Author: Nguyễn Huyền

  • Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống website bán sữa trực tuyến

    Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống website bán sữa trực tuyến

    Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống website bán sữa trực tuyến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-website-b%C3%A1n-s%E1%BB%AFa-tr%E1%BB%B1c-tuy%E1%BA%BFn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích thiết kế hệ thống website bán sữa trực tuyến

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Không kể tới những đóng góp to lớn mà ngành công nghệ thông tin đã làm được cho lĩnh vực nghiện cứu khoa học kỹ thuật, mà chúng ta có thể nhìn thấy luôn những đóng góp thiết thực mà nó mang lại trong đời sống xã hội của con người.

    Hãy thử nhìn vào chiếc máy tính cá nhân của mình,chỉ với một vài thao tác đơn giản ,thậm chí là một cú click chuột , bạn có thể đọc báo , xem phim , nghe đài , và cả mua sắm qua mạng,có thể nói cả thế giới thông tin gần như hiện ra trước mắt bạn .

    Nói riêng tới việc mua hàng trực tuyến , thì hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều các website nổi tiếng ,uy tín phục vụ cho người dùng, có thể kể đến như ebay.com , hay amazone.com , còn ngay tại ở Việt Nam cũng có vatgia.com.

    Các doanh nghiệp muốn tiến hành bán hàng trực tuyến , thì điều đầu tiên họ cần đến là một website chất lượng , với một hệ thống thông tin được thiết kế tốt, giao diện đẹp,dễ sử dụng và an toàn…

    Nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Phân tích thiết kế hệ thống website bán sữa trực tuyến” với mong muốn vận dụng những kiến thức mình đã học , xây dựng được một trang web có tính thực tiễn , đồng thời mỗi thành viên trong nhóm củng cố lại những kiến thức của mình qua thực hành .

    Với một số mục tiêu khi thiết kế trang web

    – Bước đầu xây dựng website bán hàng trực tuyến nhằm quảng bá rộng rãi các sản phẩm.

    – Rút ngắn khoảng cách giữa nhà phân phối và người tiêu dùng, đồng thời tiết kiệm thời gian chi phí một cách đáng kể thông qua những thông tin phù hợp nhất với nhu cầu của khách hàng.

    – Với đề tài này, chúng em xin được trình bày một cách thức quản lý website giúp cho những người quản trị dễ dàng trong việc thay đổi, cập nhật thông tin trang web, cũng như quản lý hiệu quả khách hàng và các đơn đặt hàng trên mạng.

     

    CHƯƠNG I: KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐƯA RA BÀI TOÁN

     

    I.KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG

     

          Hiện nay, khác với các nước đã có nền công nghệ thông tin phổ biến và phát triển, tại Việt Nam, đại đa số vẫn là các website tĩnh, có cấu trúc và tổ chức thông tin cố định, không thay đổi hoặc rất ít thay đổi, chủ yếu mang tính chất giới thiệu công ty và sản phẩm dịch vụ của nó.

          Bên cạnh đó, cũng đã có khá nhiều các trang web động (tên thương mại là Dynamic Website) với nhiều hình thức tổ chức khác nhau về giao diện, bố cục cũng như về cách thức quản lý, tiêu biểu như website kinh doanh địa ốc của Công ty Hoàng Quân, website đặt phòng khách sạn trực tuyến của Công ty Thương mại điện tử Việt, website của Ngân hàng Cổ phần thương mại ABC…

         Tuy nhiên, một thực tế cần nhìn nhận rằng: đa số các website đều do công ty sở hữu thuê các nhà thiết kế (thường là các công ty thiết kế website) đảm nhận việc thiết kế ban đầu, điều này là hợp lý, bởi vì chỉ với một chi phí ban đầu cho dù có hơi cao – đối với các trang web động – thì một website được thiết lập mang tính chuyên nghiệp và hoạt động ổn định là điều hết sức cần thiết; nhưng để website đó hoạt động thực sự hiệu quả thì không thể thiếu bàn tay của chính những người chủ, của chính công ty sở hữu nó quản lý và điều hành. Thực tế là, ở Việt Nam hiện nay, vai trò của người quản trị website dường như chưa được đánh giá đúng, đa phần người quản trị trang web của các công ty chỉ đảm đương công việc này sau khi hoàn tất các công việc khác, vấn đề làm mới thông tin website còn bị xem nhẹ, khiến cho những khách hàng thường xuyên của website cảm thấy nhàm chán và từ từ rời bỏ thói quen vào thăm trang web!

            Sự hoạt động hiệu quả của một số trang web nói trên là những minh chứng cho vai trò của người quản trị website doanh nghiệp. Các công ty sở hữu các website này đều có một bộ phận riêng đảm đương việc quản lý thông tin website, nhằm đáp ứng kịp thời và hiệu quả các yêu cầu của các vị “thượng đế” thông qua mạng internet, có như vậy thì mới khai thác hết giá trị của website, và nguồn khách hàng tiềm năng trên mạng.

          Vì thế, theo chúng tôi, các công ty đã, đang và có ý định xây dựng website riêng cho mình thì dù ít, dù nhiều cũng đã quan tâm đến vai trò của công nghệ thông tin và các khách hàng tiềm năng trên mạng, nên có kế hoạch và cắt đặt người quản trị để website của công ty mình luôn mới mẻ, thu hút khách hàng đến với website, đến với công ty.

    II.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

    1.Tổng quan về thương mại điện tử

         Nói đến internet, ngày nay, người ta thường nhắc đến chính phủ điện tử, thương mại điện tử. Đây cũng chính là hai trong số những ứng dụng lớn nhất của công nghệ thông tin, của xa lộ thông tin Internet vào lĩnh vực tổ chức và thương mại toàn cầu.

    • Chính phủ điện tử: là một cách thức tổ chức và truyền thông dữ liệu của chính phủ, sử dụng các công nghệ mới để cung cấp cho các công dân khả năng truy cập hiệu quả vào nguồn tài nguyên thông tin có độ tin cậy cao của chính phủ.
    • Thương mại điện tử: được đề cập đến như là một hình thức mua bán, giao tiếp hoàn toàn khác so với hình thức giao tiếp thương mại truyền thống. Ở đó, người mua và người bán đôi khi không hề biết mặt nhau, mọi thoả thuận, trao đổi đều diễn ra trên mạng internet và thông qua một hệ thống thanh toán đặc biệt, chẳng hạn như thẻ tín dụng ngân hàng.

    Thương mại điện tử tạo ra được nhiều mối quan hệ hơn giữa các cá nhân, các công ty và giữa các thành phần trong toàn xã hội. Xây dựng website bán hàng qua mạng là chúng ta cũng đã tham gia vào thương mại điện tử, với mục tiêu đẩy mạnh mối quan hệ thương mại: công ty – khách hàng và khách hàng – công ty.

    Nói đến thương mại điện tử người ta thường nghĩ ngay đến việc chọn mua một sản phẩm trên mạng, sau các phiên giao dịch khác để thực hiện chuyển hàng, nhận hàng (chẳng hạn, điện thoại, email…xác thực thông tin đặt khách hàng trong các đơn hàng), và cuối cùng kết thúc bằng việc thanh toán qua thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trong thực tế, thương mại điện tử đôi khi chỉ đơn giản là các phiên giao dịch thông thường, khách hàng chỉ vào viếng thăm website để nắm bắt thông tin, hoặc tìm kiếm những thông tin nào đó thông qua các Search Engines trên mạng Internet. Các phiên giao dịch này chỉ giúp chúng ta giới thiệu về công ty hay những sản phẩm công ty hiện đang cung cấp. Mục tiêu cần khai thác của các giao dịch như vậy là website phải có đủ sức hút để lôi kéo khách hàng viếng thăm trang web của chúng ta những lần sau, lôi kéo họ tìm đến công ty chúng ta để biến họ thành khách hàng chính thức của công ty.

    Muốn vậy, đầu tiên website phải có giao diện rõ ràng, bắt mắt, cấu trúc hợp lý để gây được ấn tượng tốt ban đầu cho người vào xem, và một điều tối quan trọng là dung lượng trang website phải nhỏ vừa phải để khách hàng không mất kiên nhẫn trước khi trang web của chúng ta hiện ra trước mắt họ. Kế đến là, nội dung website phải tiện dụng, phù hợp, đáp ứng được nhu cầu thường gặp của khách hàng. Và cuối cùng là một tên miền ngắn gọn, dễ nhớ để khách hàng khó có thể quên trong những lần thăm viếng sau.

    Một website bán sữa qua mạng hiệu quả cũng không nằm ngoài những yêu cầu đó. Thông tin chính của nó chính là những mặt hàng  mà công ty sẽ kinh doanh trong thời gian sắp tới được phân loại một cách rõ ràng, khoa học theo các chủng loại, theo đơn giá, đầy đủ giá cả, hình ảnh, và các mức giá hấp dẫn trong các đợt khuyến mại do công ty tổ chức…đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, cho phép khách hàng tìm kiếm sản phẩm mình mong muốn một cách dễ dàng. Chính vì vậy website bán sữa trực tuyến mà em thực hiện trong bài tập lớn  này cũng mang những chức năng của một website thương mại điện tử, đáp ứng được nhu cầu của các khách hàng.

     

     

    2.Mô tả đề tài

       “Website bán sữa trực tuyến” là hệ thống quảng bá hình ảnh của cửa hàng cũng như thể hiện việc chăm sóc khách hàng ở mọi lúc, mọi nơi. Với website này khách hàng không cần đến các cửa hàng hay nhà phân phối mà vẫn tham khảo được tác dụng, giá cả và thông tin về từng sản phẩm sữa và sự đảm bảo từ phía nhà cung cấp. Tạo sự thuận tiện, thoải mái cho khách hàng khi mua sản phẩm.

     

    3.Mục đích của đề tài

       Website bán hàng là một showroom ảo mở của 24/24h có thể đón khách hàng vào bất cứ lúc nào. Dựa vào website, khách hàng có thể biết được doanh nghiệp bạn kinh doanh mặt hàng gì? Giá bao nhiêu?… đó là những câu hỏi mà khách hàng muốn biết về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp.

       Bên cạnh đó website bán hàng còn giúp doanh nghiệp nhận được phản hồi của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ cần cập nhật thông tin về sản phẩm và phần việc còn lại là quảng bá website đến tất cả các đối tác.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 2:Phân Tích Hệ Thống

     

    I.Đặc tả các quy trình nghiệp vụ:

     

    1.KH thêm sản  phẩm  vào giỏ hàng:

     

     

     

    2.Khách hàng đặt hàng mua sản phẩm:

     

    II.Các ca sử dụng của hệ thống:

    1.Biểu đồ use-case tổng quát:

     

    2.Đặc tả Use-case: Add To Shopping Cart

     

    Name of Use Case:

    Add To Shopping Cart

    Brief Description:

    Use-case này cung cấp chức năng thêm một item

    vào giỏ hàng.

    Actors:

    Customer

    Basic Flow:

    ·        Use-case bắt đầu khi actor click vào

    button Add to cart của một sản phẩm sữa

    cụ thể.

    ·        Hệ thống sẽ tạo một giỏ hàng rồi thêm

     sản phẩm vào giỏ hàng .

    ·        Hệ thống thông bán thêm sản phẩm thành

    công, lưu dữ liệu mới vào giỏ hàng.

    Alternate Flows:

    Nếu đã có gi hàng trong sesscion hệ thống

    sẽ chỉ thêm sản phẩm vào giỏ hàng.

    Special requirements:

    Actor phải đang kết nối vào mạng internet.

    Pre-conditions:

    Actor đang ở trạng thái đăng nhập.

    Post-conditions:

    Không có.

    Extension points:

    Không có.

     

     

     

    3.Đặc tả use-case: Order Entry

     

    Name of Use Case:

    Order Entry

    Brief Description:

    Use-case này cung cấp chức năng tạo đơn đặt hàng khi

     khách hàng đã lựa chọn xong và quyết định mua những

     sản phẩm trong giỏ hàng.

    Actors:

    Customer

    Basic Flow:

    ·        Use-case bắt đầu khi actor click vào

    button Finish.

    ·        Actor click I agree khi hệ thống hiện thị  

     một thông báo yêu cầu actor xác nhận việc đặt hàng.

    ·        Hệ thống hiển thị thông điệp báo cho actor

     biết đã tạo đơn đặt hàng thành công và nhân viên

    của công ty sẽ sớm liên lạc với khách hàng, đồng

     thời hệ thống lưu dữ liệu đặt hàng vào database.

    ·        Đồng thời hệ thống xóa bỏ giỏ hàng.

    Alternate Flows:

    o   Actor click No  khi hệ thống yêu cầu xác nhận

     việc đặt hàng, hệ thống đưa actor trở lại màn hình

    quản lý sản phẩm trong giỏ hàng.

    Special requirements:

    Actor phải đang kết nối vào mạng internet.

    Pre-conditions:

    Actor đang ở trạng thái đăng nhập.

    Post-conditions:

    Không có.

    Extension points:

    Không có.

    4.Đặc tả use-case:Đăng nhập vào hệ thống

     

    Tên ca sử dụng

    Đăng nhập vào hệ thống.

    Tác nhân

    Thành viên.

    Mục đích

    Cho phép thành viên đăng nhập hệ thống để thực hiện một số chức năng mà khách vãng lai không có.

    Tóm lược

    Thành viên nhập tên đăng nhập và mật khẩu để đăng nhập vào hệ thống.

    Điều kiện đầu vào

     

    Kết quả trả về

    Thông báo thành viên đăng nhập vào hệ thống thành công hay không.

    Các luồng tương tác chính

    Thành viên đăng nhập vào hệ thống.

     

     

     

    5.Đặc tả use-case:Đăng xuất khỏi hệ thống

     

    Tên ca sử dụng

    Đăng xuất khỏi hệ thống.

    Tác nhân

    Thành viên.

    Mục đích

    Cho phép thành viên đăng xuất khỏi hệ thống và kết thúc phiên làm việc.

    Tóm lược

    Thành viên thực hiện đăng xuất khỏi hệ thống, kết thúc phiên làm việc và chỉ còn thực hiện được các chức năng của khách vãng lai.

    Điều kiện đầu vào

     

    Kết quả trả về

    Thông báo đã đăng xuất.

    Các luồng tương tác chính

    Thành viên đăng xuất khỏi hệ thống.

    6.Đặc tả use-case:Quản lý thông tin cá nhân

     

    Tên ca sử dụng

    Quản lý thông tin cá nhân.

    Tác nhân

    Thành viên.

    Mục đích

    Cho phép thành viên thực hiện quản lý thông tin cá nhân của mình.

    Tóm lược

    Thành viên thực hiện cập nhật các thông tin tài khoản của mình bao gồm các thông tin cá nhân và mật khẩu.

    Điều kiện đầu vào

     

    Kết quả trả về

    Thông báo cập nhật thành công hay không.

    Các luồng tương tác chính

    1.     Cập nhật thông tin cá nhân.

    2.     Thay đổi mật khẩu.

     

     

    7.Đặc tả use-case:Khởi tạo lại mật khẩu

     

    Tên ca sử dụng

    Khởi tạo lại mật khẩu.

    Tác nhân

    Khách vãng lai.

    Mục đích

    Cho phép khách hàng khởi tạo lại mật khẩu khi quên hoặc bị mất mật khẩu đang sử dụng.

    Tóm lược

    Thành viên bị mất mật khẩu (tương đương với khách vãng lai) thực hiện khởi tạo lại mật khẩu, sau đó sử dụng email đăng ký để xem mật khẩu đã được khởi tạo lại.

    Điều kiện đầu vào

     

    Kết quả trả về

    Thông báo mật khẩu đã được khởi tạo lại.

    Các luồng tương tác chính

    Khởi tạo lại mật khẩu.

     

     

    III.Biểu đồ trình tự:

     

    1.Biểu đồ trình tự của Use-case Add To ShoppingCart:

     

     

     

     

    2.Biểu đồ trình tự của use-case Order Entry:

     

     

    III.Biểu đồ lớp:

     

    1.Biểu đồ lớp của Use-case Add To ShoppingCart:

     

     

    2.Biểu đồ lớp của Use-case Order Entry:

     

     

     

     

    IV. Biểu đồ Collaboration :

     

    1.Biểu đồ Collaboration của Use-case Add To Shopping Cart:

     

    2.Biểu đồ Collaboration của Use-case Order Entry:

     

     

     

     

    V. Biểu đồ Statechart :

     

    1. Biểu đồ Statechart của đối tượng Shopping Cart:

     

    2.Biểu đồ Statechart của Use-case Order Entry:

     

     

     

    VI.Biểu đồ thành phần:

      1.Biểu đồ Component của Use-case Add To Shopping Cart:

     

     

     

     

    1. Biểu đồ Component của Use-case Order Entry:

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

    Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

    Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Đầu tư tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-T%E1%BA%ADp-L%E1%BB%9Bn-M%C3%B4n-L%C3%BD-Thuy%E1%BA%BFt-%C3%94-T%C3%B4-T%C3%8DNH-TO%C3%81N-S%E1%BB%A8C-K%C3%89O-C%E1%BB%A6A-%C3%94T%C3%94-CON.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài Tập Lớn Môn Lý Thuyết Ô Tô

     

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

     

    1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TÍNH TOÁN SỨC KÉO;

    Tính toán sức kéo ô tô nhằm mục đích xác định các thông số cơ bản của động cơ, của hệ thống truyền lực để đảm bảo chất lượng động lực học cần thiết của chúng trong các điều kiện sử dụng khác nhau, phù hợp với các điều kiện đã cho của ô tô. Từ đó để xác định các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng kéo của ô tô như chỉ tiêu vận tốc lớn nhất, góc dốc lớn nhất của đường mà ô tô có thể khắc phục được, gia tốc lớn nhất của ô tô, quãng đường và thời gian tăng tốc ngắn nhất khi đạt vận tốc là lớn nhất . Các chỉ tiêu trên có thể tìm được khi giải phương trình chuyển động của ô tô bằng phương pháp đồ thị hoặc phương pháp giải tích.

    Tài liệu tính toán sức kéo ô tô có thể làm tài liệu nghiên cứu cho nhiều đối tượng khác nhau như: Sinh viên cơ khí, thợ sửa chữa ô tô trong các gara cũng như những người có nhu cầu khác…

    Vì kiến thức còn hạn chế vì vậy tài liệu không thể không có những sai xót vì vậy mong nhận được những đóng góp của thầy giáo cũng như các bạn để tài liệu ngày càng được hoàn thiện.

     

     

    Phần I

    Xây dựng đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ

    I . Xác định trọng lượng và sự phân bố trọng lượng

    1. Trọng lượng xe thiết kế :
      G = Go + n. A + n.Gh

    Trong đó :  

                                 Go : Trọng lượng bản thân của xe

                                  Gh: Trọng lượng của hành lý

                                  A : Trọng lượng của 1 người

                                  n : Số chỗ ngồi trong xe

                                   G : Trọng lượng toàn bộ của ô tô (kG)

    Vậy ta có: G = 1450+ 5*60+5*25 = 1875 (kG)

              2 .Phân bố tải trọng lên các cầu.

    Với xe du lịch :  theo số liệu cho trước ta có:

    +Tải trọng phân bố cầu trước:

                 Z1 = 0,42*G =  0,42* 1875= 787.5(kG) 

    +Tải trọng phân bố cầu sau:

                 Z2 = 0.58*G= 0.58* 1775=1087.5(kG)

    1. Chọn lốp

    – Lốp có kí hiệu 195/60Z14

    Þ Bán kính thiết kế của bánh xe :

    r0 = 195+  *25,4 = 372.8 (mm)= 0.3782(m)

         Bán kính động và động lực học bánh xe : rb = rk = l. r0

         Chọn lốp có áp suất cao,hệ số biến dạng  = 0,95

               rk = l. r0 =  0,95*0.3782  = 0.35 (m)    

     

    II. Xây dựng đường đặc tính ngoài của động cơ

     

    – Các đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ là những đường cong biểu diễn sự phụ của các đại lượng công suất , mô men và suất tiêu hao nhiên liệu của động cơ theo số vòng quay của trục khuỷu động cơ. Các đường đặc tính này gồm :

              + Đường công suất Ne = f(ne)

              + Đường mô men xoắn Me = f(ne)

              + Đường xuất tiêu hao nhiên liệu của động cơ ge = f(ne)

     

    1. Xác định công suất của động cơ theo điều kiện cản chuyển động

                           ; (W)

            -Trong dó  : G – tổng trọng lượng của ô tô = 1875 KG

                                vmax – vận tốc lớn nhất của ô tô 309 (km/h)

                            K- hệ số cản khí động học, chọn K = 0,025  (kG.s2/m4)

                 F – diện tích cản chính diện. F = B.H0 =0.8*1.6*1.5 = 1.92(m2)

                  – hiệu suất của hệ thống truyền lực: chọn = 0,93

                               f : là hệ số cản lăn của đường (chọn f0 =0,018 với đường nhựa tốt ).

     Vậy ta có f  = f0 (1 + )= 0.1164 Vì v = 309 > 80( km/h.)

    Vậy ta có :

    Nv= ( mã lực)

    Error! No bookmark name given.

     

     

       2 . Xác định công suất cực đại của động cơ

    Công suất lớn nhất của động cơ:   Nemax=        (kW)

    Trong đó  a,b,c  là các hệ số thực nghiệm ,với động cơ xăng 4 kỳ:

      a= b=c =1

                         l ==1.1

         Chọn  n=5000v/p  : số vòng quay của trục khuỷu động cơ ứng với Nemax= 719 ( mã lực)

    Với động cơ xăng chọn =1.1

    3 . Xây dựng đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ.

         -Tính công suất động cơ ở số vòng quay khác nhau :

          Sử dụng công thức  Lây-Đec-Man:

                  (mã lực)

    Trong đó Ne max và Nn là công suất cực đại và số vòng quay tương ứng.

    Ne và ne công suất và số vòng quay ở 1 thời điểm trên đường đặc tính ngoài của động cơ.

    • Tính mô men xoắn của trục khuỷu động cơ ứng với vòng quay

         ne khác nhau :   Me = (kG.m)

    λ| =  là các đại lượng ne và nn đã biết ( với λ| = 0,2; 0,4 … 0,9;1: 1,1)

    λ

    0.2

    0.3

    0.5

    0.6

    0.8

    0.9

    1

    1.1

    ne(v/p)

    1000

    1500

    2500

    3000

    4000

    4500

    5000

    5500

    Ne(PS)

    167

    261

    449

    535

    667

    704

    719.

    703.9

    Me(KG.m)

    119.6

    124.6

    128.6

    127.7

    119.4

    112

    103

    91.7

     

    Đồ thị đường đặc tính tốc độ ngoài của động cơ.

                                                ( vẽ trên giấy Ao kẻ ly)

             Nhận xét :

             Trị số công suất Nemax­ ở trên chỉ là phần công suất động cơ dùng để khắc phục các lực cản chuyển động. Để chọn động cơ đặt trên ô tô, cần tăng thêm phần công khắc phục các sức cản phụ, quạt gió, máy nén khí,… Vì vậy phải chọn công suất lớn nhất là:

            Nemax = 1,1*Nemax = 1.1*704=719(mã lực)

      –  Hệ số thích ứng của động cơ theo mô men xoắn:

          k==1,2   Memax=k*MN=1.2*103 = 123.6 (KG.m)

    III. Xác định tỷ số truyền của truyền lực chính

      Tỷ số truyền của hệ thống truyền lực chính trong trường hợp tổng quát được xác định theo công thức :

                  it = ih . if . io

         Trong đó : ih là tỷ số truyền lực chính

                          if là tỷ số truyền của hộp số phụ

                          i­o là tỷ số truyền của truyền lực chính

    1. Xác định tỷ số truyền của truyền lực chính.

              i0 được xác định trên cơ sở đảm bảo tốc độ chuyển động cực đại của ô tô ở số truyền cao nhất trong hộp số.

          i0 =             

          rb= 0,35 m     : bán kính động lực học của bánh xe (m).

          ihn = 1 : tỷ số truyền của tay số cao nhất

               vmax  : vận tốc lớn nhất của ô tô  309( km/h).

               nv : số vòng quay của động cơ khi ô tô đạt tốc độ lớn nhất

               ipc =1.3

                                      i0 =  0.377.=1.8

    1. Xác định tỷ số truyền của hộp số

        2.1.Xác định tỷ số truyền của tay số 1

    • Tỷ số truyền của tay số 1 được xác định trên cơ sở đảm bảo khắc phục được sức cản lớn nhất của mặt đường mà bánh xe chủ động không bị trượt quay trong mọi điều kiện chuyển động.
    • Theo ĐK chuyển động ta có :

                 Pkmax  P +Pw

       Pkmax : lực kéo lớn nhất của động cơ phát ra ở bánh xe chủ  động.

       P: lực cản tổng cộng của đường .

       Pw     : lực cản không khí .

    Khi ô tô chuyển động ở tay số I ,vận tốc của ôtô nhỏ nên bỏ qua Pw

    Vậy :  Pkmax  P=.G

                         .G         

     suy ra :       iI     

    f = 0,018

    α : góc dốc cực đại của đường =10o

    Ψmax là hệ số cản tổng cộng lớn nhất của đường

    Ψmax = f + tgαmax = 0.1164+ tg10o = 0.29

    • ih1 ≥ =15 (1)

    -Mặt khác Pkmax còn bị giới hạn bởi điều kiện bám giữa bánh xe với mặt đường:  

            Pkmax   P=mk.G

                mk.G 

             Theo điều kiện bám ta có :

                  ihI  

                  G  : trọng lượng phân bố ở cầu chủ động

              = 0,8  : hệ số bám của mặt đường tốt.  

             rb : bán kính làm việc trung bình của bánh xe .

                 ih1 ≤     = 1.84(2)

               Từ (1) và (2) ta chọn lấy  ih1= 1.50

     

    2.Xác định tỷ số truyền của các tay số trung gian 

    • Chọn hệ thống tỷ số truyền của các cấp số trong hộp số theo cấp số nhân. 

         Công bội được xác định theo biểu thức;

     

    Trong đ: n – số cấp trong hộp số; n= 6

                  – tỷ sổ truyền tay số 1, ih1 = 1.50

                  – tỷ số truyền tay số cuối cùng trong hộp số. ih6 =1

     

    Tỷ số truyền tay số thứ i được xác định theo công thức sau:

     

    Trong đó: –  – tỷ số truyền tay số thứ i trong hộp số (i=2,…,n-1)

     

    Từ hai công thức trên ta sẽ xác định được tỷ số truyền ở các tay số:

      +Tỷ số truyền của tay số II

                         =

      +Tỷ số truyền của tay số III là :ih3 =

      +Tỷ số truyền của tay số IVlà :ih4 = 1.19

     + Tỷ số truyền tay số 5 là : ih5 =1.10

    + Tỷ số truyền tay số 6 là :1

    -Tỷ số truyền tay số lùi : i1= 1,2.ihi= 1,2* 1.50=1.8

    Kiểm tra tỷ số truyền tay số lùi theo điều kiện bám Pkl   P=G

                 G 

             Theo điều kiện bám ta phải có :

                   ihI ≤     = 1.84

      Vậy il  1.8 < 1.84  là thỏa mãn điều kiện.        

       Tỷ số truyền tương ứng với từng tay số :

     

        Bảng 2: bảng tỷ số truyền của các tay số

    Tay số

    I

    II

    III

    IV

    V

    VI

    Số lùi

    Tỷ số truyền

    1.5

    1.39

    1.29

    1.19

    1.1

    1

    1.8

    3 ) Lập bảng xác định vận tốc của ô tô tương ứng với từng số truyền.

                  Vm = 0.377

     

    ne(v/p)

    1000

    1500

    2500

    3000

    4000

    4500

    5000

    5500

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309

     

    PHẦN II

    XÂY DỰNG ĐỒ THỊ CÁC CHỈ TIÊU ĐỘNG LỰC HỌC CỦA Ô TÔ

     

    I. Cân bằng công suất của ô tô

    1. Phương trình cân bằng công suất

    Phương trình cân bằng công suất tại bánh xe chủ động

    Nk = Nf  N i N +Nw

    Công suất của động cơ phát ra tại bánh xe chủ động

    Nk = Ne – Nr = Ne . = Ne .

    Nr công suất tiêu hao cho tổn thất cơ khí trong hệ thống truyền lực

    = 0,89 hiệu suất truyền lực.

    Nf  công suất tiêu hao cho lực cản lăn.

         Nf =  G.f.cos. 

    • Công suất tiêu hao cho lực cản của không khí

    Nw =

    – Nj   Công suất tiêu hao cho lực cản quán tính  khi tăng tốc .

    N= .

    Trong đó :     j : gia tốc của ôtô.

                          v : vận tốc chuyển động của ôtô.

                     : hệ số kể đến ảnh hưởng của các khối lượng quay.

                     g : gia tốc trọng trường.

    Tuy nhiên trong phương trình chỉ cần xác định thanh phần Nk ,Nf,Nw

    Ta thấy đường biểu diễn Nf là đường bậc nhất qua gôc tọa độ nên chỉ cần xác định 2 điểm.

    Nf0 = 0 và

    • Đương biểu diễn đồ thị Nw là đường cong
    • Các đồ thị Nk-v theo các số truyền .

    Bảng 4: Tính công suất của động cơ

    ne(v/p)

    1000

    1500

    2500

    3000

    4000

    4500

    5000

    5500

    Ne(PS)

    167

    261

    449

    535

    667

    704

    719.

    703.9

    Nk

    155.31

    242.73

    417.57

    497.55

    620.31

    654.72

    668.67

    654.63

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

                       

    –  Xét ô tô chuyển động trên đường bằng : Nc = Nf + Nw

    • Ta có bảng tính sau :

    Bảng 5: Tính công cản của động cơ  

    V(km/h)

    0

    40

    60

    86

    100

    120

    f

    0

    0.018

    0.018

    0.02

    0.03

    0.035

    Nf

    0

    4.92

    7.39

    11.76

    20.52

    28.72

    Nw

    0

    0.88

    2.96

    8.72

    13.71

    23.70

    Nw+Nf

    0

    5.8

    10.35

    20.48

    34.23

    52.42

     

    V(km/h)

    150

    180

    220

    250

    280

    309

    f

    0.045

    0.055

    0.07

    0.085

    0.097

    0.1164

    Nf

    46.16

    67.71

    105.32

    145.33

    185.75

    245.98

    Nw

    46.29

    79.98

    146.03

    214.29

    301.06

    404.62

    Nw+Nf

    92.45

    147.69

    251.35

    359.62

    486.81

    650.60

     

    1. Đồ thị cân bằng công suất (vẽ trên giấy Ao kẻ ly)

    Nhận xét:

    Trên đồ thị, đoạn nằm giữa Nk và (Nf + Nw) là công suất dư. Công suất dư này để khắc phục các công cản công lên dốc, công suất cản tăng tốc.

    II.Xác định chỉ tiêu về  lực kéo của ô tô:

    1. Phương trình cân bằng lực kéo:

        Pki = Pf  Pi P + Pw

    Pk : Lực kéo tiếp tuyến ở bánh xe chủ động,    Pki =    ( kG ).

    • Pf : Lực cản lăn, Pf =f.G.cos.
    • Pi : Lực cản lên dốc . Pi =G.sin.
    • Pw : Lực cản không khí, Pw=.
    • P: Lực cản quán tính (xuất hiện khi xe chuyển động không ổn định),

                                                 Pj =  .

      : Góc dốc của đường .

    • i=tg:Độ dốc của đường .
    • f : Hệ số cản lăn của đường .

    Bảng 6: Tính lực kéo PK theo tốc độ ô tô

    Me(KG.m)

    119.6

    124.6

    128.6

    127.7

    119.4

    112

    103

    91.7

    Pk1

    858.04

    893.92

    922.61

    916.16

    856.61

    803.51

    738.95

    657.88

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    Pk2

    795.12

    828.36

    854.95

    848.97

    793.79

    744.60

    684.76

    609.64

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    Pk3

    737.92

    768.77

    793.45

    787.89

    736.68

    691.03

    635.50

    565.78

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    Pk4

    680.72

    709.17

    731.94

    726.82

    697.58

    637.46

    586.23

    521.92

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

          260.62

    Pk5

    629.23

    655.54

    676.58

    671.85

    628.18

    589.23

    541.90

    482.45

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    Pk6

    572.03

    595.94

    615.08

    610.77

    571.07

    535.68

    492.63

    438.59

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

     Bảng 7:Tính các loại lực cản theo tốc độ của ô tô

    V(km/h)

    0

    40

    60

    86

    100

    120

    f

    0

    0.018

    0.018

    0.02

    0.03

    0.035

    Pw

    0

    5.91

    13.29

    27.31

    36.92

    53.17

    Pf

    0

    32.24

    32.24

    36.93

    55.40

    64.63

    Pf+Pw

    0

    38.15

    45.53

    64.24

    92.32

    117.80

    V(km/h)

    150

    180

    220

    250

    280

    309

    f

    0.045

    0.055

    0.07

    0.085

    0.097

    0.1164

    Pw

    83.08

    119.63

    178.71

    230.77

    289.48

    352.55

    Pf

    83.09

    101.56

    129.26

    156.95

    179.11

    214.93

    Pf+Pw

    166.17

    221.19

    307.97

    387.72

    468.59

    567.48

    +)   Pki =  

        Trong đó :     pki :lực kéo tương ứng ở cấp số i

                                 ii   : tỷ số truyền của cấp số i

                                  i0  :tỷ số truyền lực chính.

                                 Vi  : vận tốc chuyển động của ô tô theo số vòng quay                                              của trục khuỷu động cơ khi ôtô chuyển động ở cấp số i .

    Lực cản lăn Pf được xác định như sau :

    Với v ≤ 80 km/h thì f = fo = 0,018

    Pf = G.f đồ thị là đường thẳng song song với trục hoành.

    Với v ≥ 80km/h thì f = 0,018 (1+) đồ thị có dạng đường cong bậc 2

    1. Đồ thị cân bằng lực kéo của ô tô (vẽ trên giấy Ao kẻ ly)

    Nhận xét:

    Trục tung biểu diễn lực Pk, Pf, Pw. Trục hoành biểu diễn vận tốc của ô tô theo km/h.

    * Đường PK6 (lực kéo khi xe chạy ở số truyền 6) cắt nhau với đường biểu diễn lực cản (Pf, Pw) tại A dóng xuống ta được Vmax =309  km/h

    Đồ thị Pf là đường thẳng // với trục hoành khi V < 80km/h và là đường cong bậc 2 khi V > 80km/h.

    Khoảng cách từ Pf + Pw đến Pki là lực kéo dư để khắc phục các lực cản khác.

     

    1. Giới hạn của đồ thị D theo điều kiện bám

              Ψ ≤ D ≤ Dφ

       Trong đó Ψ = f ± tgα

     D ≥ Ψ là điều kiện cần thiết khi ô tô chuyển động ở vận tốc của các số truyền khác nhau ( trường hợp không tăng tốc )

    • Điều kiện D ≤ Dφ là giới hạn của nhân tố động lực học D theo điều kiện bám. Dφ được xác định theo biểu thức :
    • Dφ = = –

     

    PHẦN III

    XÂY DỰNG ĐỒ THỊ DX

     

    1.Biểu thức xác định Dx

    -Trong thực tế ô tô có thể làm việc với tải trọng thay đổi khi đó ta có biểu thức xác định nhân tố động lực học như sau :

    Dx =  (1)

    mặt khác ta có      D  = (2)

    từ 1 và 2 suy ra : Dx.Gx = D.G

    = = tgα1

              -Trong đó : α1 là góc nghiêng biểu thị tỷ số giữa tải trọng của xe đang tính với khối lượng toàn bộ của xe

        – Gx : Khối lượng của ô tô ở tảI trọng đang tính Gx = Go + Gex

        – Khối lượng của ô tô ở trạng tháI không tải

         – Gex : Tải trọng của ô tô ở trạng thái đang tính

         – Trị số của α1 được biểu diễn theo các góc thứ nguyên ( 00) khi :

              Gx < G suy ra tgα1 < 1 , α1<450 ( non tải)

              Gx = G suy ra tgα1 =1 , α1= 450 ( đầy tải)

              Gx > G suy ra tgα1 >1 , α1> 450 ( quá tải)

              -Đồ thị nhân tố động lực học Dx (cũn gọi là đồ thị tia) được biểu diễn kết hợp với đồ thị D.Phần bên phải là đồ thị D khi ô tô chở đầy tải ,phần bên trái là đồ thị biểu diễn nhân tố động lực học khi xe chở tải thay đổi Dx hoặc φx ( trục hoành ) , trục tung biểu thị nhân tố động lực học D khi đầy tải.

    -Lập bảng giá trị nhân tố động lực học ;

    – Ta có Di = =( Pki – ).  

                      

    Bảng 8: Tính đồ thị nhân tố D theo tay số

     

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    Pk1

    858.04

    893.92

    922.61

    916.16

    856.61

    803.51

    738.95

    657.88

    Pw1

    5.22

    11.74

    32.61

    46.96

    83.49

    105.67

    130.45

    157.85

    D1

    0.455

    0.470

    0.475

    0.464

    0.412

    0.372

    0.325

    0.267

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    Pk2

    795.12

    828.36

    854.95

    848.97

    793.79

    744.60

    684.76

    609.64

    Pw2

    6.08

    13.67

    37.98

    54.69

    97.22

    123.04

    151.92

    183.81

    D2

    0.421

    0.435

    0.436

    0.424

    0.372

    0.331

    0.284

    0.227

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    Pk3

    737.92

    768.77

    793.45

    787.89

    736.68

    691.03

    635.50

    565.78

    Pw3

    7.05

    15.87

    44.09

    63.50

    112.88

    142.87

    176.38

    213.42

    D3

    0.390

    0.402

    0.400

    0.386

    0.333

    0.292

    0.245

    0.188

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    Pk4

    680.72

    709.17

    731.94

    726.82

    697.58

    637.46

    586.23

    521.92

    Pw4

    8.29

    18.65

    51.81

    74.63

    132.65

    167.89

    207.27

    250.79

    D4

    0.359

    0.368

    0.363

    0.348

    0.301

    0.250

    0.202

    0.145

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    Pk5

    629.23

    655.54

    676.58

    671.85

    628.18

    589.23

    541.90

    482.45

    Pw5

    9.7

    21.83

    60.65

    87.33

    155.24

    196.48

    242.57

    310.39

    D5

    0.330

    0.338

    0.328

    0.312

    0.252

    0.209

    0.160

    0.092

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

    Pk6

    572.03

    595.94

    615.08

    610.77

    571.07

    535.68

    492.63

    438.59

    Pw6

    11.74

    26.41

    73.38

    105.67

    187.85

    237.74

    293.50

    352.55

    D6

    0.299

    0.304

    0.289

    0.269

    0.204

    0.159

    0.106

    0.046

     

     

     

    1. Đồ thị nhân tố động lực học Dx khi tải trọng thay đổi

                                         (vẽ trên giấy Ao kẻ ly).

     

    PHẦN IV

    XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG TĂNG TỐC CỦA Ô TÔ

    I.Xác định gia tốc của ô tô :

    1.Biểu thức xác định gia tốc

    J =­ *g

     -Khi ô tô chuyển động trên đường bằng ( α = 0 ) suy ra:

                Jm = * g

    Trong đó

    • m chỉ số tương ứng với tỷ số truyền đang tính m = 1 .. – D là nhân tố động học của ô tô khi chở đủ tải.

    – djm hệ số kể đến ảnh hưởng của các khối lượng quay được tính theo công thức sau:      djm = 1,05+ 0,05.i2hm

     

     

    Bảng 10: Tính giá trị của gia tốc theo tỷ số truyền và vận tốc

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    D1

    0.455

    0.470

    0.475

    0.464

    0.412

    0.372

    0.325

    0.267

    f

    0.018

    0.018

    0.027

    0.033

    0.045

    0.051

    0.058

    0.066

    j1

    2.25

    2.38

    2.34

    2.20

    1.64

    1.25

    0.78

    0.21

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    D2

    0.421

    0.435

    0.436

    0.424

    0.372

    0.331

    0.284

    0.227

    f

    0.018

    0.018

    0.030

    0.035

    0.049

    0.056

    0.064

    0.071

    j2

    1.95

    2.07

    1.98

    1.83

    1.26

    0.85

    0.38

    0.18

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    D3

    0.390

    0.402

    0.400

    0.386

    0.333

    0.292

    0.245

    0.188

    f

    0.018

    0.018

    0.032

    0.038

    0.053

    0.062

    0.069

    0.080

    j3

    1.73

    1.84

    1.70

    1.52

    0.92

    0.63

    0.20

    0.12

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    D4

    0.359

    0.368

    0.363

    0.348

    0.301

    0.250

    0.202

    0.145

    f

    0.018

    0.018

    0.034

    0.042

    0.059

    0.067

    0.078

    0.088

    j4

    1.47

    1.55

    1.36

    1.16

    0.59

    0.35

    0.17

    0.07

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    D5

    0.330

    0.338

    0.328

    0.312

    0.252

    0.209

    0.160

    0.092

    f

    0.018

    0.018

    0.037

    0.046

    0.065

    0.075

    0.086

    0.10

    j5

    1.21

    1.28

    1.02

    0.80

    0.42

    0.24

    0.14

    0.03

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

    D6

    0.299

    0.304

    0.289

    0.269

    0.204

    0.159

    0.106

    0.046

    f

    0.018

    0.020

    0.041

    0.051

    0.072

    0.085

    0.097

    0.1164

    j6

    0.95

    0.98

    0.65

    0.38

    0.29

    0.15

    0.09

    0

     

    – Đồ thị gia tốc(vẽ trên giấy Ao kẻ ly).

        2.Lập đồ thị xác định gia tốc của ô tô

    Nhận xét:  Vmax =  309 km/h

    – Ở tốc độ của ô tô Jvmax = 0 vì xe không còn khả năng tăng tốc.

    – Do ảnh hưởng của hệ số di1 nên j2 (gia tốc ở tay số 2) > j1 (gia tốc ở tay số 1).

    II. Xác định thời gian tăng tốc và quãng đường tăng tốc.

    1. Biểu thức xác định thời gian tăng tốc

              – Từ CT : j =  suy ra dt =

         – Suy ra:Khoảng thời gian tăng tốc từ v1 v2 của ô tô là:

    t1,2=.dv

    – Bảng giá trị gia tốc ngược

    V số 1

    37.59

    56.39

    93.98

    112.78

    150.37

    169.17

    187.96

    206.76

    j1

    2.25

    2.38

    2.34

    2.20

    1.64

    1.25

    0.78

    0.21

    1/j1

    0.44

    0.42

    0.43

    0.45

    0.61

    0.8

    1.28

    4.76

    V số 2

    40.57

    60.85

    101.42

    121.7

    162.27

    182.55

    202.84

    223.12

    j2

    1.95

    2.07

    1.98

    1.83

    1.26

    0.85

    0.38

    0.18

    1/j2

    0.51

    0.48

    0.51

    0.55

    0.79

    1.18

    2.63

    5.55

    V số 3

    43.71

    65.57

    109.28

    131.14

    174.85

    196.71

    218.56

    240.42

    j3

    1.73

    1.84

    1.70

    1.52

    0.92

    0.63

    0.20

    0.12

    1/j3

    0.59

    0.54

    0.59

    0.66

    1.09

    1.59

    5.00

    8.33

    V số 4

    47.39

    71.08

    118.46

    142.17

    189.54

    213.24

    236.93

    260.62

    j4

    1.47

    1.55

    1.36

    1.16

    0.59

    0.35

    0.17

    0.07

    1/j4

    0.68

    0.65

    0.74

    0.86

    1.69

    2.86

    5.88

    14.28

    V số 5

    51.26

    76.89

    128.16

    153.79

    205.05

    230.68

    256.31

    289.94

    j5

    1.21

    1.28

    1.02

    0.80

    0.42

    0.24

    0.14

    0.03

    1/j5

    0.83

    0.78

    0.98

    1.25

    2.38

    4.17

    7.14

    33.33

    V số 6

    56.39

    84.58

    140.97

    169.17

    225.56

    253.75

    281.94

    309.

    j6

    0.95

    0.98

    0.65

    0.38

    0.29

    0.15

    0.09

    0

    1/j6

    1.05

    1.02

    1.53

    2.63

    3.45

    6.67

    11.11

     

    -Đồ thị gia tốc ngược  ( vẽ trên giấy Ao kẻ ly ).

     

     

     

     

    1. Thời gian tăng tốc của ô tô.

    Áp dụng phương pháp tính gần đúng chia đồ thị 1/j thành k phần với :

    : là thời gian tăng tốc từ

    Với

    Suy ra thời gian tăng tốc toàn bộ

     : là số khoảng chia vận tốc từ

     là vận tốc trung bình thứ i

     : là vận tốc tại thời điểm i ( km/h)

     là vận tốc tại thời điểm i-1 ( km/h)

     

              4.Quãng đường tăng tốc của ô tô

    1. Biểu thức tính quãng đường tăng tốc

    Áp dụng công thức tính quãng đường :

     

    Từ phương pháp tính gần đúng ta có :

    Chia vận tốc từ  thành n khoảng ta có :

     

    Trong đó :

     là quãng đường tăng tốc được trong khoảng thời gian

     : giá trị trung bình của vận tốc tại thời điểm thứ i

    Tổng quãng đường tăng tốc :       

         Bảng 12: Tính giá trị thời gian và quãng đường tăng tốc

    tay số 1

    Vi-1- Vi

    037.59

    37.5956.39

    56.3993.98

     
     

    Jtb

    1.13

    2.32

    2.36

     
     

    ∆t

    9.24

    2.25

    4.42

     
               
     

    ∆s

    173.67

    105.73

    332.32

     
               

    tay số 2

    Vi-1- Vi

    93.98101.42

    101.42162.27

    162.27 202.84

     
     

    Jtb

    2.16

    1.62

    0.82

     
     

    ∆t

    0.96

    10.43

    13.74

     
               
     

    ∆s

    93.79

    1375.14

    2508.31

     
               

    tay số 3

    Vi-1- Vi

    202.84218.56

       
     

    Jtb

    0.29

       
     

    ∆t

    15.06

       
             
     

    ∆s

    3173.14

       
             

    tay số 4

    Vi-1- Vi

    218.56236.93

       
     

    Jtb

    0.19

       
     

    ∆t

    26.86

       
             
     

    ∆s

    6117.23

       
             

    tay số 5

    Vi-1- Vi

    236.93 256.31

     
     

    Jtb

    0.16

     
     

    ∆t

    33.65

     
           
     

    ∆s

    8298.76

     
           

    tay số 6

    Vi-1- Vi

    256.31281.94

    281.94309.

     
     

    Jtb

    0.12

    0.05

     
     

    ∆t

    59.33

    150.33

     
             
     

    ∆s

    15967.19

    44418

     
             
                   

     37.6 (s);  5413(m)
    5. Đồ thị thời gian tăng tốc và quáng đường tăng tốc
    ( vẽ trên giấy Ao kẻ ly ).

     

    Nhận xét:

    Vì trong quá trình tính toán còn có cả thời gian và quãng đường sang số. Nên trong quá trình vẽ đồ thị ta nên bỏ qua các thời gian va quãng đường đó.

     

     

    KẾT LUẬN

        Việc tính toán động lực kéo của ô tô chỉ có ý nghĩa về mặt lí thuyết do tính tương đối của các phép tính,và sự lựa chọn các hệ số trong quá trình tính toán không chính xác so với thực tế.Trong thực tế ,việc nghiên cứu đánh giá chất lượng kéo của ô tô  được thực hiện trên đường hoặc trên các bệ thử chuyên dùng.

    ***************************************************************

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Đầu tư tài chính

    Bài tập lớn Đầu tư tài chính

    Bài tập lớn Đầu tư tài chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ án chi tiết máy 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Đầu tư tài chính

    LỜI MỞ ĐẦU

    Khi bạn có trong tay một trăm triệu đồng chẵn (100000000 VNĐ) tiền nhàn rỗi bạn sẽ làm gì? Bạn không thể nào đem số tiền đó về nhà cất giữ bởi vì như vậy số tiền của bạn sẽ không bao giờ sinh lời mà còn có thể mang lại cho bạn và gia đình bạn nhiều nguy hiểm. Nếu như bạn là một người có đầu óc kinh tế bạn sẽ rất mong muốn số tiền của mình nhiều hơn số ban đầu rất nhiều lần. Như vậy, bạn có thể đem số tiền đó đi gửi ngân hàng để hưởng lãi nếu như bạn là một nhà đầu từ ngại rủi ro và mong muốn một sự đầu tư an toàn tuyệt đối. Nhưng như vậy bạn sẽ không bao giờ nhận một khoảng tiền lãi cao nhất có thể bởi vì rủi ro và lợi nhuận luôn vận động ngược chiều với nhau chỉ trừ khi bạn đầu tư vào thị trường chừng khoán, tuy là một hình thức đầu tư đầy rủi ro nhưng mang lại mức lợi nhuận rất cao.

                Để đạt được mức lợi nhuận cao nhất đòi hỏi người đầu tư cần phải nắm bắt được tình hình kinh tế vi mô, vĩ mô của thế giới cũng như trong nước. Đồng thời cũng cần có phương pháp đầu tư và sự hiểu biết căn bản về các quy luật tăng  giảm giá, lượng mua lượng bán trên thị trường chứng khoán mà có thể lợi chọn cho mình một danh mục đầu tư hiệu quả nhất.

                Vì vậy, với yêu cầu của bài tập lớn cùng với nền tảng kiến thức đã được học qua môn đầu tư tài chính, nhóm chúng tôi đứng trên vai trò là một nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán trong dài hạn với mục đích sẽ lựa chọn được đúng cổ phiếu mang lại mức lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất trong tương lai.

     

     

    A.    Phân tích vĩ mô, phân tích ngành, phân tích doanh nghiệp

                                          I.            Phân tích vĩ mô

    1.1.          Kinh tế thế giới

    Bảng 1.1. Tình hình tăng trưởng thế giới giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Tăng trưởng kinh tế

    Các quốc gia

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Năm 2013

    Mỹ

    2.8%

    1.5%

    1.8%

    2.3% -3.0%

    Châu Âu

    1.7%

    1.6%

    1.1%

    0.2%

    Nhật Bản

    3.9%

    0.3%

    2.2%

    1.2%

    Trung Quốc

    10.4%

    9%

    7.5%

    8.2%

    Nguồn: Trung tâm công nghệ thông tin Công nghiệp và Thương mại, báo Tinkinhte.com. Báo cáo “Triển vọng kinh tế thế giới” do IMF công bố ngày 20/11/2011. Tin baomoi.com.

          Qua bảng số liệu có thể nhận thấy tốc độ tăng trưởng của một số nền kinh tế chủ lực của thế giới có sự biến động giảm trong giai đoạn 2010-2012.

    Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng nợ công và bước đầu lâm vào suy thoái kinh tế. Cuối năm 2012 đầu 2013 nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu khôi phục trở lại.

    Bảng 1.2. Tình hình lạm phát giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Chỉ tiêu lạm phát

    Quốc gia

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Năm 2013

    Trung Quốc

    3.3%

    5.3%

    4%

    2.4% (3 tháng đầu năm)

    Châu Âu

    1.6%

    2.7%

    1.5%

    1.8%

    Mỹ

    1.6%

    3.1%

    2%

    2.2%

    Nhật

    -0.7%

    -0.3%

    1%

    2%

    Nguồn: Theo data.worldbank.org

          Lạm phát đang trở thành mối lo hàng đầu của tất cả các quốc gia. Trong những năm vừa qua mức lạm phát đã giảm và kinh tế vĩ mô giữ được ở mức khá ổn định trong tầm ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu xét về trung và dài hạn thì kinh tế vĩ mô vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường.

    Bảng 1.3. Tình hình thất nghiệp thế giới năm 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Chỉ tiêu thất nghiệp

    Quốc gia

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Năm 2013

    Trung Quốc

    4.1%

    4.1%

    4.1%

     

    Châu Âu

    10.1%

    10.4%

    10.9%

    12.2%

    Mỹ

    9.4%

    8.5%

    7.7%

    7.6%

    Nhật

    5.2%

    4.4%

    4.3%

    4.2%

    Nguồn: Báo công an tp. Hồ Chí Minh, bài viết “Bóng ma thất nghiệp ám ảnh châu Âu”. Tạp chí cộng sản, bài viết “ILO: Tỷ lệ thất nghiệp trên toàn thế giới năm 2010 cao kỷ lục”. Báo tin tức- Tin thế giới, bài viết “Tỷ lệ thất nghiệp lên đến đỉnh điểm ở châu Âu”, tác giả: Thanh Hải. Đài tiếng nói Việt Nam VOV, bài viết “Tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản giảm”, tác giả: Vũ Anh Tuấn. Báo VINA CORP, bài viết: “Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ xuống thấp nhất 4 năm”, tác giả: Gafin. Bài viết “Mỹ: Tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất 4 năm”, ngày 5/4/2013, tác giả: Minh Anh. Báo Vietnam, bài viết: “Nhật bản giá tiêu dùng và tỷ lệ thất nghiệp giảm”.

          Trong những năm gần đây, Trung quốc và Nhật Bản được đánh giá là những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới (dưới 5%). Châu Âu và mỹ còn ở mức cao tương đối. Nhưng nhìn chung ở các quốc gia này – là những quốc gia đứng đầu thế giới  về mọi mặt nhưng tình trạng thất nghiệp vẫn diễn ra.

    Bảng 1.4. Tình hình nợ công giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Chỉ tiêu nợ công

    Quốc gia

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Năm 2013

    Trung Quốc

    3550 tỷ USD chiếm 59% GDP

    2100 tỷ USD chiếm 25% GDP

    4800 tỷ USD

    1348 tỷ USD chiếm 15.9% GDP

    Châu Âu

    80.3% GDP

    90% GDP

    >70% GDP

    60% GDP

    Mỹ

    13530 tỷ USD chiếm 93% GDP

    16400 tỷ USD

    60.3% GDP

    11677 tỷ USD chiếm 74.5% GDP

    Nhật Bản

    468 tỷ USD chiếm 225% GDP (197%)

    > 12000 tỷ USD chiếm 200%GDP

    12610 tỷ USD chiếm 219.9% GDP

    12573 tỷ USD hoặc chiếm 224,7% GDP

    Nguồn: Báo gafin.vn, bài viết “Toàn cảnh nợ công thế giới tính đến tháng 9/2012”. Báo Vnexpress, bài viết “Mỗi người Việt Nam gánh nặng 800 USD nợ công”, tác giả: Hà Thu. Báo Nghiên cứu Nhật Bản (Center for Japanese Studies), bài viết “Tổng quan kinh tế Nhật Bản năm 2012”. Báo VnEconomy, bài viết “Nợ công của Trung Quốc là bao nhiêu”. Báo Vietnam, bài viết “Nợ công Âu- Mỹ tác động như thế nào tới Việt Nam”, tác giả: Đức Hùng.

          Trong giai đoạn 2010-2012 có thể thấy rằng tình hình nợ trên toàn thế giới có chiều hướng tăng. Nợ công của nhiều quốc gia đã vượt quá cao so với ngưỡng an toàn.

    Nhận xét chung:

    • Trong giai đoạn 2010-2012 có thể thấy rằng khủng hoảng nợ công và bất ổn ở châu Âu vẫn cản trở sự tăng trưởng toàn cầu. Các nền kinh tế mới nổi tiếp tục vững vàng trước thách thức, suy thoái rất có khả năng xảy ra ở khu vực đồng Euro, thị trường chứng khoán toàn cầu sẽ có một năm rất khó khăn, dù chứng khoán châu Á vẫn là điểm sáng. Đồng Euro và USD sẽ mất giá đáng kể khi các nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục tiền tệ.
    • Chính vì nguyên nhân này làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề, năm 2012 chứng kiến một loạt các công ty chứng khoán làm ăn thua lỗ, đứng trên bờ vực phá sản, giải thể. Theo số liệu quý 3/2012, đã có 56/100 công ty chứng khoán báo lỗ. Thị trường chứng khoán lao dốc, giá trị giao dịch sụt giảm khiến các công ty chứng khoán lâm vào cảnh thu không đủ bù chi. Đã có 3 công ty chứng khoán tự nguyện xin rời sân chơi, rút khỏi tư cách thành viên của hai sở HNX và HSX.

    1.2.          Kinh tế Việt Nam

    1. Tốc độ tăng trưởng GDP

    Bảng 1.5. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo 2013

    Năm

    2010

    2011

    2012

    2013

    Tốc độ tăng trưởng GDP (%)

    6.78

    5.89

    5.03

    5.2

    Nguồn: Báo Vneconomy, bài viết “Tăng trưởng GDP năm 2010 đạt 6,78%”, tác giả Anh Quân. Báo Vneconomy, bài viết “Tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 5,89%”, tác giả Anh Quân.

          Qua bảng số liệu thống kê trên, nhìn tổng quát tốc độ tăng trưởng GDP  qua các năm có xu hướng giảm, năm 2010 là 6.78% đến năm 2012 chỉ còn là 5.03%, tuy đây là chỉ tiêu không đạt so với kế hoạch đưa ra nhưng đó là một sự cố gắng, một thành tích của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện rất khó khăn của năm 2012 và trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

    1. Tỷ lệ lạm phát

    Năm

    2010

    2011

    2012

    2013

    Tỷ lệ lạm phát (%)

    11.5

    18.6

    6.81

    8 – 10

    Bảng 1.6. Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Nguồn: BSC, Công ty cổ phần chứng khoán và Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, bài viết: “WB: Lạm phát năm 2010 của Việt Nam ở mức 10,5%”.

    Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam  sẽ dao động trong khoảng 8-10% trong 2013 bởi hiện tại thì những mặt hàng trong rổ tính giá đều tăng, mức tăng đáng kể là giá nhóm hàng lương thực, thực phẩm và chi phí y tế.

    1. Lãi suất cơ bản

    Bảng 1.7. Tình hình lãi suất của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo năm 2013

    Năm

    2010

    2011

    2012

    2013

    Lãi suất cơ bản (%)

    8

    9

    8

    Giảm 1%-2%

    Nguồn: Báo Vneconomy, bài viết: “Lãi suất cơ bản tiếp tục giữ mức 8%/năm”. Báo Vietnam, bài viết: “Từ 24/12, các mức lãi suất cơ bản giảm thêm 1%”.

          Qua bảng số liệu thống kê trên, lãi suất cơ bản của nước ta trong những năm gần đây nói chung là ở mức ổn định nhưng theo tình hình hiện tại thì sẽ có xu hướng giảm trong năm nay do bị ảnh hưởng bởi mức giảm của lạm phát.

    1. Tỷ lệ thất nghiệp

    Bảng 1.8. Tình hình thất nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2010-2012 và dự báo 2013

    Năm

    2010

    2011

    2012

    2013

    Tỷ lệ thất nghiệp (%)

    2.88

    2.22

    1.99

    2%

    Nguồn: Báo Economy, bài viết: “Con số thất nghiệp ngoài dự đoán”.

    Báo VietFin.net, bài viết: “9 quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới”.

          Trong bối cảnh Hội nhập kinh tế thế giới, khi kinh tế thế giới bị khủng hoảng thì Việt nam cũng bị ảnh hưởng. Theo số liệu thống kê trên, ta thấy tỷ lệ thất nghiệp của nước ta trong những năm gần đây dao động từ 1.9 – 2.8%, tỷ lệ này được đánh giá là thấp và đưa nước ta vào top những nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới (dưới 5%).

    1. Tỷ giá hối đoái

           Ở Việt Nam, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng.. Năm 2013 tiếp tục khó khăn với điểm thắt lớn nhất là thị trường bất động sản và nợ xấu tại hệ thống ngân hàng và DN.Bên cạnh đó, nếu không nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam, thì sẽ tác động tiêu cực đến nỗ lực hạ mặt bằng lãi suất của chính NHNN, làm tăng nguy cơ lạm phát sớm quay lại, sẽ là rủi ro tỷ giá tiềm ẩn cho năm 2013 và những năm tiếp theo.

    1. Cán cân thương mại

          Cán cân tổng thể của Việt Nam năm 2012 đã biến chuyển theo hướng tích cực: từ bị thâm hụt trong 2 năm 2009 (-8,4 tỷ USD), 2010 (-1,7 tỷ USD) sang thặng dư trong năm 2011 (2,5 tỷ USD) và tiếp tục thặng dư trong các quý năm 2012 – quý I: 4,28 tỷ USD; quý II: 2,17 tỷ USD; quý III: 4,2 tỷ USD. Dự đoán sắp tới, cán cân thanh toán tiến triển tích cực, nhưng còn chứa đựng nhiều yếu tố ảnh hưởng không tốt đến tính bền vững.

    1. Chính sách tài khoán

          Những năm gần đây, chính sách tài khóa cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cơ quan hoạch định chính sách tài khóa, thâm hụt ngân sách đã giảm suốt từ năm 2009 đến nay (2009: -6,9%; 2010: -6,2%; 2011: -4,9%: 2012: -4,8%).

    1. Chính sách tiền tệ

            Năm 2011-2012 đã cho thấy một chính sách điều hành CSTT thận trọng của Chính phủ, các công cụ đã được sử dụng một cách linh hoạt hơn, cung tiền được kiểm soát chặt chẽ. Năm 2013 dù lạm phát đã được chặn đứng, lãi suất cho vay giảm nhanh và mạnh, tỷ giá ổn định, vị thế tiền đồng cũng đang được cải thiện tích cực, nhưng chính sách tiền tệ của Việt Nam vẫn đang đối mặt với những thách thức không nhỏ, trong năm nay chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ còn phải tập trung để xử lý vấn đề nợ xấu và giải bài toán làm sao để nền kinh tế hấp thụ được vốn.

    Qua các phân tích tình hình vĩ mô về nền kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam qua các chỉ tiêu trên, ta có thể thấy rằng trong những năm qua, nền kinh tế bị khủng hoảng biện hiện là lạm phát tăng cao, tăng trưởng kinh tế chậm, tình trạng thất nghiệp vẫn diễn ra ở hầu hết các nước, nợ công cao đặc biêt ở các nước Châu Âu; tình hình chung thế giới như vậy nền Việt Nam cũng không ngoài bối cảnh chung đó. Vì thế, trong nền kinh tế biến động như vậy, đứng vai trò là nhà đầu tư cần phải lựa chọn đầu tư vào các ngành ít chịu sự ảnh hưởng, bị tác động của nền kinh tế nhất.

    1. Phân tích ngành

           Theo trang Cophieu68 gồm có 20 ngành và số liệu được tổng hợp như sau:

    STT

    Nhóm ngành

    EPS

    ROA

    ROE

    Tỷ lệ Nợ/ Vốn CSH

    LN Sau Thuế

    Năm 2011

    Năm 2012

    cophieu68
    (năm 2013)

    Năm 2010

    Năm 2011

    cophieu68
    (năm 2013)

    Năm 2010

    Năm 2011

    cophieu68
    (năm 2013)

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Năm 2010

    Năm 2011

    Tỷ lệ

    1

    Bất động sản

    994.71

    550.91

    1064

    10.00%

    3.00%

    2.00%

    25.00%

    7.00%

    7.00%

    130.00%

    156.00%

    128.45%

    1969746

    1441464

    73.18

    2

    Cao su

    7815.54

    6468.61

    7482

    21.00%

    25.00%

    18.00%

    32.00%

    39.00%

    29.00%

    53.00%

    59.00%

    49.60%

    276459

    562535

    203.48

    3

    Chứng khoán

    -710.66

    328.57

    819

    3.00%

    -4.00%

    3.00%

    7.00%

    -8.00%

    4.00%

    138.00%

    77.00%

    140.11%

    687793

    -254363

    -36.98

    4

    Công nghệ- Viễn thông

    2428.74

    2111.72

    2046

    10.00%

    7.00%

    6.00%

    24.00%

    17.00%

    11.00%

    122.00%

    125.00%

    55.71%

    469434

    453322

    96.57

    5

    Dịch vụ- Du lịch

    954.39

    955.11

    6519

    9.00%

    6.00%

    20.00%

    15.00%

    13.00%

    24.00%

    69.00%

    118.00%

    160.09%

    56299

    66962

    118.94

    6

    Dược phẩm/ Y tế/ Hóa chất

    4780.38

    5346.18

    5783

    11.00%

    10.00%

    14.00%

    25.00%

    23.00%

    25.00%

    118.00%

    142.00%

    112.75%

    212327

    412151

    194.11

    7

    Giáo dục

    1460.44

    1528.82

    1494

    6.00%

    4.00%

    8.00%

    10.00%

    7.00%

    12.00%

    79.00%

    76.00%

    55.84%

    11534

    8794

    76.24

    8

    Khoáng sản

    2447.76

    1509.56

    5217

    10.00%

    8.00%

    16.00%

    25.00%

    21.00%

    21.00%

    143.00%

    154.00%

    233.48%

    220715

    295916

    134.07

    9

    Năng lượng điện/khí/gas

    2514.65

    3994.45

    3137

    11.00%

    11.00%

    12.00%

    23.00%

    23.00%

    23.00%

    95.00%

    108.00%

    187.03%

    483180

    644509

    133.39

    10

    Ngân hàng/ Bảo hiểm

    2173.36

    1730.97

    1795

    1.00%

    1.00%

    1.00%

    17.00%

    18.00%

    13.00%

    1114.00%

    1110.00%

    756.94%

    3962506

    5641357

    142.37

    11

    Ngành thép

    1791.26

    1221.45

    1164

    6.00%

    4.00%

    2.00%

    18.00%

    11.00%

    6.00%

    195.00%

    164.86%

    203.99%

    639006

    545272

    85.33

    12

    Nhóm dầu khí

    4803.51

    4499.02

    3575

    4.00%

    4.00%

    9.00%

    18.00%

    17.00%

    14.00%

    293.00%

    314.00%

    252.56%

    1126654

    1731532

    153.69

    13

    Nhựa- Bao bì

    4622.44

    3830.64

    5700

    15.00%

    12.00%

    15.00%

    26.00%

    21.00%

    23.00%

    75.00%

    92.00%

    82.75%

    201431

    221483

    109.95

    14

    Sản xuất- Kinh doanh

    3251.03

    2188.95

    3155

    7.00%

    4.00%

    8.00%

    14.00%

    8.00%

    13.00%

    89.00%

    108.00%

    162.45%

    354548

    320938

    90.52

    15

    Thực phẩm

    4613.41

    3422.54

    5698

    20.00%

    14.00%

    16.00%

    33.00%

    24.00%

    17.00%

    67.00%

    64.00%

    101.31%

    1697134

    2022374

    119.16

    16

    Thương mại

    2195.05

    1756.80

    1554

    6.00%

    5.00%

    2.00%

    15.00%

    13.00%

    7.00%

    159.00%

    167.00%

    161.43%

    210772

    280714

    133.18

    17

    Thủy sản

    4613.41

    3422.54

    3667

    7.00%

    8.00%

    6.00%

    16.00%

    21.00%

    12.00%

    147.00%

    175.00%

    151.84%

    264847

    396436

    149.68

    18

    Vận tải/ Cảng/Taxi

    1539.84

    2613.25

    2939

    4.00%

    3.00%

    8.00%

    10.00%

    7.00%

    12.00%

    141.00%

    124.08%

    158.49%

    283532

    315002

    111.1

    19

    Vật liệu xây dựng

    1134.76

    933.34

    1319

    4.00%

    2.00%

    5.00%

    13.00%

    6.00%

    7.00%

    259.00%

    306.00%

    81.30%

    349687

    194448

    55.61

    20

    Xây dựng

    1172.52

    534.86

    1236

    4.00%

    2.00%

    2.00%

    20.00%

    10.00%

    4.00%

    330.00%

    347.00%

    224.33%

    864454

    830105

    96.03

    Bảng 2.1. Phân tích các ngành ở Việt Nam

    Nguồn: Cophieu68.com, nhóm ngành và các chỉ số cơ bản. TVSI, trang chứng khoán Tân Việt, so sánh ngành. Trang chứng khoán Phương Nam (Phuong Nam securities), chỉ số tài chính cơ bản.

           Dựa vào bảng phân tích ngành ở trên cùng với sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và tác động đến các ngành tại Việt Nam nói riêng. Qua phân tích các chỉ số trên, nhóm chúng tôi quyết  định chọn 2 ngành đó là ngành dầu khí và ngành thực phẩm. Lý do chọn ngành:

    • Ngành dầu khí

           Hiện tại xăng dầu vẫn tiếp tục là nguồn nhiêu liệu có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng và sự bình ổn của các nền kinh tế nói chung và an ninh năng lượng nói riêng. Đối với cuộc sống hàng ngày, xăng dầu vẫn là nguồn nguyên liệu thiết yếu chưa thể thay thế. Do đó, ngành dầu khí luôn là ngành có tiềm năng phát triển ổn định.

           Lợi nhuận sau thuế năm 2010 nằm trong nhóm 4 ngành cao nhất chỉ sau ngành ngân hàng/ bảo hiểm, bất động sản và ngành thực phẩm,  năm 2011 tăng so với 2010 là 53.69% và vươn lên đứng vị trí thứ 3.  Chỉ số EPS của ngành cao nhưng năm 2012 giảm so với năm 2011 là 6.34% tương ứng với mức 4803 đ/1cp (năm 2012) và 4499 đ/1cp (năm 2011), đứng thứ 2 sau ngành cao su. Chỉ số ROA ổn định ở mức 4% trong 2 năm 2010, 2011và có xu hướng tăng trong tương lai (cophieu68 hiện nay là 9%).  Nhưng chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của ngành nằm trong top 10 có tỷ lệ cao (đứng vị trí số 10) ở mức trung bình 18% (năm 2010) và 17% (năm 2011). Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức cao đứng thứ 3 trong 20 ngành, biến động tăng giảm không ổn định, năm cao nhất là 2011 với mức là 314%, năm thấp nhất là 2012 ở mức là 252.56% => tuy tỷ số nợ/ VCSH cao nhưng nhìn chung ngành có xu hướng phát triển, khá ổn định và có tiềm năng trong tương lai, nội tại ngành tốt.

           Hơn thế nữa, các công ty trong ngành đều có lợi nhuận tương đối cao, tốc độ tăng trưởng doanh thu ổn định, đặc biệt là sau khi thoát khỏi tình trạng khủng hoảng nhưng so với các  cổ phiếu của các ngành khác như ngành Ngân hàng, ngành điện, ngành bất động sản…thì cổ phiếu của ngành dịch vụ xăng dầu không phải là sự lựa chọn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thích mạo hiểm trên thị trường chứng khoán. Nhưng trên khía cạnh của nhà đầu tư ngại rủi ro thì nên đầu tư vào ngành này.

    • Nhóm ngành thực phẩm

           Thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp ít chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nhất. Đây là một trong những hàng hóa thiết yếu của xã hội, có sự ổn định cao về nhu cầu. 

           Mức sống của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi phát triển ngành thực phẩm. Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng có mức sống nâng cao, quan tâm nhiều hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm, có nhu cầu cao đối với các thức ăn ngon, chất lượng. Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dược Việt Nam.

           Lợi nhuận sau thuế năm 2010 nằm trong nhóm 4 ngành cao nhất chỉ sau ngành ngân hàng/ bảo hiểm, bất động sản,  năm 2011 tăng so với 2010 là 19.16% và vươn lên đứng vị trí thứ 2.  Chỉ số EPS của ngành tương đối cao nhưng năm 2012 giảm so với năm 2011 là 25.8% tương ứng với mức 3422 đ/1cp (năm 2012) và 4613 đ/1cp (năm 2011), đứng vị trí 5 trong 20 ngành và có xu hướng tăng trong tương lai (cophieu68 hiện nay là 5698). Chỉ số ROA cao năm 2010 đứng thứ 2 sau ngành cao su nhưng giảm trong giai đoạn 2010-2011 từ 20% xuống 14% và có xu hướng tăng (cophieu68 hiện nay là 16%). Còn chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của ngành rất cao, đứng vị trí năm 2010 và giảm từ 33% xuống 24% (năm 2011) dẫn đến đứng sau ngành cao su. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức thấp đứng thứ 19 trong 20 ngành, trước ngành cao sư năm 2010, có xu hướng biến động tăng giảm không ổn định, cao nhất ở năm 2012 là 162.45%  và thấp nhất năm 2010 là 89% => tuy ngành có lợi nhuận trên VCSH ngày càng giảm, và tỷ lệ nợ có sự biến động nhưng lợi nhuận sau thuế ngành tương đối cao và có xu hướng tăng, nội tại ngành khá tốt.

           Hơn thế nữa, chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm ngành thực phẩm bao gồm các văn bản liên quan đến các vấn đề như Chính sách của nhà nước về lĩnh vực dược, quản lý của nhà nước về giá thuốc, điều kiện kinh doanh thuốc, quản lý thuốc thuộc danh mục phải kiểm soát đặc biệt, tiêu chuẩn chất lượng thuốc, cơ sở kiểm nghiệm thuốc…Những quy định này sẽ giúp tạo điều kiện cho các công ty dược nhỏ lẻ Việt Nam sáp nhập hoặc mua lại, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao, tập trung phát triển theo chiều sâu để có thể cạnh tranh với các công ty đa quốc gia.

           Tóm lại hai nhóm ngành được phân tích và đã được lựa chọn trên, trong tương lai có triển vọng phát triển cao. Nhưng khi đầu tư trên thị trường chứng khoán là một nhà đầu tư chuyên nghiệp ta không thể nào đầu tư được hết tất cả các cổ phiếu của các doanh nghiệp liên quan được.  Bởi như vậy dễ gặp rủi ro hệ thống trong viêc đầu tư. Vì thế, trong từng ngành đã lựa chọn ta cần phải đi phân tích và lựa chọn mã chứng khoán của các chủ thể công ty nhất định, mà các công ty được lựa chọn phải có những mặt vượt trội.

                                    III.            Phân tích công ty

           Như đã nói ở trên,  nhóm đã quyết định lựa chọn hai công ty để đầu tư đó là: tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí và công ty cổ phần tập đoàn Ma San. Vì theo nhìn nhận thực tế, nhóm thấy hai công ty này rất có triển vọng để đầu tư. Những phân tích của từng công ty dưới đây sẽ làm rõ điều đó.

    3.1.          Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí

    • Giới thiệu về tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí

    Ngày 15/05/2008, Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí chính thức chuyển đổi thành Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – Công ty Cổ phần (Tên viết bằng Tiếng Anh là PetroVietnam Fertilizer and Chemicals Corporation và tên viết tắt là PVFCCo) theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/05/2008. Vốn điều lệ: 3.800.000.000.000 đồng (Ba ngàn tám trăm tỉ đồng).

    • Phân tích tài chính công ty
      • Các chỉ số tài chính của công ty

    Chỉ tiêu tài chính

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Khả năng thanh toán

         

    Khả năng thanh toán hiện hành

    522%

    699%

    516%

    Khả năng thanh toán nhanh

    450%

    565%

    432%

    Hiệu quả tài sản

         

    Vòng quay hàng tồn kho

    683%

    567%

    772%

    Vòng quay tài sản cố định

    130%

    158%

    201%

    Vòng quay tổng tài sản

    96%

    110%

    134%

    Chỉ tiêu sinh lợi

         

    Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

    26%

    34%

    23%

    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

    25%

    38%

    31%

    Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH

    29%

    44%

    36%

    • Dựa vào các chỉ số về khả năng thanh toán của công ty cho ta thấy tình hình thanh toán chung của công ty với các chỉ số thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh (sau khi trừ đi hàng tồn kho). Tuy các chỉ số này tăng ở năm 2011 nhưng đến năm 2012 lại có xu hướng giảm với tốc độ giảm qua 2 năm 2011,2012 của khả năng thanh toán hiện hành là -26.2%, khả năng thanh toán nhanh là -23.5%. Nhưng so với tình hình khó khăn chung của nền kinh tế vào năm 2012 thì công ty không thể tránh khỏi ảnh hưởng, tuy nhiên ta vẫn thấy khả năng thanh toán của công ty là khá tốt.
    • Hiệu quả sử dụng tài sản của công ty qua các năm đều tăng cho thấy công ty đã sử dụng hiệu quả tài sản.
    • Nhìn vào chỉ tiêu sinh lợi cho ta thấy doanh nghiệp đang hoạt động rất tốt và lãi ổn định. Khi so sánh các chỉ số này với ngành thì chỉ số sinh lợi của công ty cao hơn rất nhiều. Tuy vào năm 2012 chỉ tiêu này có giảm nhưng cũng không đáng kể lắm.
      • Phân tích Dupont (ROE)

    Phân tích Dupont (ROE)

    DPM

    PVD

    LNST/Doanh thu thuần

    22.7%

    11.1%

    Doanh thu thuần/tổng tài sản

    1.259

    0.624

    Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu

    1.181

    2.720

           Dựa vào số liệu ở bảng cho ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản của công ty hóa chất và dầu khí tốt hơn công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí. Công ty đã sử dụng hợp lí và tiết kiệm về cơ cấu tài sản, tăng quy mô về doanh thu thuần của công ty. Chỉ số tổng tài sản trên VCSH cho thấy trạng thái sử dụng nợ của công ty ít hơn công ty cổ phần khoan và dịch vụ khoan dầu khí..

           Phân tích SWOT công ty

    • Điểm mạnh: Hiện nay, Thương hiệu Đạm Phú Mỹ đã khẳng định được vai trò và vị trí dẫn đầu trong ngành phân bốn Việt Nam. Thị phần rộng lớn 50% thị phần phân bón trong nước.
    • Công nghệ: Đây là nhà máy phân bón lớn và hiện đại nhất của Việt Nam cũng như trong khu vực.
    • Điểm yếu: Giá bán sản phẩm phủ thuộc nhiều vào giá dầu và phân bón trên thế giới. Trình độ đội ngủ nhân viên kinh doanh còn thiếu kinh nghiệm, chưa tiên liệu được các sự cố có thể xảy ra trên thị trường. Chưa xây dựng được hệ thống kho bãi vững chắc tại các khu vực tiêu thụ trọng điểm.
    • Cơ hội: Hằng năm, công ty thu về một lượng lớn nguồn tiền mặt( khoảng 2.5 nghìn tỷ đồng). Đây sẽ là nguồn lực lớn giúp công ty đẩy mạnh hoạt động đầu tư đa dạng hóa sản phẩm và đầu tư sản lượng sản xuất.

    3.2.          Công ty cổ phần tập đoàn Ma San

    • Giới thiệu về công ty cổ phần tập đoàn Ma San

    Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group) là công ty quản lý vốn đầu tư và tài sản, chủ yếu là các cổ phần của những công ty khác, hiện nay bao gồm cổ phần của Công ty Cổ phần Thực phẩm Ma San (Masan Food) và Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).

    Tiền thân Masan Group là Công ty Cổ phần Hàng hải Ma San (MSC) được thành lập tháng 11/2004 với vốn điều lệ ban đầu là 3,2 tỷ đồng. Tháng 8/2009, MSC đổi tên thành Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San (Masan Group) và thực hiện tái cấu trúc thông qua các đợt phát hành riêng lẻ. Đến tháng 10/2009, Masan Group hoàn tất tăng vốn lên 4.763.998.200.000 đồng. 

    • Phân tích tài chính công ty cổ phần tập đoàn Ma San
      • Các chỉ số tài chính của công ty

    Chỉ tiêu tài chính

    Năm 2010

    Năm 2011

    Năm 2012

    Khả năng thanh toán

         

    Khả năng thanh toán hiện hành

    143%

    346%

    178%

    Khả năng thanh toán nhanh

    134%

    329%

    167%

    Hiệu quả tài sản

         

    Vòng quay hàng tồn kho

    1305%

    885%

    1050%

    Vòng quay tài sản cố định

    53%

    38%

    41%

    Vòng quay tổng tài sản

    29%

    26%

    29%

    Chỉ tiêu sinh lợi

         

    Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

    47%

    35%

    19%

    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

    6%

    9%

    6%

    Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH

    34%

    19%

    14%

           Theo như các số liệu bảng trên cho ta thấy:

    • Khả năng thanh toán của công ty ( bao gồm khả năng thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh) tăng ở năm 2011 và giảm ở năm 2012.Tuy nhiên khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp vẫn đang trong tình trạng tốt.
    • Hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trong năm 2012 không được cao như năm 2011 và 2010, nhưng nhìn chung với bối cảnh nền kinh tế hiện nay thì công ty vẫn giữ vững vị trí của mình trên thị trường. Chỉ số vòng quay tổng tài sản và vòng quay tài sản cố định đã cho thấy công ty sử dụng tài sản rất hiệu quả.
    • Chỉ số sinh lợi của công ty qua các năm tăng có xu hướng giảm qua các năm, giảm nhẹ ở năm 2011 với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giảm 12%, giảm mạnh vào năm 2012 với tỷ lệ giảm là 45,7%. Năm 2012 là năm kinh tế khó khăn chung cho tất cả các ngành và không ngoại trừ MASAN.Tuy khó khăn nhưng công ty vẫn hoạt động có lãi và ổn định.
      • Phân tích dupont
     

    MSN

    KDC

    LNST/Doanh thu thuần

    13%

    8.30%

    Doanh thu thuần/tổng tài sản

    0.286

    0.778

    Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu

    2.782

    1.373

    Theo bảng trên cho ta thấy công ty cổ phần tập đoàn Ma san đã  điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động mình, hiệu suất sử dụng tài sản cao , nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản. Và chỉ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu cho thấy tình trạng sử dụng nợ của công ty cao so với công ty cổ phần bánh kẹo Kinh Đô. Vì ở đây công ty có kinh doanh ở mảng ngân hàng nên việc sử dụng nợ của công ty là một điều đương nhiên.

    Trong 10 doanh nghiêp đại diện cho các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, với mức lợi nhuận đáng ngưỡng mộ trong năm kinh tế khó khăn 2012 trên sàn chứng khoán. MASAN với mã chứng khoán MSN là công ty đứng thứ 4 với mức lợi nhuận là 2.018 tỷ đồng.

    Hình 3.1. 10 Doanh nghiệp đạt lợi nhuận sau thuế cao nhất                                                                            

                                                                                                    Đơn vị: tỷ đồng

    Nguồn: Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 do VnExpress.net và đối tác cung cấp dữ liệu VNDirect tổng hợp từ các công ty (trừ ngân hàng) niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và TP HCM.

    • Phân tích SWOT công ty
    • Điểm mạnh:
    • Nguồn lực và năng lực mạnh
    • Có khác biệt về chất lượng so với đối thủ cạnh tranh
    • Chiếm thị phần lớn
    • Được sự ủng hộ của khách hàng
    • Điểm yếu:
    • Nguồn nguyên vật liệu đang thiếu hụt do nhu cầu mở rộng tăng nhanh
    • Nhân sự có biến động thương xuyên
    • Cơ hội:
    • Thị trường tiêu thụ tăng nhanh
    • Hội nhập mang lại nhiều cơ hội mở rộng quy mô và thị phần
    • Được sự ủng hộ của cơ quan chính quyền
    • Thách thức:
    • Đối thủ canh tranh ngày càng nhiều
    • Nhu cầu an toàn thực phẩm cao
    • Trách nhiệm bảo vệ môi trường, xã hội gia tăng
    • Giá cả biến động theo chiều hướng gia tăng mạnh
    • Mức chênh lệch giá cao so với các sản phẩm nhập khẩu

           Qua những phân tích cơ bản trên nhóm đã có sự lựa chọn của mình, đó là đầu tư vào hai mã chứng khoán của hai công ty trên. Mã chứng khoán DPM của tổng công ty phân bón và dầu khí và mã chứng khoán MSN  của tập đoàn Masan.

    B.     Giải quyết các câu hỏi bài tập liên quan đến hai cổ phiếu đã chọn

    Câu 2: Sử dụng phương pháp kỹ thuật để dự báo giá của hai cổ phiếu

    1.     Mã chứng khoán DPM

    Biểu đồ 3.1. Biểu đồ Stochastic – DPM

    Nguồn: cophieu68.com

           Dựa vào biểu đồ có thể thấy vào đầu tháng 1/2013 đường fast stochastic nằm trong khoảng 80-100 đến cuối tháng 1/2013 thì đường này có  xu hướng giảm dưới mức 80 và đến cuối tháng 2/2013 thì đường fast stochastic giảm xuống mức 20 và đường low stochastic đã cân bằng tại mức 20 dẫn đến thị trường tăng tín hiệu bán và giá giảm.

    Biểu đồ 3.2. Biểu đồ MACD – DPM

    Nguồn: cophieu68.com

           Trong tháng 1/2013 đường MACD nằm trên đường tín hiệu (EMA) đến cuối tháng 1 cắt đường EMA và đến tháng 2/2013 nằm dưới đường tín hiệu và trên mức 0 cho thấy xu hướng tăng đã hết và lượng bán đã tăng dần lên, như vậy tương lai giá sẽ giảm.

    Biểu đồ 3.3. Biểu đồ giá – DPM

     Nguồn: cophieu68.com

           Nhìn vào biểu đồ hình nến trên, vào đầu năm 2013, chứng khoán DPM đã tăng giá mạnh nhưng đến tháng 4/2013 thì giá cổ phiếu có sự tăng giảm khá đều nhau. Quan sát đường trung bình đơn giản, từ đầu tháng 1/2013 đến cuối tháng 2/2103, SMA(20) vượt lên đường SMA(50) và đến đầu tháng 3/2013 thì có xu hướng vượt xuống cho đến gần cuối tháng 3 và vượt lên lại vào tháng 4, đến lúc này SMA(20) vượt lên SMA(50) cho thấy cổ phiếu có xu hướng tăng trong dài hạn.

           Tóm lại, qua những phân tích kỹ thuật trên, có thể dự báo giá cổ phiếu DPM sẽ giảm trong ngắn hạn nhưng sau đó sẽ giữ mức ổn định và có xu hướng tăng trong tương lai.

    2.     Mã chứng khoán MSN

    Biểu đồ 3.4. Biểu đồ Stochastic – MSN

    Nguồn: cophieu68.com

           Dựa vào biểu đồ có thể thấy vào đầu tháng 1/2013 đường fast stochastic nằm trong khoảng 80-100 đến cuối tháng 1/2013 thì đường này có  xu hướng giảm dưới mức 50  và tăng lên lại ở mức trên 80 và đến tháng 2/2013 thì đường fast stochastic  có sự biến động tăng giảm trong vùng có mức 25 -75, đây là vùng hết sức nguy hiểm để thực hiện mua và bán vì ở tại những vùng này thường không có nhiều thông tin hỗ trợ cho nhà đầu tư. Vì vậy thị trường lúc này  có vẻ đang ở quá trình thăm dò, chưa có  xu hướng nào nổi bật.

    Biểu đồ 3.5. Biểu đồ MACD – MSN

           Nguồn: cophieu68.com

           Trong quá khứ, Đường MACD có dấu hiệu cắt đường tín hiệu, và  luôn nằm dưới đường tín hiệu cho thấy thị trường đang có tín hiệu mua và chứng khoán đang giảm giá. Đường MACD luôn nằm dưới đường zero, nó vượt lên đường tín hiệu và có thời gian chạm mức mốc zero sau đó giảm xuống, trong tương lai chúng ta có thể kì vọng giá cô phiếu sẽ giảm, tín hiệu mua xuất hiện, và lượng bán sẽ tăng.

    Biểu đồ 3.6. Biểu đồ giá – MSN

    Nguồn: cophieu68.com

           Nhìn vào biểu đồ hình nến trên có thể thấy những tháng đầu năm 2013, chứng khoán MSN có sự tăng giảm giá khá đều nhau, nhưng gần cuối tháng 4/2013 có sự sụt giảm giá mạnh trong một số phiên giao dịch. Quan sát đường trung bình đơn giản, những tháng đầu từ 1/2013 đến gần cuối tháng 4/2103, thì đường SMA(20) đều vượt lên đường SMA(50) đây là tín hiệu mua chứng tỏ thị trường có xu hướng tăng trong dài hạn.

           Tóm lại, qua những phân tích kỹ thuật trên, có thể dự báo giá cổ phiếu MSN sẽ giảm trong ngắn hạn và  giữ mức ổn định đồng thời  có xu hướng tăng trong dài hạn.

    Câu 3: Tính tỷ suất lợi tức hàng ngày của chứng khoán

    Cách tính: Tính tỷ suất lợi tức hàng ngày của từng chứng khoán.

     

    Trong đó: pt là giá đóng cửa hằng ngày của từng chứng khoán

    Chú ý: chỉ tính tới ngày giao dịch15/3/2013. Dưới đây là kết quả ngày của tháng 3/2013. Các ngày sau tính tương tự.

    1. Tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí (Mã CK: DPM)

    Ngày

    Giá đóng cửa

    Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1ti

    Ngày

    Giá đóng cửa

    Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t

    18/3/2013

    45

     

    8/3/2013

    44

    0.03864

    15/3/2013

    45

    0

    7/3/2013

    43

    0.02326

    14/3/2013

    44.9

    0.00223

    6/3/2013

    42.8

    0.00467

    13/3/2013

    43.6

    0.02982

    5/3/2013

    41

    0.0439

    12/3/2013

    45

    -0.03111

    4/3/2013

    41.7

    -0.01679

    11/3/2013

    45.7

    -0.01532

    1/3/2013

    42.6

    -0.02113

    1. Công ty cổ phần tập đoàn Ma San (Mã CK MSN)

    Ngày

    Giá đóng cửa

    Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t

    Ngày

    Giá đóng cửa

    Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t

    18/3/2013

    119

     

    8/3/2013

    115

    0.0087

    15/3/2013

    123

    -0.03252

    7/3/2013

    112

    0.02679

    14/3/2013

    117

    0.05128

    6/3/2013

    115

    -0.02609

    13/3/2013

    117

    0

    5/3/2013

    114

    0.00877

    12/3/2013

    117

    0

    4/3/2013

    112

    -0.0087

    11/3/2013

    116

    0.00862

    1/3/2013

    114

    0.00877

    Câu 4: Tính tỷ suất lợi tức trung bình cộng và độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức từng loại chứng khoán từ dữ liệu quá khứ

    Cách tính:

    • Bước 1: Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(Ri) bằng trung bình của tổng tỷ suất lợi tức hằng ngày rit.
    • Bước 2: Tính phương sai si2

    Trong đó: si2           : Phương sai của chuỗi dữ liệu quá khứ

                      E(Ri)       : Tỷ suất lợi tức hằng ngày

                      E(R)        : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng qua các thời kỳ

                      n              : Số thời kỳ

    • Bước 3:Tính độ lệch chuẩn si

     

    CK DPM

    CK MSN

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i)

    0.00943

    0.04259

    Phương sai si2

    0.014021161

    0.020741503

    Độ lệch chuẩn si

    0.118410985

    0.14401907

    Câu 5: Ước lượng tỷ suất lợi tức kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức của hai chứng khoán.

    Cách tính:

    • Bước 1: Tính tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng của hai chứng khoán E(Rp)

    Trong đó: E(Rp)      : Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng của hai chứng khoán

                      Wi           : Tỷ trọng của chứng khoán i

                      E(Ri)       : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng của chứng khoán i

    • Bước 2: Tính phương sai của hai chứng khoán s122
    • Bước 3: Tính độ lệch chuẩn của hai chứng khoán s12

     

    CK DPM

    CK MSN

    Tỷ trọng của CK i (Wi)

    0.65

    0.35

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i)

    0.00943

    0.04259

    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp)

    0.021036

    Phương sai s122

    0.0002501557

    Độ lệch chuẩn s12

    0.015816312

    Câu 6: Tình hiệp phương sai và hệ số tương quan giữa hai chứng khoán

    Cách tính:

    • Bước 1: Tính hiệp phương sai giữa hai chứng khoán Cov(R1,R2)

    Trong đó: E(R1i)     : Tỷ suất lợi tức hằng ngày của chứng khoán 1.

                     E(R2i)       : Tỷ suất lợi tức hằng ngày của chứng khoán 2.

                     E(R1), E(R2): Tỷ suất lợi tức trung bình cộng của CK 1,2.

                     N              : Số thời kỳ

    • Bước 2: Tính hệ số tương quan giữa hai chứng khoán r12

    Trong đó: r12          : Hệ số tương quan giữa hai chứng khoán.

                      s1, s2        : độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức của CK 1,2.

    Hiệp phương sai Cov(R1,R­2)

    0.0067090390

    Hệ số tương quan r12

    0.393412552

    Câu 7: Vẽ đường phương sai bé nhất và chỉ rõ đường biên hiệu quả.

         Cách vẽ:

    • Bước 1: Lấy các dữ liệu E(R1), E(R2), s1, s2 từ các câu trên.
    • Bước 2: Chọn E(Ri) nhỏ nhất rồi cho E(Rp) chạy từ E(Ri) nhỏ đến E(Ri) lớn.
    • Bước 3: Tính tỷ trọng Wi của từng cổ phiếu, và độ lệch chuẩn sp.

        Þ   

     

    • Bước 4: Vẽ đường biên phương sai bé nhất trên công cụ vẽ của Microsoft Excel với trục Ox là các giá trị của độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư sp và trục Oy là các giá trị của tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư E(Rp).
    • Bước 5: Xác định danh mục phương sai bé nhất.

          Þ   

           Phần trên của đường biên phương sai nhỏ nhất thể hiển cho các danh mục đầu tư hiệu quả được gọi là đường biên hiệu quả.

           Danh mục phương sai bé nhất

     

    CK DPM

    CK MSN

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i)

    0.00943

    0.04259

    Độ lệch chuẩn si

    0.118410985

    0.14401907

    Hiệp phương sai Cov(R1,R2)

    0.006709039

    Tỷ trọng Wi mỗi cổ phiếu

    0.6574975

    0.342575025

    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp)

    0.020789788

    Độ lệch chuẩn sp

    0.1073161

    Câu 8: Nếu bạn có 100 triệu, bạn sẽ đầu tư như thế nào, giả định giá cổ phiếu là giá đóng cửa ngày 16/03/2013? Giả sử tồn tại tài sản phi rủi ro với tỷ suất lợi tức 9%/năm.

         Giá đóng cửa ngày tại 18/3/2013 của 2 chứng khoán đã chọn:

    • Chứng khoán công ty DPM: 45000 đ/1cp.
    • Chứng khoán công ty MSN: 119000 đ/1cp.

           Theo kết quả của các câu trên và giả thiết ta có:

     

    CK DPM

    CK MSN

    Tỷ trọng của CK i (Wi)

    0.65

    0.35

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(R­i)

    0.00943

    0.04259

    Phương sai si2

    0.014021161

    0.020741503

    Độ lệch chuẩn si

    0.118410985

    0.14401907

    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp)

    0.021036

    Hệ số tương quan r12

    0.393412552

    Phương sai sp2

    0.011517388

    Độ lệch chuẩn sp

    0.107319092

    Hệ số ngại rủi ro A

    2

    Vốn đầu tư

    100000000

    Tỷ suất lợi tức tài sản phi rủi ro Rf(%/năm)

    9%

    Các thông số danh mục đầu tư rủi ro

    Tỷ trọng y để tối đa hóa hàm hữu dụng

     

    0.587633262

    Tỷ suất lợi tức trên DMĐT E(Rc)

     

    0.015454204

    Độ lệch chuẩn sc

     

    0.063064268

    Hệ số Sharp Sp

     

    0.126128536

    Giá trị hữu dụng U

     

    0.020920826

           Tỷ trọng tối ưu của các cổ phiếu trong danh mục rủi ro

           Cách tính:

    • Bước 1: Tính tỷ trọng tài sản phi rủi ro bằng cách lấy 1- tỷ trọng tài sản rủi ro y
    • Bước 2: Tính tỷ trọng từng loại chứng khoán bằng cách lấy Wi* Tỷ trọng tài sản rủi ro y.
    • Bước 3: Tính số tiền đầu tư vào từng loại tài sản.
    • Bước 4: Tính số lượng cổ phiếu của mỗi chứng khoán dự định sẽ đầu tư.
     

    Tỷ trọng

    Số tiền (VNĐ)

    Số lượng cổ phiếu

    Tài sản phi rủi ro

    0.402

    40200000

     

    Tài sản rủi ro

    0.598

    59800000

     

    DPM

    0.36

    36000000

    800

    MSN

    0.238

    23800000

    200

    Câu 9: Chứng minh rằng danh mục đầu tư rủi ro 2 chứng khoán đã chọn tốt hơn danh mục thị trường (VNindex).

    • Bước 1: Tính tỷ suất lợi tức hàng ngày của từng chứng khoán.

    Trong đó: pt là giá đóng cửa hàng ngày của thị trường chứng khoán VNINDEX.

    Chú ý: chỉ tính tới ngày giao dịch15/3/2013. Dưới đây là kết quả ngày của tháng 3/2013. Các ngày sau tính tương tự.

    • Bước 2: Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(RM) bằng trung bình của tổng tỷ suất lợi tức hằng ngày rit.
    • Bước 3: Tính phương sai sM2

    Trong đó: sM2         : Phương sai của tỷ suất sinh lợi thị trường VNINDEX.

                      E(RMi)     : Tỷ suất lợi tức hằng ngày.

                      E(RM)     : Tỷ suất lợi tức trung bình cộng qua các thời kỳ

                      n              : Số thời kỳ

    • Bước 4:Tính độ lệch chuẩn sM
    • Bước 5: Tính hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức chứng khoán i và tỷ suất lợi tức của thị trường VNINDEX Cov(Ri,RM)

    Trong đó: E(Rii)      : Tỷ suất lợi tức hàng ngày của chứng khoán i.

                     E(RMi)      : Tỷ suất lợi tức hàng tháng của chứng khoán thị trường VNINDEX.

                     E(Ri), E(RM): Tỷ suất lợi tức trung bình cộng của CK i,thị trường VNINDEX.

                     n               : Số thời kỳ

    • Bước 6: Tính hệ số beta của chứng khoán i bi

    Trong đó: bi             : Rủi ro hệ thống (beta) của chứng khoán i

                      Cov(Ri, RM): Hiệp phương sai giữa tỷ suất lợi tức chứng khoán i và tỷ suất lợi tức của thị trường VNINDEX.

                      sM2          : Phương sai của tỷ suất sinh lợi thị trường VNINDEX.

    Ngày

    Giá đóng cửa

    Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1ti

    Ngày

    Giá đóng cửa

    Tỷ suất lợi tức hằng ngày r1t

    18/3/2013

    479.1

     

    8/3/2013

    470.7

    0.01232

    15/3/2013

    481.4

    -0.00478

    7/3/2013

    466.6

    0.00879

    14/3/2013

    474.6

    0.01433

    6/3/2013

    471.1

    -0.00955

    13/3/2013

    473.2

    0.00296

    5/3/2013

    462.1

    0.01948

    12/3/2013

    475.3

    -0.00442

    4/3/2013

    468.7

    -0.01498

    11/3/2013

    476.5

    -0.00252

    1/3/2013

    477.1

    -0.01761

     

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(RM)

    -0.00017

    Phương sai sM2

    0.005078986

    Độ lệch chuẩn sM

    0.071267008

    Hiệp phương sai Cov(R1, RM)

    0.006667856

    Hiệp phương sai Cov(R2, RM)

    0.005909282

    Hệ số beta b1(rủi ro hệ thống CK 1)

    1.312831978

    Hệ số beta b2(rủi ro hệ thống CK 2)

    1.16347672

    Câu 10: Giả sử bạn là một chuyên viên chứng khoán. Nếu khách hàng của bạn đầu tư vào danh mục 2 chứng khoán của bạn thì phải trả mức phí tính theo tỷ lệ % trên số tiền đầu tư là F. Tính số phí tối đa F mà bạn có thể thu được.

         Theo đề bài ta có: E(Rp) ròng = E(Rp) – f   Trong đó: f là tỷ lệ % mức phí phải trả trên số tiền đầu tư.

           Cách tính:

    • Bước 1: Tính tỷ lệ f % mức phí phải trả trên số tiền đầu tư.

         Ta có:          

                         Þ

    • Bước 2: Tính số tiền phí tối đa F có thể thu được.

    Tỷ suất lợi tức kỳ vọng ước lượng E(Rp)

    0.021036

    Tỷ suất lợi tức tài sản phi rủi ro Rf (%/năm)

    0.0075

    Độ lệch chuẩn sp

    0.107319092

    Độ lệch chuẩn sM

    0.071267008

    Tỷ suất lợi tức trung bình cộng E(RM)

    -0.00017

    Tỷ lệ f % mức phí phải trả trên số tiền đầu tư

    2.51%

    Vốn đầu tư (đ)

    100000000

    Số tiền phí tối đa F có thể thu được (đ)

    2510000

     

    KẾT LUẬN

           Tóm lại, sau những phân tích cơ bản về vĩ mô nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam; phân tích ngành; phân tích công ty nhóm chúng tôi đứng ở vai trò là nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đã lựa chọn được hai loại cổ phiếu là DPM và MSN. Theo những kết quả của phân tích kỹ thuật và mục tiêu đầu tư dài hạn, hai cổ phiếu này sẽ tăng giá và trong tương lai sẽ rất ổn định. Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng danh mục đầu tư này sẽ còn tăng giá mạnh hơn nữa vì chúng là những mã cổ phiếu độc lập, không thống trị nhau đồng thời danh mục của hai cổ phiếu này có tỷ suất sinh lời sinh lời cao và hệ số tương quan tương đối cao.

           Như vậy, với những yêu cầu của bài tập lớn, nhóm đã phân tích, tính toán số liệu… được làm những công việc cũng gần như một nhà đầu tư cổ phiếu chuyên nghiệp. Nhưng do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn bài làm của nhóm còn nhiều sai sót mong cô thông cảm. Kính mong nhận được sự góp ý của cô để nhóm hoàn thiện bài tập hơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án chi tiết máy 2019

    Đồ án chi tiết máy 2019

    Đồ án chi tiết máy 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Chi-Ti%E1%BA%BFt-M%C3%A1y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án chi tiết máy 2019

     

    Đồ án môn học

     

     

     

     

     

     

     

    CHI TIẾT MÁY
    TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ

                       KHOA CƠ KHÍ

                          ***                                  ĐỒ ÁN MÔN HỌC CHI TIẾT MÁY

                    Đề Số: 10                                    

                                             THIẾT KẾ HỆ DẪN ĐỘNG BÁNH RĂNG TẢI

     

     

    1. Động cơ 3. Hộp giảm tốc  4.Bộ truyền đai                thang
    2. Nối trục đàn hồi      5. Băng tải       dẹt

    Số Liệu Cho Trước :        

     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    STT

    Sinh viên thiết kế

    Lực kéo băng tải

    F (N)

    Vận tốc băng tải

    V (m/s)

    Đường kính tang

    D (mm)

    Thời hạn phục vụ

    lh (giờ)

    Số ca làm việc Soca

    Góc nghiêng đường nối tâm bộ truyền ngoài α (o)

    Đặc tính làm việc

    5

    Nguyễn Bá Anh Hào

    14000

    0.7

    400

    10000

    1

    38

    Va đập

                                                                                             

     Khối Lượng Thiết Kế :

                 

                1/ Bản vẽ lắp hộp giảm tốc – khổ A0

                 

                2/ Bản vẽ chế tạo chi tiết – khổ A3

     

                3/ 1 bản thuyết minh  (Kèm theo đĩa CD)

     

                Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN THANH TÂN

     

    PHẦN I: TÍNH TOÁN ĐỘNG HỌC

    I. Chọn động cơ điện

    1. Chọn kiểu, loại động cơ

    Đây là trạm dẫn động băng tải nên ta chọn động cơ: 3 pha không đồng bộ roto lồng sóc, do nó có nhiều ưu điểm cơ bản sau:

    – Kết cấu đơn giản, giá thành thấp.

    – Dễ bảo quản và làm việc tin cậy.

    2. Chọn công suất động cơ

    Công suất của động cơ được chọn theo điều kiện nhiệt độ, đảm bảo cho khi động cơ làm việc                                     nhiệt độ sinh ra không quá mức cho phép. Muốn vậy, điều kiện sau phải thoả mãn:

          (KW)

     – công suất định mức của động cơ.

    – công suất đẳng trị trên trục động cơ.

    Do ở đây do chế độ làm việc êm nên tải trọng là không đổi :

     

    – công suất làm việc danh nghĩa trên trục  động cơ

     – Giá trị công suất làm việc danh nghĩa trên trục công tác:

     =   (KW) (2.11)[I]          

    Ft – lực vòng trên trục công tác (N);

    V – vận tốc vòng của băng tải    (m/s).

     – hiệu suất chung của toàn hệ thống.

    Theo bảng 2.3[I] ta chọn:

     = 0,96        –  Hiệu suất bộ truyền đai

    = 0,97         –  Hiệu suất bộ truyền bánh răng

     = 0,99       –  Hiệu suất của mỗi cặp ổ lăn

     =  1                                   –  Hiệu suất khớp nối

     P  = 14000 (N)

     V = 0,7 (m/s)

    Þ  = 0,96.0,972.0,994.1 = 0,868

    Công suất cần thiết là:

     

    Suy ra, công suất làm việc danh nghĩa trên trục  động cơ:

                  (KW)

                     (KW)

    3. Chọn số vòng quay đồng bộ của động cơ nđb

    Tính số vòng quay của trục công tác

    – Với hệ dẫn động băng tải:

                    (v/ph)                                                                    D – đường kính tang dẫn của băng tải (mm);

        v – vận tốc vòng của băng tải       (m/s)

    4. Chọn động cơ thực tế

    Qua các bước trên ta đã xác định được:                

    Căn cứ vào những điều kiện trên tra bảng phụ lục P1.1; P1.2: P1.3[I]:

    Các thông số kỹ thuật của động cơ, ta chọn động cơ4A160M8Y3. Bảng các thông số kỹ thuật của động cơ này.

    Kiểu động cơ

    Công suất KW

    Vận tốc quay (v/ph)

           

    4A160M8Y3

    11

    730

    0,75

    87

    2,2

    1,4

     

    5. Kiểm tra điều kiện mở máy, điều kiện quá tải cho động cơ:

    1. Kiểm tra điều kiện mở máy cho động cơ

    Khi khởi động, động cơ cần sinh ra một công suất mở máy đủ lớn để thắng sức ỳ của hệ thống.

     Vậy:

                       (KW)

    – Công suất mở máy của động cơ 

     =2,2  Hệ số mở máy của động cơ

    – Công suất ban đầu trên trục động cơ

    Từ các công thức trên ta tính được:

       (KW)     

             (KW)

    Kbd – Hệ số cản ban đầu;ta chọn Kbd =1,5

    Ta thấy: . Vậy động cơ đã chọn thoả mãn điều kiện mở máy.

    1. Kiểm tra điều kiện quá tải cho động cơ

    Ở đây chế độ  làm việc êm nên tải trọng là không đổi nên ta không cần kiểm tra quá tải cho động cơ.

             II. Phân phối tỉ số truyền

    Việc phân phối tỷ số truyền Ich cho các cấp bộ truyền tong hộp có ảnh hưởng rất lớn đến kích thước và khối lượng trong hộp giảm tốc 

    Thỏa mản nguyên tăc sau :

    +Phân phối tỷ số truyền I ch sao cho các bộ truyền có kíchthươc nhở gọn

    +Phân phối tỷ số truyền sao cho việc bôi trơn dể nhất

     Ta có :

    ichung=

    =  v/p  (v=)

       Mà :ih = ing.itr = iđ.it = iđ.inh.ichậm

       Chọn  iđ=1,82 ta có : it==

       Bộ truyền cấp nhanh (bộ truyền bánh răng nón răng thẳng): inh

       Bộ truyền cấp chậm (bộ truyền bánh răng trụ răng thẳng): ichậm

       Trong điều kiện bôi trơn các bộ truyền bánh răng trong hộp giảm tốc bằng phương pháp     ngâm dầu 

        lấy inh =0,22it => choün inh = 0,22.11,97=2,63

     => inh =

    Tỉ số truyền chung của toàn hệ thống:  

    Trong đó: ndc – số vòng quay của động cơ đã chọn (v/ph)

    nct  – số vòng quay của trục công tác (v/ph)

    Ta có:     

    Với:     ung – tỉ số truyền của các bộ truyền ngoài hộp

    uh – tỉ số truyền của hộp giảm tốc uh = u1.u2

    u1, u2 – tỉ số truyền của các bộ truyền cấp nhanh và cấp chậm

    1. Tỉ số truyền của bộ truyền ngoài hộp

    Hệ dẫn động gồm hộp giảm tốc hai cấp đồng trục nối với 1 bộ truyền xích ngoài hộp.

     

    Chọn ung = ux = 3

    2. Tỉ số truyền của các bộ truyền trong hộp giảm tốc

                    uh = u1.u2

    Đối với hộp giảm tốc 2 cấp đồng trục ta tính TST  theo công thức:

    III. Xác định các thông số trên các trục

    1. Tính tốc độ quay của các trục (v/ph)

    – Tốc độ quay của trục I:                                 (v/ph)

    – Trong đó  là tỉ số truyền của khớp nối

    – Tốc độ quay của trục II:                               (v/ph)

    – Tốc độ quay của trục III:                            (v/ph)

    – Tốc độ quay của trục IV:                          (v/ph)

              2. Tính công suất trên các trục (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục động cơ:

                                                                                   (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục I:

                      (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục II:

                            (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục III:

                                         (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục IV:

                                           (KW)

    3. Tính mômen xoắn trên các trục (Nmm)

    Mô men xoắn trên trục thứ k được xác định theo công thức sau:

     

    – Mômen xoắn trên trục động cơ:

                                      (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục I:

                                      (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục II:

                                        (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục III:

                                          (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục IV:

                                         (Nmm)

    4. Lập bảng số liệu tính toán:

     

    Tham số

    Trục

    Đ/cơ

    I

    II

    III

    Công tác

    i

    Iđ = 1,82

    Inh= 2,63

                     Ich= 4,55

                             4,55

     

     Công suất (kw)

    11,3

    11,187

    10,7

    10,3

    9,8

     Tỷ số truyền

     

    3

    4,7

    3,1

    1

     

    Số vòng quay(v/ph)

    730

    730

    270

    100

    33,4

     Mô men (Nmm)

    147829

    146351

    378463

    983650

    2802096

                               

     

    PHẦN II: THIẾT KẾ CÁC CHI TIẾT TRUYỀN ĐỘNG

    I. Tính toán thiết kế các bộ truyền trong hộp

    1. Chọn vật liệu cặp bánh răng côn và cặp bánh răng trụ

    Do hộp giảm tốc ta đang thiết kế có công suất trung bình, nên chọn vật liệu nhóm I có độ cứng HB < 350 để chế tạo bánh răng.

    Đồng thời để tăng khả năng chạy mòn của răng,nên nhiệt luyện bánh răng lớn đạt độ rắn thấp hơn độ rắn bánh răng nhỏ từ 10 đến 15 đơn vị độ cứng.

     

    – Dựa vào bảng 6.1, [I]: Cơ tính của một số vật liệu chế tạo bánh răng, ta chọn:

    Cặp bánh răng trụ:

    Loại bánh răng

    Nhãn hiệu thép

    Nhiệt luyện

    Kích thướt S(mm) không lớn hơn

    Độ rắn

    Giới hạn bền  (Mpa)

    Giới hạn chảy  (Mpa)

    Bánh răng nhỏ

    45XH

    Tôi cải thiện

    100

    HB 230300

    850

    600

    Bánh răng lớn

    45X

    Tôi cải thiện

    100

    HB 230280

    850

    650

    2. Xác định ứng suất cho phép

    Ứng suất tiếp xúc cho phép  và ứng suất uốn cho phép xác định theo các công thức sau:

                                                                                            (6.1)[I]

                                                                                            (6.2)[I]

    ZR – Hệ số xét đến độ nhám mặt răng làm việc.

    ZV – Hệ số xét đến ảnh hưởng của vận tốc vòng.

    KXH – Hệ số xét đến ảnh hưởng của kích thước bánh răng.

    YR – Hệ số xét đến ảnh hưởng của độ nhám mặt lượn chân răng.

    YS – Hệ số xét đến độ nhạy của vật liệu với tập trung ứng suất.

    KXF – Hệ số xét đến kích thước bánh răng ảnh hưởng đến độ bền uốn.

    Chọn sơ bộ:  và  nên ta có:

                                                                                                         (6.1a)[I]

                                                                                                    (6.2a)[I]

    Trong đó: và : lần lượt là ứng suất tiếp xúc cho phép và ứng suất uốn cho phép ứng với số chu kì cơ sở.

    Giá trị của chúng được tra trong bảng 6.2, [I].

    Chọn độ rắn       

                                                                                                            (MPa)

                                                                                                             (MPa)

    Vậy    

    Bánh nhỏ:2.290+70=650                                                   (MPa)

                   1,8.290=522                                                              (MPa)

    Bánh lớn:2.280+70=630                                                     (MPa)

                   1,8.280=504                                                               (MPa)

    • KFC: Hệ số xét đến ảnh hưởng của việc đặt tải.

    Vì hệ dẫn động ta thiết kế, tải được đặt một phía (bộ truyền quay 1 chiều) [ KFC =1

    • KHL,FL: Hệ số tuổi thọ, xét đến ảnh hưởng của thời hạn phục vụ và chế độ tải trọng, được xác định theo công thức sau:

                                                                                               (6.3)[I]

                                                                                                  (6.4)[I]

    Với:

    -mH, mF: bậc của đường cong mỏi khi thử về tiếp xúc và uốn.

    Vì vật liệu ta chọn làm bánh răng có HB < 350 nên: mH = mF = 6

     -NHO: số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về tiếp xúc.

     (HHB – Độ rắn Brinen)                                                                   (6.5)[I]

    : số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về tiếp xúc của bánh răng nhỏ.

    : số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về tiếp xúc của bánh răng lớn

     

    NFO: số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về uốn

    Với tất cả các loại thép thì: NFO = 4.106

    NHE, NFE: số chu kì thay đổi ứng suất tương đương.

    Vì ở đây bộ truyền chịu tải động tĩnh nên:

    NHE = NFE = N = 60.c.n.tS                                                                                                                    (6.6)[I]     

    Với: c, n, tS lần lượt là số lần ăn khớp trong một vòng quay, số vòng quay trong 1 phút và tổng số giờ làm việc của bánh răng đang xét.

    Ta có:c=1

      (giời)

    – Trong  bộ truyền bánh răng cấp nhanh:

    Bánh nhỏ có:n1 =730 (v/ph) nên:

    Bánh lớn có:n2 = 270 (v/ph) nên:

    – Trong bộ truyền bánh răng cấp chậm:

    Bánh nhỏ có:n3 = 100  (v/ph) nên:

    Bánh lớn có:n4 = 33,4(v/ph) nên:

    Vậy:

    – Bộ truyền bánh răng cấp nhanh có:

    >lấy 

    >lấy 

    >lấy 

    >lấy 

    – Bộ truyền bánh răng trụ cấp chậm có:

    >lấy 

    >lấy 

     

    SH,SF: Hệ số an toàn khi tính về tiếp xúc và uốn, tra bảng 6.2 ta có ứng với vật liệu đã chọn thì:

    SH = 1,1; SF = 1,75

    Từ đó ta xác định được sơ bộ ứng suất cho phép của bánh răng.

              =590                                                               (MPa)

              =298                                                    (MPa)

              =573                                                                 (MPa)

              =288                                                      (MPa)

    Vì vậy, ứng suất tiếp xúc cho phép là: ==573(MPa).

    Ứng suất tiếp xúc cho phép khi quá tải:

                                (MPa)                               (6.13)[I]

    Ứng suất uốn cho phép khi quá tải (vật liệu có HB<350) là:

              =0,8.650=520                                                                   (MPa)

             =0,8.600=480                                                                  (MPa)

              3.Tính toán cấp chậm ,bộ truyền bánh răng trụ răng thẳng :

              a.Tính khoảng cách trục:

              aw1 =Ka(u+1)                                                                        (6.15a)[I]

    Tra bảng 6.6   =0,25…0,4 ,chọn      = 0,3.Bánh răng thẳng Ka =49,5.

    Theo (6.16)

      = 0,53.0,3.(2,7+1)=0,6 bảng (6.7) ,tra theo đồ 4

      = 1,01

    aw1 = (mm)

              b.Xác định các thông số ăn khớp :

     Lấy  aw1 = 210 (mm)

     từ đó   m = (0,01..0,02)aw1 = (0,01..0,02) .210= 2,1..4,2                                  (6.17)[I]

    Chọn môdun tiêu chuẩn m = 2,5

     z1 =    chọn z1 =45

     z2 = .45=2,7.45=121  chọn z2 = 121

    Do đó

    aw =

    Có tỉ số truyền thực   ut = =3

    Vì  45 theo bảng 6.9[I] ta chọn hệ số dịch chỉnh = 0

    cos                                               (6.27)[I]

     

                c.Kiểm nghiệm răng về độ bền tiếp xúc : 

    Do hệ thống bánh răng được đậy kín trong hộp ( môi trường không bụi) và được bôi trơn đầy đủ.Vậy dạng hỏng nguy hiểm nhất thường gặp là tróc rỗ bề mặt, nên cơ sở chọn độ bền tiếp xúc để thiết kế kiểm nghiệm hệ thống dẫn động bánh răng:

                                                                              (6.33)[I]

    Trong đó:  hệ số kể đến cơ tính vật liệu của các bánh răng ăn khớp trong bảng 6.5

                     số kể đến hình dạng bề mặt tiếp xúc

    Bảng 6.5     ZM = 274 (MPa1/3)

                   ZH =                                                      (6.34)[I]

                 hệ số kể đến sự trùng khớp của răng

     hệ số trùng khớp dọc

     hệ số trùng khớp ngang

     =

     

                  Ze                                                                       (6.36a)[I]

    Đường kính vònh lăn bánh nhỏ

                dw1 =                  

                v                                                                            (6.40)[I]

    Theo bảng  (6.13) ,chọn cấp chính xác 9,tra bảng 6.16 hệ số làm việc êm g0 =73

                                                                        (6.42)[I]

                hệ số kể đến ảnh hưởng của sai số ăn khớp

                dH = 0,006 tra theo bảng  (6.15)

                KHv = 1 +                                                                                     (6.41)[I]

                 chiều rộng vành răng

                bw  = Yba .aw2=0,3232,5 = 70 (mm) 

                KHb  = 1,0 ,KHa= 1

                 hệ số kể đến ảnh hưởng của tải trọng động xuất hiện trong vùng ăn khớp

                KHv  = 1 +  

                KH  = KHb . KHa . KHv =1,01.1.1,01=1                                                                       (6.39)[I]

                                                                       (6.33)[I]

     

                [                                                                                    (6.1)[I]

    – hệ số xét đến độ nhám của mặt răng làm việc

    Với  cấp chính xác về mức tiếp xúc là 9, khi đó cần gia công đạt độ nhám: Ra = 2,5 … 1,25 mm Þ ZR = 0,95

    – hệ số xét đến ảnh hưởng của vận tốc vòng,ta có v = 0,6 < 5 (m/s) nên lấy

    – hệ số xét đến ảnh hưởng của kích thướt bánh răng

    Lại có  da <700 mm KXH =1

    [sH] = 573.0,95.1.1.1 = 544,4 (Mpa)

      Vậy kiểm nghiệm về độ bền tiếp xúc đạt yêu cầu

                d.Kiểm nghiệm  răng về độ bền uốn :

                                                                           (6.43)[I]                                                                         

                                                                                               (6.44)[I]                                                                        – hệ số kể đến sự trùng khớp của răng              

    -hệ số kể đến độ nghiêng của răng, đối với răng thẳng

    -hệ số dạng răng của bánh 1, 2. Tra bảng 6.18[I] ta có:

     

    K­F– hệ só tải trọng vêt uốn

    K­F = KFb . KFa . KFv

                                                                                                   (6.46)[I]

                                                                                                                (6.47)[I]

    go = 73

     – hệ số kể đến ảnh hưởng của sai số ăn khớp.                                    bảng(6.15)[I]

     

    KFa =1

    KFb = 1,23                                                                                                                         (6.7)[I]  

    K­F = KFb . KFa . KFv  = 1,23.1.1,05 = 1,3

     (Mpa)                                                 

                      (Mpa)                                                             

    Vậy kiểm nghiệm về độ bền uốn đạt yêu cầu.

                e.Kiểm nghiệm răng về quá tải:             

                                                                                          (6.48)[I]

     

    Vậy bộ truyền thỏa mãn điều kiện quá tải

                g.Các thông số bộ truyền

    Dựa theo bảng 6.11[I] ta tính

     

    Bánh răng 1

    Bánh răng 2

    Khoảng cách trục, aw

     

    210 mm

    Môđun pháp, m

     

    2,5 mm

    Chiều rộng, bw

     

    72 mm

    72 mm

    Tỉ số truyền, u

     

    2,7

    Số răng, z1, z2

     

    45

    121

    Hệ số dịch chỉnh răng

     

     

     

    0

    0

    Đường kính lăn,

     

    65 mm

    175,5 mm

    Đường kính đỉnh răng,

     

    70 mm

    180,5 mm

    Đường kính đáy răng,

     

    58,75 mm

    169,25 mm

    Đường kính chia, d

     

    d 1= mm

    175,5 mm

     

              4. Tính toán truyền động bánh răng trụ răng thẳng (cấp mhanh)

    Vì trong hộp giảm tốc 2 cấp đồng trục có khoảng cách trục của bộ truyền cấp nhanh và cấp chậm bằng nhau nên ta chọn các thống bộ truyền như phần trên.

    Vì momen xoắn trên trục ở bộ truyền cấp chậm bao giờ cũng lớn hơn ở cấp chậm, ta cũng đã kiểm tra bền cho bánh răng ở cấp chậm rồi nên bánh răng ở cấp nhanh không cần kiểm nữa.Ta chỉ cần tính lại vận tốc và cấp chính xác

    v                                                                                     (6.40)[I]

    Theo bảng  (6.13) ,chọn cấp chính xác 8,tra bảng 6.16 hệ số làm việc êm g0 =56                             

    Với  cấp chính xác về mức tiếp xúc là 8, khi đó cần gia công đạt độ nhám: Ra = 2,5 … 1,25mm

     

    PHẦN III : THIẾT  KẾ BỘ TRUYỀN NGOÀI

                         THIẾT KẾ BỘ TRUYỀN ĐAI DẸT

    I.Giới thiệu:

    – Truyền động đai là truyền động ma sát giữa đai và bánh đai. Ưu điểm của bộ truyền đai là làm việc không ồn, thích hợp với vận tốc lớn. Đai không làm việc được trong điều kiện ẩm ướt

    – Chọ loại đai :

    – Ta chọn loại đai dẹt vật liệu là vải cao su dày là loại có sứ bền tính đàn hồi cao ít chịu ảnh hưởng của độ ẩm nhiệt độ, vận tốc truyền cao.

    II.Các bước thiết kế bộ truyền đai :

    + Giai đoạn I : Nghiêng cứu các yêu cầu của bộ truyền

    Ta thiết kế bộ truyền đai dẹt để dẫn truyền công suất từ động cơ đến hộp giảm tốc với tỷ số truyền của đai là số vồng quay của truc dẫn là n=730 v/p

    Trục bị dẫn là n=270v/p

    Đai làm việc trong nhiệt đọ và môi trường khô vận tốc khá lớn ta thiết kế bộ truyền đai theo hai phương án sau đó chọn một phương án hợp lý.

    + Giai đoạn II :

    Xác định các thông số hình học của đai

    1.Xác định đường kính bánh đai.

    Ta có sơ đồ đọng có A là khoảng cách trục D1,D2 là đường kính bánh đai nhỏ và bánh đai lớn , là góc ôm bánh nhỏ và bánh lớn

     A  =      (I1CT5-2T83)

    1. Đường kính bánh đai nhỏ.

    Theo công thức D1=(11001300)  (I1 CT(5-6)_T84)

    Với Ncông suất trục dẫn kw

      n1   Số vòng quay trong một phút của bằng số vòng quay của động trục bị dẫn cơ

    Phương án 1: chọn D1=1100=1100.  mm

    Phương án 2 : chọn D1=1300 =1300 =324mm

    Kiểm tra vận tốc theo điều kiện V= (I1CT5-7T84)

    Ta có : PA1:V= 

                PA2:V=    

    Cả hai phương án đều thỏa mãn điều kiện

    Ta có : D2 =i.D1

                 Phương án 1:    D2 =1,82.274=498 mm

                Phương án 2:    D2 =1,82.324 =589mm

    Tính số vòng quay trục

                n2­= choün =0,1

    Phương án 1: n2=     

    Phương án 2: n2=

    1. Xác định chiều dài đai.

    Ta có : Lmim=(I­1  CT(5-9)  T85)

    umax  Là số vòng chạy lần nhất trong một giây của đai umax(35) chọn umax=3

    Lmin=  ( PA1)

    Lmin= ( PA2)

    Thay Lvà D1,D2 vàocông thức A ta được:

     

    – Kiểm tra điều kiện A2(D1+D2)   (I1  CT(5-10)T86)

    Phương án 1: 1138>2(274+498)=1544mm                                                                                                        

    Phương án 2: 1377>2(324+589)=1826mm   

    Thỏa mãn

    – Kiểm tra theo điều kiện góc ôm :

    Phương án 1:   (I1  CT(5-11)T86)

     

    Phương án 2:  

    Cả hai đều thỏa mãn điều kiện

    Tính lại L : L=(I1 CT5-1 T83)

    Phương án 1: L = (mm)

    Phương án 1: L=  ( mm)

    Để xác định chiều rộng đai ta xác định theo điều kiện bền mòn b         (I1 CT5-13 T86)

    Chiều dài đai  chọn theo tỷ số (I1 CT5-12 T86)

    Ta có :        ( PA1)

     

                 (PA2)

    Chọn ứng suất công ban đầu ,Theo(I1 B5-7 T89 ) có

    ct: Hệ số xét đến ảnh hưởng chế độ trọng tải

    c Hệ số xét đến ảnh hưởng góc ôm

    cHệ số xét đến ảnh hưởng của vận tốc

    cb Hệ số xét đến ảnh hưởng của bộ truyền

    Theo(I1 B5-7,5-8,5-6T90,89)ta coï ct=0,8 c=0,97,cv=0,9, cb=1

    Phương án 1:                   b

     

    Phương án 2:               b

    Chiều rộng B của bánh đai

    B=1,1b+( 10)(I1 CT,5-14T91)

    Phương án 1: B=1,1.96+10=115,6(mm) ta láúy B=125(mm)

    Phương án 2: B=1,1.114+10 =135,4mm láúy  B=140mm

    Xác định lực căng đai

    S0=(I1 CT,5-16  T91)

    Phương án 1: S0=1,8.4,3.96=743.04N

    Phương án 2: S0=1,8.5,08.114=1072N

    Lực tác dụng lên trục : R=3S0.sin   (I1 CT5-17T91)

    R1=3.487,6 sin

     R2=3.1072. sin 

    Giai đoạn III :

    Qua hai phương án thiết kế ta thấy cả hai phương án đều thỏa mãn tuy nhiên ta phải chọn  phương án một vì phương án này làm bộ truyền đai có kích thướt nhỏ gọn

    Vậy ta đã thiết kế bộ truyền đai với các thong số hình học

    Khoảng cách trục A=1138 chiều dài đai L=3499mm

    Góc ôm  chiều rộng đai b=63 chiều dài đai là 8,1mm

    Bánh đai : Đường kính bánh đai nhỏ D1=274mm,D2=498mm

    Lực căng đai S0=743,04N ,Râ=1453,4

    Ta có kết cấu bánh đai như hình vẽ :

     

     

    IV. TÍNH TOÁN THIẾT KẾ TRỤC

     

             1.Thông số khớp nối trục đàn hồi

    Do khớp nối truyền công suất tương đối lớn nên ta chọn cách nối trục vòng đàn hồi. Tđc= 147829 (Nmm). Khi đó tra bảng16.10a các kích thước cơ bản của nối trục vòng đàn hồi được tra theo mômem xoắn.    

                T =500 (M.m)                 d = 40 (mm)                   D = 170 (mm)

                dm = 80  (mm)                 L = 175 (mm)                 l = 110 (mm) 

                d1 = 71 (mm)                  Do = 130 (mm)               Z = 8

                nmax = 3600                     B = 5                              B1 =70

                l1 = 30 (mm)                   D3  = 28 (mm)                l2 = 32(mm)

              2. Thiết kế trục

                a.Chọn vật liệu

    Chọn vật liệu chế tạo trục I, II, III trong hộp truyền giảm tốc là thép 35 có

    sb = 600 MPa , ứng suất xoắn cho phép [t] = 15..30 Mpa

                b.Tính đường kính sơ bộ

                d =                                                                                             (10.9)[I]

    []-ứng suất xoắn cho phép []= 15…30 Mpa, lấy số nhỏ đối với trục vào của hộp giảm tốc, trị số lớn đối với trục ra

                 d1 =

                 d2 =

                d3 =

    Ở đây do trục I (d1) nối với động cơ điện 4A160M8Y3 có đường kính trục dđc =42 mm.

     d1=(0,8..1,2) dđc = (0,8..1,2).42 = 36.6…50,4 mm.

    Vậy chọn d1 = 35 mm.

                c.Xác định khoảng cách giữa các gối đỡ và điểm đặt lực.

    Dựa theo bảng 10.2, 10.3 [I] ta chọn

                mm                                       mm                                                 mm

                mm                                      mm

    Tra bảng (10.4),(10.3)[I], kết quả tính được khoảng cách lki  trên trục thứ k từ gối đỡ 0 đến chi tiết quay thứ i như sau:

                l12 = – lc12 = 0,5.(lm12 + b0) + k3 +hn = 78,25 mm

                l13 = 0,5(lm13 + b0) + k1 +k2 = 69,5 mm

                 2.55,5 = 139 mm

    ­            l22 = 0,5(lm22 + b0) + k1 +k2 = 74,3 mm

                l23 = l11 +k1 + b0+ l32 = 259 mm

                l21 = l23 + l32 = 343 mm                             

                l32 = 0,5(lm32+ b0) + k1 +k2 = 0,5(1,5.60+19)+10+15 = 84 mm

                l31 = 2 l32 = 84.2 = 168 mm

                l33 = l31 +0,5.(lm33 + b0) +k3 + hn = 262

                d.Xác định trị số và chiều của các lực từ chi tiết quáy tác dụng lên trục:

    Ta có sơ đồ bố trí hộp giảm tốc như hình (10.9)[I]

    `

    Lực từ đai tác dụng lên trục 1 hướng theo phương y có trị số là:

    Fy12 = 1453 N.

    Theo phương y có trị số là

    Fx12 = 3185 N

    Lực tác dụng của khớp nối trục đàn hồi tạo ra: Fx33= (0,2 ¸ 0,3) Fr ; Fr = 2TIII/D0 ,

    Tra bảng 16.10a  ta chọn D0 = 71 mm: Fx33 = 2459 N

    Lực tác dụng khi ăn khớp trong các bộ truyền được chia làm ba thành phần:

    Fx: Lực vòng.

    Fy: Lực hướng tâm.

    Fz: Lực dọc trục.

    Với trục 1:

    Fx13=

    Fy13 =

    Fz13 =

    Với trục 2:

    Fx22=  – Fx13 =  4503 N

    Fy22=  – Fy13 =  2600 N    

                Fz22=  – Fz13 =  0 N

    Với trục 3:

    Fx32=  – Fx23 =  11645 N

    Fy32=  – Fy13 = – 6723 N

    Xác định đường kính và chiều dài các đoạn trục. Khi đó ta có các biểu đồ Momen và các giá trị tương ứng trên các vị trí, khi tính toán momen uốn tổng và các momem tương đương tại các thiết diện ta tiến hành làm tròn, các kết qủa có sai số đó được bù bằng hệ số an toàn khi các trục được kiểm nghiệm. Tính phản lực tác dụng lên các gối đỡ:

    Với trục 1:

     

     Flx11 =

     

    Momen uốn tổng tại các thiết diện và mômen tương ứng(với các tiết diện 0, 1, 3: lần lượt là các tiết diện từ trái sang phải ứng với các trục tương ứng:

    Đường kính trục tại các thiết diện tương ứng khi tính sơ bộ:

    Khi đó theo tiêu chuẩn và điều kiện công nghệ và điều kiện bền ta chọn thông số các đường kính trục tại các thiết diện tương ứng là: d12 =40 mm, d11 = 45 mm và d13 = 48mm.Khi tính toán lắp bánh răng lên trục 1 ta dùng then bằng để truyền momen xoắn.Khi đó theo TCVN 2261- 77 ta có các thông số về các loại then được lắp trên các trục như sau:

    Đường kính trục

    Kích thướt tiết diện

    Chiều sâu rãnh then

    Bán kính góc lượn của rãnh

    b

    h

    t1

    t2

    nhỏ nhất

    lớn nhất

    45

    14

    9

    5,5

    3,3

    0,25

    0,4

    40

    12

    8

    5

    3,3

    0,25

    0,4

    48

    14

    9

    5,5

    3,3

    0,25

    0,4

                   

    Với trục 2:

    = 9768 N               

    = -(7000 + 4503 – 11645) = 31110 N                   

    Momen uốn tổng tại các thiết diện và mômen tương ứng:

    Đường kính trục tại các thiết diện tương ứng khi tính sơ bộ:

    Khi đó theo tiêu chuẩn và điều kiện công nghệ ta chọn thông số các đường kính trục tại các thiết diện tương ứng là: d21 =40 mm, d22 = 45 mm và d23 = 48 mm 

    Trên trục 2 ta cũng dùng then bằng để truyền momen. Khi đó theo TCVN 2261- 77 có các thông số về các loại then được lắp trên các trục như sau:

     

    Đường kính trục

    Kích thước thiết diện

    Chiều sâu rãnh then

    Bán kính góc lượn của rónh

    b

    h

    t1

    t2

    nhỏ nhất

    lớn nhất

    40

    12

    8

    5

    3,3

    0,25

    0,4

    45; 48

    14

    9

    5,5

    3,8

    0,25

    0,4

                   

    Với trục 3:

    = 474 N            

      N         

    Khi đó ta có các biểu đồ Momen, các giá trị tương ứng trên các vị trí và sơ bộ các kích thước của trục:

    Momen uốn tổng tại các thiết diện và mômen tương ứng:

    Đường kính trục tại các thiết diện tương ứng khi tính sơ bộ:

    Khi đó theo tiêu chuẩn và điều kiện công nghệ ta chọn thông số các đường kính trục tại các thiết diện tương ứng là: d33 = 42 mm,  d31 = 60 mm, d32 = 63 mm. Các đường kính ở các đoạn trục này chỉ là tính sơ bộ nên ta chỉ sử dụng các số liệu này khi nó thoả món điều kiện bền và điều kiện an toàn khi kiểm nghiệm lại. Chọn kiểu lắp ghép: các ổ lăn lắp trên trục theo kiểu k6, lắp bánh răng, bánh xích theo k6 kết hợp với lắp then.Khi tính toán lắp bánh răng và bánh xích lên trục, dùng then bằng để truyền momen xoắn từ trục đến các chi tiết lắp trên nó.Khi đó theo TCVN 2261- 77 ta có các thông số về các loại then được lắp trên các trục như sau:

    Đường kính trục

    kích thước thiết diện

    Chiều sâu rãnh then

    Bán kính góc lượn của rãnh

    b

    h

    t1

    t2

    nhỏ nhất

    lớn nhất

    60;63

    18

    11

    7

    4,4

    0,25

    0,4

    42

    12

    8

    5

    3,3

    0,25

    0,4

                   

     

     

     

              * Tính kiểm nghiệm trục về độ bền mỏi:

    Với thép 35 có:

    Theo bảng 10.7 ta có: ,

    Trên trục I

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

     ;                                                                             (10.2)[I]

                        (10.23)[I]

    nên:     

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỡ mạch động, do đó:

                                                                               (10.23)[I]

    với      

    nên:                    

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng.

    Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:     

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5

    khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng. sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạt Ra = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 .Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1.Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 48 mm, es = 0, 81, et= 0,76 xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này :

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,1

    Kt/et= 1,54/0,76 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số  

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1:      

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm)

    lt   (mm)

    bxh

    t1(mm)

    T(Nmm)

    sd (MPa)

    tc (MPa)

    48

    60

    14×9

    5,5

    146351

    10,9

    4,1

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

                Trên trục II(Tại tiết diện 22)               

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

     ;                                                                                         (10.2)[I]                 (10.23)[I]

    nên:     

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỡ mạch động, do đó:

                                                                               (10.23)[I]

    với      

    nên:        

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng. Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:     

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5 khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng.sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

     

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạt Ra = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 .Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1 Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 45 mm, es = 0, 81, et= 0,7xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,1

    Kt/et= 1,54/0,76 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số  

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1: 

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm)

    lt   (mm)

    bxh

    t1(mm)

    T(Nmm)

    sd (MPa)

    tc (MPa)

    45

    67,5

    14×9

    5,5

    378463

    27,6

    7,8

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

    Trên trục II(Tại tiết diện 23)               

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

     ;                                                                             (10.2)[I]

                       (10.23)[I]

    nên:     

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỡ mạch động, do đó:

                                                                               (10.23)[I]

    với        

    nên:      

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng. Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:     

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5 khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng. sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạt Ra = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1 Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 48 mm, es = 0, 81, et= 0,76 xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,2

    Kt/et= 1,54/0,76 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số  

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0 

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

     

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1: 

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm)

    lt   (mm)

    bxh

    t1(mm)

    T(Nmm)

    sd (MPa)

    tc (MPa)

    48

    75

    14×9

    5,5

    378463

    15,5

    6,3

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

                *Trên trục III(Tại tiết diện 32)           

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

     ;                                                                        (10.2)[I]                                                                                                                                                                                            (10.23)[I]

    nên: 

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỳ mạch động, do đó:

                                                                                           (10.23)[I]

    với      

    nên:    

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng. Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:     

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5 khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng. sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạtRa = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 45 mm, es = 0, 81, et= 0,76 xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,2

    Kt/et= 1,54/0,73 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số  

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0  Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1: 

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm)

    lt   (mm)

    bxh

    t1(mm)

    T(Nmm)

    sd (MPa)

    tc (MPa)

    70

    105

    20×12

    7,5

    983650

    55

    12,3

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

     

    PHẦN V: THIẾT KẾ GỐI ĐỠ TRỤC

    I.Chọn ổ lăn

    Cả ba trục đều không có lực dọc trục, do đó ta chọn ổ bi, đỡ chặn để làm gối đỡ trục

    a.Chọn ổ lăn

    Với trục1 : d= 45 mm số vòng quay n = 730 v/p

    Ta chọn sơ bộ theo bảng (P 2.7)[I] :

    Kí hiệu ổ

    d, mm

    D, mm

    B, mm

    R, mm

    Đườn kính bi, mm

    C, kN

    , kN

    309

    45

    100

    25

    2,5

    17,46

    37,8

    26,70

                b.Kiểm tra khả năng tải

                Kiểm tra tải trọng động :

                Tải trọng hướng tâm :ta chọn gối có lực lớn hơn để tính

    Đối với ổ bi đỡ :  

                                                                                                                (11.1)[I]

    Q- tải trọng động quy ước, kN

    L- tuổi thọ tính bằng triệu vòng quay

    Gọi  là tuổi thọ của ổ tính bằng giờ thì :                                              (11.2)[I]

    m- bậc của đường cong mỏi, m = 3

    nên ổ ta chọn đủ bền

                c.Kiểm tra tải trọng tỉnh :

                                                                                                                         (11.18)[I]

                 Vậy ổ đủ bền tỉnh

                Với trục2 :d = 40 mm, n = 270 vòng/ph

    Ta chọn sơ bộ theo bảng (P 2.7)[I] :

    Kí hiệu ổ

    d, mm

    D, mm

    B, mm

    R, mm

    Đườn kính bi, mm

    C, kN

    , kN

    308

    40

    90

    23

    2,5

    15,08

    31,9

    21,7

    Đối với ổ bi đỡ : Q =

                                                                                                                (11.1)[I]

    Q- tải trọng động quy ước, kN

    L- tuổi thọ tính bằng triệu vòng quay

    Gọi  là tuổi thọ của ổ tính bằng giờ thì :                                              (11.2)[I]

    m- bậc của đường cong mỏi, m = 3

    nên ổ ta chọn đủ bền

                d.Kiểm tra tải trọng tỉnh :

    (11.18)[I]

     Vậy ổ đủ bền tỉnh

    Với trục3 :d = 65 mm, n = 33,4vòng/ph

    Ta chọn sơ bộ theo bảng (P 2.7)[I] :

    Kí hiệu ổ

    d, mm

    D, mm

    B, mm

    R, mm

    Đườn kính bi, mm

    C, kN

    , kN

    312

    60

    130

    31

    3,5

    22,23

    64,1

        49,40

    Đối với ổ bi đỡ : Q =

                                                                                                                (11.1)[I]

    Q- tải trọng động quy ước, kN

    L- tuổi thọ tính bằng triệu vòng quay

    Gọi  là tuổi thọ của ổ tính bằng giờ thì :                                              (11.2)[I]

    m- bậc của đường cong mỏi, m = 3

    nên ổ ta chọn đủ bền

                e.Kiểm tra tải trọng tỉnh :

    (11.18)[I]

     Vậy ổ đủ bền tỉnh

                II.Các phương pháp cố định ổ trên trục và trên vỏ hộp

    1.Cố định ổ trên trục:

    Vì không có lực dọc trục lớn nên ta chọn phương pháp đệm chắn mặt đầu

    Kích thướt tra bảng 8-10, 8-12 [II]

    2.Cố định ổ trong hộp

    Đặt vòng ngoài của ổ vào giữa mặt tỳ của nắp ổ và vai lỗ trong hộp

                III. Chọn kiểu lắp và cấu tạo lắp ổ

    + Lắp ô lăn vào trục theo hệ lỗ, kiểu T2ô

    + Lắp ô lăn vào vỏ theo hệ trục, kiểu L1ô

                IV. Ống lót và nắp ổ.

    * Ống lót được chế tạo bằng gang GX15-32

    Có hai loại nắp ổ: Nắp ổ kín và nắp ổ thủng để trục nắp xuyên qua.

    Đối với nắp ổ kín lấy bề mặt có đường kính D làm chuẩn định tân theo kiểu lắp L1ô, L3ô. Kết cấu được trình trong hình vẽ.

     

    + Bề mặt tiếp xúc của nắp với đầu mút kẹp chặt cần được gia công đạt độ nhẵn ³Ñ3

    + Kích thước chổ lắp nắp tra bảng 10-10b

    – Các tâm lỗ nắp lấy cách mép lỗ một khoảng bằng (0,8¸ 1)d3; d3- đường kính vít.

    – Đường kính ngoài của mặt bích: Db = D + d=  D + 4,4d3

    – Chiều dài bích nắp ổ lấy bằng (0,7¸ 0,8) chiều dài vỏ hộp.

    – Trị số d3 và số bu lông lấy theo bảng 10-10b được M8, M10, số bu lông là 6.

    Trục I:   d3 = 8;      DIb =80 + 4,4.8 = 115,2      [mm]

    TrụcII:   d3 = 8;      DIIb =90 + 4,4.8 = 125,5     [mm]

    Trục III:            d3 = 10;   DIIIb =140+ 4,4.10 = 184    [mm]

     

                V.Cố định trục theo phương dọc trục

    Sơ đồ nguyên lý như hình vẽ:

    Trục được cố định bằng các nắp ổ, vòng trong ổ được tỳ lên vai trục, vòng ngoài được tỳ lên nắp ổ. Ta chỉ cố định một đầu còn đầu kia “tuỳ động.

                VI.Bôi trơn ổ lăn

    Bộ phận ổ lăn được bôi trơn bằng mỡ, vì vận tốc bộ truyền bé nên dầu không thể bắn toé lên trên được.

     Mỡ dùng bôi trơn chọn trong bảng 8-28[II], nhiệt độ làm việc 60¸C và số vòng quay < 1500 vg/ph chọn mỡ T

    Lượng mỡ cho vào lần đầu trong bộ phận ổ theo qui định:

    + Số vòng quay nhỏ và trung bình, mỡ lấp đầu dưới 2/3 thể tích rỗng của bộ phận ổ.

    + Vòng quay lớn: Dưới 1/3 ¸ 2/3 thể tích trên.

                VII.Che kín ổ lăn

    Để che kín các đầu trục ra, tránh sự xâm nhập của bụi, tạp chất, ngăn mỡ chảy ra ngoài ta dùng vòng phớt.

    Tra bảng 8-29 được;

    Trục I: D = 100 [mm]

    Þ d = 75 [mm];  = 76,5 [mm];  = 74 [mm]

    a = 12 [mm];b = 9 [mm];So= 15 [mm]

    Trục II: D=90

    Þ d = 70 [mm];  = 71,5 [mm];  = 69 [mm]

    a = 9 [mm];b = 6,5 [mm];So= 12 [mm

     

     

    PHẦN VI: THIẾT KẾ VỎ

    Vỏ máy được đúc bang gang xám. Những nơi cần yêu cầu về độ cứng thì làm thêm gân chịu lực.

    Các kích thướt sơ bộ dưới đây được tra trong bảng 10.9[II]

    + Chiều dày thành thân hộp (vỏ máy)

    d = 0.025.A + 3 = 0,025.240 + 3 = 9 [mm]

    lấyd = 9 [mm]

    + Chiều dày thành nắp

     = 0.02.A + 3 = 0,02.240 + 3 = 7,8[mm]

    lấy = 8,5 [mm]

    + Chiều dày mặt bích dưới của thân hộp

    b = 1,5.d = 1,5.9 = 13,5 [mm]

    + Chiều dày mặt bích trên của nắp hộp

    b1 = 1,5. = 1,5.8,5 = 12,75 [mm]

    + Chiều dày mặt đế

    phần không có phần lồi:          p = 2,35.d = 2,35.9 = 21,15[mm]

    + Chiều dày gân ở thân hộp:  m = 0,9.d = 0,9.9 = 8,1 [mm]         

    + Chiều dày gân ở nắp hộp:    m1 = 0,9.d1 = 0,9.8,5 = 7,7 [mm]

    + Đường kính bu lông nền:

    + Đường kính bu lông:

    – Ở cạnh ổ:       = 0,7. = 0,7.20,64 = 14,5[mm]

    – Ghép các mặt bích và nắp thân:       

                 = 0,5.dn =0,5.20,64 = 10,3[mm]

    – Ghép nắp ổ:   = 8 [mm]     (M8)

    – Ghép nắp cửa thăm:   = 8 [mm]     (M8x12)

    + khoảng cánh  từ mặt ngoài của vỏ đến tâm bu lông:   =14[mm]

    + Chiều rộng mặt bích k:

    k = + ;        = 12[mm]

    Þ k = 14 + 12 = 26[mm]

    + Kích thước phần lồi:             =     = 12[mm]

     = 0,2. =0,2.12 = 2,4[mm]

    + Chiều rộng mặt bích chỗ lắp ổ:         = k + 2 = 26 + 2 = 28[mm]

    + Đường kính bu lông vòng d:

    Có A1.A2 = 240. 240, tra bảng 10-11b Þ trọng lượng 400kg

    Tra bảng 10-11a Þ chọn loại M16

    Khối lượng 1 vít 0,295kg

    Số lượng bu lông nền:           

    Chọn sơ bộ L = 500[mm]; B = 420[mm]

    Tra bảng 10-13 chọn n = 6 bu lông

                *Kích thước nút tháo dầu:

    Nút tháo dầu dùng để xả dầu khi cần

    Đáy hộp được làm nghiêng một góc 1¸ về phía tháo dầu, chỗ tháo dầu được làm hơi lõm xuống.

    * Chân đế: Mặt chân đế không làm phẳng mà làm hai dẫy lồi song song.

    * Mặt thông hơi: Để thông hơi khi dầu bị nóng

    * Chốt định vị: Dùng chốt định vị hình trụ để định vị tương đối giữa nắp và thân hộp khi lắp.

    Đường kính chốt:        d = 5[mm]

    * Cửa thăm: Để quan sát các chi tiết máy trong hộp và rót dầu vào hộp thì trên nắp hộp ta làm cửa thăm (hình vẽ).

    * Bu lông vòng:Để nâng và vận chuyển hộp giảm tốc người ta dùng bu lông vòng trên nắp. Kích thước bu lông vòng chọn theo khôi lượng hộp giảm tốc.

    * Mắt dầu: kiểm tra mức dầu trong hộp giảm tốc

    * Tính toán và chọn dầu bôi trơn hộp giảm tốc:

    Mục đích của việc bôi trơn các chi tiết máy là để bảo vệ bề mặt các chi tiết máy không bị rỉ, giảm ma sát, hao mòn, thoát nhiệt, lọc bụi bẩn, giảm tiếng ồn, dao động.

    Khả năng làm việc và tuổi thọ của máy phụ thuộc nhiều vào việc chọn vật liệu bôi trơn và lót kín.

    1) Vật liệu bôi trơn

    Vật liệu bôi trơn là dầu khoáng và mỡ, khi chọn dầu cần tính đến nhiệt độ đông đặc, nhiệt độ bôi trơn.

    2) Bôi trơn bộ truyền bánh răng

    Bộ truyền bánh răng được bôi trơn bằng phương pháp ngâm dầu.

    Chiều sâu ngâm dầu ở bánh răng cấp chậm khoảng 1/3 bán kính bánh răng lớn, bánh răng nhỏ được bôi trơn nhờ bánh răng lớn vung toé lên.

    Dung lượng bôi trơn phải lấy đủ lớn để đảm bảo bôi trơn tốt.

    Nhiệt độ dầu bôi trơn <C

    Chọn loại dầu bôi trơn:          

    +Vật liệu bánh răng là thép

    +Thường hoá, vận tốc vòng  2,5¸ 5

    +Giới hạn bền kéo:     470 ¸ 1000 [N/mm2]

    Tra bảng 10-17 và 10-20 ta chọn được dầu MC-14.

    Trong hộp giảm tốc có dùng vòng chắn để ngăn cách dầu trong hộp và mỡ trong ổ.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Lu%E1%BA%ADt-b%E1%BA%A5t-th%C3%A0nh-v%C4%83n-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-nh%C3%B3m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    “Luật bất thành văn” trong việc
    quản lý hoạt động theo nhóm

    Hoạt động kinh doanh của các tập đoàn, công ty hiện nay không thể thiếu đi vai trò quan trọng của mô hình các nhóm. Với mô hình này, nhà quản lý sẽ dễ dàng đạt được tham vọng và mục đích của mình hơn. Vì vậy, bạn cần xây dựng và phát triển các nhóm trong công ty, để họ thực sự là những tập thể “bất khả chiến bại” trên thương trường. Muốn làm được điều này, cần phải chú ý đến những nguyên tắc sáng suốt sau đây.

    1. Giá trị của tập thể

    Ai trong chúng ta cũng đều có tham vọng chinh phục những mục đích to lớn, phần nhiều bị thúc đẩy bởi bản ngã, cái tôi bên trong, hoặc cũng vì chúng ta cảm thấy những điều mình đang có còn quá ít hay còn quá nhiều điều cần phải đạt được trong cuộc sống. Tuy nhiên, một người vẫn còn là quá nhỏ để đạt đến những mục đích lớn lao ấy.

    2. Tầm nhìn rộng

    Mục đích bao giờ cũng quan trọng hơn những nguyên tắc khuôn sáo. Bởi vậy, các thành viên trong nhóm phải biết kìm nén, thậm chí hạ thấp những nguyên tắc cá nhân, những kế hoạch, dự định riêng tư của mình vì tầm nhìn, mục đích và lợi ích chung của cả tập thể. Nếu người lãnh đạo nhận thức được viễn cảnh, họ phải biết cách truyền đạt viễn cảnh ấy đến các thành viên trong nhóm, đồng thời tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho mọi người và biết cách chọn đúng “người chơi” để hiện thực hóa những viễn cảnh ấy.

    3. Tìm thấy sở trường của mỗi cá nhân

    Mỗi thành viên trong nhóm đều có một sở trường, sở đoản riêng. Về cơ bản, nếu biết đặt đúng mỗi cá nhân trong nhóm vào vị trí phù hợp, giao đúng việc phát huy được thế mạnh của họ, bạn sẽ tận dụng được tối đa sức mạnh của mọi người và tạo nên sức mạnh của cả tập thể, khi đó con đường thành công của bạn sẽ mở rộng hơn. Bởi vậy nhà quản lý cần phải biết quan sát, phát hiện và đánh giá đúng năng lực, kỹ năng, thế mạnh cũng như những tiềm năng riêng của từng thành viên.

    4. Đối đầu với thách thức

    Mỗi khi phải đối mặt với những thách thức, dù là khó khăn đến mức độ nào đi chăng nữa, mỗi thành viên trong nhóm đều không được phép lùi bước. Tùy vào mức độ của mỗi khó khăn, thách thức mà bạn phải biết chọn những nhóm có phong cách riêng thích hợp. Chẳng hạn trước những thách thức hoàn toàn mới cần phải có những thành viên sáng tạo, với những khó khăn lặp lại thì phù hợp với một nhóm giàu kinh nghiệm, những biến cố khó lường trước đòi hỏi phải giao cho những con người linh hoạt và có tầm nhìn xa. Nhà quản lý phải thường xuyên cọ xát với các thành viên trong nhóm, luôn có những thay đổi phù hợp về nhân sự và cách lãnh đạo và để thích ứng với mỗi hoàn cảnh riêng.

    5. Vượt lên trên sự ganh ghét đố kị

    Một nhóm thống nhất và hoạt động có hiệu quả nhiều khi lại được kết nối bởi những “sợi chỉ” hết sức mong manh. Ví dụ như người mạnh không chịu giúp đỡ kẻ yếu, luôn tìm cách loại trừ nhau. Trong trường hợp này, năng lực lãnh đạo của nhà quản lý cần phải được xem xét lại.

    6. Những thành viên có vai trò làm “chất xúc tác” đặc biệt

    Họ là những cá nhân luôn làm được những điều ít ai nghĩ đến. Đó là những người tiên phong trong các hoạt động, để rồi chính thái độ hăng hái, niềm tin và ngọn lửa trong họ sẽ nhanh chóng lan tỏa đến các thành viên khác, thúc đẩy tính sáng tạo cũng như hâm nóng bầu không khí làm việc chung của cả nhóm.

    7. Sự suy thoái về đạo đức

    Nhà quản lý cần biết rằng nếu đạo đức bị ăn mòn, sẽ dẫn đến việc hoạt động của cả nhóm thối rữa theo. Hãy bắt đầu từ chính bản thân bạn. Liệu bạn có nghĩ rằng các thành viên trong nhóm không thể hòa thuận được với mình? Hay bạn cho rằng thành công đến từ cá nhân bạn là chính chứ không phải là của cả tập thể? Bạn có ghen tị không khi một thành viên khác trong nhóm được ngợi khen và biểu dương?…Hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi tương tự, nếu bạn trả lời “có” đối với phần lớn những câu hỏi ấy, hãy xem lại tư cách đạo đức của chính mình.

    8. Sự đánh giá khách quan giữa các cá nhân

    Các thành viên trong nhóm phải tự đánh giá lẫn nhau nhằm duy trì hoạt động bền vững, hay lớn hơn là sự sinh tồn của cả tập thể. Chẳng hạn, bản thân nhà lãnh đạo có đáng bị nghi ngờ về tính chính trực, liêm khiết? Hiệu quả hoạt động của mỗi cá nhân đã đạt được mức tốt chưa? Cống hiến của mỗi thành viên vào thành công của cả tập thể là như thế nào?

    9. Chấp nhận trả giá cho thành công

    Các thành viên trong nhóm phải nhận thức được rằng để đạt được thành công, mỗi người đều phải trả giá. Sự hy sinh những thú vui, lợi ích cá nhân, gạt bỏ tính ích kỷ, cống hiến thời gian và trí tuệ là những cái giá mà bạn phải trả.

    10. Tính đồng nhất

    Giá trị chung của cả nhóm sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và thành bại của nhóm ấy. Không những thế, những giá trị đó sẽ đi theo nhóm, được khách hàng ghi nhận, được giới truyền thông đánh giá như nét độc đáo riêng của công ty bạn. Bởi vậy, bạn cần không ngừng quan sát xem mọi người nhìn nhận hình ảnh của các nhóm trong công ty như thế nào. Nên nhớ, nguyên tắc hoạt động của mỗi nhóm không thể thiếu đi tính đồng nhất, rõ ràng trong thông tin, liên lạc. Hãy tạo nên bầu không khí dân chủ, trao đổi thông thoáng từ lãnh đạo xuống nhân viên, từ nhân viên lên lãnh đạo, và giữa các nhân viên với nhau.

    Cuối cùng, mỗi nhóm cần nhận thức được chỗ đứng của mình để có những điều chỉnh phù hợp trong hoạt động. Quy luật phát triển hợp lý vẫn là “tre già măng mọc”, một tổ chức tốt là tổ chức có tính kế thừa cao. Nhà quản lý thành công là người tìm ra nhân vật thay thế mình.

    Nhận thức được 10 nguyên tắc bất di bất dịch trên, bạn sẽ thành công nhiều hơn trong việc quản lý các nhóm trong công ty. Cho dù mục đích hay kế hoạch của công ty bạn có thay đổi thế nào đi chăng nữa, đừng quên đầu tư, chăm chút và bổ sung những giá trị mới, tích cực cho các nhóm.

     

    Luật bất thành văn nơi công sở

     

    Ngày đầu bạn đến trường, cùng với bản nội quy học sinh được phát đến tận tay và bị “ép buộc” đọc, bạn còn phải tự quan sát thêm và thích nghi với “luật lệ riêng” của từng thầy cô.

     

    Cũng vậy, khi lớn lên và đi làm, quy định cụ thể trong công ty có thể cũng chả nhiều nhặn gì, đâu đâu cũng na ná nhau, nhưng luật bất thành văn mới là thứ đáng lưu tâm nhiều nhất.

    Có thể chả đầy đủ đâu, nhưng những lưu ý sau đây có thể tiết kiệm cho bạn thời gian để quan sát (và cả hứng chịu rắc rối) trước khi nhận ra những quy tắc ngầm của nơi làm việc:

    Điện thoại di động:

     

    Tránh nghe hay gọi điện thoại cá nhân ngay tại bàn làm việc, cho dù nội dung điện thoại liên quan đến công việc vì có thể tiếng nói chuyện rì rầm của bạn làm phiền đến người kế bên. Hơn nữa, công sở là nơi tai vách mạch rừng, những gì thuộc về bạn thì nên giữ bí mật.

    Khi vào phòng họp, hãy tắt điện thoại, đừng mở nó cho dù bạn để ở chế độ rung chăng nữa. Vì khi cuộc gọi và tin nhắn xuất hiện, bạn sẽ khó cưỡng ý định nhấc chiếc điện thoại lên, hoặc chí ít cũng cố nhìn xem tin nhắn và cuộc gọi đến từ ai. Điều này không chỉ bất lịch sự mà còn khiến sếp cảm thấy bạn hay lo ra, không tập trung vào công việc.

     

    Đừng nghe điện thoại trong toilet, thứ nhất âm lượng của bạn trong toilet sẽ to hơn ở ngoài rất nhiều, và khả năng là cuộc đối thoại của bạn sẽ oang oang ra ngoài gây khó chịu cho người khác. Thứ hai, bạn cũng chả biết được ai đang ở buồng kế bên.

     

    Sử dụng Internet:

     

    Nếu chỗ làm của bạn cấm dùng Facebook thì không có gì phải bàn, nhưng nếu chính sách Internet của công ty thoải mái hơn thì bạn cũng đừng nên đi quá giới hạn. Bạn có thể lướt net một chút nếu cần thư giãn đầu óc, nhưng xong một vài phút bạn phải tắt ngay, nếu để ẩn dưới thanh công cụ, sếp hoặc đồng nghiệp đi ngang có thể nhìn thấy bạn đang mở cái gì, tất nhiên sẽ không hay cho bạn., và chính bạn cũng khó cưỡng lại sự cám dỗ cứ vài phút lại bật chúng lên một lần.

     

    Tế nhị khi ở bàn làm việc:

     

    Ví dụ như công việc của bạn thiên về sáng tạo, bạn có thể vừa đeo headphone nghe nhạc vừa làm việc mà chẳng có vấn đề gì, nhưng bạn sẽ gây bực mình cho người xung quanh nếu cứ hát ri rí theo bản nhạc hoặc huýt sao, gục gặc đầu…Những hành động nhỏ của bạn có thể khiến người khác ngứa mắt mặc cho có liên quan đến họ hay không. Vì thế khi ngồi trong phòng làm việc, bạn phải tinh ý quan sát không khí chung vài thái độ của mọi người để “nhập gia tùy tục”.

     

    Vấn đề liên quan đến con người là chuyện rắc rối nhất nơi công sở, và thật không may là mọi người lại thường không thẳng thắn với nhau. Vì vậy việc đầu tiên ngay khi bước vào một công ty là tìm hiểu luật lệ ngầm nơi đó, chấp nhận hay không tùy mỗi người, nhưng thực tế tương lai của bạn tại công ty có thể đặt nền tảng trên những thứ rất nhỏ nhặt.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế

    Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế

    Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%81-ki%E1%BB%83m-tra-m%C3%B4n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-v%E1%BB%81-kinh-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế

    BÀI KIỂM TRA

    MÔN : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    Đề bài : Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?

    Bài làm

    1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.

    Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.

    Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).

    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp :
    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

    Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

    Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :

    • Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.
    • Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế

    giới.

    • Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.
    • Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.
    1. Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước. Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.

    1. Các phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế :

    Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân ( tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế …).

     

    Qúa trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc đã định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế.

    Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đó là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế. Phương pháp quản lý kinh tế thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

    3.1 Các phương pháp hành chính :

    Các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết đinhj dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định.

    Phương pháp này có hai đặc điểm cơ bản là :

    • Tính bắt buộc : các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tacs động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.
    • Tính quyền lực : các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình.

    Vai trò của các phương pháp hành chính là xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

    Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nằm vững những yêu cầu chặt chẽ sau :

    • Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.
    • Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

    3.2. Các phương pháp kinh tế :

    Là phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động. Các phương pháp kinh tế chính là các phương pháp tác động của Nhà nước thông qua sụ vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế – kỹ thuật; tức là về thực chất các phương pháp kinh tế là một biện pháp để sử dụng các quy luật kinh tế.

    Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ.

    Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được Nhà nước định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh tế từng thời kỳ của đát nước. Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ gò ép, mệnh lệnh chủ quan mà là những mục tiêu, nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động. Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp kinh tế theo những hướng sau :

    • Định hướng phát triển chung bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống, bằng những chỉ tiêu cụ thể cho từng thời gian, từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống.
    • Sử dụng các định mức kinh tế ( mức thuế, mức lãi suất ngân hàng v.v…), các biện pháp đòn bẩy, kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất theo hướng vừa lợi nhà, vừa ích nước.
    • Bằng chính sách ưu đãi kinh tế để điều chỉnh hoạt động kinh tế trong cả nước và thu hút được tiềm năng của Việt kiều cũng như các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

    Xu hướng chung ngày nay của các quốc gia là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế. Để thực hiện hiệu quả phương pháp này cần chú ý đến :

    • Hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan hệ thị trường.
    • Thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho các cấp dưới.
    • Các cán bộ quản lý phải là những người có trình độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vì sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải hiểu biết và thông

    thạo nhiều loại kiến thức và kinh nghiệm quản lý đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng.

    3.3. Phương pháp giáo dục :

    Phương pháp giáo dục trong quản lý Nhà nước về kinh tế là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng quản lý Nhà nước về kinh tế, nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    Phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế vì đối tượng của quản lý là con người – một thực thể năng động và là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội. Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý.

    Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phân biệt phải – trái, đúng – sai, lợi – hại, đẹp – xấu, thiện – ác, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với doanh nghiệp.

    Phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, có tác đông giáo dục rộng rãi trong xã hội.

    Nội dung của phương pháp giáo dục bao gồm :

    • Giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để mọi người dân đều hiểu, đều ủng hộ và đều quyết tâm xây dựng đất nước, có ý chí làm giàu.
    • Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, có năng suất, có hiệu quả, có tổ chức.
    • Xoá bỏ tâm lý và phong cách của người sản xuất nhỏ mà biểu hiện là chủ nghĩa cá nhân, thu vén nhỏ mọn, tâm lý ích kỷ gia đình, đầu óc thiển cận, hẹp hòi, tư tưởng địa phương, cục bộ, bản vị, phường hội, bình quân chủ nghĩa, không chịu để ai hơn mình, ghen ghét, đố kị nhau, tác phong làm việc luộm thuộm, tuỳ tiện, cửa quyền, không biết tiết kiệm thời giờ, thích hội họp.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến, thói đạo đức giả, nói một đằng làm một nẻo, thích đặc quyền đặc lợi, thích hưởng thụ, kìm hãm thanh niên, coi thường phụ nữ.
    • Xoá bỏ tàn dư tư tưởng tư sản, với các biểu hiện xấu như chủ nghĩa thực dụng vô đạo đức, chủ nghĩa tự do vô Chính phủ “cá lớn nuốt cá bé”.
    • Xây dựng tác phong đại công nghiệp; tính hiệu quả, hiện thực, tính tổ chức, tính kỷ luật, đảm nhận trách nhiệm, khẩn trương, tiết kiệm.

    Các hình thức giáo dục bao gồm : sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng ( sách, báo, đài phát thanh, truyền hình…), sử dụng các đoàn thể, các hoạt động có tính xã hội. Tiến hành giáo dục cá biệt, sử dụng các hội nghị tổng kết, hội thi tay nghề, hội chợ triển lãm v.v… sử dụng các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả v.v…

    Như vậy việc sử dụng các phương pháp quản lý kinh tế vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Tính khoa học đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, phù hợp với đối tượng. Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra. Quản lý kinh tế có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý. Đó chính là tài nghệ thuật quản lý, của Nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

    1. Sự giống nhau và khác nhau của các phương pháp quản lý Nhà nước về kinh tế trong các chế độ xã hội khác nhau :

    Về bản chất, quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa vì một nhóm nhỏ những người giầu, những người này nắm quyền lực kinh tế, đồng thời nắm quyền lực chính trị – Nhà nước của giai cấp tư sản. Quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa vì đại bộ phận người dân lao động vì xoá đói giảm nghèo, vì mục tiêu phát triển – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên, Nhà nước xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu và chính quyền nằm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà nước đó sẽ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người bằng bất kỳ cách quản lý nào của mình.

    Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính thị trường thuần tuý :

    Trong nền kinh tế, các nguồn lực sản xuất cũng như các hàng hoá và dịch vụ kinh tế được phân bố cho các hoạt động và các mục đích sử dụng khác nhau thông qua cái mà người ta gọi là “cơ chế thị trường”. Việc quyết định xem sản xuất và tiêu thụ cái gì bao nhiêu đều được các đơn vị kinh tế cá thể đưa ra. Những đơn vị kinh tế đưa ra quyết định dựa trên các giải pháp mà họ có trong đó có yếu tố giá thị trường của các loại hàng hoá, dịch vụ và nguồn lực mà họ phải chấp nhận, không được tác động đến. Mô hình kinh tế này nhấn mạnh đến cạnh tranh hoàn hảo và bàn tay vô hình. Vai trò quản lý của Nhà nước không được nhấn mạnh, Nhà nước sử dụng các phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh

    tế song chủ yếu phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản chi phối, không chú trọng tới những vấn đề xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường phát triển :

    Chính phủ ngày càng nắm nhiều quyền kiểm soát hơn đối với toàn bộ hoạt động kinh tế, không chỉ thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tài khoá và tiền tệ mà còn thông qua việc :

    • Tham gia trực tiếp ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế dưới hình thức các ngành công nghiệp được quốc hữu hóa, các doanh nghiệp Nhà nước và các chương trình đầu tư công cộng.
    • Kế hoạch hoá kinh tế, điều tiết hoạt động của các công ty tư nhân, đánh thuế các nhà tư doanh và các doanh nghiệp.
    • Tiến hành và điều tiết các hoạt động ngoại thương…

    Trên nhiều phương diện, “bàn tay vô hình ” của cơ chế thị trường đã được thay bởi “bàn tay hữu hinh” chỉ đạo của Chính phủ trung ương như một lực lượng kinh tế chủ yếu trong những xã hội tư bản chủ nghĩa này. Nhà nước sử dụng cả phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế để quản lý nền kinh tế.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa “mệnh lệnh”

    Đây là nền kinh tế không chỉ dựa trên chế độ sở hữu công cộng đối với toàn bộ các nguồn lực của sanr xuất mà còn dựa trên việc thay thế hoàn toàn cơ chế giá thị trường bằng việc kế hoạch hoá tập trung toàn bộ các hoạt động kinh tế. Tất cả các loại giá cả đều do Nhà nước quyết định. Các kế hoạch tổng thể cho toàn quốc cũng như cho từng vùng được Nhà nước tạo lập ra hàng năm. Nhu cầu và khả năng sẵn có về nguồn lực được cân đối bởi những quyết định phân bổ của Trung ương chứ không phải bởi những tín hiệu của giá cả trong hệ thống thị trường. Trong nền kinh tế này, Nhà nước chỉ sử dụng phương pháp quản lý hành chính và còn rất nhiều hạn chế làm cho nền kinh tế bị kìm hãm không phát triển được.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng “thị trường” :

    Các hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường cố gắng hội tụ những tinh hoa của cả hai chế độ : tính đơn giản của cơ chế giá tự động và hiệu quả của chủ nghĩa tư bản thị trường cùng với chủ nghĩa bình quân của hình thức xã hội chủ nghĩa đối với các tư liệu sản xuất và phân phối. Công tác kế hoạch hoá của

    Trung ương đóng vai trò kiểm soát trực tiếp. Nhà nước sử dụng kết hợp cả các phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính.

    Trong nền kinh tế hỗn hợp giữa thị trường và kế hoạch hoá :

    • đây, những mức độ khác nhau về sở hữu tư nhân đối với các nguồn lực tồn tại song song với quy mô đáng kể của sở hữu Nhà nước và sự tham gia của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Có sự tồn tại song song của hình thức phân bổ nguồn lực và sản phẩm bởi thị trường và giá cả do Nhà nước quy định, cùng với hình thức kế hoạch hoá tập trung và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của nền kinh tế bởi Nhà nước.

    Nền kinh tế Việt nam là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp dựa trên chế độ công hữu tư liệu sản xuất với hai hình thức Nhà nước và tập thể là chủ yếu, đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt các biện pháp cải cách chính sách kinh tế vĩ mô đã được thực hiện, tạo lập được đồng bộ các yếu tố thị trường, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tài chính, tiền tệ và giá cả. Nhà nước tham gia vào quá trình quản lý kinh tế với tư cách là nhà quản lý vĩ mô, Nhà nước điều tiết các hoạt động thị trường, giữ cho nền kinh tế phát triển ổn định đi theo đúng định hướng do Đảng, Nhà nước đã vạch ra. Nhà nước sử dụng tổng hợp các phương pháp đã nêu ở trên để quản lý nền kinh tế quốc gia, trong đó phương pháp kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất ( khác hẳn với trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì phương pháp hành chính được sử dụng chủ yếu ). Nhờ vậy trong những năm qua nền kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc, theo đúng định hướng XHCN.

    Trong những năm tới đây, để nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước,chúng ta cần tiếp tục thực hiện đổi mới, sắp xếp và kiện toàn bộ máy Nhà nước và đặc biệt là củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Có như vậy Nhà nước mới đủ thực lực và sức mạnh kinh tế và quản lý để thực hiện tốt vai trò là bà đỡ cho nền kinh tế phát triển, thực hiện tốt chức năng người quản lý vĩ mô nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kỹ năng quản lý thời gian


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%90%E1%BB%A9c-Tr%E1%BB%8B-c%E1%BB%A7a-Kh%E1%BB%95ng-T%E1%BB%AD-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Kinh tế là một thế giới động luôn phát triển và không ngừng thay đổi, nhất là vào thời đại ngày nay khi chạm ngõ thế kỷ XXI, trên thế giới chu trình toàn cầu hoá là tất yếu khách quan của tăng trưởng, nó tạo ra những khó khăn và thách thức mới cho các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Việc quản lý tốt hay không, luôn là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn vong của một doanh nghiệp. Nhưng để quản lý tốt cần phải có những yếu tố nào? yếu tố kinh doanh hiện đại hay yếu tố quản lý truyền thống. Quá trình phát triển các học thuyết quản lý trải qua hàng nghìn năm những gì tích luỹ của quá khứ là của cải cho tương lai. Đặc biệt với phong thái quản lý phương Đông – một phong thái gần gũi với Việt Nam vẫn đứng trong kinh doanh thời đại “viễn thông – tên lửa”. Nổi bật nhất là chính sách, vị đức, trung dung trong Đức trị – Khổng Tử. Người viết quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay” nhằm mục đích giải thích, giới thiệu tìm hiểu liệu trong giai đoạn này nó còn đúng đắn hay không hay đã lỗi thời.

    Những khó khăn chồng chất do tư liệu ít, ít người đề cập hay quan tâm đến vấn đề này. Đề tài quá rộng người viết không đủ khả năng khái quát hoặc đưa ra nhận xét hợp lý khi kinh nghiệm thực tiễn không nhiều. Mặt khác do thời gian gấp rút đã làm cho người viết lúng túng khi trong nhận định phân giải. Vượt qua khó khăn, người viết quyết tâm theo đuổi đề tài này, những mong có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu.

    Xin chân thành cảm ơn.

     

    CHƯƠNG I

    TƯ TƯỞNG “ĐỨC TRỊ” CỦA KHỔNG TỬ

     

    I. Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử

    1. Khổng Tử – Nhà quản lý xuất sắc

    Khổng Tử là một nhân vật lớn có ảnh hưởng tới diện mạo và sự phát triển của một số dân tộc. Ở tổ quốc ông, Khổng học có lúc bị đánh giá là hệ tư tưởng bảo thủ của (những người chịu trách nhiệm rất nhiều về sự trì trệ về mặt xã hội của Trung Quốc”. Ở những nước khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor… Khổng Giáo lại được xem xét như một nền tảng văn hoá tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá các quốc gia theo mô hình xã hội “ổn định, kỷ cương và phát triển”.

    Sự đánh giá về Khổng Tử rất khác nhau, trước hết là vì những mập mờ của lịch sử. Ông sống cách chúng ta hơn 2 nghìn năm trăm năm và sau ông có rất nhiều học trò, môn phái phát triển hệ tư tưởng nho giáo theo nhiều hướng khác nhau. Có khi trái ngược với tư tưởng của thầy. Ở Trung Quốc vai trò của ông đã nhiều lần thăng giáng theo quan điểm và xu hướng chính trị, song đến nay, ông vẫn lại được đánh giá cao, UNESCO đã thừa nhận ông là một “danh nhân văn hoá thế giới”.

    Việc tách riêng từng khía cạnh trong cái tài năng đa dạng và thống nhất của ông đã tìm ra một Khổng Tử là nhà tư tưởng lớn về Triết học, chính trị học, đạo đức học và giáo dục học. Trong các lĩnh vực đó thật khó xác định đâu là đóng góp lớn nhất của ông. Có thể nhận định rằng, tầm vóc của Khổng Tử lớn hơn khía cạnh đó cộng lại, và sẽ là khiếm khuyết nếu không nghiên cứu ông như một nhà quản lý.

    Nếu thống nhất với quan niệm nhà quản lý là nhà lãnh đạo của một tổ chức, là người “thực hiện công việc của mình thông qua những người khác thì Khổng Tử đúng là người như vậy.

    2. Khổng Tử  – nhà tư tưởng quản lý của thuyết Đức trị

    Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề “bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên.

    Khác với Trang Tử coi đời như mộng, kiếp người phù du chỉ cốt “toàn sinh” cho bản thân, Khổng Tử là một người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt nhất. Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”.

    Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”.

    Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai giai cấp bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình mẫu xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia.

    Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xaay dựng một xã hội nhân bản.

    2.1. Đạo nhân về quản lý

    Với vũ trụ quan “thiên, địa, nhân – vạn vật nhất thể”, trời và người tương hợp, Khổng Tử nhận thấy các sự vật của vạn vật tuân theo một quy luật khách quan mà ông gọi là trời “mệnh trời”. Con người theo Nho học “là cái đức của trời, sự giao hợp âm dương, sự hội tụ của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”. Con người sinh ra đều có bản chất Người (đức – nhân) nhưng do trời phú khác nhau về năng lực, tài năng và hoàn cảnh sống (môi trường) khác nhau cho nên đã trở thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện bản chất người của mình – trở thành người Nhân. Và những người hiền này có xứ mệnh giáo hoá xã hội, thực hiện nhân hoá mọi tầng lớp. Nhờ vậy, xã hội trở nên có nhân nghĩa và thịnh trị. Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử cũng là một học thuyết quản lý xã hội nhằm phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người, lãnh đạo – cai trị họ theo nguyên tắc đức trị: người trên noi gương, kẻ dưới tự giác tuân theo.

    – Về đạo Nhân:

    “Nhân là yêu người” (Nhân là ái nhân). Nhân là giúp đỡ người khác thành công “Người thân, mình muốn thành công thì cũng giúp người khác thành công, đó là phương pháp thực hành của người nhân”. Nhưng Khổng Tử không nói đến tính nhân chung chung ông coi nó như đức tính cơ bản của nhà quản lý. Nói cách khác, người có nhân luôn tìm mọi cách đủ thu lợi về mình, nhân là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý (trong quan hệ nhà quản lý với đối tượng bị quản lý) vưà là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý. Khổng Tử nâng tư tưởng nhân lên thành đạo (nguyên tắc sống chung cho xã hội) vì là một nhà tư tưởng quản lý sâu sắc, ông thấy đó là nguyên tắc chung gắn kết giữa chủ thể và khách thể quản lý đạt hiệu quả xã hội cao: “người quân tử học đạo thì yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến” (Dương hoá).

    – Nhân và lễ:

    Nhân có thể đạt được qua Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức giả dối: “Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm chi”.

    – Nhân và Nghĩa:

    Đúng lễ cũng là làm đúng nghĩa rồi. Nhân gắn liền với Nghĩa vì theo Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì phải làm, không mưu tính lợi của cá nhân mình. “Cách xử sự của người quân tử, không nhất định phải như vậy mới được, không nhất định như kia là được, cứ hợp nghĩa thì làm”, làm hết mình không thành thì thôi.

    Tư tưởng nhân ái của Khổng Tử có thể so sánh với tình bác ái của chúa Giê su và Đức phật. Nhưng ông khác 2 vị kia ở chỗ, trong tình cảm, có sự phân biệt tuỳ theo các mối quan hệ: trước hết là ruột thịt, sau đến thân, quen và xa hơn là người ngoài.

    – Nhân và Trí

    Trí trước hết là “biết người”. Có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình: “Trí giả lợi Nhân”. Rõ ràng là người Nhân không phải là người ngu, không được để cho kẻ xấu lạm dụng lòng tốt của mình. Trí có lợi cho Nhân, cho nên khi Khổng Tử nói đến người Nhân – quân tử, bao giờ cũng chú trọng tới khả năng hiểu người, dùng người của họ. Phải sáng suốt mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét.

    – Nhân và Dũng

    Dũng là tính kiên cường, quả cảm, dám hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn. Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tê, thà chết đói chứ không thèm cộng tác với kẻ bất nhân, là người Nhân. Khổng Tử rất ghét những kẻ hữu Dũng bất Nhân, vì họ là nguyên nhân của loạn.

    Đạo của Khổng Tử không quá xa cách với đời. Nhân – Trí – Dũng là những phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn của các nhà quản lý- cai trị. Tư tưởng đó của Khổng Tử được Hồ Chsi Minh kế thừa có chọn lọc và nó vẫn còn ảnh hưởng đối với sụ phát triển của xã hội hiện nay. Khổng Tử cũng mong phú quý, nhưng ông chỉ thừa nhận nó trở thành ích lợi cho xã hội khi nó “không trái với đạo lý” và phải đạt được bằng những phương tiện thích đáng. Khổng Tử khuyên các nhà cai trị không nên chỉ dựa vào lợi để ra quyết định quản lý: “nương tựa vào điều lợi mà làm hay là sinh ra nhiều điều oán” (Lý nhân, IV). Ông biết họ có nhiều ưu thế để tranh lợi với cấp dưới và những người lao động luôn phải chịu mức sống thấp hơn, cho nên, điều quan trọng đối với nhà quản lý là phải nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người và lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chỉ như vậy xã hội mới có cái lợi dài lâu là môi trường chính trị – xã hội ổn định, các giai cấp hợp tác cùng làm ăn vì mục tiêu chung: kinh tế thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp.

    Khổng Tử khuyên các nhà quản lý phải “khắc phục được tư dục”, không nên cầu lộc cho cá nhân mình, cứ chuyên tâm làm tốt công việc thì “bổng lộc tự khắc đến”. Làm cho dân giàu là mục tiêu đầu tiên, cơ bản của nhà quản lý”: đối với những người nông dân nghèo khổ đương thời, Khổng Tử biết lợi ích kinh tế là nhu cầu thiết yếu của họ, nên ông biết đạo Nhân sẽ khó thực hiện được khi quần chúng còn nghèo khổ: “Nghèo mà không oán là khó, giàu mà không kiêu là dễ” (Hiếu Vấn). Khổng Tử sang nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe, Khổng Tử nói: “Dân đông thay”, Nhiễm Hữu hỏi: “Đã đông rồi làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “ Làm cho dân giàu”, Nhiễm Hữu hỏi: “ Đã giàu rồi, lại làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử  nói: “Giáo dục họ”.

    Tư tưởng “làm cho dân giàu”, “tiên phú, hậu giáo” là tư tưởng duy vật của Khổng Tử, được các học giả của Nho gia và Mắc gia sau này phát triển thêm. Nhưng những giá trị tư tưởng của Khổng Tử để lại cho hậu thế đã không bị mai một theo thời gian. Ngày nay, hệ thống học thuyết của Khổng Tử đã trở nên lạc hậu, trước hết là phần nội dung liên quan tới vấn đề thế giới quan, song nhiều triết lý của ông về đạo đức – đạo lý, giáo dục, cai trị – quản lý con người và xã hội… vẫn là những nguyên tắc và triết học chỉ đạo một số hoạt động. Ví dụ như:

    Khổng Tử nhấn mạnh tới quá trình tự tu dưỡng trong hoạt động quản lý: “tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” (Đại học).

    Người Nhân thì phải hết lòng vì người, biết từ bụng ta suy ra bụng người: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Luận ngữ).

    Trong hoạt động kinh tế, không chỉ căn cứ vào lợi nhuận đơn thuần “Giàu sang là điều ai cũng muốn, nhưng nếu được giàu sang mà trái với đạo lý thì người quân tử không thèm”. Cứ làm việc tốt, phục vụ người tốt thì “bổng lộc tự khắc đến”.

    Ở đây có một điểm cần nói rõ hơn: “Chính” mà Khổng Tử nói ở đây là chính trị, chính sự. Và chính trị là chỉ mọi biện pháp được thi hành để quản lý đất nước, làm cho chính sự được quản lý chặt chẽ; chính sự là chỉ việc làm hành chính. Khổng Tử chủ trương tham gia chính trị nuôi dưỡng nhân tài “Tòng chính” có nghĩa là chấp chính. Lúc bấy giờ, chưa thể có quản lý xí nghiệp cũng như khái niệm về quản lý xí nghiệp. Thời bấy giờ, việc quản lý quốc gia là việc mọi người quan tâm nhất, đó cũng là chính sự. Do đó, Khổng Tử quan tâm đến “Chính”. Quan tâm và nghiên cứu việc quản lý quốc gia là rất tự nhiên. Nhưng quản lý quốc gia là quản lý! Còn về điểm quản lý con người, nó cũng có nét chung như bất cứ việc quản lý nào. Do đấy, tư tưởng quản lý của Khổng Tử có ý nghĩa phổ biến.

    Quản lý học phương Tây truyền thống cho rằng quản lý là quản lý, luân lý đạo đức là luân lý đạo đức, hai phạm trù đó không có liên quan với nhau. Nhưng quản lý là cái gì? Suy cho cùng, quản lý là quản lý con người. Trong quản lý, đối với con người thì quản lý là cái gì? Quản lý mọi quan hệ giữa người với người. Còn luân lý đạo đức, là quy phạm chuẩn mực hành vi giữa con người với con người. Do đấy giữa luân lý đạo đức và quản lý là có quan hệ mật thiết.

    Quản lý có nghĩa là xử lý tốt mọi quan hệ giữa con người với nhau. Ví dụ trong quản lý xí nghiệp là cần xử lý tốt hai quan hệ lớn của con người với nội bộ xí nghiệp bên ngoài. Quan hệ giữa xí nghiệp với bên ngoài là: Quan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, giữa xí nghiệp với tiền tệ, tiêu thụ, cung ứng… Do đấy cũng tự nhiên rút ra kết luận là Khổng Tử không có tư tưởng quản lý. Nhưng qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhận thức ấy là phiến diện.

    So với cách quản lý truyền thống của phương Tây và pháp gia cổ đại của Trung Quốc, cách quản lý của Khổng Tử đi một con đường khác. Ông nhấn mạnh đức trị, nhấn mạnh lấy luân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân. Đương nhiên ở thời Khổng Tử, nội dung của luân lý khác với ngày nay. Trong khi Khổng Tử nhấn mạnh nghiên cứu “vị chính” quản lý, thì nội dung luân lý và nội dung quản lý có sự khác biệt. Nhưng đó chỉ là sự cá biệt của vấn đề, không thể thay đổi được kết luận chung về mối quan hệ khăng khít giữa quản lý và luân lý đạo đức. Quản lý là thể thống nhất hữu cơ của tư tưởng quản lý và thuận quản lý. Tư tưởng quản lý là cái bản chất, thuật quản lý chỉ là cái phát sinh mà thôi. Nhân tố cơ bản quyết định tính chất quản lý và thành bại của nó là tư tưởng quản lý chứ không phải là thuật quản lý. Từ ý nghĩa ấy, lấy “thuật” để thay thế quản lý phiến diện. Cũng vì lý do ấy, quyết không nêu vì Khổng học không có “thuật” mà phủ định Khổng Tử từng bàn đến quản lý, phủ định tư tưởng quản lý của Khổng Tử.

    Vậy, tư tưởng học thuyết lễ trị (Vị Đức) của Khổng Tử là: Làm gì muốn thành công cũng phải có chính danh (lẽ phải), phải biết chọn người hiền tài giúp việc, phải thu phục lòng người, phải đúng đạo và phải tiết kiệm. Các ông cho rằng con người phải chia thành 2 loại: quân tử thì có nghĩa, còn tiểu nhân thì chỉ chăm lo điều lợi.

    2.2. Khổng Tử với tầng lớp quản lý chuyên nghiệp

    Đạo nhân của Khổng Tử là nền tảng của học thuyết quản lý đức trị, kỷ cương và phát triển thịnh vượng. Trong một xã hội sản xuất thô sơ, có sự đối chọi về lợi ích và tương phản rõ rệt giữa người giàu và kẻ nghèo thì rất khó thực hiện điều nhân cho toàn xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử đã được các vua chúa sau này học tập, xây dựng một hệ thống tuyển lựa nhân tài cho quốc gia. Căn cứ vào kết quả các kỳ thi, những người đỗ đạt, dù xuất thân từ giai cấp nào, đều được đề bạt các chức vụ quản lý, từ thấp đến cao. Chế độ tuyển chọn nhân tài này đã tạo ra một đẳng cấp các nhà quản lý ở nhiều nước phương Đông kiểu Khổng giáo.

    Thuyết chính danh của Khổng Tử đòi hỏi đặt tên đúng sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó, khiến danh đúng với thực chất sự vật. Trong quản lý, chính danh là phải làm việc xứng đáng với danh hiệu chức vụ mà người đó được giao. Muốn chính danh thì thân phải chính (có nhân), không chấp nhận thói xảo trá, lừa lọc hoặc việc lạm dụng chức quyền. Đã mang cái danh là vua phải làm tròn trách nhiệm của một vị vua, không sẽ mất cả danh và ngôi. Khổng Tử có tư tưởng khi việc làm vượt quá trách nhiệm và danh vị, Khổng Tử gọi là “Việt vị”. Khổng Tử cho rằng mầm mống của loạn lạc, bất ổn của quốc gia là các hành vi “việt vị”, “tiếm lễ” của tầng lớp cai trị.

    Ngày nay, nhìn lại, chúng ta thấy tư tưởng quản lý của Khổng Tử có nhiều điểm bảo thủ, thiếu dân chủ và ảo tưởng. Nhưng ở thời ông, luật pháp còn rất sơ sài, quyền lực thực sự được quyết định bởi ý chí và hành vi của vua và tầng lớp cai trị, người dân còn đói nghèo, dốt nát, không có quyền tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh như vậy, Khổng Tử muốn xây dựng xã hội lý tưởng bằng cách bắt đầu “từ trên xuống dưới”, ông phải kêu gọi lòng khoan dung, sự gương mẫu của các nhà quản lý.

     

    CHƯƠNG II

    VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI

    I. Vận dụng trong thực tiễn

    Trong thực tiễn cải cách quản lý doanh nghiệp liên quan đến hai đặc tính lớn là tính dân tộc và tính thời đại của quản lý, về khách quan cũng tồn tại hai thái độ cực đoan đối với hai đặc tính lớn này. Đó chính là: Hoặc là chủ nghĩa bảo thủ dân tộc chỉ nhấn mạnh tính dân tộc của quản lý mà coi nhẹ tính thời đaị, hoặc chủ nghĩa hư vô dân tộc chỉ nhấn mạnh tính thời đại của quản lý mà coi nhẹ tính dân tộc. Hai thái độ này, về nhận thức để phiến diện, trong thực tiễn đều là có hại. Noi gương kinh nghiệm của Nhật Bản, trong hai thái độ cực đoan này cũng nên tìm được “Trung đạo” và kiên trì “trung dung”. Đó chính là một mặt biểu hiện khác của đạo trung dung trong quản lý doanh nghiệp. “Trung đạo” này đòi hỏi sự thống nhất hoàn mỹ giữa tính dân tộc và tính thời đại hoá quản lý doanh nghiệp, thực hiện việc hiện đại hoá quản lý doanh nghiệp có bản sắc dân tộc, cũng tức là quản lý doanh nghiệp có đặc sắc của Trung Quốc.

    Từ góc độ quản lý hiện đại, tiến hành phân tích, giám định toàn diện một lượt đối với quản lý truyền thống của Trung Quốc, cũng chính là xem xét một cách hệ thống “hiện thực” quản lý doanh nghiệp. Đối với những tư tưởng, lý luận, chế độ, phương pháp quản lý doanh nghiệp được chứng minh qua thực tiễn lâu dài, đã có đặc điểm văn hoá dân tộc, lại phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, phải tiến hành khẳng định, kế thừa và phát triển một cách đầy đủ. Đối với những cái có đặc điểm văn hoá dân tộc, nhưng không hoàn toàn phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, nên căn cứ  yêu cầu của quản lý hiện đại. Dưới tiền đề giữ gìn đặc tính cơ bản dân tộc, tiến hành cải tạo, loại bỏ, làm cho nó phù hợp với đòi hỏi của quản lý hiện đại. Chẳng hạn thực tiễn công tác giáo dục tư tưởng tiến hành mấy chục năm lại đây trong các xí nghiệp của Trung Quốc đại lục đã phù hợp với quan niệm nghĩa lợi trong truyền thống văn hoá dân tộc, lại nhất trí ở trình độ tương đối lớn với quản lý mềm, quản lý của thế giới ngày nay rất chú trọng đối với các doanh nghiệp.

    Về thực tiễn, quản lý đã có từ lâu. Nhưng quản lý trở thành một khoa học thì khởi đầu phải nói là phương Tây. Ở thế kỷ này, nhất là trước thập kỷ 70, quản lý học phát triển nhanh chóng, các học phái mọc ra như nấm, một cảnh tượng phát triển rực rỡ. Cần phải nói rằng, về mặt khoa học hoá, định lượng hoá về quản lý thì quản lý phương Tây có công đầu.

    Tóm lại: Quản lý doanh nghiệp kiểu Trung Quốc và Nhật Bản cần phải có nét khái quát lớn. Song nó không phải là trạng thái tĩnh, mà là trạng thái động. Nó dứt khoát không phải là một loại mô thức cứng nhắc cố định, hình thức cụ thể của nó phải tuỳ từng nơi mà chế định biện pháp thích hợp, tuỳ lúc mà chế định biện pháp thích hợp, từ đó mà là cái trăm ngàn dáng vẻ, phong phú, đa dạng.

    II. Những điểm lợi và hại của “Đức trị”

    Đường lối đức trị trong quản lý, chủ yếu là dựa vào xây dựng quan niệm giá trị chung của mọi người, dựa vào quyền lực phi chính thức của bản thân người lãnh đạo như phẩm chất đạo đức, tài năng, tình cảm…, dẫn dắt mọi người hoàn thiện cuộc sống tinh thần và tu dưỡng đạo đức, trên cơ sở đó, thực hiện khống chế bên trong của hành vi, khiến cho hành vi của mọi người tự giác đảm bảo nhất trí với mục tiêu tổ chức.

    Cái lợi và cái hại của quản lý đức trị, hầu như ngược lại với quản lý pháp trị, ưu điểm, khuyết điểm trái ngược nhau. Pháp trị dựa vào sức răn đe, luôn luôn có hiệu quả ngay. Đức trị dựa vào giáo hoá, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề. Như vậy, hiệu quả sẽ nhìn thấy chậm. Nhất là hình thành đạo đức nếp sống lí tưởng, xây dựng quan niệm giá trị chung thì mất thời gian, quyết không thể một sớm một chiều. Do vậy, dùng nó để ngăn cấm ác, giảm lan truyền thì tỏ ra lực bất tòng tâm. Nhất là trong khi quản lý xuất hiện hỗn loạn, đòi hỏi dẹp loạn để xây dựng lại trật tự, làm cho quản lý nhanh chóng từ không nền nếp chuyển biến thành có nền nếp thì đức trị tỏ ra mềm yếu đuối sức. Nhưng sau khi một loại tư tưởng, một loại quan niệm giá trị được mọi người tiếp nhận, thì thời gian phát huy tác dụng của nó tương đối dài, thậm chí là rất sâu xa. Điểm này quản lý pháp trị không sao bì kịp. Do vậy, có thể nói pháp trị theo đổi là hiệu quả thời gian ngắn, đức trị theo đổi là hiệu quả thời gian dài. Pháp trị là quản lý tính chiến thuật, đức trị là quản lý tính chiến lược.

    Còn chức năng đức trị ở chỗ “khuyên thiện”. Nó không phải là giảm lưu truyền, ngăn chặn “ác” một cách tiêu cực mà là tích cực tiêu diệt tận gốc cái “ác”, thực hiện “chặt đứt gốc rễ”, giải quyết vấn đề từ căn bản.

    III. Nhận xét

    Những phân tích ở trên cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý, hai đường lối quản lý đức trị và pháp trị phải có đủ cả và kết hợp sử dụng, rộng mạnh cùng thi hành. Kết luận của thực tiễn quản lý mấy ngàn năm của Trung Quốc đói với hôm nay phải có ý nghĩa răn bảo. Không chỉ Trung Quốc, ngay ở Nhật Bản, giới xí nghiệp trong tổng kết thực tiễn, cũng rút ra kết luận như vậy. Nhà xí nghiệp nổi tiếng đương đại Songxia nói: “Là một người lãnh đạo, đối với ân uy phải phối hợp vận dụng được”; “ân uy kiêm sử dụng, rộng nghiêm thoả đáng, mới có thể giúp nhau cùng hoàn thành thu được hiệu quả một công đôi việc”.

    Từ chức năng và đặc điểm của đức trị chúng ta có thể thấy nó phù hợp đòi hỏi tổ chức trị an lâu dài của xí nghiệp, có lợi cho phát triển ổn định lâu dài.

    Chức năng của quản lý đức trị dựa vào giáo hoá để hình thành khống chế bên trong của mọi người. Cũng tức là biến mục tiêu, tôn chỉ, quan niệm giá trị của xí nghiệp thành mục tiêu, tôn chỉ quan niệm giá trị của bản thân toàn thể thành viên.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]

  • Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-th%E1%BB%9Di-gian.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng quản lý thời gian

     

    Kỹ năng quản lý thời gian

     

    Thời gian là quý báu cho nhà lãnh đạo. dù ở trong công việc nào, bạn vẫn phải biết quản lý thời gian của mình. không có khác biệt nào giữa các cấp lãnh đạo. làm quản lý thường là giao việc cho người khác. dù vậy, bạn không thể tổ chức giao việc hiệu quả nếu bạn không tự mình tổ chức cho mình. thời gian là tài nguyên hiếm hoi. tự tổ chức và sắp xếp trách nhiệm có ý nghĩa là tổ chức và sử dụng quỹ thời gian của bạn cho cá nhân hay trong công việc, bạn cần xây dựng cho mình một chương trình làm việc xác định rõ quỹ thời gian nào dành cho việc nhỏ, ít quan trọng và dành nhiều thời gian hơn cho việc lớn, quan trọng hơn.

    tính chất phức tạp trong tổ chức ngày nay khiến cho bạn phải thực sự quan tâm đến việc sắp xếp chương trình sao cho tận dụng thời gian tốt nhất để đạt hiệu quả cao nhất.

    cần phải thích ứng để xác định đúng đắn, thận trọng những điều quan trọng thật sự cho dù cá nhân hay trong công việc. bạn phải suy tính như vậy trước khi bắt đầu chương trình hành động nào để tận dụng tối đa thời gian có được.

    bạn cần xác định và phân tích việc sử dụng của bạn hiện nay. chúng tôi đề nghị hãy giảm thiểu những điều ngăn trở thời gian của bạn và đây là vài ý kiến thực tế có thể giúp bạn khắc phục. sau cùng, đề nghị bạn lập ra một phương án riêng, trong đó bạn sẽ quản lý thời gian của mình một cách đều đặn.

    quản lý thời gian

    quản lý nghĩa là làm việc và tổ chức cùng với người khác. phần lớn thời gian bạn đã dùng để giao tiếp, tổ chức công việc với nhân viên. muốn tổ chức với người khác, bạn phải biết tự tổ chức và quản lý thời gian của chính mình.

    quản lý thời gian hiệu quả đem lại nhiều lợi ích thuyết phục

    • làm cho cuộc sống dễ dàng hơn
    • giảm căng thẳng (stress)
    • tăng hiệu quả
    • tăng niềm vui trong công việc
    • tăng năng suất của cá nhân và tập thể
    • tăng “thời gian riêng tư ” cho bạn dùng

    quản lý thời gian hiệu quả sẽ giúp bạn suy nghĩ thêm cho công việc quan trọng và thì giờ giải trí.

    năm chữ << a >> trong quản lý thời gian hiệu quả

    sơ đồ 1

    sơ đồ để quản lý thời gian tốt hơn

    1. aware : nhận biết : để đề ra mục tiêu cho cá nhân & công việc. sau đó sắp xếp ưu tiên
    2. analyse : điều cần làm
    3. attack : ăn cắp thời gian ® loại bỏ kẻ ăn cắp thời gian của mình.
    4. assign : lập thứ tự ưu tiên
    5. arrange : hoàn thiện kỷ năng, lập kế hoạch
    6. save time, better use : tiết kiệm thời gian, sử dụng thời gian tốt hơn
    1. awareness : nhận biết

    nhận biết đâu là điều quan trọng cho cá nhân và công việc. giai đoạn đầu tiên này giúp xác định mục tiêu cụ thể các yếu tố trên. bạn phải coi trọng các yếu tố liên quan đến cách thức sử dụng thời gian, thói quen, tác phong, giao tiếp và trách nhiệm công việc của bạn.

    1. analysis : phân tích điều cần làm.

    để cải thiện sử dụng thời gian bạn cần đào sâu chi tiết về cách sử dụng thời gian hiện tại / những điều làm mất thời gian. phân tích như vậy giúp bạn sẽ xác định được cần làm gì để tốt hơn.

    1. attack : ăn cắp thời gian (tg)

    có nhiều điều làm mất thời gian của bạn. những “kẻ cắp thời gian” cần phải loại bỏ khi bạn chú tâm vào những điều cần yếu.

    1. asignment : lập trật tự ưu tiên

    khi loại trừ “kẻ cắp thời gian”, bạn nhớ lập trật tự ưu tiên cho công việc đang dang dở.

    cần làm những việc này một cách đều đặn.

    1. arrangement : sắp đặt kế hoạch

    giai đoạn cuối cùng là bạn phải sắp xếp thời gian có mục đích rõ ràng. nhớ đều đặn hoàn thiện các kỹ năng “nhỏ bé” kể trên để phục hồi thời gian đã mất. bạn cần phải có kế hoạch thông minh.

    bây giờ chúng ta cùng xem kỹ hơn năm giai đoạn này :

    1. aware : nhận biết

    trước hết cần phải hiểu rõ chính bạn để có thể hoàn thiện việc quản lý thời gian. một, bạn nghiêm túc xác định mục đích cá nhân và công việc (hay các trọng điểm) : sẽ đi đâu và muốn thế nào. hãy viết các mục tiêu ra để thấy rõ mức độ quan trọng ở đó.

    hiệu quả quản lý thời gian có được từ hai cách kiểm soát : tự kiểm soát và kiểm soát công việc. tự kiểm soát là do hiểu biết chính mình : ưu điểm, khuyết điểm, nhân cách, cách nhìn sự việc theo tổng quan hay chi tiết. kiểm soát công việc là hiểu rõ công việc tức là tổ chức và vai trò trong tổ chức ấy. vì là lãnh đạo, bạn cần hiểu rõ mục đích chính của cơ quan. người ta sẽ đánh giá bạn qua sự hiểu biết này.

    khi đề ra mục đích và trọng tâm, bạn đã thấy đâu là điều quan trọng thật sự. hãy nghĩ về con người bạn muốn tạo nên. bạn hướng sự nghiệp về đâu ? cơ quan bạn cần đạt được điều gì ?

    để làm rõ mục đích không phải là chuyện dễ dàng. bạn biết sơ qua những liên quan đến mục tiêu. nhưng còn phải đưa ý tưởng mình ra ánh sáng. hãy làm như sau :

    • quan trong / ưu tiên :

    hãy tách riêng mục tiêu của gia đình với mục đích cá nhân và công việc (sự nghiệp / kinh doanh). nhớ phải giữ thế cân bằng. nếu bạn quyết định lấy bằng đại học, cùng lúc muốn dạy con bạn bơi lội và chơi lướt ván buồm tất cả các thứ một lúc thì xin bạn hãy suy xét lại. mọi mục tiêu đều quan trọng nhưng phải xác định cái nào quan trọng hơn trong thời điểm hiên tại :

    mức độ quan trọng tạm thời có thể hoán chuyển khi một vài trọng điểm đã hoàn tất / các ưu tiên có thay đổi.

    • kinh nghiệm quá khứ :

    hãy nhớ lại những chuyện đã làm hoặc xảy ra mà bạn cảm thấy “hài lòng” : lúc nào bạn đã thành công. có lẽ bạn mừng cho sự thăng chức trong vị trí hiện nay.

    về cá nhân, khi mua nhà mới hoặc đi nghỉ hè với bạn thân đều đem lại niềm sung sướng. nếu cảm nhận sự hài lòng ở đâu thì điều quan trọng cũng ở ngay đó vậy.

    • thực tế : (khi xác định mục tiêu)

    mục đích phải thực tế. nếu chỉ cao 1,45 m mà ước mong là ngôi sao trong đội bóng rổ chuyên nghiệp thì bạn viễn vông lắm đấy.

    • rõ ràng :

    mục đích cần rõ ràng, hợp lý và có hạn định. hãy nghĩ làm thế nào đạt mục đích và lên kế hoạch thực hiện.

    • viết ra giấy : (để hệ thống hóa, tránh sai sót)

    hãy viết ra giấy những ý tưởng của bạn. đừng lừa dối chính mình khi cho là có thể nhớ trong đầu các mục đích đa dạng của bạn.

    chúng ta đang nói đến những mục tiêu dài lâu cả đời người.

    hơn nữa, khi ghi chép các mục đích, bạn sẽ chú tâm đến những điều mình tin tưởng. khi viết ra giấy, các mục tiêu thường khác đi so với khi chúng còn nằm trong trí não.

    bảng sau đây sẽ cho bạn biết về các điều trên. bạn sẽ học cách thiết lập, sắp xếp ưu tiên, làm việc tích cực, hướng về mục đích đề ra.

    còn những điều khác ảnh hưởng đến quỹ thời gian của bạn : tư cách, thói quen và giao tiếp nếu bạn hay truyền miệng để liên lạc với nhân viên thì có ảnh hưởng đến thời gian của bạn là : bạn có thể đã nói đi nói lại mười lần cùng một thứ cho mười người khác nhau. thực ra chỉ cần một lời nhắn ngắn gọn là đủ.

    khó làm thay đổi thói quen nhưng làm vẫn được. còn có trách nhiệm công việc liên quan đến thời gian của bạn. những trách nhiệm này không hằn là điều bạn phải tin là quan trọng. có khi là những yêu cầu đòi hỏi trong công việc mà chúng ta không thích lắm nhưng phải chịu đựng. đó là những điều không quan trọng lắm nhưng lại không thể tránh được. bạn hãy giữ cho quân bình giữa điều quan trọng trong công việc và những bổn phận áp đặt lên bạn. hãy làm rõ trách nhiệm của bạn.

     

    trách nhiệm của bạn :

    • chịu trách nhiệm về những ai ?
    • mức độ trách nhiệm đối với họ ?
    • tôi có nắm nguồn lực và kinh phí riêng ?
    • tôi làm việc trong môi trường chính yếu nào ?
    • tôi chịu trách nhiệm hành chính nào ?
    • tôi có phải tiếp xúc với khách hàng bên ngoài ?
    • tôi có phải phát huy sáng kiến ?
    • tôi được quyền hạn gì ?
    • nhân viên của tôi trách nhiệm ra sao ?
    • đồng nghiệp của tôi có trách nhiệm nào ?
    • nhiệm vụ của cơ quan tôi là gì ?
    • trong công việc, có nguyện vọng gì tôi chưa đưa ra ?

    có thể liệt kê thêm nữa nhưng khi trả lời những câu hỏi trên sẽ giúp bạn định hình được trách nhiệm của mình.

    1. analyse : phân tích

    khi đã đề ra mục tiêu rồi, bạn phải làm một bước thực tế phân tích cách thức sử dụng thời gian. để kiểm soát được thời gian của mình, bạn phải biết dùng nó thế nào ?

    có vẻ như đơn giản, nhưng phần lớn các lãnh đạo lại không thể nói cho bạn biết chi tiết họ đã dùng thời gian trong ngày hay trong tuần như thế nào.

    bạn cần sử dụng thời gian của mình. cần phân tích rõ cách sử dụng sau khi biết rõ mình phải làm gì. hãy mổ xẻ thì giờ trong ngày và xem xét, tự hỏi : tôi dành thời gian bao lâu để họp hành ? tôi đã làm công việc của người khác mất bao lâu ? hãy biết rõ thực sự bạn đang làm điều gì ?

    nhật ký / tự đánh giá :

    phương pháp này, để bạn tự đánh giá theo mẫu “ngày của dũng” như ở đây / có mẫu khác rõ ràng hơn. hãy sắp xếp công đoạn làm việc theo từng 5, 10, 15 / 30 phút.

    mẫu tự đánh giá : (một thí dụ)

     

    thứ hai

    giờ                                                        công việc

    7h30 – 8h00         …………………………………………………………………………………………….

    8h00 – 8h30        …………………………………………………………………………………………….

    8h30 – 9h00        …………………………………………………………………………………………….

    9h00 – 9h30        …………………………………………………………………………………………….

    9h30 – 10h00      …………………………………………………………………………………………….

    10h00 – 10h30    …………………………………………………………………………………………….

    10h30 – 11h00    …………………………………………………………………………………………….

    11h00 – 11h30    …………………………………………………………………………………………….

    11h30 – 12h00    …………………………………………………………………………………………….

    12h00 – 12h30    …………………………………………………………………………………………….

    12h30 – 13h00    …………………………………………………………………………………………….

    13h00 – 13h30    …………………………………………………………………………………………….

    13h30 – 14h00    …………………………………………………………………………………………….

    14h00 – 14h30    …………………………………………………………………………………………….

    14h30 – 15h00    …………………………………………………………………………………………….

    15h00 – 15h30    …………………………………………………………………………………………….

    15h30 – 16h00    …………………………………………………………………………………………….

    16h00 – 16h30    …………………………………………………………………………………………….

    16h30 – 17h00    …………………………………………………………………………………………….

    17h00 – 17h30    …………………………………………………………………………………………….

    17h30 – 18h00    …………………………………………………………………………………………….

     

    khoảng thời gian dự tính tùy theo bạn sắp đặt. cần nhất là bạn phải biết mình đang thực sự làm điều gì lúc này. đề nghị bạn theo dõi thời gian biểu trong vài ngày liền ít nhất 3 lần trong năm. bạn hãy tập ghi chép lại công việc của mình. làm như thế, bạn sẽ biết rõ mình đang làm gì và đặt điều quan trọng nhất bạn muốn làm để hướng gần đến mục tiêu.

    tự xem xét xong, bạn hãy sang phần phân tích. để có ích lợi hơn, chúng ta hãy thực hiện một khoảng thời gian biểu trọn ngày. bạn càng chi tiết càng tốt và liệt kê công việc và thời gian thực hiện.

    thí dụ :  ngày của dũng” là một mẫu tham khảo như sau :

    ngày của dũng

    ngày thứ ba, 23/3

    giờ

    công việc

    tham gia

    7.30-7.41

    uống cà phê, đọc báo

    tôi

    7.41-7.44

    điện thoại từ chi nhánh số 5, đòi số liệu cho báo cáo

    7.44-7.50

    đến phòng thư ký tìm tư liệu

    tôi

    7.50-7.53

    hiền (thư ký) đến tìm tư liệu

    hiền

    7.53-7.56

    sơn ghé vào xác nhận cuộc họp

    sơn

    7.56-8.00

    giải thích xong cho hiền điều cần thiết

    hiền

    8.00-8.02

    điện thoại từ nhà gọi đến

    lan (vợ tôi)

    8.02-8.16

    làm việc về bản báo cáo năm

    tôi

    8.16-8.18

    điện thoại từ chi nhánh số 5. nhắc lấy dữ liệu.

    nhắc hiền đưa dữ liệu cho lý

     

    8.18-8.23

    nhận điện thoại từ hiền

    hiền

    8.23-8.29

    làm tiếp bản báo cáo

    tôi

    8.29-8.47

    tuấn ghé vào mời mọi người dùng cơm trưa

    tuấn

    8.47-8.49

    điện thoại yêu cầu của bộ

    bộ

    8.49-8.54

    hai gặp tuấn và đề nghị dùng cơm trưa ở số 94.

    hai, tuấn

    8.54-9.01

    làm tiếp bản báo cáo

    tôi

    9.01-9.07

    minh (ông chủ) gọi điện báo thay đổi lịch

    minh

    9.07-9.21

    xem lại kế hoạch cho năm sau

    tôi

    9.21-9.23

    phòng máy tính gọi đến đề nghị nâng cấp trang thiết bị

    phúc

    9.23-9.30

    lập chương trình họp

    tôi

    9.30-9.34

    hùng ghé vào để kiểm tra số ngày nghỉ còn tồn đọng và than phiền về cấp trên. buổi gặp mặt được sắp xếp với anh ta cho buổi chiều.

    hùng

    9.34-9.52

    nghỉ giải lao và dùng cà phê

    những người khác

    9.52-l0.01

    chuẩn bị lịch trình cho buổi họp

    tôi

    10.01-10.20

    đi đến phòng họp, ngừng lại tán chuyện với đồng nghiệp

    những người khác

    l0.20-10.25

    chờ mọi người đến dự họp

    những người khác

    10.25-11.32

    điều hành cuộc họp về kế hoạch phát triển năm tới

    những người khác

    11.32-13.05

    ăn trưa

    những người khác

    13.05-13.20

    đi dạo tán gẫu với các đồng nghiệp

     

    13.20-13.30

    chuẩn bị cho cuộc họp với hùng

    tôi

    13.30-13.37

    hùng đến, buổi họp bắt đầu

    hùng

    13.37-13.41

    thư ký của phó chủ tịch hội đồng điện thoại về việc chậm trễ trả lời thư.

    thư ký phó chủ tịch hội đồng

    13.41-13.44

    gọi điện cho kim nhắc đến lá thư.

    kim

    13.44-13.52

    tiếp tục cuộc thảo luận với hùng

    hùng

    13.52-13.55

    điện thoại từ phân xưởng báo thắng đang cãi nhau với người quản đốc.

    người khác

    tôi

    13.55-14.00

    bảo hùng quay trở lại sau và đi xuống phân xưởng

    hùng

    14.00-14.24

    nói chuyện với thắng và với quản đốc của anh ta để giúp họ giải quyết vấn đề. sắp xếp buổi gặp mặt.

    thắng và người quản đốc

    14.24-14.35

    ký, các lá thư cho hiền và đọc đánh máy bản thông báo nội bộ.

    hiền

    14.35-14.39

    điện thoại của con hỏi xin tiền

    hiếu

    14.39-14.47

    chấm dứt việc đọc đánh máy, ký vài lá thư

    hiền

    14.47-15.15

    dùng cà phê giải lao

    người khác

    15.15-15.36

    thảo luận về những số liệu cho năm tới với các quản đốc.

    các quản đốc

    15.36-15.38

    hai gọi điện báo cô ấy phải về nhà vì bệnh

    hai

    15.38-15.46

    tiếp tục cuộc thảo luận

    các quản đốc

    15.46-15.49

    ở nhà gọi điện bảo lúc về đón con gái mai ở trường

    lan (vợ)

    15.49-16.07

    phi ghé vào nói về việc đề bạt thăng chức

    dời phần còn lại của cuộc thảo luận cho đến ngày mai

    phi

    các quản đốc

    16.07-16.20

    thảo luận việc đề bạt thăng chức với phi

    phi

    16.20-16.22

    lan gọi điện hẹn gặp ngày mai

    lan

    16.22-16.32

    thu dọn đồ: số liệu năm sau, bản báo cáo và dụng cụ chơi tennis.

     

    bài tập :

    bạn là đồng nghiệp và là một người bạn thân của ông dũng. ông dũng rất không hài lòng với một ngày làm việc như vậy. không may là những ngày làm việc lộn xộn như vậy lại xảy ra rất thường xuyên. ông ta yêu cầu bạn cho một vài lời khuyên nhằm cải thiện việc sắp xếp thời gian của ông ta. bước đầu bạn nên phân tích việc ông dũng đã sử dụng thời gian của mình như thế nào và tại sao lại như vậy. sau đó, bạn hãy đề nghị phương pháp để quản lí thời gian tốt hơn. bạn có thể đặt vài câu hỏi quan trọng với ông dũng để giúp ông ta.

    khi phân tích thời gian biểu hãy nhớ những điểm sau :

    • công việc ích lợi nào chiếm nhiều thời gian nhất ?
    • công việc vô bổ chiếm nhiều thời gian nhất ?
    • công việc ích lợi nào không đáng dành nhiều thời gian ?
    • công việc nào cần thời gian nhiều hơn ?
    • lúc nào trong ngày thì bận rộn nhất ?

    sơ đồ 2

    ngày của dũng

    (sau khi phân tích)

    loại công việc

    động tác

    thời lượng (phút)

    % tổng số thời gian

    chuyên môn

    7

    139

    27,5%

    cấp bách

    5

    41

    8,1%

    thường xuyên

    25

    165

    32,6%

    cá nhân

    11

    161

    31,8%

    dũng sắp xếp công việc của mình như sau :

    chuyên môn (c) : công việc nghiệp vụ như lên kế hoạch lâu dài, viết hồ sơ nhân viên, xem xét báo cáo.

    cấp bách (không dự báo trước được) (cb) : việc cần làm ngay như bất đồng cá nhân, quyết định cấp bách.

    thường xuyên (t) : việc hành chánh giấy tờ, thư từ, điện thoại, nhắc nhở nhân viên.

    cá nhân (cn) : việc riêng như gia đình, giải lao.

    trong mỗi phần, dung ghi rõ c, cb, t, cn. sau đó cộng hết thảy động tác của từng loại.

    nhìn chung sẽ thấy dũng mất nhiều thời gian cho những việc không quan trọng. việc hành chánh và cá nhân chiếm quá nhiều thời gian trong một ngày làm việc. nếu bạn cũng thế thì hãy biết còn nhiều người cũng vậy lắm. các nghiên cứu cho thấy người lãnh đạo thường bị lôi cuốn vào những chuyện lung tung, nhất thời và giai đoạn hoặc mất liên tục trong công việc.

    nói thực, bạn sẽ khó tìm được cách giải quyết thỏa đáng cho những điều quan trọng. có khi bạn bận rộn (hay cảm thấy như vậy) vì cứ phải trả lời điện thoại, khách không hẹn trước hoặc giải quyết bất đồng cá nhân. có nhiều người lãnh đạo và tổ chức cho “sự bận rộn” là đồng nghĩa với hiệu suất và cho như vậy là làm việc siêng năng. không phải thế đâu nếu như có ai đó cứ loay hoay bận bịu, lúc nào cũng căng thẳng, ấy là vì họ đã có thể không biết cách sắp xếp thời gian hợp lý.

    nếu bạn giống như họ, bạn sẽ mất nhiều thời gian lệ thuộc vào tác động của người khác thay vì đã có thể lên chương trình làm việc chú tâm vào những điểm cần thiết quan trọng hơn. bạn đang mất nhiều thời gian cho những điều ít hiệu quả.

    1. assign : lập trật tự ưu tiên

    lập thời gian biểu xong, bạn cần biết phân loại như sau :

    • kiểm soát được / chủ động
    • quan trọng
    • khẩn trương
    • giao cho ai khác
    • kiểm soát được / chủ động :

    hãy tự hỏi mình có thể tự kiểm soát được bao nhiêu công việc ? cần bổ sung gì cho công việc. nếu bạn chú tâm vào những việc không liên quan trực tiếp hoặc của người khác đang làm tốt hơn thì bạn đã mất thời gian.

    công việc nào tự bạn làm lấy ? việc nào do người khác đề nghị ? hãy xem lại khung thời gian biểu của mình và chọn ra. tính điểm khả năng chủ động của bạn theo cách sau :

    (điểm 0 đến 6)

    0 : không kiểm soát được trong công việc

    3 : bạn có kiểm soát một phần trong công việc

    6 : kiểm soát hoàn toàn trong công việc

    từ đó suy ra bạn ở mức độ kiểm soát thế nào trong khung thời gian của mình.

    cũng tính như vậy cho “chủ động

    0 : bạn bị động hoàn toàn trong công việc

    3 : bạn có linh động trong công việc

    6 : chủ động hoàn toàn trong công việc

    từ đó suy ra khả năng chủ động của bạn

    • sự quan trọng :

    hãy sắp xếp công việc theo mức độ quan trọng “có” và “không”. nghĩa là phải nghỉ đến hậu quả của các quyết định và hành động. sẽ phí thời gian nếu bị kẹt vào những điều không quan trọng so với mục tiêu đề ratrách nhiệm chính.

    theo pareto’s law, còn gọi là “luật 80/20” thì người lãnh đạo chỉ dành được 20% thời gian cho kết quả tốt. còn lại 80% là chuyện “bỏ đi”.

    • sự khẩn trương :

    công việc có khẩn trương và cần làm ngay không ?

    cần điều kiện thời gian đủ để hoàn tất công việc ngay. liệu có thể để lúc khác được không ?

    hãy phân biệt rõ việc “khẩn” và việc “quan trọng”.

    việc “khẩn” nhiều thì không quan trọng nhưng lại chiếm chỗ trước việc “quan trọng”. việc quan trọng gắn liền với kết quả phải có. việc “khẩn” thường do người khác tác động. bạn hãy kiểm soát lượng thời gian dành cho việc “khẩn”. cũng phải biết xếp thứ tự công việc. đó là sự ưu tiên.

    nhớ chú ý tới hai ảnh quan trọng và khẩn trương được trình bày trong sơ đồ sau đây :

    • khi thật quan trọng và thật khẩn, hãy làm ngay đi. không thể do dự vì đúng là công việc quá quan trọng.
    • khi thật quan trọng nhưng chưa thật khẩn trương thì bạn vẫn còn thời gian sắp xếp và giao phó cho ai một phần để bắt đầu công việc. dù sao cũng đừng để lâu quá. bởi vì đó là việc quan trọng liên quan đến kết quả.

    thí dụ : khi phải báo cáo trong hai tháng tới với ban giám đốc, bạn phải làm nghiêm túc vì có ảnh hưởng đến vị trí công tác và phòng ban trong cơ quan.

    • nếu thật khẩn nhưng không mấy quan trọng, bạn có hai giải pháp :
      • làm liền nhưng đừng kéo dài thời gian, chấm dứt sớm.
      • chuyển giao cho ai khác

    thí dụ : giám đốc cần danh sách nhân viên nghỉ phép trong một giờ tới. hãy làm cho xong vì đó chỉ là hành chánh.

    • nếu chẳng khẩn cũng chẳng quan trọng lắm, bạn hãy tự hỏi có nên làm không ? loại việc này có thể bỏ qua, quên đi hoặc giao cho ai khác.

    thí dụ : người trợ lý hỏi bạn màu xanh hay màu đỏ thì hợp cho bìa bản báo cáo.

    1. attack : kẻ cắp thời gian

    có nhiều thứ làm tiêu hao thời gian. cần phải biết rõ chúng để loại trừ. có hai loại bạn phải thanh toán. một là kẻ cắp bên ngoài : điện thoại nói chuyện lê thê, khách dai dẳng, hội họp thiếu tổ chức, bất hòa cá nhân và chuyện phiếm. hai là kẻ cắp bên trong : chẳng biết nói ”không”, do dự, dời lại công việc, lỗi lầm, không kế hoạch, không biết giao việc.

    bạn chắc đã gặp các thứ này rồi.

    kẻ cắp thời gian tiêu biểu :

    • không biết nói “không”
    • nói chuyện điện thoại lâu quá
    • khách thăm thình nịnh
    • nơi làm việc kém tổ chức
    • dời việc lại sau ® thường sảy ra khi gặp việc khó khăn ® nên : xé nhỏ công việc & bắt tay làm ngay để tránh tress.
    • cầu toàn
    • giấy tờ nhiều quá
    • giao tiếp kém
    • không biết giao việc (không chịu ủy quyền cho người khác)
    • không biết tổ chức buổi họp

    kẻ cắp 1 : không biết nói “không”

    chúng ta khó mà nói “không” với ai đó vì muốn giúp họ hơn là làm buồn lòng họ. có khi bạn khó nói “không” vì đã tham gia nhiều dự án hiệu quả làm cho bạn cảm thấy quan trọng và cần thiết. nói “có”  dễ làm bạn cảm thấy bận rộn và được yêu thích. hãy coi chừng ! nếu bạn cứ nhận đại mọi thứ mọi lúc thì người ta sẽ coi như bạn chắc chắn trả lời “có” bất cứ khi nào.

    • đối phó : sắp xếp ưu tiên cho công việc

    xem xét mọi đề nghị dựa trên mức độ quan trọng đối với bạn và đối với cơ quan. nếu không thấy quan trọng và không liên quan đến trách nhiệm của bạn, hãy từ chối nhẹ nhàng. nếu ai đó nhờ bạn làm một phần việc của họ, chẳng có lợi lộc gì khi bạn nói “có”.

    để ngày mai”, “lúc khác thuận tiện hơn” là một cách để nói “không”.

    tóm tắt

    để nói “không”

    Ø      sắp xếp ưu tiên công việc

    Ø      nói “không” khi việc chẳng quan trọng lắm

    Ø      nói “không” khi chẳng phải trách nhiệm của bạn

    Ø      hãy bắt đầu nói “không” với các đề nghị nhỏ

    Ø      hãy hỏi “có ai khác làm được việc đó không ?”

    Ø      tìm cách nói “không” một cách lịch sự

    kẻ cắp 2 : nói lâu trên điện thoại

    bạn nói chuyện điện thoại bao lâu ? thời gian cần thiết là bao lâu ? chúng ta thường nói lâu hơn cần thiết.

    có nhiều lý do giải thích như sau :

    • kéo dài câu chuyện
    • kể lể chuyện này chuyện kia
    • không chịu dừng đúng lúc
    • trả lời mọi cuộc điện thoại
    • không sử dụng đúng thư ký / không có thư ký
    • đối phó : hãy tách riêng chuyện phiếm với công việc.

    lời chào “thật tốt khi nói chuyện với bạn, các con bạn thế nào ?” thì vô hại nếu không kéo dài sang chuyện khác. hãy viết ra giấy trước những gì bạn cần bàn qua điện thoại. chú tâm vào đó và đừng lạc đề. có nhiều lãnh đạo không làm sao biết dừng một cuộc điện.

    có 2 cách thức liên quan tới nhau. nếu tự trả lời điện thoại hoặc “tự do mở cửa” cho mọi cuộc điện thoại thì bạn đang mất thời gian của mình. nếu có thư ký, hãy dặn dò họ sàng lọc hoặc giới hạn điện thoại. chỉ nên nhận những cuộc điện thoại thật sự quan trọng. hãy sắp xếp những mức độ ưu tiên với thư ký. nếu không có thư ký, bạn cần nhấc ống nghe ra hoặc chuyển tự động sang máy khác để dễ tập trung làm việc.

    sẽ mà làm việc nếu để điện thoại kiểm soát ngày làm việc của bạn.

    tóm tắt

    giải quyết nói chuyện điện thoại lâu

    Ø      phân biệt chuyện phiếm với công việc

    Ø      sắp xếp các ý tưởng cần bàn

    Ø      học cách dùng cuộc điện thoại

    Ø      lấy ống nghe ra khỏi máy

    kẻ cắp 3 : bận rộn vì khách thăm dai dẳng

    “tôi chỉ ghé qua chào bạn. tôi hơi làm biếng. liệu tôi có làm phiền khi xin một tách cà phê không ?”  chuyện như vậy cứ hay xảy đến với mỗi chúng ta, chắc chắn là vậy.

    nhất là khi bạn đang chú tâm vào một việc quan trọng. đôi khi chính là lỗi của bạn. có nhiều lãnh đạo thích “mở cửa tự do”. họ cho phép nhân viên gặp họ bất cứ khi nào muốn nói chuyện chơi hoặc khi có khó khăn bất kỳ. dường như họ nói : “thời gian của tôi không quan trọng lắm, hãy cứ đến mà lấy đi”.

    cho dù bạn không “mở cửa tự do”, bạn vẫn cứ gặp khách thăm dai dẳng với nhiều kiểu lý do khác nhau. nhiều người chẳng làm gì để hạn chế sự việc này.

    người khác lại chẳng biết chấm dứt một câu chuyện vì sợ bị cho là cộc cằn.

    • đối phó :

    1- cho nhân viên biết khi nào bạn tiếp khách được. hãy lập một chính sách “mở cửa” giới hạn. thí dụ : mỗi trưa thứ tư từ 14.00 – 17.00. tuy nhiên, nên đề nghị gặp gỡ chỉ khi thật sự cần thiết kể cả việc riêng tư. hãy dành cho mình các khối thời gian để làm việc quan trọng hơn.

    2- cùng soạn với thư ký một mẫu sàng lọc để lựa chọn cho đúng người cần gặp. không có thư ký thì bạn phải đề nghị hẹn trước để sắp xếp.

    3- nếu khách đến bất chợt không hẹn thì bạn đứng dậy hoặc ngồi trên bàn làm việc tiếp họ và nói rằng “hiện tôi khá bận rộn ?”. hãy giới hạn thời gian và đề nghị họ sớm chấm dứt. hãy nghiêm túc, nhưng đừng cộc cằn. nếu được, bạn hãy ở văn phòng người khác để cho bạn chấm dứt câu chuyện và đi ra. phương pháp trên cũng được dùng được với cấp trên.

    4- nghiêm khắc với thời gian biểu của bạn nhưng từ tốn với các bạn đồng nghiệp. đó là điều tốt vì bạn còn làm việc cùng nhau. nhờ vậy cũng tránh được xáo trộn ngoài ý muốn có khi lại còn chiếm dụng thời gian nhiều hơn. nếu có ai xông vào văn phòng bạn, hãy nhớ những cách xử sự sau :

    • không tỏ vẻ bối rối
    • lắng nghe cẩn thận
    • đừng ngắt lời
    • vào thẳng vấn đề và nói “không” khi cần thiết
    • làm tiếp công việc dở dang sau khi gián đoạn

    tóm tắt

    giải quyết gián đoạn :

    Ø      giới hạn thời gian tiếp khách

    Ø      cho mọi người biết khi nào bạn tiếp khách được

    Ø      đưa ra một phương cách chọn lọc

    Ø      đừng làm phật lòng khách không mời

    Ø      làm chủ tình hình gián đoạn nhưng hãy từ tốn

    kẻ cắp 4 : văn phòng bừa bộn

    văn phòng bừa bộn, bàn làm việc bừa bãi chúng tỏ bạn không có tổ chức.

    • đối phó :
      1. chỉ để ít đồ trên bàn thôi. dành chỗ cho đồ dùng cần thiết như điện thoại, khay hồ sơ “đi”, “đến”, bút viết. như vậy, bạn sẽ có chỗ để làm việc. chỉ nên để việc đang làm trên bàn. đừng chồng chất giấy tờ hồ sơ, làm choáng chỗ và phân tâm trong công việc.
      2. hãy để mọi thứ trong tầm tay : hồ sơ, tủ hồ sơ, vi tính, máy tính… mọi thứ bạn hay thường dùng.
      3. đặt mỗi thứ theo một chỗ nhất định. sẽ tránh được những lúc bực mình chỉ vì không tìm được những thứ mình cần ngay lúc mình cần nó nhất.
      4. nên có một cách sắp xếp hồ sơ hợp lý. có thể dùng nhiều cách : đánh số thứ tự, dùng màu làm dấu, thứ tự a, b, c…soạn lại thường xuyên để lọc bớt dư thừa. ngay lúc này, bạn có dọn sạch một nửa tủ hồ sơ của bạn nếu chịu loại bỏ đi những thứ dư thừa.

    tóm tắt

    giải quyết văn phòng bừa bộn

    Ø      chỉ để thứ cần dùng trên bàn

    Ø      để mọi thứ cần thiết trong tầm tay

    Ø      chỉ định chỗ cho từng vật dụng

    Ø      hồ sơ sắp xếp hợp lý

    Ø      tìm cho bạn cách quản lý thích hợp

    kẻ cắp 5 : dời việc lại

    kẻ cắp này quá quen thuộc, nhất là lúc chúng ta cần giải quyết việc quan trọng hoặc phải làm điều không thích hoặc cần quyết định ngay việc chi. nó ít khi xuất hiện khi chúng ta chỉ có việc lặt vặt tầm thường không quan trọng trước mắt.

    có thể thấy kẻ cắp này trong những chuyện phiếm, đọc thư lại 2-3 lần, xếp tài liệu hoặc dọn bàn làm việc. thời gian của bạn bị gặm nhấm dần dần.

    đã bao nhiêu lần bạn nghĩ : “tôi sẽ làm ngày mai, hôm nay không có thì giờ”.

    • đối phó :
      1. nếu phải làm một việc tẻ nhạt, không thích thú, bạn hãy làm chút ít thôi. hãy chia nhỏ nó ra và làm từng chút một. dù chỉ có 10 phút, cứ làm cho xong.
      2. đừng đặt ưu tiên thấp lên trên ưu tiên cao. thường chúng ta thích làm việc dễ trước. dù sao nó làm cho bạn có vẻ như bận rộn để từ chối những việc cần thiết hơn.
      3. tự dạy cho mình “cần làm ngay”. khi không muốn, hãy nhắc nhở chính mình. làm ngay và quên đi. cố gắng ìấy thái độ “cần làm ngay” thay vào thói quen dời việc.
      4. ghi nhớ và lập lại những mục đích đề ra để tránh sự dời việc. chú tâm vào mục đích để thấy các mức độ quan trọng của từng việc.
      5. hãy chuẩn bị thì giờ bắt đầu công việc, đừng chờ đến cuối mới lo. hãy ghi nhớ giờ “bắt đầu” cùng với giờ “kết thúc”.

    tóm tắt

    giải quyết thói quen dời việc

    Ø      làm từng chút một

    Ø      làm việc quan trọng trước

    Ø      làm ngay đi

    Ø      tự nhắc nhở mục đích đề ra

    Ø      đặt giờ “bắt đầu” và giờ “kết thúc”

    kẻ cắp 6 : tính cầu toàn

    ai cũng thích một việc làm hoàn hảo. nhưng có lãnh đạo quá lo lắng hoàn thiện công tác nên mất thời gian vô ích. khi hướng tới sự quá hoàn mỹ, bạn sẽ quên đi sự giao việc ủy quyền vì sẽ nghĩ rằng không có việc làm tốt nếu không giám sát chặt chẽ. bạn cũng không biết nhờ giúp đỡ vì sợ phạm sai lầm. có lẽ bạn sẽ có ý nghĩ lùi thời hạn lại để bảo đảm mọi việc được hoàn hảo hơn.

    nếu cứ lục soát hồ sơ xem xét cái hoàn mỹ, thì liệu bạn còn thời gian cho việc quan trọng khác không ? có nhà lãnh đạo kia tự hào về khả năng soi mói được cả những lỗi nhỏ nhất trong các giấy tờ : lỗi văn phạm, từ vựng, đánh máy.

    • đối phó :

    hãy sắp đặt ưu tiên cho từng việc. đừng phí thời gian làm quá tốt những việc thứ yếu. bạn hãy tự hỏi : “liệu thời gian bỏ ra có xứng đáng cho chất lượng đạt được không ?”

    để ý chi tiết cũng tốt nhưng sẽ không tốt nếu điều đó làm cho chúng ta không nhìn toàn cảnh : bạn làm gì trong công việc này. hãy ghi nhớ đến các ưu tiên. tốc độ cũng hiệu lực như sự chuẩn xác. hãy sắp xếp ưu tiên cho công việc.

    tóm tắt

    giải quyết sự cầu toàn

    ü      sắp xếp ưu tiên cho từng việc

    ü      đừng mất thời gian cho việc thứ yếu

    ü      ghi nhớ “toàn cảnh”

    ü      không để phân tâm vì những việc lặt vặt

    ü      hãy tin cậy giao việc cho người khác

     

    kẻ cắp 7 : giấy tờ nhiều quá

    trong thời đại vi tính ngày nay, chúng ta vẫn gặp vấn đề với hàng đống giấy tờ hồ sơ, báo cáo, ghi chú, thư từ, quảng cáo, đơn xin…không kể hết. bạn làm gì với hàng đống giấy tờ trên mỗi ngày ?

    bạn xếp chúng thành đống rồi chờ chúng tự biến mất ? hay bạn cất hết chờ khi có lúc

    dùng đến ?

    ngoài việc nhận hàng đống giấy tờ, các nhà lãnh đạo cũng sản sinh ra chúng nữa. có một vị hiệu trưởng kia thích liên hệ với đồng sự và các trưởng khoa bằng tờ ghi chú có khi 2 tờ mỗi ngày. vậy mà phòng hiệu phó chỉ ngay sát bên ! có nhiều lý do khiến chúng ta hay viết như sau :

    1. tự bảo vệ nếu có điều bất trắc
    2. để cho người ta chú ý
    3. để giám đốc chú ý
    4. để cho biết mình hiện hữu
    5. để cho vui

    bạn có thích một trong các lý do kể trên không ? nếu có thì bạn đã gây ra hàng đống giấy tờ vô ích mà không có lý do chính đáng. quá nhiều giấy tờ có 2 ý nghĩa : mình nhận quá nhiều và cũng sản sinh ra thừa thải.

    • đối phó :

    khi nhận hồ sơ, thư từ hãy dành thời gian xử lý trong ngày. nhớ để giỏ rác gần bạn. và bắt đầu xem xét. lướt qua những gì đã nhận và thực hiện ngay một trong các động tác sau đây :

    1. vứt bỏ
    2. chuyển giao
    3. làm theo
    4. lưu : a) dài hạn
    5. b) chờ

    cần biết rằng 80% thư từ có thể xử lý tức thời. khi sàng lọc xong, giỏ rác của bạn chắc phải đầy ắp. hãy cố gắng xử lý một lần đủ cả. sau khi xử lý xong thứ nào thì vứt bỏ đi. có hồ sơ cần lưu lâu hơn hoặc tạm thời. nhớ xác định thời hạn lưu giữ. ghi chú hạn định trên hồ sơ đó để đến lúc cần loại bỏ thì có thể làm ngay.

    hồ sơ lưu phải dễ lấy và ghi chép đầy đủ. xem lại mỗi chu kỳ 6 tháng để loại bớt những hồ sơ không cần thiết nữa.

    bạn đừng sản sinh ra số lượng giấy tờ quá mức cần thiết. truyền miệng tiết kiệm thời gian và có lợi khi làm công việc thứ yếu. nếu phải viết, hãy viết đơn giản. dùng mẫu có sẵn và vào đề ngay. để sắp xếp lại giấy tờ, hãy phân loại theo đề tài đã có trước.

    tóm tắt

    giải quyết đống giấy tờ

    ü      dành thời gian mỗi ngày để xử lý

    ü      sắp xếp ưu tiên và phân loại

    ü      chỉ trả lời trên giấy khi cần thiết

    ü      dùng điện thoại khi tiện lợi

    ü      chỉ xử lý một lần đủ cả

    ü      thông tin bằng truyền miệng

    ü      nếu phải viết, hãy viết đơn giản và thẳng thắn

    kẻ cắp 8 : giao tiếp kém

    thời gian lãng phí cũng có thể do thông tin giao tiếp nội bộ còn kém. nếu nhân viên không hiểu rõ công việc, họ sẽ liên tục làm phiền bạn để làm rõ hoặc tệ hơn, họ chẳng chịu làm công việc cần làm. nhiều khi chúng ta giao tiếp với nhân viên bằng những cách không thích hợp.

    nếu viết ghi chú cho đồng nghiệp ở ngay phòng bên thì thật là vô bổ trừ khi việc cần hồ sơ lưu lại. trách nhiệm lãnh đạo yêu cầu bạn phải tổ chức thông tin giao tiếp nội bộ xuyên suốt để khỏi phải lặp đi lặp lại mãi chỉ một chỉ thị.

    • đối phó :

    hãy nghĩ về điều cần thông báo và chọn phương tiện thích hợp nhất: : họp, điện thoại, bảng biểu, ghi chú… nhớ đưa thông tin sao cho thích nghi với từng cá nhân chịu trách nhiệm. coi chừng thông tin dư thừa. nếu muốn ai làm việc gì cụ thể, chỉ cần đưa yêu cầu cần thiết cho họ mà thôi.

    hãy đảm bảo mọi thông tin đều được hiểu rõ ràng. bạn phải biết truyền đạt qua hệ thống thông tin nội bộ nhanh gọn dễ dàng để người nhận có được thông tin rõ ràng nhất. chỉ nên viết hoặc gặp mặt khi trao đổi các nhóm. ngôn ngữ phải dễ hiểu và được mọi tiếp nhận dễ dàng.

    tóm tắt

    giải quyết giao tiếp kém

    ü      tìm phương tiện truyền đạt thích hợp

    ü      thông tin thích hợp với mức độ phức tạp

    ü      đừng thông tin dư thừẵ

    ü      đảm bảo thông kênh truyền đạt nội bộ

    ü      dùng ngôn ngữ đơn giản

    1. arrange : lập kế hoạch

    không thu xếp thời gian thì mọi thứ kể trên đều vô ích. cần phải biết mình muốn gì và thời điểm thực hiện các công việc. sau đây là hai mẫu kế hoạch thời gian. kế hoạch của cả năm và kế hoạch ngày / tuần.

    kế hoạch cho cả năm :

    bản kế hoạch phải được gắn trên tường và dễ dàng xếp lại mang đi. cần ghi chép nhiều thứ trên đó. hãy dùng các loại màu để đánh dấu. màu xanh lục để cho ngày phép, điều bạn mong chờ. màu đỏ để nhắc nhở về các báo cáo quan trọng đến hạn, các báo cáo thường niên, hai năm, quảng cáo. đánh dấu khung các buổi họp thường lệ và chuyến đi công tác định sẵn.

    bảng biểu này cần được sao lại để treo ở phòng thư ký cho nhân viên đều biết và lịch làm việc của bạn cũng vậy để họ xin hẹn gặp. như vậy, có hai điều ích lợi. mọi người biết bạn đang làm gì và lúc nào bạn rảnh hoặc không rảnh để tiếp khách. nhớ cập nhật thường xuyên. nếu bất tiện, bạn có thể lập lịch làm việc chung cho mỗi tháng một lần.

    kế hoạch ngày / tuần :

    hãy xác định điều cần làm trong tuần và sắp xếp ưu tiên. truởc đó bạn nhớ đem một số chi tiết sang từ bảng kế hoạch năm. bởi vậy, có thể lịch làm việc trong tuần đã khá đầy đủ rồi.

    sơ đồ 3

    kế hoạch tuần / ngày :

    ngày :

     

    tuần :

    tên :

     

    thứ hai

    thứ ba

    thứ tư

    thứ năm

    thứ sáu

    9.00

    9.30

    10.00

             

    10.30

    11.00

    11.30

    12.00

             

    12.30

    13.00

    ăntrưa

    13.30

    14.00

    14.30

    15.00

             

    15.30

    16.00

    16.30

    17.00

    17.30

    18.00

             

    giờ phụ trội

    thứ bảy

           

    chủ nhật

    công việc

    thư từ

    hẹn

    điều khác

    việc cần làm trong tuần :

    1.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    2.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    3.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    ghi chú : (đem qua tuần sau)

    bây giờ hãy liệt kê thêm những việc phải làm trong tuần. thí dụ :

    • họp với tuyết
    • xem xét yêu cầu thêm nhân viên
    • kiểm tra khu vực mỗi ngày
    • gặp lan hỏi về thương lượng dự án quốc tế
    • kiểm tra máy móc thiết bị lần 2
    • gặp doanh bàn chuyện ánh sáng văn phòng
    • đề ra kế hoạch cung cấp năm tới
    • kiểm tra hoá đơn cho việc thanh tra hàng năm
    • mời hương dự tiệc chia tay
    • trả lời thư dũng và vân
    • chuẩn bị họp với giám đốc
    • mời trưởng phòng đi họp ngày 12
    • xem xét bồi dưỡng đào tạo nhân viên
    • sinh nhật thanh 16.00 – thứ năm.

    lịch đã có, bây giờ sắp xếp ưu tiên các công việc và nhiệm vụ. xem xét từng việc một để sắp xếp ưu tiên theo mẫu ở phần (3). lập trật tự ưu tiên. công việc quan trọng, khẩn trương thế nào ? có thể đánh số thứ tự hoặc phân loại 3 nhóm : thật quan trọng, quan trọng, không quan trọng. (thật khẩn trương, khẩn trương, không khẩn trương).

    bây giờ hãy ghi công việc vào bảng kế hoạch ngày / tuần. nhớ tính thời gian rộng rãi để không bị hụt hẩng. nếu bạn tính 20 phút thì hãy cho 30 phút để khi làm xong sớm hơn, bạn coi như được thưởng.

    đừng ghi chép lung tung. bạn đang sắp xếp ưu tiên cho công việc chứ không chỉ ghi ra việc cần làm. hãy, suy nghĩ kỹ. những việc quan trọng nhất, cần suy nghĩ nhiều nhất phải ghi vào thời gian “riêng tư”. ghi thư từ và điện thoại vào chỗ thích hợp như khoảng thời gian linh động được giữa hai phần công việc. nếu quan trọng thì đặt vào thời gian đặc biệt.

    cũng vậy, hãy ghi các cuộc hẹn và việc bình thường khác vào chỗ thích hợp dưới bảng biểu. sau đó đặt thời hạn tùy theo mức độ quan trọng và khẩn trương. cuộc hẹn với nhân viên có thể xếp vào khoảng thời gian thích hợp dành cho cuộc gặp đồng nghiệp. hãy thông báo các khoảng thời gian này và từ chối gặp gc’ vào các khoảng thời gian khác nếu nhân viên không cần thì có thể dùng các khoảng thời gian này dể làm những việc bình thường như sắp xếp hồ sơ không lo gián đoạn coi như được lợi.

    có thể dùng bảng này để sắp xếp đời sống riêng tư hàng ngày. công việc không phải là tất cả. phải có sự công bằng giữa công việc và đời sống riêng tư, gia đình, sức khỏe.

    cần dành thời gian mỗi ngày cho những sự kiện đột xuất bất thường nhưng không cần quá nhiều. những khó khăn có thể xảy ra và bạn có thể tạm gác qua mọi sự để giải quyết đây cũng là một phần trọng công việc. bạn cần phải linh động. hãy cố gắng theo sát mục tiêu đề ra, nhưng chớ lo lắng, bối rối hoặc quá căng thẳng nếu có điều bất thường ngăn trở kế hoạch của bạn. nhờ đã chuẩn bị kế hoạch kỹ lưỡng, bạn đã giảm đi nhiều căng thẳng. hãy dành 5 phút mỗi ngày để điều chỉnh những kế hoạch trong ngày. luôn tự nhắc nhở về những ưu tiên và mục tiêu đề ra.

    nhớ lên kế hoạch và soạn thảo thời gian biểu, (gắn liền với mục tiêu và trách nhiệm của bạn), bạn đã khẳng định mức độ quan trọng của thời gian đối với bạn.

    luôn luôn nhắm mục tiêu đề ra, những điều cần thiết nhất trong suốt quá trình lập kế hoạch.

    nhờ đó, bạn có động lực để sử dụng thời gian hiệu quả. khi lên kế hoạch thời gian, bạn sẽ có thể phân tích, nghiên cứu bảng kế hoạch năm và tuần / ngày một cách đều đặn. nhờ vậy, mới thắng hơn những “kẻ cắp thời gian”. cuối ngày, hãy vào những việc thêm vào đột xuất.  giữ bảng kế hoạch từng tháng hoặc 6 tuần và nghiên cứu nội dung như một thời gian biểu. nếu bạn thấy lãng phí nhiều thời gian cho điện thoại thì bạn phải giải quyết ngay một cách nghiêm chỉnh.

     

    kết luận

    10 bí quyết quản lý thời gian :

    1. hãy bắt đầu dự án ở phần quan trọng nhất. đôi khi không cần phải làm phần còn lại.
    2. kiên trì và nhẫn nại ® tiến hành công việc từ đầu đến cuối.
    3. chỉ xử lý thư từ, giấy tờ một lần đủ cả ® chỉ đọc và giải quyết 1 lần.
    4. dọn bàn sạch sẽ và để thứ cần thiết ngay giữa.
    5. sắp xếp chỗ cho từng vật dụng.
    6. gom những vặt’vãnh cho những kỳ họp 3 giờ trong tháng. ® giành 1 khoảng thời gian trong tháng để sắp xếp lại công việc.
    7. tự thưởng một cách đặc biệt khi làm công việc quan trọng.
    8. nhận biết có lúc mất kiểm soát thời gian vô ích ® đừng sợ.
    9. trả lời thư từ càng sớm càng tốt sau khi nhận.
    10. luôn tự hỏi : ngay bây giờ, làm gì thì tốt nhất ?

     

     

     

    phần 3

    nghiên cứu tình huống

    một ngày làm việc của giám đốc huy

    như mọi hôm, huy rời khỏi nhà từ 7g15 sáng để đến nhà máy hóa chất bình hòa, nơi anh làm giám đốc từ hai năm nay. đoạn đường này huy đi chỉ mất khoảng 15 phút, nên anh có thể bắt đầu ngày làm việc của mình từ 7g30, sớm hơn giờ làm việc chính thức là nửa giờ. khoảng thời gian nửa giờ này thường được anh dành để suy nghĩ về những việc cần làm trong ngày mà không ngại bị ngắt quãng bởi những việc bất chợt khác cần phải giải quyết. thật ra, huy cũng có thể tìm được một căn nhà khác ở gần nhà máy hơn, nhưng với rlgôi thà hiện anh đang ở, huy nghĩ rằng mình đã có một sự lựa chọn tốt nhất khi vẫn đáp ứng được những nhu cầu của gia đình (khung cảnh sống, láng giềng, trường học cho con, chợ gần nhà, v.v…), và yêu cầu của bản thân anh cần phải tốn thời gian ít nhất cho việc đi đến chỗ làm mỗi ngày.

    nhà máy bình hòa là một đơn vị thuộc ngành thuốc nhuộm của công ty anh quân chuyên sản xuất và kinh doanh trong lãnh vực hóa chất. những lăm gần đây, việc mất đi một số thị trường lớn đã làm giảm hẳn một số hoạt động của công ty và dẫn tới việc tinh giản lao động trong một số đơn vị. chính huy khi vừa nhận chức giám đốc nhà máy bình hòa cũng đã phải giảm hẳn số lượng nhân viên từ 200 còn 150 người.

    việc cắt giảm số lượng nhân viên vừa qua đã gặp không ít khó khăn, và huy đã tỏ ra linh hoạt nhưng kiên quyết. do đó, anh đã giảm thiểu đến mức tối đa những xáo trộn trong nội bộ nhà máy. sự kiện này diễn ra cũng đã được sáu tháng, và hiện nay, huy đang cố gắng xây dựng lại trong nhà máy một  tinh thần làm việc mang tính đồng đội và tập thể cao.

    bối cảnh này làm huy nghĩ đến những việc cần làm trong ngày. ưu tiên số một cần giải quyết của anh là tổ chức lại phân xưởng số 4 vì đó là vấn đề sống còn của nhà máy. huy nhớ là tuần truớc, anh có đề cập đến đề tài này với một trong những giám đốc chuyên môn của công ty. ông này hỏi thăm việc tiến hành công tác cải tổ hiện đến đâu và nhấn mạnh cần phải hoàn thành việc sắp xếp lại trước cuối năm. thời gian chỉ còn chín tháng để hoàn tất công việc cải tổ hầu đạt đến những kết quả khả quan bắt đầu từ năm sau.

    thật ra, huy đã có ý định tổ chức lại phân xưởng này từ những tháng đầu tiên sau khi nhận chức giám đốc nhà máy. nhưng những khó khăn nảy sinh từ việc tinh giản bộ máy đã gây cho anh không ít vấn đề phải giải quyết. hơn nữa, việc xây dựng những mối quan hệ cá nhân với các nhân viên nhằm tạo ra một tinh thần đồng đội gắn bó đã chiếm rất nhiều thời gian của anh. đương nhiên là vẫn còn công việc hằng ngày cần phải giải quyết. do đó mà huy vẫn còn ngần ngừ chưa tiến hành bước thứ hai trong việc cải tổ bộ máy, vì việc này đòi hỏi phải suy nghĩ thật thấu đáo, phải dự báo nhân sự cần điều động, phải thay đổi thói quen làm việc của nhiều người, v.v….

    hôm nay thì huy cho rằng đã đến lúc anh phải xem xét vấn đề một cách nghiêm túc và thấu đáo nhưng vừa bước vào cửa tòa nhà dành cho bộ phận hành chánh, huy đã gặp bạch, quản đốc phân xưởng số 2, với vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt.

    chào anh bạch, hôm nay tình hình thếnào ?” huy hỏi.

    “không tốt lắm”,  bạch trả lời : “tôi có một máy trộn hóa chất bị hư từ tối qua mà các anh bên bảo trì còn chưa thấy tới. ngoài ra, sáng nay khi thay ca, tôi phát hiện ra là mình thiếu một công nhân”.

    “thếcái máy trộn hóa chất của anh có vấn dề gì ?”

    “ồ, anh biết đấy, đây không phải là lần đầu tiên nó bị hư. loại máy này dược thiết kế để chạy ban ngày mà thôi. từ khi chúng ta chuyển sang sản xuất liên tục, kể cả buổi tối, thì chúng thường xuyên bị trục trặc”.

    vậy anh hãy hỏi ý kiến các anh bên bảo trì”

    tôi mới vừa đặt một phiếu sửa chữa lên bàn của bộ phận bảo trì, nhưng tôi biết hiện họ còn đang bận rộn sửa máy phân xưởng số 3 và không dễ gì họ cử một anh đến chỗ chúng tôi trước ngày mai hoặc ngày mốt”.

    “nếu vậy thì anh để tôi giải quyết dùm cho, và anh sẽ thấy là sự việc sẽ không kéo dài đâu !”.

    “tôi còn thiếu một công nhân, và anh cũng biết là việc tinh giản bộ máy không làm công việc của chúng tôi nhẹ hơn để mà choàng việc cho nhau !”.

    “thôi được rồi, anh bạch, anh thế nào cũng tìm ra được cách giải quyết mà ! đây đâu phải lần đầu tiên anh gặp chuyện này đâu !”.  huy nói với bạch và bắt đầu cảm thấy bực bội.

    “chính vì không phải là lần đầu nên tôi lại càng phải báo cho anh biết”, bạch trả lời, nhưng lúc này thì huy đã vào tới phòng của anh rồi.

    vào phòng làm việc, huy nhìn lướt qua xấp giấy tờ cô thư ký của anh đã chuẩn bị sẵn trên khay. sau đó, anh đọc lại bản báo cáo anh vừa soạn tối qua để gửi cho ban giám đốc ngành thuốc nhuộm của công ty. lúc thảo xong thì đã 20 giờ nên huy muốn đọc lại lần nữa, vì bản báo cáo này khá quan trọng…

    huy vẫn còn đang sửa bản báo cáo thì lúc 8g05, cô thư ký bước vào phòng để hỏi xem anh có cần cô giúp gì không. chuông điện thoại reo và huy phải nhấc máy vì không có thư ký trực tổng đài để chọn lọc. trong điện thoại là ông ân, trưởng phòng nhân sự, cần có ý kiến của anh về một đơn xin thuyên chuyển. huy trả lời ông ân và sẳn dịp cũng đề cập đến vấn đề thiếu nhân sự tại phân xưởng 2. sau đó huy kết thúc giao việc cho cô thư ký và anh gọi điện cho trưởng bộ phận bảo trì để yêu cầu cử người sang sửa chữa máy ở phân xưởng 2. lại một lần nữa, anh này tỏ vẻ khó khăn :

    “nhưng anh cũng biết là phân xưởng 3 cũng có máy đang hư”

    “nghe này, anh nên tự thu xếp lấy. dù sao đi nữa, bảo trì phải phục vụ sản xuất chứ không phải là ngược lại”, và huy giận dữ cúp máy.

    đây không phải là lần đầu tiên trưởng bộ phận bảo trì gây khó khăn cho công việc chung. có lẽ vì ngay từ khi mới nhậm chức, huy đã tinh giản bộ máy trước tiên là ở bộ phận này.

    sau đó, huy bắt đầu đọc và giải quyết các công văn. anh yêu cầu cô thư ký cung cấp thông tin để trả lời một số thư, và chừa lại những công văn quan trọng để có thời gian suy nghĩ và trả lời sau. một trong số các công văn này từ ban giám đốc ngành thuốc nhuộm, yêu cầu nộp kế hoạch sản xuất. vì thế huy gọi điện thoại cho trưởng phòng sản xuất để biết kết quả sản xuất tối hôm trước và nhờ anh này mời kỹ sư phụ trách ca tối cùng đến làm việc chung. trong khi chờ đợi, huy lợi dụng chút thời gian rỗi để sấp xếp thứ tự các hồ sơ, vừa suy nghĩ về những khó khăn trong công tác lãnh đạo :

    “vấn đề của một giám đốc là lúc nào cũng phải giải quyết những khó khăn của những người khác mà không còn thời gian để suy nghĩ về công việc của chính mình, cụ thể là sự phát triển trong dài hạn”.

    sau đó, huy có một cuộc họp ngắn trong vòng 15 phút với trưởng phòng sản xuất và kỹ sư trưởng ca đêm. cuộc họp này giúp anh nắm rõ những con số thực hiện bởi ca đêm, nhấn mạnh một số điểm yếu xảy ra tối qua. một lần nữa, huy nhận thấy rằng phần điện tiêu thụ là quá cao, và điều này khiến anh phải thảo luận với các cộng sự về biện pháp điều chỉnh đường dẫn hơi nước ở phân xưởng 4.

    đến 8g45, huy đi một vòng nhà máy như mọi hôm. anh cố gắng dành thời gian thực hiện việc này, nhằm mục đích thiết lập những mối quan hệ trục tiếp với nhân viên, lắm bắt những mối quan tâm lo lắng của họ. trên đường đi, huy dừng lại trò chuyện với một kỹ sư phòng phương pháp mà anh đánh giá là rất có triển vọng và muốn động viên. huy đề cập với anh này việc điều chỉnh đường dẫn hơi nước ở phân xưởng 4.

    ngoài ra, huy còn gặp người phụ trách bộ phận giao hàng và hỏi ông này về những khó khăn gặp phải. sau cùng, anh còn gặp và nghe ông đại diện công đoàn than phiền rằng công nhân không hài lòng về cách mà các quản đốc giải quyết vấn đề thay người. do cách trình bày của vị đại diện công đoàn đầy ý chỉ trích, huy chuyển ông ta đến làm việc với trưởng phòng nhân sự.

    quay về phòng làm việc của mình, huy có một cuộc họp hàng tuần với các cán bộ chủ chốt của nhà máy. anh tóm lược kết quả làm việc với ban giám đốc ngành thuốc nhuộm vào thứ sáu tuần trước ở trụ sở công ty. huy cũng nhấn mạnh mục tiêu lợi nhuận cần đạt được của ngành, và nhất là của nhà máy bình hòa. sau đó, anh trả lời các câu hỏi thắc mắc của trướng phòng thí nghiệm. một câu hỏi của trưởng bộ phận bảo trì kế đó dẫn đến cuộc thảo luận về sự cần thiết áp dụng một hệ thống phiếu đăng ký sửa chữa mới. đúng lúc đó thì cô thư ký bước vào đưa công văn và báo có điện thoại của giám đốc ngành.

    huy chấm dứt cuộc họp bằng cách đề nghị trưởng phòng sản xuất lập một nhóm làm việc bao gồm hai bộ phận sản xuất và bảo trì.

    giám đốc ngành là thủ trưởng của huy. ông báo cho anh biết sắp tới sẽ có đợt làm việc với một nhóm kiểm toán do công ty cử xuống và họ cùng bàn luận về cách trình bày kết quả đạt được ở nhà máy bình hòa. cùng lúc, họ cũng thảo luận về chiến lược phát triển của công ty và sau cùng, họ thống nhất gặp nhau vào cuối tuần để chuẩn bị đón đoàn kiểm toán. cuộc hẹn này không thuận tiện lắm cho huy vì buộc anh phải đi xuống trung tâm thành phố hai lần trong tuần này, nhưng ông giám đốc ngành không còn ngày nào khác sau khi nói chuyện với cấp trên xong, huy gọi cô thư ký vào để nhờ dời lại các cuộc hẹn trùng giờ. anh nhìn lướt qua xấp thư từ công văn và nhận thấy không có ai khẩn cấp.

    và thế là anh đi ăn trưa cùng với ông trưởng phòng nhân sự. hai người thảo luận về không khí làm việc trong nhà máy và những ảnh hưởng có thể xảy ra từ việc tổ chức lại phân xưởng 4 sẽ thực hiện sắp tới.

    sau khi ăn trưa về, huy hướng dẫn cô thư ký trả lời một số thư nhận được ban sáng và thận được cú điện thoại từ trưởng phòng kinh doanh. ông này đề nghị anh cho phép giao hàng sớm hơn để có thời gian thực hiện một hợp đồng khác quan trọng hơn. điều này khiến huy phải gọi trưởng phòng sản xuất lên gặp để thay đổi kế hoạch sản xuất. sau đó, anh lợi dụng chút thời gian rỗi để sang gặp phòng phương pháp. anh trưởng phòng này nhân dịp đó đã trình bày một số trục trặc với những người nhận gia công, và các khó khăn từ việc tái lập cơ chế gọi thầu từ một tháng lay. cuộc họp ban sáng kết thúc quá sớm làm trưởng phòng phương pháp đã không kịp báo cáo các vấn đề trên.

    cuộc trao đổi này kéo dài gần một giờ nhưng cho phép huy giải quyết một số vấn đề quan trọng, và nhất là giữ được mối quan hệ trực tiếp với trưởng phòng phương pháp là người đã lâu huy không gặp. anh trưởng phòng này cũng lợi dụng cơ hội để trình bày những nguyện vọng thăng tiến cá nhân trong vòng 45 phút. huy cũng cố gắng nghe nhưng không nói gì nhiều vì anh trưởng phòng này đã đạt đến chức vụ cao nhất trong qui trình thăng tiến của anh ta tại công ty. dù sao, việc huy lắng nghe những nguyện vọng cá nhân của cộng sự đã chứng tỏ anh quan tâm đến họ. sau cùng thì anh trưởng phòng phương pháp lại tỏ vẻ hài lòng về cuộc nói chuyện này, dù huy không muốn cũng như không thể hứa hẹn điều gì với anh.

    huy trở về phòng làm việc. anh có một ít thời gian riêng và dùng để đọc một nghiên cứu về thị trường thuốc nhuộm ở các nước vùng asean và về chiến lược của công ty trong vòng năm năm tới. anh có một số ý kiến về kết luận của nghiên cứu và định gửi đến cho ông giám đốc ngành, nhưng cô thư ký của anh đã ra về và huy dời việc này lại vào ngày hôm sau.

    đồng hồ chỉ 18g30, toàn bộ nhân viên hành chánh đã ra về từ 17g. huy nghĩ đến việc nghiên cứu kế hoạch thực hiện cải tổ ở phân xưởng 4. nhưng trời đã tối và anh cảm thấy mệt. thế là huy quyết định về nhà đúng giờ chứ không trễ như mọi hôm. anh xếp vào cặp hai hồ sơ mà anh chưa có thời gian đọc và hướng về chỗ để xe. trên đường đi, huy gặp một quản đốc than phiền về những đoạn đang sửa chữa trên đường dẫn đến nhà máy.

    trên đường về, vừa chú ý lái xe, huy vừa suy nghĩ về ngày làm việc vừa xong. “tôi đã làm được những việc có ích”, anh tự nhủ, “nhưng thật là khó suy nghĩ cặn kẽ và nhìn toàn cảnh các vấn đề khi ở một chức vụ như thế này”.

    câu hỏi

    1. anh (chị) có ý kiến gì về việc sử dụng thời gian của giám đốc huy trong ngày làm việc được mô tả trên đây ?
    2. anh (chị) hãy phân tích các công việc của giám đốc huy trong ngày làm việc được mô tả trên đây theo mẫu sau ?

    để thuận tiện cho việc điền vào khung, chúng ta quy định như sau :

    về mức độ “quan trọng” bạn theo cách chia làm thành hai cấp : nhiều ít

    về mức độ “khẩn trương” bạn theo cách chia làm thành hai cấp : nhiều ít

    về mức độ “kiểm soát” bạn theo cách sau :

    0 : không kiểm soát được trong công việc

    1 : kiểm soát một phần trong công việc

    2 : kiểm soát hoàn toàn trong công việc

    về mức độ “chủ động” bạn theo cách sau :

    0 : bị động hoàn toàn trong công việc

    1 : linh động một phần trong công việc

    2 : chủ động hoàn toàn trong công việc

     

    công việc

    quan trọng

    khẩn trương

    chủ động

    kiểm soát

    ủy quyền

    các hành động phải tiến hành

    ưu tiên

    khi nào

                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     

    bài tập

    quản lý thời gian

    nội dung

    không

    1. tôi có trí nhớ tốt, không cần ghi chú

       

    2. tôi chẳng bỏ tài liệu lào vì biết đâu có lúc cầrl đến sau này

       

    3. tôi khó chấm dứt một cuộc gọi điện thoại. nó cứ kéo dài lê thê

       

    4. tôi ít luyện tập thể dục. quá bận.

       

    5. tôi thích dành thời gian với các đồng sự. cửa phòng tôi luôn mở, đón chào họ

       

    6. tôi không giao việc khó cho nhân viên. dù sao tôi vẫn tự làm thì tốt nhất

       

    7. trong buổi họp, mọi người đều được phép phát biểu bất kể thời gian.

       

    8. tôi có thời gian biểu để biết mình phải làm gì, ở đâu, bao lâu.

       

    9. tôi hay dồn việc vào lúc cuối. hình như tôi làm tốt hơn nếu chịu sức ép.

       

    10. hàng tuần, tôi có để chút thời gian suy nghĩ về những điều quan trọng trong công việc.

       

    11. bạn khó nhìn thấy tôi vì bàn làm việc của tôi ngập đầy hồ sơ đang xử lý

       

    12. tôi hãnh diện vì công việc tôi làm được thực hiện đến mức hoàn hảo.

       

    13. tôi không quyết định ngay mà dành thêm thời gian để suy nghĩ.

    tôi không muốn sai lầm vì hối thúc cho nhanh chóng xong công việc.

       

    14. tôi bận đến nỗi không còn thời gian gặp bạn bè, người thân. cái giá của thành công mà !

       

    15. nếu không thích tôi sẽ bỏ trôi công việc

       

    16. tôi thường ôm đồm quá nhiều việc nên khó làm xong một chuyện gì

       

    17. tôi hay lang thang trong cơ quan và nghỉ giải lao lâu

       

    18. tôi cố giải quyết thư từ đầy đủ cả

       

    19. tôi có ấn định thời hạn và tuân thủ theo

       

    20. tôi có thời gian cho gia đình và bạn bè.

       

    kết quả : các câu : 8, 9, 10, 18, 19, 20 nếu được đánh dấu “có” Þ tốt

     

    bài tập 1 : những điều quan tâm

    tt

    nội dung

    không

    1

    tôi có trí nhớ tốt, không cần ghi chú

       

    2

    tôi chẳng bỏ tài liệu nào vì biết đâu có lúc cần đến sau này

       

    3

    tôi khó chấm dứt một cuộc gọi điện thoại. nó cứ kéo dài lê thê.

       

    4

    tôi ít luyện tập thể dục. quá bận.

       

    5

    tôi thích dành thời gian với các đồng sự. cửa phòng tôi luôn mở, đón chào họ

       

    6

    tôi không giao việc khó cho nhân viên. dù sao tôi vẫn tự làm thì tốt nhất

       

    7

    trong buổi họp, mọi người đều được phép phát biểu bất kể thời gian.

       

    8

    tôi có thời gian biểu để biết mình phải làm gì, ở đâu, bao lâu.

       

    9

    tôi hay dồn việc vào lúc cuối. hình như tôi làm tốt hơn nếu chịu sức ép.

       

    10

    hàng tuần, tôi có để chút thời gian suy nghĩ về những điều quan trọng trong công việc.

       

    11

    bạn khó nhìn thấy tôi vì bàn làm việc của tôi ngập đầy hồ sơ đang xử lý

       

    12

    tôi hãnh diện vì công việc tôi làm được thực hiện đến mức hoàn hảo.

       

    13

    tôi không quyết định ngay mà đành thêm thời gian để suy nghĩ.

    tôi không muốn sai lầm vì hối thúc cho nhanh chóng xong công việc.

       

    14

    tôi bận đến nỗi không còn thời gian gặp bạn bè, người thân. cái giá của thành công mà !

       

    15

    nếu không thích tôi sẽ bỏ trôi công việc.

       

    16

    tôi thường ôm đồm quá nhiều việc nên khó làm xong một chuyện gì.

       

    17

    tôi hay lang thang trong cơ quan và nghỉ giải lao lâu.

       

    18

    tôi cố giải quyết thư từ đầy đủ cả

       

    19

    tôi có ấn định thời hạn và tuân thủ theo

       

    20

    tôi có thời gian cho gia đình và bạn bè.

       

    cách tính điểm :

    – nếu trả lời “có” cho câu 8, 9, 10, 18, 19, 20 và “không” cho tất cả những câu còn lại thì bạn đã sắp xếp thời gian của mình tương đối khá hợp lý.

    – nếu trả lời “không” cho các câu 8, 9, 10, 18, 19, 20 hoặc trả lời “có” cho các câu còn lại thì bạn làm mất thời gian quý báu của mình.

     

    bài tập 2 : mục tiêu của bạn

    1. liệt kê trên giấy những điều bạn muốn thực hiện trong hai, ba năm tới : cá nhân, công việc (kinh doanh và sự nghiệp), gia đình.

    hãy viết ra bao nhiêu mục tiêu tùy thích.

    1. hãy để danh sách một bên khoảng vài ngày nếu được. sau đó xem lại danh sách, thay đổi, sửa chữa, hoàn thiện. rồi hãy sắp xếp ưu tiên trong từng lãnh vực : cá nhân, công việc, gia đình. hãy tìm ra 5 điểm quan trọng trong từng lãnh vực. hãy viết theo thứ rự ưu tiên dựa trên mẫu sau đây :

    hãy làm ngay : mục tiêu của tôi

    1. hãy xét kỹ từng mục đích một và xem xét đâu là điểm thực sự quan trọng nhất. sắp xếp theo số từ 1. nếu bạn không thích mức độ chi tiết theo mẫu thì hãy làm như sau :
    2. rất quan trọng
    • quan trọng
    1. không quan trọng lắm
    2. đặt hạn định thử (khi nào xong ?). có mục tiêu ngắn hạn, có cái kéo dài hai năm.

    bạn hãy tự quyết định.

    1. liệt kê vài phương pháp bạn dùng để đạt mục tiêu. bạn có thể làm gì để thực hiện mục tiêu của mình ?

    cá nhân

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

     

    1

    2

    3

    4

    5

         

    công việc

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

     

    1

    2

    3

    4

    5

         

    gia đình

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

     

    1

    2

    3

    4

    5

         

    đây là một thí dụ :

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

    3

    2

    đạt danh hiệu người bán hàng giỏi nhất trong năm

    6/1993

    liên hệ với hai khách hàng mỗi tuần. giữ liên lạc với khách. tăng thêm đơn đặt hàng

     

    bài tập 3 : ảnh hưởng đối với thời gian – các yếu tố khác

    đây là một phương án làm việc có đánh giá về ảnh hưởng đối với thời gian của lãnh đạo.

    thí dụ :

    mô tả

    ảnh hưởng đối với thời gian

    cửa luôn mở tiếp nhân viên không cần lý do.

    gián đoạn công việc luôn. không thể theo dự án dài hạn. không thể tập trung.

    1

    2

    3

    thói quen

    1

    2

    3

    tác phong

    1

    2

    3

    giao tiếp

    bài tập 4 : kiểm soát và chủ động

    hãy đánh dấu x vào điểm gặp nhau của “kiểm soát” và “chủ động”. nếu bạn đánh giá càng cao thì công việc càng quan trọng đối với bạn. khả năng kiểm soát và chủ động của bạn là động lực chính của bạn.

     

    đây chỉ là một thí dụ nhỏ của một công việc. nếu bạn xem xét hết công việc trong ngày/tuần, bạn sẽ thấy mình rơi vào khu vực (1). có nghĩa là bạn đang bị tác động của người khác thay vì kiểm soát được thời gian của mình. thật ra cũng có những việc bạn không có quyền gì mà chỉ phải làm theo. đó là thực tế nơi làm việc. trong nhiều trường hợp khác, bạn có thể đã bị người khác tác động lên thời gian của mình do những việc họ đề xuất khởi xướng mà chính bạn không cần phải làm theo. thí dụ, một người quen cứ mỗi thứ hai lại ghé văn phòng bàn chuyện bóng đá cuối tuần.

    anh ta bắt đầu câu chuyện và kéo bạn vào theo. nếu cứ để xảy ra, thì bạn mất kiểm soát hoàn toàn trong thời gian bàn luận cả tiếng đồng hồ.

    vậy hãy cố dành thời gian cho khu vực (4). không thể bỏ qua những trách nhiệm khó chịu. nhưng bạn vẫn có thể kiểm soát tình hình ở nhiều cơ hội khác. thí dụ có thể bàn chuyện bóng đá lúc giải lao.

    kiểm soát và chủ động còn có nghĩa “tích cực” và “tiêu cực”.

    công việc tích cực là điều cần làm để đạt mục tiêu.

    công việc tiêu cực là điều ngăn trở xuất hiện tại văn phòng mỗi ngày cần được giải quyết ngay để công việc chạy đều.

    từ ngữ không phải là ý chính. nhưng cần hiểu làm thế nào phân loại trách nhiệm công việc để có thể tập trung thời gian cho điều ích lợi quan trọng hơn.

     

    bài tập 5 : quan trọng và khẩn trương

    hãy xem xét vài việc trong thời gian biểu của bạn. việc nào quan trọng? việc nào khẩn? đánh giá theo khung sau đây.

    bạn sẽ hình dung ra được cần phải ưu tiên việc nào.

    • giao phó :

    hãy tự hỏi xem bạn có cần tự làm hay có thể giao việc cho người khác. nếu giao phó được, vì quyền lợi của cơ quan hay đồng nghiệp, bạn cần gì phải tự làm mất thời gian của mình.

     

    bài tập 6 : kẻ cắp thời gian của tôi

    dời việc lại

     

    do dự

     

    lo lắng

     

    họp kém hiệu quả

     

    thiếu tự tin

     

    không giao quyền đủ

     

    hội họp không tổ chức

     

    mệt mỏi

     

    lỗi lầm

     

    cầu toàn

     

    chuyện phiếm

     

    mục đích không rõ ràng

     

    thiếu hướng dẫn

     

    kiểm tra kém cõi

     

    kế hoạch thiếu sót

     

    viết văn kém

     

    nói điện thoại lâu

     

    làm việc của người

     

    không lắng nghe

     

    không dùng thì giờ thuận tiện

     

    không ghi ra giấy các mục tiêu

     

    giao tiếp không rõ ràng

     

    dựa vào ghi chú trên giấy nhỏ

     

    ăn trưa lâu

     

    không dùng mẫu có sẵn

     

    không tiết kiệm thời gian

     

    rình mò nhân viên

     

    không liên tục

     

    không xác định thời hạn

     

    không biết nói “không”

     

    bài tập 7 :

    nội dung

    không

    1. bạn có cần quá 5 phút để tìm thấy một vật trên bàn ?

       

    2. bạn có thường bối rối khi phải tìm một vật gì trên bàn ?

       

    3. bạn có đống hồ sơ tồn tại quá lâu trên bàn ?

       

    4. bạn có đọc và hay lưu thư từ quá nhiều ?

       

    5. bạn có phải lục tung giấy tờ trên bàn để tìm tài liệu ?

       

    6. bạn có khó tìm một tài liệu trong tủ hồ sơ ?

       

    7. bạn có phải rời bàn làm việc mỗi khi lấy vật gì ?

       

    8. bạn có hồ sơ nào tồn đọng cả tuần ?

       

    9. bạn có nghĩ sẽ tốt hơn nếu có bàn rộng hơn ?

       

    10. bạn có để hồ sơ trên bàn mà không ghi chú thời hạn xử lý ?

       

    nếu bạn trả lời “có” cho hơn nửa số câu hỏi thì bạn đang bị mất thời gian vì văn phòng bừa bộn quá. cho dù chỉ có một trả lời “có” bạn cũng nên tìm cách khắc phục. nếu trả lời “không” thì chúc mừng bạn có một nơi gọn gàng ít làm tốn thời gian của bạn.

    nhiều người mất nhiều thời gian hồ sơ thất lạc ngay trên đóng tài liệu lộn xộn trên bàn làm việc.

    hãy giữ sạch sẽ gọn gàng và ghi nhớ chỗ của mỗi thứ trên bàn làm việc.

     

    bài tập 8 : tôi có cầu toàn ?

    khoanh tròn câu thích hợp với bạn

    không thích hợp :              1

    thích hợp chút ít :              2

    hoàn toàn thích hợp :        3

    nội dung

    khoanh tròn câu thích hợp

    1. nếu muốn hoàn hảo, tôi phải tự làm lấy mới được

    1

    2

    3

    2. yêu cầu cao đối với bản thân. không bao giờ bỏ cuộc

    1

    2

    3

    3. tôi sửa nháp 3 lần cho một lá thư

    1

    2

    3

    4. tôi sẽ gia hạn nếu không bằng lòng kết quả. tôi luôn làm thế

    1

    2

    3

    5. phê bình người khác ở văn phòng cũng như ở nhà

    1

    2

    3

    6. càng đọc các văn bản do tôi viết, tôi càng thấy khó bằng lòng với công việc

    1

    2

    3

    7. khi làm việc tôi hay lưu ý những chi tiết nhỏ

    1

    2

    3

    8. tôi sợ phạm sai lầm . tôi không vui và người khác cũng thế

    1

    2

    3

    9. nhân viên góp ý rằng tôi khó. nhưng tôi chỉ muốn mọi điều tốt

    1

    2

    3

    10. tôi không thích nhờ ai giúp đỡ

    1

    2

    3

    11. tôi ít ủy quyền vì tôi phải mất thời gian giám sát luôn

    1

    2

    3

    12. nếu không tin chắc, tôi không bắt tay vào làm công việc

    1

    2

    3

     

    tổng số điểm :

    cộng điểm lại và ghi vào ô. nếu :

    > 24 điểm, bạn quá cầu toàn. bạn bị ám ảnh phải làm mọi việc cho bằng được luôn luôn. rất ít việc nào làm như ý bạn muốn. cần phải chấp nhận như vậy nếu không thì bạn lãng phí quá nhiều thời gian.

    hãy tin tưởng người chung quanh để giao việc và chú tâm vào việc quan trọng hơn hết mà thôi.

     

    bài tập 9 : loại trừ kẻ cắp thời gian

    kẻ cắp 1 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    kẻ cắp 2 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    kẻ cắp 3 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận: Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-C%E1%BA%A4P-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-KINH-T%E1%BA%BE-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM-NH%C3%8CN-T%E1%BB%AA-G%C3%93C-%C4%90%E1%BB%98-TH%E1%BB%82-CH%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế

    PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ1

     

    Vũ Thành Tự Anh

     

    Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

     

    1.       Giới thiệu

     

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam được khởi động từ Đổi mới (1986) và được tăng tốc từ cuối thập niên 1990. Đồng thời, phạm vi phân cấp cũng liên tục được mở rộng, cho đến giữa thập niên 2000 đã bao trùm sáu lĩnh vực chính là: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sách nhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức. Chính phủ kỳ vọng rằng chính sách phân cấp sẽ giúp “phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.”2

     

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế, kết quả thu được không như kỳ vọng. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh các giữa chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

     

    Trong quá trình phân cấp ở Việt Nam, nổi lên bốn mâu thuẫn có tính nền tảng trong bản thân hệ thống nhà nước. Thứ nhất, phân cấp ở một quốc gia nhất thể và tôn ti trật tự như Việt Nam nhất thiết đòi hỏi sự chuyển đổi vai trò của nhà nước, từ vai trò truyền thống như người ra và thực hiện quyết định trở thành người định hướng và xác lập luật chơi. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này không hề đơn giản vì nó kéo theo không

     

    • Bài viết này do TS. Vũ Thành Tự Anh thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Bài viết này được thực hiện hoàn toàn với danh nghĩa cá nhân, và do vậy, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hay của Chương trình Việt Nam tại Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy. Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét quý báu của người thảo luận – Ông Trương Đình Tuyển – cố vấn cao cấp của Thủ tướng Chính phủ và nguyên Bộ trưởng Bộ Thương Mại. Đề nghị không phổ biến và trích dẫn nếu không được

    sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.

    • Nghị quyết 08/2004/NQ-CP.

     

     

    1

     

    chỉ thay đổi về tổ chức nội bộ, minh định lại các nhiệm vụ và chức năng, mà còn làm xói mòn quyền lực có tính tùy định vốn có của nhà nước. Thứ hai, trách nhiệm được phân cấp nhiều hơn trong nhiều trường hợp không đi đôi với sự gia tăng nguồn lực một cách cân xứng, khiến cho địa phương bị quá tải. Thứ ba, việc tăng tính tự chủ cho chính quyền địa phương không tự nó đảm bảo trách nhiệm giải trình. Và thứ tư, việc tăng tính tự quản (self-governance) của chính quyền địa phương trong nhiều trường hợp thực tế đã dẫn tới việc phá vỡ tính thống nhất của chính sách quốc gia.

     

    Theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này sẽ đánh giá tổng quan về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam trên các phương diện cơ sở lý thuyết, bản chất, và những nguyên tắc của phân cấp; thực trạng phân cấp kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua và những hệ quả của nó; từ đó đưa ra những khuyến nghị về đổi mới chính sách phân cấp. Vì tính chất tổng quan, bài viết này sẽ không đi sâu vào các khía cạnh cụ thể của phân cấp – là chủ đề của các bài viết khác trong Diễn đàn này – mà tập trung vào các vấn đề chung, xuyên suốt các khía cạnh khác nhau của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này chỉ tập trung phân tích mối quan hệ phân quyền giữa hai cấp chính quyền quan trọng nhất – đó là giữa chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng phân cấp là một khái niệm rất đa diện, và như sẽ chỉ ra trong bài viết này, việc chỉ thu hẹp mối quan tâm vào một số phương diện sẽ có nguy cơ dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức, thậm chí phiến diện trong thiết kế chính sách.

     

    • thời điểm hiện nay, việc thảo luận về định hình lại chính sách phân cấp đặc biệt thích hợp khi quá trình sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Quốc hội, trong đó mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương hiển nhiên là một nội dung trọng yếu. Bên cạnh đó, hai đạo luật đặc biệt quan trọng đối với phân cấp là Luật Đầu tư công – mua sắm công và Luật Đất đai (sửa đổi) đã được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm 2013. Hơn nữa, việc sửa đổi các Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, và Luật ngân sách nhà nước sẽ được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm

    2014.

     

    All data used for this analysis were obtained either from official government sources, including the General Statistical Office (GSO), Ministry of Finance (MOF), Ministry of Planning and Investment (MPI), or from studies funded by international donors such as the World Bank, UNDP, and USAID.

     

    Phần còn lại của bài viết này được chia thành năm phần. Phần 2 trình bày ngắn gọn khái niệm phân cấp. Phần 3 giải thích tại sao lại cần phân cấp từ góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn. Phần 4 thảo luận một cách khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

     

    2

     

    kể từ Đổi mới trở lại đây. Phần 5 sẽ đánh giá một cách tổng quan những thành công và hạn chế của phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam. Phần 6 sẽ kết luận và đưa ra một số gợi ý chính sách, trong đó nhấn mạnh nhu cầu thay đổi một cách cơ bản quan niệm về phân cấp và thiết kế phân cấp ở Việt Nam.

     

    2.       Khái niệm phân cấp

     

    Phân cấp (decentralization) là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các chính quyền địa phương hay cho khu vực kinh tế tư nhân. Ở một số quốc gia đang tiến hành chuyển đổi hệ thống kinh tế như Việt Nam, phân cấp còn bao hàm sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và cho thị trường. Các hình thức phân cấp này có đặc điểm chung là đều bắt đầu với sự minh định lại vai trò của nhà nước, để trên cơ sở đó tiến hành phân định quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa nhà nước với thị trường, và giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân và khu vực dân sự.

     

    Các lĩnh vực của phân cấp rất rộng, tuy nhiên về đại thể có thể chia thành bốn nhóm chính như sau:

     

    • : mục đích là tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân và các

    thể chế dân cử được tham gia và có tiếng nói trong quá trình hoạch định chính

     

    sách ở địa phương. Thông qua phân cấp chính trị, chính quyền địa phương và

     

    các đại biểu dân cử sẽ có trách nhiệm giải trình cao hơn trước người dân địa

     

    phương.

    • : là việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm trong việc

    thực hiện các nhiệm vụ công từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa

     

    phương. Thông qua quá trình này, công tác kế hoạch, quy hoạch, quản lý, điều

     

    hành, thậm chí cả tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công sẽ được

     

    chuyển giao từ cấp trung ương xuống các cơ quan hành chính địa phương. Phân

     

    cấp hành chính được chia thành 3 nhóm

     

    • Phi tập trung (deconcentralization) là hình thức chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm cho các đơn vị đại diện chính quyền trung ương ở các vùng hay địa phương (ví dụ văn phòng đại diện của bộ ở các vùng , theo đó các cơ quan đại diện này thực thi các chính sách quốc gia do các cơ quan trung ương ban hành. Đây là hình thức thấp nhất trong các hình thức phân cấp hành chính, thậm chí có người cho rằng nó không phải là hình

    thức phân cấp bởi vì việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chỉ diễn ra trong nội bộ ngành dọc của trung ương.

     

    • Uỷ quyền (delegation) là hình thức phân cấp hành chính trong đó chính quyền trung ương chuyển giao quyền quyết định và trách nhiệm điều hành cho cơ quan địa phương trong khuôn khổ các hướng dẫn do chính

    3

     

    quyền cấp cao hơn ban hành. Trong hình thức phân cấp này, chính quyền địa phương thay mặt chính quyền trung ương để ra quyết định, song chính quyền trung ương vẫn chịu trách nhiệm về các quyết định này.

     

    o    Phân ề (devolution): là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất theo đó toàn bộ chức năng ra quyết định, quản lý và tài chính được chuyển giao cho chính quyền địa phương. Trong các trường hợp cụ thể, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm giải trình trước các quan chức dân cử. Đồng thời, các quan chức dân cử sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri chứ không phải là trước chính quyền các cấp cao hơn.

     

    • Phân c p ngân sách: là trọng tâm của mọi biện pháp phân cấp. Mỗi đơn vị phân cấp chỉ có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp khi họ có đủ các nguồn lực cần thiết và có quyền đưa ra các quyết định chi tiêu. Bốn nội dung trọng tâm của phân cấp ngân sách bao gồm (i) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chi tiêu; (ii) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm thu ngân sách; (iii) chuyển giao ngân sách từ trung ương cho địa phương và điều tiết ngân sách từ

    địa phương về trung ương; và (iv quy định về khả năng đi vay và phát hành nợ của chính quyền địa phương.

     

    • Phân c p th ường: là hình thức phân cấp trong đó nhà nước chuyển giao một số chức năng từ khu vực công sang khu vực tư và từ nhà nước sang thị trường. Như vậy một số quyền hạn và nhiệm vụ trước đây thuộc các cơ quan nhà nước sẽ được chuyển giao cho khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã, các hiệp hội, và các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Hình thức này lại có thể được phân thành hai nhóm, bao gồm: (i) “tư nhân hoá” – chuyển giao việc cung ứng một số sản phẩm và dịch vụ từ nhà nước sang các chủ thể ngoài nhà nước; và (ii) giải quy chế – giảm các rào cản hành chính, tạo điều kiện cho các chủ thể ngoài nhà nước tham gia vào thị trường.

    Cách phân loại phân cấp thứ hai không căn cứ vào lĩnh vực phân cấp mà căn cứ vào các chức ă g trong quá trình hoạch định chính sách công. Theo cách phân loại này, việc phân cấp có thể được thực hiện đối với một số hoặc toàn bộ các chức năng hoạch định chính sách công, từ việc đưa ra đề xuất chính sách và lập kế hoạch cho đến việc thực hiện, giám sát, và đánh giá chính sách.

     

     

     

    4

     

    Hình 1. Sơ đồ nội dung và chức năng phân cấp

     

    Trung Ương

     

     Hoạch định Phân cấp chính trị

     

    Tài trợ

     

    Phân cấp hành chính

     

    Địa phương

    Thực hiện

     

    Phân cấp ngân sách

    Giám sát

     

    Phân cấp thị trường

     

     Kiểm toán, đánh giá Các cấp NS thấp

    hơn

     

    Khái niệm và hai cách phân loại phân cấp được minh họa trong

     

     

    Hình 1. Sự kết hợp giữa hai cách phân loại này có thể đưa đến rất nhiều cấu hình (hay trạng thái) phân cấp khác nhau. Nói cách khác, lựa chọn trong việc thiết kế phân cấp không đơn thuần là “có” hay “không” phân cấp, mà là phối hợp các nội dung và các chức năng phân cấp như thế nào để tạo ra cấu hình phân cấp mong muốn. Bên cạnh đó, vì các nội dung và chức năng phân cấp có tính tương tác, nên khi thiết kế chính sách phân cấp, cần rất lưu ý đến trình tự và sự phối hợp giữa các nội dung và chức năng phân cấp để tạo ra hiệu quả tổng hợp cao nhất. Chẳng hạn như trong phạm vi của phân cấp ngân sách, nếu như phân cấp nguồn thu không đi trước, hoặc ít nhất là đi đôi với phân cấp nhiệm vụ chi thì địa phương sẽ không đủ nguồn tài chính để thực hiện những nhiệm vụ được giao thêm. Một ví dụ khác là nếu như việc phân cấp chức năng hoạch định và thực hiện đầu tư cho địa phương nhưng lại không đi kèm với những biện pháp đánh giá và điều phối thích hợp thì có thể dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả và lãng phí.

     

    Cần lưu ý rằng chính sách và quá trình phân cấp không được định hình và thực hiện một cách biệt lập mà trong một môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và pháp

     

    5

     

    luật nhất định – gọi chung là môi trường thế chế theo nghĩa rộng của thuật ngữ này3. Do vậy, thiết kế – và đương nhiên là cả kết quả – của chính sách phân cấp phụ thuộc vào môi trường thế chế chung của quốc gia. Một cách khái quát, các môi trường thể chế khác nhau sẽ tạo ra những động cơ khuyến khích khác nhau, từ đó đưa đến những hành vi và cuối cùng là các kết quả khác nhau. Những kết quả này, đến lượt mình, lại có tác động trở lại đối với môi trường thể chế, có thể theo hướng củng cố mà cũng có thể theo hướng làm rạn nứt các thể chế hiện tại. Và vòng lặp này cứ thế tiếp tục tái diễn.

     

    3.       Tại sao cần phân cấp?

     

    Làn sóng phân cấp trên thế giới trong mấy thập niên trở lại đây xuất phát từ cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Về phương diện lý thuyết, theo Stigler (1957) thì “một chính phủ đại diện hoạt động tốt nhất khi nó ở gần dân nhất” và “người dân phải có quyền bỏ phiếu cho loại hình và số lượng dịch vụ công mà họ cần”. Còn Olson (1969 đề xuất “nguyên lý tài khóa tương đương” như là tiêu chuẩn cho sự thiết kế phân chia quyền hạn giữa các cấp chính quyền, theo đó phạm vi của quyền hạn và lợi ích của dịch vụ công phải trùng nhau nhằm đảm bảo lợi ích biên của việc cung cấp dịch vụ công ngang bằng chi phí biên của nó và rằng không có vấn đề “người ăn theo”. Oates (1972 sau đó cụ thể hóa thêm khi viết rằng “dịch vụ công nên do cấp chính quyền đại diện tốt nhất cho vùng hay địa phương được hưởng lợi cung cấp” và “mỗi dịch vụ công nên được cung ứng bởi cấp chính quyền kiểm soát được khu vực địa lý tối thiểu trong đó “nội hóa” được các lợi ích và chi phí của việc cung cấp dịch vụ công này.”

     

    Lý thuyết của những học giả tiên phong về phân cấp này cũng như các lý thuyết phân cấp về sau (Shah 2004, WB 2010) đều cho rằng nhờ ở gần dân hơn nên so với chính quyền trung ương chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn về nhu cầu và ý nguyện của người dân, đồng thời thấu hiểu hơn những điều kiện đặc thù của địa phương. Vì vậy, chính quyền địa phương có thể đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các yêu cầu của người dân, và do vậy thích hợp hơn trong việc ra các quyết định tác động trực tiếp đến phúc lợi của người dân địa phương. Ở chiều ngược lại, vì người dân ở gần chính quyền địa phương hơn nên tiếng nói của họ cũng được chính quyền cảm nhận một cách nhanh chóng và rõ ràng hơn. Tựu trung lại, các lý thuyết về phân cấp cho rằng việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương xuống cho chính quyền địa phương, nhờ đó đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn, sẽ giúp tăng cường hiệu quả, tính công bằng, sự minh bạch, và trách nhiệm giải trình của khu vực công.

     

    Những lý thuyết này dựa trên một số giả định (điều kiện tiền đề), trong đó quan trọng nhất là những giả định về:

     

    • Thể chế (institution theo Douglass North (1990 bao gồm các quy tắc thành văn và không thành văn cũng những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.

     

     

    6

     

    • Minh bạch thông tin: Cộng đồng dân cư địa phương phải được tiếp cận thông tin về các quyết định công một cách đầy đủ, kịp thời, và chính xác. Chẳng hạn như khi chính quyền địa phương cung ứng một hàng hóa hay dịch vụ công thì người dân phải được thông tin về các lựa chọn chính sách khả hữu cùng với chi phí và lợi ích của chúng. Nếu thông tin được minh bạch thì một mặt sẽ giúp đảm bảo rằng việc cung ứng hàng hóa – dịch vụ công là có ý nghĩa, mặt khác giúp cộng đồng dân cư giảm sát một cách hiệu quả đối với kết quả hoạt động của chính quyền địa phương.
    • Tiếng nói: Tồn tại những cơ chế có hiệu lực để cộng đồng dân cư địa phương truyền đạt ý nguyện và các ưu tiên của mình tới chính quyền. Điều này, cùng với yêu cầu về minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình sẽ khuyến khích người dân tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách để bảo vệ lợi ích của mình và của cộng đồng.
    • Trách nhiệm giải trình: Đối tượng được phân cấp phải có trách nhiệm giải trình

    hai chiều: với chính quyền cấp trên mà từ đó trách nhiệm và quyền lực được phân cấp xuống dưới và với các đối tượng phía dưới chịu tác động trực tiếp của phân cấp. Lấy ví dụ như phân cấp từ chính quyền trung ương cho địa phương.

     

    Chính quyền địa phương khi ấy phải chịu trách nhiệm giải trình trong việc tuân thủ chủ trương, chính sách do chính quyền trung ương ban hành; đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân địa phương về chất lượng phục vụ của mình. Nếu thiếu những cơ chế đảm bảo trách nhiệm giải trình ở cả hai chiều này thì việc đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn một mặt không

     

    đảm bảo nó sẽ phục vụ người dân tốt hơn, mặt khác lại đưa nó ra xa khỏi tầm quản lý của chính quyền trung ương.

     

    • Nguồn lực: Ngay cả khi thông tin minh bạch, người dân có tiếng nói, và chính quyền địa phương có trách nhiệm song lại không đủ nguồn lực thì cũng không thể đáp ứng một cách có hiệu quả các ý nguyện của người dân. Nói cách khác, nếu tiền và các nguồn lực khác không đi theo sự gia tăng quyền hạn và trách nhiệm thì phân cấp sẽ rất khó thành công.4
    • Quy mô: Đơn vị phân cấp nên có quy mô đủ lớn để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời bao trùm được các lợi ích và chi phí của các hoạt động hay chức năng được phân cấp (để có thể “nội hóa” được ngoại tác, cả tiêu cực lẫn tích cực). Quy mô của đơn vị phân cấp đủ lớn – hay số lượng đơn vị phân cấp đủ nhỏ – còn giúp cho việc điều phối chính sách của trung ương cũng như phối hợp chính sách liên địa phương hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu quy mô phân cấp quá bé và số lượng đơn vị phân cấp quá nhiều sẽ dễ dẫn đến cạnh tranh
    • Điều này cũng hàm ý rằng, ít nhất từ phương diện lý thuyết, các địa phương với nguồn lực và năng lực khác nhau sẽ nên được phân cấp các quyền hạn và trách nhiệm không giống nhau.

     

     

    7

     

    không lành mạnh thay vì hợp tác giữa các địa phương. Điều này một mặt làm tăng chi phí và xói mòn tác dụng của phân cấp, mặt khác còn có thể đưa đến nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế quốc gia.

     

    Các giả định này đồng thời là những điều kiện cần (mặc dù chưa đủ) cho sự thành công của hoạt động phân cấp. Có thể thấy rằng cả năm điều kiện này đều chịu tác động, thậm chí trong một chừng mực nào đó là sản phẩm của môi trường thể chế. Vì vậy, để phân cấp thành công thì những yếu tố của môi trường thể chế phải được điều chỉnh sao cho chúng vận hành cùng chiều và hỗ trợ cho quá trình phân cấp. Tuy nhiên, thể chế thường có tính tự duy trì, vì vậy trong nhiều trường hợp không những không hỗ trợ mà còn cản trở phân cấp.

     

    Từ góc độ thực tiễn, hầu hết các chương trình phân cấp của các quốc gia trên thế giới trong vòng hai thập niên trở lại đây xuất phát từ những động cơ và quan ngại về chính trị (xem thêm Shah 2004). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phân cấp không hề bị thúc đẩy bởi các yếu tố thực tiễn có tính phi chính trị. Sự chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như hiện nay đương nhiên đòi hỏi phải xác định lại một cách cơ bản vai trò của nhà nước, và đi kèm với nó, là tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phân cấp và phân quyền nhiều hơn. Ở những quốc gia nơi chính quyền trung ương luôn bị quá tải, phân cấp được đẩy mạnh với kỳ vọng rằng nó sẽ giúp giải tỏa những ách tắc trong quá trình ra quyết định, giảm bớt sự phiền hà của thủ tục hành chính, và tăng tính nhạy cảm của chính quyền trước nhu cầu, ý nguyện, và điều kiện đặc thù của địa phương. Ở những quốc gia có thành phần dân tộc và tôn giáo phức tạp và dễ xung đột, phân cấp được kỳ vọng sẽ đem lại sự tham gia và tiếng nói của những thành phần thiểu số, dễ bị tổn thương, và qua đó góp phần duy trì tính cố kết dân tộc.

     

    Bảng 1. Các xu thể thay đổi quản trị nhà nước trong thế kỷ 21

     

       

    THẾ K  20

         

    THẾ K  21

                     

    Nhất thể

     

    Liên bang

    Tập trung

     

    •  Toàn cầu hóa và địa phương hoá5

    •  Trung ương quản lý

     

    •  Trung ương lãnh đạo

    Quan liêu

     

    Cùng tham gia

    •  Chỉ huy, kiểm soát

     

    •  Đáp ứng nhu cầu của dân

    •  Kiểm soát đầu vào

     

    •  Chú trọng đầu ra (kết quả)

    •  Trách nhiệm giải trình từ trên xuống

     

    •  Trách nhiệm giải trình từ dưới lên

    •  Phụ thuộc nội bộ

     

    Cạnh tranh

    Đóng và chậm

     

    Nhanh và mở

    •  Không chấp nhận rủi ro

     

    Tự quyết định thất bại thành công

                     
    • : Shah, Anwar (2004).
    • Thuật ngữ Shah sử dụng để miêu tả quá trình toàn cầu hóa song hành với địa phương hóa này là “glocalization”.

     

     

    8

     

    Từ góc độ quản trị nhà nước (public governance), theo Shah (2004), tiến trình phân cấp

     

    • các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển còn được thúc đẩy bởi làn sóng toàn cầu hóa và xu thế dân chủ hóa từ cuối thập niên 1980. Toàn cầu hóa biến thế giới thành một “ngôi làng toàn cầu” và thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia. Điều này, đến lượt

    mình, đòi hỏi chính quyền địa phương phải có nhiều thẩm quyền hơn và gần dân hơn để có thể phản ứng một cách hiệu quả hơn đối với những cơ hội và thách thức mới nổi lên của toàn cầu hóa. Song song với sự trao quyền này, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giải trình và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Shah (2004 đã tổng kết các xu hướng thay đổi trong quản trị nhà nước trên thế giới trong thế kỷ 20 và 21 trong Bảng 1.

     

    Khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

     

    Trong suốt lịch sử Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập dân tộc vào thế kỷ thứ X cho đến trước Đổi mới, dù ở chế độ phong kiến, dưới thời thực dân đô hộ, hay trong giai đoạn quá độ kế hoạch hóa tập trung, tuy mức độ nặng nhẹ khác nhau song cấu trúc nhà nước đều thiên về tập quyền hơn là phân cấp. Chính quyền trung ương luôn nắm hầu hết quyền lực mang tính quyết định, phân cấp nếu được sử dụng cũng rất giới hạn. Hệ quả là chính quyền địa phương hầu như lệ thuộc vào chính quyền trung ương cả về chính sách, ngân sách và nhân sự.

     

    Tuy vậy, trong đời sống thực tiễn, bên cạnh cấu trúc tập trung đậm nét, vẫn tồn tại vai trò của làng xã trong việc cung ứng hàng hóa công và giải quyết các sự vụ có tính địa phương, đặc biệt là ở miền Bắc.6 Hương ước của làng cũng là một điểm đặc biệt trong hệ thống luật pháp Việt Nam trong những thế kỷ trước, thể hiện một mức độ tự quản nhất định của làng. Nhưng dù làng có vị thế như vậy nhưng nó chưa bao giờ được thừa nhận như một đơn vị hành chính chính thức của bộ máy chính quyền. Lý trưởng trước kia và trưởng thôn ngày nay mặc dù được hưởng trợ cấp từ ngân sách nhưng không phải là công chức trong hệ thống hành chính. Như vậy, quyền lực của làng mang tính phi chính thức và chỉ có thể giải quyết được một số vấn đề với quy mô nhỏ trong phạm vi của làng.

     

    Ngay từ giai đoạn đầu của Đổi Mới, vấn đề phân cấp đã được Đảng nhìn nhận một cách nghiêm túc và được đưa ngay vào Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986):

     

    “Phải lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế, xã hội. Chính cơ chế quản lý còn nặng tính chất tập trung quan liêu, vừa gò bó cấp dưới, vừa làm giảm hiệu lực quản lý tập trung là nguyên nhân trực tiếp làm rối loạn trật tự, kỷ cương. Vì vậy, không thể khắc phục sự rối ren bằng cách quay

     

    • Những câu tục ngữ như “phép vua thua lệ làng” hoặc nhận định Việt nam tuy có nhiều thời gian dài bị mất nước nhưng chưa bao giờ bị mất làng là những biểu hiện của sức sống của làng.

     

     

    9

     

    trở lại cơ chế cũ, mà phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý (chữ in nghiêng do tác giả nhấn mạnh) theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

     

    Việc phân cấp quản lý phải bảo đảm quyền làm chủ của ba cấp: quyền quyết định của trung ương (bao gồm cả các ngành trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm cho sự phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế; quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ; quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và vai trò làm chủ của các tập thể lao động. Trong sự phân công, phân cấp quản lý, trách nhiệm phải đi đôi với quyền hạn, nghĩa vụ gắn liền với lợi ích.”7

     

    Mặc dù có chủ trương song lý luận về phân cấp, đặc biệt là lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế mới, vẫn chưa rõ ràng, thiếu hệ thống, và còn nhiều khoảng trống. Vì vậy, sau một thời gian dài, phân cấp chưa đáp ứng được mục tiêu và đi sau thực tiễn như được thừa nhận trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP như sau:

     

    Tuy nhiên, quá trình đổi mới phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp vừa qua xét về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, còn nhiều hạn chế, bất hợp lý:

     

    • Phân cấp nhưng chưa bảo đảm quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán, cục bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chưa chú trọng việc thanh tra, kiểm tra đối với những việc đã phân cấp cho địa phương.
    • Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước. Chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân đối với những nhiệm vụ đã được phân cấp.
    • Phân cấp nhiệm vụ cho cấp dưới, nhưng chưa bảo đảm tương ứng các

    điều kiện cần thiết để thực hiện, còn thiếu sự ăn khớp, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực có liên quan, chưa tạo điều kiện thực tế cho địa phương chủ động cân đối các nguồn lực và các nhu cầu cụ thể của mình.

     

    • Một số nội dung phân cấp đã được pháp luật quy định nhưng chậm

    được triển khai thực hiện hoặc thực hiện không triệt để. Mặt khác, các

     

    7Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, trang 747

     

    10

     

    quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn.

     

    Những hạn chế, bất cập trên đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân: nhận thức, quan điểm về các chủ trương, giải pháp phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh chưa rõ ràng, rành mạch, thiếu nhất quán, lo ngại phân cấp mạnh dẫn đến tình trạng cục bộ, cát cứ, phân tán. Trong tổ chức chỉ đạo còn thiếu quyết tâm, mạnh dạn từ xây dựng, ban hành thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện; chưa chú trọng tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng với yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới.

     

    Mặc dù đồng ý với hầu hết những nhận định về nhược điểm của phân cấp của Chính phủ, song chúng vẫn chưa chạm đến những nguyên nhân cốt lõi – những nguyên nhân đã ăn sâu bám rễ trong hệ thống thể chế hiện tại. Cụ thể là Chính phủ luôn cố gắng bảo về quyền lực tối cao của trung ương, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền lực chính trị, ngân sách, và bổ nhiệm nhân sự. Một hệ quả của thực tế này là quan niệm về phân cấp ở Việt Nam chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi phân cấp quản lý kinh tế chứ hầu như không bao gồm phân cấp chính trị và nhân sự.8 Bên cạnh đó, việc định nghĩa lại vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế ở đó khu vực tư nhân đóng vai trò động lực và quan trọng nhất cũng không được đặt ra. Không những thế, ngay cả khi khu vực nhà nước (cụ thể là DNNN, đầu tư công, và ngân hàng thương mại nhà nước được công nhận là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế trong giai đoạn gần đây thì các chương trình tái cơ cấu của chính phủ vẫn khẳng định nhiệm vụ hàng đầu là khôi phục và khẳng định vị trí chủ đạo, chủ lực của khu vực này.

     

    Với nhận định như vậy về những hạn chế trong chính sách và triển khai phân cấp, Nghị quyết 08 tiếp tục khẳng định mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước, đồng thời đưa ra một hệ thống quan điểm và nguyên tắc phân cấp như sau:

     

    1. Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, bảo đảm quản lý thống nhất của Chính phủ về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra; đồng thời phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
    1. Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ những nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ,
    • Như sẽ chứng minh ở một phần dưới, ngay trong địa hạt kinh tế, phân cấp ngân sách trên thực tế không những không làm tăng sự tự chủ mà trái lại còn làm tăng sự phụ thuộc của chính quyền địa phương vào trung ương.

     

     

    11

     

    ngành với nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với các hoạt động kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ.

     

    1. Bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện; phân cấp phải rõ việc, rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp.
    1. Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn,

    đặc thù của ngành, lĩnh vực, điều kiện và khả năng phát triển của từng khu vực, vùng lãnh thổ, với từng loại hình đô thị, nông thôn, với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.

     

    1. Phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; phải

    đồng bộ, ăn khớp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan.

     

    1. Bảo đảm quyền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp; chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời phát huy dân chủ rộng rãi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
    1. Phân cấp phải thể hiện được sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.
    1. Đối với những vấn đề đã phân cấp, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện; các bộ, ngành trung ương có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc trái với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét.

    Bên cạnh những quan điểm và nguyên tắc chính thống được liệt kê ở trên thì trên thực tế, chính sách phân cấp ở Việt Nam còn được định hướng bởi hai nguyên tắc quan trọng khác. Nguyên tắc đầu tiên là “phân cấp từ trên xuống”, có nghĩa là những gì ở cấp trên không cần làm thì cấp dưới sẽ thực hiện” (từ trên xuống), hoàn toàn không tương ứng với nguyên tắc phân cấp phổ biến trên thế giới là “những gì cấp dưới không làm được thì cấp trên mới phải làm” (từ dưới lên). Nguyên tắc phân cấp từ trên xuống đã đẩy đến hiện tượng “cấp dưới luôn cảm thây bị gò bó và cấp trên luôn ở trong tình trạng “quá tải” và không thể kiểm soát được đồng thời tiếp tục làm tăng tính “ỷ lại” ở chính quyền cấp dưới.

     

    Nguyên tắc thứ hai là phân cấp theo quy mô, hay còn gọi là “nắm to, buông nhỏ”. Đây là một trong những tiêu chí chủ đạo trong quá trình phân cấp ở Việt nam, đặc biệt trong

     

    12

     

    vấn đề quản lý đầu tư và DNNN. Song quy mô đầu tư không phải lúc nào cũng tương ứng với tính chất và mức độ ảnh hưởng của dự án đầu tư. Chính nguyên tắc phân cấp này đã gây khó khăn không nhỏ cho các địa phương và đó cũng là một nguyên nhân khiến họ phải tìm những biện pháp “xé rào” để thu hút đầu tư nước ngoài.9

     

    5. Đánh giá khái quát kết quả phân cấp ở Việt Nam

     

    Việc đánh giá một chính sách lớn và phức tạp như phân cấp phải dựa trên nhiều nghiên cứu toàn diện, tỉ mỉ, và được tiến hành một cách khách quan. Đáng tiếc là cho đến thời điểm này, chúng ta hầu như chưa có những nghiên cứu như vậy.10 Mục đích của phần này, vì vậy, chỉ khiêm tốn là đưa ra một số đánh giá có tính khái quát từ góc độ thể chế về những thành công và hạn chế của việc thiết kế và thực hiện phân cấp, để từ đó làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể.

     

    4.1. Một số thành công của chính sách phân c p

     

    Có thể nói những thành công lớn nhất trong chính sách phân cấp ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đều gắn liền với sự hạn chế bớt vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và sự tham gia ngày một tăng của thị trường và của khu vực dân doanh. Điều này xuất phát từ một thực tế là bản chất của quá trình cải cách ở Việt Nam kể từ năm 1986 là sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Cho đến nay, ngoại trừ những hoạt động độc quyền hay tựa độc quyền của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước chiếm khoảng 20-25% GDP của cả nước, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang thị trường phi tập trung. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới đến từ quá trình phân cấp thị trường. Có thể kể ra đây một vài ví dụ điển hình. Sự chuyển đổi của khu vực nông nghiệp trong giai đoạn cuối thập niên 1980 là kết quả trực tiếp của một loạt những thay đổi thể chế quan trọng như việc ban hành Luật đất đai 1987 công nhận những quyền sử dụng đất cơ bản, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10) vào tháng 4/1988 qua đó công nhận loại hình kinh tế hộ trong nông nghiệp, giảm vị trí độc quyền của kinh tế quốc doanh trong sản xuất và phân phối lúa gạo v.v. Kết qủa là chỉ sau một năm, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nhập khẩu lương thực, và sau đó vài năm trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

     

    Một thành tựu nữa của công cuộc Đổi mới được ghi nhận vào đầu những năm 1990 khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và kéo theo nó là nguồn viện

     

    • Xem thêm Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2010 nhan đề “Các thể chế hiện đại” là một ngoại lệ. Tuy nhiên, như sẽ chỉ ra trong bài viết này, ý kiến khách quan – ít nhất là về mặt hình thức – của các nhà tài trợ nước ngoài về thành công và thất bại của phân cấp trong một số trường hợp cũng vẫn còn có ý kiến khác nhau.

     

     

    13

     

    trợ nước ngoài lớn nhất của Việt Nam khi ấy. Cũng trong thời gian đó, Mỹ vẫn còn áp đặt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Kết quả là Việt Nam gần như hoàn toàn bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài. Một lần nữa, khu vực tư nhân – lần này là doanh nghiệp tư nhân – lại được giải phóng và trở thành cứu tinh của nền kinh tế thông qua Luật Công ty 1990, trong đó công nhận quyền sở hữu tư nhân và vai trò của khu vực tư nhân trong sự phát triển của nền kinh tế. Kể từ đó, nhà nước đã dần dần từ bỏ vị trí độc tôn của mình trong các ngành công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ. Việc thông qua Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 sau đó tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thị trường bằng việc tái khẳng định quyền tự do kinh doanh của người dân và giảm bớt chi phí giao dịch khi đăng ký thành lập công ty. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành, một số lượng kỷ lục các doanh nghiệp tư nhân đã được thành lập nhờ thủ tục đăng ký kinh doanh giờ đây đã trở nên dễ dàng hơn. Khối lượng vốn khổng lồ trong nước được các doanh nghiệp này huy động đã giúp cho Việt Nam hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997-1998 và duy trì một tốc độ tăng trưởng cao kể từ năm 2000.

     

    Từ những thành công trong phân cấp thị trường này, có thể rút ra một bài học là, nếu như ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới, nhận thức và lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, đồng thời lý luận về phân cấp (theo nghĩa rộng được nghiên cứu một cách nghiêm túc thì Việt nam đã có thể thiết kế được một lộ trình tương đối rõ ràng cho quá trình chuyển đổi và có thể hạn chế được rất nhiều sai lầm về thiết kế và triển khai chính sách phân cấp trong suốt hơn môt phần tư thế kỷ qua.

     

    Đối với các nội dung khác của phân cấp – bao gồm phân cấp chính trị, ngân sách, và quản lý hành chính – tuy Việt Nam cũng đã thu được một số thành công với các mức độ khác nhau, song những thành công này không thực sự thuyết phục như trường hợp phân cấp thị trường. Điều này có thể thấy rõ qua những đánh giá về sáu nội dung phân cấp được đề ra trong Nghị quyết 08 của Chính phủ trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010 và những bài viết của những tác giả khác trong Diễn đàn kinh tế mùa Thu 2012.11 Để không lặp lại nội dung của các tác giả khác, trong phần kế tiếp, bài viết này sẽ trình bày một số hạn chế phổ biến trong các hình thức phân cấp ở Việt Nam và phân tích những nguyên nhân cơ bản nằm đằng sau những hạn chế này.

     

    4.2. Một số   ượ      điểm trong thiết kế và thực hiện chính sách phân c p ở Việt Nam

     

    1. a) Phân c ưa thực sự đi kèm với nhữ g điều kiện cần để phân c p hiệu quả
    • Sáu nội dung phân cấp này bao gồm: (1) phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; (2 phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; (3 phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; (4 phân cấp quản lý doanh

    nghiệp nhà nước; (5 phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và (6 phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ công chức.

     

    14

     

    Như đã thảo luận ở Phần 2, lý thuyết và thực tiễn phân cấp cho thấy, để phân cấp một cách hiệu quả và công bằng thì phân cấp phải được thực hiện cùng với các điều kiện về minh bạch thông tin, tiếng nói, trách nhiệm giải trình, nguồn lực, và quy mô. Để đánh giá thực trạng của các điều kiện cần này, một cách lý tưởng, chúng ta cần so sánh số liệu trước và sau khi tiến hành phân cấp. Tuy nhiên, vì số liệu quá khứ không có nên chúng ta đành phải bằng lòng với việc chủ yếu sử dụng số liệu hiện tại.

     

    • Thông tin thiếu minh bạch: Số liệu Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công

    cấp tỉnh (PAPI)12 ở Việt Nam cho thấy mức độ minh bạch về thông tin rất thấp. Chẳng hạn như trong cả hai năm 2010 và 2011, trong số hàng ngàn người được phỏng vấn, chỉ khoảng một phần ba đã từng được nghe nói đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn, mặc dù Pháp lệnh này được thực thi từ đầu năm 2007 (Hình 2). Bên cạnh đó, có tới khoảng một phần ba số người được phỏng vấn chưa từng nghe đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mặc dù khẩu hiệu này đã được nói đi nói lại nhiều lần từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến nay.

     

    Hình 2. Tỷ lệ người dân đã từng nghe đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ và khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

     

    80%

                     
     

    71%

                 
                     

    70%

       

    65%

             

    60%

                   

    Đã từng nghe đến Pháp

                   

    50%

                   
                   
                   

    lệnh thực hiện dân chủ cơ

             

    40%

                   

    sở ở xã, phường, thị trấn

     

    33%

    34%

             
                 

    30%

                   

    Đã từng nghe đến khẩu

                   
                   
                     

    hiệu “dân biết, dân bàn,

    20%

                   

    dân làm, dân kiểm tra”

                   
                     

    10%

                     
                     

    0%

                     
     

    2010

    2011

             
                       

    Nguồn: PAPI 2010 và 2011

     

    Tương tự như vậy, và bất chấp thực tế đất đai là một tài sản vô cùng quan trọng, số liệu PAPI cho thất có tới gần 80% người được phỏng vấn không hề được biết về quy

     

    • PAPI gồm có 6 chỉ số bộ phận, bao gồm: (i tham gia của người dân ở cấp cơ sở; (ii công khai, minh bạch; (iii trách nhiệm giải trình với người dân; (iv kiểm soát tham nhũng; (v thủ tục hành chính công; và (vi cung ứng dịch vụ công. PAPI được tiến hành lần đầu tiên vào năm 2010 bao gồm 30 tỉnh, sau đó được mở rộng ra tất cả 63 tỉnh thành trong năm 2011.

     

     

    15

     

    hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn của họ.13 Tỷ lệ này của năm 2011 còn tăng so với 2010. Bên cạnh đó, có chưa đến 20% số người được phỏng vấn biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở địa phương của họ. Không những thế, con số này còn giảm từ 18,6% trong năm 2010 xuống còn 16,2% trong năm 2011 (

     

    Hình 3).

     

    Hình 3. Tỷ lệ người dân được biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn

     

    90%

                       
     

    76.6% 79.2%

                   

    80%

                     
                       

    70%

                       
                 

    2010

       

    60%

                   
                 
                       
                 

    2011

       

    50%

                   
                 
                       
                       

    40%

                       
                       

    30%

                       
       

    18.6% 16.2%

               

    20%

                   
           

    5.8%

       

    10%

           

    3.8%

     
                     

    0%

                       
       

    Không được biết

     

    Được biết nhờ thông

     

    Được biết nhưng qua

     
           

    báo của chính quyền

         

    nguồn khác

     

    Ngu n: PAPI 2010 và 2011

     

    Không chỉ người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin chính sách mà doanh nghiệp cũng gặp phải tình trạng này. Hơn nữa, tình trạng này còn xấu đi trong những năm trở lại đây. Theo số liệu PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) của VCCI và VNCI thì đa số doanh nghiệp cho rằng cần phải có “mối quan hệ” để có được các tài liệu của tỉnh, và tỷ lệ này tăng từ 62% trong năm 2006 lên 73,3% trong năm 2011. Bên cạnh đó, khả năng dự đoán được việc thực thi pháp luật của tỉnh cũng rất thấp và giảm từ 10,5% trong năm 2006 xuống chỉ còn 8,9% trong năm 2011. Kết quả chung là trong giai đoạn 2006 – 2011, chỉ số đo lường mức độ minh bạch chính sách ở cấp tỉnh ở Việt Nam đã giảm từ 5,8 xuống còn 5,3.

     

    Bảng 2. Tính minh bạch trong chính sách của chính quyền cấp tỉnh

     

       

    Cần có “mối quan hệ” để có

    Khả năng có thể dự đoán được

    Minh bạch

       

    được các tài liệu của tỉnh

    trong thực thi pháp luật của tỉnh

       

    nói chung

       

    (% quan trọng hoặc rất quan

    (% luôn luôn hoặc thường

         
               
               
    • Số liệu của Báo cáo Phát triển Việt Nam cũng phản ảnh tình trạng “dân không biết” này. Trong số những người quan tâm, có tới hơn một nửa không hề được biết thông tin nào về ngân sách và kế hoạch của xã. Hơn nữa, nếu giả sử họ có được cung cấp thông tin đi chăng nữa thì những thông tin đó cũng không đủ đáp ứng được yêu cầu của họ.

     

     

    16

     

     

    trọng

    xuyên)

     
           

    2006

    62.0%

    10.5%

    5.8

    2011

    73.3%

    8.9%

    5.3

    Ngu n: VCCI và VNCI

     

    • Trách nhiệm giải trình th p14

    Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào thực sự có hệ thống và đáng tin cậy về trách nhiệm giải trình của các đối tượng được phân cấp, và điều này càng đúng đối với các nghiên cứu có tính định lượng.15 Vì thế, phần này sẽ sử dụng một số trường hợp điển hình nhằm minh họa cho luận điểm rằng trách nhiệm giải trình theo cả hai chiều lên trên và xuống dưới ở Việt Nam nhìn chung còn rất thấp.

     

    Trường hợp đầu tiên liên quan đến các khiếu kiện về đất đai của người dân. Đã từ lâu, khiếu kiện về đất đai luôn chiếm tới 80-90% tổng số khiếu kiện chính thức của người dân. Điều đáng lưu ý là tuy là hiện tượng phổ biến, song số vụ khiếu kiện về đất đai đột nhiên tăng vọt ngay sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành (Hình 4). Rõ ràng là chính sách phân cấp đi đôi với đạo luật này đã không đảm bảo được trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương đối với người dân, khiến cho số lượng đơn khiếu kiện tăng đột biến.

     

    Hình 4. Các khiếu nại chính thức liên quan đến đất đai

     

     

     

    Ngu n: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010

     

    • Có thể thấy trách nhiệm giải trình thấp trong các nội dung phân cấp liên quan đến DNNN (điển hình là trường hợp của Vinashin và quản lý đầu tư công (cụ thể là PMU 18 . Độc giả có thể tham khảo thêm các bài trong kỷ yếu của Diễn đàn kinh tế mùa Xuân 2012.

     

    • Dự án PAPI đã nỗ lực đo lường trách nhiệm giải trình của chính quyền đối với người dân địa phương. Tuy nhiên, với thiết kế câu hỏi như hiện nay, PAPI không thể đo lường (chứ chưa nói đến việc đo lường chính xác trách nhiệm giải trình này.

     

     

    17

     

    Trường hợp thứ hai là phong trào “xé rào” trong ưu đãi đầu tư FDI của 32 tỉnh – thành phố trong giai đoạn 2001-2005 trong bối cảnh phân cấp quản lý FDI đang tiếp tục được đẩy mạnh.16 Cụ thể là các tỉnh này đã đưa ra những ưu đãi trái hoặc vượt quá khuôn khổ chính quyền trung ương quy định cho các nhà đầu tư, đặc biệt là trong các khu công nghiệp. Trước tình hình này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định số 1387 ngày 29/12/2005 ra lệnh chấm dứt ngay lập tức các ưu đãi đầu tư trái quy định mà 32 tỉnh đang áp dụng. Nhiều bộ, trong đó có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên Môi trường, và Văn phòng Chính phủ đã tham gia vào việc ban hành Quyết định này. Quyết định của Thủ tướng cũng đã yêu cầu UBND của tất cả 64 tỉnh thành phải báo cáo về tất cả các

     

    • phạm trong các quy định về ưu đãi đầu tư.17 32 tỉnh xé rào ngoài ra còn được yêu cầu hải báo cáo về các biện pháp mà họ đã thực hiện để khắc phục những vi phạm

    đã mắc phải. Mặc dù hạn nộp báo cáo là ngày 1 3 2006, nhưng tính đến ngày 14/3/2006, chỉ mới có 14 tỉnh nộp báo cáo, và chỉ có 4 tỉnh trong số này thừa nhận là có vi phạm. Sau đó, chính quyền trung ương một lần nữa lại yêu cầu 50 tỉnh còn lại nộp báo cáo muộn nhất là ngày 15 4 2006. Nhưng cho đến ngày 2/8/2006, vẫn còn 22 tỉnh chưa nộp. Trong số 42 tỉnh đã nộp báo cáo, một số tỉnh báo cáo một cách chiếu lệ về những biện pháp khắc phục mà không hề đưa ra một danh sách các vi phạm như chính quyền trung ương đã yêu cầu. Ví dụ này cho thấy mức độ tuân thủ của chính quyền địa phương đối với quyết định của chính quyền trung ương (còn gọi là trách nhiệm giải trình lên trên) là rất hạn chế.

     

    • Nguồn lực của đa số đ a ươ  g       t hạn chế:

    Nguồn lực nhiều hơn là điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện những trách nhiệm địa phương được phân cấp thêm. Thoạt nhìn, có vẻ như chính quyền địa phương ở Việt Nam đang được giao ngày càng nhiều ngân sách, thể hiện qua thực tế là cả tỷ lệ thu và chi của cấp chính quyền địa phương so với tổng chi tiêu liên tục tăng trong 10 năm trở lại đây (Hình 5). Cụ thể là tỷ lệ thu ngân sách của địa phương trong tổng thu ngân sách nhà nước đã tăng từ 25% vào năm 2000 lên 38% vào năm 2010. Cũng trong giai đoạn này, tỷ lệ chi ngân sách địa phương trong tổng chi ngân sách nhà nước cũng tăng tương ứng từ 45% lên tới 53%.

     

    Hình 5. Thu, chi ngân sách ĐP và chuyển giao từ TƯ (1996-2010)

     

     

    • Trích từ nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo này cần phải được đệ trình đồng thời cho các Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Bộ Tư pháp, và VPCP.

     

     

    18

     

     

     

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

     

    Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào bức tranh thu chi ngân sách thì thấy tồn tại một số vấn đề quan trọng. Thứ nhất, tỷ lệ thu ngân sách của địa phương tăng lên trong thời gian gần đây không thực sự xuất phát từ những thay đổi cơ bản trong thiết kế phân cấp ngân sách, mà xuất phát từ việc gia tăng một số nguồn thu được để lại 100% ở địa phương, mà cụ thể là thu từ đất (lớn nhất là thuế chuyển quyền sử dụng đất). Đây là khoản thu có tính nhất thời, không thể duy trì trong dài hạn.

     

    Thứ hai, trong ngân sách chung của nhà nước, tỷ lệ thu của ngân sách địa phương vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ chi. Điều này có nghĩa là một phần rất lớn trong chi ngân sách của địa phương vẫn phụ thuộc vào các khoản chuyển giao từ chính quyền trung ương, và do vậy làm tăng sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương. Điều này đặc biệt đúng với hơn 50 tỉnh hiện đang nhận trợ cấp từ trung ương (Hình 5).

     

    Bảng 3. Tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn (%

     

     

    2003

    2005

    2010

           

    Hà Nội

    12.5

    12.4

    17.6

    Hồ Chí Minh

    10.5

    10.1

    9.7

    Đà Nẵng

    17.3

    16.5

    15.4

    Cần Thơ

    54.4

    27.1

    36.3

    Hà Giang

    312.0

    118.7

    180.3*

    Vĩnh Phúc

    29.1

    28.8

    13.0

    Nam Định

    107.0

    174.3

    114.5

    Quảng Bình

    108.2

    109.7

    Khánh Hòa

    30.4

    24.1

    29.3

    Bình Định

    73.7

    45.2

    89.9

    Đắc Lắc

    173.8

    8.3

    77.8

    Đồng Nai

    24.3

    32.4

    26.5*

    Bình Dương

    20.7

    33.8

    25.7

       

    19

     

    Long An

    81.6

    39.9

    24.4

    Bạc Liêu

    99.9

    21.9

    4.5

    Ghi chú: * là số liệu của 2009

     

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

     

    Thứ ba, mặc dù tỷ lệ chi ngân sách địa phương tăng, song trong một phần rất lớn trong tỷ lệ tăng thêm này là những khoản chi có tính định mức, và do vậy chính quyền địa phương không hề được tự chủ mà buộc phải tuân theo. Một lần nữa, điều này đặc biệt đúng đối với các tỉnh không tự chủ được ngân sách, tức là không gian tài khóa vừa hẹp vừa thiếu khả năng tự chủ. Bảng 3 trình bày số liệu về tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn của một số địa phương có tính đại diện cho các mức độ phát triển và vùng miền khác nhau trong các năm 2003, 2005 (là hai năm trước và sau khi Luật Ngân sách 2002 có hiệu lực và 2010 (là năm gần nhất có số liệu). Kết quả cho thấy tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối của các địa phương là hết sức khác nhau, thấp nhất là Hồ Chí Minh chỉ có 9,7%, cao nhất là Hà Giang, lên tới 180%. Rõ ràng là với tỷ lệ chi thường xuyên cao như thế này, tất cả nguồn thu cân đối trên địa bàn của Hà Giang chỉ đáp ứng được phân nửa nhu cầu chi thường xuyên, làm cho ngân sách của tỉnh luôn thâm hụt nặng, và vì vậy hoàn toàn không tự chủ.

     

    • Quy mô đ a ươ g nhận phân c           ươ g đối nhỏ

    Số lượng tỉnh khá lớn làm cho quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp ở Việt Nam tương đối nhỏ. Trên thực tế, đây là đặc điểm chung của các nước Đông Nam

     

    • Nếu so với các nước Đông Bắc Á thì quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp – được đo bằng diện tích, dân số và GDP trung bình, của các nước Đông Nam Á nhỏ hơn rất nhiều (Bảng 4).

    Bảng 4. Quy mô của đơn vị phân cấp: Đông Bắc Á sv. Đông Nam Á (2010

     

     

    Số đơn vị

    Diện tích trung

    Dân số trung

    GDP trung

     

    Nước

    bình (triệu

    phân cấp

    bình (km2)

    bình (tỷ USD)

     
     

    người)

             

    Đô g Á

             

    China

    34

    282.264

    38,6

    175,0

     

    South Korea

    9

    10.010

    5,5

    112,8

     

    Japan

    47

    8.041

    2,7

    116,8

     

    Đô g Nam Á

             

    Thailand

    75

    6.842

    0,9

    4,3

     

    Việt Nam

    63

    5.257

    1,4

    1,6

     

    Philippines

    80

    3.750

    1,2

    2,5

     

    Với quy mô như thế này, các địa phương không tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời không giải quyết được một cách hiệu quả các vấn đề ngoại tác.

     

    20

     

    Không những thế, quy mô nhỏ cùng với số lượng đơn vị phân cấp nhiều còn có thể dẫn tới sự cạnh tranh quyết liệt giữa các địa phương.

     

     

     

     

    Hình 6. Sự chia cắt thể chế ở Việt Nam: Sân bay, cảng biển, khu kinh tế ven biển

     

         

    Sân bay

    Cảng biển

    Khu kinh tế ven biển

         

    Trên một số phương diện, chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh hay thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, sự cạnh tranh này là lành mạnh và đưa đến những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện khác, đặc biệt là liên quan đến việc tranh giành các nguồn lực cũng như sự ưu ái từ trung ương thì hệ quả có thể hết sức tiêu cực. Cụ thể là địa giới hành chính có thể bị biến thành địa giới kinh tế giữa các địa phương, nền kinh tế quốc gia bị chia cắt thành vô số mảnh nhỏ, đầu tư

     

    21

     

    công bị dàn trải và dẫm chân lên nhau – những điều trên thực tế đã và đang xảy ra ở Việt Nam (xem

     

     

     

    Hình 6).

     

    1. b) Phân c đồng loạ v    đại trà

    Nếu xét địa phương như là đơn vị phân cấp thì các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam được chia ra thành ba nhóm. Nhóm một gồm Hà Nội và Hồ Chí Minh được hưởng chính sách phân cấp đặc biệt.18 Nhóm hai gồm ba thành phố trực thuộc trung ương còn lại, bao gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, và Cần Thơ, với hưởng chính sách phân cấp không rộng rãi như nhóm một, nhưng thông thoáng hơn so với nhóm ba, bao gồm 58 tỉnh còn lại, được hưởng chung một chính sách phân cấp, bất chấp sự khác nhau hiển nhiên về quy mô, không gian tài khóa, nguồn lực, năng lực v.v. của những địa phương này. Việc có một tấm áo phân cấp chung cho hầu như tất cả các địa phương là điều có thể hiểu được từ góc độ chính quyền trung ương, song điều này hạn chế hiệu quả của chính sách phân cấp.19 Một hệ thống phân cấp hiệu quả sẽ điều chỉnh mức độ tự quyết của chính quyền mỗi tỉnh sao cho phù hợp nhất với năng lực của chính quyền tỉnh đó. Tất nhiên, khi không gian phân cấp của một địa phương nào đó trở nên rộng rãi hơn thì cũng cần phải quy định trách nhiệm giải trình chặt chẽ hơn và công tác điều hành của chính quyền của địa phương đó phải minh bạch hơn.

     

    1. c) Phân c k ô g đồng bộ

    Phân cấp ở Việt Nam không cân đối trên ít nhất hai khía cạnh. Thứ nhất là các nội dung khác nhau của phân cấp không song hành với nhau, và do vậy không những không tạo ra tác dụng cộng hưởng mà còn hạn chế hiệu quả của phân cấp. Chẳng hạn như phân

     

    • Chẳng hạn như về phân cấp ngân sách, xem Nghị định 123/2004/NĐ-CP và 124/2004/NĐ-CP về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Hà Nội và Hồ Chí Minh.

     

    • Xem thêm Ninh Ngọc Bảo Kim và Vũ Thành Tự Anh (2008).

     

     

    22

     

    cấp về quản lý đất đai (đặc biệt là liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất), quản lý FDI, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã diễn ra khá mạnh mẽ, song lại không được đi kèm với phân cấp chính trị. Điều này có nghĩa là không gian tự quyết của địa phương được mở rộng, nhưng cơ chế để buộc chính quyền địa phương hành động thực sự vì lợi ích của người dân địa phương không được cải thiện một cách tương ứng. Kết quả là không gian tự chủ rộng rãi hơn này có thể bị lạm dụng, thậm chí đi ngược lại lợi ích của một bộ phận dân chúng địa phương.

     

    Khía cạnh không cân đối thứ hai tồn tại giữa các cấp chính quyền khác nhau ở địa phương. Ví dụ như cho đến thời điểm này, chính sách dân chủ cơ sở chủ yếu mới dừng lại ở cấp độ phường, xã, và thị trấn; trong khi chính quyền cấp tỉnh mới là đối tượng tiếp nhận quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu trong phân cấp. Sự bất cân xứng này, một lần nữa, vừa làm yếu tiếng nói của người dân vừa làm giảm trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

     

    ) Cá    ơ       ế giám sát và phối hợp còn thiếu và yếu

     

    Đây là một hạn chế được tổng kết trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP, nhưng cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên vẹn. Như các phần trên đã phân tích, quan hệ giữa các địa phương với nhau hiện nay mang tính cạnh tranh nhiều hơn là phối hợp. Mặc dù có tồn tại một số cơ chế điều phối vùng, chẳng hạn như thông qua các Ban chỉ đạo vùng, song Ban chỉ đạo này hoạt động trên cơ sở kiêm nhiệm và bán thời gian, trung bình một năm chỉ gặp nhau vài lần. Hơn nữa, nguồn lực về con người, tài chính, và tổ chức của các Ban chỉ đạo đều rất hạn chế. Tất cả những điều này dẫn đến một hệ quả là việc phối hợp giữa các địa phương với nhau hiện nay rất lỏng lẻo.

     

    Về phương diện giám sát, một cơ chế ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng là thông qua các cơ quan đại biểu dân cử. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân có tính kỹ thuật và những nguyên nhân có tính thể chế. Về phương diện kỹ thuật, thời gian, ngân sách, và các nguồn lực khác phục vụ cho hoạt động giám sát hết sức hạn chế, đồng thời nguồn thông tin và dữ liệu không đủ, dẫn đến các cơ quan dân cử không thể sâu sát trong việc giám sát hoạt động của UBND. Về phương diện thể chế, tỷ lệ chuyên trách của đại biểu HĐND rất thấp (chỉ khoảng từ 10% đến 30% tùy từng địa phương . Điều này có nghĩa là đa số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, chủ yếu là công chức nhà nước. Bên cạnh đó, hơn 90% số đại biểu là Đảng viên. Như vậy, câu hỏi đặt ra là những đại biểu này đại diện cho ai, cho dân, cho chính quyền, cho Đảng, hay cho cả ba?

     

    1. d) Hạn chế xu t phát từ sự ươ g  á       giữa chính sách phân c p với môi       ường thể chế

     

     

    23

     

    Phần này sẽ minh họa một luận điểm được nêu ra ở một phần trước, đó là kết quả của chính sách phân cấp phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thể chế và chính sách trong đó chính sách phân cấp được thiết kế và thực hiện.

     

    Chẳng hạn như khi tốc độ (chứ không phải chất lượng tăng trưởng GDP được sử dụng làm thước đo gần như duy nhất cho thành tích phát triển kinh tế thì một cách tự nhiên, mỗi địa phương sẽ tìm mọi cách để có tốc độ tăng GDP cao hơn, trong đó cách đơn giản nhất có lẽ là tăng đầu tư từ nguồn xin được của trung ương. Hơn nữa, do không có cơ chế điều phối hữu hiệu giữa các địa phương trong cùng một vùng nên các các tỉnh đều mạnh ai nấy xin trung ương, mạnh ai nấy đầu tư, cho dù có thể biết rằng làm như vậy sẽ khiến hiệu quả đầu tư chung của cả vùng giảm sút. Kết quả là vô hình trung, địa giới hành chính đã trở thành biên giới kinh tế giữa các địa phương, và nền kinh tế quốc gia bị phân rã thành 63 nền kinh tế nhỏ, kém hiệu quả.

     

    Bên cạnh đó, tư duy “nhiệm kỳ” khiến việc chạy đua GDP càng trở nên gấp gáp, và thường thì quyết định càng vội vã, xác suất phạm sai lầm càng lớn, nhất là khi người ra quyết định nhiệm kỳ sau không còn ở đó để nhận lãnh trách nhiệm cho quyết định của mình. Như vậy, trong bối cảnh thể chế hiện nay, tầm nhìn của lãnh đạo địa phương bị giới hạn về cả không gian (địa giới hành chính) và thời gian (nhiệm kỳ 5 năm .

     

    Các tỉnh nghèo sẽ tham gia cuộc đua tăng trưởng này bằng cách nào? Rõ ràng khi đang nhận trợ cấp của trung ương thì chúng không thể chạy đua nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách của bản thân mình. Vì vậy, các tỉnh này buộc phải dựa vào các yếu tố đến từ bên ngoài, có thể là từ nhà nước trung ương hoặc từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với công thức ngân sách như hiện nay, các tỉnh sẽ có rất ít động cơ để tiến tới tự cân đối thu chi tài khóa. Cụ thể là phương trình cân bằng tài khóa địa phương như sau:

     

    A = B + t.C + T

     

    Trong đó:

    • A = Tổng chi ngân sách của địa phương

     

    • B = Các khoản thu NSĐP hưởng 100%

     

    • C = Các khoản thu chia sẻ giữa TƯ và ĐP

     

    • t = Tỷ lệ phân chia

     

    • T = Chuyển giao (trợ cấp) từ TƯ cho ĐP

    Theo công thức này:

     

    • Nếu A > B + C thì NSTƯ sẽ bù thông qua trợ cấp (hay chuyển giao) T = A – (B + C). Tất nhiện khi ấy tỷ lệ phân chia ngân sách t = 100%.

     

    • Nếu A ≤ B + C thì NSTƯ không bù, nghĩa là T = 0 và tỷ lệ phân chia ngân sách t = (A – B)/C

     

     

    24

     

    Rõ ràng là với phương trình tài khóa và công thức chia sẻ ngân sách như thế này, các địa phương sẽ có động cơ tăng chi và giảm (hay giấu) nguồn thu – cả hai động cơ này đều có tác động tiêu cực đến sự lành mạnh của nền tài khóa quốc gia. Không những thế, nó còn tạo ra sự ỷ lại của địa phương, do vậy hạn chế sự nỗ lực cải thiện và nuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời cải thiện hiệu quả của chi tiêu ngân sách.

     

    Có ý kiến cho rằng tình trạng đầu tư tràn lan của các địa phương hiện nay có nguồn gốc từ chính sách phân cấp quá mức. Điển hình là trong thời gian vừa qua, hiện tượng phát triển các khu, cụm công nghiệp và sân golf mang tính phong trào vì giờ đây chỉ bằng một quyết định của chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, hàng trăm héc-ta đất nông nghiệp có thể được chuyển thành đất công nghiệp hay thương mại.20 Mặc dù không thể phủ nhận một thực tế là nhiều địa phương đã lợi dụng nhiều khe hở của quá trình phân cấp nhưng suy đến cùng, chính sự thiếu giám sát, điều phối và kỷ luật lỏng lẻo của trung ương cùng với chất lượng quy hoạch thấp là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng đầu tư lan tràn, chồng chéo, và kém hiệu quả (Bảng 5).

     

    Bảng 5. Trách nhiệm và thẩm quyền của TƯ và ĐP trong đầu tư công

     

             

    Cảng

         

    Sân

         

    Khu

         

    Quốc lộ

         

    Điện

     
                                       
                                       
             

    biển lớn

         

    bay

         

    kinh tế

                 
                                           
                                                 
                                             
                                             
     

    Quy hoạch

         

         

         

         

         

     
                                                 
                                         
     

    Thẩm định

         

         

         

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Phê duyệt

         

         

         

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Tài trợ

         

         

         

    TƯ ĐP

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Thực hiện

         

         

         

    TƯ/ĐP

         

         

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Giám sát

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

         

    TƯ ĐP

     
                                     
                                         
                                                 
                                         
     

    Kiểm toán

         

         

         

    TƯ ĐP

         

         

     
                                     
                                                 
                                                 

    Một ví dụ minh họa là trường hợp cảng biển, theo quy hoạch (Quyết định 2190 QĐ-TTg ngày 24 12 2009 thì đến năm 2020 cả nước sẽ có 39 cảng biển với khoảng 100 khu bến cảng tổng hợp. Thế nhưng từ bản phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng đến bản quy hoạch chi tiết của Bộ Giao thông – Vận tải, số lượng bến cảng không ngừng mọc thêm. Lấy ví dụ như nhóm cảng số 6 ở ĐBSCL. Theo Quyết định 2190 QĐ-TTg thì ĐBSCL sẽ có 14 cảng biển với 21 bến tổng hợp. Chưa đầy 2 năm sau, đến Quyết định 1746 QĐ-

     

    • Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong giai đoạn 2000 – 2010, trung bình mỗi năm có

     

    • 300 héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi để chuyển thành đất công nghiệp, đô thị và hạ tầng.

    25

     

    BGTVT ngày 3/8/2011 về quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển ĐBSCL, con số bến tổng hợp đã tăng lên 27. Đấy là chưa kể đến 21 bến cảng chuyên dùng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh xăng dầu, gas, và nhiệt điện cũng mới được đưa vào quy hoạch.

     

    Sự phân mảnh về thể chế không chỉ nằm ở phạm vi của các tỉnh, giữa chính quyền trung ương và địa phương, mà còn giữa những bộ ngành khác nhau của trung ương. Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam 2010 của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương và Trường Chính sách công Lý Quang Diệu đã nhận định rằng việc hoạch định chính sách ở Việt Nam “thiếu tầm nhìn, thiếu trọng tâm và xác định thứ tự ưu tiên

     

    • Mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí xung đột giữa các chính sách và các quy định khác nhau, thiếu sự gắn kết giữa kế hoạch ngắn hạn và chiến lược dài hạn”21. Báo cáo này

    cũng chỉ ra rằng nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế này là do “thiếu sự phối hợp liên ngành trong xây dựng nội dung cũng như thực hiện chính sách” và thiếu cơ chế để buộc các bộ làm việc cùng nhau”.

     

    Kết luận

     

    Sau một phần tư thế kỷ đẩy mạnh phân cấp, Việt Nam hiện đang đứng ở ngã ba đường. Nhìn từ góc độ toàn xã hội, có thể nói rằng nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới được bắt nguồn từ quá trình phân cấp thị trường, và đây đồng thời là những thành công quan trọng nhất của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Cốt lõi của những cải cách thành công trong quá trình Đổi mới chính là sự rút lui của nhà nước và trỗi dậy của thị trường. Trong nội bộ hệ thống nhà nước, phân cấp đã giúp chính quyền các tỉnh có nhiều không gian chính sách và quyền tự chủ hơn trong việc theo đuổi các mục tiêu của họ. Đặc biệt, phân cấp ngân sách đã cho phép chính quyền ở các địa phương có thặng dư ngân sách trở nên linh hoạt hơn trong việc huy động và phân bổ nguồn lực của họ. Ngoài ra, việc phân cấp quản lý FDI cũng giúp cho chính quyền địa phương gần như có toàn quyền tự chủ trong việc cấp giấy phép FDI.

     

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ tăng tốc phân cấp, kết quả đạt được thua xa so với kỳ vọng của chính phủ. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính

     

    • Xem phần “Hoạch định chính sách kinh tế ở Việt Nam”, tr. 69-70.

     

     

    26

     

    sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

     

    Những hạn chế của phân cấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thực tế là cho đến tận ngày hôm nay, Việt Nam vẫn còn thiếu ngay cả những điều kiện tiền đề cơ bản cho phân cấp thành công. Đầu tiên phải kể đến sự thiếu ý chí chính trị. Quan điểm chủ đạo của chính thể hiện nay vẫn là tăng cường tập trung hóa và nhất thể hóa về chính trị và quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể của tư tưởng này là nguyên lý “phân cấp từ trên xuống” và duy trì “vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước” bất chấp sự yếu kém của khu vực này.

     

    Thứ hai, môi trường thể chế và quản trị của Việt Nam còn yếu kém. Thông tin chưa minh bạch, tiếng nói của người dân, doanh nghiệp, và xã hội dân sự còn yếu ớt, trách nhiệm giải trình hai chiều của chính quyền còn hạn chế. Tất cả những điều này triệt tiêu phần lớn tác dụng kỳ vọng cải thiện hiệu quả của khu vực công thông qua việc đưa chính quyền đến gần người dân hơn nhờ phân cấp.

     

    Thứ ba, về phương diện chính sách, phân cấp ở Việt Nam còn khập khiễng. Trong khi phân cấp thị trường, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã được đẩy mạnh thì phân cấp chính trị và nhân sự hầu như chưa xảy ra. Bên cạnh đó, năng lực của các cấp chính quyền còn yếu, và càng xuống cấp chính quyền thấp hơn thì hạn chế về năng lực càng được bộc lộ rõ. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, phân cấp không đi đôi với bổ sung nguồn lực, khiến cho chính quyền địa phương, cả giàu lẫn nghèo, đều luôn phải chịu áp lực quá tải. Không những thế, với công thức chia sẻ ngân sách được quy định bởi Luật Ngân sách hiện nay, các địa phương không có nhiều động cơ để nuôi dưỡng và huy động nguồn thu. Thêm nữa, việc áp dụng một chính sách phân cấp như nhau cho hầu hết các tỉnh làm vấn đề trở nên trầm trọng vì nó áp đặt thêm một số hạn chế đối với chính quyền địa phương về sự linh hoạt trong huy động nguồn lực và phát triển các chính sách sáng tạo, mà đến lượt mình điều này lại làm cho sự phân cấp trở nên không hiệu quả.

     

    Thứ tư, từ góc độ quản lý nhà nước, việc thực hiện phân cấp đòi hỏi phải có sự tham gia và phối hợp giữa các bộ ngành và giữa các tỉnh với nhau. Tuy nhiên, do thiếu sự liên kết, phối hợp, và hợp tác ở tất cả các cấp nên quá trình phân cấp trên thực tế tạo ra tình trạng cát cứ và chia cắt trong hệ thống quản lý nhà nước (cụ thể là giữa các bộ ngành và các địa phương cũng như một cuộc chạy đua xuống đáy giữa các tỉnh.22 Liên quan đến sự giám sát chính sách phân cấp, mặc dù vai trò của Hội đồng nhân dân đã được cải thiện, nhưng tính hiệu quả và hiệu năng của cơ quan này vẫn còn hạn chế cả về khía cạnh thể chế lẫn kỹ thuật.

     

    • See Vu Thanh Tu Anh, Le Viet Thai, and Vo Tat Thang (2007).

     

     

    27

     

    Cuối cùng, ở những khía cạnh kỹ thuật hơn, quy mô của các tỉnh ở Việt Nam quá nhỏ để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô cũng như để nội hóa các ngoại tác liên tỉnh. Hơn nữa, việc có quá nhiều tỉnh như vậy cũng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh thay vì là sự hợp tác giữa các tỉnh này với nhau, mà điều này lại làm tăng chi phí và làm xói mòn các lợi ích của sự phân cấp.

     

    Đối với Việt Nam, để thiết kế một chính sách phân cấp có hiệu quả, ưu tiên trước hết là phải chuẩn bị các điều kiện tiền đề – và điều này chỉ có thể có nếu như Chính phủ thực sự thay đổi quan niệm hẹp về phân cấp (chỉ bao hàm phân cấp quản lý kinh tế) và chấp nhận một sự thay đổi cơ bản về vai trò của nhà nước. Đây là quyết định chính trị chứ không phải quyết định kinh tế, và tương lai phân cấp của Việt Nam phụ thuộc một cách cơ bản vào quyết định chính trị này.

     

     

     

     

     

     

     

    28

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. CECODES, TCMT, BDN & UNDP (2012). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân.
    1. Cộng đồng các nhà tài trợ (2009). Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiệ đại.
    1. Musgrave, Richard, 1986. “The Economics of Fiscal Federalism.” In: Richard Musgrave,

    Public Finance in a Democratic Society, Collected Papers. Vol. 2. New York University Press.

     

    1. Oates, Wallace (1972). Fiscal Federalism. New York: Harcourt Brace.
    1. Oates, Wallace and Robert Schwab (1988). Economic Competition Among Jurisdictions: Efficiency Enhancing or Distortion Inducing? Journal of Public Economics 35: 33-354.
    1. Oates, Wallace (1999). An Essay on Fiscal Federalism. Journal of Economic Literature, Vol.XXXVII (September): 1120-1140.
    1. Olson, Mancur (1969). The Principle of Fiscal Equivalence: The Division of Responsibilities among Different Levels of Government, American Economic Review, Papers and Proceedings, 59(2), 479-487.
    1. Shah, Anwar (2004). Fiscal Decentralization in Developing and Transition Economies: Progress, Problems, and the Promise. World Bank Policy Research Working Paper 3282.
    1. Stigler, George (1957). The Tenable Range of Local Functions. Reprinted in Wallace Oates, editor, (1998), pp.3-9.
    1. Willis, Garman and Haggard (1999). The politics of decentralization in Latin America. Latin American Research Review, Winter 1999, volume 34, issue 1: 7-46.
    1. World Bank (2001). Decentralization in the Transition Economies: Challenges and the Road Ahead. Europe and Central Asia Region.
    1. World Bank (2010). Local Government and Decentralization Project. Có thể truy cập từ địa chỉ: http://www.worldbank.org/projects/P111577/local-government-decentralization-project?lang=en

     

     

     

    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận: Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận

    Tiểu luận: Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận

    Tiểu luận: Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề tài “Lợi nhuận và các giải pháp góp phần tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần phát triển công nghệ nông thôn”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/06/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ngu%E1%BB%93n-g%E1%BB%91c-v%C3%A0-b%E1%BA%A3n-ch%E1%BA%A5t-l%E1%BB%A3i-nhu%E1%BA%ADn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận: Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Năm 1986,Việt Nam chuyển cơ chế kinh tế từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Cùng với sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường một loại những phạm trù mới xuất hiện khác hẳn với nền kinh tế tập trung bao cấp trước đây đặc biệt là vấn đề lợi nhuận. Chúng ta đã một thời coi lợi nhuận là một cái gì đó xấu xa, là một phạm trù hoàn toàn xa lạ với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Hiện nay nước ta đang vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì lợi nhuận là vấn đề trung tâm. Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân khi bắt tay vào sản xuất kinh doanh đều muốn thu lợi nhuận. Lợi nhuận là mục đích của mọi ngành nghề, mọi nhà kinh doanh. Lợi nhuận là phần thưởng cho sự lao động, sáng tạo, năng động của con người trong qúa trình sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận có vai trò nhất định trong nền kinh tế hiện nay. Vậy nguồn gốc, bản chất lợi nhuận là gì và vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường hiện nay như thế nào là vấn đề mà đề án này đề cập tới.

     

     

     

     

     

    1

     

    I.                  NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN

     

    1. Các quan điểm trước Mác về lợi nhuận.

     

    Lợi nhuận xuất hiện từ rất lâu cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.

     

    Trước Mác có rất nhiều quan điểm của các trường phái khác nhau về vấn đề lợi nhuận.

     

    a. Quan điểm của nghĩa trọng thương về lợi nhuận.

     

    Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế của giai cấp tư sản trong giai đoạn phương thức sản xuất phong kiến tan rã và chủ nghĩa tư bản ra đời. Nguyên lý cơ bản trong học thuyết của những người trọng thương; lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, nó là kết quả của trao đổi không ngang giá, do lừa gạt mà có. Những người trọng thương cho rằng”. Trong hoạt động thương nghiệp phải có một bên được một bên mất, dân tộc nàylàm giàu thì dân tộc khác phải chịu thiệt thòi. Trong hoạt động thương nghiệp, nội thương có tác dụng phân phối lại của cải từ túi người này sang túi người khác, chỉ có ngoại thương mới đem lại của cải cho quốc gia. Những người theo chủ nghĩa trọng thương quan niệm rằng tiền tệ là tiêu chuẩn căn bản của cải dân tộc; xuất khẩu tiền tệ ra nước ngoài thì làm giảm của cải , nhập khẩu tiền tệ thì làm tăng của cải. Xuất phát tư quan điểm ấy, chủ nghĩa trọng thương trong thời kỳ đầu – với thuyết bảng cân đối tiền tệ – chủ trương cấm xuất khẩu tiền ra nước ngoài. Họ cho rằng điều kiện cần thiết để tăng của cải trong nước là bảng cân đối nhập siêu (tiền nhập vượt mức xuất). Thời kỳ cuối trường phái trong thương

     

    • với thuyết bảng cân đối thương mại – không phản đối việc xuất khẩu tiền tệ và cần thiết để tăng thêm của cải trong nước. Để tăng thêm của cải, một nước không nên nhập khẩu hàng hoá nhiều hơn xuất khẩu. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XVII trở đi, chủ nghĩa trọng thương dần dần tan rã, theo đà phát triển của chủ nghĩa tư bản, cách thức chủ yếu để tăng thêm của cải không đơn thuần là tích luỹ tiền tệ nữa mà là tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa. Trung tâm, chú ý của các nhà kinh tế học ngày càng chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất.

    b. Quan điểm của trường phái cổ điển Anh về lợi nhuận.

     

    Cùng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản tư bản chủ nghĩa, học thuyết kinh tế của những người trọng thương trở thành phiến diện lỗi thời đòi hỏi phải có lý luận mới và trên cơ sở đó kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời.

    Trường phái cổ điển cho rằng lợi nhuận được sinh ra từ lĩnh vực sản xuất vật chất bằng cách bóc lột lao động sản xuất những người làm thuê. Giai cấp tư sản lúc này đã nhận thức được “Muốn giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu”. William Petty, Ađam Smith David Ricardo, những tác giả tiêu biểu của trường phái cổ điển Anh, đều nêu lên quan điểm của mình về lợi nhuận.

    Wiliam Petty (1623 – 1678): phái trọng thương bỏ qua vấn đề địa tô nhưng Petty đã tìm thấy nguồn gốc của địa tô ở trong lĩnh vực sản xuất. Ông định nghĩa

     

    2

     

    địa tô là số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất (bao gồm chi phí tiền lương, chi phí giông má). Thực ra ông không rút ra được lợi nhuận kinh doanh ruộng đất nhưng theo logic có thể rút ra được kết luận, công nhân chỉ nhận được tiền lương tối thiểu số còn lại là lợi nhuận của địa chủ. Petty coi lợi tức là tô của tiền và cho rằng nó lệ thuộc vào mức địa tô (trên đất mà người ta có thể dùng tiền vay để mua). Ông coi lợi tức là số tiền thưởng, trả cho sự nhịn ăn tiêu, coi lợi tức cũng như tiên thuê ruộng.

    Ađam Smith (1723 – 1790): Theo Ađam Smith, lợi nhuận là” khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của người lao động, là một trong những nguồn gốc đầu tiên của thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi. Ông cho rằng giá cả lao động nông nghiệp và lao động công nghiệp đều tạo ra lợi nhuận. Smith coi lợi nhuận trong nhiều trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản. Lợi nhuận do toàn bộ tư bản đẻ ra. Lợi nhuận tăng hay giảm tuỳ thuộc vào sự giàu có tăng hay giảm của xã hội. Ông thừa nhận sự đối lập giữa tiền công và lợi nhuận. Smith đã nhìn thấy” khuynh hướng thường xuyên đi đến chỗ ngang nhau” của tỷ xuất lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh giữa các ngành và khuynh hướng tỷ xuất lợi nhuận giảm sút. Theo Ông tư bản đầu tư càng nhiều thì tỷ xuất lợi nhuận càng thấp.

    David Ricardo (1772 – 1823): Ricardo cho rằng lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công. Ông coi lợi nhuận là lao động không được trả công của công nhân. Ricardo đã có những nhận xét tiến gần đến lợi nhuận bình quân, ông cho rằng những tư bản có đại lượng bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau. Giữa tiền lương và lợi nhuận có sự đối kháng; năng xuất lao động tăng lên thì tiền lương giảm và lợi nhuận tăng. Mặc dù ông chưa biết đến phạm trù giá trị thặng dư nhưng trước sau vẫn nhất quán quan điểm cho rằng giá trị do công nhân tạo ra lớn hơn số tiền mà họ nhận được.

     

    2. Lý luận về lợi nhuận của Mác.

     

    Mác đã kế thừa những hạt nhân hợp lý của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, phát triển nó một cách xuất sắc và thực hiện một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế chính trị học.

     

    a. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa.

     

    Để tạo ra giá trị hàng hoá cần phải chi một số lao động nhất định là lao động quá khứ và lao động hiện tại.

    Lao động quá khứ (lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất (c). Giá trị của tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của công nhân được bảo tồn và di chuyển vào gía trị của sản phẩm mới.

    Lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới (v+m). Giá trị mới này là do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao động.

     

    3

     

    Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm với giá trị thặng dư.

    Như vậy đứng trên quan điểm xã hội mà xét thì chi phí thực tế để sản xuất ra hàng hoá (c+v+m).

    Trên thực tế, nhà tư bản ứng tư bản để sản xuất hàng hoá tức là họ ứng ra một số tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v). Do đó nhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem hao phí hết bao nhiêu lao động xã hội. Mác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và ký hiệu bằng k (k=c+v).

    Vậy chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hoá.

    Khi xuất hiện chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thì công thức giá trị hàng hoá (gt=c+v+m) chuyển thành (gt=k+m).

     

    b. Quá trình tạo ra giá trị thặng dư.

     

    Giá trị thặng dư là giá trị mới đã ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Để hiểu rõ về quá trình ra gía trị thặng dư ta xét bài toán sau.

    Giả định để sản xuất ra 10 kg sợi cầu 10kg bông, giá 10kg bông là 10 đôla. để biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6giờ và hao mòn máy móc là 2 đôla, giá trị sức lao động trong một ngày lao động của công nhân là 3 đôla; trong một giờ lao động người công nhân tạo ra một giá là 0,5 đôla; Cuối cùng ta giả định rằng trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết.

     

    Với giả định như vậy, nếu quá trình lao động chỉ kéo dài đến cái điểm mà ở đó bù đắp được gía trị sứclao động (6giờ) thì chưa sản xuất ra giá trị thặng dư. Trên thực tế quá trình lao động không dừng lại ở đó. Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong một ngày. Vậy việc sử dụng các sức lao động trong ngày thuộc về nhà tư bản.

    Chẳng hạn nhà tư bản bắt công nhân lao động trong 12 giờ trong một ngày thì

     

    Chi phí sản xuất

    Giá trị của sản phẩm mới

    Tiền mua bông:20 đôla

    Giá trị của bông được chuyển vào sợi:20đôla

    Hao mòn máy móc:4 đôla

    Giá trị của máy móc được chuyển vào sợi:

     

    4đôla

       

    Tiền mua sức lao động trong một

    Giá trị do lao động của công tạo ra trong 12

    ngày :3 đôla

    giờ lao động alf :6 đôla

       

    Cộng :27 đôla

    Cộng 30 đô la

       

    Như vậy toàn bộ chi phí của nhà tư bản để mua sức lao động và tư liệu sản xuất là 27 đôla . Trong mười 12 giờ lao động công nhân tạo ra một sản phẩm mới

     

    4

     

    (20kg sợi) có giá trị bằng 30 đôla lơn hơn giá trị ứng trước là 3đôla. 27 đôla ứng trước chuyển thành 30 đôla mang lại giá trị thặng dư là 3 đôla. Khi bán sản phẩm thì nhà tư bản sẽ thu được lợi nhuận là : 30 – 27=3đôla

    Như vậy nguồn gốc của lợi nhuận là tư lao động thặng dư của công nhân và bản chất của lợi nhuận là giá trị thặng dư.

     

    c. Lợi nhuận:

     

    Giữa gía trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn có một khoảng chênh lệch, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí thực tế hay giá trị của hàng hoá, (c+v)<(c+V+m), cho nên sau khi bán hàng hoá nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà còn thu được số tiền lời ngang bằng với gía trị thặng dư. Số tiền này gọi là lợi nhuận.

    Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức:

     

    gt = (c+v+m)=k+m) bây giờ sẽ chuyển thành gt= k+P (hay giá trị hàng hoá bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận)

    Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức chuyển hoá là lợi nhuận.

     

    1. Sự che dấu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa của phạm trù lợi nhuận. gt = c+v+m=k+m=k+P.

     

    Thoạt nhìn công thức, ta thấy rằng lợi nhuận và giá trị thặng dư chỉ là một : lợi

     

    nhuận chẳng qua là một hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư, hình thái mà phương thức sản xuất tư bản nghĩa tất phải đẻ ra. Mặc dù m và p đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê nhưng bản chất của m và p hoàn toàn khác nhau, m phản ánh nguồn gốc sinh ra từ v còn p thì được xem như toàn bộ tư bản ứng trước đẻ ra, do đó p đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa che dấu nguồn gốc thực sự của nó. Điều đó là do những nguyên nhân sau:

     

    Một là, sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xoá nhoà sự khác nhau giữa c và v. Chúng ta biết rằng v tạo ra m nhưng khi chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành thì sự khác nhau giữa c và v biến mất nên việc p được sinh ra trong quá trình sản xuất nhờ bộ phận v bây giờ trở thành con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước. Lao động là nguồn gốc của giá trị thì biến mất và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra p.

    Hai là, do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế cho nên nhà tư bản chỉ cần bán hàng hoá với giá cao hơn chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là đã có lợi nhuận.

    Nếu nhà tư bản bán hàng với giá cao hơn giá trị thì m<p

     

    Nếu nhà tư bản bán hàng với giá thấp hơn giá trị thì m>p

     

    Nếu nhà tư bản bán hàng với giá bằng giá trị thì m = p

     

    5

     

    Chính sự không nhất trí giữa m và p che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Đồng thời nó tạo ra ảo giác rằng lợi nhuận là do llưu thông tạo ra do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có.

     

    e. Tỷ xuất lợi nhuận và vai trò của tỷ xuất lợi nhuận trong đời sống.

     

    Trên thực tế các nhà tư bản không chỉ quan tâm tới lợi nhuận và còn quan tâm tới tỷ xuất lợi nhuận.

    Tỷ xuất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước.

    Nếu lý luận tỷ xuất lợi nhuận là p’ ta có

     

    p’=Error! x 100%

     

    Giữa p’ và m có sự khác nhau:

     

    Về mặt lượng p’ luôn nhỏ hơn m’, vì

     

    p’=Error! x 100%                       m’=Error! x 100%

     

    Về mặt chất: m phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê còn p’ không thể phản ánh được điều đó mà nó chỉ nói lên mức lãi của việc đầu tư tư bản.

    Việc theo đuổi tỷ suất lợi nhuận cao là động lực thúc đẩy các nhà tư bản là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản. Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan: tỷ suất giá trị thặng dư; sự tiết kiệm tư bản biến chất; cấu tạo hữu cơ của tư bản; tốc độ chu chuyển của tư bản.

    Vai trò của tỷ suất lợi nhuận trong đời sống:

     

    Tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ nghịch với sự nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, tức là trong trường hợp các điều kiện khác không đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản càng thấp thì tỷ suất lợi nhuận càng cao nhưng trong một xí nghiệp cá biệt cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên sẽ dẫn tới nâng cao năng suất lao động trong xí nghiệp ấy, dẫn tới giá trị cá biệt của hàng hoá do xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội và làm cho xí nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch. Do đó thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đồng thời trình độ của người lao động cũng được nâng cao.

    Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp sẽ quyết định thu nhập của xí nghiệp nhiều hay ít. Trong trường hợp các điều khác không đổi, thời gian sản xuất và thời gian lưu thông càng rút ngắn thì lợi nhuận của xí nghiệp càng cao và ngược lại. Do đó trong khâu sản xuất các xí nghiệp tích cực tìm tòi, không ngừng sáng kiến và chủ động áp dụng những thành tựu khoa học mới, bồi dưỡng đào tạo nhân lực để rút ngắn thời gian sản xuất thực hiện hợp tác hoá sản xuất không riêng gì những người lao động trong xí nghiệp mà ngay cả lao động của toàn thể các thành viên trong xã hội cũng đều hợp tác hoá với nhau một cách có kế hoạch sử dụng hợp lý sức lao động, bố trí người một cách có kế hoạch và làm cho họ đều chuyên môn hoá tạo ra những hình

     

    6

     

    thức mới tiên tiến trong việc tổ chức sản xuất và lao động. Đồng thời nó còn phát huy rộng rãi tính chủ động tích cực sáng tạo của người lao động. Không chỉ rút ngắn thời gian sản xuất mà xí nghiệp còn rút ngắn thời gian lưu thông nhằm tăng thu nhập của xí nghiệp.

     

    f. Tỷ suất lợi nhuận bình quân và sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình

     

    quân

     

    Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ suất tính theo % giá tổng giá trị thặng dư trong xã hội tư bản và tổng tư bản xã hội đầu tư vào tất cả các lĩnh vực các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Nếu ký hiệu p’ là tỷ suất lợi nhuận bình quân thì:

     

    p’=Error! x 100%

     

    Trong các ngành có cấu tạo hữu cơ tư bản cao hơn (với số tư bản bằng nhau) thì giá trị thặng dư được tạo ra ít hơn so với các ngành có cấu tạo hữu cơ thấp. Việc hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân có nghĩa là phân phối lại giá trị thặng dư giữa các nhà tư bản trong các ngành sản xuất khác nhau theo nguyên tắc: tư bản bằng nhau thì lợi nhuận bằng nhau.

    Tỷ suất lợi nhuận bình quân hình thành dưới ảnh hưởng của sự cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc tư bản di chuyển một cách tự phát từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận làm cho hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong quá trình cạnh tranh giữa các nhà tư bản nó thể hiện lợi ích chung của giai cấp nhà tư bản trong việc tăng cường bóc lột nhân dân lao động. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên, do đó tỷ suất lợi nhuận bình quân có xu hướng giảm xuống. Bằng cách bóc lột công nhân nhà tư bản ra sức ngăn cản sự giảm xuống của tỷ suất lợi nhuận. Phạm trù tỷ suất lợi nhuận bình quân còn che dấu hơn nữa quan hệ bóc lột, che dấu hơn nữa nguồn gốc thực sự trong việc làm giàu của nhà tư bản. Mác là người đầu tiên phân tích một cách khoa học phạm trù tỷ suất lợi nhuận bình quân, ông đã vạch trần những luận điệu giả dối của các nhà kinh tế học tư sản cho rằng lợi nhuận không phải là kết quả của sự bóc lột và chỉ rõ rằng lợi nhuận là hình thức của giá trị thặng dư và vạch ra những mâu thuẫn giai cấp gắn liền với tham vọng theo đuổi lợi nhuận lớn nhất của nhà tư bản.

     

    Sự hoạt động của qui luật tỷ suất lợi nhuận bình quân là biểu hiện cụ thể của sự hoạt động của quy luật giá trị thặng dư trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản. Mác viết “… Những tỷ xuất lợi nhuận hình thành trong những ngành sản xuất khác nhau, lúc đầu rất khác nhau. Do ảnh hưởng của cạnh tranh những tỷ xuất lợi nhuận khác nhau đó san bằng thành tỷ xuất lợi nhuận chung, đó là con số

     

    7

     

    trung bình của tất cả các tỷ xuất lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận của một tư bản có một lượng nhất định thu được căn cứ theo tỷ xuất lợi nhuận chung đó, không kể cấu tạo hữu cơ của nó như thế nào gọi là lợi nhuận bình quân”.

    Giả sử có ba nhà tư bản ở ba ngành sản xuất khác nhau tư bản mỗi ngành đều bằng nhau và bằng 100, tỷ xuất giá trị thặng dư đều bằng100%. Tốc độ chu chuyển củ tư bản ở các ngành đều như nhau. Tư bản ứng trước đều chuyển hết giá trị vào sản phẩm. Nhưng do cấu tạo hữu cơ của tư bản ở từng ngành khác nhau nên tỷ xuất lợi nhuận khác nhau.

     

    Ngành sản xuất

    Chi phí sản xuất

    Giá trị thặng dư

    p'(%)

     

    với m’ = 100%

           
             

    Cơ khí

    80c+20v

    20

    20

     

    Dệt

    70c + 30v

    30

    30

     

    Da

    60c + 40v

    40

    40

     

    Như vậy cùng một lượng tư bản đầu tư nhưng do cấu tạo hữu cơ khác nhau nên tỉ suất lợi nhuận khác nhau. Nhà tư bản không thể đứng yên ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp. Trong ví dụ trên các nhà tư bản ở ngành cơ khí sẽ di chuyển tư bản của mình sang ngành da làm cho sản phẩm của ngành da nhiều lên (cung lớn hơn cầu) do đó giá cả hàng hoá ở ngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của nó, và tỉ suất lợi nhuận ở ngành này sẽ giảm xuống. Ngược lại sản phẩm ở ngành cơ khí sẽ giảm đi (cung thấp hơn cầu) nên giá cả sẽ cao hơn giá trị và do đó tỉ suất lợi nhuận

     

    • ngành cơ khí sẽ tăng lên. Như vậy hiện tượng di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm cho ngành có cung (hàng hoá) lớn hơn cầu (hàng hoá) thì giá cả giảm xuống còn ngành có cầu (hàng hoá) lớn hơn cung (hàng hoá) thì giá cả tăng lên. Sự di chuyển tự do tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi tỷ suất lợi nhuận cá biệt của các ngành. Kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.

    g. Sự chuyển hoá giá trị thành giá cả sản xuất

     

    Giá cả sản xuất của hàng hoá bằng chi phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân (giá cả sản xuất = k + p)

    Giá cả thị trường lên xuống xung quanh giá cả sản xuất

     

    Việc biến giá trị thành giá cả sản xuất là kết quả sự phát triển lịch sử của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản đầu tư vào các ngành kinh tế khác nhau có cấu tạo hữu cơ của tư bản không giống nhau việc chuyển tư bản từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất khác làm cho số tư bản bỏ ra bằng nhau thu được lợi nhuận ngang nhau tức là lợi nhuận bình quân. Ngoài ra trong một thời gian nhất định tổng giá cả sản xuất bằng tổng số giá trị của tất cả các hàng hoá. Giá cả sản xuất là hình thức biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư.

     

    8

     

    Quá trình hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất có thể tóm tắt như sau.

     

    Ngành sản

    Tư bản

    Tư bản khả

    m với

    Giá trị

     

    Giá cả

    chênh lệch giữa

     

    bất biến

    P (%)

    giá cả sản xuất và

     

    xuất

    biến (V)

    m’ =100%

    hàng hoá

    hàng hoá

    (c)

     

    giá trị

     
               
                     

    Cơ khí

    80

    20

    20

    120

    30

    130

    +10

     

    Dệt

    70

    30

    30

    130

    30

    130

    0

     

    Da

    60

    40

    40

    140

    30

    130

    -10

     
                     

    Tổng số

    210

    90

    90

    390

       

    0

     

    h. Ý nghĩa cách mạng của lý luận lợi nhuận bình quân.

     

    Với một lượng tư bản nhất định bỏ vào đầu tư ở các ngành sản xuất khác nhau thu được lợi nhuận như căn cứ theo tỷ suất lợi nhuận bình quân không kể cấu tạo hữu cơ của nó như thế nào. Tỷ suất lợi nhuận bình quân hình thành trong quá trình cạnh tranh giữa các nhà tư bản nó thể hiện lợi ích chung của giai cấp nhà tư bản trong việc bóc lột nhân dân lao động. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân làm giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất.

     

    1. Các hình thức của lợi nhuận

    a. Lợi nhuận công nghiệp

    Lợi nhuận công nghiệp là phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra trong lĩnh

     

    vực công nghiệp và bị nhà tư bản chiếm không. Thời gian lao động trong ngày của công nhân chia làm hai phần: một phần thời gian lao động trong ngày công nhân tạo ra một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động. Phần còn lại của ngày là phần lao động thặng dư, lao động trong khoảng thời gian này là lao động thặng dư. Phần lao động thặng dư của công nhân thuộc về nhà tư bản. Khi hàng hoá được bán trên thị trường thì phần giá trị thặng dư này mang hình thức là lợi nhuận. Lợi nhuận cao luôn là mục đích của nhà tư bản cho nên nhà tư bản tìm ra hai phương pháp để làm tăng lợi nhuận đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

     

    b. Lợi nhuận thương nghiệp.

     

    Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp. Lợi nhuận thương nghiệp có nguồn gốc từ trong lĩnh vực sản xuất, nó là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá. Nhưng điều đó không có nghĩa là nhà tư bản

     

    9

     

    thương nghiệp bán hàng hoá cao hơn giá trị của nó, mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó.

    Nhà tư bản công nghiệp luôn tìm ra các phương pháp sản xuất để làm tăng lợi nhuận. Vậy tại sao nhà tư bản công nghiệp lại chịu nhường một phần lợi nhuận cho nhà tư bản thương nghiệp. Sở dĩ nhà tư bản công nghiệp bằng lòng nhường một phần lợi nhuận cho nhà tư bản thương nghiệp là do nhà tư bản thương nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà tư bản công nghiệp.

    Tư bản thương nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, đó là một khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất, không có giai đoạn này thì quá trình sản xuất không thể tiếp diễn được. Tư bản thương nghiệp chuyên trách nhiệm vụ lưu thông hàng hoá phục vụ cho nhiều nhà tư bản cùng một lúc do vậy lương tư bản và các chi phí bỏ vào lưu thông sẽ giảm đi rất nhiều do đó tư bản của từng nhà tư bản công nghiệp cũng như của toàn xã hội bỏ vào sản xuất sẽ tăng lên, qui mô sản xuất mở rộng và lợi nhuận cũng tăng lên. Mặt khác chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng càng gay gắt do đó cần phải có các nhà tư bản biết tính toán, am hiểu được nhu cầu thị trường, biết kỹ thuật thương mại… chỉ có tư bản thương nghiệp đáp ứng được các yêu cầu đó.

    Đối với nhà tư bản công nghiệp, khi lĩnh vực lưu thông đã có tư bản thương nghiệp đảm nhiệm nên rảnh tay trong lưu thông chỉ tập trung vào đẩy mạnh sản xuất, do đó lợi nhuận cũng tăng lên.

     

    c. Lợi nhuận ngân hàng

     

    Ngân hàng tư bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay. Trong nghiệp vụ nhận gửi ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền vào, còn trong nghiệp vụ cho vay ngân hàng thu lợi tức cho người đi vay. Lợi tức nhận gửi bao giờ cũng nhỏ hơn lợi tức cho vay.

    Lợi nhuận ngân hàng là chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi các khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền tệ.

    Lợi nhuận ngân hàng ngang bằng với lợi nhuận bình quân

     

    Tư bản ngân hàng là tư bản hoạt động cho nên lợi nhuận ngân hàng hoạt động theo qui luật tỷ suất lợi nhuận bình quân.

     

    d. Lợi tức cho vay.

     

    Có nhà tư bản cần tư bản để hoạt động bởi vì họ chưa có đủ vốn. Một số nhà tư bản có tiền nhưng chưa cần sử dụng vốn. Vì vậy nhà tư bản cần vốn để hoạt động sẽ đi vay còn nhà tư bản chưa sử dụng đến sẽ cho vay. Nhà tư bản đi vay (nhà tư bản hoạt động) vay tiền để sản xuất kinh doanh nên thu được lợi nhuận. Nhà tư bản cho vay đã nhượng quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác trong một thời gian nhất định cho nên họ nhận được một số tiền lời do người đi vay trả cho họ. Số tiền lời gọi là lợi tức.

     

    10

     

    Lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay căn cứ vào món tiền nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử dụng.

    Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.

     

    e. Địa tô

     

    Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ hình thành và thống trị trong lĩnh vực công nghiệp mà còn phát triển trong lĩnh vực nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp muốn kinh doanh thì phải thuê ruộng đất của địa chủ. Cũng như nhà tư bản kinh doanh trong công nghiệp nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp phải thuê đất cho nên ngoài lợi nhuận bình quân ra họ phải thu thêm được một phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân gọi là lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài, họ phải trả nó cho chủ đất dưới hình thái địa tô.

    Địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất.

    Nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa là kết quả của việc bóc lột công nhân làm thuê cho nông nghiệp.

     

    II.               VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

     

    1. Tiến hành phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất

    a. Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.

     

    Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức kinh tế – xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Hai hình thức này được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội trình độ phân công lao động xã hội trình độ phát triển và phạm vi của quan hệ trao đổi.

    Trong nền kinh tế tự nhiên người sản xuất đồng thời là người tiêu dùng. Tự sản xuất tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự nhiên. Mục đích của sản xuất là tạo ra những giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất vì thế có thể nói quá trình sản xuất tự nhiên chỉ gồm có hai khâu: sản xuất – tiêu dùng. Các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế tự nhiên mang hình thái hiện vật.

    Trong nền kinh tế hàng hoá mục đích của sản xuất là trao đổi hay là để bán. Mục đích đó được xác định trước quá trình sản xuất và có tính khách quan. Sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất đều gắn liền với thị trường.

    So với kinh tế tự nhiên kinh tế hàng hoá có ưu điểm sau:

     

    Một là: Trong kinh tế hàng hoá do có sự phát triển của phân công lao động xã hội cho nên sản xuất được chuyên môn hoá ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng. Điều đó tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, mỗi đơn vị sản

     

    11

     

    xuất, thúc đẩy việc cải tiến công cụ lao động nâng cao trình độ kỹ thuật mở rộng phạm vi sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển.

     

    Hai là: Trong nền kinh tế hàng hoá mục đích của sản xuất không phải là để tiêu dùng cho chính bản thân người sản xuất mà là để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Chính nhu cầu ngày càng tăng của thị trường đã làm hình thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Nhu cầu tiêu dùng càng cao thì sản xuất phải mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu.

    Ba là: Trong kinh tế hàng hoá, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Yêu cầu của cạnh tranh đòi hỏi những đơn vị sản xuất hàng hoá phải thường xuyên quan tâm tới năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn. Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận siêu ngạch đã làm lực lượng sản xuất có những bước tiến bộ dài.

    Bốn là: Trong kinh tế hàng hoá, do sản xuất xã hội ngày càng phát triển, quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng mở rộng cho nên sản phẩm hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng, giao lưu kinh tế và văn hoá giữa các vùng, các địa phương, các quốc gia ngày càng phát triển. Đời sống vật chất, tinh thần văn hoá của dân cư ngày càng được nâng cao.

     

    Những tiền đề của quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá sự ra đời và phát triển cuả kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan. Nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ làm xuất hiện những tiền đề của kinh tế hàng hoá. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá cũng chính là sự xuất hiện những tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định kinh tế hàng hoá. Mỗi bước phát triển của kinh tế hàng hoá là một bước đẩy lùi kinh tế tự nhiên. Quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của kinh tế hàng hóa diễn ra với sự tác động mạnh mẽ của những tiền đề sau:

     

    Phân công lao động xã hội: Phân công lao động xã hội tạo ra những ngành nghề sản xuất khác nhau. Do phân công lao động xã hội cho nên mỗi người chuyên làm một việc trong một ngành với một nghề nhất định và chuyển sản xuất ra một số sản phẩm nhất định. Nhưng nhu cầu tiêu dùng của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu của mình những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm cho nhau. Phân công lao động xã hội làm nảy sinh những quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất với nhau.

    Sự độc lập tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất: do phân công lao động xã hội và sự độc lập giữa những người sản xuất về kinh tế, cho nên quan hệ của những người sản xuất là quan hệ mâu thuẫn: họ vừa liên hệ, và phụ thuộc vào nhau vừa độc lập với nhau. Giải quyết mối quan hệ mâu thuẫn này tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ trao đổi dựa trên cơ sở giá trị nghĩa là dựa trên cơ sở trao đổi ngang giá.

     

    12

     

    Phân công lao động xã hội phát triển thì quan hệ trao đổi cũng được mở rộng và ngày càng phức tạp.

    Phân công lao động xã hội phát triển dẫn tới sự ra đời của ngành thương nghiệp. Thương nghiệp phát triển làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá cùng với lưu thông tiền tệ phát triển.

    Quan hệ trao đổi được mở rộng và phát triển đòi hỏi hệ thống giao thông vận tải cũng phải mở rộng và phát triển.

     

    b. Quá trình chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường.

     

    Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ phát triển.

     

    Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá tiền tệ và thị trường được phát triển và được mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao gồm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất. Dung lượng thị trường và cơ cấu thị trường được mở rộng hoàn thiện. Mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá. Khi đó người ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trường.

    Những điều kiện hình thành kinh tế thị trường.

     

    Kinh tế thị trường được hình thành với những điều kiện sau:

     

    Một là, sự xuất hiện hàng hóa sức lao động và thị trường sức lao động. Trước hết cần khẳng định sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động là một tiến bộ lịch sử. Người lao động được tự do, anh ta có quyền làm chủ khả năng lao động của mình và là chủ thể bình đẳng trong việc thương lượng với người khác. Sự xuất hiện hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành kinh tế thị trường là vì:

     

    Kinh tế thị trường là nền kinh tế phát triển. Nó có năng suất lao động cao, ngoài những sản phẩm cần thiết còn có những sản phẩm thặng dư. Chính sự xuất hiện hàng hóa sức lao động đã phản ánh điều đó, sự xuất hiện hàng hoá sức lao động phản ánh giai đoạn sản xuất đã phát triển trong đó năng suất lao động đã cao. Nhờ có sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động và thị trường mà tiền tệ không chỉ đơn thuần là phương tiện lưu thông mà còn trở thành phương tiện làm tăng giá trị, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh thúc đẩy tăng truởng và phát triển kinh tế.

    Với sự suất hiện của hàng hoá sức lao động dẫn tới sự hình thành các yếu tố sản xuất một cách hoàn chỉnh,kinh tế thị trường ra đời.

    Hai là, phải tích luỹ được một số tiền nhất định và số tiền đó phải trở thành vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích có lợi nhuận.

     

    Ba là, kinh tế thị trường là kinh tế tiền tệ cho nên vai trò của tiền tệ vô cùng quan trọng. Để hình thành được nền kinh tế thị trường cần phải có hệ thống tài chính tín dụng ngân hàng tương đối phát triển.

    Bốn là, sự hình thành phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi phải có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối phát triển, trên cơ sở đó mới đảm bảo lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ được thuận lợi dễ dàng.

     

    13

     

    Năm là, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước. Nhà nước tạo ra môi trường và hành lang cho thị trường phát triển lành mạnh.

     

    Với tất cả các tiền đề trên nền kinh tế thị trường được xã hội hoá cao, các quan hệ kinh tế mang hình thái phổ biến là quan hệ hàng hoá – tiền tệ và nó được tiền tệ hoá.

    Những đặc trưng của kinh tế thị trường:

     

    Một là: tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Các chủ thể kinh tế tự bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Các chủ thể kinh tế được tự do liên doanh liên kết tự do tổ chức quá trình sản xuất theo luật định.

    Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua bán hàng hoá. Sự đa dạng và phong phú về số lượng hàng hoá và chủng loại hàng hoá trên thị trường một mặt phản ánh trình độ cao của năng suất lao động xã hội mặt khác mức độ phát triển của quan hệ trao đổi, trình độ phân công lao động xã hội và sự phát triển của thị trường.

    Ba là: Giá cả được hình thành ngay trên thị trường. Giá cả thị trường vừa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường vừa chịu tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ. Trên cơ sở giá trị thị trường, giá cả là kết quả của sự thương lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán. Trong quá trình trao đổi mua bán hàng hoá người bán luôn muốn bán với giá cao. Người mua buôn muốn mua với giá thấp. Đối với người bán giá cả phải đáp ứng nhu cầu bù đắp được chi phí và có doanh lợi. Chi phí sản xuất là giới hạn, là phần cứng của giá cả, doanh lợi càng nhiều càng tốt. Đối với người mua giá cả phải phù hợp với lợi ích giới hạn của họ giá cả thị trường chung hoà được cả lợi ích cả người bán và người mua.

     

    Bốn là: Kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở. Nó rất phong phú đa dạng, phức tạp và được điều hành bởi hệ thống luật pháp của Nhà nước.

    Năm là: Cạnh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trường. Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế. Theo yêu cầu của qui luật giá trị, tất cả các đơn vị sản xuất hàng hoá đều phải sản xuất và kinh doanh trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động cá biệt, giảm hao phí lao động cá biệt nhằm thu lợi siêu ngạch.

     

    Theo đuổi mức lợi nhuận cao là mục đích của mọi nền kinh tế thị trường.

     

    Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận cao. Để thu lợi nhuận cao các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất và trong

     

    14

     

    cả lĩnh vực lưu thông. Cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bao gồm cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.

    Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất cùng một loại sản phẩm, sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành sản xuất làm cho giá cả của hàng hoá hình thành phù hợp với giá trị xã hội hoặc giá trị thị trường của hàng hoá. Giá trị xã hội (giá trị thị trường) của hàng hoá là do điều kiện sản xuất trung bình chiếm địa vị thống trị, quyết định. Trong các xí nghiệp có kỹ thuật và tổ chức hoàn thiện hơn thì giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường. Nhờ kết quả của cạnh tranh trong nội bộ ngành, các xí nghiệp đó thu được lợi nhuận siêu ngạch. Các xí nghiệp sản xuất ra hàng hoá có giá trị cá biệt cao hơn giá trị thị trường sẽ không thể thực hiện được đầy đủ bộ phận giá trị thặng dư chứa đựng trong hàng hoá, thậm chí không bù lại được chi phí sản xuất. Lợi nhuận siêu ngạch mà các xí nghiệp có kỹ thuật hoàn thiện hơn thu được chỉ có tính chất tạm thời vì các xí nghiệp khác cũng ra sức áp dụng vào sản xuất những thiết bị kỹ thuật hoàn thiện hơn. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là nhân tố tự phát thúc đẩy kỹ thuật phát triển và nâng cao năng suất lao động trong các xí nghiệp. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là do việc theo đuổi mục đích làm giàu và tỷ suất lợi nhuận cao hơn quyết định. Bản thân sự cạnh tranh trong nội bộ ngành không tránh khỏi sự lãng phí rất lớn về sức người sức của. Cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho các xí nghiệp lớn loại trừ các xí nghiệp vừa và nhỏ. Sự cạnh tranh ấy dẫn tới sự tập trung sản xuất.

     

    Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh giữa các ngành, tư bản tự phát di chuyển từ ngành này sang ngành khác do đó thực hiện sự phân phối tư bản giữa các ngành sản xuất khác nhau. Cuộc đấu tranh giữa các xí nghiệp là để sử dụng tư bản một cách có lợi nhất. Nếu như hậu quả trực tiếp của cạnh tranh trong nội bộ ngành là giá trị thị trường của một loại hàng hóa nào đó thì kết quả của sự cạnh tranh khác ngành là tư bản tự phát di chuyển từ ngày này sang ngành khác bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, hình thành tỷ suất lợi nhuận chung, thống nhất (hay bình quân) và giá cả sản xuất. Kết quả là trong các ngành sản xuất tư bản chủ nghĩa khác nhau, sự cạnh tranh giữa các ngành phản ánh mâu thuẫn giữa các nhà tư bản công nghiệp thuộc các ngành khác nhau trong việc phân chia giá trị thặng dư.

    Ngoài cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất các xí nghiệp còn cạnh tranh với nhaua trong cả lĩnh vực lưu thông. Cạnh tranh trong lĩnh vực lưu thông bao gồm: Cạnh tranh giữa những người tham gia trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên thị trường (người bán với người bán, người mua với người mua). Hình thức cạnh tranh và các biện pháp cạnh tranh có thể rất đa dạng phong phú nhưng mục đích cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận.

     

    15

     

    2. Nền kinh tế thị trường Việt Nam.

     

    a.      Sự cần thiết khách quan chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.

     

    Từ văn kiện đại hội VI Đảng và Nhà nước chủ trương xoá bỏ chế độ kế hoạch hoá tập trung – cơ chế quản lý kinh tế đã tồn tại ở nước ta trước đổi mới – để chuyển sáng cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.

    Trong mấy thập niên trước đây nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và đặc trưng của cơ chế này là:

    Nhà nước giao cho các điều kiện của sản xuất như vật tư, tiền vốn, sức lao động cho các xí nghiệp để sản xuất kinh doanh. Nhà nước chỉ đạo việc sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp theo hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh. Các xí nghiệp tiến hành sản xuất và cố gắng hoàn thành chỉ tiêu, lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù vì vậy nền kinh tế không có tính hiệu quả.

    Các cơ quan quản lý cấp trên can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở nhưng không chịu trách nhiệm gì về mặt vật chất đối với các quyết định của mình.

    Bỏ qua quan hệ hàng hoá – tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quản lý nền kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu, do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp thực hiện dưới các

    hình thức: bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lương hiện vật (chế độ tem phiếu) và bao cấp qua cấp phát vốn của ngân sách mà không ràng buộc vật chất đối với người được cấp vốn.

     

    Bộ máy quản lý rất cồng kềnh, có nhiều cấp trung gian và kém năng động từ đó sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản lý, không thạo nghiệp vụ kinh doanh, nhưng phong cách thì quan liêu cửa quyền.

    Cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã tích góp những xu hướng tiêu cực, làm nảy sinh sự trì trệ, hình thành cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội. Vấn đề đặt ra là phải đổi mới sâu sắc cơ chế đó. Đại hội lần VI của Đảng đưa ra phương hướng cơ bản của sự đổi mới và nó tiếp tục được đại hội VII của Đảng khẳng định “xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”.

     

    b. Cơ chế thị trường Việt Nam.

     

    Cơ chế kinh tế ở nước ta là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Trong cơ chế thị trường có các nhân tố: Hàng hoá, dịch vụ, người mua bán từ đó mà hình thành nên các quan hệ hàng hoá – tiền tệ. Quan hệ mua bán biểu hiện trên thị trường là quan hệ cung cầu. Trong cơ chế thị trường hàng hoá dịch vụ đều có giá cả của nó. Cung cầu giá cả là phạm trù trung tâm trong cơ chế thị trường. Cạnh tranh là môi trường,lợi nhuận là động lực. Đảng ta chủ

     

    16

     

    trương cạnh tranh lành mạnh. cạnh tranh nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển không sử dụng những thủ đoạn phi pháp để dẫn tới sự phá sản hàng loạt.

    Cơ chế kinh tế của nước ta là kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước.

     

    Cơ chế thị trường có nhiều điểm rất tích cực:

     

    Kích thích tính năng động sáng tạo của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển kinh tế.

    Cạnh tranh thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, thúc đẩy áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nhờ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động.

    Cơ chế thị trường tạo ra sự đa dạng phong phú về hàng hoá đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu người tiêu dùng. Khai thông sự bình đẳng giữa người mua và người bán.

    Cơ chế thị trường chấp nhận những chi phí sản xuất hợp lý chấp nhận hàng hoá có chất lượng cao. Cơ chế thị trường mềm dẻo hơn nhà nước và có khả năng thích nghi cao hơn khi những điều kiện kinh tế thay đổi làm thích ứng kịp thời sản xuất với nhu cầu xã hội.

    Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực cơ chế thị trường ở Việt Nam vẫn có những hạn chế:

    Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích thu lợi nhuận tối đa vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội gây ô nhiễm môi trường sống mà xã hội phải gánh chịu.

     

    Cơ chế thị trường phân hoá xã hội thành hai cực đối lập nhau một số ít người giàu và đa số người nghèo.

    Cơ chế thị trường vẫn có những căn bệnh nan giải khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát.

    Vì vậy mà cần phải có sự điều tiết quản lý của nhà nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường.

     

    3. Lợi nhuận trong cơ chế thị trường Việt Nam.

     

    Kinh tế thị trường Việt Nam cũng nhằm mục đích thu lợi nhuận. Lợi nhuận là mục tiêu là động lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên cơ chế thị trường Việt Nam không theo đuổi lợi nhuận một cách đơn thuần mà nó còn nhằm hai mục đích: đảm bảo hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh và kết hợp giải quyết các vấn đề xã hội.

     

    a. Lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của doanh nghiệp.

     

    Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu của thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thoả mãn được tối đa nhu cầu của thị trường và xã hội về hàng hoá dịch vụ trong giới hạn cho phép

     

    17

     

    của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội.

    Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để cung cấp hàng hoá dịch vụ cho thị trường các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mong muốn chi phí cho các đầu vào ít nhất là bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các khoản chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, cũng có tăng cường vị trí của mình trên thị trường.

    Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trong cạnh tranh cần phải giải quyết tốt ba vấn đề kinh tế căn bản: quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản xuất như thế nào và quyết định sản xuất cho ai.

    Quyết định cái gì đòi hỏi doanh nghiệp phải trả lời được câu hỏi sản xuất, loại hàng hoá gì với số lượng được bao nhiêu, bao giờ được sản xuất. Trên cơ sở nhu cầu của thị trường doanh nghiệp tính toán khả năng sản xuất và chi phí sản xuất tương ứng để lựa chọn và quyết định sản xuất và cung ứng cái mà thị trường cần có thể đạt được lợi nhuận cao. Giá cả thị trường là không tin có ý nghĩa đối với việc cung ứng những hàng hoá nào có lợi nhất cho cung cầu trên thị trường.

    Quyết định sản xuất như thế nào nghĩa là do ai và những tài nguyên nào với hình thức công nghệ naò phương pháp sản xuất nào. Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm lựa chọn các đầu vào tốt nhất với chi phí thấp nhất lựa chọn các phương pháp sản xuất có hiệu quả nhất. Phương pháp kết hợp tất cả các đầu vào để sản xuất đầu ra nhanh nhất chất lượng cao nhất, chi phí thấp nhất. Để đứng vững và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường các doanh nghiệp phải luôn đổi mới kỹ thuật công nghệ, nâng cao trình độ của công nhân và lao động quản lý nhằm tăng hàm lượng chất xám trong hàng hóa dịch vụ.

     

    Quyết định sản xuất cho ai đòi hỏi phải xác định rõ, ai sẽ được hưởng và được lợi từ hàng hoá.

    Khi theo đuổi mục tiêu lợi nhuận của mình doanh nghiệp thường xuyên chạy theo những cơ hội khác nhau mà nó có được chi phí cơ hội của việc theo đuổi, một cơ hội sẽ là sự bỏ qua cơ hội có lợi nhất sau cơ hội đã chọn. Khi một quyết định được thực hiện những cơ hội trong tương lai cũng thay đổi. Sự lựa chọn đúng đắn sẽ cho phép doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao.

    Lợi nhuận được xác định bằng tổng doanh thu từ tổng chi phí cho nên các nhà sản xuất giảm chi phí tăng tổng doanh thu để thu lợi nhuận nhiều nhất.

    Lợi nhuận là thu nhập mặc nhiên, là một phần thu nhập của doanh nghiệp về lao động của chính họ hoặc vốn đầu tư của chính họ nghĩa là các nhân tố sản xuất mà họ cung cấp.

     

    18

     

    Lợi nhuận là tiền thưởng cho việc chịu mạo hiểm là phần thu nhập về bảo hiểm khi vỡ nợ, sản xuất không ổn định.

    Lợi nhuận bình thường là mức lợi nhuận chỉ vừa đủ để giữ cho nhà kinh doanh tiếp tục công việc cuả mình và tồn tại với tư cách là một bộ phận của tổng chi phí. Tất cả các khoản tiền mà nhà kinh doanh nhận được ngoài tổng chi phí (bao gồm cả lợi nhuận bình thường) là lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận độc quyền đó là khoản thu nhập của sức mạnh thị trường hoặc sức mạnh độc quyền.

    Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường chuẩn bị và tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh đến khâu tổ chức bán hàng và dịch vụ cho thị trường. Nó phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh.

     

    b. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận.

     

    Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố.

     

    Trước hết là qui mô sản xuất hàng hoá dịch vụ. Quan hệ cung cầu về hàng hoá thay đổi sẽ làm cho giá cả thay đổi. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới việc quyết định qui mô sản xuất và tác động trực tiếp tới lợi nhuận doanh nghiệp.

    Hai là giá cả và chất lượng các đầu vào(lao động, nguyên vật liệu, thiết bị công nghệ) và phương pháp kết hợp các đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh. Những vấn đề này tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và đương nhiên tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

     

    Ba là giá bán hàng hoá, dịch vụ cùng toàn bộ hoạt động nhằm đẩy nhanh quá trình tiêu thụ và thu hồi vốn đặc biệt là hoạt động Marketing và công tác tài chính của doanh nghiệp.

     

    1. ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến việc thu lợi nhuận của doanh

     

    nghiệp.

     

    Cơ chế thị trường tạo ra sự cân bằng giữa giá cả của người sản xuất và giá cả mà người tiêu dùng có thể chấp nhận được. Nếu doanh nghiệp nắm bắt đúng thị trường thì lợi nhuận được đảm bảo. Giá cả luôn biến động nên cần phải nắm bắt nó một cách chính xác và có những phản ứng kịp thời.

    Cơ chế thị trường tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự do di chuyển sang các ngành có lợi nhuân cao. Cơ chế thị trường tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự do di chuyển tư bản của mình sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp năng động , cạnh tranh, vươn lên không ngừng cả về lượng và chất nghĩa là họ phải tìm tòi trong thị trường ngành nào có lợi nhuận cao và từ đó quyết định chuyển đổi sản xuất.

    Cơ chế thị trường làm cho doanh nghiệp canh tranh với nhau. Cạnh tranh là cuộc đấu tranh giữa những người sản xuất hàng hoá để giành điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi hơn, cuộc đấu tranh giữa các xí nghiệp nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất, phản ánh tính chất tự phát của sản xuất và trao đổi. Người sản xuất đưa ra thị

     

    19

     

    trường hàng hoá của mình và khách hàng sẽ bỏ phiếu cho sản phẩm của họ bằng tiền. Cạnh tranh làm cho doanh nghiệp phải đổi mới về kỹ thuật, công nghệ để tạo ra những sản phẩm mẫu mã đẹp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, chất lượng tốt và một mức giá hợp lý để giành được phần thắng trên thị trường.

    Cơ chế thị trường thực hiện bình tuyển tự nhiên và rất công bằng tức là doanh nghiệp nào sản xuất kinh doanh có lợi nhuận cao sẽ tiếp tục sản xuất và mở rộng doanh nghiệp còn những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tự giác sẽ rời khỏi thương trường.

    Tuy nhiên không một tấm huân chương nào lại không có mặt trái của nó và lợi nhuận cũng vậy. Mục đích của doanh nghiệp là thu lợi nhuận tối đa vì vậy mà họ có thể lạm dụng tài nguyên xã hội gây ô nhiễm môi trường sống của con người mà xã hội phải gánh chịu.

    Trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp chỉ quan tâm những mặt hàng có nhiều lợi nhuận do đó dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế, thất nghiệp, tệ nạn xã hội…

    Cũng vì mục tiêu lợi nhuận tối đa một số doanh nghiệp trốn thuế, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng; dùng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm pháp luật…

    Mặt trái của lợi nhuận muốn được giải quyết cần phải có sự can thiệp của nhà nước.

     

    d.Các biện pháp để tăng lợi nhuận

     

    Có rất nhiều phương pháp khác nhau để thu lợi nhuận cao, mỗi doanh nghiệp có các biện pháp không giống nhau. Tuy nhiên có một số phương pháp cơ bản sau:

    Doanh nghiệp phải nắm vững tâm lý thị hiếu khách hàng. Những sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, giá rẻ luôn được tiêu thụ rất nhanh. Muốn giành được phần thắng trên thị trường phải quan tâm tới chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm.

     

    Đẩy nhanh thời gian sản xuất và thời gian lưu thông là một biện pháp hữu hiệu để thu lợi nhuận. Đẩy nhanh thời gian sản xuất bằng cách cải tiến kỹ thuật tăng cường áp dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất không ngừng sáng kiến và nâng cao trình độ công nhân. Đẩy nhanh thời gian lưu thông bằng cách quảng cáo khuyến mại. Doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm tốt để tạo uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và tạo ra những khách hàng thuỷ chung với sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có nhân viên có lành nghề hướng dẫn khách hàng cách sử dụng và lắp đặt đối với những sản phẩm hiện đại.

     

    20

     

    Một yếu tố có tính chất quyết định đối với sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp đó là thái độ của chủ doanh nghiệp trước các nhu cầu của thị trường, chủ doanh nghiệp, năng động sáng tạo và có khả năng ngoại giao tốt.

     

    Sẽ rất thiếu sót nếu như không đề cập đến các chính sách, những công cụ mà nhà nước sử dụng để đảm bảo cho các doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao:

    Nhà nước thiết lập các khuôn khổ luật pháp để tạo ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế. Nhà nước tạo ra hành lang pháp luật cho các hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra các điều luận cơ bản về quyền sở hữu tài sản và sự hoạt động của thị trường, đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh nghiệp. Đảm bảo ổn định, về chính trị xã hội, cũng là biện pháp để Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu lợi nhuận.

    Nhà nước thông qua các chính sách tài chính tiền tệ và tín dụng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thu lợi nhuận cao.

     

    Nhà nước xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, sản xuất ra các hàng hoá công cộng, thực hiện công bằng xã hội tạo điều kiện cho giới kinh doanh làm ăn có hiệu quả.

     

    1. Sự khác nhau giữa lợi nhuận của các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa và lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường Việt Nam.

    Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, để theo đuổi mục đích thu lợi nhuận cao các nhà tư bản sẵn sàng dùng các biện pháp cưỡng bức kinh tế và cưỡng bức siêu kinh tế đối với công nhân. Nhà tư bản thu được lợi nhuận càng nhiều tư bản của họ càng lớn lên càng nhanh năng lực chèn ép đối thủ cạnh tranh càng mạnh. Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc các tổ chức độc quyền tư bản chủ nghĩa dựa vào việc tăng cường bóc lột nhân dân lao động chiếm được một phần lợi nhuận trong tay giai cấp tư sản hạng trung cướp bóc các nước kém phát triển và các nước thuộc địa và dựa vào quân sự để đảm bảo lợi nhuận độc quyền cao.

    Kinh tế thị trường Việt Nam cũng nhằm mục đích thu lợi nhuận. Lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường Việt Nam không phải là kết quả của việc bóc lột sức lao động không phải là quan hệ người bóc lột người như trong chủ nghĩa tư bản, vì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu xã hội. Lợi nhuận là số chênh lệch giữa giá cả sản phẩm và giá thành sản phẩm của xí nghiệp. Nếu trong giá cả sản phẩm bao gồm cả thu nhập thuần tuý tâp trung của Nhà nước (dưới hình thức thuế chu chuyển) thì số chênh lệch giữa giá cả hàng hoá và giá thành của nó phải trừ đi thuế chu chuyển. Số

     

    21

     

    còn lại là lợi nhuận. Do đó trong điều kiện giá cả nhất định, lợi nhuận trực tiếp phản ánh sự biến động của giá thành sản phẩm. Một phần lợi nhuận được giữ lại ở xí nghiệp để mở rộng sản xuất cải thiện điều kiện sinh hoạt và xã hội của công nhân viên chức cũng như để làm tiền thưởng, phần lợi nhuận còn lại thì nộp vào ngân sách Nhà nước dùng cho nhu cầu toàn quốc.

     

     

     

     

     

     

     

     

    22

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Nghiên cứu vấn đề phạm trù lợi nhuận giúp cho tôi có một cách nhìn sâu sắc hơn về nguồn gốc bản chất của lợi nhuận và hệ thống được các quan điểm về lợi nhuận của các trường phái kinh tế từ trước chủ nghĩa Mác đến thời kỳ chủ nghĩa Mác. Lợi nhuận không phải là vấn đề cổ xưa mà nó là vấn đề kinh tế tồn tại mà chừng nào sản xuất còn mang hình thái hàng hoá. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay vấn đề lợi nhuận cần được quan tâm. Nghiên cứu vấn đề lợi nhuận giúp tôi phân biệt lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường Việt Nam và lợi nhuận trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

    Lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường là một thứ dầu nhớt là động lực chi phối hoạt động. Lợi nhuận là chỉ tiêu rất quan trọng nó phản ánh toàn bộ hoạt động kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ lúc bắt đầu tìm kiếm thị trường cho tới khâu bán sản phẩm hàng hoá. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trình sản xuất kinh doanh.

     

     

     

     

     

    23


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]