Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Môi giới bất động sản, mô hình và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-CHU%E1%BA%A8N-M%E1%BB%B0C-S%E1%BB%90-05-B%E1%BA%A4T-%C4%90%E1%BB%98NG-S%E1%BA%A2N-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN- CHUẨN MỰC SỐ 05 – BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    CHUẨN M ỰC SỐ 05

    BẤT ĐỘNG SẢN ĐẦU TƯ

    Quy định chung

    1. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán đối với bất động sản đầu tư, gồm: Điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư, xác định giá trị ban đầu, chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu, xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu, chuyển đổi mục đích sử dụng, thanh lý bất động sản đầu tư và một số quy định khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
    1. Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán bất động sản đầu tư, trừ khi có chuẩn mực kế toán khác cho phép áp dụng phương pháp kế toán khác cho bất động sản đầu tư.
    1. Chuẩn mực này cũng quy định phương pháp xác định và ghi nhận giá trị bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính của bên đi thuê theo hợp đồng thuê tài chính và phương pháp xác định giá trị bất động sản đầu tư cho thuê trong báo cáo tài chính của bên cho thuê theo hợp đồng thuê hoạt động.

    Chuẩn mực này không áp dụng đối với các nội dung đã được quy định trong Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”, bao gồm:

    • Phân loại tài sản thuê thành tài sản thuê tài chính hoặc tài sản thuê hoạt động;
    • Ghi nhận doanh thu cho thuê bất động sản đầu tư (Theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”);
    • Xác định giá trị bất động sản thuê hoạt động trong báo cáo tài chính của bên đi thuê;
    • Xác định giá trị bất động sản thuê tài chính trong báo cáo tài chính của bên cho thuê;
    • Kế toán đối với các giao dịch bán và thuê lại;
    • Thuyết minh về thuê tài chính và thuê hoạt động trong báo cáo tài chính.
    1. Chuẩn mực này không áp dụng đối với:
    • Những tài sản liên quan đến cây trồng, vật nuôi gắn liền với đất đai phục vụ cho hoạt động nông nghiệp; và
    • Quyền khai thác khoáng sản, hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu mỏ, khí tự nhiên và những tài nguyên không tái sinh tương tự.
    1. Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau:

    Bất động sản đầu tư: Là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để:

    1. Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc

     

    1. Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.

    Bất động sản chủ sở hữu sử dụng: Là bất động sản do người chủ sở hữu hoặc ngườ i đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý.

     

    Nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí bằng tiền hoặc tương đươ ng tiền mà doanh nghiệ p phải bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản đưa ra để trao đổi nhằm có được bất động s ản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.

    Giá trị còn lại: Là nguyên giá của bất động sản đầu tư sau khi trừ (-) số khấu hao luỹ kế của bất động sản đầu tư đó.

    1. Ví dụ bất động sản đầu tư:

    (a). Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ trong thời gian dài để chờ tăng giá;

    (b). Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ mà chưa xác định rõ mục đích sử dụng trong tương lai;

    (c). Nhà do doanh nghiệp sở hữu (hoặc do doanh nghiệp thuê tài chính) và cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;

    (d). Nhà đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;

    (e). Cơ sở hạ tầng đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động.

    1. Ví dụ bất động sản không phải là bất động sản đầu tư:
    • Bất động sản mua để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”);
    • Bất động sản được xây dựng cho bên thứ ba (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 15 “Hợp đồng xây dựng”);
    • Bất động sản chủ sở hữu sử dụng (Kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 03 “Tài sản cố định hữu hình”), bao gồm bất động sản nắm giữ để sử dụng trong tương lai như tài sản chủ sở hữu sử dụng, tài sản nắm giữ để cải tạo, nâng cấp và sử dụng sau này trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường như bất động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản cho nhân viên sử dụng (Cho dù nhân viên có trả tiền thuê tài sản theo giá thị trường hay không) và bất động sản chủ sở hữu sử dụng chờ thanh lý;
    • Bất động sản đang trong quá trình xây dựng chưa hoàn thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng bất động sản đầu tư.
    1. Đối với những bất động sản mà doanh nghiệp nắm giữ một phần nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoạt động hoặc chờ tăng giá và một phần sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc cho quản lý thì nếu những phần tài sản này được bán riêng rẽ (hoặc cho thuê riêng rẽ theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động), doanh nghiệp sẽ hạch toán các phần tài sản này một cách riêng rẽ. Trường hợp các phần tài sản này không thể bán riêng rẽ, thì chỉ coi là bất động sản đầu tư khi phần được nắm giữ để phục vụ cho sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc phục vụ cho mục đích quản lý là phần không đáng kể.
    1. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là phần không đáng kể trong toàn bộ thoả thuận thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản này là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu toà nhà cho thuê văn phòng đồng thời cung cấp dịch vụ bảo dưỡng và an ninh cho những người thuê văn phòng.
    1. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là phần đáng kể thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản đó là bất động sản chủ sở hữu sử dụng. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu và quản lý một khách sạn, dịch vụ cung cấp cho khách hàng chiếm một phần quan trọng trong toàn bộ thoả thuận, thì khách sạn đó được hạch toán là bất động sản chủ sở hữu sử dụng.
    1. Trường hợp khó xác định là bất động sản đầu tư, hay là bất động sản chủ sở hữu sử dụng, doanh nghiệp cần xác định trên cơ sở những đặc điểm cụ thể để có thể thực hiện phù hợp với định nghĩa bất động sản đầu tư và các quy định có liên quan trong các đoạn 06,07,08,09,10 và thuyết minh rõ trên báo cáo tài chính theo quy định tại đoạn 31 (d).
    1. Trường hợp, một doanh nghiệp cho công ty mẹ hoặc công ty con khác thuê hoặc sử dụng và nắm giữ một bất động sản thì bất động sản đó không được coi là bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn, nhưng doanh nghiệp sở hữu bất động sản đó được coi là bất động sản đầu tư nếu nó thỏa mãn định nghĩa bất động sản đầu tư và được trình bày trong báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp sở hữu bất động sản.

    Nội dung chuẩn mực

    Điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư

    1. Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:
      • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; và

     

    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

     

    1. Khi xác định một bất động sản đầu tư có thỏa mãn điều kiện thứ nhất để được ghi nhận là tài sản hay không, doanh nghiệp cần phải đánh giá mức độ chắc chắn gắn liền với việc thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai mà chúng có thể mang lại trên cơ sở những thông tin hiện có tại thời điểm ghi nhận. Điều kiện thứ hai để ghi nhận một bất động sản đầu tư là tài sản thường dễ được thoả mãn vì giao dịch mua bán, trao đổi chứng minh cho việc hình thành bất động sản đã xác định giá trị của bất động sản đầu tư.

    Xác định giá trị ban đầu

    1. Một bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm cả các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban

    đầu.

    1. Nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: Phí dịch vụ tư vấn về luật pháp liên quan, thuế trước bạ và chi phí giao dịch liên quan khác…
    1. Nguyên giá của bất động sản đầu tư tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan trực tiếp của bất động sản đầu tư tính đến ngày hoàn thành công việc xây dựng. Từ khi bắt đầu xây dựng cho đến ngày hoàn thành công việc xây dựng doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán số 03 “Tài sản cố định hữu hình” và Chuẩn mực

    kế toán số 04 “Tài sản cố định vô hình”. Tại ngày tài sản trở thành bất động sản đầu tư thì áp dụng chuẩn mực này (xem đoạn 23 (e)).

    1. Nguyên giá của một bất động sản đầu tư không bao gồm các chi phí sau:
    • Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động);
    • Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến;
    • Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
    1. Trường hợp mua bất động sản đầu tư thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của bất động sản đầu tư được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 16 “Chi phí đi vay”.

    Chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu

    1. Chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư.
    1. Việc hạch toán các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu phụ thuộc vào từng trường hợp có xem xét đến việc đánh giá và ghi nhận ban đầu của khoản đầu tư liên quan. Chẳng hạn, trường hợp giá mua tài sản bao gồm nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì chi phí đó cũng được tính vào nguyên giá. Ví dụ: Mua một ngôi nhà với yêu cầu phải nâng cấp thì chi phí nâng cấp phát sinh được ghi tăng nguyên giá của bất động sản

    đầu tư.

    Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu

    1. Sau ghi nhận ban đầu, trong thời gian nắm giữ bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.

    Chuyển đổi mục đích sử dụng

    1. Việc chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư hoặc từ bất động sản đầu tư sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng như các trường hợp sau:
    1. Bất động sản đầu tư chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử dụng tài sản này;
    2. Bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai cho mục đích bán;

     

    1. Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển thành bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu kết thúc sử dụng tài sản đó;

     

    1. Hàng tồn kho chuyển thành bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt động;
    2. Bất động sản xây dựng chuyển thành bất động sản đầu tư khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn giao đưa vào đầu tư (Trong giai đoạn xây dựng phải kế toán theo Chuẩn mực kế toán số 03 “ Tài sản cố định hữu hình”).
    1. Theo yêu cầu của đoạn 23b, doanh nghiệp chuyển một bất động sản đầu tư sang hàng tồn kho chỉ khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng, bằng chứng là sự bắt đầu của việc triển khai cho mục đích bán. Khi một doanh nghiệp quyết định bán một bất động sản đầu tư mà không có giai đoạn nâng cấp thì doanh nghiệp đó phải tiếp tục coi bất động sản đó là một bất động sản đầu tư cho tới khi nó được bán (không còn được trình bày trên Bảng cân đối kế toán) và không được hạch toán tài sản đó là hàng tồn kho. Tương tự, nếu doanh nghiệp bắt đầu nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư hiện có với mục đích tiếp tục sử dụng bất động sản đó trong tương lai như một bất động sản đầu tư, thì bất động sản đó vẫn là một bất động sản đầu tư và không được phân loại lại như một bất động sản chủ sở hữu sử dụng trong quá trình nâng cấp cải tạo.
    1. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển đổi và không làm thay đổi nguyên giá của bất động sản trong việc xác định giá trị hay để lập báo cáo tài chính.

    Thanh lý

    1. Một bất động sản đầu tư không còn được trình bày trong Bảng cân đối kế toán sau khi đã bán hoặc sau khi bất động sản đầu tư không còn được nắm giữ lâu dài và xét thấy không thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc thanh lý bất động sản đầu tư đó.
    1. Việc thanh lý một bất động sản đầu tư có thể xảy ra sau khi bán hoặc sau khi ký hợp đồng cho thuê tài chính. Để xác định thời điểm bán bất động sản đầu tư và ghi nhận doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”. Việc bán bất động sản cho thuê tài chính hoặc giao dịch bán và thuê lại bất động sản đầu tư, doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”.
    1. Các khoản lãi hoặc lỗ phát sinh từ việc bán bất động sản đầu tư được xác định bằng số chênh lệch giữa doanh thu với chi phí bán và giá trị còn lại của bất động sản đầu tư. Số lãi hoặc lỗ này được ghi nhận là thu nhập hay chi phí trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ (Trường hợp bán và thuê lại tài sản là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”).
    1. Khoản doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư được ghi nhận theo giá trị hợp lý. Trường hợp bán theo phương thức trả chậm, thì khoản doanh thu này được xác định ban đầu bằng giá bán trả ngay. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá bán trả ngay được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”.

    Trình bày báo cáo tài chính

    1. Nội dung trình bày báo cáo tài chính quy định trong chuẩn mực này được áp dụng cùng với những qui định trong Chuẩn mực kế toán số 06 “Thuê tài sản”. Đối với

    bên cho thuê phải trình bày nội dung cho thuê hoạt động. Đối với bên đi thuê phải trình bày nội dung thuê tài chính.

    1. Doanh nghiệp cần trình bày trên báo cáo tài chính những nội dung sau:
    • Phương pháp khấu hao sử dụng;
    • Thời gian sử dụng hữu ích của bất động sản đầu tư hoặc tỷ lệ khấu hao sử dụng;
    • Nguyên giá và khấu hao luỹ kế tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ;
    • Tiêu chuẩn cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng trong trường hợp gặp khó khăn khi phân loại bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng và với tài sản giữ để bán trong hoạt động kinh doanh thông thường;

     

    • Các chỉ tiêu thu nhập, chi phí liên quan đến cho thuê bất động sản, gồm:

     

    • Thu nhập từ việc cho thuê;

     

    • Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh (bao gồm chi phí sửa chữa và bảo dưỡng) phát sinh từ bất động sản đầu tư liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ việc cho thuê trong kỳ báo cáo;
    • Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh (bao gồm chi phí sửa chữa và bảo dưỡng) phát sinh từ bất động sản đầu tư không liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ việc cho thuê trong kỳ báo cáo.

     

    • Lý do và mức độ ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư;

     

    • Nghĩa vụ chủ yếu của hợp đồng mua, xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoặc bảo dưỡng, sửa chữa bất động sản đầu tư;

     

    • Trình bày những nội dung sau (không yêu cầu thông tin so sánh):

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng thêm, trong đó: Tăng do mua bất động sản và tăng do vốn hoá những chi phí sau ghi nhận ban đầu;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng do sáp nhập doanh nghiệp;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư thanh lý;

     

    • Nguyên giá bất động sản đầu tư chuyển sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho và ngược lại.

     

    • Giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán, lập báo cáo tài chính. Khi doanh nghiệp không thể xác định được giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư thì doanh nghiệp phải thuyết minh:

     

    • Danh mục bất động sản đầu tư;

     

    • Lý do không xác định được giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư.

     

    • * *

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Kế toán bất động sản đầu tư

     

    Kế toán bất động sản đầu tư

     

    Để tồn tại và phát triển thích ứng với một nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp luôn phải tìm cách đối phó với những cạnh tranh khốc liệt từ phía các doanh nghiệp khác, nhất là khi nền kinh tế thị trường Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, do vậy nhu cầu thông tin cho quản lý quá trình kinh doanh hiện nay là điều không thể thiếu. Kế toán – một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế – tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với tài chính Nhà nước mà còn vô cùng cần thiết đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp.

     

    Gần đây nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong tiến trình ®æi mới, mở cửa và hội nhập, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành và công bố nhiều chuẩn mực kế toán của Việt Nam cùng với các thông tư hướng dẫn kế toán thực hiện các chuẩn mực được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế trong cả nước.

     

    Kế toán bất động sản đầu tư là một phần hành kế toán tương đối mới, vừa được hướng dẫn thực hiện theo thông tư số 23/2005/TT-BTC ra ngày 30 tháng 3 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Đó cũng chính là đề tài mà tôi đã lựa chọn khi viết đề án môn học chuyên ngành kế toán tổng hợp của mình bởi lẽ nó sẽ giúp tôi có cơ hội tìm hiểu về những thay đổi của hệ thống kế toán Việt Nam.

     

    Sau một thời gian nghiên cứu bằng vốn kiến thức đã tích lũy được qua 3 năm theo học tại Khoa Kế toán Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tới nay đề tài của tôi đã hoàn tất với hy vọng được đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện công tác hạch toán kế toán nói chung và kế toán bất động sản đầu tư nói riêng. Mong muốn thì nhiều, song với tầm hiểu biết còn hạn hẹp bài viết sẽ không tránh khỏi những sai sót, vì vậy tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ cùng những ý kiến quý báu từ phía thầy cô và các bạn sinh viên trong và ngoài khoa Kế toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và tất cả những người quan tâm tới đề tài này để bài viết có

     

    1

     

    thể trở thành một tài liệu tham khảo thực sự có ích cho các bạn sinh viên trong quá trình học tập nghiên cứu.

     

    Qua đề tài này tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy Ngô Trí Tuệ – người đã hướng dẫn tôi hoàn thành bài viết này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Kế toán và các bạn sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu nghiên cứu.

     

    Hà nội, ngày 12 tháng 10 năm 2005

     

    Người viết

     

    Trịnh Thị Hải Yến

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    I.Cơ sở lý luận chung về bất động sản đầu tư

     

    1.     Khái niệm bất động sản đầu tư

     

    Bất động sản (BĐS) đầu tư là bất động sản, gồm: Quyền sử dụng đất; Nhà, hoặc

     

    một phần của nhà, hoặc cả nhà và đất; Cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính, nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để:

     

    • Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc:
    • Bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường.

    2.                 Các trường hợp được ghi nhận là bất động sản đầu tư

     

    • Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ trong thời gian dài để chờ tăng giá;
    • Quyền sử dụng đất (do doanh nghiệp bỏ tiền ra mua lại) nắm giữ mà chưa xác định rõ mục đích sử dụng trong tương lai;
    • Nhà do doanh nghiệp sở hữu (hoặc do doanh nghiệp thuê tài chính) và cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;
    • Nhà đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động;
    • Cơ sở hạ tầng đang được giữ để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động.

    Các trường hợp đặc biệt được ghi nhận là bất động sản đầu tư

     

    • Đối với những bất động sản mà một phần doanh nghiệp nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoạt động hoặc chờ tăng giá và một phần sử dụng cho sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc cho quản lý thì nếu những phần tài sản này được bán riêng rẽ (hoặc cho thuê riêng rẽ theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động), doanh nghiệp sẽ hạch toán phần tài sản dùng để cho thuê hoặc chờ tăng giá là bất động sản đầu tư còn phần tài sản dùng cho sản xuất và quản lý được hạch toán là TSCĐ hữu hình hoặc TSCĐ vô hình.

    Trường hợp bất động sản không bán được riêng rẽ và phần sử dụng cho kinh doanh hoặc cho quản lý là không đáng kể thì hạch toán là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp có một toà nhà có 80% diện tích chuyên cho thuê hoạt động và 20% diện tích sử dụng làm văn phòng công ty thì toà nhà đó được hạch toán là bất động sản đầu tư.

     

    3

     

    • Trường hợp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ liên quan cho những người sử dụng bất động sản do doanh nghiệp sở hữu là một phần tương đối nhỏ trong toàn bộ thoả thuận thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tài sản này là bất động sản đầu tư. Ví dụ: Doanh nghiệp sở hữu toà nhà cho các đơn vị khác thuê làm văn phòng (cho thuê hoạt động) đồng thời cung cấp dịch vụ bảo dưỡng và an ninh đối với toà nhà cho thuê này.
    • Trường hợp, một công ty con cho công ty mẹ hoặc công ty con khác trong cùng một công ty mẹ thuê hoặc sử dụng và nắm giữ một bất động sản thì bất động sản đó được hạch toán là bất động sản đầu tư trên báo cáo tài chính riêng của công ty con có bất động sản đó hoặc báo cáo tài chính riêng của công ty mẹ nếu công ty mẹ cho các công ty con thuê (nếu nó thoả mãn định nghĩa bất động sản đầu tư), nhưng không được phản ánh là bất động sản đầu tư trong báo cáo tài chính hợp nhất.

    3. Tính giá bất động sản đầu tư.

     

    3.1.Nguyên giá của bất động sản đầu tư: Là toàn bộ các chi phí (tiền mặt hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa ra trao đổi để có được bất động sản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.

     

    Tuỳ thuộc vào từng trường hợp, nguyên giá của bất động sản đầu tư được xác định như sau:

     

    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua bao gồm giá mua và các chi phí

    liên quan trực tiếp đến việc mua, như: phí dịch vụ tư vấn về luật pháp liên quan, thuế trước bạ và chi phí giao dịch liên quan khác…

    • Trường hợp mua bất động sản đầu tư thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá của bất động sản đầu tư được phản ánh theo giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua. Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay được hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 16- “Chi phí đi vay”;
    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư tự xây dựng là giá thành thực tế và các chi phí liên quan trực tiếp của bất động sản đầu tư tính đến ngày hoàn thành công việc xây dựng;
    • Trường hợp bất động sản thuê tài chính với mục đích để cho thuê hoạt động thoả mãn tiêu chuẩn ghi nhận là bất động sản đầu tư thì nguyên giá của bất động sản

     

    4

     

    đầu tư đó tại thời điểm khởi đầu thuê được thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 06 – “Thuê tài sản”.

     

    Các chi phí sau không được tính vào nguyên giá của bất động sản đầu tư:

     

    • Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này là cần thiết để đưa bất động sản đầu tư vào trạng thái sẵn sàng sử dụng);
    • Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến;
    • Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.

    3.2. Hao mòn bất động sản đầu tư: Trong quá trình nắm giữ để chờ tăng giá, hoÆc cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư bị giảm giá trị vì thế phải trích khấu hao. Khấu hao bất động sản đầu tư được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ.

    3.3. Giá trị còn lại: Là nguyên giá của bất động sản đầu tư sau khi trừ (-) số khấu hao lũy kế của bất động sản đầu tư đó.

    II.Kế toán bất động sản đầu tư

     

    1. Một số quy định khi hạch toán bất động sản đầu tư

     

    1- Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:

    • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;
    • Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

    2- Bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm cả các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu.

    3- Các chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư phát sinh sau ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chi phí này có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư.

     

    4- Sau ghi nhận ban đầu, trong thời gian nắm giữ, cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư được xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.

     

    5- Việc chuyển từ bất động sản đầu tư sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng hay hàng tồn kho và ngược lại chỉ được thực hiện khi có sự thay đổi về mục đích sử dụng như các trường hợp sau:

     

    5

     

    • Bất động sản đầu tư chuyển sang bất động sản chủ sở hữu sử dụng khi chủ sở hữu bắt đầu sử dụng tài sản này;
    • Bất động sản đầu tư chuyển sang hàng tồn kho khi chủ sở hữu bắt đầu triển khai các công việc sửa chữa, cải tạo nâng cấp cần thiết cho mục đích bán;
    • Bất động sản chủ sở hữu sử dụng chuyển sang bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu kết thúc sử dụng tài sản đó;
    • Hàng tồn kho chuyển sang bất động sản đầu tư khi chủ sở hữu bắt đầu cho bên khác thuê hoạt động;
    • Bất động sản xây dựng chuyển sang bất động sản đầu tư khi kết thúc giai đoạn xây dựng, bàn giao đưa vào đầu tư (trong giai đoạn xây dựng phải tuân theo Chuẩn mực kế toán số 03 – “Tài sản cố định hữu hình”).

    6- Khi một doanh nghiệp quyết định bán một bất động sản đầu tư mà không có giai đoạn sữa chữa, cải tạo nâng cấp thì doanh nghiệp vẫn tiếp tục ghi nhận là bất động sản đầu tư cho đến khi bất động sản đầu tư đó được bán mà không chuyển thành hàng tồn kho.

     

    7- Doanh thu từ việc bán bất động sản đầu tư được ghi nhận là toàn bộ giá bán (giá bán chưa có thuế GTGT đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế).

    Trường hợp bán bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm thì doanh thu được xác định theo giá bán trả ngay (giá bán chưa có thuế GTGT đối với trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế). Khoản chênh lệch giữa giá bán trả chậm và giá bán trả ngay và thuế GTGT được ghi nhận là doanh thu tiền lãi chưa thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 14 – “Doanh thu và thu nhập khác”.

     

    8- Đối với các đơn vị chuyên kinh doanh bất động sản thì được kế toán theo các trường hợp sau:

    • Đối với các bất động sản khi mua về đã xác định rõ mục đích để bán trong kỳ được kế toán tuân theo Chuẩn mực kế toán số 02 “Hàng tồn kho”;
    • Đối với bất động sản khi mua về chưa xác định rõ được mục đích sử dụng trong tương lai hoặc mua về để chuyên cho thuê hoạt động (thoả mãn điều kiện ghi nhận BĐS đầu tư) thì được kế toán tuân theo Chuẩn mực kế toán số 05 “Bất động sản đầu tư”.

    9- Riêng đối với các doanh nghiệp là ngân hàng, tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác, việc kế toán BĐS đầu tư được hướng dẫn trong một văn bản riêng.

     

    6

     

    2.Kế toán bất động sản đầu tư

     

    2.1. Tài khoản kế toán sử dụng – TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng, giảm bất động sản đầu tư của doanh nghiệp theo nguyên giá.

     

    2.1.1.Một số quy định khi hạch toán TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    • Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị bất động sản đủ tiêu chuẩn ghi nhận là bất động sản đầu tư. Không phản ánh vào tài khoản này giá trị bất động sản mua về để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc xây dựng để bán trong tương lai gần, bất động sản chủ sở hữu sử dụng, bất động sản trong quá trình xây dựng chưa hoàn thành với mục đích để sử dụng trong tương lai dưới dạng bất động sản

    đầu tư.

     

    • Bất động sản đầu tư được ghi nhận trên tài khoản này theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư: Là toàn bộ các chi phí (tiền mặt hoặc tương đương tiền) mà doanh nghiệp bỏ ra hoặc giá trị hợp lý của các khoản khác đưa ra trao đổi để có được bất động sản đầu tư tính đến thời điểm mua hoặc xây dựng hoàn thành bất động sản đầu tư đó.
    • Trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, hoặc cho thuê hoạt động phải tiến hành trích khấu hao bất động sản đầu tư. Khấu hao bất động sản đầu tư được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ. Doanh nghiệp có thể dựa vào các bất động sản chủ sở hữu sử dụng cùng loại để ước tính thời gian sử dụng hữu ích và xác định phương pháp khấu hao của bất động sản đầu tư.
    • Đối với những bất động sản đầu tư được mua vào nhưng phải tiến hành xây dựng, cải tạo, nâng cấp trước khi sử dụng cho mục đích đầu tư thì giá trị BĐS, chi phí mua sắm và chi phí cho quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp bất động sản đầu tư được phản ánh trên TK 241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Khi quá trình xây dựng, cải tạo, nâng cấp hoàn thành phải xác định nguyên giá bất động sản đầu tư hoàn thành để kết chuyển vào TK 217 “Bất động sản đầu tư”.
    • Ghi giảm bất động sản đầu tư trong các trường hợp:
    • Chuyển đổi mục đích sử dụng từ bất động sản đầu tư sang hàng tồn kho hoặc bất động sản chủ sở hữu sử dụng;
    • Bán bất động sản đầu tư ;
    • Thanh lý bất động sản đầu tư ;
    • Hết thời hạn thuê tài chính trả lại BĐS đầu tư cho người cho thuê.

     

    7

     

    • Bất động sản đầu tư được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi bất động sản đầu tư trong “Sổ theo dõi bất động sản đầu tư” tương tự như TSCĐ.

    2.1.2.Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 217 – Bất động sản đầu tư Bên Nợ: Nguyên giá bất động sản đầu tư tăng trong kỳ.

     

    Bên Có: Nguyên giá bất động sản đầu tư giảm trong kỳ.

     

    Số dư bên Nợ: Nguyên giá bất động sản đầu tư của doanh nghiệp cuối kỳ

     

    2.2. Hạch toán biến động bất động sản đầu tư

     

    2.2.1.Kế toán các trường hợp tăng bất động sản đầu tư

     

    2.2.1.1.Hạch toán các nghiệp vụ mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả tiền ngay

    • Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, ghi:

    Nợ TK 217 – bất động sản đầu tư

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có các TK 111, 112, 331.

    • Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, ghi:

    Nợ TK 217 – bất động sản đầu tư Có các TK 111, 112…

     

    2.2.1.2. Hạch toán nghiệp vụ mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm

     

    • Trường hợp doanh nghiệp tính nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá – theo giá mua trả ngay chưa

    có thuế GTGT)

     

    Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Phần lãi trả chậm tính bằng số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) giá mua trả ngay và thuế GTGT đầu vào).

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có TK 331 – Phải trả cho người bán.

    • Trường hợp doanh nghiệp tính nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá – theo giá mua trả ngay đã có

    thuế GTGT)

     

    Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Phần lãi trả chậm tính bằng số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán trừ (-) giá mua trả ngay đã có thuế GTGT)

     

    Có TK 331 – Phải trả cho người bán.

     

    8

     

    • Hàng kỳ, tính và phân bổ số lãi phải trả về việc mua bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm, ghi:

    Nợ TK 635 – Chi phí tài chính

     

    Có TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn.

     

    • Khi thanh toán tiền cho người bán, ghi:

    Nợ TK 331 – Phải trả cho người bán

     

    Có TK 515 – Doanh thu tài chính (Phần chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán trước thời hạn – nếu có)

    Có các TK 111, 112,…

     

    2.2.1.3. Trường hợp bất động sản đầu tư hình thành do xây dựng cơ bản hoàn thành bàn giao:

     

    • Khi mua bất động sản về đưa vào xây dựng cơ bản, ghi: Nợ TK 241 – XDCB dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) Có các TK 111, 112, 331,…

     

    • Khi phát sinh các chi phí đầu tư xây dựng bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 241 – XDCB dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 142, 141, 242, 331,…

     

    • Khi quá trình xây dựng cơ bản bất động sản đầu tư hoàn thành bàn giao, ghi: Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nếu đủ điều kiện là BĐS đầu tư) Nợ TK 156 – Hàng hoá (1567- Hàng hoá BĐS)

    (Nếu không đủ điều kiện để hình thành BĐS đầu tư) Có TK 241 – XDCB dở dang.

     

    • Kế toán các chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư sau ghi nhận ban đầu:
    • Khi phát sinh chi phí liên quan đến BĐS đầu tư sau ghi nhận ban đầu, nếu xét thấy chi phí đó không chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu hoặc không bao gồm trong nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì được ghi nhận vào chi phí kinh doanh BĐS đầu tư trong kỳ, chi phí trả trước dài hạn, ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư), hoÆc Nợ TK 242 – Chi phí trả trước dài hạn (Nếu chi phí có giá trị lớn)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 334,…

     

    9

     

    • Khi phát sinh chi phí nâng cấp, cải tạo mà xét thấy chi phí đó có khả năng chắc chắn làm cho bất động sản đầu tư tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu hoặc bao gồm trong nghĩa vụ của doanh nghiệp phải chịu các chi phí cần thiết sẽ phát sinh để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động thì được ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư:
      • Tập hợp chi phí nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư thực tế phát sinh, ghi:

    Nợ TK 241 – XDCB dở dang

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có các TK 111, 112, 152, 153, 331,…

     

    • Khi kết thúc hoạt động nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư, bàn giao ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư, ghi:

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư Có TK 241 – XDCB dở dang.

     

    2.2.1.4. Bất động sản đầu tư tăng do chuyển bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư.

     

    • Khi chuyển từ bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư, căn cứ vào hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng, ghi

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình, hoặc Có TK 213 – TSCĐ vô hình.

    • Đồng thời kết chuyển số hao mòn luỹ kế (Đối với những bất động sản chủ sở hữu sử dụng đã trích khấu hao), ghi:

    Nợ TK 2141, hoặc 2143

     

    Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    2.2.1.5. Bất động sản đầu tư tăng do chuyển hàng tồn kho thành BDS đầu tư: Khi chuyển từ hàng tồn kho thành bất động sản đầu tư, căn cứ vào hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng, ghi:

     

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có TK 156 – Hàng hoá (1567 – Hàng hoá bất động sản).

     

    2.2.1.6. Bất động sản đầu tư tăng do thuê tài chính.

     

    • Khi đi thuê tài chính với mục đích để cho thuê theo một hoặc nhiều hợp đồng thuê hoạt động, nếu tài sản thuê đó thoả mãn tiêu chuẩn là bất động sản đầu tư, căn cứ vào hợp đồng thuê tài chính và các chứng từ liên quan, ghi:

    10

     

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có các TK 111, 112, 315, 342.

     

    – Kế toán thanh toán tiền thuê khi nhận hóa đơn thuê tài chính

     

    • Trường hợp nợ gốc phải trả về thuê tài chính xác định theo giá mua chưa có thuế GTGT mà bên cho thuê đã trả khi mua Bất động sản đầu tư để cho thuê.
    • Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.
    • Nếu trả tiền ngay:

    Nợ TK 635:        Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 315:        Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    Nợ TK 133:        Thuế GTGT được khấu trừ (1332)

     

    Có TK 111, 112

     

    + Nếu chưa trả tiền ngay:

     

    Nợ TK 635:        Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 133:        Thuế GTGT được khấu trừ

     

    Có TK 315: Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    • Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
    • Khi xuất tiền trả nợ gốc, tiền lãi thuê và thuế GTGT cho đơn vị cho thuê, ghi: Nợ TK 635: Chi phí thuê tài chính

    Nợ TK 315:   Nợ dài hạn đến hạn trả

     

    Nợ TK 632: (Số thuế GTGT trả kỳ này) Có TK 111, 112

     

    • Nếu chưa trả tiền ngay:

    Nợ TK 635:    Chi phí thuê tài chính (Tiền lãi thuê kỳ này)

     

    Nợ TK 632:      (Số thuế GTGT trả kỳ này)

     

    Có TK 315:  Nợ dài hạn đến hạn trả (Nợ gốc trả kỳ này)

     

    • Trường hợp nợ gốc phải trả về cho thuê tài chính xác định theo giá mua có thuế GTGT mà bên cho thuê đã trả khi mua bất động sản đầu tư để cho thuê.
    • Khi trả tiền nợ gốc và tiền lãi thuê tài sản cho đơn vị tho thuê, ghi:

    Nợ TK 635:       Chi phí thuê tài chính

     

    Nợ TK 315: Nợ dài hạn phải trả (Nợ gốc phải trả kỳ này có cả thuế GTGT) Có TK 111, 112…..

     

    • Khi nhận được hóa đơn thanh toán tiền thuê tài chính nhưng doanh nghiệp chưa trả tiền ngay.

    Nợ TK 635:    Chi phí thuê tài chính

     

    Có TK 315: Tiền lãi thuê phải trả kỳ này

     

    11

     

    • Căn cứ vào hóa đơn thanh toán tiền thuê phản ánh số thuế GTGT phải thanh toán cho bên thuê trong kỳ, ghi:

    Nợ TK 133, hoặc

     

    Nợ TK 632: Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Có TK 138: Phải thu khác

     

    • Định kỳ trích khấu hao bất động sản đầu tư:

    Nợ TK 632

    Khấu hao bất động sản đầu tư trích trong kỳ

     

    Có TK 2147

       

    S¬ ®å kÕ to¸n c¸c tr−êng hîp t¨ng bÊt ®éng s¶n ®Çu t−

     

     

    TK111,112,331

     

    B§S ®Çu t− mua theo ph−¬ng thøc tr¶ tiÒn

     

    TK331

     

    B§S ®Çu t− mua theo ph−¬ng thøc tr¶ chËm

     

     

    TK152,334,338

    TK217

     

    Nguyªn gi¸ B§S ®Çu t−

     

    TK133

     

    ThuÕ GTGT ®−îc

     

    khÊu trõ (nÕu cã)

     

    Nguyªn gi¸ B§S ®Çu t−

     

    TK242

     

    PhÇn l·i tr¶ chËm

     

    TK241

     

     

           

    Chi phÝ ®Çu t− x©y dùng B§S

     

    B§S ®Çu t− h×nh thμnh qua

           

    TK211,213

     

    ChuyÓn B§S chñ së h÷u sö dông thμnh B§S ®Çu t−

     

    TK156(1567)

     

    ChuyÓn hμng tån kho thμnh B§S ®Çu t−

     

    TK111,112,315,342

     

    B§S ®Çu t− t¨ng do thuª tμi chÝnh

     

     

    12

     

    2.2.2. Kế toán các trường hợp giảm bất động sản đầu tư

     

    2.2.2.1. Bất động sản đầu tư giảm khi hết hạn thuê tài chính

     

    • Nếu trả lại BĐS thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán

     

    (Số chênh lệch giữa nguyên giá BĐS đầu tư thuê và số khấu hao luỹ kế) Có TK 217 – Bất động sản đầu tư (Nguyên giá).

    • Nếu mua lại bất động sản đầu tư thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư để tiếp tục đầu tư, ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư số phải trả thêm, ghi:

    Nợ TK 217 – Bất động sản đầu tư Có các TK 111, 112,…

    • Nếu mua lại bất động sản thuê tài chính đang phân loại là bất động sản đầu tư chuyển thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng, ghi:

    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình, hoặc Nợ TK 213 – TSCĐ vô hình

     

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư

     

    Có các TK 111, 112 (Số tiền phải trả thêm). Đồng thời kết chuyển số hao mòn luỹ kế, ghi:

     

    Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143.

     

    2.2.2.2. Bất động sản đầu tư giảm do thanh lý, nhượng bán

     

    • Ph¶n ¸nh doanh thu tõ ho¹t ®éng thanh lý nh−îng b¸n nÕu thu tiÒn ngay.

    – Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ, ghi Nợ TK 111, 112, 131 (Tổng giá thanh toán)

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư (Giá bán chưa có thuế GTGT)

     

    Có TK 3331 – Thuế GTGT (33311- Thuế GTGT đầu ra).

     

    – Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 111, 112, 131 (Tổng giá thanh toán)

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp bán bất động sản đầu tư theo phương thức trả chậm, trả góp:

    * Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ:

     

    • Khi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp thì ghi nhận doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư của kỳ kế toán theo giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm,

    13

     

    trả góp với giá bán trả ngay và thuế GTGT ghi vào tài khoản “Doanh thu chưa thực hiện”, ghi:

     

    Nợ các TK 111, 112, 131: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

     

    (Giá bán trả ngay chưa có thuế GTGT)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    (Số chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay và thuế GTGT)

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331 – thuế GTGT)

     

    • Định kỳ, tính, xác định và kết chuyển doanh thu tiền lãi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp trong kỳ, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

     

    • Khi thực thu tiền bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp trong đó gồm cả phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp và giá bán trả ngay, ghi:

    Nợ các TK 111, 112.

     

    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng.

     

    * Đối với BĐS đầu tư bán trả chậm, trả góp không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp:

    • Khi bán BĐS đầu tư trả chậm, trả góp thì ghi nhận doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư của kỳ kế toán theo giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp và giá bán trả ngay (có cả thuế GTGT) ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện, ghi:

    Nợ các TK 111, 112, 131

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

     

    (Giá bán trả ngay có cả thuế GTGT)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    • Cuối kỳ, xác định số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh BĐS đầu tư

    Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (TK 3331-Thuế GTGT phải nộp)

    • Định kỳ, tính, xác định và kết chuyển doanh thu tiền lãi bán hàng trả chậm, trả góp, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính.

     

    14

     

    • Khi thực thu tiền bán hàng trả chậm, trả góp trong đó gồm cả phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp, ghi:

    Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131- Phải thu của khách hàng.

     

    • Kế toán giảm nguyên giá và giá trị còn lại của BĐS đầu tư bán, thanh lý, ghi:

    Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ (2147- Hao mòn BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Giá trị còn lại của BĐS đầu tư)

     

    Có TK 217- BĐS đầu tư (Nguyên giá của BĐS đầu tư)

     

    • Các chi phí bán (thanh lý) BĐS đầu tư phát sinh, ghi:

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

     

    Có các TK 111, 112, 331.

     

    2.2.2.3. Kế toán chuyển bất động sản đầu tư thành hàng tồn kho

     

    Việc chuyển đổi mục đích sử dụng giữa bất động sản đầu tư với bất động sản chủ sở hữu sử dụng hoặc hàng tồn kho không làm thay đổi giá trị ghi sổ của tài sản được chuyển và không làm thay đổi nguyên giá của BĐS đầu tư trong việc xác định giá trị ghi sổ hay lập báo cáo tài chính.

    Trường hợp bất động sản đầu tư chuyển thành hàng tồn kho khi chủ sở hữu có quyết định sửa chữa, cải tạo nâng cấp để bán:

     

    • Khi có quyết định sửa chữa, cải tạo, nâng cấp BĐS đầu tư để bán kế toán tiến hành kết chuyển giá trị còn lại của bất động sản đầu tư vào TK 156 “Hàng hoá”, ghi:

    Nợ TK 156 (TK 1567- Hàng hoá BĐS): Giá trị còn lại của BĐS đầu tư Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ (2147): Số khấu hao luỹ kế

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư: Nguyên giá

     

    • Khi phát sinh các chi phí sửa chữa, cải tạo, nâng cấp triển khai cho mục đích bán: Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có) Có các TK 111, 112, 152, 334, 331,…

    • Khi kết thúc giai đoạn sửa chữa, cải tạo, nâng cấp triển khai cho mục đích bán, kết chuyển toàn bộ chi phí ghi tăng giá gốc hàng hoá bất động sản chờ bán, ghi:

    Nợ TK 156 – Hàng hoá (1567 )

     

    Có TK 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang

     

     

    15

     

    2.2.2.4. Kế toán chuyển B§S đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng

     

    Khi chuyển bất động sản đầu tư thành bất động sản chủ sở hữu sử dụng, ghi:

     

    Nợ TK 211 hoặc 213

     

    Có TK 217 – Bất động sản đầu tư; Đồng thời, ghi:

     

    Nợ TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư Có TK 2141 hoặc 2143.

     

    S¬ ®å kÕ to¸n c¸c tr−êng hîp gi¶m B§S ®Çu t−

     

     

    TK217

     

    B§S ®Çu t− gi¶m khi hÕt

     

    h¹n thuª tμi chÝnh, khi thanh lý nh−îng b¸n

     

     

    B§S ®Çu t− gi¶m do

     

    chuyÓn thμnh hμng tån

     

    kho

     

    TK2147

     

    Hao mßn B§S ®Çu t− (tæng sè khÊu hao ®· trÝch)

     

    TK632

     

    Gi¸ vèn hμng b¸n

     

    (gi¸ trÞ cßn l¹i)

     

    TK1567

     

    Gi¸ trÞ cßn l¹i cña B§S ®Çu t−

     

    TK2147

     

    Hao mßn luü kÕ

     

    TK217

     

     

    ChuyÓn B§S ®Çu t− thμnh B§S chñ së h÷u sö dông

     

    2.3. Kế toán khấu hao bất động sản đầu tư

     

    2.3.1.Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 2147 – Hao mòn BDS đầu tư

     

    Tài khoản này phản ánh giá trị hao mòn bất động sản đầu tư trong quá trình nắm giữ chờ tăng giá, cho thuê hoạt động của doanh nghiệp. Bên Nợ: Giá trị hao mòn bất động sản đầu tư giảm.

     

    Bên Có: Giá trị hao mòn bất động sản đầu tư tăng do trích khấu hao hoặc do chuyển số khấu hao lũy kế của bất động sản chủ sở hữu sử dụng thành bất động sản đầu tư.

     

    Số dư bên Có: Giá trị hao mòn của bất động sản đầu tư hiện có của doanh nghiệp.

     

    16

     

    2.3.2.Kế toán trích khấu hao bất động sản đầu tư

     

    • Định kỳ tính, trích khấu hao bất động sản đầu tư đang nắm giữ chờ tăng giá, đang cho thuê hoạt động, ghi:

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    • Trường hợp giảm giá B§S đầu tư thì đồng thời với việc ghi giảm nguyên giá bất động sản đầu tư phải ghi giảm giá trị hao mòn luỹ kế của bất động sản đầu tư.

    2.4 Kế toán cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    2.4.1. Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ 2.4.1.1. Phản ánh doanh thu cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư thu tiền trước cho thuê nhiều kỳ, doanh thu của kỳ kế toán được xác định bằng tổng số tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư đã thu chia cho số kỳ thu tiền trước cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư.
    • Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về hoạt động cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư cho nhiều kỳ, ghi:

    Nợ TK 111, 112 (Tổng số tiền nhận được)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (giá chưa có thuế GTGT) Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331).

    • Đồng thời, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán thực hiện, ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

     

    • Sang kỳ kế toán tiếp sau, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán sau, ghi: Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    (Doanh thu của kỳ kế toán).

     

    • Số tiền phải trả lại cho khách hàng vì hợp đồng cung cấp dịch vụ cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư không được thực hiện (nếu có), ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (Giá chưa có thuế GTGT) Nợ TK 531 – Hàng bán bị trả lại (Trường hợp đã ghi doanh thu

    trong kỳ theo giá chưa có thuế GTGT)

     

     

    17

     

    Nợ TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp (Số tiền thuế GTGT của hoạt động cho thuê tài sản không được thực hiện)

     

    Có TK 111, 112, 331… (Tổng số tiền trả lại).

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư và thu tiền cho thuê hoạt động theo từng kỳ:

    – Khi phát hành hoá đơn thanh toán tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

    – Khi thu được tiền, ghi: Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131- Phải thu của khách hàng.

     

    2.4.1.2. Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ là bất động sản đầu tư cho thuê hoạt động, ghi:

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    2.4.1.3. Các chi phí phát sinh liên quan đến cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư, ghi:

     

    • Nếu chi phí phát sinh không lớn, ghi:

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư)

     

    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (Nếu có)

     

    Có các TK 111, 112, 331, 334,…

     

    • Nếu chi phí phát sinh nhiều và cần phải tính giá thành dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư thì thực hiện theo hướng dẫn kế toán cho thuê tài sản là cho thuê hoạt động:

    – Cho thuê hoạt động là bên cho thuê không có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu bất động sản cho thuê. Bên cho thuê vẫn ghi nhận bất động sản cho thuê hoạt động trên bảng cân đối kế toán theo cách phân loại của doanh nghiệp cho thuê.

     

    – Doanh thu cho thuê tài sản từ cho thuê hoạt động phải được ghi nhận theo phương pháp đường thẳng trong suốt thời hạn cho thuê mà không phụ thuộc vào phương thưc thanh toán, trừ khi áp dụng tính khác hợp lý hơn.

     

    18

     

    • Chi phí cho thuê hoạt động trong kỳ bao gồm khoản khấu hao tài sản cho thuê hoạt động và số chi phí trực tiếp ban đầu được ghi nhận ngay hoặc phân bổ dần cho suốt thời hạn cho thuê phù hợp với việc ghi nhận doanh thu.
    • Khấu hao bất động sản cho thuê hoạt động được trích theo quy định của chuẩn mực kế toán tài sản cố định hữu hình hoặc chuẩn mực kế toán tài sản cố định vô hình phù hợp với chính sách khấu hao của doanh nghiệp.

    2.4.2.Đối với đơn vị tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp:

     

    2.4.2.1. Phản ánh doanh thu cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư thu tiền trước cho thuê nhiều kỳ, doanh thu của kỳ kế toán được xác định bằng tổng số tiền cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư đã thu chia cho số kỳ thu tiền trước cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư.
    • Khi nhận tiền của khách hàng trả trước về hoạt động cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư cho nhiều , ghi:

    Nợ các TK 111, 112… (Tổng số tiền nhận được)

     

    Có TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện (Tổng số tiền nhận được).

     

    Đồng thời, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán thu tiền, ghi:

     

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư.

     

    • Sang kỳ kế toán sau, tính và kết chuyển doanh thu của kỳ kế toán sau, ghi: Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

     

    • Cuối mỗi kỳ kế toán, tính và phản ánh số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi:

    Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

     

    • Số tiền phải trả lại cho khách hàng vì hợp đồng cung cấp dịch vụ về cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư không được thực hiện (nếu có), ghi:

    Nợ TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện

     

    Nợ TK 531  – Hàng bán bị trả lại (Trường hợp đã ghi doanh thu trong kỳ)

     

    Có các TK 111, 112…. (Tổng số tiền trả lại).

     

    19

     

    • Trường hợp cho thuê hoạt động bất động sản đầu tư và thu tiền cho thuê hoạt động theo từng kỳ:

    – Khi phát hành hoá đơn dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư, ghi: Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

     

    Có TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư. – Khi thu được tiền, ghi:

     

    Nợ các TK 111, 112

     

    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng.

     

    • Cuối kỳ kế toán, tính và phản ánh số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, ghi:

    Nợ TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp.

     

    2.4.2.2.Định kỳ tính, trích khấu hao TSCĐ là bất động sản đầu tư cho thuê hoạt động, ghi:

     

    Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu tư.

     

    Đồng thời, ghi đơn bên Nợ TK 009 – Nguồn vốn khấu hao TSCĐ (Chi tiết khấu hao BĐS đầu tư).

    2.4.2.3. Các chi phí phát sinh liên quan đến cho thuê hoạt động BDS đầu tư, ghi:

     

    – Nếu chi phí phát sinh không lớn, ghi:

     

    Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết chi phí kinh doanh BĐS đầu tư) Có các TK 111, 112, 331, 334,…

     

    • Nếu chi phí phát sinh nhiều và cần phải tính giá thành dịch vụ cho thuê bất động sản đầu tư thì thực hiện theo hướng dẫn kế toán cho thuê tài sản là cho thuê hoạt động.

     

     

     

     

    20

     

    S¬ ®å kÕ to¸n cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu t−

     

    • Tr−êng hîp thu tiÒn tr−íc cho nhiÒu kú cho thuª

    TK5117

       

    TK3387

               

    TK111,112

     

    KÕt chuyÓn doanh thu cña kú

    Doanh thu ch−a thuÕ GTGT

           
     

    kÕ to¸n vμ c¸c kú sau ®ã

                           
         

    Doanh thu

                   

    Tæng sè tiÒn

     
                           
               

    TK3331

             
         

    ch−a thùc

           

    nhËn ®−îc

     
                   
                                 
                                 

    TK111,112

    hiÖn

           

    ThuÕ GTGT

           
                       

    ThuÕ GTGT (nÕu cã)

    ph¶i nép (nÕu

           
                 
                             
     

    Tæng sè tiÒn tr¶ l¹i

                               
                                 
                                 
                                   
     

    nÕu kh«ng thùc hiÖn

             

    TK531

             
     

    hîp ®ång cho thuª

                     
           

    Hμng b¸n bÞ tr¶ l¹i

                   
                                     
                                     
                                     

     

    • Tr−êng hîp thu tiÒn cho thuª theo tõng kú

    j   TK5117

     

    TK131

     

    TK111,112

                         
       

    Doanh thu kinh

                 
       

    doanh B§S ®Çu t−

                 
                     
           

    Tæng gi¸

     

    Khi thu ®−îc tiÒn

     
           
                       
     

    TK3331

     

    thanh to¸n

           
                   
       

    ThuÕ GTGT ph¶i

                 
       

    nép (NÕu cã)

                 
                     
                         
                         
                         

     

     

    21

     

    • Þnh kú trÝch khÊu hao B§S ®Çu t− cho thuª ho¹t ®éng

    TK 2147                                                                                                                  TK 622

     

    Sè khÊu hao ph¶i trÝch trong kú

     

     

    • C¸c chi phÝ ph¸t sinh (nÕu nhá) liªn quan tíi cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu t−

    TK

     

    TK 632

           

    111,112,331,334…

           
         

    Gi¸ vèn hμng b¸n

     
     

    C¸c chi phÝ ph¸t sinh liªn quan

         
           
       

    TK 133

           
     

    tíi cho thuª ho¹t ®éng B§S ®Çu

     
     

    ThuÕ GTGT ®−îc khÊu

     
           
         

    trõ (nÕu cã)

     
               

     

    • Mét sè nhËn xÐt vÒ c«ng t¸c h¹ch to¸n B§S ®Çu t− trong c¸c doanh nghiÖp ë ViÖt Nam.
    1. C«ng t¸c h¹ch to¸n B§S ®Çu t− tr−íc chuÈn mùc sè 05

     

    Tr−íc khi chuÈn mùc sè 05 – B§S ®Çu t− ra ®êi ho¹t ®éng kinh doanh B§S ®−îc xem lμ ho¹t ®éng tμi chÝnh. Tμi kho¶n sö dông ®Ó h¹ch to¸n lμ tμi kho¶n

     

    228 (chi tiÕt kinh doanh B§S) cã kÕt cÊu nh− sau: Bªn Nî: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− t¨ng trong kú Bªn Cã: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− gi¶m trong kú

     

    Sè d− bªn Nî: Gi¸ trÞ c¸c kho¶n B§S ®Çu t− hiÖn cßn ë doanh nghiÖp Ph−¬ng ph¸p h¹ch to¸n:

     

    • Khi mua B§S ®Çu t− nÕu ph¶i qua ho¹t ®éng XDCB, c¨n cø vμo gi¸ mua thùc tÕ vμ phÝ tæn khi mua:

    Nî TK 228: Gi¸ vèn B§S ®Çu t−

     

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã)

     

    Cã TK 111, 112, 331, 341: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

     

    22

     

    • NÕu mua ph¶i qua ho¹t ®éng XDCB: + Khi mua B§S ®Çu t−:

     

    Nî TK 241: XDCB dë dang

     

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã) Cã TK 111, 112, 331: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    + Chi phÝ ®Çu t− XBCB ph¸t sinh: Nî TK 241: XDCB dë dang

    Nî TK 133: ThuÕ GTGT ®−îc khÊu trõ (nÕu cã) Cã TK 111, 112, 152, 331, 334

    + Khi kÕt thóc qu¸ tr×nh ®Çu t− XDCB:

     

    Nî TK 228: B§S ®Çu t− hoμn thμnh qua XDCB Cã TK 241: XDCB dë dang

     

    • Khi thanh lý, nh−îng b¸n B§S: – Ph¶n ¸nh doanh thu:

    Nî TK 111, 112, 131: Tæng gi¸ thanh to¸n

     

    Cã TK 515: Doanh thu ho¹t ®éng tμi chÝnh Cã TK 3331: ThuÕ GTGT ph¶i nép (nÕu cã)

     

    – Ph¶n ¸nh gi¸ vèn:

     

    Nî TK 635

    Gi¸ vèn cña B§S ®Çu t−

    Cã TK 228

     
     
    • Chi phÝ ph¸t sinh khi thanh lý, nh−îng b¸n B§S ®Çu t−: Nî TK 635: Chi phÝ tμi chÝnh

    Cã TK 111,112

     

    1. Mét sè nhËn xÐt vÒ c«ng t¸c kÕ to¸n B§S ®Çu t− theo chuÈn mùc sè 05:

    Nh− vËy so víi c«ng t¸c kÕ to¸n B§S ®Çu t− tr−íc khi chuÈn mùc sè 05 ra ®êi viÖc h¹ch to¸n theo chÕ ®é hiÖn nay cã nh÷ng −u ®iÓm râ rÖt:

     

    Tr−íc hÕt, viÖc sö dông TK 217 ®Ó h¹ch to¸n B§S ®Çu t− trong doanh nghiÖp ®· thÓ hiÖn ®óng b¶n chÊt cña B§S ®Çu t− ®ã lμ tμi s¶n tho¶ m·n 2 ®iÒu kiÖn: ch¾c ch¾n thu ®−îc lîi Ých trong t−¬ng lai vμ nguyªn gi¸ ®−îc x¸c ®Þnh mét c¸ch ®¸ng tin cËy.

     

    Thø hai, ho¹t ®éng kinh doanh B§S ®Çu t− ®−îc t¸ch riªng khái ho¹t ®éng tμi chÝnh cña doanh nghiÖp víi viÖc ghi nhËn daonh thu vμo TK5117, gi¸ vèn vμo

     

     

    23

     

    TK 632 vμ viÖc trÝch khÊu hao B§S ®Çu t− trªn TK2147 lμ hoμn toμn phï hîp. ViÖc h¹ch to¸n theo chuÈn mùc nμy sÏ cã t¸c dông rÊt lín trong giai ®o¹n hiÖn nay khi ho¹t ®éng kinh doanh B§S ngμy mét ph¸t triÓn, ®Æc biÖt khi n−íc ta s¾p gia nhËp c¸c tæ chøc th−¬ng m¹i quèc tÕ vμ khu vùc.

     

    Thø ba, viÖc h¹ch to¸n riªng ho¹t ®éng B§S ®Çu t− sÏ gióp c«ng t¸c kÕ to¸n cã chuyªn m«n s©u h¬n, ®ång thêi còng cung cÊp th«ng tin ®Çy ®ñ kÞp thêi, chÝnh x¸c h¬n cho nh÷ng ng−êi quan t©m ®Õn t×nh h×nh tμi chÝnh cña doanh nghiÖp gãp phÇn n©ng cao hiÖu qu¶ ®Çu t− vμ hiÖu qu¶ hiÖu n¨ng qu¶n lý.

     

    Tuy nhiªn c«ng t¸c kÕ to¸n theo chÕ ®é míi còng gÆp kh«ng Ýt khã kh¨n: Thø nhÊt, ®iÒu kiÖn ¸p dông chuÈn mùc sè 05 “B§S ®Çu t−” trong c¸c doanh nghiÖp ë n−íc ta hiÖn nay ch−a thuËn lîi do thiÕu c¬ së vËt chÊt, do

     

    thiÕu th«ng tin hay nhiÒu nguyªn nh©n kh¸c.

     

    Thø hai, ®èi víi c¸c ®¬n vÞ chuyªn kinh doanh B§S viÖc x¸c ®Þnh râ rμng B§S ®Çu t− mua vÒ lμ ®Ó b¸n trong kú hay chê t¨ng gi¸ lμ ®iÒu rÊt khã cho c«ng t¸c kÕ to¸n. Khi ph©n lo¹i B§S ®Çu t− míi B§S chñ së h÷u sö dông vμ víi tμi s¶n gi÷ ®Ó b¸n trong ho¹t ®éng kinh doanh th«ng th−êng doanh nghiÖp gÆp kh«ng Ýt khã kh¨n do ®ã cÇn ph¶i cã nh÷ng tiªu chuÈn cô thÓ.

     

    Thø ba, ®èi víi c¸c doanh nghiÖp h¹ng ®Æc biÖt nh− c¸c tæ chøc tÝn dông, ng©n hμng th× viÖc h¹ch to¸n bÊt ®éng s¶n ®Çu t− kh«ng theo th«ng t− 23 mμ ®−îc h−íng dÉn thùc hiÖn trong c¸c v¨n b¶n riªng ®ßi hái ng−êi lμm c«ng t¸c kÕ to¸n ph¶i cã chuyªn m«n vμ n¾m b¾t th«ng tin kÞp thêi.

     

    Thø t−, khi doanh nghiÖp kh«ng thÓ x¸c ®Þnh gi¸ trÞ hîp lý cña B§S ®Çu t− t¹i thêi ®iÓm kÕt thóc niªn ®é kÕ to¸n th× doanh nghiÖp ph¶i thuyÕt minh danh môc B§S ®Çu t− vμ c¸c lý do kh«ng thÓ x¸c ®Þnh gi¸ trÞ hîp lý cña B§S ®Çu t− trªn b¸o c¸o tμi chÝnh.

     

    1. Vài nét so sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư” với chuẩn mực kế toán quốc tế cùng tên.

    Gần đây với sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam và việc nước ta chấp nhận từng bước triển khai hệ thống các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRs) trước đây gọi là hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vào hệ thống các quy

     

    24

     

    định kế toán Việt Nam (VN GAAP) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập và hiện đại hóa nền kinh tế.

     

    D−íi ®©y lμ vài nét so sánh giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư” với chuẩn mực kế toán quốc tế cùng tên (IAS 40).

     

    Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 05) ban hành theo Quyết định số 243/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của bộ trưởng Bộ Tài chính và được hương dẫn thực hiện tại thông tư số 23/2005/TT- BTC ngày 30/03/2005.

    Chuẩn mực kế toán quốc tế số 40 (IAS 40) được ban hành thay cho IAS 25, được sửa đổi tháng 3/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005.

     

    Hai chuẩn mực này hoàn toàn giống nhau ở những điểm sau:

     

    • Phạm vi chuẩn mực
    • Xác định giá ban đầu (Đoạn 18, VAS 05 và đoạn 20, IAS 40): theo nguyên giá của bất động sản đầu tư các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu, nhưng không bao gồm các chi phí phát sinh ban đầu, chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt đến trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến, các chi phí không bình thường trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
    • Điều kiện và thủ tục thanh lý bất động sản đầu tư.

    Điểm khác biệt chính giữa VAS 05 và IAS 40 là VAS 05 quy định áp dụng phương pháp nguyên giá khi xác định giá trị và ghi nhận bất động sản đầu tư, còn IAS 40 cho phép áp dụng phương pháp giá thực tế hoặc phương pháp nguyên giá.

     

    • Phương pháp giá thực tế là phương pháp xác định giá trị tài sản theo cách thức tài sản được mua bán trao đối trên cơ sở các bên tham gia có những hiểu biết không bị mâu thuẫn về lợi ích và khách quan trong giao dịch (trích IASB, 2004, trang 2012).
    • Phương pháp giá gốc là phương pháp xác định giá trị tài sản bằng giá trị thanh toán cộng các chi phí thực tế phát sinh khác để mua được tài sản đó khi việc xác định và ghi nhận giá trị ban đầu của tài sản tuân thủ các quy định của các chuẩn mực IFRS khác (trích IASB, 2004, trang 2011).

     

    25

     

    Khác nhau giữa VAS 05 và IAS 40 về bất động sản đầu tư.

     

    Các vấn đề kế

    VAS 05

     

    IAS 40

     

    Thuyết minh thêm về

     

    toán

     

    Bất động sản đầu tư

    Bất động sản đầu tư

    những khác biệt

    Định nghĩa bất

    Bao gồm:

    Bao gồm:

       

    Theo luật đất đai 2003,

    động sản đầu tư

    – Quyền sử dụng đất nắm giữ

    – Đất nắm giữ trong

    đất đai thuộc sở

    hữu

    Ví dụ bất động

    trong thời gian dài để chờ

    thời gian dài để chờ

    của

    nhà

    nước.

     

    Nhà

    sản đầu tư

     

    tăng giá.

    tăng giá.

         

    nước chuyển quyền sử

         

    – Quyền sử dụng đất nắm giữ

    – Đất nắm giữ  mà

    dụng đất cho dân theo

         

    mà  chưa  rõ  mục  đích  sử

    chưa rõ mục đích sử

    03 cách: giao, thuê và

         

    dụng trong tương lai.

    dụng trong tương lai.

    cho  (sở  hữu).  Tuy

         

    – Nhà do doanh nghiệp sở

    Nhà

    do  doanh

    nhiên,  luật  chưa  cắt

         

    hữu cho thuê

    nghiệp  sở  hữu  cho

    nghĩa rõ ràng “Quyền

         

    – Nhà đang giữ để cho thuê

    thuê

         

    sử dụng đất” là gì?

     
         

    – Kết cấu hạ tầng đang giữ

    – Nhà đang giữ để

             
         

    để cho thuê (đoạn 6, VAS

    cho  thuê  (đoạn  8,

    Theo IFRS, không có

         

    05)

    IAS 40)

         

    khái niệm “Quyền sử

                     

    dụng đất”.

         

    Xác định giá trị

    Áp   dụng   phương   pháp

    Có thể lựa chọn áp

    Hiện  tại,  VAS  nhất

    sau khi ghi nhận

    nguyên giá

    dụng

    trong

    hai

    quán quy định áp dụng

    ban đầu

       

    phương pháp:

     

    phương  pháp  nguyên

           

    Theo

    giá

    thị

    giá khi xác định giá trị

           

    trường.

         

    tài sản. Theo Điều 7,

           

    – Theo nguyên giá

    Luật  kế

    toán

    2003,

                     

    phần  “nguyên  tắc  kế

                     

    toán” quy định không

                     

    được phép điều chỉnh

                     

    giá trị tài sản trừ khi

                     

    luật quy định khác.

     

    Trình

    bày

    trên

    Trong trường hợp đánh giá

    thể

     

    thông

    tin

    Ban Vật giá Chính phủ

    báo

    cáo

    tài

    bất động sản đầu tư theo giá

    khoảng  ước  lượng

    là cơ quan giám sát và

    chính

       

    trị thực tế không thực hiện

    giá trị thực tế của bất

    quy định các mức giá

         

    được thì doanh nghiệp phải

    động  sản

    khả

    trần hoặc giá sàn cho

         

    trình bày:

    năng nhất.

       

    một số mặt hàng quan

         

    – Bảng kê loại bất động sản

             

    trọng trong nền kinh tế

         

    đầu tư

             

    quốc  dân.  Việc  trình

         

    – Giải thích lý do không thể

             

    bày bảng kê loại bất

         

    xác định giá trị bất động sản

             

    động sản đầu tư có thể

         

    theo giá thực tế.

             

    giúp

    cho

    người

    sử

                     

    dụng báo cáo tài chính

                     

    ước lượng được giá thị

                     

    trường  của  bất

    động

                     

    sản dựa trên khung giá

                     

    trần và giá sàn do ban

                     

    Vật giá Chinh phủ quy

                     

    định.

           

     

     

    26

     

    KẾT LUẬN

     

    Những cải cách trong ngành kế toán vẫn đang tiếp tục diễn ra trong khi Việt Nam vẫn đang từng bước cải cách nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những thông tin tài chính chính xác và đúng thời điểm không những giúp các nhà quản lý, các nhà đầu tư có được những quyết định sáng suốt mà còn góp phần thúc đẩy đầu tư nước ngoài.

     

    Với sự ra đời của luật kế toán Việt Nam 2003 và việc Việt Nam chấp nhận từng bước triển khai hệ thống các chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) vào hệ thống các quy định kế toán Việt Nam (VN GAAP) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền kinh tế và xây dựng một nền kinh tế mới.

    Đối với mỗi doanh nghiệp, để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì việc tăng cường hiệu năng và hiệu quả hoạt động của bộ phận kế toán luôn giữ vai trò tối quan trọng. Theo đó, mặc dù không phải là tất cả, song tổ chức tốt công tác kế toán bất động sản đầu tư được xem là một trong những mắt xích quan trọng của bộ phận kế toán doanh nghiệp.

     

    Để công tác hạch toán Bất động sản đầu tư có hiệu quả đòi hỏi người làm công tác kế toán phải nắm vững chế độ kế toán tμi chính và pháp luật hiện hành và vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và yêu cầu quản lý của đơn vị.

     

    Việc nghiên cứu đề tài này thực sự có ý nghĩa đối với bản thân tôi bởi lẽ nó giúp tôi mở rộng vốn kiến thức còn hạn chế của mình đồng thời nó cũng giúp tôi có thêm hiểu biết về xu thế phát triển của kế toán Việt Nam. Những kinh nghiệm và hiểu biết này sẽ là bạn đồng hành của tôi trên con đường tiếp cận với công việc của người kế toán tương lai – một nghề mà tôi đã lựa chọn.

     

     

     

    27

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05 “Bất động sản đầu tư”
    1. Thông tư 89/2003/ TT-BTC ngày 09/10/2002
    1. Thông tư 105/ 2003/ TT- BTC ngày 04/11/2003
    1. Thông tư 23/TT- BTC ngày 30/03/2005
    1. Hội nhập với các nguyên tắc kế toán và kiểm toán quốc tế. Tác giả: Hugh. A. Adams, BBA, MBA; Đỗ Thùy Linh, BEc, MSc

    Nhà xuất bản chính trị quốc gia tháng 7/2005

     

    1. Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán.

    Chủ biên: PGS-TS Nguyễn Thị Đông

     

    Nhà xuất bản thống kê năm 2004

     

    1. Giáo trình kế toán tài chính.

    Chủ biên : PGS-TS Đặng Thị Loan

     

    Nhà xuất bản thống kê năm 2004

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    28

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-chuy%E1%BB%83n-gi%C3%A1-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng hoạt động chuyển giá các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

    Lời mở đầu

    Thực hiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thời gian qua các công ty đa quốc gia đã góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế và góp phần thu ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực thì mục tiêu của các tập đoàn kinh tế này vẫn là tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc hình thành mối quan hệ giữa các công ty mẹ và công ty con, giữa các công ty con với nhau và định giá chuyển giao là chính sách được hầu hết các công ty đa quốc gia sử dụng. Các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện mọi biện pháp để làm sao cho giá trị thu về công ty mẹ có lợi nhất. Và việc dựa vào những yếu điểm của các nước tiếp nhận đầu tư, các tập đòan đa quốc gia đã thực hiện các phương pháp chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận đạt được và tối thiểu hóa số thuế phải nộp của mình.

    Hiện nay, thực trạng này đang diễn ra tại Việt Nam, và chính phủ Việt Nam đang phải đối đầu với việc trốn thuế của các tập đoàn đa quốc gia, ngoài ra việc chuyển giá cũng trực tiếp làm thiệt hại cho phía Việt Nam trong liên doanh. Chính vì tính chất quan trọng của vấn đề này, nhóm 11 đã cố gắng thu thập số liệu về thực trạng chuyển giá trong các Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến việc chuyển giá để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc tìm hiểu và phân tích trong đề tài, nhưng do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nhóm chỉ đề cập một số vấn đề mang tính chất tổng thể.

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa đã truyền đạt những kiến thức quý báu giúp chúng tôi hoàn thành tiểu luận này. Với lượng kiến thức hạn chế sẽ còn gặp nhiều thiếu sót, nhóm tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô để bài viết sau hoàn chỉnh hơn.

    Trân trọng.

     

    1. Hồ Chí Minh, tháng 03/2008

     

    Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

    1. 1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài & hoạt động của công ty đa quốc gia

    1. 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ vốn sỡ hữu sẽ đứng ra trực tiếp quản lý điều hành sử dụng nguồn vốn đầu tư này. Trong các chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các công ty đa quốc gia chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó mới tới đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc về các chính phủ và tổ chức quốc tế khác. Hiện nay FDI được xem là một giải pháp hỗ trợ vốn cho các nước nghèo, và là thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế kinh tế hiện đại. FDI không những được sử dụng như một hình thức hợp tác kinh tế mà còn được xem như là phương tiện quyết định cho sự phát triển của kinh tế thế giới.

    Khác với các loại hình đầu tư khác, FDI có các đặc trưng:

    FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó còn có cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ, năng lực Marketing, kinh nghiệm quản lý… thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ.

    Việc tiếp nhận FDI tạo điều kiện để phát huy tiềm năng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Các công ty đa quốc gia thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát triển hạn chế tại nước của họ, sản phẩm bán ra giảm một cách đáng kể. Nguyên nhân của vấn đề này có thể là do sự cạnh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất khác hay do sự thay đổi thị hiếu của con người. Như vậy việc đầu tư sản xuất ra nước ngoài là giải pháp khả thi.

    Sử dụng nguyên liệu nước ngoài rẻ tiền thay vì nhập khẩu nguồn nguyên liệu với chi phí cao hơn rất nhiều lần, những nước chủ nhà có lực lượng lao động dồi dào, nguồn la động rẻ, lao động có tay nghề.

    FDI góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp và nâng cao đời sống của người dân.

    FDI góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong nước của các quốc gia đang pháp triển không đủ khả năng cung ứng.

    FDI biểu hiện qua các hình thức:

    100% vốn thành lập doanh nghiệp mới: đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp toàn

    hoàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

    Tham gia các hợp đồng kinh doanh: đây là hợp đồng ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước tiếp nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nghiệm và phân phối kết quả hoạt động kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân nào mới.

    Mua lại một phần hay toàn bộ doanh nghiệp của nước chủ nhà đang hoạt động.

    Góp vốn liên doanh liên kết với nước chủ nhà: các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.

    Xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT) và các hinh thức tương tự khác BTO, BT…

    là một loại hình đầu tư được nhà nước sử dụng để khuyến khích xây dựng các công trình hạ tầng như: cầu, đường, bến cảng, công trình cung cấp năng lượng… trong khi nhà nước có khó khăn về nguồn tài chính. Trong hình thức BOT nhà đầu tư tự bỏ vốn, kỹ thuật để xây

    dựng công trình, tự khai thác kinh doanh công trình trong một thời gian nhất định để thu hồi và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển cho nhà nước.

    1. 2 Công ty đa quốc gia và nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC

    Khái niệm, vai trò của các MNC trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Chủ thể của FDI là các công ty đa quốc gia

    Liên hợp quốc định nghĩa: “MNC là một công ty tổ chức và kiểm soát sản xuất và các hoạt động liên quan tại hai quốc gia trở lên”. . Hay nói cụ thể hơn, MNC là hãng rất lớn có trụ sở chính (Công ty mẹ) ở môt quốc gia và một số chi nhánh (Công ty con) ở các quốc gia khác. Hoạt động sản xuất quốc tế của các MNC ám chỉ khả năng lập kế hoạch và kiểm soát sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau theo các mục tiêu và chiến lược của các trụ sở chính.

    Công ty đa quốc gia (Multinational Corporation – MNC) là công ty có sở hữu hay có quyền kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một quốc gia mà công ty đó có trụ sở chính.

    Chính sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các MNC là nguyên nhân trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

    Các MNC phát triển rất nhanh và có vai trò vô cùng to lớn trong nền kinh tế thế giới, sản xuất ra khoảng từ 20% đến 25% tổng sản lượng của toàn thế giới và chiếm 90% tổng khối lượng đầu tư nước ngoài trên toàn cầu.

    Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và một hay nhiều công ty con (subsidiary) hoặc chi nhánh (afficiate) ở nước ngoài.

    Aûnh hưởng của MNC thông qua FDI tại các nước tiếp nhận đầu tư:

    • Số liệu thống kê cho thấy hơn 90% vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là do các công ty đa quốc gia – MNC’s (multinational Copration) cung cấp, với Việt Nam cũng không phải là

    ngoại lệ khi chúng ta thấy có sự hiển diện của các MNC như Coca Cola, Pespi, Nestle, Unilever, Ford, Mercedes Benz,… Cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi của chính quốc (home Country) bằng nguồn vốn FDI, các MNC’s sẽ tạo ra một mạng lưới các công ty con (Subsidaries) trên phạm vi toàn thế giới mà lẽ đương nhiên là giữa các công ty còn này với

    nhau và với chính bản thân công ty mẹ ở chính quốc sẽ có các mối ràng buộc về nhiều mặt mà trong đó sự ràng buộc về mặt kinh tế là quan trong và rõ ràng nhất nhằm phục vụ cho mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của toàn bộ các MNC.

    • Các lý thuyết quan trọng về các MNC đều chỉ ra rằng sự phát triển của các MNC đều dựa trên lợi thế riêng biệt, độc quyền mà có. Rõ ràng khi các MNC đã bành trướng hoạt động ra

    ngoài biên giới địa lý của các quốc gia thì các giao dịch trong nội bộ của một MNC sẽ tốn kém ít chi phí hơn là khi giao dịch trên thị trường tự do. Điều này đạt được là do các giao dịch nội bộ có tính chuyên môn cao, ít rủi ro trong khi tại thị trường tự do tồn tại sự khác biệt giữa các

    quốc gia về các lĩnh vực như thuế, kiểm soát ngoại tệ, thuế TNDN, hàng rào thuế quan và rất nhiều các quy định ràng buộc khác, tất yếu dẫn đến sự thiếu hoàn hảo của thị trường làm cho các giao dịch trở nên tốn kém và rủi ro cao.

    Chính bản thân công ty mẹ (parent company) ở chính quốc và các công ty con được thành lập ở nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới sẽ tạo nên vô vàn những giao dịch phức tạp qua lại, mối quan hệ ràng buộc, cùng với tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong bản thân nội bộ của từng MNCù.

    Những đặc trưng cơ bản của các công ty đa quốc gia

    • Các MNC là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất thế giới.
    • Các MNC là những công ty có tầm cỡ quốc tế, thiết lập hệ thống chi nhánh hoặc công ty con ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng thế lực quốc tế.
    • Các MNC hình thành từ công ty quốc gia, mang quốc tịch của một nước và vốn sở hữu của công ty mẹ thuộc về các nhà tư bản của nước đó. Vốn được xuất khẩu ra nước ngoài để đầu tư thiết lập và mở rộng các cơ sở sản xuất gọi là chi nhánh hoặc công ty con.
    • Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và một hoặc nhiều công ty con hoặc chi nhánh ở nước ngoài. Với cơ cấu tổ chức này, cho dù những công ty con có tồn tại dưới hình thức này hoặc hình thức khác thì quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những công ty mẹ.

    1.1.3 Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC

    Do quy mô hoạt động rộng lớn và dàn trải trên một phạm vi địa lý bao gồm nhiều quốc gia với nhiều chính sách, phong tục tập quán kinh doanh khác nhau mà các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong MNC là rất đa dạng và khó kiểm soát. Tuy nhiên, ta cũng có thể nhận dạng một số nghiệp vụ chuyển giao nội bộ qua các dịch chuyển về tài sản hữu hình và vô hình, dịch chuyển nguồn vốn

    bằng cách thức đi vay hay cho vay, sự cung cấp các dịch vụ tư vấn quản lý hay các nghiệp vụ, dịch vụ tài chính khác. … Vì tính chất quan trọng liên quan đến chiến lược hoạt động của cả MNC, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này có tính bảo mật và tập trung cao mà các cơ quan thuế rất khó có thể đưa ra được bằng chứng về hành vi chuyển giá của MNC.

    Nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thực chất là các nghiệp vụ mua bán, trao đổi, giao dịch được thực hiện giữa công ty mẹ với các công ty con và ngược lại, hoặc giữa các công ty con với nhau.

    1. 2 Định giá chuyển giao trong các công ty đa quốc gia

    1.2.1. Khái niệm

    Các MNC theo đuổi chiến lược toàn cầu hóa đã ngày càng mở rộng hoạt động đầu tư và kinh doanh ra nhiều nước khác nhau trên khắp thế giới. Do đó, một sản phẩm có thể được thiết kế tại một số nước, một số bộ phận cấu thành của nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở nước thứ ba, tất cả sẽ được lắp rắp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn thành sẽ được bán rộng rãi trên toàn cầu. Vấn đề này làm phát sinh các nghiệp vụ nội bộ công ty rất phong phú và đa dạng. Giá mà tại đó hàng hóa và dịch vụ được chuyển giao gọi là giá chuyển giao

    • price transfering. Như vậy, khi thực hiện một nghiệp vụ chuyển giao qua lại giữa các MNC, phải tính toán giá chuyển giao giữa các bộ phận. Theo thuật ngữ tài chính thì công việc này được gọi là định giá chuyển giao (price transfering ).

    Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận tại các quốc gia mà các công ty con của MNC đang hoạt động. Với mức giá xác định cao hay thấp trong từng giao dịch lại tác động trực tiếp đến nghĩa vụ nộp thuế cho các quốc gia và sự di chuyển ngoại tệ giữa các nước.

    Ví dụ sản phẩm điện tử tivi Sony (Nhật Bản), sản xuất bóng đèn hình do công ty con của Sony tại Thái Lan sản xuất theo đơn đặt hàng từ Nhật Bản, các linh kiện khác được thực hiện theo đơn đặt hàng tại Singapore và công đoạn sản xuất hoàn chỉnh tại Công ty điện tử Sony Việt Nam. Tivi Sony này có thể tiêu thụ tại Việt Nam hay xuất khẩu sang thị trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào hợp đồng đã ký kết của Sony Nhật Bản hoặc do nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này. Chính vì các công đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tách rời mà giữa các công ty con và công ty mẹ của một MNC bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ. Đây chính là nguyên nhân hình thành các hoạt động định giá chuyển giao.

    Để đảm bảo nguyên tắc thương mại công bằng – cơ sở quan trọng nhất cho việc trao đổi mua bán và lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa tất cả quốc gia, tránh các thiệt hại phát sinh do các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ gây ra, một nguyên tắc chung đã được tất cả các quốc gia thống nhất áp dụng. Đó là nguyên tắc xác định giá trị của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong các MNC dựa trên căn bản giá thị trường (The Arm’s Length Principle – ALP).

    1.2.2. Nguyên tắc dựa trên giá thị trường của nghiệp vụ chuyển giao nội bộ (Arm’s

    Length Principle – ALP)

    Nguyên tắc căn bản giá thị trường là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development – OECD) đưa ra nhằm đề cập tới giá cả của hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động thương mại diễn ra giữa các bên hoàn toàn độc lập – không có sự liên kết. Khi các công ty hoàn toàn độc lập có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa, dịch vụ, điều khoản về tín dụng, …) đều được định hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thị trường. Ngược lại, khi các công ty có liên kết thực hiện quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ, các tác động thị trường không nhất thiết có ảnh hưởng đáng kể đến các điều khoản thương mại và tài chính của hợp đồng và do đó chắc chắn sẽ có sự sai lệch, thiếu khách quan trong quan hệ chuyển giao này.

    Do tính khách quan của căn bản thị trường phản ánh đúng bản chất của thị trường và các quy luật giá trị, quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ, quy luật cạnh tranh, do đó tất cả các thành viên của OECD đều nhất trí sử dụng căn bản giá thị trường làm cơ sở để tính toán trong khi xác định giá chuyển giao và các vấn đề liên quan đến các loại thuế.

    Tuy nhiên, trong thực tế các hoạt động mua bán diễn ra rất phức tạp và có rất nhiều các yếu tố kinh tế và phi kinh tế khác cùng tham gia vào các quá trình này làm cho rất khó xác định được các nghiệp vụ chuyển giao tương đương có thể so sánh được trong các điều kiện nhất định tương ứng. Chẳng hạn như ALP thực sự khó có thể áp dụng cho sự chuyển giao diễn ra trong một MNC gồm nhiều công ty liên kết thực hiện một dây chuyền công nghệ sản xuất khép kín và sản phẩm của nó lại có tính đặc thù rất cao, liên quan tới giá trị tài sản vô hình đặc biệt nào đó.

    Chính vì thế trong một số trường hợp nhất định, ALP có thể trở thành gánh nặng về quản lý cho cả phía các MNC và cho cả cơ quan thuế khi phải đối diện với các giao dịch trao đổi, mua bán xuyên quốc gia. Mặc dù công nghệ thông tin và mạng internet đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau, nhưng còn lâu thì các MNC và các cơ quan thuế mới tìm được đầy đủ thông tin phục vụ cho việc áp dụng nguyên tắc căn bản giá thị trường.

    Tuy có những hạn chế trên nhưng cho đến nay OECD và các thành viên vẫn tiếp tục công nhận sự đúng đắn của nguyên tắc ALP trong việc xác định giá chuyển giao giữa các công ty liên kết và các cơ quan thuế vẫn tiếp tục thừa nhận sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc ALP trong các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ đặc biệt là khi các giao dịch vượt qua ranh giới địa lý của một quốc gia. Một sự chệch hướng nguyên tắc ALP trong định giá chuyển giao các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ có thể tạo nên rủi ro cho MNC là phải chịu đánh thuế trùng nhiều lần cho cùng một khoản thu nhập.

    Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động thực sự lên các chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC hay không là so sánh giá chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC với giá cả trong các chuyển giao có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng những điều kiện tương ứng. Tuy vậy trong thực tế hầu hết như chúng ta không tìm ra

    được các chuyển giao tương ứng có thể so sánh được để trực tiếp áp dụng nguyên tắc ALP, do đó chúng ta phải tìm ra những cách tiếp cận khác mang tính gián tiếp để vẫn có thể sử dụng nguyên tắc ALP vào việc kiểm tra sự chuyển giá trong nội bộ MNC. Bằng cách phân tích một cách hợp lý lãi gộp (hay lãi ròng) trong nhiều trường hợp chúng ta có thể xác định các chuyển giao đang đề cập có thể tuân thủ nguyên tắc ALP hay không ?

    1. 3 Vấn đề chuyển giá ở các công ty đa quốc gia

    1.3.1. Khái niệm về chuyển giá

    Định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị doanh nghiệp nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn thị trường thì xảy ra hiện tượng chuyển giá.

    Chuyển giá (transfer pricing) là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu.

    Chuyển giá là một kỹ thuật mà các MNC tận dụng từ những ưu đãi khác nhau của các quốc gia trên toàn thế giới về các chính sách thuế, lãi suất để nâng giá đầu vào với các tài sản góp vốn, chi phí nguyên vật liệu, chi phí gián tiếp, … và các yếu tố đầu ra thì kê khai thấp hơn giá bán thực tế trên thị trường sao cho có lợi nhất. Đây là một kỹ thuật mà hầu như bất kỳ MNC nào cũng phải tận dụng để giảm tối đa số thuế phải nộp hoặc chiếm được thị phần lớn hơn cho các sản phẩm, dịch vụ của bản thân MNC và nhằm tối đa các rủi ro có thể gặp phải, bất chấp các quan hệ cung cầu của thị trường và tính cạnh tranh hợp pháp mà luật pháp của các quốc gia đều quy định. Như vậy, giữa hai khái niệm định giá chuyển giao và chuyển giá là hai mặt của một vấn đề. Chúng có cùng nội dung nếu xét về một khía cạnh nào đó, nhưng khái niệm định giá chuyển giao mang hàm ý tích cực về một chính sách của MNC thực hiện đối với các quốc gia tiếp nhận đầu tư và với quốc gia đi đầu tư và khái niệm chuyển giá là việc công ty mẹ áp đặt giá cả lên công ty con hay các công ty có mối liên kết (related parties) với mục đích chủ yếu trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Chuyển giá – một trong những vấn đề phức tạp và khó tiếp cận hiện nay trong các giao dịch quốc tế. Trong các hoạt động chuyển giá, các MNC đã không cần phải có bất kỳ nỗ lực nào trong việc cải tiến chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất, phấn đấu giảm giá thành, tạo thêm giá trị gia tăng trong sự cạnh tranh cân bằng mà chỉ đơn giản phù phép trên sổ sách kế toán mà thu được những khoản lãi kếch xù.

    1.3.2.  Các yếu tố thúc đẩy các MNC sử dụng hành vi chuyển giá

     

    1. 3.2.1 Các động cơ bên ngoài MNC

    Khi thực hiện các giao dịch xuyên biên giới quốc gia, những điểm khác nhau trong chính sách của các nước sẽ trở thành động cơ cho các MNC cố gắng tối thiểu hóa chi phí bằng thủ thuật chuyển giá cho công ty mẹ chỉ định.

    Tối thiểu hóa thuế thu nhập

    Khi có sự chêch lệch về thuế suất thuế TNDN, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và chính sách thuế quan giữa hai quốc gia. Với mục tiêu tối thiểu hóa thuế TNDN hay các loại thuế phải nộp, các MNC sẽ tiến hành tối đa hóa chi phí ở nước có thuế suất cao và tối đa hóa thu nhập tại nước có thuế suất thấp. Mục tiêu này sẽ được thực hiện bằng hành vi chuyển giá với thủ thuật phổ biến là định giá cao ở các đầu vào nhập khẩu và định giá thấp ở đầu ra xuất khẩu đối với những công ty con đóng ở các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao. Bằng cách này các MNC đã dịch chuyển thu nhập từ quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia có thuế suất thuế thu nhập thấp mà trong ví dụ của chúng ta là từ chính quốc sang nước chủ nhà khi thuế suất thuế TNDN tương ứng là 5% và 20% và cơ quan thuế của chính quốc bị mất đi nguồn thu từ thuế mà họ lẽ ra đã thu được nếu không có hành vi chuyển giá.

    Nếu thuế suất ở trong nước và nước ngoài bằng nhau thì công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộp thuế là 28.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD. Công ty con giảm thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 28.000 USD, đây chính là khoản mà nhà nước ta bị thất thu. Trường hợp thuế suất nước ngoài nhỏ hơn ở Việt Nam thì sao ? Chẳng hạn thuế thu nhập doanh nghiệp ở Đài Loan là 20% và Việt Nam là 28% thì chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hóa và dịch vụ cho chi nhánh ở Việt Nam. Nếu khoảng nâng giá là 100.000 USD thì lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng 100.000 USD và thuế nộp cho nước này tăng thêm 20.000 USD. Đồng thời lợi nhuận ở Việt Nam giảm đi 100.000 USD, tức số thuế phải đóng ở đây giảm đi 28.000 USD. Như vậy thông qua chuyển giá công ty này đã tiết kiệm được 8.000 USD.

    Kiểm soát ngoại hối và các rủi ro

    Sự không chuyển đổi được của đồng tiền, sự không ổn định của tỷ giá, các yêu cầu về cân đối ngoại tệ, các hạn chế trong việc tiếp cận nguồn ngoại tệ, … đã làm gia tăng các rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại nước chủ nhà. Rủi ro về ngoại hối cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng kích thích các MNC sử dụng cơ chế định giá chuyển giao để chuyển lợi nhuận từ đồng tiền yếu sang đồng tiền mạnh.

    Các MNC sẽ đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán là trong tương lai đồng tiền của quốc gia đó sẽ mạnh lên và ngay lập tức họ sẽ rút vốn khi dự đoán trong tương lai đồng tiền của nước chủ nhà sẽ yếu đi.

    Ta lấy ví dụ như sau : giả sử một MNC đầu tư vào Việt Nam vào tháng 12 năm 2006 số tiền là 100 triệu USD. Tỷ giá VND/USD là VND 16.000/USD, như vậy tại thời điểm tháng 12/2006 số tiền mà MNC bỏ ra là 1.600 tỷ VND. Giả sử sau 5 năm MNC rút vốn về nước với tình trạng hòa vốn trong kinh doanh. Có 3 khả năng có thể xảy ra đối với lợi nhuận mà MNC thu được từ Việt Nam từ chêch lệch tỷ giá.

    Tỷ giá VND/USD vẫn giữ nguyên là VND 16.000/1USD như vậy MNC vẫn rút được về đúng số vốn mà họ đã đầu tư vào Việt Nam là 100 triệu USD. Do đó tỷ suất lợi nhuận là 0%.

    Nếu đồng Việt Nam lên giá 10%, lúc này số tiền Việt Nam quy đổi ra USD sẽ gần bằng 110 triệu USD. Tỷ suất lợi nhuận lúc này bằng đúng tỷ lệ lên giá của VND và là 10%.

    Ngược lại, nếu đồng Việt Nam xuống giá 10% thì MNC sẽ chỉ thu về gần được 90 triệu USD và bị thua lỗ 10 triệu USD. Tỷ suất lỗ trong trường hợp này đúng bằng tỷ lệ mất giá của đồng tiền nước chủ nhà là 10%.

    Lạm phát

    Lạm phát tại nước chủ nhà làm giảm khoản lợi nhuận thu được từ đầu tư, vì thế các MNC chuyển dịch lợi nhuận đến các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp.

    Các bất ổn về chính trị và xã hội

    Sự bất ổn về chính trị và xã hội ở nước chủ nhà hàm chứa một rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư. Rủi ro cao có thể dẫn đến các MNC cố gắng thu lợi nhuận đầu tư càng sớm càng an toàn thông qua cơ chế định giá chuyển giao

    Các chính sách kinh doanh của MNC

    Khi mới thâm nhập thị trường hoặc mong muốn gia tăng thị phần tại một thị trường nào đó nhằm tiến tới độc quyền một số sản phẩm, các MNC có thể quyết định tạm thời định giá các sản phẩm của họ thấp hơn giá các sản phẩm cùng loại trên thị trường.

    1. 3.2.2 Các động cơ bên trong MNC

    Bên cạnh các động cơ bên ngoài MNC mà chúng ta vừa đề cập còn có các động cơ bên trong nội bộ của các MNC làm cho các hành vi chuyển giá càng trở nên đa dạng hơn và tinh vi hơn. Động cơ đó là :

    Các MNC bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh vì nhiều lý do khác nhau như : sai lầm trong thay đổi, lựa chọn sản phẩm, chi phí quảng cáo cao mà thiếu hiệu quả, … để giành thị phần tại các quốc gia khác nhau thì hành vi chuyển giá chính là cách cứu cho MNC qua việc lấy thu nhập nơi này san sẻ cho thua lỗ nơi khác mà kết quả là tạo nên các kết quả sản xuất kinh doanh giả tạo, không mang tính thị trường và vi phạm pháp luật của các quốc gia.

    Hoặc các sản phẩm được chuyển giao có độc quyền cao đặc biệt trong các ngành như dược phẩm, công nghệ tin học, sinh học, dầu khí, … thì chuyển giá cũng là phương thức chống rủi ro mà các MNC sử dụng.

    Các MNC ý thức được tầm quan trọng của việc chiếm thị phần là quan trọng hơn so với lợi nhuận trong ngắn hạn và vì vậy các MNC không ngần ngại bằng mọi cách tranh đoạt thị phần, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Khi cần thiết phải thâm nhập vào một thị trường tiêu thụ mới thì chuyển giá cũng là một chiêu thức quen thuộc mà các MNC sử dụng nhằm chiếm thị phần một cách bất hợp pháp. Bằng cách định giá thấp các sản phẩm đầu ra được bán ra trong thị trường của nước tiếp nhận đầu tư (nước chủ nhà) mà các MNC với tiềm lực tài chính mạnh, sẵn sàng chấp nhận thua lỗ trong một thời gian phù hợp để đánh bật các đối thủ cạnh tranh trong nước có tiềm lực nhỏ bé hơn và khi đã chiếm được thị phần thì các MNC sẽ độc quyền nâng giá sản phẩm để bù lại phần thua lỗ trong thời kỳ đầu mới gia nhập thị trường.

    1.3.3.  Những ảnh hưởng của hoạt động chuyển giá

    1. 3.3.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư.

    Hành vi chuyển giá của các MNC qua việc định giá thật cao các nguồn lực đầu vào đã tạo ra sự sai lệch đáng kể trong cơ cấu về vốn của cả nền kinh tế quốc dân và phản ánh sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, cao hơn nửa là ảnh hưởng đến GDP của quốc gia tiếp nhận đầu tư.

    Từ việc giá thành sản phẩm đầu ra dưới mức giá thị trường tại một công ty con hay công ty liên kết có mức thuế suất thuế thu nhập cao hơn, một MNC có thể tối thiểu số thuế phải nộp ghi trên nước đó. Điều này dẫn đến một hệ quả chắc chắn rằng là các nước tiếp nhận đầu tư sẽ bị thất thu thuế nghiêm trọng.

    Chính việc nới lỏng chính sách thuế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư đã khuyến khích các MNC thực hiện chuyển giá. Nếu về lâu dài thì chính sự nới lỏng này sẽ buộc các quốc gia này gánh chịu những hậu quả, rõ nét nhất là nền kinh tế của nước chủ nhà sẽ không đủ sức mạnh để có thể đương đầu với những thay đổi của của thị trường, do việc thất thu thuế.

    Các MNC tạo được thế độc quyền về nhãn hiệu sản phẩm của mình bằng chính sách hạ giá bán sản phẩm đầu ra, thông qua các hình thức quảng cáo, khuyến mãi, hậu mãi dẫn đến hậu quả là các doanh nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư cùng ngành đi đến bờ phá sản hoặc chuyển sang kinh doanh

    • lĩnh vực khác, từ đó các MNC sẽ dễ dàng thao túng thị trường nước chủ nhà. Như vậy trong trường hợp này chính phủ của nước chủ nhà, nước tiếp nhận đầu tư không thể thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển theo định hướng như ban đầu.

    Mặt khác, một biến tướng của sự độc quyền nữa xảy ra khi các MNC cùng liên doanh với công ty nội địa của nước chủ nhà, chính sách chuyển giá sẽ dẫn đến thua lỗ kéo dài ở các liên doanh công ty con, dẫn đến phía đối tác ở nước chủ nhà giảm bị giảm vốn dần, có thể dẫn đến tình trạng mất vốn, và mất quyền kiểm soát từ đó bị các MNC mẹ thôn tính hoàn toàn, chuyển sang

    công ty 100% vốn nước ngoài với quyền sở hữu hoàn toàn thuộc về MN. Đây là quá trình thôn tính đối tác trong nước của các MNC thông qua chính sách chuyển giá.

    1. 3.3.2 Đối với các nước xuất khẩu đầu tư.

    Không chỉ có nước tiếp nhận đầu tư bị thiệt hại do hành vi chuyển giá của MNC mà cả nước xuất khẩu đầu tư cũng gặp khó khăn. Giả sử việc chuyển giá thực hiện khi có sự khác biệt của thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia, không xét đến các yếu tố khác, thì dường như ta cảm giác quốc gia nào có thuế suất thấp hơn sẽ được lợi từ việc chuyển giá, và quốc gia nào có thuế suất cao sẽ thất thu nghiêm trọng nhưng thật ra phần thất thu này sẽ chảy vào ngân sách của các MNC, một phần ít chảy là ngân sách của quốc gia có thuế suất thấp. Như vậy, quốc gia xuất khẩu đầu tư sẽ bị thất thu nghiêm trọng trong trường hợp quốc này có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn.

    • Tóm lại: Định giá chuyển giao là công cụ để các MNC dịch chuyển vốn trên quy mô toàn cầu nhằm phục vụ các mục tiêu của bản thân MNC. Còn chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan của MNC nhằm tìm cách tối thiểu hóa số thuế phải nộp thông qua việc xác định các giá trị chuyển giao trong các giao dịch nội bộ của MNC không theo đúng giá thị trường, qua đó chủ động lựa chọn quốc gia để khai báo thuế với các thuế suất có lợi nhất cho MNC mà không quan tâm đến quyền lợi của quốc gia có liên quan.

    Động cơ cũng như các thủ thuật chuyển giá của các MNC ngày càng phức tạp và tinh vi – đây là vấn đề làm đau đầu cơ quan thuế và làm cho chính phủ mất khả năng quản lý nền kinh tế theo định hướng đã đề ra. Lý do là chưa tìm ra được phương pháp tiếp cận chính xác và cụ thể cũng như sự phối hợp toàn diện trên quy mô toàn cầu.

    CHƯƠNG 2  THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CÁC DOANH

    NGHIỆP ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

    2.1.     Đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    2.1.1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Theo số liệu Phòng Quản lý đầu tư nước ngoài (Cục thuế TPHCM) công bố FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn. Hiện có trên 8.590 dự án của 81 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động có tổng vốn đầu tư trên 83,1 tỉ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 29,2 tỷ USD. Vốn FDI chiếm tỷ trọng 18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Trong số các nước

    và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 1.837 dự án với tổng vốn đầu tư 13,5 tỉ USD.

    Trong khi đó FDI vào Trung Quốc mỗi năm sẽ đạt khoảng 87 tỉ USD , tỷ lệ vốn FDI của Nhật Bản chỉ chiếm 2,5% GDP của Nhật Bản, thuộc hàng thấp nhất thế giới, FDI vào Ấn Độ đang tăng mạnh, từ mức 6,7 tỉ USD năm 2005 lến đến 17,5 tỉ năm 2006

    Năm 2007 đang dần khép lại với con số thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả năm đầy ấn tượng: 20,3 tỷ USD.

    Doanh thu của DN FDI trong năm 2007 đạt 39,6 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu đạt 19,7 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006. Quy mô vốn đầu tư trung bình của mỗi dự án thời gian qua đạt gần 11 triệu USD. Có các dự án như: dự án nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư 1,7 tỷ USD, Kiên Giang c bị mặt bằng cho dự án Hòn ngọc châu Á tại Phú Quốc với quy mô 2 tỷ Euro của Tập đoàn uỷ thác Trustee Suisse, Tp.HCM đã ký biên bản ghi nhớ với nhà đầu tư Berjaya Land Berhad, Malaysia xây dựng dự án Khu đô thị đại học quốc tế có quy mô vốn 3,5 tỷ USD

    Theo WB: Trong năm 2007 cả nước đã thu hút 350 lượt dự án, 52 địa phương thu hút vốn FDI, tăng vốn với số vốn trên 3,2 tỉ USD vốn đầu tư tăng thêm của các dự án cũ. Tỷ lệ giải ngân FDI tăng 20% đến tháng 9/2007, chiếm khoảng 6,8% GDP. Điểm nhấn trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 là việc phân cấp

    mạnh mẽ về cho các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đã cấp 410 giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư ước 2,5 tỷ USD

    Tuy nước ta còn ở trình độ phát triển thấp, độ mở của nền kinh tế cao và đang trên đà phát triển nhanh, nên rất “đói” vốn đầu tư, tạo ra những cơ hội vàng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới mới công bố cho thấy, với xấp xỉ 85 triệu dân, xếp hạng thứ 13 thế giới nhưng chỉ trong tháng 5.2007, các DN có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã góp vốn đầu tư thực hiện ước đạt 390 triệu USD, đưa tổng vốn thực hiện trong 5 tháng qua đạt 1,8 tỉ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ. Doanh thu của các DN có vốn đầu tư nước ngoài trong 5 tháng đầu năm là 11 tỉ USD, tăng 13,1, trong đó giá trị xuất khẩu đạt khoảng 7,3 tỉ USD, tăng 35%, giải quyết việc làm mới cho 46 nghìn lao động.

    Tất cả những điều nói trên có nghĩa là nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế còn ở trình độ phát triển rất thấp, nhưng đang phát triển nhanh theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu và xuất khẩu dựa trên cơ sở đẩy mạnh nhập khẩu. Nói cách khác, tiềm năng mở rộng thị trường của nước ta hiện nay còn rất lớn và tự chúng ta không đủ vốn để khai thác, do đó tạo ra cơ hội vàng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đó không chỉ là những cơ hội trong đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, mà còn là những cơ hội trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất những nguyên phụ liệu phải nhập khẩu với quy mô ngày càng lớn, cũng như những cơ hội đầu tư sản xuất có quy mô dân số đứng thứ hai trong khu vực.

    Bên cạnh đó, theo đánh giá mới đây nhất của Hội nghị thương mại và phát triển liên hợp quốc (UNCTAD), Việt Nam được xếp vào nhóm nước có tiềm năng FDI thấp nhưng hiệu quả hoạt động của khu vực FDI cao. Đây chắc chắn là một liều thuốc kích thích các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam kinh doanh trong bối cảnh nước ta trở thành thành viên WTO. Việc có trên 1.200 đại biểu dự Hội nghị thượng đỉnh các tổng giám đốc APEC vừa qua đủ cho thấy điều đó.

    Tháng 7 năm 1997 xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, các nước chịu tác động lớn nhất là Thái Lan, Philippines, Indonesia và Malaysia,…, nước ta nằm ngoài “tâm bão”, đây chính là thời cơ cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế khi mà các nước khác trong khu vực đang phải đối phó với “trận cuồng phong kinh tế”. Đáng tiếc là do môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn từ khi sửa Luật năm 1996, lại không có được một đối sách thích hợp để chủ động đối phó nên nước ta đã gánh chịu hậu quả nặng nề, giảm sút rõ rệt tăng trưởng kinh tế và thu hút FDI quốc tế trong nhiều năm liên tiếp.

    2.1.2. Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    • Đầu tư nước ngoài góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam như làm thay đổi từng bước đời sống xã hội của địa phương, có tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển. Cục đầu tư nước ngoài (Bộ kế hoạch và đầu tư) đánh giá là “… Có sự chuyển biến mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng cao hơn các thành phần kinh doanh khác”. Cụ thể, đóng góp của khu vực này vào GDP từ 7.4% năm 1996 lên 12.2% năm 1999, 13.3% năm 2001, 13% năm 2002 và năm 2004 đã tăng lên 14.3%. Riêng năm 2005, doanh thu của khu vực này đạt 16 tỷ USD, tăng hơn 30% so với năm trước, trong đó riêng doanh thu xuất khẩu đạt 6.3 tỷ USD, chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhờ những kết quả trên nên khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 14.3% GDP cả nước.
    • Lãi của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 2002 đạt 29.342 tỷ đồng năm 2005 lên 37.040 tỷ đồng, bằng 50.6% tổng lãi toàn bộ doanh nghiệp. Sở dĩ khu vực này có mức lãi cao chủ yếu là đóng góp của ngành khai thác dầu khí (66%).
    • Làm thay đổi từng bước đời sống xã hội của địa phương
    • Kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác phát triển
    • Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH & ĐT): 20,3 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký bao gồm cả cấp mới và tăng vốn, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước
    • Tổng vốn thực hiện là 4,6 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2006, vượt 2,2% so với kế hoạch 4,5 tỷ USD). Vốn thực hiện của các doanh nghiệp FDI vượt kế hoạch 2,2%, doanh thu của các DN FDI trong năm 2007 đạt 39,6 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu cũng đạt 19,7 tỷ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2006. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) của đầu tư nước ngoài tăng nhanh, trong đó thời kỳ 1991 – 1995 đạt trên 1.12 tỷ USD, thời kỳ 1996 – 2000 đạt trên 10.6 tỷ USD, tăng

    hơn 8 lần so với 5 năm trước và chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong các năm 2004 và 2005, kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đạt giá trị tương ứng 3.67 tỷ USD và 4.5 tỷ USD, chiếm trung bình hơn 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Điều đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (42% mặt hàng giày dép, 25% hàng may mặc, 48% hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện).

    • Đặc biệt, chính sách khuyến khích ĐTNN vào các KCN, KCX đã góp phần quan trọng vào việc phân bố hợp lý các vùng kinh tế, tạo điều kiện thu hẹp sự phát triển vùng, đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa. Đến nay, đã có 76 KCN, KCX được thành lập chiếm khoảng 23% của toàn khu vực ĐTNN.
    • Thông qua nguồn vốn này, nhiều nguồn lực trong nước được khai thác và sử dụng có hiệu quả, đồng thời nhà nước cũng chủ động hơn trong bố trí vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đặc biệt đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Với tỷ trọng vốn thực hiện nhanh qua các năm, đầu tư nước ngoài đã bổ sung một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Cụ thể, thời kỳ 1991 – 1995, vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25%, thời kỳ 1996 – 2000 chiếm 24%, gấp trên 1.8 lần thời kỳ 1991 – 1995, riêng từ năm 2001 – 2004 chiếm 21.4% tổng vốn đầu tư xã hội (308 nghìn tỷ đồng
    • Tạo công ăn việc làm cho người lao động đã được đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài và thích ứng dần với tác phong công nghiệp đến năm 2005, trên 4.000 doanh nghiệp FDI đã tạo việc làm ổn định cho khoảng 691 ngàn lao động trong nước
    • ĐTNN đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo điều kiện để Việt Nam chủ động hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Năm 2001 thu hút 69 ngàn lao động tăng 19%, năm 2002 có thêm 175 ngàn tăng 39%. Những năm gần đây số lao động trong khu vực ĐTNN ngành công nghiệp chế biến tăng nhanh. Bên cạnh tạo công ăn việc làm cho người dân, người lao động đã được đào tạo nâng cao tay nghề, năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài và thích ứng dần với tác phong công nghiệp. ĐTNN cũng đem lại thu nhập cho bộ phận đáng kể người lao động, thu nhập thấp nhấp là 790.000 – 810.000 đồng/tháng, cao hơn thu nhập các thành phần kinh tế khác.

    2.1.3.  Thực trạng chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI

    Theo số liệu của Phòng Quản lý Đầu tư nước ngoài (Cục Thuế TP.HCM) tháng 7/2005 công bố, trong 1.450 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại TP.HCM, chỉ có hơn 190 doanh nghiệp (tương đương 13%) báo cáo làm ăn có lãi. 1.260 doanh nghiệp còn lại (tương đương 87%) hạch toán thua lỗ hoặc đang trong giai đoạn triển khai dự án, chưa sinh lợi. Tính đến tháng 12 năm 2005 có tới 116 liên doanh với tổng số vốn 1.3 tỷ USD chuyển sang loại hình công ty 100% vốn nước ngoài do bị mua lại, hầu hết số liên doanh này đều bị lỗ. Đánh giá của

    cơ quan chức năng cho thấy, tình trạng doanh nghiệp kê khai hạch toán thua lỗ liên tục nhiều năm khá phổ biến. Đó là chưa kể nhiều doanh nghiệp FDI kê khai chưa đầy đủ các khoản thu nhập của các cá nhân chịu thuế, không thực hiện đảm bảo chế độ kế toán hoặc thường xuyên thay đổi chế độ kế toán, …

    Cục thuế TPHCM đã tiến hành kiểm tra hơn 50 doanh nghiệp có vốn FDI và phát hiện nhiều doanh nghiệp khai man lợi nhuận trước thuế, xác định được số thuế truy thu là gần 60 tỷ đồng.

    So sánh tỷ lệ khai báo lỗ ở các loại

    hình DN tại TP HCM

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    Series1

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    DNNN          DN dân         DN FDI

    doanh

    Kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2005 của Cục thống kê TPHCM cho thấy doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ doanh nhiệp lỗ cao hơn doanh nghiệp nhà nước nhưng thấp hơn tỷ lệ lỗ của doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Doanh nghiệp nhà nước lỗ chỉ chiếm 8.3% của khu vực doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân là 36.1% và doanh nghiệp có vốn ĐTNN chiếm tới 54.6%.

    Đáng chú ý là hiện nay có tới trên 50% DN khai lỗ để xin miễn giảm thuế. Những năm vừa qua, trong khu vực DN vốn ĐTNN đã xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp FDI báo cáo với ngành thuế hoạt động thua lỗ nhưng hầu hết các doanh nghiệp lỗ này đều có doanh thu tăng đều đặn và tiếp tục mở rộng sản xuất

    Khi tình trạng thua lỗ ảo của liên doanh kéo dài, những doanh nghiệp VN trong liên doanh sẽ không thể trụ nổi, đành ôm nợ, xin rút! Lúc đó, công ty liên doanh sẽ bị thôn tính thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tại VN, cty con cứ báo lỗ. Tại bản xứ, cty mẹ cứ ung dung hưởng

    lợi. Tình trạng trên đang là thách thức đối với các cơ quan chức năng VN. Tại Mỹ và Nhật Bản, trong quá khứ hai quốc gia này đã từng xử phạt rất nặng một số tập đoàn đa quốc gia của nước khác gian lận qua chuyển giá.

    Vấn đề mà các nhà nghiên cứu đặt ra là sự nghi ngờ tại sao các doanh nghiệp FDI với sức mạnh về tài chính, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng lại kinh doanh kém hiệu quả đến như vậy và Bộ tài chính cũng ghi nhận. “Nhưng đâu là lỗ giả do hành vi gian lận thương mại, đâu là lỗ thật thì chưa được làm rõ, dẫn đến phía vốn của Việt Nam bị mất, ta sẽ bị phía đối tác nước ngoài thôn tính”. Mặc dù vậy, cho đến nay cơ quan thuế ta vẫn chưa tiến hành một nghiệp vụ điều chỉnh giá chuyển giao nào. Như vậy, các doanh nghiệp này có sử dụng định giá chuyển giao nội bộ để tránh thuế hay không vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của ngành thuế.

    Một số hình thức chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong thời gian qua

    Cho đến thời điểm này, chưa có sự xác nhận chính thức nào từ phía cơ quan nhà nước về bất kỳ một trường hợp chuyển giá nhưng trong một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực này cũng đã dẫn ra nhiều trường hợp có dấu hiệu chuyển giá. Dựa vào các dấu hiệu này,phân chia thành nhóm biểu hiện như sau :

    Nâng giá tài sản góp vốn

    Các công ty liên doanh thường cố tình khai báo tăng giá trị máy móc thiết bị dùng làm vốn góp đầu tư ban đầu.

    • Công ty liên doanh gia cầm Việt Thái, phía Thái Lan góp vốn bằng dây chuyền giết mổ trị giá 400.000 USD nhưng đã kê khống thành 600.000 USD.
    • Một khách sạn liên doanh giữa Tổng công ty du lịch Sài Gòn và Vina Group đã quyết định trị giá thiết bị vật tư của công ty Vina đưa vào liên doanh là 4.340.000 USD nhưng theo công ty giám định quốc tế thì chỉ có 2.990.000 USD, ta thiệt 1.350.000 USD.

    Đối với các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm (nghĩa là lợi nhuận giảm), tác động làm tăng chi phí đầu vào.

    Lấy ví dụ, khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thì mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm 100 USD và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28% như hiện nay, nhà nước sẽ thất thu 28 USD.

    Vừa mới đây, được sự ủy nhiệm của chính phủ, công ty kiểm định quốc tế SGS đã tiến hành giám định thí điểm ở 12 đơn vị FDI thì có tới 6 đơn vị có chêch lệch giá mua vật tư thiết bị nhập khẩu, con số chêch lệch là 14 triệu USD.

    Những giao dịch có dấu hiệu chuyển giá thường được thực hiện ở những công ty liên doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài. Điều đó cũng chứng tỏ rằng bên Việt Nam trong các liên doanh đã thua ngay trên sân nhà. Vì sao ta trở nên bất lợi như vậy ?

    Trong giai đoạn đầu mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài, các MNC mới chân ướt chân ráo bước vào nước ta, họ ưa chuộng hình thức liên doanh để tận dụng thị trường có sẵn, kinh nghiệm của đối tác nội địa và ngay cả bản thân ta có chính sách khuyến khích thực hiện theo hình thức liên doanh thường là giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Bởi vì trong thời gian đầu hội nhập, chính phủ Việt Nam còn e dè trước sức mạnh của tư bản, liên doanh là hình thức được lựa chọn nhiều để Việt Nam có thể kiểm soát tốt hơn. Hơn nữa đây là cơ hội tốt cho Việt Nam học hỏi cách quản lý của nước ngoài và đồng thời hy vọng sẽ được chia lợi nhuận từ việc liên doanh. Trong giai đoạn 1991 – 1998 các liên doanh chiếm đến 60.85% nguồn vốn FDI, hình thức 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 21.52% còn lại là các hình thức khác. Thực tế sau một thời gian chúng ta lại thấy rằng hoạt động của các liên doanh không như chính phủ dự tính, tỷ lệ khai báo lỗ của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN là trên 70%.

    Trong hầu hết các liên doanh, phía đối tác góp vốn bằng tài sản còn Việt Nam thường góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Điều này đã có lợi cho phía liên doanh do không tốn tiền đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp, tiền thuê đất. Nhưng phía đối tác chơi không đẹp, họ tìm mọi cách để nâng giá trị máy móc, thiết bị, công nghệ, … để làm tăng phần vốn góp. Bởi vì phía Việt Nam không có năng lực kiểm soát vấn đề này và hơn nữa Luật pháp Việt Nam chưa chuẩn bị đầy đủ ngăn chặn hay có biện pháp chế tài nào. Chúng ta có thể gọi đây là một hành vi không đẹp nhưng nó lại hoàn toàn đúng với thuật ngữ kinh doanh “thương trường là chiến trường”.

    Rất nhiều liên doanh vì thua lỗ nặng nề, phía Việt Nam không chịu nổi nên đành chấp nhận bán phần vốn góp luôn cho phía nước ngoài. Một làn sóng mới trong khu vực công ty liên doanh, hàng loạt công ty đã chuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài như Công ty liên doanh Coca Cola, Chương Dương, Công ty Unilever Việt Nam, Công ty Colgate – Palmolive, … Rất nhiều công ty liên doanh chuyển hình thức đầu tư thành 100% vốn nước ngoài và gần đây là chuyển đổi hình thức đầu tư của Công ty TNHH Sản Phẩm Tiêu Dùng Toshiba Việt Nam từ doanh nghiệp liên doanh thành tổ chức kinh tế theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

    Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường

    Thủ thuật định giá chuyển giao của các MNC chia làm nhiều cách khác nhau, trước tiên là định giá cao nguyên vật liệu nhập khẩu. Thứ hai là ấn định giá bán sản phẩm thấp trong khi vẫn định giá cao yếu tố đầu vào do công ty mẹ cung cấp làm liên doanh lỗ, dẫn đến việc phải tăng vốn để loại bỏ đối tác trong nước và chiếm lĩnh thị trường. Cuối cùng là định giá bán sản phẩm cao để đạt được lợi nhuận độc quyền.

    Các MNC đã thực hiện chiến lược bán phá giá và sử dụng các hình thức quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ để giành thị trường nhằm thôn tính các doanh nghiệp nội địa theo kiểu cá lớn nuốt cá bé. Họ làm được điều này là do khả năng tài chính dồi dào từ công ty mẹ mà các công ty nhỏ tại nước chủ nhà sẽ không đủ lực về tài chính để lao vào các cuộc cạnh tranh mà biết rằng cuộc cạnh

    tranh đó hoàn toàn bất lợi cho mình. Chẳng hạn như cuộc đấu tranh giành thị trường giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nội địa là các công ty giải khát tại TPHCM như Công ty Coca Cola và Công ty Pepsi Cola với các công ty nội địa như Tribeco, Hòa Bình, Chương Dương, … không đủ sức trong cuộc cạnh tranh và đành phải bỏ cuộc. Riêng công ty nước giải khát Tribeco nhờ có sự thay đổi chiến lược kinh doanh (sản xuất thức uống xanh và sữa đậu nành) nên vẫn còn tồn tại.

    Phần vốn góp của phía Việt Nam là 40% nhưng ta không có quyền quyết định về giá cả, chiến lược sản xuất kinh doanh, tiếp thị, … mà tất cả là chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ Coca Cola tại Mỹ. Mặc dù doanh số bán ra của liên doanh tại Việt Nam là luôn tăng và tăng cao nhất tới 53% trong năm 1998 nhưng ngược lại giá bán trên một đơn vị sản phẩm thì lại giảm dần và giảm cao nhất là 23% trong cùng năm 1998.

    Cụ thể như sau: một lon Coca Cola ở thị trường Mỹ là 75 cents (tương đương khoảng 10.500 đồng) trong khi một lon Coca Cola bán tại thị trường Việt Nam bình quân một lon giá 5.000 – 7.000 đồng (tương đương khoảng 40 – 50 cents) thấp hơn giá bình quân trên thị trường Mỹ là 25 cents (tỷ giá tạm tính 14.000 VND/USD). Đây phải chăng là hiện tượng bán phá giá của Công ty Coca Cola Chương Dương được điều phối từ công ty mẹ thông qua chiến lược bán hàng và chính sách mua nguyên liệu từ công ty con ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra Công ty Coca Cola Chương Dương đã xâm chiếm thị phần của các đối thủ bằng con đường bán phá giá (đặc biệt trong hai tháng 3 và tháng 4 năm 1998) Coca Cola đã bán phá giá kỷ lục là 30%) trong khi liên doanh này không hề có sự chuyển biến rõ rệt về công nghệ, về năng suất lao động và hiệu quả trong các khâu khác.

    Thậm chí trong đợt khuyến mãi Cúp bóng đá thế giới 98, bất chấp sự không đồng ý của phía đối tác Việt Nam, công ty đã chi 1.8 tỷ đồng để tăng dung tích chai nước ngọt Coca Cola lên tới 50% mà giá bán vẫn không đổi (đây là hình thức bán phá giá), đã làm cho công ty càng lỗ nặng, tính đến tháng 3 – 4 năm 1998 công ty đã lỗ tới 20 tỷ đồng.

    Theo số liệu của Cục thuế TPHCM thì Công ty Coca Cola Chương Dương bị lỗ trong 3 năm liên tiếp từ năm 1996 và đến 1999 đã chuyển thành 100% vốn nước ngoài.

    Bằng những chiêu thức như vậy, các MNC lộ rõ tham vọng thao túng toàn bộ thị trường nội địa, loại khỏi sân chơi các công ty cùng ngành nội địa để chiếm thị phần lớn hơn.

    Và cuối cùng là định giá bán sản phẩm cao để đạt được lợi nhuận độc quyền. Một số liên doanh sau khi trở thành công ty 100% vốn nước ngoài, đã có sự tăng trưởng cao mà có thể Coca Cola là điển hình.

    Các liên doanh sau khi trở thành các công ty 100% vốn nước ngoài hầu hết đều làm ăn có lãi và riêng Coca Cola năm 1999 đã nộp ngân sách 3 tỷ đồng tiền thuế và đạt mức tăng trưởng ngay trong năm 1999 là 30%.

    Chuyển giá dựa trên sự chêch lệch về thuế suất

     

    Thuế thu nhập doanh nghiệp về mặt nguyên tắc là có thể không đổi mặc dù trong thực tế sẽ thay đổi theo chiều hướng có lợi cho chủ đầu tư vì họ có thể đưa thêm các loại chi phí khác như chi phí quản lý, chi phí quảng cáo vào tổng chi phí của công ty tiêu thụ Foster’s Việt Nam. Như vậy rõ ràng chỉ bằng cách thành lập thêm một công ty con chuyên về tiêu thụ sản phẩm và thực hiện việc chuyển giá một cách hợp pháp trong nội bộ MNC mà chủ đầu tư của Foster’s đã tiết kiệm được tới 16% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp nhờ vào sự chêch lệch giữa giá bán cho công ty con và giá bán cho đại lý. Chủ đầu tư có thể tăng giá bán bia ở khâu tiêu thụ mà chỉ phải chịu thuế suất VAT 5% nhằm thực hiện việc kiểm soát giá cả trên thị trường, hưởng thêm lợi nhuận nhờ thủ thuật chuyển giá còn cơ quan thuế thì bó tay. Theo các chuyên gia tài chính và các chuyên gia thuế thì mặc dù nhận ra đây là hành vi lách luật để thực hiện chuyển giá nội bộ nhưng do luật pháp Việt Nam không đủ chặt chẽ và không đề cập tới sự chế tài đối với hành vi trên do đó các cơ quan chức năng không thể bắt bẻ về thủ thuật tách rời khâu sản xuất và thương mại. Việc làm của Foster’s Việt Nam đã tạo ra sự thiếu công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất mặt hàng bia. Bộ tài chính cần nghiên cứu ban hành một thông tư quy định cụ thể việc ấn định giá tính thuế theo giá bán tối thiểu đối với các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mà đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh rượu bia nhằm ngăn chặn khả năng chuyển giá nội bộ tương tự như trường hợp của Foster’s Việt Nam. Tuy nhiên thông tư này nếu có cũng chỉ là giải pháp tình thế trước mắt chứ không phải là biện pháp khả thi lâu dài.

    Nói chung, các hành động trên của doanh nghiệp có vốn ĐTNN nhằm đạt được bốn mục tiêu : chủ động hạch toán thua lỗ nhiều năm liên tục để bên Việt Nam trong liên doanh phải rút lui, giảm xuống mức thấp nhất thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, công ty mẹ ở nước ngoài được hưởng lợi nhờ gian lận qua chuyển giá và cuối cùng là đè bẹp các thương hiệu hàng đầu Việt Nam nhờ chi phí tiếp thị quảng cáo khổng lồ và liên tục hạ thấp giá đầu ra.

    Chúng ta hãy xem cách thức mà Foster’s Việt Nam sử dụng để né tránh thuế tiêu thụ đặc biệt và chiếu theo các điều luật hiện hành vào giai đoạn đó thì Foster’s Việt Nam có vi phạm quy định về chuyển giá hay không ?

    Giá bia Foster’s mà Foster’s Việt Nam bán cho các đại lý là 164.000 VND/két (chưa gồm thuế

    Vat) và với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho mặt hàng bia chai là 75% thì với mỗi két bia

    Foster’s Việt Nam phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt là :

    Giá tính thuế TTĐB = Giá bán đã có thuế TTĐB/(1 + thuế suất) = 164.000/(1 + 75%) = 93.714

    VND

    Thuế tiêu thụ đặc biệt = 93.714 * 75% = 70.286 VND

    Chủ đầu tư của Foster’s Việt Nam thành lập thêm Công ty TNHH Foster’s Việt Nam chỉ chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm của hai nhà máy sản xuất bia Foster’s đã có. Giá mỗi két bia mà các nhà máy bia Foster’s bán cho Công ty tiêu thụ Foster’s Việt Nam chỉ là 137.500 VND (chưa VAT 5%) và chỉ chịu khoản thuế tiêu thụ đặc biệt là :

    Như vậy, thuế TTĐB mà chủ đầu tư phải nộp cho mỗi két bia là 93.714 VND

    Mức tiết kiệm được thuế đầu ra so với trước khi thành lập công ty TNHH Foster’s Việt Nam chuyên về tiêu thụ là :70286-58929= 11.357 tương ứng 16%

    Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp của các quốc gia khác

    Về mức thuế suất 28% hiện hành, Bộ Tài chính tại thời điểm ban hành (2003), mức thuế này đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài khi các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối cao như: Malaysia (32%), Thái Lan (30%), Philippines (35%) Indonesia (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%). Hiện nay: Singapore: từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%. mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã giảm từ 33% xuống còn 25%, Hồng Kơng 15%… các nước ASEAN là 20 -25%

    Biểu thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước có đầu tư vào Việt Nam

      Country Rate (% )   Country Rate (% )  
                 
      ÂẤn Độ(1) 42.2        
      Nhật bản (2) 40.7   Indonesia (9) 30  
         
      Mỹ (3) 40   Thailand (10) 30  
         
         
      Đức (4) 38.4   Úc 30  
         
         
      Philippines (5) 35   Malaysia 27  
         
         
      Pháp (6) 33.3   Hàn Quốc (11) 27.5  
         
         
      New Zealand 33   Đài Loan (12) 25  
         
         
      Trung Quốc (7) 33   Singapore (13) 20  
         
         
      Anh (8) 30     17.5  
           
        Hong Kong SAR  
                 

    Nguồn: PricewaterhouseCoopers, 2007 Worldwide Tax Summaries,

    Như vậy xét các quốc gia như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore trong đó Singapore là nước đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất đã có mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn Việt Nam nhiều nên rất dễ dàng tạo điều kiện cho các nước này thực hiện hành vi chuyển giá về đất nước họ.

    Về mức thuế suất 28% hiện hành, Bộ Tài chính cho biết, tại thời điểm ban hành (2003), mức thuế này đã được cân nhắc, tính toán kỹ nhằm bảo đảm được tính cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hầu hết các nước trong khu vực đều đang duy trì mức thuế tương đối

    cao như: Malaysia (32%), Thái Lan (30%), Philippines (35%) Indonesia (30%, riêng thuế suất đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác mỏ, dầu khí, thuỷ điện từ 30% đến 45%) và Trung Quốc (33%).

    Tuy nhiên, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt hơn, cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp được các nước trên thế giới và các nước trong khu vực quan tâm nhiều hơn. Xu hướng gần đây cho thấy nhiều nước đã giảm mức thuế suất nói trên nhằm thực hiện ưu đãi diện rộng cho cả nền kinh tế, tăng tính cạnh tranh quốc gia trong thu hút đầu tư.

    Nghiên cứu thông tin quốc tế cho thấy mức thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (28%) là cao hơn các nước trong khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư thuận lợi hơn. Ngay cả Singapore – nơi có môi trường đầu tư thuận lợi, đã quyết định hạ thuế này từ 20% xuống còn 19%; Philippines giảm từ 35% xuống 30%. Và mới đây nhất, Quốc vụ viện Trung quốc cũng đã quyết định giảm từ 33% xuống còn 25% để cạnh tranh với các nước trong thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Trong tờ trình Chính phủ, Bộ Tài chính đưa ra đề xuất xem xét giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành từ 28% xuống 25%. Theo Bộ Tài chính, việc điều chỉnh này xuất phát từ mục đích tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp doanh nghiệp có điều kiện tăng tích luỹ, tích tụ, tăng thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng bảo đảm tăng tính cạnh tranh với thế giới và khu vực.

    Và để khuyến khích doanh nghiệp có nguồn lực để chủ động đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị…, hàng năm doanh nghiệp được dành tối đa 10% thu nhập trước khi tính thuế để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.

    2.2.     Nhận dạng các hình thức chuyển giá khác

    2.2.1. Nâng chi phí cho các dịch vụ hành chính và quản lý

    Công ty thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê chuyên gia, các chuyên gia tư vấn là những công ty thành viên hay có mối quan hệ về sở hữu. Nếu công ty tư vấn là trong một những tập đoàn thì đây chỉ là hình thức chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, trong trường hợp này chúng ta phải xem xét đến hệ thống luật nhà thầu để có thể khắc phục. Nếu tư vấn thật sự thì có thể công việc của nhà tư vấn là giúp cho công ty mẹ nhưng chi phí sẽ được trả tại Việt Nam.

    Hiện tượng này hiện nay xảy ra khá phổ biến, thể hiện ở đặc điểm chi phí quản lý của các doanh nghiệp FDI thường rất cao. Một số công ty liên doanh còn ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng không có hiệu quả, do các chuyên gia này là những nhân viên lâu năm của tập đoàn và đã bị dôi ra tại công ty mẹ, mà vì những lý do nào đó được chuyển sang Việt Nam làm chuyên gia và liên doanh tại Việt Nam phải gánh chịu chi phí. Đây cũng là hình thức chuyển giá.

    2.2.2.  Nâng chi phí bản quyền và các chi phí khác cho các tài sản vô hình

    Tài sản vô hình như chi phí bản quyền, goodwill, thương hiệu, … các công ty nước ngoài thường hay chuyển cho doanh nghiệp FDI Việt Nam một phần chi phí vô hình trên, có thể dưới dạng vốn góp, hay là hợp đồng chuyển giao. Các loại chi phí này vì có tính chất vô hình nên phía nước ngoài thường nâng lên rất cao và do không có một chuẩn mực nào để kiểm định nên thường chúng ta phải chấp nhận và các loại chi phí này thường do các nhân viên nước ngoài phụ trách. Vậy chúng ta phải nhanh chóng ban hành những chuẩn mực để định giá các loại tài sản và chi phí này.

    2.2.3.  Nâng giá hoặc giảm giá hàng mua đi bán lại

    Với các mặt hàng nhập khẩu có thuế suất cao, hợp đồng nhập khẩu sẽ được ký với giá hạ để tránh thuế nhập khẩu, sau đó sẽ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bằng những hợp đồng tư vấn và các loại chi phi khác. Nếu thuế xuất thuế nhập khẩu không cao, thường họ sẽ nâng giá bán lên cao nhằm tránh thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây có thể nói là hình thức chuyển giá được áp dụng thông dụng nhất và rất khó phát hiện.

    2.2.4.  Các giao dịch tài trợ

    Đối với các giao dịch tài trợ dưới dạng vật chất hữu hình như các sản phẩm của công ty, biện pháp thông thường là nâng giá để chuyển giá. Nếu là sản phẩm nhập khẩu tình trạng này vẫn giống như việc nâng giá bán. Đối với việc tài trợ bằng kỹ thuật, dịch vụ tư vấn chuyên gia thì là môi trường lý tưởng cho việc chuyển giá. Đặc biệt chúng ta cần lưu ý đến các hợp đồng viện trợ có hoàn lại và ngay cả những hợp đồng viện trợ không hoàn lại.

    Cần thấy rằng vốn ODA (hỗ trợ và phát triển chính thức) và viện trợ không hoàn lại là thiện chí của các nước phát triển nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển có nguồn vốn giải quyết những vấn đề khó khăn kinh tế xã hội. Tuy nhiên, phía cho vay không phải là không có lợi. Trước tiên là sử dụng vốn thặng dư trong nước đầu tư ra nước ngoài, vừa tăng cường hợp tác đầu tư vừa sinh lợi từ lãi suất cho vay (tuy thấp nhưng rất an toàn). Hơn thế nữa, họ còn thu được lợi nhuận cao nhất thông qua việc bán vật liệu, máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ để thực hiện dự án hoặc là xử lý được những công nghệ lạc hậu, tạo thị trường tiêu thụ cho hàng hóa sản xuất trong nước. Phần vốn “viện trợ không hoàn lại” cũng không phải là phần cho không. Chi phí cho mỗi dự án nghiên cứu kỹ thuật được tính như sau : 30% tổng vốn dành để trả lương cho các chuyên viên viện trợ sang nghiên cứu dự án, 20% vốn dành mua máy móc, thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác nghiên cứu, mua phương tiện đi lại, thuê chỗ ở và sinh hoạt phí cho chuyên gia trong quá trình làm việc, 40% vốn là phần dành cho các cuộc hội thảo, nghiệm thu dự án được tổ chức tại hai quốc gia như trả nhuận bút viết báo cáo cho chuyên gia nước ngoài, tổ chức cho cán bộ của hai nước qua lại dự hội thảo, …

    Còn với các dự án ODA, phía đối tác nước ngoài chỉ cung cấp 85% tổng giá trị dự án, còn lại 15% vốn Việt Nam. Cuối cùng chúng ta chỉ được một phần nhỏ trong tổng số rất lớn vốn của dự án.

    Nhưng vẫn phải nhìn nhận rằng với lãi suất từ 0.75 – 2%/năm và số năm ân hạn rất dài (có thể lên đến 10 năm).

    2.2.5.  Tài trợ bằng nguồn vốn vay từ công ty mẹ

    Bằng thủ thuật tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý như dùng nguồn vay ngắn hạn từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và đầu tư dài hạn nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên cao như chi phí chêch lệch tỷ giá, chi phí lãi vay, … và chuyển một phần lợi nhuận dưới dạng lãi vay về nước tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh lỗ do chêch lệch tỷ giá về sau.

    Với hình thức này, cần lưu ý rằng ngay cả khi doanh nghiệp vay của một ngân hàng nước ngoài do công ty mẹ bảo lãnh thì vẫn có thể xảy ra tình trạng chuyển giá. Do một số giao dịch giữa công ty mẹ và ngân hàng hải ngoại diễn ra tại hải ngoại sẽ được tính với giá (lãi suất, tỷ giá hối đoái, …) rất thấp, phần bù đắp sẽ được gởi vào phần lãi vay (bằng cách nâng lãi suất cho vay cao hơn bình thường) thu từ hoạt động cho vay của công ty trong nước với ngân hàng này.

    2.3.     Nguyên nhân tạo nên những đặc trưng của hoạt động chuyển giá ở Việt Nam

    2.3.1. Môi trường pháp lý của Việt Nam liên quan đến vấn đề chống chuyển giá hiện nay

    Từ năm 1987, nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Mặc dù Luật ĐTNN đã qua hai lần sửa đổi vào tháng 11/1996 và tháng 06/2000 nhưng vẫn chưa đề cập đến vấn đề chống chuyển giá một cách cụ thể và đầy đủ.

    Vấn đề chống chuyển giá đã được nêu ra trong các thông tư do Bộ tài chính ban hành để hướng dẫn thực hiện về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật ĐTNN, đó là thông tư số 74/TC/TCT ngày 20/10/1997 sau đó được thay thế bằng thông tư số 89/1999/TT-BTC ngày 16/07/1999. Tuy nhiên điều đáng chú ý nhất là các văn bản hướng dẫn sau vẫn giữ nguyên và hầu như không thay đổi bổ sung nội dun g các biện pháp chống chuyển giá trong văn bản ban hành trước đây. Tính đến thời điểm này thì thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 là cơ sở pháp lý về hướng dẫn các biện pháp chống chuyển giá và là cơ sở hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết.

    Bên cạnh đó, để thực hiện kế hoạch cải cách thuế theo hướng bình đẳng cho các thành phần kinh tế và các hình thức đầu tư giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 17/06/2003 để thống nhất nghĩa vụ nộp thuế cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Chính sách này đã được cụ thể hóa thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003.

    2.3.2. Trình độ quản lý của các cơ quan hữu quan

    Do các cơ quan ban ngành ở nước ta không có khả năng kiểm soát do thiếu thông tin, trình độ quản lý, kiểm soát, kinh nghiệm, chuyên môn cần thiết và cũng có một phần do thiếu trách nhiệm để tính toán mức giá thích hợp giữa các công ty con của các MNC trong cuộc chơi chuyển giá nội bộ của họ.

    Chính vì thế mà các MNC tại Việt Nam lợi dụng các yếu kém này của nước chủ nhà thực hiện việc nâng giá tài sản góp vốn khi tham gia liên doanh, thực hiện việc nâng giá đầu vào của các nguyên vật liệu mua từ công ty mẹ ở chính quốc và việc nâng cao chi phí quảng cáo khuyến mãi và các chi phí khác nhằm phục vụ cho việc quảng cáo thương hiệu mình cộng với việc hạ giá sản phẩm bán ra gây lỗ nghiêm trọng cho liên doanh (mặc dù công ty mẹ vẫn có lãi do bán nguyên vật liệu độc quyền với giá cao và thu được chi phí khấu hao tài sản cố định khi tăng giá), như vậy các MNC đã làm cho nước tiếp nhận không nhận được một khoản thu thuế thu nhập nào, đây cũng là mục tiêu chuyển giá của các MNC nhằm trốn thuế ở quốc gia nào có thuế suất cao.

    Các thông tin do cơ quan thuế yêu cầu để xác định việc định giá chuyển giao của các MNC thường có tính bảo mật thương mại hoặc có ở các nước khác, làm cho các thông tin đó khó hoặc không lấy được và đây là một nguyên nhân để các MNC thực hiện hành vi chuyển giá của mình.

    Các cơ quan thuế tại các địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ với nhau, hoạt động cục bộ trong phạm vi của mình trong khi các MNC hoạt động toàn cầu và tại các địa phương khác nhau. Có trường hợp đã phát hiện bất hợp lý về giá nhưng không có điều kiện áp dụng biện pháp xác định giá thị trường, cơ quan thuế áp dụng biện pháp yêu cầu doanh nghiệp cam đoan bằng văn bản tính hợp pháp của chứng từ đã cung cấp. Việc này không mang tính cưỡng chế mà còn lệ thuộc chủ yếu vào doanh nghiệp, vì doanh nghiệp sẵn sàng làm văn bản cam đoan, do công ty con không có quyền trong việc xác định giá hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp mẹ cung ứng.

    2.4.  Thực tế áp dụng các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam và những vấn đề tồn tại

    Như đã phân tích, các biện pháp chống chuyển giá tại Việt Nam là chưa có gì cụ thể ngoài một số văn bản, nghị định do Bộ tài chính ban hành và thường là mang tính chất đối phó, chạy theo

    các sự kiện đã xảy ra mà không có tính răn đe, chế tài đối với các công ty đa quốc gia. Bắt đầu là nghị định số 12/CP ngày 18/02/1997 của chính phủ về quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài làm nền móng pháp lý cho công tác quản lý tài chính tại các doanh nghiệp có vốn FDI. Tiếp theo là thông tư 74/TCT và thông tư 89/1999/TT-BTC đã đề cập đến vấn đề chống chuyển giá. Gần đây nhất là thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 trong đó có cụm từ chống chuyển giá.

    Các biện pháp chống chuyển giá ở đây nói cách khác là các phương pháp xác định giá thị trường ở Việt Nam. Việc xác định giá thị trường với mục tiêu đảm bảo xác định đúng nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp, trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra báo cáo thuế của doanh nghiệp, nếu phát hiện có vấn đề bất hợp lý về giá hoặc tỷ suất lợi nhuận trong giao dịch giữa các công ty liên kết, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp chống chuyển giá để xác định lợi nhuận chịu thuế.

    Quá trình phân tích, đánh giá sẽ chỉ ra phương thức xác định giá thị trường nào là phù hợp nhất. Khác với các quy định trước đây, chỉ có 3 phương pháp được áp dụng, không đủ để bao quát hết các khả năng phải xác định giá, trong lần quy định này, thông tư 117/2005/TT-BTC đó đưa ra 5 phương pháp định giá chuyển giao. Đó là:

    • Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập: dựa vào đơn giá sản phẩm được vận dụng trong

    trường hợp giao dịch độc lập có điều kiện tương đương với giao dịch liên kết.

    • Phương pháp giá bán lại: áp dụng trong trường hợp không có giao dịch mua tương đương, thuộc khâu cung ứng hoặc có thêm giai đoạn gia công, chế biến, lắp ráp… làm gia tăng giá trị

     

    hàng hóa, nên phải sử dụng giá bán lại của sản phẩm do cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của giao dịch liên kết.

    • Phương pháp giá vốn cộng lãùi: được lựa chọn khi giao dịch liên kết thuộc khâu sản xuất khép kín để bán cho bên liên kết hoặc cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra cho bên liên kết. Phương pháp này xác định giá dựa vào giá vốn hay giá thành của sản phẩm để xác định giá bán ra của sản phẩm đú cho bờn liờn kết.
    • Phương pháp so sánh lợi nhuận: để thực hiện phương pháp này phải dựa trên tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch độc lập được chọn. Phương pháp này không cho ra kết quả về giá mà tính ra được thu nhập thuần trước thuế là cơ sở tính thuế TNDN. Đây được xem là phương pháp mở rộng của phương pháp giá bán lại và giá vốn cộng lói, nờn cú thể ỏp dụng đối chiếu trong trường hợp có những điều kiện tương tự.

     

    • Phương pháp tách lợi nhuận: được áp dụng trong trường hợp nhiều bên liên kết cựng thực hiện một giao dịch liờn kết tổng hợp chẳng hạn như cùïng tham gia nghiêøn cứu phát triển sản phẩm mới, hoặc sản phẩm là tài sản vụ hàng độc quyền, kinh doanh chuyển tiếp từ khâu đầu đến khâu cuối gắn với quyền sở hữu trí tuệ. Việc tách lợi nhuận của từng bên liên kết trong giao dịch dựa trên cách mà các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lập tương đương. Trường hợp do tính đặc thù hoặc duy nhất của giao dịch liên kết mà không có có giao dịch độc lập tương đương để chọn một trong các phương pháp trên so sánh thỡ cú thể sử dụng biện pháp tổng hợp (như mở rộng phạm vi lựa chọn sang phân ngành khác, xác định biên độ giá thị trường thích hợp bằng các phương pháp tổng hợp…) hoặc vận dụng các số liệu giữa kỳ (để tính mức giá sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận…).

    Kết luận chương 2

    Thực trạng vấn đề chuyển giá tại Việt Nam chỉ mới được nhìn thấy qua các biểu hiện tương đối rời rạc, không điển hình nhưng chuyển giá không còn là vấn đề mới mẻ nữa và đang gặp không ít khó khăn.

    Thiết nghĩ sự chêch lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu chưa phải là động cơ thực sự của hành vi chuyển giá tại Việt Nam, động cơ chính của chuyển giá tại Việt Nam nằm trong chiến lược thôn tính các liên doanh, đẩy phía đối tác ra ngoài cuộc chơi sau khi đã sử dụng phía đối tác Việt Nam làm bàn đạp thâm nhập thị trường, nhằm mục tiêu thống nhất sự quản lý điều hành theo hướng chuyên nghiệp hơn. Một động cơ nữa của hành vi chuyển giá tại Việt Nam theo các nhà đầu tư nước ngoài là rủi ro về chêch lệch tỷ giá khi cho rằng đồng tiền VND được định giá quá cao và sớm muộn gì cũng phải định giá thấp xuống. Rủi ro này thúc đẩy các nhà đầu tư dùng hoạt động chuyển giá nhằm thu hồi sớm vốn đầu tư. Có thể nói chính phủ Việt Nam đã rất chậm trễ trong việc đưa ra các quy định chống chuyển giá. Điều này có nguyên nhân từ việc còn thiếu kinh nghiệm quản lý nền kinh tế khi Việt Nam bước từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường với những tư duy hoàn toàn mới về sản xuất kinh doanh. Chính phủ Việt nam đã quá chậm đưa ra các biện pháp xử lý. Bộ tài chính có hướng dẫn thực hiện các quy định về chống chuyển giá như khái niệm doanh nghiệp liên kết và đưa ra các biện pháp xác định giá thị trường nhưng lại không thể đưa ra được hướng dẫn áp dụng cho các nhân viên thuế vụ cũng như các yêu

    cầu của cơ quan thuế Việt Nam về hồ sơ, chứng từ đối với các MNC làm cho các quy định chống chuyển giá không thể áp dụng vào thực tế.

    CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG CHUYỂN GIÁ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

    3.1. Sơ lược kinh nghiệm một số nước:

    3.4.1. Kinh nghiệm của OECD:

    • Ngày 8/7/1994, OECD đưa ra dự thảo “Hướng dẫn giá chuyển giao đối với các cơng ty

    đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế ” dựa trên nguyên tắc “định giá cơng bằng”. hai nước khác nhau, hai cơ quan thuế cĩ thể thống nhất cách áp giá giao dịch để tránh bị đánh thuế hai lần. Khi đĩ, mỗi bên sẽ được chia một phần lợi nhuận, chứ khơng cĩ chuyện một nước gánh tồn bộ chi phí, cịn nước kia được hưởng tồn bộ lợi nhuận.

    • Hướng dẫn cũng đề ra các phương pháp tính giá chuyển giao, trong đĩ phương pháp phân chia lợi nhuận được coi là tốt nhất trong phần lớn các trường hợp, xác định lãi gộp

    để phân chia giữa các cơng ty liên kết dựa trên cơ sở giá trị kinh tế để phân chia phần lợi nhuận dự kiến và được phản ánh trong hợp đồng ký kết giữa các bên.

    3.4.2. Kinh nghiệm của Mỹ:

    • Quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ từ thời điểm

    chiến tranh thế giới lần thứ nhất giá chuyển giao tài sản hữu hình và vơ hình giữa các chi nhánh của một doanh nghiệp ở các nước khác nhau phải được xác định tương đương với giá cung cấp cho bên thứ ba.

    • Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị nhiều phương pháp: hai phương pháp nhằm

    thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập, yêu cầu giá chuyển giao tài sản vơ hình phải được xác định theo một trong bốn phương pháp: CUT, CPM, chiết tách lợi nhuận, các phương pháp khác khơng định rõ.

    • Về hình thức xử phạt, số tiền phạt vi phạm về giá chuyển giao dao dộng từ 20-40% số

    thuế khai thiếu.

    3.4.3. Kinh nghiệm của Thái Lan:

    • Để đối phĩ với hiện tượng chuyển giá, năm 2004, Thái Lan thiết lập cơ sở dữ liệu thơng

    tin về các cơng ty đang là mục tiêu để tiến hành kiểm tra sổ sách và điều tra – cụ thể là các cơng ty cĩ các chỉ số “rủi ro cao”, như là thua lỗ liên tục hơn 2 năm; tổng số lợi nhuận âm; khơng nộp thuế trong một giai đoạn; cĩ các giao dịch đáng kể của cùng nhĩm liên quan; và khả năng sinh lãi thấp so với các đối thủ cạnh tranh.

    • Cơ quan thuế của Thái Lan tập trung vào các chứng cứ giá cả chính xác, tất cả cần hợp lý để chứng tỏ sự minh bạch, tài liệu cập nhật để chỉ ra cơ cấu và mối liên hệ của nhĩm

    các cơng ty, bao gồm tính chất của mỗi một kinh doanh, ngân sách của nĩ, kế hoạch kinh doanh và các chiến lược tài chính. Cùng với đĩ là tài liệu giải thích doanh số của cơng ty, kết quả hoạt động, các giao dịch quốc tế của cơng ty với các tổ chức kinh doanh liên kết.

    • Các chính sách giá, khả năng sinh lãi của mỗi một sản phẩm và thơng tin thị trường, sự

    đĩng gĩp lợi nhuận của mỗi bên nhận các chức năng thực hiện, các tài sản đã sử dụng, và sự rủi ro tất cả phải được đưa vào tính tốn và cĩ khả năng sử dụng cho việc khảo sát

    tường tận.

    3.2. Kiến nghị một số giải pháp ở Việt Nam:

    3.4.1. Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô

    3.2.1.1  Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật:

    Các luật thuế là công cụ chủ yếu để kiểm tra và giám sát tài chính các doanh nghiệp FDI và do đó nó cũng phản ánh được nội dung chống chuyển giá. Các cơ quan thuế cần phải sử dụng thuế như một công cụ hữu hiệu để chống lại hoạt động chuyển giá, thông qua việc so sánh đối chiếu về giá, chi phí và lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI để ngăn chặn hiện tượng “lỗ ảo” nhằm mục đích trốn tránh thuế. Bên cạnh đó, cần tiến hành song song việc kiểm soát và giám sát các khoản về chi phí lãi tiền vay, tiền quảng cáo, tiền lương cho người nước ngoài, bởi vì đây là những khoản chi phí rất dễ bị lợi dụng cho việc thực hiện hoạt động chuyển giá. Cần tiến hành rà soát lại các quy định về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác như thuế nhà thầu nước ngoài sao cho hợp lý để vừa thực hiện được mục tiêu thu hút vốn đầu tư nước ngoài lại vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách. Gần đây chính phủ đã loại bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài làm giảm bớt động cơ của hoạt động chuyển giá, nhưng loại hình thuế nhà thầu khác như thuế chuyển tiền lãi vay, chuyển giao công nghệ, thương hiệu, … gọi chung là thuế nhà thầu với mức thuế suất từ 1% – 10% như hiện nay có thể là hơi thấp.

    Sớm ban hành các quy chế, quy định dưới dạng văn bản có tính pháp lý cao, cụ thể, xác thực và chặt chẽ về việc sử dụng vốn ODA và các dự án dưới hình thức BOT, … để ngăn chặn tình trạng chuyển giá gây hậu quả nghiêm trọng đến các công trình trọng điểm như xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu đường, y tế, văn hóa, giáo dục, dầu khí, … Do mỗi ngành có những đặc tính kỹ thuật đặc thù nên chúng ta rất dễ bị qua mặt trong vấn đề chuyển giá. Cần hoàn chỉnh các quy trình để có thể kiểm soát thật chặt chẽ các dự án ODA.

    Việt Nam đã ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các quốc gia khác nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại với các nước và làm giảm gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư, qua đó cũng giảm bớt động cơ chuyển giá của các MNC.

    Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhắm vào các loại thu nhập : cổ tức, tiền trả lãi vay, thu nhập bản quyền. Đồng thời, còn làm tăng cường sự hợp tác lẫn nhau giữa các cơ quan thuế của các quốc gia, một điều hết sức cần thiết nhưng cũng cực kỳ khó đạt được trong sự phối hợp chống chuyển giá trên toàn cầu. Chỉ sau khi ký hiệp định thì các cơ quan thuế mới có quyền cung cấp cho nhau các thông tin liên quan đến các vấn đề về thuế như giá cả, lợi nhuận, chính sách của các MNC

    tại các quốc gia khác nhau. Theo xu hướng chung của các nước phát triển, Việt Nam ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần trên nguồn gốc thu nhập để tạo nên sự chắc chắn cần thiết về mặt tài chính và để thuận lợi trong thu hút vốn FDI.

    Hoàn thiện hệ thống luật pháp, nhất là xây dựng Luật chống chuyển giá là một trong những nội dung trọng tâm hàng đầu để hạn chế hành vi chuyển giá của các MNC. Muốn thế chúng ta phải xây dựng một quy trình có tính hệ thống, mang tính nhất quán và có định hướng rõ ràng, bình đẳng, phù hợp với mục tiêu đặt ra từng thời kỳ.

    Ban hành các văn bản dưới luật đúng lúc, kịp thời, tránh tình trạng Nghị định đã có nhưng thông tư hướng dẫn của Bộ, Ngành chưa được ban hành triển khai gây khó khăn đối với các Doanh nghiệp trong vấn đề thực thi, giải quyết các vấn đề phát sinh, đồng thời những phát sinh vướng mắc phải được giải quyết nhanh chóng thông qua hệ thống văn bản nhà nước.

    Hoàn thiện các chính sách tài chính thông qua việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản pháp quy, các phương pháp kiểm tra và giám sát tài chính, quản lý ngoại hối đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI. Đồng thời, cần sớm xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán phù hợp với quy định pháp luật trong nước và quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh nghiệp FDI.

    Ban hành các quy chế để quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu các thiết bị, xây dựng cơ chế giám sát kỹ thuật và công nghệ, thẩm định giá các máy móc thiết bị nhập khẩu đặc biệt là những máy móc thiết bị mà đối tác nước ngoài góp vốn trong liên doanh.

    Nhà nước ta cần nghiên cứu một cách nghiêm túc thực tế của hoạt động chuyển giá tại các nước phát triển để rút ra được kinh nghiệm phù hợp cho Việt Nam, tránh tư tưởng vừa làm vừa sửa, sai đến đâu sửa đến đó.

    Việc thu hút đầu tư nước ngoài là mối quan tâm lớn của chính phủ, do đó các biện pháp chống chuyển giá cần phải cân nhắc, đảm bảo cho được tính cụ thể, chi tiết và khả năng thực thi, tránh tình trạng nửa vời gây ảnh hưởng không tốt cho môi trường sản xuất kinh doanh và tạo ức chế cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc hoàn thiện hệ thống luật pháp về hạn chế hành vi chuyển giá còn bao gồm nội dung sau tuân thủ thông tư 117/2005/TT-BTC, khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào cơ chế thỏa thuận định giá trước (Advance Pricing Agreement – APA). Cơ chế thỏa thuận định giá trước sẽ tạo ra một môi trường làm việc mang tính hợp tác giữa cơ quan thuế và các doanh nghiệp vì các lợi ích sau đây :

    1. Đảm bảo quyền lợi trước mắt cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quyền chủ động lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường phù hợp, lâu dài và ổn định đối với hoạt động của chính hoạt động của doanh nghiệp mà không bị áp đặt từ phía cơ quan thuế.
    1. Doanh nghiệp sẽ tự thực hiện việc kê khai các giá trị giao dịch với các doanh nghiệp có liên kết khác và có điều kiện để chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ chứng từ để cơ quan thuế xác minh khi cần thiết, do đó sẽ làm giảm đáng kể chi phí lưu giữ, tìm kiếm thông tin.
    1. Doanh nghiệp có thể lên kế hoạch về nghĩa vụ đối với cơ quan thuế và kế hoạch sản xuất kinh doanh chính xác hơn vì xác định được chi phí bỏ ra. Về phía cơ quan thuế có thể tối thiểu hóa công việc kiểm tra hồ sơ chứng từ cho các nghiệp vụ chuyển giao, hạn chế kiện tụng giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp.
    2. Trong trường hợp các doanh nghiệp được áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì việc áp dụng cơ chế thỏa thuận định giá trước – APA sẽ giúp cho doanh nghiệp tối thiểu

    hóa được số thuế phải nộp và tránh rủi ro bị đánh thuế trùng.

    3.2.1.2  Ổn định đồng tiền Việt Nam

    Theo phân tích phần trên về ảnh hưởng của sự mất giá tiền đồng Việt Nam so với các đồng tiền mạnh khác là điều lo ngại của các nhà đầu tư nước ngoài và là động cơ thúc đẩy các MNC thực hiện thủ thuật chuyển giá khi đầu tư vào Việt Nam. Do đó, giải pháp ổn định tiền tệ cũng sẽ góp phần hạn chế động lực chuyển giá đồng thời sẽ có tác dụng thu hút thêm nhiều nguồn đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp từ nước ngoài.

    3.4.2. Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ quản lý trong lĩnh vực

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài:

    Có thể nói rằng hoạt động chuyển giá có đạt được kết quả hay không, ngoài các giải pháp đã đề cập thì yếu tố chủ chốt vẫn là con người mà cụ thể là cán bộ thuế, hải quan và các cán bộ Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp FDI.

    Các cán bộ chủ chốt cần phải thấy rằng : muốn hạch toán sai lệch để biến lãi thành lỗ, các công ty này phải sử dụng chứng từ không đúng với nghiệp vụ phát sinh như có sự sai lệch về giá, vì vậy các cán bộ này cần phải nâng cao nghiệp vụ chuyên môn thông qua các khóa huấn luyện nghiệp vụ trong và ngoài nước nhằm thích ứng kịp thời với những yêu cầu ngày càng phức tạp của công việc. Ngoài ra, cần thông thạo ngoại ngữ, sử dụng tốt các phương tiện làm việc như máy tính và các phần mềm chuyên dụng khác để phối hợp cùng các nhân viên thuế vụ của nước bạn tăng cường quản lý chặt chẽ hành vi chống chuyển giá.

    Khi làm luật liên quan đến vấn đề này, cần phải có những quy định rõ ràng về chế độ khen thưởng, đãi ngộ cho các cán bộ nếu họ phát hiện những hành vi chuyển giá. Đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh nếu có hành vi tiếp tay để chuyển giá.

    Nhà nước cần đào tạo một bộ phận chuyên trách thuộc ngành thuế chuyên theo dõi thu nhập của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước nhằm phát hiện hành vi chuyển giá của các MNC, có thể thành lập mới Cục thu nhập như của Thái Lan hoặc giao nhiệm vụ cụ thể chuyên trách theo dõi vấn đề này cho một bộ phận hiện hành nào đó trong Bộ.

    3.4.3. Nhóm giải pháp liên quan đến các cơ quan, ban, ngành khác:

    Tăng cường sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan thuế, hải quan và các cơ quan chức năng khác như cơ quan tài chính vật giá, công ty kiểm toán, cơ quan thống kê, cơ quan kiểm định chất lượng để phân công chức năng, trách nhiệm cụ thể trong việc trao đổi thông tin và hỗ trợ lẫn nhau trong công tác quản lý. Đặc biệt là giám sát chi phí trong hợp đồng ký kết với các đối tác nước ngoài một

    cách hợp lý, logic, tránh hiện tượng chồng chéo, dẫm chân lên nhau vừa tốn kém mà số liệu lại không chính xác không thể sử dụng vào mục đích quản lý chung của quốc gia.

    3.3. Nhóm giải pháp mang tính chất kỹ thuật:

    Khi xem xét về giá giao dịch giữa các bên liên kết đặc biệt là trong nội bộ tập đoàn, việc phân loại các giao dịch là rất quan trọng đối với việc nhận diện các phương thức và yếu tố thường sử dụng vào mục đích gian lận về giá giao dịch. Thông thường các loại giao dịch trong nội bộ tập đoàn thường được phân thành bốn loại chính : mua bán hàng hóa, chuyển giao kỹ thuật và nhãn hiệu, cung cấp dịch vụ và các hoạt động tài chính (cho vay).

    Chúng ta sẽ xây dựng giá giao dịch dựa trên cơ sở nào ? Theo quan điểm của OECD (lấy giá bán theo căn bản giá thị trường – ALP làm cơ sở cho việc tính toán giá chuyển giao trong nội bộ MNC) hay quan điểm của Mỹ (lấy lợi nhuận làm căn bản để đánh giá các hoạt động chuyển giao) ? Thật ra, hai quan điểm đó chỉ là hai phương pháp để đi đến một mục đích là hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình chuyển giá, do đó các phương pháp chống chuyển giá của Việt Nam có thể cùng lúc dung hòa hai quan điểm trên với mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả cao nhất.

    Các phương pháp định giá chuyển giao được đề xuất dưới đây là các phương pháp cơ bản mà OECD đề xuất sử dụng và thực tế đã được nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng mang lại tính hợp lý và hiệu quả. Vì vậy, trước mắt chỉ nên tìm xem những phương pháp định giá chuyển giao nào do OECD đề xuất là phù hợp với thực tế Việt Nam để áp dụng và bổ sung vào các giải pháp hỗ trợ cho công tác chống chuyển giá của chính phủ Việt Nam.

    3.4.1. Phương pháp so sánh giá thị trường tự do

    Nội dung của phương pháp này là so sánh giá đã được ghi nhận trong các giao dịch nội bộ với giá thị trường tự do. Để thực hiện so sánh, chúng ta cần có nguồn cơ sở dữ liệu về giá thị trường quốc tế tương đối đầy đủ. Trước mắt, chúng ta cần có giá cả của các nguyên liệu thường xuyên nhập khẩu vào Việt Nam và từng bước bổ sung, mở rộng ra các mặt hàng khác. Điểm đáng chú ý là hoạt động kiểm tra, định giá lại được thực hiện sau khi giao dịch đã xảy ra, do đó nguồn cơ sở dữ liệu cũng xây dựng và lưu trữ theo giá từng thời điểm để tránh sai sót do biến động của thị trường khi áp dụng. Khi sử dụng phương pháp này, chúng ta có thể phát hiện được những chi phí phát sinh bất hợp lý thông qua việc so sánh với các doanh nghiệp tương tự trong những nghiệp vụ chuyển giao có thể so sánh được. Cụ thể, khi xem xét giá vốn hàng bán và chi phí về nguyên vật liệu một công ty liên doanh tại TPHCM, chúng ta thấy giá vốn hàng hóa bán ra chiếm một tỷ lệ hơn 61% trên doanh thu và chi phí về nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ khoảng 51% trên doanh thu. Nếu so sánh với một công ty khác cùng ngành nghề và quy mô hoạt động thì tỷ lệ giá vốn hàng hóa trên doanh thu là 53% và tỷ lệ về chi phí nguyên vật liệu là 45% trên doanh thu, như vậy rõ ràng các khoản chi phí của công ty liên doanh đã có vấn đề cần phải xem xét lại. Tương tự, chi phí về quảng cáo của công ty A là 8% trên giá bán thì tại công ty B khác, chi phí này là 5%. Điều này cho thấy, công ty liên doanh đã sử dụng chiến thuật giành thị trường tiêu thụ nên sẵn sàng nâng khoản chi phí quảng cáo tiếp thị lên và làm lỗ thêm

    cho liên doanh. Nếu cơ quan thuế sử dụng phương pháp so sánh với công ty B thì có thể ngăn chặn những khoản chi này.

    3.4.2. Phương pháp sử dụng giá bán ra để xác định giá mua vào

    Phương pháp này được áp dụng thay cho phương pháp giá thị trường tự do và đặc biệt thích hợp cho ngành thương mại.

    Điểm chính của phương pháp này là phải xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu để tính khoản khấu trừ hợp lý. Do hoạt động kinh doanh bao gồm rất nhiều loại hình phong phú và đa dạng, ngay cả đối với một loại sản phẩm cùng loại có thể có những quy cách và phẩm chất khác nhau, do đó, khi xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, chúng ta cần lưu ý :

    • Xây dựng một tỷ suất lợi nhuận bình quân cho từng mặt hàng hoặc từng ngành kinh doanh.
    • Điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

    Ví dụ : Một công ty Nhật chuyên sản xuất dụng cụ y tế. Công ty này tiến hành bán sản phẩm của mình cho một số đại lý tại Việt Nam. Để xác định giá mua vào đối với những sản phẩm mà các đại lý Việt Nam đã nhận của công ty mẹ, cơ quan thuế Việt Nam sẽ xác định : Giá bán các dụng cụ y tế cho những cửa hàng độc lập với công ty (đặt tại Việt Nam). Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của các cửa hàng độc lập đó : tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân của ngành kinh doanh dụng cụ y tế là 16%. Tuy nhiên, do những dụng cụ y tế mà công ty trên cung cấp là loại đặc biệt, tác dụng điều trị đặc thù nên tỷ suất lợi nhuận dự kiến sẽ tăng thêm 3% so với các dụng cụ y tế thông thường. Do đó có thể xác định tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của các cửa hàng độc lập là 19% để làm cơ sở xác định giá mua vào.

    3.4.3. Phương pháp giá phí cộng thêm

    Phương pháp giá phí cộng thêm rất phù hợp với những loại hình doanh nghiệp sản xuất, gia công hoặc các cơ sở làm dịch vụ khi đó giá chuyển giao được xác định bằng cách cộng thêm một khoản nâng giá thích ứng vào chi phí sản xuất của sản phẩm, dịch vụ. Khoản chi phí cộng thêm về nguyên tắc sẽ bao gồm các chi phí bán hàng, chi phí quản lý tương ứng và phần lợi nhuận theo tỷ lệ lợi nhuận bình quân cho ngành kinh doanh. Do trong phương pháp này các chi phí giao dịch và quản lý được tách riêng để tính toán do đó cần lưu ý kỹ đến việc phân bổ các chi phí này sao cho chính xác phù hợp với doanh số chuyển giao.

    Ví dụ : Một công ty chuyên sản xuất mặt hàng trang trí nội thất điều hành toàn bộ hoạt động nghiên cứu và triển khai sản xuất tại Hàn Quốc. Sau khi sản xuất và qua khâu chế biến thành gỗ ocan, sẽ được chuyển giao đến một chi nhánh tại Việt Nam. Tại đây, gỗ ocan sẽ được gia công thành các sản phẩm trang trí nội thất như bàn, ghế, giường, tủ, … và được chuyển ngược về Hàn Quốc để bán trên thị trường Hàn Quốc. Trong trường hợp này, công ty ở Việt Nam là một công ty chuyên sản xuất theo hợp đồng, thực hiện các hoạt động sản xuất có tính chất giới hạn, không làm công việc điều độ sản xuất, không mua nguyên vật liệu và cũng không chịu rủi ro về vật liệu cung ứng và thị trường tiêu thụ. Sản phẩm trang trí nội thất sẽ mang nhãn

    hiệu của công ty Hàn Quốc, hoàn toàn không có tên của công ty Việt Nam. Do công ty Hàn Quốc chỉ thực hiện hợp đồng sản xuất với công ty Việt Nam nên không thể sử dụng phương pháp CUP để xác định giá chuyển giao trong nội bộ công ty này. Tuy nhiên, do công ty con ở Việt Nam không chỉ thực hiện nhiệm vụ gia công cho công ty mẹ ở Hàn Quốc mà còn có thể gia công sản xuất cho các công ty không liên kết khác, những mặt hàng trang trí nội thất tương tự, do đó, khoản nâng giá mà công ty Việt Nam khi làm dịch vụ cho các công ty không liên kết khác sẽ là những thông tin có thể so sánh được dùng để áp dụng phương pháp giá phí cộng thêm khi định giá cho các nghiệp vụ chuyển giao của công ty Hàn Quốc có liên kết.

    Trên đây là một số các phương pháp cụ thể để thực hiện chống chuyển giá ở Việt Nam. Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy ba phương pháp đã nêu có thể sẽ không áp dụng được trong một số tình huống cụ thể.

    3.4. Nhóm giải pháp hỗ trợ

    3.4.1. Đẩy mạnh việc thực hiện các giao dịch thông qua ngân hàng

    Đẩy mạnh việc thanh toán qua ngân hàng nhằm kiểm soát các giao dịch đang phát sinh trong toàn bộ nền kinh tế. Các chứng từ ngân hàng giúp cho cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát được các giao dịch cũng như các chủ thể tham gia vào các giao dịch đó.

    Tăng cường kiểm soát hoạt động doanh nghiệp thông qua tín dụng, cần tổ chức chặt chẽ việc thẩm định cho vay và sau khi cho vay về hiệu quả của dự án, cách thức sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ và nguồn để trả nợ.

    Thực hiện tốt điều này không những làm lành mạnh môi trường tín dụng, kinh doanh mà còn có thông tin chuẩn xác về các tỷ lệ chi phí, tỷ lệ lãi hay các chỉ tiêu tài chính kinh tế khác trong nhiều ngành để làm chuẩn so sánh khi xác định giá chuyển giao tiêu chuẩn, hoặc xác nhận mức thu nhập chịu thuế để nhận biết có hiện tượng chuyển giá hay không. Nếu hệ thống ngân hàng hoạt động tốt, nó sẽ là nơi cung cấp thông tin, số liệu về mức chi phí hiệu quả, về giá mua bán, về tỷ lệ lợi nhuận từng doanh nghiệp, từng ngành rất chính xác. Từ đó, có thể tập hợp để tính chỉ số bình quân ngành, phát hành tài liệu phục vụ cho cơ quan chống chuyển giá khi xác định giá tiêu chuẩn chuyển giao như các phương pháp giá tự do có thể so sánh được, lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển giao, … để xác định lợi nhuận chịu thuế.

    3.4.2. Cần có các quy định thống nhất về thủ tục và điều chỉnh các mức giá kê khai

    cho phù hợp với giá thị trường:

    Khi có nghi ngờ về hiện tượng chuyển giá ở một doanh nghiệp FDI, cơ quan thuế có thể thực hiện các bước kiểm tra như sau :

    1. Thông báo cho các doanh nghiệp để được cung cấp các chứng từ về những thông tin có liên quan đến đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp.
    2. Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp những thông tin đã được cơ quan thuế yêu cầu trong thời gian hạn định. Những tài liệu và thông tin cung cấp có thể bao gồm :
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để cung cấp tình hình lãi lỗ của doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
    • Tình hình thực hiện doanh thu bán hàng và các hóa đơn xuất giao hàng, đặc biệt là các hóa đơn xuất giao hàng cho các liên kết.
    • Các hóa đơn chứng minh cho các khoản chi phí đã thực chi.
    • Báo cáo về tài sản, nguồn tài trợ và các khoản chi cho việc sử dụng vốn, đặc biệt là các khoản chi cho nguồn tài trợ tín dụng.
    • Hợp đồng chuyển giao công nghệ và bí quyết công nghệ, các thông tin chứng minh tính hợp lý về tiền bản quyền, chi phí nhãn hiệu thương mại, …
    • Thời điểm lập tờ khai thuế.
    • Chứng minh được phương pháp định giá và khả năng xác định hàng hóa, dịch vụ là hợp lý.
    1. Cơ quan thuế căn cứ vào các tài liệu và thông tin do các doanh nghiệp cung cấp và các quy định chính sách của cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài xác minh lại tính chính xác của các mức giá kê khai. Trường hợp các mức giá kê khai của doanh nghiệp cách biệt quá lớn so với

    giá thị trường, các cơ quan quản lý thuế sẽ tiến hành điều chỉnh và sẽ thông báo bằng văn bản xác định bản chất và số tiền được điều chỉnh cho doanh nghiệp

    1. Nếu doanh nghiệp không thống nhất với những kết luận của cơ quan thuế, doanh nghiệp có

    thể yêu cầu được giải thích và nếu cần có thể khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền.

    3.4.3. Các biện pháp phạt:

    Để tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp FDI, cơ quan tài chính và thuế cần ban hành những chế độ phạt cụ thể trong những

    trường hợp phát hiện có hiện tượng chuyển giá.

    Theo kinh nghiệm của các nước OECD và đặc biệt là Mỹ, các hình phạt có thể đóng một vài trò chính đáng trong việc cải thiện chế độ chấp hành chính sách thuế trong lĩnh vực định giá

    chuyển giao. Việc thi hành hệ thống các hình phạt này nhằm đảm bảo sự công bằng và không tạo ra sự phiền nhiễu cho người nộp thuế.

    Đối với Việt Nam, việc thực hiện các quy tắc phạt có thể áp dụng phân biệt theo hai trường hợp sau :

    • Khi những nghiệp vụ chuyển giao của các doanh nghiệp được cơ quan thuế xem xét trên cơ sở áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao truyền thống, nếu phát hiện có sự sai biệt

    giữa giá doanh nghiệp kê khai với giá thị trường thì áp dụng một tỷ lệ phạt trên khoản chêch lệch (cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường). Tỷ lệ này ở Mỹ có hai mức là 20% và 40% tùy theo mức độ sai biệt nhỏ hay lớn.

    • Khi những nghiệp vụ chuyển giao của các doanh nghiệp được cơ quan thuế xem xét trên cơ sở áp dụng các phương pháp định giá chuyển giao dựa trên căn bản lợi nhuận, nếu phát sinh mức độ sai biệt giữa lợi nhuận báo cáo với lợi nhuận so sánh ở các doanh nghiệp tương tự thì áp dụng một tỷ lệ phạt trên khoản lợi nhuận chêch lệch đó.

    Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể tránh được những hình phạt nói trên nếu như xuất trình đầy đủ các tài liệu chứng minh cho các khoản chêch lệch hợp lý.

    Sau đây là một số đề xuất về khung hình phạt tại Việt Nam:

    • Xây dựng, ban hành biểu thuế suất cụ thể ứng với từng mức độ vi pham khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng).
    • Doanh nghiệp đầàu tư nước ngoài cố ý kê khai giảm thu nhập so với thu nhập thực tế nếu bị phát hiện sẽ chịu phạt 3 đến 5 lần thuế áp dụng tại thời điểm phát hiện kê khai thấp hơn, tùy theo số lần bị phát hiện và mức độ nghiêm trọng mà áp dụng mức độ nặng nhẹ khác nhau.
    • Xét theo mức độ nặng nhẹ căn cứ vào nhiều yếu tố. Trong đó, đặc biệt quan tâm đối tượng nộp thuế cố ý không tuân thủ các quy định về chuyển giá gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia.
    • Phát hiện mức thuế trốn càng cao áp dụng hình thức phạt càng cao.
    • Thực hiện việc truy thu thuế từ 5 đến 10 năm trở về trước. Aùp dụng mức lãi suất phạt

    truy thu thuế. Mức lãi suất đó tính theo lãi suất cho vay hiện hành hiện hành của Ngân hàng tại thời điểm áp dụng quyết định truy thu.

    Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay Việt Nam cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc

    đẩy phát triển đất nước là mục tiêu của chính phủ. Vì vậy, các nhà làm luật khi xây dựng khung

    hình phạt đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện việc chuyển giá cần

    phải cân nhắc giữa lợi ích đạt được và thiệt hại mất đi để linh hoạt có hướng xử lý một cách

    hiệu quả nhất, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước.

    Tóm lại thực hiện tốt các giải pháp trên đây sẽ làm tăng tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, hạn chế và khắc phục tình trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI, tăng thu cho tài chính quốc gia. Chính phủ cần phải ban hành các hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực nhằm thực hiện một cách đồng bộ hoạt động chuyển giá. Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp. Vì vậy, để thực hiện được các giải pháp trên, đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ của nhiều cơ quan và phải có sự chỉ đạo chặt chẽ và kịp thời của chính phủ, trong đó nhiệm vụ chủ yếu thuộc về cơ quan chịu trách nhiệm thu ngân sách nhà nước là Bộ tài chính.

    KẾT LUẬN

    Nhìn chung, vấn đề định giá chuyển giao của Việt Nam cũng đã được đặt ra thông qua một số văn bản pháp quy của Nhà nước hướng dẫn các quy định về thuế đối với DN có vốn ĐTNN. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà quản lý thì những quy định trong văn bản này chưa đủ sức để có thể kiểm soát được các hoạt động định giá chuyển giao. Hệ quả là đã có một số trường hợp DN cố tình khai tăng giá trị máy móc thiết bị dùng làm vốn góp đầu tư ban đầu, tăng cao các chi phí nhập khẩu nguyên liệu…

    Trên thực tế, số liệu ngành thuế TP.HCM cho thấy, đã có trường hợp một DN FDI hoạt động theo hình thức liên doanh với tỷ lệ góp vốn Việt Nam 40%- nước ngoài 60%, DN khai lỗ kể từ khi bắt đầu hoạt động và 3 năm thì chuyển sang DN 100% vốn nước ngoài. Trong khoảng thời gian 3 năm liên doanh, giá bán sản phẩm giảm liên tục khoảng 3%/năm, làm cho mức lỗ năm sau cao hơn năm trước. Mức lỗ được phân tích là do chi phí nguyên vật liệu và tiền lương quá cao. Trong khi đó, thông tin so sánh của các công ty con khác trong cùng một tập đoàn cho thấy các chỉ số tài chính phản ánh chi phí đầu vào ở Việt Nam nguyên vật liệu trên doanh thu thuần cao gấp 2-3 lần, giá vốn bán hàng trên doanh thu thuần cao gấp 0,2-0,3 lần. Các bằng chứng trên đã cho thấy, vấn đề định giá chuyển giao tại Việt Nam có sự phức tạp và đa số nằm ngoài tầm kiểm soát của một số ngành chức năng, đặc biệt là ngành thuế.

    Như vậy, khi các hành lang pháp lý phục vụ cho việc định giá chuyển giao tại Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện thì việc tạo ra các kẽ hở là điều khó tránh khỏi. Chính vì thế, các nhà quản lý, làm luật cần tính toán kỹ hơn trong việc nhanh chóng hoàn thiện bổ sung thêm các khung pháp lý liên quan để việc định giá chuyển giao có thể được kiểm soát một cách chặt chẽ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phần Tiếng Việt
    • Cục thuế TP.Hồ Chí Minh (2005), Báo cáo tình hình 10 năm thực hiện chính sách thuế trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
    • Phan Hiển Minh (2002), Hoàn thiện phương pháp định giá chuyển giao trong chính sách thuế của Việt Nam, Luận văn tiến sỹ kinh tế, Học viện tài chính.

     

    • Ngô Trần Kim Ngân (2005), Một số giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh (2000), Định giá chuyển giao và chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở TP.Hồ Chí Minh, NXB tài chính.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh (1999), Hiện tượng chuyển giá của các công ty đa quốc gia: tác động tiêu cực và giải pháp khắc phục, Tạp chí tài chính số 421, trang 18- 21, 11/1999.

     

    • Nguyễn Ngọc Thanh và Nguyễn Hoàng Dũng (2001), Định giá chuyển giao và thủ thuật chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam, NXB tài chính, Hà Nội.
    • Nguyễn Trí Thành (2004), Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh.
    • Tài liệu tham khảo từ các website:
    1. dpi.hochiminhcity.gov.vn

     

    1. mof.gov.vn

     

    1. mpi.gov.vn

     

    1. gso.gov.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/LU%E1%BA%ACN-V%C4%82N-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Lời mở đầu

    Bên cạnh vốn trong nước thì vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn quan trọng với phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nhận thức được điều này, trong những năm gần đây thu hút đầu tư nước ngoài đã được các cấp lãnh đạo Cao Bằng quan tâm đặc biệt. Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng chủ yếu gồm hai loại: ODA, FDI. Vốn ODA đã được tỉnh sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng, các chương trình xoá đói giảm nghèo, cung cấp điện nước… Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông rất bất lợi, nên khả năng thu hút FDI của Cao Bằng còn hạn chế. Tỉnh đã dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn song vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng.

    Sau một thời gian thực tập tại sở Kế hoạch và Đầu tư Cao Bằng, qua tìm hiểu tình hìnhthực tế em nhận thấy trong điều kiện Cao Bằng hiên nay tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết, làm tốt công tác này sẽ góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng” cho chuyên đề thực tập của mình.

    Kết cấu của chuyên đề:

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

     

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung.

    I. Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển.

    1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển.

    Đầu tư : Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động có mục đích nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên; là thời gian, sức lao động trí tuệ.

    Kết quả đem lại có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền), tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Những kết quả đó có vai trò quan trọng trong mọi trường hợp, không chỉ với nhà đầu tư mà còn với cả nền kinh tế quốc dân.

    Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác.

    Đầu tư phát triển: Là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn vật chất, nguồn lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    Qua định nghĩa về đầu tư và đầu tư phát triển cho thấy với bất cứ sự phát triển nào cũng gắn với hoạt động đầu tư, bởi vậy đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nhà ở cũng chung mục đích đem lại cho tương lai một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển.

    2.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước.

    – Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu.

    • Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nền kinh tế, chiếm khoảng 24 – 28% trong cơ cấu tổng cầu. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo theo sản lượng cân bằng tăng theo và giá cả của các cầu vào tăng theo.

     

     

    • Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên. Sản lợng tăng giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    – Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.

    Khi tăng đầu tư cầu của các yếu tố đầu vào tăng vừa làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng, đến một mức nào đó dẫn đến lạm phát. Lạm phát làm kinh tế phát triển chậm lại, mặt khác khi tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tệ nạn xã hội, tạo điều kiện cho

    sự phát triển nền kinh tế. Khi giảm đầu tư cũng tác động đến hai mặt, nhng theo chiều h-ướng ngược lại.

    – Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

    Muốn giữ tốc độ tăng trởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.

    Vốn đầu tư

    ICOR =

    Mức tăng GDP

    Vốn đầu tư

    Mức tăng GDP =

    ICOR

    Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP phụ thuộc vào vốn đầu tư.

    – Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

    Chính sách đầu tư quyết định qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.

    Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.

    – Đầu tư với việc tăng cường khả năng KH & CN của đất nước.

    Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay.

    Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Dù tự nghiên cứu hay nhập khẩu từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phơng án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi.

    2.2. Đối với phát triển vùng lãnh thổ.

    Vùng lãnh thổ trên một bình diện nào đó là một nền kinh tế thu nhỏ nên hoạt động đầu tư trên phạm vi vùng lãnh thổ cũng có vai trò như là hoạt động đầu tư trên phạm vi quốc gia: tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá; đến sự ổn định của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ. Nét khác biệt giữa vùng lãnh thổ và quốc gia là vùng lãnh thổ có điều kiện về tự nhiên và xã hội tư-ơng đối đồng nhất trong khi trên phạm vi quốc gia có sự khác biệt giữa các vùng do vậy trong chính sách đầu tư của vùng lãnh thổ vừa chịu sự ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô của Nhà nước, vừa thể hiện sự sáng tạo trong việc vận dụng vào điều kiện cụ thể trong khi chính sách đầu tư của quốc gia thực hiện sự linh hoạt giữa các vùng khác nhau.

    2.3. Trên giác độ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.

    Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển nhanh của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời bất kỳ cơ sở sản xuất kinh doanh nào đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, lắp đặt máy móc… Các hoạt động này là các hoạt động đầu tư. Sau một thời gian các máy móc này bị hỏng hoặc hao mòn. Để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục cần phải đầu tư kinh phí để sửa chữa và bảo hành. Chứng tỏ đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cả ở tầm vi mô.

    3. Các nguồn vốn đầu tư.

    Theo nguồn hình thành, vốn đầu tư bao gồm:

    3.1. Nguồn vốn trong nước.

    Đây là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững, lâu dài của nền kinh tế. Nó không những có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất kinh doanh trong nội bộ nền kinh tế mà còn có ảnh hưởng to lớn đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn tích luỹ trong nước tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút và tiếp nhận đầu tư nước ngoài, đồng thời giữ thế chủ động không phụ thuộc vào nước ngoài.

    Nguồn vốn trong nước được hình thành từ hai nguồn chính: Đó là nguồn vốn Nhà nước và nguồn vốn tư nhân.

    Vốn của Nhà nước bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách, vốn tín dụng đầu tư và vốn của doanh nghiệp Nhà nước. ở nước ta, các nguồn vốn này thờng đợc Nhà nước đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Nguồn vốn từ ngân sách chiếm khoảng 21% tổng vốn đầu tư xã hội đợc sử dụng đầu tư cho xây dựng cơ bản, hạ tầng kinh tế xã hội và các công trình công cộng không có khả năng thu hồi vốn; nguồn vốn tín dụng đầu tư chiếm khoảng 6% tổng số vốn đầu tư và đợc sử dụng tập trung cho các dự án sản xuất kinh doanh theo hướng ưu tiên của kế hoạch Nhà nước và dự án công trình công cộng có khả năng thu hồi vốn như bưu điện, bưu chính viễn thông… Vốn của doanh nghiệp Nhà nước đầu tư chiếm trên 13% tổng số vốn đầu tư. Từng bước điều chình mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước một cách hợp lý hơn, nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp Nhà nư-ớc trong sản xuất kinh doanh.

    Nguồn vốn của tư nhân bao gồm tích luỹ của các doanh nghiệp tư nhân và tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn này chủ yếu để đầu tư sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận. Thời gian qua nguồn vốn này chiếm khoảng trên 30% tổng vốn và góp phần rất quan trọng vào việc tăng trởng kinh tế và ổn định đời sống dân cư, nhất là tạo công ăn việc làm cho cả nông thôn và thành thị.

    3.2. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài.

    Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, còn đang ở trong tình trạng thiếu vốn gay gắt. Nhờ có nguồn vốn này tạo nên một động lực lớn giúp các nƯớc này giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội to lớn, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng lao động… nhanh chóng công nghiệp hoá hiện đại hoá đa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài đƯợc chia thành: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign direct Investment) và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA: Offical Development Assitance).

    Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

    Đầu tư nước ngoài là sự chuyển dịch tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu .

    Đầu tư trực tiếp : nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp quản lý vốn

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều nguồn khác nhau: vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, vốn của tư nhân bao gồm vốn của người nước ngoài hay của người Việt Nam ở nước ngoài.

    Mục đích của đầu tư nước ngoài là thu về lợi nhuận do vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, thời gian hoàn vốn nhanh, những lĩnh vực ít rủi ro. Bởi vậy nước tiếp nhận đầu tư nếu không biết điều chỉnh sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (vốn ODA).

     

    Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistance, viết tắt là ODA) được ngân hàng thế giới định nghĩa: “ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại, hoặc tín dụng u đãi của các tổ chức Chính phủ, dành cho các nước đang và chậm phát triển”.

    ODA bao gồm: ODA không hoàn lại và ODA cho vay u đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% giá trị khoản vay.

    Thời gian vay nợ khá dài thờng từ 30 – 40 năm (kể cả thời gian ân hạn). Ngoài khoản viện trợ không hoàn lại thì nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp (0-5% /năm).

    Mục tiêu tổng quát là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện chơng trình phát triển và tăng phúc lợi của mình. Tuy nhiên tính ưu đãi thường kèm theo các điều kiện ràng buộc t-ơng đối khắt khe như tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vố và thanh toán… Đôi khi ODA được cung cấp từ Chính phủ còn gắn với những ràng buộc về mặt chính trị, xã hội thậm chí cả về quân sự.

    Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh rằng ODA là nguồn vốn vay nợ nước ngoài mà nư-ớc đi vay phải thanh toán trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy cần phải xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài chính tổng thể nếu không việc tiếp nhận viện trợ sẽ trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài đối với mỗi quốc gia.

    II. Vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    1. Vai trò.

    Chuyển giao công nghệ :

    Đa số các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến. Họ có thể sẵn sàng chuyển giao công nghệ đó cho chủ nhà nếu chuyên gia địa phương có thể tiếp cận công nghệ sau khi huấn luyện.

    Tạo công ăn việc làm :

    Hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động địa phương, đặc biệt là các nghành sử dụng nhiều lao động giản đơn như dệt may, da giày…

    Kích thích các doanh nghiệp địa phương:

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ kích thích các doanh nghiệp địa phương tham gia manh mẽ vào việc cung cấp nguyên vật liệu, các linh kiện rời và các dịch vụ cho họ…

    Kinh nghiệm quản lý :

    Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang theo kinh nghiệm quản lý và cách thức điều hành hoạt động của một doanh nghiệp. Việc cử người đi làm việc ở nước ngoài sẽ rất tốn kém, do đó các công ty này thường huấn luyện người địa phương thành các nhà quản trị tại chỗ nhằm bổ xung vào đội ngũ quản trị của họ.

    2.  Các

    nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài.

    Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư. Nó bao gồm các yếu tố: tình hình chính trị, chính sách-pháp luật, vị trí địa lí-điều kiện tự nhiên, trình độ kinh tế,

    đặc điểm văn hóa-xã hội. Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.

    Tình hình chính trị:

    Tình hình ổn định chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng hàng đầu để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó giảm được rủi ro cho các nhà đầu tư. Một nước không thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị luôn luôn mất ổn định.

    Chính sách pháp luật:

    Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lý hợp lý và ổn định của nước chủ nhà. Môi trường này gồm những chính sách, qui định đối với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính các nhà đầu tư trong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài.

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu đầu vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ.

    Trình độ phát triển kinh tế:

     

    Trình độ phát triển kinh tế là các mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà. Những nước có trình độ quản lý vĩ mô kém thường dẫn đến tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng … Cơ sở hạ tầng cứng bao gồm các yếu tố như sân bay, cảng biển, giao thông, điện lực, viễn thông, còn cơ sở hạ tầng mềm bao gồm chất lượng lao động, dịch vụ công nghệ, hệ thống tài chính. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư.

    Đặc điểm văn hóa xã hội:

    Đặc điểm phát triển văn hóa-xã hội của nước chủ nhà được coi là hấp dẫn đầu tư nước ngoài nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ, tôn giáo, các phong tục tập quán đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các đặc điểm này không chỉ giảm được chi phí đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tạo điều kiện cho họ hòa nhập vào cộng đồng nước sở tại.

    III. Các hình thức đầu tư nước ngoài ( ODA và FDI).

     

     

     

    1.     ODA.

    1.1. Khái niệm.

    ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nứoc đang và chậm phát triển.

    1.2. Đặc điểm.

    Vốn ODA mang tính ưu đãi : Vốn ODA có thời gian cho vay dài, có thời gian án hạn dài. Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho các nứoc vay vốn. Vốn ODA của WB.ADB. Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản- Japan Bank for intenational Cooperation JBIC , co’ thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian án hạn là 10 năm.

    Vốn ODA mang tính rằng buộc :

    ODA có thể rằng buộc nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những rằng buộc khác và nhiều khi các rằng buộc này rất chặt chẽ với nước nhận.

    ODA là vốn có khả năng gây nợ :

    Khi tiếp nhận sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nợ nần thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng không hiệu quả ODA, có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đàu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó trong khi hoạch định chính sách sư dụng ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

    1.1.1.3. Phân loại ODA

    * Theo tính chất:

    Viện trợ không hoàn lại: Các khoản cho không, không phải trả lại.

    Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện mềm)

    • Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (có thể là ưu đãi hoặc thương mại).

    * Theo mục đích

    • Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi.
    • Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực doanh nghiệp dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư. Phát triển thể chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại.

    * Theo điều kiện:

    • ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
    • ODA có ràng buộc nước nhận
    • Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá. Trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương) hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

    Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể:

    • ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi
    • bất cứ nơi nào.

    * Theo đối tượng sử dụng:

    Hỗ trợ dự án; Là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi.

    • Hỗ trợ phi dự án: Bao gồm các loại hình như sau:
    • Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá hỗ trợ qua nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách.

    Hỗ trợ trả nợ

    Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.

    2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ).

     

    2.1. khái niệm : Là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu tư trự tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế.

    2.2 Đặc điểm.

    Một là: các chủ đầu tư phải góp một số vốntối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam , khi liên doanh, số vốn góp của bên nứoc ngoài phải lớn hơn hoạc bằng 30% vốn pháp định.

    Hai là: quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tùy thuộc vào mức góp vốn của các bên tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì người nước ngoài toàn quyền quản lý doanh nghiệp.

    Ba là: lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.

    Bốn là: đầu tư trự tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đanh hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.

    Năm là: đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.

    Sáu là: đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.

    1.3. Phân loại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia FDIv thành các loại: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh doanh nghiệp

    100% vốn nước ngoài. Ngoài ra còn có thêm các hình thức đầu tư khác đó là hợp đồng xây dựng kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao kinh doanh (BTO) xây dựng chuyển giao (BT). Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức pháp nhân mới và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai loại: đầu tư tập trung trong khu công nghiệp khu chế xuất và đầu tư phân tán. Mỗi loại đầu tư có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ cấu công nghiệp của từng quốc gia.

    Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm…

    Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các hình thức đầu tư nước ngoài vào

    Việt Nam gồm bốn hình thức sau:

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh
    • Doanh nghiệp liên doanh
    • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
    • BOT

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    I. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Cao Bằng có ảnh hưởng đến việc

    thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

    Cao Bằng là một tỉnh vùng cao biên giới phía đông bắc nước Việt Nam. Nhân dân các dân tộc giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Cao Bằng là miền đất địa đầu Tổ quốc, có từ thời kỳ Thục Phán An Dương Vương thế kỷ II trước công nguyên. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Tỉnh Cao Bằng đã có một bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá rất đáng tự hào và trân trọng. Lịch sử truyền thống của Cao Bằng gắn liền lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Cuộc chiến đấu đầu tiên của nhân dân Âu Lạc bảo vệ Tổ Quốc, trong đó có nhân dân Cao Bằng chống quân xâm lược nhà Tần do Thục Phán đứng đầu dành thắng lợi.

    Ngày nay nhân dân các dân tộc Cao Bằng đang cùng nhau thực hiện Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh g-ơng mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nh trớc đây Cao Bằng là một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.

    Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển và tăng trởng khá,GDP tăng bình quân 9-10%/ năm; nhng nhìn chung kinh tế của tỉnh so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, để thực hiện sự nghiệp CNH-HDH, Cao Bằng cần tận dụng mọi khả năng và nguồn lực sẵn có để hoà nhập vào tiến trình phát triển của cả nước; do đó Cao Bằng rất cần sự hơp tác, giúp đỡ của Chính phủ, các bộ ngành, các tổ chức trong và ngoài nước.

    1. Điều kiện tự nhiên.

     

    Cao Bằng có tiềm năng về đất đai, khí hậu để phát triển các trang trại, vùng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu. Cao Bằng có thế mạnh và những đặc sản độc đáo nh: Hạt dẻ, lê, cam quýt, hồng, thuốc lá sợi vàng, đậu tơng, chè đắng trúc sào, hồi…

    Thiên nhiên cũng u đãi cho Cao Bằng một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng như: Quặng sắt; quặng mangan, quặng thiếc, quặng bô xít, ngoài ra còn có kẽm, niken, vàng, ăngtimon, quặng uranium…, có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp khoáng sản. đặc biệt sản phẩm gang đúc của Cao Bằng đã đợc trao Huy chương vàng tại Hội chợ triển lãm ” Hàng Công nghiệp Việt Nam” năm 2000.

    Cao Bằng có cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà rất thuận lợi cho giao lưu, buôn bán với nước bạnTrung Quốc. Tiềm năng du lịch Cao Bằng rất phong phú và đa dạng; Cao Bằng nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử nh Pác Bó, Khu rừng Trần Hưng đạo, di tích Chiến thắng đông Khê, Thành Nà lữ…, cùng với những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp nh Thác Bản Giốc, động Ngờn Ngao, Hồ Thang Hen và nhiều lễ hội văn hoá truyền thống đặc sắc của các dân tộc, tất cả đã tạo nên một tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch Cao Bằng.

    Cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm phát triển; thông tin liên lạc thuận tiện nhanh chóng; điện lưới quốc gia đã đến các huyện thị trong tỉnh; các tuyến đường trong tỉnh được đầu tư nâng cấp. Một số cơ sở công nghiệp hoạt động đạt kết quả như: Xí nghiệp Luyện gang; Nhà máy đường, Nhà máy gạch Tuy Nen; Nhà máy Xi Măng…, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như vùng nguyên liệu mía, vùng thuốc lá, vùng trồng trúc…

    Cao Bằng tuy có tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH nhng do là tỉnh miền núi, xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước, nền kinh tế đợc xây dựng từ xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh; do đó để tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển Cao Bằng cần mở rộng, chào đón các nhà đầu tư, các nhà tài trợ trong và ngoài nước đến với Cao Bằng và tạo mọi điều kiện ưu đãi trên cơ sở bình đẳng, hợp tác hữu nghị, cùng phát triển.

    2. Vị trí địa lí.

     

    Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông bắc nước ta. Hai mặt bắc và đông bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đường biên giới dài 311 km. Phía Tây giáp với hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều bắc – nam 80 km, từ 23007’12” – 22021’21” vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông – tây 170 km, từ 105016’15” – 106050’25” kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).

    Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên dới 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 m so với mặt nớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Hình thành 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.

    Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế. Cao Bằng có khí hậu ôn đới. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 25 -28 độ C, mùa đông là 16 – 17độ C. Một số vùng núi cao như Trùng Khánh, Trà Lĩnh về mùa đông có tuyết rơi.

    Nhìn chung khí hậu Cao Bằng mát mẻ quanh năm lại cú nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch. Từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến thị xã Cao Bằng khoảng 272 km .

    3. Dân số và lao động.

    Toàn tỉnh Cao Bằng có 12 huyện thị và có 189 xã, phường thị trấn. : Bảo Lạc, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng khánh, Nguyên Bình, Hòa An, Quảng Hòa, Hạ Lang, Thạch An.

    Bao gồm các Dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Mông, Việt (Kinh), Hoa, Sán Chay…

    Dân số: (01/04/1999): 491.055 người.

    II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999 – 2003.

    1.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên điạ bàn tỉnh thời kỳ 1999-

    2003.

    Bảng 1: tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh ( 1999-2003).

    đơn vị: tỷ đồng.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    TVĐT của tỉnh 209.2 185.5 238.5 428.9 441
               
    TVĐT nước ngoài 52 38 106.1 54 193.5
               
    trong đó          
               
    ODA 52 38 98.6 54 85
               
    FDI     7.5   108.5
               
    Tỷ trọng VĐTNN/TVĐT 24.85 20.49 44.49 12.59 43.88
               
    Tỷ trọng vốn ODA/VĐTNN 100 100 92.93 100 43.93
               
    Tỷ trọng vốn FDI/VĐTNN 0 0 7.07 0 56.07
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh Cao Bằng thời kỳ 1999-2003.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    Tổng VĐTNN 100 73.1 279.2 50.9 358.3
               
    ODA 100 73.1 259.5 54.8 157.4
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    2.Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI của tỉnh.

    Năm 2001 , tỉnh đã cấp giấy phép đầu tư cho dự án “ Công ty KOHKL Việt Nam “, 100% vốn Nước ngoài, sản xuất nấm xuất khẩu, với số vốn 500.000 USD.

    Đến ngày 1/9/2003 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy phép đầu tư cho công ty liên doanh Minh Châu Cao Bằng, kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, vui chơi, giải trí có thưởng tại của khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa với số vốn đầu tư trên 7 triệu USD, hiện nay đang thực hiện dự án.

    3.Tình hình thu hút vốn đầu tư ODA của tỉnh.

    Tình hình thực hiện oda giai đoạn 1993- 2003 và định hướng sử dụng oda tới năm

    2010

    3.1.Khái quát tình hình vận động và thu hút ODA của Cao Bằng.

    Việc thu hút nguồn vốn ODA tại Cao Bằng chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1995 bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC) đầu tư cho khôi phục đường giao thông. Nguồn vốn này tiếp tục được khai thác đầu tư cho các lĩnh vực giao thông và phát triển lưới điện. Bên cạnh đó các nguồn ODA khá cũng dần được khai thông cả về số lượng dự án và qui mô. Đó là dự án phát triển nông thôn Cao Bằng- Bắc Cạn, sử dụng viện trợ không hoàn lại của EU; Các tiểu dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn vốn ADB và

    AFD; Dự án phát triển các trường tiểu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật bản.

    Những nguồn vốn ODA này là rất quan trọng đối với Cao bằng trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương, điều này còn đặc biệt có ý nghĩa đối với Cao bằng một tỉnh còn rất nghèo trong cả nước.

    3.2. Tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Cao bằng.

    Dự án cơ sở hạ tầng nông thôn (vốn ADB và AFI): Thời gian thực hiện 1998-2003, tổng vốn 85 tỷ đồng. Đến nay đã thực hiện được khoảng 65 tỷ đồng. Dự án đầu tư cho các lĩnh vực thủy lợi, cấp nước sinh hoạt và giao thông nông thôn.

    Dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn Cao Bằng được chia làm 3 giai đoạn

    • Giai đoạn I: Tổng vốn đầu tư là 38,5 tỷ đồng
    • Giai đoạn II: Tổng vốn đầu tư là 38,1 tỷ đồng
    • Giai đoạn III: Sau khi triển khai thực hiện giai đoạn I và II. Vốn kết dư còn lại

    Dự án phát triển Nông thông Cao Bằng- Bắc Cạn (EU): Dự án do liên minh Châu Âu viện trợ không hoàn lại cho 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn với số vốn 19,5 triệu EURO, trong đó Cao Bằng được hưởng 2/3 tổng số vốn. Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 1999 và sẽ kết thúc năm 2004. Dự án gồm 5 hợp phần: Khuyến nông; phát triển nông nghiệp; giao thông nông thôn; thủy lợi và cấp nước sinh hoạt nông thôn.

    Phát triển lưới điện nông thôn đầu tư bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC), với số vốn là 7,95 tỷ đồng, thực hiện các dự án từ năm 1998- 2002

    Nguồn vốn JBIC tài khóa 2000 (15 tỷ đồng): đầu tư cho các dự án giao thông và điện. Tỉnh đã tiếp tục xây dựng các dự án đăng ký sử dụng vốn JBIC và được JBIC chấp nhận 54, 502 tỷ đồng cho các dự án điện và giao thông (theo hiệp định ký kết giữa 2 Chính phủ ngày 31/3/2003).

    Nguồn vốn phi dự án Nhật Bản: Năm 2002 được ghi chỉ tiêu 8 tỷ đồng cho dự án Giao thông

    Dự án cải tạo, mở rộng hệ thống cấp nước Thị xã Cao Bằng: Từ năm 1997 đến 1999 đã thực hiện xong, công suất 12.000m3/ngày đêm, sử dụng ODA Pháp, với số vốn 17 triệu Fran Pháp.

    Dự án hỗ trợ y tế quốc gia (WB): Do Bộ Y Tế làm chủ quản đầu tư, hô trợ đầu tư cho lĩnh vực y tế, thực hiện từ 1999 đến 2003, với tổng mức đầu tư trên 36 tỷ đồng.

    Cao Bằng cũng được hưởng thụ dự án vốn WB từ năm 2001 do Công ty Điện lực 1 làm chủ đầu tư.

    Ngoài ra còn có các dự án đang thực hiện nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh như

    sau :

    Năm 2003: Bộ tài chính thông báo tỉnh Cao Bằng được sử dụng ODA ITALYA 380.000 EURO cho thiết bị cấp nước.

    Tỉnh Cao Bằng đã được chính phủ phê duyệt vào danh mục sử dụng vốn ODA Phần Lan, dự kiến vốn ODA là 3,5 triệu USD đầu tư cho trang thiết bị y tế.

    Tỉnh Cao Bằng đẫ đăng ký sử dụng ODA Đức cho chương trình phòng chống HIV-AIDS ngày 7/5/2003.

    Năm 2000-2001 tỉnh Cao Bằng được thụ hưởng dự án hỗ trợ các trường tiêu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật Bản cho 17 điểm trường, với tổng sơ vốn hơn 54,75 tỷ đồng.

    Tổng cộng từ các doanh nghiệp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh các doanh nghiệp đã tham gia tích cực vào phát triển sản xuất và cải thiện cở sở hạ tầng. Do đó trong những năm tới cần vận động các doanh nghiệp đóng góp vốn để phát triến sản xuất kinh doanh cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên việc huy động phải linh hoạt phù hợ với đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp băng cách tổ chức liên doanh kết nghĩa doanh nghiệp với huuyện tỉnh để đầu tư phát triển một số lĩnh vực tỉnh, huyện đang cần đầu tư.

    4. Đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    4.1. Kết quả đạt được.

    Đầu tư đầu tư nước ngoài thời gian qua đã đóng góp ngày càng lớn vào tăng tr-ưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá và mở rộng thị trường của tỉnh. Thu hút được nhiều lao động và không ngừng tăng thu cho ngân sách, nâng cao trình độ công nghệ, tạo điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, sử dụng công nghệ hiện đại, nâng cao mức sống dân cư.

    Nhiều công trình, chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt, đặc biệt tạo ra một không khí sôi động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, số dự án tăng nhanh qua các năm, các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn ra để kinh doanh, đầu tư công nghệ vào sản xuất.

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đã làm sống động môi trường đầu tư của tỉnh. Nhiều dự án đã và đang đi vào hoạt động mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, cải thiến và nâng cao đời sống của nhân dân, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.

    Những thành quả trên là kết quả của sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân tỉnh Cao Bằng trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh nhằm thu hút ngày một nhiều hơn đầu tư nước ngoài vào tỉnh. Những nỗ lực đáng được ghi nhận có thể kể ra đó là:

    Tỉnh đã ban hành Quy định về quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn.

    Tỉnh đã chủ động đẩy mạnh việc vận động ODA.

    Đã phê duyệt Quy trình cấp, điều chỉnh, bổ sung giấy phép đầu tư cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

    4.2. Tồn tại.

    Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một tỉnh nào đó, nơi nhận đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như : cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ phụ vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vậy, các nước phát triển, các doanh nghiệp ngoài nước thường chọn nước nào, khu vực nào, tỉnh nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn để đầu tư trước. Còn khi đầu tư vào các nước, tỉnh lạc hậu, chưa có điều kiện tối thiểu cho việc tiếp nhận đầu tư cũng phải dành một phần vốn cho việc xây dựng hệ thống cơ sơ

    Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông bất lợi so với các tỉnh bạn nên đã ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút vốn FDI còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù luật đầu tư nước ngoài dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh nhưng vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng trong thời gian qua vẫn chủ yếu là các dự án hỗ trợ phát triển ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh vẫn rất khiêm tốn, tới năm 2001 mới có một dự án được cấp giấy phép và tới năm 2003 mới được thêm một dự án.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

    I. Định hướng thu hút và sử dụng nguồn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-2010 tại Cao Bằng.

    1. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo.

    Tiếp tục duy trì phương hướng phát triển KT-XH theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo mọi điều kiện chuyển dịch nhanh nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần .Chủ động vươn lên phát huy đầy đủ và khai thác triệt để những nguồn nội lực như tiềm năng đất đai nông lâm nghiệp, tài nguyên rừng, khoáng sản, cửa khẩu, lao động , truyền thống và cơ sở kĩ thuật, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế có hiệu quả để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình phát triển chung của vùng đông bắc và cả nước, tránh tụt hậu xa về kinh tế . Có chương trình hội nhập kinh tế khu vực, nhất là khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc.

    Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới toàn diện mà trước hết là nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch . . .

    Phát triển kinh tế phải gần với giải quyết tốt vấn đề xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.

    Từ 2000 đến 2010 cần tập trung đầu tư để tạo bước chuyển biến tích cực. Tạo ra những tiền đề cho các năm tiếp theo phát triển nhanh hơn. Trước hết tập trung nâng cấp các trục giao thông chính và phát triển giao thông nông thôn, cấp nước, điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục. . .

    • Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân để thực hiện phát triển nhanh kinh tế xã hội.

    2. Kế hoạch huy động và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-

    2010.

    Tổng mức đầu tư cần thiết để đạt mục tiêu:

    Qua tính toán, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế mỗi năm tăng trên 10% giai đoạn 2006-2010, nhu cầu cần khoảng 3.500 tỷ đồng.

    Trong đó:

    Nhu cầu cho lĩnh vực công nghiệp- XD-GTVT khoảng: 1.383 tỷ đồng.

    Nhu cầu cho lĩnh vực nông nghiêp. khoảng : 752 tỷ

    Nhu cầu cho lĩnh vực dịch vụ khoảng 1365 tỷ

    Nguồn huy động đầu tư : Để đáp ứng nhu cầu vốn đàu tư phát triển, nhoài việc tăng cường tích lũy từ nội bộ kinh tế xong còn phải chủ trương biện pháp huy động hữu hiệu từ các nguồn đầu tư nước ngoài ODA và FDI.

    II. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng (2005-2010).

    Ngày nay, việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ đã và đang trở thành một phương thức hữu hiệu nhất, một yếu tố quan trọng nhất trong cơ cấu ngân sách phát triển, một hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế…

    Hoạt động đầu tư nước ngoài ở Cao Bằng đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời gian qua song có thể nói, cho đến nay hoạt động này vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Các giải pháp đề ra là nhằm tháo gỡ những khó khăn tồn tại cho cơ chế đầu tư , tiếp tục khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước mạnh dạn hơn nữa bỏ vốn ra đầu tư. Các giải pháp một mặt phải dựa trên cơ sở pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước, mặt khác phải vận dụng vào điều kiện, tình hình cụ thể của Cao Bằng. Do vậy, để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần thực hiện một số giải pháp theo hướng sau đây:

    Thứ nhất, xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm đa ra những cơ chế chính sách sát thực phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và có tính khả thi cao để tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thông thoáng thúc đẩy phát huy đợc nội lực từ bên trong và tăng cường hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài.

    Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính để dự án nhanh đi vào thực tiễn bằng việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các quy trình thủ tục, thiết lập cơ chế phối hợp và cơ chế “một cửa ” liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư trong đó đặc biệt chú trọng đến khâu thụ lý hồ sơ dự án cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba, từng bước thực hiện việc đầu tư nâng cấp hoàn thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ, trong đó đặc biệt chú trọng đến hệ thống giao thông trong địa bàn tỉnh , giữa tỉnh với các tỉnh khác và hệ thống giao thông tới các cửa khẩu.

    Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại, yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

    Thứ năm, nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư

    Thứ sáu, một số giải pháp khác.

    Các giải pháp cụ thể là:

    1. Xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách.

    Tỉnh Cao Bằng đã có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, các cấp nhưng còn thiếu nhiều quy hoạch chi tiết. Cần xác định rõ chiến lược đầu tư và tiến hành lập các dự án quy hoạch chi tiết để đầu tư phát triển. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, quy hoạch các cụm công nghiệp nhỏ và danh mục các dự án đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng mang tính đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Cao Bằng nhằm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài.

    Việc cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài cần tiến hành với những nội dung chính sau đây:

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Mục tiêu: Khuyến khích và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh.

    Nội dung: Soát xét lại giá cho thuê đất, miễn giảm tiền cho thuê đất trong một vài năm đầu cho một số khu vực ưu tiên đầu tư. Cần áp dụng một số chính sách ưu đãi để tận dụng tối đa diện tích đất cho thuê như giảm giá thuê đất, giá kinh doanh hạ tầng (điện, nước, dịch vụ viễn thông), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp đợc thuận lợi, nhanh chóng… Giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng gây ách tắc đối với việc triển khai dự án. Cần sớm chấm dứt cơ chế các doanh nghiệp góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển sang chế độ Nhà nước cho thuê đất.

    Bổ sung các chính sách ưu đãi có sức hấp dẫn cao đối với những lĩnh vực, địa bàn và dự án cần thu hút đầu tư nước ngoài như: công nghệ cao, xuất khẩu lớn, đầu tư vào nông thôn miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; nông lâm trồng rừng bảo vệ môi trờng; các dự án phát triển hạ tầng xã hội.

    Thứ hai, tổ chức thẩm định, phê duyệt dự án nhanh chóng, đảm bảo tính thời gian, chất lượng và thủ tục đơn giản trong qúa trình thẩm định dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba là cơ chế chính sách vận động viện trợ và gọi vốn đầu tư trực tiếp nước

    ngoài.

    Mục tiêu: Khuyến khích các ngành, các cấp chủ động và năng động tổ chức vận động viện trợ và khuyến khích các doanh nghiệp năng động tìm kiếm đối tác nước ngoài để hợp tác đầu tư.

    Nội dung: Tạo nguồn kinh phí để lập dự án, tổ chức kêu gọi vốn viện trợ tìm kiếm đối tác đầu tư; quy định chế độ ưu đãi khi nhà đầu tư đang thực hiện dự án đầu tư tại tỉnh mà vận động về cho tỉnh thêm dự án đầu tư khác; quy định chế độ đãi ngộ cho người có công vận động được dự án ODA hoặc giới thiệu được đối tác nớc ngoài có dự án đầu tư vào tỉnh Cao Bằng.

    2. Hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính Nhà nước.

    Nhằm tạo môi trường thông thoáng trong việc thụ lý hồ sơ dự án trong lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư, thẩm định dự án để cấp đăng ký kinh doanh, thẩm định để cấp giấy phép đầu tư, triển khai các thủ tục hành chính để thực hiện dự án. Tỉnh Cao Bằng cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính với những mục tiêu sau:

    • Thiết lập chế độ “một cửa” trong công tác quản lý các dự án và các nguồn vốn đầu tư trong việc giải quyết các thủ tục hành chính từ khâu hình thành dự án đến khâu thực hiện dự án.
    • Xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý và quy trình thụ lý hồ sơ dự án.
    • Tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu

    tư.

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Để quy trình quản lý và xử lý công việc đi vào hiện thực và đảm bảo tính thời gian theo quy định và hoàn thành trách nhiệm trong công việc ở từng công đoạn, cần thiết lập chế độ “một cửa” xử lý từng công việc ở từng cơ quan đơn vị. Tránh những thủ tục hành chính rờm rà, phải qua nhiều cửa, nhiều cơ quan để xin làm thủ tục thuê đất, thành lập doanh nghiệp… cũng cần tránh hiện tượng “một cửa” mà lại nhiều “khoá”. Yêu cầu chế độ

    “một cửa” ở đây là từng cơ quan chức năng liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể theo chức năng quản lý của cơ quan mình cần bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn đảm đơng nhiệm vụ đầu mối trong cơ quan mình. Đích danh cán bộ là đầu mối chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ công việc, giúp lãnh đạo của mình tổ chức triển khai giải quyết công việc và bàn giao công việc cho các cơ quan liên quan đúng thời hạn quy định.

    Thứ hai, là việc xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý, thụ lý hồ sơ dự án:

    Trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước và các văn bản cụ thể hoá công tác quản lý và phân giao trách nhiệm của tỉnh về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từng ngành chức năng và các cấp liên quan tiến hành việc rà soát lại chức năng nhiệm vụ được giao; tiến hành việc xây dựng đầy đủ các quy trình thủ tục hành chính cho việc thực hiện các loại công việc như lập dự án, thẩm định dự án, thẩm định thiết bị công nghệ, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trờng, thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán, cấp đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư, cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng, cấp quyền sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng và bàn giao đất cho chủ dự án, triển khai các thủ tục hành chính thực hiện dự án đầu tư, giải ngân cấp phát vốn, quyết toán vốn đầu tư, thanh tra kiểm tra cấp giấy phép lao động, giới thiệu nhân sự tham gia quản lý liên doanh. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc xử lý từng công việc cụ thể.

    Thứ ba, là tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu tư:

    Để tăng cờng công tác quản lý đầu tư cần phải có những điều kiện sau đây:

    Phải có cơ chế quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài thích ứng và linh hoạt. Cơ chế quản lý thể hiện ở những hình thức tổ chức quản lý và phương thức quản lý. Cơ chế quản lý phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm xác định đầu mối rõ ràng, thống nhất về quản lý đầu tư và có những phương pháp

    quản lý hữu hiệu. Một mặt cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài phải phù hợp và thông thoáng, cởi mở nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Tăng cường công tác bồi dưỡng và đào tạo lại trình độ chuyên môn và trình độ quản lý dự án nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý đáp ứng yêu cầu đặt ra.

    Đặc biệt đối với lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, cần chú trọng nâng cao năng lực và hiệu lực công tác của cơ quan đầu mối trực tiếp tham mưu về kinh tế đối ngoại của tỉnh như bố trí đủ cán bộ có năng lực cả chuyên môn và ngoại ngữ trang bị đầy đủ phơng tiện hoạt động, cài đặt phần mềm vi tính quản lý dự án kể cả nối mạng với các Bộ TW nếu thấy cần thiết.

    Các công cụ quản lý hoạt động đầu tư phải đủ mạnh và hiệu quả. Các công cụ quản lý đầu tư bao gồm: hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư, các chính sách và đòn bẩy kinh tế, các quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư, các tài liệu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư, các thông tin về tình hình cung cầu, giá cả; kinh nghiệm quản lý, các phơng tiện quản lý, các phương tiện quản lý hoạt động đầu tư như hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin, hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc. Các công cụ này được nhà quản lý sử dụng để tác động trực tiếp đến đối tượng bị quản lý là hoạt động đầu tư vì thế nó có ý nghĩa quan trọng để làm tăng hiệu quả quản lý.

    3. Cải thiện điều kiện hấp thụ dự án đầu tư.

     

    Để cải thiện môi trờng hấp thụ dự án đầu tư, cần tập trung giải quyết một số vấn đề chính sau đây:

    • Tập trung một nguồn lực tài chính cần thiết để đầu tư và nâng cấp một số công trình cơ sở hạ tầng, dịch vụ trọng điểm và quan trọng mang tính then chốt ở Cao Bằng nhằm cải thiện môt bước về cơ sở hạ tầng và dịch vụ ở tỉnh.
    • Cân đối đủ nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA và cho các dự án đầu tư trong nước cần vốn đối ứng, dành một lượng vốn để hỗ trợ đầu tư theo phơng châm “Nhà nước hỗ trợ dân làm là chính” nhằm huy động mạnh vốn đầu tư từ dân.
    • Thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư ngoài nước.

    Thứ nhất, tập trung đầu tư nâng cấp một số cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng nhằm tạo ra sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    • Đầu tư nâng cấp tỉnh : đầu tư một số công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm của tỉnh như nâng cấp đường và lát vỉa hè; đầu tư điện chiếu sáng, cải tạo hệ thống biển báo thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải…
    • Nâng cấp khách sạn Cao Bằng đạt tiêu chuẩn khách sạn có sao đủ điều kiện đón nhận các nhà đầu tư nước ngoài.
    • Xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ cho sự phát triển , hệ thống trường học, bệnh xá, dịch vụ thương mại, khu chung cư…

    Thứ hai, tăng cường nguồn lực tài chính để kích thích đầu tư và hấp thụ dự án đầu tư nước ngoài: Ngân sách tỉnh hàng năm đảm bảo cân đối đủ nguồn vốn đối ứng để

    thực hiện các dự án ODA đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng, đầu tư phát triển hoặc các dự án vay vốn thương mại nước ngoài cần thiết; cân đối nguốn vốn hỗ trợ dân đầu tư.

    Thứ ba , chuẩn bị tốt điều kiện đất đai để thực hiện dự án đầu tư:

    – Quy hoạch sẵn và công khai quỹ đất dành cho các dự án đầu tư xây dựng nhà x-ưởng mới để các nhà đầu tư lựa chọn; áp dụng giá thuê ưu đãi nhất và chế độ miễn giảm tối đa (áp dụng mức giá thấp nhất trong khung quy định của Chính phủ hoặc có thể miễn hoàn toàn). Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng và giao đất cho chủ đầu tư một cách nhanh chóng, đúng tiến độ.

    • Phát triển thêm một số cụm công nghiệp xung quanh thi xã, hoặc ở những nơi có vùng nguyên liệu tập trung để có đất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập.

    Thứ tư, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin và thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

    • Cần hình thành tổ chức làm dịch vụ tư vấn cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư có được những thông tin và các kỹ năng cần thiết từ khâu lập dự án đến khâu thực hiện dự án đầu tư, các thông tin về thị trường, thông tin về thiết bị công nghệ.
    • Lập danh mục các dự án ưu tiên đầu tư để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Giới thiệu tiềm năng và các cơ hội đầu tư của tỉnh.

    4. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

     

    Việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư để sử dụng các nguồn vốn đầu tư đúng mục tiêu là giải pháp tích cực và hiệu quả nhất trong tình hình mà nguồn vốn còn nhiều hạn chế. H-ớng điều chỉnh tập trung vào các lĩnh vực sau:

    Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu nông lâm sản, sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng; chú ý phát triển những ngành công nghệ ít vốn thu hút nhiều lao động. Phát triển những ngành truyền thống, có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và đảm bảo được hiệu quả, tiện khai thác và chế biến theo hướng chiều sâu là chính để cải tạo các cơ sở có hiệu quả và phát triển một số cơ sở mới.

    Phát triển mạnh một số loại hình dịch vụ như bưu chính, viễn thông dịch vụ du lịch, vận tải thương mại, dịch vụ khoa học công nghệ theo hớng vừa phát triển thị trường nội địa vừa nhanh chóng vươn ra thị trường bên ngoài.

    Đối với những nhóm mặt hàng đang chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng nội địa, trong nước và quốc tế, kiên quyết không đầu tư mới các cơ sở sản xuất với công nghệ, thiết bị lạc hậu, tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh kém. Tập trung cải tạo công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã đáp ứng kịp thời thị hiếu của người tiêu dùng, hạ giá thành sản phẩm.

    5. Nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư.

    Cùng với thực hiện các giải pháp mang tính trực tiếp để thu hút vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển thì nâng cao hiệu quả đầu tư là một giải pháp mang tính gián tiếp có tác động kích thích qúa trình tái đầu tư. Hiệu quả đầu tư cao là tín hiệu để thu hút, huy động các nguồn vốn trực tiếp ngược lại việc đẩy mạnh đầu tư luôn luôn phải đi đôi với nâng cao hiệu quả đầu tư thì hoạt động đẩy mạnh đầu tư đó mới có ý nghĩa, vừa tiết kiệm đươc nguồn vốn đầu tư vừa không tạo ra gánh nặng cho tương lai.

    6. Một số giải pháp khác.

    Đầu tư phát triển khoa học công nghệ và đầu tư phát triển nguồn nhân lực là 2 nội dung của hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất hỗ trợ cho qúa trình thu hút vốn đầu tư. Trong thời điểm hiện nay và trong tương lai, 2 nhân tố này được xác định là 2 nhân tố quan trọng nhất của nền kinh tế, quyết định đến tốc độ tăng trởng và qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá.

    6.1. Đầu tư phát triển công nghệ.

    Tăng cường năng lực công nghệ sẽ có tác động tốt đến qúa trình sản xuất kinh doanh: giảm chi phí nhân công, nguyên vật liệu; tăng doanh thu, lợi nhuận; tăng khả năng cạnh tranh, vị thế của sản phẩm từ đó dẫn đến tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, doanh nghiệp. Nguồn tích luỹ này sẽ bổ sung cho hoạt động đầu tư phát triển.

    Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định nguồn công nghệ ngoài việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài thì thời gian tới tỉnh cần tích cực đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ theo hướng sau:

    Về lĩnh vực nông nghiệp: Tăng cường đầu tư cho những mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhân rộng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Đa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất tiến tới làm chủ công nghệ sản xuất giống, từng bước cơ khí hoá trong sản xuất, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo quản, chế biến, sản xuất thực phẩm sạch.

    Đối với lĩnh vực công nghiệp: Cần có cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư đổi mới công nghệ thông qua hỗ trợ từ khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng có được thêm do đổi mới công nghệ. Có chế độ thưởng cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hỗ

    trợ trong việc tiêu thụ sản phẩm mới; bảo vệ nhãn mác, thương hiệu của những sản phẩm có uy tín chống hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái.

    6.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Thu hút đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp từ ngoài tỉnh vào các lĩnh vực sản xuất có hàm lượng “chất xám” cao Tiếp nhận và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, những sinh viên có thành tích nghiên cứu, học tập xuất sắc từ các trường đại học trong và ngoài tỉnh.

    Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân

    Trong điều kiện nguồn đầu tư có hạn, muốn phát triển Kinh tế xã hội nhanh, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, giảm bớt khoảng cách, tránh tụt hậu xa về kinh tế so với mức trung bình của cả nước thì phải lựa chọn trọng điểm đầu tư tạo ra khâu đột phá đưa kinh tế bứt lên.

    Sau khi nghiên cứu các trọng điểm đầu tư đã lựa chọn của quy hoạch trước và qua thự hiện quy hoạch một số năm, với những phân tích qua khảo sát tình hình thực tế tranh thủ ý kiến các chuyên gia,.. nên tâp. trung đầu tư vào các lĩnh vực sau đây :

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Nâng cấp và phát triển giao thông trực chính, giao thông nông thôn, giao thông vùng tập trung tài nguyên, giải quyết điện nước.

    Kết luận

    Đầu tư phát triển đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay và trong những thập niên tới là con đường hữu hiệu nhất, là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội địa phương. Cao

    Bằng đã có một số tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế có tiềm năng về tự nhiên đa dạng phong phú, có lích sử phát triển lâu đời. Nhưng làm thế nào để phát huy tối đa những tiềm năng đó, Cao Bằng cần huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư cho phát triển kinh tế. Cần có những biện pháp xúc tiến đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cần có sự phối hợp giải quyết đồng bộ của các ngành, các cấp và sự hỗ trợ tích cực của nhà nước, địa phương về các vấn đề như: xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giao thông vận tải, xây dựng hệ thống thị trường trong và ngoài nước, xoá bỏ sự phân cách giữa thành thị và nông thôn, miền núi, phát triển khoa học kỹ thuật và văn hoá giáo dục…Có như vậy thì việc mở rộng đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để phát triển cao bằng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá mới mang lại những hiệu quả thiết thực.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B3-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-nhi%E1%BB%81u-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Lời nói đầu

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là điều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoài nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loại, những cống hiến và những phát minh vĩ đại của các bậc thế hệ đi trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đi trước. Khi đó đầu tư nước ngoài có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoài, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    em chọn đề tài: Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    – – 1

    NôI dung

    I Một số vấn đề về cơ sở lí luận.

    1.                 Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai

    hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái tăng tính lệ thuộc với bên ngoài.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoài chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên

    – – 2

    doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3.Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    4.Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

     

     

     

    • – 3

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoài đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư

    phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp

    hoá – hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoài tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.

    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng

    đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều

    – – 4

    kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    5.Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước

    – – 5

    ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI ở Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    – – 6

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    ở Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác

    – – 7

    trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực. Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh

    trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    1. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước. Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho

    CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng

    – – 8

    kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    II. Thực trạng và GiảI pháp

    1/ Thực trạng:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo

    nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ

    – – 9

    những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chính phủ quan tâm và chỉ đạo.

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu

    và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.

    1. Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công
    • -10

    nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để

    phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế

    – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát

    triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực
        TriệuUSD hiện
          Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
        – -11  
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức

    – -12

    100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai

    – -13

    thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng Tỷ lệ
    T   án số %vốn án số vốn %vốn
          vốn        
                   
    1 Công nghiệp chế biến 285 2328 39,6 1291 13008 40,5
                   
    2 Công nghiệp khai thác 25 1124 19,1 79 2184 6,8
                   
    3 Xây dựng 14 16 0,3 259 8228 25,6
                   
    4 Khách sạn và du lịch 86 1276 21,8 161 3650 11,4
                   
    5 Giao  thông  và  bưu 34 456 7,8 102 1465 4,6
      đIện            
                   
    6 Nông –lâm nghiệp 81 239 4,1 54 316 1,0
                   
    7 Ngư nghiệp 32 90 1,5 47 206 0,6
                   
    8 Các nghành khác 68 336 5,8 327 3045 9,5
                   
      Tông cộng 625 5865 100 2320 32102  
                   

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là

    – -14

    nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án   Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ       đầu tư (%) (%)
               
    Singapore 181   9,4 6447 20
               
    đàI loan 309   16 4268 13,3
               
    Hồng công 184   9,5 3734 11,6
               
    Nhật bản 213   11 3500 11,4
               
    Hàn quốc 191   9,9 3154 9,8
               
      -15    
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn

    1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3      Khó khăn và thách thức

    – -16

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu

    vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đại đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    – -17

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    2.                 giảI pháp cụ thể nhằm thu hút vốn đầu tư.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình

    – -18

    trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành: luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dài hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoài nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đại bàn, dài hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo điều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phải quản lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơi vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến

    – -19

    chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lại vốn vay nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    • Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất

    – -20

    lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển

    – -21

    những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    • -22

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    – -23

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)    Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    – -24

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoài

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi

    – -25

    của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    – -26

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với

    những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp

    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của

    bên Viêt Nam.

    – -27

    phần C: kết luận

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ điểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phải thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cải thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phải thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoài vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    – -28

    Đầu tư nước ngoài tự nó chưa phải là giải pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoại là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoài (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoài cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đi lại , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãi… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoài. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoại giao, kinh tế – kỉ thuật, điều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môi trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giải pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoài thông qua môi trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phải tập trung giải quyết các giải pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giải pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dài. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    – -29

    – -30

    TàI liệu tham khảo.

    • Những giải pháp chính trị- kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.(1996)
    1. Lê nin toàn tập : Tập 29- chượng II
    1. Những vấn đề về hội nhập kinh tế.
    1. Kinh tế châu á – Thái bình dương (số 1. 2-2002)
    1. Kinh tế và dự báo số (2/2003) số 3/2001,số 9/2003
    1. TàI chính số 8/2001
    1. Thương mạI số 40/2000
    1. Tạp chí xây dựng số 7/ 2001
    1. Kinh nghiệm huy động cho phát triển cao của Nhật Bản.
    1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: kết quả và giải pháp thúc đẩy( số 10-2000)

     

    1. Văn kiện Đại hội Đảng VII.VIII
    1. Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.
    1. Phát triển kinh tế.
    1. Nghiên cứu – lý luận số 4/ 1999.

    – -31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B3-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ngu%E1%BB%93n-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mạI diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoàI nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loạI, những cống hiến và những phát minh vĩ đạI của các bậc thế hệ đI trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đI trước. Khi đó đầu tư nước ngoàI có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “ Kinh tế vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoàI, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoàI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước” .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả

    nguồn vốn đầu tư của nước ngoài” . Tôi rất mong đước sự góp ý của thầy cô và bạn bè.

    Lời cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn thầy PHẠM THÀNH đã tận tình hướng dẫn tôi cùng thư viện trường ĐHKQD và cảm ơn đồng nghiệp trong việc giúp tôi hoàn thành đề án này.

    PHẦN A.      PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

    Hiện nay, trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tàI chính quốc tế và nhiều công ty đang năm lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư ra nước ngoàI. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước đang thiếu vốn, có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy nhu cầu thu hút vốn đầu tư và sử dụng nguồn vốn dó là một vần đề cấp thiết, quan trọng đối vơínhiều nước trên thế giới dặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có việt nam.

    Đối với nước ta thực hiên mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế –xã hội, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI (FDI) là một vấn đề tấtyếu không thể thiếu được đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, giai đoạn mà chúng ta thực hiện chiến lược công nghiệp hoá – hiện đạI hoá đất nước.

    Trong đIều kiện hiện nay của đất nước, nhìn nhận một cách tổng thể thì nước ta đang còn là một nước nghèo so với bạn bè trong khu vực, đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á, mặc dù chúng ta đã có những tiến bộ vượt bậc so với trước đây, đã có những đường lối, chính sách đổi mới những mà cáI mà chúng ta mong muốn thì chưa đạt được. Vì vậy để đất nước ngày một hưng thịnh phồn vinh thì chúng ta phảI có những bước đI thật đúng đắn, có sự thống nhất từ trung ương đến cơ sở nhằm tạo nên sức mạnh chung phát huy tối đa nguồn lựctong nước cũng như nước ngoàI. Chính vì vậy nghiên cứu những lĩnh vực có liên quanđến vấn đề đất nước đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Những vấn đề đó không thể không nhắc đến cáI tác động trực tiếp lên toàn xã hội đó là vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoàI là một nội dung quan trọng. Nó liên quan đến sự phát triển kinh tế xã hội, chính trị của đất nước, tác động trực tiếp lên các mặt đời sống của xã hội. Do vậy nghiên cứu, mở rộng tầm hiểu biết về nó là vấn đề cần thiết.

    Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trên mọi lĩnh vực, nhờ sự đổi mới đó mà chúng ta thu được những kết quả quan trọng, không những vượt qua khủng hoảng triền miên trong thập kỉ 80 mà còn đạt được những thành tựuto lớn trong phát triển kkinh tế xã hội.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong l5 năm liền (1993-1997) đạt mức 8-9,5 % lạm phát bị đẩy lùi, đời sống đạI bộ phận nhân dân được cảI thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này là nhờ đóng góp lớn của trực tiếp đầu tư nước ngoàI FDI.

    -1-

    Nó đã góp phần mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động kinh tế đối ngoạI tạo đIều kiện tăng cường củng cố và tạo ra những thế lực mới cho nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực.

    II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI .

    Bài viết dựa trên những quy luật hiện tượng khách quan. Dựa vào các quy luật của triết học như:

    • phương pháp duy vật biện chứng.
    • phương pháp lịch sử.
    • phương pháp so sánh.
    • phương pháp phân tích tàI liệu.
    • phương pháp tổng hợp đánh giá. Và một số phương pháp khác.

    III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

    Do phạm vi của đề tàI có giới hạn cho nên trong quá trình nghiên cứu, xem xét đánh giá nó phảI có cáI nhìn sâu sắc, nhìn từ nhiều hướng, nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau trên cơ sở đánh giá sâu vấn đề. BàI viết được trình bày dưới dạng một đề án của một môn học và chỉ dừng lạI ở mức độ đề án môn học.

    PHẦN B.  NỘI DUNG

    I.                   MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     

    1. Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoạI. Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.
    • 2-

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đạI, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tàI nguyên, ô nhiễm môI trường sinh tháI tăng tính lệ thuộc với bên ngoàI.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoàI chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    -3-

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3. Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    Đầu tư thường thúc đẩy tạo đIều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các đIều kiện ưu đãI cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng vốn này thực hiện các dự án có mức đầu tư lớn, thu hút vốn đầu tư dài.

    Đầu tư nước ngoàI có lợi cho cả nước đầu tư và cho cả nước nhận đầu tư, thường dùng các công cụ đầu tư tráI phiếu, cổ phiếu.

    Nhìn chung nguồn vốn đầu tư chính để phục vụ, phát triển kinh tế xã hội nhằm thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH là nguồn vốn từ bên ngoàI tức là nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (FDI).

    II.               CƠ SỞ LÝ LUẬN.

     

    • Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Vernon(Hoa kỳ)

    Trước khi lý thuyết này ra đời có nhận định cho rằng: “hầu như các nước đều phát triển toàn diện”, vì vậy ngườI ta từng ví việc áp dụng lý thuyết này như áp dụng định luật Anhxtanh trong kinh tế.

    Theo lý thuyết nàyVernon đã chứng minh rằng không có nước nào mạnh toàn diện và cũng không có nước nào yếu toàn diện .Nếu chúng ta biết hợp tác thì sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp có như thế mới có lợi cho tất cả các nước.

    Hàm sản xuất: y=f (K, L)

    -4-

    P.Vernon cho rằng nên tận dụng lợi thế sso sánh sao cho tỷ lệ K/L ngày càng cao.

    Như vậy đối với việc đầu tư ra nước ngoàI để khai thác các lợi thế so sánh của nược nhận đầu tư, các chủ đầu tư sẽ đầu tư vào tất cả những nước đang phát triển: công nghệ vốn, mặt hành mang hàm lượng chất xám cao và hàm lương công nghệ lớn. Còn các nước đang phát triển, để phát huy lợi thế so sánh của mình sẽ tiếp nhận công nghệ, vốn các loạI.

    • Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith.

    Cơ sở kinh tế của nền kinh tế mở gắn liền với thương mạI quốc tế, tức là mỗi nước khi tiến hành thương mạI quốc tế đều phảI tìm được lợi thế của mình trong quan hệ quốc tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Smit trong thuơng mạI quốc tế phản ánh hao phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất khẩu thấp nhất so với các nước khác, còn đối với các nước nhập khảu thì hao phí lao, động cao nhất so với các nước khác. Chính vì đIều đó mà tạo lợi cho các nước, kể cả các nước xuất khẩu, nhập khẩu. Các nước xuất khẩu có lợi là thu nhập nến kinh tế lạI tăng lên, việc làm, nhiều hơn nên tỷ lệ thất nghiệp giảm đI, nguồn lực lao động được sử dụng tốt hơn, còn đối với cấc nước nhập khẩu: thì khả năng tiếp cận với hàng hào nhiều hơn, chất lượng hàng háo nhiều hơn, chủng loạI hàng hoá – dịch vụ phong phú hơn, hàng hoá dịch vụ rẻ hơn, đồng thời vì sản xuất trong nước các nước nhập khẩu này có những đIều kiện tốt để phát triển mau chóng nền kinh tế, vì thay vào đó khoảng thời gian sảnxuất trong nước được giảm đI đáng kể , đủ thời gian để tiếp cận mau chóng nền kinh mở.

    III. CƠ SỞ THỰC TẾ.

    1.     Hiểu về vốn đầu tư nước ngoàI.

    Như ta đã biết mọi quá trình sản xuất đều gồm hai yêú tố cơ bản là tư liệu sản xuất và sức lao động. Thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào, dù là sản xuất tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá. Để có được hai yếu tố đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt động đầu tư. Vồn đầu tư dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm hoặc bổt sung thiết bị, tạo cơ sở vật chuất kỉ thuật, mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động. Vốn đó cho dù khác nhau về quy mô hay cơ cấu song là quá trình cần thiết đối với quá trình sản xuất. Một bộ phận vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phát triển đó là vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (viết tắt là FDI)

    FDI là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của quốc gia, mà nguồn nước trong nước xét tổng thể có ý nghĩa quyết định. FDI không thay thế

    -5-

    các nguồn vốn đầu tư khác, nhưng có thế mạnh riêng. Trước mắt, khi nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn hạn hẹp, nguồn vốn ODA chưa đáng kể thì FDI chiếm một vị trí quan trọng, góp phần cải tiến dần cơ cấu kinh tế quốc dân, tăng cường cơ sở vật chất kỉ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế, mở rộng thu hút ngân sách nhà nước, góp phần giả quyết thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh xuất khẩu. FDI là việc tổ chức cá nhân nước ngoàI trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoàI hoặc bất kì tàI sản nào được chính phủ Việt Nam công nhận để hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài… Rõ ràng khác với ODA, FDI không gây ra tình trạng nợ nần chồng chất cho các thế hệ mai sau và không phương hạI đến chủ quyền của đất nước. FDI còn có lợi thế hơn ODA, vì vậy đây là vốn của các công ty và tư nhân của nước ngoàI đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở hai bên cùng có lợi, chủ đầu tư buộc phảI quan tâm làm cho đồng tiền sinh lợi. NgoàI ra,về lâu dài các công trình FDI sẽ thuộc về Việt Nam. Hơn nữa thực tế đã khẳng định, vay nợ nước ngoàI tỏ ra là một nhân tố huỷ hoạI quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới trong thời gian 40 năm qua .Vì thế Việt Nam nên chủ yếu dựa vào thu hút FDI.

    Tuy nhiên trong quá trình thu hút vốn đầ tư cần tránh các quan đIểm:

    • Quan đIểm coi nhẹ, thậm chí lên án FDI như một nhân tố có hạI cho nến kinh tế độc lập tự chủ.
    • Quan đIểm quá đề cao FDI gắn cho nó một vai trò tích cực, bất chấp đIều kiện bên trong của đất nước, tách rời những cố gắng cảI thiện môI trường đầu tư. Quan đIểm này dẫn tới tình trạng ỷ lạI vào FDI mà không khai thác tốI đa các lợi thế bên trong. FDI tự nó chưa thể quyết định sự thành công của mục tiêu phát triển kinh tế mà nó phảI được kết hợp đồng bộ với các nguồn khác, và quan trọng là tạo ra môI trường khuyến khích mạnh mẽ tiết kiệm trong nước để tàI trợ cho qúa trình phát triển, giảm bớt lệ thuộc vào nguồn vốn của nước ngoàI.

    Ngày nay FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong đIều kiện quốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói trong thời đạI ngày nay không một quốc gia nào dù lớn hay bé, dù phát triển theo con đường TBCN hay định hướng xã hội chủ lạI không cần đến nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoàI, và coi đó là một nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hội nhập,vào cộng đồng quốc tế.

    Mặt khác dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ như hiện nay ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế khoa học kỉ thuật như Mỹ, Nhật, cũng như các nước EU cũng không thể tự mình giảI quyết có hiệu quả những vấn đề đã

    -6-

    và đang và tiếp tục đặt ra trên lĩnh vực khoa học công nghệ và vốn . Do vậy chỉ có con đường hợp tác, trong đó FDI là loạ hình đầu tư hợ tác có hiệu quả. Do dó không có một nước nào bỏ qua hình thức này Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài.

    2) Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tạI Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoàI đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoạI và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoàI đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.
    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá – hiện đạI hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoàI tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ
    • 7-

    khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    2.     Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã

    -8-

    đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI

    • Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    -9-

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    • Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực.

    Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này

    -10-

    khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    4. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoàI nước.

    Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. Ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    Tuy nhiên mặt tráI của nguồn vốn đầu tư nước ngoàI cũng không nhỏ. Sử dụng nhuồn vốn đầu tư nước ngoàI phảI chấp nhận chịu bóc lột, tàI nguyên bị khai thác, nợ nước ngoàI tăng lên… Do vậy không kì vọng quá lớn nguồn vốn bên ngoàI. Sử dụng nguồn vốn nước ngoàI lầ rất quan trong nhưng phảI cân nhắc trước khi lựa chọn.

    -11-

    -12-

    IV.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    1/ THỰC TRẠNG:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu Á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

     

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

     

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chiính phủ quan tâm và chỉ đạo.

     

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USSD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn

    -13-

    FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.
    1. c) Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu

    -14-

    tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    • Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực hiện
        TriệuUSD Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng

    -15-

    có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức 100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô

    -16-

    thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    • Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự   Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng số Tỷ lệ
    T   án   số %vốn án vốn %vốn
            vốn        
                     
    1 Công nghiệp chế biến 285   2328 39,6 1291 13008 40,5
                     
    2 Công nghiệp khai thác 25   1124 19,1 79 2184 6,8
                     
    3 Xây dựng 14   16 0,3 259 8228 25,6
                     
    4 Khách sạn và du lịch 86   1276 21,8 161 3650 11,4
                     
    5 Giao thông và bưu đIện 34   456 7,8 102 1465 4,6
                     
    6 Nông –lâm nghiệp 81   239 4,1 54 316 1,0
                     
    7 Ngư nghiệp 32   90 1,5 47 206 0,6
                     
    8 Các nghành khác 68   336 5,8 327 3045 9,5
                     
      Tông cộng 625   5865 100 2320 32102  
                     
          -17-        

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    • Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ     đầu tư (%) (%)
             
        -18-    
    Singapore 181 9,4 6447 20
             
    đàI loan 309 16 4268 13,3
             
    Hồng công 184 9,5 3734 11,6
             
    Nhật bản 213 11 3500 11,4
             
    Hàn quốc 191 9,9 3154 9,8
             
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    • Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn 1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.
    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    • Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh

    -19-

    long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3       Khó khăn và thách thức

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu Á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, Ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, Ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đạI đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    -20-

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu Á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    3.     GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    • Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành:

    -21-

    luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dàI hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoàI nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đạI bàn, dàI hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo đIều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoàI. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà Nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phảI qủan lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoàI. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơI vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lạI vốn vay nước ngoàI để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    – Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    -22-

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    -23-

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    -24-

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    • Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    • Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những

    -25-

    TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)     Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    -26-

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường

    -27-

    đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa

    -28-

    các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp
    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của bên Viêt Nam.

    -29-

    -30-

    PHẦN C: KẾT LUẬN

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoàI đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ đIểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phảI thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cảI thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phảI thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoàI có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoàI vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    Đầu tư nước ngoàI tự nó chưa phảI là giảI pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoàI, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoạI là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoàI, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoàI (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoàI cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đI lạI , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãI… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh

    -31-

    mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoàI. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoạI giao, kinh tế – kỉ thuật, đIều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môI trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giảI pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lạI lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoàI thông qua môI trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phảI tập trung giảI quyết các giảI pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giảI pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dàI. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoàI vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    Do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên bàI viết không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    -32-


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-v%E1%BB%91n-b%E1%BA%B1ng-ti%E1%BB%81n-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A3i-thanh-to%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    LỜI MỞ  ĐẦU

    Sau khi được học xong phần lý thuyết về chuyên ngành kế toán, lãnh đạo nhà trường đã cho sinh viên thâm nhập thực tế nhằm củng cố vận dụng những lý luận đã học được vào sản xuất, vừa nâng cao năng lực tay nghề chuyên môn, vừa làm chủ được công việc sau này khi tốt nghiệp ra trường về công tác tại cơ quan, xí nghiệp có thể nhanh chóng hoà nhập và đảm đương các nhiệm vụ được phân công.

    Sau thời gian thực tập tại Công ty Cơ khí ôtô 3-2, em đã tìm hiểu, phân tích, đánh giá những kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời so sánh với lý thuyết đã học được trong nhà trường để rút ra những kết luận cơ bản trong sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận. Muốn có lợi nhuận cao phải có phương án sản xuất hợp lý, phải có thị trường mở rộng, giá cả hợp lý và đặc biệt phải có vốn đầu tư bằng tiền phù hợp.

    Trên cơ sở đó em đã chọn đề tài “Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán” cho báo cáo tốt nghiệp này.

    Nội dung của chuyên đề này ngoài Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề gồm 3 chương chính :

    Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ trong công ty xây lắp .

    Chương 2: Thực trạng công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ ở Công ty Cơ khí ôtô 3-2.

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ ở Công ty Cơ khí ôtô 3-2.

    Với thời gian thực tập có hạn và số liệu thực tế chưa nhiều, đặc biệt là kinh nghiệm phân tích đánh giá của em chưa được sâu sắc. Vì vậy trong báo cáo không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo và nhà trường góp ý sửa chữa để em hoàn thành công việc một cách tốt đẹp hơn.

    Nhân dịp này em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Công ty Cơ khí ôtô 3-2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty. Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bác, các cô, các chú, các anh chị trong Công ty Cơ khí ôtô 3-2 đã nhiệt tình giúp đỡ về mặt thực tiễn và cung cấp cho em những tài liệu quan trọng làm cơ sở nghiên cưú chuyên đề ,giúp em hoàn thành báo cáo này.

    1

     

    Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp 1 và đặc biệt là cô giáo Nguyễn Ngọc Lan đã tận tình hướng dẫn, dậy bảo, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo chuyên đề này.

    2

     

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỐN BẰNG TIỀN

    VÀ CÁC KHOẢN THANH TOÁN

    I. KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN

    1.     Khái niệm, nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền :

    1. Khái niệm vốn bằng tiền:

    Vốn bằng tiền là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ bao gồm : Tiền mặt ( 111), TGNH( 112), Tiền đang chuyển (113). Cả ba loại trên đề có tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý. Mỗi loại vốn bằng tiền đều sử dụng vào những mục đích khác nhau và có yêu cầu quản lý từng loại nhằm quản lý chặt chẽ tình hình thu chi và đảm bảo an toàn cho từng loại sử dụng có hiệu quả tiết kiệm và đúng mục đích.

    1. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền:

    Kế toán phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

    • Phản ánh chính xác kịp thời những khoản thu chi và tình hình còn lại của từng loại vốn bằng tiền, kiểm tra và quản lý nghiêm ngặt việc quản lý các loại vốn bằng tiền nhằm đảm bảo an toàn cho tiền tệ, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng tham ô và lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh.
    • Giám sát tình hình thực hiện kế toán thu chi các loại vốn bằng tiền, kiểm tra việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý vốn bằng tiền, đảm bảo chi tiêu tiết kiệm và có hiệu quả cao

    Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các ngân hàng và các khoản tiền đang chuyển ( kể cả nội tệ, ngoại tệ, ngân phiếu, vàng bạc, kim khí quý, đá quý)

    Kế toán vốn bằng tiền phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

    • Kế toán vốn bằng tiền sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là đồng Việt Nam (

    VNĐ).

    • Các loại ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua do ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán.

    Để phản ánh và giám sát chặt chẽ vốn bằng tiền, kế toán phải thực hiện các nghiệp vụ sau :

    • Phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời số hiện có , tình hình biến động và sử dụng tiền mặt , kiểm tra chặt chẽ việc chấp hành chế độ thu chi và quản lý tiền mặt.
    • Phản ánh chính xác đầy đủ kịp thời số hiện có, tình hình biến động tiền gửi, tiền đang chuyển, các loại kim khí quí và ngoại tệ, giám sát việc chấp hành các chế độ quy định về quản lý tiền và chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.

    2. Kế toán tiền mặt :

    2.1 Nguyên tắc chế độ lưu thông tiền mặt:

    Việc quản lý tiền mặt phải dựa trên nguyên tắc chế độ và thể lệ của nhà nước đã ban hành, phải quản lý chặt chẽ cả hai mặt thu và chi và tập trung nguồn tiền vào ngân hàng nhà nước nhằm điều hoà tiền tệ trong lưu thông, tránh lạm phát và bội chi ngân sách, kế toán đơn vị phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    • Nhà nước quy định ngân hàng là cơ quan duy nhất để phụ trách quản lý tiền mặt. Các xí nghiệp cơ quan phải chấp hàng nghiêm chỉnh các chế độ thể lệ quản lý tiền mặt của nhà nước.
    • Các xí nghiệp, các tổ chức kế toán và các cơ quan đều phải mở tài khoản tại ngân hàng để gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng để hoạt động.
    • Mọi khoản thu bằng tiền mặt bất cứ từ nguồn thu nào đều phải nộp hết vào ngân hàng trừ trường hợp ngân hàng cho phép toạ chi như các đơn vị ở xa ngân hàng nhất thiết phải thông qua thanh toán ngân hàng. Nghiêm cấm các đơn vị cho thuê, cho mượn tài khoản.

    2.2 Kế toán tiền mặt.

    Mỗi doanh nghiệp đều có một số tiền mặt nhất định tại quỹ. Số tiền thường xuyên có tại quỹ được ấn định tuỳ thuộc vào quy mô tính chất hoạt động của doang nhiệp và được ngân hàng thoả thuận.

    Để quản lý và hạch toán chính xác, tiền mặt của doanh nghiệp được tập trung bảo quản tại quỹ. Mọi nghiệp vụ có liên quan đến thu, chi tiền mặt, quản lý và bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện.

    Thủ quỹ do giám đốc doanh nghiệp chỉ định và chịu trách nhiệm gửi quỹ. Thủ quỹ không được nhờ người làm thay mình. Không được kiêm nhiệm công tác kế toán, không được làm công tác tiếp liệu, mua bán vật tư hàng hoá.

    Tất cả các khoản thu chi tiền mặt đều phải có các chứng từ thu chi hợp lệ, chứng từ phải có chữ ký của giám đốc doanh nghiệp và kế toán trưởng. Sau khi đã kiểm tra chứng từ hợp lê, thủ quỹ tiến hành thu vào hoặc chi ra các khoản tiền và gửi lại chứng từ đã có chữ ký của người nhận tiền hoặc nộp tiên. Cuối mỗi ngày căn cứu vào các chứng từ thu chi để ghi sổ quỹ và lập báo cáo quỹ kèm theo các chứng từ thu chi để ghi sổ kế toán. Thủ quỹ là người chịu trách nhiệm quản lý và nhập quỹ tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, đá quỹ tại quỹ. Hàng ngày thủ quỹ phải thường xuyên kiểm kê số tiền quỹ thực tế, tiến hành đối chiếu với sỗ liệu của sổ quỹ, sổ kế toán. nếu có chênh lệch, thủ quỹ và kế toán phải tự kiểm tra lại để xác định nguyên nhâ và kiến nghị biện pháp xử lý. Với vàng bac, đá quý nhận ký cược, ký quỹ trước khi nhập quỹ phải làm đầy đủ các thủ tục về cân, đo, đếm số lượng, trọng lượng, giám định chất lượng và tiến hành niêm phong có xác nhận của người ký cược, ký quỹ trên dấu niêm phong.

    Có thể sử dụng mẫu sổ quỹ kiêm báo cáo quỹ sau:

    SỔ QUỸ TIỀN MẶT ( KIÊM BÁO CÁO QUỸ)

          Ngày … tháng … năm
               
    Số hiệu chứng   Số hiệu Số tiền
    từ   Diễn giải    
      TK    
    Thu Chi   Thu Chi
       
        Số dư đầu ngày      
        FS trong ngày      
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    4

     

    Cộng FS

    Số dư cuối ngày

    Kèm theo . . . chứng từ thu.

    . . . chứng từ chi.

    Ngày . . . tháng . . .năm 2000

    Thủ quỹ ký

    Để phản ánh tình hình thu, chi tiền mặt kế toán sử dụng tài khoản 111 “Tiền mặt”.

    • Nội dung kết cấu TK 111:

    – Bên nợ :

    + Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý nhập

    quỹ.

    • Số tiền mặt thừa ở quỹ phát hiện khi kiểm kê. – Bên có :
    • Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý xuất

    quỹ.

    • Số tiền mặt tại quỹ thiếu hụt.
    • Số dư bên nợ : Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý hiện còn tồn ở quỹ tiền mặt.

    Tài khoản 111 gồm có 3 tài khoản cấp 2 :

    TK 1111 : Tiền Việt Nam

    TK 1112 : Ngoại tệ

    TK 1113 : Vàng bạc, kim khí quý, đá quý. Vàng bạc, kim khí quý, đá quý.

    • Trình tự kế toán tiền mặt :
    1. Kế toán các khoản phải thu, chi bằng tiền Việt Nam
    • Các nghiệp vụ tăng :

    Nợ TK 111 (1111) : Số tiền nhập quỹ.

    Có TK 511 : Thu tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp lao vụ, dịch vụ.

    Có TK 711 : Thu tiền từ hoạt động tài chính

    Có TK 721 : Thu tiền từ hoạt động bất thường

    Có TK 112 : Rút tiền từ ngân hàng

    Có TK 131,136,1111 : Thu hồi các khoản nợ phải thu

    Có TK 121, 128, 138,144,244 : Thu hồi các khoản vốn ĐTNH …

    Có TK 338 (3381) : Tiền thừa tại quỹ chưa xác định rõ nguyên nhân…

    • Các nghiệp vụ Giảm :

    Nợ TK 112 : Gửi tiền vào TK tại NH

    Nợ TK 121,221 : Xuất quỹ mua chứng khoán ngắn hạn, dài hạn

    Nợ TK 144,244 : Xuất tiền để thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn, dài hạn

    Nợ TK 211, 213: Xuất tiền mua TSCĐ để đưa vào sử dụng

    Nợ TK 241 : Xuất tiền dùng cho công tác ĐTXDCB tự làm

    5

     

    Nợ TK 152,153,156 : Xuất tiền mua vật tư hàng hóa để nhập kho (theo phương pháp kê khai thường xuyên).

    Nợ TK 611 : Xuất tiền mua vật tư, hàng hóa về nhập kho (theo phương pháp kiểm tra định kỳ)

    Nợ TK 311, 315 : Thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn

    Nợ TK 331 : Thanh toán cho người bán

    Nợ TK 333 : Nộp thuế và các khoản khác cho ngân sách

    Nợ TK 334 :Thanh toán lương và các khoản cho người lao động Có TK 111(1111) : Số tiền mặt thực xuất quỹ

    1. Kế toán các khoản thu, chi ngoại tệ :

    Đối với ngoại tệ, ngoài việc quy đổi ra đồng Việt Nam, kế toán còn phải theo dõi nguyên tệ trên TK 007-Nguyên tệ các loại.

    Việc quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam phải tuân theo các quy định sau đây:

    • Đối với các loại TK thuộc chi phí, thu nhập, vật tư, hàng hoá, TSCCĐ…dù doanh nghiệp có hay không sử dụng tỷ giá hạch toán. Khi có phát sinh các nghiệp vụ bằng ngoại tệ đều phải luôn luôn ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
    • Các doanh nghiệp có ít nghiệp vụ bằng ngoại tệ thì các tài khoản tiền, các tài khoản phải thu, phải trả được ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế. Các khoản chênh lệch tỷ giá (nếu có) của các nghiệp vụ kinh tế phát sinhđược hạch toánvào TK 1113-Chênh lệch tỷ giá.
    • Các doanh nghiệp có nhiều nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ có thể dụng tỷ giá hạch toán để ghi sổ các tài khoản tiền, phải thu, phải trả. Số chênh lệch giữa tỷ giá hạch toán và tỷ giá mua của ngân hàng tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hạch toán vào tài khoản 413-Chênh lệch tỷ giá.

    Tỷ giá hạch toán có thể là tỷ giá mua hoặc tỷ giá thống kê của ngân hàng và được sử dụng ổn định ít nhất trong một kỳ kế toán.

    Cuối kỳ hạch toán, kế toán phải đánh gía lại số dư ngoại tệ của các tài khoản tiền, cả khoản phải thu, các khoản nợ phải trả theo tỷ giá mua của ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm cuối kỳ để ghi sổ kế toán.

    TK 413-Chênh lệch tỷ giá có kết cấu như sau :

    • Bên nợ :
    • Chênh lệch tỷ giá FS giảm của vốn bằng tiền, vật tư, hàng hóa và nợ phải thu có gốc ngoại tệ.
    • Chênh lệch tỷ giá FS tăng các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ.
    • Xử lý chênh lệch tỷ giá.

    – Bên có :

    • Chênh lệch tỷ giá FS tăng của vốn bằng tiền, vật tư, hàng hoá và nợ phải thu có gốc ngoại tệ.
    • Xử lý chênh lệch tỷ giá.
    • Chênh lệch tỷ giá FS giảm các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ.

    Tài khoản này cuối kỳ có thể có số dư bên Có hoặc bên Nợ

    6

     

    Số dư bên Nợ : Chênh lệch tỷ giá cần phải được xử lý.

    Số dư bên Có : Chênh lệch tỷ giá còn lại.

    Số chênh lệch tỷ giá trên TK 413- Chênh lệch tỷ giá chỉ được xử lý (ghi tăng hoặc giảm vốn kinh doanh, hạch toán vào lãi hoặc lỗ). Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Riêng đối với đơn vị chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ thì các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua bán thực tế FS. Chênh lệch giữa giá thực tế mua vào và bán ra của ngoại tệ được hạch toán vào TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính hoặc TK 811-Chi phí hoạt động tài chính.

    Các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ được hạch toán như sau :

    • Trường hợp doanh nghiệp có sử dụng tỷ gía hạch toán – Khi nhập ngoại tệ vào quỹ tiền mặt ;
    • Doanh nghiệp thu bán hàng bằng ngoại tệ: Nợ TK 111-Tiền mặt (1112)(Tỷ giá hạch toán)

    Có TK 511-Doanh thu bán hàng (tỷ giá thực tế)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ gía (số chênh lệch tỷ giá hạch toán lớn hơn tỷ gía

    thực tế).

    (Trường hợp tỷ giá hạch toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế thì số chênh lệch tỷ giá được ghi bên Nợ TK 413).

    • Khi xuất quỹ bằng ngoại tệ :
    • Mua vật tư, hàng hoá, tài sản cố định:

    Nợ TK 152-Nguyên liệu, vật liệu (tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 153-Công cụ dụng cụ (tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 156-Hàng hoá (tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 211-Tài sản cố định hữu hình (tỷ giá thực tế)

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)(tỷ giá hạch toán)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá (số chênh lệch tỷ giá thực tế lớn hơn tỷ giá

    hạch toán).

    (Nếu tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá hạch toán thì số chênh lệch được ghi bên Nợ TK

    413).

    • Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý phát sinh bằng ngoại tệ: cũng ghi sổ theo dõi nguyên tắc trên.
    • Xuất quỹ ngoại tệ trả nợ cho người bán ;
    • Trường hợp doanh nghiệp không áp dụng tỷ giá hạch toán : – Khi nhập quỹ ngoại tệ :

    + Thu tiền bán hàng bằng ngoại tệ :

    Nợ TK 111-Tiền mặt(1112)(theo tỷ giá thực tế) Nợ TK 131-PTCKH (theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 511-Doanh thu bán hàng (theo tỷ giá thực tế)

    + Thu các khoản nợ phải thu bằng ngoại tệ nhập quỹ : Nợ TK 111-Tiền mặt(1112) (theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 131-PTCKH (tỷ giá bình quân thực tế nợ)

    7

     

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá (số chênh lệch tỷ giá thực tế lớn hơn giá thực tế lớn hơn giá bình quân thực tế bên nợ).

    (Trường hợp tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá bình quân thực tế nợ thì số chênh lệch được ghi vào TK 413).

    • Khi xuất quỹ ngoại tệ :
    • Xuất ngoại tệ mua vật tư, hàng hoá, TSCĐ, chi trả các khoản chi phí:

    Nợ TK 152-Nguyên liệu, vật liệu (theo tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 153-Công cụ dụng cụ (theo tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 156-Hàng hoá (theo tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 211-TSCĐHH (theo tỷ giá thực tế )

    Nợ TK 611-Mua hàng (đối với phương pháp kiểm kê định kỳ)

    Nợ TK 627-Chi phí sản xuất chính (theo tỷ giá thực tế )

    Nợ TK 641-Chi phí mua hàng (theo tỷ giá thực tế )

    Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp (theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)(tỷ giá thực tế bình quân)

    (Nếu tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá thực tế bình quân thì số chênh lệch được ghi vào bên Nợ TK 413).

    +Xuất ngoại tệ trả nợ cho người bán :

    Nợ TK 331-PTCNB (tỷ giá nhận nợ)

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)(theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá (nhận nợ lớn hơn tỷ giá thực tế)

    (Nếu tỷ giá nhận nợ nhỏ hơn theo tỷ giá thực tế thì số chênh lệch được ghi vào bên Nợ TK413)

    Đến cuối năm, cuối quý nếu có biến động lớn về tỷ giáthì phải đánh giá lại số ngoại tệ hiện có tại quỹ theo tỷ giá thực tế tại thời điểm cuôí năm, cuối quý ;

    +Nếu chênh lệch giảm :

    Nợ TK 413-Chênh lệch tỷ giá

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)

    +Nếu chênh lệch tăng :

    Nợ TK 111-Tiền mặt(1112)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá

    1. Kế toán nhập xuất vàng, bạc, kim loại quý, đá quý : Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, các nghiệp vụ liên quan đến vàng, bạc, kim loại quý được hạch toán ở TK 111-

    Các nghiệp vụ tăng vàng, bạc, kim loại quý, đá quý ghi :

    Nợ TK 111- : Giá thực tế tăng

    Có TK 111(1111), Có TK 112(1121) : số tiền chi mua thực tế Có TK 511-Doanh thu bán hàng (bán hàng thu bằng vàng, bạc…)

    Có TK 138,144-Thu hồi các khoản cho vay, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ.

    Có TK 411-NVKD :Nhận liên doanh, cấp phát bằng vàng, bạc,

    đá quý

    Các nghiệp vụ ghi giảm theo bút toán ngược lại.

    8

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT KẾ TOÁN TIỀN MẶT

    TK 511,711,721                                        TK 111-TM                                           TK 112,

    113

    Doanh thu bán hàng và thu

    nhập hoạt động khác

    TK 112

    Rút tiền từ ngân hàng

    TK 131,136,138,141,144,144

    Thu hồi các khoản nợ, các

    khoản ký cược, ký quỹ

    TK 121,128,221,222,228

    Thu hồi các khoản

    đầu tư tài chính

    TK 411,451,461

    Nhận vốn, nhận liên doanh

    liên kết, nhận kinh phí

    TK 338(3381)

    Thừa tiền tại quỹ

    chờ xử lý

    Gửi tiền vào ngân hàng tiền đang chuyển

    TK

    152,153,156,211,213 Mua vật tư,

    hàng hoá, tài sản

    TK141

    ,161,627,641,642,811,821 Sử dụng cho chi phí

    TK

    121,128,221,222,228

    đầu tư tài chính

    TK311,315,333,33 4,336,338,341,342

    Thanh toán nợ phải trả

    TK 138 (1381)

    Thiếu tiền tại quỹ

    chờ xử lý

    2.     Kế toán tiền gửi ngân hàng

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể và cần thiết phải gửi tiền vào ngân hàng kho bạc Nhà nước hoặc công ty tài chính để thực hiện các nghiệp thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định hiện hành của pháp luật.

    9

     

    Chứng từ để hạch toán TGNH là các giấy báo Có, báo Nợ hoặc bản sao kê của ngân hàng kèm theo các chứng từ gốc (uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi…)

    Khi nhận được chứng từ của ngân hàng gửi đến, kế toán đối chiếu với chứng từ gốc đính kèm, thông báo với ngân hàng để đối chiếu, xác minh và xử lý kịp thời các khoản chênh lệch (nếu có).

    Để theo dõi tình hình biến động các khoản tiền gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng kho bạc hoặc công ty tài chính, kế toán sử dụng TK112-TGNH

    *Kết cấu tài khoản 112 :

    • Bên Nợ : Các tài khoản tiền gửi vào ngân hàng.
    • Bên Có : Cá khoản tiền rút ra từ ngân hàng.
    • Số dư bên Nợ : Số tiền hiện còn gửi tại ngân hàng TK 112-Có 3 tài khoản cấp 2

    TK 1121 : Tiền Việt Nam TK 1122-Ngoại tệ

    TK 1123-Vàng, bạc, lim loại quý

    * Phương pháp hạchv toán trên TK 112-TGNH :

    cũng tương tự như đối với TK 111-Tiền mặt. Đồng thời cần lưu ý một số nghiệp vụ

    sau :

    • Số lợi tức gửi được hưởng : Nợ TK 111, 112 : Nếu thu tiền

    Nợ TK 138 : Phải thu khác-nếu chưc thu được

    Có TK 711 : Thu nhập hoạt động tài chính

    • Số chênh lệch số liệu trên sổ của doanh nghiệp so với số liệu của ngân hàng vào cuối tháng chưa rõ nguyên nhân :

    + Trường hợp số liệu của ngân hàng lớn hơn số liệu trên sổ của doanh nghiệp:

    Nợ TK 112-TGNH

    Có TK 338-Phải trả, phải nộp khác (3388)

    Sang tháng sau, khi xác định được nguyên nhân sẽ ghi sổ theo từng trường hợp:

    Nợ TK 338 : Phải trả, phải nộp khác (3388)

    Có TK 112-TGNH (nếu ngân hàng ghi sổ nhầm lẫn)

    Hoặc Có TK 511-Doanh thu bán hàng ( nếu doanh nghiệp ghi thiếu

    Có TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính

    Có TK 721-Thu nhập bất thường

    • Trường hợp số liệu của ngân hàng nhỏ hơn số liệu trên sổ kế toán của đơn vị: Nợ TK 138-Phải thu khác (1388)

    Có TK 112-TGNH

    Sang tháng sau khi xác định được nguyên nhân ghi :

    Nợ TK 112 (nếu ngân hàng ghi thiếu )

    Nợ TK 511, 811, 812…(nếu do doanh nghiệp ghi thừa)

    Có TK138 (1388) : Số thừa đã xử lý

    10

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT KẾ TOÁN TGNH

    TK 511,711,721                                  TK 112-TGNH                                                  TK 111

    Doanh thu bán hàng và thu

    nhập hoạt động khác

    TK 111

    Gửi tiền vào ngân hàng

    TK 131,136,138,141,144,144

    Thu hồi các khoản nợ, các

    khoản ký cược, ký quỹ

    TK 121,128,221,222,228

    Thu hồi các khoản

    đầu tư tài chính

    TK 411,451,461

    Nhận vốn, quỹ

    nhận kinh phí

    TK 338(3383)

    Chênh lệch số liệu NH lớn

    hơn số liệu của DN

    3.     Kế toán đang chuyển :

    Rút tiền về

    quỹ tiền mặt

    TK

    152,153,156,211,213

    Mua vật tư,

    hàng hoá, tài sản

    TK

    627,641,642,

    Dùng cho chi phí

    TK

    121,128,221,222,228 đầu tư tài chính

    TK311,315,333,33 4,336,338,341,342

    Thanh toán các khoản

    nợ phải trả

    TK 138 (1388)

    Chênh lệch số liệu của NH

    nhỏ hơn số liệu của DN

    Tiền đang chuyển là các khoản tiền của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng kho bạc Nhà nước hoặc đã gửi vào bưu điện để chuyển cho ngân hàng hoặc đã làm thủ tục chuyển từ TK tại ngân hàng để trả cho các đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo Nợ hay bản sao kê của ngân hàng.

    Tiền đang chuyển gồm tuền VN và ngoại tệ đang chuyển trong các trường hợp sau :

    • Thu tiền mặt hoặc séc nộp thẳng cho ngân hàng
    • Chuyển tiền qua bưu điện trả cho đơn vị khác

    11

     

    • Thu tiền bán hàng nộp thuế ngay vào kho bạc giao tiền tay ba giữa doanh nghiệp, khách hàng và kho bạc Nhà nước

    Kế toán tiền đang chuyển được thực hiện trên TK 113-Tiền đang chuyển

    • Kết cấu
    • Bên Nợ : Các khoản tiền nội tệ, ngoại tệ, séc đã nộp vào ngân hàng hoặc đã chuyển vào bưu điện để chuyển cho ngân hàng
    • Bên Có : Số kết chuyển vào tài khoản TGNH hoặc các khoản Nợ phải trả.
    • Số dư bên Nợ : Các khoản tiền đang chuyển.

    TK này có 2 tài khoản cấp 2 :

    TK 1131-Tiền Việt Nam

    TK 1132-Ngoại tệ

    * Phương pháp kế toán một số các nghiệp vụ chủ yếu sau :

    • Thu tiền bán hàng, thu nợ khách hàng bằng tiền mặt hoặc séc nộp thẳng vào ngân hàng (không qua quỹ) ghi :

    Nợ TK 113-Tiền đang chuyển

    Có 511-Doanh thu bán hàng Có 131-Phải thu khách hàng

    • Xuất quỹ tiền mặt gửi vào ngân hàng nhưng chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng (đến cuối tháng) :

    Nợ TK 113-Tiền đang chuyển

    Có TK 111 (1111, 1112)-Tiền mặt

    • Làm thủ tục chuyển tiền từ TK ở ngân hàng để trả cho chủ nợ, cuối tháng chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng.

    Nợ TK 113-Tiền đang chuyển

    Có TK 112-TGNH

    -Khách hàng ứng trước tiền mua hàng bằng séc, doanh nghiệp đã nộp séc vào ngân hàng nhưng chưa nhận được giấy báo Có :

    Nợ TK 113- Tiền đang chuyển

    Có 131-Phải thu khách hàng

    • Ngân hàng báo trước các khoản tiền đang chuyển đã vào tài khoản của đơn vị:

    Nợ TK 112-TGNH

    Có TK 113-Tiền đang chuyển

    • Ngân hàng báo về số tiền đã chuyển cho người bán, người cung cấp dịch vụ, người cho vay.

    Nợ TK 331-Phải trả cho ngươì bán Nợ TK 311-Vay ngắn hạn

    Nợ TK 315-Vay dài hạn đến hạn Có TK 113-Tiền đang chuyển

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT KẾ TOÁN TIỀN ĐANG CHUYỂN

    TK 111, 112                                TK 113-TĐC                                                  TK 112

    12

     

    Tiền đã nộp vào NH, tiền gửi đã làm thủ tục chuyển

    TK 111,138

    Nhận tiền ứng trước và thu nợ bằng séc nộp vào NH

    TK 155

    Thu tiền bán hàng bằng séc nộp

    vào ngân hàng

    Tiền chuyển đã vào tài

    khoản tiền gửi

    TK 331

    Tiền đã chuyển tới

    tài khoản người bán

    TK 311, 315, 341, 342…

    Tiền chuyển tới trả nợ ngươi cho vay

     

    II. CÁC KHOẢN THANH TOÁN

    Các khoản phải thu trong doanh nghiệp bao gồm số phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác.

    1.     Kế toán các khoản phải thu của khách hàng

    Phải thu của khách hàng là các khoản doanh nghiệp phải thu khách gàng về tiền bán sản phẩm, hàng hoá cung cấp lao vụ và dịch vụ, hoặc phải thu của người nhận thầu xây dựng cơ bản về khối lượng công tác xây dựng cơ bản đã hoàn thành.

    Kế toán các khoản phải thu cần tôn trọng các quy định có dtính nguyên tắc sau:

    • Phải hạch định chi tiết nợ phải thu cho từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng lần thanh toán.
    • Các khách hàng thanh toán bù trừ giữa nợ phải thu và nợ phải trả có sự thoả thuận giữa hai bên và lập chứng từ bù trừ cộng nợ phải thu khó đòi thưo các quy định tài chính hiện hành.

    Kế toán các khoản phải thu của khách hàng và thanh toán các khoản phải thu được theo dõi trên TK 131-Phải trả cho khách hàng.

    • Nội dung kết cấu của TK 131 như sau :

    – Bên Nợ :

    + Số tiền phải thu của khách hàng về sản phẩm, hàng hóa đã giao, lao vụ dịch vụ đã cung cấp và đã đựoc xác định là tiêu thụ.

    + Số tiền thừa đã trả lại cho khách hàng – Bên Có :

    + Số tiền khách hàng đã trả

    + Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng

    + Các khoản triết khấu giảm gía và doanh thu của hàng bán chưa thu tiền bị khách

    hàng trả lại

    • Số dư bên Nợ : Số tiền còn lại phải thu của khách hàng

    TK 131 có thể có số dư bên Có,phản ánh số tiền đã nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng.

    • Trình tự hạch toán :
    • Doanh thu bán hàng đã trả châm, đã được xác định là tiêu thụ :

    13

     

    Nợ TK 131-Phải thu của khách hàng

    Có TK 511-Doanh thu bán hàng

    • Các khoản triết khấu bán hàng (doanh nghiệp cho khách hàng được hưởng nếu có) Nợ TK 521-Triết khấu bán hàng

    Có TK 131-Phải trả cho khách hàng

    • Số tiền giảm giá cho khách hàng do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách hoặc giao hàng không đúng thời hạn trong hợp đồng :

    Nợ TK 532-Giảm gía hàng bán

    Có TK131- Phải thu của khách hàng

    • Doanh thu của khối lượng hàng đã bán chưa thu tiền bi khách hàng trả lại
    • Số tiền nhận ứng trước hoặc trả trước của khách hàng

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 131- Phải trả cho khách hàng

    • Nhận tiền do khách hàng trả lại (kể cả số lãi do trả chậm-nếu có) Nợ TK 111, 112

    Có TK 131- Phải trả cho khách hàng (phần nợ gốc)

    Có TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính (phần lãi)

    • Nếu khách hàng thanh toán theo phương thức đổi gàng, căn cứ giá trị vật tư, hàng hóa nhập kho tính theo giá trao đổi ghi trong hợp đồng kinh tế trừ vào số nợ phải thu, kế toán ghi :

    Nợ TK 152, 153, 156 (theo phương pháp kê khai thường xuyên)

    Nợ TK 611-Mua bán (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)

    Có TK 131-Phải thu của khách hàng

    – Trường hợp thanh toán bù trừ (do khách hàng vừa là người mua , vừa là người

    bán)

    Nợ TK 331-Phải trả người bán

    Có TK 131-Phải trả cho khách hàng

    -Xoá sổ các khoản nợ phải thu khó đòi được :

    Nợ TK 139-Dự phòng phải thu khó đòi

    Có TK 131- Phải trả cho khách hàng

    Đồng thời ghi đơn bên Nợ TK 004-Nợ khó đòi đã xử lý (để có thể tiếp tục truy thu số nợ đó).

    14

     

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN PHẢI THU CỦA KHÁCH HÀNG

    TK 511                                            TK 131-PTCKH                          TK 521,531,532

                               
      Doanh thu bán hàng Triết khấu bánhàng,hàng bán      
      chưa thu tiền      
      bị trả lại,giảm gía hàng bán      
                     
                               
    TK 711,721 111,112,113     TK
                           
            Thu nhập khác Khách hàng ứng trước và      
            chưa thu tiện Thanh toán tiền      
                               
    TK111,331,112             TK 331
          Các khoản chi hộ Bù trừ nợ        
          cho khách hàng      
                         
                139         TK
                       
                             
                Xoá sổ nợ      
                không đòi được      

    2.     Kế toán khoản phải thu nội bộ

    Phải thu của nội bộ là các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên, cấp dưới, giữa các đơn vị cấp dưới với nhau trong đó đơn vị cấp trên là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đơn vị cấp dưới là các đơn vị thành viên phụ thuộc có tổ chức công tác kế toán riêng.

    Hạch toán phải thu nội bộ thực hiện trên TK 136

    • Nội dung và kết cấu của TK 136 :

    – Bên nợ :

    + Các khoản đã chi hộ, trả hộ đơn vị khác

    + Số tiền cấp trên phải thu về các khoản đơn vị cấp dưới phải nộp

    + Số tiền đơn vị cấp dưới phải thu về, các khoản cấp trên phải cấp xuống + Số vốn kinh doanh đã cấp cho đơn vị cấp dưới

    – Bên Có :

    + Số tiền đã thu về các khoản phải thu trong nội bộ

    + Bù trừ phải thu với phải trả trong nội bộ của cùng một đối tượng

    15

     

    • Thu hồi vốn cũ ở các đơn vị thành viên quyết toán với các đơn vị thành viên về kinh phí sự nghiệp đã cấp đã sử dụng

    – Số dư bên nợ : Số còn phải thu ở các đơn vị nội bộ doanh nghiệp. TK 136 -Phải trả nội bộ có 2 TK cấp 2 :

    TK 1361-Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc (chỉ mở cho đơn vị cấp trên)

    TK 1368-Phải thu nội bộ khác

    • Trình tự hạch toán
    1. Hạch toán ở đơn vị cấp trên :
    • Cấp trên cấp hoặc giao vốn kinh doanh kinh phí sự nghiệp cho đơn vị cấp dưới

    Nợ TK 136-Phải thu nội bộ (1361)

    Có TK 111, 112

    • Cấp cho đơn vị cấp dưới bằng TSCĐ :

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1361)(theo gía trị còn lại)

    Có TK 214-HMTSCĐ (giá trị hao mòn)

    Có TK 211-TSCĐHH (nguyên giá)

    • Nếu đơn vị cấp dưới nhận vốn hoặc kinh phí trực tiếp từ ngân sách (theo uỷ quyền của đơn vị cấp trên)

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1361)

    Có TK 411-Nhận vốn kinh doanh

    • Trường hợp đơn vị cấp dưới nhận hàng viện trợ không hoàn lại hoặc mua sắm TSCĐ bằng nhận vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quỹ đầu tư phát triển, khi nhận được báo cáo của đơn vị cấp dưới gửi lên.

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1361)

    Có TK 411-Nhận vốn kinh doanh

    -Vốn kinh doanh của đơn vị cấp dưới được bổ sung từ kết quả sản xuất kinh doanh theo sự phê duyệt của báo cáo tài chính của đơn vị cấp dưới.

    Nợ TK 136 (1361)

    Có TK 411

    -Khi đơn vị cấp dưới hoàn lại vốn kinh doanh cho đơn vị cấp trên

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 136 (1361)

    • Khi đơn vị cấp dưới hoàn lại vốn kinh doanh cho ngân sách theo uỷ quyền của đơn vị cấp trên

    Nợ TK 411-Nhận vốn kinh doanh

    Có TK 136-Phải trả nội bộ (1361)

    • Khoản phải thu ở các đơn vị phụ thuộc để lập quỹ quản lý cấp trên Nợ TK 136- Phải trả nội bộ (1368)

    16

     

    Có TK 451-Quỹ quản lý cấp trên

    • Khoản phải thu về lãi kinh doanh của các đơn vị cấp dưới
    • Khoản phải thu theo ở đơn vị cấp dưới về quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi:
    • Các khoản chi hổtả hộ các khoản cho đơn vị cấp dưới :
    • Tổng hợp duyệt quyết toán cho cấp dưới về các khoản kinh phí sự nghiệp.
    • Khi nhận được các khoản phải nộp theo nghĩa vụ của các đơn vụ cấp dưới hoặc thanh toán bù trừ
    • Khi nhận các khoản cấp dưới chuyển trả về các khoản đã chi trả hộ

    Nợ TK 161-Chi phí sự nghiệp

    Có TK 136 (1368)

    1. Hạch toán ở các đơn vị cấp dưới
    • Khi chi phí hộ, trả hộ các khoản chi phí cho đơn vị cấp trên và các đơn vị khác trong nội bộ :

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 111, 112

    • Phản ánh số quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi sẽ được cấp trong kỳ “

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 414-Quỹ đầu tư phát triển

    Có TK 415-Quỹ dự phòng tài chính

    17

     

    Có TK 431-Quỹ khen thưởng, phúc lợi

    • Số lỗ về hoạt động sản xuất kinh doanh đã được cấp trên chấp nhận cấp bù Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 421-Lãi chưa phân phối

    -Doanh thu bán hàng nội bộ phải thu ở đơn vị cấp trên và các đơn vị nội bộ khác.

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 512-Doanh thu bán hàng nội bộ

    • Khi được thanh toán bằng tiền, vật tư hoặc tài sản về các khoản phải thu nội bộ: Nợ TK 111, 112, 152, 153

    Có TK 136-Phải thu nội bộ (1368)

    • Bù trừ các khoản phải thu, phải trả nội bộ :

    Nợ TK 336- Phải trả nội bộ

    Có TK 136-Phải thu nội bộ (1368)

    18

     

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN PHẢI THU NỘI BỘ

    • Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc

    TK 111,112,152,153                            TK 136 (1361)                                                  TK 111, 112

    Cấp vốn cho cấp dưới

    bằng tiền, vật tư

    TK 211, 213

    Cấp vốn cho cấp dưới

    bằng tài sản cố định

    TK 214

    TK 411

    Vốn KD tăng ở đơn vị cấp

    dưới do ngân sách cấp

    trực tiếp, nhận viện trợ

    Thu hồi vốn kinh doanh ở cấp dưới

    TK 411

    Hoàn vốn kinh doanh cho Nhà nước từ cấp trên

    • Các khoản phải thu nội bộ khác

    TK 111, 112                                                  TK 136 (1368)                                                           TK 111, 112

    Số đã chi hộ

    TK 511, 711, 721

    Doanh thu bán hàng & thu

    Nhập khác nhờ thu hộ

    TK 414,415,431,451

    Phải thu về các quỹ

    TK 412

    Lãi phải thu

    Lỗ được cấp bù

    TK 512

    Doanh thu bán hàng nội bộ

    Đã nhận tiền thu

    thu hộ, chi hộ

    TK 336

    Bù trừ các khoản phải thu phải trả nội bộ

    19

     

    3.     Kế toán các khoản phải thu khác

     

    Các khoản phải thu khác bao gồm :

     

    – Giá trị tài sản thiếu chưa rõ nguyên nhân đang chờ xử lý

     

    – Các khoản phải thu về bồi thườn vật chất do cá nhân hoặc tập thể trong và ngoài

    đơn vị gây ra.

    • Các khoản cho vay, cho mượn vật tư, tiền vốn, TSCĐ có tính chất tạm thời không tính lãi
    • Các khoản thu nhập phải thu của hoạt động tài chính và hoạt động bất thường.
    • Các khoảnđã chi trả cho hoạt động sự nghiệp, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất kinh doanh nhưng không được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phải thu hồi hoặc xử lý.
    • Các tài khoản tiền gửi vào tài khoản chuyên thu, chuyên chi để nhờ đơn vị uỷ thác xuất, nhập khẩu hoặc nhận đại lý bán hàng nộp hộ các loại thuế của đơn vị có hàng đại lý hoặc đơn vị uỷ thác.
    • Các khoản phải thu ở công nhân viên, phải thu về tiền nhà, điện nước, bảo hiểm y tế mà người lao động phải đóng góp, các khoản phải thu hộ ở người lao động cho toà án về các án quân sự…

    Kế toán các khoản phải thu khác được phản ánh trên TK 138 * Nội dung và kết cấu TK 138 như sau :

    • Bên Có :
    • Giá trị tài sản thiếu cần được xử lý
    • Số tiền đã thu được thuộc nợ phải thu khác

    – Bên Nợ :

    • Giá trị tài sản thiếu chờ giải quyết

    +Các khoản phải thu khác

    • Số dư bên Nợ : Các khoản nợ khác còn phải thu

    TK 138 có 2 tài khoản cấp II :

    TK 1381 : Tài sản thiếu chờ xử lý

    TK 1388 : Phải thu khác

    • Trình tự hach toán
    1. Kế toán Tài sản thiếu chờ xử lý :

    Chỉ hạch toán vào TK 1381- Tài sản thiếu chờ xử lý, các tài sản thiếu mất hoặc hư hỏng chưa xác định được nguyên nhân. Trường hợp đã xác định được nguyên nhân và có biên bản xử lý thì hạch toán ngay vào các TK liện quan. Không hạch toán qua TK1381

    • Nếu TSCĐHH thiếu, mất chưa rõ nguyên nhân : Nợ TK 138-Phải thu khác (1381) (giá trị còn lại) Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ (giá trị hao mòn)

    Có TK 211-TSCĐHH (nguyên giá)

    • Nếu vật tư hàng hoá và tiền mặt tồn quỹ …thiếu, mất chưa rõ nguyên nhân3 Nợ TK 138-Phải thu khác (1381)

    Có TK 111, 152, 153, 155, 156

    • Khi có quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền :

    Nợ TK 411, 334, 441, 821, 627, 642, 641…

    20

     

    Có TK 138 (1381)

    1. Kế toán các khoản phải thu khác
    • Tài sản thiếu mất đã xác định được nguyên nhân và người chịu trách nhiệm bồi

    thường :

    Nợ TK 138

    Có TK 152, 153,155, 156, 111

    • Các khoản cho vay mượn vật tư, tiền vốn tam thời không trả lãi và các khoản phải thu khác

    Nợ TK 138 (1388)

    Có TK 152, 153

    • Các khoản thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập bất thường phải thu (thu về cho thuê TSCĐ, lãi đầu tư tài chính, tiền được phạt, tiền được bồi thương…)

    Nợ TK 138-Phải thu khác (1388)

    Có TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính Có TK 721- Thu nhập bất thường

    • Khi thu hồi các khoản nợ phải thu khác

    Nợ TK 111, 112

    Có TK138 (1388)

    4.     Kế toán dự phòng phải thu khó đòi :

    Lập dự phòng cho các khoản phải thu khi có những bằng chứng tin cậy về các

    khoản phải thu khó đòi khi khách hàng bị phá sản mất khả năng thanh toán…Việc lập dự

    phòng nợ phải thu khó đòi được thực hiện vào cuối niên độ kế toán, mức lập dự phòng

    và xử lý xóa nợ phải thưo quy định của chế độ tài chính của doanh nghiệp.

    Kế toán dự phòng phải thu khó đòi thực hiện trên TK 139:

    • Nội dung và kết cấu TK 139 như sau :

    – Bên nợ :

    + Các khoản nợ phải thu khó đòi phải xử lý xoá nợ

    + Hoà nhập dự phòng vào cuối niên độ -Bên có :

    + Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi tính vào chi chí phí

    – Số dư bên có : Số dự phòng các khoản phải thu khó đòi còn lại cuối kỳ.

    • Trình tư hạch toán :
    • Khi xác định mức dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp (ghi vào cuối niên độ kế toán)

    Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp (6426)

    Có TK 139-Dự phòng phải thu khó đòi

    • Trong niên độ tiếp theo hoàn nhập dự phòng cho các khoản nợ khó đòi đã đòi được (theo số đã lập dự phòng cho các khoản này)

    Nợ TK 139- Dự phòng phải thu khó đòi

    Có TK 721-Các khoản thu nhập bất thường

    • Trong niên độ tiếp theo xoá sổ các khoản nợ khó đòi được :

    Nợ TK 139- Dự phòng phải thu khó đòi

    21

     

    Có TK 131, 138

    Đồng thời ghi đơn Nợ TK 004-Nợ khó đòi đã xử lý để tiếp tục theo dõi các khoản nợ này.

    • Nếu sau đó thu hồi được khoản nợ này (trong niên độ hoặc những kỳ sau) thì được xử lý như một khoản thu nhập bất thường của thời kỳ thu được tiền, kế toán ghi :

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 721-Thu nhập bất thường

    Đồng thời ghi đơn Có TK 004-Nợ khó đòi đã xử lý

    • Cuối niên độ tiếp theo, căn cứ vào số dư TK 139 kỳ trước chuyển sang và số dự phòng cần lập niên độ sau để ghi :

    + Nếu số cần lập dự phòng nhỏ hơn số dự phòng còn lại ở TK 139 thì khoản chênh lệch được ghi :

    Nợ TK 139-Dự phòng nợ phải thu khó đòi Có TK 721-Thu nhập bất thường

    + Nếu như số dự phòng cần lập lớn hơn số dự phòng còn lại : Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 139-Dự phòng phải thu khó đòi (phần chênh lệch)

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN PHẢI THU KHÁC

      TK111,112,152,153,156     TK 138-PTK     TK 111,331,334  
               
                Thu tiền, khấu                
          Tiền,vật tư,thành phẩm,hàng   trừ          
              hoá thiếu hụt chờ xử lý                          
        TK 211,213                 TK 411  
              TSCĐ thiếu chờ xử lý Xử lý   Giảm nguồn          
                        TK 214   tài sản   vốn KD          
                                thiếu   TK627,641,642,821  
    TK 111,112,152,153              
                tiền, vật tư tạm thời                        
          Cho vay       Tính vào CF          
              không tính lãi                              
                                       
                                                     
    TK 711, 721         Đã thu các   TK 111,112,152…  
            Thu nhập hoạt động khác                    
            khoản phải          
              chưa thu tiền       thu khác          
                                                     
    TK 161,241,641.642       Bù trừ phải thu hồi TK 338  
                           
            Các khoản chi phí không          
                     
            được duyệt, phải thu hồi                          
                                               
              SƠ ĐỒ KẾ TOÁN DỰ PHÒNG PHẢI THU KHÓ ĐÒI  
    TK 131, 138 TK 139         TK 642  

    22

     

        sổ các khoản nợ không        
      Xoá thể Lập dự phòng phải thu
      đòi được (trong niên độ tiếp khó đòi (cuối niên độ) (1)
        theo) (2)      
                 

    TK 721

    Hoàn nhập dự phòng   Lập tiếp dự phòng
    (cuối niên độ tiếp theo)(4b)   (cuối niên độ tiếp theo)(4)
         
      TK 111,112        
    Nợ khó đòi đã xoá sổ            
               
    nay đòi được (3)       TK 004
              (2) (3)  
                   

    5.     Kế toán các khoản ứng trước

    1. Kế toán các khoản tạm ứng : (141)

    Kế toán tạm ứng và thanh toán tạm ứng được là lhoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nận tạm ứng để được thực huện một công việc đã được phê duyệt. Người nhận tạm ứng phải là người công nhân viên chức hoặc người lao động tại doanh nghiệp. Đối với người nhận tạm ứng thường xuyên (nhân viên cung ứng vật tư, hành chính quản trị…(phải được giám đốc doanh nghiệp chỉ định bằng văn bản)

    Muốn được tạm ứng tiền, người nhận tạm ứng phải lập “Giấy đề nghị tạm ứng” (mẫu số 03-TT) theo mẫu quy định. Giấy đề nghị tạm ứng sau khi được giám đốc phê duyệt là căn cứ để lập phiếu chi và thủ quỹ xuất tiền. Người nhận tạm ứng chỉ được sử dụng tạm ứng theo đúng mục đích và nội dung công việc đã được phê duyệt và không chuyển giao cho người khác.

    Khi kết thúc công việc người nhận tạm ứng phải lập “Giấy thanh toán tạm ứng (mẫu số 04-TT) kèm theo các chứng từ gốc để thanh quyết toán số đã nhận tạm ứng.

    Kế toán tạm ứng và thanh toán tạm ứng được theo doic trên TK 141-Tạm ứng

    • Nội dung và kết cấu TK 141 như sau :

    – Bên Nợ :

    + Các khoản tạm ứng cho người nhận tạm ứng

    – Bên Có :

    + Các khoản tạm ứng đã thanh toán

    + Số tạm ứng chi không hết nhập lại quỹ hoặc khấu trừ vào lương – Số dư bên Nợ : Số tiền tạm ứng chưa thanh toán

    Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng nhận tạm ứng, từng lần và

    khoản nhận tạm ứng, thanh toán tạm ứng.

    • Trình tự hạch toán
    • Khi giao tạm ứng cho người nhận tạm ứng : Nợ TK 141-Tạm ứng

    Có TK 111, 112

    • Khi thanh toán tạm ứng :

    23

     

    • Trường hợp số thực chi theo chứng từ gốc nhỏ hơn số đã tạm ứng, căn cứ số thực chi để ghi các TK liên quan :

    Nợ TK 142-Chi phí trả trước

    Nợ TK 151-Hàng mua đang đi đường Nợ TK 152, 153

    Nợ TK 156-Hàng hóa Nợ TK 211-TSCĐHH

    Nợ TK 213-TSCĐVH

    Nợ TK 331-PTNB

    Nợ TK 611-Mua hàng (nếu áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ)

    Nợ TK 627-Chi phí sản xuất chính

    Nợ TK 641-Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK141-Tạm ứng

    • Xử lý các khoản, tạm ứng chi tiết hết : Nợ TK 111, 112

    Nợ TK 334-PTCNV (khấu trừ vào lương)

    Có TK 141-Tạm ứng

    • Nếu số thực chi theo chứng từ gốc đã được duyệt lớn hơn số đã tạm ứng ngoài các bút toán, phản ánh chi phí tạm ứng, kế toán lập phiếu chi thanh toán bổ sung cho người nhận tạm ứng :

    Nợ TK 141-Tạm ứng

    Có TK 111-Tiền mặt

    1. Kế toán chi phí trả trước (TK 142)

    Là khoản chi thực tế FS nhưng liên quan đến nhiều kỳ hạch toán nên phải được phân bố theo quy định hiện hành, chi phí trả trước gồm có :

    Œ Bảo hiểm trả trước, các loại lệ phí mua và trả một lần trong năm

     Trả trước về thuê tài sản, dịch vụ hoặc lao vụ cho hoạt động kinh doanh

    Ž Công cụ dụng cụ loại phân bổ dần và loại xuất dùng để trang bị lần đầu hoặc thay thế hàng loạt với giá trị lớn.

     Chi phí nghiên cứu thí nghiệm, FS sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất kinh doanh (không đủ tiêu chuẩn TSCĐVH).

     Chi phí ngừng việc

    ‘ Chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí vật liệu vận chuyển

    (ván khuôn, cốt pha, giàn giáo…) dùng trong xây dựng cơ bản.

    ’ Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ FS một lần quá lớn.

    “ Chi phí trồng mới cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần.

    ” Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển…

    Kế toán chi phí trả trước được thực hiện ở TK 142 * Nội dung và kết cấu TK 142

    – Bên Nợ :

    • Các khoản chi phí trả trước phát sinh thực tế
    • Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển.

    – Bên Có :

    24

     

    • Chi phí trả trước đã tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
    • Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
    • Số dư Nợ :
    • Chi phí trả trước chưa tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
    • Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển.

    TK 142 có 2 TK cấp II

    TK 1421-Chi phí trả trước

    TK 1422-Chi phí chờ kết chuyển

    * Trình tự hạch toán :

    – Khi phát sinh các khoản chi phí trả trước :

    Nợ TK 142 : Chi phí trả trước (1421)

    Có TK 111, 112, 152, 153, 331, 334, 338, 214…

    – Định kỳ tính dần chi phí trả trước và chi phí sản xuất kinh doanh Nợ TK 241, 627, 641, 642

    Có TK 142 (1421)-Chi phí trả trước

    – Xác định chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển (đối với

    các đơn vị có chu kỳ kinh doanh dài) vào cuối kỳ kế toán ghi :

    Nợ TK 142 (1422)

    • Khi tính toán kết chuyển Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp ở kỳ kế toán sau ghi : Nợ TK 911
              Có TK 142 (1422)                      
              SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẠM ỨNG                  
      TK 111 TK 141   TK 121, 128
                    ĐTNHạn                  
                                       
                                       
              Tạm ứng       TK152,153,161,611
      TK 112                      
                               
                                       
                  Thanh toán TK211,213,221,222,241
                                   
                                   
                  tạm ứng     TK 627, 641, 642
                                   
                                       
                                       
                                       

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ TRẢ TRƯỚC

    TK111,112,152,153,331                         TK 142-CPTT                                   TK 627,641,642

    25

     

    Chi phí trả trước

    thực tế FS

    TK 241(2413)

    Kết chuyển

    TK 641,642

    CFBH,CFQLDN

    chờ kết chuyển

    Chi phí trả trước phân bổ dần cho các đối tượng

    TK 911

    Kết chuyển CFBH,

    CFQLDN

    PHẦN II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN

    VỐN BẰNG TIỀN VÀ CÁC KHOẢN THANH TOÁN

    TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 3/ 2

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 3/2.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

    Nhà máy ô tô 3/2 được thành lập ngày 9/3/1964 taị quyết định số 185/QĐTC/ 9/3/1964 của Bộ Giao thông Vận tải do đồng chí Phạm Trọng Tuệ – cấp trên trực tiếp của nhà máy ký. Trước đây là Cục cơ khí Bộ GTVT nay là liên hiệp các xí nghiệp cơ khí GTVT – Bộ GTVT.

    Trụ sở chính đặt tại đường Giải Phóng – Phường Phương Mai – Quận Đống Đa – Hà nội.

    • Nhiệm vụ chủ yếu của nhà máy:

    Sửa chữa lớn (từ cấp phục hồi, đại tu trở xuống tất cả các loại xe du lịch và xe công tác)

    Sản xuất hàng loạt các loại phụ tùng của các loại xe con và xe tải cung cấp cho thị trường. Từ khi thành lập đến nay, nhà máy đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao, nhà máy đã được nhà nước tặng một huân chương lao động hạng II và một huân chương lao động hạng

    • về thành tích sản xuất và chiến đấu trong những năm chống Mỹ cứu nước. Được Bác Hồ và Bác Tôn gửi lẵng hoa, thời kỳ đầu của nhà máy chỉ có dưới

    26

     

    200 cán bộ CNV với vài chục máy móc thô sơ chủ yếu được phục vụ việc sửa chữa vặt và đột xuất các xe công tác cho cơ quan trung ương đóng tại HN.

    Sau đó nhà máy dần dần phát triển toàn diện và khá đồng bộ mà đỉnh cao là những năm cuối thập kỷ 80, số cán bộ công nhân viên chức lên đến gần 700 người, trong số đó số CB KHKT có trình độ ĐH và trung cấp chiếm 10% số công nhân bậc cao thuộc đủ các ngành nghề cơ khí tính từ bậc 4 đến 7/7 chiếm 18%. Nhiều loại trong thiết bị mới tương đối hiện đại được nhà nước trang bị đưa điều kiện sản xuất công nghệ cao các mặt hàng cơ khí chính xác như bộ đôi bản cao áp, các loại xe IFA, W50L, máy 3D12, D2….chính xác cấp I tổng số thiết bị có trên 200 chiếc.

    Diện tích nhà xưởng được mở rộng, có hệ thống kho tàng và đường vận chuyển nội bộ hoàn chỉnh.

    Diện tích nhà sản xuất trên 8000 m2

    2

    Diện tích kho tàng trên 1500 m2

    Về chủng loại mặt hàng cũng tăng nhanh

    Đối với khâu sửa chữa ô tô trước đây, nhà máy chỉ chuyên sửa chữa các

    loại mác xe do các nước XHCN sản xuất như : Bắc Kinh, Gat 69, Volga…

    Đến nay ngoài các mác xe cũ nhà máy đã sửa chữa lớn (có công trình công nghệ ổn định tất cả các mác xe thuộc các nước tư bản sản xuất như: toyota, nissan, pozo…..chất lượng ngày càng cao cả về kỹ thuật và mỹ thuật.

    Về phụ tùng ngày nay nhà máy có đủ thiết bị và điều kiện công nghệ để sản xuất trên 30 loại phụ tùng, cung cấp cho thị trường như bộ đôi bản cao áp các loại xe, máy diezen, roăng đệm máy các loại, còi điện 12V, gương phản chiếu….có loại sản phẩm đạt huy chương vàng trong các cuộc triển lãm kinh

    tế toàn quốc và là sản phẩm duy nhất của ngành GTVT được cấp dấu chất lượng cấp I và đang phấn đấu đạt chất lượng cao.

    Các loại sản phẩm này đã giúp cho nhà nước hạn chế phần ngoại tệ để nhập vào nước ta. Sản lượng những năm trước đây đạt trên 40 tấn phụ tùng/năm. tuy nhiên, trong những năm 1989 đến năm 1991 do yếu tố tác động nên sản lượng có giảm.Đặc biệt do việc nhập hàng ngoại từ nhiều nguồn trong các năm qua nên số lượng phụ tùng do nhà maý sản xuất giảm đáng kể.

    Trước tình hình trên, cuối năm 1991 đến nay được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ và liên hiệp cộng với sự nỗ lực của nhà máy chúng ta đã dần khôi phục lại tín nhiệm với khách hàng và đưa công tác quản lý nhà máy vào nề nếp cụ thể là:

    27

     

    Tập trung mọi cố gắng nhằm nâng cao chất lượng sửa chữa xe các loại (kỹ thuật và mỹ thuật) để đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác. Trong sửa chữa xe, sẽ đi sâu vào các mác xe do Nhật, Pháp sản xuất vì thực tế số xe do Liên Xô cũ và các nước Đông Âu sẽ giảm dần.

    Về mặt công nghệ, nhà máy sẽ đầu tư thích đáng một bộ phận sơn xấy có chất lượng cao. Tiếp tục phát huy khả năng hiện có của phân xưởng sản xuất bộ đôi bản cao áp của xe ôtô, công ty cũng đã sản xuất được nhiều bộ đôi cho đầu máy xe lửa và máy tầu thuỷ loại 3Đ12, IFA, W50L, máy 1800CV cho vận tải biển và máy tầu Na uy của thuỷ sản Hải Phòng….

    2. Đặc điểm tổ chức hoạt động SXKD của công ty cơ khí ôtô 3/2.

    Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2000 của công ty đã kết thúc nhìn nhận đánh giá chung năm 2000 thực sự là năm khởi sắc của công ty cơ khí 3/2 sau hơn 10 năm khủng hoảng do không theo kịp sự chuyển biến của cơ chế để đi vào một thời kỳ mơí, thời kỳ phát triển toàn diện. Doanh thu của năm 2000 công ty đã đạt trên 10 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần năm 1999 và đạt cao nhất so với các năm khác. Nguồn công việc đã dồi dào hơn, đặc biệt là khu vực sản xuất cơ khí, thu nhập, đời sống của người lao động cũng được nâng lên rõ rệt, vượt qua các chỉ tiêu mà đại hội CNVC đầu năm đã đề ra các chỉ tiêu về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước đều hoàn thành vượt mức. Đó là kết quả đoàn kết nhất trí, cùng sự năng động sáng tạo và quyết tâm phấn đấu của toàn thể cán bộ CNV công ty trong những năm vừa qua.

    Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2000 chúng ta có những thuận lợi khó khăn:

    • Thuận lợi: Đảng uỷ lãnh đạo công ty đoàn kết nhất trí đồng thời đề xuất những phương hướng đúng cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.

    + Ban lãnh đạo hoạt động tích cực, năng động sáng tạo

    • Bộ máy quản lý được sắp xếp lại và bổ sung tăng cường thêm đã phát huy được tốt trong công tác quản lý điều hành sản xuất kinh doanh.
    • Các cán bộ CNV trong công ty đều đồng tâm hiệp lực quyết tâm phấn đấu đưa công ty đi lên, khắc phục khó khăn.

    Được sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo và các phòng ban nghiệp vụ của Tổng công ty Bộ GTVT và các đơn vị bạn, phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã được mở rộng kể cả lĩnh vực có liên quan đến xuất nhập khẩu.

    28

     

    • Khó khăn: cũng nằm trong khó khăn chung của ngành cơ khí đó là công việc ít, sản lượng thấp, không ổn định, về năng lực còn hạn chế, về con người kể cả cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật qua nhiều năm chưa được bổ sung kiến thức hay đào tạo lại, về trang thiết bị phục vụ sản xuất hầu hết thuộc chế độ cũ, đã lạc hậu và công nghệ kém chính xác.

    Các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2000 của công ty đã có nhiều cố gắng và đạt được một số chỉ tiêu, kết quả nhất định. Cụ thể của năm

    2000 so với năm 1999 :

    1. Giá trị sản lượng Năm 2000 So   với   năm  
    – Tổng doanh thu 11.027.232.000 1999  
    244 %  
    – Sản lượng hàng hoá thực hiện 10.207.312.000
    248 %  
     
    – Sản lượng hàng hoá  
    10.895.611.000 297 %  
     
       
           
    2. Tài chính 52.000.000 520 %  
    – Lãi thực hiện
         
    – Các khoản nộp ngân sách, trong 456.709.000 517 %  
    đó:      
    + Thuế VAT 245.705.000    
    + Thuế thu nhập 10.000.000    
    6.934.000    
    + Thuế vốn    
         
    – Các khoản nộp khác 197.070.000    
    + BHXH 156.000.000    
    + BHYT    
    26.900.000    
         
           
    3. Lao động tiền lương      
    – Tổng số lao động trong danh sách 248    
    – Tổng số lao động thực tế làm việc 177 123 %  
    – Thu nhập bình quân đầu người 810.000/ng/thang 157 %  
           

    Qua số liệu 2 năm, năm 2000 so với năm 1999 ta thấy quy mô hoạt động sản xuất của năm 2000 được mở rộng đáng kể, cụ thể: doanh thu tăng gấp 2 lần so với năm 1999 điều này chứng tỏ công ty có những nguồn hàng

    29

     

    ổn định và tổ chức tốt công tác bán hàng và mua hàng, tổ chức sản xuất nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ KHKT cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng phù hợp với thị hiếu của khách hàng.

    • Thực hiện mọi cam kết trong hợp đồng kinh tế đã ký kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Mọi hoạt động sản xuất kinh doành của công ty đều được thực hiện theo các quy định, quy chế đã thông qua.
    • Về sản xuất cơ khí, năm 2000 công ty đã đầu tư trên 300 triệu đồng để mua các thiết bị hàn hiện đại gồm 14 máy hàn mác, một máy hàn TICT
    • Tổ chức sản xuất các loại khung xe máy khá đồng bộ với công nghệ hiện đại với các thiết bị thi công đồ gá, kiểm tra tự trang bị.
    • Thiết kế quy trình công, xây dựng định mức vật tư cho việc đóng mới xe ca và các loại xe hoán cải, theo yêu cầu của khách hàng.

    Phòng kỹ thuật đã phối hợp chặt chẽ với phân xưởng thiết kế quy trình công nghệ hàn khung xe Ware, Dream thiết kế các gá hàn càng, chân chống để đạt yêu cầu chất lượng và nâng cao năng suất.

    • Bán buôn, bán lẻ trên thị trường nội địa những mặt hàng thuộc phạm
    • công ty sản xuất kinh doanh.

    3. Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty.

    • Đứng đầu công ty là giám đốc do Bộ trưởng GTVT bổ nhiệm và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty trước pháp luật, trước tập thể cán bộ CNVC của công ty về việc tồn tại và phát triển cũng như các hoạt động ký kết hợp đồng thế chấp, vay vốn, tuyển dụng nhân viên, bố trí, sắp xếp lao động. Giám đốc công ty có quyền tổ chức bộ máy quản lý mạng lưới kinh doanh phù hợp với nhiệm vụ của công ty.

    Trong ban GĐ, giúp việc cho GĐ, có một đồng chí phó GĐ phụ trách sản xuất và giải quyết công việc khi GĐ đi vắng.

    Giúp GĐ có các phòng chức năng bao gồm:

    • Phòng kế hoạch vật tư làm tham mưu cho GĐ về xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, duyệt kế hoạch với cấp trên, đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện thắng lợi. Tham mưu về hướng phát triển sản xuất kinh doanh chuyển hướng sản xuất sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường về công tác tiêu thụ sản phẩm, mua sắm vật tư, phụ tùng phục vụ sản xuất và kinh doanh, luôn chăm lo tìm kiếm công việc, làm các hợp đồng kinh tế, quản lý kho vật tư phụ tùng, kho bán thành phẩm sử dụng vào khai thác.
    • Phòng kế toán, tài chính: tham mưu cho GĐ quản lý các mặt công tác tài chính, sử dụng nguồn vốn và khai thác khả năng vốn của nhà máy đạt hiệu

    30

     

    quả cao, biện pháp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trích nộp đối với nhà nước và luôn luôn chủ động chăm lo bằng mọi biện pháp để có đủ vốn phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh.

    • Phòng kỹ thuật – KCS tham mưu cho GĐ trong công tác xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao, các sản phẩm chất lượng năng xuất lao động, tiết kiệm vật tư, hạ giá thành hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật và quản lý chặt chẽ các chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, duy trì và từng bước nâng cao uy tín của nhà máy đối với khách hàng để đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác.
    • Phòng nhân chính: làm công tác hành chính, tổ chức cán bộ, lập các phương án về tổ chức sản xuất phù hợp với từng giai đoạn sử dụng lao động, cân đối lao động, phục vụ sản xuất kinh doanh, tham mưu về thực hiện các chế độ chính sách, xã hội đối với công nhân viên, xây dựng và ban hành kịp thời các quy chế trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nhà máy phù hợp với từng thời kỳ và phù hợp với chế độ chính sách của nhà nước.

    Sơ đồ bộ máy quản lý tổ chức của công ty cơ khí ô tô 3/2

    Giám đốc

    Phó Giám đốc

     

    Phòng điều độ

    sn xut

          PX sửa chữa ô tô (1)
    Phân    
       
    xưởng    
      PX sửa chữa
    lắp ráp   đóng mới ô tô (2)
       
           
          PX cơ khí
           

    Phòng kinh doanh

    Phòng tổ chức

    Phòng kế toán

    Phòng KCS

     

    31

     

    4.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và sổ sách kế toán

    4.1. Hình thức tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán tại công ty cơ khí ô tô 3/2

    1. Hình thức kế toán

    Tại Công ty cơ khí ô tô 3/2 việc tổ chức công tác kế toán công ty vận dụng theo hình thức kế toán tập trung. Theo hình thức này, công ty chỉ có một phòng kế toán chung duy nhất để tập trung thực hiện toàn bộ công việc kế toán ở công ty các phân xưởng viết bảng kê gửi lên phòng kế toán, nhân viên kế toán thu nhận, kiểm tra thứ tự ban đầu và ghi sổ. Phòng kế toán công ty thực hiện việc ghi sổ, kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để cung cấp đầy đủ, kịp thời toàn bộ các thông tin kinh tế tài chính

    Sơ đồ bộ máy tổ chức kế toán

    Kế toán trưởng

    Kế toán   Kế toán   Kế toán về    
    TSCĐ và     giá thành   Thủ quỹ
      tiền lương    
    NVL, CCDC     tiêu thụ sp    
             
                 

    Phòng kế toán của công ty gồm 5 người:

    Kế toán trưởng (trưởng phòng) phụ trách chung

    Một kế toán phụ trách về giá thành tiêu thụ sản xuất

    Một kế toán TSCĐ, vật liệu, công cụ dụng cụ

    Một kế toán tiền lương

    Một thủ quỹ

    Nhiệm vụ của phòng kế toán:

    Phòng kế toán thống kê tham mưu cho giám đốc quản lý các mặt công tác tài chính

    32

     

    Tham mưu cho giám đốc về sử dụng nguồn vốn và khai thác khả năng vốn của nhà máy đạt hiệu quả cao

    Tham mưu cho giám đốc về biện pháp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trích nộp đối với nhà nước

    Luôn luôn chủ động chăm lo bằng mọi biện pháp để có đủ vốn phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh của công ty .

    Phòng kế toán đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc và chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của kế toán trưởng (trưởng phòng kế toán ). Phòng kế toán tài chính có chức năng quản lý chặt chẽ chế độ hạch toán và chế độ quản lý tài chính trong toàn nhà máy .

    1. Chức năng và nhiệm vụ của từng người trong phòng kế toán
    • Kế toán trưởng (là người phụ trách chung, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát mọi việc trên sổ sách kế toán) chịu trách nhiệm trước giám đốc về toàn bộ hoạt động công tác của nhà máy
    • Trực tiếp phụ trách khâu hạch toán sản xuất kinh doanh của toàn nhà

    máy

    • Lập báo cáo quyết toán quý, năm, theo chế độ quy định
    • Lập báo cáo tháng, quý, năm theo yêu cầu của cấp trên và toàn nhà nước
    • Ký toàn bộ các chứng từ giao dịch với ngân hàng, các chứng từ thu chi toàn nhà máy
    • Là thành viên hội đồng giá, hội đồng nâng lương, hội đồng kiểm kê tài sản của nhà máy hàng năm
    • Thực hiện các công tác đột xuất khi giám đốc giao
    • Kế toán thanh toán – giá thành – tiêu thụ sản phẩm.
    • Theo dõi các khoản tiền gửi, tiền vay ngân hàng, với ngân sách, với khách hàng mua hàng.
    • Ghi chép theo dõi lên nhật ký số 2, 4, 5 bảng kê số 2, 3
    • Ghi chép phản ánh tổng hợp hoá đơn tiêu thụ sản phẩm xác định lỗ lãi về tiêu thụ sản phẩm.
    • Lên báo giá cho khách hàng
    • Tham gia kiểm kê thành phẩm, hàng gửi đi bán
    • Kế toán vật liệu, TSCĐ và công cụ lao động
    • Ghi chép phản ánh tình hình nhập xuất vật liệu công cụ lao động nhỏ, xác định số lượng và giá trị vật liệu tiêu hao thực tế của công cụ, phân bổ vật liệu

    33

     

    • Kiểm tra việc chấp hành bảo quản nhập xuất vật tư, phụ tùng. Phát hiện kịp thời những vật tư, phụ tùng kém phẩm chất, thừa thiếu báo cáo với trưởng phòng có biện pháp xử lý
    • Ghi chép theo dõi phản ánh tổng hợp về số lượng và giá trị tài sản cố định hiện có, tình hình tăng giảm TSCĐ, trích và phân bổ khấu hao hàng tháng theo chế độ quy định
    • Lên hoá đơn thanh toán với khách hàng
    • Tham gia kiểm kê vật tư tài sản theo quy định

    – Kế toán thanh toán với CNVC

    • Hàng tháng thanh toán lương sản phẩm cho các phân xưởng, lương thời gian cho các phòng ban, thanh toán bảo hiểm xã hội cho CNV và theo dõi các khoản khấu trừ qua lương
    • Quyết toán bảo hiểm XH, quý năm theo chế độ
    • Theo dõi trích khoản tạm ứng cho CNVC và các khoản phải thu, phải

    trả.

    • Viết phiếu thu, phiếu chi hàng tháng
    • Tham gia công tác kiểm kê vật tư, tài sản theo định kỳ
    • Thủ quỹ:
    • Lĩnh tiền mặt tại ngân hàng và thu các khoản thanh toán khác
    • Chi tiền mặt theo phiếu chi, kèm theo chứng từ gốc đã được giám đốc và trưởng phòng kế toán duyệt
    • Lập bảng kê và mở sổ theo dõi thu chi quỹ tiền mặt hàng ngày.
    • Tham gia kiểm kê vật tư tài sản theo định kỳ.

    4.2. Hình thức sổ kế toán.

    Là một dơn vị nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác kế toán hiện nay ở công ty được áp dụng theo chế độ kế toán do Bộ tài chính quy định.

    Về tình hình sổ sách kế toán công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ trong nhiều năm qua để ghi sổ kế toán. hình thức này hoàn toàn phù hợp với mô hình hoạt động kinh doanh và trình độ kế toán của nhân viên kế toán công ty. Hình thức này đã giúp kế toán công ty nâng cao hiệu quả của kế toán viên, rút ngắn thời gian hoàn thành quyết toán và cung cấp số liệu cho quản lý. Các hoạt động kinh tế tài chính được phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại để ghi vào các sổ nhật ký chứng từ. Cuối tháng tổng hợp số liệu từ các nhật ký chứng từ để ghi vào sổ cái các tài khoản.

    34

     

    Trình tự ghi sổ theo hình thức nhật ký chứng từ:

    Chứng từ gốc, bảng phân

    Bảng kê   Nhật ký chứng từ   Sổ chi tiết
             
      Sổ cái     Bảng tổng hợp chi
                 
                 

    Báo cáo tài chính

    Đối chiếu

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Hình thức nhật ký chứng từ có ưu điểm: giảm nhẹ khối lượng công việc ghi sổ kế toán do việc ghi theo quan hệ đối ứng ngay trên tờ sổ, kết hợp kế toán toán tổng hợp và kế toán đối chiếu tiến hành dễ dàng hơn, kịp thời cung cấp số liệu cho việc tổng hợp tài liệu để lập báo cáo tài chính, tuy nhiên hình thức này còn có nhược điểm mẫu sổ phức tạp nên đòi hỏi cán bộ CNV có trình độ chuyên môn vững vàng không thuận tiện cho cơ giới hoá, kế toán.

    II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ HẠCH TOÁN VỐN BẰNG TIỀN

    A. Lý luận chung

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền đến với các doanh nghiệp là loại vốn rất cần thiết không thể thiếu được, đặc biệt trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý và tự chủ về tài chính thì vốn bằng tiền càng có vị trí quan trọng. Thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao. Vốn bằng tiền là một loại vốn có tính lưu động nhah chóng vào mọi khâu của quá trình sản xuất. Trong điều kiện hiện nay doanh

    35

     

    nghiệp càng phải có kế hoạch hoá cao việc thu, chi tiền mặt, việc thanh toán qua ngân hàng, không những đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà còn tiết kiệm được vốn lưu động, tăng thu nhập cho hoạt động tài chính, góp phần quay vòng nhanh của vốn lưu động.

    Vốn bằng tiền bao gồm:

    • Tiền mặt: TK 111
    • Tiền gửi ngân hàng: TK 112
    • Tiền đang chuyển: TK 113

    Vốn bằng tiền là loại vốn được xác định có nhiều ưu điểm nhưng đây cũng là lĩnh vực mà kế toán thường mắc thiếu sót và để xảy ra tiêu cực cho nên cần phải tổ chức quản lý chặt chẽ và có hiệu quả loại vốn này.

    1. Nguyên tắc về kế toán vốn bằng tiền các nghiệp vụ thanh toán, vay ngân hàng
    • Kế toán vốn bằng tiền phải tuân thủ:

     

    • Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và chế độ quản lý, lưu thông tiền tệ hiện hành của Nhà nước.
    • Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số hiện có và tình hình thu chi toàn bộ các loại vốn bằng tiền của đơn vị hàng ngày.
    • Kế toán phải sử dụng thống nhất một đơn vị tiền tệ là đồng ngân hàng Việt nam.
    • Kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng loại vốn bằng tiền, từng loại ngoại tệ.
    • Hạch toán nguồn vốn tín dụng phải cần thuân thủ các nguyên tắc sau:

     

    • Mọi khoản vay ngoại tệ phải được phản ánh theo nguyên tắc tiền tệ và đồng Việt Nam. Trường hợp vay bằng vàng bạc, đá quý phải được phản ánh chi tiết theo từng loại về số lượng và giá trị.
    • Mọi khoản vay phải được theo dõi chi tiết theo các hình thức vay, vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn hoặc các đối tượng khác. Trong từng hình thức vay phải theo dõi cho từng loại vay.
    • Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán phải tuân thủ các nguyên tắc:

     

    • Hạch toán các quan hệ kinh tế thuộc nghiệp vụ thanh toán phải chi tiết cho từng đối tượng có quan hệ tài chính vốn đơn vị. Đến cuối kỳ hạch toán phải tính số công nợ cho từng đối tượng.
    • Kế toán có nhiệm vụ tổ chức ghi chép và theo dõi chặt chẽ các khoản nợ phải thu, phải trả có biện pháp đôn đốc chi, trả và thu hồi kịp thời các khoản công nợ.
    • Nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật thanh toán và thu nộp ngân sách. Giải quyết dứt khoát công nợ dây dưa. Xử lý đúng đắn các khoản nợ không có khả năng đòi được hoặc không có ai đòi.
    1. Quá trình hạch toán nghiệp vụ

     

    36

     

    • Kế toán vốn bằng tiền và tiền vay

    Vốn bằng tiền là một phần của vốn lưu động và vốn khác bao gồm:

    Tiền mặt: TK 111

    Tiền gửi ngân hàng: TK 112

    Tiền đang chuyển: TK 113

    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp thường phát sinh các nghiệp vụ thanh toán giữa doanh nghiệp với các tổ chức, cá nhân, cung ứng vật tư, hàng hoá, quan hệ kinh tế vốn ngân hàng và các đối tượng khác ngoài ngân hàng như các tổ chức kinh tế quốc doanh và tập thể các khoản tiền vay và thanh toán tiền vay. Tất cả các quan hệ thanh toán nói trên đều thực hiện chủ yếu bằng tiền. Vốn bằng tiền của đơn vị nói chung đều được gửi tập trung ở ngân hàng, một phần nhỏ để lại ở đơn vị phục vụ các chi tiêu phát sinh trong quản lý sản xuất kinh doanh. Tiền mặt của công ty được tập trung tại quỹ. Mọi nghiệp vụ thu- chi tiền mặt đều căn cứ vào chứng từ thu, chi hợp lệ chứng minh tất cả các khoản thu- chi ngân phiếu, tiền mặt đều phản ánh vào tài khoản 111.

    N TK 111
       
    Các khon thu v tin Các khon chi v tin
    mt,  chng  t tín mt,  chng t  tín
    phiếu có giá tr vàng, phiếu có giá tr vàng,
    bc, đá quý   bc, đá quý  
         
        S dư: Phn ánh s
        tin hin có ca doanh
        nghip (đầu) hoc cui
        k.  
           

    QUÁ TRÌNH HẠCH TOÁN TK 111 THEO HÌNH THỨC NKCT

    NKCT 1   S cái TK 111
         
    Chng t gc S qu
    Bng kê s 1   Báo cáo kế
        toán
         

    37

     

    Hàng ngày hoặc định kỳ căn cứ vào các chứng từ thu- chi tiền mặt để lên sổ quỹ tiền mặt (kiêm báo cáo quỹ) kế toán tiền mặt làm nhiệm vụ:

    • Kiểm tra sổ quỹ về cách ghi và số dư
    • Phân loại chứng từ có TK 111, nợ các TK liên quan để ghi vào nhật ký chứng từ số 1. Đối ứng nợ TK 111 có các TK liên quan ghi vào bảng kê số 1. Trên bảng kê số 1 phản ánh số dư cuối tháng của bảng này tháng trước bằng số dư đầu tháng của bảng trong tháng này.

    Cuối tháng khoá sổ nhật ký chứng từ số 1 và bảng kê số 1 để đối chiếu với các NKCT và các bảng kê có liên quan.

    Tiền gửi ngân hàng là một bộ phận chủ yếu của vốn bằng tiền mà doanh nghiệp ký gửi tại ngân hàng. Doanh nghiệp phải gửi tất cả vốn bằng tiền vào ngân hàng (ngoài số tiền để lại doanh nghiệp). Việc gửi rút hoặc trích để chi trả bằng tiền ngân hàng phải có chứng từ nộp, lĩnh hoặc có chứng từ thanh toán thích hợp với các thể thức thanh toán và phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được phản ánh vào TK 112. Tài khoản này phản ánh tình hình tăng giảm và còn lại của tất cả các khoản tiền của doanh nghiệp gửi tại ngân hàng gồm tiền gửi về vốn lưu động, tiền gửi về vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tiền gửi về các quỹ xí nghiệp và các khoản kinh phí khác.

    Hàng ngày sau khi nhận được các bảng sao kê ngân hàng kèm theo các giấy báo nợ, báo có kế toán phải kiểm tra lại toàn bộ các chứng từ sau đó căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để định khoản trên các giấy báo nợ, có và các bảng sao kê. Đối với các tài khoản đối ứng có, có liên quan đến nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong bảng sao kê phải tiến hành phân loại và tổng hợp số liệu kết quả. Sau khi tổng hợp định khoản trên bảng sao kê được sử dụng để ghi vào NKCT số 2 và bảng kê số 2. Quá trình hạch toán TK 112 được phản ánh dưới sơ đồ sau:

    Chng t gc

    Bng kê s 2   S chi tiết   NKCT s 2
        tin gi    
             

    Báo cáo

    kế toán

    S cái

     

    38

     

    Ngoài 2 tài khoản 111 và tài khoản 112 còn có tài khoản 113 tiền đang chuyển: Là khoản tiền đã xuất khỏi quỹ của doanh nghiệp để chuyển vào ngân hàng nhưng chưa nhận được giấy báo có của ngân hàng. Tiền đang chuyển gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ được phản ánh vào NKCT số 3. ở công ty cơ khí ô tô 3/2 không hạch toán TK vì thực tế việc luân chuyển chứng từ (tiền đi trên đường) ảnh hưởng không lớn đối với chu kỳ sản xuất nên bỏ qua.

    Nguồn vốn tín dụng bao gồm

    • Vay ngắn hạn ngân hàng: TK 311, là loại tiền vay thời hạn không quá 9 tháng kể từ lúc nhận tiền vay đến lúc trả. Vay ngắn hạn ngân hàng nhằm mục đích mua vật tư, thiết bị cho quá trình xây dựng cơ bản. Mức lãi tiền vay phải căn cứ vào các quy định của ngân hàng Nhà nước. Mọi khoản vay ngân hàng phải được phản ánh riêng biệt các khoản vay khác nhau.
    • Vay đối tượng khác: TK 341

    Phản ánh tình hình vay và trả nợ tiền vay giữa công ty với các đối tượng khác ngoài ngân hàng như các tỏ chức kinh tế quốc doanh, tập thể và các cá nhân. Mức lãi tính theo sự thoả thuận.

    TK 311 và TK 341 đều được ghi vào NKCT số 4. Quá trình hạch toán vốn bằng tiền và tiền vay theo hình thức NKCT được thể hiện theo sơ đồ sau:

    Chng t gc

    Báo cáo qu   Bng sao kê ngân   Giy báo n
        hàng   ca ngân hàng
             
    NKCT   Bng   NKCT   Bng   NKCT   S chi
    s 1   kê 1   s 2   kê 2   s 4   tiết
                         

    S cái

    39

     

    • Kế toán các nghiệp vụ thanh toán

    Loại tài khoản này phản ánh các nghiệp vụ trong hoạt động kinh tế, quan hệ kinh tế giữa công ty và Nhà nước, với cấp trên, với bên ngoài, với các bộ phận và cá nhân trong nội bộ xí nghiệp.

    • Thanh toán với các tổ chức kinh tế và các đoàn thể xã hội.
    • Thanh toán với Nhà nước về các khoản nghĩa vụ phải nộp và các khoản được cấp trên cấp phát, trợ cấp.
    • Thanh toán với nội bộ trong công ty về các khoản cấp phát, thu nộp, tiền chuyển tài sản, vốn, vật tư.
    • Thanh toán với cán bộ công nhân viên chức về tiền lương, tiền thưởng và bảo hiểm xã hội, các khoản phảu thu phải trả.

    TRÌNH TỰ CHUNG GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC NKCT

    Chng t gc và

    các bng phân b

    Bng kê   NKCT   S kế toán chi tiết
             
    S cái   Bng tng hp
        chi tiết
         

    Báo cáo kế toán

    B. Thực tế thu hoạch tại công ty cơ khí ô tô 3/2

    1. Hạch toán quỹ tiền mặt

    40

     

    Trong công ty hàng ngày phát sinh các khoản thu, chi bằng tiền mặt tất cả các khoản đó phải có lệnh thu, chi do giám đốc và kế toán trưởng của công ty ký. Khi đó thủ quỹ xuất tiền, căn cứ vào các chứng từ thu, chi kế toán lên sổ quỹ tiền mặt. Trong quý I năm 2000 có rất nhiều nghiệp vụ thu, chi quỹ tiền mặt. Em xin nêu ví dụ sổ quỹ tiền mặt của thủ quỹ. Chứng từ ban đầu của sổ quỹ và phiếu thu, phiếu chi. Phiếu thu, chi là tập hợp của một chứng từ hoặc nhiều chứng từ. Riêng phiếu chi của thủ quỹ nộp ngân hàng là dựa trên bảng kê các loại tiền nộp viết làm 3 liên.

    • Giấy nộp tiền của thủ quỹ viết làm 2 liên, ngân hàng trả lại 1 liên. Bảng kê các loại có kèm theo chữ ký của người thu tiền. Những chứng từ chi tiêu đều được thủ trưởng công ty duyệt, những chứng từ chi tiền mặt trên 50.000 đồng phải có hoá đơn tài chính. Phiếu chi viết làm 2 liên, 1 liên ở sổ gốc, 1 liên để thủ quỹ chi tiêu.

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU THU

    Số 92

    Ngày 1 tháng 2 năm 2000

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nộp tiền: Lưu Thị Vân Nga

    Địa chỉ: Phòng kế toán công ty cơ khí ô tô 3/2

    Lý do nộp: Tiền vay ngân hàng

    Số tiền: 300.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Ba trăm triệu đồng chẵn

    Kèm theo: Chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 300.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Ba trăm triệu đồng chẵn

          Ngày 1 tháng 2 năm 2000
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nộp
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    PHIẾU TẠM ỨNG

    Tên tôi là: Nguyễn Hoà Bình

    Bộ phận công tác: Phòng sản xuất kinh doanh

    Đề nghị tạm ứng: 10.000.000 đồng

    Lý do: Mua vật tư

    Thời hạn thanh toán: 17/4/2000

    41

     

      Ngày 13 tháng 2 năm 2000
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người xin tạm ứng
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU CHI

    Ngày 13 tháng 2 năm 2000

    Số:

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nhận tiền: Nguyễn Hoà Bình

    Địa chỉ: Phòng sản xuất kinh doanh

    Lý do chi: Tạm ứng mua vật tư

    Số tiền: 10.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Mười triệu đồng chẵn)

    Kèm theo: 1 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: (Viết bằng chữ: Mười triệu đồng chẵn)

    Ngày 13 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    HOÁ ĐƠN KIÊM PHIẾU NHẬP

    Ngày 15 tháng 2 năm 2000

    Nợ: 53

    Có 141

    Tên người nhận: Bình Phòng kinh doanh . CMT số:

    Tên và địa chỉ khách hàng:

    Theo hợp đồng số:                     ngày           tháng              năm

    42

     

    Phương thức bán: Nhập tại kho

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt

    TT Tên, nhãn hiệu quy Đơn vị Số Đơn Thành tiền
      cách vật tư sản phẩm tính VTSP lượng giá  
                 
    1 Chấn lưu Việt Hung cái   4   100.000
    2 Bóng đèn 12   1   50.000
    3 Khởi động từ LX 40W   1   4.000.000
    4 Bộ bấm đảo chiều LX   1   1.000.000
    5 Công tắc 3 pha 25   1   350.000
    6 5m dây cứng bộ   1   500.000
                 
      Cộng         6.000.000

    Cộng thành tiền (bằng chữ): Sáu triệu đồng chẵn.

        Nhập ngày 15 tháng 2 năm 2000  
    Thủ trưởng đơn vị Phụ trách cung Kế toán trưởng Người nhập Thủ kho
    (Ký, đóng dấu) tiêu (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU CHI

    Ngày 19 tháng 2 năm 2000

    Số: 113

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nhận tiền: Nguyễn Trí Dũng

    Địa chỉ: Phòng sản xuất kinh doanh

    Lý do chi: Tạm ứng trả tiền mua hộp xích (300 chiếc)

    Số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn)

    Kèm theo: chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn) Ngày 19 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng  Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu)      
      43    
      (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
    Kế toán định khoản:        
    Nợ TK 141: 5.000.000 đồng      
    Có TK 111: 5.000.000 đồng      
    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ      
    Ô TÔ 3/2        
      PHIẾU CHI    
      Ngày 20 tháng 2 năm 2000    
      Số: 114    
        Nợ:    
        Có:    
    Họ tên người nhận tiền: Bùi Thị Sửu      
    Địa chỉ: Tổng công ty cơ khí GTVT      
    Lý do chi: Sơ kết công tác nữ công năm 1999 và giao lưu văn hoá  
    Số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn)    
    Kèm theo: chứng từ gốc      
    Đã nhận đủ số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn)  
        Ngày 20 tháng 2 năm 2000  
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Kế toán định khoản:

    Nợ TK 821: 5.000.000 đồng

    Có TK 111: 5.000.000 đồng

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU CHI

    Ngày 2 tháng 2 năm 2000

    Số: 115

    44

     

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nhận tiền: Nguyễn Hoà Bình

    Địa chỉ:

    Lý do chi: Tạm ứng mua vật tư

    Số tiền: 3.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Ba triệu đồng chẵn)

    Kèm theo: 01 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 3.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Ba triệu đồng chẵn)

    Ngày 21 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Kế toán định khoản:

    Nợ TK 152: 3.000.000 đồng

    Có TK 111: 3.000.000 đồng

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ QUỸ TIỀN MẶT

    Ngày  tháng 2 năm 2000

    Đơn vị: đồng

    SHCT Diễn giải TK đối Số tiền  
    Thu Chi   ứng Thu   Chi
         
                 
        Tồn quỹ đầu tháng   2.282.470    
    92   Vay ngân hàng 311 3.000.000.000    
      110 Bình tạm ứng mua vật tư 141     10.000.000
      111 Bình nhập vật tư 141     6.000.000
      112 Anh Hưng xuất vật liệu 131 15.000.000    
      113 Dũng tạm ứng mua xích 141     5.000.000
      114 Sửu sơ kết công tác nữ công 811     5.000.000
        45        
      115 Bình tạm ứng mua vật tư 141   3.000.000
      116 Sửu thanh toán tiền lương cho 334   55.000.000
        các phân xưởng      
      117 Hiền tạm ứng đi công tác 141   14.000.000
      118 Thanh tạm ứng mua lốp xe ô 141   25.000.000
             
      119 Hoà tạm ứng mua sắt 141   25.000.000
      120 Bình tạm ứng mua khí CO2 141   30.000.000
               
        Cộng phát sinh   317.282.470 178.000.000
        Tồn cuối tháng   139.282.470  

    Đã kiểm tra đủ chứng từ

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 111- Tiền mặt

    Số dư đầu năm

    Nợ                    Có

    2.282.470

    Thủ quỹ

    (Ký, họ tên)

    Đơn vị: Đồng

    Ghi có các TK đối ứng, Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    nợ TK này        
    131   15.000.000    
    311   300.000.000    
             
    Cộng số phát sinh nợ   315.000.000    
    Tổng số phát sinh có        
             

    46

     

    Số dư   cuối Nợ   139.282.470    
    tháng        
             

    Ngày           tháng              năm 2000

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    Mỗi báo cáo quỹ được ghi 1 dòng trên NKCT số 1 theo thứ tự thời gian. Về phân chi (ghi có TK 111) hàng ngày ghi 1 dòng vào NKCT số 1 chi tiết cho từng cá nhân.

    • Căn cứ vào sổ quỹ tiền mặt (từ tờ kê chi tiết) về phần thu hàng ngày kế toán ghi 1 dòng vào bảng kê số 1. Trên bảng kê số 1 ngoài phần phản ánh số phát sinh bên nợ TK 111 đối ứng với các tài khoản ghi có còn phải phản ánh số dư đầu tháng, số dư cuối tháng và số dư cuối mỗi ngày.

    Đầu tháng khi mở bảng kê số 1 căn cứ vào số dư cuối tháng trước của TK 111 để ghi vào phần số dư đầu tháng này. Số dư cuối tháng được tính bằng số dư cuối tháng trước cộng với số phát sinh nợ trong tháng trên bảng kê số 1 trừ đi số phát sinh có trên NKCT số 1.

    1. Hạch toán tiền gửi ngân hàng

    Mhư phần lý luận thì hàng ngày sau khi nhận được các bảng sao kê ở ngân hàng kèm theo các giấy báo nợ, có. Kế toán có nhiệm vụ kiểm tra lại toàn bộ các chứng từ sau đó căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để định khoản trên các giấy báo nợ, có vào bảng thu, chi ngân hàng.

    GIẤY NỘP TIỀN

    Ngày 7 tháng 2 năm 2000

    Người nộp: Trịnh Hoài Anh    
    Địa chỉ: Công ty cơ khí ô tô 3/2    
       
    Người nhận: TK có  
    Địa chỉ:
    S: 710 A. 00023  
         
    Nộp tại: Ngân hàng công thương S tin:  
    Đống Đa
    36.000.000  
         

    Nội dung nộp: Trả nợ gửi

    Bằng chữ: Ba mươi sáu triệu đồng chẵn.

    Ngân hàng B gửi ngày 12/2                                             Trả tiền 14/2/2000

    47

     

    Người nhận Thủ quỹ Kế toán Kiểm soát
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    UỶ NHIỆM CHI

    Ngày 14 tháng 2 năm 2000

    Tên đơn vị trả tiền: Ngân hàng công thương Đống Đa

    Số TK: 011B.00023                                                     TK N: 011B.00023

    TK Có: 710A.00023

    S tin bng s:

    Tại : NHCT Đống Đa

    Tên người nhận: Công ty cơ khí

    ô tô 3/2

    Bằng chữ: Ba mươi sáu triệu đồng chẵn

    Đơn vị trả tiền Ngân hàng A Ngân hàng B
    Kế toán trưởng Ghi rõ 12/2/2000 Ghi rõ 14/2/2000
    (Ký, họ tên) Kế toán trưởng Kế toán trưởng
     
      (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG    
    VIỆT NAM    

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

    KHẾ ƯỚC NHẬN NỢ

    1. Họ và tên người nhận tiền vay: Nguyễn Trí Dũng
    1. CMND số 011348748. Cấp ngày 18/7/1995 Tại Hà Nội
    1. Tổng số tiền ngân hàng chấp thuận cho vay theo giấy đề nghị vay vốn ngày 10/2/1999.
    1. Dư nợ đến ngày xin vay: 70.000.000 đồng
    1. Số tiền nhận nợ lần này: 90.000.000 đồng

    (Chín mươi triệu đồng chẵn)

    Nhận bằng chuyển khoản

    48

     

    1. Mục đích sử dụng tiền vay
    1. Thời hạn trả nợ cuối cùng: 6 tháng
    1. Kế hoạch trả nợ cụ thể là: Từ 24/5/1999 – 29/2/2000
    1. Lãi suất vay vốn: 1,75%/ tháng
    1. Lãi nợ quá hạn: 2,625% /tháng
    Người nhận Cán bộ tín dụng Trưởng phòng Giám đốc
    tiền vay (Ký, họ tên) tín dụng ngân hàng
    (Ký, họ tên)   (Ký, họ tên) (Ký, đóng dấu)
       

    PHIẾU CHUYỂN KHOẢN

    Ngày29/2/2000

    Tên TK Nợ: Công ty cơ khí ô tô 3/2    
       
    Tên TK có: Vay ngắn hạn N: 011B.00023  
    Số tiền: Chín mươi triệu đồng
    STK: 710A.00023  
     
    Trích yếu: Thu nợ khế ước16/5/1999    
    Có:  
     
      STK: 011B.00023  
      S tin bng s:  
      90.000.000  
         
    Người lập phiếu Kiểm soát Kế toán trưởng Giám đốc
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) ngân hàng
          (Ký, đóng dấu)

    PHIẾU CHI

    Ngày 28/2/2000

    TK Ghi nợ: 642

    Xuất cho: Bưu điện Đống Đa

    Bộ phận công tác:

    Về khoản: Trả tiền cước phí điện thoại

    Số tiền: 449.695 đồng.               HĐ số:

    (Bốn trăm bốn chín nghìn sáu trăm chín lăm đồng)

    Kèm theo 1 chứng từ gốc

    49

     

    Số séc: 16579      
    Nhận ngày 29/2/2000      
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người nhận Thủ quỹ
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

    Chi nhánh: NHCT Đống Đa

    Số bảng kê:

    CHỨNG TỪ THANH TOÁN TIỀN HÀNG

    (PAYMENT DOCUMENT)

    Kiêm giấy báo nợ khách hàng

    Ngày 29/2/2000

    Đơn vị tại ngân hàng (customes of bank A): Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Số hiệu tài khoản tại ngân hàng A (the accont no in bank A): 710A.00023

    Đơn vị tại ngân hàng B (customes of bank B): Bưu điện Đống Đa

    Số hiệu tài khoản tại ngân hàng B (the accont no in bank B): 710A.00103

    Số tiền bằng số: (Volume in numerics ): 449.695

    Số tiền bằng chữ: (Volume in numerics ): Bốn trăm bốn chín ngàn sáu trăm chín lăm đồng.

    Nội dung: (explaination): 6M 16579 CK 28/2/2000

        Ngày 29/2/2000
    Thanh toán viên Kiểm soát Kế toán trưởng
    (account tant) (controller) (Head of accounding)
      UỶ NHIỆM THU  
      Ngày 29/2/2000  

    Số AH 1701

    Tên đơn vị mua hàng: Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Số TK tại ngân hàng: 710A.00023

    Tại NHCT Đống Đa- Hà Nội

    Tên đơn vị bán hàng: Bưu điện Đống Đa

    50

     

    Số TK tại ngân hàng: 710A.00103

    Tại NHCT Đống Đa- Hà Nội

    Hợp đồng số: 16579     Ngày 26/4/1998

    Số lượng từng loại chứng từ kèm theo: 1/5

    Số tiền chuyển: 449.695

    Bằng chữ: Bốn trăm bốn chín nghìn sáu trăm chín lăm đồng.

    Tổng số tiền chuyển: 449.695

    Đơn vị bán:

    MS: 0219 x 27      
    Ngân hàng bên bán nhn chng t   Ngân hàng bên mua nhn ngày 29/2
     
    ngày 28/2 đã kim soát và gi đi   Thanh toán ngày 29/2/2000
      ngày 29/2   Th qu Kế toán trưởng
    Kế toán trưởng   (Ký, h tên) (Ký, h tên)
    (Ký, h tên)      
           
    Ngân hàng bên bán      
    Thanh toán ngày 29/2/2000      
    Th qu Kế toán trưởng      
    (Ký, h tên) (Ký, h tên)      
             

    Một tháng tiền lãi của công ty cơ khí ô tô 3/2

    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    BẢNG KÊ TÍNH LÃI CHI TIẾT

    Từ ngày 26/1-  29/2/2000

    Số hiệu TK: 710.00023

    Tên TK: Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Từ ngày Đến ngày Số ngày Tiền gửi Tiền lãi Lãi suất
               
    26/1 29/1 3 27.292.607 19.105,00 0,7
    29/1 30/1 1 26.710.707 6.232,00 0,7
    30/1 31/1 1 21.744.407 5.073,00 0,7
    31/1 3/2 3 13.227.407 9.259,00 0,7
    3/2 7/2 4 31.977.707 29.845,00 0,7
          51    
    7/2 10/2 3 83.273.407 58.291,00 0,7
    10/2 14/2 4 13.273.407 12.389,00 0,7
    14/2 28/2 14 49.273.407 100.960,00 0,7
    28/2 29/2 1 109.273.407 25.497,00 0,7
               
        Cộng 376.046.463 326.651,00  

    52

     

    Người lập bảng Kiểm soát Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký tên, đóng dấu)

    Số lãi

    phải trả

    =    Số nợ gốc      x      Lãi xuất tháng     x

    phải trả 30
     
    SỔ THEO DÕI CHI TIỀN GỬI NGÂN HÀNG
    Tháng 2 năm 2000  
    Ghi có TK 112  
    Ghi nợ các TK….  

    Số ngày sử

    dụng vốn vay

      TT Ngày Diễn giải Ghi có TK 112, ghi nợ các TK
              TK 311 TK642 ….. Cộng có
                    TK 112
      1 10/2 Ngân hàng CTĐĐ thu 70.000.000     70.000.000
          nợ khế ước 10/4/1999        
          (vay ngắn hạn)        
      2 29 NHCTĐĐ thu nợ khế 90.000.000     90.000.000
          ước (10/2/1999)        
      3   Bưu  điện  Đống  Đa   449.695   449.695
          (cước điện thoại)        
                     
          Cộng 160.000.000 449.695   160.449.695
          SỔ THEO DÕI THU TIỀN GỬI NGÂN HÀNG  
          Tháng 2 năm 2000      
          Ghi nợ TK 112,      
          Ghi có các TK…..      
          Số dư: 13.227.407      
               
      TT Ngày Diễn giải   Ghi nợ TK 112, ghi có các TK

    53

     

          TK 111 TK 131 TK 711 Cộng nợ
                TK 112
    1 3/2 XN T8 mua hàng   18.750.00   18.750.000
            0    
    2 7/2 NM Z133 mua hàng   1.296.000   1.296.000
        CTy nộp 50.000.000     50.000.000
        TGNHCTĐĐ        
    3 14/2 Cty nộp TM gửi 36.000.000     36.000.000
        NHCTĐĐ        
    4 28/2 Cty nộp TM gửi 60.000.000     60.000.000
        NHCTĐĐ        
    5 29/2 NHĐĐ trả lãi tiền     326.651 326.651
        gửi        
        Cộng 146.000.00 20.046.00 326.651 166.372.65
          0 0   1

    Số dư cuối kỳ: 19.150.363

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 131

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    13.227.407

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    TK này        
    111   146.000.000    
    131   20.046.000    
    711   326.651    
             
    Cộng số phát sinh nợ   166.372.651    
             

    54

     

    Tổng số phát sinh có 440.170.279
    Số dư   cuối Nợ 19.150.363
         

    tháng

    Ngày 31 tháng 12 năm 2000

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    Đối với các khoản đối ứng có, có liên quan đến nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong bảng sao kê, phải tiến hành phân loại và tổng hợp số liệu kết quả. Sau khi tổng hợp định khoản trên bảng sao kê được sử dụng để ghi vào NKCT số 2 và bảng kê số 2.

    Cơ sở để vào NKCT số 2 là bảng kê sao kê ngân hàng, hàng ngày bảng sao kê của ngân hàng có kèm theo chứng từ và giấy báo nợ, có (uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu). Giấy nộp tiền của công ty do thủ quỹ tự lập nộp ra ngân hàng.

    Bảng kê nộp séc của công ty kế toán dựa vào bảng sao kê ngân hàng kểm tra đối chiếu với chứng từ gốc và căn cứ vào nội dung của chứng từ tiến hành định khoản ngay trên bảng sao kê. Mỗi ngày bảng sao kê được ghi vào 1 dòng của NKCT số 2 và bảng kê số

    1. Trên bảng kê số 2 ngoài phần phản ánh số dư đầu tháng, cuối tháng còn phản ánh số phát sinh nợ TK 112. Cuối tháng sau khi phản ánh toàn bộ số phát sinh nợ và có vào NKCT từ bảng kê, kế toán tiên shành đối chiếu khớp tổng số phát sinh có, nợ TK 112 theo hàng ngang cột dọc và khớp với các NKCT và bảng kê có liên quan. Số liệu tổng cộng trên NKCT số 2 được sử dụng để ghi vào sổ cái (có TK 112, nợ các Tk khác).
    1. Hạch toán tiền vay

    Các nghiệp vụ vay được hạch toán vào TK 311 trên NKCT số 4. NKCT số 4 ngoài phần ghi có TK 311 nợ các TK liên quan. Phần theo dõi ghi nợ các TK tiền vay đối ứng có các TK liên quan. Có sổ để ghi NKCT số 4 đối vốn các khoản tiền vay ngân hàng TK 311 là các giấy báo nợ, có của ngân hàng. Ngoài phần phản ánh số phát sinh trên NKCT số 4 còn phản ánh số dư đầu tháng và số dư cuối tháng của các khoản tiền vay.

    Số liệu tổng cộng của NKCT số 4 cuối tháng được sử dụng để ghi vào sổ cái TK

    311.

    • Nội dung kết cấu TK 311

    Bên Nợ: Phản ánh số tiền đã trả về khoản vay ngắn hạn. Số tiền giảm nợ vay do tỷ giá hối đoái (Nợ ngoại tệ)

    Bên Có: Phản ánh số tiền vay ngắn hạn. Số tiền tăng nợ vay do tỷ giá hối đoái tăng.

    Số dư bên có: Phản ánh số tiền còn nợ về các khoản vay ngắn hạn chưa trả.

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    55

     

    PHIẾU THU

    Số 20

    Ngày 27 tháng 1 năm 2000

    TK ghi có: 311

    Họ tên người nộp tiền: Lương Hoà

    Địa chỉ: Phân xưởng cơ khí

    Lý do nộp: Mua thép

    Số tiền: 100.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Một trăm triệu đồng chẵn

    Kèm theo: 1 Chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 100.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Một trăm triệu đồng chẵn

    Số séc: 17269

    Ngày 1 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nộp
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ      
    Ô TÔ 3/2        
      PHIẾU THU    
        Số 21    
      Ngày 29 tháng 2 năm 2000    
      Tk ghi Có: 311    
    Họ tên người nộp tiền: Anh Thắng      
    Địa chỉ: Phòng kinh doanh      
    Lý do nộp: Trả tiền điện tháng 1/2000      
    Số tiền: 23.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Hai ba triệu đồng chẵn  
    Kèm theo: 1 Chứng từ gốc      
    Số séc: 17280        
    Đã nhận đủ số tiền: 23.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Hai ba triệu đồng chẵn  
        Ngày 19 tháng 2 năm 2000
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nộp
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG

    ĐỐNG ĐA

    PHIẾU CHUYỂN KHOẢN

    56

     

        Ngày 2/2/2000    
    Tên TK nợ: Vay ngắn hạn            
    Tên TK có: Công ty cơ khí ô tô 3/2          
    Số tiền bằng chữ: Một trăm   N:      
    triệu đồng     STK: 061B.00023    
               
        Có:      
    Lý do: Thu nợ khế ước          
        STK: 710A.00023    
    ngày 27/1/2000     S tin bng s:    
          100.000.000    
    Người lập phiếu Kiểm soát Kế toán trưởng Giám đốc ngân hàng
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký tên, đóng dấu)
    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG          
    ĐỐNG ĐA            
        GIẤY BÁO NỢ    
      Ngày tháng 2 năm 2000    
    Tên TK nợ: vay ngắn hạn            
    Tên TK có: Công ty cơ khí ô tô 3/2      
    Số tiền bằng số: 23.000.000          
    Lý do: Thu nợ khế ước 29/2/2000      
    Kế toán trưởng     Giám đốc ngân hàng
    (Ký, họ tên)       (Ký tên, đóng dấu)
    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG          
    ĐỐNG ĐA            
        GIẤY BÁO CÓ    
        Ngày 10/2/2000    
    Tên TK nợ: Công ty cơ khí ô tô 3/2      
    Tên TK có: vay ngắn hạn            
    Số tiền bằng số: 70.000.000 đồng      
    Lý do: Thu khế ước 10/4/1999          
    Kế toán trưởng     Giám đốc ngân hàng
    (Ký, họ tên)       (Ký tên, đóng dấu)
        57      
    1. Hạch toán các khoản thanh toán với người mua

     

    • công ty thường có các khoản phải thu như tiền nhận gia công của các đơn vị, và tiêu thụ nội địa. Để theo dõi các khoản thanh toán với khách hàng về tiền bán sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ, tài sản… kế toán sử dụng TK 131- Phải thu của khách hàng.

    Khi giao sản phẩm, hàng hoá cho người mua hay cung cấp các lao vụ, dịch vụ cho khách hàng, kế toán phản ánh doanh thu được người may chấp nhận: kế toán định khoản:

    Nợ TK 131 (chi tiết đối tượng): Tổng giá thanh toán

    Có TK 51: Giá bán chịu thuế

    Có TK 3331: Thuế VAT đầu ra phải nộp

    – Khi thu tiền nếu:

    • Trả bằng tiền Việt Nam

    Nợ TK 111, 1121

    Có TK 131

    • Trả bằng ngoại tệ
    • công ty không có TK theo dõi ngoại tệ nên công ty phải thông qua tổng công ty cơ khí GTVT. Khi có phát sinh ngoại tệ mà khách hàng trả cho công ty thì sẽ thông qua tổng công ty, tổng công ty sẽ tiến hành đổi ra đồng Việt Nam và gửi về cho công ty.

    Khi đó kế toán công ty định khoản

    Nợ TK 336

    Có TK 131

    Ví dụ: Ngày 13/2/2000 công ty xuất hàng cho công ty cơ khí Trần Hưng Đạo theo đơn đặt hàng số 010549: 20 bộ đôi bản cao áp, trị giá lô hàng 12.936.672 đồng, thuế VAT 10%, tiền hàng chưa thanh toán

    Nợ TK 131 (TMĐ): 14.230.339 đồng

    Có TK 5112: 12.936.672 đồng

    Có TK 3331: 1.293.667 đồng

    BẢNG KÊ BÁN LẺ HÀNG HOÁ- DỊCH VỤ

    Mẫu số: 05/GTGT

    Ngày 13 tháng 2 năm 2000

    Tên sơ sở kinh doanh:                                                                         Mã số:

    58

     

    Họ tên người bán hàng:

    Địa chỉ nơi bán hàng:

    TT Tên hàng hoá, dịch vụ Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
               
    1 Bộ đôi bản cao áp cái 20   12.936.672
               

    Tổng cộng tiền thanh toán: 12.936.672 đồng

    Tổng số tiền bằng chữ: Mười hai triệu chín trăm ba sáu ngàn sáu trăm bảy hai đồng.

    Người bán

    (Ký, ghi rõ họ tên)

    Ngày 19/2/2000 công ty cơ khí Trần Hưng Đạo thanh toán tiền hàng là 13.590.658 đồng bằng tiền gửi ngân hàng.

    Kế toán định khoản sau đó vào sổ

    Nợ TK 1121:     13.590.658 đồng

    Có TK 131 (THĐ) 13.590.658 đồng

    BẢNG KÊ HOÁ ĐƠN, CHỨNG TỪ HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ BÁN RA

    (Kèm theo tờ khai thuế GTGT)

    Mẫu số 2 /GTGT

    Tháng 2 năm 2000

    Mã số

    Tên cơ sở kinh doanh: Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Địa chỉ

    Chứng từ Tên khách hàng Doanh số bán Thuế Ghi chú
    Số Ngày   (chưa có thuế) GTGT (Thành
              tiền)
               
    1 13 CTy cơ  khí  Trần Hưng 12.936.672 1.293.667 14.230.339
        Đạo      
    2 27 CTy cơ khí 1/5     82.736.729
               
        Tổng cộng      
        59      

    Người lập biểu

    Ký, họ tên)

    Bộ tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 131

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    1.324.787.251

    Ngày   tháng    năm Kế toán trưởng (Ký, họ tên)

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    TK này          
    413     598.707    
               
    Cộng số phát sinh nợ   598.707    
               
    Tổng số phát sinh có   96.926.094    
                 
    Số dư   cuối   Nợ   639.681    
    tháng            
             
               
                 
            Ngày 31 tháng 12 năm 2000
              Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)
    1. Hạch toán các khoản tạm ứng

    60

     

    Các khoản tạm ứng phát sinh ở công ty chủ yếu là tạm ứng để mua nguyên vật liệu, tiếp khách…. các khoản tạm ứng được kế toán theo dõi chi tiết cho từng đối tượng. Khi có giấy đề nghị tạm ứng kế toán tiến hành định khoản vào TK 141- Tạm ứng.

    Nợ TK 141

    Có TK 1111

    Khi có giấy thanh toán tạm ứng kế toán cũng tiến hành viết phiếu thu, từ các phiếu thu vào sổ kế toán liên quan:

    Nợ TK 1111

    Có TK 141

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    CHI TIẾT CÔNG NỢ

    Tài khoản 141

              Đơn vị tính: đồng  
    Nội dung   Phần ghi nợ TK     Phần ghi có TK
                         
      CT TK   Tiền   CT   TK   Tiền
                         
    Bình tạm ứng mua VL 110 111   10.000.000            
    Dũng tạm ứng mua xích 113 111   5.000.000            
    Bình mua vật tư 115 111   3.000.000            
    Hiền tạm ứng công tác 117 111   14.000.000            
    Thanh tạm ứng mua lốp 118 111   25.000.000            
    Hoà tạm ứng mua sắt 119 111   25.000.000            
    Bình tạm ứn mua CO2 120 111   30.000.000            
    Cuối tháng nộp tạm ứng           129   1111   25.000.000
    Cộng       112.000.000            
    Bộ, tổng cục:…..                    
    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ                    
    Ô TÔ 3/2                    
        SỔ CÁI              

    Tài khoản 141- Tạm ứng

    Số dư đầu năm

    61

     

    Nợ                
    15.000.000                    
                       
                     
    Ghi có các TK đối ứng,  nợ   Tháng 1 Tháng 2   …….   Tháng 12
    TK này                
    1111       112.000.000        
                     
    Cộng số phát sinh nợ     112.000.000        
                     
    Tổng số phát sinh có     25.000.000        
                       
    Số dư   cuối   Nợ              
    tháng                  
                   
                       
                         
                Ngày   tháng năm 2000
                  Kế toán trưởng
                    (Ký, họ tên)
    1. Hạch toán nghiệp vụ thanh toán với người bán

    Quá trình hạch toán thanh toán với người bán phải phán ánh chính xác, kịp thời, chi tiết và rõ ràng từng khoản.

    Thông thường khi nhận được chứng từ gốc, giấy báo nợ, có của ngân hàng, các hoá đơn mua hàng, kế toán tiến hành kiểm tra xác định rõ số tiền thanh toán theo từng người. Kế toán thanh toán với người bán sử dụng TK 331. Hạch toán tổng hợp các nghiệp vụ thanh toán với người bán được thực hiện trên NKCT số 5 phản ánh các khoản mua TSCĐ, vật liệu, hàng hoá… NKCT số 5 mở mỗi tháng 1 lần, căn cứ để ghi NKCT số 5 là sổ chi tiết TK 331.

    62

     

    SỔ CHI TIẾT THEO DÕI TK 331

    Tháng 2/2000

    Đơn vị: đồng

    Tên Đ.vị Số dư Số PS có TK 331 Cộng có Số PS nợ Cộng Số dư
    hoặc ĐT           nợ CT
    người                    
    Nợ TK TK 152   111 112   Nợ
    bán    
                         
                         
    Bình       10.000.000 10.000.00          
              0          
    Bình       6.000.000 6.000.000          
    Dũng       5.000.000 5.000.000          
    Bình       3.000.000 3.000.000          
    Thanh       25.000.000 25.000.00          
              0          
    Hoà       25.000.000 25.000.00          
              0          
    Bình       30.000.000 30.000.00          
              0          
                         
    Cộng       104.000.00 104.000.0          
            0 00          

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 331- Phải trả người bán

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    63

     

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. ……….
    TK này          
    1121     104.000.000    
               
    Cộng số phát sinh nợ   104.000.000    
    Tổng số phát sinh có        
                 
    Số dư   cuối   Nợ   139.282.470    
    tháng            
             
               
            Ngày tháng năm 2000
              Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)
    1. Hạch toán các khoản phải trả nội bộ

    Kế toán xí nghiệp sử dụng TK 336- Phải trả nội bộ

    Hàng tháng kế toán lập sổ theo dõi chi tiết TK 336. Do công ty không có tài khoản theo dõi ngoại tệ nên khi khách hàng trả tiền công ty kế toán hạch toán:

    Nợ TK 336

    Có TK 131

    Khi công ty trả tiền cho các phân xưởng

    Nợ TK 1111,1121

    Có TK 336

    SỔ CHI TIẾT TK 336

    Tháng 2/2000

    Số dư Diễn giải Ghi nợ TK 336 Ghi có TK 336 Số dư CT
    ĐT              
    Nợ   TK Tiền TK Tiền Nợ
        Tiền hàng HN 131 444.164.321        
            64        
        Hà Tây   193.768.560        
        Thái Nguyên   88.504.482        
        Phí thanh toán     642 468.694    
                8      
        Khấu hao     641 1.500.000    
                4      
        Điện       641 135.890    
                7      
        CTy chuyển     112 600.000.000    
        tiền       1      
                       
          Cộng   726.437.363   602.104.584    

    Từ sổ chi tiết kế toán lập NKCT số 10

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    65

     

    NHẬT KÝ CHỨNG TỪ SỐ 10

    Ghi có TK 141, 336….

    Tháng 2/2000

    CT Diễn giải TK nợ 141 336 Cộng
      Tiền kỳ 1121     600.000.000    
    Sổ CT Tiền khấu hao 6414     1.500.000    
    TK 336 Tiền điện 6417     135.890    
      Phí thanh toán 6428     468.894    
                   
      Cộng       602.104.584    

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 336- Phải trả nội bộ

    Tháng 2 năm 2000

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    2.1145.256.161

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    TK này        
    131   726.437.363    
             
    Cộng số phát sinh nợ   726.437.363    
             
    Tổng số phát sinh có   602.104.584    
             

    66

     

    Số dư   cuối Nợ        
    tháng        
             

    Ngày  tháng            năm 2000

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    1. Kế toán các khoản phải trả công nhân viên, các khoản phải trả, phải nộp khác, chi phí trả trước

    Để thực hiện hạch toán các khoản trên kế toán sử dụng các TK 334, 338 (3382, 3383, 3384, 3388), 142

    1. Kế toán hạch toán phải trả công nhân viên, phải trả phải nộp khác

    Hàng tháng căn cứ vào bảng tổng hợp thanh toán tiền lương ở các phân xưởng và các phòng ban do phòng tổ chức thực hiện, kế toán tiến hành tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo đối tượng sử dụng và tính toán trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định.

    Công ty thực hiện trích

    KPCĐ: 2%

    BHXH: 20%

    • Người sử dụng LĐ: 15%
    • Người LĐ: 5%

    BHYT: 3%

    • Người sử dụng LĐ: 2%
    • Người LĐ: 1%

    Từ bảng phân bổ lương và BHXH kế toán viết phiếu kế toán

    Ví dụ: Tháng 2 năm 2000 có

    CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 3/2

    PHIẾU KẾ TOÁN

    Số 3/11

    Nội dung Nợ
         
    Nợ TK 627 (1) 55.000.000  
    Có TK 334   55.000.000
         

    Trích lương theo sản phẩm hàng tháng

    Lập phiếu

    67

     

    Hà nội ngày       tháng 2 năm 2000

    Cuối tháng căn cứ các phiếu kế toán, các phiếu thu, các NKCT và bảng kê liên quan lập NKCT số 7. Từ NKCT vào sổ cái

    Sổ cái TK 334- Thanh toán với CNV

    Số dư đầu năm

    N                        Có

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 …….   Tháng 12
      TK này          
                   
      131          
                 
    Cộng số phát sinh nợ          
                 
    Tổng số phát sinh có   55.000.000      
                   
      Nợ          
    cuối kỳ              
               
                   
            Ngày tháng năm 2000
              Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)
    1. Kế toán chi phí trả trước

    Kế toán sử dụng TK 142 (1). Khi phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến trả trước ở công ty thường phát sinh nghiệp vụ:

    Nợ TK 142(1)

    Có TK 111(1)

    Phân bổ chi phí:

    Nợ TK 642 (8), 641(8), 627(3), 627(8)

    Có TK 142 (1)

    Kế toán vào sổ theo dõi chi tiết TK 142(1)

    SỔ CHI TIẾT TK 1421- CHI PHÍ TRẢ TRƯỚC

    Tháng 2 năm 2000

    Diễn giải Số dư Phần ghi nợ TK 1421 Phần ghi có TK 1421 Số dư
      đầu kỳ 111 TK Tiề Cộn 6428 TK Tiền Cộng cuối kỳ
         
        1   n g nợ        
                         
              68          
    Trang bị 574.280         0334.6     334.61 229.662
    PCCC           18     8  
    Lát nền 377.600         233.80     233.80 143.800
                0     0  
    SP đã ăn 60.646.                 60.646.
    lương 629                 629
    Mua tài 1.066.8         533.41     533.41 533.410
    liệu 28         8     8  
    Máy ép 8.427.0           627 602.0   7.825.0
      00           8 00   00
    Khám xe 789.889         429.62     429.62 360.269
                0     0  
    CC LĐ 135.199                 135.199
      .537                 .537
    Mua lịch 62.634         31.400     31.400 31.234
    Quét vôi 4.951.3         2.475.     2.475. 2.475.8
      66         500     500 66
    Thuế môn 141.550           641 70.85 70.850 70.700
    bài             8 0    
    Mua tủ hồ 45.000         45.000     45.000 0
                       
    Mua BH 12.118.         1.731.     1.731. 10.387.
    cháy 750         250     250 500
    Mua báo 1.458.4         729.23     729.23 729.236
    quý I 69         2     2  
    Cộng 225.859         6.553.   672.8 7.226. 218.632
      .532         838   50 688 .843
                         

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    69

     

    SỔ CÁI

    Tài khoản 1421- Chi phí trả trước

    Số dư đầu năm              
    Nợ                
    281.842.279                    
                         
    Đơn vị: đồng                
    Ghi có các TK đối ứng,  nợ   Tháng 1 Tháng 2   …….   Tháng 12
    TK này                
                     
    Cộng số phát sinh nợ              
                     
    Tổng số phát sinh có     7.226.688        
                       
    Số dư   cuối   Nợ     218.632.843        
    tháng                
                       
                       
                Ngày 31 tháng 2 năm 2000
                Kế toán trưởng
                  (Ký, họ tên)
    1. Kế toán các khoản phải tra phải nộp ngân sách

    Công ty cơ khí ô tô 3/2 phải nộp các loại thuế như thuế nhà đất, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế môn bài (các loại thuế khác)

    Công ty áp dụng phương pháp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ. Hàng tháng trên cơ sở các bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ bán ra được mở từng tháng, ghi theo trình tự thời gian hoặc kết hợp theo từng nhóm, loại hàng hoá và dịch vụ và theo hàng mức thuế suất thuế GTGT lập tờ khai thuế GTGT sau đó kế toán lập NKCT số 10

    Bộ, tổng cục

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    70

     

    Ô TÔ 3/2

    NHẬT KÝ CHỨNG TỪ SỐ 10

    Ghi có TK 141, 3331, 336

    Tháng 2/2000

    TT Diễn giải TK Nợ 3331 TK   Tiền     Cộng
                         
    3 Thuế bán hàng 1111 11.999.280             11.999.28
                        0
    11 Thuế kho 1111 25.228             25.228
    12 Thuế bán hàng 1111 3.833.016             3.833.016
    15 Thuế kho 1111 91.168             91.168
    18 Thuế bán hàng 1111 1.124.467             1.124.467
                       
    7 K/T thuế T2 3331     1331   17.060.394   17.060.39
                        4
    8 K/T thuế T2 3331     1332   2.877.000   2.877.000
    10 Nộp thuế 3331     1121   5.511.140   5.511.140
                       
      Cộng   17.088.397       25.448.534   42.536.93
                        1
                       
      Người ghi sổ     Ngày   tháng năm 2000
      (Ký, họ tên)       Kế toán trưởng  
                  (Ký, họ tên)  

    Từ NKCT số 10 vào sổ cái TK 3331

    Bộ, tổng cục

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 3331- Thuế GTGT phải nộp

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    Đơn vị: đồng

    71

     

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2   …….   Tháng 12
    TK này              
    1331     17.060.394        
    1121     5.511.140        
    1332     2.877.000        
    Cộng số phát sinh nợ   25.448.534        
                   
    Tổng số phát sinh có   17.088.397        
                     
    Số dư   cuối   Nợ            
    tháng                
                 
                   
                   
            Ngày 31 tháng 2 năm 2000
            Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)

    72


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-%C4%91%E1%BA%B7c-%C4%91i%E1%BB%83m-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-c%E1%BB%A5-th%E1%BB%83.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Đề tài số 2 :

    Phân tích đặc điểm hoạt động của công ty bảo hiểm? Đi sâu phân tích cụ thể một công ty.

    I.  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1.1 Khái niệm và yêu cầu cần thiết của doanh nghiệp bảo hiểm

    1.1.1  Khái niệm

    Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.

    1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp bảo hiểm:

    ☺ Thứ nhất,doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh tài chính, chủ yếu thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm. Tính đặc thù của kinh doanh bảo hiểm được thể hiện:

    • Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan.
    • Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngược, tức là sản phẩm được bán ra trước, doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí.

    ☺ Thứ hai: doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức, thành lập và hoạt động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.

    ☺Thứ ba: doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính.

    Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định. Đây là đặc điềm giúp phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

    1.1.3 Yêu cầu cần thiết:

    – về mặt kỹ thuật

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt việc thống kê,lựa chọn rủi ro, tính phí bảo hiểm, giải quyết các khiếu nại khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm

    – về mặt pháp lý

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập và vận động đúng theo quy định của luật pháp địa phương hoặc quốc gia mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.

    – về mặt kinh doanh

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được tổ chức thành một bộ máy hoàn chỉnh để có thể vận hành, gồm các bộ phận chức năng như : quản lý, nghiệp vụ, kinh doanh, tài chính, kế toán, hành chính nhân sự…

    – về mặt tài chính

    Doanh nghiệp bảo hiểm tập trung huy động vốn từ số đông khách hàng nên phải có sự đảm bảo về mặt tài chính(ký quỹ, quỹ dự phòng, vốn chủ sở hữu, hiệu quả đầu tư…) để hoạt động và tạo sự tin tưởng đối với khách hàng. Những yêu cầu về tài chính phải được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước.

    1.2 Nội dung, nguyên tắc hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

    1.2.1. Nội dung:

    ☺Thứ nhất : kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm

    + Trong kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm dưới các hình thức sau: trực tiếp; thông qua các đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; thông qua đấu thầu; các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    + Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhượng chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm.

    ☺Thứ hai: quản lý quỹ và đầu tư vốn:

    + Quản lý quỹ:

    Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã đóng góp không thấp hơn mức vốn pháp định đã quy định.

    + Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.

    + Đầu tư vốn:

    Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm : vốn diều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại của doanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi  từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm được sử dụng để đầu tư:

    – Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế.

    – Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    – Kinh doanh bất dộng sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính-tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp.

    ☺Thứ ba : doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện các hoạt động khác như : đề phong, hạn chế rủi ro, tổn thât; giám định tổn thất; đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luât.

    1.2.2. Nguyên tắc hoạt động :

    – Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: chỉ bảo hiểm một sự rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra.

    – Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối.

    – Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan, gắn liền hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm.

    – Nguyên tắc bồi thường.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vi trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém.

    – Nguyên tắc thế quyền.

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ 3 trách nhiệm bồi thường cho mình.

    – Nguyên tắc lấy số đông bù số ít.

    Dựa trên cơ sở nghiên cứu về quy luật số lớn, người ta có thể xác định được mức độ thiệt hại bình quân cho những khoảng thời gian nhất định.

    Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì khả năng bù đắp rủi ro càng lớn, độ an toàn càng cao  và ngược lại.

    1.3 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

    Có nhiều tiêu chí để phân loại, mỗi cách phân loại có  ý nghĩa và mục đích riêng.

    ☺ Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao.

    – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần đóng góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trọng phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên.

    – Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

    Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

    + Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ sở góp vốn giữa một bên nước Việt Nam với một bên nước ngoài( tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn điều lệ)

    + Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt Nam.

    ☺ Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm

    –  nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ: là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ của con người. Dấu hiệu đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ như sau: bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù.

    – nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    II. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1. Đối tượng kinh doanh đa dạng.

    – Bảo hiểm tài sản: BH ô tô, xe máy, BH máy bay, BH tàu thủy, BH vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, BH đầu máy và toa xe, BH tài sản cá nhân và doanh nghiệp, BH tín dụng.

    – Bảo hiểm con người: BH nhân thọ, BH tai nạn lao động, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn học sinh, sinh viên…

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: BH trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự chủ tàu, BH trách nhiệm dân sự chủ hãng hàng không…

    2. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn.

    Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.

    3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng bảo   hiểm – là nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt qua trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án khôi phục. Nếu không khôi phục được khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

    4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

    Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc tế và tạo ra sự cạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm.

    Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác để đưa đến thống nhất và đòi hỏi canh tranh lành mạnh.

    5. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.

    Để các DN bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động bảo hiểm

     

    III. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

    3.1.Trước khi gia nhập WTO

    • Trước khi có nghị định 100/CP

    Ngày 17/12/1964 công ty bảo hiểm đầu tiên của VN được thành lập(Bảo Việt).

    Kể từ đó, đến tận năm 1994, ở Việt Nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được chính phủ thành lập. Ở giai đoạn này, lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam có thể coi như sự phát triển của Bảo Việt.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ khi hình thành đến trước khi có nghị định 100/CP là thị trường độc quyền, “sân chơi chỉ có 1 người” nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn cam go ác liệt của lịch sử.

    Sau khi có nghị định 100/CP,thực hiện chính sách mở cửa và cải cách kinh tế của đảng và nhà nước, ngày 18-6-1993, chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 100/CP của chính phủ ra đời khẳng định hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham gia, cụ thể:

    • Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước
    • Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần
    • Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ
    • Doanh nghiệp liên doanh bảo hiểm
    • Chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    3.2. Sau khi gia nhập WTO

    3.2.1 Những cơ hội của ngành bảo hiểm khi VN gia nhập WTO

    – Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, hàng hóa của VN sẽ có một thị trường rộng lớn hơn đó là các thành viên WTO, đồng thời hàng hóa nước họ sẽ được xâm nhập vào thị trường VN  tạo tiền đề cho các ngành nghề phát triển như: giao thông vận tải đường bộ, hàng không, xuất nhập khẩu làm tiền đề cho BH phát triển.

    – Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước phát triển nhanh chóng

    Đây cũng là cơ sở để ngành BH phát triển, đồng thời cũng đòi hỏi ngành BH phải có sản phẩm BH đáp ứng nhu cầu của tăng trưởng đầu tư nước ngoài và trong nước, nhất là những cơ sở đầu tư ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay…

    – Lộ trình cổ phần hóa chuẩn bị hoàn thành

    Chế độ sở hữu tư nhân buộc người điều hành DN muốn bảo toàn vốn và tài sản trước mọi rủi ro cần phải có BH làm tăng nhu cầu BH để ngành BH phát triển. Khi các chủ DN coi trọng BH là lá chắn trước mọi rủi ro, tai nạn bất ngờ thì thị trường BH sẽ có nhiều cơ hội phát triển lành mạnh

    – Sự trợ cấp của Nhà nước ở một số lĩnh vực sẽ giảm dần

    Cùng với sự xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao, y tế, văn hóa giáo dục đã kích thích nhu cầu tham gia BH. Sự trợ cấp của nhà nước càng giảm thì sự lo lắng thiên tai, tai nạn xảy ra bất ngờ dẫn đến người ta phải nghĩ tới BH.

    – Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang tính tương thích với nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng của DN ngày một tốt hơn làm phát sinh theo nhu cầu BH như: BH trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế…; BH tài sản; BH rủi ro tài chính; BH trách nhiệm sản phẩm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh; BH trách nhiệm dân sự của các chủ doanh nghiệp

    – Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo bao gồm giới chủ DN tư nhân, các chuyên gia giỏi trong DNVN và DN có vốn đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinh doanh, các chủ trang trại đều có nhu cầu BH Nhân thọ cho mình và người thân.

    – Nhận thức về nhu cầu, tác dụng của BH ngày một nâng cao thông qua công tác tuyên truyền của ngành BH,thông qua tập quán mua BH của giới chủ đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận thức của những khách hàng tiềm năng có nhu cầu dẫn tới quyết định tham gia BH ngày một đông đảo hơn.

    3.2.2  Những thách thức lớn đối với ngành bảo hiểm cần vượt qua

    – Số lượng các DNBH được cấp phép hoạt động ngày một gia tăng

    Các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước nếu đủ điều kiện thao luật định đều có quyền xin phép thành lập DNBH, trong đó có các DNBH nước ngoài theo đúng cam kết WTO. Tuy nhiên, việc có nhiều DNBH ra đời làm cho sự cạnh tranh vốn đã gay gắt này càng gay gắt hơn.

    – DNBH hoạt động ở nước ngoài được cung cấp một số sản phẩm BH qua biên giới

    Đây là điều đáng lo ngại trong cuộc cạnh tranh không cân sức đối với các DNBH đang hoạt động tại VN.Trước hết, họ không thể biết được thông tin về đối thủ cạnh tranh của họ. Thứ hai, vũ khí của đối thủ đang sử dụng là loại gì không được biết rõ.Thứ ba, DNBH đang hoạt động tại VN phải đóng thuế cho ngân sách nhà nước trong khi đó đối thủ không bị đóng góp các khoản thuế trên.

    – Kênh phân phối sản phẩm BH đã bộc lộ nhiều yếu kém

    BH phi nhân thọ vẫn giữ cung cách khai thác chủ yếu từ cán bộ BH, cạnh tranh về phí BH, tăng hoa hồng, tăng hỗ trợ cho đại lý, chưa xây dựng được đội ngũ đại lý BH phi nhân thọ mang tính chuyên nghiệp và các công ty môi giới cạnh tranh lẫn nhau, làm việc thiếu chuyên nghiệp, … gây bất lợi cho DNBH và thị trường BH.

    – Đầu tư công nghệ thiếu đồng bộ, kém hiệu quả

    Hệ thống công nghệ thông tin của các DNBH chưa cập nhật được từng hợp đồng BH phát sinh, chưa phân loại được khách hàng, rủi ro BH, chưa phân tích đánh giá được nguyên nhân, mức độ rủi ro tổn thất, còn nhiều lỗ hổng để trục lợi BH.

    – Cạnh tranh gay gắt chủ yếu bằng con đường hạ phí BH, không chú trọng nhiều đến dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Phí BH trên thị trường BHVN hiện nay được hình thành chủ yếu qua con đường cạnh tranh hạ phí phi kĩ thuật mà không quan tâm đến đối tượng BH như thế nào, mức độ rủi ro ra sao. Chính vì vậy, việc quan tâm chăm sóc khách hàng cung cấp dịch vụ gia tăng bổ sung cho khách hàng cũng bị hạn chế.

    – Việc giải quyết bồi thường còn nhiều vướng mắc

    Trước hết, tính công khai minh bạch về hồ sơ, thủ tục giải quyết bồi thường chưa được thực hiện.

    Thứ hai, việc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục bồi thường giảm phiền phức cho khách hàng chưa được cải thiện rõ rệt.

    Thứ ba, còn nhiều vướng mắc trong việc thu thập hồ sơ chứng từ để giải quyết bồi thường cho nạn nhân khi những hồ sơ chứng từ này buộc phải lấy từ cơ quan có thẩm quyền như công an, bệnh viện.

    Thứ tư, việc tự quyết, tự chịu trách nhiệm của DNBH trong việc giám định bồi thường tổn thất chưa được phát huy và hay bị hình sự hóa.

    Thứ năm, các DN hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám định và giải quyết bồi thường chưa hoạt động có hiệu quả và phán quyết của họ nhiều khi không được pháp luật công nhận.

    Cuối cùng là chưa có biện pháp xử phạt thích đáng DNBH trong việc chậm trễ bồi thường cũng như xử phạt thích đáng các hành vi trục lợi BH

    3.2.3 Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm VN sau WTO

    – Xây dựng một hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn thành lập DNBH và  hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    – Cần có sự biến đổi về chất của các DNBH nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng, phù hợp với mô hình phát triển DNBH theo chuẩn mực quốc tế.

    Trước hết, phải tập trung vào công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu quản lý BH từ khâu khai thác, theo dõi hợp đồng, khách hàng, tiếp nhận thông tin từ khách hàng, xử lý sự cố thiên tai, tai nạn, giám định bồi thường, tính phí, đánh giá rủi ro

    Thứ hai là tập trung cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ thống, bài bản với những nội dung, chương trình đào tạo chuẩn mực quốc tế thay cho lối đào tạo truyền bá kinh nghiệm, kiến thức của người đi trước dạy bảo người đi sau.

    Thứ ba là cần tạo ra thế mạnh hơn hẳn của để cạnh tranh với các DNBH nước ngoài không hoạt động tại VN.

    – Các DNBHVN cần có sự hợp tác hơn nữa

    Nói đến thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải là để chia rẽ, phân hóa các DNBH mà trong cạnh tranh sẽ tạo tiền đề để các DNBH tiến tới hợp tác song phương, đa phương thậm chí tiến tới việc mua bán, hợp nhất, sáp nhập DNBH để tạo nên một sức mạnh cạnh tranh tốt hơn. Ngoài ra, các DNBH càng cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý BH đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp thông tin về bồi thường, nguyên nhân tổn thất, phòng chống trục lợi BH.

    3.3. Các sản phẩm bảo hiểm mới trên thị trường Việt Nam

    + Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ:

    Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ vừa giới thiệu hai sản phẩm bảo hiểm bổ trợ mới là Bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật & điều trị ngoại khoa và Bảo hiểm trợ cấp nằm viện. Điểm khác biệt của hai sản phẩm bổ trợ này so với những sản phẩm cùng loại trên thị trường là việc mang lại quyền lợi cho cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm.

    – Korea Life với sản phẩm bảo hiểm: AN KHANG LINH HOẠT TRỌN ĐỜI

    Ngày 30/11/2009, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Korea Life đã chính thức giới thiệu ra thị trường sản phẩm An Khang Linh Hoạt Trọn Đời – một sản phẩm thuộc dòng Bảo hiểm Liên kết chung. Với ưu thế là sự linh hoạt tối đa trong tích lũy và bảo vệ, sản phẩm mới này hứa hẹn sẽ đáp ứng được mong đợi của nhiều khách hàng Việt Nam

    – 3 sản phẩm mới của Grest Eastern

    +Đại an khôi nguyên- lên kế hoạch cho con bạn từ hôm nay

    Với sản phẩm này, bạn có thể bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai giáo dục của con bạn ngay khi đứa con yêu quý của bạn mới chào đời.Với việc nộp phí bảo hiểm trong 8 năm, con bạn sẽ được bảo vệ tới 22 năm, sự hỗ trợ có đảm bảo về tài chính sẽ bằng 130% Số tiền Bảo hiểm ban đầu cộng với tất cả bảo tức tích lũy đi kèm.

    +Đại an định kỳ gia tăng- thắp sáng ước mơ của bạn

    Đại an định kỳ gia tăng của Great Eastern không những bảo vệ mà còn mang

    lại cho bạn một khoản tiết kiệm, nhờ vậy, bạn có thể tăng thêm của cải và có thêm tiền mặt trong tay để thực hiện các mục tiêu lâu dài trong cuộc đời của mình.

    +Đại an  minh tâm- lập kế hoạch cho việc mưu cầu hạnh phúc của bạn

    Đại an minh tâm là giải pháp tuyệt vời hỗ trợ bạn và những người thân yêu của bạn về mặt tài chính, và điều quan trọng nhất là giúp cho ước mơ và kế hoạch tài chính của bạn trở thành hiện thực.

    – Prudential Việt Nam với sản phẩm “3 trong 1”

    Mới đây nhất, bảo hiểm Prudential Việt Nam vừa giới thiệu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ “3 trong 1” dành cho những khách hàng đã có gia đình; sản phẩm này cho phép một hợp đồng của một thành viên trong gia đình có giá trị bảo hiểm cho cả gia đình 3 người.

    + Sản phẩm BH phi nhân thọ

    – BIC bảo hiểm cho các hộ chung cư

    Từ ngày 05/04/2010, BIC chính thức triển khai sản phẩm Bảo hiểm cho hộ gia đình sinh sống trong các khu chung cư.

    – CHILDREN CARE – Sản phẩm mới của PJICO

    PJICO quyết định thiết kế ra PJICO Children Care – một sản phẩm bảo hiểm hoàn toàn mới cho thiếu nhi với mức trách nhiệm cao, phạm vi bảo hiểm rộng và đặc biệt là người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao.Điều này đã hạn chế các yếu tố : mức trách nhiệm bảo hiểm thấp, quyền lợi bảo hiểm hạn chế, …

    – Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)

    Ngay sau khi Cục Cảnh sát giao thông đường bộ thông báo sẽ kiểm tra gắt gao việc mua bảo hiểm bắt buộc, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã nhanh chóng đưa ra thị trường sản phẩm “Phúc vạn dặm bảo hiểm vật chất cho xe ôtô”.

    – Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS)

    Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) thì cho ra mắt Bảo hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm cấu trúc ngôi nhà,tài sản bên trong ngôi nhà nếu bị cháy, nổ, sét đánh, động đất, trộm cướp, hành động cố ý phá hoại hay hành động ác ý đều được bồi thường.

    IV. CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO)

    Tìm hiểu tại: Văn phòng bảo hiểm khu vực II

    ĐC: 194 Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy-HN

    4.1 Quá trình hình thành và phát triển

    Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

    Tên giao dịch quốc tế : PETROLIMEX JOINT STOCK COMPANY

    Tên viết tắt                    :         PJICO

    Lôgô                     :

    Địa chỉ                  : Số 532 Đường Láng, Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại            : (04) 776 0865  – (04) 776 0926

    Fax                       : (04) 776 0868

    Thành lập                         : 15/6/1995

    Vốn điều lê:         –  6/1995 là 55 tỷ đồng

    –  4/2004 là 70 tỷ đồng

    –  31/3/2007 là 140 tỷ đồng

    2009 là      335,1 tỷ đồng

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập năm 1995 theo chính sách đổi mới phát triển kinh tế của Nhà nước, là sự tập hợp sức mạnh kinh tế và uy tín của các tổng công ty lớn của nhà nước như Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, Tổng Công ty thép Việt Nam, Tổng Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Công ty điện tử Hà Nội HANEL….. Sau 13 năm phát triển, PJICO được đánh giá là một trong những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thị trường và hiện tại PJICO là một trong 4 nhà bảo hiểm hàng đầu trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

    – Hiện nay PJCO có 49 chi nhánh hoạt động tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước với số lượng Đại lý là trên 4.500 đại lý. Tại thị trường quốc tế Công ty đã mở rộng và quan hệ với nhiều nhà Tái bảo hiểm quốc tế như Munich Re, Cologne Re, Hartford Re, Hannover Re, Willis Faber, LLoy’d …

    – Với những kết quả kinh doanh ấn tượng đã đạt được trong thời gian qua, PJICO đã vinh dự được nhận hàng loạt các giải thưởng, danh hiêu lớn: Huân chương lao động hạng III năm 2000, PJICO đã được bầu chọn Giải thưởng Sao đỏ năm 2003, Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2004, Giải “Thương Hiệu Mạnh Việt Nam 2009” Vào ngày 4/4/2010.

     

    4.2. Mô hình tổ chức

    4.3. Vị thế của Công ty trong ngành:

    Công ty đứng thứ tư trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp  hầu hết các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Lợi thế cạnh tranh của Công ty tập trung ở một số lĩnh vực bán lẻ như bảo hiểm ôtô, xe máy chiếm gần 50% tổng doanh số kinh doanh bảo hiểm hàng năm và một số lĩnh vực bảo hiểm khác như bảo hiểm con người, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xây dựng lắp đặt. Với các lĩnh vực bán lẻ, thương hiệu và uy tín của PJICO ngày càng cao, sau khi điểu chỉnh chiến lược kinh doanh, việc phục vụ khách hàng của PJICO ngày càng tốt hơn, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. PJICO đang ngày một khẳng định vị thế của mình trên thị trường.

    4.4. Các sản phẩm bảo hiểm:

    4.4.1    Bảo hiểm xe cơ giới:

    Bao gồm các loại hình:

    • Bảo hiểm bắt buộc TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm tự nguyện TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm TNDS của Chủ xe cơ giới đối với hàng hoá trên xe.
    • Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái, phụ xe.
    • Bảo hiểm vật chất xe.

    4.4.2   Bảo hiểm con người

    4.4.3   Bảo hiểm hàng hóa

    – Bảo hiểm hàng xuất nhập khẩu: Hàng hóa xuất nhập ra vào lãnh thổ Việt Nam

    – Bảo hiểm hàng vận chuyển trong nước: Hàng hóa vận chuyển nội địa bằng các loại phương tiện được phép tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam

    4.4.4  Bảo hiểm tàu thủy

    – Bảo hiểm thân, vỏ tàu: Các cấu trúc nổi có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển, sông hồ và các vùng nước có liên quan.

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: Là trách nhiệm dân sự của chủ tàu, người quản lý, người điều hành, người thuê tàu (không phải là người thuê tàu chuyến)… phải bồi thường theo luật định.

    4.4.5  Tài sản & Trách nhiệm

    –  Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản

    – Hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt

    – Gián đoạn kinh doanh

    – Trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm

    – Trách nhiệm nghề nghiệp

    – Bảo hiểm khác:

    • Bảo hiểm tiền (trong két và vận chuyển)
    • Bảo hiểm trộm cắp
    • Bảo hiểm lòng trung thành (của nhân viên, người làm thuê …)

    4.4.6 Bảo hiểm kỹ thuật

    – Bảo hiểm kỹ thuật

    • CAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
    • EAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
    • M          : Bảo hiểm máy móc
    • EE         : Bảo hiểm thiết bị điện tử
    • DOS      : Hàng trong kho lạnh
    • MLOP    : Mất tổn thất do thiệt hại đối với máy móc
    • CECR    :Bảo hiểm mọi rủi ro công trình kỹ thuật dân dụng đã hoàn thành

    – Bảo hiểm xây dựng:

    • Công việc xây dựng
    • Trang thiết bị xây dựng
    • Máy móc xây dựng
    • Chi phí dọn dẹp hiện trường
    • Trách nhiệm đối với bên thứ ba

    4.5. Hoạt động của công ty

    4.5.1. Huy động vốn:

    + Vốn từ các cổ đông:

    TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM :Petrolimex là cổ đông lớn nhất của Công ty PJICO với tỷ lệ góp vốn là: 51%.

    NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 10%

    TỔNG CÔNG TY CP TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM:Tỷ lệ vốn góp trong PJICO: 8%

    TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 6%.

    CÔNG TY VẬT TƯ VÀ THIẾT BỊ TOÀN BỘ :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 3%

    CÔNG TY ĐIỆN TỬ HANEL:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 2%.

    CÔNG TY THIẾT BỊ AN TOÀN :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 0,5%.

    + Vốn huy động từ phát hành cổ phiếu :

    Số vốn điều lệ đang lưu hành đầu năm 2007 của PJICO mới đạt 137,2 tỷ đồng là quá nhỏ so với quy mô và tầm hoạt động của chính PJICO và so với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường.  Do đó, công ty đã chào bán cổ phiếu vào cuối năm 2007 với  số lượng: 19.884.033 cổ phiếu

    Cuối năm 2009, sau khi được bộ tài chính và ủy ban chứng khoán chấp nhận, ĐHCĐ của CTCP Bảo hiểm Petrolimex thông qua phương án phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng. Cụ thể, PJICO phát hành 16.490.099 cổ phiếu với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá là 164,9 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Đại hội còn thông qua việc niêm yết toàn bộ 50 triệu cổ phiếu trên Sở GDCK TP. HCM (HOSE) và ủy quyền cho HĐQT thực hiện.

    4.5.2 Quản lý quỹ:

    Trích lập các Quỹ

    PJICO thực hiện trích lập và sử dụng các quỹ tại doanh nghiệp như sau:

    • Quỹ dự trữ bắt buộc được trích từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 5% cho tới khi bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp.
    • Quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 10 %.
    • Quỹ trợ cấp mất việc làm được trích theo quy định của pháp luật
    • Quỹ khen, thưởng phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế thông thường bằng 1 đến 1,5 tháng lương thực tế.

    Dự phòng nghiệp vụ.

    • Dự phòng phí chưa được hưởng: mức trích lập dự phòng phí đối với các loại hình bảo hiểm vận chuyển hàng hóa được tính bằng 25% mức phí giữ lại trong năm và bằng 50% mức phí giữ lại trong năm đối với các loại hình bảo hiểm khác.
    • Dự phòng dao động lớn: được áp dụng thống nhất đối với tất cả các loại hình nghiệp vụ là 5% phí giữ lại trong năm và được trích cho đến khi bằng 100% phí giữ lại.
    • Dự phòng bồi thường: được Công ty thực hiện trích lập theo phương pháp từng hồ sơ đối với các tổn thất thuộc phạm vị bảo hiểm khách hàng đã khiếu nại nhưng chưa giải quyết. Mức trích lập dựa trên ước tính tổn thất phát sinh và phần trách nhiệm giữ lại của Công ty.

    4.5.3 Hoạt động đầu tư:

    Không chỉ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, PJICO còn quan tâm tới nhiệm vụ quản lý rủi ro, bảo toàn đồng vốn thông qua việc quản lý đầu tư tài chính khoa học, sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi, huy động tối đa tiền vào đầu tư sinh lợi, đồng thời vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên của các đơn vị trong Công ty.

    PJICO đã triển khai đầu tư vào nhiều dự án có hiệu quả như đầu tư góp vốn vào Công ty cổ phần vận tải xăng dầu Vipco, góp vốn cổ phần vào Tổng công ty CP tái bảo hiểm Quốc Gia Việt Nam (Vinare), Công ty cổ phần Xây lắp I Petrolimex.; Công ty cổ phần Bất động sản Petrolimex (Pland), Công ty cổ phần Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco)….., ngoài ra PJICO còn thường xuyên theo dõi sự biến động của Thị trường chứng khoán để lựa chọn danh mục đầu tư cổ phiếu hợp lý.

    Bảng 1: Một số dự án đã góp vốn đầu tư tính đến thời điểm 31/12/2009

    Đơn vị tính: đồng

    STT Tên dự án Hình thức tham gia Tỷ lệ góp vốn Số tiền góp vốn  
     
    1 Công ty CP Vận tải Vipco Góp vốn cổ phần 6,94% 24.350.000.000  
    2 Tổng Công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam Góp vốn cổ phần 3,5% 12.005.000.000  
    3 Công ty CP Xây lắp I Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 1.000.000.000  
    4 Công ty CP Bất động sản Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 10.000.000.000  
    5 Công ty CP Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco) Góp vốn quỹ 7,57% 2.500.000.000  
    6 Công ty liên doanh kho xăng dầu Vân phong Góp vốn liên kết KD 15% 12.800.000.000  
               
      Tổng cộng     62.655.000.000  

    (Nguồn: Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex)

    4.5.4. Công tác dịch vụ khách hàng

    Với một mạng lưới dịch vụ trải dài rộng khắp, PJICO nhận bảo hiểm ở mọi nơi, mọi rủi ro trong cả nước. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ với tổng giá trị lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, trong đó có rất nhiều công trình mà giá trị bảo hiểm đã lên tới hàng trăm triệu Dollar Mỹ như toà nhà Daewoo, cao ốc Diamond Praha, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC, Cầu Bãi Cháy, Nhà máy Xi măng Hải Phòng….
    PJICO cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ, hàng triệu người lao động, học sinh,mang lại niềm tin trong sản xuất, lao động và học tập. Đó chính là mục tiêu, là mong muốn mà PJICO có được ở khách hàng. Để đạt được điều đó PJICO đã phải có những nỗ lực vượt bậc trong quá trình phát triển, lập ra một quỹ dự trữ bồi thường gắn với một chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện, đúng đủ.

    Sau những năm hoạt động, PJICO đã bồi thường, trợ giúp hàng trăm ngàn vụ tổn thất, điển hình:

    • Đợt bão số 5 mang tên Linđa tràn vào Nam Trung bộ và Nam bộ (1997) gây thiệt hại nghiêm trọng, PJICO đã bồi thường hàng tỷ đồng để ổn định cuộc sống người dân.
    • Vụ cháy kho xăng dầu K131 trị giá 22 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất tàu và hàng trong vụ đâm va 2 tàu dầu Petrolimex 01 và Formosa One tại Vũng Tàu năm 2001 với giá trị tổn thất là 18 tỷ đồng
    • Các tổn thất trên Đường Hồ Chí Minh trị giá 5,8 tỷ đồng, tổn thất Cầu Kỳ Lam, Cầu Đà Rằng-Sông Cái
    • Vụ tổn thất của Công ty Xi măng Hoàng Mai trị giá 5,79 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất toàn bộ 11.000 tấn phân lân do đắm tàu MaritmeFelelity tại Singapore trị giá 1.4 triệu USD.
    • Hàng loạt các tổn thất cầu, đường, kho, hàng, tàu thuyền sau trận lụt miền Trung tháng 10/1999
    • PJICO thực hiện chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp, chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện thể hiện rõ trong vụ lốc xoáy làm bung chân đế và đổ sập 3 cẩu rót than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông
    • PJICO chỉ cung cấp dịch vụ Bảo hiểm thân tàu và không phải chịu trách nhiệm đối với các thuyền viên bị nạn, nhưng Công ty vẫn trợ cấp thăm hỏi gia đình nạn nhân có người thiệt mạng sự cố chìm tàu Đức Trí ngày 03/03/2008 tại Bình Thuận mức 2 triệu đồng/người…

    Từ khi thành lập tới nay PJICO đã chi bồi thường hàng trăm tỷ đồng để khắc phục những rủi ro, thiệt hại đã xảy ra với khách hàng. Ngày nay, PJICO đã trở thành một địa chỉ đáng tin cậy, một sự lựa chọn tốt nhất của bạn cho bản thân, gia đình bạn gửi gắm niềm tin, sự an tâm trong cuộc sống.

    4.5.5. Hoạt động cộng đồng

    Sự kiện chìm đò trên sông Gianh ngày 25/01/2009 làm 42 người chết gây chấn động dư luận. Chia sẻ mất mát đau thương với người dân Quảng Bình và trách nhiệm đối với cộng đồng, ngày 04/02/2009 Công ty Bảo hiểm PJICO đã đến thăm hỏi và tặng quà hỗ trợ đến gia đình các nạn nhân tổng số tiền 21.000.000 đồng

    Đầu tháng 11 năm 2009, thay mặt toàn thể cán bộ nhân viên Công ty cổ phần Bảo hiểm PJICO, đoàn cán bộ PJICO đã đến Văn phòng Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tại số 82 – Nguyễn Du – Hà Nội để trao quà ủng hộ đồng bào Miền Trung – Tây Nguyên ( 20.000.000 VND tiền mặt và 100kg quần áo, 100 cuốn sách giáo khoa )

    Nhân ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân , 25/12/2009 công ty bảo hiểm PJICO đã tổ chức cho các cựu chiến binh hiện đang công tác tại văn phòng công ty và Hội sở PJICO Hà Nội chuyến đi du lịch về nguồn, thăm lại chiến khu xưa

    Công ty Bảo hiểm PJICO hân hạnh là Nhà Tài Trợ cho Giải Tennis Khối Doanh nghiệp TW lần I – 2010 do Đoàn khối Doanh nghiệp TW tổ chức nhằm thiết thực chào mừng 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và 79 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    Chào mừng Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng tỉnh Kon Tum(31/3/2010), PJICO hân hạnh là Nhà tài trợ Giải quần vợt tranh Cúp Bảo hiểm PJICO lần thứ nhất năm 2010 do Liên đoàn quần vợt tỉnh Kon Tum tổ chức

    4.6. Chiến lược kinh doanh trong thời gian sắp tới

    Trong mấy năm vừa qua, bảo hiểm Petrolimex có mức tăng trưởng cao nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Mạng lưới kinh doanh bảo hiểm của Petrolimex trải rộng trên toàn quốc và được bảo đảm tài chính bởi các nhà tái bảo hiểm chuyên nghiệp hàng đầu thế giới như: Munich Re, Swiss Re, Hannover Re, Harfort Re, Aon Re… Năm 2004 là năm đầu tiên Bảo hiểm Petrolimex hướng sự hoạt động ra thị trường quốc tế và đã thu được khoản lợi nhuận trên 1 triệu USD. Chiến lược của Bảo hiểm Petrolimex trong thời gian tới là phát triển thành tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Namvề chất lượng và hiệu quả , khẳng định thương hiệu “PJICO – Nhà bảo hiểm chuyên nghiệp”; , đồng thời mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.

    Để thực hiện mục tiêu phát triển này PJICO có những chiến lược :

    1. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm đồng bộ, đa dạng và có chất lượng cao định hướng vào khách hàng.

    –  Xây dựng hệ thống các chính sách để thực hiện tốt nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

    –  Tiếp tục hoàn thiện sản phẩm PJICO- Children-Care thiết kế dành riêng cho trẻ em lứa tuổi từ 1-16 tuổi, theo đó trẻ em được chăm sóc y tế chất lượng cao trong các trường hợp tai nạn, ốm đau, bệnh tật phải điều trị nội trú  Sản phẩm này bảo vệ cho trẻ em 24/24 trong thời gian ở trường , ở nhà và mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam

    1. Tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, năng động và thân thiện để nhân viên phát huy tài năng và sáng tạo.

    Với mục tiêu phát triển một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, luôn quan tâm sâu sắc tới lợi ích của khách hàng…nên bảo hiểm PJICO áp dụng quy trình chặt chẽ ngay từ đầu vào để tuyển dụng những người có tố chất này, và sau đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp họ phát triển sự nghiệp. Chính chất lượng và thái độ của đội ngũ nhân viên bảo hiểm sẽ tạo nên sự khác biệt của một công ty bảo hiểm.

    1. Hợp tác hiệu quả với các đối tác để cùng phát triển và đóng góp xây dựng cộng đồng

    – Liên kết với ngân hàng: phát triển cho tương lai

    Cùng với việc tập trung phát triển và xây dựng kênh bán hàng qua đại lý thật vững mạnh và hiệu quả tại Việt Nam, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng kinh doanh sản phẩm ban-cassurance trong những năm qua đã đem lại lợi ích đáng kể cho các bên. Chính vì thế, liên kết với ngân hàng đang được bảo hiểm PJICO tận dụng triệt để. Bảo hiểm PJICO đang bắt tay với một số ngân hàng trong và ngoài nước để bán sản phẩm bảo hiểm. Để chuẩn bị cho tương lai PJICO đang âm thầm tìm kiếm những ngân hàng uy tín để ‘bắt tay”

    • Ưu đãi tối đa cho hệ thống đại lý

    PJICO vẫn luôn coi trọng việc bán sản phẩm thông qua các đại diện kinh doanh. Để phát triển mạng lưới đại lý của mình PJICO áp nhiều chế độ đãi ngộ hợp lý . Ngoài lợi nhuận của công ty thì quyền lợi của khách hàng  được PJICO coi trọng hàng đầu

    1. Phát triển bền vững để gia tăng giá trị cho các cổ đông thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính.
    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Giáo trình nguyên lý bảo hiểm- NXB thống kê

    – Thị trường bảo hiểm Việt Nam –cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập   NXB lý luận chính trị

    – Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm – đại học kinh tế quốc dân

    Website :

    http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/08/27/3695/

    www.pjico.com.vn

    www.petrolimex.com.vn

    www.webbaohiem.net/


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công ty Prudential là một công ty đa quốc gia kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ. Công ty đã vào Việt Nam và cung cấp các sản phẩm của mình cho khách hàng là những người Việt Nam. Mặc dù mới thâm nhập vào thị trường Việt Nam nhưng với bề dày kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ bước đầu công ty đã đạt được những thành công vượt trội và trở thành công ty thành công nhất tạI thị trường Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. đIều gì đem đến thành công cho công ty bí quyết dẫn đến thành công cho công ty là gì , trong những thuận lợi thì công ty còn gặp phảI những khó khăn gì. Công ty đã tận dụng hết được những lợi thế và cơ hội của mình hay chưa. Đây là những vấn đề mà các nhà quản trị của công ty đang quan tâm và tìm những giảI pháp để khắc phục những khó khăn và tận dụng những thơI cơ mà công ty có được. Trong những yếu tố dẫn đến thành công của công ty thì chiến lược sản phẩm của công ty chiếm vai trò rất lớn và quan trọng hay có thể nói rằng chiến lược về sản phẩm đã mang lạI thành công cho công ty

    . Công ty đã sử dụng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm cung cấp cho khách hàng một danh mục sản phẩm mà từ đó khách hàng có được sự lựa chọn phù hợp nhất với nhu cầu của mình. Mặc dù sản phẩm của công ty là đa dạng và phong phú so với các sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh trong bảo hiểm nhân thọ nhưng liệu những sản phẩm của công ty đã thoả mãn được tối đa nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ hay chưa ? Còn những nhu cầu gì của khách hàng mà công ty chưa nhìn thấy? Liệu công ty có nên mở rộng loạI hình sản phẩm của mình không? Chính những vấn đề này đã dẫn đến tầm quan trọng trong việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty đIều đó sẽ giúp cho công ty khắc phục điểm yếu trong sản phẩm của mình, đề ra những chiến lược về sản phẩm mới nhằm tăng khả năng cạnh tranh dựa trên sự thoả mãn một cách hoàn hảo nhu cầu của khách hàng và nổi trội hơn so với đối thủ cạnh tranh

    1

    PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ) TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    I) KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM.

     

    1 ) ĐỊNH NGHĨA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là mọi hàng động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.

     

    2 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hoá hiện hữu không có. Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật đó là

     

    1. 1 ) Tính vô hình ( Tính không hiện hữu )

     

    Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vu. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta có thể xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hoá hiện hữu

    1. 2 ) Tính không tách rời được.

     

    Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời. ĐIều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. vì khách hàng cũng có mặt khi dịch vu được thực hiên, nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hgàng là một tính chất đặc biệt của dịch vụ.

     

    1. 3 ) Tính không ổn đinh.

     

    Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.

    2

    1. 4 ) Tính không lưu giữ được.

    Không thể lưu giữ dịch vụ được. Vì dịch vụ gắn liền với quá trình sử dụng khi quá trình sử dụng bị tạm dừng hoặc kết thúc thì dich vụ sẽ mất theo.

    3 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    Dịch vụ bảo hiểm là một dịch vụ có đặc trưng rất cao. Đây là một loại dịch vụ đặc biệt, để thoả mãn riêng một cấp độ nhu cầu của con người đó là nhu cầu về sự an toàn. Theo Abraham Moslow thì nhu cầu về sự an toàn là nhu cầu thứ hai sau nhu cầu sinh lý. Khi con người được thoả mãn nhu cầu về sự an toàn thì họ sẽ cảm thấy yên tâm và sẽ tập trung để theo đuổi thoả mãn những nhu cầu khác.

    Khi tham gia dịch vụ bảo hiểm mọi người phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm theo định kỳ. đổi lại họ sẽ nhận được những bù đắp về mặt kinh tế khi có rủi ro xảy ra và họ sẽ nhận được toàn bộ số tiền đã đóng từ trước tới nay, cộng thêm với khoản bảo tức khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc đáo hạn hợp đồng. Ta thấy rằng tham gia bảo hiểm vừa là một hình thức tiết kiệm vừa thoả mãn được nhu cầu về sự đảm bảo rủi ro.

    Sự bù đắp kinh tế cho những rủi ro được các nhà kinh doanh bảo hiểm cung cấp trên mọi mặt của mọi lĩnh vực. Hầu như những lĩnh vực nào có hoặc tiềm tàng sự rủi ro thì đều xuất hiện các loại hình tương ứng

    Không như những loại dịch vụ khác có thời gian tiếp xúc và sử dụng dịch vụ ngắn, thường thì khi kết thúc sử dụng cũng là lúc dịch vụ không còn sự tác động. Đối với dịch vụ bảo hiểm khi khách hàng tham gia nó họ sẽ phải gắn bó với nó mà thời gian đã được quy định sẵn trong hợp đồng. Đây cũng là một đặc điểm khác biệt của dịch vụ bảo hiểm so với các loại dịch vụ khác.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì sự xem xét của khách hàng về mặt lợi hay hạI được thực hiện một cách kỹ lưỡng và người ta thấy rằng việc tham gia bảo hiểm

    3

    là một hoạt động thoả mãn được nhu cầu về sự an toàn của khách hàng trong những hoạt động của mình mà không hề tốn kém.

    II ) NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM

    1 ) Nhu cầu của khách hàng.

    Trong marketing nhu cầu của khách hàng được xem là chìa khoá để dẫn đến thành công của mọi công ty. Người ta cần phải nhận biết được nhu cầu của khách hàng là gì và thứ gì sẽ đem lại giá trị để thoả mãn được nhu cầu đó. Một trong những nhu cầu quan trọng của con người đó là nhu cầu về sự an toàn và bảo hiểm là một trong những dịch vụ có thể thoả mãn được nhu cầu đó.

    Trong hoạt động hàng ngày diễn ra con người phải đối diện với rất nhiều những vấn đề và hầu như tất cả các vấn đề đều có nguy cơ sảy ra rủi ro và mỗi một sự rủi ro lại cần có một sự đảm bảo riêng lẻ tách rời. Chính điều này đã tạo nên nhiều loại hình (sản phẩm ) bảo hiểm khác nhau để thoả mãn từng nhu cầu riêng lẻ của khách hàng. Công ty prudential đã nghiên cứu và cơ bản nhận định được một số nhu cầu của khách hàng muốn tham gia bảo hiểm. Những nhu cầu đó là:

    • Được bảo vệ an toàn tài chính suốt cuộc đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. ( Phú- Trường An )
    • Thực hiện một kế hoạch tích luỹ tài chính hiệu quả nhất để chăm lo tương lai cho con em mình. (Phú _ Tương lai . Phú _ Tích luỹ dáo giuc )
    • Tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. (Phú bảo gia , Phú trường khang, Phú tích luỹ an khang )
    • Tích luỹ tài chính trong 15 năm cho những kế hoạch dài hạn, nhưng vẫn được hưởng quyên lợi trả định kỳ mỗi 03 năm để chi tiêu cho các kế hoạch ngắn hạn. ( Phú Thành đạt, Phú tích luỹ định kỳ )

    4

    • Luôn có được sự chăm sóc hoàn hảo về tài chính cho từng giai đoạn quan trọng khác nhau của cuộc đời và một sự bảo vệ toàn diện trước bất trắc của ngày mai. (Phú hoàn mỹ )
    • Được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. ( Phú Hoà nhân an )
    • Nhân viên luôn có được sự an tâm, đem hết nhiêt tình chung sức vào sự phát triển của tổ chức, công ty mình. ( Phú An nghiệp )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ tài an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong hoặc tàn tật. ( Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong . ( Bảo hiểm chết do tai nạn )
    • Được trợ giúp tài chính khi chẳng may mắc bệnh hiểm nghèo. ( Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, Bảo hiểm thu phí bệnh hiểm nghèo )
    • ) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty a ) Những căn cứ lựa chọn chiến lược của công ty.

     

    Như ta đã biết để đưa ra được một chiến lược đúng đắn các nhà hoạch định chiến lược của công ty phảI căn cứ vào những thông tin do những người làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp. Mà công việc cụ thể họ phảI làm là đánh giá những sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, và cần loạI bỏ…v..v..

     

    Những căn cứ để đưa ra chiến lược mà người làm tiếp thị cung cấp cho các nhà hoạch định chiến lược có thể là thông tin về thị trường, về nhu cầu khách hàng,

    về đối thủ cạnh tranh, về chu kỳ sống của sản phẩm …v..v . Một trong những căn cứ để lựa chọn danh mục sản phẩm hay chiến lược về sản phẩm đó là dựa vào nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể có nhiều nhu cầu về chủng loạI sản phẩm hay là nhu cầu về chuyên sâu trong một chủng loạI sản phẩm. Theo

    5

    những nghiên cứu của công ty thì nhu cầu của khách hàng là đa dạng, đòi hỏi phảI có những sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó.

    1. b) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty Prudential

    theo những căn cứ như trên đã đưa ra các nhà hoạch định chiến lược của công ty Prudential đã quyết định chọn chiến lược đa dạng hoá sản phẩm đây là chiến lược đã làm cho công ty Prudential là công ty có số sản phẩm nhiều nhất và luôn có sản phẩm mới sớm nhất để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng trong số nhứng công ty cùng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam. Trong danh mục sản phẩm của công ty có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó khách hàng được tư vấn để có thể có được chọn lựa được những sản phẩm thích hợp nhất với nhu cầu của mình. Những sản phẩm của công ty không chỉ dừng lại ở những sản phẩm đã đưa ra mà nó luôn được bổ xung những sản phẩm mới làm cho danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú. Đây là hệ quả của việc nắm bắt tốt những nhu cầu của khách hàng và nhạy bén với những xu thế biến đổi nhu cầu đó.

    III) KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    Theo các nhà phân tích kinh tế thì Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á có sức thu hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó lĩnh vực Bảo Hiểm là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia. Vì sao lại như vậy? ở những nước tư bản thì Bảo Hiểm là một dịch vụ phổ biến và phát triển từ lâu, còn ở Việt Nam đây là một dịch vụ mặc dù đã xuất hiện khá lâu nhưng cho mãi đến những năm gần đây thì mới có sự đổi mới và phát triển. Người dân đã bắt đầu chú ý hơn đến những sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu về an toàn của mình. Những năm trước đây Việt

    6

    Nam vẫn còn là nước nghèo cuộc sống của người dân nói chung chỉ đủ ăn ngoàI ra còn rất nhìều nhu cầu khác cần phải được thoả mãn nhưng đều không có điều kiện kinh tế. Khi nền kinh tế thị trường phát triển cuộc sống của người dân được cảI thiện thu nhập tăng lên, từ đó người dân đã chú ý hơn đến việc thoả mãn những nhu cầu khác. Theo thang bậc nhu cầu thì sau nhu cầu về sinh lý được thoả mãn thì nhu cầu tiếp đến của con người là nhu câu về an toàn, chính đIều này đã tạo nên cho Việt Nam một tiềm năng lớn về các dịch vụ bảo hiểm. Vì thế trong những năm gần đây có rất nhiều công ty bảo hiểm nước ngoàI đầu tư ráo riết vào Việt Nam trong đó có Prudential và công ty này đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cho các khách hàng là người Việt Nam. Bên cạnh công ty Prudential còn có rất nhiều công ty khác tham gia trên thị trường cung cấp các sản phẩm bảo hiểm như AIA, Bảo Việt, Bảo Minh …v.. v. các công ty với những điểm mạnh của riêng mình cũng đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng sét chung thì chỉ có Prudential là thành công nhất trong bảo hiểm nhân thọ, Thị trường bảo hiểm hiện đang rất sôi động các sản phẩm cũng rất phong phú điều đó cho thấy là khách hàng đã tiếp thu rất tốt và có hiểu biết về Bảo hiểm. Sự thành công của Prudential là một điều đáng mừng cho thấy dấu hiệu đi lên và phát triển của nền kinh tế.

    PHẦN II. THỰC TRẠNG VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) CỦA CÔNG TY

    2.1) LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL.

    Công ty Prudential được thành lập năm 1848 tại Luân Đôn, Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất vương quốc Anh và cũng là một trong

    7

    ngững tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới. Quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ và có hơn 20 000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, hưu trí, quỹ tương hỗ, ngân hàng, quản lý đầu tư và bảo hiểm phi nhân thọ. Tập đoàn Prudential toàn cầu đã chính thức khai trương văn phòng đạI diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 va được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào thãng 10 năm 1999. Hiện nay, Prudential vinh dự được hơn 1 000 000 khách hàng Việt Nam giao phó trọng trách bảo vệ an toàn tài chính và tương lai cho gia đình mình.

    Vào tháng 6 năm 2001. Prudential Việt Nam đã tăng vốn đầu tư từ 15 triệu đô là lên 40 triệu đô là Mỹ. Tháng 10 năm 2002. Một lần nữa Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư từ 40 triệu lên 61 triệu đô là Mỹ. Với khả năng tài chính vững chắc, Pruential Việt Nam đang đầu tư ráo riết vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm phục vụ khách hàng ngày càng hoàn hảo hơn.

    Nhằm đáp ứng niềm tin to lớn của người dân Việt Nam với tinh thần trách nhiệm cao, Prudential cam kết chỉ tham gia đầu tư các hoạt động an toàn và hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế nước nhà.

    2 . 2 ) HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL

    Prudential có nghĩa là “thận trọng”, người ta đã rất khôn ngoan khi chọn tên công ty là prudential vì chính cái tên có thể phần nào đã gợi lên sự tin tưởng cho khách hàng. Sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ ngoài ra công ty còn phát triển thêm nhiều sản phẩm kèm theo và sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Với hơn 80 năm kinh nghiệp tại Châu á, Prudential hiện đang hoạt động tại 12 trị trường đó là Malaysia, Singapore, Hồng Kông , Indonesia, Thai lan, Philippines, ấn độ, Trung Quốc, ĐàI Loan, Việt Nam, Nhật

    8

    Bản và Hàn Quốc. Chỉ riêng trong khu vực châu á TháI Bình Dương, Prudential đã đầu tư hơn 9 tỉ đôla. Trong đó Việt Nam chiếm 61 triệu Mỹ Kim.

    Qua những năm kinh doanh tạI thị trường Việt Nam công ty Prudential đã đạt

    được những thành tựu nhất định sau đây là kết quả kinh doanh của công ty.

    Năm 2002 nếu tính riêng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh thu của

    tập đoàn đạt 2,8 ty Bảng Anh (tương đương 21,1 tỷ USD ) tăng 12% so với năm

    1. Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm của Prudential Châu Á tăng 18% . Với

    Công ty đầu tư M&G của Prudential – Công ty hàng đầu trong lĩnh vực quản lý

    đầu tư cá nhân, tổng thu nhập của quỹ đầu tư tại công ty này đạt 1 tỷ Bảng Anh

    ( Tương đương 1,6 Tỷ đô là USD ), tăng 11 % ( Thu nhập ròng của quỹ đầu tư

    tại M & G tăng 79 % )

    Cũng trong năm 2002 Prudential hiện đang có 511376 hợp đồng có hiệu lực tính đến cuối tháng 6 và 24169 đại lý từ khi hoạt động ở Việt Nam đến nay, Prudential đã giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 340 trường hợp với số tiền lên đén 20.4 tỷ đồng. Sau hơn hai năm hoạt động, Prudential có trên 900 000 khách hàng với 18 trung tâm phục vụ khách hàng trên khắp cả nước trong thời gian qua Prudential đã giải quyết hơn 500 trường hợp với số tiền đền bù lên dến 30 tỷ đồng.

    Ngày 17/11/2002, Prudential kỉ niệm 3 năm ngày có mặt ở thị trường Việt Nam. Với số vốn gần 1000 tỷ đồng công ty đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn cao nhất trong lĩnh vực bảo hiểm, Ngân hàng và dịch vụ tài chính.

    2.3) THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL.

    2.3 .1 ) Những sản phẩm của công ty

     

    với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình công ty đa có nhiều những sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu riêng biệt của khách hàng, công ty có những loạI sản phẩm sau

    9

    • ) Sản phẩm chính

     

    Sản phẩm chính là các sản phẩm có thể tham gia riêng lẻ mà không cần kèm

    theo bất kỳ một sản phẩm nào khác trong một hợp đồng bảo hiểm. Trong đó có cả sản phẩm tham gia chia lãi và cả sản phẩm không tham gia chia lãi. Những sản phẩm chính gồm:

    + Phú _ Trường an

    Đây là loại sản phẩm mà mục đích của nó là mang đến cho khách hàng sự an tâm vì đã được bảo vệ an toàn tài chính trong suốt cuộc đời và giúp khách hàng tích luỹ một tài sản cho con cháu sau này. Sản phẩm này nhằm thoả mãn cho nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính suốt đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. Đặc điểm của sản phẩm này là

    • Thuộc các sản phẩm bảo hiểm chính
    • Có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại )
    • Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 55
    • Tuổi khi đáo hạn hợp đồng
    • Thời hạn hợp đồng từ 44 đến 99 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau:

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho hợp đồng bảo hiểm trẻ em dưới 15 tuổi + Phú _ Tích luỹ an khang

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là cùng khách hàng tạo dựng nguồn tài chính vững chắc, đảm bảo một tương lai tốt đẹp bằng chính những dành dụm

    10

    của ngày hôm nay. Đồng thời, mang đến cho khách hàng sự an tâm vì được bảo vệ an toàn tài chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro. Sản phẩm bảo hiểm này nhằm thoả mãn nhu cầu: tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. ở đây cần nói thêm rằng một nhu cầu có thể có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn chứ không nhất thiết phải một sản phẩm thoả mãn một nhu cầu. Sản phẩm bảo hiểm này thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính, có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại). Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 65 tuổi, Tuổi tối đa khi đáo han hợp đồng là 75 tuổi. Thời hạn hợp đồng từ 10 đến 30 năm.

    Khi đã tham gia phú Tích luỹ _ An khang khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ nếu dưới đây nhằm mục đích tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính cho bản thân và gia đình trong mọi hoàn cảnh.

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho trẻ em dười 15 tuổi )

    + Phú _ Tích luỹ giáo dục

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là sat cánh cùng các bậc cha mẹ chuẩn bị nguồn tài chính vững chắc làm hành trang cho đứa con thân yêu vào đời. Sản phẩm này nhằm thoả mãn nhu cầu: Thực hiện một kế hoạch tích luỹ hiệu quả nhất để chăm lo cho con em mình. Sản phẩm này có một số đặc điểm đặc biệt. Khi tham gia phu_ tích luỹ giáo dục bằng hợp đồng dành cho trẻ em dưới 15 tuổi, khách hàng nên tham gia thêm sản phẩm bổ trợ “ Bảo hiểm từ bỏ thu phí” với các quyền lợi ưu tiên để có thể hoàn toàn yên tâm về tích luỹ tài

    11

    chính cho đứa con thân yêu của mình cho dù bất kỳ chuyện gì sản ra với mình đi chăng nữa.

    Với các hợp đồng “ Phú _ tích luy” dành cho người được bảo hiểm từ 15 tuổi trở lên, khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ sau:

    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Tích luỹ định kỳ

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích giúp khách hàng tích luỹ tàI chính trong 15 năm cho các kế hoạch dàI hạn nhưng vẫn nhận được các khoản chi trả định kỳ ( mỗi 3 năm ) để chi trả cho những mục tiêu ngắn hạn khác. và tất nhiên, khách hàng sẽ hoàn toàn yên tâm vì đã được bảo vệ an toàn tàI chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro.

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ kèm theo khác

    + Phú _ Hoà nhân an

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích mang đến cho khách hàng và gia đình sự an tâm thanh thản vì đã được bảo vệ an toàn tài chính chỉ với một mức phí bảo hiểm vừa phải. Đặc điểm của loại sản phẩm này là để thoả mãn nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. Hầu hết khách hàng tham gia bảo hiểm này đều được bình an và không gặp phải rủi ro nào phải yêu cầu bảo hiểm, do đó sau khi đáo hạn hợp đồng khách hàng vẫn xem như đã tiết kiệm được một khoản tiền đãng kể.

    Một số thông tin về sản phẩm như sau

    Thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính

    12

    Không tham gia chia lãI ( Không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại )

    Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 15 đến 60 tuổi. Tuỏi tối đa khi đáo hạn hợp đồng là 65

    Thời hạn hợp đồng 5 hoặc 8 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau.

    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn b ) Sản phẩm bổ trợ kèm theo

    Đây là những sản phẩm bảo hiểm giúp khách hàng mở rộng thêm quyền lợi bảo hiểm với mức phí phải chăng . Tất cả các sản phẩm của nhóm này đều thuộc nhóm sản phẩm không tham gia chia lãi (không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại)

    Khách hàng chỉ có thể tham gia sản phẩm này nếu đã tham gia một sản phẩm chính hoặc sản phẩm trọn gói của Prudential.

    Nhóm này gồm 6 sản phẩm :

    + Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo

    Đây là sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm bổ trợ kèm theo và luôn kết hợp với bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo. Sản phẩm này có mục đích hầu gánh giúp khách hàng gánh những nỗi lo về tài chính để chữa trị chẳng may lâm trọng bệnh. Khi tham gia bảo hiểm khách hàng sẽ chăm lo về tài chính khi mắc những bệnh như: Tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, Ung thư, Suy thận, Lao màng não…

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo

    Đây là loạI bảo hiểm luôn kết hợp với “ bảo hiểm bệnh hiểm nghèo” hầu gánh giúp khách hàng những nỗi lo về tàI chính để yên tâm chữa trị khi chẳng may

    13

    lâm trọng bệnh. Khi tham gia sản phẩm này khách hàng được tham gia thêm các sản phẩm chính ở trên .

    + Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn

    Đây là loạI bảo hiểm nhằm mục đích mang đến cho khách hàng cơ hội tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tàI chính cho bản thân và gia đình.khi tham gia sản phẩm này khách hàng cũng được tham gia thêm một số sản phẩm chính ở trên.

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí

    Sản phẩm này mang đến sự an tâm tuyệt đối cho các bậc cha mẹ về tích luỹ tàI chính cho đứa con thân yêu, cho dù có chuyện gì xảy ra với mình đI chăng nữa.

    + Bảo hiểm chết do tai nạn

    Sản phẩm này giúp khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính khi chẳng may gặp tai nạn.

    + Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Sản phẩm gíup khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính nếu chẳng may tử vong hoặc tàn tật do tai nạn.

    • ) Sản phẩm trọn gói

     

    Nhằm giúp khách hàng chon lựa được sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của

    mình Prudential đã nghiên cứu và đưa ra một số hợp đồng bảo hiểm trọn gói tiêu biểu. Những sản phẩm bảo hiểm trọn gói này là sự kết hợp giữa một sản phẩm chính và một hoặc nhiều sản phẩm bổ trợ kèm theo khác. Nhóm này sản phẩm gồm 6 sản phẩm trọn gói sau

    + Phú _ Tương lai

    Kết hợp giữa phú _ tích luỹ giáo dục và bảo hiểm từ bỏ thu phí

    + Phú _ Bảo gia

     

    14

    Gồm phú _ tích luỹ an khang kết hơp với bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Thành đạt

    Gôm Phú _ tích luỹ định kỳ kết hợp với Bảo hiểm Nhân Thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Trường khang

    Gồm Phú _ tích luỹ an khang kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ An nghiệp

    Gồm Phú _ hoà nhân an kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Đây là những sản phẩm kết hợp giữa những sản phẩm chính và sản phẩm bổ trợ kèm theo. Việc đưa ra sản phẩm trọn gói là một chiến lược của công ty Prudential. Khách hàng có thể tham gia riêng một phầm sản phẩm trọn gói, hoặc cũng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ hoặc sản phẩm kèm theo khác theo hướng dẫn của công ty.

    • với danh mục sản phẩm như trên công ty đã thực hiện được mục tiêu của mình đó là đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Với sự đan xen giữa các sản phẩm bảo hiểm với nhau đã tạo ra vô số những sản phẩm mà khách hàng có thể lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của bản thân mình. Với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình Prudential đã gặt hái được những thành công to lớn. Bên cạnh đó công ty không ngừng nghiên cứu và giới thiệu những sản phẩm mới. Nhân dịp 8/3/2003 Công ty đã cho ra mắt khách hàng một sản phẩm mới đó là “ Phú _ Hoàn mỹ “ đây là bảo hiểm dành cho phái nữ. Đây là sản phẩm trọn gói gồm “Phú _ Tích luỹ an khang” kết hơp với một số sản phẩm bổ trợ đặc thù dành riêng cho phụ nữ: Bảo hiểm cơ bản, bảo hiểm đặc biệt dành cho phụ nữ, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo và bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo, boả hiểm từ bỏ thu phí mở rộng.

    15

    Theo đại diện của Prudential, việc giới thiệu sản phẩm mới này nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty với mục đích đáp ứng tốt nhất nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, nhất là nhu cầu được bảo vệ tối đa của ngưòi phụ nữ trong những tình huống không mong đợi.

    Đại diện của Prudential cho biết, khi tham gia Phu _ Hoàn mỹ, ngoài việc chủ động lựa chọn thời gian đáo hạn hợp đồng sao cho phù hợp với những kế hoạch tài chính trong tương lai, khách hàng còn nhận được những quyền lợi về tiền mặt khác thích ững với nhu cầu tài chính của từng giai đoạn quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ. Đó là quyền lợi tiền mặt khi sinh con và quyền lợi tiền mặt vào các ngày đáo niền thứ 5 và thứ 10 của hợp đồng.

    “ Chúng tôi đã đưa quyền lợi chăm sóc quả phụ vào phú hoàn mỹ để có thể trợ giúp khách hàng một khoản tiền mặt tương đưong với 10 % số tiền bảo hiểm, giúp phần nào vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cuộc sống khi chẳng may người chồng qua đới do tai nạn. khách hàng có thể mua thêm sản phẩm bổ trợ tuỳ chọn “ Từ bỏ thu phí mở rộng “ để nếu chẳng may người chồng qua đời hay bị thương tật toàn bộ và vĩnh viễn thì họ sẽ được miễn toàn bộ phí phải đống con lại mà vẫn được hưởng mọi quyền lợi bảo hiểm trong xuốt thời hạn của hợp đồng” . Trên đây là những nét sơ qua về một sản phẩm nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm mà công ty mới đưa ra vào ngày 8/3 của năm nay đây là kết quả của sự nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu khách hàng, công ty đã chọn khách hàng mục tiều của mình là phụ nữ đã có gia đình và chưa có gia đình đây quả thực là một sản phẩm có ý nghĩa có thể đáp ứng nhu cầu mà phụ nữ mong đợi bấy lâu nay. Với những chiến lược và sản phẩm hoàn hảo công ty Prudential sẽ ngày càng có được những thành công vượt trội trên con đường kinh doanh của mình.

    16

    2.3.3 ) Đánh giá khả năng thoả mãn nhu cầu khách hàng của những sản phẩm (dịch vụ ) ở công ty Prudential.

     

    • Những ưu thế trong sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh.

    Như ta đã thấy bên cạnh công ty là rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những tiềm lực không kém gì Prudential. Vấn đề là ở chỗ công ty đã vượt qua các đối thủ cạnh tranh để trở thành một tập đoàn lớn mạnh nhất thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, điều gì đã giúp công ty thành công đến như vậy. Một trong những lý do dẫn đến thành công của công ty đó chính là sự khác biệt và những ưu thế trong chiến lược sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh. để có được những sản phẩm có ưu thế và sự khác biệt so với đối thủ công ty đã nghiên cứu và nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác công ty luôn bám sát được nhu cầu của khách hàng. Vì vậy công ty đã hiểu được những gì mà khách hàng đang tìm kiềm và mong đợi. Phương châm phục vụ của Prudential là “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu” , lắng nghe và thấu hiểu chính nhờ điều này mà công ty luôn có sản phẩm ( dịch vụ ) có thể đáp ứng một cách nhanh nhất hoàn hảo nhất những nhu cầu của khách hàng. Những sản phẩm của công ty luôn coi trọng và đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu, khi tham gia bảo hiểm của công ty khách hàng cảm thấy yên tâm, cảm thấy mình có một cảm giác được bảo vệ thật sự. Một số công ty kinh doanh bảo hiểm khác khi khách hàng tham gia họ cảm thấy mình như bị lợi dụng và họ cho rằng bảo hiểm chỉ là hình thức, các công ty chỉ lợi dụng số tiền của họ. Đây

    17

    cũng chính là điểm khác biệt mà Prudential đã tạo được trong tâm trí khách hàng so với các hãng kinh doanh bảo hiểm khác.

    Có một điều hết sức đặc biệt trong các sản phẩm của công ty prudential. Như ta đã biết Prudential đưa ra 3 nhóm sản phẩm đó là sản phẩm chính , sản phẩm bổ trợ và sản phẩm trọn gói. Mỗi một sản phẩm trong nhóm này lại kết hợp với một hoặc nhiều sản phẩm của nhóm khác để tạo nên rất nhiều những loại sản phẩm mới nhờ thế mà danh mục sản phẩm của công ty trở nên đa dạng và phong phú. Nhờ đặc điểm này các sản phẩm của công ty đã thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, có thể đáp ững những nhu cầu khác nhau chỉ trong một sản phẩm kết hợp. đây là điều đặc biệt mà các đối thủ cạnh tranh khác không có hoặc không bằng. Bên cạnh đó công ty cúng tỏ ra rất nhanh nhậy trong việc đưa ra sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của khách hàng ví dụ: như trong dịp 8/3 công ty đã tung ra sản phẩm mới Phú _ Hoàn Mỹ để đáp ứng nhu cầu an toàn sắc đẹp cho phụ nữ và chỉ dành riêng cho giới nữ.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì những quyền lợi và đIều khoản trong hợp đồng là hết sức quan trọng đối với những sản phẩm phẩm của công ty Prudential thì những đIều khoản trong hợp đồng là hết sức chặt chẽ điều đó làm cho công ty có được sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhưng nó cũng làm cho khách hàng cảm thấy công ty quá chắc chắn làm cho họ phải suy nghĩ đến những quyền lợi của riêng mình nhận được khi tham gia bảo hiểm. Nhưng mặt khác khi khách hàng tham gia bảo hiểm của Prudential thì họ nhận được những lợi ích và các điều khoản rõ ràng trong hợp đồng đã tạo được sự tin cậy của khách hàng nhiều hơn so với các công ty khác.

    Công ty Prudential với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ khi tham gia thị trường Việt Nam đã được thừa hưởng những kinh nghiệm về bảo hiểm từ công ty mẹ ở Anh Quốc nên họ nhanh chóng tiếp cận được với thị

    18

    trường Việt Nam, cộng thêm với nguồn tài chính lớn mạnh nên có thể tổ chức nghiên cứu thị trường một cách nhanh chóng và kỹ lưỡng.

    Ngoài ra bên cạnh việc cung cấp sản phẩm công ty Prudential có rất nhiều những dịch vụ chăm sóc khách hàng kèm theo sản phẩm như sinh nhật hay các ngày lễ, khách hàng cảm thấy mình thực sự được quan tâm.

    Chính những điều trên đã dẫn đến những thành công vượt trội của công ty Prudential.

    • Những điểm hạn chế của sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh

     

    • Trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng.

    Trên đời không có gì là hoàn hảo cả bất kể thứ gì có điểm mạnh tất sẽ có điểm yếu, Prudential cũng không nằm ngoài quy luật này. mặc dù sản phẩm và dịch vụ của Prudential khá đầy đủ nhưng vẫn chưa thoả mãn được triệt để nhu cầu của khách hàng. chiến lược sản phẩm của công ty tương đối độc đáo như khi khách hàng tham gia một sản phẩm chính thì có thể tham gia thêm một số sản phẩm kèm theo, điều này đã phần nào tạo nên một sự bù đắp cho những hạn chế của sản phẩm chính. Sự hạn chế của sản phẩm chính là sự thoả mãn chưa tối đa cho một nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó mức phí bảo hiểm của Prudential vẫn còn khá cao so với các công ty khác trên thị trường Việt Nam nên nó hạn chế trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng. NgoàI ra việc thu phí bảo hiểm khá cao ảnh hưởng lớn khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dân số Việt Nam đa phần là có thu nhập thấp dù có mong muốn tham gia bảo hiểm thì cũng khó có thể mà thực hiện được.

    Trong số các loại sản phẩm của công ty bao gồm những sản phẩm có bảo tức tích luỹ _ có giá trị hoàn lại và không có giá trị hoàn lại. Trong hai nhóm sản phẩm trên thì khách hàng chủ yếu là tham gia vào sản phẩm có giá trị hoàn lại và có bảo tức tích luỹ. Bởi vì khách hàng Việt Nam phần lớn là những người có thu nhập không phải là cao nên họ không muốn ném tiền

    19

    vào một sản phẩm mà khi không có sự kiện bảo hiểm thì họ không nhận được gì hết. Chính điều này đã làm cho những sản phẩm thuộc nhóm không có giá trị hoàn lại của công ty ít phát huy tác dụng.

    Một mặt hạn chế lớn nữa của sản phẩm của công ty đó là các sản phẩm của công ty chủ yếu tập trung vào bảo hiểm nhân thọ, trong khi đó các công ty khác họ tham gia rất nhiều các lĩnh vực cần bảo hiểm khác hoặc giả nếu có thì những sản phẩm của công ty không được hoàn hảo bằng đối thủ cạnh tranh.

    • Một số đánh giá cụ thể của khách hàng về khả năng đáp ứng nhu cầu của họ.

    Theo một số khách hàng thì các sản phẩm của Prudential đã thoả mãn được nhu cầu của khách hàng có rất nhiều người biết đến Prudential nhưng họ vẫn chưa có được khả năng tiếp cận với sản phẩm. Một số ngưòi khác muốn tham gia bảo hiểm của Prudential vì công ty này đã tỏ ra rất đáng tin cậy nhưng mức phí vẫn còn cao và thủ tục tham gia bảo hiểm cũng rất phức tạp mất thời gian. Gây tâm lý ngần ngại trong quá trình quyết định tham gia bảo hiểm.

     

    PHẦN III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THOẢ MÃN NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG

     

    I ) Định hướng phát triển của công ty.

     

    1 ) Mục tiêu và thị trường mục tiêu của công ty.

    Mục tiêu của công ty trước mắt là tích cực quảng bá sản phẩm để tăng thêm khả năng tiếp cận tìm hiểu của khách hàng nhằm tăng thị phần của công ty và cạnh tranh đối với các đối thủ khác. Tăng cường công tác nghiên cứu nhu cầu và su thế biến đổi nhu cầu của khách hàng để nhanh chóng có những chiến lược về sản phẩm để khắc phục thích ứng với những biến đổi trong nhu cầu đó. bên cạnh đó công ty còn trú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ đi kèm với sản phẩm cùng với quá trình marketing của công ty.

    20

    Về thị trường mục tiêu thì thị trường mục tiêu của Prudential có xu hướng ngày càng mở rộng thêm nhiều đối tượng. Mục đích của Prudential là mong muốn thoả mãn mọi khách hàng thuộc mọi tầng lớp có nhu cầu về sản phẩm bảo hiểm. Hiện nay sản phẩm của công ty đa số tập trung ở các thành phố lớn và những tỉnh có kinh tế khá, sản phẩm của công ty vẫn chưa được quảng bá một cách rộng rãi cho toàn bộ người dân và phí Bảo hiểm vẫn còn cao vì vậy công ty có gắng giảm phí bảo hiểm để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng . đây là điều mà trong tương lai công ty Prudential cố gắng thực hiện

    2 ) Định hướng phát triển.

    Trong những năm sắp tới công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và nâng cao hơn nữa khả năng phục vụ và chăm sóc khách hàng. với những chiến lược hoàn thiện sản phẩm ( dịch vụ ) và tung ra những sản phẩm mới để đãp ứng nhu cầu đa dạng và thay đổi nhanh chóng của khách hàng. Prudential luôn luôn giữ vững nguyên tắc trong kinh doanh của mình đó là : “Chính trực – Công bằng – Dịch vụ hoàn hảo” và phương châm phục vụ “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”.

    II ) Triển vọng thị trường sản phẩm của công ty.

    Với những gì mà Prudential đã làm trong những năm qua thì đó quả là một thành công và là một điều đáng mừng. Prudential đã không ngừng đầu tư vào Việt Nam điều đó chứng tỏ Prudential đã thành công ở Việt Nam và thị trường này tỏ ra ngày càng có nhiều triển vọng. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng đi lên đồng nghĩa với việc người dân hay khách hàng ngày càng có thu nhập cao hơn cuộc sống khá hơn họ sẽ có xu hướng tập trung vào thoả mãn những nhu cầu cao hơn trong đó có cả nhu cầu về các loại sản phẩm bảo hiểm. Vì vậy có thể nói thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho các nhà kinh doanh bảo hiểm, còn việc họ có kinh doanh thành công hay không thì lại tuỳ thuộc vào khả năng của chính họ. Theo nhận định thì thị trường về sản phẩm bảo hiểm ở

    21

    Việt Nam mới ở giai đoạn đầu trong chu kỳ sống của sản phẩm, vì vậy trên thị trường có rất nhiều hãng kinh doanh bảo hiểm nhầy vào cạnh tranh. Công việc đặt ra cho Prudential là luôn luôn có những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo để đáp ứng nhu cầu của khách tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Nếu trong tương lai mà Prudential vẫn duy trì và phát triển hơn nữa những chiến lược kinh doanh như hiện nay thì có lẽ Prudential sẽ vẫn là người thành công trên thương trường.

    III ) Hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty Prudential.

    Chiến lược sản phẩm mà công ty Prudential theo đuổi đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm. Chiến lược này bắt nguồn từ sự đa dạng trong nhu cầu về mặt hàng bảo hiểm của khách hàng. Hiện tại chiến lược này của công ty tỏ ra tương đối thành công , thực chất thì sản phẩm của công ty chưa phải là nhiều mặc dù công ty đã có những phương pháp như kết hợp các sản phẩm với nhau để tạo ra sản phẩm mới nhằm tăng sự đa dạng trong sản phẩm , nhưng thực ra thì các sản phẩm đó chỉ thoả mãn được một số nhu cầu nhất định. Còn rất nhiều những nhu cầu hiện tại và tiềm năng mà công ty chưa nhìn thấy chưa có sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đó.

    ta thấy rằng xuyên xuốt các sản phẩm của công ty thì hầu như sản phẩm của công ty đều liên quan đến bảo hiểm nhân thọ, còn rất nhiều các lĩnh vực khác cũng cần được bảo hiểm mà công ty chưa tham gia điều này có thể gây ra những thiệt hạI gián tiếp cho công ty. Ví dụ như các công ty khác như Bảo Việt

    • Bảo Minh còn tham gia các lĩnh vực bảo hiểm khác như tài chính, giao thông vận tảI ..v..v . khi tham gia vào các lĩnh vực bảo hiểm này thì cũng đồng nghĩa với việc danh tiếng của công ty tăng theo và thị phần của công ty cũng lớn mạnh nếu khi đó các công ty cạnh tranh có một chiến lược sản phẩm mới thì rất có thể công ty mất đi thị phần của mình và bị bật khỏi thị trường.

    Công ty có lẽ cần phải hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình nhằm chiếm toàn bộ thị phần về bảo hiểm nói chung và nhân thọ nói riêng.

    22

    Trước mắt công ty cần tập trung nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để có thể đưa ra được những sản phẩm mới ví dụ: Thời gian gần đây có xuất hiện một loại bệnh mới đó là bệnh viêm hô hấp cấp làm cho người dân rất lo lắng. Nói chung trên thế giới sẽ luôn xuất hiện những bệnh mới lợi dụng điều đó công ty có thể có một loại bảo hiểm về chuẩn đoán và chữa trị khi chẳng may mắc phải chứng bệnh mới này. Nói chung để có được một sản phẩm mới không phải là chuyện dễ dàng cần có thời gian nghiên cứu và hoàn thiện, trên đây chỉ là ý tưởng của em về một sản phẩm nhỏ có thể đưa ra.

    Công ty Prudential khi đã chiếm lĩnh được thị trường bảo hiểm rồi thì cũng có thể đưa ra những sản phẩm tương tự như sản phẩm của đối thủ cạnh tranh mục đích làm đa dạng hoá sản phẩm của mình và lợi dụng được ưu thế thị trường của mình.

    không chỉ trong bảo hiểm nhân thọ mà trong cả các lĩnh vực khác công ty cũng nên đưa ra những sản phẩm có thể đáp ứng những nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ của khách hàng. mặt khác tăng cường các hoạt động truyền thông để cho khách hàng biết đến công ty đang có những thứ mà họ cần.

    Bên cạnh chiến lược chủ chốt đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm công ty cũng cần phải có thêm chiến lược hỗ trợ cho chiến lược chính. Dù chú trọng vào việc tung ra sản phẩm mới để thoả mãn những nhu cầu mới nhưng công ty vẫn phải tiếp tục nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm hiện thời để phát hiện ra những mặt mạnh và mặt yếu của sản phẩm để từ đó đưa ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình.

    23

    KẾT LUẬN.

    Công ty Prudential là một công ty thành công trong lĩnh vực Bảo hiểm tại thị trường Việt Nam với những chiến lược sản phẩm và dịch vụ đặc biệt. Công ty đã trở thành công ty dẫn đầu. Nhưng điều đó sẽ không có gì là chắc chắn trong thời buổi kinh tế hiện nay nếu chỉ cần lơi là tự đắc một chút thì ngay lập tức sẽ có kẻ khác đứng lên tiếm ngôi của mình. Mà trong thời buổi hiện nay thua kém có nghĩa là thất bại. Vì vậy công ty phải luôn luôn không ngừng “ Lắng nghe và Thấu hiểu”. Luôn luôn tiếp cận với khách hàng để cho khách hàng coi mình như là một người thân không thể thiếu, bên cạnh đó phải ra sức hoàn thiện chiên lược đa dạng hoá sản phẩm của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của khách hàng, và luôn duy trì một dịch vụ chăm sóc khách hàng thật hoàn hảo. chỉ có như vậy thì công ty mới luôn thành công và tồn tại được.

    24

    MỤC LỤC

     

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đề án môn học

    LỜI MỞ ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao động. Trong quá trình thực hiện, chế độ BHXH không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhằm đảm bảo quyền lợi đối với người lao động .

    Trong các chế độ của hệ thống BHXH có chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ hội mới về việc làm.

    Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ khá rõ, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp. Nhà nước đã giải quyết vấn đề này bằng nhiều biện pháp như chính sách dân số, kinh tế, …

    Mặc dù hiện nay nước ta chưa triển khai BHTN song những năm vừa qua Nhà nước, ngành lao động- thương binh xã hội đã có nhiều đề án và đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này để chuẩn bị triển khai trong những năm sắp tới. Đây là vấn đề bức xúc và tất yếu, là trách nhiệm của cả Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.

    Để triển khai BHTN, phải xây dựng được chính sách hay pháp lệnh về BHTN, tạo hành trang pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện. Hy vọng rằng BHTN sẽ sớm được triển khai ở Việt Nam góp phần giải quyết căn bệnh cố hữu do cơ chế thị trường đẻ ra, đó là thất nghiệp.

    Mục tiêu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận , thực tiễn Thất nghiệp , các chính sách BHTN trên cơ sở tống hợp thông tin.

    Kết cấu của đề tài : Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 phần chính :

    1. Một số vấn đề về thất nghiệp.
    1. Bảo hiểm Thất nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    III. Chính sách Bảo hiểm Thất nghiệp của Việt Nam hiện tại và tương

    lai.

    Bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong sự chỉ bảo của cô.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    NỘI DUNG

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THẤT NGHIỆP

    1.Khái niệm về thất nghiệp

    Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều tổ chức,nhiều nhà khoa học bàn luận.Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp.Luật Bảo hiểm thất nghiệp (viết tắt BHTN)cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”.

    Tại Pháp người ta cho rằng,thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.

    Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”.

    Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”.

    Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ,”Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”.

    Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa:”Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:

    • Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
    • Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn ) hoặc đã thôi việc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định.
    • Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất

    việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

    • Có khả năng lao động.
    • Đang không có việc làm
    • Đang đi tìm việc làm.
    • Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.

    Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.

    Định nghĩa thất nghiệp ở Việt Nam : “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.

    2. Các nguyên nhân gây thất nghiệp

    Có 3 nguyên nhân gây thất nghiệp

    – Do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi:

    Theo chu kỳ phát triển kinh tế , sau hưng thịnh đến suy thoáim khủng hoảng. Ở thời kỳ được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút nhiều lao động.Ngược lại thời kỳ suy thoái sản xuất đình trệ , cầu lao động giảm không những không tuyển thêm lao động mà còn một số lao động bị dôi dư gây nên tình trạng thất nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế nếu năng lực sản xuất xã hội giảm 1% so với khả năng , thất nghiệp sẽ tăng lên 2%.

    – Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đặc biệt quá trình tự động hóa quá trình sản xuất.Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tự động hóa quá trình sản xuất sẽ tiết kiệm được chi phí, năng suất lao động tăng cao , chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Chính vì thế, các nhà sản xuất luôn tìm cách đổi mới công nghệ, sử dụng những dây truyền tự động vào sản xuất, máy móc được sử dụng nhiều, lao động sẽ dôi dư. Số lao động này sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp.

    • Sự gia tăng dân số và nhuồn lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm. Điều này thường xảy ra đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển. Ở đây, nguồn lực dồi dào nhưng do kinh tế hạn chế nên không có điều kiện đào tạo và sử dụng hết nguồn lao động hiện có.

    3. Phân loại thất nghiệp

    Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó. Căn cứ vào từng chỉ tiêu đánh giá, ta có thể chia thất nghiệp thành các loại sau:

    a.Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp.

    Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào…Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:

    • Thất nghiệp theo giới tính.
    • Thất nghiệp theo lứa tuổi.
    • Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.
    • Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
    1. b. Phân loại theo lý do thất nghiệp .

    Trong khái niệm thất nghiệp , cần phải phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc.Trong

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề , cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng:

    Thất nghiệp tự nguyện :Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời.

    Thất nghiệp không tự nguyện là: Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn hơn cầu về lao động…

    Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.

    Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn . Có những người ( bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc . Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc ( hay còn có thể có những nguyên nhân khác).

    Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm . Nó luôn biến động theo thời gian. Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa.

    1. c. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp.

    Tìm hiểu nguồn gốc thất có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp , từ đó tìm ta hướng giải quyết. Có thể chia thành 4 loại:

    Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    giai đoạn khác nhau của cuộc sống.Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác ; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…

    Thất nghiệp có tính cơ cấu : Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung – cầu lao động ( giữa các ngành nghề , khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải. Chính vì vậy , thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài , nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.

    Thất nghiệp do thiếu cầu : Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống . Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu . Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề.

    Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ với mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia ( Chính phủ hoặc công đoàn ) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động ( có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao động đang cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thi trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó là then chốt để nắm bắt tình hình chung của thị trường lao động.

    4. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế –xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Ngược lại, thất nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy , cần phân tích rõ tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế –xã hội đối với thất nghiệp và ngược lại, ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế –xã hội; hạn chế những tác động đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

    a.Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

    Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến ( bờ vực) của lạm phát.

    Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kích thích phát triển kinh tế – xã hội.

    b.Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập. Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ se khó khăn. Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…

    1. Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.

    Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.

    Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội khó khăn và nan giải của quốc gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội.

    Giải quyết tình trạng thất nghiệp không phải “một sớm, một chiều”, không chỉ bằng một chính sách hay một biện pháp mà phải là một hệ thống các chính sách đồng bộ, phải luôn coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Bởi lẽ, thất nghiệp luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và tăng (giảm) theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường.

    Trong hàng loạt các chính sách và biện pháp để khắc phục tình trạng thất nghiệp, Bảo hiểm thất nghiệp có vị trí quan trọng.

    II. BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    1.Một số khái niệm.

    1.1 .Bảo hiểm xã hội

    Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm xã hội, nhưng có thể khái niệm như sau: bảo hiểm xã hội là sự vảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối cới người lao động khi họ gặp phải những biến

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sự an toàn đời sống cho người lao động, và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

    Vai trò của Bảo hiểm xã hội: trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm xã hội là một lĩnh vực không thể thiếu được đối với người lao động, người sử dụng lao động nói chung, còn phía Nhà nước đây là một chính sách xã hội rộng lớn mà quốc gia nào cũng phải có bởi vì:

    Thứ nhất, đối với người lao động:

    Bảo hiểm xã hội giúp người lao động và gia đình họ ổn định cuộc sống. Khi chưa có bảo hiểm xã hội thì bản thân người lao động cũng như gia đình họ gặp khó khăn khi xảy ra rủi ro như : tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau hay không còn khả năng lao động để đảm bảo cuộc sống…Nhờ có bảo hiểm xã hội sẽ bù đắp phần thu nhập bị mất của người lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động.

    –  Thứ hai, đối với người sử dụng lao động:

    Bảo hiểm xã hội là tấm lá chắn giúp họ trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất và thu hút được lao động, vì bảo hiểm xã hội đảm bảo chi trả những khoản tiền lớn khi người lao động không may gặp những rủi ro hoặc khi hết tuổi lao động.Bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng lớn đến tài chính của đơn vị.

    Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội:

    Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động , nên về lâu dài nó góp phần nâng cao năng suất lao động vì cuộc sống của người lao động được đảm bảo hơn, do đó họ quan tâm hơn trong lao động sản xuất và cảm thấy phấn khởi, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển .Đồng thời đảm bảo an toàn xã hội và văn minh xã hội.

    Ngoài ra, nguồn quỹ của bảo hiểm xã hội còn nhàn rỗi rất lớn, trong khi đó nó luôn được bổ sung liên tục, vì vậy phần quỹ nhàn rỗi chưa sử dụng

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được đầu tư để tăng trưởng, nên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển, giảm bớt khó khăn về vốn đầu tư cho nhà nước.

    Vì vậy bảo hiểm xã hội có vai trò là gắn với lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước với nhau, tạo thành một mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy xã hội phát triển.

    1.2. Bảo hiểm thất nghiệp.

    a.Lịch sử hình thành BHTN.

    BHTN xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến và phát triển: nghề sản xuất các nặt hàng thủy tinh ở Thụy Sĩ. Nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20 đến 30 công nhân. Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với mình, năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để rẹơ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sảm xuất. Sau đó, nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc , mất việc. Tiền trợ cấp ccược tính vào giá thành sản phẩm và người dụng hàng hóa phải gánh chịu. Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều cấp chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN. Qũy BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnơ (ThụySĩ) vào năm1893. Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ nà cả những người lao động có công việclàm không ỏn định. Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương.

    Năm 1900 và 1910, Nauy và Đan Mạch ban hành Đạo luật quốc gia về BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước.

    Năm 1911 , Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp sau đó là một số nước khác ở Châu Âu như :Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức…

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Sau cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) một số nước

    Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn :

    • Mỹ năm 1935,Canađa vào năm 1939.

    Sau chiến tranh thế giới lần thứ II ,đặc biệt là sau khi có Công ứơc số102, năm 1952 của Tỏ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Tính đến năm 1981, có 30 nước thực hiện BHTN bắt buộc và 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện, đến năm 1992 những con số trên là 39 và 12 nước. Ở Châu Á , các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…đều đã thực hiện BHTN.

    b.Khái niệm

    BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp – được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm. Mặt khác, trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho mộ bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau.

    1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.

    Là một bộ phận của BHXH, BHTN là bảo hiểm bổi thường cho người lao động bị thiệt hạivề thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thi trương lao động.

    Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    những cơ hội mới về việc làm. Vì thế, một số nhà kinh tế học còn cho rằng BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế – xã hội của quốc gia. Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và người cử dụng lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội.

    BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người , song nó có một số đặc điểm khác như : Không có hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của ngững người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp. BHTN khộng có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lớn , đặc biệt là trọng những thời kì nền kinh tế bị khủng hoảng.

    Mặc dù nhiều nước triển khai BHTN độc lập với BHXH, song đối tượng của BHTN cũng giống đối tượng của BHXH ,đó là thu nhập của người lao động.Còn đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và người sử dụng lao động, song đối tượng này rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy định của từng nước.Đại đa số các nước đều quy định đối tượng tham gia BHTN là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Bao gồm:

    • Những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng một số lượng lao động nhất định.
    • Những người làm việc theo hợp đồng lao động với một thời gian nhất định ( thường là một năm trở lên ) trong các doanh nghiệp , các cơ quan đoàn thể, các đơn vị hành chính sự nghiệp ( nhưng không phải là viên chức và công chức).

    Những công chức, viên chức Nhà nước; những người lao động độc lập không có chủ ; những người làm thuê theo mùa vụ thường không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bởi vì , hoặc là họ được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp, hoặc là những người khó xác định thu nhập để xác định phí bảo hiểm, thời gian làm việc ngắn, công việc không ổn định , thời gian đóng phí bảo hiểm không đủ . Về

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    phía người sử dụng lao động, họ cũng có trách nhiệm đóng góp BHTN cho người lao động mà họ sử dụng .Vì rủi ro việc làm trong một chừng mực nào đó xuất phát từ phía người sử dụng lao động. Như vậy , đối tượng tham gia BHTN hẹp hơn rất nhiều so với BHXH.

    • Rủi ro thuộc phạm vi BHTN là rủi ro nghề nghiệp , rủi ro việc làm. Người lao động tham gia BHTN bị mất việc làm họ sẽ được hưởng trợ cấp BHTN. Điều kiện để được hưởng trợ cấp BHTN khá chặt chẽ:
    • Người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định
    • Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động;
    • Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm tại Cơ quan lao động có thẩm quyền do Nhà nước quy định;
    • Phải sẵn sàng làm việc;
    • Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng phí BHTN đủ thời hạn quy định.

    Những người thất nghiệp nặc dù có đóng BHTN nhưng không được hưởng trợ cấp khi họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật , bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động hoặc từ chối không đi làm việc do cơ quan lao động việc làm giới thiệu…Để được hưởng trợ cấp BHTN , người lao động phải có một thời gian nhất định đã tham gia đóng góp vào quỹ BHTN – thời gian dự bị. Việc đặt ra thời gian dự bị có nhiều tác dụng. Một mặt nó đảm bảo rằng, chỉ có những người thường xuyên tham gia hoạt động kinh tế mới được xem như bị mất thu nhập thực sự do bị thất nghiệp, còn đối với những người chưa từng có việc làm, chưa có thu nhập , không được coi họ là những người bị thiệt hại về thu nhập. Mặt khác, thông qua thời gian dự bị , quỹ BHTN có thể đảm bảo số đóng góp của mỗi người lao động đạt tới một mức tối thiểu trước khi xảy ra thất nghiệp. Điều này sẽ tích cực góp phần cân đối quỹ tài chính BHTN.

    1. d. Qũy BHTN và mức trợ cấp BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qũy Bảo hiểm thất nghiệp.

    Là một quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

    Qũy được hình thành chủ yếu từ nguồn sau đây:

    • Người sử dụng đóng góp.
    • Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng góp.
    • Nhà nước bù thiếu.

    Ngoài ra còn đươc bổ sung bởi lãi suất đầu tư đem lại từ phần quỹ nhàn rỗi ( vì quỹ BHTN thường được cân đối thu chi trong năm kế hoạch ). Cũng như BHXH , người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và người sử dụng lao động đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương và tổng quỹ lương.

    Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp trong hoạt động tài chính để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động.

    Qũy BHTN nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia và số người tham gia BHTN. Tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phụ thuộc chủ yếu vào tủ lệ thất nghiệp, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN cũng như nội dung sử dụng quỹ.

    Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động. Lực lượng lao động phải được xác định thống nhất với nội dung của đối tượng và phạm vi bảo hiểm. Còn số người thất nghiệp được xác định thông qua điều tra hay dựa vào số liệu thống kê những người đã đăng ký thất nghiệp. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp thường xuyên biến động, vì thế nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia BHTN cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước. Sự hỗ trợ của nhà nướccho quỹ BHTN là không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề mang tính xã hội rộng lớn. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách , mà còn phải quan tâm đến việc thực hiện chính sách, bằng cách trích một khoản ngân sách đáng kể hỗ trợ quỹ BHTN. Mặc dù chỉ hỗ trợ một phần nhưng Nhà nước có một nguồn quỹ rất lớn để khắc phục tình trạng thất nghiệp , từ đó góp phần ổn định xã hội. Mặt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khác, nhiều khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh , lao động bị thất nghiệp nhiều không hẳn tại doanh nghiệp hay người lao động mà tại nhà nước, do nhà nước thay đổi chính sách kinh tế , do quản lý thị trường yếu kém và tiền vốn cấp phát không kịp thời v.v…Vì vậy, Nhà nước cũng phải tham gia đóng góp vào quỹ BHTN . Nhà nước có thể tham gia theo một trong hai hình thức sau:

    • Thứ nhất, đóng góp thường xuyên thông qua việc trích ngân sách hỗ trợ qũy BHTN.
    • Thứ hai là, Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người bảo hộ khi đóng góp của người lao động và người lao động và người sử dụng lao động không đủ bù đắp các khoản chi hoặc khi quỹ BHTN có những biến động lớn do lạm phát…

    Mức độ tham gia đóng góp vào quỹ BHTN trong những năm gần đây của một số nước thực hiện BHTN cũng rất khác nhau. Có nước quy định người lao động , người sử dụng lao động và Nhà nước đóng góp như nhau. Ngoài ra còn có những nước quy định người sử dụng lao động đóng gấp đôi người lao động, nhà nước chỉ tiến hành bù thiếu.

    Qũy BHTN được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp BHTN . Ngoài ra nó còn được sử dụng cho các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại vị trí làm việc ( như : đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho người lao động; chi phí tìm kiếm và môi giới việc làm,…); Chi cho tổ chức hoạt động BHTN…

    • Mức trợ cấp BHTN.

    Về nguyên tắc mức trợ cấp thất nghiệp phải thấp hơn thu nhập của người lao động khi đang làm việc. Việc xác định mức trợ cấp phải dựa trên cơ sở đảm bảo cho người thất nghiệp đủ sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời sao cho họ không thể lạm dụng để muốn hưởng trợ cấp hơn là đi làm. Vì vậy, hầu hết các nước đã triển khai BHTN , đều dựa trên những cơ sở sau đây để xác định mức trợ cấp thất nghiệp .

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Mức lương tối thiểu ;
    • Mức lương bình quân cá nhân;
    • Mức lương tháng cuối cùng trước khi bị thất nghiệp.

    Dựa vào mức lương nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, nhưng mức lương nào dùng để xác định mức trợ cấp thất nghiệp cũng là mức lương làm căn cứ đóng phí BHTN . Theo ILO , mức trợ cấp BHTN tối thiểu bằng 45% thu nhập trước khi thất nghiệp.

    • Thời gian hưởng trợ cấp BHTN

    Thời gian hưởng trợ cấp BHTN tối đa phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tài chính, vào quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia BHTN , ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế – xã hội. Trong các thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp thấp, người lao động có khả năng tìm kiếm được việc làm và có nhiều ngành nghề, mức cầu về lao động còn có khả năng thu hút dễ hơn, thì thời hạn hưởng trợ cấp sẽ hạ thấp xuống. Ngược lại, vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, số người thất nghiệp gia tăng thì thời hạn hưởng được kéo dài, nhưng cũng chỉ có thể kéo dài trong phạm vi quỹ BHTN có thể chịu được.

    Cụ thể, người lao động thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong một thời gian ngắn, sau đó có việc làm sẽ ngừng hưởng trợ cấp vì họ đã có lương. Thời hạn hưởng trợ cấp tối đa phải được quy định cụ thể, nếu quá thời hạn tối đa mà người thất nghiệp chưa có việc làm vẫn phải ngừng trợ cấp và khi đó họ có thể được trợ giúp từ phía xã hội.Nhìn chung, các nước thường quy định thời hạn trợ cấp tối đa từ 12 đến 52 tuần ( từ 3 tháng đến 1 năm).Thời hạn tạm chờ từ 3 đến 7 ngày đầu thất nghiệp không được hưởng trợ cấp. Điều này làm giảm nhẹ tài chính cho quỹ bảo hiểm và đơn giản hóa khâu quản lý trong trường hợp thất nghiệp ngắn ngày.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế – xã hội, là vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia. Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp các nước đã có nhiều biện pháp và chính sách cụ thể. Song BHTN vẫn luôn được coi là chính

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    sách hữu hiệu mang tính chiến lược lâu dài. Việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.

    2. Thất nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay

    Phát triển kinh tế là nhân tố quan trọng để phát triển các ngành kinh tế lên trình độ sản xuất hiện đại , nâng cao tốc độ tăng trưởng , tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở nước ta. Hàng năm nền kinh tế thị trường tạo ra khoảng 1,3-1,45 triệu việc làm , trong đó số việc làm từ nông nghiệp chiếm 38%. Bên cạnh những mặt tích cực , quá trình chuyển dịch kinh tế ở góc độ nhất định cũng làm nảy sinh thất nghiệp. Có thể xem xét vấn đề này ở các giác độ sau:

     

    Tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư và tạo thêm việc làm.Hệ số co giãn việc làm theo GDP của nền kinh tế nước ta giai đoạn 1991-2000 là 0,33% , đây là con số tương đối thấp, trong khi đó Đài Loan là 0,67% giai đoạn 1958-1972. Các nước như: Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Singapore… giai đoạn đầu công nghiệp hóa, cơ cấu lại kinh tế, có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất cao và duy trì được tủ lệ thất nghiệp dưới 3%(các năm 1976-1986 tăng trưởng kinh tế bình quân /năm của Malaixia là 15,54%, Thái Lan 21,59%…).Có thể nói, đảm bảo kích thích tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng kinh tế để nâng cao mức cầu lao động, đặc biệt là cầu lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ là một trong những yếu tố rất cơ bản để khống chế tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Ở nước ta , thất nghiệp xảy ra phổ biến hơn ở khu vực thành thị và trở thành vấn đề xã hội khá bức xúc của các thành phố lớn.

     

    Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị qua các năm

    Năm 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003
                   
    Tỷ   lệ 5,88 6,85 7,4 6,42 6,28 6,01 5,6

    (%)

    (Nguồn : Bộ lao động thương binh – xã hội )

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qúa trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, với việc thực hiện các hình thức cổ phần hóa, giao, khoán, bán, cho thuê, giải thể nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh, đã dẫn đến đổi mới lao động trong DN thuộc các ngành nghề. Các năm 1999-2000 lao động thất nghiệp trong khu vực DN nhà nước chiếm khoảng 7,2% tổng số lao động của khu vực này, bao gồm lao động của các DN bị phá sản, giải thể, DN chuyển đổi sở hữu, cơ cấu lại. Đồng thời , phần lớn hợp tác xã kiểu cũ chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc giải thể và xã viên mất việc làm, bổ sung bào đội ngũ thất nghiệp, tác động đến quan hệ cung- cầu lao động trên thị trường lao động.
    • Để tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, DN, các thành phần kinh tế đã thực hiện các giải pháp như : đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động, cơ cấu lại sản phẩm và tổ chức lại sản xuất , nâng cao trình độ quản lý , kết quả dẫn đến biến động lao động, một bộ phận bị đưa ra khỏi dây chuyền sản xuất kinh doanh, trở thành thất nghiệp. Số liệu khảo sát thị trường lao động gần đây cho thấy, tại Bình Dương các năm gần đây tỷ lệ lao động rời DN là 18,68%, con số tương tự này tại Cần Thơ : 8,97%, Đồng Nai : 12,92%, TP.HCM: 22,66%, Hải Phòng 9,4%. Xu hướng thất nghiệp này xảy ra thường xuyên, với biên độ cao hơn trong giai đoạn đầu tham gia mạnh mẽ vào quá trình tự do hóa thương mại, toàn cầu hóa kinh tế.
    • Trong các năm phát triển kinh tế thị trường, tốc độ tăng lực lượng lao động của nước ta khoảng 2,7-2,8%/năm trong khi tốc độ tăng việc làm là 2,3-2,4%/năm. Ở khu vực thành thị, với nức cung lao động cao hơn so với cầu lao động là nguyên nhân của một bộ phận lao động không tìm kiếm được việc làm trên thị trường lao động và trở thành thất nghiệp. Trong đó, đại bộ phận là lao động lần đầu bước vào tuổi lao động, chưa qua đào tạo, không có kỹ năng nghề nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xu hướng tất yếu là thu hẹp dần số việc làm giản đơn và phát triển số việc làm kỹ thuật, việc làm có năng suất lao động cao. Các ngành : công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, du lịch,

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    tài chính, ngân hàng, công nghiệp chế biến…và các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất có nhu cầu lao động kỹ năng lớn, nhưng thực tế gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động. Nguyên nhân là do tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành thị thấp, năm2002 là34,03% (nông thôn 5,74%) và bất cập về chất lượng đào tạo, một bộ phận lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động. Do đó, đa số lao động thất nghiệp trên thị trường lao động thành thị là lao động giản đơn.

    Thất nghiệp cơ cấu : chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy một bộ phận lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong thời gian đổi nghề đã xảy ra tình trạng thất nghiệp cơ cấu. Lao động thất nghiệp do cơ cấu thuộc loại này có xu hướng tìm việc làm mới tốt hơn, mức tiền công cao hơn trên thị trường lao động kể cả việc di chuyển đến các vùng khác và đặc biệt là dòng di chuyển lao động nông thôn ra thành thị. Các năm 1990-1998 qui mô di chuyển lao động nông thôn- thành thị phạm vi toàn quốc 70-90 nghìn người / năm. Di chuyển lao động nông thôn – thành thị có vai trò quan trọng trọng trong cung ứng lao động rút ra khỏi ngành nông nghiệp cho sự phát triển của các ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật cao, các ngành nghề mới và sự phát triển của các khu vực kinh tế tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất, kích thích sự hoạt động sôi động của thị trường lao động. Các năm qua , khoảng hơn 22% lao động nông thôn thay đổi nghề, có mức thu nhập bình quân tăng 30-50% so với các hoạt động trước đó. Một số khu chế suất, khu công nghiệp tập trung thu hút trên 70% lao động di chuyển từ nông thôn đến ( khu công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Ninh,…) nhưng bên cạnh đó là tình trạng thất nghiệp cơ cấu diễn ra phổ biến.

    Thất nghiệp tự nguyện: bao gồm những người không muốn làm các công việc có mức lương thấp và những người ẩn náu trong các công việc nội trợ gia đình do các mức tiền công thấp không đủ sống. Thất nghiệp tự nguyện có khuynh hướng gia tăng , năm 1998 khoảng 4.8 triệu người và năm 2003 có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khoảng 2,547 triệu người làm nội trợ và 4,414 triệu người không có nhu cầu làm việc chiếm hơn 7% lao động từ 15 tuổi trở lên. Số liệu điều tra cho thấy, có tới 40-50% số lao động này muốn tìm việc làm , nhưng không tìm được việc làm phù hợp, đây cũng là nguồn cung lao động tiềm năng cho thị trường lao động.

    Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại thất nghiệp do nguyên nhân bất cập của hệ thống đào tạo.Đó là việc đào tạo theo ngành nghề chưa phù hợp với nhu cầu , tín hiệu của thị trường lao động.

    III.CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

    1.Thực trạng hỗ trợ người thất nghiệp

     

    Một mặt Nhà nước ban hành nhiều chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế nhiều thành phần : chính sách đất đai, thuế, tài chính tiền tệ, tín dụng, tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế hộ gia đình, trang trại hộ gia đình, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất…hướng vào tạo ra bầu không khí đầu tư lành mạnh cho toàn xã hội phát triển kinh tế, tạo mở việc làm, sử dụng tốt các tiềm năng lao động xã hội.

    Bộ luật lao động được ban hành và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 đã quy định cụ thể những chế độ liên quan tới lao động bị mất việc làm bao gồm:

    • Điều 17 quy định: Do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ làm cho người lao động làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp từ 1 năm trở lên bị mất việc thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đào tạo lại để họ có thể tiếp tục làm việc thì doanh nghiệp phải trợ cấp mất việc làm, mỗi năm làm việc trả một tháng lương, thấp nhất là hai tháng lương.
    • Điều 42 quy định: Đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan tổ chức từ một năm trở lên người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tiếp theo. Trong đó, Chính phủ quy định những biện pháp cụ thể nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ hội có việc làm nhiều hơn cho những người thất nghiệp hoặc người đến tuổi lao động nhưng chưa tìm thấy việc làm. Đây là Nghị quyết đánh dấu sự thay đổi mới căn bản trong lĩnh vực lao động việc làm phù hợp với cơ chế thị trường và lần đầu tiên Qũy quốc gia về giải quyết việc làm đã được thành lập với nhiều nguồn quỹ khác nhau ( từ ngân sách nhà nước, từ Hợp tác quốc tế và sự đóng góp củă dân), cùng với hệ thống trunh tâm xúc tiến việc làm cũng ra đời và phát triển nhanh chóng. Nghị quyết 120/HĐBT thực sự trở thành bà đỡ trong cơ chế thị trường giúp người thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và nhóm xã hội yếu thế có cơ hội tìm kiếm việc làm trong cơ chế thị trường.

    Những chính sách và biện pháp thực hiện trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tìm hoặc tạo việc làm mới, hòa nhập trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên trong thực tế còn một số lượng khá lớn người lao động sau khi thôi việc họ cũng không tìm được việc làm.Do vậy đây là áp lực rất lớn cho xã hội.

    Trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp và đạt được thành tựu lớn như Trung Quốc,Mông Cổ…Nhận thức rõ về tác hại về tình trạng thất nghiệp và những nhược điểm của những chính sách đã thực thi, Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

    2.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong tương lai

    Theo dự thảo mới nhất Luật BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ được đưa vào một mục thuộc chương 1 về BHXH bắt buộc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên hoặc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

    Khi người lao động đã đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên và mất việc 30 ngày trở lên mà chưa có việc làm nếu có đơn sữ được cấp một khoản trợ cấp thất nghiệp. Cùng với khoản trợ cấp được hưởng, người lao động sẽ được giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề phù hợp nếu có yêu cầu. Chế độ này không áp dụng đối với các công chức nhà nước, sỹ quan, quân nhân phục vụ quân đội.

    Theo ông Đặng Anh Duệ, Phó Vụ trưởng Vụ BHXH ( Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội )qua khảo sát ý kiến của các chuyên gia và phân tích tỷ lệ đóng BHXH, mức đóng BHTN được đưa ra là 3% tiền lương tháng của người lao động, trong đó doanh nghiệp sẽ đóng 2% còn người lao động đóng1%.

    Về mức hưởng BHTN có hai quan điểm, thứ nhất là tỷ lệ hưởng của người lao động phụ thuộc vào thời gian đóng quỹ. Quan điểm thứ hai cho rằng nên quy định số tiền cụ thể để chi trả cho tất cả những người lao động. Mức này cao nhất là tiền lương tối thiểu hiện hành.Theo ông Bùi Văn Rự – Vụ chính sách lao động việc làm – Bộ LĐ-TB-XH: với mức hưởng là 60% lương, trong khoảng từ 6 đến 18 tháng thì tỷ lệ đóng là 3,6%.Nếu người sử dụng lao động và người lao động đóng bằng nhau thì tỷ lệ đóng là 1,8%.Nếu người sử dụng lao động đóng 2/3 thì tỷ lệ này sẽ là 2,4% và 1,2%.

    Việc thi hành chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố: xác định chính xác người được hưởng, sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động, quy mô quỹ BHTN…

    Hiện nay, BHTN đang được thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai.

    3. Một số vấn đề bàn cãi về việc thi hành chính sách BHTN.

    • Thực hiện thống kê nguồn lao động : Để có thể thực hiện được công tác giải quyết thất nghiệp, tạo việc làm thì trước tiên cần thiết là phải nắm bắt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được vấn đề cần phải giải quyết( cả về số lượng và chất lượng ). Đó là nhiệm vụ của công tác kiểm kê, kiểm soát nguồn lao động. Vì nó là điều kiện tiên quyết trong công tác giải quyết thất nghiệp và việc làm hay thiết lập chính sách BHTN.

    Vấn đề quản lý được lao động thất nghiệp, xác định số người thất nghiệp/năm. Vì hiện nay thực chất chưa có con số chính xác về lao động thất nghiệp và chưa có cơ quan quản lý hiệu quả vì các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả thì có số lượng công nhân làm theo mùa vụ và nghỉ việc nhiều nhất.

    Chính sách BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển, cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

    Vì vậy việc xác định số lượng người thất nghiệp ở nước ta vẫn chưa chính xác, do đó việc thi hành chính sách BHTN còn rất khó khăn.

    • Đối với người lao động , BHTN là một phần hỗ trợ khi họ gặp rủi ro mất việc làm. Nhưng để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì họ phải đóng phí BHTN trong một thời gian nhất định, mà người lao động không hưởng ứng vấn đề này lắm. Mặt khác thì việc đóng phí BHTN thường xuyên trong một thời gian đối với người lao động mùa vụ là rất khó khăn , mà đây là đối tượng có khả năng thất nghiệp cao nhất

    Việc xác định đối tượng hưởng BHTN, thời gian hưởng BHTN, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cần phải chính xác nếu không sẽ gây ra tình trạng người lao động sẽ dựa vào đó mà không tích cực làm việc và đi tìm việc. Điều đó sẽ gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước.

    • Đối với người sử dụng lao động , việc thi hành BHTN thì họ phải bỏ ra một khoản tiền để đóng vào quỹ BHTN , do đó sẽ thêm một phần chi phí sản xuất kinh doanh mà họ không muốn một chút nào. Do đó nếu việc quản lý không chặt sẽ có nhiều doanh nghiệp sẽ chốn khoản đóng góp này.
    • Đối với Nhà nước thì phải chi một phần ngân sách cho hoạt động BHTN nhưng cũng phần nào khắc phục được tình trạng thất nghiệp.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Vì vậy phải cân nhắc giữa những mặt tốt và hạn chế của việc thi hành chính sách BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Hiện nay,dưới tác động của khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa nên tình trạng thất nghiệp đang có xu hướng trầm trọng, vì vậy cần có những chính sách giải quyết vấn đề này. Việc xây dựng một chế độ bảo hiểm đang có nhiều khả thi và đang được nhiều nước áp dụng.Tuy nhiên việc ban hành chính sách này còn nhiều vấn đề bàn cãi, nhất là đối với Việt Nam có một lực lượng lao động khó kiểm soát.Vì vậy việc ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là cần đến khi thời điểm thích hợp thực hiện, để đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước rủi ro thất nghiệp, giúp họ yên tâm sản xuất đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời cũng góp phần đảm bảo an toàn xã hội, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với người lao động. Do vậy việc nghiên cứu để ban hành chính sách Bảo hiểm thất nghiệp là rất quan trọng, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển dịch,lao động trong nền kinh tế đang không ổn định,

    Việc đưa BHTN vào hệ thống BHXH là một bước hoàn thiện mới trong vấn đề xử lý tình trạng thất nghiệp và cũng đưa nước ta hòa nhập với các nước trên thế giới , tiếp tục sự nghiệp toàn cầu hóa nền kinh tế.

    Mặc dù hiện nay vẫn chưa thi hành chính sách BHTN , cùng với việc thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai , tôi mong rằng bài viết của mình sẽ được tham khảo để chính sách BHTN sớm được thi hành.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Văn Định : Giáo trình kinh tế Bảo Hiểm – NXB Thống Kê 2004
    2. Giáo trình Kinh tế Lao Động ( Khoa Lao Động và Dân số -ĐHKTQD )
    1. Bùi Văn Rự- Bộ Lao động TB- XH : Định hướng Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
    2. Tạp chí :

    -Lao động xã hội – số 228+229 (12/2003)

    • KT&PT- số 48/2001
    • TTLĐ số 04/2001
    • BHXH số 02/2001
    1. http:// VNECONOMY.com.vn cập nhật ngày 05/05/2004
    1. Tác giả: Nguyễn Trần Quế : Chuyển dịch cơ cấu Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

    NXB : Khoa học xã hội.

    1. Ngành Bảo hiểm VN trước thềm hội nhập 2/2003
    1. Bộ luật lao động Việt Nam được bổ sung sửa đổi 1994
    1. Các nghị định chính phủ.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]