Author: Nguyễn Huyền

  • Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

    Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

    Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-v%C4%83n-b%E1%BA%A3n-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-m%E1%BB%99t-trong-nh%E1%BB%AFng-%C4%91i%E1%BB%81u-ki%E1%BB%87n-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BB%83-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-b%E1%BA%A3o-%C4%91%E1%BA%A3m-quy%E1%BB%81n-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    Review Article

     

    Legal Document Control: A Basic Condition to

     

    Protect and Ensure Human Rights

     

    Hoang Thi Kim Que*, Le Thi Phuong Nga

     

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 12 April 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: This article analyzes the significance of legal document control, one of the basic conditions to protect human rights and ensure freedom and constitutional, legitimate interests. Although the Vietnamese legal system is more and more complete, there are limitations to its legal document control. The article shows the clear negative influences of inappropriate legal regulations on human rights and interests. On that basis, the article referred to the basic rules of legal document control: The control of constitutionality, lawfulness and rationality throughout the legal document formulation process.

     

    Keywords: Legal supervision, supervision of legal documents, mechanisms for supervising legal (normative) documents, constitutionality, legitimacy, profitability.

     

    *

     

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4201

    14

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người

     

    Hoàng Thị Kim Quế*, Lê Thị Phương Nga

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 12 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Bài viết đã phân tích ý nghĩa của kiểm soát văn bản pháp luật như là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do và lợi ích hợp hiến, chính đáng của con người. Mặc dù hệ thống pháp luật Việt nam đã ngày càng hoàn thiện song vẫn còn hạn chế về phương diện kiểm soát văn bản pháp luật. Bài viết đã nêu rõ những tác động tiêu cực của những quy định pháp luật có nội dung sai trái, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của con người. Trên cơ sở lập luận đó, bài viết đã cập những nguyên tắc cơ bản trong nội dung kiểm soát văn bản pháp luật: kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lí, kiểm soát trong tất cả các giai đoạn của quy trình xây dựng pháp luật.

     

    Từ khóa: Kiểm soát pháp luật, kiểm soát văn bản pháp luật; cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật, tính hợp hiến, hợp pháp, tính lợi ích.

     

    1. Kiểm soát pháp luật – điều kiện cơ bản để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do và lợi ích hợp hiến, chính đáng của con người*

    Một trong những yêu cầu thường trực của nhà nước pháp quyền là hoạt động của các cơ quan và các cá nhân công quyền đều phải được kiểm soát bằng những thiết chế, cơ chế pháp lí và xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp lí, hợp đạo đức, công

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4201

    bằng, lẽ phải, hài hòa, cân bằng các loại lợi ích, hòa bình và hiệu quả. Nhà nước pháp quyền là nhà nước bị giới hạn quyền lực bởi pháp luật và các quyền, tự do, lợi ích của cá nhân.

     

    Kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do và lợi ích hợp hiến, hợp pháp, chính đáng của con người. Kiểm soát quyền lực nhà nước có nội hàm rộng lớn, bao gồm nhiều hợp phần chính yếu trong đó có kiểm soát pháp luật. Pháp luật do nhà nước ban hành và tổ chức thực thi cũng phải được đặt trong điều kiện bị kiểm soát. Kiểm soát pháp luật đến lượt mình cũng bao gồm nhiều thành tố cơ bản trong đó có kiểm soát văn bản pháp luật.

     

    15

     

    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    Khi đề cập về kiểm soát quyền lực nhà nước, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh đến vai trò của pháp luật: “pháp luật phải kiểm soát quyền lực, nơi nào có quyền lực, nơi đó phải có giám sát, luật pháp phải theo hướng đó. Pháp luật phải kiểm soát quyền lực, khi pháp luật trao quyền cho bất cứ ai thì phải có cơ chế để kiểm soát quyền lực đó, kể cả đối với Thủ tướng” [1].

     

    Kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ có ý nghĩa đầy đủ, hiệu lực, hiệu quả nhất khi bao quát cả việc kiểm soát hành vi và các văn bản pháp luật. Nếu xét riêng về phạm vi, tần suất tác động, số lượng các chủ thể chịu sự tác động thì có thể nói, sự tác động của các văn bản pháp luật rộng lớn hơn so với những hành vi pháp luật của các cá nhân, tổ chức.

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật phải được áp dụng đối với tất cả các loại văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trong điều kiện hiện tại ở nước ta, với một khối lượng đồ sộ các văn bản dưới luật thì hoạt động kiểm soát văn bản pháp luật lại càng đặt ra một cách cấp thiết với những giải pháp mạnh, đồng bộ và có tính chất đột phá.

     

    Một quy định pháp luật sai trái sẽ gây nên tác động tiêu cực, ảnh hưởng ở những mức độ nhất định đến cuộc sống của tất cả những đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định pháp luật. Do vậy, pháp luật cần phải được kiểm soát, từ đầu vào và đầu ra của pháp luật, từ pháp luật trên giấy tờ, văn bản – “law in book” và pháp luật trong thực tiễn cuộc sống – “living law”.

     

    Tầm quan trọng của kiểm soát văn bản pháp luật thì đã rõ, tuy vậy, sự quan tâm đúng mức đến sự tác động của các văn bản pháp luật đối với đời sống xã hội, đặc biệt là sự tác động tiêu cực của những văn bản pháp luật có nhiều quy định trái pháp luật thì vẫn còn rất khiêm tốn, chưa thật sự quyết liệt và còn thiếu những giải pháp thuộc về cơ chế, chế tài xử lí.

     

    Suy cho cùng, hoạt động của các cơ quan nhà nước được thể hiện trong hành vi và các quyết định – văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện

     

    các chính sách, pháp luật trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương. Dư luận xã hội ngày càng có mối quan tâm đặc biệt đến chất lượng, tính khả thi, giá trị nhân văn của các văn bản pháp luật, các quy định pháp luật, chứ không chỉ đến hoạt động đến những hành vi cụ thể của các cơ quan và các cá nhân công quyền.

     

    Yêu cầu cấp thiết về kiểm soát văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay

     

    Kế từ khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành đến nay, hệ thống pháp luật nước ta đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện với những thành tựu quan trọng, đặc biệt là về tổ chức bộ máy nhà nước và quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Cùng với hoạt động xây dựng pháp luật, công tác kiểm tra, giám sát các văn bản pháp luật cũng đã đạt nhiều thành tích quan trọng, nhất là việc phát hiện những quy định,văn bản pháp luật sai trái.

     

    Tuy vậy, vẫn còn tình trạng nhiều văn bản pháp luật kém chất lượng, ở mức độ nhất định có còn trái pháp luật, vi phạm luật, hiến pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích, đến

     

    • thức và hành vi tôn trọng, tuân thủ pháp luật của người dân. Vấn đề kiểm soát văn bản pháp luật, quy định trách nhiệm xử lí đối với các cơ quan nhà nước trong việc ban hành các văn bản trái pháp luật đã và đang được đặt ra một cách cấp thiết, là nguyện vọng và yêu cầu của nhà nước và toàn xã hội, cần có những biện pháp kịp thời giải quyết mang tính quyết liệt và thiết thực hơn.

    Chỉ tính riêng trong phạm vi các văn bản pháp luật của các bộ, các cơ quan chính quyền địa phương, số lượng các văn bản pháp luật sai trái pháp luật được phát hiện còn khá lớn và không thuyên giảm. Những con số biết nói phần nào thể hiện vấn đề này. Theo Báo cáo đánh giá hậu quả, tác hại của việc ban hành văn bản trái pháp luật gửi Thủ tướng Chính phủ, qua kiểm tra văn bản do các bộ ngành, địa phương ban hành, Bộ Tư pháp đã phát hiện 5.639 văn bản trái pháp luật. Trong đó, có tới 1.236 văn bản trái pháp luật về thẩm quyền ban hành và nội

     

    H.T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

    17

    dung; hơn 3.829 văn bản sai sót về căn cứ pháp lí, thể thức kỹ thuật trình bày văn bản; 574 văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có chứa quy phạm pháp luật…, việc ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật làm ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai minh bạch; đồng thời cũng “ thể hiện sự “nhờn” luật, không nghiêm túc trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [2] .

     

    Việc ban hành các văn bản pháp luật sai trái pháp luật sẽ dẫn đến nhiều hậu quả, hệ lụy tiêu cực trên những mức độ như: xâm phạm các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng tiêu cực đến nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật; làm giảm uy tín của chính các cơ quan ban hành văn bản pháp luật và người lãnh đạo các cơ quan này. Tình trạng còn nhiều văn bản, quy định pháp luật sai trái được biểu hiện không chỉ ở sự vi phạm về tính hợp pháp, hợp lí, tính khả thi mà còn ở sự chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau giữa nhiều loại văn bản pháp luật của trung ương và địa phương; ở sự chậm trễ, nóng vội hoặc nợ đọng văn bản pháp luật. Tình trạng “pháp luật triệt tiêu pháp luật” là hiện tượng không bình thường. Nhưng hiện tượng đó vẫn diễn ra, thậm chí còn khá phổ biến hiện nay… [3]. Về phía Chính phủ, sau khi xem xét báo cáo của Bộ Tư pháp về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2017, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã yêu cầu kiểm điểm, xử lí, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với người đứng đầu, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc ban hành văn bản trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. [4]

     

    2.           Cơ sở pháp lí của kiểm soát văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay

     

    Về cơ sở pháp lí, chúng ta đã có khá nhiều quy định liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát văn bản pháp luật

     

    nói riêng. Kiểm soát văn bản pháp luật theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm: giám sát, kiểm tra, xử lí văn bản pháp luật sai trái.

     

    Hiến pháp năm 2013 đã đặt nguyên tắc cơ bản để xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Điều 119 hiến pháp đã quy định: Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lí cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lí. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định. Mặc dù hiện tại, Hiến pháp chưa có quy định về cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách như Nghị quyết của Đảng đã đề ra, nhưng với quy định của Điều 119 đã tạo lập cơ sở hiến định về xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng như trách nhiệm bảo vệ, tuân thủ hiến pháp.

     

    Hiến pháp đã quy định thẩm quyền của Quốc hội về giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch Nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 70). Theo Điều 74, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ

     

    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    quan nhà nước cấp trên. Điều 98 Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

     

    Luật ban hành văn bản pháp luật năm 2015 cũng đã quy định về chế độ giám sát, kiểm tra, xử lí văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (chương XV). Theo đó, tất cả mọi văn bản quy phạm pháp luật đều phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo quy định của pháp luật.

     

    Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chủ trì, tham gia soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lí, trình dự án, dự thảo đến ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luật năm 2015 bổ sung một điều quy định về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 14) , bao gồm các hành vi sau: ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; ban hành văn bản không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

     

    3.           Nội dung chủ yếu của kiểm soát văn bản pháp luật dưới lăng kính nhà nước pháp quyền và quyền con người

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật và kiểm tra văn bản pháp luật là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Kiểm soát văn bản pháp luật

     

    bao gồm giám sát, kiểm tra, xử lí văn bản pháp luật với những chế tài hợp lí. Kiểm soát văn bản pháp luật đối với tất cả các công đoạn của quy trình xây dựng chính sách, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thảo luận và thông qua. Xét một cách toàn diện hơn, kiểm soát văn bản pháp luật còn bao hàm giám sát, kiểm tra việc áp dụng các văn bản pháp luật trong hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

     

    Cần xác định đầy đủ mục đích, yêu cầu của kiểm soát pháp luật. Kiểm soát pháp luật không chỉ để phát hiện vi phạm về quy trình, thủ tục xây dựng, ban hành, công bố các văn bản pháp luật. Kiểm soát pháp luật còn có mục đích, nhiệm vụ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hài hoà, hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, mâu thuẫn, khắc phục các lỗ hổng pháp luật của hệ thống pháp luật quốc gia nói chung và trong từng lĩnh vực hoạt động xã hội nói riêng.

     

    Hiện nay ở Việt nam, kiểm tra văn bản pháp luật được xác định là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản sau khi ban hành (hậu kiểm văn bản) nhằm phát hiện, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật.

     

    Đối tượng của kiểm tra văn bản pháp luật theo quy định hiện hành rất hẹp, chỉ bao gồm các văn bản pháp luật từ cấp Bộ trưởng trở xuống sau khi văn bản đã được ban hành. Kiểm tra văn bản pháp luật theo quy định hiện hành thực chất là hoạt động hậu kiểm tra là chủ yếu. Theo quy định của khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP thì văn bản phải được kiểm tra, xử lí bao gồm: Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân. Văn bản được xử lí gồm: văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao hơn; văn bản vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành.

     

    H.T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

    19

    Trên bình diện chung nhất, kiểm soát văn bản pháp luật có một số nội dung cơ bản như sau.

     

    Trước hết là kiểm soát Hiến pháp: kiểm soát tính hợp hiến của tất cả các văn bản pháp luật, đặc biệt là đối với các văn bản pháp luật của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở trung ương. Kiểm soát Hiến pháp còn bao hàm nội dung quan trọng nữa là kiểm soát việc thể chế hoá các nguyên tắc, quy định cụ thể của Hiến pháp thành các văn bản luật trong cuộc sống.

     

    Kiểm soát Hiến pháp đặt ra cả trước và sau khi ban hành văn bản pháp luật cũng như trong quá trình thực hiện chúng. Kiểm soát Hiến pháp hay nói cách khác là bảo vệ Hiến pháp cả trên phương diện kiểm soát hành vi và quyết định dưới dạng văn bản pháp luật là công cụ quan trọng nhằm thiết lập, bảo vệ trật tự hiến pháp – một trong những điều kiện cốt lõi của xã hội pháp quyền, dân chủ.

     

    Kiểm soát toàn bộ quy trình xây dựng chính sách, đánh giá tác động của các chính sách, văn bản pháp luật, dự thảo văn bản pháp luật.

     

    Để có các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn thì cần phải có chính sách tương ứng được xây dựng, phân tích thấu đáo. Về cơ sở pháp lí, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã đổi mới cơ bản quy trình xây dựng, ban hành văn bản theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định, quy định quy trình xây dựng chính sách cần được thông qua, phê duyệt trước khi bắt đầu soạn thảo văn bản.

     

    Thời gian qua, đối với một số văn bản quy phạm pháp luật, công đoạn chính sách đã được thực hiện với kết quả tích cực. Tuy vậy, trong thực tiễn, công đoạn xây dựng, phân tích, lấy ý kiến góp ý rộng rãi, đủ lượng thời gian cần thiết trước khi soạn thảo văn bản pháp luật còn nhiều hạn chế. Chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật còn hạn chế về đánh giá tác động chính sách.

     

    Sự bất cập, sự đồng nhất hai quá trình: xây dựng, phân tích chính sách và soạn thảo văn

     

    bản pháp luật. Đây có thể coi là một trong những hạn chế lớn nhất của quy trình lập pháp hiện nay, chưa hình thành nên những đề án chính sách – cơ sở vật chất cho việc hình thành một dự án luật. Các đề nghị xây dựng luật nhiều khi mới chỉ là cảm tính, chưa đưa được cuộc sống vào luật [5]. Nhiều dự án do vậy đã phải soạn thảo lại, sửa đổi nhiều lần, gây lãng phí lớn về thời gian, công sức và tiền bạc. Do chưa làm tốt ở công đoạn chính sách, chưa rõ ràng về chính sách trong dự thảo văn bản pháp luật nên phải lấy ý kiến nhiều lần, lặp lại, thiếu đánh giá tác động (RIA), thiếu tính tóan về chi phí – lợi ích.

     

    Một khi chất lượng, tính khả thi của văn bản pháp luật thấp kém sẽ kéo theo nhiều hệ lụy như giảm mức độ ủng hộ, giảm niềm tin, khó khăn trong việc hiểu và áp dụng chúng; tạo điều kiện thuận lợi cho các hiện tượng hư vô pháp luật cả ở thể nhẹ và thể nặng; dẫn đến vi phạm pháp luật, gây thiệt hại vật chất, tinh thần cho các cá nhân, tổ chức, tốn kém thêm tiền bạc, thời gian, công sức để khắc phục hậu quả. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, để có một chính phủ kiến tạo và phục vụ, mong muốn và quyết tâm của Thủ tướng là chưa đủ. Một chính phủ kiến tạo chỉ có được trên nền tảng một thể chế đủ mạnh, trong đó xác định rõ vai trò và các chức năng của nhà nước, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước và những người làm trong bộ máy nhà nước, cơ cấu tổ chức và con người trong bộ máy nhà nước, các nguyên tắc và cách thức thi hành công vụ, với những chuẩn mực minh bạch, có thể giám sát, đo lường và đánh giá được [6] .

     

    Kiểm soát sự hài hoà, cân bằng các loại lợi ích trong các văn bản pháp luật. Hài hòa, cân bằng các loại lợi ích là một trong những điều kiện căn bản để đảm bảo tính đúng đắn của các quy định pháp luật và tính khả thi của chúng trong thực tiễn. Hiệu lực và hiệu quả của pháp luật phụ thuộc vào sự tôn trọng cân bằng lợi ích của chủ thể thực thi pháp luật.

     

    Kiểm soát để phát hiện, nhận diện vấn đề lợi ích nhóm trong các văn bản pháp luật. Không cài cắm vào luật những lợi ích nhóm làm ảnh hưởng đến lợi ích chung, lợi ích chính

     

    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    đáng của các cá nhân, tổ chức. Đây là thông điệp được đưa ra của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2017 [7] .

     

    Trong văn bản pháp luật cần được thể hiện rõ ràng những vấn đề cơ bản như: đối tượng có trách nhiệm thực hiện, cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ quan áp dụng chế tài; cơ quan giải quyết tranh chấp; cơ quan cấp vốn; cơ quan giám sát và đánh giá; cơ quan ban hành các văn bản dưới luật; cơ quan duy trì trật tự văn bản [8] .

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật bao hàm việc kiểm soát sự tuân thủ, tính phù hợp của các quy định pháp luật với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, trong đó có các nguyên tắc cốt lõi như: tôn trọng trật tự thứ bậc về hiệu lực pháp lí của các văn bản pháp luật, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người; công bằng, bình đẳng, nhân đạo; “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm” và nguyên tắc “chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”.

     

    Kiểm soát văn bản pháp luật không chỉ để phát hiện vi phạm, mặc dầu điều này có tầm quan trọng và ý nghĩa xã hội to lớn. Kiểm soát văn bản pháp luật phải nhằm đảm bảo tạo lập, vận hành một hệ thống pháp luật đơn giản, gọn nhẹ, khắc phục nhanh chóng sự phức tạp, rườm rà, số lượng quá lớn, khó tiếp cận, khó áp dụng, gây ảnh hưởng đến ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật. Đây chính là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo cho tính hiện thực của các quyền, lợi ích của con người mà hiến pháp, pháp luật đã quy định.

     

    Kiểm soát việc tổ chức, quản lí, xử lí, tiếp thu ý kiến, phản biện, tham vấn của người dân, doanh nghiệp đối với dự thảo chính sách và văn bản pháp luật trước và sau khi được ban hành. Chất lượng, tính đúng đắn của các văn bản pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn tổ chức lấy ý kiến, tham vấn và phản biện xã hội một cách thực chất. Cần đổi mới cách làm, cách quản lí, xử lí thông tin lấy ý kiến một cách khách quan, thực chất hơn. Cần thu hút sự tham gia ý kiến của các chuyên gia, doanh nghiệp và người dân ngay từ khâu xây dựng chính sách

     

    chứ không chỉ góp ý vào các Dự án, Dự thảo văn bản pháp luật.

     

    Thực tiễn thời gian qua, do có chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ nên đã cắt giảm đáng kể các thủ tục hành chính, tạo lập môi trường pháp lí, môi trường đầu tư thông thoáng, giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, việc loại bỏ những quy định thủ tục rắc rối, rườm rà cùng một số điều kiện kinh doanh chính là sự “cởi trói” cho doanh nghiệp, tạo lập không gian tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm, mở ra tạo cơ hội phát huy năng lực, tiềm năng, lợi thế và gia tăng sản phẩm có ích cho xã hội.

     

    Mặc dầu chúng ta có rất nhiều quy định pháp luật về trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan công quyền trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật, song mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc, các quy định trách nhiệm pháp lí theo nghĩa tích cực. Hiện tại còn thiếu các chế tài xử lí cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật có những quy định trái pháp luật.

     

    Trong nội dung của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu những chế tài về trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan soạn thảo, cán bộ, công chức trong việc tham mưu soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và kí ban hành văn bản trái pháp luật. Do vậy, nếu có sai phạm thì cũng không có quy định cụ thể để xử lí và trên thực tế “cũng chưa có ai bị xử lí vì ban hành văn bản trái pháp luật, nhiều Bộ, ngành, địa phương chấp hành chưa nghiêm việc gửi văn bản sau khi ban hành cho Bộ Tư pháp để kiểm tra, trong khi quy định hiện hành chưa có biện pháp xử lí cụ thể đối với việc không gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; chưa quy định về thời gian hoặc thời điểm văn bản được kiểm tra xong kể từ ngày nhận được văn bản” [9].

     

    Trong phiên họp ngày 28.2.2016, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã cảnh báo tình trạng “cài cắm câu chữ để bẫy doanh nghiệp”. Những quy định chung chung, định tính, không rõ ràng đã tạo sự thuận lợi cho ý định và hành vi tham nhũng.

     

    H.T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

    21

    Yêu cầu trở nên cấp thiết về xây dựng “ cơ chế cơ chế kiểm soát nguy cơ cài cắm trong xây dựng pháp luật, xây dựng quy trình quản lí. Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, cách tốt nhất để chống cài cắm chính sách là có một bộ phận chuyên môn độc lập làm việc này. Các dự thảo văn bản pháp luật phải được gửi cho đơn vị này để lấy ý kiến trước khi trình kí ban hành” [10].

     

    Cần ban hành văn bản quy định cụ thể, chế tài cụ thể đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật và các hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm tra văn bản pháp luật. Hình thức trách nhiệm pháp lí cũng cần được quy định đối với người đứng đầu các cơ quan xây dựng, ban hành pháp luật. Cần xây dựng các văn bản pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật, quy định cụ thể với các chế tài thích hợp về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan xây dựng pháp luật theo quy định tại Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

     

    Đặc biệt là cần quy định rõ ràng, thiết thực, mạnh mẽ hơn nữa về hậu quả pháp lí đối với các văn bản pháp luật có vi phạm, quy định chế tài hợp lí về trách nhiệm đối với cán bộ, công chức trong việc tham mưu soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và kí ban hành văn bản trái pháp luật.

     

    Về thiết chế, cơ chế thực hiện kiểm soát văn bản pháp luật do vậy cần thay đổi mạnh mẽ. Trong khi chúng ta chưa có một thiết chế hoàn chỉnh về bảo hiến – kiểm soát hiến pháp thì nên kiện toàn các thiết chế chuyên trách về kiểm soát văn bản pháp luật theo hướng tăng thẩm quyền, mở rộng phạm vi, đối tượng kiểm soát văn bản pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước.

     

    Cần nhận thức đầy đủ về kiểm soát văn bản pháp luật trên nguyên tắc: phân công rành mạch, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong xây dựng, ban hành văn bản pháp luật.

     

    Cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật phải là một tổng thể bao gồm cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật từ bên ngoài – cơ chế kiểm soát xã hội; cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật bên

     

    trong do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhau.

     

    Đồng thời, phải có cả cơ chế kiểm soát văn bản pháp luật một cách độc lập do Luật quy định. Theo đấy, cần bổ sung quy định pháp luật về trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến hoạt động kiểm soát các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành.

     

    Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, cần nghiên cứu thành lập thiết chế bảo hiến phù hợp với điều kiện Việt nam, trao quyền cho thiết chế đó chức năng phán quyết, xem xét, xử lí các văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp, pháp luật. Tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia khác, cần xây dựng các thiết chế kiểm soát văn bản pháp luật độc lập, có như vậy mới có thể xây dựng, vận hành một hệ thống pháp luật thống nhất, đáp ứng được các nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân.

     

    Trên quan điểm đặt lên hàng đầu quyền, lợi ích của người dân trong xây dựng chính sách, pháp luật, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu trong phần trả lời chất vấn của các đại biểu vào ngày 1 tháng 11 vừa qua ” chúng ta phải hiểu và đặt sự lưu tâm đến từng người dân, không để bất kỳ ai bị bỏ sót hay cảm thấy bị bỏ sót trong các chính sách phát triển… Luật pháp không cho phép chúng ta hợp thức hoá cái sai, không ai có quyền quyết định trái pháp luật” [11].

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Nguyễn Bá Chiến, Pháp luật triệt tiêu pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 74, tháng 4/2006.
    • T.K. Que, L.T.P. Nga / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 14-22

     

     

    tuong-chi-dao-xu-ly-cac-van-ban-trai-luat-20180815220104277.htm.

     

    • Đinh Dũng Sỹ, Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 127, tháng7/2008.
    • Phạm Chi Lan, Thể chế cho một chính phủ kiến tạo. http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/the-che-cho-mot-chinh-phu-kien-tao/1102398.
    • Thái Bình, Không cài cắm vào luật để phục vụ lợi

    ích riêng. http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/thu-tuong-khong-cai-cam-vao-luat-noi-dung-khong-vi-loi-ich-chung-348136.html#inner-article

     

    • Ann Seidman,   Robert      Seidman,   Nalin

    Abeyesekers, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội

     

    dân chủ: Sổ tay cho nhà soạn thảo, NXB. Chính trị Quốc gia, (2003) 70 – 72.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-thi-h%C3%A0nh-%C3%A1n-h%C3%ACnh-s%E1%BB%B1-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ph%C3%A1p-nh%C3%A2n-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-ph%E1%BA%A1m-t%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    Review Article

     

    Criminal Law Enforcement Policy for Corporates

     

    Dinh Thi Mai*

     

    Graduate Academy of Social Sciences, 477 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Received 15 April 2019

    Revised 26 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: Corporate criminal liability is still a new issue in Vietnam’s criminal justice practice. Criminal judgment execution and criminal enforcement policy for corporates in Vietnam are still being formulated. Therefore, this article discusses four factors that are considered the main pillars of criminal law enforcement policy for corporate entities, including: (1) Impact object of criminal law enforcement policy for corporate entities; (2) Object of criminal law enforcement policy for corporate entities; (3) Subjects of criminal law enforcement policy for corporate entities; and (4) Forms and measures of criminal law enforcement policy for corporate entities.

     

    Keywords: Criminal law enforcement policy, corporate criminal, impact object, object, subject, form and measure.

     

    *

     

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4213

     

    54

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với

     

    pháp nhân thương mại phạm tội

     

    Đinh Thị Mai*

     

    Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

     

    Nhận ngày 15 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 26 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Pháp nhân thương mại phạm tội vẫn còn là vấn đề rất mới đối với nền tư pháp hình sự Việt Nam. Thi hành án hình sự và chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại ở Việt Nam hiện nay vẫn đang trong giai đoạn xây dựng và hình thành chính sách. Vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu và luận bàn đến 4 yếu tố được coi là trụ cột của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, bao gồm:

     

    • Đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân; (2) Khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân; (3) C hủ thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân; (4) Hình thức và biện pháp của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân.

    Từ khóa: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự; pháp nhân thương mại phạm tội; đối tượng tác động; khách thể; chủ thể; hình thức và biện pháp.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Kể từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018, mọi hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự1. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, tính đến nay, chúng ta đã có các quy định về mặt nội dung

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4213

     

    1Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

     

    (Bộ luật hình sự năm 2015), đã có các quy định về thủ tục tố tụng để khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Chương 24, Bộ luật tố tụng hình sự 2015). Tuy nhiên, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì chưa có quy định cụ thể2. Từ đầu năm 2019 đến nay, vấn đề này đã và đang được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

     

    ________

     

    • Quy định tại Điều 445 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền, thủ tục thi hành án hình sự đối với pháp nhân phạm tội còn rất chung chung, theo hướng đối với hình phạt tiền thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, còn các hình phạt khác giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành “theo quy định của pháp luật”.

     

    55

     

    56                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    gấp rút thảo luận, để trình các phương án sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi 2019).

     

    Vấn đề vướng mắc và khó khăn nhất về cả lý luận và thực tiễn trong chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội đó là do đặc điểm của chủ thể bị thi hành án hình sự (là pháp nhân thương mại) khác biệt cơ bản với chủ thể bị thi hành án là cá nhân (con người cụ thể). Bên cạnh đó, các hình phạt được áp dụng với pháp nhân cũng khác hẳn về bản chất, trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành so với cá nhân. Đối với người phạm tội là cá nhân, các hình phạt sẽ do cơ quan thi hành án áp dụng và cưỡng chế thi hành (ví dụ: áp dụng hình phạt tù chung thân, tù có thời hạn hay cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, trục xuất,…). Đối với pháp nhân phạm tội, về nguyên tắc, các hình phạt cũng do cơ quan thi hành án áp dụng và cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, để áp dụng hình phạt (ví dụ, hình phạt cấm kinh doanh, hoặc cấm huy động vốn hay đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn trong một số lĩnh vực) đối với pháp nhân thương mại thì ai là người có thẩm quyền và nghĩa vụ thực thi các hình phạt này, cấm/ đình chỉ hoạt động bằng biện pháp gì, trình tự thủ tục ra sao? Không thể cấm và đình chỉ hoạt động của pháp nhân bằng biện pháp có tính chất vật lý như biện pháp “đưa vào cơ sở giam giữ” như khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với cá nhân phạm tội được.

     

    Như vậy, trong nghiên cứu chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, vấn đề xương sống là cần xác định các yếu tố trụ cột của chính sách, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thi hành án đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Đây cũng chính là các vấn đề còn nhiều vướng mắc, gây nhiều tranh luận nhất trong quá trình thảo luận và chỉnh lý dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) dự kiến sẽ thông qua vào kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIV (tháng 6/2019).

     

    Với những nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đưa ra các quan điểm về bốn yếu tố chính của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại sau đây:

     

    1.   Đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân

     

    Nghiên cứu về đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân là nghiên cứu về đối tượng bị thi hành án hình sự (trả lời câu hỏi: Thi hành án hình sự đối với những loại hình pháp nhân nào?)

     

    Nói đến chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội không thể không bàn đến đối tượng tác động của chính sách. Tức cần nghiên cứu làm rõ pháp nhân thương mại là đối tượng của thi hành án hình sự gồm những loại hình gì? Những pháp nhân nào có thể là đối tượng của thi hành án hình sự?

     

    Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 75 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác [5]. Pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ phải chấp hành án kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

     

    Như vậy, đối tượng bị thi hành án hình sự là pháp nhân thương mại bao gồm (1) doanh nghiệp và (2) các tổ chức kinh tế khác có mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên3.

    ________

     

    • Theo khái niệm pháp nhân thương mại như đã nêu trên, các chủ thể nào không phải là doanh nghiệp, cũng không phải là các tổ chức kinh tế khác hoặc tuy là doanh nghiệp, là các tổ chức kinh tế khác nhưng không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên thì không phải là pháp nhân thương mại; ví dụ như:

     

    Một là, ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu chủ yếu là liên

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    57

    Đến nay, theo báo cáo của Vụ pháp chế – Bộ công thương tại Ủy ban tư pháp của Quốc hội: “Tính đến thời điểm 01/01/2017 cả nước có gần 5,9 triệu đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp, mỗi năm tăng bình quân 2,6%. Số lượng lao động trong các đơn vị là 26,9 triệu người. Trong đó, doanh nghiệp là khu vực dẫn đầu về mức tăng số lượng và thu hút lao động với 518 nghìn doanh nghiệp thực tế đang tồn tại. Khối doanh nghiệp này cũng thu hút 14,1 triệu lao động, trong đó có 14 triệu lao động thuộc các doanh nghiệp hoạt động thực tế, bình quân hàng năm số lượng doanh nghiệp tăng 8,7%. Cả nước có 13,56 nghìn hợp tác xã, thu hút 206,6 nghìn lao động. Số lượng các hợp tác xã thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng 51%, công nghiệp và xây dựng chiếm 19,5%, dịch vụ chiếm 29,5%. Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể là 5,1 triệu, thu hút 8,7 triệu lao động”[3].

     

    1.1. Pháp nhân thương mại là doanh nghiệp

     

    Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các chủ thể được coi là doanh nghiệp phải thỏa mãn các điều kiện là doanh nghiệp được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Chứng khoán năm 2006… [1].

     

    kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân (Khoản 7 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Ngân hàng hợp tác xã được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã (đoạn 1 Khoản 5 Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) .

     

    Hai là, quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống (Khoản 6 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010).

     

    Ba là, ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước (Khoản 1 Điều 17 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) .

     

    Bốn là, đơn vị sự nghiệp công lập không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận.

     

    Các loại hình doanh nghiệp có thể là đối tượng tác động của chính sách pháp luật thi hành này ở Việt Nam rất đa dạng, bước đầu nghiên cứu chúng tôi tạm phân loại theo 5 loại hình doanh nghiệp, bao gồm:

     

    • Các công ty, doanh nghiệp, gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp nhà nước [6].

     

    • Các tổ chức hoạt động kinh doanh, bảo hiểm, gồm: Doanh nghiệp bảo hiểm, Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam (gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm, Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài)[8].
    • Các tổ chức tín dụng ngân hàng, gồm: Ngân hàng thương mại (bao gồm cả ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài); Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ), Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.

     

    • Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, gồm: Công ty tài chính (bao gồm cả công ty tài chính trong nước, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, Công ty cho thuê tài chính (bao gồm cả công ty cho thuê tài chính trong nước, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính

    100% vốn nước ngoài; Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác (bao gồm cả các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác trong nước, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác liên doanh và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác 100% vốn nước ngoài).

     

    • Các pháp nhân thương mại thực hiện kinh doanh chứng khoán, gồm: Công ty chứng khoán (bao gồm cả công ty chứng khoán không

     

    58                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    có vốn đầu tư nước ngoài và công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam); Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (bao gồm cả công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không có vốn đầu tư nước ngoài và công ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam), Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (gọi là công ty quản lý quỹ), Công ty đại chúng, Công ty đầu tư chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng giám sát [7].

     

    • Các doanh nghiệp khác có tham gia kinh doanh, hành nghề được quy định trong các Luật chuyên ngành.

    Đây là loại hình pháp nhân thương mại (doanh nghiệp) rất đa dạng, được quy định là tổ chức kinh tế tham gia kinh doanh, hành nghề, hoạt động trong lĩnh vực luật chuyên ngành với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia đều cho các thành viên.

     

    Theo đó, hiện nay, các tổ chức kinh tế này rất đa dạng, bao gồm các tổ chức kinh tế với các tên gọi khác nhau được quy định trong các luật chuyên ngành như: Luật Điện lực 2004 (vd: Doanh nghiệp truyền tải điện…), Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (vd: Doanh nghiệp vận chuyển hàng không, Doanh nghiệp kinh doanh hàng không), Luật Giám định tư pháp 2012 (vd: Văn phòng giám định tư pháp), Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2013 (vd: Doanh nghiệp nhập khẩu thực vật, Doanh nghiệp xử lý vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật) , Luật Bưu chính 2010 (vd: Công ty bưu chính viễn thông), Luật Công chứng 2014 (vd: Văn phòng công chứng), Luật Dược 2016 (vd: Cơ sở sản xuất thuốc, Cơ sở bán lẻ thuốc, dược liệu), Luật Du lịch 2017(vd: Doanh nghiệp lữ hành), Luật Đất đai 2013 (vd: Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư đất đai), Luật Đường sắt 2017 (vd: Doanh nghiệp vận tải đường sắt), Luật Giá 2012 (vd: Doanh nghiệp dịch vụ thẩm định giá), Luật Hải quan 2014 (vd: Đại lý làm thủ tục hải quan), Luật Kế toán 2015(vd: Công ty TNHH dịch vụ kế toán), Luật Khoáng sản 2010 (Vd: Công ty khai thác khoáng sản), Luật

     

    Kiểm toán độc lập 2011(vd: Doanh nghiệp kiểm toán, báo cáo tài chính), Luật Chăn nuôi 2018, Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Luật Giám định tư pháp 2012, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Luật Khí tượng thủy văn 2015, Luật Khoa học công nghệ 2013, Luật Thú y 2015, Luật Thủy sản 2017, Luật Việc làm 2013, Luật Báo chí 2016, Luật Đấu giá tài sản 2016, Luật Giám định tư pháp 2012, Luật Giáo dục đại học 2014, Luật Khám chữa bệnh 2009, Luật Thể dục, thể thao 2006, Luật Xuất bản 2012 (vd: Nhà xuất bản)…

     

    1.2. Pháp nhân thương mại là các tổ chức kinh tế khác.

     

    Pháp nhân là các tổ chức kinh tế khác có mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên theo chúng tôi bao gồm 5 loại hình sau:

     

    • Hộ kinh doanh
    • Hợp tác xã: là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

     

    • Liên hiệp hợp tác xã

    Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

     

    Khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

     

    • Đơn vị sự nghiệp công lập có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận

    Đơn vị sự nghiệp công lập có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    59

    nhà nước và có nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công.

     

    Đơn vị sự nghiệp công lập có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận (theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2012 của Chính phủ) gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc doanh nghiệp nhà nước, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức chính trị – xã hội có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp.

     

    • Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập

    Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập là các tổ chức được quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008.

     

    2.   Khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân

     

    Nghiên cứu về khách thể của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân tức là nghiên cứu trả lời câu hỏi: Chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân hướng tới điều gì?

     

    Theo nghĩa gốc, khách thể chính là cái mà chủ thể đạt được (hoặc hướng tới nhằm đạt được) thông qua việc tác động vào đối tượng.

     

    Mục tiêu cuối cùng mà chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân hướng đến chính là việc thi hành hiệu quả bản án đã tuyên đối với pháp nhân phạm tội. Hay nói cách, khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân chính là

     

    việc thi hành hiệu quả các hình phạt đã được tuyên đối với pháp nhân (bao gồm cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp).

     

    Nghĩa là, chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân hướng đến việc thi hành được và hiệu quả hình phạt tiền, hình phạt đình chỉ vĩnh viễn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, hoặc thi hành được hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực của pháp nhân thương mại, hoặc tịch thu được tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm của pháp nhân.

     

    Như vậy, nghiên cứu về khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân4 không phải là nghiên cứu về hình phạt đối với pháp nhân. Tuy nhiên, bước đầu nghiên cứu chúng tôi khẳng định: khi nghiên cứu về khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội trước hết phải làm rõ các loại hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Tức trả lời câu hỏi: Thi hành cái gì?).

     

    Hình phạt là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới chủ thể, biện pháp và cách thức tổ chức thi hành án hình sự. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:

     

    • Bốn hình phạt chính, gồm: + Phạt tiền (Điều 77),
    • Đình chỉ hoạt động có thời hạn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 78),
    • Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 79 Khoản 1),
    • Đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động (Điều 79 Khoản 2).

    – Ba hình phạt bổ sung, gồm:

     

    ________

     

    • Từ trước tới nay, khi nghiên cứu về chính sách pháp luật nói chung hay chính sách pháp luật hình sự nói riêng, khái niệm “Khách thể của chính sách pháp luật”, đặc biệt là khái niệm “Khách thể của chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân” chưa hề được đề cập nghiên cứu. Có thể nói, đây là lần đầu tiên, khái niệm này được đề cập nghiên cứu, vì vậy, các quan điểm trong bài viết này hoàn toàn là quan điểm nghiên cứu bước đầu của cá nhân của tác giả, rất mong nhận được ý kiến bàn luận và góp ý của các độc giả và các nhà nghiên cứu.

     

    60                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    • Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực (Điều 80)
    • Cấm huy động vốn dưới các hình thức: a) Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư; b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; c) Cấm huy động vốn khách hàng; d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản (Điều 81).
    • Phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính)

    – Bốn biện pháp tư pháp, gồm:

     

    • Tịch thu tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 82, Khoản 1);
    • Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 82, Khoản 1, Điểm a);
    • Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu (Điều 82, Khoản 1, Điểm b)
    • Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra (Điều 82, Khoản 1, Điểm c)5.

    Như vậy, ngoài hình phạt tiền thì các hình phạt chính và hình phạt bổ sung được áp dụng đối với pháp nhân thương mại đều có tính chất chung là hạn chế quyền thực hiện một hoặc một số, hoặc tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.

     

    ________

     

    • Gồm các biện pháp: a) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; b) Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; d) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật; đ) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; e) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường. (Điều 82, Khoản 3)

    Đối với hình phạt tiền, trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

     

    Còn lại ba hình phạt chính và ba hình phạt bổ sung như trên đã phân tích đều có chung tính chất là liên quan đến việc giám sát hoặc tác động “cấm”, “đình chỉ” một, một số hoặc tất cả các hoạt động hoặc các lĩnh vực của pháp nhân thương mại.

     

    3.   Chủ thể của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân

     

    Nghiên cứu về chủ thể của chính sách thi hành án hình sự đối với pháp nhân tức là nghiên cứu trả lời câu hỏi: Ai thi hành án? Cần xác định được cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại gồm những cơ quan nào? Ai, cơ quan nào có thẩm quyền và có thể thực hiện được các hình phạt được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội?

     

    Như đã phân tích ở trên, pháp nhân là đối tượng của thi hành án hình sự gồm hai nhóm chính: Pháp nhân thương mại là doanh nghiệp và Pháp nhân thương mại là các tổ chức kinh tế khác6. Xét theo tính chất của các hoạt động giao dịch của pháp nhân, có thể phân loại hoạt động của pháp nhân thành ba nhóm chính, bao gồm: nhóm “hoạt động tự thân”, nhóm “hoạt động với chủ thể công” và nhóm “hoạt động với chủ thể tư”7.

     

    Để xác định chủ thể và trình tự thủ tục thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, hoàn toàn có thể dựa vào 2 cách phân loại trên. Hoặc xác định cách thức thi hành theo các loại hình phạt.

     

    Tuy nhiên, để xác định cơ quan nào là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội cũng như đề xuất trình tự, thủ tục thi hành án phù

     

    ________

    • Xem thêm mục 1.1 và 1.2 của bài viết này.

     

    • Xem thêm mục 3. của bài viết này.

     

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    61

    hợp với từng chủ thể thi hành, theo nghiên cứu bước đầu của chúng tôi, cách thức hợp lý hơn cả không phải là phụ thuộc vào hình phạt, mà là xác định tùy theo đối tượng bị thi hành án (tức là xem xét đối tượng phải thi hành án là pháp nhân thương mại thuộc loại hình doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế nào).

     

    Qua nghiên cứu bước đầu, tôi đề xuất việc xác định Cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại và trình tự thủ tục thi hành phải được xác định và phân loại dựa theo đặc điểm kinh doanh của pháp nhân, và được phân loại theo 3 nhóm đặc thù sau đây [3]:

     

    • Nhóm 1: Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thuộc các ngành, nghề không yêu cầu điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính (pháp nhân chỉ cần đăng ký doanh nghiệp là có thể hoạt động)

    Các pháp nhân thương mại được kinh doanh tất cả những ngành, nghề mà pháp luật không cấm (quyền tự do kinh doanh). Đối với loại pháp nhân thương mại này, công tác theo dõi, giám sát, bảo đảm thi hành án thuộc thẩm quyền chính của các cơ quan quản lý doanh nghiệp là cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp và cơ quan thuế.

     

    Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân kinh doanh các ngành, nghề không yêu cầu điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính là Bộ kế hoạch và đầu tư, Sở kế hoạch và đầu tư (các cấp) và Cục thuế.

     

    Hiện nay, cơ chế phối hợp liên thông điện tử tự động giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thông qua quy trình tạo và sử dụng mã số doanh nghiệp. Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối công khai thông tin doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp có hành vi

     

    • phạm pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư. Cục thuế công khai danh sách các doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp trên địa bàn có vi phạm pháp luật về thuế. Hình thức công khai thông tin về xử lý doanh nghiệp phạm tội của từng cơ quan được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử của mỗi ngành theo quy

    trình công khai thông tin điện tử riêng của từng cơ quan.

     

    • Nhóm 2: Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thuộc các ngành, nghề thuộc kinh doanh có điều kiện.

    Đối với các ngành, nghề thuộc kinh doanh có điều kiện (gồm 243 ngành, nghề theo quy định của Luật đầu tư [9]) thì các pháp nhân muốn hoạt động cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, hoặc giấy phép hoạt động (gọi là tiền kiểm).

     

    Cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện là cơ quan quản lý nhà nước được giao chủ trì về quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện, tức chính là cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính (tiền kiểm) theo quy định của pháp luật. (Tức chính là cơ quan có thẩm quyền cấp, thu hồi, sửa đổi giấy chứng nhận đủ điều kiện (hoặc giấy tờ có giá trị tương đương) cho pháp nhân thương mại. Ví dụ: Ủy ban chứng khoán (đối với Các pháp nhân thực hiện kinh doanh chứng khoán), Ngân hàng nhà nước (đối với Các tổ chức tín dụng ngân hàng).

     

    Tuy nhiên, không phải tất cả 243 ngành nghề này đều có kết quả quản lý nhà nước là một loại giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh… (tức là quản lý theo phương pháp tiền kiểm). Theo chỉ đạo chung của Chính phủ, nhiều ngành nghề trong số 243 ngành, nghề này dần được chuyển từ quản lý dạng tiền kiểm sang dạng hậu kiểm, tức là diện kinh doanh chỉ được kiểm soát trong quá trình doanh nghiệp hoạt động thông qua thanh tra, kiểm tra chứ không nhất thiết phải kiểm tra và cấp phép trước khi hoạt động [3].

     

    Và như vậy, đối với các ngành, nghề, hoạt động mà quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh theo chế độ hậu kiểm thì về thực tiễn, việc thi hành các hình phạt (các biện pháp cấm kinh doanh, cấm hoạt động…) được thực hiện tương tự như các pháp nhân tự do kinh doanh.

     

    • Nhóm 3: Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân

     

    62                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    kinh doanh một số hoạt động phải thực hiện thủ tục hành chính trước khi thực hiện hoạt động (giấy phép, chứng chỉ hành nghề và các giấy tờ tương đương)

     

    Hiện nay, theo Điều 8, Khoản 2, Điểm a, Nghị định 92/2017 về kiểm soát thủ tục hành chính, các thủ tục hành chính được thực hiện theo các phương thức sau:

     

    • Pháp nhân thương mại đề nghị cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp giấy phép, chấp thuận, xác nhận… trước khi pháp nhân thực hiện hoạt động. (hành chính – tiền kiểm)
    • Pháp nhân đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được hoạt động. Tuy nhiên, việc đăng ký có thể cần có kết quả trả lời (mới được hoạt động) hoặc không cần trả lời (sau một thời gian nhất định mà không phản hồi thì doanh nghiệp được tự động thực hiện).
    • Pháp nhân thông báo hoạt động của mình đến cơ quan quản lý nhà nước có liên quan mà không cần trả lời là có đồng ý hay không của cơ quan quản lý nhà nước (hành chính – hậu kiểm). Riêng đối với hình thức thứ 3 này, thủ tục hành chính được thực hiện theo chế độ hậu kiểm nên việc thi hành các biện pháp cấm kinh doanh, cấm hoạt động lại được thực hiện tương tự như các pháp nhân tự do kinh doanh (thuộc nhóm 1).

    Và như vậy, ngoài pháp nhân được thực hiện thủ tục hành chính – hậu kiểm (nêu trên), đối với 2 hình thức hành chính tiền kiểm còn lại, Cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

     

    Ví dụ:

     

    • Cơ quan Hải quan, các hãng vận tải, cảng vụ hàng không, các đại lý hải quan… khi thực hiện các hình phạt cấm / đình chỉ hoạt động xuất nhập khẩu;
    • hoặc: Ngân hàng nhà nước, các cảng vụ hàng không, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty chứng khoán… khi thực hiện hình phạt đình chỉ hoạt động giao dịch tài chính đối với pháp nhân phạm tội.

    4.   Hình thức và biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

     

    Trả lời câu hỏi: Thi hành án như thế nào?

     

    Hình thức và biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân là một vấn đề mới, cả thực tiễn và lý luận về chính sách pháp luật thi hành án hình sự chưa được nghiên cứu. Hiện nay, đây cũng là vấn đề có nhiều ý kiến và được bàn luận khá sôi nổi tại các phiên họp góp ý Dự thảo Bộ luật thi hành án hình sự sửa đổi 2019. Qua nghiên cứu, tôi cho rằng:

     

    • Về hình thức thi hành án hình sự đối với pháp nhân:

    Xét về nguyên tắc, có hai hình thức chính trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân, gồm:

     

    • Tự nguyện thi hành: ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ chấp hành bản án và các quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án và của các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan về thi hành án.
    • Cưỡng chế thi hành án: trường hợp pháp nhân không tự nguyện chấp hành án hoặc chấp hành án không đầy đủ thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Các biện pháp cưỡng chế chưa được quy định trong luật, tuy nhiên, theo Điều 178, Dự thảo Luật Thi hành án hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2018 (lần 6) bao gồm:
    • Buộc chấm dứt ngay hoạt động đã bị Tòa án đình chỉ hoặc cấm;
    • Buộc thông tin công khai về hoạt động đã bị Tòa án đình chỉ hoặc cấm trên các phương tiện theo quy định của pháp luật;
    • Niêm phong, tạm giữ tài liệu, chứng từ, dữ liệu điện tử, con dấu của pháp nhân thương mại;
    • Phong tỏa tài khoản;
    • Kê biên tài sản.
    • Về biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân: Đây thực sự là một vấn đề khó, xuất phát từ đặc điểm “không phải là thể nhân” của pháp nhân thương mại. Việc thi hành hình phạt đối với pháp nhân, do vậy, hoàn toàn khác biệt về

     

     

    D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

    63

    tính chất và biện pháp thi hành so với việc thi hành hình phạt đối với cá nhân phạm tội.

     

    Như mục trên đã phân tích, các hình phạt (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) được áp dụng đối với pháp nhân, ngoài hình phạt tiền được giao cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (hiện không có vướng mắc gì, có thể dễ dàng thực hiện) thì các hình phạt còn lại8 đều có chung đặc điểm là hạn chế quyền thực hiện một hoặc một số, hoặc tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.

     

    Như vậy, xét theo đặc điểm này, chúng tôi chỉ ra hai tính chất đặc trưng quyết định tới biện pháp thi hành án hình sự đối với pháp nhân, bao gồm:

     

    • Thứ nhất, tự thân pháp nhân không thực hiện hành vi (giao dịch) nếu không có người đại diện.
    • Thứ hai, hoạt động của pháp nhân được hình thành bởi: hành vi của người đại diện và hành vi của đối tác.

    Như vậy, khi áp dụng hình phạt đối với pháp nhân, tức là cần tác động tới hành vi của người đại diện hoặc hành vi của đối tác (hoặc cả hai) để đình chỉ, tạm đình chỉ, cấm, hoặc đình chỉ vĩnh viễn một (hoặc một số, toàn bộ) hoạt động(hoặc lĩnh vực) của pháp nhân.

     

    Như vậy, để xác định được phương pháp, chủ thể và cả trình tự, thủ tục thi hành án hình sự đối với pháp nhân, cần xác định dựa trên đặc điểm, tính chất của các hoạt động của pháp nhân.

     

    Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng có thể phân loại hoạt động của pháp nhân thành ba nhóm, bao gồm:

     

    ________

     

    • Bao gồm các hình phạt: Đình chỉ hoạt động có thời hạn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 78), Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong một hoặc một số lĩnh vực (Điều 79 Khoản 1), Đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động (Điều 79 Khoản 2). Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực (Điều 80), Cấm huy động vốn dưới các hình thức: a) Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư; b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; c) Cấm huy động vốn khách hàng; d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. (Điều 81).
    • Nhóm 1, nhóm “hoạt động tự thân”: Các hoạt động pháp nhân tự làm mà không cần phối hợp hay giao dịch với bất kỳ chủ thể thứ 2 nào, như: vận hành máy móc, tự sản xuất, gia công, hoạt động điều hành quản lý doanh nghiệp…
    • Nhóm 2, nhóm “hoạt động với chủ thể công”: Các hoạt động có giao dịch với cơ quan nhà nước.
    • Nhóm 3, nhóm “hoạt động với chủ thể ”: Các hoạt động có giao dịch với một bên chủ thể tư (như mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thuê mướn lao động, chuyển quyền sở hữu đối với tài sản…) [4].

    Như vậy, đối với loại hoạt động của pháp nhân ở nhóm 1, chúng tôi đặt tên là “hoạt động tự thân”. Đây là các loại hoạt động mang tính vật lý diễn ra tại trụ sở (sản xuất, vận chuyển, xây dựng, vận hành, điều hành… doanh nghiệp) thì việc xác định trách nhiệm thi hành án đối với loại hoạt động này hoàn toàn thuộc về cơ quan thi hành án hình sự chuyên trách (áp dụng các biện pháp để giám sát/ cấm/ đình chỉ các hoạt động này của doanh nghiệp tại trụ sở). Ví dụ: dừng hoạt động sản xuất thì cơ quan thi hành án niêm phong máy móc, nhà xưởng và cử người giám sát.

     

    Đối với loại hoạt động nhóm thứ 2: “hoạt động với chủ thể công”. Đây là nhóm hoạt động giao dịch với cơ quan nhà nước thì cơ quan thi hành án hình sự chuyên trách cần gửi thông báo đến cho cơ quan nhà nước tương ứng (mà doanh nghiệp đang có hoặc sẽ có hoạt động giao dịch) để yêu cầu cơ quan nhà nước dừng, tạm dừng, hoặc đình chỉ vĩnh viễn hoạt động đối với pháp nhân thương mại theo hình phạt bị áp dụng. Ví dụ: Doanh nghiệp phải thi hành hình phạt cấm mua bán, phát hành chứng khoán thì cơ quan thi hành án yêu cầu Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấm hoạt động mua bán, phát hành của doanh nghiệp.

     

    Đối với loại hoạt động nhóm thứ 3, “hoạt động với chủ thể tư”. Đây là loại hoạt động phức tạp nhất trong thi hành án hình sự đối với pháp nhân.Vì pháp nhân thực hiện giao dịch với bên thứ 2 là chủ thể tư (với cá nhân khác, với pháp nhân khác, với một chủ thể bất kỳ khác…) [4], nên một mặt cơ quan thi hành án yêu cầu

     

    64                              D.T. Mai / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 54-64

     

     

    doanh nghiệp phải tự nguyện thực hiện hình phạt, mặt khác, cơ quan thi hành án cần có hình thức thông báo rộng rãi đến các chủ thể tư (và rộng rãi công chúng) với nội dung: toàn bộ các giao dịch được pháp nhân thực hiện trong phạm vi bị cấm/ bị đình chỉ (theo nội dung bản án) đều bị coi là vô hiệu, nếu cá nhân hoặc pháp nhân vẫn cố tình giao dịch (trong phạm vi bị cấm/ bị đình chỉ) thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

     

    Như vậy, tùy thuộc vào từng đặc điểm của các loại hoạt động của pháp nhân mà trong việc xác định hình thức và biện pháp thi hành án hình sự phù hợp.

     

    Trong đó:

     

    • Khi thi hành các hình phạt liên quan đến các “hoạt động tự thân” của pháp nhân, nên giao cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ưu tiên áp dụng biện pháp giám sát đối với những hoạt động “mang tính vật lý” như sản xuất, vận chuyển, xây dựng, hoạt động quản lý, điều hành, vận hành tại trụ sở của pháp nhân phải thi hành án.
    • Khi thi hành các hình phạt liên quan đến các “hoạt động với chủ thể công” của pháp nhân, nên giao, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước chủ trì về quản lý nhà nước đối với ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện (đối với pháp nhân thương mại kinh doanh có điều kiện) và giao cho cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính (đối với pháp nhân thương mại phải thực hiện thủ tục “hành chính – tiền kiểm”) ngừng/ hạn chế/ từ chối/ cấm/ đình chỉ hoặc xử lý các hoạt động theo các mức hình phạt tương ứng đã được tuyên đối với pháp nhân.
    • Khi thi hành các hình phạt liên quan đến các “hoạt động với chủ thể tư” của pháp nhân, cần thông qua các cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm soát phù hợp, linh hoạt. Ví dụ: Yêu cầu pháp nhân báo cáo, Chính cơ quan quản lý từ

    chối giao dịch có liên quan, hoặc thông báo rộng rãi tới các chủ thể tư để buộc chủ thể tư phải dừng các giao dịch bị cấm, nếu vẫn giao dịch thì giao dịch đó bị vô hiệu và có thể bị xử lý theo pháp luật.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đỗ Đức Hồng Hà, Nhận diện pháp nhân thương mại trong Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi). Hội thảo khoa học về Chính sách pháp luật thi hành án hình sự: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Học viện Khoa học xã hội, 4/2019.
    • Đinh Thị Mai, Các yếu tố tác động tới chính sách pháp luật thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Hội thảo khoa học Chính sách pháp luật thi hành án hình sự: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Học viện Khoa học xã hội, tháng 4 năm 2019.
    • Ngô Đức Minh, Trình tự, thủ tục thi hành án và các biện pháp bảo đảm thi hành án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực đối với pháp nhân thương mại. Phiên tọa đàm về thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại, ngày 28/2-01/3/2019, Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
    • Đậu Anh Tuấn, Cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực hoạt động của pháp nhân thương mại và xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Phiên tọa đàm về thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại, ngày 28/2-01/3/2019, Ủy ban tư pháp của Quốc hội.
    • Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • Quốc hội (2014), Luật Doanh nghiệp năm 2014.
    • Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất Luật Chứng khoán số 27/VBHN-VPQH ngày 18 tháng

    12 năm 2013.

     

    • Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm số 12/VBHN-VPQH ngày 23 tháng 7 năm 2013.
    • Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất Luật Đầu tư số 06/VBHN-VPQH ngày 29 tháng 6 năm 2018.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ch%C3%ADnh-quy%E1%BB%81n-%C4%91%E1%BB%8Ba-ph%C6%B0%C6%A1ng-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%E1%BB%ABa-ph%C3%A2n-quy%E1%BB%81n-v%C3%A0-v%E1%BB%ABa-kh%C3%B4ng-ph%C3%A2n-quy%E1%BB%81n-v%E1%BB%ABa-t%E1%BB%B1-qu%E1%BA%A3n-v%C3%A0-v%E1%BB%ABa-kh%C3%B4ng-t%E1%BB%B1-qu%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và vừa không phân quyền vừa tự quản và vừa không tự quản

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    Review Article

    Vietnamese Local Government: Centralized and Decentralized/ Autonomous and Nonautonomous

    Nguyen Dang Dung*

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    Received 29 April 2019

    Revised 28 May 2019; Accepted 20 June 2019

    Abstract: Although the autonomy of the local government has not been recognized in Vietnam to date, there is not much difference between the autonomous local government in the West and the nonautonomous local government in Vietnam – they are all to solve local issues relating to the lives of local people. However, the deciding of important issues, especially those on human resources, by the local government in Vietnam, unlike in the West, must be approved by the higher authorities.

    Keywords: Local government, autonomous local government, nonautonomous local government.*

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address:[email protected]

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4218

    1

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

    Chính quyền địa phương Việt Nam vừa phân quyền và

     

    vừa không phân quyền/ vừa tự quản và vừa không tự quản

     

    (Tiếp theo bài Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 3/ 2016)

     

    Nguyễn Đăng Dung*

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 29 tháng 04 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nhìn chung ở Việt Nam cho đến hiện nay vẫn chưa thừa nhận tính tự quản của chính quyền địa phương. Nhưng giữa chính quyền địa phương tự quản của phương Tây và chính quyền địa phương không tự quản ở Việt Nam không có gì gọi là khác nhau quá lớn. Vì giữa chúng các chính quyền địa phương đều phải giải quyết tất cả các vấn đề có tính chất địa phương có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương. Nhưng đi vào cụ thể giữa chúng có sự khác nhau không nhỏ. Các quyết định quan trọng của địa phương nhất là vấn đề nhân lực của chính quyền địa phương Việt Nam phải có sự đồng ý phê chuẩn của chính quyền cấp trên.

     

    Từ khóa: Chính quyền địa phương; chính quyền địa phương tự quản, chính quyền địa phương không tự quản.

     

    *Hiện nay trong lí luận cũng như trong các quy định của pháp luật các quốc gia, nhất là của các nước phát triển đều thừa nhận chính quyền địa phương là chính quyền tự quản. Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận chính quyền địa phương là chính quyền tự quản. Nên trong tất cả giới lí luận cũng như pháp luật của Việt Nam cho đến hiện nay chưa có một nhận thức thống nhất thế nào là chính quyền địa phương tự quản và nhất là vấn đề chính quyền địa phương của

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email:[email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4218

     

    Việt Nam hiện thuộc loại nào tự quản hay không tự quản. Phạm vi bài viết này muốn giải quyết vấn đề chính quyền địa phương của Việt Nam thuộc loại nào, thuộc loại tự quản hay không tự quản.

     

    1.   Về sự cần thiết và mô hình của chính quyền tự quản

     

    Thuật ngữ “địa phương tự quản” được dùng từ xa xưa, ngay từ thời La Mã cổ đại tương đương với thuật ngữ “địa phương tự trị”. Ở Italia, khi Rome từ một công xã nhỏ, vào năm 45 trước Công nguyên Hoàng đế Julius Caesar

     

    2

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    3

    (100 – 44 tr.CN) đã ban hành đạo luật đầu tiên về chế độ tự quản cho các địa phương. Hình thức tự quản lãnh thổ ra đời cùng với quá trình hình thành các đô thị tự do của thời kì trung đại vào những năm của thế kỉ X và XI với hai đặc điểm chính: i. vai trò chính trong cộng đồng thuộc về cư dân thuộc tầng lớp quy tộc trung lưu; ii. Tính tổ chức chặt chẽ của cộng đồng lãnh thổ. Sự hình thành này diễn ra do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, lịch sử, xã hội và chính trị. Với sự phát triển của nông nghiệp, người dân có mức sống khá giả hơn, dẫn đến sự ra đời của các tầng lớp thủ công, hình thành tầng lớp công nhân công nghiệp, dẫn đến phân hóa xã hội sâu sắc. đẩy nhanh quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị. Với sự phát triển các lãnh chúa đứng đầu các cộng đồng có nhu cầu duy trì năng lực tự vệ của cộng đồng cho phép các thị dân có quyền mang vũ khí hình thành ra các trung tâm chính quyền, với hai điều kiện căn bản: i. do sự tự nguyện trao quyền từ phía các chính quyền; ii. do kết quả của các phong trào đấu tranh của tầng lớp trung lưu đòi quyền tự quyết.

     

    Hiến chương London của Hoàng đế Henrich I năm 1129 với tên gọi là Hiến chương về các Quyền Tự do (Charter of Liberties) là văn kiện đầu tiên xác nhận quyền của các thị dân tự bầu ra những người lãnh đạo cộng đồng, thành phố London trở thành một công xã đặt dưới quyền lãnh đạo của một Thị trưởng do dân bầu ra. Sự khai phóng này của các vương triều phong kiến Châu Âu lúc bấy giờ thúc đẩy sự ra đời của chính quyền địa phương tự quản, nền tảng cho môt xã hội văn minh dân chủ như ngày nay.

     

    Sự hình thành ra các chính quyền tự quản ở các nước Đức và Pháp lại theo một con đường khác, không bằng con đường hòa bình như Anh đã nói ở phần trên. Ở Đức các chính quyền tự trị của các cộng đồng địa phương được hình thành sau những cuộc đấu tranh chống sách cai trị phong kiến độc đáo, và các phong trào chống sự cai trị của các Giám mục của nhà thờ, các thương nhân, các thợ thủ công thành lập ra các Koln (Cologne) được thừa nhận có quyền tự quản cộng dồng của mình, các thành phố được quyền tự quản, không còn các lãnh thổ dưới sự

     

    quản lí của các Nhà thờ, mặc dù Giám mục của các xứ này vẫn giữ lại vai trò quan trọng trong việc quản lí các xứ đạo. Một hình thức khác giành quyền tự trị của các địa phương ở Châu Âu là sự ra đời của phường hội thủ công nghiệp và buôn bán. Các phường hội này trong quá trình hoạt động buôn bán và sản xuất đã nhanh chóng cố kết lại với nhau để bảo vệ lợi ích của họ, dần dần hình thành ra các công xã, nơi diễn ra các hoạt động buôn bán và sản xuất của họ.

     

    Vào cuối thế kỉ XVIII, dưới sự ảnh hưởng của Cách mạng dân chủ tư sản, ở Đức và ở Pháp đã hình thành một xu hướng tập trung quyền lực chống lại tư tưởng quân chủ phong kiến chuyên chế, xác lập nguyên tắc thống nhất trong quản trị địa phương cho cả đô thị và nông thôn, các địa phương đặt dưới sự quản lí chặt chẽ của trung ương thông qua cơ chế bổ nhiệm người đứng đầu các công xã. Nhưng chẳng bao lâu hệ thống quản lí tập trung đó tỏ ra kém hiệu quả, phải quay lại chế độ quản trị tự quản địa phương.

     

    Kết quả tất cả các con đường hình thành chế độ tự quản địa phương là việc các đô thị mới ra đời xác định các quyền tự do cho mình. Trong đó quan trọng nhất là việc xác định các quyền tự quản lí các công việc của cộng đồng, quyền được miễn trừ các thứ thuế cho các lãnh chúa và nhà thờ. Sự chế độ tự quản địa phương đồng nghĩa với sự hạn chế sự chuyên chế của chính quyền phong kiến. Tuy vậy, quyền của các cá nhân tham gia vào quản lí cộng đồng vẫn còn bị hạn chế bởi các điều kiện về tài sản và đẳng cấp [1].

     

    Nhu cầu của nhà nước pháp quyền cho tất cả các chủ thể: Cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước trong đó có các địa phương đều phải tuân thủ pháp luật. Trong phạm vi thẩm quyền của mình mọi chủ thể phải tự chịu trách nhiệm. Không chủ thể nào, kể cả các chính quyền địa phương được đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Không ai có thể chịu trách nhiệm thay, hay bảo trợ cho các hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền địa phương.

     

    Thuật ngữ tự quản địa phương là thể hiện mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với chính quyền trung ương về 2 khía cạnh: i.

     

    4                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    Quyền đưa ra sáng kiến độc lập để giải quyết vấn đề địa phương; ii. Quyền miễn trừ đối với sự can thiệp của chính quyền cấp trên và chính quyền trung ương vào việc giải quyết các công việc chính quyền địa phương.

     

    • các những nước phát triển phương Tây, việc tổ chức chính quyền địa phương tự quản không những chỉ được nhận thức bằng học thuật, mà còn dần dần trở thành tiêu chí đánh giá mức độ phát triển và mức độ dân chủ của quốc gia. Hay nói một cách khác chính quyền địa phương gắn liền với dân chủ, với phát triển, gắn liền với nhà nước pháp quyền, không có

    điều ngược lại. Ở Châu Âu đã thông qua Hiến chương chính quyền địa phương tự quản. Muốn trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu, thì phải có chính quyền địa phương tự quản. Trong Hiến chương chính quyền tự quản nêu rõ khái niệm chính quyền địa phương tự quản: Tự quản là khả năng chính quyền địa phương trong giới hạn của luật, điều tiết các công vụ thuộc trách nhiệm của địa phương vì lợi ích của cư dân địa phương. Tự quản địa phương được thông qua bởi Hội đồng các thành viên bầu ra một cách tự do qua các lá phiếu kín trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bình đẳng. /Điều 3 Hiến chương Chính quyền tự quản Châu Âu.

     

    Đặc điểm của Chính quyền địa phương tự quản: i.Địa phươngđược quản lí bởi cơ quan dân cử; ii. Có thẩm quyền riêng được tự quyết trong phạm vi thẩm quyền; iii. Có phương tiện để thực hiện tự quản: Có nguồn thu độc lập – thuế, phí, và các tài sản khác / Ngân sách riêng.

     

    Một khi đã thành chính quyền tự quản thì vấn đề các cấp chính quyền không có mấy ý nghĩa. Bởi vì cho dù có hai cấp, hay ba, bốn cấp, thì chúng vẫn là tự quản. Đã là tự quản, tự trị thì không có khái niệm của sự trực thuộc trên dưới. Việc sai đúng đều phải nại ra tòa để giải quyết nếu như có sự hiện diện của một sự nại ra. Việc thành lập các đặc khu có lẽ cũng không cần thiết phải đặt ra đối với các nhà nước có chính quyền địa phương tự quản. Đã là đặc khu thì sẽ có vấn đề ưu tiên về thuế về kinh doanh, về xuất nhập khẩu. Một khi có sự ưu tiên thì đã

     

    có sự bất bình đẳng giữa các thực thể địa phương, một trong những nguyên tắc của chính quyền tự quản.

     

    Tự quản địa phương là vấn đề tự quyết những vấn đề có liên quan đến địa phương. Muốn chính quyền địa phương tự quản thì trước tiên phải là phân quyền giữa các chính quyền. Vấn đề nào thuộc chính quyền địa phương, thì phải được cơ quan địa phương giải quyết không thể thuộc thẩm quyền giải quyết của một thực thể nào khác, không thể phân cho thực thể nào khác. Nếu như có cách phân quyền, hay phân cấp, thì không biết lấy quyền đó ở đâu ra để phân cho địa phương.

     

    Vấn đề căn bản là ở chỗ vấn đề nào của địa phương. Với sự cố gắng miệt mài của một học giả người Mỹ đã liệt kê ra tới 400 đầu việc đâu là của trung ương (liên bang, tiểu bang), đâu là của đô thị, đâu là của tỉnh, của quận, của xã. Nhưng cho đến nay cũng chỉ có một mình ông nêu ra mà không có một tác giả thứ hai nào nhắc lại. Và cũng không có một đạo luật của bất cứ liên lang, hay tiểu bang nào được thông qua quy định thẩm quyền của các chính quyền địa phương. Tôi cũng đã nhiều lần chép lại trong các sách chuyên khảo về chính quyền địa phương của mình, nhưng cũng chẳng được một độc giả nào của Việt Nam để ý [2].

     

    Về phương pháp luận, vấn đề tự quản địa phương có lẽ chẳng khác nào như vấn đề nhân quyền. Con người có nhân quyền, thì địa phương cũng có quyền tự trị. Sự khó khăn của vấn đề nhân quyền như thế nào thì cũng diễn ra khó khăn như thế đối với vấn đề công nhận hay không công nhận quyền tự quản của địa phương. Hôm nay vấn đề đó chưa phải là vấn đề nhân quyền, nhưng tương lai thì sẽ là nhân quyền. Ví dụ khi quy định quyền con người của Mỹ khi thông qua 10 tu chính án đầu tiên, bí mật thư tín là quyền riêng tư chưa được ghi nhận, mà mãi sau này con người mới có quyền này, bằng cách suy ra từ quyền bí mật nơi cư trú qua một án lệ. Quyền im lặng là quyền con người được suy ra từ vụ Tối cao Pháp viện quyết định trong Miranda kiện Arizona, (1966) [3], mà mãi cho đến Bộ Luật Tố tụng Hình sự

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    5

    Việt Nam năm 2015 mới được thừa nhận một cách gián tiếp của các Điều 60, 61 khi Bộ Luật này quy định quyền của bị can, bị cáo. Cũng tương tự như vậy, hôm nay chính quyền địa phương chưa có tự quản nhưng ngày mai sẽ trở thành tự quản.

     

    Chính quyền địa phương tự quản là đa dạng các mô hình. Mô hình chính quyền địa phương trước hết thể hiện mối quan hệ giữa trung ương, với chính quyền địa phương và sau đấy là mối quan hệ giữa chính quyền cấp trên với chính quyền cấp dưới. Trong trường hợp chính quyền tự quản thì mối quan hệ này dựa trên quy định của luật pháp, mà không bằng các chỉ thị/ quyết định trực tiếp của các cơ quan nhà nước cấp trên.

     

    Mô hình của Anh quốc (British model) có đặc điểm trung ương không phải là cơ quan quản lí cấp trên đối với địa phương, không điều khiển địa phương. Các cấp chính quyền địa phương được độc lập lẫn nhau, và không có sự trực thuộc lẫn nhau. Trong phạm vi quyền hạn của mình các chính quyền đều có quyền tổ chức hoạt động chỉ phụ thuộc vào pháp luật mà không phụ thuộc vào bất cứ một sự chỉ đạo nào của cấp trên. Trong trường hợp có mâu thuẫn, tranh chấp hoặc có hiện tượng vi phạm pháp luật sẽ bị sự phân giải của toà án. Thiết nghĩ rằng đây là mô hình dân chủ hơn cả, và chính trong quan niệm như vậy chính quyền địa phương mới có khả năng và điều kiện phát huy được quyền chủ động của mình, mà gạt đi bất cứ một sự bảo trợ nào của chính quyền cấp trên, cũng như của cả chính quyền trung ương. Trong trường hợp hãn hữu gặp khó khăn về tài chính chính quyền địa phương được sự trợ giúp của chính quyền trung ương. Một khi đã nhận sự trợ giúp về mặt kinh tế của trung ương, ít nhiều chính quyền địa phương phải chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương. Trong trường hợp không chịu sự chỉ đạo của trung ương, thì lẽ đương nhiên các khoản viện trợ kinh phí sẽ bị giảm bớt, thậm chí là cắt hẳn. Điều đặc biệt ở chính quyền địa phương Anh quốc có nơi chỉ có các cơ quan đại diện, mà không có cơ quan chịu trách nhiệm chung thực hiện các quyết định do cơ quan đại diện ban hành kiểu như Ủy ban

     

    nhân dân của Việt Nam hiện nay, mà trực tiếp thành lập ra các sở chuyên ngành.

     

    Đặc điểm của mô hình Anh – Mỹ là tính chịu trách nhiệm của quyền lực nhà nước được thực hiện một cách triệt để, vì các chính quyền địa phương được phân quyền triệt để và đầy đủ. Trong phạm vi thẩm quyền các địa phương có toàn quyền giải quyết và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đó là sự tự quản của chính quyền địa phương.

     

    Mô hình của Pháp (French model)có đặc điểm là chính quyền địa phương bị song trùng giám sát của đại diện chính quyền trung ương và của chính quyền cấp trên. Mô hình này được phát triển từ những năm của chế độ quân chủ chuyên chế mà hình thành nên. Thuở ban đầu của chế độ phong kiến, chính quyền địa phương chỉ là các quan cai trị do Nhà Vua cử về địa phương chỉ nhằm mục đích thực hiện hay giám sát sự thực hiện các quyết định của Nhà Vua, mà không tính đến các điều kiện hoàn cảnh của địa phương, hoặc thậm chí cai trị theo cách riêng của quan chức được cử về. Sau dần với sự đấu tranh của dân chủ, các lãnh đạo địa phương có một thẩm quyền nhất định cho việc giải quyết các công việc của địa phương, trong đó có cả các việc có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương, và cuối cùng các quan chức được cử về chỉ làm mỗi một chức năng giám sát việc thực hiện các quyết định của cấp trên và các văn bản luật của trung ương, mà không còn có quyền hành như trước đây. Tại tất cả các tỉnh ở Pháp đều có những Thị trưởng do hội đồng thành phố bầu cử và ở dưới quyền kiểm soát của các tỉnh trưởng. Thị trưởng vừa chăm nom đến những quyền lợi địa phương vừa quan tâm đến những quyền lợi của trung ương, dần dần tạo nên tính tự quản của chính quyền địa phương. Hiện nay quan cấp trên cử về chỉ được thực hiện quyền giám sát địa phương.

     

    Mô hình của Cộng hoà Liên bang Đức (Germanic model) có đặc điểm giống của Pháp quốc nhưng không có cơ quan đại diện của chính quyền cấp trên xuống giám sát chính quyền cấp dưới. Đây là một mô hình mà chính quyền liên bang phụ thuộc vào chính quyền

     

    6                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    bang, chính quyền bang phụ thuộc vào chính quyền địa phương trong việc quản lí và cung cấp các dịch vụ cho dân. Điểm đặc trưng nhất của mô hình của Đức là tính phân quyền. Đây là hệ thống quyền lực được phân theo nguyên tắc: cái gì địa phương làm tốt thì địa phương làm, trung ương chỉ làm những gì mà địa phương làm không tốt hơn. Vấn đề quan trọng trong hệ thống của Đức là ở đây phân rất rõ trách nhiệm của từng cấp, cấp này làm thì cấp kia không làm. Và như vậy thì quyền của mỗi cấp mang tính chủ động và được phân cấp; đồng thời được phân nhiệm vụ thì cũng được phân ngân sách, tức là cấp đó sẽ có nguồn thu bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Mô hình của Đức, cũng giống như của Pháp, có 5 cấp, trong đó một cấp không có cơ quan đại diện gọi là regierungsbezirke. Ở Đức có liên bang, dưới liên bang có bang, dưới bang có regierungsbezirke, dưới đó là Kries và tiếp theo là gemeind.

     

    Trong một nhà nước dân chủ và nhất là của một nền kinh tế thị trường sự trực thuộc vào chính quyền cấp trên của các cơ quan chính quyền địa phương cấp dưới càng giảm bớt, càng ngày tăng thêm tính chất tự quản tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền. Từng cấp chính quyền phải tự chịu trách nhiệm về những hoạt động của mình. Mối quan hệ trên dưới bằng cách hướng dẫn, chỉ đạo, ra lệnh sẽ được thay dần bằng pháp luật, và thậm chí bằng các hợp đồng quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các bên.

     

    Xét dưới giác độ cấu trúc chính quyền tự quản, nhìn chung chúng không khác nào cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương cũng có cơ cấu phân quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng đi vào cụ thể chúng đa dạng hơn và không rõ nét 3 quyền như của chính quyền trung ương. Mặc dù là chính quyền địa phương nhưng cơ cấu chính quyền cũng phải có cơ quan đại diện có chức năng lập pháp, cũng có cơ cơ quan hành pháp có chức năng thực hiện các quyết định của cơ quan đại diện. Rõ và điển hình nhất là cơ cấu chính quyền Mỹ quốc.

     

    Mô hình chính quyền địa phương của Mỹ là một trong những mô hình áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách đậm đặc nhất. Địa phương ở Mỹ quốc được toàn quyền giải quyết các công việc của mình mà không cần thiết có sự bảo trợ từ trung ương. Sự phục tùng trung ương, cũng như việc giám sát trung ương đối với địa phương chủ yếu bằng pháp luật và thông qua hoạt động xét xử của toà án. Việc phân quyền tuyệt đối được thể hiện trước hết bằng sự các địa phương thoải mái trong việc lựa chọn các mô hình tổ chức và hoạt động cuả mình. Hiện nay nước Mỹ có tới 4 mô hình tổ chức: Hội đồng và Thị trưởng mạnh; Hội đồng và thị trưởmg yếu; Ban quản đốc cùng với hội đồng do dân bầu ra; và uỷ ban và hội đồng cùng do dân bầu ra.

     

    Hội đồng và Thị trưởng yếu hoặc Hội đồng và Thị trưởng mạnh

     

    Những đô thị Mỹ trên 5 ngàn dân đều có hình thức Hội đồng với thị trưởng. Dưới hình thức được mệnh danh là “Thị trưởng mạnh thế”, Hội đồng thành phố và Thị trưởng đều trực tiếp do cử tri bầu ra. Thị trưởng thi hành việc kiểm soát chặt chẽ các nhân viên chấp hành trong nền hành chánh đô thị và thường có trách nhiệm soạn thảo ngân sách hàng năm. “Thị trưởng yếu thế” không có quyền đề cử hoặc bãi chức những viên chức chấp hành quan trọng nhất. Trong những trường hợp này, hội đồng có thể đề cử những viên chức, hoặc những viên chức ấy có thể do dân bầu ra. Về nguyên tắc ở địa phương có thị trưởng yếu thì Thị trưởng không có quyền phủ quyết đối với các quyết định của Hội đồng. Thị trưởng của 12,6 % những đô thị có trên 5 ngàn dân không có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng. 58, 5% đô thị có từ trên 10 ngàn dân cũng không dành cho thị trưởng có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng. Tuy nhiên trong số đó có khoảng 12,6 % thị trưởng được quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng (tức ở đây có cơ cấu tổ chức theo mô hình Hội đồng và thị trưởng mạnh). Quyền này có thể dùng để phản đối một số đoạn đặc biệt trong dự án tài chính mà không huỷ bỏ toàn bộ dự án đó. Số các địa phương được

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    7

    tổ chức theo phương thức Hội đồng và thị trưởng kể cả mạnh thế và yếu thế lên tới 60%. [4]

     

    Hội đồng và Quản đốc

     

    Cùng với việc giảm bớt số các viên chức do dân bầu lên để gia tăng quyền kiểm soát của các cử tri đối với những viên chức đó và để tiết kiệm nhiều hơn, có một phong trào tại các tỉnh, thành ở Mỹ nhằm thay đổi địa vị của các Thị trưởng. Từ bước thành công lúc đầu tại Mỹ năm 1908 phong trào này thường được gọi là “cử người quản trị thành phố”. Theo hình thức hành chánh đó, hội đồng do các khu tuyển cử hay toàn thể đô thị bầu ra bổ nhiệm một viên quản đốc chuyên môn và giao cho viên quản đốc ấy hầu hết các quyền hạn hành chánh của địa phương. Viên quản đốc ấy chịu trách nhiệm với hội đồng thành phố về những kết quả các công việc của ông ta và có thể bị hội đồng cách chức hoặc cho nghỉ việc trước khi mãn hạn hợp đồng, nếu công việc của ông ta không làm vừa lòng hội đồng. Công việc của địa phương được điều hành như một công ty do một Ban giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng thực hiện. Trong trường hợp không thực hiện được, Hội đồng sẽ huỷ bỏ hợp đồng và có thể thuê Ban giám đốc khác.

     

    Các hình thức cai trị bằng uỷ hội và những phiên họp

     

    Hai hình thức cai trị thành phố sau cùng ít được thi hành tại nước Mỹ là cai trị bằng những uỷ hội và bằng những phiên họp. Lối cai trị bằng những uỷ hội được áp dụng trước hết tại Galveston, trong tiểu bang Texas, năm 1900 và bành trướng một cách mau lẹ trong mấy trăm thành thị trước năm 1917. Theo lối cai trị này thì các cử tri bầu cử năm uỷ viên họp lại thành uỷ hội hành chánh tỉnh. Các uỷ hội cùng cai trị chung, nhưng về thực tế thì mỗi uỷ viên phụ trách cai quản một ngành hành chính chẳng hạn như các công viên, an ninh công cộng, luật pháp, tu bổ đường sá và tài chính.

     

    Lối cai trị bằng uỷ hội hơi giống lối cai trị bằng văn phòng quận và bằng cách tuyển lựa một số uỷ viên hành chính trong chế độ cai trị bằng phiên họp. Những tỉnh, thành đầu tiên ở New England áp dụng lối hội họp những cử tri có đủ tư cách trong những phiên họp được

     

    triệu tập thường xuyên để giải quyết các vấn đề hành chính địa phương. Sau vì dân số càng ngày càng tăng và công việc hành chính trở nên liên tục, đồng thời số cử tri tăng lên qua quyền tuyển cử được nới rộng, nên những phiên họp trở nên tương đối vô hiệu và phiền phức. Những phiên họp của thành phố đó, tuy gần là hoàn toàn tự trị nhưng không lúc nào tránh khỏi sự thể bị một thiểu số, một nhóm gia đình hoặc một nhóm có thế lực chính trị chi phối. Kết quả là nhiều tỉnh đông dân cư bỏ lối cai trị bằng những phiên họp và thay thế bằng những đại diện cử tri do các khu phố bầu lên. Những đại diện ấy cũng hội họp giống những phiên họp trước bầu ra ban quản đốc và những quản trị viên để quản lí địa phương.

     

    Khi soạn thảo Hiến pháp năm 1787 của mình, các nhà lập hiến Mỹ quốc đã không đả động đến hệ thống chính quyền đa cấp và đa dạng này. Trong khi vẫn coi cơ cấu quốc gia là quan trọng nhất, họ đã khôn khéo thừa nhận sự cần thiết một loạt các cấp chính quyền có quan hệ trực tiếp hơn đến dân chủ và thích ứng một cách nhạy bén hơn với các nhu cầu của họ. Do vậy các chức năng nhất định, như quốc phòng, quản lí tiền tệ, và các quan hệ đối ngoại, chỉ có thể kiểm soát bằng một chính quyền mạnh. Nhưng những vấn đề khác, như hệ thống vệ sinh, giáo dục và giao thông vận tải địa phương, thì chủ yếu thuộc phạm vi quyền hạn của địa phương [5] .

     

    Nhà nước pháp quyền là nhà nước không có sự bảo trợ. Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà các chủ thể phải chịu trách nhiệm. Không có một chủ thể nào trong nhà nước pháp quyền lại phải chịu trách nhiệm cho một chủ thể khác, và ngược lại cũng không thể có một một chủ thể nào trong nhà nước pháp quyền lại có thể nhờ một chủ thể khác chịu trách nhiệm thay mình. Với tính chịu trách nhiệm các địa phương chịu trách nhiệm chính các hành vi của mình. Những biểu hiện mối quan hệ trên dưới, báo cáo của cấp chính quyền cấp dưới đối với cấp trên; hướng dẫn của cấp trên đối với cấp dưới trong mô hình của nhà nước pháp quyền là không cần thiết, không còn tồn tại. Các địa phương phải chịu

     

    8                                 N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    trách nhiệm về những tổ chức và hoạt động của mình theo quy định đúng của pháp luật.

     

    2. Chính quyền địa phương ở Việt Nam

     

    Chính quyền địa phương ở Việt Nam có lịch sử theo chiều dài của lịch sử Việt Nam. Nếu chiều dài của lịch sử Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn, ứng với 4 thời kì: Bắc thuộc, Pháp thuộc, thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềm Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, và hiện nay thống nhất đất nước thì 4 thời kì này chưa bao giờ chính quyền địa phương được quy định là chính quyền tự quản. Tất cả các cấp chính quyền đều là phần nối dài của chính quyền trung ương.

     

    Nếu có chăng tính tự quản hoặc đúng hơn là mang tính tự quản thì chỉ có thể tính đến chế độ làng xã của thời kì phong kiến cổ xưa, trước khi Pháp thuộc. Nhận xét đó được thể hiện bằng những đặc điểm như sau: i. Xã có ban quản trị độc lập với quan chức cấp trên: Hội đồng kì mục, là cơ quan quyết định và vừa tư vấn cho Lí trưởng; ii. Lí trưởng là người quyết định đồng thời cũng là chấp hành Hội đồng kì mục;

     

    • Xã có tài sản riêng; ruộng đất; Có pháp

     

    đình riêng, căn cứ lệ làng riêng. Chế độ tự trị làng xã có tác dụng: i. Hạn chế tính chuyên chế của chế độ phong kiến quân chủ; ii. Giải quyết những vấn đề địa phương; iii. Giải phóng nhà nước trung ương không phải giải quyết vấn đề địa phương. Theo Trần Ngọc Thêm thì nguyên nhân của chế độ tự trị này ở Việt Nam có từ truyền thống văn hóa lúa nước. Dân chủ làng xã như một hình thức dân chủ địa phương từng tồn tại lâu dài gần như trong suốt lịch sử, các địa phương đều dân chủ nên buộc quốc gia cũng phải chấp nhận dân chủ theo, như vậy dân chủ quốc gia trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam

     

    Á luôn là dân chủ bị động [6]. Trong đời sống của người Việt Nam làng xã cho đến tận bây giờ vẫn luôn luôn đóng một vai trò quan trọng.

     

    Với chế độ thuộc địa, người Pháp đã tiến hành cải cách chế độ tự trị làng xã gọi là cuộc Cải lương hương chính. Theo chủ trương này, mỗi làng bầu ra một Hội đồng tộc biểu có chức

     

    năng quyết nghị vấn đề làng xã, thay thế Hội đồng kì mục. Lí trưởng có vai trò chấp hành. Việc bầu cử chức danh lí trưởng phải được thông qua công sứ. Không chỉ can thiệp về nhân sự xã, chính quyền Pháp còn quản lí ngân sách xã. Mọi việc thu, chi đều phải được công sứ chấp thuận phê chuẩn. Nhưng cuộc cải lương này chỉ được một thời gian ngắn, vì không hiệu quả, năm 1927, Thống sứ Bắc Kì điều chỉnh quy định về tổ chức chính quyền cấp xã, khôi phục Hội đồng kì mục với vai trò tư vấn cho các quyết nghị Hội đồng tộc biểu. Tồn tại song song hai Hội đồng (tộc biểu và kì mục) gây khó khăn cho quá trình bầu cử; quyền lực của các kì mục đứng đầu bị giảm sút; trách nhiệm của các tộc biểu và kì mục bị phân tán. Vì vậy, cần thiết phải cải tổ chính quyền làng xã. Thống sứ: huỷ bỏ việc bầu cử; khôi phục thực quyền cho các kì mục chính vốn là người đứng đầu các làng và giảm số lượng kì mục hàng xã…

     

    Nhưng chỉ đến khi chính quyền dân chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tính tự quản của làng xã được thay bằng chính quyền địa phương phải trực thuộc cấp trên của huyện, quận và tương đương. Cũng gần tương tự như vậy, các chính quyền quận, huyện cũng không được tổ chức theo nguyên tắc tự quản mà phải trực thuộc chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đó là một trong những biểu hiện của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Hơn thế nữa theo nguyên tắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa chính quyền địa phương còn phải trực thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng địa phương. Về nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương của thời kì này kéo dài cho đến hiện nay theo mô hình không tự quản, tức là tập quyền của Xô viết. Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam không còn chế độ tự quản làng xã, mặc dù đã được hình thành từ xa xưa ở Việt Nam, mà ngay cả chế độ thuộc địa hà khắc của Thực dân Pháp cũng không xóa bỏ được. Những hình bóng “cây đa bến nước sân đình” và đường làng quanh co chỉ còn lại rơi rớt trở

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    9

    thành những khu du dịch như Đường Lâm, Sơn Tây Hà nội ngày nay1.

     

    Đây chính là mô hình tập quyền của Xô viết, mà đặc điểm cơ bản của nó là không có sự phân quyền rõ ràng giữa trung ương và địa phương, tức là tập quyền vào trung ương không có phân quyền cho địa phương. Địa phương chỉ được giải quyết những gì mà trung ương cho phép. Nhiều quyết định của địa phương phải có sự phê chuẩn chính quyền cấp trên. Ở địa phương phải có cả cơ quan quyết nghị, có cả cơ quan chấp hành và có cả cơ quan xét xử và phải đặt dưới sự lãnh đạo và trực thuộc của cơ quan dân cử. Chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của hệ thống nhà nước thống nhất, không có sự phân chia quyền lực giữa các cấp chính quyền, mà chỉ có sự phân công, phân nhiệm. Ngoài việc phải chịu sự lãnh đạo của chính quyền cấp trên, chính quyền địa phương còn chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của cấp uỷ đảng địa phương.

     

    Mô hình chính quyền địa phương này cộng với cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương được mô tả con bút bê Matryoshka, biểu tượng của nước Nga con nhỏ nằm trong con to. Mỗi mảnh đất, mỗi con người đều phải chịu tới 5 tầng chính quyền từ xã, cho đến trung ương tiểu bang và tới chính quyền liên bang. Chính quyền cấp trên có cơ cấu gì thì chính quyền địa phương có cấu đó. Con người cùng cơ cấu của nó với chính sách luôn luôn là một. Chính quyền địa phương không những được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cấp trên, giữa chính quyền cấp trên đối với cấp dưới, giữa trung ương với địa phương, như các nước phương Tây phần Châu Âu lục địa thời phong kiến chuyên chế, mà còn chịu sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của cấp uỷ đảng địa phương, và của cơ chế tập trung bao cấp. Nhân dân các địa phương thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình bầu ra các Xô viết, cơ quan quyết nghị của địa phương có quyền quyết định các vấn đề quan trọng có liên quan đến nhân dân trong

     

    ________

     

    1Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 19 tháng 5 năm 2006.

     

    vùng lãnh thổ địa phương. Xô viết địa phương được gọi là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương, thành lập ra các cơ quan chấp hành và điều hành của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định của Xô viết các văn bản pháp luật và quyết định khác của các cơ quan Nhà nước cấp trên. Các công việc hành chính địa phương đều do những uỷ ban đảm nhiệm; các cơ quan hành chính địa phương thi hành những đường lối của cơ quan nhà nước cấp trên. Cách thức tổ chức này đã và đang dẫn đến tình trạng, một vấn đề có rất nhiều cơ quan, cơ cấu giải quyết, nhưng lại có vấn đề không có cơ quan, cơ cấu nào trong bộ máy trùng trùng điệp điệp chịu trách nhiệm, khi có vấn đề xảy ra, theo nguyên tắc “mất mùa thì tại thiên tai, được mùa thì tại thiên tài đảng ta”.

     

    Sang đến thời kì đổi mới và với sự sụp đổ của chế độ Xô viết, nước Nga quay trở lại thực hiện chế độ tự quản của chính quyền địa phương [7]. Khác với sự thay đổi chế độ chính trị của Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, các nước Việt Nam và Trung Quốc, Cu Ba vẫn kiên định chế độ xã hội chủ nghĩa.

     

    • Việt Nam với sự đổi mới về mặt kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng về mặt chính trị vẫn kiên định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì sự kiên định mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới tập trung vào lĩnh vực kinh tế. Sau một thời gian thu được nhiều thắng lợi trong kinh tế, Việt Nam chuyển sang đổi mới lĩnh vực chính trị, mà bắt đầu bằng công cuộc đổi mới chính quyền địa phương. Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2001 bên cạnh mục tiêu gạt bỏ những quy định lỗi thời cản trở công cuộc đổi mới kinh tế là

    đổi mới chính quyền địa phương.

     

    Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006 đã chỉ rõ nhiệm vụ: phải phân cấp mạnh, giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương, nhất là trong quyết định về tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính với TW… bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệmcủa chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Tổ chức hợp lí chính quyền địa phương, phân

     

    10                             N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    định lại thẩm quyền nông thôn, đô thị, hải đảo; phải đổi mới tổ chức hoạt động chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động HĐND & UBND, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo. Tiếp tục thí điểm chủ trương không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.

     

    Thực hiện nghị quyết trên, năm 2008 Quốc Hội khóa XII ra quyết định thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện, xã và tương đương ở 10 tỉnh thành, nhưng bằng Luật tổ chức chính quyền địa phương hiện hành năm 2015 thực hiện Hiến pháp năm 2013, việc thực hiện thí điểm trên bị chấm dứt, với một luận điểm hết sức đơn giản, ở đâu có cơ quan chấp hành- hành chính thẩm quyền chung, thì phải có cơ quan đại diện. Dân chủ như là một con đường đi một chiều một khi đã có sự hiện diện thì khó có khả năng bãi bỏ.

     

    Mặc dù có rất nhiều biện pháp nhằm tiến hành cải cách chính quyền địa phương như trên đã

     

    nêu, nhưng cuối cùng vẫn không có gì tạo nên sự thay đổi. Lí do căn bản của vấn đề nằm ở chỗ không thừa nhận nguyên tắc phân quyền, cũng không thừa nhận chính quyền địa phương tự quản.

     

    Hiến pháp mới 2013 thay tên gọi tên chương Hội đồng nhân dân và Ủy ban Nhân dân thành về chương Chính quyền địa phương, mở ra khả năng đa dạng các mô hình tổ chức chính quyền địa phương, phân biệt rõ các loại hình đơn vị hành chính giữa nông thôn, thành thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt… Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 được Quốc hội thông qua thể hiện và triển khai thực hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, nhưng vẫn không thể hiện được tinh thần của nguyên tắc chính quyền địa phương tự quản. Vì khái niệm này cho đến hiện nay vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức trong các văn kiện của Đảng. Mặc dù Luật tổ chức chính quyền có phân biệt rõ ràng chương quy định về giữa chính quyền địa phương thành thị khác với vùng nông thôn. Nhưng đi vào cụ thể các nhiệm vụ quyền hạn giữa chúng vẫn là giống nhau không có gì thay đổi.

     

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

    Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương

    ở tỉnh (Điều 17)

    ở thành phố trực thuộc trung ương (Điều 37)

    1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và

    1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và

    pháp luật trên địa bàn tỉnh.

    pháp luật trên địa bàn thành phố.

    2. Quyết định những vấn đề của tỉnh trong phạm vi

    2.  Quyết  định  vấn  đề  trong  phạm  vi  được  phân

    được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật.

    quyền, phân cấp theo quy định của Luật.

    3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành

    3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành

    chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.

    chính nhà nước ở trung ương ủy quyền.

    4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính

    4. Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính

    quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.

    quyền địa phương ở các đơn vị hành chính trên địa bàn.

    5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên

    5. Chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về

    về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của

    kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính

    chính quyền địa phương ở tỉnh.

    quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương.

    6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương,

    6. Phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương,

    các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực

    các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, thực

    hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của

    hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của

    nền kinh tế quốc dân.

    nền kinh tế quốc dân.

    7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp

    7. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp

    nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy

    nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy

    động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển

    động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển

    kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên

    kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên

    địa bàn tỉnh.

    địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương.

    a

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

    Luật Tổ chức Chính quyền địa phương thể hiện rất nhiều những quy định vừa mang tính tự quản vừa mang tính trực thuộc, tức là vừa tự quản vừa không tự quản. Các quy định mang tính tự quản luôn luôn phải được đi kèm theo tính trực thuộc. Đó là các quy định rất cơ bản mang tính nguyên tắc của tự quản như việc quy định: HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri

     

    • địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, cũng phải kèm ngay theo đó là tính trực thuộc cấp trên của HĐND trong việc phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên. Tương tự như vậy, Ủy ban nhân dân do HĐND cùng cấp bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp là quy định mang tính tự quản, cũng phải kèm ngay theo đó là tính trực thuộc của cơ quan này trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

    Ngoài những quy định thể hiện tính vừa tự quản vừa trực thuộc, trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương chứa đựng nhiều quy định thuần túy sự trực thuộc. Nặng nề nhất của sự phụ thuộc trên là ở quy định về vấn đề nhân sự. Theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp cấp trên có quyền phê chuẩn kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới; có quyền điều động, đình chỉ công tác, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp dưới; giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trong trường hợp khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới giữa hai kì họp Hội đồng nhân dân; yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân đình chỉ, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc vi phạm pháp luật; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động,

    cách chức, khen thưởng, kỉ luật cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lí theo quy định của pháp luật. Đó cũng là quyền tương tự của Thủ tướng Chính phủ đối với Chủ tịch và các Phó Chủ tịch của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Pháp luật có những quy định này quy định kia thể hiện sự phân quyền giữa các cấp chính quyền nhưng với nguyên tắc tập quyền không thể làm cho các chính quyền địa phương có sự chịu trách nhiệm trước thực trạng của địa phương. Chính thực trạng này không tạo nên những biểu hiện của nhà nước pháp quyền.

     

    Tập quyền nhưng thực trạng diễn ra một cách ngược lại phân quyền

     

    Những điều phân tích ở phần trên chỉ là những quy định hình thức của luật pháp. Nhưng trên thực tế, thì mọi việc hầu như đều không hoàn toàn như vậy. Mặc dù không là chính quyền tự quản, tức là không được phân quyền như các nhà nước phát triển, nhưng ở hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa với sự hiện diện các cấp ủy Đảng Cộng sản, do Bí thư địa phương đứng đầu có quyền lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện trong phạm vi lãnh thổ địa phương đã làm cho chính quyền địa phương trở nên rất cát cứ. Với quyền lãnh đạo này, các cấp ủy, mà đứng đầu là các Bí thư có quyền hạn rất lớn, từ chủ trương chính sách đến các nhân sự của địa phương, làm cho các địa phương trở thành phân quyền rất lớn. Trong một nền kinh tế thị trường chưa ổn định, thiếu chặt chẽ, cộng với nguồn tài sản đất đai, tài nguyên trong phạm vi quản lí của mình, các địa phương rất dễ trở thành phân quyền. Vì vậy mặc dù về nguyên tắc địa phương không phân quyền, không tự quản, tức là phải trực thuộc trung ương, nhưng với hoạt động của các cấp ủy Đảng lãnh đạo và người đứng đầu cấp ủy Đảng do Đảng bộ địa phương bầu ra, các địa phương rất dễ trở thành phân quyền cát cứ, thoát ly khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương, nhất là cấp tỉnh, nơi

     

    11

     

    12                             N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

     

     

    đứng đầu của các địa phương. Hơn thế nữa với các quy định bầu cử trong Đảng như hiện nay, các chức sắc lãnh đạo trong Đảng và Nhà nước đều phụ thuộc vào khối các lá phiếu các đại biểu của địa phương, tính cát cứ địa phương lại càng có cơ hội cho sự phát triển. Các đại biểu trung ương phải tìm sự ủng hộ các địa phương thì mới có cơ hội giành được các tỉ lệ phiếu bầu qua các lần bầu cử các chức danh quan trọng, kể cả quan trọng nhất là người đứng đầu Đảng Cộng sản – Tổng Bí thư. Các địa phương thi đua nhau mở cảng nước sâu, mở các sân bay. Địa phương này mở được thì địa phương khác cũng xin mở2. Địa phương này xin trung ương có cơ chế đặc biệt thì địa phương khác cũng đòi hỏi phải hưởng một quy chế gần tương tự, đã gây nên tình trạng bất bình đẳng giữa các địa phương. Xem Hộp sau đây:

     

    Cho đặc thù nhưng cần phải cân đối

     

    Trong phiên họp thứ 50, các thành viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý nới khung đặc thù về tài chính, ngân sách cho Đà Nẵng, để thành phố này có nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư, phát triển.

     

    Theo đó, trong khuôn khổ phiên họp, UB Thường vụ Quốc hội đã cân nhắc và thông qua đề xuất nâng mức dư nợ vay của Đà Nẵng lên không quá 40%, tức là cao hơn quy định của luật 10% và thấp hơn hai thành phố Hà Nội, TP.HCM 20% (hiện là 60%). Đồng thời, nhất trí con số thưởng vượt thu ngân sách cho thành phố Đà Nẵng là 70%.

     

    ________

     

    • Theo thống kê của Tổng Công ty CHKVN, đơn vị này hiện đang quản lí và khai thác 22 cảng hàng không, sân bay trên cả nước. Tuy nhiên, đến thời điểm này mới chỉ có

     

    • sân bay quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất kinh doanh có lãi, còn lại đều trong tình trạng hòa vốn hoặc thua lỗ, nhất là những sân bay ở các địa phương chưa thực sự phát triển về du lịch. Thế nhưng, nhiều địa phương vẫn “đắm đuối” với viễn cảnh có sân bay riêng, viện dẫn đủ loại lí do như: Tỉnh vùng núi khó khăn; có nhiều di tích lịch sử, thậm chí là địa phương anh hùng trong thời kì kháng chiến… để kiến nghị, đề xuất. (Nhiều địa phương đua mở sân bay/Giao thông vận tải 25/ 5 /2017).

    Về con số này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nêu quan điểm: “Đà Nẵng xứng đáng được hưởng cơ chế đặc thù, nhưng chỉ mở mức độ nào đó, chứ không thể bằng Hà Nội và TP.HCM được. Không nên vung tay quá nhiều. Vung quá nợ công tăng cao thì Đà Nẵng sẽ gánh chịu hậu quả. Đặc thù có thể là 40% (Luật Ngân sách nhà nước cho phép 30%). Mức đặc thù thêm 10% so với hiện tại là ổn”.

     

    Còn Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, Chính phủ cần cân đối, tính toán vì nhiều tỉnh, thành cũng sẽ xin cơ chế đặc thù, cần phải hài hòa giữa các địa phương.

     

    Nguồn: Cơ chế đặc thù có giúp địa phương cất cánh của Nguyễn Thanh Lan / Diễn đàn doanh nghiệp 13/7/2016.

     

    Chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay rất giống với mô hình của Trung quốc vừa tự quản vừa không tự quản, thậm chí còn phân quyền hơn nhiều quốc gia tư sản.Về hình thức, thì Trung quốc có chính quyền tập quyền, nhưng trên thực tế thì lại phân quyền một cách cao độ. Cuộc phân tranh giữa chính quyền trung ương và địa phương luôn là một đề tài dai dẳng xuyên suốt chiều dài lịch sử Trung quốc, một cuộc chiến có thể tóm bằng câu nói, “trên có chính sách, thì dưới có đối sách”. Tỉ lệ khoản thu chi ngân sách cho địa phương phụ trách thì Trung Quốc là nước có tính phân quyền cao nhất toàn cầu – chỉ riêng tỷ lệ khoản thu chi của chính quyền địa phương đã cao gấp đôi mức thông thường của các nước phát triển theo nhóm OECD, mà các nước này vốn có xu hướng phân quyền nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Ở mức phân quyền cao độ Trung quốc như một quốc gia chuyên chế, nơi chính quyền trung ương chỉ cần búng tay là dàn xếp được mọi chuyện. Nhưng trên thực tế theo chiều hướng ngược lại, Trung quốc là quốc gia phân mảnh đến mức chính quyền địa phương tự tung, tự tác làm bất cứ điều gì, bất chấp chỉ thị từ Bắc Kinh [8].

     

    N.D. Dung / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 1-13

    13

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đào Bảo Ngọc, Quản trị địa phương ở các Châu Âu – nghiên cứu trường hợp Anh, Pháp, Đức và tiếp thu kinh nghiệm cho Việt Nam (LA Tiến sĩ Luật học), (2019) 32- 34.
    • Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Hội đồng Nhân dân trong nhà nước pháp quyền, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011.
    • Miranda kiện Arizona 384 U.S. 436.

    A

     

    a

     

    .

     

    • The Elements of Political Science by Alfred de Grazia Copyright 1959 by Metron Princeton, New Jersey tr. 651.
    • Khái quát về chính quyền Hợp Chủng quốc Hoa

    Kì/Outline of U.S. Government. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2002) 130.

     

    • Trần Ngọc Thêm, Giá trị Việt Nam – từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai.

    NXB. Văn hóa – Văn nghệ, (2016) 473.

     

    • Hiến pháp Liên bang Nga, Điều 130 – 131.
    • Kroeber A. R., Sự trỗi dậy của một cường quốc, cái nhìn từ bên trong, NXB. Hồng Đức, 2019.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

    Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

    Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%A3i-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-y%E1%BA%BFu-th%E1%BA%BF-trong-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%C3%A0-%C4%90%C3%A0i-Loan.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong pháp luật Việt Nam và Đài Loan

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    Review Article

     

    Consumer Disadvantaged Rights Protection in the

     

    Vietnamese and Taiwanese Laws

     

    Nguyen Trong Diep1,*, Nguyen Tien Dat2

     

    1School of Law, Vietnam National University Hanoi, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2Academy of Policy and Development Lane 7 Ton That Thuyet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 11 April 2019

    Revised 22 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: In a competitive market, consumers are protected by law to avoid the risks and damages resulting from the asymmetry of position between the seller and the consumer, or the concept of “persons disadvantaged”. Taiwan (China) and Vietnam’s consumer protection laws create all the necessary legal foundations that consumers can use during the consumption process and even in the event of damage, risk. The legislative experiences and the results of the implementation of regulations in Taiwan are also important lessons for Vietnam in the development of consumer law.

     

    Keywords: Taiwan, consumer law, disadvantaged, consumer protection.

     

    *

     

    ______

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4220

     

    23

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng yếu thế trong

     

    pháp luật Việt Nam và Đài Loan

     

    Nguyễn Trọng Điệp1,*, Nguyễn Tiến Đạt2

     

    1Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Học viện Chính sách và Phát triển, ngõ 7 Tôn Thất Thuyết, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 11 tháng 04 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 22 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Trong một thị trường cạnh tranh, người tiêu dùng được bảo vệ bởi pháp luật nhằm ngăn ngừa những rủi ro, thiệt hại do những bất cân xứng về vị thế giữa bên bán và người tiêu dùng, hay còn biết đến tới khái niệm “người tiêu dùng yếu thế”. Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam đều tạo các cơ sở pháp lí cần thiết để người tiêu dùng có thể vận dụng trong suốt quá trình tiêu dùng và ngay cả khi phát sinh thiệt hại, rủi ro. Những kinh nghiệm lập pháp và kết quả thực thi quy định của Đài Loan cũng là bài học quan trọng cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật tiêu dùng.

     

    Từ khóa: Đài Loan, luật bảo vệ người tiêu dùng, yếu thế.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được hình thành là sự “bù đắp” cho bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Hướng tới một mục đích quan trọng là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và tái lập sự cân bằng trong quan hệ hợp đồng tiêu dùng, những lí thuyết pháp lí dân sự được đề cập và phản ánh trong quy định pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có pháp luật Việt Nam và pháp luật Đài Loan (Trung Quốc). Trước yêu cầu cải cách và hoàn thiện pháp luật tiêu dùng, pháp

     

    ______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4220

    24

     

    luật Đài Loan với kinh nghiệm xây dựng từ rất sớm là bài học quan trọng cho nhà lập pháp Việt Nam sau gần 10 năm thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

     

    • Khái niệm “người tiêu dùng yếu thế” trong quan hệ tiêu dùng

    Mặc dù, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc UNESCO từng phân tích: “Tính dễ bị tổn thương là một phần của điều kiện của con người; một số người có thể nói rằng

     

    N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

    25

    những tổn thương đó khiến chúng ta ‘con người’ hơn. Không ai là không bị tổn thương…”[1]. Điều này cho thấy bất cứ chủ thể nào không chỉ riêng người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng đều phải đối mặt với những rủi ro bị tổn thương. Nhu cầu bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng xuất hiện từ khi khái niệm “hợp đồng” chính thức được quy định trong luật pháp thời kỳ La Mã. Ví dụ, nguyên tắc thiện chí bona fides của Tòa án; cơ chế exception doli để giải phóng nghĩa vụ cho con nợ hay các quy định bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong Luật 12 bảng… Trong pháp luật hiện đại, mỗi chủ thể trong các quan hệ pháp luật khác nhau sẽ được đặc trưng bởi những rủi ro bị tổn thương khác nhau, và người tiêu dùng là một chủ thể như vậy. Khái niệm “nhóm yếu thế” (tiếng anh: Disadvantaged groups) thường được sử dụng để nói về một nhóm người đặc trưng bởi những rủi ro cao hơn về sự nghèo đói, loại trừ khỏi xã hội, sự phân biệt và bị bạo lực hơn so với cư dân bình thường khác. “Nhóm yếu thế” trong luật quốc tế bao gồm nhưng không giới hạn tới những dân tộc thiểu số, người di cư, người khuyết tật, người bị cách ly khỏi xã hội và trẻ em [2]. Tuy nhiên, so sánh với những rủi ro pháp lí mà người tiêu dùng phải đối diện khi tham gia quan hệ tiêu dùng, Dennis E. Garrett và Peter G. Toumanoff đã đặt ra một câu hỏi về vấn đề này, rằng: “Liệu người tiêu dùng có phải là một nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương” [3]. Câu hỏi này đã được Tổ chức Consumer Affairs Victoria (Autralia) trả lời khi đưa ra định nghĩa về “Người tiêu dùng yếu thế” được hiểu là “những người có thể dễ dàng hoặc nhanh chóng bị thiệt hại trong quá trình tiêu dùng, tính dễ bị tổn thương phát sinh từ những đặc điểm của thị trường đối với một sản phẩm cụ thể, hoặc các thuộc tính hoặc hoàn cảnh của cá nhân đó khi quyết định tiêu dùng hoặc việc theo đuổi biện pháp khắc phục cho bất kỳ thiệt hại nào họ phải chịu, hoặc sự kết hợp của những điều này”1[4].

     

    ______

     

    • “A vulnerable consumer is a person who is capable of readily or quickly suffering detriment in the process of consumption. A susceptibility to detriment may arise from either the characteristics of the market for a particular product, the product’s qualities or the nature of the transaction; or the individual’s attributes or circumstances which adversely affect consumer decision-making or the

    Tính yếu thế của người tiêu dùng được phản ánh thông qua 02 thành tố gồm: (1) Khả năng được bảo vệ và bảo đảm trước những nguy cơ rủi ro và thiệt hại; (2) Khả năng đương đầu với những hệ quả tiêu cực khi phát sinh rủi ro và thiệt hại. Các nghiên cứu cũng cho thấy tính yếu thế và dễ bị tổn thương là một khái niệm “động” khi nó có thể thay đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể trong suốt quá trình tiêu dùng, trong đó yếu tố pháp lí là một trong những nhân tố quyết định. Cũng vì lí do này mà pháp luật các quốc gia trên thế giới và phán quyết của Tòa Công lý Châu Âu2 cũng chỉ ghi nhận thông lệ khái niệm “người tiêu dùng cá nhân” (mà không phải là tổ chức) nhằm “khu biệt hóa” đối tượng được bảo vệ, tập trung nguồn lực bảo vệ nhóm người tiêu dùng yếu thế [5].

     

    Giữa pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan và Việt Nam, cũng như quan niệm chung được thừa nhận trong pháp luật tiêu dùng nhiều quốc gia, “người tiêu dùng” được hiểu thống nhất tại Khoản 2 Điều 2 Luật tiêu dùng Đài Loan và Khoản 1 Điều 3 Luật tiêu dùng Việt Nam, là người mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ cuối cùng trong quan hệ tiêu dùng, hay nói cách khác, người tiêu dùng là người thụ hưởng cuối cùng giá trị hàng hóa. Từ quá trình lựa chọn sản phẩm, quyết định mua, tiêu dùng và hậu tiêu dùng, người tiêu dùng luôn phải đối diện với những rủi ro có thể gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp nếu như Nhà nước và pháp luật không can thiệp. Lí thuyết về bất cân xứng thông tin (“information asymmetry”) giữa bên bán (nhà cung cấp) và bên mua (người tiêu dùng) đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu khi lí thuyết lí tưởng về quan hệ tiêu dùng cân bằng thông tin giữa hai chủ thể này hiếm khi có được trong thực tế [6]. Thực tiễn đã chỉ ra rằng trong quan hệ hợp đồng tiêu dùng, bên yếu thế thông thường là người tiêu dùng. Mặc dù có thể đủ năng lực hành

     

    pursuit of redress for any detriment suffered; or a combination of these”.

     

    • Criminal Proceedings against Patrice Di Pinto, Case C-361/89 [1991] I-1189 (cited in Geraint Howells and Stephen Weatherill, Consumer Protection Law, 2nd ed. (England: Ashgate Publishing Limited, 2005) at 365.

     

    26                        N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    • khi xác lập giao dịch nhưng “sự yếu thế” được phản ánh thông qua khả năng hạn chế khi tiếp cận, xử lí, hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ và giao dịch; hạn chế trong đàm phán; hạn chế về tiềm lực tài chính, địa vị xã hội và khả năng theo đuổi các công cụ giải quyết tranh chấp.

    Như vậy, “người tiêu dùng yếu thế” được điều chỉnh trong pháp luật tiêu dùng của Việt Nam và Đài Loan là người tiêu thụ hàng hóa, sử dụng dịch vụ cuối cùng trong chuỗi luân chuyển của hàng hóa, là chủ thể dễ dàng hoặc có nguy cơ bị thiệt hại, rủi ro lợi ích nhiều hơn trong quan hệ tiêu dùng do những bất lợi về thông tin, năng lực và vị thế.

     

    1. Khả năng được bảo vệ và bảo đảm trướckhi phát sinh rủi ro

    Dựa trên các 08 nhóm quyền cơ bản của người tiêu dùng trong Hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên hợp quốc năm 1985 [7], Luật pháp các quốc gia trong đó có Đài Loan và Việt Nam đều đảm bảo và xây dựng những năng lực pháp lí ban đầu để bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho “người tiêu dùng yếu thế” trước khi rủi ro, thiệt hại phát sinh. Điều 3 Luật tiêu dùng Đài Loan năm 1994, sửa đổi mới nhất năm 2005 (sau đây gọi chung là Luật tiêu dùng Đài Loan) đặt ra nguyên tắc đối với người bán hàng hóa phải có nghĩa vụ bảo đảm: chất lượng, an toàn, vệ sinh, yêu cầu ngăn chặn những rủi ro, thiệt hại về tính mạng, cơ thể, sức khỏe, tài sản và những loại ích khác của người tiêu dùng; nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu pháp luật về quảng cáo, dán nhãn, đóng gói [8]. Theo pháp luật Việt Nam, ngoài việc quy định nghĩa vụ của người bán, dựa trên hệ thống quyền của người tiêu dùng quy định trong Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành năm 1985, sửa đổi năm 1999 được CI (Consumers International), Luật năm 2010 của Việt Nam cũng ghi nhận 08 nhóm quyền cơ bản cho người tiêu dùng gồm: được

     

    ______

     

    • Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010.

     

    • Điều 66 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Việt Nam quy định xử phạt vi phạm hành

    bảo đảm an toàn; được cung cấp thông tin; được lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; được tham gia xây dựng và thực thi chính sách; được yêu cầu bồi thường thiệt hại; được khiếu nại, tố cáo và được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng3 [9]. Từ các quy định này, người tiêu dùng được bảo vệ thông qua các nghĩa vụ của người bán trong quá trình cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Đơn cử:

     

    • Nghĩa vụ đối với bao gói sản phẩm, hàng hóa: Điều 7 Luật tiêu dùng Đài Loan quy định nghĩa vụ thông tin của nhà sản xuất – kinh doanh trên bao gói sản phẩm trong trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ gây nguy hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe hoặc tài sản của người tiêu dùng, một cảnh báo và phương pháp đối phó trong trường hợp khẩn cấp đối với những nguy hiểm đó phải được ghi tại một vị trí thích hợp. Pháp luật Việt Nam cũng quy định nghĩa vụ này của người bán tại Khoản 1 Điều 12 Luật BVNTD năm 2010 và quy định về dán nhãn sản phẩm, hàng hóa tại Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ Việt Nam [10]. Ngoài ra, hành vi vi phạm về cung cấp thông tin cảnh báo đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ có thể bị xử phạt hành chính tới cao nhất là 50 triệu đồng Việt Nam và có thể bị tước giấy phép kinh doanh tới 06 tháng4 [11].
    • Nghĩa vụ thu hồi hàng hóa: thực tế cho thấy nghĩa vụ thu hồi hàng hóa khuyết tật là một nội dung đặc biệt quan trọng trong pháp luật tiêu dùng nhiều quốc gia. Điều 10 Luật tiêu dùng Đài Loan làm rõ nghĩa vụ này bắt buộc phải thực hiện khi doanh nghiệp có “nghi ngờ” về hàng hóa hoặc dịch vụ có rủi ro gây nguy hiểm đến an toàn và sức khỏe người tiêu dùng. Điều 22 Luật BVNTD Việt Nam có quy định tương tự về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật, đồng thời bổ sung nghĩa vụ thông báo công khai việc thu hồi hàng hóa trong ít nhất 05 số báo liên tiếp hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát thanh, truyền hình địa phương.

    chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

     

    N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

    27

    • Trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp: Luật tiêu dùng Đài Loan luôn đặt ra vấn đề trách nhiệm liên đới và riêng rẽ giữa các doanh nghiệp phân phối, bán hàng, thiết kế, sản xuất, chế tạo trong nghĩa vụ thông tin, cảnh báo rủi ro cho người tiêu dùng. Quyền lợi của người tiêu dùng được bảo đảm ngay tại thời điểm mua hàng khi nghĩa vụ cảnh báo và chứng minh phù hợp các quy chuẩn, tiêu chuẩn và tính an toàn. Nghĩa vụ liên đới và riêng rẽ tiếp tục được quy định bắt buộc đối với các doanh nghiệp phân phối hoặc bán hàng, doanh nghiệp thiết kế, sản xuất hoặc chế tạo hàng hóa dịch vụ tại Điều 8 và tương tự đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa tại Điều 9. Ở Việt Nam, trách nhiệm này giới hạn ở trách nhiệm riêng rẽ của chủ thể bán hàng, còn chỉ phát sinh trách nhiệm liên đới với bên thứ ba trong thiệt hại từ cung cấp thông tin không chính xác và không đầy đủ5.
    • Giải thích hợp đồng tiêu dùng: với quan điểm tương đồng về tính bất cân xứng về vị thế giữa người tiêu dùng và bên bán, Luật tiêu dùng Đài Loan quy định về việc giải thích Điều khoản và Điều kiện của hợp đồng tiêu dùng hàng loạt (hay Luật tiêu dùng Việt Nam gọi tên là hợp đồng mẫu) phải được giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng, áp dụng nguyên tắc bình đẳng và có đi có lại (Điều 11). Việc giải thích có lợi không đồng nghĩa với việc tước bỏ quyền được đảm bảo một thời hạn hợp lí để xem xét nội dung hợp đồng cũng như hệ quả hủy bỏ hợp đồng nếu như quyền này không được doanh nghiệp bảo đảm.

     

    • Hệ quả vô hiệu hợp đồng tiêu dùng: vô hiệu là hệ quả tất yếu nếu như quá trình giao kết hợp đồng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng không bảo đảm rằng “người tiêu dùng yếu thế” được đối xử công bằng hơn trong quan hệ mua bán. Điều 12 Luật tiêu dùng Đài Loan đặt ra trường hợp “không công bằng” để áp dụng vô hiệu giao dịch mua bán giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Trong đó, Khoản 1 Điều 12 cho thấy sự “không công bằng” sẽ dẫn tới vô hiệu khi giữa người tiêu dùng và bên bán không đạt được

    ______

     

    sự “bình đẳng”. Hợp đồng vô hiệu còn được đặt ra tại Điều 17 Luật tiêu dùng Đài Loan khi doanh nghiệp bỏ qua nghĩa vụ công khái các Điều khoản bắt buộc và Điều khoản bị cấm trong hợp đồng hàng loạt, dẫn tới tính trạng rủi ro về thông tin cho người tiêu dùng. Đối với phương thức thư mời mua hoặc bán hàng tận cửa, bất cứ thỏa thuận nào vi phạm nghĩa vụ thông tin của bên bán cũng như tạo ra một trạng thái “không sẵn lòng” của người tiêu dùng khi mua hàng hoặc một thỏa thuận bồi hoàn sản phẩm nếu chấm dứt hợp đồng “kém thuận lợi” cho người tiêu dùng thì đều áp dụng vô hiệu theo Điều 18 Luật tiêu dùng Đài Loan. Trong pháp luật tiêu dùng Việt Nam và rộng hơn là pháp luật dân sự, một trong các căn cứ vô hiệu hợp đồng là tồn tại và chứng minh được sự lừa dối, đe dọa, cưỡng ép ý chí khi giao kết. Sự cưỡng ép ý chí này trở nên khá “mơ hồ” nếu như quan hệ mua bán giữa người tiêu dùng và bên bán được xác lập nhanh chóng và mang tính đơn lẻ. Việc quy định rõ ràng một cơ sở về “không sẵn lòng” là một điều đặc biệt quan trọng giúp “người tiêu dùng yếu thế” luôn chủ động trong quan hệ mua bán và từ đó nâng cao trách nhiệm của bên bán trong việc tạo ra sự hài lòng và thỏa mãn từ người mua.

     

     

    3. Khả năng ứng phó với những hệ quả tiêu cực

     

    Những hệ quả tiêu cực như thiệt hại vật chất (sức khỏe, tính mạng, tài sản) hay tinh thần đặt ra khi hàng hóa, dịch vụ khuyết tật gây ra đòi hỏi phải tồn tại những cơ sở pháp lí để truy cứu trách nhiệm bồi thường đối với doanh nghiệp. Trách nhiệm này bao gồm các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với thiệt hại và xử lí một vụ việc tranh chấp khi phát sinh.

     

    Nghĩa vụ của doanh nghiệp khi phát sinh nguy hại cho người tiêu dùng

     

    Luật tiêu dùng Đài Loan cho thấy quan điểm xây dựng trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability) đối với doanh nghiệp khi cung ứng sản phẩm tới người tiêu dùng. Khi phát sinh thiệt hại, việc giải thích có lợi cho người tiêu dùng và trách

     

    • Điểm c Khoản 1 Điều 13 Luật BVQLNTD Việt Nam năm

     

    2010.

     

    28                        N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    nhiệm của các doanh nghiệp là 02 điều kiện bắt buộc, ngay kể cả khi doanh nghiệp chứng minh được mình không có lỗi đối với sai sót đó. Điều 7 Luật tiêu dùng Đài Loan quy định nghĩa vụ liên đới hoặc riêng rẽ của các doanh nghiệp kinh doanh khi việc cảnh báo không đảm bảo và gây thiệt hại, đồng thời việc xem xét giảm nhẹ trách nhiệm chỉ đặt ra khi các doanh nghiệp chứng minh được rằng họ không có lỗi đối với sai sót đó. Điều này có vẻ thiếu công bằng cho các doanh nghiệp, nhưng lại hợp lí bởi nó ràng buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực cảnh báo các rủi ro có thể xảy ra cho người tiêu dùng trong mọi trường hợp và tự nâng cao trách nhiệm xã hội của họ.

     

    Điều này Luật tiêu dùng Việt Nam chưa làm được khi các nghĩa vụ của doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở quy định nghĩa vụ cảnh báo mà không ghi nhận trách nhiệm và giải thích tình huống phát sinh thiệt hại. Tuy nhiên, Luật BVNTD năm 2010 của Việt Nam đưa vào áp dụng một nguyên tắc đặc biệt trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng tại Tòa án, đó là “người mua có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thiệt hại của mình, và người bán có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại”6.

    Thực thi quyền xử lí khiếu nại tiêu dùng

     

    Nếu như Luật tiêu dùng Việt Nam chỉ ghi nhận khiếu nại tiêu dùng như một trình tự hành chính trong giải quyết tranh chấp tiêu dùng và giao cho các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Chính phủ tự xây dựng quy trình và thời hạn xử lí thì Luật tiêu dùng Đài Loan ấn định thời hạn tối đa của doanh nghiệp là 15 ngày để giải quyết khiếu nại và trường hợp không thực hiện thì cơ quan thanh tra tiêu dùng sẽ can thiệp ngay sau đó để bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng. Luật BVNTD Việt Nam đang bỏ ngỏ quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại này. Hiện nay, Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng thuộc Bộ Công Thương Việt Nam đang triển khai song song 03 phương thức tiếp nhận khiếu nại tiêu dùng gồm: trực tuyến (qua website hoặc

     

    ______

    • Điều 42 Luật BVNTD Việt Nam năm 2010.

    email); bưu điện và trực tiếp. Trong đó, khiếu nại qua email chiếm tới 76%, việc xử lí khiếu nại thành công chiếm 97%7.

     

    Sự can thiệp của cơ quan bảo vệ người tiêu dùng và chính quyền địa phương

     

    Việc can thiệp của chính quyền địa phương tại Đài Loan trong việc xử lí các vụ việc liên quan tới hàng hóa khuyết tật gây thiệt hại được hậu thuẫn đáng kể bởi các quy định của Luật tiêu dùng Đài Loan. Theo đó, Luật cho phép từ chính quyền cấp huyện đã được trao thẩm quyền để có thể can thiệp một cách hiệu quả vào quá trình thiết kế, sản xuất, chế tạo, gia công, nhập khẩu, phân phối hàng hóa bị nghi ngờ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tiêu dùng (Điều 36 Luật tiêu dùng Đài Loan). Biện pháp mạnh nhất có thể được cơ quan này và các cơ quan cấp cao hơn thực hiện là tạm ngừng và ngừng hoạt động cung ứng đồng thời có thể áp dụng bổ sung các biện pháp khác nếu thấy cần thiết. Ở tầm chính sách, Viện Hành chính Đài Loan và một cơ quan liên bộ là Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng là những cơ quan tư vấn, xây dựng và kiến nghị chính sách bảo vệ người tiêu dùng.

     

    Khi phát sinh các khiếu nại tiêu dùng cần hòa giải, Luật tiêu dùng Đài Loan cho phép chính quyền cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp với sự tham gia của các đại diện chính quyền, thanh tra tiêu dùng, nhóm bảo vệ người tiêu dùng, đại diện hiệp hội ngành nghề để đảm bảo tiếng nói công bằng cho các nhóm lợi ích trong quan hệ tiêu dùng. Điều này cũng là một hạn chế trong pháp luật tiêu dùng Việt Nam khi Luật tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam mới đề cập tới hòa giải tranh chấp tiêu dùng như một cơ chế chính thức được nhắc tới nhưng không có hướng dẫn cụ thể về thực hiện. Năm 2017, Chính phủ Việt Nam có ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại như một hướng dẫn pháp lí ban đầu để giải quyết tranh chấp tiêu dùng theo hình thức này nhưng khó phát huy hiệu quả bởi “tranh

     

    • Nguồn: Cục Cạnh tranh & Bảo vệ người tiêu dùng – Bộ Công Thương Việt Nam, số liệu 06 tháng đầu năm 2018.

     

     

    N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

    29

    chấp tiêu dùng” thực chất không hề tương đồng với “tranh chấp thương mại”.

     

    Những yêu cầu đặc biệt đối với vụ kiện tiêu dùng

     

    “Người tiêu dùng yếu thế” được bảo đảm về quyền lợi khá rõ ràng trong cả pháp luật tiêu dùng Đài Loan và Việt Nam thông qua các cơ chế khá khác biệt. Điều 48 Luật tiêu dùng Đài Loan hướng tới xây dựng những thẩm phán chuyên trách đối với các vụ kiện tiêu dùng – một điều mà Việt Nam chưa làm được, thì Điều 41 Luật tiêu dùng Việt Nam lại xây dựng được một mô hình rút gọn lí tưởng với mục tiêu giải quyết nhanh chóng các vụ kiện tiêu dùng đơn giản có mức ngạch thấp dưới 100 triệu đồng Việt Nam. Pháp luật tiêu dùng Đài Loan và Việt Nam gặp nhau ở quy định về quyền khởi kiện tập thể của nhóm chủ thể đại diện quyền lợi người tiêu dùng. Năm 2015, ở Bến Tre – Việt Nam, 34 người tiêu dùng gửi đơn khiếu nại Hội bảo vệ người tiêu dùng tỉnh về bánh mỳ ngộ độc của Cơ sở bánh mỳ Minh Tuyến, TP Bến Tre từ năm 2013. Mất 02 năm, 02 vụ kiện, xử 02 cấp sơ thẩm và phúc thẩm, vụ kiện mới khép lại với nghĩa vụ bồi thường tổng số tiền 22 triệu đồng của bị đơn – chủ cơ sở bánh mỳ theo kết quả hòa giải8. Tương tự là vụ việc anh Vũ Song Toàn mất xe tại nhà hàng My Way và yêu cầu nhà hàng bồi thường, từ năm 2011 tới nay vẫn chưa có kết quả9. Từ đó cho thấy, thực tiễn xét xử vụ án vi phạm quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam thường kéo dài và là nguyên nhân khiến người tiêu dùng có tâm lí ngại khởi kiện và khiếu nại.

     

    Bên cạnh đó, một quy định đặc biệt quan trọng là nghĩa vụ bồi thường và quyền yêu cầu bồi thường thì Luật tiêu dùng Đài Loan đã mở ra một cơ chế đòi bồi thường ưu tiên cho người tiêu dùng khi mức yêu cầu đòi bồi thường có thể lên tới gấp 03 lần mức thiệt hại thực tế nếu như liên quan tới yếu kém của doanh nghiệp hoặc một hành vi cố ý (Điều 51). Trong khi đó, Luật tiêu

     

    dùng Việt Nam và Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 chỉ quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dựa trên thiệt hại thực tế chứng minh được.

     

    Kết luận

     

    “Người tiêu dùng yếu thế” là một khái niệm được sinh ra từ việc xem xét vị thế của người tiêu dùng trong quan hệ với bên bán trong một quan hệ mua bán vốn dĩ dựa trên nguyên tắc bình đẳng. Tuy nhiên, sự yếu thế của người tiêu dùng trong thực tiễn giao dịch lại đi ngược lại nguyên tắc bính đẳng đó của dân sự, đòi hỏi pháp luật các quốc gia cần có những quy định và cách giải thích, vận dụng pháp luật nhằm lấy lại sự cân bằng này. Pháp luật tiêu dùng Đài Loan qua nhiều năm thực thi đã cho thấy một thực tế rằng pháp luật cần có những quy định mạnh mẽ và thể hiện rõ ràng quan điểm bảo vệ “người tiêu dùng yếu thế”. Pháp luật tiêu dùng Việt Nam sau gần 10 năm thực thi cũng cần nghiên cứu quan điểm lập pháp này để có những sửa đổi cần thiết để tăng hiệu quả thực thi. Kết quả tranh chấp tiêu dùng ở Việt Nam qua các năm phản ánh rằng các quy định hiện hành chưa tạo ra sự khác biệt, chưa đủ thu hút người tiêu dùng vận dụng để bảo vệ quyền lợi cho mình.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization, The principle of respect for human vulnerability and personal integrity – report of the International bioethics committee of UNESCO, UNESCO, 2013.
    • Eige Experts – Eige Europa, CSW Agreed conclusions on the elimination and prevention of all forms of violence against women and girls, para. 34, (2013), E/2013/27-E/CN.6/2013/11.

    ______

     

    • Các bản án: Bản án sơ thẩm số 08/2015/DS-ST ngày 09/2/2015; Bản án sơ thẩm số 11/2015/DS-ST ngày 04/3/2015 của Tòa án nhân dân TP Bến Tre; Biên bản hòa giải ngày 17/8/2015 giữa 17 nguyên đơn và bà Võ Thị Minh Tuyến.
    • Các bản án: Bản án sơ thẩm số 06/2012/DS-ST ngày 10/5/2012 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy; Bản án phúc thẩm số 180/2012/DS-PT ngày 11/10/2012 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội; Thông báo số 1568/TB-TDS ngày 20/12/2012 của Tòa dân sự – Tòa án nhân dân tối cao về việc tiếp nhận đơn đề nghị giám đốc thẩm.

     

    30                        N.T. Diep, N.T. Dat / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 23-30

     

     

    • Dennis E. Garrett và Peter G. Toumanoff (2010), Are consumers disadvantaged or vulnerable? An examination of consumer complaints to the better business bureau, The Journal of Consumer Affairs, vol.44, No.1 (2010) 3-23.
    • Consumer Affairs Victoria, What do we mean by

    ‘vulnerable’   and   ‘disadvantaged’   consumers,

    Discussion paper, 2004.

     

    • Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Thị Vân Anh, Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, 2012.
    • Bairagya Ramsundar & Sarkar Shubhabrata, Information Asymmetry – Consumer behavior and market equilibrium, Euro-Asian Journal of Economics and Finance, vol.1, Issue 1 (11/2013) p.33-40.
    • United Nations, Guidelines for Consumer protection, 1985.
    • Luật tiêu dùng Đài Loan năm 1994, sửa đổi năm

    2005.

     

    • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010.
    • Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ Việt Nam về nhãn hàng hóa.
    • Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ Việt Nam quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

    .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

    Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

    Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-l%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-c%C6%A1-quan-chuy%C3%AAn-m%C3%B4n-thu%E1%BB%99c-%E1%BB%A6y-ban-Nh%C3%A2n-d%C3%A2n-c%E1%BA%A5p-huy%E1%BB%87n-v%C3%A0-vi%E1%BB%87c-tinh-gi%E1%BA%A3n-bi%C3%AAn-ch%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    Review Article

     

    Re-organizing the Functional Bodies of the District-level People’s Committee and Downsizing the Civil Service

     

    Pham Thi Giang*

     

    Faculty of Administrative Sciences and Organization – Personnel Management,

     

    National Academy of Public Administration, 77 Nguyen Chi Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam

     

    Received 12 April 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: The article focuses on streamlining the organizational structure of the functional bodies of the district-level People’s Committee for more effective management. This is the basis for downsizing the civil service by screening the current civil servants with the purpose of replacing no longer suitable staff with competent servants to work in the functional bodies of the district-level People’s Committee. In fact, although the state administrative reform since 2001 has helped reduce the number of the functional bodies under the district-level People’s Committee from 15 agencies to 12 agencies, the number of civil servants in these agencies has increased. Therefore, the article offers a number of solutions for rationally downsizing the civil service.

     

    Keywords: Reorganization, functional body, payroll streamlining, district-level People’s Committee.

     

    *

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4222

    65

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    Tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc

     

    Ủy ban Nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế

     

    Pham Thi Giang*

     

    Khoa Khoa học hành chính và Tổ chức nhân sự, Học viện Hành chính Quốc gia,

     

    77 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 12 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Bài viết tập trung vào việc phân tích sắp xếp cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện để tinh gọn, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu quản lý. Đồng thời, đây là cơ sở cho việc xác định, sắp xếp lượng biên chế phù hợp và tinh giản biên chế: đưa người cần tinh giản ra khỏi bộ máy, bổ sung người có trình độ, chuyên môn vào làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong thực tiễn cải cách hành chính nhà nước từ 2001 đến nay, số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có thay đổi theo chiều hướng giảm từ 15 cơ quan xuống còn 12 cơ quan (có tính đến yếu tố đặc thù). Tuy nhiên, biên chế các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện lại có sự tăng lên về số lượng. Qua đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm tổ chức lại cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện tinh gọn, hợp lý hơn và góp phần vào việc tinh giản biên chế hiện nay.

     

    Từ khóa: Tổ chức lại, cơ quan chuyên môn, tinh giản biên chế, Ủy ban Nhân dân cấp huyện.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và xác định biên chế là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phát triển khác nhau lại có những yêu cầu mới cần bổ sung hoặc cắt giảm chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4222

    cơ quan để đáp ứng nhu cầu xã hội là rất cần thiết. Do vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ để bố trí, sử dụng đúng, đủ biên chế có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước.

     

    1.   Về tổ chức lại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện

     

    Những năm qua, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện về cơ bản

     

    66

     

    P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

    67

    chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra bới sự thường xuyên tách ra nhập vào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy, dẫn đến khó khăn trong việc xác định, sắp xếp biên chế của các cơ quan chuyên môn. Cụ thể năm 2001, cấp huyện có 10 phòng “cơ cấu cứng” và có một số phòng thành lập tùy theo đặc thù riêng của địa phương nhưng không quá 12 phòng, huyện đảo 08 phòng. Thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 quy định cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có 12 phòng chuyên môn và tương đương “cơ cấu cứng” ngoài ra còn có một số phòng có thể được thành lập tùy theo đặc thù ở địa phương như: phòng Tôn giáo, phòng Dân tộc, phòng Kinh tế tổng số không quá 15 phòng, huyện đảo không quá 10 phòng. Như vậy, số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện tăng lên.

     

    Trước yêu cầu về cải cách hành chính (CCHC), cần tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước theo xu hướng tổ chức bộ máy quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định về cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện do vậy, cơ cấu tổ chức giảm xuống còn 10 phòng “cơ cấu cứng” và có một số phòng tùy theo đặc thù địa phương nhưng không quá 12 phòng, huyện đảo không quá 10 phòng; số lượng cấp phó phòng là 03 người. Như vậy, so với nghị định số 172/2004/NĐ-CP, số lượng phòng chuyên môn đã giảm 03 phòng. Tuy nhiên, việc giảm số lượng phòng chuyên môn này về cơ bản chỉ giảm được đầu mối – mang tính cơ học, thực chất chưa sát với yêu cầu của thực tiễn, chưa bảo đảm hiệu quả về chuyên môn, nhiệm vụ,… cụ thể như: việc sáp nhập tổ chức, chức năng quản lý nhà nước về dân tộc vào Văn phòng HĐND và UBND huyện là chưa phù hợp với các tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Công tác quản lý nhà nước về dân tộc là một trong những công tác phức tạp nên cần phải có một cơ quan chuyên môn độc lập để thực hiện chức năng tham mưu chuyên sâu mới đáp ứng yêu cầu

     

    thực tiễn đồng thời phát huy được hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Mặt khác, việc thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chưa được đề cập ở Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác do vậy đã gây ra không ít các khó khăn, bất cập cho các địa phương trong quá trình thực thi.

     

    Để giải quyết bất cấp trên và tiếp tục bảo đảm việc đáp ứng yêu cầu CCHC, tinh gọn bộ máy từ trung ương đến cơ sở theo kết luận số 64 KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị thứ lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng (Khóa XI) về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở” và Hiến pháp năm 2013, Chính phủ đã ban hành nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh theo nguyên tắc: (i) Bảo đảm bao quát đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện và bảo đảm tính thống nhất, thông suốt về quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở; (ii)Tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn, hợp lý, hiệu quả; không nhất thiết ở cấp tỉnh có sở nào thì cấp huyện có tổ chức tương ứng; (iii) Phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện và điều kiện tự nhiên, dân số, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và yêu cầu cải cách hành chính nhà nước; (iv) Không chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn với các cơ quan/tổ chức của trung ương đặt tại cấp huyện. Trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã có những điều chỉnh nhất định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức song về cơ bản các cơ quan chuyên môn vẫn còn 10 phòng chuyên môn “cơ cấu cứng” đồng thời có thêm một số cơ quan đặc thù phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính (địa phương) không quá 13 phòng (cơ bản giữ ổn đình 12 phòng), huyện đảo không quá 10 phòng; số lượng cấp phó phòng là 03 người. Như vậy, có thể nhận thấy so nghị định số 14/2008/NĐ-CP, số lượng phòng chuyên môn đã được điều chỉnh tăng lên để đảm bảo đặc thù

     

    68                            P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    địa phương như: việc thành lập Phòng Dân tộc do UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định dự vào căn cứ tiêu chí quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 2 Nghị định 53/2004/NĐ-CP ngày 18/02/2004 về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp. Thực tế cho thấy, hoạt động của các cơ quan chuyên môn chưa thực sự hiệu quả bởi cơ cấu tổ chức bên trong của một số cơ quan chuyên môn chưa tinh gọn, nhiều phòng chuyên môn có chức năng, nhiệm vụ tương tự nhau như: “Đội trật tự đô thị” với “phòng Quản lý đô thị”; Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Phòng quản lý xây dựng công trình… nên cần xem xét, sát nhập để tiếp tục giảm bớt đầu mối và biên chế. Mặt khác, các cơ quan chuyên môn chia ra theo nghị định này chưa bảo đảm tính đặc thù phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương đặc biệt là việc phân biệt rõ hơn nữa sự khác biệt đô thị, nông thôn.

     

    Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn. Tiếp đó là Nghị quyết số 18/2017-NQ/TW ngày 25/10/2017 và Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện các Nghị quyết và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, hiện nay một số tỉnh đang triển khai thí điểm hợp nhất các cơ quan cấp huyện như: phòng Nội vụ nhập với Ban tổ chức huyện ủy, chức danh trưởng ban tổ chức huyện ủy kiêm trưởng phòng nội vụ; Thanh tra huyện nhập với Ủy ban Kiểm tra huyện ủy, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra kiêm chánh Thanh tra; hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND và UBND; UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp quyết định việc giữ ổn định hoặc hợp nhất: phòng Nội

     

    vụ với phòng Lao động – Thương binh và Xã hội; UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp quyết định giữ ổn định hoặc sáp nhập, thành lập hoặc không thành lập các phòng để phù hợp với yêu cầu của từng địa phương như: không tổ chức phòng Y tế, phòng Dân tộc (trường hợp không đủ 5.000 người dân tộc thiểu số hoặc có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh quốc phòng; không phải địa bàn xen canh, xem cư; không phải là biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại) và giao các nhiệm vụ này cho Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về y tế, công tác dân tộc.

     

    Như vậy, có thể nhận thấy, theo các quy định trên, chính quyền địa phương đã được trao quyền nhiều hơn trong việc sắp xếp, tổ chức các cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, việc sắp xếp này vẫn gặp nhiều khó khăn do vướng mắc như: bố trí, sắp xếp, điều chuyển nhân sự, xác định ví trí pháp lý người đứng đầu cơ quan thanh tra, kiểm tra, nội vụ; chế độ chính sách cho công chức làm việc trong cơ quan sáp nhập – phòng Thanh tra với Ủy ban Kiểm tra, phòng Nội vụ với Ban tổ chức; công tác đánh giá công chức cuối năm v.v.. Ngày 10/4/2018 Bộ Nội vụ đã có dự thảo quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện trình Chính phủ. Trong dự thảo quy định danh mục là 15 phòng chuyên môn, căn cứ vào danh mục đó và hướng dẫn của Bộ quản lý về ngành, lĩnh vực, UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp quyết định việc thành lập, hợp nhất, sáp nhập hoặc không thành lập tổ chức các phòng cụ thể của đơn vị hành chính cấp huyện như sau: thống nhất cả nước có 10 phòng “cơ cấu cứng” ngoài ra có thể thành lập thêm phòng tùy thuộc vào chuyên ngành, đặc thù ở các địa phương khác nhau với đơn vị hành chính loại I không quá 12 phòng; loại II không quá 11 phòng; loại III không quá 10 phòng và huyện đảo không quá 10 phòng. Số lượng cấp phó phòng bình quân không quá 2 phó phòng, căn cứ vào số lượng phòng chuyên môn được thành lập và tổng số Phó Trưởng phòng, UBND cấp huyện quyết định cụ thể số

     

    P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

    69

    lượng Phó Trưởng phòng của từng phòng chuyên môn cho phù hợp[1]. Tuy nhiên, cho đến nay Chính phủ chưa ban hành chính thức nghị định này.

     

    2. Về tinh giản biên chế

     

    Từ những kết quả về sắp xếp cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chủ yếu nêu trên nhìn chung đã được thiết kế tinh gọn, hợp lý, đáp ứng được yêu cầu quản lý thống nhất, thông suốt và bao quát đối với ngành, lĩnh vực và đây làm cơ sở cho việc xác định, rà soát, sắp xếp lượng biên chế và tinh giản biên chế, đưa những người cần tinh giản ra khỏi bộ máy. Đồng thời, có điều kiện để bổ sung những người có trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ cao, có sức khỏe vào làm việc trong các cơ quan chuyên môn. Cụ thể, số lượng cơ quan chuyên môn có thay đổi theo chiều hướng giảm từ 15 xuống còn là 12 (có tính đến đặc thù theo loại hình đơn vị hành chính cấp huyện). Tuy nhiên, có thể nhận thấy về cơ bản biên chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện lại có sự tăng lên về số lượng. Bởi việc xác định biên chế và tinh giản biên chế công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện từ tháng 12 năm 2009 trở về trước là xác định theo “vị trí công tác”, việc xác định vị trí công tác này cũng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn và từ vị trí công tác của các cơ quan chuyên môn sẽ xác định số lượng biên chế (trong đó có sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn) cụ thể như đối với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: phòng Nội vụ có từ 07 – 11 vị trí (tương đương là 07-11 biên chế); phòng Tài nguyên và Môi trường có 07-11 vị trí và 07-11 biên chế, phòng Thanh tra có 05 -08 vị trí và 05 – 08 biên chế; huyện phòng Nội vụ có 08 – 10 vị trí tương đương có 08 -10 biên chế, phòng Tài nguyên và Môi trường có có 09 -11 vị trí và có 09 – 11 biên chế, phòng Thanh tra 05 – 07 vị trí có 05 – 07 biên chế… Tổng vị trí công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được xác định giai đoạn

     

    này là từ 113 -138 vị trí công tác, tương đương với 113 – 138 biên chế [2 tr.47].

     

    Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 việc xác định biên chế công chức theo vị trí việc làm (VTVL). Do vậy, việc xác định biên chế của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đã được điều chỉnh khác với giai đoạn trước như: VTVL được phân thành 03 loại (VTVL do một người đảm nhận; VTVL do nhiều người đảm nhận; VTVL kiêm nghiệm). Khi xác định vị trí này phải có một địa chỉ cụ thể, nội dung công việc rõ ràng, có nghĩa là ngoài việc gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện còn gắn với tính chất, đặc điểm, mức độ phức tạp của quy mô, phạm vi, đối tượng quản lý của ngành, lĩnh vực; quy trình quản lý chuyên môn, nghiêp vụ theo quy định của luật chuyên ngành; mức độ hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; quy mô dân số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; và đặc biệt còn gắn với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đào tạo của từng VTVL. Bên cạnh đó còn có sự phân biệt thành 03 nhóm công chức khác nhau (nhóm lãnh đạo quản lý, nhóm chuyên môn nghiệp vụ, nhóm hỗ trợ phục vụ).

     

    Thực tiễn, việc tính toán một cách khoa học biên chế dành cho mỗi VTVL tại các cơ quan chuyên môn sao cho vừa bảo đảm khoa học lại phải sát với thực tế yêu cầu công việc gặp nhiều khó khăn vì việc xác định này chỉ mang tính định tính là chủ yếu, mặc dù Bộ Nội vụ đưa ra những quy định như: phải có sắp xếp, xây dựng xong VTVL rồi mới được tuyển dụng… điều này khiến các cơ quan thực hiện bị lúng túng, bởi yêu cầu một nhân viên chỉ được vào một vị trí, nhưng thực tế một nhân viên đó hoàn toàn có thể sắp xếp được 2 – 3 – 4 vị trí và ngược lại. Dẫn đến, việc xác định VTVL có thể làm cho số lượng biên chế tăng hoặc giảm. Nhưng về cơ bản là phải bảo đảm phù hợp với chức năng,

     

    70                            P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

     

     

    nhiệm vụ, khối lượng công việc của cơ quan, đơn vị. Từ đó làm căn cứ cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao số lượng biên chế cho phù hợp với từng cơ quan đó. Vì vậy, không ít cơ quan chuyên môn trong khi xây dựng đề án mô tả VTVL có tâm lý muốn tăng thêm hoặc giữ nguyên biên chế nên có thể chưa mô tả hết thực chất tính chất công việc của từng VTVL, công chức kê khai không đúng tỷ lệ thời gian thực hiện công việc của mình do lo sợ bị giảm biên chế.v.v. Cụ thể, với cơ quan chuyên môn cấp huyện việc xác định biên chế đã có sự phân biệt giữa nông thôn và thành thị như: Đối với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: phòng Tài nguyên và Môi trường có 13 VTVL với 13 biên chế trong đó: (1) 04 vị trí gắn với công việc lãnh đạo, quản lý gồm 01 trưởng phòng, 03 phó phòng tương đương 04 biên chế; (2) 06 vị trí gắn với công việc chuyên môn, nghiệp vụ tương đương là 06 biên chế (3) 03 vị trí hỗ trợ phục vụ tương đương 03 biên chế. Đối với huyện có: phòng Tài nguyên và Môi trường có 10 VTVL với 10 biên chế trong đó: (1) 03 vị trí công việc gắn với công việc lãnh đạo, quản lý tương đương có 03 biên chế; (2) vị trí công việc chuyên môn nghiệp vụ 05 theo lĩnh vực công tác chuyên môn tương đương 05 biên chế; (3) vị trí phục vụ 02 việc làm tương đương 02 biên chế v.v… Tổng VTVL các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là 179 vị trí việc làm tương đương 179 biên chế [2.Tr 64].

     

    Qua phân tích trên có thể nhận thấy việc xác định biên chế đã có thay đổi phù hợp với yêu cầu của CCHC từ việc xác định vị trí công tác để xác định biên chế sang xác định VTVL để xác định biên chế hơn nữa còn có sự phân biệt rõ về nhóm VTVL. Mặt khác, các quy định vẫn chưa thể hiện và phân biệt được giữa tên gọi vị trí việc làm với chức danh, ngạch công chức theo yêu cầu của VTVL mà có sự đồng nhất giữa VTVL với biên chế công chức dẫn đến việc khi các cơ quan hành chính nhà nước

     

    xác định VTVL luôn có xu hướng tăng VTVL cũng dẫn đến tăng biên chế. Đây là một nghịch lý trong thực tiễn cần được khắc phục theo hướng tinh giản biên chế.

     

    2.   Một số giải pháp cho việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và tinh giản biên chế

     

    Thứ nhất: Chính phủ cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cụ thể của các cơ quan chuyên môn, giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện với nhau để bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước theo xu hướng đa ngành, đa lĩnh vực, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ và tránh sự chồng chéo, trùng lắp giữa các phòng chuyên môn. Bên cạnh đó, có những quy định khuyến khích các địa phương thực hiện việc tinh gọn tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước cấp huyện hơn so với quy định hiện hành. Tuy nhiên, không tăng tổng biên chế và nên áp dụng khoán biên chế và giao nhiệm vụ cho người đứng đầu của cơ quan phải có lộ trình giảm biên chế cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, kiểm tra giám sát để hạn chế việc tăng biên chế, đồng thời không áp dụng chế độ “hợp đồng” để thực hiện công việc của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước như một số địa phương đã áp dụng, làm cho số lượng người hưởng lương trong bộ máy gia tăng đáng kể.

     

    Thứ hai: Chính phủ cần phải sửa đổi và ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hướng dẫn về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, trong đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức và biên chế của các cơ quan chuyên môn để không trái với các quy định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Làm cơ sở pháp lý cho việc xác định và tinh giản biên chế cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.

     

    P.T. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 65-71

    71

    Thứ ba: Hoàn thành việc xác định VTVL trong các cơ quan chuyên môn, cấn phân biệt giữa tên gọi VTVL với chức danh, ngạch công chức theo yêu cầu tại VTVL; không đồng nhất giữa VTVL với biên chế công chức. Mặt khác, do chức năng, nhiệm vụ mỗi cơ quan là khác nhau, vì vậy việc xác định chỉ tiêu biên chế, cơ cấu công chức phải được thực hiện riêng, không thể lấy kết quả đo lường của cơ quan này áp cho cơ quan khác mà cần nghiên cứu cho từng cơ quan. Bên cạnh đó, không thể xác định định mức cơ cấu ngạch công chức theo chức danh nghề nghiệp chung cho tất cả các cơ quan mà cần phải nhóm theo mức độ phức tạp của từng loại nhiệm vụ và được tính toán một cách chi tiết riêng cho từng cơ quan cụ thể. Để từ đó, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có căn cứ xác định biên chế phù hợp và tinh giản được biên chế. Một biên chế có thể đảm nhiệm một vị trí hoặc một số vị trí việc làm, tùy theo tần xuất, số lượng công việc của từng vị trí để bố trí nhân sự cho hợp lý.

     

    Thứ tư: Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cần rà soát, đánh giá năng

     

    lực, trình độ đào tạo, của công chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với VTVL và yêu cầu nhiệm vụ. Có biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những công chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng, không đạt yêu cầu tiêu chuẩn quy định về phẩm chất, năng lực, trình độ đào tạo, sức khỏe; những người dôi dư do sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự; những người dôi dư do cơ cấu lại công chức theo VTVL.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Xem Dự thảo Nghị định ngày 10/4/2018 – Bộ Nội vụ, Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. https://www.moha.gov.vn.
    • Nguyễn Văn Lượng, Đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định vị trí việc làm trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện”, mã số: ĐT04/11, H.2016, tr 47, tr 64.

    .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%E1%BB%91i-%C6%B0u-v%C3%B9ng-ph%E1%BB%A7-m%E1%BA%A1ng-4G-LTE-khu-v%E1%BB%B1c-qu%E1%BA%ADn-S%C6%A1n-Tr%C3%A0-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-%C4%90%C3%A0-N%E1%BA%B5ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tối ưu vùng phủ mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

    ISSN 1859-1531 – TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 17, NO. 1.2, 2019

    27

       

    TỐI ƯU VÙNG PHỦ MẠNG 4G LTE KHU VỰC QUẬN SƠN TRÀ,

    THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

     

    OPTIMIZATION OF 4G LTE NETWORK COVERAGE IN SONTRA DISTRICT, DA NANG CITY

     

    Phạm Văn Phát

     

    Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng; [email protected]

     

     

    Tóm tắt – Nhu cầu băng thông rộng, tốc độ cao ngày càng tăng và mạng 4G LTE đáp ứng được các yêu cầu công nghệ di động băng rộng. Tối ưu vùng phủ là một công việc thường xuyên và định kỳ trong quá trình khai thác, vận hành mạng di động. Một vùng phủ yếu sẽ cho kết quả chất lượng dịch vụ kém. Dựa trên kết quả đo kiểm phát hiện các vùng phủ có tín hiệu yếu, tốc độ bit thấp. Đánh giá chất lượng vùng phủ dựa trên bộ tham số đo kiểm mạng được gọi là KPI đo kiểm. Trong bài báo này, tác giả trình bày các tham số KPI đo kiểm mạng 4G LTE. Phân tích, đánh giá các kết quả đo kiểm vùng phủ khu vực quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đây là địa bàn thu hút rất đông khách du lịch cũng như phát triển nóng về cơ sở hạ tầng, nhiều tòa nhà cao tầng với mật độ dày được mọc lên đã gây suy giảm chất lượng vùng phủ.

     

    Từ khóa – Mạng 4G LTE; RSRP; SINR; đo kiểm, tối ưu vùng phủ.

     

    Abstract – Broadband, high-speed demand is increasing, and 4G LTE networks meet the demands of mobile broadband technology. Optimal of mobile network coverage is a regular and periodic task in the process of exploiting and operating the mobile network. Poor coverage will result in low quality of services. Based on the Drivertest results, the areas with weak signal, low bit rate. Coverage rating is based on a set of network test parameters, called KPIs. In this paper, the author presents the KPI parameters used for 4G LTE network measurements. Analysis and evaluation of Drivertest results covering the area of Son Tra district, Da Nang city. This is an area where there is a rapid increase in the number of tourists, as well as hot development of infrastructure, many high buildings are built with high density has caused a decline in the quality of coverage.

     

    Key words – 4G LTE network; RSRP; SINR; Drive Testing; Optimization of Network Coverage.

     

    1.   Đặt vấn đề

     

    Tối ưu hóa vùng phủ sóng là hoạt động thường xuyên của các nhà mạng. Mục tiêu tối ưu hóa nhằm giải quyết các vấn đề như chất lượng vùng phủ sóng di động kém, chất lượng thoại kém, rớt cuộc gọi, nghẽn mạng… nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, tối ưu hóa hiệu suất mạng. Ngoài ra, việc tối ưu mạng cũng nhằm mục tiêu tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng mạng, tối đa hóa tiềm năng và hiệu quả đầu tư của nhà mạng [1]. Quá trình tối ưu cần một quy trình chặt chẽ, trải qua nhiều công đoạn thực hiện khác nhau như xây dựng kịch bản đo, thực hiện đo kiểm, phân tích đánh giá, hiệu chỉnh hệ thống – thiết bị và thực hiện đo kiểm, đánh giá sau hiệu chỉnh như trình bày ở Hình 1.

     

     

     

    Hình 1. Quá trình đo kiểm, tối ưu mạng

     

    Các biện pháp hiệu chỉnh thường thấy như sửa lỗi thiết bị phần cứng, căn chỉnh góc ngẩng, độ cao anten, hiệu chỉnh công suất trạm, thiết kế trạm hợp lý hơn, tối ưu quan hệ giữa các trạm lân cận. Việc đo kiểm, đánh giá chất lượng

    mạng dựa vào bộ tiêu chuẩn và chỉ số đo cụ thể được quốc tế công nhận [2, 4].

     

    Cùng với mạng 3G, mạng băng rộng 4G đã được các nhà mạng triển khai thử nghiệm và đưa vào khai thác từ năm 2017. Hiện tại mới chỉ có các chỉ số kiểm định chất lượng mạng khu vực nội thành Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được công bố trên Cổng thông tin điện tử Cục viễn thông Quốc gia. Các khu vực khác hiện vẫn đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện hạ tầng.

     

    Cùng với các thành phố lớn trong cả nước, Đà Nẵng là một trong số các tỉnh thành triển khai hạ tầng mạng di động 4G sớm nhất. Hiện nay, do tốc độ đô thị hóa cũng như tăng trưởng nhanh ngành nghề du lịch và dịch vụ, đặc biệt là việc tăng trưởng nóng khu vực ven biển quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn. Khu vực này có rất nhiều toàn nhà cao tầng được xây dựng mới làm che chắn hướng sóng, ảnh hướng rất lớn đến không gian thu phát và diện tích vùng phủ của hệ thống thông tin di động. Cùng với đó là mật độ dân số, khách du lịch tăng đột biến cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ mạng. Thực tế trên đặt ra bài toán cần đo kiểm, phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ, có giải pháp quy hoạch và tối ưu vùng phủ, dịch vụ mạng cho khu vực này.

     

    2.   Các thông số đánh giá vùng phủ sóng mạng 4G LTE

     

    KPI (Key Performance Indicators) là bộ các chỉ số thể hiện chất lượng mạng, là chỉ số làm tiêu chí đánh giá mạng di động tốt hay tồi. Có 2 phương thức đo kiểm được sử dụng để kiểm tra và giám sát các chỉ tiêu:

     

    • KPI dành cho nhà quản lý(OMC);
    • KPI dành cho đo kiểm (Drive Test).

    KPI trong mạng LTE bao gồm chất lượng vùng phủ (Coverage), khả năng truy nhập(Accessibility), khả năng

     

    28                                                                                                                                                                                         Phạm Văn Phát

     

    duy trì (Retainability), khả năng di động (Mobility), KPI dịch vụ (Service Integrity), Khả năng sử dụng (Utilization), khả năng sẵn sàng (Availability) và lưu lượng (Traffic) [4].

     

    Drive Test là phương pháp đo bao gồm một phương tiện di chuyển có trang bị thiết bị đo kiểm tra giao diện vô tuyến của mạng di động, cho phép thu thập và ghi lại thông tin về dịch vụ cung cấp bởi mạng di động trên một khu vực địa lý. Bằng phương thức đo kiểm này, nhà khai thác có thể đưa ra những thay đổi phù hợp đối với mạng lưới để cung cấp tốt hơn vùng phủ sóng và dịch vụ đến khách hàng. Drive Test có thể được phân thành một số loại với các mục đích khác nhau:

     

    • Mục đích so sánh giữa các mạng;
    • Tối ưu và khắc phục sự cố;
    • Giám sát chất lượng dịch vụ.

    Trong nghiên cứu này, liên quan đến công tác đo kiểm thực tiễn mạng 4G LTE, tác giả trình bày nhóm KPI đánh giá vùng phủ gồm các chỉ tiêu là RSRP, RSRQ, SINR. Nhóm KPI chất lượng dịch vụ dữ liệu gồm các chỉ tiêu đo kiểm cho các tham số liên quan đến chất lượng dịch vụ data như: tốc độ download (LTE DL), tốc độ upload (LTE UL).

     

    2.1. Tham số đo đánh giá tín hiệu thu RSRP, RSRQ, SINR

     

    2.1.1. Công suất tín hiệu thu RSRP

     

    RSRP (Reference Signals Received Power) đo mức công suất nhận được trong mạng di động 4G LTE. RSRP được tính bằng trung bình của các mức công suất thu được trên tất cả các tín hiệu chuẩn trong toàn bộ băng tần đo kiểm.

        (      ) =      (      ) − 10 ∗ lg⁡(12 ∗   ) (1)

     

    Trong đó:

     

    • N: số RB (Resource Block) khi RSSI được đo kiểm, và tham số này phụ thuộc vào băng thông.

     

    • RSSI (Received Signal Strength Indicator): là mức tín hiệu thu), là tham số cung cấp thông tin về tổng công suất thu được (trên toàn bộ các tín hiệu) bao gồm cả nhiễu. RSSI được đo kiểm trên toàn bộ băng thông.

    Bảng 1. Giải thích màu của RSRP

     

    RSRP (dBm)

    Chú thích màu

     

    Kết quả

    0 ÷ -75

       

    Rất tốt

    -75

    ÷ -85

       

    Tốt

    -85

    ÷ -95

       

    Trung bình

    -95 ÷ -105

       

    Yếu

    -105

    ÷ -120

       

    Rất yếu

       

    <-120

       

    Không sử dụng được

             

    RSRP là một trong các tham số cơ bản trong việc đo kiểm trên lớp vật lý của UE. RSRP sẽ cung cấp cho UE các thông tin cần thiết về cường độ tín hiệu của các cell từ đó việc mất đường truyền có thể được tính toán và sử dụng trong các thuật toán để điều chỉnh và thiết lập công suất tối ưu cho việc hoạt động trong mạng. RSRP có thể được sử dụng trong cả 2 trạng thái IDLE và CONNECTED của UE. Theo ETSI TS 136.133 khoảng

     

    giá trị của RSRP được định nghĩa trong khoảng từ -140 dBm cho tới -44 dBm [2].

     

    2.1.2. Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu SINR

     

    SINR (Signal to Interference-plus-Noise Ratio) tỷ số tín hiệu trên nhiễu. Là mức công suất thu hữu ích trên tổng nhiễu. Do đó SINR được sử dụng như một tham số đo kiểm đánh giá chất lượng tín hiệu.

    =⁡

     

    (2)

     
     
           

    Trong đó:

     

    • S: là công suất của các tín hiệu được sử dụng đo kiểm (các thông tin có ý nghĩa, các tín hiệu mong muốn). Các tín hiệu chuẩn và các kênh vật lý chia sẻ đường xuống là liên quan chủ yếu.
    • N: là tổng công suất nhiễu (các tín hiệu không mong muốn), N liên quan tới việc đo kiểm băng thông và các hệ số nhiễu thu được.

    Về mặt giá trị SINR có thể có cả giá trị âm và dương khi tính theo đơn vị dB. Giá trị SINR âm có nghĩa là công suất tín hiệu thấp hơn so với công suất nhiễu.

     

         

    Bảng 2. Giải thích màu của SINR

               
     

    SINR

     

    Chú thích

     

    Kết quả

     

    (dB)

     

    màu

     
           

    >20

         

    Rất tốt

    15

    ÷ 20

         

    Tốt

    10

    ÷ 15

         

    Trung bình

    2 ÷ 10

         

    Kém

    0

    ÷ 2

         

    Rất kém

    < 0

         

    Không sử dụng được

    2.1.3. Chất lượng tín hiệu thu RSRQ

     

    RSRQ (Reference Signal Received Quality) cung cấp cho UE các thông tin cần thiết về chất lượng tín hiệu của các cell, việc đo kiểm tham số RSRQ trở nên đặc biệt quan trọng ở phía biên của các cell, khi cần quyết định có thực hiện việc chuyển giao tới một cell khác. RSRQ chỉ được sử dụng trong trạng thái CONNECTED của UE.

     

    RSRQ được tính toán theo công thức:

    =

     

    .

    (3)

     
           
         

    Trong đó, NPRB là số Physical Resource Blocks(PRB) khi RSSI được đo kiểm, thông thường nó bằng với băng thông hệ thống.

     

    RSRQ trong 4G LTE là một tham số được sử dụng cho việc đo kiểm chất lượng mạng trong mạng 4G LTE. Theo ETSI TS 136.133 khoảng giá trị của RSRQ được định nghĩa trong khoảng từ -34 dB cho tới 2.5 dB [2].

     

    2.2. Tham số đo liên quan tốc độ dữ liệu LTE DL&UL

     

    LTE DL & UL là tham số đo lường tốc độ dữ liệu đường xuống(DL) và đường lên(UL) mạng 4G LTE. Tốc độ tải xuống trung bình (Download Speed) là tỷ số giữa tổng dung lượng các tệp dữ liệu tải xuống trên tổng số thời gian tải xuống. Tương ứng, tốc độ tải lên trung bình (Upload Speed) là tỷ số giữa tổng dung lượng các tệp dữ liệu tải lên trên tổng số thời gian tải lên [3, 6].

     

    ISSN 1859-1531 – TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 17, NO. 1.2, 2019

    29

       

    Bảng 3. Giải thích màu của LTE DL&UL

     

    LTE DL & UL

    Chú thích màu

    Kết quả

     

    Throughput(kbps)

         
           

    > 10000 kbps

     

    Rất tốt

     

    5000 ÷ 10000 kbps

     

    Tốt

     

    1000 ÷ 5000 kbps

     

    Trung bình

     

    500 ÷ 1000 kbps

     

    Yếu

     

    0 ÷ 500 kbps

     

    Rất yếu

     

    no throughput

     

    Không sử dụng được

     
           

    2.3. Các tham số đo liên quan chất lượng dịch vụ thoại

     

    CSSR (Call Setup Success Rate): tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công, là tỷ lệ (%) giữa số cuộc gọi được thiết lập thành công trên tổng số cuộc gọi được thực hiện.

     

    CDR (Call Drop Rate): tỷ lệ cuộc gọi bị rơi, là tỷ lệ (%) giữa số cuộc gọi bị rơi trên tổng số cuộc gọi được thiết lập thành công.

     

    SASR (Service Access Success Rate): Tỷ lệ truy nhập dịch vụ thành công, là tỷ lệ (%) giữa số lần truy nhập dịch vụ thành công trên tổng số lần truy nhập dịch vụ [3, 6].

     

    3.   Đo kiểm và đánh giá vùng phủ 4G LTE khu vực Quận Sơn Trà – Thành phố Đà Nẵng

     

    Mapinfo & Googlearth là các phần mềm tiêu chuẩn hỗ trợ cho phân tích và tối ưu mạng. Các phần mềm hiển thị đầy đủ các thông tin đo kiểm trên bản đồ số, chỉ thị các tuyến đường, vị trí trạm gốc, độ cao địa hình, hiển thị môi trường xung quanh. Hỗ trợ chia các lớp tín hiệu, phân khu vực, tọa độ GPS, trích xuất bản in v.v. [3, 5].

     

    Trong hệ thống thông tin di động 4G_LTE, các tín hiệu đo lường phổ biến là mức công suất thu tín hiệu hữu ích RSRP, tỉ số tín hiệu trên nhiễu SINR và tốc độ dữ liệu LTE UL&DL.

     

    Hiện nay, mạng 4G đang được các nhà mạng lớn đầu tư, lắp đặt và thử nghiệm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Hầu hết các thiết bị được cung cấp từ hãng viễn thông hàng ZTE. Các nhà mạng lớn như Viettel, Vinaphone và MobiFone đã hoàn thành quá trính thử nghiệm và tiến đến thực hiện công đoạn tối ưu, triển khai thương mại tại các thành phố lớn. Khác với các công nghệ truy cập vô tuyến mạng 2G-GSM, 3G-WCDMA; mạng 4G-LTE sử dụng công nghệ OFDM cho tốc độ dữ liệu cao hơn nhiều mạng 3G, do đó một trong những ưu điểm và là thế mạnh vượt trội của 4G là tốc độ dữ liệu. Về lý thuyết, trong điều kiện lý tưởng, tốc độ dữ liệu đỉnh 4G LTE có thể đạt đến 300Mbps.

     

    3.1. Kết quả đo kiểm RSRP, LTE DL khu vực quận Sơn Trà Kết quả đo kiểm hai tham số RSRP và Download mạng

    4G LTE của nhà mạng VietNamMobile khu vực quận Sơn Trà như Hình 2 và 3.

     

    Dựa trên bảng đồ phổ màu đo kiểm cho thấy, tín hiệu 4G LTE hiện chưa phủ đều, nhiều vùng màu đỏ cho mức thu RSRP rất thấp (< -105dBm). Đặc biệt khu vực Vân Đồn, cầu Thuận Phước, khu phường Mân Thái và đường ra cảng Tiên Sa tín hiệu rất yếu [5, 7].

     

     

     

     

    Hình 2. Kết quả đo kiểm RSRP mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà

     

     

     

     

    Hình 3. Kết quả đo kiểm tốc độ Download mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà

     

    Kết quả đo kiểm cho thấy đi kèm chất lượng vùng phủ yếu là tốc độ dữ liệu rất thấp. Hình 5 cho thấy, có đến 73,2% vùng phủ thể hiện màu xanh nhạt và màu vàng tương ứng tốc độ dữ liệu đạt từ 1000Kbps đến 10.000Kbps. Tốc độ này còn rất thấp so với tốc độ dữ liệu trung bình của Việt Nam (21,49Mbps) và khu vực [8].

     

    30                                                                                                                                                                                         Phạm Văn Phát

     

    cùng sử dụng băng tầng U900 [5, 7].

     

     

     

     

    Hình 4. Vùng phủ PA1 và PA2 có tham số RSRP rất yếu

     

    3.2. Đánh giá vùng phủ và hiệu chỉnh thiết bị

     

    Trong giới hạn bài báo, tác giả chỉ trình bày phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp hiệu chỉnh hai vùng phủ có chất lượng tín hiệu thấp PA1(Problem Area), PA2 như Hình 4.

     

    Trong đó:

     

    • PA1: khu vực đường Dương Đình Nghệ – An Nhơn

    – Huy Du;

     

    • PA2: hai bên đường Võ Văn Kiệt, khu vực Mỹ Khê thuộc phường An Hải Đông.

    Bảng 4. RSRP vùng phủ PA1 và PA2

     

    No

    Clus-ter

    PA

    Problem

    Priority

    Status

     

    1

    DNG_2

    PA1

    RSRP < -105dBm

    Medium

    Open

     
                 

    2

    DNG_2

    PA2

    RSRP < -100dBm

    Medium

    Open

     
                 

    3.2.1. Vùng phủ PA1

     

    Vấn đề ở vùng phủ PA1 là tham số RSRP ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dịch vụ. Quan sát kết quả khảo sát và số liệu từ nhà mạng cho thấy chiều cao Anten

     

    • Site 215176 là 20, Anten ở Site 215094 cao 22m. Bên cạnh đó, đây là khu vực có nhiều tòa nhà cao tầng làm che chắn hướng sóng và gây ra sự suy giảm tín hiệu rất mạnh.

    Giải pháp khả thi cho vùng phủ PA1 là tăng công suất P-CPICH 215094_2 từ 33dBm -> 36dBm, tăng công suất P-CPICH 215176_1 từ 33dBm -> 39dBm và điều chỉnh góc nghiêng M-tilt từ 2 sang 1.

     

    3.2.2. Vùng phủ PA2

     

    Vấn đề của vùng phủ PA2 vẫn là RSRP thấp trên một diện tích bao phủ rộng. Quan sát kết quả DriverTest nhận thấy khu vực này không có một Sector nào hướng vào, khoảng cách các trạm lại khá lớn. Do vậy hướng hiệu chỉnh tạm thời là tăng công suất P-CPICH 215016_2 từ 33-> 39dBm và điều chỉnh góc phương vị(Azimuth) Site 215074_3 từ vị trí 250 sang 220 để hướng Sector 212 sang vùng PA2. Về lâu dài, khu vực này cần có thêm trạm mới

     

     

     

    Hình 5: Vùng phủ PA2 cần bổ sung thêm Site mới

     

    Tổng hợp các giải pháp hiệu chỉnh thiết bị áp dụng cho hai vùng phủ PA1 và PA2 như trong Bảng 5.

     

    Bảng 5. Các giải pháp hiệu chỉnh thiết bị cho

     

    vùng phủ PA1 và PA2

     

     

    Sector

    Site ID

     

    PA

    Probl-em

    Conte-nt

    Value

       

    Cur-rent

     

    New

                   
     

    215094_2

    215094

     

    PA1

    RSCP

    CPICH

    33

    36

       

    < -105

    PW

                   
                       
     

    215176_1

    215176

     

    PA1

    RSCP

    CPICH

    33

    39

       

    < -105

    PW

                   
                       
     

    215176_1

    215176

     

    PA1

    RSCP

    M-tilt

    2

    1

       

    < -105

                     
                       
     

    215074_3

    215074

    PA2

    RSCP

    Azimuth

    250

    220

     

    < -100

                       
     

    215016_2

    215016

     

    PA2

    RSCP

    CPICH

    33

    39

       

    < -100

    PW

                   
                       

    4.   Kết luận

     

    Tối ưu hóa vùng phủ là một quá trình được thực hiện liên tục, định kỳ nhằm khắc phục các vấn đề phát sinh trong quá trình vận hành, khai thác hạ tầng mạng. Tối ưu hóa cũng là giải pháp khai thác hiệu quả hạ tầng mạng, đáp ứng nhu cầu luôn biến động của người dùng, nâng cao chất lượng dịch vụ.

     

    Trong bài báo này tác giả trình bày các nghiên cứu về bộ chỉ số KPIs đo kiểm chất lượng vùng phủ mạng thông tin di động 4G LTE như chỉ số RSRP, RSRQ, SINR, tốc độ truy cập dữ liệu, tỉ lệ thành công các truy nhập, kết nối, tỉ lệ cuộc gọi thành công, tỉ lệ cuộc gọi bị rớt. Hai chỉ số đo kiểm được trình bày trong nghiên cứu này là RSRP và tốc độ Dowload dữ liệu (Throughput DL).

     

    Mô  hình nghiên cứu được thực  hiện dựa  trên các

     

    ISSN 1859-1531 – TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, VOL. 17, NO. 1.2, 2019

    31

       

    số liệu và kết quả khảo sát mạng 4G LTE khu vực quận Sơn Trà của nhà mạng VietNamMobile. Kết quả DriverTest cho thấy đây là khu vực có nhiều điểm cho chất lượng vùng phủ thấp. Việc đảm bảo chất lượng thỏa mãn các yêu cầu dịch vụ băng rộng trong điều kiện duy trì hạ tầng mạng như hiện nay là một thách thức, đặc biệt là sự biến động về hạ tầng đô thị cũng như mật độ thuê bao tăng nhanh.

     

    Nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp hiệu chỉnh, tối ưu mạng cho hai vùng phủ yếu PA1 và PA2. Về lâu dài, cần có các giải pháp tổng thể, trong đó cần thay đổi vị trí lắp đặt các trạm cũng như cho phép lắp đặt các trạm phát tại các tòa nhà cao tầng. Thay đổi chiều cao Anten, nhà trạm nhằm đảm bảo an toàn, mỹ quan đô thị, phù hợp môi trường đô thị có mật đô thuê bao cao, nhiều điểm mù.

     

    Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển tiềm năng Khoa học và Công nghệ của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng trong đề tài có mã số T2018-06-87

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Yanbo Fu, Na Qu, Haibin Hou, Yongxi Zhang, “Optimization of LTE Network Coverage”, Journal of Wireless Communication Technology, Whioce Publishing Pte. Ltd, May 2017
    • Oluyomi Simpson, Yichuang Sun, LTE RSRP, RSRQ, RSSNR and local topography profile data for RF propagation planning and network optimization in an urban propagation environment, Data Brief 16, August 2018
    • Floatway System, KPI in LTE Radio Network, Training Material, PT. Floatway Systems. Inc, January 2014
    • Trần Hoàng Diệu, Nghiên cứu xây dựng công cụ đo kiểm và đánh giá chất lượng dịch vụ di động 4G (LTE), Luận văn thạc sĩ công nghệ kỹ thuật điện tử – truyền thông, Đại học Công nghệ – Đại học quốc gia Hà Nội, 2016
    • Ngô Quang  Long,  Tối  ưu  vùng  phủ  mạng  thông  tin  di  động

    3G_WCDMA, Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Viễn thông, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, 2014

     

    • Văn Quang Dũng, Nghiên cứu định hướng xây dựng các tiêu chuẩn phục vụ thiết lập, triển khai mạng di động công nghệ LTE tại Việt

    Nam, Viện Khoa học kỹ thuật bưu điện, 2015

     

    • VietNamMobile, 4G DNG 2 VNM LTE PA Test Report, VietNam Mobile Da Nang, Aprill 2018.
    • https://opensignal.com/reports/2018/02/state-of-lte

    (BBT nhận bài: 10/10/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 22/12/2018)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%ACm-ki%E1%BA%BFm-c%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-c%C3%B3-%C3%BD-ngh%C4%A9a-t%E1%BB%AB-c%C3%A1c-trang-web-h%E1%BB%8Fi-%C4%91%C3%A1p-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

    Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 10 (9/2017) tr 104 – 113

     

    TÌM KIẾM CÂU HỎI CÓ Ý NGHĨA

     

    TỪ CÁC TRANG WEB HỎI ĐÁP CỘNG ĐỒNG

     

    Nguyễn Văn Tú, Hoàng Thị Lam, Nguyễn Thị Thanh Hà13

    Trường Đại học Tây Bắc

     

    Tóm tắt: Các trang web hỏi đáp cộng đồng có chứa một lượng lớn thông tin hỏi – đáp có giá trị sinh ra bởi những người sử dụng. Trong các trang web hỏi đáp cộng đồng, người dùng có thể gửi các câu hỏi, trả lời các câu hỏi của người khác và cung cấp thông tin phản hồi cho những câu hỏi/câu trả lời. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng tiếp cận học máy nhằm tìm kiếm những câu hỏi có ý nghĩa từ các trang web hỏi đáp cộng đồng. Những câu hỏi này cùng với các câu trả lời tốt nhất của chúng sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng cho xây dựng cơ sở tri thức, truy hồi thông tin và hỏi đáp non – factiod. Nghiên cứu thực hiện trích rút những đặc trưng quan trọng từ mỗi luồng hỏi – đáp cũng như thông tin của người sử dụng và xây dựng mô hình phân loại để xác định được những câu hỏi có ý nghĩa. Các thực nghiệm được xây dựng trên tập dữ liệu trích rút từ trang web hỏi đáp cộng đồng Yahoo! Answer đã chỉ ra tính hiệu quả của phương pháp đề xuất của chúng tôi.

     

    Từ khóa: Hỏi đáp cộng đồng, hỏi đáp tự động, phân loại, support vector machine.

     

    1. Tổng quan

     

    Trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên và truy xuất thông tin, vấn đề hỏi – đáp đã thu hút nhiều sự chú ý trong những năm qua. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hỏi – đáp chủ yếu tập trung vào việc tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi factoid được trích rút từ các tài liệu liên quan. Đánh giá nổi tiếng nhất về nhiệm vụ hỏi – đáp factoid là hội nghị truy hồi văn bản (Text REtrieval Conference-TREC(1)). Các câu hỏi và câu trả lời được phát hành bởi TREC đã trở thành nguồn dữ liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống hỏi đáp tự động [10]. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với các câu hỏi non – factoid như các câu hỏi về lý do tại sao, như thế nào,… hầu như không có hệ thống hỏi đáp tự động nào làm việc hiệu quả. Đồng thời chi phí của việc xây dựng dữ liệu huấn luyện với các câu hỏi non – factoid là quá cao. Trong các hệ thống này, chi phí của việc xây dựng dữ liệu lớn nhưng sau đó nó chỉ làm việc trong một miền cụ thể. Do đó việc trích rút các tri thức từ nguồn tài nguyên mở (thường là từ Internet) là một hướng tiếp cận thích hợp cho xây dựng các hệ thống hỏi đáp tự động miền mở.

     

    Các trang web hỏi đáp cộng đồng (community Question Answering – cQA) có chứa một lượng lớn nguồn tài nguyên phong phú là thông tin hỏi – đáp sinh ra bởi những người sử dụng. Trích rút các cặp câu hỏi-câu trả lời có ý nghĩa là nhiệm vụ quan trọng cho xây dựng cơ sở tri thức, truy hồi thông tin và hỏi đáp non-factiod. Tuy nhiên các cặp câu hỏi-câu trả lời trong các cQA này thường rất nhiễu, cả trong câu hỏi và các câu trả lời.

     

    Do đó trước khi sử dụng, các cặp câu hỏi – câu trả lời này cần phải được phân loại. Việc phân loại này giúp người dùng xây dựng được kho dữ liệu là các cặp câu hỏi – câu trả lời có ý nghĩa. Nhóm tác giả đã tìm hiểu về các nghiên cứu liên quan và thấy rằng các nghiên cứu

     

    13Ngày nhận bài: 22/01/2017. Ngày nhận kết quả phản biện: 10/03/2017 Ngày nhận đăng: 20/9/2017

     

    Liên lạc: Nguyễn Văn Tú, e – mail: [email protected]

     

    • http://trec.nist.gov/

     

     

    104

     

    trước đây thường chỉ tập trung vào việc tìm kiếm câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi [2, 6, 9]. Tuy nhiện, nghiên cứu này sử dụng tiếp cận học máy nhằm tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa từ các dữ liệu hỏi đáp thu thập từ các cQA. Để tìm kiếm được các câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA, bài báo này đề xuất sử dụng sự kết hợp của nhiều loại đặc trưng quan trọng trích rút từ mỗi luồng hỏi đáp cũng như thông tin của người gửi câu hỏi/câu trả lời và xây dựng mô hình phân loại để xác định được các câu hỏi có ý nghĩa.

     

    Bài báo này được tổ chức như sau: Phần 2 trình bày về tiếp cận của nhóm tác giả trong việc giải quyết bài toán; Phần 3 trình bày về các đặc trưng được sử dụng; Phần 4 là các thực nghiệm và các kết quả nghiên cứu; Kết luận và hướng phát triển được trình bày trong Phần 5.

     

    2. Cách tiếp cận của chúng tôi về tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa

     

    2.1. Bài toán tìm kiếm câu hỏi có ý nghĩa

     

    Việc tìm kiếm những câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA là nhằm xây dựng được các câu hỏi có ý nghĩa trong một tập rất lớn các luồng hỏi – đáp. Vì vậy, nghiên cứu này coi vấn đề tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa từ các cQA như là một vấn đề phân loại nhị phân và được phát biểu như sau:

     

    Cho một tập Q = {q1, q2, …, qn} các câu hỏi trích rút từ các luồng hỏi – đáp trên các cQA. Việc phân loại các câu hỏi trong Q chính là gán nhãn cho các câu hỏi {q1, q2, …, qn} các nhãn tương ứng là {l1, l2, …, ln} trong đó li = “Good” nếu qi là câu hỏi có ý nghĩa, li = “Bad” nếu qi không phải là một câu hỏi có ý nghĩa.

     

    2.2. Thuật toán phân loại câu hỏi

     

    Có nhiều bộ phân loại khác nhau đã được sử dụng để phân loại các dữ liệu văn bản như: Support Vector Machine, Naive Bayes, Maximum Entropy Models, Sparse Network of Winnows,… Tuy nhiên trong các bộ phân loại đó thì Support Vector Machine được xem là hiệu quả hơn cả [1, 3, 4]. Trong vấn đề phân loại câu hỏi, mỗi câu hỏi được coi như là một văn bản ngắn và được biểu diễn trong mô hình không gian vecto có số chiều rất lớn, điều này có thể được phân loại tốt bởi Support Vector Machine.

     

    Tuy nhiên, dữ liệu trong nghiên cứu này là các dữ liệu thu thập từ các cQA, các dữ liệu chưa được gán nhãn. Vì vậy, thuật toán phân loại bán giám sát SVM (semi-supervised Support Vector Machines) đã được sử dụng, đây là thuật toán phân loại bán giám sát được xây dựng từ thuật toán phân loại có giám sát Support Vector Machine.

     

    Trong semi-supervised Support Vector Machines, tập dữ liệu huấn luyện gồm hai phần, x là phần dữ liệu huấn luyện gồm n dữ liệu đã được gán nhãn là yi ( yi Î {+1, -1}) và x* là phần

     

    dữ liệu huấn luyện gồm k dữ liệu chưa được gán nhãn

    *

    *

    Î {+1, -1}) . Mục đích của thuật

    y j

    (y j

    toán semi-supervised Support Vector Machines là gán nhãn cho k dữ liệu chưa gán nhãn này. Mỗi dữ liệu được xem như một điểm trong không gian vecto. Mỗi điểm i thuộc phần dữ liệu đã gán nhãn có một sai số là xi và mỗi điểm j thuộc phần dữ liệu chưa gán nhãn sẽ có sai số là

     

    105

     

    *

    . Thuật toán semi-supervised Support Vector Machines sẽ giải bài toán tối ưu sau thay cho

    x j

    bài toán tối ưu ở thuật toán SVM.

     

    argmin

    1

     

    2

    n

       

    n +k

     
       

    w

    + Cå

    xi +C

    *

    å

    x j

    w,x , x

                   

    *

    , y

    ,b

    2

       

    i=1

       

    j =n+1

     

    *

    *

                     

    (1)

     

    Thỏa mãn các điều kiện:

    i

    (

    i

    )

     

    i

     

    y

       

    w.x b

     

    ³

    1 –x

     

    y

     

    (w.x b ) ³ 1 –x

     

    *

               
     

    j

     

    i

    {

    i

     

    i

         

    }

     

    x ³ 0, ” i Î

    1,…, n

    }

         

    {

    + 1,…,n + k

    x* ³ 0,” j Î n

     

    j

                 

    Trong đó CC* là các tham số phạt của các dữ liệu đã gán nhãn và các dữ liệu chưa gán nhãn.

     

    Nghiên cứu này sử dụng thuật toán semi-supervised Support Vector Machines đã được cài đặt bởi Vikas Sindhwani và các tác giả trình bày trong [7, 8].(2)

     

    2.3. Hiệu suất trong phân loại câu hỏi

     

    Để đánh giá hiệu suất của việc phân loại các câu hỏi, chúng tôi sử dụng các độ đo precision, recall, F1-measure, accuracy được định nghĩa như dưới đây. Để ước lượng các độ đo này có thể dựa vào Bảng 1.

     

    Bảng 1. Các kết quả dự đoán của phân loại

     

     

    Label

    Label

     

    y* = +1

    y* = -1

         

    Prediction f(x*) = +1

    TP

    FP

    Prediction f(x*) = -1

    FN

    TN

         

    Mỗi ô trong bảng đại diện cho một trong bốn kết quả đầu ra có thể của một dự đoán f(x*). Trong đó:

     

    TP (True Positive): Số lượng các câu hỏi positive được phân loại đúng.

     

    TN (True Negative): Số lượng các câu hỏi negative được phân loại đúng.

     

    FP (False Positive): Số lượng các câu hỏi positive bị phân loại sai.

     

    FN (False Negative): Số lượng các câu hỏi negative bị phân loại sai.

     

    Precision được định nghĩa như là xác suất mà một dữ liệu phân loại là f(x*) = +1 là một phân loại đúng. Nó được ước lượng như sau:

     

    • http://vikas.sindhwani.org/svmlin.html

    106

     

    Precision

     

    p =

    TP

     

    Tp + FP

     
     

    (2)

     

    Recall được định nghĩa như là xác suất mà một dữ liệu với nhãn là y* = +1 đã được phân loại đúng, được ước lượng như sau:

     

    Recall

     

    r =

    TP

     

    TP + FN

     
     

    (3)

     

    • = 2* p*r

    F   measure

    1p + r

     

    Accuracy =

    TP +TN

       

    TP + FP + Tn

    + FN

     
     

    (4)

     

    (5)

     

    3. Các đặc trƣng trong phân loại câu hỏi

     

    Trong phân loại câu hỏi trích rút từ các cQA, tập các đặc trưng khác nhau có thể được sử dụng. Các đặc trưng trong phân loại câu hỏi có thể được phân thành 3 loại khác nhau: Các đặc trưng về từ vựng, các đặc trưng về cú pháp và các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng (người gửi câu hỏi/câu trả lời, người đánh giá câu trả lời). Mỗi câu hỏi trong các cQA gồm 2 phần: Chủ đề hỏi (QSubject) và phần mô tả ngắn nội dung câu hỏi (QContent). Phần chủ đề hỏi và phần mô tả nội dung câu hỏi được coi như là một câu hỏi duy nhất gồm nhiều câu [5]. Bảng 2 là một ví dụ về câu hỏi trong cQA Yahoo!Answer.

     

    Bảng 2. Ví dụ về câu hỏi trong trang web cQA Yahoo!Answer

     

    Chủ đề hỏi hỏi

    Nội dung câu hỏi

       

    Body massage

    Hi there, i can see a lot of massage center here, but i dont know

     

    which one is better. can someone help me which massage center

     

    is good… and how much will it cost me? thanks

       

    3.1. Các đặc trưng từ vựng

     

    Đặc trưng n-gram: Các đặc trưng n-gram của một câu hỏi thường được trích rút dựa trên ngữ cảnh của các từ của câu hỏi, nghĩa là, các từ đó xuất hiện trong một câu hỏi. Trong phân loại câu hỏi, một câu hỏi được biểu diễn giống như sự biểu diễn tài liệu trong mô hình không gian vecto. Một câu hỏi x có thể được biểu diễn như sau:

     

    x = x1, x2,…, xN

    (6)

    trong đó xi là tần số xuất hiện của từ i trong câu hỏi xN là tổng số các từ trong x. Do tính thưa thớt của các đặc trưng, chỉ các đặc trưng có giá trị khác không mới được giữ lại trong véc tơ đặc trưng. Bởi vậy các câu hỏi cũng được biểu diễn dưới hình thức sau:

     

    x = {(t1, f1),…, (tp, fp)}

    (7)

    trong đó ti là từ thứ i trong câu hỏi xfi là tần số xuất hiện của ti trong câu hỏi x. Không gian đặc trưng này được gọi là các đặc trưng bag-of-words hoặc là unigrams. Unigrams là một trường hợp đặc biệt của cách gọi các đặc trưng n-gram. Để trích rút các đặc trưng n-gram, bất

     

    107

     

    kì n từ nào liên tiếp trong một câu hỏi đều được coi là một đặc trưng. Bảng 3 là danh sách các đặc trưng n-gram của câu hỏi “How many Grammys did Michael Jackson win in 1983?”.

     

     

    Bảng 3. Ví dụ về các đặc trƣng từ vựng

       

    Tên đặc trưng

    Đặc trưng

       

    Unigram

    {(How, 1) (many, 1) (Grammys, 1) (did, 1) (Michael, 1) (Jackson, 1) (win, 1) (in, 1)

     

    (1983, 1) (?, 1)}

    Bigram

    {(How-many, 1) (many-Grammys, 1) (Grammys-did, 1) (did-Michael, 1) (Michael-

     

    Jackson, 1) …(1983-?, 1)}

    Trigram

    {(How-many-Grammys, 1) (many-Grammys-did, 1) …(in-1983-?, 1)}

       

    Số từ trong câu hỏi: Trong phân loại câu hỏi, nghiên cứu cũng sử dụng số từ của mỗi câu hỏi như là một đặc trưng để phân loại. Dữ liệu thực tế trong các cQA cho thấy rằng những câu hỏi chứa ít hơn 5 từ thường là những câu hỏi nhiễu, không mang ý nghĩa.

     

    Số câu (sentence) trong câu hỏi: Mỗi câu hỏi trong cQA thường là một đoạn văn bản ngắn gồm nhiều câu trình bày những thông tin mà người gửi câu hỏi muốn hỏi. Nghiên cứu này sử dụng số câu trong mỗi câu hỏi như là một đặc trưng dùng để phân loại. Những câu hỏi gồm nhiều câu thường mang thông tin đầy đủ của câu hỏi, tuy nhiên nó lại chứa nhiều thông tin nhiễu khó phân loại.

     

    Số lượng stop word trong câu hỏi: Stop word là những từ quá phổ biến, quá chung chung (ví dụ một số stop word trong tiếng Anh: The, a, and, …). Mỗi câu hỏi của người dùng thường chứa các từ stop word. Số lượng các từ stop word trong mỗi câu hỏi được sử dụng là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    Từ để hỏi: Nghiên cứu sử dụng từ để hỏi (từ để hỏi là một trong các từ: What, Who, When, Why, Where, How) như là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    3.2. Các đặc trưng cú pháp

     

    Các đặc trưng cú pháp có thể được trích rút dựa vào việc phân tích cấu trúc cú pháp của câu hỏi.

     

    Tagged Unigrams: Tagged Unigrams cho biết thẻ từ loại của mỗi từ trong câu hỏi như

     

    • (Noun – danh từ), NP (Noun Phrase – cụm danh từ), VP (Verb Phrase – cụm động từ), JJ (adjective – tính từ), … Ví dụ câu hỏi sau “How many Grammys did Michael Jackson win in

    1983?” với Tagged Unigrams của nó:

     

    How_WRB many_JJ Grammys_NNPS did_VBD Michael_NNP Jackson_NNP win_VBP in_IN 1983_CD?_.

     

    Số thực thể trong câu hỏi: Số lượng thực thể trong mỗi câu hỏi được sử dụng như là một đặc trưng cú pháp để phân loại câu hỏi.

     

    Số danh từ trong câu hỏi: Nghiên cứu sử dụng số lượng các danh từ trong mỗi câu hỏi như là một đặc trưng cú pháp dùng để phân loại câu hỏi.

     

    108

     

    3.3. Các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng

     

    Số câu hỏi của người hỏi: Trên mỗi cQA, mỗi người có thể gửi nhiều câu hỏi mà họ cần sự giải đáp của cộng đồng người sử dụng cQA. Những người thường xuyên gửi câu hỏi thì các câu hỏi của họ thường mang nhiều ý nghĩa hơn cho cộng đồng. Do đó, nghiên cứu này sử dụng số lượng câu hỏi của người hỏi như là một đặc trưng trong việc giải quyết bài toán phân loại câu hỏi.

     

    Số câu trả lời của người hỏi: Những người thường xuyên tham gia hỏi đáp trên cQA thì thường những câu hỏi cũng như câu trả lời của họ sẽ mang nhiều ý nghĩa hơn. Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất sử dụng số lượng câu trả lời của người hỏi như là một đặc trưng dùng để phân loại câu hỏi.

     

    Số câu trả lời của câu hỏi: Mỗi câu hỏi khi được đăng lên cQA có thể nhận được nhiều câu trả lời của những người quan tâm. Số lượng câu trả lời cho câu hỏi này thể hiện sự quan tâm của người dùng đối với các vấn đề mà câu hỏi đang đề cập tới. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng số lượng câu trả lời của mỗi câu hỏi như là một đặc trưng nhằm đánh giá tầm quan trọng của câu hỏi.

     

    Số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi: Khi một câu hỏi được đăng lên có thể nhận được nhiều câu trả lời của người dùng. Người dùng cũng có quyền đánh giá câu trả lời nào đó là câu trả lời tốt nhất. Một câu hỏi mà câu trả lời của nó nhận được nhiều đánh giá thì thường là một câu hỏi có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng số lượng đánh giá của câu trả lời như là một đặc trưng để phân loại câu hỏi của nó.

     

    4. Các thực nghiệm và kết quả

     

    4.1. Tập dữ liệu

     

    Để thực hiện các thực nghiệm của mình, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ trang web hỏi đáp cộng đồng Yahoo!Answer(3). Tập dữ liệu này chứa 3.000 câu hỏi cùng với 9.895 câu trả lời và các thông tin liên quan đến câu hỏi/câu trả lời và thông tin về người gửi câu hỏi – câu trả lời. Tất cả các cặp câu hỏi-câu trả lời đều được trình bày bằng ngôn ngữ tiếng Anh.

     

    4.2. Các thực nghiệm và kết quả

     

    Để cài đặt các thực nghiệm của mình, nghiên cứu chia tập dữ liệu thành hai tập con testtraining. Tập test gồm 300 câu hỏi được sử dụng làm tập dữ liệu kiểm tra, tập training gồm 2700 câu hỏi được sử dụng làm tập dữ liệu huấn luyện.

     

    4.2.1. Thực nghiệm 1

     

    Thực nghiệm 1 chỉ sử dụng các đặc trưng từ vựng trích rút từ các câu hỏi trong tập dữ liệu. Các đặc trưng này gồm: Đặc trưng Unigram, Bigram, số từ trong câu hỏi, số sentence trong câu hỏi, số lượng stop word trong câu hỏi, từ để hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 1 được trình bày trong Bảng 4.

     

    • https://answers.yahoo.com/

    109

     

    Bảng 4. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng từ vựng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy (%)

    Precision (%)

    Recall (%)

    F1-measure (%)

             

    Unigram

    54,67

    57,05

    56,33

    56,69

    Bigram

    46,00

    48,75

    49,37

    49,06

    Số từ trong câu hỏi

    50,00

    52,25

    58,86

    55,36

    Số câu trong câu hỏi

    46,57

    49,45

    56,96

    52,94

    Số lượng stop word

    49,67

    52,02

    56,96

    54,38

    Từ để hỏi

    47,33

    22,95

    50,00

    34,17

    Tất cả đặc trưng trên

    55,33

    61,39

    57,06

    59,14

             

    4.2.2. Thực nghiệm 2

     

    Thực nghiệm 2 chỉ sử dụng các đặc trưng cú pháp trích rút từ các câu hỏi trong tập dữ liệu. Các đặc trưng này gồm: Đặc trưng Tagged Unigrams, số thực thể trong câu hỏi, số danh từ trong câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 2 được trình bày trong Bảng 5.

     

    Bảng 5. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng cú pháp

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy (%)

    Precision (%)

    Recall (%)

    F1-measure (%)

             

    Tagged Unigrams

    53,00

    55,63

    53,16

    54,37

    Số thực thể trong câu hỏi

    50,33

    52,26

    65,82

    58,26

    Số danh từ trong câu hỏi

    50,00

    52,33

    56,96

    54,55

    Tất cả đặc trưng trên

    55,67

    58,74

    53,16

    55,81

             

    4.2.3. Thực nghiệm 3

     

    Thực nghiệm 3 chúng tôi muốn kiểm tra tính hiệu quả của các đặc trưng tính toán dựa vào thông tin của người dùng. Các đặc trưng này gồm: số câu hỏi của người hỏi, số câu trả lời của người hỏi, số câu trả lời của câu hỏi, số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 3 được cho trong Bảng 6.

     

    Bảng 6. Kết quả phân loại khi sử dụng các đặc trƣng dựa trên thông tin ngƣời dùng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy

    Precision

    Recall

    F1-measure

     

    (%)

    (%)

    (%)

    (%)

     
     
               

    Số câu hỏi của người hỏi

    71,00

    72,33

    72,78

    72,55

     

    Số câu trả lời của người hỏi

    49,67

    68,42

    8,23

    14,69

     

    Số câu trả lời của câu hỏi

    79,00

    96,12

    62,66

    75,86

     

    Số lượng đánh giá cho câu trả lời tốt nhất của câu hỏi

    89,67

    91,13

    89,44

    90,28

     

    Tất cả đặc trưng trên

    90,67

    92,41

    90,12

    91,25

     
               

    110

     

    4.2.4. Thực nghiệm 4

     

    Thực nghiệm 4 kiểm tra sự đóng góp của tất cả các loại đặc trưng: Đặc trưng từ vựng, đặc trưng cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng. Chính vì vậy nghiên cứu kết hợp tất cả các loại đặc trưng này trong việc phân loại câu hỏi. Các kết quả của thực nghiệm 4 được trình bày trong Bảng 7.

     

    Bảng 7. Kết quả phân loại khi sử dụng sự kết hợp của nhiều loại đặc trƣng

     

    Tên đặc trưng

    Accuracy

    Precision

    Recall

    F1-measure

     

    (%)

    (%)

    (%)

    (%)

     
     
               

    Các đặc trưng từ vựng

    55,33

    61,39

    57,06

    59,14

     

    Các đặc trưng cú pháp

    55,67

    58,74

    53,16

    55,81

     

    Các đặc trưng dựa trên thông tin người dùng

    90,67

    92,41

    90,12

    91,25

     

    Tất cả đặc trưng trên

    91,67

    93,67

    90,79

    92,21

     
               

    Từ các kết quả của các thực nghiệm trên đã cho thấy vai trò của việc sử dụng mỗi loại đặc trưng khác nhau trong phân loại câu hỏi. Kết quả của các thực nghiệm 1, 2, 3 cho thấy việc phân loại câu hỏi cần sự kết hợp của nhiều loại đặc trưng khác nhau. Đồng thời trong các thực nghiệm này cũng cho thấy các đặc trưng trích rút từ thông tin người sử dụng sẽ cho kết quả phân loại cao nhất. Thực nghiệm 4 là sự tổng hợp của các thực nghiệm 1, 2, 3 khi sử dụng kết hợp tất cả các đặc trưng từ vựng, cú pháp và đặc trưng trích rút từ thông tin người dùng. Kết quả của thực nghiệm này cho thấy sự kết hợp của các loại đặc trưng khác nhau mà nghiên cứu sử dụng sẽ cho kết quả phân loại cao nhất. Biểu đồ 1 so sánh tầm quan trọng của các loại đặc trưng khác nhau trong phân loại câu hỏi trong các cQA.

     

     

     

    Biểu đồ 1. So sánh vai trò của các loại đặc trƣng trong phân loại câu hỏi

     

    111

     

    5. Kết luận và hƣớng phát triển

     

    Nghiên cứu đã trình bày một tiếp cận dựa trên học máy để phân loại câu hỏi trong các cQA. Để huấn luyện một thuật toán học, nhóm tác giả đã trích rút một tập các đặc trưng tốt từ từ vựng, cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng. Các kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng các đề xuất sẽ mạng lại hiệu quả cao trong vấn đề tìm kiếm các câu hỏi có ý nghĩa trong các cQA. Việc kết hợp của tất cả các loại đặc trưng từ vựng, cú pháp và đặc trưng dựa trên thông tin người dùng sẽ cho hiệu suất phân loại cao nhất. Nghiên cứu tiếp theo sẽ tìm ra phương pháp để kết hợp các đặc trưng tốt hơn nhằm đạt được sự phân loại có độ chính xác cao hơn.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Zhiheng Huang, Marcus Thint, and Zengchang Qin (2008). Question classification using head words and their hypernyms, In Proceedings of the Conference on Empirical Methods in Natural Language Processing, (EMNLP ’08), pp. 927-936.
    • Hu, B. Liu, B. Wang, M. Liu, X. Wang (2013). Multimodal DBN for predicting high-quality answers in cQA portals, In Proceedings of ACL, pp. 843-847.
    • Vijay Krishnan, Sujatha Das, and Soumen Chakrabarti (2005). Enhanced answer type inference from questions using sequential models, In Proceedings of the conference on Human Language Technology and Empirical Methods in Natural Language Processing, HLT ’05, pp. 315-322.
    • Babak Loni, Gijs van Tulder, Pascal Wiggers, David M. J. Tax, and Marco Loog (2011). Question classification with weighted combination of lexical, syntactical and semantic features, In Proceedings of the 15th international conference of Text, Dialog and Speech, pp. 243-250.
    • Vinay Pande, Tanmoy Mukherjee, Vasudeva Varma (2013). Summarizing Answers For Community Question Answer Services, The International Conference of the German Society for Computational Linguistics and Language Technology, pp. 151-161.
    • Shah, J. Pomerantz (2010). Evaluating and predicting answer quality in community QA, In Proceedings of SIGIR.
    • Vikas Sindhwani, S. Sathiya Keerthi (2007). Newton Methods for FastSolution of Semisupervised Linear SVMs, Large Scale Kernel Machines, MIT Press, pp. 155-174.
    • Vikas Sindhwani, S. Sathiya Keerthi (2006). Large Scale Semi-supervised Linear SVMs, SIGIR’06, pp. 477-484.
    • Toba, Z. Y. Ming, M. Adriani, T. Chua (2014). Discovering high quality answers in community question answering archives using a hierarchy of classifiers, Information Sciences, 261: 101-115.
    • Zeyi Wen, Rui Zhang, Kotagiri Ramamohanarao (2014). Enabling Precision/Recall Preferences for Semi-supervised SVM Training, CIKM’14, pp. 421-430.

    112

     

    FINDING MEANINGFUL QUESTIONS FROM COMMUNITY QUESTION ANSWERING WEBSITES

     

    Nguyen Van Tu, Hoang Thi Lam, Nguyen Thi Thanh Ha Tay Bac University

     

    Abstract: The community question answering websites contains a large amount of question – answer information valuable generated by the users. In the community question answering websites, users can post questions, answer other people’s questions, and provide feedbacks to the questions / answers. In this study, we use machine learning approach in order to find meaningful questions from the community question answering websites. These questions, along with their best answers will be an important data source for building the knowledge base, information retrieval and non-factiod question answering. The extracted important features from each question research – answer thread as well as information of the user and built a classification model to identify meaningful questions. The experiments are established on dataset extracted from the community question answering websites Yahoo! The answers have shown the effectiveness of the method proposed by us.

     

    Keywords: Automated question answering, community question answering, classification, support vector machine.

     

     

     

     

     

     

    113


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BA%ACP-CH%C6%AF%C6%A0NG-TR%C3%8CNH-B%E1%BA%B0NG-NG%C3%94N-NG%E1%BB%AE-PASCAL-T%C3%8DNH-G%E1%BA%A6N-%C4%90%C3%9ANG-T%C3%8DCH-PH%C3%82N-X%C3%81C-%C4%90%E1%BB%8ANH-B%E1%BA%B0NG-C%C3%94NG-TH%E1%BB%A8C-SIMPSON.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 6 (9/2016) tr 50 – 58

     

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH BẰNG NGÔN NGỮ PASCAL TÍNH GẦN ĐÚNG TÍCH PHÂN XÁC ĐỊNH BẰNG CÔNG THỨC SIMPSON

     

    Đoàn Vĩnh Ngọc, Hoàng Hiến, Trương Quốc Huấn Khoa Tự nhiên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Phần lớn các tích phân xác định của một hàm số đều khó có thể tìm được giá trị đúng. Thay bằng việc tính giá trị đúng của một tích phân xác định, thì tin học có thể giúp ta tính được gần đúng tích phân xác định với một sai số e (đủ nhỏ) nào đó. “Lập chương trình bằng ngôn ngữ Pascal tính gần đúng tích phân xác định bằng công thức Simpson” là một hướng dùng máy tính và ngôn ngữ lập trình để thay con người giải quyết bài toán về tích phân xác định một cách hữu hiệu nhất.

     

    Từ khóa: Tích phân, gần đúng, hàm số, lập trình, ngôn ngữ Pascal, công thức SIMPSON.

     

    1. Đặt vấn đề

     

     

    Như đã biết, nếu hàm số hàm số f ( x ) trên đoạn [a, b] thì

     

    f ( x ) liên tục trên đoạn [a, b] và F ta có công thức Newton – Leibnitz

     

    ( x ) là một nguyên hàm của như sau:

     

    b

       

    ò f ( x ) d x  = F ( x )

    b

    = F ( b ) – F ( a ) ,

    a

    a

       

    trong đó

    F ‘( x ) = f ( x ) .

     

    Trong thực tế ta thường phải tính tích phân xác định của hàm số f ( x ) được cho bởi bảng giá trị, khi đó khái niệm nguyên hàm không có ý nghĩa. Mặt khác số lớp hàm f ( x ) mà ta có thể tính được nguyên hàm của nó là rất ít. Phần lớn các biểu thức giải tích của hàm số f ( x ) đã biết nhưng nguyên hàm F ( x ) của nó không thể biểu diễn được bằng hàm số sơ cấp. Trong trường hợp ấy không thể dùng công thức Newton – Leibnitz để tính được tích phân xác định.

     

    Với các hàm số không tính được nguyên hàm, hay việc tính nguyên hàm của nó gặp nhiều khó khăn, thì thay bằng việc tính chính xác tích phân xác định của hàm số, ta đi tính gần đúng tích phân xác định của hàm số đó.

     

    Để tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số ta có thể dùng công thức hình thang hoặc công thức Simpson. Nhưng khi dùng công thức Simpson thì độ chính xác cao hơn hay sai số nhỏ hơn. Vậy “Lập chương trình bằng ngôn ngữ Pascal tính gần đúng tích phân xác định bằng công thức Simpson” không chỉ là cách tính gần đúng tích phân xác định với độ chính xác cao mà còn là cách dùng máy tính thay con người giải quyết dạng bài toán này.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    2.1.1. Định nghĩa tích phân

     

    Cho hàm số y = f ( x ) xác định trên đoạn [a , b ] . Chia tùy ý đoạn này thành n phần bằng các điểm chia (và gọi là một phân hoạch):

     

    a  = x 0  < x 1  < . . . < x i  < x i + 1  < . . . . < x n 1  < x n   = b .

     

    Ngày nhận bài: 5/7/2016. Ngày nhận đăng: 25/9/2016

    Liên lạc: Đoàn Vĩnh Ngọc, e – mail: [email protected]

     

    50

     

    Ta ký hiệu

    D x

    i

         

    mỗi đoạn

    D x i  , ta lấy

           

    (i = 0 , n – 1)     vừa là đoạn [ x i , x i + 1 ]  vừa là độ dài của đoạn thẳng đó. Trên

    tùy ý một điểm x     rồi lập tổng (gọi là tổng tích phân):

    i

     

    • -1

    s = å f ( x ) D x  .

    i        i

     

    i = 0

     

    Rõ ràng tổng này phụ thuộc vào phép chia đoạn [ a , b ]

     

    nhất của các đoạn D x  (i = 0 , n – 1)  (ký hiệu là l ) được gọi

    i

    cho độ dài của tất cả các đoạn D x   tiến tới 0 chỉ cần l ® 0 .

    i

     

    Khi đó giới hạn của tổng tích phân khi

    l ®

    0

    :

    và cách chọn điểm x . Độ dài lớn i

     

    đường kính của phân hoạch. Để

     

    • = li m s
      • ® 0

    có nghĩa là:

     

    Với mọi e > 0  tìm được d > 0

     

    kính nhỏ hơn d ), bất đẳng thức s – I

     

    Định nghĩa:

     

    Giới hạn I của tổng tích phân hoặc tích phân Riemann – của hàm số

     

    sao cho chỉ cần l < d (tức là mọi phân hoạch có đường < e được thỏa mãn với bất kỳ cách chọn các điểm x .

    i

     

    s khi l ® 0 , nếu có, được gọi là tích phân xác định – f ( x ) trên đoạn [ a , b ] và ký hiệu:

     

     

    b

    n -1

         

    I =

    ò f ( x ) d x  = li m

    å

    f ( x i

    ) D x

    i .

     

    l ® 0

    i = 0

         
     

    a

         
             

    Khi đó ta nói hàm số trên của tích phân [3, 190].

    2.1.2. Sai số

     

    2.1.2.1. Số xấp xỉ

    f

    ( x )

    khả tích trên đoạn

    [ a , b ]

    , a và b tương ứng là cận dướicận

     

     

    Định nghĩa: Ta gọi a gọi là số xấp xỉ của số đúng A, ký hiệu a » A , nếu a khác A không đáng kể và được dùng thay cho A trong tính toán.

    Nếu a<A thì a gọi là xấp xỉ thiếu của A. Nếu a>A thì a gọi là xấp xỉ thừa của A [1, 5].

     

    2.1.2.2. Sai số tuyệt đối

     

    Định nghĩa: Hiệu D a = A – a (hoặc D a = a – A ) gọi là sai số của số xấp xỉ a. Trị tuyệt đối D =  D a  =  A – a  gọi là sai số tuyệt đối của số xấp xỉ a [1, 6].

     

    Định nghĩa: Sai số tuyệt đối giới hạn của số xấp xỉ a là số không nhỏ hơn sai số tuyệt đối của số xấp xỉ a [1, 6].

     

    2.1.2.2. Sai số tương đối

     

    Định nghĩa: Sai số tương đối của số xấp xỉ a, ký hiệu  d , là:

     

    thiết

    A  ¹ 0 .

               
     

    Từ đó D =

    A  .d [1, 7].

             
     

    Định nghĩa: Sai số tương đối giới hạn của số xấp xỉ a, ký hiệu

    sai số tương đối của số xấp xỉ a. Do đó:

    d £ d a  nghĩa là

    D

    £ d

     

    .

    A

    a

                 
     

    Từ đó: D £

    A  .d a   và có thể chọn

             
         

    D a   = A  .d a   [1, 7].

       
    • =
    • a

    D

    =

    A – a

    với giả

     

    A

    A

         

    là số không nhỏ hơn

     

    2.2. Công thức Simpson và sai số

     

    51

     

    Để tính gần đúng

    b

    • f ( x ) d x

    a

    ta chia

    • a , b ]

    thành hai đoạn bằng nhau bởi các điểm chia

     

    x

     

    =

    a , x

     

    = a +

    b – a

    = a

    + h , x

     

    = b = a +

     

    0

    1

    2

    2

                         
                               

    thức

    nội   suy   Newton

    tiến

     

    bậc

     

    C ( x 1

    = a + h , y 1

    = f ( x 1 ) )

    B ( x 2

    =

    a + 2

     

    nút trùng với cận dưới a

    = x

    0 , ta có

       
                           

    b

       

    2 h  và thay hàm số dưới dấu tích phân

    f ( x )

    bằng đa

     

    hai

     

    (đi   qua

    ba   điểm

    A ( x 0   =

    a , y 0

    = f ( x 0 ) ) ,

    h

    = b , y

    2   = f ( x 2 ) )

    có hoành độ đều nhau) xuất phát từ

     

    x

    2

    x

    2

         
               

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ò

    P 2 ( x ) d x .

    a

     

    x

    0

       

    x

    0

     
                 

    Để tính được tích phân xác định ở vế phải, ta đổi biến số biến thiên từ 0 đến 2 và ta được

    x

    =

     

    x

    0

     

    +

    h t

    . Khi đó dx = hdt, t

     

    b

     

    x 2

       

    2

    æ

               

    t ( t – 1)

         

    ò f ( x ) d x

                             

    2

     

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ò ç y

     

    +

    t D y 0

    +

             

    D

    y 0

    0

       

    2

         

    a

     

    x

    0

       

    0

    è

                             
                                         
                                               
           

    æ

       

    t

    2

     

    1

         

    æ

    t

    3

     

    t

    2

    ö ö

     

    t = 2

                             
                                           
     

    = h ç y 0 t + D y

         

    +

     

    D

    2

    y 0

    ç

       

       

    ÷ ÷

       
     

    0

    2

    2

     

    3

    2

       
           

    è

               

    è

     

    ø ø

     

    t = 0

                                               

    ö

    h d t

    ÷

    ø

     

    ,

     

    trong đó:

     

    Vậy:

     

           

    D y

    0

    =

     

    y

    1

    – y

    0

    ;

             
                                       
           

    D

    2

    y

     

    = D y

     

    – D y

     

    =

    y

     
             

    0

    1

    0

    2

                                     

    b

     

    x 2

                 

    h

                   

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x

    »

    ( y 0

    + 4 y

     

    +

    3

    1

    a

     

    x

                                   
     

    0

                                     
                                           

     

    y

     

    y

    1

     
    • )

    – ( y

    1

    – y

    0

    ) =

    y

    2

    – 2 y

    1

    + y

    0

    .

                 

    (1)

     

    Về mặt hình học, (1) có nghĩa là diện tích hình thang cong a A C B b đường cong y = f ( x ) đi qua ba điểm A, C, B) được thay xấp xỉ bằng diện

     

    cong a A C B b ( A C B là cung parabol  y = P  ( x )  đi qua ba điểm A, C, B). Nói

    2

     

    cong y = f ( x ) đi qua ba điểm A, C, B được thay xấp xỉ bởi đường Parabol y ba điểm A, C, B (Hình 1).

    ( A C B là cung tích hình thang

     

    khác đi, đường

     

    = P ( x ) đi qua 2

     

    y

    y=f(x)

     

    y=P2(x)

    A

    C

     

    B

    h           h

     

    • x0=a x1 x2=b x Hình 1

    Công thức (1) được gọi là công thức Simpson.

     

    52

     

         

    b

     

    h

         

    Để xác định sai số:

     

    =

    ò

    f ( x ) d x –

    + 4 y 1

    + y 2 ) , ta giả thiết rằng hàm số

    y

    R

    ( y 0

           

    3

         
         

    a

           
                   

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên [a, b]. Cố định điểm giữa x1 và xem R là hàm số của h ( h

    • f (
    • 0

    x )

     

    ):

     

     

    x

    1

    + h

     

    h

         
                 
     

    = R ( h ) =

    ò

    f ( x ) d x –

     

    – h ) + 4 f ( x 1 ) + f ( x 1

    + h ) ] .

    R

    [ ( f ( x

    1

     

    x

     

    – h

     

    3

         
     

    1

             
                   

    Đạo hàm ba lần theo h đẳng thức trên, ta có

     

    R ‘( h )

    =

    f ( x

     

    + h )

    + f ( x

     

    – h )

    1

    [ f ( x

       

    – h ) +

     

    4 f ( x

     

    ) + f ( x

             

    h

    [ – f

    ‘( x

     

    1

    1

    3

    1

     

    1

    1

     

    + h ) ] –

    3

    1

                                                           
                                                                                     
                                                                                                     
       

    =

    2

             

    – h ) + f ( x

     

    + h ) ]

    4

    f ( x

     

    ) –

     

    h

    [ – f

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

       

    + h ) ]

     
         

    [ f ( x

    1

     

    1

     

    1

         

    1

    1

     
         

    3

                                   

    3

                   

    3

                                 
                                                                                                   

    R

    ”( h )

    =

    2

     

    – f

     

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

     

    +

    h ) ] –

    1

    [ – f ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

       

    + h ) ] –

    h

       

    [

     

    1

    1

       

    1

     

    1

       

    [ – f ”( x

         

    3

                                           

    3

                                   

    3

       
                                                                                             
       

    =

    1

       

    ‘( x

     

    – h ) + f

    ‘( x

     

    + h ) ] –

    h

    [ f

     

    ”( x

       

    – h )

    + f

    ”( x

     

    + h ) ]

                 
         

    [ – f

    1

    1

           

    1

    1

                 
         

    3

                                       

    3

                                               
                                                                                                   

    R

    ”'( h )

    =

    1

    [ f

    ”( x 1

    – h ) + f

    ”( x 1

     

    + h ) ] –

    1

    [ f

    ”( x

     

    1  – h ) + f

    ”( x 1

     

    + h ) ] –

    h

     

    [ -f

    ”'( x 1

                 
         

    3

                                           

    3

                                       

    3

           

    h

    = –    [ f ”'( x 1  + h ) – f ”'( x 1  – h ) ] .

    3

     

    Áp dụng công thức số gia hữu hạn (công thức Lagrange) đối với

    • h )

    1

    – h

     
    • h )

    f ”'( x

     

    +

    f

    ‘( x

    1

    + h ) ]

           

    ) + f

    ”( x

    1

    + h ) ]

         
    • f ”'( x 1 + h ) ]

    ),  ta có

     

                                 

    2 h

    2

                                                                               
         

    R

    ”'( h )

    = –

       

    f

    ( 4 )

    ( c

       

    ), c

       

    Î

    ( x

       

    – h , x

     

    + h )

         
                                       
             

    3

         

    3

    3

     

    1

    1

         
                                                                                                     
       

    Ngoài ra: R(0) = 0; R'(0) = 0; R”(0)=0.

                                                                               

    Từ đó, áp dụng định lý trung bình thứ hai của tích phân xác định, ta nhận được

         

    R ”( h ) = R

     

    ”( 0 ) + h

    R

     

    ”'( t ) d t

    =

    2

       

    h

     

    t 2 f ( 4 ) ( c

       

    ) d t

                       
                     

    ò

                           
                           

    ò

                         

    3

                             

    3

                         
       
                         

    0

                                     

    0

                                                     
               

    2

                 

    h

                           

    2

                                                       
         

    = –

    f ( 4 ) ( c  )

    ò

     

    t 2 d t = –

       

    h 3 f ( 4 ) ( c  ) ; c  Î [ x  – h , x  + h ]

                     
           

    3

             

    2

                             

    9

                               

    2

     

    2

         

    1

       

    1

     
                                                                                           
                         

    0

                                                                               
       
                         

    h

                                 

    2

       

    h

                                               
         

    R ‘( h ) = R

     

    ‘( 0 ) +

    ò R

    ”( t ) d t

     

    = –

       

    ò

    t

     

    3

    f

    ( 4 )

    ( c

    2 ) d t

                     
                                           
             

    9

                                   
                         

    0

                                     

    0

                                               
                                                                                                             
           

    2

                 

    h

                     

    1

                                                         
         

    = –

    f

    ( 4 )

    ( c 1 )

    ò

    t

    3

    d t

    = –

         

    h

    4

    f

     

    ( 4 )

    ( c 1

    ) ; c 1

    Î [ x 1

    – h , x 1

    + h ]

                                   
         

    9

       

    1 8

                 
                         

    0

                                                                         
       
         

    R ( h ) = R ( 0 ) +

    h  R ‘( t ) d t = –

    1

         

    h

     

    t 4 f ( 4 ) ( c  ) d t

                     
                   

    ò

                       
                         

    ò

                         

    1 8

                             

    1

                       
       

    0

    0

             

    1

             

    h

                         

    1

                                                   
         

    = –

    f ( 4 ) ( c )

    ò

    t 4 d t = –

       

    h 5 f ( 4 ) ( c ) ; c Î [ x  – h , x  + h ] .

                     
           

    1 8

                             

    9 0

                                     

    1

         

    1

       
                                                                                     
                     

    0

                                                                   
       

    Tóm lại, với giả thiết hàm số

    y

    =

    f ( x )

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên [ a , b ] , ta có công

    thức Simpson sau đây

                                                                                                             

    b

     

    h

    é

    æ a + b ö

               

    ù

         

    1

                                                   

    b – a

         

    ò f ( x ) d x

                                     

    5

       

    ( 4 )

             

    với h

     

    =

         

    Î [a , b ]. ( 2 )

    =

     

    ê f ( a ) + 4 f

    ç

             

    ÷

    +

    f ( b ) ú

                   

    h

     

    f

         

    ( c )

             

    , c

    3

         

    2

     

    9 0

                   

    2

    a

     

    ë

    è

           

    ø

               

    û

                                                         

    2.3. Công thức Simpson tổng quát và sai số

     

    53

     

     

    b

     

    Để tính gần đúng tích phân xác định

    ò

    f ( x ) d x

       
     

    a

     

    bằng nhau (nghĩa là n là số nguyên, dương và chẵn):

    , ta chia đoạn

    • a , b ]

    thành n = 2m đoạn

     

    có độ dài là:

     

             

    [ x 0 , x 1

    ] , [ x 1 , x 2 ] ,…, [ x 2 m – 2 , x 2 m -1 ] ,

    [ x 2 m -1 , x 2 m  ]

    h  =

    b – a

    =

    b – a

    bởi các điểm chia:

           

    n

    2 m

           
                     
         

    x

    0

    = a ; x

    i

    = a + ih ( i = 1, 2 m – 1) , x

    n

    = x

    2 m

    = b .

                     

    Ký hiệu:

     

    y i

    = f ( x

    i

    ), i = 0 , n

    , khi đó:

               
         

    b

     

    x 2

     

    x 4

       

    x 2 m

       
         

    ò f ( x ) d x

    =

    ò

    f ( x ) d x +

    ò

    f ( x ) d x + . . . +

     

    ò

    f ( x ) d x

    ( 3 )

         

    a

     

    x

    0

     

    x 2

     

    x

    2 m – 2

       
                           

    Đối với mỗi tích phân xác định ở vế phải của (3), ta tính gần đúng bằng công thức

     

    Simpson (1), ta nhận được:

     

         

    b

         

    h

           

    h

           
         

    ò f ( x ) d x

    »

    ( y

    0  + 4 y 1

    + y 2 ) +

    ( y 2  + 4 y 3  + y

    4 ) + … +

         

    3

    3

         

    a

                         
                                   
             

    b

       

    h

                   
             

    ò f ( x ) d x  »

    [ ( y 0  + y 2 m ) + 4 ( y

     

    + y 3  + … + y

     

    ) + 2

             

    3

    1

    2 m – 1

             

    a

                       
                                   
     

    b

         

    h

                         

    hay:

    ò

    f ( x ) d x

    »

    0  + y 2 m

    ) + 4 s 1

    + 2 s 2

         

    ,

       

    [ ( y

    ]

    ( 4 )

       
           

    3

                         
     

    a

                               
                                   

    trong đó

    s 1  =

    y

    1  + y 3

    +

    . . . + y

    2 m – 1 ; s 2

    = y 2

    + y 4

     

    + . . . + y 2 m – 2

       
     

    Công thức (4) được gọi là công thức Simpson tổng quát.

     

    Nếu hàm số  y

    =

    f ( x )

    có đạo hàm cấp 4 liên tục trên

    [a , b

    thức Simpson tổng quát là:

     

    h

    ( y

     

    + 4 y

     

    + y

     

    )

     

    3

    2 m – 2

    2 m -1

    2 m

             
                   

    ( y

    2

    + y

    4

    + … + y

    2 m – 2

    ) ]

           

     

    ] thì do (2), sai số của công

     

       

    x

    2 m

               

    h

    m

         
                           

    R

    =

     

    ò

     

    f ( x ) d x –

    å

    ( y 2 k – 2

    + 4 y 2 k -1  + y 2 k )

     
       

    3

     
       

    x

                   

    k =1

         
       

    0

                         
                               
                                   
         

    m

     

    æ

    x

    2 k

             

    h

     

    ö

                                 
     

    = å

       

    ò

                 
     

    ç

     

    f ( x ) d x –

    ( y 2 k – 2  + 4 y 2 k -1  + y 2 k

    ) ÷

               

    ç

                 

    3

     

    ÷

       

    k = 1

    è

    x 2 k – 2

               

    ø

                     
                             
             

    h

    5

     

    m

                   
     

    = –

       

    å

    f

    ( 4 )

    ( c k

    )  ( 5 )

       
               
       

    9 0

         
             

    k =1

                   
                                 

    với c k  Î [ x 2 k 2 , x 2 k ].

     

    Xét trung bình cộng

     

     

    1

    m

             

    m =

    å

    f

    ( 4 )

    ( c k

    ).

     
     

    m

     
     

    k =1

             
                 

    Vì hàm f(4)(x) liên tục trên đoạn [a, b] nên nó đạt

     

    giá trị nhỏ nhất m2 và giá trị lớn nhất M2 trên [a, b]. Do đó f(4)(ck) nhận giá trị trung gian giữa

     

                         

    m2   và  M2

    tức  là  m

    2

    £ f ( 4 ) ( c

    k

    ) £ M

    2

    ( k = 1, m ) .   Vì  vậy  tồn  tại  điểm  c Î [ a , b ]

    sao  cho

                   

    m = f ( 4 ) ( c )

    hay

                     

    m

     

    å f ( 4 ) ( c k ) = m .m = m .f ( 4 ) ( c ) .

     

    • =1

    Thay vào (5), ta nhận được

     

    R  = –

    m h 5

    f ( 4 ) ( c ) = –

    m . ( b – a ) h 4

    f ( 4 ) ( c ) = –

    ( b – a ) h 4

    f ( 4 ) ( c ) , c Î [a , b ] ( 6 )

         

    9 0

     

    2 .m . 9 0

    1 8 0

     

    54

     

    Tóm lại, với giả thiết hàm số

    y = f ( x ) có đạo hàm cấp bốn liên tục trên

     

    đoạn lấy tích phân [a , b ] thành n = 2m đoạn bằng nhau, có độ dài h  =

    b – a

    =

    b

     

    n

    2

     
         

    thức Simpson tổng quát sau:

    • a ,
    • a

    m

    b ]  và chia

     

    ta có công

     

    trong đó:

    b

    • f ( x ) d x =

    a

     

    s

    1

    =

    y

    1

    + y

    3

    + . . . +

             

    h

     

    +

     

    [ ( y

    0

    3

       
         

    y

    2 m – 1

    ; s

    2

         

    y

    2 m

    ) + 4 s

    1

    + 2 s

             

    =

    y

    2

    + y

    4

     

    + . . . +

               

    2

    ] –

       

    y

    2 m

       

    ( b – a ) h

    4

           

    f

    ( 4 )

    ( c ) , c Î [ a , b ]

    ( 7 )

     
       
     

    1 8 0

     
               

    – 2

    .

             
       

    Nhận xét:

     

    f

     

    Tính sai số của công thức Simpson tổng quát bằng công thức (7) đòi hỏi phải biết

    ( 4 )

    ( x ) , nghĩa là phải biết biểu thức giải tích của hàm số

    y = f ( x ) .  Nhưng trong thực tế,

         

    thường chỉ biết hàm số y = f ( x ) dưới dạng bảng, do đó người ta thường xác định gần đúng sai

     

    số của công thức Simpson tổng quát như sau: giả sử trên

    [a , b ]

    đạo hàm f ( 4 ) ( x )  ít biến đổi,

    do (7), nhận được biểu thức gần đúng của sai số phải tìm là

    R  = M h

    4

    , trong đó M xem là hằng

           

    số. Gọi I s ( h )

    I s (

    h

    ) là giá trị gần đúng của

     
       
         

    2

                   

    tổng quát với bước h và bước

    h

    , ta có:

         

    2

         
                           
                       

    I = I

    s

    (

                           
                       

    I = I

    s

    (

                           

    Từ đó I

    h

    ) –

    I

    s ( h ) =

    1 5

    M h

    4

    æ h

    s (

     

    I – I s  ç

       
                           
     

    2

         

    1 6

           

    è

    2

                           

    b

     

    I = ò f ( x )d x

     

    a

     

    h ) +

    M h

    4

         
           

    h

    ) +

    M (

    h

    )

    4

    .

       

    2

    2

     
             

    ö

    »

    1

     

    æ h

    ÷

    I

    s

    ç

       
     

    1 5

    2

    ø

       

    è

    nhận được từ công thức Simpson

     

     

    ö

    I

     

    ( h )

    (8 )

     

    ÷

    s

             

    ø

               

    Với giả thiết đạo hàm

     

    f ”( x )

    ít biến đổi trên đoạn

     

    • a , b ]

    , ta có công thức thực hành tính

     

    sai số:

     

    I – I

     

    æ

    h

    ö

    »

    1

     

    æ h

    ö

    – I

     

    ( h )

    ( 9 ) ,

    T

    ç

     

    ÷

    I

    T

    ç

     

    ÷

    T

     

    2

     

    3

    2

         
       

    è

    ø

       

    è

    ø

           

    trong đó  I

     

    ( h )

    và  I

     

    (

    h

    ) là giá trị gần đúng của

    T

    T

     
         

    2

     
               
     

    b

                             

    h

       

    I =

    ò

    f ( x ) d x  nhận được từ công thức hình thang tổng quát với bước h và bước

    .

     
     
                           

    2

       
     

    a

                             
                                     
                   

    1

     

    s i n (1 + x

    2 )

           
       

    2.4. Ví dụ: Tính gần đúng tích phân xác định

    I = ò

         

    d x , với m = 5.

     
         

    1 + 3 x 3

     
                   

    0

                 
       

    Ta có: n=2m=2.5=10; [a ; b ] = [0 ; 1 ] Þ h  =

    1 – 0

       

    = 0 , 1

             
                     
       

    x0 = 0, xn = x10 = 1, xi

     

    1 0

         

    )

             
       

    = x0 + i.h = 0 + i.0,1 (

    i = 1, 9

             
                               
       

    Ta có bảng giá trị của hàm f(x) tại các xi:

                         
         

    i

    xi

    f(xi)

                         
         

    0

    0

    0.84147098

                   
         

    1

    0.1

    0.84429895

                   
         

    2

    0.2

    0.84219163

                   
         

    3

    0.3

    0.82019141

                   
         

    4

    0.4

    0.76913012

                   
         

    5

    0.5

    0.69017063

                   
         

    6

    0.6

    0.59336444

                   
         

    7

    0.7

    0.49124581

                   
         

    8

    0.8

    0.39337791

                   
         

    9

    0.9

    0.30484059

                   
         

    10

    1

    0.22732436

                   

    55

     

    Vậy áp dụng công thức Simpson ta có:

     

    I »

    h

    [f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + 4 ( f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + . . . + f ( x

     

    ) ) + 2 ( f ( x

     

    ) + f ( x

     

    ) + . . . + f ( x

     

    ) ) ] = 0 , 6 2 8 9

     

    3

    0

    1 0

    1

    3

    9

    2

    4

    8

                         
                                         

    (làm tròn tới bốn chữ số thập phân).

     

    2.5. Chương trình

     

    Tính gần đúng tích phân xác định

     

    phím với a , b Π     ; a < b .

     

    PROGRAM PP_SIMPSON;

     

    USES CRT;

     

    VAR  i,n: integer;

     

    a,b,h,s0,s1,s2,i1,i2,epsilon: real;

     

    t: boolean;

     

    b

    s i n (1 + x

    2 )

     

    I = ò

       

    d x , cận a và b tùy ý nhập vào từ bàn

    1 + 3 x 3

     

    a

         

    KT: Char;

     

    {*********************************************************************}

     

    FUNCTION f(x:real):real;

     

    BEGIN

     

    f:=sin(1+x*x)/(1+3*x*x*x);

     

    END;

     

    {*********************************************************************}

     

    BEGIN

     

    CLRSCR;

     

    REPEAT

     

    Writeln(‘ Tinh tich phan gan dung theo cong thuc Simpson’);

     

    Writeln(‘ Tinh tich phan gan dung cua ham so

     

     

    s i n (1 +

    x

    2

    )

    y =

     

    1 + 3 x

    3

       
         
           
               

    ‘);

     

    Write(‘ Nhap can duoi a= ‘); Readln(a);

     

    Write(‘ Nhap tren duoi b= ‘); Readln(b);

     

    Write(‘ Nhap sai so epsilon = ‘); Readln(epsilon);

     

    s2:=0;

     

    n:=2;

     

    h:=(b-a)/2;

     

    s1:=f(a+h);

     

    s0:=f(a)+f(b);

     

    i2:=h*(s0+4*s1+2*s2)/3;

     

    {Tinh tich phan}

     

    t:=false;

     

    Repeat

     

    i1:=i2;

     

    s2:=s1+s2;

     

    h:=h/2;

     

    s1:=0;

     

    FOR i:=1 TO n DO

     

    s1:=s1+f(a+(2*i-1)*h);

     

    n:=2*n;

     

    56

     

    i2:=h*(s0+4*s1+2*s2)/3;

     

    if ABS(i2-i1)<epsilon then

     

    begin

     

    t:=true;

     

    Writeln(‘ Tich phan I = ‘,i2:10:2);

     

    end;

     

    Until t;

     

    Writeln;

     

    Write(‘ Ban muon tiep tuc khong (c/k)?’); Readln(KT); UNTIL UPCASE (KT)=’K’;

     

    END.

     

    e =

     

    0

     

    .0

    *

     

    0 0

    Kết quả khi chạy chương trình với a = 0, b = 1 và sai số của tích phân nhỏ hơn

     

    0 1

    :

     

    Với độ chính xác

     

     

    e =

     

     

    0 .0 0 0 0 1

     

     

    , ta có

     

     

    1

    s i n (1

    + x

    2

    )

     

    ò

     

    » 0 .6 2 8 9

    1

    +

    3 x

    3

     

    d x

    0

           
                 

    Ví dụ trên là cách tính tích phân gần đúng của một hàm số cụ thể. Với các hàm số khác, để tính được gần đúng tích phân của nó với cận trên và cận dưới tùy chọn ta có thể sửa phần hàm FUNCTION f(x:real):real; trong chương trình trên thành các hàm theo mong muốn sau đó chạy chương trình bình thường.

     

         

    1

    e

    x

    2

    + 1

           

    Tương tự với hàm trên ta tính được

    ò

       
           

    d x  » 1 . 7 4 8 5 2 7 4 1

         

    1

    +

    5 x

    6

         

    0

     
                   

    nhỏ hơn

    e = 0 .0 0 0 0 1

    . Kết quả kiểm tra như sau:

     

    với sai số của tích phân

     

     

    3. Kết luận

     

    Phương pháp Simpson chỉ là một trong các cách tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số mà ta có thể lập trình để máy tính thực hiện thay con người. Ngoài ra còn có các phương pháp khác trong việc tính gần đúng tích phân xác định ta cũng có thể lập trình để giải quyết.

     

    Một câu hỏi đặt ra là: Ngoài việc tính gần đúng tích phân xác định của một hàm số, còn bài toán nào có thể lập trình để máy tính thay thế con người tính được không? Có nhiều bài

     

    57

     

    toán có thể làm như vậy. Từ đây mở ra hướng dùng máy tính và ngôn ngữ lập trình để giải quyết các bài toán mà theo cách giải thông thường ta không (hoặc rất khó) làm được.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • TS. Dương Thủy Vỹ (2007), Giáo trình Phương pháp tính, Nxb Khoa học kỹ thuật.
    • TS Lê Khắc Thành (2003), Giáo trình Pascal, Nxb Đại học sư phạm.
    • Nguyễn Xuân Liêm, Nguyễn Mạnh Quý (2002), Toán cao cấp A2, Nxb Giáo dục.
    • Nguyễn Tô Thành (2007), Lập trình nâng cao, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
    • Quách Tuấn Ngọc (2002), Ngôn ngữ lập trình Pascal, Nxb Thống kê.
    • Volkov E.A. (1986), Numerrical methods, Mir Publishers, Moscow.
    • Sastry S. S. (1989), Introductory methods of numerical analysis. Prentice – Hall of India Private limited, New Delhi.

    USING PASCAL PROGRAMMING LANGUAGE TO CALCULATE APPROXIMATE VALUE OF DEFINITE INTEGRAL WITH SIMPSON’S FORMULA

     

    Doan Vinh Ngoc, Hoang Hien, Truong Quoc Tuan Dien Bien College

     

    Abstract: In fact, it is very difficult to find the correct value of the most definite integral of the function. In spite of calculating correct value of definite integral, informatics can help us calculate approximate value of definite integral with the so-called acceptable errors e. “Pascal programming language calculates approximate value of definite integral by Simpson’s rule” is the way to use computer and programming language to solve problems of definite integral effectively.

     

    Keywords: Integral, approximate, function, programming, Pascal language, SIMPSON formula.

     

     

     

     

    58


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8ng-d%E1%BB%A5ng-m%E1%BA%A1ng-n%C6%A1ron-m%E1%BA%A1ng-n%C6%A1ron-xo%E1%BA%AFn-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-CPU-GPU-%C4%91%E1%BB%83-t%C4%83ng-hi%E1%BB%87u-n%C4%83ng-t%C3%ADnh-to%C3%A1n-trong-ph%C3%A2n-lo%E1%BA%A1i-%E1%BA%A3nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ứng dụng mạng nơron, mạng nơron xoắn và sử dụng kết hợp CPU – GPU để tăng hiệu năng tính toán trong phân loại ảnh

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    ỨNG DỤNG MẠNG NƠRON, MẠNG NƠRON XOẮN

    VÀ SỬ DỤNG KẾT HỢP CPU – GPU ĐỂ TĂNG HIỆU NĂNG TÍNH TOÁN TRONG PHÂN LOẠI ẢNH

     

    Hồ Sỹ Phương, Phan Văn Dư, Lê Văn Chương, Tạ Hùng Cường Viện Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Đại học Vinh Ngày nhận bài 30/9/2018 , ngày nhận đăng 29/11/2018

     

    Tóm tắt: Bài báo trình bày và so sánh các phương pháp phân loại ảnh dựa trên mạng nơron nhân tạo nhiều lớp (Multi Layer Perceptron – MLP) và mạng nơ ron xoắn (Convolutional Neural Network – CNN). Dữ liệu được đưa vào huấn luyện là 50.000 bức ảnh của 10 đối tượng khác nhau. Kiến trúc thứ nhất được sử dụng là mạng MLP gồm có 3.853.298 tham số (weight), kiến trúc thứ hai là mạng CNN gồm 528.054 tham số. Bài báo đã đề xuất một vài phương pháp và cấu trúc mạng nhằm tránh hiện tượng quá khớp (overfitting), tăng cường độ chính xác cho mô hình xấp xỉ 80%. Bên cạnh đó, bài báo cũng trình bày và so sánh về thời gian huấn luyện khi sử dụng CPU và kết hợp sử dụng CPU với GPU.

     

    1. MỞ ĐẦU

     

    Trong những năm gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ và cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm cho các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) ứng dụng trong lĩnh vực robotics, robot tương tác thời gian thực với môi trường xung quanh… thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia trong lĩnh vực điều khiển. Trong robot tự hành, để có thể tương tác với môi trường hoạt động và điều khiển robot chuyển động theo đúng quỹ đạo mong muốn, vấn đề nhận biết, phân tích, nhận dạng và phân loại các vật thể đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp chúng ta có cơ sở để đưa ra các tín hiệu điều khiển một cách chính xác, kịp thời. Nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước [1], [10], [12], [15] cho thấy vấn đề này có thể giải quyết và đưa lại hiệu quả cao khi sử dụng mạng MLP, trong đó việc nhận dạng chữ viết tay với độ chính xác lên đến 99,8%.

     

    Trong bài báo này, nhóm tác giả nghiên cứu và ứng dụng các cấu trúc mạng MLP và mạng CNN kết hợp với các kỹ thuật tối ưu nhằm nâng cao khả năng phân loại các đối tượng, thực hiện so sánh hiệu quả huấn luyện mạng khi sử dụng CPU với sử dụng kết hợp CPU – GPU về độ chính xác và tốc độ huấn luyện mạng.

     

    2. KIẾN TRÚC MẠNG MLP, CNN VÀ CÁC KỸ THUẬT TỐI ƯU MẠNG

     

    2.1. Mạng nơron nhân tạo và kiến trúc mạng MLP

     

    Mạng nơron nhân tạo, gọi tắt là mạng nơron là một mô hình toán học được xây dựng dựa trên cơ sở các mạng nơron sinh học gồm một số lượng lớn các phần tử (gọi là nơron) kết nối với nhau thông qua các liên kết (gọi là trọng số liên kết) làm việc như một thể thống nhất để giải quyết các vấn đề cụ thể như nhận dạng mẫu, phân loại dữ liệu,v.v… thông qua một quá trình học từ tập các mẫu huấn luyện.

     

    Email: [email protected] (H. S. Phương)

     

    64

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    Mô hình mạng nơron thường được sử dụng rộng rãi nhất là mô hình mạng truyền thẳng nhiều lớp (MLP – Multi Layer Perceptron). Một mạng MLP tổng quát là mạng có

    • lớp ( n ³ 2 ) trong đó bao gồm một lớp vào, một lớp ra và một hoặc nhiều lớp ẩn (hình

     

    1).

     

    Hoạt động của mạng MLP như sau: Tại lớp vào, các nơron nhận tín hiệu vào xử lý (tính tổng trọng số, gửi tới hàm truyền) rồi cho ra kết quả (là kết quả của hàm truyền); kết quả này sẽ được truyền tới các nơron thuộc lớp ẩn thứ nhất; các nơron tại đây tiếp nhận như là tín hiệu đầu vào, xử lý và gửi kết quả đến lớp ẩn thứ 2;…; quá trình tiếp tục cho đến khi các nơron thuộc lớp ra cho kết quả.

     

     

     

    Hình 1: Mạng MLP 4 lớp

     

    Mạng MPL được sử dụng rất thành công trong việc nhận dạng chữ viết tay [2],

     

    • Cơ sở dữ liệu phổ biến rộng rãi nhất cho bài toán này là MINST [16], khi huấn luyện chỉ với 2 lớp ẩn cho độ chính xác lên tới 99,8%. Kiến trúc mạng MPL như hình hình 1, gồm có 1 lớp đầu vào, 2 lớp ẩn và 1 lớp ra. Tùy theo yêu cầu của bài toán, ta có được số lượng đầu vào. Để có độ chính xác cao, tránh hiện tượng quá khớp (overfitting) thì số lượng lớp ẩn và số nơron trên nó là yếu tố quyết định [7].

    Ví dụ, trong bài toán nhận dạng chữ viết tay, bộ dữ liệu huấn luyện từ tập MINST

     

    có kích thước 28×28 nên số nơron đầu vào là (28×28)= 784, số nơron lớp ẩn 1 là 512, lớp ẩn 2 là 512 và số nơron đầu ra tương ứng từ 09 là 10. Độ chính xác khi huấn luyện là 99.93% và khi kiểm chứng trên mô hình thì độ chính xác đạt gần 99,8%. Trên cơ sở kết quả đó, nhóm tác giả thực hiện thử nghiệm sử dụng mạng MPL trong việc phân loại các

     

    đối tượng.

     

    2.2. Kiến trúc mạng CNN và các kỹ thuật tối ưu mạng

     

    Kiến trúc mạng CNN [1], [2], [12] là kiến trúc mở rộng của mạng MLP được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật học sâu (deep learning) đặc biệt là trong lĩnh vực thị giác máy tính (computer vision). Một trong những giải pháp nhằm tối ưu quá trình huấn luyện mạng được đề xuất là giảm số lượng các trọng số (weight) để tăng tốc độ tính toán, giảm thời gian huấn luyện, tránh hiện tượng quá khớp khi mà lượng dữ liệu đầu vào là rất lớn như các bức ảnh màu, video…

     

    65

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

    Hình 2: Kiến trúc của một mạng CNN

     

    Mạng CNN có cấu trúc như hình 2, với đầu vào sẽ được nhân xoắn với các ma trận lọc, công việc này có thể được xem như phép lọc ảnh với ma trận lọc khi sử dụng dạng ma trận [7], cũng như phép lọc ảnh bình thường trong không gian 2D thì tích xoắn này cũng được ứng dụng trong trong không gian ảnh màu 3D và trong cả không gian n chiều. Sau khi thu gọn ma trận dưới dạng một véc tơ thì nó sẽ được kết hợp với một mạng MLP đầy đủ như được mô tả ở mục 2.1, với các ảnh xám ma trận đầu vào là 2 chiều, còn với ảnh màu ma trận vào sẽ là 3 chiều.

     

    Khi xem xét mạng CNN, khái niệm tích xoắn (tích chập) trong đại số là cơ sở của phần mạng CNN:

     

    Đưa vào ảnh xám X và bộ lọc ω có kích thước [m,n], tích xoắn giữa ω và X là:

     

    y = X *w , trong đó các thành phần của ma trận y sẽ được tính theo công thức:

     

    m -1 n -1

    m -1 n-1

     

    yij  = åå X [i a , j b w [ a , b ] hay yij  = åå X [i + a , j + b w [- a , –b]

    (1)

    a = 0 b = 0

    a = 0 b=0

     

    Giá trị của ma trận w [- a , –b]

    được hiểu là giá trị tại [a , b]của ma trận w sau khi

    được lật từ phải sang trái và đảo ngược từ dưới lên (như hình 1)

     

     

    Hình 3: Minh họa phương pháp tìm giá trị w [- a , –b] từ ma trận gốc bên trái qua phép lật giữa và đảo từ dưới lên cho kết quả là ma trận bên phải

     

    Kiến trúc mạng CNN bao gồm các lớp được gọi là lớp xoắn với ma trận đầu vào là I , bộ lọc K và trọng số b . Ta giả thiết rằng I là ma trận ảnh màu có kích thước [C ´ H ´W ], trong đó C = 3 là số ma trận màu R,G,B và ảnh có kích thước [H ,W ].

     

    Khi đó I Î RH ´ WxC , K ÎR k1 ´k2 xC và b có kích thước b Î RD . Tích xoắn giữa IK sẽ có ma trận mới chính là ma trận đầu ra của lớp xoắn:

     

    66

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    k1 -1 k2 -1  C

     

    (I * K )ij  = åååK m , n , c × I i + m , j +n , c + b ,

    (2)

    m = 0 n = 0  c=1

     

    trong trường hợp này, I chính là ma trận được lật như hình 3 từ ma trận lọc I . Với lớp CNN có kích thước C > 3 thì công thức tính toán vẫn như trên và ma

     

    trận K sẽ có độ sâu C như ma trận I . Ví dụ, cho 6 ma trận lọc có kích thước 5×5, tích xoắn của ảnh màu I với lần lượt từng bộ lọc K sẽ tạo ra 6 ma trận được sắp xếp như hình 4.

     

     

    Hình 4: Ma trận đầu ra được tạo từ 6 ma trận con qua phép tích xoắn

    giữa ma trận vào I và ma trận lọc K trượt trên I

     

    Khi xây dựng được mạng CNN người ta thêm vào các kỹ thuật pooling, dropout, normalizing, regularization để tối ưu thời gian huấn luyện và tránh hiện tượng quá khớp [7]:

     

    • Pooling [7]: Quá trình giảm kích thức ảnh sau khi tính tích xoắn để lấy các pixel

    đặc tính đặc trưng nhất.

     

    • Dropout [7], [11]: Cắt bớt số nơron khi thực hiện thuật toán lan truyền ngược nhằm tăng tốc độ huấn luyện mạng
    • Normalizing [7]: Kỹ thuật chuẩn hóa dữ liệu về dạng dữ liệu trong dải tính toán

    phù hợp.

    Giả sử X là dữ liệu cần chuẩn hóa, khi đó:

         

    1

       

    m

       

    + Kỳ vọng của dữ liệu tính được:

    m =

     

    å X (i) ;

    (3)

     
       
         

    m

    1

       

    + Sai lệch của dữ liệu so với kỳ vọng:

    DX = X m ;

    (4)

     
           

    1

    m

       

    + Phương sai của dữ liệu DX :

    s 2

    =

    å( DX )2 ,

    (5)

     

    m

           

    1

       

    do đó đầu ra dữ liệu được chuẩn hóa sẽ là:

    X =

    DX

    .

    (6)

     
     
       

    s 2

         
                       
    • Regularization [7]: Kỹ thuật sử dụng thêm tham số l trong hàm mục tiêu J khi tối ưu hóa:
       

    1

    m

    1 l

       

    J regularized

    = –

    å ( y ( i ) log (a [ L ](i ) )+ (1 – y ( i ) )log (1 – a(L )(i ) ))+

    åååWk[ l,]j2    (7)

     
           
     

    m 2

       

    m i =1

    lkj

     
                     

    Các mô hình CNN được xây dựng chủ yếu sử dụng hàm ReLU (hình 5) để tăng tốc độ tính toán so với các hàm phi tuyến khác và có đạo hàm không đổi khi huấn luyện.

     

    67

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

     

       

    Hình 5: Hàm ReLU

     

    ReLU

    if

    (8)

     

    if

         

    Chúng ta cần một mô hình xác suất sao cho với mỗi đầu vào thì xác suất để đầu vào đó rơi vào lớp i phải dương và tổng của chúng bằng 1. Để làm được việc đó, ta xây dựng hàm Softmax (hình 6). Ta có:

    y

     

    =

    eZk

    , “i =1, 2,…., C ; z = W T X .

    (9)

    k

    C

         

    åeZ j

       
    • =1

    Ta có: yk = P( ak = k | ik , W ) , trong đó yk thể hiện xác suất của đầu ra mô hình rơi vào lớp k khi có đầu vào ik và tham số mô hình W (ma trận trọng số).

     

     

     

     

    Hình 6: Mô hình Softmax Regression dưới dạng Neural Network

     

    68

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    Trong mạng nơron, việc tìm giá trị nhỏ nhất của hàm mất mát (cost functions) là điều bắt buộc. Việc tìm điểm cực tiểu toàn cục của nó rất phức tạp, thậm chí là bất khả thi. Thay vào đó, người ta thường cố gắng tìm các điểm cực tiểu địa phương và có thể xem đó là nghiệm cần tìm của bài toán. Cách tiếp cận phổ biến nhất là xuất phát từ một điểm mà chúng ta xem là gần với nghiệm của bài toán, sau đó dùng một phép toán lặp để tiến dần đến điểm cần tìm, nghĩa là đến khi đạo hàm gần với 0. Giải thuật Gradient Descent và các biến thể của nó là một trong những giải thuật được dùng nhiều nhất.

     

    Giả thiết mạng nơron có  K  lớp, có tập huấn luyện với m dữ liệu vào – ra như

    sau:

     

    {(x (1) , y (1) ), (x ( 2 ), y ( 2) ),   , (x ( m ), y(m) )}.

    (10)

    Lúc đó hàm mục tiêu (hàm mất mát – cost function) trong bài toán phân lớp hồi quy sẽ là [5,7]:

     

     

    1

    m

         

    l

    m

     

    J (q ) = –

    êé å y ( i ) log hq (x ( i ) )+ (1 – y ( i ) )log 1 – hq (x(i ) ) úù

    +

    åq j2   (11)

     
       
     

    m ë i =1

    (

    )û

     

    2m j =1

     

    Còn với mạng nơron K lớp, hàm mục tiêu sẽ là [10][7]:

     

     

    1

    m   K

     

    + (1 – y k(i ) )log (1 – ( hq

         

    )úù

     

    l

    L-1  sl    sl +1

    2

     
                   

    J (q ) = –

    êéåå y k(i ) log (hq (x ( i ) ))k

    (x(i ) ))k

    +

    ååå(q (jil ) ) , (12)

     
       
     

    m ë i =1  k =1

               

    û

     

    2m l =1  i =1  j =1

       

    với

    (hq (x )) = ith

    đầu ra thứ i của mạng.

                       
       

    i

       

    (

     

    )

                 

    Để tối ưu hóa hàm mục tiêu trên ta tìm MinJ

    q

    sau đó tiến hành cập nhật tham

     
       

    số mô hình q (ma trận các trọng số của mạng) bằng giải thuật Gradient Descent. Giải thuật này phổ biến và cho hiệu quả tốt nhất khi tập dữ liệu lớn (Big data), trong học sâu người ta đề xuất thêm các biến thể của giải thuật Gradient Descent như SGD [7], [13], [17], Adam [5], [6], [7], [8], RMSProp [7], [8]. Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng thuật toán tối ưu RMSProp là một phương pháp đơn giản, cho hiệu quả cao trong bài toán phân loại ảnh [1], [12].

     

    3. THỬ NGHIỆM HUẤN LUYỆN VÀ KIỂM CHỨNG MÔ HÌNH

     

    3.1. Tập hợp dữ liệu huấn luyện

     

    Trong bài báo này, tập hợp dữ liệu được trích ra từ tập hợp dữ liệu CIFAR-10

     

    • gồm 50.000 bức ảnh dùng làm tập huấn luyện (training data), 10.000 bức ảnh dùng làm tập kiểm chứng mô hình (test data), trong tập dữ liệu huấn luyện có 10% dữ liệu (5.000 bức ảnh) ngẫu nhiên được loại ra bằng cách xoay vòng để tránh trường hợp chưa khớp (underfitting), mỗi bức ảnh trong tập dữ liệu là ảnh màu có kích thước 32x32x3 điểm ảnh, các bức ảnh trong tập dữ liệu này đã được tiền xử lý và đảm bảo chỉ có một đối tượng xuất hiện trong một bức ảnh, dữ liệu phân loại được phân theo 10 lớp.

    69

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

    Hình 7: Phân chia tập hợp dữ liệu trong bài báo

     

     

    Hình 8: Lấy ngẫu nhiên 36 bức ảnh trong tập dữ liệu huấn luyện

     

    3.2. Cấu trúc phần cứng

     

    Máy tính sử dụng có cấu hình:

    • CPU: Intel® Core™ i7 6700HQ Processor;
    • RAM: 2 thanh DDR4 2133 MHz SDRAM 4GB;
    • Card đồ họa: Integrated Intel® HD Graphics 530;
    • GPU rời: NVIDIA® GeForce® GTX 950M với 4G GDDR5 VRAM, trong đó: + Lõi CUDA: 640;

    + Xung BoostBase (MHz): 914;

    + Xung cho bộ nhớ: 2500 MHz;

    + Giao tiếp bộ nhớ chuẩn GDDR5;

     

    + Độ dài dữ liệu giao tiếp bộ với bộ nhớ:128-bit; + Tốc độ giao tiếp với bộ nhớ (GB/sec): 80.

     

    Kiến trúc CUDA (Compute Unified Device Architecture) [8] cho phép tăng tốc

     

    độ tính toán của chương trình lên nhờ khả năng tính toán song song, hỗ trợ mọi chức năng tính toán thông qua ngôn ngữ C, hỗ trợ các các ngôn ngữ như Python, Fortran, Java và MATLAB để cài đặt các thuật toán chạy trên GPU. Phần mềm được sử dụng là Tensor Flow hỗ trợ GPU và OpenCV.

     

    3.3. Thử nghiệm với mạng MLP

     

    Ta xây dựng mạng MLP có kiến trúc như hình 9 với các thuộc tính như bảng 1 để phân loại các đối tượng trong tập dữ liệu đã nêu ở mục 3.1.

     

    70

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

     

     

     

     

     

    Hình 9: Mạng MLP ứng dụng trong nhận dạng

     

    Bảng 1: Thuộc tính của mạng MLP

     

    Tên lớp

    Số lượng node

    Hàm

    Dropout

    Tham số

    Đầu vào

    3.072

       

    3.073.000

    Lớp ẩn 1

    1.000

    ReLU

    0,2

    512.512

    Lớp ẩn 2

    512

    ReLU

    0,2

    262.656

    Đầu ra

    10

    Softmax

     

    5.130

    Tổng

    4.594

       

    3.853.298

    Mạng MLP sử dụng phương pháp tối ưu RMSprop, kích thước mỗi lần đưa vào huấn luyện là 32 ảnh, số lần huấn luyện là 10.

     

    3.3. Thử nghiệm với mạng CNN

     

    Mạng CNN được xây dựng với các thuộc tính mạng như bảng 2 được chỉ rõ trong hình 10.

     

    71

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

     

     

     

     

    Hình 10: Mạng CNN trong việc phân loại ảnh

     

    Bảng 2: Thuộc tính mạng CNN

     

    Tên mạng

    Tên lớp

    Convolution

    Pooling

    Tham số

             
     

    Layer 1

    32x32x16

    2

    208

    CNN

    Layer 2

    16x16x32

    2

    2.080

     

    Layer 3

    8x8x64

    2

    8.256

    Tên mạng

    Tên lớp

    Hàm

    Dropout

    Tham số

     

    Input

       

    0

    MLP

    Hidded Layer 1

    ReLU

    0,4

    512.500

     

    OutPut

    Softmax

     

    5.010

    Tổng

         

    528.054

    Việc xây dựng mô hình được thực hiện theo thuật toán trên hình 11 và để tối ưu hóa mô hình không bị quá khớp với độ chính xác cao, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình mạng CNN ở hình 10.

     

    72

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

     

     

     

    Hình 11: Sơ đồ chương trình huấn luyện mạng CNN

    3.4. So sánh các kết quả đạt được

     

    Hình 12 thể hiện kết quả của mô hình đã được huấn luyện với bức ảnh không gạch chéo thể hiện kết quả nhận dạng chính xác, còn có gạch chéo cho kết quả nhận dạng sai.

     

     

     

    Hình 11: Kết quả thử nghiệm mô hình CNN

     

    Bảng 3 thể hiện các kết quả đạt được khi huấn luyện và kiểm nghiệm độ chính xác với hai kiến trúc của mô hình MLP và CNN đã nêu ở trên:

     

    73

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    • Mạng MLP cho độ chính xác 45% khi huấn luyện 20 lần (Epochs=20) trong đó mạng CNN là 79% khi huấn luyện 40 lần (Epochs=40) (độ chính xác tăng lên xấp xỉ 80% khi tăng số lần huấn luyện). Khi sử dụng CPU kết hợp GPU thì có thể tối ưu được thời gian huấn luyện lên đến 34 lần (tùy thuộc vào cấu trúc phần cứng sử dụng) so với việc sử dụng CPU. Khi số lần huấn luyện tăng lên nhiều thì thời gian huấn luyện khi sử dụng CPU kết hợp GPU tăng lên không nhiều, và tăng không đáng kể khi dùng CPU.
    • Khi số lần huấn luyện tăng lên 50, 60,…,100 thì độ chính xác không cải thiện thêm mà chỉ dao động quanh 45% cho mạng MLP và 80% cho mạng CNN do hiện tượng quá khớp. Hiện tượng này xảy ra khi mạng có năng lực quá lớn và để hạn chế bớt năng lực của mạng ta có thể hạn chế số nút ẩn; ngăn không cho mạng sử dụng các trọng số lớn; giới hạn số bước luyện.

    Bảng 3: Kết quả đạt được

     

    Tên mạng

    Thời

    gian

    Thời   gian

    Thời   gian

    Thời   gian

    Độchính

     

    huấn  luyện

    huấn  luyện

    chạy   kiểm

    chạy   kiểm

    xác  của  mô

     

    sử

    dụng

    sử dụng

    tra sử dụng

    tra sử dụng

    hình (%)

     

    CPU (s)

    CPU-GPU

    CPU

    CPU-GPU

     
         

    (s)

    (s)

    (s)

     

    MLP

    987

    200

    2,1

    1

    39

    Epochs=10

               

    Batch_size=32

               

    MLP

    1.133

    201

    2,2

    1

    45

    Epochs=20

               

    Batch_size=64

               

    CNN

    386

    177

    2,2

    1,3

    63

    Epochs=10

               

    Batch_size=32

               

    CNN

    710

    256

    2,2

    1,4

    69

    Epochs=20

               

    Batch_size=64

               

    CNN

    1.020

    319

    2,3

    1,4

    74

    Epochs=30

               

    Batch_size=128

               

    CNN

    1.194

    351

    2,3

    1,4

    79

    Epochs=40

               

    Batch_size=256

               

    4. KẾT LUẬN

     

    Bài báo trình bày phương pháp phân loại ảnh sử dụng mạng MLP, mạng CNN và ứng dụng các kỹ thuật tối ưu quá trình huấn luyện mạng. Sau khi xây dựng và thử nghiệm thành công hai mô hình mạng MLP và CNN trên cơ sở sử dụng kết hợp CPU-GPU, bài báo đã đưa ra kết quả so sánh về hiệu quả phân loại ảnh giữa trường hợp khi sử dụng CPU và trường hợp khi sử dụng kết hợp CPU-GPU trong quá trình huấn luyện cũng như kiểm nghiệm mô hình. Thực hiện kiểm nghiệm cho thấy khi sử dụng mạng

     

    74

     

    1. S. Phương, P. V. Dư, L. V. Chương, T. H. Cường / Ứng dụng mạng Nơron, mạng nơron xoắn…

    CNN cho kết quả phân loại ảnh đạt độ chính xác gần 80% và không cải thiện thêm khi tăng số lần huấn luyện. Để nâng cao kết quả của việc huấn luyện ta cần sử dụng tập huấn luyện có chất lượng ảnh cao hơn cũng như các kỹ thuật khác được trình bày trong [3], [4], [14].

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Alex Krizhevsky, Ilya Sutskever, Geoffrey E. Hinton, ImageNet classification with deep convolutional neural networks, Advances in Neural Information Processing Systems, 2012, pp. 1097-1105.
    • Krizhevsky, Learning Multiple Layers of Features from Tiny Images. Ph.D dissertation, University of Toronto, 2009.
    • Baoyuan Liu, Min Wang, Hassan Foroosh, Marshall Tappen and Marianna Penksy, Sparse Convolutional Neural Networks, The IEEE Conference on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR), 2015, pp. 806-814.
    • Graham, Sparse 3D convolutional neural networks, arXiv:1505.02890v2, 2015.
    • Duchi, J., Hazan, E., & Singer, Y, Adaptive Subgradient Methods for Online Learning and Stochastic Optimization, Journal of Machine Learning Research, 2011, 2121–2159.
    • E. Hinton, N. Srivastava, A. Krizhevsky, I. Sutskever, R. R. Salakhutdinov, Improving neural networks by preventing co-adaptation of feature detectors, arXiv:1207.0580v1, 2012.
    • Ian Goodfellow, Yoshua Bengio, Aaron Courville, Deep Learning, The MIT Press, 2016.
    • Jayshree Ghorpade, Jitendra Parande, Madhura Kulkarni, Amit Bawaskar, GPGPU processing in CUDA architecture, Advanced Computing. An International Journal (ACIJ), Vol.3, No.1, 2012.
    • John Duchi, Elad Hazan, and Yoram Singer, Adaptive Subgradient Methods for Online Learning and Stochastic Optimization. Journal of Machine Learning Research, 2012.
    • Đinh Văn Nam, Phan Văn Dư, Hồ Sỹ Phương, Nghiên cứu và thử nghiệm thiết kế thiết bị tự động đọc ghi dữ liệu các máy hiển thị số trên cơ sở mạng nơ ron nhân tạo,

    Hội nghị toàn quốc về cơ điện tử lần thứ 8, 2016, tr. 96-102.

     

    • Srivastava, G. E. Hinton, A. Krizhevsky, I. Sutskever, R. Salakhutdinov, Dropout: a simple way to prevent neural networks from overfitting, Journal of machine learning research 15, 2014, pp. 1929-1958.
    • Olga Russakovsky, Jia Deng, Hao Su, Jonathan Krause, Sanjeev Satheesh, Sean Ma, Zhiheng Huang, Andrej Karpathy, Aditya Khosla, Michael Bernstein, Alexander C. Berg and Li Fei-Fei, ImageNet Large Scale Visual Recognition Challenge, International Journal of Computer Vision, Volume 115, Issue 3, 2015, pp. 211–252.

    75

     

    Trường Đại học Vinh                                                         Tạp chí khoa học, Tập 47, Số 3A (2018), tr. 64-76

     

    • Sebastian Ruder, An overview of gradient descent optimization algorithms, arXiv:1609.04747, 2017.
    • Sergey Zagoruyko, Nikos Komodakis, Wide Residual Networks, Computer Vision and Pattern Recognition, arXiv:1605.07146, 2017.
    • https://www.cs.toronto.edu/~kriz/cifar.html.
    • http://ruder.io/optimizing-gradient descent.

    SUMMARY

     

    APPLYING NEURAL NETWORKS, CONVOLUTIONAL NEURAL NETWORKS AND COMBINATION OF CPUS AND GPUS TO INCREASE CALCULATING PERFORMANCE FOR IMAGE CLASSIFICATION

     

    This paper presents and compares the image classification methods based on MLPs and CNNs. Training data is 500,000 pictures of 10 different objects. The first architecture to be used is MLPs network that contains 3,853,298 weights, the second architecture is CNNs with 528,054 weights. This paper proposes several methods and architectures network to avoid overfitting phenomenon and increases the accuracy of modeling approximately 80%. Besides on it, the paper also presents and compares time training of models using CPUs, and combining CPUs with GPUs.

     

     

     

     

    76


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MÃ HÓA DỮ LIỆU – CÂN BẰNG GIỮA SỰ BẢO MẬT VÀ HIỆU SUẤT THỰC THI ỨNG DỤNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ngh%E1%BB%8Bch-l%C6%B0u-%C4%91a-m%E1%BB%A9c-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-b%E1%BB%99-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%95i-ki%E1%BB%83u-ma-tr%E1%BA%ADn-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-kh%C3%A2u-DC-li%C3%AAn-k%E1%BA%BFt-c%C3%A1ch-ly-t%E1%BA%A7n-s%E1%BB%91-cao.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghịch lưu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

     

    NGHỊCH LƯU ĐA MỨC TRÊN CƠ SỞ BỘ BIẾN ĐỔI KIỂU MA TRẬN VỚI CÁC KHÂU DC LIÊN KẾT CÁCH LY TẦN SỐ CAO

     

    Lê Phƣơng Hảo1, Trần Hùng Cƣờng1

     

    TÓM TẮT

     

    Nghịch lưu đa mức (Multi-level inverters MLI) với ưu điểm đưa ra được điện áp đầu ra với thành phần sóng hài tốt và điện áp trên các mạch cơ sở chỉ bằng biên độ điện áp ra chia cho số mức n . Tuy nhiên số mức yêu cầu tương đương với số mạch một chiều càng cao sẽ nảy sinh càng nhiều vấn đề và là một khó khăn lớn , nhất là với yêu cầu phải cách ly và có khả năng trao đổi công suất hai chiều . Bài báo này giới thiệu cấu trúc bộ biến đổi đa mức dùng cầu chữ H nối tầng với điểm khác biệt là các mạch cơ sở dùng biến tần kiểu ma trận trên các van bán dẫn hai chiều . Với ưu điểm là c ác mạch cơ sở kiểu ma trận thực hiện liên kết trực tiếp, trao đổi công suất hai chiều với khâu biến đổi DC-AC trung gian tần số cao, nhờ đó giảm được kích thước của biến áp cách ly. Bài báo cũng trình bày phương pháp điều chế, xây dựng các mạch vòng điều chỉnh cho một nghịch lưu 7 mức có khả năng nối lưới. Các yêu cầu đặt ra được kiểm chứng qua các kết quả mô phỏng.

     

    Từ khóa: Nghịch lưu đa mức

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Trong những năm gần đây nguồn năng lƣợng mới nhƣ năng lƣợng gió, năng lƣợng mặt trời,… đã và đang đƣợc quan tâm rất nhiều do nhu cầu về nguồn năng lƣợng này là rất cần thiết. Song, do đặc điểm là các nguồn năng lƣợng này có công suất nhỏ lẻ, phân bố rời rạc và không ổn định chính vì vậy sẽ không đảm bảo tính liên tục cung cấp điện cho các hộ phụ tải. Một nhƣợc điểm nữa đó là các bộ biến đổi nguồn DC -AC hoặc AC-AC sử dụng các linh kiện điện tử , các van bán dẫn để chuyển đổi nguồn điện trƣớc khi cung cấp cho phụ tải chỉ chịu đƣợc mức điện áp và công suất hạn chế và đặc biệt là chƣa có khả năng trao đổi công suất hai chiều . Chính vì vậy cần phải có một chiến lƣợc điều khiển kiểm soát tốt các các nguồn năng lƣợng này để nâng cao chất lƣợng điện năng phục vụ cho tải tiêu thụ và mục tiêu lớn là hòa vào lƣới điện quốc gia. Biến tần đa cấp đã đạt đƣợc nhiều sự chú ý trong những năm gần đây nhƣ là một giải pháp hiệu quả cho các ứng dụng công suất lớn và điện áp cao. Biến tần đa cấp có thể tạo ra điện áp dạng sin từ các bƣớc điện áp nhỏ hơn từ các nguồn DC cách ly hoặc từ các cấp điện áp dùng bộ phân áp bằng một loạt tụ. Biến tần đa cấp có thể là khâu biến

     

    • Giảng viên khoa Kỹ thuật – Công nghệ, trường Đại học Hồng Đức

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    đổi năng lƣợng điện lý tƣởng cho kết nối các nguồn năng lƣợng tái tạo với lƣới điện, bao gồm hầu hết các nguồn phân tán nhƣ pin mặt trời, pin nhiên liệu, tua-bin điện sức gió [3]. Cấu trúc biến tần đa cấp đã đƣợc phát triển để có thể sử dụng các thiết bị đóng cắt bán dẫn với điện áp tƣơng đối thấp cho các ứng dụng yêu cầu điện áp cao, công suất lớn. Các nghiên cứu trƣớc đây cho thấy [3 – 5], lợi thế của các nghịch lƣu đa cấp dùng các khâu biến đổi nối tầng bao gồm: (1) các van bán dẫn chỉ phải đóng cắt ở tần số cơ bản (hoặc gần tần số này), do đó giảm đáng kể tổn hao do quá trình đóng cắt, (2) không cần dùng máy biến áp ở tần số lƣới cung cấp các mức điện áp cần thiết, (3) kết cấu kiểu mô – đun hóa nên cấu trúc mạch lực đơn giản hơn, số lƣợng thiết bị ít hơn, (4) vì không có biến áp hệ thống có thể đáp ứng nhanh hơn nhiều.

     

    2. BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC DÙNG MATRIX CONVERTER

     

     

    Hình 1. Sơ đồ bộ biến đổi DC-AC-AC dùng van bán dẫn hai chiều

     

    Trong sơ đồ này các khâu đầu vào là các H-Bridge thông thƣờng. Khâu cách ly DC- AC đƣợc liên kết thông qua một biến áp tần số cao tạo sự cách ly độc lập tƣơng đối cần thiết giữa lƣới và tải kết nối với các cổng và nó làm việc trực tiếp với điện áp AC thông qua bộ chuyển đổi cyclo-converter để thực hiện trao đổi công suất hai chiều một cách linh hoạt. Khâu biến đổi AC-AC trực tiếp sử dụng van bán dẫn hai chiều, biến đổi điện áp dạng sóng chữ nhật, tần số cao fpwm sang điện áp dạng sóng sin cơ bản tần số lƣới 50 Hz. Quá trình biến đổi có thể dùng nguyên lý cycloconverter để chuyển mạch tự nhiên [4, 5]. Quá trình điều chế cycloconverter tạo ra điện áp tần số thấp ở mỗi nửa chu kỳ, là dãy xung áp có độ rộng thay đổi từ 0 đến Tpwm, tùy thuộc vào vị trí cắt nhau của tín hiệu điều chế m(t) với xung răng cƣa của PWM.

     

    3. ĐIỀU CHẾ PWM CHO BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC DÙNG MATRIX CONVERTER

     

    Phƣơng pháp PWM và quá trình điều khiển chuyển mạch đƣợc giải thích qua đồ thị thời gian trên hình 2. Sóng răng cƣa tam giác đối xứng trên đồ thị hình 2.a có tần số fs gồm hai hệ xung c+(t) và c(t) ngƣợc nhau 180°. Xung điều khiển các van S1, S2, S3,

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    S4 của nghịch lƣu bên phía sơ cấp máy biến áp HF đƣợc điều khiển đồng bộ với xung răng cƣa ở tần số fs/2.

     

    Giả sử m(t) đang dƣơng. Khi đầu ra phía thứ cấp là điện áp dƣơng uf(+), giống nhƣ phƣơng pháp điều chế PWM một cực tính, ở phía thứ cấp máy biến áp HF hai van hai chiều V1, V2 điều khiển bởi tín hiệu ra của pwm+, là đầu ra của so sánh giữa tín hiệu sin mong muốn m(t) với xung răng cƣa c(t), còn nhánh van V3, V4 điều khiển tín hiệu ra của pwm, đầu ra khâu so sánh m(t) với c(t). Khi đầu ra thứ cấp máy biến áp là điện áp âm uf(-) thì ngƣợc lại, V1 (gồm S1a, S1b) V2 (gồm S2a. S2b) điều khiển bởi pwm, còn V3 (gồm S3a, S3b), V4 (gồm S4a, S4b) bởi pwm+.

     

    Thuật toán điều chế đƣợc xây dựng nhƣ giải thích qua các đồ thị trên hình 2. Tín hiệu uf có biên độ +/- 1, tần số fs/2, là tín hiệu điều khiển cầu S1, S2, S3, S4 bên phía sơ cấp máy biến áp HF. Tín hiệu +1 mở cặp van S1, S4, và -1 mở cặp van S3, S2. Tín hiệu đầu ra khâu so sánh của PWM cũng là +/- 1, gồm hai hệ thống upwm+ (là và upwm-). Khi đó lấy tích uf*upwm+ và uf*upwm- ta sẽ đƣợc ngay tín hiệu điều khiển van hai chiều V1, V3 và V2, V4 tƣơng ứng. Điểm đặc biệt của thuật toán điều chế ở đây là tín hiệu tích có tác dụng chỉnh lƣu lại điện áp ở đầu ra, bởi vậy tránh đƣợc phải sử dụng mạch logic phức tạp. Cần lƣu ý rằng đối với matrix converter thì V3 phải điều khiển ngƣợc với V1 và V2 ngƣợc với V4, điều này thể hiện trên đồ thị 2.e và 2.f. Các khoảng dẫn của van cũng đƣợc thể hiện trên đồ thị. Trên hình 2.g cho thấy dạng điện áp ra của matrix converter trong cả hai trƣờng hợp tín hiệu điều chế m(t) dƣơng và âm. Nhƣ vậy mạch logic có thể thiết kế thống nhất, khá đơn giản.

     

    uc+

    uc-

    m(t)

    (a)

     

    t

       
       

    t

    1

       

    uf

       

    (b)

       

    -1

       

    1

       

    upwm+

     

    t

    (c)

       

    -1

       

    1

       

    upwm-

     

    t

    (d)

       

    -1

       

    1

       

    V1=uf*upwm+

     

    t

    V2=\V1

       
    • -1
     

    1

                                                                             

    V4=uf*upwm-

                                                                           

    t

    V3=\V4

                                                                             
                                                                               

    (f)

                                                                                 
     

    -1

                                                                             
                                                                               
     

    1

    1

    3

    1

    1  3

    3

    1

    3

    3  1

    1

    3

    1

    1  3

    3

    1

    3

    3  1

    3

    3

    1 3

    1

    1

    1

    3  1

    3

    2

    3

    1 3

    1

     
     

    2

    4

    4

    4

    2  4

    2

    2

    2

    4  2

    4

    4

    4

    2  4

    2

    2

    2

    4  2

    4

    2

    2 4

    4

    2

    4

    4  2

    2

    4

    2

    2 4

    4

     
     

    +Uf

                                                                           
                                                                             
     

    um(t)

                                                                         

    t

    (g)

                                                                               
                                                                                 
     

    0

                                                                             
     

    -Uf

                                                                           
                                                                             

    Hình 2. Mẫu xung điều khiển PWM cho matrix converter

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    Mẫu xung điều khiển các van V1, V2, V3, V4 ứng với cả hai trƣờng hợp m(t) dƣơng và âm biểu diễn trên đồ thị hình 2e cùng với dạng xung của điện áp ra umc(t). Có thể thấy rằng điện áp ra có dạng của điều chế PWM một cực tính, khi m(t) dƣơng chỉ có các xung dƣơng và khi m(t) âm chỉ có các xung âm. Nếu biên độ điện áp xung chữ nhật ở thứ cấp máy biến áp HF là Uf thì điện áp ra umc(t) có 3 mức: +Uf, -Uf, và zero. Ở trạng thái ra không, dòng tải iL ngắn mạch qua nhánh van (V1, V2) hoặc (V3, V4), không đi qua cuộn dây máy biến áp và không làm ngắn mạch máy biến áp. Điều này mang lại hiệu quả cao cho sơ đồ, khác với quá trình điều chế ngay bên phía sơ cấp máy biến áp. Khi điều chế bên phía sơ cấp để tạo trạng thái không bên thứ cấp, dòng phải chạy quẩn bên phía sơ cấp làm tăng phát nóng cuộn dây. Có thể thấy rằng điện áp đầu ra máy biến áp luôn có dạng xung chữ nhật đối xứng, biên độ +/-Uf, tần số fs/2. Ký hiệu 4 trạng thái đƣợc phép của các van V1, …, V4 là (12), (14), (32), (34), tƣơng ứng với cặp van đóng (V1, V2), (V1, V4), (V3, V2), (V3, V4). Các trạng thái (V1, V3), (V2, V4) là không đƣợc phép vì làm ngắn mạch thứ cấp máy biến áp. Trạng thái (12) và (34) là hai trạng thái không, ngắn mạch đầu ra làm điện áp ra bằng không.

     

    4. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CHO BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC

     

     

     

    Hình 3. Hệ thống điều khiển cho bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    5. NGHỊCH LƢU ĐA MỨC XÂY DỤNG TRÊN BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC

     

    Có thể thấy rằng bộ biến đổi DC-AC-AC có phần một chiều cách ly qua khâu trung gian tần số cao và khâu AC-AC kiểu ma trận với mạch điều chế PWM và mạch

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    logic điều khiển chuyển mạch nêu trên hoàn toàn tƣơng đƣơng với một nghịch lƣu cầu chữ H nhƣ một khâu biến đổi DC-AC thông thƣờng. Vì vậy có thể xây dựng một nghịch lƣu đa mức kiểu dùng cầu H nối tầng từ chính bộ biến đổi này, trong đó vai trò của phía một chiều cách ly sẽ thể hiện rõ trong cấu trúc bộ biến đổi back-to-back giới thiệu sau đây. Nghịch lƣu đa mức sử dụng phƣơng pháp điều chế phase-shift để phân tải đều nhau giữa các cầu H thành phần trong toàn dải thay đổi của biên độ dạng sin ra mong muốn.

     

    HF

     

    Udc1

    V1b

     

    V1a

     

    HF

    V1b

    Udc2

    L

    V1a

     

    HF

     

    Udc3

    R

     

    V1b

     

    V1a

     

    Hình 4. Nghịch lƣu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    6. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN CHO BỘ BIẾN ĐỔI

     

     

     

    Hình 5. Hệ thống điều khiển bộ biến tần đa mức xây dựng dựa trên bộ biến đổi DC-AC-AC

     

    38

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    1. SƠ ĐỒ MÔ PHỎNG BỘ NGHỊCH LƢU ĐA MỨC XÂY DỰNG TRÊN BỘ BIẾN ĐỔI DC-AC-AC
                                         

    DC-AC converter with intermediate high frequency link. No modulation on primery side.

                   
                             

    Discre te ,

                         
                                       

    Low frequency voltage is formed by PWM on secondary side using a matrix converter.

                   
                         

    s  = 1e -006  s

                                         

    fs=250 Hz, Uout=220VAC, 50Hz.

                                         
                                                                                                               
       

    Breaker1

    powergui

    [LF_I]

    L

     
           

    LF

     
     

    c

     

    [I_HF1]

    [G_H1]

     

    i

         
     

    1

    2

                   

    –  +

                 

    v

    [LF_U]

                                                                                                                             
                                   

    LF2

         

    G_H

                 

       
             

    +

    g

       

    [G_L1]

    LF1

     

    IL

    V

    LF1

       

    DC

                       

    G_L

       

    AC

     
       

    180V

     

    Rd

     

    Cdc

     

    +

                 

    i

               
           

    v

    Udc

         

    A

     

    +  –

           

    HF1

         
                                           

    LF2

             
         

    V1

         

    B

     

    I_HF

    1

    2

         

    HF2

             
                                   

    H Bridge

           

    Subsystem

         
     

    Breaker2

         

    HF trans.

         
       

    c

    2

       

    [G_H2]

           
     

    1

                             
                 

    g

       

    [G_L2]

       

    G_H

           
               

    +

             

    LF1

           
                               

    G_L

         
     

    DC Rd1

       

    +

    v

               

    A

                   
         

                             

    HF1

         
     

    180V1

    V2

             

       

    B

       

    1

       

    2

       

    LF2

           
                                   

    HF2

           
                                 

    H Bridge1

             

    Subsystem1

         
     

    Breaker3

             

    HF trans.1

           
                     
         

    c

    2

         

    [G_H3]

               
         

    1

                                           
                   

    g

             

    G_H

           
                 

    +

     

    [G_L3]

         

    LF1

           
                                 

    G_L

         
       

    DC

    Rd2

    C dc3

     

    v

             

    A

             

    HF1

         
     

    180V2

     

                                               
       

    V3

             

       

    B

       

    1

       

    2

         

    LF2

                     
                                   

    HF2

       
                   

    H Bridge2

                             

    Subsystem2

     
               

    HF trans.2

         
                     
                                                                                                                               
                       

    SineWav e

    Gates high

       

    [G_H1]

     
                       

    Saw

         
           

    Out1

                     

    [G_L1]

     
             

    Out2

             

    HB

     

    Gates low

       
                               
               

    Out3

                                   
                 

    Out4

               

    PWM HF link Controller

                                 
                             
                 

    Out5

                   
               

    Out6

                       
             

    HB1_G

                     

    SineWav e

    Gates high

         

    [G_H2]

     
                         

    Saw

         
                             
       

    HB2_G

                 

    Gates low

         

    [G_L2]

     

    1/3

    HB3_G

             

    HB

         

    Gain2

    HB1

           

    PWM HF link Controller1

       

    HB2

           
             
     

    HB3

             
                                 

    SineWav e

    Gates high

         

    [G_H3]

     

    Sawtooth Generator

               
           

    Saw

    Gates low

       

    [G_L3]

     
     

    [LF_I]

             

    HB

           
           

    -K-

               

    PI(s)

                         
             

    PWM HF link Controller2

     

    Current

    errror

    Mod

    index

         

    [LF_U]

     

    -K-

       

    Gain

     

    PI current

                   

    [LF_I]

           
     

    Udc/3

                                     
                         

    PI(s)

             

    Low Freq. Current

         
                               

    Current Ref . [LF_U]

         
                     

    Error_Udc

           

    Low f req. v oltage

           
         

    Current1

     

    Timer

     

    PI voltage

       

    [I_HF1]

               
                                                                                                                               
                                                                                     

    High f req. current

             
                   
       

    Error_Udc

           
     

    Current

         

    8. KẾT QUẢ

     

           

    LF Current [A]

         

    300

         

    HF Current [A]

           

    200

                                 

    150

                 

    200

                   
                                   

    100

                                   

    50

                 

    100

                   
                                   

    0

                 

    0

                   
                                   

    -50

                                   

    -100

                 

    -100

                   
                                   

    -1500

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16   -2000

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

           

    Time [s]

                 

    Time [s]

           

    400

         

    LF voltage [A]

                   

    Udc/3

             
                   

    200

                     

    200

                   

    150

                     

    0

                   

    100

                     

    -200

                   

    50

                     
                                       

    -400

                   

    0

                     
                   

    0

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

     

    0

    0.02

    0.04

    0.06

    0.08

    0.1

    0.12

    0.14

    0.16

                       

    Time [s]

    Time [s]

     

    Kết quả mô phỏng cho ta thấy bộ van biến đổi hai chiều khi kết nối đa mức vẫn đảm bảo làm việc tốt. Nhƣ ta thấy trên hiển thị kết quả mô phỏng dòng trên tải iload luôn đảm bảo là hình sin và khi nhận năng lƣợng của lƣới thì dòng điện cùng pha với điện áp đầu vào còn khi trả năng lƣợng về lƣới thì dòng điện ngƣợc pha với điện áp đầu vào. Nhƣ vậy bộ nghịch lƣu đa mức trên cơ sở bộ biến đổi kiểu ma trận

    39

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    với các khâu DC liên kết cách ly tần số cao không những vẫn đảm bảo đƣợc những ƣu điểm của bộ nghịch lƣu đa mức thông thƣờng mà bộ biến đổi này còn có khả năng trao đổi công suất hai chiều, điều khiển chuyển mạch van đơn giản dẫn đến điều chế cũng dễ dàng. Ngoài ra còn có khâu DC liên kết cách ly tần số cao không những cách ly sự làm việc độc lập giữa bên xoay chiều và một chiều mà việc dùng máy biến áp tần số cao còn có tác dụng hỗ trợ trong việc điều khiển chuyển mạch van dễ dàng và chính xác hơn.

     

    9. KẾT LUẬN

     

    Nhóm tác giả đã tìm hiểu, phân tích cấu trúc của bộ nghịch lƣu đa mức và khâu truyền dẫn công suất hai chiều Matrix-Converter; Nghiên cứu, phân tích phƣơng pháp điều khiển cho bộ nghịch lƣu. Trên cơ sở đó, phân tích và thiết kế thành công hệ thống điều khiển cho sơ đồ truyền dẫn công suất hai chiều Matrix-Converter. Nhóm cũng đã lập trình tính toán các thông số cho bộ điều chỉnh PID dùng trong các bộ biến đổi và xây dựng mô hình mô phỏng bộ nghịch lƣu đa mức, khâu truyền dẫn công suất hai chiều dùng Matix Converter. Đƣa ra các nhận xét, đánh giá các kết quả mô phỏng. Với kết quả hiện tại, bộ biến đổi hoạt động khá ổn định, và cho đáp ứng khá tốt với luật điều khiển đặt ra.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • José Rodríguez, Steffen Bernet, BinWu, Jorge O. Pontt, Samir Kouro; Multilevel Voltage-Source-Converter Topologies for Industrial Medium-Voltage Drives; IEEE TRANSACTIONS ON INDUSTRIAL ELECTRONICS, 54, NO. 6, DECEMBER 2007.
    • S. Lai and F. Z. Peng, “Multilevel converters – A new breed of power converters,” IEEE Trans. Ind. Applicat., vol. 32, pp. 509 – 517,May/June 1996.
    • José Rodríguez , Luis Luis, et al.; High-Voltage Multilevel Converter With Regeneration Capability; IEEE TRANSACTIONS ON INDUSTRIAL ELECTRONICS, VOL. 49, NO. 4, AUGUST 2002.
    • Koutroulis, J.Chatzakis, K.Kalaitzakis and N.C.Voulgaris; A bidirectional, sinusoidal, high-frequency inverter Design; IEE Proc.-Electr. Power Appl., Vol. 148, No. 4, July 2001.

    40

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 24. 2015

     

    • José Rodríguez, Luis Morán, “High-Voltage Multilevel Converter With Regeneration Capability”.

    MULTI-LEVEL INVERTER BASED ON MATRIX CONVERTER CELLS WITH ISOLATED DC LINK OF HIGH FREQUENCY

     

    Le Phuong Hao, Tran Hung Cuong

     

    ABSTRACT

     

    Multi-level inverters (MLI) can easily provide output voltage with reduced harmonic distortion and low voltage level on power switches. However, a large number of required DC sources, which is equal to the number of levels on output voltage, are a serious drawback, especially when power exchange and isolation are both required. This paper presents a structure of H bridge cascaded multi-level inverter based on matrix converter. The cell on matrix converter directly connected with AC side of the intermediated DC-AC high frequency link, thus provide two sides of power exchange. High frequency link helps reduce size of the isolation transformer. The paper shows how to build modulation scheme and two control loops for a 7-levels converter with grid-connected possibility. The good simulation results have demonstrated the effectiveness of this approach.

     

    Key words: Mult I – level inverters (MLI)

     

     

     

    41


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]