Author: Nguyễn Huyền

  • Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

    BÀI LÀM

    Truyện ngắn Vợ nhặt được Kim Lân sáng tác sau Cách mạng tháng Tám, nhưng bối cảnh của tác phẩm là nạn đói khủng khiếp năm một chín bốn lăm.

    Đặt câu chuyện trong bóng tối của thời sự đói khát và chết chóc ấy, nhà văn đã thể hiện cảm động tấm lòng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và niềm khao khát hạnh phúc của những người nghèo khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả phát hiện và tập trung xây dựng thành công ở nhân vật bà cụ Tứ, mẹ của anh Tràng, người đã “nhặt” vợ.

    Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo khổ thương con như muôn ngàn người mẹ Viện Nam khác. Nhưng người mẹ ấy được đặt trong một tình cảnh hết sức éo le. Đó là việc Tràng, con trai của bà, giữa lúc nạn đói hoành hành lại lấy vợ. Nhưng dường như chính nghịch cảnh này càng làm nổi rõ ánh sáng tâm hồn ở người mẹ đáng thương.

    Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện từ giữa truyện, lúc anh Tràng đưa vợ về, song từ đấy, dù rất ít nói, bà vẫn là người thu hút nhiêu nhat tâm trí của người đọc. Bởi trong lòng người mẹ ấy, cảm trăm mối tơ vò, chuyện nay, chuyện xưa đan xen lẫn lộn, niềm vui, nỗi buồn, sự cay đắng tủi cực lẫn xót thương vây lấy.

    1. Tâm trạng bà cụ Tứ lúc về nhà

    Như thường lệ, buổi chiều ấy trời sẩm tối, bà cụ Tứ về nhà. Chưa thấy người,

    nhưng anh Tràng biết là mẹ, bởi ngoài đầu ngõ có tiếng người húng hắng ho.

    Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào. Tính bà vẫn thế, vừa đi vừa lẩm bẩm

    tính toán gì trong miệng. Nhưng hôm nay khác, thấy mẹ, Tràng reo lên như một đứa trẻ và gọi với vào trong nhà: U đã về đấy! Anh con trai lật đật chạy ra đón mẹ từ ngoài cổng và trách sao bà về muộn. Ồ, hẳn có chuyện gì rồi, mọi bữa anh cu Tràng đâu có thế. Mà còn gọi với vào trong nữa. Trong nhà nào có ai. Lâu nay, khi ông lão và đứa con gái út lần lượt ra đi, nhà chỉ còn mỗi hai mẹ con. Bà nhấp nháy hai con mắt nhìn Tràng, chậm hỏi: Có việc gì thế vậy? Anh cu Tràng chưa chịu nói, giục bà vào nhà.

    Bà cụ Tứ phấp phỏng bước vào theo con vào nhà. Phấp phỏng vì linh tính cho bà biết trong nhà hẳn xảy ra chuyện gì. Mà quả đúng như vậy. Mới đến giữa sân, bà đứng sững lại và càng ngạc nhiên hơn. Trong nhà bà có người, lại là đàn bà. Người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Bà chưa gặp, bà không quen bao giờ. Người ấy lại đưng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?.. Ai thế nhỉ? Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà lão. Hay bà già rồi, trông gà hoá cuốc. Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải.. Không phải bà trông gà hoá cuốc, không phải mắt bà nhoèn. Đúng là có người rồi. Bà lão nhìn kỹ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người nào. Bà lão quay lại nhìn con tỏ ý không hiểu.

    Cái anh cu Tràng hôm nay thật lạ. Tự dưng khách sáo với mẹ, cứ buộc bà lão phải ngồi lên giường lên chiếc ghế chĩnh chệnh rồi mới nói. Bà lập cập bước vào. Cái người đàn bà lạ ấy tưởng mẹ Tràng già cả, điếc lác lên cất tiếng chào đến lần thứ hai. Hoá ra, bà không điếc, bà mải băn khoăn vì người đàn bà ấy chào bà bằng u. Bà vẫn chưa hiểu vì sao lại thế. Đến khi anh Tràng nói: Nhà

    tôi nó mới về làm bạn với tôi u ạ! Thì bà hiểu rất nhanh. Đột ngột quá! Bà cúi đầu nín lặng. Bà không chỉ hiểu chừng ấy. Trong lòng người mẹ nghèo ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp của đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn con mình thì… Chỉ nghĩ đó, bà đã thấy biết bao lo lắng, xót thương. Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?

    2.Tâm trạng bà cụ Tứ với đôi vợ chồng son:

    Vợ chồng anh cu Tràng nào biết nỗi lòng bà cụ Tứ . Trông cảnh của chúng, bà khẽ thở dài rồi nhìn đăm đăm vào người đàn bà mà từ giờ phút này đã là con dâu. Bà nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có được vợ… Nghĩ thế, bà càng cay đắng cho thân phận của mình. Bà là mẹ, bà đã chẳng lo được gì cho con… May ra mà qua được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà la cho hết được? Trong cái khổ, có cái may. Bà khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”: một khi các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, bà cũng mừng lòng.

    Bà cụ Tứ còn dặn dò đôi vợ chồng trẻ: Nhà ta nghèo liệu mà bảo nhau làm ăn. Khi anh Tràng bước dài ra sân, bà động viên nàng dâu: Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về sau.

    Nói với con dâu là thế, nhưng lòng bà cụ Tứ thật ngổn ngang. Bà đăm đăm nhìn ra sông. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào két lẹt. Bà lão thở dài ra một hơi. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không? Những câu hỏi lại bám lấy trong đầu bà. Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy xót thương. Bà nói với con dâu, lẽ ra đám cưới phải làm được dăm ba mâm, nhưng nhà mình nghèo quá. Chắc cuũngchả ai người ta chấp nhặt, chỉ mong vợ chồng hoà thuận là bà mừng. Nhưng lúc đói to thế này mà chúng mày lấy nhau thì bà thương quá.

    Ôi biết bao là buồn, vui, vay đắng, tủi cực cùng sự lo lắng, thương xót đang tràn ngập trong lòng người mẹ nghèo khổ. Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa. Bà không khóc mà nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Nhưng bà đâu muốn để cho đôi vợ chồng son biết bà đang buồn. Khi anh cụ Tràng đánh liềm đốt đèn, bà lão vội vàng lau nước mắt ngửng lên. Bà chủ động nói vui: Có đèn à? Ừ thắp lên một tí cho sáng sủa… Dầu bây giờ đắt gớm lên mà ạ. Nói thế, rồi bà lão đứng dậy uể oải sang giường bên kia nằm. Bà đem cả cái tâm trạng ngổn ngang sang chiếc giường cũ kỹ!

    3.Tâm trạng bà cụ Tứ sau đêm tân hôn của con trai:

    Đêm hôm ấy, dẫu những tiếng khóc hờ ngoài xóm có lọt vào cái nhà rúm ró, nhưng đôi vợ chồng son hẳn ngủ rất ngon. Anh cu Tràng thật “hư”, khi, mặt trời lên bằng con sào, mới trở dậy, người êm ái lửng lơ như người từ trong

    mơ đi ra. Nàng dâu mới có vẻ “biết điều”, dậy sớm hơn, quét lại sân. Chỉ có bà lão, chắc đêm qua không ngủ được. Đầu hôm, bà nghĩ tới việc kiếm lấy ít nứa về đan cái phên ngăn căn nhà ra. Chưa biết chừng nửa khuya bà đã dậy. Khi anh cu Tràng thức dậy, xung quanh đã thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn đều được quét sạch sẽ gọn gàng… Hai cái ang nước vẫn để khô ong ở dưới góc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung hoàn ngay lối đi đã hót sạch. Bà cụ Tứ đang lúi húi giẫy những bụi cỏ dại mọc nham nhở ngoài vườn.

    Thấy con trai đã dậy, bà cụ Tứ vội giục nàng dâu đi dọn cơm ăn chẳng muộn. Sáng nay, lòng bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của và rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Bà và cả đôi vợ chồng Tràng, hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn.

    Bữa cơm sáng hôm nay cũng là bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Nhưng có điều lạ là hôm nay, bạ cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này. Bà bàn tính với nàng dâu khi nào có tiền mua lấy đôi gà, rồi ngoảnh đi ngoảng lại chẳng mấy chốc có một đàn gà cho mà xem. Vì thế chưa bao giờ trong nhà này mẹ conm lại đầm ấm, hoà hợp đến thế. Khi niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng nửa bát đã hết nhẵn, bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Đấy là nồi cám, mỗi khi đưa vào miệng, đắng chát và nghẹn bứ trong cổ, nhưng bà lão cho mọi người mà miệng tươi cười,

    đon đả nói, gọi là “chè khoán” và khen ngon đáo để. Bà không muốn bữa ăn đang vui bỗng ngừng lại. Thực ra, lòng đau lắm. Cả một nỗi tủi hờn đang len vào tâm trí bà

    Khi ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã khiến đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợt hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen, bà cụ Tú giải thích cho nàng dâu biết đấy là tiếng trống thúc giục thuế. Đói khát như thế này, vẫn phải đóng thuế, làm sao mà sống qua ngày được. Bà ngoảnh vội ra ngoài vì không dám để con dâu thấy bà khóc. Mà đó lại là những giọt nứoc mắt khóc bởi cái tương lai mờ mịt, xanh xám của các con bà!

    Bà cụ Tứ xuất hiện trong Vợ nhặt của Kim Lân có một đêm và non buổi sáng hôm sau. Chừng ấy thời gian vừa đủ cho một người ngủ dậy muôn. Nhưng đối với người mẹ nghèo khổ kia, quả là rất dài. Chừng ấy thời gian, song ở bà, có biết bao buồn vui, mừng tủi, cay đắng, âu lo, lẫn hy vọng. Người mẹ ấy đã sống trọn tất cả đời sống bên trong của một người con. Và, vì thế, dù thời gian mải miết trôi đi, hình tượng bà lão đáng thương đó vẫn hết sức sống động bởi đây là nhân chứng của một thời hãi hùng, cũng là biểu trưng cho trái tim, phẩm giá của một người mẹ!

  • Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    BÀI LÀM

    Giá trị lớn nhất của bài phú này là: với lòng tự hào dân tộc,bằng một hơi văn liền

    mạch,bút pháp bi hùng,tác phẩm gợi lên trong lòng người đọc cảm hứng hào hùng về

    những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng,cảm hứng bi tráng thuộc hào khí Đông A.

    1.Tác giả

    • Trương Hán Siêu ( ?-1354 ) tự là Thăng Phủ ,hiệu Đôn Tẩu , người xã phúc thành , huyện Yên Ninh ( nay thuộc thị xã Ninh Bình ). Ông có tài và học giỏi , từng là môn khách của Trần Hưng Đạo , sau làm quan từ triều Trần Anh Tông đến triều Trần Dụ Tông , lúc chết được thăng tước Thái Bảo , Thái phó và được thờ ở Văn Miếu ( Thăng Long ).
    • Tính tình cương trực , học vấn uyên thâm , sinh thời được các vua Trần tin cậy , nhân dân kính trọng.
    • Tác phẩm: còn 4 bài thơ và 3 bài văn , trong đó có Bặch Đằng giang phú nổi tiếng nhất.

    2. Hoàn cảnh sáng tác:

    • Bạch Đằng là một nhánh sông Kinh Thầy , nơi ghi dấu những chiến công hào hùng và trở thành thi tứ cho nhiều tác phẩm văn học.
    • Ước mơ đoán viết vào khoảng 50 năm sau cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông thắng lợi.

    3. Thể loại:

    • Viết theo thể phú , nguyên tác bằng chữ Hán.
    • Phú là thể hiện văn vần , dùng để tả cảnh vật , phong tục , tập quán , tính tình .Hai loại phú phổ biến là phú cổ thể và phú Đường Luật .Phú cổ thể vốn có từ trước đời nhà

    Đường , có vần , không đối , như bài ca dài , hoặc bài văn xuôi có vần , vì thế nên còn gọi là phú lưu thuỷ ( nước chẩy ).Còn Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường , có vần ,

    đối , theo luật bằng trắc khá chặt chẽ .Bài phú của Trương Hán Siêu viết theo lối cổ thể .Bản dịch theo nguyên điệu , trừ hai bài ca cuối cùng chuyển sang thể lục bát .

    4. Câu tứ:

    – Dùng hình thức đối đáp giữa khách và bô lão. Khách ở đây chính là tác giả.

    5.Phân tích:

    5.1 Giới thiệu người và hoàn cảnh:

    • Người:
    • Khách : là nhân vật do tác giả sáng tạo nên , nhưng ở đây cũng chính là tác giả .Trong thể phú , thường có nhân vật khách để kể chuyện cho hấp dẫn.
    • Khách đến những địa danh nổi tiếng

    Tính ước lệ -> người có lòng yêu thiên nhiên , thú du ngoạn , tâm hồn khoáng đạt , chí khí lớn lao , mang tráng chí bốn phương .

    Bặch Đằng ->tả thực .Không chỉ có thú tiêu dao mà còn là người yêu lịch sủ dân tộc ,học ltheo Tử Trường xưa.

    Giọng văn thanh thản , phơi phới.

    =>Hình tượng nhân vật khách : tự khẳng định mình là một hồn thơ,một khách hải hồ đồng thời là một kẻ sĩ thiết tha với đất nước và lịch sử dân tộc.

    – Cảnh:

    + Sông Bặch Đằng hùng vĩ , hoành tráng:

    Bát ngát sóng kinh muôn dặm,

    Thướt tha đuôi trĩ một mầu.

    Nước trời : một sắc.

    Phong cảch: ba thu.

    + Nhưng lại ảm đạm , hiu hắt:

    Bò lau san sát,

    Bến lách đìu hiu.

    Sông chìm giáo gãy,

    Gò đầy xương khô.

    • Qua cách nhìn cảnh vật , ta đọc tâm trạng của khách vừa vui , vừa buồn , vừa tự hào , vừa tiếc nhớ .Vui với cảnh sông nước mênh mồn , có thuyền bè xuôi ngược .Buồn

    đau,nuối tiếc vì thấy cảnh chiến trường xưa ,chiến thắng oanh liệt còn hừng hực là thế , mà nay sao trơ trọi , hoang vu , hiu quạnh là vậy .Dòng thời gian đang làm mờ bao dấu vết.Bởi thế:

    Buồn vì cảnh thảm,

    Đứng lặng giờ lâu.

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.

    • Giọng điệu trầm lặng .Một tâm hồn phóng túng , mạnh mẽ cũng trở nên sững sờ , buồn tiếc.

    => Nhân vật khách , tuy có tính chất công thức của thể phú , đã được Trương Hán Siêu

    thổi vào , trở nên sinh động .Nhân vật khách chính là cái tôi của tác giả , một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước, với lịch sửdân tộc.

    5.2 Lời các bô lão:

    – Bô lão:

    • Hình ảnh tập thể , người dân địa phương , có thể từng chứng kiến hoặc tham gia các trận chiến xưa.
    • Xuất hiện như một sự hô ứng có tính lịch đại,có thể nhằm tạo không khí đối đáp tự

    nhiên,kể cho khạch nghe về những trận thuỷ chiến.

    • Thái độ các bô lã nhiệt tình hiếu khách. – Trận Bặch Đằng qua lời kể các bô lão: +Lời kể được sắp xếp tho dòng hồi tưởng.

    +Giới thiệu hai trận đánh.

    +Tả lại cnảh chiến trận,chủ yếu là chiến tích năm 1288.

    Lúc đầu ra quân trong thế trận giằng co , ngang sức ngang tài , bất phân thắng bại .Cuộc chiến diễn ra ác liệt , đến nỗi : Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ / Bầu trời đất sắp đổi. Câu văn sử dụng biện pháp đối lập báo hiệu một trận đánh kinh thiên động địa .

    So sánh trận chiến thắng Bạch Đằng với trận Xích Bích , Hợp Phì ( của Trung Hoa ) với niềm tự hào dân tộc.

    Nghệ thuật: lời kể súc tích , đầy cảm hứng , có hồi hộp nhưng sảng khoái của người trong cuộc .Lời kể , lúc dùng câu ngắn gợi không khí gấp gáp căng thẳng , lúc câu dài gợi không khí trnag nghiêm dõng dạc.

    Cách miêu tả ngắn gọn mà vẫn cụ thể , tỉ mỉ khiến người đọc tưởng như cuộc chiến đang diễn ra trong hiện tại.

    – Lời bình luận các bô lão:

    +Suy nghĩ về nỗi nhục của kẻ thù .

    +Suy ngẫm về nguyên nhân ta thắng , địch thua .Ta chiến thắng vì ta chiến đấu bảo vệ non sông , chiến đấu cho chính nghĩa .Trời lại cho nơi đất hiểm .Nhưng điều quyết định là ta có nhân tài.

    Từ khi có vũ trụ,

    Đã có giang san.

    Quả là : trời đất cho nơi hiểm trở,

    Cũng nhờ : nhân tài giữ cuộc điện an.

    Nhấn mạnh yếu tố con người là cảm hứng mang tính nhân văn , có tầm triết lý sâu sắc.

    Lời bình luận vừa hào hùng sâu lắng thiêng liêng.

    +Tâm trạng của các bô lão khi nhắc đến người xưa , cũng buồn thương , tiếc nuối :

    Đến chơi sông chừ ủ mặt,

    Nhớ người cưa chừ lệ chan.

    +Lời ca của bô lão là lời tuyên ngôn sảng khoái , dõng dạc về chân lý: nhưng kẻ nghĩa tiêu vong , người anh hùng sẽ bất tử như sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông lịch sử.

    5.3 Lời ca của khách:

    • Ca ngợi công đức hai vị vua Trần ( Trần Thánh Tông , Trần Nhân Tông) đem lại thái bình cho đất nước.
    • Bày tỏ khát vọng hoà bình muôn thuở.
    • Ở câu cuối , khách vừa biện luận , vừa khẳng định chân lý : sức mạnh chính nghĩa , đạo

    đức dân tộc là yếu tố quyết định chiến thắng.

    • Lời ca của khách chỉ có bốn câu mà ý tưởng sâu xa.Giọng văn phơi phới , hân hoan.

    6.Chủ đề:

    Qua việc tái hiện không khí chiến thắng hào hùng trên sông Bặch Đằng , tác phẩm toát lên niềm tự hào dân tộc – tự hào về truyền thống anh hùng bất khất , tinh thần chuộng đạo lý của dân tộc , vẻ đẹp tâm hồn con người Đại Việt Dựa vào gợi ý sau rồi làm nhé

    Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần truy phong là Thiếu Bảo.Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cỗ Việt Nam có một số tác phẫm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

    “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Bài cảm nhận về “Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.

    Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thuỷ. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chữ, có những kiểu câu được quy pạm rõ rang. “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu viết theo lối phú cổ thể, có vần sử dụng phép đối rất sáng tạo:

    … “Tiếng thơm đồn mãi,

    Bia miệng không mòn.

    Đến chơi sông chừ ủ mặt

    Nhớ người xưa chừ lệ chan…”

    Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng sông lịch sử đã gán liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh

    Hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của “Bạch Đằng giang phú”.

    “Giương buồm giong gió chơi vơi”.

    “Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.

    Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…

    Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:

    “Nơi có người đi

    Đâu mà chẳng biết”.

    Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.

    “Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều

    Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.

    Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.

    “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”

    Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi:

    “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,

    Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”

    “Bát ngát sóng kình muôn dặm

    Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn

    nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng

    kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”.

    Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu

    thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng

    Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn

    làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm

    tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:

    “ Bờ lau san sát Bến lách đìu hiu

    Sông chìm giáo gãy

    Gò đầy xương khô

    Bờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).

    Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi

    cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua

    những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông

    Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:

    “ Buồn vì cảnh thảm

    Đứng lặng giờ lâu

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.

    Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn”

    “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”

    Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên:

    “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

    Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.

    hoặc ………………………………………….. …

    Trương Hán Siêu là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Lăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện An Khánh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba. Ông làm quan trải qua bốn triều vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông). Trương Hán Siêu là một người học vấn uyên bác, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần, vì vậy ông được các vua Trần tôn kính, xem như bậc thầy.

    Năm 1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ. Đời Minh Tông ông giữ chức Hành khiển. Đời Trần Dụ Tông, năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung ở Môn hạ. Đời Trần Dụ Tông đổi sang Tả Tư Lang kiêm chức Kinh Lược sứ ở Lạng Giang, năm 1345 ông được thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính sự. Ông được vua Dụ Tông sai cùng với Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ “Hoàng Triều Đại Điển” và bộ “Hình Luật

    Thư”. Năm 1351, ông được phong Tham tri Chính sự.

    Năm 1353, ông lãnh chiếu chỉ ra trấn nhậm Hoá Châu (Huế), sai người xây thành đắp luỹ, lập kế chống quân Chiêm. Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng Long.

    Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên. Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú” được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

    “Bạch Đằng Giang phú” là một kiệt tác trong văn chương cổ Việt Nam. Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú. Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

    “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này.

    Ở Trương Hán Siêu, hành vi ứng xử nổi bật nhất, in đậm vào sử sách, là thái độ gần gũi

    thiên nhiên, cách ông nhìn ngắm thiên nhiên tạo vật. Về điều này, nếu nói Trương Hán Siêu gắn bó với cảnh trí của đất nước thì không có gì sai nhưng hình như vẫn chưa đủ. Nhà thơ nhà văn Việt Nam xưa nay rất ít người thờ ơ trước vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu” (Nguyễn Trãi). Trương Hán Siêu cũng thế thôi. Nhưng với ông, trong tình yêu thiên nhiên hình như còn có một điều gì khác hơn, một khao khát thường trực muốn chiếm lĩnh thế giới tự nhiên, nhận biết cho hết mọi tri thức lịch sử – xã hội ẩn ngầm trong ngoại giới. Như chính ông phô bày trong vai một “người khách “ ở bài Bạch Đằng giang phú, hầu như cả một đời, ông đã coi lẽ sống của mình là ngược xuôi tìm đến mọi danh lam thắng cảnh:

    “Khách có kẻ,

    Giương buồm giong gió khơi vơi;

    Lướt bể chơi trăng mải miết.

    Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

    Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt;

    Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt

    Nơi có người qua đâu mà chẳng biết.

    Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều

    Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết…”

    Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là những lời tâm niệm của Trương Hán Siêu bởi các địa danh nói trên đều là điển cố trong văn liệu, ông được đọc qua sách vở, hay là thông qua sách vở mà tìm đến chúng chứ chưa chắc đã một lần ghé thăm. Song cũng vì vậy, thiên nhiên như cái đích tìm kiếm của ông dường như có mang một hàm nghĩa thâm thúy: đây là nơi tập kết mọi trải nghiệm văn hóa của con người, và cũng là chứng tích để con người nhìn xa vào lịch sử. Vẫn trong bài phú về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý nguyện bắt chước “thú tiêu dao” của Tử Trường tức Tư Mã Thiên – nhà viết sử nổi tiếng của Trung Quốc, trước khi bắt tay cầm bút đã đi khắp mọi nơi đầu sông cuối bể nhằm nuôi dưỡng tình cảm và thu nhận kiến thức.

    Ta để ý nếu ở phần trên, các địa danh thực ra đều là ảo – địa danh trong điển tích, không phải trong thực tế – thì đến đây mới là địa danh thực. Nhà thơ đưa ra một cái tên Bạch Đằng chưa hề có trong các pho sách kinh điển nhưng lại hiển hiện trước mắt với tất cả sức thuyết phục của những chiến công vang dội của nó.

    Bạch Đằng giang phú ú là một bài phú lưu thủy, người viết cốt biểu đạt ý tưởng một cách

    phóng khoáng, tuôn chảy, không quá chú trọng gò gẫm bằng trắc đối xứng và hiệp vần.

    Nhưng cấu trúc bài phú cũng là cả một dụng công. Bằng sự phân vai khéo léo giữa

    “khách” và “bô lão” trong nghệ thuật biểu hiện để tạo nên sự đồng hiện về thời gian,

    bằng cách chuyển đoạn thần tình trong tâm trạng người trần thuật từ bâng khuâng hoài cổ

    sang cảm xúc bồng bột của người đang chứng kiến sự việc tiếp diễn, bằng nghệ thuật sắp

    xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại

    khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu… mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm

    lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc. Đặc biệt, không ít những bậc tự xem là tri âm tri kỷ có

    thiên hướng muốn đón nhận toàn bộ hình tượng nghệ thuật của bài phú như những đường

    nét khắc họa chân thực quang cảnh chiến trận Bạch Đằng.

    Nếu để ý ta sẽ thấy bức tranh đằng đằng sát khí của trận Bạch Đằng còn là một đối cực nữa của một bức tranh thủy mạc lặng tĩnh mà tác giả vẽ lên, như đã dẫn ở một phần trước:

    Thiệp Đại Than khẩu / tố Đông Triều đầu,

    Để Bạch Đằng giang / thị phiếm thị phù.

    Tiếp kình ba ư vô tế;

    Trám diêu vĩ chi tương mâu.

    Thủy thiên nhất sắc / phong cảnh tam thu

    Chử địch ngạn lô / sắt sắt sâu sâu

    Chiết kích trầm giang / khô cốt doanh khâu

    Thảm nhiên bất lạc / trữ lập ngưng mâu

    (Qua cửa Đại Than / ngược bến Đông Triều,

    Đến sông Bạch Đằng / nổi trôi mặc chèo.

    Bát ngát sóng kình muôn dặm/

    Xanh xanh đuôi trĩ một màu.

    Nước trời một sắc / phong cảnh ba thu

    Sông chìm giáo gãy / gò đầy xương khô

    Buồn vì cảnh thảm / đứng lặng giờ lâu

    Đây lại là đối cực động-tĩnh giữa hiện tại và quá khứ. Đối cực này đã khiến người đọc

    như rơi vào trạng thái mơ màng, bâng khuâng, trong khi đuổi theo cái cố gắng “đi tìm

    thời gian đã mất” của tác giả. Ta chợt tự hỏi: Không hiểu giữa hiện hữu thứ nhất (thực tại

    tĩnh lặng trước mắt mà cũng là một hụt hẫng trong tâm trạng) và hiện hữu thứ hai (thực

    tại sống động trong tiềm thức mà cũng là một miên viễn của tưởng tượng) thì hiện hữu

    nào mới là có thật? Sự vấn vương ở đây có chút gì đó làm lòng ta nặng trĩu khi nghĩ đến

    dòng chảy của thời gian và thói vô tình dễ quên của người đời. Nói cách khác, những âm

    hưởng trữ tình đối lập ở trong tác phẩm đã tạo nên một ngân vang sâu thẳm và ngân vang

    này chính là triết lý: sự sống là một tiếp biến không ngừng không nghỉ, cái đang diễn ra

    và cái đã đi vào vĩnh cửu cứ đan quyện lấy nhau, mà cái nhân tố có khả năng kết nối làm

    nên sự đan quyện ấy, khiến cho sợi dây chuyền vô hình nghiệt ngã của thời gian có lúc

    tưởng như bị đảo ngược: hiện tại không hẳn đã trôi về quá khứ tất cả, mà có phần nào đó

    còn trôi theo chiều ngược lại, còn có “dấu vết lưu lại” với hậu thế – cái nhân tố ấy là con

    người, được quyết định bởi con người:

    • Trời đất đặt ra nơi hiểm trở, Bậc anh tài tính cuộc tồn an
    • Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao

    Nhìn trở lại toàn bộ bài phú, nghệ thuật phối trí thời gian và không gian của Trương Hán

    Siêu đã đạt đến chỗ thần tình. Nhà thơ đưa không gian Bạch Đằng từ một viễn cảnh trải rộng và hết sức bao la đến với cận cảnh của một trận thủy chiến dữ dội, và cuối cùng dồn vào một tiêu điểm là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ huy quân sự quyết định sự thắng bại của chiến cuộc, đồng thời cũng chính là đang từ một không gian hiện thực ông quay trở về với không gian hồi cố, không gian tâm tưởng, cùng theo đó, thời gian nghệ thuật cũng đi lùi từ hiện tại về quá vãng. Vậy mà cảm hứng của người đọc lại không bị đẩy lùi bởi dòng hoài niệm, trái lại tiếp nhận nó như chính cái đang diễn ra trước mắt mình. Thủ pháp mờ chồng giữa hai thời đoạn cách quãng trên quang cảnh một con sông, thủ pháp hoán đổi điểm nhìn linh hoạt của tác giả… đã góp phần hóa giải tâm trạng hoài cổ của bài phú, tạo nên một tâm lý cân bằng và gây hứng thú sâu sắc trong cảm xúc thẩm mỹ.

    Tóm lại, bằng lượng thông tin đa nghĩa, những ẩn ngữ phong phú đọng lại phía sau ngôn từ, Bạch Đằng giang phú đã gợi lên được nhiều tiếng nói cùng một lúc trong cảm nhận nhiều chiều của người đọc. Sự dồn nén nghệ thuật của bút pháp Trương Hán Siêu quả đã đến một trình độ bậc thầy.

    Trương Hán Siêu là một danh nhân nổi tiếng của mảnh đất Trường Yên – Ninh Bình, một chứng nhân rõ rệt cho truyền thống văn hóa lâu đời của vùng đất văn vật này. Nhưng ông lại cũng là một nhân vật có tầm thước cả nước, một người con ưu tú của văn hóa Thăng Long dưới triều đại Trần. Ông xứng đáng được xếp vào hàng danh nhân tôn vinh ở Văn miếu Quốc tử giám như nhà Trần đã từng “liệt hạng” xưa kia, mặc dù ông không hề có mảnh bằng nào thông qua thi cử. Điều đó cũng nói lên rằng triều đại Trần có sức năng động lớn vì nó biết chuộng thực học, biết lựa chọn tài năng theo những tiêu chí thực tiễn. Bỏ qua mọi thứ phù danh, với những người như Trương Hán Siêu, nhà Trần đã biết cách làm cho mình trở thành bất tử.

    Nếu như người dân trung hoa tự hào có bài “phú cao đường” của Tống Ngọc đời nhà hán thì người dân Việt Nam lấy làm vẻ vang vinh dự khi được tiếp nhận và thừa hưởng 1 kiệt tác văn học của Trương Hán Siêu: “Phú sông Bạch Đằng”. Bằng ngòi bút tài hoa của

    mình THS đã cho chúng ta thấy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lí nhân nghĩa và chủ nghĩa nhân văn cao đẹp.

    THS là nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XII_ nửa đầu thế kỉ XIII. Ông là người tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua trần trọng dụng. Thơ văn của ông còn lại ko nhiều nhưng có giá trị nhất là bài “Phú sông Bạch Đằng”.Phú sông Bạch Đằng mang đặc trưng cơ bản của thể phú. Phú là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi.

  • Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường

    VĂN MẪU LỚP 12

    2 BÀI VĂN MẪU VỀ VẺ ĐẸP TRỮ TÌNH CỦA HÌNH TƯỢNG DÒNG SÔNG QUA TÁC PHẨM “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ”- NGUYỄN TUÂN VÀ “AI ĐÃ

    ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG” – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

     

    BÀI MẪU SỐ 1:

     

    Tác phẩm người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 – 1960 của nhà văn, in trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắng bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã im đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.

    Câu chuyện vượt sông Đà đã được nhà văn kể lại bằng tất cả niềm phấn khởi về sức mạnh con người chiến thắng thiên nhiên, với tất cả kịch tính, cao trào để tôn vinh nghệ thuật chinh phục thác đá sông Đà. Con sông Đà dữ với thần sông tướng đá bủa giăng thế trận vây lấy chiếc thuyền đơn độc được nhà văn miêu tả bằng ngôn ngữ phong phú của tiểu thuyết chương hồi như gợi cuộc phá vây của mãnh tướng Triệu Tử Long xông vào trận quân Tào Tháo, bên cạnh đó nhà văn có những dòng mô tả chân dung bằng giọng văn rất hóm hỉnh của riêng mình : “Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này…”. Cuộc đối đầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc với “boongke chìm và pháo đài nổi” trong “cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn” có sức hấp dẫn đặc biệt.

    Có lẽ nhà văn đã hình dung ra không khí của những hội vật truyền thống khi miêu tả các cuộc đấu sức, đấu trí và đấu sự nhanh nhẹn giữa người và đá nước. Cuộc đấu có miếng, có mưu, cuối cùng phần chiến thắng thuộc về con người, bởi lẽ “Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Hình ảnh bình thường của người lao động, vật lộn với sóng nước đã được Nguyễn Tuân nâng lên ngang hàng danh tướng “biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”. Nhưng điều tác giả tô đậm nét hơn ở ông lái đò chính là chất nghệ sĩ toát lên từ công việc đối mặt với hiểm nguy đã trở thành bình thường. Ngay sau khoảnh khắc chiến thắng sức mạnh của thác đá, sóng dữ, thì “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình”.

    Đây mới chính là ông lái đò mang đậm nét Nguyễn Tuân. Con người chiến đấu với sông Đà dữ cũng chỉ là để mưu sinh, “ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác”, nên những con người này cũng yêu mến dòng sông đã cho họ những “cá anh vũ, cá dầm xanh”, những hầm cá hang cá “túa ra đầy tràn ruộng”. Sông Đà dữ thì có “diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một”, nhưng khi sông nước thanh bình, vẻ đẹp nên thơ gợi cảm của dòng sông lại hiện về nguyên vẹn.

    Nhà văn đã dành những trang viết thấm đẫm chất trữ tình để miêu tả vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông mang trong lòng những huyền sử thuở khai thiên lập địa của cha ông. “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân.”, “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích…”, “mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”…

    Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông, bằng cái nhìn và tình cảm của một người tự nhận sông Đà như một “cố nhân”. Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của “bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà”. Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển, vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lý Trần Lê, vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : “Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tíchtuổi xưa”.

    Nhà văn đã để cho dòng cảm xúc dào dạt thốt lên thành lời đối thoại im lặng với thiên nhiên, bờ bãi ven sông, dường như con người muốn hoà vào cùng cảnh vật, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của dòng sông. Ngòi bút nhà văn đến lúc này mới thật sự tung hoành trong sự say sưa khám phá cội nguồn, kể về lịch sử dòng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc, những người đã đón nhận những tặng vật hào phóng của sông Đà.

    Cảm xúc từ thực tại của Nguyễn Tuân còn khơi nguồn cho những mơ ước mang tính dự báo về tương lai, biến sức mạnh của dòng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rõ ràng, thực tại cuộc sống mới đã giúp cho Nguyễn Tuân có những dự cảm chính xác, có niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một chế độ mới, đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.

    Với Người lái đò sông Đà này, Nguyễn Tuân đã ghi dấu ấn không trộn lẫn của mình ở thể loại tùy bút, bám sát hiện thực, say mê khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực. Hơn thế nữa, tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng tình cảm của nhà văn, sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào con đường dân tộc đang hướng tới. Tấm lòng ấy, tài năng ấy của Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng./

    Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bút kí đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài kí đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế.

    Vẻ đẹp dòng sông Hương ở thượng nguồn hóng khoáng và man dại. Vẻ đẹp dòng sông được phát hiện rất đa dạng. Có lúc trữ tình êm ả, hiền hòa như “một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng”; có lúc phóng khoáng và man dại, rầm rộ và mãnh liệt như một “bản trường ca của rừng già”. Có khi dịu dàng và trí tuệ như “người mẹ phù sa”; có khi biến ảo “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”; hoặc khi thì vui tươi, khi thì như một mặt hồ yên tĩnh v.v…Tất cả được miêu tả bằng một tình cảm thiết tha với Huế.

    Sức sống mãnh liệt, hoang dại, dịu dàng, đắm say, như ‘một bản trường ca của rừng già , rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn’. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội: ‘mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoắn như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn’, nhưng cũng có lúc lại ‘dịu dàng, đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng’.Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương như một ‘cô gái Digan, phóng khoáng và man dại’, bởi rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ , một tâm hồn tự do và trong sáng.Nghệ thuật: so sánh, tu từ, ẩn dụ và nhân hóa.

    Sông Hương khi về đến ngoại vi thành phố

    Sắc đẹp dịu dàng , trí tuệ , người mẹ phù sa của một vùng văn hóa ,xứ sở’, dòng sông duy nhất chỉ đi qua thành phố Huế.Với vốn hiểu biết sâu sắc về địa lí, văn hóa, lịc sử, tác giả miêu tả dòng sông thật sinh động vói cảm nhận mang nhiều khác biệt.

    Sông Hương như ‘người con gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại (hình ảnh thơ mộng gợi liên tưởng cổ tích đến nàng công chúa ngủ trong rừng), Dòng sông hiện lên với ‘khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm’.Lưu vực êm ả, thanh bình, vui tươi_giữa những bãi bờ xanh biếc , nhiều màu sắc trầm mặc, triết lí. Những lăng tẩm với ‘giấc ngủ nghìn năm của vua chúa đựoc phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm lan tỏa khắp cả một vùng thượng lưu’.

    Vói những quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu hình tượng, so sánh, ẩn dụ , sông Hương trong dư vang Trường Sơn, dòng sông mềm như tấm lụa’. ‘Những dãy đồi sừng sững như thành quách, với những đỉnh cao đột khởi: Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo’, những ngọn đồi đã tạo ra nững mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời ‘sớm xanh, trưa vàng ,chiều tím’ rất lạ và đặc trưng như người Huề từng nhận xét.

    Sự thay đổi tính cách của người con gái sông Hương đưa ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, một cô gái Digan,man dại và phóng khoáng đã trở nên dịu dàng, e lệ, như ‘người con gái đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức’, ‘người mẹ phù sa của cả một vùng văn hóa xứ sở’.

    Thoảng đâu đó, mơ hồ mà vang vọng trong tâm thức Huế là tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiến gà từ xóm làng trung du bát ngát.

    BÀI MẪU SỐ 2:

    Thiên nhiên muôn đời này vẫn là người bạn thiết thân của các văn sĩ nói chung và những nhà văn Việt Nam nói riêng. Bởi vậy, hình ảnh thiên nhiên của non sông đất nước đi vào những trang văn của các tác giả văn học thật đáng yêu đáng mến biết nhường nào. Những dòng sông Việt Nam trong văn học cũng được nhìn nhận dưới vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình quyến rũ đến kì lạ. Chỉ qua hai tùy bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) ta đã cảm nhận được điều đó.

    Diễn đạt vẻ đẹp trữ tình của sông Đà, Nguyễn Tuân đã dùng những trang văn đậm chất thơ, lắng sâu xúc cảm trữ tình. Con sông Đà “tuôn dài như ángtóc trữ tình…” câu văn dài chất chứa niềm yêu say mê của tác giả đối với sông Đà. Biện pháp so sánh không chỉ gợi chiều dài của dòng sông mà còn cảm nhận về dáng hình, dòng chảy của nó. Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận. Sông Đà hung dữ đã được thay bằng hình ảnh
    một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như mái tóc của người thiếu nữ. Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khả năng tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua

    trí tưởng tượng sinh động của nhà văn. Sông Đà là linh hồn Tây Bắc, nước mây, đất trời như nối liền một dải “đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc… cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” Cảnh vật thơ mộng và huyền ảo. Câu văn xuôi vừa giàu chất
    tạo hình vừa thấm đượm chất thơ. Nguyễn Tuân nhìn sông Đà ở nhiều góc độ, soi chiếu nó ở nhiều phương diện, để rồi ở phương diện nào cũng tìm ra những nét đẹp của nó, khi thì nhìn say sưa, khi lại xuyên qua cảnh vật, khi lại bay tạt ngang sông Đà, khi nhìn từ trên xuống, khi nhìn từ dưới lên…Sông Đà được cảm nhận như một sinh thể sống có linh hồn. Sắc nước sông Đà có khi là màu xanh trong suốt, rực sáng đến diễm lệ, có khi là sắc đỏ đậm đặc đến bầm tím. Những hình ảnh ấy tác động mạnh mẽ vào giác quan của người đọc, tạo những trường liên tưởng mà khi tiếp nhận, người đọc luôn có cảm giác bất ngờ, lí thú.

    Sông Đà được nhìn như một cố nhân, thể hiện mối tri âm, tri kỉ của tác giả với con sông. Đã là cố nhân thì gần thương, xa nhớ, bởi vậy, những câu chữ của Nguyễn Tuân tràn đầy âu yếm, nâng niu, trân trọng. Mỗi dòng, mỗi chữ đều quyệt chặt tình yêu với con sông, thể hiện sinh động qua biện pháp nhân hóa. Những câu văn lúc này giống như những câu thơ tuyệt bút của đời Đường khi xưa, lắng sâu trong màu sắc cổ điển. Sông Đà là một cố nhân nhưng gặp lại sông Đà, lúc nào thi nhân cũng cảm thấy ngỡ ngàng. Vẻ đẹp sông Đà luôn đem đến cho người ta sự say mê, ngỡ ngàng, cuốn hút. Mỗi lần gặp lại, niềm say mê lại càng lớn hơn. Dường như có một sự liên hệ nào đó giữa không gian đầy sức sống của mảnh đất Dương Châu trong câu thơ của Lí Bạch với không gian rực rỡ của sông Đà. Từ ánh sáng của dòng sông mà bắt thành ánh nắng tháng ba Đường thi thì quả là tài hoa. Tình tri kỉ của người xưa như truyền những xúc cảm “đằm đằm, đầm ấm” cho Nguyễn Tuân gặp lại sông Đà.

    Bờ sông Đà được miêu tả bằng những câu văn đậm xúc cảm hoài niệm: “hoang dại… cổ tích tuổi xưa”. Sông Đà đẹp vẻ đẹp cổ kính, gần gũi, tha thiết. Cái hoang dại của dòng sông được so sánh với nét hoang sơ của bờ tiền sử, cái trẻ trung của dòng sông được so sánh với nỗi niềm hồn nhiên của cổ tích. Nguyễn Tuân rất có tài khi sử dụng biện pháp so sánh. Lần so sánh nào cũng khiến người ta ngỡ ngàng, thán phục, say mê. Câu văn đưa người đọc trở về với một thời quá vãng xa xưa, sông Đà được khoác lên tấm áo lung linh, huyền ảo, gợi nên một nét đẹp yên bình, thơ mộng, gần gũi và thân thiết.

    Sông Đà giống như một phần lịch sử dân tộc, là hồn thiêng của đất nước mang theo khát vọng ngàn đời của con người. Không phải đến Nguyễn Tuân mới phát hiện ra vẻ đẹp sông Đà mà nét đẹp của dòng sông ngàn đời vẫn thế. Những câu văn giúp người đọc cảm nhận dòng chảy của thời gian lịch sử. Dòng sông từ quá khứ đến hiện tại, trôi chảy đến tương lai. Dòng chảy của sông Đà là dòng chảy của lịch sử, đất nước. Những câu văn đậm chất thơ, chứa chan xúc cảm trữ tình. Phải chăng chất thơ ấy chính là chất thơ “hoài cựu” (Nguyễn Đăng Mạnh) dưới nét bút tài hoa của người nghệ sĩ. Những câu văn đắm chìm trong quá khứ rồi lại ngỡ ngàng, giật mình khi quay trở lại hiện tại. Âm thanh của tiếng còi

    xúp lê chính là tín hiệu của cuộc sống mới, thể hiện những nét đẹp hiện đại. Giữa bức tranh

    đầy chất thơ của đôi bờ sông Đà, giữa dòng chảy êm đềm của thời xưa cũ, không gian tĩnh lặng khôn cùng, nhà văn thèm nghe thấy một tiếng còi sương. Đó không chỉ là một âm thanh đơn thuần mà còn là âm thanh của nỗi niềm, ước mơ, khát vọng trong nhà văn. Khát vọng về hình ảnh một ngày mai tươi sáng của vùng đất Tây Bắc đã được thắp lên trong một âm điệu lạc quan, yêu đời. Ngòi bút của Nguyễn Tuân không chỉ làm người ta kinh ngạc bởi
    sự dữ dội của dòng sông mà còn làm người ta yêu thích bởi chất trữ tình của dòng sông ấy.

    Bằng trí tưởng tượng phong phú, bằng biện pháp so sánh, ẩn dụ đầy tài hoa, ngôn ngữ điêu luyện, cách diễn đạt độc đáo, những câu văn giàu nhạc điệu, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, trữ tình tạo vẻ đẹp rực rỡ, cuốn hút của sông Đà. Ở đó tưởng chừng bao nhiêu vốn sống, bao nhiêu kho kiến thức về  văn học, lịch sử, địa lí, quân sự, thể thao… cùng tình yêu say mê đã giúp Nguyễn Tuân viết về một dòng sông Đà thật sự ấn tượng và đẹp đẽ. Cũng giống mạch văn mà Nguyễn Tuân đã viết về sông Đà, miêu tả con sông dọc theo dòng chảy của nó, nhưng với cá tính dịu dàng của người con xứ Huế, cách viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng Hương Giang lại gợi cho người đọc một cảm giác khác, cảm giác của một cái gì đó dịu nhẹ cứ len lỏi miên man rồi từ từ thấm vào hồn người, làm trỗi dậy một cách trầm tĩnh cái tình yêu mê man, say đắm đối với dòng sông mang nét đẹp văn hóa xứ sở. Sông Hương – con sông đã đi vào thi ca với vẻ quyến rũ lạ kỳ:

    “Cầu cong như chiếc lược ngà
    Sông dài mái tóc cung nga buông hờ”

    Dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương đã trở thành một con người, một người con gái đẹp có tâm hồn, có cá tính, dịu dàng một vẻ sang trọng, đằm thắm một vẻ đẹp đầy văn hóa.

    Dưới con mắt của người nghệ sĩ, dòng chảy của Hương Giang được miêu tả thật hấp dẫn với nhiều cách so sánh, những từ ngữ được sử dụng rất đắc địa, giàu hình ảnh, màu sắc và hình khối tạo nên một dòng Hương Giang thật đẹp, thật nên thơ và như một con người đầy xúc cảm chứa chan tình yêu với cố đô Huế giàu truyền thống văn hóa. Giữa núi rừng hùng vĩ của Trường Sơn, sông Hương đã là bản trường ca của rừng gia… và cũng có lúc trở nên dịa dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng, vẻ đẹp của sông Hương nơi đại ngàn thật gần với vẻ dữ dằn mà cũng thật dịu dàng một cách hoang dại của sông Đà dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân “sông Đà hung bạo và trữ tình… sông Đà tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình mà đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân (Nguyễn Tuân – Người lái đò sông Đà). Cái dữ dội của sông Hương nơi đại ngàn đã được tác giả chọn lựa một hình ảnh so sánh thật sống động, gợi cảm và đầy màu sắc văn hóa sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Dưới lăng kính của người nghệ sĩ, sông Hương đã trở thành một con người, một con người con gái có đầy đủ tâm hồn, tính cách, lòng yêu thương rừng già đã chế ngự bản năng của người con gái để “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của môt vùng văn hóa xứ sở”. Có thể thấy ngay ở trang đầu tiên dành cho sông Hương, tác giả đã sáng tạo một loạt hình ảnh độc đáo để gợi tả vẻ đẹp mang màu sắc văn hóa của dòng sông. Từ đó tạo cảm giác sông Hương khi vào lòng thành phố đã thay đổi mình, kiềm chế mình để phù hợp với vẻ mộng mơ, thâm trầm và cổ kính của cố đô. Sông Hương như người con gái đẹp ngủ mơ màng được đánh thức để hòa mình cùng Huế, nó duyên dáng uốn mình và bước đi chậm chạp, thật quí phái uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức… Bước chuẩn bị để dòng sông đi vào lòng thành phố đã được tác giả miêu tả rất kỹ càng với một cảm xúc ở độ cao trào, một loạt hình ảnh so sánh được sử dụng để khắc họa vẻ đẹp của dòng sông một cách hoàn mĩ. Đến chân đồi Thiên Mụ thì Hương Giang cùng tiếng chuông chùa cùng với sự thâm trầm uy nghiêm của những lăng tẩm của vua chúa Nguyễn đã tạo cho sông Hương một vẻ đẹp văn hóa đặc biệt mà bất kể một dòng sông nào của Việt Nam đều không có được. Vẻ đẹp ấy được tác giả chọn tả bằng một câu văn dài như ngân lên trong hồn người đọc, tạo một dư âm, một ấn tượng không thể phai mờ trong tâm trí người đọc. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương như triết lý, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga từ bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà.

    Nếu như Nguyễn Tuân đã tạo cho sông Đà vẻ trữ tình và hung dữ để nhằm mục đích tôn vinh con người trong lao động, Hoàng Cầm tạo cho thi ca một dáng “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” của dòng sông Đuống để tạo nên hình ảnh quê hương yêu dấu trong những ngày đau thương thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại tạo cho thi ca một dòng sông văn hóa. Vẻ đẹp của Hương Giang được tạo nên bởi truyền thống, bản sắc văn hóa của xứ Huế, với vùng ngoại ô Kim Long hay những khu nhà vườn Vĩ Dạ xanh mướt một màu thiên nhiên tràn đầy sức sống, những khu vườn thơ mộng ẩn chứa trong lòng nó những con người phúc hậu, những nếp sống cổ xưa với những nét sinh hoạt tinh tế đầy văn hóa. Và cái điệu chảy lững lờ như lưu luyến vấn vương của dòng Hương Giang đã tạo nên một môi trường tuyệt vời cho những đêm ca Huế, những đêm hội hoa đăng, những thú vui đố thơ, thả thơ trên những con thuyền giữa dòng sông. Mặt nước yên tĩnh như không trôi đã nâng niu góp phần gìn giữ những sinh hoạt văn hóa cổ truyền của Huế, tạo vẻ đẹp riêng thu hút và quyến rũ khách thập phương. Điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế ấy thật hợp cảnh hợp tình với những ngôi chùa cổ, những lăng tẩm uy nghi của chốn kinh thành xưa.

    Sông Hương có vẻ đẹp riêng, đó là vẻ đẹp đặc trưng nên thơ và trữ tình của Huế bởi nó mang trong mình cả một nền văn hóa của quê hương xứ sở. Những nét văn hóa đặc sắc nhất ở Huế, theo tác giả, đều được sinh ra và tồn tại cùng vẻ mặt nước lặng lờ của dòng sông, đó là những đêm hội hoa đăng, những làn điệu ca Huế ngọt ngào, những khu vườn cây trái xanh tươi, những lăng tảm uy nghiêm… Vì thế mà sông Hương trở thành “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”, điệu nhạc dìu dặt, đằm thắm của ca Huế chỉ có thể cảm nhận được trong cái không gian tĩnh lặng của mặt nước sông Hương về đêm. Cả câu Kiều hay nhất của Nguyễn Du khi miêu tả tiếng đàn của nàng Kiều cũng được sinh ra từ những ngày “Nguyễn Du lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu”. Như vậy sông Hương đã mang trong mình chất nhạc. Theo cảm nhận của tác giả sông Hương không chỉ mang trong mình vẻ đẹp văn hóa mà nó còn là môi trường sản sinh ra Truyện Kiều – niềm tự hào của văn hóa dân tộc “tôi đã cảm nhận ra cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trên mỗi trang truyện Kiều, thiên nhiên của mảnh đất kinh xưa đã để lại một cái bóng mông lung nhưng rất dễ nhận ra trong thơ Nguyễn Du”. Sông Hương trong cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp thơ mộng của một vùng văn hóa truyền thống, không chỉ dịu dàng một vẻ sơn thủy hữu tình mà còn là một dòng sông anh hùng như bao dòng sông khác của quê hương Việt Nam, sông mang trong mình bao điều bí ẩn của lịch sử. Nếu những trang miêu tả dòng chảy của dòng sông là những trang trữ tình nhất thì những trang nói về lịch sử là những trang đáng tự hào nhất. Dòng sông “tươi trẻ và quyến rũ”, lung linh sắc màu trong những ngày thanh bình lại trở thành người anh hùng sát cánh cùng dân tộc đánh giặc. Việt Nam là đất nước có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mỗi người Việt Nam đều được sinh ra và lớn lên bên một dòng sông như lời bài hát: “Trong ta, ai cũng có một dòng sông” hay lời thơ của một nhà thơ trẻ:

    “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng

    Tất cả trả lời bên một dòng sông

    “Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng Mỗi con người gắn bó một

    dòng sông”

    Dù là một ngòi, một con kênh nhỏ vô danh hay là dòng sông Hồng ngầu đỏ phù sa, dòng sông Lô gắn bó với những chiến công lịch sử của dân tộc đều đã là nguồn cảm hứng và ít nhất một lần đi vào tác phẩm thi ca của dân tộc. Và con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, dòng sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có được vinh dự mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng trữ tình tiêu

    biểu cho những dòng sông Việt Nam trong văn học. Qua hai thiên tùy bút, vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam hiện lên vừa chân thực vừa mơ màng chẳng những thể hiện tài năng của các tác giả mà còn khẳng định tình yêu thiết tha, sâu nặng của những nhà văn Việt Nam đối với non sông đất nước.

  • Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%C3%A2u-thu%E1%BA%ABn-m%E1%BA%B9-ch%E1%BB%93ng-%E2%80%93-n%C3%A0ng-d%C3%A2u-trong-gia-%C4%91%C3%ACnh-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    I. Lý do chọ n đề tài

    Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình là một quan hệ rất nhạy cảm. Dướ i thờ i phong kiế n, nàng dâu thườ ng về nhà chồ ng vớ i tư cách là “gả bán”, nên họ về nhà chồ ng có quyề n uy tuyệ t đố i. Nên làm trái ý bà, bà có thể tống nàng dâu ra khỏi cửa hoặc cưới vợ khác cho con. Ngày nay tư thế người làm dâu về nhà chồng đã khác hẳn. Hầu hết người con gái bước lên xe hoa khi đã trưởng thành, nhiều người có học vấn, có việc làm, có tài sản riêng. Họ về làm dâu cũng không phải do “gả bán” mà yêu nhau thì tự nguyện về chung sống với nhau, chứ không phải cốt bám vào gia đình nhà chồng mới tồn tại được. Cho nên, cảnh đi làm dâu thời nay đã khác hẳn xưa. Xã hội ngày nay đã thay đổi cơ bản, vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội đã khác xưa và do đó vai trò làm dâu cũng khác. Ngày nay, các cô gái trẻ may mắn và hạnh phúc hơn nhiều so với các thế hệ phụ nữ trước đây khi bước vào hôn nhân. Khoảng cách giữa hai thế hệ đã dần dần được

           
    Nhóm sinh viên: K53 Công tác xã hội  
    Khoa : Xã hội học Page 1

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    thu hẹp lại, mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu cũng được cải thiên một cách rõ rệt: mẹ chồng coi con dâu như con ruột và ngược lại con dâu chăm sóc cho mẹ chồng và gia đình bên chồng một cách tận tụy, chu đáo, mẹ chồng, con dâu làm tròn bổn phận và vai trò của mình trong gia đình…

    Tuy nhiên dù có khác thế nào đi chăng nữa, nàng dâu vẫn là một thành viên mới của gia đình nhà chồng. Người con dâu có tìm được hạnh phúc hay không một phần cũng dựa trên mối quan hệ tốt đẹp với gia đình nhà chồng. Không phải gia đình nào cũng có hoàn cảnh giống nhau, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn tồn tại một số hạn chế như những mâu thuẫn, những xung đột vẫn còn xảy ra, tồn tại

    • một số gia đình Việt Nam thời hiện đại. Sự bất hòa trong mối quan hệ mẹ chồng và nàng dâu là một trong những vấn đề nổi bật đang được quan tâm. Bởi qua thực tế, chúng ta đã nhận thấy các nàng dâu hiện đại đã thoát khỏi phận “ăn

    gửi, ở nhờ”, nhiều khi giống như “người làm mướn không công” của thời phong kiến nhưng họ lại vấp phải những khó khăn mới mà không phải ai cũng vượt qua được. Số vụ ly hôn gần đây có nguyên nhân không phải do mâu thuẫn vợ chồng mà do nàng dâu mầu thuẫn với mẹ chồng hoặc cả gia đình chồng chiếm một tỷ lệ không nhỏ.

    Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu là rất khó tránh khỏi và thường gay gắt khi một bên là quyền uy và sự đòi hỏi quá cao, còn một bên là tình cảm, lòng tự trọng bị tổn thương, khả năng đáp ứng cũng như sức lực và sự chịu đựng của con người chỉ có hạn. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu một thứ luật pháp không thành văn đã đổi thay về chất. Quan hệ này không mất đi nhưng nó được chuyển từ quan hệ quyền uy sang quan hê tình cảm.

    Trước tiên để tìm hiểu những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu, chúng ta cần tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới những mâu thuẫn này.

           
    Nhóm sinh viên:  K53 Công tác xã hội  
    Khoa :  Xã hội  học Page 2

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    II. Nội dung chính:

    1. Các công cụ khái niệm và lý thuyế t ứng dụng:

    1.1 Khái niệm gia đình:

    Gia đình là mộ t cộng đồ ng ngườ i số ng chung và gắn bó vớ i nhau bởi các mối quan hệ tình cả m, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống,[1] quan hệ nuôi dưỡng và/hoặ c quan hệ giáo dục. Gia đình có lị ch sử từ rấ t sớ m và đã trả i qua một quá trình phát triển lâu dài.( Gia đình học, Lê Thị Quý- Đặ ng Cải Khanh,

    NXBĐHQGHN,)

    1.2. Lý thuyết xung đột:

    1.2.1. Nộ i dung lý thuyết.

    Thuyết xung được xem như một bước phát triển của thuyết cấu trúc – chức năng

    Thuyết xung đột có nhiều nguồn gốc khác nhau như thuyết Marx, tác phẩm của Simmel về xung đột xã hội…

    Trong những năm 1950-1960 nó đã thay thế cho thuyết chức năng- cấu trúc.

    Thuyết xung được xem như một bước phát triển của thuyết cấu trúc – chức năng

    Thuyết xung đột có nhiều nguồn gốc khác nhau như thuyết Marx, tác phẩm của Simmel về xung đột xã hội…

    Trong những năm 1950-1960 nó đã thay thế cho thuyết chức năng- cấu trúc

    1.2.2. Gia đình tiếp cận dướ i góc độ lý thuyết xung đột:

    Gia đình là một nhóm xã hội gồm nhiều cá nhân có nhân cách, lý tưởng, giá trị, sở thích, mục đích… khác nhau.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 3
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Xung độ t là mộ t bộ phậ n tự nhiên trong đờ i số ng gia đình. Mỗi cá nhân không phải bao giờ cũng hòa hợp với nhau. Các gia đình thường có bất đồng từ nhỏ đến lớn. Họ chỉ khác nhau về tần số, mức độ, tính chất, biểu hiện và cách giải quyết xung đột.

    1.2.3 Cơ sở xung độ t của gia đình.

    • Cá nhân nào nắm được quyền lực sẽ đạt được mục đích của mình trong xung đột

    Trong các gia đình thời xưa cũng như gia đình hiện đại thì mâu thuẩn giữa mẹ chồng và nàng dâu cũng rất phổ biến. Chính việc xác định được cơ sở của mâu thuẩn đã tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẩn mẹ chồng nàng dâu được tốt hơn.

    1.3. Lý thuyết tương tác biểu trưng:

    Khái niệm lý thuyết tương tác biểu trưng là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lý giải chúng. Tất cả các nhà tương tác biểu trưng đều nhất trí về vai trò trung tâm của con người là khả năng tạo nên và sử dụng những biểu trưng.

    Theo Steven L. Nock (1978), một cách tiếp cận đặc biệt thành công của các nhà tương tác biểu trưng là nghiên cứu về gia đình như một hệ thống các vai trò.

    Vận dụng lý thuyết này vào xử lý các vấn đề gia đình, các nhà xã hôi học thấy rằng sẽ rất có ý nghĩa nếu ta coi gia đình như một màn kịch, trong đó các thành

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 4
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    viên đóng vai trò nhấ t định. Như vậ y mỗ i thành viên đều phụ thuộc vào thành viên kjacs khi đóng vao trò của mình. Khi đó:

    Mỗ i thành viên phả i xác định vai trò của mình

    Những đòi hỏ i chức năng của gia đình

    Khi các thành viên được nhận định trong các vị trí nhất định, sẽ biểu hiện sự thỏa hiệp của họ, để tránh đi sự phá vỡ vai trò.

    Muốn tạo nên sự bình đẳng thì sự đòi hỏi của vai trò nên đặt trong sự phù hợp giữa các tài năng và kỹ năng. Không có sự ngang bằng nhau ở mọi sự vật (hiện tượng) có vai trò dễ dẫn tới uy tín và thành công, có vai trò dễ thực hiện hơn vai trò khác. Như vậy các vai trò nhận được những phần thưởng không ngang nhau, khi đó gia đình phải mặc cả, thỏa thuận.

    Các vai trò trong gia đình là sự mặc cả và luôn luôn phát triển.

    Như vậy, khi áp dụng vào xử lý vấn đề mâu thuẫn giữa mẹ chồng – nàng dâu ta có thể để hai bên xác định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ bổn phận của mình trong gia đình. Hơn nữa, mối quan hệ này ngày nay đã không còn là mối quan hệ quyền uy nữa mà là mối quan hệ tình cảm nên việc điều chỉnh tâm lý, tình cảm của mỗi người là cần thiết. Dưới đây là những việc mọi người trong gia đinh nên làm, đặc biệt là mẹ chồng – nàng dâu cần thực hiện với vai trò của mình để tránh mâu thuẫn, cải thiện mối quan hệ.

    Việc xác định được nguyên nhân gây ra xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu là điều kiện để giải quyết những bất hòa trong gia đình được tốt hơn.

    2. Nguyên nhân gây ra mâu thuẩn giữ a mẹ chồng và nàng dâu.

    Các nguyên nhân chính dẫn đến các mâu thuẫn trong mối quan hệ mẹ – chồng nàng dâu:

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 5
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    • Trong đời sống hôn nhân luôn tồn tại hai phía của tình yêu: Vợ chồng yêu nhau là một phía; Còn một phía khác của tình yêu mà các cặp vợ chồng ít nhìn thấy, đó là mẹ yêu con trai.

    Trong tình yêu luôn có yếu tố sở hữu: Anh là của em, con là của mẹ. Người mẹ mang nặng đẻ đau, vất vả nuôi con suốt hai, ba chục năm trời nên tình yêu mẹ dành cho con lớn như biển cả và không thể lấy tình yêu của người con gái dành

    cho người con trai mà so sánh được. Vậy mà chỉ sau một lễ cưới, tình yêu của con trai lại nghiêng hẳn về phía một người con gái trước đây rất xa lạ. Đó là sự mất mát lớn lao đầu tiên của người mẹ khi con trai họ lấy vợ.

    Đã là tình yêu ắt sẽ có ghen tuông. Tình yêu người mẹ dành cho con trai cũng là một phía tình yêu và cũng có ghen tuông. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới những xung đột gay gắt giữa mẹ chồng và nàng dâu. Có những người mẹ rất hiền từ nhưng khi có con dâu thì trở nên đáo để, xét nét, bắt lỗi con dâu đủ điều. Đó không phải là bản tính quá quắt của các bà mẹ chồng, cũng không phải do “khác máu tanh lòng” mà do bị sự ghen tuông thúc đẩy. Tâm lý người của người mẹ khi có con dâu thường tìm cách bới móc con dâu vì thấy con trai yêu vợ hơn mình. Với tư tưởng con dâu cướp tình yêu thương, sự quan tâm mà vốn dĩ trước đây con trai luôn dành cho mẹ. Đây là xung đột ngầm ít thể hiện ra bên ngoài

    Xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu diễn ra gay gắt nhất trong thời gian đầu con trai lấy vợ. Trai yêu vợ mới, đó là những ngày nồng nàn nhất, anh chồng yêu chiều vợ nhiều nhất. Anh ta nói với vợ những lời ngọt ngào nhất, mua quà cho vợ, luôn tranh thủ đỡ đần vợ. Tất cả những hành động đó không lọt qua mắt của một phía tình yêu khác, đó là người mẹ. “Tại sao nó mua quà cho vợ nó mà không mua quà cho mình, vì một đứa con gái mà nó có thể quên mình được ư? Cả đời nó chưa hề giặt quần áo hộ mẹ, vậy mà bây giờ nó giặt cả quần con cho vợ nó”. Những ý nghĩ âm thầm đó nung nấu tâm can của một người phụ nữ tự nhận rằng mình đã bị bỏ rơi. Và ngứa ghẻ hờn ghen, người chịu đòn là cô con dâu. Tình trạng “ghen ăn tức ở” này sẽ giảm dần theo thời gian nếu nàng dâu biết nhịn và biết quan tâm đến

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 6
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    mẹ chồ ng. Nếu không, sự ghen tuông sẽ ngày càng nặng nề hơn, mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng cũng ngày mộ t quyết liệt hơn. Hơn nữa, ngườ i chồng là cầu nối của mẹ và vợ, nếu anh ta bất lực trong việc hòa giải thì mâu thuẫn ngày càng tăng lên hoặc là anh ta hướng về phía mẹ hay là vợ mình thì mâu thuẫn càng lên đến đỉnh điểm.

    • Hai con người khác nhau về tư duy và lối sống. Mẹ chồng luôn có tư tưởng mà con dâu cho ràng là “cổ hủ”. Các bà mẹ chồng vẫn giữ tư tưởng của thế hệ cũ, còn con dâu thế hệ ngày nay lại có suy nghĩ và hành động khác. Do sự khác biệt về
    • thức, thói quen dẫn đến khoảng cách và sự bất hòa giữa mẹ chồng nàng dâu.
    • Bất đồng về quan điểm sống và hoàn cảnh sống. mẹ chồng hay lấy cớ bắt lỗi con dâu. Mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu còn xảy ra khi nàng dâu không biết làm việc nhà nhất là nội trợ. Có thể người con dâu này xuất thân trong một gia đình giàu sang không phải làm gì, nên khi phải làm gì người con dâu đó không biết làm được.

    Ví dụ: mẹ chồng muốn việc chăm sóc con cháu phải theo ý bà nhưng con dâu lại tỏ ra không thích như thấy tay mẹ chồng bẩn không đảm bảo vệ sinh khi cho cháu ăn. Điều này thường xảy ra ở nông thôn khi mẹ chồng làm nghề nông trong khi con dâu làm ở nhà nước.

    • Cách cư xử của các nàng dâu thời hiện đại có học vấn thường muốn độc lập về kinh tế là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn với mẹ chồng. Đối với họ tư tưởng

    ăn bám luôn len lỏi trong đầu óc. Khi họ sống cùng gia đình nhà chồng, họ không muốn dựa dẫm vào nhà chồng đẻ mang tiếng là ăn bám. Ngược lại học vấn cũng gây mâu thuẫn khi đồng lương chênh lệch nhau. Ví dụ như lương của mẹ chồng thấp hơn của con dâu mà lại sống chung trong một gia đình, mức đóng góp vào

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 7
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    trong sinh hoạ t cũng khác nên họ mâu thuẫn với nhau. Nhất là khi hoàn cảnh gia đình nghèo thì càng nả y sinh mâu thuẫ n,căng thẳ ng. Nhưng cũng có khi mâu thuẫn xảy ra là vì ngườ i mẹ chồ ng cư xử không công bằ ng về kinh tế vớ i các con, chỉ đem tiền cho con gái mà không để ý tới vợ chồng con trai, khiến nàng dâu thấy bất bình.

    Ví dụ: Bước chân về làm dâu, Vân (Hoàn Kiếm, Hà Nội) đã biết ngoài ngôi nhà đang ở, Tú_ chồng cô còn đứng tên một mảnh đất khác ở vùng ngoại ô. Bố chồng mất sớm, cô em chồng cũng đã yên bề gia thất nên trong nhà chỉ còn vợ chồng Vân sống chung với mẹ chồng.

    Do làm ăn thua lỗ nên cô em dâu và mẹ chồng ngấm ngầm bán đất. Mẹ chồng Vân đưa lại cho con trai ¼ số tiền bán đất được mà không nói với con dâu nửa lời. Vân cảm thấy bất mãn vì cách cư xử của mẹ chồng. Dù gì từ hồi về làm dâu, Vân luôn cố gắng chu toàn mọi chuyện bên nhà chồng. Mỗi tháng một lần vào dịp lĩnh lương, Vân không quên mua biếu mẹ chồng khi thì hộp sữa giàu canxi, lúc thì chiếc áo mới… Thế mà, mẹ chồng Vân vẫn coi con dâu như người dưng, tự quyết định bán đất mà không thèm bàn bạc với cô một câu.

    Bất mãn vì cách cư xử của mẹ chồng, lại hậm hực với anh chồng nhu nhược, Vân đưa ý kiến xin mẹ chồng để vợ chồng cô được ăn riêng. Từ giờ, Vân quyết không “phục vụ” không công cho mẹ chồng nữa vì bản thân con dâu có tốt mà không được mẹ chồng đền đáp lại thì tách riêng cho đôi bên khỏi ức chế.

    • Con dâu bất hoà với gia đình, ví dụ giữa nàng dâu với em gái của chồng, nàng dâu với em trai của chồng, hoặc với em dâu của chồng xảy ra xung đột, làm cho mẹ chồng không vui, trách tội con dâu. Hoặc là do nghe lời bàn tán, châm chọc của những người xung quanh (hàng xóm hoặc họ hàng) mẹ chồng với con dâu cũng rất dễ xảy ra xung đột.
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 8
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    3. Nhữ ng mâu thuẫn trong mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu

    Trạ ng thái quan hệ mẹ chồ ng nàng dâu phản ánh trạng thái quan hệ tổng thể của mộ t gia đình. Mẹ chồng và nàng dâu thường có sự bất hòa về:

    2.1 Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày:

    • Nhiề u việ c tưở ng chừng như nhỏ nhấ t những đó cũng chính là lý do khiến mẹ chồng nàng dâu bất hòa, ví dụ như trong chuyện ăn uống, không hợp khẩu vị hay cách thức nấu ăn khác nhau cũng khiến mẹ chồng nàng dâu xích mích. Từ xa xưa người ta đã coi phụ nữ trong nhà là người “giữ lửa”, nghĩa là người phụ nữ ấy phải biết nấu bát cơm ngon canh ngọt cho chồng, cho con. Chính bữa ăn ấy là nơi

    cả nhà đoàn tụ, quây quần, chia sẻ với nhau sau một ngày làm việc, học tập vất vả.

    Nhịp sống hiện đại, những công việc xã hội bận bịu kéo theo hệ quả là nhiều nàng dâu trẻ không biết hoặc không muốn vào bếp – lí do cơ bản dẫn đến xung đột với mẹ chồng.

    • Không chỉ ăn uống mà nhiều bà mẹ chồng còn xét nét con dâu từ cách ăn mặc đến ứng xử lối sống. Nhiều bà mẹ than phiền con dâu của mình ăn mặc “Tây quá!”, có khi là nói bóng gió trước mặt con dâu. Tuy nhiên cũng có trường hợp cô con dâu quá hiện đại, phóng khoáng, vô tư, nhiều khi thành vô ý tứ khiến không chỉ mẹ chồng mà mọi người xung quanh cũng thấy khó chịu.
    • Trong sự lựa chọn vui chơi giải trí của mẹ chồng nàng dâu cũng khác biệt

    nhau rõ rang, ví dụ như con dâu trẻ thích hát karaoke, nghe nhạc trẻ sôi động còn mẹ chồng chỉ thích tuồng chèo, cải lương. Việc bắt đối phương phải thay đổi sở thích, quan điểm theo người kia là rất khó khăn, chính vì thế mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 9
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Ví dụ: Khi con dâu mặ c váy ngắ n đi làm mẹ chồ ng lạ i có ý kiến làm con dâu khó chịu. Nhưng các nàng đau lại cho rằng phải ăn mặc hợp mốt. Chính vì cách nhìn nhận mỗi thời mỗi khác nhau nên có sự đối lập nhau.

    Hoặc là mâu thuẫn vì mẹ chồng mê tín, như: Khi chị An có mang vào năm Hợi, bà nhất định bắt chị bỏ con vì không hợp tuổi. Dĩ nhiên, chị và chồng không đồng

    • Thế là từ khi cấn bầu đến ngày sinh, chị phải chịu tiếp cảnh cúng bái trong nhà.Không chỉ vậy, bà còn cắm bốn cành dong ở bốn góc nôi của con chị, nhờ một ông thầy tay này đốt nhúm vàng mã, tay kia cầm lá bùa nhảy loi choi khắp căn phòng. Đứa trẻ khóc thét vì ngộp mùi nhang khói và ồn ào.Tức giận, chồng chị quát ầm ĩ lên và đuổi thầy ra khỏi nhà. Sau vụ đó, bà giận hai vợ chồng chị đến hơn tháng trời. Hết giận, bà lại lao vào… cúng giải hạn.Dù rất phiền lòng nhưng

    thương bà, chị cố nín nhịn cho qua. Thế nhưng, có một sự việc quả thật đã là giọt nước là tràn ly. Đứa nhỏ cảm vặt đã mấy hôm. Chiều hôm đó, vợ chồng chị xin về sớm để đưa con đi bác sĩ. Bước vào nhà, chị hoảng vía khi thấy con khóc ngằn ngặt trên tay bà. Mẹ chồng đang cố đổ nước gì đó vào miệng cháu. Chị hốt hoảng: “Mẹ cho cháu uống gì vậy?”. Bà hồ hởi: “Nước phép đó con, có pha tro và một ít đất thiêng của cô Ba. Thằng nhỏ uống vào là hết bệnh ngay”.Quá tức giận, chị giằng lấy con trên tay bà, thu dọn quần áo về nhà mẹ ruột, mặc kệ chồng năn nỉ hết lời.

    • Điều kiện nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng của mẹ chồng nàng dâu cũng cõ thể là một trong những yếu tố gây ra mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu. Con dâu đi làm về, ngày hè nóng nực, mệt mỏi chỉ muốn bật điều hòa, trong khi đó mẹ chồng vì

    tiết kiệm hoặc không thích không khí của điều hòa nên chỉ muốn mở cửa số hặc dùng quạt điện. Mỗi người một ý kiến, một sở thích, và đều có lí lẽ của riêng mình nên rất khó để dung hòa cả hai.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 10
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    2.2. Tranh dành quyền lự c và ảnh hưởng trong việc nuôi dạy con cháu:

    -Giữa những cặp vợ chồng trẻ, lần đầu có con, dễ xảy ra xung đột, song cũng dễ hàn gắn, bởi họ vừa có chung một “tài sản” vô giá. Song cuộc chiến giữa các bà mẹ chồng và con dâu mới đích thực là gian nan. Ai cũng tìm cách chứng tỏ mình giữ vai trò quan trọng đối với đứa bé.

    Bà mẹ chồng thì dựa vào kinh nghiệm nuôi trẻ còn cô con dâu ỷ vào thế sanh ra đứa trẻ và đang cập nhật các phương pháp nuôi dưỡng trẻ hiện đại.

    Có vẻ như mâu thuẫn này là tất-lẽ-dĩ-ngẫu vì cứ theo Triết học mà nói, có sở hữu cá nhân là ắt nảy sinh mâu thuẫn. “Hòa bình” có vẻ như rất quý hiếm khi hai người cùng “sở hữu” một tài sản, nhất là khi chủ sở hữu lại là… hai người đàn bà.

    Nếu như câu cửa miệng của “chủ sở hữu 1” là: “Ngày xưa, mẹ toàn thế này, thế kia, có sao đâu…”, thì “chủ sở hữu 2” lại “bật”: “Bây giờ khác rồi, khoa học hiện đại thế này, thế kia…” .

    Ví dụ: Từ hồi về làm dâu đến khi chưa sinh con, chị Quỳnh Hoa (Khu TT Thanh Xuân Bắc, Hà Nội) với mẹ chồng rất hoà hợp. Nhưng từ khi bé Kitty ra đời, mẹ chồng nàng dâu thành ra lục đục. Chung quy cũng chỉ vì quan điểm nuôi dưỡng trẻ.

    Bà vì có kinh nghiệm nên rất tin vào cách nuôi con của mình, còn chị, với trình độ sau đại học chị cũng tin vào những kiến thức tiên tiến mình “update” được. Vậy là cuộc chiến giữa hai thế hệ xoay quanh một cục cưng bắt đầu.

    Thoạt đầu là việc hễ cháu khóc là bà dỗ bằng cách bật tivi, bật đĩa. Con bé dần dà nghiện, im bặt. Chị Hoa sợ hại mắt con góp ý với bà, lại mang cả sách ra đọc cho mẹ chồng nghe. Ai dè, bà nổi đóa rồi hờn mát, nói xa nói gần chuyện nàng dâu nhiều chữ về bắt bẻ mẹ chồng.

    Việc cho bé ngủ cũng không đơn giản. Trẻ con cần ngủ rất nhiều, nhưng bà lại chẳng quan trọng đến việc nó ngủ. Hôm nào bà cũng thức đến 12h lướt đủ các

           
    Nhóm sinh viên:  K53 Công tác xã hội  
    Khoa :  Xã hội  học Page 11

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    kênh, đến khi cô phát thanh viên chúc ngủ ngon, bà mới chịu cho nhà đài nghỉ và cũng mớ i cho cháu ngủ. Chị Hoa xót con thì bà gắt: “Nó muốn ngủ bao nhiêu nó ngủ, không việc gì phải lo. Trẻ buồ n ngủ, khắc ngủ, không nên ép”.

    Chưa kể đến chuyệ n chị Hoa quán triệ t quan điể m là không bế con nhiều kể cả lúc đi ngủ, cho bé quen, nhưng bà nộ i thì lúc nào cũng khư khư bế cháu. Nói ra thì bà trách là không muố n cho bà bế cháu. Kinh nhấ t là trong vố n kiến thức của bà luôn có cả mớ những bài thuốc dân gian, mỗ i lần cháu ốm là bà lập tức ra tay.Cháu mọc răng, số t, đau bụng, đi ngoài, viêm họng… là bà bôi, giã, đắ p hết lá nọ, lá kia. Bà nhấ t đị nh không cho cháu uống kháng sinh vớ i lý do sẽ cọ c ngườ i đi, không lớn được. Trong khi nàng dâu như ngồi đống lửa vì muốn cho con đi khám để xem bệnh tình thế nào cho an tâm. Có những bài thuốc của các bà khiến y học bó tay, nhưng với bà vẫn đúng vì bà “đã nuôi thằng bố nó khỏe mạnh, lực lưỡng đấy thôi”!

    -Một tâm lý bình thường của người phụ nữ sau sinh là hay cáu gắt và khó nhẫn nhịn. Chính vì vậy, những bất đồng giữa mẹ chồng và con dâu về mọi việc, đặc biệt là trong phương pháp chăm sóc trẻ, hơn thế nếu lại không có được sự hậu thuẫn cũng như cảm thông của chồng thì rất dễ xảy ra những hệ lụy không tốt đẹp.

    • Khoảng cách thế hệ là một trong những nguyên do dẫn đến những xung khắc này. Mẹ chồng thường dựa vào kinh nghiệm bản thân, theo truyền thống để chăm cháu, còn nàng dâu lại muốn vận dụng kiến thức khoa học trong cách nuôi dạy con. Có bà mẹ chồng cứ bắt hai mẹ con mới sinh nằm trên lò than cho ấm, nhất quyết không nghe con dâu giải thích khí carbon có thể gây độc hại cho trẻ và mẹ bé còn yếu

    Bên cạnh đó, cùng là phụ nữ và luôn muốn được giữ vai trò là người chủ gia đình, cả mẹ chồng và nàng dâu đều muốn mình có “tiếng nói” trong việc nuôi dạy

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 12
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    con cháu. Nhưng nhiề u khi, hai tiếng nói ấ y lạ i không thố ng nhấ t, thậm chí mâu thuẫn ra mặt với nhau. Và khi ấy đứa trẻ sẽ không định hướng được thế nào là đúng, là sai.

    Ví dụ: Chị Quách Thu Nga (Bán hàng, 42 tuổi):

    Vợ chồng tôi đã 3 lần viết đơn li dị, không phải vì chồng tôi có bồ hay tôi không đảm đang, xấu xí, mà tất cả là do… mẹ chồng tôi. Ai đời con tôi đứt ruột đẻ ra mà bà hiển nhiên coi đó là tài sản riêng của mình. Việc ăn, ngủ, học hành của cháu bà giành quản lí hết.

    Bà thương cháu là điều đáng mừng, nhưng tôi không an tâm về cách giáo dục của bà. Con tôi thích bất cứ cái gì bà cũng chiều. Cơm dọn ra nó kêu thức ăn chán bà vội vàng mang tô đi mua phở. Tối ngồi vào bàn học nó kêu ồn ào, bà bắt cả nhà “nhịn” xem ti vi cho cháu tập trung. Thậm chí bà còn có “tài khoản riêng” để cháu chơi điện tử!

    Nhiều lúc không chịu được, tôi góp ý với bà thì bà nổi cáu, thế là không xảy ra “chiến tranh nóng” cũng có “chiến tranh lạnh”. Dĩ nhiên, sau đó chồng tôi được nghe rất nhiều điều xấu về tôi. Chồng tôi là người tốt, nhưng lại sợ mẹ. Hậu quả là chúng tôi suốt ngày dọa đưa nhau ra tòa. Đến nay thì “bộ sưu tập” đơn li dị đã lên đến con số 3

    • Ngày nay, nhiều bậc cha mẹ do bận công tác xã hội hay mải bươn chải làm ăn mà đành phải gửi con về quê cho ông bà “nuôi hộ”, hoặc “khoán trắng” việc

    chăm sóc, dạy dỗ con cho ông bà. Từ đó, hình thành nên tình trạng giáo dục cách thế hệ. Phương thức giáo dục gia đình này thường ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành nhân cách của trẻ, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 13
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    2.3. Quan điểm giá trị củ a mỗi cá nhân:

    • Sự cách biệt về thói quen sinh hoạ t, hai môi trườ ng khác nhau, thờ i đại khác nhau, bố i cả nh cuộc số ng khác nhau,khi hai thế hệ sống chung vớ i nhau sẽ s ảy ra những mâu thuẫn trong các vấn đề về quan niệ m ăn uố ng, nghỉ ngơ i, vui chơ i giải trí…
    • Trong vấn đề ăn uố ng: khi cùng nhau ngồ i cùng mộ t mâm thì sẽ sinh ra vấn đề. Cả hai lớ p ngườ i đều muốn cả i biến đố i phươ ng, dẫ n đến quan hệ mẹ chồng

    nàng dâu trở nên căng thẳng: mẹ chồng và con dâu không hợp khẩu vị, con dâu nấu ăn không ngon, quan ni ệm v ề chất dinh d ưỡng trong mỗi bữa ăn của mỗi người khác nhau, không thống nhất…

    +Trong vấn đề sinh con và nuôi dạy con cái:có sự sai biệt về sinh con đẻ cái và việc quản lý giáo dục con cái. Mẹ chồng nào cũng muốn sớm có cháu để bế, nếu con dâu về nhà chồng một thời gian dài mà không đẻ, hoặc là mẹ chồng có quan miệm rất nặng nề về trọng nam khinh nữ, mà con dâu lại sinh con gái, thì mẹ chồng khó tránh khỏi có chuyện.. Còn yêu cầu về mặt quản lý giáo dục con cái, mẹ chồng không mạnh mẽ và nghiêm khắc như con dâu, do đó mà về phương diện giáo dục nuôi dưỡng con cái, giữa mẹ chồng nàng dâu rất dễ nảy sinh những ý kiến khác nhau: Mẹ chồng thường nuông chiều cháu, nhiều khi lại kể tội mẹ nó. Còn con dâu thường qu ản lý con mình khắt khe hơn, không nuông chiều như mẹ chồng vì nghĩ nuông chiều sẽ làm con thêm hư, hay bắt con cái mình học thêm nhiều môn học ngoài giờ…

    + Trong vấn đề đối nhân xử thế:( quan hệ họ hàng, làng xóm, công việc..):

    – Quan hệ họ hàng ruộ t thịt, hàng xóm: mẹ chồng luôn mong muốn con dâu đối xử tốt với những người trong họ hàng gia đình bên ch ồng, luôn có những đòi hỏi khắt khe và mong muốn con dâu mình sẽ thực hiện và thực hiện tốt. Người con dâu làm tròn bổn phận và đối nhân xử thế cho h p lý nhưng vẫn bị trách m óc,

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 14
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    chỉ trích, soi x ét, tạ o ra áp lực lớn cho họ. Con dâu bấ t hoà vớ i gia đình, ví dụ giữa nàng dâu vớ i em gái của chồ ng, nàng dâu với em trai của chồng, hoặc với em dâu của chồng xả y ra xung độ t, làm cho mẹ chồng không vui, trách tội con dâu…

    • Trong công việ c: mẹ chồng luôn muốn con dâu chăm lo cho gia đình mình được chu đáo do vậy họ luôn có tư t ưởng muốn con d âu c ủa m ình ngh ỉ việc ở cơ quan về nh à làm nội trợ vừa giúp gia đình, vừa nuôi dạy con cái được tốt hơn. Con dâu muốn khẳng định vị thế của mình trong xã h ôi trong công việc nên hăng say làm việc có thể bỏ quên gia đình…

    2.4 Trong lĩnh vực kinh tế:

    Sự tranh chấp về quyền lực, nói chung tiêu điểm tranh chấp của vấn đề mẹ chồng nàng dâu thường là quyền quyết sách và quyền kinh tế của gia đình:

    • Vì công sức đóng góp cho gia đình hoặc sự thống nhất của các thành viên trong gia đình mà vị trí người mẹ luôn được đề cao và ủng hộ. Người mẹ luôn thấy được “chủ quyền” của mình trong nhà nói chung và với cậu con trai yêu quý

    nói riêng sau bao năm chăm bẵm và kỳ vọng của mình.Nhưng sau khi đã có con dâu, tình hình đã thay đổi, vai diễn ấy đã bị con dâu thay thế, quyền lực bị tước mất, địa vị cũng bị thay đổi. Mẹ chồng sinh ra bất mãn, không có cách nào thích ứng được với sự chuyển biến này. Đối với mẹ chồng: “Chủ quyền” tầm ảnh hưởng và tình cảm với người con trai bị san sẻ. Các quyết định trong ăn uống, sinh hoạt… của gia đình sẽ không còn được các thành viên trong gia đình nhất nhất ủng hộ như trước. Và người mẹ sẽ cảm thấy cần phải thể hiện, khẳng định hoặc tìm cách để giữ được vị thế của mình trong gia đình. Khi không được như ý sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Quá khứ là của mẹ chồng còn hiện tại và tương lai là của mình. Mong muốn ban đầu là ít nhất giữ được “chủ quyền” và ảnh hưởng đối với người chồng. Sau nữa là với con mình khi sinh ra. Do sống lâu với mẹ đẻ, được chăm sóc chiều chuộng vô điều kiện nên trong thâm tâm khi về làm dâu cũng đòi hỏi ở mẹ

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 15
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    chồng như vậy. Mặt khác do đời sống hiện đại khi tự chủ được về kinh tế con dâu cũng đủ tự tin để tự quyết định nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống riêng của mình. Khi không được như ý sẽ nảy sinh mâu thuẫn.

    • Lợi ích kinh tế, về mặt tiền nong, mẹ chồng thường đóng vai trò là người ban phát; con dâu đóng vai trò tiếp nhận. Phía tiếp nhận thì cho rằng tiền chi không đủ, chê là cho không công bằng. Giữa mẹ chồng nàng dâu nếu lấy tiền tài làm sợi dây níu kéo, thì gia đình sẽ biến thành thị trường, quan hệ mẹ chồng nàng dâu sẽ vĩnh viễn lắc lư trên cái cân mua bán.Ngược lại, nếu con dâu làm ra nhiều tiền của, giữ vai trò là người ban phát có thể khinh rẻ mẹ chồng, cho rằng họ ăn bám không làm ra tiền.

    Chuyện mẹ chồng, nàng dâu xung quanh chuyện tiêu tiền giống như nghìn lẻ một chuyện… vụn vặt. Nhưng từ những vụn vặt ấy là mầm mống ung nhọt của gia đình. Không dễ bằng đôi ba câu khuyên giải là ổn. Có một người, hình như cũng nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống gia đình với vô vàn những chuyện… vụn vặt không đâu đã tìm đến một con đường ngắn nhất.

    Ngay cả khi mâu thuẫn đã tích tụ thành ung nhọt lớn, cảnh báo một nguy cơ đổ vỡ, vẫn có thể cứu vãn được bằng sự cởi mở và thiện chí. Lời nhà tư vấn gia đình khuyên, có lẽ là chí lý. Tôi chỉ xin được góp thêm một ý nho nhỏ: Các cụ ta đã dạy, “Nhập gia tùy tục”. Khi mẹ chồng vốn tằn tiện, chi tiêu có cân nhắc thì cô con dâu dù có khấm khát tiền nong đến đâu cũng phải ý tứ một chút.

    Không hẳn chỉ bận tâm tiêu tiền đó cho ai, nhằm mục đích gì, mà phải quan tâm đến mức độ mình tiêu tiền để người khác khỏi xót, dù không phải tiền của mình, khỏi tủi thân vì một đời tằn tiện, khỏi tức tối vì thấy ỷ nhiều tiền mà phung phí, khinh khi thiên hạ. Đồng tiền đem lại nhiều lợi ích lắm, ai cũng rõ, nhưng quá vô tư trong chi tiêu, đôi khi cũng gặp nhiều phiền lụy.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 16
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    4. Hướng giải quyết

    Xử lý mố i quan hệ mẹ chồ ng – nàng dâu tố t hay xấu, có ý nghĩa đặc biệt với quan hệ gia đình. Bở i vì trong các gia đình hiện đại, vai trò của phụ nữ nặng hơn nam giớ i nhiều, thu nhậ p của phụ nữ đủ để nuôi số ng bả n thân họ, hoặc ngang bằng, có khi còn hơn của nam giới.

    Nhưng có rấ t nhiều quan hệ có liên quan đến gia đình, mà đa phần là quan hệ đến giớ i nữ chứ không phả i vớ i giớ i nam. Cho nên trạ ng thái quan hệ mẹ chồng nàng dâu phả n ánh trạ ng thái quan hệ tổ ng thể của một gia đình. Nguyên tắ c xử lý mố i quan hệ mẹ chồng nàng dâu, kỳ thực chính là nguyên tắc xử lý mố i quan hệ gia đình. Do vậy ở mỗi người cần có những thái độ hợp lý để giải quyết mâu thuẩn:

    4.1 Đố i vớ i nàng dâu cần làm gì?

    • Có một điểm quan trọng nhất là phải hiếu kính mẹ chồng, phải coi trọng sự tồn tại của mẹ chồng và giá trị địa vị của bà.
    • Phải sống chan hoà với em gái của chồng, phải hoà mình vào gia đình nhà

    chồng.

    • Phải trau dồi hứng thú và sở thích giống như mẹ chồng.
    • Nếu có sai lầm thì phải dũng cảm thừa nhận và phải phục tùng, phải nhẫn

    nhịn.

    • Phải quan tâm đến sức khoẻ mẹ chồng, phải biết phương thức tính cách, hứng thú, sinh hoạt của mẹ chồng, không thể ép mẹ chồng thay đổi thói quen đã nhiều năm.
    • Nếu mẹ chồng có quá nuông chiều cháu, thì nên khéo léo dùng lời khuyên ngăn, không được dùng lời ác độc để cãi lại mẹ chồng, làm phương hại đến tình
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 17
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    cả m toàn gia đình. Phả i biết sống yên ổ n, giữ gìn kỷ cươ ng, cần cù tiế t kiệm, thường xuyên xin ý kiến mẹ chồ ng về công việc gia đình.

    • Về lợi ích kinh tế không nên đòi hỏi sự công bằng, cũng không nên so đo kỳ kèo. Nếu quyền kinh tế ở trong tay bạn thì đừng quên hàng tháng biếu mẹ tiền tiêu vặt.
    • Không nên chỉ mua quần áo mới cho mình, cũng cần làm đẹp cho mẹ chồng, phải biết giữ thể diện cho mẹ chồng, đó cũng là điều vẻ vang của con dâu.
    • Ðôi khi cũng phải để cho mọi người được thưởng thức những khẩu vị mới, nhưng không nên bắt cả gia đình phải ăn theo khẩu vị của mình.
    • Phải biết lo liệu công việc gia đình, không thể không làm gì, cũng không thể tự tiện làm tất cả mà phải nghĩ đến mẹ chồng. Không để cho mẹ chồng cảm thấy phải gánh vác nhiều quá hoặc cảm thấy không có đất dụng võ, phải tôn trọng bà mẹ chồng có kinh nghiệm phong phú.
    • Phải giữ thái độ lễ phép với mẹ chồng, phải ca ngợi mẹ chồng đúng nơi, đúng lúc, phải quan tâm đến mẹ chồng và phải vui vẻ tiếp thu sự giúp đỡ có thiện chí của mẹ chồng.
    • Không nên nói nhiều đến chuyện nhà mẹ mình, đặc biệt là không nên luôn luôn gửi tiền về nhà mẹ đẻ.
    • Vợ chồng không nên quá thân mật trước mặt mẹ chồng, nhất là mẹ chồng đã goá bụa, rất dễ gặp cảnh sinh tình, sinh ra ý ghen tuông, do đó mà không ngăn được căm ghét nàng dâu.
    • Không được cãi cọ với chồng trước mặt mẹ chồng.
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 18
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    4.2 Đố i vớ i mẹ chồng:

    Mẹ chồ ng vớ i tư cách là mộ t ngườ i mẹ mẫ u mực để con cháu noi theo. Cần có thái độ hợp lý để giữ mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu không quá căng thẳng để tạo mối hòa hợp trong gia đình.

    4.3 Đố i vớ i ngườ i đàn ông cần làm gì?

    Cụ thể, khi mẹ chồng và nàng dâu có mâu thuẫn thì các anh nên :

    Trước hết, các anh cần tránh im lặng bởi im lặng chỉ khiến mâu thuẫn thêm căng thẳng. Sự im lặng của các anh lúc này sẽ thể hiện thái độ vô trách nhiệm hoặc bất lực của mình trước xung đột gia đình đồng thời khiến mẹ và vợ thấy khó chịu.

    Thứ hai, không giữ im lặng không có nghĩa các anh phải chọn cách bênh mẹ hoặc bênh vợ. Cần tránh thiên về một bên nào hay đứng hẳn về một phía nào. Việc bênh người này hơn sẽ khiến người còn lại thấy bị tổn thương, bị bỏ rơi và sinh ác cảm với nhau hơn.

    Nhiều anh có người chủ trương phải bênh mẹ vì mẹ chỉ có một mà vợ thì có thể mất người này, lấy người khác. Những người này vì bênh mẹ mà sẵn sàng trách mắng vợ bất kể mẹ sai hay đúng. Như thế là không nên bởi vì vợ chính là mẹ của các con mình, người sẽ vai trò và tác động lớn đến sự khôn lớn của các con anh.

    Thứ ba, thay vào đó, các anh hãy trở thành cầu nối giữa mẹ và vợ để hóa giải mâu thuẫn giữa hai người phụ nữ này. Và thật ra, cũng chỉ có các anh mới là người có thể hóa giải mâu thuẫn đó mà thôi. Chính cách xử sự của người chồng sẽ quyết định mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu được cải thiện hay tiếp tục xuống dốc.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 19
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Vì thế , hãy thậ t khách quan và công bằ ng. Các anh phả i có quan điểm riêng và phả i biết phân biệ t đúng, sai. Những điều đó sẽ khiến cả hai càng thêm quý trọng và nể phục các anh. Cũng vì thế mà họ sẽ nhường nhịn và cả m thông với nhau hơn.

    Thứ tư, hãy họ c cách lắng nghe. Phụ nữ có nhu cầ u tâm sự rấ t lớn. Khi mẹ và vợ có mâu thuẫn và họ tìm đến anh để tâm sự, các anh nên cố gắng lắng nghe cả hai.

    Khi mẹ tâm sự, thật ra bà cũng chỉ muốn các anh biết “dạy vợ” và phải chia sẻ tình cảm cho bà nhiều hơn cho vợ. Vì thế, để mẹ vui lòng, các anh hãy nói với mẹ đại ý là con sẽ bảo lại vợ con.

    Còn với vợ, khi họ kể cho các anh nghe những mâu thuẫn với vợ, không hẳn là họ muốn các anh phải bênh họ đâu mà đôi khi chỉ để xả, để giải tỏa và tìm sự thông cảm, sẻ chia. Những lời an ủi, động viên của các anh sẽ khiến họ cảm thấy đỡ buồn hơn rất nhiều.

    Hãy cư xử khéo léo để làm sao cả mẹ và vợ đều thấy các anh tôn trọng họ và yêu thương họ.

    Đồng thời, sự lắng nghe sẽ giúp các anh có dầy đủ thông tin hai chiều để phân tích và có cách giải quyết hợp tình, hợp lý.

    Thứ năm, khi đã nghe mẹ và vợ tâm sự, các anh hãy suy xét thật kỹ để tìm ra nguyên nhân và biết được ai đúng ai sai để có cách giải quyết hợp lý. Đừng vì bênh mẹ mà bất chấp sai trái mắng mỏ vợ, cũng không nên vì bênh vợ mà có những lời không hay với mẹ. Vì như thế chỉ như đổ thêm dầu vào lửa.

    Thứ sáu, trong trường hợp mẹ và vợ đôi co trực tiếp thì người chồng nên đứa giữa không nghiêng bên nào mà cố gắng tìm cách xoa dịu mâu thuẫn lúc đó như tìm

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 20
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    cách để mẹ và vợ tách nhau ra, đi đâu đó một lúc, rồi khi không có mẹ, bạn hãy dạy bảo vợ, còn khi không có vợ, bạn hãy lựa lời để khuyên mẹ.

    IV. Kế t luận

    Dù ở thời đại nào gia đình cũng phải có nền tảng nguồn cội của nó, có lễ nghĩa, phép tắc và tôn ti trật tự, nề nếp gia phong đàng hoàng, kể cả cách đối nhân xử thế, giữa cha mẹ, con cái trong gia đình. Người phụ nữ là người giữ lửa trong gia đình. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu hòa thuân thì gia đình êm ấm, mẹ chồng – nàng dâu mâu thuẫn dẫn đến xung đột, cãi vã, đôi khi làm hạnh phúc gia đình tan vỡ. Vì vậy mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu không chỉ là vấn đề trong gia đình mà còn là vấn đề xã hội. Việc mẹ chồng đối xử cay nghiệt với nàng dâu và nàng dâu luôn đối phó với mẹ chồng không thể tồn tạ mãi và thưc tế đang có những thay đổi theo bước phát triển, nhịp sống văn minh của xã hội, ở đất nước ta.

    NGUỒ N TÀI LIỆ U THAM KHẢO:  
       
       
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 21
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    1. Gia đình họ c, Đặ ng Cảnh Khang – Lê Thị Quý, Nhà xuấ t bản Chính trị – Hành chính.
    1. Bài giả ng môn Gia đình học
    1. vn
    1. net
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 22
    Khoa : Xã hội học

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận toán cao cấp C2


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Vi%E1%BB%87c-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-FDI-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    1         VIỆC SỬ DỤNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM

    1.1       MỞ ĐẦU

    1.1.1     NỘI DUNG

    1.2       Vai trò của FDI đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam

    • FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

    Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước. Trong đó, vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI. Đối với các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển, thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn thì FDI lại càng đặc biệt quan trọng. FDI cung cấp một lượng vốn cần thiết cho nền kinh tế, thúc đẩy các nước này đầu tư để phát triển, hay nói cách khác, nguồn vốn FDI góp phần tạo ra “một cú huých lớn”, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp các nước nghèo và các nước đang phát triển thoát khỏi “vòng đói nghèo luẩn quẩn” .

    • FDI giúp tạo việc làm, cải thiện nguồn nhân lực

    Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là hai nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư, làm cho số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ở các nước này ngày càng tăng nhanh. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân ở những nước được đầu tư này.

    FDI cũng có tác động tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực của nước được đầu tư thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Các cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng. Thông qua các tác động kể trên, chất lượng nguồn nhân lực ỏ những nươc nhận đầu tư càng tăng lên đáng kể, thậm chí còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.

    • FDI góp phần chuyển giao và phát triển công nghệ

    Công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.

    Chính vì vậy, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) lại càng được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Bởi vì các cơ sở vật chất, kĩ thuật công nghệ của các doanh nghiệp FDI cuối cùng cũng sẽ được chuyển giao lại cho nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, khả năng phát triển công nghệ còn phụ thuộc vào quá trình chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà.

    Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện bởi các các công ty xuyên quốc gia( TNC), dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủ nhà thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như  tiến bộ công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing.

    Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các TNC còn góp phần làm tăng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà. Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh), các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ  công nghệ nguồn, sau đó cải tiến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển.

    • FDI giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu

    Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh các yếu tố sản xuất của nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Thực tế hiện nay, các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế. Do đó, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này. Thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC có vị thế và uy tín trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế thực hiện. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích thông qua việc sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất và thực hiện chuyên môn hóa sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.

    • FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó, các quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho FDI hoạt động. Ngược lại, chính FDI cũng lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề mới; nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển năng suất lao động ở nhiều ngành kinh tế. Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xóa.

    1.2.1     Hạn chế của việc sử dụng vốn FDI

    Thứ nhất, thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn FDI chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những mặt hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước.

    Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra. Do đó, hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà, ba tiền thóc”.

    Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.

    Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI, nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. Đặc biệt, các dự án xây dựng sân golf ở đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.

    1.2.2     Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI

    • Số vốn FDI đăng kí

    (Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Năm 2006 cả nước thu hút được 10,2 tỷ USD vốn đăng ký.

    Năm 2007 tăng lên 20,3 tỷ USD. Tăng 100% so với năm 2006 với 1406 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2008 đạt kỷ lục trên 64 tỷ USD, tăng trên 5 lần so với năm 2006 với 1171 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2009, ước đạt 21,48 tỷ USD bằng 1/3 so với năm 2007.

    Trong quí 1 năm 2010 vốn đăng ký là 2,139 tỷ USD, bằng 29% so với cùng kỳ năm 2009.

    • Cơ cấu FDI trong nền kinh tế
    1. Theo khu vực kinh tế

    Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 56,7%,

    Khu vực dịch vụ chiếm 41,8%,

    Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm 1,2% tổng vốn đăng ký.

    Dựa vào số liệu trên, ta nhận thấy có sự phân hóa nguồn vốn FDI ở các khu vực kinh tế. Nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; trong khi ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỷ lệ vốn đầu tư FDI rất thấp.

    Ngoài ra, ta cũng có thể nhận thấy hiện trạng sau đây: Luồng vốn FDI vẫn tiếp tục chảy vào lĩnh vực bất động sản và du lịch. Đây là lĩnh vực chiếm rất nhiều diện tích trong đó có cả diện tích đất nông nghiệp có giá trị tăng cao vì nằm ở những khu đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung, khu du lịch. Trong các dự án đầu tư vào bất động sản, nguồn vốn thực các doanh nghiệp đầu tư vào chỉ khoảng 15% đến 20%, còn lại chủ yếu là vay của các ngân hàng thương mại và huy động từ khách hàng. Thế nhưng kiểu kinh doanh này lại đem lại lợi nhuận rất cao, làm xuất hiện tình trạng một lượng lớn vốn FDI đổ vào các dự án bất động sản có thể phá vỡ quy hoạch phát triển trong lĩnh vực này và dẫn đến nhiều hệ lụy. Riêng trong năm 2008, ước tính khoảng 30% tổng vốn đầu tư đã thực hiện nằm trong ngành bất động sản và khách sạn, so với 13% đầu tư vào ngành công nghiệp nhẹ và 3% trong ngành nông nghiệp và thực phẩm. Đến năm 2009 con số FDI đầu tư vào bất động sản đã tăng lên 40%. Những khu vực này không tạo được nhiều việc làm và có xu hướng thâm dụng nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thanh toán. Thực trạng này dẫn tới hệ lụy là lạm phát, thất nghiệp đã tác động trực tiếp đến chi phí sinh hoạt và tiền lương thực tế.

    1. Theo địa phương

    Cơ cấu FDI theo vùng có sự chuyển dịch tích cực. Ngoài hai vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, nguồn vốn FDI thời gian gần đây đã dịch chuyển đáng kể sang một số điạ bàn khác thuộc các tỉnh Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long như Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Phú Yên, Kiên Giang…  là những địa bàn gặp nhiều khó khăn hơn.

    • Thực trạng thu hút đầu tư hiện nay
    • Về công tác quy hoạch:

    Nhiều địa phương cấp phép tràn lan, khai tăng vốn đăng ký của dự án để có thành tích, dẫn đến việc cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng của thị trường, gây lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp ( đơn cử như trường hợp cấp phép các dự án sản xuất thép, sân Golf, dự án cảng biển…). Các ưu đãi quá mức về thuế (đã biến tướng để tránh các quy định của Nhà nước về thuế), đất đai, lao động… được nhiều tỉnh  tự ý “phá rào” đưa ra làm thiệt hại quyền lợi đất nước.

    Hiện nay, một số địa phương chạy đua thu hút vốn đầu tư dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Các địa phương này tìm mọi cách để thu hút FDI; họ thực hiện những ưu đãi quá mức cần thiết làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh thái, du lịch vô giá của đất nước có thể bị bán rẻ. Hệ quả là phần lợi nhuận mang lại cho Việt Nam từ FDI không tương xứng với giá trị của nguồn tài nguyên vĩnh viễn bị mất đi. Mặt khác, một số dự án đầu tư không được kiểm duyệt kĩ dẫn đến hậu quả là không những chất lượng dự án không cao, không tạo ra được nhiều việc làm và giá trị xuất khẩu mà thậm chí còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    Trong khi dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam thì số việc làm được tạo ra vẫn có tăng, song chủ yếu lại là lao động rẻ mạt, không có kỹ năng. Theo điều tra năm 2007, các công ty nước ngoài đầu tư ở Việt Nam nhận cả những công nhân mù chữ và đã mở các lớp “xóa mù” chỉ để đảm bảo công nhân có thể đọc được các thông báo an toàn và những chỉ dẫn cơ bản. Về danh nghĩa, các doanh nghiệp FDI được tiếng là thu hút nhiều lao động nhưng thực chất hiện nay các doanh nghiệp này đang tìm cách khai thác triệt để nguồn lao động rẻ tiền, “vắt kiệt” mồ hôi của công nhân mà không quan tâm đào tạo trình độ và kỹ năng cho họ. Trên thực tế, mặc dù khu FDI thu hút 1,7 triệu lao độngnhưng đều là những lao động không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn ngày. Một điểm bất cập khác là dòng vốn đầu tư nước ngoài hầu như chỉ rót vào những ngành có công nghệ tương đối thấp, nặng về lắp ráp, gia công mà một số doanh nghiệp thực chất là các phân xưởng của công ty mẹ bên nước ngoài.

    • Về vấn đề đất đai và công tác giải phóng mặt bằng:

    Công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục. Nhiều địa phương đang lâm vào tình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp phép đầu tư. Việc thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay.

    Vấn đề quy mô vốn và diện tích sử dụng đối với một số dự án FDI quy mô lớn cũng đang là vấn đề đặt ra cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Việc khai tăng nhu cầu sử dụng đất sẽ tạo ra áp lực lớn cho nhà nước về tài chính cũng như các vấn đề xã hội trong quá trình giải phóng mặt bằng khu vực dự án, đồng thời cũng gây lãng phí nguồn lực về đất đai của quốc gia vốn ngày càng hạn hẹp. Không nên chia bãi biển cho các dự án quá nhỏ, manh mún (như ở “thành phố resort” Phan Thiết), cũng không nên tạo đặc quyền cho các dự án quá lớn, trải khắp một bãi biển rộng (như đoạn đường từ Đà Nẵng đi Cửa Đại, Hội An), vì như vậy sẽ làm cho các dự án nhỏ không đủ quy mô để phát huy lợi thế về thiên nhiên của địa phương và hiệu quả không cao, còn các dự án lớn thì tạo nguy cơ chiếm dụng đất trong tương lai, khi các bãi biển của chúng ta trở thành những khu du lịch có sức hút, những mảnh đất hiện tại được cấp với giá thấp sau này sẽ biến những người chủ sở hữu trở thành những kẻ thống trị những bãi biển giàu có đó.

    • Về xúc tiến đầu tư:

    Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực.

    • Thực trạng thực hiện vốn FDI
    1. Số vốn FDI thực hiện

    Vốn thực hiện của các dự án cũng có sự tăng trưởng đáng kể:

    • Năm 2006 là 4,1 tỷ USD
    • Năm 2007 đạt 8 tỷ USD
    • Năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD,( gấp gần 3 lần năm 2006 va đạt mức cao nhất trong hơn 20 năm qua)
    • Năm 2009 ước đạt 10 tỷ USD số vốn này chỉ giảm khoảng trên 10% so với năm 2008. Đây là kết quả đáng khích lệ trong điều kiện vốn FDI quốc tế giảm nhiều và FDI của nhiều nước trong khu vực giảm 20-30%. Thực trạng này phản ánh độ tin cậy khá cao của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam, và với triển vọng tình hình kinh tế – xã hội năm 2010 được dự báo khá lạc quan có thể hy vọng FDI sẽ lại khởi sắc mạnh mẽ tại Việt Nam.

    Tuy nhiên tốc độ giải ngân vốn vay còn rất thấp: Tỷ lệ giải ngân so với vốn đăng ký của năm 2006 là 46,6%, năm 2007 là 37,6%, năm 2008 là 17,9% năm 2009 là 46,6% . Báo cáo tình hình FDI 3 tháng đầu năm 2010 vừa được công bố cho thấy, giải ngân vốn FDI trong tháng 3/2010 đã nhảy một bước dài khi đạt kỷ lục 1,4 tỷ USD nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong quí 1 năm 2010 lên 2,5 tỷ USD.

    Tỷ lệ vốn giải ngâp thấp, theo đánh giá của các chuyên gia là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của suy giảm kinh tế Việt Nam và tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nước ta cùng với xuất nhập khẩu suy giảm, chứng khoán khó khăn.

    Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh “Tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn tiền đổ vào khiến chúng ta đang đứng trong một vòng luẩn quẩn. Ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động dẫn đến việc tăng lãi suất cho vay. Gánh nặng này đè lên vai các doanh nghiệp và họ “chia sẻ” nó sang hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ… khiến cho giá cả tăng vọt và kẻ chịu trận cuối cùng chính là người tiêu dùng”.

    1. Hiệu quả của các dự án đầu tư

    Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp có FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao và đổi mới công nghệ cho nền kinh tế. Nhưng trên thực tế, một báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm từ 2007 – 2009, đã đánh giá: “khu vực FDI kém hiệu quả nhất, hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ”. Tại sao lại như vậy?

    Có một bộ phận những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng những hình thức rất tinh vi được gọi là “chuyển giá ” để trốn thuế. Chuyện này thường xảy ra trong các công ty con đặt tại Việt Nam và công ty mẹ đặt tại nước ngoài.

    Các cuộc điều tra cũng đã cho thấy, khi nhập hàng vào gia công, các công ty con thường khai khống giá thành nguyên liệu nhập của công ty mẹ lên rất cao và khai thấp đi giá bán hàng khi xuất; kê khai giá nhập thiết bị cao chót vót để rồi hạch toán khấu hao lớn, làm tăng chi phí giá thành sản phẩm, dẫn đến việc trong sổ sách chứng từ kế toán họ triền miên khai thua lỗ.

    • Tác động đến sự phát triển kinh tế
    1. Tác động đến môi trường, tài nguyên, sinh thái

    Một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải, sự cố tràn dầu,…  trong các dự án FDI đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái trong khi các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện.

    FDI cũng ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái, sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống và  nơi cư trú của các động – thực vật hoang dã đã bị xáo trộn, phá hủy.

    Sự việc công ty Vedan phá hoại môi trường Việt Nam suốt 14 năm được lấy làm ví dụ điển hình nói về tác động của các doanh nghiệp FDI tới môi trường Việt Nam và việc quản lý của các cấp chính quyền với các dự án đầu tư . Sự vi phạm nghiêm trọng những quy chuẩn về bảo vệ môi trường của nhiều công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh hiện nay và sự làm ngơ của chính quyền địa phương đã , đang, và sẽ phá hủy những tài sản chung của xã hội chỉ để phục vụ mục đích riêng của một nhóm người thiểu số .

    “Không chỉ có Vedan, thống kê hiện nay trong số hơn 100 khu công nghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Bộ TN&MT đã, đang và sẽ tổ chức nhiều đoàn thanh tra đi khắp các địa phương, lập danh sách đen các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, có khả năng bị đóng cửa, trong đó sẽ đặc biệt chú ý đến các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, Khánh Hoà, lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy….” – Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết. Sự “đặc biệt chú ý” này có thể giải quyết được bao nhiêu phần trăm tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đang hiện hữu ở các khu công nghiệp? Và tại sao lại chỉ quan tâm đến những doanh nghiêph gây ô nhiễm “ nghiêm trọng”? Chúng ta cần phải có những biện pháp thiết thực chứ không phải là những lời nói suông như thế. Tài nguyên thiên nhiên, sinh thái của nước ta có thể bi bán rẻ cho đến khi có một biện pháp được thực hiên một cách hiệu quả để giải quyết thực trạng này, nếu không thì cái giá phải trả có thể lớn hơn rất nhiều so với lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng ngắn hạn.

    1. Tác động đến dân cư những vùng có dự án đầu tư

    Các cộng đồng dân cư nghèo ven biển buộc phải hy sinh nhà cửa, ruộng vườn để nhường chỗ cho những resort 5 sao lộng lẫy hay các sân golf thênh thang, có được đền bù thỏa đáng hay không? Thật sự là không thể không lo ngại khi hàng loạt mảnh đất đắc địa chạy dọc “mặt tiền” bờ biển Quảng Nam, Đà Nẵng đều được “cắt” để “chia lô” cho các dự án resort, sân golf, khu biệt thự có vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi các dự án đến các địa phương, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, nông dân – đối tượng đông nhất trong xã hội mà trên 83% lao động chưa qua đào tạo bị mất kế sinh nhai, khiến cho nền kinh tế phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Tình trạng thiếu việc làm khiến thu nhập và mức sống của nông dân ngày càng thấp tương đối so với mặt bằng chung của xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

    • Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án

    Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng chỉ số ICOR  của khu vực FDI rất cao,làm giảm hiệu quả dầu tư của khu vực này. Để có cái nhìn toàn diện về vấn đề nay, hãy xem xét một số ví dụ sau đây:

    Vào thời điểm cấp phép, tháng 3/2007, dự án xây dựng nhà máy thép cán nóng liên doanh trị giá 527 triệu USD của Tập đoàn ESSAR Steel, Ấn Độ (65% vốn) với Tổng Công ty Thép Việt Nam (20% vốn) và Tổng Công ty Cao su Việt Nam (15% vốn) đã hoàn chỉnh hồ sơ mời thầu để có thể khởi công vào cuối năm 2007. Đáng tiếc là việc vay vốn ngân hàng của ESSAR bị trục trặc nên dự án đã không động thổ được. Năm 2008, đối tác này đã đề nghị tạm dừng triển khai dự án để nhượng bớt phần vốn pháp định cho đối tác khác. Đến nay, tập đoàn đã phải xin rút tên ra khỏi dự án và nếu như 2 tổng công ty của Việt Nam không xoay xở được thì dĩ nhiên, dự án cũng có nguy cơ bị huỷ bỏ.

    Dự án khổng lồ gần 10 tỷ USD – khu liên hợp thép Cà Ná tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cũng sẽ bị rút giấy phép đầu tư. Đây cũng là dự án FDI có qui mô vốn lớn nhất từ trước tới nay. Dự án là “sản phẩm” liên doanh giữa Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Vinashine (30% vốn) và Tập đoàn Lion Group – Diverssifie Holding Behard (70% vốn) của Malaysia.

    Dự án liên hợp thép Tycoon – E.United ở Dung Quất, Quảng Ngãi, được cấp phép vào tháng 9/2006 với tổng vốn 1,2 tỷ USD, dự án này đã gây xôn xao dư luận và khởi động cho một chuỗi các dự án FDI “tỷ đô” ồ ạt vào Việt Nam sau đó .Thực tế, nhà máy thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy sự thay đổi như chong chóng của phía các nhà đầu tư. Ban đầu, chủ đầu tư là liên doanh giữa Tập đoàn Tycoon (Đài Loan) và Jinnan (Trung Quốc). Chỉ sau gần 1 năm, Jinnan đã rút tên khỏi dự án và thay vào đó là Công ty E-United của Đài Loan với tỷ lệ góp vốn là 90%. Tycoon chỉ còn góp 10% vốn, đồng thời, nâng vốn đăng ký đầu tư lên 3 tỷ USD.

    Mỗi dự án liên hợp thép đã chiếm ít nhất từ 1000-3000 ha đất, chưa kể diện tích cảng biển và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Khi dự án bị treo thì đồng nghĩa một diện tích đất lớn, cái mà nghìn hộ dân đã phải nhường mặt bằng, đã bị chiếm dụng trong nhiều năm, lãng phí hiệu quả kinh tế có thể thu được trên mảnh đất đó, làm lỡ mất cơ hội cho các nhà đầu tư khác đủ năng lực hơn và lỡ cả cơ hội có được lợi nhuận nếu như dự án đúng tiến độ.

    Cùng với thép, vốn FDI đổ quá nhiều vào bất động sản nằm trong tầm soi của nhiều chuyên gia kinh tế. Đây là những dự án đầu tư không lành mạnh, không có ích cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng, không chuyển giao công nghệ cao trong khi lại chiếm dụng nhiều đất đai.

    Chẳng hạn như dự án về khách sạn Lotus. Dự án có tổng vốn đầu tư là 500 triệu USD, nằm trong diện các công trình trọng điểm chào đón Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Dự án đã được cấp phép cho nhà đầu tư Riviera Corporation của Nhật Bản vào năm 2007 và nhà đầu tư này đã cam kết sẽ hoàn thành công trình vào cuối năm 2009. Thế  nhưng, tin tức trên VietNamNet cho thấy Riviera Corporation đã chính thức có văn bản xin rút tên khỏi dự án. Lý do chính vẫn là không thu xếp được tài chính.

    Cũng nằm trong mục tiêu hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội và cũng đứng trước nguy cơ đổ bể là dự án tổ hợp trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê cao 65 tầng mang tên Hanoi City Complex của nhà đầu tư Coralis, Luxembourg. Vào thời điểm được cấp phép cuối năm 2006 với tổng vốn đăng ký 114 triệu USD, tổ hợp này đã được quảng cáo hoa mỹ là toà nhà chọc trời của Hà Nội, là dự án có qui mô vốn FDI lớn nhất của Hà Nội. Nhà đầu tư đã cam kết sẽ triển khai trong 3 năm và phấn đấu hoàn thành trước năm 2010.

    Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung uơng, Bộ Kế hoạch đầu tư đã bóc tách các con số này: năm 2008, ước khoảng 70%  vốn của các dự án  FDI đều là vốn vay, trong đó, một phần không nhỏ là vay trong nước. Một trong các hệ lụy, theo phân tích của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, là số vốn FDI được công bố không phản ánh đúng đồng vốn thực mà các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.Điều nay dẫn đến khi nguồn vốn trong nước bị thiếu hụt thì các dự án cũng chỉ có cách là nằm chờ hoặc rút lui. Hậu quả để lại, tất nhiên lại là nhân dân. Đây là hệ quả của việc cấp phép dễ dãi tại các địa phương. Việc thẩm định năng lực chủ đầu tư của chính quyền cấp tỉnh rõ ràng là có vấn đề.

    Nhìn chung, tuy Việt Nam thu hút được nhiều vốn FDI nhưng sự phân bổ vốn lại không đều giữa các ngành, nghề, các thành phần kinh tế. Việc giải ngân vốn cững chưa hiệu quả, quy trình xem xét và thẩm định dự án còn nhiều bất cập. Các yếu tố trên dẫn đến kết quả là việc sử dụng vốn FDI của Việt Nam không hiệu quả.

    1.2.3     Nguyên nhân sử dụng vốn FDI không hiệu quả

    Bên cạnh những nguồn lực nội tại của ngành kinh tế, FDI giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Một câu hỏi được đặt ra là: liệu nguồn vốn này đã được sử dụng một cách hiệu quả? Theo dõi số liệu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì chúng ta dễ dàng nhận thấy lượng vốn đầu tư đã gia tăng đáng kể, với mức kỉ lục của năm 2008 hơn 64 tỉ USD. Nhưng lượng giải ngân chưa nhiều; việc sử dụng vốn chưa thực sự đạt hiệu quả.

    Ta có hai chỉ số chính để đo lường hiệu quả của đầu tư FDI: ICOR (đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp). ICOR càng cao thì càng là dấu hiệu xấu, chứng tỏ vốn đầu tư trở thành yếu tố quá quan trọng trong khi các nhân tố tăng trưởng khác lại không phát huy. Ngược lại, TFP càng cao càng là dấu hiệu tốt. Trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Vậy Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả  là thấp nhất. Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công “cũng có mang lại đổi mới công nghệ”. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). “Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ mạt, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết”.

    Đó là một thực trạng đã và đang tồn tại. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn này còn gặp nhiều khó khăn, báo điện tử Vneconomy có điểm qua  các “nút thắt” lớn trong vấn đề này:

    Thứ nhất, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa các luật chung và luật chuyên ngành. Bên cạnh đó thủ tục hành chính rườm rà, nhiêu khê là một cản trở không nhỏ. Bài “Thủ tục hành chính “ngáng chân” doanh nghiệp FDI” số ra ngày 21/05/2009 trên báo Đời sống & Pháp Luật: “Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam cho hay, qua khảo sát ý kiến thì có 5% doanh nghiệp Hàn Quốc có ý định giảm qui mô kinh doanh ở Việt Nam và có 2% doanh nghiệp muốn chuyển đầu tư từ Việt Nam sang nước khác.” Thủ tục hành chính phức tạp như chuyện giải thích về luật rất khác nhau là một trong những lý do lớn để số doanh nghiệp Hàn Quốc này muốn rời bỏ Việt Nam trong tương lai.

    Thứ hai, công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung.

    Thứ ba, sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu,

    Thứ tư, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội… mà còn ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương…

    Theo nguồn tin từ trang tinmoi.vn thì việc tìm kiếm lao động lành nghề, nhân lực quản lý cấp trung gian có trình độ là vấn đề đau đầu của đa số các Doanh nghiệp FDI. Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Thái Lan tại Việt Nam, ông Panat Krairojananan lo lắng, các DN nước ngoài khi mới đến Việt Nam, đôi khi vẫn phải thuê người nước ngoài vào làm, bởi lẽ họ khó mà tìm được người giỏi ở Việt Nam ngay. Tuy nhiên, mức thuế thu nhập cá nhân  đối với lao động nước ngoài khá cao, xu hướng sắp tới là công ty Thái Lan sẽ phải cắt giảm lao động nước ngoài và họ sẽ phải tìm người Việt Nam cho các vị trí quan trọng. Thế nhưng, đây là việc vốn dĩ vô cùng khó, bởi vì: “Một số sinh viên Việt Nam đã ra trường mà những tính toán cơ bản lại không tính được”( Harry Beirnaert, Chủ tịch Hiệp hội DN Bỉ – Luxembourg tại Việt Nam).

    Trong thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài hầu như chỉ mới khai thác nguồn lao động chi phí thấp chứ chưa thực hiện nhiều việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao và đào tạo nhân lực để phát triển công nghiệp nội địa. TS. Nguyễn Quang Hồng, Đại học Kinh tế quốc dân đã dẫn kết quả một cuộc khảo sát của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) được thực hiện trong hơn 100 doanh nghiệp điện tử gần đây, cho thấy các công ty trong nước tuyển dụng từ 10 – 64% lao động có trình độ cao đẳng trở lên, trong khi đó con số tuyển dụng cùng trình độ tương ứng ở khu vực FDI chỉ ở mức từ 4 – 10%.

    Sau sự kiện Công ty Sanyo thành lập nhà máy sản xuất linh kiện điện tử đầu tiên bằng  vốn FDI, các ngành công nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chỉ sản xuất được những mặt hàng đơn giản, những sản phẩm công nghệ cao cũng mới chỉ là lắp ráp. Chính vì các công đoạn cần kỹ thuật cao chưa phải do lao động Việt Nam đảm nhận, nên việc học hỏi, tích lũy kinh nghiệm qua thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp FDI của nhân lực trong nước chưa được nhiều. Xu hướng của các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài đang tăng lên, trong đó gần 50% lao động phổ thông và chỉ có gần 45% có trình độ đại học trở lên.

    Báo cáo của Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế Tp.HCM (nay là Viện Nghiên cứu phát triển), cho biết lao động không có chuyên môn kỹ thuật tại Tp.HCM đến năm 2010 chiếm tỷ lệ khoảng 65,6%; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật kể cả công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng và đại học chỉ khoảng 34,4%. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải có giải pháp để tăng cường năng lực kỹ thuật cho lao động Việt Nam để tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI.

    Thứ năm, công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục trong môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nói chung và yêu cầu  thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng. Nhiều địa phương đang lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

    Việc đền bù thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay, đặc biệt đối với dự án 100% vốn nước ngoài. Bên cạnh đó là tình trạng cho thuê đất với “giá rẻ bất ngờ” của một số địa phương, điển hình là vụ việc xảy ra ở tỉnh Quảng Nam. Tỉnh này đã cho một doanh nghiệp nước ngoài thuê đất với giá 2,75 đồng một năm trên 1 mét vuông, rẻ hơn gấp nhiều lần so với giá 1 điếu thuốc lá- báo điện tử Vietnamnet đã đưa tin.

    Thứ sáu, chủ trương phân cấp trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài là đúng đắn. Tuy nhiên, trong điều kiện hệ thống quy hoạch chưa đồng bộ, kịp thời, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại một số địa phương còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ nên đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh thiếu lành mạnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, thiếu sự liên kết vùng, khu vực, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư.

    Một số địa phương không thẩm tra kỹ về năng lực của các nhà đầu tư trong các dự án có quy mô lớn, chạy đua với nhau trong việc cấp phép các dự án lớn có quy mô hàng tỷ USD. Do vậy, khả năng triển khai các dự án này sẽ rất khó khả thi theo đúng cam kết của nhà đầu tư.

    Thứ bảy, việc xử lý chất thải của các dự án đầu tư nước ngoài tập trung tại các khu công nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điểm đã và đang ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên cũng như xã hội, trong đó đặc biệt là đối với các dự án sản xuất quy mô lớn.

    Cuối cùng, công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Nguyên nhân chính là do chưa có một chiến lược tổng thể về xúc tiến đầu tư, làm cho công tác xúc tiến đầu tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống; trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động; công tác quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do còn thiếu một văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này.

    Cũng theo bài “Cảnh báo hiệu quả của FDI” trên trang đời sống & Pháp luật, hiệu quả đầu tư thấp còn có nguyên nhân rất lớn từ phía công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém. Việc thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương đang “thoáng” tới mức không cân nhắc thật cẩn trọng ba yếu tố mấu chốt: quỹ đất; vấn đề đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ; chất lượng sản phẩm đầu ra. Hai yếu tố sau có liên quan trực tiếp tới công nghệ. Tuy nhiên việc “thoáng” như thế đã gây ra hệ quả là các công ty ở Việt Nam giống như các “phân xưởng” của công ty mẹ ở nước ngoài: lương lao động  rất rẻ, bệnh nghề nghiệp nhiều. Có nhà máy mấy chục ngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuần gọi là “đào tạo”, nhập các máy móc, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Như vậy việc quản lý yếu kém của các nhà chức năng đã dẫn tới việc biến nước ta thành nơi chứa dựng các thiết bị lạc hậu và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt ở nước ta để sinh lợi cho họ. Chính “Bộ KH-ĐT cũng thừa nhận rằng phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý đầu tư và xây dựng còn kém, thường lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chính sách, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để trục lợi bất chính nhưng lại chưa được xử lý triệt để.”- theo báo dautuxaydung.com.

    Như vậy để đạt được hiệu quả cao có lẽ phải bắt đầu từ việc xem lại cơ chế chính sách trong quản lý đầu tư và tính nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật. Đồng thời việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cũng là một vấn đề cấp thiết cần quan tâm.

    1.3       KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

    1.3.1     Kiến nghị

    1.3.2     Giải pháp

    Trên cơ sở những phân tích tổng quan, tình hình, thực trạng sử dụng FDI … ở Việt Nam, các nhà kinh tế, các chủ doanh nghiệp, các chuyên viên phân tích đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết tình trạng sử dụng nguồn vốn FDI sẵn có không hiệu quả  như sau:

    Thứ nhất, cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện. Mạnh dạn hơn nữa trong việc cho phép và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhất là những công trình hạ tầng đang xây dựng dở dang và đã kéo dài nên được hoàn thành tránh sự lãng phí không đáng có.

    Thứ hai, rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác nước ngoài có liên quan đều lo ngại về những luật lệ và quy định mới, do đó cần đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

    Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

    Thứ tư, từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Phải xác định cho đúng những đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất  lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu.

    Thứ năm, cần xây dựng những quy định cụ thể, chặt chẽ để ngăn chặn các hoạt động huy động vốn đầu tư trong nước của các nhà đầu tư nước ngoài ở nhiều dự án, nhất là các dự án bất động sản xây dựng căn hộ và văn phòng cho thuê. Hình thức này đang gây ra tình trạng thu hút vốn của các doanh nghiệp trong nước, tạo thêm trở ngại cho việc phát triển khu vực kinh tế trong nước trong điều kiện khó khăn hiện nay. Ðặc biệt, các cơ quan quản lý cần chú trọng hơn nữa đến những ảnh hưởng về môi trường và các thiệt hại về tài nguyên trong việc cấp phép các dự án FDI; giám sát chặt chẽ việc thực hiện các cam kết không gây ô nhiễm môi trường của các dự án đầu tư; nghiêm khắc xử lý những hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường, làm thiệt hại lợi ích của nhân dân.

    Ðể tận dụng những lợi thế và biến thách thức thành thời cơ trong thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI, nhiều chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, và đẩy mạnh giải ngân, trong đó chú trọng đến các địa phương có tiềm năng, song chưa tạo được bước đột phá trong thu hút FDI. Tập trung giải quyết những yếu kém về kết cấu hạ tầng giao thông, điện nước; về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng; về năng lực của bộ máy quản lý nhà nước; tháo gỡ những khó khăn về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn FDI đăng ký. Cần rà soát chặt chẽ và kiên quyết xử lý những dự án “treo” kéo dài, chủ đầu tư không có khả năng thu xếp vốn, dự án chuyển đổi mục đích… tạo cơ hội cho các đối tác khác vào đầu tư, tránh lãng phí về cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất, kinh doanh.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận toán cao cấp C2

    Tiểu luận toán cao cấp C2

    Tiểu luận toán cao cấp C2

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-to%C3%A1n-cao-c%E1%BA%A5p-C2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận toán cao cấp C2

    CHƯƠNG I : ĐẠO HÀM VÀ VI PHÂN

    A.LÝ THUYẾT:

    1.1 Đạo hàm riêng:

              Định nghĩa:Cho hàm 2 biến f:

    X:  tập xác định

    Xét

         1.2 VI PHÂN:

    * Định nghĩa:

    Cho hàm số z = f (x,y) đạo hàm riêng của hàm số theo biến x, kí hiệu là:

    là giới hạn

    * Vi phân hai biến:

    Định nghĩa:

    Cho hàm số z = f(x,y) thì

    Tổng quát:

              B. BÀI TẬP:

    Câu 1: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 2: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 3 : Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 4: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 5: Cho hàm số Tính

    Giải:

    Ta có:

    Câu 6: Cho hàm số Tính

    Câu 7: Tìm vi phân cấp một của hàm số:

    Giải:

    Ta có:

    z = x2 + 4y

    z/x = (x2 + 4y )/ =  2x

    z/y =  (x2 + 4y )/ = 4y.ln4

    dz = 2xdx + 4yln4dy

    Câu 8: Tìm vi phân cấp một của hàm số:

    Giải:

    Ta có:

    z =

    z/x = =  =

    z/y =  =  =

    Câu 9: Tím vi phân cấp một của hàm số:

    Giải:

    Ta có:

    z =

    z/x

    z/y

    Câu 10:  Tìm vi phân dz của hàm:

    Giải:

    Câu 11:  Tính vi phân cấp 2 của hàm:

    Giải:

    Câu 12: Cho hàm hai biến , tính

    Giải:

    Câu 13:  Tìm vi phân cấp hai  của hàm hai biến

    Giải:

    Ta có:

    Câu 14: Tìm vi phân cấp hai  của hàm hai biến

    Giải:

    Ta có:

    Câu 15: Tìm vi phân cấp hai  của hàm hai biến

    Giải:

    Câu 16: Tìm vi phân cấp hai của hàm hai biếnn

    Giải:

    Ta có:

    CHƯƠNG II:  CỰC TRỊ

    A. LÝ THUYẾT:

    1.1.  CỰC TRỊ TỰ DO:

    Cho hàm số z = f(x,y) xác định trên miền D R2

    Điểm P(a,b) được gọi là cực trị địa phương của hàm z =f(x,y) nếu:

    giả thiết: lân cận điểm P

    Cực tiểu địa phương

    Cực trị = cực đại + cực tiểu

    Điểm dừng:

    Nếu  tồn tại cực trị địa phương thì nó đạt cực trị địa phương tại các điểm dừng

    *Phương pháp tìm cực trị tự do:

    Z = f(x,y), D

    Tìm cực đại:

    Bước 1:

    được gọi là điểm dừng.

    Bước 2:

    Tính

    Bước 3:

    Đặt

    Xét

    Nếu  <0  điểm (xo,yo) không phải là cực trị

    Nếu  là cực trị

    Với A>0  (xo,yo) là điểm cực tiểu

    Với A<0  (xo,yo) là điểm cực đại

    dùng phương pháp khác hoặc chưa thể kết luận

    1.2 CỰC TRỊ CÓ ĐIỀU KIỆN:

    Cho hàm số z = f(x,y) và hàm số Điểm (xo,yo) được gọi là điểm cực trị của hàn số f(x,y) với điều kiện  nếu nó là cực trị của z = f(x,y) và thoả mãn

    * Điều kiện cần:

    Giả sử (xo,yo) là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện . Ta giả thiết thêm các hàm f(x,y) ; có các đạo hàm riêng liên tục trong lân cận của điểm (xo,yo). Khi đó sẽ tồn tại một số thoả:

    (I)

    Khi đó (xo,yo) gọi là điểm dừng

    : nhân tử Lagreange

    * Phương pháp tìm cực trị có điều kiện :

    Cách 1: Từ  ta tính . Thay vào

    ta được hàm một biến theo

    Cách 2:

    * Giải hệ (I) để tìm điểm dừngvà

    *

    Xét

    Nếu  hàm không có cực trị tại

    Nếu  hàm  có cực trị

    + là điểm cực tiểu

    + là điểm cực đại

     

    B. BÀI TẬP:

    Câu 17: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Ta có :

    Giải hệ phương trình:

    điểm M(1,0) là điểm dừng

    Đặt:

    Ta có:  Hàm có cực trị.

    Và A = 2 > 0 Hàm đạt cực tiểu tại điểm M(1,0)

    Câu 18: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 3 điểm dừng

    Vậy M1(0;0) không phải là cực trị của hàm số

    Vậy M2(2;0) là điểm cực tiểu của hàm

    Vậy M3(-2;0) là điểm cực tiểu của hàm

    Câu 19: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Ta có :

    Giải hệ phương trình:

    điểm M(0,0) là điểm dừng.

    Đặt:

    Hàm z không có cực trị tại M(0;0)

    Câu 20: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Có 1 điểm dừng

    là cực trị

    Và là cực tiểu của hàm z

    Câu 21: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Ta có :

    Giải hệ phương trình:

    điểm là điểm dừng

    Đặt:

    Hàm z có một điểm dừng nhưng không có cực trị.

    Câu 22: Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    ;   hệ vô nghiệm, không có điểm dừng

    Câu 23 : Cho hàm  Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt:

    là điểm cực tiểu

    Câu 24 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Vậy hàm Z không có cực trị tại

    Câu 25: Tìm cực trị của hàm số:   với điều kiện

    Giải:

    Từ (1) => = 4 (1/)

    (3) => y =  – 1 (2/)

    thế (1/), (3/) vaò (2) ta có:

    2(-1) – 2 + 4 = 0

    2 – 2 – 2 + 4 =0

    6 – 4 = 0

    => y =

    là cực tiểu

    Câu 26 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Vậy hàm Z không có cực trị tại

    Câu 27 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Và là điểm cực tiểu của hàm z

    Câu 28 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    hệ vô nghiệm

    Không có điểm dừng. Vậy hàm z không có cực trị

    Câu 29 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    điều này vô lý hệ vô nghiệm

    Không có điểm dừng. Vậy hàm z không có cực trị

    Câu 30 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải

    Có 1 điểm dừng

    Đặt :

    Vậy hàm z không có cực trị tại

    Câu 31 : Cho hàm   Tìm cực trị?

    Giải:

    Có 2 điểm dừng

    * Xét điểm  :

    Đặt :

    Và là điểm cực đại của hàm z

    Có 2 điểm dừng

    * Xét điểm  :

    Đặt :

    Và là điểm cực đại của hàm z

    Câu 32 : Cho hàm   với điều kiện

    Giải:

    Đặt

    Vậy hàm số đạt cực tiểu tại điểm

     

    Câu 33 : Cho hàm   với điều kiện

    Giải:

    Vậy hàm số đạt cực đại tại điểm  và

    Câu 33 : Cho hàm   với điều kiện

    Giải:

     
       

     

     

     

     

    Vậy hàm số đạt cực đại tại điểm , đạt cực tiểu tại

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ngô Thành Phong. Giáo trình toán cao cấp ĐHKHTN 2003
    2. Nguyễn Đình Trí và nhiều tác giả khác
    3. Trang wed Google.com

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    1.     Chính sách tiền tệ

     

    1.1. Khái niệm:

    Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế.

    Tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:

    Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – chính sách tiền tệ chống thất nghiệp).

    Chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

    1.2. Vị trí chính sách tiền tệ

    Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại.

    Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.

    1.3. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ

    1.3.1. Mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền

    NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng không, vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được. Trong điều kiện nền kinh tế trì trệ thì kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại.

    Nhóm IV 3

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    1.3.2. Mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

    CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng.

    1.3.3. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế

    Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.

    1.3.4. Ổn định thị trường tài chính

    Tình trạng khủng hoảng tài chính có thể làm giảm khả năng của thị trường tài chính trong việc tạo ra kênh dẫn vốn cho người có cơ hội đầu tư vào sản xuất, qua đó làm giảm quy mô hoạt động kinh tế. Bởi vậy, việc tạo ra hệ thống tài chính ổn định hơn, tránh được các cuộc khủng hoảng tài chính là mục tiêu quan trọng của NHTW.

    Sự ổn định thị trường tài chính được hỗ trợ bởi sự ổn định của lãi suất, bởi vì sự biến động của lãi suất tạo ra sự bất định lớn cho các định chế tài chính. Sự gia tăng lãi suất tạo ra các tổn thất lớn về vốn cho trái phiếu dài hạn và các khoản cho vay cầm cố, cũng như những tổn thất này có thể làm cho các định chế tài chính nắm giữ nó sụp đổ.

    1.3.5. Ổn định thị trường hối đoái

    Với tầm quan trọng ngày càng tăng của tỷ giá hối đoái trong thương mại quốc tế, ổn định tỷ giá trở thành mục tiêu mong muốn của CSTT. Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trong nước so với nước ngoài. Ngoài ra, ổn định tỷ giá giúp cho các doanh nghiệp và cá nhân trao đổi hàng hoá với nước ngoài dễ dàng lập kế hoạch hơn.

    1.3.6. Ổn định thị trường lãi suất

    Sự biến động của lãi suất có thể tạo ra tính bất định trong nền kinh tế và khó khăn trong lập kế hoạch cho tương lai. Biến động của lãi suất ảnh hưởng tới lượng dự trữ, mức chi tiêu của người dân và đồng thời ảnh hưởng tới khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

    Nhóm IV 4

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

    • Các công cụ của chính sách tiền tệ

    2.1. Công cụ trực tiếp

    2.1.1. Kiểm soát hạn mức tín dụng

    Khái niệm:Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.Để hạn chế việc tạo tiền quá mức của NHTM, NHTW quy định hạn mức tín dụng tối đa cho từng NHTM.

    Ưu điểm: là công cụ quan trọng khi các công cụ truyền thống kém hiệu quả.

    Nhược điểm: khống chế hạn mức tín dụng làm lãi suất thị trường tăng, làm giảm cạnh tranh giữa các NHTM.

    2.1.2. Quản lý lãi suất của Ngân hàng thương mại

    NHTW có thể trực tiếp quy định khung lãi suất đối với các NHTM. (gồm có lãi suất trần và lãi suất sàn với các khoản huy động hoặc cho vay của NHTM).

    Ưu điểm: tác động nhanh, trực tiếp đến lãi suất của các NHTM, nhờ đó tác động đến tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Đây là một công cụ quan trọng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả.

    Nhược điểm:là một công cụ cứng nhắc, kiểm soát lã suất sẽ triệt tiêu cạnh tranh của các NHTM, dễ gây tác động xấu tới hoạt động tiết kiệm và đầu tư. Vì vậy, nó thườngchỉ được sử dụng trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, hay cácyếu tố thị trường chưa phát triển hoàn chỉnh. Ngoài ra, các NHTM có thể ngầm không tuân theo khung lãi suất quy định của NHTW.

    2.2. Công cụ gián tiếp

    Bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu và dự trữ bắt buộc.

    2.2.1. Nghiệp vụ thị trường mở

    Khái niệm: Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, chủ yếu là tín phiếu kho bạc, nhằm làm tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng. Đây là công cụ quan trọng nhất của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng.

    Nhóm IV 5

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Hàng hoá: (Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, trái phiếu chính phủ)

    Cơ chế tác động:

    • Bán các giấy tờ có giá: thu hẹp tín dụng.
    • Mua các giấy tờ có giá: mở rộng tín dụng. Ưu điểm:
    • NHTW có thể kiểm soát hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường mở.
    • Linh hoạt và chính xác cao.
    • NHTW có thể dễ dàng đảo ngược tình thế của mình.
    • Nhanh chóng, ít tốn kém chi phí và thời gian.

    Nhược điểm: là công cụ được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào chủ thể khác trên thị trường (các Ngân hàng thương mại, …).Ở Việt Nam do thị trường chứng khoán chính phủ chưa phát triển nên NHNN phát hành tín phiếu NHNN để điều tiết việc cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên do thị trường loại tín phiếu này chỉ diễn ra giữa một bên là NHNN và một bên là các NHTM nên hiệu quả điều tiết không cao, chỉ chủ yếu tác động vào dự trữ của các NHTM. Hiện nay trên thị trường mở chủ yếu là kỳ hạn 7 ngày, các kỳ hạn dài hơn hầu như chưa có.

    2.2.2. Chính sách chiết khấu

    Khái niệm: Chính sách chiết khấu là công cụ của NHTW trong việc thực thi chính sáchtiền tệ, bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh.

    Cơ chế tác động: NHTW tăng hoặc giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu phụthuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là nới lỏng hay thắt chặt.

    Ưu điểm: NHTW là người cho vay cuối cùng, kiểm tra chất lượng tín dụng của các NHTM, bơm tiền vào nền kinh tế, NHTM sẽ có chỗ dựa là NHTW.

    Nhược điểm: NHTW thường bị động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng. NHTWchỉ có thể thay đổi lãi suất chiết khấu nhưng không thể bắt các NHTM đến vay chiết khấu ở NHTW.

    2.2.3. Dự trữ bắt buộc

    Khái niệm: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được dùng để cho vay hoặc đầu tư. Mức dự trữ cho NHTW quy đinh và bằng một tỉ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi củakhách hàng tại các tỏ chức tín dụng.

    Cơ chế tác động:

    Nhóm IV 6

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo bội số tiền gửi của các NHTM. NHTW tăng hoặc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên.
    • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của NHTM. Khi tỉ lệ này tăng,đòi hỏi NHTM tăng lãi suất cho vay, khả năng cho vay của NHTM giảm, lượng tiềncung ứng giảm. (và ngược lại)

    Ưu điểm:

    • Ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngân hàng.
    • Là công cụ có ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng.
    • Phức tạp, kém linh hoạt, không thể thực hiện những thay đổi nhỏ trong lượng tiềncung ứng bằng công cụ dự trữ bắt buộc.
    • Ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM.
    • Dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng.
    Nhóm IV 7

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM

    1. Tổng quan chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

    Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

    Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ, xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung Ương 3 (khóa XI).

    1. Thực trạng việc áp dụng các công cụ chính sách tiền tệ

    Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã được Ngân Hàng Nhà Nước sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín dụng, ..

    2.1. Công cụ lãi suất

    Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, Ngân Hàng Nhà Nước trực tiếp quyết định các mức lãi suất như: lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường mở, trần lãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc 4 đối tượng ưu tiên đối với nền kinh tế của các Tổ chức Tín dụng.

    Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của Ngân Hàng Nhà Nước được điều hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: lãi suất tái chiết khấu < lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn, biên độ 1-2%.

    Cơ chế điều hành các loại lãi suất được điều chỉnh linh hoạt, hợp lý và đồng bộ hơn so với những năm trước đây. Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà Nước đã liên tiếp thực hiện giảm mặt bằng lãi suất, điều chỉnh giảm 4 lần đối với lãi suất tái cấp vốn từ 15% xuống 9%, lãi suất chiết khấu từ 13% xuống 8%. Lãi suất trên thị trường mở giảm 6 lần. Điều chỉnh giảm 4 lần trần lãi suất tiền gửi tối đa bằng VNĐ, từ 14%/năm xuống 9%/năm

    Nhóm IV 8

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng đến 12 tháng; từ 6%/năm xuống 2% năm đối với tiền gửi không kỳ hạn. Đồng thời, áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với bốn lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành công nghiệp hỗ trợ), lãi suất điều chỉnh giảm từ 15% xuống còn 13%, cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14 – 17%/năm. Đặc biệt, vào thời điểm cuối năm 2012 lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh 8 – 9%/năm so với đầu năm, thị trường tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011.

    Đồ thị 1: Diễn biến lãi suất năm 2005 – đầu năm 2013

    (Nguồn: Website Ngân hàng Nhà Nước http://www.sbv.gov.vn)

    Mới đây, theo Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3/2013 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với các Ngân hàng, NHNN thông báo chính thức điều chỉnh giảm 1% các lãi suất chủ chốt kể từ ngày 26/3/2013, cụ thểđiều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9%/năm xuống còn 8%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 7%/năm xuống 6%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong

    thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 10%/năm xuống 9%/năm.

    Đồng thời, NHNN quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VNĐ của tổ chức, cá nhân tại Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đối với các khoản tiền kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng giảm từ 8%/năm xuống 7,5%/năm. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do Tổ chức tín dụng ấn định trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường (theo Thông tư số 08/2013/TT-NHNN ngày 25/3), lãi suất cho vay ngắn hạn tối

    Nhóm IV 9

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    đa bằng VNĐ của Tổ chức tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên còn 11%/năm, giảm 1%/năm so với trước đó (Thông tư số 09/2013/TT-NHNN ngày 25/3)

    Biểu đồ 2: Diễn biến tình hình lãi suất huy động và cho vay

    (Nguồn: http://www.tinmoitonghop.com/k ho-giam-lai-suat)

    Sự đổi mới cơ chế lãi suất nói trên đã khuyến khích các Tổ chức tín dụng huy động vốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN không còn cơ hội cho các Tổ chức tín dụng lợi dụng vay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất lớn.

    2.2. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

    Cơ chế điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ), thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010.

    Theo cơ chế nói trên, chính sách dự trữ bắt buộc được căn cứ vào tính chất kỳ hạn tiền gửi (ngắn, trung, dài hạn), loại tiền gửi (VND và ngoại tệ) và ưu tiên đối tượng cho vay nông nghiệp, nông thôn. Đối với Tổ chức Tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40% thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam bằng 1/5 (một phần năm) và 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi.

    Nhóm IV 10

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các Tổ chức tín dụng đối với tiền gửi VND cố định 3% và không thay đổi. NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6 tháng 2012. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh toán và cho vay của Tổ chức tín dụng. Vì vậy hạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của hệ thống Tổ chức tín dụng

    Chính sách dự trữ bắt buộc áp dụng một mức chung cho tất cả các NHTM Việt Nam, làm cho công cụ dự trữ bắt buộc hoàn toàn trở thành vô tác dụng.

    2.3. Tái cấp vốn

    Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn của NHNN đã phát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các NHTM tuy nhiên vẫn còn một số điểm hạn chế như chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các Tổ chức tín dụng, chưa tác động được nhiều đến cung

    cầu vốn và các loại lãi suất trên thị trường.

    Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ được cho vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức đã được Chính phủ duyệt hàng năm; nhiều Tổ chức tín dụng cần vay nhưng không đủ điều kiện được vay tái cấp vốn; một số Tổ chức Tín dụng đủ điều kiện vay vốn nhưng không có nhu cầu vay. Do đó, doanh số cho vay và dư nợ tái cấp vốn đối với các Tổ chức tín dụng không lớn; mức độ

    tác động tới lãi suất và cung cầu vốn trên thị trường hạn chế.

    Với mức chênh lệch cao giữa lãi suất cho vay thỏa thuận của các Tổ chức Tín dụng với khách hàng và lãi suất cho vay thỏa thuận giữa các Tổ chức tín dụng với nhau so với lãi suất tái cấp vốn, sẽ tạo ra những cơ hội cho một số Tổ chức tín dụng tìm mọi cách để vay tái chiết khấu có lợi hơn huy động vốn từ nền kinh tế, hoặc để cho vay lại

    trên thị trường với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất.

    Tại Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3, NHNN điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9%/năm xuống còn 8%/năm, cùng với các lãi suất khác với mục đích NHNN muốn triển khai các giải pháp tiền tệ, tín dụng ngân hàng theo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh

    tế ở mức hợp ý theo chỉ đạo của Chính phủ.

    Nhóm IV 11

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    2.4. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)

    Trong thời gian vừa qua, NHNN điều hành công cụ nghiệp vụ thị trường mở theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ- NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-NHNN.

    Trong thời gian qua, nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày càng được mở rộng, góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh doanh cho các Tổ chức tín dụng, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tổng

    lượng tiền cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.

    Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và cho vay của tổ

    chức tín dụng, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

    Đánh giá một cách khách quan, trong năm 2012, NHNN điều hành nghiệp vụ thị

    trường mở OMO chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn thời gian trước đó.

    Tuy nhiên, một số vấn đề còn tồn tại như Quy chế nghiệp vụ thị trường mở chậm được điều chỉnh, sửa đổi kịp thời để đồng bộ với các văn bản pháp luật mới (đặc biệt là các quy định mới về phát hành giấy tờ có giá, tiêu chuẩn giấy tờ có giá, định giá giấy tờ có giá, ..) nếu không sớm điều chỉnh sẽ phát sinh các rủi ro về pháp lý, rủi ro về kinh tế

    cho các Tổ chức tín dụng và làm giảm hiệu quả của công cụ thị trường mở.

    Bên cạnh do, cơ chế mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở hiện hành chủ yếu là đấu thầu khối lượng, các mức lãi suất giao dịch thực tế phản ánh chưa chính xác quan hệ cung cầu vốn, không khuyến khích cạnh tranh thực sự giữa các Tổ chức tín dụng với mục tiêu hạ lãi suất thị trường. Khối lượng giao dịch bị hạn chế trong mức cung tiền mục tiêu hàng năm và khả năng, điều kiện tham gia thị trường mở của các Tổ chức tín dụng,

    làm giảm hiệu quả điều tiết, tác dụng của công cụ thị trường mở.

    Trong 2012, lạm phát giảm xuống nhanh dưới một con số, tăng trưởng tín dụng quá thấp so với mục tiêu, công cụ thị trường mở phải nhằm mục tiêu bơm tiền ra để hạ lãi suất, kích thích tăng trưởng tín dụng, nhưng lại mâu thuẫn với khả năng hấp thụ vốn của

    doanh nghiệp rất thấp, các Tổ chức tín dụng thừa tiền không cho vay được.

    2.5. Kiểm soát hạn mức tín dụng

    Nhóm IV 12

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp, mang tính hành chính của NHNN, được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.

    Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao và các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu lực.

    Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho từng NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các quy định. Theo đó, các nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn mức như sau: Nhóm thứ 1 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%; nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4 thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng trưởng tín dụng.

    Đến tháng 6/2012, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng tăng 1,51% so với cuối năm 2011, NHNN đã cho phép tăng chỉ tiêu đối với 10 Tổ chức tín dụng có tính hình tài chính lành mạnh, đã có tăng trưởng tín dụng đạt trên 50% chỉ tiêu thông báo của NHNN từ đầu năm.

    Công cụ hạn mức tăng trưởng tín dụng mà NHNN đưa ra trong 2012 đã phát huy tác động tích cực thúc đẩy các Tổ chức tín dụng đổi mới và tái cơ cấu hoạt động theo quan điểm và mục tiêu của chính sách tiền tệ của Chính Phủ trên các mặt sau:

    • Thúc đẩy các NHTM phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả và các chỉ số an toàn hoạt động để được xếp hạng tín nhiệm cao và có được hạn mức tăng trưởng cao.
    • Điều chỉnh, hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, góp phần cải thiện tính thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ thống hệ thống, giảm áp lực lạm phát.
    • Tác động mạnh mẽ và có hiệu quả đến mục tiêu tái cơ cấu, sát nhập các NHTM yếu kém, tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kiểm soát hạn mức tín dụng của NHNN trong thời gian qua đã cho thấy một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung nhằm phát huy hiệu quả cao hơn:

    Thời điểm áp dụng công cụ hạn mức tín dụng chưa phù hợp với giai đoạn suy kiệt tín dụng và giảm tổng cầu của nền kinh tế, nên công cụ hạn mức tín dụng không phát huy được tác dụng với nhiều tổ chức tín dụng.

    Nhóm IV 13

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Chưa xây dựng được bộ tiêu chí phân loại các Tổ chức tín dụng và phương pháp tính toán các tiêu chí phân loại để làm căn cư phân bổ hạn mức tín dụng cho từng tổ chức tín dụng.

    3.                 Nhận định tổng quát về chính sách tiền tệ Việt Nam

     

    3.1. Những kết quả tích cực:

     

    • Những chủ trương định hướng và quan điểm chỉ đạo điều hành về chính sách tiền tệ thể hiện trong các Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, nghị quyết 01/2012/NQ-CP và nghị quyết 13/2012/NQ-CP là sự điều chỉnh đúng hướng, phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sự diễn biến của kinh tế vĩ mô và thị trường, đã kiểm soát cung tiền ở mức hợp lý, mà nhất là tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
    • Vai trò của tự chủ của NHNN trong hoạch định, điều hành thực thi chính sách tiền tệ được nâng cao và phát huy nhiều hơn trong việc quyết định, lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra.
    • Giữ được hệ thống tổ chức tín dụng không bị đổ vỡ, kiềm chế lạm phát từ mức rất

    cao 18,13% năm 2011 xuống ở mức khoảng 7% cuối 2012;

    • Thị trường tiền tệ năm 2012 đã diễn biến theo xu hướng tích cực, những áp lực tăng lãi suất năm 2011 đã chuyển hướng bằng xu hướng giảm lãi suất mạnh mẽ trong 9 tháng đầu năm và tiếp tục giảm sau đó.
    • Chínhsách tiền tệ và chính sách tài khóa ngày càng có sự kết hợp đồng bộ hơn, hiệu quả hơn so với những thời kỳ trước đây.

    Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế được điều chỉnh theo hướng hợp lý và tích cực hơn: giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực đầu cơ bất động sản, chứng khoán và tăng tỷ trọng tín dụng cho 4 lĩnh vực ưu tiên: sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất phụ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ;

    • Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở có những bước phát triển mới, tạo ra những chuyển biến tích cực hơn trên thị trường tiền tệ. NHNN đã chủ động hơn trong việc thu thập các thông tin về lãi suất và khối lượng giao dịch trên thị trường tiền tệ để sử dụng các công cụ phù hợp điều tiết cung cầu vốn trên thị trường.
    Nhóm IV 14

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    3.2. Một số vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu xử lý

    Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam 2010 đã quy định mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, nhưng trong các văn bản chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ thể hiện phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu có mức ưu tiên như nhau như: mức cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD. Do đó các giải pháp và công cụ điều hành chính sách tiền tệ nhiều khi phải ưu tiên giải quyết các mục tiêu trước mắt nhằm hỗ trợ tăng trưởng để ổn định kinh tế vĩ mô, nên kết quả chưa đảm bảo được tính bền vững và mục tiêu trung dài hạn.

    Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được kết quả khi chỉ số lạm phát xuống mức thấp dưới 2 con số nhưng kết quả chỉ mang tính thời điểm, chưa ổn định và bền vững. Khả năng kiểm soát lạm phát theo mục tiêu còn nhiều thách thức và khó khăn dài hạn.

    Những yếu tố và nguyên nhân cơ bản từ nội tại nền kinh tế làm cho lạm phát bùng phát trở lại vẫn chưa được giải quyết; nhiều biến số tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông vượt ra khỏi tầm kiểm soát của NHNN; nguồn lực tài chính của Nhà nước chưa đủ mạnh để can thiệp điều chỉnh có hiệu quả quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ.

    Công cụ lãi suất còn một số bất cập về phương pháp xác định các và cơ chế điều hành. Lãi suất huy động và cho vay của các TCTD mang nặng tính hành chính, nhiều khi chưa sát với CPI và chưa điều chỉnh kịp thời với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.

    Lãi suất tín dụng tuy đã giảm nhiều so với 2011 nhưng vẫn còn ở mức cao vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Hệ thống chính sách và cơ chế tín dụng chưa thực hiện được chức năng phân bổ vốn tín dụng cho khu vực hiệu quả, chưa giải quyết được tình trạng “suy kiệt tín dụng”, tác động tiêu cực đến phát triển trung dài hạn của nền kinh tế.

    Tiến trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu vẫn còn khá chậm, gây tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong năm 2012, tỉ lệ nợ xấu cao khiến chi phí của ngân hàng tăng mạnh khi phải dự phòng rủi ro lớn. Đồng thời các NHTM cũng dè dặt và chặt chẽ hơn trong việc cho vay đối với doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy về mặt danh nghĩa, lãi suất cho vay tuy có giảm nhưng nguồn vốn tín dụng vẫn chưa thực sự đến được với doanh nghiệp.

    Nhóm IV 15

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN III. GIẢI PHÁP

    Theo đó, để giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong điều hành chính sách tiền tệ hiện nay, NHNN cần thực hiện các giải pháp sau đây:

    • Thứ nhất: Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát tiền tệ hợp lý, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

     

    • Thứ hai: Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường tiền tệ để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tháo gỡ khó khăn chi phí vay vốn của doanh nghiệp và nền kinh tế.

     

    • Thứ ba: Xây dựng phương án và thực hiện linh hoạt các biện pháp kiểm soát tín dụng, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tình hình hoạt động của các TCTD .
    • Thứ tư: Phối hợp với bộ, ngành, địa phương quyết liệt triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân vay vốn ngân hàng một cách hiệu quả.

     

    • Thứ năm: Tập trung các biện pháp xử lý và giảm thiểu nợ xấu.

     

    • Thứ sáu: Điều hành linh hoạt tỷ giá, thu hẹp phạm vi hoạt động ngoại hối kết hợp với xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động ngoại hối, góp phần ổn định thị trường ngoại hối, hạn chế tình trạng đô la hóa, ổn định tỷ giá.

     

    • Thứ bảy: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
    • Thứ tám: Công tác báo cáo thống kê được củng cố đáp ứng nguồn thông tin, số liệu cho công tác phân tích, dự báo phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành.
    • Thứ chín: Hoạt động thông tin, truyền thông được đổi mới, chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin, báo chí về tiền tệ, hoạt động ngân hàng để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho doanh nghiệp và công chúng đối với các giải pháp điều hành của NHNN.

    Bên cạnh đó trong thời gian qua, NHNN đã đưa ra 6 giải pháp quan trọng sau đây:

     

    • Tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường:

     

    NHNN đã ban hành Chỉ thị chỉ đạo toàn hệ thống tổ chức thực hiện chính sách

    tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2013 theo sát các chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013 về những giải pháp chủ yếu

    Nhóm IV 16

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

    Cụ thể, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện các giải pháp tín dụng, lãi suất đã triển khai trong năm 2012 để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, chuyển dịch cơ cấu tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    Phối hợp với Bộ Xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ.

    Triển khai đề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011-2015, khẩn trương hoàn thiện đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và đề án thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam; quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và mở rộng mạng lưới của các TCTD theo hướng thận trọng hơn đảm bảo sự phát triển an toàn,lành mạnh của hệ thống TCTD.

    – Định hướng tổng phương tiện thanh toán khoảng 14-16%, tín dụng tăng 12%:

    NHNN đưa ra định hướng điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát thấp hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; sử dụng chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán hợp lý, đáp ứng yêu cầu thanh toán của nền kinh tế; điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến tiền tệ và các cân đối vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát.

    Theo đó, NHNN đưa ra định hướng tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng14-16%, tín dụng tăng khoảng 12%, tùy theo diễn biến và tình hình thực tế điều chỉnh phù hợp. Để kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo định hướng 12% trong năm 2013, NHNN tiếp tục thông báo tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD để đảm bảo việc mở rộng tín dụng đi đôi với việc đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng cũng như hoạt động của TCTD.

    – Điều hòa lưu thông tiền mặt:

    NHNN tập trung đảm bảo công tác điều hòa lưu thông tiền mặt, đáp ứng khả năng thanh toán, chi trả trong dịp Tết Quý Tỵ vừa qua, triển khai tốt công tác an toàn kho

    Nhóm IV 17

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    quỹ. Trên cơ sở cơ cấu mệnh giá trong lưu thông, NHNN đưa tiền ra lưu thông với cơ cấu hợp lý, đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân; việc điều chuyển tiền mặt phục vụ Tết Quý Tỵ đã được hoàn thành ngay trong tháng 01/2013.

    – Mua lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối:

    NHNN điều hành linh hoạt các kênh cung ứng tiền để kiểm soát tiền tệ hợp lý. Trong điều kiện cung cầu ngoại tệ cải thiện, xu hướng nắm giữ ngoại tệ giảm, NHNN đã mua một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, đồng thời ổn định tỷ giá (qua đó không làm VND mạnh lên, gây khó khăn cho xuất khẩu); song song với mua ngoại tệ giữ ổn định tỷ giá, NHNN tiếp tục thực hiện trung hòa lượng tiền đưa ra mua ngoại tệ thông qua nghiệp vụ phát hành tín phiếu NHNN, giảm áp lực cung tiền tới lạm phát. Bên cạnh đó, NHNN cũng thực hiện thu nợ đối với các khoản cho vay tái cấp vốn đến hạn.

    – Điều hành linh hoạt qua thị trường mở:

    NHNN điều hành chủ yếu thông qua nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD một cách nhanh nhạy và kịp thời, nhất là vào dịp giáp Tết Quý Tỵ khi nhu cầu rút tiền của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội thường tăng cao. Trong 2 tháng đầu năm, NHNN chào mua giấy tờ có giá với khối lượng hợp lý, phù hợp với tình hình vốn khả dụng của các TCTD; kỳ hạn 7 ngày và mở rộng lên cả kỳ hạn 14 ngày vào giáp Tết để tránh đáo hạn ngay sau Tết. Nhờ vậy, thị trường diễn biến ổn định, thanh khoản hệ thống đảm bảo, không còn là tác nhân gây ra xáo trộn về lãi suất thị trường.

    • Theo dõi sát tình hình lãi suất của TCTD:

     

    Về điều hành lãi suất, sau khi điều chỉnh giảm 1%/năm vào cuối năm 2012, trong

    năm 2013 NHNN giữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng ở mức 10%/năm, giảm lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm và lãi suất tái chiết khấu ở mức 6%/năm.

    Ngoài ra, NHNN theo dõi sát và tăng cường giám sát tình hình chấp hành quy địnhlãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND của tổ chức, cá nhân tại các TCTD.

    Nhóm IV 18

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Kinh tế Vĩ Mô – Nhà xuất bản ĐH Kinh Tế Quốc Dân – 2010
    1. http://thuvienphapluat.vn/archive/Chi-thi-01-CT-NHNN-nam-2013-thuc-hien-chinh-sach-tien-te-dam-bao-hoat-dong-vb168744.aspx
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/Chinh-sach-tien-te-va-nhung-tac-dong-den-doanh-nghiep-trong-thoi-gian-qua/23904.tctc
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Phoi-hop-chinh-sach-tai-khoa-voi-tien-te-trong-giai-quyet-cac-van-de-kinh-te-vi-mo/24000.tct
    1. http://www.baomoi.com/Viet-Nam-lua-chon-chinh-sach-tien-te-nao/126/2914320.epi
    1. http://radiovietnam.vn/theo-dong-su-kien/2013/03/chinh-sach-tien-te-nam-2013-giam-lai-suat-tang-du-no-tin-dung/
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/6-giai-phap-quan-trong-ve-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-thoi-gian-qua/22825.tctc
    Nhóm IV 19

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    DANH SÁCH NHÓM

    1. Nguyễn Thị Dung

     

    1. Bạch Thị Xuân Mai

     

    1. Trần Phan Tú My

     

    1. Nguyễn Huỳnh Nam

     

    1. Ngô Minh Nghĩa

     

    1. Lê Thị Hồng Ngọc

     

    1. Nguyễn Thị Bích Ngọc

     

    1. Nguyễn Thị Thanh Nguyệt
    Nhóm IV 20

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-x%E1%BA%A3-Stress.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Đề tài : phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả stress

     

    Chúng tôi sẽ phân tích trên các góc độ chủ yếu như sau :

    1. Giới thiệu dự án
    2. Kế hoạch sản phẩm
    3. Chiến lược Marketing
    4. Công nghệ và kỹ thuật của dự án
    5. Tài chính của dự án
    6. Hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án
    7. Tổ chức quản lý dự án
    8. Phương án quản trị rủi ro

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1, Giới thiệu dự án :

      1.1. Giới thiệu tóm lược công ty :

    Vị trí : Công ty do mới thành lập nên vị trí trong ngành về lý thuyết là chưa cao, tuy nhiên đây là loại hình dịch vụ còn khá mới mẻ ở nước ta, hơn nữa đối thủ cạnh tranh dường như không có cho nên có thể nói là công ty có vị trí rất thuận lợi dù xuất phát điểm rất thấp.

    Mục tiêu : của công ty trong ngắn hạn là sẽ chiếm lĩnh toàn bộ thị trường Hà Nội tiếp đến sẽ là TP Hồ Chí Minh và toàn các thành phố lớn trong cả nước. Lợi nhuận trong năm đầu tiên là 500 triệu VND và sẽ tăng trưởng với tốc độ 25% / năm trong các năm tiếp theo.

    Đường lối phát triển hoạt động kinh doanh của công ty là luôn sáng tạo và cung cấp những giá trị vượt trên những gì mà khách hàng mong muốn nhận được từ chúng ta.

       1.2. Đánh giá tổng quát môi trường kinh doanh của công ty :

    Điểm mạnh của công ty: là tiên phong trong khai phá thị trường trong nước do đó ưu thế về sự độc tôn về dịch vụ là rất lớn.

    Điểm yếu của công ty: kinh nghiệm còn ít, khả năng nắm bắt nhu cầu khách hàng có thể chưa được nhạy bén.

    Thuận lợi: Công ty với đội ngũ tràn đầy khí thế của “ người đi khai phá vùng đất mới ” khao khát thành công, không sợ khó khăn. Việt Nam là một nước đang phát triển với một tốc độ rất nhanh lượng người bị căng thẳng mệt mỏi vì thế không ngừng tăng lên do áp lực công việc ngày càng lớn, vì vậy đây là thị trường rất tiềm năng là một mỏ vàng đang chờ khai thác.

    Khó khăn: Quỹ đất của công ty không có do đó phải đi thuê mặt bằng, để thuê được một nơi có vị trí đẹp rất tốn kém trong khi nguồn vốn của công ty là hạn chế do mới thành lập nên chưa thể đi vay vì uy tín không có trên thị trường.

    Từ những lý do trên chúng tôi thấy dự án này rất cần thiết đối với công ty trong việc thực hiện đường lối, vì nó sẽ là sản phẩm đầu tiên để toàn thể mọi người trong công ty thỏa sức sáng tạo ra những giá trị hữu ích làm hài lòng khách hàng, qua đó mang lại lợi nhuận cho công ty, từng bước tạo vị thế vững chắc trong lòng khách hàng. Mặt khác nó cũng góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn vì khi con người được giải tỏa căng thẳng ức chế thì sẽ không có xung đột, gây hấn giữa mọi người, mặt khác nó tạo ra nguồn thu cho ngân sách của địa phương bằng tiền thuế các khoản phí lệ phí nộp hàng năm.

    1.3. Giới thiệu ngành nghề kinh doanh của dự án:

    – Ngành nghề kinh doanh của dự án là cung cấp dịch vụ giúp con người giải tỏa stress trong công việc và cuộc sống.

    + Tầm quan trọng: đây là một loại hình dịch vụ rất quan trọng bởi vì nó giúp con người lấy lại cảm giác thoải mái, dễ chịu, vì vậy nâng cao khả năng làm việc tăng chất lượng sống, giảm thiểu bạo lực trong gia đình và xã hội.

    + Đặc tính: đây là loại hình rất đặc biệt vì nó giúp con người trút mọi bực tức, căm giận ra ngoài do đó phương pháp và cách làm sẽ khác các loại dịch vụ thông thường khác.

    + Mức độ cạnh tranh: Hiện tại mức độ cạnh tranh gần như là bằng không tại Việt Nam

    – Khả năng sinh lời và sự phát triển của loại hình dịch vụ này ở Việt Nam là rất tiềm năng vì cho tới thời điểm hiện tại hầu như chưa có một cá nhân hay tổ chức nào tiến hành đầu tư vào loại hình này. Trong tương lai đây có thể là vùng đất màu mỡ cho mọi người khai thác với khả năng sinh lời tương đối cao.

    – Chính quyền địa phương rất ủng hộ với loại hình dịch vụ này vì nó có khả năng làm số lượng người gây rối trật tự xã hội giảm xuống, điều này sẽ làm giảm tải cho bộ máy quản lý trật tự trị an từ đó họ có thể chuyển sang hoạt động mặt khác như phòng chống ma túy, buôn người….

    2, Kế hoạch sản phẩm:

     2.1. Nghiên cứu phân tích thị trường

        2.1.1. Xác định rõ loại thị trường và đoạn thị trường sản phẩm, dịch vụ mà dự án sẽ tham gia.

    Công ty chúng tôi lựa chọn khách hàng của mình theo tuổi tác và thu nhập, tâm lý, địa vị xã hội. Tất nhiên là lứa tuổi của khách hàng có thể được chia nhỏ hơn: những khách hàng ở độ tuổi 25 có thể khác xa những người ở độ tuổi 39 về các nhu cầu tài chính. Tiềm năng sinh lời của khách hàng cũng phụ thuộc vào tài sản của họ. Một số người có thu nhập cao nhưng lại có ít tài sản, và một số khác thu nhập còn ở mức trung bình, chưa có sự tích lũy về mặt tài sản cho bản thân (ví dụ như những người mới đi làm). Tuy vậy việc lựa chọn đối tượng khách hàng căn cứ theo tuổi tác, thu nhập tâm lý, địa vị xã hội sẽ góp phần tạo ra những dịch vụ khách nhau cho những đối tượng khách hàng khác nhau.

     

    Bảng số liệu phân tích đặc điểm những khách hàng mục tiêu của dự án

      Từ 25-39 tuổi
    –         Thu nhập trung bình hàng tháng  
     + Dưới 3 triệu Trẻ, thu nhập thấp
     + 3triệu-10 triệu Trẻ, thu nhập trung bình
     + Trên 10 triệu Trẻ, thu nhập cao
    –         Đặc điểm khách hàng Có thu nhập cao, nghề nghiệp chuyên môn cao, ở thành phố.
    –    Tâm lý Là những người thích ăn ngon, thích thời trang, yêu nghệ thuật và hoạt động văn hóa, thích đi du lịch nước ngoài, thích các trò chơi giải trí.
    –         Địa vị xã hội Trí thức, những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế.

    Nhân tố địa vị xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sở thích của khách hàng về quần áo, đồ đạc trong nhà, nhu cầu sử dụng các dịch vụ giải trí…do vậy, công ty thiết kế dịch vụ xả stress cho những khách hàng có địa vị xã hội nhất định.

    Ngoài ra, lựa chọn đoạn thị trường dựa trên thu nhập của khách hàng cũng rất quan trọng. Tuy nhiên thu nhập không dự báo trước khách hàng tốt nhất đối với sản phẩm dịch vụ nhất định của công ty.

    2.1.2.  Xác định nhu cầu và nhu cầu có khả năng thanh toán đối với sản phẩm, dịch vụ của dự án (gồm cả nhu cầu hiện tại và tương lai) theo từng loại và từng đoạn thị trường.

    Sức ép công việc ngày càng lớn, đòi hỏi trong công việc ngày càng cao, hơn nữa tìm được một công việc ngày càng khó… những vấn đề này dường như ai cũng gặp phải trong suốt quá trình làm việc của mình.

    Hơn thế, nhóm khách hàng mục tiêu của công ty là những trí thức , những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế luôn phải phấn đấu để hoàn thiện mình, để giữ vững được vị trí và để thăng tiến. Những người này có nguy cơ mắc bệnh stress cao nên nhu cầu xả stress là rất lớn.

    * Đặc điểm của nhóm khách hàng này
    – Thời gian làm việc dài: Đây là đặc điểm điển hình nhất, 1 ngày làm việc 8 tiếng hầu như là không đủ đối với họ, vì làm thêm, đi sớm về muộn.
    – Áp lực công việc lớn .                                              
    – Thời gian nghỉ ngơi ít:
    Do làm việc quá giờ một cách thường xuyên, không ít  người lợi dụng thời gian nghỉ cuối tuần để ngủ bù. Nhưng như thế cũng làm họ mất đi cơ hội tham gia các hoạt động vui chơi, cuộc sống ngày càng thu hẹp lại và bệnh nghề nghiệp ngày càng nhiều. Công việc quá khắc khổ làm cho họ bị rất nhiều bệnh nghề nghiệp như mỡ máu cao, mỡ gan, các bệnh về dạ dày tiêu hoá. Lại thêm các bệnh do máy tính, điều hoà, bệnh về mắt cũng “không mời mà đến”.
    – Có khoảng cách với người thân trong gia đình: Đối với những người chưa kết hôn thì phải cách một quãng thời gian dài mới được nghỉ phép về thăm bố mẹ, còn đối với những người đã có gia đình thì sáng sớm đi ra khỏi nhà khi con còn chưa thức dậy, tối khi về đến nhà thì con đã ngủ từ lâu rồi.
     – Cơ hội giao lưu ít: Ngoài ra, đối tượng khách hàng của công ty là những khách hàng có thu nhập trung bình và thu nhập cao. Do đó, tùy thu nhập và đặc điểm của khách hàng công ty sẽ cung cấp những sản phẩm dịch vụ nhất định, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng.

    2.1.3. Phân tích và đánh giá sự biến động cũng như xu hướng phát triển của thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án .

    Với xu thế và mức độ phát triển như hiện nay thì nhu cầu xả stress của xã hội là rất lớn và rất cấp bách và cũng là vấn đề mà xã hội đang quan tâm hàng đầu hiện nay. Hiện nay, nhiều công ty cung ứng dịch vụ xả stress ngày càng có xu hướng tăng nhanh đáp ứng nhu cầu của xã hội như karaoke, hồ bơi, tennis…Do vậy, cung ứng những sản phẩm dịch vụ xả stress hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng có nhu cầu xả stress là mục tiêu mà công ty chúng tôi hướng tới.

        2.1.4  Đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường, hoạt động tiếp thị của dự án ( giao tiếp, khuyếch trương, quảng cáo…)

    Theo như chúng tôi được biết thì mô hình xả stress đã hình thành ở Nhật Bản cũng rất thành công. còn ở Việt Nam thì quá mới mẻ và chưa có một mô hình nào có thể đáp ứng được nhu cầu ấy . Cuộc sống hiện đại với biết bao áp lực công việc và những lo toan đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho căn bệnh stress được dịp sinh sôi, nảy nở. Không dừng lại ở những liệu pháp quen thuộc như massage, spa, yoga, giờ đây, dịch vụ xả stres của công ty chúng tôi còn cho ra đời nhiều dịch vụ xả stress độc đáo.

      Hoạt động tiếp thị dự án:

    – Quảng cáo trên truyền hình và thông tin đại chúng (như báo, đài, internet).

    – Trên các tờ rơi và băng rôn áp pích .

    – Liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn

    2.1.5 Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên tất cả các phương diện quy mô, thị phần, điểm mạnh, điểm yếu, lợi thế cạnh tranh và xu hướng phát triển…

    Phân tích những đối thủ cạnh tranh gần nhất của công ty. Đó là những đối thủ tìm cách thỏa mãn cùng những khách hàng và những nhu cầu giống nhau và cung cấp những dịch vụ tương tự.

    Thu thập thông tin về những chiến lược, mục tiêu, mặt mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh. Khi biết được các chiến lược của từng đối thủ cạnh tranh, công ty có thể phát hiện ra những đối thủ cạnh tranh gần nhất và có bước đi phù hợp. Biết được mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh tranh, công ty có thể hoàn thiện dịch vụ của mình để giành ưu thế trước những hạn chế của đối thủ cạnh tranh đồng thời tránh được những dịch vụ sản phẩm là thế mạnh của đối thủ cạnh tranh.

    Qua tìm hiểu thị trường thì đối thủ cạnh tranh chủ yếu của công ty là:

    + Những trung tâm chiếu phim

    + Những quán karaoke

    – Quy mô: khá lớn, đông người qua lại, ở đường lớn

    – Điểm mạnh:

    Rạp chiếu phim: cung cấp dịch vụ chiếu phim, kèm theo dịch vụ giải trí nhằm giúp khách hàng cảm thấy thoải mái, thư giãn khi sử dụng dịch vụ, nhân viên phục vụ nhiệt tình. Chất lượng rạp tốt, có chỗ gửi xe rộng, chất lượng hình ảnh tốt (ví dụ như rạp chiếu phim quốc gia, …

    – Điểm yếu: những dịch vụ giải trí rạp cung cấp chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng trong thời gian ngắn trong khi nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng ngày càng tăng cao

    … những lọai hình dịch vụ này cũng không là trở ngại lớn đối với chúng tôi . vì một khi công ty chúng tôi ra đời là chúng tôi đã đáp ứng đấy đủ mọi điều kiện chăm sóc khách hàng một cách tốt nhất .

    3, Chiến lược Marketing

    Theo một nghiên cứu gần đây, tại Việt Nam, tỉ lệ người rơi vào tình trạng căng thẳng, mệt mỏi là 52%. Ở Hà Nội và TP.HCM, con số này kên đến 55%. Điều này cho thấy stress gần như là căn bệnh gắn liền với xã hội công nghiệp.

    3.1. Đoạn thị trường cung ứng dịch vụ:

    Thị trường mục tiêu của dự án kinh doanh dịch vụ xả stress là những đối tượng trí thức, những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế , hàng ngày luôn phải đối mặt với áp lực cao trong công việc nên nhu cầu để xả stress là rất lớn , để họ trực tiếp có thể tự mình xả stress rũ bỏ hết phiền muộn sau một ngày làm việc .

    Tuổi tác: 22 tuổi đến độ tuổi trung niên.

    Xác định các thông số về các giai đoạn chu kỳ đời sống gia đình

    Giai đoạn vòng đời Nhu cầu xả stress
    1.  Tuổi trẻ  
    1.1  Sống độc thân tách khỏi bố mẹ   Tăng nhẹ
    1.2  Kết hôn, chưa có con   Tăng
    1.3 Vợ chồng trẻ có con cái (1-2con, dưới 10 tuổi) Giai đoạn này gia đình thường rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong việc thỏa mãn các nhu cầuànhu cầu xả stress tăng mạnh.
    2.  Tuổi trung niên  
    2.1  Sống độc thân Tăng
    2.2  Kết hôn chưa có con Tăng
    2.3  Kết hôn có con nhỏ (dưới 10 tuổi) Tăng
    2.4  Gia đình con cái ở tuổi thành niên Giảm dần

    – Nghề nghiệp: nhân viên văn phòng, thương nhân…

    – Tình trạng kinh tế: thu nhập trung bình, thu nhập cao.

    – Nhân cách khách hàng: tính tự tin, tính thận trọng, tính tự lập, tính khiêm nhường, tính thích hơn người (hiếu thắng), tính ngăn nắp, dễ dãi, tính năng động, tính cởi mở, tính bảo thủ.

    à Hiểu được nhân cách người tiêu dùng sẽ tạo được sự thiện cảm ở họ khi chào bán sản phẩm, dịch vụ, thuyết phục mua và truyền thông.

    3.2. Những thuộc tính cơ bản của dịch vụ:

    – Tính độc đáo: Bạn đang bị stress nặng nhưng lại không biết làm cách nào để giải toả? Bạn đang đau khổ và muốn tìm một nơi yên tĩnh để “ tự kỉ” một chút ? Bạn đang bực dọc và muốn trút giận vào đâu đó nhưng lại chẳng biết chỗ nào? Vậy giải pháp cho tất cả những điều trên là gì? Là gì? Và là gì ?

    + Xả stress với phòng xả stress.

    Ví dụ như phòng cách âm, phòng đập chén đĩa. Tại sao lại gọi là phòng xả stress ( hay gọi là phòng tự sướng hoặc phòng tự kỉ đều được )? Nó có điểm gì khác so với các căn phòng bình thường khác?

    Phòng xả stress gọi như vậy vì chức năng chính của phòng là để xả stress. Bạn có thể vào phòng để lá ó, hò hét, đấm đá, khóc lóc hay tự kỉ và tự sướng nhiều kiểu tuỳ thích mà không sợ bị ca thán hay làm phiền( nói chung đây là một chốn riêng tư hết mức). Vậy nên, nó có thể giúp bạn giải toả bớt những bực dọc và phiền muộn. Mặt khác, nó cũng giúp bạn tránh một số rắc rối do va chạm xã hội trọng khi đang có tâm trạng.Đó có lẽ là những khác biệt ( và có thể coi như là ưu điểm) của căn phòng này so với các căn phòng bình thường khác.

    – Cấu trúc : Để đảm bảo việc xả stress của bạn không bị gián đoạn bởi những tiếng la ó khác bên ngoài, bạn cần cách âm cho phòng.

    Công ty chúng tôi cũng có thể sắm bất cứ thứ gì cho căn phòng nếu bạn muốn: giàn loa để nghe nhạc tự kỉ, gấu bông,hình nộm, gối, giấy, bóng bay, đồ thuỷ tinh, sành sứ, gậy  …. Chúng tôi mở cửa và phục vụ khách hàng ngày cũng như đêm và suốt bảy ngày trong tuần. Với số tiền từ 100.000 đến 200.000VND, bạn sẽ nhận bát đĩa, những vật bằng sành sứ, thuỷ tinh dễ vỡ …và thoả thích đập trong mười phút. Đồng thời, khách hàng được mặc những trang phục bảo hiểm để tránh bị thương. Những bức tường được gắn đèn neon sáng choang, kích thích khách hàng trút hết bực dọc vào đó.

    – Tính bảo mật: Những căn phòng như thế này gần như là không gian riêng của bạn khi bạn ở trong đó. Nên có thể nói tính riêng tư và độ bảo mật là khá cao.

    + Xả stress với phòng có những hình nộm và bạn muốn đấm bốc để xả cơn giận của mình lên những thân hình nộm đó.

    Mỗi người mỗi ngày hay mỗi tuần đều có những phút bực bội hay vui sướng tột độ, hoặc đơn giản chỉ là “ngứa chân, ngứa tay”. Trong những lúc như thế họ thường “chia sẻ” tâm sự bằng một vận động tay chân mạnh, như đập bàn, đấm gối bông, hay phát vào ai đó thân thiết một cái thật mạnh. Từ thực tế trên, công ty chúng tôi đã có ý tưởng làm những con bù nhìn hình dáng ngộ nghĩnh (ví dụ, Bin Laden, hay một cô gái sexy, hoặc một con quỷ) bằng chất liệu mềm, như cao su mềm, bị bông cho võ sĩ boxing chẳng hạn, trong đó có cơ chế thu và chuyển cơ năng thành điện năng.

    Khi bạn cần xả stress, chia sẻ nỗi bực dọc, và bạn muốn đấm bốc để xả cơn giận của mình lên những thân hình nộm đó thì những hình nộm đó sẽ nhận được một năng lượng đáng kể. Để cho hấp dẫn, công ty chúng tôi có đặt thêm một đồng hồ đo lực đấm để mọi người biết cú đấm của mình “trị giá” bao nhiêu về năng lượng.

    Với cách thu năng lượng đó, không những có thể giúp mọi người giải trí, mà cách thiết kế cơ chế thu năng lượng cũng đơn giản, đầu tư ít.. đồng thời tạo sự thoải mái tốt nhất cho bạn sau những lấn làm việc căng thẳng, giúp bạn lấy lại sự tự tin của bản thân , đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn, không những vậy mà còn góp một phần nhỏ cho xã hội đẩy lùi được căn bệnh stress này.

    + Xả stress với phòng massage

    Phòng massage thư giãn là một không gian hoàn hảo, màu sắc đủ êm dịu cho sự thanh thản, một chút âm thanh nhẹ nhàng, sâu lắng và trong sáng. Tại đó công ty chúng tôi có các nhân viên massage chuyên nghiệp được đào tạo bài bản, có hiểu biết và đôi tay điêu luyện của nhà vật lý trị liệu, phong cách giao tiếp cởi mở, nhẹ nhàng phù hợp với những khách hàng có lứa tuổi, nghề nghiệp và mức thu nhập khác nhau… nhằm đem đến hiệu quả thư giãn tuyệt đối.

    Với mức thu nhập trung bình, khách hàng vẫn có đủ khả năng được hưởng thụ cảm giác thư giãn trong bất kỳ một salon chuyên nghiệp nào.

    Tác dụng tuyệt vời của massage: liệu pháp massage cung cấp nhiều lợi ích sức khỏe quan trọng bao gồm:

    • Cải thiện lượng máu lưu thông
    • Thư giãn cơ thể
    • Tăng mức độ endorphin (chất hóa học trong cơ thể làm cho bạn cảm thấy khỏe hơn)

    3.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) về địa điểm kinh doanh của dịch vụ:

    Chọn địa điểm kinh doanh ở HN, đặc biệt là ở những trung tâm thương mại lớn .vì ở đây là nơi tập trung một đội ngũ công nhân viên , những người trí thức , những thương nhân làm ăn … đang trực tiếp phải đối mặt với những áp lực cao trong công việc ..Dự kiến mặt bằng lựa chọn có diện tích khoảng 130m2.

    Chúng tôi dự định sẽ thuê tầng hầm của những trung tâm thương mại lớn. Tầng hầm này được chia thành nhiều phòng tương ứng với mỗi dịch vụ công ty cung cấp. Mỗi phòng sẽ được trang trí bằng các hình vẽ, hoạ tiết hay hình thù kỳ lạ, bắt mắt. Đó có thể là hình một khuôn mặt đang giận dữ, nhăn nhó hay cười khoe răng. Thậm chí,có phòng công ty đã sử dụng các hoạ tiết của nghệ thuật graffiti để trang trí. Tại căn phòng này, chúng tôi lắp đặt các dụng cụ xả stress như hình nộm, bát đĩa..

    3.4  Xác định kênh phân phối dịch vụ đối với khách hàng với mục đích đảm bảo cho khách hàng được hưởng quyền lợi chính đáng

    + Kênh phân phối sản phẩm: Sử dụng kênh phân phối trực tiếp, công ty kinh doanh dịch vụ xả stress bán trực tiếp sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ công ty sử dụng lực lượng tiếp thị, quảng cáo dịch vụ đến từng hộ gia đình thông qua phát tờ rơi, băng rôn áp pích hay thiết kế catalog bắt mắt, ấn tượng có in hình ảnh, những thuộc tính cơ bản của các sản phẩm, dịch vụ… công ty cung cấp. Điều này cho phép người tiêu dùng lựa chọn dịch vụ họ mong muốn trước khi họ có nhu cầu tìm đến với các dịch vụ của công ty.

    Ngoài ra, công ty có thể sử dụng một số phương thức quảng cáo khác như:

    – Quảng cáo trên truyền hình và thông tin đại chúng (như báo, đài, internet): Ví dụ, khi công ty mới khai trương, một trong số những cách tiếp cận khách hàng nhanh và hiệu quả nhất đó là công ty mời người nổi tiếng đến tham quan và mời họ sử dụng thử các dịch vụ do công ty cung cấp. Tiếp đó, thông qua các phương tiện  quảng cáo trên truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng, công ty có thể thu hút được lượng khách hàng mới đáng kể.

    – Liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn:

    3.5  Dự kiến chính sách giá cả, các khung giá và mức giá cụ thể:

    – Theo nghiên cứu mới nhất của chúng tôi là, khách hàng có thể phải bỏ ra tới 500.000VND trở lên để có thể xả stress với những hình thức thông thường mà khách hàng hay lui tới.

    – Còn với chúng tôi thì chỉ phải bỏ từ 100.000 đến 200.000VND là có thể được xả stress một cách khoa học, đem lại cảm giác thư thái và lấy lại sự tự tin trong cuộc sống , mà dần dần căn bệnh stress này có thể bị đẩy lùi và biến mất .

    + Dự kiến khung giá, mức giá cụ thể cho các sản phẩm dịch vụ

    Danh mục Mức giá
    1. Phòng cách âm để có thể khách hàng la hét

     

    2. Phòng có những hình nộm cho những ai muốn đấm bốc để xả cơn giận

    3. Phòng đập chén đĩa, đồ thủy tinh dễ vỡ

    100.000-200.000 VNĐ
    4. Phòng nghỉ trưa, phòng ngủ oxi  
    5. Tâm lý trị liệu …  
    6. Phòng massage . 400.000-500.000VNĐ

    3.6 Xác định ngân sách cho hoạt động Marketing cho toàn bộ dự án và cho từng mặt hàng, dịch vụ chủ yếu.

    Ngân sách cho hoạt động marketing cho toàn bộ dự án là 80.000.000 VNĐ sẽ được phân ra hai phần ba dành cho truyền hình, báo chí và một phần ba dành cho việc quảng cáo bằng các tờ rơi và băng rôn áp phích, liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn.

     

     

     

    Bảng ngân sách cho hoạt động marketing cho từng dịch vụ:

    Danh mục Ngân sách marketing
    1. Phòng cách âm để có thể khách hàng la hét

     

    2. Phòng có những hình nộm cho những ai muốn đấm bốc để xả cơn giận

    3. Phòng đập chén đĩa, đồ thủy tinh dễ vỡ

    10.000.000VNĐ
    4. Phòng nghỉ trưa, phòng ngủ oxi 25.000.000VNĐ
    5. Tâm lý trị liệu … 10.000.000VNĐ
    6. Phòng massage . 15.000.000VNĐ
    7. Phòng đội ngũ chuyên gia tư vấn tâm lý chuyên nghiệp

     

    8. Câu lạc bộ trò chuyện

    20.000.000VNĐ

    Nội dung quảng cáo sẽ nhấn mạnh đến việc đem lại sự thoải mái, lấy lại trạng thái cân bằng về tâm lý, giúp cho khách hàng yên tâm hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống. Quan điểm thực hiện quảng cáo sẽ xoay quanh chủ đề mở một công ty về dịch vụ xả stress , vừa có thể giúp bản thân mình ,vừa giúp mọi người có thể tự xả stress cho bản thân.

    4, Công nghệ và kỹ thuật của dự án:

          Đây là loại hình dịch vụ xả stress nên công nghệ kỹ thuật áp dụng không phải là những dây chuyền trang thiết bị giống như dự án sản xuất, mà chúng tôi chỉ sử dụng những máy móc cần thiết theo loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Cụ thể như sau:

    – Phòng cách âm: Công nghệ kính cách âm, tường cách âm theo tiêu chuẩn Nhật Bản.

    – Phòng massage: Phương pháp massage cổ truyền ( châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, tắm thảo dược…) kết hợp hiện đại máy massage, thiết bị tạo xung động cơ giúp hết đau mỏi, xông hơi nước, xông hơi khô, tắm tia, bể xục nóng, bể xục lạnh và các bồn ngâm thuốc. Ngoài ra còn có máy điều hòa, giường, ghế massage…

    – Phòng ngủ oxi: Thiết bị lọc bụi bẩn vi khuẩn giúp không khí trong lành, máy tạo oxi làm giàu lượng oxi, thiết bị cách âm.

    – Phòng xả giận, đập phá: công nghệ cách âm, bao bố hình nộm kỳ dị cho mọi người thỏa sức đấm đá, gào thét; bát, đĩa …đồ sành sứ để khách hàng có thể thỏa sức đập phá ( tương ứng với số tiền bỏ ra ).

    Trong tất cả các phòng còn sử dụng công nghệ âm thanh stereo, ánh sáng tương ứng mỗi phòng là một loại nhạc phù hợp với tâm trạng cũng như ý đồ phục vụ của chúng tôi.

    5, Phương án tài chính.

     

    STT Loại tài sản Đơn vị Diện tích Đơn giá Thành tiền
     

    Nhà cửa vật kiến trúc                    SL

    1 Nhà kho 1 m2 9 600 5.400
    2 Phòng điều khiển trung tâm 1 m2 20 1.000 20.000
    3 Phòng tiếp khách 1 m2 15 800 12.000
    4 Phòng tư vấn 1 m2 15 1.000 15.000
    5 Nhà vệ sinh 2 m2 20 500 10.000
    6 Phòng ngủ oxi 1 m2 15 800 12.000
    7 Phòng massage 1 m2 20 1.000 20.000
    8 Phòng đập phá, la hét 2 m2 30 1.000 30.000
    9 Phòng karaoke, chiếu phim 1 m2 30 1.000 30.000
    10 Phòng bảo vệ – 1 phòng 1 m2 8 500 4.000
     

    Tổng cộng

    158.400

    Bảng dự trù về thiết kế và lắp đặt cho dự án                                                                  Đơn vị 1000 đồng

     

     Dự trù về thiết bị cho dự án

    Đơn vị: 1000đ

    STT Thiết bị SL Đơn giá Thành tiền
    1 Máy tính để bàn 5 5.000 25.000
    2 Máy điều hòa 9 4.000 36.000
    3 Máy chiếu 1 15.000 15.000
    4 Dàn karaoke 1 15.000 15.000
    5 Máy lọc không khí 2 5.000 10.000
    6 Điện thoại: 4 để bàn, 2 di động T.bé   10.000
      Tổng cộng     110.000

    Bảng dự trù nguồn vốn cho dự án

    Đơn vị: 1000 đồng

    STT Nội dung Thành tiền  
    1 Vốn thuê đất (1 năm) 480.000  
    2 Vốn thiết kế và lắp đặt 158.400  
    3 Vốn thiết bị 110.000
    4 Vốn nguyên vật liệu (1 năm) 102.606  
    5 Chi phí khác 30.000  
    6 Tổng cộng 881.006  
    7 Dự phòng 15% 132.150  
      Tổng vốn của dự án 1.013.156  
             

     

    5.1 Cơ cấu nguồn vốn:

    • Tổng vốn đầu tư dự án 1.013.156.000
    • Vốn góp: 215.000.000
    • Vay ngân hàng: 800.000.000
    • Lái suất 11%/năm
    • Thời hạn vay: 3 năm
    • Phương thức thanh toán: mỗi năm trả nợ gốc + lãi

    5.2  Dự kiến kế hoạch trả nợ

     

    Năm D­ự nợ đầu năm Trả nợ trong năm D­ư nợ cuối năm
    Trả nợ gốc Tiền lãi

    Tổng cộng

     

    Lãi suất

    11%      
    Năm 1 800.000.000 266.666.667 88.000.000 354.666.667 445.333.333
    Năm 2 445.333.333 266.666.667 48.986.667 315.653.334 129.679.999
    Năm 3 129.679.999 266.666.667 14.264.799 280.931.466  0

     

    5.2.1  Dự kiến doanh thu năm đầu:

    1 tỷ/năm, số vốn đầu tư còn lại sẽ thu hồi trong  2 năm sau.

    5.2.2  Xác định chi phí dự án bao gồm:

     

     

     

     

    + Chi phí nguyên vật liệu đầu vào

    STT Tên nguyên vật liệu Đơn vị Sl cả năm Đơn giá (ko VAT) Thành tiền
    1. Chén, đĩa, bát Kg 10.000 3.000 3.000.000
    2. Hình nộm Con 100 70.000 7.000.000
    3. Phim hài DVD 100 6.000 600.000
    4. Truyện hài Quyển 200 10.000 2.000.000
    5. Điện KWH 45.375 1.058 48.006.750
    6. Thông tin liên lạc Tháng 12 1.000.000 12.000.000
    7. Vật liệu khác       30.000.000
      Tổng cộng       102.606.750

     

    + Chi trả lương người lao động: 90.000.000

    + Chi phí sửa chữa: 30.000.000

    + Chi phí trả lãi vay đầu tư: 151.251.466

    Năm 1: 88.000.000

    Năm 2: 48.986.667

    Năm 3: 14.264.799

    + Chi phí thuê đất đai: 480.000.000/năm

    + Chi phí quản lý: 1% doanh thu = 12.000.000

    + Chi phí quảng cáo: 10% doanh thu = 120.000.000

    TT

    Nội dung

       
    Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5  
    1 Nguyên vật liệu 102.606.750 102.606.750 102.606.750 102.606.750 102.606.750  
    2 Chi phí lao động 90.000.000 90.000.000 90.000.000 90.000.000 90.000.000  
    3 Chi phí sửa chữa (khấu hao) 30.000.000 30.000.000 30.000.000 30.000.000 30.000.000  
    4 Chi phí trả lãi vay 88.000.000 48.986.667 14.264.799 0 0  
    5 Chi phí thuê đất 480.00.000 480.00.000 480.00.000 480.00.000 480.00.000  
    6 Chi phí quản lý 12.000.000 14.000.000 14.000.000 14.000.000 14.000.000  
    7

    Chi phí quảng cáo

    120.000.000 140.000.000 160.000.000 100.000.000 90.000.000  
     

    Tổng

    1.040.606.750 905.593.417 850.871.549 816.606.750 806.000.000  

    Bảng xác định chí phí hoạt động kinh doanh năm

    TT

    Chỉ mục

     

     

    Năm1

    Năm2  

     

    Năm3

     

     

    Năm4

     

     

    Năm5

    1 Tổng doanh thu 1.000.000.000 1.200.000.000 1.400.000.000 1.600.000.000 1.800.000.000
    2 Tổng chi phí 1.040.606.750 905.593.417 850.871.549 816.606.750 806.000.000
    3 Thu nhập chịu thuế -40.606.750 294.406.683 549.128.451 783.393.250 994.000.000
    4 Thuế thu nhập 0 73.601.646 137.282.113 195.848.313 248.500.000
    5 Lợi nhuận ròng -40.606.750 220.805.012 441.846.338 587.554.973 745.500.000

    Bảng dự trù lỗ lãi

    5.3   Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án

      5.3.1  Thời gian hoàn vốn

    Thời gan hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án thu lại những chi phí đã bỏ ra , nói cách khác thời gian hoàn vốn là thời gian cần phải chờ đợi trước khi dự án bắt đầu sinh lợi nhuận .

    Xác định thời gian hoàn vốn :

    * Phương pháp không tính đến giá trị thời gian của tiền:

    – Thời gian hoàn vốn đầu tư từ lợi nhuận thuần:

    Ta có :

    Trong đó :

    Ti: thời gian thu hồi vốn

    K: tổng số vốn đầu tư

    LR:lãi ròng hàng năm

    LR =  ( -40606750 + 220805012+441846338+587554973+745500000) /  5

    = 391019914.6 (đ)

    Ti    =  1,013,156,000 / 391,019,914.6   = 2.591 (năm)

    • Thời gian thu hồi vốn đầu tư từ lợi nhuận thuần và khấu hao :

    Ti  =

    Với tỷ lệ khấu hao tài sản cố định 10%/ năm , tổng giá trị khấu hao :

    KH = 268,400,0000.1 5 = 134, 200,000 (đ)

    Thời gian thu hồi vốn :

    Ti  = 1,013,156,000/ ( 391,019,914.6 + 134,200,000) =1.929 (năm)

    * Phương pháp có tính đến giá trị thời gian của tiền

    5.3.2  Điểm hòa vốn:

    Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu từ cung cấp dịch vụ từ đầu đời dự án bằng tổng chi phí khả biến từ đầu đời dự án đến điểm đó cộng vói tổng định phí của cả đòi dự án

    Tổng chi phí cố định bao gồm :chi phí quản lý , chi phí thuê mặt bằng , chi phí sử dụng vốn, chi phí quảng cáo . Tổng chi phí cố định của toàn bộ dự án : 3,221,251,466 đ

    Biến phí của 1 đơn vị sản phẩm: 31,801

    • Số lượng hòa vốn = 3,221,251,466 /(200,000-31,801) = 19151
    • Doanh thu hòa vốn = 200,000 19151 = 3,830,200,000 đ
    • Mức hoạt động hòa vốn : là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng hòa vốn so với tổng sản lượng hoặc doanh thu hòa vốn với tổng doanh thu

    Tổng sản lượng của dự án : 35,000

    Mức hoạt động hòa vốn =   100% = 54.47%

    Mức hoạt động hòa vốn của dự án khá cao chứng tỏ công ty phải hoạt động trong một thời gian tương đối lâu để đạt được tới điểm hòa vốn .

    5.3.3  Giá trị hiện tại thuần (NPV)

    NPV là hiện giá thu hồi thuần của dòng lợi ích gia tăng

    NPV  = –

    Trong đó :

    -Bi : lợi ích thuần trong năm i

    – r: lãi suất

    – n : tuổi thọ của dự án

    – Ci: chi phí trong năm i

    +  Hệ số chiết khấu :

    ở đây ta chọn hệ số chiết khấu bằng với lãi suất ngân hàng : 11%

    + Xác định giá trị hiện tại của:

    Các khoản chi :

    +  3,310,879,365 đ

    Các khoản thu :

    +Xác định NPV:

    NPV  =  5,020,697,704  –  3,310,879,365  = 1,709,818,339  đ    > 0

    Với giá trị NPV đã được xác định như trên cho thấy việc đầu tư vào dự án này là xứng đáng bởi nó đem lại cho nhà đầu tư một khoản lợi nhất định hay dự án có khả năng sinh lời .

    5.3.4  Hệ số hoàn vốn nội bộ ( IRR)

    Hệ số hoàn vốn là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu ,chi phí của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng doanh thu sẽ cân bằng với tổng chi  hay  NPV=0 . Nghĩa là các nguồn tiền của dự án chỉ đủ để hoàn vốn đầu tư  và trả lãi suất cho việc sử dụng nguồn vốn đó .

    Vì trong quá trình hoạt động dự án ko có sự thay đổi về vốn lưu động nên ta có

    Dòng tiền ròng (NCF )= lợi nhuận sau thuế + khấu hao (M­­­i)

    Tổng chi cho các thiết bị, máy móc là 110.000.000

    Khấu hao tài sản bằng pp thời hạn sử dụng giảm dần

    M­­­i = 110,000,000 x Ti

    STT Số năm sd còn lại Ti M­­­i = 110,000,000 x Ti

     

    (4)

    Lợi nhuận sau thuế

     

    (5)

    NCF

     

    (6) = (4) + (5)

    1. 5 5/15 36.666.667 -40.606.750 -3.940.083
    2. 4 4/15 29.333.333 220.805.012 250.138.345
    3. 3 3/15 22.000.000 441.846.338 463.646.338
    4. 2 2/15 14.666.667 587.554.973 602.221.640
    5. 1 1/15 7.333.333 745.500.500 752.833.833
    Tổng = 15          

    Căn cứ vào bảng trên dùng excel tinh IRR

    IRR = 20%

    5.3.5   Tỷ lệ lợi ích/ Chi phí ( B/C)

    Với lãi suất r = 11%

    B/C =    =  = 1.516

    Trong đó :

    Bi: lợi ích ở năm i

    Ci : chi phí ở năm i

    r: lãi suất trong năm

    Tỷ lệ B/C >1 chứng tỏ dự án này có khả năng bù đắp chi phí và có lãi nên công ty nên lựa chọn đầu tư vào dự án này

    5.3.6  Tỷ lệ lợi ích thuần / vốn đầu tư ( NB/ K)

         Tỷ lệ NB/K là chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn vốn đầu tư ban đầu của dự án bằng dòng lợi ích thuần . Tỷ lệ NB/K được xác định bằng quan hệ tỷ lệ giữa tổng giá trị hiện tại của dòng lợi ích thuần khi dòng này nhận giá trị dương chia cho giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu .

    – Xác định giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu:

    1,013,156,000(    =          3,744,520,239  đ

    – Xác định giá trị hiện tại lợi ích thuần :

    NB/K  =   = 0.358

    5.3.7  Mức độ an toàn về vốn và khả năng thanh toán

    Mức an toàn vốn thể hiện ở 2 chỉ tiêu :

    – Tỷ lệ vốn riêng :

    215,000,000/ 1,013,156,000  =  0.2122

    – Tỷ lệ vốn tự có và vốn vay :

    215,000,000 /800,000,000  =  0.26875

    Qua hai chỉ tiêu trên ta nhận thấy mức độ an toàn về vốn và khả năng thanh toán của dự án là rất thấp .Tuy nhiên , đây là một dự án khá triển vọng nên các chỉ số trên có thể cho phép thấp hơn so với mức trung bình một chút.

    6, Hiệu quả kinh tế xã hội

    Việc công ty dịch vụ chúng tôi ra đời đã một phần nào đó làm giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Giúp cho những người đang hàng ngày phải đối mặt với áp lực công việc cao, cảm thấy thoải mái tự tin hơn, lấy lại được tinh thần và sức khỏe sau những làm việc căng thẳng, không những vậy mà dần dần có thể giảm stress và đẩy lùi được căm bệnh này. Không những vậy mà còn giúp cho những thanh thiếu niên có hướng đi đúng và nhận thức rõ hơn về bản thân mình đối với xã hội, không lao vào những trò xả strees vô bổ gây hại cho bản thân, gia đình và xã hội.

    – Việc ra đời loại hình dịch vụ này đã dần từng bước giúp xã hội đẩy lùi được căn bệnh stress mà giờ nó rất phổ biến đối với những nước có nến kinh tế phát triển và đang phát triển như Việt Nam, cũng có nghĩa là giảm được một chi phí không nhỏ cho nhà nước về các vấn đề xã hội .

    – Với nhu cầu xả stress ngày càng lớn của xã hội, thì việc ra đời của công ty đã góp một phần không nhỏ vào nhu cầu chung đó của xã hội .

    – Nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên và xã hội ngày một hoàn thiện hơn .

    Về mặt kinh tế sau khi ra đời công ty sẽ tạo một khoản thu cho ngân sách địa phương nhờ việc đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại phí lệ phí. Chúng tôi cũng sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội trong phạm vi khả năng cho phép của ngân quỹ tài chính công ty.

     7, Tổ chức quản lý

    7.1  Lựa chọn hình thức tổ chức dự án

    Do dự án này có tầm quan trọng chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của công ty nên chúng tôi quyết định sử dụng hình thức “tổ chức theo dự án”

     

    Sơ đồ tổ chức theo dự án

     

     

    7.2 Quản trị thời gian và tiến độ dự án

     

    Xác định các công việc dự án ,mỗi quan hệ và trình tự thực hiện các công việc:

      Thứ tự Công việc Thời gian (tháng)      Mối liên hệ
         A1 Nghiên cứu thị trường 6 Không có
         A2 Thống kê tài sản 2           Không có
         A3 Tham gia khóa học thêm về lĩnh vực mình kinh doanh. 4 Sau A1
         A4 Tuyển lao động 2 Sau A3
         A5 Đào tạo lao động 8 Sau A4
         A6 Thuê mặt bằng và đăng ký kinh doanh 2 Sau A2
         A7 Xây dựng cơ sở vc-kt 10 Sau A6
         A8  Mua và Lắp đặt trang thiết bị 12 Sau A7
         A9 Chiến dịch marketing 3 Sau A4,A8

       

     A2Theo sơ đồ trên ta thấy có  3 tiến trình cơ bản:

    + Tiến trình 1: Bao gồm  A1—-A3—-A4——-A5

    +Tiến trình 2:                    A2—-A6—–A7—–A8—-A9

    Như vậy tiến trình có tổng thời gian lớn nhất là  tiến trình 1 (29 tháng) là tiến hành Gantt. Các công việc A2, A6, A7, A8, A9 là các công việc của Gantt.Thời gian Gantt của dự án là 29 tháng đây là thời gian để hoàn thành dự án theo sơ đồ PERT

     

    8, Phương án quản trị rủi ro

    8.1 Các loại rủi ro

    Đây là loại hình dịch vụ còn mới mẻ ở  Việt Nam, nên có thể nhiều người còn chưa biết tới và không tin tưởng để bỏ những thói quen xả stress thông thường để đến với công ty.

    Từ trước đến nay, người Việt Nam thường quen với các kiểu xả stress thông thường như: vào các  trung tâm massage hay các rạp chiếu phim, nghe ca nhạc, chơi thể thao, tệ hơn là có thể mắng chửi vợ, con hay những người xung quanh hoặc gây gổ đánh nhau….họ chưa nghe đến dịch vụ  này bao giờ. Bởi vậy, thay đổi thói quen không  phải việc dễ dàng với họ, đòi hỏi cần phải có thời gian. Bên cạnh đó, một số người còn chưa hiểu rõ về stress, đơn giản họ chỉ thấy mệt mỏi rôì đi đâu đó hay làm cái gì mình thích là được nên có thể trung tâm không có mấy khách.

    –  Vì là một công ty mới bước vào thương trường kinh doanh, nên có thể còn có nhiều hạn chế và kinh nghiệm trong trong kinh doanh, nắm bắt nhu cầu, đặc điểm của những khách hàng khó tính.

    Khi bắt đầu kinh doanh một dịch vụ mới, công ty nào cũng phải đương đầu với các rủi ro về tài chính, thị trường hoặc về chất lượng, hình thức dịch vụ… những rủi ro đó có thể khiến khách hàng xa lánh công ty. Viêc thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh là vấn đề không phải nhỏ chính vì vậy, đây là một trong những điểm làm tăng mức độ rủi ro của dự án.

    – Rủi ro về các đối thủ cạnh tranh, (như các trung tâm và các loại hình dịch vụ có liên quan..) . Như những trung tâm massage, những câu lạc bộ chiếu phim, những khu giải trí tổng hợp như Thiên Đường Bảo Sơn …

    Như ở trên chúng tôi đã nói ở trên, để thay đổi thói quen của một người không phải dễ mọi người đã quá quen thuộc với các cách giải trí trước đây, trong khi các trung tâm giải trí này đã có từ lâu. Họ trang bị cho mình kinh nghiệm đúc rút qua từng thời kỳ kinh doanh nên đối thủ cạnh tranh của công ty không phải là tầm thường, chúng ta cũng phải kể đến số lượng đối thủ  không phải là ít.

    8.2  Phương án quản trị rủi ro.

    Vì đây là loại hình dịch vụ khá  mới mẻ, mặt khác người Việt Nam có tính tò mò và hiếu kỳ rất cao, nên đây cũng là điểm mạnh để cho khách hàng có thể tìm hiểu và tới để thử xả stress theo một cách mới hơn.

    Do đó để thu hút khách hàng chúng tôi sẽ sử dụng những chiêu thức Marketing độc đáo như:

    – Tạo ra những quảng cáo gây tò mò, những video độc đáo để thu hút sự chú ý của khách hàng, có thể và cần thiết chúng tôi sẽ mời những ca sĩ diễn viên nổi tiếng để PR cho dịch vụ này.

    – Luôn tạo sự quan tâm tốt nhất cho khách hàng. Khách hàng đến với công ty chúng tôi sẽ được hưởng những dịch vụ sau bán như được gửi thư chúc mừng sinh nhật, các ngày lễ, tết; các phương pháp luyện tập để lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống.

    – Luôn tạo ra sự khác biệt trong chiến lược kinh doanh.

    – Vì chúng tôi có những phương pháp khoa học và có những hướng đi đúng giúp khách hàng có thể cân bằng lại tâm hồn và thể xác của mình, giúp họ lấy lại được sự tự tin, vui vẻ trong cuộc sống và công việc.

    – Công ty có một độ ngũ nhân viên có trình độ và luôn quan tâm tới khách hàng một cách ân cần và với phong cách chuyên nghiệp nhất.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

          Với một sản phẩm dịch vụ mới khá độc đáo, chúng tôi tự tin là sẽ tạo ra một trào lưu mới về phương pháp stress của người dân Việt Nam. Bằng những chiến lược và chiến thuật kinh doanh cụ thể, các mục tiêu tài chính, kinh tế tài chính và văn hóa của công ty được xác định rõ ràng trong cả ngắn và dài hạn thì có thể nói rằng dự án này nhất định sẽ thành công.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/H%C6%AF%E1%BB%9ANG-D%E1%BA%AAN-L%C3%80M-TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    PHƯƠNG PHÁP LÀM TIỂU LUẬN

    Phần I:

    YÊU CẦU CỦA TIỂU LUẬN

    _Làm tiểu luận là một trong những công việc mà người sinh viên phải thực hiện trong quá trình học tập tại trường đại học. Để làm tốt tiểu luận, cần phải nắm được các yêu cầu của tiểu luận. Phần này sẽ trình bày vắn tắt các yêu cầu đó, bao gồm : Yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hình thức, yêu cầu về phương pháp.

    I.1: Yêu cầu về nội dung

    _Tiểu luận là một bài tập nghiên cứu khoa học sau khi học xong một môn học nào đó. Nội dung của tiểu luận phải có liên quan đến môn học, góp phần giải đáp, mở rộng hoặc nâng cao kiến thức về một vấn đề khoa học thuộc môn học. Người làm cần phải đưa ra những nghiên cứu riêng, ý kiến riêng của mình về vấn đề khoa học được đề cập tới trong tiểu luận. Không nên dừng ở mức độ chỉ tổng hợp các tài liệu và ý kiến có sẵn.

    I.2: Yêu cầu về hình thức

    _Tiểu luận cần được soạn thảo bằng máy tính, trình bày đúng qui cách, bao gồm các điểm chính :

    +Tiểu luận được làm trên khổ giấy A4.

    +In kiểu chữ Times, cỡ chữ 13, nên in 1 mặt.

    +Số dòng in trong một trang là 26-27 dòng (dãn cách dòng 1,5 lines).

    +Không nên lạm dụng các tính năng trình bày của máy tính, chỉ nên trình bày rõ ràng, sáng sủa. Tiểu luận cần được viết với văn phong giản dị, trong sáng, sử dụng chính xác các thuật ngữ chuyên môn, đặc biệt, không được mắc các lỗi chính tả và ngữ pháp. Muốn vậy, sau khi hoàn thành xong về nội dung, trước khi in, cần phải đọc lại và sửa chữa kỹ lưỡng về chính tả, ngữ pháp, câu văn và cách trình bày trang in.

    _Về hình thức, tiểu luận bao gồm các thành phần chính sau :

    +Bìa : Ngoài cùng của tiểu luận là bìa tiểu luận. Bìa được làm bằng giấy cứng, phía trên cùng đề tên trường và khoa, giữa trang đề tên đề tài bằng khổ chữ to, góc phải cuối trang đề họ tên người hướng dẫn, người thực hiện đề tài, lớp và năm học. Trang bìa có thể đóng khung cho đẹp.

    +Trang bìa : Là bản chụp của bìa, in trên giấy bình thường.

    +Lời cảm ơn (nếu cần)

    +Mục lục

    +Phần nội dung chính: Đây là phần trình bày kết quả nghiên cứu của tiểu luận. Phần này gồm nhiều phần nhỏ, được trình bày chi tiết ở mục sau (xem mục II.3).

    +Danh mục tài liệu tham khảo

    +Phụ lục (nếu cần)

    I.3: Yêu cầu về phương pháp

    _Viết tiểu luận là tập nghiên cứu khoa học, tiểu luận có thể được coi là một công trình khoa học nho nhỏ. Do vậy cần phải xác định rõ phương pháp thực hiện tiểu luận bao gồm các phương pháp nghiên cứu của ngành học cùng với các phương pháp hỗ trợ khác, trong đó phương pháp sử dụng máy tính để soạn thảo văn bản.

    Phần II:

    CÁC BƯỚC THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

    _Sau khi xác định được các yêu cầu của tiểu luận, cần phải phân chia việc thực hiện tiểu luận thành các công việc nhỏ hơn và đơn giản hơn, định rõ thứ tự thực hiện các công việc đó, thời gian cần thiết cho từng công việc. Tức là phải xác định các bước thực hiện tiểu luận. Kết quả của việc này là một bản kế hoạch thực hiện tiểu luận được giáo viên hướng dẫn chấp thuận.

    _Phần này trình bày các bước chính để thực hiện một tiểu luận (*), bao gồm các bước :

    +Xác định đề tài

    +Tập hợp thông tin,

    +Lập đề cương

    +Giải quyết từng mục trong nội dung nghiên cứu

    +Hoàn thiện tiểu luận

    (*) Tất nhiên, tùy theo môn học và đề tài mà có thể phải có thêm bớt các bước.

    II.1: Xác định đề tài

    _Trước tiên cần tìm kiếm và lựa chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài có thể do người hướng dẫn nêu ra nhưng cũng có khi sinh viên phải tự tìm kiếm. Có thể tìm kiếm đề tài trong chương trình học hoặc trong thực tiễn liên quan tới ngành hoặc môn học.

    _Cần phải xác định rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài như giới hạn về nội dung, về mức độ nghiên cứu, đối với một số ngành còn phải giới hạn về thời gian, không gian của sự kiện, điều kiện thực hiện…. Vì thời gian làm tiểu luận có hạn nên cần chọn những đề tài vừa sức và phải đưa ra những giới hạn phù hợp, đừng nên chọn những đề tài quá khó, quá rộng.

    _Khi trình bày với giáo viên hướng dẫn, cần phải nói rõ nội dung đề tài, lý do chọn đề tài, phương pháp nghiên cứu đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu và cuối cùng là tên đề tài (tên đề tài ngắn gọn, chính xác với nội dung và giới hạn của đề tài).

    II.2: Tập hợp thông tin

    _Sau khi đã xác định được đề tài nghiên cứu của tiểu luận, cần phải tập hợp các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, ví dụ như :

    _Các nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí, kỷ yếu khoa học… được lưu trữ trong các thư viện hoặc trên Internet.

    _Các kết quả có được từ các thí nghiệm, thực nghiệm, thực địa, thực tập, điều tra,…

    v.v

    _Kết quả của việc tập hợp thông tin là một bản danh mục các tài liệu tham khảo, trong đó các tài liệu được sắp thứ tự theo tên tác giả hoặc tên tài liệu…

    II.3: Lập đề cương

    _Đề cương là cái khung của tiểu luận. Đề cương là các nét chính về phương cách giải quyết vấn đề nghiên cứu được nêu ra. Ở bước này, cần nêu ra được nội dung tiểu luận sẽ gồm bao nhiêu phần, chương, mục; cách bố trí ra sao, nội dung chủ yếu của mỗi mục là gì. Tất nhiên đây chỉ là những dự kiến, sau này có thể còn thay đổi.

    _Nói chung, nội dung tiểu luận gồm các phần chính sau:

    _Phần mở đầu : Trong phần này cần nêu rõ nội dung đề tài nghiên cứu, lý do và mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.

    _Phần thân : Phần này bao gồm nhiều phần nhỏ (chương) I, II, III…. Đây là nội dung chủ yếu của tiểu luận, thuộc chuyên môn ngành học. Mỗi phần nhỏ có thể gồm nhiều mục, thể hiện quá trình giải quyết vấn đề nêu trong đề tài, các kết quả trong quá trình nghiên cứu, các nhận định, đánh giá… Phần này có thể được viết nhiều lần, sửa chữa, bổ sung trong suốt quá trình nghiên cứu. Đây là phần chủ yếu thể hiện công sức và trình độ nghiên cứu của người thực hiện tiểu luận.

    _Phần kết luận : Trong phần này cần tóm tắt quá trình giải quyết vấn đề các kết quả nghiên cứu. Nêu lên được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, Nêu ra những vấn đề chưa giải quyết được và hướng phát triển của đề tài.

    II.4: Giải quyết nội dung nghiên cứu

    _Đây là bước chiếm nhiều công sức nhất trong quá trình làm tiểu luận. Người thực hiện tiểu luận cần phải tiến hành:

    +Nghiên cứu

    +Làm thí nghiệm

    +Thực nghiệm

    +Điều tra

    +Phỏng vấn, tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích dữ liệu, suy nghĩ và đưa ra những nhận xét, đánh giá, … cho từng mục trong tiểu luận. Sau đó viết những kết quả nghiên cứu của mình vào tiểu luận.

    _Trước hết nên viết dưới dạng bản thảo tất cả những thông tin, những kết quả có được, những ý tưởng đã có cho đề tài cho dù còn lộn xộn, chưa chắc chắn. Trong các bước tiếp theo sẽ sửa chữa, sàng lọc, sắp xếp, hoàn chỉnh lại.

    II.5: Hoàn thiện tiểu luận

    _Sau khi đã viết được hầu hết nội dung tiểu luận, cần phải đọc lại và hoàn thiện tiểu luận. Chính trong phần này, việc soạn thảo tiểu luận bằng máy tính sẽ phát huy tác dụng rất tốt. Với máy tính, ta có thể thêm, bớt, xóa, sửa văn bản tiểu luận một cách hết sức tự do, có thể chèn các hình ảnh, biểu bảng, sơ đồ, công thức, … rất tiện lợi.

    _Trong bước này, cần phải :

    +Điều chỉnh nội dung và bố cục tiểu luận cho phù hợp với quá trình và kết quả nghiên cứu, đồng thời khiến các phần được liên kết với nhau một cách mạch lạc, rõ ràng. Lược bỏ những phần, những ý chưa thật chắc chắn hoặc quá lan man.

    +Sửa chữa lỗi chính tả, câu văn và ý tứ sao cho tiểu luận được trình bày một cách chính xác, dễ hiểu và trong sáng.

    +Chỉnh sửa nội dung và hình thức các bảng, biểu, hình ảnh…. Nhập Danh mục tài liệu tham khảo.

    +Điều chỉnh định dạng các phần của văn bản tiểu luận như các tiêu đề, chú thích, tham chiếu, …. Tạo các phần cần thiết cho văn bản tiểu luận như : Trang bìa, Mục lục, Header/Footer,…

     

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN MÔN HỌC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn

    – Lí do lí luận: khái quát tính chất, tầm quan trọng của vấn đề (đối tượng) nghiên cứu trong đề tài;

    – Lí do thực tiễn: khái quát những yếu kém, bất cập trong thực tiễn so với vị trí, yêu cầu nêu trên.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Mục đích nghiên cứu là cơ sở để đề ra nhiệm vụ nghiên cứu, thường thể hiện 2 vấn đề cơ bản sau:

    • Mô tả và phân tích thực trạng;
    • Đề xuất biện pháp.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Là tiêu điểm mà đề tài cần tập trung giải quyết. Đối tượng nghiên cứu của một đề tài có thể là thực trạng, biện pháp, giải pháp, v.v.

    4.  Phạm vi nghiên cứu

    Là sự xác định (khu biệt, giới hạn, cụ thể hoá) đối tượng nghiên cứu của đề tài. Sự xác định phạm vi nghiên cứu thường thể hiện ở các mặt: không gian – nội dung; thời gian.

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu

    – Hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan tới đề tài;

    – Mô tả thực trạng;

    – Phân tích, đánh giá thực trạng;

    – Đề xuất biện pháp, khuyến nghị.

    5.  Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp nghiên cứu là công cụ nghiên cứu khoa học trong thực hiện nhiệm vụ đề tài. Tổng kết quả của các phương pháp nghiên cứu khoa học phải đủ thực hiện tổng nhiệm vụ đề tài.

    Mỗi phương pháp nghiên cứu nên phân tích thành:

    • Mục đích của phương pháp: nhằm thực hiện nhiệm vụ gì của đề tài
    • Đối tượng của phương pháp: được chứa đựng ở khách thể nghiên cứu của cơ sở nghiên cứu (cần phân biệt đối tượng của phương pháp nghiên cứu với đối tượng của đề tài)
    • Nội dung phương pháp (kĩ thuật sử dụng phương pháp): nên đưa vào phụ lục (thường sử dụng cho phương pháp điều tra, phỏng vấn)

    Phần thứ hai

    – Thực trạng vấn đề cần nghiên cứu:

    * Mô tả, phân tích thực trạng vấn đề cần trình bày

    * Đánh giá môi liên hệ, tác động của vấn đề nghiên cứu

    –  Đề xuất các giải pháp cho vấn đề nghiên cứu

    Kết luận, kiến nghị

    + Tóm tắt vấn đề nghiên cứu

    + Đánh giá quá trình nghiên cứu

    + Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo.

    • Tài liệu tham khảo
    • Phụ lục

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Marketing-ph%C3%A2n-t%C3%ADch-SWOT-c%C3%B4ng-ty-b%C3%A1nh-k%E1%BA%B9o-Bibica.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Chương I :

    TÌM HIỂU CHUNG VỀ MA TRẬN SWOT

          1.1 :-Khái niệm ma trận Swot

    Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh. Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty, phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp. Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát triển sản phẩm và cà trong các báo cáo nghiên cứu .. đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.

     

    1.2:- Nguồn gốc của ma trận swot

    Mô hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 công ty có doanh thu cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện Nghiên cứu Standford trong thập niên 60-70, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch. Nhóm nghiên cứu gồm có Marion Dosher, Ts. Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert Stewart và BirgerLie.

    Việc Du Pont lập kế hoạch kinh doanh dài hạn vào năm 1949 đã khơi mào cho một phong trào “tạo dựng kế hoạch” tại các công ty. Cho tới năm 1960, toàn bộ 500 công ty được tạp chí Fortune bình chọn đều có “Giám đốc kế hoạch” và các “Hiệp hội các nhà xây dựng kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp”, hoạt động ở cả Anh quốc và Hoa Kỳ.

    Tuy nhiên, tất cả các công ty trên đều thừa nhận rằng các kế hoạch dài hạn này không xứng đáng để đầu tư công sức bởi không có tính khả thi, chưa kể đây là một khoản đầu tư tốn kém và có phần phù phiếm.

    Trên thực tế, các doanh nghiệp đang thiếu một mắt xích quan trọng: làm thế nào để ban lãnh đạo nhất trí và cam kết thực hiện một tập hợp các chương trình hành động mang tính toàn diện mà không lệ thuộc vào tầm cỡ doanh nghiệp hay tài năng của các chuyên gia thiết lập kế hoạch dài hạn.

    Để tạo ra mắt xích này, năm 1960, Robert F. Stewart thuộc Viện Nghiên cứu Standford, Menlo Park, California, đã tổ chức một nhóm nghiên cứu với mục đích tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp nhằm tìm ra giải pháp giúp các nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc hoạch định, điều mà ngay nay chúng ta gọi là “thay đổi cung cách quản lý”.

    Công trình nghiên cứu kéo dài 9 năm, từ 1960 đến 1969 với hơn 5000 nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1100 công ty, tổ chức. Và sau cùng, nhóm nghiên cứu đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp hiệu quả.

    Tiến sĩ Otis Benepe đã xác định ra “Chuỗi lôgíc”, hạt nhân của hệ thống như sau:
    1. Values (Giá trị)

    1. Appraise (Đánh giá)
    2. Motivation (Động cơ)
    3. Search (Tìm kiếm)
    4. Select (Lựa chọn)
    5. Programme (Lập chương trình)
    6. Act (Hành động)
    7. Monitor and repeat steps 1 2 and 3 (Giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3).

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, không thể thay đổi giá trị của nhóm làm việc hay đặt ra mục tiêu cho nhóm làm việc, vì vậy nên bắt đầu bước thứ nhất bằng cách yêu cầu đánh giá ưu điểm và nhược điểm của công ty. Nhà kinh doanh nên bắt đầu hệ thống này bằng cách tự đặt câu hỏi về những điều “tốt” và “xấu” cho hiện tại và tương lai. Những điều “tốt” ở hiện tại là “Những điều hài lòng” (Satisfactory), và những điều “tốt” trong tương lai được gọi là “Cơ hội” (Opportunity); những điều “xấu” ở hiện tại là “Sai lầm” (Fault) và những điều “xấu” trong tương lai là “Nguy cơ” (Threat). Công việc này được gọi là phân tích SOFT.
    Khi trình bày với Urick và Orr tại Hội thảo về Lập kế hoạch dài hạn tại Dolder Grand, Zurich, Thụy Sĩ năm 1964, nhóm nghiên cứu quyết định đổi chữ F thành chữ W và từ đó SOFT đã chính thức được đổi thành SWOT.

    Sau đó, SWOT được Urick và Orr quảng bá tại Anh quốc như một dạng bài tập cho tất cả mọi người. Những điều cần phải làm trong khi lập kế hoạch chỉ là phân loại các vấn đề theo một số danh mục được yêu cầu.

    Bước thứ hai được điều chỉnh thành “Nhóm sẽ làm gì?” với từng phần trong danh mục. Quá trình lập kế hoạch này sau đó được thiết kế thông qua phương pháp “Thử và sai” mà kết quả là một quá trình gồm 17 bước, bằt đầu bằng SOFT/SWOT với mỗi mục ghi riêng vào từng trang.

    Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và xuất bản năm 1966 dựa trên hoạt động của công ty Erie Technological Corp. ở Erie Pa. Năm 1970, phiên bản này được chuyển tới Anh dưới sự tài trợ của công ty W.H.Smith & Sons PLC và được hoàn thiện năm 1973. Phương pháp phân tích này cũng đã được sử dụng khi sáp nhập các cơ sở xay xát và nướng bánh của CWS vào J.W.Frenhch Ltd.

    Kể từ đó, quá trình này đã được sử dụng thành công rất nhiều lần ở nhiều doanh nghiệp và tổ chức thuộc các lĩnh vực khác nhau. Và tới năm 2004, hệ thống này đã được phát triển đầy đủ, đã chứng minh được khả năng giải quyết hàng loạt các vấn đề hiện nay trong việc xác lập và nhất trí các mục tiêu mang tính thực tiễn hàng năm của doanh nghiệp mà không cần dựa vào các cố vấn bên ngoài.

         

           

     

     

     

     1.3 ;- Vai trò và ý nghĩa:

             1.3.1: – Vai trò :

                SWOT là một trong những kỹ năng hữu ích nhất. Nhờ công cụ này, nhà lãnh đạo làm việc hiệu quả, giảm thiểu stress, cải tiến khả năng quyết định, tối đa hóa hiệu quả cá nhân và còn nhiều hơn nữa.

                Phân tích SWOT (SWOT Analysis) là một kỹ thuật phân tích rất mạnh trong việc xác định Điểm mạnhĐiểm yếu để từ đó tìm ra được Cơ hộiNguy cơ.

                Sử dụng trong ngữ cảnh kinh doanh,nó giúp bạn hoạch định được thị trường một cách vững chắc.

         1.3.2: – Ý nghĩa:

    Phân tích SWOT rất đơn giản nhưng là một cơ chế rất quan trọng để dánh giá  Điểm mạnh yếu cũng như phân tích Cơ hội, nguy cơ mà bạn phải đối mặt. Nó là một sự đánh giá khả năng trong nhận xét và phán đoán bản thân cũng như các nhân tố bên ngoài của chính bạn.Vận dụng thành công sẽ giúp bạn có một trong những kỹ năng phân tích và đánh giá tình huống tốt.

    Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào.SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ…

    Điều gì làm cho Phân tích SWOT trở nên có sức  mạnh như vậy, đơn giản mà nghĩ, nó có thể giúp bạn xem xét tất cả các cơ hội mà bạn có thể tận dụng được. Và bằng cách hiểu được điểm yếu của bạn trong kinh doanh, bạn sẽ có thể quản lý và xóa bỏ các rủi ro mà bạn chưa nhận thức hết.

    Hơn thế nữa, bằng cách sử dụng cơ sở so sánh và phân tích SWOT giữa bạn và đối thủ cạnh tranh, bạn có thể phác thảo một chiến lược mà giúp bạn phân biệt bạn với đối thủ cạnh tranw, vì thế mà giúp bạn cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương II :

     PHÂN TÍCH SWOT TRONG KINH DOANH

           2.1:- Các bước phân tích Swot

    Albert Humphrey, nhà kinh tế, thành viên Ban quản trị của cùng lúc 5 công ty đồng thời là chuyên gia cố vấn cho hơn 100 công ty tại Anh, Mỹ, Mê-hi-cô, Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Na Uy và Đan Mạch, đã cụ thể hóa SWOT thành 6 mục hành động           sau:
    1. Sản phẩm (Chúng ta sẽ bán cái gì?)

    1. Quá trình (Chúng ta bán bằng cách nào?)
    2. Khách hàng (Chúng ta bán cho ai?)
    3. Phân phối (Chúng ta tiếp cận khách hàng bằng cách nào?)
    4. Tài chính (Giá, chi phí và đầu tư bằng bao nhiêu?)
    5. Quản lý (Làm thế nào chúng ta quản lý được tất cả những hoạt động đó?)

    6 mục trên cung cấp một cái khung để phát triển các vấn đề trong SWOT. Đây có thể coi là một “bước đột phá”, vì vậy, chắc hẳn cần phải giải thích thêm đôi chút. Các yêu cầu trong SWOT được phân loại thành 6 mục như trên sẽ giúp đánh giá các mục theo cách định lượng hơn, giúp các nhóm làm việc có trách nhiệm hơn trong bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp hay tổ chức, từ đó dễ dàng quản lý các hành động hơn. Mục tiêu hết sức quan trọng của quá trình là đạt được cam kết giữa các nhóm tham gia – phần này được giải thích bằng mô hình TAM (Team Action Management Model – Mô hình quản lý hoạt động nhóm) của Albert Humphrey.
    Chừng nào còn phải xác định các hành động được cụ thể hóa từ SWOT, các nguyên nhân và mục đích phân tích SWOT, chừng đó, khả năng và quyền hạn quản lý nhân viên của bạn còn đóng vai trò quan trọng trong việc đưa đến một sự nhất trí về ý tưởng và phương hướng hoạt động.

    Dựa vào bối cảnh cụ thể, một mô hình phân tích SWOT có thể đưa ra một, hay một vài mục trong danh sách 6 bước hành động nói trên. Dù trong trường hợp nào đi nữa, SWOT về cơ bản cũng sẽ cho bạn biết những gì là “tốt” và “xấu” trong công việc kinh doanh hiện tại hay đối với một đề xuất mới cho tưong lai.
    Nếu đối tượng phân tích SWOT của bạn là công việc kinh doanh, mục tiêu phân tích là cải thiện doanh nghiệp, thì SWOT sẽ được hiểu như sau:

    Điểm mạnh    (Duy trì, xây dựng và làm đòn bẩy)

    Cơ hội    (Đánh giá một cách lạc quan)

    Điểm yếu    (Phương thuốc để sửa chữa hoặc để thoát khỏi điểm yếu)

    Nguy cơ    (Các trở ngại)

    Nếu phân tích SWOT được dùng để đánh giá một ý tưởng hay đề xuất, nó có thể chỉ ra rằng ý tưởng hay đề xuất đó quá yếu (đặc biệt khi so sánh với việc phân tích các đề xuất khác) và không nên đầu tư vào đó. Trong trường hợp này, không cần đưa ra các kế hoạch hành động tiếp theo.

    Nếu phân tích cho thấy ý tưởng hay đề xuất nào đó thực sự có khả năng

    thành công, bạn có thể coi đây là một công việc kinh doanh, và chuyển các mục trong SWOT thành hành động phù hợp.

    Trên đây là nội dung chính lý thuyết của Albert Humphrey liên quan đến việc phát triển các mục trong phân tích SWOT thành hành động nhằm mục tiêu thay đổi doanh nghiệp hoặc tổ chức.

    Ngoài ra, SWOT còn có một số cách áp dụng khác, tùy theo hoàn cảnh và mục đích của bạn, chẳng hạn, nếu bạn chỉ tập trung vào một bộ phận chứ không phải cả doanh nghiệp, bạn nên sắp xếp lại 6 mục nêu trên sao cho nó có thể phản ánh đầy đủ các chức năng của bộ phận, sao cho các mục trong SWOT có thể được đánh giá cụ thể nhất và được quản lý tốt nhất.

          2.2 :-Khung phân tích SWOT

    Mô hình phân tích SWOT được áp dụng trong việc đánh giá một đơn vị kinh doanh, một đề xuất hay một ý tưởng. Đó là cách đánh giá chủ quan các dữ liệu được tổ chức theo một trình tự lô-gíc nhằm giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề, từ đó có thể thảo luận và ra quyết định hợp lý và chính xác nhất.

    Khung phân tích SWOT dưới đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ một cách chuyên nghiệp và đưa ra quyết định ở thế chủ động chứ không chỉ dựa vào các phản ứng bản năng hay thói quen cảm tính.

    Khung phân tích SWOT thường được trình bày dưới dạng lưới, bao gồm 4 phần chính thể hiện 4 nội dung chính của SWOT: Điểm mạnh, Điểu yếu, Cơ hội và Nguy cơ, một số các câu hỏi mẫu và câu trả lời được điền vào các phần tương ứng trong khung. Những câu hỏi nêu dưới đây chỉ là ví dụ, người đọc có thể thay đổi cho phù hợp với từng đối tượng phân tích cụ thể. Một điều cần hết sức lưu ý, đó là đối tượng phân tích cần được xác định rõ ràng, vì SWOT chính là tổng quan của một đối tượng – có thể là một công ty, một sản phẩm, một dự án, một ý tưởng, một phương pháp hay một lựa chọn…

    Sau đây là ví dụ về những đối tượng tiềm năng có thể được đánh giá thông qua phân tích SWOT:

    – Một công ty (Vị thế của công ty trên thị trường, khả năng tồn tại,…)

    – Một phương pháp phân phối hoặc bán hàng.

    – Một sản phẩm hoặc một nhãn hiệu.

    – Một ý tưởng kinh doanh.

    – Một sự lựa chọn chiến lược, chẳng hạn như thâm nhập thị trường mới hay tung ra sản phẩm mới.

    – Một cơ hội thực hiện sát nhập.

    – Một đối tác kinh doanh tiềm năng.

    – Khả năng thay đổi nhà cung cấp.

    – Khả năng thuê ngoài (outsource) một dịch vụ hay nguồn lực.

    – Một cơ hội đầu tư.

     

     

     

     

     

    Sau đây là khung phân tích SWOT

     

     

     

     

     

    Chương III

    MA TRẬN SWOT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BIBICA

          3.1 :- Giới thiệu về Công ty cổ phần Bibica

    Lĩnh vực kinh doanh:

    – Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trên các lĩnh vực về công nghiệp chế biến       bánh-kẹo-nha.
    – Xuất khẩu các sản phẩm bánh – kẹo – nha và các loại hàng hóa khác.

    – Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của Công ty.

                Sơ lược quá trình phát triển:

    – Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa được thành lập từ việc cổ phần hóa  03 phân xưởng: bánh, kẹo, nha thuộc Công ty Đường Biên Hòa.

    – Ngày 17/12/2001, BBC chính thức niêm yết trên sàn Hostc.

    – Ngày 30/08/2006, BBC phát hành thêm cổ phiếu với tỷ lệ 10:2.

    – Ngày 20/4/2007, BBC trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100:12.

    – Ngày 14/12/2007, BBC trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100: 6.

    – Vốn điều lệ hiện tại của BBC là 154,2 tỷ đồng.

     

     

     

    3.1.1:- Năng lực và công nghệ

     
    Dây chuyền kẹo

    Sản phẩm kẹo cứng và kẹo mềm của Công ty được sản xuất trên các dây chuyền liên tục với các thiết bị của Châu Âu. Với năng suất : 10.000 tấn/năm, Công ty là một trong những nhà sản xuất kẹo lớn nhất của Việt nam. Do được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu chất lượng cao, đặc biệt là mạch nha, nên sản phẩm kẹo cứng của Công ty có hương vị vượt trội so với các sản phẩm cùng loại khác.

     
    Dây chuyền nha

    Sản phẩm mạch nha của Công ty được sản xuất bằng công nghệ Enzym và tẩy màu bằng than hoạt tính và trao đổi ion. Có thể nói sản phẩm mạch nha của chúng tôi có chất lượng hàng đầu ở Việt Nam. Sản phẩm của Công ty có thể đạt độ màu nhỏ hơn 10 độ Icumsa.

     
    Dây chuyền layer cake

    Sản phẩm layer cake (bánh bông lan kẹp kem) được sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Ý: đồng bộ, khép kín, áp dụng các nguyên tắc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt. Do đó, sản phẩm của Công ty có thời hạn sử dụng tới 1 năm, trong khi các sản phẩm bánh tươi khác chỉ có thể sử dụng trong vòng 1 tuần. Công ty là nhà sản xuất bánh kẹo đầu tiên ở Việt nam đầu tư sản xuất loại sản phẩm này với sản lượng hàng năm hơn 1500 tấn.Sản phẩm chocolate của Công ty  Công ty  có chất lượng không hề thua kém các sản phẩm của Châu Âu. Bởi vì, ngoài các nguyên liệu đều nhập từ Châu Âu, chocolate của Công ty còn được sản xuất theo công nghệ và thiết bị của Anh. Hàng năm, chúng tôi có thể sản xuất được hơn 600 tấn chocolate các loại Ngoài các sản phẩm trên, Công ty còn có các sản phẩm khác: bánh biscuit các loại (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Anh); bánh cookies (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Mỹ); bánh xốp phủ chocolate; snack các loại; kẹo dẻo… Tổng cộng hàng năm, Công ty cung cấp cho thị trường hơn 15.000 tấn bánh kẹo các loại.

     

    3.1.2 :-   Các thành tựu:

    Chứng nhận “Hàng Việt Nam Chất lưọng cao” 1997-2006 Tiêu chuẩn ISO 9001: 2000

     

    Năm 2004

    Top 5 ngành hàng bánh kẹo Chứng nhận “Thương hiệu mạnh”
    Cúp vàng “Thương hiệu an toàn vì sức khoẻ cộng đồng” Siêu cúp “Thương hiệu nổi tiếng vì sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ và phát triển cộng đồng “
    Huy chương vàng “Mumsure& Growsure” Chứng nhận “Doanh nghiệp có giải pháp thị trường xuất khẩu tốt nhất sang thị trường các nước và khu vực”

     

     

    3.1.3 Bộ máy tổ chức:

     

      3.2:- Các phân tích Swot với Công ty Cổ phần Bibica

    3.2.1:- Thông tin về kế toán và kết quả kinh doanh

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Triệu VNĐ)                                        

      31/12/2006 31/12/2007 30/09/2008
    TÀI SẢN 242,977 379,172 628,911
     TSNH 156,307 179,079 417,172
      Tiền & tương đương tiền 22,569 44,423 19,801
      Khoản đầu tư ngắn hạn 35,000 14,055 220,055
      Khoản phải thu ngắn hạn 33,167 30,318 76,795
      Hàng tồn kho 63,823 86,851 92,569
      TSNH khác 1,748 3,432 7,952
    TSDH 86,670 200,093 211,738
      Khoản phải thu dài hạn
      Tài sản cố định 64,627 149,435 179,983
      Đầu tư dài hạn
      BĐS đầu tư 9,753 38,499 19,709
      TSDH khác 12,290 12,159 12,046
    NGUỒN VỐN 242,977 379,172 628,911
     Nợ phải trả 59,618 172,177 146,116
      Nợ ngắn hạn 56,439 141,006 132,702
      Nợ dài hạn 3,179 31,170 13,414
     Vốn CSH 183,359 206,996 482,795

     

    KẾT QUẢ KINH DOANH (Triệu VNĐ)

    Chỉ tiêu 2006 2007 Quý III/2008 9 tháng đầu 2008 Chỉ tiêu TC (30/09/2008) 2006 2007 9 tháng đầu 2008
    Doanh thu thuần 341,331 453,975 146,135 377,842 TSNH/Tổng TS (%) 64.33% 47.23% 66.33%
    Giá vốn hàng bán 254,909 335,662 109,781 290,302 Nợ PT/ VCSH (lần) 0.33 0.83 0.30
    Lợi nhuận trước thuế 25,332 33,325 12,581 9,177 KH TT Nhanh (lần) 1.02 0.41 1.81
    Lợi nhuận sau thuế 19,183 24,443 11,019 5,865 Giá vốn/ DTT (%) 74.68% 73.94% 76.83%
              ROA (%) 7.89% 6.45% 0.93%
              ROE (%) 10.46% 11.81% 1.21%
              ROS (%) 5.62% 5.38% 1.55%
              EPS (đồng) 2,134 2,269 380
              BV (đồng) 20,396 19,218 31,306

    CƠ CÂU CỔ ĐÔNG (BCB 31/12/2008)                                                                  

     

     

      Cá nhân Tổ chức Số lương Tỷ lệ%
    Tổng số cổ phần 7.570.097 3.200.685 10.770.782 100
    Chưa lưu ký 108.315 5.533 113.848 1,06
    Lưu ký 7.461.782 3.195.152 10.656.934 98,94
    Trong nước 7.278.938 1.037.524 8.316.462 77,21
    Nước ngoài 291.159 2.163.161 2.454.320 22,79
    Cổ đông lớn :        
    Cổ đông sở hữu

     

    1-5%

    4.273.089 2.133.556 6.406.645 59,48
    Cổ đông sở hữu

     

    5-10%

    1.116.074 999.215 2.115.289 19,64
    THÔNG TIN GIAO DỊCH (10/12/2008)

     

    _______________________________________________

    Tổng số CP                                                     :   15,421,700 cp

    Số CP niêm yết                                               :   15,421,700 cp

    Số CP đang lưu hành                                      :   15,421,700 cp

    Giá cao nhất từ khi niêm yết                           :  107.000 đồng

    Giá thấp nhất từ khi niêm yết                          :  13.200 đồng

    Vốn hóa thị trường                                          :   207 tỷ đồng

    Giá hiện tại                                                      :   13.400 đồng

    P/E    (10/12/2008)                                          :   16,5 lần

    P/B    (10/12/2008)                                          :    0,43 lần

     

    3.2.2:- Phân tích Swot

    Điểm mạnh:

    – Thương hiệu Bibica luôn được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn đạt danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1997-2006. Thương hiệu Bibica được chọn là thương hiệu mạnh trong top 100 thương hiệu mạnh tại Việt Nam.

    – Sản phẩm của Công ty được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước. Doanh thu tiêu thụ trong nước chiếm 96% – 97% tổng doanh thu của Công ty, doanh thu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, 42 nhà phân phối  tại khu vực Đông Nam Bộ, 23 nhà phân phối tại khu vực miền Trung và 30 nhà phân phối tại khu vực miền Bắc. Đến nay, sản từ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3% – 4% tổng doanh thu với sản phẩm xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm nha.

    – Công ty hiện có 108 nhà phân phối, trong đó 13 nhà phân phối phẩm của Công ty đã được tiêu thụ trên phạm vi cả nước.

    Điểm yếu:

    – Bánh kẹo không phải là nhu yếu phẩm, không phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người, và cũng có rất nhiều những sản phẩm khác để sử dụng thay thế, do đó sức mua của người dân giảm sẽ tác động làm sụt giảm doanh thu của Công ty.

    – Hàng năm Công ty phải nhập khẩu một số nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất như bột mì, hương liệu, bột sữa… Do vậy, khi tỷ giá biến động kéo theo chi phí đầu vào thay đổi, tác động lên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Cơ hội:

    – Nên kinh tế Việt Nam những năm gần đây tăng trưởng 7-8%/năm, điều này sẽ kích thích nhu cầu người dân cho tiêu dùng, đó sẽ là cơ hội cho BBC tăng trưởng kinh doanh.

    Thách thức:

    – Khi Việt Nam gia nhập AFTA, thuế suất thuế nhập khẩu các sản phẩm bánh kẹo sẽ giảm xuống. Giá bán các sản phẩm này do đó có thể cạnh tranh hơn, vì vậy có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty.

    – Nguyên vật liệu nhập khẩu và đường nguyên liệu chiếm khoảng 20% giá thành các sản phẩm của Công ty. Do vậy, những thay đổi trong các thông tư, nghị định liên quan đến nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp đến giá nguyên vật liệu đầu vào.

    – Sản phẩm nhập khẩu chiếm 30% thị phần (bao gồm chính thức và phi chính thức), chủ yếu từ Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Hồng Kông và Trung Quốc… Một số sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu hiện nay các đơn vị trong nước vẫn chưa sản xuất được.

    -Thị trường trong nước, BCC phải cạnh tranh với công ty Kinh Đô, công ty bánh kẹo Hải Hà, công ty bánh kẹo Hải Châu.

                    PHÂN TÍCH NGÀNH

     

     

    Bánh Kẹo
    Ma  

     

    GIÁ

     

    Vốn hóa thị trường kết quả kinh doanh Chỉ số tài chính Cơ cấu vốn
    DTT LNST ROA (%) ROE (%) ROS (%) EPS  (Đồng) BV (Đồng) P/E P/B Nợ/VCSH Tỷ trọng đầu tư tài chính
    BBC 13.4 2,066,387,200 377,842 5,865 0.93 1.22 1.55 380 31,308 35.2 0.4 30.3 49.9
    HHC 15.5 848,625,000 282,011 9,681 4.76 9.49 3.43 1768 19,470 8.8 0.8 90.8
    NKD 24.8 2,499,765,600 451,714 35,473 5.82 13.11 7.85 3519 27,263 7.0 0.9 121.9 71.2
    KDC 26.5 15,135,422,000 1,046,095 129,551 3.89 5.46 12.38 2268 42,834 11.7 0.6 37.3 68.1

    Chú giải :   Mã       BBC : Công ty Cổ phần Bibica

    HHC : Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà

    NKD : Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm Kinh đô

    KDC : Công ty Cổ phần Kinh Đô

    – Tỷ lệ nợ phải trả trên VCSH của công ty khá thấp cho thấy công ty đã hạn chế sử dụng nguồn vốn vay, điều này sẽ giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh của công ty. Mặc dù vậy, các chỉ số về khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của công ty khá tốt cho thấy công ty kinh doanh khá hiệu quả.

    – BBC là công ty có EPS thấp nhất ngành và P/E cao nhất ngành, điều này cho thấy công ty đang được đánh giá cao hơn giá trị.

     

                    TỪ CÁC PHÂN TÍCH TRÊN CHÚNG TA ĐƯA RA CHIẾN LƯỢC KINH DOANH    

    Bibica mở rộng thị trường, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao công nghệ; có khả năng tư vấn, định hướng chiến lược, tư vấn quản trị điều hành, tư vấn quản trị tài chính, tư vấn các cơ hội, các dự án đầu tư mới.

    – Tập trung phát triển thực phẩm dinh dưỡng gồm: Thực phẩm bổ sung vi chất và thực phẩm chức năng trở thành sản phẩm chiến lược của Bibica, cụ thể doanh thu nhóm sản phẩm dinh dưỡng đưa mức tăng trưởng lên 150%.

    – Củng cố và phát triển hệ thống phân phối Công ty:

    + Thị phần nội địa BBC: mỗi năm cần phải tăng 3 – 5% thị phần bánh kẹo so với năm trước.

    + Phát triển điểm bán lẻ: hiện nay 10% trên tổng số điểm bán lẻ có bán sản phẩm + Mở rộng quy mô và phạm vi các kênh phân phối, phát triển thị trường tới những vùng sâu vùng xa thông qua hệ thống đại lý và nhà phân phối. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, cùng hợp tác cùng phát triển với các nhà cung ứng, nhà phân phối, đại lý.

    – Phát triển thị trường xuất khẩu:

    Thị trường: Philippines, Bangladesh, Cambodia, Taiwan, Japan, Singapore, Hong Kong (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Thailand, Reunion, Laos, các nước Trung Đông, Châu Phi doanh số xuất khẩu: 1,5 triệu USD .

                 KẾT LUẬN VỀ BIBICA

    – BIBICA là một doanh nghiệp đã khẳng định thương hiệu vững chắc tại thị trưòng bánh kẹo trong nước .Với chiến lược phát triển rõ ràng với hàng loạt dự án lớn đã và đang triển khai sẽ là lực đẩy  cho quá trình tăng trưởng và phát triển của BBC trong tương lai .Đặc biệt ,với việc kí kết hợp đồng  hợp tác chiến lược với công ty Lotte Hàn quốc là một bước ngoặt quan trọng  trong quá trình phát triển của Công ty, mở ra cơ hội rất lớn trong việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,hướng đến mục tiêu trở thành Công ty dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo tại Việt Nam.

    – Cổ phiếu cảu BBC là một cổ phiếu tốt và đã được thị trường đánh giá cao từ lâu ,cộng với Bibica là doanh nghiệp có nhiều khả năng tăng trưởng cao trong tương  lai nên sẽ là địa chỉ đáng tin cậy để nhà đầu tư quan tâm

       

     

     

     

     

     

     

     

                                             


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]