Author: Nguyễn Huyền

  • MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%C3%83-H%C3%93A-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-GI%E1%BB%AEA-S%E1%BB%B0-B%E1%BA%A2O-M%E1%BA%ACT-V%C3%80-HI%E1%BB%86U-SU%E1%BA%A4T-TH%E1%BB%B0C-THI-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG

     

    Lê Đình Nghiệp1, Trịnh Thị Phú1, Lê Văn Hào1

     

    TÓM TẮT

     

    Phát triển một chiến lược mã hóa cơ sở dữ liệu (CSDL) phải xem xét đến yếu tố cân bằng giữa yêu cầu về an ninh với mong muốn cho hiệu suất cao. Mã hóa mức CSDL độc lập với mã hóa ở mức tập tin hay ứng dụng là phương pháp lý tưởng để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm và cho hiệu suất tối ưu. Chỉ dựa vào phạm vi bảo mật và kiểm soát truy cập sẽ không cung cấp bảo mật đầy đủ. Giải pháp mã hóa CSDL đóng gói được chứng minh là lựa chọn tốt nhất để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm. Đây là một giải pháp chuyên biệt và phức tạp, nếu nguồn lực nội bộ không có chuyên môn về mật mã trong môi trường thông tin, chuyên gia bên ngoài nên được sử dụng để đảm bảo hiệu suất thực thi cao. Bài viết này xem xét các khía cạnh hiệu suất của các kiến trúc chi phối việc mã hoá CSDL.

     

    Từ khóa: Cơ sở dữ liệu, hiệu suất thực thi, an ninh cơ sở dữ liệu, mật mã, mã hóa.

     

    1. MỞ ĐẦU

     

    Cùng với sự bùng nổ thông tin, sự bảo mật của nó cũng yêu cầu tăng lên. Hiện nay có rất nhiều kiến trúc, kỹ thuật, và công cụ sẵn có và các tổ chức có thể áp dụng để đảm bảo cả 2 mặt an ninh và hiệu suất thực thi đƣợc tối ƣu hóa. Mỗi cách tiếp cận có ƣu điểm và nhƣợc điểm của nó. An ninh CSDL là một lĩnh vực nghiên cứu rộng bao gồm các chủ đề nhƣ bảo mật cơ sở dữ liệu thống kê [5], phát hiện xâm nhập trái phép [7], và gần đây nhất là bảo tồn sự riêng tƣ trong khai thác dữ liệu [6]. Các nghiên cứu về an toàn thông tin trƣớc [3] [1] đây không giải quyết các vấn đề quan trọng về hiệu suất thực thi. Trong bài viết này, chúng tôi xác định và đánh giá các vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tính bảo mật cao đồng thời vẫn đảm bảo hiệu suất thực thi trong CSDL, ứng dụng một kiến trúc cụ thể cài đặt cho CSDL thi trắc nghiệm trực tuyến. Để đạt đƣợc điều đó, chúng tôi đã phân tích nhiều giải pháp khác nhau.

     

    2. CÁC NHÂN TỐ HỖ TRỢ MÃ HÓA

     

    Có ba nhân tố chính hỗ trợ mã hóa trong CSDL. Một trong các nhân tố đó là đặc tính chia nhỏ đƣợc của dữ liệu đƣợc mã hóa. Cột, hàng, trang dữ liệu thƣờng có

     

    • Giảng viên Khoa Công nghệ Thông tin và Truyền thông, trường Đại học Hồng Đức

    106

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    kích thƣớc là 4KB có thể là các lựa chọn tốt. Trong đó cột dữ liệu là sự lựa chọn tốt nhất, bởi vì nó sẽ làm giảm thiểu kích thƣớc cần mã hóa. Tuy nhiên, chúng tôi đã phát hiện ra, điều này yêu cầu phƣơng pháp mã hóa đƣợc nhúng bên trong CSDL quan hệ hoặc các máy chủ CSDL. Nếu bỏ qua đặc tính chia nhỏ để bảo vệ sẽ ảnh hƣởng không nhỏ đến mức độ bảo mật [8]. Nhân tố thứ hai là sự không tƣơng thích giữa phần mềm và mức phần cứng của các thuật toán mã hóa. Kết quả cho thấy nhân tố này làm cho tác động đáng kể về hiệu suất. Chúng tôi đã phát hiện ra sự mã hóa bên trong các CSDL quan hệ dựa trên sự cài đặt ở mức phần cứng của các thuật toán mã hóa mất một chi phí khởi tạo đáng kể cho một thao tác mã hoá. Chỉ có một vài nhà cung cấp CSDL hiện đang hỗ trợ mã hóa ở mức hàng hoặc trang dữ liệu làm giảm chi phí này trên dữ liệu lớn. Nhân tố thứ ba là vị trí của các dịch vụ mã hóa – dịch vụ cục bộ, dịch vụ từ xa, hoặc dịch vụ mạng đính kèm. Chọn điểm thực hiện sẽ ảnh hƣởng đáng kể đến mô hình bảo mật tổng thể. Dữ liệu mã hóa càng sớm, càng an toàn hơn trong môi trƣờng CSDL.

     

    2.1. Mã hóa mức CSDL

     

    Mã hóa mức CSDL cho phép đảm bảo dữ liệu khi nó đƣợc đọc/ghi từ một CSDL. Loại mã hóa này thƣờng đƣợc thực hiện ở mức cột bên trong một bảng CSDL, nếu kết hợp bảo mật CSDL với truy cập điều khiển, có thể ngăn chặn hành vi trộm cắp dữ liệu quan trọng. Mã hóa mức CSDL cũng bảo vệ chống lại một loạt mối đe dọa, nhƣ phƣơng tiện lƣu trữ bị đánh cắp, Các tấn công vào thiết bị lƣu trữ, tấn công mức CSDL. Mã hóa mức CSDL loại bỏ tất cả thay đổi ứng dụng đƣợc yêu cầu trong mô hình mức ứng dụng, và tạo ra một xu hƣớng phát triển mã hóa nhúng bên trong một hệ quản trị CSDL thông qua việc sử dụng các thủ tục lƣu trữ và các kích hoạt. Vì mã hóa/giải mã chỉ xảy ra bên trong CSDL, giải pháp này không yêu cầu ngƣời dùng phải hiểu hay khám phá những đặc điểm truy cập ứng dụng dữ liệu đƣợc mã hóa. Giải pháp này để chắc chắn dữ liệu an toàn, nó đòi hỏi một số công việc tích hợp ở mức CSDL, bao gồm sửa đổi lƣợc đồ CSDL đã có, sử dụng các kích hoạt và các thủ tục lƣu trữ để thực hiện mã hóa/giải mã. Ngoài ra, cần xem xét cẩn thận đến tác động về mặt hiệu năng, đặc biệt là khi việc hỗ trợ cho tăng tốc độ tìm kiếm theo chỉ số trên dữ liệu mã hóa không đƣợc sử dụng. Trƣớc tiên, cần áp dụng một phƣơng pháp tiếp cận để mã hóa những dữ liệu nhạy cảm. Sau đó, phải xem xét mức độ mã hóa đƣợc áp dụng để tận dụng phần cứng tăng mức độ an ninh, giảm tải quá trình mã hóa nhằm giảm thiểu các tác động xấu đến hiệu suất. Kiểu mã hoá này dễ bị hƣ tổn ở chỗ nó không có khả năng bảo vệ chống lại các cuộc tấn công mức ứng dụng vì chức năng mã hóa đƣợc thực hiện nghiêm ngặt bên trong hệ quản trị CSDL.

     

    107

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    2.2. Mã hóa ở mức lƣu trữ

     

    Mã hóa cấp lƣu trữ cho phép mã hóa dữ liệu ở hệ thống lƣu trữ, ở cấp độ tập tin hoặc ở cấp độ khối. Ngày nay trong môi trƣờng lƣu trữ lớn, mã hóa ở mức lƣu trữ xác định một yêu cầu đảm bảo an ninh dữ liệu mà không cần sử dụng mặt nạ hoặc phân vùng LUN (Logical Unit Number). Trong khi giải pháp này có thể phân nhóm làm việc và cung cấp các bảo mật, nó cũng có một số hạn chế. Chỉ bảo vệ chống lại một phạm vi hẹp các mối đe dọa, cụ thể là khi phƣơng tiện truyền thông bị trộm cắp và các tấn công hệ thống lƣu trữ. Tuy nhiên, mã hóa ở mức lƣu trữ cấp không bảo vệ chống lại phần lớn các cuộc tấn công mức ứng dụng hoặc CSDL, đe dọa tới dữ liệu nhạy cảm. Cơ chế bảo mật lƣu trữ hiện tại chỉ cung cấp mã hóa mức khối, chúng không cung cấp khả năng mã hóa dữ liệu bên trong một ứng dụng hoặc CSDL mức trƣờng dữ liệu. Hậu quả là chỉ có thể mã hóa toàn bộ một CSDL, chứ không mã hóa đƣợc các thông tin cụ thể nằm trong nó.

     

    3. LỰA CHỌN KIẾN TRÚC CÀI ĐẶT MÃ HÓA

     

    Chúng tôi đã xem xét một số kết hợp có thể có của các cách tiếp cận mã hóa khác nhau, cụ thể là ở cấp độ phần cứng và phần mềm, tính chia nhỏ dữ liệu khác nhau. Chúng tôi bắt đầu với phần mềm mã hóa ở cấp cơ sở. Sau đó chúng tôi phát triển hỗ trợ tăng tốc tìm kiếm có hỗ trợ trên chỉ số với các trƣờng đƣợc mã hóa, và xem xét hiệu suất thấp khi tìm kiếm trên các trƣờng mã hóa, bao gồm các trƣờng chỉ số chính.

     

    3.1. Mã hóa phần mềm cơ bản

     

    Trƣớc tiên, chúng tôi xem xét một số thuật toán mã hóa AES, RSA và Blowfish sử dụng cho việc cài đặt. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm bằng cách sử dụng các thuật toán này và thấy rằng hiệu suất và bảo mật của thuật toán AES là tốt hơn so với RSA và Blowfish. AES rất nhanh so với thuật toán mã hóa nổi tiếng khác nhƣ DES. DES là một thuật toán mã hóa khối 64-bit, có nghĩa là dữ liệu đƣợc mã hóa và giải mã trong khối 64-bit. Điều này không có ý nghĩa trên dữ liệu ngắn. Dữ liệu 8-bit, khi mã hóa sẽ cho kết quả 64 bit. Chúng tôi cũng đã cài đặt phƣơng pháp bảo mật nhằm duy trì kiểu, chiều dài trƣờng dữ liệu sau khi đƣợc mã hoá trong CSDL của mình. Để cài đặt AES, ngƣời dùng tự định nghĩa một hàm (còn gọi là hàm ngoài) và đăng ký vào CSDL. Một khi nó đã đƣợc đăng ký, nó có thể đƣợc sử dụng để mã hóa dữ liệu trên một hoặc nhiều trƣờng. Việc truy xuất dữ liệu là an toàn vì dữ liệu lƣu trữ đƣợc mã hóa trƣớc khi thao tác trên chúng.

     

    3.2 Mã hóa cấp độ phần cứng cơ bản

     

    Chúng tôi đã nghiên cứu sử dụng HSM FIPS -140- 1 mức 3 với sự kết hợp giữa các khóa phần cứng và phần mềm. Các khóa chính đƣợc tạo ra đƣợc mã

     

    108

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    hóa/giải mã trên HSM. Các khóa chính không đƣợc đƣa ra bên ngoài HSM. Chi phí mã hóa/giải mã bao gồm chi phí khởi tạo, trong đó gồm hàm và lời gọi tới phần cứng, và chi phí thực hiện thuật toán mã hóa/giải mã, chi phí này phụ thuộc vào kích thƣớc của dữ liệu đầu vào. Điều này nhấn mạnh rằng, chi phí khởi tạo sẽ đƣợc tính mỗi khi một hàng đƣợc xử lý để mã hóa. Chúng tôi sử dụng phần cứng mã hóa từ các nhà cung cấp khác nhau, bao gồm IBM, Eracom, nCipher, và Chrysalis làm thử nghiệm. Trong thử nghiệm, chúng tôi sử dụng bộ vi xử lý kiến trúc mã hóa IBM S/390 có sẵn trong môi trƣờng IBM OS/390. IBM DB2 dùng cho OS/390 cung cấp một thiết bị gọi là “editproc” (còn gọi là các thủ tục chỉnh sửa thƣờng xuyên), có thể đƣợc kết hợp với một bảng CSDL. Một thủ tục chỉnh sửa đƣợc gọi cho một hàng của bảng CSDL mỗi khi hàng đƣợc truy cập bởi DBMS. Chúng tôi đăng ký một thủ tục chỉnh sửa mã hóa/giải mã cho các bảng. Khi một yêu cầu đọc/ghi tác động đến một hàng trong bảng dữ liệu này, thủ tục chỉnh sửa gọi thuật toán mã hóa/giải mã mà đƣợc cài đặt trong phần cứng cho toàn bộ hàng. Chúng tôi lựa chọn DES [3] cho việc mã hóa mức phần cứng.

     

    4. HIỆU SUẤT CỦA CÁC KIẾN TRÚC MÃ HÓA

     

    Có ba kiến trúc mã hóa là: 1) thiết bị mã hóa đính kèm mạng, 2) Phần mềm,

     

    • Sự kết hợp phần mềm và Module an toàn phần cứng (HSM). Mỗi kiến trúc có ƣu và nhƣợc điểm của nó.

    4.1. Xem xét hiệu suất

     

    Chúng tôi nghiên cứu SQL chuẩn sử dụng trong thí nghiệm của mình. Dùng một số thí nghiệm đơn giản trên Oracle và DB2. Các khía cạnh công nghệ để phát triển CSDL riêng nhƣ một thành phần cơ sở hạ tầng công nghệ dẫn đến các thách thức nghiên cứu mới. Đầu tiên và trƣớc hết là vấn đề quản lý khóa. Hầu hết các công ty xem dữ liệu của họ nhƣ là một tài sản vô giá. Hệ thống quản lý khoá sẽ cần phải cung cấp biện pháp an ninh đủ mạnh để bảo vệ việc sử dụng phân tán khóa. Chúng tôi đề xuất kết hợp giữa phần cứng và phần mềm dựa trên hệ thống mã hóa dữ liệu là giải pháp cho vấn đề này. Đề xuất một khả năng kiểm soát và chính sách phân phối để kiểm soát việc sử dụng các khóa. Nghiên cứu chi tiết về giải pháp này đƣợc trình bày dƣới đây.

     

    4.2. Mã hóa đính kèm mạng

     

    Mã hóa đính kèm mạng (Encryption Network Attached (NAED)) đƣợc cài đặt nhƣ một dụng cụ mã hóa đính kèm mạng với quy mô, số lƣợng của các thiết bị có sẵn. Một NAED là một thiết bị phần cứng mà cƣ trú trên mạng, định vị các khóa

    109

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    mã hóa và thực thi tất cả các thao tác mã hóa. Cấu trúc này bổ sung khóa vật lý tách rời với dữ liệu. Tuy nhiên, việc bổ sung này đi kèm với một giá đắt, hiệu suất có thể còn tồi tệ hơn 10-100 lần so với phƣơng pháp khác. Các tiêu chuẩn đã cho thấy một thông lƣợng giữa 440 và 1.100 hàng mã hóa mỗi giây. Một hệ thống với 12 máy chủ cơ sở dữ liệu thực hiện mã hóa 4.200 hàng mã hóa mỗi giây với năm dụng cụ mã hóa đính kèm mạng.

     

    Có ba chi phí đi kèm với kiến trúc mạng này. Hãy cùng khám phá một ví dụ đơn giản để chứng minh các chi phí trên khi một ngƣời dùng yêu cầu 500.000 dòng dữ liệu đƣợc mã hóa:

     

    Khi một ngƣời dùng yêu cầu dữ liệu an toàn, hệ thống an ninh quản lý tiến trình lấy dữ liệu đƣợc mã hóa từ cơ sở dữ liệu, đảm bảo yêu cầu là từ một ngƣời dùng có thẩm quyền, và thực hiện quá trình giải mã. Trong kiến trúc này, các tác nhân mã hóa xử lý các yêu cầu và khôi phục các dữ liệu đƣợc mã hóa từ CSDL. Nó sẽ gửi các dữ liệu đƣợc mã hóa qua mạng để đƣợc giải mã bởi các NAED. Bên trong NAED là khóa và các thuật toán để giải mã dữ liệu. Tuy nhiên, một khi giải mã, thông tin bản rõ cần phải đƣợc gửi lại đƣờng truyền đến máy chủ CSDL. Điều này đòi hỏi chúng ta bảo mật lại thông tin trong quá trình chuyển, thƣờng là thông qua một quá trình trao đổi an toàn nhƣ SSL. Khi dữ liệu tới tác nhân trên máy chủ CSDL, nó phải cho ra đƣợc bản rõ, và sau đó đƣợc phục vụ cho đến ứng dụng gọi đến.

     

    1. Kiến trúc NAED có ba đặc điểm của mã hóa. Trong ví dụ trên, 500.000 dòng dữ liệu đƣợc gửi đi trên đƣờng truyền đƣợc giải mã tại NAED. Các bản rõ đƣợc mã hóa sử dụng SSL để gửi lại qua mạng và giải mã ở các CSDL để đƣợc bản rõ phục vụ cho các ứng dụng.
    1. Chi phí mạng đƣợc tính bằng việc gửi tất cả 500.000 hàng qua mạng để đƣợc giải mã bởi các NAED và sau đó phải trở lại trên mạng để các CSDL.
    1. NAED là một thiết bị không trạng thái và cần phải đƣợc khởi tạo/thiết lập trƣớc khi mỗi hàng đƣợc giải mã. Trong ví dụ đơn giản này, NAED đƣợc thiết lập 500.000 lần. Các thiết lập cần chi phí khá lớn.

    Kiến trúc thiết bị mã hóa đính kèm mạng (NAED) đã đƣợc chứng minh trong các thử nghiệm, do mất ba loại chi phí nên tồi tệ hơn cấu trúc khác. Mỗi lần đi chuyển trên mạng là khoảng 1 phần nghìn giây cho mỗi hàng. Trong ví dụ trên đây sẽ mất 500.000 x 1ms = 500 giây so với 1-25 giây với cấu trúc khác.

     

    4.3. Hệ thống hybrid

     

    Cấu trúc Hybrid kết hợp việc nâng cao hiệu suất của cấu trúc phần mềm với việc bổ sung an ninh cho thiết bị phần cứng. Một HSM, trong một số trƣờng hợp, là một cách lý tƣởng để bổ sung thêm bảo vệ cho các phần tử quan trọng nhất – các khóa

    110

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    mã hóa. Các thiết bị HSM đƣợc chứng minh là nhanh và nhiễu, tuyệt vời để lƣu trữ những viên ngọc quý – các khóa mã hóa.

     

    Việc thực hiện trong kiến trúc này là cơ bản giống với cấu trúc phần mềm trƣớc đó, với một quá cảnh thƣờng xuyên tới HSM để làm mới và lấy chìa khóa mã hóa tổng thể. Trong phần lớn thời gian xử lý, hiệu suất là giống với giải pháp phần mềm. Trong ví dụ 500.000 hàng của chúng tôi, ngƣợc lại với cấu trúc NAED – nơi mà tất cả 500.000 hàng truyền đến NAED – dịch vụ mã hóa trong máy chủ CSDL truy cập các khóa từ HSM mỗi lần và sau đó tất cả các hoạt động mã hóa đƣợc hoàn thành trong CSDL bởi các dịch vụ phần mềm mã hóa.

     

    Hệ thống Hybrid thực hiện quy trình phân phối có quy mô với số lƣợng các bộ vi xử lý và máy chủ CSDL có sẵn. Trong kiến trúc phần mềm máy chủ CSDL sẽ trở thành nền tảng cho các dịch vụ mã hóa. Khi các ứng dụng đòi hỏi thông tin an toàn, dịch vụ mã hóa yêu cầu các dữ liệu đƣợc mã hóa từ máy chủ CSDL, thực hiện giải mã cục bộ, trả về thông tin bản rõ cho các ứng dụng gọi đến. Tất cả chi phí mạng và mã hóa (ví dụ nhƣ SSL) đã đƣợc loại bỏ khỏi đƣờng truyền, tối ƣu hóa thời gian trả lời và thông lƣợng. Ngoài ra, vì nó không sử dụng một thiết bị phần cứng riêng biệt nên không có bất kỳ chi phí thiết lập. Trong ví dụ của chúng tôi, giải mã của 500.000 hàng đƣợc xử lý trong các máy chủ CSDL. Do sự giảm các vị trí mã hóa, loại bỏ các lƣu lƣợng đƣờng truyền, và chi phí thiết lập, nên hiệu suất rất cao. Trong ví dụ của chúng tôi 500.000 hàng, hiệu suất đƣợc cải thiện rất nhiều: 500.000 x 0,05 ms = 25 * giây.

     

    SQL Server cho thấy thông lƣợng vào khoảng 3.000 đến 32.000 hàng đƣợc giải mã mỗi giây, tùy thuộc vào sự kết hợp tối ƣu của mức mã hóa cột và mức mã hóa bảng, và số lƣợng dữ liệu bảng vùng đệm, SQL Server 2000 ban đầu kiểm tra sử dụng một hệ thống kiểm tra cấp thấp chạy Windows với một bộ xử lý 1,6 GHz, 1 GB bộ nhớ RAM vật lý, và 3 GB bộ nhớ RAM ảo.

     

    Các tiêu chuẩn của DB2 của IBM cho thấy một thông lƣợng 187.000 dòng giải mã mỗi giây, với 20 ngƣời dùng đồng thời. Điều này cho khả năng giải mã 187.000 bảng CSDL hàng mỗi giây. Các bảng kiểm tra bao gồm 80 byte dữ liệu đƣợc mã hóa trong mỗi hàng. Chúng tôi bão hòa tất cả sáu bộ vi xử lý RS6000 sử dụng 100% khi thử nghiệm với 1.000 ngƣời sử dụng đồng thời.

     

    4.4. Hạn chế số lƣợng các hoạt động mật mã

     

    Nhƣ đã đề cập trong thảo luận ở trên, mỗi hoạt động mã hóa có thêm chi phí. Có nhiều kỹ thuật, hỗ trợ trong các giải pháp để giới hạn số hoạt động cần thiết. Sử dụng các kỹ thuật cho biết sự khác biệt giữa chấp nhận đƣợc và không thể chấp nhận trên phƣơng diện hiệu suất.

    111

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    Việc lập chỉ mục, cho phép mã hóa dữ liệu đƣợc tìm kiếm mà không cần thiết của giải mã thành các bản rõ trƣớc. Nhiều giải pháp vẫn yêu cầu các dữ liệu đƣợc giải mã trƣớc khi đƣợc tìm kiếm. Điều này tạo ra một sự gia tăng lớn về số lƣợng các hoạt động mã hóa và do đó cản trở tới hiệu suất. Ngoài ra thêm một chỉ mục tìm kiếm tăng tốc giảm thời gian trả lời và số lƣợng hàng giải mã, từ 10 đến 30 lần cho một số các truy vấn khi so sánh với một giải pháp mà không đƣợc sử dụng một chỉ mục tìm kiếm tăng tốc cho các cột đƣợc mã hóa.

     

    Tìm kiếm so khớp chính xác một giá trị đƣợc mã hóa trong một cột là có thể, với điều kiện là các vector khởi động cùng đƣợc sử dụng cho toàn bộ cột. Mặt khác, tìm kiếm so khớp một phần trên dữ liệu đƣợc mã hóa trong một cơ sở dữ liệu có thể là thử thách và có thể dẫn đến việc duyệt toàn bộ bảng nếu hỗ trợ tìm kiếm theo chỉ số không đƣợc sử dụng. Cột mã hóa có thể là một khóa chính hoặc một phần của một khóa chính, vì mã hóa một phần dữ liệu là ổn định (có nghĩa là nó luôn luôn tạo ra kết quả giống nhau), và không có hai phần riêng biệt của dữ liệu sẽ cho ra các bản mã hóa giống nhau, miễn là khóa và vectơ khởi động đƣợc sử dụng là nhất quán. Tuy nhiên, khi mã hóa toàn bộ cột của một cơ sở dữ liệu có sẵn, tùy thuộc vào phƣơng pháp chuyển đổi dữ liệu, ngƣời quản trị có thể phải xóa những khóa chính đã có cũng nhƣ các khoá liên kết khác và tạo lại chúng sau khi dữ liệu đƣợc mã hóa. Vì lý do này, mã hóa cột là một phần của một ràng buộc khóa chính không đƣợc khuyến cáo nếu việc hỗ trợ tìm kiếm theo chỉ số trên dữ liệu mã hóa không đƣợc sử dụng. Tuy nhiên, sự quan tâm đặc biệt phải đƣợc thực hiện trong quá trình tạo khóa. Để chuyển đổi một bảng hiện có mà vẫn giữ các dữ liệu đƣợc mã hóa, tất cả các bảng mà nó có những ràng buộc trƣớc tiên phải đƣợc xác định. Tất cả các bảng tham chiếu phải đƣợc chuyển đổi cho phù hợp. Trong một số trƣờng hợp, các ràng buộc tham chiếu phải đƣợc tạm thời vô hiệu hóa hoặc xóa bỏ để cho phép di chuyển dữ liệu hiện có. Chúng có thể đƣợc kích hoạt hoặc tái tạo lại một khi dữ liệu cho tất cả các bảng liên quan đƣợc mã hóa. Do tính phức tạp này, mã hóa một cột mà là một phần của ràng buộc khóa ngoại không đƣợc khuyến cáo, nếu các công cụ triển khai tự động không đƣợc sử dụng. Không giống nhƣ các chỉ số và khóa chính, mã hóa các khóa ngoài thƣờng không ảnh hƣởng tới hiệu suất.

     

    Một bƣớc quan trọng trong việc đƣa ra chiến lƣợc mã hóa là xác định các dữ liệu cần đƣợc bảo vệ và các dữ liệu có thể tồn tại ở dạng bản rõ. Nếu bỏ qua bƣớc này nhiều dữ liệu đƣợc mã hóa hơn so với yêu cầu. Mặc dù nó có vẻ vô hại, cung cấp nhiều bảo vệ hơn, nhƣng mã hóa nhiều dữ liệu hơn tất yếu phải trả một giá cho hiệu suất hoạt động. Cấp độ mã hóa cột cần đƣợc cài đặt để hỗ trợ chính sách bảo mật dữ liệu.

     

    112

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    KẾT LUẬN

     

    Chúng tôi xác định hiệu suất là một vấn đề đặc biệt quan trọng thiết yếu để đánh giá các giải pháp khác nhau cho việc mã hóa cơ sở dữ liệu. Trong bài báo này, chúng tôi đã thảo luận về Hybrid, một giải pháp bảo mật CSDL đƣợc xây dựng trên nhiều hệ CSDL quan hệ lớn. Mô hình Hybrid đƣa ra nhiều thách thức đáng kể trong đó có các chi phí bổ sung tìm kiếm trên dữ liệu đƣợc mã hóa đảm bảo sự riêng tƣ của dữ liệu, và quản lý của thành phần của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Chúng tôi đã giải quyết những vấn đề này và áp dụng nó vào trong CSDL thi trắc nghiệm online. Mô hình Hybrid nhấn mạnh một cách tiếp cận rộng cho vấn đề bảo mật dữ liệu và tính riêng tƣ của dữ liệu trong đó một quản trị viên an ninh bảo vệ sự riêng tƣ

     

    • mức độ của các trƣờng và bản ghi, và quản trị CSDL cung cấp cơ chế liên tục để tạo, lƣu trữ, đảm bảo truy cập an toàn tới cơ sở dữ liệu. Một mô hình nhƣ vậy làm giảm bớt sự cần thiết cho các tổ chức mua phần cứng đắt tiền, đối phó với những thay đổi phần mềm, và thuê chuyên gia làm nhiệm vụ phát triển quản lý khóa mã hóa. Qua đánh giá với các chƣơng trình mã hóa khác nhau chúng tôi thấy sự sụt giảm mạnh mẽ thời gian thực hiện truy vấn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Davida, D. Wells, and J. Kam. A database encryption system with subkeys. ACM Transactions on Database Systems, 6(2), 1981.
    • Data encryption standard. FIPS PUB 46, Federal Information Processing Standards Publication, 1977.
    • He and M. Wang. Encryption in relational database management systems. In Proc. Fourteenth Annual IFIP WG 11.3 Working Conference on Database

    Security (DBSec‟00), Schoorl, The Netherlands, 2000.

     

    • Mattsson, Ulf T., „A DATABASE ENCRYPTION SOLUTION‟,

    LinuxSecurity.com, 28 July 2004, http://www.linuxsecurity.com/content/view/116068/65/

     

    • R. Adam and J. C. Wortman. Security-control methods for statistical databases. ACMComputing Surveys, 21(4):515– 556, Dec. 1989.
    • Agrawal and J. Kiernan. Watermarking relational databases. In 28th Int‟l

    Conference on Very Large Databases, Hong Kong, China, August 2002.

     

    • F. Lunt. A survey of intrusion detection techniques. Computer & Security, 12(4), 1993.

    113

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    DATA ENCRYPTION – BALANCE BETWEEN SECURITY AND PERORMANCE

     

    Le Dinh Nghiep, Trinh Thi Phu, Le Van Hao

     

    ABSTRACT

     

    Developing a database encryption strategy is necessary to consider the balance between security requirements and the desire for high performance. Encryption at the database level, versus application and file level is an ideal approach to protect sensitive data and optimize performance. Relying on perimeter security and database access control is not adequate security. Packaged database encryption solutions have proven to be the best alternative. This is a specialized and complex solution, if internal resources do not have the cryptography expertise in relation to information technology environment, outside expertise should be used to ensure superior performance. This paper reviews the performance aspects of topologies for database encryption.

     

    Key word: Performance, Database Security, Encryption, Privacy.

     

     

     

     

     

    114


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%9E-ng%C6%B0%E1%BB%A1ng-c%E1%BB%ADa-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%E1%BB%AD-trong-tin-h%E1%BB%8Dc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ở ngưỡng cửa của cách mạng lượng tử trong tin học

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Ở NGƢỠNG CỬA CỦA CÁCH MẠNG LƢỢNG TỬ TRONG TIN HỌC

     

    Nguyễn Mạnh An1, Nguyễn Văn Hóa2, Cao Long Vân3

     

    TÓM TẮT

     

    Từ khóa:

     

    Tin học và lý thuyết lƣợng tử chắc chắn là hai dòng thác trí thức lớn nhất của thế kỷ

     

    • đã làm thay đổi hoàn toàn nền văn minh của nhân loại. Tin học, nói khác đi là khoa học về máy tinh, mặc dù phôi thai từ thời Charles Babbage vào đầu thế kỷ XIX, đã có đƣợc cơ sở toán học vững chắc nhờ các công trình của nhà toán học gốc Hung (mà ngƣời ta thƣờng nói rằng, đó là một trong những ngƣời của „Sao Hỏa” đã hạ cánh xuống Hung-Ga-Ri vào đầu thế kỷ XX) John von Neumann trong những năm bốn mƣơi của thế kỷ trƣớc. Một sự trùng lặp thú vị là Ông cũng đã xây dựng cơ sở toán học cho lý thuyết lƣợng tử, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại và là lĩnh vực của vật lý đã mang lại những hiệu quả thực tiễn lớn lao. Hai hiệu quả rực rỡ nhất là năng lƣợng hạt nhân và công nghệ bán dẫn, đƣợc khai trƣơng bởi hai thí nghiệm nổi tiếng: bắn phá hạt nhân nguyên tử của Ernest Rutherford năm 1919 và tìm ra các bóng bán dẫn (transistor) năm 1948 bởi John Bardeen, Walter Brattain và William Shocley (Giải Nobel năm 1956). Có thể nói rằng việc phát hiện ra bóng bán dẫn đối với nhân loại là quan trọng hơn việc tìm ra năng lƣợng hạt nhân bởi lẽ năng lƣợng hạt nhân, mặc dù là một nguồn năng lƣợng mới quan trọng, đến nay vẫn chƣa chiếm đƣợc ƣu thế trong các nguồn năng lƣợng nói chung nhƣ đã đƣợc tiềm vọng, thậm chí do vấn đề an ninh mà một số nƣớc trên thế giới (nhƣ Đức) đã bỏ dần nguồn năng lƣợng này. Ngƣợc lại việc phát hiện ra các bóng bán dẫn, và sau đó là các hệ liên kết (intergrated circuit) năm 1959 (Jack Kilby, Giải Nobel năm 2000) đã đƣa đến việc vi hóa các máy tính ở mức không thể tƣởng tƣợng đƣợc trƣớc đó, thúc đẩy sự phát triển vĩ đại của loài ngƣời. Việc „cài đặt” bán dẫn các ý tƣởng của Von Neuman đã dẫn đến việc sản xuất ra các máy tính càng ngày càng nhỏ, càng nhanh và càng rẻ.

    1 ,2 TS. Khoa KHTN, Trường Đại học Hồng Đức

    • TS. Khoa Vật lý, Đại học Zielona Góra

    13

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Tốc độ phát triển vi tính hóa đƣợc mô tả tốt nhất qua một quy luật kinh nghiệm (empirical) của Gordon Moore, một trong những ngƣời sáng lập ra công ty máy tính nổi tiếng Intel. Qua quan sát sự gia tăng số lƣợng bóng bán dẫn trong một hệ hợp nhất (intergrated system), ông đã rút ra đƣợc quy luật rằng, hàng năm số lƣợng này sẽ tăng gấp đôi (sau chu kỳ này đƣợc thay thành hai năm một). Theo quy luật này, càng ngày càng nhiều các bóng bán dẫn đƣợc đặt trong một hệ hợp nhất càng ngày càng nhỏ. Đến một lúc nào đó trong tƣơng lai gần, ta sẽ tiến đến các giới hạn công nghệ và kinh tế đƣợc xác định bởi chính vật lý, điều có lẽ đã xảy ra hiện nay. Mọi quá trình quang ấn (photolitographic) hiện đại đều vô dụng. Không chỉ kích thƣớc của các bóng bán dẫn bị nhỏ đi mà các các nối giữa chúng cũng bị thu nhỏ lại. Các mật độ dòng lớn sẽ phá hủy các mạch dẫn này. Một vấn đề khó khăn khác là giải nhiệt đƣợc sinh ra từ một mạch nhỏ nhƣ vậy. Ở đây nhiệt năng đƣợc sinh ra bởi hai nguyên nhân. Thứ nhất, các bóng bán dẫn tắt và bật trong hệ hợp nhất rất không có hiệu suất về năng lƣợng, một phần không nhỏ năng lƣợng bị mất mát qua giải nhiệt. Thứ hai, một định luật do Landauer tìm ra nói rằng, cƣ xóa đi một bit thông tin, ta sẽ mất đi một năng lƣợng ở dạng tỏa nhiệt, cỡ bằng động năng của một phân tử khí ở nhiệt độ trong phòng. Các cổng logic cơ sở cổ điển nhƣ AND, OR hoạt động theo kiểu là ở đầu vào ta có hai bit, còn ở đầu ra chỉ còn một bit, do vậy một bit đã bị xóa, điều này gây ra sự tỏa nhiệt. Lúc đó ta nói rằng các cổng này là không thuận nghịch. Do nhiều tỷ tính toán kiểu này mà các hệ thống nhất đƣợc vi hóa bị ”tự nung nóng” và phá hủy trong một thời gian rất ngắn.

     

    Ngoài ra có một lớp các vấn đề không thể giải đƣợc bằng những máy tính hiện đại. Mƣời mấy năm gần đây chúng đã bị gọi là các ”máy tính cổ điển”. Khái niệm cổ điển chỉ là tƣơng đối, phụ thuộc nhiều vào tốc độ phát triển trong lĩnh vực liên quan, điều đã đƣợc Roy Glauber lƣu ý đến trong bài giảng nhân dịp nhận giải Nobel năm 2005. Khi một lĩnh vực kiến thức hay nghệ thuật cho trƣớc phát triển nhanh, khái niệm ”cổ điển” thƣờng là rất mới, ví dụ nhạc cổ điển có trên hai trăm năm, vật lý cổ điển có cách đây hơn một trăm năm, còn máy tính cổ điển đến nay vẫn còn đang hoạt động. Trong nhiều trƣờng hợp, ngay cả những vấn đề giải đƣợc cũng không thể đƣợc thực hiện do tính phức tạp lớn của các thuật toán mô tả chúng. Một ví dụ chuẩn thƣờng đƣợc nói đến là vấn đề phân một số nguyên lớn ra các thừa số nguyên tố. Để phân một số có 400 chữ số ra các thừa số nguyên tố, công suất tính hiện thời cần phải có một thời gian tính toán cỡ bằng tuổi của Vũ trụ. Vấn đề toán học này là nhân tố căn bản trong mật mã nổi tiếng RSA (viết tắt theo tên của những ngƣời xây dựng ra mật mã này: R. L. Rivest, A. Shamir, L. Adelman). RSA đang đƣợc dùng rộng rãi trên internet và các ngân hàng. Nhƣ ta sẽ thấy, máy tính lƣợng tử giải đƣợc vấn đề này trong vòng vài phút, nhƣ vậy mật mã này hoàn toàn không phải là an toàn. Song lý thuyết lƣợng tử rất ”công bằng”, một tay lấy đi, một tay cho lại. Trong khuôn khổ lĩnh vực đƣợc gọi là mã hóa lƣợng tử, một số các hệ mã hóa an toàn đƣợc thiết lập. Chúng không thể bị giải hay nghe trộm đƣợc. Mã hóa lƣợng tử phát triển rất nhanh và nay đã chuyển sang giai đoạn

     

    14

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thƣơng mại. Ở khía cạnh này nó đã vƣợt sự phát triển của các máy tính lƣợng tử, do để chuyển giao thông tin chúng chỉ cần một số lƣợng không lớn các qubit (đƣợc định nghĩa dƣới đây).

     

    Thật đáng ngạc nhiên là lý thuyết lƣợng tử đƣợc xây dựng trong những năm hai mƣơi của thế kỷ trƣớc trên một khung toán học khá ”cứng” tƣơng ứng với ”lý trí lành mạnh” của ta, lại đƣa đến những hệ quả không ngờ, dƣờng nhƣ trái ngƣợc hoàn toàn với lý trí đó. Những hệ quả đó đem lại sự phát triển vƣợt bậc của nền văn minh, qua việc phát triển các ngành nhƣ điện tử học, đặc biệt trong lĩnh vực máy tính đƣợc nhắc đến ở trên. Chỉ cần nhớ rằng trên 80 phần trăm thu nhập của thế giới có sự tham gia của lý thuyết lƣợng tử. Thế giới lƣợng tử bí ẩn, kỳ lạ nhƣng rõ ràng rất hữu hiệu luôn đem lại cho ta những kết quả bất ngờ, nhƣ sự phát triển của các công nghệ tin học lƣợng tử trong những năm chín mƣơi của thế kỷ trƣớc. Chúng đã xuất hiện là kết quả nối vật lý lƣợng tử với công nghệ máy tính, dựa trên những thành quả mới nhất của vật lý chất rắn, vật lý nguyên tử và phân tử, của quang học và điện tử học lƣợng tử. Điều này dẫn đến sự xuất hiện một lĩnh vực khoa học mới là tin học lƣợng tử. Những thí nghiệm ban đầu thành công đã góp phần xây dựng những mẫu máy tính lƣợng tử đầu tiên, cho phép ta tin tƣởng rằng, ta đang ở ngƣỡng cửa của một cuộc cách mạng công nghệ mới, ít nhất có tầm cỡ nhƣ cuộc cách mạng đã xảy ra hơn sáu mƣơi năm trƣớc, khi các bóng bán dẫn đã đƣợc phát kiến.

     

    • tƣởng tính toán lƣợng tử đã bắt nguồn từ ”kho” các ý tƣởng độc đáo của một trong những bộ óc vĩ đại nhất thế kỷ hai mƣơi, bộ óc của nhà vật lý Mỹ Richard Feynman (giải thƣởng Nobel 1965). Từ năm 1982 ông đã thấy, khi giả lặp động lực học của một hệ nhiều hạt bằng máy tính cổ điển, thời gian tính toán sẽ lớn theo hàm mũ khi số hạt tăng, đòi hỏi phải thiết kế một máy tính hoạt động theo những định luật lƣợng tử. Ba năm sau, nhà toán học Anh Dawid Deutsch đã xây dựng nên những cơ sở cho máy tính đó mà sau này đƣợc gọi là máy tính lƣợng tử.

    Trong những năm bốn mƣơi của thế kỷ trƣớc, cũng Feynman đã nhấn mạnh nguyên tắc cộng các biên độ xác suất chứ không phải cộng chính các xác suất, một khi tồn tại các khả năng thực hiện (các con đƣờng) khác nhau của một quá trình cho trƣớc. Các biên độ này là các số phức (ngƣời ta thƣờng nói không gian các trạng thái của một hệ cho trƣớc là một không gian Hilbert, mà trƣớc hết nó là không gian vectơ trên trƣờng số phức), tức là có thể biểu diễn các biên độ này bằng mô-đun và pha. Qua công thức Euler nổi tiếng ta có các sin và côsin. Từ trƣờng trung học ta đều biết các hàm lƣợng giác này biểu diễn các sóng. Nếu chúng đƣợc chồng chất tƣơng ứng, ta sẽ có các giao thoa xây (constructive) hay hủy (destructive). Cũng có thể từ định nghĩa số phức biểu diễn sự đóng góp của mỗi con đƣờng bằng hai số thực, chúng đƣợc coi nhƣ hai thành phần của một vectơ có độ dài không đổi những có hƣớng tùy ý. Việc cộng những đóng góp từ các đƣờng đi khác nhau tƣơng đƣơng với cộng các vectơ này. Trong trƣờng hợp chung, những con đƣờng này là vô số, đòi hỏi phải biết giải tích hàm đƣợc xây dựng bởi Stefan Banach và các nhà toán học khác. Lúc đó

     

    15

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ta có hình thức luận ”tích phân đƣờng” của Richard Feynman. Trong một số trƣờng hợp, số lƣợng các đƣờng chiếm ƣu thế là hữa hạn. Lúc đó việc cộng một số lƣợng hữu hạn các vectơ không phải là vấn đề khó. Các thuật toán lƣợng tử về cơ bản là các thủ tục điều khiển các biên độ này. Cần phải nghĩ ra một thủ tục dẫn đến các giao thoa lƣợng tử xây, sao cho kết quả từ chúng là thu đƣợc những kết quả mong muốn, còn các kết quả không mong muốn sẽ bị loại trừ qua các giao thoa hủy.

     

    Tất nhiên việc nghĩ ra các thuật toán nhƣ vậy là một việc làm rất khó, vì nhà nghiên cứu ngoài việc hiểu biết rất tốt tin học cổ điển còn phải biết sâu sắc lý thuyết lƣợng tử, một lý thuyết thƣờng cho những kết quả ngƣợc với ”lý trí lành mạnh”. Song thực tế đã chỉ ra rằng đây không phải là ”mission impossible” (việc làm bất khả thi). Một số thuật toán lƣợng tử đã đƣợc tìm ra. Nổi tiếng nhất là thuật toán viễn tải đã đƣợc thực hiện trên một hệ vật lý cụ thể và thuật toán Shor phân tích một số tự nhiên lớn ra các thừa số nguyên tố, đã đƣợc thực hiện trên một bộ xử lý bảy qubit (bit lƣợng tử) để thực hiện thừa số hóa số 15 = 3.5. Trong thuật toán này, các giao thoa lƣợng tử xây dẫn đến các cặp số rất gần lời giải đúng với một xác suất lớn. Khả năng điều khiển ở mức các biên độ xác suất chứ không phải ở mức các xác suất là cơ sở của mọi công nghệ lƣợng tử, không chỉ cho việc xây dựng các máy tính lƣợng tử. Máy tinh cổ điển không có khả năng tiếp cận với các biên độ của vectơ trạng thái là tổ hợp tuyến tính của các vectơ của cái gọi là cơ sở tính toán, khái niệm sẽ đƣợc đề cập đến dƣới đây.

     

    Một câu hỏi đƣợc đặt ra, các máy tính lƣợng tử có ƣu thế gì đối với các máy tính cổ điển? Để thấy đƣợc điều này, ta hãy xem xét kỹ hơn sự hoạt động của một máy tính lƣợng tử. Sơ đồ các mày tính lƣợng tử đƣợc biểu diễn trên hình 1.

     

     

    Hình 1

     

    • đầu vào là trạng thái ban đầu của hệ vật lý thực hiện các tính toán lƣợng tử theo các định luật của vật lý lƣợng tử. Hệ đơn giản nhất là một qubit, đơn vị nhỏ nhất của tin học lƣợng tử, là khái niệm tƣơng ứng của bit cổ điển với các trạng thái chỉ có thể là 0 hoặc
    1. Bit là một phần tử cơ bản của một máy tính cổ điển bất kỳ, có thể đƣợc cài đặt bằng một

    16

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    hệ vật lý bất kỳ chỉ có hai trạng thái. Trong các máy tính hiện thời, hệ này là một bóng bán dẫn đã đƣợc nói đến ở trên. Khác với bit, trạng thái của một qubit nằm trên một continum của mặt cầu hai chiều với bán kính bằng 1, đƣợc gọi là mặt cầu Bloch (Hình 2)., vì qubit không chỉ nằm trong hai trạng thái đặc biệt mà còn nằm trong một trạng thái bất kỳ là tổ hợp tuyến tính (phức) của chúng, điều là hệ quả của việc không gian Hilbert các trạng thái của qubit trƣớc hết là một không gian vectơ, trong đó một vectơ bất kỳ có thể đƣợc biểu diễn ở dạng chồng chất của các vectơ thuộc cơ sở tính toán. Nó có thể đƣợc cài đặt bằng một hệ lƣợng tử bất kỳ hai trạng thái, ví dụ bằng một hạt có spin ½ nhƣ điện tử, hay một phôtôn ở các trạng thái phân cực khác nhau.

     

     

    Hình 2

     

    Vậy một qubit có thể nằm trong các trạng thái 0 hay 1, hoặc trong một tổ hợp bất kỳ của chúng, có nghĩa là có thể đồng thời biểu diễn cho không hay một. Nhƣ ta đã nhấn mạnh trên đây, đây là hệ quả của tiên đề về các trạng thái, một trong những tiên đề cơ bản của hình thức luận lƣợng tử. Cho đến nay không có bất cứ một dữ liệu thực nghiệm nào mâu thuẫn với tiên đề này. Thế nào là đồng thời “tàng trữ” không và một? Theo minh họa của trƣờng phái Copenhagen hiện đang đƣợc chấp nhận bởi cộng đồng các nhà vật lý, nếu ta thực hiện một phép đo trên qubit nhƣ vậy, trạng thái tổ hợp sẽ bị phá hủy (collapse) đến một trong hai trạng thái 0 hay 1 (tức là qubit sẽ rơi hoặc vào trạng thái 0, hoặc trạng thái 1) với

     

    xác suất tƣơng ứng bằng a 2  hay  b 2  (tất nhiên a 2 + b 2 =1). Từ đó ta thấy rằng hệ lƣợng

     

    tử rất “hà tiện”. Từ sƣ giàu có lớn lao (continuum) của nguồn tài nguyên thông tin của mình, hệ chỉ cho ta biết một số lƣợng hữu hạn các thông tin, hơn nữa chỉ ở dạng ngẫu nhiên! Song nhƣ ta thấy dƣới đây, “kẻ hà tiện” lƣợng tử đó cho phép ta ghi một số lƣợng thông tin khổng lồ so với bộ nhớ cổ điển. Ngoài ra nó còn cho phép ta đƣợc tính toán trƣớc khi đo, nghĩa là tính toán trên các tổ hợp: khi có một qubit có thể thực hiện tính toán đồng thời hai tính toán song song. Nhƣ vậy qubit đảm nhận đồng thời vai trò là bộ nhớ hoạt lẫn là một đơn vị tính toán.

     

    Tập một số hữu hạn các qubit đƣợc gọi là một bộ ghi (register). Một tiên đề tiếp của cơ học lƣợng tử nói rằng, trạng thái của register là tích tenxơ của tấc cả các không gian qubit hai chiều có trong thành phần của register cho trƣớc. Những tính toán đại số đơn giản chỉ ra rằng, một register hai qubit biểu diễn một tổ hợp bất kỳ của bốn trạng thái (00, 01, 10,

     

    17

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    11), còn một register ba qubit – một tổ hợp bất kỳ của tám trạng thái (000, 001, 010, 011,

     

    100, 101, 110, 111) v.v. Ví dụ nếu ta chuẩn bị trạng thái ban đầu của một qubit là

     

    12 (0 + 1), lúc đó register hai qubit tàng trữ đồng thời bốn số 0, 1, 2, 3 (có dạng nhị phân

     

    00, 01, 10, 11) , còn register ba qubit – tám số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Nói chung, một register N qubit tàng trữ 2N số. Ngoài ra, việc tính toán trƣớc khi đo trên các trạng thái tổ hợp cho ta khả năng tính toán song song: một bƣớc tính lƣợng tử tác động lên cả register, ngay cả khi chỉ tác động lên một hay vài qubit của register (kiểu U1, U2, U3, U4 trên hình 1) gây ra sự thay đổi tất cả các số đƣợc ghi trên register cho trƣớc.

     

    Theo một tiên đề khác của cơ học lƣợng tử, các phép tính là các toán tử (ma trận) unita, quan trọng hơn nữa là các phép tính (các cổng) lƣợng tử là thuận nghịch, dẫn đến không có sự tỏa nhiệt do xóa đi các thông tin (các bit) nhƣ định lý Landauer đã đề cập đến. Một bộ xử lý N qubit tƣơng đƣơng với 2N bộ xử lý cổ điên song song, tức là giải đƣợc một vấn đề cho trƣớc trong thời gian gần bằng thời gian tính toán của một số lƣợng nhƣ vậy các bộ xử lý cổ điển song song.

     

    Hệ tổng hợp của hai hay nhiều các hệ con còn có một tính chất quan trọng: các hệ con của nó có các tƣơng quan lƣợng tử mà tồn tại ngay cả khi các hệ con này ở rất xa nhau, nghĩa là khi không hề có bất cứ một sự liên quan nào theo nghĩa cổ điển. Sự „tác động ma quái trên khoảng cách” này, nhƣ Albert Einstein đã gọi, là hệ quả của tính phi địa phƣơng của cơ học lƣợng tử. Cùng với các cộng sự trẻ hơn của mình là Borys Podolski i Natan Rosen, ông đã dùng điều này trong một công trình đƣợc công bố năm 1935 để phê phán minh họa của trƣờng phái Copenhagen với ngƣời đứng đầu là Niels Bohr. Để ví dụ ta xem xét một thí nghiệm tƣởng tƣợng, trong đó có chú mèo nổi tiếng của Erwin Schrödinger. Theo nguyên tắc chồng chất, hệ phức hợp (nguyên tử + chú mèo) có thể nằm trong trạng thái

    Y =

    (

    , mèosèng  +

    , mèochÕt  ).

     

    2

       

    Bây giờ ta sẽ tƣởng tƣợng rằng, hai nhân vật, ví dụ nhƣ Alice và Bob, có hệ đƣợc chuẩn bị trong một trạng thái nhƣ vậy. Một ngày nào đó Bob du hành rất xa, ví dụ đến một hệ thiên hà láng giềng sông Ngân Hà của chúng ta. Anh mang theo chú mèo và để lại cho Alice trên Trái đất nguyên tử. Cũng một ngày nào đó Alice thực hiện việc quan sát nguyên tử trong phòng thí nghiệm của mình. Chị sẽ thu đƣợc hai kết quả có thể có với xác suất nhƣ nhau: nguyên tử bị phân rã hay không bị phân rã. Khi kết quả chị thu đƣợc là sự phân rã của nguyên tử, chị biết là ngay lúc đó chú mèo mà Bob mang theo bị chết, còn khi nguyên tử chƣa phân rã, chú mèo sống. Trong thƣ của mình viết cho Einstein, ông đã gọi „sự tác động ma quái trên khoảng cách”, này (cũng giống nhƣ sự tƣơng quan giữa hai hạt trong thí nghiệm tƣởng tƣợng của EPR) bằng tiếng Đức là verschränkung (tiếng Anh:

     

    18

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    entanglement – sự đan rối). Sự nhất trí của hai nhà bác học này trong phê phán cơ học lƣợng tử đã bị Niels Bohr bình luận sau đó (trong tháng ba năm 1936) là một việc làm „đáng chê trách”, có thể coi đó nhƣ là „một vụ đảo chính”! Những thí nghiệm đƣợc thực hiện trong năm 1982 bởi Alain Aspect và các cộng sự đã chỉ ra rằng lý thuyết lƣợng tử theo minh họa Copenhagen là đúng, còn sự phê phán của Einstein và những ngƣời khác là sai. Nói một cách toán học, trong không gian Hilbert các trạng thái của hệ phức hợp là tích tenxơ của các không gian trạng thái thành phần, tồn tại các vectơ trạng thái mà không thể biểu diễn chúng đƣợc là các tích ten xơ của các vec tơ trạng thái thành phần. Trong ví dụ trên ta có:

     

    Y ¹ YNguyª n tö  Ä YMÌo  .

     

    Tính đan rối không địa phƣơng là một trong những nguồn tài nguyên chính của tin học lƣợng tử, ví dụ nó đƣợc dùng trong viễn tải các trạng thái lƣợng tử. các cặp hạt đan rối nhƣ các nguyên tử hay các phôtôn (đƣợc gọi là các cặp EPR) trở thành các thành phần quan trọng của các thuật toán (các biên bản-protocol) lƣợng tử khác nhau. Tƣởng nhƣ rằng nhờ đan rối có thể xây dựng đƣợc các hệ chuyển thông tin ngay tức thì. Song nhƣ ta thấy từ ví dụ ở trên, Bob chỉ có thể khẳng định chác chắn là chú mèo của mình sông hay chết khi Alice thông báo cho Bob những thông tin về kết quả quan sát của mình qua các kênh truyền thống nhƣ điện thoại hay internet. Vậy tiên đề nói vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn vẫn đƣợc bảo toàn. Tƣơng tự trong trƣờng hợp viễn tải, khi không có những thông tin từ Alice qua các kênh truyền thông truyền thống,Bob không thể „chế biến” thích hợp trạng thái của hạt thuộc cặp EPR mà anh mang theo để thu đƣợc trạng thái qubit đƣợc viễn tải. Hai trụ cột của vật lý hiện đại, lý thuyết lƣợng tử và lý thuyết tƣơng đối một lần nữa lại „chung sống hòa bình”, cũng nhƣ chúng đã làm trong khuôn khổ lý thuyết trƣờng lƣợng tử, một lý thuyết kết hợp hai trụ cột đó để mô tả mọi hiện tƣợng trong thiên nhiên.

     

    Theo quan điểm toán học, tính toán lƣợng tử về cơ bản là rất đơn giản. Nó đƣợc thực hiện trong các không gian Hilbert hữu hạn chiều, trong đó các vectơ (rejestr) và các toán tử tuyến tính (các cổng) đƣợc biểu diễn bằng các cột và các ma trận. Mọi khó khăn liên quan đến tính vô hạn không còn nữa.

     

    Dƣờng nhƣ yếu điểm của các máy tính lƣợng tử có thể là việc đọc một cách ngẫu nhiên các kết quả của phép đo trên trạng thái cuối nhƣ trên hình 1.

     

    Thật may là số lƣợng các kết quả có thể có là hữu hạn. Có thể thẩm tra chúng bằng các thuật toán nhanh để khẳng định kết quả nào từ chúng là đúng. Nhƣ trong trƣờng hợp thuật toán Shor đƣợc đề cập đến trên đây, nhân hai số nguyên tố thu đƣợc là một việc làm hết sức dễ, dễ hơn nhiều việc làm ngƣợc lại là phân tích một số cho trƣớc ra hai thừa số nguyên tố.

     

    Khó khăn chính trong việc xây dựng máy tinh lƣợng tử là ở chỗ khác, đó là sự mâu thuẫn giữa các yêu cầu đƣợc đặt ra đối với máy tính lƣợng tử. Một mặt các máy tính này

     

    19

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    phải đƣợc cách ly khỏi môi trƣờng xung quanh để bảo toàn đƣợc các tính chất kết hợp cần thiết, tức là bảo toàn đƣợc các tổ hợp của các trạng thái. Chúng rất monh manh, dễ bị phá vỡ. Môi trƣơng xung quanh không ngừng đo và phá hủy chúng. Sự mất mát thông tin ra ngoài hệ lƣợng tử đƣợc gọi là sụ hủy kết hợp. Đây cũng là nguyên nhân chính tại sao ta không quan sát đƣợc các biểu hiện lƣợng tử kỳ quặc trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác các qubit đồng thời phải sẳn sàng là đối tƣợng cho những điều khiển (sự tiến hóa) và đọc (các phép đo). Nhiệm vụ của các nhà thiết kế máy tính lƣợng tử là phải tìm ra đƣợc sự ”dung hòa vàng”, cho phép sự hủy kết hợp tác động một cách hữu ích, nghĩa là cho phép nó phá hủy (kolaps) tổ hợp lớn các trạng thái của máy tính lƣợng tử cùng với các tính chất giao thoa tế nhị của chúng đến một trạng thái đơn độc biểu diễn kết quả mong muốn. Để tiến đến mục đích này, gần đây nhiều kết quả căn bản đã đạt đƣợc trong điều khiển các trạng thái lƣợng tử đơn độc, đã vài lần đƣợc giải thƣởng Nobel nhƣ: Claude Cohen Tannoudji, Steven Chu, Williams Phillips (1997), Eric Cornell, Wolfgang Keterle, Carl Wieman (2001), Roy Glauber (2005), và gần đây nhất là Serge Haroche, David Wineland đã nhận giải thƣởng này vào năm ngoái. Cũng trong năm này, viễn tải cũng là một trong những đối thủ ”nghiêng ngửa”. Có thể dự đoán rằng, không sớm thì muộn thành tựu này sẽ đƣợc đăng quang.

     

    Tình trạng hiện nay trong tin học lƣợng tử có thể so sánh với tình trạng của năng lƣợng nguyên tử trong những năm ba mƣơi của thế kỷ trƣớc. Ta tin tƣởng rằng, cũng nhƣ trong năng lƣợng hạt nhân, sau mƣơi năm nữa ta sẽ có thể có những máy tính lƣợng tử đầu tiên làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của nền văn minh nhân loại.

     

    Trong các số tới của tập san Journal of Science, chúng tôi sẽ lần lƣợt đang một loạt bài tổng quan, vừa nhằm mục đích giới thiệu lĩnh vực mới này của vật lý với các ý nghĩa hiểu biết và thực tiễn lớn lao, vừa cung cấp những thông tin căn bản để các sinh viên vật lý và toán học có thể tiệm cận và tham gia nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thông tin lƣợng tử. Bạn đọc cũng có thể làm quen với chúng trƣớc trong các công trình tổng quan [1,2,3]. Song các bài viết sắp tới sẽ ở dạng mở rộng hơn, dễ hiểu hơn, dựa trên các bài giảng trong học kỳ hai niên học 2012/2013 tại Trung tâm Nghiên Cứu Khoa Học Cao của ĐHBK Vác-xa-va (Ba Lan).

     

    Đồng thời một số công trinh liên quan đầu tiên cũng sẽ đƣợc công bố với sự tham gia của các nhà vật lý trong và ngoài nƣớc.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Cao Long Vân, Tạ Phƣơng Hạnh, Tin học lƣợng tử và máy tính lƣợng tử (I), Tạp Chí Ứng Dụng Toán Học, Tập III, Số 1, 2005, 83-102.
    • Cao Long Vân, Tin học lƣợng tử và máy tính lƣợng tử (II), Tạp Chí Ứng Dụng Toán Học, Tập III, Số 2, 2005, 77-100.
    • Cao Long Vân, Tin học lƣợng tử và máy tính lƣợng tử (III): Các thuật toán lƣợng tử, Tạp Chí Ứng Dụng Toán Học, Tập IV, Số 1, 2006, 73-90.

    20

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Nguyen Van Hoa, Nguyen Manh An, Cao Long Van

     

    ABSTRACT

     

    This paper is an introduction to the new domain of physics, namely Quantum Information and Quantum Computer. We introduce some fundamental concepts in three related sciences: computer science, mathematics and physics. The reader could treat this paper as a prelude to our series of papers printed in this Journal, presenting the fundamental tools of quantum information. The paper in an extended form of a lecture given by the third author in the Center of Advanced Studies, Warsaw Technical University in 10 January 2013.

     

    Keywords:

     

     

     

     

     

    21


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BA%BFt-n%E1%BB%91i-gi%E1%BB%AFa-ph%E1%BA%A7n-m%E1%BB%81m-C-v%C3%A0-thi%E1%BA%BFt-b%E1%BB%8B-NI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    KẾT NỐI GIỮA PHẦN MỀM C# VÀ THIẾT BỊ NI

    CONNECT BETWEEN C# SOFTWARE AND NI EQUIPMENTS

     

    ĐỒNG XUÂN THÌN

    Khoa Điện, Trường Cao đẳng VMU

     

    Tóm tắt

     

    NI là thiết bị phần cứng của hãng National Instrument. Đây là một hãng rất nổi tiếng với nhiều thiết bị phần cứng được sử dụng trong lĩnh vực đo lường. Thiết bị NI rất dễ kết nối với phần mềm Matlab và LabView, hai phần mềm này có thể tạo giao diện giám sát và điều khiển. Ngoài ra, phần mềm C# cũng có thể được sử dụng để tạo giao diện giám sát và điều khiển, nhưng việc kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI rất phức tạp.

     

    Từ khóa: C#, NI, kết nối C# và NI, NI9215.

     

    Abstract

     

    NI equipments are the products of National Instrument Company that is very famous in measurement. It can easily connect with Matlab and LabView, these software can be used to create control interfaces. In additional, C# software also can create interfaces but it really complicate in programming and handshake with NI equipments.

     

    Keywords: C#, NI, connect C#&NI, NI9215.

     

    1. Giới thiệu

     

    1.1. Phần mềm C#

     

    Phần mềm C# là một phần rất quen thuộc nằm trong bộ Visual.NET. Hầu hết những người xây dựng giao diện để giám sát và điều khiển hệ thống thực trên máy tính đều sử dụng phần mềm này. Việc tải về và cài đặt phần mềm này rất đơn giản, chúng ta có thể tham khảo các nguồn tài liệu trên internet. Giao diện chính của phần mềm Microsoft Visual Studio khi cài đặt thành công như Hình 1.

     

     

     

    Hình 1. Phần mềm Mirosoft Visual Studio 2010                                          Hình 2. NI 9215

     

    1.2. Thiết bị NI

     

    Như đã biết, National Instrument là một hãng thiết bị rất nổi tiếng trong lĩnh vực đo lường và điều khiển. Một loại thiết bị thông dụng hay được sử dụng để kết hợp với phần mềm Matlab hoặc LabView đó là card PCI.

     

    NI cũng là thiết bị phần cứng được phát triển bởi hãng này, đây là thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực đo lường và điều khiển. NI khá đa dạng về chủng loại, có thể kết hợp được với các phần mềm Matlab, LabView và cả C#. Việc lựa chọn thiết bị NI phụ thuộc vào yêu cầu kỹ thuật của bài toán điều khiển, một số thông số kỹ thuật cần thiết cho việc lựa chọn NI như sau:

     

    • Loại tín hiệu vào/ra;
    • Giới hạn mức tín hiệu vào/ra;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     9

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Số kênh tín hiệu vào/ra;
    • Độ phân giải động của tín hiệu;
    • Tần số lấy mẫu tối đa cho phép.

    Để thực nghiệm việc kết nối giữa phần mềm C# tác giả lựa chọn thiết bị NI có tên NI9215.

    Hình ảnh thực tế của NI9215 như Hình 2. Thông số cơ bản của NI9215 như sau:

     

    • Số lượng kênh vào:
    • Độ phân giải ADC:
    • Dải tín hiệu vào:
    • Tần số lấy mẫu:
    • Nhiệt độ làm việc:
    • Điện áp bảo vệ:

    04 kênh vào tương tự;

     

    16 bit;

     

    10, 0 VDC;

     

    100kHz;

     

    -40oC tới 70oC;

    30, 0

    VDC.

    2. Kết nối giữa phần mềm C# và thiết bị NI

     

    • Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI

    Để có thể bắt tay được giữa phần mềm C# và thiết bị NI thì ta cần thực hiện một số việc theo một trình tự nhất định. Trình tự này sẽ giúp cho phần mềm C# nhận diện được thiết bị NI và cài đặt các thông số phù hợp cần thiết cho thiết bị. Thứ tự công việc đó được thể hiện qua Hình 3. Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI.

     

    Bắt đầu

     

    Tìm thiết bị NI được kết nối với

    máy tính

     

    Khai báo Task

     

    Khai báo Channel

     

    Khai báo đặc tính của Channel

     

    Cài đặt thông số cấu hình của

    Channel

     

    Cài đặt thông số xung clock và

    lấy mẫu của Channel

     

    Điều khiển các Channel

     

    Kết thúc

     

    Hình 3. Thuật toán giao tiếp giữa C# và NI

     

    Đầu tiên ta cần phải xác định các thiết bị NI được gắn với máy tính, sau đó chọn thiết bị NI mà chúng ta muốn dùng. Bước tiếp theo ta cần khai báo một “đối tượng” Task để quản lý toàn bộ việc cài đặt thông số cấu hình cho NI, cũng như nhận dữ liệu từ NI gửi về. Sau đó ta cần khai báo một đối tượng “được điều khiển” bởi Task, đó chính là Channel. Channel này sẽ liên kết trực tiếp

     

    10                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    với channel vật lý của thiết bị NI, dựa vào các đặc tính kỹ thuật thực tế của thiết bị NI mà ta sử dụng và mục đích sử dụng để có thể khai báo một cách chính xác thông số này.

     

    Bước tiếp theo là cài đặt các thông số cấu hình và xung clock cho channel, bước này cần lưu lý tra theo các thông số kỹ thuật của NI để nhận/gửi dữ liệu một cách chính xác. Cuối cùng là đọc/ghi dữ liệu từ/tới channel vật lý, nếu chỉ đọc/ghi dữ liệu một lần thì rất dễ nhưng không có tính ứng dụng nhiều trong điều khiển. Hầu hết các quá trình điều khiển là “Real Time” (RT) nên ta cần đọc/ghi dữ liệu từ/tới channel vật lý một cách liên tục, tức là ta phải dùng một vòng lặp vô hạn để phục vụ việc giao tiếp với NI. Như vậy thì chương trình điều khiển sẽ không thể làm gì khác ngoài việc giao tiếp với NI, để khắc phục tình trạng này thì ta phải dùng chương trình đa nhiệm.

     

    2.2. Các thông số cấu hình cho NI

     

    +) Khai báo Channel:

     

    Việc khai báo channel có vai trò rất quan trọng trong việc xác định tín hiệu (vào hay ra) và dạng của tín hiệu (số hay tương tự). C# hỗ trợ 4 kiểu khai báo channels [1-3]:

     

    • AIChannel;
    • AOChannel;
    • DIChannel;
    •  

    +) Khai báo đặc tính Channel:

     

    Khai báo đặc tính channel sẽ quyết định dạng của tín hiệu mà chúng ta sử dụng. C# hỗ trợ khai báo các dạng đặc tính như sau:

     

    • AnalogSingleChannelReader;
    • AnalogSingleChannelWriter;
    • AnalogMultiChannelReader;
    • AnalogMultiChannelWriter;
    • DigitalSingleChannelReader;
    • DigitalSingleChannelWriter;
    • DigitalMultiChannelReader;
    •  

    +) Cài đặt thông số cấu hình cho Channel:

     

    Việc cấu hình chi tiết cho channel không phức tạp nhưng có rất nhiều dạng cảm biến khác nhau được hỗ trợ. Dưới đây là một số cấu hình đầu vào cho tín hiệu analog được hỗ trợ bởi phần mềm C# hay được sử dụng:

     

    • CreateAccelerometerChannel: Dùng cho cảm biến gia tốc;
    • CreateFrequencyVoltageChannel: Dùng để tính giá trị tần số của điện áp lấy mẫu;
    • CreateLvdtChannel: Dùng cho cảm biến LVDT;
    • CreateMicrophoneChannel: Dùng cho Microphone;
    • CreateResistanceChannel: Dùng cho đầu vào là điện trở;
    • CreateStrainGageChannel: Dùng cho cảm biến đo xoắn trục;
    • CreateVoltageChannel: Dùng cho đầu vào là điện áp (thường dùng nhất).

    Đối với mỗi hàm cấu hình cho tín hiệu thì sẽ có vài tham số cần cài đặt (có hướng dẫn cụ thể trong từng hàm cài đặt). Ví dụ với hàm CreateVoltageChannel() thì có các tham số cần cài đặt như sau:

     

    • Tên của channel vật lý;
    • Tên đặt cho channel vật lý;
    • Dạng của điện áp đầu vào;
    • Giới hạn trên và giới hạn dưới của tín hiệu vào;
    • Đơn vị được quy đổi sau khi đọc giá trị đầu vào.

    +) Cài đặt thông số xung clock và lấy mẫu của channel:

     

    Thông số xung clock thay đổi phụ thuộc vào dạng của tín hiệu là digital hay analog và là tín hiệu vào hay tín hiệu ra. Với NI9215 thì có 04 thông số cơ bản cần cài đặt cho xung clock gồm:

     

    • Nguồn xung: Có thể sử dụng nguồn xung clock ngoài hoặc xung clock của NI;

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     11

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Tốc độ lấy mẫu: Là số mẫu được lấy trong 1 giây, thông số này kiểu double;
    • Cạnh tác dụng của xung clock: Có thể chọn cạnh lên hoặc cạnh xuống của xung clock;
    • Chế độ lấy mẫu: Có 3 chế độ lấy mẫu nhưng ta thường dùng 2 chế độ đó là chế độ lấy mẫu xác định và chế độ lấy mẫu liên tục.

    3.           Kết quả và đánh giá

     

    3.1. Kết quả

     

    Tác giả đã thực hiện thử nghiệm kết nối giữa phần mềm C# với thiết bị NI9215. Hình ảnh thí nghiệm như Hình 4.

     

    Thí nghiệm bao gồm: thiết bị phần cứng NI9215, giao diện lấy các thông số cơ bản của NI9215 được xây dựng bởi phần mềm C#, thiết bị NI được kết nối với laptop thông qua dây nối USB. Trên giao diện gồm 2 phần: Textbox để hiển thị các thông số của NI, graph để hiển thị dữ liệu đọc về từ NI.

     

     

     

    Hình 4. Hình ảnh thử nghiệm

     

     

     

    Hình 5. Kết quả mẫu tín hiệu thu được

     

    Trong thử nghiệm này, tác giả đã dùng tín hiệu đầu vào là điện áp lấy từ cảm biến dao động.

    Kết quả của mẫu tín hiệu được vẽ thành đồ thị bởi khối Graph như Hình 5 [4], [5].

     

    12                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • đây tác giả chọn Sampling Rates = 8192, tức là lấy 8192 mẫu tín hiệu vào trong một giây. Tốc độ lấy mẫu có thể chọn bất kỳ và nhỏ hơn tốc độ lấy mẫu tối đa cho phép của thiết bị. Tuy nhiên, để thuận tiện cho các thuật toán xử lý số nhị phân thì ta nên chọn tốc độ lấy mẫu là 2n. Cũng trong thử nghiệm này thì tác giả lấy đúng 8192 mẫu, tức là lấy số mẫu tín h iệu trong một giây. Lưu ý, việc lấy bao nhiêu mẫu và tốc độ lấy mẫu không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau, điều này còn phụ thuộc vào chế độ lấy mẫu ta cài đặt. Nếu chọn chế độ lấy mẫu là xác định thì số lượng mẫu sẽ nhỏ hơn hoặc bằng tốc độ lấy mẫu, còn với chế độ lấy mẫu là liên tục thì số lượng mẫu không phụ thuộc vào tốc độ lấy mẫu. Tuy nhiên, số lượng mẫu có thể lấy được không phải là vô tận, nó phụ thuộc vào hai yếu tố đó là tốc độ xử lý tín hiệu của máy tính được sử dụng và nằm trong giới hạn của kiểu double.

    3.2. Đánh giá

     

    Thực hiện theo trình tự các bước được đề cập tại thuật toán giao tiếp giữa C# và NI đã có thể bắt tay được giữa phần mềm C# và thiết bị NI.

     

    Với thử nghiệm đầu tiên này, tác giả không những lấy được mẫu tín hiệu trên một kênh AI của thiết bị NI9215 mà còn truy vấn được các thông số danh định của thiết bị NI9215 bao gồm: Tên thiết bị, tên các kênh vật lý, dải điện áp đầu vào, mã số thiết bị, loại thiết bị và số serial của thiết bị.

     

    Hạn chế của vấn đề nghiên cứu: Mới chỉ lấy dữ liệu trên một kênh đầu vào của thiết bị NI9215, chưa lấy được tín hiệu trên tất cả các kênh đầu vào cũng như chưa thử nghiệm được trên các thiết bị NI khác.

     

    Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo:

     

    • Một là xây dựng phần mềm lấy dữ liệu trên tất cả các kênh đầu vào của thiết bị NI9215;
    • Hai là thử nghiệm trên một vài thiết bị NI khác.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • ni.com/tutorial/5409/en/.
    • http://zone.ni.com/reference/en-XX/help/370473H-01/mstudiowebhelp/html/5de00fb2/.
    • https://forums.ni.com/t5/Measurement-Studio-for-NET/How-to-properly-use-AOChannels-CreateFunctionGenerationChannel/td-p/669811.
    • https://msdn.microsoft.com/en-us/library/dd456769.aspx.
    • https://msdn.microsoft.com/en-us/library/system.windows.forms.datavisualization.charting.chart(v=vs.110).aspx.

    Ngày nhận bài:

    14/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    04/04/2018

     

     

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TH%E1%BB%B0C-THI-C%C3%81C-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-B%E1%BA%A2O-%C4%90%E1%BA%A2M-AN-NINH-H%C3%80NG-H%E1%BA%A2I-C%E1%BB%A6A-U%CC%81C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    KINH TẾ – XÃ HỘI

     

    THỰC THI CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN NINH HÀNG HẢI CỦA ÚC

    VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

    ENFORCE MEASURES TO ENSURE MARITIME SECURITY OF AUSTRALIA

    AND EXPERIENCE FOR VIETNAM

     

    LƯƠNG THỊ KIM DUNG

    Khoa Hàng hải, Trường ĐHHH Việt Nam

     

    Tóm tắt

     

    Là một quốc gia bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa an ninh, nhưng trong thời gian qua, Úc đã thực thi một hệ thống các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo đảm an ninh hàng hải quốc gia. Thông qua việc phân tích, nghiên cứu các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc, tác giả bài báo mong muốn sẽ góp phần gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam có những kinh nghiệm quý trong quá trình xây dựng và thực thi các biện pháp bảo đảm an ninh Hàng hải của Việt Nam.

     

    Từ khóa: Hiểm họa, an ninh hàng hải, Úc.

     

    Astract

     

    As a country threatened by many security threats, in recent years, Australia has implemented a system of effective measures to ensure national maritime security. Through the analysis and research of Australia’s maritime security measures, the paper’s author wishes to suggesting for Vietnamese policy makers have valuable experiences in the construction process and enforce measures to ensure maritime security of Vietnam.

     

    Keywords: Threats, maritime security, Australia.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hàng hải đóng góp vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước, từng bước khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn giúp Việt Nam “hướng ra biển, làm giàu từ biển”. Bảo đảm an ninh cho sự phát triển của ngành hàng hải đã trở thành một phần chiến lược của chính sách an ninh hàng hải quốc gia. Tuy nhiên, an ninh hàng hải Việt Nam hiện đang bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, có thể kể đến như trộm cắp vặt, phá hoại, tiếp cận các khu vực cấm tại cảng, cướp biển khu vực Đông Nam Á, vận chuyển trái phép ma túy bằng đường biển, khủng bố hàng hải. Bên cạnh đó, những tranh chấp chủ quyền tại biển Đông đang nổi lên tạo nguy cơ biến thành xung đột “nóng”, đe dọa trực tiếp đến môi trường an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hơn 80% diện tích biển Đông, tiến hành hoạt động tuần tra, khảo sát, ngăn trở các nước trong đó có Việt Nam khác khai thác tài nguyên. Cùng với đó là việc hiện đại hóa hải quân, cải tạo các bãi đá cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam do Trung quốc chiếm giữ trái phép để xây dựng đường băng, căn cứ quân sự phục vụ ý đồ kiểm soát tuyến hàng hải quan trọng trong khu vực. Nhận thức được tầm quan trọng của bảo đảm an ninh hàng hải, Việt Nam ngay từ rất sớm đã gia nhập nhiều công ước quốc tế về an ninh hàng hải, đặc biệt phải kể đến là Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code).Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 cũng đã bổ sung thêm hai điều luật về an ninh tàu biển và cảng biển nhưng Chính phủ hiện chưa ban hành được Nghị định về an ninh hàng hải. Một số văn bản quy phạm pháp luật về an ninh hàng hải còn bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn trong thực tiễn thi hành. Việc phối kết hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật về an ninh hàng hải chưa thực sự hiệu quả.

     

    Là một quốc gia mà an ninh hàng hải cũng bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, nhưng trong thời gian qua, Úc đã triển khai áp dụng nhiều biện pháp tăng cường an ninh hữu hiệu để giảm thiểu tới mức thấp nhất các rủi ro. Vì vậy, nghiên cứu quá trình thực thi các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc sẽ góp phần quan trọng giúp Việt Nam có được những kinh nghiệm quý báu cho bảo đảm tăng cường an ninh hàng hải Việt Nam.

     

    2. Các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải Úc

     

    Nằm biệt lập với các châu lục khác, Úc được bao bọc bởi hai Đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. An ninh hàng hải của Úc bị đe dọa bởi nhiều hiểm họa, đặc biệt phải kể đến là:

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     85

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    2.1. Di cư bất hợp pháp

     

    Do đất đai rộng lớn, dân cư thưa thớt, thiếu nguồn lao động cho các ngành kinh tế nên chính sách nhập cư của Úc tương đối lỏng so với một số quốc gia khác như Mỹ, Nhật, Tây Âu,… Do đó, hàng năm có rất nhiều vụ di cư bất hợp pháp bằng thuyền từ khu vực giáp ranh với vùng biển của Indonesia vào Úc. Họ là những cư dân đến từ các quốc gia Trung Đông như Syry, Iraq, Apganixtan, cá biệt có cả Việt Nam, được các tổ chức buôn người quốc tế môi giới, dẫn dắt nhằm nhập cảnh trái phép vào Úc bằng đường biển.

     

    2.2. Đánh bắt, khai thác thủy hải sản trái phép

     

    Vùng biển nước Úc trải dài từ vĩ tuyến 02-00S xuống phía Nam bán cầu, từ kinh độ 075E đến kinh độ 163E, với trữ lượng hải sản lớn, trở thành khu vực hấp dẫn các tàu đánh bắt trộm, chủ yếu đến từ các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản [1]. Nạn đánh bắt trái phép (đặc biệt là săn bắt cá voi) không chỉ làm suy giảm nguồn tài nguyên biển, phá hoại sự cân bằng hệ sinh thái biển mà còn đe dọa đến an ninh hàng hải của Úc.

     

    2.3. Người trốn theo tàu và thuyền viên bỏ trốn khi tàu cập cảng

     

    Hải quan Úc đã ghi nhận nhiều vụ người trốn theo tàu đến từ các quốc gia vùng Trung Đông vào Úc. Đặc biệt, trong nhiều năm nay, rất nhiều thuyền viên nước ngoài đến từ các quốc gia Ấn Độ, Bangladesh, Srilanca, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc,… bỏ trốn lên bờ khi tàu của họ cập cảng Úc. Do địa bàn rất rộng lớn, cùng với việc có nhiều cộng đồng dân cư sinh sống nên việc truy bắt những đối tượng này hết sức khó khăn.

     

    2.4. Buôn lậu ma túy bằng đường biển

     

    Do đặc điểm là quốc gia đại dương nên việc vận chuyển ma túy vào Úc chỉ có thể bằng đường biển và đường hàng không. Thủ đoạn của các tổ chức buôn lậu ma túy rất đa dạng, từ việc trà trộn vào trong các hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển, đến cất giấu ma túy trong các két chứa nước dằn, két chứa nhiên liệu trên tàu hay thuê những thuyền viên kém hiểu biết mang lên tàu,… Tinh vi hơn các đối tượng còn hàn một hộp kim loại rỗng trên đáy của phía ngoài thân tàu, rồi đặt ma túy được bọc kín nước vào trong hộp kim loại đó, vận chuyển lòng vòng qua nhiều quốc gia rồi mới vào Úc. Khi đến cảng, các đối tượng bố trí người nhái lặn xuống và lấy ma túy ra. Hải quan Úc bằng nghiệp vụ của mình đã phát hiện và bắt giữ nhiều vụ buôn bán, vận chuyển ma túy vào Úc theo hình thức trên.

     

    2.5. Chất thải từ các tàu nhập cảnh vào Úc

     

    Do nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu thô nên hàng năm, có rất nhiều tàu biển, chủ yếu là tàu cỡ lớn và siêu lớn (Cape size, Panamax size) đến Úc để chuyên chở hàng hóa xuất khẩu. Các tàu này mang theo một lượng lớn nước dằn tàu, được thải ra khi nhận hàng tại các cảng của Úc, cùng với đó là chất thải sinh hoạt, rác thải, dầu cặn thải ra từ tàu, có nguy cơ làm ô nhiễm vùng nước cảng biển, phá hủy hệ sinh thái môi trường biển nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó là nguy cơ gây ô nhiễm tràn dầu do hệ thống phân ly dầu – nước của tàu bị hư hỏng hoặc làm việc không hiệu quả hay nguy cơ ô nhiễm do tàu không đảm bảo điều kiện vệ sinh cần thiết có thể đe dọa tới an ninh môi trường biển.

     

    2.6. Các nguy cơ khác

     

    Nước Úc nằm phía Đông nam Châu Á, phía Bắc và Tây Bắc giáp với các quốc gia như Solomon, Papua New Guinea, Timor Leste và Indonesia – vốn là các nước đang phát triển hoặc kém phát triển nên tranh chấp chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển giữa các quốc gia có thể là nguy cơ đe dọa đến an ninh hàng hải của Úc. Cướp biển, các hành vi bạo lực trên biển và khủng bố hàng hải cũng được coi là những hiểm họa tiềm tàng [2]. Tuy nhiên, do đặc thù các cảng biển ở Úc đa số dùng để xuất nguyên liệu thô, cần độ sâu lớn cho tàu siêu trường ra vào thuận tiện, do đó các cảng biển hầu hết được bố trí trên những Terminal nhô ra biển nên việc kiểm soát người ra, vào cảng tương đối dễ dàng. Ngoài ra, các cầu cảng hầu hết được lắp đặt camera an ninh (CCTV) nên chưa ghi nhận một trường hợp khủng bố hoặc phá hoại nào xảy ra.

     

    3. Các biện pháp đảm bảo an ninh hàng hải trên vùng biển và các cảng biển của Úc

     

    • Thiết lập hệ thống giám sát từ xa (MASTREP)

    Để kiểm soát từ xa một cách có hệ thống tất cả các tàu vào Úc, chính quyền hành chính nước Úc đã thông qua Bộ Luật Hàng hải năm 2012 bắt buộc tất cả các tàu nước ngoài ra vào nước Úc và tất cả các tàu của Úc khi hành trình trong vùng giới hạn bởi MASTREP. MASTREP (Modernised Australian Ship Tracking and Reporting System) là sự kế thừa và phát triển của hệ thống AUSREP (Australia Ship Reporting System) trước đây. Sau khi hệ thống nhận dạng từ xa LRIT ra đời, nước Úc đã nhanh chóng thay thế hệ thống báo cáo AUSREP cũ thủ công (sử dụng Telex) bằng hệ thống

     

    86                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    giám sát và báo cáo hiện đại tự động MASTREP.MASTREP được điều hành bởi cơ quan an toàn hàng hải Úc AMSA (Australian Maritime Safety Agency) dưới sự đặt hàng của Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn Úc (Maritime Rescue Coodinate Center Australia) – RCC Australia. RCC Australia trực canh 24/7 với những nhân viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực hàng hải và cả hàng không.

     

    Vùng bao phủ của hệ thống MASTREP rất rộng, từ điểm cực Tây (06-00S; 075-00E) đến điểm cực Đông (17-40S; 163-00E) xuôi xuống tận Nam bán cầu bao quanh nước Úc [3].

     

    Tất cả các tàu theo quy định nói trên phải gửi báo cáo vị trí bằng hệ thống AIS phù hợp với quy định của Công ước SOLAS chương V, điều 19.2.4. Nội dung của báo cáo vị trí phải bao gồm các thông tin sau: (1): Số nhận dạng; (2): Loại tàu; (3): Vị trí; (40: Hướng; (5): Tốc độ tàu;(6): Trạng thái Hàng hải; (7) Các thông tin an toàn hàng hải có liên quan.Vị trí tàu được cập nhật từ 5 phút đến 5 giờ tùy thuộc vào vị trí của tàu. Việc thu nhận các báo cáo vị trí được tiến hành tự động thông qua các trạm bờ hoặc hệ thống vệ

    Hình 1. Giới hạn của MASTREP                 tinh. Với hệ thống MASTREP này, nước Úc có thể giám sát, theo dõi tất cả các

    tàu ra vào vùng biển của họ, giảm thiểu việc xâm nhập trái phép, đánh bắt trộm thủy hải sản.

     

    Tuy nhiên, nhược điểm của hệ thống MASTREP là chỉ thực sự có tác dụng đối với các tàu có trang bị hệ thống AIS và LRIT mà không kiểm soát được các tàu thuyền nhỏ chở người nhập cư bất hợp pháp, buôn lậu ma túy, đánh bắt thủy hải sản trái phép vì loại tàu thuyền này thường không trang bị hai thiết bị nói trên hoặc cố tình tắt chúng đi khi chuẩn bị đi vào vùng biển có sự kiểm soát bởi MASTREP. Để khắc phục nhược điểm này, Úc đã thuê vệ tinh giám sát của Thụy Điển với hai vệ tinh địa tĩnh, bao phủ một vùng rộng lớn bao trùm toàn bộ nước Úc và vùng biển xung quanh. Vệ tinh giám sát kết hợp với hệ thống MASTREP, lực lượng hải quân Hoàng gia và các máy bay tuần thám đã phát huy hiệu quả trong việc chống lại các hiểm họa đe dọa an ninh trên toàn bộ vùng biển của mình.

     

    3.2. Các biện pháp kiểm soát an ninh tại các cảng biển của Úc

     

    Yêu cầu thị thực đối với thuyền viên người nước ngoài: Kể từ khi Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS code) có hiệu lực, Chính phủ Úc đã tiến hành quản lý, giám sát thuyền viên người nước ngoài nhập cảnh bằng đường biển vào Úc bằng hình thức yêu cầu thị thực đối với tất cả các thuyền viên người nước ngoài (Crew Visa). Thị thực này được cấp bởi Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Úc tại nước sở tại. Bằng hình thức này họ đã loại trừ bớt được những phần tử có nguy cơ hoặc liên quan đến khủng bố, buôn lậu ma túy,…

     

    Yêu cầu các tàu gửi cho cơ quan Di trú và Biên phòng bản “danh sách thuyền viên, hành khách”: Theo Bộ luật Hải quan năm 2015, tất cả các tàu nước ngoài trước khi vào Úc đều phải gửi trước bản “Danh sách thuyền viên” theo mẫu 3B, “Danh sách hành khách” theo mẫu 2B cho cơ quan Di trú và Biên phòng Úc thông qua Đại lý của tàu. Cơ quan Di trú và Biên phòng sẽ dựa vào bản danh sách này để đối chiếu với những thông tin mà họ có được trong hệ thống máy tính nhằm phát hiện và loại trừ những thuyền viên, hành khách có liên quan đến khủng bố, buôn lậu ma túy, các phần tử bị truy nã quốc tế.

     

    Yêu cầu các tàu gửi cho cơ quan Di trú và biên phòng bản “Báo cáo trước khi tàu đến”: Cũng như Bản danh sách thuyền viên, các tàu cũng phải gửi cho cơ quan Di trú và Biên phòng của Úc bản “Báo cáo trước khi tàu đến” (Pre-arival Report) theo mẫu 13 (FORM 13). Báo cáo trước khi tàu đến bao gồm 3 phần:

     

    • Phần một là các thông tin riêng của tàu như tên, số hiệu, số IMO, trọng tải, tên chủ tàu, tên người khai thác, người thuê tàu, số lượng thuyền viên, hành khách. Trường hợp trên tàu có người trốn theo tàu hay có vũ khí nóng thì phải có tờ khai riêng.

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     87

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Phần hai là báo cáo về an ninh của tàu bao gồm: Số của giấy chứng nhận an ninh tàu (ISSC), cơ quan cấp giấy chứng nhận, thời hạn có hiệu lực, cấp độ an ninh hiện tại tàu đang áp dụng, tên của mười cảng ghé mới nhất, ngày rời các cảng đó, cấp độ an ninh tại các cảng đó, các biện pháp an ninh đặc biệt hoặc biện pháp an ninh tăng cường đã áp dụng tại các cảng nói trên, tàu có hoạt động cặp mạn tàu khác trong số các cảng nói trên hay không (nếu có thì phải khai báo chi tiết) và cuối cùng là danh sách bốn cảng ghé sắp tới.
    • Phần ba là báo cáo về các giấy chứng nhận của tàu: trong đó yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thời hạn có hiệu lực của các giấy chứng nhận như: GCN bảo hiểm P&I, GCN an toàn kết cấu, GCN an toàn vô tuyến điện, GCN an toàn trang thiết bị, GNC chống ô nhiễm dầu quốc tế, GCN về Công ước quốc tế về dấu chuyên chở. Ngoài ra, tàu bắt buộc phải có hai GCN của Úc là biên lai thuế đường biển (Marine Navigation Levy) và biên lai thuế bảo vệ môi trường biển (Protection of the Sea Levy), nếu tàu chưa có đại lý sẽ phải thay mặt chủ tàu mua với chi phí khoảng 25.000AUD cho loại tàu Cape Size và thời hạn của hai GCN này chỉ là ba tháng. Bằng việc áp dụng thuế đường biển và thuế môi trường, Úc đã tạo được một nguồn kinh phí rất lớn để có thể cung cấp tài chính cho các hoạt động bảo đảm an ninh hàng hải, xử lý tai tạn hàng hải, bảo vệ môi trường biển.

    Với các thông tin về thuyền viên, hành khách, danh sách các cảng ghé, cơ quan Di trú và Biên phòng Úc sẽ xử lý các thông tin trên và sẽ áp dụng các biện pháp an ninh phù hợp. Ví dụ trong số mười cảng tàu ghé gần nhất có tên một cảng thuộc khu vực có nguy cơ buôn lậu ma túy cao như Colombia, Chile, Uruguay,… cơ quan Hải quan Úc có thể sẽ tiến hành soát xét tàu với các nghiệp vụ đặc biệt như mang theo chó nghiệp vụ, kiểm tra các két, cho thợ lặn kiểm tra đáy tàu đề phòng việc giấu ma túy dưới đáy tàu.

     

    Hải quan lên tàu kiểm tra trực tiếp (Face to Face): Để phòng ngừa việc giả mạo giấy tờ hộ chiếu, cơ quan Hải quan sẽ lên tàu kiểm tra từng thuyền viên và so sánh với ảnh trong hộ chiếu, bằng hành động này họ đã loại trừ được việc giả mạo giấy tờ của các đối tượng thuộc tổ chức tội phạm, ma túy, khủng bố trà trộn xâm nhập trái phép vào Úc.

     

    Yêu cầu các tàu nộp bản khai tài sản cá nhân, đồ dự trữ của tàu, danh mục thuốc tân dược, bia, rượu, thuốc lá,… Bằng cách yêu cầu đối với thuyền viên nộp các bản kê khai này, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra, đánh giá nguy cơ xảy ra việc buôn lậu bằng đường biển và sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết như niêm phong đồ dự trữ, bia, rượu, thuốc lá. Một thuyền viên có tài sản cá nhân, tiền mặt quá lớn so với thu nhập bằng lương sẽ bị nghi ngờ và bị kiểm tra, soát xét kỹ lưỡng để loại trừ các hiểm họa như buôn lậu trong đó có buôn lậu ma túy bằng đường biển.

     

    Yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thông tin về người thân của thuyền viên tại Úc: Do hiện tượng bỏ trốn của thuyền viên tại Úc vẫn xảy ra, cơ quan Hải quan thông qua Đại lý yêu cầu Thuyền trưởng cung cấp thông tin về mối quan hệ của thuyền viên với người thân của họ tại Úc, qua đó có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết như không cho phép thuyền viên đó đi bờ, cử người đi kèm giám sát.

     

    Sử dụng Camera giám sát: Tại các Cầu cảng, để giám sát hoạt động của tàu và chống buôn lậu, phá hoại, bỏ trốn thì ngoài hệ thống bảo vệ tại cổng cảng, họ còn gắn các Camera giám sát tại các cầu tàu 24/7.

     

    Không cho phép thuyền viên đi bộ trong khu vực Cảng: Để đảm bảo an ninh bến cảng, khi tàu vào cảng, Sỹ quan an ninh bến cảng sẽ trực tiếp hoặc thông qua đại lý thông báo đến Thuyền trưởng về việc thuyền viên không đuọc phép đi bộ, đi xe đạp trong khu vực cảng vì lý do an ninh, thuyền viên vi phạm sẽ bị phạt rất nặng, thậm chí trục xuất khỏi Úc và cấm vĩnh viễn không được nhập cảnh vào Úc.

     

    Yêu cầu các tàu thực hiện nghiêm túc các biện pháp an ninh theo Bộ luật ISPS: Trước khi tàu đến cảng, chính quyền cảng sẽ trực tiếp thông báo hoặc thông qua Đại lý thông báo cho tàu về cấp độ an ninh áp dụng tại cảng, qua đó tàu sẽ phải áp dụng các biện pháp an ninh thích hợp như kiếm soát người lên xuống, niêm phong hoặc khóa chống tiếp cận các khu vực hạn chế,… Việc thực thi các biện pháp an ninh phù hợp với cấp độ an ninh được kiểm tra, đánh giá bằng việc kiểm tra hành chính của cơ quan an toàn hàng hải Úc (AMSA) mà không được thông báo trước.

     

    3.3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

     

    Về hệ thống pháp luật

     

    Úc ban hành Bộ luật về An ninh hàng hải và bảo vệ bờ biển năm 2003 và Quy định về an ninh hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng biển 2003 nhằm nội luật hóa và thi hành Bộ luật ISPS code. Dưới Bộ luật an ninh hàng hải Úc là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết về tổ chức, quản lý, đào tạo, huấn luyện và chế độ chính sách đối với lực lượng an ninh.

     

    88                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Trong khi đó ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mỏng, chưa xây dựng được Bộ luật hay Nghị định về An ninh hàng hải. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam còn thiếu những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng an ninh cảng; quy chế phối hợp hành động giữa các cơ quan quản lý an ninh hàng hải cũng như chế tài xử lý các hành vi vi phạm về an ninh hàng hải. Công tác triển khai các quy định pháp luật về an ninh hàng hải còn nhiều bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thi hành. Ngoài ra cũng chưa có chính sách thu phí bảo đảm an ninh tại cảng biển nên không có nguồn kinh phí để đầu tư phương tiện, thiết bị cũng như tổ chức, huấn luyện nghiệp vụ cho lực lượng an ninh cảng biển

     

    Về tổ chức, quản lý an ninh hàng hải

     

    Đứng đầu cơ quan quản lý an ninh hàng hải của Úc là Cục an ninh, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Úc. Cục an ninh sẽ trực tiếp hướng dẫn cấp độ an ninh cho từng khu vực cảng biển, tổ chức các cuộc diễn tập cấp quốc gia, đồng thời hướng dẫn, phê duyệt kế hoạch, kịch bản diễn tập an ninh cho các khu vực cảng biển.

     

    Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay, công tác quản lý an ninh hàng hải được giao cho 2 Cục thuộc Bộ Giao thông Vận tải là Cục Hàng hải Việt Nam (có trách nhiệm đánh giá an ninh cảng biển, xây dựng kế hoạch an ninh cảng biển cho các nhân viên an ninh cảng biển) và Cục Đăng kiểm Việt Nam (được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo và cấp Giấy chứng nhận Sỹ quan an ninh tàu biển và nhân viên an ninh công ty).

     

    Mô hình quản lý hiện tại của Việt Nam thể hiện nhiều bất cập như:

     

    • Việc kiểm tra duy trì hệ thống an ninh tàu biển và thử hoạt động của hệ thống thiết bị an ninh trên tàu biển do Trung tâm Thông tin An ninh Hàng hải thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện; Khi gặp sự cố khủng bố đối với tàu biển, Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm giải quyết với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành còn Cục Đăng kiểm Việt Nam chỉ làm dịch vụ đào tạo, cấp chứng chỉ chứ không chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả đối với an ninh của tàu biển ở nước ngoài.
    • Không thống nhất được giáo trình giảng dạy cho các đối tượng;
    • Lãng phí nguồn nhân lực đào tạo vì lực lượng giáo viên phân bố ở cả 02 Cục;
    • Khó khăn cho việc xây dựng quy hoạch bảo đảm an ninh hàng hải.

    Về quản lý an ninh cảng biển

     

    Tại Úc, Trung tâm an ninh cảng biển là cơ quan chuyên trách quản lý an ninh cảng biển, có trách nhiệm tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các cảng lập kịch bản và triển khai diễn tập theo kế hoạch của từng bến cảng và diễn tập chung toàn cảng, kinh phí diễn tập do các doanh nghiệp thành viên đóng góp. Trung tâm an ninh cảng được trang bị hệ thống camera an ninh (CCTV) theo dõi toàn bộ cảng biển. Hệ thống này được kết nối với hệ thống VTS kiểm soát hàng hải của Cảng vụ hàng hải, qua đó hỗ trợ nhau trong việc kiểm soát hoạt động của tàu thuyền ra vào cảng, hoạt động xếp dỡ hàng hóa và tình hình an ninh từng khu vực hạn chế.

     

    Trong khi đó, ở Việt Nam, quản lý an ninh hàng hải tại các cầu bến cảng trong khu vực đều do chính các đơn vị quản lý, khai thác cảng đó xây dựng và thực hiện. Do vậy, có sự manh mún, lỏng lẻo về mô hình tổ chức và quản lý an ninh, nhất là tại các cảng quy mô nhỏ, thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm, có chuyên môn liên quan đến vấn đề an ninh hàng hải, thiếu trang thiết bị, hạn chế về kinh phí khi triển khai thực hiện trong thực tế.

     

    Về đào tạo nguồn nhân lực an ninh hàng hải

     

    Tại Úc, ở mỗi cảng biển có lực lượng an ninh cảng với các nhân viên an ninh chuyên trách, hoạt động theo hình thức bán quân sự, được đào tạo về nghiệp vụ an ninh và được hưởng chế độ như Công an, Biên phòng của Úc. Lực lượng này được trang bị ca nô cao tốc, ô tô và các phương tiện, công cụ hỗ trợ phục vụ hoạt động kiểm soát an ninh cổng ra vào, các bến cảng và các khu vực hạn chế. Việc huấn luyện cho các cá nhân thực hiện nhiệm vụ an ninh cảng biển do tổ chức cảng và cơ quan quản lý an ninh hàng hải phối hợp tổ chức. Chương trình huấn luyện được lấy từ chương trình chuẩn của IMO cho Sỹ quan an ninh cảng biển. Giấy chứng nhận sẽ được cấp cho các thành viên hoàn thành khóa học. Diễn tập an ninh được thực hiện ở cấp quốc gia và các khu vực cảng biển cấp khu vực.

     

    Trong khi đó, Việt Nam hiện nay, việc đào tạo các sỹ quan an ninh cảng biển do các Trường Cao đẳng Hàng hải I và Trường Cao đẳng nghề TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện và còn nặng về mặt lý thuyết. Việc phối hợp với Cục A67 – Bộ Công an, và các cơ quan liên quan trong công tác huấn luyện nghiệp vụ bảo đảm an ninh hàng hải cho cán bộ an ninh cảng chưa được triển khai thực hiện. Công tác tổ chức diễn tập tình huống an ninh tại cảng hiện nay chủ

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     89

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    yếu là tập trung vào công tác phòng cháy chữa cháy và do chính các đơn vị quản lý, khai thác cảng tổ chức thực hiện; việc diễn tập các tình huống an ninh khác chưa được triển khai.

     

    Về đầu tư tài chính cho hoạt động bảo đảm an ninh

     

    • Úc, đầu tư cho công tác bảo đảm an ninh hàng hải của các cơ quan quản lý thuộc các Bộ, ngành do Nhà nước chịu trách nhiệm. Kinh phí bảo đảm an ninh cho cảng biển, tàu biển do các doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm. Chi phí cho hoạt động an ninh được lấy từ nguồn thu phí bảo đảm an ninh hàng hải và đóng góp của các tổ chức cung cấp dịch vụ hàng hải.

    Trong khi đó ở Việt Nam, các đơn vị quản lý và khai thác cảng gặp khó khăn cho đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật an ninh, bởi chi phí đầu tư rất lớn nhưng không trực tiếp không đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, các đơn vị này chỉ đầu tư, mua sắm, trang bị những thiết bị kỹ thuật an ninh đơn giản, chi phí thấp. Đối với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật an ninh cao như hệ thống camera quan sát, hệ thống kiểm tra kiểm soát, nhận dạng người ra vào cổng cảng bằng thẻ từ, thiết bị soi chiếu, ca-nô tuần tra ở vùng nước đều không được trang bị. Bên cạnh đó, các quy định, chính sách về tài chính của Việt Nam cho hoạt động đảm bảo an ninh còn rất thiếu, chưa rõ ràng, gây khó khăn và lúng túng trong quá trình thực hiện. Nhiều chương trình, hoạt động theo kế hoạch để đảm bảo an ninh không được triển khai thực hiện được trong thực tế vì không có nguồn kinh phí và không được hổ trợ về mặt cơ chế, chính sách. Chế độ lương của các cán bộ an ninh chưa có thang bậc riêng. Tại các doanh nghiệp cảng biển, bậc lương của cán bộ an ninh được áp dụng theo bậc lương bảo vệ, chưa phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cán bộ quản lý an ninh trong khu vực cảng biển.

     

    4. Kết luận

     

    Bảo đảm an ninh hàng hải là một phần không thể tách rời trong kinh tế và xã hội của Úc bởi ngành hàng hải hỗ trợ cả du lịch, thương mại và kết nối Úc với phần còn lại của thế giới. Úc có cách tiếp cận toàn diện dựa trên nguyên tắc “an ninh sâu”, có nghĩa là thiết lập nhiều lớp bảo mật nhằm giảm thiểu cơ hội tấn công của các hiểm họa đe dọa an ninh. Chính phủ Úc quy định về bảo đảm an ninh hàng hải Úc thông qua Đạo luật về an ninh hàng hải và bảo vệ bờ biển năm 2003 (MTOFSA) và Quy định về an ninh hàng hải và cơ sở hạ tầng cảng biển 2003 nhằm đáp ứng các nghĩa vụ trong Chương XI-2 của Công ước Quốc tế về An toàn sinh mạng người trên biển năm 1974 (SOLAS) và Bộ luật quốc tế về An ninh tàu và bến cảng năm 2003 (ISPS). Thực thi hiệu quả các biện pháp bảo đảm an ninh hàng hải của Úc sẽ là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia, trong đó có Việt nam trong việc bảo đảm an ninh trước các hiểm họa đe dọa an ninh hàng hải.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • GAMSA, “Guide to Australian Maritime Security Arrangements”, Australian Border Protection Command, 2013.
    • Anthony Bergin, “Future unknown: The terrorist threat to Australian maritime security”, University of Wollongong Australia, 2015.
    • Australian Maritime Safety Authority, “MASTREP and Australian Mandatory Reporting”, 2016 https://www.amsa.gov.au/safety-navigation/navigation-systems/modernised-australian-ship-tracking-and-reporting-system.

    Ngày nhận bài:

    26/02/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    02/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    06/04/2018

     

     

    90                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-C%C3%81CH-TI%E1%BA%BEP-C%E1%BA%ACN-TRONG-GI%E1%BA%A2I-QUY%E1%BA%BET-B%C3%80I-TO%C3%81N-T%E1%BB%B0-%C4%90%E1%BB%98NG-H%C3%93A-SINH-D%E1%BB%AE-LI%E1%BB%86U-KI%E1%BB%82M-TH%E1%BB%AC-PH%E1%BA%A6N-M%E1%BB%80M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    MỘT CÁCH TIẾP CẬN TRONG GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN TỰ ĐỘNG HÓA SINH DỮ LIỆU KIỂM THỬ PHẦN MỀM

     

    AN APPROACH TO AUTOMATED TEST DATA GENERATION

     

    PHẠM ĐỨC TOÀN1, PHAN NGUYÊN HẢI2, PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH3

    • Phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐHHH Việt Nam 2 Học viện Kỹ thuật Quân sự

    3 Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự

    Tóm tắt

     

    Bài báo nghiên cứu lĩnh vực tự động hóa quy trình phát triển phần mềm, bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động, hướng giải quyết cùng các khó khăn. Đề xuất cách tiếp cận biểu diễn thuật toán dựa trên khái niệm đồ thị, ứng dụng vào giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Từ khóa: Tự động hóa phát triển phần mềm, sinh dữ liệu kiểm thử, biểu diễn thuật toán. Abstract

     

    In this paper, the automated software development issue and test data generation problem are presented with solutions and challenges. Approach to represent algorithms based on graph concepts is proposed and applied to solving the problem of automated test data generation.

     

    Keywords: Automated software development, test data generation, expressing algorithms.

     

    1. Bài toán tự động hóa phát triển phần mềm và tự động hóa kiểm thử phần mềm

     

    Quy trình phát triển phần mềm thông thường gồm các giai đoạn: Xác định yêu cầu, thiết kế, lập trình, kiểm thử, tích hợp triển khai. Tùy thuộc vào từng dự án cụ thể mà các giai đoạn này có thể tuần tự hoặc lặp lại.

     

    Hiện nay trong lĩnh vực tự động hóa phát triển phần mềm, các bài toán đang được quan tâm là sinh mã nguồn tự động và sinh dữ liệu kiểm thử tự động.

     

    Với bài toán sinh mã nguồn tự động, đầu vào là bản thiết kế, đầu ra là biểu diễn của bản thiết kế bằng cú pháp của một ngôn ngữ lập trình nào đó (nói cách khác là mã nguồn).

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử (test data generation), đầu vào là các bản đặc tả (yêu cầu, thiết kế), mã nguồn, đầu ra là dữ liệu đầu vào của phần mềm mà cần kiểm thử tại đó. Khi có đầu vào cần kiểm thử, thì có thể xác định đầu ra chuẩn của phần mềm tại đầu vào đó theo mô tả của phần mềm (test oracle), cặp giá trị đầu vào và đầu ra chuẩn hình thành lên một trường hợp kiểm thử (testcase) để người kiểm thử (tester) thực hiện kiểm thử. Việc kiểm thử thông thường có nhiều cấp độ, như Unit Testing để kiểm thử các đơn vị mã nguồn, Integration Testting để kiểm thử việc tích hợp các đơn vị mã nguồn, System Testing và Acceptance Testing để kiểm thử toàn bộ hệ thống phần mềm (Hình 1). Việc sinh dữ liệu tự động thường áp dụng cho mức Unit Testing và cách tiếp cận truyền thống trong bài toán sinh dữ liệu kiểm thử hiện nay là dựa vào mã nguồn (kiểm thử hộp trắng – whitebox testing). Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả tập trung vào bài toán tự động hóa sinh dữ liệu kiểm thử ở mức Unit Testing.

     

    Acceptance Testing (Kiểm thử chấp nhận)

     

    System Testing (Kiểm thử hệ thống)

     

    Integration Testing (Kiểm thử tích hợp)

     

    Unit Testing (Kiểm thử đơn vị)

     

    Hình 1. Các mức độ kiểm thử

     

    Với bài toán sinh dữ liệu kiểm thử với phương pháp hộp trắng, cách thực hiện có thể gồm các bước chính như sau [1]:

     

    • Xây dựng đồ thị chu trình từ mã nguồn (control flow graph – CFG), mỗi đỉnh của đồ thị là một dòng mã thực hiện việc tính toán hoặc xử lý điều kiện;
    • Từ đồ thị xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc chương trình;

    64                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    • Với mỗi đường đi, xác định các điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo đường đi đó. Chọn một đại diện thỏa mãn điều kiện.

    Với phương pháp này, chương trình có bao nhiêu đường thực thi thì có thể có bấy nhiêu testcase. Tuy nhiên, nếu chương trình có rẽ nhánh, vòng lặp thì số lượng đường thực thi có thể rất lớn. Trong trường hợp này, có thể chỉ cần tìm các đường cơ sở và từ các đường cơ sở đó xác định các dữ liệu kiểm thử.

     

    Trong ba bước nêu trên, thì việc xây dựng đồ thị CFG từ mã nguồn và việc xác định các đường đi trên đồ thị là hoàn toàn có thể thực hiện tự động bằng lập chương trình. Tuy nhiên bước xác định điều kiện đối với đầu vào để chương trình thực thi theo một đường nhất định là một bài toán rất khó. Đây thực chất chính là bài toán giải quyết thỏa mãn ràng buộc (Constraint satisfaction problems – CSPs) [2, 3, 4]. Bài toán CSP được đặc trưng bởi bộ ba (X, D, C), với:

     

    X = {X1, X2, …, Xn} là tập hợp các biến;

     

    D = {D1, D2, …, Dn} tương  ứng là các tập hợp miền giá trị của các biến X;

     

    C = {C1, C2, …, Cm} là tập hợp các ràng buộc. Ci là các hàm của X, thường có dạng bất phương trình.

     

    Bài toán đòi hỏi cần tìm các giá trị của X trong miền D để thỏa mãn các ràng buộc C. Đây là bài toán thuộc lớp NP-đầy đủ (NP-complete), bài toán này không có lời giải trong trường hợp chung. Để giải quyết bài toán này phục vụ cho mục đích sinh dữ liệu kiểm thử tự động, đã có một cộng đồng nghiên cứu đông đảo với rất nhiều đề xuất tiếp cận như quay lui (backtracking), lan truyền ràng buộc (contraint propagation), tìm kiếm cục bộ (local search), giải thuật di truyền, tiến hóa [5, 6],…

    Tuy nhiên các đề xuất chỉ thích hợp cho một lớp bài toán nhất định, kết quả sinh dữ liệu kiểm thử phụ thuộc vào rất nhiều tham số, thời gian chạy lâu, và thường không có sự bảo đảm về mặt toán học. Nguyên nhân chung có thể kết luận là do quá ít thông tin thu được từ mã nguồn chương trình khi xây dựng đồ thị CFG cùng các ràng buộc, dẫn đến quá trình tìm kiếm lời giải cho bài toán CSP gặp khó khăn. Xuất phát từ thực tế này, trong bài báo đề xuất một cách tiếp cận cho việc sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn.

     

    Để tiếp tục, trước hết chúng ta xem xét giai đoạn thiết kế phần mềm trong quy trình phát triển phần mềm. Giai đoạn thiết kế phần mềm gồm các bước được mô tả trên Hình 2 [7].

     

     

    Hình 2. Các bước của giai thoạn thiết kế phần mềm

     

    Trong sơ đồ trên Hình 2, hoạt động thiết kế cốt lõi chính là thiết kế thuật toán (algorithm design). Trong phương pháp thiết kế hướng cấu trúc, thiết kế thuật toán thể hiện qua việc thiết kế thuật toán cho các hàm (chức năng) cơ sở. Trong phương pháp hướng đối tượng, thiết kế thuật toán thể hiện qua thiết kế thuật toán cho các phương thức của các lớp.

     

    Bài toán sinh mã nguồn tự động có thể quy về sinh mã nguồn tự động từ thuật toán, từ đó có thể suy ra bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động cũng có thể quy về các bài toán sinh mã nguồn tự động từ thuật toán (thực chất, mã nguồn chương trình chính là việc biểu diễn thuật toán bằng cú pháp một ngôn ngữ lập trình nào đó). Vấn đề tiếp theo cần quan tâm đến, đó là xem xét việc biểu diễn thuật toán trong bản thiết kế.

     

    2. Vấn đề biểu diễn thuật toán

     

    Trong lý thuyết thuật toán, thuật toán có thể biểu diễn bằng các cách truyền thống là ngôn ngữ tự nhiên, sơ đồ khối, giả mã (pseudo code),… Với các cách biểu diễn này thì chỉ có con người

     

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     65

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    mới hiểu được thuật toán, và việc xây dựng chương trình, xác định dữ liệu kiểm thử cũng phải do con người thực hiện. Nói một cách khác là với các cách biểu diễn thuật toán truyền thống thì việc tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử bằng máy tính là không thể thực hiện được. Để tự động sinh mã nguồn, tự động sinh dữ liệu kiểm thử cần phải biểu diễn thuật toán theo các cách mới để máy tính có thể hiểu được.

     

    Hiện nay, một trong những cách tiếp cận trong biểu diễn thiết kế là dùng ngôn ngữ XML [8]. Để có thể đưa bản thiết kế (thuật toán) vào máy tính, bản thiết kế được chuyển từ dạng biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng XML, với biểu diễn XML thì có thể xây dựng được các phương pháp sinh mã nguồn và sinh dữ liệu kiểm thử tự động. Tuy nhiên, XML là ngôn ngữ quá mạnh mẽ, quá đa dạng nên việc đưa ra những bộ quy tắc chung trong việc chuyển đổi từ cách biểu diễn truyền thống sang XML cũng chưa có sự thống nhất.

     

    Trong bài báo này, các tác giả đề xuất sử dụng khái niệm đồ thị để biểu diễn thuật toán. Việc biểu diễn thuật toán bằng đồ thị là hoàn toàn khả thi, thực chất sơ đồ khối cũng có thể coi là dạng biểu diễn trực quan của đồ thị. Ngoài ra, với đồ thị đã có rất nhiều lý thuyết đã được xây dựng về việc biểu diễn, lưu trữ và xử lý trên máy tính, nên hoàn toàn có hy vọng về khả năng trích rút các thông tin cần thiết từ thuật toán để phục vụ cho bài toán sinh tự động mã nguồn hay dữ liệu kiểm thử từ thuật toán.

     

    • tưởng biểu diễn thuật toán bằng đồ thị không phải là mới. Tuy nhiên, cũng giống như XML, chuyển đổi từ biểu diễn truyền thống sang biểu diễn bằng đồ thị cũng có nhiều cách khác nhau.

    3.           Cách tiếp cận dựa trên đồ thị

     

    Trong phạm vi bài báo, chúng ta sẽ xem xét bài toán sinh dữ liệu kiểm thử bằng biểu diễn đồ thị của thuật toán. Với lý thuyết kiểm thử cơ bản thì cũng phải cần đến biểu diễn chương trình bằng đồ thị CFG, đồ thị CFG thực chất chính là biểu diễn của thuật toán. Vì vậy, việc dùng đồ thị thuật toán để sinh dữ liệu kiểm thử là hoàn toàn khả thi, ngoài ra khi biểu diễn thuật toán bằng đồ thị trong giai đoạn thiết kế thì chúng ta sẽ nhận được nhiều thông tin hơn cho việc sinh dữ liệu kiểm thử.

     

    Việc xây dựng đồ thị thuật toán do người thiết kế thực hiện, có thể tiến hành theo hai bước, bước một là xây dựng sơ đồ khối thuật toán, bước hai là chuyển sơ đồ khối về dạng biểu diễn đồ thị. Về cấu trúc tổng quát, thuật toán có thể biểu diễn bằng đồ thị có hướng G, mỗi đỉnh của đồ thị có thể là một phép toán hoặc một khối rẽ nhánh. Với các đỉnh phép toán, khi đi qua đỉnh này, có thể coi dữ liệu đầu vào được đưa qua một hàm biến đổi nào đó. Với các đỉnh rẽ nhánh, khi đi qua, dữ liệu đầu vào không bị biến đổi, nhưng được kiểm tra bằng một hàm mệnh đề nào đó. Tùy thuộc vào hàm mệnh đề mà có thể rẽ nhánh nọ hoặc nhánh kia. Và khi xác định thuật toán, đi kèm với mỗi đỉnh là thông tin về dữ liệu vào ra tại đỉnh đó, thông tin về phép toán, về biểu thức điều kiện tại các khối rẽ nhánh. Những thông tin này người thiết kế hoàn toàn có thể cung cấp. Một số ví dụ về các thông tin:

     

    • Miền dữ liệu vào/ra tại các đỉnh;
    • Phân loại hàm xử lý, hàm mệnh đề (liên tục, rời rạc, tuyến tính, phi tuyến, biến nào là chính, biến nào là phụ thuộc;
    • Ví dụ về các giá trị thỏa mãn hàm mệnh đề tại các đỉnh;
    • Khả năng tuyến tính hóa, đơn giản hóa các hàm xử lý, hàm mệnh đề, hàm ngược của các hàm xử lý,…

    Những thông tin này, trong những trường hợp nào đó sẽ giúp việc giải quyết bài toán thỏa mãn ràng buộc trong sinh dữ liệu kiểm thử được dễ dàng hơn. Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận dựa trên đồ thị thuật toán này khác với cách tiếp cận truyền thống như sau:

    • Cách truyền thống: Thiết kế (thuật toán) à Mã nguồn à Đồ thị à Sinh dữ liệu kiểm thử
    • Cách đề xuất: Thiết kế (thuật toán) à Đồ thị + Thông tin à Sinh dữ liệu kiểm thử hoặc sinh mã nguồn.

    4.           Sinh dữ liệu kiểm thử tự động với biểu diễn dạng đồ thị của thuật toán

     

    Chúng ta vận dụng ý tưởng của phương pháp hộp trắng để xác định các dữ liệu kiểm thử. Khi thuật toán được biểu diễn bằng đồ thị thì việc tự động xác định các đường đi từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc là bài toán kinh điển trong lý thuyết đồ thị và đã được giải quyết trọn vẹn ngay cả trong trường hợp đồ thị có chu trình (vòng lặp). Nghĩa là việc tìm đường đi bằng chương trình máy tính là hoàn toàn khả thi.

     

    Tiếp theo với mỗi đường đi tìm được, cần tự động tìm dữ liệu đầu vào của thuật toán để thuật toán thực thi theo con đường đó. Ở đây, chúng ta chỉ xem xét ví dụ một trường hợp, giả sử thông

     

    66                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    tin đi kèm tại các đỉnh đồ thị cho biết các hàm xử lý, hàm mệnh đề là các hàm tuyến tính và dữ liệu đầu vào của chương trình có dạng số. Ký hiệu:

    Các giá trị đầu vào của chương trình là X = {X1, X2, …, Xn} Rn;

    Đường đi tìm được trên đồ thị gồm các hàm xử lý X = Fi(X) và các hàm mệnh đề Gj(X)>0.

     

    Khi đó việc tìm điều kiện của đầu vào X để chương trình đi theo đường đi này trở thành việc giải hệ bất phương trình tuyến tính:

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . …                                                                                                   (1)

      (  ) >

    { … … … . …

    • đây thứ tự các hàm xử lý, hàm mệnh đề trong hệ bất phương trình trùng với thứ tự của các đỉnh tương ứng trên đường đi của đồ thị.

    Hệ bất phương trình có thể giải tự động được, thuật toán giải gồm các bước chính như sau:

     

    Bước 1. Chuyển hệ về dạng hệ phương trình (2):

    … … … . . …

     

    =   (  )

    … … … . . … ,

      (  ) =

    { … … … . …

    ở đây aj là những số nào đó lớn hơn 0.

     

    Bước 2. Tìm hạng r của ma trận biểu diễn hệ phương trình (2).

     

    Bước 3. Cố định n-r biến (cho các giá trị cụ thể), giải hệ r phương trình để tìm r biến còn lại.

     

    Nghĩa là, trong trường hợp này chúng ta hoàn toàn có thể tự động xác định được dữ liệu đầu vào để chương trình thực thi theo con đường nào đó.

     

    Xét ví dụ sinh dữ liệu kiểm thử từ một thuật toán đơn giản, thuật toán tìm giá trị lớn nhất trong 3 số thực a, b, c. Thuật toán có thể như sau:

     

    Bước 1. Đặt max = a;

     

    Bước 2. So sánh max < b. Nếu đúng, gán max = b.

     

    Bước 3. So sánh max < c. Nếu đúng, gán max = c. Đưa ra max. Kết thúc.

     

    Đồ thị biểu diễn thuật toán có dạng như trên Hình

     

    1. Với đồ thị như trên Hình 3, có thể có các đường thực thi từ đỉnh bắt đầu ( Bắt đầu) đến đỉnh kết thúc (8. Kết thúc) như sau:

    Đường 1: 1 à 2 à 3 à 5 à 7 à 8

    Đường 2: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 7 à 8

    Đường 3: 1 à 2 à 3 à 4 à 5 à 6 à 7 à 8

    Đường 4: 1 à 2 à 3 à 5 à 6 à 7 à 8

     

    (2)

     

    1. Bắt đầu
    1. max = a
     

    Đúng

    3. max<b

     

    4. max=b

    Sai

       
     

    Đúng

     

    5. max<c

     

    6. max=c

    Sai

       
    1. max
    1. Kết thúc

    Hình 3. Đồ thị thuật toán

     

     

    Chúng ta xem xét việc xác định đầu vào để chương trình thực thi theo đường 3. Với các đường khác việc xác định là tương tự.

     

    Thông tin trên đồ thị cho thấy các hàm xử lý và hàm mệnh đề tại các đỉnh là hàm tuyến tính, hệ bất phương trình đối với đường 3 như sau:

     

    max = a; max – b < 0; max = b; max – c < 0; max = c

    (3)

    Hệ này có thể chuyển thành hệ (4), bằng cách tính biến max lần lượt theo các biến đầu vào và thay các bất phương trình thành phương trình:

     

    a – b = -1; b – c = -2

    (4)

    Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018                                                                     67

     

    CHÀO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG 01/4/2018

     

    Hạng của ma trận hệ (4) bằng 2, ta có thể cố định a = 2, suy ra b = 3, c = 5 và nhận được một dữ liệu đầu vào để kiểm thử là (2,3,5), với đầu vào này thì đầu ra chuẩn là 5, nghĩa là nhận được testcase ((2,3,5),5). Tương tự đối với những đường thực thi khác. Nghĩa là chúng ta đã xác định được dữ liệu kiểm thử một cách tự động hoàn toàn theo tiêu chí bao phủ tất cả các đường thực thi.

     

    5. Kết luận

     

    Với cách biểu diễn thuật toán bằng đồ thị ngay trong giai đoạn thiết kế, chúng ta có thể thu được nhiều thông tin hơn về đồ thị nhận được, từ đó có thể giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử tự động một cách dễ dàng hơn. Hướng phát triển tiếp theo là xem xét việc giải quyết bài toán sinh dữ liệu kiểm thử trong các trường hợp phức tạp và xem xét việc sinh mã nguồn tự động dựa trên đồ thị biểu diễn thuật toán.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Arthur H. Watson and Thomas J. McCabe. “Structured Testing: A Testing Methodology Using the Cyclomatic Complexity Metric”. NIST Special Publication 500-235, 1996.
    • Dechter, Rina. Constraint processing. Morgan Kaufmann, 2003.
    • Apt, Krzysztof. Principles of constraint programming. Cambridge University Press, 2003.
    • Lecoutre, Christophe. Constraint Networks: Techniques and Algorithms. ISTE/Wiley, 2009.
    • Phil McMinn. Search-based Software Test Data Generation: A Survey. Software Testing Verification and Reliability, Wiley. 2004.
    • Chayanika Sharma, Sangeeta Sabharwal, Ritu Sibal. A Survey on Software Testing Techniques using Genetic Algorithm. IJCSI International Journal of Computer Science Issues, Vol. 10, Issue 1, No 1, January 2013.
    • Ian Sommerville. Software Engineering (9th Edition). Pearson Education, Addison-Wesley, 2010.
    • Anshul, Sompal, Vikas Sheoran. Automatic Code Generation Using Uml To Xml Schema Transformation. International Journal of Advancement in Engineering Technology, Management and Applied Science, Volume 1, Issue 2, 2014.

    Ngày nhận bài:

    19/03/2018

    Ngày nhận bản sửa:

    05/04/2018

    Ngày duyệt đăng:

    09/04/2018

     

     

     

     

    68                                                                 Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải           Số 54 – 4/2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer

    Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer

    Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%C3%B4-t%E1%BA%A3-c%C3%B4ng-vi%E1%BB%87c-nh%C3%A2n-vi%C3%AAn-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-Marketing-%E2%80%93-Designer.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Mô tả công việc nhân viên thiết kế Marketing – Designer

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC

    NHÂN VIÊN THIẾT KẾ MARKETING – DESIGNER

     

     

    Bộ phận

    Phòng thiết kế

    Chức danh

    Nhân viên Thiết kế Marketing – Designer

    Mã công việc

    TK-MRDS

    Cán bộ quản lý trực tiếp

    Trưởng phòng thiết kế sản phẩm

     

    I                     Nhiệm vụ, quyền hạn:

    • Thiết kế sản phẩm phục vụ cho việc quảng cáo online và các kênh truyền thông: banner, cover photo, ảnh động flash, infographic, email marketing, etc
    • Thiết kế các sản phẩm phục vụ truyền thông offline: standee, banner, backdrop, bandroll, thư mời, tờ rơi, tờ gấp, voucher, các banner để trang trí văn phòng, etc
    • Làm các video dạng animation và làm sub cho video để quảng cáo
    • Chỉnh sửa ảnh sau mỗi sự kiện của Công ty
    • Thiết kế các form đăng ký online và offline
    • Thiết kế slide, brochure giới thiệu sản phẩm cho Công ty
    • Đi in các ấn phẩm truyền thông
    • Quản lý website và các kênh truyền thông khác theo chỉ định
    • Đóng góp ý tưởng cho các sự kiện và chiến dịch Marketing của Công ty
    • Tham gia hỗ trợ các sự kiện Công ty tổ chức
    • Thực hiện các công việc được phân công thêm từ Trưởng phòng

     

    Yêu cầu:

    • Tốt nghiệp Đại học, Cao đăng chuyên ngành thiết kế đồ họa.
    • Ưu tiên các ứng viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực Digital marketing.
    • Biết sử dụng các phần mềm thiết kế.
    • Có khả năng tư duy thẩm mỹ tốt, có khả năng sáng tạo.
    • Thành thạo sử dụng các phần mềm văn phòng, gửi/nhận email.
    • Năng động, nhiệt tình, kiên trì, chịu khó, có khả năng chịu áp lực và cường độ công việc cao
    • Tinh thần trách nhiệm, trung thực.
    • Có ý chí cầu tiến, ham nghiên cứu, học hỏi nâng cao nghiệp vụ.
    • Biết tôn trọng.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN TÍNH GIÁ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%E1%BA%A2NG-M%C3%94-T%E1%BA%A2-C%C3%94NG-VI%E1%BB%86C-NH%C3%82N-VI%C3%8AN-THI%E1%BA%BET-K%E1%BA%BE-S%E1%BA%A2N-PH%E1%BA%A8M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN THIẾT KẾ SẢN PHẨM

     

    Bộ phận

    Phòng thiết kế

    Chức danh

    Nhân viên thiết kế sản phẩm

    Mã công việc

    TK-NV

    Cán bộ quản lý trực tiếp

    Trưởng phòng thiết kế sản phẩm

     

    I                     Nhiệm vụ, quyền hạn:

    • Thực hiện theo kế hoạch thiết kế sản phẩm mới
    • Phối hợp với các đơn vị thực hiện việc thiết kế sản phẩm
    • Hỗ trợ các công việc liên quan đến thiết kế cho các phòng ban trong công ty
    • Phối hợp với phòng Nghiên cứu công nghệ chọn giải pháp kỹ thuật tốt nhất cho việc thiết kế
    • Họp phát triển sản phẩm mới, họp hiệu chỉnh sản phẩm sau sản xuất mẫu.
    • Tất cả các chi tiết và tỷ lệ kích thước của mục đích sản phẩm phải tuân thủ theo chính xác trong bản vẽ.
    • Viết các tờ thông số kỹ thuật và hướng dẫn may cho từng mẫu (kích cỡ, số, kiểu, giải thích liên quan đến máy)
    • Đảm bảo rằng chất lượng sản xuất được duy trì theo các tiêu chuẩn của MZ Việt Nam và các nghĩa vụ “Hiệu suất thời gian” đang được đáp ứng.
    • Thiết kế ra bản vẽ cho mọi sản phẩm và mẫu từ khách hàng
    • Tạo bản vẽ cho mọi sản phẩm và biết sử dụng máy may tự động
    • Thành lập nhóm kiếm soát chất lượng và đào tạo đội sản xuất để làm việc với nó.
    • Đo lường và xem xét thành phẩm với nhóm sản xuất (Kiểm soát chất lượng)
    • Làm định mức nguyên vật liệu và quan tâm cập nhật bất kỳ sửa đổi mới nào
    • Thực hiện thay đổi hoặc sửa đổi theo yêu cầu cho đến khi được phê duyệt
    • Sau khi phê duyệt, hỗ trợ các bộ phận sản xuất trong việc bắt đầu 1 sản phẩm mới.

     

    Yêu cầu:

    • Trình độ: Tốt nghiệp Đại học trở lên chuyên ngành thiết kế đồ hòa, CNTT…
    • Ưu tiên có kinh nghiệm từ 01 năm trở lên về thiết kế sản phẩm nhựa.
    • Khả năng tư duy tốt
    • Sử dụng thành thạo phần mềm thiết kế sản phẩm: CREO, AUTOCAD
    • Thành thạo MS Office
    • Ngoại ngữ: Anh văn trình độ B trở lên.
    • Nắm vững nguyên tắc màu sắc, hình thể, biết nguyên lý cơng nghệ, nhạy bén trong công tác thiết kế mẫu.
    • Khả năng cảm nhận thẩm mỹ cao, hiểu biết về tâm lý và thị hiếu của từng vùng địa lý để thiết kế nhóm sản phẩm phù hợp.
    • Khả năng tư duy, sáng tạo, thiết kế các chương trình thiết kế theo các định hướng phân khúc theo từng mùa, địa phương.
    • Khả năng truy cập internet, xử lý thông tin.
    • Khả năng làm việc tốt dưới áp lực cao.
    • Trung thực, làmviệc không theo cảm tính, Kiên trì, ham học hỏi, tỉ mỉ, cẩn thận
    • Nhạy bén, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, Năng động, sáng tạo, ứng biến tốt
    • Có khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc nhóm.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN TÍNH GIÁ

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN TÍNH GIÁ

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN TÍNH GIÁ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHÓ PHÒNG THIẾT KẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%E1%BA%A2NG-M%C3%94-T%E1%BA%A2-C%C3%94NG-VI%E1%BB%86C-NH%C3%82N-VI%C3%8AN-T%C3%8DNH-GI%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN TÍNH GIÁ

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN TÍNH GIÁ

     

     

    Bộ phận

    Phòng thiết kế

    Chức danh

    Nhân viên tính giá

    Mã công việc

    TK-TG

    Cán bộ quản lý trực tiếp

    Trưởng phòng thiết kế sản phẩm

     

    I                     Nhiệm vụ, quyền hạn:

    • Tiếp nhận SP mẫu, định mức nguyên phụ liệu, bảng màu (từ Tổ Thiết Kế).
    • Căn cứ vào giá thành sản phẩm và qui định chiết khấu, mức lãi tối thiểu, các chi phí giá nền, chi phí khác,.. và giá bán thị trường để định ra giá bán.
    • Tính và đề xuất giá bán cho các đơn vị kinh doanh (các đơn hàng của khách) => Giá bán được phê duyệt -> nhập giá vào chương trình giá bán sản phẩm.
    • Theo dõi đăng ký nhu cầu vật tư – VPP của PTK.
    • Tổng hợp nhập giá vào bảng chào hàng mẫu thiết kế mới theo định kỳ hàng tuần.
    • Theo dõi ngày công, phép của các nhân sự làm việc tại PTK.
    • Trình ký, trình duyệt các hồ sơ của PTK.
    • Theo dõi và thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ ISO và hồ sơ SA cho PTK.

     

    Yêu cầu:

    • Trình độ: Tốt nghiệp Trung cấp kế toán
    • Tin học: Vi tính văn phòng.
    • Tố chất:
    • Trung thực, phải có tinh thần trách nhiệm cao và kiên nhẫn trong công việc.
    • Phải biết sắp xếp và phân bổ được kế hoạch làm việc trong thời gian cần thiết.
    • Khả năng giao tiếp tốt đối với các CBNV nội bộ Phòng và các đơn vị bạn.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHÓ PHÒNG THIẾT KẾ

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHÓ PHÒNG THIẾT KẾ

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHÓ PHÒNG THIẾT KẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC QUẢN TRỊ VIÊN WEBSITE


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%E1%BA%A2NG-M%C3%94-T%E1%BA%A2-C%C3%94NG-VI%E1%BB%86C-PH%C3%93-PH%C3%92NG-THI%E1%BA%BET-K%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHÓ PHÒNG THIẾT KẾ

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHÓ PHÒNG THIẾT KẾ

     

     

    Bộ phận

    Phòng thiết kế

    Chức danh

    Phó phòng thiết kế

    Mã công việc

    TK-PP

    Cán bộ quản lý trực tiếp

    Trưởng phòng thiết kế sản phẩm

     

    I                     Nhiệm vụ, quyền hạn:

    • Hỗ trợ TP TK trong các mặt công tác:
    • Thiết lập, tổ chức, quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động của PTK theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định.
    • Tham mưu cho Trưởng phòng về toàn bộ các vấn đề liên quan nghiệp vụ và công tác thiết kế, hướng đến mục tiêu quay trở lại và phát triển thành công thị trường nội địa. Triển khai thực hiện các kế hoạch đã được phê duyệt.
    • Thiết lập, triển khai áp dụng, duy trì hệ thống quản lý chất lượng tại bộ phận.
    • Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác thiết kế mẫu cho sản xuất qua từng thời kỳ, từng giai đọan. Từ đó nghiên cứu về thời trang của thị trường, các yêu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng về mẫu mã, chất lượng, giá cả đối với sản phẩm.
    • Xây dựng các chương trình hành động, kế hoạch thiết kế hàng tháng, qúy, năm. Triển khai thực hiện đảm bảo đạt mục tiêu kế hoạch đề ra.
    • Tổ chức xây dựng các chỉ tiêu đánh giá năng lực nhân viên thuộc quyền, đào tạo và huấn luyện đội ngũ nhân viên, xây dựng các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể theo từng tháng, quí, năm cho các nhân viên. Tổ chức thực hiện việc đánh giá kết quả công việc, năng lực của CBNV được phân cấp quản lý để góp phần nâng cao hiệu suất làm việc của Công ty.
    • Tổ chức xây dựng và kiểm tra thực hiện các công việc có liên quan đến công tác thiết kế (mẫu, mỹ thuật), tiêu chuẩn định mức liên quan đến công tác thiết kế.
    • Kiểm tra việc thực hiện các công việc thông qua những bản báo cáo định kỳ theo qui định của Phòng, của Công ty để cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho lãnh đạo.
    • Tổ chức nghiên cứu, phân tích, tổ chức thực hiện việc cải tiến thông số cho phù hợp để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
    • Tổ chức việc tính giá thành và định giá bán cho sản phẩm nội địa.
    • Tổ chức họp trao đổi ý kiến học hỏi rút kinh nghiệm cac mẫu được duyệt, triển khai thực hiện mẫu mới .
    • Nghiên cứu, đề xuất lên TP TK các cải tiến, các biện pháp, các giải pháp khả thi có liên quan đến họat động kinh doanh của PTK.
    • Tổ chức, phân công, kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả làm việc của nhân sự trực thuộc phòng, thực hiện khen thưởng kỷ luật. Đề xuất và thực hiện chính sách có tính động lực đối với nhân viên.
    • Thường xuyên củng cố, xây dựng đoàn kết nội bộ; luôn đặt lợi ích Công ty lên hàng đầu.
    • Phối hợp các XN, các Phòng liên quan trong triển khai thực hiện công việc nhằm đạt mục tiêu chung do Công ty đặt ra.
    • Thực thi đúng quy chế, quy định chung của Công ty và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn PTK.
    • Báo cáo bằng văn bản kết quả công việc từng chương trình được triển khai và các báo cáo tháng, quý, sơ kết 06 tháng, tổng kết năm theo quy định.
    • Thực hiện các công việc khác theo chỉ đạo của TP TK trong khuôn khổ phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của PTK.
    • Chịu trách nhiệm trước TP TK về toàn bộ kết quả hoạt động của công việc, nhiệm vụ được phân công.

                  Khi không có mặt TP TK, hoặc tuỳ theo từng công việc được giao nhiệm vụ cụ thể:

    • Được thay mặt TP TK điều hành mọi hoạt động của PTK; Được chủ động phân công, phân nhiệm, điều chuyển nhân sự trực thuộc PTK thực hiện các công việc theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của PTK.
    • Được phối hợp ngang cấp với các đơn vị để thực hiện nhiệm vụ; Được đề nghị các cá nhân, bộ phận, đơn vị trực thuộc công ty thông qua GĐ cung cấp thông tin, tài liệu, hồ sơ, mẫu mã… phục vụ cho công tác liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của PTK.
    • Được đề nghị Công ty cung cấp các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, phương tiện, trang thiết bị, điều kiện làm việc hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ.
    • Được đề xuất các biện pháp khen thưởng, kỷ luật, tăng giảm lương, đề bạt, thuyên chuyển vị trí… của nhân viên thuộc quyền.

     

    Yêu cầu:

    • Trình độ: Tốt nghiệp Đại học trở lên chuyên ngành mỹ thuật công nghiệp.
    • Ngoại ngữ: Anh văn trình độ B trở lên.
    • Tin học: Vi tính văn phòng, thành thạo các phần mềm xử lý đồ họa.
    • Thông qua các khóa huấn luyện về quản lý cấp trung gian.
    • Thông qua các khóa huấn luyện kiến thức về sản phẩm.
    • Kỹ năng:
    • Năng lực quản lý, hoạch định công việc theo tổ chức tổ, nhóm
    • Năng lực tổ chức hướng dẫn đào tạo cán bộ kế thừa .   
    • Nắm vững nguyên tắc màu sắc, hình thể, biết nguyên lý cơng nghệ, nhạy bén trong công tác thiết kế mẫu.
    • Khả năng cảm nhận thẩm mỹ cao, hiểu biết về tâm lý và thị hiếu của từng vùng địa lý để thiết kế nhóm sản phẩm phù hợp.
    • Khả năng tư duy, sáng tạo, thiết kế các chương trình thiết kế theo các định hướng phân khúc theo từng mùa, địa phương .
    • Khả năng truy cập internet, xử lý thông tin.
    • Khả năng làm việc tốt dưới áp lực cao.
    • Trung thực, làmviệc không theo cảm tính
    • Kiên trì, ham học hỏi, tỉ mỉ, cẩn thận
    • Nhạy bén, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm
    • Năng động, sáng tạo, ứng biến tốt
    • Có khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc nhóm.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC QUẢN TRỊ VIÊN WEBSITE

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC QUẢN TRỊ VIÊN WEBSITE

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC QUẢN TRỊ VIÊN WEBSITE

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC THỰC TẬP SINH THIẾT KẾ WEBSITE


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%E1%BA%A2NG-M%C3%94-T%E1%BA%A2-C%C3%94NG-VI%E1%BB%86C-QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-VI%C3%8AN-WEBSITE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC QUẢN TRỊ VIÊN WEBSITE

    BẢNG MÔ TẢ CÔNG VIỆC QUẢN TRỊ VIÊN WEBSITE

     

    Bộ phận

    Phòng thiết kế

    Chức danh

    Quản trị viên website

    Mã công việc

    TK-NV

    Cán bộ quản lý trực tiếp

    Trưởng phòng thiết kế website

     

    I                     Nhiệm vụ, quyền hạn:

    • Tối ưu hệ thống Website.
    • Quản lý Website & Backup dữ liệu hệ thống Website.
    • Chỉnh sửa các module sẵn có trên website theo yêu cầu.
    • Nhân bản các Website của hệ thống dựa trên source code sẵn có.
    • Nghiên cứu phát triển thêm code cho website.
    • Thiết kế theme mới cho website.
    • Phát triển Email Marketing cũng như Fanpage
    • Xây dựng web, ứng dụng phục vụ nội bộ công ty bằng cách sử dụng mã nguồn mở.
    • Đề xuất các chỉnh sửa để đạt kết quả cho việc quảng bá hình ảnh công ty
    • Thực hiện SEO để tăng lượng tương tác với khách hàng.
    • Biết xây dựng ap ứng dụng cho công ty trong việc phát triển áp ứng dụng cho Khách hàng
    • Các công việc khác do Trưởng phòng phân công.

    Yêu cầu:

    • Lập trìnhWebsite chuyên nghiệp với PHP & MySQL.
    • Đã code nhiều sản phẩm Website trên nền PHP
    • Chuyển đổi thiết kế đồ họa (.psd) thành code HTML/ CSS.
    • Có kiến thức tốt về HTML/ CSS và kỹ năng dàn layout: Thao tác tốt với HTML, CSS, JavaScript (Jquery, AngularJS, Ajax…), Bootstrap, …
    • Nắm vững nền tảng trong việc lập trình PHP,WordPress và có kinh nghiệm phát triển Website trên nền tảng WordPrees tối thiểu 2 năm.
    • Sử dụng tốt và thành thạo WordPress.
    • Thiết kế theme mới trên nền tảng WordPresss từ file PSD. Viết Plugin, Widget cho WordPress.
    • Có kiến thức với Photoshop, corel drall
    • Thành thạo quản trị Hoting, VPS với DirectAdmin
    • Có kinh nghiệm về làm ap ứng dụng
    • Có kinh nghiệm làm việc ít nhất 2 năm ở vị trí tương đương

     

    Quyền lợi:

    • Được hưởng mức lương xứng đáng theo năng lực
    • Được tham gia đầy đủ các chế độ Bảo hiểm theo quy định
    • Được tham gia đầy đủ các hoạt động của công ty: Event, Party, sinh nhật, Teambuilding, Company Trip.
    • Được làm việc trong môi trường trẻ, năng động, sáng tạo, nhiệt tình.
    • Được tăng kinh nghiệm nhanh chóng bằng việc làm việc trực tiếp với cấp quản lý.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây