
    • Ngoài ra, hàng hoá cũng được miễn thuế trong các trường hợp sau:
    • Giảm thuế trong trường hợp hàng hoá bị thiệt hại do thay đổi phẩm chất.
    • Giảm thuế đối với hàng hoá xuất khẩu để gia công.
    • Miễn thuế đối với các hàng hoá như thuỷ sản đánh bắt nước ngoài.
    • Miễn thuế đối với hàng tái xuất.
    • Miễn thuế đối với những vật tư, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu.
    • Miễn thuế xuất khẩu những hàng hoá mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã bị chịu thuế.
    • Theo Luật tính thuế tạm thời, các hàng hoá được hưởng miễn giảm thuế bao gồm:
    • Miễn đối với dầu thô được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu : căn cứ vào mục đích sử dụng, nếu là dầu thô dùng làm nhiên liệu thì sẽ phải chịu thuế, nếu sử dụng làm nguyên liệu thì không phải chịu thuế, Nhật Bản đã thực hiện miễn thuế đối với dầu thô được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu sản xuất các sản phẩm hoá dầu.
    • Giảm thuế đối với các hàng được gia công ở nước ngoài (rồi nhập khẩu trở lại Nhật) để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với các nước đang phát triển ở xung quanh, Nhật Bản đã thực hiện chế độ này, theo đó chẳng hạn như đối với quần áo may mặc, Nhật Bản sẽ giảm thuế nguyên liệu được xuất khẩu ra nước ngoài để gia công, lắp ráp và chỉ đánh thuế vào phần giá trị gia tăng từ gia công, lắp ráp với điều kiện thời hạn thực hiện gia công, lắp ráp ở nước ngoài dưới 1 năm.

    __________________________________________________________

    _____________

    26

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Miễn giảm thuế cho nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên tử : là chế độ miễn thuế đối với những nguyên liệu dùng để nghiên cứu năng lượng nguyên tử mà Nhật Bản khó chế tạo. Ngoài ra cũng miễn thuế cho những hàng hoá sản xuất trong nước gặp khó khăn như máy bay và các bộ phận của máy bay, các máy móc, thiết bị để khám phá vũ trụ.
    • Miễn thuế cho sữa bột đã tách bơ dùng làm thức ăn ở nhà trẻ, trường học

    … Sau đại chiến lần thứ 2, chế độ dinh dưỡng của trẻ em Nhật Bản đã được cải thiện rõ rệt nên việc sử dụng sữa bột tăng lên nhanh chóng.

    Biểu đồ 3: Số tiền thuế được miễn giảm

    Tr¨m triÖu yªn

    1 8 0 0

    1 6 0 0

    1 4 0 0

    1 2 0 0

    1 0 0 0

    8 0 0

    6 0 0

    4 0 0

    Nguồ2n:00 Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha. 1997, tr.23

    0                    
                    9 6    N ¨m
    8 9 9 0 91   9 2 9 3 9 4 9 5
    4.2 Chế độ hoàn trả thuế:            
                         

    Chế độ này cho phép những hàng hoá nhập khẩu đã nộp thuế thoả mãn được những tiêu chuẩn để được hoàn trả thì sẽ được hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế đã nộp trước đó. Hoàn trả thuế cũng được chia làm 2 loại là trả thuế tạm thời và trả thuế lâu dài.

    * Các trường hợp được hoàn trả thuế lâu dài theo Luật thuế hải quan :

    • Hàng hoá bị thiệt hại, hư hỏng do thay đổi phẩm chất.
    • Vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
    • Những hàng hóa mà nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hoá đó đã phải chịu thuế.
    • Hàng hoá bị trả lại hoặc bị huỷ bỏ do không phù hợp với hợp đồng.

    __________________________________________________________

    _____________

    27

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Theo Luật thuế tạm thời có :
    • Chế độ hoàn trả thuế do tăng sản xuất những hàng hoá như các sản phẩm tinh dầu mỏ tinh chế thô : đây là chế độ hoàn trả một phần thuế trong trường hợp tình hình cung cấp các sản phẩm tinh chế từ dầu thô như dầu hoả, dầu nhẹ, dầu nặng loại A … bị thiếu nên phải sử dụng biện pháp xử lý đặc biệt sản xuất từ dầu nặng.
    • Chế độ hoàn trả thuế đối với những hàng hoá như dầu mỏ dùng để sản xuất ra các sản phẩm hoá dầu.

    Bảng 3: Các mặt hàng áp dụng chế độ miễn giảm, hoàn trả thuế

    Năm Số lượng hàng hoá Tên hàng hoá  
    được áp dụng
         
           
    1969 5 Tủ lạnh, bộ nhớ, vòng bi, đèn chân không, các loại đồng hồ  
    đeo tay.  
       
    1974 24 Ống đồng vàng, pittong, máy kéo sợi, ôtô, tai nghe, dây điện  
    từ chậm…  
       
    1987 4 Ống đồng vàng, vòng bi, đèn chân không, dây điện từ chậm.  
    1988 626 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)  
    1989 843 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS),  
    các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)  
       
    1990 258 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS),  
    các loại hàng may mặc (chương 62 trong hệ HS)  
       

    __________________________________________________________

    _____________

    28

     

    Khoá luận tốt nghiệp Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9  
         
    Từ 369 Các loại máy móc (từ chương 84 đến chương 92 trong hệ HS)
    1994 & 28 mặt hàng tương ứng, các loại hàng may mặc (chương 62
    trở đi   trong hệ HS), các loại đạn dược (chương 57 trong hệ HS)…

    Nguồn: Thuế quan Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha, 1997,tr.25

    4.3 Chế độ thanh toán lại thuế Hải quan:

    Chế độ này giống với chế độ hoàn trả ở chỗ một phần hay toàn bộ thuế nộp trước được hoàn trả. Nhưng khác ở chỗ, theo chế độ hoàn trả, tiền thuế nộp trước được hoàn trả lại cho người nộp thuế. Còn theo chế độ này, tiền thuế đó được thanh toán cho người chịu thuế. Trong các trường hợp không thuộc sự điều chỉnh của chế độ miễn giảm hay hoàn trả thuế thì người ta sẽ áp dụng chế độ này để bảo vệ ngành sản xuất trong nước và áp dụng chủ yếu cho các sản phẩm sản xuất từ dầu mỏ được sản xuất ở Nhật Bản mà có sử dụng dầu thô nhập khẩu đã bị đánh thuế hay các sản phẩm dầu được dùng làm nguyên liệu cho việc sản xuất các hàng hoá như các sản phẩm hoá dầu, khí gas.

    III.            CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG NHẬT BẢN

     

    1.     Hạn ngạch nhập khẩu

    Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu của các loại hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất định thường là một năm. Hạn ngạch nhập khẩu được tính toán trên cơ sở dự đoán nhu cầu và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Vào đầu và giữa năm tài chính, Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp và Thương mại (MITI) sẽ phê chuẩn những mặt hàng nhập khẩu hạn ngạch được ghi trong giấy thông báo nhập khẩu. Thông báo nhập khẩu quy định trình tự các bước để xin hạn ngạch cho một hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng theo hạn ngạch, nhà nhập khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản

    __________________________________________________________

    _____________

    29

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    lý ngoại hối hay các cơ quan khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của Bộ Công Nghiệp và Thương mại.

    Hiện nay, ở Nhật Bản có 66 mặt hàng thuộc hạn ngạch nhập và hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phân cho các nhà nhập khẩu trong giới hạn của tổng hạn ngạch theo một trong các chế độ sau :

    • Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu : hạn ngạch được phân bố căn cứ vào tỷ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể trong quá khứ so với tổng trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng.
    • Chế độ theo dõi việc thông quan : việc phân bổ căn cứ vào tổng số lượng hạn ngạch hay giá trị hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện được trong thời gian trước.
    • Chế độ thông báo chính thức : việc phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hạn ngạch tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu. Mức hạn ngạch được quyết định trước này được qui định trong các thông báo chính thức gửi cho các nhà nhập khẩu.
    • Chế độ theo đơn đặt hàng : hạn ngạch được phân bổ căn cứ vào số lượng hay trị giá hàng đã được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.
    • Chế độ theo đầu doanh nghiệp : là chế độ theo đó số lượng hoặc trị giá hạn ngạch được phân bổ bình đẳng cho các nhà nhập khẩu. Chế độ này thường được dùng đi đôi với một trong hai chế độ theo dõi nói trên.
    • Chế độ ai xin trước được trước : hạn ngạch được phân theo nguyên tắc ai xin trước được trước cho đến khi đạt đến một nửa số lượng hay giá trị qui định.
    • Chế độ thống nhất ý kiến của các quan chức về phân bổ hạn ngạch: theo chế độ này, các quan chức Bộ Công Nghiệp và Thương mại và các Bộ khác sẽ bàn bạc để quyết định hạn ngạch phân bổ cho các nhà nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    30

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2. Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện

    Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restrain: VER) là thoả thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu sang nước khác đối với một mặt hàng xác định, với một mức tối đa trong khoảng một thời gian nào đó. Hay nói cách khác hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu tự nguyện chấp nhận nhằm ngăn chặn trước những mối đe doạ lớn hơn và những hạn chế khác đối với thương mại của mình.

    Xét về hình thức, VER cũng giống như hạn ngạch nhập khẩu, đều làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch và làm cho giá cả hàng hoá tăng lên theo quy luật cung cầu. Tuy nhiên, xét về lợi ích thì đối với nước xuất khẩu VER sẽ có lợi hơn vì mặc dù số lượng xuất khẩu bị hạn chế nhưng giá cả hàng hoá lại tăng lên và phần thu nhập tăng thêm này các nhà xuất khẩu sẽ nhận được, trái ngược với hạn ngạch nhập khẩu, phần thu tăng thêm thuộc về các nhà nhập khẩu. Chính vì vậy, chính phủ Nhật Bản trong các cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề mâu thuẫn mậu dịch đã cố gắng ký được các hiệp định về VER thay cho việc để các nước bạn hàng ban hành các hàng rào mậu dịch.

    Nếu như trước đây, Nhật Bản chỉ phải thực hiện VER đối với các sản phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động do có những mâu thuẫn mậu dịch nảy sinh thì đến nay, Nhật Bản đã thực hiện VER đối với rất nhiều loại hàng hoá xuất khẩu sang các thị trường Mỹ và Tây Âu như các sản phẩm sắt thép, nhiều loại sản phẩm máy móc công nghiệp, ôtô, tivi màu và đầu video…

    Trong đó, tự nguyện hạn chế xuất khẩu ôtô sang thị trường Mỹ là một trong những ví dụ điển hình. Đứng trước nguy cơ bị phá sản vì không thể cạnh tranh nổi các loại ôtô có chất lượng cao và tiêu tốn ít nhiên liệu của Nhật Bản, các nhà sản xuất ôtô Mỹ đã đấu tranh đòi chính phủ phải có những chính sách bảo hộ và kết quả sau cuộc thương lượng, Nhật Bản đã chấp nhận thực hiện VER đối với các loại ôtô xuất khẩu sang Mỹ. Việc thực hiện VER trong khi có lợi cho nhà sản xuất thì gây thiệt thòi cho người tiêu dùng vì phải chịu giá ô tô tăng lên.

    __________________________________________________________

    _____________

    31

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Theo yêu cầu của các chính phủ nước ngoài, chính phủ Nhật Bản đã trực tiếp điều hành việc phân phối VER cho các ngành công nghiệp và các công ty trong nước. Tổng hạn ngạch xuất khẩu sau khi thương lượng với các nước bạn hàng sẽ được phân phối cho các công ty xuất khẩu. Một số VER được ban hành bởi MITI dựa trên cơ sở của Luật quản lý thương mại, nhưng rất nhiều VER cũng được thực hiện thông qua sự hướng dẫn hành chính của MITI và sự phân phối giữa các ngành có liên quan. Việc phân phối hạn ngạch xuất khẩu cố định cho các nhà xuất khẩu sẽ làm giảm cạnh tranh, giữ giá cả ở mức cao làm tổn hại đến người tiêu dùng và những ngành công nghiệp trong nước sử dụng những sản phẩm trung gian được sản xuất theo chế độ VER làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm khác.

    Tuy nhiên, VER chỉ là giải pháp tạm thời và không hiệu quả. Nó có thể giúp làm giảm khối lượng thặng dư mậu dịch của Nhật Bản nhưng cũng đồng thời làm giảm khối lượng trao đổi mậu dịch hoặc bóp méo quá trình tự do mậu dịch dẫn đến giảm hiệu quả trong việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia và quốc tế. Từ đó dẫn đến ngày càng nhiều các công ty Nhật Bản tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm chuyển các hoạt động sản xuất để xuất khẩu hoặc trực tiếp sang thị trường xuất khẩu hoặc sang các nước thứ ba mà từ đó sản phẩm sẽ được xuất khẩu sang thị trường các nước khác. Theo thống kê năm 1990, trong khi xuất khẩu ôtô của Nhật Bản theo VER sang Mỹ đã giảm xuống dưới 2,4 triệu xe, nhưng sản xuất ôtô của Nhật Bản ở thị trường Mỹ và các nước đã lên tới 1,7 triệu xe.

    VER là biện pháp hạn chế thương mại nằm ngoài phạm vi nguyên tắc của GATT và việc huỷ bỏ VER đã được thảo luận tại vòng đàm phán Urugoay về các thương thuyết mậu dịch đa phương. Sau vòng đàm phán này, hầu hết các hiệp định về VER của Nhật Bản đã được huỷ bỏ. Ví dụ, VER đã được dỡ bỏ đối với thép và các sản phẩm thép vào tháng 3-1992, máy công cụ vào tháng 12-1993, ôtô khách vào tháng 3-1994, đồ gốm sứ vào tháng 12-1994.

    __________________________________________________________

    _____________

    32

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    3. Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác :

    Ngoài các chế độ hạn ngạch nói trên, ở Nhật Bản còn có một số chế độ khác như :

    • Chế độ cho phép nhập khẩu : là chế độ theo đó người nhập khẩu muốn nhập khẩu phải được sự đồng ý của các tỉnh nhập hàng, hàng nhập khẩu có định mức được qui định trong nguyên tắc chi tiết của Luật quản lý thương mại.
    • Chế độ định mức nhập khẩu phối hợp : chế độ này căn cứ vào mối quan hệ cung cầu trong nước để hạn chế số lượng hoặc giá trị của hàng hoá nhập khẩu.
    • Chế độ báo cáo nhập khẩu : chế độ này được qui định cũng nhằm để hạn chế số lượng hoặc giá trị nhập khẩu.

    4.                 Giấy phép nhập khẩu

    Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ cấp giấy phép nhập khẩu. Hiệp định này đòi hỏi hệ thống giấy phép nhập khẩu phải rõ ràng và dự đoán trước được, đồng thời các bên phải công bố cho các thương nhân những thông tin đầy đủ về các loại giấy phép được cấp. Thời hạn tối đa cho các cơ quan quốc gia xem xét đơn xin phép nhập khẩu là 60 ngày.

    • Nhật Bản, tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu của MITI nhưng các mặt hàng sau vẫn phải có giấy phép nhập khẩu :
    • Hàng hoá nằm trong 66 mặt hàng liệt kê trong thông báo nhập khẩu thuộc diện có hạn ngạch nhập khẩu.
    • Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu.
    • Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt.
    • Hàng hoá đòi hỏi sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu hay sự xác

    nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các

    __________________________________________________________

    _____________

    33

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    nhà xuất khẩu, nhưng việc đăng ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho phép hay xác nhận của các Bộ phận liên quan.

    Việc thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép chỉ có thể thực hiện sau khi giấy phép nhập khẩu đã được cấp.

    5. Chế độ hạn ngạch thuế

    Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ qui định trong đó áp dụng mức thuế bằng

    • hoặc thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng một số lượng qui định nhằm đảm bảo cung cấp những hàng hoá với giá rẻ cho người tiêu dùng. Khi hàng hoá nhập khẩu vượt quá số lượng qui định đó thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

    Có nhiều cách tính số lượng để áp dụng mức thuế suất lần 1 nhưng hiện nay ở Nhật Bản, phương pháp tính số lượng phổ biến là lấy số lượng dự đoán nhu cầu trong nước trừ đi số lượng dự đoán sản xuất trong nước.

    Khi Nhật Bản thực hiện tự do hoá thương mại thì chế độ hạn ngạch thuế được sử dụng như là biện pháp mang tính quá độ nhằm làm giảm xung đột gay gắt của sản xuất trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá. So với qui định hạn ngạch nhập khẩu, theo đó chỉ cho phép nhập khẩu trong một số lượng nhất định thì theo chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng qui định, nhưng phải chịu thuế mức thuế suất lần 2 đối với phần vượt đó. Theo nguyên tắc của GATT, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch nhập khẩu nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối với từng nước.

    Chế độ hạn ngạch này được xây dựng dựa trên sự đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, đối với mỗi danh mục hàng hoá chính phủ đều phải nghiên cứu ưu và nhược điểm của việc vận dụng chế độ hạn ngạch này căn cứ trên việc xem xét

    __________________________________________________________

    _____________

    34

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đến tình hình cung cầu, thời hạn áp dụng, thực trạng sản xuất trong nước … và tiến hành cách thức áp dụng phù hợp để thúc đẩy mậu dịch tự do.

    Bảng 4: Các mặt hàng thuộc đối tượng của việc áp dụng chế độ hạn ngạch thuế (tính đến năm 1992), cụ thể như sau :

    ST Hàng hoá Thời hạn bắt     Mức thuế
    T đầu áp dụng Lần 1   Lần 2
       
    1 Bò thịt giống 4/1972   0   45.000 yên/con
    2 Pho mát tự nhiên 10/1970   0   35%
    3 Yến mạch 4/1971   0   10%
        4/1965   0   50% hoặc 12
    4 Ngô     yên/kg tuỳ theo
    4/1989   10%  
            cách nào cao hơn
               
    5 Lúa mạch 10/1974   0   25 yên/kg
    6 Đường  mật  dùng  để 4/1987   0   18 yên/kg, 25%
    nấu rượu    
               
    7 Cacao để làm sôcôla 4/1988   0   25%
    (không đường)    
               
    8 Cà chua dạng tương, 7/1989   0   20%
    cà chua bột    
               
    9 Dứa hộp 4/1990   0   30%
    10 Cồn để sản xuất rượu.. 4/1972   0   44.8 yên/1,20.2%
        96 yên/1,17.9%
               
            0    
    11 Dầu nặng và dầu thô 4/1972   2.770 yên/kl   3.750 yên/kl
      2.580 yên/kl  
               
            2.520 yên/kl    
    12 Da (ngựa, cừu, dê) 4/1986   20%   60%

    __________________________________________________________

    _____________

    35

     

      Khoá luận tốt nghiệp   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9
               
            15%  
      13 Giầy da 4/1986 27% 60% hoặc 4.800
      21.6% yên/đôi tuỳ theo
            30% cách nào cao hơn

    Nguồn: Thuế xuất nhập khẩu Nhật Bản

    6. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu

    Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Tuỳ thuộc mỗi nước mà có các biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau được đưa ra để kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu.

    Thị trường Nhật Bản luôn là một thị trường có nhiều điểm khác biệt mang tính đặc trưng so với thị trường các nước khác. Trong buôn bán, giá cả có thể là rất quan trọng, nhưng ở thị trường Nhật Bản, chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Ngay cả khi mua một mặt hàng rẻ tiền thì người Nhật cũng vẫn rất quan tâm tới chất lượng mặt hàng đó. Nhìn chung, tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hoá của Nhật Bản cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu quốc tế và thông thường, hàng hoá nước ngoài muốn xâm nhập thị trường Nhật Bản thì trước hết phải đáp ứng được những tiêu chuẩn này.

    Hiện nay, hệ thống dấu chất lượng ở Nhật Bản bao gồm nhiều loại qui định cho những hàng hoá khác nhau, trong đó hai dấu chứng nhận chất lượng được sử dụng phổ biến là : dấu chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) và dấu chứng nhận công nghiệp Nhật Bản (JIS)

    6.1 Dấu JAS (tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản):

    Luật về tiêu chuẩn hoá các nông lâm sản và hợp lý hoá các nhãn hiệu chất lượng thường được gọi là Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản hay Luật JAS. Luật này qui định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các quy tắc về việc ghi nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS. Các qui định áp dụng đối với các sản phẩm được phát hành theo định kỳ. Các qui định này xác định

    __________________________________________________________

    _____________

    36

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    phạm vi áp dụng của luật, nêu ra định nghĩa về các sản phẩm tiêu chuẩn JAS, xác định các tiêu chuẩn về chất lượng cần được thoả mãn và các phương pháp đánh giá chất lượng.

    Việc sử dụng dấu chứng nhận phẩm chất JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như những người bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng JAS. Tuy nhiên, việc ghi nhãn sản phẩm là bắt buộc đối với những sản phẩm do Bộ nông – lâm- ngư nghiệp qui định. Các nhà sản xuất muốn được dán nhãn hiệu chất lượng JAS lên các sản phẩm của họ thì phải thông qua các tổ chức giám định để đánh giá chất lượng của hàng hoá đó.

    Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi luật JAS bao gồm : đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông lâm thuỷ sản chế biến. Đa số các sản phẩm như thực phẩm đóng hộp, nước hoa quả, các sản phẩm chế biến từ cà chua, dăm bông, thịt lợn hun khói được sản xuất tại Nhật đều mang dấu chất lượng JAS.

    Các sản phẩm nhập khẩu cũng có thể được cung cấp dấu chứng nhận phẩm chất JAS nếu họ đạt các tiêu chuẩn do JAS đề ra. Việc giám định các tiêu chuẩn này có thể lấy kết quả của các tổ chức giám định nước ngoài do Bộ trưởng Bộ nông- lâm- ngư nghiệp chỉ định.

    6.2 Dấu JIS (tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản):

    Dấu này cũng tương tự như dấu JAS nhưng là áp dụng đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản như vải, quần áo, lò sưởi, các thiết bị điện, giầy dép, bàn ghế, đồ dùng nấu nướng, dụng cụ thể thao, nhạc cụ và các loại sản phẩm khác đòi hỏi phải được tiêu chuẩn hoá về chất lượng và kích cỡ hay các qui cách phẩm chất khác. Dấu này lúc đầu được áp dụng để tạo ra một chuẩn mực về chất lượng cho các sản phẩm xuất khẩu khi Nhật Bản bắt đầu bán sản phẩm của mình ra nước ngoài.

    __________________________________________________________

    _____________

    37

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Dấu chứng nhận tiêu chuẩn JIS chỉ được áp dụng đối thoả mãn các yêu cầu về chất lượng của JIS. Do đó khi kinh này chỉ cần kiểm tra dấu chất lượng tiêu chuẩn JIS là đủ để của chúng và người tiêu dùng Nhật Bản cũng thích chọn đóng dấu chất lượng JIS.

    với những sản phẩm doanh các sản phẩm xác nhận chất lượng những sản phẩm có

    Ngoài hai loại dấu chứng nhận phẩm chất trên, ở Nhật Bản còn có một số loại dấu chứng nhận phẩm chất khác, trong đó có những dấu mang tính bắt buộc như dấu S và những dấu mang tính tự nguyện như dấu G, dấu Q là hai loại dấu chuyên ngành hiện đang sử dụng rộng rãi.

    Dấu S được cấp cho các sản phẩm có đủ độ an toàn, dùng cho nhiều chủng loại hàng hoá dành cho trẻ em, đồ dùng gia đình, dụng cụ thể thao.

    Dấu G được áp dụng đối với các sản phẩm có thiết kế đạt tiêu chuẩn. Các sản phẩm được đóng dấu này được bộ phận giám định thiết kế của MITI lựa chọn trên cơ sở độ an toàn, độ bền, màu sắc và các đặc tính khác cùng với thiết kế. Các đồ gia dụng được lựa chọn để mang dấu chất lượng thiết kế là các sản phẩm dệt như rèm cửa, chăn, đồ nội thất, đồ điện, các thiết bị nghe nhìn, đồ thuỷ tinh và đồ uống. Hiện nay có khoảng 500 sản phẩm được cấp dấu G.

    Dấu Q được cấp cho các sản phẩm dệt có chất lượng cao. Dấu này được Viện giám định các sản phẩm dệt của MITI cấp sau khi tiến hành các cuộc giám định chất lượng đối với sản phẩm. Ban đầu dấu Q chỉ được cấp cho các sản phẩm quần áo trẻ em, về sau dấu này được cấp cho các loại sản phẩm phải trải qua rất nhiều cuộc kiểm tra về các đặc tính khác nhau như độ bền, độ co, độ phai và chất lượng của thiết kế.

    Bên cạnh đó cũng có một số loại dấu khác có các quy định về quy cách phẩm chất tương tự như của dấu JIS chẳng hạn như dấu “Len” có thể được áp dụng đối với các loại quần áo len may sẵn theo các tiêu chuẩn về quy cách phẩm

    __________________________________________________________

    _____________

    38

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    chất JIS hay như dấu SIF cấp cho các hàng may mặc có chất lượng tốt như quần áo nam, nữ, ba lô và các sản phẩm phục vụ thể thao.

    • Nhật có nhiều dấu chất lượng khác nhau, do các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chức giám định đặt ra. Trong một số trường hợp các dấu này trùng nhau và một sản phẩm có thể cùng một lúc mang nhiều hơn một dấu.

    Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào các dấu chất lượng trên bao bì vì họ coi đó như là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hoá được mua. Các nhà xuất khẩu có ý định xâm nhập vào thị trường Nhật cần có được dấu chứng nhận phẩm chất cho sản phẩm của họ để đảm bảo rằng các sản phẩm này đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu của thị trường Nhật, từ đó sẽ dễ dàng hơn trong việc tiêu thụ hàng hoá. Hơn nữa, nếu chất lượng của một sản phẩm đã được thị trường Nhật Bản chấp nhận thì sản phẩm đó hoàn toàn có thể cạnh tranh được ở các thị trường khác.

    Nhiều nhà xuất khẩu hay sản xuất nước ngoài tại Nhật Bản cho rằng những tiêu chuẩn người Nhật đề ra là quá cao và việc đáp ứng được những tiêu chuẩn đó là không thể được vì quá tốn kém. Ngược lại, nhiều nhà xuất khẩu nhận thức là phải đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng và độ an toàn của hàng hoá đối với người tiêu dùng Nhật Bản và họ đã đạt được kết quả kinh doanh tốt.

    7. Keiretsu (Hệ thống)

    Keiretsu là một hệ thống kinh tế và tổ chức kinh doanh kiểu Nhật Bản và thường được hiểu là các tổ hợp hay tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Nhật Bản. Nó được thành lập vào đầu những năm 60, khi các thị trường chứng khoán của Nhật Bản đã trở nên rất yếu kém. Các cổ phiếu của các công ty lớn lâm vào tình trạng ế ẩm, giá tụt xuống rất nhanh. Họ đang trong tình trạng có thể bị các đối thủ mạnh khác giành quyền kiểm soát. Theo đó, việc ra đời các tập đoàn này là một biện pháp đối phó hợp lý cho sự tồn tại của họ.

    __________________________________________________________

    _____________

    39

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Trong nền kinh tế Nhật Bản hiện nay có 8 tập đoàn lớn được xếp vào Keiretsu bao gồm Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Fuyo, DKB, Sanwa, Tokai và IBJ. Các tập đoàn này được tổ chức xoay quanh các ngân hàng và các tổng công ty thương nghiệp. Các công ty thành viên của mỗi tập đoàn được liên kết với nhau qua 3 yếu tố then chốt, đó là:

    • Nắm chéo các cổ phần của nhau.
    • Các mối quan hệ nhân sự.
    • Vấn đề tài chính bên trong.

    Việc nắm giữ cổ phần đan xen, chiếm một số vốn lớn gần 35% toàn bộ số vốn của nền kinh tế Nhật Bản cùng đội ngũ quản lý điều hành công việc với mục tiêu tạo ra lợi nhuận tối đa trong một thời gian dài đã cho phép các tập đoàn này khống chế thị trường trong thời kỳ mở rộng kinh tế, thủ tiêu cạnh tranh trong các thời kỳ suy thoái, bảo vệ lẫn nhau khỏi sự phá sản và thoát ra khỏi mối đe doạ bị mất quyền kiểm soát canh tranh. Các mạng lưới phân phối của Keiretsu còn cho phép kiểm soát giá bán lẻ. Chính vì vậy trung bình mỗi người tiêu dùng Nhật Bản phải trả giá cao hơn từ 30% đến 40% so với người tiêu dùng phương Tây đối với các sản phẩm cùng loại.

    Keiretsu là một trong số những đặc trưng nhất của nền kinh tế Nhật Bản và đã cung cấp một sự cạnh tranh sắc bén mà các nước khác không thể địch được, nó tạo ra một hàng rào ngăn cản mậu dịch chính cho các bạn hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.

    8. Hệ thống phân phối Nhật Bản

    Đóng góp vào sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản sau chiến tranh có nhiều yếu tố khác nhau đặc trưng riêng của nền kinh tế Nhật mà các nước khác không có như Keiretsu, hệ thống phân phối …

    __________________________________________________________

    _____________

    40

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Hệ thống phân phối bao gồm tất cả các khâu mà thông qua đó sản phẩm được đưa từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Hệ thống phân phối Nhật Bản hết sức phức tạp, có các đặc điểm chủ yếu sau phân biệt với hệ thống phân phối của các nước khác :

    • Có nhiều cửa hàng bán lẻ. Nói cách khác, mật độ cửa hàng bán lẻ rất đông.
    • Giữa nhà chế tạo và các nhà bán lẻ tồn tại rất nhiều cấp phân phối trung gian.
    • Tồn tại hệ thống duy trì giá bán lẻ.
    • Giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ có sự câu kết chặt chẽ, thể hiện ở chỗ : các nhà sản xuất sẽ cung cấp vốn cho các nhà bán buôn, các nhà bán buôn lại cung cấp tài chính cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất thực hiện chế độ chiết khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, sẵn sàng mua lại hàng hoá nếu không bán được … Các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hoá của các nhà sản xuất nhất định, không kinh doanh các hàng hoá của các nhà sản xuất khác kể cả các nhà sản xuất trong nước. Mối quan hệ giữa các nhà sản xuất với các nhà phân phối, bán lẻ rất khăng khít, bền vững khiến cho hàng hóa nước ngoài rất khó thâm nhập thị trường Nhật Bản và mở rộng đại lý tiêu thụ hàng.

    Hệ thống này đã góp phần bảo hộ cho những sản phẩm sản xuất trong nước một thời gian khi những sản phẩm này chưa đủ sức cạnh tranh nhưng dần dần cùng với sự thay đổi của tình hình trong, ngoài nước, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế mà nếu tiếp tục duy trì, không thay đổi thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu tới kinh tế như làm cho giá hàng hoá đắt lên nhiều lần khi tới tay người tiêu dùng, giảm bớt tính minh bạch của việc định giá, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là chắc chắn vấp phải sự phản kháng của các nhà kinh doanh nước ngoài.

    Kể từ khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ vào cuối những năm 80 làm cho việc sản xuất cũng như tiêu thụ gặp nhiều khó khăn cùng với những tác động từ bên ngoài như quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mâu thuẫn với các nước bạn hàng tăng do mất cân đối trong mậu dịch

    __________________________________________________________

    _____________

    41

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    buôn bán … điều đó đòi hỏi muốn tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải tích cực tự do hoá, nới lỏng những hạn chế nhập khẩu của mình trong đó có hệ thống phân phối khép kín và bài ngoại. Cho đến nay, hệ thống này được thay đổi theo hướng tích cực bằng nhiều biện pháp khác nhau như các nhà phân phối có thể tự do bán các sản phẩm của các nhà sản xuất khác bao gồm cả các sản phẩm nhập khẩu, tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà bán buôn và bán lẻ trực thuộc tập đoàn chế tạo ôtô Nissan đã được phép ký hợp đồng trực tiếp với hãng Ford và được độc quyền bán các ôtô Ford tại Nhật Bản; các siêu thị lớn thực hiện hệ thống “phát triển và nhập khẩu” tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài, chẳng hạn như Tổng công ty siêu thị lớn nhất Nhật Bản – Daiei đã nhập khẩu các máy ghi hình, tivi màu và các đồ gia dụng để bán …

    9.                 Quản lý ngoại tệ

     

    • Nhật Bản, Ngân hàng Nhật Bản – Ngân hàng trung ương của Nhật Bản – là nơi tập trung các nguồn thu ngoại tệ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động ngoại thương thông qua những chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất.

    Khác với các nước khác, ngân hàng Nhật Bản được phân loại theo những lĩnh vực hoạt động khác nhau như ngân hàng xuất nhập khẩu, ngân hàng tín dụng dài hạn … để cung cấp vốn một cách hiệu quả. Những loại ngân hàng này đã trợ giúp cho các công ty Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh vì vốn của họ tích lũy được còn rất thấp, phải dựa chủ yếu vào các khoản tiền đi vay. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các công ty Nhật Bản với số vốn ngày càng lớn đã làm thu hẹp sự khác biệt giữa các kênh cung cấp vốn khác nhau.

    Biện pháp trên được thực hiện chủ yếu trong các thập niên trước.Bước sang những năm gần đây, khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển vươn lên trở thành một trong những cường quốc kinh tế hùng mạnh của thế giới, ngân hàng Nhật

    __________________________________________________________

    _____________

    42

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Bản thường hay sử dụng biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái dựa trên việc quản lý ngoại tệ của mình.

    Một biện pháp gián tiếp khác Nhật Bản sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng hoá trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế là đưa ra lãi suất tiền gửi cao để thu hút tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng, giảm mức tiêu thụ của người dân.

    Ngoài ra, Nhật Bản còn sử dụng nhiều biện pháp khác như hạn chế những giao dịch ngoại tệ, chỉ cho phép một tỷ lệ % nhất định về việc chuyển lợi nhuận bằng ngoại tệ ra nước ngoài.

    IV.             TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG CỦA NHẬT BẢN

    1.Hoạt động xuất khẩu:

    1.1 Kim ngạch xuất khẩu

    Đối với một nước nghèo tài nguyên khoáng sản như Nhật Bản thì ngoại thương đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế.

    Trước đây, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật trong tổng xuất khẩu thế giới rất thấp. Xuất khẩu thì ngoài tàu thuyền, các mặt hàng chủ yếu là những sản phẩm công nghiệp nhẹ, công nghiệp thô sơ như vải, quần áo, giày dép mà phẩm chất chưa có uy tín trên thế giới. Để đẩy mạnh xuất khẩu, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau như : “Luật về tỷ giá hối đoái và kiểm soát mậu dịch” hay chính sách giảm thuế đối với các khoản tiền thu từ xuất khẩu, thực hiện thuế ưu đãi đối với các ngành xuất khẩu. Nhờ đó đã giúp Nhật Bản có một lợi thế đáng kể trong việc mở rộng xuất khẩu.

    Trong giai đoạn này, chính phủ Nhật Bản đã thành lập nên các ngân hàng hỗ trợ phát triển, ngân hàng xuẩt khẩu để cung cấp vốn, tín dụng với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Xuất khẩu của Nhật Bản liên tục tăng, ngày càng chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường quốc tế làm cho thặng dư mậu dịch của Nhật Bản tăng mạnh.

    __________________________________________________________

    _____________

    43

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Ngoài ra, chính phủ còn thiết lập các tổ chức, cơ quan yểm trợ như Tổ chức xúc tiến mậu dịch JETRO để đẩy mạnh xuất khẩu. Mức tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản đạt bình quân trên 10% một năm.

    Vào những năm 90, khi cán cân mậu dịch giữa Nhật Bản và các nước ngày càng thặng dư, để tránh xảy ra mâu thuẫn xung đột, ngân hàng trung ương Nhật Bản đã thực hiện tăng lãi suất làm cho hoạt động xuất khẩu tăng chậm. Sau khi lượng hàng xuất khẩu giảm nhẹ vào năm 1990 với tỷ phần 2,1% tổng xuất khẩu của Nhật các năm sau tăng lên một cách vững chắc đạt 5% vào năm 1995 và 6,3% vào năm 2000.

    2.1 Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu.

    Sự điều chỉnh trong chính sách sản phẩm xuất khẩu gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật. Trong thời kỳ đầu những năm 60, Nhật bản chủ yếu xuất khẩu hàng thô sau dố chuyển sang các hàng háo , sản phẩm công nghiệp nhẹ. Bước tiếp theo Nhật Bản chuyển sang khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nặng và sản phẩm hoá chất. Việc xuất khẩu máy móc thiết bị có sự gia tăng mạnh trong suốt hai thập kỷ gần đây.

    Bảng 5: Các mặt hàng xuất khẩu của Nhật Bản

                    Tỷ lệ %
                     
      Loại sản phẩm 1960 1970 1980 1997 1998 1999 2000
                     
    1. Lương thực thực phẩm 6,6 3,5 1,2 0,5 0,5 0,5 0,4
                     
    2. Sản phẩm dệt may 30,2 12,5 4,8 2,0 1,9 1,9 1,8
                     
    3. Hoá chất 4,2 6,4 5,2 7,1 7,0 7,4 7,4
                     
    4. Kim loại 13,8 19,7 14,6 6,4 6,3 5,7 5,5
                     
    5. Máy móc thiết bị 25,3 46,3 62,8 73,8 73,6 74,5 70,0
                     
      – Thiết bị thông dụng 5,5 10,4 13,9 23,8 22,5 21,4 21,5
                     
      – Thiết bị điện 6,8 14,8 17,5 23,6 23,2 24,4 26,5
                     

    __________________________________________________________

    _____________

    44

     

      Khoá luận tốt nghiệp     Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9  
                         
        – Thiết bị vận tải 2,6 6,9 17,9 14,0 15,4 14,9 13,4  
                         
        – Thiết bị chính xác 7,1 7,3 3,6 2,3 2,6 2,4 2,2  
                         
      6. Sản phẩm phi kim loại 3,6 1,9 1,4 1,2 1,1 1,1 1,2  
                         
      7. Sản phẩm khác 16,8 9,8 8,1 9,0 9,5 10,0 9,5  
                         

    Nguồn: – Japan Almanac 2002

    – Tổng giá trị xuất khẩu là 100%

    2.     Hoạt động Nhập khẩu

     

    • những thập niên trước, bằng các biện pháp thuế quan và phi thuế quan nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng thu ngoại tệ, nền kinh tế của Nhật Bản đã đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng, dần dần tham gia trở lại vào các quan hệ mậu dịch quốc tế, gia nhập các tổ chức thương mại, kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để tiếp tục đà tăng trưởng cao, Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì các biện pháp nói trên và chưa gia nhập hoàn toàn mà mới chỉ gia nhập bảo lưu một số một điều khoản. Ví dụ, tháng 12-1955, Nhật Bản gia nhập GATT nhưng xin hoãn áp dụng điều 11 của tổ chức này mà theo đó các nước thành viên không được hạn chế nhập khẩu vì lý do cán cân thanh toán bị nhập siêu. Sau đó, khi Nhật Bản trở thành nước gia nhập điều thứ 11 của GATT, nhập khẩu của Nhật Bản có tăng nhưng chậm.

    Nhật Bản đã đạt được sự phát triển kinh tế thần kỳ khiến cả thế giới kinh ngạc, nhiều ngành sản xuất trong nước vươn lên có sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Vì vậy, Nhật Bản đã giảm mạnh về thuế quan đối với nhiều danh mục hàng hoá. Mức độ giảm thuế quan của Nhật nói chung là lớn so với các nước khác và là mức thuế quan nhập khẩu thấp nhất so với các nước phát triển. Thêm vào đó, Nhật Bản đã đơn giản hoá các thủ tục kiểm tra hải quan tạo điều kiện cho việc nhập khẩu.

    Kể từ sau năm 1980, chính phủ Nhật Bản đã cố gắng đổi mới trong việc tự do hoá trao đổi ngoại tệ và bắt đầu nới lỏng quy chế về các thị trường tài chính

    __________________________________________________________

    _____________

    45

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    trong nước, hệ thống viễn thông nhằm khuyến khích sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản đã thông báo và thực hiện hàng loạt các “chương trình trọn gói” về các biện pháp khuyến khích xuất nhập khẩu một cách toàn diện bao gồm việc giảm hoặc xoá bỏ thuế quan, xoá bỏ hạn ngạch, cải tiến các thủ tục nhập khẩu, cử những phái đoàn vận động nhập khẩu ra nước ngoài, mở các hội chợ nhập khẩu ở Nhật Bản. Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng đã đổi mới khoảng 100 nguyên tắc liên quan đến các thủ tục nhập khẩu, các tiêu chuẩn hàng hoá, vấn đề kiểm dịch …

    Những chính sách này giúp cho nhập khẩu tăng lên. Đến tháng 12-1987, Nhật Bản tiếp tục điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên 122 Yên = 1USD. Trước đó, vào 30-7-1985, chính phủ Nhật Bản đã thông báo một “Chương trình hành động” với mục tiêu đạt được mở cửa thị trường Nhật Bản vượt mức quốc tế hiện hành. Chương trình này bao gồm những biện pháp đặc biệt để cải thiện sự mở cửa của thị trường Nhật Bản trên 6 lĩnh vực : giảm thuế quan hạn ngạch các tiêu chuẩn chứng nhận và thủ tục nhập khẩu, sự thu mua của chính phủ, thị trường tài chính, vốn, các dịch vụ và khuyến khích nhập khẩu. Cụ thể :

    • Về hàng rào thuế quan : chương trình bao gồm việc huỷ bỏ hoặc giảm thuế quan đối với 1853 mặt hàng.
    • Về hàng rào phi thuế quan : tiến hành một cuộc cải cách căn bản về các tiêu chuẩn và chứng nhận đối với hàng hoá và các thủ tục nhập khẩu như chuyển đổi từ hệ thống chứng nhận của chính phủ sang hệ thống tự chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng và chủng loại hàng hoá, giảm hơn nữa hoặc huỷ bỏ hệ thống các qui định về tiêu chuẩn hàng hoá và chấp nhận các số liệu kiểm tra hàng hoá và thiết kế của các cơ quan nước ngoài; sửa đổi lại một cách toàn diện các điều luật và quy tắc.

    Các biện pháp tự do hoá này đã mở đường cho nhiều hàng hoá của Mỹ như các thiết bị điện tử, máy vi tính, ôtô, phụ tùng ôtô, nông sản phẩm … tràn vào thị

    __________________________________________________________

    _____________

    46

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    trường Nhật Bản. Ngoài ra, ngày càng có thêm nhiều nước đang phát triển khác cũng tăng cường xuất khẩu hàng hoá sang Nhật.

    Nhập khẩu của Nhật Bản đã liên tục tăng nhanh từ mức 3,8% năm 1993, 13,5% năm 1994 lên 22,5% năm 1995 và khoảng 12,6% năm 1996 – tức là cao nhất trong các nước G7, cao hơn hẳn mức trung bình của các nước công nghiệp phát triển (5,3%), các nước EU (3,7%) và còn cao hơn các nước đang phát triển (11,3%).

    Trong năm 1999, tỷ lệ thuế quan trung bình của Nhật Bản giảm từ 3,9% xuống 1,7% trong đó tỷ lệ thuế quan chính thức của các sản phẩm công nghiệp (trừ một số trường hợp ngoại lệ) được giảm xuống mức rất thấp, thậm chí nhiều loại sản phẩm được huỷ bỏ thuế quan hoàn toàn.

    Tới năm 2000, Nhật Bản cũng đã chuyển dần từ hình thức bảo hộ phi thuế quan sang hình thức thuế quan (trừ gạo) và sẽ giảm đi khoảng 36% đối với các sản phẩm nông nghiệp. Có lẽ, với chính sách đó, nông phẩm của các nước trong đó có Việt Nam có thể thâm nhập vào thị trường Nhật Bản dễ dàng hơn.

    Một số sản phẩm nhập khẩu chủ yếu :

    Mức thuế bình quân của Nhật Bản rất thấp, khoảng 2,7% (năm 1990) nhưng cũng rất phức tạp. Mức thuế của mỗi mặt hàng được xây dựng dựa trên tình hình sản xuất trong nước của mặt hàng đó. Nhìn chung, mức thuế đánh vào nguyên liệu, các sản phẩm công nghiệp có xu hướng thấp còn nông phẩm thì cao.

    Trước kia, thuế đánh vào nguyên liệu thấp và ngày càng cao khi tỷ lệ gia công ngày càng lớn. Nhưng hiện nay, dưới sức ép của các nước bạn hàng, mức thuế đánh vào thành phẩm đã giảm để tạo điều kiện cho nhập khẩu.

    Xét riêng từng ngành, mức thuế đối với các mặt hàng như sau :

    __________________________________________________________

    _____________

    47

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nông sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 20% tổng số hàng nông sản, còn lại là những mặt hàng phải chịu thuế trong đó hơn một nửa có mức thuế lên tới 15%. Trong đó :
    • Các sản phẩm từ động vật : thịt trên 10%, hải sản 5 ~ 15%
    • Các sản phẩm từ thực vật : hoa 0%, hoa màu 0 ~ 10%
    • Các sản phẩm chế biến như kem, rượu …: 10 ~ 40%
    • Các sản phẩm công nghiệp, khoáng sản : số mặt hàng có mức thuế 0% chiếm khoảng 40% trong đó chủ yếu là khoáng sản, máy móc. Các mặt hàng như gỗ, dệt, da thuộc … có mức thuế tương đối cao.
    1. Gạo, lúa mỳ:
    • Nhật Bản, do môi trường chung không thuận lợi cho nông nghiệp nên sản xuất lúa gạo có quy mô nhỏ. Giá thành gạo sản xuất ở Nhật Bản cao gấp 4-5 lần ở Mỹ, 7-8 lần ở Thái Lan. Vì vậy, mức độ cần thiết bảo hộ để duy trì sản xuất là vô cùng cao.

    Từ sau chiến tranh, việc sản xuất, nhập khẩu lúa gạo chịu sự điều chỉnh của Luật quản lý lương thực, theo đó nếu muốn nhập khẩu gạo, lúa mỳ, lúa mạch thì cần thiết phải được sự cho phép của Bộ trưởng Bộ nông thuỷ sản. Sau khi được phép mới tiến hành nhập khẩu và rồi bán luôn cho Bộ nông thủy sản (gọi là chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ). Còn gạo sản xuất trong nước thì nhà nước sẽ thu mua với giá được tính theo công thức thiết lập để duy trì thu nhập từ nông nghiệp ở mức trung bình của quốc gia. Đồng thời, lúa gạo cũng là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ thuộc Luật thương mại quản lý nhập khẩu).

    Từ quan điểm cho rằng phải tự cung lương thực, chính phủ Nhật Bản đã đứng ra quản lý hoàn toàn việc sản xuất cũng như nhập khẩu gạo, do vậy mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu không cao trừ những trường hợp phải nhập khẩu do

    __________________________________________________________

    _____________

    48

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    thiếu gạo. Hiện nay, hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 40.000 tấn gạo mà chủ yếu là dùng vào mục đích đặc biệt như chế biến rượu Sake ở Okinawa.

    Lúa mỳ, cũng như gạo, là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu. Hầu như toàn bộ lúa mì sản xuất trong nước đều do nhà nước kiểm soát. Trong quá trình công nghiệp hoá tiến lên một nước công nghiệp phát triển, người tiêu dùng Nhật Bản ngày càng chuyển từ món ăn truyền thống là gạo sang các món ăn theo kiểu phương Tây và lẽ dĩ nhiên, việc tiêu thụ lúa mì sẽ tăng lên dẫn đến mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu ngày càng lớn. Hàng năm, Nhật Bản phải nhập khẩu hơn 5 triệu tấn lúa mỳ.

    Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu lúa mỳ

    800         Khối lương Nhập  
            Khối lượng SX  
    600          
             
                     
                     
                     

    400

    200

    0

    1980                         1985                          1990                          1995

    Nguồn: Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Các sản phẩm sữa, tinh bột

    Các sản phẩm sữa, tinh bột vừa là đối tượng của chế độ hạn ngạch nhập khẩu (IQ) vừa phải chịu thuế. Nguyên nhân xuất phát từ chỗ có một số loại thuộc sản phẩm sữa và tinh bột không nhập khẩu theo chế độ nhập khẩu một cửa của chính phủ nên không bị đánh thuế thì sẽ phải chịu hạn chế về số lượng nhằm tránh sự ảnh hưởng đến giá hàng hoá trong nước do giá nhập khẩu thấp.

    Cho dù hạn ngạch nhập khẩu trái với nguyên tắc của GATT nhưng cho đến nay, các sản phẩm sữa, tinh bột vẫn không được phép nhập khẩu tự do.

    Biểu đồ 5: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu của sữa bột tách bơ (1), tinh bột (2)

     

    __________________________________________________________

    _____________

    49

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    250

    200

    150

    100

    50

    0

     Khèi l−îng nhËp khÈu

     Khèi l−îng nhËp khÈu                                   3000

    Khèi l−îng s¶n xuÊt

    2500

    Khèi l−îng s¶n xuÊt

    2000

    1500

    1000

    500

    0

    1980             1985            1990             1995                           1980             1985            1990             1995

    Nguồn : Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Thịt bò, cam :

     

    Nhật Bản vốn là một nước nông nghiệp nhưng điều kiện sản xuất chăn nuôi khó khăn. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn cố gắng áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất cao nhằm đáp ứng được nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, chi phí sản xuất cao khiến cho thịt lấy từ vật nuôi của Nhật Bản như thịt bò không thể nào cạnh tranh được với thịt bò nhập khẩu. Vì vậy nó cần được chính phủ bảo hộ, đưa vào danh sách những mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu.

    Nhưng dưới sức ép nhiều phía, sau những đàm phán với Mỹ và Ôxtrâylia về thịt bò, với Mỹ về cam, Nhật Bản thực hiện tự do hóa thịt bò, cam vào tháng 4-1991, nước cam vào tháng 4-1992.

    Nhật Bản đã có nhiều cố gắng để dỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với thịt bò, cam nhưng cũng không thể nào tự do hoá hoàn toàn mà phải áp dụng mức thuế suất tương đối cao để bảo vệ sản xuất trong nước. Chính vì vậy, mức thuế của thịt bò sau khi thực hiện tự do hoá vào năm 1991 đã nâng lên 70% từ mức 25% của trước khi thực hiện tự do hoá. Sau đó nhờ hợp lý hoá trong quá trình sản xuất, chi phí giá thành giảm xuống nên mức thuế cũng được điều chỉnh hạ thấp dần xuống 60% vào năm 1992, đến năm 1993 còn 50%. Do vậy, lượng nhập khẩu thịt bò có xu hướng ngày càng tăng, một phần cũng do nhu cầu của người dân Nhật tăng lên. Tuy nhiên, trong trường hợp nhập khẩu thịt bò tăng nhanh thì chính phủ sẽ đề ra qui định tăng mức thuế mang tính khẩn cấp, bảo hộ (biện pháp áp dụng từ năm 1991 đến năm 1993).

    __________________________________________________________

    _____________

    50

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Đối với cam, sau khi xem xét, tính toán các yếu tố tác động, mức thuế vẫn không có gì thay đổi so với trước khi thực hiện tự do hoá : từ tháng 6 đến tháng 11/1992 : 20%, từ tháng 12/1992 đến tháng 5/1993 : 40%, nước cam (không đường) : 25% hoặc 30%.

    Biểu đồ 6: Khối lượng sản xuất và nhập khẩu thịt bò

    1200 Khèi l−îng nhËp khÈu    
    Khèi l−îng s¶n xuÊt    
    1000    
         
    800      
    600      
    400      
    200      
    0      
    1980 1985 1990 1995

    Nguồn: Shukuryojyukyuhyo Bộ nông, lâm, thuỷ sản Nhật Bản

    1. Lâm sản

    Vào đầu những năm 90, nhu cầu về gỗ ở Nhật Bản vẫn tăng lên, đặc biệt là gỗ cho xây dựng và làm bột giấy. Nhưng sau đó, do giảm xây dựng nhà ở, nhu cầu lại giảm xuống 20% từ mức cao nhất. Gỗ có nhiều loại khác nhau nhưng ở đây sẽ đi sâu vào 3 loại gỗ chủ yếu :

    * Gỗ tròn:

    70% lượng gỗ tiêu thụ ở Nhật Bản là dựa vào nhập khẩu, do vậy mức thuế đánh vào mặt hàng này (trừ gỗ pơmu) chỉ 0%. Gỗ được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau như Mỹ, Canada, Malayxia, New Guinea … và được sử dụng làm ván ép, dùng để xây dựng, làm đồ nội thất…

    Hiện nay việc nhập khẩu gỗ tròn đang gặp vướng mắc do các nước xuất khẩu đang xem xét nâng giá xuất khẩu gỗ đồng thời Nhật Bản cũng bị chỉ trích trong việc gián tiếp gây ra hiện tượng phá rừng, làm huỷ hoại môi trường sinh thái ở các nước xuất khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    51

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    * Gỗ xẻ

    Gỗ xẻ là loại gỗ được xẻ từ gỗ tròn, dùng cho việc xây dựng, đồ dùng nội thất. Gỗ xẻ được nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ và Canada.

    Mức thuế đối với gỗ SPF từ 4,8% đến 8%; gỗ lauan: 10%; còn lại nhiều loại gỗ khác không bị đánh thuế. (Gỗ SMF là gỗ xẻ từ các loại gỗ vân xam, gỗ thông, gỗ linh xam).

    * Gỗ ván ép

    Là những tấm gỗ mà người ta ghép dính những ván mỏng với số lượng lẻ

    vào nhau, được sử dụng để xây dựng, làm đồ nội thất trong gia đình …

    Trước đây, sản xuất ván ép của Nhật Bản để nhằm mục đích xuất khẩu nhưng gần đây nhập khẩu có xu hướng tăng lên, có đến 30% nhu cầu gỗ ván ép trong nước là phải nhập khẩu trong đó chủ yếu từ Indonexia. Gỗ ván ép phải chịu mức thuế tương đối cao so với các loại gỗ khác : 10 ~ 20%.

    Các ngôi nhà truyền thống của người Nhật thường được làm bằng gỗ. Do đó, nhu cầu về gỗ là rất lớn. Đặc biệt, vào những năm 89, 90, dưới tác động của nền kinh tế “bong bóng” làm cho giá đất tăng vọt, mọi người đổ xô vào xây dựng nhà khiến cho nhu cầu về nhập khẩu gỗ lên tới 1300 tỷ yên. Nhưng sau đó, khi nền kinh tế “bong bóng” sụp đổ, nhu cầu về gỗ cũng giảm theo. Điều này có thể thấy rõ qua biểu đồ dưới đây.

    Biểu đồ 7: Nhập khẩu các loại gỗ của Nhật Bản

    1400

    1200

    1000

    800

    600

    400

    200

    0

     G ç v¸n Ðp

     G ç x Î

     G ç trßn

    Nguồn: Shukuryojyukyuhyo – Bộ nông- lâm- thuỷ sản Nhật Bản, 1998

     

    1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991
    e. Dầu lửa, các sản phẩm dầu mỏ      

    __________________________________________________________

    _____________

    52

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Dầu lửa có quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người, nó không chỉ được sử dụng làm nhiên liệu mà còn sử dụng làm nguyên liệu để tạo ra tơ sợi hóa học, nhựa … Dầu lửa chiếm 89% trong cung cấp năng lượng chủ yếu của Nhật, cao hơn so với các nền kinh tế tiên tiến khác. Tuy nhiên kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu tiên, việc cắt giảm tiêu dùng dầu lửa và phát triển năng lượng nguyên tử và các nguồn năng lượng khác đã giúp Nhật Bản giảm sự lệ thuộc vào dầu lửa. Mặc dầu vậy, Nhật Bản vẫn phải dựa vào các nguồn cung cấp năng lượng từ bên ngoài với mức độ lớn hơn bất kỳ nước phát triển nào khác. Do nhu cầu mở rộng sản xuất trong nước, nhập khẩu dầu lửa tăng nhanh vào những năm đầu thập niên

    1. Năm 1991, Nhật Bản nhập khẩu 236 triệu tấn kl tương đương với 30,2 tỷ USD, chiếm 13% trong tổng số tiền bỏ ra để nhập khẩu.

    Trước kia, Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu dầu naphatha, dầu nặng, nhưng từ năm 1986 lại nhập khẩu cả xăng, dầu phun, dầu nhẹ. Các sản phẩm nhập khẩu này đáp ứng 20% nhu cầu nhiên liệu dầu của Nhật Bản.

    Nhìn chung, đánh thuế là nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước (gọi là thuế bảo hộ) nhưng đối với Nhật Bản – một nước mà đến 99,7% dầu mỏ tiêu thụ trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu thì không cần thiết phải đánh thuế.

    Thuế đánh vào các sản phẩm dầu lửa ngoài chức năng là thuế bảo hộ còn thực hiện chức năng là thuế tài chính. Hàng năm, Nhật Bản vẫn xem xét, nghiên cứu để đưa ra một mức thuế phù hợp.

    Bảng 6 : Chương trình giảm thuế dầu lửa

    Sau

    Đến năm 1991    Từ 1992 đến 1996  Từ 1997 đến 2001

    2002

    Mức

    350 yên/kl                     315 yên/kl                          215 yên/kl                         0

    thuế

    Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản

    __________________________________________________________

    _____________

    53

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1. Da thuộc

    * Da thuộc và các sản phẩm từ da

    Ngành sản xuất da thuộc của Nhật Bản phát triển dựa chủ yếu vào việc nhập khẩu da từ nước ngoài. Các doanh nghiệp tham gia vào ngành này phần nhiều có quy mô vừa, nhỏ hoặc rất nhỏ nên khả năng cạnh tranh quốc tế rất kém. Đặc biệt trong đó mặt hàng da thuộc và giầy da cho đến tháng 3-1986 vẫn là mặt hàng chịu hạn ngạch nhập khẩu, còn hiện nay nó chịu sự điều chỉnh của chế độ hạn ngạch thuế (TQ).

    Theo chế độ hạn ngạch thuế, mức thuế đánh lần 2 vào da thuộc, giầy da so với ngay cả các loại khoáng sản cũng thuộc loại cao. Ví dụ : cặp da xách tay từ 10 đến 17,5%; quần áo bằng da từ 12,5 đến 20% … Ngoài ra, cơ quan thuế sẽ qui định các mức thuế cụ thể đối với từng mặt hàng.

    Bảng 7: Mức thuế của da thuộc và giầy da

    . Mức tế hạn ngạch lần1 Mức tế hạn ngạch lần2
         
    Da: Bò, ngựa, cừu, dê 15% ~ 20% 60%
         
    Giầy da 21,6% ~ 30% 60% hoặc 4.800 yên
         

    ( Nguồn: Thuế quan của Nhật Bản (tiếng Nhật: Nihon no kanzei), NXB Zaikeiyohosha- 1997, tr.27 )

    2.Đầu tư trực tiếp NN liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật Bản

    • Nhật Bản, Luật về đầu tư nước ngoài đã được xây dựng từ khá lâu. Ban đầu, Luật qui định chỉ cấp giấy phép cho các dự án có tác dụng tích cực tới cán cân thanh toán của Nhật khi đang ở trong tình trạng khó khăn hoặc các dự án có

    __________________________________________________________

    _____________

    54

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đóng góp cho sự phát triển của các ngành sản xuất quan trọng; đối với các dự án đã được cấp giấy phép, Luật này đảm bảo chuyển lợi nhuận cũng như tiền vốn đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, lo sợ các công ty xuyên quốc gia của phương Tây, nhất là Mỹ chi phối kinh tế của mình, các tập đoàn kinh tế lớn ở Nhật Bản được sự hỗ trợ của chính phủ đã liên kết lại với nhau theo kiểu Keiretsu, lập nên một hệ thống phân phối hàng hoá mang tính chất bài ngoại, khép kín để ngăn chặn sự thâm nhập của các công ty nước ngoài, chống những mối đe doạ cạnh tranh thôn tính. Một loạt những Luật về tiêu chuẩn kỹ thuật, độ an toàn của sản phẩm … được ban hành đã làm cho các công ty nước ngoài rất ngại đầu tư vào Nhật Bản.

    Sau đó, Nhật Bản gia nhập OECD nên không thể đưa ra qui định hạn chế đầu tư trực tiếp của xí nghiệp nước ngoài nữa. Thêm vào đó, Nhật Bản đã nhiều lần thực hiện tự do hoá tư bản. Cho đến nay, ngoài một số rất ít các ngành cấm nước ngoài đầu tư (negative list), còn lại tất cả hoàn toàn được tự do hoá.

    Những năm gần đây, khi chính phủ chuyển hướng trọng tâm trước kia của Luật về đầu tư nước ngoài là “ngăn ngừa việc thôn tính doanh nghiệp trong nước của đầu tư nước ngoài” sang tự do hoá hơn, qui định dễ dàng hơn về phẩm chất hàng hoá, sự cải cách của hệ thống phân phối cùng với điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nâng giá đồng Yên lên mà đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản đã tăng lên.

    Đồng thời, những chính sách bảo hộ thuế quan và phi thuế quan của chính phủ về hạn chế hoặc tiến đến xoá bỏ hoàn toàn như giảm mức thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu, giảm hạn ngạch nhập khẩu làm xói mòn khả năng cạnh tranh của hàng hoá Nhật Bản không chỉ ở các thị trường nước ngoài mà ở ngay cả thị trường trong nước với các hàng nhập khẩu rẻ hơn. Do đó, ngày càng nhiều công ty Nhật đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với trọng tâm là thị trường Bắc Mỹ và Châu Á

    __________________________________________________________

    _____________

    55

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Việc di chuyển các cơ sở sản xuất ra nước ngoài là tạo ra nơi sản xuất hàng xuất khẩu sang nước thứ 3, nhờ đó làm giảm xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước này. Mặt khác, thông qua đó, việc nhập khẩu những nguyên liệu mà từ trước đến nay phải nhập khẩu để dùng cho sản xuất trong nước sẽ giảm. Hơn nữa, trong trường hợp hàng hoá sản xuất ở nước ngoài nếu được nhập khẩu trở lại Nhật Bản (gọi là hình thức xuất khẩu ngược) thì sẽ giúp cho nhập khẩu tăng.

    Những nỗ lực này đã đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản lên tới 69,7 tỷ USD trong năm tài chính 1990, gấp hơn 6 lần lượng đầu tư của năm năm trước đó khiến Nhật Bản trở thành nước đứng đầu thế giới về mặt này. Tổng số vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản vào các nhà máy ở nước ngoài trong năm 1996 tăng khoảng 11,6%.

    Thực tế hiện nay, hầu như toàn bộ các công ty hàng đầu của Nhật Bản đang tiếp tục quá trình di chuyển hoạt động sản xuất của họ ra nước ngoài và tăng tỷ lệ nhập khẩu trở lại thị trường nội địa về những hàng hoá được sản xuất tại đó. Xu hướng này được thể hiện rõ nhất trong ngành ô tô. Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ở các cơ sở nước ngoài của 5 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Nhật Bản đã vượt quá tổng khối lượng sản phẩm xuất khẩu của họ xuất ra từ Nhật Bản do sản xuất trong nước. Tỷ lệ sử dụng vốn để đầu tư ra nước ngoài của toàn bộ các công ty trong ngành lắp ráp chiếm tới 46% kinh phí của họ, trong ngành ô tô là 30% và trong toàn ngành công nghiệp nói chung là 13%.

    3. Chính sách sản phẩm

    Để thực hiện những mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ, chính phủ Nhật Bản nói riêng cũng như chính phủ các nước nói chung đều phải định ra hướng cho chính sách cơ cấu sản phẩm xuất nhập khẩu. Việc xác định được một cơ cấu sản phẩm hợp lý dựa vào điều kiện trong nước cùng tình hình môi trường ngoài nước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu những

    __________________________________________________________

    _____________

    56

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu những sản phẩm mà sản xuất trong nước không thuận lợi.

    Cơ cấu sản phẩm này được điều chỉnh theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu ngành nghề. Để thực hiện được sự điều chỉnh này, một trong những biện pháp là hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu và ngược lại.

    Nhìn chung trong suốt quá trình phát triển từ trước đến nay, Nhật Bản luôn chủ trương đánh thuế thấp đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu và đánh thuế cao đối với các thành phẩm, cho nên trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản, tỷ trọng của các nguyên liệu và sản phẩm sơ chế rất cao trong khi đó tỷ trọng của các thành phẩm trong tổng kim ngạch nhập khẩu lại thấp.

    Trước đây, trong giai đoạn sản xuất bắt đầu hồi phục, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với nguyên vật liệu, năng lượng, máy móc thiết bị để sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Nhờ đó, tỷ trọng của các hàng hóa này trong cơ cấu nhập khẩu đã tăng lên.

    Bước sang thời kỳ tăng trưởng kinh tế, cùng với môi trường quốc tế thuận lợi cho sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và hướng vào xuất khẩu các hàng chế biến có giá trị gia tăng ngày càng cao, chính phủ tăng cường hỗ trợ vốn, tín dụng với lãi suất thấp cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hoá dầu làm cho hoạt động sản xuất của những ngành này phát triển, từ đó tăng xuất khẩu, thay thế vị trí của các hàng hóa công nghiệp nhẹ. Các sản phẩm tàu thuỷ, thép … trở thành những hàng xuất khẩu trụ cột của Nhật Bản. Bên cạnh đó, sau vòng đàm phán Kennơdy, Nhật Bản đã tiến hành giảm thuế quan đối với nhiều mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng chế biến trước kia bị hạn chế, nhờ đó khối lượng nhập khẩu mặt hàng này cũng tăng lên.

    Sau khi đạt tới tốc độ tăng trưởng cao, chính phủ Nhật Bản lại buộc phải có những điều chỉnh trong chính sách thuế quan để hạn chế tác động của hai cuộc

    __________________________________________________________

    _____________

    57

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    khủng hoảng dầu lửa lên nền kinh tế. Chính phủ đã tiến hành miễn thuế đối với các mặt hàng gia công ở nước ngoài để tăng cường nhập khẩu hàng gia công, giảm nhập khẩu hàng nguyên liệu và ban hành các hàng rào phi thuế quan để bảo hộ các ngành công nghiệp hoá học mới, kỹ thuật mới, sản phẩm điện tử …

    Một vài năm lại đây, các chế độ bảo hộ bằng hạn ngạch, thuế quan cao dần dần được nới lỏng nên số lượng nhập khẩu gạo, lúa mì đã tăng lên và trong những năm tới chắc sẽ còn tăng hơn nữa.

    Sau thoả thuận Plaza năm 1985, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái làm cho giá trị đồng Yên lên cao đã tạo điều kiện cho việc nhập khẩu ôtô, phụ tùng ôtô, thiết bị văn phòng, linh kiện điện tử như chất bán dẫn, những sản phẩm có mức độ gia công, giá trị gia tăng cao cũng tăng lên rõ rệt.

    CHƯƠNG III

    BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

    Như chương trước đã đề cập, hệ thống chính sách thuế quan và phi thuế quan của Nhật Bản đã phát huy hiệu quả cao đối với sự phát triển kinh tế. Vậy Việt Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm của Nhật Bản. Để trả lời câu hỏi

    __________________________________________________________

    _____________

    58

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    đó, trong chương này sẽ nghiên cứu hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

    I. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG Ở VIỆT NAM

    1.                 Chính sách thuế quan

     

    • nước ta, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu được ban hành vào năm 1987 để thay cho chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương tồn tại trong suốt thời quản lý theo cơ chế hành chính bao cấp. Vào thời kỳ đó, bạn hàng chính của Việt Nam là Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), họ chiếm khoảng từ 75% đến 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Do đó, Luật thuế ra đời chủ yếu áp dụng cho hàng hoá buôn bán giữa Việt Nam và các nước này và danh mục biểu thuế được ban hành theo danh mục hàng hoá của SEV. Tuy nhiên, sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ yếu sụp đổ đã gây tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Bối cảnh quốc tế thay đổi buộc các nhà hoạch định chính sách Việt Nam phải tìm ra một hướng đi mới nếu không muốn bị tụt hậu.

    Chính sách ngoại thương – một trong những hướng trọng tâm của Việt Nam sau thời kỳ đổi mới đã được xây dựng theo hướng đa dạng hoá về thị trường và sản phẩm, tự do hoá các hoạt động nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để hỗ trợ cho chính sách ngoại thương được thực hiện một cách có hiệu quả, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1991 và sửa đổi, bổ sung vào năm 1993, trong đó đưa ra nhiều nội dung thay đổi căn bản.

    1.1 Biểu thuế xuất nhập khẩu

    Trong biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu mới sử dụng danh mục hàng hóa HS của Tổ chức hải quan quốc tế thay cho danh mục hàng hóa của khối SEV, dù đã có những sửa đổi, bổ xung nhưng biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ta vẫn còn dàn trải quá rộng. Mức thuế cao nhất (100%) áp dụng cho 28 mặt hàng trong đó

    __________________________________________________________

    _____________

    59

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    có 21 mặt hàng bia rượu, 6 mặt hàng thuốc lá và 1 mặt hàng quần áo cũ. Mức thuế cao (60%) áp dụng cho ôtô, hàng tiêu dùng (may mặc, giầy dép, dụng cụ gia đình khác) còn thuế đánh vào nhập khẩu các nguyên liệu thô, các máy móc thiết bị cơ bản và các sản phẩm trung gian khác nói chung rất thấp (từ 0% ~ 5%). Thuế suất dàn trải như vậy vừa phức tạp lại không có lợi cho nền kinh tế, chúng có thể đưa các nguồn lực vào những hoạt động không có hiệu quả, tạo tâm lý không tốt đối với các nhà kinh doanh nước ngoài vì họ cho rằng thuế suất của Việt Nam quá phức tạp và quá cao. Trên thực tế, với việc qui định thuế suất như thế, nếu tính tổng số thuế thu được thì có thể còn thấp hơn việc qui định thuế suất tập trung.

    1.2 Chế độ thuế

    Theo Luật Thuế của Việt Nam năm 1987, sửa đổi, bổ xung vào các năm 1991 và 1993, thuế nhập khẩu gồm có 2 loại là thuế suất phổ thông và thuế suất ưu đãi nhưng trên thực tế chỉ có 1 loại thuế suất phổ thông áp dụng cho tất cả các loại hàng hoá. Từ 1/1/1991, thuế nhập khẩu của Việt Nam đã được sửa đổi gồm 3 loại là: thuế suất phổ thông, thuế suất ưu đãi và thuế ưu đãi đặc biệt. Thuế suất phổ thông được áp dụng thống nhất cao hơn 50% so với thuế suất ưu đãi. Thuế ưu đãi đặc biệt được áp dụng đối với từng nước, hoặc khu vực hợp tác đa phương trên nguyên tắc bình đẳng.

    Ngoài ra, Luật thuế xuất nhập khẩu bổ sung cũng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu có giá thấp hơn mức giá thông thường, thuế chống trợ giá đối với hàng hoá có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, thuế chống phân biệt đối xử đối với hàng hoá nhập từ nước có sự phân biệt đối xử khác với hàng hoá của Việt Nam.

    1.3 Thuế VAT (Thuế giá trị gia tăng)

    Luật thuế giá trị gia tăng (VAT) được áp dụng ở Việt Nam kể từ ngày 01/01/1999 theo Nghị định của Chính phủ ngày 11/05/1998.

    __________________________________________________________

    _____________

    60

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

    Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của Nghị định nói trên.

    Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính & thuế suất đối với từng loại, nhóm mặt hàng đều

    thuế và thuế suất. Giá tính thuế được Chính phủ quy định rõ.

    2. Các biện pháp phi thuế quan trong hoạt động Ngoại thương

    2.1 Giấy phép xuất nhập khẩu

    Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý hàng nhập khẩu. Nhưng giấy phép nhập khẩu khác với hạn ngạch là được áp dụng rộng rãi hơn. Người nhập khẩu phải am hiểu các quy định của Nhà nước về việc xin giấy phếp và những phí tổn có liên quan đến việc xin giấy phép nhập khẩu để hoạt động kinh doanh được thuận lợi và có hiệu quả.

    Tại Việt Nam, giấy phép nhập khẩu từng lô hàng ( chuyến hàng ) được bãi bỏ từ 15/12/1995. Tuy nhiên giấy phép nhập khẩu vẫn là một biện pháp quan trọng trong quản lý nhập khẩu. Ngày 04/042001, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, quy định cơ chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2005. Theo đó, nhiều hàng hoá chịu sự quản lý, thông qua hình thức cấp giấy phép của Bộ Thương mại và các Bộ chuyên ngành.

    2.2 Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

    Hạn ngạch xuất khẩu được áp dụng cho các mặt hàng mà nhà nước và các tổ chức quốc tế ấn định đối với Việt Nam như hàng may mặc xuất sang Liên minh Châu Âu.

    Trong năm 1998, giá gạo trên thế giới cao do nhu cầu tăng và nguồn cung hạn chế, song hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn được điều phối để vừa tăng

    __________________________________________________________

    _____________

    61

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    kim ngạch xuất khẩu, vừa đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực. Nhờ lượng gạo xuất khẩu tăng, lúa hàng hoá trong dân đã được mua ở mức tối đa, giá lúa gạo tăng bảo đảm thu nhập có lợi cho nông dân, đồng thời nhờ công tác điều hành xuất khẩu gạo mà giá lúa, gạo không có sự biến động mạnh, không gây tác động xấu đến tình hình cung cầu của thị trường lương thực trong nước. Bên cạnh đó cũng có nhận xét cho rằng, việc qui định hạn ngạch về gạo đã làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước và thu nhập của người nông dân do họ bị các doanh nghiệp đầu mối được nhà nước phân bổ hạn ngạch ép giá nên hiện nay chính phủ Việt Nam đã bỏ chế độ hạn ngạch về gạo.

    Về may mặc, những năm trước kia, hạn ngạch may mặc được chính phủ phân bổ cho các doanh nghiệp nhưng bắt đầu từ năm 1999 đã thực hiện đấu thầu hạn ngạch. Vì là năm đầu tiên thực hiện nên lượng quota đem ra đấu thầu mới chỉ dừng ở mức 20% hạn ngạch thương mại, còn lại giao theo phương thức giao hạn ngạch thu phí, chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.

    Mục đích của hạn ngạch xuất khẩu là để bảo vệ các nhà sản xuất, người tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời của sản phẩm này và cải thiện giá của các sản phẩm trên thị trường thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp chúng. Khả năng thứ hai chỉ có thể thực hiện được ở một nước hay nhóm nước có ưu thế xuất khẩu về một sản phẩm. Vào thời điểm hiện nay, so với năng lực sản xuất trong nước, hạn ngạch xuất khẩu may mặc vẫn còn thấp nên chúng ta cần xúc tiến các hoạt động đàm phán để nâng cao mức hạn ngạch xuất khẩu. Vừa qua, hiệp định mới ký với EU đã đạt được thoả thuận tăng hạn ngạch hàng năm là 3 ~ 5% so với 1,2 ~ 2,5% trước đây.

    Đối với hạn ngạch nhập khẩu, hàng năm, chính phủ đều xem xét, nghiên cứu, phân tích dự đoán khả năng sản xuất và nhu cầu trong nước, căn cứ vào mục tiêu, định hướng phát triển để qui định số lượng hoặc trị giá những hàng hoá được nhập khẩu, đặc biệt là hàng tiêu dùng, mặt hàng mà khả năng cạnh tranh

    __________________________________________________________

    _____________

    62

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    của các ngành sản xuất trong nước vẫn còn rất non kém so với hàng ngoại nhập vừa rẻ vừa mẫu mã đẹp. Tuy nhiên, từ những năm 90, những qui định về hạn ngạch nhập khẩu đã giảm một cách đáng kể.

    2.3 Qui định cấm xuất khẩu, nhập khẩu

    Theo qui định kèm theo nghị định 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 của chính phủ, có 6 mặt hàng bị cấm xuất khẩu (vũ khí, đạn dược …) và 9 mặt hàng cấm nhập khẩu (ma tuý, các loại văn hoá phẩm đồi truỵ …). Nhìn chung, những mặt bị cấm xuất khẩu chủ yếu xem xét ảnh hưởng của nó đến mặt chính trị, xã hội hơn là kinh tế nên nó cũng không gây mâu thuẫn mấy đến hoạt động ngoại thương. Riêng gỗ, trước kia được xuất khẩu nhưng từ tháng 1/1994 đã được đưa vào danh mục hàng cấm xuất khẩu do nguy cơ phá rừng tăng cao làm ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên. Điều này cũng dẫn đến chính phủ phải qui định hạn chế số lượng hoặc trị giá những đồ gỗ liên quan đến nguyên liệu gỗ khai thác trong nước.

    2.4 Quản lý ngoại tệ

    Theo qui định hiện hành, tất cả các nguồn thu ngoại tệ đều tập trung gửi vào ngân hàng hoặc các cơ quan quản lý ngoại hối để nhà nước có thể kiểm soát được hoạt động kinh tế đối ngoại đặc biệt là hoạt động nhập khẩu, ngăn chặn nguồn vốn thất thoát ra ngoài, duy trì cân bằng thu chi quốc tế, thực hiện chính sách tỷ giá tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

    • Việt Nam, Ngân hàng trung ương hàng ngày qui định một khung tỷ giá chính thức cho việc mua bán ngoại tệ. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái do ngân hàng công bố thường chênh lệch so với tỷ giá hối đoái thị trường, là tỷ giá mà nhà sản xuất quan tâm vì nó cho phép nhà sản xuất có thể tính được lợi nhuận thực tế thu

    được.

    Trong cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á năm 1997, bằng các biện pháp đồng bộ thắt chặt chính sách tiền tệ như điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức,

    __________________________________________________________

    _____________

    63

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    thực hiện thu mua bắt buộc đối với nguồn ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, điều chỉnh cơ chế tín dụng ngoại tệ, giảm lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế, Việt Nam đã khắc phục được những tác động xấu của cuộc khủng hoảng tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể nào tránh khỏi tình trạng xuất khẩu suy giảm do đồng tiền các nước trong khu vực bị giảm giá so với đồng đôla, hàng hoá Việt Nam trở nên đắt đỏ so với hàng các nước trong khu vực. Sau đó, ngân hàng trung ương đã điều chỉnh để nâng giá đồng Việt Nam lên so với đồng đôla Mỹ, nhờ vậy mà xuất khẩu có xu hướng tăng trở lại.

    Từ ngày 11/9/1998, ngân hàng Nhà nước đã thực hiện hạ thấp mức lãi suất cho vay bằng đôla của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp từ 8,5%/năm xuống còn 7,5%/năm đồng thời tiền gửi ngoại tệ của các doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng cũng hạ xuống nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với nguồn vốn ngoại tệ, góp phần bình ổn tỷ giá, tạo tâm lý tốt và điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn, tăng cường xuất khẩu.

    Ngoài các biện pháp bảo hộ nói trên, chính phủ còn áp dụng các biện pháp khác như qui định các quy chế hành chính kỹ thuật nhằm kiểm soát nhập khẩu; từ ngày 8/9/1998 chính phủ cũng đã lập ra quỹ thưởng cho các doanh nghiệp xuất khẩu, theo đó, đối tượng được thưởng là các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng mới lần đầu tiên xâm nhập thị trường nước ngoài, những mặt hàng có chất lượng cao, được tổ chức quốc tế về đánh giá chất lượng sản phẩm công nhận bằng văn bản; thâm nhập thị trường xuất khẩu cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam; mở rộng thị trường, gia tăng được kim ngạch xuất khẩu đối với những mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu; sản xuất mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nguyên vật liệu sản xuất trong nước, thu hút nhiều lao động trong nước hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu ngoài hạn ngạch, có kim ngạch từ 50 triệu USD/năm trở lên. Biện pháp này đã tỏ ra có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu như trong các ngành dệt may, việc thưởng đã

    __________________________________________________________

    _____________

    64

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    làm tăng tỷ trọng sử dụng vải, nguyên phụ liệu trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường ngoài hạn ngạch tăng. Thực tế, tại các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu cho thấy họ thích thú vì được thưởng, hay chạy đua để được thưởng. Tiền thưởng có thể chưa nhiều nhưng có sự động viên rất lớn. Có doanh nghiệp nói rằng: “Một trăm đồng tiền công không bằng một đồng tiền thưởng”.

    Có thể nói rằng, sau khi mở cửa thị trường, nhà nước ta đã không ngừng đưa các biện pháp để kích thích nền kinh tế nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng phát triển, đặc biệt đã liên tiếp thực hiện các cải cách về thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của nước nhà. Trong các biện pháp trên có nhiều biện pháp đạt hiệu quả cao, cần tiếp tục phát huy nhưng cũng có một số biện pháp còn bất cập và trong quá trình thực hiện nhà nước phải từng bước sửa đổi, bổ sung, áp dụng thêm những biện pháp khác lấy từ kinh nghiệm của các nước khác điển hình như Nhật Bản.

    II. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TỪ CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN VÀ PHI THUẾ QUAN CỦA NHẬT BẢN ĐỐI

    VỚI VIỆT NAM

    Trước khi bước vào thời kỳ phát triển kinh tế cao độ, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã phải trực diện với bối cảnh quốc tế giống với Việt Nam: phải có chiến lược như thế nào trước trào lưu chung của thế giới là mở cửa và hội nhập vào các tổ chức thương mại và kinh tế quốc tế trong khi nền kinh tế nước mình còn non yếu ? Và cuối cùng, người Nhật đã tìm ra chiến lược mở cửa, hội nhập đúng đắn cho mình – một chiến lược góp phần quan trọng vào việc làm cho nền kinh tế “phát triển thần kỳ” như đã thấy- bao gồm việc giải quyết 3 vấn đề đặt ra:

    • Mở cửa như thế nào để hàng ngoại nhập không cản trở sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước.

    __________________________________________________________

    _____________

    65

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Việc mở cửa phải kết hợp như thế nào với chiến lược, chính sách làm cho các ngành sản xuất ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.
    • Để hội nhập có hiệu quả, tranh thủ được nhiều nhất cơ hội của thị trường thế giới, phải có chiến lược và tổ chức như thế nào việc đẩy mạnh xuất khẩu.

    Việt Nam và Nhật Bản, ngoài những điểm khác biệt cũng có những tương đồng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Cả hai nước đều là nước nông nghiệp, đi lên từ một nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đến kiệt quệ và không còn con đường nào khác là đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, phải tham gia, hội nhập vào các tổ chức thế giới. Từ đó, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản để đưa ra một chính sách thuế phù hợp thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển trong những năm tới.

    1. Bài học và khả năng áp dụng về chính sách thuế quan

    1.1 Áp dụng giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu cho phù hợp với thông lệ quốc tế

    Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại 3 cách xác định giá tính thuế là:

    • Giá theo hợp đồng (giá CIF).
    • Giá tối thiểu do nhà nước qui định.
    • Giá do hợp đồng qui định.

    Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, đồng thời để phù hợp với các qui định về trị giá tính thuế quan của GATT, chúng ta nên xác định trị giá tính thuế dựa trên gía trị kinh doanh tức giá thực trả hoặc có thể trả cho hàng hoá được ghi trong hoá đơn hay các chứng từ khác của người bán mà dựa vào đó việc thanh toán được thực hiện. Trong trường hợp hàng hoá không thể sử dụng, giá trị kinh doanh sẽ áp dụng các phương pháp khác để quyết định giá trị như : giá của các

    __________________________________________________________

    _____________

    66

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    hàng hoá giống hệt, giá của hàng hoá tương đương hay phương pháp khấu trừ, phương pháp dự phòng.

    1.2 Giảm mức thuế và thuế suất

    Trong thời gian vừa qua, nhà nước ta đã tiến hành nhiều sửa đổi để giảm mức thuế và thuế suất. Tuy nhiên so với các nước nói chung và Nhật Bản nói riêng thì còn nhiều và dàn trải rộng, do đó cần thu hẹp chẳng hạn còn khoảng mười mức từ 0% đến 50% để tạo sự công bằng trong kinh doanh, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta cũng cần nâng mức thuế suất các mặt hàng có thuế suất dưới 5% và giảm thuế suất đối với một số mặt hàng có thuế suất cao và quá cao (trên 50%).

    1.3 Đa dạng các biện pháp tính thuế

    Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay chỉ mới áp dụng phương pháp tính thuế theo giá. Theo phương pháp này, số tiền thuế thu được tăng lên khi giá hàng hoá tăng nhưng trong trường hợp giá hàng thấp thì ngược lại, làm cho nguồn thu ngân sách không ổn định. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp có những hàng hoá nhu cầu trong nước đang rất cần nhưng do hàng hoá tăng cộng thêm giá thuế phải trả tăng khiến cho giá khi đến tay người tiêu dùng quá cao không thể mua được, gây khó khăn cho quá trình sản xuất, tiêu dùng của nhân dân trong nước.

    Do vậy, ngoài cách tính thuế theo giá như hiện nay, cũng như Nhật Bản, ta nên áp dụng thêm các cách tính thuế khác như thuế theo lượng nhập khẩu, hoặc hỗn hợp cả hai vừa theo giá vừa theo lượng, thuế lựa chọn, thuế theo mùa, thuế chênh lệch đối với hàng hoá nhập khẩu. Mỗi cách đều có ưu điểm, nhược điểm, điều quan trọng là cần nghiên cứu, xem xét nên chọn cách tính thuế nào cho phù hợp với mỗi loại hàng hoá khác nhau để vừa bảo hộ sản xuất trong nước, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng lại vừa đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách.

    __________________________________________________________

    _____________

    67

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    • Nhật Bản, thuế theo lượng được áp dụng đối với mặt hàng điển hình là dầu lửa. Việc tiêu thụ dầu dùng trong sản xuất và dùng trong tiêu dùng ở Nhật Bản chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng cao độ, nhập khẩu chiếm đến 90% đồng thời giá dầu hay thay đổi theo sự điều chỉnh của OPEC và quan hệ cung cầu trên thị trường, vì lẽ đó, Nhật đã chọn cách tính theo lượng. Đối với Việt Nam, chúng ta cũng có thể áp dụng thuế theo lượng đối với một số mặt hàng mà nhu cầu trong nước rất cần nhưng giá của hàng hoá đó lại hay biến động.

    Việt Nam là một đất nước thuộc vùng nhiệt đới, thuận lợi cho việc trồng các loại cây ăn quả, rau các loại … sản xuất nông nghiệp của ta so với các nước còn lạc hậu và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nhiều loại rau quả chỉ thu hoạch được theo mùa và chi phí sản xuất cũng thường cao hơn các nước. Trong những năm gần đây, nhờ kỹ thuật hiện đại, áp dụng biện pháp chế biến, bảo quản, người dân Việt Nam có thể ăn những loại rau quả trái mùa. Tuy nhiên, nếu không có những biện pháp bảo hộ hàng hoá do người nông dân sản xuất trước sự cạnh tranh của hàng hoá ngoại nhập đặc biệt là từ Trung Quốc với giá rẻ thì có thể làm cho lợi nhuận của người nông dân thấp đi do phải bán với giá rẻ hoặc hàng hoá bị tồn đọng. Từ đó, phải chăng nhà nước cũng nên áp dụng thuế theo mùa đối với táo, lê … của Trung Quốc. Nhưng phần lớn những mặt hàng này nhập khẩu từ Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch hoặc buôn lậu nên việc kiểm soát để thực hiện đánh thuế gặp nhiều khó khăn.

    1.4 Giảm thuế suất nhanh các ngành có lợi thế cạnh tranh mạnh, giảm thuế chậm cho các ngành có khả năng cạnh tranh kém

    Theo qui định của Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), đến đầu năm 2006 (chậm hơn các nước thành viên khác 3 năm), Việt Nam phải hoàn thành chương trình giảm thuế nhập khẩu nhằm đạt mức thuế suất cuối cùng từ 0 ~ 5%. Đồng thời để tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế như WTO , Việt Nam có thể giảm thuế theo hướng cắt giảm thuế sớm nhất đối với những

    __________________________________________________________

    _____________

    68

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    ngành hàng có thế mạnh về xuất khẩu, tiếp đó là những ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu và sau cùng là những ngành hàng thiếu khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, trong trường hợp cần thiết để bảo hộ ngành sản xuất non trẻ trong nước có thể xin bảo lưu chưa tham gia điều khoản đó như Nhật Bản đã thực hiện.

    • Việt Nam, những ngành hàng có thể coi là có thế mạnh xuất khẩu bao gồm các mặt hàng nông sản (gạo, cafê, chè … ), thuỷ sản, dệt may, cao su …

    Nhóm ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu như ngành hàng rau quả, thực phẩm chế biến, các sản phẩm hoá chất, cơ khí, xi măng … Những ngành hàng giấy, đường, luyện kim, khoáng sản … thuộc nhóm các ngành hàng có tiềm năng cạnh tranh kém so với hàng nhập khẩu.

    Nhà nước dựa vào tình hình sản xuất trong nước và nước ngoài để xác định các mặt hàng cần bảo hộ chặt chẽ và những mặt hàng có thể tự do hoá thông qua biện pháp thuế quan.

    1.5 Thực hiện chế độ miễn, giảm thuế lâu dài và chế độ miễn giảm thuế tạm thời

    Căn cứ vào những yêu cầu của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục mà Việt Nam có thể áp dụng chế độ miễn, giảm thuế lâu dài đối với những hàng hoá phục vụ cho mục tiêu dài hạn như nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu mà trong nước không có hoặc khan hiếm, những hàng hoá nhập khẩu cần thiết đối với cuộc sống của người dân Việt Nam, những hàng hoá dùng vào mục đích nghiên cứu khoa học, phát triển giáo dục … và chế độ miễn, giảm thuế tạm thời đối với những hàng hoá nhà nước cần thường xuyên theo dõi để điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của tình hình trong nước cũng như ngoài nước. Hơn nữa, việc qui định miễn, giảm thuế tạm thời là để tránh hiện tượng ỷ lại vào những đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước và tránh làm suy giảm năng lực cạnh tranh.

    __________________________________________________________

    _____________

    69

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1.6. Mở rộng diện mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

    Để đảm bảo sự công bằng đối với những giao dịch trong nước, từ tháng 4/1989 chính phủ Nhật Bản không chỉ đánh thuế tiêu thụ đối với hàng trong nước mà đối với ngay cả hàng nhập khẩu từ nước ngoài. Thuế tiêu thụ tại cửa khẩu cùng với hải quan. Thuế tiêu thụ được miễn đối với hàng hoá xuất khẩu, trong trường hợp những hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế tiêu thụ thì số tiền thuế đã thu được hoàn trả lại. Thuế tiêu thụ đóng vai trò là một loại thuế tài chính của chính phủ Nhật Bản, số tiền thuế thu vào ngân sách chính phủ hàng năm ngày càng tăng.

    • Nhật Bản, thuế tiêu thụ là một loại thuế gián tiếp đánh vào tất cả các hàng hoá, dich vụ, ngay cả những hàng hoá nhập khẩu, dù được miễn thuế nhập khẩu cũng vẫn phải chịu thuế tiêu thụ.

    Tại Việt Nam, chỉ có 12 nhóm hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả sản xuất trong nước và nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Để bảo hộ sản xuất trong nước, tăng thu ngân sách nhà nước đặc biệt là khi thực hiện AFTA và các định chế của APEC cũng như tham gia vào WTO mà theo đó Việt Nam phải từng bước giảm mức thuế quan xuống, chúng ta nên đưa thêm nhiều mặt hàng như nhóm mặt hàng tiêu dùng thành phẩm cao cấp (mỹ phẩm, nước hoa, đồ kim hoàn…) vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế nội địa, không thuộc đối tượng đàm phán khi ký kết các hiệp định quốc tế.

    2. Bài học và khả năng áp dụng về các biện pháp phi thuế quan

    Dựa trên những biện pháp mà Nhật Bản đã thực hiện thành công cùng với tình hình Việt Nam ngày nay, có thể đưa ra những giải pháp sau để bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.

    __________________________________________________________

    _____________

    70

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2.1 Đơn giản hoá thủ tục xuất nhập khẩu

    Vấn đề thủ tục xuất nhập khẩu hiện nay ở nước ta mặc dù đã được các cơ quan, bộ ngành từng bước sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh cho phù hợp với xu thế chung trên thế giới nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu. So với Nhật Bản và các quốc gia khác, thủ tục xuất nhập khẩu của ta còn rất phức tạp, rườm rà, nhiều qui định không rõ ràng, đặc biệt là hiện tượng cửa quyền gây khó dễ cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho các đối tác nước ngoài có thể từ bỏ ý định đầu tư vào Việt Nam.

    2.2 Tăng cường quản lý chất lượng hàng xuất khẩu

    Về vấn đề này, nhà nước ta cần chú trọng đúng mức bởi thị trường thế giới chỉ đánh giá chất lượng hàng hoá Việt Nam theo nhóm hàng, chứ không quan tâm nhiều đến tên tuổi doanh nghiệp sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm đó nên nếu để hàng kém chất lượng tiêu thụ ở nước ngoài sẽ làm giảm uy tín nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, ảnh hưởng xấu đến những doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu lớn. Chẳng hạn, vừa qua có tình trạng lái buôn ngâm tôm vào nước làm tăng trọng lượng lên 7 ~ 10% khiến cho hàng xuất khẩu bị khiếu nại trả lại. Sau đợt đó, chúng ta mất luôn cả khách hàng lẫn thị trường .

    Ngày nay, không chỉ Việt Nam mà ở nhiều nước khác trên thế giới, nói đến hàng Nhật Bản là người ta nghĩ đến những sản phẩm có chất lượng tốt, đó chính là ngay từ đầu Nhật Bản đã có sự kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hoá xuất khẩu thông qua các tổ chức, cơ quan chuyên trách được thành lập, theo đó chỉ những hàng hoá có đủ tiêu chuẩn đặt ra mới được xuất khẩu để đảm bảo uy tín của hàng hoá Nhật.

    Trong xu thế hiện nay, các doanh nghiệp cạnh tranh chính là bằng chất lượng, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng chứ không phải hoàn toàn bằng giá cả như trước đây nên việc gây ấn tượng ban đầu về chất lượng hàng hoá Việt Nam đối với người tiêu dùng là rất cần thiết để tạo điều kiện dễ dàng cho việc buôn

    __________________________________________________________

    _____________

    71

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    bán về sau, tiếp cận với thị trường thế giới. Bên cạnh việc thiết lập cơ quan kiểm tra, chúng ta có thể dần dần luật hoá những qui định cụ thể về các yếu tố tối thiểu liên quan đến chất lượng hàng xuất khẩu để bảo vệ uy tín hàng hoá Việt Nam.

    2.3 Chuyển một số mặt hàng từ chế độ cấm nhập khẩu sang chế độ hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với biện pháp thuế quan :

    Trong số các biện pháp cấm hoặc hạn chế nhập khẩu, đánh thuế đối với những hàng hoá cạnh tranh với những sản phẩm quan trọng sản xuất trong nước, cấm nhập khẩu biện pháp mang tính cưỡng chế cao nhất nên hậu quả xấu gây ra cũng lớn. Chẳng hạn như trường hợp thuốc lá điếu do bị cấm nhập khẩu trong khi hoạt động hải quan của nước ta vẫn còn lỏng lẻo đã gây nên tình trạng buôn lậu rất nhiều và nhà nước thì bị thất thu thuế. Vì vậy, ngoài những hàng cấm (vũ khí, ma tuý …) đối với các loại hàng hoá khác như thuốc lá điếu nên chuyển sang áp dụng các biện pháp hạn ngạch nhập khẩu kết hợp với thuế quan là nếu hàng hoá vượt quá hạn ngạch qui định thì phải chịu thuế suất cao.

    2.4 Đầu tư hệ thống phân phối sản phẩm

    Mặc dù thị trường nội địa với gần 80 triệu dân rất hấp dẫn các doanh nghiệp nhưng để trụ được là điều không dễ dàng trước sự tràn ngập của hàng ngoại nhập đặc biệt là hàng Trung Quốc, chủ yếu nhập lậu hoặc theo đường tiểu ngạch. Ví dụ như hàng dệt may Việt Nam với bình quân 75% giá trị đầu vào gồm bông sơ, hoá chất, thuốc nhuộm … được nhập khẩu nên sản phẩm may làm ra giá còn cao, khó cạnh tranh để tìm chỗ đứng. Trong thời gian qua, các giải pháp bảo hộ như dán tem chống hàng giả vẫn đang tỏ ra bất cập với thực tế các sản phẩm như vải, may mặc … chính vì vậy việc đầu tư cho hệ thống bán hàng, mở rộng các đại lý là rất cần thiết để đưa hàng hoá Việt Nam trở nên phổ biến trong hành

    • tiêu dùng của người Việt Nam thông qua việc thực hiện chiết khấu hoa hồng cho những người bán hàng của Việt Nam sản xuất hoặc sẵn sàng nhận hàng hoá bị trả lại …

    __________________________________________________________

    _____________

    72

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    2.5 Chính sách tỷ giá hối đoái

    Một tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá phù hợp là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện định hướng của hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái chính thức quá cao sẽ làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với hàng nội địa, còn hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn do phải chịu chi phí cao từ lạm phát trong nước, dẫn đến khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, một điều hoàn toàn bất lợi đối với Việt Nam đang thiếu vốn và ngược lại.

    Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu, Việt Nam nên thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái như thế nào cho phù hợp. Nên chăng là chúng ta cần có một chiến lược dài hạn cho việc xây dựng tỷ giá hối đoái, tránh biến động lớn về tỷ giá, gây rủi ro cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để thực hiện chiến lược này, cần giảm bớt biên độ giao dịch của tỷ giá hối đoái ở mức nhỏ (0,5%~1%) và nâng dần tỷ giá chính thức lên ở mức nhỏ. Nếu không, chúng ta có thể thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo điều kiện dễ dàng cho việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch lâu dài mà không thể thiếu được cho công cuộc đưa một nước có nền kinh tế đang phát triển thành nước phát triển như Việt Nam. Hơn nữa, việc qui định này còn làm cho nguồn vốn trong nước có hạn cũng không bị lôi cuốn vào đầu cơ ngoại hối như trước và có thể tập trung vào cho đầu tư thực chất.

    KẾT LUẬN

     

    __________________________________________________________

    _____________

    73

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    Nhật Bản là một nước đảo nghèo tài nguyên thiên nhiên và phải chu cấp cho một số dân hơn 120 triệu người trên một diện tích tương đối nhỏ. Tuy nhiên, bất chấp những điều kiện hạn chế này và việc cơ sở chế tạo của đất nước bị tàn phá trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã không những có thể xây dựng lại được nền kinh tế của mình mà còn trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới và ngày càng đuổi sát, thách thức vị trí cường quốc kinh tế số một của Mỹ. Đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển của Nhật Bản không thể không nói đến vai trò quan trọng của chính sách thuế quan và phi thuế quan.

    Từ những năm đầu bước vào công cuộc hồi phục đất nước sau chiến tranh cho đến lúc đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, các ngành sản xuất của Nhật Bản vốn đã bị tàn phá hầu hết muốn vực dậy thì cần có sự hỗ trợ đắc lực của chính phủ. Trong giai đoạn này, chính phủ đã thực hiện một loạt các biện pháp thuế quan và phi thuế quan mang tính chất bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, từng bước nâng cao vị thế quốc gia.

    Sau khi các ngành sản xuất trong nước đã lớn mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới, đồng thời, trước xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá, chính phủ Nhật Bản đã dần dần nới lỏng các biện pháp bảo hộ chặt trong thời kỳ trước, nhờ đó mà tránh được mâu thuẫn thương mại, thúc đẩy hơn nữa hoạt động ngoại thương phát triển.

    Từ việc phân tích, nghiên cứu chính sách thuế quan và phi thuế quan và sự phát triển ngoại thương của của Nhật Bản cùng hiện trạng chính sách thuế quan và phi thuế quan ở Việt Nam, trên cơ sở đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tài liệu Tiếng Việt:

    __________________________________________________________

    _____________

    74

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    1. GS, TS, Dương Phú Hiệp – TS Nguyễn Duy Dũng “Điều chỉnh chính sách kinh tế của Nhật Bản” 2002
    1. “Nhật Bản ngày nay”, NXB Hiệp hội quốc tế về thông tin giáo dục, Tokyo 1993.
    1. Goro Ono, “Chính sách công nghiệp cho công cuộc đổi mới”, NXB Chính trị quốc gia, 1998.
    1. PTS Bùi Xuân Lưu, “Giáo trình thuế & hệ thống thuế ở Việt Nam”, trường Đại học Ngoại thương, 1998.
    1. PTS Bùi Xuân Lưu, “Giáo trình chính sách ngoại thương”, trường Đại học Ngoại thương, 2002.
    1. Hiroshi Nakajima – Harumi Uraoka, “Nhật Bản – tăng cường hiểu biết và hợp tác”, NXB Tokyo United Publisher Inc, 1998.
    1. “Các chính sách huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế của Nhật Bản”, NXB Chính trị quốc gia, 1996.
    1. Chalmers Johnson, “MITI và sự thần kỳ của Nhật Bản”, Viện kinh tế thế giới, 1989.
    1. Lê Văn Sang, “Kinh tế Nhật Bản : giai đoạn thần kỳ”, Viện Kinh tế thế giới, 1998.
    1. Yasusuke Marakami, “Kinh tế học chính trị Nhật Bản”, NXB Khoa học xã hội, 1994.
    1. Chủ Hữu Quý, “Nông nghiệp nông thôn Nhật Bản”, NXB Sự thật, 1991.

    12.”Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản” NXB Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản.

    1. Tài liệu Tiếng Nhật:
    • Japan Almanac 2001

    __________________________________________________________

    _____________

    75

     

    Khoá luận tốt nghiệp                                                                   Trịnh Thanh Hương – A2 – CN9

    __________________________________________________________

    _____________

    76


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kế toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-m%E1%BB%91i-li%C3%AAn-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%E1%BB%91n-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-v%C3%A0ng-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phân tích mối liên hệ giữa thị trường vốn với các thị trường bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ

    LỜI CẢM ƠN

    Để hoàn thành được bài báo cáo này, không chỉ nhờ vào sự nổ lực của từng thành viên trong nhóm mà còn nhờ vào sự giúp đỡ của rất nhiều người.

    Lời đầu tiên nhóm chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy Trần Linh Đăng chủ nhiệm bộ môn “Tài chính tiền tệ”. Thầy đã tận tình truyền đạt kiến thức và hướng dẫn kĩ càng trong quá trình học tập. Bên cạnh đó thầy luôn cập nhật đầy đủ mọi thông tin học tập trên trang web của thầy để chúng em có thể tiện theo dõi nắm kỹ hơn về bài học. Từ những kiến thức, sự hướng dẫn tận tình và những tài liệu mà thầy cung cấp đã giúp nhóm chúng em hoàn thành tốt bài báo cáo này.

    Ngoài ra, nhóm chúng em cũng muốn gửi lời cám ơn đến các anh chị bộ phận trực thư viện đã hướng dẫn và giúp chúng em tìm được tài liệu cần tham khảo một cách nhanh chóng nhất.

    Và cuối cùng là lời cảm ơn của chúng em gửi đến nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng em tiếp xúc với môn học này, điều ấy đã làm tăng vốn kiến thức và là hành trang cho chúng em cho công việc sau này. Hơn nữa, qua bài báo cáo này chúng em có cơ hội để hiểu sâu bài học hơn nhờ việc tự nghiên cứu tài liệu để hoàn thành bài báo cáo này.

    Chúng em xin chân thành cám ơn!

    4

    NỘI DUNG

    A.                GIỚI THIỆU VỀ CÁC THỊ TRƯỜNG

     

    I.                   Giới thiệu về thị trường vốn

    1. Khái niệm

    Thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ và các hộ gia đình. Thị trường vốn là nơi trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn. Một công cụ tài chính có thời hạn thanh toán trên 1 năm được coi là công cụ của thị trường vốn.

    1. Phân loại

    Thị trường vốn đầu tư gián tiếp Thị trường vốn quốc tế

    Căn cứ vào sự luân chuyển của nguồn vốn

     

    • Thị trường sơ cấp
    • Thị trường thứ cấp

    Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường

    • Thị trường cổ phiếu
    • Thị trường trái phiếu
    • Chứng khoán phái sinh

    Căn cứ vào phương thức hoạt động

    • Thị trường niêm yết tập trung
    • Thị trường phi tập trung ( OTC )

    Qũy đầu tư

    1. Vai trò

    Vai trò tập trung và tích tụ vốn cho đầu tư vốn cho đầu tư.

    Thị trường vốn góp phần tạo lập cơ chế đầu tư hợp lý, thúc đẩy quá trình sử dụng vốn một cách hợp lý.

    Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng tới nền kinh tế của đất nước. Thị trường vốn làm đa dạng hoá các cơ hội đầu tư cho các chủ đầu tư.

    Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính sách kinh tế vi mô.

    Thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh doanh của các doanh nghiệp của nền kinh tế.

    Thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước.

    II. Giới thiệu về thị trường chứng khoán

     

    1. Định nghĩa

    Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng của thị trường vốn. Đó là nơi để phát hành, trao đổi và giao dịch mua bán các loại chứng khoán như: cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác có thời hạn trên m ột năm. Có thể nói thị trường hoạt động nhằm mục đích huy động vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế và cung cấp vốn cho các dự án đầu tư.

    1. Đặc điểm

    Thị trường chứng khoán là hình thức tài chính trực tiếp, tức là người cần vốn và người cung cấp vốn trực tiếp tham gia thị trường mà không có trung gian tài chính. Đây cũng là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo bởi giá cả trên thị trường được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu. Ngoài ra, thị trường chứng khoán là một thị trường liên tục. Chứng khoán sau khi được phát hành trên thị trường sơ cấp sẽ được mua bán nhiều lần trên thị

    6

    trường thứ cấp, đảm bảo nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào. Với các đặc điểm đó, có thể thấy thị trường chứng khoán giúp cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư và khả năng thanh toán cho các chứng khoán. Thị trường chứng khoán còn giúp huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế và đánh giá giá trị doanh nghiệp cũng như tình hình của nền kinh tế. Ngoài ra, đây cũng là môi trường giúp Chính phủ thực hiện giúp sách kinh tế vĩ mô.

    1. Phân loại

     

    Dựa vào cơ cấu tổ chức, thị trường chứng khoán được phân thành hai loại là: thị trường sơ cấp – nơi mua bán những chứng khoán được phát hành lần đầu và thị trường thứ cấp – thị trường mua bán chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Hai thị trường này luôn tác động lẫn nhau: trong khi thị trường sơ cấp là cơ sở để hình thành thị trường thứ cấp, thị trường thứ cấp lại là điều kiện để thị trường sơ cấp phát triển. Thị trường thứ cấp còn được tổ chức thành hai thị trường nhỏ là thị trường tập trung – nơi mà các chứng khoán được giao dịch phải thỏa mãn các tiêu chuẩn niêm yết và hoạt động giao dịch được thực hiện tại sở giao dịch và thị trường phi tập trung, hay còn gọi là thị trường trao tay, là thị trường mà việc giao dịch được thực hiện qua hệ thống máy tính hoặc đường dây viễn thông với phương thức mua bán thẳng cho bất kỳ ai chấp nhận mức giá đưa ra.

     

    Căn cứ vào công cụ tham gia, thị trường chứng khoán được phân loại thành ba thị trường là: thị trường chứng khoán nhà nước – nơi mua bán các loại chứng khoán do nhà nước phát hành như trái phiếu chính phủ, công trái, chứng chỉ đầu tư…để huy động vốn cho xã hội, thị trường trái phiếu doanh nghiệp – nơi mua bán các trái phiếu do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn và thị trường cổ phiếu – nơi mua bán cổ phiếu và là bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán.

     

    1. Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán

    Theo tổng quát, tham gia vào thị trường chứng khoán có nhiều chủ thể khác nhau. Thứ nhất là chủ thể phát hành chứng khoán. Đó có thể là các công ty, xí nghiệp, các tổ chức tài chính và nhà nước…là những chủ thể có nhu cầu về vốn đầu tư và được nhà nước cho phép phát hành chứng khoán để huy động vốn. Thứ hai là người đầu tư – những người có vốn nhàn rỗi và muốn mua chứng khoán để kiếm lời, có thể là các pháp nhân kinh tế và các thể nhân. Thứ ba là người kinh doanh chứng khoán là những người chỉ mua chứng khoán nhằm kiếm lợi cho bản thân. Thứ tư, tham gia thị trường chứng khoán còn có người môi giới chứng khoán là chủ thể kết nối nguồn cung (chủ thể bán hoặc phát hành chứng khoán) với nguồn cầu (chủ thể cần mua chứng khoán). Người môi giới chứng khoán có thể là các thể nhân hay pháp nhân (công ty môi giới chứng khoán). Thứ năm là người tổ chức thị trường. Đó là Ban điều hành của Sở giao dịch giúp tổ chức các khâu hoạt động trên thị trường và chuyển tải luật lệ của nhà nước. Thứ sáu là người điều hòa thị trường, là cơ quan do nhà nước thành lập: Ủy ban điều hành thị trường chứng khoán, Hội đồng chứng khoán quốc gia…Ngoài ra, còn có các chủ thể phụ quan trọng giúp cho hệ thống giao dịch trên thị trường chứng khoán đạt hiệu quả như: công ty máy tính, trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công ty đánh giá mức tính nhiệm …

    1. Nguyên tắc hoạt động

    Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động tốt và hiệu quả, đảm bảo cho các quan hệ mua bán được diễn ra công khai, bình đẳng và hợp lý, các chủ thể tham gia vào thị trường phải tôn trọng các nguyên tắc sau:

    Nguyên tắc đăng ký giao dịch: theo đó, sở giao dịch chứng khoán sẽ chỉ chọn một số loại chứng khoán của những công ty đủ tiêu chuẩn nhất định. Nguyên tắc này giúp sở giao dịch nắm được những chứng khoán có chất lượng cao, chiếm doanh số giao dịch lớn, những chứng khoán có ảnh hưởng mạnh đến giá cả chứng khoán trong nền kinh

    7

    tế. Qua đó, nhà nước có thể nắm được tình hình biến động của thị trường chứng khoán và kịp thời thực hiện biện pháp quản lý thích hợp.

    Nguyên tắc công khai hóa thông tin: đó là các công ty, khi tham gia vào sở giao dịch chứng khoán, phải cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin về tình hình tài chính, phương án kinh doanh, chính sách phân phối lợi nhuận…để sở giao dịch có thể theo dõi và đưa vào danh mục chứng khoán những công ty đủ điều kiện cũng như loại ra những công ty không đủ tiêu chuẩn. Nguyên tắc này giúp cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đảm bảo tính trung thực của thị trường và góp phần giúp đánh giá chứng khoán.

    Nguyên tắc đấu giá chứng khoán và thực hiện theo trình tự ưu tiên: Đây là một trong những phương pháp định giá cổ điển trong giao dịch chứng khoán. Theo đó, sở giao dịch sẽ chọn ra một số loại chứng khoán có doanh số giao dịch lớn và có sức hút với nhà đầu tư trên thị trường để đấu giá tại sàn giao dịch của sở giao dịch nhằm mục đích công khai và tạo sự bình đẳng trong hoạt động giao dịch. Bên cạnh đó, trước phiên giao dịch, các lệnh mua và bán sẽ được sắp xếp lại theo nguyên tắc ưu tiên về giá: lệnh đặt bán được xếp từ giá thấp đến cao và lệnh đặt mua sẽ được xếp từ giá cao đến thấp. Ngoài ra, còn có các nguyên tắc phụ khác như: ưu tiên về thời gian (những lệnh cùng mức giá thì sẽ ưu tiên lệnh đến trước), ưu tiên về khách hàng (ưu tiên cho khách

    hàng cá nhân trước khách hàng là nhà đầu tư có tổ chức), ưu tiên về khối lượng (lệnh có khối lượng lớn sẽ được ưu tiên trước) và ưu tiên ngẫu nhiên (tức là chỉ ưu tiên về giá, sau đó các lệnh sẽ được máy tính sắp xếp một cách ngẫu nhiên)

    Nguyên tắc thanh toán thuận tiện và nhanh chóng: đây là nguyên tắc giúp tổ chức hệ thống thanh toán có hiệu quả, đảm bảo nhanh chóng, chính xác, thuận tiên và an toàn. Theo đó, các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán có thể thanh toán trực tiếp, thanh toán qua tài khoản ngân hàng hoặc qua máy điện toán…

    1. Ưu điểm và nhược điểm

    Thị trường chứng khoán có nhiều ưu giúp cho nền kinh tế của một quốc gia phát triển. Trước hết, nó khuyến khích người dân tiết kiệm và thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của họ vào đầu tư. Thay vì gửi tiết kiệm trong ngân hàng, họ có thêm một lựa chọn khác là đầu tư vào chứng khoán, rủi ro cao hơn nhưng lợi nhuận cũng cao hơn. Thấy được lợi ích đó, người dân sẽ sẵn sàng tiết kiệm và đầu tư vốn vào chứng khoán nhiều hơn. Và điều đó giúp lưu động hóa các nguồn vốn nhàn rỗi trong nước. Nhờ đó, nhà nước và các doanh nghiệp sẽ có thể chủ động hơn trong việc huy động vốn và có thể huy động trực tiếp từ các nguồn tiết kiệm bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Họ sẽ không quá phụ thuộc vào ngân hàng để có vốn kinh doanh như trước đây. Ngoài ra, trường chứng khoán chính là công cụ giúp kiểm soát và thu hút vốn đầu tư nước ngoài bởi thị trường hoạt động công khai và các thông tin đều được cung cấp chính xác và kiểm soát chặt chẽ. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể xem xét các thông tin đó và dễ dàng đầu tư vào. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Đồng thời, thị trường chứng khoán giúp kích thích doanh nghiệp hoạt động đàng hoàng hơn bởi chỉ có kinh doanh hợp pháp và có tài chính lành mạnh thì các doanh nghiệp mới thu hút được người dân và được họ tin tưởng mua cổ phiếu.

    Tuy có nhiều ưu điểm nhưng nhìn chung, thị trường chứng khoán cũng có không ít nhược điểm . Trước tiên, ta phải nhắc đến yếu tố đầu cơ. Một số chủ thể tham gia thị trường chứng khoán vì muốn mưu lợi riêng mà đầu cơ, làm dẫn đến tình trạng khan hiếm hay thừa thải cổ phiếu và khiến cho giá của cổ phiếu tăng giảm đột biến. Bên cạnh đó, một số chủ thể tham gia thị trường, thông qua công việc biết được thông tin nội bộ của một đơn vị kinh tế, mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị kinh tế đó làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường. Ngoài ra, một số người còn mua bán cổ phiếu ngoài thị trường chứng khoán gây ra ảnh hưởng và tạo áp lực cho các nhà đầu tư khác. Còn có các khuyết điểm khác mà thị trường chứng khoán gây ra cho các doanh nghiệp. Khi họ tham gia vào thị trường và trở thành công

    8

    ty đại chúng, họ khó bảo đảm được các thông tin mật của công ty và có thể trở nên phụ thuộc lớn vào thị trường chứng khoán.

    1. Xu hướng phát triển trong tương lai

    Trong thời đại toàn cầu hóa như ngày nay, xu hướng quốc tế hóa là điều không thể thiếu đối với thị trường chứng khoán. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là không thể thiếu đối với việc phát triển kinh tế của một quốc gia và quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đó chính là bước khởi đầu của xu hướng quốc tế hóa của thị trường chứng khoán.

    Song hành với xu hướng đó chính là sự gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Trong thời đại công nghệ thông tin cùng sự phát triển của nền kinh tế, các nhà đầu tư càng muốn kiếm được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán thì càng phải được đào tạo chuyên nghiệp hơn. Do đó, sự gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp là xu hướng tất yếu của thị trường chứng khoán.

    Bên cạnh đó, khi thị trường chứng khoán phát triển, khi các doanh nghiệp cần vốn cùng các nhà đầu tư muốn kiếm lời có xu hướng tham gia vào thị trường chứng khoán, nguồn vốn dần được chứng khoán hóa trên thị trường chứng khoán giúp cho thị trường chứng khoán ngày càng phát triển và đồng thời, đẩy mạnh sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh.

    III. Giới thiệu về thị trường bất động sản

    1. Khái niệm

    Bất động sản (Real Estate): nói chung là các tài sản bao gồm: đất đai, nhà ở, các công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất đai do nhà nước quy định ở điều 174. Chủ sở hữu của bất động sản có thể sử dụng, mua bán, cho tặng, ký quỹ,… nhưng ở Việt Nam thì phải chịu sự quản lý của nhà nước.

    Bất động sản cơ bản được chia thành ba loại: Bất động sản có đầu tư xây dựng, bất động sản không có đầu tư xây dựng và bất động sản đặc biệt. Thứ nhất là bất động sản có đầu tư xây dựng, đây là nhóm bất động sản có tỷ trọng rất lớn, phức tạp và là nhóm chiếm phần lớn các giao dịch trên thị trường. Thứ hai là bất động sản không có đầu tư xây dựng, nhóm bất động sản này thường nằm ngoài khu vực đô thị lớn để thuận tiện cho mục đích sử dụng như: sử dụng cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất chưa sử dụng… Cuối cùng là bất động sản đặc biệt, là nhóm dành riêng cho các công trình bảo tồn những di sản văn hóa – tôn giáo của quốc gia như: nhà thờ, đình chùa,…

    1. Ưu và khuyết điểm

    Ưu điểm

    Thị trường bất động sản có rất nhiều ưu điểm và đây là ba ưu điểm chính khiến thị trường bất động sản trở thành một trong những thị trường có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư.

    Thứ nhất, thị trường bất động sản là một trọng những thị trường mang lại lợi nhuận nhanh chóng nhất nhưng đòi hỏi người tham gia vào thị trường phải có đầy đủ những kiến thức chuyên môn lẫn nhiều yếu tố khác. Thứ hai, đa số các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và trong cuộc sống hằng ngày đều có m ối liên hệ mật thiết đến thị trường bất động sản. Cuối cùng, thị trường bất động sản là một trong những thị trường có sức mạnh rất lớn góp phần phát triển đất nước và tạo lập mối quan hệ với các nước trên thế giới.

    Khuyết điểm

    Tuy thị trường bất động sản có rất nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó khuyết điểm cũng rất nhiều và dễ dàng gây ra những hậu quả không thể lường trước được. Một là, do là thị trường có khả năng phát triển rất manh mẽ nên nó dễ kéo ta nhịp độ phát triển của thị trường dẫn đến sự đầu tư tràn lan, thiếu quy hoạch đồng bộ dẫn đến lãng phí tài nguyên – tiền bạc của quốc gia như nhiều công trình không xoay vốn và bỏ hoang. Hai là, luật pháp cần phải rất chặt chẽ để bảo vệ những nhà đầu tư vào thị trường này tránh khỏi hiện trạng giao dịch, mua bán, chuyển nhượng,… trái pháp luật. Ba là, giá của thị trường bất động sản nước ta đã bị đẩy lên quá cao so với thu nhập của người dân. Điều này đã gây rất nhiều khó khăn trong cuộc sống hằng ngày của người dân có thu nhập thấp. Cuối cùng là, ngoài những luật pháp bảo vệ người

    9

    đầu tư vào thị trường chứng khoán, nhà nước cũng cần phải có những chính sách tái định cư một cách hợp lý (phóng mặt bằng, giải tỏa,…)

    1. Dự đoán tương lai

    Trong năm 2012, theo các nhà phân tích thị trường, diễn biến thị trường bất động sản được chia làm hai giai đoạn chính:

    Giai đoạn 1 (tháng 1 – 4): là giai đoạn trầm lắng, giao dịch không diễn ra hoặc diễn ra với giá trị không lớn. Nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản.

    Giai đoạn 2 (tháng 4 – 12): theo hai xu hướng:

    • Một là, nhiều dự án mới không được triển khai hoặc triển khai chậm với tiến độ nhưng đây không hẳn hoàn toàn là điều bất lợi vì như vậy thì các nhà đầu tư tiềm năng cũng không phải đóng tiền theo tiến độ. Bên cạnh đó, một số chủ đầu tư bỏ ngang hay giảm giá bán các sản phẩm đã đóng tiền nên lượng tiền thu về không đủ đáp ứng phát triển doanh nghiệp.
    • Hai là, vẫn có những dự án đã được hoàn thiện giúp ta thấy được sự phục hồi

    của thị trường, các chủ dự án đã sắp xếp được tài chính hay các nhà đầu tư đã có niềm tin lại với các dự án.

    Nhìn chung trong tương lai, thị trường phải đi lên đó là chu trình không thể khác do giá bất động sản đã nằm ở vùng đáy trong thời gian khủng hoảng 2011 – 2012. Nhưng hiện tại không phải là thời điểm bùng nổ của thị trường do nhiều doanh nghiệp đang trong tình trang khó khăn, nhiều công trình dự án bị trì trệ, nhiều khoảng đầu tư thua lỗ và đặc biệt là các rủi ro liên quan đến hệ thống ngân hàng (do hệ thống ngân hàng là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho thị trường bất động sản).

    1. Yếu tố ảnh hưởng đến thị trường bất động sản

    Thị trường bất động sản là một thị trường nhạy cảm, nó dễ dàng bị tác động bới các chính sách hay tác động ngoại cảnh nào đó. Nhìn chung gồm ba yếu tố chính: Các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh tế, các yếu tố về chính trị và pháp luật của nhà nước.

    Một là, các yếu tố tự nhiên, giá trị bất động sản bị chi phối rất lớn bởi địa hình và vị trí địa lý. Giá của bất động sản cao khi nằm ở vị trí địa lý thuận lợi như nằm trong trung tâm (đô thị), địa hình, tính chất của đất, nằm ở những chốt giao thông quan trọng và đặc biệt là tình trạng môi trường ảnh hưởng rất lớn đến giá của bất động sản.

    Hai là, các yếu tố kinh tế, gồm có hai yếu tố chính là sự phát triển kinh tế và các yếu tố kinh tế vĩ mô.

    Phát triển kinh tế dẫn đến:

    • Nhu cầu sử dụng đất tăng (xây cơ sở sxuất, khu thương mại, dịch vụ,…).
    • Công nghiệp hóa hiện đại hóa làm cho mục đích sử dụng đất chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
    • Phát triển khoa học – kỹ thuật tạo ra các bất động sản mới hay cải tạo bất động sản cũ cho phù hợp với kinh doanh, thúc đẩy giao dịch trên thị trường bất động sản.

    Các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường bất động sản có:

    • Giá của bất động sản phụ thuộc vào tính hình cung cầu bất động sản
    • Hiện trạng vùng lân cận
    • Mức độ tăng trưởng GDP
    • Mức thu nhập bình quân đầu người
    • Mức giá bình quân của các loại đất
    • Tình hình lạm phát
    • Tình hình của các loại thị trường: thị trường vàng, thị trường chứng khoán,…

    10

    Các yếu tố về chính trị và pháp luật của nhà nước: để ổn định thị trường này thì chỉ có thông qua hệ thống các chính sách và pháp luật của nhà nước.

    1. Vai trò

    Thị trường bất động sản là một trong những thị trường quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước vì nó chiếm tỉ trọng rất lớn khoảng 40% lượng của cải vật chất của một quốc gia, các hoạt động của thị trường bất động sản chiếm 30% tổng các hoạt động của nền kinh tế. Bất động sản bên cạnh là tài sản của các hộ gia đình mà trong thời đại kinh tế ngày nay bất động sản được coi là nguồn vốn khi thế chấp. Khi ta có những chính sách để quản lý và phát triển tốt loại thị trường này thì sẽ giúp ích rất nhiều cho nền kinh tế như: gia tăng quốc sách, phát triển đô thị, giải quyết các vấn đề về nhà cửa,…

    IV.       Giới thiệu về thị trường vàng

    1. Định Nghĩa

    Thị trường vàng : Nói 1 cách đơn giản nhất, thị trường vàng là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi vàng có sự cạnh tranh. Trong số tất cả các kim loại quý, vàng là phổ biến nhất do sự quan trọng, tính bền cũng như giá trị và công dụng của nó. Vàng còn được dùng để đầu tư . Các nhà đầu tư thường mua vàng như một hàng rào hoặc bến cảng đối với kinh tế, khủng hoảng tiền tệ chính trị, xã hội (bao gồm cả thị trường đầu tưđang giảm , đang phát triển, nợ quốc gia, không tiền tệ,lạm phát, chiến tranh và bất ổn xã hội). Thị trường vàng cũng như các thị trường khác,cũng có thể bị đầu cơ, đặc biệt là thông qua việc sử dụng các hợp đồng tương lai và các dẫn xuất. Lịch sử của tiêu chuẩn vàng, vai trò của dự trữ vàng của ngân hàng trung ương, vàng tương quan thấp với giá cả hàng hóa khác, và giá cả của nó liên quan đến tiền tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2012, cho thấy vàng ứng xử giống như một loại tiền tệ hơn một mặt hàng .

    1. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng

     

    Ngân hàng trung ương

     

    Rào cản chống lại lạm phát

     

    Nhu cầu trang sức và công nghiệp Tái sử dụng vàng trang sức

     

    Mua bán ngắn

     

    Chiến tranh, xâm lược và kẻ thù quốc gia

     

    1. Ưu, Nhược Điểm Của Vàng1

    Vàng đã từng được sử dụng để sao lưu tiền tệ

    Ngay từ đế chế Byzantine, vàng đã được dùng để hỗ trợ các đơn vị tiền tệ được coi là hợp pháp tại quốc gia nó xuất xứ. Vàng cũng được sử dụng như là đồng tiền dự trữ được thế giới thông qua gần như trong suốt thế kỉ 20; Hoa Kỳ đã sử dụng tiêu chuẩn vàng cho đến năm 1971 khi tổng thống Nixon dừng tiêu chuẩn này lại.

    Một trong những lý do cho việc sử dụng vàng là khả năng giới hạn lượng tiền giấy được in của một quốc gia. Bởi vì từ xưa cho đến nay, mọi quốc gia đều có giới hạn cung cấp vàng của nó. Cho đến khi tiêu chuẩn vàng bị ngưng lại, một quốc gia chỉ được in số lượng tiền giấy bằng với lượng vàng họ sở hữu. Măc dù tiêu chuẩn vàng không còn được sử dụng trên thế giới, một vài chuyên gia kinh tế cho rằng chúng ta sử dụng lại tiêu chuẩn đó do sự biến động của đồng Dollar và các đơn vị tiền tệ khác.

    Vàng được sử dụng như m ột hàng rào chống lại lạm phát

    Nhà đầu tư thường mua một số lượng lớn vàng khi đất nước họ ở mức lạm phát cao. Nhu cầu vàng tăng suốt thời kỳ lạm phát do giá trị vốn có và nguồn cung có giới hạn. Vì vàng không thể được pha loãng, vàng có thể giữ lại giá trị tốt hơn nhiều so vơi các hình thức của tiền tệ.

    • Tổng họp từ: http://www.oxy.co/; http://www.youtube.com

    11

    Giá vàng ảnh hưởng đến quốc gia xuất và nhập khẩu nó.

    Giá trị tiền tệ của một quốc gia gắn tiền với giá trị xuất nhập khẩu. Khi một quốc gia nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, giá trị đồng tiền của quốc gia đó sẽ suy giảm. Mặt khác, giá trị tiền tệ sẽ tăng lên nếu quốc gia trở thành một nước xuất khẩu ròng. Như vậy, một quốc gia xuất khẩu vàng hoặc có quyền truy cập vào dự trữ vàng sẽ thấy sự gia tăng sức mạnh đồng tiền của mình khi giá vàng tăng, vì điều này làm tăng giá trị của tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước.

    Nói cách khác, sự gia tăng trong giá vàng có thể tạo ra thặng dư thương mại hoặc giúp bù đắp thâm hụt thương mại. Ngược lại, các nước nhập khẩu vàng lớn chắc chắn sẽ kết thúc có một đồng tiền yếu đi khi giá của giá vàng tăng. Ví dụ, các quốc gia chuyên sản xuất các sản phẩm được làm bằng vàng, nhưng không có đủ dự trữ vàng của riêng mình, sẽ là nhà nhập khẩu lớn của vàng. Vì vậy, họ sẽ được đặc biệt nhạy cảm với sự gia tăng trong giá vàng.

    Mua vàng có xu hướng làm giảm giá trị của đồng tiền được sử dụng để mua nó. Khi các ngân hàng trung ương mua vàng, nó ảnh hưởng đến việc cung cấp và nhu cầu của các loại tiền tệ trong nước và có thể dẫn đến lạm phát. Điều này phần lớn là do thực tế rằng các ngân hàng dựa trên in thêm tiền để mua vàng, và do đó tạo ra một nguồn cung cấp dư thừa của đồng tiền.

    Nhiều người nhầm lẫn sử dụng vàng như là một chủ thể để xác định giá trị tiền tệ của một quốc gia. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa vàng và tiền tệ không phải luôn luôn là một mối quan hệ nghịch đảo như nhiều người giả định.

    Vàng có một tác động sâu sắc về giá trị của tiền tệ thế giới. Mặc dù tiêu chuẩn vàng đã bị bỏ rơi, vàng như một loại hàng hóa có thể hoạt động như là một thay thế cho tiền tệ và được sử dụng như một hàng rào chống lạm phát có hiệu lực. Không có nghi ngờ rằng vàng sẽ tiếp tục đóng một vai trò trong thị trường ngoại hối. Vì vậy, nó là một kim loại quan trọng để theo dõi và phân tích khả năng độc đáo của nó để đại diện cho sức khỏe của cả hai nền kinh tế địa phương và quốc tế.

    V.                 Giới thiệu về thị trường ngoại tệ

     

    1. Đặc điểm của thị trường ngoại tệ

    Tính thanh khoản cao: với đặc điểm là một thị trường lớn và liên thông toàn cầu, thị trường ngoại tệ có tính thanh khoản cao. Bất cứ thời gian nào, bạn cũng có thể mua hoặc bán giá mà bạn muốn và một người trong thị trường sẽ sẵn sàng giao dịch với bạn Thị trường ngoại tệ trải rộng khắp thế giới nên có sự phân tán địa lí

    Hoạt động liên tục trừ cuối tuần và một số ngày nghỉ, từ 20 giờ 15 giờ GMT ngày Chủ nhật đến 22 giờ giờ GMT ngày thứ sáu

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỉ giá đối hoái như sự kiện chính trị, xã hội (thiên tai chiến tranh…), tỉ lệ lạm phát, sự biến động của lãi suất… Không có địa điểm cụ thể

    Người giao dịch thực hiện giao dịch qua các phương tiện thông tin hiện đại như máy tính, điện thoại…

    Cần một đồng tiền đóng vai trò làm ngoại tệ

    Ngôn ngữ được sử dụng rất ngắn gọn nhưng mang tính chất nghiệp vụ nên rất khó hiểu với người thường

    1. Vai trò của thị trường ngoại tệ

    Cân đối các nhu cầu mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác… Việc áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi khiến cho tỷ giá hối đoái luôn biến động, điều này gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể khi các nguồn thu, chi ngoại tệ trong tương lai của họ chịu ảnh hưởng rủi ro rất lớn về sự biến động của tỷ giá hối đoái Sự tham gia của các ngân hàng và nhà đầu cơ sẽ

    12

    giải quyết vấn đề mỗi khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ, từ đó tỷ giá hối đoái sẽ được cân bằng.

    Phòng chống rủi ro tỉ giá: tỷ giá hối đoái trên thị trường được thả nổi ở đa số các quốc gia. Lợi ích của các công ty đa quốc gia và các công ty xuất nhập khẩu chịu ảnh hường rất lớn từ tỉ giá hối đoái đó, vì vậy mà các công ty cần áp dụng các biện pháp phòng chống rủi ro như mua bán kỳ hạn, quyền chọn… của thị trường.

    Tạo ra thu nhập cho người sở hữu ngoại tệ: Phục vụ cho quá trình chu chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại nhờ vào khả năng đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ của thị trường ngoại tệ. Bên cạnh đó, thị trường ngoại tệ còn cung cấp công cụ giúp ngân hàng trung ương thực hiện được các chính sách tiền tệ, từ đó chính phủ có thể điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của mình. Không những thế, thị trường ngoại hối còn có chức năng tín dụng. Cuối cùng, thị trường ngoại tệ còn là cánh tay phải đắc lực cho các nhà kinh tế nghiên cứu trong việc phòng ngừa rủi ro hối đoái trong trao đổi ngoại tệ, đồng thời cũng hộ trợ các nhà đầu cơ thu được lợi nhuận một khi họ đưa ra những dự đoán đúng về tý giá hối đoái.

    1. Chức năng của thị trường ngoại tệ

     

    Đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ

    Điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ Chức năng tín dụng

    Cung cấp công cụ để phòng ngừa rủi ro. Bên cạnh đó, còn giúp các nhà đầu cơ thu được lợi nhuận nếu họ dự đoán đúng tỉ giá hối đoái

     

    1. Lý do khiến người ta đầu tư vào thị trường ngoại hối

    Đầu tư nước ngoài

     

    Bảo vệ chủ thể khỏi rủi ro của ngoại tệ khác

     

    Đầu cơ. Hầu hết người ta đến với sàn giao dịch với lí do thứ ba. Họ lợi dụng sự chênh lệch tỉ giá giữa các đồng tiền để kiếm lợi.

     

    1. Thành phần tham gia

    Các thành phần tham gia thị trường ngoại tệ rất đa dạng.

    Đầu tiên phải kể đến các ngân hàng. Trong đó, ngân hàng trung ương là quan trọng nhất với vai trò định hướng thị trường như ổn định, tổ chức, kiểm soát và điều hành.

    Các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư tham gia vào thị trường ngoại tệ để kinh doanh và cung cấp dịch vụ chuyển đổi tiền tệ cho khách hàng với vai trò là nhà môi giới. Ngoài ra còn có các doanh nghiệp chủ yếu là kinh doanh xuất nhập khẩu. Họ vừa là chủ thể cầu ngoại tệ,vừa là chủ thể cung ngoại tệ.

    Các cá nhân và nhà kinh doanh cũng là một thành phần tham gia vào thị trường này với nhu cầu rất đa dạng như đi du lịch, khám chữa bệnh , đi công tác…

    Cuối cùng là các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các công ty đa quốc gia.

    1. Ưu điểm

     

    Thị trường ngoại tệ giao dịch 24/24h vì thế mà người tham gia có thể thực hiện giao dịch bất cứ lúc nào cần thiết.

     

    Cùng với thị trường vàng, thị trường ngoại tệ quá lớn (giá trị giao dịch hằng ngày trên 4,000 tỷ USD) và có rất nhiều người tham gia, vì thế mà không ai hay một tổ chức nào có thể thao túng được nó.

    Khả năng sinh lợi cao: người ta có thể kí một hợp đồng lớn với một số tiền kí quỹ nhỏ vì thì trường này cho phép sử dụng đòn bẩy cao là 1:500

     

    Với đặc điểm là một thì trường lớn và liên thông toàn cầu, thị trường ngoại tệ có tính thanh khoản cao. Bất cứ thời gian nào, bạn cũng có thể mua hoặc bán giá mà bạn muốn và một người trong thị trường sẽ sẵn sàng giao dịch với bạn.

    13

    Thị trường hai chiều: giá cả luôn biến động liên tục lên xuống nên bạn có thể mua hoặc bán theo sự lên xuống của nó để kiếm lợi nhuận chênh lệch.

    B.                PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG VỐN VỚI CÁC THỊ

    TRƯỜNG

    Qua quá trình xem xét, nghiên cứu mối quan hệ của các thị trường với thị trường vốn, nhóm chúng em đã rút ra kết luận là chỉ một số thị trường như chứng khoán, bất động sản tồn tại một mối quan hệ trực tiếp với thị trường vốn. Các thị trường còn lại thông qua việc phân tích sự thay đổi giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong các thị trường, cũng như mối quan hệ của tất các thị trường tác động qua lại lần nhau thì mới nhìn thấy rõ sợi dây liên kết vô hình với thị trường vốn. Điều này được lý giải đơn giản là vì hàng hóa và dịch vụ từng thị trường cung cấp cũng như mục đích hoạt động của từng thị trường là khác nhau nên rất khó để tìm ra được mối liên hệ trực tiếp nào.

    Ngoài ra, qua tình hình điều tra thực tế, cũng như lý thuyết, tất cả các thị trường đều được vận hành theo chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nên ở đây, nhóm chúng em sẽ có thêm phần phân tích các sự tác động của nên kinh tế vĩ mô đã gây ành hưởng như thế nào đến các thị trường. Qua đó, phần nào làm rõ thêm hơn mối liên hệ, sợi dây liên kết chung của các thị trường lần nhau hay mối liên hệ của thị trường vốn với các thị trường khác nói riêng.

    I. Thị trường chứng khoán

    Bản thân thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn. Do đó, thị trường chứng khoán phát triển sẽ làm cho thị trường vốn phát triển và ngược lại, thị trường chứng khoán đi xuống sẽ dẫn đến sự suy yếu của thị trường vốn.

    Điều này dẫn đến việc nhóm chúng em sẽ chỉ phân tích những tác động của nền kinh tế vĩ mô lên thị trường này. Còn về mối liên hệ với các thị trường khác ngoài thị trường vốn thì thông qua phân tích của các thị trường bên dưới sẽ làm rõ hơn, nhằm tránh việc lặp lại trong bài báo cáo.

    Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    Tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán có ba nhân tố vĩ mô cơ bản là: tỷ giá hối đoái, lạm phát và lãi suất.

    Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ về giá trị giữa đồng tiền nước này với nước khác. Do đó, sự tăng giảm của tỷ giá hối đoái sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài. Điều đó sẽ tác động không nhỏ đến thị trường chứng khoán.

    Lạm phát là sự mất giá của đồng tiền. Nó làm thay đổi hành vi tiết kiệm và tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp. Do đó, nếu tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp cũng như ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới của doanh nghiệp.

    Về lãi suất, lãi suất Trái phiếu Chính phủ được xem là lãi suất chuẩn và nếu lãi suất này thay đổi sẽ ảnh hưởng tới giá chứng khoán: khi lãi suất chuẩn tăng, giá của các loại chứng khoán khác sẽ giảm xuống và ngược lại, khi lãi suất giảm thì giá của các loại chứng khoán khác sẽ tăng lên.

    Bên cạnh cách nhân tố trên, chính sách điều tiết của Chính phủ cũng có tác động không nhỏ. Vào năm 2009, Chính phủ đã áp dụng các biện pháp gián tiếp kích cầu trên thị trường chứng khoán như miễn giảm thuế, giãn thuế thu nhập cá nhân, miễn thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn và chuyển nhượng vốn…đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ là giảm lãi suất và hỗ trợ lãi suất. Chính sách đó đã giúp cho thị trường chứng khoán phát triển mạnh bởi khi

    14

    Chính phủ cắt giảm lãi suất, các nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận với các khoản vay và có thể mua thêm cổ phiếu bằng tiền vay với lãi suất thấp hơn từ ngân hàng. Cơ chế hỗ trợ lãi suất đã giúp tăng trưởng nhanh tín dụng nhưng đồng thời cũng gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ như: tăng sức ép lên lãi suất làm, tăng chi phí vốn và giá thành sản xuất làm việc huy động vốn trái phiếu Chính phủ gặp khó khăn… Lãi suất và tỷ giá không ổn định làm ảnh hưởng lớn đến tâm lý và hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Khi xảy ra lạm phát, thị trường tiền tệ bất ổn dẫn đến sự bất thường của giá vàng và ngoại tệ. Ngân hàng nhà nước phải thắt chặt chính sách tiền tệ. Việc chính sách vĩ mô thay đổi từ hỗ trợ tăng trưởng sang ổn định vĩ mô, hạn chế tín dụng đã gây sốc cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Sự đảo chiều của chính sách đã tác động không nhỏ đến luồng tiền và thị trường tài chính và tâm lý nhà đầu tư khiến cho thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng lớn và trong trường hợp này, chỉ số chứng khoán rơi vào thời kỳ giảm điểm .

    II. Thị trường bất động sản

     

    1. Mối quan hệ với thị trường vốn

    Do những công trình (nhà ở, đường xá,…) là những dự án bất động sản lớn mang tầm cỡ quốc gia nên các dự án bất động sản này sẽ cần đến 1 số vốn khổng lồ dẫn đến thời gian thu hồi số vốn này là một khoảng thời gian dài, vì thế thị trường vốn và thị trường bất động sản có mối quan hệ rất mật thiết với nhau.

    Trong thị trường bất động sản, nếu những cuộc giao dịch buôn bán, trao đổi, kinh doanh, chuyển nhượng, … diễn ra một cách suôn sẻ thì khối lượng vốn khổng lồ sẽ được thu lại nhanh chóng và mang đến lợi nhuận hoặc ngược lại. Vì thế thị trường bất động sản chính là một trong những đầu ra cực kì quan trọng của thị trường vốn.

    Do những đặc điểm cơ bản của bất động sản như : lâu bền, không thể di dời, … nên nó đã được tận dụng và trở thành một trong những sản phẩm vay mượn quan trọng trong thị trường vốn. Vì thế khi thị trường bất động sản bị biến động nhất là giá của thị trường bị rớt nhanh chóng sẽ dẫn đến nhiều khoảng vay nợ trở nên khó đòi được, từ đó dẫn đến gia tăng khả năng phá sản – vỡ nợ của các công ty, tổ chức trên thị trường vốn.

    1. Mối quan hệ với thị trường chứng khoán (Securities)

    Mối quan hệ giữa thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán gần như là mối quan hệ tỉ lệ thuận, tức khi thị trường bất động sản có thông tin nào bất lợi sẽ kéo thị trường chứng khoán đi xuống và ngược lại. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán còn có tác dụng kìm hãm sự bùng nổ của thị trường bất động sản (ví dụ cả 2 thị trường đang bùng nổ thì lượng bùng nổ sẽ san sẻ bớt qua thị trường chứng khoán chứ không chỉ đổ dồn qua thị trường bất động sản). Ngoài ra, lợi nhuận thu được từ những khoản đầu tư chứng khoán không những góp phần gia tăng số lượng giao dịch cho thị trường bất đông sản mà còn tạo tính thanh khoản rất cao cho thị trường này.

    1. Mối quan hệ với thị trường vàng (Gold)
    • Do nước ta hơn 70% giao dịch các sản phẩm bất động sản bằng vàng nên khi giá vàng tăng đột biến đẫn đến các sản phẩm của thị trường bất động sản sẽ tạm dừng

    giao dịch do việc thay đổi giá tức thời.

    • Khi thị trường chứng khoán có biến động không tốt thì thị trường vàng và thị trường bất động sản là những kênh được các nhà đầu tư ưu tiên chọn. Nhưng trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế, khi cả thị trường chứng khoán lẫn bất động sản đi xuống nhưng thị trường vàng lại tăng đột biến.
    1. Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    (Đã giới thiệu ở phần Bất động sản)

    15

    III. Thị trường Vàng

    1. Mối quan hệ với thị trường bất động sản (Real estate)

    Thị trường bất động sản thường có tin công bố hàng tháng về doanh số nhà xây mới, doanh số nhà chờ bán, hoặc giấy phép xây dựng. Các thông tin này được xem như yếu tố chủ đạo, vì thị trường nhà đất ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực. Sự thay đổi đột ngột tỷ giá vàng và đồng Đô la sẽ tác động tới các ngân hàng tín dụng, cụ thể là quy trình vay – nợ. Trên thế giới, những nước có thị trường bất động sản quan hệ chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, thị trường vốn thì tác động này rất mạnh và trực tiếp. Khi giá vàng tăng đột biến, nhất là khi đồng tiền Việt Nam chưa đủ độ tin cậy và bảo đảm an toàn thì buộc cá nhân hay các nhà đầu tư phải tìm đến phương thức giao dịch mua bán bất động sản bằng vàng hay Đôla – Đó là điều hiển nhiên! Theo ước tính, các giao dịch bất động sản bằng vàng hiện nay vẫn chiếm từ 60 đến 70%.

    1. Mối quan hệ với đồng Dollar Mỹ

    Trong cuộc chạy đua giá vàng, đã đến thời điểm để thực sự suy nghĩ vàng có mối quan hệ như thế nào đến đồng Dollar Mỹ. Thực chất, từ trước đến giờ vàng không thay đổi giá trị của nó mà chính là đồng Dollar định lại giá trị của vàng.

    Để trả lời cho câu hỏi đâu là mối quan hệ giữa vàng và Dollar Mỹ chúng ta sẽ cùng xem xét ví dụ sau:

    Giả dụ thể giới chỉ có 3 loại tiền tệ. Thứ nhất là đồng Dollar Mỹ, thứ hai là vàng và thứ ba là tất cả các loại tiền tệ còn lại (ví dụ: Yen, Rupee, Baht,…).

    Chúng ta sẽ giả định rằng tỉ giá hối đoái giữa Dollar và vàng là 1 đơn vị vàng sẽ đổi được $1000. Trên thực tế 1 đơn vị vàng trương đương với 1 ounce. Như vậy 1 đơn vị vàng hay 1 ounce vàng có giá trị bằng $1000.

    Chúng ta cũng sẽ giả định rằng tỉ giá hối đoái giữa Dollar và loại tiền tệ thứ 3- tất cả các loại tiền tệ còn lại trên thế giới (Rest of the World – ROW) là 1 US Dollar đổi được 2 ROW. Như vậy có thể nói 1 đồng Dollar Mỹ có giá trị gấp đôi giá trị trung bình của tiền tệ thế giới.

    Chúng ta có hình vẽ:

    3 loại tiền tệ này tác động qua lại lẫn nhau. Nếu giải phương trình

      1 gold = $1000
      $1 = 2 ROW
         
    Chúng ta có : 1 gold = 2000 ROW
    Tương tự với phương trình: $1 = 2 ROW
      1 gold = 2000 ROW

    16

    1 gold  = $1000

    Như vậy nếu chúng ta định giá 2 đối tượng tiền tệ trong tam giác này nghĩa là chúng ta đang định giá đối tượng thứ 3.

    Trong trường hợp này chúng ta sẽ xác định tỷ giá hối đoái của Dollar và vàng. Vì vậy ta sẽ

    giả định tỷ giá giữa vàng và ROW là hằng số. Nếu như bây giờ đồng Doller bị mất giá. 1
    USD chỉ đổi được 1 ROW. Giải phương trình:
          $1  =  1  ROW
          1 gold = 2000 ROW
             
    Suy ra   1 gold = $2000

    Từ ví dụ trên, ta thấy khi giá Dollar giảm thì giá vàng sẽ tăng. Trả lời cho câu hỏi “Mối liên hệ giữa vàng và Dollar Mỹ”: giá vàng tỉ lệ nghịch với giá Dollar Mỹ.

    Từ mối quan hệ nghịch đảo giữa vàng và đô-la Mỹ, ta có thể ngầm hiểu rằng về cơ bản, vàng sẽ có mối quan hệ tỷ lệ thuận với những đồng tiền có diễn biến trái chiều rõ rệt nhất so với đồng đô-la. Đồng euro đã được kiểm chứng là đồng tiền đối sánh của đô-la Mỹ do EUR/USD là cặp tiền tệ được giao dịch rộng rãi nhất trên thị trường ngoại hối. Với cương vị là đồng tiền chính thức của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, đồng tiền chung châu Âu đang dần trở thành đối trọng so sánh với đồng đô-la trong mối quan hệ trái chiều: đồng euro tăng giá khi đô-la mất giá và ngược lại.

    1. Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    Vàng trước hết là một hàng hóa nên giá của nó dao động dựa trên các yếu tố cung cầu. Và đó chính là loại hàng hóa mà toàn thế giới đều muốn có với mục đích sử dụng và nhu cầu khác nhau. Tùy vào mục đích sử dụng mà nhu cầu về vàng tăng giảm trong từng thời kỳ khác nhau. Để đáp ứng được sự thay đổi đó và yêu cầu giao dịch trên thế giới, vàng thường được định giá theo USD – đồng tiền được xem là mang tính thanh toán trên toàn cầu. Vì thế, giá trị đồng USD thay đổi sẽ dẫn đến sự biến động của giá vàng và các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đồng USD cũng tác động đến giá vàng.

    Ngày nay, sự mất giá của các đồng tiền mạnh, đặc biệt là đồng USD, dẫn đến sự tăng giá trị của vàng, làm cho giá vàng tăng lên. Ví dụ như trước khi FED giảm lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng có giá là 1000 USD nhưng sau khi FED cắt giảm lãi suất, vàng do bị định giá thấp bởi USD mất giá sẽ được thị trường tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên và trong trường hợp này, 1 ounce vàng sẽ có giá là 1050 USD.

    Đồng thời, xu hướng dài hạn của đồng USD là giảm giá và của vàng là tăng lên cùng sự hồi phục của các nền kinh tế trên thế giới, sự đầu tư của các nhà đầu tư bị ảnh hưởng, chuyển từ giảm phát sang lạm phát – nhân tố sẽ hỗ trợ tốt cho kim loại quý là vàng.

    Bên cạnh sự tác động của đồng USD, vàng còn bị tác động bởi lãi suất. Khi các ngân hàng trung ương tại thị trường mới nổi quyết định giảm tỷ lệ lãi suất, tức là chi phí vay mượn cũng sẽ giảm đi, lạm phát sẽ vượt mức lợi nhuận tiết kiệm và tạo ra mức lãi suất thực âm. Khi đó, giới đầu tư, để bảo vệ cho tài sản của mình khỏi nguy cơ xuống giá, sẽ có xu hướng chuyển sang thị trường kim loại quý, tức là thị trường vàng. Trong trường hợp này, nhu cầu về vàng lại tăng lên dẫn đến sự gia tăng giá vàng trong tương lai.

    Ngoài ra, sự nổi lên của giới trung lưu ở Trung Quốc và Ấn Độ (nơi nhập khẩu vàng lớn) cũng làm nhu cầu về vàng chẳng những tăng lên m à còn tăng theo cấp số nhân. Bởi tại các nước này, những món quà đặc biệt mà mọi người dành tặng cho nhau trong các ngày lễ chủ yếu là được làm từ vàng nên sự gia tăng của giới trung lưu làm cho nhu cầu về vàng tăng cao và do đó, giá vàng được thị trường tự động điều chỉnh sẽ tăng theo.

    17

    IV.       Thị trường ngoại tệ

    1. Mối quan hệ với thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán là một trong những thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư nhiều nhất. Vì chứng khoán tồn tại đã lâu, bên cạnh đó các nhà đầu tư cá nhân có thể liên hệ với các công ty mà họ mua chứng khoán. Vậy nên, khi thị trường chứng khoán hoạt động tốt, các nhà đầu tư sẽ tự khắc dồn tiền vào thị trường chứng khoán. Ngược lại, khi thị trường chứng khoán có dấu hiệu khó khăn, các nhà đầu tư sẽ tự khắc rút tiền ra khỏi thị trường.

    Hiện nay, sự toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã tạo nhiều cơ hội mới cho các nhà đầu tư từ các quốc gia khác khi họ có điều kiện đầu tư một cách dễ dàng hơn vào thị trường chứng khoán của các quốc gia khác. Một khi các nhà đầu tư nhận thấy thị trường chứng khoán ở một quốc gia nào đó hoạt động có hiệu quả, họ sẽ nhanh chóng đổ tiền vào mua chứng khoán của nước đó. Ví dụ, khi các nhà đầu tư nhận thấy chứng khoán ở Mỹ hoạt động tốt hơn chứng khoán ở Trung Quốc, thì họ sẽ rút tiền của họ ra khỏi thị trường Trung Quốc để đầu tư vào thị trường Mỹ.

    Vậy, thị trường chứng khoán có tác động thế nào đến thị trường ngoại tệ. Chứng khoán của mỗi quốc gia được giao dịch bằng đồng tiền của chính quốc gia đó. Vậy, nếu muốn đầu tư vào chứng khoán của một quốc gia nào, các nhà đầu tư phải đổi tiền của họ ra tiền của quốc gia đó. Ví dụ, để đầu tư vào chứng khoán Nhật, các nhà đầu tư phải đổi tiền của họ ra đồng Yên Nhật. Chính điều này sẽ dẫn tới sự gia tăng nhu cầu của đồng tiền đó (trong ví dụ này là đồng Yên Nhật). Cùng lúc đó, nguồn cung của các đồng tiền khác sẽ tăng và làm giảm giá trị của các đồng tiền này.

    Vậy nên, các nhà kinh doanh ngoại tệ thường dựa vào tình trạng hoạt động chứng khoán của các quốc gia lớn để đưa ra các quyết định của mình. Nếu chứng khoán của một quốc gia hoạt động tốt hơn quốc gia khác, các nhà kinh doanh ngoại tệ sẽ nhận biết ngay rằng các nhà đầu tư khác rút tiền của họ từ quốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn để đầu tư vào quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn. Việc này sẽ khiến giá trị đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán yếu hơn giảm đi, đồng nghĩa với việc giá trị đồng tiền của quốc gia có thị trường chứng khoán mạnh hơn tăng lên. Một khi đã hiểu được điều này, nếu cơ hội xuất hiện và ta biết nắm bắt thì có thể sẽ kiếm được rất nhiều lợi nhuận.

    1. Mối quan hệ với thị trường vàng2

    Giá vàng hiện nay chủ yếu được niêm yết bằng USD, vậy nên khi chỉ số USD xảy ra biến động thì sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng. Ngoài nguyên nhân ảnh hưởng do tỷ giá quy đổi giữa vàng và USD thì ngay trong bản thân các yếu tố dẫn đến sự thay đổi (tăng – giảm) của chỉ số USD cũng tác động trực tiếp đến giá vàng theo từng thời điểm nhất định.

    Khi nhu cầu USD tăng, USD sẽ được định giá cao hơn bởi nhiều yếu tố kinh tế tác động, trong đó có một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như: tăng lãi suất, các chỉ số sức mạnh của nền kinh tế Mỹ tăng bền vững và chính trị bình ổn, khi đó giá vàng sẽ được điều chỉnh lại thông qua quy đổi. Về mặt quy đổi trong mối tương quan của các cặp tiền tệ, chúng ta nhận thấy, khi USD tăng thì giá vàng được định giá bằng đồng USD sẽ trở nên đắt hơn so với các loại tiền tệ khác, ngay lập tức giá vàng sẽ được điều chỉnh giảm.

    Để đồng USD trở nên mạnh hơn nhờ sự hỗ trợ bởi nhiều yếu tố, trong đó tình hình tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Mỹ là quan trọng nhất. Khi nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng ổn định thì vàng sẽ không có nhiều sự hỗ trợ cho việc tăng giá. Một khi chỉ số USD được củng cố bởi các yếu tố, dẫn đầu là chính sách lãi suất, kinh tế tăng trưởng đều, chỉ số thu nhập và niềm tin tiêu dùng được củng cố thì các nhà đầu cơ, nhà đầu tư sẽ tăng cường giữ

    • Dựa vào: http://www.vatgia.com/hoidap/3962/152021/moi-lien-he- giua-van g-va-thi-truong-tien-te.html

    18

    USD theo thời điểm hoặc dài hạn để kiếm lợi nhuận và là phương tiện thanh toán, chính điều này cũng là yếu tố không hỗ trợ cho giá vàng.

    Các đồng tiền mạnh trong rổ tiền tệ khi tăng hoặc giảm thì có ảnh hưởng ít nhiều đến đến chỉ số USD, vì chỉ số USD được thiết lập bởi các đồng tiền EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF. Khi có sự thay đổi giá trị của các đơn vị tiền tệ này thì chỉ số USD sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, chúng ta có thể hình dung rằng, giá trị thời điểm của các đơn vị tiền tệ này ảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng. Và khi một đơn vị tiền tệ mạnh ngoài USD, như EUR, JPY hay GBP tăng hoặc giảm mạnh do yếu tố kinh tế, chính trị, thì dòng chảy đầu tư hoặc đầu cơ mua hoặc bán vào đồng tiền này tăng mạnh. Một số chỉ số cơ bản mà nhà đầu tư có thể theo dõi khi phân tích giá vàng: USD Index, EUR/USD, giá dầu thô, giá bạc và sự tăng giảm của chỉ số chứng khoán trên các TTCK lớn.

    1. Mối quan hệ với thị trường vốn3

    Để tránh tình trạng đầu cơ tích trữ ngoại tệ và cụ thể là USD, chính phủ nước ta đã quy định trạng thái ngoại tệ theo quy định trước đây là +/-30% vốn tự có đã được thu hẹp lại còn +/-20%. Những quy định này còn giúp nước ta tránh được tình trạng USD hóa vốn.

    Trước đó, đầu năm 2011, thị trường ngoại hối có nhiều biến động với sự căng thẳng của tỷ giá USD/VND. Một số ý kiến cho rằng Ngân hàng Nhà nước cần thu hẹp trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng, thậm chí xuống còn +/-5%, để hạn chế khả năng đầu cơ, chuyển đổi vốn trong hệ thống gây bất lợi tới tỷ giá.

    1. Tác động của chính sách điều hành nền kinh tế vĩ mô

    Ổn định kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng về nhiều mặt. Nó giúp cho nền kinh tế không bị rơi vào vòng luẩn quẩn: tăng trưởng- lạm phát- thắt chặt- suy giảm- nới lỏng- lạm phát… Ổn định kinh tế vĩ mô giúp cho việc tăng trưởng hợp lý, để không làm lạm phát cao trở lại, thông qua các quan hệ cân đối tiền- hàng, cân đối cung- cầu, cân đối giữa sản xuất với sử dụng GDP…, từ đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững.

    Một khi kinh tế vĩ mô ổn định, thì nền kinh tế Việt Nam sẽ thu hút lượng ngoại hối trên thị trường trong nước, vừa giảm bớt tình trạng vàng hóa, đô la hóa, vừa tăng được dự trữ ngoại hối. Việc thu hút này là kết quả đồng thời cũng tác động trở lại đối với lòng tin vào đồng tiền quốc gia, thể hiện sự ổn định của giá vàng, giá USD. Bên cạnh đó, ổn định kinh tế vĩ mô cũng sẽ khiến lượng ngoại tệ vào từ các các nguồn tăng lên, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng tăng lên. Không những thế, nguồn ngoại tệ đến từ lượng kiều hối và từ chi tiêu của khách quốc tế cũng tăng lên.

    • Dựa vào: http://vneconomy.vn/20120321032635546P0C6/chinh-thuc-siet-trang-thai-ngoai-te-cac-ngan-hang.htm

    19

    C. KẾT LUẬN

    Qua kết quả phân tích mối liên hệ của từng thị trường, ta có thể thấy được một sự ảnh hưởng, tác động vô hình qua lại giữa các thị trường với nhau. Mối liên hệ đó được nhìn thấy thông qua sự biến động giá cả của hàng hóa, dịch vụ của từng thị trường. Tùy theo mối quan hệ (đồng biến hoặc nghịch biến) của các thị trường với nhau mà dẫn tới sự khác nhau khi thị trường này tác động lên thị trường kia.

    Nếu ta giả định rằng tất cả các mối quan hệ giữa các thị trường với nhau là trực tiếp, và sẽ có sự tác động lẫn nhau của từng thị trường, mỗi thị trường chỉ có quan hệ với hai thị trường thì ta có thể đơn giản hóa mối quan hệ của các thị trường bằng sơ đồ sau:

      Thị trường
      Vốn
    Thị trường Thị trường
    Bất động chứng
    sản khoán

    Thị trường

    Vàng

    Thị trường

    Ngoại tệ

    Hình 1 – Mối quan hệ của các thị trường khi đã được đơn giản hóa.

    Ngoài ra, các thị trường chịu sự điều tiết và quản lý của các chính sách kinh tế Vĩ mô do nhà nước ban hành. Các chính sách này đưa ra có tác động trực tiếp đến từng thị trường. Điều đó dẫn đến việc nếu nhìn trên một cái nhìn tổng thể thì tất cả các thị trường đều có chung một sợi dây liên kết vô hình, điều khiển từ phía sau 1 cách linh động và trực tiếp đó chính là chính sách vĩ mô của nhà nước. Chính vì lý do đó, việc đưa ra những chính sách hợp lý, thúc đẩy sự phát triển của các thị trường, hay của nền kinh tế nói chung là vô cùng bức thiết, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình kinh tế khá khó khăn hiện nay.

    20

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Website:
    • wikipedia.com
    • vneconomy.vn
    • youtube.com
    • tailieu.vn
    • http://www.nmd.vn/
    • http://fnews.vn
    • http://moneybold.com/
    • goldenstar.net.vn

    Và còn rất nhiều website khác do quá trih2 tham khảo, cũng như việc dịch thuật từ tiếng Anh sang bài báo cáo…

    • Sách:

    Giáo trình “Tài Chính tiền tệ” do trường cấp Giáo trình “Kinh tế Vĩ mô” do trường cấp

    Sách “Tài chính quốc tế”  do Trần Ngọc Thơ – Nguyễn Ngọc Định biên soạn

    …cũng như rất nhiều sách khác, đọc lướt lấy tính chất tham khảo cho bài báo

    21


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kế toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá

    Kế toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá

    Kế toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%C3%AAnh-l%E1%BB%87ch-t%E1%BB%B7-gi%C3%A1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kế toán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá

    23/09/2011

    Kế toán ngoại tệ và

     

    chênh lệch tỷ giá

    GV: Nguyễn Kim Nhất

    1

    Nội dung

    • Một số khái niệm cơ bản
    • Nguyên tắc
    • Tài khoản sử dụng
    • Phương pháp hạch toán

    2

    Một số khái niệm cơ bản

    • Đơn vị tiền tệ kế toán: Là đơn vị tiền tệ được sử dụng chính thức trong việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
    • Ngoại tệ: Là đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán của một doanh nghiệp.
    • Tỷ giá hối đoái: Là tỷ giá trao đổi giữa hai đơn vị tiền tệ.
    • Chênh lệch tỷ giá hối đoái: Là chênh lệch phát sinh từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi của cùng một số lượng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ kế toán theo các tỷ giá hối đoái khác nhau.

    3

    1

    23/09/2011

    Một số khái niệm cơ bản

    • Tỷ giá hối đoái cuối kỳ: Là tỷ giá hối đoái sử dụng tại ngày lập Bảng Cân đối kế toán.
    • Các khoản mục tiền tệ: Là tiền và các khoản tương đương tiền hiện có, các khoản phải thu, hoặc nợ phải trả bằng một lượng tiền cố định hoặc có thể xác định được.
    • Các khoản mục phi tiền tệ: Là các khoản mục không phải là các khoản mục tiền tệ.

    4

    Một giao dịch bằng ngoại tệ

    • Là giao dịch được xác định bằng ngoại tệ hoặc yêu cầu thanh toán bằng ngoại tệ, bao gồm các giao dịch phát sinh khi một doanh nghiệp:
    • Mua hoặc bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà giá cả được xác định bằng ngoại tệ;
    • Vay hoặc cho vay các khoản tiền mà số phải trả hoặc phải thu được xác định bằng ngoại tệ;
    • Trở thành một đối tác (một bên) của một hợp đồng ngoại hối chưa được thực hiện;
    • Mua hoặc thanh lý các tài sản; phát sinh hoặc thanh toán các khoản nợ xác định bằng ngoại tệ;
    • Dùng một loại tiền tệ này để mua, bán hoặc đổi lấy một loại tiền tệ khác.

    5

    Nguyên tắc 1

    • Tieàn Vieät Nam: Vieäc ghi soå keá toaùn vaø laäp baùo caùo taøi chính theo moät ñôn vò tieàn teä thoáng nhaát laø ñoàng Vieät Nam hoaëc ñôn vò tieàn teä thoáng nhaát chính thöùc söû duïng trong keá toaùn (neáu ñöôïc chaáp thuaän) vì vaäy phaûi qui ñoåi ngoaïi teä ra ñoàng Vieät Nam hoaëc ñôn vò tieàn teä thoáng nhaát söû duïng trong keá toaùn

    6

    2

    23/09/2011

    Nguyên tắc 2

    • Caùc khoaûn muïc tieàn teä nhö tieàn maët, tieàn göûi ngaân haøng, tieàn ñang chuyeån, caùc khoaûn phaûi thu, caùc khoaûn phaûi traû, nôï vay coù goác ngoaïi teä khi nhaäp (ghi taêng taøi khoaûn töông öùng) thì ghi theo tyû giaù giao dòch thöïc teá thôøi ñieåm nghieäp vuï kinh teá phaùt sinh hoaëc theo tyû giaù bình quaân lieân ngaân haøng taïi thôøi ñieåm nghieäp vuï kinh teá phaùt sinh, Khi xuaát ra (ghi giaûm taøi saûn töông öùng) aùp duïng moät trong caùc phöông phaùp xuaát nhö sau:
    • Tyû giaù nhaäp tröôùc xuaát tröôùc
    • Tyû giaù nhaäp sau xuaát tröôùc
    • Tyû giaù bình quaân
    • Tyû giaù thöïc teá ñích danh

    7

    Ví dụ

    • Ñôn vò toàn tieàn göûi ngaân haøng laø 1.000 USD, tyû giaù giao dòch (TGGD) 15.000ñ/USD, tyû giaù xuaát ngoaïi teä theo phöông phaùp nhaäp tröôùc xuaát tröôùc.
    • Ngaøy 1: Mua 1.000 USD chuyeån khoaûn, TGGD laø 15.550ñ/USD thì keá toaùn chuyeån sang tieàn ñoàng Vieät Nam laø 1.000USD x 15.550ñ/USD = 15.550.000ñ
    • Ngaøy 3: Baùn 1.500 USD chuyeån khoaûn, TGGD laø

    15.400ñ/USD, thì keá toaùn haïch toaùn tieàn ñoàng laø: 1.000USD x 15.000ñ/USD + 500USD x 15.550ñ/USD = 22.775.000ñ.

    8

    Nguyên tắc 3

    vCaùc khoaûn muïc phi tieàn teä nhö haøng toàn kho,

    taøi saûn coá ñònh, doanh thu, chi phí coù goác

    ngoaïi teä phaûi qui ñoåi sang ñoàng Vieät Nam

    theo tyû giaù giao dòch thöïc teá taïi ngaøy giao

    dòch

    9

    3

    23/09/2011

    Ví dụ 2

    • Doanh nghieäp nhaäp khaåu haøng hoùa coù giaù nhaäp khaåu laø 1.000 USD, TGGD laø 15.550ñ/USD thì keá toaùn chuyeån sang ñoàng Vieät Nam ñeå ghi nhaän giaù trò cuûa haøng hoùa laø 1.000USD x 15.550ñ/USD = 15.550.000ñ

    10

    vCuoái naêm taøi chính keá toaùn phaûi thöïc

    hieän ñaùnh giaù laïi caùc khoaûn muïc tieàn teä

    coù goác ngoaïi teä nhö tieàn maët, tieàn göûi

    ngaân haøng, tieàn ñang chuyeån, phaûi thu,

    phaûi traû theo tyû giaù giao dòch bình quaân

    lieân ngaân haøng do Ngaân haøng Nhaø nöôùc

    Vieät Nam coâng boá taïi ngaøy laäp baùo caùo

    taøi chính.

    11

    Ví dụ

    • Ngaøy 31/12, soá dö taøi khoaûn 112-TGNH ngoaïi teä cuûa doanh nghieäp laø 15.500.000ñ, chi tieát 1.000USD, soá dö taøi khoaûn 331-PTNB laø 15.400.000, chi tieát 1.000USD, giaû söû tyû giaù bình quaân lieân ngaân haøng do ngaân haøng coâng boá ngaøy 31/12 laø 15.600ñ/USD.
    • Keá toaùn ñaùnh giaù laïi TK 112 taêng leân: 1.000USD
    • (15.600 – 15.500) = 100.000
    • Keá toaùn ñaùnh giaù laïi TK 331 taêng leân: 1.000USD
    • (15.600 – 15.400) = 200.000

    12

    4

    23/09/2011

    Xử lý chênh lệch tỷ giá

    • DN trong giai ñoaïn ñaàu tö xaây döïng ñeå hình thaønh TSCÑ cuûa doanh nghieäp môùi thaønh laäp, cheânh leäch tyû giaù hoái ñoaùi phaùt sinh khi thanh toaùn caùc khoaûn muïc coù goác ngoaïi teä vaø cheânh leäch tyû giaù hoái ñoaùi phaùt sinh khi ñaùnh giaù laïi caùc khoaûn muïc tieàn teä coù goác ngoaïi teä cuoái naêm taøi chính ñöôïc phaûn aùnh luõy keá treân Baûng caân ñoái keá toaùn (Söû duïng TK 413 ñeå theo doõi cheânh leäch tyû giaù). Khi TSCÑ ñoù ñaõ hình thaønh sau quaù trình ñaàu tö vaø ñaõ ñöa vaøo söû duïng thì cheânh leäch tyû giaù trong quaù trình ñaàu tö seõ ñöôïc phaån boå vaøo chi phí taøi chính hay doanh thu hoaït ñoäng taøi chính trong thôøi gian toái ña laø 5 naêm.

    13

    Nguyên tắc 4

    • Trong hoaït ñoäng saûn xuaát kinh doanh cuûa doanh nghieäp, cheânh leäch tyû giaù hoái ñoaùi phaùt sinh khi thanh toaùn caùc khoaûn muïc coù goác ngoaïi teä vaø cheânh leäch tyû giaù hoái ñoaùi phaùt sinh khi ñaùnh giaù laïi caùc khoaûn muïc tieàn teä coù goác ngoaïi teä cuoái naêm taøi chính ñöôïc phaûn aùnh ngay Chi phí taøi chính (cheânh leäch giaûm), Doanh thu hoaït ñoäng taøi chính (cheânh leäch taêng) trong töøng kyø kinh doanh töông öùng.

    14

    Tài khoản sử dụng

    vTài khoản 413 – Chênh lệch tỷ giá

    • TK 4131 – Chênh lệch TGHĐ đánh giá lại cuối năm tài chính
    • TK 4132 – Chênh lệch TGHĐ trong giai

    đoạn đầu tư XDCB

    vTK 635 – Chi phí tài chính

    vTK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính

    15

    5

    23/09/2011

    Tài khoản 413 – Chênh lệch tỷ giá

            TK 413
                       
      – Cheânh leäch ñaùnh giaù laïi taøi saûn ñaõ ñöôïc   – Cheânh leäch tyû giaù  phaùt sinh do ñaùnh giaù
      xöû  vaøo  taøi khoaûn doanh thu  taøi chính   laïi caùc khoaûn muïc tieàn teä coù goác ngoaïi teä
      hoaëc chi phí hoaït ñoäng taøi chính.   cuoái  naêm  taøi  chính  cho  nhöõng  doanh
              nghieäp ñaõ ñi vaøo saûn xuaát kinh doanh.
              -Cheânh leäch tyû giaù phaùt sinh vaø cheânh leäch
              tyû giaù do ñaùnh giaù laïi caùc khoaûn muïc tieàn
              teä coù goác ngoaïi teä cuûa hoaït ñoäng ñaàu tö
              XDCB, giai ñoaïn tröôùc hoaït ñoäng, chöa
              hoaøn thaønh hoaït ñoäng ñaàu tö
                       
      SD: Cheânh leäch tyû giaù loã khi doanh nghieäp     SD: Cheânh leäch tyû giaù laõi khi doanh nghieäp
    ñang ñaàu tö giai ñoaïn tröôùc hoaït ñoäng    
          ñang ñaàu tö giai ñoaïn tröôùc hoaït ñoäng  
       
                       
            16    

    Tài khoản 007 – Ngoại tệ các loại

    TK 007

    SD: Soá löôïng ngoaïi teä hieän toàn ñaàu kyø

    Soá löôïng ngoaïi teä phaùt sinh taêng trong kyø

    (Tieàn maët ngoaïi teä, tieàn göûi ngaân haøng ngoaïi teä )

    Soá löôïng ngoaïi teä phaùt sinh giaûm trong

    kyø

    (Tieàn maët ngoaïi teä, tieàn göûi ngaân haøng

    ngoaïi teä )

    SD:Soá löôïng ngoaïi teä hieän toàn cuoái kyø

    17

    Mua ngoại tệ

    TK 1111,1121                       TK 1112,1122

    TGGD

    Ghi Nôï TK 007: SL Nteä taêng leân

    Doanh nghieäp ruùt TGNH 15.660.000ñ mua 1.000USD nhaäp quyõ.

    18

    6

    23/09/2011

    Bán ngoại tệ

                       
      TK 1112,1122       TK 1111,1121  
        TGXNT TGGD      
                       
                     
      TK 515       TK 635  
        CL Laõi CL Loã    
         

    Ghi COÙ TK 007: SL Nteä giaûm ñi

    Doanh nghieäp toàn quyõ tieàn maët 2.000USD, tyû giaù söû duïng ghi soå keá toaùn laø

    15.500ñ/USD. Vaøi ngaøy sau doanh nghieäp baùn 1.000USD ñeå laáy tieàn maët göûi

    ngaân haøng. TGGD laø 15.550ñ/USD.

    19

    Bán hàng thu ngoại tệ

    TK 511                           TK 1112,1122

    TGGD                 TGGD

    TK 3331

    Ghi Nôï TK 007: SL Nteä taêng leân

    TGGD

    VAT ra

    • Baùn 2 maùy vi tính thu baèng tieàn maët ngoaïi teä, giaù voán 13.500.000ñ, giaù baùn chöa thueá laø 1.000USD, thueá suaát thueá GTGT laø 5%, TGGD laø 19.800ñ/USD.

    20

    Bán hàng chưa thu, thu nợ bằng ntệ

    TK 511       TK 131     TK 1112,  1122
      TGGD TGGD   TGGS TGGD  
                       
              TK 515   TK 635
    TK 3331      
                   
      TGGD Ghi Nôï TK 007: SL Nteä taêng leân
      VAT ra
     
                     

    21

    7

    23/09/2011

    Ví dụ

    • Loâ haøng xuaát khaåu ñaõ laøm thuû tuïc xong, giaù voán haøng hoùa 300.000.000ñ, giaù baùn theo hôïp ñoàng ngoaïi thöông laø 30.000USD, thueá suaát thueá xuaát khaåu 5%, thueá GTGT 0%. TGGD laø 19.600ñ/USD, tieàn haøng chöa thu. Moät tuaàn sau, nhaän ñöôïc giaáy baùo coù cuûa ngaân haøng, ngöôøi nhaäp khaåu ñaõ thanh toaùn tieàn toaøn boä loâ haøng treân. Tyû giaù thöïc teá luùc nhaän tieàn laø 19.580ñ/USD.
    • Soá dö ñaàu thaùng 1 chi tieát TK 131A laø 2.000USD x 19.800ñ/USD. Trong thaùng Cty A thanh toaùn toaøn boä nôï ñaàu thaùng cho doanh nghieäp baèng chuyeån khoaûn. TGGD laø 19.900ñ/USD.

    22

    Mua hàng thanh toán bằng ngoại tệ

    TK 1112,  1122     TK 15*,  211…
               
      TXNT TGGD     Ghi Coù TK 007: SL
                 
                  Nteä giaûm ñi
    TK 515          
      TK 635  
      CL laõi CL loã    
       
    • Ñaàu thaùng soá dö ngoaïi teä toàn quyõ laø 30.000USD, tyû giaù ghi soå laø 19.950 ñ/USD. Trong thaùng doanh nghieäp mua moät soá coâng cuï duïng cuï nhaäp kho thanh toaùn baèng tieàn maët ngoaïi teä 500USD. Tyû giaù giao dòch laø 19.920ñ/USD

    23

    Mua hàng chưa thanh toán, trả nợ

      TK 1112  1122   TK 331     TK 15*,  211…
                           
        TXNT   TGGS   TGGD TGGD    
                               
                          TK 133
                         
      TK 515     TK 635   TGGD    
          CL laõi CL loã       (Neáu coù)    
                 
                     
                 

    Ghi Coù TK 007: SL Nteä giaûm ñi

    24

    8

    23/09/2011

    Đánh giá các KM tiền tệ cuối kỳ

    Đánh giá lại các khoản mục tiền tệ theo giá do NHNN VN Công bố vào cuối niên độ kế toán

      TK 1112,1122,  …. TK 413     TK 1112,1122,  ….
                TGCK<TGGS       TGCK>TGGS    
                             
      TK 311,331…         TK 311,331…
                     
          TGCK>TGGS   TGCK<TGGS  
                           
      TK 515         TK 635
          Cheânh leäch laõi   Cheânh leäch loã  
                             

    TGCK: tỷ giá cuối kỳ là tỷ giá giao dịch liên ngân hàng tại thời điểm cuối năm TC

    TGGS: tỷ giá ghi sổ của doanh nghiệp

    25

    Cheânh leäch tyû giaù trong giai ñoaïn ñaàu tö

    (chöa hoaït ñoäng)

    • Moät DN ñang trong giai ñoaïn ñaàu tö, chöa ñi vaøo hoaït ñoäng SXKD. Coù caùc giao dòch baèng ngoaïi teä:
    1. Nhaäp thieát bò chöa thanh toaùn, ñöa thaúng vaøo coâng trình:

    200.000USD, tyû giaù: 19.000ñ/USD.

    1. Vay daøi haïn NH 400.000USD, nhaäp vaøo TK TGNH. Tyû giaù: 19.100ñ/USD.
    1. Ruùt TGNH traû CP tö vaán thieát keá: 22.000USD, tỷ giaùghi soå khoaûn nôï naøy laø 19.000 ñ/USD (trong ñoù, VAT laø 2.000USD) tyû giaù giao dịch: 19.200ñ/USD; Tỷ giaù xuaát ngoaïi teä cuûa doanh nghiệp 19.000ñ/usd
    2. Thanh toaùn cho ngöôøi baùn ôû NV1 150.000USD baèng TGNH, tyû giaù giao dòch 19.150ñ/USD; Tỷ giaù xuaát ngoaïi teä cuûa doanh nghiệp 19.000ñ/usd

    26

    Cheânh leäch tyû giaù trong giai ñoaïn ñaàu tö

    (chöa hoaït ñoäng)

    1. Thueâ nhaø thaàu nöôùc ngoaøi tö vaán giaùm saùt: 1.500USD (bao

    goàm VAT 5%) Tyû giaù giao dòch: 19.280ñ/USD, chöa thanh toaùn.

    1. Vay daøi haïn 200.000USD, tyû giaù19.300ñ/USD, nhaäp vaøo TGNH.
    2. Ruùt TGNH thanh toaùn cho nhaø thaàu nöôùc ngoaøi: 1.500 USD, tyû giaù giao dòch19.350ñ/USD; Tỷ giaù xuaát ngoaïi teä cuûa doanh nghiệp 19.100ñ/usd
    3. Laõi tieàn gôûi NH nhaän bằng TGNH baèng ngoaïi teä: 240USD, tyû giaùgiao dòch 19.250d/USD;
    4. Cuoái kyø, ñaùnh giaù laïi soá dö caùc khoaûn muïc ngoaïi teä theo tyû giaù cuoái kyø: 19.300ñ/USD. Bieát soá dö TK 331 ñaàu kyø 22.000 USD; vaø TK 111,112 veà ngoaïi teä khoâng coù soá dö.

    27

    9

    23/09/2011

    Cheânh leäch tyû giaù trong SXKD

    • SD ñaàu kyø: 1112: 170.000.000 (10.000USD) 1122: 510.000.000 (30.000USD).
    • Caùc NVKT phaùt sinh trong kyø:
    1. Nhaäp khaåu VL chöa thanh toaùn, giaù nhaäp khaåu: 50.000USD, thueá nhaäp khaåu phaûi noäp: 1%, VAT haøng nhaäp khaåu:10%. Tyû giaù:17.100ñ/USD.
    2. Xuaát khaåu TP, giaù XK: 40.000USD, chöa thu

    tieàn.Thueá XK phaûi noäp: 1%. Tyû giaù 17.200ñ/USD.

    28

    Cheânh leäch tyû giaù trong SXKD

    1. Chi 2.200USD tieàn maët traû phí kieåm toaùn (bao goàm VAT 10%), tyû giaù 17.300ñ/USD.
    1. Khaùch haøng thanh toaùn tieàn mua haøng ôû NV2 baèng TGNH, tyû giaù 17.300.
    1. Traû cho NB ½ tieàn mua VL ôû NV1 baèng chuyeån khoaûn, tyû giaù: 17.400ñ/USD
    1. Baùn 30.000USD TGNH vaø thu baèng tieàn VN gôûi ngaân haøng, tyû giaù 17.500ñ/USD
    1. Cuoái kyø, ñieàu chænh soá dö caùc TK voán baèng tieàn vaø coâng nôï ngoaïi teä theo tyû giaù cuoái kyø: 17.500ñ/USD.

    29

    10


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%C3%94-H%C3%8CNH-CUNG-C%E1%BA%A6U-NGO%E1%BA%A0I-T%E1%BB%86-V%C3%80-C%C6%A0-CH%E1%BA%BE-X%C3%81C-%C4%90%E1%BB%8ANH-T%E1%BB%B6-GI%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ

    MÔ HÌNH CUNG CẦU

     

    NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ

    NỘI DUNG

    Hình thành mô hình cung cầu ngoại tệ

    Sử dụng mô hình cung cầu ngoại tệ để phân tích các yếu tố tác động lên tỷ giá

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Cung cầu ngoại tệ phát sinh

    Hình thành đường cầu ngoại tệ

    Hình thành đường cung ngoại tệ

    Mô hình cung cầu ngoại tệ và cơ chế xác định tỷ giá

    1

    CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Cầu một đồng tiền phát sinh từ cầu hàng hóa, tài sản dịch vụ thanh toán bằng đồng tiền đó;

    Cầu ngoại tệ phát sinh từ nhu cầu người trong nước mua hàng hóa, tài sảndịch vụ từ nước ngoài;

    Cung ngoại tệ phát sinh từ nhu cầu người nước ngoài mua hàng hóa, tài sảndịch vụ trong nước Cung cầu ngoại tệ là phái sinh, có nguồn gốc từ lưu chuyển hàng hóa, vốn đầu tư, lao động dịch vụ trong phạm vi quốc tế.

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Coi cầu hàng hóa nhập khẩunguồn phát sinh cầu ngoại tệ chủ yếu

    Phân tích mối liên hệ giữa tỷ giá và cầu hàng hóa nhập khẩu để chỉ ra mối liên hệ giữa tỷ giá và cầu ngoại tệ

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Các bước tiến hành:

    Xác định các đường cung cầu hàng hóa nhập khẩu Xác định hàm cầu hàng hóa nhập khẩu

    Xác định mối quan hệ giữa cầu hàng hóa nhập khẩutỷ giá Xác định sự thay đổi của chi tiêu nhập khẩu, tức cầu ngoại tệ

    2

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Các ký hiệu:

    • P*m: Giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
    • Pm: Giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ
    • Qm: Số lượng hàng hóa nhập khẩu
    • Sm: Đường cung hàng hóa nhập khẩu
    • Dm: Đường cầu hàng hóa nhập khẩu
    • Dt: Đường cầu ngoại tệ
    • Qt: Số lượng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
    • S: Tỷ giá yết trực tiếp

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Các đường cung cầu hàng hóa nhập khẩu:

    P*m

    Sm

    D                  C

    Dm

     Qm

    A              B

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa sản xuất ở nước ngoài và

    được tiêu thụ trong nước

    Người tiêu dùng trong nước quyết định mua bao nhiêu hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở giá nhập khẩu tính bằng nội tệ

    Hàm cầu hàng hóa nhập khẩu được xem như là hàm số của giá nhập khẩu tính bằng nội tệ, có giá như sau:

    Qm       0        1 Pm

    Trong đó:     0 , 1  là các thông số dương không đổi

    3

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Với Pm=SP*m

    Hàm cầu hàng hóa nhập khẩuthể viết thành:

    Qm         0        1 SP*m

    Nhận xét: Nếu P*m không đổi, S tăng  giá hàng hóa nhập

    khẩu bằng nội tệ tăng  Lượng cầu hàng hóa nhập khẩu Qm

    giảm

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Ứng với 4 mức tỷ giá tăng dần:

    S1<S2<S3<S4

    Là 4 mức cầu hàng hóa nhập khẩu giảm dần:

    Q1>Q2>Q3>Q4

    Đường cầu hàng hóa nhập khẩu sẽ dịch chuyển sang trái khi

    tỷ giá tăng

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Đường cầu hàng hóa nhập khẩu dịch chuyển sang trái:

    Diện  tích  hình  chữ  nhật

    P*m

    (cầu ngoại tệ) thay đổi thế

    Sm

    nào?

    Cầu ngoại tệ giảm dần

    (Dm)1

    (Dm)2

    (Dm)3

    (Dm)4              Qm

    4

    1. Hình thành đường cầu ngoại tệ

    Đường cầu ngoại tệ là tập hợp các điểm có tọa độ là các mức tỷ giá và lượng cầu ngoại tệ tương ứng

    P*m

          Sm S(d/f)  S4 Đường
          S3 cầu ngoại
             
              S2 tệ
                 
          (Dm)1 S1    
        (Dm)2     Qf
           
        (Dm)3   Qm    
             
              (Qf)4(Qf)3 (Qf)2(Qf)1
             

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CẦU NGOẠI TỆ

    Đường cầu ngoại tệ đường dốc xuống từ trái qua phải Tỷ giá tăng cầu ngoại tệ giảm

    VÍ DỤ

    Cho hàm số cầu hàng hóa nhập khẩu: Qm=20-0.5Pm

    P*m =10 là mức giá nhập khẩu tính bằng ngoại tệ không đổi. Hỏi cầu ngoại tệ thay đổi như thế nào nếu như tỷ giá (yết trực tiếp, số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ) thay đổi như sau: 1,00 1,20 1,40 1,60 1,80 và 2,0

    5

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Coi cầu hàng hóa xuất khẩunguồn phát sinh cung ngoại tệ chủ yếu

    Phân tích mối liên hệ giữa tỷ giá và cầu hàng hóa xuất khẩu để chỉ ra mối liên hệ giữa tỷ giá và cung ngoại tệ

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Các bước tiến hành:

    1. Xác định các đường cung cầu hàng hóa xuất khẩu

     

    1. Xác định hàm cầu hàng hóa xuất khẩu

     

    1. Xác định mối quan hệ giữa cầu hàng hóa xuất khẩutỷ giá Xác định sự thay đổi của doanh thu xuất khẩu, tức cung ngoại tệ

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Các ký hiệu:

    • P*x: Giá hàng hóa XK tính bằng ngoại tệ
    • Px: Giá hàng hóa XK tính bằng nội tệ
    • Qx: số lượng hàng hóa XK
    • Sx: Đường cung hàng hóa XK
    • Dx: Đường cầu hàng hóa XK
    • St: Đường cung ngoại tệ
    • Qt: Số lượng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
    • S: Tỷ giá yết trực tiếp

    6

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Các đường cung cầu hàng hóa xuất khẩu :

    P*x

    Sx

    D

    Diện tích hình chữ

    nhật ABCD là gì?

    C

    Dx

    Qx

    A             B

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa sản xuất trong nướcđược tiêu thụ ở nước ngoài

    Người nước ngoài quyết định mua bao nhiêu hàng hóa xuất khẩu trên cơ sở giá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ

    Hàm cầu hàng hóa xuất khẩu được xem nhưmột hàm số của giá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ,dạng

    như sau:        Qx    0    1 P *x

    Trong đó0 , 1   là các thông số dương không đổi

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Với P*x=Px/S

    Hàm cầu hàng hóa xuất khẩu có thể viết thành:

    Qx        0       1 (Px / S)

    Nhận xét:

    • Nếu Pxkhông đổi, S tăng giá hàng hóa xuất khẩu bằng ngoại tệ P*xgiảm lượng cầu hàng hóa xuất khẩu Qx tăng
    • Doanh thu xuất khẩu = (P*x)x(Qx) tăng hay giảm?

    7

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Ứng với 4 mức tỷ giá tăng dần:

    S1<S2<S3<S4

    Là 4 mức giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm dần:

    (P*x)1> (P*x)2> (P*x)3> (P*x)4

    Ứng với 4 mức giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ là 4

    mức cầu hàng hóa xuất khẩu được xác định bởi đường cầu

    hàng hóa xuất khẩu

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Tỷ giá tăng Giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm Cầu hàng hóa xuất khẩu tăng

    P*x (Sx)1  
    (P*x )1 (Sx)2  
    (P*x)2 (Sx)3  
       
    (P*x)3 (Sx)4  
       
    (P*x)4    
         
      (Qx)1 (Qx)2  (Qx)3(Qx)4 Qx

    HÌNH THÀNH ĐƯỜNG CUNG NGOẠI TỆ

    Tỷ giá tăng giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm cầu hàng hóa xuất khẩu tăng

    P*x     S(d/f)      
        (Sx)1         Phần này
          S4 đại diện cho
    (P*x )1 (Sx)2   đường cung
      S3      
    (P*x)2          
    (Sx)3              
          S2        
    (P*x)3 (Sx)4          
                   
    (P*x)4     S1        
                      f
                    Q
        (Qx)1 (Qx)2  (Qx)3(Qx)4 Qx     (Qf)1    (Qf)  
            2      

    8

    VÍ DỤ

    Hàm số cầu hàng hóa xuất khẩu: Qx=20-1,5P*x

    Nếu như Px=10 không đổi thì cung ngoại tệ thay đổi như thế nào

    nếu tỷ giá có các giá trị sau: 1,00 1,20 1,40     1,60    1,80   2,00

    2,20 2,40  2,60  2,80  3,00

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Mô hình cung cầu ngoại tệ được hình thành dựa trên sự kết hợp hai đường cung cầu ngoại tệ được hình thành ở phần trên

    S(d/f)                 Sf

    Điểm cân bằng

    của thị trường

    S0

    Df

    (Qf)0                 Qf

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Tỷ  giá phản  ánh  sự  cân

    S(d/f) bằng trên thị trường
    Sf

    Cung cầu trên thị  trường thay đổi   Các đường cung

    S0 cầu  dịch  chuyển  Tỷ  giá
      thay đổi
      Df

    Nhiều yếu tố tác động làm

    (Qf)0 Qf dịch  chuyển  các  đường
     
        cung cầu

    9

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Bất cứ yếu tố nào làm tăng

    S(d/f) Sf cầu ngoại tệ   Đường cầu
            dịch chuyển sang phải
    S0     Tỷ giá tăng lên  
             
        Df Df Các yếu tố nào làm dịch
        Df chuyển đường cầu  sang
          Qf
        (Qf)0      

    phải?

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Bất cứ yếu tố nào làm giảm

    S(d/f) Sf   cầu ngoại tệ   Đường cầu
            dịch chuyển sang trái   Tỷ
    S0     giá giảm    
        Df Df   Các yếu tố nào làm dịch
        Df        
        (Qf)0 Qf chuyển đường cầu  sang
            trái?    

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

      Sf Sf Bất cứ yếu tố nào làm tăng
      cung ngoại tệ   Đường cung
    S(d/f) Sf
            dịch chuyển sang phải   Tỷ
    S0     giá giảm    
        Df Các yếu tố  nào làm dịch
          Qf chuyển đường  cung sang
      (Qf)0  
               

    phải?

    10

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

      Sf Sf Bất  cứ  yếu  tố  nào làm
      giảm  cung  ngoại  tệ
    S(d/f) Sf
            Đường cung dịch chuyển
    S0     sang trái   Tỷ giá tăng
        Df Các yếu tố nào làm dịch
          Qf chuyển đường cung sang
      (Qf)0  
           
            trái?

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Giaû söû ñöôøng cung vaø ñöôøng caàu USD ñöôïc bieåu dieãn baèng caùc phöông trình sau:

    QD= 100 000 –5S Qs =16000 + 2S Trong ñoù:

    QD – Soá löôïng caàu USD Qs – Soá löôïng cung USD S (VND/USD)

    Giaû söû Vieät Nam vaø Myõ duy trì cheá ñoä tyû giaù thaû noåi. Hoûi tyû giaù caân baèng laø bao nhieâu? Soá löôïng USD ñöôïc giao dòch treân thò tröôøng ngoaïi hoái giao ngay laø bao nhieâu?

    MÔ HÌNH CUNG CẦU NGOẠI TỆ

    Cuõng trong cheá ñoä tyû giaù thaû noåi, giaû söû Ngaân haøng Nhaø nöôùc Vieät Nam quyeát ñònh mua 10,000 USD treân thò tröôøng ngoaïi hoái. Hoûi tyû giaù treân thò tröôøng thay ñoåi nhö theá naøo vaø soá löôïng USD ñöôïc giao dòch treân thò tröôøng ngoaïi hoái laø bao nhieâu?

    11

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỶ GIÁ

    Mức lạm phát tương đối Mức lãi suất tương đối

    Mức tăng trưởng thu nhập tương đối

    Vai trò của chính phủ

    Kỳ vọng của giới đầu cơ

    MỨC LẠM PHÁT TƯƠNG ĐỐI

    S(d/f)

    (Sf)1

    (Sf)0

    S1

    S0                               (Df)1

    (Df)0

    (Qf)0 (Qf)1 Qf
     

    MỨC LÃI SUẤT TƯƠNG ĐỐI

    S(d/f)

    (Sf)0

    S0         (Sf)1

    S1                                (Df)0

    (Df)1

    (Qf)0 (Qf)1         Qf

    12

    MỨC LÃI SUẤT TƯƠNG ĐỐI

    Mức lãi suất cao hơn tương đối có thể dấy lên kỳ vọng về tỷ lệ lạm phát cao hơn, từ đó làm giảm đầu tư của nước ngoài

    Do vậy nên so sánh tương quan về lãi suất thực, là lãi suất danh nghĩa đã được điều chỉnh tỷ lệ lạm phát.

    MỨC TĂNG TRƯỞNG THU NHẬP TƯƠNG ĐỐI

    S(d/f)

    (Sf)0

    S1        (Sf)1

    (Df)1

    S0

    (Df)0

    (Qf)(Qf)1        Qf

    VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ

    Can thiệp của chính phủ gắn liền với chế độ tỷ giá áp dụng;

    Can thiệp trên thị trường hối đoái, áp đặt những rào cản giao dịch hối đoái, hàng rào thương mại, tác động các biến số vĩ mô như lạm phát, lãi suất, thu nhập.

    13

    KỲ VỌNG CỦA GIỚI ĐẦU CƠ

    Những kỳ vọng về mức tỷ giá trong tương lai thường đi kèm với hành vi đầu cơ hoặc phòng vệ rủi ro;

    Phản ứng trước bất kỳ thông tin nào có thể ảnh hưởng đến tỷ giá trong tương lai;

    Ví dụ: tin về lạm phát trong nước tăng lên có thể khiến một ngân hàng muốn chuyển nội tệ sang ngoại tệ.

    TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC NHÂN TỐ

    Các nhân tố khác nhau ảnh hưởng tỷ giá đồng thời, và có thể theo những chiều hướng trái ngược nhau;

    Ví dụ: sự gia tăng mức thu nhập (tăng trưởng kinh tế) có khi tạo nên kỳ vọng về lãi suất sẽ tăng lên, gây áp lực lên tỷ giá đối nghịch với tác động của sự kiện mức thu nhập gia tăng.

    MÔ HÌNH CUNG CẦU

    NGOẠI TỆ VÀ CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ

    14


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài giảng Kế toán giao dịch ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Giao-d%E1%BB%8Bch-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam

    Trong các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp thường quan tâm và lo lắng về sự biến động của tỷ giá hối đoái. Các DN nhập khẩu lo tỷ giá tăng. Ngược lại, các DN xuất khẩu lo tỷ giá giảm. Hoạt động kinh tế ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập càng tăng, hoạt động XNK ngày càng mở rộng, các DN quan tâm ngày càng nhiều hơn đến rủi ro tỷ giá.

    Các công cụ giao dịch hối đoái sẽ giúp các Doanh Nghiệp Xuất Nhập Khẩu hạn chế sự biến động, phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cùng với nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn (Forwward), giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option) là một trong những công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính cho các Doanh Nghiệp Xuất Nhập Khẩu một cách có hiệu quả.

    Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ sẽ làm đa dạng hoá các sản phẩm tài chính cho thị trường. Mặt khác, nó còn tạo ra công cụ để bảo vệ nhà đầu tư, các nhà xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp…trước những rủi ro của sự biến động về giá cả, lãi suất, tỉ giá thị trường.

    Trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quan trọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn. Mặc dù các giao dịch quyền chọn phi tập trung chỉ chiếm khoảng 2% tổng giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, do thị trường quyền chọn còn khá mới mẻ, chưa phát triển nên các giao dịch quyền chọn phi tập trung chiếm một tỉ trọng tuyệt đối, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 4

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN

    1..1 Lịịch sử hìình thành thịị trường quyền chọn

    • Các sản phẩm tài chính phái sinh nói chung mà quyền chọn nói riêng ra đời từ sự bất ổn của thị trường, nhằm mục đích tạo ra công cụ bảo vệ giá trị tài sản của nhà đầu tư trước sự thay đổi của giá cả thị trường. Vào giữa thế kỷ 15, tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi mua bán các vật phẩm, hàng hóa, v…v…lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dần dần tăng dần và hình thành một khu chợ riêng. Cuối thế kỷ 15, để tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc thống nhất các qui ước và cũng dần dần những qui ước này được sửa đổi hoàn chỉnh thành những qui tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trường.
    • Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ), tại đó có một bảng hiệu có hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là “Bourse” tức là “Mậu dịch trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”. Còn ba chiếc túi da tượng trưng cho 3 nội dung của Mậu dịch trường đó là: Hàng hóa, Ngoại tệ và Giá khoán động sản. Năm 1574 do eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị lấp mất mà Mậu dịch trường Bruges mất hẳn sự phồn vinh của nó. Thị trường được dời đến Auvers, tại đây Mậu dịch trường đã phát triển mạnh và từ kinh nghiệm của nó mà Mậu dịch trường ở các nước đã bắt đầu phát triển. Tại London vào khoảng giữa thế kỷ 18 Mậu dịch trường Anh quốc đã được phát triển theo nguyên mẫu của Auvers được gọi là Stock Exchange. Tại các nước Châu Âu khác Mậu dịch trường cũng dần được thành lập nhưng cũng đã có ít nhiều cải tiến để phù hợp với điều kiện ở mỗi quốc gia. Sau một thời gian hoạt động Mậu dịch trường không còn đủ sức và phù hợp để tiến hành giao dịch trên cả 3 lĩnh vực với nội dung khác nhau. Cho nên giao dịch hàng hóa tách ra thành Khu thương mại, giao dịch ngoại tệ thành Thị trường hối đoái, giao dịch các hợp đồng về sau được gọi là “Thị trường tương lai”…. và giao dịch giá khoán động sản thành Thị trường chứng khoán.
    • Vào đầu những năm 1900 một nhóm công ty đã thành lập Hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn. Mục đích của Hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và những người bán lại với nhau. Nhà đầu tư muốn mua quyền chọn liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ cố gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc của các công ty thành viên khác., nếu không

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 5

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    có người bán công ty sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường OTC ( Over – the – counter market), các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn giao dịch của thị trường.

    • Thị trường quyền chọn của hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn chịu áp lực của hai yếu tố. Một là, không có thị trường thứ cấp, người mua quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn. Hai là, không có kỹ thuật nào bảo đảm rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng, nếu người bán không thực hiện hợp đồng thì người mua phải tốn chi phí kiện tụng.
    • Trong thập niên 80 thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng future đã phát triển ở Mỹ. Thị trường chứng khoán Philadelphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên. Thị trường Chicago Board Option Exchange trao đổi quyền chọn chỉ số chứng khoán của S & P 100 và S & P 500. Thị trường chứng khoán Mỹ giao dịch quyền chọn về chỉ số chứng khoán của một số thị trường chính, và thị trường chứng khoán New York giao dịch chỉ số NYSE.
    • Các thập niên 80 và 90 đã chứng kiến sự phát triển của thị trường OTC dành cho quyền chọn. Giao dịch OTC quyền chọn được thoả thuận qua điện thoại hơn là trên sàn giao dịch. Một bên đối tác thường là ngân hàng đầu tư, ngân hàng sẽ duy trì hạng mục đầu tư quyền chọn và bảo hộ bằng cách sử dụng một số công cụ. Bên còn lại là khách hàng của ngân hàng đầu tư như là nhà quản lý quỹ đầu tư (Fund manager) hoặc là người chịu trách nhiệm về vốn và ngoại hối của các tập đoàn lớn. Một thuận lợi của giao dịch quyền chọn trên thị trường OTC là chúng có thể được nối kết để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng của ngân hàng đầu tư.
    • Quyền chọn là một trong những công cụ phái sinh được sử dụng khá phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, công cụ phái sinh này có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro hữu hiệu trên thị trường tài chính nói chung và trên thị trường ngoại hối nói riêng.

    1..2 Địịnh nghĩĩa

    • Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua (call) hoặc bán (put) một công cụ tài chính khác ở một mức giá và thời hạn được xác định trước. Người bán hợp đồng quyền chọn phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nếu người mua yêu cầu. Bởi vì quyền chọn là một tài sản tài chính nên nó có giá trị và người mua phải trả một khoản chi phí nhất định (premium cost) khi mua nó.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 6

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn; thời gian từ khi ký hợp đồng quyền chọn đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn. Mức giá xác định áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện (exercise price hay strike price).
    • Quyền chọn không chỉ cho phép nhà đầu tư đón đầu xu thế của một đồng tiền mà nó còn cho phép giới hạn rủi ro thua lỗ. Bạn có thể kiếm được lợi nhuận từ options với bất cứ chiều nào của biến động giá: giá lên, giá xuống hay thậm chí là giá không biến động.
    • Một số thuật ngữ liên quan
    • Người mua quyền (holder) – là bên nắm giữ quyền chọn, và phải trả cho bên mua phí quyền chọn để được “quyền” mua hoặc bán một loại tài sản cơ sở nào đó. Tài sản cơ sở trên thị trường ngoại tệ như EUR, CHF, CAD,… Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng, bên mua có ba sự lựa chọn: (i) thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu giá trên thị trường biến động theo hướng có lợi cho họ; (ii) bán hợp đồng quyền chọn cho bên thứ ba trên thị trường để hưởng chênh lệch giá; (iii) để quyền chọn tự động hết hiệu lực mà không tiến hành bất cứ một giao dịch mua bán nào nếu giá trên hợp đồng quyền chọn bất lợi hơn so với giá trên thị trường. Trường hợp không thực hiện quyền chọn, họ vẫn bị mất phí mua quyền. Do vậy, bên mua quyền bị lỗ chỉ giới hạn bằng phí quyền chọn nhưng có lời thì không giới hạn. Có hai loại người mua quyền: người mua quyền chọn mua (Buyer Call Option) và người mua quyền chọn bán (Buyer Put Option)
    • Người bán quyền (writer) – là bên phát hành quyền chọn, sau khi thu phí quyền chọn phải có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch (mua hoặc bán) tài sản cơ sở đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên mua – khi bên mua thực hiện quyền trong thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán quyền chọn có lợi nhuận giới hạn (tối đa là phí quyền chọn), còn lỗ thì không giới hạn. Trên thị trường, có hai loại người bán quyền: người bán quyền chọn mua (Seller Call Option) và người bán quyền chọn bán (Seller Put Option).
    • Tài sản cơ sở (underlying assets) – Tài sản mà dựa vào đó quyền chọn được giao dịch. Giá cả trên thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị của quyền chọn. Tài sản cơ sở trên thị trường ngoại tệ như EUR, CHF, CAD,…
    • Tỷ giá thực hiện (exercise or strike rate) – Tỷ giá sẽ được áp dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyền chọn.
    • Phí mua quyền (premium) – Chi phí mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền để được nắm giữ hay sở hữu quyền chọn. Chi phí này thường được tính bằng một số nội tệ trên mỗi ngoại tệ giao dịch.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 7

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Trị giá hợp đồng quyền chọn (volume) – Trị giá được chuẩn hóa theo từng loại ngoại tệ và thị trường giao dịch.
    • Thời hạn của quyền chọn (maturity) – Thời hạn hiệu lực của quyền chọn. Quá thời hạn này quyền không còn giá trị.
    • Loại quyền chọn – Loại quyền mà người mua nắm giữ. Loại quyền chọn nào cho phép người mua có quyền được mua một loại tài sản cơ sở ở mức giá xác định trước trong thời hạn nhất định gọi là quyền chọn mua (call). Ngược lại, loại quyền chọn nào cho

    phép người mua có quyền được bán gọi là quyền chọn bán (put).

    • Một số lưu ý trong việc định giá hợp đồng quyền chọn
    • Việc ra giá một quyền chọn (premium) tuỳ thuộc vào tỷ giá thực hiện. Giá bán hợp đồng quyền chọn mua tăng khi tỷ giá thực hiện giảm và giá bán hợp đồng quyền chọn bán tăng khi tỷ giá thực hiện tăng.
    • Trong cả hai trường hợp, chọn mua và chọn bán, chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện quyết định giá bán tối thiểu của quyền chọn. Nếu giá bán tối thiểu của quyền chọn thấp hơn mức chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện thì một cơ hội kinh doanh chênh lệch giá sẽ xuất hiện (bỏ qua các yếu tố khác như hoa hồng, chênh lệch giữa giá bán và giá mua).
    • Sự chênh lệch lãi suất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định giá cả quyền chọn.

    1..3 Các lloạii quyền chọn

    • Một quyền chọn để mua tài sản với một mức giá thực hiện trước hay đúng vào ngày được ấn định gọi là quyền chọn mua (Call Option). Một quyền chọn cho phép chủ sở hữu của nó quyền bán tài sản với một mức giá ấn định trước đúng vào ngày được ấn

    định gọi là quyền chọn bán (Put Option).

    1.3.1  Quyền chọn mua

    • Hợp đồng quyền chọn mua (Call Option) là một loại hợp đồng tài chính diễn ra giữa hai bên, cho phép người mua hợp đồng có quyền mua một số lượng tài sản nhất định ở một mức giá ấn định trước, gọi là “strike price” hoặc “exercise price” – vào hoặc trước ngày đáo hạn của hợp đồng. Đổi lại, người mua hợp đồng (holder) phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn (writer) một khoản phí (call premium).
    • Nếu giá tài sản cơ sở tăng như dự đoán thì người mua hợp đồng sẽ thu được lợi nhuận trong khi chỉ phải đầu tư một khoản nhỏ (phí hợp đồng) hơn là phải bỏ tiền ra mua toàn bộ số tài sản đó, trường hợp này người ta nói hợp đồng quyền chọn mua có lãi (in-the-money call option), ngược lại hợp đồng quyền chọn mua bị lỗ (out-of-the

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 8

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    money call option). Về phía người bán, anh ta chỉ thu được một khoản lợi tức bằng với phí quyền chọn, nhưng khi người mua thực hiện hợp đồng thì người bán sẽ bị lỗ không giới hạn.

    • Nếu hợp đồng được thực hiện thì người bán sẽ phải từ bỏ quyền sở hữu đối với số tài sản đã xác định trong hợp đồng. Nếu người mua hợp đồng cảm thấy không có lợi anh ta có thể từ chối việc thực thi hợp đồng.
    • Trong hợp đồng quyền chọn mua, người mua bao giờ cũng kì vọng giá tài sản tăng trong khi người bán kì vọng giá tài sản đứng hoặc giảm hoặc cũng có trường hợp là do người bán sẵn sàng từ bỏ khoản lợi nhuận từ giá tài sản tăng để đổi lấy khoản phí thực hiện hợp đồng (được thanh toán ngay). Do có những nguồn thông tin khác nhau, cách phân tích, đánh giá khác nhau cho nên mới nảy sinh những kì vọng khác biệt giữa người mua và người bán, dẫn đến việc các hợp đồng quyền chọn (call option, put option) như thế này diễn ra.
    • Vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn được mô tả bằng hình sau:

    Hình 1.1: Vị thế của quyền chọn mua

    • Hình 1.1(a) mô tả thành quả của người mua quyền chọn mua với lợi nhuận tiềm năng là vô hạn khi giá của tài sản tăng trong tương lai. Ngược lại, nếu giá chứng khoán giảm so với giá thực hiện, người mua quyền chỉ lỗ với mức lỗ tối đa bằng với phí mua quyền chọn.
    • Hình 1.1(b) mô tả thành quả của người bán quyền chọn mua tài sản, người bán quyền chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoản phí nhận được từ người mua quyền chọn, và sẽ bị

    thua lỗ vô hạn khi giá tài sản tăng so với giá thực hiện.

    Ví dụ: Trên thị trường, 1 Quyền chọn mua với thời gian đáo hạn là tháng 01/01/2012, giá thực hiện 16.000 đồng/1 USD với khối lượng giao dịch là 10.000 USD, có giá là

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                                 Trang 9

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    500.000 đồng. Một nhà đầu tư quyết định mua 10 quyền chọn. Hãy xem giá thị trường vào ngày 01/01/20012 và lợi nhuận của nhà đầu tư đó như thế nào.

    Nếu vào ngày 01/01/2012,giá của USD là:16.200 đồng/1 USD. Nhà đầu tư sẽ thực hiện quyền chọn mua với tổng chi phí gồm chi phí mua quyền chọn và chi phí mua 100.000 USD: 1,605,000,000 đồng. Sau đó dùng lượng tiền USD mua được theo HĐ Quyền chọn bán theo giá thị trường thu được: 1,620,000,000 triệu đồng.

    Như vậy lợi nhuận thu được là 15 triệu đồng. Mức lỗ cao nhất nhà đầu tư đó phảichịu là 5.000.000, vì nhà đầu tư có thể thực hiện hoặc không thực hiện Quyền chọn. Mức lợi nhuận thì đồng biến theo sự tăng giá của đồng USD.

    • Lợi nhuận của nhà đầu tư tổng quát như sau:
    Giá hiện hành (S) Lợi nhuận (P)
       
    S =< 16.000 P = -5.000.000
       
    S = 16.050 P = 0
       
    16.000 < S <16.050 -5.000.000 < P < 0
       
    S > 16.050 P > 0
       
       

    1.3.2  Quyền chọn bán

    • Nếu như Call option là hợp đồng quyền chọn mua thì ngược lại với nó có một loại hợp đồng quyền chọn khác là Put option, hợp đồng quyền chọn bán. Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (writer) một số tài sản nhất định tại một mức giá xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng (expiration date). Để đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp đồng (option premium).
    • Cần lưu ý trong hợp đồng quyền chọn bán người mua hợp đồng lại chính là người có quyền bán tài sản. Người mua hợp đồng sẽ có lợi nếu giá tài sản sụt giảm mạnh, khi đó nếu người mua hợp đồng quyết định thực thi quyền bán (exercise the option), người bán hợp đồng buộc phải mua số tài sản đó. Ngược lại, người bán hợp đồng (người có

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 10

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    nghĩa vụ mua tài sản khi đến hạn nếu người mua hợp đồng yêu cầu) sẽ thu lợi khi giá chứng khoán tăng, đứng, hoặc giảm ít hơn khoản phí hợp đồng nhận được.

    • Hợp đồng quyền chọn bán là một cách để nhà đầu tư bảo hiểm cho tài sản của mình khi ông ta dự đoán tài sản đó có khả năng tụt giá trong tương lai, đồng thời không muốn bán hẳn số tài sản đó hoặc để đầu cơ thu lợi trước dự đoán đó. Dù trường hợp nào có xảy ra chăng nữa thì rủi ro người mua hợp đồng cũng chỉ giới hạn trong số phí hợp đồng. Hợp đồng quyền chọn bán phổ biến nhất đối với cổ phiếu của một số công ty nhất định, ngoài ra, hợp đồng put option còn được mua bán với tài sản tài chính như lãi suất, hoặc mặt hàng thực như vàng, dầu mỏ.
    • Ngược lại với quyền chọn mua, vị thế của người mua, người bán và phí quyền chọn được mô tả bằng hình sau:

    Ø

    Hình 1.2 Vị thế của quyền chọn bán

    • Tương tự, hình 1.2(a) mô tả thành quả của người mua quyền chọn bán và hình 1.2(b) mô tả thành quả của người bán quyền chọn bán. Với một khoản phí để sở hữu quyền, người mua quyền chọn bán chỉ lỗ giới hạn bằng với khoản phí đã trả khi mua quyền chọn mua tài sản và có lời vô hạn khi giá của tài sản giảm. Ngược lại, người bán quyền chọn bán chỉ thu về có giới hạn bằng với phí bán quyền chọn nhưng nếu giá tài sản giảm thì họ sẽ gánh chịu một khoản lỗ là vô hạn
    • Như vậy, khi nhà đầu tư có dự định mua tài sản và kỳ vọng giá của tài sản đó sẽ tăng lên trong tương lai thì họ sẽ phòng ngừa rủi ro bằng cách mua một quyền chọn mua. Ngược lại khi nhà đầu tư đang sở hữu tài sản và họ dự đoán trong tương lai giá tài sản sẽ giảm thì sự lựa chọn cho nỗi lo về giá của họ đối với tài sản đang sở hữu là mua một quyền chọn bán.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 11

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Nếu như vậy, không có nghĩa là người bán quyền chọn mua và chọn bán là những kẻ liều lĩnh hay thích đùa, đánh đổi một ít lợi nhuận bằng cả một rủi ro thua lỗ vô hạn. Trên thị trường các nhà đầu tư khác nhau sẽ có nhận định và đánh giá khác nhau về xu hướng thay đổi của thị trường vì vậy họ sẽ hành động theo nhận định, phân tích, dự báo của mình. Ngoại trừ họ vững tin xu thế giá cả tài sản sẽ biến động theo hướng kỳ vọng, bằng cách này hay cách khác họ sẽ tiến hành bù trừ vị thế rủi ro hay tự bảo vệ mình khỏi thua lỗ bằng cách kết hợp nhiều chiến lược một cách khôn khéo và độc đáo.

    Ví dụ: Quyền chọn bán 10.000 USD, thời gian đáo hạn 01/01/2012, giá đáo hạn 16.000 đồng/1 USD có giá là 500.000 đồng. Một nhà đầu tư dự đoán rằng giá USD sẽ giảm, mua 10 Quyền chọn bán. Chúng ta sẽ xét xem lợi nhuận của nhà đầu tư đó như thế nào.

    Vào ngày 1/1/2012. Giá USD hiện hành là 15.900. Nhà đầu tư sẽ bỏ tiền mua 100.000 USD và sử dụng quyền chọn bán để bán 100.000 USD đó với giá thực hiện 160.000. Vậy Tổng chi phí nhà đầu tư là: 1.595.000.000 đồng, thu được: 1.600.000.000, Chênh lệch thu được: 5.000.000 đồng.

    Xem xét một cách tổng thể, giá hiện hành và lợi nhuận của người đó như sau:

    Giá hiện hành (S) Lợi nhuận (LN)
       
    S >= 16.000 LN = -P
       
    15.950 < S < 16.000 -P < LN <0
       
    S = 15.950 LN = 0
       
    S < 15.950 LN > 0
       
       

    1..4 Các chủ thể tham giia thịị trường

    • Những người phòng ngừa rủi ro: các tổ chức tài chính và phi tài chính hay cá nhân tham gia thị trường quyền chọn. Họ tham gia thị trường với tư cách là người mua quyền để thực hiện bảo hiểm rủi ro về tỷ giá, lãi suất…
    • Các nhà đầu tư, đầu cơ: các tổ chức tài chính và phi tài chính hay cá nhân tham gia thị trường với mục đích đầu cơ vào sự chênh lệch tỷ giá, lãi suất.
    • Các tổ chức tài chính trung gian: gồm các NHTM, NH đầu tư, công ty chứng khoán… tham gia thị trường với muc đích đầu tư hoặc bảo hiểm rủi ro.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 12

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    1..4..1 Theo thờii điiểm thực hiiện quyền chọn

    Kiểu quyền chọn – Kiểu giao dịch do hai bên thỏa thuận cho phép người mua quyền được lựa chọn thời điểm thực hiện quyền.

    • Kiểu quyền chọn cho phép người mua quyền được thực hiện bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của quyền chọn gọi là quyền chọn kiểu Mỹ.
    • Kiểu quyền chọn chỉ cho phép người mua thực hiện khi quyền chọn đến hạn gọi là quyền chọn kiểu châu Âu.

    1..4..2 Theo thịị trường giiao dịịch

    • Thị trường tập trung : là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường chứng khoán New York.
    • Thị trường phi tập trung (OTC): là thỏa thuận mua bán của hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung.

    1..5 Vaii trò của quyền chọn

    • Hợp đồng quyền chọn, ngoài việc được sử dụng như một công cụ đầu cơ, còn được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối cho cả hai trường hợp: phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải trả và giá đối với khoản phải thu bằng ngoại tệ.

    Ví dụ: Để minh họa cho việc sử dụng quyền chọn vào mục đích đầu cơ chúng ta xem xét tình huống mô tả như sau: Hiện tại tỷ giá EUR/USD là 1,2412 – 82. Giả sử khách hàng G dự báo ba tháng nữa EUR sẽ lên giá so với USD trong khi khách hàng H ngược lại dự báo EUR sẽ xuống giá so với USD. Cả hai khách hàng này đều có mục tiêu đầu cơ kiếm lời từ thị trường ngoại hối.

    Khách hàng G có thể đầu cơ bằng cách mua 100.000EUR giữ đó để ba tháng sau khi EUR lên giá bán lại kiếm lời. Muốn vậy, ngay hiện tại G phải bỏ ra 100.000 x 1,2482 = 124.820 USD để mua 100.000EUR. Do không có được ngay ở hiện tại số tiền khá lớn này nên giấc mơ đầu cơ của G khó có thể thực hiện được. Thời cơ không thể đến được, dù G là người có hiểu biết. Để tạo điều kiện cho G thử thời vận, NH A chào cho G một hợp đồng quyền chọn mua, có những điều khoản như sau:

    • Người bán quyền: NH A

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 13

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Người mua quyền: G

     

    • Loại quyền: chọn mua (call)

     

    • Kiểu quyền: kiểu Mỹ

     

    • Số lượng ngoại tệ: 100.000EUR

     

    • Tỷ giá thực hiện: 1,2502

     

    • Thời hạn hiệu lực của quyền chọn: 90 ngày kể từ ngày thoả thuận

     

    • Phí mua quyền: 0,02USD cho mỗi EUR.

    Với hợp đồng quyền chọn, G không phải mua 100.000EUR và do đó không phải bỏ ra 124.820USD ở hiện tại. G chỉ mua quyền được mua trị giá 100.000EUR ở mức tỷ giá 1,2502 USD cho mỗi EUR và chi phí mua quyền G phải bỏ ra ở hiện tại là: 0,02 x 100.000 = 2.000USD. Chỉ bỏ ra 2.000USD thay vì phải bỏ ra 124.820USD có thể dễ dàng hơn cho G thử thời vận của mình.

    • Quyền chọn mua có thể được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro đối với các khoản phải thu và phải trả. Ví dụ như:

    Ví dụ 1: Một doanh nghiệp (DN) trong vòng 3 tháng tới phải thanh toán một lượng ngoại tệ rất lớn, để phòng ngừa ngoại tệ lên giá, DN đó có thể bỏ ra một khoản chi phí để mua quyền chọn mua loại ngoại tệ đó ở giá thực hiện đúng với giá mà DN đó mong muốn, như vậy, rủi ro tăng giá đối với DN đó đã bị triệt tiêu.

    Ví dụ 2: Một DN sẽ được thanh toán một lượng ngoại tệ lớn trong thời gian tới, nhưng có nhận định trong thời gian tới tỷ giá ngoại tệ sẽ giảm, DN sẽ ngăn ngừa rủi ro bằng cách mua quyền chọn bán cho lượng ngoại tệ sẽ được thanh toán, và như vậy tỷ giá ngoại tệ sẽ được DN đó cố định.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 14

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ GIAO DỊCH

    QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ TẠI VIỆT NAM

    2..1     Cơ sở pháp llý

    2..1..1  Cơ sở pháp llý lliiên quan đến chíính sách ngoạii hốii

    • Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ký quyết định 17/1998/QĐ-NHNN ngày 10/01/1998 ban hành quy chế giao dịch hối đoái (quyết định 17). Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của ngân hàng nhà nước về lĩnh vực ngoại hối. Tuy nhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/01/2001 về quản lý ngoại hối.
    • Quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa ngân hàng thương mại với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất.
    • Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
    • Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 01/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, ngân hàng nhà nước nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.
    • Tháng 5/2004, ngân hàng nhà nước đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất. Tháng 7/2006, ngân hàng nhà nước bỏ biên độ giao dịch USD bằng tiền mặt.
    • Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, +/-3%, ngày 11/02/2011 biên độ này lại được thu hẹp xuống +/-1%. Việc biên độ tỷ giá thay đổi phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.
    • Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 15

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại.

    2..1..2  Cơ sở pháp llý về giiao dịịch quyền chọn giiữa ngoạii ttệ vớii ngoạii ttệ

    • Công văn số 135/NHNN-QLNH ngày 12/02/2003 về giao dịch quyền chọn ngoại tệ đã có các quy định cụ thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…
    • Sau 7 năm đi vào hoạt động, đến cuối năm 2004, quyết định 17 đã phát sinh những hạn chế. Vì vậy, ngày 10/11/2004, thống đốc NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng để thay thế quyết định 17 và khắc phục những hạn chế này. Quyết định này có những điểm mới như chính thức cho phép tất cả các tổ chức tín dụng được phép thực hiện các giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ mà không cần phải xin phép ngân hàng nhà nước. Qua đó, thời điểm này ngân hàng nhà nước đã chấm dứt thời gian thí điểm nghiệp vụ này. Đồng thời, quy định kỳ hạn của giao dịch quyền chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự thỏa thuận. Quy định này là một sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý các hoạt động giao dịch ngoại hối giúp thị trường quyền chọn nước ta ngày càng đa dạng hơn. Bên cạnh đó, quyết định này cho phép các cá nhân được phép tham gia ngoài các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và ngân hàng nhà nước. Đây thực sự là một cơ hội cho các nhà đầu tư cá nhân có thêm một sân chơi mới trên thị trường tiền tệ.

    2..1..3  Cơ sở pháp llý về giiao dịịch quyền chọn giiữa ngoạii ttệ vớii nộii ttệ

    • Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN-QLNH cho phép ngân hàng Á Châu triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các ngân hàng thương mại khác dưới sự cho phép của NHNN.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 16

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.
    • Ngày 18/3/2009, NHNN ban hành Văn bản số 1820/NHNN-QLNH, yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại kể từ 23/3/2009 phải dừng thực hiện nghiệp vụ “quyền chọn USD – VND”.

    2..2 Thực trạng triiển khaii quyền chọn ngoạii tệ của các tổ chức tàii chíính (TCTT) ở Viiệt Nam trong thờii giian qua

    2..2..1  Quyền chọn ngoạii ttệ vớii ngoạii ttệ

    2.2.1.1 Ngân hàng tham gia

    • Trong giai đoạn thí điểm, các NHTM muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được cấp phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ, kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc NHNN chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm.
    • Theo công văn số 135/NHNN-QLNH, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Agribank.

    2.2.1.2 Đặc điểm giao dịch

    • Người mua quyền chọn: các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
    • Người bán quyền chọn: các NHTM.
    • Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
    • Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.

    2.2.1.3 Doanh số giao dịch

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 17

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.
    • Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Nhận xét: Với nghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VNĐ sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới. Vị thế của VNĐ và Việt Nam cũng qua đó mà tăng lên. Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn thí điểm nên các ngân hàng này bị giới hạn bởi thời gian thực hiện. Sau 4 năm hoạt động, công cụ phòng ngừa rủi ro đã có những bước phát triển nhưng vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn, và hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa thiết tha với các nghiệp vụ này lắm. Dù gặp phải một số khó khăn trong việc áp dụng, song các công cụ này đang là nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp và là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.

    2..2..2  Quyền chọn ngoạii ttệ vớii nộii ttệ

    2.2.2.1 Ngân hàng tham gia

    • Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là 10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ).
    • Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 18

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    2.2.2.2 Đặc điểm giao dịch

    Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các ngân hàng thương mại muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được ngân hàng nhà nước chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:

    • Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.
    • Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.

    2.2.2.3 Doanh số giao dịch

    • Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các ngân hàng thương mại không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể. Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006 – 2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 3,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ).

    Nhận xét: Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ chưa phát triển. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng với kết quả ban đầu trong giai đoạn thí điểm này là một dấu hiệu đáng mừng góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển sau này. Tuy nhiên 18/3/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Văn bản số 1820/NHNN – QLNH, yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại kể từ 23/3/2009 phải dừng thực hiện nghiệp vụ này đồng nghĩa với việc nghiệp vụ quyền chọn giữa VND và ngoại tệ biến mất hoàn toàn trên thị trường.

    2..3 Những khó khăn và thuận llợii ảnh hưởng đến thịị trường quyền chọn ngoạii tệ Viiệt Nam

    2..3..1 Những khó khăn ảnh hưởng đến tthịị ttrường quyền chọn ngoạii ttệ Viiệtt Nam a. Cơ sở pháp lý

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 19

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    Chúng ta có thể nhận thấy rằng các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành là khá nhiều nhưng chúng vẫn chưa quy định cụ thể và chưa thúc đẩy được các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, chỉ mang tính tức trong ngắn hạn sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư… trong việc hoạch định các chiến lược dài hạn để kinh doanh trên thị trường.

    1. Thị trường

    Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối… của nước ta còn thấp, tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến và Việt Nam, chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa thực sự phát triển.

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ.

    1. Sự điều tiết tỷ giá USD/VND

    Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía ngân hàng nhà nước khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía ngân hàng.

    1. Biên độ giao dịch USD

    Biên độ giao dịch giao động ở mức thấp đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.

    1. Vấn đề hạch toán kế toán

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 20

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

    1. Cách tính phí quyền chọn

    Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau:

    Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng options ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng.

    Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.

    1. Trình độ nhận thức của nhà đầu tư

    Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế.

    Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng vẫn còn yếu trong tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Lãnh đạo của một ngân hàng quốc doanh cho biết: “Lý do

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 21

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    một phần vì doanh thu của các sản phẩm quyền chọn ngoại tệ vẫn còn hạn chế nên các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới việc quảng bá sản phẩm.”

    Bảng 1: Kết quả khảo sát về việc sử dụng công cụ quyền chọn ngoại tệ

    (Nguồn: Báo cáo tại hội thảo khoa học 2007 về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam)

    Loại Doanh nghiệp Doanh nghiệp ít Doanh  nghiệp thường Tổng
    chưa biết   sử dụng xuyên sử dụng   cộng
         
                 
    Quyền  chọn 21%   58% 21%   100%
    ngoại tệ    
               
                 
                 

    Tham gia thị trường tài chính Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường quyền chọn còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường.

    1. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ

    Việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

    Đối với nghiệp vụ quyền chọn, việc trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ càng phức tạp và tốn kém hơn, đặc biệt là khi muốn kết nối với sàn giao dịch quyền chọn tập trung sau này, nếu doanh nghiệp không tính toán kỹ, có thể gây ra thua lỗ lớn.

    1. Việc đào tạo nguồn nhân lực

    Thị trường quyền chọn Việt Nam hiện nay chưa phát triển nên nguồn nhân lực chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức, khả năng chuyên môn và việc sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và các nhà đầu tư chứng khoán áp dụng các công cụ quyền chọn ngoại tệ để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 22

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    2..3..2 Những tthuận llợii ttrong viiệc phátt ttriiển tthịị ttrường quyền chọn ngoạii ttệ Viiệtt Nam a. Về phía ngân hàng

    Hiện nay, chúng ta nhận thấy rằng các ngân hàng ngày càng chú trọng đến sự phát triển cung cấp các giao dịch ngoại hối mặc dù ngân hàng nhà nước vẫn can thiệp và giữ tỷ giá tương đối ổn định. Việc phát triển các nghiệp vụ này ngoài mục đích giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn đồng thời áp dụng các công cụ quyền chọn để quản lý rủi ro, đây còn là cơ hội cạnh tranh cho các ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm cung cấp, đồng thời đón trước được nhu cầu cấp thiết trong việc sử dụng các công cụ này trong thời gian tới của doanh nghiệp.

    1. Về phía doanh nghiệp

    Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian trước đây, còn ỷ lại vào sự che chở của cơ quan nhà nước, do vậy các doanh nghiệp đã không quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá đúng mức, nhưng trong thời gian hiện tại với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và những rủi ro trong quá trình hội nhập buộc các doanh nghiệp phải chú trọng quan tâm đến các công cụ phòng ngừa rủi ro như quyền chọn để tự bảo vệ mình.

    1. Yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin

    Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường quyền chọn nói chung và thị trường quyền chọn ngoại tệ nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng.

    1. Cơ chế chính sách thông thoáng khi Việt Nam gia nhập WTO

    Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hóa tài chính đã đi qua rất nhiều bước và trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 23

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường quyền chọn ngoại tệ nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    1. Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam

    Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư, đặc biệt là trong trong giai đoạn 2007-2008. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ quyền chọn ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam.Vì vậy, việc phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 24

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT

    3..1  Xây dựng,, điiều chỉỉnh khung pháp llý cho thịị trường quyền chọn ngoạii tệ

    • Đồng bộ hóa các văn bản pháp lý liên quan: ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện từ NHNN về việc sử dụng các công cụ quyền chọn ngoại tệ cũng như các văn bản pháp lý cấp cao nhằm chi phối, điều tiết, hướng dẫn thực hiện các giao dịch quyền chọn ngoại tệ.
    • Nới rộng các điều kiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ: khuyến khích doanh nghiệp và cá nhân tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ, đặc biệt là quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Mở rộng kỳ hạn giao dịch và hạn mức doanh số giao dịch so với quy định thí điểm. Cho phép các tổ chức tín dụng khác ngoài ngân hàng thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ nhằm gia tăng số lượng các nhà cung cấp, nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường. Trong thời gian tới, khi thị trường đạt đến một mức độ phát triển nhất định và VNĐ được tự do chuyển đổi thì NHNN nên cho phép các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch với tư cách vừa là người mua vừa là người bán để góp phần thúc đẩy giao dịch quyền chọn phát triển.

    3..2  Nớii llỏng vaii trò điiều hành của Nhà nước vào thịị trường tàii chíính

    • Hoạt động giao dịch phải thật sự có ý nghĩa trong điều kiện tình hình biến động của thị trường hoàn toàn khách quan. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp, những nhà kinh doanh thường dựa vào những phán đoán về diễn biến của thị trường, họ sẽ lựa chọn các phái sinh, quyền chọn thích hợp để thực hiện những mục tiêu cụ thể của mình là kinh doanh hay hạn chế rủi ro.
    • Trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay, theo lộ trình hội nhập mà nước ta đã cam kết với tổ chức thương mại hế giới (WTO), nhà nước cần nới lỏng dần chính sách can thiệp trực tiếp vào thị trường. Đối với thị trường ngoại hối, nhà nước nên dần thực hiện chính sách tự do hóa tỉ giá bằng cách dần dần nới rộng biên độ giao động của VNĐ với USD từ +/-1% lên +/-2%, và có thời gian biên độ dao động +/-3%. Đến một thời điểm thích hợp, có thể xóa bỏ biện độ giao động tỉ giá hướng đến tự do hóa chuyển đổi tiền đồng Việt Nam. Điều này sẽ đảm bảo tỉ giá phản ảnh đúng cung cầu trên thị trường. Khi đó, rủi ro đối với các giao dịch ngoại hối sẽ dần hiện rõ, gây ra những thiệt hại lớn hơn, buộc các doanh nghiệp, cá nhân, nhà đầu tư phải quan tâm đến các hợp đồng quyền chọn để bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro cho chính mình.
    • Mặt khác, trên thị trường vốn chính sách tự do hóa bước đầu lãi suất tín dụng mang lại những hiệu quả tích cực, lãi suất ngày càng mang tính khách quan, phản ánh tương

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 25

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    đối được thực trạng cung cầu vốn của thị trường. Với sự biến động của lãi suất tín dụng tác động đến thị trường ngoại mang tính khách quan hơn, đây sẽ là một tác nhân quan trọng kích thích các nhà đầu tư quan tâm đến giao dịch phái sinh, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.

    3..3 Hỗ trợ,, phốii hợp vớii các tổ chức tàii chíính cung cấp dịịch vụ quyền chọn trong công tác nâng cao nhận thức của doanh nghiiệp,, nhà đầu tư

    Công tác nâng cao trình độ và nhận thức của các đối tượng có nhu cầu sử dụng quyền chọn (nhà đầu tư, các nhà xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp…) cần được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, mục đích rõ ràng. Các cơ quan chính phủ cần hỗ trợ, phối hợp với các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn đề ra chiến lược phát triển thị trường để dần dần tiến tới chuyên nghiệp hóa các giao dịch quyền chọn, làm cho chúng trở thành những giao dịch quen thuộc và phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp, giới đầu tư và các TCTC. Cụ thể, các bộ ngành Giáo dục, Tài chính, Truyền thông cần phối hợp với nhau cũng như với các TCTC thực hiện các công việc sau:

    • Tuyên truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp nhận thức một cách đầy đủ và chính xác những ảnh hưởng do biến động tỷ giá, giá cả, lãi suất gây ra thông qua các kênh thông tin như báo chí, truyền hình, internet…
    • Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề nghiên cứu bàn về rủi ro hối đoái, xây dựng và triển khai các khóa học đào tạo ngắn hạn cho các doanh nghiệp về sự cần thiết bảo hiểm rủi ro hối đoái, chứng khoán, hàng hóa…
    • Trong tương lai, cần tăng thêm các kiến thức về các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và các giao dịch của chúng cũng như các kiến thức về quản trị rủi ro vào giảng dạy tại các trường đại học, các cơ sở giảng dạy về tài chính…để trang bị cho các thế hệ tương lai nhận thức đầy đủ về việc sử dụng các công cụ phái sinh, quyền chọn vào các hoạt động quản trị rủi ro của mình.

    3..4  Nâng cao hiiệu quả thịị trường thông qua viiệc công khaii hóa và miinh bạch hóa

    thông tiin

    • Thị trường tài chính Việt Nam mới chỉ tăng tốc phát triển trong một thời gian ngắn, vấn đề truyền thông tài chính cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của xã hội. Nhưng nhìn chung, truyền thông tài chính ở Việt Nam chỉ mới phát triển sơ khai, hầu như là mang tính tự phát, thiếu sự quản lý, ràng buộc trách nhiệm từ các cơ quan quản

    lý nhà nước. Với một TTTC bậc cao như thị trường quyền chọn, thông tin càng đóng

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 26

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    một vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư, phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp, nhà đầu tư…Do đó, để phát triển thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu, cần chấn chỉnh và thúc đẩy truyền thông tài chính phát triển. Thông tin tài chính cần được công khai, minh bạch hóa. Nhà nước cần tiếp tục ban hành các qui chế, thông tư, hướng dẫn…chi tiết hơn việc công bố thông tin ra thị trường ngoại hối cũng như chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm về công bố thông tin.

    • Ngoài ra, cần thúc đẩy các nguồn thông tin đa dạng, đầy đủ và cần thiết đến với mọi đối tượng tham gia thị trường. Trước mắt, nên thành lập các tổ chức chuyên nghiên cứu phát triển các công cụ dự báo giá và công bố kết quả dự báo giá cả, đặc biệt là giá của một số mặt hàng quan trọng như ngoại tệ, cổ phiếu, vàng, xăng dầu… qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các tạp chí chuyên ngành để các nhà đầu tư có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh hay phòng ngừa rủi ro cho riêng mình.

    3..5  Thay đổii một số quii địịnh về hạch toán kế toán

    Các vấn đề về hạch toán quyền chọn nói riêng và các công cụ phái sinh nói chung hiện nay còn khá mới mẻ ở nước ta. Do đó, nhà nước nên điều chỉnh, hoàn thiện các vấn đề pháp lý về hạch toán, xác định rõ ràng nghiệp vụ giao dịch hợp đồng quyền chọn, phái sinh là một nghiệp vụ kinh doanh tài chính mang tính chất phòng ngừa rủi ro của các doanh nghiệp không thuộc các tổ chức tài chính tín dụng, bảo hiểm, kinh doanh. Trên cơ sở này, Bộ tài chính xác định phí giao dịch quyền chọn là một khoản chi phí hợp lý, hợp lệ được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế. Điều này sẽ góp phần khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công cụ quyền chọn nhiều hơn, trong đó có quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    3..6 Chủ động giiớii thiiệu,, quảng bá thông tiin về các sản phẩm,, dịịch vụ quyền chọn đến khách hàng

    • Ngày nay, thị trường tài chính cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên nghiệp như NHTM xuất hiện ngày càng nhiều. Việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ quyền chọn ngoại tệ, một trong những loại hình dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết, thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng,

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 27

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ quyền chọn, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ quyền chọn này.

    • Để thực hiện điều đó, các ngân hàng cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn nói riêng, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các NHTM cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm thông tin, cách thức sử dụng các công cụ.
    • Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN …để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn đến các khách hàng doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá trên các website của các NHTM.
    • Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động đầu tư của mình.

    3..7 Không ngừng cảii tiiến chất llượng,, đa dạng hóa các sản phẩm,, dịịch vụ quyền chọn tớii khách hàng

    • Theo thực trạng hiện nay tại các NHTM như Eximbank, Techcombank, BIDV…, các NHTM này chỉ mới đóng vai trò là nhà môi giới trung gian giữa các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ với các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Do đó, cần phải xem xét đến việc nghiên cứu ứng dụng các chiến lược kinh doanh như tự đứng ra phát hành các quyền chọn thích hợp tới khách hàng nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động môi giới.
    • Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ các NHTM cần nhanh chóng chuẩn hóa tổ chức các phòng, ban kinh doanh liên quan đến quyền chọn của mình. Tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và thẩm quyền quyết định cho các cán bộ kinh doanh quyền chọn.
    • Ngoài ra, các NHTM nên tìm hiểu, nghiên cứu sâu các mô hình chiến lược liên quan đến giao dịch quyền chọn, cùng sự hỗ trợ từ những công cụ kỹ thuật như các phần mềm tiên tiến, cũng như bám sát diễn biến của thị trường để dự báo xu hướng biến

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 28

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    động tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi suất trong tương lai. Từ đó, vận dụng các chiến lược một cách chính xác trong từng trường hợp, để tư vấn, hỗ trợ khách hàng, giúp các khách hàng hiện tại ngày càng tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng quyền chọn, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới tham gia giao dịch.

    • Bên cạnh đó, song song với việc triển khai các sản phẩm quyền chọn thuần nhất, các TCTC nên có những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp, đặc biệt là lai tạp với quyền chọn như: quyền chọn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ (currency swaptions), quyền chọn hợp đồng kỳ hạn, tương lai ngoại tệ (currency forwards options, futures options)… Từ đó, sẽ là cơ sở để có thể định giá các sản phẩm quyền chọn hiệu quả nhất.

    3..8  Thay đổii cách tíính phíí quyền chọn

    • Như đã đề cập ở trên, đối với quyền chọn ngoại tệ, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ quyền chọn với tư cách là nhà môi giới, làm đại lý cho các ngân hàng nước ngoài, thực hiện tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế, chỉ sử dụng phí quyền chọn của ngân hàng nước ngoài, cộng với phí dịch vụ để tính phí cho khách hàng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả các ngân hàng vì việc này đẩy phí quyền chọn lên cao ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Do đó, việc thay đổi cách tính phí quyền chọn là cần thiết.
    • Dựa vào các điều kiện, khả năng của mình, các ngân hàng nên tự đứng ra cung cấp và phát hành quyền chọn trực tiếp cho khách hàng, tìm hiểu và vận dụng một số mô hình để tính phí quyền chọn cho khách hàng một cách hợp lý. Nhanh chóng triển khai ứng dụng các mô hình chiến lược kinh doanh quyền chọn, từ đó tạo nền tảng đề ra một mức phí mang tính cạnh tranh hơn.
    • Trong tình hình hiện tại, rất cần một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ đi tiên phong thử nghiệp các mô hình tính phí mới, từ đó giúp các ngân hàng, công ty chứng khoán khác đi sau học hỏi kinh nghiệm và tiến tới triển khai nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu có hiệu quả hơn.

    3..9 Nâng cao trìình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiiệp của độii ngũ cán bộ kiinh doanh quyền chọn

    • Trong mọi hoạt động dịch vụ, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Do bản chất của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn vốn là một công việc phức tạp, căng thẳng,

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 29

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    chứa đựng nhiều rủi ro… Do đó, đòi hỏi cán bộ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ tại các tổ chức không chỉ có chuyên môn về các nghiệp vụ mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu thị trường tài chính, có khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi suất…; đồng thời phải là những người có đạo đức nghề nghiệp, trung thực trong kinh doanh.

    • Vì vậy, các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên ngành cho nhân viên của mình, thông qua các khóa học đào tạo ngắn hạn ở trong nước và nước ngoài để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa tạo cơ hội làm quen với môi trường kinh doanh sôi động và hiện đại của thị trường quyền chọn quốc tế. Ngoài ra, cần có những chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút và giữ chân nhân tài, tránh để xảy ra tình trạng chảy máu chất xám trong tổ chức của mình.

    3..10 Tăng cường hợp tác quốc tế vớii các tổ chức tàii chíính khu vực và thế giiớii

    • Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan… có các điều kiện kinh tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam hay các nước như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông…. thì có điều kiện phát triển vượt bậc so với chúng ta. Do đó, các NHTM và các TCTC khác cần mở rộng hợp tác, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm về trang bị hạ tầng kỹ thuật, công tác điều hành, quản lý thị trường quyền chọn, cũng như kiến thức chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về lĩnh vực này với các ngân hàng lớn trong khu vực và thế giới trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam.

    3..11 Giiảii pháp kỹ thuật

    Bên cạnh các giải pháp nêu trên làm tiền đề cho sự phát triển của thị trường quyền chọn, thì việc giải quyết các vấn đề về hệ thống hạ tầng – kỹ thuật đóng vai trò không kém phần quan trọng. Vì giao dịch quyền chọn là một quy trình giao dịch phức tạp, nên rất cần sự hỗ trợ từ các hệ thống kỹ thuật để các giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ và khách hàng. Giải pháp cho vấn đề này có thể thực hiện như sau:

    • Các NHTM cần trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho hoạt động kinh doanh quyền chọn. Thị trường quyền chọn là thị trường dựa vào các thị trường cơ sở khác (ngoại tệ, chứng khoán, vàng, lãi suất…). Các thị trường này hầu hết đều có độ rủi ro

    rất cao. Do đó, thông tin về các thị trường tài sản cơ sở như thị trường ngoại hối đóng

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 30

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    một vai trò rất quan trọng trong các quyết định giao dịch quyền chọn của khách hàng. Vì vậy, đòi hỏi các tổ chức cung cấp dịch vụ phải có một hệ thống cung cấp thông tin thật hiệu quả, tức thời.

    • Các NHTM cần thiết lập hệ thống nối mạng với các hãng truyền thông tài chính nổi tiếng trên thế giới như Reuters, Bloomberg…để đáp ứng nhu cầu thông tin cho khách hàng. Số lượng máy nối mạng cần gia tăng, hiện đại dần theo thời gian khi đội ngũ nhân viên đã được đào tạo chuyên sâu và thuần thục trong việc sử dụng.
    • Bên cạnh đó, việc định giá quyền chọn và phân tích thị trường cũng là một khâu khá quan trọng và phức tạp. Do đó, các tổ chức cung cấp quyền chọn cần ứng dụng công nghệ thông tin như các phần mềm chuyên dùng cho việc định giá, tính phí quyền chọn, hỗ trợ cho việc theo dõi hạn mức giao dịch của các nhân viên kinh doanh và hạn mức khách hàng; cũng như các phần mềm kỹ thuật hiện đại cho việc phân tích, dự đoán xu hướng tỷ giá, giá cổ phiếu để giúp đơn giản hóa các khâu trung gian như xử lý số liệu theo cách truyền thống và tiết kiệm thời gian làm việc; đồng thời mang lại hiệu quả, độ chính xác cao. Nhưng hiện nay, để tiếp cận được với các công nghệ tiên tiến này đòi hỏi các tổ phải có nguồn kinh phí mạnh, cũng như một đội ngũ nhân viên, chuyên gia nắm vững cả kiến thức chuyên môn và kỹ năng sử dụng các phần mềm. Đó cũng là một trong những lý do khiến một số các ngân hàng, công ty chứng khoán nhỏ khó tiếp cận với những tiện ích này.
    • Ngay cả đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp kinh doanh quyền chọn thì việc phân tích, dự đoán các xu thế biến động của thị trường cũng cần phải thiết lập hệ thống công nghệ tiên tiến như một yêu cầu cơ bản. Nhưng hiện nay chỉ một số ít các đại gia mới có khả năng ứng dụng các công nghệ này. Đó cũng là những khó khăn đối với việc phát triển thị trường quyền chọn trong thời gian sắp tới.
    • Có thể nói, vấn đề hạ tầng kỹ thuật công nghệ luôn là vấn đề phức tạp, tốn kém. Việc áp dụng công nghệ nào còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của thị trường quyền chọn, cũng như khả năng của từng TCTC cung cấp dịch vụ.

    3..12 Giiảii pháp để tiiến tớii thành llập một sàn giiao dịịch quyền chọn niiêm yết tập trung..

    • Ngoài các giải pháp cho sự phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ phi tập trung ở trên, để thị trường quyền chọn thực sự phát triển và trở thành một trong những trụ cột của thị trường tài chính, khi thị trường quyền chọn và các giao dịch quyền chọn đạt đến độ chín mùi cần thiết, bên cạnh một thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC)

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 31

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    vẫn đang tồn tại, nhà nước cần tiến hành tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các sàn giao dịch quyền chọn lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, để thành lập một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức như ở các nước có TTTC phát triển. Điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản, khối lượng giao dịch trên thị trường quyền chọn, đặc biệt là thị trường ngoại hối dần dần tiến đến chuyên nghiệp hóa, tạo thuận tiện, phổ biến và đưa thị trường quyền chọn trở thành một một trong những thị trường thiết yếu trên TTTC.

    • Việc xây dựng hệ thống kỹ thuật công nghệ cho sàn giao dịch quyền chọn tập trung đòi hỏi sự đầu tư lớn và đồng bộ. Các nhà quản lý có thể dựa vào kinh nghiệm xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho sở giao dịch chứng khoán và tham khảo từ các sàn giao dịch quyền chọn tập trung ở các nước, kết hợp với khả năng, tình hình thị trường hiện tại để trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ phù hợp với điều kiện nước ta. Các hệ thống lưu ký, giao dịch, thanh toán bù trừ, hệ thống kết nối với các thành viên cần được trang bị đồng bộ, thống nhất, giúp đơn giản hóa các qui trình giao dịch, đồng thời tăng tính chính xác, thanh khoản và độ an toàn cho các nhà đầu tư tham gia thị trường.
    • Về phía các TCTC, ngoài các giải pháp đã nêu ở trên, khi một sàn giao dịch quyền chọn tập trung được thành lập, cũng giống như thị trường chứng khoán; các hoạt động giao dịch, chuyển nhượng quyền chọn sẽ diễn ra. Các TCTC sẽ đóng vai trò là thành viên của sở giao dịch quyền chọn, đứng ra môi giới và thu phí đối với các giao dịch chuyển nhượng quyền chọn đối với khách hàng. Khi đó, phí môi giới quyền chọn cần được các TCTC môi giới tính toán kỹ lưỡng để có thể bù đắp được các khoảng chi phí đầu tư đã bỏ ra, đảm bảo khả năng cạnh tranh và bước đầu thu lợi nhuận. Trong điều kiện các giao dịch chuyển nhượng quyền chọn mới bắt đầu hình thành, các TCTC môi giới nên chào một mức phí cạnh tranh, để bước đầu thu hút được khách hàng, giúp cho nhà đầu tư làm quen cũng như hứng thú hơn với việc tham gia giao dịch các quyền chọn tập trung, đóng vai trò tích cực trong việc phát triển một thị trường giao dịch quyền chọn tập trung chính thức.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 32

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    Với những thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, hạn chế, chúng ta cần đề ra các mục tiêu, định hướng phát triển nhằm phát huy tối đa các tiềm năng, cơ hội từ chính sách nhà nước và thị trường; cũng như khắc phục được những khó khăn, hạn chế trong hiện tại và tương lai. Để đi đúng các mục tiêu, định hướng đề ra, các giải pháp đề xuất, thực hiện cần cụ thể, thiết thực, phù hợp với các điều kiện ở Việt Nam và đứng từ góc độ vĩ mô của các cơ quan nhà nước (về chính sách, pháp luật…) cũng như góc độ vi mô từ các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu. Để thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, rất cần sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan chức năng và các chủ thể tham gia thị trường. Đặc biệt, cần có thời gian để thực hiện theo lộ trình, khả năng ở từng giai đoạn, tránh tư tưởng gấp gáp, nôn nóng, có thể dẫn đến những sai lầm thất bại, gây hậu quả nghiêm trọng cho thị trường tài chính và nền kinh tế.

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 33

    Đề tài số 09                                                                                                                  Giảng viên: TS. Trần Thị Mộng Tuyết

    • TS Trần Hoàng Ngân, TS Nguyễn Minh Kiều (2007), “Thanh toán quốc tế”, NXB Thống Kê
    • TS Nguyễn Minh Kiều (1998), “Thị trường ngoại hối”, NXB Tài chính
    • http://bantinsom.com
    • http://saga.vn
    • http://vneconomy.vn

    Nhóm 09 – Lớp TCDN Đêm 04 K22                                                                                                                               Trang 34


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:LIỆU CÓ NÊN CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI MUA CỔ PHẦN BẰNG NGOẠI TỆ HAY KHÔNG?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ho%C3%A1n-%C4%91%E1%BB%95i-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ

    LỞI MỞ ĐẦU

    Thị trường ngoại hối Việt Nam tuy đã được hình thành song còn ở mức sơ khai và chưa phát triển. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn nghèo nàn, đại đa số các NH chỉ tiến hành nghiệp vụ giao ngay phục vụ khách hàng trong việc thanh toán và kinh doanh tiền gửi trên thị trường quốc tế, chưa kinh doanh ngoại tệ kiếm lời một cách thực sự và chú trọng đến việc phòng ngừa rủi ro thông qua các công cụ ngoại hối phái sinh như hợp đồng kì hạn và hợp đồng hoán đổi.

    Trên thị trường ngoại hối quốc tế, các nghiệp vụ kinh doanh đã đạt đến một

    trình độ cao, ngoài giao dịch giao ngay còn bao gồm:

    • Giao dịch kì hạn
    • Giao dịch tương lai
    • Giao dịch hoán đổi
    • Giao dịch quyền chọn.

    Trong đó giao dịch hoán đổi được sử dụng như một công cụ chuyên nghiệp trong việc phòng ngừa rủi ro tỉ giá cũng như kinh doanh ngoại hối kiếm lời. Tại Việt Nam, do thị trường ngoại hối chưa hoàn thiện và còn kém phát triển cho nên các sản phẩm tài chính trên thị trường rất hạn chế và chật hẹp. Các công cụ ngoại hối phái sinh như giao dịch hoán đổi tuy đã được sử dụng nhưng rất ít và hiệu quả không cao, các NHTM chỉ sử dụng nó với tư cách là một biện pháp mang tính tạm thời với NHNN khi quá thiếu vốn VND. Mặc dù không thể phủ nhận rằng, nghiệp vụ này mang lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể khác nhau trên thị trường ngoại hối, đặc biệt phù hợp trong điều kiện của Việt Nam hiện nay khi mà các hoạt động kinh doanh XNK đang trên đà phát triển, các hoạt động đầu tư, tín dụng ngày một khởi sắc. Việc sử dụng một công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá, bảo đảm an toàn vốn mặt khác có thể xử lí trạng thái luồng tiền, gia tăng vốn ngắn hạn tạm thời mà không làm gia tăng những rủi ro kèm theo như hoán đổi ngoại hối là hết sức cần thiết. Song tại Việt Nam, đây còn là một nghiệp vụ khá mới mẻ. NHNN đã ra quyết định cho phép các NHTM, được phép tiến hành giao dịch hoán đổi với nhau và với khách hàng cũng

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 4

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    như là tiến hành với NHNN. Tuy nhiên thực tế quá trình tiến hành giao dịch còn nhiều

    yếu kém.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 5

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÁN ĐỔI

    1.1      Khái niệm

    Có nhiều loại hoán đổi khác nhau nên khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, nói chung một hoán đổi là một sản phẩm phái sinh tài chính bao gồm hai bên giao dịch thực hiện một chuỗi các thanh toán cho bên còn lại vào những ngày cụ thể.

    1.2 Các loại hoán đổi

    Dựa trên trạng thái của hàng hóa cơ sở thì có tất cả bốn loại hoán đổi cơ bản

    Hoán đổi tiền tệ: là chuỗi các thanh toán giữa hai bên mà cả hai tập hợp thanh

    toán đều dựa trên những đồng tiền khác nhau. Các khoản thanh toán này tương đương với các khoản thanh toán tiền lãi bởi vì chúng được tính toán như thể lãi suất được chi trả trên một số vốn khái toán cụ thể.

    Hoán đổi lãi suất: là chuỗi các thanh toán tiền lãi giữa hai phía. Mỗi tập hợp

    thanh toán được dựa trên lãi suất cố định hoặc thả nổi

    Hoán đổi chứng khoán: trong một hoán đổi chứng khoán tối thiểu một trong hai dòng tiền được xác định bởi giá của một chứng khoán, giá trị của một danh mục chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Dòng tiền còn lại có thể được xác định bởi lãi suất cố định, lãi suất thả nổi chẳng hạn như LIBOR hoặc được xác định bởi giá trị của một chứng khoán, danh mục chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán khác.

    Hoán đổi hàng hóa: tối thiểu một khoản thanh toán phải được dựa vào giá cả

    của hàng hóa như dầu lửa, vàng. Khoản thanh toán còn lại thường được cố định nhưng cũng có thể được xác định dựa trên một vài loại tài sản có giá biến động.

    1.3      Các thuật ngữ được sử dụng trong một giao dịch hoán đổi

    Các hoán đổi luôn có một ngày bắt đầu, một ngày kết thúc và những ngày thanh toán

    Ngày thanh toán: là ngày mà việc thanh toán được thực hiện.

    Kỳ thanh toán: là khoản thời gian giữa các lần thanh toán.

    Không có các khoản thanh toán trước bằng tiền mặt từ một bên này cho bên kia.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 6

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Mỗi hoán đổi được cụ thể hóa bởi một số tiền giao dịch được gọi là vốn khái toán (notional principal).

    Các hoán đổi được chi tiết hóa một cách riêng biệt, nó là các công cụ OTC. Do đó hai bên tham gia thông thường bao gồm một nhà giao dịch, là một định chế tài chính cung cấp các hoán đổi trên thị trường và một người sử dụng cuối cùng. Khách hàng của nhà giao dịch thường là một doanh nghiệp, một quỹ hưu bổng, quỹ phòng ngừa rủi ro hoặc là một tổ chức nào đó. Đương nhiên, hoán đổi giữa các nhà giao dịch lẫn nhau cũng rất phổ biến.

    1.4 Hoán đổi tiền tệ

    1.4.1  Lịch sử của hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi tiền tệ ban đầu được hình thành vào những năm 1970 để phá vỡ kiểm soát ngoại hối ở Vương quốc Anh. Vào thời điểm đó, các công ty của Anh đã phải trả một khoản tiền cho vay bằng đô la Mỹ. Để tránh điều này, các công ty của Anh thiết lập các thỏa thuận vay trở lại với các công ty Mỹ có nhu cầu vay Sterling (đồng bảng Anh ngoài khu vực).

    Năm 1981, hoán đổi tiền tệ diễn ra giữa Ngân hàng Thế giới và IBM. WB muốn có franc Thụy Sĩ và nhãn hiệu của Đức bằng cách trao đổi lưu chuyển tiền tệ với IBM. Thỏa thuận này được môi giới bởi Salomon Brothers với một số lượng danh nghĩa của $ 210 triệu USD và thời hạn của hơn mười năm.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 7

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    U.S. Dollar

    World

    Bank

    Swiss Franc

    U.S. Dollar

    Payments to

    Investors

    Investors in U.S.

    dollar-denominated

    bonds issued by the

    World Bank

    IBM

    Swiss Franc

    Payments to

    Investors

    Investors in Swiss franc-denominated bonds issued by IBM

     

    World Bank-IBM Swap

    1.4.2  Khái niệm

    Hoán đổi tiền tệ là một chuỗi các thanh toán giữa hai bên mà cả hai tập hợp thanh toán đều dựa trên những đồng tiền khác nhau.

    Hợp đồng hoán đổi tiền tệ là một hợp đồng trao đổi những đồng tiền khác nhau, sau một khoảng thời gian nhất định số tiền đó sẽ được hoán đổi ngược trở lại như ban đầu. Một hợp đồng hoán đổi tiền tệ bao giờ được cấu thành từ 2 phần, bắt đầu là một vụ trao đổi tiền tệ (nhánh ngắn), và kết thúc bằng việc thực hiện một hợp đồng kì hạn.

    Hoán đổi tiền tệ có thể là hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn, thời hạn của nó có thể kéo dài đến 10 năm hoặc hơn. Không giống như vay giáp lưng, theo luật kế toán của

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 8

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    một số nước, hợp đồng hoán đổi tiền tệ không được coi là một khoản vay, do đó nó không phản ánh trên bảng cân đối kế toán.

    1.4.3  Các loại hoán đổi tiền tệ

    Có tất cả bốn loại hoán đổi tiền tệ:

    Thanh toán cả hai đồng tiền theo lãi suất cố định. Cả hai thanh toán theo lãi suất thả nổi.

    Thanh toán đồng tiền đầu tiên theo lãi suất thả nổi và đồng tiền thứ hai theo lãi suất cố định.

    Thanh toán đồng tiền đầu tiên theo lãi suất cố định và đồng tiền thứ hai theo lãi suất thả nổi.

    1.4.4  Cấu trúc của một cấu trúc tiền tệ chuẩn

    Ví dụ :

    Reston thực hiện 1 hoán đổi tiền tệ với GSI theo nội dung công ty sẽ thực hiện một chuỗi các thanh toán tiền lãi mỗi nửa năm bằng Euro cho GSI với lãi suất 4,35% / năm, dựa trên số vốn khái toán là 10 triệu Euro.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 9

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    GSI sẽ trả cho Reston tiền lãi mỗi nửa năm bằng đồng USD với lãi suất 6,1%/năm trong vòng 2 năm, dựa trên số vốn khái toán là 9,804 triệu USD. Hai bên sẽ trao đổi vốn khái toán vào thời điểm bắt đầu và kết thúc của giao dịch.

    Ta có:

    Vào ngày bắt đầu hoán đổi:

    Reston trả cho GSI 9,804 triệu đôla

    GSI trả cho Reston 10 triệu euro

    Mỗi sáu tháng trong vòng hai năm

    Reston trả cho GSI: 0,0435x(180/360)x€10.000.000=€217.500

    GSI trả cho Reston: 0,061x(180/360)x$9.804.000=$299.022

    Vào ngày kết thúc của hoán đổi

    Reston trả cho GSI 10 triệu euro

    GSI trả cho Reston 9,804 triệu đôla.

    Dòng tiền của một hoán đổi tiền tệ từ quan điểm của Reston

    1.4.5  Những điểm khác biệt giữa hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Hoán đổi lãi suất dòng thanh toán chỉ tính trên một đồng tiền duy nhất, còn

    hoán đổi tiền tệ được tính toán dựa trên hai đồng tiền khác nhau.

    Trong một hoán đổi tiền tệ có hai vốn khoái toán, mỗi số vốn được định danh bằng một trong hai đồng tiền. Còn trong hoán đổi lãi suất chỉ có một vốn khoái toán.

    Trong hoán đổi lãi suất, số vốn khoái toán không bao giờ được thanh toán, còn

    hoán đổi tiền tệ số vốn khoái toán có thể được trao đổi vào thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc đời sống của hoán đổi tùy theo yêu cầu của các bên.

    1.4.6  Định giá và giá trị hoán đổi tiền tệ

    1.4.6.1 Các ký hiệu và công thức

     

    NPf

    NPh

    S0

    số vốn khoái toán định danh bằng đồng ngoại tệ số vốn khoái toán định danh bằng đồng nội tệ tỷ giá hối đoái tại thời điểm bắt đầu hoán đổi

    St             tỷ giá hối đoái tại thời điểm kết thúc hoán đổi

    Rf             lãi suất cố định của hoán đổi lãi vanilla thuần nhất định danh bằng

    đồng ngoại tệ

    Rh            lãi suất cố định của hoán đổi lãi vanilla thuần nhất định danh bằng

    đồng ngoại tệ

    (    ) giá trị của khoản thanh toán cố định (thả nổi) của số vốn khoái toán

    định danh bằng đồng ngoại tệ

    • (V ) giá trị của khoản thanh toán cố định (thả nổi) của số vốn khoái toán định danh bằng đồng nội tệ

    q               = số ngày/360

    ( )           lãi suất LIBOR n ngày vào ngày t

    • giá chiết khấu của trái phiếu zero coupon với lãi suất L (n)

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 11

     

    Hoán đổi ngoại tệ     GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng
                   
                   
    1   1 − ( )    
    =           (1)
      ( )
    = 1 + ( ) ∗     (2)  
             
    1 +  ( ) ∗ ( )/360
                             
    • ∗ ∗  (  ) +   (  ) (3)

    1.4.6.2 Định giá một hoán đổi tiền tệ

    Ta thấy rằng, việc hoán đổi tiền tệ cũng giống như việc một công ty phát hành một trái phiếu định danh bằng đồng tiền này, lấy số tiền đó mua lại một trái phiếu của một công ty khác định danh bằng đồng tiền khác. Trong thời gian còn hiệu lực của trái phiếu, công ty sẽ phải nhận lãi bằng đồng tiền này và trả lãi bằng đồng tiền kia. Nhưng sự thật thì công ty không hề phát hành hay mua bất kỳ một trái phiếu nào. Các công ty thực hiện giao dịch hoán đổi nhưng việc thanh toán lại diễn ra giống như giao dịch trái phiếu.

    Hoán đổi tiền tệ là một giao dịch với hai dòng tiền tệ, một dòng tiền bằng đồng tiền này và dòng tiền còn lại bằng một đồng tiền khác. Mỗi dòng tiền dựa trên một số vốn khoái toán khác nhau và mỗi dòng tiền có thể có lãi suất cố định hay thả nổi. Để xác định giá trị của hoán đổi tiền tệ chúng ta phải tìm được hiện giá của hai dòng tiền nay, cả hai được tính bằng một đồng tiền chung. Chúng ta lấy giá trị dòng tiền vào trừ cho giá trị của dòng tiền ra.

    Trong hoán đổi vanilla thuần nhất, chúng ta không hoán đổi vốn khoái toán nhưng trong hoán đổi tiền tệ thì hoán đổi vốn khoái toán có xảy ra. Hai bên giao dịch hoán đổi NPf và NPh vào thời điểm bắt đầu. Hoán đổi này không có giá trị vì hai khoản tiền này là tương đương (NPf = NPh /S0). Khi hoán đổi kết thúc, các bên sẽ đảo ngược lại

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 12

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hoán đổi vốn khoái toán ban đầu. Tuy nhiên, tại thời điểm này thì tỷ giá giao ngay không còn là S0 nữa vì vậy mà hoán đổi vốn khoái toán không còn giá trị tương đương.

    Trong hoán đổi, giả dụ rằng việc thanh toán được thực hiện bằng đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, trước hết chúng ta phải xác định lãi suất cố định của một đồng tiền nào đó (ngoại tệ hoặc nội tệ) mà nó làm cho hiện giá của khoản thanh toán bằng với số vốn khoái toán cơ bản (1 đồng nội tệ hoặc ngoại tệ). Ở đây chúng ta sẽ sử dụng lãi suất cố định của một hoán đổi lãi suất vanilla thuần nhất sử dụng cấu trúc kỳ hạn của ngoại tệ hay nội tệ .

    Mặc dù giá trị của hoán đổi bằng 0 vào thời điểm bắt đầu nhưng sau đó giá trị của nó sẽ thay đổi. Giá trị của hoán đổi tiền tệ được xác định bằng cách tìm hiện giá của hai dòng thanh toán trên một đơn vị khoái toán. Sau đó chúng ta sẽ điều chỉnh giá trị của dòng thanh toán ngoại tệ bằng vốn khoái toán thực tế theo ngoại tệ và sau đó chuyển sang nội tệ theo tỷ giá hối đoái mới.

    Ví dụ minh họa: ta có thể tóm tắt giao dịch hoán đổi giữa công ty XYZ và Ngân hàng

    ACB như sau:

    NPf = 100.000 USD

    NPh = 2.100.000.000 VND

    S0 = 21.000 VND/1USD

    St = 21.050 VND/1USD

    q = 180/360

    Các bước thực hiện

    Bước 1: Tìm lãi suất cố định của hai đồng tiền

    Các cấu trúc kỳ hạn, giá trái phiếu chiết khấu và kết quả lãi suất cố định của hoán đổi được cho như sau:

    Kỳ hạn Lãi suất của USD Giá trái phiếu chiết khấu ( )
           

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 13

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    180 ngày   4,2%                     1/(1+4,2%*(180/360)) = 0,9747      
                                                                                           
    360 ngày   4,2%                     1/(1+4,2%*(360/360)) = 0,9506      
                                                                                           
    540 ngày   5%                       1/(1+5%*(540/360)) = 0,9302      
                                                                                           
    720 ngày   5,3%                     1/(1+5,3%*(720/360)) = 0,9042      
                                                                                           
                                                                                       
        = 360                       1 0,9042               = 5,1%        
                                                                       
        180       0,9747 + 0,9506 + 0,9302 + 0,9042        
                             
                                                                                           
                                                                   
    Kỳ hạn                 Lãi suất của VND                 Giá trái phiếu chiết khấu ( )
                                                               
    180 ngày     12,1%                       1/(1+12,1%*(180/360)) = 0,9430  
                                                               
    360 ngày       12,3%                         1/(1+12,3%*(360/360)) = 0,8905  
                                                                 
    540 ngày       13%                           1/(1+13%*(540/360)) = 0,8368    
                                                               
    720 ngày       13,5%                         1/(1+13,5%*(720/360)) = 0,7874  
                                                                 
                                                           
                =     360                   1 0,7874                 = 12,3%      
                                               
                  180       0,9430 + 0,8905 + 0,8368 + 0,7874      
                                     
                                         
                                                                                           

    Bước 2: Định giá hoán đổi tiền tệ trong suốt đời sống của nó

    Hoán đổi của XYZ – ACB sau khi thực hiện được ba tháng (90 ngày), cấu trúc kỳ hạn mới và giá của trái phiếu zero-coupon của các đồng tiền:

    Kỳ hạn Lãi suất của USD Giá trái phiếu chiết khấu ( )  
             
    90 ngày 4,4% 1/(1+4,4%*(90/360)) = 0,9891    
             
    270 ngày 4,5% 1/(1+4,5%*(270/360)) = 0,9674    
           
             
           
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22 Trang 14  

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

      450 ngày         4.9%   1/(1+4,9%*(450/360)) = 0,9423
                                                 
      630 ngày         5,8%   1/(1+5,8%*(630/360)) = 0,9079
                                             
                                                 
        = (1 + 4,2% 180/360) * 0,9891 = 1,0099    
                                                 
                                     
          =   5,1%         ( 0,9891+ 0,9674 + 0,9423 + 0,9079) + 0,9079  
                     
                                                 
                                     
    = 1,0050                          
                                                 
      Kỳ hạn       Lãi suất của VND Giá trái phiếu chiết khấu ( )
                                               
      90 ngày     12,1%   1/(1+12,1%*(90/360)) = 0,9706  
                                               
      270 ngày     12,4%   1/(1+12,4%*(270/360)) = 0,9149  
                                               
      450 ngày     13,1%   1/(1+13,1%*(450/360)) = 0,8593  
                                               
      630 ngày     13,7%   1/(1+13,7%*(630/360)) = 0,8066  
                                             
                                         
      = (1 + 12,1% 180/360) * 0,9706 = 1,0293      
                                               
                                 
        =   12,3%         ( 0,9706+ 0,9149 + 0,8593 + 0,8066) + 0,8066    
                     
                                               
                                     
    = 1,0250                            
                                               

    Giá trị số vốn khái toán thực tế của hoán đổi:

    USD                                                               VND

    Thả nổi 100.000 * 1,0099 = 100.990 2.100.000.000 * 1,0293 =

    2.161.530.000

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 15

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Cố định 100.000 * 1,0050 = 100.500 2.100.000.000 * 1,0250 =
        2.152.500.000      
               

    Giá trị thuần của hai dòng tiền thực tế được chuyển giá trị của hai dòng tiền về một dòng tiền chung:

        USD      
               
        Thả nổi   Cố định  
               
      Thả 2.161.530.000/21.050 2.161.530.000/21.050 – 100.500  
      nổi 100.990 = 1.695,51 USD   = 2.185,51 USD  
           
    VND          
    Cố 2.152.500.000/21050 2.152.500.000/21050 – 100.500  
     
      định 100990 = 1.266,53 USD   = 1.756,53 USD  
           
               

    1.5 Ứng dụng hoán đổi tiền tệ

     

     

     

    Có thể thấy ứng dụng của giao dịch hoán đổi trong thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, tuỳ điều kiện cụ thể mà mỗi nhóm chủ thể trên tham gia giao dịch hoán đổi với một hoặc nhiều mục đích khác nhau nhưng đều dựa trên đặc trưng của loại hình giao dịch này nhằm tránh được rủi ro tỉ giá.

    1.5.1 Tuần hoàn trạng thái luồng tiền trong thanh toán quốc tế

    Đối với các nhà XNK, việc bỏ vốn ra bằng đồng tiền này và thu về đồng tiền khác nếu không cân đối sẽ tạo ra trạng thái ngoại hối ròng và phát sinh rủi ro nếu tỉ giá tăng trong khi chuẩn bị phải thanh toán một hợp đồng nhập khẩu bằng ngoại tệ và ngược lại, nếu tỉ giá giảm khi một hợp đồng xuất khẩu sắp đến hạn.

    Trong thực tế, họ sử dụng hợp đồng mua bán ngoại tệ kì hạn một chiều (Outright forward), đến hạn cùng thời điểm giao hàng nhằm bảo hiểm cho các khoản thu chi trong kế hoạch. Họ chỉ sử dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối trong các trường hợp.

    Thứ nhất, trong hoạt động kinh doanh tổng hợp xuất – nhập khẩu, nếu có luồng tiền vào và ra đối với cùng một đồng tiền vào các thời điểm khác nhau, một hợp đồng

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 16

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hoán đổi ngoại hối kì hạn – kì hạn cũng tương đương với hai hợp đồng kì hạn riêng biệt ngược chiều và có giá trị bằng nhau.

    Thứ hai, không phải lúc nào việc giao hàng cũng đúng hẹn, đôi khi sớm hơn hoặc muộn hơn thoả thuận, làm phát sinh rủi ro lãi suất. Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối được sử dụng để tuần hoàn trạng thái tiền tệ trong khoảng thời gian chênh lệch đó.

     Kéo dài trạng thái tiền tệ

    Ví dụ: Công ty Toyota Việt Nam đã kí với Vietcombank một hợp đồng kì hạn 3 tháng mua JPY để bảo hiểm cho khoản linh kiện nhập khẩu dự tính từ Nhật. Tuy nhiên tàu chở hàng sẽ đến muộn một tháng, lúc này công ty phải xử lí rủi ro lãi suất, đồng thời kéo dài trạng thái JPY thêm 1 tháng mà không sợ rủi ro tỉ giá. Toyota có thể kí thêm một hợp đồng hoán đổi với VCB, trong đó công ty bán số JPY cho VCB tại thời điểm hợp đồng kì hạn cũ đáo hạn và mua lại sau 1 tháng để thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu. Các luồng tiền và trạng thái ngoại hối có thể biểu diễn đơn giản như sau:

    Thời     Trạng thái luồng tiền Trạng thái ngoại hối
      Giao dịch        
    điểm          
      USD VND USD VND
       
         
                 
        Trạng thái đầu ngày +    
    Hợp            
      Vế bán giao ngay USD + +
    đồng kỳ
    hạn đến          
    Vế mua kỳ hạn USD     +
    hạn            
        Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0
                 
    Sau 1 Thực hiện mua kỳ hạn +    
    tháng   USD    
             
                 
        Trạng thái cuối ngày + 0 0
                 

    Nhìn vào bảng ta thấy, trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền sau 1 tháng là giống như trạng thái đầu ngày hôm nay. Nói khác đi chúng ta sử dụng nghiệp vụ hoán

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 17

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    đổi để tuần hoàn trạng thái tiền tệ và trạng thái ngoại hối của các đồng tiền. Nếu trong trường hợp trên thay vì nhập khẩu công ty xuất khẩu một lô hàng và nhận được khoản thanh toán hàng xuất khẩu trước hạn công ty cũng có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối tương tự .

     Rút ngắn trạng thái tiền tệ

    Các hợp đồng hoán đổi cũng được sử dụng để rút ngắn thời hạn các luồng tiền . Nếu ở trên công ty Toyota xuất khẩu 1 lô hàng và kí hợp đồng bán kì hạn JPY 3 tháng với VCB nhằm bảo hiểm cho khoản thu xuất khẩu. Theo dự tính, còn 1 tháng nữa công ty mới đuợc thanh toán, nhưng hôm nay công ty đã nhận được khoản tiền hàng . Do đó công ty muốn rút ngắn kì hạn hợp đồng kì hạn ngay ngày hôm nay, nghĩa là xử lí sao cho không có bất cứ luồng tiền nào xảy ra tại thời điểm sau 1 tháng, khi hợp đồng kì hạn đáo hạn . Công ty liền tiến hành 1 giao dịch swap ngay thời điểm ngày hôm nay, trong đó bán giao ngay JPY và mua lại kì hạn 1 tháng lượng JPY đó. Như vậy, thông qua nghiệp vụ hoán đổi các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có thể kéo dài hay rút ngắn trạng thái các tiền tệ. Do tỉ giá giao ngay ảnh hưởng không đáng kể tới giá trị kinh tế của hợp đồng hoán đổi nên ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận áp dụng tỉ giá giao ngay trong hợp đồng kì hạn cũ cho hợp đồng hoán đổi, nhằm đơn giản hoá các khoản thanh toán, nhất là khi tỉ giá giao ngay trên thị trường có nhiều biến động.

          Trạng thái luồng tiền Trạng thái ngoại hối  
    Thời điểm Giao dịch            
    USD VND USD VND  
         
                     
        Vế bán giao ngay USD + +    
    Trước 1              
    Vế mua kỳ hạn USD     +    
    tháng          
                   
                     
        Trạng thái cuối ngày + 0 0    
                     
    Hợp đồng Trạng thái đầu ngày +        
                 
    kỳ hạn đến              
    Thực hiện  mua  kỳ hạn +        
                 
                     
                 
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22     Trang 18    

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    hạn                      USD

    Trạng thái cuối ngày 0 0 0 0

    1.5.2 Ứng dụng trong các khoản đầu tư quốc tế

    Khi thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối không hoàn toàn đồng nhất, nhà đầu tư có thể tăng thu nhập khi chuyển đổi đồng tiền đầu tư, và họ có thể áp dụng giao dịch hoán đổi ngoại hối thay cho một giao dịch mua giao ngay và một bán kì hạn đồng tiền đầu tư. Nếu giá trị bán ra không bằng giá trị mua vào mà gồm cả khoản lãi thì gọi là giao dịch đầu tư hoán đổi (investment swap). Phương thức này nhiều khi có lợi do tránh được qui chế và phí tín dụng.

    Ví dụ: Tỉ giá giao ngay trên thị trường      S(USD/JPY) = 104,95 – 105,05

    RJPY = 2,2 – 2,8%/năm

    RUSD = 6,0 – 6,5%/năm

    F3t (USD/JPY) = 104,40-104,70

    Sau khi tính toán các mức tỉ giá giao ngay, kì hạn và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền, nhà đầu tư quyết định đầu tư bằng đồng USD bằng khoản vốn gốc JPY . Qui trình bảo hiểm khoản thu thông qua giao dịch hoán đổi mua giao ngay 1 USD và bán kì hạn gốc cùng lãi của 1 USD đó sau 3 tháng như sau:

    Thời điểm Nghiệp vụ giao dịch Trạng thái luồn tiền   Tỷ giá
          Lãi suất
    USD JPY  
         
                 
      1. Đi vay JPY   +105,5   2,8%  
    Hôm nay            
    2. Vế mua giao ngay USD +1 -105,5   105,05  
         
               
                 
               
    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22   Trang 19  

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

      3. Đầu tư USD   6%
             
      Trạng thái cuối ngày 0 0  
             
      4. Thu về gốc+lãi USD +1,015    
             
      5. Vế bán kỳ hạn USD -1,015 +105,97 104,40
    Sau 3 tháng        
    6. và Trả gốc lãi JPY   -105,79  
         
             
      Trạng thái ròng   +0,18  
             

    Quan sát ta thấy kết quả cuối cùng cho trạng thái luồng tiền JPY ròng là dương 0,18 JPY. Cho thấy sức hấp dẫn của giao dịch hoán đổi đối với các nhà đầu tư quốc tế là nó có thể mang lại mức lãi suất cao hơn và nó có thể phòng ngừa được rủi ro về tỉ giá.

    1.6      Những rủi ro của giao dịch hoán đổi tiền tệ

    Hoán đổi tiền tệ về bản chất là một nghiệp vụ ngoại hối phái sinh, và được tiến hành giao dịch trên thị trường ngoại hối . Tuy nhiên bên cạnh đó, còn có rất nhiều nghiệp vụ hoán đổi khác đã ra đời như hoán đổi lãi suất, hoán đổi hàng hoá, hoán đổi chỉ số chứng khoán….Chúng là các sản phẩm phái sinh về ngoại hối, lãi suất, hàng hoá

    hay chứng khoán…nghĩa là mức giá cả của chúng biến động phụ thuộc vào tỉ giá, lãi suất, giá hàng hoá hay một số chỉ số khác…Ngoài những ứng dụng vào thực tế giúp nhà đầu tư quản trị được rủi ro của họ, giao dịch hoán đổi cũng tồn tại những hạn chế nhất định.

    1.6.1 Rủi ro tín dụng

    Rủi ro tín dụng trong giao dịch hoán đổi ngoại hối là khi vế giao dịch kì hạn bị huỷ bỏ không thực hiện, trạng thái luồng tiền không được xử lí, trạng thái ngoại hối ròng phát sinh, buộc ngân hàng phải nhanh chóng cân đối bằng một nghiệp vụ kì hạn một chiều hoặc giao ngay tương ứng. Rủi ro lãi suất thì có thể xử lí thông qua thị trường tiền tệ hoặc thị trường ngoại hối, nhưng rủi ro tín dụng chỉ có thể xử lí bằng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối mà thôi.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 20

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    1.6.2 Rủi ro về giá

    Ngoài ra, trong giao dịch hoán đổi ngoại hối cũng còn tồn tại rủi ro về giá, nghĩa là khả năng tỉ giá giao ngay trên thị trường vào thời điểm hợp đồng đáo hạn không biến động đúng như dự tính, và chênh lệch với tỉ giá kì hạn hoán đổi thoả thuận trong hợp đồng theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng. Tuy nhiên trên các thị trường tài chính phát triển, sự liên kết chặt chẽ giữa thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, cùng với các hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm luôn đưa thị trường về trạng thái cân bằng và rủi ro này hầu như không có.

    1.7      Lợi ích

    Sử dụng hợp đồng hoán đổi có thể hạ thấp chi phí vay vốn cho các thành viên tham gia bằng nhiều cách như tận dụng ưu thế tương đối trong vay vốn, hạ thấp chi phí thông qua phòng ngừa rủi ro, khai thác sự chênh lệch thuế khóa.

    1.7.1 Tận dụng ưu thế tương đối

    Sự không hoàn hảo của thị trường gây ra sự chênh lệch chi phí vay vốn ở các thị trường khác nhau. Chẳng hạn, trên thị trường vốn nội địa các công ty trong nước thường có ưu thế tương đối hơn các công ty nước ngoài, do đó, có thể vay vốn với chi phí thấp hơn các công ty nước ngoài. Hơn nữa, sự đánh giá của ngân hàng và thị trường về uy tín trong vay vốn của các khách hàng vay cũng thường khác nhau. Điều này kích thích việc sử dụng hợp đồng hoán đổi để tận dụng ưu thế tương đối của từng khách hàng trong quan hệ vay vốn. Ví dụ nhờ có quan hệ tốt, công ty A có thể vay USD từ Ngân hàng A trong khi công ty B có thể vay JPY từ Ngân hàng B thấp 50 điểm so với lãi suất thị trường. Mặt khác công ty A đang cần JPY trong khi công ty B lại cần USD. Trong hoàn cảnh này, công ty A nên vay từ Ngân A và công ty B nên vay từ Ngân hàng B, sau đó sử dụng hợp đồng hoán đổi để có được đồng tiền mong đợi nhưng với một chi phí thấp hơn.

    1.7.2 Hạ thấp chi phí thông qua phòng ngừa rủi ro

    Phòng ngừa rủi ro có thể hạ thấp chi phí vay vốn bởi vì nó cắt giảm sự không chắc chắn của dòng tiền tệ và xác xuất thay đổi bất lợi của tài sản có và tài sản nợ, và do đó làm cho công ty uy tín hơn trong vay mượn. Hơn nữa, nhờ có phòng ngừa rủi ro và gia

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 21

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    tăng uy tín nên công ty có thể vay vốn với số lượng lớn. Điều này cũng góp phần hạ thấp chi phí nhờ tận dụng ưu thế về qui mô (economies of scale).

    1.7.3 Khai thác sự khác biệt về các qui định và thuế

    Điều này có thể minh họa bằng ví dụ sau đây. Một công ty Nhật muốn phát hành trái phiếu có lãi suất cố định với thời hạn 10 năm nhưng chính phủ áp dụng thuế lợi tức và qui định chặt chẽ hơn nếu trái phiếu phát hành trên thị trường Nhật và bằng JPY, trong khi đó nếu phát hành Eurobond bằng USD thì không phải chịu thuế lợi tức và thủ tục đơn giản hơn. Hơn nữa, Eurobond bằng USD dễ được thị trường chấp nhận hơn là trái phiếu bằng JPY. Trong trường hợp này, công ty nên phát hành Eurobond để tận dụng những ưu thế của thị trường Eurobond và tiến hành hợp đồng hoán đổi để có được JPY như mong muốn.

    CHƯƠNG II: THỰC TIỄN HOÁN ĐỔI TIỀN TỆ

    2.1 Tập đoàn Carton với hợp đồng hoán đổi đô la thả nổi lấy Swiss Francs cố định

    Thời điểm ban đầu

    Carlton huy động $10,000,000 bằng một khoản nợ với lãi suất thả nổi.

    Carlton có dòng thu bằng đồng Swiss Francs (sales contract), vì vậy Carlton mong muốn thực hiện hợp đồng hoán đổi tiền tệ bằng việc hoàn trả bằng đồng Swiss Francs với lãi suất cố định.

    Carlton ký kết hợp đồng có thời hạn 3 năm với điều kiện trả Swiss Francs và nhận về USD.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 22

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    NP$ = $10,000,000
    S0Sfr = 1.50000/ $
    Rask (Sfr) = 2.01%
    RBid ($) = 5.56%

    Carlton’s Currency Swap: Pay Swiss Francs and Receive U.S.Dollars

      Year 0 Year 1 Year 2 Year 3
              5.56% 5.56% 5.56%
      RBid ($) = 5.56%  
                 
                       
    $ 10,000,000                
        $556,000 $556,000 $10,556,000
             
      S0Sfr 1.5000/ $      
          2.01 % 2.01 % 2.01 %
             
      SSfr 15,000,000      
                   
                   
               
      Rask (Sfr)  = 2.01% SSfr 301,500 SSfr 301,500 SSfr 15,301,500
                       
                       

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Thời điểm tất toán hợp đồng trước hạn

    Hoán đổi tiền tệ đòi hỏi tính toán duy trì một dòng tiền dưới dạng một hợp đồng hoán đổi với mức lãi suất hiện tại, sau đó sẽ quy đổi ra loại tiền mục tiêu (Swiss Francs) sang bản tệ của Carlton (USD).

    Giả định sau 1 năm, hợp đồng bán hàng của Carlton hết hạn, Carlton sẽ chấm dứt hoặc mở rộng hoán đổi với thỏa thuận trước đó. Tại thời điểm tất toán hợp đồng hoán đổi, Carlton có 2 khoản phải trả trong hợp đồng hoán đổi là:

    Lãi: 301,5000fr

    Vốn và lãi: 15,301,500fr

    Với lãi suất đối với Sfr là 2%, hiện giá dòng tiền ký kết của Calton đối với Swiss Francs là:

    301,500                        15,301,500

    • (1.020) +   (1.020)=    15,002,912

    Cùng thời điểm đó, hiện giá của dòng tiền duy trì đối với USD trong hợp đồng hoán đổi với lãi suất 5.5%.

    ($) = $556,000 + $10,556,000 = $10,011,078
           
    (1.055)   (1.055)  
    Vậy Hiện giá dòng tiền vào: PV($) = $10,001,078.  
    Hiện giá dòng tiền ra : PV(Sfr) = Sfr 10,011,078
    Tỷ giá giao ngay SSfr   = 1.4650/$  
          15,002,912
    = $10,011,078 −   = ($229,818)
    1.4650/$

    Giá trị sổ sách của hợp đồng hoán đổi lúc này là: ($229,818), thể hiện việc hoán đổi này làm Calton lỗ một khoản là $229,818.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 24

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    2.2      Rủi ro đối tác

    Là khả năng một bên của hợp đồng tài chính khó thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với những điều kiện của hợp đồng tại thời điểm hiện tại.

    Là một trong những nhân tố chính dẫn đến việc sử dụng các hợp đồng phái sinh trên thị trường niêm yết chứ không phải thông qua thị trường OTC.

    Hầu hết các sở giao dịch, chẳng hạn như Philadelphia Stock Exchange hay Chicago Mercantile Exchange đều là đối tác cho tất cả giao dịch.

    Rủi ro thực tế nhất đối với một hoán đổi lãi suất hay tiền tệ không phải là khoản vốn khái toán mà là giá trị gắn với thị trường của những khoản chênh lệch thanh toán lãi suất.

    2.3      Kết luận

    Các công ty thường có nhu cầu nợ tại một vài thị trường, cho phép họ huy động vốn với mức lãi suất thấp hơn các thị trường khác.

    Do vậy, ngày càng nhiều các công ty phải đối mặt với các nghĩa vụ nợ bằng những đồng tiền khác nhau mà không đúng với hoạt động thông thường của họ.

    Kết quả của việc phát hành nợ thường đi kèm với các thỏa thuận hoán đổi.

    2.4 Liên hệ thực tiễn

    2.4.1 Hoán đổi tiền tệ trên thế giới

     Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cơ cấu giao dịch hoán đổi tiền tệ được sử dụng bởi Hoa Kỳ thông qua Hệ thống Dự trữ Liên bang để thiết lập các giao dịch hoán đổi thanh khoản với ngân hàng trung ương. Mục đích của giao dịch hoán đổi thanh khoản của ngân hàng trung ương là “cung cấp thanh khoản bằng đô la Mỹ cho thị trường nước ngoài”. Trong khi các ngân hàng trung ương giao dịch hoán đổi thanh khoản và hoán đổi tiền tệ có cấu trúc, hoán đổi tiền tệ cùng một giao dịch thương mại được thúc đẩy bởi lợi thế so sánh, trong khi tính thanh khoản của ngân hàng trung ương chính là các giao dịch hoán đổi tiền tệ của các khoản vay khẩn cấp bằng đồng đô la Mỹ trên thị trường nước ngoài.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 25

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

     Trong tháng 5 năm 2011, Charles Munger của Berkshire Hathaway Inc cáo buộc các ngân hàng đầu tư quốc tế tạo điều kiện lạm dụng thị trường của các chính phủ quốc gia. Ví dụ như Goldman Sachs đã giúp Hy Lạp huy động khoảng 1 tỷ đồng kinh phí thể hiện trên bảng cân đối kế toán năm 2002 thông qua một trao đổi tiền tệ, cho phép chính phủ để che giấu nợ.

     Ngày 29/12/2011, Ấn Độ và Nhật Bản đã ký một thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá đến 15 tỉ USD nhằm thúc đẩy hợp tác tài chính song phương. Các giao dịch hoán đổi được kỳ vọng sẽ hỗ trợ đồng rupee của Ấn Độ vì đồng tiền này đang tiếp tục suy yếu so với đồng USD, khi khủng hoảng nợ công Châu Âu khiến xuất khẩu của Ấn Độ bị suy giảm đáng kể. Với thỏa thuận này, hai nước sẽ có thể đổi đồng tiền tệ quốc gia lấy đồng USD, cũng như được sử dụng quỹ dự trữ nước ngoài của nhau để làm giảm bớt các vấn đề về tiền mặt. Bước đi này mở ra cơ hội để các tập đoàn Ấn Độ có thể vay bằng yen với lãi suất thấp do ngân hàng Trung ương Nhật đã giữ lãi suất gần bằng 0 trong mười năm qua.

     Ngày 3/5/2012, 10 thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và ba nước đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO). Một trong những nhiệm vụ của AMRO là giám sát những ảnh hưởng có thể có của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tới khu vực này. Cùng với việc nghiên cứu và tham vấn cho các chính phủ về các chính sách kinh tế và tài chính, AMRO sẽ có các nhiệm vụ khác như nghiên cứu khả năng hoán đổi tiền tệ mang tính phòng ngừa) đã quyết định tăng gấp đôi quỹ hoán đổi tiền tệ ngăn ngừa khủng hoảng tài chính từ 120 tỷ USD lên 240 tỷ USD. Theo đó, Nhật Bản sẽ tăng phần đóng góp lên 76,8 tỷ USD (chiếm 32% quỹ), ngang với nước đóng góp nhiều nhất là Trung Quốc.

    Quyết định trên được đưa ra tại Hội nghị bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng ASEAN+3 lần thứ 15 diễn ra ở Manila (Philíppin) khi các đại biểu đều nhất trí rằng, nền kinh tế ASEAN+3 vẫn duy trì được mức tăng trưởng, song đang phải chịu nhiều tác động từ tình trạng lạm phát gia tăng và đặc biệt là cuộc khủng hoảng nợ công ở Khu vực đồng euro (Eurozone). Theo Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc Pahk

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 26

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Jaewan, ASEAN+3 có thể phải sử dụng tới quỹ hoán đổi tiền tệ lần đầu tiên nếu cuộc khủng hoảng ở Eurozone dẫn tới tình trạng rút vốn ồ ạt khỏi châu Á.

    Quỹ hoán đổi tiền tệ nằm trong chương trình Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (CMIM), theo đó, khi xảy ra khủng hoảng, các nước gặp khó khăn có thể hoán đổi đồng nội tệ với đồng USD.

     Ngày 19/06/2012, Đài truyền hình NHK của Nhật Bản cho biết, nhóm 5 nền kinh tế mới nổi gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, gọi tắt là BRICS vừa đồng ý cung cấp cho nhau ngoại tệ trong trường hợp bất cứ thành viên nào trong nhóm hứng chịu tác động từ cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực các nước sử dụng đồng euro.

    Các nhà lãnh đạo BRICS đã đạt được sự đồng thuận trên tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi G20 tại thành phố biển Los Cabos của Mexico. Biện pháp hoán đổi tiền tệ như vậy được xem là cần thiết để giúp những nước thiếu hụt ngoại tệ có ngoại tệ dùng can thiệp vào thị trường.

    Ngoài ra, các nhà lãnh đạo BRICS còn xem xét việc thành lập một ngân hàng chung nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển ở châu Á cũng như ở những khu vực khác.

    Các nước phát triển trong G20 cho biết, họ cảm thấy ấn tượng trước sự hợp tác ngày càng năng động của BRICS.

     Kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối năm 2008, Trung Quốc đã phát động một chiến dịch mạnh mẽ với mục tiêu “ngoại giao hoán đổi tiền tệ” và ký kết khoảng 20 hiệp định tương tự như trên trong vòng 4 năm qua với các nước trên thế giới, từ Argentina đến Australia và các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất với tổng trị giá ít nhất 1.500 tỷ Nhân dân tệ (238 tỷ USD) để thúc đẩy thương mại và đầu tư của Trung Quốc với các nền kinh tế đó. Các giao dịch hoán đổi tiền tệ là những bước đầu tiên để đồng nhân dân tệ chuyển đổi sang một đồng tiền toàn cầu

    22/03/2012, Ngân hàng Trung ương Australia đã ký thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá 30 tỷ đô la Australia (31,2 tỷ USD) với Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, thêm

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 27

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    ví dụ cho thấy quá trình quốc tế hóa của đồng nhân dân tệ và liên kết thương mại ngày càng tăng giữa 2 nước.Thỏa thuận sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại và đầu tư, đồng thời hỗ trợ thanh thoán thương mại bằng nhân dân tệ

    21/06/2012, Brazil và Trung Quốc nhất trí xây dựng một thỏa thuận hoán đổi đồng nội tệ giá trị 30 tỷ USD. Theo thỏa thuận, Brazil có thể rút từ Ngân hàng Trung ương Trung Quốc số tiền trên bằng đồng Nhân dân tệ và sử dụng như nguồn dự trữ hoặc thanh toán hoạt động thương mại, và Trung Quốc tương tự cũng có thể thực hiện điều đó với Ngân hàng Trung ương Brazil

    Ngày 26/6/2012, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Quốc gia Ukraine đã ký thỏa thuận hoán đổi tiền tệ với tổng giá trị 15 tỷ nhân dân tệ, tương đương 2,38 tỷ USD. Thỏa thuận có thời hạn ban đầu là 3 năm và có thể gia hạn nếu hai bên nhất trí.

    2.4.2 Hoán đổi tiền tệ ở Việt Nam

    • Việt Nam giao dịch hoán đổi chính thức ra đời từ khi Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998. Theo quyết định này, giao dịch hoán đổi là giao dịch hối

    đoái bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng.

    Ngày 11/10/2001, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (SWAP) xuống còn 1 ngày làm việc, giảm 3 ngày so với trước đây. Động thái này được đưa ra sau khi nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài thông báo họ chưa sử dụng được nghiệp vụ SWAP do thủ tục xét duyệt và thời gian chuyển tiền của Ngân hàng Trung ương kéo dài.

    Tuy nhiên, quyết định trên chỉ áp dụng với các giao dịch hoán đổi ngoại tệ có giá trị đến 20 triệu USD. Trường hợp các giao dịch có giá trị trên 20 triệu USD, trong vòng 1 ngày làm việc, Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ trình Thống đốc xem xét, quyết định.

    Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng từ ngày 17/7, nhằm hỗ trợ các ngân hàng trong trường hợp thiếu hụt tạm thời vốn khả dụng.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 28

     

    Hoán đổi ngoại tệ                                                                         GVDH: PGS. TS Trương Thị Hồng

    Thông tư số 02/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 27/02/2012, Hướng dẫn giao dịch hối đoái giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

    Hiện tại có một số ngân hàng thương mại như BIDV, MHB, ACB…đã có giao dịch hoán đổi tiền tệ.

    Nhóm 4.2–CHNH-Đêm 1-K22                                                                                               Trang 29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ Việt Nam

    I. LÝ THUYẾT VỀ QUYỀN CHỌN VÀ QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ:

    1.     Khái niệm về quyền chọn:

    1.1. Định nghĩa về quyền chọn:

    • Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bị bắt buộc phải bán hoặc mua một tài sản cơ sở (underlying asset) nào đó ở một mức giá xác định (strike price hoặc exercise price) vào một ngày đáo hạn (expiration date) hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. Ngược lại, đối với người bán quyền chọn, họ bắt buộc phải mua hoặc bán một tài sản cơ sở nào đó ở một mức giá xác định vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai theo thỏa thuận giữa hai bên.

    1.2. Một số thuật ngữ liên quan:

    1.2.1. Thuật ngữ liên quan đến các đối tượng của Hợp đồng quyền chọn:

    • Người mua quyền (holders): là người bỏ ra chi phí để được nắm giữ quyền chọn và có quyền yêu cầu người bán thực hiện quyền chọn theo ý mình.
    • Người bán quyền (writer): là người nhận chi phí mua quyền của người mua quyền, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu cầu của người mua.
    • Tài sản cơ sở (underlying asset): là tài sản mà dựa vào đó quyền chọn được thực hiện, giá cả thị trường của tài sản cơ sở là căn cứ xác định giá trị quyền chọn.
    • Tỷ giá thực hiện (strike price hoặc exercise price): là tỷ giá áp dụng nếu quyền chọn được thực hiện
    • Trị giá hợp đồng quyền chọn (volume): là trị giá được chuẩn hóa theo từng loại ngoại tệ và thị trường giao dịch.
    • Thời hạn quyền chọn (maturity): là thời hạn hiệu lực của quyền chọn, quá thời hạn thì hợp đồng vô giá trị.
    • Phí quyền chọn (premium): là chi phí mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền để sở hữu quyền chọn

    1.2.2. Thuật ngữ về giá trị nhận được của quyền chọn:

    Gọi T là thời điểm đáo hạn, ST là giá trị thị trường của tài sản cơ sở vào lúc đáo hạn, X là giá thực hiện và VT là giá trị nhận được của quyền chọn vào lúc đáo hạn

    5

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Ngang giá quyền chọn (at the money – ATM): Vào thời điểm đáo hạn hay bất kỳ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở bằng giá thực hiện (S=X) ta gọi là quyền chọn là hoà tiền
    • Được giá quyền chọn (in the money – ITM): Vào thời điểm đáo hạn hay bất kỳ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X) đối với quyền chọn mua ta gọi là quyền chọn mua có lời và ngược lại nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S<X) đối với quyền chọn bán ta gọi là quyền chọn bán có lời.
    • Giảm giá quyền chọn (out of the money – OTM): Vào thời điểm đáo hạn hay bất kỳ thời điểm nào khi quyền chọn còn hiệu lực, nếu giá tài sản cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S<X) đối với quyền chọn mua ta gọi là quyền chọn mua không có lời và ngược lại nếu giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X) đối với quyền chọn bán ta gọi là quyền chọn bán không có lời.

    2.                 Phân loại Hợp đồng quyền chọn (Options):

    2.1. Theo quyền của người mua:

    2.1.1. Hợp đồng quyền chọn mua (Call options):

    • Mua quyền chọn mua: vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X. Nếu mua trên thị trường, người mua sẽ trả với giá ST. Trường hợp ST>X, nếu thực hiện quyền người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X, trong khi nếu ra thị trường thì phải mua với giá ST>X. Khoản lợi nhuận thu được là ST – X>0; như vậy nếu ST>X thì người mua quyền chọn sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = ST –X. Trong trường hợp ngược lại khi ST<= X, nếu thực hiện quyền người mua sẽ mua tài sản cơ sở với giá X trong khi hoàn toàn có thể ra thị trường mua với giá ST<=X; như vậy nếu ST<=X thì người mua sẽ không thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = 0

    6

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người mua quyền chọn mua vào lúc đáo hạn là: VT = max[(ST – X);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên.

    Ví dụ: trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM ở trên, giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền sẽ được lợi. Anh ta thực hiện quyền và mua 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD. Nếu không có quyền, anh ta sẽ phải mua trên thị trường với giá 60 USD. Khoản lợi mà anh ta thu được bằng ST – X = 10 USD trên 1 cổ phiếu IBM . Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD. Nếu thực hiện quyền, người nắm giữ quyền sẽ mua 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi nếu mua trên thị trường thì chỉ phải trả giá 40 USD. Như vậy, người giữ quyền sẽ không thực hiện quyền và giá trị anh ta nhận được bằng 0.

    • Bán quyền chọn mua: như đã trình bày, vào lúc đáo hạn, nếu ST > X thì người mua quyền chọn mua sẽ thực hiện quyền, tức là mua tài sản cơ sở. Trong trường hợp đó, người bán quyền chọn mua sẽ phải bán tài sản cơ sở cho người mua quyền ở mức giá X, trong khi lẽ ra có thể bán ra thị trường với giá ST. Người bán quyền chọn mua bị lỗ ST – X, hay nhận được giá trị VT = X – ST. Nếu ST <= X, người mua quyền chọn mua sẽ không thực hiện quyền và như vậy thì giá trị mà người bán quyền chọn mua nhận được là VT = 0.

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người bán quyền chọn mua vào lúc đáo hạn là: VT = min[(X – ST);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên.

    7

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Ví dụ: trong quyền chọn mua cổ phiếu IBM, nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền sẽ thực hiện quyền và được lợi 10USD/cổ phiếu. Ngược lại, người bán quyền sẽ bị thiệt 10 USD/cổ phiếu, do phải bán cho người mua với giá X=50 USD trong khi có thể bán ra thị trường với giá 60 USD. Còn nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD, thì người mua sẽ không thực hiện quyền. Người bán quyền nhận được giá trị bằng 0.

    2.1.2. Hợp đồng quyền chọn bán (Put options):

    • Mua quyền chọn bán: vào lúc đáo hạn, nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X. Còn nếu bán trên thị trường, thì mức giá là ST. Trường hợp ST >= X. Nếu thực hiện quyền người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X, trong khi nếu ra thị trường thì sẽ bán được với giá ST >=X. Như vậy, nếu ST >= X, người mua quyền chọn

    bán sẽ không thực quyền và nhận giá trị VT = 0. Trường hợp ST < X. Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán tài sản cơ sở với giá X, trong khi ra thị trường thì phải bán với giá ST < X. Như vậy, nếu ST < X, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và nhận được giá trị VT = X – ST.

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người mua quyền chọn bán vào lúc đáo hạn là: VT = max[(X – ST);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên

    Ví dụ: Quyền chọn bán cổ phiếu IBM có giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền chọn bán sẽ không được lợi gì, vì nếu thực hiện quyền, anh ta sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi có thể ra thị trường để bán với giá 60 USD. Như vậy, quyền sẽ không được thực hiện và giá trị nhận được bằng 0. Ngược lại, giả sử vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD. Nếu thực hiện quyền, người mua quyền chọn bán sẽ bán 1 cổ phiếu IBM với giá 50 USD, trong khi nếu bán trên thị trường thì chỉ có thể bán với giá

    8

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    40 USD. Như vậy, người có quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền và khoản lợi anh ta nhận được là 10 USD.

    • Bán quyền chọn bán: Nếu ST >= X, ta biết rằng người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền và người bán quyền chọn bán cũng nhận giá trị VT = 0. Nếu ST < X, người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện quyền, và người bán quyền chọn bán sẽ buộc phải mua tài sản cơ sở với giá X trong khi lẽ ra có thể mua trên thị trường với giá ST. Như vậy, nếu ST < X, người bán quyền chọn bán sẽ bị lỗ hay nhận được giá trị VT = ST – X.

    Tóm lại, giá trị nhận được đối với người bán quyền chọn bán vào lúc đáo hạn là: VT = min[(ST – X);0]. Giá trị nhận được này được biểu diễn bằng được gấp khúc tô đậm trong hình trên.

    Ví dụ: Quyền chọn bán cổ phiếu IBM có giá thực hiện X = 50 USD. Nếu vào ngày đáo hạn 31/05/2012, giá cổ phiếu IBM là ST = 60 USD, thì người mua quyền chọn bán sẽ không thực hiện quyền và cả người mua lẫn người bán quyền chọn bán nhận được giá trị bằng 0. Nếu giá cổ phiếu IBM là ST = 40 USD vào ngày đáo hạn thì người mua quyền chọn bán chắc chắn sẽ thực hiện quyền và người bán quyền chọn bán phải mua tài sản cơ sở với giá 50 USD, trong khi có thể ra mua trên thị trường với giá 40 USD. Như vậy, người bán quyền chọn bán sẽ bị lỗ 10 USD.

    *Phí của quyền chọn: Trong các trường hợp trên, ta thấy giá trị mà người mua quyền (chọn mua hay chọn bán) nhận được (VT) không bao giờ có giá trị âm, tức là không bao giờ bị lỗ. Còn giá trị người bán quyền nhận được không bao giờ có giá trị dương, tức là không bao giờ có lời. Điều này có vẻ như người mua quyền được lợi còn người bán quyền thì bị thiệt. Nhưng thực tế không phải như vậy. Vì quyền chọn là tài sản có giá trị đối với người nắm giữ nó nên để có được quyền, người mua quyền phải trả một khoản tiền (gọi là phí hay giá của quyền chọn) cho người bán quyền. Mức phí này được thanh toán ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn. Tính cả mức giá (C) này vào giá trị nhận được, thì 4 đồ thị ở trên sẽ có dạng như sau:

    9

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    2.2. Theo thời điểm thực hiện quyền chọn:

    • Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options) là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vào ngày đáo hạn.

     

    • Quyền chọn kiểu Mỹ (American options) là quyền chọn cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận (trong thời gian hiệu lực của hợp đồng).
    • Quyền chọn kiểu Á (Asian options) là loại quyền chọn mà việc thanh toán phụ thuộc vào giá trung bình của những tài sản cơ sở trong một thời kì nhất định chứ không phải là thời điểm đáo hạn, nó còn được gọi là quyền chọn trung bình

    2.3. Theo thị trường giao dịch:

    • Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường chứng khoán New York…Do đó, tính

    10

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    minh bạch của thị trường rất cao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợp đồng giao dịch được công bố chi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác. Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, điều này cho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các thị trường tập trung kiểu này. Trên thế giới, thị trường giao dịch quyền chọn theo kiểu này chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới.

    • Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): là thỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung. Hợp đồng thường được giao dịch giữa các đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp. Do các hợp đồng quyền chọn không được chuẩn hóa, chi tiết của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rất cao, đáp ứng được các nhu cầu cá biệt của các khách hàng. Dù vậy, các giao dịch quyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới.

    2.4. Theo tài sản cơ sở:

    Theo cách phân loại này thì có vô số loại hợp đồng quyền chọn, vì trên lý thuyết, bất kì một tài sản cơ sở nào cũng có thể phát sinh một quyền chọn dựa trên nó. Do đó, có thể phân thành các nhóm chính sau:

    – Đối với hàng hóa: bao gồm quyền chọn cà phê, vàng, xăng dầu, sắt, thép, ngũ cốc, khí

    đốt…

    • Đối với dịch vụ: gồm quyền chọn tiền taxi, tiền điện, cước viễn thông…
    • Đối với tài sản tài chính: gồm quyền chọn ngoại tệ, lãi suất, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chỉ số chứng khoán…

    Hiện nay, trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quan trọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn.

    3.                 Quyền chọn trên thị trường ngoại tệ:

    3.1. Khái niệm về quyền chọn ngoại tệ:

    • Quyền chọn mua ngoại tệ là kiểu hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua một số lượng ngoại tệ ở một mức giá và trong thời hạn được xác định trước.

    11

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Quyền chọn bán ngoại tệ là kiểu hợp đồng quyền chọn cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được bán một số lượng ngoại tệ ở một mức giá và trong thời hạn được xác định trước. Nếu tỷ giá biến động thuận lợi người mua sẽ thực hiện hợp đồng (exercise the contract), ngược lại người mua sẽ không thực hiện cho đến khi hợp đồng hết hạn.
    • Giá trị của quyền chọn tùy thuộc vào tỷ giá thực hiện (exercise or strike price) và sự biến động của tỷ giá trên thị trường. Tỷ giá biến động có thể làm cho quyền chọn trở nên sinh lợi (in-the-money), hòa vốn (at-the-money) hoặc lỗ vốn (out-of-the- money). Nếu đặt E là tỷ giá thực hiện và S là tỷ giá trên thị trường giao ngay, chúng ta có các trường hợp có thể xảy ra như sau đối với một hợp đồng quyền chọn
    • Quyền chọn mua:
    • S>E => Hợp đồng sinh lợi o S=E => Hợp đồng hoà vốn o S<E => Hợp đồng lỗ vốn

    Lãi (lỗ)

    Tỷ giá thực hiện(E) Người mua quyền
      chọn mua (A)
     

    Điểm hòa vốn

    Tỷ giá giao

    ngay (S)

    Phí quyền chọn

    Người bán quyền

    chọn mua (B)

    OTM                              ATM                                   ITM

    12

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Quyền chọn bán:
    • S<E => Hợp đồng sinh lợi o S=E => Hợp đồng hoà vốn
    • S>E => Hợp đồng lỗ vốn

    Lãi(l ) tỷ

    Tỷ giá thực hiện

    Phí quyền chọn

    Điểm hòa vốn

    Người bán quyền

    chọn bán (D)

    giá giao

    ngay (S)

    Người mua quyền

    chọn bán (C)

    ITM                           ATM                      OTM

    3.2. Định giá quyền chọn ngoại tệ:

    Như đã trình bày, quyền chọn là một chứng khoán phái sinh, nó là một tài sản có giá trị. Do đó, nó đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học về cách tính giá của quyền chọn, tức là tính phí quyền chọn. Ở giới hạn của bài thuyết trình và giới hạn về sự hiểu biết của mình, nhóm thuyết trình chỉ xin đi tìm hiểu các yếu tố của phí quyền chọn và các mô hình tính phí quyền chọn đã được phổ biến và sử dụng rộng rãi. Để nắm vững các yếu tố trong phí quyền chọn chúng ta tìm hiểu các khái niệm liên quan.

    13

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    3.2.1. Tỷ giá thực hiện ( Strike or exercise price):

    • Tỷ giá thực hiện ( ký hiệu là E) là tỷ giá sẽ được áp dụng trong mua bán ngoại tệ khi thực hiện hợp đồng quyền chọn. Giá quyền chọn( hay phí quyền chọn) phụ thuộc trước hết vào giá thực hiện này. Phí quyền chọn mua sẽ tăng khi giá thực hiện giảm, và ngược lại sẽ giảm khi giá thực hiện tăng. Đối với quyền chọn bán thì: giá quyền chọn bán sẽ tăng khi giá thực hiện tăng và giá thực hiện giảm thì giá quyền chọn bán giảm.

    3.2.2. Giá trị thời gian và giá trị nội tại của quyền chọn:

    • Trong cả hai trường hợp, chọn mua và chọn bán, chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện quyết định giá bán tối thiểu của quyền chọn. Thông thường giá trị quyền chọn bao gồm 2 phần: giá trị nội tạigiá trị thời gian.
    • Giá trị nội tại là lượng giá trị mà quyền chọn ở trạng thái cao giá – ITM (in the money):

    Giá trị nội tại = S – E

    Trong đó :

    S : giá giao ngay hiện tại

    E : giá thực hiện

    Nói rõ hơn, giá trị nội tại chính là giá trị quyền chọn ở trạng thái cao giá – ITM nếu như chúng ta thực hiện quyền chọn này ngay lập tức. Như vậy, trong trạng thái ITM càng lớn thì giá trị nội tại càng lớn. Và ngược lại, nếu ở trạng thái kiệt giá (OTM – out of the money) hay ngang giá (ATM – at the money) thì giá trị nội tại là 0. Chênh lệch giữa giá quyền chọn với giá trị nội tại của nó được gọi là giá trị thời gian của nó. Một quyền chọn sẽ được bán với giá tối thiểu bằng giá trị nội tại của nó vì vậy cho nên chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện quyết định giá bán tối thiểu của quyền chọn.

    • Giá trị thời gian: Trong suốt thời gian tồn tại của quyền chọn, tỷ giá luôn thay đổi. Có thể là thay đổi theo chiều hướng có lợi (tỷ giá tăng khi chúng ta mua quyền chọn mua hoặc giảm khi chúng ta mua quyền chọn bán) sao cho bạn sẽ thu được lãi nếu thực hiện quyền. Điều này có nghĩa là, một quyền chọn dang ở trang thái kiệt giá – OTM, theo thời gian có thể chuyển sang trạng thái cao giá hoặc nếu ở trạng thái cao giá rồi thì có thể chuyển sang trạng thái cao giá hơn nữa. Có khá nhiều cơ hội để một quyền chọn có lợi và có lợi lớn hơn theo thời gian. Mặt khác, đồng tiền luôn mất giá theo lạm phát, trong khi phí quyền chọn thì được trả ngay khi mua quyền chọn mà việc thực hiện quyền lại là trong tương lai do đó phí quyền chọn này cũng sẽ bị mất giá. Thứ ba là, chi phí cơ hội, vì khi thực hiện giao dịch này thì không thực hiện được giao dịch có thể có lợi hơn cho nên trong bản thân quyền chọn đã có mang cơ hội phí. Chính từ ba lý do trên mà trong phí quyền chọn ngoài giá trị nội tại của quyền chọn còn tồn tại một thành phần nữa là giá trị thời gian của quyền chọn.

    14

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Giá trị thời gian của quyền chọn có một số đặc điểm sau đây:

    Không giống như giá trị nội tại, giá trị thời gian của quyền chọn luôn luôn tồn tại cho dù quyền chọn đang ở trạng thái nào: kiệt giá, ngang giá hay mất giá.

    Một đặc điểm nổi bật của giá trị thời gian của quyền chọn là: một quyền chọn có thời gian càng dài thì giá trị thời gian càng lớn. Từ những phân tích ở trên, chúng ta dễ dàng nhận ra được điều này, thời gian càng dài, sự biến động của quyền chọn càng lớn, sự mất giá của đồng tiền càng tăng và cơ hội phí cũng tăng theo do đó giá trị thời gian tăng lên.

    Khi quyền chọn càng tiến gần về thời gian đáo hạn (expiry date) thì giá trị thời gian càng tiến gần tới 0.

    Giá trị quyền chọn kiểu Mỹ luôn lớn hơn giá trị nội tại của nó bởi vì giá trị thời gian luôn tồn tại. Và giá trị thời gian này cũng thay đổi bởi lẽ quyền chọn theo kiểu Mỹ có thể thực hiện bất kỳ lúc nào.

    Với quyền chọn kiểu châu Âu thì giá trị thời gian lại không thay đổi cho dù có tiến gần tới ngày đáo hạn. Bởi lẽ, với loại quyền chọn này chúng ta chỉ được quyền thực hiện vào ngày đáo hạn.

    15

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Giá trị quyền chọn mua trước ngày hết hiệu lực

    Tổng giá trị quyền

    chọn (đường chấm)

          6 tháng                
                                 
                 
      3 tháng       Giá trị thời gian  
                     
                               
                         
      1 tháng                
                                 
                                 
                            Giá trị nội tại  
                                     
                                     
                                     
                          Giá thực hiện   Giá trị giao ngay của
                                đồng tiền cơ sở
                               
    Kiệt giá – OTM     Ngang giá – ATM     Cao giá – ITM

    Bây giờ chúng ta kết hợp cả hai giá trị của quyền chọn lại ta sẽ được giá trị của quyền chọn. Trước khi đến hạn, một quyền chọn kiệt giá thì chỉ có giá trị thời gian nhưng nếu nó đang

    • trạng tháo cao giá thì nó có cả giá trị thời gian lẫn giá trị nội tại( tham khảo đồ thị). Ngay lúc hết hiệu lực thì quyền chọn chỉ còn giá trị nội tại mà thôi. Giá trị thời gian của quyền chọn thể hiện khả năng giá trị nội tại của nó sẽ tăng lên trước khi hết hiệu lực, khả năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tính bất ổn của tỷ giá. Tính bất ổn càng cao thể hiện cơ hội xuất hiện tỷ giá ở hai trạng thái đối nghịch nhau càng lớn (cực cao hoặc cực thấp). Tác động của tỷ giá càng mang lại nhiều lợi nhuận thì giá trị quyền chọn càng cao. Một khía cạnh nữa của giá trị thời gian liên quan đến lãi suất. Khi lãi suất tăng lên sẽ làm tăng giá trị quyền chọn mua và làm giảm giá trị quyền chọn bán.

    16

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Bây giờ chúng ta tìm hiểu rõ hơn về giá trị tối thiểu của một quyền chọn kiểu Mỹ và kiểu châu Âu:
    • Với quyền chọn kiểu Mỹ: thường thì giá bán tối thiểu này sẽ cao hơn chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện. Bởi những yếu tố chúng ta đã đề cập ở trên. Ở đây chúng ta xem xét trường hợp: nếu như giá quyền chọn không tuân thủ theo nguyên tắc này thì sao? Thì chắc chắn các nhà đầu cơ trên quyền chọn tiền tệ sẽ có cơ hội cho kinh doanh chênh lệch. Chẳng hạn, tỷ giá thực hiện quyền chọn mua theo kiểu Mỹ là 17700VND cho 1USD, nếu tỷ giá giao ngay USD/VND là 18100 thì giá bán tối thiểu của quyền chọn phải là 400VND cho 1USD. Nếu không sẽ có cơ hội kinh doanh chênh lệch vì lúc đó người mua quyền có thể thực hiện quyền mua USD với giá 17700VND và bán lại trên thị trường với giá 18100VND và sẽ hưởng được phần chênh lệch. Công thức xác
    Giá quyền chọn Giá trị nội tại: số lượng giá trị Giá trị thời gian: số lượng giá trị  
    bằng tổng cộng mà quyền chọn ở trạng thái vượt giá trị nội tại  
    của:     cao giá      
               
          = S – E Bị tác động cùng chiều bởi sự gia  
          Trong đó: tăng trong:  
               
          S là giá giao ngay hiện tại Thời gian hết hiệu lực  
    Quyền chọn mua      
    E là giá thực hiện Tính bất ổn tỷ giá  
               
          Giá trị nội tại bằng 0 nếu Chênh lệch  lãi suất  trong  
            nước và nước ngoài  
             
          S–E <=0      
               
            Bị tác động cùng chiều bởi sự gia  
          = E – S tăng trong:  
          Thời gian hết hiệu lực  
    Quyền chọn bán Giá trị nội tại bằng 0 nếu
    Tính bất ổn tỷ giá  
          E-S<=0
          Chênh lệch lãi suất  trong  
           
              nước và nước ngoài  
                 

    định giá tối thiểu của quyền chọn kiểu Mỹ như sau:

    Ca(S,E) >= max(0,S -E) và Pa(S,E)>= max(0,E-S)

    Trong đó :          Ca: giá trị quyền chọn mua

    17

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Pa: giá trị quyền chọn bán

    • tỷ giá thực hiện
    • tỷ giá giao ngay
    • Với quyền chọn kiểu châu Âu: giá tối thiểu của quyền chọn không đơn thuần căn cứ vào chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện. Bởi như chúng ta tìm hiểu ở trên, giá quyền chọn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó yếu tố lãi suất là quan trọng. Công thức xác định giá tối thiểu của quyền chọn kiểu Âu như sau:
      Ce(S,T,E) >= max(0,S(1+b)-T-E(1+a)-T) và
      Pe(S,T,E)>= max(0,E(1+a)-T-S(1+b)-T)
    Trong đó: Ce: giá trị quyền chọn mua
      Pe: giá trị quyền chọn bán
      T: thời hạn hợp đồng ( năm)
      a: lãi suất phi rủi ro của đồng tiền A
      b: lãi suất phi rủi ro của đồng tiền B

    3.2.3. Thông số biến động tỷ giá kỳ vọng (Exprected Volatility):

    18

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Trong quá trình chúng ta đi tìm hiểu về phí quyền chọn cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến nó, chúng ta không thể không nhắc tới thông số biến động tỷ giá kỳ vọng. Như nhóm thuyết trình đã phân tích thì, một cặp tiền tệ có độ biến động càng mạnh thì phí quyền chọn sẽ càng cao. Chính thông số biến động tỷ giá kỳ vọng sẽ cung cấp cho chúng ta mức độ biến động kỳ vọng của tỷ giá. Đây là yếu tố khó lượng hóa nhất và nó tùy thuộc rất nhiều khả năng phán đoán của nhà dự báo và hầu như không có cách nào khác để lượng hóa chính xác thông số này. Nếu thiếu khả năng phán đoán thì nhà đầu tư thường dựa vào hai cách sau. Thứ nhất, là dựa vào các thông

    số biến động trong quá khứ( historical volatility), thông số này được xác định dựa vào phân tích số liệu lịch sử thu được. Thứ hai, dựa vào thông số biến động ngầm định( implied volatility) trong đó những thông tin hiện tại về giá trị quyền chọn và các thông tin khác sẽ kết hợp để đưa ra các dự đoán. Hiện nay, trên các sàn giao dịch, nhờ vào phương tiện kỹ thuật hiện đại và nguồn dữ liệu của quá khứ về biến động tỷ giá rất lớn thì bằng các thuật toán các chuơng trình sẽ cho ra các kết quả cụ thể của thông số náy. Ví dụ trên sàn Euronext trong bảng giao dịch điện tử về quyền chọn sẽ có các thông số liên quan như sau: ta thấy cột “ volatility” đó chính là giá trị của Expected Volatility. Ta thấy các giá trị của thông số biến động tỷ giá kỳ vọng đều nằm trong khoảng (0;1)

    3.2.4. Định giá quyền chọn theo mô hình Black-Scholes:

    • Công thức định giá quyền chọn vừa trình bày trên đây chỉ áp dụng trong điều kiện chắc

    chắn, nghĩa là khi nào tỷ giá giao ngay S được biết. Trên thực tế khi định giá quyền chọn chúng

    19

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    ta định giá của nó trong tương lai tức là định giá ở một thời điểm mà tỷ giá giao ngay chưa biết. Do đó chưa biết được quan hệ giữa S và E như thế nào. Định giá quyền chọn trong trường hợp này gọi là định giá trong môi trường ngẩu nhiên ở đó S chưa biết, do đó, chưa biết được quan hệ giữa S và E. Rõ ràng ở đây giá trị quyền chọn tùy thuộc vào xác suất xảy ra khả năng S lớn hơn hay nhỏ hơn E. Trong trường hợp này phải sử dụng mô hình định giá Black-Scholes.

    • Năm 1973, công thức nổi tiếng về định giá quyền chọn được đưa ra trên bài báo của hai giáo sư MIT, Fischer Black và Myron Scholes. Mô hình Black-Scholes nguyên thủy được xây dựng cho việc định giá quyền chọn mua theo kiểu châu Âu và áp dụng cho cổ phiếu không trả cổ tức (non-dividend-paying stock). Mô hình này được giới thiệu mở rộng áp dụng sang lĩnh vực tiền tệ từ các bài báo của Mark Garman và Steven Kohlhagen và bài của Orlin Grables vào năm 1983. Đối với quyền chọn mua theo kiểu châu Âu, mô hình Black-Scholes có thể diễn tả bởi công thức sau:

    Ce = Se-bTN(d1) – Ee-aTN(d2)

    Trong đó :

    Ce: là giá cả quyền chọn mua theo kiểu châu Âu

    • là tỷ giá giao ngay giữa đồng tiền A và đồng tiền B(A/B) E : tỷ giá thực hiện

    T : thời hạn hợp đồng tính bàng năm

    • lãi kép liên tục không có rủi ro của đồng tiền nước A( thường là lãi suất tín phiếu kho bạc của nước A)
    • lãi kép liên tục không có rủi ro của đồng tiền nước B( thường là lãi suất tín phiếu kho bạc của nước B)

    e = 2.71828 là hằng số Ne-pe

    • : là độ lệch chuẩn hằng năm của phần trăm thay đổi tỷ giá giao ngay. N(d1),N(d2): là giá trị hàm phân phồi sác xuất chuẩn. trong đó d1 và d2 được xác

    định như sau:

    d1 ln(S / E)  [a  b  (  2 / 2)]xT
               
          T  
    d2  d1      
    T  
    20  
                 

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Mô hình Black-Scholes cho thấy giá cả của quyền chọn mua theo kiểu châu Âu phụ thuộc vào tỷ giá thực hiện so với tỷ giá giao ngay, lãi suất phi rủi ro giữa hai quốc gia, thời hạn của hợp đồng và độ lệch chuẩn của sự thay đổi tỷ giá hai đồng tiền. Mô hình này được thực hiện dựa trên một số giả định như sau:
    • Lãi suất vẫn không thay đổi, lãi suất cho vay và đi vay là như nhau.
    • Không có thuế hay chi phí giao dịch.
    • Sự sai biệt tỷ giá tuân theo quy luật phân phối chuẩn.
    • Độ lệch chuẩn vẫn không thay đổi suốt hợp đồng
    • Chính những giả định này là không đúng trên thực tế và vì vậy mô hình này chưa hẳn sẽ đúng trên thưc tế. Song với giá trị là tiêu chuẩn và tốt nhất cho những mô hình tiến bộ hơn thì mô hình này vẫn được áp dụng rộng rãi, và giá trị quyền chọn của nó được lấy làm chuẩn để các nhà giao dịch hay các nhà kinh doanh dựa vào đó đánh giá được hợp đồng uyền chọn. Trong phạm vi nghiên cứu nhỏ hẹp của bài thuyết trình thì nhóm thuyết trình không tìm hiểu quá sâu mà chu yếu chú trọng vào cách áp dụng mô hình trong thực tế của chúng ta và cách để tính toán ra kết quả tốt nhất.
    • Cách áp dụng mô hình Black-Scholes bằng Excel:
    • Tỷ giá giao ngay (S) và tỷ giá thực hiện(E) : rất dễ dàng để có được hai loại tỷ giá này. Tỷ giá giao ngay chúng ta lấy tại thời điểm thỏa thuận giao dịch. Còn tỷ giá giao dịch do bên bán quyền đưa ra. Chúng ta cũng có thể dự đoán tỷ giá thực hiện này thông qua tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức:

    Fn=S + S(rb-ra)*n/(100*360)

    Trong đó:                  Fn: là tỷ giá kỳ hạn

    • tỷ giá giao ngay ra: lãi suất ở nước A rb: lãi suất ở nước B

    n: kì hạn cần tính(ngày)

    • Thời hạn hợp đồng: chính là thời hạn của quyền chọn. Tính bằng năm.
    • Lãi kép liên tục phi rủi ro của nước A và nước B: ta lấy lải suất của tín phiếu kho bạc nước A và nước B( thông tin này có ở các trang thông tin điện tử của kho bạc các nước).

    21

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Độ lệch chuẩn hàng năm của phần trăm thay đổi tỷ giá: trước tiên ta thu thập tỷ giá trong một năm của cặp tiền tệ đang xét. Thường thì chúng ta lấy 12 lần tỷ giá trong 12 tháng, nếu có nhiều hơn càng tốt. Sau đó chúng ta tính phần trăm thay đổi tỷ giá = [( tỷ giá kỳ sau- tỷ giá kỳ trước)/ tỷ giá kỳ trước]*100. Và khi có được phần trăm thay đổi tỷ giá rồi ta tính độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi tỷ giá( chú ý tất cả đều làm trong excel rất dễ dàng) bằng hàm thống kê sau:
    • STDEVP(dãy ô chứa phần trăm thay đổi tỷ giá giao ngay mà ta đã tính được ở trên)
    • N(d1) và N(d2): trước tiên ta tính d1 và d2 như công thức đã cho. Có thể viết trong excel như sau:

    d1:

    =(LOG10(S/E)+(a-b+POWER(α,2)/2))/ α *SQRT(T)

    d2:

    =d1- α *SQRT(T)

    N(d1):

    = NORMSDIST(d1)

    N(d2)

    = NORMSDIST(d2)

    Sau khi sử lý tất cả các bước trên ta viết công thức tính phí quyền chọn đơn giản bằng các thuật toán như sau:

    Ce:=S*POWER(e,(-b*T))*N(d1)-E*POWER(e,(-a*T))*N(d2)

    3.3. Các chiến lược kinh doanh hợp đồng quyền chọn:

    Như đã phân tích, hợp đồng quyền chọn giúp phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nó giúp ích rất nhiều cho các công ty đa quốc gia, các tập đoàn toàn cầu, các công ty xuất nhập khẩu và cả cá nhân có thu nhập từ ngoại tệ, song song với mục đích đó thì hợp đồng quyền chọn còn có thể giúp các nhà đầu cơ kinh doanh trên chính nó và mang lại lợi nhuận và người ta gọi đó là hoạt động đầu cơ trên hợp đồng quyền chon hay những chiến lược kinh doanh hợp đồng quyền chọn. Nhóm thuyết trình xin đưa ra một số chiến lược phổ biến nhất và cũng được xem là dễ hiểu nhất.

    3.3.1. Đầu cơ vị thế chênh lệch tiền tệ:

    • Vị thế chênh lệch cho phép nhà đầu cơ đánh cuộc trên chiều hướng diễn biến tỷ giá nhưng với giá phải trả thấp hơn so với giá đơn thuần mua quyền chọn mua hoặc mua quyền chọn bán. Để thực hiện chiến lược này, nhà đầu cơ sẽ thực hiện mua một quyền chọn với một giá thực hiện và bán một quyền chọn tương tự nhưng với giá thực hiện khác. Sự khác biệt trong hai giá thực hiện giúp hạn chế rủi ro cho nhà đầu cơ và giá phải trả là giới hạn của khoản lỗ mà nhà đầu tư có thể gặp phải. Tại sao lại như vậy? chúng ta cần tìm hiểu theo hai cách thực hiện sau:

    22

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Đầu cơ cho sự tăng giá của ngoại tệ, gọi là Chênh lệch giá lên. Ở trong trường hợp này ta thấy nhà đầu cơ sẽ mua 1 quyền chọn mua ở mức giá thấp và bán một hợp đồng quyền chọn mua tương tự với mức giá thực hiện cao hơn. Phí quyền chọn ròng sẽ dương bởi phí trả cho việc mua hợp đồng quyền chọn mua lớn hơn phí nhận được khi bán hợp đồng quyền chọn mua. Sở dĩ như vậy bởi vì giá thực hiện của việc mua là thấp hơn so với việc bán, mà phí quyền chọn sẽ càng cao khi giá thực hiện càng thấp trong hợp đồng quyền chọn mua. Vì rủi ro rơi vào trạng thái kiệt giá của người bán quyền cao hơn. Và trong trường hợp đầu cơ này, nếu tỷ giá giảm dưới mức ngang giá của hợp đồng thứ nhất thì nhà đầu tư chỉ bị lỗ khoản phí quyền chọn ròng mà thôi. Nếu tỷ giá tăng lên vượt qua điểm ngang giá của hợp đồng thứ nhất thì nhà đâu cơ bắt đầu có lợi nhuận và lợi nhuận này sẽ tăng đến một giá trị nhất định thì dừng lại cho dù tỷ giá có tăng lên đi nữa(xem đồ thị: đường nét đứt thể hiện khoản lỗ và lời của nhà đầu cơ). Ở đây, điều quan trọng nhất là khoản lỗ cũa nhà đầu cơ được giảm thiểu, còn khoản lời của nhà đầu cơ cũng được giới hạn ở một mức độ có thể đo lường được.

    Mua quyền chọn mua

    Chênh lệch

    giá lên

    Giá thực hiện mua

    quyền chọn mua

    Phí bán quyền

    chọn mua

    Giá thực hiện bán   Bán quyền chọn mua
    quyền chọn mua    
         
         

    Phí mua quyền

    chọn mua

    • Đầu cơ cho sự giảm giá của ngoại tệ, gọi là Chênh lệch giá xuống. Ở đây nhà đầu cơ đang đầu cơ giá xuống, vì vậy trước tiên nhà đầu cơ sẽ mua một hợp đồng quyền chọn

    23

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    bán ở mức giá cao, và bán một hợp đồng quyền chọn bán tương tự ở mức giá thấp hơn. Khoản lỗ giới hạn của nhà đầu cơ là phí quyền chon ròng còn khoảng lời cũng được giới hạn và có thể tính toán dễ dàng. Đầu cơ như vậy sẽ giúp hạn chế được rủi ro cho nhà đầu cơ

    Chênh lệch giá

    xuống

    Giá thực hiện mua

    quyền chọn bán

    Phí bán quyền

    chọn bán

    Lãi

     Lời (lỗ)

    Giá thực hiện bán

    quyền chọn bán

    Bán quyền

    chọn bán

    Phí mua quyền

    chọn bán

    24

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    3.3.2.Đầu cơ theo kiểu quyền chọn ghìm giá:

    • Một cách khác để đánh cuộc trên chiều hướng diễn biến của tỷ giá là sử dụng quyền chọn gìm giá. Một quyền chọn gìm giá cũng tương tự như các quyền chọn đã được tiêu chuẩn hóa chỉ khác ở chỗ quyền chọn gìm giá có thể bị hủy bỏ nếu diễn biến tỷ giá đạt được ở mức đã được thỏa thuận trước giữa hai đối tác gọi là giá thỏa thuận . Nếu tỷ giá đến mức chắn này thì người mua sẽ không thực hiện quyền chọn cho dù nó đang ở trạng thái được giá – ITM. Quyền chọn gìm giá còn được gọi là quyền chọn có rào chắn tốn ít chi phí hơn các quyền chọn tiền tệ tiêu chuẩn, bởi vì rủi ro cũng thấp hơn.
    • Có nhiều loại quyền chọn gìm giá, chẳng hạn quyền chọn mua gìm giá xuống theo thỏa thuận sẽ có kết quả có lãi cho người mua quyền chọn nếu tỷ giá lên nhưng nó cũng có thể bị hủy bỏ nếu đồng tiền yếu đến mức bằng với giá thỏa thuận trước đó. Ngược lại, một quyền chọn bán gìm giá xuống theo thỏa thuận có kết quả có lãi nếu tỷ giá xuống nhưng nó có thể bị hủy nếu đồng tiền yếu đến mức bằng với giá thỏa thuận trước đó. Ngoài lợi thế chi phí thấp thì quyền chọn gìm giá xuống còn hữu dụng cho nhà đầu cơ tin rằng nếu tỷ giá giảm xuống một mức nào đó thì sẽ không có khả năng thua lỗ. Còn quyền chọn gìm giá lên thì sẽ bị hủy bỏ nếu tỷ giá tăng lên đền một mức giá thỏa thuận trước đó.

    3.3.3. Đầu cơ hợp đồng quyền chọn theo kiểu hình bướm:

    • Nó bao gồm 4 hợp đồng quyền chọn: mua một quyền chọn mua với giá thực hiện X1 thấp, bán hai hợp đồng quyền chọn mua với giá thực hiện trung bình X2 và mua một quyền chọn mua với giá thực hiện cao X3. Tất cả các hợp đồng đều có thời gian hiệu lực bằng nhau.

    Lãi(l )

                    Giá giao
                    ngay của
    X1               đồng tiền
              X3  
                  cơ sở
                   
                       
                       
          X2          
                       

    25

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Lãi/l

    X2

    Giá giao

    X1                                          X3                      ngay của

    đồng tiền

    cơ sở

    • Như vậy, có thể thấy có rất nhiều mô hình đầu cơ trên hợp đồng quyền chọn, mỗi cách thức đều có những ưu nhược điểm khác nhau. Ngoài ra còn một số mô hình đầu cơ phức tạp khác như: đầu cơ theo kiểu mũi tên( straddle), theo kiểu kết hợp giữa các loại : strangle( quyền chọn gìm gia), strap( tạm dịch là dải băng), strip( tạm dịch là theo dải băng hẹp), condor…trong phạm vi bài thuyết trình của mình với trình độ hạn chế nhóm thuyết trình đã cố gắng tìm hiểu những mô hình đơn giản và dễ áp dụng nhất nhằm mang đến những cái nhìn ban đầu cơ bản nhất về các cách thức đầu cơ trên hợp đồng quyền chọn.

    Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch options trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

    II. GIỚI THIỆU VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN TRÊN THẾ GIỚI:

    1.     Đôi nét về các sàn giao dịch quyền chọn trên thế giới:

    1.1. Sàn giao dịch Chicago Board Options Exchange – CBOE:

    1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    • Tính đến thời điểm hiện tại, CBOE là sàn giao dịch quyền chọn lớn nhất thế giới cả về số lượng lẫn qui mô. Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Năm 2006 CBOE chính thức chuyển từ tổ chức hoạt động phi lợi nhuận trực thuộc Chính phủ sang hình thức doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận.

    26

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Ngày 26/04/1973 là ngày giao dịch đầu tiên sàn CBOE được đưa vào hoạt động với 911 hợp đồng quyền chọn mua được giao dịch dựa trên 16 loại chứng khoán cơ sở. Năm 1975, hệ thống yết giá được thiết kế trên chương trình máy tính, công thức Black-Scholes được áp dụng vào phương thức định giá quyền chọn, đồng thời thành lập công ty thanh toán bù trừ quyền chọn đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng. Vì vậy, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán. Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn hơn đối với công chúng.
    • Tháng 06/1977 các hợp đồng quyền chọn bán đầu tiên được đưa vào giao dịch. Năm 1983 CBOE đã tạo nên một cuộc cách mạng mới trong ngành kinh doanh quyền chọn bằng cách đưa ra các hợp đồng quyền chọn dựa trên chỉ số chứng khoán như: CBOE-100, chỉ số S&P 100 (OEX) và chỉ số S&P 500 (SPX). Năm 1985 CBOE thành lập viện đào tạo quyền chọn để đào tạo cho các nhà đầu tư trên khắp thế giới về quyền chọn và áp dụng quyền chọn chỉ số chứng khoán NASDAQ.
    • Ngành kinh doanh này phát triển mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ nặng nề vào năm 1987. Bị tổn hại bởi cú sốc này, nhiều nhà đầu tư cá nhân sử dụng quyền chọn trước đây đã tránh xa thị trường này, và khối lượng giao dịch chỉ mới phục hồi ở mức năm 1987 trong thời gian gần đây.
    • Năm 1993, CBOE cho ra đời quyền chọn FLEX, với quyền chọn này đã phá đi những qui định đã được chuẩn hoá trước đây và cho phép nhà đầu tư có thể thiết lập hợp đồng quyền chọn FLEX rất linh hoạt bằng bất cứ mức giá thực hiện nào, cũng có thể có bất kỳ ngày đáo hạn nào.

    1.1.2. Về giao dịch và thanh toán:

    Về cơ bản sàn giao dịch CBOE có thể khái quát như sau:

    27

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Người

    mua

    (1a) (6a) (7a)  
    (6b) (7b) Môi
         
          giới
        trên sàn
    Môi (2a)
    giới   của
    của     người
    người (5a) môi
    mua    
         
           

    (8a)

    (8b)

    Công ty

    thanh

    toán của

    người                                          (9a)

    môi giới

    của người

    Người

    bán

    (1b)

        Môi    
        giới    
    SÀN GIAO   trên sàn    
        Môi
      của  
        (2b)
    DỊCH QUYỀN   người   giới
    CHỌN     của
      môi  
            người
         
            (5b)
         
            bán
             

    (4)

          Công ty
      Trung tâm
        thanh
      thanh toán   toán của
          người
    (9a)
          môi giới
          của
           

    (1a)(1b) Người mua và Người bán chỉ thị cho nhà môi giới riêng của mình tiến hành một giao dịch quyền chọn.

    (2a)(2b) Người môi giới của người mua và người bán yêu cầu nhà môi giới trên sàn của của công ty mình thực hiện giao dịch.

    • Các nhà môi giới trên sàn gặp gỡ trên sàn giao dịch quyền chọn và thống nhất giá cả.
    • Thông tin về giao dịch được báo cho trung tâm thanh toán bù trừ.

    (5a)(5b) Nhà môi giới trên sàn thông báo giá cho người môi giới của người mua và người bán.

    28

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    (6a)(6b) Người môi giới của người bán và người mua thông báo giá về cho người bán và người mua.

    (7a)(7b) Người mua (người bán) ký gửi phí quyền chọn cho người môi giới.

    (8a)(8b) Người môi giới của người mua và người bán ký gửi phí quyền chọn và tiền ký quỹ cho công ty thanh toán của mình

    (9a)(9b) Công ty thanh toán của người môi giới của bên mua và bên bán ký gửi phí quyền chọn và tiền ký quỹ cho trung tâm thanh toán bù trừ.

    • Năm 2002, CBOE đã chuyển đổi thành công từ hệ thống đấu giá thủ công sang hệ thống sàn giao dịch lai ghép (Hybrid Trading System), bằng phương thức này, các thành viên giao dịch trên sàn có thể sử dụng giao dịch điện tử tự động song song với phương thức đấu giá công khai thủ công.
    • Hệ thống giao dịch lai ghép được CBOE xây dựng một cách linh hoạt, nó có thể thích ứng với mọi nhu cầu và thay đổi của thị trường, dẫn đến khối lượng khách hàng và giao dịch qua hệ thống ngày một tăng cao.
    • Ngoài ra, CBOE cũng xây dựng thành công hệ thống tạo lập thị trường từ xa (Remote Market Making) và áp dụng giao dịch vào ngày 26/04/2005, cho phép tổ chức, hình thành các nhà tạo lập thị trường và tiến hành giao dịch qua mua bán hợp đồng quyền chọn từ khắp nơi trên thế giới, nhằm mục đích mở rộng qui mô giao dịch và thanh toán vượt ra khỏi khu vực. Trong năm 2005, hệ thống này đã thu hút hơn 197 thành viên tham gia và đạt được 20% khối lượng giao dịch mỗi ngày qua sàn CBOE.
    • Mỗi ngày, các phiên giao dịch sẽ được thực hiện thông qua các hệ thống sàn giao dịch điện tử tự động (Exchange’s Rapid Opening System) và sàn giao dịch ghép (Exchange’s Hybrid System) bởi các nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới trên sàn và nhân viên giữ sổ lệnh. Thời hạn giao dịch phải được đảm bảo song song với thị trường chứng khoán cơ sở. Trình tự giao dịch được sắp xếp theo thứ tự nguyên tắc ưu tiên theo thời gian đáo hạn gần nhất của các hợp đồng quyền chọn. Nguyên tắc khớp lệnh được ưu tiên cho giá tốt nhất, nếu các lệnh cùng giá thì ưu tiên cho lệnh giới hạn được đăng ký trong sổ của nhân viên giữ sổ lệnh, sau đó là thời gian đặt lệnh và 3 giờ 15 phút chiều đối với các hợp đồng quyền chọn chỉ số. Việc giao dịch khớp lệnh luôn được giám sát và xác nhận của các nhân viên điều hành sàn giao dịch.
    • Lệnh mua phải xác định nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới, mã chứng khoán cơ sở, loại hợp đồng quyền chọn, thời gian đáo hạn, giá thực hiện, giá chuyển nhượng, khối lượng giao dịch, tên công ty thanh toán và được cung cấp đến các thành viên giao dịch có liên quan trên sàn. Các thông tin này sẽ được công bố trên sàn trong vòng 90 giây.

    29

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Mọi thành viên trên sàn đều được thông báo đến công ty thanh toán bù trừ quyền chọn. Các thông tin bao gồm: loại hợp đồng, chứng khoán cơ sở, giá thực hiện, số lượng hợp đồng, thời gian đáo hạn, phí giao dịch, nhà môi giới, tài khoản giao dịch, thời gian mua bán, xác nhận của thành viên công ty thanh toán liên quan và một số thông tin khác.
    • Công tác giao nhận chứng khoán cơ sở, thanh toán hợp đồng quyền chọn đều phải thông qua công ty thanh toán bù trừ và tuân theo nguyên tắc giao dịch của công ty thanh toán bù trừ. Khi đến ngày đáo hạn hay người sở hữu hợp đồng yêu cầu thực hiện, Công ty đề nghị khách hàng bên mua nộp số tiền tương ứng với giá trị hợp đồng đối với quyền chọn mua cổ phiếu, hoặc chứng khoán cơ sở đối với hợp đồng quyền chọn bán, sau đó yêu cầu khách hàng bán quyền chọn nộp cổ phiếu cơ sở hay tiền mặt tương ứng để tiến hành chuyển giao. Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện chuyển giao hoặc thanh toán thì Công ty sẽ xử lý theo luật Chứng khoán và qui định của Cục dự trữ liên bang.

    1.2. Sàn giao dịch quyền chọn NYSE EURONEXT:

    1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    • Euronext là sàn giao dịch chứng khoán của nhiều nước châu Âu, đặt trụ sở ở Paris và có chi nhánh tại Bỉ, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh. Euronext được thành lập ngày 22/9/2000 sau vụ sáp nhập của Amsterdam Stock Exchange, Brussels Stock Exchange, và Paris Bourse, để tận dụng lợi thế từ sự nhất quán của thị trường tài chính EU. Tháng 12/2001 Euronext mua lại cổ phiếu của Sàn giao dịch hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai London (LIFFE).
    • Ngày 22 /06/2006 Euronext đã ký hợp đồng sáp nhập vào NYSE với giá 10,2 tỷ USD. Và vào 28/03/2007, một sàn giao dịch chứng khổng lồ xuyên Đại Tây Dương đã ra đời, sàn chứng khoán NYSE cuối cùng cũng đã giành quyền kiểm soát sàn giao dịch chứng khoán Châu Âu – Euronext, sàn giao dịch mới này trị giá tới 28 tỉ đô la, liên kết các sàn giao dịch tại 6 quốc gia lớn. NYSE Euronext cho phép giao dịch các loại chứng khoán và công cụ phái sinh trong suốt khoảng thời gian 21 giờ mỗi ngày.
    • Ngày 16/02/2011 NYSE Euronext và Deutsche Boerse chính thức sáp nhập Deutsche Boerse AG đã đồng ý chi ra 9,53 tỷ USD để mua lại Stock Exchange NYSE Euronext, tạo ra công ty điều hành sàn chứng khoán lớn nhất thế giới và có thể thúc đẩy một số sự hợp nhất bổ sung khác. Sau vụ mua lại, Deutsche Boerse sẽ sở hữu 60% của công ty sau sáp nhập, và các cổ đông của NYSE Euronext nắm giữ 40% cổ phần.Tính đến ngày 15/2/2011, NYSE có mức vốn hóa thị trường là 9,92 tỷ USD, và Deutsche Boerse có tổng giá trị cổ phiếu khoảng 15 tỷ USD.

    1.2.2. Cơ chế giao dịch quyền chọn thông qua sàn giao dịch NYSE Euronext:

    Bước l: Nhà đầu tư đến mở tài khoản tại một công ty môi giới. Sau đó nhà đầu tư có thể

    đặt lệnh mua hoặc bán quỵền chọn ngoại tệ với các thông tin cụ thể về: cặp ngoại tệ, phí quyền

    30

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    chọn, thời gian đáo hạn của hợp đồng, số lượng đơn vị hợp đồng căn cứ vào các lệnh mua, loại quyền chọn kiể châu Âu hay kiểu Mỹ bán trên hiện đang có trên bảng điện của sàn giao dịch thông qua hệ thống Internet hoặc đặt lệnh ngay tại công ty hoặc đến trực tiếp và đặt lệnh ngay tại sàn bằng phương thức truyền thống ( đưa ra lệnh bằng tay)

    Bước 2: Công ty môi giới kiểm tra và chuyển lệnh mua hoặc bán quyền chọn ngoại tệ của khách hàng cho đại diện của công ty đang có mặt tại sàn hoặc sẽ có người đứng tại sàn và trực tiếp ghi nhận lệnh giao dịch bằng tay của khách hàng .Sau đó người đại diện sẽ nhập lệnh vào hệ thống của sàn Euronext.

    Bước 3: Hệ thống điện tử sàn Euronext sẽ tự động khớp lệnh và thông báo kết quả giao dịch quyền chọn ngoại tệ cho công ty môi giới.

    Bước 4: Công ty môi giới sẽ thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư đồng thời sẽ trừ vào tài khoản của nhà đầu tư một số tiền là phí quyền chọn ( được tình bằng loại ngoại tệ có quy định sẵn trong hợp đồng) để gửi đến công ty môi giới quản lí tài khoản của đối tác thực hiện giao dịch với khách hàng mình.

    Bước 5: Đến ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn ngoại tệ ( đối với kiểu Châu Âu) hoặc bất kì thời điểm nào mà nhà đầu tư ( khách hàng) yêu cầu (đối với quyền chọn kiểu Mỹ) công ty môi giới sẽ tất toán giao dịch của nhà đầu tư và chuyển kết quả đó vào tài khoản cùa nhà đầu tư.

    1.3. Sàn giao dịch Chứng khoán Tokyo – TSE:

    1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    • Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) được thành lập ngày 01/01/1878. Từ khi thành lập đến năm 1988, TSE chỉ giao dịch hàng hóa chứng khoán đơn thuần. Tới ngày 03/09/1988 TSE bắt đầu tiến hành giao dịch các hợp đồng tương lai và giao dịch các hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán Tokyo vào năm 1989. Ngày 18/07/1997, TSE đưa vào giao dịch các hợp đồng quyền chọn chứng khoán dựa trên 166 cổ phiếu cơ sở của các công ty Nhật.
    • Ngày 09/04/2001, TSE phối hợp với Công ty Standard & Poor, chọn ra 150 chứng khoán cơ sở có độ thanh khoản cao nhất thời bấy giờ làm danh mục chuẩn và tiến hành giao dịch các hợp đồng quyền chọn chỉ số chứng khoán S&P/TOPIX 150.
    • Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo được đánh giá là sàn giao dịch chứng khoán và các hợp đồng phái sinh hàng đầu Nhật Bản và Châu Á. Khối lượng giao dịch các hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai qua sàn TSE phát triển tăng vọt vào giữa thập niên 1990 và trở thành một trong những thị trường năng động với tính thanh khoản cao. Ngoài ra, TSE còn giao dịch các hợp đồng tương lai, quyền chọn tài sản.

    31

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    1.3.2. Cơ chế giao dịch quyền chọn thông qua sàn giao dịch TSE:

    • Các hợp đồng quyền chọn trên sàn TSE được giao dịch theo nguyên tắc đấu giá, kết quả giao dịch được xác định theo trình tự ưu tiên về giá và thời gian đặt lệnh. Có hai cách xác định giá giao dịch:
    • Xác định giá đóng cửa và mở cửa của các phiên giao dịch trên cơ sở xác định mức giá hợp lý nhất từ ghi nhận tập trung các lệnh giao dịch.
    • Giá giao dịch được xác định trong suốt các phiên giao dịch theo nguyên tắc ưu tiên về giá và thời gian đặt lệnh. Nếu không có lệnh mua nào được khớp thì TSE sẽ đề nghị các mức giá để các bên tham gia giao dịch.
    • Khách hàng phải mở tài khoản giao dịch tại các thành viên trên sàn TSE trước khi tiến hành giao dịch hợp đồng quyền chọn. Trước khi đặt lệnh, khách hàng phải ký quỹ vào tài khoản và ủy quyền cho các thành viên giao dịch thông qua tài khoản này. Nếu số tiền ký quỹ không đáp ứng được giá trị giao dịch hoặc nghĩa vụ thanh toán, khách hàng phải ký quỹ bổ sung ngay ngày hôm sau.
    • Tất cả các giao dịch hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai trên sàn TSE được thực hiện thông qua các Thành viên giao dịch tổng hợp. Tất cả các lệnh và quá trình khớp lệnh đều được thực hiện thông qua hệ thống giao dịch điện tử tự động (Computerized order Routing and Execution System for Futures and Options – CORES-FOP), các lệnh giao dịch sẽ được nhập vào hệ thống từ các máy trạm của các thành viên giao dịch thông qua hệ thống máy vi tính nối mạng với Sở giao dịch.
    • Đến thời hạn thanh toán, nếu khách hàng muốn thực hiện hợp đồng thì phải chỉ định cho các thành viên giao dịch trên sàn trước 16 giờ của ngày giao dịch, các thành viên có trách nhiệm thông báo việc thực hiện cho sàn giao dịch thông qua hệ thống CORES-FOP trước 16 giờ
    1. Sau đó, TSE sẽ chỉ định thành viên có liên quan trên sàn thực hiện chuyển giao chứng khoán và thanh toán tiền tương ứng vào ngay ngày hôm sau thông qua hệ thống thanh toán.
    1. Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ thế giới:

     

    • Doanh thu hợp đồng quyền chọn của 54 nước trên thế giới xét trong tháng 4 hàng năm tăng dần tính từ năm 1995 đến năm 2010. Trong 3 năm từ 2007 đến 2010 hoạt động quyền chọn diễn ra mạnh mẽ hơn, doanh thu tăng vọt, gấp đôi so với những năm trước đó, đặc biệt là ở Anh và Mỹ. Nhưng Anh chiếm tỷ trọng cao nhất là 106/253 năm 2007, và 135/247, tiếp theo đó là Mỹ, còn một số nước khác như Nhật Bản, Hồng Kông, Đan Mạch, Singapore, Pháp…cũng có mức tăng trưởng đáng kể. Nguyên nhân là do thị trường chứng khoán trong những năm này phát phát triển so với những năm trước cộng với việc mở rộng hoạt động ngoại thương của các tổ chức tài chính ở các quốc gia như: quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ hỗ tương, công ty bảo hiểm, ngân hàng trung ương…

    32

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch trung bình hàng ngày về quyền chọn ngoại tệ của một số quốc gia từ 1995-2010

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    33

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    – Hiện nay, quyền chọn được thực hiện thông qua nhiều hình thức cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin ngày càng hiện đại như: giao dịch tại quầy với môi giới, các khách hàng giao dịch trực tiếp với nhau, giao dịch điện tử, giao dịch liên ngân hàng, giao dịch qua điện thoại. Thông qua bảng số liệu, ta thấy mức độ giao dịch diễn ra 1 ngày tính trung bình trong tháng 4-2010 thì doanh thu qua hình thức khách hàng giao dịch trực tiếp với nhau đạt mức cao nhất, còn giao dịch qua thị trường liên ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp nhất. Như vậy, hình thức giao dịch trực tiếp được sử dụng phổ biến hơn. Đây là hình thức mà khách hàng thực hiện với đại lý hay khách hàng khác mà không qua trung gian, họ sẽ liên lạc với nhau qua điện thoại trực tiếp hoặc Reuters Conversational Dealing.

    Doanh số giao dịch trung bình hàng ngày về quyền chọn ngoại tệ thông qua các cách thức giao dịch

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    • Loại tiền tệ trong doanh thu của giao dịch quyền chọn đã có một ít thay đổi trong vòng ba năm 2004,2007,2010; với thị phần tương đối của các đồng tiền chính. Cụ thể thị phần của ba đồng tiền (đồng đô la Mỹ, Euro và đồng yên Nhật Bản) tăng 3%. Sự gia tăng lớn nhất được thấy rõ đối với đồng Euro và đồng Yên, và sự suy giảm lớn nhất là đồng bảng Anh.

    34

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tính theo một số loại tiền tệ trên thị trường OTC

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    • Nhìn vào biểu đồ ta thấy tổng giá trị quyền chọn dưới hoặc một năm chiếm tỷ trọng lớn khoản 72%. Đối với những quyền chọn thời hạn trên 5 năm khối lượng tương đối ít. Sự phân phối của doanh thu theo thời gian đáo hạn cho thấy quyền chọn ngắn hạn luôn chiếm ưu thế hơn so với các quyền chọn có thời gian dài vì càng dài càng rủi ro và phí quyền chọn càng cao. càng cao.

    35

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tính theo thời điểm đáo hạn hợp đồng trên thị trường OTC

    (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    • Qua các năm, tính từ cuối tháng 6/2004,2007 và 2010, ta thấy giá trị giao dịch quyền chọn tăng lên theo thời gian, đặc biệt là năm 2007 tăng hơn gấp đôi năm 2004, còn năm 2010 có sự sụt giảm nhẹ. Tương tự các hợp đồng quyền chọn vàng cũng tăng lên vào năm 2007 và sụt giảm ở năm 2010 so với năm 2004, nguyên nhân của sự biến động này là do những biến động bất thường của thị trường vàng thế giới với những mức giá kỷ lục liên tiếp được thiết lập

    36

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tính theo các mốc thời gian trên thị trường OTC (Nguồn: Báo cáo về hoạt động giao dịch hối đoái toàn cầu của Central Bank năm 2010)

    37

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    III. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ VIỆT NAM HIỆN NAY:

    1.     Cơ sở pháp lý:

    1.1. Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối:

    • Trong thời gian qua, thị trường ngoại hối phát triển với nhiều nghị định, quyết định, văn bản hướng dẫn… Trong đó, Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 về quản lý ngoại hối, quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, NHNN nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho các NHTM và TCTD, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.
    • Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể. Vào tháng 5/2004, NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi suất. Tháng 7/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch đô la Mỹ tiền mặt, cho Eximbank thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận.
    • Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, và gần đây nhất đã được nâng lên +/-3%. Việc nới lỏng biên độ tỷ giá góp phần phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.
    • Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM .

    1.2. Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn ngoại tệ:

    • Nhằm thúc đẩy giao dịch ngoại hối phát triển, ngày 10/01/1998 NHNN ban hành quyết định 17/1998/QĐ-NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái. Quy chế này tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, tăng cường sự giám sát quản lý của NHNN về lĩnh vực ngoại hối. Tuy nhiên giao dịch ngoại hối mới chỉ được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Ngày 12/02/2003 công văn 135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ ra đời, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm

    38

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Trong đó, công văn cũng quy định cụ thể phương thức thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng cũng như đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn sô dư…

    • Ngày 10/11/2004, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các TCTD ra đời, thay thế và khắc phục những hạn chế của quyết định 17, theo đó cho phép tất cả các TCTD được phép thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ mà không cần xin phép NHNN. Quyết định này cho phép TCTD và khách hàng tự thỏa thuận kỳ hạn giao dịch cũng như cho phép các cá nhân được tham gia giao dịch. Đây là sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý hoạt động ngoại hối giúp thị trường quyền chọn ngày càng đa dạng hơn.
    • Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN_QLNH cho phép ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các NHTM khác dưới sự cho phép của NHNN.
    • Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.

    1.3. Cơ sở pháp lý về quyền chọn vàng:

    • Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 v/v kinh doanh vàng trên tài khoản
    • nước ngoài.
    • Quyết định số 11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/03/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN.
    • Thông tư số 01/2010/TT-NHNN Bãi bỏ Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định số 11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/03/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN.
    • Thông tư số 10/2010/TT-NHNN ngày 26/3/2010 về việc sửa đổi khoản 2, khoản 3 Điều 2 Thông tư số 01/2010/TT-NHNN ngày 06/01/2010 về việc bãi bỏ Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN ngày 18/01/2006 về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định số 11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/3/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN
    • Văn bản cho phép của NHNN số 458/CV – QLNH ngày 16/7/2004. Theo đó, kể từ ngày 15/12/2004, NHTMCP Á Châu bắt đầu cung cấp cho khách hàng là các cá nhân và tổ chức một sản phẩm mới, đó là quyền chọn mua và bán vàng, gọi tắt là quyền chọn vàng (gold option)

    39

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    nhằm mục tiêu chủ yếu đáp ứng nhu cầu bảo hiểm giá cho khách hàng khi sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán và đầu tư.

    1.4. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý đối với giao dịch Quyền chọn ngoại tệ:

    Như vậy chúng ta có thể thấy các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành khá nhiều nhưng chưa cụ thể và đầy đù để có thể thúc đẩy các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, nó chỉ mang tính tức thời, bổ sung cho thị trường ngoại hối, chứ chưa có được một bộ luật hoàn chỉnh, cụ thể, có thể hỗ trợ các tổ chức tài chính ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư … trong việc hoạch định các chiến lược kinh doanh dài hạn trên thị trường.

    2.     Thực trạng hoạt động của thị trường quyền chọn ở Việt Nam trong thời gian qua:

    2.1. Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ:

    • Về phía các Ngân hàng tham gia giao dịch: Trong giai đoạn thí điểm, các NHTM muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm. Eximbank là ngân hàng đầu tiên thực hiện thí điểm. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Viet Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Agribank.

     

    • Đặc điểm giao dịch: Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các doanh nghiệp và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện. Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu, trong đó:
    • Người mua quyền chọn là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
    • Người bán quyền chọn là các NHTM .
    • Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
    • Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.
    • Về doanh số giao dịch:
    • Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký

    40

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.

    • Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Bảng: Doanh số giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại VCB-HCM

            Đơn vị tính: triệu đồng
               
    Năm Doanh  số quyền Tỷ lệ tăng % %  quyền  chọn  /
      chọn     tổng doanh số  
    2006 14.774   31,29 0,17  
    2007 18.244   23,07 0,16  
    2008 23.121   27,59 0,16  
    2009 32.814   26,33 0,17  

    Nguồn: Phòng kinh doanh ngoại tệ VCB

    • Doanh số quyền chọn của VCB tuy có tăng qua các năm với tốc độ cao nhưng vẫn chiếm một lượng quá nhỏ đối với tổng doanh số giao dịch của ngân hàng (chưa đến 0,2%).
    • Tại EIB, tổng giá trị của hợp đồng quyền chọn tiền tệ năm 2008 đạt 11.709 triệu đồng. Đến quý 1 năm 2010, tổng giá trị các hợp đồng mua tiền tệ mà EIB mua vào đạt 2.543 triệu đồng, tương đương với 15 triệu đồng tài sản trên bảng cân đối kế toán. Tổng giá trị các hợp đồng mua tiền tệ mà EIB bán ra đạt 2.584 triệu đồng tương đương với 31 triệu đồng công nợ trên bảng cân đối kế toán. Ngân hàng chỉ là trung gian trong các hợp đồng quyền chọn này, thực hiện mua bán với khách hàng và cân đối lại trên thị trường liên ngân hàng.
    • Sacombank cũng thực hiện mua bán quyền chọn tiền tệ. Năm 2008, tổng giá trị các giao dịch quyền chọn tiền tệ của ngân hàng này là 2.784 triệu đồng, giao dịch quyền chọn bán có tổng trị giá 2.411 triệu đồng.
    • Ngoài ra thì một số ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể.

    2.2. Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ):

    • Về phía các ngân hàng tham gia giao dịch: Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân

    41

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là 10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ). Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    • Đặc điểm giao dịch: Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được NHNN chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:
    • Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.
    • Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.
    • Doanh số giao dịch: Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các NHTM không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể. Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006-2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 37,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ). Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giai đoạn này giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ cũng chưa phát triển nhiều.

    2.3. Quyền chọn vàng:

    • Về phía ngân hàng tham gia giao dịch: Giao dịch quyền chọn vàng được ACB thực hiện thí điểm theo văn bản cho phép của NHNN số 458/CV – QLNH ngày 16/7/2004. Theo đó, kể từ ngày 15/12/2004, NHTMCP Á Châu bắt đầu cung cấp cho khách hàng là các cá nhân và tổ chức một sản phẩm mới, đó là quyền chọn mua và bán vàng, gọi tắt là quyền chọn vàng (gold option) nhằm mục tiêu chủ yếu đáp ứng nhu cầu bảo hiểm giá cho khách hàng khi sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán và đầu tư. Chúng ta đã biết tại Việt Nam giai đoạn này, vàng vẫn đang được coi là đơn vị tính toán để mua bán bất động sản. Sử dụng sản phẩm quyền chọn vàng người mua bất động sản có thể đảm bảo khả năng chi trả và tránh thua lỗ trước những biến động tăng của giá vàng mà vẫn có lợi khi giá vàng xuống, còn người bán thì một mặt luôn

    42

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    đảm bảo lợi nhuận khi giá vàng xuống, mặt khác sẽ có lãi nhiều hơn khi giá vàng tăng. Trong điều kiện nhu cầu nhà ở của người dân đang ngày càng tăng, đồng thời giá vàng liên tục có những biến động mạnh và khó dự báo như trong thời gian qua, sản phẩm quyền chọn vàng đã đáp ứng được nhu cầu của nhiều người và các thành phần kinh tế có giao dịch vàng trong kinh doanh. Do đó, sau ACB, các NHTM khác cũng bắt đầu triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn bằng vàng cho các khách hàng của mình, gồm: 3 NHTM nhà nước là Vietcombank, Agribank, BIDV, và một số NHTMCP gồm: Sacombank, Eximbank, Techcombank, VIB Bank, Việt Á, Phương Đông, Phương Nam…trong đó chủ yếu là đang trong giai đoạn nghiên cứu sản phẩm quyền chọn hoặc chuẩn bị triển khai thực hiện.

    Đặc điểm giao dịch:

    • Mục đích sử dụng: Khách hàng có nhu cầu có nhu cầu mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán để phòng ngừa rủi ro biến động giá vàng và kinh doanh sinh lợi theo xu hướng giá.
    • Thời hạn và quy mô giao dịch:
    • Đối với Eximbank: Quy mô tối thiểu 100 lượng vàng, thời hạn 3 ngày đến 365 ngày. Loại vàng được giao dịch là các loại vàng được Eximbank mua bán tại thời điểm giao dịch.
    • Đối với ACB: Quy mô tối thiểu 100 lượng vàng còn quy mô tối đa là 5.000 lượng vàng đối với khách hàng cá nhân và 10.000 lượng vàng đối với doanh nghiệp ngoài NH. Trong đó, tổng trị giá các hợp đồng còn tồn đọng được phép ký kết giữa NH với một khách hàng duy nhất tối đa không được vượt quá 20.000 lượng vàng. Về thời hạn giao dịch, tối thiểu là 2 tuần và tối đa là 6 tháng, trong đó chuẩn hoá các kỳ hạn như 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng.
    • Doanh số giao dịch:
    • Quyền chọn vàng tại ACB chủ yếu là các khách hàng cá nhân có nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động giá vàng cho các khoản thanh toán vàng trong tương lai, phục vụ cho các khoản thanh toán vàng trong mua bán nhà đất và trả nợ vay. Các quyền chọn này có quy mô tương đối nhỏ, dưới 200 lượng, có những quyền chọn có quy mô khá nhỏ, chỉ 50 lượng cho một quyền chọn, lợi nhuận mang lại từ nghiệp vụ này cho AC không cao.

    43

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Tổng hợp tình hình giao dịch quyền chọn vàng của NHTMCP Á Châu từ tháng 4 – 7/2006

      ACB bán option         ACB giao dịch với nước ngoài        
                                   
      Call     Put     Tổng Call     Put        
                  cộng                
        Quy Phí   Quy Phí   Quy     Quy      
          (triệu         Tổng  
    Tháng Số (triệu Số (triệu Số Phí Số Phí
    lượng (lượng) VND) lượng (lượng) VND) VND) lượng (oz) (USD) lượng (oz) (USD) cộng  
     
                                   
    4 5 440 187,4 2 350 120.5 307,9 4 540 10.569 2 420 6.688 17.257  
                                   
    5 6 660 807,1       807,1 5 820 46.635       46.635  
                                   
    6 6 500 472,7 1 120 75 492,7 6 690 21.282 1 150 2.526 23.808  
                                   
    7 3 210 205,5       205,5 3 280 11.910,6       11.910,6  
                                   
    Tổng                              
    cộng 20 1810 1672,7 3 470 195.5 1813,2 18 2330 90.396,6 3 570 55.849 99.610,6  
                                   

    (Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh vàng của NHTMCP Á Châu)

    • Theo số liệu từ NHTMCP Á Châu, ước tính mức lợi nhận từ hoạt động kinh doanh vàng của NH trong năm 2006 đem lại chiếm từ 9 – 10% tổng lợi nhuận của NH. Trong đó, lợi nhuận từ giao dịch quyền chọn vàng đem lại cho NH chỉ khoảng gần 2 tỷ VND. Đây là mức lợi nhuận chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong tổng mức lợi nhuận của ngân hàng hoặc mức lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh vàng tại ngân hàng trong năm qua nhưng cũng đã góp phần đáng kể trong việc gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Nếu tính trong bình diện chung của các NHTM cung cấp giao dịch quyền chọn vàng trên địa bàn TPHCM thì NHTMCP Á Châu có thể được xem là NH có lượng KH giao dịch nhiều nhất và có kết quả từ giao dịch này là tốt nhất.
    • Cụ thể là NHTMCP Sài gòn thương tín sau một thời gian cung cấp đã tạm ngưng sản phẩm này từ cuối tháng 12/2005 cho đến nay vì quy mô giao dịch quyền chọn vàng tại NH này khá cao, tối thiểu 100 lượng vàng nhưng tại một số thời điểm đã lên đến 800 lượng vàng và mức phí phải trả rất cao vì khi bán nghiệp vụ này NHTMCP Sài gòn thương tín phải mua đối ứng lại với NH nước ngoài và điều kiện của NH nước ngoài phải có từ 800 lượng vàng trở lên và mức phí được tính theo giá vàng thế giới, ở một số thời điểm lên đến 2,5%/doanh số, gần 30%/năm cho hợp đồng quyền chọn kỳ hạn 1 tháng. Dẫn đến tình trạng có rất ít khách hàng giao dịch tại ngân hàng, lợi nhuận có được không bao nhiêu so với chi phí đầu tư cho sản phẩm. Do đó, ngân hàng đã tạm thời ngưng cung cấp sản phẩm quyền chọn này cho đến nay.

    44

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Hoặc như NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, mặc dù giao dịch quyền chọn đã được triển khai từ đầu năm 2006 nhưng cho đến nay chỉ có 2 hợp đồng quyền chọn mua được ký kết giữa KH trong nước với NH, trị giá 200 lượng vàng. Trong khi đó, nghiệp vụ kỳ hạn lại thu hút đến 65 ngàn lượng vàng với 338 hợp đồng được ký kết dù nghiệp vụ này cũng mới được NH này áp dụng và cho phép KH của mình thực hiện vào đầu năm 2006.

    Như vậy, thông qua một vài số liệu về kết quả có được cũng như tình hình triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn vàng tại các NHTMVN trong thời gian qua đã cho thấy giao dịch quyền chọn vàng vẫn còn khá mới mẻ, chưa đem lại kết quả kinh doanh như bản thân những lợi ích có được từ giao dịch này cho bản thân các ngân hàng cung cấp và ngay cả các nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam.

    2.4. Đánh giá chung về thực trạng sử dụng quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam trong thời gian qua:

    2.4.1. Những cơ hội của việc phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam:

    Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế đã có nhiều bước chuyển biến tích cực hơn, tiềm năng phát triển của nền kinh tế còn rất lớn. Để khai thác tiềm năng này, các yêu cầu về minh bạch, cơ chế, chính sách thông thoáng… ngày càng được chú trọng và thực hiện quyết liệt hơn.

    • Các yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin: Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường options nói chung và thị trường options ngoại tệ nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng.
    • Cơ chế, chính sách thông thoáng hơn khi Việt Nam đã tham gia vào WTO: Ở Việt Nam, do chưa từng phải chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Do chính sách quản lý các giao dịch vốn những năm trước đây còn chủ yếu dựa vào cơ chế hành chính, tự phong toả là chính, mức độ tự do hoá rất hạn chế…, nên việc áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu còn chưa trở thành nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, đang có rất nhiều thay đổi về mặt chính sách. Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hoá tài chính đã đi qua rất nhiều bước và trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị

    45

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường options ngoại tệ nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    • Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cả trong hiện tại và tương lai: Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ options ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển thị trường option ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. Ngay NHNN Việt Nam cũng thường xuyên có một quĩ dự trữ ngoại hối khá lớn chưa được sử dụng hết, tăng trưởng tự nhiên và chủ yếu là dự trữ đồng USD đang yếu đi khá mạnh theo thời gian, nhưng chưa có một cơ chế đủ rõ ràng để trao quyền phán quyết cho nhà quản lý sử dụng thích ứng các công cụ options với các đối tác trong nước và nước ngoài trong quá trình quản lý và phát triển quĩ. Do đó, thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu sẽ là kênh đầu tư mới, tạo nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà đầu tư, ngay cả các cơ quan quản lý quỹ ngoại hối nhà nước.

    Tóm lại, Việt Nam đã tham gia vào sân chơi toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam ngày càng lớn, các yêu cầu, tiêu chuẩn về phát triển kinh tế ngày càng được đòi hỏi cao hơn, tự do hóa, sự công khai, minh bạch hóa ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu. Khi đó, yêu cầu đặt ra là phải cần những công cụ thị trường để thực hiện hóa, đẩy nhanh tiến trình theo yêu cầu từ bên ngoài và chính nội tại bên trong của nền kinh tế cũng như để ổn định hóa thị trường, nền kinh tế. Thị trường options, đặc biệt là options ngoại tệ và options cổ phiếu có lẻ là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện, đón đầu các cơ hội này

    2.4.2. Những khó khăn, hạn chế của việc phát triển thị trường options ngoại tệ ở Việt Nam hiện nay:

    • Đối với tầm quản lý vĩ mô: Khó khăn trong việc điều chỉnh cũng như ban hành văn bản pháp luật phù hợp thị trường. Đối với cơ quan cấp vĩ mô nhà nước việc ban hành một văn bản pháp luật phù hợp và tạo tính thuận lợi dễ dàng khi thực hiện trong thực tế, để tạo sự yên tâm giao dịch cho các nhà đầu tư không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Song trong thời gian qua, chúng ta đã có thời gian thí điểm chuẩn bị, chúng ta biết chúng ta đang đứng ở

    46

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    đâu, và chúng ta đang gặp thách thức, khó khăn nào, vậy tại sao chúng ta lại không bắt tay vào khắc phục những nhược điểm trên.

    • Đối với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ (ngân hàng thương mại):
    • Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ: Tương tự đối với các NHTM, việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.
    • Khó khăn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực: Thị trường options Việt Nam hiện nay chưa phát triển, chúng ta chỉ đang cho phép áp dụng một số công cụ tài chính phái sinh như các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ tại ACB, Vietcombank, Sacombank…và quyền chọn vàng tại ACB. Vì vậy, nguồn nhân lực Việt Nam chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức và khả năng chuyên môn. Hầu hết các ngân hàng, công ty chứng khoán… chưa có đội ngũ nhân lực vững chuyên môn và kiến thức để phổ biến công cụ options đến các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Họ hầu như chỉ được thuyên chuyển qua từ các bộ phận khác. Hiện nay, số người biết, hiểu và sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam áp dụng các công cụ options ngoại tệ để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.
    • Đối với tâm lý của các doanh nghiệp Việt Nam: Về phía các doanh nghiệp sử dụng quyền chọn, có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta. Ví dụ, một doanh nghiệp thậm chí biết rõ là sẽ có rủi ro khi tỉ giá có thể tăng mạnh do lạm phát tăng cao và biết rõ nếu ký mua một hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ sẽ đỡ thiệt hơn nhiều. Nhưng chỉ vì tư duy và cách làm ăn truyền thống, các doanh nghiệp sợ rằng nếu đưa ra quyết định này, nhưng chẳng may có một điều kiện khách quan nào đó làm cho tỉ giá thị trường giảm xuống trái với xu hướng ban đầu, gây thiệt hại một khoản phí quyền chọn ban đầu, không những uy tín, mà địa vị của người ra quyết định đó cũng bị lung lay. Còn nếu mọi dự báo đúng như thực tế thì bản thân người quyết định đó cũng không được lợi lộc gì. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện không qui định rõ ràng trách nhiệm, quyền lợi của lãnh đạo và nhân viên trong đơn vị. Trong khi trên thế giới, các công ty có chính sách quản lý rủi ro rất cụ thể, họ luôn qui định quyền phán quyết mức rủi ro tài chính rõ ràng với từng vị trí lãnh đạo và từng khu vực hay từng quốc gia nếu đó là công ty xuyên quốc gia. Chính điều này đã làm cho các giao dịch quyền chọn nói chung và các quyền chọn ngoại tệ còn rất hạn chế trong thực tế.

    47

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Đối với các nhà đầu tư: Là những rủi ro phải đối mặt trong việc dự đoán tỷ giá, giá cả chứng khoán và xu hướng thị trường. Các công cụ tài chính đều có hai mặt, một mặt các nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro, mặt khác đi kèm với nó là rủi ro. Ví dụ như mua một hợp đồng options ngoại tệ để bảo vệ đồng tiền thanh toán, hay mua quyền chọn một cổ phiếu, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không biết dự đoán tỷ giá đúng theo xu hướng thị trường. Việc thiếu hiểu biết về quyền chọn và khả năng phân tích sẽ gây ra rất nhiều khó khăn và rủi ro khi sử dụng của các nhà đầu tư, khi nhiều nhà đẩu tư gặp rủi ro thì có thể gây ra những bất ổn cho thị trường. Đây cũng là một trong những trở ngại lớn làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ ở Việt Nam, khi trình độ cũng như khả năng phân tích của các nhà đầu tư và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

    2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế:

    • Nguyên nhân từ thị trường: Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối, …của nước ta còn thấp, đôi khi nó nằm ngoài các rủi ro từ tầm tác động của các “cơn gió lớn”, “cơn bão” tài chính quốc tế. Cùng với đó là tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến. Trong thực tế, những biến động về tỷ giá được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các đối tượng có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như tỷ giá, giá cả cổ phiếu.Việt Nam chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa trở thành nhu cầu bức xúc. Tuy nhiên, nền kinh tế đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, mở cửa thị trường, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất được tự do hoá, các luồng vốn được tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam… các nhà lập chính sách về TTTC Việt Nam cần sớm bày tỏ quan điểm để xây dựng và đề xuất hệ thống chính sách khuyến khích phát triển thị trường các công cụ tài chính phái sinh “ăn theo” như quyền chọn ngoại tệ bên cạnh thị trường chính thức như thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán…

     

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ.

     

    • Nguyên nhân từ sự điều tiết tỷ giá USD/VNĐ: Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía NHNN khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía ngân hàng.

    48

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Nguyên nhân từ biên độ giao dịch USD: Đối với các giao dịch mua bán USD, do chính sách neo VNĐ vào đồng USD nên biên độ giao động giá của USD được NHNN qui định là +/-0.5%. Ngày 20-3-2008, biên độ giao động giá của USD đã được NHNN cho phép nâng lên là +/-1%, và gần đây nâng lên +/-2%. Biên độ dao động như vậy đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.
    • Nguyên nhân từ vấn đề hạch toán kế toán: Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm. Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp. Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, cũng như quyền chọn, không chỉ xét từ góc độ từ các NHTM hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của NHNN trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.
    • Nguyên nhân từ cách tính phí quyền chọn: Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau: Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng quyền chọn ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng. Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.
    • Nguyên nhân từ trình độ nhận thức của nhà đầu tư: Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế. Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng vẫn còn yếu trong

    49

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Tham gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường quyền chọn còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối Việt Nam nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường quyền chọn này. Bản thân các khách hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ quyền chọn. Chẳng hạn như N gân hàng HSBC mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã hơn 6 năm với trên 1.000 doanh nghiệp là khách hàng “ruột”, nhưng sau 2 năm được phép sử dụng các công cụ options, mới chỉ có một vài doanh nghiệp trong số hàng ngàn doanh nghiệp khách hàng đó dám ứng dụng nghiệp vụ này. Chỉ riêng việc thực hiện một giao dịch hoán đổi giữa hai đồng tiền, ngân hàng này cũng mất tới nửa năm để giải thích, thoả thuận. Các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ cũng thường phải mất một vài tháng mới được ký kết. Theo HSBC, việc xúc tiến các dịch vụ phái sinh quản lý rủi ro cho khách hàng là doanh nghiêp vẫn đang được ngân hàng này tích cực khuyến khích. Với Techcombank, các nghiệp vụ quyền chọn vẫn còn ít được khách hàng áp dụng, thậm chí có công cụ chưa có khách hàng nào giao dịch. Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch quyền chọn trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới

    IV. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:

    1.     Giải pháp vĩ mô:

    Trước những thuận lợi, cơ hội cũng như khó khăn, thách thức. Thị trường quyền chọn cần những giải pháp đồng bộ để có thể tạo lập và phát triển. Mà trước tiên là các giải pháp vĩ mô từ các cơ quan nhà nước. Dưới góc độ những người tạo lập, quản lý, giám sát thị trường quyền chọn ngoại tệ và đặc biệt là NHNN cần phải phối hợp thực hiện một số giải pháp sau để có thể bước đầu định hình và phát triển thị trường này trong tương lai.

    1.1. Xây dựng, điều chỉnh khung pháp lý cho thị trường quyền chọn ngoại tệ:

    • Đồng bộ hóa các văn bản pháp lý liên quan: Hiện nay, các văn bản pháp lý quy định, chi phối các giao dịch quyền chọn không nhiều, thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện từ NHNN cũng như các văn bản pháp lý cấp cao nhằm chi phối, điều tiết, hướng dẫn thực hiện các giao dịch quyền chọn ngoại tệ. Đó là một trong những lý do khiến các nhà doanh nghiệp và nhà đầu tư không yên tâm khi tham gia vào thị trường này. Vì vậy, cơ quan ban hành các chính sách nhà nước cần ban hành những quy định pháp luật cụ thể cho việc sử dụng các công cụ quyền chọn ngoại tệ, một nghiệp vụ mới, phức tạp rất cần có sự hướng dẫn chi tiết từ phía NHNN trong thời gian tới.

    50

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Nới rộng các điều kiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ: Cho phép cả doanh nghiệp và cá nhân tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ, đặc biệt là quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Mở rộng kỳ hạn giao dịch và hạn mức doanh số giao dịch so với quy định thí điểm. Cho phép các tổ chức tín dụng khác ngoài ngân hàng thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ nhằm gia tăng số lượng các nhà cung cấp, nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường. Trong thời gian tới, khi thị trường đạt đến một mức độ phát triển nhất định và VNĐ được tự do chuyển đổi thì NHNN nên cho phép các doanh nghiệp tham gia vào giao dịch với tư cách vừa là người mua vừa là người bán để góp phần thúc đẩy giao dịch quyền chọn phát.

    1.2. Nới lỏng vai trò điều hành của Nhà Nước vào thị trường tài chính:

    • Hoạt động giao dịch phải thật sự có ý nghĩa trong điều kiện tình hình biến động của thị trường hoàn toàn khách quan. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp, những người ngoại tệ,… dựa vào những phán đoán về diễn biến của thị trường, họ sẽ lựa chọn các phái sinh, quyền chọn thích hợp để thực hiện những mục tiêu cụ thể của mình là kinh doanh hay hạn chế rủi ro.
    • Trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay, theo lộ trình hội nhập mà nước ta đã cam kết với tổ chức thương mại hế giới (WTO), nhà nước cần nới lỏng dần chính sách can thiệp trực tiếp vào thị trường. Đối với thị trường ngoại hối, nhà nước nên dần thực hiện chính sách tự do hóa tỉ giá bằng cách dần dần nới rộng biên độ giao động của VNĐ với USD. Đến một thời điểm thích hợp, có thể xóa bỏ biên độ giao động tỉ giá hướng đến tự do hóa chuyển đổi tiền đồng Việt Nam.. Điều này sẽ phản ảnh đúng cung cầu trên thị trường. Khi đó, rủi ro đối với các giao dịch ngoại hối sẽ dần hiện rõ, gây ra những thiệt hại lớn hơn, buộc các doanh nghiệp, cá nhân, nhà đầu tư phải quan tâm đến các hợp đồng quyền chọn để bảo hiểm, giảm thiểu rủi ro cho chính mình.

    1.3. Hỗ trợ, phối hợp với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn trong công tác nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, nhà đầu tư:

    • Công tác nâng cao trình độ và nhận thức của các đối tượng có nhu cầu sử dụng quyền chọn (nhà đầu tư, các nhà xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp…) cần được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, mục đích rõ ràng. Các cơ quan chính phủ cần hỗ trợ, phối hợp với các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn đề ra chiến lược phát triển thị trường để dần dần tiến tới chuyên nghiệp hóa các giao dịch quyền chọn, làm cho chúng trở thành những giao dịch quen thuộc và phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp, giới đầu tư và các TCTC. Cụ thể, các bộ ngành Giáo dục, Tài chính, Truyền thông cần phối hợp với nhau cũng như với các TCTC thực hiện các công việc sau:
    • Tuyên truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp nhận thức một cách đầy đủ và chính xác những ảnh hưởng do biến động tỷ giá, giá cả, lãi suất gây ra thông qua các kênh thông tin như báo chí, truyền hình, internet…

    51

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề nghiên cứu bàn về rủi ro hối đoái, xây dựng và triển khai các khóa học đào tạo ngắn hạn cho các doanh nghiệp về sự cần thiết bảo hiểm rủi ro hối đoái …
    • Trong tương lai, cần đưa thêm các kiến thức về các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và các giao dịch của chúng cũng như các kiến thức về quản trị rủi ro vào giảng dạy tại các trường đại học, các cơ sở giảng dạy về tài chính…để trang bị cho các thế hệ tương lai nhận thức đầy đủ về việc sử dụng các công cụ phái sinh, quyền chọn vào các hoạt động quản trị rủi ro của mình

    1.4. Nâng cao hiệu quả thị trường thông qua việc công khai hóa và minh bạch hóa thông tin:

    • Thị trường tài chính Việt Nam mới chỉ tăng tốc phát triển trong một thời gian ngắn, vấn đề truyền thông tài chính cũng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của xã hội. Nhưng nhìn chung, truyền thông tài chính ở Việt Nam chỉ mới phát triển sơ khai, hầu như là mang tính tự phát, thiếu sự quản lý, ràng buộc trách nhiệm từ các cơ quan quản lý nhà nước. Với một TTTC bậc cao như thị trường options, thông tin càng đóng một vai trò quan trọng trong các quyết định đầu tư, phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp, nhà đầu tư…Do đó, để phát triển thị trường quyền chọn cần chấn chỉnh và thúc đẩy truyền thông tài chính phát triển. Thông tin tài chính cần được công khai, minh bạch hóa. Nhà nước cần tiếp tục ban hành các qui chế, thông tư, hướng dẫn…chi tiết hơn việc công bố thông tin ra thị trường ngoại hối n cũng như chế tài nghiêm khắc đối với các vi phạm về công bố thông tin.
    • Ngoài ra, cần thúc đẩy các nguồn thông tin đa dạng, đầy đủ và cần thiết đến với mọi đối tượng tham gia thị trường. Trước mắt, nên thành lập các tổ chức chuyên nghiên cứu phát triển các công cụ dự báo giá và công bố kết quả dự báo giá cả, đặc biệt là giá của một số mặt hàng quan trọng như ngoại tệ, cổ phiếu, vàng, xăng dầu… qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua các tạp chí chuyên ngành để các nhà đầu tư có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh hay phòng ngừa rủi ro cho riêng mình.

    1.5. Giải pháp để tiến tới thành lập một sàn giao dịch quyền chọn niêm yết tập trung:

    • Để thị trường quyền chọn thực sự phát triển và trở thành một trong những trụ cột của thị trường tài chính, khi thị trường quyền chọn và các giao dịch quyền chọn đạt đến độ chín mùi cần thiết, bên cạnh một thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC) vẫn đang tồn tại, nhà nước cần tiến hành tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các sàn giao dịch quyền chọn lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, để thành lập một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức (giống như một sàn giao dịch chứng khoán niêm yết tập trung) như ở các nước có TTTC phát triển, với các tài sản cơ sở ở đây có thể là cổ phiếu, trái phiếu, ngoại tệ, chỉ số chứng khoán, vàng, lãi suất… Điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản, khối lượng giao dịch trên thị trường quyền chọn cũng như thị trường các tài sản cơ sở, thị trường ngoại hối dần dần tiến đến chuyên nghiệp hóa, tạo thuận tiện, phổ

    52

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    biến và đưa thị trường quyền chọn trở thành một một trong những thị trường thiết yếu trên TTTC.

    • Nói tóm lại, trên đây là một số giải pháp mang tính vĩ mô, đó là những công việc mà nhà nước, chính phủ và các cơ quan liên quan cần có kế hoạch triển khai để phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ, chủ yếu là trên thị trường phi tập trung ở Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, để thị trường ngày càng phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả thì cần những nỗ lực của tất cả các chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp, các TCTC, những chủ thể cung cấp và sử dụng sản phẩm quyền chọn. Vấn đề cốt lõi chính là nhận thức của chính các chủ thể tham gia trực tiếp chứ không phải là các chủ thể quản lý.

    2.                 Giải pháp vi mô:

    Bên cạnh các giải pháp vĩ mô của nhà nước, các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM. Dưới góc độ là người trực tiếp tham gia cung ứng, môi giới sản phẩm quyền chọn cho thị trường, cần tuân thủ theo các qui định của nhà nước và thực hiện một số giải pháp vi mô sau để góp phần vào sự hình thành và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ trên thị trường phi tập trung ở Việt Nam.

    2.1. Chủ động giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm, dịch vụ quyền chọn đến khách hàng:

    • Ngày nay, thị trường tài chính cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên nghiệp như NHTM cho ra đời ngày càng nhiều các sản phẩm phái sinh. Việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ options ngoại tệ là một trong những loại hình dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết, thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng, nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ options, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ options này.
    • Để thực hiện điều đó, các ngân hàng cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn nói riêng, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các NHTM…cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm thông tin, cách thức sử dụng các công cụ options cho cả hai mục tiêu kinh doanh và hạn chế rủi ro.
    • Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN, UBCK…để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn đến các khách hàng doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá trên các website của các NHTM

    53

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động đầu tư của mình.

    2.2. Không ngừng cải tiến chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ quyền chọn tới khách hàng:

    • Theo thực trạng hiện nay tại các NHTM như Eximbank, Techcombank, BIDV…, các NHTM này chỉ mới đóng vai trò là nhà môi giới trung gian giữa các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ với các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Do đó, cần phải xem xét đến việc nghiên cứu ứng dụng các chiến lược kinh doanh như đứng tự đứng ra phát hành các quyền chọn thích hợp tới khách hàng nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động môi giới.
    • Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ, các NHTM, các tổ chức tài chính khác cần nhanh chóng chuẩn hóa tổ chức các phòng, ban kinh doanh liên quan đến quyền chọn của mình. Tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và thẩm quyền quyết định cho các cán bộ kinh doanh quyền chọn.
    • Ngoài ra, các NHTM nên tìm hiểu, nghiên cứu sâu các mô hình chiến lược liên quan đến giao dịch quyền chọn, cùng sự hỗ trợ từ những công cụ kỹ thuật như các phần mềm tiên tiến, cũng như bám sát diễn biến của thị trường để dự báo xu hướng biến động tỷ giá, lãi suất trong tương lai. Từ đó, vận dụng các chiến lược một cách chính xác trong từng trường hợp, để tư vấn, hỗ trợ khách hàng, giúp các khách hàng hiện tại ngày càng tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng options, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới tham gia giao dịch.
    • Bên cạnh đó, song song với việc triển khai các sản phẩm quyền chọn thuần nhất, các TCTC nên có những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp, đặc biệt là lai tạp với quyền chọn như: quyền chọn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock swaptions), quyền chọn hợp đồng kỳ hạn, tương lai ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock forwards options, futures options)… Từ đó, sẽ là cơ sở để có thể định giá các sản phẩm quyền chọn hiệu quả nhất.

    2.3. Thay đổi phí quyền chọn:

    • Như đã đề cập ở trên, đối với quyền chọn ngoại tệ, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ quyền chọn với tư cách là nhà môi giới, làm đại lý cho các ngân hàng nước ngoài, thực hiện tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế, chỉ sử dụng phí quyền chọn của ngân hàng nước ngoài, cộng với phí dịch vụ để tính phí cho khách hàng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả các ngân hàng vì việc này đẩy phí quyền chọn lên cao ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Do đó, việc thay đổi cách tính phí quyền chọn là cần thiết.

    54

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    • Dựa vào các điều kiện, khả năng của mình, các ngân hàng, nên tự đứng ra cung cấp và phát hành quyền chọn trực tiếp cho khách hàng, tìm hiểu và vận dụng mô hình Black-Scholes để tính phí quyền chọn cho khách hàng một cách hợp lý. Nhanh chóng triển khai ứng dụng các mô hình chiến lược kinh doanh quyền chọn, từ đó tạo nền tảng đề ra một mức phí mang tính cạnh tranh hơn.
    • Trong tình hình hiện tại, rất cần một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ đi tiên phong thử nghiệp các mô hình tính phí mới, từ đó giúp các ngân hàng, công ty chứng khoán khác đi sau học hỏi kinh nghiệm và tiến tới triển khai nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ có hiệu quả hơn.

    2.4. Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ kinh doanh quyền chọn:

    • Trong mọi hoạt động dịch vụ, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Do bản chất của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn vốn là một công việc phức tạp, căng thẳng, chứa đựng nhiều rủi ro…Do đó, đòi hỏi cán bộ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ tại các tổ chức không chỉ có chuyên môn về các nghiệp vụ mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu thị trường tài chính, có khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá, lãi suất…; đồng thời phải là những người có đạo đức nghề nghiệp,. trung thực trong kinh doanh.
    • Vì vậy, các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên ngành cho nhân viên của mình, thông qua các khóa học đào tạo ngắn hạn ở trong nước và nước ngoài để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa tạo cơ hội làm quen với môi trường kinh doanh sôi động và hiện đại của thị trường quyền chọn quốc tế. Ngoài ra, cần có những chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút và giữ chân nhân tài, tránh để xảy ra tình trạng chảy máu chất xám trong tổ chức của mình.

    2.5. Tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức tài chính khu vực và thế giới:

    • Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan… có các điều kiện kinh tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam hay các nước như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông…. thì có điều kiện phát triển vượt bậc so với chúng ta. Do đó, các NHTM và các TCTC khác cần mở rộng hợp tác, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm về trang bị hạ tầng kỹ thuật, công tác điều hành, quản lý thị trường quyền chọn, cũng như kiến thức chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về lĩnh vực này với các ngân hàng lớn trong khu vực và thế giới trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ.
    • Nói tóm lại , trên đây có thể xem như là một số giải pháp cơ bản và thiết yếu mà các nhà cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ có thể thực hiện để góp phần vào sự phát triển thị trường quyền chọn phi tập trung ở Việt Nam. Tùy thuộc khả năng, chiến lược kinh doanh riêng của mỗi NHTM,… mà họ có thể ưu tiên thực hiện những giải pháp nào, chú trọng vào giải pháp nào hơn các giải pháp còn lại.

    55

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bank For International Settlement 2010), “ Triennial Central Bank Survey: Report on global foreign exchange market activity in 2010”
    1. Jeff Madura (2006), “International Financial Management”, Biên tập lần thứ 8 , NXB Thomson South-Western.
    1. John C.Hull (2003), “Fundamental of Futures and Options”, NXB Prentice Hall.
    1. Lê Thị Đào Anh, “Sử dụng hợp đồng quyền chọn”, Tạp chí công nghệ Ngân hàng, số 5/2005, trang 23-25
    1. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (2007), Kỷ yếu hội thảo Khoa học “Giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam” , NXB Văn Hoá – Thông Tin.
    1. PGS-TS Bùi Kim Yến và TS. Thân Thị Thu Thuỷ (2010), “Thị trường tài chính”, NXB Thống Kê.
    1. PGS-TS Nguyễn Đăng Dờn (2011), “Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại (Commercial Banking”, NXB Thống Kê.
    1. PGS-TS Trần Hoàng Ngân và TS. Nguyễn Minh Kiều (2011), “Thanh toán quốc tế”, NXB Thống Kê
    1. Việt Bảo,´”Phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh ở Việt Nam”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 22/2007, trang 37-39.
    1. Nguyễn Minh Kiều (2006), Công trình nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
    1. Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2011), “Bài giảng môn Quản trị rủi ro tài chính”, Đại học Kinh Tế TPHCM .
    1. Ngoài ra nhóm thuyết trình còn tham khảo tại các website: vneconomy.vn

    www.saga.vn www.asset.vn

    http://www.euronext.com/ www.cboe.com

    56

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    www.tse.or.jp

    www.foc.ueh.edu.vn www.lobs-ueh.net

    57

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    PHỤ LỤC

    A- MẪU HỢP ĐỒNG QUYỂN CHỌN NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

    Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

    Số:      / HD1/OPT/EIB/KD/06

    HỢP ĐỒNG QUYỀN LỰA CHỌN MUA-BÁN NGOẠI TỆ

    (Tham chiếu thỏa thuận chung số:……./TT/OPT/EIB/KD/06)

    TP.HCM, ngày  tháng  năm 2006

    Bên A: NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM (EXIMBANK)

    Địa chỉ: Số 7 Lê Thị Hồng Gấm, Quận I, TP. HCM

    Điện thoại: 8.21.22.55                                              Fax: 8.213.117

    Đại diện:………………………………             Chức vụ: ……………………………..

    Bên B: ………………………………………………………………………

    Mã số khách hàng (CIF No): ………………………………………

    Địa chỉ: ……………………………………………………………..

    Điện thoại: …………………………………………………………

    CMND số: ………………………………………………………….

    Qua bàn bạc thỏa luận, hai bên thống nhất thực hiện các điều khoản sau:

    1. Bên A đồng ý bán cho Bên B quyền lựa chọn ngoại tệ theo các chi tiết sau:

     

    • Loại quyền chọn: ……………………………………
    • Số lượng : ………………….

    (Bằng chữ: ………………………..)

    • Giá thực hiện: ………………………………………..
    • Tương đương :……………………………………

    58

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    (Bằng chữ: ………………………………………………………..)

    • Kiểu quyền chọn: ……………………………………..
    • Thời hạn hiệu lực: …… ,từ ngày:……  đến 11 giờ 00phút sáng, ngày

    ……………..

    • Phí quyền lựa chọn: ………….. Thuế VAT:…………..
    • Phí quyền lựa chọn đã bao gồm VAT: ………………….

    (Bằng chữ: …………………………………………………)

    1. Phương thức thanh toán:

     

    • Vào ngày ……….., Bên A trích số tiền: …………….. từ tài khoản của Bên B số

    : ……………….. tại Eximbank để thu phí quyền lựa chọn.

    • Bên A sẽ thực hiện hợp đồng theo đề nghị của Bên B căn cứ vào các điều khoản trong giấy đề nghị thực hiện hợp đồng.
    1. Điều khoản chung:

     

    • Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng. Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên sẽ cùng hoà giải hoặc thương lượng trên tinh thần hợp tác. Trong trường hợp không tự giải quyết được, tranh chấp giữa các bên sẽ được đưa ra Toà án có thẩm quyền tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định của pháp luật.
    • Hợp đồng được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản có giá trị pháp lý như nhau.

    ĐẠI DIỆN BÊN B                                                                                   ĐẠI DIỆN BÊN A

    Bước 3:

    Bộ phận đang giao dịch trực tiếp với khách hàng sẽ liên lạc với bộ phận Treasury (bộ phận ngân quỹ) ở hội sở và ghi nhận, thông báo các thông tin về tỉ giá, phí quyền chọn mà Treasury cung cấp cho khách hàng biết.

    Khách hàng có thể đồng ý hoặc không đồng ý với tỉ giá, phí quyền chọn mà Treasury đưa ra, khi đó bộ phận giao dịch với khách hàng sẽ tiếp tục làm trung gian chuyển đổi thông tin này cho đến khi cả 2 bên đồng ý 1 mức tỷ giá và phí quyền chọn.

    Bước 4:

    Sau khi khách hàng đã ghi đầy đủ thông tin vào hợp đồng chọn mua (hay chọn bán) thì bộ phận giao dịch sẽ kiểm tra chi tiết lệnh trong giấy đề nghị: tỉ giá ,loại quyền chọn số

    59

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    lượng ngoại tệ, ngày thực hiện v..v.. và đại diện bên ngân hàng và bên khách hàng kí kết hợp đồng này.

    Bước 5:

    Bộ phận đang giao dịch đưa ra biểu mẫu về “Thoả thuận chung về nghiệp vụ lựa chọn tiền tệ”, cả 2 bên đọc kĩ điều lệ trong bản này và người đại diện 2 bên cùng kí xác nhận.

    Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc Số: /TT1/OPT/EIB/KD/06

    THỎA THUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ QUYỀN LỰA CHỌN TIỀN TỆ

    ÁP DỤNG CHO NGOẠI TỆ VỚI NGOẠI TỆ

    TP.HCM, ngày………tháng……….             năm……..

    Bên A: NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM (EXIMBANK)

    Địa chỉ: Số 7 Lê Thị Hồng Gấm, Quận I, TP. HCM

    Điện thoại: 8.212.255                                                                            Fax: 8.213.117

    Đại diện:…………………. ……………………….           Chức vụ:………

    Bên B:  ……………………………………………………………………………………………………….

    Địa chỉ: ………………………………………………………………………………………………………

    Mã số khách hàng (CIF No): ………………………………………

    Điện thoại:………………………………………………………………………….. Fax:…………………………

    Đại diện: ………………………………………….. Chức vụ:……………………

    60

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    CMND số: ………………………………………………………….

    Qua bàn bạc thỏa luận, hai bên thống nhất thực hiện các điều khoản sau:

    Điều 1 :Những thuật ngữ được sử dụng trong nghiệp vụ Quyền chọn tiền tệ (Currency Option)

    Thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền lựa chọn tiền tệ (sau đây gọi tắt là thỏa thuận chung): là thỏa thuận được ký kết giữa bên mua và bên bán quyền chọn, theo đó hai bên cùng thỏa thuận và áp dụng thống nhất các quy ước chung của nghiệp vụ này. Thỏa thuận chung này được ký một lần vào lúc Bên B bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn đầu tiên và nó được sử dụng cho các lần giao dịch kế tiếp. Trong trường hợp có sự thay đổi các chi tiết của thỏa thuận chung này thì Bên A sẽ thông báo cho Bên B bằng văn bản để cả hai bên cùng bàn bạc và đi đến thống nhất ở bản thỏa thuận chung mới. Thỏa thuận chung phải được ký kết trước hoặc cùng lúc với hợp đồng giao dịch quyền chọn vào lần giao dịch đầu tiên.

    Hợp đồng giao dịch quyền chọn mua – bán ngoại tệ (sau đây gọi tắt là hợp đồng quyền chọn): là một thỏa thuận bằng văn bản giữa hai bên, theo đó bên mua quyền có quyền, nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ thể, với tỷ giá thực hiện đã thỏa thuận trước vào một thời điểm xác định trong tương lai. Nếu bên mua quyền thực hiện quyền của mình thì, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước.

    Giấy đề nghị thực hiện hợp đồng là văn bản được Bên B gửi cho Bên A nhằm thực hiện hợp đồng quyền chọn (theo mẫu của Bên A)

    Quyền chọn mua (Call option): là quyền được mua ngoại tệ tại tỷ giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian hoặc thời điểm đã xác định.

    Quyền chọn bán (Put option): là quyền được bán ngoại tệ với tỷ giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian hoặc thời điểm đã xác định.

    Bên mua quyền lựa chọn: là người có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hoặc bán ngoại tệ theo tỷ giá đã thỏa thuận.

    Bên bán quyền lựa chọn: là người có nghĩa vụ phải thực hiện quyền lựa chọn theo hợp đồng đã ký kết với người mua quyền lựa chọn.

    Quyền lựa chọn kiểu Mỹ (American Style Option): Quyền lựa chọn có thể được thực hiện bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.

    61

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Quyền lựa chọn kiểu Châu Aâu (European Style Option): Quyền lựa chọn chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn của hợp đồng.

    Phí giao dịch (Premium): là khoản tiền người mua quyền lựa chọn phải trả cho ngân hàng (người bán quyền lựa chọn) để có được quyền lựa chọn.

    Tỷ giá thực hiện (Exercise/strike price): là tỷ giá được hai bên mua bán thỏa thuận và ấn định trong hợp đồng quyền lựa chọn.

    Điều 2: Thời hạn hiệu lực của hợp đồng giao dịch quyền chọn:

    Đây là khoảng thời gian quyền lựa chọn có thể được thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền được tính từ ngày ký hợp đồng cho đến trước 11h00 sáng (giờ Hà Nội) của ngày đáo hạn.

    Điều 3: Thời điểm thanh lý hợp đồng quyền chọn:

    Đây là thời điểm mà Bên B thực hiện hợp đồng hoặc hợp đồng quyền chọn hết thời hạn hiệu lực và các bên thực hiện hết các nghĩa vụ nêu trong hợp đồng.

    Điều 4: Ngày làm việc và giờ giao dịch :

    Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng giao dịch Quyền chọn, ngày làm việc của bên A là từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, trừ thứ bảy, chủ nhật và các ngày nghỉ lễ theo quy định của pháp luật Việt nam và ngày nghỉ của thị trường quốc tế với giờ giao dịch cụ thể như sau:

    Sáng : từ 07 giờ 30 phút đến 12 giờ 00 phút (giờ Hà Nội)

    Chiều : từ 13 giờ 00 phút đến 16 giờ 30 phút (giờ Hà Nội)

    Điều 5: Đồng tiền sử dụng trong giao dịch

    Bên A có thể cung cấp cho bên B hợp đồng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ cho các đơn vị tiền tệ sau: USD, GBP, CHF, JPY, AUD, CAD, EUR.

    Điều 6: Phương thức thanh toán phí của nghiệp vụ Quyền chọn

    62

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch quyền chọn, Bên B phải thanh toán đầy đủ phí Bên A. Phí chỉ được thanh toán bằng VND hay ngoại tệ chuyển khoản và được trích trực tiếp từ tài khoản Bên B. Phí này chưa bao gồm thuế VAT.

    Phí quyền chọn sẽ không được hoàn lại dưới bất kỳ hình thức nào, bất kể là bên A thực hiện hay không thực hiện hợp đồng quyền lựa chọn.

    Điều 7: Thực hiện hợp đồng

    Khi muốn thực hiện hợp đồng thì Bên B gửi giấy đề nghị thực hiện hợp đồng cho Bên A. Bên B phải gửi giấy đề nghị thực hiện hợp đồng đến đúng nơi mà Bên B đã ký hợp đồng trong giờ giao dịch của ngày làm việc và trong thời gian hiệu lực của hợp đồng. Giấy đề nghị thực hiện hợp đồng phải được đại diện hợp pháp của Bên B ký tên và đóng dấu (nếu có).

    Khi Bên B gửi giấy đề nghị thực hiện hợp đồng cho Bên A thì hai bên sẽ tiến hành thực hiện các điều khoản đã nêu trong hợp đồng.

    Điều 8: Thanh lý hợp đồng quyền chọn

    Hợp đồng quyền chọn sẽ tự động được thanh lý trong những trường hợp sau đây:

    • Hai bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng quyền chọn.
    • Đến 11h00 sáng của ngày đáo hạn hợp đồng quyền chọn mà Bên A không nhận được giấy đề nghị thực hiện hợp đồng do Bên B gửi tới theo quy định của hợp đồng. Mọi chi phí và rủi ro bên B tự gánh chịu mà không ràng buộc bất cứ trách nhiệm và nghĩa vụ nào đối với bên A.

    Điều 9: Quyền và nghĩa vụ bên A

    Được hưởng phí trong mọi trường hợp cho dù Bên B có thực hiện hay không thực hiện hợp đồng.

    Có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng khi bên B yêu cầu trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.

    Điều 10: Quyền và nghĩa vụ bên B

    Có quyền thực hiện hay không thực hiện hợp đồng giao dịch quyền chọn tiền tệ.

    Có nghĩa vụ thanh toán phí cho Bên A ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn.

    Có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ và đúng hạn khi thực hiện hợp đồng.

    63

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Điều 11: Các quy định chung

    Thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền lựa chọn này có hiệu lực trong vòng 365 ngày kể từ ngày ký.

    Mọi điều chỉnh và bổ sung trong thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền chọn cũng như hợp đồng quyền chọn phải được sự chấp thuận của hai bên và được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận hữu quyền của các bên.

    Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng. Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên sẽ cùng hoà giải hoặc thương lượng trên tinh thần hợp tác. Trong trường hợp không tự giải quyết được, tranh chấp giữa các bên sẽ được đưa ra Toà án có thẩm quyền tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Thỏa thuận chung về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ này được lập thành 02 (hai) bản có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ một bản để làm căn cứ thực hiện.

    Hai bên đã đọc kỹ và hiểu rõù tất cả các điều khoản trong thỏa thuận này.

    ĐẠI DIỆN BÊN B                                                                    ĐẠI DIỆN BÊN A

    Bộ phận đang giao dịch phải thông báo cho Treasury các thông số về tỉ giá, phí quyền chọn mà khách hàng đã chấp nhận.

    Bước 6:

    Khách hàng thanh toán phí quyền chọn cho ngân hàng thông qua chuyển trực tiếp ngoại tệ hay VND chuyển khoản cho ngân hàng.

    Bước 7:

    Bộ phận giao dịch chuyển kết quả giao dịch sang bộ phận hạch toán của ngân hàng.

    CHÚ Ý:

    Nếu khách hàng muốn thực hiện hợp đồng quyền chọn trước hoặc đúng ngày đáo hạn thì phải gửi giấy đề nghị đến đúng nơi mà khách hàng đã kí hợp đồng.

    64

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

    Số:     TH1/OPT/EIB/KD/06

    GIẤY ĐỀ NGHỊ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

    —– – Ù — —–

    Kính gửi : Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank)

    Căn cứ vào hợp đồng quyền lựa chọn mua-bán ngoại tệ số:  ……/HD/OPT/EIB/KD/06

    ngày……………….; Nay Bên B đề nghị Ngân hàng Xuất nhập Khẩu Việt Nam (Bên A)

    thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, cụ thể theo các chi tiết sau:

    Loại quyền chọn:………………………………………… Số lượng ngoại tệ:………………………………………..

    (Bằng chữ:…………………………….)

    Tỷ giá:……………………………….. Tương đương:………..

    (Bằng chữ……………………………)

    Ngày thực hiện : ……………………………………………………………………………………

    Ngày……………Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam được phép:

    • Ghi nợ số tiền:……………………..
    • Từ tài khoản số: …………… của Bên B tại Eximbank
    • Ghi có số tiền:………………………
    • Vào tài khoản số:…………………..(số tài khoản ngoại tệ mua) của Bên B tại Eximbank .

    Giấy đề nghị này là một phần không thể tách rời với hợp đồng quyền lựa chọn mua-bán ngoại tệ số ………/HD/OPT/EIB/KD/…. và “Thoả thuận chung về nghiệp vụ quyền

    lựa chọn tiền tệ” số ……../TT/OPT/EIB/KD/ ….

    65

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7 GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ
       
       
      Ngày…..tháng……năm…..
      ĐẠI DIỆN BÊN B

    Khách hàng mua ngoại tệ bằng VND thông qua việc thực hiện hợp đồng Option với quyền chọn mua vào ngày đáo hạn hợp đồng phải xuất trình chứng từ thanh toán cho Ngân hàng theo các quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Đối với các hợp đồng Option giữa ngoại tệ với ngoại tệ, không yêu cầu xuất trình chứng từ thanh toán.

    66

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    B- HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG MỘT PHẦN MỀM GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN THẾ GIỚI.

    Loading

    CORE Options AT A GLANCE

    DISCOVER CORE Options

    • User-friendly design .
    • One Touch – One Fill model.
    • Auto-execution on streaming prices for fixed expirations .
    • Request for prices on any date on any currency pair.

    ROBUST AND RELIABLE

    • Select between Limit or Market order types.
    • Mark to market “Live” statement values.
    • State of the art Risk Management.
    • Full disclosure on all option variables.
    • Flexible expiration dates and times (GMT, EST and CST).

    67

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Loading

    1. LOGIN SCREEN

    First of all, please make sure that you are connected to the internet. In order to access the CORE Options trading platform, you must have an internet connection.

    Once you double click the CORE Options icon, the Login Screen will be launched at your screen in a few seconds. Please type your username and password, then press the Login button .

    68

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    If you receive a “Wrong Username or Password” error message, please make sure that you re-enter your username and password properly.

    Loading

    1. MAIN SCREEN

    Once the Log-in process is completed successfully, the main frame of CORE Options will be launched at your screen.

    The main screen consists of three default windows: Quotes, Order Ticket and Order Status . On the top, located are the buttons of the

    69

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    “Quick Tool Bar” for Layouts, Quotes, Order Ticket, Order Status, Message Log, Statements, Intro Movie, User Manual, Option Chat, Log-Out and also the “Internet Connection Status Bar” where the green bars indicate the status of your internet connection. The option parity, market, bid/ask prices and high/low prices, expiration date and days to expire are located in the Quotes window .

    On the right side, bar are the buttons for Account Values, News and Messages.

    1. QUOTES

    This window is designed to give you the optimum information for you to execute optimal transactions. You can find here displayed: The Option contracts, Bid/Ask prices, High/ Low bid prices, Volatility, and Delta, all on real-time basis . Also on top you can see the parity selected and its Bid/ Ask prices, High/Low bidprices as well as the Expiration Date and Days to Expiry.

    Once you click on a contract, your selection will be highlighted making it easy to distinguish from the others. Together with that, the Order Ticket window will automatically adapt the corresponding contract in a Market Order type ticket. From then on, you

    70

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    can send your Market order just by clicking on Buy/Sell buttons … Another feature representing fast and reliable trading mission of CORE Options .

    You can enlarge the Quotes window, or drag it through the screen as you wish. If you right click anywhere on the window, and select “Price Details”, the Option Price Details window will be launched. On this window you can view the prices, volatility and delta, as well as the Theta, Gamma, Vega, Rho and the underlying parity prices for each contract of the auto-executable date.

    Loading

    1. EXPIRATION SETTINGS

    The Expiration Settings are located on the Quotes window. You can customize the underlying parity, expiration month and the contract type for the live quotes displayed in the Quotes Window. Besides it gives you a live summary on the bid, ask, high and low prices of the underlying parity for the options displayed in the Quotes window.

    71

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    In the Quotes window, you can select between 11 different parities, 12 months starting from the current month and ahead, and two options types: Call and Put. Your selections will be instantly reflected in the Q uotes window accordingly .

    1. ORDER TICKET

    This window is where you trade in CORE Options . Here, you can review and place your new order. It is located at the center of the Main Screen as the default location. It can also be displayed by clicking on the “Order Ticket” button located on the top, at the “Quick Tool Bar”.

    Menu

    Market Order

    Limit Order

    Request For Quote (RFQ)

    72

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Here is a quick summary o f where you can set some major parameters for your order:

    Underlying Parity: You can select the underlying parity out of 11 different parities from the Expiration Settings on the top of the Quotes window (see chapter 4).

    Option Type: You can set the option type to either Call or Put using the Contract Type pull-down menu located on the Expiration Settings on the top of the Quotes window (see chapter 4).

    Order Type: There are two types of orders to conduct: Market orders, and Limit Orders. In order to select one of these order types, use the Order Type pull-down menu located at the top-right of the Order Ticket window.

    Strike Price: You can either make your selection from the Quotes window for auto-execution; or you can type the desired value in the Strike Price box located at center-top of the Order Ticket window.

    Expiration Date: The contracts listed on the Quotes window are the ones which are available for auto-execution . However, you can select any expiration date from the Expiry Date pull-down calendar located on top-left of the Order Ticket window, and submit your order through RFQ.

    Premium: This is the box where you can enter your limit price for a Limit order. However, this box will not be active for a market order.

    Contract Size: You can arrange the contract size from the Amount pull -down menu located on the very top -right corner of Order Ticket window. You can select any size between 100K-1M.

    Buy/Sell $ Value: This is the total amount you have to pay (for “buy” orders); or the amount you will receive (for “sell” orders), once

    73

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    the order is executed.

    Margi n: This is the initial amount required to be deposited in your account in order to hold this position .

    5.1 Market Order

    A Market order is executed at the best possible market price.

    In order to conduct a Market order;

    1. Choose the underlying parity, e.g. EUR/USD, GBP/USD, you want to buy/sell from the Expiration Settings on the top of the Quotes window .
    2. Select the option type, i.e. Call or Put.
    1. Select the expiration month from the Expiration Settings on the top of the Quotes window.
    1. Click on the contract of interest on the Quotes window, and the Order Ticket will assume its prices automatically.
    1. If you wish another date than listed on the Quotes window, click on the Expiry Date calendar located on the Order Ticket window, select the date of your choice and proceed with RFQ.
    1. Select Market from the Order Type menu on the Order Ticket
    1. Make sure that the underlying parity, expiration date, option type, and the prices displayed on the BUY/SELL buttons represent your selections.

    For Market orders, the price will be fixed at the market price, and you won’t be able to adjust it . However, if you click the “Worse Limit” tick box, you will be able to set a safety margin increment or decrement for your order. This is a caution against instant price jumps/drops in the market.

    1. If you want to sell the contract(s), click the “SELL” button, or if you want to buy the contract(s) click the “BUY” button .
    1. CORE Options will ask for your confirmation. If you are sure about your order, click the “YES” button, otherwise click “NO“.

    An informative message(s) will appear on the right hand side of your platform once your order(s) is executed. You can also check your messages from the Messages tab on the right side-bar. You can check your order status from the Order Status window as well.

    74

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    One alternative way to give a Market order is a shortcut: If you click on the bid price of any contract on the Quotes window, you will receive a sell-at-the-market ticket as seen below. Please note that this is a quick order ticket, and the quantity is limited with 100K.

    If you double-click on the ask price of any contract on the Quotes window, you will receive a buy-at-the-market ticket as seen below . Please note that this is a quick order ticket, and the quantity is limited with 100K.

    Warning: Please keep in mind that, through quick-ticket orders, your order will be executed instantly once you click on buy/sell button. You will not be asked for another confirmation.

    75

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    5.2 Limit Order

    A “Lim it order” is an order to buy at the limit price or lower, or to sell at the limit price or higher.

    In order to conduct a Limit order;

    1. Choose the underlying parity, e.g. EUR/USD, GBP/USD, you want to buy/sell from the Expiration Settings on the Quotes window.
    1. Select the option type, i.e. Call or Put.
    1. Select the expiration month from the Expiration Settings on the top of the Quotes window.
    1. Click on the contract of interest on the Quotes window, and the Order Ticket will assume its prices automatically.
    1. If you wish another date than listed on the Quotes window, click on the Expiry Date calendar located on the Order Ticket window, select the date of your choice and proceed with RFQ.
    2. Select Limit from the Order Type menu on the Order Ticket window .
    1. Make sure that the underlying parity, expiration date, option type and the prices displayed on the BUY/SELL buttons represent your selections.

    For Limit orders, you can adjust your limit price using the Premium box on the Order Ticket window. This will give you the option to submit a working buy/sell order for this contract at this price.

    1. If you want to sell the contract(s), click the “SELL” button, or if you want to buy the contract(s) click the “BUY” button .
    1. CORE Options will ask for your confirmation. If you are sure about your order, click the “YES” button, otherwise click “NO“.

    Once your order(s) is submitted, you can track your Limit orders from the Working section of the Order Status window. Once executed, they will be moved to Filled orders section .

    76

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    5.3 Request For Quote (RFQ)

    RFQ is used for contracts with expiry dates which are out of the range of auto-execution, or for contracts with strike prices other than the ones listed. In order to perform an RFQ for a limit or market order;

    1. Click on the Expiry Date calendar located on Order Ticket window, select the date of your choice and Order Type from Market or Limit . Observe the BUY/SELL buttons changed to RFQ BUY/RFQ SELL.

    You generally have 60 seconds to submit your Market Order and 120 seconds for your Limit RFQ orders. In order to execute an order, you should either click on the Sell or Buy buttons . Please observe the RFQ prices located next to these buttons .

    77

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Once the order is submitted, you can track it from your Working Order window or Filled Order window if it is executed.

    1. ORDER STATUS

    The Order Status window shows the orders which were conducted by the user. Here, you can examine your Filled, Working, Cancelled, Rejected orders and Positions. In order to switch through these orders, click on the appropriate tab located at the top of the Order Status window.

    The Orders window can be enlarged, or dragged across the screen. Some abbreviations that you may come across in your ticket information are as follows:

    GTM means “Good Till Market”

    GTT means “Good Till Time”

    78

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    G TC means “Good Till Canceled”.

    6.1 Canceling or Editing a Working Order

    If you want to cancel or edit a working order, just right click anywhere on the order, under the Working Orders tab and use the options given in the Edit or Cancel Trade window.

    Here, you can modify your selections and then click on the Edit Order button, and your order will be updated accordingly in your Working Orders section. Or, to cancel your order, you can click on the Cancel Order button. Doing so, this order will be immediately cancelled and it will be moved to the “Canceled Orders” section of your Order Status window . If you would like to leave it as it is, then just click Quit button and close this window without any modification to your order.

    Please note that, you can only cancel or edit a contract as long as it is not executed yet.

    WARNING: The cancel request will be executed at once without asking any confirmation when you click on “Cancel Order“.

    Loading

    1. INTERNET CONNECTION STATUS BAR

    This Indicator allows you to view the status of your internet connection. The more the green bars, mean that the stronger is your connection.

    The green indicator simply tells that you are online and the program is getting live data via internet.

    79

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    If all the bars look faded, it means that your internet connection is lost. Then CORE Options may not operate properly. In such a case, please re-establish your internet connection.

    WARNING: Without a proper internet connection, you will NOT be able to get real-time quotes on the trading platform and will be banned from executing transactions and executing orders.

    1. ACCOUNT VALUE

    This window is located on the right to the main screen and provides the latest changes on your account values. That is, it displays a quick view and summary o f your account.

    The Beginning Balance represents the amount of your initial equity . The Long Option Premium is the total amount you gained/lost due to your long position contracts . The Short Option Premium is the total amount you gained/lost due to your short position contracts . The Net Option Premium is the summation of all your gains/losses from the total of your option positions.

    The Total Spot PL (Profit/Loss) is calculated from the positions that you have on spots. The Total Equity represents the summation of your beginning balance and the net option premium. The Net Option Value is the total market value of open options positions. The Liquidation Value represents the total value of the equity and net option value of your account. Account Excess is the available funds in your account, that is the amount once the Option Margin is dropped out of your total liquidation value.

    1. STATEMENTS

    This section provides you detailed reports on your, Daily Account Statement, Daily Account Summary, Monthly Statement, Monthly Statement, Journal Entry, All Trades, Wires and Account Group Statements.

    80

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Here, in this statement window, you can change your password as well. Just click on the “Change Password” button, located on the menu.

    Once the appropriate form is launched, enter your old password and your new password twice. When you’re done, click the “Submit” button . If the information is entered properly, you will receive the message “Your password has successfully been changed”.

    81

    Thị trường Quyền chọn ngoại tệ – Nhóm 7                                                     GVHD: TS. Thân Thị Thu Thuỷ

    Loading

    1. LEAVING CORE Options

    In order to exit CORE Options, just click on the “Log Out” button located on the Quick Tool Bar. A pop-up window will come up, asking whether you have checked all Working Orders and Open Positions. You can also save the changes you made to layout ‘Default’ if you prefer to by ticking the box.

    If you want to leave CORE Options click on the “Yes” button, or if you decide to return to the system click on the “No” button.

    82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-cho-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-B%C3%A0i-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – thực trạng

    và giải pháp cho sự phát triển (Bài 1)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Theo cam kết gia nhập WTO mà Việt Nam đã tham gia vào đầu năm 2007, mở cửa thị trường là vấn đề tất yếu xảy ra, trong đó có thị trường tài chính. Mở cửa thị trường tài chính sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho nền kinh tế và thị trường tài chính phát triển.

    Tuy nhiên, nó cũng gây ra nhiều mặt trái, tác hại nghiêm trọng. Khi dòng vốn được tự do luân chuyển ra vào nền kinh tế, lưu lượng vốn ra vào nền kinh tế sẽ lớn hơn. Khi đó, bất kỳ sự chảy vào hay rút ra đột ngột của dòng vốn đều gây ra những rủi ro khôn lường cho thị trường tài chính cũng như nền kinh tế, đặc biệt gây tác hại đầu tiên và rõ ràng nhất là thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán. Do đó, vấn đề cần đặt ra là phải cần có những công cụ tài chính hữu hiệu để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro xảy đến cho nền kinh tế và thị trường tài chính trong tương lai, đặc biệt là thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán, đồng thời để làm cơ sở thúc đẩy sự phát triển bền vững của hai thị trường này cũng như toàn bộ thị trường tài chính Việt Nam.

    Một trong số đó là công cụ quyền chọn (options), một dạng của các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tài chính rất phổ biến trên thế giới. Loạt bài viết “Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển” dưới đây xin giới thiệu tổng quan về quyền chọn, thực trạng cũng như giải pháp để phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán trong thời gian tới ở Việt Nam.

    Bài 1:Tổng quan về quyền chọn

    1.Khái niệm về quyền chọn (options)

    Quyền chọn là một công cụ tài chính phái sinh cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bị bắt buộc phải bán hoặc mua một tài sản cơ sở (underlying asset) nào đó ở một mức giá xác định (strike price hoặc exercise price) vào một ngày đáo hạn (expiration date) hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. Ngược lại, đối với người bán quyền chọn, họ bắt buộc phải mua hoặc bán một tài sản cơ sở nào đó ở một mức giá xác định vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai theo thỏa thuận giữa hai bên.

    Tài sản cơ sở (underlying asset) ở đây có thể là các loại hàng hoá (dầu, vàng, gạo, cà phê, ngũ cốc, sắt, thép…), dịch vụ (tiền điện, cước viễn thông…) hoặc các tài sản tài chính (trái phiếu, cổ phiếu, ngoại tệ, lãi suất, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi…).

    1. Phân loại hợp đồng quyền chọn (Options) a. Theo quyền của người mua

    Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịch một lượng tài sản cơ sở nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trả cho người bán call options (B) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một ngày hoặc một khoảng thời gian xác định trong tương lai. B nhận được tiền từ A nên B có trách nhiệm phải bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện đã thỏa thuận vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi A muốn thực hiện quyền mua của mình.

    Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi xem xét với mức giá giao ngay của tài sản cơ sở ở ngày này, nếu thấy có lợi cho mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện, A có thể thực hiện quyền của mình để được mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện, rồi ra thị trường bán lại với giá cao hơn để thu một khoản lợi nhuận. Nếu thấy giá của tài sản cơ sở dưới giá thực hiện, A có thể không cần phải thực hiện quyền mua của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.

    Hợp đồng quyền chọn bán (Put options): Là một thỏa thuận giao dịch một lượng

    tài sản cơ sở nhất định, theo đó người mua Put options (C) sẽ trả cho người bán

    Put options (D) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn bán hay phí Put options

    và C sẽ có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ phải bán lượng tài sản cơ sở đó

    theo một mức giá đã thỏa thuận trước (giá thực hiện) vào một ngày hoặc một

    khoảng thời gian xác định trong tương lai. D nhận được tiền từ C, nên có nghĩa vụ

    phải mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện vào ngày đáo hạn (nếu là

    quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký

    hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi C muốn thực hiện

    quyền được bán của mình.

    Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi xem xét giá giao ngay của tài sản cơ sở trên thị trường, nếu thấy có lợi cho mình, tức mức giá này nhỏ hơn giá thực hiện, C có thể thực hiện quyền của mình để được bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện sau khi đã mua được ở ngoài thị trường với giá thấp hơn để thu một khoảng lợi nhuận. Nếu thấy giá giao ngay cao hơn giá thực hiện, C có thể không cần phải thực hiện quyền chọn bán của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.

    1. Theo thời điểm thực hiện quyền chọn

     

    Quyền chọn kiểu Châu Âu (European options): Là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vào ngày đáo hạn.

    Quyền chọn kiểu Mỹ (American options): Là quyền chọn cho phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết ngày đáo hạn của hợp đồng. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận (trong thời gian hiệu lực của hợp đồng).

    1. Theo thị trường giao dịch

    Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: Là quyền chọn được tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giao dịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, thị trường chứng khoán New York…Do đó, tính minh bạch của thị trường rất cao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợp đồng giao dịch được công bố chi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảo cho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác. Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, điều này cho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các thị trường tập trung kiểu này. Trên thế giới, thị trường giao dịch quyền chọn theo kiểu này chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới.

    Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): Là thỏa thuận mua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một người mua, chúng không được giao dịch trên các sở giao dịch tập trung. Hợp đồng thường được giao dịch

    giữa các đối tác liên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp. Do các hợp đồng quyền chọn không được chuẩn hóa, chi tiết của hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rất cao, đáp ứng được các nhu cầu cá biệt của các khách hàng. Dù vậy, các giao dịch quyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới.

    1. Theo tài sản cơ sở

    Theo cách phân loại này thì có vô số loại hợp đồng quyền chọn, vì trên lý thuyết, bất kì một tài sản cơ sở nào cũng có thể phát sinh một quyền chọn dựa trên nó. Do đó, có thể phân thành các nhóm chính sau:

    Đối với hàng hóa: bao gồm quyền chọn cà phê, vàng, xăng dầu, sắt, thép, ngũ cốc, khí đốt…

    Đối với dịch vụ: gồm quyền chọn tiền taxi, tiền điện, cước viễn thông…

    Đối với tài sản tài chính: gồm quyền chọn ngoại tệ, lãi suất, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, chỉ số chứng khoán…

    Hiện nay, trên thế giới, các giao dịch quyền chọn dựa trên các tài sản tài chính chiếm một tỉ trọng lớn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… Bên cạnh đó, do là những hàng hóa đặc biệt quan trọng nên quyền chọn vàng và dầu cũng chiếm một tỉ trọng khá lớn.

    Mặc dù các giao dịch quyền chọn phi tập trung chỉ chiếm khoảng 2% tổng giá trị giao dịch quyền chọn trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, do thị trường quyền chọn còn khá mới mẻ, chưa phát triển nên các giao dịch quyền chọn phi tập trung chiếm một tỉ trọng tuyệt đối, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]