Author: Nguyễn Huyền

  • Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

    Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

    Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Hình tượng người phụ nữ qua ba tác phẩm “Vợ chồng a phủ” của Tô Hoài, “Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

        Chuyên đề:           HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

    QUA BA TÁC PHẨM : “VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA TÔ HOÀI, “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN VÀ “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

     

          Phụ nữ là đề tài quen thuộc trong nền văn học Việt Nam, nhất là những phụ nữ có số phận nhỏ bé, chịu nhiều đắng cay, tủi nhục. Đặc biệt trong giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX, đề tài này đã được thể hiện khá đặc sắc qua nhiều nhân vật. Nổi trội hơn cả là hiện tượng Mị trong “vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, nhân vật “vợ nhặt” và bà cụ Tứ trong tác phẩm cùng tên của Kim Lân và nhà văn Nguyễn Minh Châu, với hình ảnh người đàn bà hàng chài qua truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”. Mỗi nhân vật đều mang mỗi hoàn cảnh, số phận đáng thương nhưng ở họ vẫn toát lên những phẩm chất đáng quí của người phụ nữ Việt Nam.

    Đã từ rất lâu, hình ảnh người phụ nữ với số phận chìm nổi, đau thương trong sự bất công hà khắc của xã hội đã đi vào nền văn học Việt Nam. Qua những câu ca dao dân ca_ khúc hát tâm tình của người dân quê đã được lưu truyền qua bao năm tháng mà cụ thể hơn đó là những câu ca dao than thân đầy cảm thương. Ở đó hình ảnh người phụ nữ đã được hiện lên rất đậm nét với:

    “Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

    “Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các,hạt ra ruộng cày”

    “Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    Có biết bao nỗi khổ mà người phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vật chất “ngày ngày hai buổi trèo non”, “ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương”. Nhưng nỗi khổ lớn nhất vẫn là nỗi khổ về tinh thần,nỗi khổ của thân phận mong manh, bị động, ít giá trị. Thân phận họ chỉ được ví với “hạt mưa sa”, “tấm lụa đào”…Ta có thể cảm nhận được nổi khổ xót xa của người phụ nữ khi đọc những câu ca dao ấy. Nhưng ở họ luôn có những phẩm chất tốt đẹp, vậy mà trong cái xã hội lúc bấy giờ, người đời đâu có biết và coi trọng. Cả đời họ chỉ lầm lũi, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ là một hằng số chung cho tất cả.

    Có ai đó đã nói, nếu dùng một từ để nói về số phận người phụ nữ trong xã hôi bấy giờ thì đó là: “tủi nhục”. Quãng thời gian họ sống trên đời được đong đếm bằng nỗi khổ đau mà họ phải gánh chịu. Có biết bao người phụ nữ đã phải ngậm ngùi trong số phận của mình:

    “Trách cha,trách mẹ nhà chàng

    Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau

    Thực vàng chẳng phải thau đâu

    Đừng đem thử lửa mà dau long vàng”

    hay:

    “Lấy chồng làm lẻ khổ thay

    Đi cấy đi cày chị chẳng kể công

    Tối tối chị giữ mất chồng

    Chị cho manh chiếu,nằm không chuồng bò

    Khao khát của người phụ nữ ở đây không phải là cái khao khát cao sang mà là những khao khát hạnh phúc chính đáng nhất của một con người.Vì thế họ đã nhắn nhủ:

    “Đói lòng ăn nắm lá sung

    Chồng một thì lấy,chồng chung thì đừng”

    “ Chồng con là cái nợ nần

    Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm”

    Nhưng dù sống bất hạnh tâm hồn người phụ nữ vẫn sáng lên lấp lánh ánh sáng của trái tim đôn hậu,cao thượng vị tha.

    Quên đi những nhọc nhằn, vất vả của cuộc sống lao động, những người phụ nữ bình dân ấy cũng có những phút giây sống cho cảm xúc riêng tư, cũng trải qua các cung bậc nhớ nhung của một trái tim mới yêu

    “Gió sao gió mát sau lưng

    Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”

    Có khi lại khao khát vượt ra khỏi phép tắc của thời xưa để tìm đến hạnh phúc riêng tư nhỏ bé.

    “Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”

    Ở người phụ nữ, tình yêu thương, lòng thuỷ chung luôn được đề cao, trân trọng

    “Trăng tròn chỉ một đêm rằm

    Tình duyên chỉ hẹn một lần mà thôi”

    Từ trong khổ đau, bất hạnh, từ trong tiếng hát than thân đầy tủi cực, tâm hồn trung hậu, đẹp đẽ, thuỷ chung của người phụ nữ vẫn vương lên, toả sáng khiến cho tiếng hát than thân kia không mang vẻ bi luỵ mà vẫn ngân vang, ấm áp tình đời, tình người. Ca dao đã phản ánh đầy đủ những vẻ đẹp đó của họ – những con người thuỷ chung son sắc, giàu tình nghĩa. Họ như những viên ngọc thô mà thời gian bất hạnh, khổ đau là chất xúc tác mài giũa ngày càng toả sáng lấp lánh

    Không dừng lại ở đó, mảng văn học trung đại vẫn tiếp bước, gìn giữ và khai thác nét đẹp trong tâm hồn người phụ nữ. “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một người phụ nữ với nỗi oan thấu trời đã phải lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Toát lên vẻ đẹp thuỷ chung, hiền thục, là một người vợ hiền, dâu thảo. Như Thuý Kiều trong truyện Kiều của người Nguyễn Du, ấy là một hình tượng bất hủ trong lịch sử văn học dân tộc. Trong hình ảnh Kiều có đủ biết bao nhiêu là số phận, là cảnh ngộ: một trang tuyệt sắc, một người tình thuỷ chung, một đứa con hiếu thảo, một bậc phu nhân đường bệ, một cô gái bị ép làm gái lầu xanh “sống làm vợ khắp người ta”. Thế mà từ sông Tiền Đường trở về, đáp lại lời cầu xin của Kim Trọng, nàng vẫn còn có thể nói”

    “Chữ trinh còn một chút này

    Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan”

    Chữ trinh, với Nguyễn Du, với Kiều, và tất cả thế giới Truyện Kiều đã trở nên lung linh đa nghĩa. Kiều – đó là một sự kết tinh của tài và tình, của tình và hiếu, của tài hoa và mệnh bạc, của những oan khổ, chịu đựng không mấy được bù đắp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Như thế, trong văn học trung đại đã bước đầu hoàn thiện bản chân dung cả về ngoại hình lẫn tâm hồn của người phụ nữ – tài hoa, bạc mệnh.

    Theo dòng chảy của lich sử văn học Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ vẫn xuyên suốt trong các tác phẩm. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong nền văn học hiện đại. Với những phẩm chất tốt đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt nam, những cung bậc cảm xúc phức tạp, những trăn trở cuộc đời. Họ đã đến và để lại trong lòng độc giả những ấn tượng thật đậm nét, khó phai mờ. Sống trong cảnh ngộ chung của mọi người dân Việt Nam những năm tháng đất nước còn lầm than, vất vả nhưng đối với người phụ nữ, sự vất vả đó dường như càng nặng nề hơn. Hình ảnh chi Dậu được Ngô Tất Tố vẽ lên trong tác phẩm “Tắt đèn” là một hình ảnh người phụ nữ lam lũ, gánh vác tất cả các công việc nặng nhẹ trong nhà. Không những nộp sưu cho chồng, chi còn phải nộp cho em chồng – một người đã chết. Đành phải đứt ruột bán con, đau đớn khi nhìn chồng bị đánh đập gần chết. Bao cơ cực, khổ đau đều dồn lên đôi vai bé nhỏ, gầy guộc của chị. Không chỉ có vậy, còn có những người phụ nữ đến quyền tự do yêu đương, nhu cầu hạnh phúc chính đáng như bao người khác cũng bị ngăn cản. Thị Nỡ trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao_ một con người sinh ra đã không được ông trời ban cho nhan sắc, vậy mà chuyện tình duyên cũng không được trọn vẹn. Thị Nỡ muốn được chung sống với Chí Phèo, muốn chăm sóc cho  Chí nhưng đâu có được. Làng xóm chê cười, bà dì của Thị lại ngăn cấm. Cuộc đời của người phụ nữ thật bất công, chịu nhiều đắng cay, tủi nhục, nhưng ở họ luôn sáng ngời vẻ đẹp nhân phẩm. Họ chính là những đại diện tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam có cuộc đời bất hạnh.

    Qua nhiều giai đoạn lịch sử, vị trí thay đổi, nhưng hình ảnh người phụ nữ vẫn nổi bật trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Các nhà thơ, nhà văn luôn hướng về những phụ nữ có số phận bất hạnh, thiệt thòi, đau khổ. Họ thông cảm, khóc thương cho thân phận nhỏ bé. Với cái nhìn nhân đạo của mình, các nhà thơ, nhà văn đã làm nổi bật lên những phẩm chất cao quý sáng ngời của người phụ nữ Việt Nam.

    Góp vào nền văn học nước nhà, Tô Hoài với tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, Kim Lân với “vợ nhặt” và tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu càng tô đậm hơn hình tượng người phụ nữ. Những nhà văn này đã góp lên tiếng nói chung- tiếng nói nhân đạo đối với họ. Không những thể hiện sự quan tâm, thông cảm , đồng cảm với những số phận bất hạnh này mà những nhà văn còn trân trọng, ngợi ca những phẩm chất cao quý của người phụ nữ.

    Đến với “Vợ chồng A Phủ”, ta bắt gặp hình ảnh Mị-một người phụ nữ dân tộc Mèo bất hạnh với sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Đọc “Vợ nhặt” của Kim Lân, ta cảm thấy xót xa cho cô vợ với niềm khao khát được sống, được tồn tại đến cháy bỏng.Rồi ta lại khóc thương cho số phận của người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu- một người phụ nữ cam chịu và giàu đức hi sinh.

    “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn được rút từ tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài, viết vào năm 1953, ngay sau chuyến thâm nhập thực tế của tác giả. Đây là truyện ngắn đặc sắc nhất của Tô Hoài nói riêng và của văn xuôi chống Pháp nói chung.Tác phẩm là một bức tranh chân thực về cuộc sống của dân nghèo miền núi dưới ách áp bức bóc lột của thế lực phong kiến thực dân. Đồng thời là một bài ca về sức sống khát vọng, tự do của con người miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đời của họ. Tiêu biểu nhất cho những con người ấy là Mị, một nhân vật có số phân bi đát,đáng thương nhưng mang đầy phẩm chất tốt đẹp.

    Mở đầu tác phẩm Tô Hoài giới thiệu Mị là một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa “lúc nào cũng vậy dù thái cỏ ngựa, dệt vải,chẻ củi hay cõng nước dưới khe suối lên cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Đó là hình tượng con người nô lệ bị chà đạp. Nhưng Mị là ai?_ Cô là con dâu gạt nợ nhà Pá Tra, một số phận bất hạnh.

    Mị vốn là một cô gái dân tộc Mèo, con nhà nghèo. Một cô gái vừa đẹp người , đẹp nết. Không những vậy lại cần cù, đảm đang, hiếu thảo, ham sống, giàu lòng yêu đời và rất mực tài hoa. Tiếng sáo của Mị đã có sức lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt đối với bao chàng trai Mèo. Nhưng tương lai tươi sáng, tuổi trẻ với biết bao hạnh phúc, và tình yêu đã không đến với cô gái nghèo khổ này. Mị mang bi kịch một cô gái với niềm khao khát tự do, hạnh phúc nhưng phải rơi vào nghịch cảnh trớ trêu, bị dồn vào bước đường cùng không  lối thoát. Chỉ vì món nợ truyền kiếp – ngày trước bố mẹ Mị cưới nhau phải vay nhà thống lý Pá Tra và cho đến lúc già, mẹ cô chết, vẫn chưa trả được nợ nên Mị phải đem thân làm dâu trừ món nợ ấy.Kể từ khi làm dâu cho nhà thống lý,Mị phải sống những chuỗi ngày đau thương,tủi nhục tăm tối. Danh nghĩa là con dâu nhà quan, nhưng thực chất Mị là một thứ nô lệ không công. Mị không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị đày đoạ về tinh thần. Đã mấy tháng liền, đêm nào Mị cũng khóc. Cô gái tội nghiệp ấy đã có lúc định kết liễu đời mình bằng nắm lá ngón, nhưng có chết thì món nợ vẫn còn, bố Mị còn khổ sở hơn bây giờ gấp nhiều lần.Vì thương bố nên Mị đành phải quay về chấp nhân cuộc đời làm nô lệ. Dưới nhiều tầng áp bức của cường quyền, thần quyền và hủ tục phong kiến miền núi, Mị phải sống kiếp sống như một con vật, thậm chí không bằng con vật. Thật không ở đâu mạng sống, nhân cách con người lại bị rẻ rúng như vậy.

    Bị giam hãm đày đoạ trong cái địa ngục khủng khiếp của cả nhà thống lý, Mị đang chết dần, chết mòn với năm tháng. Thân xác héo khô, tâm hồn lạnh lẽo, trống vắng. Mị gần như tê liệt sức sống.  Mị mất hết ý thức về thời gian, sự chuyển biến thời gian sớm hay tối đối với Mị chẳng có ý nghĩa gì nữa: không dĩ vãng, không hiện tại và không cả tương lai. “Ở lâu trong cái khổ Mị quen với nó rồi”, “cô ngày càng không nói, lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Cuộc đời Mị chỉ còn thu lại qua cái khung cửa sổ bằng bàn tay “mờ mờ, trăng trắng không biết là sương hay là nắng”. Mị hầu như mất hết ý thức về bản thân và những mong muốn đổi thay cho số phận của mình, thậm chí Mị cũng không có cả ý thức về cái chết nữa.

    Thật vậy, dường như sự rẻ rúng, tủi nhục là hằng số chung cho tất cả những người phụ nữ phải sống trong cái xã hội cổ hủ lúc bấy giờ. Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Đây là một thiên truyện ngắn đặc sắc với những tình huống độc đáo, hấp dẫn, mang đầy tinh thần nhân đạo. Tác phẩm “ Vợ nhặt” được rút từ tập truyện ngắn “Con chó xấu xí”-một thành công đáng kể của Nam Cao.

    Từ trước đến nay, đọc “ Vợ nhặt”, chúng ta vẫn thường bàn nhiều hơn về hai mẹ con anh Tràng mà gần như ít chú ý đến cô vợ nhặt. Thực ra, từ nhân vật này, nhà văn Kim Lân đã thể hiện được niềm thông cảm sâu sắc của mình trước số phận éo le của người phụ nữ. Ngay từ tựa đề của tác phẩm đã gợi lên sự chua xót, mỉa mai, một nỗi đau không thể nói thành lời. “Vợ nhặt” một hành động nghe sao đơn giản mà lại dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:

    “ Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà

    Trong ba việc ấy thật là khó thay”

    Vậy mà ở đây Tràng đã nhặt được vợ hẳn hoi. Anh Tràng vừa xấu xí, nghèo túng lại là dân cư ngụ không có khả năng lấy vợ thế mà “nhặt” được vợ một cách dễ dàng, không cần phải cưới hỏi gì. Thật tủi nhục thay cho thân phận người “vợ nhặt” – vợ theo không, ngay cả cái tên thị cũng không có. Chỉ với bốn bát bánh đúc người đàn bà nghèo khổ chấp nhận theo người đàn ông chưa từng quen biết. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã từng viết: “Tình huống giống như thứ nước rửa ảnh, nó sẽ làm nổi hình, nổi sắc các nhân vật, bộc lộ các số phận, các tính cách, các tâm trạng…” Thông qua hình tượng vợ nhặt, thân phận rẻ rúng của người phụ nữ đươc biểu hiện một cách sinh động, cụ thể. Người vợ nhặt không được miêu tả với dáng vóc đậm đà, chắc nịnh của một người phụ nữ lao động, càng không có vẻ đẹp thuần phác như chị Dậu của nhà văn Ngô Tất Tố. Ngoại hình người vợ nhặt được phác hoạ bằng một vài đường nét thiếu nữ tính: “cái ngực lép nhô lên”, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “thị gầy sọp” trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt “hai con mắt trũng hoáy”. Những chi tiết đó không thể không khiến ta nghĩ đến một cơ thể thiếu sức sống, thậm chí như một bóng ma vật vờ. Cái đói, cái khổ không chỉ làm thay đổi đi vẻ bề ngoài của con người mà còn làm mất đi cái bản tính hiền hậu, dịu dàng đáng quí vốn có của người phụ nữ. Lần thứ hai gặp lại anh Tràng, thị “rách quá”, “quần áo tả tơi gầy xọp hẳn đi”. Khi được mời ăn, thị sà xuống “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc, chẳng chuyện trò gì”. Cái đói đã đẩy lùi sĩ diện, nhân cách, và thị đã không băn khoăn theo Tràng về làm vợ chỉ với một ý nghĩ “cho khỏi đói” để sống cái đã. Xưa nay trong truyền thống đạo lí Việt Nam, chuyện tỏ tình vốn mang màu sắc tình tứ, duyên dáng, e lệ. Ấy thế mà giờ cũng chỉ trần trụi là câu chuyện lăn xả vào miếng ăn, để sau đó trở thành “vợ nhặt” của người đàn ông xa lạ kia. Thế mới biết cái đói ghê gớm như thế nào!

    Bức tranh “chiếc thuyền ngoài xa” chụp cảnh một gia đình làm nghề chài lưới. Trong đó có người chồng, người cha vũ phu; có thằng Phác thương mẹ, muốn ngăn cản việc cha nó đánh mẹ…tất cả đều gây cho người đọc một ấn tượng đặc biệt. Nhưng không hiểu sao, đôi mắt và trái tim ta như bị hút theo cái người đàn bà hàng chài không tên đó. Chị không đẹp, hay nói cách khác, bệnh tật, những trận đòn và cuộc sống lao động khắc nghiệt đã bẻ gãy những nét duyên dáng của một người phụ nữ. Chị trạc ngoài bốn mươi, khuôn mặt thô kệch, mặt rỗ. Lúc nào cũng xuất hiện với gương mặt mệt mỏi, người đàn bà ấy đã trải qua một cuộc đời nhọc nhằn lam lũ. Số phận lận đận của chị dường như đã được báo hiệu ngay ở cái tuổi thanh xuân “Từ nhỏ tôi đã là một đứa con gái xấu xí, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”, “cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai làng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. Những dòng tâm tự được nói ra với giọng điệu bằng bằng như một tiếng thở dài, kìm nén bao cảm xúc. Người đàn bà ấy chầm chậm kể ra bất hạnh nhan sắc của đời mình, đối với người phụ nữ ai chẳng muốn mình xinh đẹp. Biết đâu trong những lúc suy nghĩ về cuộc đời của mình, chị một lần đã nghĩ đến hai chữ “giá như…”. Vâng, giá như có nhan sắc, số phận đã không run rủi đưa đẩy chị đến với người chồng miền biển này; giá như không quá khổ cực trong cuộc sống, ghe thuyền chật hẹp vất vả, chồng chị đã không đến nỗi dữ dằn, hung tợn…Nhưng tất cả những gì tốt đẹp và hạnh phúc sinh ra không phải dành cho người đàn bà hàng chài khốn khổ này. Cái cuộc đời quá cơ cực của chị luôn phải đối mặt với hai cơn bão táp: bão táp từ biển khơi lạnh lùng và bão táp từ người chồng vũ phu, thô bạo. Người đàn bà ấy khốn khổ và chật vật để cho từng bữa cơm, manh áo cho gia đình. Đói khổ đã trở thành nỗi ám ảnh luôn thường trực trong cuộc sống của chị. “Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả cuộc đời mình: Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…”

    Cả cuộc đời người đàn bà ấy gói gọn trong nỗi lo đói khổ, lo miếng cơm manh áo hàng ngày. Bão táp biển khơi đã làm chai sạm, rỗ đi, thô kệch cái vẻ phụ nữ của chị. Nhưng còn đáng sợ hơn là bão táp từ những trận “đòn” hằng ngày vẫn đổ lên trên thân xác và tâm hồn chị. Vẻ bề ngoài và những cử chỉ của lão đàn ông – chồng chị đã phơi ra ngoài tất cả những sự dữ dằn và khắc nghiệt của mình, “Tấm lưng rộng và cong như như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà”. Ánh mắt ấy khiến cho người đọc luôn ám ảnh, đằng sau tất cả những khó khăn đè nặng, lão đàn ông nhìn chằm chằm người đàn bà, nhìn vợ mình không phải như một điểm tựa yêu thương mà nhìn như một nguồn căn của mọi sự đau khổ, khốn khó đã đè nặng lên lão. Cái ánh mắt hằn học như muốn ăn tươi nuốt sống, trút hết mọi những oán hờn lên người phụ nữ yếu đuối này. Ta hiểu, những khó khăn một phần đến từ đàn con nheo nhóc, nhưng người phụ nữ ấy có tội gì đâu!Chị đã phải cong mình lên chịu đựng những bi kịch đời thường, chịu đựng những trần đòn roi như trước đây chi vẫn thường hay chịu. “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, mật độ dày đặc, những trận đòn vẫn như mưa đổ xuống. À ơi…!ai ru câu ca dao “thân em như tấm lụa đào à ơi…!” có làm cho chị cúi đầu nuốt dòng nước mắt đắng cay chua xót cho số phận của mình.Chị sinh ra cũng như bao người phụ nữ khác, có mạnh mẽ thì cũng chỉ là gồng mình gắng gượng,tâm hồn của chị vẫn thật yếu đuối mỏng manh. Ai nói rằng những giọt nước mắt của người đàn bà rơi xuống, nhưng bây giờ không phải chỉ vì những trận đòn roi, mà một bàn tay nào đó đã bóp vụn trái tim và sự nhạy cảm trong tâm hồn con người ấy.Giữa xã hội phát triển đó vẫn còn là một câu hỏi xót xa!

    Như vậy, hình tượng người phụ nữ đã xuất hiện trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX đầy ấn tượng và đặc sắc. Đó là những số phận đáng thương, những cuộc đời nghiệt ngã và đầy bất hạnh. Nhưng không dừng lại ở việc khai thác những nỗi đau khổ, những bất công của xã hội, của cuộc sống đã đẩy cuộc đời họ vào những bế tắc cùng cực. Mà ở đấy, các nhà văn đã tô đậm lên tất cả đó là những vẻ đẹp phẩm chất thật đáng trọng- thứ ánh sáng đẹp đẽ của tâm hồn người phụ nữ.Bằng tình yêu cuộc sống, khát vọng được sống mãnh liệt và với những phẩm chất tốt đẹp vốn có của người phụ nữ họ đã vượt qua những rào cản, những bất công xã hội, vượt qua số phận bất hạnh để tìm đến hạnh phúc.

    Như nhà văn Nguyễn Khải đã từng viết: “ Sự sống nảy sinh trong cái chết, hạnh phúc hiện hữu từ trong những cái hi sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Và có lẽ đấy là dư âm vang sâu nhất trong tâm hồn mỗi độc giả khi đọc các tác phẩm “

    Mị vốn là một cô gái Mèo xinh đẹp, trẻ trung hồn nhiên và có tài thổi sáo cô “uốn chiếc lá trên môi , thổi lá cũng hay như thổi sáo có bao nhiêu người mê , ngày đêm thổi sáo đi theo Mị “. Đấy là dấu hiệu về một vẻ đẹp tâm hồn phong phú và lãng mạn, biểu hiện của một sức sống trẻ trung, rạo rực … Mị cũng đã từng đựơc yêu và cô cũng đã từng yêu. Trái tim giàu khao khát của cô đã từng rung động theo tiếng gọi của tình yêu ,hồi hộp trước những âm thanh hò hẹn. Nhưng người con gái vùng sơn cước ấy lại bị rơi vào một cảnh sống có thể gọi là bạc mệnh , chẳng khác gì kiếp hồng nhan . ì món nợ của cha mẹ mà cô đành phải cam chịu cảnh làm con dâu gạt nợ trong nhà thống lý . Đó là cái cảnh ngộ làm dâu trên danh nghĩa còn trong thực tế chẳng khác gì kẻ ăn người ở trong nhà , không bằng con trâu con ngựa “con ngựa con trâu làm còn có lúc , đêm nó còn được đứng gãi chân ,đứng nhai cỏ . Đàn bà con gái nhà này thì vùi đầu vào việc đêm cả ngày, không những thế còn bị đánh , phạt , trói cho đến chết bất cứ lúc nào” .Mị mới ngày nào là cô gái tươi tắn , xinh đẹp , giờ biến thành một cái xác không hồn . Đúng là một cách diễn tả thật hay về cái ngục thất tinh thần và sự đày ải hết sức vô nhân đạo của nhà thống lý, dần dần Mị trở nên chai sạn , cái nhựa sống trong cô gần như bị cạn kiệt . Với Mị lúc này sống dường như không còn ý nghĩa ngay đến ý thức cũng tồn tại đâu đó trong cõi xa xăm . Cô sống vật vờ y một cái bóng “lùi lũi như 1 con rùa nuôi xó cửa”.

    Nhưng điều quan trọng là nhà văn đã phát hiện ra rằng bên trong tâm hồn người con gái ấy vẫn còn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, chỉ chờ có dịp là bùng nổ mạnh mẽ . Và trong tác phẩm của mình nhà văn đã miêu tả thành công sự trỗi dậy sức sống tìm tàng đó bằng một quá trình phát triển tâm lí , hành động khá sâu sắc và hợp lý . Ngay sau khi bị rơi vào cảnh làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí, Mị cầm nắm lá ngón về nhà lạy chào vĩnh biệt cha. Cô định tự tử vì ý thức được cuộc sống tủi nhục của mình và không chấp nhận cuộc sống ấy . Nhưng sự uất ức đến nỗi muốn chết ấy lại là một biểu hiện của lòng ham sống và khát vọng tự do, vì không muốn tiếp tục một cuộc sống đầy đoạ nên cô đã tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát … nhưng rồi cô lại không thể chết vì còn đó món nợ truyền kiếp. Thương cha không muốn cha phải khổ và thế là Mị đành phải sống , sống mà như đã chết bởi “ ở lâu trong cái khổ dần dần Mị cũng quen đi “. Chính lúc này , cô gái lại càng đáng thương hơn , bởi muốn chết nghĩa là con người ấy còn ham sống , không chấp nhận một cuộc sống không xứng đáng nhưng phải sống tủi nhục đoạ đày và không còn ý nghĩ đến cái chết, nghĩa là sự ham sống của con ngưòi dường như đã không còn nữa .

    Tuy nhiên với tấm lòng nhân hậu đầy cảm thông, nhà văn vẫn nhận ra rằng khát vọng hạnh phúc trong Mị có thể bị vùi lấp, lãng quên đâu đó nhưng không thể bị tiêu tan . Trong tâm hồn trẻ trung sớm bị chai sần vì đoạ đày, đau khổ kia vẫn còn âm ĩ đâu đó một ngọn lửa ham sống và chắc chắn nó sẽ bùng cháy mạnh mẽ hơn khi gặp những điều kiện thuận lợi.Và điều ấy đã đến, đó là vào một đêm tình mùa xuân trong ngày Tết. Năm ấy Tết dường như đến sớm hơn mọi năm , rất có không khí và tâm trạng, do đó , nó cũng khơi gợi sự sống hơn mọi năm . Khung cảnh tết năm ấy , có cái gì đó khác hẳn mọi cái tết khác ở Hồng Ngài : “Trên đầu núi , các nương ngô nương lúa đã gặt xong , ngô lúa đã xếp yên đầy các kho […] trong cá làng mèo đó , những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mõm đá xoè như con bướm sặc sỡ […]hoa thuốc phiện vừa nở trắng lại đổi ra màu đỏ hau , đỏ thậm rồi chuyển sang màu tím ngắt …” Đặt biệt, cái không khí chờ đợi tết, những đứa trẻ con chơi bi, chơi quay, tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng, tha thiết bồi hồi khi đêm về v.v… .Mị nghe tiếng sáo vọng lại tha thiết, bồi hồi, Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thối sáo “mày có con trai con gái / mày đi làm nương / ta không có con trai con gái ta đi tìm người yêu …”

    Những yếu tố ngoại cảnh đó là những nhân tố cực kỳ quan trọng dẫn đến sự diễn biến tâm lý nhân vật nó đóng vai trò của nhân tố gợi hứng đánh thức kí ức và gợi lại kỉ niệm yêu đương bị lùi vấp bấy lâu trong tâm hồn lầm lũi thường ngày, trở thành tiếng gọi của sự sống mỗi lúc một rõ , một tha thiết. Thế là từ ngoại cảnh đã tác động đến cảm xúc , tâm trạng và cuối cùng là hành động . Năm đó Mị đã uống rượu “uống ừng ực từng bát” rồi say lịm người, cái say vừa gợi nhớ, vừa gây lãng quên . Nhớ những ngày còn con gái, nhớ những đêm xuân hò hẹn …và lãng quên thực tại. Mị nhìn, nghe mà không thấy,cuộc rượu tàn lúc nào không hay : “Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đỏng người hát […]rượu đã tan lúc nào người về , người đi chơi đã vắng cả . Mị không biết Mị ngồi trơ một mình giữa nhà …”.Nhưng “lòng Mị đang nhớ về ngày trước tai Mị văng vẳng tiếng gọi bạn đầu làng”.Quá khứ dồn dập trở về rất sống động , rất rõ , thiết tha … nhưng quan trọng hơn là cái say đã mơ hồ nhớ rằng :Mị vẫn còn là một con người, Mị vẫn còn trẻ và cái quyền của một con người trong ngày tết. “Mị phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng trở lại như những đêm tết ngày trước. Mị trẻ lắm ,Mị muốn đi chơi, bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi tết huống chi , A sử với Mị không có lòng với nhau nhưng phải ở với nhau …” trong cái trạng thái nửa say, nửa tỉnh ấy, lại thêm sự thôi thúc của tiếng sáo réo rắt “gọi bạn yêu vẩn lơ lững bay ngoài đường anh ném pao, em không bắt/ em không yêu quả pao rơi rồi” đã dẫn Mị đến một hành động chưa từng thấy kể từ khi cô bước chân vào nhà thống lý Pá tra “cô quấn lạ tóc và với tay lấy váy mới , chuẩn bị đi chơi”. Nhưng chính lúc yêu đời đang trỗi dậy mãnh liệt , tâm hồn cô đang phơi phới trở lại cũng là lúc Mị bị vùi dập phũ phàng .Vừa lúc A Sử về biết ý định của Mị ,hắn lấy dây trói nghiến cô vào cột nhà rồi bỏ đi chơi . Suốt cái đêm đen tối bị trói đứng cái cột giữa nhà thống lí đó Mị hết thiếp đi rồi chợt tỉnh dậy , nhưng hình như cả đêm ấy , tiếng sáo dìu dặt của đám bạn trai vẫn đưa tâm hồn Mị sống lại những ngày đẹp đẽ ở quê nhà , tiếng sáo vẫn đưa cô đi theo những cuộc chơi của đám trai làng . Tâm hồn cô vẫn sống với không khí của ngày hội xuân. Cô định bước đi nhưng tay chân đã bị trói chặt cứng, không tài nào cựa quậy được . Những lúc ấy Mị bỗng ý thức được cảnh ngộ hiện tại của mình và trong lòng lại trào lên một nỗi đau sót, tủi nhục. Mị lại thổn thức , miên mang nghĩ về thân phận không bằng con trâu , con ngựa của mình rồi dần thiếp đi .Gần sáng cô bừng tỉnh, thử cựa quậy xem mình còn sống hay đã chết , ý thức được sống lại trở về và trong lòng Mị lo sợ rằng nếu phải chết cay , chết đứng trên cái cột trói này…

    Sau cái Tết ấy , những năm tháng nặng nề trong phân thận nô lệ tủi nhục của Mị tưởng lại cứ âm thầm lặng lẽ trôi đi….cho đến khi Mị chứng kiến cảnh A Phủ bị bắt trói vì tội để mất trâu của nhà thống lí. Cái cảm giác ban đầu của Mị thật thản nhiên. Mị dường như đã trở nên vô cảm trước tất cả. Một suy nghĩ thật giản đơn và có phần nhẫn tâm chiếm lĩnh tâm trí cô “Nếu A Phủ là một cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi”. Có khi Mị cứ cả đêm nhìn ngọn lửa nhảy múa và nghĩ , những ý nghĩ tủi cực, đau xót. Cho đến hôm ấy, “ trời đã khuya, Mị lại trõi dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang thấy mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại…”thì Mị lại chợt bừng tỉnh “trông người lại nghĩ đến ta”. Hình ảnh ấy khiến Mị bỗng nhớ đến câu chuyện rùng rợn về những người đàn bà bị trói đứng cho đến chết trong nhà thống lí cũng trên cái cọc này và hồi ức đưa cô về với những lần chính mình bị đánh, bị trói trước đây…Ý nghĩ A Phủ rất có thể sẽ bị chết trong đêm nay đã hoàn toàn đánh thức tình thương và lòng căm hận trong long Mị. Từ thương người đến thương thân và tình thương ấy cứ lớn dần, lớn dần để rồi dẫn Mị đến với ý thức ngày càng rõ rệt hơn về một sự thật thật tàn bạo và vô lí, bất công “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết […]. Nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác […]. Ta là thân đàn bà đã bị nó bắt về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…Người kia việc gì mà phải chết…” Ý thức đó đã thôi thúc Mị đứng dậy cắt dây trói cho A Phủ và bất giác chạy theo anh, cùng trốn khỏi Hông Ngài. Hành động bộc phát nhưng thật quyết liệt đó của Mị một phần là do sự thúc bách của tình thế khiến cô không thể làm khác, bởi cô hiểu rõ “ ở đây thì chết mất”. Nhưng mặt khác, đó cũng là quá trình tất yếu của một quá trình dồn nén, bức xúc cả về thể chất lẫn tinh thần đối với Mị. Đồng thời đó cũng vừa là biểu hiện, vừa là kết quả của một sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ đã được trỗi dậy trong con người Mị, kết thúc cả quãng đời đày ải, tối tăm của cô trong nhà thống lí để bắt đầu một cuộc đời mới. Đó chính là cái nhìn nhân đạo của Tô Hoài đối với những kiếp người bất hạnh, đau thương- một cái nhìn luôn hướng về ánh sáng, hướng về cái đẹp trong mỗi con người.

    Nếu như Mị hiện lên dưới cái nhìn của Tô Hoài là một nười phụ nữ với số phận đầy bi kịch nhưng từ sâu thẳm trong tâm hồn là sức sống tiềm tàng, mãnh liệt thì khi đến với nhân vật người “vợ nhặt” trong tác phẩm của Kim Lân, ta sẽ cảm nhận được cái niềm khao khát được sống, và mong muốn được “ sống cho ra sống” thật đáng quý của một người phụ nữ không tên “vợ nhặt”.

    Là một người đàn bà bị cái đói xô đẩy đến cảnh ngộ thật éo le và thương tâm , phải rơi vào tình huống trở thành “vợ nhặt” nhưng chị không mất đi vẻ chất phát , thuần hậu của người phụ nữ lao động .Bị hoàn cảnh xô đẩy, dồn nén đến chỗ có nguy cơ bị chết đói nên có lúc bên ngoài thành ra trâng tráo, trơ trẽn .Nhưng đó không phảỉ là bản chất vốn có của chị phải đến lúc cùng đường , bị rơi vào tình thế phải theo không một nguời đàn ông xa lạ thì bản chất con người thật của thị mới được bộc lộ rõ . Trên con đường theo Tràng về nhà , chị không khỏi cảm thấy ngượng ngùng xấu hổ, lòng chị vừa xấu hổ tủi nhục vì dẫu có là bước đường cùng chị không thể tránh khỏi cái tiếng xấu nhất đối với một người phụ nữ là “đàn bà theo giai”trong cái bối cảnh của một xã hội lạc hậu , còn đầy rẫy những định kiến nặng nề đó. Lo lắng phấp phổng vì không biết cái gì đang chờ đợi trước mặt.Liệu người đàn ông mà chị đánh liều theo không này có giúp được cho chị khỏi phải chết đói? Liệu người thân trong gia đình của anh có thông cảm cho cảnh ngộ và chấp nhận chị. Một biến cố cuộc đời đến quá bất ngờ khiến lòng chị không yên với bao tâm trạng lo âu . Do đó, bên cạnh dáng điệu phởn phơ tự đắc của tràng , vẻ e thẹn ngượng ngập của chị càng thêm nổi bật. Riêng cái cách đi đứng của chị cũng là dấu hiệu cho thấy đây là một người phụ nữ hiền thục, đoan trang, ý tứ … “người đàn bà đi sau hén chừng 3- 4 bước, thị cắp cái thúng con đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàn nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt, thị có vẻ rốn rén ,e thẹn”

    Cả đến lúc đã gặp cụ Tứ và đã được chấp nhận, được cảm thông, thương yêu thì trong bóng tối của căn nhà, chị vẫn không khỏi e dè khép nép. Nhà văn dường như đã hiểu thấu đến tận cùng nỗi lòng của chị và thể hiện được một cách thật tinh tế những gì đang xảy ra trong lòng người đàn bà kể từ khi chị đặt bước trên con đường xa lạ về nhà chồng. Chắc là với, chị con đường âý dài dặt và xa lắm, bởi không biết cái gì đang chờ đợi chị, liệu chị có được đón nhận một cách đễ dàng ? Liệu cái hạnh phúc “thử liều nhắm mắt đưa chân “ này có cho chị được một chút ấm áp hay lại còn khốn nạn, cay đắng hơn ? Liệu cái anh chàng xa lạ có vẻ cũng dễ mến này có giúp chị thoát khỏi những cảnh chết đói hãi hùng trước mặt ? Bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu lo lắng, phấp phỏng khiến sự sốt ruột trong lòng chị đã phải bật lên thành tiếng , chị đã mấy lần sót ruột hỏi Tràng: “sao lâu thế” “sắp đến chưa” “vẫn chưa đến à?”rồi “nhà có ai không ?” …Chị hỏi vào tình cảnh phải theo không Tràng cũng chẳng qua chỉ là bất đắt dĩ cần tìm một nơi nương tựa qua ngày, hi vọng có thể may ra tránh được sự chết đói. Nên khi tận mắt chứng kiến gia cảnh của Tràng chỉ là một cái nhà vắng teo, trên mảnh vườn mọc lỗn nhổn những bụi cỏ dại thì chị không nén nỗi một tiếng thở dài. Hoá ra cái gia cảnh của anh mới ban chiều còn vỗ vỗ vào túi khoe: “rich bo cu hả” là thế này đây. Nhưng chị còn biết sao được nữa, chị cảm thấy thất vọng , buồn tủi, chua sót quá nên mặt cho Tràng lăng săn đôn đả, “thị nhép mép cười nhạt nhẽo […], hai tay ôm khư khư cái thúng mặt bần thần. “Tại sao đứng giữa căn nhà của mẹ con Tràng rồi mà người phụ nữ kia vẫn ôm khư khư cái thúng thế ?” Phải chăng vì căn nhà rúm ró của mẹ con Tràng quá ư chật chội, chị phải biết để nó ở đâu ? Hay vì giờ đây cái thúng là tài sản duy nhất  chị có nên chị không thể xa rời.

    Không tìm được sự no đủ nhưng dẫu sao, chị cũng bớt được một nổi lo trong dạ khi biết nhà tràng chỉ có một mẹ già. Dĩ nhiên, chị hiểu đấy là đỡ phức tạp , khả năng bị xua đuổi hắt hủi bị giảm xuống mức thấp nhất , mà đấy chẳng phải là một nửa sự sống đó sao? Cho nên lúc ấy chỉ đã có thể “tủm tỉm cười” rồi lại đùa với Tràng “đà mỗi một mình tôi lại còn mấy u. Bé lắm đấy”. Và mặc dù vẫn còn rất buồn vì thất vọng chua chát,nhưng hầu như chị chẳng nói năng gì kể từ khi chứng kiến gia cảnh của mẹ con Tràng. Nhưng trước sự cảm thông , yêu thương đùm bọccủa những người xung quanh trong một mái ấm gia đình. Sáng hôm sau, chị đã săm sắn quét dọn cùng với mẹ chồng thu vén lại nhà cửa, vườn tược như một cô con dâu thực sự trong nhà. Và chính điều ấy đã đem đến cho chị những thay đổi đến nỗi chính Tràng cũng không khỏi ngạc nhiên “Tràng nôm thị hôm nay khác lắm. Rõ là người đàn bà hiền hậu đúng mực, không có vẻ gì chua chát như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh “

    Đặc biệt là trong bửa ăn của một ngày mới, người nói đến “toàn chuyện vui chuyện sung sướng về sau này “ lại là bà cụ gần đất xa trời , con người nói đến đấu tranh “ phá kho thóc của Nhật chia cho người đói lại chính là chị người vợ nhặt – nhân vật duy nhất không có tên trong tác phẩm . Từng đoàn người “ những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê sộp[…]cờ đỏ bay phấp phới” do câu chuyện của chị gợi ra có ĩe cũng là một dụng ý nghệ thuật , nhằm khẳng định khát vọng và sức sống manh mẽ của những con người như chị.

    Trong tác phẩm này 1 nhân vật cũng được nhà văn dành nhiều trong miêu tả và có những thành công nổi bật là nhân vật bà cụ Tứ- mẹ của Tràng. Những gì đã diễn ra trong tấm lòng của một bà mẹ nghèo khó nhưng rất từng trải và giàu lòng nhân hậu này rất đúng để người đọc suy ngẫm. Xúc động cụ thể, hiểu hơn ai hết gia cảnh của mình cùng cảnh ngộ của con trai bà trong những ngày đói kém hiện tại . Vì vậy, lúc đầu thấy có một người đàn bà xa lạ đến nhà mình , lai gọi bằng “U” , bà hết sức ngạc nhiên. Sao lại gọi mình bằng u ? Nhưng bằng kinh nghiệm và sự từng trải , qua thái độ rối rít như một đứa trẻ và những cô phân trần cắt nghĩa không mấy rành rẽ của con trai , bà đã hiểu ra tất cả cơ sự . Kim Lân đã khôn khéo chọn giọng điệu và ngôn ngữ nội tâm rất đáng với nhân vật để diễn tả tâm trạng của một bà lão nghèo khó, già cả nhưng vẫn còn rất nhạy cảm và từng trải “bà lão cúi đầu nín lặng” một sự nín lặng chứa đựng biết bao nổi thương sót và trĩu nặng suy tư : bà lão hiểu rồi , lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự , vừa ai can sót thương cho số kiếp đứa con mình , chao ôi người ta dựng vợ gã chồng cho con là trong nhà lúc ăn nên làm ra , những mong sinh con mở mặt sau này còn mình thì …Biết nó chúng nó có nuôi nổI nhau qua cơn đói khát này không “. Đó là tâm lí thương thân tủi phận . Nhưng là sự thương thân tủi phận của một người mẹ từng trải và giàu lòng nhân hậu , bởi trong cái ý nghĩ buồn tủi của bà còn chứa đựng biết bao nhiêu tình thương và trách nhiệm .Do vậy mà nó ẩn chứa bao nổi lo lắng , dằn vặt , xót xa của tấm lòng người mẹ của tấm lòng người mẹ trước cảnh ngộ trớ trêu và đáng thương của đôi con trẻ trong những ngày đói khát trước mặt.Nhưng cụ tứ thương con vô bờ bến , bà cụ đã từ chỗ tủi cho tận mình , thương cho con mình , bà lão chuyển sang cảm thông , thương xót cho người đàn bà xa lạ bỗng nhiên trở thành “vợ nhặt”con mình : “bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót”.Tác giả đã diễn tả những ý nghĩ âm thầm , tủi cực mà đầy thông cảm của người đàn bà xa lạ ấy . “Bà lão nhìn thị và bà nghĩ : người ta có gặp bước khó khăn , đói khổ này , người ta mới lấy đến con mình , mà con mình mới được vợ …” Vậy là tình yêu thương con , yêu thương đồng loại , một trái tim giàu lòng nhân ái bà mẹ nghèo đã vượt qua được ngững định kiến hẹp hòi nặng nề trong xã hội cũ lúc ấy để đạt đến sự cảm thông lớn lao .Bà đã chấp nhận con dâu sáng hôm sau , bà lão xăm xắn nhanh nhẹn khác hẳn ngày thường .Bà vui tươi quét dọn cùng với cô con dâu bữa ăn đầu tiên của ngày .Người mẹ nhân hậu và từng trải muốn nhom nhén một niềm vui sống , niềm hi vọng mới giúp con người có thêm sức sống để vượt qua những khắc nghiệt của đói nghèo hiện tại , hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn . Cái nhìn đầy cảm thông , yêu thương của bà cụ tứ đối với con dâu hay đó cũng là cái nhìn đầy nhân đạo của Kim Lân đối với nhân vật người vợ nhặt” một số phận đáng thương, một tâm hồn đáng quí .“Dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc , vẫn hướng về ánh sáng vẫn tin vào sự sống và hi vọng ở hiện tại , vẫn muốn sống , sống cho ra người”. Đó là nhân vật của Kim Lân !

    Bước vào thế giới nhân vật của Nguyễn Minh Châu , ta sẽ bắt gặp hình ảnh người đàn bà làng chài – là hiện thân cho mảnh đời tăm tối , cơ cực vẫn còn tồn tại trong cuộc sống quanh ta qua truyện ngắn “chiếc thuyền ngoài xa”. Một cuộc sống gia đình với nạn bạo hành mà chị phải gánh chịu của người chồng vũ phu, tàn bạo: “ … Chẳng nói chẳng rằng , lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà , lão vừa đánh vừa thở hồng hộc hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn …”. Theo chị kể người chồng chị trước đây là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm không bao giờ đánh đập tôi”.Nhưng rồi việc trốn lính làm cho khuynh gia bại sản , rồi hoàn cảnh sống suốt ngay lênh đênh trên một con thuyền “ đám đàn bà trên thuyền đẻ nhiều con quá” vất vả cơ cực đã nhiễm vào người đàn ông chài thói vũ phu hoặc nghiện ngập : “ bất kể lúc nào thấy mệt lại lôi tôi ra đánh , cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu …giá mà lão uống rượu … thì tôi còn dỡ khổ”.Một sự nhẫn nhục cam chịu dường như quá sức đối với chị .Nhưng từ sâu thẳm tâm hồn , một sự thấu hiểu hiểu người và hiểu đời , một tình yêu thuỷ chung , son sắc , đáng thương . Để “nuôi đặng một sắp con” chị đã chịu đựng nhịn nhục một cách thật nhẫn nại đến mức khó hiểu , mặc cho chồng cứ đánh, cứ chửi “ người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục , không hề kêu lên một tiếng , chống trả , chạy trốn”. Chị càng không dám bỏ người chồng vũ phu , độc ác ấy với chỉ một lý do cũng rất đơn giản “cuộc mưu sinh khó nhọc , đầy bất trắc trên một chiếc thuyền chài lênh đênh sông nước không thể thiếu một người đàn ông”

    Và ở người đàn bà lam lũ khốn khổ đó , ta cũng nhận thấy le lói ánh sáng những hạt ngọc lấp lánh của tâm hồn còn khuất lấp trong cái u tối , cay cực của đời chị . Chị phải chấp nhận cuộc sống cay cực vớI mọI cực hình , chịu đựng sự đánh đạp hàng ngày của chồng vì chị hiểu rất rõ hoàn cảnh của mình , hiểu rõ cái khắc nghiệt của đời sống và hiểu rõ con người ,chị không đồng ý ly hôn với người chồng vũ phu theo lời khuyên của Đẩu –viên chánh án toà án huyện và nói với Đẩu “lòng các chú tốt nhưng các chú đâu hiểu được cái việc của những người làm ăn khó nhọc”. Chị hiểu nỗi bế tắc , khốn khổ của người chồng và hơn cả chị hiểu thiên chức làm mẹ của mình . Phải chăng cũng chỉ vì thiên chức đó mà chị phải xin chồng không đánh chị trên thuyền , trước mặt các con mà được bị đánh ở bãi xe tăng hỏng bên bờ biển .Chị không muốn đàn con đói khổ của chị bị tổn thương .Vì thế mặc cho thằng chồng vũ phu ra sức đánh đập, chị không hề kêu khóc , nhưng khi biết đứa con bé bỏng của mình chứng kiến người bố đánh mẹ chúng thì chị “vô cùng đau đớn và sấu hổ , nhục nhã” cứ hết ôm chầm lấy con chị lại vái lấy vái để trước mặt nó .Đau đớn vì rốt cuộc ,cái tình cảnh khốn nạn của chị vẫn không giấu nỗi các con không tránh được sự tổn thương trong tâm hồn ,tình cảm của chúng .Xấu hổ và bất lực vì sự nhục nhã của mình , vì sự thật về cái tình cảnh khốn nạn của mình mà chị muốn giấu kín thì đã bị phơi bày ra hết .Và có lẻ cũng vì thiên chức đó mà chị chấp nhận tình trạng bị hành hạ ,chấp nhận cả cuộc đời cay đắng và đen tối chỉ để mong có được niềm hạnh phúc thật bình dị ,thật nhỏ nhoi : “cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ “hoặc”vui nhất là lúc nhìn đàn con tôi chúng nó đã căn no”…phải chăng ,đó chính là cái thứ ánh sáng lấp lánh của những hạt ngọc tình mẫu tử ,tấm lòng bao dung vị tha và đức hi sinh của những người phụ nữ lao động trong những mảnh đờI còn nhiều cơ cực tăm tối quanh ta? Có điều , những hạt ngọc đó còn quá lấm láp và nhiều tì vết bởi nó còn lẩn trong buồn đất , trong cát bụi của sự nghèo đói,lạc hậu , tối tăm …

    Như vậy, một sức sống tiềm tàng mãnh liệt, một niềm khao khát sống, niềm tin yêu và đức hi sinh cao cả đã phát họa nên bức chân dung về vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người phụ nữ trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX.

    Người phụ nữ đã đến và để lại cho nền văn học Việt Nam bức tượng đài bất hủ của những con người không bao giờ chịu khuất phục trước hoàn cảnh, luôn đi tìm, hướng tới những gì tốt đẹp, tươi sáng trong cuộc đời. Họ luôn là những mẫu hình lí tưởng về người phụ nữ Việt Nam thời kì đó, cho hôm nay và cả về sau.Họ luôn trường tồn trong tâm thức người đọc là “Những con người đáng thương nhưng đáng trọng.”

     
  • Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

    Văn mẫu: Cảm nhận về bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi

    BÀI LÀM

    Rồi hóng mát thuở ngày trường

    Hoè lục đùn đùn tán rợp gương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

    Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

    Bài thơ 8 câu 57 chữ gồm một bức tranh cảnh ngày hè – 6 câu đầu và một lời bình,

    suy ngẫm từ bức tranh ấy – 2 câu cuối.

    Trong bức tranh đậm màu, nền trời chiều ráng đỏ, một ngôi lầu vắng lặng, cây hoè cổ

    thụ ngoài sân tán xanh thẫm, che rợp, bên hiên nhà cây thạch lựu sắc đỏ. Vài ba chú ve

    trên các cành cây. Ao sen hồng và xa xa là làng chài đang họp chợ. Có một người ngồi

    trên lầu trâm ngâm.

    Xem tranh, trước hết ta thấy một tư thế của con nguời ngồi đó. Câu mở đầu “hóng

    mát” – ngoạn cảnh nhàn nhã, thảnh thơi.

    Nên nhớ, đây là bức tranh thơ của vị tướng cầm quân từng xông pha trận mạc một

    thời, từng “đau lòng nhức óc” vì vận nước từng cùng Lê Lợi “dựng cầu trúc ngọn cờ

    phấp phới”, và sau này sắm vai ẩn sĩ mà tấm lòng vì dân nước không lúc nào yên “Đêm

    ngày cuồn cuộn nước triều dâng”. Đặt trong nỗi truân chuyên của cuộc đời Nguyễn Trãi,

    mới thấy quí cái giây phút ngắn ngủi hiếm hoi này, mới thấy cái tư thế ung dung thưởng

    ngoạn kia là sự hưởng thụ chân chính. Sau tư thế ấy, thấy cả cái không khí yên bình của

    cả một làng quê, đất nước vừa qua cơn binh lửa.

    Con người này có ánh mắt tinh tế, say mê. Người ngắm cảnh có đôi mắt rất sành : 3

    loại cây, 3 dáng vẻ, không trùng lặp. Tả cây, mà lộ ra khuôn mặt của mùa hè. Cây hoè :

    tán xanh xum xuê, toả rộng – sức sống vươn cao. Thạch lựu : sắc đỏ – rực rỡ của tố chất

    khoẻ mạnh. Sen hồng : đậm hương – tâm hồn nồng hậu, thanh cao. Ba loại cây, ba dáng

    vẻ, ba màu sắc nữa (xanh, đỏ, hồng) đều có hồn. Ngôn ngữ của thơ thay cho chất liệu

    màu của họa là lời nói sống động của đời thường. Chữ “đùn đùn” khiến ta cảm nhận được

    sự sống đang nảy nở mạnh mẽ, trông thấy được bằng mắt thường. Chữ “phun” còn lạ

    hơn. Không tả hoa đỏ, mà cảm nhận cây lựu đang phun, đang tuôn ra sắc đỏ. Sen hồng cố

    đậm hương. Con ve kia cũng gắng hết sức trong những tiếng kêu cuối cùng. Chợ ở làng

    chài đang náo nhiệt nên vọng xa lao xao… Chỉ là Bức tranh phong cảnh ư ? Không phải !

    Đấy là Bức tranh đời. Ở đó tạo vật và con người đều dang sống hết sức mình, sống rất

    nhiệt tâm, băng mình trong trường tranh đấu sống.

    Ta bất ngờ nhận ra điều kì lạ. Con người hoạ sĩ trong thi nhân Nguyễn Trãi thế kỉ XV

    • Việt Nam có gì rất gần gũi đại danh hoạ Hà Lan thế kỉ XIX, Vanh-xăng-Van-gốc. Không phải ở những sắc màu được sử dụng, mà ở cách diễn tả nó. Van-gốc vẽ đồng lúa ta cứ ngỡ cánh đồng bốc cháy. Hàng cây bên đường cũng quằn quại vệt lửa. Van-gốc đốt cháy mình trong tranh. Nguyễn Trãi đốt cháy mình trong thơ. Chữ “đùn đùn”, “phun”,

    “tiễn”, “lao xao”, “dắng dỏi” là lửa sống rừng rực trong lòng Ức Trai mặc cho do thời thế

    ông đang phải lui về quy ẩn “Rồi, hóng mát thuở ngày trường”.

    Trong bức tranh này, thính giác nhậy bén đã giúp Nguyễn Trãi “vẽ” cảnh bằng nhạc.

    Xa xa, chợ cá không rõ hình, song âm thanh “lao sao” chở hồn đến cho người đọc cái rộn

    ràng nhộn nhịp, náo nhiệt của cuộc sống thanh bình. Nếu “lao sao” là khúc hoà tấu của

    đời sống dân sinh, thì “dắng dỏi cầm ve” tấu lên âm thanh của cây đàn độc huyền, ngân

    lên thiết tha cuối chiều, vấn vương nét quí tộc, lầu cao đơn độc. Hai phong điệu dân dã và

    quí tộc hoà hợp, bởi chất keo dính của đời thường, đậm đà hơi thở sống.

    Cho nên vẽ bức tranh này đâu chỉ là chuyện của giác quan chuyên nghiệp họa sĩ hay

    thi sĩ mà là năng lực, phẩm chất của tâm hồn – tâm hồn tinh tế, đằm thắm của một con

    người hết mực yêu đời, say mê cuộc sống.

    Bức tranh Cảnh ngày hè có một lời bình – một suy ngẫm đứng riêng, độc lập.

    Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương

    Mạch thơ từ hướng ngoại sang hướng nội. Từ miêu tả sang biểu cảm, khách thể sang

    chủ thể. Nguyễn Trãi đã trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mình trong hai câu thơ kết. Ấy là một

    giấc mơ, và cả một học thuyết nhân sinh ấp ủ bật ra thành lời.

    Giấc mơ, đó là giấc mơ Nghiêu Thuấn. Giấc mơ ngàn đời của những con người

    Phương Đông sống trong thời trung đại. Mong sao có một bậc vua hiền để được yên ổn

    ấm no hạnh phúc. Trước hơn bốn trăm năm, thời Tiền Lê, Pháp Thuận đã phát biểu “Vận

    nước như mây cuốn / Trời Nam mở thái bình / Vô vi trên điện các / Xứ xứ dứt đao binh”.

    Vận nước có rối ren thế nào cũng mong hai chữ thái bình, nhà vua đừng làm điều gì

    nhiễu nhương thì khắp nơi đều hết nạn binh đao. Sau mấy mươi năm, vị vua hiền minh

    Lê Thánh Tông cố sức mình cũng chỉ để thỏa lòng mong muốn :

    Nhà nam nhà bắc đều có mặt

    Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.

    Bây giờ đây, ưu tư thế cuộc, nhìn đời – từ cỏ cây, vạn vật đến sinh linh vui sống như

    thế, Nguyễn Trãi lại khắc khoải khát vọng muôn năm này. Mong trị quốc, bình thiên hạ

    sao cho dân giàu nước mạnh là giấc mơ của một bậc đại nhân.

    Nếu giấc mơ kia là của bậc đại nhân, thì cái lõi tư tưởng của giấc mơ là của bậc đại trí.

    Đó là tư tưởng “thân dân” (dĩ dân vi bản) từng được vạch rõ trong Bình Ngô Đại Cáo –

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

    Đó là tư tưởng lớn. Với Nguyễn Trãi, tư tưởng ấy từng sôi sục trong hành động, khắc

    khoải trong tâm tưởng, rát bỏng trong thi ca. Cả bài thơ 8 chữ, đến tận dòng cuối cùng,

    chữ “dân” mới bật ra, song chính là cái nền tư tưởng, tình cảm của tác giả, cái hồn của

    bài thơ. Là sợi chỉ dỏ xâu chuỗi cả 8 câu thơ lại.

    Cảnh ngày hè (Gương báu răn mình số 43) không định giáo huấn chung. Trước đời

    sống đang dâng trào, yên lành thế, Nguyễn Trãi tự răn mình, phải làm sao cho cuộc sống

    này trở thành mãi mãi và chỉ khắc khoải một nỗi “tiên ưu” ấy mà thôi.

  • CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    CÁC ĐOẠN VĂN MẪU VIẾT THEO CÁC CHỦ ĐỀ THI NÓI CHỨNG CHỈ TIẾNG ANH

    1.     Why do you learn English? What are the benefits of learning English well?

    I like learning English because it brings me many benefits. Firstly, it is a compulsory requirement in Angiang University. I need to get a Level-B certificate of English to be delivered my university degree. Secondly, it helps me be able to read materials in English. It is the knowledge of English that enables me to learn how to use computer easily and collect much useful information on the internet. Thirdly, My English ability makes me able to communicate with foreigners in necessary cases, giving me good conditions when applying for jobs. Moreover, English helps me know further about another culture. It

    is English that widens my understanding about the world outside. In summary, I like learning English because it is very necessary for my study, my job, and my knowledge-widening.

    2. What do you need in order to get a good job?

    To get a good job, we must meet all working criteria that the employers require. Technically, we must have enough ability to do the job effectively. We should have working experience and know how to tackle all situations generating during the process of working. Communicatively, we should have good communicative skills. We should know what our employers need and know how to please them. Also, we should be popular and friendly to our colleagues. Sentimentally, we should show the employers our love for the job. We should make them understand that we apply for the job because we love it and really want to do it. It is this love that enables us work effectively and attach with them for a long time. In short, to get a good job, we must have good professional knowledge, good communicative skills, and the love for it.

    3. How is computer useful for your work or your study?

    Computer currently helps me much in my study. First of all, it helps me format my lessons effectively. I often type my lessons on the computer and format them to make them attractive to eyes so that I may learn them by heart quickly and review them conveniently. Next, computer helps me keep my materials safely for future use. Today,

    beside the hard drive, I often bring my USB’s with me and use them to save all what I want at any time and place. Moreover, I often update my materials on the screen. This enables me to create clear and tidy versions of materials and save up much time for other activities. On the other hand, computer is the most helpful friend helping me learn information and knowledge on the internet. Thanks to computer, I often access the internet and learn many things. Computer has made my understanding better day by day and become indispensable for my study.

    4. Why do many people want to study abroad? What do we have to prepare to study abroad?

    Studying abroad has many advantages. First, you are better trained because the education in developed countries is better than that of our country. Second, we can widen our understanding about another culture. Living abroad is a wonderful opportunity for us to learn about the customs there. Moreover, studying abroad improves our professional prestige, keeping us easy to find a well-paid job and to gain prestige in our working place. However, to study abroad smoothly, we must carefully prepare some necessary things in

    advance. English is the first thing for us to master. Without it, you can’t understand anything and your study surely becomes a nightmare. Next is cultural knowledge which enables you to adapt yourself to foreign communities and avoid cultural shocks. In addition, you should prepare psychology against homesickness because you can not return to your homeland right away when you want. In summary, studying abroad successfully requires you to know about its positive points and how to deal with difficulties abroad.

    5. What is your plan for the future?

    I plan to become an accountant because it is an interesting career for several reasons. First, I am trained to do this job at the university. I take many subjects relating to my future job. The examinations I have passed show that I’ll have enough ability to do the job well. Second, it can train me to become a very careful person in my life. I won’t be allowed to make any mistakes because every mistake can lead to the losing of a big sum of money. Third, with this job, I hope I can help the poor or farmers to borrow money from banks to invest in their rice fields or do small business. Fourth, with this job, I can work indoors.

    I needn’t face the sunlight or dew like my parents working in the field. Especially, I can earn enough for myself and support my family, I

    hope so. The above things are the reasons why I plan to be an accountant in the future.

    6. The advantages and disadvantages of watching TV

    Everything is two-faced like the two faces of a coin, and so is watching TV. Watching TV has advantages. First, it widens our knowledge. Information on TV is diverse, letting the viewers know up-to-date news from all fields of life such as news about politics, socio-economy, scientific-technology, etc… Second, TV serves us as a means of relaxation. Films, plays, music shows on TV are available all day. We can enjoy these programs at home whenever we like. Third, it is a good friend helping us kill time. Whenever we feel bored or do not know what to do. Simply turn on your TV set and you will surely feel OK soon. On the other hand, watching TV also has some disadvantages. Bad contents such as violent films, sexual exposures on the screen, and other sensitive topics may dangerously affect children. In addition, Watching TV too much or regularly also takes us much time and badly affects our health, especially our eyes. Finally, we have to pay some extra money for electricity consumption, too. In short, watching TV, which may be good or bad, depends on the way we use TV to serve our life.

    7. How do you spend your summer vacation?

    As a student, I don’t have much free time beside those I love, so my summer vacation is the duration during which I often busy myself with many things at home all day. In the day time, I often do sundry things for my grandmother and help my parents to do housework. In the evening, I go out with some of my old friends. We often chat with each other in a cafe. Usually, when I am free from doing housework, I go and visit close relatives in my neighborhood and ask them about their life and business. In the late evening, I watch films on TV or read novels or books to widen my understanding. I often go to bed very late. In my mind, I always want my short summer vacations to be not only comfortable for me but also useful for my beloved people.

    8. Describe your daily routine, how do you spend your free time?

    My routine is almost the same everyday. In the morning, I get up early at about 5:00 o’clock. After having washed my face, brushed my teeth, I do morning physical exercises. Then, I have a bath and wash my clothes. I have breakfast at six o’clock. After breakfast, I get dressed and go to school at ten to seven. I study in the school from

    seven to ten past eleven. When my classes are over, I have lunch in a cafe. Then, I go back to my boarding-house and take a nap. In the afternoon, I review my lessons, play sports with my friends in Campus A. At 5:30pm, I have a bath. After that, I have dinner in the university canteen. I have free time in the evening. In my free time, I go out with my roommates. We go around the city, spend our time in a coffee shop or go shopping. I am always pleased with my daily activities and love my routine.

    9. If you have a one-week holiday, how will you spend it?

    If I have a one-week holiday, I will return to my homeland. Spending a short holiday at home benefits me on many things. I can enjoy my free time beside my close relatives whom I have seldom seen since I began my study at Angiang University. In addition, I can help my parents to do housework and go out with my old friends. Moreover, staying home doesn’t cost me any money but I can do things after my hobby such as watching films, listening to music, play badminton, etc…

    One-week holiday is not a long time for me, so I want to use it for both myself and my close family members.

    10. How do you like to travel in your daily life? What are advantages and disadvantages of traveling this way?

    Bicycle is the best friend in my student life. I always ride my bike to go to school or around Long Xuyen City. Riding a bicycle has some advantages. First, bicycles are easy to repair. When it is damaged, you can repair it yourself or have it repaired with low cost. Next, you don’t have to pay for gasoline because bicycles don’t need gasoline. Moreover, riding a bike helps you do body exercises and does not cause environmental pollution. On the other hand, using bicycles also have some disadvantages. You can’t ride it to work over long distances. You can’t ride it as quickly as a motorbike in emergency cases. You also can’t take a rest on it when you are tired because bicycles move with your own strength. However, no matter what strong points and weak points does a bicycle have, I always consider it my favorite means of traveling.

    • If you are asked to recommend to foreign tourists the sights worth seeing in Angiang Province, which would you recommend?

    If I am asked to recommend to foreign tourists the sights worth seeing in Angiang Province, I will recommend two places: Uncle Ton’s Temple and Lam Vien sightseeing zone because of their

     

    historical meanings and natural beauty. Visiting Uncle Ton’s Temple, foreign tourists can learn much about this great person along with a stage of heroic history of Angiang homeland in the two recent resistance wars against foreign invaders and understand more about Angiang’s people and culture. Visiting Lam Vien sightseeing zone, tourists can enjoy the beauty of the nature in Cam Mountains and specific daily activities of the locals there and their religious customs as well as local handicraft products. Through such a visit, foreign tourist will have strong impression and sufficiently understand about Angiang homeland and its people.

    12. Do you like to live in the city or in the countryside? Why?

    I like living in the countryside because of some reasons. Environmentally speaking, it is a peaceful place. The air is fresh. The space is quiet. We can enjoy healthy natural conditions without worrying much about environmental pollution. As for social security, the countryside is a safer place than a city. While urban security situation is always complicated with all kinds of crimes, rural areas are much more secure because most of countrymen are friendly and ready to help one another. Moreover, rural life is also easier that in cities. People in cities are easy to get stressed because of pollution, job pressures, competitions, etc … On the contrary, those bad things are very rare in the countryside. To sum up, except income matters, the countryside is a better residence than cities.

    12.Talk about one of your closest friends. Why do you enjoy making friends with him/her?

    Of all my friends, Thanh is my best friend. He is 21 years old and is an informatics-majoring student of the faculty of science, technology and environment. Physically, he is not very handsome with nothing special. He is tall and thin. His skin is brown. His eyes are bright and his hair is wavy. Mentally speaking, he is very intelligent. Since I knew about this class-mate, he has been a good student with high marks in examinations. He has never retaken examination for any subjects. To everyone, he is friendly and helpful. He is always available to tell all his friends what he knows and helps them heartily in need. Especially, to me, we have many things in common. We go out and share joys and sorrows with each other in free time. We respect each other and help each other much in study and life. We have got many beautiful memories so far. Those are something about my closest friend and the reasons why we are very close to each other.

    13.What do you like and dislike about living in your neighborhood?

    My neighborhood has given me many joys and sorrows, too. I like my neighborhood because of some reasons as follows. That is a place of peace with good social security. There is almost no burglary, and crimes. Everyone pays attention to one another and ready to help each other. Space is quiet. There is no noise. Environment pollution is inconsiderable. However, my neighborhood is not a perfect living place. Sometimes, I feel my privacy interfered because some neighbors pay exorbitant attention to me. Some neighbors live in self-contained houses, making contacts with them in emergency cases difficult. Moreover, chances for creating income are not many because there are no factories in my neighborhood. In summary, although I don’t like my neighborhood in some respects, I still wish to live there because of my friendly neighbors and some good living conditions that I have enjoyed so far.

    14.Do you like to live in a nuclear family or an extended family? Why?

    I like living in an extended family because this family pattern has many noble values. First, extended families bring children close relationship from both their parents and their grandparents. Children enjoy full love and care from the elderly members in their family. Second, children can inherit family heritage of their ancestors. Familial property and keepsakes can be kept and passed from generation to generation, making ties between familial members become firmer. Moreover, in an extended family, its tradition, rituals, and customs can be taught carefully to the latter generation, making children realize familial tradition and know how to behave well with everybody right from early lifetime. In summary, the positive values of an extended family, which are real and undeniable, make me like it very much.

    16. Describe your house.

    My house is small, but it has enough space for my things. It is in Cho Moi district, about 45 kilometers from Long Xuyen City. There are four rooms in my house: a living room, two bedrooms, and a kitchen. The living room is not very big. There is a table in the middle with four chairs, a television on the left back corner, and a display cabinet. All of the curtains are pink. There is a vase of flowers on the table. In the bedrooms there are mats, pillows, mosquito nets and blankets. We have one alarm clock in each bedroom. The kitchen seems narrow

    with a lot of kitchenware, a table, six chairs, and a fridge. The house is surrounded by a garden with a lot of flowers in spring. Our gate is green. I love my house very much because it is the place I was born and grew up.

    17. Should people retire at the age of sixty?

    In my opinion, people should retire at the age of sixty because of physical and mental problems and longevity. Physically, at the age of sixty, our health comes down gradually. We no longer have much strength. Bone structures get weak. We easily get sick or break our bones. Such a physical status is not ideal for working any more. Mentally, physical come-down makes the brain weak and hurt easily. Our senses are not good as before. Elderly people are usually absent-minded with bad eyesight and low flexibility. For longevity, the age of sixty is the last duration of life, people should withdraw from business, transfer their precious experience to their children to enjoy their free time, keep health in order to lengthen their longevity with their children.

    In summary, people should retire at the age of sixty to keep health and good mind and live long with their children.

    18. How does the food you eat affect your health? Tell some food that you think is healthy.

    Food is the very important source of nutrition that brings us health in many ways. Animal meat such as pork, chicken, fish gives us animal protein which is very necessary for body cell creation. Vegetables such as salad, pumpkins, tomatoes, carrots, etc… give us essential vitamins and minerals. Fruit, such as papayas, mangoes, guavas, jackfruits, etc…, is the main source providing us many kinds of vitamins and carotene. Cereals such as rice, wheat, corn, beans, cassava give us starch and glucose. According to some scientific research achievements, in our meals, we should eat much food of vegetable origins, little animal meat to be healthy because much animal meat intake is the cause of many kinds of human diseases. All kinds of food are necessary for us but to be healthy, we should have sufficient knowledge about nutrition.

    19. Talk about some effects of smoking. Give some advice to give up smoking.

     

    Smoking shortens your longevity. According some scientific studies, much cigarette intake regularly damages your lung, causing pneumonia, tuberculosis, and even lung cancer. As for heavy smokers, they may get addicted with drug, a kind of refined tobacco or

    opium, making them loose laboring ability, mental consciousness, and die gradually. To give up smoking is not easy. It requires us to have self-consciousness and high determination. We must not think about it in any situation. We must avoid contacting with all processed forms of tobacco, and addicted friends. We also must follow doctor advice and find some healthy pastimes for ourselves. To quit smoking successfully, we must sufficiently know its harmful effect, and have strong energy to say good-bye to it.

    20. Talk about the causes and effects of one kind of the environmental pollution.

    Today, air, noise, and water are polluted everywhere for many causes, but water pollution is, in my opinion, the most serious. The immediate cause is human garbage-littering. Many inhabitants of poor consciousness of hygiene throw all kinds of garbage everywhere, especially into rivers. Most of properly-untreated industrial waste disposals are also poured into rivers. In agricultural production, water in fields containing all kinds of chemicals from insecticides and fertilizers finally flow into rivers, too. The result is that water resources are seriously polluted. For human beings, the use of polluted water without being carefully filtered or boiled causes various diseases. For aquatic animals, such as fish, shrimps, crabs, frogs, etc…, they can’t lay eggs or grow naturally as formerly; some species even become extinct. For aquatic plants, they can die or become contaminated with harmful substances and become dangers for creatures that eat them. The above-mentioned are just some causes and effects of water pollution that we can easily see everywhere today.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    Bài văn mẫu: Phân tích truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi

    BÀI LÀM

    Nhắc đến khoảng trời Trường Sơn là nhắc đến biết bao sự hy sinh mất mát, nơi mà lính Mỹ đã thả bom dồn dập nhằm ngăn cản bước tiền dũng mãnh của các đoàn quân tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam. Nhưng Trường Sơn đâu chỉ mang trong mình bao sự thương đau, Trường Sơn con là nơi ghi dấu của những tâm hồn tự nhiên, lạc quan của những người chiến sĩ lái xe không kính, những chàng trai cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh tuổi trẻ để cống hiến cho đất nước. Là một người đã từng gắn bó với khoảng trời bom đạn ấy, nhà văn Lê Minh Khuê đã khai thác đề tài quen thuộc đã làm nên nhiều tên tuổi lớn trân văn đàn chống Mỹ nhưng cùng với sự sáng tạo và một chút lãng mạn của mình, “Những ngôi sao xa xôi” của bà, đã khắc họa hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong, mà tiêu biểu là nhân vật Phương Định với những vẻ đẹp hồn nhiên vốn có của tuổi trẻ Việt Nam trong thời chống Mỹ.

    Câu chuyện kể về ba cô gái, ba cô gái thanh niên xung phong Nho, Thao và

    Phương Định, sống trên một cao điểm giữa mênh mông khói bụi Trường Sơn, nơi

    mà “màu đất đỏ, trắng lẫn lộn”. Công việc của họ là “ngôi đây”,”khi có bom nổ thì

    chạy lên, đo khối lượng đất lấp vào hồ bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá

    bom”. Trong lúc đơn vị thường làm việc khi mặt trời lặn, thì tổ trinh sát lại làm

    việc ban ngày, khi thần chết luôn “lẩn trong ruột những quả bom”, khi mà lính Mỹ

    thả bom nhiều nhất và cái chết luôn theo sát ba cô gái ấy. Công việc của họ là công

    việc quan trọng và cũng đầy gian khổ hy sinh, đòi hỏi tinh thần dũng cảm, sự nhạy

    bén quyết đoán và sự nhanh nhẹn. Trong hoàn cảnh ấy, ta mới thấy sáng ngời lên

    là những phẩm chất cao đẹp của ba nhân vật, và đặc biệt là Phương Định, nhân vật

    chính của truyện.

    Phương Định là một cô gái Hà Nội, “một cô gái khá”, chỉ vừa mới bước ra khỏi cuộc đời hồn nhiên vô tư lự của mình. Cô có vẻ bề ngoài đáng yêu trẻ trung và xinh xắn, “ hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”, còn đôi mặt thì có “cái nhìn sao mà xa xăm”. Những nét đẹp của cô đã được những anh lái xe để ý đến, bằng chứng là những bức thư dài gửi đường dây mặc dù có thể chào nhau hằng ngày, nhưng Phương Định cũng không săn sóc vồn vã, cô gái vẫn hay đứng ra xa, khoanh tay trước mặt và nhìn đi nơi khác mỗi khi một đám con gái xúm lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy. Một hành động đó thôi đã làm Phương Định trở nên thật kiêu kì, cái điệu của cô thật đáng yêu và cũng thật phù hợp với một người con gái như vậy.

    Tâm hồn cô giữa khoảng trời Trường Sơn thật làm cho người ta thật ngạc nhiên. Cô mê hát, “thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát”, lời cô bịa lộn xộn ngớ, ngẩn ngởn đến không ngờ, đôi lúc nó cũng làm cho cô bò ra mà cười một mình, cô thích “những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận”, cô thích “dân ca quan họ mềm mại dịu dàng” và kể cả “Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô”, “ ngồi bó gối mơ màng: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh””. Và Phương Định hát khi có sự im lặng không bình thường, “tiếng máy bay

    trinh sát rè rè”, cô hát để cổ động viên hai người đồng đội Nho, Thao và cũng là

    hát để động viên chính bản thân mình. Chính những lúc mê hát ấy đã làm cô quên

    đi cái sự buồn chán của cuộc sống Trường Sơn, quên đi mùi khói bom đạn mà cô

    vẫn tiếp xúc hằng ngày, và đó cũng là bước đà để cô có được một tâm hồn mơ

    mộng khi cơn mưa đá vừa ập đến. Mang theo tuổi trẻ của mình vào Trường Sơn,

    Phương Định còn mang theo cả những kỉ niệm đẹp về góc phố Hà Nội của mình,

    đó là hình ảnh người mẹ, cái cửa sổ, tiếng rao của bà bán xôi có cái mủng đội trên

    đầu, kể cả những cú sút vô tội vạ của bọn trẻ con trong một góc phố. Cơn mưa đá

    đi nhanh cũng như lúc nó vừa đến, nhưng lại mang những dòng kí ức tuổi thơ về

    cho Phương Định, và tất cả như xoáy mạnh trong tâm trí cô. Có lẽ chính những

    điều ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho cô gái, để cô luôn nghĩ rằng, gia đình, bạn thân

    và cả những kỉ niệm kia sẽ luôn theo cô trong suốt quãng đời ở Trường Sơn.

    Tâm hồn, tính cách của Phương Định hồn nhiên như thế, nhưng nổi bật lên trên tất cả vẫn là tinh thần dũng cảm, vượt lên trên hiểm nguy luôn ẩn chứa trong thân hình nhỏ bé của cô gái Hà Nội kia. Đó là những lúc mà bom của giặc Mỹ vẫn còn chưa nổ, và cô phải làm nhiệm vụ của mình, còn thần chết thì có vẻ vẫn đang “lẩn trong ruột những quả bom” chờ đợi cô. Tuy vậy, Phương Định vẫn tỏ ra thật bình thản, cái chết thì cô có nghĩ đến nhưng lại là “một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, mà

    cô quan tâm nhất là liệu bom có nổ hay không, không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai, cô luôn đặt nhiệm vụ của mình lên hàng đầu. Và trong những lúc phá bom như vậy, ta vẫn còn thấy thấp thoáng cái sự nhạy cảm, tinh tế trong cảm xúc của cô, “một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! ! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành.”, phải là một người bình tĩnh mới có dược những cảm nhận chân thực như vậy. Chính những lúc đó, ta mới thấy được cái sự dũng cảm của cô gái. Công việc không có một chút gì là an toàn, nhưng do “quen rồi”, ngày nào cũng phải phá bom đến năm lần, ngày nào ít thì ba lần, mà Phương Định luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình.

    Và trong cái sự dũng cảm ấy, ta vẫn thấy Phương Định luôn thường trực một tình

    cảm đồng chí đồng đội nồng ấm và chân thành. Đó là tấm lòng vị tha với mọi

    người mà cô quan tâm, cô lo lắng khi Thao lên cao điểm chưa về, cô tận tình, vỗ về

    chăm sóc Nho khi cô ấy bị thương lúc phá bom. Ngược lại, chính tình cảm đồng

    chí đồng đội, đã làm cho Phương Định thêm một chút tự tin, ấm lòng khi được

    sống giữa tình yêu thương của mọi người. Hiểu được công việc của mình là gian

    khổ, nhưng Phương Định vẫn luôn ngưỡng mộ “những người mặc quân phục, có

    ngôi sao trên mũ” bởi họ là những đẹp nhất, thông mình, can đảm và cao thượng

    nhất. Những lúc chạy đi phá bom, vẫn mang một chút lo sợ trong người, nhưng nhờ những cái nhìn của những người chiến sĩ, đã dập tan đi nỗi sợ trong cô và chỉ còn một mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ, “ cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi mà có thể đàng hoàng mà bước tới”.

    Trong truyện ngắn, nhân vật kể chuyện cũng là nhân vật chính, điều đó giúp cho tác phẩm càng trở nên chân thực, những cảm xúc, thế giới nội tâm của nhân vật đều được thể hiện tự nhiên rõ nét, vẽ lên một khoảng trời mộng mơ ngay giữa Trường Sơn mênh mông và ác liệt.

    Mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, Phương Định xứng đáng là biểu tượng của những cô gái thanh niên thời chồng Mỹ, là hình tượng người con gái Việt Nam trong thời gian chiến đấu, là đại diện của thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Cũng giống như tựa đề “Những ngôi sao xa xôi”, những con người được ví như vì sao lấp lánh giữa bầu trời đêm, mang trong mình những phẩm chất đáng quý, “xa xôi” là bởi vì phải ngắm nhìn thật kỹ thì mới có thể thấy được những tâm hồn cao đẹp ấy

    Nguồn: http://langsao.vn/ (sưu tầm)

  • BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Cơ khí


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-TH%E1%BB%A6Y-L%E1%BB%B0C-%C4%90%E1%BA%A0I-C%C6%AF%C6%A0NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN THỦY LỰC ĐẠI CƯƠNG

    (ĐỀ SỐ: 03)

    1/ Một bể nước có diện tích đáy là S = 10 (m2), chiều cao của nước trong bể là h = 10 (m), mặt thoáng tiếp xúc với khí trời (hình vẽ). Xác định áp lực tác dụng lên mặt trong của đáy bể. Cho biết áp suất khí trời là pa = 1 (at), khối lượng riêng của nước là ρ = 1000 (kg/m3), gia tốc trọng trường

    g = 9,81 (m/s2).

     Giải

    Áp lực tác dụng lên mặt trong của đáy bể là :

     

    P = 1,96.106 (N) = 1,96 (MPa)

    2/ Xác định áp suất dư tại điểm A trong ống có 2 loại chất lỏng nước và thuỷ ngân (hình vẽ), h = 50 (cm). Biết trọng lượng riêng của nước là       9810 (N/m2), trọng lượng riêng của thuỷ ngân gấp 1,5 lần của nước. Áp suất khí trời là 1 (at).

    Giải

    Áp dụng công thức tính áp suất một điểm trong chất lỏng:

    áp suất dư tại A là: 1,1 – 1 = 0,1 (at)

    3/ Xác định áp suất dư tại điểm A trong ống chứa nước (hình vẽ),

    h = 60 (cm). Biết trọng lượng riêng của nước là 9810 (N/m2). Áp suất khí trời là pa = 1 (at).

    Giải

    Áp dụng công thức tính áp suất một điểm trong chất lỏng:

    áp suất dư tại A là: 1,06 – 1 = 0,06(at)

    4/ Xác định áp suất tại điểm A trong ống chứa nước (hình vẽ),

    h = 60 (cm). Biết trọng lượng riêng của nước là 9810 (N/m2). Áp suất khí trời là pa = 1 (at).

    Giải

    Áp dụng công thức tính áp suất một điểm trong chất lỏng:

    5/ Xác định chiều cao cột chất lỏng h dâng lên so với mặt thoáng của bể chứa nước (hình vẽ). Biết áp suất mặt thoáng trong bể

    p0 = 1,5 (at), khối lượng riêng của nước là 1000 (kg/m3), áp suất khí trời     pa = 1 (at).

    Giải

    Áp dụng công thức tính áp suất một điểm trong chất lỏng:

    6/ Xác định chiều cao cột chất lỏng h hạ xuống so với mặt thoáng của bể chứa dầu (hình vẽ). Biết áp suất mặt thoáng trong bể p0 = 0,5 (at), khối lượng riêng của dầu là 800 (kg/m3), áp suất khí trời pa = 1 (at).

    Giải

    Áp dụng công thức tính áp suất một điểm trong chất lỏng:

    7/ Một khối gỗ có kích thước: a = b = 30 (cm); h = 50 (cm) thả tự do trên mặt nước. Xác định thể tích gỗ nổi trên mặt nước. Biết khổi lượng riêng của gỗ là 800 (kg/m3), của nước là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Thể tích của toàn miếng gỗ là: V(gỗ) = 0,3.0,3.0,5 = 0,045 (m3)

    Mặt khác trọng lượng của gỗ bằng lực đẩy Acsimet

    Ta có : n.V(chìm) = g.V(gỗ)

    V(chìm) = 800.9,81.0,045/ 1000.9,81 = 0,036 (m3)

    Vậy thể tích gỗ nổi là: 0,045-0,036 = 0,009  (m3)

    8/ Một thanh gỗ đồng chất dài L = 2 (m), diện tích ngang là S, có khối lượng riêng là 600 (kg/m3) được gắn vào bản lề O đặt cách mặt nước một khoảng a = 0,4 (m). Tìm góc nghiêng ɑ khi thả thanh gỗ vào nước. Biết khối lượng riêng của nước là 1000 (kg/m3).

    Giải

    Gọi chiều dài phần thanh gỗ ngập trong nước là L1, chiều dài cả thanh gỗ

    là L thì chiều dài phần thanh gỗ trên mặt nước là L2 = L – L1

    Phương trình cân bằng của vật là:

    F = Pg

    .

    mà L2 = L – L1 L2 = 2 – 1,2 = 0,8 (m)

    Góc nghiêng ɑ khi thả thanh gỗ vào nước là :

    cos

    9/ Cánh cửa OA có thể quay quanh bản lề O có kích thước h = 3 (m);         b = 80 (cm) ngăn nước. Xác định lực P sao cho cánh cửa vẫn thẳng đứng như hình vẽ. Biết trọng lượng riêng của nước là 9810 (N/m2).

    Giải

    Áp lực nước tác dụng lên cánh cửa OA là :

    Điểm đặt áp lực cách A một khoảng là :

    AD

    AD

    10/ Xác định áp lực của chất lỏng tác dụng lên một bên đường ống tròn ABC có chiều dài 100 (m), bán kính R = 10 (cm). Môi trường bên trong và bên ngoài đường ống là như nhau (hình vẽ). Biết khối lượng riêng của chất lỏng là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Tổng áp lực tác dụng là :

    Thành phần áp lực ngang là :

    Thành phần áp lực đứng là :

    11/ Xác định áp lực của chất lỏng tác dụng lên một bên của thành hầm mỏ AB có chiều dài 50 (m), bán kính R = 3 (m). Môi trường bên trong và bên ngoài hầm là như nhau (hình vẽ). Biết khối lượng riêng của chất lỏng là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Tổng áp lực tác dụng là :

    Thành phần áp lực ngang là :

    Thành phần áp lực đứng là :

    12/ Xác định áp lực của chất lỏng tác dụng lên chân thành bể hình trụ AB có chiều dài 10 (m), bán kính R = 1 (m), chiều cao chất lỏng là h = 2R. Môi trường bên trong và bên ngoài bể là như nhau (hình vẽ). Biết khối lượng riêng của chất lỏng là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Tổng áp lực tác dụng là :

    Thành phần áp lực ngang là :

    Thành phần áp lực đứng là :

    13/ Xác định áp lực của chất lỏng tác dụng lên chân thành bể hình trụ AB có chiều dài 10 (m), bán kính R = 1 (m), chiều cao chất lỏng là h = 2R. Môi trường bên trong và bên ngoài bể là như nhau (hình vẽ). Biết khối lượng riêng của chất lỏng là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Tổng áp lực tác dụng là :

    Thành phần áp lực ngang là :

    Thành phần áp lực đứng là :

    14/ Xác định tổng áp lực của chất lỏng tác dụng lên một nửa đường tròn ABC có chiều dài 100 (m), bán kính R = 10 (cm), chiều cao chất lỏng là

    h = 2R. Môi trường bên trong và bên ngoài đường ống là như nhau (hình vẽ). Biết khối lượng riêng của chất lỏng là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Tổng áp lực tác dụng là :

    Thành phần áp lực ngang là :

    Thành phần áp lực đứng là :

    15/ Xác định tổng áp lực của chất lỏng tác dụng lên thành chắn OA có chiều cao 12 (m), rộng 6 (m), chiều cao chất lỏng bên thượng lưu là h = 10 (m), hạ lưu là h/2. Môi trường bên trong và 2 bên thành chắn là như nhau (hình vẽ). Biết khối lượng riêng của chất lỏng là 1000 (kg/m3), g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Áp lực của chất lỏng từ phía thượng lưu tác dụng lên thành chắn OA là :

    Áp lực của chất lỏng từ phía hạ lưu tác dụng lên thành chắn OA là :

    Tổng áp lực của chất lỏng tác dụng lên thành chắn OA là :

    16/ Dầu được nén trong xylanh có tiết diện là S, lúc đầu chiều cao cột dầu trong xylanh là 1000 (mm), sau khi nén piston đi xuống một đoạn là

    3,7 (mm), khi đó áp suất dư tăng từ 0 đến 50 (at). Hệ số nén của dầu bằng bao nhiêu?

    Giải

    Áp dụng công thức tính hệ số co giãn thể tích :

    Ta có :  V= S.1000 (mm3)

    = S.3,7(mm3p= = – 7,4.10-5  (cm2/kg)

    = 50 (at)

    Dấu (-) biểu thị áp suất và thể tích tỉ lệ nghịch với nhau

    17/ Một đường ống dài 3 (km), đường kính 10 (cm) dẫn chất lỏng có độ nhớt động lực μ = 0,04 (N.s/m2). Vận tốc chất lỏng phân bố theo quy luật:

    v = 10y – y2 (cm/s) . Xác định lực ma sát tác động lên thành ống.

    Giải

    = v = 10 – 2y   (cm/s)

    S = = = 942,48 (m2)

    Lực ma sát tác động lên thành ống là :

    F = S.  = 0,04.942,48(0,1- 0,02.0) = 3,77 (N)

    F = 3,77 (N)

    18/ Xác định ứng suất tiếp tại thành tàu thuỷ đang chuyển động, nếu sự phân bố vận tốc của nước theo phương pháp tuyến với thành tàu là:

    v = 516y – 13400y2 (m/s), độ nhớt động lực ở 150C là: μ = 0,00115 (N.s/m2).

    Giải

    = v = 516 – 26800y (m/s)

    Ứng suất tiếp tại thành tàu thuỷ là :

    .

    19/ Một đường ống tròn dài 30 (m), đường kính 6 (cm) dẫn dầu có độ nhớt động lực μ = 0,05 (N.s/m2). Vận tốc phân bố theo quy luật:

    v = 20y – 3y2 (cm/s) . Xác định lực nhớt trên một đơn vị diện tích cách thành ống 2 (cm)?

    Giải

    = v = 20 – 6y   (cm/s)

    S = 1 (m2)

    Lực ma sát tác động lên một đơn vị diện tích cách thành ống

    2 (cm) là :

    F = S.  = 0,05.(20 – 6.2).10-2 = 4.10-3 (N)

    F = 4.10-3 (N)

    20/ Xác định lực ma sát của dòng nước bao quanh bản mỏng có kích thước

    l = 3 (m) và h = 2 (m), nếu vận tốc dòng nước gần mặt đáy kênh phân bố theo quy luật v = 200y – 2500y2 (cm/s) , với hệ số nhớt động lực của nước là: μ = 0,04 (N.s/m2).

    Giải

    = v =200-5000y (cm/s)= 2-50y (m/s)

    Lực ma sát của dòng nước bao quanh bản mỏng là :

    F = 2..S.   = 2.0,04.3.2.(2 – 50.0)= 0,96  (N)

    F = 0,96 (N)

    21/ Xác định gia tốc ɛ của phân tố chất lỏng tại điểm A có toạ độ

    A(1; 1; 1), nếu chuyển động đó là dừng. Cho biết các thành phần vận tốc của chúng là: ux = x2; uy = y2; uz = z2 (m/s).

    Giải

    Gia tốc tại điểm A(1,1,1) là :

    với ux = x2; uy = y2; uz = z2 (m/s)

    Ta có:

    Gia tốc tại điểm A(1,1,1) là :

    22/ Tìm thành phần vận tốc uz của chất lỏng không nén được và chuyển động dừng, nếu các thành phần vận tốc là: ux = -5x; uy = 3y. Tại gốc toạ độ thì vận tốc

    Giải

    ux = -5x; uy = 3y

    Phương trình vi phân liên tục của chất lỏng không nén được :

    Sử dụng phương trình liên tục ta có :

    ;

    Do đó : – 5 + 3 + = 0 C

    Tại gốc toạ độ có z = 0 và u = 0 nên 0 = 0 + C hay C = 0uz = 2z

    23/ Xét xem dòng chảy sau đây thuộc loại gì, nếu biết:

    ux = ax; uy = ay; uz = 0.

    Giải

    ; ;

    Vì các hàm trên không phụ thuộc vào t chuyển động dừng

    Ta có :  ,

    Dòng chảy là dòng chảy ổn định không xoáy hay

    chuyển động dừng có thế

    24/ Xét xem dòng chảy sau đây thuộc loại gì, nếu biết:

    ux = -ay; uy = ax; uz = 0.

    Giải

    ; ;

    Vì các hàm trên không phụ thuộc vào t chuyển động dừng

    Ta có :  ,

    chuyển động xoáy

    Vậy dòng chảy thuộc loại chuyển động dừng, có xoáy

    25/ Xác định vận tốc của dòng chất lỏng tại tâm của đường ống nếu ta dùng thiết bị đo vận tốc (ống Pito) cắm vào tâm đường ống thì thấy chất lỏng dâng lên trong 2 ống chênh nhau một lượng là 10 (cm). Biết g = 9,81 (m/s2).

    Giải

    Chọn mặt cắt 1-1 ở vị trí ngay trước miệng ống

    mặt cắt 2-2 ở vị trí mặt nước của ống 2

    Viết phương trình Becnuli cho mặt cắt 1-1 và 2-2 :

    Có mặt cắt chuẩn 1-1 :

    ;  ;

    Có mặt cắt chuẩn 2-2 :

    ;  ;

    Mà lại có : (độ chênh lệch)

    26/ Xác định vận tốc của dầu qua vòi cách mặt thoáng của bể kín là 1,2 (m); áp suất dư không khí trong bể là 0,08 (at). Bỏ qua tổn thất; g = 9,81 (m/s2); khối lượng riêng của dầu ρ = 800 (kg/m3).

    Giải

    Chọn mặt cắt 1-1 ở vị trí đầu vòi

    mặt cắt 2-2 ở vị trí mặt thoáng

    Viết phương trình Becnuli cho mặt cắt 1-1 và 2-2 :

    Có mặt cắt chuẩn 1-1 :

    ;  ;

    Có mặt cắt chuẩn 2-2 :

    ;  ;

    27/ Xác định áp suất tại điểm E của bình chứa nước như hình vẽ, tiết diện miệng vòi phun T bằng 1/2 diện tích đường ống. Bỏ qua tổn thất;

    g = 9,81 (m/s2); khối lượng riêng của nước ρ = 1000 (kg/m3). Vận tốc tại miệng vòi phun là vT = 20 (m/s).

    Giải

    Chọn mặt cắt 1-1 ở vị trí mặt thoáng

    mặt cắt 2-2 ở vị trí điểm E

    Viết phương trình Becnuli cho mặt cắt 1-1 và 2-2 :

    Có mặt cắt chuẩn 1-1 :

    ;  ;

    Có mặt cắt chuẩn 2-2 :

    ;  ;

    =

    Có :  

    28/ Xác định lưu lượng trong ống xiphông, nếu tại điểm cao nhất cột áp chân không hck = 8 (m) (hình vẽ). Bỏ qua tổn thất; g = 9,81 (m/s2); khối lượng riêng của nước ρ = 1000 (kg/m3).

    Giải

    Chọn mặt cắt 1-1 ở mặt thoáng có độ cao 12 (m), mặt cắt 2-2 ở vị trí có

    độ cao 16 (m)

    Viết phương trình Becnuli cho mặt cắt 1-1 và 2-2 :

    Có mặt cắt chuẩn 1-1 :

    ;  ;

    Có mặt cắt chuẩn 2-2 :

    ;  ;  ;

    Lưu lượng Q = w.u2

    Q = =(lit/s)

    29/ Xác định lực tác dụng của dòng chất lỏng từ vòi phun có đường kính

    d = 4 (cm) lên nửa van cầu lõm C (hình vẽ). Bỏ qua lực khối của dòng chất lỏng và tổn thất, g = 9,81 (m/s2); khối lượng riêng của nước

    ρ = 1000 (kg/m3).

    Giải

    Chọn mặt cắt 1-1 ở vị trí vòi nước, mặt cắt 2-2 ở vị trí mặt thoáng.

    Viết phương trình Becnuli cho mặt cắt 1-1 và 2-2 :

    Có mặt cắt chuẩn 1-1 :

    ;  ;

    Có mặt cắt chuẩn 2-2 :

    ;  ;

    Lực tác dụng lên nửa van cầu C là :

    F = F1 + F2

    Trong đó : F1 = F2 = . w2.

    F = . w2 = 2.1000..142 = 492,8 (N)

    30/ Một đường ống cao áp chứa đầy nước có bố trí một vòi phun ra ngoài không khí hướng thẳng lên trời. Nếu áp suất trong ống là 15 (at) thì cột nước phun ra đạt độ cao bao nhiêu? Bỏ qua tổn thất; g = 9,81 (m/s2); khối lượng riêng của nước ρ = 1000 (kg/m3).

    Giải

    Ta có cột nước đạt độ cao :

    h = 150 (m)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn môn Cơ khí

    Bài tập lớn môn Cơ khí

    Bài tập lớn môn Cơ khí

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Xác suất thống kê


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-C%C6%A1-kh%C3%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Cơ khí

    BÀI TẬP LỚN SỐ 1 – ĐỀ A

    Phương án số: ___

    Sinh viên:

    Ngày nhận: 11.07.2005

    MSSV:

    Ngày nộp: 21.07.2005

    Cho cơ cấu động cơ chữ V như hình vẽ với các thông số (bỏ qua khối lượng các khâu):

    lAB    75mm , l BC   225mm , lBD    50mm
    lDE   180mm , 1    60  rad / s ,   0
     
      0 , PN , PN
        C E  

    Góc hợp bởi tay quay và phương ngang          PAx 50

    5 4 3
    PE   PC
    E   C

    2

    D 1
     

    B

     A

    Nhiệm vụ:

    1. Xác định vận tốc, gia tốc các điểm C, E trên cơ cấu, vận tốc góc, gia tốc góc các khâu
    1. Tính áp lực trên các khớp
    1. Tính moment cân bằng đặt trên khâu dẫn bằng hai phương pháp: phân tích lực và di chuyển khả dĩ

    Yêu cầu:

    1. Một bản vẽ A3 trong đó vẽ: họa đồ cơ cấu, họa đồ vận tốc, họa đồ gia tốc, tách nhóm tĩnh định, và hoạ đồ lực
    2. Báo cáo phần tính toán trên giấy A4

    SỐ LIỆU A

    PA (0 ) (0 ) PC (N) PE (N) PA (0 ) (0 ) PC (N) PE (N)
                       
    1 50 60 5000 6000 41 50 55 5200 4000
                       
    2 50 60 5000 5900 42 50 55 5200 3900
                       
    3 50 60 5100 5900 43 50 60 5100 3900
                       
    4 50 65 5100 5800 44 50 60 5100 3800
                       
    5 50 65 5200 5800 45 50 60 5000 3800
                       
    6 55 65 5200 5700 46 60 65 5000 370
                       
    7 55 70 5300 5700 47 60 65 5100 3700
                       
    8 55 70 5300 5600 48 60 65 5100 3600
                       
    9 55 70 5400 5600 49 60 70 5200 3600
                       
    10 55 50 5400 5500 50 60 70 5200 3500
                       
    11 60 50 5500 5500 51 65 70 5300 3500
                       
    12 60 50 5500 5400 52 65 50 5300 3400
                       
    13 60 55 5600 5400 53 65 50 5400 3400
                       
    14 60 55 5600 5300 54 65 50 5400 3300
                       
    15 60 55 5700 5300 55 65 60 5500 3300
                       
    16 65 60 5700 5200 56 70 60 5500 3200
                       
    17 65 60 5800 5200 57 70 60 5600 3200
                       
    18 65 60 5800 5100 58 70 65 5600 3100
                       
    19 65 65 5900 5100 59 70 65 5700 3100
                       
    20 65 65 5900 5000 60 70 65 5700 3000
                       
    21 70 65 6000 5000 61 65 70 5800 3000
                       
    22 70 70 6000 4900 62 65 70 5800 2900
                       
    23 70 70 5900 4900 63 65 70 5900 2900
                       
    24 70 70 5900 4800 64 65 50 5900 2800
                       
    25 70 50 6000 4800 65 65 50 6000 2800
                       
    26 65 50 6000 4700 66 60 50 6000 2700
                       
    27 65 50 5900 4700 67 60 55 5900 2700
                       
    28 65 60 5900 4600 68 60 55 5900 2600
                       
    29 65 60 5800 4600 69 60 55 6000 2600
                       
    30 65 60 5800 4500 70 60 60 6000 2500
                       
    31 60 65 5700 4500 71 55 60 5900 2500
                       
    32 60 65 5700 4400 72 55 60 5900 2400
                       
    33 60 65 5600 4400 73 55 65 5800 2400
                       
    34 60 70 5600 4300 74 55 65 5800 2300
                       
    35 60 70 5500 4300 75 55 65 5700 2300
                       
    36 55 70 5500 4200 76 50 70 5700 2200
                       
    37 55 50 5400 4200 77 50 70 5600 2200
                       
    38 55 50 5400 4100 78 50 70 5600 2100
                       
    39 55 50 5300 4100 79 50 55 5500 2100
                       
    40 55 55 5300 4000 80 50 55 5500 2000
                       

    BÀI TẬP LỚN SỐ 1 – ĐỀ B

    Phương án số: ___

    Sinh viên:

    Ngày nhận: 11.07.2005

    MSSV:

    Ngày nộp: 21.07.2005

    Cho cơ cấu máy bào ngang tại vị trí có sơ đồ như hình vẽ (bỏ qua khối lượng các khâu):

    lAB    117mm ,              l AC   379mm ,                  lCD     776mm ,                  a     758mm

     

    1      2     rad / s ,          P                     N ,                  y                    mm

    Góc hợp bởi tay quay và phương ngang          PA x 50

    1   2   3   4   5

    D                                             E

    F

    P

    B

    A

    1

     C

    Nhiệm vụ:

    1. Xác định vận tốc, gia tốc các điểm D, F trên cơ cấu, vận tốc góc, gia tốc góc các khâu
    1. Tính áp lực trên các khớp
    1. Tính moment cân bằng đặt trên khâu dẫn bằng hai phương pháp: phân tích lực và di chuyển khả dĩ

    Yêu cầu:

    1. Một bản vẽ A3 trong đó vẽ: họa đồ cơ cấu, họa đồ vận tốc, họa đồ gia tốc, tách nhóm tĩnh định, và hoạ đồ lực
    2. Báo cáo phần tính toán trên giấy A4

    SỐ LIỆU B

    PA P(N ) y(mm) PA P(N ) y(mm) PA P(N ) y(mm)
                     
    1 1000 90 21 3000 130 41 1900 130
                     
    2 1100 92 22 3100 132 42 2000 128
                     
    3 1200 94 23 3200 134 43 2100 126
                     
    4 1300 96 24 3300 136 44 2200 124
                     
    5 1400 98 25 3400 138 45 2300 122
                     
    6 1500 100 26 3500 140 46 2400 120
                     
    7 1600 102 27 3600 142 47 2500 118
                     
    8 1700 104 28 3700 144 48 2600 116
                     
    9 1800 106 29 3800 146 49 2700 114
                     
    10 1900 108 30 3900 148 50 2800 112
                     
    11 2000 110 31 4000 150 51 2900 110
                     
    12 2100 112 32 1000 148 52 3000 108
                     
    13 2200 114 33 1100 146 53 3100 106
                     
    14 2300 116 34 1200 144 54 3200 104
                     
    15 2400 118 35 1300 142 55 3300 102
                     
    16 2500 120 36 1400 140 56 3400 100
                     
    17 2600 122 37 1500 138 57 3500 98
                     
    18 2700 124 38 1600 136 58 3600 96
                     
    19 2800 126 39 1700 134 59 3700 94
                     
    20 2900 128 40 1800 132 60 3800 92
                     

    BÀI TẬP LỚN SỐ 1 – ĐỀ C

    Phương án số: ___

    Sinh viên:

    Ngày nhận: 11.07.2005

    MSSV:

    Ngày nộp: 21.07.2005

    Cho cơ cấu máy bào ngang tại vị trí có sơ đồ như hình vẽ (bỏ qua khối lượng các khâu):

        lAB   115mm , l AC   290,5mm ,   lCD    606mm ,         lDE    182mm
        581mm , 1    2  rad / s ,   P   N ,         y mm
    Góc hợp bởi tay quay và phương ngangPAx 50                            
      1   2   3   4     5           F          
            E       D                      
                                         
                                               
                                      G      
                                           
                                           
                                           
                                               
                                               
                                               

    P

    B

    A

     C

    Nhiệm vụ:

    1. Xác định vận tốc, gia tốc điểm G trên cơ cấu, vận tốc góc, gia tốc góc các khâu
    1. Tính áp lực trên các khớp
    1. Tính moment cân bằng đặt trên khâu dẫn bằng hai phương pháp: phân tích lực và di chuyển khả dĩ

    Yêu cầu:

    1. Một bản vẽ A3 trong đó vẽ: họa đồ cơ cấu, họa đồ vận tốc, họa đồ gia tốc, tách nhóm tĩnh định, và hoạ đồ lực
    2. Báo cáo phần tính toán trên giấy A4

    SỐ LIỆU C

    PA P(N ) y(mm) PA P(N ) y(mm) PA P(N ) y(mm)
                     
    1 1000 90 21 3000 130 41 1900 130
                     
    2 1100 92 22 3100 132 42 2000 128
                     
    3 1200 94 23 3200 134 43 2100 126
                     
    4 1300 96 24 3300 136 44 2200 124
                     
    5 1400 98 25 3400 138 45 2300 122
                     
    6 1500 100 26 3500 140 46 2400 120
                     
    7 1600 102 27 3600 142 47 2500 118
                     
    8 1700 104 28 3700 144 48 2600 116
                     
    9 1800 106 29 3800 146 49 2700 114
                     
    10 1900 108 30 3900 148 50 2800 112
                     
    11 2000 110 31 4000 150 51 2900 110
                     
    12 2100 112 32 1000 148 52 3000 108
                     
    13 2200 114 33 1100 146 53 3100 106
                     
    14 2300 116 34 1200 144 54 3200 104
                     
    15 2400 118 35 1300 142 55 3300 102
                     
    16 2500 120 36 1400 140 56 3400 100
                     
    17 2600 122 37 1500 138 57 3500 98
                     
    18 2700 124 38 1600 136 58 3600 96
                     
    19 2800 126 39 1700 134 59 3700 94
                     
    20 2900 128 40 1800 132 60 3800 92
                     

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Xác suất thống kê

    Bài tập lớn môn Xác suất thống kê

    Bài tập lớn môn Xác suất thống kê

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn truyền động cơ khí


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-X%C3%A1c-su%E1%BA%A5t-th%E1%BB%91ng-k%C3%AA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Xác suất thống kê

    File A14 1

    Chương 2:

    2.3

    1. Hai sự kiện A và B với P(A) = 0.8 và P(AB)=0.2. Với giá trị nào của P(B) thì hai sự kiện A và B độc lập?

    A và B độc lập => P(AB) = P(A) * P(B) = 0.8 * 0.2 = 0.16

    1. Hai sự kiện A và B với P(A) = 0.5 và P(ABc) = 0.4. Với giá trị nào của P(B) thì hai sự kiện A và B độc lập?

    A và B độc lập => P(ABc) = P(A) * P(Bc) <=> P(Bc) = P(ABc) / P(A) = 0.4 / 0.5 = 0.8

    => P(B) = 1 – P(Bc) = 0.2

    1. Một hộp có 10 cái cầu chì, trong đó 8 cái có công suất 10A và 2 cái công suất 15A. Chọn ngẫu nhiên 2 cái tính xác suất:

    Gọi A là biến cố chọn cái đầu tiên, B là biến cố chọn cái thứ 2

    1. Cái đầu tiên công suất là 15A.

    P(A15) = 1/2 * 2/10 = 0.1

    1. Cái thứ hai công suất là 15A biết cái thứ nhất công suất là 10A.

    P (A10/ B15) = (P(B15/A10) * P(A10))/(P(B15/A10) * P(A10) + P(B15/A15) * P(A15)) = ((2/9 * 8/10)/((2/9 * 8/10) + (1/9 * 2/10)) = 8/9

    1. Cái thứ hai công suất là 15A biết cái thứ nhất công suất là 15A.

    P(A15/ B15) = (P(B15/A15) * P(A15))/(P(B15/A10) * P(A10) + P(B15/A15) * P(A15)) = ((1/9 * 2/10)/((2/9 * 8/10) + (1/9 * 2/10)) = 1/9

    1. Tương tự câu 3. Nếu chọn ngẫu nhiên lần lượt từng cái từ hộp cho đến khi được một cái công suất 15A thì ngưng. Tính xác suất:

    Phân phối siêu bội

    1. Chọn được 2 cái 10A.

    P(X=2) = (8C2/10C2) * 2/8 = 7/45

    1. Chỉ chọn được 2 cái.

    P(X=1) = (8C1/10C1) * 2/9 = 8/45

    1. Chọn được nhiều hơn 3 cái.

    P(X>3) = 1 – (P(X=1) + P(X=2)) = 1 – (2/10 + 8/45) = 28/45

    1. Trong một ngày lễ tốt nghiệp tại một trường đại học lớn. Chọn ngẫu nhiên một người được tốt nghiệp. Biến cố A là sinh viên được chọn tốt nghiệp chuyên ngành kỹ sư. Biến cố B là sinh viên được chọn khoá học giải tích. So sánh hai xác suất P(A|B) và P(B|A) cái nào lớn hơn và giải thích?

    P(B|A) > P(A|B)

    Vì ta thấy là tốt nghiệp kỹ sư thì phải hoàn thành khoá học giải tích

    P(B|A) là biến cố SV hoàn thành khoá học giải tích khi đã tốt nghiệp kỹ sư = 1

    P(A|B) là biến cố SV tốt nghiệp kỹ sư khi hoàn thành khoá học toán < 1

    1. Theo một bài báo đã ước tính rằng có 5.6% dân số chắc chắn bị hen suyễn, và bệnh hen suyễn có xác suất lây lan là 0.027 trong 1 ngày. Một người được chọn ngẫu nhiên từ vùng dân cư đó. Tính xác suất người đó bị lây bệnh hen suyễn vào hôm đó.

    Gọi A là biến cố người bị mắc bệnh hen suyễn

    C là biến cố người đó bị bệnh trước đó

    B là biến cố người đó bị lây vào ngày hôm đó

    P(A) = P(C) + P(Cc) * P(ACc) = 0.056 + 0.944 * 0.027 = 0.081488

    P(A/Cc) = P(Cc) * P(ACc) = P(Cc) * P(B) = 0.944 * 0.027 = 0.025488

    P(B

    1. Giả sử rằng thành lập công ty trong lĩnh vực công nghệ sinh học có tỉ lệ đạt lợi nhuận là 0.2 và trong lĩnh vực công nghệ thông tin là 0.15. Một nhà tư bản đầu tư mỗi công ty vào một lĩnh vực. Giả sứ các các công ty độc lập, tính xác suất:
      1. Cả hai công ty đều thu lợi nhuận.

    P(AB) = P(A) * P(B) = 0.2 * 0.15 = 0.03

    1. Không một công ty nào thu lợi nhuận.

    P(AcBc) = P(Ac) * P(Bc) = 0.8 * 0.85 = 0.68

    1. Có ít nhất một công ty thu lợi nhuận.

    P(X) = 1 – P(AB) – P(AcBc) = 0.29

    1. Một chiếc xe đua tốc độ có 2 cái dù, một cái chính và một cái dự phòng. Giả sử rằng cái dù chính mở ra với xác suất 0.99, và nếu cái chính không mở ra, thì cái dù dự phòng sẽ mở với xác suất 0.98. Tính xác suất:
      1. Một trong hai cái được mở.

    P(X) = P(X1) + P(X2/X1c) = P(X1) + P(X1c) * P(X1cX2) = 0.99 + 0.01 * 0.98 = 0.9998

    1. Cái dù dự phòng mở.

    P(X2/X1c) = P(X1c) * P(X1cX2) = 0.01 * 0.98 = 0.0098

    1. Dân cư của một thành phố cố định, mua xe mới trong năm những năm qua, 12% trong số họ mua phương tiện hybrid và 5% trong số đó mua xe tải hybrid. Tính xác suất chọn một người sử dụng phương tiện hybrid và là xe tải hybrid.

    P(Xt/H) = P(H) * P(XtH) = 0.12 * 0.05 = 0.006

    1. Một trong những lỗi thường gặp của ổ cứng máy tính, được xác định là 20% trong số đó có phân phối dữ liệu bị hư hỏng, 70% chỉ bị hư phần dữ liệu không cần thiết, 10% còn lại bị mắc cả hai lỗi vừa có phần phối dữ liệu bị hỏng và bi hư phần dữ liệu không cần thiết. Tính xác suất:

    Gọi A là biến cố ổ cứng có phân phối dữ liệu bị hư hỏng

    B là biến cố ổ cứng bị hư phần dữ liệu không cần thiết

    C là biến cố ổ cứng bị cả hai

    1. Phân phối dữ liệu bị hư hỏng.

    P(A) = 0.2

    1. Phần dữ liệu không cần thiết bị hư hỏng.

    P(B) = 0.7

    1. Nếu ổ cứng được lựa bị hư phân phối dữ liệu, và động thời dữ liệu không cần thiết cũng bị hư.

    P(A/B) = P(AB) * P(B) = 0.1 * 0.7 = 0.07

    1. Nếu ổ cứng được lựa bị hư dữ liệu không cần thiềt và đồng thời bị hư phân phối dữ liệu.

    P(B/A) = P(AB) * P(A) = 0.1 * 0.2 = 0.02

    1. Nếu ổ cứng được lựa bị hư phân phối dữ liệu, nhưng dữ liệu không cần thiết không bị hư.

    P(ABc) = P(A) * P(Bc) = 0.2 * 0.3 = 0.06

    1. Nếu ổ cứng được lựa vừa bị hư dữ liệu không cần thiềt nhưng không bị hư phân phối dữ liệu.

    P(BAc) = P(Ac) * P(B) = 0.8 * 0.7 = 0.56

     

    2.5

    1. Nếu * và Y là 2 biến cố độc lập ngẫu nhiên với kỳ vọng µX = 9.5 và µY=6.8 và độ lệch chuẩn σX = 0.4 và σY = 0.1. Tìm kỳ vọng và phương sai của:
      1.  

    µ(3X) =3 µX=3 * 9.5=28.5

    Gọi V(3X) là phương sai của 3X, ta được:

    V(3X) =3^2. V(X)=9* σ^2(X)=9*0.4^2=1.44= σ^2(3X)

    Suy ra σ(3X) =căn(V(3X)) = căn (1.44)=1.2

    1. Y − X.

    µ(Y – X) = µY – µX=9.5-6.8=2.7

    Gọi V (Y – X) là phương sai của (Y-X), ta được:

    V(Y-X) = V(X-Y) =V(X)-V(Y)= σ^2(X)- σ^2(Y)=0.4^2-0.1^2=0.15

    Suy ra σ(Y-X)=căn(0.15)=0.39

    1. X +4Y.

    µ(X+4Y) = µX+4 µY=9.5+4. 6.8=36.7

    Gọi V(X+4Y) là phương sai của X+4Y, ta được:

    V(X+4Y) =V(X) +4^2V(Y) = σ^2(X)+16*σ^2(Y) = 0.4^2+16*0.1^2 = 0.0256

    Suy ra σ(X+4Y) =căn(V(X+4Y)) =căn(0.0256)=0.16

    1. Đáy của bình chứa hình trụ có diện tích 10cm2.Bình được đổ đầy đến chiều cao với kỳ vọng là 5cm, độ lệch chuẩn 0.1cm. Gọi V là thể là thể tích chất lỏng trong bình chứa. Hãy tính:
      1. µV.

    Gọi X là chiều cao trung bình của bình

    Thể tích trung bình :

    Vtb= µV = (diện tích đáy)*Xtb=10.5=50 cm3

    1. σV.

    Gọi D là phương sai của V

    D(V)= D(Sđáy*X) = (Sđáy)^2*D(X)=10^2*0.1^2=1 cm5

    σV= căn(D(V)) =1

    1. Tuổi thọ của một bóng đèn nhất định có kỳ vọng là 700h và độ lệch chuẩn 20h.Khi mỗi bóng đèn bị cháy, nó được thay thế bởi một cái mới. Tìm kỳ vọng và phương sai của tuổi thọ 5 bóng đèn.

    Gọi X là tuổi thọ trung bình của 1 bóng đèn ta có µX=70h , σX=20h

    Tuổi thọ trung bình của 5 bóng đèn µ(5X)=5* µX=5*70=350

    Gọi V là phương sai của5X, ta được:

    V(5X) =5^V(X)=5^2* σ^2(X)=25*=10000 (h)

    Suy ra σ(5X) =căn (V(5X)) = căn (10000) =100 h

    1. Hai điện trở với điện trở kháng R1 và R2,và được mắc nối tiếp.Điện trở kháng R cho bởi R=R1+R2.Biết rằng R1 có kỳ vọng 50 ,phương sai 5 và R2 có kỳ vọng 100 ,phương sai 10 .

    Đề bài cho µ(R1) = 50 ôm, σ (R2) = 5 ôm

    µ(R2) = 100 ôm, σ (R2) = 10 ôm

    1. Tìm µR.

    µR= µ(R1+R2) = µR1+ µR2=50+100=150

    1. Biết rằng R1 và R2 độc lập, tìm σR.

    Gọi V là phương sai của R, ta được:

    VR= V(R1+R2) = VR1+ VR2= σ^2(R1) + σ^2(R2) =125

    Suy ra σR=căn(VR)= căn (125) =11,18 ôm

    1. Một mẫu ván ép được tạo thành từ 5 lớp. Các lớp được chọn ngẫu nhiên với độ dày là kỳ vọng 0.125 in, phương sai 0.005 in.
      1. Tìm kỳ vọng của độ dày một mẫu ván ép.

    Gọi X là độ dày trung bình của mỗi lớp, ta có µX=0.125 in, σX=0.005 in

    Độ dày trung bình của mẫu ván ép: µ(5X) =5* µX=5*0.125=0.625 in

    1. Tìm phương sai của độ dày của mẫu ván ép.

    Gọi V là phương sai của độ dày của mẫu ván ép, ta được:

    V(5X) =5^2* VX=5^2* σ^2(X)=25*0.005^2=6.25*10 ^ (-4) in

    Suy ra σ(5X) =căn(V(5X)) =0.025 in

    1. Hai phép đo độc lập được làm dựa trên thời gian sống của 1 hạt Mezon lạ. Mỗi phép đo có độ lệch chuẩn 7 * 10-15s. Tuổi thọ của hạt Mezon được xác định bằng giá trị trung bình của 2 phép đo. Hỏi độ lệch chuẩn của phép đánh giá này là bao nhiêu?

    Mỗi lần đo có độ lệch chuẩn σ=7×10-15s

    Gọi X là tuổi thọ của hạt Mezon dựa trên 2 phép đánh giá

    Độ lệch chuẩn của phép đánh giá này : σX= σ/căn 2 =4.95 *10-15s

    1. Nồng độ của 1 chất tan trong dung dịch được xác định dựa vào số mol chất tan trên 1 lít dung dịch (1 mol = 6,02.1023 nguyên tử). Nếu * là nồng độ của dung dịch MgCl2, Y là nồng độ dung dịch FeCl3. Nồng độ của Ion Cl trong 2 dung dịch MgCl2 và FeCl3 được cho bởi M=X+1.5Y. Biết rằng * có kỳ vọng 0.125, và độ lệch chuẩn 0.05, và Y có kỳ vọng 0.35, và độ lệch chuẩn 0.1.
      1. Tìm µM.

    µM= µ(X+1.5Y) = µX+1.5 µY=0.125+0.35*1.5=0.65

    1. Biết * và Y độc lập. Tìm σM.

    Gọi V là phương sai của M, ta được:

    VM= V(X+1.5Y) = VX+1.5^2* VY= σ^2(X)+1.5^2* σ^2(Y)=0.025

    Suy ra độ lệch chuẩn của M là σM=căn(VM)=căn (0.025) = 0.158

    1. Một chiếc máy đổ đầy các hộp giấy cứng bằng ngũ cốc, với khối lượng mỗi hộp có kỳ vọng là 12.02 oz, với độ lệch chuẩn là 0.03 oz. Một trường hợp lấy ngẫu nhiên một mẫu gồm 12 hộp từ đầu ra của máy.
      1. Tìm kì vọng của khối lượng ngũ cốc trong trường hợp trên.

    khối lượng trung bình của 12 hộp ngũ cốc µ(12X)=12 µ(X)=12*144.24 oz

    1. Tìm độ lệch chuẩn của tổng khối lượng ngũ cốc trong trường hợp trên.

    Gọi V là phương sai khối lượng trung bình của 12 hộp ngũ cốc,ta được:

    V(12X)=12^2*V(X)=12* σ^2(X)=12*0.0108 oz2

    Suy ra σ(12X)=căn(V(12X))=căn (0.0108)=0.104 oz

    1. Tìm kỳ vọng của khối lượng trung bình ngũ cốc mỗi hộp trong trường hợp trên.

    Kỳ vọng khối luong trung bình của mỗi hộp ngũ cốc µ(Xtb)= µ=12.02 oz

    1. Tìm độ lệch chuẩn của kỳ vọng khối lượng ngũ cốc trong mỗi hộp thuộc trường hợp trên.

    Độ lệch chuẩn khối luong trung bình của mỗi hộp ngũ cốc σ(Xtb)= σ(X)/căn 12 =0.03/căn 12=0.0087

    1. Cần có bao nhiều hộp để xảy ra trường hợp độ lệch chuẩn của kỳ vọng khối lượng trung bình mỗi hộp là 0.005 oz?

    Số hộp N= σX/0.005=0.03/0.005=6 (hộp)

     

    1. Bốn bề của một khung ảnh gồm hai miếng được chọn với kỳ vọng của độ dài là 30cm và độ lệch chuẩn là 0.1cm, hai miếng tiếp theo được chọn có kỳ vọng của độ dài là 45cm và độ lệch chuẩn là 0.3cm.
      1. Tìm kỳ vọng của chu vi.

    Gọi P là chu vi bức tranh thì P=(X+Y)*2

    E là kỳ vọng của P thì E(P)=2*E(X+Y)=2*[E(X)+E(Y)]=2*(45+30)=150 cm

    1. Giả sử là 4 miếng được chọn độc lập, tìm độ lệch chuẩn của chu vi.

    Gọi V là phương sai của P thì V(P)=V(2*(X + Y))=4*V(X)+4*V(Y)=4* σ^2(X)+4* σ^2(Y)=0.4 cm2

    Suy ra độ lệch chuẩn của chu vi σP=căn(V(P))=căn(0.4)=0.632

     

    1. Một trạm xăng thu được 2.6$ từ lợi nhuận trên mỗi gallon xăng thường được bán, 2.75$ cho mỗi gallon của loại trung bình và 2.9$ cho mỗi gallon loại cao cấp. Đặt X1, X2 và X3 lần lượt là số lượng gallon loại thường, loại trung bình và loại cao cấp được bán trong một ngày. Giả sử rằng X1, X2 và X3 có kỳ vọng µ1 = 1500,
      µ2 = 500, và µ3 = 300, và độ lệch chuẩn σ1 = 180, σ2 = 90, và σ3 = 40 tương ứng.

       

      1. Tìm kỳ vọng của lợi nhuận mỗi ngày.

    Thu nhập trung bình trong 1 ngày của trạm ga =2.6 µ1+2.75 µ2+2.9 µ3=2.6*1500+2.75*500+2.9*300=6145 $

    1. Giả sử rằng X1, X2 và X3 đọc lập, tìm độ lệch chuẩn của lợi nhuận mỗi ngày.

    Gọi V là kỳ vọng của thu nhập hàng ngày của trạm gas thì V=V(2.6*X1+2.75*X2+2.9*X3)=2.6^2*V(X1)+2.75^2*V(X2)+2.9^2*V(X3)=6.76*V(X1)+7.5625*V(X2)+8.41*V(X3) (*)

    Trong đó; V(X1)= σ1^2=180^2=32400

    V(X2)= σ2^2=90^2=8100

    V(X3)= σ3^2=40^2=1600

    Chương 4:

    4.3

    1. Một nhà vi sinh vật muốn ước tính mật độ của một loại vi khuẩn có trong một mẫu nước thải. Cô ấy đặt 0,5 ml mẫu nước thải trên kính hiển vi và đếm có 39 vi khuẩn. Ước tính mật độ của vi khuẩn trong mỗi ml nước thải này, và xác định tính bất định trong ước tính

    Ta có: 0,5 ml mẫu nước thải     —> 39 vi khuẩn

    1ml mẫu nước thải     —>  ?

    Ước tính trong 1ml mẫu nước thải có : =78 vi khuẩn

    Tính bất định của ước tính là ước tính tỷ lệ độ bất định là 39.

    1. Hai thứ nguyện của phương pháp poison. Số lượng cây của mỗi loài xác định trong một khu rừng là một phân phối poisson với kỳ vọng 10 cây trên một mẫu. Số lượng cây trong T mẫu là một phân phối Poisson với trung bình 10T cây:
      1. Tính xác suất có đúng 18 cây trong 2 mẫu

    2 mẫu có 18 cây:          -1 mẫu 10 cây , 1 mẫu 8 cây

    -2 mẫu 9 cây

    Xác suất là

     

    1. Tính xác suất có đúng 12 cây trong một vùng đất với bán kính tròn 100ft. (1 mẫu= 43,560 ft2)

    xác suất có đúng 12 cây trong một vùng đất với bán kính tròn 100ft. (1 mẫu= 43,560 ft2)

    1. Số lượng cây các loại cây khác nhau tuần theo một phân phối Poisson với trung bình λ cây trên 1 mẫu, λ chưa biết. Có 5 cây đếm được trong 0.1 mẫu vuông, ước tính λ và xác định tính bất định trong ước tính

    Có 5 cây đếm được trong 0.1 mẫu vuông

    Có 50 cây trên 1 mẫu vuông.

    Ước tính

    Tính bất định của ước tính là ước tính tỷ lệ độ bất định là 45

     

    1. Số lượng linh kiện lỗi được sản xuất bởi một quy trình nhất định trong một ngày có phân phối Poisson là kỳ vọng 20 linh kiện. Mỗi linh kiện lỗi có xác suất sửa chữa được là 60%.
      1. Tìm xác suất có đúng 15 linh kiện bị lỗi được sản xuất.

    Số lượng linh kiện lỗi được sản xuất bởi một quy trình nhất định trong một ngày có phân phối Poisson là kỳ vọng 20 linh kiện.

    Xác suất có đúng 15 linh kiện bị lỗi được sản xuất là:

    1. Cho rằng chính xác 15 linh kiện bị lỗi được sản xuất, tìm xác suất 10 trong số chúng có thể sửa chữa được.

    Cho rằng chính xác 15 linh kiện bị lỗi được sản xuất.

    Xác suất linh kiện lỗi sửa được là 0,6.

    Xác suất 10 trong số chúng có thể sửa chữa được là:

     

    1. Gọi N là số các linh kiện lỗi được sản xuất, và * là số linh kiện sửa chữa được. Với giá trị của N, phân phối của * là gì?

    N là số linh kiện lỗi được sản xuất. X là số linh kiện lỗi sửa được thì phân phối của X là phân phối nhị thức X~B(N;0.6)

    1. Tìm xác suất 15 linh kiện bị lỗi được sản xuất, mà có chính xác 10 linh kiện sửa chữa được.

    Xác suất 15 linh kiện bị lỗi được sản xuất, mà có chính xác 10 linh kiện sửa chữa được.nên còn lại 5 sản phẩm có thể không sửa được.

     

    1. Xác suất một khối lượng phóng xạ xác định không phát xạ các hạt trong một phút là 0,1353. Tính số hạt được phát xạ trong mỗi phút.

    Xác suất phát xạ trong mỗi phút là p= 1-0,1353= 0,8647

    Giả sử có một khối lượng M có N hạt phát xạ .

    Số hạt được phát xạ trong 1 phút

    n=0,8647N

     

    1. Số vết nứt của một loại gỗ xác định tuân theo một phân phối Poisson với tỷ lệ 0.45 trên một mét chiều dài
      1. Tính xác suất một tấm gỗ dài 3m không có vết nứt nào.

    Số vết nứt của một loại gỗ xác định tuân theo một phân phối Poisson với tỷ lệ 0.45 trên một mét chiều dài.

    Xác suất tấm gỗ dài 3m không có vết nứt nào là

    1. Miếng gỗ phải dài bao nhiêu để sác xuất không có vết nứt nào là 0.5?

    Để miếng gỗ không có vết nứt nào với xác suất 0,5 thì nó phải dài l (m)

    1. Bà đang cố gắng tạo một công thức mới cho bánh mì nho khô. Mỗi mẻ bánh bà làm ba cái bánh, mỗi cái bánh gồm 20 lát bánh mì.
      1. Nếu bà đặt 100 hạt nho khô vào một đấu bột, tính xác suất một lát bánh mì ngẫu nhiên không chứa nho khô?

    Ta có : 60 lát bánh có 100 hạt nho.

    Số hạt nho trung bình trong mỗi lát bánh là 100/60 =5/3

    Xác suất lấy ngẫu nhiên 1 lát không có nho khô là

    1. Nếu bà đặt 200 nho khô vào một lô bột, tính xác suất một chiếc bánh mì ngẫu nhiên chứa 5 hạt nho khô?

    Ta có: 60 lát bánh có 200 hạt nho

    Số hạt nho trung bình mỗi lát bánh là 200/60=10/3

    Xác suất 1 lát bánh ngẫu nhiên có 5 hạt nho là

    1. Bà phải cho vào bao nhiêu nho khô để xác xuất một lát ngẫu nhiên không có nho khô là 0,01?

    xác xuất một lát ngẫu nhiên không có nho khô là 0,01

    1. Mẹ và Bà, mỗi người đang nướng bánh quy sô-cô-la chip. Mỗi người cho bạn hai cái, 2 cái của mẹ một cái 14 và 11 chip sô-cô-la và của bà có 6 và 8 chip sô-cô-la.
      1. Ước tính số lượng chip sô-cô-la trung bình trong một cái bánh của mẹ.

    2 cái của mẹ một cái 14 và 11 chip sô-cô-la.

    Ước tính số lượng chip sô-cô-la trung bình trong một cái bánh của mẹ là:

    1. Ước tính số lượng chip sô-cô-la trung bình trong một cái bánh của bà.

    2 cái của mẹ một cái 6 và 8 chip sô-cô-la.

    Ước tính số lượng chip sô-cô-la trung bình trong một cái bánh của bà là :

    1. Xác định khoảng bất định trong ước lượng bánh của mẹ.

    khoảng bất định trong ước lượng bánh của mẹ là :

    Nằm trong khoảng (11;14).

    1. Xác định khoảng bất định trong ước lượng bánh của bà.

    khoảng bất định trong ước lượng bánh của bà là :

    Nằm trong khoảng (6;8)

     

    1. Ước lượng số lượng chip sô-cô-la trung bình trong một cái của mẹ với của bà. Và tìm khoảng bất định của ước lượng trên.

    Khoảng bất định trong ước tính là: (6;14)

    1. Bạn nhận được một khối phóng xã đã được điều chỉnh sao cho trung bình phát ra ít nhất 1 hạt/s. Nếu tỉ lệ phân rã nhỏ hơn 1 hạt/s, bạn sẽ gửi trả lại để lấy lại tiền. Đặt * là số lần phân rã đếm được trong 10s.
      1. Nếu tỉ lệ phân rã đúng 1 hạt/s (vậy đảm bảo yêu cầu nhưng chỉ vừa đủ), Tính P (X ≤ 1).

    Nếu kì vọng số hạt phân rã trong 10s là Lamda=10 hạt

    P(X≤1)=P(X=0)+P(X=1)=e^(-10)*(1+10)=0.0005

    1. Dựa trên đáp án câu a, nếu tỉ lệ phân rã là 1hạt/1s, thì một biến cố trong 10s sẽ có số lượng hạt nhỏ bất thường không?

    Dựa trên đáp án câu a, nếu tỉ lệ phân rã là 1hạt/1s, thì một biến cố trong 10s sẽ có số lượng hạt nhỏ bất thường.

    1. Nếu bạn đếm 1 biến cố phân rã diễn ra trong 10s, thì biến cố này có là chứng cứ thuyết phục để sản phẩm đó được trả lại không? Giải thích.

    Biến cố 1 hạt trong 10s:

    P(X=1)=e^(-10)*(10^1)/1!=0,00045

    Vì xác suất rất nhỏ nên không phải là chứng cứ thuyết phục để trả sản phẩm lại được.

    1. Nếu tỉ lệ phân rã đúng 1hạt/1s, Tính P (X ≤ 8).

    P(X≤8)=sigma(0→8) (e^-10)*(10^X)/X!=0.333

    1. Dựa trên đáp án câu d, thì tám biến cố trong 10s sẽ có số lượng hạt nhỏ hơn không?

    Dựa trên đáp án câu d, thì tám biến cố trong 10s sẽ có số lượng hạt nhỏ hơn

    1. Nếu bạn đếm 8 biến cố phân rã diễn ra trong 10s, thì những biến cố này có là chứng cứ thuyết phục để sản phẩm đó được trả lại không? Giải thích.

    Nếu đếm 8 biến cố phân rã diễn ra trong 10s, thì những biến cố này là chứng cứ thuyết phục để sản phẩm đó được trả lại vì

    P(1≤X≤8)=sigma(1→8) (e^-10)*(10^X)/X!=0.333 khá lớn.

    1. Một người cho rằng một dung dịch huyền phủ phải có ít nhất 7 hạt/ml. Bạn lấy một mẫu 1ml dung dịch. * là số hạt trong mẫu:
      1. Nếu trung bình có đúng 7 hạt/ml dung dịch (vậy đảm bảo yêu cầu nhưng chỉ vừa đủ), Tính P (X ≤ 1).

    Ta có kì vọng lamda hạt/ml = 7

    P(X≤1)= P(X=0)+P(X=1)=e^(-7)*(1+7)=0.0073

    1. Dựa trên đáp án câu a, nếu một dung dịch huyền phù có 7 hạt/ml, thì 1 hạt trong 1ml có là số lượng hạt nhỏ bất thường không?

    Dựa trên đáp án câu a, nếu một dung dịch huyền phù có 7 hạt/ml, thì 1 hạt trong 1ml là số lượng hạt nhỏ bất thường

    1. Nếu bạn đếm được một hạt trong mẫu, Thì biến cố này có là chứng cứ thuyết phục để xác nhận này là sai không? Giải thích.

    Không vì xác suất khá nhỏ P(X=1)=0.0064

    1. Nếu trung bình có đúng 7 hạt/ml dung dịch (vậy đảm bảo yêu cầu nhưng chỉ vừa đủ), Tính P (X ≤ 6).

    P(X≤6)= sigma(0→6) (e^-7)*(7^X)/X!=0.45

    1. Dựa trên đáp án câu a, nếu một dung dịch huyền phù có 7 hạt/ml, thì 6 hạt trong 1ml có là số lượng hạt nhỏ bất thường không?

    Dựa trên đáp án câu d, nếu một dung dịch huyền phù có 7 hạt/ml, thì từ 0→6 hạt trong 1ml là số lượng hạt nhỏ bình thường.

    1. Nếu bạn đếm được 6 hạt trong mẫu, Thì biến cố này có là chứng cứ thuyết phục để xác nhận này là sai không? Giải thích.

    Nếu đếm được 6 hạt trong mẫu, Thì biến cố này  không là chứng cứ thuyết phục để xác nhận này là sai. Vì P(X=6)=0.15 cũng khá nhỏ.

    1. Một nhà vật lý muốn ước tính tỷ lệ phát thải cả hạt alpha từ một nguồn xác định. Ông đã thực hiện 2 lần đếm. Đầu tiên, Ông đo lường tỷ lệ bằng cách đếm số hạt trong 100s khi không có nguồn. Ông đếm được 36 phát xạ nền. Sau đó, với nguồn hiện tại, ông ấy đếm được 324 phát xạ trong 100s. Giá trị này là tổng lượng phát xa của nguồn và nền.
      1. Ước tính tỉ lệ của bức xạ nền trong 1s, và tính khoảng bất định của ước tính
      2. Ước tính tổng của tỉ lệ bức xạ nền và nguồn trong 1s, và tính khoảng bất định của ước tính
      3. Ước tính tỉ lệ của bức xạ nguồn trong 1s, và tính khoảng bất định của ước tính
      4. Nhân tố ảnh hưởng tới sự nhỏ hơn của khoảng bất định trong ước tính bức xạ của nguồn: (1) đếm bức xạ nền chỉ trong 150s và bức xạ nguồn và nên trong 150s, hay (2) là đếm số lượng bức xạ nền trong 100s và bức xạ nguồn và nền trong 200s? Tính khoảng bất định trong mỗi trường hợp trên.
      5. Có thể được không nếu cải thiện khoảng bất định còn 0.03 hạt trên giây khi tỉ lệ bức xạ nền này đo được chỉ trong 100 giây? Nếu được, thì cần bao lâu để bức xạ nguồn và nên để đo xong. Nếu không, giải thích tại sao?
    2. Không biết ví dụ 4.27

     

    Chương 5:

    5.2

    1. Trong 150 khách hàng ngẫu nhiên của một dịch vụ cung cấp internet tốc độ cao, 63 người nói rằng dịch vụ mạng của họ bị gián đoạn khoảng một hoặc nhiều hơn một lần trong những tháng vừa qua.
      1. Tìm khoảng tin cậy cho 95% tỷ lệ khách hàng, mà dịch vụ của họ bị gián đoạn khoảng một hoặc nhiều hơn một lần trong những tháng vừa qua.

    Gọi p là tỉ lệ khách hàng than phiền rằng dịch vụ mạng của họ bị gián đoạn khoảng một hoặc nhiều hơn một lần trong những tháng vừa qua.

    Các đặc trưng của mẫu: n=150;     =

    Độ tin cậy   1-alpha =0,95 phi    (tra bảng)

    Độ chính xác của ước lượng:  epsilon=

    Khoảng tin cậy cho p: (f-epsilon;f+epsilon)=(0,341;0,499)=(34,1%;49,9%)

    1. Tìm khoảng tin cậy cho 99% tỷ lệ khách hàng, mà dịch vụ của họ bị gián đoạn khoảng một hoặc nhiều hơn một lần trong những ng vừa qua.

    Tương tự a, n=150;     =

    Độ tin cậy   1-alpha =0,99 phi

    Độ chính xác của ước lượng:  epsilon=

    Khoảng tin cậy cho p: (f-epsilon;f+epsilon)=(0,316;0,524)=(31,6%;52,4%)

    1. Tìm không gian mẫu cho 95% khoảng tin cậy để xác định tỷ lệ với sai lệch ±0.05.

    Ta có f= 0,42; epsilon= 0,05 khi đó

    Vậy kích thước không gian mẫu là khoảng 191.

    1. Tìm không gian mẫu cho 99% khoảng tin cậy để xác định tỷ lệ với sai lệch ±0.

    Ta có f= 0,42; epsilon= 0,05 khi đó

    Vậy kích thước không gian mẫu là khoảng 251.

    1. Một nhà xã hội học tổ chức điều tra khảo sát những người làm việc công việc liên quan đến máy tính để xác định tỷ lệ của những người đã thay đổi việc làm trong những năm qua.
      1. Trong trường hợp không có số liệu sơ bộ, thì độ lớn của không gian mẫu là bao nhiêu để đảm bảo là 95% khoảng tin cậy được xác định tỷ lệ với sai lệch ±0.

    Khoảng tin cậy 95% có

    Ta có    .

    Vậy độ lớn không gian mẫu là n = 196.

    1. Trong một mẫu gồm 100 công nhân, 20 người có chuyển đổi công việc trong những năm vừa qua. Xác định 95% khoảng tin cậy cho những người đã thay đổi công việc trong những năm qua.

    Gọi p là tỉ lệ người chuyển đổi công việc trong những năm vừa qua.

    Các đặc trưng của mẫu: n=100;     =

    Độ tin cậy   1-alpha =0,95 phi

    Độ chính xác của ước lượng:  epsilon=

    Khoảng tin cậy cho p: (f-epsilon;f+epsilon)=(0,1216;0,2784)=(12,16%;27,84%)

    1. Dựa trên dữ liệu câu b, ước tính kích thước không gian mẫu cần thiết để 95% khoảng tin cậy được xác định với tỷ lệ sai lệch ±0.

    Ta có f=0,2; epsilon=0,05 khi đó

    Vậy kích thước không gian mẫu là khoảng 125.

    1. Thép không rỉ có thể dễ bị ăn mòn bởi ứng suất, một kỹ sư vật liệu quan tâm đến việc xác định tỷ lệ hợp kim thép bị hư hại do ứng suất nứt ăn mòn.
    2. Trong trường hợp không có số liệu sơ bộ, thì độ lớn của không gian mẫu là bao nhiêu để đảm bảo là 98% khoảng tin cậy được xác định tỷ lệ với sai lệch ±0.

    Khoảng tin cậy 98% có

    Ta có   .

    Vậy độ lớn không gian mẫu là n = 233.

    1. Trong 200 mẫu bị hư, 30 trong số chúng bị hư bởi ứng suất nứt ăn mòn. Xác định 98% khoảng tin cậy cho tỷ lệ hư hỏng bởi ứng suất nứt ăn mòn.

    Gọi p là tỉ lệ tỉ lệ hư hỏng bởi ứng suất nứt ăn mòn.

    Các đặc trưng của mẫu: n=200;     =

    Độ tin cậy   1-alpha =0,98 phi

    Độ chính xác của ước lượng: epsilon=

    Khoảng tin cậy cho p: (f-epsilon;f+epsilon)=(0,0912;0,2088)=(9,12%;20,88%)

    1. Dựa trên dữ liệu câu b, ước tính kích thước không gian mẫu cần thiết để 98% khoảng tin cậy được xác định với tỷ lệ sai lệch ±0.

    Ta có f=0,15, epsilon= 0,05 khi đó

    Vậy kích thước không gian mẫu là khoảng 100.

    1. Thép không rỉ có thể dễ bị ăn mòn bởi ứng suất, một kỹ sư vật liệu quan tâm đến việc xác định tỷ lệ hợp kim thép bị hư hại do ứng suất nứt ăn mòn.

     

    1. Đối với các dự án xử lí ô nhiễm môi trường để thành công, cần phải có sự hỗ trợ từ phía cộng đồng. Theo một tờ báo, báo cáo kết quả của việc khảo sát cử tri Scotland khi được hỏi rằng họ có sẵn sàng chi chả một khoảng thuế để khôi phục khu rừng Affric không? Hơn 189 người trả lời thì có 61 người nói họ sẽ chi chả.
      1. Giả sử 189 cử tri đã tham gia khảo sát là một mẫu ngẫu nhiên, xác định 90% khoảng tin cậy cho tỷ lệ cử tri sẽ chi chả một khoảng thuế để khôi phục khu rừng Affric.

    Gọi p là tỉ lệ cử tri sẽ chi trả một khoản thuế để khôi phục khu rừng Affric.

    Các đặc trưng của mẫu: n=189;     =

    Độ tin cậy   1-alpha =0,9 phi    (tra bảng)

    Độ chính xác của ước lượng: epsilon=

    Khoảng tin cậy cho p: (f-epsilon;f+epsilon)=(0,266;0,378)=(26,6%;37,8%)

    1. Có bao nhiêu cử tri cân được lấy mẫu để xác định với 90% độ tin cây và tỷ lệ sai lệch là ±0.

    Ta có: f=0,322, epsilon= 0,03 khi đó = .

    Vậy có khoảng 400 cử tri cân nhắc lấy mẫu để xác định.

    1. Một cuộc khảo sát khác được lên kế hoạch, cử tri sẽ được hỏi liệu họ có sẵn sàng chi chả một khoảng thuế để khôi phục khu rừng Strathspey không? Thì không có bất kì ước tính cho tỷ lệ này là có sẵn. Xác định ứớc lượng cho kích thước không gian mẫu cần thiết để tỷ lệ được xác định với 90% độ tin cây và tỷ lệ sai lệch là ±0.

    Đối với rừng Strathspey, ta có

    f=0,322, epsilon= 0,03 khi đó = .

    Vậy có khoảng 458 cử tri trả lời.

    1. Một nhà phân tích thị trường chứng khoán thông báo rằng trong một năm xác định, giá cổ phiếu của IBM sẽ tăng 131 trong tổng số 252 ngày giao dịch. Những dữ liệu này có thể được sử dụng để xác định 95% khoảng tin cậy cho tỷ lệ ngày mà IBM tăng cổ phiếu không? Giải thích.

    Gọi p là tỉ lệ ngày mà IBM tăng cổ phiếu.

    Các đặc trưng của mẫu: n=252;     =

    Độ tin cậy   1-alpha =0,95 phi

    Độ chính xác của ước lượng: epsilon=

    Khoảng tin cậy cho p: (f-epsilon;f+epsilon)=(0,266;0,378)=(26,6%;37,8%)

    5.3

    1. Các chất hoá học có hoạt tính bề mặt, chẳng hạn như các chất tẩy rửa, nó có chức năng là làm giảm sức căng bề mặt của chất lỏng. Các chất hoạt tính bề mặt đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch đất bị ô nhiễm. Trong một thí nghiệm xác định hiểu quả của phương pháp loại bỏ Toluen trong cát, cát được rửa với chất hoạt tính bề mặt. Và sau đó rửa nhẹ nhàng cát với nước không chức các ion. Quan tâm đến lượng Toluen thu được trong quá trình rửa nhẹ. Trong 5 thí nghiệm, lượng Toluen bị loại bỏ trong chu trình rửa được biểu thị bởi tỷ lệ phần trăm so với tổng lượng Toluen trong mẫu ban đầu: 0, 4.8, 9.0, 10.0, và 7.3. Xác định tỷ lệ phần trăm Toluen được loại bỏ trong quá trình rửa nhẹ với độ tin cậy là 95%. (Bài tập này được dựa theo một bài viết)

    Gọi X là tỷ lệ phần trăm Toluen bị loại bỏ trong quá trình rửa nhẹ

    Xtb = (5+4,8+9+10+7,3)/5=7,22(%)

    Độ tin cậy gama=95% nên alpha = 0,05; alpha/2 = 0,025

    Tra bảng ta có Zalpha/2 = 2,776

    X2tb =(52+4,82+92+102+7,32)/5=56,466

    Xichma mũ = X2tb – (Xtb)2 = 4,3376

    Vậy muy = Xtb +(-) Zalpha/2 . Xichma mũ/sqrt(n-1)=7,22 + (-) 2,776.4,3376/2 = 7,22 +(-) 6,02 (%)

    1. 12 mẫu nước được lấy từ một nguồn đặc biệt với nồng độ chì là 5 µg/l và độ lệch chuẩn là 2.0 µg/l. Xác định nồng độ chì của nước trong nguồn trên với độ tin cây là 95%.

    Gọi X là nồng độ chì của nước trong nguồn

    Xtb=12,5

    Ta có xíchma2=2 suy ra xichsma = sqrt(2)

    Gama = 0,95 suy ra alpha=0,05,alpha/2=0,025

    Tra bảng ta có Zalpha/2=2,201

    Muy = Xtb +(-) Zalpha/2. Xichma /sqrt(n) = 12,5 +(-) 2,201.sqrt(2)/sqrt(12) = 12,5 +(-) 0,899

    5.4

    1. Trong một nghiên cứu về hiệu quả của việc làm lạnh với độ cứng của các mối hàn, 50 mối hàn được làm lạnh với tốc độ 10o C/s có độ cứng Rockwell (B) trung bình là 91.1 và có độ lệch chuẩn là 6.23, và 40 mối hàn được làm lạnh với tốc độ 30 o C/s, có độ cứnng Rockwell (B) trung bình là 90.7 và độ lệch chuẩn là 4.34. Mười mối hàn nữa được làm để tăng thêm độ chính xác cho khoảng tin cậy. trường hợp nào sẽ làm tăng độ chính xác cho khoảng tin cây nhiều nhất? 10 mối hàn làm lạnh 10o C/s, 10 mối hàn làm lạnh 30o C/s, 5 mối hàn làm lạnh 10o C/s và 5 mối hàn làm lạnh 30o C/s. Giải thích

    Gỉa sử cả 3 TH đều có độ tin cậy 99% suy ra alpha =0,01,alpha/2=0,005

    Tra bảng ta có Zalpha/2=2,576

    TH1:10 mối hàn 10o C/s

    Độ cứng Rockwell (B) trung bình là (60.91,1+40.90,7)/100=90,94

    Độ lệch chuẩn trung bình là xichma2= (60.6,23+40.4,34)/100=5,474

    Suy ra:  muy = 90,94 +(-) 2,756.2,34/10=90,94 +(-) 0,645                     (1)

    TH2:10 mối hàn 30o C/s

    Độ cứng Rockwell (B) trung bình là (50.91,1+50.90,7)/100=90.9

    Độ lệch chuẩn trung bình là xichma2= (50.6,23+50.4,34)/100=5.285

    Suy ra:  muy = 90,9 +(-) 2,756.2,299/10=90.9 +(-) 0,634                      (2)

    TH2: 5 mối hàn 10o C/s ,5 mối hàn 30o C/s

    Độ cứng Rockwell (B) trung bình là (55.91,1+45.90,7)/100=90.92

    Độ lệch chuẩn trung bình là xichma2= (55.6,23+45.4,34)/100=5.3795

    Suy ra:  muy = 90,92 +(-) 2,756.2.3194/10=90,92 +(-) 0,639                 (3)

    Từ (1), (2), (3) suy ra TH2 làm tăng độ chính xác cho khoảng tin cậy nhiều nhất do độ chênh lệch ít nhất

    1. Một bài viết đưa ra kết quả của một công trình nghiên cứu về thói quen ngủ của một số lượng lớn đối tượng. Trong một mẫu gồm 87 trẻ vị thành niên, Thời gian trung bình họ giành cho việc nằm trên giường (kể cả ngủ và thức) là 7.7 giờ, với độ lệch chuẩn là 1.02 giờ, và thời gian giành để ngủ là 7.06, với độ lệch chuẩn là 1.11. Kỳ vọng của ước tính thời gian thức khi nằm trên giường sẽ là 7.7 – 7.06 = 0.64. Có thể không nếu ước tính thời gian thức trên giường có độ tin cậy là 95%? Nếu vậy, hãy xây dựng độ tin cây cho ước tính trên. Nếu không hãy giải thích tại sao không.

    Gama = 0,95 suy ra alpha = 0,05;alpha/2 = 0,025

    Tra bảng ta có Zalpha/2= 1,96

    Kỳ vọng của thời gian cả ngủ lẫn thức là:

    Muy=7,7 +(-) 1,96.1,02/sqrt(87) = 7,7 +(-) 0,214 = ( 7,486 ; 7,914 )

    Kỳ vọng của thời gian ngủ là:

    Muy=7,06 +(-) 1,96.1,11/sqrt(87) = 7,06 +(-) 0,233 = ( 6,827 ; 7,293 )

    Suy ra kỳ vọng của thời gian thức nằm trong khoảng ( 0,621 ; 0,659 ) là hợp lý.

    Vậy thời gian thức trên giường có độ tin cậy 95%

    Độ tin cậy của thời gian thức trên giường là: 0,64 +(-) 0,019

    1. Theo một bài viết mô tả nồng độ Ion Amoni [NH4+] (mg/l) của một số lượng lớn giếng thuộc bang Lowa. Gồm có 349 giếng phù xa và 143 giếng cấp 4. Nồng độ trung bình của giếng phù xa là 0.27 với độ lệch chuẩn là 0.4, và nồng độ trung bình của giếng cấp 4 là 1.62 với độ lệch chuẩn là 1.7. Xác định sự khác nhau giữa kỳ vọng của nồng độ giữa hai loại giếng với độ tin cậy là 95%

    Gama = 0,95 suy ra alpha = 0,05;alpha/2 = 0,025

    Tra bảng ta có Zalpha/2= 1,96

    Muy(giếng phù sa)=0,27 +(-) 1,96.0,2/sqrt(349)=0,27 +(-) 0,021

    Vậy kỳ vọng của nồng độ ion Amoni của giếng phù sa trong khoảng (0,249;0,291)

    Muy(giếng cấp 4)=1,62 +(-) 1,96.sqrt(1,7)/sqrt(143)=1,62 +(-) 0,214

    Vậy kỳ vọng của nồng độ ion Amoni của giếng cấp 4 trong khoảng (1,406;1,834)

    Do đó ta có thể thấy sự khác biệt lớn giữa kỳ vọng của nồng độ ion Amoni trong giếng phù sa và giếng cấp 4.Giếng phù sa thì nồng độ nhỏ hơn rất nhiều lần

    File A14_2

                                    5.1

    1. Một trạm dịch vụ có 2 khu vực tự phục vụ và được phục vụ toàn phần. Tại mỗi khu vực có một lượng gia tăng không kiểm soát được với 2 đại lượng. Gọi * biểu thị sự gia tăng số lượng khách đang sử dụng khu vực tự phục vụ tại một thời gian cụ thể, Và Y biểu thị sựgia tăng số lượng khách đang sử dụng dịch vụ toàn phần tại cùng thời điểm đó. Hàm mật độ chung của * và Y được thể hiện trong các bảng biểu  như bên dưới:
    2. P (X=1 và Y=1) là gì?

    P (X=1 và Y=1) là xác suất để số lượng khách gia tăng ở hai khu vực đều bằng 1

    1. Tính P (X≤1 và Y≤1).

    P (X≤1 và Y≤1)= 0.1+0.04+0.08+0.20=0.42

    1. Cho biến cố (X≠0 và Y ≠0), tính xác suất của biến cố này.

    P (X≠0 và Y ≠0)=0.08+0.06+0.04+0.2+0.14+0.02+0.06+0.30=0.9

    1. Tính hàm mật độ lề của * và Y, dùng px(x), P(X≤1) là gì?
    X,Y 0 1 2 PX
    0 0.10 0.04 0.02 0.16
    1 0.08 0.20 0.06 0.34
    2 0.06 0.14 0.30 0.5
    PY 0.24 0.38 0.38 1

    P(X≤1)=0.16

    1. Khi một chiếc ô tô bị chặn lại bởi một đội cơ động kiểm soát độ an toàn, mỗi lốp xe được kiểm tra bề mặt, và mỗi đèn pha được kiểm tra để xem liệu nó có được sử dụng hợp lí hay không. Cho * là số của đèn pha mà cần điều chỉnh và Y biểu thị số lượng lốp xe có bề mặt bị lỗi.
    2. Nếu * và Y độc lập với px (0) =0.5, px (1) = 0.3, px (2) = 0.2 và py (0) = 0.6, py (1) = 0.1, py (2) = py (3) = 0.5, py (4) = 0.2. Hãy thể hiện các giá trị pmf của (X, Y) vào bảng phân phối xác suất.
    X,Y 0 1 2  
    0 0.3 0.18 0.12 0.6
    1 0.05 0.03 0.02 0.1
    2 0.025 0.015 0.01 0.05
    3 0.025 0.015 0.01 0.05
    4 0.1 0.06 0.04 0.2
      0.5 0.3 0.2 1
    1. Tính P (X≤1 và Y≤1) từ bảng phân phối xác suất, và so sánh nó có bằng với P (X≤1). P (Y≤1) không?

    P (X≤1 và Y≤1) =0.3+0.18+0.05+0.03=0.56

    P (X≤1). P (Y≤1) =0.8*0.7=0.56

    1. P (X+Y) =1 là gì? (xác suất không vi phạm).

    P (X+Y=0) =0.3

    1. Tính P(X+Y≤1).

    P(X+Y≤1)=0.3+0.18+0.05=0.53

    1. Một thị trường có cả hai dòng thanh toán nhanh và dòng thanh toán siêu nhanh. X1 biểu thị số. lượng khách hàng trong dòng thanh toán nhanh tại một thời gian cụ thể trong ngày, và X2 là số lượng khách hàng trong dòng thanh toán siêu nhanh tại cùng thời điểm. Giả sử mối tương quan hàm mật độ của X1 và X2 được cho như trong bảng biểu bên dưới:
    2. P (X1=1, X2=1) là gì đó có phải là xác suất có đúng một khách hàng trong mỗi dòng không?

    P (X1=1, X2=1) là gì đó có phải là xác suất có đúng một khách hàng trong mỗi dòng.

    1. P(X1=X2) là gì đó có phải là xác suất khách hangfthanh toán trong mỗi dòng giống hệt nhau không?

    P(X1=X2) là gì đó có phải là xác suất khách hàng thanh toán trong mỗi dòng giống hệt nhau.

    1. Gọi A là biến cố có ít nhất 2 hay nhiều khách hàng trong dòng thanh toán này hơn dòng thanh toán kia, điều kiên của X1, X2 thể hiện trong A, hãy tính xác suất của A.

    P(A)=0.04+0.00+0.04+0.08+0.08+0.07+0.00+0.01+0.05=0.37

    1. Xác suất tổng khách hàng của 2 dòng đúng bằng 4 là bao nhiêu? Ít nhất bằng 4 là bao nhiêu?

    C: “tổng số khách hàng cả hai dòng bằng 4 “

    P(C)=0.04+0.1+0.03+0.0=0.17

    1. . Xác định hàm mật độ lề của X1, và sau đó tính toán số lượng dự kiến của khách hàng trong dòng lúc thanh toán nhanh.
    2. Xác định hàm mật độ lề của X2.

    e+f:

    X1,X2 0 1 2 3 PX1
    0 0.08 0.07 0.04 0.00 0.19
    1 0.06 0.15 0.05 0.04 0.30
    2 0.05 0.04 0.1 0.06 0.25
    3 0.00 0.03 0.04 0.07 0.14
    4 0.00 0.01 0.05 0.06 0.12
    PX2 0.19 0.30 0.28 0.23 1
    1. Qua sự kiểm tra các xác suất P (X1=4), p (X2=0) và P (X1=4, X2=0), vậy X1, X2 có độc lập ngẫu nhiên không? Tại sao?

    P(X1=4). P (X2=0) =0.12×0.19=0.0228

    P (X1=4, X2=0) =0

    Vậy X1 và X2 không độc lập.

    1. Theo số liệu của Công ty Mars Candy, trong thời gian hoạt động dài hạn, tỷ lệ phần trăm các màu sắc khác nhau của loại kẹo Socolate sữa M&M là như sau:

    Xanh da trời:      Cam:      Xanh lá cây:       Vàng:          Đỏ:           Nâu:

                 24%               20%          16%                14%          13%          13%

    1. Lấy ngẫu nhiên 12 viên kẹo, tính xác suất để mỗi màu sắc có 2 viên.

    P(A)=0.24×0.24+0.2×0.2+0.16×0.16+0.14×0.14+0.13×0.13+0.13×013 =0.1766

    1. Lấy ngẫu nhiên 6 viên kẹo, tính xác suất có ít nhất 1 máu sắc không có trong đó.

    P(B)=1-0.24×0.2×0.16×0.14×0.13×0.13=0.999

    1. Lấy ngẫu nhiên 10 viên kẹo, tính xác suất có đúng 3 viên màu xanh và 2 viên màu cam.

    P(C) = (0.24)3 * (0.2)2  *(0.16+0.14+0.13+0.13)5=3.05*10-5

    1. Lấy ngẫu nhiên 10 viên kẹo, tính xác suất có ít nhất 3 viên màu cam ([Gợi ý: Hãy suy nghĩ của một kẹo màu cam như một thành công và có các màu khác như một sự thất bại.]
    2. Lấy ngẫu nhiên 10 viên kẹo, tính xác suất có ít nhất 7 trong số đó hoặc là màu xanh da trời và cam hoặc xanh lá cây và cam?

     

    1. Số lượng khách hàng chờ đợi cho dịch vụ gói quà tại một cửa hàng là một đại lượng * với các giá tr tại 0, 1, 2, 3, 4 và xác suất tương ứng 0,1; 0,2; 0,3; 0,25. Chọn ngẫu nhiên một khách hàng có 1, 2, hoặc 3 xuất gói quà với xác suất 0,6; 0,3 và 0,1 tương ứng. Cho Y biểu thị tổng số lượng món quà được gói của các khách hàng đang chờ đợi trong hàng (giả định rằng số lượng các gói quà của một khách hang này là độc lập với số lượng quà của bất kỳ khách hàng khác).
    2. Xác định P(X=3,Y=3),đó có phải là p(3,3)
    3. Xác định p(4,11)

     

    1. Cho * là số của máy ảnh kỹ thuật số Canon được bán ra trong một tuần tại một số cửa hàng nhất định nào đó. Hàm mật độ của * được cho bên dưới:

           Sáu mươi phần trăm của tất cả các khách hàng mua các máy ảnh cũng mua một bảo hành mở rộng .Cho Y là số lượng người mua một bảo hành mở rộng trong tuần nàya.    Xác xuất P(X=4,Y=2) là gì [Gợi ý: xác suất này bằng P(Y=2/X=4).P(X=4),giờ hãy nghĩ thử nghiệm có 4 xuất mua như 4 phân phối nhị thức với thành công về một thử nghiệm tương ứng để mua một bảo hành mở rộng]

    X 0 1 2 3 4
    P 0.1 0.2 0.3 0.25 0.15
               
    Y 1 2 3    
    P 0.6 0.3 0.1    

    b.    Tính P(X=Y).P(X=3,Y=3)=0.25×0.1=0.025= p(3,3)c.     Xác định hàm mật độ chung của * và Y,sau đó tìm hàm mật độ lề của Y.

    p(4,11)=0

    1. Các phân phối xác suất chung của * (số lượng xe ô tô) và Y (số lượng xe buýt) trên mỗi chu kỳ tín hiệu tại một làn đường rẽ trái được thể hiện theo bảng xác suất bên dưới:

    Tính xác suất có chính xác 1 xe ô tô và chính xác một xe buýt trong một chu kỳ đèn?

    1. Tính xác suất có cao nhất 1 xe ô tô và cao nhất 1 xe buýt trong 1 chu kỳ đèn?

    P(A)=0.03

    1. Tính xác suất có chính xác 1 xe ô tô trong 1 chu kỳ đèn và chính xác 1 xe buýt trong 1 chu kỳ đèn.

    P(B)=0.025+0.015+0.05+0.03=0.12

    1. Gỉa sử làn đường rẽ trái có khả năng cho 5 xê ô tô, và 1 xe buýt bằng 3 xe ô tô. Tính xác suất để làn đường đầy xe trong 1 chu kỳ đèn?

    P(C1)=0.05+0.03+0.02=0.10

    P(C2)=0.015+0.030+0.075+0.090+0.060+0.030=0.3

    1. X và Y có độc lập không? Tại sao?

    P(D)=(0.15+0.090+0.060)+(0.05+0.02+0.03)+(0.05+0.02+0.03)+0.3=0.8

    1. Một nhà kho hiện có 30 thành phần của một bộ phận nhất định, trong đó có 8 thành phần được cung cấp bởi nhà cung cấp 1, 10 thành phần của nhà cung cấp 2, và 12 thành phần của nhà cung cấp 3. Chọn ngẫu nhiên sáu thành phần để lắp ráp nhất định. Cho * là số lượng thành phần của nhà cung cấp của 1 được lựa chọn, Y là số lượng thành phần của nhà cung cấp 2 được lựa chọn, và p (x, y) là hàm mật độ chung của * và Y
    2. P(3,2) là gì?[Gợi ý: mỗi mẫu đều có kích thước là 6 và đều có khả năng được chọn. Do đó P(3,2)=(số kết quả với * =3 và Y=2)/(tổng số kết quả). Bây giờ sử dụng sản phẩm loại trừ để tính tử số và mẫu số]

    P(3,2) =(8C3*10C2*12C1)/(30C6)=0.051

    1. Sử dụng lập luận của câu a thu được p(x,y)(đó có thể là phân phối siêu bội đa biến-lấy mẫu mà không cần thay thế từ một dãy hữu hạn nhiều hơn 2 loại).

     

    1.  
    Khác
    • Mỗi bánh xe trước của một chiếc xe được bơm với áp suất 26 psi. Giả sử áp lực không khí thực tế trong mỗi lốp là một đại lượng ngẫu nhiên, * cho lốp phải và Y cho lốp trái, với hàm mật độ:
    1. Tính giá trị của K?
    2. Tính xác suất cả 2 bánh xe đều không được bơm căng.
    3. Tính xác suất để sự chênh lệch áp suất không khí giữa 2 bánh xe cao nhất là 2 psi.
    4. Xác định phân phối lề của áp suất trong lốp xe bên phải.
    5. X và Y có độc lập hay không?

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn truyền động cơ khí

    Bài tập lớn truyền động cơ khí

    Bài tập lớn truyền động cơ khí

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN TƯỜNG CHẮN ĐẤT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-truy%E1%BB%81n-%C4%91%E1%BB%99ng-c%C6%A1-kh%C3%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn truyền động cơ khí

    BÀI TẬP LỚN – ĐỀ B

    Cho cơ cấu máy bào ngang tại vị trí có sơ đồ nhƣ hình vẽ (bỏ qua khối lƣợng các khâu):

    –      Kích thƣớc các khâu:   lAB  =117mm ,   l AC = 379mm ,  lCD  = 776mm,

    • Khoảng cách: a = 758mm
    • Vận tốc góc khâu dẫn: w1 = 20 (rad / s)
    Vị trí khâu dẫn (góc hợp bởi tay quay và phƣơng ngang):  g = 0
     
    Lực cắt:  P = N  
    Vị trí lực cắt:  y = mm  
    1   2   3   4       5
    D E
     
    y

    F

     

    a

    Nhiệm vụ:

    A

    P

    B

    g

    w1

    C

     

    1. Xác định vận tốc, gia tốc các điểm D, F trên cơ cấu, vận tốc góc, gia tốc góc các khâu.
    2. Tính áp lực khớp động trên các khớp.
    1. Tính moment cân bằng đặt trên khâu dẫn bằng hai phƣơng pháp: phân tích lực và di chuyển khả dĩ.

    Yêu cầu:

    1. Tập thuyết minh (file Word) trình bày phần tính toán.
    2. Bản vẽ A2 hoặc A3 (vẽ máy hoặc vẽ tay) trình bày: họa đồ cơ cấu, họa đồ vận tốc, họa đồ gia tốc, tách nhóm tĩnh định và họa đồ lực.
    1. Slide báo cáo (file Powerpoint, Demo): phân công trong nhóm, quá trình thực hiện và kết quả đạt đƣợc.

    SỐ LIỆU ĐỀ B

                           
            g (0 )     P(N )     y(mm)  
                     
      PHƢƠNG ÁN  
                         
                           
        10   1100   92  
      1        
                   
        15   1200   94  
      2        
        20   1300   96  
      3        
        30   1400   98  
      4        
        35   1500   100  
      5        
        40   1600   102  
      6        
          50   2000   150  
      7        
        60   2500   140  
      8        
             
        75   3000   130  
      9        
        80   3000   130  
      10        
          90   3100   132  
      11        
        100   3200   134  
      12        
        110   3500   98  
      13        
        120   3600   96  
      14        
          125   3700   94  
      15        
                           

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN TƯỜNG CHẮN ĐẤT

    BÀI TẬP LỚN TƯỜNG CHẮN ĐẤT

    BÀI TẬP LỚN TƯỜNG CHẮN ĐẤT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Cơ học kết cấu tàu thủy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-T%C6%AF%E1%BB%9CNG-CH%E1%BA%AEN-%C4%90%E1%BA%A4T.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN TƯỜNG CHẮN ĐẤT

    BÀI TẬP LỚN TƯỜNG CHẮN ĐẤT.

    Số liệu tính toán:

    Đề Sinh viên h (m) (   /  ) (  ) (  )
    B5 Mr. Thăng 1 16 4 2

    1

    I.                   CHỌN SƠ BỘ KÍCH THƯỚC TƯỜNG CHẮN:

     

    Bề rộng bản móng : qua nhiều lần tính toán ta chọn

    B = 6000 (mm)

    Chiều cao móng chọn từ (              →         ) :

    Chọn : ℎ             = 500 (mm)

    Chiều dày lớp đất đắp trước tường chắn là :

    Chọn : Z = 500 (mm)

    • Tổng chiều cao tường chắn là :

    H = 7000 (mm)

    Bề rộng tường :

    2

    Họ tên : Zangloe                                                                                                                                         MSSV: 20661187

    • Đỉnh tường : b = 300 (mm) o Chân tường : b = 800 (mm)

    II.                XÁC ĐỊNH CÁC HỆ SỐ:

    Ta xem như lưng tường là trơn phẳng thẳng đứng ( α = 0 , β = 0 )

    Lấy góc ma sát ngoài giữa đất với tường là:

    =   =   =   × 25  = 17  ( lấy từ         )                              
                                         
    Hệ số áp lực ngang chủ động :                                                  
                              (cos )               1        
      =                                     ×            
                                          cos        
                  cos 1 +   sin( + ) sin                
                                           
                cos( +  )                          
                                                           
      ( ) =       (     28)               × 1       = 0,3
                                                   
                                      17
      17 1 + (28 + 17) 28              
                               
                (28 + 17)                            
                                                         
      ( ) =       (cos 25)         ×   1   = 0,34
                                               
                                      cos 17
              cos 17 1 +   sin(25 + 17) sin 25              
                                       
                            cos(25 + 17)                          

    Hệ số áp lực ngang bị động :

    • 1
    • ( ) = 0,343 = 2.92

    Ta quy phần đất phía trên đỉnh tường chắn về tải tương đương.

    Áp dụng công thức: = (1 +   )
     
    Trong đó: = 1 + tan 28  = 0,532
      = 4,2 − 0,5 = 3,7
      ℎ = 1      
      0,532        
    = 1 +     18,9 × 1 = 20,3 (   )
    2 × 3,7    
                     

    ð Tổng tải tương đương:

    =         +         = 20,3 + 16 = 36,3 (                           )

    3

    Họ tên : Zangloe                                                                                                                                         MSSV: 20661187

    III.             TÍNH TOÁN ÁP LỰC LÊN TƯỜNG CHẮN:

     

    1. Áp lực đứng lên tường chắn ( tính toán trên 1 mét tới ):
    1 : 1   ( × ℎ × ) =   1 (0,5 × 6,5 × 25) = 40,63 ( )
           
    2     2
    2 :       × ℎ × = 0,3 × 6,5 × 25 = 48,75 (   )
    3 :       × ℎ × = 0,5 × 6 × 25 = 75 ( )  
    4 :       × ℎ × = 4,2 × 4 × 18,9 = 317,52 ( )
    5 :       × ℎ × = 4,2 × 2,5 × 18,5 = 194,25 ( )
    6 :       × ℎ × = 0,5 × 1 × 18,5 = 9,25 ( )  
    7 : (   7 − 0,5) × = (4,2 − 0,5) × 36,3 = 134,31 ( )
                             
    1. Áp lực ngang chủ động :
    ð Tại = 0 m = >   ( ) = −2 × 5 × √   = 5,48 (   )  
    = −2 0,3
     
                   
    ð Tại = 0,83 m = >   = ( ) − 2   ( ) = 18,9 × 0,83 × 0,3 − 5,48  
                           

    4

    Họ tên : Zangloe             MSSV: 20661187
        = − 0,77 (   )        
                 
                   
      = > = ( ) +  ×  ( ) 2 ( )      
        = 18,9 × 0,83 × 0,3 + 0,3 × 35,99 − 5,48 = 10,03 (   )
         
    Tại   = 4 m = > = +  ( −  ) ( ) = 10,03 + 18,9 × (4 − 0,83) × 0,3
    • 28 ( )
      = >   =       ×  ( ) + 2 ( )      
          ( )          
        28 − 5,48               KN
                   
      =         × 0,34 + 2 × 6 ×   0,34 = 32,52 (   )
        0,3     m
    Tại   = 7 m = > =     +  ( −  ) ( ) = 32,52 + 18,5 × (7 − 4) × 0,34
          = 51,39 (   )          
                     
    1. Áp lực ngang bị động:

    =               ( ) = 18,5 × 1 × 2,92 = 54,02 (                                           )

    1. Tính toán các giá trị áp lực ngang E.
    =   (5,48 + 0,77) × 0,83 = 2,6 (   )  
       
    = 10,03 × (4 − 0,83) = 31,8 ( )  
    =     (28 − 10,03) × (4 − 0,83) = 28,48 ( )
       
    = 32,52 × (7 − 4) = 97,56 ( )  
    =     (51,39 − 32,52) × (7 − 4) = 28,31 ( )
       
    = =   54,02 × 1 = 27,01 ( )  
       
                   

    5

    Họ tên : Zangloe                                                                                                                                         MSSV: 20661187

    1. Bảng tổng hợp moment chống lật và moment lật đối với mũi tường chắn (điểm A). a. Bảng moment chống lật.
    Tên Lực / 1 mét tới   Cánh tay đòn Moment / 1 mét tới
      (KN)   (m) (KNm)
             
    1 40,63   1,33 54,04
             
    2 48,75   1,65 80,44
             
    3 75   3 225
             
    4 317,52   3,9 1238,33
             
    5 194,25   3,9 757,58
             
    6 9,25   0,5 4,63
             
    7 134,31   4,15 557,39
             
      2,6   6,72 17,47
      27,01   0,33 8,91
             
        Tổng moment 2889,75
             

    6

    Họ tên : Zangloe   MSSV: 20661187
      b. Bảng moment lật.    
               
    Tên   Lực / 1 mét tới   Cánh tay đòn Moment / 1 mét tới
        (KN)   (m) (KNm)
               
        31,8   4,585 145,8
               
        28,48   4,057 115,54
               
        97,56   1,5 146,34
               
        28,31   1 28,31
               
        Tổng moment   436
               

    Kiểm tra moment chống lật quanh điểm A.

    ậ  =ậ  = ℎô = 2889,75 = 6,63 > 2
      436  
             
    • Vậy tường chắn ổn định chống lật quanh điểm A.

    Tổng moment:

    =             ô       ậ  −                 = 2889,75 − 436 = 2453,75 (                                                   )

    Kiểm tra độ ổn định trượt ngang.

    Lực chống trượt thống kê: ( tổng lực theo phương đứng)

    • 819,71 KN

    Lực xô ngang thống kê : ( tổng lực theo phương ngang)

    • 156,54 KN
    ượ =ượ = R × tan δ = 819,71 × tan 17  = 1,6 > 1,5  
    R 156,54
               
    • vậy tường chắn ổn định trượt ngang.

    Kiểm tra áp lực lên đất nền.

    Hợp lực R cách điểm gót bản đáy là:

    2453,75

    ∆=                   = 819,71 = 2,99 (m)

    Độ lệch tâm e:

    = − 2 + ∆= − 6 + 2,99 = − 0,01 (  )
    2
    • Áp lực max , min lên bản đáy:

    7

    Họ tên : Zangloe                             MSSV: 20661187
            6     819,71   6 × 0,01    
    =       1 −     =         1 −         = 135,25 ( )
    1 ×       1 × 6     6    
            6     819,71     6 × 0,01      
    =     1 +       =       1 +       = 137,98 ( )
    1 ×         1 × 6     6    

    Áp dụng công thức tính toán khả năng chịu tải của đất nền chịu tải trọng vừa thẳng đứng vừa có tải ngang.

    =             ự   ̣         > 3                        
                                                         
      ự   ẳ   đứ       ê                              
                                                         
    =       +               +                                  
                                                     
    Trong đó:  = ×   = 18,5 × 1 = 18,5       /   (D là chiều sâu chôn móng)
    = − 2 = 6 − 2 × 0,01 = 5,98 ( )            
                                  1                          
    = 1 + 0,4       = 1 + 0,4 ×       = 1,07            
          5,98      
                                                                  1  
      = 1 + 2 tan   (1 − sin )           = 1 + 2 tan 25 (1 − sin 25 )    
            5,98
    = 1,05                                                              
    = 1                                                              
                                  10,81              
    = =     1 −       = 1 −           = 0,77            
    90       90        
                            10,81                            
    = 1 −               =  1 −     = 0,32            
                  25      
      = tan       × cos   = tan     156,54 × cos 0 = 10,81    
              Σ             819,71          
                                                             
    Ta tra bảng được .                                                            
    = 11,5                                                              
    = 15                                                              
    = 27                                                              
    ð   = 6 × 11,5 × 1,07 × 0,77 + 18,5 × 15 × 1,05 × 0,77 +     × 18,5 × 5,98 × 27 × 0,32 × 1
     
    = 759,13 KN                                                                

    8

    Họ tên : Zangloe MSSV: 20661187
    ð = , = 5,5 > 3
     
    137,98

    ð Vậy nền đủ khả năng chịu lực.

    IV.       TÍNH CỐT THÉP.

    1. Tính cốt thép bản đáy. o Áp lực lên bản gót:

    = 36,3 +                            +         (        −          ) +             ℎ

    • 36,3 + 18,9 × 4 + 18,5 × (6,5 − 4) + 25 × 0,5
    • 170,65 ( )
    • Áp lực lên bản mũi.
    =+   ℎ  = 18,5 × 0,5 + 25 × 0,5
    = 21,75 (   )
     

    Moment tại A.

    Σ  /          = (135,87 − 21,75) × 1 × 0,5 +  (135,87 − 135,25) × 1 ×                                                                × 1

    9

    Họ tên : Zangloe                                                                                                                                         MSSV: 20661187

    • 57,27 (KNm)

    Moment tại B.

    Σ  /           = (170,65 − 137,98) × 4,2 × 2,1 −  (137,98 − 136,37) × 4,2 ×                                                                    × 4,2

    • 283,42 (KNm)
    • Tính cốt thép: (Tính cho 1 mét tới)

    Giả thiết: Chiều dày lớp bê tông bảo vệ a = 75 (mm)

    Bê tông B20, Thép CII

    ð ℎ = ℎ −              = 500 − 75 = 425 (                                  ) = 0,425 (                  )

    = 11,5 ( )
    = 1 (  )  
    = 280 ( )
    • 0,9 ( hệ số làm việc của bê tông)
    • Bản mũi:
    ∝ =     = 57,27 × 10     = 0,0306
                 
      0,9 × 11,5 × 1000 × 425  
               
    = 1 − 1 − 2 ∝ = 1 −  1 − 2 × 0,0306 = 0,0311
    • Diện tích cốt thép:
    =   = 0,0311 × 0,9 × 11,5 × 1000 × 425 = 488,87 ()
        280  
               
    Vậy ta chọn: ∅14 250      
    o  Bản gót:          
    ∝ =     = 283,42     = 0,1516  
                 
      0,9 × 11,5 × 1000 × 425  
                 
    = 1 − 1 − 2 ∝ = 1 −  1 − 2 × 0,1516 = 0,1653  
                                     
    • Diện tích cốt thép:
    =   = 0,1653 × 0,9 × 11,5 × 1000 × 425 = 2596 ()
        280  
               
    Vậy ta chọn: ∅30 250        

    10

    Họ tên : Zangloe                                                                                                                                         MSSV: 20661187

    1. Tính cốt thép bản đứng.

    Dựa vào biểu đồ áp lực ngang: Như đã tính toán ở trên và tính toán lại              ̀        ta được:

    • 2,6 ( )
    • 31,8 ( )
    • 28,48 ( )

    = 10,03 × (2 − 0,83) = 11,74 (                                             )

    = 1 (16,67 − 10,03) × (2 − 0,83) = 3,88(   )
    2

    Bảng tính toán moment tại A:

    Tên Lực / 1 mét tới Cánh tay đòn Moment / 1 mét tới
      (KN) (m) (KNm)
           
      – 2,6 1,59 −4,13
           
      11,74 0,59 6,93
           
      3,88 0,39 1,51
           

    11

    Họ tên : Zangloe                         MSSV: 20661187
                                   
                    Tổng moment     4,31
                             
    Tính toán cốt thép tại vị trí A. ( lấy a = 50 mm , ℎ  = 454=> ℎ  = 404 )
            4,31            
    ∝ =     =           = 0,0026      
      0,9 × 11,5 × 1000 × 404      
                           
    = 1 − 1 − 2 ∝ = 1 −  1 − 2 × 0,0026 = 0,0026      
    =       = 0,0026 × 0,9 × 11,5 × 1000 × 404   = 38,15 ( )
             
            280            

    ð Vậy ta chọn thép theo cấu tạo : ∅14  250

    Bảng tính toán moment tại B:

    Tên Lực / 1 mét tới   Cánh tay đòn Moment / 1 mét tới
      (KN)   (m) (KNm)
             
      – 2,6   3,59 −9,33
             
      31,8   1,59 50,56
             
      28,48   1,06 30,19
             
        Tổng moment 71,42
             
    Tính toán cốt thép tại vị trí B. ( lấy a = 50 mm , ℎ  = 608=> ℎ  = 558 )  
            71,42            
    ∝ =     =             = 0,0222    
      0,9 × 11,5 × 1000 × 558      
                           
    = 1 − 1 − 2 ∝ = 1 −  1 − 2 × 0,0222 = 0,0224      
    =       = 0,0224 × 0,9 × 11,5 × 1000 × 580 = 462,3 ( )  
             
            280            
                                           

    ð Vậy ta chọn thép : ∅14  250

    Bảng tính toán moment tại C:

    Tên Lực / 1 mét tới   Cánh tay đòn     Moment / 1 mét tới
      (KN)   (m)     (KNm)
                 
      – 2,6   6,72     −17,42
                 
      31,8   4,59     145,96
                 
      28,48   4,06     115,63
                 
      97,56   1,5     146,34
                 
      28,31   1     28,31
                 
      -27,01   0,33     −8,91
                 
        Tổng moment     409,91
           
    Tính toán cốt thép tại vị trí C. ( lấy a = 50 mm , ℎ  = 800 => ℎ  = 750 )

    12

    Họ tên : Zangloe                     MSSV: 20661187
            409,91        
    ∝ =     =             = 0,0704
      0,9 × 11,5 × 1000 × 750  
                       
    = 1 − 1 − 2 ∝ = 1 −  1 − 2 × 0,0704 = 0,0731  
    =       = 0,0731 × 0,9 × 11,5 × 1000 × 750 = 2026 ()
             
            280        

    ð Vậy ta chọn thép : ∅28  250

    1. BỐ TRÍ CỐT THÉP.

    Do bản vẽ đưa vào đây thì quá nhỏ nên không thể xem được. Ai có nhu cầu hoặc thắc mắc thì để lại Comment mình send bản vẽ Acad sang cho và giải thích trong phạm vi hiểu biết. Hoặc email: [email protected] hoặc [email protected] .

    13


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Cơ học kết cấu tàu thủy

    Bài tập lớn Cơ học kết cấu tàu thủy

    Bài tập lớn Cơ học kết cấu tàu thủy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Cơ Học Đất


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-C%C6%A1-h%E1%BB%8Dc-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-t%C3%A0u-th%E1%BB%A7y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Cơ học kết cấu tàu thủy

    ĐỀ BÀI TẬP LỚN

    • Môn học: Cơ học kết cấu tàu thủy
    • Lớp: LT12CNDT

    Vẽ biểu đồ mômen uốn của hệ siêu tĩnh chịu tải trọng như hình vẽ. Biết rằng độ cứng EJ của các thanh bằng nhau và bỏ qua ảnh hưởng của lực cắt và lực dọc khi tính các hệ số của hệ phương trình chính tắc.

     BÀI LÀM

    STT P1 (kN) P2 (kN) P3 (kN) P4 (kN) P5 (kN) P6 (kN) P7 (kN) P8 (kN) q1(kN.m) q2(kN.m)
    1 0 5 10 15 20 25 30 0    
    2 30 0 25 20 15 10 0 5    
    3 5 10 0 15 20 0 25 30    
    4 30 25 20 0 0 15 10 5    
    5 25 30 15 0 0 10 5 20    
    6 15 20 0 30 25 0 15 5    
    7 10 0 20 30 5 15 0 25    
    8 0 30 20 10 25 15 5 0    
    9 0 0 5 10 15 20 25 30    
    10 30 0 0 25 20 15 10 5    
    11 5 15 0 0 25 10 20 30    
    12 25 15 5 0 0 30 10 20    
    13 10 20 30 25 0 0 15 5    
    14 20 25 10 15 5 0 0 30    
    15 5 15 25 10 20 30 0 0    
    16 5 10 15 20 25 30 0 0    
    17 5 10 15 20 25 30 0 0    
    18 35 40 45 50 55 60 0 0    
    19 65 70 75 80 85 0 0 90    
    20 90 85 80 75 0 0 70 65    
    21 60 55 50 0 0 45 40 35    
    22 30 25 0 0 20 15 10 5    
    23 5 0 0 15 25 35 45 55    
    24 0 0 10 20 30 40 50 60    
    25 65 0 0 70 75 80 85 90    
    26 35 40 0 0 45 50 55 60    
    27 5 10 15 0 0 20 25 30    
    28 10 20 30 40 0 0 50 60    
    29 5 15 25 35 45 0 0 55    
    30 15 25 35 45 55 65 0 0    
    31 25 35 45 55 0 65 75 0    
    32 35 0 45 55 0 65 75 85    
    33 10 20 30 0 0 40 50 60    
    34 20 0 30 40 0 50 60 70    
    35 30 40 0 50 60 0 70 80    
    36 40 0 50 60 0 70 80 90    
    37 5 15 0 25 0 35 45 55    
    38 0 15 25 35 45 0 55 65    
    39 25 0 35 0 45 55 65 75    
    40 35 45 0 55 65 0 75 85    
    41 0 10 0 20 30 40 50 60    
    42 20 0 30 40 50 60 70      
    43 30 40 50 0 0 60 70 80    
    44 0 40 50 0 60 70 80 90    
    45 5 0 10 15 20 0 25 30    
    46 15 25 0 35 45 0 55 65    
    47 25 35 45 55 65 0 0 75    
    48 40 0 50 60 0 70 80 90    
    49 0 5 15 25 0 35 45 60    
    50 10 20 0 30 40 0 50 55    
    51 5 0 25 35 45 0 55 75    
    52 55 60 0 0 65 75 70 60    
    53 40 0 45 50 0 55 60 65    
    54 45 50 55 60 65 0 0 75    
    55 5 15 25 0 0 35 45 55    
    56 15 25 35 45 0 0 55 65    
    57 5 10 15 20 0 0 25 30    
    58 15 0 0 35 55 75 95 5    
    59 25 35 0 45 55 0 65 75    
    60 0 10 20 0 30 40 50 60    
    61 30 0 25 20 0 15 10 5    
    62 35 40 0 45 50 0 55 60    
    63 90 85 80 0 75 70 0 65    
    64 0 5 25 45 0 65 85 90    

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]