Author: Nguyễn Huyền

  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-CH%E1%BA%A4P-H%C3%80NH-PH%C3%81P-LU%E1%BA%ACT-THU%E1%BA%BE-C%E1%BB%A6A-NG%C6%AF%E1%BB%9CI-N%E1%BB%98P-THU%E1%BA%BE-T%E1%BA%A0I-C%E1%BB%A4C-THU%E1%BA%BE-TP.HCM_.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

    Kinh tế

     

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CỤC THUẾ TP.HCM

     

    (ANALYSIS OF FACTORS AFFECTING THE SENSE OF EXECUTIVE LEGAL DUTY OF TAXATION TAXPAYERS IN HCM CITY)

     

    Tôn hất Viên(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế tại Cục Thuế TP.HCM. Số liệu trong nghiên cứu ch́nh thức này được thực hiện bằng bảng câu h̉i khảo sát, m̃u được cḥn bằng phương pháp cḥn m̃u thuận tiện v́i c̃ m̃u là 276 đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM. Dựa trên phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân t́ch nhân tố khám phá EFA đ̉ đo lừng sự hội tụ c̉a các biến. Phân t́ch h̀i quy đ̉ kỉm định giả thuyết nghiên cứu và mô h̀nh nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế là: Tuân th̉ thuế, Công tác kỉm tra thuế, Nhận thức về công bằng, Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế, Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế, Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội, T̀nh trạng tài ch́nh c̉a đối tượng nộp thuế, Vấn đề thuế suất. Dựa vào phương tr̀nh h̀i quy cho thấy, tám biến đưa vào mô h̀nh đều có tương quan thuận v́i hiệu quả c̉a công tác chấp hành luật thuế và ảnh hưởng như nhau. Bài viết cũng đ̀ng th̀i thảo luận những kết quả nghiên cứu ch́nh và đề xuất các giải pháp đ̉ nâng cao ý thức chất hành pháp luật thuế c̉a đối tượng nộp thuế.

     

    Từ khóa: Chấp hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, Cục Thuế TP.HCM

     

    ABSTRACT

     

    The study was conducted to determine the factors affecting the sense of observance of tax legislation in HCMC Tax Department. Data in the oficial study was performed in questionnaire survey, the sample was selected by convenience sampling method with a sample size of 276 taxpayers in the Tax Department. HCM. Based on the method of Cronbach’s Alpha reliability and ANALYSIS EFA EXPLORE FACTOR to measure the convergence of the variables. Regression analysis is meand for testing hypotheses and research model. The study results showed that the factors affecting the sense of observance of tax legislation: Tax Compliance, Tax Inspection, Perceptions of fairness, Operational eficiency of the tax authorities, Knowledge of the taxpayer’s tax, penalties and Awareness of crime, inancial status of the taxpayer, the tax issue. Based on the regression equation shows, the eight variables included in the model are positively correlated with the effectiveness of law enforcement activities at the same level. The article also discusses the main indings and propose solutions to raise awareness of the tax legislation of the taxpayer.

     

    Keywords: law observation, inspector, examination, HCMC tax department

     

     

    • GV. Trừng Đại ḥc Kinh tế – Kỹ thuật B̀nh Dương

     

     

    1

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Những nghiên cứu hiện nay tập trung vào hướng mới là phù hợp và sự thích nghi của quản lý thu thuế đối với sự thay đổi của đối tượng nộp thuế (ĐTNT). Các nghiên cứu theo hướng này tập trung làm rõ tại sao? và làm thế nào ? để ĐTNT chấp hành pháp luật thuế, với hai cách tiếp cận khác nhau. Hướng thứ nhất, một số nghiên cứu tập trung làm rõ tại sao đối tượng lại trốn thuế và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp hành pháp luật thuế (Alm, J., & McClelland, G. H., Schulze (1992)). Hướng nghiên cứu thứ hai, một số tác giả cho rằng theo chuẩn mực truyền thống thì đối tượng nên chấp hành hơn là không chấp hành pháp luật thuế và vì vậy một hệ thống thuế có hiệu lực phải đạt được sự vui lòng hợp tác của đa số những người nộp thuế. Cơ quan thuế sẽ có lợi hơn khi giúp đỡ đối tượng chấp hành pháp luật, đáp ứng những nhu cầu của họ, tạo điều kiện cho họ chấp hành pháp luật nghĩa vụ thuế hơn là tiêu tốn quá nhiều nguồn lực vào thiểu số những đối tượng trốn thuế. Do đó, hệ thống tự khai tự nộp (TKTN) là sự ngụ ý cho việc đảm bảo và tăng cường sự chấp hành pháp luật thuế. Cục Thuế TP.HCM hơn mười năm thực hiện công cuộc cải cách hành chính thuế theo lộ trình được đề ra một cách cụ thể, khoa học và hiện nay vẫn tiếp tục thực hiện. Thực tế cho thấy ngành thuế đã có những bước tiến dài và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại trên thế giới, đáp ứng được theo sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế đất nước trong từng giai đoạn.

     

    Hiện nay, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp (DN) ở các nước đang phát triển, đang đối mặt với nhiều thách thức khác nhau tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với nhiệm vụ thu thuế của nhà nước. Một trong những thách thức lớn,

     

    đó là sự đa dạng hành vi chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế. Phức tạp hơn, khi hành vi chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế lại chịu ảnh hưởng của nhiều biến số khác nhau. Những yếu tố này tạo ra bài toán lớn đối với cơ quan thuế trong việc đảm bảo sự chấp hành pháp luật thuế của của đối tượng nộp thuế. Do vậy, tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế là khâu đột phá của toàn bộ lộ trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế hiện nay. Công tác này có tầm quan trọng đặc biệt, không những nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tính tự giác chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của ngành, mà còn tạo mối quan hệ gắn kết giữa cơ quan thuế và ĐTNT. Từ đó, việc tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế cũng như làm tốt công tác hỗ trợ ĐTNT đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT; từng bước giảm dần các sai sót và vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách thuế của đối tượng nộp thuế; quan hệ giữa cơ quan thuế, công chức thuế và ĐTNT ngày càng thân thiện và là người bạn đồng hành trong việc thực thi các chính sách, pháp luật thuế.

     

    Tuy nhiên, sự đổi mới nói trên không thể đảm bảo rằng cơ quan quản lý thuế có thể đạt được sự chấp hành pháp luật tự nguyện, đầy đủ của hầu hết các ĐTNT, đảm bảo nguồn thu tiềm năng cho ngân sách nhà nước (NSNN). Trong bối cảnh hành vi và đặc điểm của ĐTNT ngày càng phức tạp như ở TP. HCM, quản lý thu thuế cần phải đạt được mục tiêu chấp hành pháp luật cao nhất đặc biệt là sự chấp hành pháp luật tự nguyện của ĐTNT. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi quản lý thu thuế ở các thành phố lớn như TP. HCM có sự đổi mới hoàn toàn về quan điểm, chiến lược, chính sách quản lý thu thuế đối với ĐTNT.

     

     

    2

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

    • Cơ sở lý thuyết

    2.1.1. Khái niệm nộp thuế

     

    Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN). Các tác giả ở Học Viện Tài chính viết: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007)). Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của DN. Tính tất yếu này xuất phát từ một số cơ sở như sau:

     

    • Thuế là khoản chi phí mà DN phải trả cho việc sử dụng các tài sản quốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, hệ thống thông tin.v.v.). Vì vậy, DN phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho Nhà Nước để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sử dụng.

     

    • Thuế thu từ DN là khoản thu chủ yếu của NSNN nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tế xã hội như chi tiêu cho các hoạt động cung ứng các dịch vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô.v.v. Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho xã hội, đặc biệt ở những nước mà NSNN chủ yếu dựa vào nguồn thu nội bộ. Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vì vậy nếu các DN chấp hành pháp luật thuế đầy đủ thì đó chính là tín hiệu tích cực và có lợi đối với NSNN.

     

    • Nộp thuế của DN đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự

    cân đối trong nền kinh tế và thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước. Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của DN là tất yếu bởi đây là công cụ mà Nhà nước sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng.

     

    • Nộp thuế của DN sẽ đảm bảo tính công bằng trong chấp hành pháp luật thuế giữa các DN ở các thành phần kinh tế, ở các ngành kinh tế và ở các loại hình quy mô khác nhau. Việc chấp hành nghĩa vụ thuế của một DN sẽ ảnh hưởng tích cực đến các DN khác và tăng cường sự nhận thức công bằng trong cộng đồng DN, kích thích sự chấp hành pháp luật thuế của đại bộ phận các DN còn lại, đặc biệt là các đối tượng hoạt động trong khu vực phi chính thức và các DN đang khai thác các hình thức tránh thuế. Xét theo ảnh hưởng tâm lý hành vi, việc nhận thức được nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu sẽ tạo môi trường quản lý thuế dân chủ hơn, tối thiểu hoá sự miễn cưỡng đối đầu cao của các DN, kích thích sự chấp hành pháp luật thuế tiềm năng.

    Tóm lại, nộp thuế phải được các DN nhận thức là một nghĩa vụ tất yếu. Quản lý thu thuế của Nhà nước quan trọng nhất là phải làm cho các DN nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự chấp hành pháp luật thuế một cách đầy đủ và kịp thời.

     

    2.1.2. Chấp hành pháp luật thuế

     

    “Chấp hành pháp luật thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đối tượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế” (James, S., Alley, C. (1999)). Theo cơ quan thuế Australia (ATO), “chấp hành pháp luật thuế là việc DN đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo các quyết định của toà án” (Cash Economy Task Force (1998)), Mc Barnet nghiên cứu rằng dựa vào mục đích và lợi ích của mình, DN có thể lựa chọn một trong 4 phương án sau (1) chấp hành pháp thuế (2) thoả

     

     

    3

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    hiệp bằng việc thương lượng cách mà luật thuế cụ thể nào đó hoạt động trong những hoàn cảnh nhất định và chấp hành pháp luật thuế mà các mục tiêu được tuyên bố của luật có thể không thực hiện được (3) chuyển đổi các quyết định luật theo cách cụ thể, tạo điều kiện tích cực cho việc trốn thuế (4) phá vỡ hoặc không chấp hành pháp luật luật với hy vọng không bị phát hiện bằng cách thiết lập hệ thống kế toán để che dấu bất kỳ sự kiểm tra nào (Kirchker, E., Macielovsky, B., Schneider, F. (2001)). Theo Mc Barnet, các DN lớn có xu hướng là có học” trong việc lựa chọn sự chấp hành pháp luật thuế, họ có xu hướng chọn cách trốn thuế theo phương án thứ hai và thứ ba, còn DN nhỏ lựa chọn phương án trốn thuế theo cách thứ tư.

     

    Do vậy, chấp hành pháp luật thuế nghĩa là chấp hành mục đích của luật trong khi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, khái niệm chấp hành pháp luật thuế vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện chấp hành pháp luật thuế, và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Cách tiếp cận cưỡng chế chấp hành pháp luật thuế và cách tiếp cận kinh tế tập trung làm giảm mức độ trốn thuế chứ không hướng vào việc tăng cường sự chấp hành pháp luật thuế. Nghiên cứu khái niệm chấp hành pháp luật thuế thông qua việc tập trung vào sự không chấp hành pháp luật thuế và tính cưỡng chế chấp hành pháp luật thuế là quá đơn giản hoá.

     

    Quan điểm nghiên cứu hiện nay chuyển sang xem xét tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế. Bergman (1998) gợi ý rằng sự chấp hành pháp luật thuế được đo bằng số thu

     

    mà cơ quan thuế giả định dựa theo luật thuế do DN thanh toán cho NSNN. Tuy nhiên, phạm vi mà DN phản đối các luật thuế lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự vui lòng chấp hành pháp luật thuế. Vì vậy, các tác giả như Andrreoni J., Erard B. bắt đầu xem xét đến tính tự nguyện của sự chấp hành pháp luật thuế (Andrreoni J., Erard B.(1998)). Tính tự nguyện sau đó đã được một số cơ quan thuế như cơ quan thu nội địa Hoa Kỳ (IRS) xem xét đến trong các định nghĩa về khoảng cách thuế. Theo đó, chấp hành pháp luật thuế được định nghĩa là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ và tự nguyện. Nếu DN chấp hành pháp luật thuế chỉ bởi vì sự đe doạ và trừng phạt thì đó dường như không phải là sự chấp hành pháp luật thuế đúng nghĩa ngay cả khi 100% dự toán thuế được hoàn thành. Quản lý thu thuế thành công là hầu hết đối tượng chấp hành pháp luật thuế một cách tự nguyện mà ít cần đến sự chất vấn, điều tra, nhắc nhở hoặc đe doạ và các hành vi xử phạt hành chính khác. Khía cạnh “tự nguyện” trong định nghĩa trên đây rất quan trọng, giúp các cơ quan thuế phân biệt giữa khái niệm chấp hành pháp luật thuế mà ít cần hoạt động cưỡng chế trực tiếp và khái niệm chấp hành pháp luật thuế là kết quả của sự cưỡng chế.

     

    Theo đó, cần phát triển khái niệm này và đưa yếu tố thời gian vào như là một tiêu chí thể hiện sự chấp hành pháp luật thuế tự nguyện. Một DN cuối cùng cũng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán muộn thì cũng không phải sự chấp hành pháp luật thuế hoàn toàn. Hơn nữa, nếu lãi suất nộp muộn bị tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự chấp hành pháp luật thuế hoàn toàn tự nguyện. Từ đó có thể định nghĩa sự chấp hành pháp luật thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian. Như vậy khái niệm chấp hành pháp luật thuế

     

     

    4

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    trên được đo bằng 3 yếu tố (1) tính đầy đủ, (2) tính tự nguyện và (3) yếu tố thời gian.

     

    Tuy nhiên để đạt được 3 tiêu chí trên, quản lý thu thuế của nhà nước cần xem xét sự chấp hành pháp luật thuế dự tính và sự không chấp hành pháp luật thuế không dự tính. Nhiều khi DN tự nguyện có thể không đáp ứng nghĩa vụ thuế một cách không tính toán bởi vì họ không

     

    thể hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc họ không nhận thức được hoặc hiểu sai về luật hay do những lý do tương tự. Những nỗ lực của các cơ quan thuế để cải thiện quản lý thu thuế

     

    • khía cạnh này là tìm ra các giải pháp giúp đỡ ĐTNT để họ không rơi vào tình trạng không chấp hành pháp luật thuế không dự tính.

     

     

    Bảng 2.1. Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về chấp hành pháp luật thuế theo đề nghị c̉a James và Alley (2004).

     

    Bảng 2.1: Các cách tiếp cận chấp hành pháp luật thuế

     

    Chấp hành

           

    pháp luật

    Cách tiếp cận kinh tế

     

    Cách tiếp cận hành vi

     

    thuế

           
             

    Góc độ

    Chấp hành pháp luật 100% quy định về

    Tự

    nguyện, sẵn sàng hành động

     

    thuế so với thực tế, xét trên góc độ hẹp.

    theo tinh thần và từng quy định của

     

    tiếp cận

     

    luật thuế, xét trên góc độ rộng hơn

     
       
           

    Quyết  định  chấp

    Dựa trên sự hợp lý về lợi ích kinh tế

    Dựa trên hành vi hợp tác giữa

     

    hành pháp luật

     

    người nộp thuế và cơ quan thuế

     
       

    Mỗi cá nhân không chỉ đơn thuần

     
     

    Cân nhắc lựa chọn:

    là một cá thể độc lập chỉ biết tối đa

     

    Mức độ chi tiết

    1. Lợi ích mong đợi từ từ việc trốn thuế

    hoá lợi ích cá nhân. Họ tương tác

     

    2. Rủi ro bị phát hiện và mức bị phạt

    theo thái độ, niềm tin tiêu chuẩn và

     
     
     

    3. Tối đa hóa thu nhập và của cải cá nhân

    vai trò khác nhau.Thành công dựa

     
       

    trên sự hợp tác

     
           

    Chấp hành pháp

    Hiệu quả trong việc phân phối nguồn lực

    Hợp lý, công bằng và phạm vi tác

     

    luật thuế

    Hình ảnh người nộp thuế  ích  kỷ  tính

    động

    tích cực “Công dân tốt”

     
     

    toán lợi ích và thiệt hại bằng tiền

         
             

    2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm

     

    Trong phạm vi đề tài này, tập trung chủ yếu là để khai thác thêm về cách tiếp cận thứ hai với khía cạnh hành vi được nhấn mạnh hơn so với cách tiếp cận hợp lý về kinh tế. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã nỗ lực để định nghĩa chấp hành pháp luật thuế, dựa trên mục đích của nghiên cứu này (phù hợp với định nghĩa của

    Nguồn: James và Alley (2004), trang 33.

     

    IRS (2009), ATO (2009) và IRB (2009); ALM (1991); Jackson và Milliron (1986); Kirchler

     

    (2007), khái niệm chấp hành pháp luật thuế được đo lường qua việc đánh giá sự sẵn lòng của người nộp thuế để tuân theo luật thuế, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn.

     

     

    5

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH

    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT. Trong nghiên cứu chính thức này được thực hiện bằng bảng câu hỏi khảo sát, mẫu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là 276 đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM theo phương pháp độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để đo lường sự hội tụ của các biến và phân tích hồi quy để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Từ cơ sở các lý thuyết, học thuyết và các nghiên cứu có liên quan, đề tài nghiên

     

    cứu kế thừa mô hình nghiên cứu của Palil và Mustapha (2011), Võ Đức Chín (2011) và phát triển, tác giả xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính ban đầu với biến phụ thuộc là Ý thức chấp hành pháp luật thuế và các biến độc lập được lấy từ các yếu tố: (1) Tuân th̉ thuế (Nirmala, 2011), (2) Công tác kỉm tra thuế,

     

    • Nhận thức về công bằng, (4) Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế, (5) Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế, (6) Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội, (Palil and Mustapha, 2011),

     

    • T̀nh trạng tài ch́nh c̉a đối tượng nộp thuế (Evan, Carlon và Massey, 2005), (8) Vấn đề thuế suất, (Clotfelter, 1983). Từ đó, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị (hình 3.1) phù hợp với tình hình, đối tượng tại TP. HCM.

     

     

     

     

     

    Hình 3.1: Mô h̀nh nghiên cứu tác giả đề nghị

     

     

     

     

    6

     

    Các yếu tố ảnh hưởng. . .

     

     

     

     

    Hình 3.2: Mô h̀nh nghiên cứu tác giả điều chỉnh

     

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

     

    Theo mô hình tác giả đề nghị, đã hình thành các nhân tố tác động đến ý thức chấp hành pháp luật thuế: H1: T́nh đơn giản c̉a việc kê khai thuế tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H2: Kỉm tra thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H3: T̀nh trạng tài ch́nh c̉a ngừi nộp thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H4: Nhận thức về t́nh công bằng c̉a thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H5: Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H6: Kiến thức thuế có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H7: Nhận thức về h̀nh phạt có tác động thuận chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế; H8: Thuế suất tác động ngược chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

     

    Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng mô hình lý thuyết nghiên cứu được chấp nhận là H1, H2, H3, H4, H5, H7 và H8. Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết được minh họa qua hình 3.2 được trình bày nêu trên.

    4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Các thang đo được đánh giá độ tin cậy qua hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các biến quan sát trong thang đo tương quan với nhau, nghĩa là nó cho chúng ta biết một thang đo nào đó có phải là thang đo tốt về một phía cạnh nào đó hay không. Công cụ này cũng giúp loại đi những biến quan sát và những thang đo không phù hợp vì nếu không chúng ta không thể biết được độ biến thiên cũng như độ lỗi của các biến. Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha từ 0.6 trở lên (Nunnally & Burnstein (1994).

     

    Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo (phụ lục 4) cho thấy biến KKHAI4 “Hoạt động quản lý thu thuế c̉a Nhà nức đối v́i doanh nghiệp tốt ngừi nộp thuế càng ý thức chấp hành pháp luật thuế” bị loại vì hệ số tương quan biến tổng <0.3. Kết quả chỉ còn 32 biến còn lại đều có tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và các hệ số Cronbach Alpha đều lớn hơn 0,6 được sử dụng cho phân tích nhân tố (EFA) tiếp theo.

     

     

    7

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.1: Kết quả kỉm định Cronbach’s Alpha trức khi phân t́ch EFA

     

         

    Cronbach’s

    Hệ số tương

    STT

    Thang đo

    Số biến

    quan giữa biến

       

    quan sát

    Alpha

    tổng nhỏ nhất

         
             

    1

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

    0.402

             

    2

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

    0.759

             

    3

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

    0.349

             

    4

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

    0.443

             

    5

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế(CQT)

    5

    0.905

    0.636

             

    6

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

    0.650

             

    7

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

    0.744

             

    8

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

    0.573

             
     

    Tổng

    32

       
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    Sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha, các thang đo được đánh giá tiếp theo bằng phương pháp EFA. Thông qua việc phân tích nhân tố EFA ở bước tiếp theo, sẽ cho thấy được cụ thể hơn các thang đo trên có tách thành những nhân tố mới hay bị loại bỏ ra hay không. Điều này sẽ đánh giá chính xác hơn thang đo, đồng thời loại bỏ bớt các biến đo lường không đạt yêu cầu, mục đích làm cho các thang đo đảm bảo tính đồng nhất. Một số tiêu chuẩn mà các nhà nghiên cứu thường quan tâm trong phân tích nhân tố khám phá (EFA) như sau:

     

    Hệ số KMO (Kaiser-Mayer-Olkin) ≥ 0.5 và mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett ≤ 0.05. KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, phân tích nhân tố khám phá (EFA) thích hợp khi 0.5 ≤ KMO ≤ 1. Hệ số tải nhân tố (Factor loading) là hệ số tương quan đơn giữa các yếu tố thành phần và các nhân tố. Hệ số tải nhân tố > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu, Hệ số tải nhân tố > 0.4 được xem là quan trọng và ≥ 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn. Tác giả sử

    dụng phương pháp trích Principal Component Analysis với phép quay Varimax và điểm dừng khi trích các nhân tố có eigenvalue > 1.

     

    • Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy 32 biến quan sát trong 8 thành phần của thang đo các yếu tố các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc vẫn được rút trích thành 8 thành phần. Hệ số KMO = 0.839 nên EFA phù hợp với dữ liệu và thống kê Chi-quare của kiểm định Bartlett đạt giá trị 7150.203 với mức ý nghĩa Sig
    • 000; do vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Phương sai trích được là 74.126% thể hiện rằng 8 nhân tố rút ra được giải thích 74.126% biến thiên của dữ liệu, tại hệ số eigenvalue bằng 1.016.

     

    Như vậy, thang đo các yếu tố ảnh hưởng kết quả công việc từ 8 thành phần nguyên gốc (33 biến quan sát) sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA thì vẫn được giữ nguyên 8 thành phần với 32 biến quan sát, các nhân tố trích ra đều đạt độ tin cậy và độ giá trị.

     

     

    8

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    Bảng 4.2: Kết quả phân t́ch nhân tố khám phá (EFA)

     

         

    HỆ SỐ TẢI NHÂN TỐ

       
     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    CQT1

    .842

                 
                     

    CQT2

    .837

                 
                     

    CQT3

    .756

                 
                     

    CQT4

    .701

                 
                     

    CQT5

    .822

                 
                     

    TCB1

     

    .838

               
                     

    TCB2

     

    .671

               
                     

    TCB3

     

    .818

               
                     

    TCB4

     

    .847

               
                     

    TC1

       

    .812

             
                     

    TC2

       

    .811

             
                     

    TC3

       

    .849

             
                     

    TC4

       

    .820

             
                     

    KTRA1

         

    .838

           
                     

    KTRA2

         

    .837

           
                     

    KTRA3

         

    .691

           
                     

    KTRA4

         

    .696

           
                     

    KTT1

           

    .924

         
                     

    KTT2

           

    .853

         
                     

    KTT3

           

    .906

         
                     

    KTT4

           

    .516

         
                     

    HP1

             

    .717

       
                     

    HP2

             

    .667

       
                     

    HP3

             

    .745

       
                     

    HP4

             

    .805

       
                     

    TS1

               

    .795

     
                     

    TS2

               

    .824

     
                     

    TS3

               

    .776

     
                     

    TS4

               

    .598

     
                     

    KKHAI1

                 

    .816

                     

    KKHAI2

                 

    .711

                     

    KKHAI3

                 

    .607

                     

    Giá trị riêng

    9.340

    3.199

    2.736

    2.336

    2.115

    1.623

    1.312

    1.018

    Phương sai trích %

    12.657

    10.323

    10.165

    9.420

    8.497

    8.429

    7.570

    6.646

    Độ tin cậy

    0.905

    0.908

    0.919

    0.917

    0.814

    0.815

    0.759

    0.662

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Sau khi phân tích EFA, các thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả công việc có biến quan sát bị EFA loại, từ 33 còn 32 biến quan sát, hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo đó được tính lại, kết quả cũng đạt được yêu cầu về độ tin cậy. Do vậy, các thang đo đã phân tích là chấp nhận được.

     

     

    9

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.3: Kết quả kỉm định Cronbach’s Alpha sau khi phân t́ch EFA

     

       

    Số biến

    Cronbach’s

    Hệ số tương

    STT

    Thang đo

    quan giữa biến

       

    quan sát

    Alpha

    tổng nhỏ nhất

           
             

    1

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

    0.402

             

    2

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

    0.759

             

    3

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

    0.349

             

    4

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

    0.443

             

    5

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

    5

    0.905

    0.636

             

    6

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

    0.650

             

    7

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

    0.744

             

    8

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

    0.573

             
     

    Tổng

    32

       
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Với kết quả EFA, 4 biến thành phần được rút trích thành 1 nhân tố và hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5 nên các biến này đều có ý nghĩa thực tiễn. Hệ số KMO = 0.585 nên EFA phù hợp với dữ liệu phân tích. Thống kê Chi-Square của kiểm định Bartlett’s đạt giá trị 441.202 với mức ý nghĩa 0.000, tại hệ số eigenvalue bằng 2.424, vì thế các biến quan sát có tương quan với nhau. Phương sai trích đạt 60.594% thể hiện rằng 1 nhân tố rút ra giải thích được 60.594% biến thiên của dữ liệu. Cùng với hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha bằng 0.758 thì thang đo kết quả công việc đạt yêu cầu.

     

    Bảng 4.4: Kết quả EFA cho thang đo Ý thức chấp hành pháp luật thuế

     

    Biến quan sát

    Hệ số tải nhân tố

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 1

    .936

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 2

    .796

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 3

    .715

       

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế 4

    .635

       

    Giá trị riêng

    2.424

       

    Phương sai trích %

    60.594

       

    Độ tin cậy

    0.758

       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    10

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    Bảng 4.5: Tóm tắt kết quả kỉm định thang đo

     

    Thành phần

    Số biến

    Độ tin cậy

    Phương

    Đánh

     

    sai trích

    quan sát

    Alpha

    giá

     
     

    (%)

             
               

    Vấn đề thuế suất (TS)

    4

    0.759

         

    Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

    4

    0.917

         

    Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

    4

    0.814

         

    Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

    3

    0.662

         

    Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

    5

    0.905

    74.126

    Đạt yêu

     

    Nhận thức về tính công bằng (TCB)

    4

    0.908

     

    cầu

     
           
               

    Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

    4

    0.919

         

    Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

    4

    0.815

         

    Ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT)

    4

    0.758

    60.594

       

    Tổng

    36

           

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Với kết quả chạy SPSS cho ra hệ số tương quan tuyến tính giữa các biến, hầu hết các biến đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

     

    Bảng 4.6: Ma trận hệ số tương quan

     

       

    KKHAI

    KTRA

    TC

     

    TCB

    CQT

    KTT

    HP

    TS

    CHLT

                           

    KKHAI

    Tương quan

    1

                     

    Pearson

                     

    KTRA

    Tương quan

    .509**

    1

                   
     

    Pearson

                       

    TC

    Tương quan

    .375**

    .438**

    1

                 
     

    Pearson

                       

    TCB

    Tương quan

    .238**

    .362**

    .423**

     

    1

    **

           
     

    Pearson

                       

    CQT

    Tương quan

    .304**

    .559**

    .397**

     

    .419**

    1

           
     

    Pearson

                       

    KTT

    Tương quan

    .150*

    .315**

    .078

     

    .199**

    .206**

    1

         
     

    Pearson

                       

    HP

    Tương quan

    .252**

    .246**

    .343**

     

    .572**

    .304**

    .138*

    1

       
     

    Pearson

                       

    TS

    Tương quan

    .159**

    .169**

    .187**

     

    .191**

    .181**

    -.019

    .217**

    1

     
     

    Pearson

                       

    CHLT

    Tương quan

    .534**

    .597**

    .655**

     

    .556**

    .538**

    .238**

    .491**

    .125*

    1

     

    Pearson

                       

    *. Tương quan ý có nghĩa 0.05 level (2-tailed).

               

    **. Tương quan có ý nghĩa 0.01 level (2-tailed).

               
                         
       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    11

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Kết quả bảng hệ số tương quan bảng 4.6 cho thấy biến phụ thuộc có mối tương quan tuyến tính với 8 biến độc lập, Tác giả sẽ xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập này thông qua kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bên dưới.

     

    Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy hệ số xác định R² là 0.675 và R² điều chỉnh là 0.665. Mô hình này giải thích được 67.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT) là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 32.5% biến thiên được giải thích bởi các biến khác ngoài mô hình. Mô hình cho thấy có 6 biến độc lập đều ảnh hưởng thuận chiều, 01 biến nghịch chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ở độ tin cậy 95% và 01 biến không có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là các thành phần càng thuận chiều thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT càng tốt.

     

    Bảng 4.7: Mô h̀nh đầy đ̉

     

               

    Sai số

     

    Thống kê thay đổi

       
                         

    Hệ số

                         
     

         

    R2 điều

    chuẩn

    R2

         

    Sig. F

     

    R

    R2

     

    F thay

       

    Durbin-

     

    hình

     

    chỉnh

    của ước

       
           

    thay

    df1

    df2

    thay

    Watson

               

    lượng

    đổi

               

    đổi

       

    đổi

     
                         
                             

    1

     

    .821a

    .675

     

    .665

    .26989

    .675

    69.188

    8

    267

    .000

    1.007

                         

    a. Biến độc lập: TS, KTT, TC, HP, KKHAI, CQT, TCB, KTRA

           

    b. Biến phụ thuộc: CHLT

                   
                             
             

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

    Trị số thống kê F đạt giá trị 69.188 được tính từ giá trị R2 của mô hình đầy đủ, tại mức ý nghĩa Sig = 0.000; kiểm tra hiện tượng tương quan bằng hệ số Durbin–Watson (1< 1.008 < 3). Như vậy, mô hình hồi quy tuyến tính đưa ra là phù hợp với mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Kết quả phân tích hồi quy phương trình được trình bày trong bảng 4.7 và 4.8.

     

    Bảng 4.8: Phân t́ch ANOVA

     

     

    Mô hình

    Tổng các

    Bậc tự

    Bình quân

    Giá trị

    Giá trị Sig.

     

    bình phương

    do(df)

    độ lệch

    F

         
                 

    1

    Hồi quy

    40.317

    8

    5.040

    69.188

    .000b

                 

    2

    Số dư

    19.448

    267

    .073

       
                 

    3

    Tổng

    59.764

    275

         
                 

    a. Biến độc lập: TS, KTT, TC, HP, KKHAI, CQT, TCB, KTRA

       

    b. Biến phụ thuộc: CHLT

           
         
       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

     

    12

     

                 

    Các yếu tố ảnh hưởng. . .

                     
     

    Bảng 4.9: Các thông số c̉a từng biến trong phương tr̀nh h̀i quy

     
                       

     

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số

           

    Nhân tố

    chuẩn

    Giá trị

     

    Đa cộng tuyến

    hình

    hoá

     

    Giá trị

       

    hoá

       
               

    Sig.

       
               

    t

       
       

    B

     

    Sai số

    Beta

     

    Độ chấp

    VIF

             
         

    chuẩn

       

    nhận

                   
                       
     

    (hằng số)

    .353

     

    .189

     

    1.866

    .063

       
                       
     

    KKT

    .032

     

    .026

    .045

    1.210

    .227

    .873

    1.145

                       
     

    KKHAI

    .200

     

    .040

    .208

    4.980

    .000

    .700

    1.428

                       

    1

    KTRA

    .129

     

    .037

    .170

    3.455

    .001

    .506

    1.976

                     

    TC

    .280

     

    .035

    .338

    7.961

    .000

    .675

    1.482

       
                       
     

    TCB

    .127

     

    .036

    .161

    3.476

    .001

    .568

    1.760

                       
     

    CQT

    .117

     

    .038

    .137

    3.091

    .002

    .619

    1.616

                       
     

    HP

    .133

     

    .036

    .159

    3.644

    .000

    .639

    1.564

                       
     

    TS

    -.079

     

    .032

    -.089

    -2.455

    .015

    .919

    1.088

    a.  Biến phụ thuộc: CHLT

               
                       

    Nguồn: Số liệu phân t́ch dữ liệu nghiên cứu ch́nh thức bằng SPSS 22.0

     

    Từ bảng 4.9 cho thấy trong 8 yếu tố có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế có tác động thuận chiều (hệ số β dương) và 01 yếu tố thuế suất (TS) có tác động ngược chiều (hệ số β âm), đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT với mức ý nghĩa Sig = 0.000 đến 0.015 ở tất cả các biến. Riêng yếu tố Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT) có hệ số β = 0.045 với Sig = 0.227 > 0.05 nên không có ý nghĩa thống kê. Bảng 4.9 cũng cho thấy dung sai các biến (độ chấp nhận) khá cao từ 0.506 trở lên và hệ số VIF của cả 7 nhân tố nhỏ hơn 10, nghĩa là không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các yếu tố độc lập trong mô hình.

     

    Phương trình hồi quy đối với các biến có hệ số chuẩn hoá có dạng như sau:

    0.89X8 +ɛ1

     

    F1= 0.208 X1 + 0.170X2          + 0.338X3 + 0.161X4 + 0.137X5 + 0.045X6 + 0.159X7

     

    Trong đó:   F: Ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT)

     

    X1: Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KKHAI)

     

    X2: Công tác kiểm tra thuế (KTRA)

     

    X3: Tình trạng tài chính của đối tượng nộp thuế (TC)

     

    X4: Nhận thức về tính công bằng (TCB)

     

    X5: Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế (CQT)

     

    X6: Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT)

     

    X7: Nhận thức về hình phạt và phạm tội (HP)

     

    X8: Vấn đề thuế suất (TS)

     

    Mô hình nghiên cứu tác giả điều chỉnh cho ta kết quả bảng 4.10 sau:

     

     

    13

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 4.10: Bảng tổng hợp kết quả kỉm định giả thuyết

     

     

    Giả thuyết

    Kết quả kiểm định

     
           

    H1

    T́nh đơn giản c̉a việc kê khai thuế tác động cùng chiều đến ý

    Chấp nhận

     

    thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H2

    Công tác kỉm tra thuế có tác động cùng chiều đến ý thức chấp

    Chấp nhận

     

    hành pháp luật thuế.

         
           

    H3

    T̀nh trạng tài ch́nh c̉a ĐTNT nộp thuế có tác động cùng chiều

    Chấp nhận

     

    đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H4

    Nhận thức về t́nh công bằngcó tác động cùng chiều đến ý thức

    Chấp nhận

     

    chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H5

    Hiệu quả hoạt động c̉a cơ quan thuế có tác động cùng chiều

    Chấp nhận

     

    đến ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H6

    Kiến thức về thuế c̉a ngừi nộp thuế có tác động cùng chiều đến

    Không chấp nhận

     

    ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H7

    Nhận thức về h̀nh phạt và phạm tội có tác động cùng chiều đến

    Chấp nhận

     

    ý thức chấp hành pháp luật thuế.

         
           

    H8

    Vấn đề thuế suất có tác động ngược chiều đến ý thức chấp hành

    Chấp nhận

     

    pháp luật thuế.

         
           
     

    Nguồn: Tổng hợp c̉a tác giả

     

     

     

    Kết quả cho thấy trong 8 yếu tố có 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế có tác động thuận chiều (hệ số β dương) và 01 yếu tố thuế suất (TS) có tác động ngược chiều (hệ số β âm), đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT với mức ý nghĩa Sig = 0.000 đến 0.015 ở tất cả các biến. Riêng yếu tố Kiến thức về thuế của người nộp thuế (KTT) có hệ số

     

    • = 0.045 với Sig = 0.227 > 0.05 nên không có ý nghĩa thống kê.

    Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy hệ số xác định R² là 0.675 và R² điều chỉnh là 0.665. Mô hình này giải thích được 67.5% sự thay đổi của biến phụ thuộc ý thức chấp hành pháp luật thuế (CHLT) là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 32.5% biến thiên được giải thích bởi các biến khác ngoài mô hình. Mô hình cho thấy có 6 biến độc lập đều ảnh hưởng thuận chiều, 01 biến nghịch chiều đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT ở độ tin cậy 95% và 01 biến

    không có ý nghĩa thống kê Điều này có nghĩa là các thành phần càng thuận chiều thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của ĐTNT càng tốt.

     

    Thái độ của người nộp thuế đối với từng nhân tố tác động đến việc chấp hành pháp luật thuế, với giá trị trung bình của các tiêu chí dao động trong khoảng giá trị từ 3.84 cho đến 3.86. Các biến có giá trị thấp nhất là KTT4, KTT3, KTT2 và KTT1 đều có giá trị lần lượt là 2.67, 3.28, 3.37. 3.37. Điều này có nghĩa là cũng có một bộ phận người nộp thuế cho rằng ý thức chấp hành pháp luật thuế không chịu tác động về việc họ càng được cập nhật kiến thức về thuế càng chấp hành pháp luật tốt hơn.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

     

    Hỗ trợ đối tượng nộp thuế tăng cừng ý

     

    thức chấp hành pháp luât thuế:

     

    • Không ngừng hoàn thiện chính sách thuế theo hướng rõ ràng, minh bạch, công khai và đầy đủ.

    14

     

    Các yếu tố ảnh hưởng . . .

     

    • Xây dựng hình ảnh cơ quan thuế hướng đến khách hàng với chất lượng dịch vụ được nâng cấp.
    • Cải thiện và nâng cao giá trị sử dụng của trang thông tin điện tử Cục Thuế TP.HCM theo xu hướng phù hợp với yêu cầu của hệ thống thuế điện tử.
    • Tăng cường hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra thuế.
    • Tăng cường giáo dục kiến thức thuế nhằm cải thiện nhận thức của người nộp thuế.
    • Xây dựng văn hóa tự giác tuân thủ thuế một cách hiệu quả.
    • Tăng cường thiết lập một hệ thống hoạt động dựa trên cơ chế tiếp nhận thông tin và phản hồi, kết hợp với việc đánh giá các phản hồi
    • Xây dựng và không ngừng củng cố cơ sở dữ liệu thông tin tổng hợp về người nộp thuế.
    • Xem xét việc xây dựng chức năng cung ứng dịch vụ cho người nộp thuế.

    Hạn chế c̉a đề tài và hứng nghiên cứu tiếp theo:

     

    Tuy có những kết quả nghiên cứu đạt được, nhưng đề tài còn một số hạn chế trong quá trình thực hiện sau đây:

    • Nghiên cứu chỉ thực hiện được trên một bộ phận người nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM nên tính đại diện sẽ chưa cao, sẽ bao quát hơn

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Tài chính (2010), Quy trình quản lý thuế và Cơ chế tự khai tự nộp thuế theo Luật Quản lý thuế, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

     

    • Ian Pretty (2011), Hiện đại hóa quản lý thuế nhìn từ cơ quan thuế Anh, Tạp chí Thuế nhà nước, Số 4 (314), kỳ 4/1/2011.

     

    • Lê Thị Xuân Nghi (2015), Các nhân tố ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế tại Cục Thuế TP. HCM, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Tài chính-Marketing.

    nếu lấy mẫu nhiều quận, huyện trong TP. HCM.

     

    • Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên cũng có thể hạn chế sự đa dạng trong các đối tượng được khảo sát. Điều này có thể ảnh hưởng đến tính toàn diện của thông tin được thu thập.
    • Do đặc thù của công việc kê khai, kế toán thuế ở Việt Nam trong một số trường hợp, nhân viên kê khai, kế toán thuế không được toàn quyền thực hiện các công việc liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế theo quy định mà phải thực hiện theo chỉ đạo của chủ doanh nghiệp, công ty khi xác định tiền thuế phải nộp. Vì vây, mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với nhân viên kê khai, kế toán thuế ảnh hưởng như thế nào đến việc chấp hành pháp luật thuế của các công ty ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau, ở những quy mô khác nhau là hướng nghiên cứu có thể cần được khai thác ở những nghiên cứu tiếp theo.

     

    • Mối quan hệ giữa các ngành, các cấp chưa có sự phối hợp đồng thời và còn tuân thủ theo Luật NSNN có những quy định về thuế quá khắt khe trước xu thế hội nhập.

     

    • Tính nghiên cứu còn dựa trên phương pháp định lượng mà chưa kết hợp toàn diện ở phương pháp định tính, làm cho đề tài chưa được đa dạng, phong phú của các đối tượng thực thi công việc (người nộp thuế, công chức thuế…)./.

     

    • Ngân hàng thế giới (2011), Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn, Ban quản lý kinh tế và xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.

     

    • Nguyễn Thị Bất, Vũ Duy Hào (2002), Giáo trình quản lý thuế, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007), Giáo trình thuế, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), Hoàn thiện

     

     

    15

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội), Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội.

     

    • Võ Đức Chín (2011), Các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp – Trường hợp tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế TPHCM.

     

    • Vương Hoàng Long (2000), Hoàn thiện tổ

    chức bộ máy ngành thuế trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội.

     

    • Tổng cục Thuế (2006), Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010.
    • Tổng cục Thuế – Tạp chí thuế nhà nước (năm

     

    2008), Quy trình kê khai, miễn giảm, hoàn, kiểm tra và quản lý nợ thuế (tập 1), NXB Tài chính.

     

     

     

     

     

     

     

    16


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

    NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

    NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-S%E1%BB%B0-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-C%E1%BB%A6A-HI%E1%BB%86P-%C4%90%E1%BB%8ANH-%C4%90%E1%BB%90I-T%C3%81C-XUY%C3%8AN-TH%C3%81I-B%C3%8CNH-D%C6%AF%C6%A0NG-%C4%90%E1%BA%BEN-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-T%C3%81I-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U-DOANH-NGHI%E1%BB%86P-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

     

    AGREEMENT ON THE TRANS-PACIFIC PARTNERSHIP WITH ISSUES RESTRUCTURING STATE-OWNED ENTERPRISES IN VIETNAM

     

     

    TÓM TẮT

     

    Hiệp định Đối tác xuyên Thái B̀nh Dương (TPP) được kỳ ṿng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn m̃u cho các Hiệp định thế kỷ 21. Phạm vi c̉a Hiệp định sẽ bao g̀m hầu hết các lĩnh vực có liên quan t́i thương mại. Đối v́i Việt Nam, cho đến nay, doanh nghiệp nhà nức ṽn đóng vai trò quan tṛng trong nền kinh tế (lĩnh vực kinh doanh, số lượng lao động, tài sản, đóng góp ngân sách nhà nức, đóng góp GDP). Do đó, tham gia TPP vừa là thách thức song cũng là cơ hội đ̉ Việt Nam thực hiện cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nức.

     

    Từ khoá: sự tác động, TPP, tái cơ cấu, doanh nghiệp nhà nước

     

    VÀI NÉT VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)

     

    Hiệp định TPP (Trans-Paciic Partnership – TPP) là Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Do lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4.

     

    Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chile, New Zealand và Singapore (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mexico. Tháng 4-2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4.

     

    Hoàng Xuân Sơn(*) , Hồ Thị Thanh Trúc(**)

     

    ABSTRACT

     

    Agreement on the Trans-Paciic Partnership (TPP) is expected to become a comprehensive trade framework, are of high quality and is the template for the 21st century agreement Scope of the Agreement will cover most all areas related to trade. For Vietnam, so far, state-owned enterprises still play an important role in the economy (business ield, number of employees, assets, state budget contribution, contribution to GDP). Therefore, participation in TPP both a challenge but also an opportunity for Vietnam to reform state-owned enterprise sector.

     

    Keywords: impact, TPP, restructuring state-owned enterprises

     

    Đây là Hiệp định mang tính mở. Tuy không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổ APEC nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm. Singapore đã nhiều lần thể hiện mong muốn mở rộng TPP và sử dụng TPP như một công cụ để hiện thực hóa ý tưởng về khu vực mậu dịch tự do châu Á – Thái Bình Dương của APEC (FTAAP).

     

    – Các nội dung ch́nh c̉a Hiệp định TPP – P4:

     

    Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật

     

     

    • Giảng viên Trừng Đại ḥc Kinh tế TP.HCM
    • Giảng viên Trừng Cao đẳng Tài ch́nh – Hải quan

     

     

    146

     

    Nghiên cứu sự tác động của hiệp định . . .

     

    (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và hai văn kiện đi kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động.

     

    Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký hai văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 2 năm kể từ khi P4 chính thức có hiệu lực (3-2008).

    Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa. Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực.

     

    Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn – bỏ. Theo đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục loại trừ.

     

    • Hiệp định TPP mở rộng và sự tham gia c̉a Việt Nam:

    Tháng 9-2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo đó, tháng 11-2008, Australia và Peru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố việc tham gia của Australia và Peru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra cho đến nay.

     

    Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Singapore đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia TPP – P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này của Singapore.

     

    Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP, và trước khi tuyên bố tham gia TPP, Mỹ đã mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã cân nhắc lại việc tham gia hay không tham gia TPP.

     

    Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết. Tháng 11-2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP. Trước đó,

     

    tháng 10-2010, Malaysia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước. Sau đó là sự tham gia của Canada (10-2012) và Nhật Bản (3-2013) đã nâng tổng số các thành viên chính thức của TPP là 12 thành viên.

     

    Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong các FTA, các quốc gia thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành viên, nâng cao sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên.

     

    Với mục tiêu duy trì tính mở của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạp thêm thành viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đã nỗ lực đưa ra nhiều đề xuất và biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những nước tham gia Hiệp định.

     

    Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTA truyền thống trước đây là sự tham gia của các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội. Tại mỗi phiên đàm phán, các đối tượng trên luôn được tạo cơ hội để trao đổi thông tin cũng như bày tỏ quan điểm và nguyện vọng đối với các nội dung đàm phán của Hiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn dành cho các đối tượng liên quan được tổ chức bên lề các phiên đàm phán.

     

    Ngày 5-10-2015, tại Atlanta Hoa Kỳ Hội nghị Bộ trưởng Thương mại các nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đạt được thỏa thuận cuối cùng, kết thúc đàm phán Hiệp định TPP của 12 nước thành viên.

     

    Hiệp định TPP được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất

     

     

    147

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21. Phạm vi của Hiệp định sẽ bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, trong đó có nhiều lĩnh vực mới như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quan đến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ…

     

    THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU DNNN TRƯỚC NGƯỠNG CỬA TPP

     

    Trước khi tham gia TPP, Việt Nam đã tiến hành quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX và cho đến nay Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định trong chủ trương tái cơ cấu DNNN. Cụ thể:

     

    Giai đoạn 1986 – 1990: đến cuối năm 1989, cả nước có khoảng trên 12.000 doanh nghiệp quốc doanh, với quy mô chủ yếu là vừa, nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, hiệu quả hoạt động thấp.

    Giai đoạn 1990 – 2000: số lượng doanh nghiệp quốc doanh đã giảm mạnh, từ 12.000 đơn vị (năm 1990) xuống còn khoảng 7.000 đơn vị (năm 1995). Trong giai đoạn này đã có 548 DNNN được cổ phần hóa (CPH). Tuy nhiên, tỷ trọng GDP của DNNN đã tăng từ 32,5% năm 1990 lên 42,2% GDP vào năm 1995(1) đã thể hiện sự lấn át của DNNN đối với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế ngày càng gia tăng. Nhìn chung việc thực hiện sắp xếp DNNN trong giai đoạn này còn chậm chạp và chỉ mới xử lý đối với DNNN có quy mô nhỏ, số lượng DNNN giải thể khá nhiều nhưng về vốn, lao động và giá trị tổng sản lượng chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ các DNNN.

     

    Giai đoạn 2000 – 2010 đã tiến hành CPH gần 3.300 DNNN, tăng gấp gần 6 lần so với giai đoạn 1990 – 2000. Do đó, tỷ trọng của khu vực

     

    kinh tế nhà nước trong GDP cũng đã giảm mạnh so với giai đoạn trước, đến năm 2010 kinh tế nhà nước chỉ còn chiếm tỷ trọng 33,74% GDP so với 42,2% GDP năm 1995.

     

    Giai đoạn 2011 đến nay: nếu như ở giai đoạn hoàng kim của thị trường chứng khoán Việt Nam (2002-2005), số lượng doanh nghiệp CPH tăng mạnh và ở mức cao, nhất là thời điểm 2004-2005, bình quân mỗi năm có tới 800 doanh nghiệp được CPH, thì trong giai đoạn sau đó, tốc độ CPH đã giảm tốc mạnh.

     

    Đến năm 2007, số lượng doanh nghiệp CPH đạt con số 118 doanh nghiệp và lao dốc xuống chỉ còn 18,7 doanh nghiệp được CPH bình quân mỗi năm từ 2008-2010 trước khi nhích lên con số khiêm tốn 60 doanh nghiệp trong năm 2011.

     

    Giai đoạn 2011 – 2013, do tình hình khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam đã làm cho thị trường chứng khoán không thuận lợi và điều kiện thoái vốn khó khăn, số lượng doanh nghiệp được CPH đã thu hẹp, trong 3 năm này chỉ cổ phần hóa được 99 DNNN (rất thấp so với mục tiêu của Chính phủ đề ra là đến năm 2015 sẽ CPH được 531 DNNN).

    Để đẩy mạnh CPH trong 2 năm còn lại 2014 – 2015, tính đến tháng 12-2014, cả nước đã CPH được 143 DNNN, là kết quả khả quan. Tuy vậy, đánh giá chung thì việc thực hiện CPH trong giai đoạn này vẫn diễn ra quá chậm. Trong hai năm 2014 – 2015 theo đề án tái cơ cấu DNNN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phải thực hiện CPH 432 doanh nghiệp, trong đó đã có 348 doanh nghiệp thành lập Ban chỉ đạo CPH; 247 doanh nghiệp đang xác định giá trị doanh nghiệp; đã công bố giá trị 123 doanh nghiệp, dự kiến cả năm 2014 sẽ CPH khoảng 200 doanh nghiệp(2).

     

    (1)  Ṭa đàm khoa ḥc (2014), “Tổng kết một số vấn đề               (2) ThS. Hoàng Xuân Sơn – ThS. Nguyễn Thị Thảo

     

    lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi ḿi”, Ban Kinh tế                  Nguyên, Quá tr̀nh tái cơ cấu DNNN th̀i kỳ đổi ḿi –

     

    Trung ương và Trừng Đại ḥc Kinh tế TP. H̀ Ch́                          nhận thức và thực tiễn, Tạp ch́ Nghiên cứu phát trỉn,

     

    Minh, tr.308                                                                                         số 11 (1/2015), tr.36-37

     

     

    148

     

    Nghiên cứu sự tác động của hiệp định . . .

     

    Thực hiện kế hoạch trên, trong 8 tháng đầu năm 2015 đã thoái vốn được khoảng 8,39 nghìn tỷ đồng, thu về khoảng 12,38 nghìn tỷ đồng, bằng 1,48 lần giá trị sổ sách. Xét theo lĩnh vực, lĩnh vực bất động sản đã thoái 2,69 nghìn tỷ đồng, thu về 3,18 nghìn tỷ đồng; lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, tài chính là gần 1,3 nghìn tỷ đồng, thu về 1,35 nghìn tỷ đồng; bán phần vốn Nhà nước không cần nắm giữ tại các doanh nghiệp khác là 4,4 nghìn tỷ đồng, thu về 7,86 nghìn tỷ đồng… Đã có 23 bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế trình Thủ tướng phê duyệt phương án sắp xếp DNNN theo tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. Thủ tướng đã phê duyệt 19 phương án, trong đó bổ sung 106 doanh nghiệp CPH năm 2015 và 109 doanh nghiệp CPH giai đoạn 2016-2020(3).

     

    3. YÊU CẦU CỦA TPP ĐỐI VỚI DNNN

     

    • Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay, các DNNN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Ví dụ, trong năm 2013, mặc dù chỉ chiếm 0,9% tổng số doanh nghiệp và sử dụng 13,5% lực lượng lao động, DNNN chiếm 32,2% GDP của Việt Nam và 40,4% tổng đầu tư hàng năm của cả nước(4).

    Đối với Việt Nam, tính tới thời điểm trước khi đàm phán Hiệp định TPP, cam kết đa phương duy nhất của Việt Nam có nội dung về DNNN là cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trong các Hiệp định thương mại song phương đã ký, Việt Nam chưa đưa ra bất kỳ cam kết riêng về DNNN, ngoại trừ 2 điều khoản trong Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (2001) có liên quan đến hoạt động của DNNN. Trong những năm sau đó, các cam kết này cũng chưa ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của DNNN và sự điều hành của Chính phủ đối với DNNN.

     

    • http://www.sggp.org.vn/kinhte/2015/11/401964/; Ngày truy cập 06-6-2016

     

    • http://nghiencuuquocte.net/2015/11/09/danh-gia-so-bo-tac-dong-cua-tpp-doi-voi-viet-nam/; Ngày truy cập: 05-6-2016

    Trong quá trình đàm phán Hiệp định TPP, vấn đề DNNN được các thành viên đề cập từ những phiên đầu tiên, khi thảo luận về các quy tắc liên quan đến xây dựng và thực thi chính sách cạnh tranh. Mục tiêu chính của các thành viên TPP khi xây dựng bộ nguyên tắc mới về DNNN là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong khu vực thương mại tự do, đồng thời các thành viên cũng thừa nhận do sự đa dạng về lịch sử, chính trị và kinh tế nên tại một số nước thành viên, đặc biệt là các nước đang phát triển, khu vực DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính sách công, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh – quốc phòng. Cụ thể TPP quy định định đối với DNNN như sau:

     

    • Ngoại trừ trường hợp DNNN thực hiện nhiệm vụ công ích hoặc được Nhà nước chỉ định độc quyền trên một thị trường nhất định, DNNN phải ra quyết định dựa trên “tính toán thương mại”, có nghĩa là phải dựa trên các tiêu chí mang tính thương mại như: giá cả, chất lượng, khả năng cung ứng, tiếp thị, vận tải… hoặc những yếu tố khác tương tự như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác ra quyết định kinh doanh.

     

    • DNNN không được phân biệt đối xử khi mua bán hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp từ một thành viên TPP khác cung cấp. Doanh nghiệp được chỉ định độc quyền không được phân biệt đối xử khi mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan do doanh nghiệp từ một thành viên TPP khác cung cấp.

     

    • Khi Chính phủ giao hoặc ủy quyền cho DNNN thực hiện một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Chính phủ như quyền trưng thu, cấp hoặc thu hồi giấy phép, phê duyệt giao dịch thương mại, ấn định hạn ngạch, phí và lệ phí,… thì DNNN đó phải tuân thủ toàn bộ các cam kết của Chính phủ trong Hiệp định TPP.

     

    • Chính phủ không được trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua DNNN) cung cấp dành riêng cho DNNN các khoản “hỗ trợ phi thương mại”

     

     

    149

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    lớn tới mức gây tác động bất lợi tới lợi ích của một nước thành viên TPP khác.

     

    Nghĩa vụ này hoàn toàn không cấm mọi hình thức hỗ trợ của Chính phủ dành cho DNNN mà chỉ yêu cầu khi cần thiết có hỗ trợ cho DNNN thì phải thực hiện theo cách thức phù hợp và không gây ra tác động tiêu cực tới lợi ích thương mại của các nước thành viên TPP. Nghĩa vụ này không áp dụng đối với: (i) hỗ trợ dành cho DNNN cung cấp dịch vụ trong nước;

     

    • các khoản hỗ trợ chung mà các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn đều được hưởng, không phân biệt DNNN với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác; (iii) các khoản hỗ trợ được cấp trước khi Hiệp định được ký kết.

    Đối với Việt Nam, ta đã cam kết không trợ cấp dành riêng cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang nước khác (bao gồm DNNN) kể từ khi gia nhập WTO (Hiệp định Trợ cấp SCM). Vì thế, thực chất nghĩa vụ này có 2 nội dung mới là: (i) hỗ trợ gây ảnh hưởng đến cạnh tranh đối với hàng hóa cung cấp trong nước; và (ii) hỗ trợ cho DNNN cung cấp dịch vụ hoạt động tại một nước thành viên TPP khác.

     

    Trong quá trình đàm phán, Việt Nam giữ quyền bảo lưu các hình thức hỗ trợ cần thiết cho DNNN trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của nhà nước về: Chương trình cổ phần hóa và tái cơ cấu khu vực DNNN với mục đích làm cho DNNN hoạt động tốt hơn theo các tín hiệu thị trường.

     

    • DNNN khi được chỉ định độc quyền không được trực tiếp hay gián tiếp lợi dụng vị trí đó để gây ra hành vi hạn chế cạnh tranh trên một thị trường khác mà doanh nghiệp có tham gia kinh doanh và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, gây tác động bất lợi tới một nước thành viên TPP khác.

     

    • Trong quản lý, điều hành, cơ quan quản lý nhà nước không được tạo ra sự phân biệt đối xử giữa DNNN và doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.
    • Các nước thành viên phải cho phép tòa án nước mình thụ lý và xử lý đối với những vụ kiện dân sự chống lại DNNN nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ nước mình.

     

    • Các nước thành viên Hiệp định TPP đều phải công bố hoặc thông báo cho các nước thành viên khác danh sách các DNNN thuộc diện điều chỉnh của Hiệp định hoặc khi chỉ định doanh nghiệp độc quyền trên một thị trường nhất định.

    Khi có quan ngại xác đáng về hoạt động của một DNNN có khả năng gây tác động đến thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên, một nước thành viên có thể đề nghị cung cấp các thông tin cơ bản về DNNN đó (tỷ lệ sở hữu nhà nước, tổng doanh thu, tổng tài sản, các báo cáo tài chính đã được công bố, các miễn trừ áp dụng luật) hoặc các thông tin về chương trình hỗ trợ phi thương mại của Chính phủ.

     

    Là một trong những thành viên tham gia đàm phán thành lập khu vực thương mại tự do theo Hiệp định TPP, Việt Nam cùng các thành viên khác đã xây dựng bộ nguyên tắc mới điều chỉnh hoạt động của các DNNN. Các nguyên tắc này mang tính chất cân bằng, có tính tới yếu tố phát triển, hướng tới mục tiêu tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhưng đồng thời cũng khẳng định vai trò của DNNN trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính sách công, chính sách an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an ninh – quốc phòng, hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội. Các nghĩa vụ đối với DNNN mà Việt Nam cam kết là phù hợp và cùng chiều với định hướng tái cơ cấu khu vực DNNN, vì vậy, nếu được thực thi nghiêm túc sẽ có tác động tích cực trong việc nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động của các DNNN, cũng như hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước đối với khu vực DNNN.

     

    Như vậy, việc tham gia TPP sẽ có tác động nhất định đến chính sách cạnh tranh và DNNN. Theo đó, cam kết TPP về DNNN dựa trên nguyên tắc: tạo sân chơi bình đẳng giữa DNNN và doanh

     

     

    150

     

    Nghiên cứu sự tác động của hiệp định . . .

     

    nghiệp tư nhân; không can thiệp đến hình thức thành phần kinh tế của một quốc gia và chỉ chi phối hành vi của DNNN khi có sự cạnh tranh của khu vực tư nhân.

     

    Thông tin cho thấy, 12 nước TPP đều có DNNN, là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công và các hoạt động khác nhưng các thành viên TPP đều nhận thấy lợi ích của việc thống nhất một khung khổ quy định về cạnh tranh liên quan đến DNNN.

     

    Cụ thể, TPP sẽ đảm bảo các DNNN sẽ tiến hành các hoạt động thương mại trên cơ sở tính toán thương mại, trừ trường hợp không phù hợp với nhiệm vụ và các DNNN đó đang phải thực hiện để cung cấp các dịch vụ công và đảm bảo các DNNN hoặc các đơn vị độc quyền sẵn có không có những hoạt động phân biệt đối xử với các doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ của các thành viên khác.

     

    Bên cạnh đó, TPP cũng trao cho Tòa án quyền tài phán đối với các hoạt động thương mại của các DNNN nước ngoài và đảm bảo rằng các cơ quan hành chính quản lý cả các DNNN và doanh nghiệp tư nhân cũng làm như vậy một cách công bằng; không tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích của các thành viên TPP khác khi cung cấp hỗ trợ phi thương mại cho các DNNN sản xuất và bán hàng hóa trên lãnh thổ của các thành viên khác và chia sẻ danh sách các DNNN với các thành viên khác và khi được yêu cầu sẽ cung cấp thông tin bổ sung về mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của Chính phủ và những hỗ trợ phi thương mại cho các DNNN.

     

    Đối với Việt Nam, cho đến nay, DNNN vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế (lĩnh vực kinh doanh, số lượng lao động, tài sản, đóng góp ngân sách nhà nước, đóng góp GDP). Do đó, tham gia TPP vừa là thách thức song cũng là cơ hội để Việt Nam thực hiện cải cách khu vực DNNN. Khi tham gia TPP, các DNNN sẽ không còn được hưởng các ưu đãi, không còn những đặc quyền, đặc lợi, các doanh nghiệp tư nhân sẽ có cơ hội để phát triển và cạnh tranh bình đẳng.

     

    Đồng thời, TPP sẽ tạo sức ép thúc đẩy các DNNN chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh. Tham gia TPP, Việt Nam sẽ phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hước XHCN theo hướng cải cách mạnh mẽ DNNN, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường, loại bỏ mọi hình thức trợ cấp trái với quy định của WTO, cải cách và hoàn thiện thể chế về pháp luật kinh doanh.

     

    Ngoài ra, công khai minh bạch cũng là một thách thức đối với DNNN khi tham gia TPP. TPP yêu cầu DNNN phải công khai và minh bạch tuyệt đối trong sử dụng ngân sách, trong đó có quy định công khai và minh bạch giao dịch và tài chính của DNNN.

     

    Trong khi đó, đối với DNNN Việt Nam, việc công khai tài chính đã khó, công khai giao dịch (toàn bộ hoạt động mua, bán, ký kết, đàm phán…) lại càng phức tạp. Tuy nhiên, quy định này một mặt tạo sức ép, song đồng thời cũng tạo động lực tái cấu trúc khu vực DNNN và là cơ hội tốt để sàng lọc lại hệ thống DNNN. Thực tế đã chứng minh, nhiều doanh nghiệp Việt Nam theo thời gian đã trở nên thành công nhờ cổ phần hóa như: Bảo Việt hay Công ty cổ phần Sữa Việt Nam… Vì vậy, thách thức hiện nay của Chính phủ là phải đẩy mạnh đổi mới, cải cách hệ thống DNNN, đặc biệt là các DNNN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.

     

    Song Hiệp định TPP cũng không bắt buộc DNNN công khai giao dịch của mình. Những gì thuộc về bí mật kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ai được quyền đòi hỏi. Chỉ khi nào TPP nhận thấy doanh nghiệp có biểu hiện đang được hỗ trợ quá mức của nhà nước, gây tác động tiêu cực đến thương mại và đầu tư cho các bên, khi đó mới phải công khai thông tin.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    TPP không ảnh hưởng nhiều đến các DNNN của các thành viên trong khối và cũng không ảnh hưởng nhiều đến quá trình tái cơ cấu DNNN ở

     

     

    151

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Việt Nam, có chăng thì TPP chỉ mang vai trò thúc đẩy quá trình này ở Việt Nam mà thôi. Song, TPP cũng cung cấp cho Việt Nam một động lực quan trọng để đẩy mạnh cải cách DNNN, đặc biệt là việc cổ phần hoá các doanh nghiệp này. Mặc dù cải cách DNNN đã trở thành một trong ba trụ cột chính của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam kể từ năm 2012, nhưng tiến độ của nó trên thực tế lại chậm hơn dự kiến do các điều kiện thị trường không thuận lợi cũng như do sự phản kháng của một số nhà quản lý DNNN nhất định. Tuy nhiên, Chính phủ gần đây đã tăng cường

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Ṭa đàm khoa ḥc (2014), “Tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi ḿi”, Ban Kinh tế Trung ương và Trừng Đại ḥc Kinh tế TP. H̀ Ch́ Minh

     

    • Hoàng Xuân Sơn – ThS. Nguyễn Thị Thảo Nguyên, Quá tr̀nh tái cơ cấu DNNN th̀i kỳ đổi ḿi – nhận thức và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu phát triển, số 11 (1/2015)

    những nỗ lực này và thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, như mở cửa cho cạnh tranh trong một số ngành trước nay được độc quyền bởi các DNNN (than, điện, xăng dầu); nới rộng room sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp cổ phần hóa; và kỷ luật những cán bộ quản lý không đáp ứng tiến độ cổ phần hóa được đặt ra. Những bước phát triển này cho thấy chính phủ Việt Nam đang điều chỉnh chính sách DNNN của mình theo hướng các cam kết TPP, điều có thể giúp cải thiện hiệu suất của các DNNN cũng như của cả nền kinh tế trong dài hạn./.

     

    • sggp.org.vn/kinhte/2015/11/401964/

     

    • http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/hiep-dinh-TPP//11607/toan-van-noi-dung-hiep-dinh-tpp

     

    • http://nghiencuuquocte.net/2015/11/09/danh-gia-so-bo-tac-dong-cua-tpp-doi-voi-viet-nam/
    • http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/

     

    nr091019080134/ns120426022635

     

     

     

     

     

     

    152


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/KINH-T%E1%BA%BE-T%C6%AF-NH%C3%82N-V%C3%99NG-%C4%90%C3%94NG-NAM-B%E1%BB%98-C%C3%81C-Y%E1%BA%BEU-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-V%C3%80-XU-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-V%E1%BA%ACN-%C4%90%E1%BB%98NG-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-C%C3%94NG-NGHI%E1%BB%86P-H%C3%93A-HI%E1%BB%86N-%C4%90%E1%BA%A0I-H%C3%93A-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-2016-%E2%80%93-2020-V%C3%80-T%E1%BA%A6M-NH%C3%8CN-%C4%90%E1%BA%BEN-N%C4%82M-2030.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    KINH TẾ TƯ NHÂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

     

    PRIVATE ECONOMY IN THE SOUTHEAST REGION: INFLUENTIAL FACTORS AND DEVELOPMENT TREND DURING INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION IN 2016-2020 AND VISION TOWARD 2030

     

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế tư nhân có vai trò quan tṛng, là một bộ phận phát trỉn lâu dài trong th̀i kỳ xây dựng CNXH ở Việt Nam. Bài báo phân t́ch các yếu tố tác động đến sự phát trỉn c̉a kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ trong quá tr̀nh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2016-2020 và tầm nh̀n đến năm 2030. Từ những phân t́ch đó, bài viết chỉ ra xu hứng vận động phát trỉn ch́nh c̉a kinh tế tư nhân trong th̀i gian t́i, đó là: (1) Kinh tế tư nhân sẽ phát trỉn v́i tốc độ nhanh hơn so v́i trức đây, (2) kinh tế tư nhân sẽ tăng quy mô, mở rộng sản xuất h̀nh thành những doanh nghiệp ĺn, những tập đoàn KTTN, (3) kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ sẽ tham gia hội nhập kinh tế thế gíi mạnh hơn nữa trong những năm t́i, và (4) kinh tế tư nhân sẽ có xu hứng phát trỉn lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, vốn, vận tải, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thông tin.

     

    Từ khóa: kinh tế tư nhân, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đông Nam Bộ

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) bao gồm 6 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước và Tây Ninh; được đánh giá là vùng kinh tế năng động nhất của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn vùng luôn ở mức rất cao. Đây là khu vực dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu, vốn đầu tư nước ngoài, đóng

     

    Nguyễn Hữu Trinh (*)

     

    ABSTRACT

     

    The private sector plays an important role, and is a consolidated part of long-term development in the period of building socialism in Vietnam. The paper analyzes the factors affecting the development of the Southeast private economy in the process of industrialization and modernization during the period 2016-2020 with a vision to 2030. From that analysis, article points out development trends of the private economy in the coming period, namely: (1) private economic development will be at a faster rate than before,

     

    • private sector will increase the scale, expand its production in larger scale and form private sector corporations, (3) private sector in Southeast region will integrate more in the world economy in the coming years, and (4) private sector will tend to develop more intensively in the service sector such as tourism, counsulting, legal assistance, capital funds, transport, production support, business information services.

    Keywords: private economy, industrialization, modernization, Southeast region

     

    góp 2/3 ngân sách và tỷ lệ đô thị hóa cao. Trong sự phát triển mạnh mẽ đó, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) vùng ĐNB là một bộ phận kinh tế có những đóng góp rất lớn cho tỷ trọng GDP quốc gia, việc tạo công ăn việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước… nên việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự phát triển của KTTN Vùng và xu hướng vận động của nó là điều hết sức cần thiết.

     

     

    • Trung tâm LLCT, ĐHQG TPHCM, NCS. Trừng Đại Kinh tế Tp. H̀ Ch́ Minh

     

     

    106

     

    Kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ . . .

     

    QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KTTN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (ĐCSVN)

     

    Từ khi đổi mới, KTTN chưa được chính thức coi như một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Nhưng trong nhận thức, ĐCSVN khẳng định nhất quán lâu dài xây dựng, phát triển kinh tế nhiều thành phần, và đã thừa nhận những yếu tố, bộ phận cấu thành KTTN.

     

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng c̉a th̀i kỳ quá độ, Văn kiện viết: “Ở nước ta, các thành phần đó là:

     

    Kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với các bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với các thành phần đó.

     

    Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác” (ĐCSVN, 2006, tr. 57-58).

     

    Văn kiện Đại hội VII: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước; trong đó, kinh tế cá thể tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức” (ĐCSVN, 1991, tr. 69). Sau đó, trong Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khoá VII tiếp tục khẳng định: Phát triển kinh tế hộ cá thể, tư nhân trong nông nghiệp là một chính sách nhất quán, lâu dài trong thời kỳ quá độ.

     

    Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII viết: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài. Giúp đỡ kinh tế các thể, tiểu

     

    chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước. Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” (ĐCSVN, 1996, tr. 96).

     

    Từ những chủ trương đúng đắn, phù hợp, KTTN càng có bước phát triển mới góp phần phát triển kinh tế đất nước, giải phóng đáng kể lực lượng sản xuất của cả nước, bộ mặt kinh tế

     

    • xã hội ngày càng thay da đổi thịt. Bên cạnh sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, KTTN cũng đóng góp vào tích lũy ngân sách nhà nước. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Kinh tế cá th̉ tỉu ch̉ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng mối quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động” (ĐCSVN, 2001, tr. 98-99). Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Ban chấp hành trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ hai, nhấn mạnh thêm: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng

     

     

    107

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2002, tr. 57).

     

    Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định phát triển KTTN và coi nó là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân. KTTN gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đảng ta nhấn mạnh về vai trò của KTTN như sau: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế.” (ĐCSVN, 2006, tr. 83). Về mặt thực tiễn KTTN là khu vực kinh tế năng động, hiệu quả năm 2005 chiếm 37,7% GDP của cả nước và hiện nay khu vực này phát triển rất hiệu quả trở thành động lực thúc đấy nền kinh tế phát triển. Trong quan điểm của ĐCSVN tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, khái niệm kinh tế tư nhân được sử dụng dùng để chỉ các bộ phận: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Như vậy, cách sử dụng khái niệm này có sự linh hoạt hơn, đó là KTTN bao hàm cả kinh tế tư bản tư nhân, tạo điều kiện để chúng ta phát triển mở rộng các lực lượng xã hội có điều kiện tham gia phát triển KTTN.

     

    Đến nay, trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng tiếp tục khẳng định nhất quán đường lối, chủ trương phát triển KTTN. Đại hội Đảng XI cũng nhận thấy, trong quá trình xây dựng và phát triển KTTN còn gặp phải những khó khăn về vốn, khoa học công nghệ, pháp lý, v.v. cho nên Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục hỗ trợ cho KTTN phát triển tốt hơn nữa trong giai đoạn phát triển kế tiếp. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI viết: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KTTN trở thành một trong những động lực mạnh của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo điều kiện để hình thành một số tập đoàn KTTN và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước” (ĐCSVN,

     

    2011, tr. 209) . Theo đó, KTTN sẽ ngày càng có điều kiện phát triển cùng các thành phần kinh tế khác, KTTN được khuyến khích phát triển thành các tập đoàn kinh tế lớn trên các lĩnh vực, các ngành, có điều kiện nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà với các nền kinh tế thế giới.

     

    Như vậy, cả về mặt lý luận và chủ trương đường lối của Đảng ta là thống nhất về phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTTN bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, là một bộ phận quan trọng sẽ phát triển lâu dài trong thời kỳ xây dựng CNXH.

     

    Trong quá trình cải tạo, xây dựng CNXH

     

    • nước ta, ĐCSVN đã nhận định: “Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài” (ĐCSVN, 1986, tr. 23).

    Sau khi đổi mới, chúng ta đã có những thay đổi về tư duy kinh tế một cách đầy đủ hơn. Mặc dù, thời gian đầu còn chập chững trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, song thực tiễn đổi mới đất nước đã chứng minh đường lối đó là đúng đắn. Các thành phần kinh tế ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong cơ cấu nền kinh tế.

     

    Kinh tế tư nhân của vùng ĐNB sẽ chịu những ảnh hưởng của những tác động của tình hình chung của thế giới, của nước ta cũng như những ảnh hưởng khác của vùng. Chính những ảnh hưởng ấy mà trong những năm tới, KTTN có xu hướng vận động biến đổi khác so với trước đây.

     

    CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KTTN VÙNG ĐNB TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH GIAI ĐOẠN 2016

    – 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2030

     

    Về tình hình thế giới, nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Vùng nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Trong những năm tới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục là xu thế lớn. Nền kinh tế thế giới mặc dù có dấu

     

     

    108

     

    Kinh tế tư nhân vùng Đông Nam Bộ . . .

     

    hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn chứa nhiều yếu tố khó khăn mất ổn định. Hiện nay, sự cạnh tranh về kinh tế – thương mại đang diễn ra giữa các nước trên thế giới ngày càng gay gắt hơn so với trước đây. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt khu vực Đông Nam

     

    • sẽ là một trong những khu vực phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn, đồng thời tại đây vẫn còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh chấp vùng lãnh thổ, chủ quyền biển đảo ngày càng gay gắt, mâu thuẫn giữa các nước có tranh chấp chứa đựng những yếu tố gây mất ổn định. Những yếu tố trên có tác động quan trọng đến quá trình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và kinh tế ĐNB nói riêng trong đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cả thành phần KTTN.

    Về tình hình trong nước, hệ thống thể chế, cơ chế chính sách phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ngày càng được hoàn thiện nên các thành phần kinh tế có thêm cơ hội phát triển. Những thành tựu, kinh nghiệm đạt được trên các mặt qua 30 năm đổi mới đã trở thành cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế. Từ những thành tựu đạt được nên tiềm lực, vị thế đất nước được nâng lên một bước mới, quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, sự ổn định chính trị là những điều kiện tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công cuộc đổi mới của đất nước cũng như tác động tích cực đến phát triển kinh tế vùng ĐNB trong những năm tới.

     

    Về tình hình của vùng ĐNB, là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là nơi có mức độ giao thương hàng hóa trong và ngoài nước lớn, là vùng có tốc độ phát triển kinh tế cao trong cả nước. Đồng thời với những thành tựu trong những năm qua và những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, điều hành, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu; sự ổn định về chính trị xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại trong và ngoài nước; là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới. Tuy nhiên, vùng ĐNB cũng đối mặt

     

    với những khó khăn và thách thức lớn đó là: dịch bệnh và biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông, dịch vụ kho bãi, cảng mang tính chất vùng; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, áp lực tăng dân số cơ học cao, thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia giỏi đầu ngành, cán bộ khoa học kỹ thuật, quản trị doanh nghiệp; tình hình khiếu kiện về đất đai, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tình hình đình công, lãn công trong các khu công nghiệp vẫn là những vấn đề ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của vùng nói chung cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển KTTN nói riêng.

     

    Về xu hứng vận động phát trỉn c̉a KTTN vùng ĐNB trong quá tr̀nh CNH, HĐH giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nh̀n đến năm 2030

     

    Từ những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước cũng như của Đảng bộ, chính quyền tỉnh, thành phố Vùng ĐNB, những tác động hiện nay sẽ tạo ra những xu hướng vận động phát triển trong những năm tới. Cụ thể là:

     

    Thứ nhất, KTTN sẽ phát triển với tốc độ nhanh hơn so với trước đây. Hiện nay, mức tăng trưởng kinh tế của các địa phương trong vùng ĐNB tăng cao, sự tích lũy vốn của hộ cá thể, của DNTN ngày càng gia tăng cho nên sẽ tăng số lượng các doanh nghiệp tư nhân, cũng như trang trại, nông trại. Đồng thời, trong những năm tới với những chủ trương chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước, những chủ trương, chính sách phù hợp của Đảng bộ chính quyền thành phố, tỉnh trong vùng ĐNB sẽ thúc đẩy KTTN phát triển nhanh hơn.

     

    Thứ hai, KTTN sẽ tăng quy mô, mở rộng sản xuất hình thành những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn KTTN. Hiện nay, vùng ĐNB có nhiều doanh nghiệp tư nhân phát triển khá mạnh, với quy mô lớn cả về vốn, về số lượng sản phẩm, doanh thu, lực lượng lao động. Mặt khác, sau khủng hoảng kinh tế, để tăng sức cạnh tranh với thị trường trong nước, thị trường nước ngoài, nhiều doanh nghiệp nhỏ muốn tồn tại,

     

     

    109

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    phát triển đã có xu hướng liên doanh, liên kết mở rộng quy mô, tăng vốn đầu tư, thu hút thêm lực lượng lao động, xây dựng chiến lược kinh doanh mới nhằm tồn tại và phát triển.

     

    Thứ ba, KTTN trong vùng ĐNB sẽ tham gia hội nhập kinh tế thế giới mạnh hơn nữa trong những năm tới. Vùng ĐNB có nhiều khu công nghiệp nên thu hút với nhiều nước tham gia đầu tư. Sự tác động ấy, cũng như nhu cầu phát triển thị trường nên dù muốn hay không các DNTN sẽ tìm hướng đầu tư, tìm thị trường với nước ngoài.

    Thứ tư, KTTN sẽ có xu hướng phát triển lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, vốn, vận tải, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thông tin, v.v.. Với tình hình phát triển kinh

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VI. Hà Nội: Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VII.Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ VIII. Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002.Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX. Hà Nội, Nxb Sự thật.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội, Nxb Sự thật.

    tế khá năng động hiện nay thì những lĩnh vực như dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển. Trong khi lĩnh vực sản xuất sản phẩm hàng hóa dễ bị thua lỗ, khó tìm kiếm thị trường, cũng như mức đầu tư vốn khá lớn thì lĩnh vực dịch vụ lại không cần nhiều vốn, xác suất thua lỗ, rủi ro ít hơn, thường không phụ thuộc nhiều vào thị trường mà phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trong vùng ĐNB.

     

    Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay, KTTN đã có những yếu tố phát triển theo những xu hướng nêu trên. Đó là những tín hiệu khả quan cho sự phát triển KTTN của vùng ĐNB.

     

    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội Đảng th̀i kỳ đổi ḿi. Hà Nội, Nxb Sự thật.
    • Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011.Văn kiện đại hội đại bỉu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội, Nxb Sự thật.
    • Đinh Thị Thơm, 2006. Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi ḿi thực trạng và những vấn đề, sách tham khảo.
    • Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), 2003. Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nức đối v́i kinh tế tư nhân ở nức ta hiện nay. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

    • Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân, 2004. Phát trỉn kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam lý luận và thực tiễn. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

    • Nguyễn Thanh Tuyền, 2006. Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trừng định hứng xã hội ch̉ nghĩa ở Việt Nam. Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia.

     

     

    110


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nh%E1%BB%AFng-%C4%91%C3%B3ng-g%C3%B3p-quan-tr%E1%BB%8Dng-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-trong-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-t%E1%BB%89nh-B%E1%BA%AFc-Ninh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    NHỮNG ĐÓNG GÓP QUAN TṚNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA TỈNH BẮC NINH

     

    IMPORTANT ROLE OF FOREIGN INVESTMENT

     

    IN ECONOMIC DEVELOPMENT IN BAC NINH PROVINCE

     

     

    TÓM TẮT

     

    Mặc dù bối cảnh kinh tế trong nức và thế gíi còn nhiều khó khăn nhưng kết thúc năm 2015, tỉnh Bắc Ninh ṽn là đỉm sáng nhất c̉a cả nức về thu hút nhiều dự án đầu tư nức ngoài (FDI), v́i tổng vốn đầu tư đạt gần 3,5 tỷ USD. Bên cạnh ngùn vốn trong tỉnh đóng vai trò quyết định, vốn đầu tư nức ngoài là một trong những ngùn vốn quan tṛng, trong đó, FDI được coi là ngùn vốn th́ch hợp đối v́i Bắc Ninh. Vai trò c̉a FDI trong những năm qua đã được khẳng định, đóng góp t́ch cực vào tăng trưởng và phát trỉn kinh tế c̉a tỉnh. Bài viết, vận dụng phương pháp thống kê mô tả đánh giá những thành tựu nổi bật về thu hút FDI và những đóng góp t́ch cực mà FDI mang lại cho tỉnh Bắc Ninh. Đ̀ng th̀i, đề xuất một số giải pháp quan tṛng đ̉ tiếp tục thu hút ngùn vốn FDI này cho mục tiêu phát trỉn đến những năm tiếp theo

     

    Từ khóa: Vốn FDI, Bắc Ninh, công nghiệp, xuất khẩu.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Phát huy lợi thế về địa kinh tế, tiềm năng thế mạnh của tỉnh, ngay sau khi tái lập Bắc Ninh đã thực hiện quy hoạch xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN), coi đây là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp. Sau 19 năm hình thành và phát triển, với hệ thống hạ tầng đồng bộ, các KCN Bắc Ninh đã minh chứng được năng lực vượt trội đó là sức hút đầu

     

    Khổng Văn Thắng (*)

     

    ABSTRACT

     

    Although the economic context in the country and the world are more dificult but at the end of 2015, Bac Ninh province is still the biggest highlights of the country in attracting foreign investment (FDI) with total capital invested nearly $ 3.5 billion. Besides, the capital of the province plays a decisive role, foreign investment is one of the important sources of capital inwhich, FDI is considered appropriate funding for Bac Ninh. The role of FDI in recent years has been conirmed a positive contribution to growth and economic development of the province. Article, using descriptive statistical methods to assess the accomplishment highlights of FDI inlows and the positive contribution that FDI brings in Bac Ninh province. At the same time, proposed some important measures to attract FDI for development goals in the comming year.

     

    Keywords: FDI, Bac Ninh, industrial, export.

     

    tư trực tiếp nước ngoài liên tục tăng, đưa Bắc Ninh từ một tỉnh nông nghiệp vươn lên đứng tốp đầu toàn quốc về thu hút đầu tư. Sự xuất hiện của FDI tại Bắc Ninh thời gian qua đã đem lại cho tỉnh những tác động tích cực về kinh tế

     

    • xã hội thể hiện qua các khía cạnh như: đóng góp đối với tổng vốn đầu tư toàn xã hội; làm tăng khả năng huy động các nguồn vốn khác; góp phần làm chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tăng thu

     

     

    • Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh

     

     

    95

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    ngân sách nhà nước; tăng việc làm và thu nhập cho người lao động; tăng cường xuất khẩu; góp phần chuyển giao công nghệ một cách thuận lợi và nhanh chóng. Ngoài ra, FDI còn góp phần tích cực vào phát triển lực lượng sản xuất, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh trong những năm gần đây liên tục tăng cao; đem lại những mô hình quản lý tiên tiến, những phương thức kinh doanh hiện đại cho tỉnh Bắc Ninh, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao chất lương sản phẩm và sức cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước, mở rộng tiến trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới bên ngoài [5]. Bên cạnh những đóng góp quan trọng đó kinh tế FDI cũng có những tác động tiêu cực đối với tỉnh Bắc Ninh như vấn đề môi trường, chuyển giao khoa học công nghệ, vấn đề an ninh trật tự, vấn đề trốn thế, chuyển giá và tính bền vững của nền kinh tế khi phụ thuộc quá nhiều vào đóng góp của FDI. Tuy nhiên, để có cái nhìn chính xác, khách quan và khoa học về vai trò của FDI đối với kinh tế tỉnh Bắc Ninh, thì từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và có tính hệ thống về vấn đề này. Chính vì vậy, bài viết này sẽ nghiên cứu cụ thể, khoa học và hệ thống cao về vai trò của FDI đối với kinh tế tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp cần thiết để đến năm 2020 và những năm tiếp theo nguồn vốn FDI sẽ đóng góp hiệu quả hơn vào kinh tế – xã hội cho tỉnh, đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp tiêu biểu của cả nước và là thành phố trực thuộc trung ương vào những năm 2020. [3]

     

    THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ CỦA TỈNH BẮC NINH NĂM 2015

     

    Đến hết năm 2015 các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư 144 dự án vào tỉnh Bắc Ninh với tổng

     

    vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,46 tỉ USD, chiếm 16% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước và là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài đứng trên cả TP.Hồ Chí Minh (đứng thứ 2) với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,32 tỉ USD, chiếm 14,6% và Bình Dương (đứng thứ 3) với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 2,95 tỉ USD, chiếm 13% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Trà Vinh và Đồng Nai với tổng vốn đầu tư lần lượt là 2,52 tỉ USD và 1,94 tỉ USD. Cũng trong năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 4 ngành lĩnh vực của tỉnh Bắc Ninh, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất với 112 dự án đầu tư đăng ký mới, chiếm 77,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ đứng thứ 2 với 7 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới 1,93 tỷ USD, lĩnh vực xây dựng đứng thứ 3 với 2 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 0,6 tỉ USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư… Lũy kế đến hết năm 2015, các nhà đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh đã đầu tư vào 15 trên tổng số 21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó FDI tư tập trung nhiều vào lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo với 714 dự án, tổng vốn đầu tư 10,921 tỷ USD, chiếm 94,6% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh; đứng thứ hai là lĩnh vực xây dựng với 19 dự án và số vốn là 17,3 triệu USD, chiếm 0,15%; tiếp đến là bán buôn, bán lẻ 18 dự án với số vốn là 41,5 triệu USD, chiếm 3,6% và kinh doanh bất động sản với 12 dự án và vốn đăng ký là 358 triệu USD, chiếm 3,12 % tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Bốn lĩnh vực này đã chiếm hơn 98% tổng vốn đầu tư đăng ký trên toàn địa bàn tỉnh, còn lại là một số lĩnh vực khác như vận tải, dịch vụ lưu trú và ăn uống. [10]

     

     

    96

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    Bảng 01: Số dự án đầu tư có hiệu lực và số vốn đăng ký có đến 31/12/2015

     

       

    Số dự án, vốn đăng ký từ

    Số dự án còn hiệu lực,

     
       

    vốn đăng ký l̃y kế đến

     
       

    1/1/2015-31/12/2015

       

    hết năm 2015

     

    STT

    Chỉ tiêu

       
             

    Số dự án (dự

    Vốn đăng ký

    Số dự án (dự

    Vốn đăng

     
       
       

    ký (Triệu

     
       

    án)

    (Triệu USD)

    án)

       

    USD)

     
             
                 

    1

    Tổng số

    144

    3.460

    786

    11.469,9

     
    • Phân theo ngành kinh tế chủ yếu

    2.1

    Công nghiệp chế biến, chế tạo

    112

    3142

    507

    714

    2.2

    Xây dựng

    2

    6

    17

    19

    2.3

    Bán buôn, bán lẻ

    7

    19.5

    11

    18

    2.4

    Kinh doanh bất động sản

    0

     

    12

    12

    2.5

    Dịch vụ lưu trú ăn uống

    1

    0.5

    9

    10

    • Phân theo nước đầu tư chủ yếu

    3.1

    Hàn Quốc

    77

    3.047,5

    474

    8.297,8

    3.2

    Nhật Bản

    12

    38,7

    80

    1066.4

    3.3

    Singapore

    7

    33,0

    28

    282,4

    3.4

    Trung Quốc

    11

    22,5

    66

    135,6

    3.5

    Đài Loan

    7

    7,2

    38

    362,4

    3.6

    Hồng Kông

    7

    14,5

    33

    289,5

    3.7

    Phần lan

    0

    0,0

    1

    302,0

    Nguồn: Báo cáo kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

     

    Phân theo h̀nh thức đầu tư: Các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tập trung chủ yếu vào hình thức 100% vốn FDI với 586 dự án, tổng vốn đăng ký hơn 7,34 tỷ USD,chiếm 93,8% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Các dự án còn lại thuộc hình thức liên doanh, công ty cổ phần và hợp đồng hợp tác kinh doanh.

     

    Phân theo đối tác đầu tư: Tính đến nay, đã có 29 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Các nhà đầu tư Hàn Quốc dẫn đầu với trên 474 dự án và 8,29 tỷ USD, chiếm 72,3% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD, chiếm 9,3% tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh với trên 80 dự án. Trung Quốc đứng thứ ba, có 66 dự án với tổng vốn đầu tư là gần 135,6 triệu USD,chiếm 1,2 % tổng vốn FDI đăng ký của tỉnh Bắc Ninh. Còn lại là nhà đầu tư đến

    từ các quốc gia khác như: Đài Loan, Singapo, Phần Lan, Thái Lan… Một số dự án tiêu biểu: Dự án FDI lớn nhất tại Bắc Ninh đến thời điểm hiện nay là dự án Công ty TNHH SamSung Display Bắc Ninh cấp phép ngày 21/6/2007 của nhà đầu tư Sam Sung Display Co.,Ltd (Hàn Quốc). Tổng vốn đầu tư của dự án đạt 1 tỷ USD, dự án này chuyên sản xuất, lắp ráp gia công, tiếp thị hoặc bán các loại màn hình Smartphone… đến tháng 8 năm 2015, Công ty Samsung Display Việt Nam tiếp tục đầu tư thêm dự án mới với số vốn đầu tư tăng thêm là 3 tỷ USD. Với việc đầu tư thêm 3 tỷ USD, nâng quy mô và vốn đầu tư, dự án của Samsung Display tại Bắc Ninh lên 4 tỷ USD đã đưa Samsung Display trở thành dự án có quy mô vốn đầu tư lớn nhất của Tập đoàn Samsung tại Việt Nam và đưa Samsung trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Dự kiến với

     

     

    97

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    việc đầu tư mở rộng như vậy đến năm 2018 doanh thu sẽ đạt 40 tỷ USD và năm 2020 đạt 60 tỷ USD; tạo kim ngạch xuất khẩu lớn và tạo trên 20.000 việc làm cho người lao động. Đứng thứ hai là dự án Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam cấp phép ngày 25/3/2008 của nhà đầu tư Samsung Electronics Asia Holding Pte. Ltd, Singapore. Tổng vốn đầu tư của dự án lên tới 2,5 tỷ USD. Dự án sản xuất sản phẩm điện tử công nghệ cao, cung cấp dịch vụ sản xuất, lắp ráp sản phẩm điện tử. [4]

    ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH

     

    3.1. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh

     

    Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh đã khẳng định vị trí của mình và trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần tích cực vào điểm phần trăm tăng trưởng GRDP trong những năm gần đây. Đầu tư nước ngoài FDI trong thời gian qua đã đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh Bắc Ninh. Bình quân giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh lên đến 17%/ năm, tăng cao gấp 3,19 lần so với bình quân cả nước (5,28%). Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GRDP toàn tỉnh tăng dần qua các năm, nếu như năm 2010 là 36,5%, sang năm 2011 đã tăng lên 47,3%, tăng 10,8 điểm phần trăm; năm 2012 đạt 51,6%, thì đến năm 2014 đã đạt 60,4% và đến năm 2015 đạt đến 61,1% (xem bảng 2).

     

     

    Bảng 2: Đóng góp c̉a kinh tế có vốn đầu tư nức ngoài đối v́i Tổng sản phẩm (GRDP) tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2015

         

    Năm

           
                 

    Tốc độ

     
                 

    phát triển

     
     

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    bình quân

     
     

    2010-2015

     
                 
                 

    (%)

     
                     

    TỔNG SỐ (Tỷ đồng)

    45.716,0

    59.041,0

    67,834.0

    97,149.0

    92,206.0

    100,241.0

    117,0

     
                     

    Tốc độ phát triển(%)

    129.15

    129.14

    114.89

    143.21

    94.91

    108.71

    x

     
                     

    Nhà nước (tỷ đồng)

    4.935,0

    5.028

    5.544

    4.721

    5.010

    5.418

    101,9

     
                     

    Ngoài Nhà nước (tỷ đồng)

    20.921,0

    22.274

    21.993

    23.752

    25.708

    27.920

    105,9

     
                     

    Kinh tế có vốn đầu tư nước

    16.685,0

    27.908

    35.011

    63.153

    55.650

    61.228

    129,7

     

    ngoài (tỷ đồng)

                   
                     

    Thuế sản phẩm (tỷ đồng)

    3.175,0

    3.831

    5.286

    5.523

    5.838

    5.675

    112,3

     
                     

    Cơ cấu (%)

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

       
                     

    Nhà nước

    10,8

    8,5

    8,2

    4,9

    5,4

    5,4

    x

     
                     

    Ngoài Nhà nước

    45,8

    37,7

    32,4

    24,4

    27,9

    27,9

    x

     
                     

    Kinh tế có VĐT nước ngoài

    36,5

    47,3

    51,6

    65.0

    60.4

    61,1

    x

     
                     

    Thuế sản phẩm

    6,9

    6,5

    7,8

    5,7

    6,3

    5,7

    x

     
                     

    Nguồn: Niêm giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

     

    98

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    3.2. Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu

    nghiệp FDI của tỉnh Bắc Ninh tăng 53,2%/năm,

    kinh tế ngành thúc đẩy tăng trưởng sản xuất

    cao hơn bình quân trung toàn ngành của tỉnh

    công nghiệp

    16,1%, toàn tỉnh là 37,1%/năm.

    Có thể khẳng định FDI là một nhân tố quan

    Nhìn chung FDI đã xuất hiện ở tất cả các

    trọng đóng góp rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu

    ngành, nhưng FDI vẫn được thu hút nhiều nhất

    ngành theo hướng công nghiệp hóa ở Bắc Ninh

    vào ngành công nghiệp, trong đó sự xuất hiện

    và tỷ trọng công nghiệp so với GDP tăng lên là

    của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng

    nhờ đáng kể vào khu vực FDI, cụ thể: Giá trị sản

    do công đóng góp lớn của FDI. Nếu như năm

    xuất công nghiệp (CN) khu vực FDI năm 2010

    2010 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt

    là 68.803 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), chiếm

    111.037 tỷ đồng chiếm 78,2% tổng giá trị sản

    48,4%; đến năm 2012 đã là 322.722 tỷ đồng,

    xuất toàn ngành thì đến năm 2015 ngành này

    chiếm 79,2%; đến năm 2014 là 513.469 tỷ đồng,

    đã tạo giá giá trị sản xuất đạt 642.706 tỷ đồng

    chiếm 84,0% và năm 2015 đạt 580.495 tỷ đồng,

    chiếm 93,3% và bình quân giai đoạn 2010-2015

    chiếm 84,2% tổng giá trị sản xuất công nghiệp

    công nghiệp chế biến chế tạo của tỉnh Bắc Ninh

    toàn tỉnh, bình quân giai đoạn 2010-2015 công

    tăng 42,1%/năm.

    Bảng 3: Kinh tế có vốn đầu tư nức ngoài làm chuỷn dịch mạnh mẽ cơ cấu ngành công nghiệp (giá so sánh năm 2010) c̉a tỉnh Bắc Ninh

         

    Năm

       

    Tốc độ phát

     
                 

    triển bình

     
                 
     

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    quân 2010-

     
                 

    2015 (%)

     
                     

    Giá trị sản xuất công nghiệp

    142.038

    262.399

    407.245

    616.381

    611.618

    689.101

    137,1

     

    (Tỷ đồng)

                   
                     

    – Nhà nước

    9.084

    8.494

    9.820

    8.237

    8.748

    9.467

    100,8

     

    – Ngoài Nhà nước

    64.151

    74.442

    74.703

    81.450

    89.401

    99.139

    109,1

     
                     

    – Kinh tế có VĐT nước ngoài

    68.803

    179.463

    322.722

    526.694

    513.469

    580.495

    153,2

     
                     

    Cơ cấu (%)

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    100,0

    x

     
                     

    – Nhà nước

    6,4

    3,2

    2,4

    1,3

    1,4

    1,4

    x

     
                     

    – Ngoài Nhà nước

    45,2

    28,4

    18,3

    13,2

    14,6

    14,4

    x

     
                     

    – Kinh tế có VĐT nước ngoài

    48,4

    68,4

    79,2

    85,4

    84,0

    84,2

    x

     
                     

    Phân theo ngành công nghiệp

                   

    cấp 2 (Tỷ đồng)

                   

    – Khai khoáng

    23

    37

    28

    27

    4

    3

    66,5

     

    – Công nghiệp chế biến, chế tạo

    111.037

    229.014

    372.381

    577.591

    568.651

    642.706

    142,1

     
                     

    – SX, PP điện, khí đốt, nước

    220

    217

    346

    415

    412

    444

    115,1

     

    nóng,…

                   

    – Cung cấp nước; HĐ quản lý

    265

    311

    274

    360

    532

    446

    111,0

     

    và xử lý rác thải, nước thải

                   
                     
         

    Nguồn: Niêm giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

     

     

    99

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút ĐTNN, dòng vốn FDI hướng vào những ngành công nghiệp khai thác và thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên, xu hướng này đã thay đổi kể từ năm 2000 đến nay. Theo đó, các dự án FDI vào ngành công nghiệp chế biến và định hướng xuất khẩu đã tăng nhanh, góp phần tăng tổng kim ngạch xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Bắc Ninh. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện

     

    điện tử… Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Bắc Ninh có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN.

     

    3.3. Đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh

     

    Điểm đáng nói nữa là sự xuất hiện của FDI và phát triển của khu vực này cũng làm xuất hiện nhiều sản phẩm công nghiệp và dịch vụ mới có đóng góp trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu, ví dụ các sản phẩm thiết bị điện, điện tử, linh kiện. Đây là những mặt hàng xuất hiện cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Ninh và đóng góp nhiều cho xuất khẩu.

     

     

    Bảng 04: Một số đóng góp ch́nh c̉a khu vực vốn đầu tư nức ngoài đối v́i

     

    Kim ngạch xuất khẩu tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2015

     

    Chỉ tiêu

    ĐVT

         

    Năm

       
                 

    2010

    2011

    2012

     

    2013

    2014

    2015

         
                     

    Tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh

    Tr. USD

    2.451

    7.757

    15.041

     

    26.283

    21.975

    23.274,1

                     

    + Giá trị xuất khẩu khu vực FDI

    Tr. USD

    2.357

    7.509

    14.911

     

    26.072

    21.826

    23.130,6

                     

    + Cơ cấu

    %

    96,2

    96,8

    99,1

     

    99,2

    99,3

    99,4

                     

    Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực

                   
                     

    Hàng dệt may

    Tr. USD

    108,7

    159,8

    162,1

     

    189,5

    241,8

    155,5

                     

    Hàng điện tử

    Tr. USD

    1.550,8

    6.206,2

    13.173,8

     

    23.866,3

    19.925,8

    20.207,1

                     

    Máy tính và linh kiện

    Tr. USD

    9,4

    15,4

    18,3

     

    45,7

    181,6

    80,1

                     

    Dây điện và cáp điện

    Tr. USD

    9,3

    11,1

    14,3

     

    32,8

    17,1

    8,7

                     

    Sản phẩm từ Plastic

    Tr. USD

    3,0

    3,1

    2,9

     

    19,5

    65,5

    30,3

                     

    Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh năm 2015.

     

    Xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu

    khu vực FDI có mức xuất khẩu lớn gồm hàng

    tư nước ngoài tăng nhanh, năm 2010, kim ngạch

    điện tử, máy tinh và linh kiện, hàng dệt may dây

    xuất khẩu khu vực FDI đạt 2.357 triệu USD,

    điện và cáp điện, trong đó hàng điện tử đang

    chiếm 96,2% kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh;

    chiếm giá trị lớn nhất trong các hàng hoá xuất

    đến năm 2012 đạt 14.9111 triệu USD, chiếm

    khẩu của tỉnh Bắc Ninh, nếu năm 2011 giá trị

    99,1%; năm 2014 đạt 21.862 triệu USD, chiếm

    xuất khẩu của mặt hàng này là 6.206,154 triệu

    99,3% và đến hết năm 2015 đạt trên 23.131 triệu

    USD chiếm 82,65%, sau một năm đến 2012 con

    USD chiếm 99,4%. Các mặt hàng chủ lực của

    số này đã tăng lên gấp 2,1 lần và đạt 13.173,836

     

     

    100

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    triệu USD, chiếm 88,3% giá trị xuất khẩu của khu vực FDI; đến năm 2015 mặt hàng này đã lên đến 20.207,042 triệu USD và chiếm 87,4% của khu vực FDI.[6]

     

    3.4. Kinh tế vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng và tăng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho người lao động trong tỉnh Bắc Ninh

     

    Thu hút đầu tư lớn, sản xuất phát triển đã góp phần đưa khu vực vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Bắc Ninh đóng góp ngày càng lớn vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Nộp ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài năm 2010 đạt 2.120 tỷ đồng, chiếm 34,8%, đến năm 2012 đã là 3.823 tỷ đông, chiếm 40,5%, đến năm 2014 là 4.000 tỷ đồng chiếm 32,2% và đến hết năm 2015 ước đạt 4.500 tỷ đồng, chiếm 31,5% tổng thu ngân sách toàn tỉnh.

     

    Hình 1: Nộp ngân sách c̉a kinh tế vốn đầu tư nức ngoài giài đoạn 2010-2015

     

    Nguồn: Số liệu Thống kê ch̉ yếu th̀i kỳ 2010-2015

     

    Số nộp ngân sách khu vực FDI tăng nhanh qua từng năm, đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, bình quân mỗi năm tỉnh đão tạo việc làm mới cho trên 26 nghìn lao động, thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh đến hết năm 2015 đã đạt trên 42 triệu đồng/người/năm.

     

    3.5. Nguyên nhân của những thành quả trên

     

    • Có được kết quả đó trước tiên phải kể đến khâu đột phá đầu tiên của Bắc Ninh là cải cách hành chính, thời gian qua tỉnh Bắc Ninh không ngừng nỗ lực thực hiện đồng bộ công tác cải cách hành chính (CCHC), coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là bước đột phá trong thực hiện nhiệm vụ

    chính trị của địa phương nhằm góp phần nâng cao chỉ số năng lực canh tranh của tỉnh (PCI) liên tục đạt ở mức rất tốt, năm 2010 đạt 64,48 điểm, xếp thứ 6; đến năm 2011 đạt 67,27 điểm, xếp thứ 2; năm 2012 đạt 62,26 điểm, xếp thứ 10; năm 2013 đạt 61,07 điểm, xếp thứ 12; đến năm 2014 đạt 60,92 điểm, xếp thứ 10 cả nước và thứ 3 trong vùng và năm 2015 đạt 59,91 điểm chỉ còn xếp thứ 13 toàn quốc song vẫn duy trì xếp thứ 3 của vùng, tạo đà thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh (xem hình dưới).

     

     

    Hình 2: Đỉm số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và thứ hạng c̉a Bắc Ninh so v́i cả nứ

     

    Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) 2016

     

    Qua hình trên cho thấy, công tác CCHC được triển khai đồng bộ, hiệu quả cả về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính công và hiện đại hoá hành chính. Với sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh các Sở, ban, ngành công tác CCHC thu được những kết quả khả quan, được các cấp, ngành, đơn vị và cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình trong cải cách TTHC là thực hiện nghiêm túc việc rà soát các TTHC và thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật khi có sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ, bãi bỏ liên quan đến các TTHC; kiểm soát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc các thủ tục được công bố công khai, đồng thời nghiên cứu, đề nghị cắt giảm tối đa các thủ tục không cần thiết cụ thể ở Sở kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đang thực hiện giải quyết các TTHC và toàn bộ được áp dụng giải quyết theo cơ chế một cửa với việc niêm yết công khai các quy định về TTHC và trình tự giải quyết TTHC tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; công khai,

     

     

    101

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    minh bạch tất cả các TTHC thuộc phạm vi quản lý của ngành trên cổng thông tin điện tử của Sở KH&ĐT, trong đó ưu tiên việc cắt giảm thời gian thực hiện các TTHC so với quy định như: Thời gian thực hiện thủ tục Thẩm định kế hoạch đấu thầu giảm 60%; Cấp Giấy chứng nhận hoạt động doanh nghiệp giảm 70%; Thẩm định chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư của doanh nghiệp giảm 66%…[8]. Bước đầu thực hiện thành công việc đăng ký kinh doanh qua mạng là bước đột phá trong CCHC, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân, từng bước hiện đại hóa nền hành chính công. Bên cạnh đó, Sở KH&ĐT cũng thường xuyên chỉ đạo rà soát, nâng cao chất lượng hỗ trợ, phục vụ doanh nghiệp, phối hợp với các cơ quan có liên quan giải quyết kịp thời vướng mắc cho doanh nghiệp; công khai số điện thoại, email tại Bộ phận một cửa hiện đại, số điện thoại tiếp nhận đơn thư, khiếu nại, tố cáo để kịp thời tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về TTHC trong việc giải quyết công việc của tổ chức, doanh nghiệp, công dân. Tăng cường đối thoại giữa chính quyền với doanh nghiệp và nhân dân, mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của tổ chức và cá nhân trong việc xây dựng thể chế…[9]

     

    1. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA KHU VỰC KINH TẾ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TỈNH BẮC NINH

    Tuy đã đạt được nhiều thành tựu, song trong quá trình hoạt động khu vực kinh tế này cũng bộc lộ một số hạn chế, yếu kém đó là:

     

    -Một là, chất lượng dòng vốn đầu tư vào tỉnh chưa cao, vẫn nặng về trang thủ sử dụng nhân công giá rẻ để sinh lợi kể cả các tập đoàn lớn như: Samsung, Canon…đa số các dự án FDI thuộc lĩnh vực sản xuất các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh đều phải nhập khẩu linh phụ kiện, thiết bị từ nước ngoài để lắp ráp nên giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp và chủ yếu gia

     

    tăng từ nguồn nhân công giá thấp. Điều này cho thấy phát triển công nghiệp phụ trợ của tỉnh còn ở mức rất thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp FDI. Doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp FDI rất lớn và liên tục có xu hướng tăng qua từng năm song đóng góp cho ngân sách so với doanh thu rất thấp thậm chí không bằng doanh nghiệp dân doanh trong nước cụ thể: Năm 2010, tỷ lệ nộp ngân sách so với doanh thu của các doanh nghiệp FDI Bắc Ninh là 3,61%, cao hơn 3,23% của doanh nghiệp dân doanh, đến năm 2014, tỷ lệ này giảm chỉ còn 1,25%.

     

    • Hai là, hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra rất chậm và không rõ nét, rất nhiều doanh nghiệp FDI vào tỉnh Bắc Ninh gần 20 năm nay nhưng tỷ lệ nội địa hóa không đáng kể thậm chí là không có; nhiều dự án hoạt động không hiệu quả đã bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Một số doanh nghiệp liên tục báo thua lỗ, theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2010, có tới 66 doanh nghiệp FDI làm ăn thua lỗ với số tiền là 622,4 tỷ đồng và đến năm 2014, cũng từ kết quả điều tra doanh nghiệp cho số liệu tương ứng là 196 doanh nghiệp FDI làm ăn thua lỗ với số tiền lỗ là 2.028,9 tỷ đồng; hiện tượng chuyển giá để báo lỗ đã xuất hiện ở một số doanh nghiệp FDI tỉnh Bắc Ninh với mức độ ngày càng tinh vi hơn.

     

    • Ba là, tình trạng tranh chấp lao động và đình công còn diễn ra, tình trạng công nhân bỏ các doanh nghiệp dân doanh chạy sang các doanh nghiệp FDI khá phổ biến, thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp FDI có sự chênh lệch rất lớn giữa cán bộ quản lý và công nhân lao động trực tiếp điều đó đã tạo ra sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa các tầng lớp lao động trong doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nợ lương, thưởng và phổ biến nhất là nợ đọng Bảo hiểm xã hội nhiều năm sau đó bỏ trốn gây hoang mang và thiệt hại cho người lao động điển hình vào ngày 8 tháng 5 năm 2015 tại Khu công nghiệp Quế Võ tỉnh Bắc Ninh Công ty TNHH GMIE có 100% vốn đầu tư nước ngoài chuyên

     

     

    102

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    sản xuất, gia công vỏ điện thoại di động, linh kiện điện tử và các chi tiết khác của điện thoại di động; các thiết bị, linh kiện điện tử cao cấp khác, sử dụng 439 lao động bỏ trốn làm hàng trăm công nhân không chỉ mất việc làm mà mất cả lương. Một điểm nhấn nữa cần đề cập đến đó là do mở rộng và phát triển nhiều Khu công nghiệp nên một lượng lớn lao động nhập cư đổ về tỉnh Bắc Ninh thuê trọ ở xung quanh các khu công nghiệp kéo theo hệ lụy về ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội…gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư.

     

    • Nguyên nhân, được tỉnh Bắc Ninh chỉ ra là do việc thu hút FDI trong những năm qua còn chạy theo lượng vốn đăng ký mà chưa chú trọng đến hiệu quả của dòng vốn. Hệ thống chính sách pháp luật về đầu tư còn chồng chéo, thay đổi nhanh, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán. Công tác hậu kiểm dự án đầu tư nước ngoài chưa được tiến hành thường xuyên, trong khi sự phối hợp giữa các sở, ngành ở địa phương và giữa địa phương với trung ương vẫn chưa chặt chẽ. Hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, hệ thống đường giao thông, hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào khu công nghiệp…

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TIẾP TỤC THU HÚT ĐẦU TƯ CHO CÁC NĂM TIẾP THEO

     

    Để tiếp tục duy trì và thu hút hiệu quả hơn nữa nguồn vốn đầu tư nước ngoài tỉnh Bắc Ninh tiếp tục phải thực hiện nhiều gải pháp đồng bộ trong đó tập chung vào các giải pháp chính như sau:

     

    Một là, Bắc Ninh cần lựa chọn các dòng vốn đầu tư, lĩnh vực ưu tiên thu hút FDI theo định hướng “sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai”. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ dần thay thế nhập khẩu linh phụ kiện, thiết bị từ nước ngoài để lắp ráp nhằm tạo giá trị gia tăng

     

    cao trong sản phẩm, nâng cao giá trị đóng góp cho ngân sách.

    Hai là, tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật chuyên ngành như Thuế, bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp FDI, tránh trốn thuế, chuyển giá và nợ đọng bảo hiểm xã hội, trốn đóng bảo hiểm xã hội gây thiệt thòi cho người lao động; tiến hành rà soát, phân loại và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các dự án chậm triển khai hoặc không triển khai thực hiện; nhằm đa dạng hóa các hình thức đầu tư để huy động và nâng tỷ trọng của vốn FDI vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, trường học), tỉnh tiếp tục khuyến khích đầu tư theo hình thức BT, BOT, đồng thời chỉ đạo nghiên cứu và triển khai mô hình đầu tư hợp tác công tư (PPP) theo Quyết định số 71/2010 ngày 9/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

     

    Ba là, Thường xuyên kiểm tra công tác tuyển dụng và sử dụng lao động, chế độ tiền lương và các phúc lợi khác ghi trong hợp đồng lao động theo Bộ Luật lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng, tránh tình trạng tranh chấp lao động, nợ lương, chậm lương dẫn đến đình công. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong công nhân về tác phong lao động công nghiệp, tránh tình trạng công nhân bỏ doanh nghiệp này chạy sang các doanh nghiệp khác. Tăng cường công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường trong và ngoài Khu công nghiệp tập trung, vì một lượng lớn lao động nhập cư đổ về Bắc Ninh thuê trọ ở xung quanh các khu công nghiệp kéo theo hệ lụy về ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội… gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư.

     

    Bốn là, tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đầu mối trung tâm là Bộ phận một

     

     

    103

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    cửa của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, xây dựng, thúc đẩy nhanh việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Coi trọng và thường xuyên chỉ đạo làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực thực thi công vụ, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, bố trí, sắp xếp bộ máy tổ chức khoa học và nhất là đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý Nhà nước và tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu tư… Đẩy mạnh công tác an ninh trật tự tại các khu công nghiệp tập trung

     

    Năm là, có cơ chế chính sách hỗ trợ, ưu đãi bao gồm: Hỗ trợ về giải phóng mặt bằng; Hỗ trợ nhà đầu tư cung ứng và đào tạo lao động; Đối với các dự án có quy mô lớn (vốn đầu tư từ 1500 tỷ trở lên), sử dụng công nghệ cao, ngoài các ưu đãi theo quy định chung của Chính phủ, nhà đầu tư được UBND tỉnh xem xét hỗ trợ xây dựng cơ chế hỗ trợ ưu đãi đặc thù trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận… tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, xây dựng các khu nhà ở cho công nhân, trường học cho con em công nhân, đầy mạnh công tác xử lý rác nước thải và rác thải; chú trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ công nghệ thông tin, viễn thông, cung cấp phần mềm và giải pháp, nghiên cứu và phát triển (R&D),… Giai đoạn 2020 -2030 và tầm nhìn 2030-2050 sẽ điều chỉnh nâng dần tỷ trọng vốn FDI trong ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

     

    Sáu là, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cần nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Việc cấp Giấy CNĐT phải đảm bảo các yêu cầu như: Sự phù hợp của lĩnh vực đầu tư đối với hệ thống quy hoạch của tỉnh Bắc Ninh, quy hoạch vùng, quy hoạch phát triển ngành..; hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án phải

     

    bằng hoặc cao hơn hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam, công nghệ sử dụng trong dự án phải là công nghệ tiên tiến và thân thiện với môi trường….tăng cường công tác kiểm tra đánh giá

     

    tác động môi trường của các doanh nghiệp FDI, nghiêm cấm xả thải chưa qua xử lý thẳng ra môi trường.

     

    Bảy là, tỉnh Bắc Ninh cần thường xuyên gặp mặt đối thoại với các nhà đầu tư và đại diện các tổ chức quốc tế đang hoạt động trên địa bàn, có danh mục các dự án cần thu hút, các chính sách ưu đãi của tỉnh công bố về quy hoạch thu hút đầu tư vào lĩnh vực mà Bắc Ninh có thế mạnh tiềm năng về tài nguyên và lao động để các nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn. Trong công tác xúc tiến đầu tư tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… Đối mới và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Chú trọng các hoạt động xúc tiến đầu tư tại chỗ theo định hướng tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường công tác hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được cấp Giấy CNĐT.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Qua nghiên cứu về vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã cho thấy tầm quan trọng của dòng vốn đầu tư nước ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh; kinh tế vốn đầu tư nước ngoài phát triển trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu, tăng thu ngân sách cho địa phương, đặc biệt là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh những đóng góp quan trong đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng có những hạn chế nhất định với tỉnh như: Một số lượng lớn FDI đầu tư vào ngành công nghiệp, nhưng chất lượng chưa cao, tình trạng đầu tư không hiệu quả dẫn đến phải thu hồi dự án vẫn còn, nhiều dự án vẫn chỉ khai thác nhân công giá rẻ làm mục tiêu lợi nhuận nên giá trị tăng

     

     

    104

     

    Những đóng góp quan trọng của đầu tư nước ngoài . . .

     

    thêm thấp do chi phí trung gian quá cao; tình trạng báo lỗ trốn thuế, chuyển giá ngày một tinh vi; tình trạng gây ô nhiễm môi trường trong và ngoài khu công nghiệp đang ngày một gay gắt, an ninh chính trị tại các Khu công nghiệp đang là vấn đề cần phải quan tâm. Chuyển giao công nghệ qua FDI còn hạn chế và nếu có thường xảy ra với các doanh nghiệp quy mô lớn, thông qua ký kết hợp đồng…Do vậy, để cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động đúng quỹ đạo đóng góp tăng trưởng GRDP một cách bền vững. Tỉnh Bắc Ninh cần có hàng loạt

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2016). Niêm giám Thống kê năm 2015. NXB Thống kê HN.

     

    • Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2015). Bắc Ninh số liệu Thống kê ch̉ yếu th̀i kỳ 2010-2015. NXB Thống kê Hà Nội.
    • Tỉnh ủy Bắc Ninh (2015), Báo cáo ch́nh trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015-2020, Tỉnh ủy Bắc Ninh.

    [4]. Khổng Văn Thắng (2013). Thu hút đầu tư nức ngoài vào tỉnh Bắc Ninh- thực trạng và giải pháp. Tạp ch́ khoa ḥc Kinh tế đại ḥc Đà Ñng, (Số 2), tr.23 – 28.

     

    • Khổng Văn Thắng (2013). Đ̉ phát trỉn biền vững các Khu công nghiệp tập trung ở tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ Lý luận ch́nh trị, Ḥc viện Ch́nh trị – Hành ch́nh quốc gia H̀ Ch́ Minh, (Số 9), tr.57 -60.

     

    • Khổng Văn Thắng (2013). Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu

    các giải pháp, trong đó có bảy giải pháp mà bài viết đã nêu. Tin rằng, trong thời gian tới hoạt động này sẽ tiếp tục là động lực quan trọng, tiếp sức cho tỉnh Bắc Ninh thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn mới 2015-2020. Việc điều chỉnh chính sách nâng cao chất lượng dòng vốn ĐTNN vào thời điểm thích hợp sẽ góp phần phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của đầu tư nước ngoài, đồng thời đóng góp cho thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh trong tương lai./.

     

    • tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ khoa ḥc đại ḥc Huế, (Số 8), tr.86 – 94.
    • Khổng Văn Thắng (2013). Sử dụng mô hình SWOT nhằm tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất – nhập khẩu nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ khoa ḥc Đại ḥc Cần Thơ, (Số 28), tr.45 – 53.

     

    • Khổng Văn Thắng (2014). Kinh nghiệm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh thành phần: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (Số 98), tr.41-49.

     

    • Khổng Văn Thắng (2014). Tổng quan cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp tỉnh Bắc Ninh. Tạp ch́ Con số và Sự kiện Tổng cục Thống kê – Bộ kế hoạch và đầu tư, (Số 1 và 2), tr. 23-30.
    • Khổng Văn Thắng (2016). Thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Tạp ch́ đại ḥc Cửu Long, (Số 01), tr.44 – 51.

     

     

     

    105


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-t%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-xanh-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E2%80%93-c%C6%A1-h%E1%BB%99i-v%C3%A0-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng tới nền kinh tế xanh ở Việt Nam – cơ hội và thách thức

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM

     

    – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

     

    TOWARDS A GREEN ECONOMY IN VIETNAM

     

    – OPPORTUNITY AND CHALLENGE

     

    Đỗ Thị Hoa Liên(*)

     

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đ̀i sống c̉a con ngừi và cải thiện công bằng xã hội, đ̀ng th̀i giảm thỉu những r̉i ro môi trừng và những thiếu hụt sinh thái” [6]. Chuỷn đổi phương thức phát trỉn – Hứng t́i phát trỉn “Kinh tế xanh” ở Việt Nam là hứng tiếp cận ḿi, có nhiều khó khăn, thách thức song xét về dài hạn đây là hứng tiếp cận phù hợp v́i xu thế phát trỉn chung c̉a nền kinh tế toàn cầu.

     

    Từ khóa: Kinh tế xanh, kinh tế xanh ở Việt Nam, hướng tới nền kinh tế xanh.

     

    KINH TẾ XANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN

     

    Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế xanh cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngày 25 tháng 09 năm 2013, Chính phủ đã thông qua Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh. Đồng thời, trong thời gian qua các hoạt động nội hàm có liên quan đến kinh tế xanh đã và đang được triển khai ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới như “kinh tế Cac bon thấp”, “giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu”, “tăng trưởng xanh”, “công nghệ xanh”, “việc làm xanh”. Định hướng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở nước ta được đặt trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp: Khủng hoảng tài chính; nợ công châu Âu; biến đổi khí hậu toàn cầu… Tuy nhiên, không chỉ do tác động của bối cảnh quốc tế mà do nội tại nền kinh tế Việt Nam đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Nền kinh

     

    ABSTRACT

     

    The green economy as “one that results in improved human well being and social equity, while signiicantly reducing environmental risks and ecological scarcities”. The newapproach for the economy development based on “Green economy” in Vietnam is deinitely neccessary for the time being and the future. However, this new kind of model faces dificulties and challenges, yet it is suitable for the global development.

     

    Keywords: Green economy, green economy in Vietnam, towards a green economy.

     

    tế Việt Nam thời gian qua tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên với hiệu quả sử dụng thấp, phát thải lớn, do đó, phát triển kinh tế xanh sẽ là phương án lựa chọn tối ưu cho sự phát triển bền vững và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.

     

    Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc, nền kinh tế xanh là “nền kinh tế nâng cao đ̀i sống c̉a con ngừi và cải thiện công bằng xã hội, đ̀ng th̀i giảm thỉu những r̉i ro môi trừng và những thiếu hụt sinh thái” [6]. Như vây, kinh tế xanh là nền kinh tế (i) thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính; (ii) tăng trưởng theo chiều sâu, tiêu hao ít tài nguyên, tăng cường sử dụng tài nguyên tái tạo, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái, và đổi mới công nghệ; (iii) tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng [1]. Kinh tế xanh không chỉ là sự lồng ghép vấn đề môi trường trong phát triển kinh tế, mà nó đề cập đến cả phát triển cân bằng, hài hòa giữa các mục tiêu.

     

     

    • GV. Khoa Quản trị kinh doanh, trừng Đại ḥc Lao động – Xã hội

     

     

    87

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH CỦA VIỆT NAM

     

    Dưới đây sẽ phân tích môi trường kinh tế

     

    • xã hội của Việt Nam (những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức) để nhận định khả năng thành công của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh:

     

    2.1. Thuận lợi

     

    • Bước đầu đã hình thành khung thể chế cho phát triển kinh tế xanh: Aghion, Hemous & Veugelers (2009) cho rằng không thể có tăng trưởng xanh nếu không có cải tiến và sự can thiệp của Chính phủ [4]. Nhà nước và khung khổ pháp luật có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phát triển nền kinh tế xanh. Trong thực tiễn, một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quả đầu ra sẽ khó đạt được nếu không có sự can thiệp của Chính phủ. Chất lượng tăng trưởng của ngành kinh tế sẽ được duy trì trong dài hạn ở một quốc gia hay địa phương có thể chế và quy định minh bạch, rõ ràng, tính thực thi của hệ thống pháp luật cao. Chính phủ Việt Nam thể hiện rõ quan điểm và cam kết của mình trong việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng xanh. Khung thể chế cho phát triển kinh tế xanh đã bước đầu được hình thành từ việc ban hành Luật đến các Chiến lược và Chương trình hành động cụ thể: Tiếp tục định hướng phát triển bền vững; Chiến lược Tăng trưởng xanh; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Chiến lược quốc gia về sản xuất sạch hơn trong công nghiệp; Chương trình phát triển nhiên liệu sinh học; Nội dung các hoạt động thuộc kế hoạch hành động tăng trưởng xanh; Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả.

     

    • Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng khá trong nhiều năm qua: Việt Nam đã trải qua nhiều năm đổi mới, thu được những thành tựu

    kinh tế – xã hội quan trọng. Đặc biệt, sự tăng trưởng công nghiệp liên tục trong những năm qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thế phát triển mới của nền kinh tế.

     

     

    Hình 01: Tăng trưởng c̉a nền kinh tế

     

    Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2005- 2014

     

    Công nghiệp là ngành phát thải nhiều nhất trong các ngành kinh tế, tuy nhiên những năm gần đây, ngành đã phát triển theo chiều hướng công nghiệp khai khoáng tăng thấp hoặc giảm để tiết kiệm tài nguyên, năng lượng. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng nhanh hơn, cùng với việc ngành công nghiệp xử lý nước thải, rác thải và tái chế phế liệu tăng với tốc độ cao (hình 02), phản ánh xu hướng tiến đến một nền công nghiệp sạch hơn và một nền kinh tế xanh trong tương lai.

     

     

    Hình 02: Chỉ số phát trỉn các ngành công nghiệp

     

    Nguồn: Tổng Cục Thống kê 2005-2014

     

    Đã tiếp nhận chuyển giao và phát triển khoa học, công nghệ: Những tiến bộ nhanh chóng vượt bậc của khoa học công nghệ cho phép khai thác và sử dụng tiết kiệm, hợp lý hơn

     

     

    88

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    các nguồn tài nguyên. Đồng thời, công nghệ hiện đại giúp tận dụng nhiều loại tài nguyên trước đây còn bỏ phí trong hoạt động sản xuất công nghiệp, giảm mức tiêu dùng nguyên vật liệu, giảm lượng chất thải vào môi trường. Do đó, khai thác những mặt tích cực của khoa học công nghệ là hướng lựa chọn quan trọng trong phát triển kinh tế xanh.

     

    Hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ có cơ hội thuận lợi trong tiếp nhận chuyển giao và phát triển năng lực khoa học và công nghệ để phát huy các lợi thế của đất nước nhằm phát triển nền kinh tế xanh. Nhiều doanh nghiệp FDI đã mang công nghệ hiện đại vào Việt Nam và nếu Việt Nam có chính sách phù hợp sẽ khiến các tập đoàn này đầu tư công nghệ cao và góp phần nâng cao năng lực công nghệ của đất nước, kết nối với mạng sản xuất toàn cầu. Mặt khác, trình độ công nghệ của Việt Nam đang có sự cải thiện đáng kể nhờ lợi thế của nước đi sau, có thể tiếp thu chọn lọc những thành tựu khoa học và các quy trình công nghệ phù hợp trên thế giới về phát triển kinh tế xanh, tránh lặp lại kịch bản của nhiều nước đi trước.

     

    Nguồn nhân lực đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao: George, Paschalis & Sotiris (2007) cho rằng chất lượng nguồn nhân lực tác động đến tăng trưởng kinh tế và nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò quan trọng hơn cả [5].

     

     

    Hình 03: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo tr̀nh độ chuyên môn kỹ thuật

     

    Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2009-2014

     

    • Việt Nam giai đoạn (2009 – 2014), tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao (hình 03), có khả năng tiếp thu khoa học nhanh, bí quyết công nghệ và kỹ năng quản lý để phát triển thành nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học công nghệ hiện đại. Đây sẽ là nguồn nhân lực chủ yếu của phát triển kinh tế xanh, nếu được tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng hiệu quả, sẽ là động lực tạo đột phá trong phát triển kinh tế xanh.

     

    2.2 Khó khăn

     

     

    Hình 04: Hệ số ICOR t́nh theo vốn đầu tư

     

    Nguồn: T́nh toán c̉a tác giả từ ngùn số liệu c̉a Tổng cục Thống kê

     

    Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp: Những thành tựu phát triển kinh tế của đất nước thời gian qua chủ yếu dựa vào sự đóng góp của nguồn nhân lực chất lượng thấp, vốn và tài nguyên thiên nhiên, do đó, hiệu quả đầu tư thấp (hệ số ICOR rất cao – hình 04). Trong khi đó, Huang & Quibria (2013) cho rằng việc khai thác tài nguyên thiên nhiên làm chậm đáng kể quá trình thực hiện tăng trưởng xanh [8].

     

    89

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 01: Sản lượng khai thác một số loại tài nguyên quan tṛng ở Việt Nam

     

    Đơn vị t́nh: Ngh̀n tấn

     

    TT

    Tài nguyên

    2006

    2007

    2008

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

                         

    1

    Than sạch

    38.778

    42.483

    39.777

    44.078

    44.835

    46.611

    42.083

    41.035

    41.697

                         

    2

    Dầu thô

    16.800

    15.920

    14.904

    16.360

    15.014

    15.185

    16.739

    16.705

    17.392

                         

    3

    Sắt và tinh quặng

    1.372

    1.904,5

    1.972

    1.988

    1.506

    2.435

    2.308,2

    sắt

    4

    Đồng và tinh

     

    46,07

    51,741

    49,04

    47,55

    50,86

     

    48.072

    quặng đồng

    53,35

    5

    Quặng Titan

    437,4

    574,1

    681,6

    631,3

    586,8

    760

    978,3

    1038,3

    929,4

                     

    Như vậy, trong giai đoạn (2006-2014), sản lượng khai thác một số tài nguyên quan trọng của đất nước không ngừng tăng lên (bảng 01). Sự tăng lên khá đều đặn này cũng phản ánh thực tế là tăng trưởng kinh tế của đất nước cho đến nay còn dựa nhiều vào tài nguyên và gắn liền với nó là sức ép ngày càng tăng đối với môi trường (lượng kh́ thải CO2 tăng nhanh hơn nhiều so v́i tăng trưởng GDP trong cùng th̀i kỳ – h̀nh 05).

     

     

     

    Hình 05: Tăng trưởng GDP và các chỉ số tuyệt đối về ô nhiễm không kh́ (1990=1)

     

    Nguồn: UNESCAP và CIEM, 2009

    Nguồn: Tổng cục Thống kê

     

     

    Hình 06: Cừng độ phát thải CO2 so v́i GDP-So sánh Việt Nam v́i một số nức

     

    Nguồn: UNESCAP và CIEM, 2009

     

    Cường độ phát thải CO2 so với GDP của Việt Nam là rất cao (hình 06 ), cao hơn mức trung bình của châu Á. Do đó việc khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên cần được đặt ra như một yêu cầu nghiêm ngặt ngay trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nhằm hướng tới nền kinh tế xanh. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên rất khó cắt giảm tiêu nhiên liệu, nguyên liệu.

     

    Trình độ công nghệ thấp: Thực hiện chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 theo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất liên tục đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng công nghệ hiện đại, ít gây ô nhiễm môi trường và đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung năng lực

     

     

    90

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    công nghệ của các ngành, nghề hiện nay ở Việt Nam còn lạc hậu. Theo thống kê của Bộ Khoa học công nghệ, hiện chỉ có khoảng 5-6% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sử dụng công nghệ tiên tiến, 80% sử dụng công nghệ trung bình, còn lại là các công nghệ lạc hậu [11]. So với các nước khác trong khu vực, cơ cấu công nghiệp của Việt Nam chưa có độ tinh xảo về công nghệ. Tỷ trọng các ngành sử dụng công nghệ trung bình và cao trong tổng giá trị gia tăng của hoạt động chế tạo chỉ khoảng trên 20% và không thay đổi trong những năm gần đây [9]. Chuyển giao công nghệ ít có những biến đổi về trình độ và năng lực công nghệ. Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đầu tư vào Việt Nam ở những ngành, nghề thâm dụng lao động và tài nguyên.

     

    Cơ sở hạ tầng mềm cho kinh tế xanh chưa phát triển: Hạ tầng kiểm soát và quản lý ô nhiễm với công nghệ và phương pháp lạc hậu; vấn đề đo lường quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh cần được đổi mới; đánh giá phát thải khí nhà kính chưa có cơ sở.

     

    2.3. Cơ hội

     

    • Xu hướng quốc tế đang chuyển đổi sang nền kinh tế xanh: Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tăng trưởng xanh hay kinh tế xanh đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia, như một động lực thúc đẩy, phục hồi kinh tế toàn cầu và là công cụ để phát triển bền vững. Tại Châu Á, “diễn đàn khí hậu Đông Á” năm 2009 đã trao đổi về việc thiết lập các chiến lược tăng trưởng xanh của Đông Á; Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Hàn Quốc (2009) cũng bày tỏ sự đồng thuận cao đối với chính sách tăng trưởng xanh mà chính phủ Hàn Quốc đưa ra; Tại Hội nghị cấp cao Á – Âu (ASEM), Việt Nam đã chính thức đề xuất sáng kiến hợp tác Á – Âu về tăng trưởng xanh (2010); Diễn đàn Hợp tác Á – Âu với chủ đề “ Cùng hành động hướng tới các nền kinh tế xanh” (2011) để tìm các cơ chế hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm phát triển xanh giữa các nước; Diễn đàn tăng

    trưởng xanh toàn cầu (2011) tại Đan Mạch với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua cơ chế phối hợp công – tư giữa các chính phủ với khối doanh nghiệp. Rõ ràng, với một mức độ quan tâm cao thể hiện qua một loạt các hội nghị, diễn đàn ở các cấp độ quốc tế khác nhau được tổ chức trong những năm gần đây cho thấy xu hướng nhận thức chung của cộng đồng quốc tế trong quá trình hội nhập hiện nay đều đồng thuận là phải thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế xanh. Do đó, Việt Nam cũng sẽ đón nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nỗ lực chung nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới nền kinh tế xanh. Hơn nữa, thực tế là tăng trưởng xanh ở các quốc gia phát triển như Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc…đã thu được những kết quả rõ ràng trong tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Đồng thời, các sáng kiến được các cơ quan Liên hợp quốc thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh như: Đầu tư công nghệ sạch (WB); Việc làm xanh (ILO); Thị trường công nghệ xanh (WIPO); Tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh (ITU); Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO); Sản xuất sạch hơn và hiệu quả sử dụng tài nguyên (UNEP và UNIDO)… đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp, sẽ là cơ sở, nền tảng cho nền kinh tế Việt Nam theo hướng xanh hóa.

     

    • Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế – xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”. Như vậy, phát triển kinh tế xanh là phù hợp với Chiến lược dài hạn của Việt Nam và định hướng phát triển bền vững nói chung.
    • Việt Nam có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo: Huang & Quibria (2013) cho rằng năng lượng tái tạo tác động tích cực đến

    91

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tăng trưởng xanh [8]. Bởi vì, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo sẽ góp phần giảm lượng phát thải khí nhà kính, làm chậm lại quá trình nóng lên toàn cầu, giúp tăng hiệu suất sử dụng năng lượng đồng thời mở ra cơ hội phát triển mới cho nhiều địa phương. Do đó, việc xem xét, khai thác nguồn năng lượng tái tạo trong giai đoạn tới sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về kinh tế, xã hội, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của Việt Nam ngày một gia tăng, trong khi khả năng cung cấp các nguồn năng lượng truyền thống hạn chế. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng to lớn về năng lượng tái tạo:

     

    • Năng lượng gió: Theo Đề án “ Quy hoạch tiềm năng năng lượng gió để phát điện” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tổng tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió của Việt Nam vào khoảng 1.785 MW [3].

     

    • Năng lượng mặt trời: Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do đó có nguồn năng lượng mặt trời khá dồi dào và thuận tiện cho việc ứng dụng, cường độ bức xạ bình quân năm là 1346,8 – 2153,5 kWh/m2/năm [3].

    2.4. Thách thức

     

    • Nhận thức về kinh tế xanh: Nhận thức về kinh tế xanh là gì và nội hàm của nó bao gồm những nội dung nào còn là vấn đề tranh cãi. Bởi vì, thực tế, các ngành dường như đã đi ngược với những tuyên bố về tăng trưởng xanh, khi mà trong quy hoạch, trong phát triển dựa vào sử dụng năng lượng, nguyên liệu hóa thạch còn nhiều.

    Sản xuất sạch hơn chưa thực sự thành công: Kết quả khảo sát về sản xuất sạch hơn ở Việt Nam của Hợp phần sản xuất sạch hơn trong Công nghiệp (CPI) năm 2015 với 63 sở công thương và 9012 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc thì tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn giảm được tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm mới chỉ là 24%, số này chủ yếu do sự hỗ trợ của dự án, đây là con số quá nhỏ so với số lượng doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam. Năng

     

    lực quản trị doanh nghiệp về môi trường thể hiện qua số lượng các công ty được nhận chứng chỉ ISO 14001 còn quá ít [10].

     

    Huy động vốn cho nền kinh tế xanh gặp nhiều khó khăn: Mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích lũy quốc gia so với các nước phát triển còn quá thấp, điều này ảnh hưởng nhiều đến quá trình chuyển sang nền kinh tế xanh. Bởi vì, theo Huang & Quibria (2013) cho rằng đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ về khoa học, công nghệ tác động tích cực đến tăng trưởng xanh [8]. Để thực hiện phát triển kinh tế xanh Việt Nam cần các khoản đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, đầu tư để phát triển năng lượng tái tạo, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải còn lại. Theo kết quả của UNEP (2011), mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu, nguồn vốn này, nếu huy động từ các nước đang phát triển như Việt Nam là điều không dễ dàng.

     

    Thách thức từ sự hợp tác quốc tế kém hiệu quả: Để giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường, đây không phải là công việc riêng của một địa phương hay quốc gia nào, vì vậy, để xử lý vấn đề có tính thách thức toàn cầu này đòi hỏi sự chung tay hành động của cả thế giới, trong khi đó, sẽ có những quốc gia ít thiện chí khi thực hiện cam kết toàn cầu, nên sẽ phá vỡ mục tiêu chống biến đổi khí hậu và phát triển xanh.

     

    ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ XANH

     

    Qua phân tích thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh, điểm yếu đối với Việt Nam trong phát triển kinh tế xanh, rõ ràng Việt Nam còn nhiều khó khăn và thách thức của nước đang phát triển. Vì vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh khó có thể tiến hành nhanh nếu Việt Nam không có những bước đi đúng đắn trong từng giai đoạn phát triển, cũng như phải có sự chuyển hướng hài hòa nếu không Việt Nam sẽ gặp những vấn đề xã hội do sự chuyển đổi này gây ra. Để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, Việt Nam cần:

     

     

    92

     

    Hướng tới nền kinh tế xanh . . .

     

    3.1 Thiết lập khung khổ thể chế phù hợp: Cơ chế, chính sách được thiết kế phù hợp có thể xác định quyền và tạo động lực định hướng cho hoạt động kinh tế xanh, cũng như loại bỏ rào cản đối với các khoản đầu tư xanh và điều tiết những hành vi thiếu bền vững bằng cách tạo ra các tiêu chuẩn tối thiểu hoặc ngăn cấm hoàn toàn một số hoạt động. Cơ chế, chính sách cần tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện “xanh hóa các ngành truyền thống”, mặc dù việc xanh hóa các ngành truyền thống có vẻ không nhanh chóng và mang tính cách mạng so với sự phát triển của những công nghệ tiên tiến nhất, nhưng với tiềm lực tài chính hiện tại, sự đầu tư vào việc sử dụng hiệu quả năng lượng sẽ đem lại hiệu quả về mặt chi phí-lợi ích. Mặt khác phát triển những ngành kinh tế xanh mới nổi, những ngành công nghệ cao, công nghệ xanh, ngành năng lượng tái tạo… sẽ kích thích tạo ra nền kinh tế cacbon thấp, giảm sử dụng tài nguyên, tăng sản lượng hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt, rà soát, điều chỉnh quy hoạch các ngành sản xuất, hạn chế những ngành kinh tế phát sinh chất thải lớn, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, tạo điều kiện phát triển các ngành sản xuất xanh mới.

     

    3.2. Tập trung đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ xanh, công nghệ hiện đại, công nghệ tiết kiệm tài nguyên:

     

    • Thực hiện chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả: Chuyển giao công nghệ theo hướng là các tập đoàn đa quốc gia cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước những công nghệ mới với nỗ lực nâng cao năng suất trong chuỗi sản xuất; hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo.

     

    • Tập trung đầu tư, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật liệu, năng lượng vào các hoạt động sản xuất thông qua:

     

    + Khởi động các chương trình dự báo thực trạng công nghệ nhằm nâng cao nhận thức về những điểm yếu trong công nghệ của các ngành và tạo sự đồng thuận giữa các ngành, các cơ sở nghiên cứu và bộ máy quản lý về các giải pháp để khắc phục những điểm yếu đó.

     

    • Hình thành và phát triển hệ thống các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, dịch vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển theo hướng xanh (Nghiên cứu, ban hành hệ thống các chỉ số, tiêu chí, tiêu chuẩn về công nghệ xanh…)

     

    • Khuyến khích kết nối giữa các doanh nghiệp và các phòng thí nghiệm R & D, các trường đại học, viện nghiên cứu để ứng dụng kết quả nghiên cứu.
    • Tăng cường đầu tư, trợ cấp cho hoạt động R & D tại các doanh nghiệp

    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ xanh nhằm tạo sự đột phá về công nghệ trong sản xuất đối với những ngành chủ lực, mũi nhọn của quốc gia.

     

    3.3. Tăng cường áp dụng các công cụ tài chính: để tăng nguồn tài chính cho thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xanh. Các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên; thuế môi trường; ký quỹ môi trường; phí phát thải

    • nhiễm. So với công cụ quản lý môi trường truyền thống kiểu mệnh lệnh – kiểm soát, thuế và phí cho phép đạt được mục tiêu giảm thiểu

     

    • nhiễm đề ra một cách linh hoạt hơn và tiết kiệm chi phí hơn cho toàn xã hội. Thuế, lệ phí có thể là cơ chế hiệu quả để thúc đẩy kinh tế xanh phát triển, các loại thuế có thể được đặt ra trên đầu vào sản xuất, quy trình hoặc các sản phẩm để khuyến khích các nhà sản xuất và người tiêu dùng xem xét các chi phí môi trường và xã hội, và tiền thu từ thuế tài nguyên, môi trường này được sử dụng để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, trên thực tế công cụ này đã được sử dụng song chưa hiệu quả, do đó để việc áp dụng thuế và phí tài nguyên, môi trường đạt được hiệu quả cao hơn trong điều kiện Việt Nam hiện nay nên đặt phí, thuế ở một mức thấp trong thời gian đầu, sau đó sẽ tiếp tục tăng lên cho tới khi mức độ ô nhiễm giảm tới điểm các doanh nghiệp, các cơ sở kiểm soát được mức độ ô nhiễm.

    Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập mạnh mẽ hiện nay, Việt Nam cần:

     

     

    93

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Tăng cường quản trị quốc tế thông qua việc tham gia các hiệp định đa phương về môi trường để thiết lập khuôn khổ pháp lý và thể chế giải quyết những thách thức môi trường toàn cầu; tham gia vào hệ thống giao dịch quốc tế, đàm phán quốc tế về kinh tế xanh giúp thúc đẩy sự gắn kết và hợp tác trong quá trình xanh hóa các nền kinh tế.

     

    • Tiếp tục nghiên cứu, học tập và hoàn thiện cách thức tiến hành kinh tế xanh của các quốc gia phát triển đã xây dựng nền kinh tế xanh như Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc…để có bước đi và cách tiến hành phù hợp trong điều kiện của Việt Nam.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn Xuân Trung (2012), Kinh tế xanh trong đổi ḿi mô h̀nh tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn t́i, tham luận tại hội thảo diễn đàn kinh tế mùa xuân 2012, tại địa chỉ website: na.gov.vn/htx/Vietnamese/C2136/default. asp?Newid=59968

     

    • Thủ Tướng Chính Phủ (2012), Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/09/2012 về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Hà Nội.

     

    • Lê Thành Văn, Nguyễn Thị Thu Trang (2012), “Tổng quan ngành công nghiệp cacbon thấp trên thế gíi, tiềm năng tại Việt Nam” (Kỳ 1; kỳ 2), tại địa chỉ website: htp://

    nangluongvietnam.vn/news/vn/an-ninh-nang-luong-va-moi-truong/tong-quan-nganh-cong-nghiep-cacbon-thap-tren-the-

     

    gioi-iem-nang-tai-viet-nam-%28ky-1%29.html

     

    • Aghion, Philippe and Hemous, David and Veugelers, Reinhilde, (2009) “No green growth without innovation”, Bruegel Policy Brief 2009/07, available at https://lirias. kuleuven.be/bitstream/123456789/269700/2/ pb_climatervpa_231109_01.pdf

     

    • George Petrakos and Sotiris Pavleas
    • Chú trọng tiếp cận những kiến thức xanh và công nghệ xanh của cộng đồng khoa học thế giới.
    • Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính cũng như kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế cho các khu vực kinh tế xanh. Đặc biệt, là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển Kinh tế xanh.

    Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là sự khẳng định thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Mặc dù có những trở ngại nhất định, nhưng nếu có những giải pháp thích hợp bằng nội lực của quốc gia, cũng như thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm, sự hỗ trợ quốc tế, Việt Nam có thể xây dựng thành công nền kinh tế xanh để hội nhập quốc tế.

     

    (2007), Determinants of economic growth: the experts’ view, available at http://www.prd.uth. gr/uploads/discussion_papers/2007/uth-prd-dp-2007-10_en.pdf .

    • UNEP (2011), Towards a Green Economy: Pathways to sustainable Development and Poverty Eradicaton (A Synthesis for Policy Makers), available at: ipu.org/splz-e/ rio+20/rpt-unep.pdf.

     

    • UNEP (2011b), Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication, available at:

    www.unep.org/greeneconomy/2011/Green%20 EconomyReport_Final_Dec2011.pdf.

     

    • Yongfu Huang and M.G. Quibria (2013), “Green growth: theory and evidence”, Working Paper No.2013/056, available at: eadi.org/publications/_growth/_green…/ details_46265.

     

    • UNIDO (2012), Báo cáo năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam 2011

    [10].htpp://sxsh.vn/vi-VN/Home/ tongquansanxuatsachhon-14/2011/San-xuat-sach-hon-tren-toan-quoc-874.aspx

     

    [11].htp://kinhdoanh.vnexpress.net/in-tuc/doanh-nghiep/doanh-nghiep-cong-nghe-cao-chi-dem-tren-dau-ngon-tay-2752206.html

     

     

    94


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%C3%A0m-%C3%BD-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-v%E1%BB%81-chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-kinh-t%E1%BA%BF-sinh-th%C3%A1i-v%C3%A0-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-trong-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-n%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-kinh-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-tri%E1%BB%83n-khai-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-legato.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Original Article

     

    Policy Implications on Socio Ecological and Economic Tranformation in Vietnam’s Agriculture: Experiences from Legato Project

     

    Dao Thanh Truong*, Nguyen Thi Quynh Anh

     

    VNU University of Social Sciences and Humanities,

     

    336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

     

    Received 06 May 2019

    Revised 17 June 2019; Accepted 17 June 2019

     

    Abstract: As one of the leading countries in rice export, Vietnam has always focused on investing and developing clean and green agriculture with the aim of sustainable development. In addition to traditional farming methods, farmers have gradually approached modern technologies and methods of large-scale goods production. The inter-regional nature between production and agriculture and interdisciplinary interactions between agriculture and services has become increasingly common in Vietnam’s major rice production areas such as the Red River Delta and the Mekong Delta. This paper focuses on analyzing the socio-economic-ecological transformation in rice production of Vietnam, adopting the experience of ecological technology application under the framework of the LEGATO project – an interdisciplinary project participated by the Institute of Policy and Management for the period 2011-2016. The results of the project affirmed the importance of combining different research approaches in considering the socio-economic-ecological impacts in ecological technology development of agricultural production in Vietnam

     

    Keywords: Social, ecological and economic transformation, policy, sustainable development, interdisciplinary approach, stakeholders.*

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

    26

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội trong sản xuất nông nghiệp: kinh nghiệm từ triển khai dự án legato

     

    Đào Thanh Trường*, Nguyễn Thị Quỳnh Anh

     

    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN,

     

    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 06 tháng 5 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 17 tháng 6 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Là một trong những quốc gia đứng đầu trong việc xuất khẩu gạo, Việt Nam luôn chú trọng việc đầu tư và phát triển nông nghiệp xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh phương thức canh tác truyền thống, người nông dân đã tiếp cận dần với các công nghệ hiện đại và phương thức sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Tính liên vùng trong sản xuất và nông nghiệp và liên ngành giữa nông nghiệp và dịch vụ được khai thác ngày càng phổ biến tại các trung tâm sản xuất lúa gạo lớn của Việt Nam như Khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề chuyển đổi kinh tế – xã hội – sinh thái của Việt Nam trong sản xuất lúa nước từ kinh nghiệm áp dụng công nghệ sinh thái trong khuôn khổ dự án LEGATO – một dự án liên ngành do Viện Chính sách và Quản lý tham gia triển khai trong giai đoạn 2011-2016. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp những tiếp cận nghiên cứu khác nhau trong việc xem xét những tác động kinh tế – xã hội – sinh thái trong phát triển công nghệ sinh thái trong hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam và những hàm ý chính sách cho quá trình phát triển nông nghiệp hiện nay.

     

    Từ khóa: Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội, chính sách, phát triển bền vững, tiếp cận liên ngành, các bên liên quan.

     

    Đặt vấn đề*

     

    Khái niệm “Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái” được hình thành trong lòng cuộc đối thoại về những giá trị của quan điểm phát triển

     

    ________

    *Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4181

     

    bền vững trước đây đặt ra. Trong đó khái niệm Chuyển đổi (Transformation) được đưa ra trong cuộc thảo luận về “Những chuyển đổi lớn”

     

    (Great Transformation)1 do Polanyi2 đưa ra năm 1995. Theo nghiên cứu của Phillip Degenhardt

     

    • Có tác giả dịch là Cuộc Đại biến chuyển.

    2Nhà văn và giáo sư gốc Hungary, đã sống ở Trung Âu và Anh trước khi di cư sang Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến

     

    27

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    (2016), Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái là một quan điểm đóng góp của Cánh tả cho cuộc thảo luận về học thuyết Degrowth (tạm dịch: Giảm phát triển) [1]. Trong đó, ngành năng lượng, ngành giao thông, nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp và các tổ hợp công nghiệp quân sự là những yếu tố tác động mạnh mẽ và tào ra những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái

     

    – xã hội của nhiều quốc gia hiện nay. Chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội liên quan đến việc đánh giá và tổ chức lại khung chính sách, các mô hình sản xuất và tiêu dùng mới hiện nay nhằm hạn chế các tác động âm tính của tăng trưởng và phát triển kinh tế đến sinh thái, xã hội, hướng đến một xã hội tương lai bền vững. Có thể thấy rằng, xu hướng định hình từ phát triển bền vững tới chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội đang xuất hiện ngày càng phổ biến ở các nước phát triển. Đây là sự định hình lại các hình thức liên kết giữa các yếu tố kinh tế – xã hội – sinh thái trong chiến lược phát triển, xem xét tác động của các hoạt động kinh tế với xã hội sinh thái hiện nay và giải pháp khắc phục, đảm bảo tính cân bằng, ổn định giữa các thành tố phát triển này. Từ phương diện chính sách, các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội cần được xem xét và áp dụng vào quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách.

     

    Theo nghiên cứu của Joachim Spangenberg (2019), Việt Nam đang phải đối mặt với những biến chuyển có tương tác với nhau và hàm ý mà chúng mang lại, từ một múc thu nhập thấp đến trung bình và từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp hóa, từ phân bổ dân cư nông thôn sang đô thị hóa, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và từ trạng thái ổn định sang khí hậu thay đổi nhanh chóng (tần suất và cường độ bão tăng, mực nước biển dâng cao, mất đa dạng sinh học,

     

    • nhiễm môi trường), nổi cộm trên những vấn đề môi trường phức tạp hiện nay. Bối cảnh này đòi hỏi cần có sự nhìn nhận lại về các trọng tâm phát triển. Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trụ cột kinh tế vẫn là hướng mục tiêu

    ________

     

    3 Land-use intensity and Ecological Engineering – Assessment Tools for risks and Opportunities in irrigated rice based production systems.

     

    được tập trung hơn các trụ cột khác. Chính vì vậy, từ phát triển bền vững dịch chuyển sang triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một yêu cầu khách quan và cần được áp dụng trong quá trình phát triển đất nước. Trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam, sự giao thoa giữa nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp chuyên môn hóa; giữa nông nghiệp với các ngành khác đã tạo nên những chuyển đổi kinh tế

     

    • sinh thái – xã hội mạnh mẽ trong những năm gần đây. Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu liên ngành trong phát triển nông nghiệp theo triết lý chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội.

    Dự án Kỹ thuật Thâm canh và Công nghệ Sinh thái – Công cụ đánh giá rủi ro và Cơ hội của

     

    hệ thống sản xuất lúa nước tưới3 (sau đây gọi tắt là LEGATO) là một dự án dự trên tiếp cận liên bộ môn (inter-disciplinary approach), liên ngành (inter- sectorial approach) được Viện Chính sách và Quản lý triển khai trong thời gian từ 2011-2016.

     

    Mục tiêu tổng quát của dự án là xây dựng những quy trình ứng dụng thực hiện “công nghệ sinh thái” –bao gồm thiết kế, điều tra, theo dõi và cấu trúc của các hệ sinh thái. Đồng thời, dự án còn thực hiện việc định lượng sự phụ thuộc của các chức năng của hệ sinh thái và các dịch vụ tạo ra trong hệ thống nông nghiệp trong ba khu vực ở Đông Nam Á: Malaysia (Đề án thủy lợi Muda), Việt Nam (tỉnh Tiền Giang ở ĐBSCL và thung lũng sông Hồng từ khu vực miền núi Tây Bắc đến đồng bằng) và Philippines (Trung Luzon từ Banaue đến Cabanatuan).

     

    Cơ sở hoạt động của LEGATO là hướng dẫn phát triển chức năng sinh thái (ecosystem functions) và dịch vụ sinh thái (ecosystem services) phù hợp điều kiện văn hóa – xã hội và tự nhiên tại địa phương, nhằm giúp nông dân tại khu vực Nam và Đông Nam Á xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững, có khả năng thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu gây ra. LEGATO sẽ phân tích tiềm năng của “công nghệ

     

    sinh thái”4 và thử nghiệm khả năng áp dụng và

     

    • Công nghệ sinh thái hướng đến tính bền vững trong phát triển nông nghiệp. Nền nông nghiệp sinh thái cung cấp cho con người một không gian sản xuất lành mạnh, sản phẩm nông nghiệp sạch và một môi trường tự nhiên ổn định. Áp

     

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    29

    chuyển giao tại địa bàn nghiên cứu. Bước tiếp theo là hợp tác với cơ quan Nông nghiệp và Khuyến nông địa phương để chuyển giao cho người dân triển khai trên quy mô rộng hơn. Việc thực hiện có hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo công nghệ sinh thái tạo được sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng. Mô hình ứng dụng công nghệ sinh thái trong trồng lúa giúp bà con nông dân trồng lúa giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, bảo vệ sức khỏe và môi trường sống tốt hơn.

     

    LEGATO là một dự án mà hiển thị các xu hướng hợp tác của các nhà khoa học giữa các quốc gia khác nhau trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có 7 quốc gia và gần 100 nhà khoa học từ các lĩnh vực như xã hội học, sinh học, địa lý học, sinh thái học, kinh tế học, nhân học v.v. Để đánh giá tính khả thi của việc áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và hệ sinh thái quanh đồng ruộng, mà còn phân tích các đặc trưng văn hóa của phương thức canh tác nông nghiệp, những tác động của chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đến canh tác nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu. Các nghiên cứu phân tích sự kết hợp giữa nông nghiệp – dịch vụ trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh gắn với các giá trị truyền thống của sản xuất nông nghiệp tại các địa bàn nghiên cứu, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

     

    • Phạm vi: Tại Việt Nam, địa bàn nghiên cứu bao gồm: Trung Chải, Sapa (Lào Cai) và xã Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương). Kết quả khảo sát cho thấy, Tuấn Hưng và Cộng Hòa (Hải Dương) là hai địa bàn được chọn để áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa).

     

    • Phương pháp tiếp cận
    • Tiếp cận phân tích vai trò của các bên liên quan (stakeholders)

    Để đảm bảo tính khách quan và sự tham gia của nhiều đối tượng trong hoạt động của dự án,

     

    ________

     

    dụng công nghệ sinh thái trong sản xuất nông nghiệp là biện pháp tiến bộ được rất nhiều các quốc gia áp dụng, với mong muốn điều chỉnh việc khai thác sử dụng đất trồng lúa, hạn chế các biện pháp khai thác làm suy thoái tài nguyên đất nói

     

    các nhóm bên liên quan được xác định là đối tượng cung cấp các thông tin đầu vào trong các nghiên cứu ban đầu khảo sát thực trạng của các hoạt động kinh tế – xã hội – sinh thái liên quan đến dự án, vừa tham gia thực hiện và đánh giá các hoạt động này. Sự khác biệt trong quan điểm của các bên liên quan là gợi ý để các nhà nghiên cứu phát hiện các vấn đề nghiên cứu. Phân loại các bên liên quan căn cứ theo ảnh hưởng và lợi ích từ dự án với các hình thức: Tham dự, Thông tin, Hợp tác và Tư vấn.

     

    Dự án đã triển khai các cuộc phỏng vấn tại tất cả các khu vực của dự án LEGATO, tức là ở ba tỉnh ở Philippines (Laguna, Nueva, Ecija và Ifugao), và tại bốn tỉnh ở Việt Nam (Tiền Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc và Lào Cai), và các bên liên quan tại Hà Nội và Manila (các bên liên quan cá nhân phỏng vấn). Từ năm 2011 đến 2016, đã có hơn 150 cuộc phỏng vấn cá nhân và hơn 20 cuộc phỏng vấn nhóm được thực hiện, với khoảng 400 người tham gia (với các bên liên quan như bảng dưới đây).

     

    STT       Nhóm các bên liên quan

     

    • Người nông dân và gia đình của họ
    • Các đơn vị hành chính: cán bộ nông nghiệp, cán bộ khuyến nông
    • Các đại lý chuỗi sản xuất gạo: trung gian và thương nhân (sấy khô, làm sạch và tiếp thị sản phẩm)
    • Quản trị cấp cao hơn: cán bộ nông nghiệp cấp tỉnh, quản lý nông nghiệp
    • Doanh nghiệp nhỏ địa phương (taxi, cho thuê xe, nhà hàng, khách sạn)
    • Các doanh nghiệp lớn hơn tại địa phương, các công ty con của các tổ chức hoặc doanh nghiệp quốc gia, Ban quản lý địa phương, du lịch
    • Chính quyền cấp tỉnh và quốc gia

    riêng và đảm bảo việc thực hiện được nguyên tắc của một nền nông nghiệp sinh thái. Bên cạnh đó, áp dụng công nghệ sinh thái cũng góp phần tăng cường chức năng của hệ sinh thái và sự phát triển của dịch vụ sinh thái.

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    Giai đoạn 1: Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trong giai đoạn đầu của dự án để xác định các địa điểm phù hợp nhất cho các khu vực dự án. Mục đích chính của tất cả các cuộc phỏng vấn ban đầu là hiểu rõ hơn vị trí của người được phỏng vấn và xác định mức độ quan tâm tương ứng của họ.

     

    Giai đoạn 2: Các cuộc phỏng vấn tập trung vào các đặc điểm về kinh tế xã hội và văn hóa xã hội, tình hình sử dụng đất và bối cảnh, quan điểm cuộc sống của họ với sự phát triển của khu vực như được quan sát và mong đợi, các vấn đề văn hóa liên quan, các kỳ vọng về thay đổi phương thức canh tác và nâng cao thu nhập. Các cuộc phỏng vấn này được tổ chức riêng biệt theo giới tính (nhóm nam, nhóm nữ).

     

    Giai đoạn 3: Phỏng vấn về đánh giá lộ trình áp dụng, kết quả và tác động của việc áp dụng CNST và kỳ vọng. Người tham gia phỏng vấn phải được đáp ứng hai điều kiện: những người được phỏng vấn được chọn phải đại diện cho khu vực và thủ tục phỏng vấn phải được chuẩn hóa.

     

    • Tiếp cận chính sách

    Để đánh giá khả năng và điều kiện áp dụng công nghệ sinh thái, nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up) với các nhóm liên quan, đặc biệt là với nhóm thụ hưởng (người dân).

     

    Tiếp cận từ trên xuống (Top-down) được xây dựng trên cơ sở một mạng lưới các đối tác là các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu của dự án là Sapa và Hải Dương (bao gồm Sở Văn hóa Thể thao Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Bảo vệ thực vật, Trung tâm phát triển Văn hóa của địa phương v.v.). Tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up): người dân được hỏi về hiệu quả của các chính sách phát triển trước khi áp dụng công nghệ sinh thái (nhóm dự kiến áp dụng và nhóm không áp dụng), quan điểm và đánh giá của họ về những chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội trong sản xuất nông nghiệp. Cách tiếp cận này giúp đối chiếu và tìm kiếm các vấn đề xung đột quan điểm và khoảng trống giữa

     

    nhận thức và hành động của người làm chính sách và đối tượng thụ hưởng.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, điều tra bảng hỏi, thực nghiệm mô hình công nghệ sinh thái.

     

    Kết quả và thảo luận

     

    2.1. Những vấn đề chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong hoạt động canh tác và sản xuất lúa của Sapa và Hải Dương

     

    2.1.1. Sự thiếu hụt của nhân lực trong sản xuất nông nghiệp

     

    Nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chiếm tỉ trọng cao trong tổng số lao động tại Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2018 Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực khu vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản ước tính là 20,9 triệu người, chiếm 38,6% (giảm 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Công nghiệp và xây dựng là 14,4 triệu người, chiếm 26,7% (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực Dịch vụ là 18,7 triệu người, chiếm 34,7% (tăng 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước) [3]. Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nguồn nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, lao động nông nghiệp bị thu hút bởi các ngành hoạt động sản xuất và dịch vụ. Theo kết quả nghiên cứu của dự án LEGATO, xu hướng này được thể hiện rõ tại hai địa bàn chính là Sapa và Hải Dương:

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển đổi sang làm ngành dịch vụ

    Tại Sapa, Dự án LEGATO khảo sát đặc điểm phương thức canh tác trên ruộng bậc thang tại các địa điểm: Trung Chải, Tả Văn, v.v. và hoạt động liên quan khác như việc sử dụng và quản lý đất nông nghiệp, sự phát triển của du lịch sinh thái tại các địa bàn này. Tại Sapa, trên địa hình cao và dốc, lại chịu tác động mạnh mẽ của thời tiết khắc nghiệt, của biến đổi khí hậu, nông dân địa phương chỉ có thể canh tác 1 vụ lúa trong

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    31

    năm từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm, kết hợp trồng thêm ngô, thảo quả và rau, chủ yếu vẫn sử dụng phương thức sản xuất theo kinh nghiệm truyền lại của ông cha và phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện tự nhiên. Người dân mở rộng diện

     

    tích ruộng bậc thang theo kinh nghiệm, gần các khu vực có nhiều nước và sử dụng các ông nứa, ống tre ghép thành các hệ thống dẫn nước thô sơ cho ruộng của họ.[4]

     

     

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2011.

     

     

    Bên cạnh những khó khăn về điều kiện khí hậu, nguồn nước, sự suy giảm của tài nguyên rừng cũng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Trước kia, nông dân ở Sapa trồng giống lúa địa phương, hiện nay, người dân chủ yếu trồng lúa lai bên cạnh các giống lúa truyền thống như Sén Cù, Khẩu Nậm Sít, Bắc Thơm, Tàu Bay. Sản xuất Nông nghiệp, đặc biệt là việc canh tác lúa trên ruộng bậc thang tại Sapa chủ yếu phụ thuộc điều kiện tự nhiên, canh tác trên địa hình cao và phức tạp, hệ thống thủy lợi chưa phát triển, trong mùa khô, ruộng không đủ nước; nguồn nước chủ yếu sử dụng ở khu vực ruộng bậc thang là nước suối, nước ngầm, v.v. Tại Sapa tập quán du canh du cư vẫn tồn tại, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quá trình thoái hóa đất. Chính vì vậy, lúa canh tác chủ yếu chỉ đủ cung cấp cho người dân địa phương, một số ít loại gạo đặc sản được cung cấp theo nhu cầu của các cơ sở dịch vụ du lịch tại thị trấn Sapa. Các dịch vụ về nông nghiệp chậm phát triển như: Cung ứng giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, công nghệ sơ chế bảo quản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được với

    nhu cầu của phát triển sản xuất. Chính vì thế, năng suất lúa thấp, mất mùa không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của người dân địa phương.

     

    Theo kết quả phỏng vấn nhóm nông dân là nữ, thời gian canh tác lúa giảm đi do người dân bán các sản phẩm thổ cẩm, trang sức bạc, v.v. cho các du khách đến du lịch. Nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình là từ hoạt động bán sản phẩm cho khách du lịch. 90% gia đình được phỏng vấn cho biết con cái họ đều tham gia bán sản phẩm du lịch (độ tuổi trung bình từ 6-12 tuổi). Trong khi nhóm nam (độ tuổi 30-45 tuổi) cho rằng họ tiếp tục sản xuất do canh tác và đất đai được truyền lại từ thế hệ trước và cũng để đảm bảo nguồn lương thực phục vụ cho hộ gia đình duy trì cuộc sống hàng ngày. Theo kết quả phỏng vấn sâu con cái của các hộ gia đình, 98% con cái của họ (độ tuổi từ 15 tuổi) đều mong muốn chọn lựa công việc khác. Công việc nông nghiệp được người dân mô tả là “vất vả, thu nhập thấp, không ổn định và không có tương lai”.

     

    Như vậy, xu hướng chuyển đổi lao động nông nghiệp (trồng lúa trên ruộng bậc thang) tại Sapa, Lào Cai chủ yếu tập trung vào quá trình

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    giảm tỷ lệ lao động tham gia sản xuất nông nghiệp sang ngành dịch vụ, du lịch. Xu hướng này tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây do tốc độ phát triển và chiến lược phát triển du lịch của địa phương. Mặc dù, sản xuất công nghiệp tại Lào Cai cũng phát huy hiệu quả những tiềm năng, lợi thế về khai thác chế biến khoáng sản, đầu tư phát triển thuỷ điện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản. Nhiều dự án, nhà máy lớn chế biến sâu khoáng sản của địa phương: Apatit, sắt, đồng… đi vào hoạt động. Song chủ yếu là do lao động từ các tỉnh khác đến phục vụ quá trình khai thác và sản xuất công nghiệp.

     

    Khi chuyển sang giai đoạn hai về phỏng vấn người dân về việc áp dụng công nghệ sinh thái (mô hình ruộng lúa bờ hoa) trong sản xuất lúa tại các hộ gia đình. Kết quả dự án cho thấy, 89% số lao động được hỏi cho rằng họ tin tưởng vào tác động của việc áp dụng công nghệ (do Nhà khoa học cung cấp). Tuy nhiên, người dân lo sợ không sử dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp có thể ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp (trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt) và mất thời gian. Vì vậy, việc áp dụng CNST cần phải có hỗ trợ giống, kinh phí và kỹ thuật, tính phương án đền bù nếu áp dụng mô hình không thành công. Số người dân được phỏng vấn còn lại cho rằng áp dụng công nghệ sinh thái là không khả thi và không hiệu quả, đặc biệt khi áp dụng với mô hình sản xuất trên ruộng bậc thang. Người dân không muốn áp dụng kể cả trong điều kiện có sự hỗ trợ. Tại địa bàn phỏng vấn, rất ít hộ nông dân chọn đáp án sản xuất nông nghiệp để phục vụ hoạt động dịch vụ du lịch như mô hình của Banaeu, Phillipines (trồng lúa trên ruộng bậc thang để tạo cảnh quan du lịch, thiết kế tour du lịch sinh thái với các đại lý du lịch). Khi được hỏi kỳ vọng về sản xuất kinh tế của gia đình, người dân cho rằng sẽ tiếp tục tham gia hoạt động bán hàng và các dịch vụ du lịch để có

     

    ________

     

    5 Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam với diện tích 1656,0 km². Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên phù hợp với việc trồng

     

    thu nhập, nếu gặp thiên tai và không sản xuất đủ lúa sẽ mua gạo tại các chợ gần thị trấn.

     

    • Lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển sang lĩnh vực công nghiệp

    Tại Hải Dương5, với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, Hải Dương đã và đang phát triển các khu vực chuyên canh sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn cung cấp số lượng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa phục vụ các khu vực lân cận và xuất khẩu. Khác với Sapa, Hải Dương có nhiều điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp, và trở thành một trong những tỉnh có sản lượng gạo cao tại Việt Nam. Tại Hải Dương, có 126,000 ha diện tích lúa trồng. Năng suất trung bình là khoảng 6 tấn /ha /vụ, diện tích trung bình khoảng 400-500m2 người.

     

    Tài nguyên đất của Hải Dương khá phong phú và đa dạng, bao gồm đất phù sa và feralit, trong đó đất phù sa chiếm 148.929 ha với 2 loại chính là: đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Thanh Hà, Kinh Môn) và phù sa không được bồi đắp hằng năm (Nam Sách, Gia Lộc, Cẩm Giàng, v.v.) thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Tại Hải Dương, người dân sản xuất 2 vụ mỗi năm, Vụ Đông Xuân bắt đầu vào tháng Hai và kết thúc với việc thu hoạch tháng năm hoặc tháng 6, vụ Hè Thu kết thúc vào tháng 10. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm lúa gạo của Hải Dương bao gồm thị trường trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh). Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Một số sản phẩm dễ trồng nhưng hiệu quả kinh tế không cao, chẳng hạn như ngô, đậu tương, trên bàn tay khác, người nông dân không sẵn sàng đầu tư vào trồng một số cây có giá trị mà yêu cầu chăm sóc khó khăn hơn trong một thời gian dài. Sản xuất nông nghiệp đem lại nguồn thu thấp do chi phí đầu tư cho các khâu sản xuất là khá cao, trong khi chuyển đổi nghề nghiệp sang làm việc tại các khu công nghiệp có

     

    cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    33

    thu nhập cao, ổn định hơn. Bên cạnh đó, theo đánh giá của cán bộ quản lý nông nghiệp, diện tích canh tác lúa tăng giảm không ổn định do Hải Dương nằm trong xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất chuyên dụng và đất thổ cư. Đây là một tác nhân dẫn đến việc địa phương tăng cường ban hành các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung của địa phương, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phục vụ các dự án, các KCN.

     

    Tính đến giai đoạn 2016-2017, Hải Dương có 10 KCN đã được thành lập, đang đi vào hoạt động và thực hiện xây dựng đầu tư cơ sở hạ tầng với tổng diện tích theo quy hoạch chi tiết là 1.732 ha, trong đó có 07 KCN đã cơ bản hoàn thành đầu tư xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật trong các KCN; có 219 dự án đầu tư trong các KCN còn hiệu lực đến từ 29 quốc gia và vùng lãnh thổ; có trên 163 dự án đã triển khai và đang hoạt động sản xuất kinh doanh; tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 63,6%; thu hút gần 8 vạn lao động làm việc trong các KCN [5]. Cho đến nay, việc phát triển các KCN cũng diễn ra mạnh mẽ, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng mạnh (đặc biệt là các ngành sản xuất cao su, điện tử, sản phẩm quang học, sản xuất thiết bị điện, công nghệ chế biến khác…).

     

    Kết quả phỏng vấn cho thấy, độ tuổi lao động trong sản xuất lúa trung bình là 40-45 tuổi và có xu hướng già hóa do lực lượng lao động trẻ tìm công việc tại các khu Công nghiệp. Mặc dù có điều kiện thuận lợi song các hộ nông dân đều cho rằng sản xuất nông nghiệp không mang lại điều kiện thu nhập cao kể cả khi các nông sản này được thu mua với quy mô lớn. Đặc điểm canh tác từ 2-3 vụ một năm chiếm một tỷ trọng lớn thời gian lao động trong năm trong khi thu nhập không cao, khiến lao động trẻ không còn mặn mà trong sản xuất nông nghiệp. Trong canh tác nông nghiệp xuất hiện phương thức thuê khoán các quy trình, sản xuất nông nghiệp trong hộ gia đình từ sản xuất phục vụ thu mua sang thuê sản xuất để phục vụ nhu cầu sử dụng của gia đình. Thậm chí, kinh phí thuê nhân công tham gia các hoạt động canh tác (gieo mạ, phun thuốc trừ sâu, gặt v.v.) tương đương với giá trị sản phẩm nông

     

    nghiệp sau khi thu hoạch, nhiều hộ gia đình vẫn chấp nhận do có thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác. Khi được hỏi về việc áp dụng công nghệ sinh thái trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, 98% các hộ gia đình cho rằng đây là biện pháp có hiệu quả để giúp cải thiện năng lực cho người dân trong sản xuất lúa (do kết quả từ chuyển giao công nghệ). Khi hỏi về điều kiện triển khai, người dân chủ yếu quan tâm đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

     

    Trong năm 2015-2016, dự án đã triển khai hoạt động áp dụng công nghệ sinh thái tại một số địa bàn nghiên cứu, tuy nhiên kết quả cho thấy, người dân chỉ áp dụng được trong năm đầu tiên. Do chính sách dồn điền đổi thửa còn gặp nhiều bất cập, diện tích sản xuất lúa của các hộ gia đình vẫn chưa tập trung mà bị phân cắt tại nhiều khu vực, diện tích áp dụng CNST chỉ trong quy mô thực nghiệm tại 05 hộ gia đình tại Kim Thành, Hải Dương. Sau 1 năm triển khai, do ảnh hưởng của việc tăng cường phát triển hạ tầng cho nông thôn mới và tăng cường cơ sở hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp, diện tích áp dụng giảm đi nhanh chóng. Nguyên nhân xác định chủ yếu do lực lượng lao động tại các hộ tìm được việc làm tại các KCN nên giảm quy mô canh tác. Trong khi tại Tiền Giang, địa phương áp dụng CNST theo mô hình ruộng lúa bờ hoa được người dân tiếp nhận và triển khai trên quy mô lớn.

     

    Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực của địa phương, mà còn tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân ở các địa bàn khảo sát Sapa và Hải Dương. Trước các mục tiêu phát triển kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ. Nhân lực nông nghiệp không chỉ muốn chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp mà còn không quan tâm đến những tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường sinh thái xung quanh hoạt động sản xuất nông nghiệp khi sử dụng các chất hóa học trong canh tác. Điều này đã và đang đặt ra những vấn đề kinh tế – xã hội và sinh thái quan trọng của địa phương: tình trạng thiếu hụt lao động, tình trạng ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, v.v. Áp dụng công nghệ sinh thái trong canh tác lúa không chỉ

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    nhằm thúc đẩy nông nghiệp bền vững, mà còn tạo ra các tác động thu hút nhân lực nông nghiệp quay trở lại làm việc và tăng thu nhập từ các sản phẩm nông sản sạch và chất lượng, đem lại giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, gắn các giá trị của sản xuất nông nghiệp với các khu vực dịch vụ có thể tạo ra các sản phẩm du lịch dịch vụ mang bản sắc truyền thống, thu hút du khách nước ngoài đến Việt Nam.

     

    2.1.2. Thay đổi cảnh quan sinh thái trong canh tác lúa nước tại Sapa và Hải Dương

     

    • Sự suy giảm/mất đi các cảnh quan nông nghiệp do việc suy thoái tài nguyên đất và tình trạng ô nhiễm môi trường do việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp.

    Phân hóa học được sử dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở Hải Dương và Sapa, nhằm gia tăng năng suất cây trồng. Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, có thể kể phân đạm, phân lân và phân kali. Bên cạnh việc sử dụng phân hóa học, nông dân tại 2 địa bàn nghiên cứu còn sử dụng các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp như Thuốc trừ sâu (insectides) và Thuốc trừ cỏ (herbicides). Mặc dù, nông dân kết hợp phân chuồng với phân bón hóa học trong trồng lúa song hầu hết trong số họ nói rằng việc sử dụng hiệu quả phân bón hóa học mang lại hiệu quả một cách nhanh chóng hơn so với phân bón từ động vật.

     

    Khi được phỏng vấn về cách thức sử dụng phân bón, thuốc diệt cỏ và một số loại thuốc trừ sâu, người nông dân chia sẻ:

     

    • Về nguồn gốc: chủ yếu mua tại các cửa hàng bán gần nhà hoặc ra các trạm bảo vệ thực vật mua, thấy dùng loại thuốc nào hiệu quả sẽ dùng tiếp. Loại thuốc sử dụng do người bán hàng giới thiệu hoặc do những người khác dùng hiệu quả giới thiệu dùng để diệt sâu hại.
    • Về mức độ sử dụng: khi thấy có sâu hại hoặc khi thấy sâu hại xuất hiện tại các ruộng cạnh bên.
    • Thói quen sử dụng: Về cơ bản, kiến thức về sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón của người dân ở Sapa hạn chế hơn so với mặt bằng dân trí tại Hải Dương, do sự bất đồng về mặt ngôn ngữ. Song liều lượng cách thức sử

    dụng của người dân với cá loại thuốc bảo vệ thực vật còn chưa hợp lý, không được sử hướng dẫn cụ thể của cán bộ nông nghiệp. Nông dân cũng không biết nhiều về cách áp dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ họ thường mua chúng một cách bừa bãi mà không có hướng dẫn trong các cửa hàng nhỏ xung quanh khu vực của họ. Đó không chỉ là vấn đề nghiêm trọng của việc trồng lúa ở vùng đất thấp, mà còn hiện tượng phổ biến trong lĩnh vực ruộng bậc thang ở miền núi.

     

    • Tác động: Việc các vỏ thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi trên các khu vực quanh ruộng, đất ruộng bị thoái hóa, ô nhiễm chất đất… Sự phân hủy của túi Nilon chứa thuốc bảo vệ thực vật rất lâu, hóa chất có thể gây độc hại cho gia súc thậm chí con người.

    Như vậy, tại Sapa và Hải Dương, kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ, kết hợp với việc ngưng quay vòng của chất hữu cơ trong đất trồng, tạo nên nguy cơ về sự thoái hóa đất. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. Việc sử dụng bừa bãi, lạm dụng phân bón không chỉ làm mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp, dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp, phun xịt thuốc trừ sâu có thể làm chết các sinh vật sống trong môi trường ruộng lúa. Nghiêm trọng hơn là sử dụng các chất hóa học gây ra những tác hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.

     

    • Chất thải công nghiệp – hệ quả của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

    Tại Hải Dương, cùng với quá trình công nghiệp hóa, các khu công nghiệp được xây dựng xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp tại Hải Dương. Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí ở xung quanh các khu vực sản xuất nông nghiệp và khu dân cư. Chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp ngấm vào đất và làm ô nhiễm môi trường đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe của con người. Tại Hải Dương, nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt tỉnh Hải Dương được xây dựng với

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    35

    công suất là 64.000 tấn rác thô/ năm thành phẩm     nguồn nước; các xe chở rác ngày đêm gây ô

     

    khoảng 12.390 tấn phân hữu cơ/năm. Các địa            nhiễm tiếng ồn xung quanh các khu vực dân cư

    điểm tập kết rác gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm    và khu vực trồng lúa.

     

     

     

    Chất thải công nghiệp tập kết ngay cạnh khu vực ruộng lúa tại Hải Dương

     

    Nguồn: Hình ảnh của dự án LEGATO, năm 2014-2015.

     

     

    Tại Sapa, sự thay đổi cảnh quan chủ yếu do tác động của quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 98% người dân nhận thấy có sự thay đổi rõ ràng về cảnh quan xung quanh khu vực họ ở, trong đó xuất hiện các cảnh quan mới tập trung tại các khu vực dịch vụ, các khu vực khai thác khoáng sản, các khu vực dân cư do quá trình đô thị hóa. Với vị trí địa lý giáp khu vực biên giới, Sapa còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh biên giới, an ninh chính trị, an ninh xã hội và an ninh trong vùng dân tộc, tôn giáo. Hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép, tuyên truyền đạo trái pháp luật, khiếu kiện đông người, vượt cấp, tội phạm, vi phạm pháp luật, tai nạn, tệ nạn xã hội còn xảy ra. Công tác nắm tình hình và xử lý, giải quyết một số vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự tại cơ sở còn lúng túng. Ý thức chấp hành pháp luật trong một bộ phận nhân dân chưa cao. Điều này cũng gây những tác động gián tiếp đến quá trình ổn định dân cư, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

     

    2.1.3. Nguy cơ khác

     

    Tại Sapa

    • Biến đổi khí hậu: Tại Sapa, biến đổi khí hậu dẫn đến điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt như sương giá, thiếu nước gây khô hạn…làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Những thay đổi khí hậu xuất hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày tại Lào Cai: Ví dụ, băng xuất hiện ở Sa Pa, mưa lớn vào mùa đông. Vấn đề thiếu nước trong canh tác: Nước sử dụng chủ yếu ở vùng núi, từ mùa xuân. Nông dân chỉ trồng từ mùa mưa (từ tháng Tư đến tháng Chín), mùa khô (từ tháng Mười đến tháng Ba) không đủ nước cho sinh hoạt và nông nghiệp.
    • Phương thức canh tác lạc hậu: Tại Sapa, tập quán du canh du cư, nạn khai thác rừng trái phép, cháy rừng thúc đẩy quả trình thoái hóa đất. Phương thức canh tác nông nghiệp hiện nay, người nông dân chủ yếu trồng theo các phương pháp trồng cũ, tự cung tự cấp là cần thiết và chỉ trồng đủ ăn. Mặt khác, nông dân nhận thức rõ ứng dụng của công nghệ, kỹ thuật sản xuất mới nhưng họ cho rằng không có tiền để trả cho phí mua sắm trang thiết bị và hướng dẫn sử dụng công nghệ.
    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    • Sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và sử dụng đất trồng lúa: Những hạn chế trên tạo ra những rào cản cho quá trình quản lý và sử dụng đất trồng lúa ở Sapa, do diện tích trồng lúa trên ruộng bậc thang của từng hộ có thể bị thay đổi do các tác động của khí hậu khắc nghiệt, hoặc do người dân không canh tác trên khu vực ruộng của gia đình. Quy mô sản xuất nhỏ, cá thể, dàn trải, không tập trung. Địa hình đi lại khó khăn khiến cán bộ quản lý nông nghiệp không có nhiều điều kiện kiểm định được thực trạng sử dụng đất trồng lúa thường xuyên. Theo người dân, trung bình cán bộ nông nghiệp đến trao đổi các vấn đề sản xuất, canh tác nông nghiệp 1-2 lần/năm. Cán bộ nông nghiệp thường thông qua người chủ tịch xã hoặc trưởng thôn để tập hợp người dân đến nghe các thông tin sản xuất nông nghiệp, lịch mùa vụ. Theo phỏng vấn sâu các hộ gia đình, người dân phun thuốc khi thấy ruộng khác có sâu bệnh hoặc phát hiện trên ruộng có sâu bệnh, hoặc phun theo thói quen, kinh nghiệm (phun theo kinh nghiệm nhận biết thời điểm xuất hiện sâu bệnh). Điều này làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp và sự sự suy giảm các loại sinh vật có ích, gây ô nhiễm nguồn nước. Tình trạng ô nhiễm trong hoạt động công nghiệp, khai thác chế biến khoáng sản chưa được giải quyết triệt để. biến đổi khí hậu còn kém, hậu quả thiên tai nặng nề; việc ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học triển khai chưa đồng bộ.

    Tại Hải Dương, xung đột môi trường phát sinh từ quá trình chuyển dịch mục đích sử dụng đất Nông nghiệp chưa được giải quyết triệt để, nông dân sinh sống tại khu vực xung quanh các khu công nghiệp và chịu ảnh hưởng từ chất thải công nghiệp đã nhiều lần khuyến nghị song tình trạng trên chưa thay đổi. Ô nhiễm nguồn nước và đất xung quanh khu vực sản xuất nông nghiệp từ việc phát triển làng nghề truyền thống: Thôn An Xá, xã Quốc Tuấn là làng nghề mây tre đan và làm hương. Nhờ vậy, bộ mặt của thôn được đổi thay từng ngày. Hiện 95% số đường làng đã bê-tông hóa, nhiều nhà cao tầng kiên cố mọc lên. Thôn hiện có 969 hộ, trong đó có hơn 330 hộ làm

     

    ________

     

    6http://sct.haiduong.gov.vn/News/content/viewer.html?a=2 771&z=160

     

    nghề, chiếm 41%. Tuy nhiên, An Xá cũng đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường. Đến An Xá vào những ngày này, sẽ chứng kiến những dòng nước đen ngòm, ứ đọng, đặc quánh dưới rãnh tiêu nước hai bên đường và tại những ao nhỏ

     

    trong làng bốc lên mùi hôi thối.6

     

    2.2. Hàm ý chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong phát triển nông nghiệp

     

    Phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của ngành nông nghiệp – một ngành sử dụng đa dạng nguồn lực (tự nhiên, xã hội). Nông nghiệp Việt Nam là một thế mạnh của Việt Nam, không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà đã hướng tới xuất khẩu các mặt hàng nông sản có chất lượng, trong đó có mặt hàng lúa gạo. Dự án LEGATO với cách tiếp cận liên ngành đã nhận diện những vấn đề chuyển đổi kinh tế sinh thái xã hội của Sapa và Hải Dương, hai địa bàn có hoạt động canh tác lúa nước với các xu hướng phát triển khác nhau. Tại Sapa, áp dụng công nghệ sinh thái giúp phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch, gắn văn hóa truyền thống về canh tác lúa với phát triển hoạt động du lịch sinh thái. Tại Hải Dương, áp dụng công nghệ sinh thái trong quản lý và sử dụng đất trồng lúa, không chỉ góp phần thực hiện chiến lược phát triển vùng sản xuất lúa tập trung với hiệu quả cao, mà còn góp phần duy trì cảnh quan sinh thái nông nghiệp, kết hợp với dịch vụ văn hóa tâm linh của người Việt, tạo nét riêng thu hút khách tham quan đến với Hải Dương.

     

    Từ những kết quả nghiên cứu của dự án cũng chỉ ra rằng: hoạt động canh tác và sản xuất lúa gạo đang đối mặt với rất nhiều thách thức, không chỉ là các thách thức nội tại mà còn là những thách thức do tác động khách quan của tăng trưởng và phát triển kinh tế mang lại. Đồng thời quá trình phỏng vấn với các đối tượng làm chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách đã chỉ ra một thực tế rằng: sau một quá trình thực thi chính sách, chỉ khi tác động âm tính của chính sách phát triển kinh tế được bộc lộ một cách sâu sắc và gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, thì quá trình khắc phục và điều chỉnh chính sách mới

     

    D.T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

    37

    diễn ra, thậm chí là rất chậm do thiếu nguồn lực. Chỉ khi mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, xung đột xã hội xảy ra, các nhà hoạch định, các nhà quản lý mới đưa ra các chính sách giải quyết hậu quả bằng một chính sách mới, song cũng không thể khẳng định đó là chính sách tối ưu.

     

    Chính vì vậy, vai trò của hoạch định chính sách về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội có thể coi là một giải pháp phù hợp với bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay của Việt Nam. Trong đó, cần có sự thống nhất về triết lý này trong hệ thống các văn bản liên quan đến vấn đề phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt ban hành xuyên suốt từ Trung ương bằng các nghị quyết của Đảng, đến các chiến lược, chương trình, dự án, các kế hoạch hành động của Chính phủ và của các địa phương. Trong định hướng phát triển chung đó, Chiến lược tăng trưởng xanh và thực hiện các báo cáo Đánh giá quốc gia đa chiều [6] có thể được coi là một nỗ lực gần đây nhất, kết hợp với nhiều nỗ lực và chiến lược hiện nay nhằm thúc đẩy hình thành định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đó, báo cáo của OECD sẽ phân chia thành 03 giai đoạn: Xác định các vấn đề ràng buộc trong phát triển, phân tích chuyên sâu về các vấn đề và khuyến nghị chính sách phát triển và cuối cùng là hỗ trợ chính phủ các nước biến các khuyến nghị chính sách thành chiến lược cụ thể. [7]. Báo cáo sẽ cung cấp những phân tích sâu sắc và đa chiều về các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và sinh thái, góp phần cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách phát triển tại Việt Nam.

     

    Chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội là một triết lý quan trọng cần được áp dụng trong quy trình chính sách. Đây cũng là một nhu cầu tất yếu trong phát triển bền vững nông nghiệp trong thời gian tới, với một số hàm ý chính sách cụ thể như sau:

     

    • Xem xét tác động của chính sách phát triển kinh tế với sản xuất nông nghiệp (đặc biệt nhận diện các tác động âm tính/tiêu cực và ngoại biên âm tính);
    • Sử dụng các tiêu chí kinh tế – sinh thái – xã hội trong quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp;
    • Phát triển hệ thống dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội qua các năm, giai đoạn
    • Áp dụng các công cụ đánh giá tác động đa chiều (kinh tế – sinh thái – xã hội) và top down (với các cơ quan ban hành thực thi và đánh giá chính sách ) với bottom up (từ dưới lên qua các đánh giá của đối tượng thụ hưởng) với các dự án, chính sách phát triển tại các địa phương;
    • Xây dựng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái – xã hội để xác định hướng ưu tiên trong chính sách đầu tư (của các cơ quan quản lý, của các địa phương).
    • Áp dụng các chỉ báo về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội trong các chính sách phát triển vùng, liên vùng
    1. Kết luận

    Từ phát triển bền vững đến triết lý về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội là một trong những vấn đề chính sách quan trọng hiện nay không chỉ với Việt Nam mà với các quốc gia đang phát triển hiện nay. Mục tiêu phát triển kinh tế và các chính sách ưu tiên đầu tư, phát triển kinh tế không đi kèm với đánh giá các tương tác với sinh thái, xã hội đang là một khoảng trống trong nghiên cứu và ban hành chính sách. Dữ liệu về chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội sẽ là nền tảng để xem xét ưu tiên phát triển địa phương, phát triển vùng và các ngành. Trong đó, canh tác và sản xuất lúa trong nông nghiệp là một ví dụ điển hình về sự cần thiết áp dụng triết lý chuyển đổi kinh tế – sinh thái và xã hội tại Việt Nam hiện nay. Kết quả của dự án LEGATO đã giúp nhóm nghiên cứu xác định những hàm ý chính sách về áp dụng triết lý này trong phát triển canh tác lúa nói riêng và phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung. Những hàm ý chính sách này là những gợi suy để giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện hơn quy trình ban hành,

     

    • T. Truong, N.T.Q. Anh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 26-38

     

     

    thực thi và đánh giá chính sách phát triển bền vững trong nông nghiệp hiện nay.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    [1]  Phillip Degenhardt, From Sustainable Development to Socio-Ecological Transformation, Tài liệu cung cấp bởi Quỹ Rosa Luxemburg, CHLB Đức, 2016.

     

    [2]  Joachim       H.        Spangenberg,       Sustainable

     

    development and social, ecological, and economic transformation in Vietnam: Insights for policy, Kỷ yếu tọa đàm quốc tế: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam và CHLB Đức về nghiên cứu và hoạch định chính sách trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế, sinh thái và xã hội”, Phú Yên, Tháng 5/2019.

     

    dmid=2&ItemID=18787 (Truy cập ngày 17 tháng 03 năm 2019).

     

    • Viện Chính sách và Quản lý, Báo cáo nghiên cứu của dự án LEGATO, Hà Nội, 2011.
    • Nhân dân điện tử, Khởi động xây dựng Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam, Nhân dân

    điện tử, 2019. http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/3932330 2-khoi-dong-xay-dung-bao-cao-danh-gia-quoc-gia-da-chieu-cua-viet-nam.html (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019)

     

    • OECD, OECD  Development  Pathways,  Multi-

    dimensional Country Reviews, 2018 https://www.oecd.org/development/mdcr/ (Truy cập ngày 05 tháng 06 năm 2019).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

    Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

    Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-m%C3%B4-h%C3%ACnh-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-kinh-t%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BB%93ng-b%E1%BA%B1ng-s%C3%B4ng-C%E1%BB%ADu-Long-th%C3%ADch-%E1%BB%A9ng-v%E1%BB%9Bi-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%95i-kh%C3%AD-h%E1%BA%ADu-%E2%80%93-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Original Article

     

    Transformation of Mekong Delta Economic Growth Model Adaptation to Climate Change: The Situation and Solutions

     

    Nguyen Hong Gam*

     

    Can Tho Technical Economic College, 9 Cach Mang Thang Tam, Ninh Kieu, Can Tho, Vietnam

     

    Received 04 June 2019

     

    Revised 21 June 2019; Accepted 21 June 2019

     

    Abstract: The Mekong Delta is defined as the key agricultural economic development area of the whole country with a contribution to about 55% rice and 70% seafood production and participates in exporting 90% rice and 60% seafood annually. However, the Mekong Delta’s agricultural economy is very vulnerable due to a high reliance on traditional production and natural resources. In fact, the transformation of the economic growth model in Mekong Delta has been faced to profound changes in the natural and social ecosystems structure. The particular concerned issue is the climate change which takes place more and more seriously affecting deeply to the daily life and producing of people in the region. By the methods of document analysis, surveys and group discussion, this article analyzes the situation of transforming the economic growth model of Mekong Delta in the past, which has been affected by climate changes as well as how climate change has affected production outcomes, social life and environmental ecology. Based on that, the author proposes suitable and feasible solutions to promote the transformation of economic growth model sustainably through developing three pillars: highly economic efficiency and the stable growth rate; the political stability and increasing social welfare; environmental safety and ecological balance.

     

    Keywords: Economic transformation, growth model, sustainable development.*

     

     

    ________

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4180

    84

     

    VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu – Thực trạng và giải pháp

     

    Nguyễn Hồng Gấm*

     

    Trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Cần Thơ, Số 9 đường Cách Mạng Tháng Tám,

     

    Ninh Kiều, TP. Cần Thơ, Việt Nam

     

    Nhận ngày 04 tháng 6 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 21 tháng 6 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Đồng bằng song Cửu Long (ĐBSCL) được xác định là vùng phát triển kinh tế nông nghiệp trọng điểm của cả nước, với mức đóng góp khoảng 55% sản lượng lúa và 70% thủy sản, đồng thời tham gia xuất khẩu 90% gạo và 60% thủy sản hàng năm. Tuy nhiên, nền kinh tế nông nghiệp của ĐBSCL rất dễ bị tổn thương do phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và sản xuất mang tính truyền thống. Thực tế đã cho thấy, sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua phải đối mặt với những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc hệ sinh thái tự nhiên và xã hội. Vấn đề nổi cộm được đặc biệt quan tâm là tình trạng biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng nghiêm trọng đang gây ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của người dân trong vùng. Bằng phương pháp phân tích tài liệu, khảo sát thực địa và thảo luận nhóm, bài viết này thực hiện việc phân tích thực trạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL thời gian qua đã chịu tác động như thế nào bởi biến đổi khí hậu cũng như biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng như thế nào đến kết quả sản xuất, đời sống xã hội và sinh thái môi trường. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hàm ý giải pháp phù hợp, khả thi nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế vùng theo hướng bền vững thông qua phát triển ba trụ cột là: hiệu quả kinh tế cao, tốc độ tăng trưởng nhanh ổn định; ổn định chính trị, gia tăng phúc lợi xã hội; an toàn môi trường, cân bằng hệ sinh thái.

     

    Từ khóa:  Chuyển đổi kinh tế; mô hình tăng trưởng; phát triển bền vững

     

    1. Đặt vấn đề*

     

    1.1. Yêu cầu khách quan chuyển đổi mô hình tang trưởng kinh tế đồng ở bằng song Cửu Long

     

    ________

    *Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1116/vnupam.4180

    85

     

    Cũng như cả nước, mô hình tăng trưởng kinh tế (MHTTKT) ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ khi bắt đầu thực hiện đổi mới đến nay (1986 – 2018) là một cơ chế hỗn hợp giữa thị trường và Nhà nước trong huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực. Theo đó, các địa phương ĐBSCL đã đổi mới cách thức vận hành nền kinh tế từ mô hình nặng về tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình mới

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Động lực của tăng trưởng được tạo ra bởi các các yếu tố cấu thành cho phép khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của vùng, góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là kết quả của việc lựa chọn mô hình TTKT phù hợp với bối cảnh kinh tế Việt Nam nói chung, tính đặc thù của ĐBSCL nói riêng.

     

    Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế ĐBSCL gần đây đã bộc lộ những dấu hiệu bất ổn; sản lượng thấp hơn tiềm năng, tính ổn định chưa cao trước những biến động kinh tế cả trong và ngoài nước. Tăng trưởng kinh tế dựa quá nhiều vào đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, chưa quan tâm đúng mức đến các động lực khác của nền kinh tế, như khoa học – công nghệ, nhu cầu của thị trường. Đặc biệt, một số địa phương còn dựa quá nhiều vào cơ cấu thiên lệch về nguồn lực cho công nghiệp, dịch vụ chung chung, chưa chú trọng đầu tư thích đáng cho nông nghiệp, nông thôn, là lợi thế đặc trưng của vùng. Thực tế thời gian qua cho thấy, chuyển đổi MHTTKT ở ĐBSCL, bên cạnh việc đem lại lợi ích kinh tế, nó còn làm nảy sinh không ít vấn đề xã hội như thất nghiệp, phân hóa giàu nghèo, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiểm môi trường, mất cân bằng hệ sinh thái. Từ đó, việc chuyển đổi MHTTKT của các địa phương trong vùng như thế nào cho phù hợp với nền kinh tế đặc thù của vùng; thích ứng với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững, đảm bảo sao cho cái giá đánh đổi cho tăng trưởng là thấp nhất.

     

    1.2. Đặc điểm mô hình tăng trưởng kinh tế

     

    MHTTKT có thể hiểu là cách thức tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế qua các năm với tốc độ hợp lý. Theo quan điểm của Karl Marx trình bày trong Bộ Tư bản (1867), có thể thấy MHTTKT bao gồm các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật, trong đó yếu tố giữ vai trò quyết định là lao động và tiến bộ của khoa học

     

    kỹ thuật. Các nhà kinh tế học sau này đã nghiên cứu và cho rằng, động lực của tăng trưởng kinh tế được tổng hợp bởi bốn nhân tố là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, nguồn vốn và công nghệ. Từ đó có thể hiểu, tăng trưởng kinh tế là kết quả hoạt động của MHTTKT, thường được biểu hiện qua sự gia tăng về thu nhập hay giá trị sản lượng của một quốc gia, một vùng hay một ngành trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, MHTTKT có thể xét ở hai phương diện, yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra.

     

    Xét theo các yếu tố đầu vào

     

    Tăng trưởng kinh tế dựa vào 3 yếu tố: lượng vốn đầu tư, lực lượng lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity) TFP. Trong đó, TFP là chỉ tiêu phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ mà qua đó chất lượng của các yếu tố đầu vào là lao động và vốn được phát huy. Cùng một lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này. Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động. Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Năng suất Châu Á – APO, nguồn đóng góp cho TFP chủ yếu dựa vào 5 yếu tố chính là: (1) Chất lượng lao động; (2) Nhu cầu hàng hóa, dịch vụ; (3) Cơ cấu vốn; (4) Cơ cấu kinh tế và (5) Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (Hình 1). Trong đó, yếu tố cơ cấu vốn, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chất lượng lao động được xác định thuộc về linh̃ vưc̣ khoa học và công nghệ [1].

     

    Xét theo các yếu tố đầu ra

     

    Theo GS Chu Văn Cấp [2], xét theo kết quả đầu ra thì tăng trưởng kinh tế được xem xét ở hai mặt là lượng và chất. Tăng trưởng kinh tế về mặt lượng được đánh giá chủ yếu thông qua các chỉ tiêu giá trị theo hệ thống tài khoản quốc gia như: Giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (NI), trong đó GDP là

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    87

    chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biến nhất. Còn tăng trưởng kinh tế về mặt chất được biểu hiện ở sự phát triển bền vững của nền kinh tế với các tín hiệu như: tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài; năng suất lao động cao, hiệu quả sử dụng vốn cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại và tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

     

    Thực trạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua

     

    2.1. Tổng quan ĐBSCL

     

    ĐBSCL là phần lãnh thổ cực nam của Việt Nam và nằm ở phần cuối châu thổ sông Mekong (sông có độ dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam) bao gồm 13 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương với diện tích tự nhiên khoảng 40.816 ha. Theo số liệu thống kê năm 2016, dân số của ĐBSCL khoảng 17,661 triệu người (chiếm 12,32% diện tích tự nhiên và 21% dân số cả nước)[3]. ĐBSCL có vị

     

    trí đặc biệt quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam với các mặt hàng chủ lực là gạo, trái cây, thủy sản và được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định là vùng trọng điểm phát triển kinh tế nông nghiệp của cả nước. Hàng năm, ĐBSCL đóng góp khoảng 18% GDP, 55% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây cho cả nước [4]; đồng thời, đóng góp cho cả nước hơn 90% lượng gạo và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, góp phần mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại với khu vực và thế giới .

     

    Tuy nhiên, hiện nay ĐBSCL đang đứng trước khó khăn đặc biệt do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Theo kịch bản quốc gia vềbiến đổi khí hậu năm 2016 của Bộ TN&MT [5], đối với kịch bản trung bình, đến năm 2100, khu vực ĐBSCL nhiệt độ trung bình có thểtăng 1,7 – 1,90C, mưa có thểtăng 5 – 15% và nước biển dâng từ 32 – 78 cm. Còn với kịch bản biến đổi khí hậu cao thì đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình của ĐBSCL có thểtăng từ 3,00C – 3,50C, mưa có thểtăng trên 20% và nước biển dâng từ 48 – 106 cm.

     

    TFP

    Total Factor Productivity

     

    Chất lượng lao

     

    Thiết bị, công

     

    Áp dụng tiến bộ kỹ

     

    Tái cơ cấu

    động

     

    nghệ

     

    thuật, quản lý

     

    nền kinh tế

                 

    – Nâng cao

     

    – Sử dụng

     

    – Áp dụng phương

     

    Chuyển dịch

    kiến thức, kỹ

     

    công nghệ,

     

    pháp quản lý tiên tiến;

     

    nguồn lực từ

    năng cho

     

    thiết bị tiên

     

    – Cải tiến quy trình;

     

    khu vực có

    người lao

     

    tiến;

     

    – Nghiên cứu phát

     

    năng suất thấp

    động;

     

    – Tự động

     

    triển

     

    sang khu vực

    – Phát triển lực

     

    hóa, robot

     

    – Đổi mới sáng tạo

     

    có năng suất

    lượng lao

     

    – Công nghệ

         

    cao hơn

    động chất

     

    thông tin

           
                 

    Hình 1. Mô hình năng suất nhân tố tổng hợp

    Nguồn: Viện năng suất Việt Nam – VNPI (2014)[1]

     

    Tăng nhu cầu

     

    Phát triển thị trường để tang hiệu suất sử dụng nguồn vốn và lao

    động

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Trong khi đó, các quốc gia ở thượng nguồn Mekong gia tăng các hoạt động thủy điện và thủy lợi phục vụ nông nghiệp, gây ra hệ lụy tiêu cực đối với ĐBSCL. GS.TS Trần Thục (Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn quốc gia về biến đổi khí hậu) cho biết:”…ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức và tác động kép do khí hậu cực đoan, khai thác và sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mê Kông… Nguồn lợi thủy sản và nguồn nước ngọt có xu hướng giảm; nhiều tai biến liên quan và thách thức từ biển đổi với ĐBSCL có xu hướng tăng…. Các kết quả

     

    nghiên cứu đã chỉ ra ĐBSCL sẽ bị tổn thương mạnh nếu các ngành chức năng chậm triển khai các giải pháp giúp đỡ”. Như vậy, để tăng trưởng một cách bền vững, các địa phương ĐBSCL nhất thiết phải sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, con người…) phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái [6].

     

    2.2. Tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua

     

    2.2.1. Xét theo đầu vào

     

    • Về vốn: Thực tế thời gian qua cho thấy, vốn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng. Tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế liên tục tăng qua các năm, thể hiện qua tỷ lệ đầu tư so với GDP. Tính đến năm 2017, toàn vùng thu hút được 1.426 dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 20 tỷ USD, chiếm 5,75% về dự án và 6,28% về vốn của cả nước. Trong đó, tỉnh Long An dẫn đầu với 962 dự án với vốn đầu tư 6,97 tỷ USD, chiếm 67,64% dự án và 34,7% vốn đầu tư của toàn vùng. Chỉ tính riêng năm 2017, ĐBSCL có 139 dự án với 2,72 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư mới, chiếm 5,07% dự án và 7,33% vốn đăng ký mới của cả nước. Số liệu thống kê từ 2005 đến 2016 cho thấy, tỷ lệ vốn

     

    đầu tư so với GDP tăng dần trong giai đoạn

     

    2005 – 2007, với mốc cao nhất vào năm 2007 là 46.5% và sau đó giảm dần đến năm 2016 chỉ còn lại 33%. Hệ số ICOR trong giai đoạn này cũng tăng dần và đạt mốc cao nhất là 7,35 vào năm 2009, sau đó dao động theo chiều hướng giảm đến năm 2016 còn ở mức 6,42. Nghĩa là, ĐBSCL đang phải bỏ ra 6,42 đồng đầu tư để thu được 1 đồng GDP.

     

    • Về lao động: Một trong những lợi thế của

     

    ĐBSCL là có nguồn lao động dồi dào và chi phí thấp, là nguồn đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế vùng phát triển thời gian qua. Theo số liệu thống kê các địa phương trong vùng cho thấy, nếu năm 2000 cả vùng chỉ có khoảng 6,33 triệu lao động thì đến năm 2010 con số này là 10,13 (tăng 1,6 lần sau 10 năm) và năm 2016 có 10,52 triệu lao động, chiếm 19,32% lực lượng lao động cả nước. Trong đó, lao động đã qua đào tạo năm 2016 là 12%, tăng 53,85% so với năm 2008. Sự đóng góp của yếu tố lao động trong giai đoạn này vào tăng trưởng GDP chung của cả vùng bình quân chiếm khoảng 21,15%. Điều này phần nào phản ánh được tầm quan trọng của lao động trong việc phát triển kinh tế của ĐBSCL giai đoạn vừa qua.

     

    Theo phân tích của Viện nghiên cứu kinh tế phát triển (trường Đại học Kinh tế Tp.HCM), yếu tố năng suất tổng hợp của Việt Nam (trong đó có ĐBSCL) chiếm khá thấp, ước tính chỉ khoảng 22%. Trong khi đó, yếu tố này của Hàn Quốc là 51,32%, Malaysia là 36,18%, Thái Lan là 36,14% [7]. Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 chỉ bẳng 7% Singapore, 17,6% của Malaysia và 36,5% của Thái Lan. Năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 42,3% của Indonesia, 56,7% của Philippines và 87,4% của Lào. Điều đáng nói là sự chêch lệch này vẫn đang tiếp tục gia tăng [8].

     

     

    Bảng 1.  Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016

       

    Tiêu chí

    2005

    2007

    2009

    2010

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    Vốn đầu tư so với

    37,5

    42,7

    39,2

    38,5

    33,3

    31,1

    30,5

    31,0

    32,6

    33,0

    GDP (%)

                       

    Hệ số sử dụng

    4,01

    5,36

    7,35

    6,38

    5,72

    6,76

    6,67

    6,29

    5,80

    6,42

    vốn ICOR

                       

    Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716 [9]

     

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    89

    Bảng 2. Cơ cấu giá trị đóng góp của các yêu tố cấu thành GDP của Việt Nam theo từng giai đoạn và cả thời kỳ 1998 – 2013

     

    Yếu tố cấu thành GDP

    1998 – 2002

    2003 – 2009

    2010 – 2013

    1998 – 2013

     

    Tỷ lệ GDP

    100,00

    100,00

    100,00

    100,00

     

    Đóng góp của lao động

    20,00

    19,07

    24,31

    21,13

     

    Đóng góp của vốn

    57,42

    52,73

    59,81

    56,65

     

    Đóng góp của năng suất tổng

    22,58

    28,20

    15,88

    22,22

     

    hợp (TFP)

             

    Nguồn: Theo Nguyễn Thị Minh Châu – Viện nghiên cứu Kinh tế phát triển [7].

     

     

    • Về tài nguyên thiên nhiên: Trong các ngành nông-lâm nghiệp và thủy sản, đất đai và nguồn nước là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Chúng vừa là đối tượng lao động đồng thời vừa là phương tiện lao động. Với 64,26% diện tích (khoảng 2,62 triệu ha) dùng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, trong đó đất trồng lúa chiếm đến 50%. Diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng lúa cả năm của ĐBSCL chiếm tỷ trọng cao nhất cả nước và hàng năm đều có xu hướng tăng. Cụ thể, năm 1995 diện tích gieo trồng là 3,19 triệu ha, với năng suất trên 4 tấn/ha, sản lượng đạt được 12,83 triệu tấn; đến năm 2005 (sau 10 năm) con số này lần lượt là 3,82 triệu ha – 50,4 tạ/ha – 19,3 triệu tấn và sau đó 10 năm (2015) tiếp tục tăng lên 4,3 triệu ha – 59,5 tạ/ha và 25,6 triệu tấn. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2017 đến nay, diện tích gieo trồng giảm còn 4,13 triệu ha, năng suất bình quân còn 56,4 tạ/ha và sản lượng còn 23,6

    triệu tấn. Nguyên nhân là do tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng chuyển đổi đất lúa sang các mục đích khác liên tục xảy ra.

     

    Bảng 3 cho thấy, về đất nuôi trồng thuỷ sản cũng liên tục tăng trong giai đoạn 1995 – 2010. Nếu năm 1995 toàn vùng có 289,4 ngàn ha nuôi trồng và sản lượng thu hoạch là 819.222 tấn thì đến năm 2010 con số này là 757 ngàn ha và 3.703.448 tấn sản lượng, tăng trên 2,6 lần diện tích và 4,5 lần sản lượng. Diện tích tăng chủ yếu được chuyển đổi từ đất lúa, đất lâm nghiệp, cây hàng năm khác kém hiệu quả và khai thác từ đất bãi bồi, đất mặt nước ven sông, biển. Tuy nhiên, từ sau năm 2015 trở về đây, tình hình không ổn định và có xu hướng giảm cả về diện tích lẫn sản lượng do dịch bệnh phát triển, độ mặn tăng cao, thiếu vốn sản xuất, mất thị trường, nên các nhà sản xuất buộc phải thu hẹp quy mô.

     

    Bảng 3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ĐBSCL 1995-2015

     

    Năm

    1995

    2000

    2005

    2010

    2015

    Diện tích (1000 ha)

    3.190,6

    3.945,8

    3.826,3

    3.945,9

    4.301,5

    Năng suất (tạ/ha)

    40,2

    42,3

    50,4

    54,7

    59,5

    Sản lượng (1000 tấn)

    12.831,7

    16.702,7

    19.298,5

    21.595,6

    25.583,7

    Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717[4]

     

    Bảng 4. Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản ĐBSCL 1995-2015

     

    Năm

    1995

    2000

    2005

    2015

    Diện tích (1000 ha)

    289,4

    445,3

    680,2

    757,0

    Sản lượng (tấn)

    266.982,0

    365.141,0

    1.002.730,0

    2.471.327,0

    Nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717[4]

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    2.2.2. Xét theo đầu ra

     

    • Tăng trưởng GDP: Theo số liệu báo cáo của VCCI chi nhánh Cần Thơ thì tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực ĐBSCL đang đi xuống một cách nhanh chóng. Cụ thể, nếu như giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của vùng đạt 11,7%/năm, thì bình quân giai đoạn từ 2011-2014 giảm xuống chỉ còn 8,8%/năm. Riêng năm 2015, con số này của vùng ĐBSCL tiếp tục giảm xuống chỉ còn 7,8% so với 8,9% của năm 2014. Riêng năm 2017, tăng trưởng kinh tế toàn vùng ĐBSCL đạt 7,39%, tuy có tăng 0,49% so với năm 2016 (6,9%), nhưng so với giai đoạn 2011-2015 (8,55%), thì tăng trường kinh tế năm 2017 vẫn thấp hơn 1,16%. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước lại đi lên thì ĐBSCL đi xuống. Theo đó, nếu như năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước là 5,3%, thì sang năm 2013 đạt 5,4% và hai năm tiếp theo lần lượt đạt 6 và 6,68%.

     

    • GDP/đầu người: Thu nhập bình quân đầu người của ĐBSCL tuy có tăng liên tục trong khoảng 2001- 2015 nhưng luôn thấp hơn bình quân của cả nước và khoảng cách này ngày càng nới rộng. Cụ thể, năm 2001 cả nước là 449 USD/người trong khi đó ĐBSCL là 420 USD/người (thấp hơn 29 USD), đến năm 2015 con số này là 2109 USD/người và 1.778USD/người (thấp hơn 331 USD). Vấn đề nghiêm trọng hơn là năm 2017 thu nhập bình

    quân đầu người của ĐBSCL giảm còn 1.715 USD trong khi bình quân cả nước tăng lên 2.385USD, làm cho khoảng cách chênh lệch bị nới rộng ra đến 670USD.

     

    • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: qua phân tích số liệu thống kê của các địa phương trong vùng cho thấy, trong giai đoạn 2005-2010 cơ cấu GDP của ĐBSCL chuyển dịch nhanh hơn so với cả nước. Cụ thể, năm 2005 KVI 47,0% – KVII 22,1% – KVIII 30.9%, đến năm 2010 tỷ lệ này là KVI 39,7% – KVII 25,9% – KVIII

     

    34,4%. Trong khi đó, số liệu cả nước của các năm tương ứng là KVI 19,3% – KVII 38,1% – KVIII 42,6% và KVI 18,9% – KVII 38,2% –

     

    KVIII 42,9%. Như vậy, trong vòng 5 năm, ĐBSCL có tỷ trọng Khu vực nông-lâm-thủy sản giảm -7,3 điểm % (cả nước chỉ giảm -0,4 điểm %); Khu vực công nghiệp-xây dựng tăng +3,8 điểm % (cả nước chỉ tăng +0,1 điểm %); Khu vực dịch vụ tăng +3,5 điểm % (cả nước chỉ tăng +0,3 điểm %).

     

    Trong cơ cấu nội bộ của nông nghiệp ĐBSCL thì ngành trồng trọt chiếm đến 75% và chăn nuôi chiếm 16%, phần còn lại là các hoạt động khác. Với cơ cấu này cho thấy, trồng trọt và chăn nuôi đóng vai trò chủ đạo trong nông nghiệp ĐBSCL. Các loại hình hoạt động nông nghiệp khác như lâm nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, hoạt động phụ trợ … chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 9%.

     

     

    Bảng 5. Chỉ tiêu tăng trưởng GDP và GDP/đầu người giai đoạn 2001-2017

       

    Giai đoạn

       

    2001

    2005

    2008

    2010

    2015

    2017

     

    Tăng trưởng (%)

    Cả nước

    3,4

    7,55

    6,23

    6,42

    6,88

    6,81

     

    ĐBSCL

    7,65

    12,91

    12,91

    11,7

    7,8

    7,39

     
       

    GDP/đầu người

     

    Cả nước

    449

    700

    1.018

    1.114

    2.109

    2.385

     

    (USD)

     

    ĐBSCL

    420

    520

    750

    975

    1.778

    1715

     
     

    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu thống kê của các địa phương trong vùng

     
     

    Bảng 6. Giá trị và cơ cấu theo khu vực giai đoạn 2005- 2015 theo giá thực tế

     
     

    2005

     

    2010

     

    2015

     

    Chỉ tiêu

    Giá trị(tỷ

    Tỷ trọng

    Giá trị(tỷ

    Tỷ trọng

    Giá trị(tỷ

    Tỷ trọng

     

    VND)

    (%)

    VND)

    (%)

    VND)

    (%)

    Tổng hợp

    141.742

    100,0

    375.585

    100,0

    546.167

    100,0

    Khu vực I

    66.625

    47,0

    149.151

    39,7

    202.083

    35,5

    Khu vực II

    31.269

    22,1

    97.416

    25,9

    142.280

    26,1

    Khu vực III

    43.848

    30,9

    129.018

    34,4

    201.804

    36,9

    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Niên giám thống kê các địa phương ĐBSCL

     

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    91

     

    Bảng 7. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2006 – 2017

       
     

    2006

       

    2010

       

    2017

       

    Địa phương

    Điểm

    Xếp

    Nhóm

    Điểm

    Xếp

    Nhóm

    Điểm

    Xếp

    Nhóm

     

    số

    hạng

    hạng

    số

    hạng

    hạng

    số

    hạng

    hạng

    Vĩnh Long

    66,21

    1

    Tốt

    63,40

    4

    Tốt

    66,07

    4

    Tốt

    An Giang

    61,12

    2

    Tốt

    61,94

    8

    Tốt

    62,16

    7

    T/bình

    Cần Thơ

    58,35

    3

    Khá

    62,46

    7

    Tốt

    65,09

    5

    Khá

    Đồng Tháp

    57,65

    4

    Khá

    67,22

    1

    Rất tốt

    68,78

    1

    Rất Tốt

    Trà Vinh

    57,24

    5

    Khá

    65,80

    2

    Tốt

    61,71

    8

    T/bình

    Sóc Trăng

    54,34

    6

    Khá

    61,49

    9

    Tốt

    60,84

    11

    T/bình

    Bến Tre

    54,33

    7

    T/bình

    63,11

    5

    Tốt

    66,69

    3

    Tốt

    Hậu Giang

    53,10

    8

    T/bình

    63,91

    3

    Tốt

    60,14

    12

    T/bình

    Kiên Giang

    52,87

    9

    T/bình

    58,90

    11

    Khá

    63,65

    6

    Khá

    Tiền Giang

    52,32

    10

    T/bình

    59,63

    10

    Khá

    61,44

    9

    T/bình

    Long An

    49,73

    11

    T/bình

    62,74

    6

    Tốt

    66,70

    2

    Tốt

    Cà Mau

    43,87

    12

    TĐ thấp

    53,57

    13

    Khá

    59,83

    13

    T/bình

    Bạc Liêu

    41,79

    13

    Thấp

    58,20

    12

    Khá

    61,09

    10

    T/bình

    Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh [10]

     

     

    • Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: Theo Báo Chỉ số năng lực cạnh tranh từ năm 2010 đến 2017 của cả nước cho thấy, vùng ĐBSCL luôn có chỉ số PCI trung bình cao nhất trong 6 vùng trên toàn quốc, các tỉnh thuộc ĐBSCL tiếp tục nằm trong nhóm có chỉ số PCI cao nhất cả nước, trong đó tỉnh Đồng Tháp đạt tới 68,78

     

    điểm (PCI 2017). Đặc biệt, trong nhóm 10 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành tốt nhất qua

     

    điều tra PCI năm 2017 thì có tới 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An và Cần Thơ). Tuy nhiên, năm 2017 so với năm 2010 có tới 7 địa phương rớt hạng từ tốt, khá xuống trung bình, một địa phương từ tốt xuống khá (TP Cần Thơ), chiếm gần 54%. Chỉ có 4 địa phương có chiều hướng tăng và ổn định ở thứ hạng cao là Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bến Tre và Long An [10].

     

    • Xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân: Cùng với cả nước, ĐBSCL đã có nhiều thành tựu ấn tượng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Theo báo cáo di cư và nghèo năm 2012 và số liệu thống kê của Tổng cục thông kê năm 2013 thì, năm 1993 cả nước có tỷ lệ nghèo 58,3% trong khi đó vùng ĐBSCL là 47,1%. Với những đột phá về chính sách kinh tế đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công tác xóa đói giảm nghèo của các địa phương, tỷ lệ nghèo của ĐBSCL giảm nhanh qua

    các năm. Cụ thể, năm 2002 là 23,4%%, năm 2006 là 13%; đến năm 2010 nếu tính theo chuẩn nghèo mới thì tỷ lệ nghèo của vùng là 12,6% (cả nước là 14,2%) và năm 2013 còn 9,2% [11].

     

    2.3. Những hạn chế trong tăng trưởng kinh tế ĐBSCL thời gian qua

     

    Một là, tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư và lao động rẻ trong vùng. Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua vẫn chủ yếu theo bề rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, năng lực cạnh tranh của vùng, tỉnh, doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp kém. Các ngành tăng trưởng thuần túy dựa vào khai thác, sử dụng tài nguyên như nông, lâm, thủy sản, luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của ĐBSCL.

     

    Hai là, hiệu quả và chất lượng đầu tư thấp: Đầu tư thu hút vào ĐBSCL còn thấp (chỉ 5-6% cả nước) nhưng lại dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, nên hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư thấp. Chỉ số ICOR có xu hướng tăng cao trong thời kỳ 2005-2016. Số liệu thống kê qua các năm gần đây cho thấy, ICOR năm 2005 của vùng là 4,01, năm 2010 là 6,38 và năm 2016 là 6,42 (như trong Bảng 1). Chỉ số ICOR cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư thấp và sụt giảm, năng lực cạnh tranh giảm.

     

    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    Ba là, năng suất lao động thấp: ĐBSCL có thế mạnh về nông nghiệp và công nghiệp chế biến, nhưng năng suất lao động của 2 lĩnh vực này lại thấp hơn so với các lĩnh vực khác và trung bình chung của cả nước. Nếu như thời kỳ 2005 – 2010, năng suất lao động xã hội nước ta tăng từ 21,4% lên 44% (bình quân tăng thêm 4,52%/năm) thì lĩnh vực nông – lâm – thủy sản (NLT) tăng từ 7,5% lên 16,3% (bình quân tăng thêm 1,76%/năm); công nghiệp chế biến (CNCB) từ 34,2% (cao hơn cả nước) lên 42% (thấp hơn cả nước); đến năm 2011, cả nước là 55,2% (tăng thêm 11,2%) trong khi đó NLT chỉ đạt 22,3% và CNCB 53,2%. Sau 5 năm tăng đầu tư và chuyển đổi, tốc độ tăng trong các lĩnh vực này cũng không được cải thiện mấy, cụ thể năm 2016 NLT đạt 32,9% (bình quân mỗi năm tăng hơn 2%) và CNCB 72,4% (bình quân mỗi năm tăng 3,84%); con số này của cả nước là 84,5% (bình quân mỗi năm tăng hơn 5,86%). Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố thì năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật 11 lần và chỉ bằng 1/5 so với Malaysia, 2/5 so với Thái Lan.

     

    Bốn là, tăng trưởng kinh tế ĐBSCL chủ yếu dựa vào cái mình có chứ chưa thực sự dựa vào cái mà thị trường cần. Do điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, tập quan canh tác mang tính truyền thống của nông dân nên mô hình phát triển kinh tế ĐBSCL thường được xác định là cây lúa nước, cây ăn trái, nuôi trồng thủy hải sản...Tuy nhiên, do không căn cứ vào thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường quốc tế nên sản phẩm ĐBSCL thường xuyên gặp cảnh thừa hàng, dội chợ, sản phẩm làm ra phải bán rẻ, thậm chí phải bỏ đi…ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống xã hội trong vùng.

     

    Năm là, những nền tảng cơ bản của tăng trưởng TFP còn nhiều bất cập, năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội chưa được gắn kết chặt chẽ. Các yếu tố đóng góp vào việc gia tăng chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thiếu và yếu. Tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa bền vững; tăng trưởng chưa gắn chặt với giảm nghèo, ngược lại

     

    làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc như: việc làm cho người lao động, phân hóa giàu nghèo gia tăng, sự chênh lệch về trình độ phát triển, về thu nhập… ngày càng lớn, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tang.

     

    Hàm ý giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ĐBSCL theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu

     

    Quan điểm chủ đạo của chuyển đổi MHTTKT của ĐBSCL là phải bảo đảm cơ cấu kinh tế vùng sao cho tăng trưởng một cách hài hòa giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả; đảm bảo thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Với quan điểm như vậy, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu như sau:

     

    3.1. Nâng cao tỷ trọng đóng góp của nhóm năng suất tổng hợp TFP vào GDP

     

    Theo chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ, mục tiêu tỷ trọng của nhân tố TFP phải đạt 35% GDP vào năm 2020. Muốn vậy, các địa phương cần phải:

     

    • Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua việc đầu tư tập trung, dựa trên sản phẩm chủ lực của địa phương và vùng; đầu tư theo chuỗi cung ứng sản phẩm để bảo đảm tính cân đối, hài hòa giữa đầu vào và đầu ra; cần ưu tiên đầu tư vào những dự án có sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường và đạt hiệu quả kinh tế cao, từ đó tránh được tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí, giảm sút hiệu quả. Phấn đấu hạ thấp Hệ số

     

    ICOR xuống ngang bằng với trung bình chung của cả nước.

     

    • Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động: Trước hết, cần nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động thông qua nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề; phải đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; phát triển kỹ năng kỹ thuật qua sự liên kết giữa

     

     

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    93

    người sử dụng lao động và các cơ sở đào tạo nghề. Đồng thời, các địa phương cần phải có những chính sách phù hợp để chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ một cách phù hợp.

     

    • Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất: Trước mắt, cần đẩy nhanh hơn nữa khâu cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh chuyển đổi mô hình chọn tạo và nhân giống cây, con mới có năng suất và chất lượng cao, thích nghi thích

     

    ứng với biến đổi khí hậu; tổ chức sản xuất nông sản hàng hóa tập trung quy mô lớn theo công nghệ cao, công nghệ sinh học. Khuyến khích

     

    đổi mới công nghệ chế biến sản phẩm tinh, đạt tiêu chuẩn quốc tế bằng công nghệ hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

     

    3.2. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vùng

     

    ĐBSCL hiện có nhiều lợi thế nổi trội có thể khai thác mà không cần đến nhiều vốn đầu tư cải tạo. Đó là tập trung phát triển nông nghiệp-thủy sản, công nghiệp chế biến, dịch vụ du lịch thuận theo tự nhiên. Cụ thể:

     

    • Cần đầu tư xây dựng vùng sản xuất tập trung, chuyên canh các sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, thủy sản, trái cây tại các địa phương không chịu ảnh hưởng bởi nước biển dâng, ngập mặn như vùng tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, Hậu Giang. Đồng thời, phát triển tương ứng ngành công nghiệp chế biến gắn với lúa gạo – thủy sản và trái cây, tạo thành chuỗi giá trị của vùng đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

     

    • Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển là một hướng đột phá chiến lược. Với 750 km bờ biển, chiếm 23% chiều dài bờ biển của cả nước, với diện tích 360.000 km2 vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế. Đây là lợi thế và tiềm năng rất lớn của 7/13 địa phương tiếp giáp với biển là

     

    Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Cần quy hoạch và có chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển các ngành

     

    đánh bắt, nuôi trồng hải sản nước mặn và lợ, lâm nghiệp, du lịch biển đảo một cách tương xứng.

     

    • Đổi mới mô hình tổ chức không gian du lịch dựa trên đặc điểm tự nhiên, sinh thái của vùng theo hướng lựa chọn những sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao (nằm trong chuỗi giá trị) và định hướng theo nhu cầu thị trường; phát triển các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên.

    3.3. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên liên kết vùng và chuỗi giá trị

     

    • Liên kết vùng là một xu hướng tất yếu để phát triển sản xuất ở ĐBSCL mà qua đó khắc phục được tình trạng “mạnh ai nấy làm”, phân tán, manh mún, nhỏ lẻ. Liên kết giữa các địa phương trong vùng phải dựa trên đặc trưng sinh thái, tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng và phát huy ưu thế của các địa phương để bổ sung cho nhau, trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”, cùng phát triển, lấy mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và cạnh tranh quốc tế để liên kết. Ngoài ra, cũng có thể thực hiện liên kết giữa vùng ĐBSCL với các vùng khác trong cả nước dựa trên ưu thế tự nhiên tạo ra sản phẩm của vùng có chất lượng cao và giá cả cạnh tranh, tùy theo từng vùng để xác lập mô hình liên kết phù hợp và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao.
    • Liên kết chuỗi giá trị trong nông nghiệp giúp tiêu thụ tốt các sản phẩm chủ lực là lúa gạo, thủy sản, trái cây của từng địa phương và của cả vùng ĐBSCL. Cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp chế biến vùng ĐBSCL, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ giữa các địa phương để đảm bảo hài hòa với sự phát triển nông nghiệp, thủy sản của vùng. Đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để ĐBSCL cơ bản có nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, tập trung, có sức cạnh tranh cao, hiệu quả và bền vững gắn với công nghiệp chế biến xuất khẩu. Đẩy mạnh liên kết giữa sản xuất nguyên liệu (nông dân) với chế biến (doanh nghiệp chế biến) và hệ thống phân phối (doanh nghiệp thương mại) trên cơ sở nhu cầu của thị trường tiêu thụ. Qua đó, ổn định được những vùng nguyên liệu, ứng dụng tốt khoa học công nghệ mới, kiểm soát tốt được
    • H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

     

     

    số lượng lẫn chất lượng và mang lại sự phát triển bền vững cho nông sản ĐBSCL.

     

    3.4. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với an sinh xã hội và môi trường – sinh thái

     

    Một là, về an sinh xã hội, trước hết cần phải giải quyết tốt việc làm cho người dân, giảm dần tỷ lệ thất nghiệp, tăng cường dịch vụ giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe thông qua việc phát triển mạnh thành phần kinh tế tư nhân, xã hội hóa, khôi phục các làng nghề truyền thống ở nông thôn, phát triển các ngành dịch vụ để thu hút lao động tại địa phương.

     

    Hai là, về môi trường – sinh thái, lựa chọn ngành nghề phù hợp, ưu tiên phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên, cần chú trọng đối với những dự án xanh, thân thiện với môi trường. Nhà nước cần ban hành những quy định đến việc tăng chi phí để ngăn ngừa và xử lý môi trường, nghiêm cấm việc sử dụng các công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, cần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp một cách phù hợp trước biến đổi khí hậu. Có 2 hướng chủ yếu có thể lựa chọn trong thực tế là:

     

    • Hướng thụ động, thuận theo tự nhiên: Các tỉnh ven biển cần chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây lâu năm (như dừa), rừng ngập mặn hoặc nuôi tôm kết hợp với rừng và du lịch sinh thái biể; Nghiên cứu tiến hành lựa chọn và lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi có thể tồn tại và phát triển trong môi trường khô hạn, nước mặn và nước lợ, sóng thần. Điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sử dụng tiết kiệm nước; điều chỉnh mùa vụ cho phù hợp với điều kiện mưa lũ, hạn hán kéo dài như chuyển đất lúa sang trồng rau màu, trồng cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày hoặc nuôi cá tự nhiên. Hướng chuyển đổi này giúp tiết kiệm vốn đầu tư cho cải tạo điều kiện sản xuất.

     

    • Hướng chủ động, can thiệp tự nhiên: Cần đầu tư xây dựng và liên kết hệ thống đê biển dọc theo biển Đông và biển Tây để ngăn mặn, ứng phó với mực nước biển dâng cao; phát triển rừng phòng hộ ven biển để nhăn bảo, sóng thần;

    xây dựng và hoàn thiện hệ thống công trình giữ nước ngọt cho toàn vùng như xây dựng các hệ thống đê sông, đê bao cồn, bãi; xây dựng hệ thống cống đầu kênh, nạo vét các sông, kênh và rạch nhằm vừa ngăn lũ vừa dự giữ nước ngọt cho vùng trồng lúa, màu, vườn cây ăn trái, ao cá. Đồng thời, có thể kết hợp tạo ra cảnh quan để phát triển du lịch và phục vụ hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hóa nội vùng.

     

    1. Kết luận

    Nhìn chung, MHTTKT ở GĐBSCL thời gian qua phát triển theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn và lao động, đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, kết quả phát triển kinh tế-xã hội của ĐBSCL chưa thật sự bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế có tính đặc thù của vùng. Sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, rủi ro cao, chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, chất lượng nguồn nhân lực thấp, hiệu quả đầu tư thấp, liên kết vùng và liên kết chuỗi giá trị còn chưa chặt chẽ. Với những hạn chế như vậy, việc nhanh chóng chuyển đổi MHTTKT của ĐBSCL từ chiều rộng sang kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu để sau năm 2020 tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu để từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là yêu cầu hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Và, trong chuyển đổi MHTTKT ở ĐBSCL phải gắn với tái cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp của vùng cũng như phải tiến hành đồng bộ các giải pháp để nâng cao năng suất tổng hợp, giải quyết các vấn đề về xã hội, môi trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Nguyễn Lê Duy, Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP), Viện năng suất Việt Nam – VNPI, 2017. http://vnpi.vn/nang-suat-yeu-to-tong-hop-tfp.htm (Truy cập nhật 03/10/2018).

    N.H. Gam / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 84-95

    95

    • Chu Văn Cấp, Đổi mới MHTTKT Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng, Báo điện tử Đảng

    CSVN, 2016.

     

    • Tổng cục Thống kê, Diện tích, dân số và mật độ

    dân số phân theo địa phương https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=714, 2018. (Truy cập ngày 15/10/2018).

     

    • Bộ TN&MT, Báo cáo tóm tắt Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội,

    2016.

     

    http://www.imh.ac.vn/files/doc/KichbanBDKH/T Tkichban_2016.pdf (Truy cập ngày 15/10/2018)

     

    • Việt Hùng, GS.TS. Trần Thục: Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với những thách thức lớn,

    Tài nguyên và Môi trường, 2017. http://vnmonre.vn/gsts-tran-thuc-dong-bang-song-cuu-long-dang-doi-mat-voi-nhung-thach-thuc-lon (Truy cập ngày 04/10/2018)

     

    • Nguyễn Thị Minh Châu, Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2014–2020,

    Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển, 2018. https://gec.edu.vn/tong-hop/doi-moi-mo-hinh-tang-truong-kinh-te-tai-viet-nam-2014-2020.html (Truy cập ngày 15/9/2018).

     

    • Tổng cục Thống kê, Báo cáo “Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” (Báo cáo bổ sung và cập nhật số liệu tháng 3/2016), 2016. https://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download. aspx?DocID=19551 (Truy cập ngày 20/10/2018).
    • Tổng cục Thống kê, Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện so với tổng sản phẩm trong nước và

    Hệ số ICOR https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716, 2018 (Truy cập ngày 20/10/2018).

     

    • VCCI-USAID-PCI, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2017, 2017. http://pcivietnam.org/an-pham/bao-cao-pci-2017/ (Truy cập ngày 21/9/2018).
    • Phạm Mỹ Duyên, Giảm  nghèo  bền  vững vùng

    đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Cộng sản, 2014. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStor y.aspx?distribution=29259&print=true (Truy cập ngày 19/9/2018).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

    An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

    An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/An-to%C3%A0n-th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-v%C3%A0-tr%C3%A1ch-nhi%E1%BB%87m-d%C3%A2n-s%E1%BB%B1-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    Review Article

     

    Food Safety and Civil Liability of the Enterprise from the Comparative Law Perspective

     

    Nguyen Thi Phuong Cham *

     

    School of Law, Vietnam National University, Hanoi,

    144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 12 April 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: Civil liability, as a method to directly protect the rights and legitimate interests of consumers, plays an important role in improving the legal provisions on food safety. However, the legal issues related to civil liability in general and, especially, civil liability in the field of food safety, remain highly controversial by the diversity of relationships among the subjects in the process of production, circulation and consumption. The paper focuses on: (1) Clarifying theoretical and practical provisions applied from the comparative law perspective, thus pointing out the problems that exist in the legal system in general and in the Vietnamese legal system in particular, on civil liability in the field of food safety; (2) Suggesting some comprehensive solutions for the purpose of introducing civil liability mechanisms, such as protecting the rights and interests of consumers in a practical and effective way; preventing violations of business in the context of science and technology development; and risk dispersion based on the theory of the balance of interests of civil legal subjects.

     

    Keywords: Food safety, civil liability, tort law, product liability.

     

    *

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4192

    31

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    An toàn thực phẩm và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

     

    Nguyễn Thị Phương Châm*

     

    Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 12 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Với tư cách là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng một, trách nhiệm dân sự đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hoá quy định pháp luật về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, các vấn đề pháp lí liên quan tới trách nhiệm dân sự nói chung, và đặc biệt trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng vẫn tồn tại rất nhiều tranh luận. Bài viết tập trung làm sáng tỏ: (1) Cơ sở lí luận, luật thực định và thực tiễn áp dụng quy định luật từ góc nhìn pháp luật so sánh; (2) Gợi mở một số giải pháp hoàn thiện với mục đích đưa cơ chế trách nhiệm dân sự thực hiện được đúng chức năng như: Bảo vệ quyền và lợi ích người của tiêu dùng một cách thiết thực và hữu hiệu; Ngăn chặn hành vi vi phạm của doanh nghiệp trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển; Phân tán rủi ro dựa trên lí thuyết cân bằng lợi ích của các chủ thể pháp luật dân sự.

     

    Từ khóa: An toàn thực phẩm, tránh nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm sản phẩm.

     

    Trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng*

     

    1.1. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại dựa trên hợp đồng

     

    Thông qua hợp đồng chủ thể với chủ thể cùng nhau xác lập mối quan hệ pháp lí (quyền và nghĩa vụ), để giải quyết tranh chấp pháp sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4192

    trong quan hệ hợp đồng, như là giải pháp giải quyết tranh chấp pháp luật về hợp đồng quy định bên không thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng phải gánh trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ được phân loại thành: Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm do không có khả năng thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do thực hiện nghĩa vụ không đúng, không đầy đủ. Đối với từng phân loại không thực hiện nghĩa vụ sẽ dẫn tới hậu quả pháp lí bên có quyền có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp phát sinh thiệt hại.

     

    Liên quan đến các vấn đề an toàn thực phẩm, người tiêu dùng có quyền yêu cầu bên

     

    32

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    33

    cung cấp dịch vụ, bên bán sản phẩm hàng hoá kém chất lượng gây ra hậu quả xâm hại sức khoẻ, tính mạng phải bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp bán hàng không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ phát sinh dựa trên hợp đồng.

     

    Bên cạnh đó, trong pháp luật dân sự còn quy định trách nhiệm bảo đảm khuyết tật của bên bán đối với bên mua, trong trường hợp sản phẩm có khuyết tật sau khi hàng được chuyển giao cho bên mua, bên mua có quyền truy cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên bán cho dù trong trường hợp này rất khó chứng minh bên bán vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng dựa trên lỗi để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

     

    1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hành vi bất hợp pháp (Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)

     

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hành vi bất hợp pháp còn được gọi là trách nhiệm “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” (BTTH ngoài hợp đồng). Đây là khái niệm được xây dựng dựa trên hành vi bất hợp pháp, là trách nhiệm luật định đối với chủ thể pháp luật dân sự với tư cách là hậu quả pháp lí được quy thuộc cho chủ thể khi thực hiện hành vi xâm hại quyền tài sản, quyền nhân thân (quyền và lợi ích hợp pháp) của chủ thể khác. Và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có những đặc điểm pháp lí sau khi phân biệt với trách nhiệm BTTH dựa trên hợp đồng. (1) Thứ nhất, BTTH ngoài hợp đồng là hậu quả pháp lí mà pháp luật quy định khi thấy rằng chủ thể nên gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ mang tính luật. Việc vi phạm những nghĩa vụ này sẽ dẫn tới trách nhiệm BTTH. (2) Thứ hai, BTTH ngoài hợp đồng với điều kiện cần là tồn tại hành vi bất hợp pháp (Hành vi xâm hại). Do vậy, không có hành vi bất hợp pháp không thể quy trách nhiệm BTTH đối với chủ thể. Mục đích hình thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đó là pháp luật dân sự xem loại trách nhiệm này như một trách nhiệm dân sự đối với những hành vi

     

    bất hợp pháp và qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác khi chịu những thiệt hại do hành vibất hợp pháp đem lại (bù đắp thiệt hại về tài sản và tinh thần). (3) Thứ ba, trong mối tương quan so sánh với trách nhiệm dân sự dựa trên hợp đồng, trách nhiệm dân sự dựa trên hành vi bất hợp pháp (BTTH ngoài hợp đồng) là trách nhiệm dân sự độc lập, riêng rẽ với đặc tính cưỡng chế mang tính luật rất mạnh. Khác với trách nhiệm dựa trên hợp đồng với nền tảng pháp lí là sự thoả thuận giữa các bên, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng dựa trên pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng – được quy định tại BLDS và tại các luật chuyên ngành như Luật bảo vệ quền lợi người tiêu dùng, Luật chất lượng hàng hoá, Luật vệ sinh an toàn thực phẩm…[1, 18]. Và nếu nhìn dưới góc độ nội dung, pháp luật BTTH ngoài hợp đồng được quy định bởi cấu trúc phần chung và phần riêng. Những quy định chung và quy định riêng được xây dựng khác nhau về nội dung như điều kiện xác lập trách hiệm BTTH, nguyên tắc quy trách nhiệm, kháng biện của bị đơn để miễn trách nhiệm… bởi mục đích khác nhau của các quy định pháp luật này. Mục đích của quy định chung hướng tới điều chỉnh các hành vi bất hợp pháp dưới dạng thức tổng quát, toàn diện, trong khi đó quy định riêng hướng tới điều chỉnh hành vi cụ thể, được đặc định hoá. Do vậy, nghĩa vụ chung về BTTH ngoài hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc trách nhiệm dựa trên lỗi 1 , và bị đơn (người gây hại) có thể miễn nghĩa vụ trong trường hợp chứng minh được do sự cố ý của người bị hại, do lỗi của người thứ ba, trong tình thế cấp thiết hoặc phòng vệ chính đáng. Trong khi đó, trách nhiệm BTTH tại phần riêng được xây dựng với mục đích phần lớn nghiêng về chính sách công bởi một thể chế lập pháp độc lập thông qua các luật chuyên ngành bổ sung cho các quy định riêng về BTTH ngoài hợp đồng tại BLDS. Qua đó, thông thường đó là trách nhiệm nghiêm ngặt, trách nhiệm không dựa trên lỗi, và về giới hạn trách nhiệm cũng

     

    ________

     

    • Điều 1382 BLDS Pháp, Khoản 1 Điều 823 BLDS Đức, Điều 709 BLDS Nhật Bản.

     

    34                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    như miễn trách nhiệm phải dựa trên quy định của luật [1, 18-19].

     

    1.3. Tiểu kết về căn cứ pháp lí xoay quanh trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp

     

    1. Trách nhiệm dựa trên hợp đồng
    • Thời kì đầu: Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ của bên bán (Trách nhiệm dựa trên lỗi của người bán).
    • Tiến triển: Trách nhiệm đảm bảo khuyết tật của bên bán (trách nhiệm không dựa trên lỗi).
    1. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
    • Thời kì đầu: Trách nhiệm BTTH do hành
    • bất hợp pháp được quy định tại phần chung BLDS (Trách nhiệm dựa trên lỗi).
    • Tiến triển: Trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm (trách nhiệm không dựa trên lỗi).
    1. Trách nhiệm dựa trên luật định, cụ thể được quy định tại các luật chuyên ngành về an toàn thực phẩm dựa trên đặc tính riêng biệt của đối tượng là thực phẩm

    Trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp về an toàn thực phẩm dưới mô hình cụ thể trong quan hệ với người tiêu dùng

     

    Trong quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp chế biến, bảo quản, vận chuyển, phân phối, bán lẻ là một chuỗi các mối quan hệ trong suốt quá trình sản xuất và lưu thông.

     

    Nhìn chung mối quan hệ này được thể hiện dưới các mô hình sau:

     

    • Mô hình (1) : Nhà sản xuất, nhà phân phối bán buôn, nhà bán lẻ, người tiêu dùng
    • Mô hình (2): Nhà cung cấp nguyên vật liệu (có thể nguyên liệu nhập khẩu), nhà phân phối buôn, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ liên quan đến thực phẩm (nhà hàng, khách sạn…), người tiêu dùng
    • Mô hình (3): Người bán hàng, sàn giao dịch điện tử trung gian (thị trường giao dịch tập trung), người tiêu dùng. Đây là mô hình lưu

    thông, tiêu dùng mới và đặc biệt phát triển mạnh trong thời đại công nghệ số. Mô hình lưu thông được dự báo còn nhiều tiềm năng phát triển trước cuộc cách mạng công nghệ 4.0.

     

    Các mô hình trên đều thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, trước hiện trạng xã hội về an toàn thực phẩm, bảo vệ quyền lợi tiêu dùng thông qua chất lượng thực phẩm bảo đảm ngày càng được xã hội quan tâm. Một trong những cơ sở nền tảng pháp lí nâng cao niềm tin của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp nói riêng, xã hội nói chung với tư cách là giải pháp bù đắp thiệt hại cho người tiêu dùng không thể không bàn tới vấn đề trách nhiệm dân sự.

     

    2.1. Phân tích trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, lưu thông ở mô hình 1.

     

    2.1.1. Vấn đề pháp lí xoay quanh mối quan hệ giữa người người tiêu dùng và doanh nghiệp

     

    Thứ nhất, chủ thể phải đảm bảo tính an toàn của thực phẩm đó là người sản xuất, người chế biến. Nhà sản xuất có nghĩa vụ phải nỗ lực chú ý sao cho không sản xuất, chế biến thực phẩm có hại trong quá trình sử dụng chất phụ gia. Cho dù nhà sản xuất không dùng chất độc hại, vẫn tồn tại nghĩa vụ chú ý, thận trọng sao cho ngăn chặn, hạn chế tối đa thực phẩm không trở thành độc hại do lơ là khi sử dụng nguyên vật liệu, cũng như sau một thời gian sử dụng. Hơn thế nữa, nhà sản xuất phải nỗ lực trong việc tuyệt đối không dùng các dụng cụ, bao bì độc hại.

     

    Trong quá trình chế biến nhà sản xuất không được sử dụng nguyên liệu độc hại, không trộn lẫn nguyên liệu được dự liệu mang lại độc hại, giả sử cho dù không phải chất độc hại cũng phải có nghĩa vụ chú ý sao cho không trộn lẫn vật lạ, nguyên vật liệu lạ. Nói tóm lại nhà sản xuất có nghĩa vụ bảo đảm tính an toàn của thực phẩm nói riêng, hàng hoá nói chung.

     

    Trong trường hợp vi phạm các nghĩa vụ trên, sản xuất ra thực phẩm gây hại, doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm BTTH cho người bị hại. Và đây là trách nhiệm dân sự

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    35

    ngoài hợp đồng. Căn cứ pháp lí của trách nhiệm này được quy định tại phần chung về trách nhiệm BTTH do hành vi bất hợp pháp được quy định tại BLDS, hoặc trách nhiệm BTTH dựa trên luật chuyên ngành. Ngày này hệ thống luật trách nhiệm sản phẩm đóng vai trò quan trọng, và đây được xem là loại trách nhiệm nghiêm ngặt. Do vậy trong trường hợp thực phẩm gây hại cho người tiêu dùng, người tiêu dùng cho dù không chứng minh quan hệ nhân quả giữa hành

     

    • xâm hại và thiệt hại cũng như yếu tố lỗi của doanh nghiệp, doanh nghiệp cũng khó thoát khỏi trách nhiệm BTTH [2, 25].

    Thứ hai, mối quan hệ giữa nhà phân phối, nhà bán hàng và người tiêu dùng.

     

    Trường hợp thực phẩm gây hại cho người tiêu dùng, người tiêu dùng mua sản phẩm quá hạn sử dụng, quá hạn bảo quản thì có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua những phương thức nào? Trong mối quan hệ với doanh nghiệp phân phối, bán trực tiếp cho người tiêu dùng, tồn tại quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, bên mua (người tiêu dùng) có quyền yêu cầu BTTH với căn cứ pháp lý dựa trên hợp đồng. Cụ thể, bên bán phải có nghĩa vụ chuyển giao vật đúng chất lượng và trong trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự như thực hiện nghĩa vụ thay thế, BTTH,… Tuy nhiên đối tượng của hợp đồng là thực phẩm nên tại thời điểm giao kết, thông thường liên quan đến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, hình thức, ghi nhãn sản phẩm được bên mua xác nhận, do vậy luận bàn về chủ đề này tiêu chí đánh giá nghĩa vụ xác nhận của bên mua trong mối tương quan nhận định có hay không tồn tại việc vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vật đúng chất lượng của bên bán là một trong những vấn đề phức tạp về giao dịch hàng hoá là thực phẩm (Luật thương mại cũng ghi nhận bên mua phải xác nhận chất lượng tại thời điểm giao kết hợp đồng).

     

    Thứ ba, có tồn tại hay không mối quan hệ giữa người tiêu dùng với người bán buôn, đại

     

    lí phân phối hàng hoá không trực tiếp xác lập hợp đồng với người tiêu dùng.

     

    2.1.2. Án lệ Nhật Bản (Án lệ ngày 27/12/1972 của Toà địa phương Gifu ) [3; 87-101]

     

    Doanh nghiệp chế biến M chuyên sản xuất đậu phụ, sau đó doanh nghiệp bán cho doanh nghiệp bán buôn W, và W bán lại cho doanh nghiệp bán lẻ là R, người tiêu dùng C mua lại sản phẩm từ doanh nghiệp R. Sau đó đậu phụ bị nhiễm vi khuẩn Salmonella (Vi khuẩn đường ruột), gia đình của C bị ngộ độc thực phẩm và là nguyên nhân dẫn đến tử vong của một thành viên trong gia đình. C khởi kiện yêu cầu M, W, R bồi thường thiệt hại. Phán quyết của Toà chấp nhận yêu cầu của C với lí do sau:

     

    Thứ nhất, về trách nhiệm của M đây được xem là trách nhiệm BTTH do hành vi bất hợp pháp (Áp dụng quy định tại phần chung về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng – Điều 709 BLDS Nhật Bản). “Doanh nghiệp M sử dụng trứng làm nguyên vật liệu chế taọ đậu phụ phải biết được trong quá trình sử dụng trứng có khả năng dẫn đến nhiễm khuẩn chủng Salmonella, vì vậy hoặc không sử dụng nguyên vật liệu là trứng, hoặc nếu sử dụng thì trong quá trình chế biến phải thiết lập các biện pháp cần thiết ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Tuy nhiên doanh nghiệp M từ trước khi mua đến sau khi mua và chế biến đậu phụ đã không duy trì tình trạng nguyên vật liệu một cách tốt nhất dẫn đến nguyên liệu nhiễm khuẩn. Như vậy doanh nghiệp M vi phạm nghĩa vụ chú ý trong việc thiết lập biện pháp đối với viện ngăn ngừa nhiễm khuẩn do vậy được nhận định có lỗi và tại thời điểm lưu thông sản phẩm, thực phẩm được chế biến đã nhiễm khuẩn và dẫn tới những thiệt hại mà C phải gánh chịu” do vậy tồn tại mối quan hệ nhân quả.

     

    Thứ hai, về trách nhiệm của doanh nghiệp bán lẻ R, đây là trách nhiệm BTTH do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng (Trách nhiệm BTTH dựa trên hợp đồng).

     

    “Bên bán trong hợp đồng mua bán, không chỉ có nghĩa vụ cung cấp hàng hoá cơ bản (đối tượng của hợp đồng mua bán), mà còn có các nghĩa vụ chú ý sao cho không xâm hại đến lợi

     

    36                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    ích về tài sản, sức khoẻ, thân thể, sinh mạng của bên mua. Việc giao sản phẩm có khuyết tật đến người mua và trong trường hợp do khuyết tật của sản phẩm bên mua gặp thiệt hại về lợi ích trên thì bên bán phải có nghĩa vụ BTTH cho bên mua trừ trường hợp chứng minh được không vi phạm nghĩa vụ chú ý trên. Và trách nhiệm dựa trên hợp đồng của bên bán không chỉ là trách nhiệm đối với bên mua, mà được giải thích là trách nhiệm dựa trên nguyên tắc thiện trí trung thực là trách nhiệm đối với toàn bộ gia đình bên mua (những người cùng chung sống) được dự liệu mang tính hợp lí về việc sử dụng, tiêu thụ sản phẩm.

     

    Thứ ba, về trách nhiệm của doanh nghiệp bán buôn W, W phải có trách nhiệm BTTH đối với R giống như trách nhiệm trên hợp đồng mà R phải gánh chịu BTTH cho C. Do vậy công nhận cho C thực hiện thế vị quyền yêu cầu BTTH của R đối với W thông qua quyền của chính mình đối với R (Điều 423 BLDS Nhật Bản).

     

    Điều 423 BLDS Nhật Bản cho thấy, người có trái quyền muốn bảo vệ trái quyền của bản thân, có thể thực hiện quyền của bên có nghĩa vụ. Công nhận trong trường hợp R thiếu tiềm lực kinh tế để thực hiện nghĩa vụ BTTH đối với C. Và như vậy C có thể yêu cầu W BTTH với tư cách thực hiện thay yêu cầu của R đối với W [4; 65].

     

    2.2. Phân tích trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, lưu thông ở mô hình 2

     

    2.2.1. Vấn đề pháp lí xoay quanh các chủ thể liên quan đến trách nhiệm dân sự

     

    Thứ nhất: Người tiêu dùng trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Nhà hàng, khách sạn…) BTTH. Tuy nhiên, tồn tại một vấn đề pháp lí đó là nền tảng cơ sở lí luận và căn cứ pháp lí BTTH dựa trên trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, hành vi bất hợp pháp được quy định tại phần chung BLDS hay trách nhiệm sản phẩm được quy định tại luật chuyên ngành. Điểm khác nhau giữa các căn cứ pháp lí trên đó là điều kiện cấu thành trách nhiệm BTTH dựa

     

    trên trách nhiệm sản phẩm ko yêu cầu điều kiện lỗi.

     

    Án lệ của Toà địa phương Tokyo ngày 13/12/2002 công nhận thực phẩm được chế biến được xem là sản phẩm, và công nhận trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ ăn uống là trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm [5,14].

     

    Thứ hai: Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (doanh nghiệp chế biến) yêu cầu nhà cung cấp nguyên liệu BTTH (Căn cứ pháp lý là: trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm, hoặc có thể dựa trên hành vi bất hơp pháp tại phần chung BLDS). Về căn cứ pháp lí mối quan hệ giữa trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm và dựa trên hành

     

    • bất hợp pháp trong quy định tại BLDS là mối quan hệ giữa luật chung và luật riêng liên quan đến điều kiện cấu thành, cơ chế miễn trừ trách nhiệm.

    Bên cạnh đó doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ăn uống có quyền yêu cầu nhà phân phối bán buôn BTTH dựa trên hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, tồn tại vấn đề pháp lí xoay quanh căn cứ pháp lí của trách nhiệm doanh nghiệp trong hợp đồng đó là trách nhiệm dựa trên sự

     

    • phạm nghĩa vụ của hợp đồng hay trách nhiệm dựa trên trách nhiệm bảo đảm khuyết tật. Về cơ sở lí luận, trách nhiệm bảo đảm khuyết tật có nhiều thuyết tồn tại, có quan điểm cho rằng đây là trách nhiệm phát sinh trong hợp đồng, cũng có quan điểm cho rằng đây là trách nhiệm luật định [6; 46-50]. Song không thuyết nào phủ nhận vai trò của loại trách nhiệm này, và đây được xem là cơ chế hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích của bên mua được xây dựng dựa trên chủ nghĩa trách nhiệm không lỗi khác với trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng [6; 46-50] .

    2.2.2. Án lệ Nhật Bản

     

    Một án lệ gần đây của Nhật Bản phủ nhận trách nhiệm của bên bán khi cung cấp nguyên liệu cho nhà hàng có nhiễm khuẩn dựa trên căn cứ pháp lí vi phạm nghĩ vụ trong hợp đồng vì rất khó xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ bên bán không thực hiện đúng nghĩa vụ giao vật

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    37

    như không phù hợp với mục đích, chất lượng đã được các bên thoả thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng. Đặc biệt đối với thực phẩm tươi sống, giai đoạn nào là thực phẩm bị nhiễm khuẩn, trước khi các bên thực hiện nghĩa vụ hay sau khi các bên đã hoàn tất nghĩa vụ là vấn đề không dễ xác định. Song, án lệ công nhận yêu cầu BTTH của nguyên đơn với lí do bị đơn vi phạm trách nhiệm bảo đảm khuyết tật (Án lệ Toà địa phương Yokohama ngày 16/12/20032).

     

    2.3. Phân tích trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất, lưu thông ở mô hình 3

     

    2.3.1. Vấn đề pháp lí xoay quanh mối quan hệ các chủ thể

     

    Thứ nhất, về mối quan hệ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp bán sản phẩm. Đây là mối quan hệ dựa trên hợp đồng mua bán vì vậy người tiêu dùng có quyền yêu cầu doanh nghiệp bán hàng BTTH nếu thực phẩm thiếu tính an toàn, không đảm bảo chất lượng, có khuyết tật dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ. Và đây là trách nhiệm dựa trên hợp đồng, có thể căn cứ đó là vi phạm nghĩa vụ của bên bán hoặc trách nhiệm đảm bảo khuyết tật của bên bán.

     

    Thứ hai, về mối quan hệ giữa người tiêu dùng và sàn giao dịch tập trung, sàn giao dịch điện tử. Tuy nhiên bản chất pháp lí của mối quan hệ này là gì? Là vấn đề pháp lí không thể thiếu khi đề cập đến trách nhiệm của các bên. Hiện nay, về cơ bản phủ nhận quan hệ hợp đồng giữa hai chủ thể này. Vì vậy trong trường hợp phát sinh thiệt hại người tiêu dùng chỉ có thể yêu cầu BTTH dựa trên căn cứ pháp lí hành

     

    • bất hợp pháp được quy định tại phần chung BLDS (rõ ràng luật trách nhiệm sản phẩm không thể áp dụng đối với mối quan hệ này). Tuy nhiên, cùng với giới hạn của căn cứ pháp lí này người tiêu dùng khó có thể được bù đắp thiệt hại khi phải chứng minh tồn tại các điều

    kiện cấu thành trách nhiệm BTTH như hành vi xâm hại, lỗi, thiệt hại và mối quan hệ giữa hành

     

    • xâm hại và thiệt hại. Có hay chăng người tiêu dùng chỉ có thể trực tiếp yêu cầu sàn giao dịch tập trung, sàn giao dịch điện tử, internet BTTH thông qua cơ chế thế vị của chủ thể có quyền theo án lệ của Nhật [4, 65] (Cụ thể người tiêu dùng có quyền yêu cầu BTTH đối với bên bán dựa trên sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, trong trường hợp bên bán có quyền yêu cầu sàn giao dịch BTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng với mình, thì người tiêu dùng có quyền thế vào vị trí của bên bán yêu cầu trực tiếp sàn giao dịch BTTH).

    2.3.2. Tham chiếu pháp luật nước ngoài

     

    Đối với mối quan hệ này Luật an toàn thực phẩm Trung Quốc sửa đổi 20153 đã luật hoá trách nhiệm của sàn giao dịch điện tử, sàn giao dịch tập chung như sau:

     

    Thứ nhất: Người thiết lập thị trường giao dịch tập chung, nhà chủ trì hội trợ triển lãm…có trách nhiệm BTTH liên đới với người bán hàng (theo Điều 130).

     

    Thứ hai: Người cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thông qua hệ thống Internet phải liên đới bồi thường (theo Khoản 2 Điều 131).

     

    Thứ ba: Người cung cấp hệ thống internet (sàn giao dịch) là chủ thể đầu tiên có trách nhiệm BTTH với người tiêu dùng, trong trường hợp nếu không thể cung cấp tên chính xác của nhà bán thực phẩm, địa chỉ và cách thực liên lạc hữu hiệu nhất. Sau khi bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng có quyền yêu cầu doanh nghiệp bán thực phẩm, doanh nghiệp chế biến thực phẩm hoàn trả số tiền bồi thường trên (theo Khoản 3 Điều 131).

     

    Pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

     

    Luật về An toàn thực phẩm 2010 cũng như Nghị định của chính phủ số 15/2018/NĐ-CP về

     

    ________

     

    (Truy cập ngày 11/12/2018).

    ________

    3http://japanese.agri.gov.cn/flfg/201512/t20151208_16364

    3.htm.

     

    38                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    Quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật an toàn thực phẩm không có quy định liên quan tới trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp. Vậy liên quan đến vấn đề này về cơ bản căn cứ pháp lí trong hệ thống pháp luật Việt Nam dựa trên BLDS 2015, các luật chuyên ngành liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Luật chất lượng hàng hoá.

     

    Tuy nhiên, liên quan đến trách nhiệm đảm bảo khuyết tật, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hiện này pháp luật Việt Nam thiếu sự đồng bộ về điều kiện cấu thành, cơ chế miễn trừ trách nhiệm.

     

    3.1. Trách nhiệm đảm bảo khuyết tật

     

    Điều 445 BLDS 2015 không thể hiện rõ ràng nội hàm cơ bản của quy định về trách nhiệm đảm bảo khuyết tật phải giải quyết được các vấn đề như sau: (1) Khái niệm khuyết tật;

     

    • Điều kiện cấu thành trách nhiệm là trách nhiệm không lỗi. (3) Các cơ chế miễn trừ trách nhiệm trong mối cân bằng lợi ích giữa bên mua và bên bán. Với quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 445 BLDS 2015, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm phải chăng có thể lí giải nếu trong trường hợp bên mua có lỗi dẫn tới việc không biết khuyết tật. Với cách lí giải như vậy sẽ dẫn tới một phạm vi vô hạn định về cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho doanh nghiệp. Và đặc biệt trong vấn đề an toàn thực phẩm, người mua có nghĩa vụ tìm hiểu tính an toàn này đến đâu. Chính lí do các quy định không rõ nghĩa, thiếu tính đồng bộ là một trong các nguyên nhân dẫn tới hệ luỵ vai trò của trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn thực phẩm không được phát huy, nói cách khác hầu như không thực hiện được chức năng của mình đối với nhu cầu xã hội, thực tiễn cho thấy đến tại thời điểm này người tiêu dùng chưa thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình thông qua phương thức yêu cầu doanh nghiệp BTTH.

    Việc nghiên cứu lí luận chuyên sâu, nghiên cứu pháp luật so sánh dưới góc độ luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hoá quy

     

    định của pháp luật về trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm BTTT nói riêng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

     

    3.2. Trách nhiệm sản phẩm

     

    Nội hàm các quy định tại các văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như Luật chất lượng hàng hoá (Luật CLHH) và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) về bản chất đã chứa đựng những vướng mắc, mâu thuẫn liên quan đến nội dung trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.

     

    • Về mối quan hệ giữa quy định tại Luật BVQLNTD và Luật CLHH có sự xung đột nhau về điều kiện xác lập nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà phân phối đối với người tiêu dùng. Nếu như quy định tại Luật BVQLNTD chỉ ra rằng nguyên tắc của nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp này là nguyên tắc trách nhiệm không dựa trên lỗi thì ngược lại với quy định tại Điều 61 Luật CLHH lại khẳng định nguyên tắc trách nhiệm dựa trên lỗi.
    • Bên cạnh đó, quy định tại Luật BVQLNTD cũng tồn tại những xung đột thể hiện sự thiếu sự đồng bộ trong các quy định của Luật.

    Về lí luận khoa học thì dựa trên tiêu chí yếu tố lỗi. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được phân loại như sau:

     

    • Trách nhiệm BTTH dựa trên lỗi (nghĩa vụ lập chứng thuộc về người bị hại).
    • Trách nhiệm BTTH chuyển giao nghĩa vụ chứng minh lỗi hay còn gọi là trách nhiệm trung gian giữa trách nhiệm dựa trên lỗi và trách nhiệm không dựa trên lỗi (người gây hại được suy đoán có lỗi và chỉ trong trường hợp chứng minh được không có lỗi người gây hại không phải chịu trách nhiệm BTTH).
    • Trách nhiệm BTTH dựa trên trách nhiệm nghiêm ngặt (không dựa trên lỗi, song không phải hoàn toàn bỏ yếu tố lỗi vì vẫn tồn tại song song quy định miễn trừ nghĩa vụ dựa trên nguyên lý rủi ro phát triển).

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    39

    • Trách nhiệm BTTH không dựa trên lỗi (Cơ chế miễn trừ không được áp dụng hoặc nếu có thì phạm vi rất hẹp như trong trường hợp bất khả kháng).

    Với quy định tại Điều 23 Luật BVQLNTD, và dẫn chiếu Điều 24 Luật BVQLNTD, liên quan đến nghĩa vụ BTTH dựa trên trách nhiệm sản phẩm, pháp luật Việt Nam đồng bộ với pháp luật các nước trên cơ sở nhìn nhận đây là một loại trách nhiệm nghiêm ngặt. Tuy nhiên, quy định tại Khoản 2 Điều 42 phá vỡ những nhận định trên bởi một quy định không rõ nghĩa khi quy định “nghĩa vụ chứng minh không có lỗi thuộc về nhà sản xuất”. Việc quy định nghĩa vụ lập chứng đối với nhà sản xuất nhưng không có giải pháp của luật kèm theo với tư cách là hậu quả pháp lí dẫn đến một câu hỏi: Vậy nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng quy định tại Luật BVQLNTD là nghĩa vụ BTTH dựa trên lỗi nhưng chuyển giao nghĩa vụ lập chứng liên quan đến lỗi và hậu quả pháp lí là khi nhà sản xuất chứng minh mình không có lỗi sẽ được miễn trừ trách nhiệm BTTH, hay đây là nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng dựa trên trách nhiệm nghiêm ngặt và việc chứng minh không có lỗi của nhà sản xuất chỉ có ý nghĩa trong việc xác định thiệt hại.

     

    Có thể thấy, Điều 42 quy định về nghĩa vụ lập chứng liên quan đến điều kiện lỗi dẫn tới sự mâu thuẫn trong cách lí giải yếu tố lỗi trong điều kiện xác lập nghĩa vụ BTTH ngoài hợp đồng trong trường hợp thiệt hại do sản phẩm, hàng hoá gây ra.

     

    Giải quyết vấn đề

     

    4.1. Trách nhiệm đảm bảo khuyết tật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

     

    Cũng giống như trách nhiệm sản phẩm, trách nhiệm bảo đảm khuyết tật của bên bán cũng tồn tại những giới hạn nhất định trước thời đại mới.

     

    Về bản chất của loại trách nhiệm dân sự này, vẫn tồn tại hai quan điểm: (1) Thứ nhất cho rằng: đây là phân loại trách nhiệm dựa trên

     

    hợp đồng một trong những loại trách nhiệm dân sự do bên bán không thực hiện được nghĩa vụ đối với bên mua; (2) Thứ hai cho rằng: đây là trách nhiệm luật định.

     

    Nhưng với nền tảng lí luận nào thì cơ bản trong mọi hệ thống pháp luật đều công nhận đây là loại trách nhiệm dân sự không dựa trên lỗi, và song song công nhận cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho bên bán.

     

    Song liên quan đến an toàn thực phẩm, khi bàn về vai trò loại trách nhiệm dân sự này của doanh nghiệp (bên bán) ngày này đặt ra nhiều vấn đề tồn tại, như nếu có tồn tại lỗi của bên mua có hay không là điều kiện miễn trừ trách nhiệm cho bên bán.

     

    Trong danh mục phải ghi nhãn sản phẩm đối với sản phẩm đóng gói là hạn sử dụng hoặc hạn bảo quản. Đối với trường hợp ghi hạn bảo quản thì cho dù quá thời hạn bảo quản thực phẩm không có nghĩa là không thể lưu thông và không thuộc phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp chế biến, trong trường hợp này cụ thể doanh nghiệp chế biến không vi phạm khuyết tất do có chỉ dẫn cụ thể. Vậy một sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhưng quá thời hạn bảo quản thì quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ đến đâu [7; 169].

     

    Trường hợp này nếu áp dụng chế tài trách nhiệm dân sự truyền thống như BTTH ngoài hợp đồng (Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm), cũng như trách nhiệm vi phạm nghĩa vụ dựa trên hợp đồng của bên bán về cơ bản khả năng không thể áp dụng.

     

    Một giải pháp đặt ra đó là liệu rằng có hay không việc áp dụng trách nhiệm đảm bảo khuyết tật để bảo vệ quyền và lợi ích người tiêu dùng. Hiện nay mô hình trách nhiệm đảm bảo khuyết tật được quy định tại Bộ luật dân sự Đức (BGB) sau khi sửa đổi phần trái quyền năm 2002 đang được xem là mô hình pháp lí điển hình có sự hài hoá hoá pháp luật quốc gia với chỉ thị của EU về các vấn đề bảo vệ người tiêu dùng [8; 219].

     

    Theo Điều 459 BGB đưa ra định nghĩa về khuyết tật, và Điều 460 BGB quy định các

     

    40                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    trường hợp miễn trừ trách nhiệm cho bên bán:

     

    • Trong trường hợp người mua biết khuyết tật; (2) người mua không biết do lỗi nặng trừ trường hợp người bán biết mà không thông báo, và trường hợp người bán có điều khoản đảm bảo không có khuyết tật.

    Với quy định tưởng trừng như tương đối rõ nghĩa , song trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến an toàn thực phẩm, đặc biệt vấn đề về thời hạn bảo quản thực phẩm không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, trường hợp sản phẩm quá hạn bảo quản khi mà không chắc chắn rằng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, thì cho dù thời hạn này đã được ghi rõ trên nhãn mác sản phẩm “Sử dụng tốt nhất trước ngày” việc người tiêu dùng vẫn mua khi quá hạn có phải thuộc trường hợp miễn trách nhiệm cho doanh nghiệp bán khi nhận thấy tồn tại yếu tố “người mua biết khuyết tật” hoặc “người mua không biết do lỗi nặng” hay không?

     

    Về vấn đề này hiện nay giới luật học Đức tồn tại ba quan điểm như sau:

     

    • Quan điểm thứ nhất dựa trên phân loại người tiêu dùng tự phục vụ ( self-sevice) hoặc người tiêu dùng được phục vụ mà luận giải khác nhau [7; 171].

    Trường hợp người tiêu dùng tự phục vụ thì người mua có thể tự xác nhận được hạn bảo quản do vậy người tiêu dùng cũng phải nhận thức. Và việc tự xác nhận thời hạn đối với người mua không khó (trừ trường hợp việc ghi nhãn này khó đọc do mờ, hoặc rơi mất nhãn mác), do vậy việc không biết được xem là do lỗi nặng.

     

    Ngược lại, trường hợp mua được phục vụ, với bản chất khác với trường hợp tự phục vụ, nhân viên mang sản phẩm đến cho khách hàng thì việc bán sản phẩm chưa quá hạn bảo quản là điều mong đợi của người tiêu dùng. Do vậy đương nhiên không tồn tại nghĩa vụ kiểm tra của người mua, và không xem việc không biết là do lỗi nặng của người mua.

     

    Liên quan đến điều kiện chủ quan của bên bán, bên bán không thể được miễn trừ trách

     

    nhiệm BTTH nếu biết mà không thông báo, và trong trường hợp tự phục vụ thì quan điểm này cho rằng người mua không khó trong việc kiểm tra nên không tồn tại nghĩa vụ giải trình của người bán, bởi lẽ thông thường trường hợp này người bán được xem không ác ý. Như vậy quan điểm này cho rằng, trong hoạt động mua bán tự phục vụ người mua có lỗi nặng, người bán không có nghĩa vụ giải thích về sản phẩm được ghi rõ nhãn mác nên không được xem là cố ý im lặng (biết mà không thông báo) và thông thường loại bỏ trách nhiệm đảm bảo khuyết tất.

     

    Tuy nhiên đối với quan điểm này, rõ ràng tồn tại các vấn đề sau: Trong trường hợp người mua nếu mua với khối lượng lớn liệu rằng có thể xác nhận được toàn bộ sản phẩm, hàng hoá không? Trẻ em, người cao tuổi, người nước ngoài, người có vấn đề về trí tuệ, người không biết chữ…trong trường trường hợp có lí do đặc biệt thì đối với vấn đề việc không biết là có lỗi nặng có phù hợp không?

     

    (2) Quan điểm thứ hai cho rằng [7; 173]

     

    Về việc xác định có hay không lỗi nặng của người mua phải dựa trên tiêu chí phán đoán tại thời điểm giao kết hợp đồng có hay không nghĩa vụ kiểm tra của người mua. Cơ bản người mua không có nghĩa vụ kiểm tra sản phẩm, chỉ dưới những điều kiện đặc biệt thì tuỳ từng trường hợp dựa trên nguyên tắc thiện trí trung thực là căn cứ xác định nghĩa vụ kiểm tra và chỉ khi do bất cẩn vi phạm nghĩa vụ này mới được xem có tồn tại lỗi nặng của bên mua khi không biết đến khuyết tật của sản phẩm.

     

    Quan điểm thứ hai cho rằng nhận định có hay không lỗi nặng của người mua không phải xét từ thực trạng của quan hệ mua bán như tự phục vụ hay được phục vụ, mà cần thiết phải nghiên cứu từ quan điểm có cần thiết hay không khi công nhận nghĩa vụ của người mua phải kiểm tra hàng hoá, sản phẩm. Quan trọng hơn thước đo khi cân nhắc có hay không nghĩa vụ này phải dựa trên một tiêu chí căn bản đó là cán cân bằng lợi ích giữa bên bán và bên mua. Và khi thấy rằng, người bán cần phải thận trọng với đối tượng sản phẩm hàng hoá của mình liên

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    41

    quan đến hạn bảo quản, điều đó đồng nghĩa với việc phủ nhận nghĩa vụ kiểm tra của người mua. Do vậy dù nhãn mác có ghi đầy đủ thông tin về thời hạn bảo quản cũng không phải là căn cứ xác định người mua mặc nhiên phải biết và việc không biết là do lỗi nặng.

     

    Vậy, trong khi cách luận giải của quan điểm thứ nhất, không công nhận trách nhiệm đảm bảo của doanh nghiệp khi cho rằng có tồn tại lỗi nặng của người mua đối với trường hợp mua tại các của hàng tiện ích, siêu thị (người mua tự phục vụ), bởi lẽ từ thực trạng người mua có thể dễ dàng xác nhận được các thông tin trên sản phẩm. Ngược lại quan điểm thứ hai cho rằng, nhận định có hay không lỗi nặng thì trước hết phải nghiên cứu dưới dạng thức có hay không tồn tại nghĩa vụ. Và trên thực tế cho dù người mua có thể xác nhận được thông tin trên nhãn mác, nhưng không nên xem đó là nghĩa vụ, do vậy người mua có lơ là việc xác nhận lại thông tin về hạn sử dụng sản phẩm cũng nên phán đoán đó không phải là lỗi nặng [7; 195].

     

    (3) Quan điểm thứ ba cho rằng [7; 183]

     

    Về cơ chế miễn trừ trách nhiệm đảm bảo khuyết tật cần phải đưa ra luận điểm dựa trên vấn đề phân tán rủi ro, cũng như nghĩa vụ giữa người mua và người bán [7; 195]. Quan điểm thứ ba dựa trên cơ sở lí luận đó là mục đích đẩy nhanh hoạt động giao dịch, thương mại. Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ cho bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên bán thì cần phải có những tiêu chí đánh giá (giá trị) mang tính tích cực. Quan điểm thứ ba cho rằng cốt lõi của việc đảm bảo thúc đẩy giao dịch đó là hài hoà hoá lợi ích của cả bên mua và bên bán.

     

    Trong khi đó, quan điểm thứ nhất chưa cho thấy được tiêu chí thể hiện sự mong muốn cân bằng lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa bên mua và bên bán.

     

    Vậy thông thường người tiêu dùng mua thực phẩm qua nhà bán lẻ. Và khi lựa chọn sản phẩm trên thị trường, các vấn đề như hạn sử dụng, hạn bảo quản cũng như những thông tin khác là yếu tố quan trọng. Tuy nhiên trước yêu

     

    cầu kinh doanh mới vấn đề xác định quyền và nghĩa vụ giữa bên mua và bên bán về việc xác nhận những thông tin này cũng như nếu xem nó là rủi ro thì vấn đề phân tán rủi ro, là những vấn đề pháp lí mới cần tiếp tục bàn luận liên quan đến chi phí để quản lí sản phẩm của doanh nghiệp, chi phí tiêu hao của bên mua và đương nhiên đặt ra bài toán kinh tế luật ở đây.

     

    4.2. Trách nhiệm sản phẩm và an toàn thực phẩm

     

    Thực phẩm là vật chất liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người. Do vậy yêu cầu về tính an toàn được đặt lên hàng đầu. Những năm gần đây việc chế biến thực phẩm được đặt dưới những dây chuyền sản xuất vô cùng phức tạp, về mặt chế biến thì thực phẩm cũng giống như các sản phẩm hàng hoá khác là đối tượng điều chỉnh của luật trách nhiệm sản phẩm. Dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng, thì việc áp dụng Luật trách nhiệm sản phẩm là cơ chế hữu hiệu thực hiện chức năng của pháp luật BTTH ngoài hợp đồng như bù đắp thiệt hại cho người bị hại. Tuy nhiên, dưới đây cho thấy với những giới hạn như sau:

     

    • Thứ nhất, đối với thiệt hại do thực phẩm gây ra, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phải BTTH với mức lớn, phạm vi rộng do thiệt hại liên quan trực tiếp tới sức khoẻ, tính mạng người tiêu dùng. Do vậy, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp sẽ góp phần vào việc chức năng bù đắp thiệt hại của luật BTTH có được thực hiện hay không ? Vì trên thực tế nếu doanh nghiệp không có đủ khả năng kinh tế để thực hiện trách nhiệm BTTH thì quy định của luật cũng không có nhiều ý nghĩa, quyền và lợi ích của người tiêu dùng không được bảo vệ.
    • Thứ hai, thực phẩm có sự thay đổi rất lớn theo thời gian, đồng thời một lúc có sự pha trộn, kết hợp của nhiều nguyên vật liệu, rồi tuỳ từng cơ địa, thể trạng của người tiêu dùng sẽ có những ảnh hưởng khác nhau. Và việc phán đoán những khuyết tật cụ thể trong từng vụ riêng rẽ là cần thiết và không đơn giản, thậm trí rất khó khăn.

    42                           N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

     

     

    • Thứ ba, mối quan hệ giữa an toàn thực phẩm và khuyết tật sản phẩm rất trừu tượng.

    Về an toàn thực phẩm, nếu theo quy định của Luật vệ sinh an toàn thực phẩm, pháp luật liên quan đến sử dụng đúng hoá chất trong nông nghiệp… Hay liên quan đến quy cách và chất lượng sản phẩm theo luật về nông lâm nghiệp… thì trong trường hợp doanh nghiệp chế biến, sản xuất thực hiện đúng quy trình về an toàn thì có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hay không? Dưới góc độ lí luận, nhìn chung những quy trình liên quan đến an toàn thực phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định liên quan đến quản lí hành chính như xác định tiêu chuẩn tối thiểu về tính an toàn. Vì vậy việc tuân theo những quy định này có thể trở thành căn cứ để doanh nghiệp sản xuất kháng biện khi chứng minh không tồn tại khuyết tật do thực hiện đúng quy trình an toàn. Và đây được dự báo là một trong những khó khăn trên thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

     

    • Thứ tư, song song với trách nhiệm sản phẩm phải công nhận các cơ chế miễn trừ trách nhiệm dựa trên nguyên lí rủi ro phát triển. Vậy liên quan đến công nghệ biến đổi gen thực phẩm đặc biệt trong thời đại công nghệ 4.0, thì việc áp dụng cơ chế rủi ro phát triển sẽ giải quyết ra sao? Trong những trường hợp này cho dù có tồn tại khuyết tật sản phẩm, doanh nghiệp vẫn có khả năng được miễn trừ trách nhiệm nếu chứng minh được tại thời điểm hàng hoá lưu thông, khoa học công nghệ không thể phát hiện được khuyết tật. Thực tế cho thấy rất nhiều ý kiến cho rằng cùng với việc công nhận rủi ro phát triển quyền lợi của người tiêu dùng bị xã hội lờ đi [9; 35].

    Mặt khác, nếu không công nhận cơ chế miễn trừ đối với trách nhiệm nghiêm ngặt sẽ tạo ra rào cản đối với phát triển KHCN kéo theo đó ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng với tư cách người thụ hưởng sự tiến bộ KHCN.

     

    Vậy để khắc phục được những giới hạn nêu trên, việc áp dụng trách nhiệm không dựa trên lỗi đối với doanh nghiệp để bảo vệ quyền

     

    lợi người tiêu dùng và cơ chế bảo hiểm hỗ trợ kèm theo là một trong những giải pháp có thể bàn tới.

     

    Thứ nhất, đối với vấn đề an toàn thực phẩm, cũng giống như vấn đề liên quan đến môi trường áp dụng trách nhiệm không lỗi và ngày càng thắt hẹp phạm vi miễn trừ trách nhiệm là cần thiết. Điểm cần lưu ý đó là cho dù công nhận cơ chế miễn trừ dựa trên nguyên lí rủi ro phát triển, sau khi đưa sản phẩm vào lưu thông, nếu biết được khuyết tật của sản phẩm, từ thời điểm đó doanh nghiệp sản xuất phải có nghĩa vụ công bố tính nguy hiểm của sản phẩm, chỉ dẫn, cảnh báo, tuỳ từng trường hợp cụ thể phải ngừng bán, thu hồi… khi sự cố phát sinh do không thực hiện các nghĩa vụ trên thì phải chịu trách nhiệm BTTH. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận những đặc tính quan trọng của thực phẩm, những tác động của từng nhóm thực phẩm đối với đời sống xã hội cũng khác nhau như thực phẩm cho trẻ em như sữa, đồ ăn, thực phẩm cho người cao tuổi như thực phẩm chức năng… cần phải có những cơ chế xây dựng đặc thù.

     

    Do vậy, nhu cầu minh thị hoá trách nhiệm BTTH của doanh nghiệp trong luật chuyên ngành liên quan đến an toàn thực phẩm khi nhìn nhận Luật an toàn thực phẩm với vai trò ngành luật trung gian giữa luật công và luật tư là cấp thiết.

     

    Thứ hai, song song với việc áp dụng chủ nghĩa trách nhiệm không dựa trên lỗi, không thể thiếu cơ chế bảo hiểm đi kèm. Trên thực tế các quốc gia phát triển như Nhật Bản thúc đẩy cơ chế này rất mạnh mẽ. Dù cơ chế bảo hiểm của các doanh nghiệp liên quan đến thực phẩm là bảo hiểm tự nguyện, nhưng hàng năm có những nghiên cứu và báo cáo danh sách các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm công bố rộng rãi và công khai. Thông qua đó ý thức của doanh nghiệp được nâng cao nhìn từ góc độ quản lí rủi ro của doanh nghiệp, niềm tin của người tiêu dùng được củng cố khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng [10; 49]. Và đặc biệt với cơ chế bảo hiểm cùng lúc pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng

     

    N.T.P. Cham / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 31-43

    43

    thực hiện hai chức năng cơ bản đó là phân tán thiệt hại, bù đắp toàn bộ thiệt hại cho người tiêu dùng. Dưới góc độ lợi ích của doanh nghiệp đây được xem là cơ chế không thể thiếu cho dù vẫn tồn tại những vấn đề nhất định trong cấu trúc quản lí rủi ro của doanh nghiệp [9; 57].

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Xiang Li, Jigang Jin, Concise Chinese Tort Laws, Springer-Verlag Berlin Heidelberg, 2014.
    • Niwata Noriaki, Sự cố thực phẩm và vấn đề người tiêu dùng, Nghiên cứu Thương mại Mitsuda 27 (3).
    • Tạp chí án lệ số 307 (1974) 87-101.
    • Nakamura Hiroshi, Vi phạm hợp đồng và phương thức bảo vệ quyền (2), Tạp chí Đại học Doshisha

    32 (3) (1980).

     

    • Tạp chí Án lệ số 1109; Tạp chí thời báo án lệ số 1805.
    • Nozawa, Nghiên cứu pháp luật so sánh trách nhiệm đảm bảo khuyết tật Masamishi (6) – Nhật bản. Pháp. EU, Tạp chí Luật học Rikkyo 91 (2015).
    • Suzuki Miyako “Hạn bảo quản và trách nhiệm đảm bảo khuyết tật trong luật Đức” Tuyển tập luận văn đại học ngoại ngữ Tokyo, 91 (2015).
    • Felix Maultzsch, Hướng phát triển mới về trách nhiệm đảm bảo khuyết tật của người bán trong pháp luật Đức và Liên minh Châu Âu, Tạp chí nghiên cứu pháp luật chính sách 82 (2).
    • Katsuhiko Akabori, Luật trách nhiệm sản phẩm và quản lí rủi ro doanh nghiệp, Tạp chí luật học Học viện Kobe, 38 (3,4) (2009) 35.
    • Uchida, Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại và sự tham gia của doanh nghiệp đến đâu?, Tạp chí thứ 6, 26 (7) (2018).

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

    Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

    Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-b%E1%BA%A3o-%C4%91%E1%BA%A3m-c%C3%B4ng-l%C3%AD-cho-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-khuy%E1%BA%BFt-t%E1%BA%ADt-v%E1%BB%81-tr%C3%AD-tu%E1%BB%87-trong-t%E1%BB%91-t%E1%BB%A5ng-h%C3%ACnh-s%E1%BB%B1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Review Article

     

    Ensuring Justice for People with Intellectual Disabilities in Criminal Procedure

     

    Vu Cong Giao1,*, Hoang Thi Bich Ngoc2

     

    1School of Law, Vietnam National University Hanoi, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2Hanoi University of Procuracy, Duong Noi Ward, Ha Dong District, Hanoi, Vietnam

     

    Received 17 April 2019

    Revised 21 May 2019; Accepted 20 June 2019

     

    Abstract: This paper analyzes the conditions for guaranteeing justice for people with intellectual disabilities. The paper argues that justice is a highly generalized category, reflecting the combined value system, relating to social morality, politics, law and the operation of the state apparatus. A person who wants access to justice must understand and wholly apply such factors as the legal system and law enforcement institutions. Yet, people with intellectual disabilities are those with special cognitive disabilities, making it difficult for them to understand and apply the stated factors. This requires that, people with intellectual disabilities, in addition to their own efforts, need support from the state, society and family to ensure their access to justice. Access to justice is a very important right of people with disabilities. Thus, ensuring access to justice in criminal proceedings is to ensure the rights, benefits, and dignity of this vulnerable group of people in society.

     

    Keywords: Disable, intellectual disabilities, justice, criminal proceedings.

     

    *

     

     

    ________

    • Corresponding author.

     

    E-mail address: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4193

    44

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Vấn đề bảo đảm công lí cho người khuyết tật

    về trí tuệ trong tố tụng hình sự

     

    Vũ Công Giao1,*, Hoàng Thị Bích Ngọc2

     

    1Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Phường Dương Nội, Quận Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 17 tháng 04 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 21 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Bài viết phân tích những điều kiện bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự. Theo các tác giả, công lí là một phạm trù có tính khái quát cao, phản ánh hệ giá trị tổng hợp, liên quan đến đạo đức xã hội, nền chính trị, pháp luật và hoạt động của bộ máy nhà nước. Một người muốn tiếp cận được công lí thì phải hiểu và vận dụng được tổng thể các yếu tố như: hệ thống pháp luật và các thiết chế thực thi pháp luật. Trong khi đó, người khuyết tật về trí tuệ là những cá nhân có những khiếm khuyết đặc biệt về mặt nhận thức, khiến cho họ khó có thể hiểu và vận dụng được những yếu tố đã nêu. Điều này đòi hỏi ngoài sự cố gắng của bản thân, họ cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước, xã hội và gia đình mới bảo đảm được quyền tiếp cận công lí của mình. Tiếp cận công lí là quyền có ý nghĩa hết sức quan trọng với của người khuyết tật. Việc đảm bảo công lí trong tố tụng hình sự chính là bảo đảm các quyền, lợi ích, giá trị nhân phẩm của họ với tính cách là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.

     

    Từ khóa: Khuyết tật, người khuyết tật trí tuệ, công lí, tố tụng hình sự.

     

    Khái niệm “công lí”, “khuyết tật”, “người khuyết tật thiểu năng trí tuệ”*

     

    1.1. Khái niệm công lí

     

    “Công lí” (justice) là khái niệm đã được nhiều nhà tư tưởng trên thế giới đề cập và thảo luận trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại.

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4193

     

    45

     

    Khái niệm công lí được xác định dựa trên nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận, thể hiện những khác biệt giữa các nền văn hóa, giữa các thời điểm lịch sử khác nhau. Thời nay, quan điểm nổi bật về công lí là của nhà triết học chính trị hàng đầu của Mỹ J. Rawls. Ông coi ‘công lí như là sự công bằng’ (justice as fairness). Như vậy, để bảo đảm công bằng, tương tự như quyền con người, công lí phải được quy định bằng pháp luật và phải được bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống tư pháp, mà cụ thể là tòa án.

     

    Bảo đảm công lí là nền tảng cho một xã hội trật tự, an toàn, ổn định, văn minh, hạnh phúc

     

    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    và thịnh vượng. Từ góc độ chính trị học, công lí chính là một tiêu chí quan trọng để đánh giá tính ưu việt của một chế độ xã hội. Tính chính đáng, chính nghĩa của sự xuất hiện, tồn tại của một chính quyền thường được đánh giá thông qua việc chính quyền đó có thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm công lí trong thực thi quyền lực nhà nước hay không. Từ góc độ khác, công lí là giá trị, phẩm hạnh giữ cho các thành viên trong xã hội gắn kết chặt chẽ với nhau vì lợi ích chung của toàn thể cộng đồng. Để đảm bảo sự ổn định và phát triển của cộng đồng, những đức hạnh như sự công bằng, liêm chính và tử tế cần phải được xem là nền tảng và phải được lan tỏa sâu rộng trong xã hội.

     

    Về khía cạnh ngôn ngữ, khái niệm công lí cũng đã xuất hiện trong một số từ điển trong và ngoài nước. Ví dụ, ở nước ngoài, trong cuốn từ điển Luật Black (Black Law Dictionary), công được định nghĩa là “sự công bằng và hợp lí, với ba ý niệm cơ bản: sự nhấn mạnh về tầm quan trọng cá nhân, yêu cầu các cá nhân phải được đối xử một cách phù hợp, không thiên vị và bình đẳng” [1]. Ở Việt Nam, trong một số cuốn Từ điển Tiếng Việt, công lí cũng đã được giải thích như là “Công lí là lẽ phải, lẽ công bằng, phù hợp với pháp luật đương thời, không thiên lệch, không tư vị. Chế độ nào cũng coi tòa án là tượng trưng cho công lí, là cơ quan công lí của chế độ ấy” [2], “Công lí là sự nhận biết đúng đắn và tôn trọng theo lẽ phải các quyền lợi ích chính đáng của mọi người” [3].

     

    • Việt Nam, công lí và bảo vệ công lí được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị). Cụ thể, Chiến lược này đã nêu rõ, cần: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lí, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Cùng với đó, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những biện pháp nhằm đảm bảo cơ sở chính trị cho hoạt động cải

    cách tư pháp, để từ đó xây dựng cơ quan tư pháp thật sự là chỗ dựa vững chắc trong hoạt động bảo vệ công lí và quyền con người. Cụ thể, về mục đích và lộ trình thực hiện, Văn kiện xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lí, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Phân định rành mạch thẩm quyền quản lí hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp” [4]. Như vậy, khái niệm công lí trong Chiến lược cải cách tư pháp và Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính chất là một phạm trù gắn với lĩnh vực tư pháp, thể hiện qua việc xét xử bằng các thủ tục công bằng, hợp pháp, nhằm bảo vệ các quyền con người trong hoạt động tố tụng.

     

    Nói tóm lại, mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhưng xét tổng quát, công lí có thể được hiểu là việc bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa con người với con người. Công lí gắn liền với việc bảo đảm danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, ngăn ngừa những hành xử tuỳ tiện, bạo ngược của các chủ thể trong xã hội, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước. Đây là một phạm trù đa diện, vừa mang tính pháp lí, vừa mang tính xã hội, đạo đức.

     

    1.2. Khái niệm “khuyết tật”

     

    Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (The World Health Organisation – WHO) có ba mức độ suy giảm khả năng là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Trong đó, khái niệm khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lí hoặc/và sinh lí; khái niệm khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết; còn khái niệm tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên cuộc sống của họ [5].

     

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    47

    Công ước về quyền của người khuyết tật do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 2007 nêu định nghĩa người khuyết tật ở Điều 1, là “những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ, hay giác quan mà khi tương tác với nhiều rào cản khác nhau thì dẫn tới việc gây trở ngại cho sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Đây là định nghĩa mang tính pháp lí quốc tế đầu tiên về “người khuyết tật”, vì vậy có ý nghĩa to lớn trong việc thống nhất những hành động và nỗ lực bảo vệ các quyền của người khuyết tật trên thế giới.

     

    • cấp độ quốc gia, pháp luật của một số nước cũng đã nêu định nghĩa về “người khuyết tật” mà chia sẻ những thuộc tính cơ bản trong định nghĩa nêu trên. Cụ thể, theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật của Vương quốc Anh (Disability Discrimination Act, 2010), người khuyết tật được hiểu là cá nhân có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra sự suy giảm đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hằng ngày một cách đáng kể và kéo dài. Theo đạo luật này, xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài phải từ 12 tháng trở lên (dưới 12 tháng thì thường không được xem là khuyết tật, trừ khi bị tái đi tái lại). Trong Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (Americans with Disablities Act of 1990) người khuyết tật được định nghĩa là cá nhân có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Còn ở Việt Nam, Luật về người khuyết tật năm 2010 định nghĩa ở khoản 1 Điều 2, trong đó: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.

    Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể thấy khuyết tật là một hiện tượng phức tạp và có biểu hiện rất đa dạng. Khái niệm này phản ánh sự suy giảm về khả năng tương tác xã hội của một cá nhân mà xuất phát từ những vấn đề bất ổn nảy sinh trong chức năng của cơ thể của

     

    cá nhân đó. Về mặt hình thức, những biểu hiện và nhận thức về sự khuyết tật mang tính tương đồng ở các quốc gia, tuy nhiên việc đối xử với người khuyết tật có sự khác biệt nhất định giữa các xã hội, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là về kinh tế, xã hội, văn hoá.

     

    1.3. Khái niệm người khuyết tật về trí tuệ

     

    Trong tiếng Anh, ‘thiểu năng trí tuệ’ (hay ‘khuyết tật về trí tuệ’) được thể hiện qua nhiều cụm từ có nội hàm tương tự nhau, ví dụ như ‘intellectual disability’, ‘general learning disability’ hoặc ‘mental retardation’… Cụm từ general mental disability được sử dụng chủ yếu

     

    • Vương quốc Anh [6], trong khi ở Hoa Kỳ và các văn kiện quốc tế hay trong các tài liệu học thuật của các học giả trên thế giới thường sử dụng cụm từ mental retardation. Tương ứng với cụm từ này là cụm từ mental retarded persons [7] (‘người thiểu năng trí tuệ’ hay ‘người khuyết tật về trí tuệ’).

    Tình trạng thiểu năng trí tuệ được xác định trong Sách Trắng về Chăm sóc sức khỏe và xã hội với người thiểu năng trí tuệ ở Anh [8] qua ba tiêu chí như sau: (1) khả năng trí tuệ thấp (thường có chỉ số IQ thấp hơn 70 [9]); (2) suy giảm khả năng thích ứng xã hội; và (3) phát hiện thiểu năng trí tuệ từ lúc còn nhỏ. Như vậy, việc xác định một người có bị thiểu năng trí tuệ hay không phải xem xét sự hạn chế của người đó thông qua hai khía cạnh về năng lực, đó là khả năng nhận thức (khả năng học tập, đưa ra các quyết định và giải quyết các vấn đề,…) và khả năng thích ứng (những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hằng ngày như là giao tiếp, tương tác và quan tâm tới người khác).

     

    Thiểu năng trí tuệ được phân chia thành hai dạng là hội chứng thiểu năng trí tuệ có biểu hiện rõ ràng (ví dụ, hội chứng Down, hội chứng Tớc-nơ); và hội chứng thiểu năng trí tuệ không biểu hiện rõ ràng (ví dụ, Alzheimer, trầm cảm, hay quên, hoang mang trong suy nghĩ). Theo báo cáo của Dự án Nghiên cứu Bệnh tật toàn cầu, ở thời điểm năm 2013, có khoảng 95 triệu

     

    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    người trên thế giới có hội chứng thiểu năng trí tuệ không biểu hiện rõ ràng [10].

     

    Bên cạnh đó, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ cũng đã xác định thiểu năng trí tuệ là ‘có sự bất thường trong chức năng trí tuệ nói chung, xuất hiện trong quá trình phát triển và có sự liên quan đến: một là, sự khiếm khuyết trong nhận thức, và hai là, khả năng thích ứng với xã hội, hoặc liên quan đến cả hai điều này’ [11].

     

    Sự cần thiết, ý nghĩa của việc bảo đảm công lí cho người khuyết tật về trí tuệ trong tố tụng hình sự

     

    Theo một chuyên gia, bảo đảm công lí trong tố tụng hình sự chính là bảo đảm sự công bằng và các quyền, tự do của con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [12]. Ở đây, các thủ tục tố tụng hình sự chính là những cơ chế, công cụ giúp mọi người tiếp cận công lí, song cũng có thể bị lợi dụng để vô hiệu hoá công lí. Để tố tụng hình sự là công cụ tiếp cận công lí của mọi người, cần phải đáp ứng các yêu cầu đó là: (i) Phải bảo đảm toà án có khả năng tìm kiếm sự thật và đưa ra những phán quyết chính xác; (ii) Phải bảo đảm thời gian xử lí vụ việc kịp thời, vì công lí bị trì hoãn là công lí bị từ chối (justice delayed is justice denied [13]); (iii) Chi phí tài chính cho việc tiếp cận với toà án phải hợp lí, không phải là rào cản đối với mọi người. Đây cũng được xem là những tiêu chí cơ bản dùng để đánh giá mức độ thành công trong cải cách tư pháp ở các quốc gia trên thế giới [14].

     

    Một người khuyết tật về trí tuệ có thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự với tư cách là bị hại, bị cáo hoặc người làm chứng. Thực tế trên thế giới cho thấy nhiều người trong số họ không được đảm bảo đầy đủ các quyền tố tụng. Ví dụ, trong quá trình điều tra, xét hỏi, người khuyết tật về trí tuệ có thể dễ dàng bị “dẫn dắt” câu trả lời theo ý muốn của người thẩm vấn, bởi họ không đủ khả năng tương tác với câu hỏi và

     

    người hỏi. Hoặc trong quá trình cung cấp chứng cứ, người khuyết tật về trí tuệ thường không được hoặc không thể cung cấp chứng cứ trước tòa do những khiếm khuyết của họ. Chính vì vậy, nếu không có biện pháp bảo vệ đặc biệt, có thể dẫn đến oan sai trong các vụ án mà bị can, bị cáo là người khuyết tật về trí tuệ.

     

    Công lí là một phạm trù có tính khái quát cao, phản ánh hệ giá trị tổng hợp, liên quan đến đạo đức xã hội, nền chính trị, pháp luật và hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì vậy, một người muốn tiếp cận được công lí thì phải hiểu và vận dụng được tổng thể các yếu tố như: hệ thống pháp luật (hiểu biết về quyền, nội dung và thủ tục tố tụng hình sự); và các thiết chế thực thi pháp luật (tư pháp, hành chính, các thiết chế bổ trợ tư pháp…). Trong khi đó, người khuyết tật về trí tuệ là những cá nhân có những khiếm khuyết đặc biệt về mặt nhận thức, khiến cho họ khó có thể hiểu và vận dụng được những yếu tố đã nêu. Điều này đòi hỏi ngoài sự cố gắng của bản thân, họ cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước, xã hội và gia đình mới bảo đảm được quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật về trí tuệ. Sự hỗ trợ này không vi phạm nguyên tắc công bằng, mà là để bảo đảm sự công bằng thực chất khi mà nó giúp xóa bỏ những rào cản bất hợp lí với người khuyết tật về trí tuệ trong quá trình tố tụng [15].

     

    Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể thấy quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật về trí tuệ bao hàm hai nội dung chính: (1) Họ có quyền được cung cấp hay hỗ trợ dịch vụ tư vấn, giải đáp về chính sách, pháp luật miễn phí; (2) Họ có được hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi trong việc tham gia tố tụng, bao gồm việc khiếu nại, tố cáo để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền tiếp cận công lí của người khuyết tật nói chung và người khuyết tật về trí tuệ nói riêng là quyền có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc đảm bảo quyền này chính là bảo đảm các quyền, lợi ích, giá trị nhân phẩm của họ với

     

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    49

    tính cách là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, đặc biệt trong tố tụng hình sự.

     

     

    Bảo đảm công lí trong áp dụng tố tụng hình sự với người khuyết tật về trí tuệ: Các tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế

     

    Tuyên bố về quyền của người bị thiểu năng trí tuệ (Declaration on the Rights of Mentally Retarded Persons) của Liên Hợp quốc năm 1971 đã kêu gọi các quốc gia thực thi các biện pháp để đảm bảo Tuyên bố này trở thành cơ sở bảo vệ quyền của người bị khuyết tật về trí tuệ. Một trong số các nguyên tắc về quyền của người bị khuyết tật về trí tuệ mà Tuyên bố đã chỉ ra bao gồm: “Quyền được bảo vệ không bị bóc lột, lạm dụng và đối xử hạ nhục. Nếu bị truy tố vì bất kì tội gì thì họ có quyền được luật pháp xét xử công minh, có xem xét đầy đủ đến mức độ ảnh hưởng về tâm thần của họ.” [16] và “Khi nào vì bệnh tật nghiêm trọng mà người khuyết tật về tâm thần không thể thực hiện được tất cả các quyền của họ một cách có ý nghĩa, hay cần thiết phải hạn chế hoặc phủ nhận một số trong những quyền đó thì thủ tục áp dụng để hạn chế hay phủ nhận phải có sự bảo vệ về mặt pháp lí thích hợp chống mọi hình thức lạm dụng. Thủ tục này phải dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia có trình độ về khả năng xã hội của người khuyết tật về tâm thần và phải tùy thuộc vào sự xem xét định kỳ và quyền được kháng cáo lên những nhà chức trách có thẩm quyền cao hơn.” [17]. Vấn đề then chốt của hai nguyên tắc này đó là người khuyết tật về trí tuệ có quyền được xét xử công bằng (due process of law) công nhận sự giới hạn về khả năng nhận thức của họ (recognition of their individual capacities and limitations).

     

    Trong bài viết của tác giả Paul R. Friedman về quyền con người và quyền pháp lí của người khuyết tật về trí tuệ [18], ông đã đề cập đến quyền của người khuyết tật về trí tuệ trong hệ thống tư pháp hình sự Mỹ và chỉ ra vấn đề quan trọng nhất mà người bị thiểu năng trí tuệ phải đối diện trong tố tụng hình sự đó là khả năng nhận thức bị hạn chế và góc nhìn nhạy cảm

     

    dành cho người bị thiểu năng trí tuệ từ các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cảnh sát, luật sư và thẩm phán. Nếu xác định sai yếu tố nhận thức trong một vụ án hình sự thì dễ dàng dẫn đến việc các vấn đề pháp lí mà bị hại đưa ra để chống lại bị cáo không được xem xét một cách công bằng. Do đó, việc xác định khả năng của người được cho là bị thiểu năng trí tuệ là yếu tố quan trọng, cần phải cân nhắc kĩ càng trong quá trình tố tụng để xác định trách nhiệm hình sự và xác định tính chính xác, tính khách quan trong lời thú tội.

     

    Trong giai đoạn xét hỏi, theo pháp luật Mỹ, nếu người bị cáo buộc phạm tội bị ép nhận tội thì những lời thú tội đó không được dùng làm bằng chứng chống lại người bị cáo buộc phạm tội [19]. Điều này thứ nhất là để đảm bảo công bằng và thứ hai là để chống sự nhầm lẫn dẫn đến buộc tội người vô tội. Đó là bởi trong thực tế, một người bị thiểu năng trí tuệ, dù bị ép buộc nhận tội hay không thì thông thường họ cũng không có đủ năng lực nhận thức để hiểu được thủ tục tố tụng, những hậu quả từ lời thú tội và những quyền hiến định mà họ được hưởng (ví dụ như quyền im lặng, quyền có luật sư tư vấn,..).

     

    Trong giai đoạn xét xử, thông thường, người bị tâm thần không có khả năng hầu tòa, song họ vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự và họ sẽ phải hầu tòa sau khi nhận thức được phục hồi. Ngược lại, không giống như người bị tâm thần, người bị thiểu năng trí tuệ không có khả năng hầu tòa, cũng không có khả năng thực hiện các trách nhiệm dân sự cả hiện tại và trong tương lai vì ít có khả năng hồi phục nhận thức.

     

    Xét về trách nhiệm hình sự, mặc dù tiêu chí để xác định khuyết tật về tâm thần là khác nhau trong các phán quyết khác nhau của tòa án, nhưng có một ‘phép thử chung’ đã được công nhận rộng rãi bởi Viện Pháp luật Mỹ (1962), đó là: “Một người sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình nếu tại thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội, vì lí do mắc bệnh tâm thần hoặc vì hạn chế năng lực nhận thức, người đó không thể nhận thức được hành vi của mình là trái với pháp luật”.

     

    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Về vấn đề này, Ủy ban Nhân quyền Úc (Australian Human Rights Commision) đã đưa ra một số biện pháp thiết thực để bảo đảm quyền tiếp cận công lí của những người khuyết tật thiểu năng trí tuệ nói riêng hay khuyết tật về tâm thần nói chung trong tố tụng hình sự. Các biện pháp được chỉ ra bao gồm:

     

    • Trong quá trình xét hỏi, cán bộ điều tra phải cung cấp các thông tin cần thiết về diễn biến của hoạt động (ví dụ như băng ghi âm, ghi hình,…) và cần giúp đỡ người khuyết tật hiểu về điều mà họ đang được hỏi cũng như những quyền mà họ được áp dụng trong quá trình xét hỏi;
    • Hệ thống trợ giúp pháp lí phải nhận thức được những khó khăn mà người bị thiểu năng trí tuệ đang phải đối mặt trong hệ thống tư pháp hình sự để có thể cung cấp sự hỗ trợ kịp thời;
    • Thủ tục tố tụng ở tòa án và nguyên tắc chứng minh phải được áp dụng dựa trên việc đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người khuyết tật;
    • Tăng cường sự hỗ trợ và sự thấu hiểu của tòa án và thẩm phán đối với những khó khăn mà người khuyết tật đang phải gánh chịu, các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu quy định một số hình phạt phù hợp hơn với nhóm người này.
    • Đảm bảo quyền không bị đối xử ngược đãi bởi các cơ quan thi hành tố tụng, và nếu trong trường hợp có cáo buộc người khuyết tật bị đối xử ngược đãi thì cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ điều tra và giải quyết kịp thời.

    Tương tự, tổ chức phi chính phủ JUSTICE

     

    • ở Vương Quốc Anh đã xuất bản một báo cáo về Sức khỏe tâm thần và Xét xử công bằng
    • (Report on Mental Health and Fair Trial) bởi Nhóm nghiên cứu do các chuyên gia pháp lí và y tế uy tín hàng đầu soạn thảo. Báo cáo được soạn thảo dựa trên sự đánh giá thực tế của nhóm nghiên cứu khi họ cho rằng, quá trình tố tụng kể từ thời điểm cảnh sát tiếp nhận vụ việc đến khi chính thức bị buộc tội bằng các phán xét của tòa án vẫn còn tồn tại những vấn đề khiến cho quyền được xét xử công bằng của những người khuyết tật về tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ chưa được đảm bảo. Từ lí do này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất 52 giải pháp cụ thể

    trong lĩnh vực tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền cho nhóm người có khuyết tật về tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ nói chung. Những giải pháp này đề cập đến những phương diện chủ yếu sau:

     

    • Giai đoạn điều tra: trong giai đoạn này, những chuyên gia y học về tâm thần sẽ thay các cán bộ điều tra làm nhiệm vụ giám định sức khỏe tâm thần cho những người bị buộc tội; nếu sau khi được giám định và xác định người đó có bị khuyết tật tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ thì nhà nước phải hỗ trợ những người đó bằng các biện pháp hỗ trợ phù hợp;
    • Giai đoạn truy tố: có một công tố viên được tập huấn chuyên biệt tham gia xét xử những vụ án có người bị buộc tội bị khuyết tật về tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ;
    • Giai đoạn xét xử: cũng có một thẩm phán được đào tạo chuyên biệt cho những phiên tòa có bị cáo là người bị khuyết tật tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ trực tiếp điều hành và chỉ đạo triển khai;
    • Bài kiểm tra năng lực pháp lí: Bài kiểm tra năng lực để tự biện hộ và khả năng tham dự phiên tòa phải là bước đầu tiên bắt buộc phải làm trước khi phiên tòa diễn ra. Lí do biện hộ ‘do bị tâm thần/thiểu năng’ nên được thay bằng ‘không phải chịu trách nhiệm hình sự do có khuyết tật đã được chuyên gia y tế thẩm định’;
    • Kết án: cần phải có văn bản pháp luật hướng dẫn về việc kết án đối với nhóm người dễ bị tổn thương và người có vấn đề về tâm thần, quy định một số hình thức kết án cụ thể và đa dạng hơn để đáp ứng được nhu cầu giải quyết vụ án.

    Những giải pháp nêu trên được tạo ra dựa trên nhu cầu thực tế và trở thành một nguồn tham khảo uy tín dành cho các nhà làm luật. Nếu những vấn đề còn tồn tại giữa tòa án và người tham gia tố tụng là nhóm người bị tâm thần hoặc thiểu năng trí tuệ không được giải quyết, việc xét xử công bằng đối với nhóm người này khó có thể được đảm bảo. Những đề xuất trong báo cáo này không những được tác động đến hệ thống pháp luật Anh mà còn có giá

     

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    51

    trị tham khảo cao đối với các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

     

    Bảo đảm công lí trong áp dụng tố tụng hình sự với người khuyết tật ở Việt Nam: Thực trạng và một số đề xuất thúc đẩy

     

    • Việt Nam, định nghĩa về khuyết tật trí tuệ được quy định tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định 28/2012/NĐ-CP, theo đó: ‘Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc”. Theo kết quả Điều tra quốc gia người khuyết tật Việt Nam năm 2016 [22] (được công bố vào tháng 1 năm 2019) thì cả nước có 6.225.519 người khuyết tật, trong đó người khuyết tật về nhận thức có 2.622.578 người. Nhìn từ những con số đó, có thể thấy người bị khuyết tật về nhận thức chiếm tỷ lệ cao, lên đến hơn một phần ba tổng số người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

    Việc bảo vệ quyền con người nói chung và người khuyết tật nói riêng trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bao gồm các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả trong quá trình giam giữ, cải tạo phạm nhân, đều cần dựa trên nguyên tắc đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh, song cũng không được làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội. Người phạm tội phải được đưa ra xét xử và phải chịu hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Tuy nhiên, mục đích của hình phạt không chỉ mang tính trừng trị mà còn mang tính giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Đây chính là yêu cầu cơ bản để bảo đảm quyền con người nói chung và người khuyết tật nói riêng trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về vấn đề này, trong Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ: ‘Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi

     

    người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.’

     

    Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, vấn đề bảo vệ quyền con người (bao gồm cả người khuyết tật) được quy định tại một số điều luật khác nhau như: Điều 4 ‘Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân’; Điều 6 ‘Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể công dân’; Điều 7 ‘Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân; Điều 8 ‘Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân’; Điều 9 ‘Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật’; Điều 11 ‘Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo’. Ngoài các quy định chung này, Bộ luật Tố tụng Hình sự còn có một số quy định cụ thể liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ người khuyết tật, cụ thể như quy định Điều 76 trong đó nêu rằng mọi trường hợp nếu bị can, bị cáo là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm yêu cầu đoàn luật sư phân công người bào chữa cho họ, nếu không có người bào chữa cho họ trong trường hợp này là vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, Điều 21 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Để xác định chính xác người thực hiện hành

     

    • nguy hiểm cho xã hội có mắc bệnh tâm thần hay không, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu đây là một trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định (tại khoản 1 Điều 206). Nếu kết quả giám định cho thấy người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vì thì Viện Kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết quả này đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình đã thực hiện.
    • C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

     

     

    Những quy định nêu trên thể hiện chính sách của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người đối với người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất khi họ tham gia tố tụng hình sự và không để họ bị bất lợi khi tham gia tố tụng hình sự. Những quy định này cũng có sự tương đồng với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như phân tích ở phần trước.

     

    Tuy nhiên, có một số vấn đề được đặt ra trong thực tiễn hiện nay, trong đó bao gồm việc làm rõ câu hỏi ‘thế nào là người có nhược điểm về tâm thần và thể chất?’. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 không có quy định nào và cũng chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Điều đó đã tạo ra những cách hiểu khác nhau trong giải thích và áp dụng pháp luật tố tụng với người có nhược điểm về tâm thần và thể chất mà tiềm ẩn khả năng dẫn đến oan sai hoặc để lọt tội phạm. Thêm vào đó, có thể thấy, hiện pháp luật Việt Nam chưa có bất kì quy định cụ thể nào về bảo vệ quyền của người khuyết tật trong tố tụng hình sự, trong khi đã có quy định về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác như phụ nữ, trẻ em, người thuộc các dân tộc thiểu số…

     

    Từ những phân tích trên, có thể đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công lí cho người khuyết tật nói chung và người khuyết tật về trí tuệ nói riêng trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay như sau:

     

    Thứ nhất, cần có quy định cụ thể và văn bản hướng dẫn về việc xác định như thế nào là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất bằng cách phân chia các nhóm nhược điểm có tính tương đồng với nhau một cách rõ ràng. Việc này sẽ giúp cho các cơ quan và người thực thi pháp luật có thể áp dụng pháp luật thống nhất, tránh oan sai và đảm bảo thực thi công lí trong mọi trường hợp.

     

    Thứ hai, cần có những quy định riêng, cụ thể hơn về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong luật tố tụng hình sự, bởi người khuyết tật là một nhóm đặc biệt, cần được bảo đảm những điều kiện tố tụng phù hợp với tình trạng và đặc điểm về thể chất cũng như tinh thần của họ. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ

     

    quyền và lợi ích của người khuyết tật cũng như đảm bảo công lí xuyên suốt quá trình tố tụng.

     

    Thứ ba, cần đào tạo hoặc đào tạo bổ sung để xây dựng một đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật tố tụng có hiểu biết đầy đủ về đặc thù và các quyền của người khuyết tật trong tố tụng hình sự. Thành phần cần được đào tạo hay đào tạo lại bao gồm cả cán bộ điều tra, công tố viên, thẩm phán, giám thị trại giam…Việc này là để phòng ngừa những vi phạm và tăng cường mức độ bảo đảm quyền của người khuyết tật trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự.

     

    Lời cảm ơn

     

    Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài: “Công lý và quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam” (mã số 505.01-2017.01) do Quỹ Khoa học và Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Henry Campbell Black M.A. St.Paul, Minn, Từ điển Luật Black (Black’s Law Dictionary), NXB West Publishing Co, 1983 (447).
    • Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, (1999) 210.
    • Nguyễn Lân, Từ và ngữ Tiếng Việt, NXB Tổng hợp Hồ Chí Minh, 2006.
    • Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, (2016) 114.
    • Mary Lowth, Nghiên cứu chung về khuyết tật nhận thức (General Learning Disability), The

    Information Standard (2016). https://patient.info/doctor/general-learning-disability.

     

    • Harkin, Báo  cáo  số  111-244  về  Luật  ROSA

    (Report 111-244 on ROSA’S LAW), Washington

     

    D.C (2010) 3. https://www.gpo.gov/fdsys/pkg/CRPT-111srpt244/pdf/CRPT-111srpt244.pdf.

     

    • Sách Trắng về sức khỏe và chăm sóc xã hội cho người bị khuyết tật về trí tuệ năm 2001 (The 2001

    V.C. Giao, H.T.B. Ngoc / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 44-53

    53

    White Paper on the health and social care of people with learning disabilities).

     

    • Chỉ số IQ có thang điểm trung bình là 100, hầu hết mọi người có IQ từ 85 đến 115. Một người được xác định có khả năng cao bị thiểu năng trí tuệ nếu chỉ số IQ của họ thấp hơn từ 70 đến 75.
    • Nghiên cứu về Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm

    2013, Collaborators, (2015).

     

    https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4

     

    561509/.

     

    • Hiệp Hội tâm thần Hoa, Cẩm nang chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần 14, (1968) 2d ed.,.
    • Nguyễn Ngọc Chí, Công lí và quyền tiếp cận công lí: Những vấn đề lí luận, thực tiễn, NXB Hồng Đức, (2018) 176.
    • William Penn, Những loài trái cây cô đơn (Some

    Fruits of Solitude), Headley Brothers Pub., (1905) 86.https://archive.org/stream/somefruitssolit00pen ngoog#page/n9/mode/1up.

     

    • Adrian Zuckerman, Khủng hoảng trong tư pháp, từ khủng hoảng tư pháp dân sự: các quan điểm so sánh (Justice in Crisis, from Civil Justice in Crisis: Comparative Perspectives of Civil Procedure), Oxford University Press, 1999.
    • Trần Thái Dương (2018), Công lí và Quyền tiếp cận công lí: Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Hồng Đức, ( 2018) 372.
    • Nguyên tắc 6, Tuyên bố về Quyền của người bị thiểu năng trí tuệ của Liên Hợp quốc.
    • Nguyên tắc 7, Tuyên bố về Quyền của người bị thiểu năng trí tuệ của Liên Hợp quốc.
    • Paul R. Friedman (1977), Quyền con người và quyền luật pháp của người bị thiểu năng trí tuệ

    (Human and Legal rights of mentally retarded persons), International Journal of Mental Health. (1977) 50-72.

     

    DOI: 10.1080/00207411.1977.11448756.

     

    • Tổ công tác của Văn phòng Tổng thống nghiên cứu về thiểu năng trí tuệ, 1963.
    • Tổ chức Justice được thành lập năm 1957 bởi một nhóm các nhà luật gia hàng đầu để thúc đẩy pháp quyền và quản trị công bằng. Justice trở thành thành viên của Ủy ban luật gia quốc tế của Vương Quốc Anh với sự tham gia của tất cả thành viên của các Đảng.
    • Tổng cục Thống kê, Điều tra quốc gia về người khuyết tật, (2016)

    https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=460&i

     

    dmid=5&ItemID=19054.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiểm soát văn bản pháp luật một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ bảo đảm quyền con người


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Y%C3%AAu-c%E1%BA%A7u-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-v%E1%BB%81-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-to%C3%A0n-c%E1%BA%A7u-h%C3%B3a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    Original Article

     

    Globalization and the Need of Improving Law on Foreign Worker Management in Vietnam

     

    Pham Thi Huong Giang*

     

    Institute of State and Law, 27 Tran Xuan Soan, Hai Ba Trung, Hanoi, Vietnam

     

    Received 29 January 2019

    Revised 25 May 2019; Accepted 24 June 2019

     

    Abstract: Immigration for employment is becoming a basic element of the globalization era. In this context, each country has a legal framework to regulate foreign workers. The article assesses the reality of the Vietnamese law on foreign worker management, thereby proposing five requirements for improving the law, including: (1) the law should reflect the demand of the domestic labour market; (2) the law should be compatible with the contents and principles of the law on worker management in Vietnam; (3) the law should ensure the rigor in the State management of foreign workers; (4) the law should be comprehensive and consistent with the national law system; and (5) the law should be compatible with the international labour laws.

     

    Keywords: Foreign workers, law on foreign worker management, requirements, globalization.

     

    *

     

     

    ________

    *Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4197

    90

     

    VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

     

    Phạm Thị Hương Giang*

     

    Viện Nhà nước và Pháp luật, 27 Trần Xuân Soạn, phường Ngô Thì Nhậm,

     

    quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 29 tháng 01 năm 2019

     

    Chỉnh sửa ngày 25 tháng 5 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 6 năm 2019

     

    Tóm tắt: Ngày nay, di trú vì việc làm trở thành yếu tố cơ bản của kỷ nguyên toàn cầu hóa. Trước thực trạng đó, mỗi quốc gia đều có khung pháp luật điều chỉnh lao động nước ngoài. Bài viết đánh giá thực trang pháp luật Việt Nam về quản lý lao động nước ngoài. Qua đó, tác giả đưa ra 5 yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam bao gồm: (1) pháp luật phản ánh nhu cầu thị trường lao động trong nước; (2) phù hợp với nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam; (3) đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là lao động nước ngoài; (4) phải đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia; và (5) phải phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động.

     

    Từ khóa: Lao động nước ngoài, pháp luật quản lý lao động nước ngoài, yêu cầu, toàn cầu hóa.

     

    Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa *

     

    Hiện nay các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, bên cạnh việc phát triển thị trường dịch vụ hàng hoá thì thị trường lao động cũng là một yếu tố đang được chú trọng. Theo Tổ chức Lao động quốc tế – ILO thì “Thị

     

    ________

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1167/vnuls.4197

     

    91

     

    trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” [12]. Qua nhận định của ILO đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của thị trường lao động và vấn đề mở cửa thị trường lao động là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá dẫn tới hiện tượng lao động di trú ngày càng sôi nổi.

     

    Dưới góc độ pháp lý, Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 có ghi nhận các quốc gia thành viên có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để đảm bảo quyền được có cơ hội kiếm sống bằng công

     

    92                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    việc do công dân tự do lựa chọn (Điều 6). Như vậy, tạo ra và phát triển thị trường lao động là trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân của nước mình. Người nước ngoài di trú đến một nước mà họ không phải là công dân nhằm mục đích lao động thuộc vào đối tượng đặc thù và cần phải tuân theo những điều kiện nhất định về trình tự, thủ tục…để được làm việc hợp pháp tại quốc gia đó. Như vậy, mỗi quốc gia cần phải có một khung pháp lý riêng biệt để điều chỉnh đối tượng này.

     

    • nước ta, các quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đề cập trong Bộ luật Lao động 2012 và các quy định hướng dẫn thi hành bởi Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (thay thế Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9/2013) và Thông tư số 40/2016/TT -BLĐTBXH ngày 25/10/2016 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (thay thế Thông tư số 03/2014/TT-

    BLĐTBXH ngày 20/01/2014). Có thể nhận thấy các quy định pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam bên cạnh những bước tiến đáng kể vẫn tồn đọng những bất cập sau:

     

    Thứ nhất, một số quy định của pháp luật quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam chưa thể hiện được nhu cầu thị trường lao động trong nước. Pháp luật Việt Nam thiếu những quy định về công nhận bằng cấp, chứng nhận trình độ, kinh nghiệm làm việc để tuyển dụng lao động nước ngoài. Hơn nữa, nhu cầu của thị trường lao động Việt Nam là chiêu mộ lao động nước ngoài có trình độ cao tại những vị trí việc làm mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được. Như vậy, người sử dụng lao động nước ngoài có trình độ cao thường là những doanh nghiệp lớn, trong những ngành nghề đặc thù đòi hỏi sự chuyển giao chất xám. Tuy nhiên, hiện nay điều kiện giao kết hợp đồng lao động của người sử

     

    dụng lao động với lao động nước ngoài quá rộng, bao gồm cả những chủ thể phải đăng ký kinh doanh và những chủ thể không phải đăng ký kinh doanh, có thu nhập thấp (cá nhân hoạt động thương mại, hộ kinh doanh sử dụng lao động dưới 10 người), không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của thị trường lao động.

     

    Thứ hai, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa phù hợp với nội dung của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam. Bộ luật Lao động năm 2012 quy định cụ thể về việc tạm hoãn, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động (Mục 2, 3 chương

     

    • tuy nhiên lại không có quy định riêng điều chỉnh các vấn đề này đối với lao động nước ngoài. Ngoài ra, về hình thức làm việc của lao

    động nước ngoài quy định còn có sự trùng lặp, chưa có sự phân loại theo các tiêu chí thống nhất và logic, đồng thời cũng chưa cập nhật các quy định về tiếp nhận lao động trong các Hiệp

     

    định hợp tác lao động như hình thức làm việc kết hợp với kỳ nghỉ được quy định trong Thỏa thuận giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Australia về chương trình lao động kết hợp kỳ nghỉ. Về trình tự tuyển dụng lao động nước ngoài, quy định sau khi lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì hai bên mới được ký hợp đồng lao động và phải gửi bản sao của hợp

     

    đồng lao động tới Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp giấy phép đó nhưng không có quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra, xác nhận sự phù hợp của giấy phép lao động với hợp đồng lao động đã ký dẫn đến trường hợp hợp đồng lao động không phù hợp với giấy phép lao động.

     

    Thứ ba, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa đảm bảo được tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là lao động nước ngoài. Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn trực tiếp và cụ thể về trường hợp lao động nước ngoài không có giấy phép lao động đối với việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, dẫn đến sự áp dụng không thống nhất tại cơ quan giải quyết tranh chấp.

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    93

    Thứ tư, một số quy định của pháp luật lao động về quản lý lao động nước ngoài chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật trong nước. Hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đi kèm không quy định cụ thể khái niệm “Người lao động nước ngoài”, mà theo đó khái niệm người lao động nước ngoài được xác định trên căn cứ của một đạo luật khác theo khái niệm “người nước ngoài” tại Luật Quốc tịch (Khoản 2 Điều 1). Trong khi đó, Bộ luật lao động quy định điều kiện để công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam không đồng nhất với khái niệm người lao động nước ngoài được xây dựng trên khái niệm người nước ngoài và người lao động. Như vậy, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam với mọi hình thức trong đó có hợp đồng lao động. Ngoài ra, Bộ luật lao động 2012 chưa có quy định về khái niệm “người sử dụng người lao động nước ngoài” nhưng Nghị định 11/2016 lại sử dụng khái niệm trên.

     

    Thứ năm, một số quy định của pháp luật Việt Nam chưa phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động. Quy định của pháp luật Việt Nam chưa đáp ứng được nguyên tắc “không phân biệt đối xử” và nguyên tắc “đối xử quốc gia”. Việt Nam là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế, vì vậy pháp luật Việt Nam đã đáp ứng được một phần của hai nguyên tắc này đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy định lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có quyền thành lập hoặc gia nhập công đoàn đã hạn chế một phần quyền kinh tế của lao động nước ngoài, đồng thời cũng thể hiện sự không bình đẳng giữa lao động nước ngoài và lao động Việt Nam.

     

    Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

     

    2.1. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp và phản ánh được nhu cầu thị trường lao động trong nước

     

    Đối với từng quốc gia, nhu cầu phát sinh của thị trường lao động là khác nhau. Thị trường lao động tại những nước phát triển có xu hướng tuyển dụng lao động phổ thông để làm những công việc mà số lượng lao động trong nước không đủ đáp ứng hoặc những công việc mà lao động trong nước không muốn làm. Ngược lại, những quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển lại có nhu cầu chiêu mộ lao động trình độ cao như các chuyên gia, kĩ sư…trong từng lĩnh vực cụ thể vì mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Tùy thuộc vào nhu cầu điều tiết của thị trường lao động mà mỗi quốc gia xây dựng khung chính sách pháp luật thích ứng nhằm thu hút lực lượng lao động nước ngoài.

     

    • Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường lao động thời gian qua tiếp tục được phát triển theo hướng hiện đại hóa và định hướng thị trường; khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động từng bước được hoàn thiện, số người làm công ăn lương, có quan hệ lao động tăng dần… Theo thống kê, năm 2017, cả nước đã tạo việc làm cho gần 1,6 triệu người. Tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam cũng ở mức thấp so với khu vực, trong đó tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị chỉ khoảng hơn 3%. Chất lượng việc làm, thu nhập của người lao động đều đặn được tăng lên, mức độ phân biệt giữa việc trả công cho lao động nam và nữ cũng được thu hẹp. Số lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cũng tiếp tục tăng [13].

    Hiện nay, Việt Nam là nước đang phát triển, trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để hội nhập quốc tế nên rất cần nguồn nhân lực chất lượng cao từ những quốc gia khác để bồi dưỡng năng lực, củng cố phát triển kinh tế. Bởi thế pháp luật Việt Nam quy định “chỉ được tuyển lao động là công dân nước ngoài vào làm công việc quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà lào động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh” [1]. Thị trường lao động Việt Nam đang thiếu hụt lao động nước ngoài có kĩ năng, trình độ chuyên môn cao, nên pháp luật quốc gia không chấp thuận lao động nước ngoài phổ thông, chỉ cho phép

     

    94                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    lao động nước ngoài chất lượng cao vào làm các công việc mà lao động Việt Nam không đáp ứng được. Tuy nhiên quy định cụ thể về việc xác định tiêu chí tuyển dụng lao động nước ngoài với trình độ, bằng cấp và kinh nghiệm làm việc lại đang bị bỏ ngỏ. Hơn nữa, chủ thể giao kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và lao động nước ngoài hiện nay theo quy định pháp luật là quá rộng, không phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài của thị trường lao động trong nước.

     

    Trong những năm 1960-1970, Hàn Quốc là một trong những quốc gia xuất khẩu lao động, với thị trường tiếp nhận lao động chủ yếu là Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản và các Trung Đông [14]. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của kinh tế Hàn Quốc và mức lương tăng đã dẫn đến thiếu hụt lao động trong lĩnh vực sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng. Người lao động bản địa ngày càng ít tham gia vào nhóm các ngành nghề kỹ năng thấp và thu nhập thấp, còn gọi là “công việc 3-D” (dirty, difficult and dangerous). Trong khi đó, pháp luật về nhập cư và di cư vào thời điểm này không cho phép lao động nước ngoài kỹ năng thấp được làm việc ở Hàn Quốc. Sức ép về tăng trưởng kinh tế nhanh và thiếu hụt lao động trong những năm 1980 đã buộc Hàn Quốc thay đổi chính sách lao động nhằm thu hút lao động giá rẻ từ các quốc gia khác. Chính phủ ban hành Chương trình Đào tạo Kỹ thuật và Công nghiệp (Industrial and Technical Training Program) vào tháng 11/1991, cho phép thuê mướn trên thực tế lao động nước ngoài tay nghề thấp. Chương trình này được thay thế bởi Hệ thống Thực tập sinh (Industrial Trainee System) vào năm 2001 nhằm giải quyết thiếu hụt lao động ở các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, Hàn Quốc đưa ra một loạt các chính sách mở cửa nhằm thu hút lao động nước ngoài, đặc biệt là số lượng lớn lao động phổ thông thông qua Chương trình dành cho lao động phổ thông đi theo chương trình cấp phép việc làm tại Hàn Quốc theo Luật làm việc của Hàn Quốc (EPS). Khảo sát của OECD năm 2018 cho thấy lao động với mức lương thấp (low-wage workers) chiếm tỷ lệ cao ở Hàn Quốc so với các quốc gia khác trong khối OECD [11].

     

    Trước kinh nghiệm của Hàn Quốc và thực trạng của Việt Nam về đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước thì pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần phải: Một là, xây dựng những chế định mở để thu hút lao động chất lượng cao vào làm việc tại Việt Nam như chính sách bảo hiểm, chế độ đãi ngộ đối với lao động nước ngoài và thành viên gia đình họ. Hai là, mở cửa thị trường lao động thông qua việc tổ chức những diễn đàn trong và ngoài nước cho các lao động nước ngoài chất lượng cao có khả năng tiếp cận được nguồn thông tin về vị trí việc làm và có cơ hội được tham gia ứng tuyển tại Việt Nam. Ba là, với những thách thức đặt ra từ cuộc cách mạng công nghệ 4.0 thì thị trường lao động ở Việt Nam cần phải có sự thay đổi từ thâm dụng lao động sang thâm dụng về trí tuệ và công nghệ. Do đó, trong thời gian tới việc mở cửa thị trường lao động trong nước cần chú trọng hơn đến chất lượng lao động nước ngoài và lĩnh vực thu hút lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.

     

    2.2. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp với nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động tại Việt Nam

     

    Nội dung và nguyên tắc của pháp luật về quản lý lao động nói chung và pháp luật về quản lý lao động nước ngoài nói riêng phải bảo vệ được người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động, tức là ngăn chặn và xử lý được các hành vi xâm hại có nguy cơ hoặc xảy ra đối với người lao động. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật lao động, pháp luật về quản lý lao động. Bởi lẽ, trong mối quan hệ với người sử dụng lao động thì người lao động luôn là đối tượng ở vị thế yếu hơn, phụ thuộc và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Cụ thể, đối với lao động nước ngoài, đây là đối tượng trải qua quá trình tuyển dụng, đáp ứng các yêu cầu pháp định để tham gia vào thị trường lao động tại nước sở tại, điều đó có nghĩa lao động nước ngoài là chủ thể trong quan hệ lao động có đầy đủ quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định.

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    95

    Làm việc trong môi trường lao động tại nước sở tại, lao động trong nước và lao động nước ngoài đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động và không có sự tách biệt. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải được xây dựng trên cơ sở những nội dung và nguyên tắc chung của pháp luật về quản lý lao động. Là đối tượng đặc thù nên mỗi quốc gia đều có những chế định riêng về quản lý người lao động nước ngoài, tuy nhiên vẫn phải phù hợp với nguyên tắc và nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý lao động.

     

    Pháp luật của các quốc gia châu Á quy định những chế định về quản lý lao động nước ngoài rất khác nhau, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia xây dựng đạo luật độc lập về tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài. Trong khi đó, một số quốc gia khác như Philippines hay Việt Nam thì quy định những nội dung này là một phần trong bộ luật lao động. Dù ở hình thức nào thì lao động nước ngoài vẫn được coi là một thực thể tham gia vào quan hệ lao động và được hưởng quyền và nghĩa vụ như lao động trong nước, trừ khi pháp luật quy định những chế định pháp lý đặc biệt khác. Những quốc gia có đạo luật riêng dành cho lao động nước ngoài thì quản lý đối tượng lao động này được thiết chặt hơn bởi những quy định trong suốt quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động nước ngoài. Chẳng hạn, Hàn Quốc và Singapore có những chính sách đãi ngộ ưu tiên cho lao động chất lượng vào và thành viên gia đình họ; Đài Loan phân định các chế độ dành cho lao động nước ngoài chất lượng cao và lao động nước ngoài phổ thông… Đa phần các quốc gia đều có quy định hạn ngạch tuyển dụng đối với lao động nước ngoài và ở một số các ngành nghề, như Thủ tướng Ý hàng năm ban hành nghị định xác định số lượng lao động nước ngoài được tuyển dụng dựa trên những tiêu chí như: loại hình công việc, lãnh thổ, tính chất công việc và quốc tich; Indonesia hạn chế tuyển dụng lao động nước ngoài ở lĩnh vực nhân sự. Bên cạnh đó, một số quốc gia như Việt Nam, Singapore sử dụng tỷ lệ phần trăm lao động nước ngoài dựa trên tổng lao động địa phương nhằm đảm bảo việc làm cho lao động trong nước.

     

    Người sử dụng lao động cũng được pháp luật quy định chặt chẽ trong việc sử dụng, quản lý người lao động nước ngoài. Cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định từ khâu tuyển dụng, người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài đối với từng vị trí việc làm mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và kê khai số lượng, trình độ người lao động nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình sử dụng lao động nước ngoài, người sử dụng lao động phải báo cáo định kỳ cho cơ quan cấp trên. Người sử dụng lao động Singapore có trách nhiệm đảm bảo quyền được tham gia bảo hiểm, được kiểm tra sức khoẻ của lao động nước ngoài, hay người sử dụng lao động phải chịu các chi phí hồi hương cho lao động nước ngoài tại Philippines. Bên cạnh đó, một số các quy định đặc biệt về tuyển dụng, quản lý lao động nước ngoài phụ thuộc vào các hiệp định song phương, đa phương về lao động của nước tiếp nhận lao động và nước ký gửi lao động.

     

    Như vậy, pháp luật quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải đảm bảo những nguyên tắc và nội dung phù hợp với chế định chung của pháp luật quản lý lao động, đảm bảo lợi ích cơ bản của các chủ thể trong quan hệ lao động. Lao động nước ngoài được hưởng những quyền và nghĩa vụ tương tự như lao động trong nước.

     

    2.3. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam phải đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý nhà nước đối với chủ thể là người lao động nước ngoài

     

    Lao động nước ngoài là đối tượng đặc biệt và cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng trong công tác quản lý diễn ra suốt quá trình di trú bắt đầu từ khâu nhập cảnh, cư trú, làm việc đến khi xuất cảnh. Đối với vấn đề lao động, Nhà nước là chủ thể quản lý lao động thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương, bao gồm cả lao động trong nước và lao động nước ngoài mặc dù là đối tượng có những quy định riêng. Các cơ quan nhà nước cần phân công nhiệm vụ, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau để đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, với các quy định

     

    96                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    pháp luật hiện nay thì các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động về lao động nước ngoài đang gặp những khó khăn trong việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ hay không đối với trường hợp lao động nước ngoài không có giấy phép lao động bởi chưa có hướng dẫn cụ thể.

     

    Cộng hòa Liên bang Nga thành lập Cục di trú Liên bang (the Federal Migration Service – FMS) thuộc Bộ Nội vụ có chức năng phụ trách chính sách nhập cư và bảo đảm thực hiện các chính sách nhà nước trong lĩnh vực di cư và tiến hành việc thực thi pháp luật, giám sát và cung cấp các dịch vụ công về di cư. Bên cạnh đó, Sở di trú liên bang (FMS) dự định sẽ đưa loại hộ chiếu sử dụng dấu vân tay vào thí điểm. Nga kiểm tra, giám sát lao động nước ngoài thông qua hệ thống cấp phép lao động, số lượng hạn ngạch cấp giấy phép lao động cho công dân nước ngoài, được phân chia ngành nghề. Hệ thống tòa án độc lập, công minh và tổ chức các cơ quan bảo vệ pháp luật. Nga sử dụng bản đồ mật độ cư trú để theo dõi số lượng người nước ngoài đang có mặt ở Nga, có bao nhiêu người trong số đó thuộc diện du lịch thăm thân, đi học, đi chữa bệnh, có bao nhiêu người đến làm việc, bao nhiêu người có quyền lao động và thẻ xanh đang còn hiệu lực… Bản đồ chỉ rõ tình trạng di trú theo khu vực, theo dân tộc của người nước ngoài đến Nga [10].

     

    Tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cơ quan quản lý lao động các cấp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, UBND các cấp… đều có trách nhiệm trong việc phối hợp để quản lý lao động nước ngoài. Bên cạnh đó, cũng có những quy định chỉ rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc quản lý lao động nước ngoài và hỗ trợ các cơ quan chức năng thực hiện công tác này. Nghị định 11/2016/NĐ-CP

     

    • quy định: “Bộ Công an có trách nhiệm hướng dẫn về thẩm quyền, thủ tục trục xuất đối với lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động; Hướng dẫn việc cấp thị thực cho lao động nước ngoài liên quan đến việc cấp, cấp lại giấy phép lao động; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động;

    cung cấp thông tin về lao động nước ngoài được cấp thị thực vào làm việc cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tới Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn về lệ phí cấp, cấp lại giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Bộ Công thương có trách nhiệm hướng dẫn căn cứ, thủ tục để xác định lao động nước ngoài di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới”. Nhiệm vụ của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được quy định tại Nghị định 140/2018/NĐ-CP [9]: “Thực hiện chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động; cấp, cấp lại giấy phép lao động và đề nghị cơ quan công an trục xuất người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không có giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc cho người sử dụng lao động theo quy định của Nghị định này và người sử dụng lao động có trụ sở chính tại một tỉnh, thành phố nhưng có văn phòng đại diện và chi nhánh tại các tỉnh, thành phố khác”

     

    Như vậy, trước thực trạng trên, yêu cầu đặt ra đối pháp luật về quản lý lao động nước ngoài là: Thứ nhất, quy định chức năng cụ thể của từng cơ quan quản lý nhà nước và người sử dụng lao động nước ngoài, thể hiện sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng lao động này. Thứ hai, nâng cao vai trò của thanh tra lao động trong công tác thanh, kiểm tra việc quản lý lao động nước ngoài đối với người sử dụng lao động như việc gia hạn giấy phép lao động, nội dung giấy phép lao động phù hợp với hợp đồng lao động…

     

    2.4. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài phải đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia

     

    Trong quá trình lập pháp, mỗi quốc gia đều dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội cũng như chính trị của quốc gia mình để ban hành những quy định pháp luật phù hợp với môi trường

     

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    97

    pháp lý chung và đạt hiệu quả thực thi cao nhất. Việc tuyển dụng lao động nước ngoài không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động mà còn hàm ý quan hệ ngoại giao, thương mại giữa các quốc gia. Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động. Tuy nhiên, luật lao động có mối quan hệ tương quan với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, mối quan hệ lao động này mang yếu tố nước ngoài nên gắn chặt với tư pháp quốc tế. Bởi thế, lao động nước ngoài làm việc trong từng ngành nghề cụ thể còn chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành. Cụ thể, lao động nước ngoài được tuyển dụng làm việc tại Việt Nam bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn chung về độ tuổi, sức khỏe… như quy định trong pháp luật lao động mà công tác trong ngành giáo dục đòi hỏi có những giấy chứng nhận chuyên môn, bằng cấp, chứng chỉ mà Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; lao động nước ngoài phục vụ cho lĩnh vực thể thao phải tuân thủ các quy định của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch…

     

    Yêu cầu đặt ra là xây dựng những quy định pháp luật cụ thể để quản lý đối tượng lao động này để đẩy mạnh mục tiêu phát triển kinh tế đất nước nhưng vẫn đảm bảo chính sách việc làm cho lao động trong nước. Trước tiên, pháp luật quản lý lao động nước ngoài phải phù hợp với tinh thần Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Theo GS. TSKH. Đào Trí Úc nhận định: “Xét về bản chất, Hiến pháp vừa là văn bản pháp lý của Nhà nước, vừa là bản khế ước mang trong mình ý chí chung của xã hội” [6]. Bên cạnh đó, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về quản lý lao động nước ngoài với các ngành luật khác là yêu cầu cơ bản trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Yêu cầu về tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam cần phải có sự quan tâm, nỗ lực của từng cơ quan, trong đó quan trọng nhất là cơ quan quản lý nhà nước về lao

     

    động từ trung ương đến địa phương; cần có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan đó, giữa các ngành trong quá trình xây dựng, soạn thảo, thẩm định ban hành cho đến cơ quan kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật về lao động nước ngoài nói riêng và pháp luật lao động nói chung.

     

    2.5. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam phải phù hợp với pháp luật quốc tế về lao động

     

    Có thể nói, Điều ước quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật về lao động là hai trong số những loại nguồn quan trọng của pháp luật lao động Việt Nam hiện nay. Trong đó, Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và thành viên gia đình họ năm 1990 và Công ước số 97 về quyền của người lao động di trú, năm 1949 được xem là hiến chương quốc tế về lao động di trú. Ngoài ra, pháp luật quốc tế về lao động bao gồm: Các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế – ILO về quyền con người: Công ước 143 về lao động di cư; Công ước số 87 về quyền tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội, 1948; Công ước số 98 về quyền được tổ chức và thương lượng tập thể, 1949; Công ước số 29 về lao động cưỡng bức; Công ước số 100 về việc trả lương bình đẳng, 1951; Công ước số 105 về cấm cưỡng bức lao động, 1957; Công ước số 111 chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, 1958; Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiếu, 1973; Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức sử dụng lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999. Công ước và khuyến nghị liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động di trú: Công ước số 26 về cơ chế xác định lương tối thiểu, 1928; Công ước số 81 về thanh tra lao động, 1947; Công ước số 88 về dịch vụ việc làm, 1948; Công ước số 103 về bảo vệ quyền thai sản (sửa đổi), 1952; Khuyến nghị số 115 về nhà

     

    • cho người lao động, 1961; Công ước số 122 về chính sách việc làm, 1964; Khuyến nghị số 155 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, 1981; Công ước số 158 về chấm dứt việc làm, 1982; Công ước số 169 về các dân tộc và bộ lạc bản

    98                          P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

     

     

    địa, 1989; Công ước số 181 về tổ chức giới thiệu việc làm tư nhân, 1997.

     

    Các công ước và khuyến nghị trên liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động di trú, bao quát toàn diện nhất về vấn đề lao động di trú bao gồm những nội dung cơ bản về an sinh xã hội, tuổi lao động, giờ làm việc, quyền tham gia công đoàn, mức lương tối thiểu, nơi ở, thuế, chống phân biệt đối xử…Các quốc gia thành viên là nước tiếp nhận lao động nước ngoài có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định của công ước, phải đảm bảo thực hiện các cam kết đối với lao động di trú.

     

    Trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là một trong những vấn đề cơ bản, quan trọng mà tất cả các quốc gia quan tâm. Mối quan hệ này thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi quốc gia [7]. Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của lao động nước ngoài trong Bộ luật lao động và Nghị định và Thông tư hướng dẫn kèm theo. Theo đó, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đảm bảo quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, hiện nay quy định chưa cho phép lao động nước ngoài tham gia công đoàn sẽ hạn chế việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Tự do công đoàn là một trong những quyền quan trọng thuộc nhóm quyền đối xử bình đẳng giữa người lao động di trú và người lao động bản địa [5]. Cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định thành phần tham gia phiên hòa giải có đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động [2]. Vậy đại diện cho người lao động Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là tổ chức Công đoàn. Nhưng lao động nước ngoài không được gia nhập công đoàn Việt Nam thì tổ chức nào sẽ đại diện cho họ trong việc giải quyết tranh chấp lao động?

     

    Cho đến thời điểm này, Việt Nam đã ký kết, thực thi và đang đàm phán 16 hiệp định thương mại tự do FTA [4], trong đó có hai hiệp định có

     

    chứa các điều khoản về lao động là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Việt Nam gia nhập năm 2018 và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam

     

    – EU (EVFTA) đang trong quá trình đàm phán. Đối với Hiệp định CPTPP, Việt Nam phải tuân theo nguyên tắc “thông qua và duy trì”, tức là Việt Nam phải nội luật hóa các điều khoản của Hiệp định vào pháp luật quốc gia, sửa đổi pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng để phù hợp với các cam kết đã ký trong Hiệp định. Bên cạnh đó, Việt Nam đã gia nhập 21 công ước của ILO, trong đó phê chuẩn 5/8 công ước cơ bản. Ở phạm vi khu vực, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập năm 2005 cho phép các lao động có tay nghề cao, dịch vụ, đầu tư và hàng hóa của 10 quốc gia thành viên được di chuyển tự do trong khu vực. Các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs) của các thành viên ASEAN cho phép 8 ngành nghề mà lao động có kĩ năng, kinh nghiệm phù hợp được hành nghề ở nước ngoài [13]. Nhìn chung, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực ASEAN đều là thành viên của ILO, bởi thế khi xây dựng pháp luật quốc gia cũng như pháp luật của cộng đồng khu vực đều tuân theo những tiêu chuẩn lao động quốc tế.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 1 Điều 170.
    • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 209.
    • Các Hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết quá trình và lợi thế, nguồn:

    https://www.geskualalumpur2013.org/ngoai-giao/cac-hiep-dinh-thuong-mai-viet-nam-da-ky-ket-qua-trinh-va-loi-the/, truy cập ngày 10/11/2018.

     

    • Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật, Quyền của người nước ngoài, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, (2018) 115.
    • Đặng Minh Tuấn, Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia: Nhìn từ góc độ hiến

    P.T.H. Giang / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 35, No. 2 (2019) 90-99

    99

    pháp trên thế giới và một số gợi mở cho Việt Nam,

    nguồn:

    https://hienphap.wordpress.com/2013/07/23/moi-

     

    quan-he-giua-phap-luat-quoc-te-va-phap-luat-

    quoc-gia-nhin-tu-goc-do-hien-phap-tren-the-gioi-

    va-mot-so-goi-mo-cho-viet-nam-dang-minh-tuan/,

    truy cập ngày 9/4/2019.

     

    • Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016 quy

    định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Điều 20.

     

    • Nghị định 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 về sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Khoản 8 Điều 11.
    • Nguyễn Thị Lan Hương, Vấn đề lao động người nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Đề tài cấp Nhà nước, mã số

    KX.02.01/11-15, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, (2014) 13.

     

    A

     

    a

     

    aq

     

    • OECD, OECD Economic Surveys: Korea, (2018) 38.
    • Phạm Quý Thọ, Thị trường lao động Việt Nam – Thực trạng và các giải pháp phát triển, NXB. Lao động – xã hội, Hà Nội, (2003) 10.
    • Thị trường lao động Việt Nam đối mặt nhiều thách thức trong tiến trình hội nhập, nguồn: http://dangcongsan.vn/xa-hoi/thi-truong-lao-dong-viet-nam-doi-mat-nhieu-thach-thuc-trong-tien-trinh-hoi-nhap-468083.html, truy cập ngày 27/12/2017.
    • Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ LĐTB&XH, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật ASEAN về lao động và các vấn đề xã hội – tính tương thích của pháp luật Việt Nam” ngày 1/12 tại Hà Nội, (2016), 25-40.
    • Wang-Bae Kim, Migration of Foreign Workers into South Korea: From Periphery to Semi-Periphery in the Global Labor Market, Asian Survey, 44 (2) (2004) 317.

    aa

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]