Author: Nguyễn Huyền

  • Văn mẫu Cảm nghĩ của em về bài thơ Tôi yêu em của nhà thơ Puskin

    Văn mẫu Cảm nghĩ của em về bài thơ Tôi yêu em của nhà thơ Puskin

    Văn mẫu Cảm nghĩ của em về bài thơ Tôi yêu em của nhà thơ Puskin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ của em về bài thơ Tôi yêu em của nhà thơ Puskin

    Văn mẫu lớp 9:

    “Cảm nghĩ của em về bài thơ “Tôi yêu em” của nhà thơ Puskin”

    BÀI LÀM

    Cấu trúc bài thơ dựng trên mâu thuẫn nghệ thuật giữa trật tự lôgic và mạch cảm

    xúc, giữa lí trí điềm tĩnh và xúc cảm dâng trào. Trên bề mặt kết cấu, trật tự lôgic và

    lí trí nói lên việc “rút lui”, chối bỏ say mê, dập tắt ngọn lửa tình. Còn trong bề sâu

    mạch trần thuật trữ tình, xúc cảm không ghìm nén được mà tuôn trào mãnh liệt, bất

    chấp lôgic và lí trí. Mâu thuẫn nghệ thuật này giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc tình

    yêu chân thành đằm thắm mà thiết tha mãnh liệt, đam mê mà vị tha, độ lượng của

    nhà thơ.

    Tình yêu – dòng chảy vĩnh cửu của lịch sử văn học nhân loại – là một chủ đề lớn

    trong thơ trữ tình của thiên tài Puskin. Cùng với bài Gửi K., Tôi yêu em đã góp vào

    thơ tình nhân loại một bài thơ tình hoàn hảo tiềm ẩn những giá trị nhân văn lớn lao.

    Mở đầu bài thơ là điệp khúc tôi yêu em – cũng là giọng điệu chủ đạo của bài thơ :

    Tôi yêu em : đến nay chừng có thể / Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai. Lời thơ

    thật giản dị, dùng vài từ mang tính phủ định, không ví von, bóng gió. Nhịp thơ

    chậm rãi, điệu giọng trầm tĩnh. Ấy thế mà câu thơ bộc lộ thấu đạt những xúc cảm,

    trải nghiệm chân thành, sâu sắc trong trái tim yêu chân thực, chung thủy mà âm

    thầm kín đáo, da diết day dứt khôn nguôi, có pha chút dè dặt ngậm ngùi và dự cảm

    dang dở… của nhân vật tôi.

    Mạch cảm xúc trong hai dòng thơ tiếp theo chuyển đột ngột nhưng vẫn một giọng

    điệu trầm tư, điềm tĩnh bởi lí trí chế ngự : Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,

    / Hay hồn em phải gợn bóng u hoài. Điệp từ không (trong nguyên tác) nhấn mạnh

    • định có vẻ dứt khoát “rút lui”, chối bỏ say mê, dập tắt ngọn lửa tình vẫn âm ỉ,

    “chưa hoàn toàn lụi tắt” để không làm em phải băn khoăn, phiền muộn thêm nữa.

    Nhưng trong thẳm sâu tâm hồn dồn nén bao cảm xúc, nỗi niềm trăn trở, buồn đau

    của thân phận, không hề có chút gì thanh thản, khiến ta không tin rằng đây là mối

    tình “không hi vọng”…

    Phần cuối bài thơ, xúc cảm lại trỗi lên sự dồn nén, chế ngự của lí trí điềm tĩnh : Tôi

    yêu em âm thầm, không hi vọng / Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen. / Tôi yêu em,

    yêu chân thành, đằm thắm,…

    Nhịp thơ không chậm rãi như phần đầu mà nhanh hơn, mạnh hơn. Một loạt thủ

    pháp được sử dụng : điệp khúc tôi yêu em, lặp từ phủ định không và từ mang ý

    nghĩa thời gian, dùng câu bị động (trong nguyên tác). Nhưng trên hết là sự chân

    thành đã làm tỏa sáng câu thơ. Nhân vật tôi không hề che giấu, ngần ngại mà rất

    trung thực, thành thật bộc bạch những cung bậc, sắc thái tình yêu trong thẳm sâu

    tâm hồn mình, một tình yêu thầm kín, da diết, mãnh liệt, với những trăn trở day

    dứt, những khổ đau tuyệt vọng, những nỗi buồn và sự ghen tuông đen tối giày vò,

    khiến trong đáy sâu tâm linh không một chút thanh thản, yên định.

    Tình yêu của nhân vật tôi cũng rất đỗi bình thường, rất người như bao người khác,

    cũng bị nỗi ghen tuông giày vò, bóp nghẹt tâm can nhưng đã vượt lên thói ích kỉ

    làm hạ thấp giá trị con người để trở nên nhân ái, vị tha, cao thượng hơn : Tôi yêu

    em, yêu chân thành, đằm thắm, / Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.

    Giữa hai dòng thơ là một nghịch lí, mâu thuẫn mà khối óc sáng suốt khó có thể lí

    giải bằng lí lẽ của nó nhưng có thể cắt nghĩa bằng lí lẽ của con tim, một con tim

    chân thật, độ lượng, biết nhận nỗi khổ đau, bất hạnh về mình mà không đem lòng

    thù hận khi tình yêu không được đền đáp, như nhà thơ đã viết trong một bài thơ

    khác : Nhưng nếu gặp ngày buồn rầu đau đớn / Em thầm thì hãy gọi tên lên / Và

    hãy tin : còn đây một kỉ niệm / Em vẫn còn sống giữa một trái tim.

    Câu thơ cuối bài là một lời chúc có vẻ nghịch lí mà thiêng liêng, đầy vị tha biết

    dường nào : Cầu em được người tình như tôi đã yêu em. Câu thơ rất độc đáo, đột

    ngột về ý nghĩa, hàm chứa nhiều ý vị…

    Có người tìm thấy sự đồng điệu, gặp gỡ thú vị giữa câu thơ của thiên tài Puskin với

    câu quan họ khiêm nhường, tế nhị mà tha thiết, mãnh liệt trong bài Giã bạn :

    Người về em dặn câu rằng / Đâu hơn người kết, đâu bằng đợi em.

    Tôi yêu em là một tình yêu vô vọng, thấm một sắc điệu buồn, nhưng hơn hết vẫn là

    một tình cảm chân thành, mãnh liệt mà vị tha, cao thượng, bộc lộ vẻ đẹp của tâm

    hồn và nhân cách con người nhân hậu, biết “kính trọng vô hạn đối với phẩm giá

    con người với tư cách là Con Người” (Biêlinxki), vì thế bài thơ chứa đựng những

    giá trị tinh thần nhân văn cao cả của loài người.

    Chất thơ của bài thơ chủ yếu toát ra từ những xúc cảm chân thành, từ những lời lẽ

    giản dị, từ giọng trữ tình dồn nén mà mãnh liệt, tạo được sức mạnh biểu đạt tình

    cảm. Sức hấp dẫn của bài thơ trước hết là bởi “Đối tượng tự nó hấp dẫn đến mức

    chả cần gì tới sự tô điểm nào cả” (Puskin). Có lẽ cũng vì vậy mà bài thơ không

    ngừng gây xúc động trong lòng bao thế hệ bạn đọc…

  • Văn mẫu Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng

    Văn mẫu Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng

    Văn mẫu Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng

    Văn mẫu lớp 9:

    “Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng”

    BÀI LÀM

    Nói đến Nguyên Hồng, người ta nhớ ngay một giọng văn như trút cả bao xúc động

    đắng xót vào trong những câu chuyện của ông.Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ

    niệm xót xa của cậu bé Hồng, mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao

    tình mẹ.

    Cho đến tận bây giờ, khi đọc lại những trang viết này, người đọc vẫn lây lan cảm

    giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm, để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử

    là nguồn sức mạnh thiêng

    liêng và diệu kỳ, là nguồn

    an ủi và chở che giúp cho

    đứa trẻ có thể vượt lên bao

    đắng cay tủi nhục và bất

    hạnh.

    Đoạn trích ” Trong lòng mẹ” là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính

    nhà văn – cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi

    chết mòn, chết rục bên bàn đèn thuốc phiện, người mẹ cùng túng phải đi tha

    phương cầu thực, cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay

    nghiệt của chính những người trong họ hàng. Cậu bé phải đối mặt với bà cô cay

    nghiệt, luôn luôn “tươi cười” – khiến hình dung đến loại người “bề ngoài thơn thớt

    nói cười – mà trong nham hiểm giết người không dao”. Đáng sợ hơn, sự tàn nhẫn

    ấy lại dành cho đứa cháu ruột vô tội của mình. Những diễn biến tâm trạng của bé

    Hồng trong câu chuyện đã được thuật lại bằng tất cả nỗi niềm đau thắt vì những ký

    ức hãi hùng kinh khiếp của tuổi thơ. Kỳ diệu thay, những trang viết ấy lại giúp

    chúng ta hiểu ra một điều thật tự nhiên giản dị: Mẹ là người chỉ có một trên đời,

    tình mẹ con là mối dây bền chặt không gì chia cắt được.

    Trước khi gặp mẹ: Nói một cách công bằng, nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cuộc sống

    của cậu bé Hồng, có thể nói cậu bé ấy vẫn còn may mắn hơn bao đứa trẻ lang

    thang vì còn có một mái nhà và những người ruột thịt để nương tựa sau khi cha

    mất và mẹ bỏ đi. Nhưng liệu có thể gọi là gia đình không khi chính những người

    thân – mà đại diện là bà cô ruột lại đóng vai trò người giám hộ cay nghiệt. Tấm

    lòng trẻ thơ ấy thật đáng quí. Đối với bé Hồng, bao giờ mẹ cũng là người tốt nhất,

    đẹp nhất. Tình cảm của đứa con đã giúp bé vượt qua những thành kiến mà người

    cô đã gieo rắc vào lòng cậu.

    “Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi

    để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi, một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng,

    nợ nần cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. Nhưng đời nào lòng

    thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm

    đến…”

    Nhưng ta cũng nhận ra những vết thương lòng đau nhói mà bé Hồng đã sớm phải

    gánh chịu. Sự tra tấn tinh thần thật ghê gớm. Sức chịu đựng của một cậu bé cũng

    có chừng mực. Ta chứng kiến và cảm thương cho từng khoảnh khắc đớn đau, cậu

    đã trở thành tấm bia hứng chịu thay cho mẹ những ghẻ lạnh, thành kiến của người

    đời: “Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất: lòng tôi thắt lại, khoé mắt tôi đã cay cay”

    Dù đã kìm nén hết mức nhưng những lời độc ác kia vẫn đạt được mục đích khi đã

    lấy được những giọt nước mắt tủi nhục của một đứa trẻ không đủ sức tự vệ . Ta

    chợt ghê sợ trước loại người như bà cô – họ vẫn lẩn quất đâu đó quanh ta, với trò

    tra tấn gặm nhấm dần niềm tin con trẻ. Liệu ta có hoà chung giọt nước mắt này

    chăng: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm

    và cổ”.

    Càng thương cho cậu bé Hồng, ta lại càng căm uất sự ghẻ lạnh của người đời trước

    những số phận bất hạnh. Từ nhận thức non nớt, cậu bé ấy cũng đã kiên quyết bảo

    vệ mẹ mình, bất chấp những thành kiến ác độc: “Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm

    tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở

    một cách giấu giếm… Tôi cười dài trong tiếng khóc”. Dường như khoảnh khắc

    cười dài trong tiếng khóc kia chứa chất sự phẫn nộ và khinh bỉ không cần giấu

    giếm Trong thâm tâm, liệu rằng cậu bé ấy có khi nào oán trách mẹ mình đã nhẫn

    tâm bỏ con không? Có lẽ không bao giờ, bởi lẽ niềm khao khát được gặp lại mẹ lúc

    nào cũng thường trực trong lòng cậu bé.

    Ta xúc động biết bao nhiêu trước khoảnh khắc hồi hộp lo lắng của cậu bé khi sợ

    mình nhận nhầm mẹ. Linh cảm và tình yêu dành cho mẹ đã không đánh lừa cậu, để

    đền đáp lại là cảm giác của đứa con trong lòng mẹ – cảm giác được chở che, bảo

    bọc, được thương yêu, an ủi. Hình ảnh mẹ qua những trang viết của nhà văn thật

    tươi tắn sinh động, là sự diệu kỳ giúp cậu bé vượt lên nỗi cay đắng của những ngày

    xa mẹ. Mỗi khi đứng trước mẹ, có lẽ mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ cảm

    nhận được tình me giống như cậu bé Hồng: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi

    thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Không khóc sao được, khi những uất ức nén

    nhịn có dịp bùng phát, khi cậu bé có được cảm giác an toàn và được chở che trong

    vòng tay mẹ.

    Thật đẹp khi chúng ta đọc những câu văn, tràn trề cảm giác hạnh phúc:“Phải bé lại

    và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để người

    mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy mẹ có một

    êm dịu vô cùng”. Mẹ đã trở về cùng đứa con thân yêu, để cậu bé được thoả lòng

    mong nhớ và khát khao bé nhỏ của mình. Có lẽ không cần phải bình luận thêm

    nhiều.

  • Văn mẫu Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh

    Văn mẫu Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh

    Văn mẫu Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh

    Bài văn mẫu lớp 9:

    Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh

    BÀI LÀM

    Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại. Người yêu thơ mệnh danh chị là “Nữ hoàng của thi ca tình yêu”. Thơ của chị là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm và da diết khát vọng hạnh phúc đời thường. Sóng là bài thơ được làm năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền. Bài thơ sau đó được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Sóng là bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh.

    Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như “tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên”. Vì vậy cho nên sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng cho tình yêu. Nếu Xuân Diệu mượn sóng để biểu tượng cho tình yêu của anh “Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi hôn lại/ Cho đến nát cả trời/ Anh mới thôi dào dạt”. Thì Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu nhiều khao khát và biến động. Hai hình tượng sóng và em luôn đi đôi sánh cặp với nhau. Sóng là em mà em cũng là sóng. Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc khiến ta không nhận ra đâu là em đâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, soi chiếu vào nhau, tôn lên những vẻ đẹp vừa đa dạng lại vừa phong phú.

    Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu của sóng. Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một con sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ. Tất cả đã tạo nên một âm hưởng mênh mang, dào dạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc:

    Dữ dội và dịu êm

    Ồn ào và lặng lẽ

    Sông không hiểu nổi mình

    Sóng tìm ra tận bể

    Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: Dữ dội – dịu êm; Ồn ào – lặng lẽ đã làm hiện lên vẻ

    đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực. Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển dữ dội ồn ào còn những giây phút sóng gió đi qua biển lại hiền hòa trở về dịu êm lặng lẽ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát “Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên”. Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung “cả trong mơ còn thức”, đôi khi ghen tuông giận hờn vô cớ:

    Nếu phải cách xa nhau

    Biển chỉ còn sóng gió

    Nếu phải cách xa anh

    Em chỉ còn bão tố

    (Thuyền và Biển)

    Nhưng cũng có lúc người con gái lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu, họ lặng lẽ, dịu êm ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm:

    Có những tình yêu không thể nói bằng lời

    Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt

    Nhưng đó là tình yêu bền vững nhất

    Bởi thứ ồn ào là thứ dễ lãng quên

    (Đinh Thu Hiền)

    Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong độ tuổi hai mươi, tiếng nói của một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực cháy chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình. Vì thế cho nên:

    Sông không hiểu nổi mình

    Sóng tìm ra tận bể

    Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm. Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình. Sóng không cam chịu một cuộc sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi bao la để thỏa sức vẫy vùng. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thể đứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để được sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung. Đây là một quan niệm tình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại. Có thấy ngày xưa quan niệm tình yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” để rồi bao cô gái đã phải cất lên lời than van ai oán:

    Thân em như giếng giữa đàng

    Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân $pageOut $pageIn

    Hoặc:

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

    Từ đó ta mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh:

    Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình.

    Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứa đôi, của con trai con gái, của em và anh.

    Ôi con sóng ngày xưa

    Và ngày sau vẫn thế

    Nỗi khát vọng tình yêu

    Bồi hồi trong ngực trẻ

    Từ “Ôi!” cảm thán như tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu. Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng. Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn dữ dội ồn ào vẫn dịu êm lặng lẽ như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên. Bởi tình yêu tuổi trẻ luôn khát vọng luôn khát khao và mơ ước. Nó làm ta bồi hồi khát khao và nhung nhớ bởi “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào” hay “Bắt chim bướm thả vào vườn tình ái” (Xuân Diệu). Tình yêu làm điên đảo tuổi trẻ với những nhớ nhung giận hờn, những cồn cào da diết như lời thơ Xuân Quỳnh đã từng viết “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu mong nhớ”. Có yêu nhau mới thấy được cồn cào của vị nhớ, mùi ái ân, mới thấy được thế nào là bồi hồi ngực trẻ.

    Tình yêu là sóng, là gió. Và qua sóng, gió ấy, nhà thơ đã nói lên thật dễ thương cái nhu cầu tự nhận thức, tự phân tích, lí giải, nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu. Tình yêu cũng như sóng biển, gió trời vậy thôi, nó tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như thiên nhiên :

    Trước muôn trùng sóng bể

    Em nghĩ về anh, em

    Em nghĩ về biển lớn

    Từ nơi nào sóng lên

    Sóng bắt đầu từ gió

    Gió bắt đầu từ đâu

    Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau

    Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành sự bất lực không lý giải được câu hỏi muôn đời ấy trong tình yêu: “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”. Đây là một cách cắt nghĩa về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm . Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi « Sóng bắt đầu từ gió » nhưng để hiểu « Gió bắt đầu từ đâu » thì thi nhân lại ấp úng « Em cũng không biết nữa ». Cũng như tình yêu của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi « Tình yêu đến trong đời không báo động ». Câu thơ « Em cũng không biết nữa » như một cái lắc đầu nhè nhẹ, bâng khuâng và phân vân. Đến câu hỏi « Khi nào ta yêu nhau » thì đúng là nữ sĩ đang bâng khuâng và băn khoăn. Kì lạ quá, diệu kì quá, em và anh yêu nhau bao giờ nhỉ ? Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi nhất là những bạn trẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái. Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa. Xuân Diệu – ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu « Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu ». Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá. Tình yêu không có tuổi cũng như « xuân không ngày tháng ». Tình yêu là một ẩn số giữa hai thế giới tâm hồn chứa đầy bí mật.

    Dù tin tưởng chung một đời một mộng

    Anh là anh mà em vẫn là em

    Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành

    Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật $pageOut $pageIn

    Những tâm hồn bí mật ấy luôn khao khát giao hòa, khao khát khám phá nhưng lại không lý giải nổi tình yêu. Bởi tình yêu là bài toán chưa có lời giải đáp, tình yêu như bài thơ chưa có hồi kết. Vì thế tình yêu luôn đẹp, luôn mới và hấp dẫn. Có lẽ vì thế mà thi sĩ đã

    lắc đầu « Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau ».

    Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ – một trong những gam màu chủ đạo của tình yêu. Bao kẻ nhớ người mình yêu mà đảo điên:

    Trời còn có bữa sao quên mọc

    Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em

    (Xuân Diệu)

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than

    (Ca dao)

    Còn Xuân Quỳnh thì:

    Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước

    Những con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức

    Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”. Bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm tư. Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức,

    băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm.

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Con sóng trên mặt nước”

    Hai câu thơ với hình thức lặp cấu trúc quyện hòa cùng nghệ thuật đối “dưới lòng sâu – trên mặt nước” tạo nên sự điệp trùng của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Có con sóng gầm gào trên mặt đại dương nhưng cũng có con sóng cuộn trào trong lòng biển cả. Con sóng ngầm còn mãnh liệt hơn cả con sóng trên mặt nước. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: $pageOut $pageIn

    “Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, có khi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Vì nhớ bờ “bởi hôn mãi ngàn năm không thỏa/ Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi”. Nên con sóng đã hành trình vượt qua không gian bao la và thời gian xa thẳm. Nó bất chấp cả thời gian “ngày đêm không ngủ được” để quyết tâm hướng vào bờ cho thỏa nỗi niềm mong nhớ.

    Và nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ anh. Đó âu cũng là quy luật của tình yêu.

    Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức

    Xuân Quỳnh dùng chữ “lòng” rất tinh tế. Lòng là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người. Nơi bí mật thẳm sâu của tình yêu và nỗi nhớ. Khi Xuân Quỳnh nói “lòng em nhớ” nghĩa là chị đã phơi bày tất cả gan ruột của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức – thời gian trong mơ. Vị ngọt ngào mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý “cả trong mơ còn thức”.

    Câu thơ “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Nó làm đảo lộn nhịp sống bởi “tình yêu luôn làm cho con người khó thức ngủ theo giấc giờ điều độ”. Nỗi nhớ không chỉ làm lòng em “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi trong than” nó còn làm cho em nhớ nhung, thao thức ngay cả trong giấc ngủ. Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật nhất của thi ca hiện đại Việt Nam.

    Sóng và em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em: $pageOut $pageIn

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam”

    Thế giới của Anh và Em không giới hạn chiều dài Bắc – Nam, không khoanh vùng địa bàn mà nơi nào cũng có nỗi nhớ thường trực của tình yêu vĩnh viễn. Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằng tất cả sự nhạy cảm của lứa tuổi đôi mươi và khẳng định cho một cái tôi của con người luôn vững tin ở tình yêu. Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nói “Xuôi Nam, ngược Bắc” giờ đây Xuân Quỳnh lại nói “Xuôi Bắc, ngược Nam” là cách nói ngược. Phải chăng tình yêu đã làm cho con người bị đảo lộn phương hướng ? Nhưng

    có một phương mà em không thể nào lẫn lộn, không thể nào nguôi nhớ đó là phương anh:

    “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh một phương”

    Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh:

    Chỉ riêng điều được sống cùng anh

    Niềm mơ ước trong em là lớn nhất

    Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực

    Giây phút nào tim đập chẳng vì anh

    Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã là “hệ qui chiếu” của đời em. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị:

    “Em trở về đúng nghĩa trái tim em

    Là máu thịt, đời thường ai chẳng có

    Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

    Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

    Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu.

    “Ở ngoài kia đại dương

    Trăm ngàn con sóng đó

    Con nào cũng tới bờ

    Dù muôn vời cách trở”

    Ba từ “Ở ngoài kia” như cánh tay Xuân Quỳnh mềm mại đang chỉ tay về khơi xa nơi trăm ngàn con sóng ngày đêm không không biết mỏi đang vượt qua giới hạn không gian thăm thẳm muôn vời cách trở để hướng vào bờ ôm ấp nỗi yêu thương. Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ như tìm về nguồn cội yêu thương, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.

    Cuộc đời tuy dài thế

    Năm tháng vẫn đi qua

    Như biển kia dẫu rộng

    Mây vẫn bay về xa

    Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế – vẫn đi qua – dẫu rộng” như chứa đựng

    • trong nó ít nhiều nỗi âu lo. Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả như áng mây kia như năm tháng kia. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu; đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến vói bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và đám mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu . $pageOut $pageIn

    Yêu thương mãnh liệt nhưng cao thượng, vị tha. Nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con sóng nhỏ của mình vào biển lớn tình yêu – tình yêu bao la, rộng lớn – để sống hết mình trong tình yêu, để tình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở:

    Làm sao được tan ra

    Thành trăm con sóng nhỏ

    Giữa biển lớn tình yêu

    Để ngàn năm còn vỗ.

    Cuộc đời là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm con sóng nhỏ. Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng. Sóng không phải là biểu tượng của một cái tôi ngạo nghễ và cô đơn như thơ lãng mạn. Khát vọng lớn nhưng trong cách nói Xuân Quỳnh lại rất khiêm nhường : trăm con sóng nhỏ như là sự tổng hòa những vẻ đẹp khác nhau để tạo thành biển lớn. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).. Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh ? Vâng! Đó không chỉ là tinh thần của con người thời đại chống Mỹ mà còn là âm vang của một tấm lòng luôn tha thiết với sự sống, với tình yêu.

    Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu.

    Tóm lại, bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên

    vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà.

  • Văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Bài viết số 3 lớp 9 Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn về cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Bài viết số 3 lớp 9 đề 2:

    Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong bài thơ về tiểu dội xe không kính của phạm tiến duật.viết bài văn vế cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó

    Bài làm 1:
    Tôi vừa đưa chiếc xe đạp vào khoảng sân hẹp thì đã nghe vọng ra tiếng cười giòn giã của bố tôi và một vị khách. Đó chắc chắn là một vị khách quý bởi vì ít khi có sự ồn ã, sôi động như thế ở người cha hiền hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ của tôi.

    Tôi bước vội vào nhà. Bố tôi cùng người khách hướng ánh nhìn rạng rỡ, trìu mến đón tôi:

    _ Con gái, đây là bác Trung Trực, bạn học hồi trung học với bố, lại cùng bố nhập ngũ. Bác là chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa đấy con ạ!

    Bác Trực trạc tuổi bố tôi. Khuôn mặt bác cương nghị nhưng lại rất đôn hậu. Đôi mắt tuy đã hằn nhiều vết chân chim nhưng vẫn ánh lên những tia vui vẻ và trìu mến. Tôi có đang nằm mơ không nhỉ? Tôi vừa học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Những lời thơ, những lời cô giảng và hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, kiên cường cứ đọng mãi trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi đang được đứng trước một người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đích thực. Thật là một may mắn không ngờ. Tôi cuống quýt:

    _ Bố ơi! Bác ơi! Con có thể được ngồi với bố và bác một lát để biết thêm về những ngày tháng chiến đấu năm xưa được không ạ?

    Bác cười và đáp:

    _ Sao lại không? Đó là khoảng thời gian đẹp nhất của bố cháu và bác.

    _ Thưa bác, bác chính là người chiến sĩ lái xe Trường Sơn, người lính mà cháu đã được học trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, phải không bác?

    _ Ồ, bài thơ ấy nổi tiếng lắm cháu à. Ngày đó, có lẽ lính lái xe Trường Sơn ít ai là không biết bài thơ ấy. Nó nói hộ phần nào khát vọng chiến đấu, những gian khổ, lòng dũng cảm và sự lạc quan của những người lính như bác.

    _ Chính bác cũng đã từng lái những chiếc xe không kính ấy phải không ạ?

    _ Không phải “đã từng” đâu cháu ạ. Mà là bác luôn lái những chiếc xe bị xước, bị va đập, bị bom đạn làm cho rơi vỡ, méo mó những bộ phận bên ngoài như thế. Chiến tranh mà! Để bác kể rõ hơn cho cháu hiểu nhé. Ngày đó, bác lái xe tải, cùng đồng đội chuyên chở lương thực, thuốc men, khí tài,… vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Có những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời, gian khổ lắm cháu ạ. Nhất là những đoạn đường xuyên qua dãy Trường Sơn, giặc bắn phá rất dữ dội. Chúng muốn san phẳng tất cả, cắt đứt con đường huyết mạch nối liền Bắc Nam ấy. Tiểu đội xe của bác ban đầu được trang bị toàn xe mới để phục vụ mặt trận. Lúc đó, xe có kính như muôn vàn chiếc xe khác. Nhưng ngày nào xe cũng lao đi giữa bom gầm, đạn nổ khiến kính rạn vỡ, mất dần hết cả. Rồi cả mui xe cũng bị đạn pháo cày hất tung lên. Thùng xe va quẹt nhiều cũng chằng chịt vết xước. Chẳng còn chiếc xe nào còn nguyên vẹn cháu à.

    Tôi vẫn còn tò mò, tiếp tục hỏi bố:

    _ Lái xe không kính, không mui, không đèn như thế chắc nguy hiểm lắm bác nhỉ?

    Bác sôi nổi tiếp lời:

    _ Nguy hiểm lắm, cái sống cái chết lúc nào cũng trong gang tấc. Lái xe không kính thì mối nguy hiểm gần nhất là bụi đấy. Đường Trường Sơn mùa khô bụi cuốn mù trời sau làn xe chạy. Bụi cuốn vào mặt, vào quần áo. Bụi dày đặc đến mức mắt cay xè, không thể mở nổi. Lúc ấy, râu, tóc, quần áo và cả xe rực lên một màu đất đỏ Trường Sơn. Rồi cả mưa nữa chứ. Mưa Trường Sơn thường bất ngờ. Đang bụi bám đầy thì bỗng cả người nặng chịch vì ướt sũng nước mưa. Mưa xối xả quất vào người, vào mặt, vào mắt. Những làn nước cay xè, buốt rát khiến việc lái xe khó hơn gấp trăm ngàn lần. Thế nhưng, những người lính lái xe như bác không bao giờ dừng lại, luôn phải tranh thủ tránh giờ cao điểm cháu ạ. Cũng vì xe không kính nên mưa gió vứt vào cabin đủ thứ, nào là lá rừng, nào là cành cây gãy, … Bác đã bao lần bị cành cây cứa vào mặt, vào tay cầm vô lăng, đau rát vô cùng. Gian khổ là thế đấy cháu! Mỗi chuyến chở hàng về tới đích thật sự là một kỳ tích. Vậy mà ký tích vẫn luôn xuất hiện đấy!

    Bác mỉm cười, khuôn mặt ánh lên vẻ rạng rỡ và tự hào. Lời bác kể như chất chứa bao nhiệt huyết, bao sôi nổi của một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Bác dường như đang được sống lại những phút giây lịch sử ấy. Không hiểu sao ngay lúc này, những lời thơ của Phạm Tiến Duật lại ùa về, ngân nga trong lòng tôi. Đó chính là một thực tế ở chiến trường ngày ấy. Thế mà, những người lính cụ Hồ vẫn tràn đầy lạc quan, yêu đời, và tin tưởng vào một ngày mai chiến thắng.

    Tôi chợt thấy bác Trực trầm ngâm, ánh mắt xa xôi như đang lạc trong dòng hồi tưởng. Còn bố tôi thì ngồi lặng lẽ, khuôn mặt đầy vẻ xúc động. Bác Trực chợt nói:

    _ Xe không kính thế mà lại hay cháu ạ. Gặp bạn cũ, gặp đồng đội, gặp đồng hương đều tay bắt mặt mừng qua ô kính vỡ. Giữa đại ngàn mênh mông, bác chợt thấy lòng mình ấm lại vì được chiến đấu bên cạnh những đồng chí yêu thương.

    Giọng bác chợt rung lên, đầy xúc động:

    _ Cháu không thể hiểu tình đồng chí thiêng liêng, quý giá thế nào với người lính các bác đâu. Dừng xe, ghé vào một bếp Hoàng Cầm, chỉ cần thêm bát thêm đũa là thấy thân thuộc như anh em một nhà. Dù chốc lát nữa thôi, mỗi người sẽ đi mỗi hướng, có khi chẳng bao giờ gặp lại nhau giữa chiến trường ác liệt. Bác và ba cháu có thể trở về hạnh phúc bên gia đình, nhưng bao nhiêu đồng đội của bác đã ngã xuống. Có một đồng đội của bác đã hy sinh ngay sau vô lăng vì quyết tâm lái xe vượt qua làn đạn dù đang bị thương nặng. Ngày ấy, khẩu hiệu “Yêu xe như con, quý xăng như máu” luôn khắc ghi trong tim những người lính lái xe. Dù có hy sinh, các bác vẫn quyết tâm bảo vệ xe và hàng.

    Bác chợt im lặng. Không khí cả căn phòng bỗng chốc trở nên thật trang nghiêm.

    _ Cháu gái của bác, hai câu cuối của bài thơ có phải là:

    “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

    Chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng cho đến tận hôm nay, bác và bố cháu không phút nào quên được mình đã từng là người lính. Bác rất tự hào vì mình đã là người lính lái xe Trường Sơn năm xưa, đã tham gia chiến đấu góp phần giành độc lập tự do cho quê hương đất nước.

    Trong tôi bỗng trào dâng một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa khâm phục, vừa tự hào. Ngày hôm nay tôi đã hiểu thêm rất nhiều điều. Trước đây, tôi chỉ biết đến cuộc sống êm đềm trong vòng tay ấm áp, chở che của gia đình, thầy cô trong một đất nước hòa bình. Đó là thành quả của bao thế hệ cha anh đã vất vả, hy sinh. Họ chính là bố tôi, bác tôi và những người tôi chưa từng gặp mặt. Tôi phải thật trân trọng cuộc sống hòa bình này và cố gắng trau dồi, hoàn thiện để góp phần xây dựng đất nước thêm tươi đẹp trong thời đại mới. Cảm ơn bác, người lính lái xe năm xưa của Trường Sơn oanh liệt, đã giúp cháu lớn thêm lên nhiều lắm!

    Bài làm 2:

    Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ, tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong “Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính” của Phạm Tiến Duật năm xưa.

    Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt, những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất. Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam. Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược… trên con đường TS này. Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa. Nghe anh kể, tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm. Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước, họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường. Họ nhìn thấy đất, nhìn thấy trời, thấy cả ánh sao đêm, cả nhưng cánh chim sa, họ nhìn thẳng về phía trước, phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng, của nhân dân được hạnh phúc, tự do.

    Người sĩ quan còn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó, bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già, bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha. Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm. Gian khổ ác liệt, bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí, sờn lòng. Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận, gặp mưa thì phải ướt áo thôi. Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa, vượt qua những chặng đường ác liệt, đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng, gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.

    Khi được học “Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp, được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa, tôi mới hiếu rõ hơn về họ. Họ vẫn vui tươi, tinh nghịch. Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường, cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan, yêu đời. Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn, những người đồng đội của anh. Có những người còn, có những người đã hy sinh… Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó, cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát, đôi đũa dùng chung, quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS. Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa, kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.

    Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo cho những chuyến xe thông suốt. Đúng là con đường của họ đang đi, nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm. Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào, cả ngày lẫn đêm. Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn, rồi không có mui xe, thùng xe rách xước, những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước, phía trước ấy là miền Nam ruột thịt. Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe. Họ thật dũng cảm, hiên ngang, đầy lạc quan, có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc, vì nhân dân. Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta: chiến thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui. Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước, ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ, cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu, nắm vững khoa học, kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh, hiện đại

    Bài làm 3:

    Hôm ấy, nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, trường tôitổ chức cho đi thăm quan Bảo tàng Lịch sử quân đội. Chúng tôi được chiêm ngưỡng biết bao hiện vật lịch sử: những khẩu súng trường, mảnh vỡ của bom đạn, cùng với chiếc mũ tai bèo, chiếc ba lô con cóc thân thương… Đang tham quan, tôi nhìn thấy một chiếc xe tải, không kính nằm thu mình ở một góc nhỏ.”Không có kính không phải vì xe không có kính…”, bất chợt những tứ thơ khẩu ngữ, khỏe khoắn từ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ấy vang lên trong thâm tâm tôi. “Liệu đây có phải là cái xe ấy không?”, đang băn khoăn, tôi bỗng thấy một bác mặt áo bộ đội, đứng từ xa lặng lẽ quan sát xe. Từ từ bước đến bên, tôi lặp bắp hỏi: “Bác là người lái chiếc xe này đó ư?”. Bác quay sang tôi, mỉm cười: “Ừ, bác là lính Trường Sơn năm xưa cháu ạ”…

    Bác dẫn tôi tới quan sát chiếc xe gần hơn; lần đầu tiên, tôi được chiêm ngưỡng tận mắt một chiếc xe tải quân sự. Quả lả một chiếc xe “trần trụi”: không có kính, lại không có cả đèn, không có mui, thùng xe lại còn xước. Sinh ra và lớn lên tại thủ đô trong thời bình, từ bé tôi chỉ bắt gặp những chiếc ô tô lành lặn, nước sơn sạch bóng, nội thất khang trang; không ngờ một chiếc xe tróc sơn, hỏng hóc nặng nề như thế này vẫn có thể hiên ngang lướt đi và mang theo biết bao súng đạn, lương thực chi viện. Thật là một chuyển động kì diệu! Đang tròn mắt ngạc nhiên vì thán phục, bỗng bác chiến sĩ vỗ vai tôi, trầm giọng kể: “Chiến trường khốc liệt lắm cháu ạ! Hằng ngày máy bay Mĩ trút hàng ngàn tấn bom đạn cày xới, phá hoại Trường Sơn hòng cắt đứt chi viện của ta. Các trọng điểm lúc nào cũng mịt mù khói lửa, bom rơi.

    Ngày qua ngày, xe luôn phải chịu những chấn động, rung xóc dữdội.”. À đúng rồi, tại đế quốc Mĩ xâm lược, tàn phá mà chiếc xe mới trở nên tan hoang. Tôi rùng mình trước cuộc chiến thật vô cùng gian nan, khốc liệt…Khuôn mặt bác trầm ngâm, đôi mắt hướng về chiếc xe một cách xa xăm. Bỗng bác vụt giọng vui vẻ: “Nhưng mà xe không kính hóa ra cũng có cái hay. Ta ung dung ngồi trong buồng lái, thoải mái phóng tầm mắt ra xung quanh mà nhìn trời, ngắm đất, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ mà hùng vĩ của rừng núi Trường Sơn. Không có kính mà, gió cứ đùa chơi trong cabin, xoa vào đắng mắt. Nhưng càng hòa mình vào thiên nhiên đất nước, bác lại càng thấy lòng mình sục sôi bầu nhiệt huyết và lạc quan; lúc đó con đường khúc khuỷu ngoặt ngoèo vẫn còn đầy những chông gai phía trước, dường như rộng mở và tươi sáng hơn. Nó như chạy thẳng vào con tim, khiến bác vừa hứng khởi hân hoan, lại vừa lao xao hồi hộp. Bác nhìn thấy cả những cánh chim bay về tổ ban chiều; khi đó tâm trí lại bồi hồi, xao xuyến nhớ về cha mẹ, quê hương. Màn đêm buông xuống, tuy không có đèn pha phía trước, nhưng trên bầu trời vẫn có những vì sao rọi sáng, soi đường dẫn lối cho xe bác qua. Hướng mắt tới những ngôi sao xa xôi, bác nao lòng nghĩ đến miền Nam ruột thịt đang mong đợi. Ôi, cháu ơi, mọi thứ xung quanh cứ như sa, như ùa vào buồng lái”. Tôi háo hức nghe bác kể chuyện. Những người chiến sĩ lái xe quả thật kiêncường, dũng cảm.

    Dù cho có ở trong chiến tranh khốc liệt, họ vẫn tràn đầy khí thếung dung, lạc quan, thư thái thả mình vào vẻ đẹp huyền diệu của núi rừng, để chotâm hồn dạt dào, trào dâng bao lãng mạn…Chợt nhớ ra những ý thơ “Không có…ừthì…”, tôi hỏi: “Thế không có kính, bác đối chọi với thiên nhiên thời tiết ra sao?”. Bác liền cười: “Cứ mặc kệ nó thôi, cháu ạ. Không có kính, ừ thì bụi thật đấy. Bụi bẩn bắn từ đường lên sạm hết cả mặt, đến mái tóc đen cũng trở nên trắng xóa như cụ già. Nhưng cứ để nguyên; phì phèo châm điếu thuốc, thấy mặt cứ ngồ ngộ, là lạ, bác bỗng bật cười. Khuôn mặt lấm cát bụi hóa ra lại vui! Thế rồi cả những khi mưa to, đường rừng trở nên trơn trượt, lầy lội khiến bác dán mắt vào từng đoạn đường, lái xe cẩn thận hơn; nhưng cùng lúc đó, mưa tuôn mưa xối qua chiếc cửa kính vỡ kia làm bác ướt hết cả áo quần, mặt mũi. Trên đỉnh Trường Sơn này, có lúc mưa lâm râm, nhưng nhiều khi lại trút xuống ào ào, thối đất thối cát.

    Ô hay, mặt bác đã được rửa sạch trơn, nhưng áo quần lại ướt như chuột lột. Nhưng còn tâm trí đâu mà để ý đến những cái đó nữa. Mắt còn mải mê với những cung đường ghập ghềnh khúc khuỷu, con tim đập rộn ràng thúc giục vì miền Nam, bác tự nhiên quên đi gian khổ. Mà lái trăm cây số nữa, kiểu gì mưa chả phải ngừng; nắng lên, gió lùa vào buồng lái, áo khô mau thôi!”. Nụ cười rạng rỡ của bác làm cho tôi khâm phục.

    Nụ cười ấy đã hiên ngang trong phong ba bão táp; kiên cường, dũng cảm bất chấp thời tiết khắc nghiệt, những cung đường thử thách gian lao. Vì lí tưởng sống cao đẹp, vì tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng, các bác sẵn sàng chiến đấu, quên đi tất cả. Thế rồi tôi lại hỏi:”Lái xe giữa rừng một mình thế này, bác có cảm thấy cô đơn không?”. Bác lại bật cười: “Làm sao mà cô đơn được hả cháu? Bên bác còn có trời đất, núi rừng Trường Sơn nữa cơ mà. Với lại có phải một mình bác lái xe đâu, trên tuyến đường này vẫn còn biết bao nhiêu chiếc xe khác ngày đêm chuyên chở vũ khí, lương thực.

    Anh em đồng chí gặp nhau suốt dọc đường đi tới, trao cho nhau cái bắt tay. Chỉ một cái bắt tay chớp nhoáng qua ô cửa kính vỡ kia thôi, vậy mà khiến bác ấm áp cả con người, như được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh. Xe lại tiếp tục chạy, bầu trời càng tươi xanh. Và rồi khi nghỉ giữa chặng xe, bác còn được quây quần bên bạn bè, đồng đội. Bên bếp Hoàng Cầm, cùng chung bát đũa, mọi người thân tình, cởi mở, sẻ chia những vui buồn cho nhau.

    Nhiều khi tất cả cùng ca hát, mìm cười rồi vỗ tay, truyền cho nhau nhiệt tình cách mạng và yêu thương, xua tan đi khó nhọc. Tình đồng chí, đồng đội thật đẹp quá, cháu ạ!”. Đúng là đẹp thật! Quả đúng là “Chỉ cần trong xe có một trái tim”! Những người chiến sĩ cùng chung niềm tin, lí tưởng, sát cánh bên nhau. Họ truyền sức mạnh và hơi ấm cho nhau, để cùng nhau chiến đấu vì miền Nam ruột thịt. Hình ảnh người lính lái xe thật sinh động.

  • Bài tập lớn Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng

    Bài tập lớn Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng

    Bài tập lớn Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn vật liệu kỹ thuật


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-t%E1%BB%8Da-%C4%91%E1%BB%99-trong-m%E1%BA%B7t-ph%E1%BA%B3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng

    SƠ LƯỢC VỀ PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG

    Bằng cách đưa vào mặt phẳng một hệ trục tọa độ, mỗi vectơ, mỗi điểm trên mặt phẳng đó đều được xác định bởi một tọa độ xác định. Khi đó chúng ta có thể chuyển nhiều bài toán hình học sang bài toán đại số và ngược lại, từ kết quả của đại số suy ra được một số tính chất và mối quan hệ giữa các hình hình học.

    Nội dung chính

    • Phương trình tổng quát của đường thẳng
    • Phương trình tham số của đường thẳng
    • Khoảng cách và góc
    • Đường tròn
    • Đường elip
    • Đường hyperbol
    • Đường parabol
    • Ba đường conic

    CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC THEO BLOOM

    I. Nhận biết

    1. Kiến thức và thông tin

    Trong phần này, học sinh được đòi hỏi chỉ cần gọi ra được định nghĩa, công thức, khái niệm và các thuật ngữ, kí hiệu của các bài trong chương mà chưa cần phải hiểu.

    Cụ thể như sau

    – Phương trình tổng quát của đường thẳng, học sinh chỉ cần gọi ra được các yếu tố sau: định nghĩa vectơ pháp tuyến của đường thẳng, phương trình tổng quát của đường thẳng, phương trình đường thẳng theo đoạn chắn và vị trí tương đối giữa hai đường thẳng.

    • Phương trình tham số của đường thẳng, học sinh cần gọi được các yếu tố sau: định

    nghĩa vectơ chỉ phương của đường thẳng, phương trình tham số và chính tắc của đường thẳng.

    – Khoảng cách và góc, học sinh chỉ cần gọi ra được: công thức tính khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng, định nghĩa góc giữa hai đường thẳng.

    • Đường tròn, học sinh chỉ cần gọi ra được: phương trình của đường tròn, nhận dạng

    phương trình đường tròn và khái niệm tiếp tuyến của đường tròn.

    • Đường elip, học sinh chỉ cần gọi ra được: định ngĩa đường elip, nêu được dạng

    phương trình chính tắc của elip, các yếu tố của elip.

    – Đường hyperbol, học sinh chỉ cần gọi ra được: định nghĩa đường hyperbol, nêu được dạng phương trình chính tắc và hình dạng của hyperbol.

    • Đường parabol: định nghĩa đường parabol và nêu được dạng phương trình chính

    tắc của parabol.

    Trong phần này, kiến thức của học sinh chỉ khả năng lập lại chứ không phải để sử dụng. Sau khi học xong “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” học sinh phải có khả năng để:

    • Phát biểu được định nghĩa vectơ pháp tuyến và vectơ chỉ phương của đường thẳng.
    • Nêu được phương trình tham số và phương trình tổng quát của một đường thẳng bất kì.
    • Định nghĩa góc giữa hai đường thẳng và khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng.
    • Phát biểu được định nghĩa đường elip, hyperbol và parabol, nêu được phương trình chính tắc của chúng và các yếu tố liên quan.

    Một số ví dụ kiểm tra kiến thức

    Ví dụ 1. Đường thẳng 2 x + y – 1 = 0 có vectơ pháp tuyến là vectơ nào sau đây ?

    1. n = (2, -1)
    1. n = (1, -1)
    1. n = (2,1)
    1. n = ( -1,2)

    Đáp án: B

    Phân tích: Ví dụ này giúp học sinh nhận biết được vectơ pháp tuyến của một đường thẳng thông qua phương trình tổng quát của nó. Để làm được ví dụ này học sinh phải định nghĩa vectơ pháp tuyến và phương trình tổng quát của đường thẳng, học sinh chỉ cần nhớ lại cách xác định vectơ pháp tuyến từ phương trình tổng quát của đường thẳng rồi thực hiện chứ chưa cần phải hiểu rõ vấn đề.

    Ví dụ 2. Phương trình x 2 y2 = 1 là phương trình chính tắc của đường nào ?  
    a 2 b2
           
    1. Elip với trục lớn bằng 2a , trục bé bằng 2b .
    1. Hyperbol với trục lớn bằng 2a , trục bé bằng 2b .
    1. Parabol với trục lớn bằng 2a , trục bé bằng 2b .
    1. Hyperbol với trục thực bằng 2a , trục ảo bằng 2b .

    Đáp án: D

    Phân tích: Ví dụ đòi hỏi học sinh nhận biết phương trình chính tắc nên chỉ cần học sinh nhớ lại phương trình chính tắc của các đường elip, hyperbol, parabol và các yếu tố liên quan mà không cần học sinh phải hiểu rõ ràng. Thông qua ví dụ này giúp học sinh phần nào nắm chắc được phương trình chính tắc của các đường trên.

    2. Kĩ thuật và kĩ năng

    Mục tiêu của phần này bao gồm việc sử dụng các thuật toán như là các kĩ năng, thao tác và khả năng thực hiện trực tiếp các phép tính, những đơn giản hóa và các lời giải tương tự các ví dụ học sinh đã gặp trong lớp mặc dù có khác về chi tiết. Đối với phương pháp tọa độ trong mặt phẳng, học sinh phải biết vận dụng các kĩ thuật hoặc các công thức, quy tắc đã học để giải quyết vấn đề.

    Cụ thể, khi học xong phần này học sinh phải có khả năng để:

    • Viết được phương trình tham số và tổng quát của đường thẳng dựa vào các yếu tố đã biết.
    • Tính được khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng và góc giữa hai đường thẳng.
    • Viết được phương trình đường tròn và phương trình tiếp tuyến của nó.
    • Viết được phương trinh chính tắc của elip, hyperbol và parabol khi biết các yếu tố cho trước và xác định các yếu tố của ( E) , ( H ) và ( P) khi biết phương trình chính

    tắc của chúng.

    Một số ví dụ kiểm tra kĩ năng

    Ví dụ 1. Phương trình nào là phương trình tham số của đường thẳng xy + 3 = 0 ?

    ìx = t   ìx = 2 + t
    A. í + t C. í + t
    îy = 3 îy = 1
    ìx = 3   ìx = t    
    B. í   D. í   t
    îy = t   îy = 3

    Đáp án: A

    Phân tích: Ví dụ nói lên mối liên hệ giữa phương trình tổng quát và phương trình tham số của đường thẳng. Để thự hiện được ví dụ này học sinh chỉ cần nhớ lại cách xác định phương trình tham số của đường thẳng rồi kết hợp với vài kĩ thuật nhỏ.

    Ví dụ 2. Cho elip ( E) : 9x 2 + 16 y2 – 144 = 0 . Mệnh đề nào sau đây là sai ?

    1. Các tiêu điểm của ( E) là F1 ( -7, 0) , F1 (7 , 0) .
    1. Độ dài các trục 2a = 8 , 2b = 6 .
    1. Tâm sai của ( E) là e = 47 .
    1. Độ dài các trục của ( E) là 2a = 4 , 2b = 3 .

    Đáp án: D

    Phân tích: Để giải quyết ví dụ này học sinh phải nhận biết được phương trình chính tắc của elip rồi từ đó sử dụng những công thức đã học để giải quyết.

    II. Thông hiểu

    Cuối phần này học sinh có thể:

    • Viết phương trình để biểu thị một đồ thị đã cho trong mặt phẳng tọa độ.
    • Xác định được điều kiện tương ứng trong các mối quan hệ giữa đường thẳng với đường tròn, đường thẳng với đường thẳng,…
    • Giải các bài toán trong mặt phẳng bằng phương pháp tọa độ.
    • Xác định và hiểu được yêu cầu của bài toán, lập luận suy diễn từ các dữ kiện đã

    cho.

    • Phân biệt được các loại phương trình đường thẳng, đường tròn,…

    Một số ví dụ kiểm tra

    Ví dụ 1. Elip trong hình vẽ sau có phương trình là ?

    y

    2

    3

    O                                                x

    A. x 2 + y2 = 1 C. x 2   +   y2   = 1
    3     36    
        2       16    
    B.   x 2 + y2   = 1 D. x 2   + y2   = 1
      9   6      
        4       4    
                                   

    Đáp án: B

    Phân tích: Học sinh cần hiểu ý nghĩa các con số trên hình vẽ, cũng như các số a , b trong phương trình chính tắc của elip là gì mới đưa ra đáp án chính xác được.

    Ví dụ 2. Đường tròn (C ) : 2x 2 + 2 y 2x + y – 1 = 0 có tâm I  và bán kính R là ?

                        1   1          
    A. I ( -1,1) và R =1       C. I ( – , ) và R =   10
        4 4 2
                           
      1   1                  
    B. I ( , – ) và R = 10   D. I (1, -1) và R =      
      10  
    4 4 4  
                               

    Đáp án: B

    Phân tích: Học sinh cần phải hiểu với phương trình đường tròn đã cho x 2 + y 2 + 2ax + 2by + c = 0 thì tâm của đường tròn là gì, bán kính được tính như thế

    nào.

    Ví dụ 3. Với giá trị nào của m thì đường thẳng 4 x + 3 y + m = 0 tiếp xúc với đường

    tròn

    x 2 + y2

    =1 ?

    1. m = -5
    1. m = 5
    1. m = 0
    1. m = 5

    hoặc

    m = -5

    Đáp án: D

    Phân tích: Để giải quyết bài toán này, học sinh cần nắm được điều kiện khi nào thì một đường thẳng tiếp xúc với một đường tròn, từ đó giải ra m .

    III. Vận dụng

    Cuối phần này học sinh có thể:

    • Vận dụng phương trình đường thẳng để giải tam giác, cũng như xác định các yếu tố liên quan đến tam giác, chẳng hạn: phương trình đường tròn nội và ngoại tiếp…
    • Chọn phương pháp thích hợp nhất để giải các bài toán.
    • Viết được các loại phương trình đường thẳng, phương trình các đường cônic khi

    các yếu tố xác định chúng có thể xác định thông qua các đối tượng khác. Một số ví dụ tƣơng ứng với mức độ vận dụng

    Ví dụ 1. Cho 3 điểm A(1, 3) , B(2, 0) , C(0, 0) .Phương trình nào sau đây là phương trình đường tròn nội tiếp DABC .

    1. x 2 + y 2 – 2 x – 23 y + 113 = 0
    1. x 2 + y 2 – 2 x – 23 y + 83 = 0
    1. x 2 + y 2 – 4x – 23y + 4 = 0
    1. x 2 + y 2 – 2x – 4 y = 0

    Phân tích: Để xác định phương trình đường tròn ta phải biết tâm và bán kính. Tuy

    nhiên, các yếu tố đó không cho sẵn mà phải tìm thông qua các ràng buộc, nên đây là

    tình huống mới.

    Đáp án đúng: A

    Đáp án gây nhiễu

    • là phương trình đường tròn qua B
    • là phương trình đường tròn qua C

    B: là phương trình đường tròn có cùng tâm với phương trình đường tròn ở A

    Ví dụ 2. Cho đường thẳng D : xy = 0 , M (2,1) . Viết phương trình tổng quát của đường thẳng D¢ đối xứng với D qua M .

    Phân tích: Phương trình của D¢ có dạng ax + by + c = 0 . Các yếu tố a , b , c không cho sẵn mà phải tìm thông qua những mối liên hệ với các đối tượng khác, nên đây là tình huống mới.

    – Vì D¢ cùng phương với D nên a =1 và b = -1.

    – Khoảng cách  d ( M , D) = d ( M , D¢) hay | 1|=| 1 + c | . Suy ra c = 0 hoặc c = -2 . Vì

    • khác D¢ nên c = -2 .
    • Vậy D¢ : xy – 2 = 0 .

    Bài này có thể làm theo hướng tìm vectơ pháp tuyến của D¢ và một điểm thuộc D¢ . Ví dụ 3. Viết phương trình đường tròn tiếp xúc với hai trục tọa độ và đi qua

    A(2,1) ?

    Phân tích: Bằng các phương pháp đã được dạy, học sinh không thể viết được phương trình đường tròn ngay được .

    • Ta cần tìm tọa độ của tâm và bán kính.
    • Theo giả thiết ta suy ra: nếu bán kính là a thì tọa độ tâm là ( a , a) .

    – A thuộc đường tròn (xa ) 2 + ( ya ) 2  = a2  suy ra a =1 hoặc a = 5 .

    – Kết luận: (x – 1)2 + ( y – 1)2  =1, (x – 5)2 + ( y – 5)2  = 25 .

    IV. Những khả năng bậc cao

    Đây là một phạm trù rất rộng, bao gồm các phạm trù con là phân tích, tổng hợp và đánh giá. Cụ thể những khả năng bậc cao của học sinh:

    • Từ những tính chất cơ bản đã được học, các em rút ra cho mình những tính chất hay quan hệ khác.
    • Sự khôn khéo, thông minh, sáng tạo trong giải toán.
    • Khả năng phân tích bài toán và tổng hợp các kết quả thu được để kết luận bài toán.
    • Phát hiện ra những sai làm trong lập luận.
    • Trừu tượng hóa, ký hiệu hóa, tổng quát hóa trong cùng một bài toán.

    Sau khi học xong “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”, học sinh có thể

    • Dựa vào phương pháp tọa độ và một chút khôn khéo, sáng tạo học sinh có thể đưa ra kết luận cho một bài toán mà không cần phải thực hiện quá nhiều phép tính.
    • Dựa vào tọa độ hay phương trình học sinh có thể tưởng tượng được vị trí tương đối giữa các điểm hay đường trong mặt phẳng tọa độ.
    • Khả năng tư duy mà người ta gọi là “cách nhìn” trong toán học thông qua tọa độ.

    Một số ví dụ kiểm tra khả năng bậc cao của học sinh Ví dụ 1

    Tùy theo m , xét vị trí tương đối của đường tròn ( C) và đường thẳng D sau đây (C) : x 2 + y 2 – 4 x + 2 y + 1 = 0

    • : 3 x + y + m = 0

    Phân tích:

    Đường tròn trên có tâm I (2, -1) , bán kính R = 2 .

    Để giải bài toán này học sinh cần biện luận theo m các vị trí tương đối của đường thẳng và đường tròn. Cụ thể, đầu tiên học sinh cần tính d ( I , D) , rồi sau đó biện luận theo các trường hợp

    d ( I , D ) = 2 : Đường thẳng tiếp xúc đường tròn.

    d ( I , D ) > 2 : Đường thẳng và đường tròn không có điểm chung.

    d ( I , D ) < 2 : Đường thẳng cắt đường tròn.

    Từ đó để ra các giá trị của m tương ứng với từng trường hợp.

    Kết luận

    Đường thẳng tiếp xúc đường tròn khi m = 210 – 5 hoặc m = -210 – 5 .

    Đường    thẳng   và   đường   tròn  không   có   điểm   chung   khi    m > 210 – 5  hoặc

    • < -210 – 5.

    Đường thẳng cắt đường tròn khi -210 – 5 < m < 210 – 5 .

    Ví dụ 2

    Viết phương trình đường tròn tiếp xúc với hai đường thẳng x + y – 2 = 0 , x – 2 = 0 biết đường tròn đi qua điểm A(0,2) và nằm trong góc nhọn tạo bởi hai đường thẳng trên.

    Phân tích:

    Để giải bài toán này, học sinh cần chia nhỏ bài toán ra từng phần

    Đầu tiên là viết phương trình các đường phân giác của góc tạo bởi hai đường thẳng trên, xét xem đường phân giác nào là đường phân giác góc nhọn dựa vào tích vô hướng của hai vector pháp.

    Đường tròn có tâm nằm trên đường phân giác và qua điểm A(0,2) , từ đó giải ra phương trình đường tròn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn vật liệu kỹ thuật

    Bài tập lớn vật liệu kỹ thuật

    Bài tập lớn vật liệu kỹ thuật

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Phân tích và yêu cầu phần mềm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Bài tập lớn vật liệu kỹ thuật

    Đề số 138

    I/ Nội dung:

    Cho một chi tiết với các yêu cầu cơ bản;

            Chốt xích máy kéo( Ø22 x 418), làm việc trong điều kiện chống mài mòn, lõi cần độ dẻo dai, bền để chịu va đập.

    II/ Thực hiện:

      Câu 1:

    Bản vẽ chi tiết như hình 1.

    Điều kiện làm việc của chi tiết:

    • Chi tiết làm việc trong điều kiện chịu mài mòn cao, chịu va đập lớn.
    • Chịu tải trọng rung động.

    Để đáp ứng các điều kiện làm việc như trên, chi tiết phải đáp ưng các yêu cầu về cơ tính:

    • Độ cứng: HB ≤ 197.
    • Độ bền: б­b­­­­ ≥ 800 N/mm2
    • Giới hạn chảy : бc ≥ 600 N/mm2
    • Độ dãn dài: δ ≥ 12 %
    • Độ thắt: Ψ ≥ 50%
    • Độ dai va đập: ak ≥ 80 J/cm2

      Câu 2:

    Để gia công chi tiết chốt xích máy kéo, ta có thể dùng các vật liệu có các mác thép sau ( theo tiêu chuẩn Nga ГOCT): 15, 20, 45, 60, 15X, 20X, 12XH3A, 15XΦ, 20XΦ….Theo điều kiện đề bài đưa ra: chi tiết làm việc trong điều kiện chịu mài mòn,chịu va đập và chịu tải trọng rung động, vì vậy chi tiết đòi hỏi bề mặt có độ bền, độ cứng cao để chịu va đập, lõi có độ dẻo dai tương đối lớn để chống gẫy hỏng chốt khi làm việc. Do đó ta chọn mác thép  20XΦ.

    Thành phần hóa học của thép 20XΦ:

    • % C = ( 0,17 ÷ 0,23) %
    • % Si = (0,17 ÷ 0,37) %
    • % Mn = (0,5 ÷ 0,8) %
    • % Cr = (0,8 ÷ 1,1) %
    • % P ≤ 0,035 %
    • % S ≤ 0,035 %
    • % Ni ≤ 0,30 %
    • % V = ( 0,1 ÷ 0,2) %

    Hình 2: Bảng so sánh thành phần hóa học của thép 20XΦ với các mác thép tương đương theo các tiêu chuẩn:

    Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), Mỹ (ASTM), Nga (ГOCT), Nhật (JIS), Trung Quốc (GB):

    Tiêu chuẩn Mác thép Thành phần hóa học
    % C % Si % Mn % Cr % P % S % Ni % V
    TCVN 15CrV 0,17 ÷ 0,23 0,17 ÷ 0,37 0,5 ÷ 0,8 0,8 ÷ 1,1 ≤ 0,035 ≤ 0,035 ≤ 0,30 0,1 ÷ 0,2
    ASTM 6120 0,17 ÷ 0,22 0,20 ÷ 0,35 0,70 ÷ 0,90 0,70 ÷ 0,90 ≤ 0,040 ≤ 0,040 ≥ 0,10
    ГOCT 20XΦ 0,17 ÷ 0,23 0,17 ÷ 0,37 0,5 ÷ 0,8 0,8 ÷ 1,1 ≤ 0,035 ≤ 0,035 ≤ 0,30 0,1 ÷ 0,2
    JIS SCr420 0,18 ÷ 0,23 0,15 ÷ 0,35 0,60 ÷ 0,85 0,9 ÷ 1,2 ≤ 0,030 ≤ 0,030 ≤ 0,25
    GB 20CrV 0,17 ÷ 0,23 0,17 ÷ 0,37 0,5 ÷ 0,8 0,8 ÷ 1,1 ≤ 0,30 0,1 ÷ 0,2

       Nhận xét:

    Thành phần hóa học giữa các mác thép tương đương có sự khác biệt rất nhỏ vì vậy không ảnh hưởng đến cơ tính của thép khi sử dụng bất cứ mác thép của nước nào.

      Câu 3:

    Vai trò của các nguyên tố hợp kim chính trong thép 20XΦ:

    * Đối với cơ tính:

    – Các bon: do thành phần của Các bon trong thép chỉ chiếm ( 0,17 ÷ 0,23) % nên tổ chức tế vi của thép là pherit và peclit nên thép có tính dẻo, dai và bền.

    – Mangan, Silic: thành phần mangan chiếm khoảng (0,5 ÷ 0,8) %, Silic khoảng (0,17 ÷ 0,37) % có tác dụng loại bỏ tác hại của lưu huỳnh trong thép, hòa tan vào pherit nâng cao độ bền, độ cứng, tăng độ thấm tôi nhưng lại làm giảm đáng kể độ dẻo và độ dai làm cho thép dòn. Tuy nhiên tác dụng không lớn do lượng chứa của nó nhỏ.

    – Phốt pho và lưu huỳnh: trong mác thép chọn, phốt pho và lưu huỳnh chỉ đóng vai trò như tạp chất vì lượng chứa trong thép rất nhỏ (% P ≤ 0,035 %; % S ≤ 0,035 %), không ảnh hưởng tới cơ tính của thép.

    – Crôm và Niken: làm tăng độ bền và độ cứng cho thép không mạnh bằng Si và Mn nhưng lại không làm giảm nhiều độ dẻo và độ dai. Thép được hợp kim hóa bằng Crôm và Niken thì nâng cao được độ bền, độ cứng, tăng mạnh độ thấm tôi mà vẫn duy trì được độ dẻo và độ dai.

    – Vanadi: với mác thép đã chọn, thành phần Vanadi chiếm ( 0,1 ÷ 0,2) % có tác dụng làm tăng độ bền, độ dẻo và độ dai cho thép. Vanadi có khả năng tạo các bít mạnh nên khi cho vào thép sẽ tạo các bít có kiểu mạng đơn giản làm tăng độ cứng, tính chống mài mòn, nâng cao nhiệt độ tôi mà vẫn giữ được kích thước hạt nhỏ,nâng cao tính cứng nóng do vậy nâng cao độ dai và cơ tính. Ngoài ra, Vanadi còn có tác dụng tăng nhiệt độ thường hóa, nhiệt độ ủ và tăng nhiệt độ tôi.

    * Đối với quá trình nhiệt luyện:

    – Chuyển biến khi nung nóng để tôi: Các thép thông thường đều có tổ chức peclit ( trừ một số thép đặc biệt), do đó khi nung nóng sẽ có chuyển biến từ peclit thành austenit, các bít hòa tan vào austenit và hạt austenit phát triển lên. Tuy nhiên có một số dặc điểm sau:

    + Sự hòa tan các bít hợp kim khó khăn hơn nên cần nhiệt độ tôi cao hơn và thời gian giữ nhiệt lâu hơn.

    + Các bít khó hòa tan vào austenit nằm tại biên giới hạt như hàng rào giữ cho kích thước hạt nhỏ. Tác dụng này mạnh với V.Do đó thép hợp kim giữ được hạt thép nhỏ hơn so với thép các bon khi nung ở cùng nhiệt độ.

    – Sự phân hóa đẳng nhiệt của austenit quá nguội và độ thấm tôi: Đây là tác dụng quan trọng nhất và điển hình nhất của nguyên tố hợp kim.

    + Khi hòa tan vào austenit tất cả các nguyên tố hợp kim (trừ Co) với các mức độ khác nhau đều làm chậm tốc độ phân hóa đẳng nhiệt của austenit quá nguội ( làm đường cong chữ C chạy sang phải) do đó làm giảm tốc độ tôi tới hạn. Nếu không hòa tan vào austenit mà ở dạng các bít sẽ có tác dụng ngược lại.

    + Độ thấm tôi: Do làm giảm tốc độ tôi tới hạn nên các nguyên tố hợp kim ( trừ Co) khi hòa tan vào austenit đều làm tăng độ thấm tôi. Nhờ tác dụng này mà thép hợp kim có thể tôi thấu hay tự tôi ( làm nguội trong không khí vẫn tạo thành mactenxit – thép gió) mà thép các bon không thể có được.

    Hình 3: Thép C và thép hợp kim hóa bằng Cr, W, Mo và V

    Hình 4: Sơ đồ biểu diễn sự giảm tốc độ tôi giới hạn (a) và sự tăng độ thấm tôi của thép hợp kim so với thép C

    – Chuyển biến mactencit: Khi hòa tan vào austenit, các nguyên tố hợp kim (trừ Co, Si, Al) đều hạ thấp nhiệt độ chuyển biến mactenxit do vậy làm tăng lượng austenit dư sau khi tôi. Do đó sẽ làm giảm độ cứng sau khi tôi từ 1÷10 HRC. Tuy nhiên hoàn toàn có thể khắc phục được nhược điểm này bằng cách gia công lạnh.

    – Chuyển biến khi ram: Nói chung các nguyên tố hợp kim khi hòa tan vào mactenxit đều cản trở sự phân hóa của nó khi ram có nghĩa là làm tăng các nhiệt độ chuyển biến khi ram. Có hiện tượng trên là do các nguyên tố hợp kim cản trở khá mạnh sự khuếch tán của các bon. Do vậy dẫn tới kết quả sau:

    + Các bít tạo ra rất nhỏ mịn và phân tán làm tăng độ cứng và tính chống mài mòn. Hiện tượng này gọi là biến tính phân tán. Trong một số thép hợp kim cao khi ram ở nhiệt độ thích hợp austenit dư chuyển biến thành mactenxit ram và các bít tiết ra nhỏ mịn, phân tán làm độ cứng tăng lên so với sau khi tôi gọi là độ cứng thứ hai.

    + Khi ram hay làm việc ở cùng nhiệt độ, thép hợp kim bao giờ cũng có độ bền, độ cứng cũng như độ dai cao hơn (do ram cao hơn khử bỏ ứng suất dư nhiều hơn).

        Câu 4:

    Để đảm bảo cơ tính để đáp ứng được các yêu cầu làm việc của chi tiết, phôi thép phải trải qua các quá trình nhiệt luyện. Các chế độ nhiệt luyện như sau:

    – Ủ: Ủ là phương pháp nung nóng thép đến nhiệt độ nhất định và làm nguội chậm cùng là để đạt được tổ chức ổn định (gần với tổ chức cân bằng) có độ bền, độ cứng thấp nhất và độ dẻo cao. Ủ nhằm mục đích:

    + Giảm độ cứng của thép để dễ gia công cắt gọt.

    + Làm tăng độ dẻo để dễ tiến hành biến dạng nguội.

    + Làm giảm hay khử bỏ hoàn toàn ứng suất bên trong do gia công cắt gọt và biến dạng.

    + Làm đồng đều thành phần hóa học trên vật đúc bị thiên tích.

    + Làm nhỏ hạt thép.

    Các phương pháp ủ gồm có: Ủ thấp (T= 200 ÷ 600oC), ủ kết tinh lại       (T = 600 ÷ 700oC), ủ hoàn toàn (T = Ac3 + (30 ÷ 50)oC), ủ không hoàn toàn (T = Ac1 + (30 ÷ 50)oC), ủ cầu hóa (T dao động tuần hoàn quanh nhiệt độ Ac1, số lượng chu trình phụ thuộc vào kích thước chi tiết và mức độ cầu hóa) và ủ khuếch tán (T = 1100 ÷ 1150oC, giữ nhiệt trong khoảng 10 ÷ 15h).

    Đối với chi tiết chốt xích máy kéo như đề bài cho ta có thể dùng phương pháp nhiệt luyện ủ đẳng nhiệt. Phương pháp này giúp thép nhận được tổ chức tế vi là tổ chức peclit đồng nhất và rut ngắn được thời gian ủ.

    – Thường hóa: Là phương pháp nhiệt luyện gồm có nung nóng thép đến trạng thái hoàn toàn là austenit, giữ nhiệt và làm nguội ngoài không khí tĩnh.

    Thường hóa có tác dụng như ủ nhưng cũng có một số đặc điểm khác:

    + Với thép C có thành phần ≤ 0,25% nếu ủ độ cứng quá thấp, phoi sẽ dẻo khó cắt gọt. Thường hóa giúp khắc phục được vấn đề này.

    + Làm nhỏ xementit chuẩn bị cho quá trình gia công kết thúc. Mục đích này thường áp dụng khi tôi.

    + Phá lưới xementit II của thép sau cùng tích.

    Nhiệt độ thường hóa được tính theo công thức:

    Tth = Ac3 + (30 ÷ 50)oC

    Với mác thép 20XΦ thì Ac3 = 840oC và nhiệt độ thường hóa Tth = (870 ÷ 890)oC.

    – Tôi: Trong các nguyên công nhiệt luyện thì tôi là nguyên công quan trọng nhất vì nó tạo chi thép độ cứng và tính chống mài mòn cao nhất.

    Đối với thép 20XΦ ta cần tôi 2 lần. Tôi lần 1 với nhiệt độ tôi Tt = 880oC, làm nguội trong dầu. Tôi lần 2 với nhiệt độ tôi Tt = (770 ÷ 820)oC, môi trường làm nguội là dầu hoặc nước.

    – Ram: Là phương pháp nhiệt luyện gồm nung nóng thép đã tôi đến nhiệt độ thấp hơn Ac1, giữ nhiệt và làm nguội để biến đổi tổ chức sau khi tôi thành các tổ chức có tính chất phù hợp với điều kiện làm việc qui định. Ram là nguyên công bắt buộc đối với thép sau khi tôi.

    Nhiệt độ ram của thép 20XΦ là Tr = 180oC, môi trường làm nguội là không khí hoặc dầu.

    Hình 5: Giản đồ pha Fe – C:

    Dựa vài giản đồ pha Fe – C ta thấy thép C có cùng thành phần C với thép 20XΦ là thép C20 (%C = 0,2%).

    Từ đó ta có:

    Nhận xét: nhiệt độ tới hạn Ac3 và nhiệt độ thường hóa Tth theo tính toán của thép C cao hơn so với thép hợp kim đã chọn.

    Khi làm nguội chậm qua điểm tới hạn Ac3 tổ chức tế vi của thép đật được như sau:

    + Khi nhiệt độ làm nguội Tng = T* > Ac3, tổ chức tế vi của thép là austenit hoàn toàn. %C = 0,2%

    + Khi nhiệt độ làm nguội Tng ≤ Ac3 , tổ chức austenit bị phân hóa thành tổ chức ferit I + austenit (ferit được tiết ra từ pha austenit)

    + Khi nhiệt độ làm nguội Tng ≥ Ac1 = 727oC tổ chức tế vi vẫn là ferit I + austenit.

    + Khi nhiệt độ làm nguội Tng ≤ Ac1 tổ chức tế vi đạt được là ferit I + peclit

    Cơ tính của pha αI là rất mềm, rất dẻo trong khi cơ tính của tổ chức peclit (là tổ chức 2 pha ferit + xementit) có tính tổng hợp cao, nghiêng nhiều về cơ tính của pha ferit.

        Câu 5:

    Đối với chi tiết chốt xích máy kéo, do chi tiết có dạng trụ nên phương pháp gia công thường dùng là phương pháp tiện.

    Khi gia công chi tiết chốt xích với mác thép đã chọn bằng phương pháp tiện, trong quá trình gia công, bề mặt của chi tiết tiếp xúc với lưỡi dao cắt sẽ sinh nhiệt lớn. Vì vậy, trước khi gia công ta xử lí nhiệt bằng phương pháp ủ và thường hóa với T và Tth như đã phân tích ở câu 4. Sau khi gia công cơ khí, quá trình nhiệt luyện kết thúc bao gồm: tôi 2 lần và ram thấp, môi trường làm nguội là dầu hoặc nước với mục đích làm tăng độ bền, độ cứng cho lõi chi tiết, tăng khả năng chịu mài mòn, chịu va đập cho bề mặt chi tiết.

    Sau khi tôi bề mặt tổ chức tế vi đạt được là mactenxit và austenit dư. Hai tổ chức này có cơ tính là rất cứng và có độ bền cao nên giúp cho chi tiết đạt độ bền và độ cứng tốt nhất.

    Sau khi ram thấp bề mặt, tổ chức nhận được là mactenxit ram có độ cứng không kém sau khi tôi và có tính chống mài mòn lớn.

    Khi không tìm được mác thép phù hợp với mác thép đã chọn, ta có thể thay thế bằng các mác thép tương đương. Ví dụ như: 20X, 15XΦ, 25XΦ, 20XH..

    Ta có thể thay thế bằng mác thép 20X hay 15XΦ. Nếu thay bằng hai mác thép này sẽ giảm được giá thành sản phẩm do chất lượng của thép không tốt bằng mác thép đã chọn nhưng cũng vì thế mà chất lượng sản phẩm giảm xuống (do không có thành phần hợp kim đối với thép 20X và thành phần C giảm xuống đối với thép 15XΦ làm cho cơ tính của thép giảm)

    Phương pháp thay thế tốt hơn là thay thế bằng thép 25XΦ hoặc 20XH. Hai mác thép này có cơ tính tốt hơn mác thép đã chọn là 20XΦ (vì có thành phần C cao hơn đối với thép 25XΦ và ảnh hưởng của nguyên tố Ni tới cơ tính của thép tốt hơn so với ảnh hưởng của nguyên tố V). Tuy nhiên, giá thành của hai mác thép này sẽ cao hơn giá thành của mác thép 20XΦ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Phân tích và yêu cầu phần mềm

    Bài tập lớn Phân tích và yêu cầu phần mềm

    Bài tập lớn Phân tích và yêu cầu phần mềm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-v%C3%A0-y%C3%AAu-c%E1%BA%A7u-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích và yêu cầu phần mềm

    Chương 1: Bài tập I

    Đề bài:

    Phân biệt các hướng tiếp cận: Process-Oriented, Data-Oriented, Architecture-Oriented, các điểm mạnh và yếu của từng hướng tiếp cận

    1. Process-Oriented Approach
    2. Data-Oriented Approach
    3. Architecture-Oriented Approach
    4. Điểm mạnh yếu của các phương pháp tiếp cận

    1)    Process-Oriented Approach

    Bản chất của việc phân tích và thiêt kế đặt trọng tâm vào các chức năng do phần mềm thực hiện.

    • Tập trung vào các giải thuật và thao tác xử lý dữ liệu
    • Quá trình phát triển phần mềm tập trung vào thể hiện các phương pháp xử lý dữ liệu
    • Cấu trúc dữ liệu thông thường không thể hiện rõ

    2)    Data-Oriented Approach

    Dữ liệu không thay đổi bởi các yêu cầu hay đòi hỏi của người dùng về các thao tác nghiệp vụ. Trong thiết kế hướng dữ liệu, hệ thống được thiết kế dựa trên cấu trúc tiến trìn dữ liệu. Việc phân tích thiết kế được tiến hành cho dữ liệu một cách tách bạch với yêu cầu hay đòi hỏi của người dùng về thao tác.

    Nghiên cứu và phát triển cơ sở dữ liệu tập trung vào các thực thể và các mối quan hệ của một hệ thống thông tin và dẫn đến sự phát triển của khái niệm, hợp lý và vật lý mô hình dữ liệu, hệ thống chung và các công cụ cũng như phần mềm phát triển các quy trình để hỗ trợ việc phân tích, thiết kế.

    Mô tả tổ chức của dữ liệu ,mô tả dữ liệu lấy ra ở đâu và sử dụng như thế nào.

    Mô hình dữ liệu được thành lập và được mô tả mối quan hệ giữa các dữ liệu tương ứng này và các quy định về mối quan hệ.

    Sử dụng các Business rules để chỉ ra phương pháp xử lí dữ liệu.

    3)   Architecture-Oriented Approach

    Là phương pháp phân tích và thiết kế có cấu trúc. Các yêu cầu của hệ thống đích được phát triển được phân tích bằng việc đặc biệt chú ý tới chức năng của hệ thống  và luồng dữ liệu giữa các chức năng. Mục đích của phương pháp này là chuyển các tiến trình trong biểu đồ thành các modules chương trình và tiến hành phân chia các modules bằng cách tiếp cận từ trên xuống.

    • Lựa chọn kiến trúc và công nghệ phần mềm để thực hiện bài toán.
    • Áp dụng các phương pháp Prototyping để nhanh chóng xây dựng được phần mềm.

    Phương  pháp  Prototyping   có  vai  trò  trong  duyệt  và  kiểm  soát  yêu  cầu phần  mềm   giúp  hoàn thiện  hơn  về  yêu cầu, đáp ứng  được yêu cầu của người dùng.

    Cho người dùng dùng thử mẫu thử như là mẫu thử bản beta từ đó người dùng  sẽ dùng  thử và đưa ra những điểm tốt, điểm không tốt của mẫu

    thử, cái nào không cần thiết của mẫu thử từ đó người phân tích viên có

    thể duyệt yêu cầu nào đã đạt được yêu cầu nào hay những yêu cầu nào

    rườm rà có thể bỏ qua hay nên bổ sung những yêu cầu gì để thỏa mãn

    được yêu cầu của người dùng.

    Ví dụ: khi cho người dùng delete một bản ghi thì đòi hỏi phải có yêu cầu

    là có nên delete hay không?

    Mẫu thử thẩmđịnh yêu cầu giải thích các yêu cầu và giúp các bên

    liên quan khám phá được vấn đề.

    Thẩm định  mẫu thử sẽ hoàn thành có  hiệu quả cao  và  thiết thực. nó có

    thể dụng chúng trong cách giống nhau như là yêu cầu hệ thống.

    Tài liệu đào tạo cho người sử dụng sẽ được cung cấp.

    • Sử dụng các Pattern kiến trúc mẫu để chỉ ra phương pháp xử lý dữ liệu

     

    4) Điểm mạnh yếu của các phương pháp tiếp cận

    Hướng tiếp cận Process-Oriented Approach Data-Oriented Approach Architecture-Oriented Approach
    Điểm mạnh – Thích hợp với các bài toán phức tạp.

     

    – Giảm thời gian đáp ứng của phần mềm do tập trung vào giải thuật và xử lí dữ liệu

    – Tránh được sự trùng lặp trong cơ sở dữ liệu

    – Thích hợp với hệ thống quản lí cơ sở dữ liệu.

     

    – Không phụ thuộc vào chức năng và yêu cầu người sử dụng do thiết kế dữ liệu tách bạch.

    – Biểu diễn đươc các mối quan hệ trong các bảng và giữa các dữ liệu với nhau

    – Việc thiết kế phần mềm nhanh do áp dụng các bản mẫu có sẵn. Từ đó thưa kế được những ưu điểm sẵn có.

     

    – Áp dụng các kiến trúc công nghệ tốt nhất  tăng chất lượng phần mềm.

    Điểm yếu – Khó điều chỉnh các yêu cầu cho nhiều người dùng.

     

    – Sử dụng các chức năng chồng chéo nhau là khó tránh khỏi. Kết quả là hệ thống có nhiều chức năng  chồng chéo nhau là một trong những nhân tố làm cho việc bảo trì trở nên khó khăn.

    – Các tệp dữ liệu được xây rất khó để thỏa mãn phần mềm

     – Việc xử lí dữ liệu không được linh hoạt do phụ thuộc vào các  Business rules

     

    – Các chức năng của phần mềm phụ thuộc vào cách tổ chức cơ sở dữ liệu.

    – Dữ liệu được xử lí phụ thuộc cao vào các bản mẫu sẵn có

     

    ð Bị động trong thiết kế

    – Phụ thuộc vào công nghệ hiện tại

    Table 1: Điểm mạnh yếu của các phương pháp tiếp cận

     

    Chương 2: Bài tập II

    Đề bài:

    Tổng kết và hệ thống lại các mô hình SDLC: Mô hình thác nước, Mô hình sử dụng lại, Mô hình Spiral, Mô hình Evolutionary, Mô hình RUP. Tìm các tài liệu phân tích các điểm mạnh yếu của các mô hình.

    1. Mô hình thác nước
    2. Mô hình sử dụng lại
    3. Mô hình Spiral
    4. Mô hình Evolutionary
    5. Mô hình RUP

    1) Mô hình thác nước

    1.1) Khái niệm và mô hình

    Mô hình thác nước (tiếng Anh: waterfall model) là một mô hình của quy trình phát triển phần mềm, trong đó quy trình phát triển trông giống như một dòng chảy, với các pha được thực hiện theo trật tự nghiêm ngặt và không có sự quay lui hay nhảy vượt pha là:  phân tích yêu cầu, thiết kế, lập trình, kiểm thử, liên kết và bảo trì.

    Mô hình thác nước gồm 4 giai đoạn phân tích, thiết kế , lập trình kiểm thử.

    Hình 1 : Các giai đoạn của mô hình thác nước

    • Phân tích yêu cầu và tài liệu đặc tả (Requirements) là giai đoạn xác định những yêu cầu liên quan đến chức năng và phi chức năng hệ thống phần mềm cần có. Giai đoạn này cần có sự tham gia tích cực của khách hàng và kết thúc bằng một tài liệu “Bản đặc tả yêu câu phần mềm” hay SRS, trong đó bao gồm toàn bộ tài liệu đã được duyệt và nghiệm thu bởi những người có trách nhiệm đối với dự án ( từ phía khách hàng). SRS chính là nền tảng cho các hoạt động tiếp theo và cho đến cuối của dự án.
    • Phân tích hệ thống (Analysis): giai đoạn xác định các công việc cần làm để hệ thống phần mềm, hiểu lĩnh vực thông tin, chức năng, hành vi, tính năng và giao diện của phần mềm sẽ phát triển. Cần phải tạo tư liệu và bản thảo với khách hang, người dung. giai đoạn xác định các công việc cần làm để hệ thống phần mềm
    • Thiết kế (Design): là quá trình nhiều bước với 4 thuộc tính khác nhau của 1 chương trình: cấu trúc dữ liệu, kiến trúc phần mềm, biều diễn giao diện và chi tiết thủ tục (thuật toán).
    • Lập trình (coding): Chuyển thiết kế thành chương trình máy tính bởi ngôn ngữ nào đó. Nếu thiết kế đã được chi tiết hóa thì lập trình có thể thuần túy cơ học.
    • Kiểm thử (Testing): Kiểm tra các chương trình và module cả về logic bên trong và chức năng bên ngoài, nhằm phát hiện ra lỗi và đảm bảo với đầu vào xác định thì cho kết quả mong muốn.
    • Cài đặt và bảo trì (Acceptance): đây là giai đoạn cài đặt, cấu hình và huấn luyện khách hàng. Giai đoạn này sửa chữa những lỗi của phần mềm nếu có và có thể phát triển thêm những yêu cầu mới mà khách hàng yêu cầu ( như sửa đổi, thêm, bớt chức năng/đặc điểm của hệ thống.

    1.2) Phân tích ưu nhược điểm

    • Ưu điểm:
    • Chuỗi các hoạt động được thực hiện theo quy trình rõ ràng.
    • Thay đổi yêu cầu được giảm tối thiểu khi dự án bắt đầu.
    • Dễ phân công công việc, phân bố chi phí, giám sát công việc.
    • Nhược điểm:
    • Thực tế các dự án ít khi tuân theo dòng tuần tự của mô hình, mà thường có sự lặp lại.
    • Mối quan hệ giữa các giai đoạn không được thể hiện
    • Khách hàng ít khi tuyên bố rõ ràng khi nào xong hết các yêu cầu
    • Khách hàng phải có lòng kiên nhẫn chờ đợi thời gian nhất định mới có sản phẩm. Nếu phát hiện ra lỗi nặng thì rất khó khắc phục.
    • Khả năng thất bại cao

    2) Mô hình sử dụng lại

    2.1) Tổng quan

    Hình 2: Mô hình sử dụng lại

    Mô hình sử dụng lại : tái sử dụng thông tin được tạo ra trong các dự án phát triển phần mềm trước đó nhằm giảm các chi phí, tài nguyên cho việc phát triển dự án mới. Việc sử dụng lại cho phép xây dựng hệ thống phần mềm mới với chất lượng và độ tin cậy cao hơn.

    Mô hình gồm 6 giai đoạn:

    1. Requirements specification ( Yêu cầu kỹ thuật)
    2. Component analysis ( Phân tích thành phần )
    3. Requirements modification ( Sửa đổi)
    4. System design with reuse ( Thiết kế hệ thống với các thành phần tái sử dụng)
    5. Development and integration ( Phát triển)
    6. System validation ( Xác nhận hệ thống )

    2.2) Phân tích ưu khuyết điểm

    1. Ưu điểm
    • Giảm chi phí phát triển phần mềm so với việc xây dựng một hệ thống phần mềm mới hoàn toàn.
    • Tiết kiệm thời gian vì mỗi giai đoạn phát triển lại sử dụng lại các giai đoạn của quá trình phát triển phần mềm trước nhưng được tinh chế
    • Giảm thiểu các sai sót, lỗi của sản phẩm cuối cùng so với phần mềm trước đó.

    b, nhược điểm

    • Việc sử dụng lại có thể không khả thi vì các thành phần tái sử dụng có thể không đầy đủ, cần phải thiết kế mới.
    • Có thể không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
    • không khả thi khi thành phần sử dụng lại chứa nhiều lỗi liên quan đến thiết kế hay không thể khắc phục.

    3) Spiral SDLC

    3.1) Spiral Model trong SDLC là gì?

    Mô hình xoắn ốc là một quá trình phát triển phần mềm (còn gọi với thuật ngữ khác là software development life-cycle, SDLC) với định hướng giải quyết rủi ro (risk-driven). Nó tương đối giống với mô hình lặp và tăng tiến (iterative and incremental development model), nhưng nhấn mạnh vào phân tích và quản lý rủi ro của dự án phần mềm.

    Mô hình xoắn ốc phát triển và tiến hóa sau mô hình thác nước, dựa trên kinh nghiệm cũng như những cải tiến của mô hình thác nước. Riêng nó bao chứa các mô hình khác như là các trường hợp đặc biệt, và cung cấp các hướng dẫn làm thế nào để kết hợp các mô hình khác một cách phù hợp nhất với 1 dự án phần mềm.

    3.2) Mô hình

    Mô hình trực quan của mô hình phát triển này giống như tên gọi của nó:

    Hình 3: Mô hình phát triển phần mềm xoắn ốc (A Spiral Model of Software Development and Enhancement – Boehm, 1988)

    Có thể thấy, bán kính của quá trình phát triển tăng dần, nó đại diện cho chi phí phát sinh trong quá trình hoàn thành từng bước phát triển phần mềm, còn góc của quá trình (Boehm gọi là angle dimension) biểu diễn quá trình hoàn thành mỗi bước phát triển.

    Các bước triển khai

    Mô hình xoắn ốc gồm nhiều vòng lặp khác nhau  qua 4 pha: Lên kế hoạch, Phân tích rủi ro, Thực hiện và Đánh giá.

    Vòng xoắn ốc cơ sở: bắt đầu từ pha lên kế hoạch, các yêu cầu phần mềm được thu thập và xác định, các rủi ro được đánh giá.

    Các vòng xoắn ốc sau đó được xây dựng dựa trên vòng xoắn ốc cơ sở:

    1. Các yêu cầu được thu thập suốt pha lên kế hoạch.
    2. Trong pha phân tích rủi ro, các rủi ro được nhận diện và đưa ra các giải pháp đối với các rủi ro này. Cuối pha này, nhóm phát triển cho ra một nguyên mẫu của phần mềm cần phát triển.
    3. Phần mềm được xây dựng trong pha thực hiện (engineering), cùng với khâu kiểm thử ở cuối pha.
    4. Pha đánh giá cho phép các khách hàng đánh giá sản phẩm của dự án tại thời điểm hiện tại trước khi dự án tiếp tục chuyển sang vòng xoắn ốc tiếp theo.

    3.3) Áp dụng khi nào?

    Khi việc đánh gia chi phí và rủi ro dự án là rất quan trọng.

    Cho dự án có rủi ro từ mức trung bình trở lên.

    Các dự án dài hạn mà không thể biết trước những thay đổi lớn tiềm ẩn.

    Khi khách hàng không chắc chắn họ cần gì trong phần mềm mà mình yêu cầu.

    Khi các yêu cầu phần mềm rất phức tạp.

    Khi cần cho ra 1 dòng sản phẩm mới (các tính năng được bổ sung dần tùy theo yêu cầu thị trường).

    Khi mong đợi ở đầu ra của dự án là những sự thay đổi lớn (như nghiên cứu, khám phá).

    3.4) Các ưu điểm/nhược điểm?

    Ưu điểm:

    – Quá trình phá triển lặp đi lặp lại và liên tục rất hữu ích cho quản lý rủi ro. Các nhà phát triển chỉ cần mô tả các đặc tính cốt yếu trước rồi sau đó phát triển các nguyên mẫu, sản phẩm dựa trên mô tả này. Những nguyên mẫu này được kiểm thử và nếu có các thay đổi mong muốn, những thay đổi này sẽ được thực hiện trên hệ thống mới (của vòng xoắn ốc sau). Phương pháp tiếp cận liên tục và đều đặn này sẽ tối thiểu hóa mọi rủi ro hay thất bại phát sinh từ các thay đổi của hệ thống.

    – Như vậy mô hình xoắn ốc có khả năng đáp ứng cao các thay đổi có thể xảy ra trong bất kỳ pha nào của dự án phần mềm (nhất là thay đổi trong yêu cầu phần mềm).

    – Việc xây dựng nguyên mẫu khá nhanh và ít tốn kém, việc ước lượng chi phí phát triển trở nên dễ dàng hơn; đồng thời khách hàng sẽ hiểu sâu hơn và giành được nhiều quyền quản trị trên hệ thống mới hơn (họ đều có thể tham gia tích cực vào mỗi vòng xoắn ốc).

    Nhược điểm:

    – Chỉ phát huy hiệu quả thực sự so với các mô hình khác trên các dự án lớn (với chi phí liên quan và độ phức tạp cao hơn rất nhiều). Do đó, đây là một mô hình khá tốn kém, cả về mặt tài chính lẫn con người.

    – Để áp dụng mô hình này, cần có những chuyên gia nhiều kinh nghiệm, kỹ năng trong việc đánh giá sự bất định và rủi ro của dự án.

    – Việc thực hiện dự án cần có kỹ luật chặt chẽ, từng bước của dự án cần tuân theo nghiêm ngặt.

    – Chỉ riêng chi phí cho việc đánh giá rủi ro của 1 hệ thống còn có thể cao hơn cả chi phí để xây dựng lên hệ thống đó.

    – Thành công của 1 dự án phụ thuộc khá nhiều vào pha phân tích rủi ro.

    4) Evolutionary SDLC

    4.1) Khái niệm

    Mô hình tiến hóa dựa trên ý tưởng là nhanh chóng phát triển một phiên bản đầu tiên của phần  mềm từ những đặc tả rất trừu tượng và thay đổi, cải tiến phiên bản này theo đánh giá và yêu cầu của khách hàng. Mỗi phiên bản phần mềm sau sẽ kế thừa những đặc tính tốt nhất từ phiên bản trước đó. Các phiên bản sau được cải tiến dựa trên phản hồi của khách hàng để tạo ra một hệ thống thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Và khi phần mềm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng, nó có thể được bàn giao hoàn toàn cho khách hàng.

    4.2) Mô hình

    – Để hiểu về mô hình tiến hóa, ta sẽ tìm sự khác nhau giữa mô hình tiến hóa và mô hình thác nước truyền thống:

    Hình 4: Sự khác nhau giữa mô hình thác nước và mô hình tiến hóa trong phát triển phần mềm (The Evolutionary Development Model for Software – Elaine L. May and Barbara A. Zimmer)

    – Mô hình thác nước được áp dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, một nhược điểm lớn của mô hình này, đó là nó chỉ hiệu quả đối với các dự án phần  mềm mà các đặc tả đã rất rõ ràng ngay từ đầu, yêu cầu nhóm phát triển phải hiểu rõ về phần mềm mà mình đang xây dựng, lượng giá được những khó khăn có thể gặp phải trong suốt quá trình phát triển. Tuy nhiên thực tế thì các yêu cầu phần mềm luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình dự án được thực hiện, gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện dự án (giai đoạn implement). Hơn nữa, rất nhiều yêu cầu khách hàng lại không rõ ràng ngay từ đầu, cũng như hiểu biết của nhóm phát triển không toàn diện về phần mềm mà mình đang xây dựng.

    – Mô hình tiến hóa giúp giải quyết được nhược điểm này của mô hình thác nước. Nó chi giai đoạn thực hiện (implement) ra thành nhiều chu kỳ. Mỗi chu kỳ cũng có 4 bước như 1 mô hình thác nước con (incremental waterfalls): Lên kế hoạch, Thiết kế, Thực hiện, Kiểm thử. Nhờ đó, người dùng có cơ hội tiếp cận tới phần mềm cuối mỗi chu kỳ con và đưa ra được đánh giá, phản hồi lại cho nhóm  phát triển. Bằng cách này, các thay đổi trong yêu cầu người dùng có thể được giải quyết trong các chu kỳ con sau đó.

    – Vì người dùng được tham gia và có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình thực hiện (implement), do đó sản phẩm cuối cùng đáp ứng rất sát yêu cầu của người dùng.

    4.3) Các bước triển khai

    1. Khảo sát yêu cầu, đưa ra các đặc tả yêu cầu người dùng.
    2. Thiết kế ban đầu dựa trên các đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống.
    3. Lên kế hoạch thực hiện.
    4. Thực hiện các chu kỳ phát triển thác nước con (Plan – Design – Implement – Test). Sau mỗi bước test sẽ giao cho khách hàng 1 phiên bản trung gian để khách hàng đánh giá và nhận phản hồi. Bước kế hoạch của mỗi chu kỳ sẽ dựa trên các phản hồi của khách hàng trong các chu kỳ trước đó.
    5. Kiểm thử phiên bản cuối cùng.

    Áp dụng khi nào?

    Giống với mô hình xoắn ốc.  Được áp dụng nhiều cho các dự án lớn mà yêu cầu ban đầu còn chưa rõ ràng, nhưng cần có sản phẩm sớm.

    4.4) Các ưu điểm/nhược điểm?

    Ưu điểm:

    – Nhờ chia nhỏ quá trịnh thực hiện ra thành các phần nhỏ hơn và quản lý được, kế hoạch dự án sẽ trở nên rõ ràng và trực quan hơn. Nó làm giảm sự phức tạp của dự án, giảm thiểu được nhiều rủi ro cũng như giải quyết được kịp thời các rủi ro, thay đổi (nhờ liên tục nhận được các phản hồi cuối mỗi chu kỳ con).

    – Tầm nhìn dài hạn của hệ thống được chia thành các bước ngắn hạn.

    – Các bước thực hiện được xác định độ ưu tiên rõ ràng.

    – Có kết quả sớm – đây là “công cụ” giao tiếp rất tốt giữa nhóm phát triển và khách hàng (thảo luận  và phản hồi quanh sản phẩm hiện thời)

    – Có phản hồi của khách hàng từ bên ngoài nhóm phát triển.

    – Có sự cải tiến dần dần cho sản phẩm hiện tại.

    – Có thể dễ dàng nhận ra những yêu cầu nào và công việc nào có thể được hoàn thành.

    – Có thể xác định trước các thành phần chức năng chung.

    Nhược điểm:

    – Không phù hợp với các dự án nhỏ.

    – Độ phức tạp quản lý tăng.

    – Không biết rõ ràng khi nào thì kết thúc dự án à bản than điều này là 1 rủi ro.

    – Chi phí tốn kém

    – Yêu cầu nhiều tài nguyên và kỹ năng cho phân tích rủi ro (giống spiral model)

    – Các tiến trình dự án phụ thuộc nhiều vào bước phân tích rủi ro.

    5) RUP (Rational Unified Process) SDLC

    5.1) Khái niệm

    RUP (Rational Unified Process) là một quá trình phát triển phần mềm  theo mô hình lặp (iterative) được sáng tạo bởi Rational Software Corporation  từ 2003. Nó  là quá trình phát triển mang tính thích nghi hơn là mang tính khuôn mẫu như các mô hình khác. RUP sẽ được các đội phát triển thiết kế, lựa chọn những đặc tính phù hợp mà họ thấy cần cho dự án phần mềm của mình.

    5.2) Mô hình

    Các pha và khung phát triển của RUP có dạng:

    Hình 5: Mô hình lặp của RUP (Wikipedia)

    Các pha : Bắt đầu, Cộng tác – chuẩn bị, Xây dựng và Chuyển dịch.

    Các công việc chính cần thực hiện: Tìm hiểu mô hình dịch vụ, Xác định các yêu cầu, Phân tích – Thiết kế, Thực hiện, Kiểm thử và Triển khai.

    Ngoài các công việc chính trên, còn có các  công việc hỗ trợ khác: Quản lý cấu hình và thay đổi, Quản lý dự án, Môi trường dự án.

    5.3) Các bước triển khai

    – Pha bắt đầu (inception phase). Mục đích của pha này là xác định phạm vi của hệ thống để làm cơ sở cho việc tính toán chi phí ban đầu và ngân sách. Trong pha này, các yếu tố  liên quan đến kinh doanh được xác định (như bối cảnh kinh doanh, yếu tố thành công, dự báo tài chính…). Pha này sinh ra các mô hình ca sử dụng, kế hoạch dự án, thẩm định rủi ro ban đầu và mô tả dự án. Các thành phần này và các yếu tốc kinh doanh được để kiểm tra và xem xét xem có tiếp tục thực hiện dự án hay không (phải vượt qua LifeCyle Objective).

    – Pha chuẩn bị (elaboration). Mục đích của pha này là giảm thiểu các rủi ro chính. Các rủi ro này được phát hiện và đề xuất giải pháp bằng cách phân tích các yếu tố liên quan đến dự án. Đến pha này, dự án bắt đầu được định hình: Vấn đề được phân tích và kiến trúc của dự án ban đầu được xác định.

    – Pha này phải vượt qua được cột mốc kiến trúc vòng đời (LifeCycle Architecture Milestone). Nếu không vượt qua được cột mốc này, vẫn còn thời gian để thiết kế lại hoặc quyết định hủy dự án.

    – Pha xây dựng. Mục đích chính của pha này là xây dựng hệ thống phần mềm. Trọng tâm của pha này đặt vào việc phát triển các thành phần và chức năng của hệ thống. Việc lập trình được thực hiện chủ yếu ở pha này. Việc xây dựng hệ thống phần mềm ở pha này có thể được chia theo chức năng, thành phần (component) thành các bộ phận quản lý được và xây dựng nguyên mẫu được (tức là phần đó tương đối hoàn chỉnh về chức năng). Mỗi bộ phận được thực hiện trong 1 vòng lặp riêng.

    – Pha chuyển dịch. Pha này thực hiện việc chuyển dịch hệ thống từ quá trình phát triển sang sản phẩm hoàn thiện, đưa nó tới người sử dụng và giúp họ sử dụng nó hiệu quả. Các hoạt động của pha này gồm có đào tạo người dùng cuối và nhân viên bảo trì; thực hiện kiểm thử hệ thống để kiểm tra tính đúng đắn của nó so với mong muốn của người dùng cuối. Sản phẩm cũng được đối chiếu với yêu cầu chất lượng đề ra trong pha bắt đầu.

    – Một lưu ý quan trọng về các pha trong RUP: bản thân mỗi pha là một vòng lặp, có thể được thực hiện cho đến khi đạt được mục tiêu mỗi pha.

    Hình 6: Các pha và mục tiêu mỗi pha trong RUP (Introduction to Software Development – Ma’am Marium Nosheen)

    5.4) Áp dụng khi nào?

    Mô hình RUP được áp dụng rộng rãi, nhờ tính thích nghi (adaptive) của nó. Các nhóm phát triển có thể chọn lựa các yếu tố cảm thấy cần thiết cho dự án phần mềm của mình để áp dụng RUP.

    5.5) Các ưu điểm/nhược điểm?

    (An overview of the Rational Unified Process (RUP) – Eric Villagomez)

    Ưu điểm:

    – Thường xuyên nhận được phản hồi từ các cổ đông

    – Sử dụng các tài nguyên dự án 1 cách hiệu quả

    – Cung cấp được chính xác cái mà khách hàng muốn

    – Các vấn đề được phát hiện sớm trong dự án

    – Hỗ trợ mô hình phát triển lặp

    – Cải thiện quản lý rủi ro

    Nhược điểm:

    – Các tiến trình dự án rất phức tạp để thực hiện

    – Quá trình phát triển có thể vượt quá tầm kiểm soát (do đánh gia ban đầu sai về chi phí, tài nguyên và rủi ro cũng như do các yếu tố bất định)

    – Cần các chuyên gia để có thể đáp ứng được các mục tiêu của mô hình phát triển này.

    – Tiến trình nặng

     

    Chương 3: Bài tập III

    Đề bài:

    Tìm các KPA cơ bản của Requirement Engineering và vẽ sơ đồ biểu diễn mối quan hệ này. Mô tả ngắn gọn nội dung của từng KPA.

     

    1) Các KPA cơ bản của Requirement Engineering

    1.1) Định nghĩa Requirement Engineering

    Requirement Engineering (quy trình yêu cầu phần mềm) là cơ chế thích hợp để hiểu khách hàng muốn gì, phân tích yêu cầu, đánh giá tính khả thi, đàm phán một giải pháp hợp lí, xác định giải pháp rõ ràng, xác nhận yêu cầu kĩ thuật và quản lí yêu cầu khi chúng được chuyển thành hệ thống hoạt động.

    Sản phẩm của quá trình là tài liệu lớn bằng ngôn ngữ tự nhiên, mô tả những gì hệ thống làm, không mô tả chúng được làm như thế nào.

    1.2) Các KPA (key process area – vùng xử lí quan trọng) cơ bản

    – Requirement Development (Phát triển yêu cầu)

    + Requirement Elicitation (Phát hiện yêu cầu)

    + Requirement Analysis (Phân tích yêu cầu)

    + Requirement Specification (Đặc tả yêu cầu)

    + Requirement Verification (Kiểm thử yêu cầu)

    – Requirement Management (Quản lí yêu cầu)

     

     

    1.3) Sơ đồ mối quan hệ giữa các KPA:

    Về mặt cấu trúc

    Hình 7: Sơ đồ quan hệ cấu trúc các KPA

    (Slide bài giảng Phân tích yêu cầu phần mềm – Thầy Huỳnh Quyết Thắng)

    Quy trình yêu cầu phần mềm có 2 KPA cơ bản là Phát triển yêu cầu và Quản lí yêu cầu, trong đó Phát triển yêu cầu bao gồm 4 KPA thành phần được chỉ ra trong sơ đồ.

     

    Về mặt hoạt động

    Hình 8: Sơ đồ quan hệ trong hoạt động của các KPA

    (Slide bài giảng Phân tích yêu cầu phần mềm – Thầy Huỳnh Quyết Thắng)

    Ban quản lí tiếp thị khách hàng (Marketing Customer Management) sẽ tiến hành các hoạt động với khách hàng để xác định yêu cầu đối với hệ thống đang xây dựng.

    Giai đoạn Requirement Development sẽ tạo ra bản tài liệu yêu cầu cơ sở -Base Line Requirement (thông qua các hoạt động như phân tích tài liệu, phỏng vấn, đàm phán…) để gửi cho khách hàng và làm bước khởi đầu cho giai đoạn Requirement Management.

    Sau khi đã có bản yêu cầu cơ sở, ban quản lí tiếp thị khách hàng sẽ tiếp tục làm việc với khách hàng để thu nhận, xử lí các yêu cầu thay đổi từ khách hàng và tạo nên phiên bản tiếp theo của tài liệu yêu cầu. Sau đó bản yêu cầu mới lại cập nhật vào Base Line Requirement và được gửi cho khách hàng, để tiếp tục lấy ý kiến của khách hàng. Quá trình tiếp tục cho tới khi các bên liên quan đạt được sự đồng thuận về các yêu cầu của hệ thống.

     

    2) Mô tả ngắn gọn các KPA

    2.1) Requirement Development (Phát triển yêu cầu)

    Phát triển yêu cầu là giai đoạn xác định các yêu cầu của khách hàng đối với hệ thống, sản phẩm cho ra là bản yêu cầu cơ sở. Bốn giai đoạn nhỏ của KPA này đảm nhận các công việc cụ thể của quá trình yêu cầu phần mềm

    + Requirement Elicitation (Phát hiện yêu cầu)

    Phát hiện yêu cầu là quá trình thu thập và tài liệu hóa các nhu cầu của các bên liên quan, xác định các yêu cầu tài nguyên và thu thập các thông tin, tài liệu cần thiết khác.

    Đây là bước đầu tiên trong quá trình tìm hiểu các vấn đề được yêu cầu giải quyết. Hoạt động cơ bản thuộc về con người, các bên liên quan sẽ thiết lập mối quan hệ giữa đội phát triển và khách hàng. Giai đoạn này còn được gọi là ‘requirements capture’, ‘requirements discovery’, và ‘requirements acquisition’ (Guide to the Software Engineering Body of Knowledge, 2-4).

    Các hoạt động cụ thể:

    • Phỏng vấn khách hàng
    • Quan sátngười dùng thực hiệncông việc của họ
    • Nghiên cứu các kịch bản làm việc
    • Tổ chức các hội thảo
    • Kiểm tracác báo cáovấn đề
      • Tái sử dụng yêu cầu

    à Mục tiêu:

    • Xác định các yêu cầu quá trình phát triển
      • Xác định tầm nhìn và phạm vi
      • Xác định các lớp người dùng
      • Xác định các tiêu chí sản phẩm
      • Xác định các trường hợp ca sử dụng
      • Xác định cácsự kiện hệ thốngvà đáp ứng

    + Requirement Analysis (Phân tích yêu cầu)

    Phân tích yêu cầu là quá trình phân tích các dữ liệu thu được trong Phát hiện yêu cầu, giải quyết xung đột, phân tích luật thương mại, tài liệu hóa các giả định, các ràng buộc và các sự phụ thuộc, đồng thời làm việc với các bên liên quan để tạo lập các ưu tiên ban đầu.

    Các hoạt động cụ thể:

    • Vẽsơ đồngữ cảnh
      • Tạo mẫu
      • Phân tích tính khả thi
      • Gán độ ưu tiên các yêu cầu
      • Mô hình hóa các yêu cầu
      • Tạo một từ điển dữ liệu
      • Phân bổ các yêu cầu tới hệ thống con
      • Áp dụng việc triển khai hàm đánh giá chất lượng

    à Mục tiêu:

    • Phát hiện và giải quyết xung đột giữa các yêu cầu
      • Tìm ra phạm vi của phần mềm và cách mà nó tác động tới môi trường xung quanh
    • Nghiên cứu các yêu cầu hệ thống để tìm ra yêu cầu phần mềm

    + Requirement Specification (Đặc tả yêu cầu)

    Đặc tả yêu cầu là quá trình xác định các văn bản chức năng và bổ trợ dựa trên các yêu cầu và hỗ trợ bằng các công nghệ trực quan đa dạng như mô hình hóa tiến trình, biểu đồ UML, các bảng khung…

    Các hoạt động cụ thể:

    • Áp dụng các mẫu đặc tả yêu cầu phần mềm
      • Xác định các nguồn yêu cầu
      • Gán nhãn riêng cho mỗi yêu cầu
      • Ghi lại các quy tắc kinh doanh
      • Xác định các thuộc tính chất lượng

    à Mục tiêu:

    • Tạo tài liệu định nghĩa hệ thống
    • Đặc tả được yêu cầu hệ thống
    • Đặc tả được yêu cầu phần mềm

    + Requirement Verification (Kiểm thử yêu cầu)

    Kiểm thử yêu cầu là quá trình xem xét lại các đặc tả yêu cầu và các minh họa trực quan đi kèm với các bên liên quan để xác định các thuộc tính chất lượng như sự hoàn thiện, sự phù hợp, sự rõ ràng, tính thực tiễn…

    Các hoạt động cụ thể:

    • Kiểm tra các tài liệu yêu cầu
      • Kiểm tra các yêu cầu
      • Xác định các tiêu chí chấp nhận
    • Tạo mẫu thử
    • Kiểm tra sự chấp nhận

    à Mục tiêu:

    • Đảm bảo các kĩ sư phần mềm hiểu rõ tất cả yêu cầu
    • Đảm bảo các yêu cầu đưa ra được khách hàng chấp nhận

    2.2) Requirement Management (Quản lí yêu cầu)

    2.2.1) Định nghĩa Requirement Management

    Quản lý các yêu cầu phần mềm thực hiện các giao tiếp và thoả thuận với người sử dụng về các yêu cầu của phần mềm cần thực hiện (CMU/SEI 1995)

    • Xác định giới hạn của phần mềm (Requirement baseline)
    • Duyệt lại các giới hạn của phần mềm
    • Quản lý các thay đổi trong yêu cầu phần mềm (Requirement Changes)

    2.2.2) Các bước chính

    + Xác định một quá trình kiểm soát thay đổi yêu cầu: Thiết lập một quá trình mà qua đó yêu cầu thay đổi được đề xuất, phân tích và giải quyết. Quản lý tất cả những thay đổi được đề xuất thông qua quá trình này. Công cụ có khiếm khuyết theo dõi thương mại có thể hỗ trợ quá trình thay đổi kiểm soát.

    + Thành lập ban kiểm soát thay đổi: Một nhóm nhỏ của các bên liên quan được thành lập để tiếp nhận các đề xuất thay đổi yêu cầu, xử lí chúng, xem xét đề xuất nào được chấp nhận hay loại bỏ và thiết lập các ưu tiên.

    + Phân tích các tác động của sự thay đổi yêu cầu: Đánh giá sự ảnh hưởng của thay đổi tới thiết kế hệ thống, mã nguồn các chương trình, các nhiệm vụ cần tiến hành để đáp ứng sự thay đổi đó.

    + Thiết lập một đường cơ sở và kiểm soát các phiên bản của tài liệu yêu cầu: Đường cơ sở bao gồm các yêu cầu đã được cam kết thực hiện trong một thông cáo cụ thể. Các thay đổi chỉ thực hiện dựa trên những cam kết đã có.

    + Duy trì một lịch sử của yêu cầu thay đổi: Ghi lại những ngày mà yêu cầu đặc điểm kỹ thuật đã được thay đổi, những thay đổi đã được thực hiện, những người thực hiện thay đổi, và tại sao. Một phiên bản điều khiển công cụ hoặc yêu cầu thương mại quản lý công cụ có thể tự động hoá các tác vụ này.

     

    Tài liệu tham khảo

    [1] Slide bài giảng Phân tích yêu cầu phần mềm – Thầy Huỳnh Quyết Thắng

    [2] IEEE Computer Society Professional Practices Committee – Guide to the Software Engineering Body of Knowledge 2004 Version

    [3] Karl E. Wiegers – Software Requirements, Second Edition

    [4] Ma’am Marium Nosheen – Introduction to Software Development

    [5] Boehm – A Spiral Model of Software Development and Enhancement, 1988

    [6] Wikipedia


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-%C4%90I%E1%BB%80U-TI%E1%BA%BET-D%C3%92NG-CH%E1%BA%A2Y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT  DÒNG CHẢY.

    Tính Toán Điều Tiết Năm

    ĐỀ SỐ 3

    Tại tuyến A trên sông M dự định xây dựng một hồ chứa lấy nước tưới ruộng các tài liệu cơ bản ban đầu tính toán như sau:

    1, Quá trình dòng chảy năm ứng với tần suất thiết kế P = 75%: Q(m3/s).

    Bảng số liệu:

    2, Yêu cầu dùng nước: q(m3/s).

    Bẳng số liệu:

    tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
    tổ3 1.27 1.36 1.48 2.45 1.21 2.88 5.82 2.6 1.66 0.21 0.29 0.7

     

    3, Phân phối chênh lệch bốc hơi Z(mm)

    4, Quan hệ địa hình lòng hồ

    Z

     

    (mm)

    0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 26 28 30
    F

     

    (km2)

    0.18 0.36 0.57 1.12 1.71 2.75 4 5.33 6.65 8 9.44 11.05 12.65 14.4 16.1 17.8
    V*10^6

     

    (m3)

    0 0.46 1.31 2.94 5.7 10 16 27 38.1 52.8 70 90.06 114 142 172 206

    5,Với dung tích chết đã được xac định Vc=11.5(106m3). Tổn thất thấm lấy bằng  1.5% dung tích hồ.

    Biểu đồ quan hệ giữa lượng nước đến và lượng nước dùng(Q~q)

    Q(m3/s) q(m3/s)
    0.68 1.27
    0.78 1.36
    0.64 1.48
    0.57 2.45
    0.74 1.21
    0.54 2.88
    0.22 5.82
    3.53 2.6
    7.4 1.66
    21.5 0.21
    6.74 0.29
    2.02 0.7

    Qua đồ thị ta nhận thấy lưu lượng đến vào VIII, XI,X, XI, XII lớn hơn lưu lượng nước dung do vậy năm thủy lợi bắt đầu từ tháng VIII – XII lượng nước lớn cần phải trữ nước vào hồ.Còn tháng từ I – VII năm sau có lượng nước ít .

    Tháng t Q(m3/s) Q(m3/s)  
     
    1 2 3 4  
    VIII 31 3.53 2.6  
    IX 30 7.4 1.66  
    X 31 21.5 0.21  
    XI 30 6.74 0.29  
    XII 31 2.02 0.7  
    I 31 0.68 1.27  
    II 28 0.78 1.36  
    III 31 0.64 1.48  
    IV 30 0.57 2.45  
    V 31 0.74 1.21  
    VI 30 0.54 2.88  
    VII 31 0.22 5.82  

    Khi đó bảng 1:    tính toán điều tiết bỏ qua tổn thất

    Tháng t Q q WQ

     

    =t(s)*Q*10^6

    Wq

     

    =t(s)*q*10^6

    V(106m3/s) Vt

     

    (106m3/s)

    Vx

     

    (106m3/s)

    V+ V
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
                    11.5  
    VIII 31 3.53 2.6 9.45 6.96 2.49   13.99  
    IX 30 7.4 1.66 19.18 4.30 14.88   28.87  
    X 31 21.5 0.21 57.59 0.56 57.02   43.93 41.963
    XI 30 6.74 0.29 17.47 0.75 16.72   43.93 58.682
    XII 31 2.02 0.7 5.41 1.87 3.54   43.93  
    I 31 0.68 1.27 1.82 3.40   1.58 42.35  
    II 28 0.78 1.36 1.89 3.29   1.40 40.95  
    III 31 0.64 1.48 1.71 3.96   2.25 38.70  
    IV 30 0.57 2.45 1.48 6.35   4.87 33.82  
    V 31 0.74 1.21 1.98 3.24   1.26 32.56  
    VI 30 0.54 2.88 1.40 7.46   6.07 26.50  
    VII 31 0.22 5.82 0.59 15.59   15.00 11.50  
    Cộng           94.65 32.43    

    Từ bảng trên ta có :

    Vhi = = 32.43 (106m3/s)

    Vh = Vhi+Vc11.5 + 32.43= 43.93 (106m3/s)

    V(106m3) Z(m) F(Km2)
    0 0 0.18
    0.46 2 0.36
    1.31 4 0.57
    2.94 6 1.12
    5.7 8 1.71
    10.1 10 2.75
    16.39 12 4
    27.26 14 5.33
    38.12 16 6.65
    52.8 18 8
    70.19 20 9.44
    90.06 22 11.05
    114.4 24 12.65
    141.5 26 14.35
    171.9 28 16.1
    205.9 30 17.83

    Biểu đồ quan hệ địa hình lòng hồ

    1, Quan hệ giữa V~Z

     
     
    V(106m3) Z(m)
    0 0
    0.46 2
    1.31 4
    2.94 6
    5.7 8
    10.1 10
    16.39 12
    27.26 14
    38.12 16
    52.8 18
    70.19 20
    90.06 22
    114.4 24
    141.5 26
    171.9 28
    205.9 30

    2, Quan hệ (F~Z)

     
     
    Z(m) F(km2)
    0 0.18
    2 0.36
    4 0.57
    6 1.12
    8 1.71
    10 2.75
    12 4
    14 5.33
    16 6.65
    18 8
    20 9.44
    22 11.05
    24 12.65
    26 14.35
    28 16.1
    30 17.83

    Bảng 2 : Bảng tính toán điều tiết theo phương án trữ sớm không kể tổn thất

     

    tháng t Vt*

     

    10^6m3

    Vtb

     

    (*103)m3

    Ftb

     

    (km2)

    Z(mm) Wb(*103)m3

     

    =Ftb*Z

    Wt

     

    =Vtb*D(103)

    Wtt(106)
    (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)
        11.5            
    VIII 31 13.99 12.75 2.29 12.90 29.49 209.86 0.24
    IX 30 28.87 21.43 3.23 9.80 31.70 433.03 0.46
    X 31 85.89 57.38 7.55 10.30 77.73 1288.38 1.37
    XI 30 102.61 94.25 11.67 14.70 171.50 1539.16 1.71
    XII 30 32.43 67.52 8.76 27.00 236.47 486.45 0.72
    I 30 30.85 31.64 4.42 34.40 152.06 462.74 0.61
    II 28 29.45 30.15 4.24 41.60 176.53 441.69 0.62
    III 31 27.20 28.32 4.03 30.80 124.08 407.94 0.53
    IV 30 22.32 24.76 3.61 17.90 64.70 334.85 0.40
    V 31 21.06 21.69 3.26 16.50 53.86 315.96 0.37
    VI 30 15.00 18.03 2.86 14.50 41.41 224.99 0.27
    VII 31 11.50 13.25 1.75 13.70 23.96 172.50 0.20

    Bảng 3: Bảng tính toán điều tiết có kể đến tổn thất

     

    Tháng t WQ(10^6) Wq(10^6) Wq'(10^6) V Vt(10^6)m3 Vx
    V+ V
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
                  11.5  
    VIII 31 9.455 6.964 7.185 2.270   13.770  
    IX 30 19.181 4.303 4.656 14.525   28.295  
    X 31 57.586 0.562 1.501 56.085   47.084 37.280
    XI 30 17.470 0.752 2.337 15.133   47.084 63.929
    XII 30 5.410 1.875 3.124 2.286   47.084  
    I 30 1.821 3.402 4.028 90.299 2.207 47.100  
    II 28 1.887 3.290 3.919   2.032 44.893  
    III 31 1.714 3.964 4.513   2.799 42.861  
    IV 30 1.477 6.350 6.786   5.309 40.062  
    V 31 1.982 3.241 3.620   1.638 34.753  
    VI 30 1.400 7.465 7.777   6.377 33.115  
    VII 31 0.589 15.588 15.811   15.222 0.000  
              90.30     35.584    

    Có Vhi = V= 35.584 (106m3)

    Vh*= Vhi+Vc=  35.584 + 11.5= 47.084 (106m3)

    Khi đó

    Khi đó =  7 % > 5%

    Với kết quả tính =  7 %> 5% chưa đạt yêu cầu do vậy ta cần tính lại bảng tính lại như 4 duwois đây

    Bảng 4 : Bảng tính toán điều tiết theo phương án trữ sớm không kể tổn thất

     

    tháng t Vt*

     

    10^6m3

    Vtb

     

    (*10^6)m3

    Ftb

     

    (km2)

    Z(mm) Wb(*10^3)m3

     

    =Ftb*$Z

    Wt

     

    =Vtb*D(10^3)

    Wtt(10^6)
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
        11.5            
    VIII 31 13.99 12.75 2.29 12.90 29.49 191.18 0.22
    IX 30 28.87 21.43 3.23 9.80 31.70 321.45 0.35
    X 31 85.89 57.38 7.55 10.30 77.73 860.71 0.94
    XI 30 102.61 94.25 11.67 14.70 171.50 1413.77 1.59
    XII 30 32.43 67.52 8.76 27.00 236.47 1012.80 1.25
    I 30 30.85 31.64 4.42 34.40 152.06 474.59 0.63
    II 28 29.45 30.15 4.24 41.60 176.53 452.21 0.63
    III 31 27.20 28.32 4.03 30.80 124.08 424.82 0.55
    IV 30 22.32 24.76 3.61 17.90 64.70 371.39 0.44
    V 31 21.06 21.69 3.26 16.50 53.86 325.41 0.38
    VI 30 15.00 18.03 2.86 14.50 41.41 270.48 0.31
    VII 31 11.50 13.25 2.34 13.70 32.05 198.74 0.23

    Các cột trong bảng giống như bảng 2 ở trên

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 5: Bảng tính toán điều tiết có kể đến tổn thất

    Tháng t WQ

     

    (10^6)

    Wq

     

    (10^6)

    Wq

     

    ‘(10^6)

    V Vt(10^6)m3 Vx
    V+ V
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
                  11.5  
    VIII 31 9.45 6.96 7.32 2.14   13.64  
    IX 30 19.18 4.30 5.24 13.94   27.58  
    X 31 57.59 0.56 2.15 55.44   46.47 36.55
    XI 30 17.47 0.75 2.00 15.47   46.47 52.01
    XII 30 5.41 1.87 2.50 2.91   46.47  
    I 30 1.82 3.40 4.03   2.21 44.26  
    II 28 1.89 3.29 3.84   1.95 42.31  
    III 31 1.71 3.96 4.40   2.69 39.62  
    IV 30 1.48 6.35 6.73   5.25 34.37  
    V 31 1.98 3.24 3.55   1.57 32.80  
    VI 30 1.40 7.46 7.70   6.30 26.50  
    VII 31 0.59 15.59 15.59   15.00 11.50  
                34.97    

    Vh**= Vhi+Vc=  34.97 + 11.5= 46.47 (106m3)

    Khi đó

    Khi đó =  1.3 % > 5%

    Khi đó Vh cần tìm là :

    Vh = 46.47 (106m3)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh

    Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh

    Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh

    Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh

    Exercise 1: Choose the best verb to fit these following sentences

    1. Because they don’t have enough money to buy a bigger house, they must make up their _______ here.
    2. minds to staying B. minds to stay C. mind staying            D. mind to stay
    3. The police _______him for burglary.
    4. arrested B. charged C. convinced                D. accused
    5. Many people______ about the bad behavior of soccer fans in the town centre after the match.
    6. criticized B. disapproved C. complained              D. objected
    7. I never wear red. It’s color that doesn’t _________me.
    8. go with B. suit C. match                        D. take to
    9. See if you can ________Joe to do this share of the housework.
    10. get B. have C. make                         D. try
    11. The train was_____ from leaving because of a signal failure.
    12. prevented B. forbidden C. detained                   D. cancelled
    13. After a lot of difficulties he finally _________to start the car.
    14. succeeded B. coped C. managed                   D. worked out
    15. The manager asked her to _______with the complaint.
    16. take care B. attend C. deal                           D. follow
    17. Where are you going to ___________ your summer holiday?
    18. send B. spend C. stay                           D. live
    19. I ________ him of the meeting to the other day. I wonder why he didn’t turn up.
    20. mentioned B. warned C. reminded                  D. pointed
    21. I ________ him to work hard this semester.
    22. made B. forced C. suggest                     D. told
    23. He didn’t ________his children to play in the back yard.
    24. allow B. help C. force                         D. let
    25. Combining our two incomes will _________ us to get a bigger loan from the bank.
    26. guarantee B. ensure C. enable                       D. confirm
    27. Is she just _____ to be crazy, or she really mad?
    28. imagining B. faking C. asserting                   D. pretending
    29. Am I happy? It all ___________ on what you mean by “happy”!
    30. includes B. relates C. concerned                D. depended
    31. I _________ you enjoy the play, Mr. Lincoln.
    32. wish B. hope C. want                          D. expect
    33. Don’t __________your bicycle too fast!
    34. go B. drive C. ride                           D. walk
    35. How happy we were to __________ our holidays on the farm!
    36. send B. pass C. spend                        D. have
    37. They are going to_________ their golden wedding anniversary next week.
    38. hold B. celebrate C. have                          D. open
    39. Don’t ___________me as if I were an idiot!
    40. talk B. show C. turn                           D. treat

     

     

     

     

     

    Exercise 2: Choose the best verb to fit these following sentences

    1. Hurry up! Our uncle is coming. His plane will ___________in less than an hour.
    2. fly B. go C. park                          D. land
    3. Charles Dickens is ___________ as one of the greatest names in English literature.
    4. told B. known C. spoken                      D. considered
    5. At the age of sixty, the man ___________and went to the country to live.
    6. retired B. died C. drew                          D. gave up
    7. She __________ herself as an old beggar to enter Tibet.
    8. wore B. disguised C. made                         D. appeared
    9. Mrs. Green ___________all her life to teaching orphans.
    10. devoted B. gave C. compared                 D. spent
    11. “To __________someone” means “to put someone into prison”.
    12. keep B. catch C. arrest                        D. imprison
    13. How long does it take you to __________ in the morning?
    14. get dressed B. dress up C. dress yourself         D. dressed
    15. Where did they _________ their summer holiday?
    16. go B. send C. try                             D. spend
    17. Just a minute! I must have a shower and __________before we go out.
    18. change B. exchange C. changing                  D. exchanging
    19. You’d better _________your coat before you go out into the cold.
    20. take off B. dress in C. have on                    D. put on
    21. A terrible explosion ___________them up.
    22. got B. raised C. lifted                         D. woke
    23. Up to now, I _________a lot of information about her.
    24. would learn B. have learnt C. have learn                D. will learn
    25. They will rebuild the bridge which was ___________ in the war.
    26. defeated B. retreated C. used                          D. destroyed
    27. After an explosion, a flame ___________ high into the sky.
    28. raised B. rose C. flew                           D. jumped
    29. We __________ them a visit last week.
    30. gave B. paid C. asked                        D. did
    31. Faraday attended a lecture__________ y a famous scientist.
    32. giving B. gave C. given                         D. to give
    33. Nam was so tired that he __________ asleep in the class.
    34. got B. felt C. went                          D. fell
    35. The players__________ to be at the stadium at 3 o’clock.
    36. told B. were told C. have told                  D. tell
    37. The old students __________ one another in the school yard.
    38. clutched B. gathered C. greeted                     D. looked
    39. – Must I lock the door before I leave? – No, you ___________Someone can do it for you.”
    40. mustn’t B. needn’t C. don’t                          D. haven’t

    Exercise 3: Choose the best verb to fit these following sentences

    1. Everybody …………. healthy and good looking.
    2. looked at B. looked C. looked of                 D. looked after
    3. After he __________ his homework, he went to bed.
    4. had finished B. has been finishing C. has finished D. would finish
    5. Peter is __________the radio.
    6. looking B. watching C. listening to               D. seeing
    7. Mary often ___________. the morning newspaper after breakfast.
    8. sees B. reads C. watches                    D. writes
    9. Our summer holidays __________ quickly.
    10. past B. passed C. was past                   D. passing
    11. __________a strange man in her house, the girl was afraid.
    12. Had seen B. Seeing C. See                            D. When seen
    13. I’ve never __________ to Da Lat before.
    14. went B. go C. been                          D. gone
    15. The crowd ___________excitedly when he scored the third goal.
    16. spoke B. said C. shouted                    D. told
    17. I tried hard but I couldn’t ___________him.
    18. take B. gain C. win                            D. beat
    19. If you ___________ flu, you’ll have to stay in bed.
    20. had caught B. caught C. does not catch         D. catch
    21. My relative is busy. Can you ___________ home?
    22. make me a ride B. give me a lift C. ride me                     D. pick me up
    23. We ___________ a table for four, at nine o’clock.
    24. set B. bought C. reserved                   D. put
    25. The computers ___________ used in class now.
    26. have B. are being C. being                         D. was
    27. Daisy is going to have someone __________ her skirt.
    28. is making B. is made C. to make                    D. make
    29. – “Do I have to take that English course?” – No, you ___________
    30. haven’t B. don’t have C. mustn’t                      D. needn’t
    31. Before __________ to bed, remember to turn off the lights.
    32. to go B. went C. goes                          D. going
    33. In spite of the hot weather, the little boy refused __________off his coat.
    34. take B. have take C. to take                      D. having take
    35. She was amazed ___________ about that.
    36. to know B. knowing C. to be known             D. know
    37. The students are happy __________that good news.
    38. to hear B. heard C. hears                         D. hearing
    39. Children __________ play football in the street.
    40. must B. need C. mustn’t                      D. needn’t

    Exercise 4: Choose the best verb to fit these following sentences

    1. Would you mind __________ this problem for me?
    2. solve B. will solve C. to solve                    D. solving
    3. My sister often __________Shakespeare’s lines in the essay.
    4. writes B. reads C. quotes                       D. uses
    5. They__________ to Hanoi three times this year.
    6. were B. have been C. went                          D. have gone
    7. What time did you ___________London?
    8. leave from B. live C. live from                  D. leave
    9. I was locked out and I had to ___________ through the window.
    10. enter B. get in C. get into                     D. enter in
    11. He looks tired. He __________a rest.
    12. need B. needs C. needn’t                      D. need to
    13. Money you are paid for your work is money you ___________
    14. earn B. win C. profit                        D. benefit
    15. We must __________well when we eat.
    16. hold B. keep C. chew                         D. brush
    17. Two of his teeth need __________
    18. filling B. be filled C. filled                         D. to fill
    19. How much did you ___________ the plumber before he left?
    20. pay B. pay for C. pay of                       D. paid
    21. How much did you __________ that dress?
    22. pay B. pay for C. pay of                       D. paid
    23. Three prisoners ___________ from the prison in May.
    24. collapsed B. attacked C. escaped                    D. appeared
    25. Someone’s selling a car and you want to know how much he is ___________
    26. asking B. demanding C. charging                   D. thinking
    27. You pass an empty house and see a notice outside it which reads: “___________”
    28. To sell B. On sale C. For sale                    D. In sale
    29. I don’t know how she __________ her birthday party.
    30. greets B. celebrates C. hopes                        D. wishes
    31. On Sunday, our family members usually __________ and enjoy a good meal.
    32. meet B. gather C. talk                            D. see
    33. Children _________play football in the street. They _________ play it in the stadium.
    34. mustn’t / need B. mustn’t / must C. needn’t / need          D. needn’t / must
    35. – _________ we go to the tailor’s?- Yes, let’s.
    36. Shall B. Will C. Do                             D. Would
    37. The clowns in the circus made us _________ a lot.
    38. to laugh B. laughed C. laugh                         D. laughing
    39. We don’t take the umbrella. We wish we _________
    40. take B. can take C. took                          D. could

    Exercise 5: Choose the best verb to fit these following sentences

    1. Mr. Dick likes watching football but his wife_________
    2. doesn’t B. doesn’t like C. does like                  D. don’t
    3. The Pyramids _________by the ancient Egyptians.
    4. was built B. were being built C. had built                   D. were built
    5. Have orange juice, _________?
    6. will you B. do you C. do we                        D. would you
    7. I think he will help you doing your homework_________?
    8. doesn’t he B. won’t he C. don’t I                       D. do I
    9. She is afraid of _________.
    10. watching horror films. B. to ride in busy streets.
    11. climbing up trees. D. a and c are correct
    12. Let’s go to the beach for summer holiday, _________?
    13. shall we B. don’t we C. will we                      D. do we
    14. The young man _________a phone call.
    15. made B. did C. bought                      D. held
    16. Fish don’t _________noise as other pets do.
    17. sound B. go not C. make                        D. give
    18. I have to _________weight. I’m too fat.
    19. drop B. gain C. loose                         D. lose
    20. He says his father will go to a (an) _________meeting in London tomorrow.
    21. famous B. important C. clever                       D. fine
      11. The clerk had to _________ the conversation in order to wait on a customer.
    22. interrupt B. continue C. begin                         D. hurry
    23. There are _________tourists in London this year than last year.
    24. littler B. smaller C. lesser                        D. fewer
      13. If traffic moves at low speed, the number of accidents is _________
    25. pulled back B. cut down D. turned off                D. put away
    26. He’s _________, so he can’t hear your voice.
    27. blind B. blond C. deaf                          D. died
    28. You’re _________your time trying to persuade him. He’ll never help you.
    29. spending B. closing C. missing                     D. wasting
      16. How will you _________a living in Australia?
    30. gain B. earn C. perform                    D. look for
      17. The driver _________ at the boys who are playing football in the street.
    31. shouted B. called C. rang                           D. B and C are correct
    32. I won’t go to bed _________I finish my homework.
    33. until B. when C. while                         D. since
      19. He is _________his driving test today.
    34. examining B. taking C. answering                D. holding
      20. She needs a pair of _________shoes.
    35. skin B. feather C. leather                     D. complexion

     

    Exercise 6: Choose the best verb to fit these following sentences

    1. I _________this shirt from my brother.
    2. gave B. sold C. lent                            D. borrowed
      2. He is collecting coins and he has a valuable _________of rare coins.
    3. number B. collection C. packet                       D. pile
      3. After one month of hard fighting, the northern alliance army won the_________
    4. attack B. force C. war                            D. battle
      4. He got some money by selling one of _________old pictures which his father left.
    5. useful B. helpful C. usual                         D. valuable
      5. I telephoned the airport to make _________of the time of the plane.
    6. sure B. true C. real                            D. right
      6. _________of the visitors were strangers to me.
    7. Mostly B. Almost C. Most                         D. The most
      7. There was nearly a terrible accident in the javelin_________.
    8. examination B. problem C. result                        D. event
    9. The picture he gave you is more valuable_______ the one he gave me.
    10. over B. above C. to                            D. than
      9. How long does it_______ him to walk to his school?
    11. want B. need C. take                       D. require
      10. She is better today _______better than yesterday.
    12. very . so C. too                          D. much
      11.”To put off” means “to _______”
    13. destroy B. postpone C. cancel                    D. turn on
      12. We will wait here _______he comes back.
    14. while B. until C. before                    D. after
      13. His father has not seen his mother_______five years.
    15. for B. since C. during                    D. until
      14. Her teacher _______her to come and see him.
    16. spoke B. said C. told                        D. says
      15. My watch is slow and_______ is hers.
    17. either B. too C. so                           D. neither
      16. She _______Alice that it was awful.
    18. tells B. said C. speaks                   D. told
      17. Mary told her dog to _______down
    19. lie B. laid C. lay                          D. lain
      18. The teacher has _______ come into the principal’s room.
    20. still B. already C. yet                          D. so far
      19. His motorbike doesn’t cost so much _______yours does.
    21. like B. as C. same                      D. such
      20. He is_______a busy man that he really needs a helper.
    22. so B. such C. very                       D. quite
    1. Don’t use plastic bags. They are very hard_______.
    2. to disappear B. to go away            C. to dissolve            D. to reduce
    3. The air in the city is very_______.
    4. pollute B. polluted                 C. pollution               D. pollutant
    5. We are talking about the preservation of _______resources.
    6. nature B. natural                   C. naturally               D. naturalize
    7. It is necessary _______forests.
    8. to protect B. protecting             C. protected               D. protect
    9. The local authority should _______the fish catching by electricity.
    10. allow B. permit                    C. prohibit                 D. give up
    11. These bags are made of _______. You can use them to carry heavy things.
    12. paper B. silk                         C. plastic                    D. glass
    13. A large number of inhabitants have made _______on how to protect the environment.
    14. suggest B. to suggest              C. suggested              D. suggestio
    15. The _______of cars, motorbikes and factories has also increased air pollution in most cities.
    16. gas B. exhaust fume        C. dirt                         D. dust
    17. In Western countries, electricity, gas, and water are not luxuries but _______.
    18. goods B. foods                     C. products                D. necessities
    19. Scientists are working for an _______ way to reduce energy consumption.
    20. effect B. effective                C. effection               D. effectively
    21. If you want to save money, you should _______ the amount of water your family uses.
    22. increase B. reduce                   C. adapt                      D. repair
    23. _______ put all the guests on the first floor ?
    24. Why don’t we B. I think we should C. How about            D. Let’s
    25. You should _______the amount of water your family uses by_______shower.
    26. increase – using B. reduce – use         C. reduce – using      D. increase – use
    27. Passover is celebrated in Israel and by all _______people.
    28. English B. Vietnamese           C. Japanese               D. Jewish
    29. We think that Mother’s Day should be celebrated _______.
    30. nation wide B. nation                    C. nationality            D. nationhood
    31. Tet is a _______festival of the Vietnamese people.
    32. joy B. joyful                     C. joyfully                 D. joyfulness
    33. On National Day, there is usually a _______in Ba Dinh square in Hanoi.

    festival

    party

    holiday

    parade

    The full-moon festival is celebrated in _______.

    mid – autumn

    mid – spring

    mid – summer

    mid – winter

    Auld Lang Syne is an old song which is sung on _______.

    Christmas Day

    Father’s Day

    New Year’s Eve

    Halloween

    Catherine enjoys the festivals in Vietnam although she doesn’t understand Vietnamese _______very much.

    culture

    cultural

    traditional

    traditionOn Passover’s night, Jewish families eat a special _______called the Seder.

    meal

    lunch

    breakfast

    dinner

    On this _______, mother usually receives cards, flowers and gifts from her husband and children.

    chance

    occasion

    opportunity

    date

    What activities do you often _______at school?

    come in

    take part in

    hold in

    get in

    Coal, oil, gas are  ________resources.

    1. nature B. natural C. naturally               D. unnaturally

    She has ________ provided a picnic lunch for us.

    1. kind B. kindness C. kindly                    D. unkind

    We’ll make this beach clean and___________ again.

    1. beautiful B. beauty C. beautifully                        D. beautify

    In many countries, people crowd the streets to watch __________parades.

    1. color B. colorfully C. colorful                 D. colorless

    The children laughed____________ when they played with their toys.

    1. happy B. unhappy C. happily                  D. happiness

    I can speak English__________.

    1. good B. well C. bad                         D. quick

    This test must be done __________.

    1. care B. careful C. carefully               D. careless

    Lan’s voice is soft . She speaks very__________.

    1. loud B .loudly C. soft                         D. softly

    What will they achieve If they work ___________today.

    1. hardly B. hard C.harden                    D.hardness

    The soccer players have played_____________.

    A.beauty                    B.beautiful                C.beautify                  D.beautifully

    Your program is very interesting and ________________.

    1. use B. useful C. useless                   D.uselessly

    Her parents were_________happy that she won the prize.

    A.extreme                  B.extremeness          C.extremely               D.extremism

    The restaurant is near here so people can get there_________.

    A.easy                                    B.easily                      C.difficult                  D.difficultly

    The tour around the country was ____________cheap.

    A.surprise                  B.surprised                C.surprising               D. surprisingly

    Don’t be ________. We’ve only been waiting for a few minutes .

    A.impatient               B.patient                    C.patiently                 Dpantience

    They tried to win, but their efforts were____________.

    1. success B. successful C.succeeded              D.unsuccessful

    Tom looks very __________.Do you know what happened to him?

    A.sad                          B.sadly                       C.sadness                   D.sadless

    He said “ Good afternoon” to me in a most____________way.

    1. friend B.friendness C.unfriendly              D.friendship

    My uncle’s old car was___________, but his new one is very ________.

    1. slow / fast B.slowly / fast C.slow / fastly           D.slowly / fastly

    He drove _____________and had an accident .

    A.careful                    B.careless                  C.carefully                D.carelessly

  • Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-Th%E1%BB%9Di-c%C6%A1-trong-CMT8-1945-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-v%C3%A0-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối

    Đề tài: Bài học thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay. Liên hệ vai trò của sinh viên trong việc vận dụng bài học này đối với quá trình đổi mới và hội nhập.

    Lời mở đầu

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và việc khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Đây là kết hợp của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật  chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán và có hiệu quả. Thắng lợi này đã để lại những bài học to lớn trong nghệ thuật tạo và chớp  thời cơ không chỉ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước mà còn trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng ta ko thể phủ nhận vai trò của SV_1 tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ đã có nhg đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước.

    I.          Bài học thời cơ trong CMT8/1945.

    1. Thời cơ trong CMT8/1945.

    2.1.       Hoàn cảnh

    Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan) mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi.

    Trong nước: Một là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3-1945 của dân tộc Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ chưa từng có.

    Hai là, Đội tiền phong lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản thống nhất về ý chí và hành động, phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, chủ động đưa phong trào quần chúng đi tới cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ba là, kẻ thù chính của cách mạng là quân Nhật và chính quyền phong kiến tay sai đã suy yếu và hoang mang cực điểm.

    Quốc tế: Phe Phát- xít có nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II. Nhật gặp phải những cuộc tấn công ko ngừng của quân Đồng Minh.

    2.2.       Nghệ thuật tạo thời cơ trong CMT8/1945.

    Chuẩn bị để đón thời cơ: từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng, chuẩn bị, chờ thời cơ để làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

    Để chuẩn bị về nhân lực, vật lực cho khởi nghĩa, các chiến khu được xây dựng ở các địa bàn hiểm trở, có lợi thế về phòng thủ và phát triển lực lượng, cơ sở vật chất, trong đó nổi bật nhất là hai chiến khu Cao-Bắc-Lạng và Thái-Hà-Tuyên.

    Về chính trị – tư tưởng: lấy nền tảng là CN M-LN, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập với tinh thần: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, phát huy cao độ tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng.

    Về tổ chức: Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng họp vào tháng 5 – 1941 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên: “Việt Nam độc lập đồng minh” (Gọi tắt là Việt Minh) và các tổ chức tập thể cứu quốc trên cả nước.

    Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12-3-1945). Bản chị thị xác định kẻ thù mới của ta là phát xít Nhật, chuẩn bị cho toàn Đảng, toàn dân tộc tâm thế và tư thế để chủ động và sáng tạo

    2.3.       Nghệ thuật chớp thời cơ trong CMT8/1945.

    Về đoán định thời cơ: Ngay từ năm 1940, khi mà chủ nghĩa phát xít đang thắng thế cả ở châu Âu lẫn châu Á. Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn của thời đại đã nhận định: Liên Xô và Đồng minh sẽ thắng; Nhật – Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau; Việt Nam lúc đó sẽ có thời cơ để giành lại độc lập. dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật;  hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

    Tận dụng triệt để thời cơ: trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

    Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh nạn đói ở nước ta – hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo của Nhật, Pháp – đang diễn ra trầm trọng. Đảng đã kịp thời nêu chủ trương phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo, tạo nên một sinh lực mới cho phong trào.

    2.4.       Kết quả

    Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc.

    Đó là sự vùng dậy của cả một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta được sự dẫn dắt của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong tổ chức Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân. Đó là kết quả của tinh thần năng động, sáng tạo của hệ thống tổ chức đảng và Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở trên tất cả các địa bàn của cả nước. Đó là sự chủ động chuẩn bị và phát triển thực lực cách mạng, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi.

    2. Bài học về thời cơ trong CMT8/1945.

    Bài học về nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý.

    Thứ hai, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển phù hợp.

    Thứ ba, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”,

    Thứ tư là thu phục lòng dân từ chính những quyết sách, định hướng phát triển đúng đắn, hợp lý đã được đề ra

    II.        Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    1.            Bối cảnh hội nhập quốc tế.

    • Thuận lợi:
    • Trong nước: Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. TNTN đa dạng, phong phú; cơ cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào
    • Quốc tế: Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khu vực năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất hiện nay.thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
    • Khó khăn:
    • Trong nước: Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới, nền kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. thế lực phản động ko ngừng tác động nhằm lật đổ chế độ chính trị còn non trẻ của ta…
    • Quốc tế: tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của Việt Nam.

    2.            Thời cơ cho sự phát triển của VN hnay.

    2.1.    Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 để tạo và chớp thời cơ trong hoàn cảnh hnay.

    Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.

    Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Vận dụng “bất biến” tức là không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ của tổ chức, cá nhân nào đó mà bất chấp nguyên tắc, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tập thể. Phải tuyệt đối đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của chủ nghĩa xã hội lên trên hết. Thực hiện phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế cũng phải luôn “ứng vạn biến”, biết phân tích, dự đoán và mau lẹ chớp lấy thời cơ, nắm chắc và tận dụng có hiệu quả thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là thước đo bản lĩnh cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.

    Chúng ta đã và còn phải chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các yếu tố, những điều kiện để tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức. Cụ thể là:

    – Về nhận thức và tư tưởng: Phát huy lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự trọng của dân tộc để không cam chịu đói nghèo và lạc hậu, để đem sức ta mà xóa nghèo đi lên giàu mạnh – không ai làm thay và cũng chẳng có ai làm thay cho chúng ta cả

    – Về tổ chức, con người và nguồn lực:

    Tất cả các yếu tố cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, nhất quán và được tập hợp trong một “thế trận” thống nhất hướng vào mục tiêu chung: Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    – Chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

    Phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng là đòi hỏi tất yếu để quá trình chuẩn bị cho việc tận dụng thời cơ cũng là quá trình hành động để biến thời cơ thành hiện thực.

    Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thể hiện trong trình độ tư duy lý luận, vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan để đề ra Cương lĩnh, đường lối thích hợp, tăng cường sức mạnh tổ chức, kỷ luật và năng lực tổ chức thực tiễn

    2.2.    Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    Chưa bao giờ thế và lực của đất nước lớn mạnh và có điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Là kết quả của sự phát triển qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới đã tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Chế độ chính trị, xã hội ổn định, sức mạnh quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7.3%,  GDP liên tục tăng( năm 2011 khoảng 100 tỷ $) Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt trên 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lạm phát được kiểm soát và đẩy lùi . Xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là 13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%.

    Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Những bước tiến thần kỳ của đất nước thời kỳ đổi mới có một phần là do Đảng ta nắm vững và vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    3.            Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt.

    Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu mới trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới những năm vừa qua nhưng chúng ta vẫn đang phải  đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,tình trạng mất công bằng xã hội,lạm phát, thất nghiệp gia tăng, ô  nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng…  nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ngày đêm ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta.

    Vì vậy, đòi hỏi cao nhất đối với Đảng, Nhà nước ta, đối với mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là tích cực nghiên cứu, vận dụng tốt những bài học lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nam từ 1986 đến nay.

    III.       Liên hệ vai trò của sinh viên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

    Hiện nay tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, kém phát triển, kinh tế, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục đói nghèo, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội đang là mục tiêu cháy bỏng của nhân dân ta. Vì thế, nếu như các thế hệ cha anh trước đây đã rửa được cái nhục mất nước, thì thanh niên hiện tại phải rửa được cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Tổ quốc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

    Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, tri thức trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất, là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất. Việc học tập trở thành vấn đề xã hội hoá, hình thành nên một “xã hội học tập”. Thế hệ trẻ muốn khỏi lạc hậu với khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, và bất cứ lúc nào cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học. Tất cả chúng ta đều biết một câu nói bất hủ của V. I. Lenin “Học, học nữa, học mãi”. Nếu phân tích bản chất của câu nói thì ý Lênin không phải là học nữa, học mãi ở trường, ở lớp mà là sau khi đã nắm bắt được một lượng kiến thức cơ bản ở trường thì học sinh, sinh viên phải đem kiến thức đó phục vụ cho cuộc sống, và trong lúc làm việc, chúng ta phải tranh thủ thời gian để đọc thêm sách báo, xem thêm phim ảnh có ích và bổ sung những kiến thức trên trường đời.

    Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới. Để có thể đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình hội nhập và quá trình toàn cầu hoá thì mỗi thanh niên có trách nhiệm trang bị cho mình phương tiện không thể thiếu là ngoại ngữ. Phải thành thạo bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) ít nhất là một ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… Nhờ vậy, chúng ta mới có khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu nước ngoài và có thể giao tiếp, học tập với nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa hầu hết các công việc đều ít nhiều gắn với ngoại ngữ. Thị trường lao động sẽ cần đến những người vừa tài về chuyên môn, vừa giỏi về ngoại ngữ. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải có khả năng làm chủ công nghệ thông tin. Có trình độ tin học nhất định thì máy vi tính sẽ giúp chúng ta tự học tốt, giảm thời gian tra cứu tài liệu, thu thập thông tin cập nhật để xử lý công việc một cách nhanh chóng có hiệu quả. Thanh niên phải là lực lượng xung kích phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà, có khả năng chuyển giao, sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến và cũng là lực lượng truyền bá phổ biến khoa học công nghệ trong cộng đồng. Có làm được những điều này, tuổi trẻ chúng ta mới xứng đáng là những chủ nhân hôm nay và tương lai của đất nước. Đúng như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định trong buổi lễ phát động Năm Thanh niên 2000: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tự hào về các bạn, về thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên hôm nay. Với lực lượng xung kích ấy và những lực lượng xung kích kế tiếp, cha truyền con nối, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tổ quốc Việt Nam sẽ được bảo vệ vững chắc, dân tộc Việt Nam trường tồn, chủ nghĩa xã hội được xây dựng thắng lợi”.

    IV.       Kết luận.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]