Author: Nguyễn Huyền

  • Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-D%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Dịch vụ Logistics

    A.   MỞ BÀI

    . Lý Do Chọn Đề Tài

    Dịch vụ Logistics là một quá trình “trọn gói” từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát hàng hóa… đến nơi tiêu thụ cuối cùng là người tiêu dùng, nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn, liên tục và hiệu quả với chi phí thấp.

    Logistics bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau từ vận tải, xếp dỡ, kho bãi… Cả nước hiện có 600 DN hoạt động trong lĩnh vực này. Logistics với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau góp phần giảm giá thành hàng hóa xuất khẩu, tăng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.

    Một phân hệ hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ các thông tin về hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm trên toàn bộ hệ thống kho của công ty. Doanh nghiệp có bao nhiêu kho tùy ý, nhưng sẽ không có gì bị bỏ quên. Phân hệ này là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ nhập, xuất, di chuyển nội bộ, kiểm kê và thực hiện các chức năng nghiệp vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp.

    Vì vậy mà nhóm đã quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, và là nội dung thực hiện bài luận trong học phần “Quản Trị Chuỗi Cung ứng”.

    I.                   Khái niệm, vai trò, chức năng và loại hình kho bãi

    1.     Khái niệm

    Kho là loại hình cở logistics thực hiện việc dự trữ, bảo quản và chẩn bị hàng hoá nhằm cung ứng hàng hoá cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp nhất.

    2. Vai trò

        – Đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá:

    Nhu cầu tiêu dùng có thể biến thiên theo mùa vụ và có những dao động khó lường.Các nguồn cung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cần được duy trì liên tục để đảm bảo chất lượng ổn định với chi phí hợp lí, do vậy lượng dự trữ nhất định trong kho giúp doanh nghiệp có thể đối phó được với những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi ro.

    Trong hệ thống sản xuất thì kho được xem như là 1 bể điều tiết các hoạt động của quá trình sản xuất vì vậy mà nó còn đảm bảo điều hòa sản xuất. Khi bể này tắt nghẽn thì sẽ làm cho toàn bộ quá trình sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa kịp thời bị gián đoạn ngay.

    Góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phối: Nhờ có kho nên có thể chủ động đặt các đơn, lô hàng với quy mô kinh tế lớn trong quá trình sản xuất và phân phối nhờ đó mà giảm chi phí bình quân trên 1 đơn vị.

    Hơn nữa, kho góp phần vào việc tiết a việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng được kiệm chi phí lưu thông qua việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất của kho.

    Hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ: Khách hàng cuả doanh nghiệp thông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng giao, góp phần giao hàng đúng thời gian và địa điểm.

    Hỗ trợ việc thực hiện quy trình “logistics ngược”:    Thông qua việc thu gom, xử lý, tái sử dụng bao bì, sản phẩm hỏng, sản phẩm thừa…

     

    3. Chức năng

    Gom hàng: Khi hàng hoá, nguyên liệu đươch nhập từ nhiều nguồn nhỏ, lẻ khác nhau thì kho đóng vai trò là điểm tập kết để hợp nhất thành lô hàng lớn. Như vậy, sẽ có được lợi thế nhờ quy mô khi tiếp tục vậnc huyển tới nhà máy/ thị trường bằng các phương tiện đẩy toa/ xe/ thuyền.

    Phối hợp hàng hoá: Để đáp ứng tốt đơn hàng gồm nhiều mặt hàng đa dạng của khách hàng, kho bãi có nhiệm vụ tách lô hàng lớn ra phối hợp và ghép nhiều loại hàng hoá khác nhau thành một đơn hàng hoàn chỉnh, đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng. Sau đó, từng đơn hàng sẽ đựợc vận chuyển bằng các phưong tiện nhỏ tới khách hàng.

    Bảo quản và lưu trữ hàng hoá: Đảm bảo hàng hoá nguyên vẹn về số lượng, chất lượng trong suốt quá trình tác nghiệp tận dụng tối đa diện tích và dung tích kho; chăm sóc, giữ gìn hàng hoá trong kho

    4. Các loại hình kho bãi:

    4.1  Phân theo đối tượng phục vụ:

    Kho định hướng thị trường: Kho đáp ứng yêu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu. Loại hình kho này còn được gọi là kho phân phối hay kho cung ứng. Kho này có chức năng chủ yếu là dịch vụ khách hàng: tổng hợp các lô hàng và cung ứng thoả mãn các nhu cầu của khách hàng

    Kho định hướng nguồn hàng: Kho có vị trí ở các khu vực sản xuất, đáo ứng các yêu cầu cung cấp nguyên liệu, phụ từng, và các yếu tố đầu vào khác của các nhà sản xuất và do đó chức năng chủ yếu là thu nhận và tập trung vận chuyển tiếp tục quá trình sản xuất và dự trữ thời vụ.

    4.2  Phân theo quyền sở hữu:

    Kho riêng: Thuộc quyền sở hữu và sử dụng của riêng từng doanh nghiệp (thương mại) có quyền sở hữu hàng hoá dự trữ và bảo quản tại kho

    Kho công cộng: Khác với kho dùng riêng, kho công cộng hoạt động như một đơn vị kinh doanh độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi. Kho công cộng cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng.

    4.3 Phân theo điều kiện thiết kế, thiết bị:

    Kho thông thường: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị thực hiện quá trình công nghệ trong điều kiện bình thường.

    Kho đặc biệt: Có đặc điểm thiết kế, kiến trúc xây dựng và thiết bị riêng biệt để bảo quản những hàng hoá đặc biệt do tính chất thương phẩm và yêu cầu của quá trình vận động hàng hoá (kho lạnh, kho động vật sống)

    4.4   Phân theo đặc điểm kiến trúc:

    Kho kín: Có khả năng tạo môi trường bảo quản kín; chủ động duy trì chế độ bảo quản, ít chịu ảnh hưởng của các thông số môi trường bên ngoài.

    Kho nửa kín: Chỉ có thể che mưa, nắng cho hàng hoá, không có các kết cấu (tường) ngăn cách với môi trường ngoài kho.

    Kho lộ thiên (bãi chứa hàng: ) Chỉ là các bãi tập trung dự trữ những hàng hoá ít hoặc không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của khí hậu, thời tiết.

     

    4.5  Phân theo mặt hàng bảo quản:

    Kho tổng hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá cao. Kho bảo quản nhiều loại hàng hoá theo các khu kho và nhà kho chuyên môn hoá.

    Kho chuyên nghiệp: Chuyên bảo quản một nhóm hàng/ loại hàng nhất định.

    Kho hỗn hợp: Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá thấp nhất. Kho bảo quản nhiều laọi hàng hoá trong một khu kho hoặc nhà kho.

    B. NỘI DUNG CHÍNH

    II. Nghiệp Vụ Kho

    1.     Nghiệp vụ tiếp nhận hàng (Nhập kho)

    Tiếp nhận hàng hóa nhận kho là công đoạn trung gian giữa quá trình nghiệp vụ mua hàng, nghiệp vụ vận chuyển, nghiệp vụ kho. Tuy nhiên, đây lại là khâu mở đầu của quá trình nghiệp vụ kho, do vậy mà nó ảnh hưởng trực tiếp tới các khâu nghiệp vụ sau và ảnh hưởng tới công tác kinh doanh, việc xác định trách nhiệm vật chất giữa các đơn vị giao hàng ( Đơn vị cung ứng-Người bán ), và đơn vị nhận hàng ( Người mua-Doanh nghiệp ), đảm bảo cho các khâu nghiệp vụ sau được thuận lợi, giảm chi phí bảo quản nâng cao chất lượng công tác kho. Đồng thời giúp ngăn chặn hàng không đạt yêu cầu chất lượng lọt vào lưu thông, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.

    • Nguyên tắc kiểm tra hàng hóa khi tiếp nhận:

    Phạm vi kiểm tra: Tất cả các hàng hóa khi tiếp nhận điều phải kiểm tra.

    Căn cứ để kiểm tra: Đơn đặt hàng, Hơp đồng mua bán, Mẫu hàng , Tiêu chuẩn.

    Nơi kiểm tra: tại nơi giao nhận hàng mà 2 bên đã thỏa thuận và phải co người đại diện vật chất của cả 2 bên.

    Thời gian kiểm tra: Ngay khi giao nhận

    Hình thức kiểm tra và phương pháp kiểm tra: Tùy vào từng điều kiện cụ thể của lô hàng hóa và thỏa thuận trong hợp đồng mà áp dụng hình thức kiểm tra toàn bộ hay đại diện, Phương pháp kiểm nghiệm cảm quan, hay thí nghiệm nhưng phải đảm bảo yêu cầu nhanh gọn, chính xác và tiết kiệm.

    • Nội dung tiếp nhận

    1.2.1 Công tác chuẩn bị:

    – Chuẩn bị phương tiện bốc dỡ như; Xe nâng hàng, xe bốc hàng, bơm nâng, pallet..,phương tiện vận chuyển phải phù hợp với loại hàng hóa, khối lượng hàng sẽ nhận, phù hợp với khoản cách từ nơi nhận hàng tới nơi chứa hàng.

    – Chuẩn bị các thiết bị và dụng cụ cần thiết để cân đo đong hoặc đếm, kiểm tra lấy mẫu hay kiểm nghiệm.

    – Chuẩn bị phân công cán bộ, công nhân viên tiếp nhận hàng, tùy vào số lượng cũng như tính chất lô hàng mà có sự phân công số lượng cũng như chuyên môn phù hợp nhất.

    – Chuẩn bị các giấy tờ và chứng từ cần thiết theo thủ tục quy định.

    1.2.2 Tiến hành tiếp nhận.

    1. Tiếp nhận hàng hóa về số lượng:

    Là việc người nhận hàng kiểm tra số lượng hàng thực nhận và đối chiếu với số lượng hàng trên chứng từ kèm theo như Hợp đồng kinh tế, chứng từ giao nhận, vận đơn (bill of lading)…và tùy theo tính chất, đặt điểm của từng loại hàng hóa, và cách đóng gói mà có thể dùng phương pháp cân, đo, đong, đếm.

    Đối với các hàng hóa nhận từ các cơ quan như đường Sắt, Thủy, Bộ mà không có người của đơn vị giao hàng đi kèm thì bên nhận hàng cùng với đại diện của cơ quan vận tải phải tiến hành kiểm tra sơ bộ khi hàng còn ở trên phương tiện vận tải, xác định xem hàng có bị mất mát ở dọc đường, hay còn niêm phong cặp chì, seal hay không. Sau đó mới nhận hàng rồi tiến hành cân đo, đong đếm để xác định số lượng.

    Phải có đủ các đại diện hợp pháp để ghi nhận các kết quả kiểm tra.

    1. Tiếp nhận hàng hóa về chất lượng:

    Là việc xác định hàng hóa có đúng phẩm chất, quy cách, kích thước, đồng bộ theo quy định hay không. Nội dung của việc nhận theo chất lượng bao gồm những sự xác định về:

    – Tính chất cơ lý hóa của hàng hóa

    – Hình thái, màu sắc, kích thước,đề tài của hang hóa

    – Sự đồng bộ của hàng hóa

    – Số lượng hàng hư hỏng và mức độ hành hư hỏng

    – Ký mã hiệu hàng hóa

    Việc tiếp nhận hàng theo số lượng và chất lượng được tiến hành đồng thời và hoàn thành trong một thời gian ngắn nhất, nhằm tránh lãng phí thơi gian, phương tiện và nhân công, tránh để hàng hóa lưu kho bãi quá lâu gây nên hư hỏng mất mát.

    1. Thủ tục những trường hợp cần xử lý:

    – Những kiện hàng có nghi vấn đều phải qua kiểm tra, khi kiểm tra xong thì phải để riêng.

    – Hàng kiểm tra xong nếu có thừa thiếu, sai quy cách, hàng không có chứng từ đi kèm thì phải lập biên bản.

    – Hàng đã kiểm tra xong nếu có nghi vấn bên giao muốn kiểm tra lại, thì bên giao phải chịu toàn bộ chi phí.

    1. Lập chứng từ nhận hàng:

    Khi hoàng thành việc tiếp nhận  hàng hóa theo số lượng, chất lượng, tất cả hàng hóa nhập kho phải ghi và sổ nhập kho hay nhật ký nhận hàng.

    2.     Tác Nghiệp Trong Kho

    • Nghiệp vụ chất xếp hàng hóa trong kho

    Việc phân bố hàng hóa trong kho là việc phân chia khu vực bảo quản cho từng loại hàng, nhóm hàng một cách hợp lý, đồng thời giúp cho việc tiếp nhận, phát hàng và tận dụng tốt nhất diện tích và dung tích kho hàng hóa.

    2.1.1 Phân loại hàng nhập kho

    Để thuận lợi cho công tác dự trữ và tăng tốc độ giải phóng kho, cần thiết phải nhận dạng sản phẩm một cách nhanh chóng. Giải pháp đơn giản nhất là sử dụng tên gọi của chúng, nhưng cách gọi tên này thường ít được sử dụng, đặc biệt khi chúng gồm những chỉ dẫn kỹ thuật hoặc kích cỡ, do đó doanh nghiệp thường sử dụng một bộ mã số (chẳng hạn như: 1234) hoặc cả chữ cái và số cho mỗi mặt hàng dự trữ.

    • Bố trí không gian và tìm vị trí cất giữ.
    1. Cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    – Hàng hóa trong kho không gây ảnh hưởng xấu lẫn nhau, bố trí cách ly những hàng kỵ nhau ví dụ như: Không để những hàng dễ tỏa mùi bên cạnh những hàng hút mùi, hàng dễ bốc cháy bên cạnh những hàng dễ bén lửa,hàng có hàm lượng nước cao bên cạnh hàng dễ hút nước, hàng cồng kềnh với hàng dễ vỡ.

    – Địa điểm cố định cho từng loại hàng, nhóm hàng để tiện theo dõi, kiểm tra và xuất nhập.

    – Nghiệp vụ kho được tiến hành thuận tiện, năng suất lao động cao, tiết kiệm dung tích và diện tích kho.

    – Việc chất xếp phải chú ý đến đảm bảo an toàn cho người và hàng hóa, đảm bảo trật tự và vệ sinh, dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm kê hàng hóa, hoặc xếp đúng ký hiệu hướng dẫn ngoài bao bì, đảm bảo mỹ quan cho kho hàng hóa.

    –  Các hàng hoá đặc biệt: Các vật tư vật liệu dễ cháy nổ được sắp xếp ở các kho có trang thiết bị phòng chống cháy nổ và ở xa các công trình, kho tàng khác theo quy định hiện hành của Nhà nước và Công ty Mẹ.

    1. Các phương pháp chất xếp:

    – Các phương pháp chất xếp thường gặp như:

    + Đổ đống đối với các loại hàng như; cát, muối, lúa gạo…

    + Xếp thành chồng như Xi Măng, Gạch…

    + Xếp lên giá hàng đối với các hàng tiêu dùng, như việc xếp hàng trên các giá, kệ ở các siêu thị như Metro, Big C, CoopMart….

    1. Xác định vị trí phân bổ hàng hóa: Vị trí phân bổ hàng hóa thường được xác định tùy thuộc vào 3 yếu tố; Thời gian lưu giữ trong kho, kích thước và hình khối của hàng hóa và thường theo các phương pháp sau:

    – Phương pháp: “Mỗi chỗ một vật, mỗi vật ở chỗ của mình” là dành cho mỗi một loại sản phẩm một chỗ quy định. Ưu điểm là dễ dàng định vị sản phẩm, vật tư trong kho; xác định lượng dự trữ thừa hay thiếu một cách nhanh chóng. Nhưng nhược điểm là không tận dụng được diện tích kho tàng.

    Phương pháp phổ quát vị trí: “bất kỳ vật gì, bất kỳ chỗ nào” là sử dụng vị trí nào còn trống lúc đưa hàng vào kho, một sản phẩm có nhiều điạ chỉ. Ưu điểm của nó là tận dụng được diện tích kho tàng, nhưng khó về mặt thông tin để định vị được chỗ trống khi nhập kho và tìm địa chỉ sản phẩm khi xuất kho.

    Phương pháp tần suất quay vòng: Loại hàng nào ra vào nhiều nhất được xếp ở chỗ thuận nhất.

    • Phương pháp hai kho: Kho được chia làm hai bộ phận: Kho dự trữ được cung ứng do nhập kho và cung cấp số lượng nhỏ cho kho phân phối từ đó xác lập các đơn đặt hàng.
      • Nghiệp vụ bảo quản hàng trong kho.

    Là quá trình hàng chế đến mức thấp nhất sự mất mát, hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và thuận tiện khi xuất hàng từ kho ra.

    Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thì mục đích của việc bảo quản hàng trong kho là để tiếp tực làm thủ tục xuất khẩu, hoặc để chờ đợi người mua mở L/C (Letter of Credit), chờ đợi phương tiện vận tải…

    2.2.1 Các yêu cầu đối với nghiệp vụ bảo quản.

    – Giữ gìn tốt chất lượng và giảm thiểu đến mức thấp nhất hao hụt về số lượng hàng hóa.

    – Đảm bảo an toàn cho người, cho hàng hóa, thiết bị trong kho.

    – Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ, thể lệ, nguyên tắc về quản lý nghiệp vụ kỹ thuật.

    2.2.2 Nội dung nghiệp vụ bảo quản hàng hóa trong kho.

    1. Khống chế các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hàng hóa.

    Hàng hóa trong quá trình bảo quản chịu tác động của các yếu tố bên ngoài như; khí hậu, vi sinh vật, côn trùng…,làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng hàng hóa, vì vậy trong công tác bảo quản phải tìm mọi biện pháp khống chế.

    a.1 Nhóm yếu tố khí hậu: Ảnh hưởng của độ ẩm không khí, nhiệ độ và các biện pháp chống ẩm, chống nóng.

    – Khi độ ẩm không khí lên cao, hàng hóa sẽ hút ẩm làm cho tính chất thay đổi, và nếu kéo dài thì chất lượng sẽ giảm. Ví dụ; Xi măng, vải, giấy, kim loại, chè, bánh kẹo…

    – Khi độ ẩm không khí xuống thấp hàng hóa sẽ bị bay hơi, tỉ lệ hao hụt tăng,chất lượng giảm. Ví dụ như các mặt hàng Xăng dầu, Rau quả tươi, gỗ…

    – Khi nhiệt độ lên cao cũng làm cho hàng hóa bị hao hụt, biến dạng, mất hẳng về chất lượng.

    – Khi nhiệt độ thấp sẽ làm thay đổi một số sản phẩm như cao su, dầu ăn…

    – Khi nhiệt độ giao động sẽ làm giảm chất lượng của các mặt hàng như đông lạnh, gây hiện tượng điểm sương ngưng đọng nước…

    + Các biện pháp chống ẩm:

    . Thông gió tự nhiên, lợi dụng điều kiện tự nhiên  cho phép, trời không mưa bão, có gió nhưng không quá cấp 4.

       . Dùng chất hút ẩm như CaCO2, CaO thì sẽ có tác dụng hút được khoản 30% khối lượng toàn kho. Hoặc Silicagen (keo thủy tinh), loại hợp chất này có tác dụng chống ẩm khoảng tù 30-50% thường được sử dụng trong các túi, thùng hàng hóa như đồ điện tử.

    + Các biện pháp chống nóng như; thông gió tự nhiên, che phủ, kho có trần, mái chống nóng, dùng máy điều hòa nhiệt độ.

    a.2 Ảnh hưởng của vi sinh vật như nấm, vi trùng, các mầm bệnh

    – Biện pháp chủ yếu là dùng hóa chất thường xuyên theo dõi, khử trùng,vệ sinh phòng dịch.

    a.3 Ảnh hưởng của côn trùng và chuột, các loại côn trung nguy hiểm như mọt, chúng sinh sản rất nhanh và phá hoại cung rất lớn, chúng thường để lại phân, xác,lâu ngày sẽ gây nên nấm mốc, ố cho hàng hóa và để lại mùi hôi. Một loại côn trùng khác cung nguy hiểm không kém là mối và đặt biệt là chuột, vì phạm vi phá hoại rộng nhờ hàm răng chắc khỏe.

    – Biện pháp chủ yếu là dùng hóa chất, bẫy.

    1. Quản lý định mức hao hụt hàng hóa trong kho.

    Hao hụt định mức: là hoa gụt do bản thân hàng hóa và là hao hụt tất yếu xảy ra trong qua trình bảo quản. Hao hụt này được xác định thành tỉ lệ cho phép, đối với mỗi loại hàng trong điều kiện bảo quản nhất định.

    Hao hụt ngoài định mức: Là hao hụt vượt ra ngoài tỉ lệ cho phép, hao hụt này thường do trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm, điều kiện bảo quản kém hay do thiên tai gây nên. Vì vậy phải xem xét và quy trách nhiệm cụ thể.

    + Các biện pháp giảm hao hụt trong kho.

    . Phải tổ chức tốt quá trình nghiệp vụ kho từ khâu nhập hàng đến khâu xuất hàng

    . Xây dựng và thực hiện tốt định mức hao hụt cho từng mặt hàng bảo quản.

    . Cải tiến và nâng cao điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật.

    . Chăm lo bồi dưỡng trình độ chính trị, chuyên môn cho nhân viên kho, tổ chức thi đua khen thưởng kịp thời.

    • Tập hợp đơn hàng.

    Là quá trình biến đổi hình thức hàng hóa thành lô hàng theo yêu cầu đơn hàng.

    Hàng hóa nhập kho thường sắp xếp theo yêu cầu kỹ thuật của kho, theo hợp đồng mua bán, tuy nhiên đơn hàng thường  gồm nhiều mặt hàng khác nhau theo yêu cầu đa dạng của khách hàng. Do vậy việc tập hợp đơn hàng là cần thết và quan trọng, là cơ sở cho việc thực hiện đúng đơn hàng. Các quá trình gồm:

    – Nhận bản Fax, photo,bản sao đơn đặt hàng từ phòng kinh doanh sau đó kiểm tra thông tin trên đơn đặt hàng và lượng hàng hóa dự trữ trong kho.

    – Tiến hành gom hàng (Cargo consolidater ) theo đơn, chọn lấy hàng ra khỏi nơi bảo quản. Đối với đơn hàng gồm nhiều mặt hàng thì việc gom hàng thành lô sẽ phức tạp hơn như; liệt kê danh mục hàng cần ghép thành lô, rồi tìm các lô, kệ hàng chứa trong kho hiện có, sau đó dung xe nâng, bôc dỡ hàng đến nơi ghép hàng thành lô theo yêu cầu đặt hàng.

    – Biến đổi mặt hàng theo yêu cầu, là việc chuyển đổi một số yếu tố mang tính vật lý đơn giản của các mặt hàng như tôn, lúa gạo trong kho sẽ được đóng bao theo yêu cầu đặt hàng là trọng lượng bao chẳng hạng là 50kg, 20kg, 10kg…

    – Tiến hành đóng gói, dáng nhãn và xếp theo thứ tự. Đối với bao bì thì nên ghi ký mã hiêu đầy đủ, đối vói bao bì thương mại thì phải thuyết minh hình vẽ,ký hiệu đảm bảo các tiêu chuẩn về chỉ định, hướng dẫn, cảnh báo.

    Việc ghi mã số mã vạch giúp tiêt kiêm chi phí đồng thời giúp phân biệt được chính xác các loại hành hóa, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, thuận tiện để kiểm tra khi giao nhận hàng, hay thực hiện quá trình xuất nhập khẩu đối vơi hàng hóa xuất khẩu, khi làm thủ tục thông quân hàng hóa, kiểm dịch, xông khói…      Đồng thời đối với khía cạnh Marketing thì việc ghi mã vạch, mã số giúp tăng niềm tin nơi khách hàng, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.

    Hiện nay hệ thống mã số mã vạch được các nước, các khu vực kinh tế sử dụng rất phổ biến, như khu vực Bắt Mỹ thì thường sử dụng hệ thống mã vạch chuỗi 8 số. Ở khu vực châu Âu thì dùng hệ thống mã số chuỗi 13 số theo tiêu chuẩn EAN (European Article Number), hiện nay Việt Nam đang dùng hệ thống mã số theo tiêu chuẩn châu Âu EAN-VN.

    – Sau cùng là việc tổng hợp các lô hàng theo địa chỉ khách hàng để thuận tiện cho việc vận chuyển tiết kiệm chi phí.

    3. Xuất Hàng (Giao Hàng)

    Là công đoạn nghiệp vụ cuối cùng thể hiện toàn bộ quá trình nghiệp vụ kho hàng hóa.

    Việc xuất kho giao hàng có thể có nhiều mục đích khác nhau như: để xuất khẩu, để gia công chế biến, xuất bán trong nước, điều chuyển giữa các kho trong nội bộ doanh nghiệp…..Nhưng dù có mục đích nào thì việc xuất kho hàng đều phải đúng với các thử tuck quy định  và phải có đầy đủ các văn bản hợp lệ.

    3.1 Yêu cầu nghiệp vụ:

    – Hàng xuất phải đúng với phiếu yêu cầu hoặc lệnh xuất kho.

    – Hàng xuất kho phải đúng với nguyên tắc xuất nhập hàng hóa, xuất nhanh, gọn, chính xác, kịp thời.

    – Thực hiện đầy đủ việc cập nhật sổ sách, thẻ kho, báo cáo và thu dọn kho sạch sẽ.

    3.2 Nguyên tắc xuất kho

    – Hàng hóa chỉ được xuất kho khi có phiếu hoặc lệnh xuất kho hợp lệ.

    – Tuyệt đối không được tạm xuất hay xuất treo.

    – Xuất hàng nhanh gọn và liên tục

    – Hàng nhập trước xuất trước, hàng nhập sau xuất sau (theo phương pháp FIFO). Xuất đến đâu ghi vào nhật ký xuất kho tới đó.

    + Một số phương pháp trong xuất kho khác

    . Phương pháp :nhập sau xuất trước (nếu giá cả thị trường tăng lên)

    .  Phương pháp: bình quân gia quyền

    .  Phương pháp :đích danh

    – Hàng đã làm thử tục xuất kho nhưng vì lý do nào đó phải gửi lại thì phải để riêng và hai bên cùng có trách nhiệm quản lý.

    3.3 Nội dung của nghiệp vụ xuất kho.

    – Kiểm tra tính hợp lệ của hóa đơn thanh toán, phiếu nhập hàng, phiếu yêu cầu xuất kho, lệnh xuất kho nội bộ.

    + Đối với khách hàng ngoài Công ty phải có hóa đơn với đầy đủ chữ ký, dấu, giấy giới thiệu của cơ quan, hay giấy bảo lãnh của phụ trách phòng kinh doanh.Ngoài ra nếu hóa đơn chứng từ tẩy xóa phải có chữ ký và dấu bên cạnh.

    + Đối với nhân viên trong Công ty thì phải có hóa đơn xuất nội bộ hoặc lệnh xuất hàng của phụ trách phòng kinh doanh với đầy đủ chữ ký.

    – Hoạch định thời gian, phương tiện và trình tự giao các loại hàng, theo thủ tục ưu tiên về mức độ cấp bách và thời hạng thực hiện đơn hàng.

    – Chuẩn bị nhân lực và địa điểm để tiến hành giao hàng, phương tiện vận chuyển (Carrier), đối với phương tiện vận tải là tàu thủy, máy bay  thì phải chuẩn bị kho, bãi tại cảng bốc hàng lên, xe rơmoc, tàu hỏa. Riêng đối với hàng hóa xuất khẩu thì còn có liên quan tới các thủ tục hải quan, và việc chuẩn bị phương tiện vận tải liên quan đến quyền vận tải và quyền mua bảo hiểm hàng hóa theo các điều kiện về thương mại quốc tế Incoterms 2000.

    Ví dụ như các hình thức thuê phương tiện vận tải biển như: thuê tàu chợ (Booking Liner), thuê tàu chuyến (Voyage Charter), thuê tàu định hạng (Time Charter)

    – Hướng dẫn kiểm tra kỹ càng quá trình bốc, xếp hàng lên phương tiện vận tải để tránh nhầm lẫn và hư hao, thiệt hại do hỏng hàng.

    – Cùng với người nhận hàng tiến hành kiểm tra về số lượng và chất lượng hàng ( Nếu là hàng giao ngay tại kho người bán). Người giao hàng và người nhận hàng cùng ký vào phiếu xuất kho hay phiếu giao hàng.

    – Ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ các tình trạng hàng hóa về số lượng cũng như chất lượng vào nhật ký xuất kho, thẻ kho để kiểm tra biến động của dự trữ hàng hóa nhằm bổ sung kịp thời.

    3.4 Một số vấn đề phát sinh trong quá trình xuất hàng.

    Trong một số trường hợp khách hàng đến nhận hàng không đem theo hoá đơn mua hàng thì trong trường hợp đó người thủ kho không nên yêu cầu khách hàng quay về lấy hoá đơn mà vẫn xuất hàng nhưng phải lập một biên bản và yêu cầu khách hàng ký vào và đề nghị bổ xung hoá đơn  sau.

    Trong một số trường hợp hàng hóa xuất đi bị hư hỏng hoặc thiếu khi hàng hóa về đến nơi người nhận thì nên tìm hiểu rõ nguyên nhân sau đó đổi hoặc bổ xung

    Trong một số trường hợp trong lúc làm thủ tục xuất giao hàng mà trong kho không đủ hàng giao (có thể là do nhà cung cấp của công ty giao hàng chưa kịp …) thì phải chủ động thương lương với khách hàng để bổ xung sau .

    C. KẾT LUẬN

    Tóm lại trong quá trình nghiên cứu về đề tài này nhóm đã tìm hiểu được rất nhiều thông tin còn thiếu, chưa rõ về Logistics, và đặc biệt là về vấn đề kho bãi một phần khổng thể thiếu trong việc xác lập chuỗi cung ứng có hoàn thiện và có hiệu quả cao. Thông qua việc hoàn thành bài luận là cơ sở giúp nhóm tự tin hơn trong việc hoàn thành bài Báo cáo thực tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tổng quan về Logistics


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-H%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-th%C3%B4ng-tin-Logistic.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Hệ thống thông tin Logistic

    Phần 1: Lời giới thiệu

     

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, ngành Logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Chỉ mới gần đây thôi, từ Logistics được du nhập vào Việt Nam, trở thành từ cửa miệng, “mốt thượng thời” của một số người, người ta bàn về việc lập những khu Logistics, cảng Logistics, công ty Logistics, kho Logistics…Vì là một ngành còn rất mới ở nước ta, thế nên nó cần được nghiêng cứu một cách có hệ thống, toàn diện, kỹ lưỡng, để áp dụng có hiệu quả ở nước ta …

    Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các nhập lượng đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nguồn tài nguyên đầu vào không chỉ bao gồm vốn,vật tư, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ thông tin, bí quyết và công nghệ.

    Trong quá trình hoạt động Logistics thì các hoạt động dịch vụ khách hàng, dự trữ, vận chuyển là những hoạt động then chốt. Tuy nhiên để những hoạt động này đạt kết quả tốt cần phải có những hoạt động hỗ trợ như thu mua, nghiệp vụ kho và bao bì, vận chuyển và một hoạt động không kém phần quan trọng là quá trình quản trị hệ thống thông tin Logistics.

    Thông tin trong quản trị Logistics là chất kết dính hoạt động Logistics trong các nỗ lực hợp nhất của nhà quản trị, thông tin Logistics cung cấp cơ sở cho các quyết định lập kế hoạch, thực thi và kiểm tra Logistics hiệu quả. Nếu không quản trị tốt thông tin, các nhà quản trị Logistics không thể biết được khách hàng muốn gì, cần dự trữ bao nhiêu và khi nào cần sản xuất và vận chuyển.

    Với sự quan trong của LIS trong quản trị Logistics, nhóm 7 quyết định chọn đề tài này. Hi vọng sẽ giúp các bạn cũng như chính bản thân mình hiểu thêm một phần nào đó về quản trị Logistics.

     

    Phần 2: Nội dung bài luận

     

    I. Khái niệm, mô hình hệ thống thông tin Logistics:

    1.1 Khái niệm:

    Thông tin giúp cho doanh nghiệp thấy được các hoạt động Logistics một cách rõ nét, nhờ đó nhà quản trị có thể cải thiện tốt hơn trong quá trình thực hiện. Hện thống thông tin Logistics là một một bộ phận của hện thống thông tin toàn doanh nghiệp và nó hướng tới những vấn đề đặc thù của quá trình ra các quyết định Logistics về số lượng và quy mô của mạng lưới cơ sở Logistics, về hoạt động mua và dự trữ hàng hóa, về việc lựa chọn phương thức vận chuyển và đơn vị vận tải phù hợp…

    Hệ thống thông tin Logistics được hiểu là một cấu trúc tương tác giữa con người, thiết bị, các phương pháp và quy trình nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị Logistics với mục tiêu lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát Logistics hiệu quả.

    1.2 Mô hình hệ thống thông tin Logistics (LIS):

    LIS giúp nắm vững thông tin về biến động của nhu cầu,thị trường và nguồn cung ứng, giúp cho các nhà quản trị chủ động được kế hoạch mua hàng, giao hàng, dự trữ,mua dịch vụ vận tải…một cách hợp lí thỏa mãn yêu cầu của khách hàng với mức chi phái thấp nhất. LIS góp phần đảm bảo việc sự dụng linh hoạt các hoạt động Logistics, xây dụng chương trình Logistics hiệu quả, chỉ rõ thời gian,không gian và phương pháp vận hành các chu kỳ hoạt động trong Logistics.

    Mô hình hệ thống thông tin Logistics:

    Hệ thống thông tin Logistics
    Môi trường Logistics

     

    – Hoạt động kinh doanh

    -Quản trị Logistics

    -Hoạt động Logistics

    • Hệ thống lập kế hoạch: Bao gồm một loạt các kỹ thuật liên quan đến việc thiết kế các kế hoạch tầm chiến lược như thiết kế mạng lưới, lập kế hoạch và dự đoán nhu cầu, phối hợp các nguồn lực, kế hoạch hóa cung ứng, sắp xếp và lên kế hoạch sản xuất, kế hoạch phân phối, các kế hoạch tầm chiến thuật như quản trị dự trữ, vận tải, và các tác nghiệp như nghiệp vụ kho, quá trình đặt hàng và các sự kiện xảy ra hàng ngày.
    • Hệ thống thực thi: Bao gồm các kỹ thuật đảm nhiệm các chức năng triển khai Logistics trong thời gian ngắn hoặc hàng ngày về quản lý nhà kho, vận tải, mua sắm, dự trữ, quản lý hiệu quả các đơn hàng của khách hàng.
    • Hệ thống nghiêng cứu và thu thập thông tin: Để thích nghi với các nhân tố môi trường vĩ mô, môi trường kênh và nguồn lực bên trong công ty. Hệ thông nghiêng cứu và thu thập thông tin có vai trò quan sát môi trường, thu thập thông tin bên ngoài, thông tin có sẵn trong lĩnh vực Logistics và trong nội bộ công ty.
    • Hệ thống báo cáo kết quả: Hệ thống báo cáo là thành phần cuối cùng trong LIS. Nếu các báo cáo và kết quả không được truyền đạt hiệu quả thì các tư tưởng, nghiên cứu hữu ích và giải pháp quản lý sẽ không thể đạt được. Các báo cáo hỗ trợ quyết định quản trị Logistics tập trung vào 3 loại.
      • Báo cáo để lập kế hoạch gồm các thông tin có tính lịch sử và thông tin trong tương lai như thông tin về xu hướng bán, khuynh hướng dự báo, các thông tin thị trường,các yếu tố chi phí của dự án kinh doanh.
      • Báo cáo hoạt động cung cấp những thông tin sẵn có cho nhà quản trị và người giám sát về hoạt động thực tế như việc nắm giữ hàng tồn kho, thu mua, đơn hàng vận tải, kế hoạch sản xuất và kiểm soát, vận chuyển.
      • Báo cáo kiểm soát cụ thể tổng kết chi phí và thông tin hoạt động ở các giai đoạn thích hợp, so sánh ngân sách và chi phí hiện tại,chúng tạo ra nền tảng cho việc tiếp cận chiến lược hoạt động và các sách lược.

     

    II. Cấu trúc của hệ thống thông tin Logistics

    Hình minh hoạ dưới đây cho bạn một tổng quan về các thành phần riêng lẻ của các hệ thống thông tin Logistics.

    Hệ thống thông tin Logistics (LIS) được tạo thành bởi hệ thống thông tin sau:
    + Hệ thống thông tin bán hàng

    + Hệ thống thông tin mua
    + Kiểm soát hàng tồn kho
    + Hạ Tầng hệ thống thông tin
    + Hệ thống thông tin bảo trì
    + Hệ thống thông tin quản lý chất lượng
    + Hệ thống thông tin bán lẻ (RIS)
    + Hệ thống thông tin giao thông vận tải (TIS)

    Các hệ thống thông tin của LIS có một cấu trúc riêng. Các loại cấu trúc đó cho ta các hệ thống thông tin với tính năng đặc biệt của chúng và cho phép ta không chỉ để đánh giá các dữ liệu thực tế, mà còn để tạo ra dữ liệu hoạch định. Bạn có thể sử dụng kho dữ liệu từ hệ thống thông tin Logistics để đáp ứng yêu cầu riêng của công ty. Nhờ vào hệ thống thông tin này ta có thể biết được tình hình hoạt động và dự báo cũng như cảnh báo sớm về hệ thống. Qua đây sẻ hổ trợ cho việc ra quyết định, nhằm đạt mục tiêu và giám sát các khu vực hoạt động kém. LIS còn giúp ta phát hiện sớm các tình huống xấu có thể xảy ra và xử lý các tình huống không mong muốn. Ngoài ra còn có thư viện thông tin Logistics là một phần thêm vào LIS. Thư viện thông tin Logistics giúp ta có thể truy cập vào hệ thống LIS một cách dễ dàng và nhanh chóng.

    Để rõ hơn về các hệ thống cấu thành LIS thì ta sẻ đi vào từng phần:

    2.1 Hệ thống thông tin bán hàng

    Các tiêu chuẩn phân tích hệ thống thông tin bán hàng trong Logistics bao gồm:

    • Khách hàng
    • Vật liệu
    • Tổ chức bán hàng
    • Địa điểm giao hàng
    • Nhân viên bán hàng
    • Phòng kinh doanh
    • Quy mô bán hàng
    • Phân tích tài chính

    2.2 Hệ thống thông tin mua hàng
    Hệ thống thông tin bán hàng được đánh giá qua những chỉ tiêu sau:

    • Nhóm mua hàng
    • Người bán hàng
    • Khối lượng nguyên vật liệu
    • Loại nguyện vật liệu
    • Đánh giá của nhân viên 
    • Kế hoạch dài hạn
    • Phân tích tài chính mua hàng

    Ngoài những thông tin trên thì hệ thống thông tin bán hàng còn được biết đến qua những lô hàng đã hoàn thành, lưu nội bộ.

    2.3 Kiểm soát hàng tồn kho

    Tiêu chuẩn đánh giá việc kiểm soát thông tin hàng tồn kho:

    • Tại nhà máy/Các địa điểm lưu trử/Nguyên vật liệu
    • Các lô hàng
    • Nhóm nguyên vật liệu
    • Các thông số dữ liệu kiểm soát
    • Yêu cầu kho (hiện tại và kế hoạch lâu dài)
    • Quản lý kho
    • Phân tích nguồn tài chính

    Việc quản lý hàng tồn kho tập trung vào các việc: Phân loại, kích thước lô, biên nhận tại kho, bảo quản kho, quản lý dự trữ, so sánh dự trữ, …

    2.4 Hạ Tầng hệ thống thông tin Logistics

    Được xác định thông qua việc doanh nghiệp kinh doanh về sản phẩm, dịch vụ gì, hoạt động như thế nào, các nguyên vật liệu phục vụ và việc quản lý hoạt động.  Tiêu chuẩn đánh giá được xác định qua:

    • Thông tin điều hành(nhân sự, phòng ban, kết cấu)
    • Hoạt động chính của doanh nghiệp
    • Cơ sở vật chất
    • Đơn đặt hàng sản xuất
    • Vật liệu sử dụng
    • Lịch trình
    • Chi phí sản phẩm
    • Báo cáo thống kê
    • Kaban(Thủ tục kiểm soát luồng vật chất để tối đa hóa chi phí)
    • Phân tích tài chính

    2.5 Hệ thống thông tin bảo trì

    Được xác định thông qua:

    • Đối tượng
    • Nhà sản xuất
    • Vị trí
    • Nhómthực hiện kế hoạch
    • Phân tíchthiệt hại
    • Đối tượng thống kê
    • Sự hư hỏng
    • Chi phí
    • Thông tin từ khách hàng

    2.6 Hệ thống thông tin quản lý chất lượng

    Chúng ta có thể tham khảo thông qua các nguồn thông tin từ:

    • Nhân viên
    • Nguyên vật liệu
    • Khách hàng
    • Từ những hồ sơ thanh tra

    2.7 Hệ thống thông tin bán lẻ

    Tiêu chuẩn phân tích của hệ thống thông tin bán lẻ:

    Lĩnh vực kinh doanh Tiêu chuẩn phân tích
    Mua hàng Mua hàng
      Open-to-Buy
      Việc giải quyết
    Bán hàng Lợi nhuận bán lẻ ngắn hạn
      Khách hàng/ Loại hàng hóa
    Điều lệ Điều lệ {Ext.}
      Điều lệ bổ sung
      Khách hàng/ điều lệ
    Quy trình đăc biệt Khuyến mãi
      Theo mùa
      Tính chất(hư hại, dễ hỏng)
      Đặc điểm hàng tồn
      Những bổ sung
    Kiểm toán bán hàng Thu ngân
      Biên nhận bán hàng
      Cân bằng tại điểm bán
      Tập hợp từ điểm bán
    Phân tích thị trường Theo biên nhận bán hàng
      Biên lai hóa đơn
      Hóa đơn/ điều lệ
      Hổ trợ bán hàng
    Ước lượng khối lượng công việc Tổng quát

    2.8 Hệ thống thông tin giao thông vận tải (TIS)

    Tiêu chuẩn phân tích trên các tiêu chí sau:

    • Giao thông vận tải
      Các phân tích vận tải hiển thị thông tin từ các vấn đề về vận chuyển và giao hàng. Các số liệu chính cho việc hoàn thành vận chuyển (chẳng hạn như khoảng cách, thời gian giao hàng, trọng lượng) được cập nhật trong  liên quan đến phương tiện vận tải, loại vận chuyển, dịch vụ đại lý, điểm bắt đầu, và điểm đến…
    • Các tuyến đường giao thông vận tải

    Các thông tin liên quan được biết thông qua các phương tiện vận chuyển, loại hàng vận chuyển, dịch vụ của nhà cung cấp,…

    • Phương thức vận chuyển

    Tùy thuộc vào yêu cầu, tính chất đơn hàng, điều kiện vật lý, …của khách hàng.

    • Thông tin về việc vận chuyển

    Chủ yếu tập trung vào phương tiện, loại hàng hóa và địa điểm giao hàng.

    • Thời gian vận chuyển
    • Vật liệu vận tải
    • Điều kiện ngoại cảnh

    III. Chức năng và tác dụng của LIS:

    LIS là sợi chỉ liên kết các hoạt động Logistics vào một quá trình thống nhất. Sự phối hợp này được xây dựng dựa trên 4 mức chức năng: tác nghiệp, kiểm tra quản trị, phân tích quyết định, và hệ thống kế hoạch hoá chiến lược.

    3.1 Chức năng tác nghiệp

    Được đặc trưng bằng các luật lệ chính thức, các thủ tục và những giao tiếp chuẩn hóa một số lớn các tác nghiệp và nghiệp vụ hàng ngày.Việc phối hợp các quá trình trong cấu trúc và một số lượng lớn các tác nghiệp cho thấy tầm quan trọng của hệ thống thông tin ở mức độ thấp nhất này. Hệ thống thông tin tác nghiệp khởi xướng và ghi lại các hoạt động và chức năng Logistics riêng biệt như: Nhận đơn hàng, xử lý, giải quyết yêu cầu, khiếu nại. Như vậy quá trình thực hiện đơn hàng phải thực hiện dựa trên một loạt các thông tin tác nghiệp.Triển khai LIS đảm bảo cải tiến hiệu suất hệ thống tác nghiệp, là cơ sở của lợi thế cạnh tranh: giảm chi phí tác nghiệp để giảm giá; tuy có tăng chi phí đầu tư cho hệ thống thông tin, nhưng hiệu suất tác nghiệp tăng nhanh, do đó giảm chi phí tương đối hoạt động tác nghiệp.

    3.2 Chức năng kiểm soát

     Nhằm vào việc đo lường hoạt động nghiệp vụ và báo cáo, việc đo lường là cần thiết để có được sự quan tâm điều chỉnh ngược, cũng như tiết kiệm các nguồn lực hữu ích. Nó cũng cần thiết để nhận ra những hoạt động ngoại lệ và cung cấp thông tin để xử lý các trường hợp này. Chức năng kiểm soát của LIS giúp phát hiện kịp thời những vướng mắc về chất lượng dịch vụ trong mối tương quan với các nguồn lực hiện có để phục vụ khách hàng, từ đó có những giải pháp điều chỉnh phù hợp.

    3.3 Chức năng phân tích và ra quyết định

    Tập trung vào các công cụ phần mềm nhằm hỗ trợ các nhà quản trị nhận ra, đánh giá và so sánh các phương án chiến lược và chiến thuật Logistics có khả năng thay thế, cho phép gia tăng hiệu quả hoạt động. Chức năng phân tích và ra quyết định thể hiện mức độ xử lí cao và phức tạp của LIS. Với những thông tin có tính tổng hợp và dài hạn, với những dự báo về thị trường và các nguồn cung ứng, LIS hỗ trợ nhà quản trị với các quyết định quan trọng như việc qui hoạch mạng lưới cơ sở Logistics, trong việc lựa chọn hệ thống quản trị dự trữ hàng hoá, trong việc lựa chọn các nguồn hàng ổn định và chất lượng, v.v.

    3.4 Chức năng hoạch định chiến lược

    Tập trung vào các thông tin hỗ trợ việc xây dựng và tái lập các chiến lược Logistics. Các quyết  định này là sự mở rộng các quyết định phân tích ở mức độ khái quát và trừu tượng thậm chí không có cấu trúc chi tiết và thực hiện trong thời gian dài. Chức năng hoạch định chiến lược của LIS được kết hợp với các hệ thống thông tin khác (Marketing, kế toán-tài chính…) để rà soát các cơ hội và thách thức của môi trường kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp sẽ chuẩn bị nguồn lực để khai thác các tiềm năng thị trường và vượt qua những khó khăn, dựa vào những thế mạnh sẵn có của mình.

    Một hệ thống thông tin hiểu quả, hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra các quyết định Logistics phải đảm bảo được chất lượng thông tin. Cụ thể, LIS phải đảm bảo các yêu cầu: đầy đủ, sẵn sàng (Availability); chọn lọc (Selective); chính xác (Accuracy); linh hoạt (Flexibility); kịp thời (Timeliness); dễ sử dụng (Appropriate format).

    Việc truyền đạt thông tin phải được thực hiện dưới ngôn ngữ của người nhận nếu không việc tiếp nhận thông tin sẽ trở nên rất khó khăn. Hơn nữa, việc truyền đạt thông tin đôi khi cũng bị gián đoạn khi người tiếp nhận bỏ qua những thông tin mà họ thấy không cần thiết – đó được coi là sự tiếp nhận có lựa chọn. Cuối cùng việc truyền đạt thông tin chỉ diễn ra khi thông tin đó phù hợp với người nhận và gắn liền với những quyêt định quản trị mà người tiếp nhận cần đưa ra.

    IV. Dòng thông tin Logistics trong doanh nghiệp:

    Hệ thống thông tin Logistics trong doanh nghiệp gồm 2 dòng chính, đó là sự kết hợp chặt chẽ của các hoạt động kế hoạch- phối hợp và các hoạt động tác nghiệp.

    4.1 Dòng thông tin hoạch định – phối hợp:

    4.1.1 Kế hoạch chiến lược:

    Kế hoạch chiến lược là kim chỉ nam, là thông tin định hướng cho các nhà doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện ở các chức năng. Kế hoạch chiến lược tập trung vào hai mục tiêu marketing và tài chính.

    1. Mục tiêu marketing: Các chính sách, mục tiêu marketing và chính sách dịch vụ khách hàng quyết định các hoạt động Logistics. Tiêu chuẩn đảm bảo hàng hóa ( mức độ hàng thiếu , tỷ lệ thỏa mãn, tổng hợp lô hàng); tiêu chuẩn vận hành nghiệp vụ ( tốc độ, độ ổn định, linh hoạt,xử lí bất trắc); tiêu chuẩn tin cậy.
    2. Mục tiêu tài chính:

    Thể hiện nở các chỉ số doanh thu, chi phí khả năng thu hồi, vốn đầu tư và lợi nhuận. Mục tiêu tài chính có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và tổng chi phí Logistics.

    Như vậy cả 2 mục tiêu chiến lược sẽ cung cấp thông tin về thị trường (khách hàng), mặt hàng kinh doanh, dịch vụ và trình độ hoạt động Logistics mà các nhà quản trị Logistics phải đảm bảo trong phạm vi kế hoạch.

    4.1.2  Kế hoạch nguồn lực:

    Đây là bước khởi đầu xác định khả năng nguồn lực đáp ứng Logistics. Kế hoạch nguồn lực cần được xác định các yếu tố bao gồm nguồn hàng, kho hàng, vốn dự trữ, phương tiện vận chuyên và nhân sự. Kế hoạch này giúp quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả đáp ứng nhu cầu thị trường. Với mỗi mặt hàng kinh doanh , kế hoạch nguồn lực phải xác định được vị trí(ở đâu); thời gian(khi nào); và  số lượng(bao nhiêu); để thu mua dự trữ và vận chuyển.

    • Kế hoạch Logistics:

    Kế hoạch này phối hợp cơ sở vật chất, thiết bị, lao động và nguồn dự trữ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ Logistics. Kế hoạch Logistics bị ràng buộc bởi kế hoạch nguồn lực, thông tin dự báo về nhu cầu thị trường. Kế hoạch này bao gồm việc xác định rõ mục tiêu; quá trình tác nghiệp cho các hoạt động cơ bản( dự trữ, vận chuyển ) và hoạt động bổ trợ( kho, bao bì, LIS)

    • Quản trị dự trữ :

    Đây là giao điểm giữa dòng hoạch định – phối hợp và dòng nhiệm vụ, chỉ rõ thời điểm và vị trí tạo nên dự trữ. Từ điều kiện thông tin, hình thành dự trữ chỉ rõ cái gì, ở đâu và khi nào của quá trình Logistics tổng thể.

    4.2. Dòng thông tin nghiệp vụ:

    • Quản lý đơn hàng và thực hiện đơn hàng:

    Hoạt động này liên quan đến việc chuyển thông tin về nhu cầu giữa các thành viên tham gia phân phối hàng hóa. hoạt động chủ yếu của hoạt động đơn đặt hàng là tiếp nhận chính xác và đáp ứng yêu cầu đơn đặt hàng của khách hàng. Công cụ chuyển tin: Điện thoại, fax, Internet,… xử lí đơn hàng là các công cụ để chuẩn bị thực hiện đơn hàng của khách hàng. Thời gian đáp ứng đơn hàng chịu ảnh hưởng nhiều của năng lực xử lí thông tin của LIS. Trên cơ sở nhu cầu và dự báo bán, quyết định về trình độ dịch vụ khách hàng, doanh nghiệp đuă ra những quyế định về dự trữ, lô hàng nhập và dự trữ bảo hiểm.

       4.2.2  Hoạt động phân phối:

    Quá trình này tạo điều kiện để tiến hành cung cấp hàng hóa và dịch vụ kho khách hàng.Quá trình này đòi hỏi cung cấp thông tin để tạo thuận lợi và phối hợp các hoạt động ở kho để cung ứng hàng hóa thỏa mãn đơn hàng. Vấn đề là phải thỏa mãn yêu cầu của khách hàng trong điều kiện dự trữ ở kho phải thấp.

    • Nghiệp vụ vận chuyển và giao hàng:

    Khả năng tích hợp hệ thống thông tin trong công tác vận chuyển và giao hàng đem lại tiện ích đáng kể nâng cao khả năng kiểm soát hành trình lô hàng cho cả doanh nghiệp và khách hàng.

    • Nghiệp vụ mua và nhập hàng:

    Trên cơ sở những thông tin về kế hoạch mua , về nhu cầu của khách hàng và tình hình dự trữ hàng hóa, danh nghiệp đưa ra những quyết định mua và nhập hàng vào cư sở Logistics (kho hoặc cơ sở sản xuất).

    Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, máy vi tính ngày càng có nhiều tiện ích. Internet ngày càng lan rộng và bao phủ khắp toàn cầu, các phần mềm chuyên dụng ngày càng nhiều thêm…

     

    Phần 3: Kết luận

    Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vai trò của thông tin càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết.

    Trong môi trường Logistics, sự cần thiết của hệ thống thông tin Logistics để nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị với mục tiêu lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát Logistics  hiệu quả. Để đạt được những mục tiêu kết quả đã đề ra, mà trong đó giúp cho việc hổ trợ quản lý là một yêu cầu thiết yếu thì vai trò của nó như là một chất kết dính, phản ánh mọi quá trình của hệ thống. Các hệ thống thông tin cấu thành nên LIS có một cấu trúc riêng. Các loại cấu trúc đó tương ứng với các hệ thống thông tin với các tính năng đặc biệt và cho phép ta không chỉ để đánh giá các dữ liệu thực tế, mà còn để tạo ra dữ liệu hoạch định. Cũng chính nhờ vào hệ thống thông tin này mà ta có thể biết được tình hình hoạt động và đưa ra các dự báo cũng như cảnh báo sớm về hệ thống để có biện pháp khắc phục xử lý cho các bộ phận hoạt động kém hiệu quả.

    Tóm lại, hệ thống thông tin Logistics là một cấu trúc tương tác giữa con người, thiết bị, các phương pháp và quy trình nhằm cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản trị Logistics với mục tiêu lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát Logistics hiệu quả.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổng quan về Logistics

    Tổng quan về Logistics

    Tổng quan về Logistics

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%E1%BB%95ng-quan-v%E1%BB%81-Logistics.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổng quan về Logistics

    CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CỦA LOGISTICS

    1.1.     Nguồn gốc và khái niệm Logistics

    Về mặt từ ngữ, ch ữ Logistics có nguồn gốc từ chữ Logos, có nghĩa là hợ p lý. Như vậy nội dung của Logistics bao gồm việc hướng dẫn mọi người cách thức thực hiện các công việc sao cho hợp lý nhất.

    Logistics có nguồ n gốc từ trong quân sự, nó bao gồm việc giải quyết các bài toán về di chuyển quân lương, bố trí lực lượng, thiết k ế và bố trí kho tàng, quản lý vũ khí,… sao cho phù hợp nhất vớ i tình hình nhằm mục tiêu chiến thắng đối phương. Nếu như trong chiến tranh, chiến thắng chỉ thuộc về những người có sức mạnh quân sự thì trong lịch sử chiến tranh gìn giữ và bảo vệ tổ quốc Việt Nam không thể đánh đuổi được các đội quân hung hãn từ phương Bắc hay những kẻ có sức mạnh quân sự thuộc lo ại hàng đầu thế giới như thực dân Pháp và Hoa Kỳ. Vì vậy có th ể thấy việc giải các bài toán Logistics trong quân sự có tầm quan trọng đặc biệt.

    Trong sản xuất kinh doanh, Logistics đề cập đến việc tối thiểu hóa chi phí, từ việc mua s ắm nguyên vật liệu cho tới vi ệc lập, th ực hiện kế hoạch sản xuất và giao hàng. Mục tiêu của Logistics trong sản xuất kinh doanh là giảm thiểu các chi phí phát sinh, đồng thời vẫn phải đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.

    Tóm lại, Logistics có thể được định nghĩa như sau (Coyle, 2003):

    “Logistics là quá trình dự báo nhu cầu và huy động các nguồn lực như v ốn, vật tư, thiết bị, nhân lực, công nghệ và thông tin để thỏa mãn nhanh nhất những yêu cầu v ề sản phẩm, dịch vụ của khách hàng trên cơ sở khai thác tốt nhất hệ thống sản xuất và các mạng phân phối, cung cấp hiện có của doanh nghiệp, với chi phí hợp lý.”

    1.2.     Nội dung của Logistics.

    Khi tiến hành điều tra, khảo sát 163 doanh nghiệp tại châu Âu năm 1997, hiệp hội Logistics Châu Âu (ELA- European Logistics Association) thống kê được quan điểm của các nhà quản lý châu Âu về nội dung của Logistics như sau (Coyle, 2003):

    Bảng 1.1: Quan điểm của các nhà quản lý châu Âu về nội dung của Logistics

              Đơn vị: %
    STT Chức năng Châu Âu Đức Pháp   Anh  
                   
    1. Kho bãi 83 86 99   99  
                   
    2. VC bên ngoài 82 70 92   99  
                   
    3. Quản lý dự trữ vật tư 81 71 99   81  
                   
    4. Phân phối 72 68 67   99  
                   
    5. Vận chuyển nội bộ 63 63 92   89  
                   
    6. Quá trình đặt hàng 54 52 50   62  
                   
    7. KHH sản xuất 49 46 50   61  
                   
    8. Mua sắm 46 37 25   51  
                   
    9. Dich vụ khách hàng 33 24 23   50  
                   
    10. Hệ thống thông tin 29 25 42   31  
                   
    11. Kiểm tra chất lượng 20 15 17   0  
                   

    Như vậy có th ể th ấy rằng, trong sản xuất kinh doanh Logistics tập trung vào việc giải quyết các vấn đề sau đây:

    1.2.1. Xác định nguồn cung cấp

    Xác định nguồn cung cấp hay còn gọi là định nguồn. Nội dung của công việc định nguồn bao gồm việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất.

    Trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải mua nguyên vậ t liệu từ các nhà cung cấp, thậm chí phải mua các chi tiết, linh kiện để lắp ráp sản phẩm. Trên thị trường cũng có rất nhiều nhà cung cấp hàng hóa có thể đáp ứng được yêu cầu đó của doanh nghiệp. Tuy nhiên mỗi nhà cung cấp khác nhau lạ i đưa ra các sản phẩm có chất lượng có th ể khác nhau, đồng thời giá bán cũng có sự khác biệt. Thông thường sản phẩm có chất lượng cao hơn thì có giá bán cao h ơn và ngược lại. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải cân nhắc việc lựa chọn nhà cung cấp nào để cung cấp hàng hóa cho mình dựa trên các yếu tố, chỉ tiêu khác như: chế độ bảo hành, dịch vụ hậu mãi hay các phương thức chiết khấu giảm giá.

    Nói tóm lại, việc đánh giá các nhà cung cấp phải dự a trên một hệ thống các chỉ tiêu mà doanh nghiệ p đưa ra chứ không thể chỉ dựa trên một chỉ tiêu duy nhất. Có nhà cung cấp có thế mạnh ở tiêu chuẩn này nhưng lại kém thế ở tiêu chuẩn

    3

    khác, vì vậy định nguồn sẽ đưa ra phương pháp dùng để đánh giá các nhà cung cấp dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau đó.

    1.2.2. Lập kế hoạch sản xuất tối ưu

    Trước khi tiến hành sản xuất doanh nghiệp thường phải dự báo nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm do mình sản xuất ra.

    Giả sử doanh nghiệp X dự báo nhu cầu về sản phẩm của mình trong 3 tháng cuối năm (10, 11, 12) như sau:

    Bảng 1.2: Dự báo nhu cầu sản phẩm của công ty X

    t 10 11 12
           
    Dt 2 3 4
           

    Như vậy nếu chu kỳ sản phẩm nhỏ h ơn một tháng thì chúng ta cũng có rất nhiều kế hoạch sản xuất có thể đáp ứng được nhu cầu trên. Ví dụ:

    Bảng 1.3: Các kế hoạch sản xuất để đáp ứng nhu cầu đã được dự báo

    t 10 11 12
           
    Dt 2 3 4
           
    KH1 2 3 4
    KH2 2 7 0
    KH3 9 0 0
    • bảng trên ta có thể thấy có ít nhất 3 kế hoạch sản xuất có thể đáp ứng được nhu cầu về sản phẩm ở bảng 1.2. Ở kế hoạch thứ nhất người ta sản xuất mỗi tháng một lượng đúng bằng nhu cầu của tháng đó. Kế hoạch thứ 2 người ta sản xuất 2 sản phẩm ở tháng 10; tháng 11 sản xuất 7 sản phẩm để bán ở tháng 11, 12; tháng 12 không sản xuất. Kế hoạch thứ 3 là sản xuất cả 9 sản phẩm ở tháng 10 để cung cấp ở các tháng 10, 11, và 13; tháng 11, 12 không sản xuất.

    Trong thực tế các k ế hoạch sản xuất khác nhau yêu cầu những chi phí khác nhau, và người làm công tác Logistics phải xác định được kế hoạch sản xuất nào cho chi phí ít nhất. Điều đó cần có một thuật toán để xác định.

    1.2.3. Dự trữ và bảo quản nguyên vật liệu, hàng hóa

    Trong sản xuất, dự trữ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nó nhằm h ạn chế việc gián đo ạn sản xuất và cung ứng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ một cách nhanh nhất.

    4

    Tuy nhiên người làm công tác Logistics phải xác định được chi phí cho việc dự trữ , b ảo quản bao nhiêu là tối ưu. Nó liên quan tới việc xác định loại kho hàng và tổ chức các đợt nhập hàng.

    Nếu trong năm việc nhập hàng được chia làm nhiều lần thì sẽ giảm được chi phí dự trữ, chi phí vốn nhưng điều đó cũ ng sẽ làm phát sinh thêm chi phí vận tải. Ngược lại nếu số lần nhập hàng trong năm là ít thì sẽ giảm được chí phí vận tải nhưng sẽ làm tăng chi phí lưu kho, đồng thời chi phí vốn cũng tăng thêm. Ngoài ra số lượng hàng hóa cần mua trong một lần đặt hàng còn phụ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp, chính sách chiết khấu giảm giá của người bán và dung lượng của kho hàng.

    Vì vậy việc xác định số lần đặt hàng và số lượng đặt hàng tố i ưu trong năm là một điều hết sức cần thiết và đòi hỏi phải có căn cứ khoa học.

    1.2.4. Tổ chức hệ thống phân phối

    Tổ chức hệ thống phân phố i liên quan đến việc tổ chức di chuyển phương tiện, phân bổ nguồn hàng tới các thị trường, xác định số lượng kho hàng tối ưu.

    Việc di chuyển phương tiện và hàng hóa từ kho đến các khách hàng có thể th ực hiện trên nhiều tuyến đường khác nhau. Chi phí trên mỗi tuyến đường cũ ng có thể khác nhau do phụ thuộc vào quãng đường di chuyển, phí cầu đường, thậm chí là các khoản “tiêu cực phí” nếu có. Vì vậy một trong các chức năng của Logistics là phải chỉ ra việc phân bổ hàng hóa tối ưu cho các thị trường và con đường vận chuyển có chi phí thấp nhất.

    Ngoài ra người làm Logistics còn phải xác định được số lượng kho hàng tối ưu trong điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Nếu số lượng kho hàng lớ n sẽ làm giảm chi phí vận chuyển từ các kho đến các khách hàng, tuy nhiên nó làm phát sinh thêm chi phí v ận chuyển từ nơi sản xuất đến các kho và phát sinh thêm các chi phí dự trữ cũng như chi phí quản lý kho.

    1.2.5. Bố trí kho hàng

    Bố trí kho hàng bao gồm các cơ sở khoa học trong việc thiết kế m ột nhà kho, sắp xếp hàng hóa trong kho cũng như việc di chuyển hàng trong nhà kho đó.

    1.2.6. Bao gói

    Nội dung này bao gồm việc thiết kế các bao bì sao cho hợp lý để dễ dàng trong việc vận chuyển cũng như sắp xếp tối ưu trên các xe nâng hàng.

    Ngoài ra nội dung này còn đề cập tới vấn đề nhận dạng, quản lý hàng hóa trong kho sao thuận tiện và nhanh chóng.

    1.2.7. Quản lý mạng cung cấp và phân phối hàng hóa

    Nộ i dung này bao gồm việc quản lý toàn bộ hệ thống phân phối đã được thiết lập sao cho chúng hoạt động thực sự có hiệu quả và khoa học.

    1.3.     So sánh một số nội dung của Logistics với Marketing

    Chúng ta đều biết một trong những nội dung của Marketing là Phân phối hàng hóa (Place) và Logistics cũng giải quyết vấn đề phân phối trong nội dung của mình. Như vậy liệu có sự chồng chéo chức năng giữa Logistics và Marketing hay không?

    Câu trả lời là KHÔNG.

    Phân phối trong Marketing đề cập tới việc xác định loại kênh bán hàng, các loại và số lượng các trung gian phân phối hàng hóa tương ứng (đại lý, nhà bán buôn, và nhà bán lẻ). Phân phối trong Marketing không đề cập tớ i vị trí cụ thể và cần thiết của các trung gian phân phối hàng hóa trong khu vực địa lý đã xác định. Đồng thời nó cũng không quan tâm tới việc tổ chức vận chuyển hàng hóa như thế nào, chi phí là bao nhiêu; nó chỉ quan tâm tới việc hàng hóa có được chuyển đến đúng địa điểm và đúng thời hạn hay không.

    Như đã giới thiệu ở mục 1.2.4, phân phối trong Logistics thực hiện công việc di chuyển phương tiện và hàng hóa như thế nào tới thị trường và các khách hàng sao cho đúng với các yêu cầu đã đặt ra với chi phí hợp lý nhất.

    Như vậy có thể hiểu phân phối trong Marketing là người đặt ra vấn đề, đặt ra yêu cầu và phân phối trong Logistics phải có nhiệm vụ đ áp ứng các vấn đề và các yêu cầu đã được đặt ra đó sao cho chi phí thực hiện là tối ưu nhất.

    Tương tự như vậy là vấn đề bao gói sản phẩm. Trong việc bao gói, Marketing quan tâm tới màu sắc, hình dáng của bao bì sao cho bắt mắt và có th ể quảng bá được thương hiệu của nhà sản xuất hay nhà phân phối sản phẩm đó. Marketing quan tâm tới màu sắc được in bên ngoài bao bì là màu gì, các hình vẽ, ký hiệu chữ viết cần phải in ở vị trí nào là phù hợp. Logistics thì quan tâm tới kích cỡ và vật liệu của bao bì. Đối với Logistics, màu sắc in trên bao bì là màu gì cũng được, mi ễn là thùng hàng (bao bì) đ ó có thể xếp được một cách tối ưu trong nhà kho, trên các phương tiện vận tải hay trên các tấm nâng hàng, đồng thờ i vật liệu chế tạo bao bì phải phù hợp với điều kiện bảo quản sản phẩm và tính chất của sản phẩm.

    Như vậy nói mộ t cách ngắn g ọn, Marketing quan tâm tới các tính chất có tính thẩm mĩ và hình thức thể hiện trên bao bì sản phẩm còn Logistics quan tâm tới các tính chất vật lý của bao bì đó.

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Trình bày khái niệm, nội dung, và mục đích của Logistics trong sản xuất kinh doanh.
    1. Hãy so sánh một số nội dung của Logistics với Marketing. Tại sao chúng lại có sự khác nhau đó?
    1. Công việc phân phối hàng hóa và thiết kế bao bì sản phẩm trong Logistics quan trọng hơn hay trong Marketing quan trọng hơn? Tại sao?

    7

    CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH NHÀ CUNG CẤP (ĐỊNH NGUỒN)

    2.1.     Doanh nghiệp nên đặt hàng gia công hay tự sản xuất?

    Trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tự mình tiềm kiếm và khai thác nguyên vật liệu cũng như tự mình sản xuất toàn bộ linh kiện, chi tiết cho sản phẩm của mình. Doanh nghiệp tự tìm kiếm nguyên vật liệu và sản xuất các chi tiết, linh kiện cho sản phẩm của mình trong các trường hợp sau đây:

    • Doanh nghiệp muốn khẳng định khả năng của mình với khách hàng. Trong những trường hợp như vậy nhiều khi chi phí sản xuất còn lớn hơn so với việc mua từ các doanh nghiệp khác nhưng nhà sản xuất vẫn cứ thực hiện. Mục tiêu của nhà sản xuất lúc này là để khẳng định với khách hàng khả năng sản xuất, khả năng công nghệ của mình, để trong con mắt của khách hàng doanh nghiệp mình không hề thua kém các doanh nghiệp khác. Hoặc cũng có thể vì lý do khác như chiến lược của doanh nghiệp.
    • Doanh nghiệp muốn giữ bí mật về công nghệ. Vì lý do bảo đảm bí mật về công nghệ, doanh nghiệp sẽ tiến hành tự sản xuất chi tiết, linh kiện cho sản phẩm. Nếu thuê gia công thì doanh nghiệp phải chuyển giao công nghệ sản xuất và các tài liệu có liên quan cho người gia công. Điều đó là vô cùng nguy hiểm cho doanh nghiệp nếu như công nghệ đó là tài sản chủ yếu của mình và nhiều doanh nghiệp khác muốn có được nó.
    • Doanh nghiệp muốn kiểm soát và giữ mức chất lượng cao cho sản phẩm. Nhiều khi doanh nghiệp muốn kiểm soát chất lượng và đảm bảo mức chất lượng cao cho sản phẩm thì phải tự sản xuất, vì tự sản xuất doanh nghiệp mới kiểm sóat được toàn bộ quá trình gia công, chế biến, từ việc mua nguyên vật liệu cho tới việc thực hiện sản xuất và đóng gói sản phẩm.
    • Một lý do nữa là doanh nghiệp muốn đảm bảo an toàn cho khâu cung cấp. Vì tự mình sản xuất doanh nghiệp mới có thể đảm bảo chắc chắn khả năng có đủ nguyên vật liệu, vật tư và đáp ứng đúng thời gian yêu cầu, tránh được sự gián đoạn sản xuất.

    Tuy nhiên do sự phân công lao động xã hội, do nhu cầu về chuyên môn hóa mà thông thường nguyên vật li ệu, chi tiết hay linh kiện sản phẩm phải được nhập từ các doanh nghiệp khác. Thậm chí trong thực tế có doanh nghiệp chỉ thực hiện công việc lắp ráp (công việc lắp ráp thậm chí cũng có thể bỏ qua) và dán nhãn sản phẩm mang tên mình để phân phối ra thị trường.

    Việc mua nguyên vật liệu, một phần sản phẩm hoặc toàn bộ sản phẩm từ các doanh nghiệp khác còn có thể phát sinh do việc biến đổi tải trọ ng hàng hóa cần cung cấ p (nhu cầu phát sinh đột ngột), các lý do về tài chính (mua của người khác rẻ hơn so với t ự mình sản xuất, hoặ c không đủ tiền để xây dựng bộ phận sản xuất), hoặc các lý do kỹ thuật khác (không đủ năng lực, trình độ để sản xuất).

    Như đã trình bày ở mục 1.2.1, mỗi một nhà cung cấp có một hoặc một vài thế mạnh riêng và doanh nghiệp cần ph ải lự a chọn nhà cung cấp phù hợp nhất với điều kiện của mình. Việc lựa chọn nhà cung cấp như thế nào sẽ được mô tả trong mục 2.2 ngay sau đây.

    2.2.     Phương pháp đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp

    Việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp thông thường được thực hiện qua 7 bước sau đây:

    2.2.1. Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá.

    Thông thường để đánh giá các nhà cung cấp, người ta căn cứ vào các chỉ tiêu sau đây:

    • Chất lượng.
    • Năng lực của nhà cung cấp.
    • Tình hình tài chính của nhà cung cấp.
    • Các đặc tính kỳ vọng của sản phẩm.
    • Uy tín của nhà cung cấp.

    2.2.2. Bước 2: Xác định trọng số cho các chỉ tiêu.

    Mức độ quan trọng của các chỉ tiêu đối với doanh nghiệp là không như nhau. Ví dụ như nhằm mục tiêu có được sản phẩm có chấ t lượ ng tốt nhất thì chỉ tiêu về chất lượng nguyên vật liệu, linh kiện, hay chi tiết phải được đặt lên hàng đầu và người ta có thể không quan tâm lắm tới giá cả của chúng. Do vậy khi đánh giá các nhà cung cấp, người đánh giá cần gắn mức độ quan trọng cho các chỉ tiêu thông qua các trọng số của chúng.

    Hoặc một ví dụ đơ n giản khác như việc tuyển chọn Hoa Hậu chẳng hạn. Việc lựa chọn Hoa Hậu có thể căn cứ trên các chỉ tiêu: g ương mặt đẹp, tóc dài, và hình thể chuẩn (90-60-90). Như vậy có thể thấy rằng chỉ tiêu “gương mặt đẹp” là quan trọng hơn chỉ tiêu “tóc dài” vì “gương mặt đẹp” là chỉ tiêu trời phú, không phải ai cũng đẹp như nhau và gương mặt đẹp là khó thay đổi hay “cải tạo”; ngược lại ai cũng có thể có mái tóc dài nếu muốn, điều cần thiết chỉ là vấn đề thời gian.

    2.2.3. Bước 3: Cụ thể hóa từng chỉ tiêu và xác định trọng số cho các chỉ tiêu con

    Thông thườ ng các ch ỉ tiêu lại được chia nh ỏ ra thành các chỉ tiêu con để thuận lợi cho việc đánh giá và giúp cho việc đánh giá được chính xác hơn.

    Ví dụ khi các con đến trường các bậc cha mẹ thường dặn: đến lớp con chỉ được chơi với các bạn ngoan, không nên chơi với các bạn hư.

    Như vậy rất khó cho đứa trẻ vì nó không th ể biế t được như thế nào là bạn ngoan. Nhưng nếu các bậ c cha mẹ nói cụ thể hơn: đến lớp con chỉ được chơi với các bạn biết vâng lời cô giáo, quần áo sạch sẽ, không nghịch bẩn, không tranh giành đồ chơi, không đánh nhau,… thì sẽ dễ dàng cho đứa trẻ hơn rất nhiều trong việc chọn bạn để chơi cùng. Thực tế cho thấy, nếu chỉ b ảo càng chi tiết thì đứa trẻ càng dễ thực hiện (tuy nhiên nhiều quá chưa chắc trẻ con đã nhớ được).

    Và cũng giống như ở bước 2, ở bước này người đánh giá cũng cần xác định trọng số cho từng chỉ tiêu nhỏ đó.

    2.2.4. Bước 4: Xác định thang điểm cho mỗi chỉ tiêu con.

    Vì lý do mức độ quan trọng của các chỉ tiêu khác nhau là khác nhau, vì vậy thang điểm dùng để đánh giá các nhà cung cấp theo từng chỉ tiêu cũng không cần phải như nhau.

    Việc đánh giá học lực của học sinh trong các trường phổ thông người ta sử dụng thang điểm 10, điểm lẻ là ½. Nh ưng khi chấm đ iểm thi học sinh giỏi cấp tỉnh hay cấp quốc gia phải sử d ụng tới thang điểm 20, điểm lẻ có khi xuống tới ¼, vì lúc này người ta yêu cầu độ chính xác phải lớn hơn thì mới có thể đánh giá được chính xác. Và ở kỳ thi quốc tế người ta phải sử dụng thang điểm lên tới 40.

    Vì vậy nếu trong hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá nhà cung cấp, nếu chỉ tiêu nào càng quan trọng thì thang điểm cho nó càng phải lớn.

    2.2.5. Bước 5: Sơ loại dựa trên các tiêu chuẩn dễ nhận biết.

    Sau khi đã xây dựng xong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá, người ta tiến hành đánh giá các nhà cung cấp, tuy nhiên có thể sẽ xuất hiện một ph ải nhà cung cấp “phạm quy” ngay từ đầu, và việc phát hiện ra các nhà cung cấp “phạm quy” đó là hết sức dễ dàng. Vì vậy trước khi tiến hành đánh giá người ta thường thực hiện qua bước sơ loại. Trong việc tuyển dụng nhân viên ở các doanh nghiệp, bước này chính là bước kiểm tra và loại ứng cử viên trên hồ sơ.

    2.2.6. Bước 6: Cho điểm cho các nhà cung cấp theo từng chỉ tiêu.

    Sau khi đã thực hiện qua bước sơ loại, tất cả các nhà cung cấp đã qua được vòng 1 sẽ được đánh giá và chấ m điểm dựa trên các ch ỉ tiêu, các thang điểm mà người đ ánh giá đã xây dựng được ở các bước trước. Trong quá trình đánh giá, một số các chỉ tiêu định lượng có thể được đánh giá một cách khá chính

    xác, ngược lạ i một số các chỉ tiêu có tính định tính thì lại phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người đánh giá.

    2.2.7. Bước 7: Tính điểm tổng cộng và lựa chọn.

    Đây là bước cuối cùng trong việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp.

    Người ta tính điểm tổng cộng bằng cách lấy điểm của từng chỉ tiêu nhân với trọng số tương ứng rồi cộng lại. Kết quả ra bao nhiêu sẽ là số điểm cuối cùng của nhà cung cấp đó.

    Cuối cùng người ta chọn nhà cung cấp là người có tổng điểm cao nhất.

    2.3.     Phương pháp AHP trong việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp.

    Trong mục 2.2 trình bày các bước trong việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp nói chung, áp dụng cho trường hợp tổng quát.

    • mục này chúng tôi xin trình bày một phương pháp đánh giá cụ thể, có tên gọi là phương pháp AHP (Vu Dinh Nghiem Hung, 2002). Phương pháp AHP được sử dụng trong trường hợp đánh giá với số lượng nhỏ các nhà cung cấp và với một số ít các chỉ tiêu (thường là nhỏ hơn 10).

    Để cho dễ hiểu, chúng tôi xin trình bày phương pháp AHP với ví dụ đi kèm sau đây:

    Ví dụ: Có một doanh nghiệp đứng trước việc lự a chọn 1 trong 5 dự án: A, B, C, D, E để đầu tư. Việc đánh giá và lựa ch ọn dự án căn cứ trên 5 chỉ tiêu: (C1) Vốn đầu tư ban đầu, (C2) Thời gian thực hiện dự án, (C3) Thời gian hoàn vốn, (C4) Tiền lãi trung bình hằng năm, và (C5) Lãi suất của dự án.

    Việc đánh giá các dựa án dựa trên các tiêu chuẩn như đã nêu được mô tả trong hình 2.1.

    11

    MỤC TIÊU: Chọn dự án

    đầu tư tốt nhất

                                                   
                                                   
    C1     C2       C3       C4       C5  
                                                   
                                D.A. A
        D.A. A       D.A. A   D.A. A   D.A. A    
                   
                 
        D.A. B       D.A. B   D.A. B   D.A. B     D.A. B
                   
                 
        D.A. C       D.A. C   D.A. C   D.A. C     D.A. C
                   
                 
        D.A. D       D.A. D   D.A. D   D.A. D     D.A. D
                   
                 
        D.A. E       D.A. E   D.A. E   D.A. E     D.A. E
                   

    Hình 2.1: Đánh giá 5 dự án dựa trên 5 tiêu chuẩn

    2.3.1. Bước 1: xác định trọng số cho các tiêu chuẩn.

    Để xác định trọng số cho các tiêu chuẩn đã đề ra, người ta lập ra một ma trận vuông cấp n (với n là số lượng các chỉ tiêu đã đề ra, trong ví dụ này n=5).

    Bảng 2.1: So sánh các chỉ tiêu

    C1                C2                C3                C4                C5

    C1

    C2

    C3

    C4

    C5

    Sau đó ng ười ta tiến hành so sánh các chỉ tiêu theo từng cặp, trong ví dụ này có 5 chỉ tiêu, như vậy người đánh giá phải tiến hành so sánh 15 cặp chỉ tiêu.

    Ví dụ nếu người đánh giá cho rằng chỉ tiêu C1 quan trọ ng bằng chỉ tiêu C2 thì tại ô (1,2) người ta điền số 1, nếu người đ ánh giá cho rằng chỉ tiêu C1 quan trọng chỉ bằng 1/3 chỉ tiêu C3 thì tại ô (1,3) người ta điền vào đó số 1/3 . Và cứ như thế cho tới cặp thứ 15. Đó cũng là lý do tại sao các ô nằm trên đường chéo

    12

    của ma trận có giá trị là 1. Các đại lượng đó được ký hiệu là các aij. Các aij hoặc nghịch đảo của chúng phải là các số nguyên từ 1 đến 9.

    Bảng 2.2: So sánh các chỉ tiêu

        C1   C2 C3 C4 C5
    C1                  
      1   1   1/3 1/7 1/5
    C2                
    1     1   1 1/5 1/5
         
    C3                
         
    3   1   1 1/3 1/3
    C4              
    7   5   3 1 1
    C5              
    5   5   3 1 1
                       

    Và một điều lưu ý nữa, đó là các ô thuộ c nửa dưới của ma trận có giá trị bằng giá trị nghịch đảo của các ô tương ứng ở nửa trên, đối xứng qua đường chéo của ma trận.

    2.3.2. Bước 2: tính toán mức độ quan trọng (trọng số) cho các chỉ tiêu.

    Sau khi thành lập xong ma trận, người đánh giá sẽ tiến hành tính toán các trọng số của các chỉ tiêu thông qua các đại lượng sau đây:

        1    
    wi  = [(ai1 ) × (ai 2 ) × …× (aim )]   ,∀i (2.1)
    m
    nw = wi   ,∀i (2.2)
    m  
    i          
      wi  
    • =1

    Như vậy từ bảng 2.2 người tính ra được:

    nw1= 0.059

    nw2= 0.079

    nw3= 0.121

    nw4= 0.383

    nw5= 0.358

    Đây chính là trọng số của các chỉ tiêu tương ứng C1, C2, C3, C4, và C5.

    Tuy nhiên đến đây ta phải lưu ý một điều là:

    Khi so sánh C1 với C2, người ta cho rằng C1 quan trọng bằng C2.

    Khi so sánh C1 vớ i C3 , người ta cho rằng C1 quan trọng bằng 1/3 so với C3 . Như vậy nếu theo tính chất bắc cầu thì C2 phải quan trọng chỉ bằng 1/3 so với C3.

    13

    Như ng để ý thấy rằng khi so sánh C2 với C3, người ta cho rằng C2 quan trọng như C3.

    Trong lý thuyết của mình, ông Saaty, tác giả củ a AHP, đư a ra khái niệm “xung khắc”. Nếu tỷ số “xung kh ắc” đạt mức <=10% thì người ta nói rằng các đánh giá trong bảng 2.2 là chấp nhận được, ngược lại thì người đánh giá phải đánh giá và tính toán lại bảng 2.2 đó.

    Tỷ số xung khắc được xác định như sau:

    C.R = C.I

    R.I

    Với C.R là tỷ số xung khắc. Các đại lượng C.IR.I được xác định thông qua một chuỗi các biểu thức sau đây:

    C.I = λmax m

    m −1

    m        
    λmax  =y j × nw j
    j=1     (2.3)
    m    
    y j  = ∑aij ,  j      
    i=1        
    R.I = 1.845     2
    × 1    
     
          m

    Trong ví dụ trên, người ta tính ra được:

    C.R= 1.2% với:

    C.I= 0.013, R.I= 1.107, λmax = 5.051, m=5

    Vì v ậy các đánh giá a ij trong bảng 2.2 là hoàn toàn chấp nhận được hay nói cách khác các trọng số nwi tính ra từ công thức 2.1 và 2.2 là chấp nhận được.

    2.3.3. Bước 3: Cho điểm các dự án theo từng chỉ tiêu.

    • bước này người ta thực hiện các công việc giống như ở bước 2, chỉ khác một điều trong bảng đánh giá (giống bảng 2.2) thì các đối tượng cần đưa ra so sánh là các dự án được đánh giá theo từng chỉ tiêu.

    Trong ví dụ đ ã nói ở đ ây, tại bước 3 này người ta phải làm 5 ma trận như đã làm ở bước 2 (mỗi lần đánh giá theo một chỉ tiêu phải lập một ma trận, ở đây sử dụng 5 chỉ tiêu để đánh giá các dự án).

    14

    Giả sử sau khi tính toán người ta có được các trọng số và điểm của các dự án như sau:

    MỤC TIÊU: Chọn dự án

    đầu tư tốt nhất

                                                       
                                                       
    C1     C2       C3         C4     C5  
                                                       
    0.059       0.079 0.121       0.383       0.358    
        D.A A       D.A A   D.A A       D.A A       D.A A
                         
      0.146       0.2     0.308     0.478   0.352
        D.A B       D.A B   D.A B       D.A B       D.A B
                         
      0.127       0.2     0.248     0.255   0.186
        D.A C       D.A C   D.A C       D.A C       D.A C
                         
      0.221       0.2     0.142     0.097   0.162
        D.A D       D.A D   D.A D       D.A D       D.A D
                         
      0.253       0.2     0.188     0.148   0.186
        D.A E       D.A E   D.A E       D.A E       D.A E
                         
    0.253       0.2     0.114 0.022 0.114

    Hình 2.2: Trọng số của các tiêu chuẩn và điểm của các dự án

    2.3.4. Bước 4: Tính điểm cho các dự án và lựa chọn.

    Đây là bước cuối cùng trong quá trình đ ánh giá và lựa chọn. Người ta tính điểm bằng cách lấy lấy tổng của điểm của dự án theo từng chỉ tiêu nhân với trọng số của các chỉ tiêu tương ứng.

    Ví dụ điểm của dự án A được tính như sau:

    D.A A = 0.146× 0.059+0.2× 0.079+0.308× 0.121+0.478× 0.383+0.352× 0.358 = 0.371

    Cứ như vậy cuối cùng ta có bảng điểm như sau:

    Bảng 2.3: Điểm tổng hợp của các dự án

    STT Dự án Điểm Xếp hạng
    1 A 0.371 1
    2 B 0.218 2
    3 C 0.141 4
    4 D 0.177 3
    5 E 0.093 5

    Cuối cùng ta thấy dự án A có điểm cao nhất và sẽ được lựa chọn để thực hiện.

    15

    Trên thự c tế người ta cung cấp cho chúng ta các công cụ để lựa chọn các mục tiêu theo nhiều tiêu chuẩn như thế này để chúng ta khỏi phải tính toán một cách “thủ công” như trên.

    Trong hệ thống trợ giúp ra quyết định người ta có giới thiệu một trong các công cụ đó, đó là phần mềm Exper Choice. Sử dụng phần mềm này người đánh giá chỉ c ần đưa vào hệ thống nhận định của mình khi so sánh các tiêu chuẩn và so sánh các đối tượng cầ n đánh giá theo các tiêu chuẩn đó. Nói một cách khác là người sử dụng chỉ cần đ iền vào các bảng như bảng 2.2 rồi hệ thống sẽ tự tính ra các chỉ số CR, trọng số của các tiêu chuẩn, điểm của từng đối tượng theo từng tiêu chuẩn, và cuối cùng là đối tượng được lựa chọn.

    Tham khảo thêm tại http://www.expertchoice.com

    2.4.     Nguồn thông tin về các nhà cung cấp.

    Khi đánh giá và so sánh các nhà cung cấp, người ta có thể tìm kiếm thông tin về các nhà cung cấp đó theo các nguồn sau:

    • Các nguồn thông tin nội bộ:

    Đây có thể là những thông tin viết tay ho ặc những thông tin lấy ra từ cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp, các thông tin có thể thu thập được là: thời hạn giao hàng, tỷ lệ phế phẩm, số lần lỡ hẹn, năng lực cung cấp.

    • Quảng cáo:

    Khi sử dụng thông tin này doanh nghiệp cần lưu ý rằng đây là những thông tin đã được “chau chuốt” và cung cấp những nội dung mới về nhà cung cấp.

    • Thông tin trên báo chí

    Thông tin trên các tạp chí chuyên ngành thường cung cấp thông tin về những tiến bộ kỹ thuật mới, những ứ ng dụng mới, và những thành công mới. Tạp chí chuyên ngành là nguồn thông tin đáng tin cậy vì trước khi được công bố bao giờ ngườ i ta cũng tiến hành th ẩm tra độ chính xác, trung thực của thông tin dưới góc độ khoa học cũng như luật pháp.

    • Catalogue của nhà cung cấp:

    Catalogue thường được thiết kế rất đẹp, nó cho biết nhữ ng thông tin chi tiết về sản phẩm cần mua như: tính năng tác dụng, thông số kỹ thuật, giá cả, thời gian sử dụng, chế độ bảo dưỡng,..

    • Các nhà kỹ thuật và nhân viên của nhà cung cấp:

    16

    Tùy theo doanh nghiệp mà ngườ i ta có thể tiếp xúc được vớ i các đối tượ ng như nhân viên bán hàng, các nhà kỹ thuật, các nhà quản lý của người cung cấp để tìm hiểu toàn diện về nhà cung cấp cũng như sản phẩm của họ.

    • Tham quan nhà cung cấp:

    Đây là một trong những hình thức tìm kiếm thông tin phổ biến bởi vì nó có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu về năng lực kỹ thuật và năng lực sản xuất của nhà cung cấp. Người ta cũ ng có thể tìm hiểu được ch ất lượng của quá trình sản xuất, phương pháp lập chương trình sản xuất cũng như khả năng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật bằng hình thức tìm hiểu này.

    • Sử dụng các mẫu sản phẩm thử của nhà cung cấp:

    Các mẫu thử sản phẩm giúp người mua có thể thử nghiệm, so sánh, thậm chí là phân tích khảo nghiệm chất lượng để đưa ra kết luận trước khi có quyết định mua hàng.

    • Ý kiến của đồng nghiệp:

    Trong trường hợp không thể lấy được thông tin bằng các cách khác thì cách này cũng là một phương pháp đáng quan tâm, đồng nghiệp ở đây có thể là các bạn hàng, các nhà sản xuất khác đặc biệt nếu họ không phải là đối thủ cạnh tranh trực tiếp.

    • Cơ sở dữ liệu về nhà cung cấp:

    Đây là nguồ n tài nguyên quý giá mà chúng ta hoặc những người khác có đuợc trong những lần tiếp xúc trước đây với nhà cung cấp. Mộ t đ iều ph ải lưu ý là các thông tin này cần được cập nhật thường xuyên, đặc biệt là thông tin về lịch sử giá cả, mức chất lượng, khả năng giao hàng.

    • Các báo cáo kết quả điều tra của người thứ 3.

    Mộ t số doanh nghiệp không thể tự mình điều tra để có được những thông tin cần thiết thì có thể thuê các công ty tư vấn hoặc văn phòng chuyên môn làm việc đó. Các báo cáo kết quả nghiên cứu từ những thông tin mà họ thu thập được đóng vai trò như một nguồn thông tin hữu ích và tin cậy.

    17

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Tại sao phải đánh giá các nhà cung cấp nói riêng và các đối tượng nói chung theo nhiều chỉ tiêu khác nhau?
    1. Hãy cho biết ưu nhược điểm của phương pháp AHP và phạm vi áp dụng của nó.
    1. Hãy cho biết mục tiêu của anh, chị trong 2 năm tới và cho biết mức độ ưu tiên của từng mục tiêu (áp dụng phương pháp AHP).
    1. Hãy cho biết để có thông tin về các nhà cung cấp thì người ta có thể tìm hiểu bằng những cách nào?

    18

    CHƯƠNG 3: KHO HÀNG VÀ BÀI TOÁN PHÂN BỐ HỆ THỐNG KHO

    3.1.     Kho hàng.

    3.1.1. Khái niệm kho hàng và vai trò của nó.

    Kho hàng là nơi mà lưu giữ và chứa hàng hóa, nó thực hiện các chức năng sau đây:

    • Tập hợp hàng hóa để vận chuyển.

    Kho hàng           Nhà máy

    Các nhà cung cấp

    Hình 3.1: Tập hợp hàng để vận chuyển

    • Cung cấp và trộn hàng.

    Nhà máy 1

    SX : AB

    Nhà máy 2 Kho hàng
    SX : CD

    Nhà máy 3

    SX: EF

    Hình 3.2: Cung cấp và trộn hàng hóa

    Khách hàng 1

    Mua : A , C,D

    Khách hàng 2

    Mua : B, C,E

    Khách hàng 3

    Mua : F, E, và A

     

    19

    • Trung chuyển hàng trong ngày.
    • Làm dịch vụ.
    • Ngăn ngừa rủi ro.
    • Điều hòa sản xuất

    3.1.2. Các hoạt động cơ bản của kho hàng.

    Các hoạt động trong kho hàng được mô tả và sắp xếp như trong hình dưới đây:

    Nhận hàng

    HÀNG VÀO Tiếp nhận xe theo lịch
     
      Dỡ hàng
      Kiểm tra hỏng hóc

    Lấy hàng

    Tìm vị trí cất giữ

    Lấy sản phẩm

    Di chuyển sản phẩm

    Cập nhật thông tin

    Cất giữ

     

    Chuẩn bị vận chuyển

    Đóng gói

    Dán nhãn

    Tiến hành vận chuyển

    Lấy đơn hàng

    Kiểm tra thông tin

    Lấy hàng

    Vận chuyển

    Xe đến theo lịch HÀNG RA
     
    Chát hàng lên xe  
    Giấy vận chuyển  
    Cập nhật thông tin  

    Hình 3.3: Các hoạt động cơ bản của kho hàng

    3.1.3. Cách bố trí và thiết kế nhà kho.

    Các bố trí và thiết kế nhà kho cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

    • Sử dụng nhà kho một tầng
    • Di chuyển hàng hóa trong kho theo đường thẳng

    20

    NÊN:                                                                                      KHÔNG NÊN:

      Nhận   Chuyển       Nhận                              
                                           
                                           
                                           
                                           
                                           
                                           
                                           
                                           
                                           
                                    Chuyển  
                                     
                                     
                                     
                                     
     
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 
                                                 

    Hình 3.4: Di chuyển hàng hóa theo đường thẳng

    • Sử dụng thiết bị bốc xếp phù hợp
    • Tối thiểu đường đi trong kho
        NÊN:     KHÔNG NÊN:
                                                                             
                                                                             
                    Nhận                   Nhận
                                                                             
                                                                             
    Chuyển       Chuyển
                     
                     

    Hình 3.5: Tối tiểu hóa đường đi trong kho

    • Sử dụng tối đa độ cao của nhà kho
    • Sử dụng hiệu quả mặt bằng kho

    21

    Cho dù không dùng thì bạn vẫn cứ phải trả

    tiền cho chỗ này lúc xây (hoặc thuê) kho

    Hãy chú ý cả chiều cao

    của kho…

    … chứ không phải chỉ

    chiều sâu và chiều rộng

    Hình 3.6: Độ lớn của nhà kho được tính bằng thể tích của nó

    3.1.4. Thước đo năng suất và hiệu quả của một nhà kho.

    Năng suất và hiệu quả của một nhà kho được thể hiện qua các chỉ tiêu sau đây:

    • Khối lượng hay đơn vị hàng di chuyển trong ngày
    • Số lượng nhân viên cần để di chuyển một kg hàng
    • Khối lượng xếp dỡ trong một giờ
    • Khối lượng hàng lấy ra từ kho trong một giờ
    • Khối lượng hàng chất lên xe trong một giờ
    • Tỷ lệ đơn hàng được thực hiện đúng
    • Tỷ số năng suất = Khối lượng xử lý/ngày chia cho giờ công lao động/ngày
    • Khối lượng vật liệu di chuyển trong hệ thống trong một khoảng thời gian nhất định

    3.1.5. Quyết định liên quan tới sự sở hữu kho hàng.

    Mục này nhằm trả lời câu h ỏi: khi sử dụng nhà kho thì doanh nghiệp nên sử dụng kho đi thuê hay kho do doanh nghiệp tự xây.

    Như đã giới thiệu tại chương 1, nếu căn cứ trên mục tiêu của Logistics là tối thiểu hóa chi phí thì có thể trả lời câu hỏi trên trong hình vẽ sau đây:

    22

    Chi phí

    Chi phí khi thuê kho

    Chi phí của kho tự xây

    Q*                       Lượng hàng lưu kho

    Hình 3.7: Chi phí lưu kho trong 2 trường hợp: thuê và tự xây

    Như vậy có thể thấy, nếu lượng hàng lưu kho thường xuyên luôn lớn hơn mức Q* thì doanh nghiệp nên tự xây kho và ngược lại thì nên đi thuê.

    Tuy nhiên trong thực tế việc thuê hay tự xây của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, cụ thể:

    • Sự ổn định về nhu cầu
    • Mật độ của thị trường
    • Sự cần thiết về an ninh và kiểm soát chất lượng
    • Sự cần thiết phải phục vụ khách hàng
    • Sự cần thiết cho các mục đích khác của doanh nghiệp

    Sự ảnh hưởng của các yếu tố này tới quyết định thuê hay xây kho được trình bày trong bảng sau đây:

    Bảng 3.1: Các đặc trưng của công ty ảnh hưởng tới quyết định về sở hữu kho

    STT Đặc trưng Kho tự xây Kho đi thuê
    1 Khối lượng Cao Thấp
    2 Nhu cầu Ổn định Dao động
    3 Mật độ thị trường Cao Thấp
    4 Kiểm soát về vật lý Cần thiết Không cần
    5 Dịch vụ khách hàng Cao Thấp
    6 Yêu cầu về an ninh Cao Thấp
    7 Sử dụng cho nhiều mục đích Cần Không cần

    Nếu sử dụng kho thuê thì cần lưu ý các đặc điểm sau đây có thể ảnh hưởng tới chi phí thuê:

    23

    • Giá trị mặt hàng
    • Tính dễ hỏng của hàng hóa
    • Khả năng gây thiệt hại đến các hàng hóa khác
    • Khối lượng và sự đều đặn của hàng gửi
    • Tỷ khối của hàng hóa
    • Mức độ dịch vụ yêu cầu

    3.1.6. Nhận dạng hàng hóa trong kho

    Trong thực tế một kho hàng dù lớn hay nhỏ cũng đều chứa nhiều loại hàng hóa khác nhau, th ậm chí cùng một lo ại hàng hóa cũng có thể được chia thành nhiều loại nhỏ hơn, phụ thuộc vào chất lượng, hình thức, hoặc một vài tính chất khác.

    Như v ậy để dễ dàng cho việc gọi tên, phân loại và sắp xếp hàng hóa trong kho người ta đặt cho mỗi hàng hóa một tên gọi. Tên gọi này phải thỏa mãn đ iều kiện đồng nhất về mặt cấu trúc, phân biệt các hàng hóa khác nhau một cách dễ dàng. Việc gán cho mỗi hàng hóa trong kho một tên gọi như vậy người ta gọi là mã hóa hàng hóa.

    Theo Nguyễn Văn Ba (2003) và Gérard Chevalier, Nguyễn Văn Nghiến (1998), việc mã hóa hàng hóa có thể thực hiện theo mộ t trong ba phương pháp sau đây: mã hóa tuần tự, mã hóa phân tích, hoặc mã hóa hỗn hợp.

    Mã hóa phân tích tứ c là mã hóa các đối tượng dựa trên một vài tính chất của đối tượng đó, nói một cách khác là ngườ i ta có thể phân tích bộ mã để biết một vài tính chất của đối tượng được mã hóa.

    Ví dụ như quần áo bán ở siêu th ị được mã hóa: XL, L, M, và S. Đó là mã theo kích cỡ của chiếc áo, tương ứng với các cỡ: siêu rộng, rộng, trung bình, và nhỏ. Hoặc nếu ai đi máy bay thì đều biết tên gọi các sân bay được mã hóa theo kiểu này. Ví dụ:

    Bảng 3.2: Mã hóa tên gọi của một số sân bay quốc tế trên thế giới

    STT Tên sân bay
    1 HAN Nội Bài (Việt Nam)
    2 SGN Tân Sơn Nhất (Việt Nam)
    3 BKK Don Muang (Băng Cốc – Thái Lan)
    4 SIN Singapore
    5 LAX Los Angeles (Hoa Kỳ)
    6 YAN Yangon (Liên bang Myanmar)
    7 LON London (Anh)
    8 SYD Sydney (Úc)
    9 TYO Tokyo (Nhật Bản)
    10 MOW Moscow (Nga)

    24

    Mã hóa tuần tự là kiểu mã hóa không phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng đượ c mã hóa mà chỉ phụ thuộc và thời điểm được mã hóa . Đối tượng được mã hóa trướ c sẽ nhận mã có số thứ tự nhỏ, đối tượng được mã hóa sau sẽ nhận được mã có số thứ tự lớn hơn.

    Bộ mã tuần tự thì chúng ta thường được gặp mỗ i khi ph ải lấy phiếu (hoặc còn gọi là lấy số) khi vào khám bệnh, khi xếp hàng mua vé máy bay, vé tàu hoặc khi đợ i được phục vụ tại các ngân hàng. Rõ ràng là việc lấy được phiếu có số th ứ tự nhỏ (sẽ được phục vụ trước nh ững người lấy phiếu có số thứ tự lớn hơn) là phụ thuộc vào thờ i điểm chúng ta lấy phiếu tại các địa điểm đó, không phụ thuộc vào bệnh tình (trong bệnh viện) hay giới tính, tuổi tác, địa vị công tác (trong quầy vé, ngân hàng).

    Kiểu mã hóa thứ 3 là kiểu mã hóa hỗn hợp, đ ây là kiểu kết h ợp giữa mã hóa tuần tự và mã hóa phân tích. Trong mã hỗn hợp gồ m có 2 phần, phần tuần tự và phần phân tích. Kiểu mã hóa này chúng ta thườ ng gặp hơn cả. Ví dụ như tuyển sinh vào đại học một thí sinh có th ể được gắn mã (chính là số báo danh) như sau: BKA-00001. Phần “BKA” cho biết thí sinh này thi khối A vào trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, còn “00001” là số thứ tự của thí sinh đó trong số tất cả các thí sinh thi vào trường này.

    Bộ mã này chúng ta còn bắt gặp hàng ngày mỗi khi tham gia giao thông. Các ký hiệu trên biển số đăng ký xe chính là mã hỗn hợp. Ví dụ: 29 K4-4380. “29” cho ta biết chiếc xe này đăng ký tại Hà Nội, còn “K4-4380” chính là phần tuần tự của bộ mã đó.

    25

    Bảng 3.3: Số đăng ký xe của các tỉnh thành tại Việt Nam

     

    STT Địa phương Số hiệu
         
    1 Cao Bằng 11
    2 Lạng Sơn 12
    3 Bắc Giang 13, 98
    4 Quảng Ninh 14
    5 Hải Phòng 15, 16
    6 Thái Bình 17
    7 Nam Định 18
    8 Phú Thọ 19
    9 Thái Nguyên 20
    10 Yên Bái 21
    11 Tuyên Quang 22
    12 Hà Giang 23
    13 Lào Cai 24
    14 Lai Châu 25
    15 Sơn La 26
    16 Điện Biên 27
    17 Hòa Bình 28
    18 Hà Nội 29, 30, 31, 32
         
    19 Hà Tây 33
    20 Hải Dương 34
    21 Ninh Bình 35
    22 Thanh Hóa 36
    23 Nghệ An 37
    24 Hà Tĩnh 38
    25 Đà Nẵng 43
    26 Đắc Lắc 47
    27 Đắc Nông 48
    28 Lâm Đồng 49
    29 Hồ Chí Minh 50, 51, … 58, 59
    30 Đồng Nai 60
    31 Bình Dương 61
    32 Long An 62
         

    3.1.7. Kết cấu của hệ thống kho.

    STT Địa phương Số hiệu  
           
    33 Tiền Giang 63  
     
    34 Vĩnh Long 64  
     
    35 Cần Thơ 65  
     
    36 Đồng Tháp 66  
     
    37 An Giang 67  
     
    38 Kiên Giang 68  
     
    39 Cà Mau 69  
     
    40 Tây Ninh 70  
     
    41 Bến Tre 71  
     
    42 Bà Rịa – Vũng Tầu 72  
     
    43 Quảng Bình 73  
     
    44 Quảng Trị 74  
     
    45 Thừa Thiên – Huế 75  
     
    46 Quảng Ngãi 76  
     
    47 Bình Định 77  
     
    48 Phú Yên 78  
     
    49 Khánh Hòa 79  
     
    50 Cục CSGT ĐB – ĐS (Bộ 80  
    Công An)
         
    51 Gia Lai 81  
     
    52 Kon Tum 82  
     
    53 Sóc Trăng 83  
     
    54 Trà Vinh 84  
     
    55 Ninh Thuận 85  
     
    56 Bình Thuận 86  
     
    57 Vĩnh Phúc 88  
     
    58 Hưng Yên 89  
     
    59 Hà Nam 90  
     
    60 Quảng Nam 92  
     
    61 Bình Phước 93  
     
    62 Bạc Liêu 94  
     
    63 Hậu Giang 95  
     
    64 Bắc Kạn 97  
     
    65 Bắc Ninh 99  
     

    Cũng giống như k ết cấu của hệ thống phân phối trong Marketing, hệ thống kho trong Logistics có thể có kết cấu như sau:

    26

    Nhà máy                                                                                                                           Khách hàng

    Nhà máy                                               Kho trung tâm                                            Khách hàng

    Nhà máy Các kho địa phương Khách hàng
       

    Nhà máy                   Kho trung tâm                  Khách hàng

    Các kho địa phương

    Hình 3.8: Kết cấu của hệ thống kho

    3.2.     Bài toán phân bổ hệ thống kho.

    27

    Như mục 3.1.7 đã trình bày, doanh nghiệp có thể lựa ch ọn hệ thống không có kho hàng, sử dụng 1 kho trung tâm để phân phối cho khách hàng, hoặc hệ thống nhiều kho hàng.

    Logistics quan tâm tới vấn đề là vị trí của các kho hàng này nên nằm ở đâu trong khu vực địa lý mà doanh nghiệp quan tâm.

    Mọi người đều biết là chi phí vận chuyển hàng hóa từ nhà máy đến các kho hay từ kho đến các khách hàng phụ thuộc vào 2 yếu tố: khối lượng chuyên chở và quãng đường sẽ đi. Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng 1 kho trung tâm để phân phối hàng hóa thì vị trí của kho này được xác định như sau:

    Người ta đưa tất cả các địa điểm cần nhận hàng lên cùng một hệ trục tọa độ, lúc này vị trí của các địa điểm và kho hàng sẽ được xác định bởi tung độ và hoành độ của chúng. Và tọa độ của kho hàng được xác định bởi công thức sau đây:

    • Qi × xin
    xO  = i=1 (3.1)
    n
      Qi  
    • =1
    • Qi × yin
    yO  = i=1 (3.2)
    n
      Qi  
    • =1

    Với:

    n: số địa điểm cần nhận hàng

    Qi: lượng hàng mà địa điểm thứ i cần nhận

    xi, yi: tung độ và hoành độ của địa điểm thứ i

    xO, yO: tung độ và hoành độ của kho hàng

    Phương pháp xác định như trên gọi là phương pháp trọng tâm. Điểm hạn chế của phương pháp này đ ó là nó coi khoảng cách giữ a các địa điểm trên hệ trục tọa độ là chiều dài đoạn thẳng nối các đ iểm đó, điều này là không thực tế bởi vì chiều dài quãng đường giữa 2 địa điểm không phải đượ c tính theo đường chim bay, mặt khác phương pháp này không tính đến trường h ợp địa điểm được xác định có thể sẽ không xây (hoặc thuê) được kho. Ngoài ra giá cả trong việc thuê (ho ặc xây) kho tại địa điểm xác định được cũng không thấy đề cập đến trong nội dung của phương pháp.

    Trường hợp doanh nghiệp muốn sử dụng nhiều hơn một kho hàng thì số lượng kho hàng tối ưu được xác định như sau:

    28

    • Chọn ra n địa điểm bất kỳ và giả thiết ở mỗi địa điểm sẽ xây một kho hàng
    • Xác định chi phí trong trường hợp sử dụng n kho đó (CFn)
    • Quyết định đóng cửa một trong các kho đó rồi làm tuần tự cho đến kho thứ n, tính chi phí trong từng trường hợp sử dụng n-1 kho đó.
    • Nếu thấy CFn<CFn-1 thì doanh nghiệp sẽ sử dụng hệ thống n kho hàng. Nếu thấy CFn>CFn-1 thì tiếp tục giảm hệ thống xuống n-2 kho bằng cách làm tương tự.
    • Lặp lại quá trình trên cho tới khi không nhận được mức tiết kiệm hơn bước trước thì dừng lại.
    Chi phí

    6

    5

    4

    3       2

    1

    n*                                          Số lượng kho hàng

    Hình 3.9: Mối quan hệ giữa số lượng kho hàng và các chi phí có liên quan

    Chú giải:

    • Chi phí vận chuyển từ kho đến các khách hàng
    • Chi phí vận chuyển từ nhà máy đến các kho
    • Chi phí vốn dự trữ
    • Chi phí xử lý thông tin kho
    • Chi phí vận chuyển, bảo quản nội bộ
    • Chi phí tổng cộng

    n*: số lượng kho hàng tối ưu

    29

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Hãy cho biết các nguyên tắc bố trí và thiết kế kho hàng. Giải thích các nguyên tắc đó.
    1. Hãy cho biết các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định thuê hoặc xây kho.
    1. Hãy cho biết các điểm hạn chế của phương pháp trọng tâm trong việc xác định vị trí kho hàng. Từ đó cho biết phạm vi áp dụng của phương pháp này.

    30

    CHƯƠNG 4: BÀI TOÁN PHÂN PHỐI VÀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA

    4.1.     Bài toán phân phối hàng hóa.

    Nội dung của bài toán là có n kho hàng, mỗi kho có năng lự c cung cấp khác nhau và có m địa điểm cần nh ận hàng, mỗi địa điểm lại có nhu cầu về hàng hóa khác nhau. Mục tiêu của bài toán là tìm cách phân phối hàng hóa từ các kho đến các địa điểm sao cho tổng chi phí là nhỏ nhất.

    Trong môn học Toán Kinh Tế hay Tố i Ưu Hóa, đây chính là bài toán vận tải. Theo Bùi Minh Trí (2002), thuật toán giải bài toán này được chia làm 3 bước, có nội dung như sau (ở đây chúng tôi trình bày một cách sơ lược, chi tiết của thuật toán này được trình bày trong Bùi Minh Trí (2002)) :

    Bước 1: Tìm phương án xuất phát.

    Bản chất của bướ c này là tìm “bừa” một cách phân phối sao cho các kho chứa hàng thì phát hết lượng hàng chứa trong kho còn các địa điểm cần nhận hàng thì đượ c thỏa mãn hết nhu cầu. Nó không quan tâm cách phân phối đó đ ã là tối ưu hay chưa. Cũng theo Bùi Minh Trí (2002), người ta có th ể xuất phát bằng 1 trong 3 phương pháp: phương pháp góc Tây- Bắc, phương pháp cực tiểu chi phí toàn bảng, hoặc phương pháp tiệm cận của Vogel.

    Bước 2: Kiểm tra điều kiện tối ưu của phương án.

    Khi kiểm tra điều kiện tối ưu, nếu thấy các điều kiện tối ưu đượ c thỏa mãn thì dừng lại và phương án vừa được kiểm tra đã đạt tối ưu. Ngược lại thì chuyển sang bước 3.

    Bước 3: Chọn phương án mới tốt hơn

    N ội dung của b ước này là điều chỉnh lại việc phân ph ối hàng hóa. Lúc đó người ta sẽ được một phương án mới tốt hơn phương án cũ, tuy nhiên có thể vẫn chưa đạt điều kiện tối ưu.

    Vì vậy sau khi điều chỉnh lại việc phân phối và có phương án mới tốt hơn phải quay lại bước 2 để kiểm tra. Cứ như thế đến khi có được phương án tối ưu thì dừng lại.

    Chúng ta hãy xem ví dụ sau đây:

     

    31

    Bảng 4.1: Bài toán vận tải

    Kho hàng Chi phí vận chuyển 1 tấn sản phẩm Năng lực
      1 2 3 4 5  
    A 2 8 12 7 13 120
    B 14 7 18 4 9 70
    C 5 10 9 15 6 210
    D 8 3 7 10 10 150
    Nhu cầu 180 120 50 130 70 550

    Chú giải:

    • A, B, C, và D là các kho hàng với năng lực tương ứng là 120, 70, 210, và 150
    • 1, 2, 3, 4, và 5 là các địa điểm cần nhận hàng với nhu cầu tương ứng là 180, 120, 50, 130, 70
    • Các con số nhỏ trong bảng là chi phí vận chuyển 1 tấn sản phẩm từ 1 kho đến 1 địa điểm, các chi phí này được ký kiệu là cij

    Bước 1: Nếu xuất phát bằng phương án cực tiểu chi phí toàn bảng thì ta có bảng sau.

    Bảng 4.2: Giải bài toán vận tải với phương án xuất phát CTCP

    Kho hàng Chi phí vận chuyển 1 tấn sản phẩm Năng lực
      1 2 3 4 5  
    A 120         120
    B       70   70
    C 60   20 60 70 210
    D   120 30     150
    Nhu cầu 180 120 50 130 70 550

    Như trên bảng ta thấy các kho hàng đã phát hết hàng còn các địa điểm nhận hàng đều đã được thỏa mãn hết nhu cầu.

    Lúc này tổng chi phí vận chuyển là: 2890

    Bước 2: Kiểm tra điều kiện tối ưu của phương án

    Bây giờ ta đưa các thế vị uivj vào, với:

    u1= 0

    ui + vj= cij ở các ô được phân phối hàng hóa

    32

    Bảng 4.3: Đưa các thế vị vào kiểm tra điều kiện tối ưu

      v1=2 v2=2 v3=6 v4=12 v5=3
    u1=0 120        
    u2=-8       70  
    u3=3 60   20 60 70
    u4=1   120 30    

    Sau đó tiến hành tính đại lượng: ui+vj-cij ở các ô không được phân phối hàng hóa. Ô nào có giá trị âm ta ghi dấu (-), ô nào có giá trị dương ta ghi dấu (+).

    Bảng 4.4: Kiểm tra điều kiện tối ưu

      v1=2 v2=2 v3=6 v4=12 v5=3
    u1=0 0 +5
    u2=-8 0
    u3=3 0 0 0 0
    u4=1 0 0 +3

    Ta thấy trong bảng có ô mang dấu (+), vì vậy phương án chưa tối ưu. Tại ô (1,4) có giá trị dương lớn nhất (+5) người ta gọi đó là ô sao (*).

    Bước 3: Tìm phương án mới tốt hơn

    Người ta tìm các ô được phân phối hàng hóa tạo với ô * thành một vòng khép kín.

    Bảng 4.5: Cải tiến phương án cũ

      v1=2 v2=2 v3=6 v4=12 v5=3
    u1=0 0 *
    u2=-8 0
    u3=3 0 0 0 0
    u4=1 0 0 +3

    Trên các đỉnh của vòng khép kín người ta đánh dấu (+) và (-) cho các ô xen kẽ nhau, bắt đầu từ ô * mang dấu (+).

    Trong các ô mang dấu (-) ngườ i ta lấy lượng hàng ở ô có lượng phân phối nhỏ nhất làm lượng hàng điều chỉnh (qđc).

    Bây giờ ở các ô mang dấu (+) người ta đưa thêm vào một lượng hàng bằng qđc còn ở các ô mang dấu (-) người ta bớt đi một lượng qđc. Lúc này ta có phương án mới như sau:

    33

    Bảng 4.6:Phương án phân phối mới

      v1=2 v2=2 v3=6 v4=12 v5=3
    u1=0 60     60  
    u2=-8       70  
    u3=3 120   20   70
    u4=1   120 30    

    Phương án này có chi phí 2590, tốt hơ n phương án cũ. Tuy nhiên muốn biết nó đã đạt tối ưu hay chưa ta phải quay lại bước 2.

    Bước 2.1: Kiểm tra lại điều kiện tối ưu

    Bảng 4.7: Kiểm tra lại điều kiện tối ưu

      v1=2 v2=2 v3=6 v4=7 v5=3
    u1=0 60 60
    u2=-3 70
    u3=3 120 20 70
    u4=1 120 30

    Như vậy ta thấy tại tất cả các ô không đượ c phân phố i đại lượng ui+vj-cij đều mang dấu (-). Vậy bài toán đã đạt điều kiện tối ưu, với tổng chi phí nhỏ nhất là

    2590.

    4.2.     Bài toán vận chuyển hàng hóa.

    4.2.1. Nội dung của bài toán.

    • bài toán phân phối hàng hóa trong mục 4.1 chúng ta đã giải quyết được vấn đề: Một kho hàng trong hệ thống cần phân phối cho những địa điểm nào, với số lượng là bao nhiêu (Ví dụ: kho C phân phối hàng cho các địa điểm 1, 3, 5 với khối lượng tương ứng là 120, 20, và 70).

    Tuy nhiên khi phân phối hàng cho các địa điểm đã định với khối lượng đã được xác định thì phương tiện vận tải có các cách di chuyển khác nhau, mỗi cách cho một chi phí có thể khác nhau. Ở mục này chúng ta cùng xem xét bài toán: các phương tiện vận tải sẽ di chuyển như thế nào khi được phân công chuyên chở hàng hóa đến các địa điểm đã định với khối lượng xác định.

    Hãy xem ví dụ sau đây: Kho hàng O phân phối hàng hóa cho 2 địa điểm A và B

    34

    A  B                                   A                              B

    O

    O

     

    Cách 1

    Cách 2

    Hình 4.1: Hai cách chuyển hàng từ 1 kho đến 2 điểm

    Nhìn trên hình ta thấy chỉ cần chuyển hàng đến 2 địa điểm khác nhau đã có ít nhất 2 cách khác nhau.

    • đây chúng ta giả định rằng độ dài quãng đường giữa 2 địa điểm được tính theo đường chim bay, tổng khối lượng vận chuyển tới cả 2 địa điểm đã được xác định (hằng số). Và nếu như vậy thì rõ ràng cách di chuyển thứ nhất bao giờ cũng tiết kiệm hơn cách di chuyển thứ 2. Mức tiết kiệm được xác định là:
    e(A,B)= OA+OB-AB (4.1)

    Như vậy nếu phải chuyển hàng cho 2 địa điểm A và B như trên thì nhà vận tải sẽ chọn cách thứ nhất với chi phí ít hơn. Tuy nhiên trong thực tế người ta phải vận chuyển cho rất nhiều địa điểm cùng một lần (nhiều hơn 2), và lúc này bài toán sẽ trở nên phức tạp hơn rất nhiều.

    Thuật toán giải bài toán này được chia thành 5 bước như sau:

    Bước 1: Tính toán mức chênh lệch

    Như đã trình ở trên, cách di chuyển thứ nhất bao giờ cũng tiết kiệm hơn cách thứ 2 một lượng là e(A,B) (công thức 4.1).

    • bước này người ta tiến hành lấy 2 địa điểm cần nhận hàng bất kỳ trong số các địa điểm cần nhận hàng tạo thành một cặp. Như vậy trong trường hợp tổng

    quát, nếu có n địa điểm cần nhận hàng sẽ có n × (n 1) cặp.

    2

    Sau đó tiến hành tính toán mức chênh lệch e của từng cặp theo công thức 4.1

    Bước 2: Phân loại các cặp chênh lệch theo thứ tự giảm dần

    Bướ c này người ta tiến hành sắp xếp các cặp e đã tính được theo thứ tự giảm dần. Trong trường hợp có các cặp có giá trị như nhau thì xếp cặp nào trước cũng được.

    35

    Bước 3: Chọn các cặp trong danh sách tạo được ở bước 2.

    Theo thứ tự từ trên xuống dưới người ta tiến hành chọn các cặp trong danh sách

    • bước 2. Người ta bỏ qua các cặp tạo thành vòng hoặc chĩa để tránh việc đi qua một địa điểm nhiều hơn 1 lần.

    Người ta cứ chọn như thế cho tới khi chọn được n-1 cặp thì dừng lại.

    Bước 4: Kết thúc

    Sau khi đã chọn được n-1 cặp người ta tiến hành nối nhà kho với 2 trạm mút để được một vòng vận chuyển khép kín.

    4.2.2. Một số điểm khác biệt trên thực tế.

    Rõ ràng chúng ta thấy rằng phương tiện vận tải ch ỉ có thể chạy được 1 vòng khép kín để vận chuyển hàng hóa tớ i tất cả các địa điểm cần nh ận hàng trong điều kiện: năng lực của 1 lần chuyên chở đáp ứng được tổng nhu cầu của tất cả các địa điểm. Tuy nhiên trên thực tế điều này có thể không xảy ra do phương tiện vận tải bị giớ i hạn v ề n ăng lực. Lúc này người ta có thể phải chia ra làm 2 vòng kín nhỏ hơn và lúc đó sẽ xuất hiện rất nhiều phương án vận tải với 2 vòng kín, mỗi phương án lại cho một chi phí khác nhau.

    Ngoài ra như đã nói ở phần 4.2.1, chúng ta giả định độ dài quãng đườ ng giữa 2 điểm là độ dài đoạn thẳng nối 2 điểm đó (hay nói cách khác là khoảng cách tính theo đường chim bay), và như vậy mới d ẫn đến mức tiết kiệm như công thức 4.1. Điều này là không thực tế bởi 2 điểm:

    • Độ dài quãng đường trên thực tế không phải là độ dài đoạn thẳng.
    • Có thể chi phí theo cách 2 nhỏ hơn cách 1 rất nhiều nếu: đoạn đường AB là đoạn đường rất xấu, đi lại khó khăn, mất nhiều thời gian,… ngoài ra chưa nói tới việc có thể trên đoạn AB có các trạm thu phí theo quy định và những trạm thu phí “ngoài quy định” khác.

    Như vậy 2 điểm hạn chế nói trên ảnh hưởng đến phương pháp và kết quả của thuật toán. Câu hỏi đặt ra là: n ếu các tình huống đó xảy ra thì thuật toán trong mục 4.2.1 cần thay đổi như thế nào?

    Câu trả lời dành cho học viên.

    36

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Kho O có nhiệm vụ phân phối hàng hóa cho các địa điểm A, B, C, D, E, và F. Khoảng cách giữa các địa điểm và kho được cho như sau:
    TRẠM Nhu     Khoảng cách đến trạm (km)    
      cầu O A   B C D   E F
    A 2.0 16 0   27 43 34   24 18
    B 0.8 15     0 48 17   27 40
    C 1.6 29       0 16   35 53
    D 2.5 18         0   19 41
    E 0.8 15             0 23
    F 1.4 26               0
    • Tìm con đường vận chuyển tối ưu nếu phương tiện vận tải không bị giới hạn về năng lực.
    • Lập lịch nhận và phát hàng tại các địa điểm, biết rằng: ô tô hoạt động từ 8h sáng, di chuyển với vận tốc trung bình 40 km/h, thời gian bốc dỡ hàng ở các địa điểm là 10 phút/lần
    • Tìm con đường vận chuyển tối ưu nếu biết rằng tải trọng của ô tô là 5 tấn, 3 tấn.
    1. Giải các bài toán phân phối hàng hóa sau đây:
      100   120   130   180
                   
    170   7   5   0 4
                   
    110   3   2   6 5
                   
    150   3   5   2 7
                   
      90   85   80   75
                   
    120   11   6   4 8
                   
    150   9   3   4 5
                   
    140   7   4   5 6
                   
      70   80   85   90
                   
    100   5   7   9 8
                   
    90   6   4   7 5
                   
    110   4   7   6 9
                   

    37

      70   85   80   90
                   
    110   6   7   4 5
                   
    130   9   8   6 5
                   
    150   6   4   7 9
                   
    1. Khi chọn ra được n-1 cặp chênh lệch theo thứ tự giảm dần như trình bày ở mục 4.2.1 ta sẽ có được con đường vận chuyển tối ưu. Hãy cho biết ý nghĩa của giá trị của tổng n-1 cặp chênh lệch đó là gì.

    38

    CHƯƠNG 5: LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TỐI ƯU

     5.1. Một số khái niệm cơ bản trong Quản lý sản xuất.

    Chu kỳ sản xuấ t: chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian từ lúc đưa nguyên vật liệu vào sản xuất cho tới khi có được thành phẩm.

    Khối lượng tại chế phẩm : khối lượng tại chế phẩm là lượng nguyên liệu, bán thành phẩm đang nằm trên dây chuyền sản xuất.

    Mối quan hệ giữa chu kỳ sản xuất và khối lượng tại chế phẩm được xác định như sau:

    K.lượng tại chế phẩm = C.kỳ sản xuất (tháng) × nhu cầu sản phẩm/tháng (5.1)

    Thời hạn giao hàng : thời hạn giao hàng là khoảng thời gian từ lúc nhận được đơn hàng cho tới khi bàn giao được sản phẩm cho khách hàng.

    Tùy thuộc vào loại hình sản xuất, sản xuất dự trữ hay sản xuất theo yêu cầu, mà chu kỳ sản xuất có thể lớ n hơn hoặc nhỏ hơn thời hạn giao hàng. Nếu sản xuất theo yêu cầu thì thời hạn giao hàng luôn lớn hơn chu kỳ sản xuất, còn nếu sản xuất dự trữ thì ngược lại. Mối quan hệ này được mô tả như trong hình sau đây:

    1                                 2                                                          3      4

    Thời gian

    Chu kỳ sản xuất

    Thời hạn giao hàng

    Hình 5.1: Sản xuất theo yêu cầu

    2                                 1                                                          3      4

    Thời gian

    Chu kỳ sản xuất

    Thời hạn giao hàng

    Hình 5.2: Sản xuất dự trữ (bán thành phẩm)

     

    39

    2                                                                             3      1      4

    Thời gian

    Chu kỳ sản xuất

    Thời hạn giao hàng

    Hình 5.3: Sản xuất dự trữ (thành phẩm)

    Chú giải:

    • Thời điểm đặt hàng
    • Thời điểm đưa nguyên vật liệu vào sản xuất
    • Thời điểm có được thành phẩm
    • Thời điểm giao hàng

    5.2.     Bài toán quy hoạch động.

        1   4        
                     
                7    
    Alpha   2   5       Omega
                     
                8    
        3   6        
                 
                     

    Hình 5.4: Bài toán quy hoạch động

    Nội dung của bài toán quy hoạch động như sau:

    Một người đưa thư có nhiệm vụ di chuyển từ thành phố Alpha đến thành phố Omega. Người đưa thư chỉ được di chuyển theo hướng mũ i tên như trên hình 5.4. Hãy chỉ cho người đưa thư này con đường ngắn nhất từ Alpha đến Omega,

    biết rằng chi phí đi lại giữa các địa điểm (cij) được cho như trong bảng dưới đây:

    40

    Bảng 5.1: Chi phí đi lại giữa các địa điểm

     

    STT Địa điểm   Cij
    i   j  
         
    1 alpha   1 7
    2 alpha   2 4
    3 Alpha   3 5
    4 1   4 4
    5 1   5 3
    6 2   4 9
    7 2   5 5
    8 2   6 8
    9 3   5 3
    STT   Địa điểm Cij
    i   j  
         
    10 3   6 6
    11 4   7 3
    12 4   8 2
    13 5   7 5
    14 5   8 4
    15 6   7 4
    16 6   8 1
    17 7   Ome. 2
    18 8   Ome. 4

    Thuật toán giải bài toán này được trình bày như sau:

    Bước 1:

    Đầu tiên người ta chia bài toán di chuyển thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn là tập h ợp tất cả các địa điểm mà người đưa thư có thể đặt chân đến tạ i một thời điểm nào đó. Trong trường hợp này nếu không kể thờ i điểm đặt chân được đến đích (Omega) thì bài toán được chia thành 4 giai đoạn như sau:

        1     4        
                       
                  7    
    Alpha   2     5       Omega
                       
                  8    
        3     6        
                   
                       
    Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4

    Hình 5.5: Bốn giai đoạn trong quá trình di chuyển

    Bước 2:

    Mỗi một giai đoạn người ta phải lập ra một bảng, các bảng này có cấu trúc giống như nhau.

    41

    Bảng 5.2: Bảng khái quát thuật toán quy hoạch động

    Giai đoạn n   Trạng thái của hệ thống ở giai đoạn n+1 Quyết định tối ưu
                 
        j Chi phí min Điểm đến
                 
    Trạng thái của hệ    
    thống ở giai đoạn n            
    i chi phí nhỏ nhất để đi từ i fn(i) gn(i)
          qua j đến omega      
         
                 

    Chú giải:

    • Cấu trúc của bảng gồm 3 phần chính: (1) Trạng thái của hệ thống ở giai đoạn n, (2) Trạng thái của hệ thống ở giai đoạn kế tiếp n+1, và (3) Các quyết định tối ưu: chi phí tối ưu, điểm di chuyển đến tối ưu.
    • Trạng thái của hệ thống ở giai đoạn bất kỳ được thể hiện bởi địa điểm mà người đưa thư có thể đặt chân tới trong giai đoạn đó.
    • fn(i): Chi phí nhỏ nhất để đi từ thành phố i thuộc giai đoạn n đến Omega.

    fn (i) = minj {ci, j + fn+1 ( j)}

    • gn(i): địa điểm của giai đoạn n+1 cho chi phí cực tiểu fn(i) khi từ giai đoạn n người ta phải xuất phát từ địa điểm i.
    • cij: chi phí để đi từ i đến j.

    Vậy trong bài toán cụ thể này ta phải lập ra 4 bảng có cấu trúc như bảng 5.2. Một điều đáng lưu ý là trong thuật toán quy hoạch động người ta tính toán các số liệu cho bảng của giai đoạn cuối cùng trước, và ngược lại, bảng của giai đoạn đầu tiên sẽ được tính cuối cùng.

    Cụ thể như sau:

    Giai đoạn 4:

    Giai đoạn 4   Chi phí đến j QĐ ti ưu
           
          Omega f4(i) g4(i)
    T thành   7 2 2 Omega
    ph i          
      8 4 4 Omega
               

    Giai đoạn 3:

    Giai đoạn 3   Chi phí đến j QĐ ti ưu
                 
          7 8 f3(i)   g3(i)
    T thành   4 3+2 2+4 5 7  
                   
    ph i   5 5+2 4+4 7   7  
      6 4+2 1+4 5 8  
         
                     

    42

    Giai đoạn 2:

    Giai đoạn 2     Chi phí đến j   QĐ ti ưu
                       
          4   5   6 f2(i)   g2(i)
    T thành   1 4+5   3+7     9 4  
                         
      2 9+5   5+7   8+5 12 5  
    ph i        
                         
        3     3+7   6+5 10   5  
                           

    Giai đoạn 1:

      Giai đoạn 1   Chi phí đến j     QĐ ti ưu
                           
          1   2   3   f1(i)   g1(i)
      T thành Alpha 7+9   4+12   5+10   15     3  
      ph i            
                             
                               
    Bước 3:                      

    Nhìn vào bảng cuối cùng ta thấy ngay chi phí nhỏ nhất để đ i từ Alpha về Omega là 15, còn đường đi phải tìm ngược lại từ bảng của giai đoạn 1 trở về trước sẽ thấy: Alpha- 3- 5- 7- Omega.

    Triết lý của QUY HOẠCH ĐỘNG:

    Dù quyết định quá khứ đưa bạn đến trạng thái nào ở hiện tại thì bạn cũng luôn phải tìm được quyết định tối ưu để đạt đến trạng thái tương lai mong muốn.

    5.3.     Bài toán lập kế hoạch sản xuất.

    Công ty X dự báo mức nhu cầu sản phẩm trên thị trường như sau:

    Bảng 5.3: Nhu cầu về sản phẩm của công ty X

    t 1 2 3 4 5
               
    dt 2 5 4 2 4

    Hãy lập kế hoạch sản xuất tố i ưu nhất để đáp ứng tối đ a nhu cầu trên, biết rằng: chi phí điều chỉnh hệ thống sản xuất: 150 USD /lần, n ếu trong kỳ không sản xuất thì không tốn chi phí này; chi phí tồn kho: 10 USD /sản phẩm /kỳ; và năng lực sản xuất của công ty được cho như sau:

    43

    Bảng 5.4: Năng lực sản xuất của công ty X

    t 1 2 3 4 5
               
    P=200 2 2 3 3 3
               
    P=250 3 3 3 3 3
               

    Bảng 5.4 thể hiện năng lực sản xuất của công ty X, ví dụ ở kỳ 1 công ty có khả năng sản xuất tối đ a 2 sản phẩm với mức giá thành là 200 USD /sản phẩm, nếu muốn sản xuất sản phẩm thứ 3 trong kỳ này thì công ty phải chịu mức giá thành

    • USD /sản phẩm, tuy nhiên với mức giá thành 250 USD/sản phẩm thì công ty cũng chỉ sản xuất được tối đa là 3 sản phẩm. Nói tóm lại trong kỳ 1 công ty chỉ có thể sản xuất nhiều nhất là 5 sản phẩm (2+3).

    Giải bài toán này người ta phải áp dụng thuật toán quy hoạch động và trong bài toán này phải lưu ý mấy điểm sau đây:

    • Trạng thái của hệ thống được thể hiện bởi mức tồn kho đầu kỳ
    • Mức tồn kho cuối kỳ này sẽ bằng mức tồn kho đầu kỳ sau
    • Lượng sản xuất trong kỳ i= Tồn cuối kỳ i (tồn đầu kỳ i+1)+ mức tiêu thụ trong kỳ i– tồn đầu kỳ i
    • Mỗi một kỳ được coi là một giai đoạn
    • Chi phí tồn kho đầu kỳ nào được tính cho kỳ đó, chi phí tồn kho cuối kỳ được tính cho kỳ sau
    • Bảng khái quát thuật toán có cấu trúc như sau:

    Bảng 5.5: Bảng khái quát thuật toán của bài toán lập kế hoạch sản xuất

          Mc tn kho đầu k n+1   QĐ ti ưu
    Kỳ n          
    j Chi phí Lượng SX
        min tối ưu
             
                 
      ….
    Mc tn            
        Chi phí nhỏ nhất để sản xuất từ kỳ n      
    kho đầu i cho tới kỳ cuối cùng vi mc tn fn(i) gn(i)
    k n     đầu kn là i, tn đầu kn+1 là j      
                 
     
                 

    Để bài toán đơn giản ta giả định mức tồn kho tối đa cuối mỗi kỳ là 2 sản phẩm.

    Như vậy bài toán này được giải như sau:

    44

          Mc tn kho đầu k 6 (cui k 5)   QĐ ti ưu
    Kỳ 5                
        0     Chi phí   Lượng SX
                min   tối ưu
                   
                       
    Mc tn   0   1000   1000 4
    kho đầu                  
      1   760   760 3
    k 5                  
      2   570   570 2
                       
                       
          Mc tn kho đầu k 5 (cui k 4)   QĐ ti ưu
    Kỳ 4                
      0 1 2   Chi phí   Lượng SX
            min   tối ưu
                   
                     
    Mc tn   0 1550 1510 1570 1510   3
    kho đầu                  
      1 1360 1320 1330 1320 2
    k 4                
      2 1020 1130 1140 1020 0
                       
                 
          Mc tn kho đầu k 4 (cui k 3)   QĐ ti ưu
    Kỳ 3                
      0 1 2   Chi phí   Lượng SX
            min   tối ưu
                   
                   
    Mc tn   0 2510 2570 2520 2510   4
    kho đầu                  
      1 2270 2330 2280 2270 3
    k 3                
      2 2080 2090 2040 2040 4
                     
                 
          Mc tn kho đầu k 3 (cui k 2)   QĐ ti ưu
    Kỳ 2                
      0 1 2   Chi phí   Lượng SX
            min   tối ưu
                   
                   
    Mc tn   0 3810 3810   5
    kho đầu                  
      1 3570 3580 3570 4
    k 2                
      2 3330 3340 3360 3330 3
                     
                 
          Mc tn kho đầu k 2 (cui k 1)   QĐ ti ưu
    Kỳ 1                
      0 1 2   Chi phí   Lượng SX
            min   tối ưu
                   
                     
    Mc tn                  
    kho đầu   0 4360 4370 4380   4360   2
    k 1                  
                     
                    45

    Cũng như bài toán quy hoạch động, đến đây ta th ấy được chi phí sản xuất và lưu kho tối ưu là 4360 với kế hoạch sản xuất tương ứng là:

    Bảng 5.6: Kế hoạch sản xuất tối ưu

    T 1 2 3 4 5
               
    dt 2 5 4 2 4
    KHSX 2 5 4 3 3
               

    46

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Hãy cho biết ý nghĩa của Triết lý Quy hoạch động
    1. Lập kế hoạch sản xuất tối ưu, biết rằng:
    t 1 2 3 4 5
               
    dt 2 5 4 2 4
    P=150 2 2 3 3 3
               
    P=200 3 3 3 3 3
               

    Biết rằng chi phí điều chỉnh hệ thống sản xuất là 200 USD /lần, chi phí lưu kho là 15 USD /sản phẩm /kỳ. Giả thiết mức tồn kho tối đa cuối mỗi kỳ là 2 sản phẩm.

    1. Lập kế hoạch sản xuất tối ưu, biết rằng:
    t 1 2 3 4 5
               
    dt 3 3 5 4 2
    P=150 2 4 3 6 1
               
    P=200 2 1 3 0 1
               

    Biết rằng chi phí điều chỉnh hệ thống sản xuất là 150 USD /lần, chi phí lưu kho là 15 USD /sản phẩm /kỳ. Giả thiết mức tồn kho tối đa cuối mỗi kỳ là 2 sản phẩm.

    47

    CHƯƠNG 6: VẬN TẢI VÀ CÁC LOẠI HÌNH VẬN TẢI

    6.1.     Vai trò của vận tải trong Logistics.

    Nút       Đường           Nút
                   
                       
            nối              
                         
      Kho hàng   Nhà bán lẻ
         
                     

    Đường

    Nút                              nối

    Đường Nút
    nối  

    Nhà máy

    Đường     Đường Nhà bán lẻ
        nối  
         
    nối        
           
           

    Kho hàng

    Nút

    Hình 6.1: Mô hình đường nối và điểm nút

    • Trong mô hình đường nối và điểm nút, vận tải là đường nối giữa các điểm cố định (nút)
    • Khi mà công ty hoạt động trên phạm vi toàn cầu thì chi phí vận tải thậm chí ngày càng trở nên quan trọng. Số liệu của Coyle (2003) cho thấy:

    Năm 1999, các công ty ở Mỹ chi khoảng $554 tỷ cho vận chuyển hàng hóa, hay 9,9% GNP. Trong khi năm 1993 là 397 tỷ hay 6,3% của GDP.

    Năm 1999, nếu tính theo % của doanh thu thì chi phí vận tải là 3.24%, chi phí kho hàng là 1.84%, chi phí dịch vụ khách hàng là 0.48%, quản lý 0.38%, và chi phí lưu giữ là 1.52% của doanh số bán hàng.

    • Vận tải cũng tạo ra giá trị ra tăng bằng cách cung cấp lợi ích về không gian và thời gian cho hàng hóa của công ty.
    • Việc chi cho họat động vận tải cũng chính là chi phí đánh đổi với hàng tồn kho. Nếu chi phí vận tải cao thì chi phí cho hàng tồn kho thấp và ngược lại.

    48

    Nhà cung cấp                     Nhà máy

    Trung gian

    phân phối

    Khách hàng

     

    Hình 6.2: Mạng lưới cung cấp

    • Vận tải là điểm nối hữu hình giữa các nhà cung cấp với khách hàng.

    6.2.     Các loại hình vận tải.

    Phân loại theo loại phương tiện vận tải, các loại hình vận tải được chia thành 5 loại sau đây:

    Đường bộ Đường sắt
     

    Đường thủy

    Đường không

    Đường ống

    Hình 6.3: Các loại hình vận tải

    • Vận tải đường bộ
    • Vận tải đường thủy
    • Vận tải đường sắt

    49

    • Vận tải đường không
    • Vận tải đường ống

    6.2.1. Vận tải đường bộ.

    Vận tải đường bộ có đặc điểm:

    • Mức độ tiếp cận cao
    • Thời gian trung chuyển nhanh hơn đường sắt và đường thủy
    • Độ tin cậy bị ảnh hưởng lớn bởi thời tiết
    • Kích cỡ của xe vận tải nhỏ phù hợp với chiến lược hàng tồn kho thấp và nhanh chóng nạp lại hàng vào kho
    • Chi phí vận tải hơi cao so với đường sắt và thủy nhưng đổi lại là nhanh hơn

    6.2.2. Vận tải đường thủy

    Vận tải đường thủy nội bộ có đặc điểm:

    • Là loại hình có chi phí tương đối thấp: không phải đầu tư cho xây đường để đi, dễ dàng gia nhập hay ra khỏi ngành
    • Thường vận chuyển hàng hóa có giá trị thấp, dạng hàng khối như khoáng sản, sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp với cự ly vận chuyển dài
    • Chi phí vận tải thấp nhưng thời gian trung chuyển dài
    • Mức độ tiếp cận thấp nhưng năng lực vận tải thì lớn

    Vận tải đường thủy quốc tế có đặc điểm:

    • Tàu vận chuyển hàng hóa thông dụng: Có sức chứa hàng hóa lớn

    Vận tải thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng Có nhiều tàu có luôn cần cẩu để bốc xếp hàng

    • Tàu vận chuyển hàng khối:

    Thiết kế đặc biệt để chở khoáng sản Có thể dùng để chở nhiều loại hàng hóa

    6.2.3. Vận tải đường sắt

    Vận tải đường sắt có đặc điểm:

    • Khả năng vận chuyển nhiều loại hàng khác nhau hơn so với các loại hình khác
    • Số lượng nhà cung cấp dịch vụ này là không nhiều. Việt Nam: 1 nhà vận tải

    Mỹ: một vài nhà vận tải

    50

    • Tầu hỏa là hệ thống vận tải đường dài, với khối lượng lớn (chi phí cố định cao)
    • Mức độ tiếp cận không cao
    • Thời gian trung chuyển không đều và thường dài

    6.2.4. Vận tải đường không

    Vận tải đường không có đặc điểm:

    • Bất cứ hãng vận tải hàng không nào cũng có thể chở hàng hóa, mặc dù vậy có một vài hãng không chở gì khác ngoài hàng hóa
    • Cấu trúc giá với chi phí biến đổi cao so với chi phí cố định
    • Thời gian trung chuyển là nhanh nhất trong các loại hình vận tải, nhưng giá cước vận tải thì cao nhất
    • Thường vận chuyển hàng có giá trị cao, khối lượng thấp
    • Mức độ tiếp cận và năng lực là thấp
    • Độ tin cậy phụ thuộc vào thời tiết nhiều hơn so với các loại hình khác

    6.2.5. Vận tải đường ống

    Vận tải đường ống có đặc điểm:

    • Thường dùng để vận chuyển dầu, khí
    • Không phù hợp cho vận tải thông thường
    • Mức tiếp cận thấp
    • Chi phí cố định cao, chi phí biến đổi thấp
    • Lợi ích chính là giá cước vận tải thấp

    6.2.6. So sánh các loại hình vận tải

    Bảng 6.1: So sánh các loại hình vận tải

    Chỉ tiêu Đường Đường Đường Hàng Đường  
    Sắt Bộ Thủy không ống  
     
    Chi phí 3 4 2 5 1  
                 
    Thời gian trung 3 2 4 1  
    chuyển
               
                 
    Độ tin cậy 2 1 4 3  
                 
    Năng lực 1 2 4 3 5  
                 
    Mức tiếp cận 2 1 4 3  
                 
    An toàn 3 2 4 1  
                 

    51

    6.3.     Các chỉ tiêu đánh giá nhà vận tải.

    Bảng 6.2: Các chỉ tiêu đánh giá nhà vận tải (theo thứ tự quan trọng)

    STT Thành tố quyết định lựa chọn Xếp hạng
    1 Độ tin cậy của thời gian trung chuyển 1
    2 Chi phí vận tải 2
    3 Toàn bộ thời gian trung chuyển 3
    4 Mức độ sẵn sàng của nhà vận tải trong đàm phán giá 4
    5 Mức độ ổn định về tài chính 5
    6 Thiết bị 6
    7 Tần suất dịch vụ 7
    8 Dịch vụ vận chuyển giao nhận 8
    9 Hàng hóa mất mát hay hư hỏng 9
    10 Tiến hành chất hàng, giao nhận 10
    11 Chất lượng của nhân viên vận hành 11
    12 Theo dõi vận chuyển 12
    13 Mức độ sẵn lòng của nhà vận tải đàm phán mức dịch vụ 13
    14 Linh hoạt trong thời gian biểu 14
    15 Dịch vụ kéo moóc 15
    16 Quá trình giải quyết khiếu nại 16
    17 Chất lượng của nhân viên tiếp thị công ty 17
    18 Thiết bị đặc biệt 18

    52

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Hãy cho biết vai trò của công tác vận tải trong Logistics.
    1. Hãy nêu đặc điểm của các loại hình vận tải.
    1. Hãy cho biết các chỉ tiêu đánh giá một nhà vận tải.
    1. Theo Gérard Chevalier và Nguyễn Văn Nghiến (1998), phương châm hành động của phương pháp OPT (Optimized Production Technology-Công nghệ Sản xuất Tối ưu) trong quản lý sản xuất là: Tổng những tối

    ưu cục bộ không bằng tối ưu toàn bộ hệ thống. Trong khi đó trong nội dung của môn học này, chúng ta thấy rằng mỗi chương đều chỉ nói tới việc tối ưu công việc của mình mà không đề cập tới các công việc khác cũng như của toàn bộ hệ thống chuỗi cung cấp. Anh, chị hãy cho biết điều đó có đi ngược lại phương châm hành động của OPT hay không? Hãy giải thích cụ thể!

    53

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • NGUYỄN VĂN BA. Phân Tích Và Thiết Kế Hệ Thống Thông Tin. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2003.
    • BÙI MINH TRÍ. Tối Ưu Hóa. ĐH Bách Khoa Hà Nội, 2002
    • COYLE, JOHN J.; BARDI, EDWARD J.; LANGLEY, JOHN, JR. The Management of Business Logistics: A Supply Chain Perpective. 2003
    • GÉRARD CHEVALIER, NGUYẾN VĂN NGHIẾN. Quản Lý Sản Xuất. Nhà xuất bản Thống Kê, 1998.
    • VU DINH NGHIEM HUNG, 2002. Evaluation of Projects Based on Economic Criteria: A Fuzzy Logic Approach. Master’s Thesis, Asian Institute of Technology, Bangkok Thailand 2002.

    54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-T%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-logistics-c%E1%BB%A7a-C%C3%B4ng-ty-C%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Vinalines-Logistics-%E2%80%93-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Tốt nghiệp Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam trong điều kiện hội nhập

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong giai đoạn mở cửa hiện nay, kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển, ngành kinh doanh dịch vụ Logistics là một trong những triển vọng phát triển kinh tế mang lại kết quả tích cực cho đất nước.

    Với nền kinh tế phát triển, dịch vụ vận tải đa phương thức (logistics) đã trở thành một ngành dịch vụ tích hợp nhiều hoạt động có giá trị gia tăng cao, đem lại lợi ích kinh tế lớn, Việt Nam với môi trường kinh doanh thuận lợi, cơ hội phát triển cao hứa hẹn phát triển mạnh thị trường dịch vụ trong thời gian tới.

    Phát triển logistics ở các nước có thu nhập thấp và trung bình có thể thúc đẩy thương mại tăng trưởng và đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng với giá rẻ hơn và chất lượng dịch vụ đảm bảo.

    Tuy nhiên, ngành dịch vụ logistics của nước ta hiện còn nhiều hạn chế, để có thể phát triển mạnh cần xem xét đến nhiều yếu tố và phương hướng phát triển.

    Vinalines Logistics là một trong những thành viên của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng một cách toàn diện các chiến lược phát triển dịch vụ logistics của Công ty mẹ trên phạm vi trong và ngoài nước. Vinalines Logistics đang tiến hành đầu tư vào ngành công nghiệp logistics để mở rộng dịch vụ vận tải đa phương thức với tiềm năng phát triển cao.

    Bởi vậy em chọn đề tài “Phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM trong điều kiện hội nhập” mong đem lại cái nhìn cụ thể về thị trường Logistics nói chung và logistics trong Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM nói riêng.

     

    CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

     

    1.1. Quá trình hình thành phát triển Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

       1.1.1. Thông tin chung

    Công ty Vinalines Logistics – Việt Nam là một công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân phù hợp với pháp luật Việt Nam. Công ty được hoạt động theo quy định của pháp Luật doanh nghiệp và các quy định có liên quan của pháp luật và Điều lệ của công ty. Công ty cổ phần Vinalines Logistics – Việt Nam là công ty con của Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty con theo quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam.

    Tên công ty

    Tên viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Tên viết bằng tiếng Anh: VINALINES LOGISTICS – VIETNAM JOINT STOCK COMPANY

    Tên viết tắt                         : VINALINES LOGISTICS

    Trụ sở Công ty                   : Phòng 405 Tầng 4, tòa nhà Ocean Park, Số 1 Đào Duy Anh, Phường Phương Mai , Quận Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại                          : 04.35772036

    Fax                                   : 04.35772046

    Email                                : [email protected]

    Website                            : http://www.vinalineslogistics.com.vn

    1.1.2. Lịch sử hình thành phát triển

    Dịch vụ logistics là một lĩnh vực có nhiều ý nghĩa hết sức quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, mang lại rất nhiều việc làm cho người lao động, lượng vốn đầu tư đòi hỏi không nhiều nhưng lại thu được lợi nhuận cao. Hàng năm chi phí cho dịch vụ này chiếm 15% GDP, đạt khoảng 8 đến 12 tỷ USD tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc hiện nay là phần lớn lợi nhuận trên đã và đang rơi vào tay các công ty, tập đoàn lớn của nước ngoài.

    Hiện cả nước có khoảng 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistics là một con số khá lớn nhưng thực tế đa phần là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Điều này dẫn đến những hạn chế về nguồn vốn, nhân lực, công nghệ…. Việt Nam chưa có bất cứ doanh nghiệp nào đủ sức đứng ra tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình trong lĩnh vực này.

    Với điều kiện đặc điểm và thực trạng như trên, và dựa trên các cơ sở pháp lý hiện hành như:

    – Luật đầu tư số 59/2005/QH11, được Quốc Hội khóa XI kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005.

    – Luật thương mại số 36/2005/QH 11 được Quốc Hội khóa XI kì họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005.

    – Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH 11 được Quốc Hội khóa Xi kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005.

    – Các văn bản khác quy định về điều kiện kinh doanh cảng nội địa (ICD), kho ngoại quan, vận tải đa phương thức…Ngày 03/08/2007 tại Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam đã có cuộc họp đại hội đồng cổ đông về việc thành lập Công ty cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam, trên cơ sở đó Công ty cổ phần Vianlines Logistics Việt Nam được thành lập theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0103018983 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 10 tháng 8 năm 2007, với số vốn điều lệ là 158.000.000.000 đồng (Một trăm năm mươi tám tỷ đồng).

    Công ty thành lập với một số nhiệm vụ sau:

    • Thứ nhất, Vinalines Logistics sẽ là đầu mối tập hợp, liên kết các công ty thành viên trong hoạt động Logistics thành một mạng lưới Logistics của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đủ sức mạnh để cạnh tranh trong điều kiện hội nhập toàn cầu, hỗ trợ tích cực chủ trương chiếm lĩnh, làm chủ thị trường, vận chuyển khai thác container nội địa; đồng thời liên kết với các đối tác nước ngoài để thiết lập mạng lưới hoạt động tại các nước trong khu vực như Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc và thâm nhập vào thị trường các nước phát triển như Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ…
    • Thứ hai, Công ty chủ trương không cạnh tranh với các công ty thành viên mà hoạt động chính là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các đầu mối trọng điểm.

    1.1.3. Ngành nghề lĩnh vực kinh doanh

    • Dịch vụ Logistics;
    • Bốc xếp hàng hóa;
    • Lưu giữ hàng hóa trong kho ngoại quan, kho đông lạnh và kho khác;
    • Giao nhận hàng hóa nội địa, hàng hóa xuất nhập khẩu;
    • Dịch vụ khai thuê hải quan;
    • Dịch vụ đại lý tàu biển;
    • Dịch vụ đại lý vận tải đường biển, đường bộ, đường sắt, đường hàng không;
    • Dịch vụ đại lý container;
    • Dịch vụ môi giới hàng hải ;
    • Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa ;
    • Vận tải hàng hóa, container, hàng hóa siêu trường siêu trọng bằng đường bộ, đường sắt, đường biển ;
    • Vận tải đa phương thức ;
    • Cho thuê phương tiện, thiết bị chuyên dùng để bốc xếp, bảo quản và vận chuyển hàng hóa ;
    • Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa, môi giới thương mại, đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa ;
    • Dịch vụ tư vấn cho khách hàng về việc vận chuyển, giao nhận, lưu kho và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa ;
    • Dịch vụ ủy thác và nhận ủy thác đầu tư.

    Vinalines Logistics đang tiến hành đầu tư vào ngành công nghiệp logistics để mở rộng dịch vụ vận tải đa phương thức.

    1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức

    1.2.1. Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức

    Bảng 1.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

    Hội đồng quản trị

    • Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của Công ty;
    • Quyết định việc Công ty hoặc bất kỳ chi nhánh, đơn vị trực thuộc nào của Công ty ký kết các hợp đồng, giao dịch với các đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 120 Luật Doanh nghiệp với các giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản của Công ty và các Chi nhánh, đơn vị trực thuộc của Công ty; quyết định về các loại cổ phần cổ phiếu chào bán.
    • Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
    • Bổ nhiệm và miễn nhiệm cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng với ban quản lý;
    • Quyết định cơ cấu tổ chức, các quy chế quản lý nội bộ Công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doannh nghiệp khác;

    Ban giám đốc

    Ban giám đốc trong công ty là Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc

    • Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của Công ty trên cơ sở quyền hạn và nhiệm vụ được quy định như sau:

    + Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc hàng ngày của Công ty mà không phải có quyết định của Hội đồng quản trị, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức các chức danh quản lý

    +Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong Công ty, kể cả cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Hội đồng quản trị

    + Quyết định hợp đồng kinh doanh;

    + Tuyển dụng, thuê mướn và bố trí sử dụng lao động;

    + Quản lý toàn bộ tài sản của Công ty.

    + Tìm kiếm việc làm cho Công ty.

    + Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông và pháp luật về những sai phạm gây tổn thất cho Công ty.

    Ban kiểm soát

    Là tổ chức thay mặt cổ đông để giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành Công ty.

    Gồm 3 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi miễn bằng thể thức bỏ phiếu kín trực tiếp.

    Quyền hạn nhiệm vụ của Ban kiểm soát:

    • Thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành Công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao;
    • Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trung thực và mức độ khẩn trọng trong công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính của Công ty và kiến nghị khắc phục sai phạm;
    • Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của Công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trình Đại hội đồng cổ đông báo cáo thẩm định tại các cuộc họp thường niên.

    Phòng tài chính kế toán

    Phòng tài chính kế toán là phòng có chức năng nhiệm vụ tham mưu cho Tổng giám đốc công tác điều hành công việc quản lý tài sản, tiền vốn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh cho đúng Pháp luật. Tham mưu kịp thời việc bảo toàn và phát triển vốn của Công ty.

    Phòng đầu tư & phát triển thị trường

    Là phòng có chức năng trong lĩnh vực đầu tư, triển khai, điều hành công tác đầu tư, lập hồ sơ và hoàn thiện các thủ tục đầu tư phát triển thị trường.

    Nghiên cứu và phát triển thị trường trong và ngoài nước để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và các Chi nhánh trực thuộc.

    Làm đầu mối xây dựng dự thảo chiến lược đầu tư phát triển trung hạn và dài hạn của Công ty.

    Phòng kinh doanh

    Chức năng, nhiệm vụ của phòng kinh doanh gồm:

    – Tham mưu cho Tổng giám đốc trong việc ký kết các hợp đồng vận tải hàng hóa trong và ngoài nước.

    – Làm dịch vụ vận tải, dịch vụ kiểm đếm hàng hóa, dịch vụ đại lý container, dịch vụ môi giới hàng hải.

    – Làm dịch vụ tư vấn cho khách hàng về việc vận chuyển; Trực tiếp phụ trách công tác cho thuê phương tiện, thiết bị chuyên dùng để bốc xếp, bảo quản, và vận chuyển hàng hóa.

    Phòng thương mại & dịch vụ

    Nghiên cứu tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước, giao dịch nắm bắt yêu cầu xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu v.v…

    Xây dựng các chiến lược về xuất nhập khẩu, chiến lược kinh doanh và chiến lược thị trường, chính sách khách hàng với Công ty.

    Phòng tổ chức hành chính

    Phòng tổ chức hành chính là phòng tham mưu cho Tổng giám đốc Công ty về công tác tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh, thực hiện công tác lao động và tiền lương, quyền lợi, chế độ chính sách của Nhà nước, phòng chống cháy nổ, quân sự, tự vệ, thi đua khen thưởng kỷ luật và công tác hành chính quản trị, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ CBCNV

    Chi nhánh tại Lào Cai, chi nhánh tại Hải Phòng, chi nhánh tại Quảng Ninh, chi nhánh tại T.p Hồ Chí Minh

    Trực tiếp quản lý, điều hành, khai thác đội xe container của Công ty, khai thác kinh doanh.

    – Tham mưu cho tổng giám đốc về cách quản lý, sử dụng đội xe container có hiệu quả.

    – Tham mưu cho Tổng giám đốc về cách trả thù lao cho lái xe container.

    – Lập kế hoạch và triển khai theo dõi, giám sát công tác cải tạo, nâng cấp, sửa chữa định kỳ đội xe container.

    • Kho ngoại quan: Phục vụ hàng XNK, hàng tạm nhập tái xuất, hàng tạm xuất tái nhập, hàng quá cảnh.
    • Quản lý và triển khai trực tiếp dịch vụ đóng gói hàng hóa;
    • Thực hiện công tác thống kê, báo cáo định kỳ tải trọng khai thác, quản lý kho CFS theo quy định của Công ty;
    • Quản lý và khai thác trực tiếp bãi đóng/ rút hàng container;
    • Lập kế hoạch khai thác/ bốc xếp bãi container có hàng; bãi container rỗng và bãi container hàng lạnh;

    Lập kế hoạch điều độ hiện trường sản xuất; tổ chức, quản lý và sử dụng hiệu quả các phương tiện nâng hạ, xếp đỡ và vận tải phục vụ khai thác.

    Văn phòng đại diện tại Móng Cái

    Là đầu mối khai thác nguồn hàng kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty sang thị trường nước ngoài. Hoạt động trong kinh doanh xuất nhập khẩu

    1.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

    Bảng 1.2: Đánh giá kết quả kinh doanh của công ty

    Chỉ tiêu Kế hoạch

     

    2008

    Thực hiện 2008

     

     

    Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009

     

     

    Tỉ lệ thực hiện %
    2008 2009
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 670.000.000 952,369,574 805.000.000 1,011.471.242 142.14 125.65
    4. Lợi nhuận trước thuế 7.000.000 13.667.914 5.000.000 8.905.172 195,26 179.82

     

    Trong năm 2008, mặc dù tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn do diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng nặng nề, đơn giá dịch vụ liên tục thay đổi theo hướng bất lợi, nhưng Công ty đã tập trung nắm bắt tốt các cơ hội kinh doanh, xác định thời điểm đầu tư hợp lý, kiểm soát rủi ro để hạn chế phần nào tác động tiêu cực trên. Vì vậy, kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cả năm đã vượt kế hoạch do Hội đồng quản trị đề ra, cụ thể như sau:

    Bảng 1.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM năm 2008

    Đơn vị tính: nghìn đồng

    Chỉ tiêu Kế hoạch 2008 Thực hiện 2008 Tỉ lệ thực hiện %
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 670.000.000 952,369,574 142.14
    2. Chi phí quản lý doanh nghiệp 3000.000 3.786.044 126.20
    2. Chi phí thuế TNDN hiện hành 1.800.000 3.447.382 191.53
    3. Lợi nhuận sau thuế TNDN 5.200.000 10.220.532 196.55
    4. Lợi nhuận trước thuế 7.000.000 13.667.914 195,26

     

    Nguồn: Báo cáo kiểm toán tài chính năm 2008

     

    Năm 2009 đã được Hội đồng quản trị Công ty xác định là một năm rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu giảm mạnh, hoạt động kinh doanh, thương mại, dịch vụ Logistics… gặp ảnh hưởng không nhỏ. Tình hình xuất nhập khẩu tháng 9/2009 đã có những dấu hiệu tích cực so với dự đoán từ đầu năm, tuy nhiên vẫn giảm so với cùng kì năm 2008. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2009 ước đạt 90 tỷ USD, giảm 20,5% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó xuất khẩu ước đạt 41,7 tỷ USD, giảm 14,3% và nhập khẩu ước là 48,3 tỷ USD, giảm 25,2%. Việc thực hiện các gói giải pháp kích cầu và các giải pháp tích cực về quản lý vĩ mô nền kinh tế  của Chính phủ tuy đã hạn chế phần nào ảnh hưởng của các tác động tiêu cực nhưng những khó khăn chung của nền kinh tế vĩ mô trong thời kì khủng hoảng kinh tế, những khó khăn cụ thể của các Doanh nghiệp vận tải đa phương thức đã làm cho các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu của Công ty đạt được kết quả chưa cao như kế hoạch đề ra. Các chỉ tiêu đạt được năm 2009 được tổng hợp theo bảng sau:

    Bảng 1.4: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM năm 2009

    Đơn vị tính: nghìn đồng

    Chỉ tiêu Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009 Tỉ lệ thực hiện %
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 805.000.000 1,011.471.242 125.65
    2. Doanh thu tính lương (lãi gộp) 30.000.000 34.646.797 115.49
    2. Lợi nhuận trước thuế 5.000.000 8.905.172 179.82
    3. Thuế TNDN 1.250.000 1.514.506 179.82

    Nguồn : Báo cáo kiểm toán tài chính năm 2009

    Về hoạt động vận tải: sức cầu giảm của nhu cầu vận chuyển hàng hoá khiến cho doanh thu từ hoạt động vận tải năm 2009 đạt chưa cao, tuy nhiên với sự chỉ đạo quyết liệt của ban lãnh đạo, tìm các giải pháp, tiếp cận các khách hàng để đạt được sản lượng khai thác. Đội xe vận chuyển Container tại Hải Phòng khai thác đạt 1776 TUES, lãi gộp ước đạt 3 tỉ. Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh tuy mới được thành lập và khai thác đội xe vào tháng 10/2009 nhưng đã có những cố gắng nỗ lực ban đầu, trong 2 tháng tháng 11 và tháng 12 năm 2009 đã khai thác được 400TUES, lãi gộp ước đạt 700 triệu đồng. Đây là cơ sở tạo tiền đề để hoạt động vận tải chung của Công ty đạt kết quả trong những năm sau.

    Về hoạt động thương mại dịch vụ của Công ty trong năm 2009 vẫn là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho Công ty. Năm 2009 là năm có nhiều biến động ảnh hưởng trực triếp đến dịch vụ tạm nhập tái xuất mà Công ty đang triển khai đặc biệt là giai đoạn từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 9 năm 2009. Đây là khoảng thời gian mà tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đều rất khó khăn, hàng không giải phóng được hoặc lúc giải phóng được thì các hãng tàu đều hạn chế cho hàng về. Đi theo đó là rất nhiều vấn đề phát sinh khác không thể lường hết. Nguyên nhân chủ yếu việc giao nhận hàng hóa bị ảnh hưởng do lượng hàng trên thị trường bị ảnh hưởng nặng nề do khủng hoảng kinh tế. Ngoài ra do chi phí vận chuyển tăng, các phát sinh do lưu kho, bãi lớn do ách tách hàng hóa tại các cửa khẩu. Tuy nhiên, đến tháng 10 trở đi đã có những chuyển biến rất khả quan, lượng hàng được khai thác trở lại đạt hiệu quả, thời gian làm hàng nhanh, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Mặc dù có nhiều lúc khách hàng chưa được hài lòng hoàn toàn nhưng năm 2009 được đánh giá là năm Công ty đã giữ và phát huy hơn nữa những gì đã làm được của năm 2008 như: giữ và tìm kiếm được khách hàng mới, mở rộng thêm một số mặt hàng, quan hệ với các hãng tầu, với các cơ quan quản lý nhà nước được khẳng định, các nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ công nhân viên đã dần đi vào ổn định…

    Về hoạt động tài chính: lãi suất huy động 9 tháng đầu năm giảm làm cho doanh thu từ hoạt động tài chính của Công ty cũng giảm đáng kể. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến doanh thu cả Công ty 9 tháng đầu năm đạt chưa cao so với kế hoạch đề ra.

    Bảng 1.5: Tình hình sản xuất kinh doanh năm 2010 của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Đơn vị tính: nghìn đồng

    Chỉ tiêu Kế hoạch 2010 Thực hiện

     

    2010

    Tỉ lệ thực hiện %
    1. Doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ 900.000.000 1670400000 185,6
    2. Doanh thu tính lương (lãi gộp) 32.000.000 40102400 125,32
    2. Lợi nhuận trước thuế 5.500.000 8426000 153,2

    Báo cáo 2010 Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Trong năm 2010 vừa qua, Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM đã đạt được thành tích đáng kể. Doanh thu năm 2010 vượt so với kế hoạch là 1670400 triệu đồng tăng 185,6% đạt mức cao nhất so với 2 năm trước và nâng lợi nhuận đạt mức 8426 triệu đồng tăng 153,2% so với kế hoạch. Do trong năm qua công ty mở rộng sang các hoạt động kinh doanh, đầu tư phát triển cảng ICD Lào Cai, củng cố thêm năng lực vận tải để cạnh tranh và tăng trưởng đạt mức cao trong các quý.

    Trong chiến lược dài hạn Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM đang phấn đấu đạt mức lợi nhuận cao, chiếm thị phần lớn trên thị trường quốc tế.

    1.4. Những thuận lợi và khó khăn của công ty

    1.4.1 Thuận lợi

    Tình hình kinh doanh tại Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM đang trên đà phát triển do có được sự đầu tư về hệ thống cơ sở vật chất hợp lý, phối hợp phòng ban cùng với sự phát triển của xu hướng logistics Việt Nam và quốc tế. Cảng Lào Cai là một trong những hoạt động đi đầu mũi nhọn đang từng bước hoàn thiện đi vào hoạt động đem lại kết quả khởi sắc cho công ty.

    1.4.2 Khó khăn

    Trước mắt doanh nghiệp còn gặp một số trở ngại hạn chế về đội ngũ lao động. Là một doanh nghiệp mới còn trẻ trên thị trường logistics nên Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM còn có nhiều hạn chế về chuyên môn và hợp đồng kinh doanh khác.

     

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KINH DOANH LOGISTICS

    CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES

    LOGISTICS – VIỆT NAM

     

              2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty

    2.1.1.  Điều kiện địa lý

    Điều kiện địa lý thuận lợi là một trong những yếu tố để phát triển logistics. Nước ta là một quốc gia có biển, với chiều dài bờ biển hơn 3200 km, hệ thống cảng biển đa dạng trải đều từ Bắc vào Nam lại nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế,phải nói rằng thiên nhiên ưu đãi cho Việt Nam một điều kiện địa lý rất lý tưởng để phát triền vận tải đường biển. Với sự ưu đãi này không những tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát triển buôn bán với các quốc gia, các khu vực trên thế giới mà còn có thể đưa Việt Nam trở thành nơi trung chuyển hàng hóa trong khu vực. Ngoài lợi thế về đường biển, hệ thống sông ngòi Việt Nam cũng đa dạng và phong phú đặc biệt là đồng bằng Nam bộ, tạo điều kiện phát triển giao thông nội thủy. Hàng hóa được dỡ khỏi cảng biển, tiếp tục lên các phương tiện vận tải nội thủy theo các đường sông đi sâu vào đất liền để giao hàng.Với hai vùng châu thổ (đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ) bằng phẳng, rộng lớn được nối với nhau bởi dẻo đất Trung bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường sắt và ô tô – một mắt xích không thể thiếu được trong vận tải đa  phương thức.

    Với điều kiện địa lý như đã đề cập trên đây, Công ty có đầy đủ các điều kiện để áp dụng và phát triển hoạt động logistics.

    2.1.2. Cơ sở hạ tầng

    2.1.2.1. Hệ thống kho vận

    Cho đến nay Việt Nam hiện có 266 cảng biển lớn nhỏ tại 24 tỉnh, thành vùng duyên hải. Trong đó, 9 cảng có khả năng cải tạo, nâng cấp để tiếp nhận tàu 50.000 DWT (loại tàu trung bình của thế giới) hoặc tàu chở container đến 3.000 TEU.

    Ở khu vực miền Bắc, hàng hoá chủ yếu được vận chuyển qua cảng Hải Phòng và Cái Lân (được khai thác từ năm 2005). Trong 5 năm qua, mức tăng trưởng vận tải hàng hoá tại cảng Hải Phòng là 25%. Đây là tốc độ cao nhất tại Việt Nam và sẽ còn tiếp tục tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới. Cảng Hải Phòng hiện có quy mô lớn gấp 8 lần cảng Cái Lân, có thuận lợi là gần thủ đô Hà Nội. Một chuyên gia nước ngoài cho rằng Chính phủ Việt Nam cần tập trung đầu tư hơn nữa cho cảng Hải Phòng, nhất là nâng mức mớn nước lên trên 20m để các tàu có trọng tải lớn có thể cập cảng.

    Tại miền Nam, hệ thống cảng gồm: Cát Lái, VICT, Sài Gòn, Bến Nghé, ICP Phước Long, New Port ICP, Cái Mép – Thị Vải, Vũng Tàu, Hiệp Phước… hiện đang bị quá tải. Trong năm 2008, cảng biển khu vực miền Nam chiếm tới 72% lượng hàng hoá vận chuyển của cả nước. Từ đầu năm 2009 đến nay, toàn hệ thống cảng biển miền Nam vận tải hàng hoá đạt 2,7 triệu TEU (đơn vị tính khả năng chở hàng của tàu container); phấn đấu đến hết năm 2009 đạt 3 triệu TEU.

    Tại miền Trung, hai cảng lớn Đà Nẵng và Quy Nhơn chỉ đáp ứng 2% lượng hàng hoá vận chuyển của cả nước. Tính trung bình, hàng hoá vận chuyển thông qua cảng Đà Nẵng chỉ đạt 40.000 TEUs/năm và cảng Quy Nhơn 50.000 TEUs/năm. Con số này chứng tỏ lượng hàng hoá vận chuyển qua hệ thống cảng miền Trung là không nhiều.

    2.1.2.2. Hệ thống cảng hàng không

    Cụm cảng hàng không miền Bắc được thành lập ngày 28/02/1977. Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, đã từng bước trưởng thành, vươn lên mạnh mẽ, ngày càng đổi mới, đạt được nhiều thành tích trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo an ninh an toàn hàng không; xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật của Cảng hàng không, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh của thị trường hàng không trong nước và quốc tế. Là một doanh nghiệp Nhà nước được giao nhiệm vụ khai thác Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và các cảng hàng không khu vực miền Bắc gồm Cảng hàng không Cát Bi – thành phố Hải Phòng, Cảng hàng không Vinh – tỉnh Nghệ An, Cảng hàng không Nà Sản – tỉnh Sơn La, Cảng hàng không Điện Biên – tỉnh Điện Biên. Trong hệ thống các cảng hàng không khu vực miền Bắc, Cảng hàng không quốc tế Nội Bài là một cảng hàng không lớn của thủ đô Hà Nội, có vị trí kinh tế, chính trị, địa lý hết sức quan trọng và thuận lợi, là điểm đến hấp dẫn của hành khách, là trung tâm trung chuyển hàng hoá đầy tiềm năng. Hiện tại có 22 hãng hàng không đang khai thác tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, với 06 đường bay nội địa và 18 đường bay quốc tế. Được quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng như: xây dựng ga hàng hoá với công suất 126.000 tấn/năm, hệ thống trang thiết bị dẫn đường, điều hành cất hạ cánh, giám sát an ninh, an toàn hàng không và công trình đường cât hạ cánh thứ hai (11R/29L) đạt tiêu chuẩn CAT2 đã được đưa vào khai thác từ tháng 7/2006. Công tác chuẩn bị đầu tư Dự án Nhà ga hành khách T2 của sân bay quốc tế Nội Bài với công suất 8 – 10 triệu hành khách/năm đang được triển khai theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Lúc đó sân bay Nội Bài sẽ có công suất phục vụ 14-16 triệu khách năm. Cụm cảng hàng không miền Bắc đặc biệt quan tâm tới việc phát triển mạng lưới cảng hàng không dân dụng trong khu vực. Dự kiến năm 2008 sẽ đưa vào khải thác Cảng hàng không Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình. Khi hoàn thành đưa vào khai thác, cảng hàng không Đồng Hới sẽ góp phần mở rộng giao lưu thương mại, đầu tư và du lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Bình và khu vực Bắc Trung Bộ. Cụm cảng đang triển khai thủ tục để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt các dự án quy hoạch, đầu tư xây dựng cảng hàng không Gia Lâm – thành phố Hà Nội, Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai – tỉnh Lào Cai… Trong những năm qua, Cảng hàng không Cát Bi – thành phố Hải Phòng đã khai thác hiệu quả các đường bay trong nước. Từ tháng 5/2006 đường bay quốc tế Cát Bi – Macau với tần suất 01 chuyến/ngày đã được đưa vào khai thác với sản lượng hành khách ngày càng tăng. Cụm cảng Hàng không miền Bắc luôn quan tâm phát triển, mở rộng các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của hành khách và các hãng hàng không như: cung ứng dịch vụ phục vụ mặt đất, kinh doanh hàng miễn thuế, dịch vụ ăn uống giải khát, sách báo, thông tin liên lạc, bách hoá, hàng lưu niệm…

    Cụm cảng Hàng không miền Trung được thành lập theo quyết định số 113/1988/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó quy định là doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, cung ứng các dịch vụ hàng không và phi hàng không. Cụm cảng hàng không miền Trung được Cục hàng không dân dụng Việt Nam uỷ quyền một số chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực hàng không dân dụng của các cảng hàng không trong khu vực miền Trung Việt Nam. Cụm cảng hàng không miền Trung là một cơ quan trực thuộc Cục hàng không Dân dụng Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải. Cụm cảng Hàng không miền Trung có trụ sở tại Sân bay Quốc tế Đà Nẵng và quản lý các sân bay sau: Sân bay Quốc tế Đà Nẵng, sân bay Quốc tế Phú Bài, sân bay Quốc tế Cam Ranh, sân bay Phù Cát, sân bay Pleiku, sân bay Đông Tác, sân bay Chu Lai.

    Cụm cảng Hàng Không miền Nam là cơ quan trực thuôc Cục hàng không Việt Nam, được hình thành sau tháng 4-1975 trên cơ sở tiếp quản, quản lý và khai thác các cảng hàng không khu vực miền Nam do chế độ cũ thất bại để lại.. Hơn 30 năm xây dựng và phấn đấu Cụm cảng Hàng không Miền Nam đã có những bước tiến dài trên con đường phát triển và hội nhập, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.Trụ sở chính của Cụm cảng Hàng Không miền Nam đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất số 1 đường Trường Sơn, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụm cảng Hàng Không miền Nam quản lý tất cả các sân bay ở miền Nam Việt Nam (bao gồm Sân bay Tân Sơn Nhất, Sân bay Liên Khương, Sân bay Trà Nóc, Sân bay Buôn Ma Thuật, Sân bay Cà Mau, Sân bay Cỏ ông, Sân bay Rạch Giá, Sân bay Dương Đông… ) Các công ty trực thuộc Cụm cảng Hàng Không miền Nam gồm có Sacco, Sags…Năm 2006, các sân bay của Cụm cảng hàng không miền Nam đã phục vụ hơn 9 triệu lượt khách, trong đó, riêng  Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phục vụ 8,5 triệu khách.

    2.1.2.3. Hệ thống đường bộ (sắt – ô tô)

    Đường sắt Việt Nam được xây dựng và phát triển đến nay đã trên 120 năm. Với tổng chiều dài 2.632 km, đường sắt Việt Nam nối liền các khu dân cư, trung tâm văn hoá nông nghiệp và công nghiệp trên cả nước trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài mạng lưới đường ray,đường sắt Việt Nam còn có một hệ thống cầu cống, hầm, đầu tầu và toa xe chuyên chở hàng và hành khách.

    Hiện tại, mạng lưới đường sắt có 2.632km đường chính tuyến, 403km đường ga và 108km đường nhánh. Trong đó 85% là đường khổ 1.000mm, 6% là đường khổ 1.435mm và 9% là đường lồng (lồng chung 2 khổ 1.000mm và 1.435mm).

    Chiều dài của các loại đuờng

    Đường chính và đuờng nhánh 2.632 km
    Trong đó:  
    – Đường khổ 1.000 mm 2.237 km
    – Đường khổ 1.435 mm 158 km
    – Đường lồng 237 km
    Đường tránh và đuờng nhánh 511 km
    Tổng cộng 3.143 km

    Một số cơ sở hạ tầng khác của ngành 

    Hệ thống đường sắt có tất cả 1.790 cầu đường sắt với chiều dài 45.368 mét và 31 cầu chung đường sắt – đường bộ dài 11.753 mét, trong đó tổng chiều dài cầu trên tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh là 36.056 mét, chiếm tỷ lệ 63% tổng chiều dài cầu trên đường sắt. Có 180 cầu dầm thép tạm thời dài 18.084 mét, chiếm 31% tổng chiều dài cầu Đường sắt. Tổng chiều dài các cầu bê tông là 13.274 mét trong đó 9.179 mét trên tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh. Ngành có 5.128 cống với chiều dài 80.850 mét trên Đường sắt, 39 hầm với chiều dài 11.512 mét trong đó tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh có 27 hầm với chiều dài 8.335 mét.

    Về hệ thống thông tin, đường sắt Việt Nam sử dụng hầu hết máy tải ba 1 kênh, 3 kênh, 12 kênh được sản xuất tại Hungary giữa những năm 1972 và 1979. Hệ thống radio tần số cao được dùng cho hệ thống dự trữ khẩn cấp ở một số khu vực của mạng lưới đường sắt. Hệ thống dây trần được sử dụng nhiều trong việc truyền tải thông tin đuờng dài. Loại cáp đôi đồng được sử dụng cho thông tin tín hiệu địa phương. Từ năm 1998, Tổng Công ty đường sắt Việt Nam sử dụng hệ thống nhân kênh trên kênh truyền số liệu tốc độ 64 kbps thuê của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam trên hướng Hà Nội – TP Hồ Chí Minh và Hà Nội – Đà Nẵng để truyền số liệu và điện thoại băng công nghệ Microband ATM (chế độ truyền dẫn không đồng bộ vi băng).

    2.1.2.4. Hệ thống đường sông

    Đường sông cũng là một lợi thế tạo thêm sự đa dạng và phong phú trong hệ thống giao thông vận tải ở Việt Nam. Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường sông những năm qua cũng được chú trọng đầu tư phát triển.Các tuyến vận tải đường sông chính được hình thành ở phía Bắc như Hải Phòng – Hà Nội, Nam Định, Việt Trì. Phía Nam như Sài Gòn – Rạch Giá, Hà Tiên hay Sài Gòn – Cần Thơ – Cà Mau là những tuyến đường tiếp nối vận tải hàng hóa bằng đường biển vào sâu trong đất liền hay vận chuyển hàng hóa từ sâu trong nội địa gom hàng cung cấp cho vận tải biển để tạo thành hành trình đi suốt cho hàng hóa. Cũng như vận tải đường biển, vận tải đường sông năng lực chuyên chở cũng khá lớn và chi phí tương đối thấp so với một số phương thức vận tải khác cho nên góp phần giảm chi phí trong vận chuyển. Vận tải đường sông sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc chuyên chở hàng hóa bằng tàu LASh (Light Aboard Ship).

    Qua phân tích trên về cơ sở hạ tầng của Việt Nam có thể nhận thấy rằng đây là những yếu tố rất thuận lợi cho việc áp dụng và phát triển mô hình logistics trong vận tải giao nhận ở Việt Nam. Cho dù về cơ sở hạ tầng hiện trạng cũng còn nhiều vấn đề bất cập song cùng với sự phát triển đi lên của đất nước chắc chắn hạ tầng cơ sở phục vụ cho ngành giao thông vận tải sẽ được phát triển và hoàn thiện đáp ứng những yêu cầu mới của ngành đặt ra.

    • Môi trường pháp lý

    Điều kiện địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng đảm bảo là những nhân tố tạo khả năng áp dụng và phát triển công nghệ logistics ở quốc gia hay khu vực.Song hoạt động logistics có mang lại hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào môi trường pháp lý có đầy đủ và đảm bảo sự thông thoáng hay không. Ngày nay hoạt động của các doanh nghiệp hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ và chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho họ trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các quy định về thương mại, giao nhận, vận tải, hải quan… đều phải được hệ thống hóa bằng pháp luật.Nếu không có hoặc không rõ ràng trong hệ thống luật, các hoạt động của doanh nghiệp khó có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.

    Nhìn lại quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam thời gian qua chúng ta thấy hệ thống luật phục vụ các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quan hệ kinh tế quốc tế, giao thông vận tải… luôn được Nhà nước và Quốc hội quan tâm.Chỉ trong một thời gian ngắn, một loạt các hoạt động trong xã hội đã được thể chế hóa bằng luật như: Luật Hàng hài, Luật Dân  sự, Luật  Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Bảo hiểm… Bên cạnh các bộ luật chuyên ngành còn có các văn bản dưới luật như pháp lệnh, quy định, quy chế… liên quan bổ sung, hướng dẫn trong quá trình thực thi pháp luật hiện hành. Một số bộ luật khác đang được xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện và sẽ được ban hành trong thời gian không xa. Ngoài sự cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp trong nước, Chính phủ Việt Nam còn tham gia ký hoặc phê chuẩn các công ước, điều ước, hiệp định song biên hoặc đa biên mang tính quốc tế hay khu vực liên quan tới các hoạt động buôn bán, vận tải giao nhận, sản xuất kinh doanh… nhằm tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Qua phân tích trên đây có thể thấy hệ thống pháp luật Việt Nam tuy chưa đầy đủ và còn nhiểu bất cập, song cùng với sự đổi mới của nền kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật Việt Nam sẽ được điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện, nhằm tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có hoạt động của logistics.

    • Sự phát triển của công nghệ thông tin

    Đối với Việt Nam, công nghệ thông tin và thương mại điện tử còn mới mẻ, song lại có tốc độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Số người dân  sử dụng máy vi tính và kết nối mạng internet ngày càng gia tăng. Các chương trình đào tạo từ tiểu học đến đại học đều có đề cập tới kiến thức tin học với các câp độ khác nhau. Các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh đều ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trong việc duy trì và quản lý mọi hoạt động của đơn vị mình. Ở Việt Nam hiện nay, số doanh nghiệp sử dụng và khai thác mạng internet để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phổ biến, bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một số đã áp dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực marketing, ký kết hợp đồng mua bán, giao nhận vận tải hàng hóa, bào hiểm, thanh toán…

    Với hiện trạng và xu hướng phát triển công nghệ thông tin cũng như thương mại điện tử  của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội và khả năng áp dụng công nghệ logistics trong họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận. Vị trí của logistics trong toàn bộ quá trình phân phối vật chất, thực chất là sử dụng và  xử lý thông tin để tổ chức và quản lý chu trình di chuyển hàng hóa qua nhiều cung đoạn, chặng đường, phương tiện, địa điểm khác nhau đáp ứng yêu cầu kịp thời, đúng lúc.

    • Nguồn nhân lực thực hiện kinh doanh

    Logistics còn là lĩnh vực mới mẻ đối với Việt Nam, do vậy kiến thức toàn diện về logistics cũng như quản trị logistics chưa được đào tạo và trang bị đầy đủ. Song cho dù chưa được phát triển ở Việt Nam, nhưng đứng về nguồn nhân lực cung cấp phục vụ họat động logistics thì hiện tại ở Việt Nam khá dồi dào. Qua khảo sát thực tế số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải và giao nhận trong cả nước thuộc các loại hình cũng phải lên tới con số gần 800. Theo VIFFAS (Hiệp hội giao nhận-kho vận Việt Nam) nếu chỉ tính riêng nhân viên trong những công ty là hội viên của Hiệp hội con số này cũng phải lên tới gần 3000 người, ngoài ra ước tính còn có khoảng 5000 đến 6000 người thực hiện giao nhận vận tải bán chuyên nghiệp. Nguồn nhân lực trên đây được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Ở cấp trình độ đại học, được đào tạo chủ yếu từ trường đại học Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, Hàng hải, Giao thông vận tải, Thương mại…Những năm qua do nhận thức được vai trò và vị trí của logistics đối với hoạt động vận tải giao nhận, VIFFAS đã phối hợp với các tổ chức quốc tế khác như FIATA, ESCAP… thường xuyên tổ chức hội thảo, mở các khóa đào tạo chuyên về giao nhận và vận tải quốc tế, vận tải đa phương thức, logistics nhằm trang bị kiến thức mới cho các hội viên để có thể áp dụng và phát triển nghiệp vụ của mình đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước. Ở lĩnh vực này phải nói rằng nguồn nhân lực của Việt Nam khá dồi dào có thể đáp ứng mọi yêu cầu cho việc áp dụng và phát triển mô hình logistics trong sản xuất kinh doanh cũng như trong hoạt động vận tải giao nhận ở  Việt Nam.

    • Hội nhập kinh tế quốc tế

    Sau gần 10 năm Việt Nam hội nhập, các doanh nghiệp nước ngoài góp phần thúc đẩy ngành logistics của Việt Nam nhưng đồng thời cũng là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp gây sức ép rất nhiều đối với doanh nghiệp nội. Các doanh nghiệp ngoại có khả năng quản trị, nguồn vốn dồi dào, nhờ vậy đã có nhiều lợi thế hơn trên đất Việt Nam.

    Theo Bộ Công Thương VN, dịch vụ logistics ngày nay đã trở thành ngành dịch vụ xương sống của hoạt động thương mại quốc tế và mặc dù mới được hội nhập trong vòng 2 năm, nhưng logistics đã là sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng kinh tế ASEAN. Theo Thứ trưởng Bộ Công thương VN, Nguyễn Cẩm Tú, mục tiêu của lộ trình hội nhập nhanh dịch vụ logistics là đẩy nhanh tự do hóa và thuận lợi hóa các phân ngành, với thời hạn là năm 2013 và trong dài hạn sẽ biến ASEAN thành trung tâm dịch vụ logistics của Châu Á Thái Bình Dương. Theo các quan chức kinh tế ASEAN, cần 4 bước để dịch vụ logistics hội nhập nhanh, gồm: Tự do hóa thương mại, dỡ bỏ rào cản thuế và phi thuế cho hàng hóa lưu chuyển thuận lợi; tạo cơ hội cho DN trong lĩnh vực logistics; nâng cao năng lực quản lý logistics và phát triển nguồn nhân lực. Được biết, đến năm 2010, khu vực thương mại tự do ASEAN đã hoàn thành 99,1% số dòng thuế của 6 nước ASEAN cũ là 0%và 97% số dòng thuế đạt 0 -5% đối với 3 nước Lào, Mianmar và Campuchia. Theo lộ trình, đến năm 2015, dòng thuế nội bộ ASEAN sẽ đạt 0%.

    2.2.      Thực trạng kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics

    2.2.1.1. Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics hình thức giao nhận:

    Khối lượng hàng hóa giao nhận bằng đường biển luôn chiếm tỉ trọng cao trong tổng khối lượng hàng hóa giao nhận của Công ty, trung bình khoảng 60-70% khối lượng hàng hóa được giao nhận. Điều này cũng phù hợp với thực tế giao nhận hàng hóa ở Việt Nam, bởi vì trong chuyên chở hàng hóa quốc tế thì vận tải biển đóng vai trò quan trọng nhất. Vận tải đường biển có năng lực vận chuyển lớn vì phương tiện trong vận tải biển là các tàu có sức chở rất lớn, lại có thể chạy nhiều tàu trong cùng một thời gian trên cùng một tuyến đường. Vận tải biển thích hợp cho hầu hết các loại hàng hóa, đặc biệt thích hợp và hiệu quả trong việc chuyên chở các loại hàng hóa rời, có khối lượng lớn và giá trị thấp. Mặt khác, trong phương thức vận tải biển thì giá thành rất thấp, vào loại thấp nhất trong các phương thức vận tải.

    Bảng 2.1: Khối lượng hàng hóa giao nhận theo phương thức vận tải

    ĐVT: Tấn

    Chỉ tiêu Năm
    2008 2009 2010
    GNĐB Số tuyệt đối 126.167 122.670 130.654
    Tốc độ tăng(%) 4,8 -2,9 6,1
    GNHK Số tuyệt đối 12.921 14.996 23.108
    Tốc độ tăng(%) 20 13,8 35,1

    (Nguồn: Báo cáo kế toán của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)

    Khối lượng hàng hóa giao nhận bằng đường biển khá ổn định, tốc độ tăng không đáng kể, đạt cao nhất là năm 2010 là 130.654 tấn. Năm 2009 khối lượng hàng hóa giao nhận bằng đường biển có giảm, đây là tình hình hoạt động chung của Công ty năm 2009. Những năm gần đây, tỉ trọng giao nhận bằng đường biển có phần giảm xuống. Nguyên nhân không phải do Công ty không khai thác tốt mảng hoạt động giao nhận vận tải biển mà do Công ty đã phát triển được hoạt động giao nhận bằng phương thức hàng không. Tỉ trọng hàng hóa giao nhận của phương thức này trong những năm gần đây tăng khá. Công ty đã mở rộng được phạm vi kinh doanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng trong giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế.

    • Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa đại lý

    Bảng 2.3: Số lượng hãng giao nhận quốc tế kí hợp đồng đại lý với Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    Loại hình đại lý Năm
    2008 2009 2010
    Đại lý hàng hải 55 60 64
    Đại lý hàng không 16 20 25
    Tổng 71 80 89
    Tốc độ tăng (%) 11,25 10,1

                                              ( Nguồn: Tài liệu lưu trữ về hợp đồng đại lý)

    Theo số liệu ta thấy, tình hình mở rộng đại lý tăng dần theo các năm, năm 2009 tăng 11,25%, năm 2010 tăng 10,1%. Mức tăng khác nhau do năm 2009 bắt đầu đưa vào sử dụng hệ thống vận tải hàng không mở rộng nên tốc độ các đại lý gia tăng mạnh hơn trong năm 2010, cụ thể tăng thêm 9 đại lý hàng không so với năm 2008 và 5 đại lý hàng hải so với năm 2009.

    Số lượng hãng giao nhận quốc tế có mối quan hệ với Công ty là gần 90 hãng. Đa số các hãng này có quan hệ với Công ty lâu đời và một số hãng do chính Công ty thiết lập mối quan hệ trong thời gian hoạt động. Trong hệ thống các đại lý của Công ty thì những đại lý như: IFB, SAIMA, SANKYU, ABX…là những hãng có mối quan hệ truyền thống, lượng hàng chỉ định của những hãng này thường chiếm tỉ trọng cao hơn so với các đại lý khác của Công ty. Các đại lý nay có mặt hầu hết ở các nước trên thế giới và mỗi đại lý lại có văn phòng đại diện và chi nhánh ở các nước khác nhau. Chính điều này đã tạo cho hoạt động của Công ty có thể diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng.

    • Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế

    Đại lý giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế là hoạt động kinh doanh chính của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM. Hoạt động này đem lại thu nhập chủ yếu cho Công ty, chiếm khoảng 70-75% doanh thu và lợi nhuận của Công ty. Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế tăng qua các năm hoạt động, đặc biệt là lợi nhuận có tốc độ tăng rất nhanh, nhanh hơn nhiều so với doanh thu.

    Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc tế

    ĐVT : triệu đồng

    Năm 2008 2009 2010
    Doanh thu (T) Thực hiện 5001 5271 7310
    So với năm trước Mức tăng tuyệt đối 273 270 2039
    Tốc độ tăng (%) 5,45 5,12 27,89
    Lợi nhuận (P) Thực hiện 525 805 1341
    So với năm trước Mức tăng tuyệt đối 138 280 536
    Tốc độ tăng (%) 26,28 34,78 39,97
    Tỉ suất P/T (%) 10,49 15,27 18,34

    (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)

    Theo số liệu thống kê có thể thấy mức độ tăng nhanh của hình thức giao nhận hàng hóa góp phần làm cho doanh thu lợi nhuận từ hàng hóa quốc tế gia tăng mạnh, nhất là trong năm 2010. Tình hình mở rộng hình thức kinh doanh và quan hệ quốc tế làm gia tăng lượng hàng lưu chuyển và đem lại tỷ suất lợi nhuận lên đến 18,34% cao nhất trong các năm qua.

    2.2.2. Thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ logistics

          Hình 2.1: Khối lượng hàng hóa giao nhận của phương thức đường biển

     

    Doanh thu từ hoạt động giao nhận đường biển cũng tăng đều qua các năm, đặc biệt năm 2009 mặc dù khối lượng giảm chỉ đạt 122.670 tấn hàng hoá, tốc độ tăng không bằng năm 2008 song doanh thu và lợi nhuận đều cao hơn, đặc biệt tỉ suất lợi nhuận/doanh thu cao hơn rất nhiều. Trong hoạt động giao nhận nói chung và giao nhận biển nói riêng, Công ty đã áp dụng rất nhiều biện pháp để giảm chi phí hoạt động, nhờ đó nâng cao được hiệu quả kinh doanh như: giảm chi phí làm hàng, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các hãng tàu nhờ đó mà giành được giá ưu đãi trong thời điểm nhiều hàng…

     

    Hình 2.2: Khối lượng hàng hóa giao nhận của phương thức hàng không

    (Nguồn: Báo cáo kế toán của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)

    Giao nhận hàng không cũng là mảng hoạt động chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh của Công ty cả về khối lượng hàng hóa giao nhận lẫn doanh thu và lợi nhuận. Năm 2008 Công ty bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch mở rộng thị trường giao nhận hàng không và bước đầu có quan hệ với các hãng giao nhận hàng không trên thế giới như: Translink, Sinotransport Co, Piomeer Express…Đây đều là các hãng hàng không lớn, có uy tín trên thị trường giao nhận.

    2.2. Đánh giá thực trạng kinh doanh logistics

    2.3.1. Ưu điểm

            Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM trong 3 năm kinh doanh vừa qua đã có mức tăng trưởng đáng kể, đặc biệt trong năm 2010. Có được kết quả đó là nhờ nắm bắt thời cơ, mở rộng thị trường, đa dạng hóa hình thức kinh doanh và các mối quan hệ trong nước và thế giới trong lĩnh vực logistics. Đáng kể là trong năm 2009 mặc dù có nhiều biến động nhưng Công ty đã liên tục mở rộng mạng lưới, góp phần củng cố thương hiệu và uy tín trên thị trường.

    2.3.2. Nhược điểm và nguyên nhân

    Tuy nhiên, trong năm vừa qua, logistics đã có nhiều chuyển biến tích cực, mở rộng mạng lưới quốc tế và hình thức giao nhận góp phần đẩy mạnh cạnh tranh trong ngành. Một số công ty lớn có thâm niên lâu đời cạnh tranh mạnh trên thị trường trong khi Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM mới chỉ hoạt động trong vòng 3 năm nên có nhiều hạn chế.

    Để cạnh tranh trên thị trường logistis đang bùng nổ hiện nay cả trong và ngoài nước, Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM cần phải xác định năng lực cạnh tranh mũi nhọn của mình, từ đó đầu tư xây dựng, phát triển xuyên tâm nhằm chiếm thị phần đang tăng trưởng. Trong năm qua tuy đã chú trọng phát triển hệ thống đại lý, các cảng biển, hàng không, tuy nhiên cần đầu tư mở rộng hơn nữa trong những năm tới ở một số cảng chủ chốt tập trung nhiều đầu mối quan trọng như Đà Nẵng, Cái Lân, ICD Lào Cai…

    Mặt khác trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay, thông tin là vàng có thể giúp cho doanh nghiệp tinh giảm thời gian vận chuyển, xác nhận loại hàng đơn hàng, và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, hạn chế rủi ro…, doanh nghiệp chưa nghiêm túc đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin cơ sở.

    Trong giai đoạn trước mắt, khi có nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ trong nước và nước ngoài đang cạnh tranh trong lĩnh vực logistics mà có nhiều chính sách ưu đãi của nhà nước, góp phần tăng cạnh tranh trên thị trường, càng đòi hỏi doanh nghiệp cần có mối quan hệ tốt với khách hàng, bởi vậy doanh nghiệp cần xem xét lại dịch vụ marketing nhằm đẩy mạnh tiêu thụ dịch vụ và quảng bá thương hiệu.

     

    CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

     

    3.1. Cơ hội và thách thức với kinh doanh dịch vụ logistic ở VN

    Những cơ hội

    • Outsourcing – cơ hội giúp ngành logistics Việt Nam phát triển

    Trong một bài báo gần đây trên tạp chí Global Logistics and Supply Chain Strategies, tác giả Robert J.Bowman đã nhận xét rất lý thú rằng, chưa bao giờ mà thị trường dịch vụ logistics lại sinh sôi, nảy nở mạnh mẽ như hiện nay bởi một yếu tố vo cùng quan trọng, đó chính là xu hướng outsourcing (thuê ngoài). Nếu quan sát thì phần lớn các tập đoàn lớn trên thế giới đều đã outsource các hoạt động logistics hoặc chuỗi cung ứng ra bên ngoài cho một nhà cung cấp dịch vụ thứ ba hoặc thứ tư. Những cái tên mà chúng ta có thể kể đến là Dell, Walmart, Nortel, Gap, Nike…Chính xu hướng ấy đã giúp thị trường logistics thế giới tăng trưởng ở mức hai con số. Điều này cũng đã rất phổ biến tại Việt Nam do sự hiện diện của nhiều tập đoàn đa quốc gia. Song nếu quan sát kỹ thì toàn bộ các hoạt động thuê ngoài của các tập đoàn đa quốc gia ở Việt Nam đều giành cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba của nước ngoài. Nike thì sử dụng APL Logistics và Maersk Logistics, Adidas sử dụng Maersk Logistics, Kmart sử dụng APL Logistics, Nortel sử dụng Kuehne – Nagel…Điều này cho thấy chưa có xu hướng này thể hiện ở các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực logistics. Chúng ta có thể thấy việc các doanh nghiệp Việt Nam thuê các công ty quảng cáo nước ngoài xây dựng chiến lược và thực hiện các hoạt động quảng cáo và marketing ở Việt Nam nhưng chúng ta lại chưa thấy các doanh nghiệp Việt Nam thuê các công ty Việt Nam hay nước ngoài cung cấp dịch vụ logistics trọn gói ở Việt Nam. Điều này bắt nguồn từ nguyên nhân nhưng một nguyên nhân quan trọng có lẽ chính là việc thiếu một cầu nối giữa nhà sử dụng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ logistics mà ở đây vai trò của Nhà nước và Hiệp hội vô cùng quan trọng. Nếu coi VIFFAS (Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam) là đại diện cho những nhà cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam thì vai trò của VIFFAS là quá nhạt nhoà và thiếu sự năng động cần thiết. Điều này góp phần làm giảm tiếng nói và hình ảnh của chính cộng đồng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Một điểm sáng gần đây là việc tập đoàn VDA đã chính thức kí kết đối tác chiến lược với tập đoàn Vinalines trong hoạt động logistics và vận tải hỗ trợ cho sự phát triển của VDA. Đây là tín hiệu đáng mừng và là cơ hội để thị trường dịch vụ logistics của Việt Nam phát triển.

    • Liên kết và cổ phần hoá – động lực cho sự phát triển

    Thị trường logistics Việt Nam đang ở trong giai đoạn cực kì phân tán và manh mún. Các nhà cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chỉ thuần tuý hoạt động trong một số phạm vi hẹp và truyền thống như vận tải, giao nhận, kho bãi mà thiếu một tư duy chiều sâu. Đã đến lúc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần ngồi lại với nhau, cùng hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin. Đây là hai thế mạnh rất nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài. Cùng với xu hướng cổ phần hoá mạnh mẽ, các doanh nghiệp nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở lên rất khả thi. Gần đây đã có nhiều công ty đi theo mô hình này mà cụ thể là giữa các công ty dịch vụ cảng, kho bãi và vận chuyển. Song việc liên kết hợp tác không chỉ là việc 1+1 mà là cả một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu, quá trình ấy đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện việc tái lập đến tận gốc rễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công.

    • Tiêu chuẩn hoá – nền tảng cho sự phát triển bền vững

    Thiếu một quy chuẩn thống nhất là điều đang tồn tại rất rõ trong ngành dịch vụ logistics Việt Nam. Cho đến nay bản thân khái niệm logistics mới chỉ được đề cập đến trong bộ luật Thương mại như là một văn bản chính thức thừa nhận sự hiện diện của ngành này. Bản thân điều này cũng đòi hỏi một quá trình dài bởi logistics chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam mấy năm gần đây. Nói thế không có nghĩa chúng ta không xây dựng được bộ tiêu chuẩn cho ngành logistics để giúp nâng cao sự minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và đặc biệt khuyến khích cho sự phát triển của ngành.

    Cơ hội cải tiến và đổi mới ngành logistics của Việt Nam là rất lớn và mạnh mẽ. Nếu như thập niên 90 chúng ta chứng kiến phong trào tin học hoá rộng rãi thì cũng đã đến lúc chúng ta cần một phong trào như thế cho logistics ở Việt Nam. Đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì càng có nhiều cơ hội để phát triển của logistics Việt Nam. Điều đó được thể hiện qua năm nội dung sau:

    Thứ nhất, chính sách hội nhập. Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đưa Việt Nam thành một quốc gia mở cửa về thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư.

    Thứ hai, lợi thế về khu vực. Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi cho vận tải quốc tế, nằm ở khu vực chiến lược trong cùng Đông Nam Á. Bờ biển dài trên 2.000km, có nhiều cảng nước sâu, các sân bay quốc tế, hệ thống đường sắt xuyên quốc gia và mạng lưới giao thông là tiền đề khả quan để phát triển logistics.

    Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng tăng.

    Thứ tư, lĩnh vực dịch vụ đang được quan tâm phát triển, hoạt động logistics đã bắt đầu thu hút sự chú ý của các cấp quản lý Nhà nước cũng như của các doanh ngiệp trong và ngoài nước

    Thứ năm, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để ngành công nghiệp logistics Việt Nam phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    Những thách thức

    • Tại Việt Nam, thị trường logistics là một mảng thị truờng khá mới mẻ, mặc dù logistics đã phổ biến trên thế giới hàng trăm năm nay. Theo tính toán cho thấy, chi tiêu hàng năm của một quốc gia cho mảng logistics là rât lớn. Các nước Châu Âu và Mỹ là những nước có nhiều kinh ngiệm về chuỗi quản lý logistics thì chi tiêu cho logistics cũng chiếm gần 10% GDP. Còn các nước đang phát triển như Trung Quốc, chi tiêu cho logistics cũng đã chiếm tới 19%.
    • Phải nói thẳng thắn rằng ở Việt Nam, ngành logistics chưa được coi trọng tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế. Các doanh nghiệp vận tải Việt Nam thì chỉ mới dừng lại ở một trong rất nhiều chuỗi logistics là hình thức giao nhận vận tải, cho thuê kho bãi và vận chuyển nội địa. Tầm cỡ của các công ty Việt Nam trong lĩnh vực này là rất yếu và thiếu chuyên nghiệp. Nguyên nhân sâu xa của những vấn đề này là:
    • Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp sinh sau đẻ muộn so với rất nhiều công ty nước ngoài có lịch sử phát triển kinh doanh từ rất lâu đời như Strenker Logistics, Maersk Logistics…
    • Tầm bao phủ hoạt động của các công ty Việt Nam chỉ trong phạm vi nội địa hoặc một vài nước trong khu vực, trong khi tầm bao phủ của các công ty nước ngoài là cấp độ toàn cầu. Đây là một cản trở rất lớn khi các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hang, vì ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, các công ty lớn thường có xu hướng sourcing (khai thác nguồn hàng và dịch vụ) từ nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới như: Nike, Adidas, Nokia…Chúng ta có thể tính đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng mối quan hệ này rất lỏng lẻo và không đồng nhất.
    • Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào khai thác những mảng nhỏ trong toàn bộ chuỗi cung ứng mà chúng ta thấy phổ biến là hình thức giao nhận vận tải (Freight Fowarding). Đây là hình thức khá đơn giản, các công ty giao nhận đóng vai trò là người buôn cước sỉ sau đó bán lại cho người mua lẻ. Thông qua các hãng vận tải biển cũng như hàng không, hàng sau khi được gom thành những container đầy sẽ được vận chuyển đến quốc gia của người nhận. Tại đó các đại lý mà các công ty Việt Nam có đối tác sẽ làm thủ tục hải quan và giao hàng cho người nhận tại kho. Như vậy hình thức này chỉ là một phần nhỏ trong chuỗi giá trị gia tăng logistics. Trong chuỗi logistics hiện đại mà các công ty logistics lớn đang cung cấp cho khách hàng của mình thì nó bao gồm rất nhiều dịch vụ đa dạng với giá trị gia tăng cao mà chúng ta có thể liệt kê:
      • Dịch vụ giao tận nhà/Door to Door.
      • Gom hàng nhanh tại kho/Consolidation Docking.
      • Quản lý đơn hàng/PO Management.
      • Dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng/Value Added Warehousing.
      • Gom hàng từ nhiều quốc gia đến một cảng trung chuyển thường là Singapore, Hong Kong, Kaosiung – Cao Hùng/Multi – Country Consolidation.
      • Dịch vụ kiểm soát chất lượng hàng hoá/QA – QI Program.
      • Dịch vụ container treo (dành cho hàng may mặc)/Hanger Pack Service.
      • Quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng/Data Management/EDI clearing house.
      • Dịch vụ quét và in mã vạch/Barcode scanning and Label Production.
      • Dịch vụ xây dựng bộ tiêu chuẩn cho hoạt động logistics.
      • Dịch vụ NVOOC/NVOOC Operation.
      • Dịch vụ theo dõi kiểm hàng thông qua mạng Internet/System Track and Trace/Web base Visisbility.
      • Dịch vụ nhà cung cấp logistics thứ tư (FPL). Đây là mô hình dịch vụ logistics rất mới giúp cho các hang logistics gia tăng dịch vụ trị giá gia tăng của mình.
    • Trong quan hệ thương mại quốc tế, phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA nghĩa là chỉ cần bán hàng qua lan can tàu tại cảng bốc hàng theo quy định là hết trách nhiệm. Như vậy quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ để thực hiện điều này. Và các công ty logistics Việt Nam sẽ là người ngoài cuộc. Bất cập này không phải dễ dàng giải quyết vì phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam đều gia công hoặc xuất hàng cho những khách hàng lớn – người mà đã có những hợp đồng dài hạn và toàn cầu với các công ty logistics. Ví dụ như công ty giày NIKE, đây là công ty có rất nhiều hợp đồng làm ăn với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng riêng về khâu vận tải và logistics thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể tham gia vào quá trình thương thảo. Rõ ràng một ông lớn như NIKE thì việc kí được hợp đồng gia công với họ đã là quá tốt đối với các doanh nghiệp giày da của Việt Nam rồi chứ đừng nói đến việc đàm phán về vận tải và logistics. Trên thực tế hai công ty đang cung cấp dịch vụ logistics cho NIKE là Maersk Logistics và APL

    Nhưng đối với các nhà nhập khẩu Việt Nam thì sao? Nếu nhìn vào cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam thì chúng ta thấy rõ là Việt Nam luôn nhập siêu. Và đây chính là thị trường khá tốt cho các công ty logistics Việt Nam. Trên thực tế thì mảng nhập khẩu cũng là thế mạnh của các công ty Việt Nam. Nếu như trước đây các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu mua hàng theo điều kiện CIF, CIP thì nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đang dần chuyển sang hình thức mua FOB, điều này tạo ra cơ hội cho các công ty logistics Việt Nam khai thác. Tuy nhiên một phần khá lớn trong miếng bánh này vẫn nằm trong tay các hãng logistics nước ngoài do có nhiều công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam mà cũng chính họ là người nhập khẩu hàng nhiều nhất. Hơn thế nữa phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa có nhiều ý thức trong việc đầu tư vào quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng. Điều này cho thấy rõ ở chỗ hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không có phòng quản lý logistics hoặc chuỗi cung ứng mà phòng này thường được hiểu là phòng kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chào các dịch vụ logistics giá trị gia tăng.

    • Chúng ta dang đối mặt với hệ thống hạ tầng giao thông vận tải còn rất thiếu và yếu. Điều này làm cho các chi phí logistics của Việt Nam cao hơn hẳn các nước khác. Bản thân các công ty logistics sẽ tốn nhiều chi phí đầu tư, làm giảm lợi nhuận của họ cũng như khả năng mở rộng dịch vụ.
    • Về hạ tầng thông tin, đây chính là điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù các doanh nghiệp logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của mình nhưng những điều này vẫn còn kém xa so với trình độ quốc tế. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website thì phần lớn website của Việt Nam chỉ dơn thuần giới thiệu về mình,về dịch vụ của mình mà thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ Track & Trace (theo dõi đơn hàng, theo dõi lịch trình tàu), booking, theo dõi chứng từ. Chúng ta nên biết khả năng nhìn thấy và kiểm soát đơn hàng là một yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics cho mình. Để làm được điều này đòi hỏi phải có giải pháp đầu tư tổng thể và chi tiết, có định hướng dài hạn. Hơn thế nữa việc đầu tư xây dựng hệ thống IT cũng giúp chính các doanh nghiệp hiệu quả và năng suất. Cụ thể trong lĩnh vực logistics các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng hệ thống phần mềm WMS (Warehouse Management System). Đây là hệ thống phần mềm quản lý kho giúp quản lý một cách hiệu quả, giảm chi phí, nâng cao năng suất hơn rất nhiều.
    • Cho đến nay, tính liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu, các công ty hầu như hoạt động độc lập. Trong xu hướng outsourcing, mỗi doanh nghiệp cần tập trung vào thế mạnh của mình và sẽ thuê ngoài các dịch vụ không phải là thế mạnh, như vậy thì tính liên kết là cần thiết hơn bao giờ hết. Đã đến lúc chúng ta cần ngồi lại và hợp tác để có thể đưa ra thị trường một chuỗi các dịch vụ logistics tổng thể cho khách hàng. Một công ty giao nhận có thể liên kết với một công ty về kho bãi, về vận tải, môi giới, hàng không tạo thành một chuỗi liên kết chặt chẽ.
    • Vấn đề thương hiệu: Hiện tại Việt Nam vẫn chưa có được thương hiệu mạnh tầm cỡ khu vực chứ chưa nói gì đến tầm cỡ thế giới. Về vấn đề này cần có sự hỗ trợ chặt chẽ và nhiệt tình từ phía nhà nước thì mới có thể làm được. Chúng ta cần có những thương hiệu đầu ngành làm đầu kéo cho ngành logistics phát triển đúng hướng.
    • Nhân lực: Chúng ta đang thiếu một đội ngũ chuyên viên trong ngành logistics chuyên nghiệp và được đào tạo bài bản. Bản thân các trường đại học lớn cũng chưa hề có khoa dạy về nghề này. Hơn bao giờ hết sự thành công bắt đầu từ con người.

    Được biết nhiều năm qua, ngành dịch vụ logistics đã được Chính phủ bảo hộ thông qua các biện pháp ngăn chặn các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường trong nước. Nhưng nay sau khi gia nhập WTO, các biện pháp bảo hộ buộc phải chấm dứt. Trong tình hình như vậy, các doanh nghiệp phải tự mình tạo ra khả năng cạnh tranh cao. Rõ ràng ngành logistics đang đứng trước viễn cảnh không mấy sáng sủa khi phải đối đầu trực tiếp với các tập đoàn hàng đầu thế giới.

    Các doanh nghiệp dịch vụ logistics sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh căng thẳng, bởi chúng ta đã cam kết cho nước ngoài thiết lập ngay các doanh nghiệp liên doanh với tỷ lệ góp vốn từ 49% đến 51% để thực hiện kinh doanh các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi. Ba năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài được tăng lên và họ có thể thành lập công ty 100% vốn sáu năm đến bảy năm. Hiện tại chúng ta chưa có doanh nghiệp nào tham gia cung ứng dịch vụ tại nước ngoài. Ngoài ra, doanh nghiệp logistics trong nước đa phần thuộc loại vừa và nhỏ, vì vậy cơ hội thắng thầu đều thuộc về các doanh nghiệp lớn chuyên ngành logistics có mạng lưới cung cấp dịch vụ toàn cầu. Cơ hội xuất khẩu dịch vụ là rất hạn chế xét về nhiều mặt. Cạnh tranh cung ứng dịch vụ logistics sẽ xảy ra ngay trên sân nhà mà cơ hội giành chiến thắng của chúng ta là rất thấp, nếu ngay từ bây giờ không có một chiến lược cho ngành này.

    3.2. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM

    3.2.1. Phát triển các dịch vụ logistics mũi nhọn của Công ty

    3.2.1.1. Đầu tư phát triển dịch vụ cho thuê kho bãi

    Nhận thức được tầm quan trọng của hành lang kinh tế Côn  Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Dự án đầu tư xây dựng Cảng nội địa ICD Lào Cai do Công ty CP Vinalines Logistics Việt Nam làm chủ đầu tư vừa được chính thức khởi công tại cụm công nghiệp Đông Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

    Với chức năng là lưu giữ, bảo quản hàng hoá, kho ngoại quan phải có thiết kế, trang thiết bị phù hợp với dặc điểm bảo quản của từng loại hàng hoá nhằm bảo đảm giữ nguyên chất lượng, trạng thái ban đầu của hàng hoá hoặc hạn chế những thiệt hại do việc vận chuyển xếp dỡ hàng hoá gây ra.

    Ngày nay, khối lượng trao đổi, buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với nước ngoài ngày càng tăng nhanh, đòi hỏi phải có sự mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng phục vụ của kho ngoại quan là một yêu cầu cấp bách, nhằm nâng cao năng lực xếp dỡ lưu chuyển hàng hoá của các cảng.

    3.2.1.2 Phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức (VTĐPT)

    Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải đa phương thức

    Để nâng cao chất lượng dịch vụ VTĐPT ngoài các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đảm bảo cho Công ty cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt nhất, giá thành dịch vụ thấp nhất, hoàn thành dịch vụ đúng thời hạn và độ tin cậy của dịch vụ được đảm bảo thì Công ty cần có sự nhận thức đầy đủ về  VTĐPT  và phải phát triển kết cầu hạ tầng đầy đủ, đồng bộ. Bên cạnh đó Công ty còn phải xem xét đến các yếu tố sau:

    – Đơn giản hóa các thủ tục có liên quan tới vận tải và giao nhận hàng hóa.

    – Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng VTĐPT.

    – Phối hợp chặt chẽ giữa các phương thức vận tải.

    Tăng cường liên hiệp các vận tải đa phương thức

    Kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới cho thấy, không cần phải tất cả các phương thức vận tải tham gia phục vụ chuyên chở hàng hóa trong buôn bán quốc tế phải mạnh mới thực hiện quyền chuyên chở hàng hóa, mà trong quá trình mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại, phải coi trọng việc tăng cường liên kết các công ty vận tải trong nước và quốc tế để cho thị trường vận tải được thông suốt. Việc liên kết các công ty vận tải giúp cho việc khai thác phương tiện vận tải đi về nhiều chiều trên các đại dương theo những tuyến đường phù hợp và ổn định thông qua các công ty vận tải hoặc trung tâm giao nhận – vận chuyển dặt ở một số nước. Việc liên kết VTĐPT giúp cho người kinh doanh VTĐPT thâu tóm được tất cả mọi khâu của quá trình đưa hàng xuất nhập khẩu từ nơi sản xuất đến cơ sở của người mua.

    Đẩy mạnh đào tạo cán bộ công nhân viên

    Giáo dục và rèn luyện con nguời luôn là biện pháp quan trọng hàng đầu trong mọi lĩnh vực. Nó xuất phát từ nguyên tắc coi trọng con người. Người làm VTĐPT vừa là nhà giao nhận vừa là nhà tổ chức, nhà kiến trúc sư vận tải. Họ phải lựa chọn phương tiện, người vận tải thích hợp…để có hiệu quả kinh tế nhất. Điều đó đòi hỏi người làm vận tải phải có kiến thức sâu rộng về địa lý, thông hiểu luật lệ trong nước và quốc tế, nắm vững nghiệp vụ ngoại thương và phải biết sử dụng thành thạo các phương tiện thông tin điện tử. Bên cạnh đó, sự hiểu biết các lĩnh vực liên quan cũng là một vấn đề cần thiết như: hàng hải, ngân hàng, bảo hiểm…Do đó một giải pháp Công ty cần hết sức quan tâm, chú trọng đó là bồi dưỡng, đào tạo cán bộ công nhân viên

    3.2.2. Ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý và khai thác

    Tổ chức và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, ứng dụng các phần mềm tin học cho phép Công ty phát hiện ra các điểm yếu trong toàn bộ chu trình lưu chuyển của hàng hóa, kiểm soát chặt chẽ luồng lưu chuyển của hàng hóa, loại bỏ được thời gian lưu kho ở các điểm chuyển tải. Cho nên ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý và khai thác dịch vụ vận tải giao nhận sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi và nâng cao được hiệu quả cho việc điều hành hệ thống logistics của Công ty.

    3.2.3. Tăng cường hoạt động Marketing nhằm thu hút khách hàng

    Thời gian qua, hoạt động marketing trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận Việt Nam chưa được các doanh nghiệp quan tâm và phát triển thích đáng. Vì vậy cũng phần nào hạn chế việc thu hút của doanh nghiệp. Để phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty, thu hút được khách hàng thì việc tăng cường hoạt động marketing phải được xem là hoạt động ưu tiên hàng đầu đối với Công ty hiện nay. Do đó trước mắt Công ty cần tiến hành những công việc sau:

    • Xác định khách hàng

    – Thực hiện nghiên cứu thị trường, giá cả, xác định tuyến vận tải mạnh, yếu của Công ty.

    – Khai thác và tập hợp thông tin về các nhà xuất nhập khẩu để thực hiện khai thác.

    – Thường xuyên liên lạc, thăm hỏi khách hàng, khắc phục các điểm chưa phù hợp để phục vụ khách hàng tốt hơn.

    • Gặp gỡ khách hàng để xác định những yêu cầu về dịch vụ

    – Dàn xếp những cuộc tiếp xúc với khách hàng để tìm ra những yêu cầu của họ như cước phí, thời gian vận chuyển, cảng đến và những yêu cầu đặc biệt về dịch vụ khách hàng cũng như về chứng từ.

    – Xem lại các yêu cầu của khách hàng có phù hợp với dịch vụ của Công ty hay không và chuẩn bị những đề xuất chào bán dịch vụ bao gồm các thông tin về nơi nhận hàng, cảng đích, điều khoản mua bán, cước phí, các phụ phí, ngày có hiệu lực, loại hình vận chuyển, tuyến đường, thời gian vận chuyển.

    • Chào giá

    Đàm phán với khách hàng khi có sự phản hồi. Xin ý kiến của chủ tàu khi chủ hàng có đề nghị giá thấp.

    • Chính sách về dịch vụ của Công ty:

    – Khách hàng là nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự thành công trong kinh doanh của Công ty.

    – Không ngừng thoả mãn yêu cầu của khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ với giá cạnh tranh bằng cách:

    • Thao tác nghiệp vụ nhanh chóng, chính xác và an toàn.
    • Làm đúng ngay từ đầu.
    • Giao hàng đúng hẹn.

    – Đối với khách hàng là nhà sản xuất (chủ hàng): tiếp cận, theo dõi, khuyến khích dựa trên chính sách của các hãng tàu.

    – Đối với khách hàng là các hãng tàu: bám sát từ khâu nước ngoài và dành nhiều chính sách ưu đãi.

     

    KẾT LUẬN

     

    Logistics không chỉ là ngành đem lại nguồn lợi khổng lồ mà còn có vai trò to lớn, liên quan mật thiết tới sự cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.

    Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông, phân phối. là dịch vụ cốt yếu đối với hiệu quả tăng trưởng kinh tế, bảo đảm sự ổn định vĩ mô của bất cứ quốc gia nào. Nâng cao hiệu quả dịch vụ gắn với sự tham gia tích cực và hiệu quả của các doanh nghiệp logistics là chìa khóa thành công của chiến lược phát triển kinh tế. Đối với doanh nghiệp, logistics đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết bài tóan đầu vào và đầu ra một cách có hiệu quả. Logistics có thể thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ…logistics còn giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Nắm được hệ thống phân phối chính là nắm được phần thắng trong tay. Và logistics là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phân phối ấy.

    Bởi vậy phát triển dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM trong điều kiện hội nhập là rất cần thiết để đẩy mạnh kinh doanh trong lĩnh vực này và mang lại một hướng đi vững vàng cho doanh nghiệp trẻ đầy triển vọng.
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nội quy lao động của Công ty Cổ phần VINALINES
    2. LOGISTICS VIỆT NAM (kèm theo Quyết định số:63 VNLL/QĐ-TCHC ngày 13 tháng 9 năm 2010 của Tổng giám đốc Công ty)
    3. Quy chế tổ chức và hoạt động của cảng Nội địa (ICD) Lào Cai (ban hành kèm theo quyết định số 95/QĐ-HĐQT ngày 2/12/2009 của HĐQT Công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam)
    4. Quy chế tổ chức và hoạt động chi nhánh Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM Tại Quảng Ninh (ban hành kèm theo Quyết định số 12/QĐ-HĐQT ngày 18 tháng 6 năm 2008 của HĐQT Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM )
    5. Quy chế tổ chức và hoạt động chi nhánh Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM Tại Hải Phòng (ban hành kèm theo Quyết định số 08/QĐ-HĐQT ngày 10 tháng 12 năm 2007 của HĐQT Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM )
    6. Quy chế tổ chức và hoạt động chi nhánh Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM Tại TP Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định của HĐQT Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM)
    7. Quyết định “Về việc Ban hành Quy định Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các phòng ban” năm 2010
    8. Điều lệ tổ chức và hoạt động Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM (năm 2007)
    9. Báo cáo kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư và chất lượng, số lượng nguồn nhân lực (ngày 15 tháng 9 năm 2010)
    10. Báo cáo tổng kết hoạt động, sản xuất kinh doanh năm 2009 phương hướng kế hoạch thực hiện năm 2010 Công ty Cổ phần VINALINES LOGISTICS – VIỆT NAM
    11. Báo cáo Đại hội đồng cổ đông 2008

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”

    Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”

    Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”

    Văn mẫu lớp 10

    Cảm nhận về nhân vật tù trưởng Đam Săn qua trích đoạn “Chiến thắng Mơtao Mơxây” trong thi sử “Đam Săn”

    BÀI LÀM

    Tiếng đồng tiếng bạc của các cồng, chiêng lớn còn âm vang bên tai em.

    Hình ảnh tù trưởng Đam San đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa, đánh đâu

    thắng đó còn hiện trước mắt em sau khi tâm trí em hòa nhập vào sử thi Đam San

    của người Tây Nguyên nơi núi cao rừng thẳm đầy voi đực voi cái ra vào không

    ngớt.

    Đam San ngang tàng từ trong bụng mẹ. Đó là người anh hùng sử thi với

    ngoại hình phi thường, hành động phi thường, làm nên những chiến công chỉ có

    óc tưởng tượng táo bạo. Đam San tràn đầy sức trai được đồng bào Tây Nguyên

    ca ngợi ” là một dũng tướng chắc chết mười mươi cũng không lùi bước. Ngực

    quấn tréo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo chiến…sát bên mình

    nghênh ngang đủ giáo gươm. Vẫy đôi cánh đại bàng của so sánh và phóng đại,

    các tác giả dân gian đã tả cận cảnh, cụ thể sức vóc của người tù trưởng kiêu

    hùng đó. ” Bắp chân chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm

    dậy, chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc.” Ghê gớm

    thật ! Hùng tráng thật! Đam San hiển nhiên là con người của chiến công và kì

    tích. Cây giáo của chàng được miêu tả là ” cây giáo thần, cây giáo dính đầy

    những oan hồn”! Không phải ngẫu nhiên mà người ta kể và cả sử thi đã dùng

    những từ ” nghênh ngang”” ngang tàng” để nói về Đam San anh hùng ” tiếng

    tăm lừng lẫy”.

    Khi đến nhà tù trưởng Mơtao Mơxây để giành lại vợ. Đam San đã cất lên

    những lời có cánh. ” Ta sẽ lấy cái sàn nhà ngươi ta bổ đôi, ta sẽ lấy cái cầu

    thang của nhà ngươi ta chẻ ra kéo lửa, ta hun cái nhà của nhà ngươi cho mà

    xem!|” Người đọc lặng đi trước vẻ dữ tợn như một vị thần của Mơtao Mơxây, và

    gươm hắn óng ánh như cái cầu vồng. Nhưng Đam San coi thường hắn. Hãy xem

    hành động của chàng: ” Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh. Một lần xốc

    tới, chàng vượt một đồi lồ ô”. Đam San múa giáo. ” chàng múa trên núi cao, gió

    như bão. Chàng múa dưới gió thấp, gió như lốc…Khi chàng múa chạy nước

    kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung”. Thế rồi được Ông

    Trời mách bảo, Đam San đã đánh kẻ thù ngã lăn quay ra đất. Bác bỏ lời cầu xin

    của Mơtao Mơxây, Đam San vô địch đã cắt đầu kẻ đã cướp vợ mình.

    Không chỉ tiêu diệt kẻ bạo ngược, lấy lại được vợ, Đam San còn thu nhận

    nhiều chiến lợi phẩm. Chàng kêu gọi tôi tớ của Mơtao Mơxây đi với chàng. Thế

    Đam San càng thêm giàu có. ” Tôi tớ mang của cải về nhiều như ong chuyển

    nước, như vò vẽ di chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”. Bộ

    tộc của chàng càng thêm vững mạnh. Đam San lại nói những lời có cánh trước

    niềm vui chiến thắng: ” Hỡi anh em trong nhà, hỡi bà con trong làng, xin mời tất

    cả đến với ta! Chúng ta sẽ mở tiệc ăn mừng năm mới, chúng ta sẽ ăn lợn ăn trâu,

    đánh lên các chuông các trống to, đánh lên các cồng hlong hòa nhịp cùng chũm

    chọe xoa sao cho kêu rộn rã, để voi đực voi cái ra vào sàn hiên không ngớt, dây

    cồng dây chiêng không lúc nào vắng bớt trên giá treo chiêng…”

    Đam San sinh ra là để vươn tới những chiến công lớn lao, vượt qua những

    sức mạnh cản trở từ bao đời đối với cộng đồng Tây Nguyên. Chàng nhất quyết

    đôn đốc mọi người đi chặt cây thần smuk, chàng đánh thắng hai tù trưởng thù

    địch. Đam San còn táo tợn đi bắt Nữ thần Mặt trời về làm vợ. Khi cần Đam San

    dám lên trời để đấu lý, đấu sức với ông Trời. Hình dung về người anh hùng phi

    thường đó,em cứ liên tưởng đến hoàng tử Ra – ma trong thi sử Ấn Độ Ra – ma –

    ya -na và dũng tướng Uy – li – xơ trong thi sử Hy Lạp. Ra – ma tiêu diệt quỷ

    vương để cứu vợ là nàng Xi -ta xinh đẹp, Uy – li – xơ cũng hạ gục bọn cầu hôn

    muốn cướp nàng Pê – nê – lốp thủy chung của chàng.

    Cả 3 đều lập nên nhiều kỳ tích sáng chói, tuy Ra – ma và Uy – li – xơ có phần

    người hơn. Em cảm phục Đam San dù chàng còn vướng vào mâu thuẫn nặng nề

    giữa tập tục và lý tưởng. Và có lúc con người tài năng vô song ấy còn quá

    ngông cuồng nên đã chìm vào trong đầm lầy trên đường đến vương quốc Nữ

    thần Mặt Trời.

    Thời đại của Đam – San đã đi qua. Đam San đã chết nhưng khát vọng của

    chàng còn mãi. Khát vọng ấy vẫy gọi mọi đời sau đi tới ” không lùi bước” dù

    phải bỏ mình để thực hiện hoài bão và lý tưởng cao đẹp không chỉ cho riêng

    mình và còn vì toàn thể cộng động. Như vậy hình tượng Đam San sống mãi

    trong tâm trí người đời sau.

  • Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích

    Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích

    Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Suy nghĩ của mình về tình “mẫu tử”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích

     

    Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích

    I.                 KIẾN THỨC CƠ BẢN

    1.     Mục đích và phương pháp giải thích

    1. Trong đời sống hàng ngày, có biết bao nhiêu là câu hỏi Vì sao? đặt ra đòi hỏi chúng ta phải có sự hiểu biết để trả lời, chẳng hạn: Vì sao lại có nguyệt thực? Vì sao nước biển lại mặn? Vì sao lá cây lại có màu xanh?… Trả lời những câu hỏi như thế, nghĩa là chúng ta đi

    giải thích một vấn đề.

    1. Trong văn nghị luận, việc giải thích thường gắn với những vấn đề khái quát có liên

    quan đến tư tưởng, đạo lí, các chuẩn mực đạo đức, lối sống,… Chẳng hạn: Tình bạn là gì?

    Thế nào là trung thực? Vì sao phải khiêm tốn? Thế nào là Có chí thì nên?…

    1. Đọc bài văn sau đây và trả lời các câu hỏi.

    LÒNG KHIÊM TỐN

    Lòng khiêm tốn có thể được coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật

    xử thế và đối đãi với sự vật.

    Điều quan trọng của khiêm tốn là chính nó đã tự nâng cao giá trị cá nhân của con người

    trong xã hội. Khiêm tốn là biểu hiện của con người đứng đắn, biết sống theo thời và biết

    nhìn xa. Con người khiêm tốn bao giờ cũng là người thường thành công trong lĩnh vực

    giao tiếp với mọi người.

    Vậy khiêm tốn là gì? Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn

    luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ

    cũng không ngừng học hỏi. Hoài bão lớn nhất của con người là tiến mãi không ngừng,

    nhưng không nhằm mục đích tự khoe khoang, tự đề cao cá nhân mình trước người khác.

    Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau

    dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao

    giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào

    cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để

    học hỏi thêm nữa.

    Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất

    tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước

    bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với

    mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải

    học thêm, học mãi mãi.

    Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự

    mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp

    nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.

    Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên con đường

    đời.

    (Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)

    – Bài văn giải thích vấn đề gì?

    Gợi ý: Nhan đề của bài văn có tác dụng nêu lên vấn đề giải thích không?

    • Hãy tìm những câu ở dạng định nghĩa như: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính,…

    Thử nhận xét về cách giải thích của bài văn này.

    Gợi ý:

    Những câu ở dạng định nghĩa:

    + Lòng khiêm tốn có thể được coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ

    thuật xử thế và đối đãi với sự vật.

    • Con người khiêm tốn bao giờ cũng là người thường thành công trong lĩnh vực giao tiếp với mọi người.
    • Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi.

    +… con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề

    cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một

    • thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người. Cách giải thích:

    + Tác giả đã liệt kê những biểu hiện của lòng khiêm tốn như thế nào?

    • Đưa ra những đối lập giữa người khiêm tốn và kẻ không khiêm tốn có phải là một cách giải thích không?
    • Chỉ ra cái lợi của khiêm tốn, cái hại của không khiêm tốn có phải là để giải thích không?

    + Chỉ ra nguyên nhân của thói không khiêm tốn có tác dụng giải thích như thế nào?

    • Để giải thích về “lòng khiêm tốn”, tác giả đã nêu ra những nhận định mang tính định nghĩa về lòng khiêm tốn, liệt kê các biểu hiện của lòng khiêm tốn, so sánh giữa người khiêm tốn và kẻ không khiêm tốn. Đây cũng chính là các cách giải thích.
    • Chỉ ra cái lợi của khiêm tốn – cái hại của không khiêm tốn, nguyên nhân của thói không khiêm tốn chính là nội dung giải thích.

    Vậy thế nào là văn giải thích?

    Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm

    chất, quan hệ,… cần được giải thích, qua đó nâng cao nhận thức, bồi dưỡng trí tuệ, tình

    cảm cho con người. Để giải thích một vấn đề nào đó, người ta thường sử dụng cách nêu

    định nghĩa, liệt kê những biểu hiện, so sánh với các hiện tượng cùng loại khác, chỉ ra cái

    lợi, cái hại, nguyên nhân, hậu quả, cách phát huy hoặc ngăn ngừa,… Không nên dùng

    những cái khó hiểu hoặc không ai hiểu để giải thích những điều người ta chưa hiểu, cần

    hiểu.

    II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

    1.     Các bài văn dưới đây giải thích vấn đề gì? Hãy tóm tắt những ý chính mà người viết

    dùng để giải thích cho các vấn đề đó.

    LÒNG NHÂN ĐẠO

    Lòng nhân đạo tức là lòng biết thương người. Thế nào là lòng biết thương người và thế

    nào là lòng nhân đạo?

    Hằng ngày chúng ta thường có dịp tiếp xúc với đời sống bên ngoài, trước mắt chúng ta,

    loài người còn đầy rẫy những cảnh khổ. Từ một ông lão già nua răng long tóc bạc, lẽ ra

    phải được sống trong sự chăm sóc đùm bọc của con cháu, thế mà ông lão ấy phải sống

    kiếp đời hành khất sống bằng của bố thí của kẻ qua đường, đến một đứa trẻ thơ, quá bé

    bỏng mà lại sống bằng cách đi nhặt từng mẩu bánh của người khác ăn dở, thay vì được

    cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ…

    Những hình ảnh ấy và thảm trạng ấy khiến cho mọi người xót thương, và tìm cách giúp

    đỡ. Đó chính là lòng nhân đạo.

    Con người cần phải phát huy lòng nhân đạo của mình đối với mọi người xung quanh.

    Thánh Găng-đi có một phương châm: “Chinh phục được mọi người ai cũng cho là khó,

    nhưng tạo được tình thương, lòng nhân đạo, sự thông cảm giữa con người với con người

    lại càng khó hơn. Điều kiện duy nhất để tạo sự kính yêu và mến phục đối với quần chúng,

    tốt nhất là phải làm sao phát huy lòng nhân đạo đến cùng và tột độ vậy”.

    (Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa và xử thế)

    Gợi ý:

    • Giải thích vấn đề “lòng nhân đạo”;
    • Các ý chính:
    • Lòng nhân đạo – lòng thương người;
    • Loài người còn đầy rẫy những cảnh khổ;
    • Biết xót thương, tìm cách giúp đỡ những cảnh khổ;
    • Phát huy lòng nhân đạo đến cùng và tột độ.

    ÓC PHÁN ĐOÁN VÀ ÓC THẨM MĨ

    Chính Xanh-tơ Bơ-vơ cũng đã nói: “Tôi biết nhiều người có óc phán đoán rất đúng mà

    đồng thời lại thiếu óc thẩm mĩ, vì óc thẩm mĩ biểu hiện một cái gì tinh vi nhất, thuộc về

    bản năng nhất trong cái chỗ tế nhị mơ hồ nhất của các giác quan của ta”.

    Muốn thưởng thức một bài văn, ta đọc nó chầm chậm một hai lần, xem có cảm thấy cái

    hay của nó không đã; khi cảm được rồi, ta mới tìm hiểu nó hay ở chỗ nào. Ta dùng trái

    tim của ta trước rồi sau mới dùng lí trí. Nếu lòng ta không cảm thì càng phân tích lại càng

    không hiểu được gì cả. Văn học khác khoa học ở chỗ đó; và óc thẩm mĩ khác óc phán

    đoán cũng ở chỗ đó: một đằng là sự ưa thích của lòng, một đằng là sự sáng suốt của óc,

    một đằng cần nhiều cảm thụ tính, một đằng cần nhiều luận lí tính.

    Nói vậy không phải là óc thẩm mĩ và óc phán đoán tương phản nhau mà ta không bao giờ

    dùng lí trí để hiểu được cái đẹp đâu. Vẫn có nhiều cái đẹp có thể giảng được và ai cũng

    thấy nó hợp lí: chỉ một số tế nhị quá mới có những lí lẽ riêng của nó mà lí trí không sao

    phân tích nổi, và muốn nhận thức được, ta phải luyện mĩ cảm bằng cách sống thật nhiều,

    đọc nhiều tác phẩm bất hủ của mọi xứ và mọi thời.

    (Theo Nguyễn Hiến Lê, Hương sắc trong vườn văn)

    Gợi ý:

    • Giải thích vấn đề mối quan hệ giữa phán đoán (lí trí) và thẩm mĩ (rung động thẩm mĩ);
    • Các ý chính:
    • Nhiều người có óc phán đoán rất đúng mà đồng thời lại thiếu óc thẩm mĩ;
    • Muốn thưởng thức một bài văn, ta dùng trái tim của ta trước rồi sau mới dùng lí trí;
    • Có thể dùng lí trí để hiểu cái đẹp nhưng quan trọng vẫn là phải luyện mĩ cảm.

    TỰ DO VÀ NÔ LỆ

    Loài người hơn loài vật là có quyền tự do. Một con hổ đói nhảy xả vào bất cứ cái gì có

    thể ăn được bày ra trước mắt nó; một người đói trông thấy vật gì có thể ăn được còn biết

    suy xét có nên ăn hay không. Con hổ bị cái đói sai khiến không tự kiềm chế được mình;

    trái lại người ta không để cho cái đói có thể sai khiến được mình, như vậy là người ta

    được tự do theo ý muốn riêng.

    Quyền tự do là của quý báu nhất của loài người. Không có tự do người ta cũng chỉ như

    súc vật.

    Tự do đây không phải nghĩa là hoàn toàn muốn làm gì thì làm: một thứ tự do vô tổ chức

    và vô ý thức. Vì loài người sống thành đoàn thể, sống thành xã hội cho nên phải hiểu tự

    do có nghĩa là muốn làm gì thì làm, nhưng làm theo lẽ phải, theo lí trí, để không phạm tới

    sự tự do của người khác và không phạm đến quyền lợi chung của đoàn thể.

    Trái với tự do là nô lệ. Người nô lệ là người phải chịu phục tòng sự đè nén, sự sai khiến

    bất công của một người hay một thế lực nào khác mạnh hơn mình. Người nô lệ không

    còn có thể làm việc gì theo ý muốn của mình, theo tài năng của mình để mưu hạnh phúc

    cho mình nữa.

    Không tự do tức là chết.

    (Nghiêm Toản, Việt luận)

    Gợi ý:

    • Giải thích vấn đề “tự do và nô lệ”;
    • Các ý chính:
    • Loài người hơn loài vật là có quyền tự do;
    • Không có tự do, người ta cũng chỉ như súc vật;
    • Tự do nghĩa là muốn làm gì thì làm nhưng phải theo lẽ phải;
    • Nô lệ trái với tự do;
    • Không tự do tức là chết.

    2. Nhận xét cách giải thích của các bài văn trên.

    Gợi ý: Sau khi đã nắm được vấn đề của từng bài, hệ thống hoá được các ý chính của từng

    bài, ta mới xem bài văn lập luận giải thích bằng cách nào. Tức là xem xét cách trình bày

    các ý, cách thiết lập mối quan hệ giữa các ý để giải thích cho vấn đề nêu ra.

    – Tác giả đã dùng những câu ở dạng định nghĩa như thế nào?

    Lưu ý cách dẫn các ý kiến của những người nổi tiếng về vấn đề đang giải thích.

    • Các biểu hiện cụ thể của vấn đề là gì?
    • Tác giả sử dụng so sánh, đối chiếu như thế nào?
    • Tác giả chỉ ra những vấn đề gì để lí giải, phân tích vấn đề?
    • Bố cục bài văn ra sao? Cách diễn đạt như thế nào?
  • Văn mẫu Suy nghĩ của mình về tình “mẫu tử”

    Văn mẫu Suy nghĩ của mình về tình “mẫu tử”

    Văn mẫu Suy nghĩ của mình về tình “mẫu tử”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa giáo dục


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Suy nghĩ của mình về tình “mẫu tử”

    Bài văn mẫu lớp 12

    Suy nghĩ của mình về tình “mẫu tử”

    BÀI LÀM

    Tôi viết về một tình cảm thiêng liêng nhỏ bé vô cùng. Tôi viết lên câu thơ về hình ảnh

    một vầng trăng khuyết, vầng trăng khuyết như một dáng nằm nghiêng, giữ cái khuyết cho

    mình nhưng

    là để ôm vòng lấy yêu thương, vầng trăng tuy khuyết nhưng đối với tôi, đó sẽ mãi là vầng

    trăng đẹp nhất, sáng nhất, và cái ánh sáng nhẹ nhàng, hiền dịu như tình Mẫu tử ấy sẽ mãi

    mãi soi sáng

    cho tôi trong suốt cuộc đời này. Với tôi, bất cứ những điều thuộc về tình Mẫu tử, dẫu

    bình thường

    nhưng cũng rất thiêng liêng.

    Tình Mẫu tử là tình thương yêu, là sự hi sinh, sự chở che và bao dung của người mẹ đối

    với con của mình. Với tôi, tôi không thật sự hiểu sâu sắc về tình Mẫu tử, nhưng tôi có thể

    cảm nhận

    được những tình cảm thiêng liêng và sâu sắc của nó. Nếu như bạn hỏi tôi tình Mẫu tử như

    thế nào thì có lẽ tôi sẽ không thể trả lời bạn được, nhưng tôi có thể dùng cả cuộc đời của

    mình để nói cho

    bạn biết về sự thiêng liêng của tình mẫu tử, tôi sẽ kể về câu chuyện của tôi cũng như câu

    chuyện của người khác, tôi sẽ biểu đạt cho bạn biết được tình cảm của tôi cũng như tình

    cảm của người khác…Đối với tôi, tình Mẫu tử là thiêng liêng hơn cả!

    Mẹ sẽ mãi mãi là người đi cùng bạn trong suốt những cuộc hành trình trong đời bạn. Khi

    bạn bước chân vào thế giới này, mẹ đã ôm bạn trong tay, bạn cảm ơn mẹ bằng cách khóc

    như một

    nữ thần báo tử. Và rồi một ngày kia, mẹ lặng lẽ ra đi. Tất cả những điều bạn chưa làm sụp

    đổ tan tành.

    “Hãy ru con ngủ, ru con suốt đêm dài. Bàn tay đưa nôi…có thể cai trị cả thế giới”. Ta hãy

    dành một giây nào đó để báo hiếu và tỏ lòng kính trọng với người ta gọi là Mẹ, dù rằng

    một số người có

    thể sẽ không nói điều đó thẳng thắn với mẹ mình. Chẳng điều gì có thể thay thế mẹ được.

    Hãy trân trọng từng giây phút, dẫu rằng đôi khi mẹ không phải là người hiểu ta nhất trong

    những người

    bạn của ta, có thể không đồng ý với những suy nghĩ của chúng ta, nhưng người ấy vẫn là

    mẹ bạn!!!

    Mẹ sẽ luôn ở bên bạn; lắng nghe những phiền muộn, niềm vui cũng như những nỗi thất

    vọng của bạn. Hãy tự hỏi chính mình: ” Mình có dành đủ thời gian cho mẹ để lắng nghe

    những

    phiền muộn và buồn chán của một người nội trợ suốt ngày ở trong bếp không???”

    Suốt cuộc đời tần tảo nuôi con, một người mẹ không trông mong gì ở con mình sự báo

    đáp, niềm hạnh phúc lớn lao nhất nhất của một người mẹ là được nhìn thấy con mình

    hạnh phúc. Mẹ

    sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, có thể đi ăn xin để

    nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con! Người mẹ đã dành hết cuộc đời cho

    con, đế cuối

    cùng, các bà không nhận được gì cả, các bà mẹ sẽ trở nên già nua và nhăn nheo nhưng

    các bà sẽ mãi mãi không bao giờ xấu xí.

    Một bông hồng cho em/ Một bông hồng cho anh/ Và một bông hồng cho những ai/ Cho

    những ai đang còn mẹ/ Đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn/ Rủi mai này mẹ hiền có mất

    đi/ Như đóa hoa không mặt trời/ Như trẻ thơ không nụ cười/ Ngỡ đời mình không lớn

    khôn thêm/ Như bầu trời thiếu ánh sao đêm/ Mẹ, mẹ là dòng suối dịu hiền/ Mẹ, mẹ là bài

    hát thần tiên/ Là bóng mát

    trên cao/ Là mắt sáng trăng sao/ Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối/ Mẹ, mẹ là lọn mía

    ngọt ngào/

    Mẹ, mẹ là nải chuối buồng cau/ Là tiếng dế đêm thâu/ Là nắng ấm nương dâu/ Là vốn

    liếng yêu thương cho cuộc đời… Lời bài hát nghe thật buồn, nó đã thể hiện được sự quan

    trọng của người

    mẹ đối với người con cũng như là sự thiếu thốn, mất mát không gì bù đắp được khi

    không còn mẹ.

    Một cuộc sống hạnh phúc không hẳn phải là một cuộc sống có đầy đủ tiền tài, vật chất.

    Đôi khi, cho dù bạn là một người giàu sang, của cải đếm không hết, nhưng từ tận sâu

    trong con tim mình,

    bạn có cảm thấy thật sự hạnh phúc không, đặc biệt là khi mẹ của bạn đã không còn. Tôi

    nghĩ có lẽ

    bên ngoài vỏ bọc hạnh phúc ấy, vào một thời khắc nào đó, sẽ có lúc bạn cảm thấy mình

    rất cô đơn. Niềm hạnh phúc lớn nhất của một con người là được trải qua một tuổi thơ bên

    cạnh mẹ, được

    mẹ yêu thương, chăm sóc, bảo bọc. Đối với mẹ, bạn sẽ mãi chỉ là một đứa trẻ nhỏ bé luôn

    cần có mẹ chăm nom, những kí ức về mẹ sẽ mãi là những kí ức vĩnh cửu và nếu như thời

    gian như một

    cuốn băng quay ngược dòng thời gian và cả không gian để trở về với tuổi thơ xinh đẹp ấy

    thì liệu bạn có còn trân trọng những thời khắc tuyệt đẹp đó nữa hay không?

    Hãy nhớ, yêu thương và kính trọng mẹ, dù rằng bạn có thể có cách nhìn khác với mẹ. Khi

    mẹ ra đi, những kỉ niệm yêu mến của quá khứ và cả nuối tiếc sẽ ở lại, cũng như cái tình

    Mẫu tử bị

    đứt đoạn. Bạn hãy nhớ rằng, dù bạn đi đến đâu hay ở bất cứ nơi nào, mẹ sẽ luôn là người

    quan tâm, yêu thương, lo lắng cho bạn nhất. Đừng xem những điều gần gũi với trái tim

    bạn là hiển

    nhiên. Yêu mẹ hơn bản thân mình, vì cuộc đời bạn sẽ vô nghĩa nếu không có Người.

  • Văn mẫu Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa giáo dục

    Văn mẫu Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa giáo dục

    Văn mẫu Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa giáo dục

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về cô gái trong bài Khăn thương nhớ ai


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa giáo dục

     

    Tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc nhìn văn hóa giáo dục

    BÀI LÀM

    1. Vài nét về tác giả Ngô Thì Nhậm và tác phẩm “Chiếu cầu hiền”

    Ngô Thì Nhậm tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên. Ông sinh năm 1746 mất năm 1803, là danh sĩ đời Hậu Lê – Tây Sơn, xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn học ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (hiện nay thuộc địa phận huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ngô Thì Nhậm đỗ Giải nguyên năm 1768, đỗ Tiến sĩ năm 1775. Làm quan dưới thời Lê – Trịnh, khi triều đình lộn xộn ông đã bỏ về quê ở ẩn, viết sách. Năm 1786, khi quân Tây Sơn ra Bắc, Ngô Thì Nhậm được vua Lê mời ra làm việc. Sau đó, năm 1788 ông được Nguyễn Huệ trọng dụng, phong làm Thị lang Đại học sĩ (thị lang Bộ Lại),

    thượng thư Bộ Binh, chuyên lo việc giấy tờ trong quan hệ ngoại giao với nhà Thanh. Ngô

    Thì Nhậm có hai lần làm chánh sứ sang giao thiệp với nhà Thanh. Ông là một nhà chiến

    lược, nhà ngoại giao tài giỏi. Dưới danh nghĩa vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm đã thảo

    những thư từ gửi hoàng đế nhà Thanh, lời lẽ vừa cứng rắn, vừa mềm mỏng, nhằm kết

    thúc chiến tranh giữa hai nước, ngăn chặn ý đồ gây chiến phục thù của cánh hiếu chiến

    trong triều Mãn Thanh (sau chiến thắng Đống Đa 1789), chuyển quan hệ ngoại giao hai

    nước từ đối đầu sang hoà hảo, góp phần làm cho triều Quang Trung giữ được nền độc

    lập, tự chủ, bảo đảm an ninh đối ngoại. Ngô Thì Nhậm có nhiều tác phẩm về sử, văn thơ,

    triết học, ngoại giao tiêu biểu là “Xuân Thu quản kiến”, “Hải Dương chí lược”, “Hy Doãn

    thi văn tập”, “Hoàng Lê nhất thống chí”, “Kim mã hành dư”, “Yên đài thu vịnh”, “Cúc

    hoa thi trận” “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, “Hàn các anh hoa”, “Bang giao hảo

    thoại”. Đóng góp văn học của ông đa dạng về thể loại (chính luận, chiếu, biểu, ngoại

    giao, thơ, phú). Nội dung thi ca hướng tới quan niệm “thi ngôn chí”, đề cao cái thực trong

    cảm xúc. Đồng thời ông cũng có nhiều trang luận thuyết triết học, xã hội, tôn giáo sâu sắc, giàu suy tưởng. *

    2. “Chiếu cầu hiền” xét từ góc độ giáo dục

    Chiếu thuộc loại văn nghị luận chính trị – xã hội, là văn bản trao đổi giữa nhà vua và thần dân, được quy phạm hóa, dùng trong các triều đình phong kiến thời trước.

    Chiếu còn là một loại đề bài mà các sĩ tử xưa phải làm trong các kỳ đệ nhị hoặc đệ tam của các khoa thi hương và thi hội. Lối văn chương dùng trong chiếu là thể tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắt thành hai đoạn 4 – 6 hoặc 6 – 4, từng cặp câu có vế đối. Chiếu là lời hoặc thay lời nhà vua ban bố mệnh lệnh cho toàn dân. Chiếu có thể được viết bằng văn biền ngẫu hoặc văn xuôi.

    Xét ở góc độ giáo dục, tìm hiểu Chiếu cầu hiền không chỉ là đi tìm hiểu một văn bản thuộc thể văn thư nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân mà là bắt tay vào tìm hiểu một loại văn bản trong hệ thống quản lý hành chính thời phong kiến bởi trong giai đoạn lịch sử thời phong kiến công văn hành chính gồm có hai loại lớn: một loại công văn do cấp dưới đệ trình lên nhà vua hoặc triều đình (tấu, chương, biểu, sớ, khải…); một loại do nhà vua truyền xuống cho bề tôi (chiếu, mệnh, lệnh, chế, biểu, dụ, cáo…) Đồng thời, qua “Chiếu cầu hiền” thế hệ trẻ hôm nay còn thấy và học tập được nhiều từ chủ trương cầu hiền đúng đắn đến tầm chiến lược sâu rộng, tấm lòng vì dân vì nước của vua Quang

    Trung.

    Toàn văn bài “Chiếu cầu hiền” là công văn nhà nước lệnh cho thần dân thực hiện nhưng rất khác với các bài chiếu thông thường, đối tượng thực sự trong “Chiếu cầu hiền” là các trí thức, các bậc hiền tài lương đống của dân tộc. Vì thế, ngay nhan đề bài đã toát ra cách nói khiêm tốn, thể hiện tình cảm thiết tha, thái độ chân thành cầu hiền đãi sĩ, một lòng vì dân vì nước của vua Quang Trung. Có thể nói, “Chiếu cầu hiền” là một chiếu đặc biệt, thể hiện mong mỏi, ước nguyện … chứ không phải là lệnh. Bài “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm không chỉ cho thấy tác giả uyên bác, cao tay trong sáng tạo văn bản nghị luận chính trị – xã hội, trong việc phát ngôn đại diện cho vua Quang Trung chiêu hiền đãi sĩ mà còn khắc đậm lòng khao khát cầu hiền đãi sĩ của vị vua trẻ – “áo vải cờ đào” đại phá quân Thanh.

    Trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay, tác phẩm “Chiếu cầu hiền” đã được đưa vào giảng dạy chính thức trong trường Trung học phổ thông, chương trình cơ bản, lớp 11. Đây thực sự là một điều rất đáng mừng bởi chúng ta, lớp hậu thế sinh sau đã không quên lịch sử. Chỉ tiếc rằng tác phẩm này chưa được góp mặt trong Từ điển Bách khoa Việt Nam.

    • năm đã trôi đi kể từ khi Ngô Thì Nhậm qua đời. Hôm nay, công lao, sự nghiệp của nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, nhà ngoại giao Ngô Thì Nhậm không những được lịch sử

    ghi nhận mà còn in đậm trong trái tim, khối óc mỗi người dân Việt Nam. Đặc biệt in đậm

    trong tâm trí lớp lớp thanh thiếu niên – chủ nhân của đất nước Việt Nam trong tương lai gần – ngay từ thời tuổi trẻ qua những bài học văn học trong trường phổ thông. Khẳng định sự nghiệp vĩ đại của Ngô Thì Nhậm, cố Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh đã từng xếp ông vào hàng ngũ những thiên tài mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi Việt Nam **

    “Chiếu cầu hiền” là một tác phẩm chính luận kết cấu ba phần chặt chẽ, lập luận chắc

    chắn, lí lẽ sắc bén. Phần một – đoạn đầu là cơ sở lý luận của “Chiếu cầu hiền”. Phần này, Ngô Thì Nhậm đã lập luận bằng cách mượn lời Khổng Tử trong sách Luận ngữ: Lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao Bắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ về chầu. Ngô Thì Nhậm đã viện ý trời làm nền tảng cho việc cầu hiền của vua Quang Trung. Cách này vừa giúp tác giả tôn vinh được bậc thánh hiền của đạo Nho -giống như sao sáng – vừa khẳng định với hiền tài, nho sĩ trong thiên hạ rằng triều đại mới là triều đại lấy đức cai trị đất nước. Bằng cách mượn ý trời xem việc người hiền tài về chầu thiên tử là điều tất yếu, hợp quy luật, hợp lòng người. Nếu người hiền tài tự giấu mình đi là trái với ý trời. Điều này giống như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp trí tuệ, huệ nhãn, có tài mà không được đời dùng thì đó cũng không phải là ý trời sinh ra người hiền tài vậy. Làm vậy là trái với đạo thánh hiền, trái với luân thường đạo lý của kẻ sĩ. Ngô Thì Nhậm thật cao tay “bắt quyết”, ông mượn lời thánh hiền và ý trời để tạo ra cơ sở lý luận vững chắc cho việc cầu hiền tài của triều đình. Lập luận của tác giả vừa tôn vinh người hiền tài trong khắp cõi, vừa gọi vua Quang Trung là thiên tử, so sánh vua Quang Trung với ngôi Bắc Đẩu đã tạo ra sự tin cậy đặc biệt cho những hiền tài chưa hiểu rõ thời cuộc, còn đang

    lưỡng lự, phân vân trước thời cuộc.

    Phần hai cho người đọc hậu thế thấy rõ thực trạng của kẻ sĩ Bắc Hà và tấm lòng khao khát cầu hiền của vua Quang Trung. Phần này – gồm 4 đoạn ý tiếp theo – trong đó đoạn 2 như là một điểm tựa để bẩy đoạn 3, đoạn ý tiếp theo nhằm thực hiện mục đích thuyết phục, kêu gọi hiền tài ra giúp nước. Điểm tựa bắt nguồn từ những sự việc của quá khứ gần: “Trước đây thời thế suy vi”… Ngô Thì Nhậm đã đưa người đọc ngược dòng lịch sử, trở về với mạt thời Lê – Trịnh bệ rạc, thối nát. Người hiền tài như ngôi sao bị che khuất, không được trọng dụng, tôn kính. Chính vì thế cách hành xử tích cực nhất của họ lúc này là giữ gìn lấy khí tiết trong sạch của một nhà nho chân chính bằng cách trốn tránh, ẩn dật hoặc là dè dặt, giữ mình trong chốn quan trường. Thời thế lúc này không cho phép họ tự thể hiện mình chứ không phải họ tự vùi lấp mình. Vào giai đoạn lịch sử nhiều biến cố, tất yếu các kẻ sĩ trong thiên hạ phải tìm chỗ ẩn mình. Cách ứng xử của các trí thức Bắc Hà không nằm ngoài quy luật đó. Họ hoặc là bỏ đi ở ẩn hoặc là chỉ giữ mình im lặng, cầm chừng…. Trong “Chiếu cầu hiền”, Ngô Thì Nhậm đã dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ như: “ẩn trong ngòi khe”, “kiêng dè không dám lên

    tiếng”, “gõ mõ canh cửa”, “ra biển vào sông”, “chết đuối trên cạn”… hoặc dùng biện pháp

    khích tướng để nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng, không xứng danh là người hiền tài

    của các hiền sĩ. Cách nói của tác giả gần gũi, thân tình, tế nhị và hóm hỉnh. Ngô Thì

    Nhậm đã giúp chúng ta không chỉ biết đồng cảm với cách ứng xử của các hiền tài tiền bối

    mà còn chỉ cho chúng ta cách nhìn nhận, đánh giá con người. Tưởng như mâu thuẫn bởi

    mở đầu bài chiếu, đoạn 1 Ngô Thì Nhậm đã tôn vinh và khẳng định sứ mệnh của người

    hiền tài mà sang đoạn tiếp theo tác giả dường như lại ủng hộ cách ứng xử lánh đời của họ trong mạt thời Lê Trịnh; nhưng không phải vậy: Ngô Thì Nhậm đã nhìn thấu các hiền sĩ lương đống trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử xã hội của họ. Cách lập luận của Ngô Thì Nhậm cho thấy: chỉ những nhân tài kiệt xuất như Quang Trung Nguyễn Huệ… mới có khả năng tạo ra thời thế, còn phần lớn con người đều ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh lớn của xã hội. Cách ứng xử của các bậc hiền tài trước đây như vậy cũng có nghĩa là họ đã làm chủ được hoàn cảnh trực tiếp của bản thân mình. Từ đây, bài học mà các thế hệ hậu thế sẽ học được chính là cách đánh giá con người, phải nhìn nhận con người trong mối quan hệ qua lại với hoàn cảnh sống để có thái độ đúng mực.

    Trong đoạn văn tiếp theo, Ngô Thì Nhậm thay lời nhà vua để bộc lộ những tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềm canh cánh chờ mong sự xuất hiện của hiền tài: “ghé chiếu lắng nghe”, “ngày đêm mong mỏi”… rồi hai câu hỏi tu từ liên tiếp: “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”- cho thấy sự day dứt, trăn trở khôn nguôi trong lòng vua Quang Trung lúc bấy giờ. Giọng văn bình dị như một lời tâm tình làm gần hơn khoảng cách giữa vua với các hiền tài -“nguyên khí quốc gia”. Chúng ta thấy thái độ khẩn khoản của vua Quang Trung, thấy đức vua là người rất coi trọng hiền tài. Như vậy người hiền tài sẽ không lo sợ bị che lấp tài năng hoặc tài năng bị quên lãng, bỏ rơi như thời buổi suy vi. Lập luận thật chặt chẽ và đầy sức thuyết phục. Ngô Thì Nhậm còn tăng mức độ thuyết phục lên mức cao hơn trong đoạn văn tiếp theo. Thời cơ của người hiền tài thực sự đã đến. Đất nước vừa ổn định, non sông đã có chủ, thay lời vua, tác giả khẳng định công việc vừa mới mở ra, kỷ cương nơi triều

    chính, công việc ngoài biên cương còn nhiều việc phải lo toan, khắc phục; dân còn bỡ ngỡ, mệt nhọc, sự giáo hoá của vua chưa thấm nhuần khắp chốn; trọng trách giang sơn không chỉ mình nhà vua đảm đương, gánh vác, “Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình”… Khó khăn của đất nước có sức tác động vào trách nhiệm của hiền sĩ với non sông gấm vóc. Những người hiền tài có tâm đức không thể bàng quan trước tình cảnh nước nhà. Tất cả đều là những mảnh đất trống cho người hiền thể hiện tài năng của mình. Cơ hội đã đến. Ngô Thì Nhậm không hô hào, kêu gọi mà thay vua đặt ra một câu hỏi day dứt lòng người: “Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò vua giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?” Như vậy, bằng văn tài của mình, một mặt tác giả chỉ cho người hiền thấy được thời cơ, vận hội mới, qua đó đề cao vai trò của họ trong việc trị nước; mặt khác lại đánh vào tâm lý, khơi gợi lòng tự trọng của họ. Lời văn nhẹ nhàng, giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ, gợi ra cái chưa ổn trong cuộc sống ẩn dật, khi lắng lại, thành tâm, khiêm nhường, khi khích lệ, cổ vũ người hiền tài ra giúp chính quyền buổi đầu song lí lẽ, lập luận lại đặc biệt sắc sảo, có sức thuyết phục cao, vừa lay động chí, vừa chuyển tâm ý của hiền tài trong thiên hạ, khích lệ họ đừng chần chừ, ngần ngại, hãy nhanh nhanh mang sức ra giúp dân, trị nước

    Tiếp theo là bước chuyển ý quan trọng, tăng cấp tối đa sức thuyết phục bằng một chính sách cầu hiền đặc biệt: Ai có tài cho phép tự trình bày công việc; cho phép các quan tự tiến cử; người hiền tự tiến cử mình. Chính sách cụ thể, rõ ràng, công bằng, dân chủ – mở rộng cửa cho người hiền tài giúp vua, giúp nước. Có thể nói rằng trong phần hai này,

    nghệ thuật thuyết phục của Ngô Thì Nhậm không chỉ độc đáo mà còn rất đỗi tài năng. Lời lẽ thiết tha, lí lẽ sắc sảo, lập luận chặt chẽ. Hòa quyện trong mỗi lời văn là tình và lí: một bên là sự cần thiết của nước nhà, một bên là tấm lòng ưu ái canh cánh của nhà vua dành cho các bậc hiền tài. Bài học mà chúng ta có được ở đây có lẽ là bài học về cách ứng xử ở đời: lấy chí để thuyết phục chí, lấy tâm để thuyết phục tâm, lấy sự công bằng, dân chủ để thuyết phục nhân. Đó là nghệ thuật cầu hiền của Ngô Thì Nhậm và vua Quang Trung, nhưng đồng thời cũng là nghệ thuật ứng xử của con người với con người trong mọi thời đại.

    Phần ba là phần nêu hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra giúp dân, giúp nước. Ngô Thì Nhậm đã đánh tan những băn khoăn của nhiều hiền tài trong thiên hạ bằng cách giúp vua Quang Trung mở ra hướng sử dụng người hiền tài một cách rõ ràng, rộng mở và độ lượng với nhiều biện pháp cụ thể. Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, lời nói nào dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc. Đối với người có nghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng. Đối với những người tài năng còn bị che kín thì được dâng sớ tự tiến cử… Người hiền theo quan niệm của Quang Trung thật đa diện. Quang Trung và triều đại mới không chỉ hướng tới những người giỏi chữ nghĩa mà còn hướng tới những người có tay nghề cao. Ngoài ra còn khuyến khích người tài tự tiến cử. Quan điểm về người hiền tài của nhà vua thật tiến bộ, hiện đại, hợp lòng dân, tạo con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước. Những lời kêu gọi cuối tác phẩm như một lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy, làm nức lòng kẻ hiền tài bốn bể. Cái lí của triều đình đưa ra là không còn gì thuận lợi hơn,

    trời trong sáng, đất thanh bình cho người tài đức xuất hiện. Thời cơ đã đến cho những ai muốn làm nên nghiệp lớn gặp hội gió mây.

    Phần kết của văn bản, Ngô Thì Nhậm nhấn mạnh lại thời cơ, vận hội của người hiền. Lời kết có giá trị như một lời nhắc nhở với những hiền tài rằng cơ hội lập danh, lập thân của họ thực sự đã đến, họ cần phải chứng tỏ chí khí quân tử của mình trước lịch sử. Lời kết cuối bài chiếu sôi nổi, nhiệt thành khuyến khích được tinh thần của người hiền tài trong thiên hạ một cách sâu sắc.

    “Chiếu cầu hiền” không chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng tiến bộ của vua Quang Trung trong việc sử dụng người hiền tài mà còn cho thấy cái tài trong nghệ thuật viết chiếu của Ngô Thì Nhậm. Lời lẽ trong văn bài vừa có cái trang trọng, cao sang, trí tuệ của kẻ bề trên, lại vừa có cái thành tâm, khiêm nhường của người có đức đang chiêu hiền đãi sĩ. Có thể kết luận bài chiếu là một văn bản chính luận đặc sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam.

    3. “Chiếu cầu hiền” xét từ góc độ văn hoá

    “Văn hoá là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước” Khái niệm văn hoá này được hiểu theo nghĩa nhân văn rất rộng. Nguyên tổng giám đốc UNESCO, ông Mayo (F. Mayor), đưa ra một khái niệm về văn hoá vừa mang

    tính khái quát vừa có tính đặc thù: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”. Khái niệm này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá tại Vơnidơ (Venise), 1970. Văn hoá biểu hiện trong lí tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lí tưởng thẩm mĩ” ***. Hiểu khái niệm về văn hoá như vậy, chúng ta cùng bước đầu tìm hiểu “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm từ góc độ văn hoá.

    Trên con đường khám phá cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn chương, nếu đi đến tận cùng ta sẽ gặp được cuộc sống của chính ta trong đó. Và tất nhiên con đường tối ưu để đến được với những giá trị tận cùng đó là tiếp cận tác phẩm văn chương từ đặc trưng thể loại. Với “Chiếu cầu hiền” chúng ta đã bắt đầu từ những đặc sắc nghệ thuật của một văn bản chính luận để đến những giá trị văn hoá đặc sắc của cha ông, của dân tộc, của nhân loại. Thành công nhất về mặt nghệ thuật của tác phẩm này có lẽ là ở nghệ thuật lập luận với những lí lẽ rất chặt chẽ, sắc sảo và lập trường chính trị vững vàng của Ngô Thì Nhậm. Ngô Thì Nhậm vốn là một sĩ phu Bắc Hà, nay lại thay mặt vua Quang Trung kêu gọi sự nhập cuộc của các sĩ phu Bắc Hà – những trí thức của triều đại Lê – Trịnh đã bị thất thế trước triếu đại Tây Sơn mới nổi. Trong từng câu, từng đoạn, từng phần của “Chiếu cầu hiền” đều toát ra giá trị thuyết phục lòng người hiền sĩ. Vì thế, tác phẩm đã vượt ra khỏi giới hạn của một thời đại lịch sử cụ thể.

    Trong “Chiếu cầu hiền”, chỉ bằng thao tác so sánh hai lập luận để khẳng định một điều: sao muốn đẹp phải tỏa sáng, người hiền tài muốn được công nhận phải cống hiến tài năng cho nước, cho đời. Bằng cách này, Ngô Thì Nhậm muốn nhắn gửi đến người hiền tài sứ mệnh của chính họ. Nhận thức đúng sứ mệnh này rồi, thì tự họ ắt biết sẽ phải làm gì. Điều này không chỉ đúng với lịch sử đã qua mà còn là kim chỉ nam cho sứ mệnh của người hiền tài của ngày hôm nay: Không chỉ người học rộng tài cao mới có sứ mệnh của người hiền tài mà tất cả mọi người có năng lực, có khả năng trên lĩnh vực nào đó đều cần phải biết rõ mình nên làm gì. Và mỗi người hãy tự rút ra cho mình một bài học về cách sống ở đời. Hãy sống tự tin, bản lĩnh và cống hiến hết mọi khả năng của mình cho cuộc đời rộng lớn. Đó là ý nghĩa cuộc sống của con người hiện đại trong thế giới phẳng – giao lưu và hội nhập hôm nay .

    Trở lại hoàn cảnh và mục đích ra đời của văn bản “Chiếu cầu hiền”, chúng ta thấy nếu

    Ngô Thì Nhậm viết không khéo, nói không thông thì hoặc sẽ phản tác dụng, hoặc bản

    thân sẽ bị chê cười. Các trí thức Bắc Hà cũng như những trí thức của các triều đại phong

    kiến khác đều trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình, nghĩa là đều nhập tâm lời dạy của

    Nho gia “trung thần không thờ hai chủ”. Bản thân Ngô Thì Nhậm đã không tuân thủ tuyệt

    đối lời dạy đó, nay lại ra lời kêu gọi họ ra đầu quân cho nhà Tây Sơn – nếu không thuyết

    phục được họ thì lại dễ bị coi là bất trung. Mặt khác, Ngô Thì Nhậm vốn xuất thân chỉ là

    một sĩ phu như nhiều sĩ phu khác, nay lại đi nói lí lẽ với những người thuộc tầng lớp trí

    thức có vị thế trong xã hội, liệu có khiến họ tự ái hoặc xem nhẹ chăng? Nhưng “Chiếu

    cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm đã rất thành công. Nguyên nhân là do đức trị, do tâm thành

    của vua Quang Trung hay tài năng và tâm thành của Ngô Thì Nhậm? Tất cả những yếu tố đó đều đúng song còn phải cộng thêm một điều rất quan trọng nữa, đó là nghệ thuật ứng xử tài tình, khéo léo, tinh tế của Ngô Thì Nhậm. Vua Quang Trung đã không nhầm khi đánh giá cao năng lực và giao cho Ngô Thì Nhậm trọng trách chấp bút thay mình để cầu hiền trong thiên hạ. Và chúng ta hôm nay không chỉ là ghi nhận mà còn phải biết cách thu nhận từ bậc hiền tài tiền bối này những bài học quý báu cho riêng mình.

    Những bài học về văn hoá – giáo dục rút ra từ văn bản nghị luận chính trị – xã hội này

    thực sự là những điều rất tâm đắc của tác giả khi tìm hiểu về Ngô Thì Nhậm và tác phẩm “Chiếu cầu hiền”. Trong bài viết với dung lượng và thời gian hạn hẹp, xin được chia sẻ cùng độc giả đôi điều sơ lược về “Chiếu cầu hiền”của Ngô Thì Nhậm trước thềm lịch sử 1000 năm Thăng Long. Tác giả hy vọng “Chiếu cầu hiền” không chỉ được giảng dạy trong hệ thống giáo dục Việt Nam, là kim chỉ nam trong nghệ thuật thuyết phục cũng như sử dụng người tài đức của các nhà lãnh đạo hôm nay và tương lai. “Chiêu cầu hiền” xứng đáng được các nhà văn hoá Việt Nam và thế giới, các nhà biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam tôn vinh, dành vị trí xứng đáng cùng các bài chiếu tiêu biểu khác như: Chiếu cần vương, Chiếu dời đô, Chiếu khuyến nông, Chiếu cầu lời nói thẳng.

    Lịch sử đã bước sang những trang sử mới, “Chiếu cầu hiền” mà Ngô Thì Nhậm chấp bút viết thay vua Quang Trung sẽ vẫn là cẩm nang về bài học xử thế, bài học về nghệ thuật thu phục hiền tài trong thiên hạ để họ tận tâm, tận lực trong công cuộc giữ gìn, bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam lớn mạnh hơn trên nhiều phương diện. Ngoài ý nghĩa chính

    trị của một thời, “Chiếu cầu hiền” còn mang giá trị văn hóa của mọi thời đại. “Chiếu cầu

    hiền” sẽ mãi mãi trường tồn cùng thời gian.

  • Văn mẫu Cảm nhận về cô gái trong bài Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu Cảm nhận về cô gái trong bài Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu Cảm nhận về cô gái trong bài Khăn thương nhớ ai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về cô gái trong bài Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu lớp 9

    Cảm nhận về cô gái trong bài Khăn thương nhớ ai

    Bài làm

    Tình yêu nam nữ với những cung bậc, sắc thái hết sức đa dạng, phức tạp là một

    trong những nội dung cơ bản của ca dao người Việt. Đi vào thế giới ca dao, những

    cung bậc, sắc thái tình cảm vốn vô hình, vô sắc ấy bỗng trở nên hết sức cụ thể sinh

    động. Tất cả là nhờ cái tình chân thành, chân chất, đằm thắm với lối diễn đạt độc

    đáo của tác giả dân gian. Ví như bài ca dao “Khăn thương nhớ ai” – thi phẩm được

    xếp vào hàng “bậc nhất chi nhường cho ai”.

    Không phải ngẫu nhiên mà bài ca dao này thường được người ta nhớ đến với cái

    tên “Khăn thương nhớ ai”. Hình ảnh chiếc khăn không chỉ là biểu tượng khởi đầu

    cho nỗi thương nhớ của cô gái mà nó còn là hình ảnh được lặp lại nhiều nhất với

    nhiều tình huống khác nhau.

    Khăn thương nhớ ai?

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai?

    Khăn chùi nước mắt

    Dễ hiểu vì sao hình ảnh chiếc khăn lại trở đi trở lại nhiều lần như một điệp khúc

    nhớ thương triền miên, da diết như thế. Trong tình yêu trai gái, chiếc khăn thường

    là vật trao duyên để người ta “gửi khăn, gửi áo, gửi lời”. Khăn cũng là một vật luôn

    gần gũi, quấn quýt với người con gái. Ở đây chiếc khăn được nhân hoá, trở nên có

    tâm trạng và là đối tượng để cô gái bộc lộ nỗi niềm thương nhớ người yêu. Ba lần

    hỏi, mỗi lần nỗi nhớ lại càng trào dâng, ngổn ngang trăm mối, trăm chiều, bao trùm

    khắp cả không gian : rơi xuống đất, vắt lên vai và cao độ là khi chiếc khăn giúp cô

    gái dấu đi những giọt nước mắt khóc thầm. Sáu dòng thơ với đa số thanh bằng gợi

    nỗi bâng khuâng da diết đậm màu sắc nữ tính, đầy kín đáo của nỗi nhớ thương.

    Hình ảnh tiếp theo trở thành biểu tượng cho nỗi nhớ là ngọn đèn:

    Đèn thương nhớ ai

    Mà đèn không tắt

    Cũng vẫn dùng thủ pháp nhân hoá nhưng nếu như ở hình ảnh chiếc khăn, nỗi nhớ

    được trải ra theo không gian thì đến đây nó được đo theo thời gian. Hình ảnh ngọn

    đèn không tắt chính là ngọn lửa thương nhớ đang cháy trong trái tim người con gái.

    Chính là người con gái đang trằn trọc đêm thâu trong nhớ thương đằng đẳng. Sau

    này nhà thơ Chính Hữu cũng đã học tập nghệ thuật này của ca dao để làm nên

    trong thơ mình một “Ngọn đèn đứng gác” đáng nhớ.

    Hình ảnh cuối cùng trở thành biểu tượng cho tâm trạng cô gái là đôi mắt – cửa sổ

    của tâm hồn. Dù rằng những câu hỏi với chiếc khăn, ngọn đèn chính là sự phân

    thân trong tâm trạng cô gái nhưng đó vẫn chỉ là cách nói gián tiếp. Mà nỗi nhớ thì

    cứ da diết, bồn chồn và đến lúc không thể kìm nén, che giấu. Cô gái đã hỏi mình,

    trực tiếp bộc lộ nỗi lòng:

    Mắt thương nhớ ai

    Mắt ngủ không yên

    Hình ảnh đôi mắt không ngủ ấy là sự phát triển tất yếu từ chiếc khăn không ở yên,

    từ ngọn đèn chong chong đêm dài. Đó là một hình tượng hợp lí, nhất quán và tự

    nhiên như chính nỗi nhớ niềm thương đang dâng trào trong cô gái.

    Chỉ trong 10 câu thơ 4 chữ, nỗi nhớ thương của cô gái được bộc lộ thật độc đáo.

    Có đến năm lần cái điệp khúc “thương nhớ ai” được lặp đi lặp lại và gắn với những

    hình ảnh khác nhau. Nhưng tựu trung lại tất cả đều là sự tự hỏi lòng mình và hơn

    thế nữa là sự tự khẳng định tình cảm của cô gái một cách mạnh mẽ. Tâm trạng đầy

    yêu thương của cô gái không chỉ được cụ thể hoá, hình tượng hoá một cách thật rõ

    nét mà cách bộc lộ cũng đầy tế nhị, kín đáo rất phù hợp với người Việt Nam.

    Nét độc đáo trong nghệ thuật của bài ca dao còn biểu hiện ở kết cấu hai phần : 10

    câu đầu theo thể vãn bốn và một câu lục – bát kết lại cả bài. Nếu như ở phần đầu là

    sự dồn nén của tình cảm thì đến hai câu kết tâm trạng lo âu tràn ra ngổn ngang :

    Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi không yên một bề …

    Người con gái đang yêu nào lại không mang trong lòng bên cạnh nỗi niềm thương

    nhớ là nỗi bồn chồn, lo lắng cho tương lai, hạnh phúc lứa đôi. Đặc biệt trong hoàn

    cảnh xã hội cũ thì điều lo âu đó hoàn toàn có lý do. Mối tình tha thiết, mãnh liệt ấy

    đâu đã là sự đảm bảo cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc lâu bền. Bất trắc luôn luôn

    rình rập những tình cảm tốt đẹp của những con người bình dân, bình thường. Thân

    phận nhỏ bé, tình yêu nhỏ nhoi giữa bao nhiêu là giăng mắc bất tường. Dấu ba

    chấm kết lại bài thơ đầy sức gợi mở và càng cho thấy nỗi lo nhiều bề trong tâm

    trạng cô gái. Quả là ngổn ngang trăm mối tơ vò.

    Đây có thể nói là một trong những bài đặc sắc nhất của ca dao Việt Nam. Bằng

    nghệ thuật nhân hoá, hoán dụ với những biểu tượng độc đáo, bài ca dao đã thể hiện

    được những sắc thái vô cùng tinh tế trong nỗi lòng người con gái đang yêu. Chính

    điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ cũng như sức sống trường tồn cho tác

    phẩm.

  • Văn mẫu Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân

    Văn mẫu Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân

    Văn mẫu Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Anh chị trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân

    Văn phân tích lớp 12

     Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân.

    BÀI LÀM

    Nếu mảnh đất Tây Bắc để lại “nhiều thương nhiều nhớ’’ cho Tô Hoài, thì với Nguyễn

    Thi mảnh đất và con người Nam Bộ lại là nguồn cảm hứng đặc biệt trong sáng tác của

    nhà văn gốc Bắc này!Nhắc đến ông người ta thường nhắc tới một Nam Cao của vùng

    sông nước Nam Bộ với những am hiểu sâu sắc về đời sống cá tính của con người nơi

    đây!Hãy đến với nhân vật Việt và Chiến trong tác phẩm “Những đứa con trong gia

    đình”mà đặc biệt là đoạn hội thoại trước đêm tòng quân lên đường đánh giặc của hai chị

    em để cùng cảm nhận nét đặc sắc trong tâm lí và tính cách của thế hệ trẻ Nam Bộ .

    Truyện ngắn “NĐCTGĐ “được NT viết năm 1966 khi chiến lược chiến tranh cục bộ đang

    diễn ra hết sức ác liệt trên toàn miền Nam,đồng thời với đó là tinh thần hăng hái của thế

    hệ trẻ CM ở những nơi đạn bom ác liệt nhất như Nam Bộ.Truyện xoay quanh những

    dòng hồi ức của Việt-một thanh niên trẻ, con của một gia đình giàu truyền thống CM,sau

    một trận đọ lê đẫm máu với kẻ thù bị thương nặng,lạc đồng đội ,nằm giữa chiến trường

    mênh mông, nhiều lần ngất đi tỉnh lại.Cũng từ đó dòng hồi ức đứt đoạn về ba má, về chú

    Năm, về chị Chiến, về gia đình hiện ra rất sinh động linh hoạt ,có lúc nó men vào bờ hiện

    tại có lúc lại lượn tít tắp về quá vãng,và trong dòng hồi ức ấy,câu chuyện của chị em Việt

    trong đêm trước ngày tòng quân cũng hiện vè rất tự nhiên hấp dẫn,qua đó chân dung Việt

    và Chiến cũng như nổi hình nổi khối trên nền câu chuyện!

    Trong câu chuỵên đêm ấy,người đọc thấm thía lòng yêu nước nồng nàn,chí căm thù giặc

    sâu sắc của hai chị em Việt Chiến.Lật lại ngay trang văn trước,độc giả thực cảm phục và

    xúc động trước hành động tranh nhau lên đăng kí đi tòng quân của hai chị em Việt

    Chiến.Đó nào đâu phải chỉ là nét hồn nhiên trẻ dại mà còn là nhiệt huyết cách mạng đang

    sục sôi cháy bỏng bởi :”con đường của CM không còn con đường nào khác là con đường

    cách mạng”,sự hăm hở đi tòng quân ấy chính là “một lòng theo Đảng”,chí căm thù giặc

    sâu sắc quyết đền nợ nước trả thù nhà đã giúp 2 chị em không ngần ngại sẵn sàng xông

    pha nơi tuyến đầu máu lửa,giáp mặt với mũi tên hòn đạn,bất chấp đi giữa ranh giới của

    đôi bờ sự sống và cái chết.Cái quyết tâm đến mãnh liệt dữ dội đầy khảng khái trong câu

    nói của chị Chiến”tao là thân con gái,đã ra đi chỉ có một câu nếu giặc còn thì tao mất”hay

    câu nói còn trẻ con của Việt “chị có bị chặt thì chặt chứ tôi chừng nào mới bị” khi chị

    Chiến nhắc đến lời dặn của chú Năm, một lần nữa cũng khiến người đọc thực cảm phục

    và yêu mến lòng yêu nước và chí căm thù giặc sâu sắc ở hai nhân vật này!

    Bên cạnh đó,nét chung tiêu biểu trong tính cách hai chị em Việt này đó là tình yêu gia

    đình tha thiết gắn bó sâu nặng với quê hương.Có phải thế không mà trong lúc cận kề với

    cái chết,quá khứ ùa về trong Việt chẳng gì khác mà là gia đình của mình với câu chuyện

    về ba má về chú Năm về chị Chiến!Ngay trong đêm tòng quân ấy,cả hai đều thấy nhớ

    má.Có phải chính tình yêu thương vô bờ bến với người mẹ -gan góc, ”bàn tay dọn việc

    bàn chân tìm đường “tần tảo lam lũ, nén đau thương nuôi con khôn lớn và vững vàng

    tranh đấu cho sự nghiệp CM của quê hương- không mà cả hai chị em đều cảm nhận

    rõ:”dường như má đang về đâu đây”,”trong đêm này dễ gì má vắng mặt”.Trong niềm tin

    “thác là thể phách,hồn là tinh anh” của 2 chị em thì ”mình đi đâu thì ba má theo đó”,và

    đó phải chăng cũng chính là sức mạnh tinh thần to lớn động viên mỗi người trong chiến

    đấu sau này lập nhiều chiến công!Cũng trong đêm tòng quân ấy,nhân vật chú Năm cũng

    xuất hiện nhiều lần trong những lời thoại của Viẹt và Chiến.Đó là ngườu cả cuộc đời gắn

    bó với CM,chỉ khi bị thương ông mới trở về gia đình và thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước

    • các thế hệ sau,không chỉ vậy,ông còn là hậu phương tinh thần vững chãi cho V,C.Chú cũng là người lưu giữ truyền thống tốt đẹp của gđ trong cuốn sổ gia đình,khơi dậy ý thức trách nhiệm ở mỗi người trong dòng sông truyền thống:”chú kể chuyện gia đình ta cũng dài như sống để rồi chú chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó..con sông nào nước ta cũng lắm nước bạc giàu phù sa,….lòng tốt con người cũng từ đó mà sinh ra.Trăm sông

    đổ về biển lớn.mà biển thì rộng lắm,rộng bằng nước ta và ra ngoài nước ta”.Phải chăng

    đó cũng chính là lời nhắn gửi của Nguyễn Thi trong tác phẩm :sự thống nhất giữa truyên

    thống gia đinh với truyền thống dân tộc,giữa tình gđ và tình yêu Tổ quốc chính là mạch

    nguồn âm ỉ chảy suốt mấy nghìn năm đất nước và sự nối tiếp thế hệ chính là sức mạnh

    của con người VN trong thời kì kháng chiến chống Mĩ: “Lớp cha trước,lớp con sau

    Đã thành đồng chí chung câu quân hành”

    Như vậy bằng nghệ thuật đồng hiện,NT đã đưa đến người đọc những nét tính cách chung

    trong hai nhân vật V,C nhưng ngòi buét am hiểu sâu sắc tâm lí nhân vật là giới tính còn

    khăc hoạ 2 nhân vật này với nhiếu nét riêng độc đáo.

    Trước hết Chiến hiện lên như một người chị đảm đang tháo vát.Cha mẹ mất sớm,chị Hai

    đi lấy chồng xa.Chiến như làm thay tất cả vai trò của ba má chị trong gđ.Chiến thương

    em và luôn nhường nhịn cho em,chi tiết tranh đi bộ đội với em cũng là xuất phát từ lòng

    thương em vô bờ bởi không muốn đứa em nhỏ dại của mình sớm phải đối mặt với hiểm

    nguy, sống chết trong gang tấc.Cũng trong cảm nhận của VIỆT,chị Chiến “giống in như

    má”,từ ngoại hình đến cách nói năng”cái giọng rành rọt tiếng nào ra tiếng nấy”hay có

    “đôi bắp tay tròn vo sạm đỏ màu nắng cháy”.Nhưng ở Chiến ta gặp lại hình ảnh giống hệt

    người mẹ với sự tháo vát thu dọn việc nhà việc cửa,tính toán đâu ra đấy.Từ việc gửi bàn

    thờ má sang nàh chú Năm,đến việc cho xã mượn nhà mở trường học,và cả việc giao lại

    công đất cho bà con.Dưòng như trong Chiến ta nhìn thấy một thiếu nữ đang độ trưởng

    thành,phải thế không mà sau này khi đi ra trận Chiến vẫn mang theo mình cái gương nhỏ

    bên mình,biết làm duyên làm dáng,chăm chút cho bản thân!Đặt trog sự tương quan

    đó,Việt hiện lên với những nét cá tính trẻ con hồn nhiên vô tư.Trong khi chị Chiến bàn

    tính công việc thu xấp nàh cửa thì V lại toàn ừ hoặc gật,phó thác cho chị Chiến,lúc lại

    “với tay chụp một con đom đóm”,rồi thì mặc cho chị Chiến thao thao,V đã lăn ra ngủ khì

    từ bao giờ.Sau này khi đi chiến trường,Việt còn mang theo cả thứ trò chơi thơ trẻ là caí

    ná thun để bắn chim,để rồi trong giờ phút cận kề cái chết không sợ giặc chỉ sợ con ma cụt

    lưỡi và thằng chòng cụt đầu.Nét đa dạng hoá trong tính cách nhân vật như vậy cũng ạo

    nên sự hấp dẫn riêng biệt thu hút người đọc của tác phẩm!

    Như vậy, khắc hoạ nhân vật Việt và Chiến trong câu chuyện trước đêm tòng quân lên

    đường đánh giặc ấy,người đọc hiểu thêm về kiểu nhân vật mà NT ưa thích,đó là kiểu

    nhân vật anh hùng nhưng họ lại là con đẻ của vùng sông nước Nam Bộ,con đẻ của một

    gia đình giàu truyền thống CM,được truyền lửa và hun đúc nhiệt huyết CM,họ như

    nhưũng khúc sông trong trẻo trong dòng sông truyền thống của gia đình mình để chảy

    mãi chảy mãi ra biến lớn của quê hương đất nước!