Author: Nguyễn Huyền

  • Bài tập Kinh tế tài nguyên môi trường (Có đáp án)

    Bài tập Kinh tế tài nguyên môi trường (Có đáp án)

    Bài tập Kinh tế tài nguyên môi trường (Có đáp án)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ISO 14000 VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-Kinh-t%E1%BA%BF-t%C3%A0i-nguy%C3%AAn-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-C%C3%B3-%C4%91%C3%A1p-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập Kinh tế tài nguyên môi trường (Có đáp án)

    BÀI TẬP KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

    Bài tập 1:

    Thị trường chỉ có 2 hãng sản xuất với 2 đường chi phí làm giảm biên: MACA = 2S và  MACB = 3S. giá giấy phép ( mỗi giấy phép là 1 tấn) trên thị trường là p = 12tr$. mỗi hãng đang thải 9 tấn, nhưng được cấp chỉ có 4 giấy phép.

    • Vẽ đồ thị 2 đường MAC và giá giấy phép trên một đồ thị.
    • Tính số lượng giấy phép mua bán.
    • Lợi ích của từng hãng và xã hội khi mua bán có giấy phép.

    Bài giải:

    $

    MACA = 25

    MACB= 35

     

     

     

     

     

     

     

    o                                                        S

    Bài tập 2:

    Hãng sản xuất có đường lợi nhuận biên MNPB = 80 – 4Q; người ô nhiễm có đường tổn hại biên MEC = 4Q.

    • Vẽ hình trên 1 đồ thị.
    • Tính thuế đầu ra ( vào Q) tối ưu.
    • Người gây ô nhiễm có quyền sở hữu, hỏi người bị ô nhiễm phải đền bù bao nhiêu để giảm tổn hại cho chính họ?
    • Tính lợi ích ròng xã hội sau khi giảm sản xuất và đền bù?

     

    Bài làm:

    $                                   D

    Câu 1:                                               80    A  MNPB

    MNPB = 80 – 4Q.

    MEC = 4Q

    Cho MNPB = 0 => 80- 4Q = 0                                                MEC

    Q= 20

    Q= 0 => MNPB = 80                        40                 E

    MNPB = MEC => 80- 4Q = 4Q

    80 = 8Q => Q= 10

    O                                                                                                                                         10 E*        20  H                    Q

    Câu 2: tính thuế đầu ra vào Q tối ưu

    MNPB = MEC => 80- 4Q = 4Q

    80 = 8Q => Q= 10

    ta có t được xác định bằng chi phí ngoại tác  biên tế ở điểm tối ưu ô nhiễm tức là bằng MEC

    thuế ô nhiễm = t x Q

    thế Q= 10 vào MEC => t = 4 x 10 = 40.

    Câu 3

    Cắt giảm xả thải xuống 10 thì người bị ô nhiễm phải đền bù bằng diện tích tam giác OEE* = (40 x10) : 2 = 200.

    Câu 4:

    Lợi ích ròng xã hội sau khi giảm sản xuất và đền bù bằng diện tích tứ giác EE*HD – diện tích tam giác EE*H = dt tam giác EHD = (10 x 80) : 2= 400.

     

    Bài tập 3:

    Hãng có đường chi phí biên làm giảm ô nhiễm MAC = 20 – 2W và đường tác hại ô nhiễm biên MEC = 2W.

    • Vẽ 2 đường trên cùng đồ thị.
    • Tính thuế z* tối ưu và doanh thu thuế.
    • nếu thuế z = 8, hãy tính thiệt hại xã hội do mức thuế không tối ưu này.

    Bài làm:

    MAC= 20 -2 W                                          $

    MEC = 2 W

    Cho MAC = 0 => 20 – 2W = 0                            20      A                                         MEC

    20 = 2W => W = 10

    cho MEC = 0 => 2W = 0 => W = 0            12

    MEC giao  MAC  =>  20 – 2W = 2W = 0

    => 0 = 20 – 4W=> W = 5                            10 Z*                    E

    MAC

    O

    5  E*   6     10  B         W

    Câu 2:Tính thuế z* tối ưu và doanh thu thuế

    Z* ta có MAC = MEC =>  20 – 2W = 2W

    => 4W = 20 => W = 5

    ta có Z được xác định bằng chi phí ngoại tác  biên tế ở điểm tối ưu ô nhiễm tức là bằng MEC

    thuế  = z x W => z* = 2×5 = 10

     

    PHẦN BÀI TẬP

    Bài 1:

    Giả sử có một chủ nuôi ong cạnh một chủ trồng nhãn. Chủ trồng nhãn được lợi bởi lẽ một tổ ong thụ phấn cho khoảng một ha nhãn. Chủ trồng nhãn không phải chi trả gì cho chủ nuôi ong vì ong được thả tự do. Tuy nhiên theo tính toán giữa số lượng ong và diện tích vườn nhãn hiện có thì số tổ ong quá ít không đủ thụ phấn cho toàn bộ vườn nhãn, do vậy chủ vườn nhãn phải hoàn tất việc thụ phấn nhân tạo, khoản chi phí này ước tính khoảng 10$ cho một ha nhãn. Còn đối với chủ nuôi ong người ta xác định được một hàm chi phí cận biên là MC= 10+ 2Q (Q là số tổ ong). Mỗi tổ ong tạo ra một lượng mật là 10kg, giá trị thị trường là 2$ cho một cân mật ong.

    1. Hãy cho biết người nuôi ong nuôi bao nhiêu tổ?
    2. Đó có phải là tổ ong hiệu quả không? Vì sao?
    3. Để có hiệu quả về mặt xã hội hãy cho biết người nuôi ong nên nuôi bao nhiêu tổ?
    4. Thể hiện kết quả đã tính toán lên đồ thị.

    Bài làm:

    a)Tính số tổ ong (Q)

    Để đạt lợi nhuận tối đa trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì phải có MC = P

    Gọi MCo là chi phí cận biên của hộ nuôi ong, P là giá 1 tổ ong, ta có:

    MCo = P ó 10 + 2Q = 2 x 10 ó Q = 5 (tổ)

    1. b) sản xuất ở mức 5 tổ là đạt hiệu quả vì tại đó cung cầu về sản phẩm bằng nhau. Nhưng hiệu quả đó là của cá nhân người nuôi ong, còn hiệu quả xã hội thì chưa đạt được.
    2. c) Tính số tổ ong cần nuôi (Q = ?) để đạt hiệu quả xã hội

    Gọi MBN,  MBo lần lượt là lợi ích cận biên của người trồng nhãn và người nuôi ong, MCN là chi phí cận biên của người trồng nhãn.

    Hiệu quả xã hội khi và chỉ khi:

    MBN  = MCN

    MBo = MCo -> MCN = MCo ó 20 + 10 = 10 + 2Q ó Q = 10 (tổ)

    MBN =  MBo

     

    1. d) Minh họa bằng hình vẽ các kết quả
     
       

     

    Bài 2:

    Giả sử hoạt động sản xuất xi măng trên thi trường có hàm chi phí cận biên MC= 16+ 0,04Q, hàm lợi ích cận biên MB= 40- 0,08Q và hàm chi phí ngoại ứng cận biên MEC= 8+ 0,04Q.

    (Q là sản phẩm tính bằng tấn, P là giá  sản phẩm tính bằng USD)

    1. Xác định mức sản xuất hiệu quả cá nhân và mức sản phẩm tương ứng.
    2. Xác định mức sản xuất hiệu quả xã hội và giá tương ứng.
    3. So sánh phúc lợi xã hội tại mức hoạt động tối ưu cá nhân và xã hội để thấy được thiệt hại do hoạt động sản xuất này gây ra cho xã hội?
    4. Để điều chỉnh hoạt động về mức tối ưu xã hội, cần áp dụng mức thuế là bao nhiêu?
    5. Thể hiện kết quả trên đồ thị.

    Bài làm:

    1. a) Xác định B (QM , PM) để đạt hiệu quả cá nhân

    B xác định tại điểm cắt nhau của MB và MPC mà đối với cá nhân thì MPC = MC nên ta có B là điểm chung của MB và MC.

    B (QM , PM):         MB = MC ó 40 – 0,08Q = 16 + 0,04Q ó Q = 200 (tấn)

    Vậy để đạt hiệu quả cá nhân thì phải sản xuất ở điểm B(200,24), tức là ở mức sản lượng QM = 200 (tấn), mức giá PM = 24 (USD).

    1. b) Xác định E (QS , PS) để đạt hiệu quả xã hội

    MSC = MPC + MEC mà MPC = MC suy ra MSC = MC + MEC

    ó MSC = 16 + 0,04Q  + 8 + 0,04Q ó MSC = 24 + 0,08Q

    E xác định tại điểm cắt nhau của MSC và MSB mà MSB = MB (vì ngoại ứng tiêu cực) nên ta có E là điểm chung của MB và MSC.

    E (QS , PS):  MB = MSC ó 40 – 0,08Q = 24 + 0,08Q ó Q = 100 (tấn)

    Thay vào phương trình đường MB hoặc MSC ta có: P = 32 (USD)

    Vậy để đạt hiệu quả xã hội thì phải sản xuất ở điểm E(100,24), tức là ở mức sản lượng QS = 100 (tấn), mức giá PS = 32 (USD).

    1. c) Tính S∆EAB

    Thay QM = 200 vào phương trình MSC ta tính được PA = 24 + 0,08 x 200 = 40

    SEAB = ½ x (QM – QS) x (PA – PM) = ½ x 100 x 16 = 800

    1. d) Tính t* = ? T = ?

    Để điều chỉnh hoạt động về mức tối ưu xã hội, thì mức thuế áp dụng là

    t* = MECQ* mà Q* = QS = 100 suy ra t* = 8 + 0,04 x 100 = 12 (USD/tấn)

    Tổng doanh thu thuế là : T = t* x Q = 12 x 100 = 1200 (USD)

    1. e) Biểu diễn bằng hình vẽ

     

    Bài 3 :

    Giả sử có 2 hảng sản xuất hóa chất thải xuống dòng sông gây ô nhiễm nguồn nước dòng sông. Để giảm mức ô nhiểm, các hãng đã lắp đặt các thiết bị xử lý nước. Cho biết chi phí giảm thải cận biên của hảng như sau :

    MAC1 = 800 – Q

    MAC2 = 600 – 0.5Q

    Trong đó Q là lượng nước thải (m3), chí phí giảm thải tính bằng $

    a/ Nếu cơ quan quản lý môi trường muốn tổng mức thải 2 hãng chỉ còn 1000m3 bằng biện pháp thu một mức phí thải đồng đều cho 2 hãng thì chi phí giảm thải của mổi bên là bao nhiêu ?

    b/ Xác định tổng chi phí giảm thải của 2 hãng trên ?

    c/ Nếu cơ quan quản lý vẩn muốn đạt mức tiêu chuẩn môi trường như trước nhưng chỉ quy định chuẩn mức thải đồng đều cho 2 hãng thì chi phí giảm thải mỗi hãng ?

    d/ Thể hiện các kết quả bằng đồ thị ?

    Bài làm

    Theo bài cho thì chi phí giảm thải cận biên của 2 hãng là

    MAC1 = 800 – Q            (1)

    MAC2 = 600 – 0.5Q       (2)

    Với Q1 , Q2  là lượng nước thải (m3) ; chi phí giảm thải là $

    a/  Theo hàm chi phí giảm thải cận biên của 2 hãng sản xuất trên thì :

    – Hãng sx1 : Khi chưa có phí thải nghĩa là P1 = 0, mà P1 = MAC1

    => P1=800 – Q1 = 0  ó Q = 800 (m3)

    – Hãng sx2 : Tương tự như hãng sx1 khi chưa có phí thải ;

    ó P2 = 600 – 0.5Q2 = 0 => Q2 = 1200 (m3)

    Vậy tổng lượng thải của hai hãng là : 1200+ 800 = 2000 (m3)

    Vì theo yêu cầu của cơ quan quản lý môi trường là tổng mức thải của 2 hãng là 1000 (m3). Như vậy lượng thải mà 2 hãng sản xuất cần giảm thải là 2000 – 1000 =1000 (m3). Trong khi đó 2 hãng sản xuất này sử dụng mức phí thải như nhau, nghĩa là P1 = P2

    MAC1 = MAC2

    Ta có :                                            ( Vì P1 = P2)

                            Q1 + Q2 =1000

             

              800 – Q1 = 600 – 0.5 Q2

    Q1 + Q2 =1000

            Q1 = 467

    Q2 = 533

    Thay Q1, Q2 Vào phương trình MAC1 hoạc MAC2 ta có mức phí thải F = P1 = P2

    = 800 – 467 = 333 ($). Và lượng thải của hãng sản xuất 1 thải ra là :

    800 – Q1 = 333, suy ra Q1 = 467 và Q2 = 533 (Tại mức phí 333 $)

    b/ Xác định tổng chi phí giảm thải

    Tổng chi phi chí giảm thải của các hãng

    – Hãng sản xuất 1 : = ½ x 333 x (800 – 467) = 55,44 $ (=        GHC)

    – Hãng sản xuất 2 : = ½ x 333 x (1200 – 533) = 111,05 $ ( =                LKE)

    Như vậy suy ra tổng chi phí giảm thải của 2 hãng sản xuất trên là

    55,44 + 111,05 = 166, 49 $

    c/ Để đạt được mục tiêu môi trường như trước

    Như vậy để đạt mục tiêu môi trường như trước, nhưng vẫn giữ được mức thải quy định. Có nghĩa là tổng thải của 2 hãng phải là 1000 (m­­­­3) thì mổi hãng chỉ được phép xã thải 500 m3, suy ra S* = 500 m3. Như vậy :

    – Hãng sx 1 phải giảm là : 800 – 500 = 300 m3

    – Hãng sx 2 phải giảm là : 1200 – 500 = 700 m3

    Chi phí cho 1 m3 tại mức thải 500 m3 là : P1 = 800 – 500 = 300 m3

    Như vậy ta có thể suy ra tổng chi phí giảm thải cho 300 m3 của hảng sản xuất 1 là :

    = ½ x 300 x (800 – 500) = 45.000 $ (=      ABC)

    Tương tự như vây : P2 = 600 – 0,5 x 500 = 350 $. Suy ra tổng chi phí giảm thải cho 700 m3 của hãng sản xuất 2 là :

    = ½ x 350 x (1200 – 500) = 122. 500 $ ( =      DBE)

    d/ Đồ thị thể hiện

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                                                                                                    

     
     
    Q (m3)

     

     

     

     

    Bài 4 :

    Mốt dự án sản xuất chế phẩm vi sinh từ rác thải dự tính thực hiện trong vòng 5 năm. Những số liệu về lợi ích và chi phí được cho trong bảng dưới đây (đv triệu đồng)

    Lợi ích hay chi phí Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm4 Năm 5
    1. Chi phí xây dựng và sản xuất 1500 400 450 500 550 600
    2. Lợi ích cho bán sản phẩm 0 600 650 700 750 800
    3. Lợi ích môi trường 0 200 200 200 200 200

    Dựa vào việc tính toán chỉ tiêu NPV, hãy giải thích :

    a/ Dự án có hiệu quả hay không nếu bỏ việc chiết khấu các giá trị lợi ích và chi phí (tỷ lệ chiết khấu = 0).

    b/ Hiệu quản của dự án thay đổi như thế nào nếu sử dụng một tỷ lệ chiết khấu là 12% cho các giá trị lợi ích và chi phí.

    c/ Thể hiện các kết quả tính toán trên bằng đồ thị biến trình từ năm thứ 0 đến hết năm thứ năm.

    Bài làm

    a/ Tính chỉ tiêu PNV, Khi r=0

    Năm thứ Không tính lợi ích môi trường Tính lợi ích môi trường
    Bt/(1+r)t Ct/(1+r)t PV1 Bt/(1+r)t Ct/(1+r)t PV2
    0 0 1500 – 1500 0 1500 – 1500
    1 600 400 200 800 400 400
    2 650 450 200 850 450 400
    3 700 500 200 900 500 400
    4 750 550 200 950 550 400
    5 800 600 200 1600 600 400
                NPV1 =       = – 500          NPV2 =       =  500

    – Từ bảng tính trên ta có khi r = 0. Thì dự án sản xuất chế phẩm vi sinh từ rác thải có hiệu quả sau 5 năm hoạt động. Nhưng nếu không tính lợi ích môi trường thì sau 5 năm thì dự án hoạt động không có hiệu quả.

     

    b/ Tính chỉ tiêu PNV, khi r = 12%

    Năm thứ Không tính lợi ích môi trường Tính lợi ích môi trường
    Bt/(1+r)t Ct/(1+r)t PV1 Bt/(1+r)t Ct/(1+r)t PV2
    0 0 1500 -1500 0 1500 -1500
    1 535.7 357.1 178.6 714.3 357.1 357.2
    2 518.2 358.7 159.5 677.6 358.7 318.9
    3 498.2 355.9 142.3 640.6 355.9 284.7
    4 476.6 349.5 127.1 603.7 349.5 254.2
    5 453.9 340.5 113.4 567.4 340.5 226.9
                NPV1 =    = – 779.1          NPV2 = = – 58,1

    Theo kết quả bảng tính, thì cả 2 trường hợp, tính lợi ích môi trường và không tính lợi ích môi trường của dự án đều không có hiệu quả sau 5 năm thực hiện.

     

           
         
       
     
       
     
     
    200
     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thời gian (Năm)

                                                                                                                                    

     

       
     
    100
     
     
    O
     
     
    100
     
     
    400
     
     
    500
     
     
    1000
     
     
    1500

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN LÝ THUYẾT

    Lấy trong thực tiễn của Việt Nam mổi loại 3 ví dụ để chứng minh và phân tích trên cơ sở mô hình giã định dù ngoại ứng là tích cực hay tiể cực đều là nguyên nhân gây ra thất bại thị trường?

    Bài làm

    1. Đối với ngoại ứng tích cực

    Ví dụ 1: Nuôi trồng nấm ở xã Giao thiện – Xuân thủy – Nam Định

    Nuôi trồng nấm rơm ở xã Giao Thiện đang mang lại hiệu quả về kinh tế  và được toàn thể hộ gia đình người dân tham gia với số lượng lớn. Các chất thải từ phế phẩm của giá thể nấm rất nhiều, đây là nguyên liệu lớn cho việc làm phân vi sinh.

    Nhận thức được lợi ích này hộ nhà ông Thân đã tận dùng và sản xuất ra một loại phân vi sinh rất giá trị và mang lại lợi ích kinh tế đáng kể đối với gia đình ông. Hiện nay tuy Ông Thân còn sản xuất nhỏ nhưng có tiềm năng phát triển lớn và Ông đang có định hướng thành lập công ty, từ đó giải  quyết công ăn việc làm cũng như vấn đề môi trường của xã.

    Như vậy, việc các hộ làm trồng nấm tạo một nguồn tài nguyên có giá trị mà không tính toán và những hộ như ông Thân đã được hưởng lợi mà không mất một khoản chi phí nào cho nguồn nguyên liệu đó.

    Ví dụ 2: Trại chăn nuôi lợn ở xã Thạch An – Thạch Thành – Thanh Hóa,

    Chăn nuôi lợn đem lại hiệu quả kinh tế cho xã và giải quyết công ăn việc làm cho người dân trong xã. Chất thải từ trại (Phân lợn) được người dân xung quanh tận dụng làm khí đốt (Bi O Ga),

    Việc làm khí đốt BiO ga của người dân vừa đem lại lợi ích kinh tế cho gia đình, vừa giúp làm giảm sự ô nhiểm ra môi trường. Song trong trường hợp này người dân lại không phải chi trả cho nguồn nguyên liệu cần thiết trong việc tạo khí đốt và đồng thời Trại chăn nuôi không mất phí thải môi trường.

    Ví dụ 3: Trồng hoa Phong Lan ở  Sa pa

    Các hộ gia đình, các doanh nghiệp trồng hoa với diện tích khá lơn tại Sapa để cung cấp hoa cho thị trường. Nhưng với việc trồng hoa ngoài giá trị kinh tế mà họ bán được thì họ đã tạo ra một cảnh quan rất đẹp gọp một phần cho cảnh quan của khu du lịch này. Dù vậy, những lợi ích cảnh quan mà họ tại ra đó thì không được tính toán và chi trả.

    Giá trị mà việc trồng hoa mang lại ngoài mục đích chính mà cá nhân và doanh nghiệp trực tiếp thu được thì những giá trị như cảnh quan thì khách du lịch và nhà kinh doanh du lịch được thừa hưởng mà không phải chi trả một khoản nào cả.

     

     

    Kết luận

    Như vậy, với những ngoại ứng tích cực như trên cho thấy đã xuất hiện sự thất bại thị trường vì những nguồn lực và các giá trị đều không thể tính hoán một cách hoàn hảo.

    1. Đối với ngoại ứng tiêu cực

    Ví dụ 1: Hoạt động sản xuất của công ty Vêdan – Đồng Nai

    Công ty Vêdan thực hiện các hoạt động sản xuất, đã thải ra ngoài dòng sông Thị Vãi với một lượng chất thải quá mức.

    Với việc thải các chất thải ra ngoài môi trường dòng sông, gây hủy hoại hệ sinh thái của dòng sông. Đặc biệt đối với những hộ gia đình người dân sống xung quanh đó bị ảnh hưởng nặng nề từ nguồn nước ngầm, không khí hôi thối. Cho đến thời điểm này những vấn đề nay vẫn chưa được giải quyết một cách cụ thể và hiệu quả với môi trường củng như xã hội con người sống dọc hai bên của dòng sông.

    Ví dụ 2: Việc sử dụng phẩm “Hằng the” trong việc bảo quản các loại cá biển được lâu, để có thể đem tới các vùng xa xôi nhằm tăng giá bán, đem lại lợi nhuận cao hơn. Song các chất phẩm này còn lưu lại trên sản phẩm. Người kinh doanh không tuân thủ các nguyên tắc bảo quản sản phẩm đã gây hại tới người tiêu dùng, dẫn đến ngộ độc, đau bụng phải đi cấp cứu bệnh viện, mà người kinh doanh không phải chịu trách nhiệm gì.

    Ví dụ 3:

    Ô nhiễm không khí tại khu vực máy sản xuất Thuốc lá ở Thanh Xuân – Hà Nội.Tại khu vực này người dân, sinh viên và những người đi lại rất kho chịu với mùi thuốc lá này. Như vậy, nhà máy này đã gây ô nhiễm không khí làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhiều người mà những người này cũng không nhận được một sự bồi thường cho những thiệt hại mà họ phải gánh chịu.

     

    Kết luận

    Quan một số ví dụ trong phần này, với ngoại ứng tiêu cực tiềm ẩn nhiều nguy cơ xẩy ra xung đột. Những tác động này thường dễ ràng nhận biết.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ISO 14000 VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

    CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ISO 14000 VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

    CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ISO 14000 VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/C%C3%81C-TI%C3%8AU-CHU%E1%BA%A8N-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-M%C3%94I-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-ISO-14000-V%C3%80-VI%E1%BB%86C-TH%E1%BB%B0C-HI%E1%BB%86N-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-C%C3%81C-NH%C3%80-XU%E1%BA%A4T-KH%E1%BA%A8U-V%C3%80O-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ISO 14000 VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

    CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ISO 14000 VÀ VIỆC THỰC HIỆN ĐỐI VỚI CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

    Lời giới thiệu

    Trong một vài năm lại đây, người ta đã xây dựng được một số lượng ngày càng tăng các tiêu

    chuẩn quốc gia và khu vực trong lĩnh vực cấp nhãn hiệu sinh thái, quản lý môi trường và kiểm

    toán. Hiện nay trên thế giới có gần 20 kế hoạch cấp nhãn hiệu sinh thái quốc gia bao gồm cả ở

    một số nước đang phát triển như Brazil, ấn Ðộ, Hàn Quốc. Việc xây dựng các tiêu chuẩn hệ

    thống quản lý môi trường đã bắt đầu vào năm 1992 với tiêu chuẩn BS 7750 của Anh đã dẫn đến

    việc xây dựng các tiêu chuẩn tương tự ở một số các nước khác. ở cấp khu vực, Liên hiệp Châu

    Âu đã thiết lập nhãn hiệu sinh thái cuả cộng đồng này vào năm 1992. Một kế hoạch quản lý và

    kiểm toán Môi trường (EMAS) cũng đã được xây dựng vào năm 19932.

    Sự quan tâm quốc tế ngày càng tăng đối vớ i các vấn đề môi trường và sự chấp thuận rộng rãi ISO 9000 đã khuyến khích ISO bắt tay vào việc xây dựng một loạt các tiêu chuẩn về các vấn đề quản lý môi trường. Loạt các tiêu chuẩn mới này, gọi là ISO 14000, dự kiến là sẽ đưa phát hành vào năm 1996.

    Nhiều quốc gia tham gia vào việc xây dựng ISO 14000 hy vọng rằng các tiêu chuẩn sẽ được các chính phủ trên thế giới chấp thuận và đưa áp dụng, và chuyên các tiêu chuẩn không bắt buộc trướ c đây thành các tiêu chuẩn bắt buộc. Uỷ ban Tiêu chuân Châu Âu (CEN) có thể chấp thuận ISO 14000 theo khuôn khô của kế hoạch quản lý và kiểm toán môi trường (EMAS).

    Nếu các tiêu chuẩn trở thành yêu cầu đối với doanh nghiệp t ại các nước phát triể n, thì sẽ nảy sinh ra một số câu hỏi. Các tiêu chuẩn sẽ có tác động nào đối với các nước đang phát triển ? Các tiêu chuẩn và các thủ tục mà họ áp dụng có gây ra các ảnh hưởng xấu tiềm tàng đối với thươ ng mại của những nước này hay không? Báo cáo này tổng hợp những yêu cầu chủ chốt của các loạt ISO 14000 sắp xuất bản và đặt chúng trong bối cảnh rộng hơn của thương mại quốc tế.

    Trong Chương 1, báo cáo bàn về nội dung cả a loạt các tiêu chuẩ n ISO 14000, g ồm cả các lý do tại sao phải đưa ra các tiêu chuẩn này và tóm lược về các vấn đề hiệ n đang tiế n hành. Chương 2 bàn về việc thực hiện của các tiêu chuẩn đối với các công ty thương mại quốc t ế có tậ p trung đặc biệt t ới các công ty tại các nước đang phát tri ển. Những vấn đề ti ềm tàng trong tương lai cũng được xác định ở chương này. Các chiến lược giúp đỡ những nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển và tránh các hàng rào cản trở tiềm tàng trong thương mại cũng được bàn đến trong chương 3. Sau đó là những kết luận.

    1. Loạt các tiêu chuẩn ISO 14000 về Quản lý Môi trường

    1.1. Lý do và cách thức ISO xây dựng các tiêu chuẩn quản lý Môi trường

    Tháng Giêng nă m 1993, ISO đã lập ra Uỷ ban Kỹ thuật (TC) 207 để xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trtrờng. Mục đích của việc khởi xướng mới này là:

    • cung cấp cơ sở cho việc hoà nhập các tiêu chuẩn hiện có cũng như các nỗ lực trong tương lai trong lĩnh vực này, nhằm tạo điều kiện cho thương mại quốc tế.
    • hỗ trợ việc “bảo vệ môi trường cân đối với những nhu cầu kinh tế xã hội”3 bằng cách đảm bảo cho các tổ chức có được công cụ để đạt được và cải thiện về biện pháp trong hoạt động môi trường.

    Số các nước tham gia vào Uỷ ban kỹ thuậ t 207 ngày càng tăng, có đến 64 nước tham dự cuộc họp lần đầu tiên tổ chức vào tháng 6 năm 1995 – gần 60% tổng số các thành viên của ISO.

    Mỗi nướ c thành viên có thể tham gia tích cực vào tiến trình xây dựng tiêu chuẩn hoặc là nước quan sát viên. Nướ c quan sát viên không có quyền bầ u cử song có quyền tham dự các cuộc họp và được thông báo bằ ng thư tín. Các n ước thành viên tham gia có “các cơ quan thành viên” ISO, chịu trách nhiệm xây dựng tiêu chuẩn trong nước mình.

    Những cơ quan này phần lớn là các cơ quan nhà nước. Các tổ chức quốc tế có mối liên lạc với ISO cũng tham gia vào công việc hoặc quan sát công việc của ISO. Xem phụ lục 1 về các thành viên của TC 207.

    TC 207 bao gồm các đại diện chính thức của các tổ chức công nghiệp, các tổ chức tiêu chuẩn, tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các tổ chức quốc tế. Phần lớn các đại biểu là từ các nước Tây Âu Canađa và M ỹ. Các đại diện từ các nước đang phát triển tới nay chưa có mặt t ại các cuộc họp của TC 207. Kết quả là các tiêu chuẩn đã được soạn thảo bước đấu theo tinh thần công nghiệp hoá.

    Về mặt nội dung TC 207 được chía ra thành 6 Tiểu ban (TB) mỗi Tiểu ban chịu trách nhiệm về một lĩnh vực quản lý môi trường cụ thể:

    •  

    TB1 : Các hệ thống quản lý môi trường;

    • TB2: Kiểm toán môi trường;
    • TB3: Cấp nhãn hiệu môi trường;
    • TB4: Ðánh giá hoạt động môi trường;
    • TB5: Ðánh giá chu trình sống;
    • TB6: Thuật ngữ và định nghĩa.

    Tiểu ban chịu trách nhiệm về việc ra quyết định chính thức để cho phép một Dự thảo công tác (WD), có được vị trí một Dự thảo của toàn Ban (CD). CD được chuyển tới các thành viên lấy ý kiến và bỏ phi ếu thông qua và để đăng ký nó như là một dự thảo tiêu chuẩn quốc tế (DIS). Cần có 80% phiếu thuận để một tài liệ u có thể chuyển sang bước tiếp theo. Mỗi nước thành viên tham gia sẽ có một phiếu bầu. Khi tiêu chuẩn đó được chấp thuận là một tiêu chuẩn ISO, nó được phổ biến tới các nước thành viên để chấp thuận nó như là tiêu chuẩn quốc gia của mình.

    Trong tiến trình đạt đượ c s ự nhất trí về việc phê chuẩn một dự thảo, các Tiểu ban ph ải xem xét lại một loạt các ý tưởng và các cách tiếp cận có mâu thuẫ n. Những triển vọng từ các nước, các ngành công nghi ệp khác nhau hoặc thậm chí từ các công ty riêng lẻ phả n ánh không chỉ s ự khác nhau về văn hoá mà còn những kinh nghiệm khác nhau đối với các vấn đề môi trường và các lợi ích cá nhân của các thành viên tham gia. Các đoàn đại biểu của các quốc gia cũng có quan tâm tới việc bảo vệ các tiêu chuẩn quốc gia hiện có của mình.

    Phần lớn thành phần các đoàn đại biểu các quốc gia không cân x ứng t ới mức, hoặc là một số toàn các đại diện về tiêu chuẩn quốc gia, một số toàn các cố vấn hoặc một số khác lại toàn đại diện các ngành công nghiệp.

    Vì các Dự thảo c ủa toàn Ban hiện có có xu hướng thay đổi cho tới khi đạt được văn bản tiêu chuẩ n cuối cùng của mình, các ý tưởng chính của loạt các tiêu chuẩn ISO 14000 có”thể được tổng kết trên cơ sở của những tài liệu này.

    1.2. Nội dung của loạt các tiệu chuẩn ISO 14000

    Loạt 14000, theo dự kiện hiện nay, sẽ bao gồm trên 20 tiêu chuẩn riêng (Xem phụ lục 2) Các hệ thống quản lý Môi trường 4

    Một hệ thống quản lý môi trường (EMS) được coi như là một cơ cấu tổ chức, bao gồm các thủ tục, các quá trình, các nguồn lực và những trách nhi ệm thực hiện quả n lý môi trường. Một hệ thống như thế phải tạo cho các tổ chức có khả năng đạt được kết quả và thể hi ện được việ c tuân thủ theo các quy định. Nó phả i cho phép các tổ chức kiểm soát đượ c tác động môi trường của mọi hoạt động, mọi sản phẩm và d ịch vụ có lưu ý tới chính sách và các mục tiêu môi trường tự xác định. Những mục tiêu này cần phải bao gồm các lĩnh vực môi trường mà các tổ chức đó có thể kiểm soát và muốn có ảnh hưởng đối với chúng.

    Các tiêu chuẩn dựa vào cơ sở là các tổ chức này sẽ định kỳ xem xét lại và đánh giá các hệ thống nhằm cải thiện các hoạt động môi trường.

    Tài liệu chi tiết hoá các hệ thống quản lý môi trường, CD 14001, xác định các yế u tố chủ chốt của một hệ thống quản lý môi trường, và sẽ được bên thứ ba tiến hành kiểm toán để cấp chứng chỉ/ đăng ký 5. Một tài liệu hướng dẫn riêng cung c ấp những thông tin bổ sung cho việc giải thích CD 14001, chứ không có ý định để cấp chứng chỉ.

    Ngoài yêu cầ u tuân thủ luật pháp được áp dụng và tiếp tục cải thiện hoạt động môi trường, tiêu chuẩn không đưa ra chỉ tiêu thực hiện chính xác.

    Vì thế hai tổ chức có trách nhiệm trong những hoạt động t ương tự nhau nhưng có hoạt động môi trường khác nhau có thể đều đáp ứng được những yêu cầu này như khi cam kết thực hiện luật pháp.

    Lý do để ISO không đư a ra các ngưỡng c ụ thể cho hoạt động là để cho phép các tiêu chuẩ n áp dụng được tại các nước khác nhau có các quy chế và các điều kiện môi trường khác nhau.

    CD 14001 xác định các yếu tố chủ chốt sau đây của một hệ thống quản lý môi trường:

    1. Xác định chính sách6:

    Xác định một chính sách quả n lý môi trường cấp cao. Chính sách này bao gồm các mục tiêu tổ chức liên quan tới hoạt động môi trường. Nó phải được tư liệu hoá, truyền đạt cho mọi cán bộ và cho quảng đại quần chúng.

    1. Giai đoạn quy hoạch:
    • Xác định các lĩnh vực môi trường7 và các yêu cầu pháp lý liên quan tới các hoạt động, các sản phẩm và các dịch vụ của công ty;
    • Xây dựng và tư liệu hoá các mục tiêu và các đối tượng môi trường8 tại mỗi cấp tổ chức thích hợp. Các giải pháp kỹ thuật9 Và các quan điểm của các bên quan tâm phải được lưu ý tới;
    • Xây dựng một chương trình quản lý môi trường10 nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Ðịnh rõ trách nhiệm ở từng cấp tổ chức: tư liệu hoá và thông tin về những trách nhiệm này;
    • Cụ thể hoá các biện pháp và thời hạn đạt được các mục tiêu nêu ra.
    1. Giai đoạn thực hiện:
    • Cung ứng công nghệ, tài chính và nhân lực cần thiết cho các hệ thống quản lý môi trường; chỉ định đại diện quản lý cụ thể11
    • Ðào tạo và các phương pháp nâng cao nhận thức cho nhân viên12.
    • Các quy trình truyền thông nội bộ và ra bên ngoài;
    • Tư liệu hoá và kiểm soát tài liệu13
    • Kiểm soát việc vận hành hệ thống.
    1. Giai đoạn kiểm tra:
    • Giám sát và đánh giá tiến trình vận hành cũng như việc thiết lập một chương trình kiểm toán hệ thống quản lý môi trường nhằm xác định sự tuân thủ theo các mục tiêu và các yêu cầu tiêu chuẩn và cung cấp thông tin cho việc thẩm định quản lý;
    • Hoạt động phòng ngừa và sửa chữa trong trường hợp không tuân thủ và tư liệu hoá các hoạt động đó;
    • Duy trì các hồ sơ môi trường, bao gồm cả các hồ sơ đào tạo, kiểm toán và các kết quả thẩm định.
    1. Thẩm định của cấp quản lý:

    Cấp quản lý phải thẩm định hệ thống quản lý môi trường nhằm đảm bảo là hệ thống vẫn tiếp tục một cách có hiệu quả, dựa vào các kết quả ki ểm toán, việc thay đổi hoàn cảnh và sự cam kết cái thiện. Những thay đổi phải được tư liệu hoá.

    Kiểm toán môi trường

    Ki ểm toán môi trường (EA) là một quá trình được tư liệ u hoá có hệ th ống nhằm thu nhận chứng cứ là một hoạt động môi trường hay một hệ thống quản lý có tuân thủ theo tiêu chuẩn kiển toán đặt ra hay không. Một chương trình kiểm toán môi trường được coi là biện pháp đánh giá việc thực hiện hợp lý và duy trì một hệ thống quản lý môi trường cũng như xác định các lĩnh vực cải thiện tiềm tàng.

    TC 207 cung cấp hướ ng dẫn cho các tổ chức về việc làm thế nào để thực hiệ n kiểm toán nội bộ hệ thống quản lý môi trường. Một số các nguyên lý chung về tiến trình kiểm toán môi trường được đưa ra như sau:

    • kiểm toán môi trường phải được thực hiện theo cách thức khách quan và có hệ thống
    • phải theo các phương pháp luận, các mục tiêu và các tiêu chuẩn xác định rõ ràng
    • các chứng cứ cuả những kết quả kiểm toán phải dựa trên việc phân tích, lý giải và tư liệu hoá các thông tin phù hợp
    • các biện pháp thu thập chứng cứ bao gồm: phỏng vấn, xem xét các tài liệu và các thủ tục lấy mẫu cũng như quan trắc các hoạt động.

    Tiếp theo TC 207 xác định các tiêu chuẩ n trình độ nghề nghiệp đối với các chuyên gia kiểm toán, như trình dộ văn hoá, kinh nghiệm công tác, tư cách và trình độ cá nhân. Hệ thống quản lý môi trường và các tài liệu ki ểm toán được đưa ra dưới dạng các biêu bảng như là Tiêu chuẩn quốc tế dự thảo vào tháng 6 năm 1995. Chúng dự kiến sẽ được phát hành vào đầu năm 1996.

    Ðánh giá hoạt động môi trường và các chỉ số

     

    Các tiêu chuẩn về đánh giá hoạt động môi trường (EPEW) và các chỉ số tạo ra một công cụ cho các công ty thiết lập nên một hệ thống thẩm đị nh hoạt động môi trường riêng cho mình. Hệ thống này phải bao quát ba lĩnh vực: hệ thống quản lý môi trường của công ty, hệ thống vận hành nó, và tình trạ ng môi trường bị tác động bởi các hoạt động đó. Ph ương pháp luận, phạm vi và nội dung của ba lĩnh vực này cũng như những mối liên quan qua lại của chúng đã được bàn

    đến. Những kế t quả làm việc cuả đánh giá hoạt động môi trường c ũng được tóm t ắt trong Dự tháo Công tác. Dự thảo công tác bao gồm các đề cương về các chỉ số14, cũng như các hướng dẫn

    về thu thập và phân tích dữ liệu. Dự thảo Tiêu chuân quốc tế dự kiến sẽ phát hành vào 1996/1997.

    Ðánh giá chu trình sống

    Ðánh giá chu trình sống (LCA) là quá trình phân tích tác động môi trường của sản phẩm (sử

    dụng nguyên liệu, năng lượng, gây ô nhiễm đất, n ước, không khí) trong suốt một chu trình s ống của sản phẩm đó (từ chiếc nôi đến nấm mồ). Việ c phân tích bao gồm giai đoạn khai thác tài nguyên, sả n xuất, phân phối, sử dụng/tiêu thụ và loại bỏ các tiêu chuẩ n ISO xác định những yêu cầu chung đối với việc thực hiện việc Ðánh giá chu trình sống và báo cáo những kết quả của nó. Mục đích của những tiêu chuẩn này là cung cấp cho các công ty một công cụ ra quyết định cũng như đánh giá các phương pháp sản xuất thay thế.

    Chúng có thể được sử dụng để giúp cho việc xác nhận nhãn hiệu môi trườ ng hoặc l ựa chọn các chỉ số môi trường. Khi xây dựng các tiêu chuẩ n này đã gặ p phải khó khăn do thiếu kiến thức cụ thể về các tác động môi trường, chỉ có một tài li ệu về các nguyên lý chung, tại thời điểm hiện nay là có tính pháp lý của một Dự tháo của toàn Ban.

    Cấp nhãn htệu Môi trường

    Các kế hoạch cấp nhãn hiệu sinh thái, chú yếu là dựa trên những khởi xướng của chính phủ,

    nhằm gây ả nh hưởng vào các quyế t định tiêu thụ để chọn lựa những s ản phẩm thân thiện về mặt môi trường và thúc đẩ y việ c tạo ra những sản phẩm nh ư vậy. Ðối vớ i khu vực tư nhân, các nhãn hiệu sinh thái là thuộc mối quan tâm từ triển vọng tiếp thị. Chúng là phương thức chứng tỏ chất

    lượng môi trường của một sả n phẩm, hoặc chứng tỏ các đặc tính ưu việ t và các dịch vụ đối với người tiêu dùng, có tác động tích cực đến việc quyết định lựa chọn một sản phẩm15.

    Các tiêu chuẩn về cấ p nhãn hiệu sinh thái có tác dụng đưa ra một cách tiếp cận phù hợ p giữa các quốc gia nhằm đánh giá các đặc tính môi trường của một sản phẩm và cung cấp thông tin đó tới người tiêu dùng.

    Các tư liệu dự thảo tiêu chuẩn ISO xác định ba kiểu cấp nhãn hiệu:

    • Kiểu các nhãn hiệu I, do một bên thứ ba (nhà nước hoặc tư nhân) cấp, là bên đưa ra các chỉ tiêu. Những nhà sản xuất đăng ký vào các chương trình này trên cơ sở tự nguyện.
    • Kiểu nhãn hiệu II, dựa trên những xác nhận tự tuyên bố của các nhà sản xưất, nhập khẩu, phân phối, người bán lẻ hoặc những người khác được hưởng lợi ích từ những xác nhận đó.
    • Kiểu nhãn hiệu III là các nhãn hiệu thông tin về sản phẩm được xác định đủ tiêu chuẩn, chúng dựa vào các chỉ số định trước không đo đếm hoặc so sánh được16.

    Những khởi xướng gần đây của Tiểu ban 3 gồm có một hướng dẫn đưa ra 9 nguyên tắc cơ bản

    cho các chương trình cấp nhãn hi ệu môi trường phải tuân theo nhằm tránh các hàng rào thương mại phi thuế quan17. Các chương trình cần phải:

    1. không được nhầm lẫn và làm cho các thuộc tính của sản phẩm phải rõ ràng;
    1. tạo lập thông tin cấp nhãn hiệu môi trường trên cơ sở cách tiếp cận chu trình sống;
    2. sử dụng các phương pháp khoa học và mô phỏng để đánh giá tác động môi trường của sản phẩm;
    3. tuân thco các hướng dẫn đã được thừa nhận liên quan tới các phương pháp kiểm định và tránh việc kiểm định lạo ra các hàng rào thương mại;
    4. sử dụng các quy trình và các phương pháp rõ ràng;
    5. đảm bảo sự tiếp cận công bằng cho mọi bên;
    6. bao gồm cả hệ thống thông tin người tiêu dùng;
    7. xử lý các sản phẩm trong nước và của nước ngoài theo một cách thức rõ ràng không có phân biệt;
    8. khuyến khích cải tiến nhằm cải thiện hoạt động môi trường, xem xét lại các chỉ tiêu cấp nhãn một cách định kỳ nhằm kết hợp thêm những triển khai mới.

    Một dự thảo về các chương trình cấp nhãn kiểu I xác định những nguyên tắc và những thông lệ đảm bảo độ tin cậy và thực chất không phân biệt của việc cấp nhãn của bên thứ ba:

    • Các thông lệ phải dựa vào 9 nguyên tắc cơ bản đã được nêu ở trên;
    • Ðịnh nghĩa loại sản phẩm và các chỉ tiêu sinh thái cần phải đưa vào tất cả các cách tiếp cận công nghiệp thay thế và tránh việc bỏ sót sản phẩm hoặc quy trình liên quan được chấp nhận về mặt môi trường tại nước sản xuất;
    • Việc xây dựng các chỉ tiêu phải để ngỏ để cho các nhà sản xuất trong và ngoài nước tham gia xây dựng;
    • Những yêu cầu liên quan tới mặt bằng sản xuất phải quan tâm đến những yêu cầu về môi trường quốc gia của nước sản xuất.
    • Các thủ tục hành chính nhằm thẩm tra việc cấp nhãn hiệu cho người sản xuất phải không được phân biệt.

    Ðể hoà hợp việc sử dụng những xác nhận tự tuyên bố, Tiểu ban 3 đưa ra những thuật ngữ và

    những định nghĩa cho việ c cấ p nhãn hiệu kiểu II. Nh ững xác nhận này có thể có những hình thức khác nhau, như các tuyên bố, các ký hiệu, các đồ thị về sản phẩm hoặc bao gói, tài liệu về sản phẩm hoặ c quảng cáo. Tiểu ban 3 xác đị nh ra các thuật ngữ cụ thể được sử dụng trong các xác nhận môi tr ường, như thuật ngữ “tái chế được” ho ặc “phân huỷ sinh học được”. Những định nghĩa khác của những thuật ngữ như vậy có thể ít được rõ ràng h ơn. Bằng cách đưa ra một định nghĩa chung, ISO nhằm mục đích làm giảm nhữ ng hạn chế ngăn cản thương mại và cả sự nhầm lẫn của người tiêu dùng về những xác nhận như vậy.

    Tiểu ban 3 chưa xây dựng được một tài liệu dự thảo nào về nhãn hiệu kiểu III, song hiện đang bàn bạc về những dự án mới trong lĩnh vực này.

    1.3. Những vấn đề chủ chốt của sự tranh luận hiện nay

    Ngoài việc tranh luận về nội dung của các tiêu chuẩn, những vấn đề sau đây hiện đang được tiếp tục tranh luận:

    Các thủ tục đánh giá việc tuân thủ

    Uỷ ban Ðánh giá sự tuân thủ của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc t ế (CASCO) chịu trách nhiệm về những vấ n đề thực hiện việc tuân theo các tiêu chuẩn do Uỷ ban Kỹ thuật xây dựng nên. Trong thời gian Hội thảo chung gi ữa TC207 và CASCO vào tháng 6 năm 1995, ngườ i ta đã nhấn mạnh đến nhu cầu r ất lớn đối với việc phải xây dựng các nguyên tắc chỉ đạo cho các thủ tục Uỷ nhiệm và cấp chứng chỉ trong lĩnh vực quản lý môi trường.

    Các cơ quan Uỷ nhiệm sẽ xây dựng những yêu cầ u đối vớ i việc đăng ký với tiêu chuẩn hệ thống quả n lý môi trường và các chỉ tiêu để xác định có đủ điều kiện hay không cho các cơ quan đăng ký.

    Cơ quan đăng ký phải xét xem tổ chức đó có đáp ứng các yêu cầu để trở thành tổ chức được

    đăng ký tiêu chuẩn ISO 14001 hay không. Cơ quan đăng ký tự mình phải đáp ứng được các yêu cầu mà cơ quan ủy quyề n áp dụng. Ngườ i đă ng ký thuê các kiểm toán viên là những người được đào tạo để thực hiện các kiểm toán trong các công ty muốn đăng ký.

    Có những mô hình khác nhau về hệ thống quốc gia đánh giá sự tuân thủ các tiêu chuẩn ở các

    nước phát triển. Các tiêu chuẩn đối với ngườ i đăng ký để cấp chứng chỉ cho các công ty là chưa thống nhất quốc tế. Các kiểm toán viên cũng chưa được quốc tế thừa nhận và việc đào tạo kiểm

    toán viên thường khác nhau ở mỗi nước. Ðề xuất hiện nay là các cơ quan của Tổ chức Tiêu chuân quốc tế18 cần phải xây dựng một hệ thống toàn cầu nhằm đảm bảo việc đăng ký đạt được ở

    một nước phải được thế giới thừa nhận và chấp thuận.

    Dự thả o của toàn Ban 14001 đã dành nhi ều chỗ cho việ c giải thích đối với người sử dụng tiêu chuẩn. Các thuật ngữ như “phù hợp” “có ý nghĩa” hoặc yêu cầu về “cải thiện liên t ục” có thể khó đánh giá và người s ử dụng ở các nước khác nhau hiểu theo cách khác nhau. Và do đó cơ sở cho các thực tế phù hợp với quốc tế để đánh giá việc tuân thủ các tiêu chuẩ n là việc giải thích tài liệu. Trong thời gian hội thả o người ta đã đề nghị là CASCO phải thực hiện chức năng giải thích này. Mặc dù cần phải có sự hoà hợp và cũng cần phải có sự linh hoạt để tránh gây điều kiện không thích hợp cho các nước nào đó.

    Các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ

    Một số đoàn đại biểu t ừ các nước đang phát triển thấy cần phải tách riêng việc hướng dẫn EMS cho các xí nghiệ p quy mô vừa và nhỏ (SMEs). Các chuyên gia thuộc Ti ểu ban I không nhất trí và nhấn mạnh rằng các tài liệu hiện có đã được soạn thảo để áp dụng được cho tất cả các công ty.

    Hoà hợp ISO 14000 và IS0 9000

    Một trong nh ững mục đích của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế là kết hợp ISO 9000 và ISO 14000 với nhau sao cho các công ty có thể thi ết lậ p chỉ một hệ thống quản lý và chỉ th ực hiện một ki ểm toán. Vì việc này có thể giảm được chi phí và được coi là mộ t ưu điểm đặc biệt đối với các xí nghiệp công nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Một nhóm đặc trách chung giữa TC207 và TC176 ( ISO 9000) hiện làm việ c nhằ m đảm bảo sao cho hai loạt tiêu chuẩn này phù hợ p với nhau. Một s ố người tham gia tin rằng các tiêu chuẩn quản lý môi trường rốt cuộc có thể được kết hợp với tiêu chuẩn ISO 9000 sao cho ISO 14000 trở thành một bộ phận của hệ thống này để cho các công ty được cấp chứng chỉ.

    ISO 14000 và Kế hoạch Quản lý và Kiểm toán Môi trường Châu Âu

    Uỷ ban tiêu chu ẩn Châu Âu (CEN) hiện đang xem xét cân nhắc là các tiêu chuẩn ISO 14000 sẽ được thừa nhận hay không trong Kế ho ạch quản lý và kiểm toán môi trường Châu Âu (EMAS). Dự thảo ISO 14001 hiện có không bao quát được tất cả các yêu cầu của EMAS. Những yêu cầu

    trong EMAS, thí dụ liên quan tới các chỉ tiêu hoạt động và tiết lộ thông tin, là các yêu cầu chặt chẽ hơn nhiều so với ISO 1400019. Mặc dù ISO ở mức độ nào đó cũng đã đạt được các yêu cầu

    của Uỷ ban tiêu chuẩn Châu Âu, nhưng Uỷ ban tiêu chuẩn Châu Âu thì chưa nhất trí hoàn toàn việc chấp thuận ISO 14001 và các tiêu chuẩn liên quan.

    2. Việc thực hiện đối với các công ty và phát triển thương mại đất nước

     

    2.1 Các Hệ thống quản lý Môi trường

    Cho đến nay, chưa có kinh nghiệ m về ISO 14001 và vi ệc điều tra về việc thực hiện nó của các công ty và phát triển thương mại trong nước có thể chỉ dựa trên những dự tính và kinh nghiệm

    của các tiêu chuẩn hiệ n có. Những kết quả sau đây là dựa vào ý kiến của các chuyên gia thuộc TC207, thu thập được thông qua các phiếu điều tra và phỏng vấn cá nhân20.

    Hệ thống quản lý môi trường và kiểm toán các tiêu chuẩn đặc bi ệt được hy vọng là sẽ được một số lớn các nước đưa áp dụng với tính cách là các tiêu chuẩn môi trường tự nguyện21. Tác động

    chính của việc cấp chứng nhận hệ thống quản lý môi trường sẽ xảy ra trong giao dịch thương mại

    giữa các công ty. Hơn nữa, các chính phủ có thể yêu cầu giấ y chứng nhậ n như là một đi ều kiện đối với những công ty xin đấu thầu22. Các công ty bảo hiểm và các ngân hàng có thể sử dụng

    giấy chứng nhận của hệ thống quả n lý môi trường như là một chỉ tiêu của khoản đóng bảo hiểm và các điều kiện cấp tín dụng. Nói chung, việc cấp chứng nhận có thể là quan trọng trong các ngành công nghiệp mà ở đó r ủi ro môi trường cũng như vi ệc dễ vi phạm luật pháp môi trường là rất cao, thí dụ như các ngành công nghiệp hoá chất và hoá dầu, khai thác mỏ, lâm nghiệp, công

    nghiệp thép và điệ n t ử. Trong các ngành có tác dộng môi trường tương đối thấp, thì các tiêu chuẩn không chắc là sẽ trở thành thực tế kinh doanh23.

    Việc thực hiện đối với các công ty nói chung

    Một công ty sẽ thực hiện các tiêu chuẩn ISO 14001, cần phải kết hợp các yếu tố chủ chốt đã

    được đề cập đến trong tiêu chuẩn (xem chương 12) vào trong cơ cấu tổ chức của mình. Công ty

    đó cần phải lập nên các hệ thống quản lý, kiểm toán và đánh giá hoạt động môi trường. Công ty

    cần phải tập trung sử dụng việc phân tích chu trình sống trong việc ra quyết định về các sản

    phẩm và các quy trình mới là những vấn đề cần có sự nghiên cứu. Hơn nữa, công ty sẽ phải xây

    dựng một quy trình truyền thống ra ngoài về các chính sách môi trường của mình.

    Những hệ thống s ẽ đòi hỏi sự kết hợp thống nhấ t áp dụng trong các cấp và các quy trình sản xuất của công ty và sẽ ả nh hưởng t ới các thông số c ơ bản của việc quản lý và ra quyết định. Chúng yêu cầ u có sự cam kết cúa tất c ả các nhân viên tham gia vào những quy trình sản xuất này, đặc biệt là cam kết của những lãnh đạo cao nhất.

    Cũng như đối với ISO 9000, các công ty áp dụng các tiêu chuẩ n sẽ bị kiểm toán bở i một bên thứ ba (nơi đă ng ký). Phần lớn các chuyên gia cho rằng ý kiế n cho phép các công ty tự tuyên bố áp dụng ISO 14001, trong thực tế là sẽ không phù hợp. Nơi đăng ký sẽ có khả năng ki ểm tra lại việc cam kết trên từng cấp chức năng, bằng cách điều tra công ty và trao đổi chuyện trò với công nhân. Thậm chí trong các công ty đã có chương trình môi trường, mức độ và nhận thức cầ n thiết của các cán bộ làm việ c liên quan tới tiêu chuẩn cũng có thể là còn chưa có. Do việc phần lớn các công ty chưa quản lý đối với các lĩnh vực môi trường theo cách tiế p cận hệ thống, các chuyên gia cho rằng các tiêu chuẩn sẽ có tác động đáng kể đến việc là các công ty sẽ quản lý các vấn đề môi trường như thế nào trong tương lai.

    Các chi phí cho việc tuân thủ theo các tiêu chuẩn

    Các chuyên gia đều nhất trí là việc tuân thủ theo các tiêu chuẩn ISO 14000 nói chung sẽ là rất tốn kém cho từng công ty. Các chi phí liên quan gồm có 3 loại như sau:

    • chi phí cho việc xây dựng và duy trì một hệ thống quản lý môi trường:
    • Các chi phí tư vấn; và
    • chi phí cho việc đăng ký với bên thứ ba

    Những chi phí này phụ thuộc vào chi phí thời gian thực hiệ n và đă ng ký hệ th ống quả n lý môi trường của công ty. Một công ty nhỏ hơn có thể, do c ơ c ấu ít phức tạp hơn và các sản phẩm ít đa dạng hơn, cần ít thờ i gian hơn so với một công ty lớn và do đó chí phí thấp hơn. Các chuyên gia dự tính là một công ty nào có chương trình và chính sách môi trường rồi thì có thể giảm được

    thời gian cần cho việc thực hi ện một hệ thống quản lý môi trường là khoảng 20% so vớ i một công ty chưa có chương trình môi trường24. Các chuyên gia nhất trí rằng sự có mặt của hệ lhống

    quản lý chất lượng ISO 9000 sẽ tạ o điều kiện cho tiến trình thực hi ện hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 . Trong trường hợp này thì đã có sẵn một số các thủ tục và chuyên gia cầ n thi ết. Các công ty có thể đáp ứng được các yêu cầu của ISO 14001 bằng cách bổ sung thêm vào hệ thống đã có hoặc sửa đổi lại nó.

    Các công ty có thể cần khoảng 30% thời gian ít hơn để thực hiện một hệ thống quản lý môi

    trường25. Một công ty nhỏ bắt đầu từ con số không và dự tính cần thời gian là khoảng 15 tháng,

    và có thể giảm được thời gian này xuống còn l2 tháng vớ i mộ t điều kiện tiên quyết là đã có một chính sách về môi trường, và 8 tháng nếu đã có hệ thống chất lượng ISO 9000 26.

    Các chi phí cho việc xây dựng và duy trì một hệ thống quản lý môi trường

    Những chi phí cho vi ệc xây dựng một hệ thống quản lý môi tr ường sẽ cần đến năng lực cuả các nhân viên trong công ty. Những chi phí này chủ yếu là những chi phí nội bộ c ủa công ty, và như với ISO 9000, nó được xác định bằng chi phí thời gian của công nhân 27. Tuy nhiên các công ty không có kinh nghi ệm thực hiện hệ thống môi trường và chất lượng cũng như các công ty nh ỏ sẽ cần đến sự trợ giúp từ bên ngoài để xây dựng một hệ th ống quản lý môi trường và do đó còn chịu các chi phí từ bên ngoài. Phầ n lớ n các chuyên gia được hỏi ý kiến đều cho rằng vi ệc thực hiện ISO 14001 sẽ không c ần đến các nguồn nhân lực bổ sung. Các công ty lớn hơn có thể là đã có cán bộ làm việc trong các lĩnh vực về môi trường và các xí nghiệp công nghiệ p quy mô vừa và nhỏ có l ẽ sẽ s ắp xếp công việ c cho những người có các trách nhiệm công việc khác. Trong mọi công ty, việc đào tạo tiếp tục cán bộ s ẽ còn là một yếu tố quan trọng đối với một hệ th ống quản lý môi trường có hiệu quả . Trong các công ty lớ n hơ n thì đã có một chương trình môi trường nào đó rồi, và việc đào tạo đó có thể được thực hi ện trên một cơ sở không chính quy. Ðối vớ i các công ty nhỏ hơn việc đào tạo sẽ tốn kém hơn nhiều vì họ phải sử dụng đến các khả năng đào tạo từ bên ngoài.

    Việc thực hiện và duy trì một hệ thống quản lý môi trườ ng sẽ kéo theo mộ t quá trình tư li ệu hoá rất phức tạp và tốn kém thời gian. Kinh nghiệm v ới ISO 9000 đã cho thấy khi các tài liệ u cẩm nang đã được xây dựng và các nhân viên đã quen vớ i thuật ngữ c ủa ISO, thì việc tư liệu hoá có thể mất ít thời gian hơ n trong giai đoạn đầu. Có một số phê phán là ISO 9000 đáng ra là cải thiện về chất lượ ng thì ISO 9000 lại tập trung nhiều hơn vào việc tư liệu hoá. Khi cơ c ấu và các nguyên tắc của ISO 14001 tương tự như ISO 9000 thì việc đó cũng có mối nguy cơ tương tự.

    Theo ý kiế n chuyên gia, việc thực hiện lSO 14001 nhìn chung sẽ không đòi h ỏi trang thiết bị công nghệ khác nhau, vì tiêu chuẩn áp dụng cho hệ thống quản lý chứ không phải là chỉ tiêu cho hoạt động. Tuy nhiên yêu câu về “cải thiện liên tục”, có thể cầ n đế n sau đó. Nếu một công ty chuẩn bị cải thiện liên tục thì công ty sẽ phải giảm và thay thế đầu vào và đi theo các thành tựu công nghệ mới.

    Chi phí tư vấn

    Một công ty cần đăng ký tiêu chuẩn ISO cần phải thực hiện đánh giá nghiêm khắc các thủ tục và xác định là nó có đáp ứng được tiêu chuẩn ISO 14001 không. Ðể tránh việc nơi đăng ký tuyên bố

    là không tuân thủ, các công ty có thể thuê các cố vấn để giúp đỡ họ thực hiện hệ thống quản lý môi trường. Ðối với các công ty nhỏ hơ n nếu hệ thống đã được xây dựng nhờ s ự hỗ trợ c ủa một công ty làm tư vấn có kinh nghiệm, nơi đăng ký có thể cho rằng việc thực hiện đó là hợp lý hơn.

    Kinh nghiệm với ISO 9000 cho thấy các chi phí tư vấn là rất lớ n. Một s ố hãng tư vấn chỉ ra rằ ng các chi phí đó cho ISO 14000 có thể là cao hơn so với cho ISO 9000 vì nó cần dến các cố vấn có trình độ chuyên môn cao hơn.

    Một thí dụ tính toán đưa ra trong phụ lục 3 minh họa những chi tiêu của một công ty Mỹ cỡ nhỏ chưa có chương trình về môi trường và hệ thống quản lý chất lượng. ở các nước đang phát triển, các chi phí có thể là không cao như những chi phí đưa ra trong thí dụ trên vì các chi phí cho tư vấn là thấp hơn.

    Các chi phí đăng ký

    Kinh nghi ệm với ISO 9000 cho thấy là gần 20% chi phí tuân thủ theo tiêu chuẩn sẽ là chi phí cho việc đăng ký với bên thứ ba28. Trong trường hợp việc đăng ký kết hợp cả ISO 9000 và ISO

    14000 thì lệ phí có thể là cao hơn so vớ i đăng ký chỉ một mình ISO 9000. Lý do là các l ệ phí mà nơi đăng ký phải chi cho các kiểm toán viên có trình độ chuyên môn cao29. Các công ty thực hiện

    đồng thời cả hai hệ thống tiêu chuẩn ISO có thể tránh được các chi phí đăng ký nhiều lần.

    Một thí dụ về các chi phí đă ng ký ISO 9000 cho một công ty nh ỏ dựa trên các lệ phí mới đây của NSF – một cơ quan đăng ký của Mỹ, được đưa ra trong Phụ lục 3. Theo thí dụ này, công ty nhỏ

    này mời nơi đă ng ký đưa hai kiểm toán viên làm việ c trong 5 ngày và chi gần 20.000 đôla cho việc kiểm toán đăng ký30. Khi công ty đã được đăng

    ký, công ty phải tiế n hành các kiể m toán giám sát định kỳ để có thể duy trì giấy chứng nhận. Ðối với ISO 9000 ki ểm toán giám sát có thể được tiến hành 6 tháng một lần. Trong trường hợp đó, công ty phải chi gần 10.000 đôla cho 6 tháng một.

    (xem Phụ lục 3).

    Phần lớn các chuyên gia cho rằng các xí nghiệp công nghiệp quy mô v ừa và nhỏ gặp những khó khăn về nguồn tài chính, nhân lực để thực hiện ISO 14001 . Tuy nhiên một số người tham gia vào tiến trình xây dựng tiêu chuẩn cho rằ ng ISO 14001 vì rất chung nên có thể áp dụng linh hoạt cho mọi công ty thực hiện hệ thống quản lý môi trường.

    Những lợi ích dự kiến

    Việc đăng ký có thể có giá trị thương mạ i cho một công ty. Các đối tác thương mại có thể nhậ n thấy một cách dễ dàng ý nghĩ a củaa việc phê duyệt bởi một bên thứ ba độc lập. Ngay lúc đầu, các công ty khi đã dược đă ng ký sẽ đóng vai trò đi đầu và do đó sẽ thu được l ợi thế trong cạnh tranh. Chứng chỉ sẽ là một biện pháp tă ng cườ ng vị trí thương trường của họ. Sau đó khi các công ty cạnh tranh khác cũng được cấp chứng chỉ thì thế lợi này sẽ mất đi.

    Việc sử dụng ISO 14001 sẽ là một chứng chỉ cho các công ty và không phải là cho các sản phẩm.

    Tác động đến thái độ của người tiêu dùng và các cơ hội thươ ng mại của các sả n phẩm của công ty do đó là ít hơn so với trường hợp cấp nhãn hiệu sinh thái – là chứng chỉ trực tiếp của sản phẩm.

    Tuy nhiên, có thể có một lợi ích trong quan hệ với khách hàng bằng sự truyền thông chính sách

    môi trường của công ty với bên ngoài. Việc đăng ký sẽ nhấn mạnh việc cam kết bảo vệ môi

    trường của công ty. Một điều kiện tiên quyết cho lợi ích này đó là thị trường tiêu dùng nhạy cảm

    về sinh thái.

    Phần lớn các chuyên gia cho rằ ng việc thực hiện hệ thống quản lý môi tr ường ISO 14001 sẽ c ải thiện hiệu quả nội bộ của công ty nhờ giảm được đầ u vào về năng lượng và nguyên liệ u. Tuy nhiên, các chuyên gia không nhấ t trí là liệu việc ti ết kiệm đó về năng lượng và nguyên liệu có bù được vào các chi phí hay không, hay là ngược lại. Một số chuyên gia cho rằng các chi phí vượt xa lợi ích đem lại.

    Doanh nghiệp tại các nước công nghiệp hoá đang chịu sức ép nặng nề từ phía các tổ chức khác

    nhau các tổ chức chính phủ, quảng đại công chúng, các tổ chức môi trường và người tiêu dùng –

    là phải tránh các tác động môi trường. Hy vọng rằng việc cấp chứng chỉ ISO 14001 sẽ giảm được

    sức ép này. Một số đại diện công nghiệp tham gia vào tiến trình xây dựng tiêu chuẩn, đặc biệt là

    phái đoàn Mỹ, thậm chí hy vọng rằng tiêu chuẩn có thể tạo chỗ đứng cho việc quản lý môi

    trường không chỉ theo những quy định luật pháp. Họ cho rằng việc đăng ký đảm bảo sự cam kết

    của công ty thực hiện các quy định môi trường.

    Trong khi CD 14001 đòi hỏi các công ty phả i thể hi ện là họ có các biện pháp tiến hành và duy trì sự tuân thủ thực hi ện của mình, họ lại không bị yêu cầu phải chứng minh là thực tế họ đang tuân thủ theo luật pháp. Không chắ c là thực hiện hệ thống quản lý môi trường là cải thiện đượ c hoạt động môi trường của công ty. Ðến khi việc t ư liệu hoá đã được hoàn thành tốt đẹp thì có lẽ không tác động đến việc cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, những người tham gia hỏi ý kiến cho rằng

    phần lớn các công ty thực hiện hệ thống quản lý môi trường và được c ấp chứng chỉ, nói chung cho thấy hoạt động môi trường đã được cải thiện31. Vì vậy một lợi ích mà tiêu chuẩn quốc tế

    mang lại có thể là sự quan tâm đến môi trường.

    Ðối với thương mại quố c tế , tiêu chuẩn đảm bảo cơ sở cho những triển vọng môi trường chung giữa các công ty. Nó có thể dẫn đến vi ệc hoà nhập các nguyên t ắc quốc gia và cho phép ngành công nghiệp và các cơ quan kiểm toán trên toàn thế giới có một ngôn ngữ và phạm vi chung trong việc đánh giá các hệ thống quả n lý môi tr ường. Riêng tập hợp các tiêu chuẩ n môi trường có thể giúp tránh được việc đă ng ký, thanh tra, cấp chứng chỉ nhiều lần và những yêu cầu mâu thuẫ n của các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau và do đó giảm đượ c các chi phí tuân thủ theo các tiêu chuẩn. Các công ty đa quốc gia cũng sẽ được cung cấp một hệ thống tiêu chuẩn riêng để thực hiện ở nơi nào họ có mặt. Tuy nhiên, trong bấ t kỳ trường hợp nào phải được chứng tỏ rằng liệu r ằng chỉ vớ i một định nghĩ a mang tính quốc tế này, đượ c xây dựng nên bởi các nhà lãnh đạo công nghiệp và tiêu chuẩn hoá hiện hành, có thể loại trừ các mối quan tâm môi trườ ng chính thống và/hoặc tạo nên các hàng rào ngăn cản tới các hãng nổi bật, đặc biệt là từ các nước đang phát triển.

    Tác động đến phát triển thương mại đất nước

    áp lực lớn hơn đối với các công ty tại các nước đang phát triển là thực hiện các yêu cầu môi

    trường nảy sinh từ khách hàng nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế chứ không phả i là t ừ các tổ chức trong nước32. Vì vậy chứng chỉ ISO 14001 chắc chắn trở thành biện pháp đáp ứng nhu cầu

    khách hàng nước ngoài và tham gia vào thương mại quốc tế chứ không phải chỉ là một yếu tố

    của lợi thế cạnh tranh trên thị trườ ng trong nước. Ðối vớ i những nhà xuất khẩu, chứng chỉ có thể là một công cụ để đạt được thế lợi cạnh tranh so với các nhà xuất khẩu trong nước khác.

    Một điều không chắ c chắn là liệ u các tiêu chuẩn ISO 14001 và các tiêu chuẩ n liên quan có tạo nên những hàng rào thương mại hay không. Một số chuyên gia cho rằng khi mà các tiêu chuẩn là

    tự nguyện và không lậ p ra các tiêu chí hoạt động, các tiêu chuẩn cho phép một sự linh hoạt nào đó và vì v ậy nó có thể không t ạo ra các hàng rào thương mại. Ngược lạ i, có tranh luận rằng khi chứng chỉ đượ c phổ biến r ộng tới các công ty tại các nướ c công nghiệp hoá, thì nó có thể tạo ra những cản trở thương mại nào đó cho các công ty tại các nước đang phát triển là những nước cần có thời gian để hiệu chỉnh cho phù hợp.

    Mặc dù Tổ chức Tiêu chuẩ n Quốc t ế tuyên b ố r ằng tiêu chuẩn không được sử dụng để tạo ra các hàng rào thương mại, tiềm nă ng để làm việc đó vẫn tồn tại bản dự thảo cũng như trong các v ăn bả n liên quan. Có một số vấn đề có tiềm năng tạo ra các hàng rào thương mại, và các vấn đề đó sẽ được phân tích ở dưới đây.

    Hoạt động của bên cung ứng

    Các đi ều khoản trong các văn bản của hệ th ống quản lý môi trường tác động tới thương mại là những điều khoản đòi hỏi phải xét đế n hoạt động của bên cung ứng. Là một yếu tố cốt lõi của hệ thống quản lý môi trườ ng. TC207 bỏ qua yêu cầu đánh giá sự tham gia của bên cung ứng vào các tiêu chuẩn quản lý môi trường. Tuy nhiên cũng có một số các điề u khoả n nào đó đòi hỏi vi ệc xem xét hoạ t động của bên cung ứng t ới một mức độ nào đó. Thí dụ, tài liệu hướng dẫ n hệ thống quản lý môi trường yêu cầu là “các hồ sơ môi trường là chứng cứ bằng văn bản về các hoạt động

    đang đượ c tiế n hành của hệ thống quản lý môi trường cần phải gồm những thông tin thích hợp về bên cung ứng và bên hợp đồng”33. Một nguyên tắc then chốt cho những nhà quản lý thực hiện hệ

    thống quản lý môi trường là phải “khuyến khích cơ quan cung ứng và cơ quan hợp đồng xây dựng được một hệ thống quản lý môi trường”34.

    Các chuyên gia cũng đã nhất trí rằng các công ty lớn tại các nước công nghiệp hoá sẽ gây sức ép

    tới các bên cung ứng, kể cả các bên cung ứng tại các nước đang phát triển, cụ thể là họ phải được

    bên thứ ba chứng nhận, như một phương thức để cải thiện hoạt động môi trường riêng và thể

    hiện trách nhiệm môi trường của mình. Sức ép này có thể tiếp tục cho tới khi việc sử dụng chứng

    chỉ như một chỉ tiêu để tạo ra tình trạng thương mại ưu đãi, quy định giá cả của bên cung ứng

    hoặc thậm chí bãi bỏ bên cung ứng không có chứng chỉ, ủng hộ các công ty cạnh tranh được cấp chứng chỉ 35.

    Các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển có thể coi các tiêu chuẩn như là hàng rào thương mại nếu họ không thực hiện yêu cầu để có chứng chỉ.

    Có một số các cản trở như thế, và được kê ra dưới đây.

    Thiếu nguồn lực

    Các chuyên gia mô tả việc tiếp c ận tới những thông tin về các tiêu chuân đối vớ i các công ty tại hầu hết các nước đang phát triển là khó khăn. Kết quả là thiếu nhận thức và dẫn đế n vi ệc thực hiện chậm trễ các hệ thống quản lý môi trường – ho ặc là hoàn toàn không có. Phầ n lớn các nước đang phát triển không đủ nguồn tài chính thích hợ p để cử các đoàn đại biểu tham dự các cuộc họp thường kỳ của TC207. Vì vậy càng khó khăn hơn đối với họ trong việc liên kết những quan tâm của mình và tác động tới tiến trình xây dựng tiêu chuẩn. Ngay cả khi có nước đã cử đoàn đại biểu của mình tham dự các cưộc họp, song cũng không đảm bả o được là thông tin có thể được phổ bi ến tới các nhà lãnh đạo doanh nghiệp t ại nước họ. Lý do về việ c này là có thể thiếu s ự hợp tác và sự trao đổi thông tin giữa các cơ quan tiêu chuẩ n của nhà nước và các công ty thuộc khu vực tư nhân tại các nước đang phát triển. Các công ty thuộc khu vực tư nhân có thể không quan

    tâm tới việc thu nhận những thông tin về các tiêu chuân môi trườ ng vì có thể họ xem chúng như một biện pháp của chính phủ nhằm gây sức ép đối với các doanh nghiệp36.

    So với các nước công nghiệp hoá, nhiều chuyên gia cho rằng cần phải có các nguồn nhân lực bổ sung ho ặc được đào tạo tốt hơn cho các công ty tại các nước đang phát triển để thực hiện các yêu cầu của tiêu chuẩn. Những thay đổi trong cơ cấu và hoạt động của một tổ chức theo yêu cầu của các điều khoản của CD 14001 liên quan đến kinh nghiệm và trình độ chuyên môn mà ở các nước đang phát triển thì có thể là chưa có được.

    Các chuyên gia cho rằ ng mặc dù hoàn cảnh là khác nhau ở các nước đang phát triển, một điều chắc chắn là việ c tuân thủ theo các tiêu chuẩn có thể cần có sự thay đổi về thiết bị công nghệ. Các thiết bị như vậy có thể là chưa có ở các nước này.

    Thiếu nguồn lực như nguồn lực thông tin, vốn, công nghệ, nguồn nhân lực có trình độ, cơ sở đào

    tạo các cố vấn có trình độ và các kiểm toán viên có thể là hàng rào cản trở việc thực hiệ n hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 đối với các công ty tại các nước đang phát triển37.

    Thiếu cơ sở hạ tầng

    Các chuyên gia cho rằng, tùy thuộc vào hoàn cảnh hiện có, các nước đang phát triển nhìn chung là sẽ tụt hậu so với các nước công nghiệ p hoá trong việ c xây dựng cơ sở hạ t ầng cấp chứng chỉ ISO 14001. Kinh nghiệm với ISO 9000 cho thấy nhiều nước đang phát triển không có các cơ

    quan uỷ quyền quốc gia hoặc các cơ quan cấp chứng chỉ để đánh giá việ c tuân thủ theo các đòi hỏi của các tiêu chuẩn. Lý do chủ yếu là thiếu kinh phí và thiếu trình độ chuyên môn38. Do đó

    việc đánh giá sự tuân thủ hoặc là do các cơ quan cấp chứng chỉ đặt t ại các nước công nghiệp hoá hoặc do các cơ quan quốc tế thực hiện. Như đối với ISO 9000, ngay cả khi có cơ sở hạ tầng cấp chứng chỉ tại các nước đang phát triển, các chứng chỉ được cấp bởi một cơ quan đị a phương có thể không được các tổ chức hoặc các chính phủ chấp nhận trong thị trường có mục tiêu.

    Thiếu độ tin cậy và cơ sở hạ tầng cấp chứng chỉ là những hàng rào cả n trở ti ềm tàng đối với các nhà xuất khẩu tại các nướ c đang phát triển để có được chứng chỉ ISO 14001 tin cậy, cần cho việc tham gia vào thương mại quốc tế.

    Một khía cạnh khác có thể tạ o ra những vấn đề khó khăn đó là thiếu luật pháp môi trường quốc gia ở một s ố nước đang phát triển. CD 14001 dựa vào quan điểm là việc quả n lý một công ty là tự cam kết tuân thủ thực hiện luật pháp và các quy chế môi trườ ng. Nếu luật pháp môi trường không được thực hiện, thì làm sao một công ty có thể xây dựng được một chính sách và định ra được các mục tiêu và các mục đích?

    Các chi phí cho sự tuân thủ các tiêu chuẩn

    Sự không sẵn có các nguồn l ực t ại chỗ và cơ sở hạ tầng đánh giá sự tuân thủ t ại hầu hết các nước đang phát triển làm tăng các chi phí cho việc tuân thủ theo các tiêu chuẩ n đối vớ i các nhà xuất khẩu các nước này. Họ có thể bị buộc phải đăng ký bởi những nơi đăng ký nước ngoài và thuê

    các nhà tư vấ n nước ngoài có trình độ chuyên môn cần thiết để tiến hành đào tạo, xây dựng và kiểm toán hệ thống quản lý môi trường39. Tất cả những việc này sẽ làm tăng các chi phí40. Công

    ty có thể phải chi trả bằng ngoại tệ mà có thể là không dễ có tạ i nước sở tại. Do vậy, các nhà xuất khẩ u đối đầu với sự bất lợi trong cạnh tranh so với các công ty tại các nước công nghiệp hoá là nơi có sẵn các nguồn lực cần thiết.

    Nếu một công ty cần phải mua thiết bị công nghệ mới, điều đó sẽ làm tăng chi phí thậm chí là nhiều hơn khi các công nghệ đó là phải mua của nước ngoài.

    Chi phí cao liên quan t ới việ c thực hiện ISO 14001 sẽ là một hàng rào cản trở đối với các công ty tại các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các xí nghiệp công nghiệp quy mô vừa và nhỏ khi họ thực hiện một hệ thống quản lý môi trường.

    Những lợi ích tiềm tàng

    Sự hoà hợp mong muốn của các tiêu chuẩn hệ thống quản lý môi trường quốc gia liên kết với

    việc thiết lập các tiêu chuẩn ISO 14001 và các tiêu chuẩn liên quan sẽ mang lại những lợi ích

    nhất định cho các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển. Việc nhận được các thông tin về

    các loạt tiêu chuẩn quốc tế là dễ dàng hơn so với một số các tiêu chuẩn hệ thống quản lý môi

    trường đơn phương có hiệu lực tại các nước thương mại khác nhau. Việc chỉnh lý cho thích hợp

    với một hệ thống chịu ít chi phí hơn là tuân theo các hệ thống khác nhau. Các hệ thống khác

    nhau có thể kết hợp các đòi hỏi mâu thuẫn nhau và vì thế có thể là không tương hợp. Ðiều nguy

    cơ của việc không hòa hợp các tiêu chuẩn quốc gia là ở chỗ các công ty của các nước đang phát

    triển phải được các cơ quan cấp chứng chỉ ở từng nước nhập khẩu đánh giá về khả năng thực

    hiện tiêu chuẩn.

    Có thể tránh được điều này nếu xây dựng được một tiêu chuẩn quốc tế thống nhất.

    Ngược l ại với hệ thống tiêu chuẩn Châu Âu (ENAS) và của Anh (BS 7750), CD 14001 ít khắt khe hơn và không đưa ra chỉ tiêu hoạt động. Việc cấp chứng chỉ có thể vì vậy mà dễ dàng hơn cho các công ty tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên tác động tới hoạt động môi trường vẫn phải đượ c xem xét. Các công ty của các nước đang phát triển cùng có lợi ích ngang nhau từ việc giảm chi phí nhờ kết hợp việc đăng ký ISO 9000 và ISO 14000.

    Các tiêu chuẩn cung cấp nguồn thông tin có ích về việc làm thế nào để xây dựng một hệ thống quản lý môi trường. Các tiêu chuẩn thường là không thuộc sở hữu riêng và để có được chúng chỉ phải trả chi phí tài liệu.

    2.2. Cấp nhãn hiệu Môi trường

    Việc cấp nhãn hiệu môi trường (EL) cho các nước đang phát triển là phù hợp và nó liên quan trực tiếp t ới việc xuất khẩu hàng hoá. Thị trường trong nước về các sản phẩm được cấp nhãn hiệu sinh thái thực ra là nhỏ bé.

    Các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường hiện có bị phê phán về việc nó tạo ra các hàng rào

    thương mại phi thuế quan, đặc bi ệt đối với các nhà sản xuất tạ i các nước đang phát triển41. Thí dụ Chương trình Liên hiệp Châu Âu yêu cầu các công ty phải xem xét tất cả các luật pháp Liên hiệp Châu Âu có thể áp dụng đượ c (nó được mở r ộng tới quy trình sản xuất) đủ t ư cách là nhãn hiệu sinh thái của Liên hiệp Châu Âu. Ðồng thời, các chương trình này cần thiết phải xây dựng được các tiêu chuẩn cao để duy trì được độ tin cậy.

    Các tiêu chuẩ n cấ p nhãn hiệ u ISO 14000 có mục tiêu là tránh các hàng rào thương mại ti ềm tàng khi thực hi ện cấ p nhãn hiệ u môi tr ường. Các tiêu chuẩn không định ra một kế hoạch cấp nhãn hiệu thống nh ất mang tính quốc tế mà chỉ cung cấp các hướng dẫn để tránh các hoạt động phân biệt trong các chương trình cấp nhãn hi ệu quốc gia và khu vực. Những hướng dẫn này có thể được các nước s ử dụng hoặc là để thiết kế các kế hoạch tương lai hoặc là để sửa đổi các kế hoạch đã có của mình.

    Ðể phân tích tác động tiềm tàng của các tiêu chuẩn cấp nhãn hiệu ISO 14000 đến phát triển

    thương mại đất nước, các khía cạnh của các kế hoạch cấ p nhãn hiệu hiện có có thể tạo ra các hạn chế thương mại sẽ được mô tả đến trước tiên. Sau đó sẽ xem đến việc là các tiêu chuẩn ISO có

    thể có khả năng như thế nào để tránh tạo ra các hàng rào cản trở thương mại. Những yếu tố sau đây có thể được coi là quan trọng.

    Tính rõ ràng và khả năng tiếp cận thông tin

    Việc cùng tồn tạ i của các kế hoạ ch c ấp nhãn hi ệu môi trường khu vực và quốc gia kéo theo một loạt các yêu cầu khác nhau. Các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát tri ển có thể gặp khó khăn trong việc nhận thông tin chính xác và kịp thời về những yêu c ầu này và điều chỉnh lại các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường. Các quyết định đầu tư có thể bị cản trở bở i sự thay đổi nội dung cuả các yêu cầu đó và thời hạn hiệu l ực của chúng. Thiếu thông tin và tính rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho các nhà sản xuất nước ngoài tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường để biểu thị những quan tâm của mình.

    Mặc dù việc tiếp cận tới thông tin về các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường phụ thuộc vào

    nhiều yếu tố trong đó một số các yếu tố có thể chịu ảnh hưởng của các tiêu chuẩn quốc tế. Trước

    hết, các tiêu chuẩn ISO truyền đạt các nguyên tắc chung về các yêu cầu và các thủ tục phải sử

    dụng trong các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường và do đó định hướng cho các nhà sản xuất

    thực hiện những kế hoạch này. Hơn nữa, các tiêu chuẩn yêu cầu tính rõ ràng của những chương

    trình, các quy trình và các phương pháp cấp nhãn hiệu môi trường được sử dụng. Tính rõ ràng

    hơn sẽ cải thiện khả năng nhận được thông tin cuả các nhà sản xuất nước ngoài. Ðiều đó tạo cho

    họ khả năng tham gia vào việc xây dựng các chỉ tiêu và đặt ra các thủ tục.

    Tiếp cận tới các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường

    Các chi phí lớn hoặ c lệ phí cao khi tham gia vào các chương trình cấ p nhãn hiệ u môi trườ ng có thể là một hàng rào cả n trở đối với các công ty ở các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các công ty nhỏ khi muốn xin cấp một nhãn hiệu. Mức độ phức tạp của một chương trình cũng có thể cản trở cho việc tiếp cận.

    Các tiêu chuẩ n ISO yêu cầu sự tiếp cậ n bình đẳng tới chương trình cấp nhãn hiệu môi trường đối với tất c ả các bên quan tâm. Trong đó có vi ệc loại bỏ các cản tr ở hành chính làm hạn chế việc tiếp cận một chương trình, các chi phí hoặc các lệ phí quá mức để thâm nhập chương trình đó, cũng như giảm mức độ phức tạp tổng thể của chương trình.

    Các nhà sản xuất nước ngoài có thể không tiếp cận tới chương trình c ấp nhãn hiệu môi trường vì sản phẩm của họ không phù hợp với các loại sản phẩm được chọn để cấp nhãn hiệu. Kinh

    nghi ệm vớ i các chương trình cấp nhãn hiệu hiện có cho thấy những đề xuất về các loại sản phẩm mới là đều do các nhà sản xuất trong nước thực hiện42.

    Ðiều khó khăn cho các nhà sản xuất nước ngoài tác động đến tiến trìnn này là do một số các lý

    do: thiếu tiếp cận đối với quá trình lựa chọn, thiếu thông tin hoặc kinh phí eo hẹp và thiếu nghiên cứu về các loại sản phẩm phù hợp để cấp nhãn hiệu43. Do đó, các sản phẩm được xuất khẩu từ

    các nước đang phát triển thường là bị loại ra.

    Các tiêu chuẩn ISO kêu gọi chấp thuận các s ản phẩm đượ c xem là các sản phẩm thân thiện về môi trường tạ i nước s ản xuất trong quá trình xác định các loại sản phẩm hợ p pháp đối với nhãn hiệu sinh thái ở trong chương trình cấp nhãn hiệu môi trường của quốc gia.

    Lựa chọn các chỉ tiêu tuân thủ

    Việc xác định các chỉ tiêu để cấp nhãn hiệu trong các chươ ng trình đơn phươ ng có thể dễ bị các nhà sản xuất trong nước tác động đến hơn. Những ngưỡng liên quan đến các chỉ tiêu này thường

    là dựa vào các mô hình sản xuất trong nước và tập trung vào các điều kiện và các ưu tiên địa phương.

    Các chỉ tiêu có thể vì thế mà được các hãng trong nước thực hiện một cách dễ dàng hơn.

    Các nhà xuất khẩ u c ủa các nước đang phát triển có thể gặp trắc trở khi thực hiện các chỉ tiêu này vì cnúng yêu cầu sử dụng các đầu vào, thí dụ như các hoá chất hoặc các vật liệu tái chế được, mà những đầu vào đó lại không có ở nướ c đang phát triển. Yêu cầu đối với việc tái chế có thể buộc các nhà sản xuất nước ngoài sử dụng các nguyên liệu tái chế được ở tại nước nhập khẩu, mặc dù

    chúng không thân thiện về mặt môi trường so với các nguyên liệu thường được sử dụng tại nước sản xuất44.

    Các kế hoạch cấp nhãn hiệ u sinh thái hiệ n tại thường dựa vào các tiêu chuẩn liên quan tới quá trình sản xuất. Những tiêu chuẩn này đòi hỏi có sự tuân thủ các tiêu chuẩn trong tất cả các giai đoạn sản xuất, thậm chí cả các giai đoạn nằm ngoài sự ki ểm soát của công ty sản xuất sản phẩm cuối cùng. Vi ệc đánh giá sự tuân thủ trở nên phức tạp và tốn kém hơn. Các chỉ tiêu liên quan tới quá trình sản xuất có thể đòi hỏi phải sử dụng các công nghệ riêng biệt khó với tới và rất đắt đỏ.

    Việc sử dụng các chỉ tiêu này yêu cầu phải có sự phân tích chu trình s ống của sản phẩm và việc này cần có nghiên cứu tích cực và do đó kéo theo chi phí rất lớn. Nếu các chỉ tiêu được xây dựng nên tuân theo các điều kiện nước xây dựng kế hoạch, thì những thành tựu môi trường do các

    nước đang phát triển thu được, thí dụ như các đầu vào thân thiệ n về mặt môi trường và/hoặc sản xuất và các phương pháp của quá trình sản xuất45, sẽ bị bỏ qua.

    Các tiêu chuẩ n ISO có thể làm giảm được các cản trở đó bằ ng cách thúc đẩy khái niệm “tương đươ ng”. Ðiều này có nghĩa là các điều kiện môi trườ ng c ủa nước sản xuất phải được lưu ý tới. Sản xuất và các phương pháp của quá trình sản xuấ t liên quan khi được chấ p nhận về mặt môi trường tại nước sả n xuất phả i đượ c chấp thuận như là chỉ tiêu tương đương đối với các chỉ tiêu do nước cấp nhãn hiệu dựng nên.

    Hơn nữa, những yêu cầu đối với việ c tuân thủ các quy định liên quan tới quá trình sản xuất tại nơi sản xuất cần phải linh hoạt và ở nơi có thể, phải lưu ý tới các yêu cầu môi trường quốc gia của nước sản xuất. Những yêu cầu thực hi ện luật pháp quốc gia riêng biệt chứ không phải thực hiện những mục tiêu hoạt động phải được bãi bỏ.

    Nhiều chỉ tiêu hoặc các ngưỡng đã được chọn trong các kế hoạ ch hiệ n có để cấp nhãn hi ệu không phải dựa vào kiến thức khoa học mà là vào đánh giá giá tr ị và do đó không khách quan. Các tiêu chuẩn ISO dự kiến đề nghị rằng các chỉ tiêu phải khách quan, tổng hợp, rõ ràng và phù hợp.

    Việc lựa chọn các chỉ tiêu ph ải dựa vào các phương pháp khoa học, có khả năng mô phỏng và chúng được xem xét lại định kỳ để bổ sung các phát triển mới.

    Ðánh giá sự phù hợp

    Trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp, các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển đương đầu với

    một số vấn đề như việc cấp nhãn hiệu môi trường và hệ thống quản lý môi trường. Thiếu các

    phương tiện đánh giá (thí dụ phòng thí nghiệm để kiểm định sản phẩm, thiếu độ tin cậy) là

    những lý do tại sao phần lớn các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường của nước ngoài đòi hỏi phải

    có các cuộc thanh tra các phương tiện của nhà xuất khẩu do các cơ quan thẩ m quyền đượ c họ chỉ định thực hiện hoặc phải có chứng chỉ do cơ quan cấp chứng chỉ được quốc tế chấp nhận cấp46.

    Ðối với một nhà xuất khẩu xin cấp nhãn hiệu môi trường tại nước nhập khẩ u, chứng chỉ ISO 14001 hay ISO 9000 có thể có ưu thế là không cần các bên điều tra nơi sản xuất liên quan tới

    kiểm soát ch ất lượng môi trường nữa. Những chứng chỉ này có thể được dùng như là một phương tiện để đảm bảo rằng chất lượng sản phẩm là được chấp thuận47.

    Các tiêu chuẩn cấp nhãn hiệ u sinh thái ISO tạ o cơ sở cho việc công nhận song phương. Công nhận song phươ ng có nghĩa là các nước công nghiệp hoá cấp cho sản phẩm nhãn hiệu sinh thái trên cơ sở là nó có đủ tiêu chuẩn để cấp nhãn hiệu môi trường tại nướ c xuất khẩu. Cơ sở cho việc công nhận song phương là khái niệm “tương đương” do ISO đề xuất.

    Hơn nữa, việc thiết kế các chương trình cấ p nhãn hiệ u môi trường quốc gia của các nước đang phát triển tuân theo các hướng dẫn c ủa Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế có thể làm cho các chương trình này đáng tin cậy hơn dưới con mắt của các cơ quan cấp chứng chỉ nước ngoài.

    Thêm vào đó các tiêu chuẩn đòi hỏi phải có các phương pháp kiểm định và chúng phải tuân theo các hướng dẫn đã được công nhận. Việc kiểm định quốc gia hay kiể m định công nghiệp thường tạo ra các hàng rào thương mại, thí dụ như việc công nhận khắt khe các phương tiện kiểm định tạo ra một gánh nặng về địa lý không cần thiết, cần phải được bãi bỏ.

    Chi phí cho việc tuân thủ các tiêu chuẩn

    Nói chung, chi phí cho việc tuân thủ sẽ tăng lên nếu nhà sả n xuấ t nướ c ngoài phải thực hi ện những yêu cầu của các kế hoạch cấ p nhãn hiệ u môi trường khác nhau vẫn còn c ạnh tranh ở trên tất cả các thương trường xuấ t khẩu của mình. Các chi phí tuân thủ có thể bị ả nh hưởng bở i các chỉ tiêu đòi hỏi phả i sử dụng các đầu vào đắt đỏ hoặc thậm chí là phải mua ở nước ngoài. Việc thiết kế và sản xuất ra một sản phẩm phù hợp với các chỉ tiêu cấp nhãn hiệu môi trường có thể đặc biệt tốn kém đối với các nhà sản xuấ t nhỏ. Hơn nữa, quá trình liên quan tớ i các chỉ tiêu có xu hướng dựa vào các điều kiện môi trường và công nghệ tại nước nhập khẩu, có thể bao hàm các chi phí cao đối với các nhà sả n xuất nước ngoài. Các chi phí cho việc kiểm định và thẩ m tra về việc tuân thủ các chỉ tiêu cần thiết đối với một nhãn hiệu có thể là rấ t cao, đặc bi ệt nếu phả i sử dụng đến các khả năng của nước ngoài. Chi phí cho việc tuân thủ có thể gồm có cả các chi phí đào tạo và cơ cấu lại quy trình sản xuất để đáp ứng được các yêu cầu cấp nhãn hiệu môi trường.

    Các nhà sản xuấ t tại các nước đang phát triển, đặc biệt là các nhà sản xuất nhỏ có thể coi các chi phí tuân thủ các chỉ tiêu là các chi phí quá cao.

    2.3 Những hạn chế của các tiêu chuẩn ISO 14000

    Mặ c dù các tiêu chuẩn của hệ thống môi trường và cấp nhãn hiệu môi trường ISO có thể hoà hợp các tiêu chuẩn đơn phương khác nhau, song chúng không giả i quyết được tất cả các vấn đề mà các nước đang phát triể n đang gặp phải. Các chi phí cho việc tuân thủ có lẽ sẽ được giả m xuống tới một mức độ nào đó song nó vẫn còn là một trở ngại đáng kể cho phần lớn các công ty t ại các nước đang phát triể n. Vấn đề thiếu hoặc chưa có các cơ sở cấp chứng chỉ, công nghệ thích hợp cũng như ki ến thức cần thi ết và trình độ chuyên môn phù hợp không thể giải quyết được bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn quốc tế.

    Hiện nay, kiến thức khoa học về việc làm thế nào để cân đong được các tác động môi trườ ng khác nhau hoặc đánh giá được tác động môi trường của sản phẩ m là chưa thể có được. Do vậy, việc quyết định là một sản phẩm này thân thiện hơn về mặt môi trường so với sản phẩm kia trong cùng một loại sẽ được dựa vào ở mộ t mức độ nào đó các đánh giá giá trị. Thi ếu kiến thức khoa học không thể giải quyết được bằng các tiêu chuẩn, mặc dù một cơ chế quốc tế như quy trình xây

    dựng tiêu chuẩn của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế có thể đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này trong tương lai.

    CD 14001 đã được soạ n thảo ra theo cách thức là nhường quyền gi ải thích cho người sử dụng (như các nhà t ư vấ n và đăng ký) là những người có ảnh hưởng lớn tới thương mại quốc tế. Một vấn đề còn lại cần giải quyết đó là làm thế nào ISO có thể đảm bảo rằng các nhà đăng ký trở nên khách quan và độc lập với các nhà đề ra các quy định, các cơ quan thẩm quyền địa phươ ng, và những người xin đăng ký. ISO 9000 đã bị phê phán là nó bị th ương mại hoá quá mức và để ngỏ để cho các nhà tư vấ n lạm dụng. Nếu điều tương tự xảy ra với ISO 14000, thì sự việc thậm chí là nghiêm trọng hơn vì các vấn đề môi trường tác động mạnh hơn đến những người chịu tác động so với các vấn đề về chất lượng.

    CD 14001 không đưa ra các chỉ tiêu hoạt động môi trường bắt buộc. Nó chỉ yêu cầu các công ty thực hiện tuân theo luật pháp môi trường quốc gia.

    Do vậy, mức độ hoạt động môi trường đã được thực hiện sẽ bị ràng buộc với các yêu cầu của quy chế tại bấ t kỳ nước nào xét đến. Ðiều rõ ràng là thậm chí đối với việ c thực hiện ISO 14001 trong một đất nước mà các luật pháp không đủ mạ nh và kém hiệu lực sẽ tụt hậ u hơn so vớ i các công ty tại các nước có các quy chế phát triển cao hơn. Các chính phủ của các quốc gia vì vậy có một vai trò quan trọng trong việc t ăng cườ ng các luật môi trường của mình. Giả sử các quy chế khác nhau ở mỗi nước, cấp chứng chỉ ISO 14001 không th ể sử dụng để đánh giá hoạt động môi trường của công ty. Nó đơn giản chỉ là một biện pháp cam kết của công ty đáp ứng các yêu c ầu của nước mà công ty đó hoạt động tại đó. Về việc hợp tác giữa các nước, các tiêu chuẩn ISO 14000 không thể đảm bảo được là các tiêu chuần cao nhất được áp dụng cho các hoạt động của họ trên quy mô toàn cầu.

    ISO có đạt đượ c mục tiêu của mình là hòa hợp được các tiêu chuẩn các quốc gia khác nhau, làm giảm được các hàng rào thương mại hay không là còn phụ thu ộc vào tính sẵn sàng của các nước hiệu chỉ nh lại các tiêu chuẩn hiện có theo ISO 14000. Mặc dù phần lớn những ngườ i tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩ n đều được thuyết phục rằ ng hệ thống quản lý môi trường và các tiêu chuẩn liên quan sẽ được phần lớn các nước đưa áp dụng, duy chỉ có các tiêu chuẩn cấp nhãn hiệu môi trường là chưa có sự chắc chắn để chấp thuận. Hầu hết mọi người tin rằng các kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường quốc gia hiện có sẽ đượ c thích ứng dần với các chỉ tiêu của quốc tế, mặc dù một số đoàn đại biểu các nước đã chỉ ra rằng họ ưu tiên hơn cho các kế hoạch quốc gia của mình. Tiến trình hoà hợp vì vậy có thể mất thêm một thời gian dài. Các tiêu chuẩn ISO có th ể tạo cơ sở cho việ c công nh ận song phương. Tuy nhiên không chắc là các nước công nghiệp sẽ chấ p thuận các cơ quan cấp chứng chỉ từ các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển cần phải trở nên đáng tin cậy để được công nhận.

    3. Các biện pháp tránh các hàng rào thương mại đối với các nước đang phát triển

    Các dự thảo TC207 có khả năng tránh đượ c một số các tác động xấu t ới thương mạ i của nước đang phát triển do các tiêu chuẩn hệ thống quả n lý môi trường và các kế hoạch cấ p nhãn hiệu môi trường gây ra. Tuy nhiên ISO có đạt được mục tiêu của mình về việc thủ tiêu các hàng rào thương mại hay thậm chí tạo nên hàng rào cản trở mới hay không là còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố đằ ng sau quá trình xây dựng các tiêu chuẩn. Ði ều cần thiết đối với các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau về quản lý môi trường là quy tụ về các tiêu chuẩ n quốc t ế ISO 14000 để đạt được sự hoà hợp mong muốn. Thứ hai là việc gi ải thích và áp dụng các tiêu chuẩn cần phải thực hiện theo cách thức giống nhau. Thứ ba là các nỗ lực khác ngoài việc xây dựng tiêu chuẩ n là cần thi ết thí dụ như thúc đẩy việc công nh ận song phương, trợ giúp kỹ thuật và vốn của các nước công nghiệp hoá và các tổ chức đa phương giúp các nước đang phát triển trong việc tranh thủ các cơ hội thương mại nảy sinh từ các tiêu chuẩn ISO 14000.

    Sự chấp thuận các tiêu chuẩn và việc kiểm soát không đi chệch hướng

    Mọi biện pháp thuyết phục các nước hiệu chỉnh các tiêu chuẩn quốc gia hoặc khu vực theo các tiêu chuẩn quốc t ế và uốn nắn những chệch hướ ng khỏi chúng có thể giúp tránh các hàng rào thương mại mới. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong “Thoả thuận về những c ản trở kỹ thuật đối với thương mại (TBT)” khuyến khích các nước thành viên của mình cần phải sử dụng các tiêu chuẩ n quốc tế thích hợ p, nếu có, để làm cơ sở cho các tiêu chuẩn quốc gia của mình. Loạt các tiêu chuẩn ISO tương lai sẽ cung cấp một công cụ cần thiết để áp dụng trong lĩnh vực quản lý môi trường. Nhằm giúp cho tiến trình hoà hợp quốc tế tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc phải chấp thuận các tiêu chuẩn ISO 14000 làm cơ sở chung cho công việc quản lý môi trường.

    Những hướng dẫn quốc tế cung cấp giải thích về ISO 14001 có th ể dẫn tớ i các thủ tục chấ p thuậ n và cấp chứng chỉ một cách hoà hợp và “khách quan”48: Chúng có thể đưa tới thực tế đánh giá sự

    tuân thủ nhằm tập trung vào việc cải thiện có hiệu quả hoạt động môi trường.

    Các nước thành viên của Tổ chức thương mại thế giới cần kiểm soát một cách thận trọng các

    hoạt động của mình về việc xây dựng tiêu chuẩn và đánh giá sự tuân thủ các tiêu chuẩn theo tinh thần “Thoả thuận về các cản trở kỹ thuật đối với thương mại”. Tài liệu này dự kiến trước các thủ

    tục chuẩn bị, chấp nhận và áp dụng các tiêu chuẩn ngăn ngừa họ tạo ra các cản trở cho thươ ng mại quốc tế49. Quyền hạn của WTO cần phải được định rõ trước khi quyết định là WTO có hành

    động và hành động bằng cách thức nào nếu như các biện pháp đơn phương trong lĩnh vực thuộc

    hệ thống quản lý môi trường và cấp nhãn hiệu môi trường không thích ứng và khác biệt. Nếu

    việc quản lý môi trường được áp dụng như một cản trở kỹ thuật cho thương mại, thì các bên chịu

    hại cần phải thực hiện các bước để chống lại các bên gây hại. ISO với sự hỗ trợ của các cơ quan

    thành viên của mình có thể có chức năng như một cơ quan thẩm quyền vô tư có thể cung cấp

    chuyên gia, dữ liệu và các đóng góp khác cho Tổ chức Thương mại Thế giới trong trường hợp có

    các mối bất hoà, tranh chấp.

    Sự công nhận song phương

    Các thoả thuận công nhận song phương giữa các cơ quan cấp chứng chỉ ở các nước phát tri ển và đang phát triển đối với cả hệ thống quản lý môi tr ường và cấp nhãn hiệu môi trường sẽ cho phép các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển thu lợi từ cơ sở hạ tầng c ấp chứng chỉ riêng của mình và làm giảm đượ c các chi phí. Một điều kiện tiên quyết cho việ c công nhận song phươ ng các kế hoạch cấp nhãn hiệ u môi trườ ng đó là vi ệc các chỉ tiêu về các kế hoạch cho các nước phát triển và đang phát triển là như nhau. Tuy nhiên các chỉ tiêu cũng có thể không hoàn toàn là như nhau trong phần lớn các trường hợ p. Vì vậy các chuyên gia đề nghị cấ p nhãn hiệu của nướ c nhập khẩu nếu các chỉ tiêu sản phẩm và các điều kiện liên quan đến đổ thải của nước nhập khẩu được thoả mãn.

    Vì các chỉ tiêu liên quan tớ i quá trình sả n xuất là phụ thuộc vào hoàn cảnh địa phương ở nước xuấ t khẩu, nên các chỉ tiêu này cần phải được chấp thuận thậm chí ngay cả khi chúng khác biệt với các chỉ tiêu ở nước nhập khẩu. Một khả năng khác nữa là phải thực hiện các chỉ tiêu của nước nhập khẩ u trừ việc công nhận và cho phép việ c cấp chứng chỉ được thực hiện bằng cách kiểm định của nước xuất khẩu và các cơ quan thẩm tra có quyền lực nằm trong chương trình cấp nhãn hiệu môi trường trong nước.

    Một điều kiện tiên quy ết cho việc công nhận song phươ ng đó là cơ sở hạ tầng xây dựng tiêu chuẩn hiện có tại nước đang phát triển và sự tin cậy của nước nhập khẩu về chất lượng của cơ sở hạ tầng đó.

    Cơ sở hạ tầng xây dựng tiêu chuẩn

    Ðể chứng tỏ là họ đáp ứng được các tiêu chuẩn đòi hỏi từ phía các đối tác thương mại của mình,

    các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển cần các dịch vụ cấp chứng chỉ được quốc tế thừa

    nhận và các tổ chức kiểm định. Một số các nước đang phát triển tiến bộ hơn đã có các cơ sở này

    và có khả năng mở rộng quy mô chúng để thực hiện việc đăng ký ISO 14001. Một số nước khác

    cần đến sự giúp đỡ về vốn và kỹ thuật để xây dựng hệ thống đánh giá sự tuân thủ dựa vào các chỉ

    tiêu quốc tế. Cầ n phải đưa các trung tâm thông tin tiêu chuẩn, những cơ sở đăng ký được công nhận, các cơ sở đào tạo và cấp chứng chỉ sản phẩm vào công việc này50. ISO đã ban hành các

    hướng dẫn và các cẩm nang triển khai cung cấp những thông tin chi tiết về những vấn đề này.

    Có nhiều khả năng cấp tài chính song phương và đa phươ ng của các yếu tố của các hệ thống tiêu chuẩn hoá tại các nước đang phát triển. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, các ngân hàng phát triển khu vực hoặc các chính quyền địa phương cũng có thể có sự trợ giúp về tài chính.

    Trợ giúp kỹ thuậ t cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, kiểm tra và kiểm định l ại sản phẩ m và các nhà máy bởi các nướ c phát triển hoặc các tổ chức quốc tế có thể giải quyết được vấn đề là nhiều nước đang phát triể n thiếu các bí quyết. Thực t ế là việc trợ giúp đó đã được hoàn lại có thể tăng thêm độ tin cậy đối với các nhãn hiệu sinh thái và chứng chỉ về hệ thống quản lý môi trường do các nước đang phát triển cấp.

    Các nước thuộc OECD thường đảm bảo trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triể n vớ i quan điểm là giúp các nước này xây dựng cơ sở hạ tầng và các chương trình cấp nhãn hiệu môi trường.

    Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) và Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mạ i và Phát triển (UNCTAD) đã khởi xướng các chương trình hợp tác kỹ thuật với các nước đang phát triển trong lĩnh vực cấp nhãn hiệu sinh thái.

    Quyết định cho một nước đầu t ư vào cơ sở hạ tầng tiêu chuẩn hoá phải là một quyết định hợp lý về mặt kinh tế. Quyết định này phụ thuộc vào các biến số sau đây:

    • cơ cấu công nghiệp của một nước và trình độ công nghiệp hoá của nó;
    • sự phụ thuộc về kinh tế vào thị trường nước ngoài, đặc biệt là các thị trường đòi hỏi lớn ở các nước công nghiệp hoá; và
    • áp lực thực hiện các chỉ tiêu được quốc tế công nhận đối với các thông lệ đánh giá sự tuân thủ.

    Những biến số này cần phả i ở mức độ cao thì cơ sở hạ tầng của công tác tiêu chuẩn càng phải đầy đủ hơn. Một nước phải quyết định là cần có nh ững gì ở trong nước để đối lại với việc nhậ n được các dịch vụ đó từ nước ngoài để xây dựng cơ sở hạ tầng trong nước sao cho có hiệu quả nhất. Trước tiên đó là phải quan tâm tới việc kiểm định, cấp chứng chỉ và thẩm tra do các cơ quan cấp chứng chỉ quốc tế thực hi ện. Vì giá cả của các cơ quan đó rấ t cao nên cần có phương pháp tiết kiệm trong xây dựng một hệ thống công tác tiêu chuẩn trong nước với khối lượng xuất khẩu ngày càng tăng.

    Cần phải có các quyết định khác liên quan tới việc là các khu vực nhà nước và tư nhân có vai trò

    như thế nào trong cả việc xây dựng các tiêu chuẩ n và cung cấp các dịch vụ (thí dụ như ki ểm định và cấp chứng chỉ)51. Ðiều này quan trọng đối với khu vực tư nhân để họ có thể tham gia, thí dụ,

    vào việc quy hoạch, quản lý và thực hiện các tiêu chuẩn ISO 14000 hoặc về vi ệc đào tạo và cung cấp các cơ sở kiểm định. Hơn nữa, cần phải quyết định là những phần dịch vụ nào do nhà nước cấp cần thiết phải được cấp từ ngân sách nhà nước và những phần nào dự kiến là tự cấp tài chính

    (thí dụ, những đóng góp của các thành viên, bán các ấn phẩm, cấp chứng chỉ hoặc kiểm định sản phẩm, vv.).

    Mặc dù việc xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ ban đầu là có thể chạy theo các nhu cầu xuất khẩu

    trực tiếp, nó có thể mở rộng tới các nhà sản xuất trong nước, đặc biệt là nếu các quy chế môi

    trường đang được tăng cường và các nhà xuất khẩu cần phải đảm bảo sự tuân thủ theo luật pháp

    tại thị trường trong nước.

    Cơ cấu hạ tầng công tác tiêu chuẩn hiện có có thể có khả năng giúp đỡ cho việc xây dựng luật pháp môi trường và có thể tạo điều kiện tiếp cận tới những thông tin về các tiêu chuẩn ISO

    14000 và các tiêu chuẩn khác. Bằng cách có một trung tâm thông tin tiêu chuẩn, một nước có thể trở thành thành viên của ISONET (Mạng lưới của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế). Mạng lướ i toàn cầu các trung tâm như v ậy đã được ISO xây dựng nên nhằm cung c ấp nhanh các thông tin về tiêu chuẩn và các hoạt động cấp chứng chỉ được các nước khác nhau sử dụng.

    Thông tin và sự tham gia

    Các nhà xuất khẩu tại các nước đang phát triển cần phải biết các tiêu chuẩn thích hợp trong các

    thị trường mà họ sẽ xuất khẩu. Họ cần phải hiểu được quá trình phức tạp của việc xây dựng tiêu

    chuẩn và việc đánh giá sự tuân thủ. Hầu như phần lớn các tiêu chuẩn hệ thống quản lý môi

    trường và cấp nhãn hiệu môi trường sẽ đưa áp dụng thực tế vào năm 1996, và các công ty tại các

    nước công nghiệp hoá đang chuẩn bị được nhận chứng chỉ.

    Vì vậy, một trong những khuyến nghị chủ yếu là các nước đang phát triển cần thu được những

    thông tin và được tham gia càng sớm càng tốt để làm quen với các tiêu chuẩn. Việc này có thể

    tiết kiệm được một số chi phí cho lệ phí tư vấn đắt đỏ, có quan tâm tới các thực tế cơ bản nhất về

    các tiêu chuẩn và thời hạn thực hiện chúng.

    Vì việc xây dựng các tiêu chuẩn về cấ p nhãn hiệ u sinh thái, đánh giá chu trình sống và hoạt động môi trường đang bị tụt hậu so với các tiêu chuẩn về hệ thống quản lý và kiểm toán môi trường, nên các thành viên ISO là các nước đang phát triển cầ n phải tham gia vào công việc của TC 207, với tính cách là thành viên tham gia, phản ánh các lợi ích của mình và tác động đến kế t quả. Ngược lại các quá trình xây dựng tiêu chuẩn trong nước và khu vực, ISO về lý thuyết, bỏ ngỏ cho tất c ả các nướ c. Ðể tạo khả năng cho các nước đang phát triển tranh thủ được quá trình bỏ ngỏ này và cử các đoàn đại biểu của mình thường xuyên tham dự các cuộc họp của ISO, họ sẽ cần đến sự trợ giúp về tài chính.

    Các hoạt động tr ợ giúp kỹ, thuật giúp các nước đang phát tri ển có lưu ý tới sự tham gia của những nước này vào việc xây d ựng tiêu chuẩn ISO. ISO cấp kinh phí đi lại và trợ cấ p cần thiết cho tham dự một hoặc hai cuộc họp, hy vọng rằng các nướ c đang phát triển sẽ tham gia vào các hoạt động của ISO. Nhờ có kinh phí do ISO cấp cho phiên họp toàn thể mới đây của TC207 vào tháng 6/1995, các nước đang phát triển đã tham gia mạnh mẽ vào việc đưa ra các quan điểm và nhiều đóng góp cho phiên họp. Mặc dù các nước đang phát triển tham gia vào việc tăng cường TC207, song hiện vẫn chưa đạt được ở mức mong muốn.

    Việc cung cấp thông tin có thể được thực hiện trên cơ sở các cơ sở dữ liệu. Mạng lưới cấp Nhãn

    hiệu sinh thái Toàn c ầu (GEN), một t ổ chức phi chính phủ c ủa 10 nước thành viên đã có các kế hoạch cấp nhãn hiệu sinh thái52, hiện đang xây dựng một cơ sở dữ liệu với những thông tin về tất

    cả các kế hoạch trên mạng INTERNET. Cơ sở dữ liệu này nằm trong Web Toàn c ầu và dự định sẽ được sử dụng làm diễn đàn tranh luận giữa các nước về cấp nhãn hiệu sinh thái và thúc đẩy

    các kế hoạch của các nước đang phát triển. Hơn nữa GEN hiện đang xây dựng một cơ sở đăng ký gồm có các chuyên gia thuộc lĩnh vực cấp nhãn hiệu môi trường53.

    Ðào tạo và nâng cao nhận thức

    Các biện pháp nâng cao nhận thức thể hiện nhu cầu và các lợi ích tiề m tàng thu được từ những nỗ lực tăng cường trong việc thực hiện ISO 14001 và các tiêu chuẩn liên quan ở một quy mô nào đó có thể tăng c ường sự cam kết của ngành công nghiệp ở các nước đang phát triển. Ðể gi ảm đi những hàng rào cản trở sự cam kết của các nhà lãnh đạ o doanh nghiệp, ở một số nước vai trò của các ban tiêu chuẩn c ủa chính phủ thường có chức năng như là các ban bảo vệ và điều phối cho người tiêu dùng cần phải thay đổi. Sự tham gia của khu vực tư nhân cũng là một việc quan trọng.

    Việ c nâng cao nhận thức có thể có nghĩa là tăng cường sự tin cậ y của các nhãn hiệu sinh thái của các nước đang phát triển và sự chấp thuận chúng của người tiêu dùng trong các nước phát triển.

    Tạ i giai đoạn này, việ c đào tạo và xây dựng năng lực liên quan tới hệ thống quả n lý môi trường và cấp nhãn hiệu môi trường là một việc quan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là khi họ có các chiến lược phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Mặc dù các tiêu chuẩn ISO 14000 chỉ đang ở vào giai đoạn soạn thảo, vi ệc xây dựng năng lực phải được khởi sự từ bây giờ để giảm thi ểu sự chậm trễ về thời gian trong việc hiệu chỉnh các tiêu chuẩn giữa các nước công nghiệp hoá và các nước đang phát triển.

    Việ c đào t ạo và xây dựng năng lực cần phải tậ p trung vào các cơ quan đào tạo và cấp chứng chỉ , các nhà tư vấn và lãnh đạo doanh nghiệp. Các biệ n pháp tập trung vào các tiêu chuẩn ISO 9000 có thể được coi là biệ n pháp hỗ trợ thêm cho ISO 14000. Ðể kết nối ISO 9000 và ISO 14000, việc đào tạo hiện nay và trong tương lai về các hệ thống quản lý chất lượng cần phải đưa các thông tin về các loạt ISO 14000 sắp tới vào.

    Các hội nghị chuyên đề đào tạo khu vực và các học bổng cho việc đào tạo chuyên môn cho các cá nhân là một phần của các chương trình trợ giúp kỹ thuật của ISO cho các nước đang phát triển.

    ISO cũng cung cấp cho các nước đang phát triển những thông tin và các hợp đồng đào tạo do các

    cơ quan thành viên của ISO thực hiện ở các nước OECD. Ðối với ISO tương lai, trong hợp tác

    với các học viện khác, cần phải khởi xướng những nỗ lực xây dựng một hệ thống, mà nhờ nó các

    nhà đào tạo các cố vấn, kiểm toán trong quản lý môi trường có thể được tất cả các nước đánh giá

    theo nhu cầu về chuyên môn của họ.

    Chuyển giao công nghệ

    Ðể tránh được một thực tế là vi ệc thiếu các công nghệ sạch có thể trở thành nguyên nhân để các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triể n không tuân thủ các tiêu chuẩn quản lý môi trường quốc tế việc chuyển giao công nghệ c ần phải được t ăng cường và tạo điều kiện thuận lợi. Các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển sẽ cần đến sự trợ giúp về vốn và kỹ thu ật để giành được các công nghệ thích hợp cho họ. Các nước đang phát triển cần phả i ti ếp tục mở r ộng tự do cơ cấu kinh tế của mình, thu hút dòng vào của các công nghệ sạch để bổ sung thêm cho sản xuất riêng của mình các công nghệ đó. Vi ệc thực hiện quyền sở hữu trí tu ệ (IPR) tạ o cho người sở hữu sự tin cậ y là các quyền của họ đối với các công nghệ chuyển giao được bảo vệ, có thể giúp cho dòng vào này. Các nước đang phát triể n cần phải xây dựng các cơ chế kiểm soát để đảm bảo rằng các công nghệ chuyển giao là các công nghệ sạch.54

    Các chiến lược trong khu vực tư nhân

    Các mạng l ưới và các hội doanh nghiệp cũng như các phòng thương mại đều đóng một vai trò quan trọng đối với những nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các xí nghiệp quy

    mô vừa và nhỏ. Họ là nguồn giúp cho doanh nghiệp xác định các quy chế môi trường thích hợp

    và các thay đổi hiện đang diễn ra. Những mạng lưới này có thể tạo ra một phương thức nghiên

    cứu đồng thời các hướng dẫn của ISO 14000. Chúng có thể giúp xác định được những sắp xếp về

    mặt tổ chức và thủ tục tốt nhất để xây dựng một hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14001 và

    các chương trình kiểm toán môi trường. Có thể sử dụng các ấn phẩm chung để truyền thông giữa

    các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ để trao đổi thông tin, kinh nghiệm cũng như truyền thông với

    bên ngoài về những chính sách môi trường của các hãng thành viên đến các bên quan tâm.

    Những mạng lưới như thế cần phải tìm cách cải thiện sự đối thoại và hợp tác giữa các nhà sản

    xuất và các nhà cung ứng.

    Hơn nữa các xí nghi ệp quy mô vừa và nhỏ có thể sử dụng những mạng lướ i này để thể hiện những quan tâm của mình trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn và tham gia vào diễn đàn của quốc tế. Thí dụ Mạng lưới quốc tế về Quản lý Môi trường

    (INEM) đang nỗ lực thúc đẩy các chiến lược nằm trong TC 207 mà chúng quan tâm tới những

    lợi ích của các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ trong các nước công nghiệp và đang phát triển.55 Ðể

    quản lý những sức ép về nguồn lực, các mạng lưới doanh nghiệp cần phải xây dựng các chiến

    lược hợp tác để chia sẻ bí quyết và công nghệ, cùng nhau sử dụng các phương tiện, cùng thu hút

    những cố vấn và đào tạo nhân viên. Các doanh nghiệp cần phải tìm kiếm sự cộng tác của các

    trường đại học và các học viện đào tạo để đảm bảo về giảng viên cho việc đào tạo.

    Các tổ chức tiêu chuẩn và các phòng thương mại cần phải thúc đẩy và ủng hộ các chiến lược hợp tác trong các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ, đặc biệt là tại các nước đang phát triển.

    Khi mà đối với ISO 14001, tác động chính từ phía các nước công nghiệp đến các nước đang phát triển là qua dây chuyền cung ứng, thì các công ty lớn ở các nước công nghiệp hoá cần phả i trợ giúp về bí quyết (know-how) cho những nhà cung ứng của họ ở các nước đang phát triển. Thí dụ họ có thể gửi giúp chuyên gia môi trườ ng hoặc kỹ thuật của mình và chịu mọi khoản chí phí. Việc trao đổi kiến thức khoa học và kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, bao gồm cả các công nghệ mới và cải tiến là những cách giúp đỡ mà bên mua thực hiện nhằm tăng cường hoạt động của bên cung ứng.

    Kết luận

    Bằng cách xây dựng loạt ISO 14000, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế đang c ố gắng gi ải quyế t một s ố cân bằng khó khăn. Mục đích của Tổ chức này là cải thiện môi trường là lĩnh vực đòi hỏi có các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đồng thờ i cố gắng tạo điều kiện cho thương mại là lĩnh vực đòi hỏi có các tiêu chuẩn chung hơn. Cả hai mục đích này có đạt được hay không là việc còn phải đợi xem. Báo cáo này cho thấy là tự các tiêu chuẩn không đảm bảo về mặ t cả i thiện môi trường. “Tính nghiêm ngặt” và “tính đạo đức” sẽ là những điều quyết định đối với việc cả i thiện như mong muốn đối với môi trường toàn c ầu, trong khi các tiêu chuẩn được các công ty, cố vấn, các nhà đăng ký áp dụng cũng như mức độ luật pháp môi trường quốc gia mà công ty c ần phải thực hiện. Về triể n vọng thương mại, các tiêu chuẩ n ISO 14000 sẽ mang lại nbững lợi ích đồng thời cả những gánh nặng cho các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển. Chúng có thể mang lại lợi ích nếu như các tiêu chuẩn ISO 14000 thành công trong việc hoà hợp được các tiêu chuẩn quản lý môi trường của môi nướ c khác nhau. Tuy nhiên, việc thực hiện và tôn trọng đối với những tiêu chuẩn này là sẽ rất tốn kém.

    Báo cáo này cho rằng sẽ có sức ép đối vớ i các công ty tại các nước đang phát tri ển nảy sinh từ phía các đối tác thương mại của họ ở các nước công nghiệ p hoá để thực hiện hệ th ống quản lý môi trườ ng và được cấp chứng chỉ ISO 14001. Chứng chỉ đó sẽ là một công cụ để giành được lợi thế cạnh tranh.

    Với tình hình hiện naỵ, sự thiếu thông tin, vốn, công nghệ , chuyên gia và cơ sở hạ tầng địa phương ở hầu hết các nước đang phát triển là những lý do gây cản trở các công ty được cấp chứng chỉ. Vì thế các nướ c đang phát triển cần có s ự trợ giúp để xây dựng cơ sở hạ tầng của mình, cho phép thực hiện được các tiêu chuẩ n ISO 14000. Các n ước đang phát triển cần phải tìm kiếm sự hợp tác với các tổ chức quốc tế, các chính phủ các nước và các cơ quan tiêu chuẩ n cũng như các hội doanh nghiệp vì trợ giúp về tài chính và kỹ thuậ t. Các công ty lớn ở các nước phát triển có thể giúp đỡ các nước đang phát triển là những nước có quan hệ thương mại quan trọng của mình để họ nhận được những nguồn lực cần thiết cho việc tuân thủ các tiêu chuẩn ISO 14000.

    Ghi Chú

    1. Ðến giữa năm 1994, 70 nước đã đưa áp dụng các tiêu chuẩn chính của ISO 9000 như các tiêu chuẩn quốc gia. Các tiêu chuẩn cũng được công nhận ở mức khu vực ở Châu Âu, Châu Mỹ. Ðến giữa năm 1994 gần 75000 chứng chỉ đã được ban hành ở 76 nước… Xem: ITC ( 1994a) trang 3 và Phụ lục I, III về danh sách chi tiết các nước.
    1. Các chương trình cấp nhãn hiệu sinh thái khác hiện có ở các nước Bắc Âu, Ðức, Canađa, Nhật Bản, Mỹ, Thụy Ðiển, Niu Dilân, Hàn quốc, Ôxtrâylia, Singapo, Hà Lan, Croatia và Zimbabuê. Ngoài Anh ra, các tiêu chuẩn về các hệ thống quản lý môi trường đã được Canađa, Nam Phi, Pháp, Tây Ban Nha, Ai len xây dựng.
    2. Xem: ISO ( 1995) trang 4.
    3. Dựa vào các dự thảo của toàn ban có vào tháng 6/1995.
    4. Các thuật ngữ chứng chỉ sử dụng ở Châu Âu, đăng ký sử dụng ở Mỹ. Cả hai đều có cùng một nghĩa và được sử dụng trong báo cáo này như là các từ đồng nghĩa.
    5. Tài liệu hướng dẫn đề nghị lấy Tuyên bố RIO về Môi trường và Phát triển hoặc Hiến chương Kinh doanh về Phát triển Bền vững làm cơ sở cho việc xác định chính sách.
    1. Một “tổng quan môi trường khởi đầu” được đề xuất để xác định các khiá cạnh môi

    trường, lưu ý tới phát tán, thải vào nguồn nước, quản lý chất thải, nhiễm bẩn đất đai, sử dụng nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên và các vấn đề môi trường cục bộ khác. Tổng quan này cần phải bao gồm các điều kiện hoạt động bình thường, các điều kiện bắt đầu và đóng cửa, cũng như các tác động tiềm tàng của các tình huống cấp bách lường trước được. Không cần phải đánh giá chu trình sống chi tiết, kể cá đánh giá đối với từng thành phân hoặc đầu vào nguyên liệu.

    1. Thí dụ: Mục tiêu – “Giảm phát tán không khí của công ty”. Mục đích – ” Giảm phát tán CO2 xuống 2% đến năm 1996″
    1. Việc tổ chức cần phải coi việc sử dụng các công nghệ có được tốt nhất ở những nơi có thể tồn tại được về mặt kinh tế, hiệu quả về chi phí, và được hiệu chỉnh thích ứng bởi tổ chức.
    2. Chương trình cần phải gồm có một tổng quan môi trường về các hoạt động mới. Ðối với các sản phẩm có thể tập trung vào thiết kế, nguyên liệu, các quá trình sản xuất, sử dụng và loại bỏ cuối cùng. Ðối với các quá trình có thể tập trung vào quy hoạch, thiết kế, xây dựng, đưa vào hoạt động và bàn giao.
    3. Ðại diện phải đảm bảo thực hiện và duy trì hệ thống quản lý môi trường và báo cáo việc quản lý về hoạt động của hệ thống quản lý môi trường. ở các công ty nhỏ người đại diện có thể là chủ công ty.
    4. Có thể đưa vào các tác động môi trường và các lợi ích của các hoạt động, các hậu quả tiềm tàng từ phía các nhà sản xuất và phản ứng trong những tình huống cấp bách. Hơn nữa tổ chức cần phải yêu cầu các hợp đồng đảm bảo đào tạo thích hợp cho cán bộ nhân viên.
    5. Tư liệu hoá cần đưa vào các yếu tố chủ chốt của hệ thống quản lý môi trường và các quan hệ qua lại của chúng, cung cấp hướng dẫn đối với tài liệu liên quan cần rõ ràng, ghi rõ ngày tháng và dễ xác định, bảo quản và lưu trữ trong một thời gian nhất định. Một cẩm

    nang quả n lý môi trườ ng là một tài liệu then chốt cho hệ thống quản lý môi trường. Tuy nhiên đã có đề nghị là việc tư liệu hoá này phả i đượ c l ồng vào các tư liệu về các hệ thống hiện có. Trong trường hợp đó một tài liệu tóm lược có thể được coi là tài liệu tham khả o về hệ thống quản lý môi trường. Quá trình kiể m tra tài liệu phả i đảm bảo được là tất cả các tài liệ u có thể được định vị, đượ c xem xét lại theo định kỳ, được sửa chữa bổ sung và do những người có thẩm quyền phê duyệl; các loạt tài liệu hiện có c ần có tại nơi có các hoạ t động thích hợ p được thực hiện; các tài liệu cũ không dùng nữa được loại bỏ và được lưu trữ cho tới khi chúng có thể phù hợp cho các mục tiêu bảo tồn kiến thức hoặc mục tiêu pháp lý.

    1. Một số các chỉ dẫn do các đoàn đại biểu đề xuất như Nhật Bản, theo danh mục của OECD về các chỉ dẫn “ứng phó với tình trạng gây sức ép”. Các đoàn đại biểu từ Viện Wuppertal đã lập ra một nhóm làm việc đặc biệt ở trong Tiểu ban 4 để giao dịch giữa ISO và các tổ chức bên ngoài làm việc về các chỉ dẫn, như Uỷ ban Phát triển Bền vững. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống lập báo cáo tương hợp về khu vực tư nhân và cấp chính phủ (“liên kết vĩ mô-vi mô”),
    2. Tuy nhiên cần phải nhớ là mọi sản phẩm đều có một số tác động xấu trong thời gian sống của nó. Vì vậy mọi hệ thống cấp nhãn hiệu sinh thái đều có liên quan khi chúng chú ý tới các sản phẩm ít gây hại hơn so với các sản phẩm khác.
    3. Kế hoạch cấp chứng chỉ khoa học của Mỹ có lẽ chỉ là chương trình phù hợp với định nghĩa này. Xem UNCTAD ( 1994c) trang 6.
    4. Tài liệu này có trong WD.
    5. Những cơ quan này là Công nhận Ðánh giá hệ thống chất lượng (QSWAR) và CASCO.
    6. Kế hoạch quản lý và kiểm toán môi trường Châu Âu (EMAS) và BS 7750 của Anh gồm có một danh mục đầy đủ về các lĩnh vực môi trường cần phải được khảo sát. Chúng bao gồm những phát tán vào khí quyển được kiểm soát và không được kiểm soát. Những dòng thải vào các nguồn nước hoặc hệ thống cống rãnh, chất thải rắn và các loại chất thải khác, nhiễm bẩn đất đai, tiếng ồn, mùi, bụi, rung động và tác động thị giác. Các đại biểu của Mỹ cho rằng tính nghiêm ngặt của các quy chế EMAS là những quy chế gây ra những hàng rào cản trở thương mại nhất. Họ đưa ra các tiêu chuẩn được viết theo cách thức cho phép các công ty xác định các vấn đề quan trọng cho hoạt động và các sản phẩm riêng của mình.
    1. Từ 22 bảng câu hỏi điều tra gửi di, chúng tôi đã nhận được 15 bảng trả lời. 6 trong số đó là từ các nước đang phát triển. Thông tin bổ sung thu được từ một số câu trả lời từ các cuộc phỏng vấn cá nhân.
    2. Thí dụ, chúng có thể được Uỷ ban Châu Âu về các tiêu chuẩn Châu Âu, Mỹ, Canada, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Nam Phi, Mauritius và Zimbabuê chấp thuận. Các nước khác của khu vực Châu Mỹ hiện chưa có các tiêu chuẩn trong nước của mình. Các chuyên gia Trinidad và Tobago, Brazil tin rằng nước họ sẽ chấp thuận và áp dụng các tiêu chuẩn ISO 14001 và liên quan.
    3. Thí dụ, Bộ quốc phòng Anh và Bộ Năng lượng Mỹ đã chỉ rằng họ sẽ đòi chứng chỉ ISO 14001 từ các nhà cung ứng của mình, theo Mr.J. Cascio, IBM Corp.
    4. Tuy nhiên theo Mr.J.Cascio (IBM) báo cáo một công ty sạch hiện cần những thông tin về việc làm thế nào để có được chứng chỉ ISO 14001. Ðối với công ty này, chứng chỉ có thể thích hợp như là một hợp đồng của các công ty lớn.
    5. Các công ty đxã có hệ thống quản lý môi trường (thí đụ là các công ty đã có chứng chỉ BS7750) cần phải có khả năng trở thành có chứng chỉ ISO 14001 bằng cách là phải hiệu chỉnh các thủ tục hiện có của mình theo hệ thống thuật ngữ của ISO.
    6. Theo J.C. Stans, và các cố vấn Hà Lan. Một số các công ty đã quyết định kết hợp các lĩnh vực môi trường vào các cẩm nang về chất lượng và các thủ tục hiện có.
    7. Dự tính theo Ferrone Cố vấn của Excel Partneship, Inc. Sansy Hook (Mỹ)
    1. Thí dụ IBM đã đầu tư 100 triệu đôla thời gian cán bộ để đáp ứng các yêu cầu của ISO 9000. Theo J.Cascio (IBM), 93% chi phí cho việc xây dựng hệ thống quản lý môi trường là các chi phí nội bộ.
    1. Xem: Cascio, J. (1994), trang 42, NSF. – cơ quan đăng ký Mỹ, liệt kê các nhân tố sau đây

    có tác động tới thời gian dành cho kiểm toán đăng ký: phân chia địa điểm, phân loại sản phẩm, các hoạt động bên ngoài, tăng trường hợp không tuân thủ, trình độ tự động hoá, tính phức tạp của tư liệu hoá, nhu cầu chuyên môn kỹ thuật. Xem: NSF International (1995)

    1. Theo Lloyds – đăng ký viên quốc tế, theo Ferrone – cố vấn của Exel Partnershil Inc. Sandy Hook (Mỹ)
    2. Con số này gồm cả các chi phí đi lại và các chi phí cho các kiểm toán viên. Nó chỉ gồm các dịch vụ chủ yếu cần thiết cho đăng ký và các dịch vụ bắt buộc thí dụ như cuộc kiểm tra ban đầu của đăng ký viên hoặc chứng nhận đăng ký bổ sung.
    3. Theo các dự thảo TC207, việc đưa ra cách tiếp cận hệ thống sẽ dẫn đến một số “cải thiện trong hoạt động môi trường”. Xem: ISO ( 1995a) trang 3.
    4. Thí dụ, ở Nam Phi những tác động quan trọng nhất là từ các nhà đầu tư nước ngoài và

    thương mại quốc tế ngược lại những sức ép luật pháp, các sức ép từ các tổ chức phi chính phủ trong nước hoặc người tiêu dùng nhạy cảm về sinh thái là ít quan trọng hơn.

    1. Xem: ISO ( 1995) trang 18 và 19.
    2. Xem: ISO ( 1995) trang 5.
    3. Ðối với các công ty được cấp chứng chỉ ngược lại với tiêu chuẩn hệ thống quản lý môi

    trường BS 775O của Anh, điều đó đã trở thành một thực tế chung để gửi các bảng câu hỏi điều tra cho các nhà cung ứng của mình nhằm đánh giá hoạt động của họ. Trong một số trường hợp các bảng câu hỏi là rất phức tạp đòi hỏi phải có những điều tra nhiều mặt mới trả lời được chúng. Thí dụ, công ty Thiết kế Phân bố (D2D) đã xây dựng một “chương trình buôn bán nhà đất được thừa nhận” chương trình này đòi hỏi những người cung ứng muốn trở thành những người buôn bán nhà đất được thừa nhận thì họ phải đáp ứng được một loạt các chỉ tiêu gia nhập, bao gồm cả các chỉ tiêu về môi trường. Phụ thuộc vào các câu trả lời đối với bảng câu hỏi điều tra, các nhà cung ứng được xếp vào 4 cấp. Những người cung ứng nào không cải thiện những hoạt động của mình thì bị loại ra, D2D hiện đang thực hiện một bước tiếp theo là yêu cầu các nhà cung ứng của mình phân tích hoạt động của người cung ứng riêng của họ. Xem: Hilary, R. ( 1995)

    1. Theo El-Tawil, ISDO, DEVCO, 6/1995
    2. Mặc dù các hoàn cảnh là khác nhau. Một số nước, thí dụ như Nam Phi báo cáo về tình trạng nguồn lực thích hợp, theo Hobbs, Diễn đàn Môi trường công nghiệp của Nam Phi.
    1. Xem: UNCTAD (1994c) và UNCTAD (1995a).
    2. Kinh nghiệm với BS 7750 tại Nam Phi cho thấy là số lượng các cố vấn nước ngoài là rất lớn. Ðiều đó có thể xảy ra đối với ISO 14001.
    3. Một thí dụ tính chi phí cho công ty nhỏ trong Phụ lục 3 minh họa là tổng các chi phí tăng mỗi khi công ty có thuê các cố vấn và các đăng ký viên nước ngoài.
    4. Xem: UNCTAD ( 1994c).
    5. Thí dụ ở Canađa và Ðức hơn 70% đề nghị cho các loại sản phẩm mới là do sản xuất công nghiệp trong nước. Xem: UNCTAD ( 1994c) trang 12.
    6. Xem: UNCTAD ( 1994c) và UNCTAD ( 1995a).
    7. Xem: UNCTAD ( 1994c).
    8. Thí dụ, để đánh giá tác dộng môi trường của giấy, cần phải xem sản phẩm (giấy mới hay giấy tái chế khối lượng tái chế, v.v.) và giấy được sản xuất như thế nào (dùng hoá chất độc, các phát tán, v.v…).
    9. Thí dụ kế hoạch cấp nhãn hiệu sinh thái của Pháp gồm có thanh tra tại chỗ phải được tiến hành bởi một công chức được thừa nhận của một cơ quan thẩm quyền xây dựng tiêu chuẩn AFNOR. Xem: UNCTAD ( 1994), trang 15.
    10. Theo Weissman, Green Seal Inc., Washington (Mỹ).
    1. Các cá nhân sẽ giải thích các hoàn cảnh một cách khác nhau. Vì thế việc kiểm toán có thể chẳng bao giờ được khách quan một cách hoàn toàn.
    2. Những yêu cầu của Luật này là tương tự với những yêu cầu có trong một số tài liệu dự thảo ISO của loạt 14000 liên quan tới các thủ tục không phân biệt. Hơn nữa Thỏa thuận về các cản trở kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) yêu cầu phải phát hành các tiêu chuẩn dự thảo. Việc chấp thuận hoặc bác bỏ Ðạo luật này cần phải thông báo cho Trung tâm Thông tin ISO/IEC tại Giơnevơ. Xem: TBT và ITC ( 1995), trang 3.
    3. Ðối với việc tranh luận hiện nay trong ISO/CASCO về một cơ quan ủy quyền cỡ quốc tế riêng, thì người ta không đề nghị phải xây dựng một cơ quan ủy quyền quốc gia được tiến hành đầu tiên ở nước đang phát triển.
    4. Việc phân chia thích hợp những nỗ lực giữa việc cấp chứng chỉ nhà nước và tư nhân phụ thuộc vào chất lượng cung cấp các dịch vụ này của nhà nước và của tư nhân. Nếu các sản phẩm hoặc các công ty nào đó có chứng chỉ do một tổ chức trong nước cụ thể cấp và các sản phẩm hoặc các công ty đó được những người tiêu dùng biết đến là không đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra, thì lúc đó uy tín của hệ thống tiêu chuẩn trong nước cũng như các sản phẩm sẽ bị thiệt hại và có thể gây ra những vấn đề cho những nhà xuất khẩu trong nước.
    5. Hiện nay Brazil là một thành viên duy nhất thuộc các nước đang phát triển, trừ Zimbabuê, ấn Ðộ, Singapo là những nước sắp tới sẽ tham gia. Có những tiếp xúc với Côlumbia là nước đang xây dựng kế hoạch cấp nhãn hiệu môi trường.
    6. Theo Weissman, Mạng lưới cấp nhãn hiệu Sinh thái Toàn cầu.
    7. Xem: Navarrete, R.V. trong ISO/CASCO (1995a).
    8. Thí dụ: “nguyên tắc bậc thang” cho việc cấp nhãn hiệu sinh thái do INEM đề nghị với TC207. Nguyên tắc này định ra trước các cấp trong trong hoạt động môi trường tạo cho các hãng có khả năng đạt được mức đề ra bằng nhiều cách thức khác nhau. Ðiều này tạo thuận lợi cho các công ty giảm được các chi phí. Xem INEM (1994). Hơn nữa INEM đã có đề xuất một cách kiểm toán đơn giản cho các xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

    Thư Mục Tài Liệu

    • Thoả thuận về các cản trở Kỹ thuật đối với Thương mại. Agreement on Technical Barriers to Trade
    •  
    •  

    Ðại cương về tiêu chuẩn quản lý môi trường  toàn cầu.

    Casscio, J. (1994): “A primer on global environmental management  standards”, –

    Environmental Today, June

    Những thách thức và những cơ hội: tầm quan trọng ngày  càng tăng của các tiêu chuẩn

    như là một yếu tố của các thế mạnh cạnh tranh  của một nước trong thị trường toàn cầu.

    Dahlman, C.J.(1992):  “Challenges and Opportunities: The increasing importance of

    standards as an  element of a country’s competitive positions in the global market place”,

    Paper for the World Bank/ISO Seminar, Washington, D.C.

    • Bảo vệ Môi trường ( 1994)

    Environmental Protection (1994): The Appeal of ISO and World Standards. April

    • GATT ( 1994): Báo cáo trình bày tại Hội nghị GATT về Thương mại, Môi trường và Phát triển bền vững.

    GATT (1994): Paper presented at the GATT Symposium on Trade, Environment and

    Sustainable Development, TE  009, July.

    • Cấp nhãn hiệu môi trường – Ði ều khác nhau giữa các kế hoạch và việc chúng có tác động tới thương mại quốc tế là gì?

    Henry, J. (1994): Environmental Labeling – What is the difference between schemes and will they have an impact on world trade? PASC Environmental Forum, Bangkok.

    • So sánh ISO 14000 và Kế hoạch Quản lý và Kiểm toán môi trường Châu Âu. Hillary, R.(1995): ISO 14001 and EMAS Compression, Centre for Environmental Technology, London.
    • Ðề xuất về một nguyên tắc chung mới cần được áp dụng vào các chương trình cấp nhãn hiệu sinh thái.

    INEM (1994a): Proposal for a  new general principle to be applied to Eco-labelling

      programmes,  ISO/TC207/SC3.  
    Các mối quan hệ thương  mại quốc tế của các tiêu chuẩn Môi trường thống nhất.
      INEM (1994a): Intentional Trade Applications of Unified Environmental  Standards,
      PASC Environment Forum, Bangkok.  
    Cập nhật các hệ thống Môi trường Quốc tế: 1/1995  đến 8/1995.
      International Environmental Systems Update: January 1995 to  August 1995.
    Các hệ thống quản lý môi trường – Hướng dẫn chung về các nguyên tắc, Hệ thống và
      Kỹ thuật hỗ  trợ.    
      ISO (1995): Environmental Management Systems – General Guidelines on Principles,
      Systems and Supporting  Techniques, Committee Draft ISO/CD 14000.
    Các hệ thống quản lý môi trường – Cụ thể hoá cho  hướng dẫn sử dụng.
      ISO (1995a): Environmental Management Systems –  Specification with Guidance for
      use, Committee Draft ISO/CD 14001.2.  
    Hướng dẫn kiểm toán Môi trường – các chỉ tiêu về trình độ chuyên môn đối với kiểm
      toán viên môi  trường.    
      ISO ( 1995b): Guidelines for  Environmental Auditing – Qualification criteria for
      environmental auditors,  Committee Draft ISO/CD 14012. 1-2.
    Hướng dẫn kiểm toán Môi trường – các thủ tục kiểm toán – Phần I: Kiểm toán các hệ
      thống quản lý  môi trường.    
      ISO ( 1995c): Guidelines for  Environmental Auditing – Audit procedures – part I:
      Auditing of Environmental Management Systems, Committee Draft ISO/CD 14012. l-
    Hướng dẫn kiểm toán Môi trường – các nguyên tắc chung về kiểm toán môi trường.
      ISO (1995d): Guidelines for Environmental Auditing – General  principles of
      environmental Auditing, Committee Draft ISO/CD 14010.2.
    Quản lý Môi trường – Ðánh giá chu trình sống – Các  nguyên tắc và hướng dẫn.
      ISO (1995e): Environmental Management – Life Cycle Assessment – Principles and
      Guidelines, Committee Draft ISO/CD 14040.2  
    Cấp nhãn hiệu môi  trường – Những xác nhận môi trường tự tuyên bố – những thuật ngữ
      và  các định nghĩa.    
      ISO (1995f): Environmental  Labelling – Self declaration environmental claims – teens
      and definitions,  Committee Draft ISO/CD 14021.
    Cấp nhãn hiệu môi  trường – Các chương trình thực hiện – Các nguyên tắc hướng dẫn,
      các thực tế và thủ tục cấp chứng chỉ về đa chỉ tiêu.
      ISO (1995g): Environmental Labelling – Practitioner programs  – Guiding principles,
      prelacies and certification procedures of multiple criteria, Committee Draft ISO/CD
      14020.    
    Chương trình ISO cho các nước đang phát triển 1995-1997.
    • Thành viên.

    ISO (1995i): Membership.

    • Cẩm nang phát triển No 1 – Xây dựng và quản lý cơ quan tiêu chuẩn quốc gia
    •  

    ISO (1994): Development Manual No 1 – Establishment and  management of a national

    standards body.

    Cẩm nang phát triển No 7 – Sự tham gia vào quá trình  tiêu chuẩn hoá quốc tế.

    ISO (1992): Development Manual No 7 – Participation  in intentional standardization.

    •  

    Cẩm nang phát triển No 6 –  áp dụng các tiêu chuẩn.

    ISO (1991):  Development Manual No 6 – Application of standards.

    • Ðánh giá sự tuân thủ, 3rd ed., Geneva.

    ISO/IEC  (1995): Conformity Assessment, 3rd ed., Geneva.

    •  
    •  

    Tài liệu công tác, Cuộc họp lần thứ 11,  Giơnevơ.

    ISO/CASCO (1995) Working documents, 11 th meeting, Geneva.

    Tài liệu Hội nghị, Ðánh giá sự tuân thủ đối với Quản  lý môi trường.

    ISO/CASCO (1995a): Proceedings, Conformity Assessment  for Environmental

    Management, ISO/CASCO-ISO/TC207 workshop, Export Quality, No  44.

    • Thoả thuận cuả Tổ chức Thương mại Quốc tế về các hàng rào kỹ thuật đối với Thương

    mại – những  quan hệ đối với các nước đang phát triển.

    ITC (1995): The World Trade Organization Agreement for Technical Barriers to Trade – implications for developing countries, Export Quality No 44.

    • Cấp nhãn hiệu sinh thái và Thương mại quốc tế.

    ITC (1994):  Eco-labelling and Intentional Trade, Export Quality No.42.

    • Hệ thống quản lý chất lượng

    ITC (1994a): Quality  Management Systems, Export Quality No.42.

    • Cấp nhãn hiệu sinh thái và Thương mại quốc tế.

    Jha, V. et al. (1993): Ecolabelling and Intentional Trade, UNCTAD, Discussion paper No.70.

    • NSF Quốc tế – đăng ký ISO 9000

    NSF International (1995): NSF  International – The ISO  9000 register you can count on.

    • Ðầu tiên đó là ISO 9000, bây giờ là ISO 14000, Tháng Sáu.

    Quality Digest (1994): First there  was ISO 9000, now there is ISO 14000, July.

    • Ðến ISO 9000: Quản lý môi trường.
    •  
    •  

    The Total Quality Review  (1994): Beyond ISO 9000: Environmental Management”,

    July/August.

    Các chính sách môi  trường cấp bách mới đây nhất có tác động tới thương mại: Trang

    luận sơ  bộ.

    UNCTAD (1995): Newly Emerging Environmental Policies with a Possible  Trade

    Impact: A preliminary Discussion,  TD/B/WG.6/9.

    Các lĩnh vực Thương  mại, Môi trường và Phát triển trong các chương trình thiết lập và

    cấp  nhãn hiệu sinh thái.

    UNCTAD (1995a):  Trade, Environment and Development Aspects of Establishing and

    Operating Eco-  labelling Programmes, TD/B/WG.6/9.

    • Báo cáo về hội thảo chuyên đề về cấp nhãn hiệu sinh thái và Thương mại quốc tế, Giơnevơ.

    UNCTAD (1994a): Report on the workshop on Eco-labelling and Intentional Trade, Geneva, TD/B/WG.6/5.

    • Bản tin UNCTAD, Số 27/28

    UNCTAD (1994b): UNCTAD Bulletin,  No. 27/28.

    • Hợp tác quốc tế về cấp nhãn hiệu sinh thái và các chương tnnh cấp chứng nhận sinh thái.

    UNCTAD (1994c): International Corporation on Eco-labelling and Eco-Certification Programmer, TD/B/WG. 6/2.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quan trắc và Phân tích môi trường


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-Th%E1%BB%B1c-Tr%E1%BA%A1ng-%C3%94-Nhi%E1%BB%85m-M%C3%B4i-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%E1%BB%9E-Vi%E1%BB%87t-Nam-Hi%E1%BB%87n-Nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu khoa học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    Đề Tài : Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Hiện Nay.

    I.                   Xác định đối tượng nghiên cứu :

    • Đối tượng nghiên cứu ở đây là “ Môi Trường Việt Nam hiện nay “

    II.               Các yêu cầu cần đáp ứng :

    1.      Tính cấp thiết của đề tài :

    • Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hằng ngày, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm. Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, tình trạng ô nhiễm càng lúc càng trở nên trầm trọng. Điều này khiến nọi người ai cũng phải suy nghĩ…

    2.      Mục đích nghiên cứu :

    • Bài nghiên cứu sẽ làm rõ những thực trạng về vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay,đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó để từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay

    3.      Nhiệm vụ nghiên cứu :

    • Tìm kiếm và xử lý thông tin về vấn đề ô nhiễm môi trường Việt Nam hiện nay.
    • Thực trạng ô nhiễm môi trường việt nam hiện nay.
    • Đưa ra một số giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường Việt Nam.

    4.      Phạm vi nghiên cứu :

    • Môi trường Việt Nam ( Đất,Nước,Không Khí,….).
    • Thời Gian : Đầu thế kỉ XXI trở lại đây.

    III.            Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu :

    • Thu thập tài liệu qua Internet,qua sách báo,thực trạng hiện tại của môi trường bằng quan sát.
    • Sử dụng phương pháp tổng hợp,phân tích,xử lý số liệu,đánh giá,so sánh…

    IV.             Nội Dung :

    Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề đáng lo ngại không những đối với các nước phát triển mà còn là sự thách thức đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.Thực trạng diễn ra ngành càng cấp bách và nan giải,chính vì vậy chúng ta cần có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay ở nước ta.

    1.      Ô nhiễm môi trường nước :

     

    • Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
    • Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
    • Thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 – 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép .
    • Thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
    • Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.
    • Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân. Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
    • Nguyên Nhân : Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước. Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)

    2.      Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí :

    • Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng “nhà kính”, mưa axít và suy giảm tầng ôzôn),… Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng.

     

    • Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí

     

    • Ô nhiễm bụi : Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi trầm trọng, tới mức báo động. Các khu dân cư ở cạnh đường giao thông lớn và ở gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn.Nồng độ bụi trong các khu dân cư ở xa đường giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu công viên cũng đạt tới xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép.

     

    • So sánh với tiêu chuẩn Việt Nam, tại hầu hết các khu vực của Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, nồng độ bụi PM10 các năm gần đây đều vượt quy chuẩn cho phép (50 µg/m3),

     

     Diễn biến nồng độ bụi PM10 trung bình năm trong không khí xung quanh một số đô thị từ năm 2005 đến 2009

    Ghi chú : – Tp. Hồ Chí Minh: số liệu trung bình của 9 trạm tự động liên tục trong thành phố

    – Hà Nội, Đà Nẵng: số liệu từ một trạm tự động liên tục tại 1 vị trí của mỗi thành phố

     

              Nguồn: TTKTTV Quốc gia, 2010; Chi cục BVMT Tp. Hồ Chí Minh, 2010

     

     

    • Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá trình thi công xây dựng nhà cửa, đường sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 – 20 lần.
    • Trên Hình V.5 giới thiệu diễn biến nồng độ bụi trong không khí từ năm 1995 đến hết năm 2002 ở các khu dân cư bên cạnh các khu công nghiệp.
     
    • Xét Hình V.5 ta thấy, tuy công nghiệp và đô thị trong thời gian qua phát triển nhanh, nhưng ô nhiễm bụi trong không khí ở các khu dân cư gần một số khu công nghiệp cũ trong các năm gần đây (từ năm 1995 đến nay) có chiều hướng giảm dần, có thể đây là kết quả của việc kiểm soát các nguồn thải công nghiệp ngày càng tốt hơn. Riêng ở gần Cụm Công nghiệp Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) và Khu Công nghiệp Biên Hoà I thì có chiều hướng tăng lên. Ngược lại ô nhiễm bụi ở khu dân cư thông thường trong đô thị ngày càng tăng hơn, có thể là do hoạt động giao thông và xây dựng trong đô thị ngày càng gia tăng.

     

    • Ô nhiễm khí SO2 : Nói chung, nồng độ khí SO2 trung bình ở các đô thị và khu công nghiệp nước ta còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép.Trong các thành phố, thị xã đã quan trắc thì ở các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu, Long An có nồng độ khí SO2 lớn nhất, nhưng vẫn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 2 lần, ở các thành phố khác còn lại, như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho,… nồng độ khí SO2 trung bình ngày đều dưới 0,1 mg/m3, tức là thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần.
    §  Ô NHIỄM KHÍ SO2, NO2 VÀ CO : Nồng độ trung bình 1 giờ, cũng như trung bình ngày của khí SO2, NO2 và CO trong không khí ở gần hầu hết các đô thị Việt Nam đều nhỏ hơn hoặc xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là chưa bị ô nhiễm khí SO2, NO2 và CO. Tuy vậy ở các nút giao thông chính và ở gần một số khu công nghiệp, một số xí nghiệp nung gạch ngói, nồng độ các khí này đã xấp xỉ bằng hoặc lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, có chỗ tới 2 – 4 lần. Thí dụ như nồng độ khí SO2 ở gần khu lò gạch thôn 6, thôn 7 xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, lớn hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần; ở các khu sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh Hà Nam (Công ty Ba Nhất, Xi măng 77, Xí nghiệp Gạch ngói Bình Lục, xã Mộc Bắc): lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 4 lần; ở gần các Nhà máy Xi măng Sài Sơn, Gạch Vân Đình (Hà Tây): lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,3 – 1,5 lần; ở Khu Công nghiệp Thái Nguyên và Khu Công nghiệp Sông Công: lớn hơn tiêu chuẩn cho phép khoảng 1,2 lần; ở thị trấn Đông Triều (Quảng Ninh), nồng độ khí SO2 xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép.
    • Ô nhiễm các khí CO, NO2 : Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, nồng độ khí CO trung bình ngày dao động từ 2 – 5 mg/m3, nồng độ khí NO2 trung bình ngày dao động từ 0,04 – 0,09mg/m3, chúng đều nhỏ hơn trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là ở các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, nói chung chưa có hiện tượng ô nhiễm khí CO và khí NO2. Tuy vậy, ở một số nút giao thông lớn trong đô thị nồng độ khí CO và khí NO2 đã vượt trị số tiêu chuẩn cho phép, như ở ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ (thành phố Hồ Chí Minh) trị số trung bình ngày của năm 2001: 0,19, gấp 1,9 lần trị số tiêu chuẩn cho phép, nồng độ CO năm 2001: 15,48 gấp 3,1 lần trị số tiêu chuẩn cho phép; tương tự, năm 2002 nồng độ khí NO2 = 0,191mg/m3 và khí CO = 12,67mg/m3.

     

     

    Biểu đồ : Diễn biến nồng độ CO tại các tuyến đường phố của một số đô thị 2002-2006

     

                    Nguồn: Chi cục BVMT TP. Hồ Chí Minh, Cục BVMT, 2007

     

     

    • Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị : Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ở nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1-7-2001. Số liệu quan trắc ô nhiễm giao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội trung bình năm 2002 giảm đi khoảng 40 – 45% so với cùng thời kỳ năm trước; tương tự, ở thành phố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng 50%.
    • Nguyên Nhân gây ô nhiễm không khí :
    • Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp
    • Công nghiệp hóa càng mạnh thì nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng. Ta thấy nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25 năm tới còn tiếp tục tăng cao (Biểu đồ 3). Nếu các Tiêu chuẩn về chất lượng xăng dầu không được thắt chặt thì chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí đô thị rất nghiêm trọng. Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phát thải các chất độc hại như CO, hơi xăng dầu (HmCn, VOC), SO2, chì, BTX. Phát thải những chất này liên quan chặt chẽ đến chất lượng xăng dầu. Trong cơ cấu tiêu thụ xăng dầu của quốc gia thì GTVT chiếm tỷ trọng lớn nhất (Biểu đồ 4), là nguồn phát thải khí ô nhiễm lớn nhất trong đô thị.

     

    Biểu đồ 3. Nhu cầu xăng dầu của Việt Nam những năm qua và dự báo cho đến năm 2025

     

       Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành dầu khí Việt Nam giai đoạn 2006-2015

     

    – Định hướng đến năm 2025, Bộ Công nghiệp, 7/2007

     

     

    • Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải
    • Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạt động xây dựng là những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các khu đô thị. Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70%. Xét các nguồn thải gây ra ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao gồm cả khu vực đô thị và khu vực khác), ước tính cho thấy, hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs.
    • Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2007, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm 70%. Xét theo các nguồn thải gây ô nhiễm trên toàn quốc, hoạt động giao thông đóng góp khoảng 85% lượng CO, 95% VOCs.- Mô tô, xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất, chiếm 95% về số lượng và đáp ứng 90% nhu cầu đi lại tại các thành phố lớm. Hàng năm có khoảng 3 triệu mô tô, xe máy và 150.000 ô tô mới tham gia giao thông. Mô tô, xe máy lưu hành chưa được kiểm soát khí thải. Đa số mô tô, xe máy không được bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình sử dụng nên mức phát thải và tiêu hao lớn. Ý thức bảo vệ môi trường kém. Đa số dân không hiểu rõ tác hại của khí thải và tác dụng của bảo dưỡng, sửa chữa đến giảm khí thải độc hại và tiết kiệm tiêu hao nhiên liệu. Tính đến 2010 có 1.394.858 xe ô tô đang lưu hành trong đó xe ô tô con 617.473, ô tô khách 163.514 và ô tô tải 660.324. Tổng số xe mô tô, xe máy đang lưu hành xấp xỉ 33.000.000 chiếc.

    Bảng 3. Ước tính thải lượng các chất gây ô nhiễm từ các nguồn thải chính của Việt Nam năm 2005 (Đơn vị: tấn/năm)

    TT Ngành sản xuất CO NO2 SO2 VOCs
    1 Nhiệt điện 4.562 57.263 123.665 1.389
    3 Sản xuất công nghiệp, dịch vụ, sinh hoạt 54,004 151,031 272,497 854
    4 Giao thông vận tải 301.779 92.728 18.928 47.462
      Cộng 360.345 301.022 415.090 49.705

    Nguồn: Cục BVMT, 2006

    • Biểu đồ 6 cho thấy tỷ lệ phát thải các khí ô nhiễm của các loại phương tiện khác nhau. Xe máy là nguồn đóng góp chính các khí như CO, HmCn và VOCs. Trong khi đó, xe tải lại thải ra nhiều SO2 và NOx.

     

      Biểu đồ 6. Tỷ lệ phát thải chất gây ô nhiễm do các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Việt Nam

    Nguồn: Hội thảo Nhiên liệu và xe cơ giới sạch ở Việt Nam, Bộ GTVT và Chương trình môi trường Mỹ Á, 2004

     

    • Nguồn ô nhiễm không khí do hoạt động xây dựng

    Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường sá, cầu cống,… rất mạnh và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị. Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khí xung quanh, đặc biệt là ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động xây dựng vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới 10 – 20 lần.

    • Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân

    Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than. Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (Gas). Đun nấu bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Trong những năm gần đây nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gas thay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả.

    Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002, và năm 2003, ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đặc biệt là ở các thành phố và thị xã của các tỉnh phía Nam, một số gia đình có mức sống cao chuyển từ đun nấu bằng than, dầu sang đun nấu bằng bếp gas ngày càng nhiều. Bếp gas gây ô nhiễm không khí ít hơn rất nhiều so với đun nấu bằng than, dầu. Ngược lại, do giá dầu hoả và giá điện tăng lên đáng kể, rất nhiều gia đình có mức thu nhập thấp đã chuyển sang dùng bếp than tổ ong với số lượng lớn, bình quân mỗi gia đình tiêu thụ khoảng 2kg than/ngày, gây ra ô nhiễm không khí cục bộ nặng nề, nhất là lúc nhóm bếp và ủ than.

    3.      Ô nhiễm môi trường đất :

    • Không chỉ có môi trường nước mà môi trường không khí và môi trường đất cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Về môi trường đất, kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Như tại cụm công nghiệp Phước Long (Bình Phước) hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần. (Cr,Cd,As: các chất hoá học độc hại) Thuốc bảo vệ thực vật cũng gây ảnh hưởng đến đất. Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
    • Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2005 :
    • Ô nhiễm do sử dụng phân hóa học: sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4, KCl, super photphat còn tồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như ion Al3+, Fe3+, Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suất cây trồng.
    • Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối với mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất. Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg ai/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
    • Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt đọng công nghiệp: kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Như tại cụm công nghiệp Phước Long hàm lượng Cr cao gấp 15 lần so với tiêu chuẩn, Cd cao từ 1,5 đến 5 lần, As cao hơn tiêu chuẩn 1,3 lần.
    • Nguyên nhân chính gây ô nhiễm đất ở Việt Nam là :

     

    1. Ô nhiễm đất do sử dụng phân hóa học, phân tươi
    2. Ô nhiễm đất do hóa chất BVTV
    3. Ô nhiễm đất do nước thải sinh hoạt đô thị và khu công nghiệp, làng nghề thủ công

    ……………………………………………………………………………………

    4.      . Ngoài các loại ô nhiễm chính trên,Việt Nam chúng ta còn phải đối mặt với 1 số ô nhiễm khác cũng khá cấp bách hiện nay là :

     

    • Ô Nhiễm Tiếng Ồn : Cùng với sự phát triển đô thị là sự tăng trưởng giao thông vận tải trong đô thị. Giao thông vận tải là nguồn chính gây ô nhiễm tiếng ồn đô thị.
    • Kết quả quan trắc từ năm 2000 đến năm 2007 về mức ồn tương đương trung bình ở bên cạnh đường giao thông trong giờ ban ngày (từ 6 giờ sáng đến 18 giờ chiều) của các đường phố chính ở 13 thành phố, thị xã cho thấy phần lớn mức ồn ở cạnh các đường giao thông là từ 70 đến 80dBA, về ban đêm mức ồn giao thông nhỏ hơn 70dBA. Mức ồn giao thông cao nhất là 82 – 85 dBA và xảy ra ở ngã tư Điện Biên Phủ – Đinh Tiên Hoàng (thành phố Hồ Chí Minh). Các đường phố có mức ồn khoảng 80dBA là Quốc lộ 5 tại Sài Đồng (Hà Nội), đường Nguyễn Trãi (Vinh), cạnh Nhà máy Ôxy Đồng Nai (Biên Hoà II), ngã tư Phú Lợi thị xã Thủ Dầu Một, cổng Bệnh viện Quân đoàn 4 (Bình Dương). Đa số các đường phố còn lại có mức ồn từ 65 đến 75dBA.
    • Ô Nhiễm Ánh Sáng : Ô nhiễm ánh sáng là hiện tượng lạm dụng ánh sáng trên mức cần thiết so với khả năng chịu đựng ánh sáng của con người và môi trường. Ô nhiễm ánh sáng đang là nguy cơ đối với cuộc sống hiện đại.
      Xã hội công nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào ánh sáng nhân tạo vì nó là một yếu tố quan trọng góp phần đắc lực trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Ánh sáng được dùng để chiếu sáng tại các địa điểm công cộng, văn phòng, nhà máy, khu dân cư… nhằm đáp ứng và phục vụ cho các hoạt động của xã hội như học tập, làm việc, an ninh, vui chơi, giải trí… Tuy nhiên, khi ánh sáng được sử dụng không hiệu quả, gây ra hiện tượng sáng quá mức lại chính là nguyên nhân của vấn đề ô nhiễm ánh sáng

    Ô nhiễm ánh sáng gây ra các tác hại ở các dạng như: Lãng phí năng lượng và tác động đến môi trường toàn cầu. Gây rối loạn các hệ sinh thái (Các loài sinh vật vốn thích nghi với ánh sáng và bóng tối tự nhiên ),..v.v…

    ………

    • Biện Pháp Cải Tạo và Hạn Chế Ô nhiễm môi trường :

    – Sau đây là một số biện pháp chính giúp cải tạo cũng như hạn chế nhất ảnh hưởng xấu đối với môi trường hiện nay :

    1. Giáo dục nhận thức của mọi người :

    – Truyền thông nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa, đạo đức môi trường cho mọi người dân đô thị, đặc biệt là đối với những người lái xe ô tô, xe máy và chủ các cơ sở sản xuất. Chỉ bằng cách sử dụng các nguồn năng lượng có thể tái tạo lại một cách hiệu quả, chúng ta có thể biến mình thành những người bảo vệ môi trường tốt nhất.

    1. Phát triển công nghiệp xanh

    – Phát triển công nghệ sản xuất sạch hơn ở tất cả các khu công nghiệp và cơ sở công nghiệp ở xung quanh thành phố (phát triển công nghiệp xanh);

     

    1. Cải tạo, nâng cấp giao thông đô thị trở thành giao thông đô thị xanh

    – Cải tạo quy hoạch hệ thống giao thông đô thị sao cho đáp ứng các chỉ tiêu: Tỷ lệ diện tích giao thông động đạt 15-20% tổng diện tích xây dựng đô thị, tỷ lệ diện tích giao thông tĩnh đạt 3-6%, mật độ đường đạt khoảng 6km/1km2;

    – Phát triển giao thông công cộng (đạt trên 40%), giao thông đi bộ và đi xe đạp trong thành phố;

    – Thắt chặt các tiêu chuẩn môi trường có liên quan (tiêu chuẩn xăng dầu, tiêu chuẩn khí thải của các phương tiện giao thông cơ giới);

    – Tiến hành kiểm soát nguồn thải của các loại xe và cấm vận hành đối với các xe không đạt tiêu chuẩn EURO2 về khí thải.

    – Khuyến khích xe cộ sử dụng nhiên liệu sạch hơn (xe chạy bằng khí hóa lỏng (LPG), khí tự nhiên nén (CNG), ethanol, dầu sinh học) và xe điện.

    – Cấm hoặc giảm lượng xe cá nhân chạy ở khu vực trung tâm thành phố, chỉ dành cho người đi bộ và xe công cộng.

    1. Sử dụng năng lượng ánh sáng
      Năng lượng ánh sáng là năng lượng tự nhiên thừa mứa nhất trên hành tinh của chúng ta. Bằng việc sử dụng công nghệ thích hợp, con người sẽ có thừa năng lượng từ ánh sáng mặt trời để sử dụng.

     

    1. Giữ lượng carbon ổn định
      Giữ khí CO2 không thoát ra khí quyển là cách hữu hiệu làm giảm thiểu hiện tượng nóng lên của trái đất. ( VD : Trồng Rừng,Hạn chế dung năng lượng có thải ra CO2,….)

     

    1. Xây dựng nhà máy dây chuyền
      Nhà Máy – Người Tiêu Dùng – Tái Chế – Nhà Máy Xử Lý Rác Thải. Mô hình dây chuyền như vậy sẽ tránh khỏi được ô nhiễm môi trường.

     

    1. Hạn Chế khí thải,nước thải gây ô nhiễm :
      Các phương tiện giao thong cần chuyển đổi sang hình thức dung năng lượng tiết kiệm năng lượng hoặc dùng năng lượng sạch. Các nhà máy lên đầu tư và nâng cấp các thiết bị máy móc cũ nát gây ô nhiễm môi trường. Chú trọng đầu tư tìm kiếm nguồn năng lượng mới

     

    1. Giảm dân số
      Dân số VN hiện nay khoảng trên 86 triệu người đang có chiều hướng tăng cao không lường trước. Theo các chuyên gia, dân số đông ảnh hưởng rất xấu đến môi trường sống cũng như sinh hoạt cộng đồng.
    2. Phát Triển Nông Nghiệp để đáp ứng nhu cầu dân số :

    Nâng cao lợi ích của sản xuất nông nghiệp như đảm bảo một số lượng nông nghiệp tương xứng, đáp ứng được nhu cầu sống của lượng dân số mà hệ thống đó hướng tới

    1. Xấy dựng luật pháp,chế tài mạnh mẽ để xử lý vi phạm ô nhiễm môi trường.

     

     

     

     

    Tài Liệu Tham Khảo

    1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo Môi trường Quốc gia, năm 2007. Môi trường không khí đô thị Việt Nam.
    2. http://vea.gov.vn
    3. http://www.moitruong.com.vn
    4. http://maxreading.com

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quan trắc và Phân tích môi trường

    Quan trắc và Phân tích môi trường

    Quan trắc và Phân tích môi trường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập môn Kế toán Ngân hàng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quan trắc và Phân tích môi trường

    Lời giới thiệu

     

    Quan trắc và phân tích môi trường (QT&PTMT) là một hoạt động quan trọng của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tại các Điều 37 và 38 của Luật Bảo vệ môi trường đã quy định rằng, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên Môi trường) chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và một trong những nội dung cơ bản của công tác này là: “Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường.”

    Để thực hiện các quy định trên của Luật Bảo vệ môi trường, từ năm 1994, Bộ KHCN&MT ( nay là Bộ Tài nguyên & Môi trường) đã từng bước xây dựng Mạng lưới các trạm QT&PTMT quốc gia. Mạng lưới này được xây dựng trên cơ sở phối hợp liên bộ nhằm tận dụng được các năng lực sẵn có về QT&PTMT tại một số bộ, ngành, địa phương và nhanh chóng đưa được Mạng lưới vào hoạt động phục vụ kịp thời các yêu cầu cấp bách về quản lý môi trường. Ngoài Mạng lưới QT&PTMT quốc gia thì vài năm trở lại đây, hàng chục địa phương trong nước cũng bắt đầu xây dựng và bước đầu đưa vào hoạt động các trạm QT&PTMT địa phương. Cùng với sự phát triển của hoạt động QT&PTMT thì nhu cầu về bộ tài liệu pháp quy hướng dẫn việc bảo đảm và kiểm soát chất lượng của hoạt động này ngày càng trở nên bức xúc.

    Bản hướng dẫn này được soạn thảo như là một trong các nỗ lực của Cục Bảo vệ môi trường, Bộ TN&MT, trong việc đảm bảo và kiểm soát chất lượng của hoạt động QT&PTMT nhằm đưa ra được các số liệu quan trắc có độ tin cậy và chính xác cao.

    Bản hướng dẫn đầy đủ sẽ bao gồm nhiều thành phần môi trường khác nhau, bản hướng dẫn đầu tiên này soạn thảo cho quan trắc môi trường nước lục địa bao gồm 2 chương :

    Chương 1 – Những vấn đề chung, bao gồm các khái niệm cơ bản về quan trắc môi trường và hoạt động đảm bảo và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường

    Chương 2 – Hướng dẫn cụ thể về đảm bảo và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường nước lục địa.

    Đối tượng áp dụng Bản hướng dẫn này là tất cả hoạt động QT&PTMT được tiến hành trong Mạng lưới quốc gia và các trạm QT&PTMT địa phương. Bản hướng dẫn cũng có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho hoạt động QT&PTMT của các Bộ/ngành khác.

    Tài liệu này do Cục Bảo vệ môi trường chủ trì biên soạn với sự tham gia của các chuyên gia về quan trắc và phân tích môi trường thuộc các đơn vị sau:

    1. Trung tâm kỹ thuật môi trường Đô thị và Khu công nghiệp, Đại học Xây dựng Hà Nội
    2. Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, Bộ KHCN
    3. Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội;

    Bản hướng dẫn này được coi như cố gắng ban đầu nhưng rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng và đưa dần vào nề nếp hoạt động QT&PTMT tại Việt Nam. Bộ tài liệu hướng dẫn về QT&PTMT sẽ còn được tiếp tục hoàn thiện và bổ theo yêu cầu của thực tế.

    Do thời gian gấp gáp công tác đảm bảo và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường tại Việt Nam còn rất mới mẻ nên Bản hướng dẫn chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Cục Bảo vệ Môi trường mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực QT&PTMT cũng như các lĩnh vực liên quan để tiếp tục triển khai và hoàn thiện bộ tài liệu quan trọng này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 1

    Những vấn đề chung về bảo đảm và kiểm soát chất lượng trong quan trắc và phân tích môi trường

    I.1. Một số khái niệm:

    1. 1. Quan trắc môi trường (QTMT) là một quá trình đo đạc thường xuyên một hoặc nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hoá học và sinh học của các thành phần môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính xác cao và có thể đánh giá được diễn biến chất lượng môi trường
    2. Bảo đảm chất lượng (QA: Quality Assurance) trong quan trắc môi trường là một hệ thống tích hợp các hoạt động quản lý và kỹ thuật trong một tổ chức nhằm bảo đảm cho hoạt động quan trắc môi trường đạt được các tiêu chuẩn chất lượng đã quy định.
    3. Kiểm soát chất lượng (QC: Quality Control) trong quan trắc môi trường là việc thực hiện các biện pháp để đánh giá, theo dõi và kịp thời điều chỉnh để đạt được độ chính xác và độ tập trung của các phép đo theo yêu cầu của các tiêu chuẩn chất lượng nhằm bảo đảm cho hoạt động quan trắc môi trường đạt các tiêu chuẩn chất lượng này.
    4. Kế hoạch quan trắc môi trường là một chương trình quan trắc được lập ra nhằm đáp ứng một số mục tiêu nhất định, trong đó bao gồm những yêu cầu về thông tin, các thông số, các địa điểm, tần suất và thời gian quan trắc, các yêu cầu về trang thiết bị, phương pháp phân tích, đo, thử; yêu cầu về nhân lực và kinh phí thực hiện.

    Các hoạt động QA/QC gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau và một số nội dung giống nhau, cùng diễn ra trong khuôn khổ hệ thống quản lý chất lượng của tổ chức, với định nghĩa hệ thống quản lý chất lượng là cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, các thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng.

    II.2. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc và phân tích môi trường

    1.2.1. QA/QC trong xác định nhu cầu thông tin

    Đảm bảo chất lượng chỉ có thể thực hiện tốt khi các yêu cầu về sản phẩm được xác định rõ ràng, cụ thể. Các yêu cầu về quan trắc và đánh giá là nhu cầu có tính chất thông tin (nhu cầu thông tin). Nhu cầu thông tin là điểm khởi đầu trong chu trình quan trắc và phân tích môi trường.

    Nhu cầu thông tin chung chung là không có ý nghĩa. Nhưng có những yếu tố làm phức tạp việc xác định các nhu cầu thông tin, đặc biệt là trong hợp tác quốc tế về quan trắc và đánh giá môi trường. Ví dụ: thiếu các thuật ngữ, định nghĩa cần thiết; sự gò bó do chuyên ngành của các chuyên gia; những thoả thuận phải đạt được…

    Nhu cầu thông tin phải phản ánh chính sách hiện hành về quản lý môi trường và phải bao hàm được những cân nhắc, xem xét có tính chất lâu dài. Cơ sở đầu tiên để xác định nhu cầu thông tin là các luật và các văn bản thoả thuận ở tầm quốc gia và quốc tế.  Ngoài ra, những yêu cầu phục vụ việc soát xét các quy định, việc xây dựng một chính sách mới, quan điểm của các nhà quản lý hiện hành, cũng là những cơ sở để xác định nhu cầu thông tin.

     

    Hình 1. Các bước chủ yếu trong quan trắc và phân tích môi trường

    1.2.2. QA/QC trong xác định chương trình quan trắc

    Từ nhu cầu thông tin, phải xác định mục tiêu và nhu cầu quan trắc cụ thể, tức là phải xác định một chiến lược cho việc quan trắc.

    Chiến lược quan trắc phải quyết định rõ loại quan trắc  cần thiết: vật lý, sinh học, hoá học, thuỷ văn, chất thải hoặc cảnh báo sớm … Phải qui định các thông số cần quan trắc, độ chính xác và tin cậy cần thiết v.v… Còn việc thiết kế mạng lưới sẽ xác định nó phải được quan trắc như thế nào. Chiến lược quan trắc cũng phải bao gồm cả việc phân tích số liệu và báo cáo, vì những công việc này có thể có ảnh hưởng tới các yêu cầu của việc thiết kế mạng lưới quan trắc. Chiến lược quan trắc phải được làm thành tài liệu và cần được những người hay cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt

    Các thành phần của một báo cáo chiến lược quan trắc là:

    1. Các nhu cầu thông tin bao gồm trong chiến lược quan trắc và phần nhu cầu thông tin sẽ không bao gồm trong chiến lược quan trắc.
    2. Khái niệm về hệ thống quan trắc và đối tượng quan trắc (vật lý, hoá học, sinh học, thuỷ văn, chất thải…), các thông số cần quan trắc và các điều kiện ban đầu để lựa chọn địa điểm và tần suất lấy mẫu đối với từng biến số (như khoảng cách lớn nhất/ bé nhất tính từ đường biên; độ tin cậy…).
    3. Khái niệm về hệ thống đánh giá, ví dụ như các phương pháp tính toán được sử dụng (để tính toán mức độ đe doạ hoặc khuynh hướng); các tiêu chuẩn quốc tế phù hợp nhất; việc sử dụng đồ thị, công cụ thống kê và các công cụ khác để trình bày số liệu.
    4. Các khía cạnh về mặt tổ chức: tổ chức nào sẽ chịu trách nhiệm về mặt nào của hệ thống quan trắc; những thay đổi cần thiết trong tổ chức, những khó khăn cho việc thực hiện hệ thống quan trắc v.v… sự hợp tác giữa các bộ phận, cơ quan thực hiện.
    5. Kế hoạch để thiết kế và thực hiện mạng lưới quan trắc; những điều kiện ban đầu là gì, kế hoạch của những bước tiếp theo và kế hoạch tài chính.
    6. Sự phân tích về các rủi ro; những vấn đề có thể dẫn tới các thất bại của hệ thống quan trắc và nêu lên biện pháp khắc phục.

    1.2.3. QA/QC trong thiết kế mạng lưới

    Thiết kế mạng lưới phải được một nhóm chuyên gia có kiến thức đa ngành thực hiện. Thiết kế mạng lưới cần xác định thông số nào phải quan trắc, quan trắc ở địa điểm nào và với tần suất bao nhiêu. Trong thiết kế mạng lưới cũng cần đề cập tới việc sử dụng các phương pháp lấy mẫu, các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm và các phương pháp xử lý số liệu.

    Cần đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng thống kê trong thiết kế mạng lưới. Việc sử dụng thống kê học có thể làm giảm đến mức tối thiểu các địa điểm thông qua mối tương quan giữa các trạm. Thống kê học cũng là cơ sở để chọn lựa giữa hai phương án: nhiều địa điểm với tần suất thấp hoặc ít địa điểm với tần suất cao.

    Một vấn đề quan trọng trong thiết kế mạng lưới là xác định tính hiệu quả của thông tin nhận được từ mạng lưới. Cần có sự hiểu biết chi tiết về chi phí và hiệu quả của mạng lưới đã thiết kế.

    Thiết kế mạng lưới phải được tài liệu hoá bằng một văn bản. Văn bản này phải chuyển tới những người phụ trách và quản lý chiến lược quan trắc quốc gia. Từ văn bản này họ sẽ rút ra kết luận là mạng lưới quan trắc có nằm trong chiến lược và mục tiêu quan trắc chung hay không.

    Báo cáo thiết kế mạng lưới gồm các phần sau:

    1. Giải thích phần chiến lược quan trắc được đề cập đến trong thiết kế mạng lưới và phần của thiết kế mạng lưới không có trong chiến lược quan trắc.
    2. Mô tả mạng lưới quan trắc: các biến số cần đo; các địa điểm lấy mẫu và tần suất; việc sử dụng các tiêu chuẩn, ví dụ TCVN; ISO…
    3. Cách thức trình bày và thể hiện các kết quả.
    4. Các khía cạnh về mặt tổ chức. Ví dụ như nhiệm vụ của các tổ chức tham gia đối với từng bước khác nhau trong chương trình quan trắc: thu thập, xử lý và vận chuyển mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm; xử lý số liệu; phân tích số liệu; báo cáo…
    5. Kế hoạch thực hiện của mạng lưới quan trắc.
    6. Các kết quả phân tích chi phí- hiệu quả; mô tả các tranh luận để ra quyết định.
    7. Phân tích các rủi ro. Cái gì sẽ xẩy ra nếu có sai sót và các biện pháp nào có thể thực hiện để tránh hoặc giảm thiểu các thiệt hại.

    1.2.4. QA/QC trong hoạt động tại hiện trường

    Hoạt động tại hiện trường bao gồm lấy mẫu và quan trắc hiện trường. Tuỳ thuộc vào thành phần môi trường mà có các phương pháp tiến hành khác nhau.

    1.2.5. QA/QC trong hoạt động ở phòng thí nghiệm

    QA/QC phòng thí nghiệm chính là việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong đó có sự đan xen, kết hợp các hoạt động QC, theo yêu cầu của ISO/IEC Guide 25 – TCVN 5958: 1995, Yêu cầu chung về năng lực của phòng thử nghiệm/hiệu chuẩn hiện nay đã được chuyển thành một tiêu chuẩn quốc tế mang tên ISO/IEC 17025: 1999, tương ứng với TCVN ISO/IEC 17025: 2001.

    1.2.6. QA/QC trong xử lý số liệu

    Trong một chương trình quan trắc, số liệu thu được để sử dụng thường là rất lớn. Để thuận lợi cho sử dụng, hầu hết các số liệu ngày nay đều được lưu giữ trong các file số liệu của máy tính. Có hai loại số liệu được lưu giữ. Một loại đã được lưu giữ sẵn trong máy tính và một loại là những số liệu đo được của chương trình quan trắc hiện hành. Phải đảm bảo cho các loại số liệu này được phân biệt rõ ràng, không nhầm lẫn với nhau và an toàn.

    Khi sử dụng phần mềm của máy tính, cần phải đặc biệt quan tâm đến việc kiểm tra, phát triển và duy trì hệ thống máy tính. Phần mềm của máy tính cũng có thể thực hiện các chức năng kiểm soát khác nhau, như các phép phân tích tương quan và việc sử dụng các cặp giới hạn.

    1.2.7. QA/QC trong phân tích số liệu

    Phân tích số liệu là giai đoạn chuyển số liệu thô thành thông tin sử dụng được. Để những thông tin nhận được từ số liệu thô có thể so sánh và truy nguyên nguồn gốc, phải triển khai các biên bản phân tích số liệu.

    Phải có phương pháp tư liệu hoá chuẩn mực nhằm biến các số liệu đã có thành cơ sở dữ liệu đễ truy cập và xử dụng khi cần thiết.

    1.2.8. QA/QC trong lập báo cáo

    Mục tiêu cuối cùng của một chương trình quan trắc là chuyển thông tin đã thu thập được tới người sử dụng thông tin. Có thể thực hiện công việc này bằng nhiều cách khác nhau: truyền toàn bộ các phép phân tích số liệu hoặc chỉ là những kết luận ngắn gọn bằng văn bản, lời nói hoặc bảng số… Một số kỹ thuật trình bày số liệu được sử dụng rộng rãi là:

    1/ Các bảng số liệu đo

    Cách liệt kê số liệu đo vào trong các bảng tạo điều kiện để không làm mất số liệu. Tuy nhiên, từ các số liệu trong bảng, người đọc số liệu phải tự tạo thành các thông tin cần thiết cho mình.

    2/ Số liệu đo được xử lý thống kê

    Xử lý thống kê sẽ chuyển đổi số liệu rời rạc thành các giá trị hệ thống thay đổi theo thời gian và không gian. Chúng tạo ra thông tin có thể sử dụng ngay cho người đọc.

    3/ Đồ thị

    Đồ thị giúp cho người đọc nhanh chóng rút ra được những nhận định tổng quát. Bằng việc nêu ra các tiêu chuẩn hoặc các tài liệu tham khảo trên đồ thị, tình hình môi trường được phản ánh đúng thực trạng của nó. Các đồ thị có thể là dạng đường, dạng cột hoặc biểu đồ phần trăm (% )…

    4/ Thông tin được trình bày có tính chất địa lý

    Cách trình bày này giúp hiểu biết tốt hơn tình hình chất lượng của môi trường qua phân bố không gian của các thông số liên quan.

    5/ Thông tin tổng hợp

    Việc tổng hợp lại các số liệu là rất cần thiết để xử lý nhanh một lượng lớn số liệu. Sử dụng các phụ lục là phương pháp hay được dùng để đáp ứng yêu cầu này.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương 2

    Hướng dẫn đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong quan trắc và phân tích môi trường nước lục địa

     

    II.1. Tổng quan về bảo đảm và kiểm soát chất lượng trong quan trắc nước lục địa

    II.1.1. Mục tiêu

    Các hoạt động quan trắc và phân tích môi trường nước diễn ra ngoài hiện trường (lấy mẫu, bảo quản mẫu, đo đạc một số thông số không bền) và phân tích trong phòng thí nghiệm. Để thu thập được thông tin cần phải tiến hành một loạt hoạt động bao gồm từ khâu lập kế hoạch, thiết kế chương trình, thiết kế mạng lưới, lấy mẫu, phân tích trong phòng thí nghiệm và xử lý số liệu.

    Mục tiêu của chương trình đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng (QA/QC) trong hoạt động quan trắc và phân tích môi trường nước (bao gồm nước lục địa và nước biển) là cung cấp những số liệu tin cậy và đã được kiểm soát về hiện trạng môi trường nước bao gồm các thông số chủ yếu như: nhiệt độ, pH, DO, kim loại nặng, cặn lơ lửng, độ đục, COD, BOD5/TOC (với nước biển), clorua, amoni, tổng P, tổng N, tổng coliform, trầm tích, phù du, vi sinh vật… thoả mãn yêu cầu thông tin cần thu thập, theo mục tiêu chất lượng đặt ra, để:

    • Đánh giá hiện trạng chất lượng nước khu vực/địa phương;
    • Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước theo thời gian;
    • Cảnh báo sớm các hiện tượng ô nhiễm nguồn nước;
    • Theo các yêu cầu khác của công tác quản lý môi trường và phát triển kinh tế.

    II.1.2. QA/QC trong lập kế hoạch/thiết kế chương trình

    Khi lập kế hoạch quan trắc phải bao hàm các nội dung chính như sau:

    • Xác định nội dung nhiệm vụ đợt quan trắc: địa điểm/trạm vị, các thông số cần đo đạc, các loại mẫu cần lấy, thời gian thực hiện.
    • Xác định yêu cầu về nhân lực tham gia (số lượng, lĩnh vực chuyên môn).
    • Yêu cầu về trang thiết bị.
    • Lập kế hoạch lấy mẫu.
    • Phương pháp lấy mẫu và phân tích.
    • Kinh phí cho chương trình quan trắc và QA/QC
    • Các vấn đề đảm bảo an toàn con người, thiết bị cho các hoạt động quan trắc nhất là quan trắc trên sông, bao gồm:

    – Các biện pháp, phương tiện bảo đảm an toàn (người và thiết bị);

    – Phương án cứu hộ;

    – Liệt kê những vùng nước xoáy, bãi cát ngầm trong vùng quan trắc để tàu thuyền né tránh;

    – Những  yếu tố thời tiết bất thường có thể xẩy ra trong thời gian quan trắc.

    II.1.3. QA/QC trong thiết kế mạng lưới

    Thiết kế mạng lưới là sự lựa chọn địa điểm lẫy mẫu, lựa chọn tần suất lấy mẫu, thời gian lấy mẫu và loại mẫu cần phải lấy. Đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng trong thiết kế mạng lưới là lập kế hoạch lấy mẫu đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của chương trình quan trắc và phân tích môi trường.

    – Bố trí cán bộ theo kế hoạch;

    – Diện lấy mẫu, địa điểm lấy mẫu;

    – Tần suất và thời gian;

    – Các dạng lấy mẫu; mẫu đo tại hiện trường, mẫu mang về PTN.

    – Đảm bảo tính khả thi và an toàn;

    Lựa chọn vùng/điểm lấy mẫu, lựa chọn tần suất,thời gian lấy mẫu và dạng lấy mẫu cho từng loại nước đã được trình bày chi tiết trong các tiêu chuẩn TCVN  5994-1995 (Hướng dẫn lấy nước hồ ao nhân tạo), TCVN 5996-1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước sông và suối), TCVN 5998-1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước thải), TCVN 6000-1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm), ISO 5667-13:1993 (Hướng dẫn lấy mẫu nước, nước thải và bùn) các trạm quan trắc nên nghiên cứu trước khi lập kế hoạch để thiết kế mạng lưới bảo đảm tính khoa học, phản ánh được mục tiêu chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin trong công tác quản lý môi trường.

    II.2. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng  tại hiện trường

    II.2.1. QA/QC trong hoạt động lấy mẫu

    II.2.1.1. Mục tiêu của chương trình kiểm soát chất lượng lấy mẫu

    Mục tiêu chương trình kiểm soát chất lượng lấy mẫu là:

    • Cung cấp được những phương pháp giám sát và phát hiện các sai sót do lấy mẫu và do đó có các biện pháp loại trừ các dữ liệu không hợp lệ hoặc sai lạc.
    • Chứng minh được rằng các sai số lấy mẫu đã được kiểm soát một cách thích hợp.
    • Chỉ ra được các thay đổi của việc lấy mẫu và từ đó truy nguyên các nguồn gốc gây sai số.

    Mục tiêu của việc lấy mẫu là lấy được một thể tích mẫu đủ để vận chuyển và xử lý trong phòng thí nghiệm nhằm phân tích chính xác các thông số cần thiết tại vị trí lấy mẫu.

    Tuỳ thuộc vào mục đích lấy mẫu là để phân tích các chỉ tiêu (thông số) lý học, hoá học hay vi sinh mà lựa chọn phương pháp lấy mẫu thích hợp.

    Mẫu được lấy phải đại diện cho khu vực quan trắc về không gian và thời gian  và đáp ứng được các yêu cầu của chương trình quan trắc và phân tích môi trường.

    II.2.1.2. Đảm bảo chất lượng lấy mẫu

    Một kế hoạch đảm bảo chất lượng lấy mẫu cần phải được thiết lập, bao gồm:

    • Các nhân viên lấy mẫu đều đã được đào tạo và tập huấn.
    • Chuẩn bị công tác thực địa chu đáo: dụng cụ, thiết bị, hoá chất thuốc thử bảo quản mẫu phải đầy đủ và phù hợp.
    • Đảm bảo rằng các phương pháp lấy mẫu đều được phổ biến tới tất cả các nhân viên ở trong nhóm quan trắc.
    • Đảm bảo rằng mỗi một bước lấy mẫu hiện nay và quá trình lấy mẫu trước đây đều tuân theo một văn bản.
    • Đảm bảo rằng dụng cụ lấy mẫu và máy móc đo đạc hiện trường phải được bảo trì và hiệu chuẩn định kỳ, sổ sách bảo trì cần phải được lưu giữ.
    • Quy định thống nhất về nhận dạng mẫu được lấy bao gồm dán nhãn lên tất cả các mẫu được lấy, trên đó ghi chép chính xác ngày tháng, địa điểm, thời gian lấy mẫu và tên người lấy mẫu, số mã hiệu của mẫu bằng mực không thấm nước.
    • Quy định về ghi chép lại tất cả các chi tiết có liên quan đến việc lấy mẫu vào biên bản/nhật ký lấy mẫu, những điều kiện và các biến động bất thường từ kỹ thuật lấy mẫu thông thường đến những yêu cầu đặc biệt.
    • Quy định về điều kiện, nơi để các dụng cụ tránh làm nhiễm bẩn mẫu, làm sạch dụng cụ lấy mẫu, kiểm tra độ sạch và hiệu quả của dụng cụ (bằng cách phân tích mẫu trắng và mẫu so sánh thích hợp).
    • Quy định về tiến hành bảo quản mẫu cho từng thông số chất lượng nước, trầm tích, phù du, vi sinh vật … theo các chỉ dẫn trong các tiêu chuẩn tương ứng.
    • Bảo đảm độ chính xác của các phép đo, phân tích ngoài hiện trường khi các điều kiện môi trường không được đảm bảo. Các thông số hiện trường (nhiệt độ, độ ẩm, áp suất…) cần phải ghi chép khi lấy mẫu để chuyển đổi các giá trị đo được về điều kiện tiêu chuẩn khi lập báo cáo, thí dụ: số liệu pH phải chuyển về điều kiện 250

    Cần phải mô tả chi tiết:

    • Quá trình trao đổi chi tiết để cho những người chưa có nhiều kinh nghiệm vẫn có đủ khả năng để hoàn thành việc lấy và xử lý mẫu;
    • Quá trình chuẩn bị thuốc thử và bảo quản;
    • Hướng dẫn sử dụng dụng cụ lấy mẫu, máy đo hiện trường … bổ xung cho các tài liệu vận hành của nhà sản xuất;
    • Phương pháp chuẩn bị mẫu QC;
    • Tiêu chí kiểm soát chất lượng ( nghĩa là giới hạn chấp nhận);

    Phương pháp lấy mẫu và các tài liệu cần phải xem xét thường xuyên và không được quá 1 năm/một lần. Phương pháp cần phải được phê duyệt lại theo định kỳ đặc biệt có sự thay đổi về thiết bị hoặc con người.

    Khi tài liệu được lưu giữ trong các file máy tính, những thay đổi về phương pháp lấy mẫu cần  phải được phản ánh bằng cách thay đổi các mã số máy tính có liên quan.

    Nguyên nhân gây ra sai số do lấy mẫu:

    Những nguyên nhân gây ra sai số do lấy mẫu có thể là:

    • Nhiễm bẩn:

    Nhiễm bẩn do các thiết bị lấy và chứa mẫu gây ra; do dụng cụ chứa mẫu bẩn; do sự lây nhiễm giữa các mẫu; do cách bảo quản, lưu kho và bố trí vận chuyển mẫu không thích hợp.

    • Tính không ổn định của mẫu:

    – Bản chất của mẫu

    – Tương tác của mẫu với dụng cụ khác

    – ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng

    • Lấy mẫu không chính xác:

    – Quy trình lấy mẫu không phù hợp,

    – Không tuân thủ đúng quy trình lấy mẫu.

    • Vận chuyển mẫu:

    – Do thời gian vận chuyển mẫu quá giới hạn cho phép,

    • Do điều kiện vận chuyển không phù hợp.

    II.2.2. Kiểm soát chất lượng hiện trường

    Kiểm soát chất lượng hiện trường yêu cầu phải tiến hành lấy các loại mẫu trắng, mẫu đúp nhằm kiểm tra mức độ tinh khiết của hoá chất dùng làm chất bảo quản, kiểm tra mức độ nhiễm bẩn của dụng cụ lấy, chứa mẫu, giấy lọc hay các thiết bị khác có liên quan đến công việc thu, bảo quản và vận chuyển mẫu. Mẫu lặp cũng được thu nhằm kiểm tra mức độ tái lặp của việc lấy mẫu. Thời gian và tần xuất lấy mẫu trắng, mẫu đúp và mẫu lặp được xác định khi thiết kế chương trình. Nói chung khoảng 10 lần thu mẫu, tiến hành thu 1 lần các loại mẫu trắng, mẫu đúp, mẫu lặp. Cách thức và ý nghĩa thu các loại mẫu như sau:

    a, Mẫu trắng dụng cụ chứa mẫu

    Lấy một dụng cụ chứa mẫu một cách ngẫu nhiên, sau đó nạp dụng cụ bằng nước cất mang ra hiện trường. Mẫu này được bảo quản, vận chuyển và phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm tương tự như các mẫu thông thường. Mẫu trắng loại này nhằm kiểm soát sự nhiễm bẩn do quá trình rửa, bảo quản dụng cụ.

    b,  Mẫu trắng dụng cụ lấy mẫu

    Dùng nước cất tráng hoặc đổ vào dụng cụ lấy mẫu. Sau đó nạp vào chai chứa mẫu. Mẫu được bảo quản, vận chuyển và phân tích các thông số tương tự như mẫu cần lấy. Mẫu loại này nhằm kiểm soát mức độ ô nhiễm trong quá trình bảo quản, sử dụng dụng cụ lấy mẫu.

    c,  Mẫu trắng thiết bị lọc mẫu

    Nếu mẫu nước cần lọc ở ngoài hiện trường để xác định các hợp phần hoà tan thì các bộ lọc mẫu sẽ được rửa, bảo quản và vận chuyển ngoài hiện trường. Tiến hành lấy mẫu trắng dụng cụ lọc mẫu bằng cách: cho nước cất hai lần lọc qua dụng cụ lọc mẫu. Phần lọc được nạp vào dụng cụ chứa mẫu và được bảo quản vận chuyển về phòng thí nghiệm tương tự như các mẫu đã lấy để phân tích các thông số môi trường.

    1. d) Mẫu trắng vận chuyển và mẫu trắng hiện trường
    • Mẫu trắng vận chuyển: cho vào dụng cụ chứa mẫu một lượng nước cất tinh khiết hoặc nước đã khử ion, đậy kín nắp, chuyển từ phòng thí nghiệm ra ngoài hiện trường và được vận chuyển cùng với mẫu thật. Mẫu trắng vận chuyển dùng để xác định sự nhiễm bẩn có thể xẩy ra khi xử lý, vận chuyển và bảo quản mẫu.
    • Mẫu trắng hiện trường: cho vào dụng cụ chứa mẫu một lượng nước cất tinh khiết/nước khử ion và chuyển từ phòng thí nghiệm ra ngoài hiện trường. Tại hiện trường nắp dụng cụ chứa mẫu được mở ra và xử lý giống như các mẫu thật. Mẫu trắng hiện trường dùng để xác định sự nhiễm bẩn gây ra từ các dụng cụ lấy mẫu, dụng cụ xử lý mẫu (các loại màng lọc) hoặc do các điều kiện khác của môi trường trong quá trình lấy mẫu (do bụi bốc lên chẳng hạn).

    Có thể mô tả cách thức chuẩn bị mẫu trắng theo sơ đồ như sau:

     

    Các thông tin về mẫu trắng hiện trường, mẫu trắng vận chuyển cần phải được thể hiện trong báo cáo cùng với mẫu thật. Khi các chất gây nhiễu đã được nhận biết cần phải điều tra từng nguyên nhân và kịp thời khắc phục.

    1. e) Mẫu đúp (mẫu chia đôi)

    Mẫu đúp được thu bằng cách chia một mẫu thành 2 hay nhiều mẫu giống nhau. Mẫu này sử dụng để đánh giá các sai số ngẫu nhiên và hệ thống do có sự thay đổi trong thời gian lấy và vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm.

    1. f) Mẫu lặp theo thời gian

    Lấy hai hoặc nhiều mẫu tại một địa điểm. Mẫu loại này để đánh giá sự biến động theo thời gian của các thông số môi trường trong khu vực.

    1. g) Mẫu lặp theo không gian

    Lấy hai hoặc nhiều mẫu cùng một lúc trên một lát cắt ngang đã được xác định trước trong thuỷ vực. Mẫu loại này dùng để đánh giá sự biến động theo không gian của các thông số môi trường.

    1. h) Mẫu chuẩn đối chứng hiện trường:
    • Mẫu chuẩn đối chứng vận chuyển là một lượng nước tinh khiết có chứa chất phân tích (chất chuẩn) biết trước nồng độ được chuyển từ phòng thí nghiệm ra hiện trường sau đó quay trở về cùng với mẫu thật. Tại hiện trường không mở nắp đậy mẫu. Mẫu chuẩn đối chứng vận chuyển dùng để xác định cả sự nhiễm bẩn và sự mất mát chất phân tích có thể xảy ra khi xử lý mẫu, vận chuyển và bảo quản mẫu đồng thời cũng để xác định sai số phân tích.
    • Mẫu chuẩn đối chứng hiện trường là lượng nước tinh khiết có chứa chất phân tích (chất chuẩn) biết trước nồng độ được mang từ phòng thí nghiệm ra ngoài hiện trường. Tại hiện trường, nắp đậy được mở ra và tiến hành xử lý như mẫu thật. Mục đích của việc tạo mẫu chuẩn đối chứng hiện trường là xác định sự nhiễm bẩn hoặc sự mất mát chất phân tích xảy ra do dụng cụ lấy mẫu, dụng cụ xử lý mẫu và ảnh hưởng của điều kiện môi trường trong suốt quá trình lấy mẫu cho về đến phòng thí nghiệm.

    Các kết quả phân tích mẫu chuẩn đối chứng hiện trường cần phải được đưa vào báo cáo cùng với mẫu thật. Khi xẩy ra sự sai lệch với giá trị thực không được chỉnh sửa số liệu mà cần phải tiến hành điều tra  và khắc phục kịp thời.

    1. i) Mẫu lặp hiện trường

    Là hai (hoặc nhiều hơn) mẫu được lấy tại cùng một vị trí, sử dụng cùng một thiết bị lấy mẫu và được cùng một cán bộ tiến hành, được xử lý, bảo quản, vận chuyển và phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm tương tự như mẫu thật. Mẫu QC loại này được sử dụng để kiểm soát độ chụm của việc lấy mẫu ngoài hiện trường.

    1. k) Mẫu thêm

    Việc thêm chất phân tích (chất chuẩn) đã biết trước nồng độ vào nước cất hay nước khử ion cùng thời điểm  lấy mẫu ngay tại hiện trường để xem xét sự phân huỷ các thông số kể từ khi lấy mẫu.

    Mẫu thêm được sử dụng khi bắt đầu một kỹ thuật mới hoặc thiết bị mới để bảo đảm rằng phương pháp hoặc thiết bị là thích hợp cho các mẫu đang được lấy có tính phức tạp như vậy. Việc thêm chất chuẩn vào mẫu phải do những cán bộ phân tích có kinh nghiệm thực hiện.

    II.2.3. QA/QC trong vận chuyển mẫu

    II.2.3.1. Đảm bảo chất lượng

    • Vận chuyển mẫu: cần phải có quy trình vận chuyển mẫu phù hợp nhằm bảo toàn mẫu về mặt số lượng và chất lượng. Trong quy trình cần nêu rõ một số điểm chính như sau:
    • Mẫu khi vận chuyển phải có nhãn (ký hiệu) để tránh nhầm lẫn.
    • Thủ tục sắp xếp mẫu nhằm tránh đổ vỡ.
    • Yêu cầu trong quá trình vận chuyển: thời gian vận chuyển và nhiệt độ của mẫu, yêu cầu này dựa theo tiêu chuẩn (TCVN, ISO) đối với từng thông số quan trắc và cách bảo quản mẫu (bảng 2.1).

    Bảng 2.1. Yêu cầu khi vận chuyển mẫu


    TT
    Tên mẫu Các yêu cầu khi vận chuyển Ghi chú
    • Phương tiện vận chuyển: được xác định trên cơ sở yêu cầu của thông số quan trắc (Bảng 2.2).

    Bảng 2.2. Phương tiện vận chuyển và người chịu trách nhiệm

     

    TT Tên mẫu Phương tiện vận chuyển Người chịu

    trách nhiệm

    Thời gian vận chuyển Ghi chú
    • Giao và nhận mẫu: có thể được tiến hành ở hiện trường (nhóm hiện trường bàn giao cho người vận chuyển, và ở phòng thí nghiệm (nhóm hiện trường hay người vận chuyển bàn giao cho phòng thí nghiệm)) theo quy trình với nội dung được thể hiện trong biên bản bàn giao:
    • Họ và tên người bàn giao:
    • Họ và tên người nhận:
    • Thời gian bàn giao:
    • Số lượng mẫu:
    • Tình trạng mẫu khi bàn giao:
    • Ghi chú (những điểm bất thường cần quan tâm):

    Kiểm tra và loại bỏ các mẫu không đạt yêu cầu như đổ vỡ, bật nút,… và tiến hành khôi phục lại các mẫu bị sai sót nếu có thể.

    Khi tiếp nhận mẫu, phải bàn giao đầy đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, ghi chép rõ ràng về tình trạng mẫu, những sai hỏng trong quá trình vận chuyển

    II.2.3.2. Kiểm soát chất lượng

    Để kiểm soát chất lượng trong quá trình vận chuyển mẫu, mẫu kiểm soát chất lượng thường được sử dụng:

    Mẫu trắng vận chuyển: một mẫu nhỏ vật liệu sạch của đối tượng nghiên cứu được vận chuyển cùng với mẫu thật trong cùng một môi trường, được bảo quản, phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm như mẫu thật. Mẫu QC loại này được sử dụng để kiểm soát sự nhiễm bẩn trong quá trình vận chuyển mẫu.

     

    II.2.4. QA/QC trong đo, phân tích tại hiện trường

    Một số thông số không bền như nhiệt độ, pH, DO, chất rắn lơ lửng, độ đục cần được xác định tại chỗ hoặc ngay sau khi lấy mẫu càng sớm càng tốt.

    Khi đo, phân tích tại chỗ các thông số không bền, cần phải chú ý:

    • Lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp để không hoặc ít bị ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài hoặc tạo các điều kiện môi trường thích hợp (như phòng thí nghiệm di động, bố trí buồng làm việc trên tàu …) để bảo đảm kết quả phân tích.
    • Những thay đổi bất thường khi lấy mẫu
    • Tình trạng hoạt động của thiết bị
    • Ngăn ngừa nhiễm bẩn mẫu:

    – Đo đạc hiện trường: Khi đo đạc các thông số bằng máy móc ngoài hiện trường (ví dụ pH, to, độ mặn,…) không được nhúng trực tiếp các thiết bị đo vào máy lấy nước mà phải lấy các mẫu phụ để đo, sau khi đo, mẫu đó phải đổ đi.

    –  Chai lọ chứa mẫu phải được rửa sạch  theo đúng yêu cầu đối với từng thông số. Không được tận dụng các loại chai lọ đã dùng chứa hoá chất trong phòng thí nghiệm để sử dụng cho việc chứa mẫu.

    – Dụng cụ chứa mẫu phải được bảo quản trong môi trường sạch sẽ, tránh bụi, khói và các nguồn gây ô nhiễm khác.

    – Các loại giấy lọc, bộ dụng cụ lọc phải được đóng gói cẩn thận, bọc bằng các chất liệu thích hợp.

    Để đảm bảo các thiết bị hoạt động quan trắc ngoài hiện trường làm việc chính xác ổn định, cần phải định kỳ hiệu chuẩn các thiết bị này theo các quy định của nhà sản xuất.  Tất cả hồ sơ hiệu chuẩn phải được lưu giữ.

    Trong trường hợp không có điều kiện hiệu chuẩn thì phải có các biện pháp để nhận biết tình trạng làm việc của thiết bị đó. Thí dụ: so sánh thường xuyên giữa các thiết bị giống nhau hoặc cùng loại với nhau theo một chỉ tiêu phù hợp.

    Trước mỗi đợt quan trắc cần phải kiểm tra tình trạng hoạt động của thiết bị.

    Đối với những mẫu được phân tích tại hiện trường (chất rắn lơ lửng, độ đục …) cũng phải tiến hành phân tích mẫu QC  để kiểm soát được chất lượng số liệu.

    II.2.5. Thuốc thử hoá chất bảo quản mẫu

    Toàn bộ thuốc thử và hoá chất bảo quản mẫu phải đạt độ tinh khiết theo yêu cầu của mức độ phân tích và có nhãn dán rõ ràng

    Hoá chất và thuốc thử bảo quản có thể được đong đo trước và cho vào các lọ nhỏ hoặc ampul và hàn kín để tránh phải pha chế ngoài hiện trường.

    II.2.6. Nước cất

    Nước cất sử dụng ngoài hiện trường cần phải chú ý:

    • Phù hợp với tiêu chuẩn,
    • Không sử dụng nước cất chưa biết nguồn gốc,
    • Không dùng nước cất đã để quá hạn.

    II.2.7. Dụng cụ chứa mẫu

    • Dụng cụ chứa mẫu phải được phòng phân tích làm sạch trước và đậy nắp. Nếu có điều kiện phải bọc giấy tráng paraphin mỏng để chống bụi.
    • Dụng cụ chứa mẫu phải được kiểm tra định kỳ để phát hiện nhiễm bẩn bằng cách lấy mẫu trắng hoặc thêm chất chuẩn ở nồng độ thấp.
    • Không được đựng mẫu trong dụng cụ chứa mẫu không có nắp đậy.
    • Trong những trường hợp khi phân tích ở độ nhạy cao phải sử dụng dụng cụ chứa mẫu hoàn toàn mới.

    II.2.8. Kiểm soát chất lượng và khắc phục sai sót

    • Các kỹ thuật kiểm soát chất lượng phải được áp dụng cho từng mẫu được lấy, cho một loạt mẫu và các đo đạc được thực hiện tại hiện trường.
    • Cần có sự trao đổi thông tin giữa người lấy mẫu và người phân tích để giải thích số liệu và có biện pháp khắc phục sai sót.
    • Số liệu và kết quả QC phải được tập hợp lại thành báo cáo.
    • Lập biểu đồ kiểm soát lặp để kiểm soát chất lượng số liệu (ISO 5667-14). Nếu kết quả phân tích mẫu QC vượt ra ngoài giới hạn cho phép cần tiến hành các biện pháp khắc phục.

    II.3. Đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong phòng thí nghiệm

    II.3.1. Các yêu cầu chung về năng lực phòng thí nghiệm phân tích môi trường

    Lựa chọn phương pháp
    Phát triển phương pháp

    Để  có thể cung cấp được những số liệu tin cậy, duy trì các hoạt động kiểm soát chất lượng thường xuyên, một phòng thí nghiệm phân tích môi trường (cố định hoặc di động) phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực quản lý và kỹ thuật theo chuẩn mực của ISO/IEC 17 025: 2002.

    Các yếu tố quyết định mức độ chính xác và độ tin cậy của phép thử do phòng thí nghiệm thực hiện, bao gồm:

    • Cơ cấu tổ chức phù hợp (người quản lý và người thực hiện).
    • Yếu tố con người làm phân tích (công tác tập huấn, kiểm tra tay nghề),
    • Trang thiết bị; quản lý, bảo dưỡng, kiểm chuẩn và hiệu chuẩn thiết bị,
    • Điều kiện, vật chất, tiện nghi và môi trường,
    • Quản lý mẫu thử,
    • Phương pháp phân tích và hiệu lực của phương pháp,
    • Chất chuẩn, mẫu chuẩn,

    Như vậy ngoài yếu tố quản lý, con người,  phòng thí nghiệm phải có đủ cơ sở vật chất để tiến hành các phép thử có chất lượng, thoả mãn mục tiêu chất lượng số liệu.

    Phòng thí nghiệm phải tiến hành các thủ tục kiểm soát chất lượng, bao gồm:

    • Thường xuyên sử dụng chất chuẩn được chứng nhận trong các phép thử,
    • Tham gia các chương trình so sánh liên phòng hoặc thử nghiệm thành thạo,
    • Tổ chức phân tích mẫu QC theo kế hoạch và duy trì thường xuyên .

    II.3.2. Quản lý mẫu

    Phòng thí nghiệm phải tổ chức vận chuyển, tiếp nhận, bảo quản, lưu giữ hoặc thanh lý  mẫu theo các quy định cần thiết và thống nhất nhằm bảo đảm tính trọn vẹn của mẫu trước và sau khi phân tích theo:

    • Bảo quản mẫu nước trong thời gian ngắn: ở 40C
    • Bảo quản mẫu nước trong thời gian dài: -200C
    • Với các mẫu sinh vật, tissue: -200C
    • Với mẫu trầm tích: Tuỳ vào đối tượng phân tích mà sử dụng mẫu ướt hay khô. Nếu sử dụng mẫu khô phải làm khô mẫu trong không khí, nhiệt độ phòng.
    • Có thể bảo quản mẫu bằng cách thêm hoá chất với những lượng thích hợp. Nhưng hoá chất được chọn phải không ảnh hưởng đến việc kiểm tra tiếp theo hoặc ảnh hưởng đến kết quả.
    • Ghi chép lại tất cả các bước bảo quản trong báo cáo kết quả.

    II.3.3. Lựa chọn và công nhận phương pháp phân tích

    Phòng thí nghiệm phải sử dụng những tiêu chuẩn/phương pháp phù hợp với thiết bị sẵn có nhưng phải đáp ứng các mục tiêu chất lượng và theo các vấn đề sau:

    • Thông số phân tích,
    • Yêu cầu giới hạn phát hiện,
    • Độ chính xác của phương pháp (độ chính xác, độ chuẩn xác),
    • Yêu cầu về khả năng so sánh số liệu,
    • Sụ phù hợp của phương pháp với các điều kiện phòng thí nghiệm.

    Phòng thí nghiệm phải tiến hành các thủ tục chấp nhận/phê duyệt phương pháp

    II.3.4. Kiểm soát chất lượng

    Kiểm soát chất lượng bằng mẫu QC

    Mẫu QC phòng thí nghiệm dùng để đánh giá hiệu quả của phương pháp trong phòng thí nghiệm và mẫu QC hiện trường  để đánh giá chất lượng tổng hợp của quá trình thu mẫu ngoài hiện trường và phương pháp trong phòng thí nghiệm.

    • Các kết quả mẫu trắng hiện trường được so sánh với các kết quả mẫu trắng phòng thí nghiệm để phân biệt sự nhiễm bẩn ngoài hiện trường và sự nhiễm bẩn trong phòng thí nghiệm.
    • Mẫu thêm hiện trường được so sánh với mẫu thêm phòng thí nghiệm để phân biệt các vấn đề bảo quản và vận chuyển mẫu ngoài hiện trường và các vấn đề bảo quản mẫu trong phòng thí nghiệm.
    • Mẫu lặp ngoài hiện trường được so sánh với mẫu lặp trong phòng thí nghiệm để phân biệt độ chuẩn xác của việc thu mẫu ngoài hiện trường với độ chuẩn xác của phân tích trong phòng thí nghiệm.

    Để kiểm soát chất lượng số liệu, phòng thí nghiệm phải duy trì phân tích mẫu QC, bao gồm:

    • Mẫu trắng thiết bị (Blanks): sử dụng nước cất để làm mẫu trắng nhằm đánh giá độ nhiễu của thiết bị và xác định giới hạn phát hiện của thiết bị. Giới hạn phát hiện của thiết bị theo quy định bằng 3 lần nhiễu đường nền.
    • Mẫu trắng phương pháp (Method Blanks): sử dụng nước cất + các chất chuẩn bị mẫu (hoá chất tạo môi trường, hoá chất che, thuốc thử hiện màu …) nhưng không có chất định phân tích. Mẫu trắng phương pháp đánh giá gới hạn phát hiện của phương pháp, đánh giá mức độ tinh khiết của hoá chất sử dụng.
    • Mẫu lặp (Replcates/Duplicates): Do tính phức tạp của các phương pháp phân tích mẫu nước nên ta không thể làm được tất cả mẫu lặp để đánh giá độ lệch chuẩn cũng như độ không đảm bảo của phép đo. Nên như đã đề cập ở trên chúng ta chỉ làm một số mẫu lặp/mẫu đúp cho một nhóm mẫu (15Ú20 mẫu) để đánh giá độ tập trung của phép thử.
    • Chuẩn thẩm tra (Control Standards)
    • Chuẩn so sánh (Refrence Standards)
    • Mẫu chuẩn đối chứng (CRMs): Với môi trường nước, mẫu chuẩn đối chứng thông thường là các mẫu lấy tại hiện trường hoặc các mẫu tự tạo có thành phần phức tạp như ngoài môi trường, được đưa đến nhiều phòng thí nghiệm có uy tín để xác định giá trị trung bình và khoảng tin cậy. Mẫu chuẩn đối chứng được làm song song với mẫu thực. Căn cứ vào khoảng tin cậy đó cho phép ta đánh giá kết quả phân tích mẫu thực. Số liệu phân tích mẫu chuẩn đối chứng cần phải lưu trong hồ sơ dưới dạng biểu đồ kiểm tra để đánh giá hiệu quả cũng như sai số hệ thống của phương pháp.
    • Mẫu đồng hành (Surrogate Compounds): mẫu đồng hành là các mẫu có đặc điểm như mẫu thật, các chất phân tích trong đó  cũng có tính chất vật lý hoá học tương tự với  các chất trong mẫu thật nhưng lại không có trong tự nhiên, hoặc sử dụng các chất đồng vị phóng xạ trong thành phần nguyên tố của các chất phân tích (14C, 37..). Mẫu đồng hành thường sử dụng khi phân tích các hợp chất hữu cơ như PAHs, thuốc trừ sâu.

    Kết quả  thực hiện phân tích mẫu QC được đi kèm với số liệu chương trình quan trắc và  phân tích môi trường và trình bày như bảng sau:

    Mẫu Kết quả
    Mẫu trắng thiết bị:
    Mẫu trắng phương pháp:
    Chuẩn thẩm tra:
    Mẫu No.1:
    Mẫu No.2:
    …………
    Mẫu No.n :
    Mẫu lặp No.2:
    Mẫu lặp No.m (m Ì n)
    Mẫu trắng phương pháp:
    CRM/Mẫu đồng hành:
    Chuẩn so sánh:

     

    II.4. QA/QC trong tính toán kết quả, ghi chép số liệu phân tích

    Các kết quả phân tích trước khi ghi chép vào sổ phải được kiểm tra đối chiếu với các sổ sách gốc như: nhật ký thực địa, sổ ghi kết quả phân tích. Việc kiểm tra được thực hiện bởi ít nhất 1 người có trách nhiệm trong phòng thí nghiệm. Kết quả phân tích được ghi vào biểu kết quả phải chứa đựng được một số thông tin quan trọng dưới đây:

    • Ngày tháng phân tích, phương pháp phân tích.
    • Ký hiệu mẫu phân tích.
    • Ký hiệu và kết quả phân tích của mẫu kiểm tra.
    • Các giới hạn kiểm tra và cảnh báo.
    • Các sắc đồ, đồ thị (nếu có).
    • Họ tên người phân tích, người tính toán và người kiểm tra.

    Sau khi số liệu được đối chiếu, kiểm tra, lúc đó mới có giá trị và được sử dụng vào các mục đích khác nhau.

    II.5. QA/QC trong báo cáo kết quả

    Bản báo cáo kết quả phân tích đảm bảo chất lượng phải bao gồm các thông tin sau:

    – Tiêu đề

    – Tên, địa chỉ phòng thí nghiệm tiến hành phân tích

    – Tên, địa chỉ khách hàng

    – Ngày, tháng lấy mẫu

    – Ngày, giờ phân tích

    – Ký hiệu mẫu.

    – Tình trạng mẫu khi đưa vào phân tích

    – Phương pháp phân tích đã sử dụng

    – Sai số cho phép

    – Kết quả phân tích mẫu trắng thiết bị, mẫu trắng phòng thí nghiệm, mẫu đúp và mẫu lặp

    – Kết quả phân tích mẫu

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. APHA, Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater, 19th Edition, 1995
    2. Britsh Columbia Field Sampling Manual, 1996 Edition
    3. Canadian Executive Agency, CPMS-II, Pollution Monitoring and Baseline Studies- Environmental  Monitoring Workbook 1997.
    4. EPA Standard Methods, CD-ROM, Revision 1, July 1992
    5. ISO 5667-14:1998, Water Quality- Sampling, Part 14: Guidance on Quality Assurance of Enviromental Water Sampling and Handling
    6. IUPAC, ISO, AOAC, Harmonised Guidlines for Internal Quality Control in Analitycal Chemistry Laboratory, 1994
    7. Jame P.Dux,Quality Assurance for the Anlytical Chemistry Laboratory, 2d Edition, Van Nostrand Reihold, 1991
    8. Lawrence H.K. et all, Principles of Environmental Analysis, Chem, 1983, 55, 2210-2218
    9. TCVN 5993-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
    10. TCVN 5994-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên nhân tạo
    11. TCVN 5996-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn lấy mẫu nước sông và suối
    12. TCVN 5998-1995, Chất lượng nước-Hướng dẫn lấy mẫu nước thải
    13. UN/ECE Task Force on Monitoring & Assessment, Guidelines on Water-Quality monitoring and Assessment of Tranboudary Rivers, May 1996
    14. UN/ECE Task Force on Monitoring & Assessment, Volumn 4: Quality Assurance, Jaunuary 1996
    15. Villars M.T. Monitoring water quality in the future, Executive summary, Deft, the netherlands, May 1995.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Phụ lục 1:                    Hệ thống quản lý chất lượng phòng thí nghiệm

    Hệ thống quản lý chất lượng của phòng thử nghiệm/ hiệu chuẩn được quy định trong ISO/IEC 17025: 1999 gồm hai nhóm yêu cầu lớn: các yêu cầu về quản lý và các yêu cầu về kỹ thuật.

    Các yêu cầu về quản lý bao gồm:

    1. Tổ chức.
    2. Hệ thống chất lượng.
    3. Kiểm soát tài liệu.
    4. Xem xét các yêu cầu, đề nghị và hợp đồng.
    5. Hợp đồng phụ về thử nghiệm và hiệu chuẩn.
    6. Các dịch vụ mua sắm và nguồn cung cấp.
    7. Dịch vụ đối với khách hàng.
    8. Phàn nàn (hay kiến nghị).
    9. Kiểm soát việc thử nghiệm và/hoặc hiệu chuẩn không phù hợp.
    10. Biện pháp khắc phục.
    11. Biện pháp phòng ngừa.
    12. Kiểm soát hồ sơ.
    13. Đánh giá nội bộ.
    14. Xem xét của lãnh đạo.

    Các yêu cầu về kỹ thuật bao gồm:

    1. Yêu cầu chung.
    2. Nhân sự.
    3. Tiện nghi và điều kiện môi trường.
    4. Phương pháp thử nghiệm, hiệu chuẩn và phê duyệt phương pháp.
    5. Thiết bị.
    6. Tính liên kết chuẩn đo lường.
    7. Lấy mẫu.
    8. Quản lý mẫu thử nghiệm, hiệu chuẩn.
    9. Đảm bảo chất lượng kết quả thử nghiệm và hiệu chuẩn
    10. Báo cáo kết quả.

    Dưới đây hướng dẫn thực hiện một số vấn đề then chốt trong hoạt động QA/QC của phòng thí nghiệm.

    1. Tổ chức và quản lý phòng thí nghiệm

    Để tổ chức và quản lý tốt phòng thí nghiệm, cần thực hiện một số yêu cầu sau:

    a/ Xác định rõ cơ cấu tổ chức của PTN trong tổ chức mà PTN trực thuộc. Phân định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cán bộ, nhân viên trong PTN. Xác định cụ thể người là “cán bộ quản lý kỹ thuật” chịu trách nhiệm về các hoạt động kỹ thuật và người là “cán bộ quản lý chất lượng” chịu trách nhiệm đảm bảo cho các yêu cầu đã được quy định trong hệ thống chất lượng được tuân thủ và thực hiện đầy đủ.

    b/ Phòng thí nghiệm phải thiết lập một hệ thống chất lượng được thể hiện bằng hệ thống các văn bản, tài liệu, gọi chung là “hệ thống tài liệu chất lượng”. Hệ thống tài liệu chất lượng này bao gồm: Sổ tay chất lượng; các quy định, thủ tục điều hành những hoạt động, quá trình có tính chất chung của phòng thí nghiệm; các quy định, tài liệu có tính chất chỉ dẫn công việc cụ thể.

    Có thể hình dung hệ thống tài liệu chất lượng trên bằng sơ đồ kim tự tháp dưới đây. ở trên cùng là Sổ tay chất lượng, càng ở mức dưới, số lượng văn bản, tài liệu càng yêu cầu nhiều hơn.

    Sổ tay

    chất lượng

    Các thủ

    tục điều hành

    Các chỉ dẫn

    công việc cụ thể

    c/ PTN phải định kỳ tiến hành việc đánh giá nội bộ theo các thời hạn (thường là 1 năm) và thủ tục đã định để kiểm tra xem hoạt động của phòng thí nghiệm có liên tục tuân thủ các yêu cầu của hệ thống chất lượng hay không. Cán bộ quản lý chất lượng có trách nhiệm lập kế hoạch và tổ chức đánh giá theo chương trình đã định.

    Khi việc đánh giá phát hiện ra những nghi ngờ về hiệu quả của các hoạt động hoặc về sự đúng đắn của các kết quả phân tích, đo, thử, phòng thí nghiệm phải tiến hành các hoạt động khắc phục kịp thời, phải thông báo bằng văn bản cho các cơ sở có liên quan biết về những sai sót này để hiệu chỉnh chúng.

    d/ Lãnh đạo phòng thí nghiệm phải định kỳ, thường là 1 năm, xem xét lại hệ thống quản lý chất lượng và các hoạt động phân tích, đo, thử của phòng thí nghiệm để đảm bảo sự phù hợp liên tục và tính hiệu quả của chúng và để đưa ra những thay đổi hoặc cải tiến cần thiết.

     

    1. Các phương pháp phân tích, đo thử.

    Yêu cầu chung là PTN phải sử dụng các phương pháp và thủ tục phù hợp với những yêu cầu đã được xác định trong các chương trình quan trắc  và phù hợp với các phép phân tích, đo, thử thuộc phạm vi hoạt động của PTN, bao gồm cả việc lấy mẫu, xử lý, vận chuyển, lưu kho và chuẩn bị mẫu.

    a/ Chọn lựa phương pháp

    Tốt nhất là sử dụng các phương pháp đã tiêu chuẩn hoá, đó là các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn vùng, tiêu chuẩn quốc gia. Phải sử dụng những ấn phẩm mới nhất của các tiêu chuẩn. Khi cần thiết, PTN phải hiệu chỉnh các tiêu chuẩn này bằng những chi tiết bổ sung để đảm bảo sự áp dụng thích hợp.

    PTN cũng có thể chọn các phương pháp thích hợp đã được công bố trong các tạp chí, các sách khoa học. Các phương pháp nội bộ (do PTN tự xây dựng) cũng có thể được sử dụng nếu phù hợp với yêu cầu quy định và phải được thể hiện thành văn bản, được phê duyệt theo thủ tục quy định. Đối với các phương pháp chưa được tiêu chuẩn hoá này cần phải có sự thoả thuận của cơ quan quản lý chương trình quan trắc. Sự thoả thuận này được thể hiện bằng một văn bản quy định rõ ràng về các yêu cầu và mục đích của phép phân tích, đo, thử.

    b/ Phê duyệt phương pháp

     

    PTN phải kiểm tra lại các phương pháp tiêu chuẩn, không tiêu chuẩn và các phương pháp mới để khẳng định các phương pháp này là phù hợp với mục đích sử dụng.

    Hình 1. Hoạt động QA/QC trong phòng thí nghiệm

    Phải ghi lại các kết quả của việc phê duyệt và thủ tục thực hiện việc phê duyệt này. Việc phê duyệt phải dựa trên các thông số của các kỹ thuật phân tích đã được chọn. Các thông số và kết quả phê duyệt phải được thể hiện bằng văn bản và phải được lưu trữ.

    Sự phù hợp của phương pháp có thể kiểm tra bằng cách so sánh với các yêu cầu đặc trưng cho việc sử dụng đã định như độ không đảm bảo của kết quả, giới hạn phát hiện, độ chọn lọc của phương pháp, độ tuyến tính, giới hạn độ lặp lại hoặc độ tái lập, khả năng chống lại các ảnh hưởng bên ngoài …

    Các kỹ thuật được sử dụng để phê duyệt một phương pháp có thể là một hoặc một số trong các cách sau: sử dụng các chuẩn đo lường hoặc mẫu chuẩn; so sánh kết quả với các phương pháp khác; so sánh liên phòng; đánh giá một cách hệ thống những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả; đánh giá độ không đảm bảo của kết quả dựa trên hiểu biết khoa học về các nguyên tắc lý thuyết của phương pháp và kinh nghiệm thực tế.

    c/ Đánh giá độ không đảm bảo

    PTN phải có thủ tục để đánh giá độ không đảm bảo của tất cả các phép phân tích, đo, thử.

    Phải quan tâm đến tất cả các yếu tố góp phần vào độ không đảm bảo. Các yếu tố đó là:

    – Các chuẩn chính, mẫu chuẩn và trang thiết bị sử dụng;

    – Phương pháp phân tích, đo thử được lựa chọn;

    – Điều kiện môi trường;

    – Đặc tính của đối tượng phân tích, đo, thử;

    – Người thao tác.

    Tài liệu cơ bản để đánh giá, trình bày độ không đảm bảo đo hiện nay là ISO/TAG4/WG3 “Guide to expression of uncertainty in measurement”, 1993 và bộ tiêu chuẩn ISO 5725: 1994: Độ chính xác (độ chính xác và độ chụm) của phương pháp đo và kết quả đo (ISO 5725: 1994 Accuracy (truness and precsion) of measurement methods and results).

    III.  Trang thiết bị

    a/ Trang thiết bị của phòng thí nghiệm phải đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn hoặc phương pháp tương ứng.

    b/ Trang thiết bị phải được đánh dấu, dán nhãn để phân biệt và nhận dạng được dễ dàng, trong đó phản ánh được tình trạng hiệu chuẩn, kiểm định và thời hạn hiệu chuẩn, kiểm định tiếp theo của nó.

    Phải duy trì và lưu giữ hồ sơ của từng loại trang thiết bị.

    c/ Phải thiết lập các thủ tục bảo dưỡng và thực hiện việc bảo dưỡng trang thiết bị thường xuyên hay định kỳ.

    Trang thiết bị sai hỏng phải được dán nhãn để phân biệt với các trang thiết bị bình thường. Phải ngừng sử dụng nó cho đến khi sửa chữa, hiệu chỉnh xong và việc hiệu chuẩn hoặc kiểm định sau đó chứng minh thiết bị đã hoạt động tốt.

    Khi vì lý do nào đó, trang thiết bị vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát trực tiếp của PTN trong một thời gian nhất định, PTN phải tiến hành kiểm tra để đảm bảo rằng thiết bị vẫn đủ tốt trước khi đưa vào hoạt động trở lại trong PTN.

    d/ Phải đảm bảo tính liên kết chuẩn đo lường của tất cả các trang thiết bị của phòng thí nghiệm.

    Thực chất của yêu cầu đảm bảo tính liên kết chuẩn chính là việc thực hiện một chuỗi phép hiệu chuẩn kế tiếp nhau đối với tất cả trang thiết bị của PTN, làm cho các trang thiết bị này đều được so sánh (trực tiếp hay gián tiếp), và tiếp đó là hiệu chỉnh, theo hệ thống chuẩn đo lường quốc gia hay quốc tế, từ đó đảm bảo cho trang thiết bị đo, thử, phân tích luôn tin cậy và chính xác. Cụ thể phòng thí nghiệm phải thực hiện một số việc sau:

    + PTN phải xây dựng và thực hiện chương trình hiệu chuẩn cho tất cả các trang thiết bị có ảnh hưởng rõ rệt đến giá trị và độ chính xác của các kết quả phân tích, đo, thử trước khi đưa chúng vào sử dụng cũng như trong suốt quá trình sử dụng chúng. Chương trình hiệu chuẩn phải bao gồm cả các phương tiện đo dùng cho các phép đo phụ trợ, ví dụ để đo các điều kiện môi trường.

    + Đối với những trang thiết bị không thể thực hiện được việc hiệu chuẩn nêu trên,  PTN có thể áp dụng các biện pháp sau:

    – Tham gia một chương trình so sánh liên phòng hoặc thí nghiệm thành thạo để có bằng chứng về sự phù hợp của các trang thiết bị liên quan.

    – Sử dụng các mẫu chuẩn mà các giá trị về thành phần và tính chất của nó đã được chứng nhận để kiểm tra trang thiết bị.

    – Sử dụng các chuẩn hoặc các phương pháp đã được các bên liên quan thoả thuận.

     

    1. Tiện nghi và điều kiện môi trường

    a/ Yêu cầu chung là tiện nghi của PTN, bao gồm cả các điều kiện về môi trường, chiếu sáng và các nguồn năng lượng, phải phù hợp để có thể dễ dàng thực hiện một cách đúng đắn các phép phân tích, đo, thử theo yêu cầu. Cần có sự quan tâm đặc biệt khi việc lấy mẫu, hoặc việc phân tích, đo, thử  được thực hiện ở những nơi ngoài địa điểm cố định của PTN. Phải quy định thành văn bản các yêu cầu đối với các tiện nghi và điều kiện môi trường có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích, đo, thử.

    b/ PTN phải có các thủ tục và thực hiện việc giám sát, kiểm tra để chắc chắn rằng môi trường không tác động xấu tới việc lấy mẫu; việc tiến hành phân tích, đo, thử. Việc thực hiện các phép phân tích phải được dừng lại khi các điều kiện môi trường không phù hợp. Cần đặc biệt kiểm soát sự phù hợp với các yêu cầu của các yếu tố như sự vô trùng về mặt sinh học, bụi bẩn, những tín hiệu điện từ gây nhiễu, chất phóng xạ, việc cung ứng điện, nhiệt độ, độ ẩm, rung động, tiếng ồn v.v…

    c/ Trường hợp có những hoạt động ảnh hưởng lẫn nhau, PTN phải phân lập một cách có hiệu quả những khu vực này để tránh những ảnh hưởng xấu qua lại.

    d/ PTN phải thực hiện sự kiểm soát đối với việc sử dụng và ra vào phòng thí nghiệm mà không có nhiệm vụ để hạn chế những ảnh hưởng xấu đến kết quả phân tích, đặc biệt là những nơi có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các phép phân tích.

     

    1. Nhân sự

    a/ Ban lãnh đạo PTN phải đảm bảo rằng tất cả kỹ thuật viên vận hành trang thiết bị có đủ trình độ và năng lực cần thiết. Trong PTN các kỹ thuật viên cần thường xuyên được nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu thực tế.

    b/ Nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo và kỹ thuật viên phải được phân công rõ ràng và được thể hiện bằng văn bản.

     

    1. Quản lý mẫu phân tích, đo, thử

    a/ PTN phải có các thủ tục thích hợp cho việc quản lý mẫu đối với từng thông số.

    b/ PTN phải có các cách để nhận dạng và phân biệt mẫu. Những ký hiệu nhận dạng phải được duy trì trong suốt thời gian tồn tại của mẫu trong PTN để đảm bảo không gây ra sự nhầm lẫn các mẫu khi phân tích đo, thử khi luân chuyển, kể cả khi đưa vào hồ sơ, tài liệu.

    c/ Khi tiếp nhận mẫu, PTN phải ghi lại mọi sự không bình thường hoặc sai lệch so với sự mô tả trong các phương pháp phân tích, đo, thử mà PTN sử dụng; phải tham khảo ý kiến của các bộ phận liên quan để họ cho các hướng dẫn cụ thể khi có sự nghi ngờ về sự phù hợp của mẫu.

    d/ PTN phải có các thủ tục và tiện nghi để phòng tránh các hư hỏng đối với mẫu trong quá trình lưu giữ, xử lý, chuẩn bị và tiến hành phân tích, đo, thử. Phải tuân thủ các hướng dẫn kèm theo mẫu.

    VII. Đảm bảo chất lượng các kết quả phân tích

    PTN phải đảm bảo chất lượng kết quả phân tích bằng cách theo dõi liên tục các kết quả. Việc theo dõi phải được lập thành kế hoạch và có thể bao gồm các cách sau:

    • Các sơ đồ kiểm tra chất lượng nội bộ bằng cách sử dụng kỹ thuật thống kê.
    • Tham gia các chương trình so sánh liên phòng hoặc thử nghiệm thành thạo.
    • Sử dụng đều đặn các mẫu chuẩn đã được chứng nhận.
    • Tái tạo lại các phép phân tích bằng các phương pháp giống hoặc khác nhau.
    • Phân tích nghiệm lại các mẫu được lưu giữ.
    • Xem xét sự tương quan giữa kết quả với các đặc trưng khác nhau của mẫu.

    VIII. Kiểm soát chất lượng trong phòng thí nghiệm

    QC phòng thí nghiệm chính là một chương trình đánh giá đan xen vào các hoạt động tại hiện trường và trong phòng thí nghiệm để đánh giá độ chính xác và độ đúng đắn của các phép phân tích đo thử (gọi vắn tắt là các phép đo).

    Các quá trình QC được thực hiện bằng việc phân tích đều đặn mẫu kiểm soát chất lượng (mẫu QC) sau khi một phương pháp đã được chứng minh là thích hợp cho việc sử dụng thông qua  sự phê duyệt phương pháp.

    Các mẫu QC được dùng trong phân tích môi trường gồm hai loại: mẫu QC phòng thí nghiệm và mẫu QC hiện trường.

    Mẫu QC

    Mẫu QC hiện trường xem mục 1.4

    1. Mẫu QC phòng thí nghiệm

    Mẫu QC phòng thí nghiệm gồm hai loại: mẫu QC phương pháp và mẫu QC thiết bị.

    • Mẫu QC thiết bị

    Các mẫu QC thiết bị dùng để đánh giá và kiểm tra chất lượng của kết quả do thiết bị mang lại. Mẫu QC thiết bị bao gồm: chuẩn kiểm soát (control standard); chuẩn thẩm tra (verification standard); mẫu trắng thiết bị (instrument blank).

    + Mẫu trắng thiết bị: một mẫu nhỏ dung môi, thường là nước cất, được cho trực tiếp vào thiết bị để đo sự ô nhiễm do thiết bị gây ra. Mẫu này thường dùng để đánh giá độ ổn định và độ nhiễu của thiết bị.

    + Chuẩn kiểm soát: là chuẩn dùng để kiểm tra độ chính xác của các chuẩn được dùng để chuẩn hoá thiết bị.

    + Chuẩn thẩm tra: là chuẩn để theo dõi độ ổn định của thiết bị theo thời gian.

    • Mẫu QC phương pháp:

    Mẫu QC phương pháp dùng để đánh giá chất lượng tất cả tính năng sử dụng của phương pháp trong phòng thí nghiệm. Mẫu QC phương pháp phòng thí nghiệm gồm: mẫu trắng phương pháp, mẫu lặp phòng thí nghiệm, mẫu thêm phương pháp, mẫu chuẩn được chứng nhận.

    Mẫu trắng phương pháp: Là mẫu bằng vật liệu sạch được trải qua các bước xử lý giống như  với mẫu phân tích, đo,  thử. Mẫu này được dùng  để đánh giá sự ô nhiễm tạo ra trong toàn bộ một thủ tục phân tích, đo,  thử.

     

                Mẫu lặp phòng thí nghiệm: Hai hoặc nhiều hơn các phần của cùng một mẫu tự nhiên được chuẩn bị và phân tích riêng rẽ bằng cùng một phương pháp. Mẫu này dùng để đánh giá độ tập trung của kết quả phân tích , đo,  thử trong phòng thí nghiệm.

    Mẫu thêm phương pháp: Mẫu, vật liệu sạch hoặc thuốc thử được cho thêm vào một lượng đã biết của một hay nhiều yếu tố phân tích và được xử lý giống như khi phân tích, đo,  thử. Mẫu thêm để đánh giá mức độ sai lệch gây ra do ảnh hưởng của nền và sai số của phòng thí nghiệm, các sai số hiệu chuẩn, sai số chuẩn bị mẫuv.v…

    Mẫu chuẩn được chứng nhận:

    Việc phân tích mẫu chuẩn trong phòng thí nghiệm trước hết là để đánh giá sai số, độ đúng, sai số hệ thống của phương pháp được sử dụng.

    1. Tiêu chí chấp nhận của kiểm soát chất lượng và biện pháp khắc phục

     

    Kiểm soát chất lượng được thực hiện thông qua việc phân tích, đo hoặc thử nghiệm một số loại mẫu QC đã nêu trên để nhận dạng các nguồn sai số xác định. Tuy nhiên kết quả phân tích, đo, thử các mẫu QC sẽ chỉ có ý nghĩa khi đưa ra được các giới hạn để so sánh với chúng. Ví dụ khi phân tích mẫu trắng hiện trường, mẫu trắng vận chuyển, mẫu trắng thiết bị… cần có các giá trị định mức thích hợp để biết mức độ ô nhiễm gây ra trong quá trình lấy mẫu, vận chuyển mẫu, hoặc do thiết bị gây ra còn chấp nhận được  hay đẫ tới mức nguy hiểm, cần truy tìm nguyên nhân để loại bỏ nó. Hoặc khi hiệu chuẩn thiết bị bằng cách so sánh với chuẩn, sẽ xác định được sai số số chỉ của thiết bị này. Nhưng cùng với nó phải biết sai số cho phép lớn nhất của thiết bị là bao nhiêu để quyết định xem có cần hiệu chỉnh để đưa sai số về phạm vi cho phép hay không v.v…

    Một ví dụ điển hình là sử dụng các “giới hạn cảnh báo” và “giới hạn kiểm soát”. Như khi phân tích”mẫu lặp phòng thí nghiệm”, ta xác định được độ lệch chuẩn s đặc trưng cho sự phân tán (độ tập trung) của phương pháp (thủ tục) phân tích được sử dụng. Giới hạn cảnh báo được lấy là 2s và giới hạn kiểm soát được lấy là 3s. Giá trị 2s và 3s gọi là giới hạn cảnh báo và giới hạn kiểm soát trên (ký hiệu là UWL và UCL). Giá trị -2s và -3s gọi là giới hạn cảnh báo và giới hạn kiểm soát dưới (ký hiệu là LWL và LCL). Khi sự thành thạo của PTN tăng lên, giá trị của các giới hạn này sẽ nhỏ xuống. Các giới hạn 2s va 3s ứng với mức tin cậy 95,45% và 99,73%.  Điều này có nghĩa là với 100 phép phân tích ta hy vọng nhiều nhất là chỉ có 5 phép phân tích có giá trị vượt quá giới hạn cảnh báo và cứ 300 phép phân tích hy vọng chỉ có 1 giá trị vượt quá giới hạn kiểm soát. Với một giá trị nền xác định ta có biểu đồ kiểm soát sau đây:

    Khi giá trị thu được vượt ra khỏi giới hạn cảnh báo, nghĩa là bắt đầu có những vấn đề  phải quan tâm xem xét và khi giá trị thu được vượt quá giới hạn kiểm soát, có nghĩa là vấn đề đã trở nên nghiêm trọng và nguy hiểm. Các biện pháp khắc phục  phải được đề ra và thực hiện. Bảng dưới đây cho một ví dụ về các hành động khắc phục trong một tình huống cụ thể.

     

    Kế hoạch khắc phục các sai sót của QC

    1. Các giả thiết:
    2. Trung bình có 1 trong 20 điểm đo vượt quá giới hạn cảnh báo (WL) 2 độ lệch chuẩn (2SD) và 1 trong 300 điểm đo vượt quá giới hạn kiểm soát (CL) 3 độ lệch chuẩn (3SD).
    3. Đường trung tâm là x lần giới hạn phát hiện của phương pháp (MDL) với x ít nhất là 20 lần MDL.
    4. Tiêu chuẩn và các hành động xử lý áp dụng cho các điểm đo nằm trên và dưới giới hạn của tham số và không áp dụng nếu các điểm đo nằm trên hai cận của tham số.
    1. Biện pháp khắc phục
    Tham số thống kê Tiêu chuẩn Hành động
    Giới hạn kiểm soát

    (CL) là 3SD (3s)

    1. Một điểm đo vượt quá CL

    2.a. Các phép phân tích lặp lại < CL

    2.b. Các phép phân tích lặp lại > CL

    1.  Lặp lại phép phân tích

    2.a. Tiếp tục phân tích

    2. b. Dừng lại và hiệu chỉnh

    Giới hạn cảnh báo

    (WL) là 2SD (2s)

    1. 2 hoặc 3 điểm đo > WL

    2.a. Điểm đo tiếp theo < WL  2. b. Điểm đo tiếp theo > WL

    1.  Phân tích mẫu khác

    2.  a.  Tiếp tục phân tích

    2. b. Dừng lạivà hiệu chỉnh

    Độ lệch chuẩn (SD) 1. 4 hoặc 5 điểm đo > 1 SD

    2.a. Điểm đo tiếp theo < 1SD

    2.b. Điểm đo tiếp theo > 1SD

    1.  Phân tích mẫu khác

    2.  a. Tiếp tục phân tích

    2.b.Dừng lại và hiệu chỉnh

    Đường trung tâm (CTL) 1. Điểm đo trên CTL

    2.a. Điểm đo tiếp theo ở   dưới CTL

    2.b. Điểm đo tiếp theo ở trên  CTL

    1.  Phân tích mẫu khác

    2.  a. Tiếp tục phân tích

    2. b. Dừng lại và hiệu chỉnh

    1. Sau khi tiến hành các hoạt động khắc phục

    Phân tích lại một nửa số mẫu nằm giữa điểm cuối cùng trong giới hạn kiểm soát và điểm ngoài cùng ngoài giới hạn kiểm soát.

     

    1. So sánh liên phòng thí nghiệm và thử nghiệm thành thạo

    Một trong các biện pháp kiểm soát chất lượng PTN có hiệu quả là việc tổ chức và tham gia so sánh liên PTN và thử nghiệm thành thạo.

    • So sánh liên phòng thí nghiệm (Interlaboratory compairison)

    Là việc tổ chức và thực hiện đánh giá các phép phân tích đối với các mẫu hoặc vật liệu thử hoàn toàn giống nhau hoặc tương tự nhau bởi hai hay nhiều PTN theo sự thoả thuận với những điều kiện được xác định.

    So sánh liên PTN nhằm các mục đích: xác định năng lực của PTN đối với các phép phân tích, đo, thử nghiệm; kiểm tra sự tương thích và nhất quán của số liệu đối với từng cá nhân kỹ thuật viên của PTN; thiết lập các phương pháp phân tích; đo, thử mới; giải quyết sự khác nhau giữa các PTN; xác định giá trị các mẫu chuẩn được chứng nhận v.v…

    • Thử nghiệm thành thạo (proficiency testing)

    Là việc xác định chất lượng thực hiện việc phân tích bằng cách so sánh liên PTN.

    Mục đích của việc thử nghiệm thành thạo chính là nhằm xác định năng lực của PTN đối với các phép phân tích do các PTN công bố.

    Thử nghiệm thành thạo được thực hiện bằng chương trình thử nghiệm liên PTN.

    • Chương trình thử nghiệm liên PTN (interlaboratory testing programmes)

    Là việc so sánh liên PTN trong đó các mẫu của một vật liệu thử đồng nhất được phân phát để thực hiện các phép phân tích thích hợp tại các PTN tham gia.

     

     

     

     

     

    Phụ lục 2.       Xử lý số liệu theo phân bố chuẩn

    (phân bố Gauss)

    1. Độ lệch chuẩn của phương pháp đã biết

    Kết quả của phép đo 1 lần được trình bày như sau:

    Q= X ± ts; với P = 95%

    Trong đó: Q là giá trị thực của đại lượng;

    X là giá trị thu được từ phép đo 1 lần, được coi là kết quả đo (là giá trị của đại lượng đo);

    P là xác suất (mức tin cậy);

    t là hệ số phụ thuộc P (bảng 1 và bảng 2 của phụ lục).

    Điều trên có nghĩa là với xác suất tin cậy P đã chọn, sai số của kết quả đo (X) nằm trong giới hạn ± ts, cũng có nghĩa là giá trị thực Q của đại lượng sẽ nằm trong khoảng từ X – ts đến X + ts. Trường hợp P được lấy bằng 95% (0,95), khi đó hệ số t = 2, có nghĩa là nếu ta tiến hành 100 phép đo theo phương pháp ấy sẽ hy vọng chỉ có 5 lần đo có sai số vượt ra ngoài giới hạn ± 2s. Chọn P bằng bao nhiêu là tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể.

    Ví dụ: Sai số của phép đo một lần có thể bằng bao nhiêu nếu phương pháp đo đã cho có s =0,01 đơn vị và cứ 100 lần đo thì trung bình có 5 lần sai số vượt quá giới hạn quy định. Bài toán này cũng có nghĩa là tìm giới hạn sai số của phép đo với s =0,01 đv và P = 95%.

    Bảng 2 Phụ lục I phân bố chuẩn cho ứng với P=95%, ta có t=2. Sai số của phép đo 1 lần trong trường hợp này là:

    ± ts = ± 2 x 0.01đv = ± 0,02 đv

    1. Trường hợp chưa biết độ lệch chuẩn s của phương pháp

    Thực hiện n lần đo (thử, phân tích)  liên tiếp cùng một đại lượng. Tính giá trị trung bình cộng () và độ lệch chuẩn thực nghiệm như sau:

    trong đó:  x1, x2 ….xn là giá trị thu được ở từng lần đo;

    n là số lần  đo lặp lại.

    Giá trị trung bình  được lấy làm kết quả đo. Độ lệch chuẩn s đặc trưng cho sự phân tán của các giá trị đo riêng rẽ xi xung quanh giá trị trung bình. Giá trị s lớn có nghĩa là các giá trị đo riêng rẽ xi phân tán nhiều quanh, tức phép đo có độ tập trung thấp và ngược lại.

    Kết quả của phép đo được trình bày như sau:

    Q =  Với P = ….

    Trong đó: Q là giá trị thực của đại lượng;

    là giá trị trung bình;

    ts là hệ số phụ thuộc số lần đo lặp n và xác suất tin cậy P đã chọn được tra theo bảng 1 và bẳng 2 phân bố Student (phụ lục)

    s là độ lệch chuẩn thực nghiệm;

    P là xác suất tin cậy.

    Điều trên có nghĩa là với xác suất tin cậy P đã chọn sai số của kết quả đo () nằm trong giới hạn, có nghĩa là giá trị thực của đại lượng sẽ nằm từ                                                       đến.

    Ví dụ: Để xác định chính xác khối lượng một mẫu thử, ta cân liên tiếp 6 lần mẫu đó, được các kết quả sau (đơn vị g):

    72,631          72,344

    72,357          72,346

    73,352          72,340

    Khối lượng thực của mẫu bằng bao nhiêu với xác xuất tin cậy là 99%.

    Tính: =  = 72,350 g

    » 8,06 x 10-3g

    Tra bảng 1 phụ lục I, ứng với n = 6 và P = 99%, có ts = 4,03. Ta có:

    =

    Kết quả đo cuối cùng được thể hiện là:

    m =(72,350 ± 0,013)g, với P = 99%

    1. Làm tròn số

    Khi làm tròn trị số của kết quả đo, người ta căn cứ vào bậc có nghĩa của sai số. Trị số của kết quả đo phải tận cùng bằng con số cùng bậc với trị số của sai số. Ví dụ, khi sai số là ± 5, con số tận cùng sẽ là con số ứng với hàng đơn vị, khi sai số là ± 0,02, con số tận cùng sẽ là số lẻ phần trăm…

    Để làm tròn số, áp dụng các quy tắc sau đây:

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là các con số nhỏ hơn 5 thì khi quy tròn, con số cuối cùng sẽ không thay đổi (quy tròn xuống hay giảm).

    Ví dụ:

    2,12 » 2,1

    6,343 » 6,34

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là các con số lớn hơn 5 thì khi quy tròn, con số cuối cùng sẽ tăng thêm 1 (quy tròn lên hay quy tròn tăng).

    Ví dụ:   3,14159 » 3,1416

    8,248 » 8,25

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 và sau con số 5 có ít nhất một con số khác không thì khi quy tròn con số cuối cùng đó sẽ tăng thêm 1 (quy tròn tăng).

    Ví dụ:

    4,3501 » 4,4

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 và biết rõ con số 5 này đã được quy tròn như thế nào thì con số 5 đó sẽ được quy tròn xuống theo quy tắc a nếu như nó đã được quy tròn lên và sẽ được quy tròn lên theo quy tắc b nếu như nó đã được quy tròn xuống.

    Ví dụ:    6,3149 đã được  quy tròn thành 6,315 nếu tiếp tục sẽ được quy tròn thành 6,31.

    4,1852 đã quy tròn thành 4,185, nếu tiếp tục sẽ quy thành 4,19.

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số đúng 5 (sau nó chỉ toàn là số 0) thì có thể tuỳ ý quy tròn lên hay quy tròn xuống. Nhưng nếu cần sử dụng số quy tròn trong khi tính toán thì nên quy tròn như thế nào để con số cuối cùng là con số chẵn. Như vậy, con số cuối cùng đó sẽ không thay đổi nếu nó đã là con số chẵn và sẽ tăng thêm 1 nếu nó là con số lẻ (quy tắc số chẵn).

    Ví dụ:

    1. Nếu kế tiếp con số cuối cùng cần để lại khi quy tròn là con số 5 nhưng không biết nó là con số đúng 5 hay đã được quy tròn, thì xem con số 5 đó là con số đúng và quy tròn theo quy tắc e.
    2. Loại bỏ kết quả đo bất thường

    Kết quả của một lần đo riêng rẽ trong dãy n phép đo cùng một đại lượng được coi là bất thường nếu nó lệch một cách đáng kể so với những giá trị còn lại. Bảng phân bố chuẩn và phân bố Student cho thấy xác suất   a = 1 – P để một kết quả đo riêng rẽ lệch so với giá trị trung bình 3s hoặc 4s là rất nhỏ ( a ứng với ÷xi -÷ > 3s là 0,3% và   ứng với ÷xi -÷ > 4s là 0,01% ). Vậy có kết quả nào lệch với quá giới hạn 3s hoặc 4s (tuỳ theo P được chọn) có thể coi là mắc sai số thô và loại bỏ chúng trong quá trình xử lý kết quả đo.

     

    Bảng 1

    Giá trị tích phân xác suất  theo các giá trị t cho trước

    t F(t) t F(t) t F(t) t F(t)
    0,00

    0,05

    0,10

    0,15

    0,20

    0,25

    0,30

    0,35

    0,40

    0,45

    0,55

    0,60

    0,55

    0,65

    0,60

    0,75

    0,80

    0,85

    0,90

    0,0000

    0,0399

    0,0797

    0,1192

    0,1585

    0,1974

    0,2358

    0,2737

    0,3108

    0,3473

    0,3829

    0,4177

    0,4515

    0,4843

    0,5161

    0,5467

    0,5763

    0,6047

    0,6319

    0,95

    1,00

    1,05

    1,10

    1,15

    1,20

    1,25

    1,30

    1,35

    1,40

    1,45

    1,50

    1,55

    1,60

    1,65

    1,70

    1,75

    1,80

    0,6579

    0,6827

    0,7063

    0,7287

    0,7499

    0,7699

    0,7887

    0,8064

    0,8230

    0,8385

    0,8529

    0,8664

    0,8798

    0,8904

    0,9011

    0,9109

    0,9199

    0.9281

    1,85

    1,90

    1,95

    2,00

    2,05

    2,10

    2,15

    2,20

    2,25

    2,30

    2,35

    2,40

    2,45

    2,50

    2,55

    2,60

    2,65

    2,70

    0,9357

    0,9426

    0,9488

    0,9545

    0,9596

    0,9643

    0,9684

    0,9722

    0,9756

    0,9786

    0,9812

    0,9836

    0,9857

    0,9876

    0,9892

    0,9907

    0,9920

    0,9931

    2,75

    2,80

    2,85

    2,90

    2,95

    3,0

    3,1

    3,2

    3,3

    3,4

    3,5

    3,6

    3,7

    3,8

    3,9

    4,0

    4,,5

    5,0

    0,9940

    0,9949

    0,9956

    0,9963

    0,9968

    0,99730

    0,99806

    0,99862

    0,99904

    0,99932

    0,99954

    0,99968

    0,99978

    0,99986

    0,99990

    0,999936

    0,999994

    0,9999994

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 2

    Giá trị t theo giá trị tích phân xác suất cho trước

    F(t) 1- F(t) t F(t) 1- F(t) t
    0,50

    0,60

    0,70

    0,75

    0,80

    0,85

    0,90

    0,95

    0,96

    0,97

    0,98

    0,99

    0,991

    0,50

    0,40

    0,30

    0,25

    0,20

    0,15

    0,10

    0,05

    0,04

    0,03

    0,02

    0,01

    0,009

    0,675

    0,842

    1,036

    1,150

    1,282

    1,440

    1,645

    2,960

    2,054

    2,170

    2,326

    2,576

    2,612

    0,992

    0,993

    0,994

    0,995

    0,996

    0,997

    0,998

    0,999

    0,9995

    0,9999

    0,99999

    0,999999

    0,9999999

    0,008

    0,007

    0,006

    0,005

    0,004

    0,003

    0,002

    0,001

    5.10-4

    1.10-4

    1.10-5

    1.10-6

    1.10-6

    2,652

    2,697

    2,748

    2,807

    2,878

    2,968

    3,090

    3,219

    3,481

    3,891

    4,417

    4,892

    5,327

    Bảng 3.

     

    Giá trị ts ứng với xác suất tin cậy Ps và số lần đo n khác nhau

    Ps

    n

    0,5 0,6 0,7 0,8 0,9 0,95 0,98 0,99 0,999
    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    ¥

    1,000

    0,816

    0,765

    0,741

    0,727

    0,718

    0,711

    0,706

    0,703

    0,700

    0,697

    0,665

    0,694

    0,692

    0,691

    0,690

    0,689

    0,688

    0,688

    0,674

    1,376

    1,061

    0,978

    0,941

    0,920

    0,906

    0,896

    0,889

    0,883

    0,879

    0,976

    0,873

    0,870

    0,868

    0,866

    0,865

    0,863

    0,862

    0,861

    0,842

    1,963

    1,336

    1,250

    1,190

    1,156

    1,134

    1,119

    1,108

    1,110

    1,093

    1,088

    1,083

    1,079

    1,076

    1,074

    1,071

    1,069

    1,067

    1,066

    1,036

    3,08

    1,886

    1,638

    1,533

    1,476

    1,440

    1,415

    1,397

    1,383

    1,372

    1,363

    1,356

    1,350

    1,345

    1,341

    1,337

    1,333

    1,330

    1,328

    2,282

    6,31

    2,92

    2,35

    2,13

    2,02

    1,943

    1,895

    1,860

    1,833

    1,812

    1,796

    1,782

    1,771

    1,761

    1,753

    1,746

    1,740

    1,734

    1,729

    1,645

    12,71

    4,30

    3,18

    2,77

    2,57

    2,45

    2,36

    2,31

    2,26

    2,23

    2,20

    2,18

    2,16

    2,14

    2,13

    2,12

    2,11

    2,10

    2,09

    1,960

    31,8

    6,96

    4,54

    3,75

    3,36

    3,14

    3,00

    2,90

    2,82

    2,76

    2,72

    2,68

    2,65

    2,62

    2,60

    2,58

    2,57

    2,55

    2,54

    2,33

    63,7

    6,92

    5,84

    4,60

    4,03

    3,71

    3,50

    3,36

    3,25

    3,17

    3,11

    3,05

    3,01

    2,98

    2,95

    2,92

    2,90

    2,88

    2,86

    2,58

    636,6

    31,6

    12,9

    8,61

    6,86

    5,96

    5,40

    5,04

    4,78

    4,59

    4,49

    4,32

    4,22

    4,14

    4,07

    4,02

    3,96

    3,92

    3,88

    3,29

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 4

     

    Giá trị xác suất tin cậy Ps tương ứng với các giá trị ts và n khác nhau

     

    ts

    n

    2 2,5 3 3,5
    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    ¥

    0,705

    0,816

    0,861

    0,884

    0,898

    0,908

    0,914

    0,919

    0,923

    0,927

    0,929

    0,931

    0,933

    0,935

    0,936

    0,937

    0,938

    0,939

    0,940

    0,955

    0,758

    0,870

    0,912

    0,933

    0,946

    0,953

    0,959

    0,963

    0,966

    0,969

    0,970

    0,972

    0,974

    0,974

    0,975

    0,976

    0,977

    0,978

    0,976

    0,988

    0,795

    0,905

    0,942

    0,960

    0,970

    0,976

    0,980

    0,983

    0,985

    0,987

    0,988

    0,989

    0,990

    0,990

    0,991

    0,992

    0,992

    0,992

    0,993

    0,997

    0,823

    0,928

    0,961

    0,975

    0,983

    0,987

    0,990

    0,992

    0,993

    0,994

    0,995

    0,996

    0,996

    0,996

    0,997

    0,997

    0,997

    0,998

    0,998

    0,9995

     

  • Bài tập môn Kế toán Ngân hàng

    Bài tập môn Kế toán Ngân hàng

    Bài tập môn Kế toán Ngân hàng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-m%C3%B4n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập môn Kế toán Ngân hàng

    Bài tập môn Kế toán Ngân hàng

    Bài tập1:

    Ngày 5/3/x khách hàng đề nghị chuyển 100 trd từ tiền gửi không kỳ hạn để mở sổ tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng lĩnh lãi cuối kỳ, lãi xuất 0,7%/tháng

    Đến hạn khách hàng đến tất toán và nhận tất cả bằng tiền mặt

    Yêu cầu: xử lý và định khoản theo dõi sổ tiết kiệm trên

    Biết ngân hàng thực hiện dự chi ngày cuối tháng

    Bài tập 2:

    Ngày 25/5/x bà vân anh đến ngân hàng tất toán sổ tiết kiệm có các thông tin như sau:

    • Số tiền trên sổ tiết kiệm là 100 trd
    • Kỳ hạn 3 tháng
    • Lãi suất 9%/năm, lĩnh lãi cuối kỳ
    • Ngày mở sổ: 10/3/x

    Theo qui định của ngân hàng khách hàng đến rút vốn trước hạn áp dụng lãi suất bằng 70% lãi suất ghi trên sổ tiết kiệm

    Yêu cầu: định khoản các nghiệp vụ xảy ra vào ngày 25/5/x của sổ tiết kiệm trên, ngân hàng dự chi ngày cuối tháng

    Bài tập 3:

    Ngày 10/2/x bà nguyễn hải anh đến ngân hàng tất toán sổ tiết kiệm có các thông tin sau:

    • số tiền trên stk: 200trd
    • kỳ hạn 3 tháng
    • lãi suất 9%/năm, lĩnh lãi hàng tháng
    • ngày mở sổ: 15/8/x

    theo qui định của ngân hàng khách hàng rút vốn trước hạn áp dụng lãi suất 0,3%/tháng

    yêu cầu:

    định khoản các nghiệp vụ xảy ra vào ngày 10/12/x của sổ tiết kiệm trên

    biết ngân hàng dự chi vào ngày cuối tháng, khách hàng đã lãnh lãi được 3 tháng

    Bài tập 4:

    Ngày 17/5/x ông văn cao đề nghị tất toán stk mở ngày 8/3/x-1, thời hạn 1 năm với số tiền 100trd, lãi suất ngân hàng áp dung là 9%/năm, lĩnh lãi cuối kỳ.

    Theo qui định của ngân hàng:

    • khách hàng rút vốn trước hạn áp dụng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn 0,3%/tháng
    • khách hàng không đến tất toán stk vào ngày đến hạn, ngân hàng tự động tái tục vốn và lãi một kỳ hạn tương ứng

    yêu cầu

    định khoản các ngiệp vụ xảy ra vào ngày 17/5/x của stk trên

    biết ngân hàng dự chi theo ngày cuối tháng

    Bài tập 5:

    Ngày 18/6/x tại ngân hàng kiên long- cn tphcm xảy ra các nghiệp vụ sau:

    1. công ty abc lập unc đề nghị trích 50 trd chuyển trả cho công ty bột mì có tài khoản tại ngân hàng á châu-cn đồng nai.
    2. công ty tnhh vạn xuân nọp unt nhờ ngân hàng thu hộ tiền dịch vụ của công ty thiết kế kiến tường số tiền 40trd
    3. nhận đươch lệnh chuyển có TTBT của ngân hàng TM quân đội- CN TPHCM kèm unt có nội dung thanh toán tiền hàng hóa cho công ty abc số tiền 20 trd
    4. nhận được từ ngân hàng phương đông – cn cộng hòa unt kèm hóa đơn bán hàng đòi tiền công ty vincom số tiền 100trd
    5. nhận được từ ngân hàng nhà nước – cn tphcm bảng kê thanh toán qua nhnn kèm nội dung unc có số tiền 200trd của công ty xây lắp vũng tàu (tài khoản tại NHTM ngoại thương chi nhánh vũng tàu) chuyển trả công ty vincom
    6. công ty điện lực tân thuận nộp unt nhờ ngân hàng thu hộ tiền điện của công ty phú mỹ hưng có tài khoản tại NH ngoại thương- CN tân thuận

    yêu cầu:

    Xử lý và định khoản các nghiệp vụ phát sinh trên theo trình tự thời gian

    Biết rằng:

    1. đầu ngày 18/6/x số dư của một số tài khoản như sau:

    công ty abc 20trd

    công ty kiến tường 50trd

    công ty vạn xuân 50trd

    công ty vincom 30trd

    các tài khoản khác đủ số dư thanh toán

    1. Bên trả tiền thanh toán phí chuyển tiền theo biểu phí của ngân hàng
      cùng ngân hàng không thu phí

    Cùng hệ thống địa bàn 20000

    Khác hệ thống địa bàn 30000

    Khác địa bàn: tỷ lệ 0,3% trên số chuyển tiền( tối thiểu 20000 đồng, tối đa 500000)

    1. phí dịch vụ nhờ thu 10000/món
    2. biểu phí trên chưa bao gồm vat 10%
    3. các NHTM tại TPHCM tham gia thanh toán bù trừ

    bài tập 6:

    ngày 18/6/x tại NHTM đông á – CN TPHCM xảy ra các nghiệp vụ kinh tế sau:

    1. công ty gia huy lập UNC đề nghị trích 50trd chuyển trả cho công ty ánh dương
    2. nhận từ ngân hàng á châu – CN TPHCM các liên UNT kèm hóa đơn bán hàng đòi tiền công ty ánh dương số tiền 40trd
    3. nhận được lệnh chuyển có TTBT của ngân hàng quân đội TPHCM kèm UNT có nội dung thanh toán tiền hàng cho công ty bình minh số tiền 200trd
    4. nhận được từ NHTM phương đông cn đà nẵng kèm hóa đơn bán hàng đòi tiền công ty hoàng quân số tiền 100 trd
    5. nhận được lệnh chuyển có từ ngân hàng đông á cn quận 7 kèm nội dung UNC có số tiền 200trd của công ty xây lấp vũng tàu chuyển trả cho công ty hoàng quân
    6. công ty cấp nước nhà bè

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Lãi suất là một trong những vấn đề hết sức phức tạp, nó vừa là công cụ hết sức quan trọng và nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ,vừa là giá cả sử dụng vốn của hoạt động tín dụng. Vì vậy, nó có tác động to lớn đối với việc tăng hay giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng.Vai trò của lãi suất ngày càng trở nên quan trọng trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường,đặc biệt trong giai đoạn đất nước tiến hành công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Đối với Việt Nam,lãi suất luôn luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia kinh tế,các nhà quản lý kinh tế và các tầng lớp dân cư.trên cơ sở những kiến thức đã học và những tài liệu thu thập được cũng như những hiểu biết thực tế cuả mình,em chọn nghiên cứu đè tài: “Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”.

    Do hiểu biết còn hạn hẹp,chắc rằng bài viết của em không tránh khỏi những khiếm khuyết.

    Em rất mong được sự góp ý phê bình của thầy cô.Em xin chân thành cảm ơn.

    1

    I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT

     1.Nguồn gốc và bản chất của lợi tức

    Những người có vốn tiền tệ nhàn rỗi nhưng chưa có nhu cầu tiêu dùng ,đầu tư thì họ có thể cho người khác vay sử dụng số vốn này.tất nhiên họ vẫn là người sở hữu số vốn này.Những ngườiđi vay sau khi chấp nhận một cơ chế nào đó của người cho vay đặt ra,thì họ đợc vay vốn. người đi vay có toàn quyền sử dụng số vốn này trong thời gian đã thoả thuận.tuy nhiên họ không phải là người sở hữu số vốn trên.Như vậy, trong quan hệ tín dụng,quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã tách rời với nhau.Do đó để đảm bảo an toàn vốn của mình,người cho vay phải “ràng buộc” người đi vay bằng những cơ chế tín dụng hết sức nghiêm ngặt.

    Người đi vay sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh-sản suất,lợi nhuận được tạo ra trong quá trình nàytất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đánggiữa ngươì đi vay và người cho vay,tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản suất kinh doanh.Phần lợi nhuận dành cho người cho vay được gọi là lợi tức.

    Như vậy về bản chất ,lợi tức làmột phần của lợi nhuận được tạo ra trong quá trình sản suất mà người đi vay phải nhượng lại cho người cho vay theo tỷ lệ vốn đã được sử dụng.

    Về số lượng lợi tức được xem xét từ hai phía

    • Về phía người đi vay ,lợi tức là số tiền ngoài phàn vốn,mà người đi vay phải trả cho người cho vay sau một thời gian sử dụng tiền vay
    • Về phía người cho vay,lợi tức là khoản chênh lệch tăng thêm giữa số tiền thu về và số tiền phát ra ban đầu,mà người sở hữu vốn thu được sau một thời gian cho vay nhất định.

    2

    Nếu vốn được coi như là một loại hàng hoá,có thể mua bán trên thị trường vốn,thì lợi tức chính là giá cả đượchình thành trong quá trình mua bán vốn trên thị trường.giá cả này cũng lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn,nhưng khác với giá cả của các loại hàng hoá thông thường :phản ánh và xoay xung quanh giá trị của chúng.Giá cả của vốn hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn.Nó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá trị của vốn.Chính vì thếgiá cả của vốn được coi là một loại giá cả đậc biệt

    Trên thực tế,nếu chỉ xem xétvề số lượng,thì lợi tức chưa phản ánh đượchiệu quả của số vốn cho vayphát ra.Vì vậy,trong kinh doanh tiền tệ,lơi tức luôn luôn được so sánh với số vốn cho vay để xác định khả năng sinh lời của từng loại vốn cho vay trên thị trường.chỉ tiêu đánh giá hiệu quả này chính là lãi suất tín dụng.

    2.Khái niệm về lãi suất tín dụng

    Một trong những đặc trưng của tín dụng là sau một thời gian nhất định người sử dụng phải hoàn trả cho người chuyển nhượng một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. phàn giá trị lớn hơn chính là lợi tức tín dụng.Lợi tức tín dụng chính là phần người đi vay phải trả cho người cho vay.Lợi tức tín dụng được coi như là một hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay,vì nó phải trả cho giá trị sử dụng của vốn vay(đó chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng).Lợi tức tín dụng cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như giá cả hàng hoá thông thường. Nhưng lợi tức tín dụngchỉ là hình thái bí ẩn của giá cả vốnvay mà theo mức đó là hình thái giá cả phi lý,vì nó chỉ phải trả cho giá trị sử dụng mà không phải là quyền sở hữu cũng không phỉ quyền sử dụng vĩnh viễnmà chỉ là trong một thời gian nhất định hơn nữa lợi tức tín dụng cũng không phải là biểu hiện bằng tiền của giá trị

    3

    vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường mà nó độc lập tương đối hay nhỏ hơnnhiều so với giá trị vốn vay. Lợi tức tín dụng là số tuyệt đối nên để biểu hiện một cách tổng quát về lợi tức tín dụng người ta sử dụng chỉ tiêu tương đối là lãi suất tín dụng .

    Lãi suất tín dụng là tỷ lệ %giữa số tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay (lợi tức) trên tổng số tiền vay sau một thời gian nhất định sử dụng số tiền vay đó.Lãi suất tín dụng có thể được tính theo tháng hoặc năm ( ở việt năm thường công bố theo tháng còn hầu hết các nước công bố theo năm)

    Tuỳ theo từng hình thức tín dụng mà người ta phân biệt lãi suất tín dụng thành các loại khác nhau với những qui địng cụ thể khác nhau.

    Lãi suất tín dụng thương mại tính trên cơ sở giá giữa việc trả tiền ngay với việc kéo dài thời gian trả tiền. người ta thông báo cho người mua biết có thể mua chịu hoặc trả tiền ngay và néu trả tiền ngay có thể giảm giá 2%.

    Lãi suất tín dụng nhà nước chính là lãi suất các trái phiếu,tín phiếu theo công bố khi nhà nước phát hành trái phiếu tín phiếu.lãi suất này có thể cố định trong suốt thời gian vay.

    Ví dụ: loại tín phiếu có thời hạn 3 năm lãi suất 6% thì trong suốt thời hạn 3 nămngười mua tín phiếu đực hưởng lãi suất 6%/năm.lãi suất cũng có thể biến đổi.ví dụ cũng loại tín phiếu 3 năm năm đàu công bố hay ghi trên mặt phiếu còn năm thứ 2 năm thứ 3 sẽ đièu chỉnh theo tình hình cụ thể của những năm đó (có thể lên hoặc xuống theo thị trường).

    Trong thực tế lãi suất được quan niệm thống nhất là :”Lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm so sánh giữa số lợi tức thu được với số tiền bỏ ra cho vay trong một thời kỳ nhất định”.

    số lợi tức thu được trong kỳ

    4

    Lãi suất tín dụng = ——————————–  × 100 (%)
    số tiền vay phát ra trong kỳ

    Trong đó lợi tức tín dụng là số tiền người đi vay phải trả cho người cho vayngoài phần vốn gốc sau một thời gian sử dụng tiền vay,hay nói cách khácđó chính là phần giá trị tăng thêm so với phần vốn gốc mà người cho vay thu được sau một thời gian nhất định.

    Lãi suất tín dụng là một chỉ tiêu đặc biệt đánh giá mức độ lợi tức coa hay thấp khác nhau.

    3.Nguyên tắc xác định lãi suất

    Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường:

    3.1.Căn cứ vào quan hệ cung-cầu tiền vay:

    • Cung tiền vay chịu tác động của các yếu tố:
    • Mức thu nhập:sự gia tăng thu nhập trong nền kinh tế sẽ làm tăng các khoản tiền dư thừa ngoài chi tiêu dẫn đến sự tăng lêncủa cung tiền vay qua đó kéo lãi suất hạ xuống.
    • Mức lạm phát: sự gia tăng lạm phát làm cho giá trị thực tế của các khoản tiền giảm xuống làm cho giá trị các khoản tiền thu về khi cho vay giảm,cung tiền giảm , đảy lãi suất tăng lên.
    • Mức rủi ro của việc cho vay: khi mức rủi ro trong cho vay tăng lên,làm giảm bớt việc cho vay,cung về tiền vay giảm đẩy lãi suất lên cao.
    • Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
    • Mức lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư: Khi mức lợi tức này tăng làm tăng nhu cầu về vốn đầu tư,cầu tiền vay tăng đẩy lãi lên suất lên cao.

    5

    +Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của việc sử dụng tiền vay,cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.

    +Mức bội chi ngân sách nhà nước: ngân sách nhà nước bội chi làm tăng cầu tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.

    Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngược lại.Khi cung tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.

    3.2.Căn cứ vào thời hạn cho vay:

    Lãi suất                               Lãi suất                        Lãi suất

    tín dụng          <                 tín dụng    <              tín dụng

    ngắn hạn                            trung hạn                      dài hạn

    3.3.Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương:

    Tỷ lệ                                                                Lãi suất                                                           Lãi suất

    Tỷ suất

    lạm phát         <                         huy động                    <                cho vay                               ≤

    lợi nhuận  bình quân                                     vốn bình quân                         bình quân

    bình quân.

    4.Các loại lãi suất tín dụng:

    Trên thị trường vốn ở các nước ,thông thường có các loại lãi suất sau đây:

    4.1. Lãi suất cơ bản:Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức ấn định lãi suất kinh doanh.

    4.2. Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khung lãi suất nào đó,mà NHTƯ ấn định cho các NHTM, hoặc do các NHTM qui định trong hệ thống của nó,nhằm thống nhất các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.

    6

    4.3. Lãi suất tái chiết khấu:là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ dành cho các NHTM,trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá.Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất của các NHTM đẻ từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.

    4.4.Lãi suất tái cấp vốn: Là lãi suất do NHTƯ áp dụng khi tái cấp vốn.

    4.5.Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất mà người cho vay được hưởng,không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ

    4.6.Lãi suất thực:Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ ,như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ.

    4.7. Lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng:là lãi suất mua bán vốn giữa các NHTM do NHTƯ điều hành và ấn định.

    Các loại lãi suất tín dụng được hình thành một cách đa dạng trong nền kinh tế thị trường.Đại bộ phận chúng đều do NHTƯ kiểm soát và khống chế.Xu hướng chung sẽ tiến tới một lãi suất phổ thông đơn giản.Hiện nay,ở các nước chậm phát triển lãi suất tín dụng còn cao.Còn

    • các nước có nền kinh tế phát triển lãi suất thường hạ.Ngày nay do sự hội nhập kinh tế giữa các quốc gia,cho nên mặt bằng lãi suất có cơ hội được thiết lập giữa nhiều nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới.

    7

    5.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng:

    5.1.Cung và cầu về tiền vay

    Như phần trên đã đè cập,cung-cầu tiền vay có ảnh hưởng đến sự biến động lãi suất

    5.2.Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:

    Khi mức độ rủi ro càng cao thì người ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngược lại.do vậy,tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của các khoản tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.

    5.3.Số lượng vay và thời hạn vay:

    Thông thường số lượng lớn và thời hạn vay dài sẽ được tính lãi suất cao hơn số lượng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thường cao hơn.

    5.4.Mức sinh lời của nền kinh tế:

    Mức lãi suất cho vay chỉ được chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của nền kinh tế đẻ đảm bảo cho người vay có lãi khi sử dụng vốn trong quá trình sản suất kinh doanh.Mức sinh lời cao thì lãi suất sẽ cao và ngược lại.

    5.5 Thu – chi ngân sách:

    Khi ngân sách nhà nước bội chi,chính phủ bù đắp bội chi bằng cách phát hành và bán tín phiếu,trái phiếu chính phủ,làm tăng nhu cầu vay tiền và tăng lãi suất.

    Ngược lại khi ngân sách bội thu sẽ tăng mức cung của quỹ cho vay làm cho lãi suất giảm.

    5.6.Chi phí hoạt động ngân hàng:

    Vì lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí hoạt động ngân hàng. Do đó chi phí hoạt động ngân hàng cao sẽ đẩy lãi suất tăng và chi phí hoạt động giảm sẽ làm lãi suất giảm.

    8

    Như vậy để duy trì mức lãi suất vừa phải ,thúc đẩy nhu cầu vay vốn thì các ngân hàng cần tích cực giảm chi phí hoạt động cũng như thu hẹp các bộ phận cán bộ dư thừa hay cán bộ kém năng lực,tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay.

    5.7.Lạm phát:

    Khi lạm phát cao thì người cho vay sẽ không muốn cho vay,cung tiền vay giảm xuống trong khi cầu tiền vay tăng lên (do chi phí cho khoản vay giảm đi) đẩy lãi suất tăng cao.

    Lãi suất tín dụng chịu tác động của rất nhiều yếu tố cho nên để xây dựng một chính sách lãi suất hợp lý,các nhà quản lý,các cơ quan chức năng có liên quan phải có một cách nhìn nhận tổng hợp sát thực để có những quyết định đúng đắn đem lại lợi ích cho người đi vay cũng như đảm bảo quyền lợi của người cho vay, bảo toàn đồng vốn và đảm bảo cho các NHTM ,tổ chức tín dụng kinh doanh có lãi và cao hơn nữa là ổn định giá trị đồng tiền,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

    6.Ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trường

    Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường .Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng nói riêng và do đó đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói chung .tác dụng của lãi suất được thể hiện ở những nội dung sau đây:

    6.1.Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:

    Tăng hay giảm lãi suất cho vay,sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống hay tăng lên.Như vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất.Tình trạng này sẽ dẫn đến số lượng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm xuống.Điều đó có nghĩa rằng,lãi suất tín dụng đã có

    9

    ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội

    Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi,đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng ngoại tệ đi vào trong nước

    .do đó sẽ ảnh hưởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ.

    Như vậy,có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ

    mô.

    6.2.Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.

    Trong nền kinh tế,thường xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lường trước được. khi xảy ra những hiện tượng như vậy chính phủ thường sử dụng nhữnh công cụ kinh tế trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho kinh tế khu vực,ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển .Chẳng hạn,trong điều kiện lạm phát,chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lưu thông về, hoặc có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực

    • để điều hoà lưu thông tạo mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lưu thông hàng hoá phát triển.

    Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng phải được xử lý kịp thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững thông tin kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác trong việc thực hiện chính sách lãi suất.

    6.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

     

    10

    Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy động đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay . Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại. Thực chất của quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngaan hàng ra thị trường. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thương mại đều có chiến lược khách hàng của mình.Chiến lược này được thực hiện bằng lãi suất ưu đãi. Muốn vậy các ngân hàng thương mại đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    6.4.Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Theo lý thuyết tài chính, chúng ta có thể đưa ra một phương trình đơn giản về thu nhập.

    Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm

    Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia đình, các doanh nghiệp mà cả đói với nền tài chính quốc gia. Giả sử , trong điều kiện của mộy nền kinh tế bình thường, tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý. Để tăng tỷ lệ tiết kiệm,khuyến đầu tư,tức là tăng khả năng tài chính cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân,thì biện pháp có hiệu quả nhất là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất huy động vốn tăng lên, thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét lại các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên,có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi này , để tăng thêm tỷ lệ tiết kiệm trong tổng thu nhạp. Sau đó từ khoản tiết kiệm này, họ sẽ chọn hướng đầu tư : Gửi vào ngân hàng , vào quĩ bảo hiểm , hay đầu tư vào thị trường chứng khoán… khi thấy có lợi hơn.

    11

    Như vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm.Nhưng nâng lãi suất huy động vốn đến mức độ nào,thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền kinh tế quốc dân.

    II. THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM – ƯU NHƯỢC ĐIỂM & TÁC DỤNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

    1.Thực trạng về lãi suất tín dụng của Việt nam

    Kể từ năm 1998 đến naylà giai đoạn chuyển biến chung của nền kinh tế từ kế hoạch cứng nhắc sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa cơ chế lãi suất đã được ngân hàng nghiên cứu sử dụng như một công cụ quan trọng nhất, dể tác động đến quá trình huy động vốn và cho vay có hiệu quả.Chính sách lãi suất đã được thay đổi rất cơ bản: lãi suất tiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá ; nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay của các tổ chức kinh tế gần với lãi suất huy động tiết kiệm.

    Lãi suất huy động vốn từ tháng 04/1989 – 06/1989 đối với loại tiết kiệm có kỳ hạn là 12 % / tháng, không kỳ hạn là 9% / tháng. lãi suất huy động chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, của các tổ chức kinh tế là 13 – 14% / tháng.với sự hấp dẫn đặc biệt của mức lãi suất trên, các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư đã ồ ạt kéo đến gửi tiền vào ngân hàng. các NHTM ,các trung tâm tín dụng đã huy động được nguồn vốn to lớn ,đẫ góp phần chặn đứng cơn sốt lạm phát cao từ mức 14,2% / tháng xuống còn 2,9% / tháng năm 1989 . thậm chí chỉ số lạm phát tháng 05/1989 xuống còn – 0,2% ; tháng 06/1989 xuống còn – 2,9% ; tháng 07/ xuống còn – 2,5% / tháng.

    12

    Có thể nói đây là bài học thành công về góc độ sử dụng lãi suất huy động vốn để kiềm chế lạm phát. Song ảnht hưởng của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế và bản thân ngân hàng như thế nào?

    1.1 Giai đoạn từ 1981 tới 1990

    Thời kỳ 1981 – 1991 nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng trì trệ về kinh tế nghiêm trọng nhất có nguy cơ dẫn đến mất ổn định về chính trị xã hội.Trong giai đoạn này cần phải mở rộng đầu tư là biện pháp hữu hiệu nhất để chống đình trệ, để phục hồi và phát triển nền kinh tế thoát ra khỏi cơn khủng hoảng.Nhưng trên thực tế, vì liều thuốc lãi suất huy động vốn quá cao để chống lạm phát nhằm ổn dịnh tiền tệ chúng ta đã bị thất bại trong chính sách đầu tư không những tăng mà còn giảm sút nghiêm trọng do lãi suất huy động vốn quá cao và chậm được điều chỉnh so với hệ số lạm phát, thực tế không có sản suất kinh doanh gì lãi bằng gửi tiền vào ngân hàng, nên người ta không bỏ vốn vào sản suất kinh doanh, thậm chí còn bán cả tài sản cố định đi để gửi vào ngân hàng

    . Các ngân hàng đã huy động được nguồn vốn rất lớn với đầu vào rất cao ( 12 – 15% / tháng ). Với lãi suất cho vay này, không một nhà sản suất kinh doanh chân chính nào có thể chịu đựng nổi nên họ không dám vay ngân hàng. Để giải phóng nguồn vốn, chống thua lỗ, ngân hàng phải cho vay bằng mọi giá. Kết quả là những người buôn gian bán lận hàng ngoại, những người vay tiền ngân hàng để chơi đề , chơi hụi, gửi vào các trung tâm tín dụng, gửi vào các trung tâm lừa đảo như nước hoa thanh hương, đại thành, xacogiva… Hậu quả là nguồn vốn ngân hàng không đi vào sản suất – kinh doanh mà để vào các sòng bạc, khi đến hạn phần lớn người vay không trả được nợ, hệ thống hợp tác xã tín dụng bị phá sản, các tổ chức huy động vốn vỡ nợ ngân hàng thương mại thực chất đã bị phá sản nếu không được nhà nưóc khoanh nợ hàng ngàn tỷ đồng đến nay vẫn không thu hồi được. Mãi đến hiện nay chưa ai tính

    13

    được hiệu quả của chống lạm phát và mức thiệt hại to lớn của nền kinh tế do chính sách lãi suất “siêu thực tế “ trong giai đoạn 1989 – 1990.

    1.2. Giai đoạn từ 1990 tới 1993.

    Từ khi có pháp lệnh ngân hàng 05/ 1990, chính sách lãi suất liên ngân hàng dược đổi mới thêm một bước quan trọng. Cơ chế lãi suất tiến dần với lãi suất bình quân dương, bảo toàn được vốn cho cả người gửi và người vay. Cơ cấu lãi suất bao gồm: Lãi suất huy động vốn gồm lãi suất cơ bản ( lãi suất thực) và chỉ số giá cả của thị trường xã hội, lãi suất cho vay bình quân bằng lãi suất huy động vốn bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí và lãi hợp lý cho ngành ngân hàng. lãi suất được điều chỉnh lại hàng tháng hàng quí theo sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường xã hội. Thủ tướng chính phủ quyết định khung lãi suất cơ bản và giá cả thị trường. Trong phạm vi khung lãi suất đó, thống đốc ngân hàng nhà nước được công bố mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suât cho vay được điều chỉnh dần hướng tới áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế, giảm dàn số lượng quá nhiều mức lãi suất cho vay như thời kỳ trước .

    Kết quả thực tiễn cho thấy rằng : Chính sách lãi suất mới đã khuyến khích được gửi tiền yên tâm hơn do không sợ giá trị đồng tiền mất đi do trượt giá, mà còn có lãi, nhười ta thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn nhiều so với mua vàng. chính vì vậy nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại tăng lên coa và ổn định. Chỉ riêng lĩnh vực ngân hàng công thương nhuồn vốn huy đọng năm 1991 là 2.828 tỷ tăng hơn năm 1990 là 0,8 tỷ ; năm 1992 là 4.126 tỷ tăng hơn so với năm 1991 là 1.300 tỷ ; sáu tháng đầu năm 1993 4.341 tỷ tăng hơn đầu năm 0,125 tỷ.

    Đứng trên tổng thể toàn nghành, lãi suất cho vay đã thoát khỏi tình trạng lãi suất âm, tác động tích cực buộc người vay phải sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh tế . Dư nợ tín dụng được mở rộng và tăng

    14

    lên đáng kể, chất lượng tín dụng cao hơn trước , nợ quá hạn từ 25% giảm xuống dưới 10% năm . Hệ thống ngân hàng chuyên doanh đã trở nên năng động hơn trong kinh doanh, tình trạng thua lỗ từng bước được khắc phục, nhiều ngân hàng đã bắt đầu kinh doanh có lãi thực.

    Tuy vậy, chính sách lãi suất hiện tại vẫn còn nổi lên một số vấn đề cần phải giải quyết sau đây:

    Cơ chế lãi suất chưa thực sự phù hợp với bản chất của nó là căn cứ vào cung – cầu của thị trường vốn. Chín sách lãi suất vẫn còn bị chi phối bởi nhiệm vụ chính trị chủ yếu là chống lạm phát và là công cụ của Nhà nước để tài trợ cho các nghành sản suất kinh doanh yếu kém. Do đó, lãi suất còn mang nặng chính sách bao cấp nhằm bảo vệ lợi ích cho người gửi tiền tiết kiệm. Lãi suất thực của người gửi tiền tiết kiệm lớn hơn lãi suất thực của người cho vay, lái suất cho vay quá cao, lớn hơn mức sinh lời bình quân của nền kinh tế

    So sánh lãi suất huy động vốn tiết kiệm 3 tháng, lãi suất cho vay với kinh tế ngoài quốc doanh với chỉ số trượt giá hàng tháng thấy rằng : Năm 1990, lãi suất huy động vốn là 53%/năm;chỉ số trượt giá bình quân 53%/năm.Như vậy người gửi tiền bảo tồn giá trị được gửi nhưng không có lãi. Ngân hàng cho vay với lãi suất âm -19,07%/năm.Năm 1991,lãi suất huy động tiết kiệm 45%/năm;chỉ số trượt giá bình quân 43,4%/năm;lãi suất cho vay 40,2%/năm. Người gửi đã bảo tồn được vốn cho vay và có lãi 1,6%/năm. Nhưng nhìn chung ngân hàngvẫn bị lỗ vốn do lạm phát-3,2%/năm; lỗ vốn do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền ghi-4,8%/năm. Năm 1992,lãi suất huy động tiết kiệm 33,6%/năm,chỉ số trượt giá bình quân 16,47%/năm ; tỉ suất cho vay 43,2%/năm.Người gửi tiền và ngân hàng không những bảo tồn được giá trị cho vay mà còn có lãi rất lớn16,9%/năm.Ngân hàng cho vay cũng có

    15

    lãi suất tiền gửi 43,1% -33,6% = 9,5%/năm.Sáu tháng đầu năm 1993, lãi suất tiền gửi 15,75%,tỉ lệ trượt giá 4,12%.Người gửi tiền sau khi đã trừ tỉ lệ trượt giá còn lãi :11,1% -4.12% =6,98%.Vấn đề nổi cộm lên rất rõ là từ năm 1992 đến 30/6/1993,người gửi tiền có lãi suất rất lớn,ngân hàng cho vay có lãi suất không đáng kể ,người đi vay phải chịu lãi suất quá cao . Mâu thuẫn về lợi ích giữa người cho vay và người gửi chưa được giải quyết .Hậu quả là ngân hàng không mở rộng được đầu tư ,vốn bị ứ đọng,ngân hàng kinh doanh chưa có lãi ,nhiều chi nhánh tỉnh,thành phố bị thua lỗ .Các thành phần kinh tế không dám vay vốn đầu tư vào sản xuất vì chu kì đầu tư dài ,trả lãi lớn sẽ thua lỗ ,vốn vay chủ yếu đi vào mục đích lưu thông,kinh doanh, dịch vụ vòng quay nhanh mới đủ trả lãi ngân hàng.Với lãi suất 2,6%/tháng nên chu kì sản xuất 3 tháng thì giá thành phải chịu là: 2,6.3 = 7,8%,lãi suất ngân hàng tính trên giá vốn

    .Với lãi suất cho vay bình quân 3,58%/tháng thì tỉ lệ lãi suất phải trả ngân hàng với sản phẩm có chu kì 3 thánglà: 3,59%.3 = 10,77%.

    Lãi suất cho vay quá cao sẽ làm hạn chế đàu tư gây ra trì trệ trong nền kinh tế,tăng thất nghiệp .Vì vậy chính sách lãi suất trên chỉ kiềm chế tạm thờiđược cơn sốt lạm phát ,nhưng lại hạn chế sự tăng trưởng của nền kinh tế.Chắc chắn sẽ làm cho lạm phát bùng nổ với tốc độ lớn hơn. Mặt tồn tại cơ bản của chính sách lãi suất trên mới là việc chỉ tạo khung lãi suất của chính phủ và điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN vẫn chưa linh hoạt và phù hợp với cơ chế thị trường .

    Mặt khác cơ sở để Chính phủ và Thống đốc NHNN điề chỉnh lãi suất chỉ căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường mà chưa căn cứ vào “giá cả” của hàng hoá tiền tệ trên thị trường vốn vì vốn ở nước ta còn sơ khai và thực chất là chưa có.do vậy không thể xác định một tỉ lệ

    16

    lãi suất phù hợp với cơ chế thị trường được.Một thị trường vốn hoàn hảo là căn cứ để xác định lãi suất hợp lý.

    chính sách lãi suất hiện hành nổi lên mâu thuẫn giữa nhiện vụ chính trị đối với nền kinh tế và nhiệm vụ hạch toán kinh doanh tiền tệ tín dụng của ngân hàng . Xét về góc độ hạch toán kinh doanh các khoản cho vay món nhỏ thì chi phí đầu vào của ngân hàng lón,hệ số rủi ro cao,do đó lãi suất cho vay phải cao hơn các khoản tín dụng thời gian ngắn .Nhưng thực tế lãi suất cho vay dài và trung hạn thấphơn lãi suất cho vay ngắn hạn ,lãi suất cho vay ngành sản xuất có chu kì sản xuất dài từ 3 đến 9 tháng thấp hơn các ngành thương nghiệp dịch vụ có thời hạn ngắn dưới

    • tháng .Vấn đề là điều kiện kinh tế của từng ngành ,từng địa phương mà ngân hàng thương mại đóng trên địa bàn chịu ảnh hưởnh trực tiếp của chính sách lãi suất nói trên ,phải hạch toán như thế nào để phục vụ được nhiệm vụ chính trị và kinh doanh.

    Như vậy cơ chế lãi suất hiện hành tuy có nhiều đổi mới nhưmg vẫn bị động chưa giải quyết được mâu thuẫn nan giải là kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế ,nhiệm vụ hạch toán kinh doanh và nhiệm vụ chính trị của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng thương mại vẫn chưa thoát khỏi bao cấp vềlãi suất huy động vốn và cho vay ,không phát huy tính tự chủ độc lập trong kinh doanh.các nguồn vốn chưa đáp ứng yêu cầu chi tiêu ngân sách ,chống lạm phát cũng như các biện pháp tài chính-ngân hàng trong chính sách lãi suất.

    Trong hệ thống quản lý lãi suất được coi là công cụ quản lý có ảnh hưởnh trực tiếp lớn nhất ,đặc biệt là việc chuyển sang lãi suất thực dương.Việc sử dụng phải bảo đảm tính linh hoạt mềm dẻo,phù hợp với chỉ số lạm phát thực tế.

    17

    theo hướng đó NHNN khống chế tối đa mức độ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi

    nhằm đảm bảo có lợi cho cả người gửi và người cho vay,bù đắp chi phí thuế và một phần rủi ro đồng thời có múc lãi hợp lý.Mở rộng thêm quyền tự do cho các ngân hàng tronh việc ấn định khung lãi suất đối với tiền gửi và tiền cho vay,tổ chức các hoạt động:dịch vụ chuyển tiền thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng.Nhà nước chủ động can thiệp lãi suất thị trường để giữ mức lãi suất chỉ đạo .Trên tổng thể vẫn đảm bảo lãi suất vận động theo cơ chế thực dương.

    Để có thể chỉ đạo lãi suất trên thị trường cần tiếp tục hoàn chỉnh khung lãi suất nhất là lãi suất tái cấp vốn.Việc điều hành khung lãi suất phải đảm bảo nguyên tắc không cản trở xu hướng tự do hoá lãi suất bắt đầu hình thành khi nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế thị trườngvới quá trình tự do hoá giá cả gần như là phổ biến.Việc sử dụng công cụ lãi suất nội tệđặt trong tương quan hợp lý với sử dụng công cụ lãi suất ngoaị tệ,xác lập tương quan giữa cho vay bằng ngoại tệ với cho vay bằng tiền đồng.

    Thông qua việc tạo tiền đề đẩy nhanh xu hướng tự do hoá lãi suất nâng cao dần trình độ kinh tế tiền tệ của nền kinh tế.Việc tự do hoá lãi suất không mâu thuẫn với can thiệp của Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ mà là cách thức để thực thi tốt hơn chính sách tiền tệ.

    Một biểu hiện của tự do hoá lãi suất là: các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ được quyền tham gia ấn định mức lãi suất.Họ là người có khả năng tìm phương án sử dụng vốn tốt nhất,hạn chế bớt rủi ro.Đồng thời mức lãi suất hình thành trong hoàn cảnh đó sẽ phù hợp nhấtvới cơ chế thị trường,đam bảo quan hệ giữa các loại tín dụng.Trong điều kiện bình thường tỉ lệ lạm phát và tỉ lệ lợi nhuận là khung của lãi suất tiết kiệm

    18

    và lãi suất cho vay.Về lý thuyết,đó chính là giá trị chênh lệch do việc sử dụng vốn tạo ra và được phân chia cho các chủ thể tham gia:người có tiền gửi,ngân hàng,tổ chứctín dụng, các nhà sản xuất kinh doanh.Khi nền kinh tế suy thoái ,tỉ suất lợi nhuận bình quân có thể thấp hơn tỉ lệ lạm phát,cơ chế tự điều chỉnh của thị trường sẽ thực hiện một cơ chế phân bố rủi ro giữa các chủ thể tham gia.Sử dụng công cụ lãi suất để có sự tác động thích hợp đến việc thực hiên các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô .

    Tự do hoá lãi suất không đồng nghĩa với việc xoá bỏ toàn bộ các khoản vay ưu đãi.Chính phủ tuỳ theo khả năng có thể dùng vốn của mình thực hiện các chương trình ,dự án phát triển mang tính chất ưu đãi với lãi suất thấp hơn thông qua các tổ chức tài chính,NHTM nhưng cần áp dụng cơ chế kiểm tra chặt chẽ hơn tránh nhữmg tiêu cực có thể xảy ra.

    Sử dụng tốt công cụ lãi suất cần nhấn mạnh nỗ lực tạo tiền đề để sử dụng tốt hơn công cụ lãi suất chiết khấuvà tái chiết khấu.Đó là con đường tác động đến khối lượng tiền tệ và khối lượng tín dụng lưu thông.Cần tạo môi trường thuận lợi cho cổ phiếu thương mại ra đời ,lưu hành rộng rãi để tín dụng thương mại trở thành hoạt động bình thường của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp .Phải từng bước tạo lập môi trường kinh tế và môi trường pháp lý cho sự lưu thông tự do các chứng từ có giá nói chung, chứng từ thương phiếu nói riêng .

    Bên cạnh sự tác động gián tiếp lên khối lượng tiền tệ và tín dụng lưu thông,NHNNcó thể tác động vào biến thái lãi suất thị trường thông qua ngiệpvụ thị trường mở.Để có thể vận dụng công cụ này thì cùng một lúc phải thực thi hai phần việc:

    Một là: xúc tiến tổ chức thị trường,vốn thị trường tiền tệ .

    Hai là :xây dựng cơ chế thực thi nghiệp vụ thị trường mở.

    19

    Để tạo tiền đề mở rộng phạm vi hoạt động của thị trường giấy có giá cần xúc tiến tổ chức thí điểm xây dựng thị trường vốn ở một số tụ điểm giao dịch kinh tế thương mại lớn như :thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội , Hải Phòng.Trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệmđể mở rộng dần ,đáp ứng yêu cầugiao lưu vốn ,phát triển kinh tế.Cần tổ chức nghiên cứu công phu các nghiệp vụ thị trường mở .Để việc tổ chức và vận hành thị trường vốn diễn ra an toàn đòi hỏi phải ban hành những văn bản luật đủ hiệu lực pháp lý như: Luật phát hành chứng khoán và công tác thực thi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh,thống nhất tránh tuỳ tiện.

    Suy cho cùng nghiệp vụ thị trường mở cũng chính là hoạt động tổ chức thực hiện các mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn củaNHTƯ.Do đó hoạt động của NHTƯ ở lĩnh vực cũng phải tuân theo các quy luật chung của thị trường vốn.

    III.MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

    1.Định hướng

    1.1. Lãi suất cơ bản

    Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng(TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh . Lãi suất cơ bản vẫn là mức lãi suất dược NHNN ấn hành một cách hành chính, chứ không phải tự hình thành trên thị trường tiền tệ và các TCTD buộc phải căn cứ vào mức lãi suất này để xác định các mức lãi suất kinh doanh.

    Cũng từ định nghĩa này cần phân biệt rõ lãi suất lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn hiện hành của NHNN. Thực tế lãi suất tái cấp vốn của NHNN cũn có ảnh hưởng toàn diện tới hệ thống lãi suất trong nền kinh tế thị trường và cũng do NHNN xác định. tuy nhiên, hoạt động tái cấp vốn lại không phải là hoạt động bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng –

    20

    thực tế, nó được thực hiện một cách tự nguyện theo nhu cầu của mỗi TCTD. Nói cách khác, lãi suất tái cấp vốn(mặc dù là một mức lãi sất nhất định trong một thời gian nào đấy) không phải là mức lãi suất bắt buộc đói với các TCTD (nếu TCTD không có nhu cầu tái cấp vốn thì nó không trực tiếp liên quan tới lãi suất tái cấp vốn).cũng vì lý do này, luật NHNN đã tách bạch hai loại lãi suất trên cơ sở qui định:” NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”.

    2. Một số ý kiến hoàn thiện chính sách lãi suất theo định hướng lãi suất cơ bản

    2.1. Về các quan điểm hiện nay

    Gần đây đã và đang xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh việc NHNN bỏ qui định lãi suất “trần”, để chuyển sang ấn định và điều hành linh hoạt bằng một lãi suất cơ bả, theo như tinh thần qui định tại điều 18 và khoản 12 điều 9 Luật NHNN hiện hành. Quan điểm tập trung nhất chứa đựng các nội dung sau: về xu hướng chung là bỏ “trần” lãi suất vì cứng nhắc lâu nay (vẫn còn 3 loại trần lãi suất). Trên cơ sở lãi suất tái cấp vốn hiện hành sẽ cộng thêm một biên độ ước định để hình thành lãi suất cơ bảnhoặc dựa vào lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến cộng thêm một biên độ ước định để hình thành lãi suất cơ bản.

    Nhìn chung, cách lập luận cho loại quan điểm này mới dừng ở định tính, còn bỏ ngỏ nhiều khía cạnh khoa học và pháp lý liên quan đến việc cải tiến chính sách lãi suất hiện nay.

    Một là: Cần định dạng đúng đắn lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cơ bản để tránh áp dụng máy móc qui định tại diều 18 và khoản 12 điều 9 luật NHNN (liên quan):

    • Lãi suất tái cấp vốn, chủ yếu hướng tới 3mục đích: (1) NHTW cho vay lại với tư cách nhười cho vay cuối cùng đối với nền kinh tế căn

    21

    cứ vào những khoản tín dụng đã cấp của NHTM (cho vay lưu phiếu, thế chấp khế ước tín dụng, chứng từ liên quan) ; (2) NHTƯ tái chiết khấu các thương phiếu dược NHTM cho vay; (3) NHTƯ sử dụng nguồn vốn dự trữ (DTBB, nguồn dự trữ khác) cho vay hỗ trợ knả năng thanh toán tạm thời của các NHTM (thông qua cầm cố, thế chấp các chứng từ có giá khác nhau).

    Lâu nay, ta dùng khái niệm tái cấp vốn (refinancing) là gọi chung cho các nội dung trên.Khi tăng tỷ trọng cấp tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu – còn gọi là cửa sổ tái chiết khấu (resdiscount window) – thì mới có nghiệp vụ tái chiết khấu , nói khác đi khái niệm tái chiết khấu được sử dụng phổ biến hơn.

    • Lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu thường được ấn định chủ quan bởi NHTƯ. Tuy nhiên, mức độ chủ quánẽ giảm khi các nghiệp vụ tái chiết khấu có cơ sở hơn, có hàng hoá đủtiêu chuẩn hơn cho việc cấp tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu thay vì tái cấp vốn theo kiểu giản đơn như cách làm của Việt Nam lâu nay. Khi thị trường tiền tệ đã khá phát triển , các nghiệp vụ mua bán vốn theo hợp đồng giao ngay, hợp đồng kỳ hạn – ngắn hạn… giữa các lực lượng thị trường trở nên phổ biến, theo đó lãi suất giao dịch liên ngân hàng (interbank interest rate), lãi suất chiết khấu giấy tờ có giá (lãi suất Lombardy), hay lãi suất mua bán hợp đồng xoay vòng kỳ hạn (lãi suất Repo) được hình thành … Đó là điều kiện thị trường hết sức quan trọng để NHTƯ điều hành đúng đắn lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu.

    Trước mắt, do chưa đủ diều kiện về công cụ giao dịch như đã nêu, việc hình thành lãi suất tái cấp vốn chủ yếu dựa vào lãi suất “trần” yheo sự ấn định chủ quan của NHTƯ như lâu nay. Qua đây, cần khẳng định mặc dầu lãi suất tái cấp vốn đang đóng vai trò nhất định, nhưng

     

    22

    chưa đến mức độ đủ để có thể dựa vào đó hình thành lãi suất cơ bản. Đây mới chỉ là dấu mốc còn khá mờ nhạt để tiến tới lãi suất tái chiết khấu nay mai.

    • Lãi suất cơ bản hướng vào hai mục đích: (i) làm tiêu chuẩn hình thành lãi suất kinh doanh của các NHTM; (ii) làm công cụ để NHTƯ can thiệp vào thị trường tiền tệ một cách uyển chuyển hơn là khống chế bởi lãi suất “trần” , dù ở mức nào vẫn mang tính cứng nhắc.
    • nghãi “định chuẩn” của lãi suất cơ bản biểu hiện như một loại giá vốn phản ánh điểm hoà vốn bình quân của các NHTM. NHTM nào huy động vốn với lãi suất thấp hơn và cho vay tối thiểu bằng mức lãi suất cơ bản có cơ chí ít là hoà vốn.Còn huy động với lãi suát cao hơn là bắt đầu khó khăn. sự can thiệp của NHTƯ thông qua lãi suất cơ bản trở nên đơn giản ở chỗ không cần khống chế trần (cứng nhắc dễ bị phản ứng) và khách quan hơn, tạo sự tin cậy đối với các NHTM. Vấn đề là xác định đúng và ấn định cho linh hoạt. Xét trên nhiều mặt, thực chất lãi suất cơ bản đã là một bước thả nổi lãi suất.

    +Lãi suất cơ bản có cơ sở xác định tương đối ggiống lãi suất trần sàn, nghĩa là cũng chủ yếu dựa vào quan hệ cung cầu vốn phổ biến, được phản ánh bởi các lực lượng thị trường chiếm thị phần chủ yếu (hiện nay vẫn là các NHTM quốc doanh). thế hnưng về mặt tính toán có khác: lãi suất trần, sàn thường lấy con số tham chiếu “ chặn trên”, “chặn dưới” còn lãi suất cơ bản thì bình quân hoá gia quyền các tham số chọn mẫu, nên thường chuẩn xác khách quan hơn. lãi suất cơ bản được xác định như vậy khiến khoảng cách bất bình đẳng về cạnh tranh lãi suất giưã các NHTM mạnh, yêua khác nhau được giảm thiểu . Tất nhiên, việc tính toán chính xác lãi suất cơ bản phức tạp nơn lãi suất trần. Bởi vậy , khi mới áp dụng thường chưa đủ căn cứ để ấn định chính xác phải sử dụng một biên độ nhỏ để điều chỉnh . Cách xác định biên độ cũng

    23

    không tuỳ tiẹn được mà phải căc cứ vào dung sai – còn gọi là độ lệch tiêu chuẩnbình quân giữa các mức lãi suất khác nhau và lãi suất trung bình chọn mẫu.

    Hai là: Cần làm rõ ưu nhược điểm của lãi suất tái cấp vốn , cũng như bản thân trần lãi suất hiện nay làm căn cứ cho việc cải tiến lãi suất. Qua mấy lần NHNN kịp thời điều chỉnh trần, lãi suất đă bớt cứng nhắc gần với quan hệ cung cầu hơn ( từ nhiều trần xuống còn 3 loại trần, đồng thời mức lãi suất giảm đáng kể so với động thái giảm phát). Tuy nhiên, tình hình mâu thuẫn hiện nay là ở chỗ: áp lực giảm tiếp lãi suất vẫn đặt ra trong lúc bản thân việc hạ “trần “ lãi suất đã ở vào giới hạn khá thấp đang gây khó khăn cho các NHTM trong việc chủ động linh họat hoá các mức lãi suất thực tế cho vayvà khắc phục nguy cơ thua lỗ, thiếu khả năng tài chính do chênh lệchgiữa lãi suất huy động và cho vay cũng bị thu hẹp lớn. Như vậy, khi việc điều hành theo lãi suất “trần còn nhiều tồn tại thì bản thân cách ấn định lãi suất tái cấp vốn cũng thiếu cơ sở khách quan, không thể lấy lãi suất tái cấp vốn hiện nay làm cơ sở tính toán lãi suất cơ bản. Mặt khác, lãi suát “trần” hiện nay còn bất cập, thì trước mắt nên chăng là kế thừa hoàn thiện nó hơn là bỏ hẳn để thay bằng lãi suất cơ bản trong lúc chưa đủ điều kiện.

    Ba là: Cần có sự phân biệt thứ bậc thấp cao, đơn giản và phức tạp giữa hai loại lãi suất ; lãi suất cơ bản là bước đệm tiến tới và được thay thế bởi lãi suất tái chiết khấu sau này hay ngược lại cùng tồn tại lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản?. Về lâu dài, hình thành lãi suất cơ bản là tạo lộ trình thuận lợi cho hoàn thiện chính sách lãi suất theo hướng từng bước thả nổi. Bản thân lãi suất cơ bản cũng được coi là một bước thả nổi vì nó tiến bộ hơn lãi suất “trần” với cách ấn định hoàn toàn tuỳ thuộc vào quan hệ cung cầu, lấy cơ sở tính toán là các mức lãi suất thực. Tuy nhiên, bỏ lãi suất “trần” để chuyển

    24

    sang lãi suất cơ bản cũng phải có những bước chuyển nhỏ, không thể máy móc gây sốc. Thực chất qui định tại các điều18, điều 9 khoản 12 Luật NHNN không nên hiểu phải có ngay lãi suất cơ bản khi chưa có đủ điều kiện, mà vấn đề là NHNN phải qui định lãi suất như thế nào để các TCTD dễ dàng ấn định lãi suất kinh doanh. Thành thử loại lãi suất nào mà NHTƯ đưa ra đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cũng đã là mang dáng dấp hay tính chất như lãi suất cơ bản. ở đâycó thể nhấn mạnh là hoàn thiện lãi suất “trần” hiện nay và nâng cấp lãi suất tái cấp vốn theo sát hơn lãi suất thị trường và tạo điều kiện cho nó được sử dụng thường xuyên hơn phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN mới là thiết thực.

    LỜI KẾT

    Như đã nói, lãi suất là giá mua bán vốn trên thị trường. Cơ sở kinh tế của lãi suất là do các hiện tượng tạm thời “ thừa “ và tạm thời “thiếu

    “ vốn tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá và gắn với nó là vai trò trung gian của ngân hàng trong việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ thông qua công cụ lãi suất. Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung – cầu về vốn quyết định, khi cung lớn hơn cầuvề vốn thì lãi suất giảm , khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng .

    Lãi suất rất nhạy cảm trong nền kinh tế thị trường, đó là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ để quản ký và điều tiết nền kinh tế. Đối với Việt nam, đổi mới nền kinh tế , xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu để luôn có một chính sách lãi suất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay là hết sức

    25

    cần thiết. Lãi suất đã trở thành một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta.

    Trên thực tế, từ năm 1990 chúng ta đã từng bước chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang lãi suất dương , và từ tháng 06/ 1991, đã thực hiện triệt để chính sách lãi suất dương trong hoạt động tín dụng. Lãi suất vượt trên chỉ số lạm phát và được điều chỉnh theo sự biến động của thị trường, có tham khảo lãi suất trên các thị trường khu vực và quốc tế. Chính sách lãi suất đẫ từng bước xử lý hài hoà lợi ích người gửi tiền, các TCTD và người vay tiền, cũng tức là giữa yêu cầu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế.Chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và tiền vay từ 1986 đến 1995 như sau:

    1986 1991 1992 1993 1994 1995
    1990
    lãi suất tiền gửi 6,0 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4
    BQ tháng (%)
    lãi suất tiền vay 4,3 3,5 2,5 1,8 1,5 1,7
    BQ tháng (%)

    ( nguồn : NH Việt Nam 45 năm xây dựng và trưởng thành)

    Từ đầu năm 1996 , chính sách lãi suất của NHNN có sự thay đổi theo hướng tự do hoá,hủy bỏ các quy định về lãi suất tiền gửi ,điều chỉnh giảm mức lãi suất trần cho vay ,chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng . Để ấn định mức lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn trên thị trường và từ tháng 11 năm 1997 Nghị quyết của Quốc hội đẫ không quy định về mức chênh lệch lãi suất là 0,35% đối với hoạt động tín dụng ngân hàng.Chính sách lãi suất đã đảm bảo được yêu cầu của lãi suất vay trung và dài hạn cao hơn lãi suất

    26

    cho vay ngắn hạn, rút ngắn khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp. Mức chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn không còn bị khống chế mà phụ thuộcvào thị trường và hiệu quả kinh doanh của từng TCTD.Những giải pháp đó đã được thị trưòng chấp nhận và góp phần rất lớn vào việc thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.Thị Trường Tài chính Tiền Tệ tháng 6. 1999

    2.Tạp Chí Ngân Hàng số 14.1999

    1. Tạp chí Ngân hàng số 15 .19 .2001
    1. Giáo trình lý thuyết tiền tệ Ngân hàng – Học viện Ngân hàng
    1. Lý Thuyết Tiền Tệ (Sgk Trường Đại học Tài chính – Kế toán)

    27

  • Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG

    1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh

    Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các thông tin kinh tế khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế, nguồn tiềm năng cần được khai thác, đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

    1.1.2. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh

    Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

    1.1.3. Mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh

    Là làm sao cho các con số trên các tài liệu hạch toán “biết nói” để người sử dụng chúng

    hiểu được tình hình và kết quả kinh doanh.

    Phân tích hoạt động kinh doanh căn cứ vào các tài liệu hạch toán nghiên cứu đánh giá,

    từ đó đưa ra các nhận xét và đưa ra giải pháp đúng đắn.

    Vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp đưa ra kết luận sâu sắc là cơ sở phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, là căn cứ đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, biện pháp phòng ngừa các rủi ro.

    1.2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.2.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại

    NHTM ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, nó kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực tế, các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Theo Luật “các TCTD” (1997) của Việt Nam thì NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    1.2.2. Nghiệp vụ huy động vốn

    Để đáp ứng nhu cầu về vốn thì việc tạo lập vốn là vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó vốn tự có của các NHTM tham gia vào nguồn vốn cho vay chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, mà nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng vào nền kinh tế là nguồn vốn huy động, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn. Việc huy động được nhiều vốn vừa đem lại lợi nhuận, vừa mở rộng hoạt động của Ngân hàng.

    1.2.2.1. Vốn tiền gửi

    1. a) Tiền gửi của các tổ chức kinh tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 1

     

    Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại Ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời được giải phóng khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho các mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi.

    Các TCKT thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình thức sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn : Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho Ngân hàng nên tiền gửi này là nguồn vốn không ổn định của Ngân hàng.

    Khi gửi tiền, khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng lợi nhuận cho khách hàng. Mặt khác, khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho việc thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.

    • Tiền gửi có kỳ hạn:

    Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào có sự thỏa thuận về thời gian rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.

    Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu một mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời.

    Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… với mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.

    1. b) Tiền gửi của dân cư:

    Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân hàng.

    Tiền gửi dân cư bao gồm:

    Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận gửi tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

    Trong hình thức này, người gửi tiền được cấp một thẻ tiết kiệm. Thẻ này được coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Tiền gửi này được chia thành 2 loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.

    Thẻ này được xem là chứng từ đảm bảo tiền gửi. Vì vậy, người gửi có thẻ tiết kiệm có thể mang thẻ này đến Ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay tiền.

    1.2.2.2. Các nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng:

    Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản. Ngoại trừ trường hợp

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 2

     

    khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ quan có thẩm quyền thì Ngân hàng mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản thanh toán có liên quan.

    Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản

    Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng kiểm tra con dấu, chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân hàng có thể từ chối thanh toán.

    Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.

    1.2.3. Nghiệp vụ tín dụng:

    1.2.3.1. Khái niệm tín dụng:

    Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội. Ngày nay, tín dụng được định nghĩa như sau: “Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”. Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại.

    1.2.3.2. Bản chất tín dụng:

    Tín dụng thể hiện như một sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một vật hoặc số tiền giữa người cho vay và người đi vay. Vì vậy, người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hóa trực tiếp hay gián tiếp thông qua trao đổi. Bản chất tín dụng thể hiện trong mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó trong quá trình sản xuất.

    1.2.3.3. Phân loại tín dụng:

    Có rất nhiều cách phân loại tín dụng nhưng cách phổ biến nhất là phân loại theo thời hạn và phân loại theo thành phần kinh tế.

    1. a) Phân loại theo thời hạn:

    Căn cứ vào thời hạn, tín dụng được chia thành ba loại:

    • Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn đến một năm
    • Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên một năm đến năm năm
    • Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên năm năm
    1. Phân loại theo đối tượng

    Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị bao gồm cả thuế giá trị gia tăng nằm trong tổng giá trị lô hàng, các khoản chi phí để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, án đầu tư, phương án phục vụ đời sống.

    Số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu, khách hàng phải làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu mà giá trị lô hàng đó tổ chức tín dụng có tham gia cho vay.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 3

     

    Số lãi tiền vay trả cho TCTD cho vay trong thời hạn thi công, chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn để đầu tư tài sản cố định đó, mà khoản trả lãi được tính trong giá trị tài sản cố định.

    Số tiền khách hàng vay để trả cho các khoản vay tài chính cho nước ngoài mà các khoản vay đó đã được tổ chức tín dụng trong nước bảo lãnh.

    Các nhu cầu tài chính khác phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ và phục vụ đời sống theo quy định của NHNN.

    1. c) Căn cứ vào mục đích sử dụng:

    Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: hình thức này dành cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

    1.2.3.4.  Nguyên tắc tín dụng:

    Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

    Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

    1.2.3.5. Lãi suất tín dụng:

    Lãi suất huy động vốn: Là loại lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để huy động vốn cho các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.

    Lãi suất cho vay: là tỷ lệ % giữa số lợi tức thu được trong kỳ so với số vốn cho vay trong thời kỳ nhất định, thông thường lãi suất tính cho năm, quý, tháng…

    Tùy theo từng phương pháp cho vay và cách trả lãi, Ngân hàng có thể sử dụng hai cách tính lãi độc lập:

    • Cách tính lãi đơn: là không nhập vốn gốc, chỉ tính một lần vào cuối kỳ hạn.
    • Cách tính lãi kép: là lãi tính theo lối nhập vào vốn gốc từng kỳ để tăng vốn.

    Do đó, cùng một khoản vốn cho vay sau một thời gian nhất định tùy theo cách tính lãi sẽ tạo ra những khoản thu khác nhau. Tuy nhiên, với cách tính lãi như thế nào thì lãi suất cho vay cũng đảm bảo theo công thức sau:

    Lãi suất cho vay = Chi phí vốn + Chi phí rủi ro tín dụng + Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng

     1.2.4. Rủi ro tín dụng:

    1.2.4.1. Khái niệm rủi ro tín dụng:

    Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm cho Ngân hàng bị phá sản.

    Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất. Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho Ngân hàng. Còn ở Việt

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 4

     

    Nam trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại thường chiếm 70% – 90% tổng thu nhập. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này cũng chứa đựng nhiều rủi ro bởi các khoản tiền cho vay bao giờ cũng có xác suất vỡ nợ cao so với những khoản đầu tư khác.

    1.2.4.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra:

    1. Đối với ngân hàng:

    Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng là nguồn vốn huy động, khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong cho vay thì khả năng thanh toán của ngân hàng dần dần lâm vào tình trạng thiếu hụt.

    Như vậy, rủi ro tín dụng sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán, làm cho ngân hàng lỗ và có nguy cơ bị phá sản.

    1. Đối với nền kinh tế xã hội:

    Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đến các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, đến các tầng lớp dân cư. Vì vậy, rủi ro tín dụng xảy ra có thể làm phá sản một vài ngân hàng và có khả năng lây lan sang các ngân hàng khác, tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi. Khi đó, dân chúng sẽ đua nhau đến ngân hàng rút tiền trước thời hạn, điều đó có thể đưa đến sự phá sản của đồng loạt các ngân hàng. Như vậy, rủi ro tín dụng tác động đến toàn bộ nền kinh tế.

    Do đó, rủi ro tín dụng là vấn đề rất nghiêm trọng mà Chính phủ các nước phải quan tâm, đặc biệt là Ngân hàng Trung Ương phải có những chính sách khuyến cáo thường xuyên thông qua công tác thanh tra, kiểm soát, chiết khấu, tái chiết khấu và sẵn sàng hỗ trợ cho các NHTM khi có các biến cố rủi ro xảy ra.

    1.2.4.3. Những nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:

    1. Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn:

    Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, vốn bị

    • đọng khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi chưa thu ngày càng gia tăng… Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
    • Khi các cá nhân vay vốn gặp phải các nguy cơ sau đây thường không trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi như: thu nhập không ổn định, bị sa thải, thất nghiệp, tai nạn lao động, hỏa hoạn, lũ lụt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sử dụng vốn sai mục đích, thiếu năng lực pháp lý…
    • Khi các doanh nghiệp thường không trả được nợ vay đầy đủ cả gốc và lãi thường là những trường hợp sau: năng lực chuyên môn và uy tín của người lãnh đạo đơn vị giảm thấp, khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do lỗ trong kinh doanh, sử dụng vốn sai mục đích, thị trường cung cấp vật tư bị đột biến, bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu thụ, thay đổi của chính sách của Nhà nước.
    1. Những nguyên nhân khách quan:
    • Tình hình kinh tế trong nước:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 5

     

    Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động rất nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế – xã hội. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái thường xuất hiện những doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, từ đó có các khoản tiền vay ngân hàng không trả được. Điều này làm cho nợ quá hạn trong ngân hàng tăng lên nhanh chóng.

    Khi nền kinh tế có lạm phát càng tăng cao có thể dẫn đến rủi ro tín dụng, vì người gửi tiền có tâm lý lo sợ đồng tiền của mình bị mất giá khi gửi ngân hàng, nên họ muốn rút tiền ra. Trong khi đó, người đi vay lại muốn gia tăng nhu cầu vay vốn và muốn kéo dài thời hạn vay. Điều này cũng là ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng cũng như những khoản đầu tư của ngân hàng không có hiệu quả. Nguy cơ này có thể làm hoạt động cho vay của ngân hàng bị phá sản.

    • Tình hình thế giới:

    Trong thời kỳ ngày nay, mỗi quốc gia là một tế bào của nền kinh tế chung thế giới. Hoạt động kinh tế các nước đều có tác động ảnh hưởng lẫn nhau vì xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới. Nhiều tập đoàn công ty có xu hướng mở rộng kinh doanh ra nước ngoài. Sự hình thành các khu vực kinh tế và các khu mậu dịch tự do như NAFTA, AFTA… cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng không nhỏ của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đối với mỗi nước thành viên.

    Chính vì vậy, khi có những biến cố về kinh tế, chính trị, quân sự xảy ra ở bất kỳ nước nào thì cũng có thể tác động mạnh đến các nước khác trên thế giới và sẽ dẫn đến biến động kinh tế trong nước và tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng.

    1. Những nguyên nhân liên quan đến việc đảm bảo tín dụng:
    • Đảm bảo đối nhân: nếu người bảo lãnh gặp phải những tình huống chủ quan hay khách quan đã được trình bày ở phần trên. Điều đó có thể dẫn đến người bảo lãnh không có khả năng thực hiện những lời cam kết của mình, tức là không có khả năng thay mặt người vay trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
    • Đảm bảo đối vật: rủi ro tín dụng xảy ra liên quan đến vật dùng để thế chấp, cầm cố nợ vay khi gặp phải những trường hợp sau:

    Việc đánh giá tài sản cầm cố, thế chấp không chính xác.

    Tài sản thế chấp, cầm cố không tiêu thụ được.

    Tài sản thế chấp, cầm cố bị hỏa hoạn hoặc cấm lưu thông.

    Tài sản thế chấp, cầm cố không được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nên không thể phát mãi.

    1. Những nguyên nhân do chính bản thân ngân hàng:

    Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận, đặt mong muốn về lợi nhuận cao hơn các khoản

    cho vay lành mạnh.

    Ngân hàng vi phạm các nguyên tắc cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn (cho một

    khách hàng vay quá 15% vốn tự có), thiếu tài sản thế chấp, cầm cố,… Phân tích đánh giá khách hàng sai, cho vay thiếu thông tin xác thực.

    Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức kinh doanh.

    1.2.4.4. Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 6

     

    1. Phân tích khách hàng:

    Đây là biện pháp tích cực nhất nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Bởi có đánh giá đúng khách hàng thì mới biết được khả năng hoàn trả nợ của họ.

    Đánh giá tình hình tài chính của khách hàng

    Đánh giá tư cách, năng lực, trình độ hiểu biết của người đứng đầu doanh nghiệp. Đánh giá tính khả thi của phương án vay vốn

    1. Phân tích tín dụng:

    Phân tích chất lượng và hiệu quả tín dụng

    Phân tích khả năng mở rộng quy mô tín dụng

    Thực hiện các đảm bảo tín dụng

    Trình độ của cán bộ tín dụng

    1. Phân tán rủi ro:
    • NHTM không nên dồn vốn vào một hoặc một số ít khách hàng, cho dù khách hàng đó kinh doanh có hiệu quả. Bởi vì nếu khách hàng đó gặp khó khăn trong kinh doanh thì ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của NHTM. Vì vậy, NHTM cần phải tôn trọng giới hạn an toàn.
    • Việt Nam, căn cứ vào quy chế cho vay của NHNN ban hành 31/12/2001 quy định: “Dư nợ đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng”.
    • Cho vay hợp vốn: Cho vay hợp vốn hay còn gọi là đồng tài trợ là quá trình cho vay, bảo lãnh của một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm đầu mối phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và của ngân hàng.

    Việc cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản tín dụng lớn mà cần nhiều ngân hàng kết hợp với nhau, cùng nhau xem xét đánh giá khách hàng, phân tích khả năng sinh lời của dự án để tíến hành cho vay. Các ngân hàng tham gia hợp vốn vào một dự án phải ký với nhau một hợp đồng đồng tài trợ, thỏa thuận rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên. Do đó, khi có rủi ro xảy ra gánh nặng sẽ không dồn vào một ngân hàng nào, bởi các ngân hàng tham gia đồng tài trợ để chia sẻ rủi ro, hậu quả của nó được giảm nhẹ.

    • Bảo hiểm tín dụng: như bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay là biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro. Ở các nước, bảo hiểm tín dụng thường được thực hiện dưới dạng sau:
    • Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho ngành, nghề mà họ kinh doanh.
    • Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm và sẽ được bồi thường hại nếu gặp rủi ro mất vốn tín dụng.
    • Bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay.
    • Lập quỹ dự phòng rủi ro: được coi là một trong những biện pháp quan trọng để phòng chống rủi ro. Việc sử dụng các quỹ khi có rủi ro như sau:
    • Quỹ dự phòng rủi ro đặc biệt: dùng để bù đắp các khoản rủi ro khi ngân hàng làm ăn thua lỗ do những nguyên nhân khách quan đem lại.
    • Quỹ dự phòng tổn thất tín dụng: dùng để bù đắp các khoản tổn thất rủi ro tín dụng do khách hàng gây nên.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 7

     

    Theo Luật TCTD ở Việt Nam áp dụng từ 01/10/1998, điều 82 dự phòng rủi ro có quy định: “TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khoản dự phòng rủi ro này phải được hạch toán vào chi phí hoạt động. Việc phân loại tài sản “có”, mức trích, phương pháp lập khoản dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro do Thống đốc NHNN cùng Bộ tài chính quy định”.

    Như vậy, trong nền kinh tế thị trường để giảm bớt rủi ro trong hoạt động ngân hàng thì tất yếu phải thành lập quỹ dự phòng rủi ro. Song tùy theo mỗi nước mà quỹ này được tổ chức theo những hình thức và tên gọi khác nhau.

    1.2.5. Đảm bảo tín dụng:

    1.2.5.1. Khái niệm về đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là phương tiện tạo cho ngân hàng có một sự đảm bảo rằng sẽ có một nguồn vốn khác để hoàn trả hay bảo chi nếu công việc cho vay bị phá sản.

    1.2.5.2. Vai trò của đảm bảo tín dụng:

    Đảm bảo tín dụng là thiết lập những cơ sở pháp lý của khoản tín dụng đã cấp với những tài sản của người vay hay người thứ ba để khi không thu được nợ sẽ có thể dựa vào việc bán tài sản đó để thu hồi nợ.

    Khi đánh giá hoạt động tín dụng của khách hàng chưa đem lại nguồn thu chắc chắn, ngân hàng buộc phải dùng đến hình thức đảm bảo tín dụng. Đó là các giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba.

    1.2.5.3. Biện pháp đảm bảo tiền vay:

    Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng.

    Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.

    Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

    1.2.5.4. Nguyên tắc bảo đảm tiền vay:

    Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của Nghị định 178 và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

    Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của pháp luật khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.

    Sau khi xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, nếu khách hàng chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng theo nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.

    1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG:

    1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn:

    1.3.1.1. Tỉ lệ vốn huy động trên tổng nguồn vốn:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 8

     

    Tỉ lệ vốn huy động = Vốn huy động/tổng nguồn vốn

    Chỉ tiêu này cho biết nguồn vốn của Ngân hàng có phụ thuộc vào vốn của Hội Sở hay không. Cứ 100 đồng vốn thì có bao nhiêu đồng vốn huy động.

    Chỉ tiêu này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Vốn huy động trên tổng nguồn vốn cao thể hiện ngân hàng tự chăm lo nguồn vốn đủ sức để hoạt động kinh doanh tín dụng và các sản phẩm ngân hàng khác

    Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy công tác huy động vốn không đủ nguồn vốn để cho vay, phải đi vay của ngân hàng Trung Ương hay các TCTD khác, mức vốn này có lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động từ dân cư. Vì vậy nếu tỷ lệ này thấp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

    Ngược lại, nếu ngân hàng có chính sách huy động vốn với lãi suất cao nhưng hoạt động tín dụng kém gây ứ động nguồn vốn huy động sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vì vậy phải cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả.

    1.3.1.2. Tỉ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động:

    Tỉ lệ dư nợ trên vốn huy động = Dư nợ cho vay / Vốn huy động

    Chỉ tiêu này xác định năng lực đầu tư của vốn huy động. Nó cho chúng ta biết khả năng huy động vốn của ngân hàng có đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng không. Cứ 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng dư nợ.

    1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình cho vay:

    1.3.2.1. Tỉ lệ tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn:

    Tỉ lệ dư nợ = Tổng dư nợ/tổng nguồn vốn

    Đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ tập trung nguồn vốn vào hoạt động tín dụng. Tỉ lệ này càng cao thì Ngân hàng tập trung vốn tốt cho hoạt động tín dụng. Nó giúp nhà phân tích so sánh khả năng sử dụng vốn cho vay của ngân hàng so với nguồn vốn huy động. Cứ 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng dư nợ cho vay.

    1.3.2.2. Hệ số thu nợ

    Hệ số thu nợ = ( Doanh số thu nợ/ Doanh số cho vay) x 100%

    Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, tỉ lệ này càng cao thì công tác thu hồi nợ của ngân hàng được thực hiện tốt. Cứ 100 đồng doanh số cho vay thì sẽ có bao nhiêu đồng doanh số thu nợ. Đôi khi tỉ số này thấp Ngân hàng vẫn thu nợ tốt do một số khoản nợ chưa đến thời hạn trả gốc và lãi.

    1.3.2.3. Vòng quay tín dụng: (lần)

    Vòng quay tín dụng = Doanh số thu nợ / dư nợ bình quân

    Đây là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, tốc độ thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm.

    1.3.2.4. Chỉ tiêu thời gian thu nợ bình quân:

    Thời gian thu nợ bình quân = 360 ngày / Vòng quay tín dụng

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                      Page 9

     

    Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ thu hồi nợ là nhanh hay chậm về mặt thời gian. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng cao và tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng càng nhanh.

    1.3.2.5. Tỉ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:

    Tỉ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn/tổng dư nợ) x 100%

    Chỉ số này đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng, tỉ lệ này càng thấp thì chất lượng hoạt động tín dụng càng hiệu quả. Cứ 100 đồng dư nợ thì có bao nhiêu đồng nợ quá hạn.

    1.3.3. Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh.

    1.3.3.1. Phân tích thu nhập:

    Chỉ số này giúp nhà phân tích xác định được cơ cấu của thu nhập để từ đó có những biện pháp phù hợp để tăng lợi nhuận của ngân hàng, đồng thời có thể kiểm soát được rủi ro trong kinh doanh.

    Thu nhập từng khoản mục
    Tỷ trọng % từng khoản mục thu nhập = x 100%
    Tổng thu nhập
    1.3.3.2. Phân tích chi phí:
    Chi phí từng khoản mục
    Tỷ trọng % từng khoản mục chi phí = x 100%
    Tổng chi phí

    Chỉ số này giúp nhà phân tích có thể biết được kết cấu các khoản chi để có thể hạn chế các khoản chi bất hợp lý, tăng cường các khoản chi có lợi cho hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện tốt chiến lược mà hội đồng quản trị ngân hàng đã đề ra.

    1.3.3.3. Phân tích lợi nhuận:

    Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chất lượng kinh doanh của NHTM. Lợi nhuận có thể hữu hình như: tiền, tài sản… và vô hình như uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, hoặc phần trăm thị phần ngân hàng chiếm được.

    Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

    Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô. Một bộ phận của lợi nhuận được doanh nghiệp trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi để nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.

    Các chỉ số:

    1. Tỉ suất lợi nhuận trên tài sản

    ROA = Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản (%)

    Chỉ số này cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản. Nói cách khác, ROA giúp cho nhà phân tích xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng tốt.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 10

     

    1. Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu

    ROS = (Lợi nhuận/doanh thu) x 100%

    Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng doanh thu của Ngân hàng thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận.

    1. Lợi nhuận ròng trên VCSH

    ROE = (Lợi nhuận/VCSH) x 100%

    Tỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho thấy cứ trung bình 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào việc kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.

    1. Tổng chi phí / Tổng thu nhập

    Chỉ số này tính toán khả năng bù đắp chi phí của một đồng thu nhập. Đây cũng là chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Thông thường chỉ số này phải nhỏ hơn 1, nếu nó lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, đang có nguy cơ phá sản trong tương lai.

    Tóm lại: Những cơ sở lý luận nêu trên về các nghiệp vụ cơ bản, nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng và các chỉ tiêu đánh giá nhằm làm cho hoạt động phân tích đạt hiệu quả tốt. Bên cạnh việc phân tích dựa trên các chỉ tiêu kinh doanh chúng ta cần có cái nhìn khái quát về Ngân hàng để nắm được đâu là thuận lợi, khó khăn mà ngân hàng đang gặp phải cũng như tình hình hoạt động trong thời gian qua.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 11

     

    CHƯƠNG 2

    PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP XUẤ NHẬP KHẨU VIỆT NAM – EXIMBANK

    2.1.     KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG EXIMBANK

    2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

    Eximbank (EIB) được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam.

    Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày 06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Commercial Joint – Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank.

    Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 10.560 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.

    Tính đến ngày 31/12/2010, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 183 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Nghệ An, Huế, Bạc Liêu, Long An, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM và đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 852 Ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới.

    2.1.2. Các sản phẩm, dịch vụ

    Ngân hàng Eximbank cung cấp đầy đủ các dịch vụ của một Ngân hàng tầm cỡ quốc tế, cụ thể sau:

    Huy động tiền gởi tiết kiệm, tiền gởi thanh toán của cá nhân và đơn vị bằng VND, ngoại tệ và vàng. Tiền gửi của khách hàng được bảo hiểm theo quy định của Nhà

    nước.

    Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; cho vay đồng tài trợ; cho vay thấu chi; cho vay sinh hoạt, tiêu dùng; cho vay theo hạn mức tín dụng bằng VND, ngoại tệ và vàng với

    các điều kiện thuận lợi và thủ tục đơn giản.

    Mua bán các loại ngoại tệ theo phương thức giao ngay (Spot), hoán đổi (Swap), kỳ

    hạn (Forward) và quyền lựa chọn tiền tệ (Currency Option).

    Thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, chiết khấu chứng từ hàng hóa và thực hiện chuyển tiền qua hệ thống SWIFT bảo đảm nhanh chóng, chi phí hợp lý, an toàn

    với các hình thức thanh toán bằng L/C, D/A, D/P, T/T, P/O, Cheque.

    Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa và quốc tế: Thẻ Eximbank MasterCard, thẻ Eximbank Visa, thẻ nội địa Eximbank Card. Chấp nhận thanh toán thẻ quốc tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 12

     

    Visa, MasterCard, JCB…thanh toán qua mạng bằng Thẻ.

    Thực hiện giao dịch ngân quỹ, chi lương, thu chi hộ, thu chi tại chỗ, thu đổi ngoại tệ,

    nhận và chi trả kiều hối, chuyển tiền trong và ngoài nước.

    Các nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước (bảo lãnh thanh toán, thanh toán thuế,

    thực hiện hợp đồng, dự thầu, chào giá, bảo hành, ứng trước…).

    Dịch vụ tài chính trọn gói hỗ trợ du học. Tư vấn đầu tư – tài chính – tiền tệ.

    Dịch vụ đa dạng về Địa ốc.

    Home Banking; Mobile Banking; Internet Banking.

    Các dịch vụ khác: Bồi hoàn chi phiếu bị mất cắp đối với trường hợp Thomas Cook Traveller’ Cheques, thu tiền làm thủ tục xuất cảnh (I.O.M), cùng với những dịch vụ và tiện ích Ngân hàng khác đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

    2.2. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTMCP XUẤ

    NHẬP KHẨU VIỆT NAM – EXIMBANK

    2.2.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng

    2.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản

    Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản biến động liên tục qua các năm và bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 44%. Đặc biệt năm 2011 và Quý 2/2012, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản sụt giảm mạnh do khủng hoảng nền kinh tế tác động. Trong năm 2011, các giao dịch liên quan đến công cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài chính khác của EIB đều đến hạn khiến cho khoản mục này năm 2011 giảm 100% so với năm 2010. Mặt khác, trong năm 2011 EIB cũng cơ cấu lại danh mục các khoản góp vốn đầu tư dài hạn, giảm 28% so với năm 2010. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tổng tài sản của EIB ở mức trung bình, đứng thứ 5/9 ngân hàng so sánh.

    2.2.1.2. Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu

    Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm, bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 25%. Nguyên nhân vốn chủ sở hữu giảm chủ yếu do ngân hàng sử dụng thặng dư vốn cổ phần của EIB để tăng vốn điều lệ và trả cổ tức cho cổ đông, giảm từ 5.292 tỷ đồng năm 2008 xuống 156 tỷ đồng tại Quý 2/2012. Mặc dù tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm nhưng vốn điều lệ của EIB liên tục được bổ sung qua các năm, từ 7.220 tỷ đồng năm 20008 lên 12.355 tỷ đồng tại 30/6/2012. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, vốn chủ sở hữu của EIB hiện đứng thứ 4, sau 3 ngân hàng thương mại Nhà nước.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 13

     

    2.2.1.3. Tốc độ tăng trưởng thu nhập hoạt động, lợi nhuận trước thuế

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân từ năm 2008 đến nay đạt 55%, mức cao nhất đạt 71% vào năm 2011. Tính theo giá trị tuyệt đối, lợi nhuận trước thuế của EIB vẫn có xu hướng tăng qua các năm, từ 969 tỷ đồng năm 2008 lên 4.056 tỷ đồng năm 2011. Tuy nhiên Quý 2/2012, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trước thuế của EIB lại giảm xuống còn tăng trưởng 37% so với cùng kỳ năm 2011 do thu nhập từ hoạt động dịch vụ giảm và hoạt động kinh doanh bị lỗ hơn 46 tỷ đồng trong khi cùng kỳ năm 2011 lại lãi 19 tỷ đồng.

    Thu nhập hoạt động của EIB có xu hướng tăng từ năm 2009 đến năm 2011, nhưng Quý 2/2012 lại có tốc độ tăng trưởng lại có xu hướng giảm, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2011. Nguyên nhân do khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu sụt giảm khiến cho thu nhập từ hoạt động dịch vụ và kinh doanh ngoại hối của ngân hàng bị ảnh hưởng.

    So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV tại 30/6/2012, thu nhập hoạt động của EIB đứng thứ 7 và lợi nhuận trước thuế đứng thứ 5.

    2.2.1.4. Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay

    Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng có xu hướng giảm, từ 81% năm 2009 xuống 20% năm 2011, đặc biệt Quý 2/2012 còn tăng trưởng 1% do tình hình kinh tế khó khăn, các ngân hàng thực hiện thắt chặt tín dụng theo định hướng của NHNN nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu. Tuy nhiên với lợi thế về hoạt động thanh toán quốc tế

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 14

     

    và tài trợ xuất nhập khẩu, cùng với việc bắt đầu từ tháng 5/2012 chính sách tiền tệ đã dần dần được nới lỏng nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng, chúng tôi cho rằng EIB sẽ có tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay cao hơn trong những tháng cuối năm 2012.

    So sánh với các ngân hàng trong cùng hệ thống, thị phần cho vay của EIB chiếm 3% toàn hệ thống và đứng thứ 7 (sau 4 NHTM Nhà nước, ACB và STB).

    2.2.1.5. Tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng

    Tốc độ tăng trưởng tiền gửi khách hàng của EIB biến động qua các năm và bình quân từ 2008 đến nay đạt 24%. Đặc biệt năm 2011, tốc độ tăng trưởng tiền gửi của EIB bị âm do tình hình lạm phát tăng cao nên huy động của EIB bị ảnh hưởng. Mặt khác, trong năm 2011 một lượng lớn tiền gửi bằng vàng đã được chuyển sang loại hình dịch vụ giữ hộ vàng khiến huy động vàng của EIB giảm đáng kể.

    So sánh với các ngân hàng trong cùng hệ thống, thị phần huy động trên thị trường 1 của

    EIB chiếm 3% toàn hệ thống và đứng thứ 9 (sau 4 NHTM Nhà nước, ACB, TECH, STB và

    MBB).

    2.2.2. Cơ cấu tài sản, chất lượng đầu tư

    Trong danh mục tổng tài sản của EIB, hoạt động cho vay trên thị trường 1 và thị trường 2 chiếm đến hơn 70% tổng tài sản và vẫn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Tỷ trọng cho vay trên thị trường 1 trong cơ cấu tài sản đang có xu hướng giảm trong khi tỷ trọng cho vay trên thị trường 2 có xu hướng tăng từ năm 2009 đến nay. Trong điều kiện thanh khoản của các

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 15

     

    ngân hàng nhỏ vẫn còn gặp khó khăn, lãi suất trên thị trường giảm mạnh, với cơ cấu cho vay trên thị trường 2 quá lớn so với các ngân hàng khác trong cùng ngành, EIB có thể gặp rủi ro trong thanh khoản. Vì vậy ngân hàng cần phải có chính sách hợp lý nhằm kiểm soát tốt các khoản vay, hạn chế rủi ro tín dụng.

    2.2.2.1. Tỷ lệ cho vay /Tổng tài sản (LAR):

    Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản (LAR) của EIB trung bình từ năm 2007 đến nay đạt 48% và có xu hướng giảm từ năm 2009 do ngân hàng có xu hướng đẩy mạnh hoạt động cho vay trên thị trường 2. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ LAR của EIB ở mức thấp, cho thấy thanh khoản của ngân hàng vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, các tài sản đảm bảo cho các khoản cho vay của EIB có tính lỏng thấp chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng tài sản (bất động sản và động sản chiếm 88%). Do đó, trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn gặp khó khăn, ngân hàng phải có chính sách kiểm soát tốt rủi ro, đảm bảo thanh khoản.

    2.2.2.2. Tài sản có khác

    Tài sản có khác của EIB có xu hướng tăng mạnh qua các năm, từ 1.307 tỷ đồng năm 2009 lên 10.789 tỷ đồng tại 30/6/2012 và chiếm 6% tổng danh mục tài sản của ngân hàng. Đặc biệt trong năm 2011, các khoản phải thu của ngân hàng tăng đột biến gấp 5,5 lần so với năm 2010 (từ 636 tỷ đồng lên 3.476 tỷ đồng) do ngân hàng phải ký quỹ bằng vàng tại các TCTD khác nhằm đảm bảo cho các khoản tiền gửi của các TCTD này tại EIB; đồng thời quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ngân hàng mua trong năm nhưng chưa hoàn

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 16

     

    tất thủ tục chuyển nhượng và các khoản chờ thanh toán liên quan đến giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa ngân hàng và một đơn vị khác.

    Từ năm 2009 đến 2010, Tài sản có khác của EIB cũng tăng đột biến, từ 271 tỷ lên 4.253 tỷ đồng. Nguyên nhân do ngân hàng đã ủy thác đầu tư 4.000 tỷ đồng cho công ty quản lý quỹ đầu tư vào chứng khoán có lãi suất cố định thông qua các hợp đồng ủy thác có thời hạn 6 tháng. Vào cuối năm 2010, khoản tiền này được đầu tư ở dạng tiền gửi tại một ngân hàng khác. Tuy nhiên, vào năm 2011, khoản tiền ủy thác đầu tư này đã không còn, có thể do EIB đã thay đổi chiến lược đầu tư do điều kiện thị trường không thuận lợi đối với đầu tư vào chứng khoán.

    2.2.2.3. Danh mục đầu tư

    Danh mục đầu tư của EIB chỉ bao gồm chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn. Chứng khoán đầu tư năm 2011 tăng 27,5% so với năm 2010, trong đó chứng khoán nợ

    đầu tư giữ đến ngày đạo hạn tăng 27,6%; chứng khoán vốn đầu tư sẵn sàng để bán lại giảm mạnh, từ 33 tỷ đồng năm 2010 xuống còn 2,2 tỷ đồng năm 2011.

    Theo quy định của NHNN, các khoản đầu tư vào công ty chứng khoán và thực hiện các dịch vụ tài chính như bảo hiểm, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối… không đưa ra khỏi vốn tự có cấp 1 trong việc tính toán hệ số an toàn vốn nên EIB đã cơ cấu lại danh mục đầu tư, thoái toàn bộ vốn các khoản đầu tư có rủi ro cao nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn CAR. Cụ thể: EIB đã bán toàn bộ chứng khoán vốn của Ngân hàng TMCP Gia Định, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, CTCP Công nghệ Nguyễn Hoàng, CTCP Thủy sản số 1; đồng thời Eib cũng bán trái phiếu, kỳ phiếu của một số TCTD như Đại Á, VIB, BIDV, Việt Nam Thương tín, Gia Định, Việt Á.

    Đồng thời, EIB cũng thoái lui toàn bộ vốn đầu tư dài hạn tại doanh nghiệp như Ngân hàng Việt Á 289 tỷ đồng, CTCP Đầu tư và Phát triển Ngoại thương 20 tỷ đồng nhằm đảm bảo hệ só an toàn vốn CAR , khiến cho khoản mục Góp vốn đầu tư dài hạn của ngân hàng năm 2011 giảm 28% so với năm 2010.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 17

     

    Cơ cấu danh mục đầu tư của EIB theo đối tượng phát hành, chứng khoán cho các TCTD khác phát hành chiếm tỷ trọng tương đối lớn 78%, trong khí Trái phiếu Chính phủ lại chiếm tỷ trong rất nhỏ 6%. Điều này cho thấy danh mục đầu tư có EIB có mức độ rủi ro cao, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế và hệ thống ngân hàng vẫn còn khó khăn như hiện nay. Trong danh mục trái phiếu do các tổ chức kinh tế phát hành, EIB nắm giữ 250 tỷ đồng tái phiếu Vinashin, có khả năng khó thu hồi. Vì vậy, ngân hàng cần phải có những biện pháp quản lý tốt các khoản đầu tư nhằm hạn chế rủi ro trong điều kiện thị trường chứng khoán vẫn còn ảm đạm như hiện nay.

    Tính đến 30/6/2012, chứng khoán đầu tư của EIB giảm 9,6% so với năm 2011, chủ yếu do chứng khoán đầu tư gửi đến ngày đáo hạn giảm. Tuy nhiên, góp vốn đầu tư dài hạn trong Quý 2/2012 của EIB lại tăng đột biến 174% so với năm 2011 do các khoản đầu tư dài hạn khác tăng 181% và dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn tăng 61%.

    2.2.3. Chất lượng tín dụng

    2.2.3.1. Cơ cấu cho vay

    Cơ cấu cho vay của EIB trải rộng ở khắp các ngành nghề cho thấy chính sách phân tán rủi ro theo ngành của ngân hàng. Đồng thời, cơ cấu cho vay theo ngành nghề kinh tế của EIB tại Quý 2/2012 thay đổi không đáng kể so với năm 2011. Tỷ trọng cho vay thương mại dịch vụ và công nghệ chế biến, khai thác mỏ có xu hướng giảm, nhưng tỷ trọng cho vay cá nhân lại tăng. Đặc biệt cơ cấu cho vay của EIB tập trung vào các lĩnh vực có thể xuất khẩu mạnh như Công nghiệp chế biến, Nông lâm nghiệp và thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.

    Tỷ lệ cho vay bất động sản của EIB chiếm tỷ lệ rất nhỏ hơn 1% do ngân hàng đã ý thức

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 18

     

    được những nguy cơ từ khu vực bất động sản và đã sớm giảm tỷ trọng cho vay của khu vực này từ năm 2009. Điều này cho thấy mối lo từ nợ xấu bất động sản của ngân hàng rất ít.

    Cơ cấu cho vay hiện tại hoàn toàn phù hợp với chiến lược cho vay của ngân hàng là tập trung vào lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, hạn chế vốn tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất, đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản và cho vay tiêu dùng.

    Cơ cấu cho vay theo đối tượng khách hàng tại Quý 2/2012 của EIB cũng có sự thay đổi. EIB đang chuyển dịch cơ cấu cho vay theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay cá nhân (từ 35% xuống 24%), tăng tỷ trọng cho vay doanh nghiệp (từ 65% lên 76%). Trong cơ cấu cho vay của khối doanh nghiệp, tỷ trọng cho vay doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có xu hướng tăng. Phần tăng này chủ yếu được chuyển sang từ khối khách hàng cá nhân.

    Những thay đổi trong chiến lược kinh doanh cho thấy sự nhạy bén của EIB đối với thị trường và được thể hiện rõ ràng trên kết quả lợi nhuận của ngân hàng. Nhờ việc giảm tỷ lệ cho vay cá nhân, đồng thời thay đổi cấu thành của ngành cho vay theo nhu cầu thị trường, dư nợ cho vay khách hàng năm 2011 tăng 20% nhưng thu nhập từ cho vay khách hàng tăng đến 93% (từ 5.413 tỷ lên 10.435 tỷ) so với năm trước, thu nhập lãi thuần tăng 84%, giúp cho ROAE tăng 51%.

    Cũng giống như các ngân hàng khác, cơ cấu cho vay theo kỳ hạn của EIB tập trung chủ yếu vào cho vay ngắn hạn chiếm 70% tổng dư nợ cho vay. Trong đó, kỳ hạn dưới 3 tháng chiếm 26,5%; từ 3-12 tháng chiếm 41,5%; từ 1 năm trở lên chiếm 32%. EIB đang có xu

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 19

     

    hướng giảm dần tỷ trọng cho vay ngắn hạn, và tăng dần tỷ trọng cho vay dài hạn (từ 18% năm 2009 lên 23% năm 2010). Điều này cho thấy áp lực trong giải ngân và thu hồi vốn đúng hạn đã phần nào giảm bớt.

    2.2.3.2. Nợ xấu

    Tỷ lệ nợ xấu của EIB trong năm 2008 tăng đột biến, từ 0,9% năm 2007 lên 4,7%. Nguyên nhân do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến cho quan hệ tín dụng giữa EIB và khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu bị ảnh hưởng; đồng thời việc quản trị rủi ro trong hệ thống chi nhánh của EIB không tốt dẫn đến thất thoát tài sản thế chấp và không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, với sự tư vấn, hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC trong công tác quản lý rủi ro, cùng với việc triển khai tối đa các giải pháp để xử lý nợ khó đòi như cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, xử lý tài sản đảm bảo…, tỷ lệ nợ xấu của EIB đã giảm xuống và trong tầm kiểm soát, từ 4,7% xuống còn 1,4% vào năm 2010.. Tuy nhiên, năm 2011 và Quý 2/2012, tỷ lệ nợ xấu lại có xu hướng tăng nhưng vẫn thấp hơn năm 2009. Nguyên nhân do tình hình kinh tế khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ, hàng tồn kho gia tăng dẫn đến tình hình nợ xấu gia tăng trong toàn hệ thống ngân hàng. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ nợ xấu của EIB vẫn rất thấp, chỉ cao hơn STB và ACB.

    Trong cơ cấu nợ theo nhóm của EIB tại Quý 2/2012, nợ nhóm 3 giảm 86% trong khi nợ nhóm 4 và nhóm 5 tăng lần lượt là 67% và 51% cho thấy nợ xấu của ngân hàng đang có hiện tượng chuyển nhóm. Điều này càng thể hiện rõ những tiềm ẩn rủi ro tín dụng trong thời gian tới có thể sẽ tăng cao.

    Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (Coverage ratio) từ năm 2010 đến nay bình quân đạt 52% và ở mức cao nhất 71% vào năm 2010. So với các ngân hàng đang niêm yết và BIDV, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của EIB ở mức thấp. Tuy nhiên, nợ nhóm 4 và 5 của ngân hàng tăng mạnh trong Quý 2/2012 nhưng dự phòng rủi ro tín dụng chỉ tăng 14% cho thấy chất lượng tài sản đảm bảo của EIB đã được cải thiện.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 20

     

    2.2.3.3. Chi phí dự phòng

    EIB có NPLs cao vào năm 2008, tuy nhiên đã giảm được nợ xấu vào 3 năm tiếp theo. Năm 2011, nợ xấu của EIB tăng so với 2010 (từ 1.42 lên 1.61%), tuy nhiên Chi phí dự phòng/Thu nhập, Chi phí dự phòng/Dư nợ bình quân đều giảm. Điều này thể hiện chất lượng tài sản đảm bảo của các khoản vay của EIB đang ngày càng được cải thiện, hoặc khả năng thu nợ khó đòi của EIB đã có những bước tiến mới.

    2.2.4. Tính thanh khoản

    2.2.4.1. Hệ số an toàn vốn

    Nhờ quy mô vốn chủ sở hữu lớn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR của EIB luôn cao hơn mức quy định tối thiểu của NHNN (9%) và mức tiêu chuẩn của Basel II (12%). Mặc dù tỷ lệ an toàn vốn CAR có xu hướng giảm từ năm 2008 nhưng so với các ngân hàng trong cùng ngành vẫn mức cao. Đặc biệt năm 2008, tỷ lệ an toàn vốn CAR của EIB đạt mức kỷ lục 45,86% nhờ vào việc phát hành cho cổ đông chiến lược với giá cao, qua đó làm thặng dư vốn cổ phần tăng đáng kể. Điều này phản ánh khả năng của EIB trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác là rất cao so với các ngân hàng khác.

    Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu vẫn chưa theo kịp đà tăng trưởng của chính ngân hàng khi tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản có xu hướng giảm qua các năm, từ 26,62% năm 2008 xuống 8,22% tại Quý 2/2012.

    Trái ngược với tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản, tỷ lệ Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu của EIB lại có xu hướng tăng qua các năm, từ 2,76x năm 2008 lên 11,17x tại Quý 2/2012, nhưng

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 21

     

    so với trung bình các ngân hàng đang niêm yết (11,8x), tỷ lệ này của EIB vẫn thấp hơn. Với tỷ lệ thấp như vậy, rủi ro mất khả năng thanh toán các hợp đồng tín dụng nhiều khả năng cũng sẽ thấp hơn. Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn khó khăn, ngân hàng vẫn phải có các chính sách quản lý nhằm kiểm soát tốt rủi ro tín dụng.

    2.2.4.2. Tài sản thanh khoản

    Tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản của EIB ngày càng được cải thiện, tăng từ 24,34% năm 2009 lên 39,69% vào Quý 2/2012 và ở mức khá cao so với các ngân hàng niêm yết cho thấy khả năng gặp rủi ro thanh khoản của ngân hàng không cao. Trong những tài sản thanh khoản có khả năng chuyển thành tiền mặt một cách nhanh chóng, tiền vàng gửi tại TCTD khác và cho vay các TCTD khác chiếm đến hơn 80%. Trong điều kiện thanh khoản của một số ngân hàng nhỏ gặp khó khăn vào những tháng đầu năm 2012 thì việc tỷ lệ tiền vàng gửi tại TCTD khác và cho vay các TCTD khác cao có thể ảnh hưởng phần nào đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.

    Tỷ lệ khả năng chi trả (tổng tài sản có khả năng thanh toán ngay trên tổng nợ phải trả) của EIB có xu hướng tăng và luôn cao hơn mức quy định 15% của NHNN. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ khả năng chi trả của EIB ở mức cao nhất.

    Khả năng thanh khoản của các ngân hàng niêm yết và BIDV Tại thời điểm 30/6/2012

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 22

     

    2.2.4.3. Tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR)

    Tỷ lệ cho vay/tiền gửi của EIB có xu hướng tăng nhanh từ 69% năm 2008 đến 139% trong năm 2011 trước khi được hạ xuống còn 121% vào 30/6/2012. Theo chúng tôi, việc siết chặt tăng trưởng tín dụng của NHNN nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng là nguyên nhân khiến LDR giảm trong Quý 2/2012. So với các ngân hàng đnag niêm yết và BIDV, tỷ lệ LDR của EIB ở mức cao nhất. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng trong điều kiện hệ thống ngân hàng vần còn khó khăn như hiện nay.

    2.2.4.4. Cơ cấu tiền gửi khách hàng

    Cơ cấu tiền gửi theo loại tiền tệ của EIB chủ yếu tập trung vào đồng nội tệ và có xu hướng tăng gần qua các năm, từ 61% năm 2008 lên 80% tại Quý 2/2012. Nguyên nhân tiền gửi bằng vàng và ngoại tệ của EIB có xu hướng giảm do lãi suất huy động thấp, hoạt động huy động vàng giảm sút do khách hàng chuyển sang dịch vụ giữ hộ vàng. Mặt khác do khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng, cung cầu ngoại tệ giảm sút nên tỷ trọng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ bị giảm.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 23

     

    Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng có sự biến động qua các năm và tập chủ yếu

    • nhóm khách hàng cá nhân chiếm trên 60%. Tỷ trọng tiền gửi của khối doanh nghiệp Nhà nước thấp, chiếm khoảng 8%. Do có lợi thế về hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ xuất nhập khẩu; được SMBC hỗ trợ về nguồn vốn, đặc biệt là tài trợ nguồn vốn USD nhằm nâng cao sức mạnh tài chính và khả năng tài trợ vốn cho các khách hàng của Eximbank nên tỷ trọng tiền gửi của khối doanh ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang có xu hướng tăng lên. Năm 2008 và 2009 tỷ trọng của 2 nhóm khách hàng này chiếm tỷ trọng không đáng kể, nhưng sang năm 2010 và 2011, tỷ trọng của nhóm doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tổng tiền gửi đã chiếm đến 28% và 20%; nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng tiền gửi chiếm 6% và 4%.

    Cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn của EIB chủ yếu tập trung ở tiền gửi có kỳ hạn chiếm 88% vào Quý 2/2012. Cơ cấu tiền gửi của EIB đang có xu hướng giảm tiền gửi không kỳ hạn và tăng tiền gửi có kỳ hạn. Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình thị trường hiện nay khi lạm phát tăng cao, lãi suất giảm mạnh thì khách hàng sẽ có xu hướng gửi các kỳ hạn dài hạn. Mặt khác, do tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp tận dụng vốn tự có để sản xuất kinh doanh nên gián tiếp giúp cho tỷ trọng vốn có kỳ hạn của EIB tăng lên.

    2.2.4.5. Tương quan giữa kỳ hạn tiền gửi và cho vay

    Với cơ cấu huy động ngắn và cho vay dài, rủi ro kỳ hạn là mối lo ngại của EIB. Tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng của EIB chiếm hơn 90% tổng số dư tiền gửi, trong khi cho vay có kỳ hạn dưới 3 tháng chỉ chiếm 27% nên chênh lệch thanh khoản ròng dưới 3 tháng luôn bị âm. Các kỳ hạn còn lại có chênh lệch thanh khoản ròng dương.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 24

     

    Với việc đường cong lãi suất đang được thiết lập trở lại, cùng với sự hạ nhiệt của lãi suất huy động, chúng tôi kỳ vọng tiền gửi tại các kỳ hạn dài sẽ tăng lên trong thời gian tới.

    2.2.5. Khả năng sinh lời

    2.2.5.1. Cơ cấu thu nhập

    Hai nguồn thu nhập lớn nhất chi phối kết quả kinh doanh của EIB trong những năm gần đây là thu nhập lãi thuần và thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Chỉ tính riêng năm 2011, thu nhập từ 2 nguồn này chiếm 94% tổng thu nhập hoạt động.

    Thu nhập lãi thuần của EIB có xu hướng tăng mạnh qua các năm, từ 685 tỷ đồng năm 2007 lên 5.304 tỷ đồng năm 2011 và tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động cũng ngày càng tăng, từ 67% năm 2007 lên 85% năm 2011. Điều này cho thấy hoạt động cho vay vẫn là hoạt động truyền thống của ngân hàng.

    Tính đến hết Quý 2/2012, thu nhập hoạt động của EIB đạt 2.890 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2011.

    Với hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và khách hàng doanh nghiệp, thu nhập từ hoạt động dịch vụ của EIB không ngừng tăng lên, từ 109 tỷ đồng năm 2008 tăng lên 566 tỷ đồng năm 2011, trong đó đóng góp chính vào thu nhập từ hoạt động dịch vụ là hoạt động thanh toán quốc tế.

    Với bề dày kinh nghiệm và chuyên môn, đồng thời không ngừng đa dạng các sản phẩm dịch vụ, hoạt động thanh toán quốc tế là thế mạnh của EIB. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 25

     

    cầu kéo theo sức tiêu thụ hàng hóa giảm tại các thị trường (đặc biệt tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản), chính sách bảo hộ thương mại có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với những rào cản kỹ thuật và kinh tế đã ảnh hưởng không ít đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của EIB. Tuy nhiên, với những chính sách linh hoạt và các gói sản phẩm đa dạng, tổng doanh số thanh toán xuất khẩu của EIB vẫn tăng trưởng qua các năm. Tính đến cuối năm 2011, thanh toán xuất khẩu đạt 3,1 tỷ USD, chiếm 3,2% kim ngạch xuất khẩu cả nước, tăng 36% so với năm 2010; Thanh toán nhập khẩu đạt 2,75 tỷ USD, chiếm 2,6% kim ngạch nhập khẩu cả nước, tăng 17% so với năm 2010.

    Bên cạnh hoạt động thanh toán quốc tế, EIB cũng đẩy mạnh hoạt động kiều hối và thanh toán thẻ. Tổng doanh thu kiều hối chuyển về EIB năm 2011 đạt hơn 294 triệu USD, tăng 36% so với năm 2010. Doanh thu thanh toán thẻ đạt 7.043 tỷ đồng tăng 46% so với năm 2010.

    Các mảng hoạt động còn lại của EIB chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập và có xu hướng biến động qua các năm. Đặc biệt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, năm 2008 chiếm tỷ trọng lên đến 34% tổng thu nhập nhưng đến năm 2011 thu nhập từ mạng này đã bị lỗ 88 tỷ đồng do tình hình thị trường ngoại hối còn nhiều khó khăn, tỷ giá hối đoái có những diến biến phức tạp.

    2.2.5.2. Hiệu suất sinh lời

    Hệ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROAE) của EIB năm 2008 giảm mạnh so với năm 2011 (từ 11,3% xuống 7,4% do vốn điều lệ tăng 158% từ 2.800 tỷ đồng lên 7.220 tỷ đồng thông qua việc phát hành cho đối tác chiến lược nước ngoài SMBC và 2 quỹ đầu tư nước ngoài, trong khi lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 53,4%. ROE đã tăng trở lại từ năm 2009 đến năm 2011 do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế (bình quân 60%) chênh lệch quá lớn với tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu lại (bình quân 32%) mặc dù vốn điều lệ của ngân hàng liên tục được bổ sung qua các năm. Sang Quý 2/2012, tỷ lệ ROE lại giảm xuống 16,7% nhưng trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn khó khăn như hiện nay, mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu của EIB vẫn hấp dẫn. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ ROEA của EIB đứng thứ 4/9 ngân hàng.

    Hiệu suất sinh lời của tài sản (ROAA) lại có sự biến động qua các năm. Từ năm 2007

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 26

     

    đến năm 2009, ROA có xu hướng tăng do tốc độ tăng trưởng tổng tài sản có xu hướng giảm mạnh (từ 84% năm 2007 xuống 36% năm 2009) trong khi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế giảm ít hơn (từ 79% xuống 59%). Tuy nhiên từ năm 2010 đến nay, ROE lại có xu hướng giảm từ 2% xuống còn 1,4% vào Quý 2/2012. Nguyên nhân giảm do tình hình kinh tế khó khăn, cạnh tranh giữ các ngân hàng ngày càng gay gắt, lãi suất giảm mạnh khiến cho kết quả hoạt động kinh doanh bị bị sụt giảm mạnh.

    Tỷ lệ lãi cận biên ròng (NIM) của EIB có xu hướng tăng từ năm 2007 đến năm 2009 (từ 3,1% lên 4,1%). Đặc biệt năm 2009, tỷ lệ NIM của EIB cao nhất 4,1% do việc nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách hỗ trợ lãi suất, thị truồng chứng khoán phục hồi, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn góp phần thúc đẩy tăng trưởng dư nợ tín dụng khiến thu nhập lãi thuần tăng mạnh. Tuy nhiên sang năm 2010, tỷ lệ NIM của EIB giảm xuống 3,4% do lạm phát tăng lên 2 con số, cạnh tranh huy động vốn giữa các ngân hàng căng thẳng, lãi suất biến động mạnh, tăng trưởng tín dụng không còn cao như năm 2009. Năm 2011, tỷ lệ NIM lại tăng lên 3,8% do EIB vốn là ngân hàng hoạt động mạnh trên thị trưởng 2 mà năm 2011 hoạt động kinh doanh trên thị trường 2 đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng khiến cho tỷ lệ lãi cận biên ròng tăng lên.

    Tính đến Quý 2/2012, tỷ lệ lãi cận biên ròng của EIB đạt 3,4% giảm so với năm 2011 do những tháng đầu năm 2012 hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, tăng trửong tín dụng chậm lại, thậm chí âm, lãi suất giảm mạnh, nợ xấu tăng cao nên đã ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ NIM của EIB đứng 5/9 ngân hàng.

    Khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết và BIDV tại thời điểm 30/6/2012

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 27

     

    2.2.6. Hiệu quả hoạt động

    Tỷ lệ Chi phí/Tổng tài sản (Overhead ratio) của EIB bình quân từ năm 2007 đến nay đạt 1,1%, trong đó cao nhất năm 2009 đạt 1,4% và thấp nhất năm 2010 đạt 0,8%. So với các ngân hàng niêm yết, Overhead ratio của EIB thấp nhất trong các ngân hàng. Điều này thể hiện EIB không chịu ảnh hưởng của tính kinh tế theo quy mô và ngân hàng có khả năng tiết giảm để chi phí ở mức thấp nhất.

    Tỷ lệ Chi phí/Thu nhập (CIR) có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2010 đến nay do ngân hàng đang đẩy mạnh phát triển hệ thống mạng lưới hoạt động nhằm nâng cao thị phần và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. So với các ngân hàng niêm yết và BIDV, tỷ lệ Chi phí/Thu nhập của EIB ở mức thấp, đứng thứ 6/9 ngân hàng cho thấy EIB đã có những bước tiến trong việc quản lý chi phí.

    Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng niêm yết và BIDV

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 28

     

    2.2.6.1. Chi tiết cơ cấu chi phí hoạt động

    Chi phí hoạt động của EIB trong năm 2011 tăng gần gấp đôi so với năm 2010, trong đó chi phí cho nhân viên tăng 93%. Mức lương trung bình của nhân viên tăng từ 10,5 triệu đồng/người năm 2010 lên 17,8 triệu đồng/người năm 2011.

    Chi cho tài sản của EIB cũng tăng mạnh từ năm 2009 đến 2011 (Chi về tài sản tăng 244%, Khấu hao TS cố định tăng 127%). Điều này cho thấy những nỗ lực của EIB trong việc bắt kịp với những ngân hàng khác trong việc trả lương cho nhân viên và đầu tư tài sản cố định để tương xứng với tăng trưởng tổng tài sản.

    Trong Quý 2/2012, chi phí hoạt động của EIB tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó chi phí lương cho nhân viên tăng 11,1% , chi phí tài sản tăng 42,9%. Nguyên nhân các khoản chi phí của EIB vẫn có xu hướng tăng trong điều kiện NHNN đang thực hiện chính sách thắt chặt chi phí là do ngân hàng đang thực hiện chiến lược phát triển mạng lưới nhằm nâng cao thị phần và vị thế trong ngành.

    2.2.6.2. Lợi nhuận trước thuế do một nhân viên tạo ra:

    Lợi nhuận trước thuế so một nhân viên tạo ra của EIB tăng vọt qua các năm, từ 266 triệu đồng năm 2007 lên 865 triệu đồng năm 2011. Chi phí lương bình quân cho 1 nhân viên tạo ra trong một tháng cũng tăng vọt qua các năm, đặc biệt năm 2011 đã tăng 68% so với năm 2010, bắt kịp với xu hướng tăng lương cho nhân viên ngân hàng và đi kèm với tăng lượng công việc, trách nhiệm cho từng nhân viên. Điều này đã góp phần thúc đẩy tăng lợi nhuận của EIB.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 29

     

    2.3. ĐÁNH GIÁ TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA EXIMBANK

    2.3.1. Những thành tựu đạt được

    • Eximbank – Ngân hàng xuất nhập khẩu số 1 Việt Nam

    Eximbank được thành lập vào tháng 5/1989, là một trong những NHTMCP đầu tiên của Việt Nam. Với vốn điều lệ đạt 13 nghìn tỷ đồng, Eximbank là một trong những NH có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối NHTMCP tại Việt Nam. Mục tiêu phát triển của Ngân hàng là phát huy thế mạnh trên các lĩnh vực tài trợ thương mại, tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối. Trong các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, hoạt động ngân hàng phục vụ doanh nghiệp xuất nhập khẩu và phát triển ngân hàng bán lẻ là hoạt động cốt lõi.

    • Đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMB)

    Năm 2007, EIB ký thoả thuận hợp tác chiến lược với SMBC. SMBC chính thức sở hữu 15% cổ phần của EIB vào năm 2008. Theo đó, SMBC sẽ hỗ trợ EIB trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, hợp tác về tài trợ thương mại và hỗ trợ lĩnh vực quản trị doanh nghiệp.

    Về mảng bán lẻ: SMBC cùng với các công ty liên kết trực thuộc tập đoàn tài chính SMFG cử các chuyên gia về Ngân hàng bán lẻ hỗ trợ EIB phát triển các hoạt động ngân hàng bán lẻ. Hiện nay, EIB đang áp dụng mô hình bán lẻ mới thông qua việc xem phòng giao dịch như một chi nhánh.

    Về mảng quản trị rủi ro: SMBC cử các chuyên gia biệt phái sang hỗ trợ EIB trong lĩnh vực quản trị rủi ro, tham gia sâu vào các hoạt động của Ủy ban về các vấn đề rủi ro trực thuộc Hội đồng quản trị.

    Về mảng nguồn vốn: SMBC hỗ trợ EIB về nguồn vốn, đặc biệt là tài trợ nguồn vốn USD nhằm nâng cao sức mạnh tài chính và khả năng tài trợ vốn cho khách hàng của EIB.

    • Trở thành đối tác chiến lược

    Trong Quý II/2012, EIB tiến hành tham gia góp vốn 11% vào Air Mekong và trở thành đối tác chiến lược của doanh nghiệp này. Ngoài việc đầu tư góp vốn, EIB còn hỗ trợ Air Mekong trong các hoạt động tài trợ thuê, mua để phát triển đội máy bay. Trước đấy, EIB đã

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 30

     

    cho Vietnam Airlines vay 100 triệu USD để mua 4 chiếc máy bay Airbus A321 trong thời gian 10 năm. Các sự kiện trên đặt ra khả năng NH đang có ý định đầu tư vào lĩnh vực hàng không.

    EIB cũng khá tích cực tham gia góp vốn cổ phần và các thương vụ M&A. Sự kiện EIB-STB là tâm điểm của thị trường chứng khoán trong nhiều tháng. Vào đầu năm 2012, Chủ tịch EIB bất ngờ tuyên bố đã nắm trong tay số cổ phiếu đại diện cho 51% vốn điều lệ của STB, đồng thời đưa ra yêu cầu thay thế ban lãnh đạo. Sau đại hội cổ đông ngày 26/5/2012, 4 người từ EIB được bầu vào HĐQT của STB, trong đó ông Phạm Hữu Phú là người đại diện vốn góp của EIB với 9,73% cổ phần STB.

    • Chính sách phát triển mạng lưới nhanh

    Phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất dựa trên phương châm phát triển nhanh và bền vững là một trong 2 chuyên đề của năm 2012. Hiện tại, mạng lưới giao dịch của EIB gồm 203 điểm giao dịch, hiện diện tại 20 tỉnh thành phố, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam. Theo kế hoạch của EIB, đến năm 2015, hệ thống mạng lưới của NH sẽ phủ kín 63 tỉnh thành trong cả nước. Điều đó đồng nghĩa với việc trung bình EIB phải mở chi nhánh tại 10 tỉnh thành mới mỗi năm trong vòng 5 năm tới. Đây là kế hoạch khá tham vọng, đặc biệt trong việc thâm nhập vào thị trường các tỉnh miền Bắc.

    Khác với các NHTM khác, EIB không mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác bằng việc thiết lập nhiều công ty con. NH chỉ có 1 công ty con là Công ty Eximbank AMC. Tuy nhiên, Eximbank đang đầu tư vào 3 công ty liên kết hoạt động trong 3 lĩnh vực tài chính quan trọng: CTCP Bất động sản Exim (Eximland), CTCP Chứng khoán Rồng Việt và CTCP Dịch vụ kinh doanh vàng XNK Kim Việt.

    • Thế mạnh trong việc kinh doanh ngoại tệ và kinh doanh vàng

    Với thế mạnh truyền thống là các hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, EIB là một trong các NH có phần mềm, hệ thống giao dịch kinh doanh ngoại tệ hiện đại và đội ngũ cán bộ kinh doanh ngoại hối chuyên nghiệp nhất trong toàn hệ thống ngân hàng. Eximbank cũng là NHTM duy nhất được phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thoả thuận.

    Với thế mạnh trong mảng kinh doanh vàng vật chất, EIB là một trong 6 đơn vị được NHNN chọn để tham gia bán vàng bình ổn thị trường. Khi các sàn giao dịch vàng bị đóng cửa và kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài bị chấm dứt, EIB đã chuyển hướng kinh doanh sang việc tập trung mở rộng và phát triển thị trường bán lẻ, tăng cường mạng lưới bán lẻ để tận dụng tối đa các nhu cầu mua bán vàng trên các địa bàn.

    2.3.2. Những điểm hạn chế còn tồn tại

    Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi Eximbank phải tạo ra sản phẩm khác biệt so với đối phương thì mới phát triển bền vững, song trên thực tế Eximbank chưa thực hiện được.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 31

     

    Eximbank cũng chưa dự báo ai là đối thủ tiềm năng sẽ gia nhập ngành đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác sản phẩm mới nào, dịch vụ mới nào trong kinh doanh tiền tệ sẽ gia nhập thị trường của ngành đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác khách hàng mục tiêu mà mình

    sẽ nhắm tới cung ứng, phục vụ là ai đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác hệ thống cấu trúc của mình đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác môi trường kinh tề quốc tế, thị trường tài chính- tiền tệ thế giới tác động đến kinh doanh sẽ tạo ra các cơ hội

    – thách thức gì đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa dự báo được chính xác môi trường Việt Nam sẽ tạo ra

    các cơ hội – thách thức gì đến năm 2015.

    Eximbank cũng chưa có các giải pháp hiệu quả cho việc phát triển khách hàng toàn diện, sản phẩm tối ưu, thị trường tối ưu….

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 32

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOAN

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của tất cả các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế nên nhiều Ngân hàng đã ra đời để đáp ứng nhu cầu cho các tổ chức kinh tế góp phần xây dựng đất nước. Do đó không thể tránh khỏi cạnh tranh giữa các Ngân hàng để tồn tại và phát triển. Do đó cho thấy để tiếp tục đứng vững và ngày càng tăng trưởng trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng như mọi doanh nghiệp khác, việc áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều vô cùng cần thiết đối với mọi Ngân hàng, đặc biệt là EXIMBANK. Trên cơ sở phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh với tình hình thực tế tại Ngân hàng em xin đưa ra một số biện pháp và hy vọng nó sẽ góp phần vào việc kinh doanh của ngân hàng ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn.

    3.1.     ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN:

    Nguồn vốn là mối quan tâm của Ngân hàng hiện nay. Vì vậy để gia tăng doanh số cho vay, để mở rộng và phát triển kinh doanh thì điều đầu tiên ngân hàng phải có là vốn với phương thức “đi vay để cho vay“. Tuy nhiên hoạt động huy động vốn của Ngân hàng phải gắn liền với chiến lược sử dụng vốn trong từng thời kỳ nhất định. Huy động vốn quá nhiều có thể gây ra trạng thái ứ đọng vốn trong trường hợp không có cơ hội đầu tư và ngược lại sẽ gây ra tình trạng thiếu vốn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vốn huy động trong EXIMBANK còn chiếm tỉ trọng thấp trong tổng nguồn vốn. Vậy Ngân hàng nên đẩy mạnh khai thác nguồn vốn nhàn rỗi còn tiềm tàng trong dân cư bằng cách đa phương hóa và đa dạng hóa các hình thức, các biện pháp huy động vốn:

    Thực hiện lãi suất huy động hợp lý hấp dẫn vá áp dụng hình thức thưởng vật chất.

    Đối với cá nhân hay bất kỳ tổ chức nào khi muốn gửi tiền vào Ngân hàng điều đầu tiên đó là lãi suất. Như chúng ta đã biết nếu ngân hàng huy dộng vốn với lãi suất cao thì cũng cho vay với lãi suất cao. Nếu các tổ chức kinh tế vay vốn với lãi suất cao thì việc kinh doanh của họ sẽ gặp nhiều khó khăn, ngược lại nếu họ cho vay vốn với lãi suất thấp thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả hơn. Ngày nay, cạnh tranh giữa các Ngân hàng đã diễn ra hết sức đa dạng, EXIMBANK không chỉ cạnh tranh với các Ngân hàng trong hoạt động tiền gởi mà còn cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy việc nghiên cứu thị trường để đưa ra một chính sách lãi suất thích hợp có ý nghĩa đến việc gia tăng tiền gửi.

    Thưởng vật chất thông qua xổ số cũng là yếu tố đắc lực kích thích huy động tiền gửi bởi tập quán “cầu may” đã hình thành khá đậm nét trong đời sống xã hội, đặc biệt là những tầng lớp dân cư có mức sống trung bình. Mặt khác Ngân hàng nên đưa ra những giải thưởng thích hợp với những khách hàng có số dư tiền gửi tiết kiệm lớn hoặc nhỏ. Đây là một động lực khá hấp dẫn để huy động tiền gửi tiết kiệm.

    Tạo niềm tin nơi khách hàng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 33

     

    • Lòng tin: Là một trong những vấn đề sống còn của Ngân hàng. Ngân hàng có huy động được hay không là nhờ vào lòng tin của dân chúng. Tạo lòng tin nơi khách hàng là một biện pháp tổng hợp nhiều khía cạnh, sau đây là một số biện pháp điển hình:
    • Cơ sở vật chất: Là một trong những cơ sở vững vàng nhất để tạo niềm tin nơi khách hàng, nhất là vấn đề huy động tiền gửi. Trước mắt Ngân hàng nên đầu tư vào cơ sở vật chất cho trụ sở làm việc của Ngân hàng thêm tiện nghi, trang trí thẫm mĩ, sắp xếp công việc một cách khoa học. Như thế sẽ tạo ấn tượng tốt cho khách hàng, họ sẽ nghĩ Ngân hàng giàu có, làm ăn hiệu quả và có thể yên tâm ký thác.
    • An toàn: Đây là yếu tố mà khách hàng rất quan tâm khi họ gửi tiền vào Ngân hàng. Vì ngoài lãi suất cao Ngân hàng còn phải chú trọng đến độ an toàn của khách hàng. Rất có thể khách hàng ưa chuộng mức lãi suất vừa phải mà độ an toàn vốn của họ cao hơn là lãi suất cao mà không được an toàn. Vì họ nghĩ ứng với một khoản lợi tức đều kéo theo một rủi ro, lợi tức càng cao rủi ro càng nhiều. Để cho khách hàng thấy được độ an toàn của họ Ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình đây là một biện pháp cơ bản để lôi cuốn khách hàng đặc biệt là đối với khách hàng tiền gửi thanh toán.
    • Phong cách phục vụ và trình độ nhân viên: Phong cách phục vụ là yếu tố rất quan trọng tác động trực tiếp vào tâm lý khách hàng, họ là cầu nối giữa Ngân hàng và khách hàng. Do đó những nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng cần có một tác phong và phong cách tốt như ân cần, niềm nở, lịch sự, nhã nhặn, cởi mở, tận tâm và nhất là phải có trình độ. Vì vậy, Ngân hàng phải thường xuyên có lớp huấn luyện nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cũng như tạo điều kiện cho họ có sự nâng cao kiến thức. Mục tiêu chính là làm sao cho họ hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao, có hiểu biết để giải thích khách hàng một cách tường tận, cặn kẽ những vấn đề mà họ quan tâm.

    Tóm lại, đây là một vấn đề thuộc về tâm lý của khách hàng, khi họ cảm thấy thoả mãn, vui vẻ, hài lòng, thì lần sau có lẽ họ sẽ tiếp tục gửi tiền vào Ngân hàng và giới thiệu cho người khác biết đến.

    • Áp dụng các hình thức huy động tiết kiệm có mục đích

    Đây là hình thức huy động rất hữu hiệu, đem lại cho khách hàng nhiều nguồn vốn để Ngân hàng có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu vốn của nền kinh tế: Loại hình này có tiềm năng rất lớn trong dân cư, những người không có điều kiện vay vốn như: không có người bảo lãnh, không có tài sản thế chấp….. Tuy nhiên họ có một phần thu nhập dư ra để dành cho mục

    đích nào đó trong tương lai, lãi suất huy động đối với loại tiền gửi này được thoả thuận theo số tiền gửi, thời hạn gửi, giá trị món hàng sẽ mua…. sau một thời gian nhất định, khách hàng

    rút tiền ra sẽ được Ngân hàng cho vay bổ sung thêm vốn và món hàng được mua đó sẽ trở thành tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Làm như thế tức là Ngân hàng biến ước muốn của họ thành hiện thực, khách hàng sẽ đến Ngân hàng nhiều hơn và đồng thời vốn kinh doanh cũng được gia tăng.

    * Đa dạng hoá các dịch vụ cung ứng:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 34

     

    Hiện nay, tại EXIMBANK, các hình thức huy động, dịch vụ Ngân hàng còn hạn hẹp, ít ỏi, điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Trong điều kiện tự do cạnh tranh như hiện nay, Ngân hàng nào đưa ra các dịch vụ tốt, chất lượng nhanh chóng, đảm bảo an toàn, chất lượng sẽ làm giảm được các chi phí về lưu thông tiền mặt tạo điều kiện thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển vốn và giúp Ngân hàng mở rộng công tác huy động vốn. Ngân hàng nên phát huy mở rộng sử dụng các phương tiện thanh toán để thu hút tiền gửi thanh toán.

    Bên cạnh công tác cải tiến và phát huy việc thực hiện các công cụ thanh toán như: Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, séc tiền mặt…Ngân hàng có thể mở rộng việc sử dụng sec cá nhân, dùng thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác thông qua công tác thông tin tuyên truyền về lợi ích của việc dùng sec: có lãi nhanh chóng, dễ dàng, đạt độ chính xác cao, không phải tiếp cận tiền mặt, với những đối tương có thu nhập khá, có nhu cầu chi trả thường xuyên.

    Tóm lại, để huy động được nguồn vốn vào Ngân hàng thì EXIMBANK cần phải vận dụng ngoại lực và nội lực để tạo được sự tin tưởng tuyệt đối nơi khách hàng.

    3.2.  ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG:

    Bên cạnh việc huy động vốn vào Ngân hàng ngày càng nhiều với những biện pháp linh hoạt hấp dẫn thì Ngân hàng cũng phải nỗ lực tìm biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để tránh cho đồng tiền không bị đóng băng làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận thì Ngân hàng phải có những biện pháp thật sự hài hòa giữa việc huy động vốn và sử dụng vốn nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. Và cũng như chiến lược huy động vốn chi nhánh cũng hạ lãi suất cho vay thấp hơn các Ngân hàng để chiếm ưu thế hơn về lãi suất so với Ngân hàng khác. Vì vậy EXIMBANK cần phải thực hiện một số vấn đề sau đây để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của mình:

    • Thực hiện chiến lược khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng, từng bước nâng cao chất lượng tín dụng đồng thời duy trì khách hàng truyền thống của Ngân hàng.

    Đối với khách hàng truyền thống, vay trả có uy tín, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng nên dùng một mức cho vay ưu đãi giúp cho doanh nghiệp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tạo thế cạnh tranh có lợi hơn và qua đó tạo được mức lợi nhuận cao hơn.

    Đối với tư nhân cá thể, việc cho vay đều thực hiện các tài sản thế chấp, tuy nhiên, Ngân hàng không nên xem việc thế chấp là yếu tố quyết định cho sự cho vay mà chủ yếu xem xét mục đích vay có mang lại hiệu quả đích thực có khả năng trả được nợ mới quyết định cho vay.

    Ngân hàng cần thường xuyên tổ chức kiểm tra việc sử dụng vốn vay, đặc biệt là những khoản vay lớn và những khách hàng mới giao dịch lần đầu. Tăng cường thông tin giữa các Ngân hàng về tình hình tài chính của các doanh nghiệp và các sai phạm của khách hàng. Ngân hàng có thể sàng lọc đối tượng vay mạo hiểm, có triển vọng xấu khỏi quá trình cho vay để hạn chế rủi ro thông qua hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 35

     

    • Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, loại hình đầu tư kinh doanh chủ yếu là: kinh doanh Xuất Nhập khẩu phần lớn là những đơn vị làm ăn có hiệu quả đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước. Đặc biệt là Ngân hàng chú trọng việc mở rộng các dịch vụ Ngân hàng như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ vay cầm đồ…
    • Chuyên môn hóa của cán bộ tín dụng: Ban lãnh đạo Ngân hàng cử từng cán bộ tín dụng chuyên cho vay và thu hồi nợ ở từng khu vực địa bàn nhất định. Việc phân chia như vậy sẽ giúp cán bộ tín dụng nắm chắc được tình hình tài chính cũng như quan hệ làm ăn của từng khách hàng, hiểu được nhu cầu vay vốn của họ. Từ đó lập ra phương án cho vay có hiệu quả, vốn cho vay được cấp phát thật sự đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu qủa. Qua đó thu hồi nợ và lãi một cách nhanh chóng và thuận lợi khi đến kì hạn thanh toán
    • Phát triển nguồn nhân lực: Yếu tố con người luôn là yếu tố hàng đầu để hoạch định chính sách kinh doanh của Ngân hàng nói chung và chính sách tín dụng nói riêng. Vì thế Ngân hàng nên tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng cán bộ công nhân viên ngày càng giỏi về nghiệp vụ giàu kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức tốt. Muốn như vậy Ngân hàng có thể đầu tư cho nhân viên thông qua việc đào tạo điều kiện cho họ có dịp tìm hiểu, học hỏi nâng cao trình độ kỹ thuật nghiệp vụ với mọi hình thức: huân luyện tại chỗ, tham dự các cuộc hội thảo, các khóa đào tạo ngắn ngày, dài ngày trong nước cũng như nước ngoài khi có điều kiện.
    • Thực hiện công tác tuyên truyền: Ngân hàng nên tiến hành thông tin, quảng cáo trên báo chí, truyền hình về hoạt động của Ngân hàng, thông qua phương thức đổi mới kinh doanh. Đặc biệt Ngân hàng nên tiếp cận với khách hàng tiềm năng, có tên tuổi, chào mời họ tham gia vào danh sách các khách hàng của Ngân hàng qua hình thức tham dự hội chợ thương mại từ khâu sản xuất, tiếp thị cho đến khâu thương mại hóa sản phẩm.

     

    * Một số biện pháp để cải thiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng:

    Thực hiện rà soát, đánh giá tình hình nợ thường xuyên, định kỳ và phân loại để nắm rõ thực trạng dư nợ tín dụng. Định kỳ rà soát, quản lý danh mục tín dụng của Ngân hàng

    để đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu về giới hạn.

    Tổ chức xem xét, thẩm định kỹ, chặt chẽ trước khi cấp các khoản tín dụng mới trong đó

    có nội dung quan trọng là đánh giá và dự phòng khả năng xảy ra rủi ro.

    Thực hiện hoàn chỉnh, bổ sung và quản lý chặt chẽ hồ sơ tín dụng. Cần ban hành quy

    định cụ thể, chặt chẽ về việc lưu trữ, bảo quản và quản lý hồ sơ tín dụng.

    Có chính sách khen thưởng, giao chỉ tiêu thu nợ ngoại bảng đối với các chi nhánh như là một trong những chỉ tiêu chính trong hoạt động, đặt biệt là những chi nhánh có nợ

    ngoại bảng lớn.

    Lập phương án tận thu nợ gốc, nợ lãi đã xử lý toàn hệ thống.

    Tăng cường kiểm tra, kiểm soát quá trình xử lý và tận thu hồi nợ.

    3.3.  ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHÁC:

    • Kinh doanh ngoại tệ:

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 36

     

    Áp dụng chính sách tỷ giá: phương châm của Ngân hàng “ Thà là lời ít mà thu hút khách hàng nhiều”. Đưa ra tỷ giá hấp dẫn thu hút khách hàng.

    Ngân hàng cần phải có sự cân đối trên thị trường để đảm bảo lợi nhuận cho Ngân hàng và khách hàng.

    • Về thanh toán quốc tế:

    Nâng cao trình độ nghiệp vụ để giải đáp thắc mắc cho khách hàng và hướng dẫn cho khách hàng lập bộ chứng từ tránh sai sót xảy ra từ đó tạo niềm tin cho khách hàng đối với Ngân hàng.

    • Chiến lược tìm kiếm khách hàng mới:

    Hình thành một bộ phận nghiên cứu thị trường, tìm tòi và sáng kiến ra các sản phẩm dịch vụ mới, trong đó có dịch vụ phi tín dụng như môi giới tiền tệ, bao thanh toán… xây dựng chính sách khách hàng, kế hoạch cụ thể với từng đối tượng khách hàng, có chính sách giá và phí dịch vụ hợp lý.

    Không ngừng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính tiền tệ , nghiên cứu và tiếp tục triển khai một số dịch vụ mà các tổ chức tín dụng khác đã thực hiện tốt như đại lý

    bảo hiểm, cho thuê, kinh doanh vàng, kiều hối, cầm đồ, …

    Tạo tiện ích cho khách hàng khi quan hệ với Ngân hàng, giúp thu hút khách hàng cũng như tạo mối liên hệ giữa Ngân hàng và doanh nghiệp qua những tài khoản ký thác và

    cho phép hình thành những bảo đảm tài chính an toàn cho Ngân hàng.

    Để tiếp cận khách hàng rộng hơn cần triển khai giới thiệu các loại hình tín dụng, các dịch vụ Ngân hàng trên mạng kết hợp với cả việc giải đáp thắc mắc cho khách hàng về những vấn đề liên quan đến thể lệ tín dụng.

    Tóm lại, những biện pháp trên sẽ mang lại hiệu quả cho việc sử dụng vốn, giải quyết tình trạng ứ đọng vừa mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh và đa dạng hóa các hình thức đầu tư vốn cũng như kết quả thu nhập từ hoạt động này góp phần đáng kể vào việc tăng lợi nhuận của chi nhánh.

    3.4.  BIỆN PHÁP GIẢM CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG:

    Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là muốn nâng cao lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng phải nâng cao các khoản thu của mình đồng thời giảm bớt chi phí hoạt động. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mang tính chất đặc thù, do đó giảm chi phí hoạt động kinh doanh là vấn đề mà các nhà lãnh đạo quan tâm tìm ra phương pháp tốt nhất mà không ảnh hưởng đến các hoạt động khác.

    Qua quá trình phân tích ta thấy chi phí chủ yếu của Ngân hàng là chi phí trả lãi tiền gửi và trả lãi tiền vay. Hai khoản này phụ thuộc vào lãi suất, lãi suất lại phụ thuộc vào khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định. Vì vậy hai khoản chi phí này của Ngân hàng thường không chủ động lắm. Do đó chi phí mà Ngân hàng có thể điều chỉnh là chi phí vật chất và các khoản tiền lương công nhân, văn phòng phẩm.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 37

     

    • Về khoản vật chất như nhà cửa, trang thiết bị máy móc cần phải được bảo quản, chăm sóc cẩn thận tránh những hư hỏng đáng tiếc làm tăng chi phí sửa chữa, khấu hao tài sản cố định. Dù là một phần không lớn nhưng cũng góp phần làm giảm chi phí hoạt động kinh doanh chung của Ngân hàng.
    • Về khoản tiền lương công nhân viên ở đây không có nghĩa là giảm lương mà nói về khía cạnh nghề nghiệp chuyên môn và sự bố trí nhân sự hợp lý của ban lãnh đạo Ngân hàng. Như vậy về khoản chi phí này, nếu muốn giảm được một phần thì trách nhiệm thuộc về các nhà lãnh đạo, họ phải hết sức khéo léo và nhạy bén trong việc bố trí đúng người, đúng việc và cả trong việc tiếp cận khoa học công nghệ.
    • Vấn đề văn phòng phẩm, điện thoại: Mỗi công nhân viên phải biết tiết kiệm nhằm đạt mục tiêu cao nhất trong kinh doanh, không hoang phí trong sử dụng mua sắm. Khoản này thì tùy thuộc vào ý thức của mỗi nhân viên trong Ngân hàng.
    • Trong điều kiện hiện nay, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng một tăng, việc tìm lợi nhuận gặp phải khó khăn vì lãi suất cho vay có chiều hướng giảm. Do đó, bên cạnh việc không ngừng tìm tòi những hình thức dịch vụ mới để mở rộng kinh doanh, đáp ứng nhu cầu khách hàng, Ngân hàng cần thực hiện chế độ thủ tục phí hấp dẫn để khuyến khích khách hàng đến giao dịch, đến mở tài khoản tiền gửi nhiều hơn.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 38

     

    KẾT LUẬN

    Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của ngân hàng đều rất tốt: Tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản

    • mức thấp trong các ngân hàng so sánh; Lợi nhuận do một nhân viên tạo ra có xu hướng tăng qua các năm cho thấy hiệu quả quản lý chi phí của EIB rất tốt góp phần thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng.

    Tỷ lệ thu nhập từ tín dụng cao và tăng qua các năm, chiếm trên 80% tổng thu nhập hoạt động, trong khi LAR ở mức thấp so với các ngân hàng khác cho thấy khả năng sinh lời từ các hoạt động ngoài lãi của EIB thấp và không hiệu quả.

    EIB cũng đã thể hiện những nỗ lực nâng cao hệ số đòn bẩy của mình bằng cách hoạt động mạnh hơn trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, những rủi ro trên thị trường 2 ngày càng gia tăng khi các ngân hàng nhỏ gặp rủi ro về thanh khoản và hệ thống ngân hàng đang thực hiện tái cơ cấu. Do đó ngân hàng cần phải có những chính sách quản lý hiệu quả trong điều kiện thị trường hiện nay.

    Với sự tham gia tư vần, hỗ trợ của đối tác chiến lược SMBC trong công tác quản lý rủi ro, cùng với việc triển khai tối đa các giải pháp để xử lý nợ khó đòi, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đã giảm, trong tầm kiếm soát và ở mức thấp so với các ngân hàng đang niêm yết.

    Bên cạnh thế mạnh về thanh toán xuất nhập khẩu, kiều hối và kinh doanh vàng, EIB còn có truyền thống cho vay cá nhân. Ở thị trường Việt Nam, cho vay cá nhân, tín dụng cá nhân chưa thật sự phổ biến như nhiều nước khác. EIB có cơ hội mở rộng, chiếm thị phần lớn ở thị trường này trong tương lai.

    GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga                    Page 39

  • Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              1

    LỜI MỞ ĐẦU

    Với chủ trương phát triển nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập nền kinh tế nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước không ngừng tăng lên, trong đó phải kể đến những đóng góp không nhỏ của hệ thống NHTM nước ta trong việc làm trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp trong nước với nước ngoài, từng bước khẳng định niềm tin trên trường quốc tế.

    Cho đến nay, các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước khi quan hệ mua bán với nhau thường sử dụng các hình thức thanh toán như: Chuyển tiền (Remittance), Uỷ thác thu (Collection), Tín dụng chứng từ (Documentary Credit). Nếu như hai phương thức đầu đều bất lợi cho một bên là người mua hoặc người bán, ngân hàng chỉ là trung gian và không bị ràng buộc trách nhiệm phải thanh toán, thì phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn, nó đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên tham gia. Chính những ưu điểm nổi bật này mà phương thức tín dụng chứng từ được ưa chuộng hơn. Ước tính có khoảng 80% các hợp đồng ngoại thương thoả thuận phương thức thanh toán bằng tín dụng thư không huỷ ngang.

    Bản thân phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt, song nó không phải là phương thức thanh toán tránh được rủi ro cho các bên tham gia một cách tuyệt đối. Thực tế cho thấy, các bên tham gia của Việt Nam bước vào thị trường thế giới đa phần là mới lạ, kinh nghiệm còn non trẻ.Trong điều kiện đó các ngân hàng và các doanh nghiệp XNK đã gặp nhiều khó khăn khi phát sinh những rủi ro trong việc thanh toán bằng TDCT, có trường hợp bị thiệt hại lên đến hàng triệu đôla. Do vậy, việc hoàn thiện và phát triển công tác thanh toán quốc tế, cụ thể là nghiên cứu và phòng chống rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ là một trong những mối quan tâm thường xuyên của mỗi ngân hàng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              2

    Trong những năm qua, Ngân hàng Công thương Đống Đa đã triển khai và thực hiện tốt các nghiệp vụ thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ tín dụng chứng từ nói riêng, song việc hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ này còn gặp không ít khó khăn, bất cập. Vì thế trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Công thương Đống Đa, trên cơ sở những kiến thức đã học và qua nghiên cứu tài liệu, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong

    phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa”.

    Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động thanh toán TDCT, từ đó làm sáng tỏ vị trí, vai trò của phương thức thanh toán TDCT trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích lý luận theo một phương pháp luận khoa học lôgic và thực tiễn về hoạt động thanh toán TDCT, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại NH Công thương Đống Đa. Nội dung đề tài gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận chung về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và rủi ro khi áp dụng

    Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NH Công thương Đống Đa

    Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại NH Công thương Đống Đa

    Tuy nhiên, do những hạn chế về lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên chuyên đề của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ phía thầy cô và các bạn.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thu Hiền cùng với các cán bộ phòng Tài trợ thương mại thuộc Ngân hàng Công thương Đống Đa đã tận tình giúp em hoàn thành chuyên đề này.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              3

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO KHI ÁP DỤNG

    1.1. THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ

    1.1.1. Khái niệm về thanh toán quốc tế

    Quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia bao gồm tổng thể các lĩnh vực : kinh tế, chính chị, văn hoá, khoa học, kỹ thụât, du lịch…Quan hệ đối ngoại này cũng có thể được phân chia làm hai loại: quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch.

    Quan hệ mậu dịch là những mối quan hệ có liên quan trực tiếp, phát sinh trên cơ sở hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế.

    Quan hệ phi mậu dịch thì ngược lại, nó không mang tính chất thương mại như: quan hệ về ngoại giao, văn hoá, du lịch…

    Trong các mối quan hệ nêu trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng, là cơ sở cho các mối quan hệ khác. Trong quá trình hoạt động, tất cả các quan hệ quốc tế đều cần thiết và liên quan đến vấn đề tài chính. Kết thúc từng kỳ, từng từng niên hạn các quan hệ quốc tế đều được đánh giá kết quả hoạt động, do đó cần thiết đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước có liên quan.

    1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế

    1.1.2.1. Đối với nền kinh tế

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              4

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thì hoạt động thanh toán quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích luỹ trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp với sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định.

    Thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Thanh toán quốc tế góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến cho quan hệ lưu thông hàng hoá tiền tệ giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy, hiệu quả hơn.

    Thanh toán quốc tế làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán được an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Các ngân hàng với vai trò là trung gian thanh toán sẽ bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán trong giao dịch nhằm giảm thiểu rủi ro trong thanh toán và tạo sự an toàn tin tưởng cho khách hàng.

    Như vậy, thanh toán quốc tế là hoạt động tất yếu của một nền kinh tế phát triển.

    1.1.2.2. Đối với ngân hàng

    Thanh toán quốc tế là một loại hình dịch vụ liên quan đến tài sản ngoại bảng của NH. Hoạt động TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              5

    dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT. Trên cơ sở đó giúp NH tăng doanh thu, nâng cao uy tín của ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh cho ngân hàng trong cơ chế thị trường. Hoạt động thanh toán quốc tế không chỉ là một nghiệp vụ đơn thuần mà còn là một hoạt động nhằm hỗ trợ và bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tốt sẽ mở rộng hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác…

    Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện các nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế với ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.

    TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng qui mô và mạng lưới ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.

    Như vậy, thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng. Trong TTQT, việc các bên tham gia lựa chọn phương thức thanh toán là một điều kiện rất quan trọng. PTTT tức là chỉ người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền. Tuỳ theo những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, các bên tham gia trong thương mại quốc tế sẽ lựa chọn và thoả thuận với nhau, cùng sử dụng một PTTT thích hợp trên nguyên tắc cùng

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              6

    có lợi, người bán thu được tiền nhanh và đầy đủ, người mua nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và TTQT, người ta đã thiết lập nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Các phương thức thanh toán quốc tế dùng trong ngoại thương hiện nay gồm có: phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance), phương thức uỷ thác thu (Collection), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit)…

    Trong thực tế, khi các bên mua bán chưa có sự tín nhiệm nhau thì thanh toán TDCT là phương thức phổ biến, được các bên tham gia hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi và bình đẳng cho tất cả các bên tham gia(người mua, người bán, ngân hàng). Hiện nay ở Việt Nam và các nước trên thế giới, thanh toán bằng thư tín dụng được sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 80% trong tổng số kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu. Trong nội dung tiếp theo em xin đề cập sâu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

    1.2. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

    1.2.1. Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ

    Phương thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phương thức thanh toán, trong đó theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng- letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng.

    Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà NK, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà XK hưởng. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà XK khi nhà XK tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để thanh toán.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              7

    Thuật ngữ “tín dụng- credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tín nhiệm”, chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người NK ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào,mà chỉ cho người NK “vay” sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà NK không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà XK và ghi nợ nhà NK. Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức TDCT chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà NK.

    Như vậy, trong phương thức TDCT, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà XK, bảo đảm cho nhà XK nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng. Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho nhà NK nhận được số lượng và chất lượng hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra.

    Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chừng từ gửi hàng.Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng XK nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như qui định trong L/C.

    1.2.2. Các bên tham gia

    1. Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này. Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer), nhà NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee).

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              8

    1. Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Người thụ hưởng L/C có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer).
    1. Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho người bán hưởng. Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán.
    1. Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo thường là một ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK.
    1. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành. Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C.
    1. Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những qui định trong L/C thì:

    Thanh toán (pay)cho người thụ hưởng Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ

    Chịu trách nhiệm trả chậm (deferrer payment) giá trị của L/C.

    Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khi nhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                              9

    1.2.3. Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ

    Người

    xuất khẩu

    Người

    nhập

    NH

    xuất khẩu

    NH

    nhập

    khẩ

    Bước 1: Sau khi kí hợp đồng ngoại thương, nhà NK chủ động viết đơn và gửi các giấy tờ cần thiết liên quan xin mở L/C gửi ngân hàng phục vụ mình (NH NK), yêu cầu ngân hàng mở một L/C với một số tiền nhất định và theo đúng những điều kiện nêu trong đơn,để trả tiền cho nhà XK.

    Bước 2: Căn cứ vào các giấy tờ xin mở L/C của nhà NK, NH NK sau khi đã đồng ý, và nhà NK đã thực hiện ký quỹ,thì sẽ mở một L/C với một số tiền nhất định để trả tiền cho nhà XK rồi gửi bản chính (bản gốc) cho NH phục vụ nhà XK (NHXK)

    Bước 3: Nhận được bản chính L/C từ NHNK, NHXK phải xác nhận bằng văn bản L/C đã nhận được rồi gửi bản chính L/C cho nhà XK.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            10

    Bước 4 : Căn cứ vào các nội dung của L/C và những thỏa thuận đã ký trong hợp đồng, nhà XK sẽ tiến hành giao hàng cho nhà NK.

    Bước 5: Sau khi đã tiến hành giao hàng, nhà XK phải hoàn chỉnh ngay bộ chứng từ hàng hoá theo đúng những chỉ thị trong L/C và phát hành hối phiếu rồi gửi toàn bộ các chứng từ này cho NHXK để xin thanh toán.

    Bước 6: NHXK nhận được bộ chứng từ từ nhà XK phải kiểm tra thật kỹ, nếu thấy các chứng từ này mà bề ngoài của chúng không có gì mâu thuẫn với nhau thì NH sẽ tiến hành trả tiền cho các chứng từ đó.

    Bước 7: NHXK chuyển bộ chứng từ cho NHNK và yêu cầu NH này trả tiền cho bộ chứng từ đó.

    Bước 8: Nhận được bộ chứng từ, NHNK phải kiểm tra kỹ, nếu các chứng từ khớp đúng, không có sự nghi ngờ thì NHNK trích tiền từ tài khoản ký quỹ mở L/C đứng tên nhà NK để chuyển trả cho NHXK.

    Bước 9: NHNK thông báo việc trả tiền đối với L/C cho nhà NK, đồng thời NH chuyển giao bộ chứng từ hàng hoá cho nhà NK để người đó có căn cứ đi nhận hàng.

    1.2.4. UCP – Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức TDCT

    Khi thanh toán bằng phương thức TDCT, các bên XNK phải thoả thuận với nhau về việc sử dụng UCP. UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentary credit) là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào năm 1933. Từ đó đến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983, lần cuối cùng là tháng 10 năm 1993 có hiệu lực áp dụng từ 01/01/1994.

    UCP đã được hơn 175 nước áp dụng trong đó có Việt Nam. Khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế, UCP không tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán TDCT mà mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Các bên tham gia có quyền lựa chọn có hay không dùng UCP để điều chỉnh hoạt động

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            11

    thanh toán TDCT. Nhưng một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP thì các điều khoản áp dụng của UCP sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia.

    Một điểm cần lưu ý là UCP ban hành sau không phủ nhận các nội dung của UCP trước đó. Do đó các bên có thể thoả thuận lựa chọn một UCP nào đó, nhưng điều quy định bắt buộc là phải dẫn chiếu nó trong L/C. Chỉ UCP bản gốc bằng tiếng Anh mới có giá trị pháp lý giải quyết các tranh chấp, các bản dịch khác chỉ có giá trị tham khảo.

    Hiện nay, UCP bản sửa đổi năm 1993 số 500 được coi là hoàn chỉnh nhất và ngày càng được nhiều ngân hàng của các nước thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế. UCP 500 thực sự được coi là cẩm nang cho nghiệp vụ tín dụng chứng từ.

    1.2.5. Thư tín dụng (L/C) – Công cụ quan trọng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

    Thư tín dụng là một bản cam kết trả tiền do NH phát hành (NH mở L/C) mở theo chỉ thị của người NK (người yêu cầu mở L/C), để trả một số tiền nhất định cho người XK (người thụ hưởng) với điều kiện người đó phải thực hiện đầy đủ những quy định trong L/C.

    Thư tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ và của các bên có liên quan. Có nghĩa là khi thanh toán NH chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thì NH phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà XK.

    Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá, NH cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng hoá thực tế có

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            12

    khớp đúng với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do người bán xuất trình, nếu thấy các chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/C thì trả tiền cho người bán.

    Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phương thức thanh toán TDCT mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong ngoại thương.

    1.3. MỘT SỐ RỦI RO CHỦ YẾU TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT

    Trong hoạt động ngân hàng, lợi nhuận và rủi ro luôn đi đôi với nhau và có mối quan hệ ngược chiều. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng lớn và ngược lại. Trong hoạt động thanh toán TDCT, ngân hàng cũng không thể tránh khỏi rủi ro. Các rủi ro trong thanh toán TDCT mà ngân hàng và các bên tham gia thường gặp là:

    1.3.1. Rủi ro kỹ thuật

    Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh toán TDCT.

    1. Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu

    Khi tham gia phương thức thanh toán TDCT, nhà XK hay gặp những rủi ro sau:

    1. Khi nhận được L/C từ NH thông báo, nếu nhà XK kiểm tra các điều kiện chứng từ không kĩ, chấp nhận cả những yêu cầu bất lợi mà nhà XK không thể đáp ứng được trong khâu lập chứng từ sau này. Khi các yêu cầu đó không được thoả mãn, NH phát hành từ chối bộ chứng từ và không thanh toán. Lúc đó, nhà NK sẽ có lợi thế để thương lượng lại về giá cả nằm ngoài các điều khoản của L/C và nhà XK sẽ gặp bất lợi.
    1. Trong thanh toán TDCT, ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán cho người XK khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, NH chỉ làm việc với các chứng từ quy định trong L/C. Phương thức thanh toán TDCT đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối giữa bộ chứng từ thanh toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            13

    với nội dung quy định trong L/C. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ thì nhà XK cũng có thể bị NH mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó, việc lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK.

    Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau :

    – Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại mà hai nước người mua và người bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong L/C.

    – Nội dung và hình thức của các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng yêu cầu đề ra trong L/C.

    – Những nội dung và các số liệu có liên quan giữa các chứng từ không được mâu thuẫn với nhau, nếu có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ mà từ đó người ta không thể xác định một cách rõ ràng, thống nhất nội dung thuộc về tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, tổng trị giá, tên của người hưởng lợi…thì các chứng từ đó sẽ bị ngân hàng từ chối thanh toán vì bộ chứng từ đó mâu thuẫn với nhau

    – Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm qui định trong L/C và trong thời hạn hiệu lực của L/C.

    Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ, thường gặp vẫn là:

    • Lập chứng từ sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ của các bên tham gia, của hãng vận tải
    • Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng.
    • Các sai sót trên bề mặt chứng từ : số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị của L/C; các chứng từ không ghi số L/C, không đánh dấu bản gốc; các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với nội dung của L/C về số lượng, trọng lượng, mô tả hàng hoá…; các chứng từ không tuân theo quy định

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            14

    của L/C về cảng bốc dỡ hàng, về hãng vận tải, về phương thức vận chuyển hàng hóa…

    Tất cả những sai sót trên đều là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho nhà XK khi lập bộ chứng từ thanh toán.

    Ngoài ra, do sự khác biệt về tập quán, luật lệ ở mỗi nước cho nên dễ dẫn đến những sai sót khi nhà XK hoàn tất bộ chứng từ hàng hoá để gửi NH xin thanh toán.

    1. Nếu nhà XK xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hay chấp nhận có thể đều bị từ chối, và nhà XK phải tự xử lý hàng hoá như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng về quay về nước. Đồng thời, nhà XK phải chịu những chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho… trong khi đó không biết rõ lập trường của nhà NK là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.
    1. Nếu NH phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.
    1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang có thể được NH phát hành sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ bất cứ lúc nào trước khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ mà không cần sự đồng ý của nhà XK.
    1. Rủi ro đối với nhà Nhập khẩu
    1. Trong thanh toán TDCT, việc thanh toán của NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá. NH chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hoá. Như vậy sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà NK rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không. Nhà NK có thể nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị hư hại trong quá trình vận chuyển mà vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền thanh toán cho NH phát hành.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            15

    1. Khi nhà NK chấp nhận bộ chứng từ hàng hoá sẽ có nguy cơ gặp rủi ro. Bộ chứng từ là cơ sở pháp lý đầu tiên về tính đúng đắn của hàng hoá. Nếu nhà NK không chú ý kiểm tra kỹ bộ chứng từ (từ lỗi, câu chữ, số lượng các loại chứng từ, cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy chứng nhận…) mà chấp nhận bộ chứng từ có lỗi sẽ bị thiệt hại và gặp khó khăn trong việc khiếu nại sau này.
    1. Một rủi ro mà nhà NK hay gặp là hàng đến trước bộ chứng từ, nhà NK chưa nhận được bộ chứng từ mà hàng đã cập cảng. Bộ chứng từ bao gồm vận đơn, mà vận đơn lại là chứng từ sở hữu hàng hoá nên thiếu vận đơn thì hàng hoá không được giải toả. Nếu nhà NK cần gấp ngay hàng hoá thì phải thu xếp để NH phát hành phát hành một thư bảo lãnh gửi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà NK phải trả thêm một khoản phí cho NH. Hơn nữa, nếu nhà NK không nhận hàng theo qui định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
    1. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
    1. Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở L/C sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này.
    1. Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK.
    1. Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Nếu không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà NK.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            16

    1. Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do kinh doanh thua lỗ.
    1. Nếu trong L/C ngân hàng phát hành không qui định bộ vận đơn đầy đủ(full set off bills of lading) thì một người NK có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hoá lại là ngân hàng phát hành theo cam kết của L/C.
    1. NH phát hành có thể gặp rủi ro do không hành động đúng theo UCP 500, đó là đưa ra quyết định từ chối bộ chứng từ vượt quá 7 ngày làm việc của ngân hàng, theo qui định của UCP 500 là không quá 7 ngày.
    2. Rủi ro đối với ngân hàng thông báo

    NH thông báo có trách nhiệm phải đảm bảo rằng thư tín dụng là chân thật, đồng thời phải xác minh chữ ký, mã khoá(test key), mẫu điện của NH phát hành trước khi gửi thông báo cho nhà XK. Rủi ro xảy ra với NH thông báo là khi NH này thông báo một L/C giả hoặc sửa đổi một L/C không có hiệu lực trong khi chính NH chưa xác nhận được tình trạng mã khoá hay chữ ký uỷ quyền của NH mở L/C.

    1. Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận

     

    1. Nếu bộ chứng từ được xuất trình là hoàn hảo thì NH xác nhận phải trả tiền cho nhà XK bất luận là có truy hoàn được tiền từ NH phát hành hay không. Như vậy, NH xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành.
    1. Nếu NH xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra bộ chứng từ một cách thích đáng, để bộ chứng từ có lỗi, NH phát hành không chấp nhận thanh toán thì NH xác nhận không thể đòi tiền NH phát hành.
    1. Rủi ro đối với ngân hàng được chỉ định

    Các NH được chỉ định không có trách nhiệm thanh toán cho nhà XK trước khi nhận được tiền hàng từ NH phát hành. Tuy nhiên trong thực tế, trên

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            17

    cơ sở bộ chứng từ được xuất trình, các NH được chỉ định thường ứng trước cho nhà XK với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà XK, do đó NH này phải chịu rủi ro tín dụng đối với NH phát hành hoặc nhà XK.

    1.3.2. Rủi ro đạo đức

    Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia phương thức thanh toán TDCT cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo qui định của L/C, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của bên kia.

    1. Rủi ro đạo đức đối với nhà XK

    Mặc dù trong thanh toán TDCT đã có sự cam kết của NH mở L/C nhưng sự tin tưởng và thiện chí giữa người mua và người bán vẫn được coi là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn của TTQT. Khi người NK không thiện chí, cố ý không muốn thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót cho dù là rất nhỏ của bộ chứng từ để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            18

    1. Rủi ro đạo đức đối với nhà NK

    Với người mua sự trung thực của người bán là rất quan trọng bởi vì NH chỉ làm việc với các chứng từ mà không cần biết việc giao hàng có đúng hợp đồng hay không. Do đó nhà NK có thể gặp rủi ro nếu nhà XK có hành vi gian dối, lừa đảo…trong việc giao hàng: cố tình giao hàng kém phẩm chất, không đúng số lượng…

    Một nhà XK chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo, có bề ngoài phù hợp với L/C cho NH mà thực tế không có h àng giao, người NK vẫn phải thanh toán cho NH ngay cả trong trường hợp không nhận được hàng hoặc nhận được hàng không đúng theo hợp đồng.

    c.Rủi ro đạo đức đối với ngân hàng

    NH là người gánh chịu rủi ro đạo đức : NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho người hưởng lợi theo qui định của L/C ngay cả trong trường hợp người NK chủ tâm không hoàn trả.

    NH là người gây ra rủi ro đạo đức: NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của mình như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng gây khó khăn trong quá trình thanh toán.

    1.3.3. Rủi ro chính trị

    Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Các chủ thể tham gia trong phương thức TDCT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Do đó, phương thức TDCT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động dù là nhỏ về chính trị, xã hội của một quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp…từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán.

    Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT là những rủi ro bắt nguồn từ sự không ổn định về chính trị của các nước có liên

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            19

    quan trong quá trình thanh toán.Thông thường đó là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý như: thay đổi đột ngột về thuế XNK, hạn ngạch, cơ chế ngoại hối (hạn chế ngoại hối), luật XNK. Những thay đổi này làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước làm các bên tham gia XNK và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C có thể bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên tham gia.

    Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính, đình công…hoặc những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn ở các nước tham gia, chứng từ bị thất lạc cũng có thể gây rủi ro trong quá trình thanh toán.

    1.3.4. Rủi ro khách quan từ nền kinh tế

    Một rủi ro mà các bên tham gia phương thức thanh toán TDCT hay gặp là sự khủng hoảng, suy thoái kinh tế và tình trạng công nợ nặng nề của các quốc gia. Khi nền kinh tế của một quốc gia bị suy thoái, khủng hoảng sẽ kéo theo các ngân hàng bị phong toả hoặc tạm ngưng hoạt động, từ đó làm ảnh hưởng rtới quá trình thanh toán quốc tế. Nếu nợ nước ngoài của một quỗc gia làquá lớn thì các biện pháp như tăng thuế, phá giá nội tệ sẽ được áp dụng, từ đó làm giảm khả năng chi trả của người mua và ngân hàng có nguy cơ không đòi được tiền. Ngoài ra, sự phong toả kinh tế của các quốc gia như trường hợp của Cuba, Iraq… cũng mang klại những rủi ro cho bất kì quốc gia, đơn vị kinh tế nào có hoạt động xuất nhập khẩu với các nước đó.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            20

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NH Công thương Đống Đa

    Ngân hàng Công Thương Đống Đa được thành lập năm 1956, tiền thân là NHNN quận Đống Đa, một chi nhánh trực thuộc NHNN với chức năng quản lý của NHNN trên địa bàn quận Đống Đa. Theo NĐ 53/HĐBT (ngày 26/3/1988), hệ thống ngân hàng Việt Nam tách thành hai cấp, gồm NH Nhà nước và các NH chuyên doanh.Tháng 7/1988, NHCT Việt Nam ra đời và đi vào hoạt động, theo đó, NHNN quận Đống Đa được chuyển thành NHCT quận Đống Đa trực thuộc NHCT thành phố Hà Nội. Với QĐ 93 (ngày 18/4/1993), NHCT quận Đống Đa chuyển thành NHCT khu vực Đống Đa, là đơn vị hạch toán phụ thuộc hệ thống NHCT Việt Nam.

    Địa bàn kinh doanh của NHCT Đống Đa chủ yếu là ở 2 quận Thanh Xuân và Đống Đa, với đặc điểm dân số tập trung đông, đa dạng các thành phần kinh tế, là khu trung tâm sản xuất công nghiệp, tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp có quy mô lớn của thành phố như: Nhà máy công cụ số 1, xí nghiệp Dược phẩm TW I, công ty cơ điện Trần Phú, công ty giầy Thượng Đình…Đây là những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng.

    Với phương châm “Phát triển- An toàn- Hiệu quả”, NHCT Đống Đa luôn khẳng định vị trí của mình và đã được nhiều người biết tới là chi nhánh hạng 1 của NH Công thương Việt Nam, một chi nhánh có doanh số hoạt động lớn trên địa bàn Hà Nội cả về phạm vi, qui mô và chất lượng hoạt động. Trong những năm gần đây NHCT Đống Đa đã đạt được những thành tích đáng kể đó là: năm 1995 chi nhánh được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba, năm 1998 được tặng thưởng Huân chương lao động

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            21

    hạng nhì và năm 2002 được tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhất về thành tích kinh doanh Tiền tệ – Tín dụng ngân hàng.

    Đặt trụ sở chính tại 187 Tây Sơn, NHCT Đống Đa ngày càng lớn mạnh về qui mô và chi nhánh. Trong toàn cơ quan đã có 11 phòng ban, bao gồm: Ban Giám đốc, Phòng tổ chức hành chính, Phòng Kế toán- Tài Chính, Phòng Tiền tệ- Kho quĩ, Phòng Tài trợ thương mại, Phòng Thông tin- Điện toán, Phòng Tổng hợp- Tiếp thị, Phòng Khánh hàng số 1, Phòng Khánh hàng số 2, Phòng Khách hàng cá nhân, Tổ nghiệp vụ bảo hiểm. NHCT Đống Đa có 1 Giám đốc và 4 Phó giám đốc. Tập thể cán bộ nhân viên của NH có tổng số

    • người. Có tất cả 2 phòng giao dịch: khu vực Cát Linh và khu vực Kim Liên và 16 quĩ tiết kiệm nằm rải rác trong quận Đống Đa.

    2.1.2. Hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa trong những năm gần đây

    Chi nhánh NHCT Đống Đa với chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng đã liên tục tự đổi mới và đi lên. Mặc dù tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động, trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều NH thương mại và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước cùng hoạt động trên địa bàn Hà Nội, trong những năm qua, Chi nhánh đã không ngừng mở rộng và phát triển các hoạt động dịch vụ kinh doanh tiền tệ, nâng cao chất lượng phục vụ, ứng dụng các công nghệ dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, đổi mới phong cách giao dịch, tạo uy tín với khách hàng, thể hiện qua một số kết quả sau đây:

    2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn

    Tổng nguồn vốn huy động của NH trong năm 2004 đạt trên 3100 tỷ đồng, tăng 386 tỷ đồng so với cuối năm 2003. Trong đó:

    – Tiền gửi của các tầng lớp dân cư tăng lên là: 2015 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003, số tuyệt đối tăng 281 tỷ đồng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 22

    – Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng lên là: 1085 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2003, số tuyệt đối tăng 105 tỷ đồng.

    Chi nhánh đã không ngừng đẩy nhanh tốc độ huy động vốn, nhất là các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Tỷ trọng huy động vốn từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn (65% tổng nguồn vốn huy động) là do NH đã nhận thức được tầm quan trọng của đối tượng khách hàng là cá nhân thuộc các tầng lớp dân cư. Do đó, NH đã mở thêm các quỹ tiết kiệm ở nơi đông dân cư và thuận lợi như quỹ tiết kiệm Thái Hà. NH đã ứng dụng công nghệ NH hiện đại theo mô hình NH bán lẻ để rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng, quảng cáo các tiện ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: rút tiền qua máy ATM, thực hiện chi trả lương qua tài khoản NH, đồng thời bố trí đội ngũ giao dịch viên trẻ trung, năng động, được đào tạo về kỹ năng giao tiếp văn minh. Bên cạnh đó, uy tín của NHCT Đống Đa cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tăng trưởng nguồn vốn của NH.

    Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: tỷ đồng

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số tiền % Số tiền % Số tiền %
    Tiền gửi dân cư 1360 58.6 1734 63.89 2014 65
    T.gửi tổ chức kinh 800 34.5 900 33.16 1016 32.77
    tế
    Các nguồn khác 160 6.9 80 2.95 70 2.23
    Tổng số 2320 100 2714 100 3100 100

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Ngân hàng huy động vốn từ dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dưới nhiều hình thức huy động như: phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, hay huy

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 23

    động bằng tiền mặt…Ngoài ra, còn tổ chức thu nhận tiền mặt vào các ngày nghỉ cho các đơn vị có nguồn tiền mặt lớn, thu tại các điểm thu lưu động để phục vụ khách hàng như: hàng ngày có 1 tổ thu tiền mặt đặt tại Xí nghiệp bán lẻ xăng dầu để thu tiền mặt tại Xí nghiệp, 1 tổ thu lưu động cho Chi nhánh điện lực Đống Đa. Bên cạnh đó, NHCT Đống Đa đã áp dụng các hình thức huy động vốn linh hoạt như gửi tiền tiết kiệm có dự thưởng, khuyến mại đầu năm phát lịch mới cho khách hàng.

    Doanh số huy động vốn những năm gần đây tăng trên ngàn tỷ đồng, có thể khẳng định nguồn vốn huy động của Chi nhánh tăng trưởng nhanh và ổn định vững chắc.

    2.1.2.2. Hoạt động cho vay và đầu tư

    Trong những năm qua, nhờ có nguồn vốn huy động khá dồi dào, NHCT Đống Đa đã đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế, giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến dây truyền công nghệ, tăng chất lượng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động.

    Tổng dư nợ cho vay và đầu tư đến 31/12/2004 là 2203 tỷ đồng, tăng 183 tỷ đồng so với cuối năm 2003. Trong đó:

    Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 59% tổng dư nợ

    Dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 41% tổng dư nợ

    Dư nợ cho vay XNK bằng ngoại tệ đạt 17% tổng dư nợ

    Bảng 2: Tình hình dư nợ của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: tỷ đồng
    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số tiền % Số tiền % Số tiền %

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 24
    Dư nợ ngắn hạn 995,6 53,92 1122 55 1292 59
    Dư nợ trung dài hạn 850,7 46,08 918 45 911 41
    Tổng dư nợ 1846,3 100 2040 100 2203 100
    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Hoạt động tín dụng ngắn hạn: tổng doanh số cho vay ngắn hạn năm

    2004 đạt: 1292 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2003. Vốn cho vay ngắn hạn của NH đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhập nguyên vật liệu, dự trữ cho sản xuất kinh doanh ổn định và có hiệu quả, đảm bảo chất lượng sản phẩm, có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và XK ra thị trường quốc tế như: sản phẩm xăm lốp ôtô, xe máy, xe đạp của công ty Cao su Sao Vàng, sản phẩm giầy dép của công ty Giầy Thượng Đình, sản phẩm dây cáp điện các loại của công ty Cơ điện Trần Phú, sản phẩm sơn của công ty Sơn tổng hợp Hà Nội, các sản phẩm bóng đèn của công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông…

    Ngoài việc đáp ứng vốn kịp thời cho các Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn, Chi nhánh còn rất chú trọng tới việc cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ gia đình, kinh tế tư nhân cá thể trên địa bàn Thủ đô để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động.

    Hoạt động tín dụng trung dài hạn: tổng doanh số cho vay trung dài hạn năm 2004 đạt: 911 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 41% trong tổng dư nợ.

    NHCT Đống Đa đã đầu tư tín dụng trung dài hạn cho nhiều dự án của các doanh nghiệp, điển hình là:

    – Đầu tư cho Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 thi công dự án dường vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Pháp Vân thành phố Hà Nội. Đây là dự án trọng điểm đã được Chính phủ phê duyệt, tổng giá trị vốn NHCT Đống Đa đầu tư là 120 tỷ đồng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            25

    – Cho vay dự án Cáp truyền hình của Công ty dịch vụ truyền thanh truyền hình tại Thủ đô Hà Nội số tiền 22 tỷ đồng.

    – Giải ngân dự án mua thiết bị để thi công nhà máy thuỷ điện A Vương của Công ty Lũng Lô số tiền gần 43 tỷ đồng.

    – Đầu tư cho dự án bổ xung Lò đúc kéo đồng, lò đúc cán nhôm liên tục và dự án hoàn thiện thiết bị công nghệ sản xuất dây và cáp nhôm, dây và cáp đồng, dây đồng mềm bọc nhựa PVC của Công ty cơ điện Trần Phú.

    – Đầu tư cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông để mở rộng vùng phủ sóng mạng Vinaphone tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành

    2.1.2.3. Hoạt động thanh toán quốc tế

    Thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ mới của NHCT Đống Đa, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế thời kỳ mở cửa. Trong những năm qua, kim ngạch thanh toán quốc tế của NH không ngừng tăng, cụ thể là: kim ngạch thanh toán quốc tế năm 2003 đạt 120,81 triệu USD tăng 9,7% so với năm 2002, năm 2004 đạt 160,4 triệu USD, tăng 62,34% so với năm 2003.

    Bảng 3: Kim ngạch thanh toán quốc tế của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: triệu USD
    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Kim ngạch TTQT 10,09 120,81 160,48

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    2.1.2.4. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 26

    Kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động không thể thiếu của NH trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới. Một mặt nó hỗ trợ tích cực cho hoạt động thanh toán quốc tế, mặt khác nó góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng ngoại tệ của nền kinh tế. Nắm bắt được xu hướng này, trong những năm qua, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa đã có nhiều khởi sắc.

    Bảng 4: Ba ngoại tệ được mua bán chủ yếu của NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn

    Loại tiền 2002 2003 2004
    Mua Bán Mua Bán Mua Bán
    USD 49.917 48.733 45.114 45.835 57.148 57.053
    EUR 5.833 5.769 6.333 6.124 5.881 5.712
    GBP 3.214 3.270 2.916 2.625 2.741 2.622

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Từ năm 2002-2004, doanh số mua bán ngoại tệ nhìn chung năm sau đều tăng so với năm trước, chứng tỏ nhu cầu mua bán, trao đổi và sử dụng ngoại tệ của nền kinh tế ngày càng phát triển. Đồng thời, nó cũng là tín hiệu đáng mừng cho NHCT Đống Đa trong quá trình hiện đại hoá NH và hội nhập kinh tế quốc tế.

    (2):

    Bảng 5: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ 6 tháng đầu năm 2005

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 27
    Đơn vị: nghìn USD
    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện +/- so với KH +/- cùng kì
    Doanh số mua 40.000 19.213 48% -22%
    Doanh số bán 39.500 17.768 45% -26%

    Doanh số mua ngoại tệ 6 tháng đầu năm 2005 giảm 22% và doanh số bán ngoại tệ giảm 26% so với cùng kì đầu năm 2004 là vì: khách hàng của chi nhánh hầu hết là NK hàng hoá bằng vốn vay của NH, việc tạo nguồn ngoại tệ từ hoạt động XK là không đáng kể. Do vậy, NH rất khó khăn để cân đối cung cầu ngoại tệ. Mặt khác, đồng USD thường được giao dịch trên thị trường NH với tỷ giá kỳ hạn, đây là một khó khăn lớn đối với NH chỉ chuyên NK.

    2.1.2.5. Hoạt động bảo lãnh

    Trong những năm qua, Chi nhánh đã thực hiện nhiều nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng… Nhiều dự án được NHCT Đống Đa bảo lãnh đã trúng thầu.

    Đến 31/12/2004, NH đã bảo lãnh với số tiền lên tới gần 182 tỷ đồng. Sang năm 2005, chuyển đổi sang chương trình hiện đại hoá (Incas), NH đã có sự thay đổi mô hình hoạt động, toàn bộ hoạt động bảo lãnh của NH được Phòng Tài trợ thương mại thực hiện từ tháng 3/2005 với kết quả:

    Phát hành bảo lãnh: 125 món, trị giá 31.462.027.948 VNĐ

    Giải toả bảo lãnh: 157 món, trị giá 68.134.014.904 VNĐ

    Phí thu từ hoạt động bảo lãnh: 299.352.242 VNĐ

    2.2. THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    2.2.1. Những quy định chung về hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của NHCT Đống Đa

    2.2.1.1. Quy trình thanh toán L/C nhập khẩu:

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            28

    Chi nhánh chỉ phát hành L/C nhập khẩu khi chưa sử dụng hết hạn mức vốn điều hòa của NHCT VN hoặc tài khoản điều chuyển vốn của chi nhánh dư có. Hàng hoá NK không nằm trong danh mục hàng hoá cấm NK do Bộ thương mại quy định hàng năm.

    Phòng Tài trợ thương mại có trách nhiệm thông báo với Ban lãnh đạo khi NHCT Đống Đa hết hạn mức sử dụng ngoại tệ, phối hợp cùng phòng Kinh doanh xem xét nhu cầu ngoại tệ thực tế để làm cơ sở cho phòng Kinh doanh trình NHCT Việt Nam xin điều chỉnh hạn mức sử dụng ngoại tệ.

    Cụ thể quy trình thanh toán L/C nhập khẩu như sau:

    (1):      Tiếp nhận và kiểm tra đơn xin mở L/C

    Khách hàng lập hồ sơ xin mở L/C thanh toán hàng NK gửi tới NHCT Đống Đa. Tại đây, phòng Tài trợ thương mại tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ ở các nội dung sau:

    – Bảo đảm tính hợp lệ của các chứng từ mà khách hàng xuất trình. Việc thanh toán phải phù hợp với chế độ quản lý ngoại hối và chính sách quản lý XNK hiện hành của Nhà nước.

    – Có giấy đề nghị mở L/C phù hợp với yêu cầu và qui định của NHCT VN, nội dung L/C không chứa đựng rủi ro cho chi nhánh.

    –  Nội dung của các tài liệu trong hồ sơ không mâu thuẫn nhau.

    – Đối với L/C ký quỹ dưới 100% phải có tờ trình mở L/C của các phòng kinh doanh đã được giám đốc hoặc người được ủy quyền phê duyệt.

    – Kiểm tra đơn xin mở L/C của khách hàng về tính hợp pháp lý của đơn, tính phù hợp về nội dung giữa đơn và hợp đồng, tư vấn cho khách hàng sửa đổi hợp đồng hoặc đơn mở L/C nếu cần thiết.

    – Việc xem xét hồ sơ nói trên được thực hiện trong vòng một ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ của khách hàng.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            29

    (2):    Phê duyệt và cấp hạn mức phát hành

    Đối với các L/C ký quỹ dưới 100% đều phải qua các phòng Kinh doanh thẩm định và cấp hạn mức mở L/C, sau đó mới chuyển qua phòng Tài trợ thương mại.

    Đối với L/C ký quỹ 100%, khách hàng trực tiếp làm việc với phòng Tài trợ thương mại. Bộ phận TTTM có trách nhiệm xem xét hồ sơ mở L/C và lập giấy thông báo đề nghị phòng Kinh doanh cấp hạn mức mở L/C. Sau 30 phút kể từ khi nhận được thông báo, phòng Kinh doanh phải thực hiện xong việc cấp hạn mức cho việc phát hành L/C trên mạng máy tính. Chi nhánh có thời gian tối đa là 3 ngày để xem xét quyết định và thực hiện xong việc mở L/C cho khách hàng.

    (3):      Đăng kí và phát hành L/C nhập khẩu

    Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ đã được phê duyệt từ phòng Kinh doanh, đảm bảo khách hàng đã ký quỹ đủ số tiền theo quy định và đã mua bảo hiểm (nếu cần), cán bộ thanh toán L/C tiến hành mở L/C, ghi số L/C đã mở, trị giá và ngày phát hành L/C trên hợp đồng gốc, đồng thời ký tên trên hợp đồng. Hợp đồng gốc có thể trả lại khách hàng nếu khách hàng yêu cầu. Khi đó ngân hàng phải có bản sao, có dấu treo của đơn vị để lưu. Sau đó, kiểm soát viên phải kiểm soát lại toàn bộ hồ sơ theo đúng quy định của NHCT Việt Nam và chuyển L/C ra nước ngoài sau khi hồ sơ đã được Giám đốc hoặc người được giám đốc uỷ quyền ký duyệt.

    (4): Nhận, kiểm tra,xử lý chứng từ, thanh toán/chấp nhận thanh toán Sau khi nhận được bộ chứng từ từ NH thông báo, thanh toán viên phải

    ghi sổ theo dõi giao nhận chứng từ, ghi ngày nhận chứng từ. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ, Chi nhánh phải hoàn tất việc kiểm tra chứng từ và thông báo cho khách hàng. Nếu chứng từ có sai sót thì phải lập điện thông báo sai sót và từ chối thanh toán thông qua NHCT

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            30

    Việt Nam trên mạng SWIFT, đồng thời liên hệ với khách hàng nhập khẩu để chờ chấp nhận thanh toán.

    – Đối với L/C trả ngay, trong vòng 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận được chứng từ, thanh toán viên lập điện MT 202 để thanh toán theo chỉ dẫn trong thư đòi tiền của NH gửi chứng từ. Đối với L/C trả chậm, thanh toán viên lập điện MT 799 thông báo chấp nhận thanh toán.

    – Ngân hàng chỉ phát hành thư bảo lãnh hoặc ký hậu vận đơn để khách hàng nhận hàng khi khách hàng có đủ tiền, kể cả tài khoản ký quỹ chuyển vào tài khoản tiền gửi đảm bảo các khoản thanh toán (số hiệu 870x.00xxx).

    – Chi nhánh sẽ tiến hành hạch toán thanh toán L/C từ tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc từ tài khoản tiền vay trên sơ sở giấy nhận nợ của khách hàng đã được phê duyệt, xuất ngoại bảng cam kết thanh toán và tính phí dịch vụ liên quan.

    – Trường hợp khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ ngân hàng, thanh toán L/C…đơn vị phải làm đề nghị mua ngoại tệ để phòng Tài trợ thương mại xem xét và trình lãnh đạo phê duyệt. Đề nghị mua này sẽ làm căn cứ để phòng Kinh doanh và Ban lãnh đạo cho khách hàng vay bằng Đồng Việt Nam để mua ngoại tệ thanh toán ra nước ngoài.

    2.2.1.2. Quy trình thanh toán L/C xuất khẩu:

    (1):              Tiếp nhận và kiểm tra L/C

    Khi NHCT Đống Đa nhận được L/C nhờ thông báo thì thanh toán viên phải kiểm tra tính chân thực bề ngoài của L/C. Nếu L/C truyền qua SWIFT thì phải có SWIFT KEY, nếu L/C nhận qua TELEX thì phải có TEST KEY, nếu L/C được chuyển bằng đường thư thì phải kiểm tra và xác thực mẫu dấu và chữ kí của người có thẩm quyền.

    Đồng thời, thanh toán viên sẽ kiểm tra các nội dung của L/C như: số L/C, loại L/C, địa điểm mở L/C, ngày mở, tên và địa chỉ của NH mở L/C, thời

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            31

    gian hiệu lực, giá trị L/C…cũng như các điều khoản khác để lưu ý khách hàng khả năng thực hiện trong tương lai.

    (2):             Thông báo L/C

    Sau khi kiểm tra tính chân thực và nội dung của L/C, NH sẽ thông báo L/C cho người hưởng lợi và thu phí thông báo.

    Nếu hai bên XNK có những thay đổi về nội dung của L/C thì NH sẽ nhận những thông báo cho người hưởng lợi và tư vấn cho họ những điểm bất lợi trong L/C để họ liên hệ với người mua để sửa đổi. Khi nhận chứng từ sửa đổi L/C, thanh toán viên phải kiểm tra các yếu tố như đối với L/C chính, sau đó thông báo cho khách hàng và thu phí sửa đổi.

    (3):             Tiếp nhận và kiểm tra bộ chứng từ

    Khi nhận được thư yêu cầu thanh toán, bộ chứng từ của khách hàng cùng bản gốc L/C và các điều chỉnh sửa đổi có liên quan, thanh toán viên phải tiến hành kiểm tra các chứng từ dựa trên các nội dung sau:

    Đảm bảo rằng L/C bản gốc và các bản sửa đổi liên quan là xác

    thực

    Kiểm tra số lượng, loại chứng từ so với qui định trong L/C

    Kiểm tra các nội dung trên từng loại chứng từ bảo đảm phù hợp với các điều khoản và điều kiện qui định trong L/C

    Kiểm tra sự thống nhất giữa các chứng từ

    Kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP 500 của ICC

    Trong phạm vi 5 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận chứng từ, NH phải kiểm tra và xử lý xong bộ chứng từ.

    Nếu kiểm tra chứng từ có sai sót, thanh toán viên xử lý như sau:

    – Sai sót có thể sửa chữa được thì đề nghị khách hàng sửa chữa (trong khoảng thời gian hiệu lực của L/C)

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            32

    – Sai sót không thể sửa chữa được thì đề nghị khách hàng yêu cầu người mua tu chỉnh L/C hoặc thông báo cho NH phát hành nêu rõ sai sót, xin chấp nhận thanh toán.

    Sau khi hoàn thành các bước kiểm tra chứng từ, các sai sót đã được sửa chữa, được NH phát hành chấp nhận thì thanh toán viên sẽ gửi chứng từ đi đòi tiền theo qui định của L/C.

    (4):             Thanh toán / chấp nhận thanh toán L/C xuất khẩu

    NHCT Đống Đa thực hiện thanh toán cho đơn vị XK khi NH nước ngoài

    chấp nhận trả tiền và ghi Có vào TK của NHCT Đống Đa. Đối với bộ chứng từ L/C trả chậm, khi nhận được điện chấp nhận thanh toán từ NH phát hành/ NH xác nhận, NH sẽ chấp nhận thanh toán hối phiếu xuất trình theo L/C xuất khẩu. Khi đến hạn thanh toán, NH nhận được điện báo Có từ NH nước ngoài thì thanh toán viên sẽ tiến hành giải toả L/C cho khách hàng.

    2.2.2. Thực trạng hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Tại NHCT Đống Đa, hoạt động TTQT được thực hiện theo quyết định số 438/QĐ- NHCT 22. Đây là quyết định của Tổng Giám đốc NHCT Việt Nam về việc ban hành quy chế và quy trình nghiệp vụ TTQT trong hệ thống NHCT Việt Nam. Theo đó, TTQT trong hệ thống NHCT Việt Nam được hiểu là quá trình thực hiện các nghiêp vụ chuyển tiền, thanh toán Tín dụng chứng từ, nhờ thu và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác bằng ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCT Việt Nam, giữa NHCT với các tổ chức tài chính ở trong và ngoài nước thông qua mạng IBS (Hệ thống nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế của NHCT Việt Nam), mạng SWIFT (Mạng tài chính viễn thông liên ngân hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác.

    Tại NHCT Đống Đa áp dụng chủ yếu ba phương thức thanh toán là chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Trong đó, phương thức tín dụng

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 33

    chứng từ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh số TTQT bởi những ưu điểm của nó trong thanh toán, tính công bằng trong phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa người mua và người bán.

    Bảng 6: Tình hình thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD

    2002 2003 2004
    Phươngthức
    Doanh Tỷ trọng Doanh Tỷ trọng Doanh Tỷ trọng
    thanh toán
    (%) số (%) (%)
    số số
    Chuyển tiền 45.590 41,41 38.988 32,28 75.546 37,17
    và Nhờ thu
    Tín   dụng 64.505 58,59 81.823 67,72 84.934 52,92
    chứng từ

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Nhìn vào bảng số liệu ta thấy doanh số thanh toán theo phương thức TDCT có tốc độ tăng trưởng đều qua các năm. Năm 2002, tổng doanh số thanh toán TDCT đạt 64.505 nghìn USD, chiếm 58,59% tổng doanh số TTQT thì đến năm 2003 đã tăng lên 81.823 nghìn USD, tương ứng với tốc độ tăng là26%. Sang năm 2004, tổng kim ngạch thanh toán TDCT đạt 84.934 nghìn USD, chiếm 52,92% tổng doanh số.

    Đóng góp đáng kể cho sự phát triển này phải kể đến bộ phận doanh số thanh toán L/C nhập khẩu. Đây là bộ phận có tốc độ tăng trưởng ổn định, chiếm tỷ trọng lớn và tổng kim ngạch chiếm trung bình khoảng 51% tổng kim ngạch thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do đặc điểm khách hàng của chi nhánh chủ yếu là những đơn vị sản xuất, thường xuyên NK nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: xí nghiệp Dược phẩm TƯ I, công ty cơ điện Trần Phú, công ty giầy Thượng Đình…Vì vậy, hoạt động thanh toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 34

    TDCT tại NHCT Đống Đa chủ yếu phục vụ cho việc mở L/C và thanh toán cho L/C nhập khẩu. Do đó NH phải thường xuyên khai thác ngoại tệ của các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác cùng với sự hỗ trợ của Hội sở chính để đảm bảo nhu cầu thanh toán và nhập khẩu cho các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    Bảng 7: Tình hình thanh toán L/C nhập khẩu tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD

    2002 2003 2004
    Chỉ tiêu
    Số lượng Doanh số Số lượng Doanh số Số lượng Doanh số
    (bộ) (bộ) (bộ)
    Phát hành L/C 405 32.978 375 41.395 348 41.761
    Thanh toán L/C 452 30.629 403 38.826 440 42.187
    Tổng 857 63.607 805 80.221 788 83.948

    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Bảng 8: Tình hình thanh toán L/C xuất khẩu tại NHCT Đống Đa

    Đơn vị: nghìn USD
    2002 2003 2004
    Chỉ tiêu Số Doanh Số lượng Doanh Số Doanh
    lượng lượng
    số (bộ) số số
    (bộ) (bộ)
    Thông báo 37 472 33 818 18 493
    L/C
    L/C đã thanh 33 426 31 784 18 493
    toán

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp 35
    Tổng 70 896 64 1602 36 986
    Nguồn: Báo cáo tổng kết từ 2002-2004 tại NHCT Đống Đa

    Do sự chuyển biến lớn về kinh tế thế giới trong những năm qua, đồng thời có sự phát triển nhiều mặt của công nghệ ngân hàng, các phương tiện khoa học hiện đại, khả năng và tốc độ thanh toán của NHCT Đống Đa đã được đẩy mạnh, khách hàng đến với NH ngày càng nhiều, đặc biệt là giá trị thanh toán tín dụng chứng từ ngày càng tăng.

    Hoạt động thanh toán TDCT 6 tháng đầu năm 2005 tại NHCT Đống Đa đạt được kết quả như sau:

    Phát hành L/C nhập khẩu:

    Kế hoạch đề ra: 300 món. Trị giá 40.000.000 USD

    Thực tế: 149 món. Trị giá 20.427.052 USD

    So với kế hoạch năm đạt 51%. So với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 11%.

    Thanh toán hàng nhập khẩu:

    Kế hoạch đề ra: 400 món. Trị giá 58.000.000 USD

    Thực tế: 213 món. Trị giá 32.853.400 USD

    So với kế hoạch năm đạt 57%. So với 6 tháng đầu năm 2004 tăng 13%.

    Thanh toán hàng xuất khẩu: 8 món trị giá 222.607 USD

    (Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại 6 tháng đầu năm-Phòng tài trợ thương mại)

    L/C được sử dụng phổ biến nhất hiện nay tại NHCT Đống Đa là L/C không huỷ ngang, chiếm tới 92% tổng nhập. Ngoài ra còn có một số L/C khác như L/C không huỷ ngang có xác nhận, L/C chuyển nhượng… nhưng không đáng kể. Thị trường thanh toán lớn nhất của NHCT Đống Đa chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Hồng Kông, , Thái Lan,

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            36

    Trung Quốc, Singaphore…và gần đây bắt đầu mở rộng ra thị trường Châu Âu, Châu Mĩ.

    Một điều đáng chú ý trong hoạt động thanh toán L/C tại NHCT Đống Đa là doanh số thanh toán L/C trả chậm đã giảm nhanh chóng. Ngân hàng đã khắt khe hơn trong việc chấp nhận đứng ra bảo lãnh cho các L/C này bằng cách kiểm tra kĩ tình hình tài chính cũng như phương án hoạt động kinh doanh của khách hàng. Về mức độ kí quỹ, NHCT Đống Đa luôn xác định mức kí quỹ dựa vào mức độ tin cậy, tình hình tài chính và khả năng thanh toán của khách hàng. Thông thường, mức kí quỹ tại NHCT Đống Đa được chia ra làm 3 loại: từ 40-60%,60-80% cho những khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính tốt, và mức kí quỹ 100% cho những khách hàng mới, ít có quan hệ với ngân hàng. Ngoài ra, mức kí quỹ trên còn phụ thuộc vào đối tượng hàng hoá và phương án kinh doanh của từng thương vụ cụ thể. Mức kí quỹ phổ biến nhất tại NHCT Đống Đa hiện nay là 80-100%, chủ yếu là các đơn vị quốc doanh, các công ty và tổng công ty lớn trên địa bàn, các mức kí quỹ khác chiếm tỷ trọng rất ít.

    Hoạt động thanh toán TDCT đạt được kết quả cao như trên là do:

    • Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế nên nhu cầu thanh toán quốc tế tăng, kéo theo kim ngạch thanh toán TDCT cũng tăng.
    • Ngân hàng đã phát huy được những công nghệ hiện đại mới làm cho chất lượng công tác thanh toán TDCT được nâng cao, uy tín của ngân hàng ngày càng được củng cố, khách hàng ngày càng tin tưởng hơn khi giao dịch với NH.
    • Trong những năm gần đây, thanh toán quốc tế trong đó đặc biệt là thanh toán TDCT là một nghiệp vụ trọng tâm được ban lãnh đạo ngân hàng đầu tư và khuyến khích phát triển để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            37

    2.2.3. Thực trạng rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa

    Những rủi ro xảy ra trong thanh toán tín dụng chứng từ tại NHCT Đống Đa mang tính chất đa dạng khác nhau và phát sinh do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu hai loại rủi ro phổ biến và điển hình nhất là: rủi ro phát sinh liên quan đến vấn đề chứng từ xuất trình và rủi ro liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia.

    Những rủi ro liên quan đến vấn đề xuất trình gồm những rủi ro do các chứng từ xuất trình không phù hợp với các điều kiện qui định trong L/C hoặc có sự mâu thuẫn giữa các chứng từ.

    Những rủi ro liên quan đến trách nhiệm của các bên tham gia gồm:

    • Rủi ro do người xuất khẩu cố tình giao hàng kém chất lượng, không đúng số lượng.
    • Người nhập khẩu từ chối nhận hàng và không thanh toán cho ngân hàng phát hành
    • Rủi ro do người xuất khẩu xuất trìnhbộ chứng từ có sự sai biệt so với qui định của L/C

    Nguyên nhân tồn tại

    Qua thực tiễn thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa có thể thấy các rủi ro xảy ra xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:

    Một là, do các bên tham gia vào giao dịch thanh toán còn thiếu kinh nghiệm về hoạt động thanh toán quốc tế, quan niệm về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng và các cam kết còn đơn giản, tuỳ tiện, hành động theo suy diễn chủ quan của mình.

    Hai là, do các bên còn hạn chế về trình độ am hiểu nghiệp vụ ngoại thương cũng như thanh toán quốc tế, nên hiểu và vận dụng chưa đúng các

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            38

    điều khoản của UCP 500 về chứng từ xuất trình, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Ba là, do các đơn vị tham gia XNK tìm hiểu đối tác không kỹ, thiếu thông tin, ỷ lại vào ngân hàng trong việc tìm hiểu luật pháp quốc tế về TDCT, trước những món lợi lớn do thương vụ mang lại đã kí kết những hợp đồng bất lợi.

    Bốn là, do nền kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế chưa hoàn chỉnh, thường xuyên được sửa đổi bổ xung gây khó khăn cho các bên tham gia thanh toán TDCT.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            39

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHCT ĐỐNG ĐA TRONG NĂM 2005

    3.1.1. Định hướng chung

    Căn cứ vào các chỉ tiêu công tác được NHCT Việt Nam giao, Chi nhánh

    NHCT Đống Đa đề ra một số nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh doanh năm 2005 như sau:

    * Các chỉ tiêu kinh doanh:

    Nguồn vốn huy động đạt 3.782 tỷ đồng, tăng trưởng 22% so với 2004 Dư nợ cho vay đạt 2.645 tỷ đồng, tăng trưởng 20% so với 2004

    Doanh số hàng nhập khẩu thực hiện 200 triệu USD, doanh số hàng xuất khẩu đạt 15 triệu USD

    Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% tổng dư nợ

    Tài chính kinh doanh có lãi, đủ quỹ tiền lương, thưởng theo qui định

    Mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ như: mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán chuyển tiền, dịch vụ thanh toán thẻ, séc du lịch…

    * Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu của NHCT Đống Đa đó là nâng cao sức cạnh tranh giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nứơc ngoài, hoạt động đa năng, kết hợp bán buôn bán lẻ, mở rộng các dịch vụ ngân hàng. Tất cả nhằm phục vụ phát triển kinh tế trong nước, đồng thời xây dựng một phong cách kinh doanh hiện đại, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Từ đó, khẳng định được vị thế của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế.

    * Phương châm hoạt động của NHCT Đống Đa: NHCT Đống Đa luôn đề ra phương châm hoạt động cho toàn bộ hệ thống các phòng ban, các tổ nghiệp

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            40

    vụ, các nhân viên của toàn NH nói chung và của riêng phòng Tài trợ thương mại nói riêng. Cụ thể:

    • Đối với Ngân hàng là: An toàn – Hiệu quả – Tăng trưởng . An toàn trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Hiệu quả mang lại ý nghĩa kinh tế xã hội. Tăng trưởng phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước và chính sách tiền tệ của ngân hàng.
    • Đối với khách hàng: Đem đến cho khách hàng sự an toàn khi gửi tiền, phục vụ nhanh chóng, kịp thời với chất lượng và chi phí hợp lý.

    3.1.2. Định hướng trong hoạt động thanh toán TDCT

    Nhận thức được tầm quan trọng mà hoạt động TTQT nói chung và hoạt động thanh toán TDCT nói riêng đem lại cho NHCT Đống Đa, NH cần có chiến lược để phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ TDCT để giữ vững và mở rộng thị phần thanh toán, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ, khả năng thu hút khách hàng cũng như nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng.

    Để đạt được điều này, ngân hàng phải luôn thực hiện phương châm thu hút khách hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng bởi tiềm lực khách hàng trong nước đã trở thành bộ phận quan trọng đối với hoạt động thanh toán TDCT của ngân hàng.

    NH tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thanh toán TDCT, phát triển tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tìm kiếm khách hàng mới và các dự án đầu tư hiệu quả, đặc biệt phục vụ phát triển hoạt động XNK và kinh tế đối ngoại của thủ đô.

    NH tăng cường bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho các các cán bộ thực hiện thanh toán TDCT. Tạo điều kiện cử các cán bộ, nhân viên đi học các lớp đại học, cao học, các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Trung tâm đào tạo tổ chức, đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho cán bộ.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            41

    3.2. GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TDCT TẠI NHCT ĐỐNG ĐA

    3.2.2. Giải pháp ở tầm vĩ mô

    3.2.2.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế, trước hết là phương thức thanh toán TDCT.

    Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro, các quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách và củng cố hệ thống tài chính- ngân hàng một cách tích cực. Đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển và ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập như Việt Nam, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính- ngân hàng là hết sức cần thiết.

    TTQT mặc dù chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng nhưng lại liên quan trực tiếp tới quyền lợi, trách nhiệm, uy tín của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia. Các qui tắc thực hành thống nhất về TTQT như URC(nhờ thu), UCP(thanh toán L/C)… do phòng thương mại quốc tế ban hành không phải là văn bản luật, mà chỉ là tập hợp các tập quán, quy ước và thực tiễn ngân hàng trong hoạt động TTQT, mang tính chất pháp lý tuỳ ý. Vì vậy, nếu có mâu thuẫn giữa các qui tắc quốc tế và luật pháp quốc gia thì lựa chọn áp dụng là tuỳ theo pháp luật của từng nước.

    Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có luật hay pháp lệnh riêng về hoạt động TTQT. Thực tiễn các doanh nghiệp và các NHTM khi tham gia thanh toán tín dụng chứng từ hay gặp nhiều rủi ro, tranh chấp và xung đột pháp luật, mặc dù họ đã tìm mọi cách bảo vệ mình. Vì vậy, việc soạn thảo, bổ xung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật cho hoạt động TTQT là rất cần thiết cho các NHTM Việt Nam, đồng thời còn là cơ sở để toà án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong quan hệ TTQT.

    Bên cạnh đó, cần có những văn bản dưới luật (pháp lệnh, nghị định) qui định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên tham gia

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            42

    cũng như các giải pháp xử lý trong trường hợp có tranh chấp, xung đột pháp luật giữa qui tắc quốc tế và luật pháp quốc gia trong TTQT nói chung và phương thức TDCT nói riêng (vì L/C đang và chắc chắn vẫn là phương thức chủ yếu trong TTQT). Việc này đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan như Bộ thương mại, Tổng cục hải quan… nhằm tạo sự nhất quán trong việc ban hành và áp dụng các điều luật đó sau này.

    3.2.2.2. Tổ chức tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tạo điều kiện cho thị trường ngoại hối Việt Nam ngày càng phát triển.

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi, cung cấp ngoại tệ nhằm giải quyết các nhu cầu về ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Việc hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một trong những điều kiện quan trọng để các NHTM mở rộng nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và tạo thuận lợi cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế được thực hiện tốt hơn. Thông qua thị trường này, ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh tỷ giá cuối cùng một cách linh hoạt và chính xác nhất. Nhằm hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam, chúng ta cần đa dạng hoá các loại ngoại tệ và các hình thức giao dịch như: mua bán trao ngay (Spot), mua bán kì hạn (Forward), quyền chọn (Option), tương lai (Future) ; mở rộng đối tượng tham gia vào thị trường nhằm làm cho thị trường hoạt động sôi động hơn, tỷ giá giao dịch sát với thực tế hơn. Ngoài ra, đây cũng chính là giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro về tỷ giá, góp phần nâng cao chất lượng thúc đẩy thanh toán quốc tế phát triển.

    3.2.2.3. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

    Cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kì nhất định, thường là một năm. Tình trạng của cán cân TTQT liên quan đến khả năng thanh toán của cả nước, của các ngân hàng, tác động đến tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại tệ của cả nước. Trong những năm vừa qua, cán cân thanh toán của Việt Nam, đặc biệt là cán cân

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            43

    thương mại và cán cân vốn luôn trong tình trạng thâm hụt, dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ, gây khó khăn cho công tác thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán TDCT nói riêng. Do đó, để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, hạn chế tình trạng nhập siêu hiện nay, Nhà nước cần tập trung vào các vấn đề sau:

    • Đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt hướng vào các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc thông qua các hiệp định thương mại được kí kết giữa chính phủ các nước.
    • Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài
    • Quản lí chặt chẽ nợ vay nước ngoài. Vay nợ nước ngoài cần phải đáp ứng được hai mục tiêu cơ bản là nâng cao hiệu quả sử dụng và giữ được mức nợ ở một tỷ lệ hợp lý, tương ứng với năng lực trả nợ của đất nước.
    • Cải tiến cơ cấu hàng XK: tăng XK sản phẩm đã qua chế biến, giảm lượng hàng thô…Hạn chế NK các loại hàng tiêu dùng và các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.
    • Thực hiện cơ sở tỷ giá hối đoái thích hợp có lợi cho xuất khẩu.

    3.2.2.4. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

    Trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, công nghệ ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của toàn ngành Ngân hàng. TTQT là một trong những hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí ngày một tăng không những về mặt số lượng mà cả tỷ trọng. Tuy nhiên, hoạt động ngoại bảng này lại tiềm ẩn nhiều rủi ro, muốn kinh doanh có hiệu quả, một điều kiện không thể thiếu là kỹ thuật, công nghệ hiện đại để cung cấp thông tin chính xác, cập nhật, xử lý tình huống nhanh chóng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ, kỹ thuật hiện đại đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động TTQT, đặc biệt là thanh toán TDCT, nhiều NHTM đã chú trọng đầu tư xây dựng, lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho hoạt động này. Tuy nhiên, cùng với sự khó khăn của đất nước đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá, ngành khoa học kỹ thuật của nước ta, đặc

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            44

    biệt là công nghệ ngân hàng còn có một khoảng cách khá xa so với mặt bằng chung thế giới. Để có thể thích ứng được với xu thế phát triển của các ngân hàng trên thế giới là gắn chặt các sản phẩm của ngân hàng với công nghệ thông tin hiện đại thì ngành ngân hàng Việt Nam mà đi đầu là NHNN Việt Nam cần phải có kế hoạch hiện đại hoá ngân hàng theo hướng hoà nhập với cộng đồng thế giới, nhưng không nên cứng nhắc đưa mô hình của các nước khác vào áp dụng mà quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng phải đáp ứng được những vấn đề sau:

    • Công nghệ ngân hàng phải đưa ra các công cụ thanh toán hợp lí
    • Công nghệ ngân hàng phải xác định cách thức thanh toán sao cho phù hợp với hoàn cảnh, tình hình kinh tế của Việt Nam, đồng thời cũng là yếu tố kích thích cho kinh tế Việt Nam phát triển
    • Cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ cho hoạt động ngân hàng phải mang tính hiện đại và có thể sử dụng lâu dài, tránh lạc hậu.

    3.2.2.5. Các NHTM khi tham gia vào thanh toán TDCT phải ban hành, bổ xung, hoàn chỉnh quy trình cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng.

    TTQT trong đó có thanh toán TDCT là hoạt động giữa các NHTM các nước, với việc tự nguyện chấp hành theo các quy ước, quy tắc quốc tế và pháp luật của mỗi nước. Do vậy, NHNN không thể ban hành qui định về TTQT như : qui định về cho vay của tổ chức đối với khách hàng, qui định về hạch toán kế toán…Chính vì vậy, các NHTM phải ban hành qui định qui trình TTQT trong hệ thống của mình một cách chặt chẽ, nhất quán, tuân theo quy tắc, thông lệ quốc tế, không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với mô hình tổ chức, bộ máy của NH đó. Các qui định càng cụ thể, rõ ràng bao nhiêu, càng giúp cho các cán bộ thanh toán tránh sai sót bấy nhiêu.

    Các NHTM Việt Nam cần thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, phối hợp giúp nhau trong TTQT, đặc biệt là trong thanh toán TDCT. Các ngân hàng cần xác định rằng tuy là một dịch vụ thu lợi lớn song có liên quan đến nước

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            45

    ngoài với rủi ro cũng lớn và không thể nào một NHTM có thể đảm nhận hết TTQT, cũng như một NHTM sai sót thì cả hệ thống NHTM sẽ bị ảnh hưởng uy tín. Do vậy, các NHTM cần coi đây là một hoạt động chung, cùng dựa vào nhau để phát triển.

    3.2.3. Giải pháp ở tầm vi mô

    3.2.3.1. Về nghiệp vụ

    Sau khi nghiên cứu thực trạng các rủi ro trong thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa, NH có thể đúc kết ra các kinh nghiệm để nhằm hạn chế các rủi ro xảy ra.

    Biện pháp chung đối với tất cả các bên khi tham gia vào phương thức thanh toán bằng L/C là các bên phải giữ đạo đức kinh doanh và giữ uy tín. Cụ thể là:

    Các bên nên tìm hiểu độ tin cậy của đối tác: đây có thể hiểu là tìm hiểu độ tin cậy của người mua, người bán, NH phát hành, NH thông báo và các NH khác…Người mua và người bán đều cần tìm hiểu về uy tín trong kinh doanh, tình hình tài chính…của bên đối tác trước khi kí kết hợp đồng ngoại thương. NH phát hành cần tìm hiểu về người mua để đánh giá rủi ro không hoàn trả của người mua; tìm hiểu về người bán để đánh giá khả năng thực hiện hợp đồng và độ trung thực, thiện chí trong quan hệ hợp tác buôn bán. Người mua phải tìm hiểu về NH thông báo để đánh giá năng lực và kinh nghiệm kinh doanh dịch vụ L/C. Người bán phải tìm hiểu về NH phát hành để đánh giá khả năng thực hiện cam kết trả tiền…Việc tìm hiểu này có thể được thực hiện qua các ngân hàng, các công ty vận tải giao nhận, các công ty tư vấn, phòng thương mại và công nghiệp các nước…Việc tìm hiểu ban đầu này là vô cùng cần thiết và có tác dụng trong việc hạn chế các rủi ro trong thanh toán L/C.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            46

    Ngoài ra, tuỳ theo chức năng và nghĩa vụ của các bên tham gia mà mỗi bên có những biện pháp riêng áp dụng để ngăn ngừa các rủi ro trong thanh toán L/C. Cụ thể:

    1. Đối với NHCT Đống Đa

    Với tư cách là NH phát hành

    • NH phải mở L/C theo đúng đơn xin mở L/C. Tất cả các L/C bắt buộc phải phát hành và quản lý trên hệ thống INCAS.
    • NH cần làm cho người NK nhận thức rõ nghĩa vụ hoàn trả tiền cho NH phát hành và tính độc lập của thư tín dụng với hợp đồ Vì một rủi ro hay xảy ra đối với NH phát hành là người mua từ chối hoàn trả tiền cho NH do hàng không đúng hợp đồng hay có sự giả mạo trong bộ chứng từ. Do đó, NH cần nêu rõ trong mẫu đơn xin mở L/C về nghĩa vụ hoàn trả tiền cho NH.

    Để hạn chế việc chứng từ về NH phát hành sớm hơn hàng hoá, NH cần tính toán khoảng thời gian hàng vận chuyển trên đường, thời gian chuẩn bị chứng từ của bên bán, thời gian làm việc của NH thương lượng, thời gian gửi chứng từ để xác định thời gian xuất trình của chứng từ hợp lý, tránh việc chứng từ xuất trình quá sớm dẫn đến NH phát hành phải chấp nhận chứng từ trước khi hàng đến Việt Nam.

    NH cần khống chế bộ chứng từ đầy đủ (full set)để có thể yêu cầu người mua hoàn tiền.

    NH nên kết hợp với người mua trong việc kiểm tra bộ chứng từ. Theo UCP 500, NH phải đưa ra quyết định tiếp nhận hay từ chối bộ chứng từ trong trên phán đoán của mình. Nhưng nếu NH kết hợp với người mua trong việc kiểm tra bộ chứng từ sẽ đem lại tác dụng như: tránh được tình huống người mua từ chối trả tiền cho NH phát hành, kết hợp với người mua trong việc phát hiện chứng từ giả mạo. Như vậy, trong 7 ngày kiểm tra chứng từ, NH nên tận dụng tối đa sự tham gia của người mua vào việc kiểm tra chứng từ.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            47

    NH cần nâng cao khả năng phát hiện chứng từ giả mạo để hạn chế bớt các rủi ro, góp phần bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

    Trong trường hợp ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh cho khách hàng nhận hàng khi chưa nhận được bộ chứng từ, NH phải yêu cầu khách hàng chấp nhận thanh toán vô điều kiện, kể cả trường hợp chứng từ có sai sót.

    Đối với L/C trả ngay: trước khi ký hậu vận đơn hoặc bảo lãnh nhận hàng, NH phải yêu cầu khách hàng ký khế ước nhận nợ(nếu khách hàng vay vốn NH) hoặc chuyển khoản tiền tương đương với trị giá lô hàng vào tài khoản thanh toán với nước ngoài để chờ thanh toán(nếu khách hàng thanh toán bằng vốn tự có)

    Đối với L/C trả chậm: trước khi ký hậu vận đơn NH phải yêu cầu khách hàng thế chấp tài sản đảm bảo(nếu khách hàng thanh toán bằng vốn tự có) hoặc ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ(trường hợp vay vốn NH).

    Đối với thị trường bị cấm vận, để giảm thiểu rủi ro, NH cần yêu cầu khách hàng cam kết chịu rủi ro và bồi thường tất cả các thiệt hại xảy ra đối với NH khi thực hiện các giao dịch qua các nước bị cấm vận.

    Với tư cách là ngân hàng thông báo

    NH cần xác thực L/C một cách cẩn thận trước khi thông báo cho người bán. Nếu chưa kiểm tra được tính chân thực của L/C cũng như bản sửa đổi L/C thì không nên thông báo cho người bán, tránh trường hợp người bán hiểu lầm về tính chân thực của L/C dẫn đến những tranh chấp giữa người bán và NH sau này.

    NH nên kiểm tra, tư vấn cho khách hàng lập bộ chứng từ phù hợp với L/C để hạn chế những rủi ro trong thanh toán sau này.

    NH cần cẩn trọng khi chiết khấu các bộ L/C xuất trình bằng đường thư, hạn chế chiết khấu bộ chứng từ mà vận đơn do những hãng vận tải không đáng tin cậy phát hành.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            48

    NH không chiết khấu bộ chứng từ trong các trường hợp sau: bộ chứng từ XK mặt hàng Nhà nước cấm XK, các khách hàng mà NH không hiểu rõ về khách hàng đó, các chứng từ xuất trình không đúng với qui định của L/C.

    1. Đối với người NK

     

    Đàm phán kỹ hợp đồng trước khi mở L/C.Ơ Việt Nam nói chung và tại NHCT Đống Đa nói riêng có một thực trạng là khi ký kết hợp đồng, nhiều doanh nghiệp không suy xét kỹ khi đàm phán ký kết hợp đồng, sau đó thấy hợp đồng không có lợi thì lại mở L/C trái với hợp đồng để có lợi cho mình, thậm chí mở L/C chậm hoặc không mở L/C để đòi người bán đàm phán lại hợp đồng. Nếu hành động như vậy, người bán có thể qui kết người mua vi phạm hợp đồng. Do vậy, người mua phải hết sức thận trọng khi ký kết hợp đồng, không nên cho rằng có thể dễ dàng đàm phán lại.

     

    Làm đơn xin mở L/C phải thống nhất với hợp đồng. Người NK cần nhận thức rằng NH phát hành trả tiền căn cứ vào bộ chứng từ có phù hợp hay không, chứ không phải là hàng hoá phù hợp với hợp đồng hay không. Do đó, để đảm bảo nhận được hàng đúng như hợp đồng, người NK cần truyền tải kỹ lưỡng và đầy đủ các điều khoản của hợp đồng vào trong đơn xin mở L/C. Trước khi NH phát hành chuyển L/C sang NH thông báo cần kiểm tra lại L/C xem có thống nhất với hợp đồng và đơn xin mở L/C không.

     

    Dùng hợp đồng để buộc người bán giao hàng. Mục đích mà người NK là hàng hoá, do đó, dù người NK có thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng và mở L/C nhưng vẫn còn rủi ro là người bán không giao hàng. Để giảm thiểu rủi ro này, người NK nên dùng điều khoản phạt trong hợp đồng trong trường hợp người bán giao hàng chậm.

     

    1. Đối với người XK

     

    Dùng hợp đồng ràng buộc trách nhiệm, đề phòng trường hợp người mua không mở hoặc mở L/C chậm. Không mở hoặc mở L/C chậm là một rủi

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            49

    ro lớn đối với người XK. Do đó trong hợp đồng cần qui định các điều khoản phạt trong trường hợp người bán không mở hoặc chậm mở L/C.

    Kiểm tra kỹ các điều kiện chứng từ trong L/C để xem mình có khả năng lập được bộ chứng từ như qui định của L/C không. Đối với những điều kiện chứng từ bất lợi cho mình, người XK không nên nhất trí mà phải yêu cầu sửa đổi.

    Lập bộ chứng từ theo đúng điều kiện của UCP 500, tránh các lỗi xảy ra và xuất trình chứng từ đúng hạn .

    3.2.3.2. Về tổ chức

    NH cần phát huy mạnh mẽ nhân tố con người trong thời đại mới bằng cách vừa phát huy mạnh mẽ năng lực điều hành của ban lãnh đạo NH, đồng thời coi trọng đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và đạo đức của thanh toán viên.

    Để qui trình thanh toán L/C được chính xác nhanh chóng, thanh toán viên phải có khả năng xử lí nghiệp vụ một cách thuần thục, chính xác và phù hợp với thông lệ quốc tế. Để làm được điều này, ngoài kiến thức chuyên môn về TTQT, các thanh toán viên cần có các kiến thức chuyên sâu về ngoại thương, về thị trường hàng hoá và thị trường tài chính trên thế giới. Vì thế, NH cần tiêu chuẩn hoá đội ngũ thanh toán viên bằng các biện pháp như :

    Tổ chức các lớp tập huấn theo chuyên đề về nghiệp vụ TTQT, thương mại quốc tế…

    Tạo điều kiện cho các cán bộ tham gia các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, các lớp cao học, mời chuyên gia giỏi trong nước và nước ngoài về đào tạo nghiệp vụ

    Tăng cường bổ xung các lãnh đạo trẻ có năng lực

    Trang bị các kiến thức về pháp luật, luật kinh tế, luật áp dụng trong ngoại thương…

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            50

    NH cần chú trọng hơn với việc đầu tư vào cơ sở vật chất kĩ thuật, trang bị và lắp đặt đầy đủ các thiết bị thanh toán hiện đại, đặc biệt là các thiết bị phương tiện phục vụ hoạt động thanh toán TDCT. NH cần nghiên cứu và đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả thanh toán TDCT và các hoạt động kinh doanh khác.

    3.2.3.3. Về khách hàng

    Để ngày một nâng cao chất lượng TTQT nói chung và thanh toán L/C nói riêng, cũng như tiếp tục giữ vững và mở rộng thị phần thanh toán, NHCT Đống Đa nên xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn và hiệu quả. Để có một chính sách khách hàng tốt, NH cần chú trọng các vấn đề sau:

    Thứ nhất, NH nên chủ động tìm kiếm khách hàng, thiết lập quan hệ chặt chẽ với khách hàng. NH cần có sự ưu đãi đối với từng đối tượng khách hàng nhằm củng cố được đội ngũ khách hàng truyền thống và thu hút thêm các khách hàng mới.

    Đối với hoạt động thanh toán L/C, NHCT Đống Đa nên tiếp tục thực hiện chính sách khách hàng khép kín, tức là NH đảm bảo phục vụ khách hàng

    • tất cả khác khâu. Đối với doanh nghiệp XK, NH không chỉ làm trung gian thanh toán mà còn có thể cho vay sản xuất và thu gom hàng. Đối với doanh nghiệp NK, NH có thể xem xét cho vay thanh toán. Khi đó, lợi ích của NH và khách hàng gắn bó với nhau. Đồng thời việc khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ NH sẽ giúp NH có điều kiện theo dõi nắm bắt tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng toàn diện hơn và có chính sách khách hàng tốt hơn, đảm bảo hoạt động kinh doanh của NH an toàn, quan hệ khách hàng- ngân hàng bền chặt hơn.

    Thứ hai, nâng cao công tác Marketing ngân hàng, bởi đây là một trong những chiến lược cạnh tranh của NH.

    NH nên quảng cáo, truyền bá hình ảnh và thương hiệu của NH mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.NH nên mở các dịch vụ tư vấn miễn phí, tổ chức các buổi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng thông qua các Hội nghị

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            51

    khách hàng để vừa giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mới của NH, lại vừa nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng.

    NH phải xác định mỗi nhân viên ngân hàng là một tuyên truyền viên tích cực vận động khách hàng tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ NH, từ đó nâng dần nhận thức của khách hàng, giúp họ gần gũi sử dụng các sản phẩm dịch vụ NH hiện đại.

    Trong quá trình quảng bá cần chú ý cung cấp các thông tin nêu bật được lợi thế hơn hẳn của NH mình trong chất lượng và cách thức cung cấp dịch vụ, để khách hàng có thể tự so sánh với các NH khác và tự rút ra kết luận.

    Thứ ba, NH cần chú trọng hơn đến chính sách giá cả, đảm bảo hợp lí cho từng đối tượng khách hàng, trên cơ sở cân đối chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác NH đề ra.NH có thể thực hiện chính sách ưu đãi đối với khách hàng lâu năm và có uy tín như: hạn chế các thủ tục giao dịch, giảm tỷ lệ ký quỹ hoặc giảm mức phí giao dịch…Đồng thời, NH nên mở rộng các loại hình L/C, song song với đó là công tác tư vấn cho khách hàng về ưu nhược điểm của từng loại để khách hàng có được lựa chọn chính xác.

    Thứ tư, NH cần xây dựng văn hoá kinh doanh ngân hàng, tức là xây dựng một phong cách kinh doanh riêng trong lĩnh vực NH, để khi nhìn vào có thể thấy nét bản sắc riêng của NH mình. Đồng thời, NH cần tạo phong cách phục vụ khách hàng văn minh, lịch sự, tận tình chu đáo. Bởi thái độ và phong cách giao tiếp chính là một trong những nghệ thuật thu hút khách hàng có hiệu quả nhất. Thái độ lịch sự, nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của nhân viên giao dịch có thể tạo nên hình ảnh đẹp về NH trong lòng khách hàng, góp phần thu hút ngày càng nhiều lượng khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng.

    3.2.3.4. Mở rộng quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài

    Hiện nay, NHCT Đống Đa có quan hệ đại lý với trên 450 ngân hàng đại lý, hầu hết là các NH lớn có uy tín trên thế giới. Nhưng với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, thị trường thanh toán không ngừng mở rộng sang các

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            52

    nước và các khu vực mới. Vì vậy, NHCT Đống Đa cần tiếp tục mở rộng mạng lưới đại lý của mình. Muốn vậy, ngân hàng cần phải tiếp tục củng cố quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý trên thế giới. Lựa chọn các ngân hàng đại lý, các đối tác nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực đối ngoại của từng khu vực để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng có uy tín cao.

    3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước

    TTQT là nghiệp vụ liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy mọi chính sách tác động đến một lĩnh vực nào đó cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến công tác TTQT. Xuất phát từ đặc điểm trên, các giải pháp nhằm giảm rhiểu rủi ro, nâng cao chất lượng TTQT nói chung và thanh toán TDCT nói riêng đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành liên quan cũng như các cơ quan quản lí vĩ mô, đặc biệt là ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước cần có các giải pháp cụ thể sau:

    Xây dựng một chế độ tỷ giá lành mạnh dựa trên phương pháp rổ hàng hoá, đảm bảo khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu

    Khẩn trương hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý

    Vận hành tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và đẩy mạnh hoạt động của thị trường ngoại hối

    Thực hiện tốt vai trò làm tham mưu tư vấn cho chính phủ để đưa ra chính sách quản lý ngoại tệ có hiệu quả nhằm ổn định thị trường ngoạitệ, từ đó tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp trong hoạt động XNK.

    3.3.2. Kiến nghị với các doanh nghiệp XNK

    Như đã trình bày ở chương trước, rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT có nguyên nhân từ chính những yếu kém trong nghiệp vụ của các doanh nghiệp XNK và chính họ là người gánh chịu những thiệt hại nặng nề từ những rủi ro đó. Theo số liệu của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, có tới 70% giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đào tạo về

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp                                            53

    nghiệp vụ ngoại thương và TTQT. Trong khi đó 80- 85% số doanh nghiệp đó tham gia kinh doanh XNK hoặc uỷ thác XNK. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp XNK là đào tạo và nâng cao trình độ nghiệp vụ ngoại thương và TTQT. Cụ thể: các doanh nghiệp tham gia XNK phải có các cán bộ chuyên trách về XNK. Các cán bộ phải được đào tạo nghiệp vụ ngoại thương, am hiểu luật thương mại quốc tế, có năng lực công tác và đặc biệt phải có phẩm chất trung thực trong kinh doanh.

    Nguyễn Thị Lan Phương                                                                                                                    Lớp

    1501

    Chuyên đề tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Trong những năm qua, nền kinh tế mở đã mang lại những chuyển biến tích cực đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng qua các năm, nền kinh tế dần được cải thiện và phát triển. Để đạt được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các NHTM với tư cách là trung gian thanh toán quốc tế, trong đó chủ yếu là phương thức thanh toán TDCT đã giúp cho hoạt động thanh toán XNK diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của thương mại quốc tế thì rủi ro trong hoạt động TTQT nói chung và rủi ro trong thanh toán TDCT nói riêng là điều không thể tránh khỏi. Vì thế, việc nâng cao chất lượng thanh toán TDCT và phòng ngừa rủi ro là hết sức cần thiết.

    Được sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Trần Thu Hiền, cùng cán bộ làm việc trực tiếp tại phòng Tài trợ thương mại thuộc NHCT Đống Đa, đề tài đã hoàn thành được những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    Thứ nhất, giới thiệu một cách tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và những rủi ro khi áp dụng.

    Thứ hai, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Đống Đa nói chung và hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng

    Thứ ba, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại NHCT Đống Đa.

    Do đây là một vấn đề khá phức tạp nên những ý kiến đề xuất không tránh khỏi những thiếu xót, em kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô và các anh chị trong ngân hàng để bài viết đạt kết quả tốt hơn.

    Nguyễn Thị Lan Phương

    Chuyên đề tốt nghiệp

    DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

    1. NH : Ngân hàng
    2. NHCT : Ngân hàng Công thương
    3. NHNN : Ngân hàng Nhà nước
    4. NHTM : Ngân hàng thương mại
    5. NK : Nhập khẩu
    6. TDCT : Tín dụng chứng từ
    7. TTQT : Thanh toán quốc tế
    8. XK : Xuất khẩu
    9. XNK : Xuất nhập khẩu

    Nguyễn Thị Lan Phương

    Chuyên đề tốt nghiệp

  • Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại

    Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại

    Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại

     

    Bài số 1: Một DN vay vốn theo phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng tại ngân hàng Thương Mại. Số liệu trong năm 2009 như sau:

          Vay theo HMTD Tiền bán hàng trong tháng (ghi nhận cuối mỗi tháng)
             11/01: 20 tỷ T1: 30 tỷ
             16/02: 20 tỷ T2: 30 tỷ
      T3: 10 tỷ
              01/04: 30 tỷ T4: 10 tỷ
              16/05: 10 tỷ T5: 10 tỷ
              21/06: 30 tỷ T6: 10 tỷ

    Yêu cầu:

    1) Xác định hạn mức tín dụng còn lại sau mỗi lần vay & cuối mỗi tháng?

    2) Tính tiền lãi phải trả hàng tháng biết hạn mức tín dụng 2009 là 100 tỷ.

      – Giả định dư nợ cho vay theo hạn mức tín dụng của DN đến cuối 2008 = 0

      – Lãi suất cho vay theo hạn mức tín dụng là 12%/năm và ổn định 2009.

      – Thời gian tính lãi của 1 tháng là 30 ngày.

      – Hàng tháng DN phải trích 80% tiền thu bán hàng trả nợ gốc.

     

     

    GIẢI

    1) Hạn mức tín dụng còn lại sau mỗi lần vay & cuối mỗi tháng:

    Thời Gian Cho Vay Tiền Bán Hàng Trả Nợ Dư Nợ HMTD còn lại
    01/01         100
    11/01 20     20 80
    30/01   30 20 0 100
    16/02 20     20 80
    30/02   30 20 0 100
    30/03   10 0 0 100
    01/04 30     30 70
    30/04   10 8 22 78
    16/05 10     32 68
    30/05   10 8 24 76
    21/06 30     54 46
    30/06   10 8 46 54

    Hạn mức tín dụng còn lại sau mỗi lần vay

    Hạn mức tín dụng còn lại cuối mỗi tháng

     

     

     

     

     

     

    2) Tính lãi hàng tháng:

    Lãi hàng tháng = Số dư nợ * (Số ngày duy trì số dư đó/30 ngày) * LS tháng

    • Lãi T1 = 20 tỷ * (20/30) * (12%/12) = 0.13 tỷ
    • Lãi T2 = 20 tỷ * (15/30) * (12%/12) = 0.1 tỷ
    • Lãi T3 = 0
    • Lãi T4 = 30 tỷ * (30/30) * (12%/12)
    • Lãi T5 = [(22 tỷ * 15/30) + (32 tỷ * 15/30)] * 12%/12 =
    • Lãi T6 = [(24 tỷ * 20/30) + (54 tỷ * 10/30)] * 12%/12 =

    Bài số 2: Một DN có 1 dự án đầu tư mở rộng sản xuất được ngân hàng tài trợ vốn & có các số liệu như sau:

    • Tổng mức vốn đầu tư được phê duyệt là 400 tỷ.
    • Vốn tự có của DN tham gia là 20%.
    • Thời gian thanh lý dự án là 10 năm.
    • Thời gian thi công dự án là 2 năm.
    • Số tiền cho vay được giải ngân đầu năm 1 là 50%. Số còn lại được giải ngân vào đầu năm 2.
    • Lãi suất cho vay la 12%/năm. Ngân hàng thu nợ gốc và nợ lãi mỗi năm 1 lần vào thời điểm cuối năm.
    • Thời gian ân hạn là 2 năm (cả gốc & lãi)
    • Dòng tiền hoàn trả vốn vay như sau:

    Khấu hao của dự án đầu tư theo pp khấu hao đường thẳng.

    Dòng tiền từ lợi nhuận sau thuế như sau:

    Năm 1: 30 tỷ/năm

    Năm 2 – Năm 3: 40 tỷ/năm

    Năm 4 – Năm 7: 50 tỷ/năm

    Năm 8: 40 tỷ/năm

    Năm 9: 30 tỷ/năm

    Năm 10: 20 tỷ/năm

    Yêu cầu:

    Xác định thời gian hoàn vốn của dự án đầu tư & quyết định thời hạn cho vay trong các trường hợp sau:

    1. Lãi trong thời gian ân hạn được nhập vào vốn gốc ngay sau khi dự án đi vào hoạt động.
    2. Lãi trong thời gian thi công được chia đều trong 3 năm đầu khi dự án đi vào hoạt động.

    Biết rằng dự án được đưa vào hoạt động ngay sau khi kết thúc công đoạn thi công.

     

     

     

    GIẢI

    • Lãi trong thời gian ân hạn được nhập vào vốn gốc ngay sau khi dự án đi vào hoạt động
      • Số tiền cho vay = 400 tỷ – (400 tỷ * 20%) = 320 tỷ
      • Lãi năm 1 (TC) = (320 tỷ * 50%) * 12% = 19.2 tỷ
      • Lãi năm 2 (TC) = 320 tỷ * 12% = 38.4 tỷ
      • Lãi ân hạn = 19.2 tỷ + 38.4 tỷ = 57.6 tỷ
      • Dư nợ tính lãi đầu năm 1 (HĐ) = 320 tỷ + 57.6 tỷ = 377.6 tỷ
      • Khấu hao hằng năm = 400 tỷ / 10 năm = 40 tỷ
      • Lãi năm 1 (HĐ) = 377.6 * 12% = 45.31 tỷ
      • Lãi năm 2 (HĐ) = (377.6 – 24.69) * 12% = 42.35 tỷ
      • Lãi năm 3 (HĐ) = (377.6 – 62.34) * 12% = 37.83 tỷ

    Số tháng hoàn trả vốn vay trong năm 7 (HĐ)

    = (377.6 – 297.63): 90/12 = 10.66 tháng = 11 tháng

    Thời gian hoàn vốn của dự án đầu tư:

    = 2 năm (TC) + 6 năm 11 tháng (HĐ) = 8 năm 11 tháng

    Quyết định thời hạn cho vay là 9 năm

     

    DÒNG TIỀN HOÀN TRẢ VỐN VAY

    Năm KH hàng năm LN sau thuế hàng năm Tổng số Trả nợ lãi Trả nợ gốc
    1 40 30 70 45.31 24.69
    2 40 40 80 42.35 37.65
    3 40 40 80 37.83 42.17
    4 40 50 90 32.77 57.23
    5 40 50 90 25.90 64.10
    6 40 50 90 18.21 71.79
    7 40 50 90 9.60 80.40
    8 40 40 80    
    9 40 30 70    
    10 40 20 60    

     

     

     

     

     

     

     

    • Lãi trong thời gian thi công được chia đều trong 3 năm đầu khi dự án đi vào hoạt động
      • Lãi ân hạn phải trả cho từng năm (Năm 1 – Năm 3) = 57.6 tỷ / 3 = 19.2 tỷ
      • Lãi năm 1 (HĐ) = (320 * 12%) + 19.2 = 57.6 tỷ
      • Lãi năm 2 (HĐ) = [(320 – 12.4) * 12% + 19.2 = 56.11 tỷ
      • Lãi năm 3 (HĐ) = [(320 – 36.29) * 12% + 19.2 = 53.25 tỷ
      • Lãi năm 4 (HĐ) = [(320 – 63.04) * 12% = 30.84 tỷ
      • Lãi năm 5 (HĐ) = (320 – 122.20) * 12% = 23.74 tỷ
      • Lãi năm 6 (HĐ) = (320 – 188.46) * 12% = 15.78 tỷ

    Số tháng hoàn trả vốn vay trong năm 7 (HĐ)

    = (320 – 262.68) : 90/12 = 7.64 tháng = 8 tháng

    Thời gian hoàn vốn của dự án đầu tư:

    = 2 năm (TC) + 6 năm 8 tháng (HĐ) = 8 năm 8 tháng

     Quyết định thời hạn cho vay là 9 năm

     

    DÒNG TIỀN HOÀN TRẢ VỐN VAY

    Năm KH hàng năm LN sau thuế hàng năm Tổng số Trả nợ lãi Trả nợ gốc
    1 40 30 70 57.60 12.40
    2 40 40 80 56.11 23.89
    3 40 40 80 53.25 26.75
    4 40 50 90 30.84 59.16
    5 40 50 90 23.74 66.26
    6 40 50 90 15.78 74.22
    7 40 50 90    
    8 40 40 80    
    9 40 30 70    
    10 40 20 60    

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây  


  • Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo tốt nghiệp Tín dụng ngân hàng tại ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN I:

    MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Sau đây là vai trò tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường:

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    2.1.4- Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị trường thay đổi Ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị của tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống. Ngược lại nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên. Do đó nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho Ngân hàng.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động Ngân hàng hiện nay, tuy đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, chưa đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Nhiều hướng dẫn của các bộ, ngành khác nhau còn chồng chéo, rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện.

    Hiện nay, điều kiện vay vốn đặc biệt đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta chưa có luât về sở hữu nên chưa có cơ quan nào có trách nhiệm cáp chứng nhận sở hưu tài sản và việc chuyển quyền sở hữu. Vì thế mà Ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản. Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan chưa có được cái nhìn thấu đáo về Ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nên chưa có được sự phối hợp đồng bộ, tích cực với Ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan.

    Mặc dù đã có nhiều thông tư liên tỉnh giữa Ngân hàng nhà nước và các bộ ngành liên quan hướng dẫn thực hiện những vấn đề có liên quan đến hoạt động của Ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan này với nhau trong thời gian tới.

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    PHẦN II

    THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của các Ngân hàng thương mại thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của các Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ trung gian khác. Khi chuyển hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các Ngân hàng còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế, kể cả mảng huy động vốn. Nhưng cùng nỗ lực với bản thân, được sự ủng hộ từ nhiều phía các Ngân hàng đã quen dần với cơ chế mới, đã đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh. Đến thởi điểm hiện nay, chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của hầu hết các Ngân hàng thương mại, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển. Theo báo cáo của các Ngân hàng trong những năm gần đây, các tổ chức tín dụng trong nước cũng như các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh đều có tốc độ liên tục tăng. Riêng trong năm 2003, quán triệt nhiệm vụ ngay từ đầu, toàn hệ thống đã tích cực nắm bắt thị trường, tình hình biến động trong nước và thế giới, có nhiều giải pháp phù hợp để đẩy mạnh huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Đơn cử như giải pháp lãi suất huy động linh hoạt nội và ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại, phát hành

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng Tăng so với đầu năm 2004(%)
    So sánh trong tổng
    Tỷ trọng trong Huy động vốn
    nguồn vốn
    tổng nguồn vốn
    Nhóm các của các từ dân cư
    của các TCTD
    TCTD TCTD (%)
    Các   TCTD   nhà 75,7 8 10
    nước
    Các chi nhánh NH 1
    nước ngoài & NH 13 1
    liên doanh
    Các TCTD cổ phần 10 5 9
    Các TCTD phi NH 0,3 6 7
    Các TCTD hợp tác 1 10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    NHTMQD 79,6 75,5 77,2 81,4 81,6 71,4
    Trong đó: -VND 53,8 53,5 59,3 65,9 65,9 61,1
    – Ngoại tệ 25,8 22,2 18,0 15,7 15,7 10,3
    NHTM ngoài quốc 20,4 24,5 22,8 18,4 18,4 28,6
    doanh.
    Trong đó: -VND 7,5 10,1 9,5 12,1 12,1 20,4
    – Ngoại tệ
    12,9 14,4 13,2 6,3 6,3 8,2
    ĐHDL Phương Đông Phạm Khánh Linh
    Tổng 100 100 100 100 100 100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi Ngân hàng thương mại là tối thiểu hoá rủi ro tín dụng. Để đạt được mục tiêu này, các Ngân hàng sử dụng nhiều phương pháp, quy trình đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau bao gồm cả chính thức, bán chính thức lẫn không chính thức. Mặc dù ngày nay các phương pháp đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng ngày càng được hoàn thiện và tinh vi hơn đã góp phần nâng cao hiệu quả, độ tin cậy về các quyết định cho vay, chúng vẫn không hoàn toàn khắc phục được những hạn chế vốn có, thậm chí trong một vài trường hợp có thể làm lạc hướng các chuyên gia Ngân hàng. Sau đây là một số vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng.

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    PHẦN III:

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, khách hàng vừa là người cung cấp nguồn vốn cho hoạt động tín dụng, đồng thời cũng là người sử dụng nguồn vốn này nên khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng giúp các Ngân hàng thương mại có điều kiện nắm vững các thông tin có liên quan tới khách hàng, các Ngân hàng sẽ có đối sách thích hợp để có thể đứng vững môi trường cạnh tranh.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh