Author: Nguyễn Huyền

  • Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-kh%C3%A1i-ni%E1%BB%87m-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-%C4%91%E1%BB%83-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A5u-tranh-%C4%91%E1%BB%83-ch%E1%BB%91ng-l%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-quan-%C4%91i%E1%BB%83m-xuy%C3%AAn-t%E1%BA%A1c-c%E1%BB%A7a-k%E1%BA%BB-th%C3%B9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    CHỦ ĐỀ 1:

    Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù.

    1. Quá trình nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trước năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991) có điểm mới là “nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”, và khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc ta”. Cương lĩnh 1991 khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.

    Sau 10 năm, với những thành tựu to lớn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước, tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

    2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    Nội hàm của khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nó không phải là một tập hợp đơn giản những ý tưởng, suy nghĩ cụ thể của Hồ Chí Minh trong những giai đoạn cụ thể.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khái niệm khoa học, vì thế hết sức cô đọng, chặt chẽ, có nội hàm lý luận cao, có sức sống mãnh liệt và giá trị lý luận, thực tiễn rất to lớn không những với cách mạng Việt Nam mà còn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng loài người trên phạm vi toàn thế giới.

    3. Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc

    1. Nhận thức kẻ thù

    – Loại 1: Ác ý: Cho rằng người Việt Nam không có tư tưởng mà đó chỉ là sự bắt chước như vẹt của đông tây chứ bản thân không tạo ra tư tưởng.

    – Loại 2: Cho rằng trong cách mạng và kháng chiến Việt Nam thì có nhà lý luận và nhà tư tưởng nhưng đó là Võ Nguyên Giáp và Lê Duẫn chứ không phải Hồ Chí Minh.

    – Loại 3: Hồ Chính Minh không phải nhà tư tưởng vì hầu như Người không có tác phẩm lý luận nào.

    1. Mục đích xuyên tạc

    Từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản

    – Muốn “hạ bệ thần tượng”

    – Từ sự bất mãn của một số cá nhân.

    1. Đấu tranh chống xuyên tạc chống phá

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là chìa khóa để chống lại một cách có hiệu quả những luận điệu thù địch và sai trái.

    b1. Trước hết phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    “Hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” là nhiều quan điểm liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện rõ tính liên tục, nhất quán. “Toàn diện” là bao quát nhiều lĩnh vực. Đó là tư tưởng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quân sự, ngoại giao…

    Đại hội đồng UNESCO khẳng định Hồ Chí Minh “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại…; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

    “Toàn diện nhưng sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và CNXH; về mục đích cách mạng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, đoàn kết quốc tế; về nền tảng lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: động viên toàn dân, tổ chức toàn dân; v.v.. Tóm lại, đó là “giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

    à Nhận thức như vậy tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

    Đáng phê phán nhất là các quan điểm hết sức nguy hiểm. Họ thừa nhận những vấn đề nêu trên (sau khi không đủ khả năng bác bỏ), nhưng lại cho rằng hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc đó chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không có trong cách mạng XHCN.

    Để phê phán quan điểm này, cần nhận thức rõ trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh có nói “từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN”. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là trở lại cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần nêu mấy điểm chính.

    Một là, Hồ Chí Minh khẳng định cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tức là giành được độc lập dân tộc rồi phải đi tới CNXH.

    Hai là, trong di sản để lại, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải đi tới cách mạng XHCN thì mới thắng lợi triệt để. Người có trên hai mươi lần nêu quan điểm của mình như là những định nghĩa về CNXH.

    Ba là, các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh cho ta một cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam.

    b2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Một số ý kiến cho rằng những vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản như mục tiêu, lực lượng, lãnh đạo, phương pháp, đoàn kết, nền tảng lý luận, v.v… đều đã được đề cập trong học thuyết Mác-Lênin; thậm chí đã được Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, ông cha ta trong lịch sử hàng nghìn năm bàn tới.

    Chúng ta không phủ nhận nhiều vấn đề đã được Mác, Ăngghen, Lênin, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, cha ông ta đề cập. Nhưng chúng ta phải phủ nhận quan điểm cho rằng hễ đã có người đi trước đề cập thì người sau chỉ là nói theo, nói lại.

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh nói rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Rõ ràng là khái niệm cho ta biết Hồ Chí Minh nắm chắc chủ nghĩa Mác-Lênin và hiểu rõ điều kiện nước ta. Điểm chốt ở đây là “điều kiện cụ thể của nước ta”. Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Điều kiện nước ta không giống các nước khác, ít nhất trên hai điểm: Truyền thống lịch sử, văn hóa, con người và nước thuộc địa thời cận đại. Hai điểm này không hoàn toàn tách bạch, mà có sự tiếp nối. Nhưng cũng có nội dung chỉ có trong thời kỳ thuộc địa. Nhận thức như vậy để thấy rằng Hồ Chí Minh không viết lại, nói lại các bậc thầy và những gì trong truyền thống dân tộc; ngược lại, Người đã khắc phục những hạn chế của truyền thống và thiếu hụt trong chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Hạn chế lớn nhất của giá trị truyền thống là lý luận khoa học. Thiếu hụt lớn nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin là những tư liệu lịch sử của các nước thuộc địa phương Đông. Hồ Chí Minh đã lấp đầy những khoảng trống đó. Chỉ cần nêu một số điểm tiêu biểu cũng thấy rõ rằng, nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta thì không thể có thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Thứ nhất, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Còn ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với bọn đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.

    Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng ở Việt Nam trước hết nhằm mục đích giải phóng dân tộc. Vấn đề này ở các nước tư bản châu Âu cơ bản đã được giai cấp tư sản làm. Vì vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin bàn trước hết tới đấu tranh giai cấp và giải phóng giai cấp.

    Thứ ba, quan điểm về Đảng và xây dựng Đảng ở các nước thuộc địa cũng không giống ở các nước tư bản châu Âu. Đảng Cộng sản ra đời ở nước Việt Nam thuộc địa phải có thêm yếu tố phong trào yêu nước và ngay từ đầu Đảng đã cắm rễ sâu trong lòng dân tộc.

    Thứ tư, quan điểm về đoàn kết theo Mác “Giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, và Lênin “Giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” không thể áp dụng máy móc vào Việt Nam, nơi phải đoàn kết “đồng bào”, toàn dân tộc, mọi con dân nước Việt, con Lạc cháu Hồng.

    Thứ năm, ở nước Việt Nam hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và gần trăm năm dưới chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là thực hành dân chủ và đạo đức.

    Thứ sáu, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một nước vốn là thuộc địa, kinh tế và tư duy nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển không thể làm theo cách mà các nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản như ở châu Âu. v.v…

    Vì không nhận thức sâu sắc những vấn đề nêu trên nên có người nghĩ rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng giống Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong lúc đó sự khác nhau là rõ rệt. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cách mạng vô sản: đánh đổ giai cấp tư sản, mục đích là thiết lập nền chuyên chính vô sản, lực lượng công-nông là chủ yếu, quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội… Còn cách mạng Việt Nam tháng 8-1945 là cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản: đánh đổ bọn đế quốc xâm lược, mục đích là giành độc lập dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, quá độ gián tiếp lên CNXH…

    Nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng hệ thống lý luận cách mạng soi đường cho cách mạng Việt Nam thì làm sao chúng ta có thắng lợi nhanh gọn trong thời gian chưa đầy hai tuần của Tháng Tám năm 1945? Và tiếp theo là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, quá độ lên CNXH khi cả nước có chiến tranh với tư duy “chủ nghĩa xã hội thời chiến”.

    Trong “khái niệm” có nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều này cần được hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải xuất hiện từ một mảnh đất trống không, mà trên nền dân tộc. Điều cần nhấn mạnh là dưới ánh sáng cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng cao các giá trị truyền thống lên một chất mới, trình độ mới, tạo nên sức mạnh mới trong thời đại mới. Hồ Chí Minh cũng tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại. Người đã làm giàu trí tuệ của mình và trí tuệ dân tộc bằng những giá trị văn hóa phương Đông như đạo đức, chủ nghĩa tập thể, lòng từ bi hỷ xả…

    Hiện nay, có một số lực lượng thù địch đang cố tình đưa ra những quan điểm thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ và cuối cùng đi tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh song cũng lại có một số quan điểm sai trái, lệch lạc do không nghiên cứu thấu đáo dẫn tới không hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này – hoặc vô tình hay hữu ý – đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch. Để phê phán và chống lại các quan điểm sai trái phủ nhận hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần hiểu đúng, hiểu sâu, nắm chắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người. Phải coi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là chìa khóa mở cửa đi vào nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

    4. Biện pháp

    Đẩy mạnh việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    – Tăng cường giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

    – Nâng cao ý thức cảnh giác và tăng cường đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc.

    5. Tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác

    – TTHCM soi đường cho Đảng và nhân dân VN trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

    – Thông qua việc học tập, nghiên cứu TTHCM để bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm CM trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, TTHCM; kiên định mục tiêu ĐLDT gắn liền với CNXH; tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, bảo vệ CN Mác – Lênin và TTHCM.

    1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị

    – TTHCM giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất CM cho cán bộ, đv và toàn dân.

    – Trên cơ sở đã được học, SV vận dụng vào cuộc sống, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng theo con đường mà HCM và Đảng ta đã lựa chọn.

     

     

     

    CHỦ ĐỀ 2:  Phân tích  cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    – Chính quyền triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

    – Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hóa, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện tạo ra những tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.

    – Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư”, “tân báo” và trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam, trào lưu yêu nước chuyển dần sang xu hướng tiểu tư sản.

    – Các sĩ phu Nho học có tư tưởng tiến bộ, thức thời, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã cố gắng tổ chức và vận động cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp với mục tiêu và phương pháp mới, nhưng tất cả đều thất bại.

    Vì vậy, phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi, phải đi theo một con đường mới.

    b. Bối cảnh thời đại

    – Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.

    – Nhiều cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản diễn ra, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”, lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người.

    – Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3/1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc.

    2.  Tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Giá trị truyền thống dân tộc

    Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng – lý luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Đó là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng, ý chí vươn lên, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài…

    – Trong các giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người. Chính chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

    b. Tinh hoa văn hóa nhân loại

    Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây – chính là nét đặc sắc trong qua trình hình thành nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh.

    – Tinh hoa văn hóa phương Đông

    + Nho giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo, đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.

    + Phật giáo: Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng; chủ trương sống không xa lánh đời mà gắn bó với nhân dân, tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc.

    + Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Hồ Chí Minh tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện của nước ta”, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

    – Tinh hoa văn hóa Phương Tây

    + Hồ Chí Minh nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.

    + Tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1791; các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776.

    c. Chủ nghĩa Mác – Lênin

    Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục, tiếp xúc, tìm hiểu văn minh phương Đông và phương Tây. Nhưng bước ngoặt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ xẩy ra khi Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin:

    – Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy được chắt lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt động vì mục tiêu cứu nước và giải phóng dân tộc.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin một cách chọn lọc, theo phương pháp macxit, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở.

    – Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: “Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin vừa làm công tác thực tế dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới; “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

    – 7/1920: Hồ Chí Minh đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Tác động của “Luận cương” đối với Hồ Chí Minh rất mạnh mẽ và to lớn, sâu sắc, mở ra cho Hồ Chí Minh một chân trời mới, nhận thức mới về cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Hồ Chí Minh lựa chọn “tán thành quốc tế III và hoàn toàn tin theo Lênin”.

    – Luận cương của Lênin không chỉ tạo ra bước ngoặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có ý nghĩa mở đầu một thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam: Đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga – Con đường cách mạng vô sản do Đảng cộng sản lãnh đạo.

    – Qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, từ giữa những năm 20 của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã đi đến một sự lựa chọn và khẳng định dứt khoát: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

    – Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không những chỉ chân chính nhất, cách mạng nhất, chắc chắn nhất mà còn khoa học nhất, vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Người. Đây là nguyên nhân căn bản khiến Hồ Chí Minh không một phút xa rời học thuyết Mác – Lênin. Kể cả trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất di bất dịch và lòng trung thành vô hạn đối với chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy trong ứng xử, Người giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược đi đôi với sách lược linh hoạt mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biết, ứng vạn biến”.

    – Đối với Hồ Chí Minh, việc “học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận” nhằm nắm vững phép biện chứng, bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn. Vì vậy, Hồ Chí Minh không những vận dụng sáng tạo mà còn góp phần bổ sung và phát triển những nội dung mới làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin có sức sống mãnh liệt và đưa cách mạng Việt Nam đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt là cách mạng giải phóng thuộc địa.

     

    Trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và hãy cho biết tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò như thế nào đối với cách mạng Việt Nam?

    Đáp án:

    Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Thời kỳ 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân, sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp, băn khoăn trước thất bại của sĩ  phu yêu nước chống Pháp, ham học, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hoá tiên tiến của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Châu Âu.

    –  Trong thời kỳ này ở Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước thương dân tha thiết, bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    1. Thời kỳ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

    Nơi Hồ Chí Minh đến đầu tiên trong công cuộc đi tìm đường cứu nước là Pháp – nơi đã sản sinh ra tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái. Người còn đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, sống và hoạt động với những người dân bị áp bức ở Phương Đông và những người làm thuê ở phương Tây. Tham gia Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga, học tập và tìm hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin.

    – Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng: từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành chiến sĩ Cộng sản Việt Nam. Đây là bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. Thời kỳ 1921 – 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.

    Là thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động thực tiễn sôi nổi, phong phú. Trong thời kỳ này tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản. Người đã nghiên cứu xây dựng lý luận kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

    1. Thời kỳ 1930 – 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.

    – Trong những năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, Ban chấp hành trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Với bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng công bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    – Đây là mốc lịch sử quan trọng không chỉ mở ra kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự do độc lập của các dân tộc trên thế giới.

    1. Thời kỳ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thời kỳ này có những nội dung lớn sau:

    – Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc.

    – Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

    – Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    – Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền.

    Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò:

    * Thân thế và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh luôn gắn với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có vai trò, vị trí vô cùng to lớn, không thể thiếu và là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng Việt Nam. Tài sản vô giá trong kho tàng lý luận của cách mạng Việt Nam và thế giới tiến bộ.

    * Vạch ra con đường và dẫn dắt đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn: Từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    * Đảng ta khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Nó được biểu hiện trên một số mặt chủ yếu:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam, vì vậy, vạch rõ những quy luật của cách mạng Việt Nam: Đó là con đường từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng CNXH, vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ với toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam, là cơ sở nhận thức cho việc xây dựng lòng tin vào sự tất thắng của cách mạng Việt Nam, dù nó phải kinh qua nhiều gian khổ, thử thách cam go của lịch sử.

    – Với bản chất khoa học và cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần to lớn vào việc hình thành thế giới quan phương pháp luận, nhân sinh quan đúng đắn cho mỗi con người Việt Nam trong mọi tình huống. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng và nhân dân ta nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã cơ bản vượt qua khủng hoảng, vững bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, tinh thần ấy có vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

     

    Câu 32: Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh?

    Trả lời:

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cuộc đời của Người – cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho giải phóng nhân loại và từng con người. Tư tưởng đó thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

    * Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

    – Có lòng thương yêu vô hạn đối với con người, thông cảm sâu sắc với mọi đau khổ của con người. Từ đó tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây ra cho con người.

    – Ra đi tìm đường cứu nước, nhìn thấy nỗi đau của các dân tộc thuộc địa. Và vì thế lòng thương yêu người Việt đã trở thành lòng yêu thương nhân dân bị áp bức toàn thế giới. Khát vọng giải phóng dân tộc đã trở thành khát vọng giải phóng loài người.

    Người chỉ ra rằng, dù màu da có khác nhau, nhưng trên đời này chỉ có 2 giống người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Và chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ cho các dân tộc.

    – Có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người.

    – Có ý chí đấu tranh để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người.

    * Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng:

    – Hồ Chí Minh đưa ra một khái niệm về con người rất cụ thể, con người trong các mối quan hệ xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là gia đình, họ hàng, anh em, bầu bạn; là đồng bào cả nước.

    – Con người, với tư cách là mục tiêu của cách mạng: mọi chủ trương, đường lối, chính sách… của Đảng đều là vì con người, luôn luôn tin ở sức mạng của con người trong cách mạng và thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng là vì con người.

    – Con người – động lực của cách mạng: Đây là sự cụ thể hoá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Tuy nhiên, sức mạnh của con người phải được tổ chức, giáo dục và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    * Trồng người là chiến lược hàng đầu của cách mạng.

    – Hồ Chí Minh đã xuất phát từ vai trò của yếu tố con người.

    – Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” và “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

    – Chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh phải là “vừa hồng, vừa chuyên”. Có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoạt động thực tiễn và có phẩm chất chính trị vững vàng.

    Tóm lai, Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra các nội dung rất sâu sắc, cụ thể mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho Đảng và cách mạng Việt Nam ngày nay trong thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà vấn đề có ý nghĩa quyết định đó là yếu tố con người – mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới.

    Câu 33: là sinh viên đại học An Giang bạn nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào trong sự nghiệp xây dựng con người mới XHCN ở nước ta?

    Trả lời:

    * Những di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh để lại cho Đảng, dân tộc và nhân dân ta không chỉ có giá trị to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa thời sự trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đặc biệt là việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Về tư tưởng, đạo đức, lối sống:

    – Việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ vị trí, vai trò của thế giới quan, phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc hình thành và xây dựng nhân cách và bản lĩnh của người Việt Nam nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà chủ nghĩa xã hội đang gặp nhiều khó khăn trước sức công phá của chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” của chủ nghĩa đế quốc.

    – Xây dựng, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên chiến thắng đói nghèo và lạc hậu. Không chỉ dừng lại yêu nước chung chung mà phải gắn với yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và bằng ý chí quyết tâm, nghị lực và khả năng của mình, vươn lên chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

    – Giữ gìn đạo đức, nhân phẩm, lương tâm, danh dự; sống giản dị, ít ham muốn vật chất. Đây là một yêu cầu cao trong việc xây dựng và rèn luyện con người mới. Vì vậy phải tích cực gắn giữa xây với chống, lý luận với thực tiễn để sàng lọc, xây dựng các điển hình tiên tiến; đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay.

    Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh

    Lòng nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh là sự kết tinh của nhân ái, khoan dung Việt Nam trong thời đại mới. Làm cơ sở cho ta mở cửa, hội nhập, hướng tới tương lai trong việc thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

    * Rèn luyện thói quen tự học, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ và thông tin, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu hội nhập với thế giới.

    Đứng trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay, nếu ta thụ động trong việc tự học và tiếp cận công nghệ thông tin hoặc không chú trọng việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta sẽ bị các nền văn hoá ngoại lai thôn tính, bị tụt hậu trên mọi lĩnh vực, và vì thế không thể xây dựng xã hội chủ nghĩa và không thể thực hiện xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0o-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-cho-%C4%91%E1%BB%99i-ng%C5%A9-c%C3%A1n-b%E1%BB%99-%C4%91%E1%BA%A3ng-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    A. PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

     

    I. LỜI NÓI ĐẦU:

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra.

    Rất nhiều điều Bác nói về đạo đức đã qua hàng bốn, năm mươi năm hay lâu hơn nữa, nhưng nay vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Bác nói về những trường hợp cụ thể, cho những đối tượng cụ thể song ai nghe cũng cảm nhận đó là lời dạy cho mình. Nhìn lại và nhớ tới từng cử chỉ, từng hành động, từng lời nói và việc làm của Bác trong đời sống thường ngày, lúc sinh thời, ai mà không xúc động? Ai mà không cảm thấy có một cái gì đó không phải khi làm sai những điều Bác dạy.

    Trong giai đoan hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã luôn ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà yếu tố hàng đầu là nâng cao đạo đức cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức”. Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong hơn 20 năm qua.

    Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước nhiều thách thức, yếu kém cần phải vượt qua. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định một trong những thách thức đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Những suy thoái này còn kéo theo những suy thoái về đạo đức trong gia đình, nhà trường và trong xã hội. Những sự suy thoái đó đang là “nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

    Là một đảng viên công tác và sinh hoạt chính trị trong môi trường y tế, tôi nhận thức toàn diện những vấn đề cấp bách nói trên đặc biệt là trong ngành Y tế. Trên nền tảng kiến thức đã được học tập, nghiên cứu trong học phần I.4: Tư tưởng Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm thực tiễn nơi mình công tác cùng với sự tâm đắc về ý nghĩa thiết thực của đề tài, Tôi đã mạnh dạng chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ mới 2010-2015” để viết Tiểu luận tốt nghiệp Lớp trung cấp lý luận Chính trị – Hành chính tại chức khoá 33.

    Xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô khoa Lịch sử Đảng – Xây dựng Đảng, cám ơn các đồng chí trong Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã giúp đỡ tôi hoàn thành tiểu luận này.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Tác giả của tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp tổng hợp, điều tra, thống kê có phân tích và dự báo để hoàn thành đề tài.

    III. MỤC TIÊU ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI:

    – Tiểu luận nêu lên được một cách khái quát nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, sự cần thiết phải nâng cao nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

    – Đánh giá được thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong nhiệm vụ xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên tại Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú. Phân tích nguyên nhân và đề ra những giải pháp giúp cho Chi uỷ Trung tâm y tế nói riêng và Đảng uỷ y tế Long Phú nói chung nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

    – Thông qua tiểu luận tốt nghiệp, tác giả muốn bày tỏ lòng kính yêu vô hạn của mình đến lãnh tụ Hồ Chí Minh, một bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Là một hành động thiết thực của tác giả hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    – Tác giả cũng hy vọng rằng đề tài này sẽ là tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các khoá học sau.

    IV. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

    1. Đối tượng nghiên cứu:

    Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ đảng viên thuộc Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

    2. Thời gian nghiên cứu:

    Giới hạn thời gian từ khi Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, từ năm 2007 đến năm 2009 và định hướng 2010-2015.

    B. PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

     

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

    1. Đạo đức cộng sản trong học thuyết Mác-Lênin

    Theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

    Đạo đức là một hình thái cơ bản của ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển lịch sử. Nó nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội mà trước hết là nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong phân phối sản phẩm đề tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống đạo đức cũng theo đó mà ngày càng được nâng cao, mở rộng, phong phú, phức tạp.

    Đạo đức và pháp luật cùng tác động đến hành vi con người, nhưng pháp luật thực hiện dựa vào sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, còn đạo đức thực hiện dựa vào sức mạnh của dư luận xã hội, của tập quán phong tục truyền thống, niềm tin. Uy tín đạo đức của mỗi người không gắn với bất cứ quyền lực, cấp bậc, chức vụ… cũng như bất cứ quyền hạn chính thức nào. Đạo đức là sản phẩm của lịch sử. Mỗi hoạt động, những nhu cầu của con người khi thay đổi, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong đánh giá các giá trị đạo đức để phù hợp với sự phát triển của lịch sử.

    Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp có những lợi ích riêng và do đó cũng có những quan niệm đạo đức, có nền đạo đức riêng. Tuy nhiên, nền đạo đức được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là nền đạo đức của giai cấp thống trị, mặc dù trong cuộc sống hàng ngày mỗi giai cấp vẫn ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của mình.

    Cũng theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, các giá trị đạo đức phổ biến của nhân loại sẽ không ngừng được sáng tạo và phát triển qua mọi thời đại và được kế thừa trong đạo đức cộng sản – một nền đạo đức mang tính nhân loại phổ biến của xã hội tương lai.

    Tóm lại, đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân. Các tiêu chuẩn đạo đức hướng tới chân, thiện, mỹ thực chất là hướng tới cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng tới phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đó là một nền đạo đức đối lập về chất so với nền đạo đức phong kiến và đạo đức tư sản.

    2. Vai trò của đạo đức cách mạng đối với cách mạng nước ta

    Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

    Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

    Do đó, đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc và là phẩm chất mỗi con người.Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới – con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Bằng những hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã bền bỉ, dẻo dai và kiên nhẫn trong việc tìm kiếm con đường, biện pháp để thực hiện mục tiêu: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, Đảng ta chính thức bắt đầu kêu gọi “toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong, đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch” và chỉ ra rằng “sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta” và khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

    Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng năm 2001, ghi rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, điều làm cho tôi nhiều cảm xúc và tâm đắc nhất chính là những tư tưởng của Người về về đạo đức cách mạng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê  trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Người.

    3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    3.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới khác về chất so với nền đạo đức cũ, nhằm phát triển toàn diện con người trong thời đại mới. Hồ Chí Minh xây dựng nền đạo đức cách mạng với hai nội dung cơ bản:

    Một là, xây dựng hệ thống những chuẩn mực của nền đạo đức mới. Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể…

    Hai là, xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới. Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ.

    3.2. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống đạo đức dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại, đạo đức cộng sản Mác-Lênin và sự tu dưỡng, rèn luyện không mệt mỏi của Hồ Chí Minh.

    1. Truyền thống đạo đức dân tộc

    Truyền thống đạo đức của dân tộc được hình thành và phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước. Nhiều giá trị đạo đức từ đó được tích luỹ như: đạo lý yêu quê hương đất nước, yêu thương, quý trọng con người; đồng cam cộng khổ cứu giúp lẫn nhau; cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm hy sinh trong đánh giặc cứu nước sống có thuỷ chung, có tình có nghĩa; uống nước nhớ nguồn; đói cho sạch rách cho thơm rất lạc quan yêu đời nhưng cũng rất căm ghét cái ác, căm thù bọn cướp nước hiếu thảo với cha mẹ; trọng tình nghĩa vợ chồng, anh em, tiết kiệm và dung dị trong đời sống… Tất cả những giá trị đạo đức ấy đã đi vào tâm hồn Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nằm trong nôi ngày càng nồng đượm trở thành khát vọng thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước.

    1. Tinh hoa đạo đức nhân loại

    Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng nhiều tinh hoa đạo đức như: Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Mặc gia…  Người viết “học thuyết của Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”. Thế nhưng Người vẫn phê phán và loại bỏ lập trường phong kiến của Khổng Tử trên các mặt: tôn thờ chế độ phong kiến, phân biệt đẳng cấp; trọng nam khinh nữ; phân biệt nghề nghiệp… Hồ Chí Minh còn kế thừa mặt tiến bộ trong tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên và tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản… để xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta.

    Hồ Chí Minh viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng bác ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách “tam dân” thích hợp với điều kiện nước ta… tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

    1. Đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế

    Đạo đức mà Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị lý luận, phương pháp luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng đạo đức mới là đạo đức học Mác-Lênin – đạo đức của giai cấp vô sản.

    Nội dung cơ bản của đạo đức học Mác-lênin là các phạm trù và các tiêu chuẩn đạo đức được hình thành trên nền tảng của cách mạng vô sản, của chủ nghĩa tập thể vô sản, lấy việc giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, con người làm mục đích tối cao; coi hạnh phúc không phải chỉ là thoả mãn nhu cầu của cá nhân mà cái chính là phục vụ cho tất cả mọi người theo tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đây chính là điểm khác nhau căn bản, sự tiến bộ về chất của đạo đức vô sản so với đạo đức cũ. Hồ Chí Minh đã nhận rõ điều đó và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng ở nước ta.

    1. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của Hồ Chí Minh

    Cả cuộc đời Người là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Hồ Chí Minh đã nâng Người lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm… của thế kỷ XX, khiến kẻ thù cũng phải kính phục, bị cảm hóa và nhân loại tin tưởng noi theo.

    Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu con người và dân tộc Việt Nam, mà còn thương yêu thương yêu nhân loại. Người không chỉ muốn cứu nước Việt Nam mà còn muốn cứu giúp các dân tộc khác. Chính quyền Pháp nhiều lần dụ dỗ, đe doạ, tử hình vắng mặt, nhưng Hồ Chí Minh không sợ hãi mà càng tăng thêm quyết tâm hoạt động cách mạng. Sau này Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”.

    3.3. Những đặc điểm của đạo đức cách mạng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là kết tinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại trong lịch sử, cơ bản là đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin – đạo đức cộng sản được vận dụng phù hợp với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong hệ thống các tiêu chuẩn đạo đức của Người về hình thức chúng ta thấy có nhiều khái niệm, phạm trù, mệnh đề của đạo đức truyền thống, nhưng nội dung là của nền đạo đức mới.

    Các tiêu chuẩn đạo đức của Hồ Chí Minh rất toàn diện nhưng không chung chung trừu tượng mà rất cụ thể, dễ thực hiện; có cả những tiêu chuẩn đạo đức chung, nhưng cũng có cả những tiêu chuẩn thích ứng cho mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, mỗi tổ chức… Trong đó, Người đặc biệt chú ý tới đạo đức của cán bộ đảng viên và nói về vấn đề này nhiều nhất.

    Hồ Chí Minh là người xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức mới, nhưng cũng là người thực hiện những tiêu chuẩn đó một cách mẫu mực nhất, có sự thống nhất cao giữa lời nói với việc làm. Đặc điểm này làm cho Hồ Chí Minh tỏa sáng và trở thành tấm gương đạo đức vĩ đại.

    4. Nội dung chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

    Những chuẩn mực đạo đức cần phải thường xuyên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người, trước hết là của cán bộ, đảng viên:

    1. Trung với nước hiếu với dân

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tận trung với nước là chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là lẽ phải, là chân lý. Nước mất thì nhà tan, mỗi người dân sẽ thành nô lệ. Do đó, là người công dân thì phải tận trung với nước, tận lực phụng sự Tổ quốc: suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; không phản bội, quy hàng kẻ địch… Tận trung với nước cũng chính là tận trung với Đảng, quyết tâm đưa đất nước phát triển theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, Đảng là người đại diện cho nước, cho dân, “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh trung với nước, với Đảng và hiếu với dân là hai mặt thống nhất của một vấn đề, gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Đã tận trung với nước thì phải tận hiếu với dân. Tận hiếu với dân nghĩa là thấy rõ sức mạnh, vai trò thực sự của nhân dân. Phải làm hết sức mình để nhân dân hiểu được quyền cũng như trách nhiệm của người chủ đất nước.

    Từ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành tận trung với nước tận hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.

    1. Yêu thương và giúp đỡ con người, sống có nghĩa, có tình

    Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể, sâu sắc và bao dung. Hồ Chí Minh chẳng những thương yêu tất cả những người lao động, mà còn đặc biệt thương yêu những người bị áp bức, bóc lột, bị đọa đầy đau khổ, bị nô dịch giai cấp và dân tộc Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng “trắc ẩn”, mà còn được nâng lên ở tầm cao của nhận thức tư tưởng.

    Sống có nghĩa, có tình, giúp người, cứu người, hướng tới giải phóng triệt để con người là động cơ mạnh mẽ, là mục tiêu lý tưởng cao cả của Hồ Chí Minh. Người nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Do đó, để giải phóng triệt để con người thì  không chỉ đánh đổ bọn thực dân xâm lược, giải phóng dân tộc mà còn xoá bỏ tình trạng người bóc lột người. Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện được mục tiêu đó thì “không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    Cần là thường xuyên cố gắng, luôn chăm chỉ, trong suốt cả cuộc đời. Cần còn là biết chủ động và sắp xếp công việc có kế hoạch, có sáng tạo, biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng để có thể làm việc lâu dài, đạt kết quả cao. Cần còn được hiểu là tăng năng suất trong công tác. Cần là phải chống bệnh chây lười biếng nhác, ỷ lại, thụ động, vô kỷ luật…

    Kiệm là tiết kiệm công sức, tiền của và thời gian, sử dụng chúng sao cho có ích nhất, hiệu quả nhất. Kiệm cũng có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi trong sản xuất và đời sống. Tiết kiệm theo Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngược với bủn xỉn. Người nói: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”.

    Theo Hồ Chí Minh, liêm là “Không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”, “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Người nói: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chỉnh phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng”. Vì vậy cán bộ, công chức trong các công sở trước hết phải giữ lấy chữ liêm làm đầu.

    Chính là không tà, là thẳng thắn và đứng đắn. Theo Hồ Chí Minh: trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia ra làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc CHÍNH là người THIỆN, làm việc Tà là người ÁC. Cán bộ, công chức là những người làm việc công cho nên chính còn là sự công tâm, công đức khi giải quyết công việc. Hồ Chí Minh nói: chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Người còn nhấn mạnh, cán bộ, công chức phải tự mình “chính” trước mới giúp được người khác “chính”, nếu mình không “chính” mà muốn người khác “chính” là vô lý.

    Chí công vô tư: cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, tức là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Người nhấn mạnh, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

    1. Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

    Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc trưng của đạo đức cộng sản, bắt nguồn từ vai trò của giai cấp công nhân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế chính là quan hệ hữu nghị, hợp tác, giúp đỡ, tương trợ với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người yêu hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới. Chủ nghĩa quốc tế chỉ có thể tốt đẹp khi mỗi quốc gia phải phát huy tinh thần chủ động, tự lực tự cường và phải hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình, chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nước lớn. Đó là tinh thần quốc tế cao đẹp mà Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần và rèn luyện trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, phát triển và tiến bộ trên toàn thế giới.

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, định hướng lâu dài cho việc bồi dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng ở mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    5. Học tập quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tổ chức Đảng các cấp

    Ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Mục đích của cuộc vận động là: “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức… đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

    Tỉnh uỷ Sóc Trăng rất quan tâm đến công tác xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho toàn Đảng bộ. Thông tri số 07-TT/TU ngày 09/01/2007 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Sóc Trăng và Kế hoạch số 11-KH/TG ngày 29/01/2007 của Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ về việc Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.

    Ngày 08/05/2007 Đảng uỷ Y tế huyện Long Phú triển khai Kế hoạch số 07-KH/ĐUYT, bắt đầu thực hiện cuộc vận động, tạo được phong trào thi đua hành động các mạng sôi nổi trong cán bộ, đảng viên toàn ngành y tế. Đặc biệt là tinh thần tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của tập thể Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Từ những lý luận khoa học về đạo đức cách mạng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, giúp cho tác giả đề tài quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về rèn luyện đạo đức cách mạng, là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận trong vận dụng thực tiễn khi nghiên cứu đề tài.

    II. THỰC TRẠNG

    1. Đặc điểm tình hình:

    1.1. Đặc điểm chung:

    Trung tâm y tế huyện Long Phú là đơn vị trực thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế; xây dựng kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở; phòng và chống các bệnh gây thành dịch, các bệnh xã hội và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa bàn huyện Long Phú. Sau khi tách 04 xã thuộc huyện Trần Đề theo Nghị quyết số 64/NQ-CP, ngày 23/12/2009 của Chính phủ, huyện Long Phú còn lại 26.372,12 ha diện tích tự nhiên và 110.952 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Long Phú và các xã: Long Phú, Tân Hưng, Tân Thạnh, Trường Khánh, Hậu Thạnh, Đại Ngãi, Song Phụng, Long Đức, Châu Khánh, Phú Hữu. Dân số gồm 03 dân tộc chính: Kinh, Khơ-me, Hoa, sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Trình độ dân trí, kiến thức y tế nhìn chung còn tương đối thấp. Tình hình tổ chức nhân lực của Trung tâm như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số cán bộ 30 30 31
    Số cán bộ nữ 14 14 14
    Số cán bộ người dân tộc Khơ-me 9 9 9
    Số cán bộ có trình độ sau đại học 0 2 3
    Số cán bộ có trình độ đại học 3 1 2
    Số cán bộ có trình độ trung cấp 26 24 22

    Bảng 1: Tổng hợp tình hình cán bộ viên chức của Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú trực thuộc Đảng bộ Y tế được thành lập ngày 14-11-2005, đến nay đã qua 2 kỳ Đại hội. Có nhiệm vụ chính trị là lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tình hình đảng viên trong Chi bộ như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số đảng viên trong chi bộ 9 10 14
    Phát triển đảng viên mới 3 2 1
    Đảng viên chuyển đến 0 0 3
    Đảng viên chuyển đi 1 1 1
    Số đảng viên nữ 3 4 6
    Số đảng viên người dân tộc Khơ-me 0 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị đại học 1 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận CT trung cấp 0 1 2
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị sơ cấp 3 5 5
    Tuổi đời trung bình của đảng viên trong chi bộ 38 38 42

    Bảng 2: Tổng hợp tình hình đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    1.2. Thuận lợi:

    Qua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng viên Đảng bộ Y tế huyện, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân của Chi bộ Trung tâm y tế có những thuận lợi cơ bản do tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị huyện nhà tiếp tục chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước.

    Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ và đầu tư. Chủ trương xã hội hóa Y tế từng bước được tăng cường và nhân rộng. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã tạo ra nền tảng tư tưởng quan trọng, nâng cao nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị về công tác Y tế. Từ đó toàn ngành đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, đầu tư kịp thời của các cấp Uỷ, chính quyền và sự phối hợp nhịp nhàng của ban ngành, đoàn thể địa phương.

    Bên cạnh đó, còn có sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức của tập thể cán bộ, đảng viên trong ngành, cùng với việc thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 43/NĐ-CP; mạng lưới Y tế cơ sở được củng cố và phát triển; cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng, nâng cấp, trang thiết bị được bổ sung; tinh thần phục vụ, Y đức và trình độ chuyên môn từng bước được nâng cao.

    1.3. Khó khăn:

    – Mặt bằng dân trí chưa đồng đều, ý thức phòng chống bệnh tật trong cộng đồng chưa cao; thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước; tình trạng ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải chậm cải thiện; nguy cơ bùng phát dịch bệnh luôn tiềm ẩn.

    – Tỷ lệ giường bệnh, số lượng cán bộ Y tế, nhất là bác sỹ trên dân số khá thấp; chế độ, chính sách đối với ngành Y tế tuy được bổ sung, điều chỉnh nhưng chưa thật sự thỏa đáng; tình trạng thiếu nhân lực kéo dài, cơ cấu trình độ chưa cân đối, thiếu một số cán bộ chuyên môn có tay nghề và cán bộ làm công tác dự phòng.

    – Ngân sách cấp chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; đời sống của phần lớn cán bộ, công chức, viên chức Y tế chậm cải thiện; công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình có từng lúc chưa được quan tâm đúng mức; cơ chế khám chữa bệnh bảo hiểm y tế còn một số bất cập, chậm được hướng dẫn một cách thống nhất mặc dù Luật bảo hiểm y tế đã được ban hành.

    2. Thành tựu và hạn chế:

    2.1. Thành tựu:

    1. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    – Công tác tổ chức, nhân sự và phát triển mạng lưới Y tế: Đến cuối năm 2009, có 12/15 xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã; 10/15 xã có bác sỹ. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân: 90 cơ sở trên địa bàn.

    – Công tác khám chữa bệnh: Chất lượng điều trị, tinh thần thái độ phục vụ, sự tín nhiệm của người bệnh từng bước được nâng lên; không xảy ra sai sót chuyên môn, tai biến điều trị do thiếu tinh thần trách nhiệm. Thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế, trung tâm y tế huyện đã phối hợp với Bệnh viện Đa khoa cử 05 bác sỹ hỗ trợ 04 trạm Y tế chưa có bác sỹ.

    – Công tác phòng bệnh: Được BCH Chi uỷ xác định là nhiệm vụ hàng đầu và tập trung chỉ đạo mọi nguồn lực thực hiện.

    + Quản lý và chăm sóc sức khỏe trên 90% đối tượng chính sách, học sinh, người cao tuổi và tàn tật.

    + Năm 2009, tình hình các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tiêu chảy, lỵ trực trùng, quai bị, sởi… có xu hướng gia tăng; bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp với 942 cas mắc, tử vong 01; đặc biệt là dịch cúm A H1N1 bùng phát với 248. Toàn ngành đã huy động mọi nguồn lực triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn đã kịp thời khống chế, dập tắt dịch.

    + Hàng năm duy trì việc tạo miễn dịch đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi 98% số đối tượng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 6 tuổi cuối năm 2009 còn 16,64%.

    + Thực hiện đạt yêu cầu chỉ tiêu các dự án mục tiêu Y tế quốc gia: quản lý và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên 95% cơ sở chế biến, kinh kinh doanh, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm; kiểm tra vệ sinh môi trường 100% cơ sở cung cấp nước, trường học và cơ sở Y tế công và tư nhân, lập hồ sơ vệ sinh lao động cho 100% cơ sở; khám thai, khám và điều trị phụ khoa đạt trên 93%, tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 135,3%;

    – Công tác khác: Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ Y học ngày càng chuyển biến rõ nét. Kết hợp chặt chẽ giữa quân và dân y trong diễn tập, phòng chống dịch, khám tuyển nghĩa vụ quân sự và sỹ quan dự bị. Hoạt động văn hóa, văn nghệ ngày càng phong phú và đạt được một số thành tích trong Hội thao, Hội thi do huyện, tỉnh tổ chức.

    Từ những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ qua, Trung tâm Y tế huyện được UBND tỉnh tặng 01 Cờ Thi đua đơn vị xuất sắc năm 2009 và nhiều Bằng khen, Giấy khen cho các tập thể, cá nhân trong ngành đạt thành tích tốt. Ngoài ra, còn có 01 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”; trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sức khỏe nhân dân” cho 6 cá nhân.

    1. Về xây dựng hệ thống chính trị:

    – Công tác xây dựng Đảng:

    Quy chế làm việc của BCH Chi uỷ được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, giúp các Chi uỷ viên, đảng viên trong Chi bộ nắm rõ và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo.

    Đảng bộ luôn quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức học tập quán triệt các nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành. BCH chi uỷ chú trọng giáo dục nâng cao Y đức, kỹ năng giao tiếp, thực hành tiết kiệm, xây dựng nếp sống văn minh, tinh thần đoàn kết, đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực, bè phái, cục bộ… gắn liền với sinh hoạt Chi bộ.

    Thực hiện tốt Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2), Chi bộ từng bước đổi mới nội dung sinh hoạt, thường xuyên phê bình và tự phê bình gắn liền với đánh giá thực hiện nhiệm vụ đảng viên, những điều Đảng viên không được làm, các tiêu chí “xây” và “chống” trong ngành Y tế. Nhất là từ năm 2007 đến nay, với xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chi uỷ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt các chuyên đề theo đúng tinh thần chỉ đạo của Huyện uỷ. Qua cuộc vận động này, 100% đảng viên, người lao động viết bản cam kết phấn đấu thực hiện những nội dung cụ thể, phù hợp vị trí đang công tác; đồng thời củng cố nhận thức chính trị, có lập trường quan điểm vững vàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, có hành động thiết thực trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, sửa đổi lề lối làm việc. Nhìn chung, Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng công việc.

    Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, kịp thời phát hiện đảng viên có biểu hiện sai phạm, chưa làm tốt nhiệm vụ đảng viên để có biện pháp giáo dục, uốn nắn. Nhiệm kỳ qua không có đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật Đảng.

    Trong 3 năm qua, kết nạp mới 05 đảng viên. Ngoài ra còn 04 hồ sơ phát triển đảng đang chờ Huyện uỷ xem xét. Lập thủ tục chuyển sinh hoạt 03 đồng chí, tiếp nhận công tác 04 đồng chí, phát thẻ đảng viên cho 06 đồng chí.

    Bảng 3: Biểu đồ phát triển đảng viên từ năm 2007-2009.

    Qua đánh giá phân loại đảng viên cuối năm 2009, 3/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 9/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ và 2 đồng chí đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ; không có đảng viên xếp loại yếu kém.

    Bảng 4: Biểu đồ tỷ lệ xếp loại đảng viên cuối năm 2009.

    – Công tác xây dựng chính quyền:

    BCH Chi uỷ luôn quan tâm và trực tiếp lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, phát triển mạng lưới… nhằm xây dựng bộ máy quản lý ngày càng vững mạnh, đủ năng lực điều hành mọi hoạt động. Kiến thức, kỹ năng module IV, V được chú trọng áp dụng trong việc quản lý các lĩnh vực công tác, nhất là quản lý kế hoạch và giám sát Y tế cơ sở. Thực hiện nghiêm túc chế độ thủ trưởng, quy định của ngành và quy chế chi tiêu nội bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng, đã ngăn ngừa tiêu cực một cách hiệu quả.

    – Công tác xây dựng đoàn thể:

    Quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện hoạt động Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban “Vì sự tiến bộ Phụ nữ” theo Quy chế làm việc toàn khóa, thông qua việc ban hành nghị quyết, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát hoạt động. Đồng thời, thường xuyên cùng với Ban lãnh đạo đơn vị, Ban Chấp hành đoàn thể trao đổi, bàn bạc tìm biện pháp chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần, thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động, phát động phong trào thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, vận động đóng góp nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa…

    – Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ:

    Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, chính quyền kết hợp các đoàn thể thường xuyên tiếp thu ý kiến xây dựng. Hàng quý, công khai tình hình sử dụng ngân sách, các nguồn quỹ. Các vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự, đào tạo được Ban chấp hành bàn bạc thống nhất trước khi đưa ra chi bộ xem xét quyết định.

    2.2 Hạn chế, tồn tại:

    – Hạn chế trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    + Mạng lưới Y tế cơ sở tuy phát triển, hoàn thành chỉ tiêu xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về Y tế nhưng chất lượng hoạt động và tính bền vững chưa cao, Bác sỹ về công tác tại trạm Y tế chỉ đạt 76,9% chỉ tiêu. Một số bộ phận tuyến huyện thiếu cán bộ kéo dài, việc bố trí nhân lực còn mang tính tình thế.

    + Trình độ cán bộ và kiến thức Y học của người dân còn thấp và chưa đồng đều; tình hình vệ sinh môi trường chậm cải thiện.

    + Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, song nhìn chung sức thu hút người bệnh tại trạm Y tế chưa cao. Việc sử dụng trang thiết bị được cung cấp còn hạn chế.

    – Hạn chế trong xây dựng hệ thống chính trị:

    Đây là một trong những nội dung quan trọng trong đề tài, là cơ sở cho việc đưa ra nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể và hiệu quả cho công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong thời gian tới.

    + Công tác xây dựng, phát triển số lượng đảng viên của chi bộ còn tương đối chậm, Trong 3 năm phát triển được 5 đảng viên, hiện tại Chi bộ có 14 đảng viên trên 31 cán bộ là tương đối ít. Số lượng đảng viên nữ còn hạn chế. Đặc biệt chỉ có 01 đảng viên người dân tộc Khơ-me trong chi bộ.

    Bảng 5: Biểu đồ tình hình phát triển đảng viên

    + Trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong chi bộ còn tương đối thấp, chưa tương xứng với quy mô và trình độ chuyên môn của đảng viên trong Chi bộ, điều này cho thấy công tác cán bộ còn hạn chế, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị tại Chi bộ chưa được quan tâm đúng mức.

    Bảng 6: Biểu đồ thống kê trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong Chi bộ.

    + Đạo đức cách mạng, tác phong gương mẫu trong đảng viên còn những vấn đề cần phải quan tâm. Một số ít cán bộ, đảng viên ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, chưa gương mẫu trong công tác và trong rèn luyện đạo đức, tác phong. Còn hiện tượng nói nhiều, làm ít, làm qua loa, trong việc làm còn mang nặng tính hình thức.

    + Thực hiện chế độ phê bình và tự phê bình của một số đảng viên chưa nghiêm túc, còn nể nang, cầu an… cho nên tinh thần đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong một số hiện tượng chưa thật sự triệt để.

    + Ý thức thực hành tiết kiệm trong dự phòng và điều trị bệnh chưa triệt để thực hiện. Sử dụng các nguồn kinh phí cho phòng bệnh mang lại hiệu quả chưa cao. Trong điều trị việc kê đơn thuốc đôi lúc chưa chưa hợp lý, chưa giảm được chi phí thấp nhất cho người bệnh.

    + Còn một số ít cán bộ, đảng viên chưa đặt nặng trách nhiệm với công việc, với nhân dân; thiếu chủ động, còn ngán ngại với khó khăn; thiếu tự giác nhìn nhận và chậm khắc phục khuyết điểm của bản thân.

    2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế:

    1. Nguyên nhân thành tựu:

    Đạt được kết quả trên, trước hết nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng; sự quan tâm lãnh đạo,.chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, Sở Y tế và các chuyên khoa đầu ngành tuyến tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền, ban ngành, đoàn thể cơ sở; tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phát huy nội lực của tập thể cán bộ, đảng viên ngành Y tế; sự năng động trong lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Đảng uỷ; sự điều hành tập trung của Ban lãnh đạo các đơn vị; những thành quả tích lũy từ nhiệm kỳ qua… đã tạo ra động lực thúc đẩy toàn ngành phát triển khá toàn diện.

    1. Nguyên nhân tồn tại:

    Về khách quan có nhiều nguyên nhân như:

    – Cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Y tế chậm đổi mới, chưa có chế độ thu hút bác sỹ về phục vụ ở cơ sở; xuất phát điểm của ngành còn thấp so với các tỉnh lân cận, còn thiếu nhiều cán bộ có tay nghề và trang thiết bị kỹ thuật cao; nguồn đầu tư của trên còn chậm, một số lĩnh vực chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển; thời tiết diễn biến phức tạp, nguy cơ dịch bệnh luôn tiềm ẩn, có khả năng bùng phát trên diện rộng…

    – Hạn chế của đảng viên về đạo đức cách mạng còn do những nguyên nhân khách quan thuộc mặt trái của nền kinh tế thị trường; là sự bùng nổ thiếu kiểm soát thông tin trên mạng intemet và giao lưu quốc tế đã tạo điều kiện cho những mặt tiêu cực của văn hóa và lối sống bên ngoài du nhập vào nước ta; là trong xã hội ta hiện nay vẫn còn những tàn dư của đạo đức phong kiến, thực dân và âm mưu “diễn biến hòa bình” của kẻ thù.

    Song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, đó là:

    – Tư duy đổi mới của không ít cán bộ, đảng viên chưa theo kịp với yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;

    – Năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chuyên môn của một vài cán bộ chủ chốt còn hạn chế; còn một số đảng viên nói nhiều, làm ít, ngại khó, sợ va chạm, thiếu gương mẫu, tự thỏa mãn với bản thân;

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của tập thể BCH Chi uỷ về công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra. . . và trong một vài tình huống còn lúng túng, thiếu cương quyết;

    – Bước vào thời kỳ mới, ngành Y tế nước ta có nhiều điều kiện phát triển, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều tiến bộ và cống hiến to lớn, nhưng cũng đứng trước những thách thức mới, trong đó có sự xuống cấp về y đức.

    – Riêng về công tác giáo dục chính trị, đạo đức thì có những nguyên nhân chủ quan, trước hết là có biểu hiện buông lỏng việc giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong một thời gian khá dài do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của đạo đức cách mạng. Thêm vào đó là những hiện tượng xử lý không nghiêm minh đối với những cán bộ xa rời đạo đức cách mạng…

    III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

    1. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng vào công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong giai đoạn mới 2010-2015:

    * Những nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng

    1. Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, chủ yếu trong thực tiễn cách mạng

    Theo Hồ Chi Minh, đã tham gia vào đời sống cộng đồng thì mỗi người – không phải là thánh nhân – ít nhiều đều mắc sai lầm, khuyết điểm. Người nói: “người nào không mắc khuyết điểm mới là lạ”. Người so sánh sự tu dưỡng đạo đức cách mạng giống như người trồng lúa, phải có công chăm bón, diệt cỏ, trừ sâu lúa mới tốt; còn cái ác giống như cỏ dại, nếu không diệt thì nó mọc tràn lan, sinh sôi nảy nở. Do đó, phải phấn đấu, tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, sao cho phần thiện ngày càng nảy nở như hoa mùa xuân, còn phần ác ngày càng ít đi.

    Tu dưỡng đạo đức cách mạng tốt nhất là trong hoạt động thực tiễn. Chỉ trong thực tiễn cách mạng mới hiện rõ thiện, ác, tốt, xấu. Nhờ đó mới biết rõ phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, hành động đạo đức như thế nào? Đấu tranh chống phi đạo đức ra sao? đấu tranh chống các hiện tượng phi đạo đức cũng là tu dưỡng đạo đức. Hồ Chí Minh kết luận: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

    Chỉ có trong thực tế công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, người cán bộ y tế mới có đầy đủ điều kiện rèn luyện mình một cách toàn diện.

    1. Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm

    Hồ Chí Minh coi trọng sự gương mẫu trong thực hành đạo đức, nói đi đôi với làm, nói được phải làm được. Đó là một nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới. Người nhấn mạnh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã”.

    Đạo làm gương, nói đi đôi với làm phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi lĩnh vực: từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đến nhà trường, gia đình, xã hội… Trong lĩnh vực y tế cũng thế, phải tôn trọng nhân dân, bệnh nhân. Phải mẫu mực trong lời nói, cử chỉ và hành động, tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân. Trong chuyên môn khi phát ngôn phải dựa trên trình độ và khả năng của mình, chức năng của đơn vị mình… tránh hiện tượng đề cao cá nhân, khoe tài, địa vị…

    1. Luôn đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức, nhất là chống chủ nghĩa cá nhân

    Xây dựng đạo đức cách mạng là để giải phóng dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Thế nhưng, như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Chúng ta sinh trưởng trong xã hội cũ, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình vết tích xấu xa của xã hội cũ về tư tưởng, nhất là những tiêu chuẩn đạo đức cũ đã lỗi thời và cả cái ác, cái xấu, cái vô đạo đức. Chúng đang là “kẻ địch ở trong lòng” ngăn trở to lớn đến việc xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên nhân sâu xa của những cái ác, cái xấu, cái phi đạo đức chính là chủ nghĩa cá nhân.

    Chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, việc gì cũng chỉ đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết; chỉ muốn mọi người vì mình, “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan tham ô, lãng phí, óc hẹp hòi, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chủ nghĩa”… “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ  nghĩa cá nhân”.

    Tuy nhiên, cần có nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có lợi ích của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Hồ chí Minh khẳng định, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

    Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện. Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới. Từ những phân tích đánh giá về thực trạng, Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú ngoài mục tiêu, nhiệm vụ về chăm sóc sức khỏe nhân dân, cần đặc biệt quan tâm thực  những nhiệm vụ và các giải pháp rèn đạo đức cách mạng tại Chi bộ trên mấy điểm chính sau đây:

    2. Nhiệm vụ:

    – Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân.

    Nhiệm vụ của người cán bộ Y tế xã hội chủ nghĩa là chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người, đó là một nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Lương y phải như Từ mẫu. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    – Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

    Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

    – Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.

    Rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

    – Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân.

    Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

    3. Các giải pháp:

    Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:

    Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống.

    Cần tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên qua sinh hoạt ở tổ chức đảng. Trong sinh hoạt chi bộ và cấp ủy không chỉ có phần đánh giá công việc, mà còn phải kiểm điểm, đánh giá về đạo đức cán bộ. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, nhấn mạnh: Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên.

    Đối với cán bộ y tế, rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức đặc biệt: Từ tấm lòng lương y như từ mẫu mà nảy sinh ra những đức tính cần thiết của người cán bộ y tế như niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc, tận tình, cẩn trọng, chu đáo khi chăm sóc, ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò và trong những trường hợp khó khăn, nguy kịch thì sẵn sàng chịu khó, chịu khổ, hy sinh, quên mình để làm tròn phận sự cứu người. Có tình thương của người mẹ hiền thì người thầy thuốc tránh được những thói xấu như cầu lợi, kể công, phân biệt đối xử giữa giàu, nghèo, sang, hèn, hách dịch, lạnh lùng khi tiếp xúc, qua loa, tắc trách trong phục vụ, đố kỵ, kèn cựa với đồng nghiệp… “Thầy thuốc như mẹ hiền” là cốt lõi của đạo đức ngành y. Do đó rất cần những cán bộ đảng viên không những có kiến thức y học tốt mà còn có tư tưởng đạo đức cách mạng cao, có tấm lòng yêu hòa bình, yêu thương nhân loại, yêu thương tất cả loài người, có tinh thần chí công vô tư, dành tình thương cho tất cả người bệnh, có tinh thần quốc tế, đoàn kết hợp tác với nền y học các nước vì sự phát triển của y học thế giới. Có như thế mục tiêu phát triển con người của Đảng và nhân dân ta chắc chắn sẽ thành công.

    Kết hợp sáng tạo và khoa học giữa giáo dục đạo đức, lối sống với thực hiện nhiệm vụ chính trị của Chi bộ là bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Chú trọng đến mặt chất lượng trong xây dựng Đảng, trong phát triển Đảng. Đặc biệt tổ chức thực hiện tốt 12 điều Y đức – Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế – (Ban hành kèm theo quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Phấn đấu giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

    Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả.

    Nhà nước đã ban hành pháp lệnh và phát triển thành luật phòng ngừa và chống tham nhũng, lập ra các cơ quan chống tham nhũng. Cấp ủy đảng và Ban Giám đốc Trung tâm y tế phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở đơn vị. Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở đơn vị thì tùy theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp ủy và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm đúng pháp luật. Đó là những biện pháp rất cần thiết và mạnh mẽ cần được thực hiện triệt để.

    Tăng cường hoạt động của Ủy ban kiểm tra Đảng, ban Thanh tra nhân dân tại đơn vị, nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ y tế, hết lòng hết sức phục vụ sức khỏe nhân dân. Xây dựng được ý thức đấu tranh chống tiêu cực, tạo sự bình đẳng trong khám và điều trị bệnh, tạo điều kiện cho mọi người dân ai cũng có thể tiếp cận được với những kỹ thuật y tế tiên tiến trong nhu cầu chăn sóc sức khỏe.

    Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    Bác Hồ là một con người giản dị, Người đã từng sống bên cạnh chúng ta, chân thật, gần gũi như một người bình thường. Những điều Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, công chức về đạo đức cách mạng là những điều được rút ra từ thực tiễn cuộc đời Người đã sống và hoạt động cách mạng. Do đó, công tác tuyên truyền cần tập trung làm cho mọi người hiểu được và nhận thức một cách chân thực về tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là việc làm sung sướng nhất, vẻ vang nhất như lời căn dặn của Người. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng chỉ rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài”.

    Từ nội dung của giải pháp này, Chi bộ xây dựng triển khai thực hiện các chuyên đề của cuộc vận động, nhất là Chuyên đề năm 2010: “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”. Chú ý gắn với các hoạt động chuyên môn, gắn với nhiệm vụ của ngành y tế sao cho thật cụ thể có chiều sâu, có tác động mạnh mẽ đến nhận thức tư tưởng và hành động của cán bộ ngành Y tế.

    Tích cực nâng cao y đức trong công việc hàng ngày như: Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cũng như phương pháp điều trị cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục bệnh. Thường xuyên giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức phòng bệnh cho nhân dân.

    Thứ tư, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể.

    Nhiều tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng của các đồng chí lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ cần được tuyên truyền học tập. Đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người Bộ trưởng Y tế đáng kính, chỗ nào có dịch, có bệnh là ông tìm đến. Phạm Ngọc Thạch đã vượt qua bom đạn, rừng núi vào tận chiến trường với quyết tâm tìm ra phương thức, cách chữa đạt hiệu quả cao đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam và ông đã hy sinh trên chiến trường trong khi thực hiện sứ mệnh cao cả đó. Đó là Giáo sư Tôn Thất Tùng với hai “bàn tay vàng” đã cứu sống biết bao nhiêu người, bằng phương pháp mổ gan không chảy máu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, người thầy thuốc có công to lớn trong công cuộc chống sốt rét ở nước ta thời chống Pháp và chống Mỹ. Đó là tấm gương Bác sỹ Đặng Thùy Trâm và biết bao đồng chí khác là biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cao đẹp. Trong ngành Y tế hiện nay cũng xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên tiêu biểu, nêu cao y đức, đạo đức, thật sự vì sự nghiệp Y tế. Cần phải tập trung nêu gương, động viên, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng để đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái thấp hèn.

    C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    I. KẾT LUẬN

    Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề lên trang đầu Tư cách một người cách mệnh, và nhấn mạnh sự: cần kiệm, cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng tham muốn về vật chất… Trải qua 30 năm Đảng ta lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Trước khi đi xa, Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Về nâng cao chất lượng đảng viên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”. Như vậy, một lần nữa khẳng định rằng: giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

    Những di sản tinh thần của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là cực kỳ to lớn và quý báu. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã xuất hiện những điều kiện thuận lợi và cả những vấn đề mới, thách thức mới. Vấn đề cốt lõi là các cấp ủy đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: bất kỳ việc gì cũng vì hạnh phúc nhân dân. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động là đợt sinh hoạt chính trị lớn có nhiều ý nghĩa quan trọng, trong đó việc quán triệt về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, tác phong và những lời dạy của Người về đạo đức cách mạng của người đảng viên càng có ý nghĩa thiết thực. Điều này cũng khẳng định rằng: Làm tốt công tác xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên chính là góp phần giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng.

    Cán bộ đảng viên ngành y cần phải nhận thức rằng, đạo đức của Bác không phải là cái gì cao siêu, xa vời, chỉ để chiêm ngưỡng, ca ngợi, mà đạo đức đó rất thiết thực, cụ thể, mọi người đều có thể học tập và làm theo. Bác không chỉ nói nhiều về đạo đức của người cách mạng mà bản thân cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng và cao đẹp. Tuy nhiên đạo đức cách mạng của người đảng viên không thể có được trong một sớm một chiều mà phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ lâu dài trong hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, Nghề Y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh, những người thầy thuốc phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức mới thực hiện được lời dạy của Bác. Đối với cán bộ y tế tư tưởng của Bác về y đức vừa là hệ thống lý luận gắn liền với thực tiễn dễ đi vào lòng người, rất dễ nhớ, dễ làm đồng thời còn là những lời dạy bảo thân thương, chân tình mà mỗi người đều thấm nhuần. Vì vậy, trong thời kỳ kinh tế thị trường như hiện nay, mỗi cán bộ y tế cần phải nghiên cứu vận dụng y đức, đạo đức cách mạng vào từng vị trí công tác của mình một cách thường xuyên liên tục để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, đó chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, thực hiện lời dạy bảo đồng thời cũng là mệnh lệnh thiêng liêng xuất phát từ trái tim, từ tấm lòng tôn kính đối với Bác Hồ, vị Cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

    II. KIẾN NGHỊ

    – Ban Tuyên giáo Trung ương – cơ quan thường trực giúp Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành và địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy vận dụng vào thực tế tỉnh nhà xây dựng chương trình hành động cụ thể, có kế hoạch đào tạo lâu dài trình độ lý luận chính trị cho cán bộ trẻ. Thường xuyên chỉ đạo các cơ quan liên quan như Sở Văn hoá – Thông tin thể thao, Đài truyền thanh, truyền hình tiếp tục tuyên truyền về những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sức lan toả, thúc đẩy cuộc vận động cả chiều rộng và chiều sâu.

    – Thường trực Huyện uỷ và Ban tuyện giáo Huyện ủy tăng cường vai trò của các cấp ủy, trưởng các đơn vị trong việc triển khai cuộc vận động tại đơn vị trực thuộc của mình. Các thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện phụ trách các cơ sở Đảng cần tăng cường công tác nắm tình hình, kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời các nội dung có liên quan.

    – Đảng ủy Y tế huyện Long Phú cần ban hành hướng dẫn cụ thể về việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức cách nạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chính trị của các chi bộ phù hợp với đặc thù của ngành Y tế.

    – Ban chấp hành Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cuộc vận động. Tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các đơn vị khoa, phòng. Lồng ghép triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với các phong trào thi đua khác của ngành y tế. Trên cơ sở đó, xây dựng các tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn bình chọn các cá nhân, tập thể điển hình thực hiện tốt cuộc vận động.

    – Mỗi năm, Chi bộ cần tổ chức hội nghị sơ kết nhằm đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện và tuyên dương các tập thể, cá nhân điển hình thực hiện tốt cuộc vận động./.

     

     

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    2. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Triết học Mác-Lênin.  Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2002.
    4. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia – năm 1993.
    5. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
    6. Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
    7. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2006.
    8. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
    9. Đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, năm 2007.
    10. Website Đảng Cộng sản Việt Nam: http://www.cpv.org.vn
    11. Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng: http://www.soctrang.gov.vn
    12. Văn kiện Đại hội Đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú lần thứ II (nhiệm kỳ 2006-2008); lần thứ III (nhiệm kỳ 2008-2010); lần thứ IV (nhiệm kỳ 2010-2012).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-ph%C3%A2n-t%C3%ADch-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-toyota.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOYOTA MOTOR CORPORATION

    1. Giới thiệu chung:

    Toyota Motor Corporation (gọi tắt là Toyota) là một tập đoàn sản xuất ô tô xuyên quốc gia có trụ sở chính đặt tại Nhật Bản. Toyota được thành lập vào ngày 28/08/1937 bởi Kiichiro Toyota từ một phần tách ra khỏi Toyota Industries. Sau một thời gian dài phát triển, đến nay Toyota đã vươn lên trở thành tập đoàn sản xuất xe lớn nhất thế giới xét về doanh số bán hàng. Theo báo cáo thường niên năm tài chính 2009 (từ ngày 01/04/2008 tới ngày 31/03/2009), Toyota cung cấp việc làm cho 320.808 người lao động, có 529 công ty con, với tổng số vốn của công ty lên tới 397,05 tỷ yên.

    Hoạt động chủ yếu của công ty là thiết kế, lắp ráp và bán các loại xe hơi, xe đua, xe tải, xe chuyên chở và các loại phụ tùng liên quan. Toyota được biết đến với những nhãn hiệu xe nổi tiếng như Prius (dòng xe nhiên liệu sạch hybrid), Lexus và Scion (dòng xe sang trọng), Tundra (dòng xe tải)…Toyota sở hữu một lượng cổ phần lớn trong các hãng xe hơi Daihatsu và Hino, Fuji Heavy Industries, Isuzu Motors, Yamaha Motors, và tập đoàn Mitsubishi Aircraft. Ngoài sản xuất xe ô tô, Toyota còn cung cấp các dịch vụ tài chính (Toyota Financial Services), tham gia chế tạo robot, công nghệ sinh học…

    Thị phần của Toyota trải rộng toàn thế giới. Trong số đó 26% tại Nhật Bản, 29% tại Bắc Mỹ, 14% tại Châu Âu… Toyota xây dựng những nhà máy tại mọi nơi trên thế giới, sản xuất hoặc lắp ráp xe phục vụ nhu cầu tại chính thị trường đó. Những nhà máy này có mặt tại Apan, Úc, Ấn độ, Sri Lanka, Canada, Indonesia, Ba Lan, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Colombia, Anh, Mỹ, UAE, Pháp, Brazil, Bồ Đào Nha, Argentina, Cộng hòa Séc, Mexico, Malaysia, Thailand, Pakistan, Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam, Venezuela, Philippine, và Nga.

    Toyota bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2010. Với Toyota 2009 là năm thua lỗ đầu tiên trong vòng 70 năm trở lại đây. Toyota ngập trong nợ và phải vay 270 tỷ từ ngân hàng tài trợ bởi chính phủ Nhật Bản. Trong năm 2010, hình ảnh Toyota bị giảm sút nặng nề khi công ty buộc phải thực hiện những vụ thu hồi xe lớn trên toàn Châu Âu và Châu Mỹ do các lỗi ở chân ga và phanh xe.

          2. Triết lý của công ty Toyota

    Công ty Toyota toàn tâm toàn ý để cung cấp xe ôtô cho khách hàng. Việc bán xe chỉ có thể được coi là hoàn tất khi khách hàng đã sử dụng xe và hoàn toàn hài lòng về nó. Triết lý của Toyota đặt ra những thứ tự ưu tiên như sau:

    1. Khách hàng
    2. Đại lý/Nhà phân phối
    3. Nhà sản xuất

    II. PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TOYOTA.

    1 Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện hữu

    1.1. Tốc độ tăng trưởng ngành

    Theo như ước tính thì thị trường ôtô toàn cầu sẽ tăng trưởng từ 65,2 triệu chiếc trong năm 2006 lên 77,6 triệu chiếc đến năm 2014 tương đương 19,1%. Phần lớn của sự gia tăng này là ở các thị trường đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ trong khi đó các quốc gia phát triển được kì vọng là chỉ chiếm 1/3 mức tăng trưởng này. Liên minh Châu Âu EU kì vọng tăng khả năng sản xuất trong năm 2014 lên 6,6% trong khi đó Bắc Mỹ tăng 4,5%. Tại Nhật Bản-  một trong những quốc gia phát triển nhất tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì lại kì vọng vẫn giữ nguyên mức cũ.

    1.2. Phân biệt sản phẩm

    Toyota luôn đặt ra nhiệm vụ quan trọng nhất cho mình: đổi mới không bao giờ tự thỏa mãn và luôn đi trước một bước so với xu hướng trên thị trường. Khâu phát triển sản phẩm hàng ngày tại các trung tâm nghiên cứu vận tải của Toyota đã và đang tạo ra các cải tiến liên tục từ mẫu xe này tới mẫu xe khác. Tuy nhiên đặc điểm nổi bật của Toyota là nó đột phá theo định kỳ từ khuôn mẫu truyền thống và phát triển một mẫu xe mới với cách tiếp cận mới mẻ. Chẳng hạn như trong giai đoạn đầu Toyota tập trung vào sản xuất những mẫu xe có chất lượng tốt, hiệu suất nguyên liệu cao, giá thành hợp lý. Tuy nhiên khi nhận thấy rõ tiềm năng phát triển của các loại xe hạng sang, Toyota đã cho ra mắt một thương hiệu mới nhằm đến những khách hàng có điều kiện tài chính cao hơn với sự trải nghiệm về những chiếc xe hơi đầy đủ tiện nghi và thoải mái. Đây là kết quả của sự không thỏa hiệp với những yêu cầu khắt khe tưởng chừng như không thể thực hiện được dành cho các kĩ sư thiết kế.

    Hiện nay Toyota đang tập trung vào việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất đại trà những dòng xe thân thiện môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Theo chiến lược phát triển sản phẩm này, chiếc Prius, dòng xe hybrid sản xuất đại trà đầu tiên của thế giới, đã được ra mắt vào tháng 10/1997. Chiếc xe không chỉ mang ý nghĩa mở ra một định hướng mới cho sản xuất của Toyota cho thời đại vấn đề môi trường được đặt lên hàng đầu; mà còn khẳng định đẳng cấp của công ty này. Toyota chỉ mất có 12 tháng để có thể cho ra mắt một sản phẩm xe mới trong khi đó các công ty sản xuất ô tô khác phải mất tới 2 năm.. Sau đây là một vài đặc điểm của một số dòng xe Toyota

    Toyota Venza: xuất hiện đầu năm 2009 với giá trên 60.000 USD. Venza có kích thước rộng rãi nhưng lại không quá cồng kềnh phù hợp cho mục đích sử dụng cá nhân hay gia đình. Xe sử dụng hệ thống 4 bánh toàn thời gian AWD, điều hoà tự động 2 vùng, sưởi hàng ghế trước, khởi động không dùng chìa. Khoảng sáng gầm của Venza cao hơn Camry 66mm đủ để khách hàng yên tâm trước những con đường ngập nước trong mùa mưa.

    Toyota Camry: mang đến hình thức mới với lưới tản nhiệt, cản sốc trước thay đổi, đèn pha lớn với kiểu dáng mới. Trong cabin Camry tuỳ chọn hệ thống âm thanh tích hợp cổng USB, công nghệ Bluetooth, radio vệ tinh, đầu đọc CD và MP3. Hơn thế nữa phiên bản Camry Hybrid có mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình ấn tượng 6,92L/100km

    Toyota Fortuner: được xem là đối thủ trực tiếp của Ford Everest  và Chevrolet Captiva và là sản phẩm khu vực hoá của Toyota. Xe có mức giá phù hợp với người có thu nhập trung bình ở các nước Đông Nam Á ( 38.300 USD). Khoản sáng của gầm xe cao hơn Innova 29mm – yếu tố lấy điểm trong mắt người tiêu dùng của Fortuner. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách xe còn được đa dạng tới 4 phiên bản động cơ.

    Toyota Vios trang bị động cơ 1.5 với 16 van DOHC và công nghệ VVT-i nên động cơ xe luôn được vận hành và tăng tốc ở chế độ ổn định, đốt cháy triệt để và tiết kiệm nhiên liệu, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Được đánh giá là hình ảnh của sự trẻ trung và năng động, Vios mới 2010 có các màu xanh (8S9), đỏ (3PO) dành cho Vios 1.5G và Vios 1.5E, đen (209) dành cho Vios 1.5C

    Toyota Innova là sản phẩm của dòng xe đa dụng hiện đại mang tính toàn cầu (IMV). Ngay từ tên gọi, Innova đã thể hiện sự đổi mới, tân tiến. Với động cơ thế hệ mới 2.0 lít có trang bị van điều tiết thông minh nên hoạt động của Innova mạnh mẽ hơn, tiết kiệm hơn và thân thiện với môi trường.

    1.3. Rào cản rời ngành

    Chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối kế toán của Toyota là tài sản cố định chiếm 75,6% tổng tài sản trong đó tài sản cố định hữu hình( nhà máy, trang thiết bị, công nghệ sản xuất) chiếm 33% tài sản cố định. Năm 2009 Toyota đã đầu tư134,5 tỷ Yên vào tài sản, nhà máy và trang thiết bị để chuẩn bị cho việc tung ra sản phẩm mới, đổi mới và nâng cấp công nghệ sản xuất, đẩy mạnh R&D trong đó đầu tư vào tài sản, trang thiết bị và nhà máy chiếm52,8 tỷ Yên. Với mức đầu tư lớn như trên thì thiệt hại do lỗi sản phẩm đã gây ra cho công ty thiệt hại không nhỏ.

    Ngoài ra, Toyota còn sở hữu một tài sản vô hình là nền tảng để tạo nên thành công của mình đó là Hệ thống sản xuất Toyota (TPS). TPS không thể bắt chước vì nó không chỉ đơn giản là gắn kết các kỹ thuật sản xuất mà là sự liên kết tất cả các nhân tố lại với nhau thành một hệ thống mà yếu tố quan trọng vào bậc nhất là con người. TPS được hình thành dựa trên 14 nguyên lý cơ bản chia thành 4 nhóm chính

    1. Triết lý dài hạn
    2. Quy trình đúng mang lại kết quả đúng
    • Giải quyết liên tục vấn đề gốc rễ định hướng học hỏi trong tổ chức
    1. Gia tăng giá trị cho tổ chức bằng cách phát triển con người và đối tác

    Các nguyên lý này giúp các nhà lãnh đạo công ty đưa ra được những quyết định trong dài hạn. Điều này được thể hiện rõ trong việc đầu tư vào công nghệ mới từ rất sớm của Toyota và không ngừng tiên phong trong những dòng sản phẩm có nhiều tính năng mới. Tuy vậy, lại rất ít công ty có thể đạt được thành công như Toyota. Đó chính là vì họ không làm được theo những nguyên lý hướng về con người. Đây là yếu tố kết nối mọi hoạt động và tạo ra giá trị bền vững cho Toyota.

    2. Nguy cơ nhập cuộc của những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

    2.1 Sức hấp dẫn của ngành

    Hiện nay thị trường ôtô đang tồn tại rất nhiều các nhà sản xuất có danh tiếng cùng với những dòng xe chất lượng cao như Volkswagen, Mercedes Benz, BMW, Opel, Cadilac…  Mặc dù các công ty đều bị ảnh hưởng không nhỏ bởi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tuy nhiên nhờ các gói kích cầu của Chính phủ các nước cùng chính sách ” đổi ôtô cũ lấy ôtô mới” của các nhà sản xuất làm cho thị trường ôtô vấn không kém phần sôi động và hấp dẫn.

    Dự kiến trong năm 2010 triển vọng dường như không sáng sủa bằng năm 2009 do dấu hiệu phục hồi nền kinh tế toàn cầu còn khá mong manh, điều này sẽ làm cho thị trường ôtô trở nên cạnh tranh khắc nghiệt hơn. Tại thị trường Mỹ nơi đã từng mang lại thành công cho Toyota – doanh thu của /Toyota đã giảm 25% do sự cố kĩ thuật trong khi đó hãng Volkswagen của Đức lại vẫn trụ vững trong khủng hoảng nhờ hướng tới các thị trường mới nổi.

    2.2. Tính kinh tế của quy mô

    Tính đến 31 tháng 3 năm 2009 Toyota có:

    Với quy mô phát triển rộng rãi ra toàn cầu như của Toyota với mạng lưới đại lí phân phối, chế tác, nhà cung cấp lớn ở các thị trường không chỉ trong nước Nhật mà ngoài thế giới, chi phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ nhỏ hơn so với các hãng ô tô qui mô nhỏ khác.

    2.2. Lợi thế người dẫn đầu

    Trong bất cứ một ngành công ngiệp nào thì uy tín về chất lượng cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Đối với người dẫn đầu họ có thể đặt ra các tiêu chuẩn một ôt ô như thế nào là đạt yêu cầu về chất lượng hay học ó khả năng tiếp cận với những nhà cung cấp đầu vào giá rẻ thậm chí họ cũng  có thể giành được sự ưu đãi từ phía chính phủ . Để có được uy tín đó thì Toyota đã phải bỏ ra hàng thập kỉ cần mẫn đầu tư, nghiên cứu và chinh phục thị trường. Toyota, một trong những công ty lớn hàng đầu của Nhật bản luôn được chính phủ nước này dành cho rất nhiều ưu đãi về thuế. Bên cạnh đó, do quy mô và uy tín của mình, Toyota đã xây dựng được hệ thống khách hàng và nhà cung cấp trung thành nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và phát triển thị trường xe của công ty.

    2.3. Tiếp cận phân phối và mối quan hệ

    Sự hạn chế về khả năng sản xuất trong việc mở rộng các kênh phân phối và chi phí cao để phát triển các kênh mới  là những rào cản lớn đối với những đối thủ mới. Những công ty mới gia nhập ngành ôtô không dễ gì vượt qua được mạng lưới phân phối của những người đi trước. Toyota đặc biệt đã xây dựng cho mình hệ thống phân phối rộng khắp không chỉ tại Nhật mà còn rất nhiều quốc gia khác trên thế giới.

    3. Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế:

    Có thể thấy, các sản phẩm xe ô tô chính của Toyota là xe hơi, xe 7 chỗ, xe chuyên dụng.Trên thực tế, không có nhiều sản phẩm thay thế nào được coi là mối đe dọa nghiêm trọng của ô tô bởi tính tiện dụng của chúng. Hiện có một số sản phẩm thay thế cơ bản cho phương tiện giao thông này như: xe máy, xe đạp, tàu điện ngầm, tàu hỏa, máy bay…

    Mối đe dọa của các sản phẩm thay thế này có thể phụ thuộc vào vị trí địa lý của người tiêu dùng. Ví dụ: ở một số thành phố như New York hoặc Chicago, tàu điện ngầm lại là phương tiện giao thông thuận tiện hơn cả. Còn ở những vùng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đường còn hẹp và khó đi, chưa có khu vực đậu xe an toàn thì sản phẩm thay thế tốt nhất của ô tô có thể là xe đạp hoặc xe máy. Nhằm mở rộng thị trường, Toyota đã cho ra đời một loạt các dòng xe với nhiều tính năng khác nhau, đáp ứng được phần lớn nhu cầu khách hàng (về giá cả cũng như các loại xe thích hợp với từng kiểu địa hình). Trên thực tế, ô tô vẫn được coi là một phương tiện giao thông cực kỳ tiện lợi và phổ biến bởi tính ưu việt mà chúng mang lại cho người tiêu dùng, chẳng hạn như: ô tô có thể cho phép chở được số lượng người nhiều hơn xe máy hoặc xe đạp; tàu điện ngầm sẽ khiến người tiêu dùng bị phụ thuộc về thời gian và địa điểm trong khi sử dụng ô tô thì sẽ giúp họ chủ động hơn… Do đó thị trường xe của Toyota ngày càng được mở rộng.

    Một mối đe dọa lớn có thể kể đến cho các dòng ô tô hiện nay, cụ thể là các dòng ô tô của Toyota, đó là ô tô cũ đã qua sử dụng. Với mức giá thấp hơn giá xe ô tô mới rất nhiều, (giá xe Toyota mới nằm trong khoảng từ 15,000 – 66,000 USD) ô tô cũ đã qua sử dụng có thể trở thành lựa chọn của nhiều khách hàng có thu nhập thấp và trung bình. Một khi mà tính năng của dòng ô tô cũ đã qua sử dụng không có điểm gì khác biệt quá lớn với dòng ô tô mới, thì đây có thể được coi là một sản phẩm thay thế tiềm năng, một mối đe dọa lớn đối với ngành sản xuất ô tô nói chung và đối với công ty Toyota nói riêng. Bởi sự sẵn sàng chuyển đổi của khách hàng sang sử dụng dòng ô tô cũ đã qua sử dụng sẽ tạo nên sức ép giảm giá cho các hãng sản xuất ô tô và điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của các hãng này.Tuy nhiên, nếu xét về thời hạn sử dụng còn lại của sản phẩm thì việc tiếp tục tiêu dùng ô tô cũ, không ảnh hưởng nhiều lắm tới doanh số của các hãng sản xuất ô tô. Bởi vậy, mối đe dọa của các sản phẩm thay thế trong ngành này có thể coi là chưa đến mức nghiêm trọng.

    4. Sức mạnh mặc cả

    4.1. Sức mạnh mặc cả từ người cung cấp của Toyota.

    Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp khá là thấp trong ngành công nghiệp ô tô nói chung và Toyota nói riêng. Để làm nên một chiếc xe hoàn chỉnh cần rất nhiều bộ phận. Ban đầu, khi các công ty ô tô chưa tự sản xuất được một số linh kiện quan trọng, rất nhiều nhà cung cấp đã đứng ra sản xuất. Và hiện nay, khi có quá nhiều nhà cung cấp trong ngành công nghiệp ô tô, thì chi phí chuyển đổi của người sản xuất giảm xuống tương đối thấp. Điều này cũng có nghĩa, nhà cung cấp không có sức mạnh mặc cả cao trong lĩnh vực này.

    Hơn nữa, Toyota luôn áp dụng nguyên tắc: Đối xử với đối tác và nhà cung cấp như một phần mở rộng công việc kinh doanh của bạn.” Điều này có nghĩa Toyota duy trì nguyên tắc hiệp hội, xem các nhà cung cấp như các đối tác làm ăn. Toyota đòi hỏi ở các nhà cung cấp khá tỉ mỉ và gắt gao về mặt chất lượng cũng như các thông số kỹ thuật. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, nhà cung cấp nào được Toyota lựa chọn đều coi đó một điều may mắn lớn. Vì như thế họ đã khẳng định được độ tín nhiệm của mình trên thị trường sản xuất ô tô. Toyota thường đặt hàng hợp đồng dài hạn và ít thay đổi người cung cấp trừ khi xảy ra sai lầm tai họa. Ngoài ra thì các nhà cung cấp cũng được Toyota hướng dẫn và cùng phát triển. Tất cả những điều này đã làm sức mặc cả của nhà cung cấp cho Toyota giảm đi đáng kể.

    4.2. Sức mạnh mặc cả của khách hàng

    Chi phí chuyển đổi: Hiện nay trên thị trường ô tô có rất nhiều hãng xe đang cạnh tranh nhau khắt khe. Người mua có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn chiếc xe riêng cho mình. Chi phí chuyển đổi xe ô tô cũng rất thấp, nếu họ thích, chỉ cần bán chiếc xe cũ đi và mua một xe mới là ổn thỏa. Ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, các hang xe còn cho khách hàng trả góp, trả chậm để mua ô tô. Điều này càng làm chi phí chuyển đổi giảm xuống.

    Hơn nữa, hiện nay thong tin liên quan tới sản phẩm ô tô của các hang xe khá rõ rang giúp cho người mua kịp thời nắm bắt được các thong tin quan trọng , các thong số kĩ thuật, từ đó họ có thể so sánh sự ưu việt của các sản phẩm. Càng làm sức mặc cả của khách hàng tăng lên.

    Ngoài ra, chi phí để mua một chiếc ô tô cũng là khá đắt đỏ, do đó, khách hàng thường rất nhạy cảm với giá cả của mặt hàng này.

    Quay trở lại với Toyota, sản phẩm của hang đều vượt trội về chất lượng, kiểu dáng. Trong chiến lược phát triển của mình, Toyota luôn chú trọng tới việc giảm tối đa chi phí sản xuất nhằm giảm giá thành sản phẩm, đồng thời cũng tìm cách chế tạo sao cho giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng cho khách hàng. Sản phẩm của Toyota rất đa dạng , đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mọi tầng lớp mua xe (từ những người có nhu cầu thu nhập trung bình, tới những tầng lớp thượng lưu ưa chuộng kiểu dáng sang trọng của dòng xe Lesus, Camry), mọi nhu cầu về xe ô tô (xe đi du lịch, đi các loại địa hình…). Khách hàng hoàn toàn an tâm với các sản phẩm tới từ Toyota.

    Toyota bên cạnh đó cũng rất quan tâm tới dịch vụ khách hàng (các thủ tục mu axe đơn giản), dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng làm cho khách hàng (tổ chức các party khách hàng)  khó long có thể tìm một hang xe thứ 2 tốt hơn để lựa chọn.

    Với chiến lược tiếp cận khách hàng hợp lí, Toyota đã giảm tối đa sức mặc cả của người mua xe ô tô, tạo điều kiện để Toyota căng buồm đi tới.

         III.  PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG

    Mô hình PEST bao gồm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô cũng có tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp và Toyota cũng không ngoại lệ. Sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến Toyota trong phạm vi Nhật Bản và phạm vi quốc tế sẽ lần lượt được đề cập.

    1. Các yếu tố Thể chế – Pháp luật (Political)

    Môi trường chính trị – pháp luật Nhật Bản có ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản trong đó có Toyota. Thời gian gần đây, tình hình chính trị Nhật Bản có rất nhiều biến động. Chỉ trong vòng 3 năm 2007 – 2009, chính trường Nhật Bản đã chứng kiến 3 lần từ chức của tổng thống Shinzo Abe, Yasuo Fukuda và  Taro Aso trước khi thủ tướng đương nhiệm Yukio Hatoyama lên nắm quyền. Các vị trí chủ chốt trong nội các cũng theo đó mà thay đổi. Toyota vốn là một công ty có được sự ủng hộ lớn từ chính phủ Nhật Bản nên những biến động dồn dập trên chính trường Nhật Bản sẽ làm cho mối quan hệ này bị lung lay.

    Một vấn đề không kém phần quan trọng là chính sách của chính phủ Nhật. Chính sách thương mại của Nhật Bản là chủ yếu tập trung hướng về xuất khẩu.  Nhật Bản thực hiện các chính sách thuế quan nhằm hạn chế và bảo hộ trong nước làm giảm sức mua của người Nhật Bản, giảm hàng nhập khẩu và tăng hàng xuất khẩu. Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu được hàng hoá của mình, Nhật Bản đã áp dụng biện pháp khuyến khích và ưu đãi cho các nhà xuất khẩu như: miễn giảm thuế cho các công ty xuất nhập khẩu; thông qua các ngân hàng phát triển của Nhật Bản và ngân hàng xuất nhập khẩu, cấp vốn với lãi suất thấp, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Đặc biệt, chính phủ đã thành lập các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu trong lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm các thị trường bên ngoài. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu để hỗ trợ tín dụng cho cho những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như trong đó có ô tô. Nhật Bản có một chính sách kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu rất khắt khe nhằm không cho hàng kém phẩm chất lọt ra thị trường bên ngoài để giữ uy tín. Chính việc kiểm tra chặt chẽ chất lượng hàng xuất khẩu của Nhật Bản đã làm cho những nhà nhập khẩu tin tưởng vào hàng của Nhật và góp phần thúc đẩy việc tăng xuất khẩu của nước này. Với chính sách ưu tiên xuất khẩu như vậy, Toyota nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ Nhật Bản. Như vậy xét chung về môi trường chính trị – pháp luật trong nước, Toyota có được nhiều thuận lợi.

    Vì Toyota là một công ty xuyên quốc gia nên tất nhiên chịu ảnh hưởng của môi trường chính trị của các thị trường nước ngoài cũng như  môi trường chính trị quốc tế. Trung Quốc là một trong những thị trường lớn nhất của Toyota. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất thế giới nhưng chính sách thuế của Trung Quốc lại nhằm hạn chế nhập khẩu ô tô, điều này khiến cho Toyota gặp phải khó khăn khi muốn xuất khẩu ô tô nguyên chiếc sang Trung Quốc, thay vào đó phải phát triển loại hình công ty con tại Trung Quốc.

    2. Các yếu tố Kinh tế (Economic)

    Giai đoạn 2007-2009, kinh tế Nhật Bản cũng như kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thoái.

    Nhật Bản đang hồi phục dần sau khủng hoảng, tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng âm và tỷ lệ thất nghiệp cao vẫn đang là  những vấn đề nan giải.

    Bảng 1. Báo cáo kinh tế hàng tháng của Nhật Bản (tháng6/2009)

      Số liệu mới nhất Số liệu trước đó
    Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế 

     

    (hàng quý)

    Quý I /2009

     

    -3,8%

    Quý IV/2008

     

    -3,6%

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP tính theo năm -14,2% -13,5%
    Tỷ lệ thất nghiệp (hàng tháng, được điều chỉnh theo mùa) Tháng 5/2009

     

    5.2% / 3.470.000 người

    Tháng 4/2009

     

    5.0% / 3.460.000 người

    Chỉ số giá tiêu dùng ( hàng tháng) 100.5 100.7
    Tỷ giá ngoại tệ (hàng tháng) Tháng 6/2009

     

    1 USD = 95.56 JPY

    1 EURO = 135,53  JPY

    Tháng 5/2009

     

    1 USD = 96,45 JPY

    1 EURO = 134,65  JPY

    (Nguồn: Văn phòng Ni các Nhật Bản)

    Tỷ lệ thất nghiệp cao dẫn đến việc giá tiêu dùng năm 2009 giảm 1,7% so với năm 2008. Chỉ số tiêu dùng chính, giảm 9 tháng liên tiếp, dẫn đến hiện tượng giảm phát và gây thiệt hại cho tăng trưởng kinh tế bởi lợi nhuận của công ty thấp, người tiêu dùng cũng tiết kiệm hơn và do đó nhu cầu sẽ giảm…Kinh tế khó khăn sẽ làm giảm lượng cầu sản phẩm của Toyota.

    Trước tình hình kinh tế suy thoái, chính sách trong ngắn hạn của chính phủ Nhật Bản là nỗ lực duy trì một đồng yên yếu (tỷ giá USD/JPY, EUR/JPY luôn được cố gắng giữ ở mức cao) nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu. Với chính sách tỷ giá như vậy và với các gói kích cầu của chính phủ Nhật Bản, Toyota cũng nhận được sự trợ giúp nhất định.

    Tuy nhiên xét trong dài hạn, Nhật Bản đã là một nước phát triển nên ít nhiều sẽ chịu ảnh hưởng của xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp sang dịch vụ. Xu hướng này sẽ gây khó khăn cho một công ty trong ngành công nghiệp chế tạo như Toyota khi mà ưu tiên cho ngành này đang dần giảm sút.

    Xét đến môi trường ngoài nước, điển hình như Mỹ – thị trường lớn nhất của Toyota, kinh tế suy thoái đã gây nhưng ảnh hưởng nặng nề đến các doanh nghiệp sản xuất ô tô, trong đó có Toyota. Mỹ phải đối đầu với vấn đề tăng trưởng thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, vấn đề lạm phát. Khủng hoảng kinh tế làm cho Mỹ – một thời là “con nghiện tiêu dùng” – trở nên hạn chế chi tiêu tiêu dùng. Điều này chắc chắn làm cho việc duy trì doanh số bán xe, xây dựng thêm nhà máy tại Mỹ của Toyota trở nên khó khăn.

    Tóm lại, dưới tác động của khủng hoảng tài chính vừa qua, môi trường kinh tế tác động đến Toyota theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn là tích cực.

    3. Các yếu tố Văn hóa – Xã hội (Social)

    Các yếu tố này tác động đến Toyota trên cả phương diện hoạt động sản xuất, quản lý và định hướng khách hàng.

    Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những gì du nhập vào để chúng biến thành kiểu Nhật Bản. Xã hội Nhật Bản tôn vinh lao động xả thân vì doanh nhân và vì xã hội.Có một câu nói rằng: “Người Nhật kết hôn 2 lần trong cuộc đời của mình, một là với công việc, hai là với người vợ, chồng của mình“. Người Nhật Bản coi trọng lao động hơn tất cả, gắn bó với doanh nhân hơn với gia đình của mình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức. Là một doanh nghiệp Nhật Bản, Toyota cũng kế thừa và phát huy phẩm chất của người Nhật Bản. Toyota giai đoạn mới thành lập cũng phải học hỏi chế tạo sản phẩm dựa theo xe ô tô của Mỹ nhưng không sao chép hoàn toàn mà tính năng, chất lượng sản phẩm bao giờ cũng được nâng cao. Lãnh đạo Toyota cũng lấy đại cục làm trọng: Chủ tịch Toyota Kiichiro Toyoda đã tự nguyện từ chức vào năm 1950 để làm nguôi ngoai những công nhân trước tình trạng thất nghiệp gia tăng thời kỳ hậu Thế chiến II. Với sự ảnh hưởng tính cách, văn hóa dân tộc như vậy chắc chắn Toyota sẽ góp phần vực dậy kinh tế Nhật Bản trong thời gian sau cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính.

    Bản thân thị trường Nhật Bản cũng là thị trường tiêu thụ lớn thứ 2 của Toyota nên những đặc điểm về văn hóa xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đặc điểm sản phẩm. Nhật Bản là một nước phát triển có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới hiện nay. Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm. Đối với người tiêu dùng Nhật, giá cả là một tín hiệu của chất lượng. Bên cạnh lương tháng, hầu hết người lao động được thưởng một năm hai lần. Tiền thưởng mỗi lần bằng khoảng 1 đến 3 tháng lương. Đối với người lao động, các chi phí sinh hoạt bình thường hàng ngày được thanh toán từ lương tháng còn tiền thưởng dùng tiết kiệm hay chi cho mua sắm tốn kém như là mua ô tô. Về cơ cấu chi tiêu, chi tiêu cho đi lại chỉ đứng sau thực phẩm, hơn nữa chi tiêu cho đi lại của các hộ gia đình Nhật Bản lại có xu hướng tăng lên trong những năm vừa qua. Đây là ảnh hưởng thuận lợi và định hướng sản phẩm cho Toyota thiên về chất lượng cao, kiểu dáng không cần quá thời trang và giá cả phải chăng.

    Tương tự như vậy các yếu tố cơ cấu dân số, thu nhập, trình độ văn hóa, … của các nước khác mà Toyota coi là thị trường tiêu thụ cũng ảnh hưởng đến đặc điểm của sản phẩm Toyota tại thị trường đó. Với một công ty đa quốc gia có thị trường rộng khắp thì cần phải có sản phẩm đa dạng về mức giá, kiểu dáng…

    4. Yếu tố về Công nghệ (Technological)

    Toyota cũng được hưởng lợi từ chính sách nghiên cứu – phát triển công nghệ của Nhật Bản. Hiện nay Nhật Bản vẫn là nước có tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu trong GDP lớn nhất thế giới. Hơn nữa việc hợp tác nghiên cứu công nghệ hiện đại giữa chính phủ và doanh nghiệp lại được ủng hộ. Như vậy, môi trường nghiên cứu khoa học – công nghệ trong nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao nói chung cũng như Toyota nói riêng.

    Tham gia ngành ô tô – một ngành mà yếu tố công nghệ có vai trò nhất định, Toyota cũng chịu tác động của việc công nghệ thường xuyên được cải tiến, điều này buộc cho Toyota phải không ngừng tự nghiên cứu, áp dụng công nghệ hiện đại vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm. Công nghệ hiện đại cho phép năng lượng sử dụng ngày càng giảm, trọng lượng, kích thước của xa ngày càng giảm, độ an toàn càng cao. Đặc biệt gần đây, công nghệ hybrid nổi lên như một tiến bộ mới trong việc tiết kiệm năng lượng, hạn chế khí thải ô nhiễm môi trường. Tính không ngừng cập nhật, không ngừng đổi mới của khoa học – công nghệ đòi hỏi Toyota phải nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới liên tục để cắt giảm chi phí, giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, tạo những sản phẩm hiệu quả về cả mặt kinh tế cũng như môi trường.

          IV.CÁC CHIẾN LƯỢC NHẰM TẠO RA LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA TOYOTA

    Ngành sản xuất ô tô bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Điều này được thể hiện rõ bằng sự sụp đổ của tập đoàn General Motor. Tính đến 31/12/2009, Toyota là tập đoàn sản xuất ô tô lớn nhất thế giới với doanh thu quý cuối đạt 5.292.890 triệu yên. Toyota đã đạt được những thành công từ quá trình phát triển để trở thành hãng sản xuất ô tô uy tín trong nước rồi tiếp tới vươn ra trở thành tập đoàn toàn cầu.

    * Chu kỳ ngành: Hiện nay, ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, châu Âu, ngành công nghiệp ô tô đang ở trong giai đoạn tăng trưởng bền vững. Các hãng sản xuất đang đua nhau cho ra đời sản phẩm mới, và họ đang tập trung vào các loại xe sử dụng ít nhiên liệu hoặc năng lượng sạch như điện hay năng lượng mặt trời.

    Ở các quốc gia châu Á, ngành lại đang ở thời kì đầu. Các hang sản xuất không đủ cầu, doanh số bán hàng tăng mạnh, lợi nhuận thu về rất lớn, và là một thị trường tiềm năng hưa hẹn cho các hang sản xuất xe ô tô.

    1.   Phương thức sản xuất độc đáo

    Trong quá trình phát triển của mình Toyota đã dần hình thành nên một phương thức sản xuất đặc trưng, nổi tiếng hiệu quả trong việc giảm chi phí đến mức tối đa, có thể cung cấp cùng một dòng xe cùng chất lượng nhưng lại có giá thấp hơn rất nhiều so với đối thủ. Phương thức này tập trung vào 3 yếu tố chính: luồng một sản phẩm, quan hệ với nhà cung cấp và vận chuyển, con người.

    1. Luồng 1 sản phẩm

    Có thể hiểu luồng một sản phẩm qua ví dụ đơn giản trong việc sản xuất ô tô được tổ chức thành 3 phòng riêng biệt: phòng 1 sản xuất động cơ, phòng 2 lắp ráp khung, phòng ba thử xe. Theo cách thức sản xuất thông thường (quy trình sản xuất quy mô lớn), phòng vật tư sẽ quyết định chuyển mỗi lần một lô gồm 10 sản phẩm. Mỗi phòng mất 1 phút để làm ra sản phẩm theo chức năng của mình. Do đó sẽ mất 10 phút để lô sản phẩm 10 chiếc trải qua từng phòng khác nhau. Như vậy nếu không tính đến thời gian giao vật tư giữa các phòng khác nhau thì cũng phải mất 30 phút để hoàn thành và thử nghiệm xong một lô đầu gồm 10 sản phẩm để đem giao cho khách hàng. Phải mất 21 phút để có được chiếc ô tô đầu tiên, mặc dù công việc này chỉ cần đến 3 phút.

    Phòng sản xuất động cơ

    ;;;;;;;;;;

    Phòng lắp ráp khung

    Phòng kiểm nghiệm xe

    þþþþýþþþþþ

    Luồng 1 sản phẩm: chỉ lấy những thiết bị máy móc cần thiết để làm động cơ từ bộ phận sản xuất động cơ, thiết bị máy móc để lắp ráp khung từ phòng lắp khung, và bộ kiểm nghiệm từ phòng kiểm nghiệm và đem cả ba cái này nhập làm một. Có nghĩa là ta đã tạo ra một bộ phận mà sẽ làm theo luồng một sản phẩm. Những người trực tiếp sản xuất không được phép để tồn kho trong suốt quá trình sản xuất. Ví dụ, người sản xuất động cơ không được phép sản xuất một động cơ khác nếu người lắp ráp khung chưa lắp xong khung. Nói cách khác, mọi người chỉ được phép sản xuất những gì đang cần đến ngay tức khắc. Kết quả là những người trực tiếp sản xuất trong một tổ luồng một sản phẩm chỉ mất 12 phút để sản xuất ra 12 chiếc ô tô, trong khi quy trình sản xuất theo lô lớn phải mất hơn 30 phút mới sản xuất được 10 cái. Thực tế là 3 phút là thời gian tạo ra giá trị gia tăng.

    • Chiếc xe thứ nhất xong trong 3 phút.
    • 10 xe xong trong 12 phút.

    ;

    þþþþýþþþþþ

    Theo quy trình sản xuất này, luồng một sản phẩm không tạo ra hàng tồn kho. Như vậy sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí lưu kho. Đặc biệt hơn, luồng một sản phẩm giúp kiểm lỗi một cách dễ dàng. Trong hình trên một chiếc ô tô đã bị lỗi trong quá trình sản xuất, mà được đánh dấu X. Chiếc xe này bị phát hiện ra trong quá trình thử nghiệm. Theo phương pháp sản xuất theo lô lớn trước khi phát hiện lỗi, có ít nhất 21 bộ phận trong quá trình sản xuất bị hỏng. Và nếu sản phẩm hỏng này xảy ra ở phòng sản xuất động cơ, phải mất đến 21 phút trong phòng thử nghiệm thì mới tìm ra được sản phẩm hỏng. Ngược lại, trong luồng một sản phẩm, khi chúng ta phát hiện sản phẩm hỏng có thể chỉ có hai chiếc xe trong quá trình sản xuất có hỏng hóc và thời gian tối đa phát hiện ra hỏng hóc của hai chiếc xe là hai phút kể từ khi bị hỏng hóc. Thực tế là trong quy trình sản xuất lô lớn, có khi phải mất đến một tuần làm việc hoặc thậm chí vài tuần hoặc vài tháng mới phát hiện ra sản phẩm hỏng. Rồi khi mọi dấu vết về nguyên nhân hỏng hóc hầu như không còn nữa thì gần như không thể hiểu tại sao lại hỏng.

    Tuy nhiên luồng một sản phẩm vấp phải một nhược điểm quan trọng về vấn đề vận chuyển. Vấn đề này nếu không được giải quyết công ty đi ngược lại lợi thế quy mô lớn.

    1. Nhà vận chuyển và cung cấp

    Để tạo ra luồng một sản phẩm thành công Toyota buộc phải có những nhà cung cấp có khả năng đáp ứng những phụ tùng chất lượng cao kịp thời. Những nhà cung cấp trong ngành xe hơi đều cho rằng Toyota là khách hàng tốt nhất của họ đồng thời cũng khó tính nhất. Khó tính không có nghĩa là khó mà giao thiệp hay tỏ ra vô lý. Nó có nghĩa Toyota đặt ra các tiêu chuẩn rất cao về sự tuyệt hảo và kỳ vọng mọi đối tác đều vươn tới những chuẩn mực đó. Quan trọng hơn, Toyota sẽ giúp các đối tác làm được điều đó. Phòng mua bán vật tư của Toyota có những chuyên gia về hệ thống sản xuất Toyota và chất lượng của riêng nó để giao dịch với các nhà cung cấp mỗi khi có xảy ra trục trặc, mà trục trặc nghiêm trọng nhất là khi một nhà cung cấp khiến dân chuyền lắp ráp của Toyota phải ngừng hoạt động do sự cố về chất lượng hoặc không đủ sản phẩm. Một ví dụ điển hình về vấn đề này xảy ra tại nhà máy TMI, một nhà cung ứng của Toyota. Máy tính của TMI ngừng chạy chỉ trong ba tiếng đồng hồ nhưng với hệ thống rất tinh gọn của TMI (được các chuyên gia của Toyota giúp đỡ tạo nên), điều đó cũng đủ để làm ngưng trệ dây chuyền của Toyota. Ngay lập tức một phái đoàn chuyên gia chất lượng của Toyota xuống ngay nhà máy TMI và ở đó hàng ngày trong 2 tuần. TMI được gán cho điểm 2 trong thang điểm xếp hạng nhà cung cấp của Toyota, nghĩa là họ bị vào vòng kiểm soát và phải báo cáo hàng tháng về những cải tiến dựa trên phân tích nguyên nhân gốc và những biện pháp giải quyết rõ ràng. Thực tế là TMI đã có nhiều điểm đen về giao linh kiện trước đây và Toyota xem đây là một dấu hiệu nữa của một vấn đề sâu xa hơn. Giải pháp của Toyota: phân tích mọi khía cạnh của công ty này, bao gồm hoạch định chất lượng, quá trình tuyển chọn nhân công, việc huấn luyện, cơ cấu nhóm làm việc, quy trình giải quyết sự cố, hệ thống kéo và các nghiệp vụ chuẩn. Cơ bản là cấp quản lý gần như tái tạo lại công ty. Nhờ những trợ giúp của Toyota, TMI giờ đây thường xuyên được xếp hạng là nhà cung cấp ghế ô tô hàng đầu về chất lượng.

    Trong vấn đề vận chuyển, Toyota xây dựng nên các bãi tập kết hàng để nhận những đơn hàng từ những nhà cung cấp ở xa một vài lần trong ngày, tạm thời lưu giữ chúng và rồi đóng vào xe để gửi đến nhà máy lắp ráp dưới dạng những lô hàng hỗn hợp chừng 12 lần một ngày. Các nhà máy sẽ nhận được những lô hàng thường xuyên và các xe tải luôn đầy hàng từ nhà cung cấp tới bãi tập kết và từ bãi tách hàng đến nhà máy lắp ráp. Bãi tách hàng này ứng dụng mọi nguyên tắc của hệ thống sản xuất Toyota. Nó là một cơ sở xuyên suốt, các nhân viên tham gia vào quá trình cải tiến liên tục, các bảng biểu bằng hình ảnh và các công cụ kiểm lỗi được dán khắc nơi để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy, còn các tài xế xe tải nắm được vai trò của mình trong việc giao nhận với những yêu cầu khắt khe về thời hạn, đồng thời với việc tham gia kiểm tra chất lượng sản phẩm.

    Do có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà cung cấp, nhà vận chuyển và các nhà máy, người ta có thể điều khiển nhịp nhàng dòng chảy của các linh kiện giao đến nhà máy và các công-ten-nơ rỗng trả lại thông qua bãi tách hàng. Cơ bản là trao đổi một – đối – một giữa các thùng chứa rỗng và các công-ten-nơ rỗng trả lại. Toyota đã nỗ lực trong việc sắp xếp kế hoạch cho nhà máy lắp ráp, nhờ đó cân đối được việc giao nhận trong toàn mạng lưới.

    1. Con người

    Bất kỳ ai tại Toyota khi nói về hệ thống sản xuất Toyota đều đề cao tầm quan trọng của tinh thần tập thể. Tất cả cơ cấu ở đó là dùng để hỗ trõ cho nhóm làm việc thực hiện các công việc mang lại giá trị gia tăng. Nhưng nhóm làm việc không làm tăng giá trị, mà chính là các cá nhân. Toyota đã thiết lập một sự cân bằng tuyệt hảo giữa công việc cá nhân và công việc theo nhóm cũng như giữa thành tích cá nhân và hiệu quả của tập thể. Mặc dù tinh thần tập thể là quan trọng, nhưng tập hợp mọi người làm việc chung một nhóm sẽ không đủ bù đắp nếu thiếu đi sự vượt trội của một cá nhân hay thiếu sự am hiểu cá nhân đối với hệ thống của Toyota. Các cá nhân làm việc xuất sắc được đòi hỏi bù đắp cho tập thể. Điều này lý giải tại sao Toyota lại bỏ ra nhiều công sức để tìm kiếm và sàng lọc nhiều nhân viên tiềm năng. Họ muốn có được nhân sự tốt để có thể giao quyền làm việc trong nhóm. Khi Toyota chọn ra được một từ hàng trăm người xin việc sau nhiều tháng, họ sẽ gửi đi một thông điệp trong đó nêu rõ những khả năng và khí chất quan trọng đối với một cá nhân. Người ta sẽ bỏ ra nhiều năm để từng cá nhân phát triển sâu rộng kiến thức kỹ thuật, các kỹ năng làm việc. Một sự am hiểu gần như tự nhiên về những triết lý của công ty sẽ nói lên tầm quan trọng của cá nhân đó trong hệ thống của Toyota. Chính yếu tố con người tạo nên văn hóa công ty khiến khó có công ty nào có thể bắt chước phương thức sản xuất Toyota một cách hoàn hảo.

    Gốc rễ thành công của Toyota rút lại chỉ một dòng: biến công việc thành một chuỗi các thực nghiệm đan xen và diễn ra cùng một lúc. Làm thế nào để cụ thể hóa điều này? Có bốn bí quyết, được coi là “chìa khóa vàng”.

    Thứ nhất: Quan sát công việc. Tại Toyota, mọi người phải quan sát, nắm chắc công việc phải làm trước khi bắt tay vào việc. Điều đó có nghĩa là nghĩ kỹ trước khi hành động. Công nhân phải quan sát các quy trình động tác của mình. Lãnh đạo phải quan sát công nhân để tìm cách sắp xếp hợp lý các thao tác.

    Một nhà quản lý phải bỏ ra 12 tuần, đó là thời gian ngồi quan sát thao tác của các công nhân, nghiên cứu từng động tác, quy trình để có khi chỉ đổi một cái nút bấm từ bên trái sang bên phải chẳng hạn. Hoặc là thay đổi vị trí các linh kiện để giảm thời gian đi lại, mang vác.

    Toyota coi trọng việc tìm cách cải thiện quy trình, tính tới việc giải quyết các lỗi có thể phát sinh, hơn là đi giải quyết các sự cố đã xảy ra.

    Thứ hai:  Mọi thay đổi lãnh đạo muốn làm, đều phải coi là thử nghiệm. Không phải cứ lãnh đạo cho ý kiến đều là đúng cả. Các nhà quản lý phải được trang bị tư tưởng này và sẵn sàng cùng thử nghiệm. Nguyên tắc này giúp tìm ra khá nhiều những giải pháp đúng và tốt hơn hết.

    Thứ ba: Cả công nhân lẫn các nhà quản lý, luôn luôn thử nghiệm để đổi mới, càng nhiều càng tốt. Toyota muốn tiến hành nhiều thí nghiệm nhỏ để học hỏi trước khi bắt tay vào các thí nghiệm lớn hơn. Điều này giúp các sai lầm nếu xảy ra cũng không quá lớn và có thể được nhanh chóng sửa chữa.

    Thứ tư:  Người quản lý đóng vai trò như các huấn luyện viên và để cho nhân viên tiến hành các công việc cụ thể và thực hiện những thay đổi cần thiết. Điều này giúp cả hai phía cùng phải thử nghiệm thực tế, phát triển sáng tạo.

    2.   Chiến lược phát triển của Toyota cho từng mảng thị trường

    Toyota luôn hướng tới việc đáp ứng nhu cầu của từng đất nước và khu vực. Theo đó, chiến dịch sản phẩn cơ bản từ 2000 đến nay của Toyota là cung cấp mọi loại xe cho tất cả các nước, tất cả các khu vực. Tính đến năm 2009 Toyota đã hình thành nên một mạng lưới toàn cầu với 11 trung tâm nghiên cứu phát triển, 75 trung tâm sản xuất tại Nhật Bản và nước ngoài; mạng lưới bán hàng đã có mặt tại hơn 170 nước và vùng miền. Tuy nhiên, giữa những điều kiện thị trường ô tô khắc nghiệt như ngày nay, việc mở rộng theo cách thức này trở nên khó khăn hơn trong khi Toyota vẫn phải thực hiện vai trò của mình như một nhà sản xuất ô tô góp phần vào một xã hội phong phú, tăng trưởng kinh tế và tương lai môi trường của trái đất. Vì vậy, trong thời gian tới Toyota phải xác định nơi nó muốn cạnh tranh và những vùng cần có những bước đi cẩn thận.

    Hiện nay, Toyota đã xây dựng chiến lược riêng dành cho mỗi mảng thị trường lớn trên thế giới: với các nước đang phát triển (đặc biệt là Trung Quốc) cạnh tranh bằng chiến lược giá, thị trường nội địa tập trung vào chất lượng sản phẩm, thị trường Bắc Mỹ phát triển theo hướng tự cung tự cấp, thị trường Châu Âu sử dụng lợi thế của dòng xe nhiên liệu sạch.

    Bảng 1: Tỷ trọng doanh thu theo vùng của Toyota trong năm tài chính 2009

    1. Chiến lược mở rộng thị phần tại các thị trường đang phát triển để thu lợi nhuận.

    Đây là chiến lược được Toyota đặt lên hàng đầu trong thời điểm lập báo cáo thường niên năm tài chính 2009 (kết thúc ngày 31/3/2009). Trung quốc và các quốc gia mới nổi tại châu Á, Trung và Nam Mỹ hứa hẹn trở thành động lực quan trọng cho sự tăng trưởng trong tương lai của Toyota. Đặc biệt, thị trường Trung Quốc có tiềm năng phát triển tương đương thị trường Mỹ. Toyota đang trong quá trình hình thành một mô hình giúp các kỹ sư chế tạo nhìn nhận vấn đề theo con mắt của khách hàng. Đối với những nước châu Á còn lại cũng như Nam Mỹ và những vùng khác, vẫn còn có những vùng mà thị phần của Toyota rất thấp trong khi nhu cầu thì ngày càng tăng. Sản phẩm chiến lược là những chiếc xe chất lượng cao, giá hợp lý. Toyota cũng sẽ phát triển những sản phẩm IMV (Innovative International Multipurpose) như những mô hình chiến lược quan trọng.

    1. Những thay đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng tại thị trường Nhật Bản

    Tại Nhật Bản, doanh số bán hàng kể cả xe mới và cũ đạt tổng số 12 triệu chiếc năm tài chính 2009. Trong đó xe mới đóng góp xấp xỉ 3 triệu chiếc. Trong khi đó 75 triệu xe được đăng ký tại Nhật Bản trong năm tài chính 2009. Điều này cho thấy Toyota vẫn còn rất nhiều cơ hội phát triển trong nước. Để có thể khai thác tối đa cũng cơ hội này, chiến lược phát triển của Toyota tập trung vào những biến đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng.

    Sự nhận thức về môi trường của khách hàng Nhật đang ngày càng gia tăng. Chính phủ Nhật đẩy mạnh thực hiện các chương trình nhằm thay thế những dòng xe cũ và tăng nhu cầu sử dụng dòng xe thân thiện môi trường. Toàn ngành sản xuất ô tô Nhật cũng nhấn mạnh vấn đề môi trường và năng lượng. Từ thực tế như vậy Toyota tiếp tục đẩy mạnh việc quản cáo chiếc Prius và các dòng xe hybrid khác.

    Thêm vào đó công ty dự định phát triển những ý tưởng mới phù hợp với nhu cầu tiềm năng của khách hàng và tái cấu trúc những sản phẩm của mình để có thể tạo nên những chiếc xe thực sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

    1. Đẩy mạnh mô hình tự cung tự cấp trong nghiên cứu phát triển và sản xuất tại Bắc Mỹ

    Bắc Mỹ là một thị trường cực kì quan trọng đối với Toyota. Chiến lược trong thời gian tới của Toyota tại Bắc Mỹ là đẩy mạnh xây dựng mạng lưới các cơ quan nghiên cứu phát triển và các nhà máy sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu khu vực.

    1. Đẩy mạnh quá trình xâm nhập và dành được những thị trường lớn tại Châu Âu

    Châu Âu có nhiều nhà sản xuất xe hơi truyền thống lớn thống lĩnh thị trường khu vực. Đối với Toyota, cách tốt nhất để tiếp cận thị trường này không chỉ đơn giản là bán nhiều xe hơn hoặc tăng thị phần mà phải hình thành được thương hiệu với những sự khác biệt hóa. Châu Âu  là một thị trường quan trọng đối với Toyota. Với những quy tắc môi trường được quản lý gắt gao, Toyota dự định khai thác kỹ thuật hybrid kết hợp với các hoạt động nhằm củng cố hình ảnh của mình trên thị trường.

    3.   Chiến lược dịch vụ hoàn hảo của Toyota

    Những hoạt động Dịch vụ chất lượng Toyota đã được thiết lập để gắn kết chặt chẽ Đại lý và TMC nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng bao gồm:

    • Cung cấp sản phẩm có chất lượng số 1:

    Điều này có nghĩa là cung cấp những chiếc xe thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và phù hợp với môi trường sử dụng.

    • Dịch vụ sau bán hàng số 1:

    Điều này có nghĩa là cung cấp dịch vụ tốt nhất trong khu vực. Nó cũng có nghĩa là cung cấp tốt hơn các đối thủ để sao cho chiếc xe của khách hàng luôn ở trong tình trạng tốt nhất. Vì vậy, khách hàng luôn tự tin khi vận hành xe.

    • Dịch vụ chăm sóc khách hàng:

    Khách hàng có 4 điều trông đợi ở dịch vụ sau bán hàng như sau:

    1. Đối xử chân thành
    2. Sửa chữa chính xác và tin cậy
    3. Giá cả hợp lý
    4. Sửa chữa hiệu quả và nhanh chóng

    Nhiều khách hàng cũng trông đợi”những điều đặc biệt”, như sự giúp đỡ có ích, cung cấp những dịch vụ phụ như tra dầu vào bản lề cửa bị kêu, hay đưa ra những lời khuyển chuyên nghiệp về lái xe ở vùng núi.

    Không ngừng nâng cao sự hài lòng của khách hàng sẽ không chỉ giúp đem lại thịnh vượng cho công ty của bạn mà nó còn nâng cao sự hài lòng về công việc của chính bản thân bạn. Điều đó cũng có nghĩa là sự hài lòng của khách hàng sẽ phản ánh vào sự đánh giá của công ty bạn.

    Nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn. Ví dụ, môi trường làm việc có thể được cải thiện, bạn sẽ được đối xử tốt hơn (thu nhập, thăng tiến v.v.) từ phía công ty, và bạn có thể có được công việc ổn định.

     

    Đánh giá:

    Với phương thức sản xuất hình thành trong suốt quá trình hoạt động lâu dài, Toyota sở hữu một giá trị nội tại bền vững. Văn hóa công ty cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị công ty. Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển quá nhanh chóng của công ty, mở rộng quy mô với tốc độ quá lớn khiến công ty phải đối mặt với những vấn đề về chất lượng. Hiện nay, sau một loạt các vụ thu hồi xe, Toyota đã thay đổi chiến lược trung hạn của mình từ tập trung thống lĩnh thị trường sang nâng cao chất lượng sản phẩm. Nâng cao niềm tin chất lượng sản phẩm, khôi phục danh dự của thương hiệu sẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất của Toyota trong năm 2010. Nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này, Toyota có cơ hội phát triển hơn nữa và thu lợi nhuận khổng lồ từ lợi thế người dẫn đầu.

    V. PHÂN TÍCH SWOT

    1. Các điểm mạnh (strengths)

    Toyota là một trong những hang xe hàng đầu xét trên phạm vi 170 quốc gia trên thế giới. Với doanh số bán hàng phát triển không ngừng qua các năm. Toyota có sức mạnh tài chính cao, doanh thu tăng trưởng khoảng 29,3%/ năm. Toyota được thế giới biết đến như một thương hiệu lớn mạnh về cả chất lượng sản phẩm, số lượng sản phẩm, sự thân thiện với môi trường của sản phẩm, và hệ thống khách hàng rộng lớn trên toàn thế giới. Đây là một công ty đi đầu trong ngành, khuếch đại lới nhuận dựa vào những nguyên tắc chặt chẽ và hiệu quả riêng của Toyota như quản lý tổng quát chất lượng, “just in time”, cải tiến các chức năng và bước đi của sản phẩm( điều này đã được đề cập tới ở mục phân tích chiến lược cạnh tranh của công ty).

    Ngoài ra, thị phần chính của Toyota là Nhật bản và Mỹ. Đây là hai thị trường tiềm năng vì người dân các nước này rất chuộng sử dụng xe ô tô. Chính phủ Nhật bản dành cho công ty rất nhiều ưu đãi như một doanh nghiệp xuất khẩu lớn của Nhật.

    2. Yếu điểm (weaknesses)

    Toyota tuy có rất nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó vẫn bộc lộ những hạn chế của mình. Rất nhiều chuyên gia về xe đều đánh giá phần thiết kế của Toyota là hơi thô, không thời trang như các hang xe lớn khác. Sản phẩm của Toyota đôi khi vẫn có lỗi kỹ thuật (có thể kể tới vụ Toyota thu hồi xe do hỏng bàn đạp chân ga đầu năm 2010). Ngoài ra, là một hãng xe thâm nhập vào thị trường lớn như Mỹ, Toyota bị người dân Mỹ nhìn dưới con mắt là một hãng xe nhập khẩu của Nhật, điều này phần nào tạo nên một rào cản vô hình cho người tiêu dùng ở Mỹ với hãng.

    3. Cơ hội (opportunities)

    Trong tình hình giá xăng dầu thế giới đang leo thang, khách hàng sử dụng xe có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm tiết kiệm xăng dầu hoặc sử dụng nguồn năng lượng sạch. Toyota đang theo đuổi dự án chế tạo xe chạy bằng khí ga và hydro bằng cách áp dụng những thành tựu và kỹ thuật tân tiến của thế giới và kết quả của hoạt động R&D. Trong khi khách hàng đang tìm kiếm nguồn thay thế dầu thì đây quả là một dự án béo bở cho công ty.

    Hiện nay ở rất nhiều quốc gia nơi nhu cầu về xe là lớn nhưng nguồn cung vẫn còn hạn chế. Toyota có thể mở rộng thị trường ra các quốc gia này. Chế tạo thêm xe đáp ứng các yêu cầu của điều kiện địa lí, mở rộng khách hàng mục tiêu ra các giới trẻ hiện đại cũng là những cơ hội giúp Toyota nâng cao thị phần của mình.

    4. Thách thức (Threats)

    Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều các hãng xe khác trên thế giới đã và đang gia nhập thị trường. Điều này là một thách thức lớn cho Toyota khi vừa phải nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các hãng xe hiện hữu, vừa phải tìm cách để cạnh tranh với các đối thủ tiềm tàng. Bên cạnh đó, việc thay đổi tỉ giá giữa đồng USD và JPY cũng dẫn tới lợi nhuận của công ty bị sụt giảm, chi phí nguyên liệu thô tăng lên, gây khó khăn cho việc sản xuất.

    Sau đợt khủng hoảng kinh tế kéo dài này, chính phủ các nước được dự báo là sẽ ban bố chính sách thắt chặt chi tiêu, dân tới doanh số và doanh thu của các hãng xe sẽ giảm. Chính phủ các nước cũng đang khuyến khích người dân thay vì sử dụng những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường như ô tô, xe máy thì nên sử dụng những phương tiện công cộng để di chuyển như xe lửa, bus, tàu cao tốc.

    Bên cạnh đó, việc thay đổi nhân khẩu học như các gia đình giờ chuộng sử dụng những mẫu xe lớn, sự thay đổi trong cách sử dụng xe của gia đình như sử dụng ít xe hơn trong việc đưa trẻ tới trường, các dịch vụ giao hàng tận nhà, cũng làm giảm cầu của các dòng xe giảm xuống đáng kể.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam

    Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam

    Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam

    PHẦN I

    THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ

    CHƯƠNG 1

    THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    1. Sự ra đời của thị trường ngoại hối

    Sự ra đời của thị trường ngoại hối gắn liền với nhu cầu giao dịch và trao đổi ngoại tệ giữa các quốc gia nhằm phục vụ cho sự phát triển của ngoại thương

    Ví dụ: trong quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Mỹ liên quan ít nhất đến hai đồng tiền là USD và VND. Khi xuất khẩu hàng sang Việt Nam, mục tiêu của công ty Mỹ là thu về USD, trong khi các công ty nhập khẩu của có VND. Do đó thực tiễn của hoạt động xuất nhập khẩu đòi hỏi một cơ chế nào đó nhằm giúp các công ty Việt Nam đổi VND lấy USD để thanh toán cho các công ty xuất khẩu ở Mỹ và ngược lại khi các công ty Việt Nam xuất khẩu hàng hóa san Mỹ hoặc bất kỳ nứơc nào khác thường thu về USD, nhưng công ty không thể sử dụng USD mà phải dùng VND để chi trả lương hoặc thu nguyên liệu chế biến hàng xuất khẩu. Khi đó công ty cần bán USD thu được từ xuất khẩu để lấy VND.

    Các hoạt động trên đòi hỏi cần phải có một cơ chế nào đó giúp các công ty chuyển từ đồng tiền minh đang có sang đồng tiền khác mình đang cần. Cơ chế đó chính là thị trường ngoại hối.

    1. Khái niệm:

    2.1. Ngoại hối (The Foreign Exchange): Là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị thanh toán giữa các quốc gia

    Ngoại hối là những phương tiện thanh toán, dự trữ được thể hiện dưới dạng ngoại tệ bao gồm: tiền mặt, thương phiếu, chi phiếu, chứng từ có giá bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ.

    2.2.  Thị trường ngoại hối (The Foreign Exchange Market-FOREX):

    – Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra sự mua bán các loại tiền tệ của nhiều quốc gia trên thế giới.

    – Là thị trường có tính thanh khoản lớn nhất thế giới với khối lượng giao dich mỗi ngày đạt hang nghìn tỷ USD.

     

    Biểu đồ khối lượng giao dịch bình quân ngày từ năm 1988 – 2007

    1. Đặc điểm của thị trường ngoại hối:

    Vì Forex mua bán các loại hàng hóa đặc biệt nên thị trường ngoại hối có những đặc điểm riêng biệt mà các thị trường khác không có được.

    – Forex là thị trường giao dịch mang tính quốc tế, phạm vi hoạt động mang tính toàn cầu nhằm phục vụ cho các nhu cầu mua bán giao dịch về ngoại tệ

    – Forex là thị trường hoạt động liên tục 24 trên 24, do sự chênh lệch về múi giờ của các khu vực địa lý khác nhau cùng với phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như điện thoại, fax, telex, mạng vi tính khiến cho các giao dịch thực hiện tức thời.

    1. Chức năng của thị trường ngoại hối:

    – Cung cấp dịch vụ cho khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.

    – Luân chuyển vốn, giao dịch tài chính quốc tế.

    – Làm cho sức mua đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu.

    – Thị trường ngoại hối cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai.

    – Là nơi để NHTW can thiệp lên tỷ giá

    1. Các thành phần tham gia thị trường ngoại hối

    – Nhóm khách hàng mua bán lẻ: gồm các công ty nội địa & đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích: Chuyển đổi ngoại tệ và phòng ngừa tỷ giá.

    – Các ngân hàng thương mại & Ngân hàng đầu tư:Tham gia mua bán ngoại tệ cho chính họ khi thực hiện mục tiêu kinh doanh hoặc là mua bán thay cho khách hàng khi thực hiện vai trò môi giới.

    – Những nhà môi giới ngoại hối: Tham gia trên Forex với tư cách là trung gian trong các giao dịch mua bán hoặc mua bán thay cho người khác nhằm thu hoa hồng trong từng giao dịch

    – Các ngân hàng trung ương: Đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và tham gia mua bán ngoại tệ nhằm ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại hối, ổn định giá cả và tỷ giá hối đối.

    1. Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối

    6.1. Nghiệp vụ giao ngay (SPOT): Là giao dịch hai bên thực hiện mua/bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay trên thị trường tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 02 ngày làm việc tiếp theo.

    + Những lợi ích chính:

    – Đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, cước vận tải, bảo hiểm.

    – Góp vốn liên doanh với nước ngoài.

    – Đóng hội phí cho các tổ chức quốc tế.

    – Đi công tác, học tập, chữa bệnh, du lịch… ở nước ngoài.

    – Có thể thanh toán ngay trong ngày (today), thanh toán vào ngày hôm sau (tom) hoặc thanh toán trong vòng 02 ngày làm việc kể từ ngày giao dịch (spot).

    + Những đặc điểm cơ bản:

    – Tỷ giá mua/bán là tỷ giá giao ngay trên thị trường tại thời điểm giao dịch.

    – Thời gian thực hiện thanh toán tối đa không quá 02 ngày làm việc tiếp theo sau ngày giao dịch.

    – Đáp ứng được đa dạng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng.

    6.2. Nghiệp vụ kỳ hạn (FORWARD): Là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ được thực hiện sau một thời gian nhất định theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký kết hợp đồng.

    + Những lợi ích chính:

    – Đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền ra nước ngoài hoặc đầu tư…

    – Phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ảnh hưởng xấu tới thu nhập và chi phí trong tương lai khách hàng.

    + Những đặc điểm cơ bản:

    – Tỷ giá kỳ hạn:

    – Được xác định bởi tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền.

    – Tỷ giá này không phụ thuộc vào dự báo của thị trường về chiều hướng biến động của tỷ giá giao ngay trong tương lai.

     
     
    1 + (IR2 x Ngày/360)
    Tỷ giá kỳ hạn  =
    Spot  x
     
       

    hoặc Tỷ giá kỳ hạn = Spot + Điểm kỳ hạn

    IR1: Lãi suất đồng yết giá                 Spot: Tỷ giá giao ngay

    IR2: Lãi suất đồng định giá                               Ngày: số ngày thỏa thuận

    – Thời gian thanh toán:

    – Đối với giao dịch giữa VNĐ với các ngoại tệ kỳ hạn thanh toán tối thiểu là 03 ngày, tối đa là 365 ngày kề từ ngày giao dịch.

    – Đối với giao dịch giữa hai loại ngoại tệ với nhau kỳ hạn thanh toán dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa NHTM và khách hàng.

    6.3. Nghiệp vụ hoán đổi (SWAP): Là nghiệp vụ ngoại hối phối hợp giữa hai nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay và giao dịch ngoại hối có kỳ hạn để kiếm lợi nhuận.

    + Những lợi ích chính:

    – Giúp doanh nghiệp XNK quản l‎ý‎ dòng tiền hiệu quả.

    – Sử dụng ngay được nguồn ngoại tệ sẽ có trong tương lai.

    – Có thể hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền.

    – Phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ảnh hưởng xấu tới thu nhập và chi phí trong tương lai.

    • Ví dụ 1: Công ty XNK A nhận được 100.000 USD từ hợp đồng xuất khẩu nhưng phải thanh toán 100.000 USD cho một lô hàng nhập khẩu 2 tháng sau đó. Tuy nhiên lại cần VND để duy trì hoạt động sản xuất

    à Giải pháp: Ký hợp đồng Swap với NH, trong đó Cty A bán USD spot với giá 16500 và mua lại USD/VND kỳ hạn 2 tháng với giá 17028 (điểm Swap = 528)

    • Ví dụ 2: Công ty XNK A sẽ nhận được 100.000 USD từ các đơn đặt hàng trong tháng tới, tuy nhiên cần 100.000 USD để thanh toán hàng nhập khẩu bây giờ.

    à Giải pháp: Ký hợp đồng Swap với NH, trong đó Cty A mua 100.000 USD spot giá 16500 và bán 100.000 USD kỳ hạn 1 tháng giá 16740 (điểm Swap = 240)

    + Những đặc điểm cơ bản:

    – Giao dịch hoán đổi có hai dạng gồm hoặc giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn hoặc giao dịch kỳ hạn và giao dịch kỳ hạn.

    – Tỷ giá giao dịch: một giao dịch hoán đổi bao gồm 2 tỷ giá khác nhau, hoặc tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn hoặc tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá kỳ hạn tương ứng với hai dạng giao dịch trên.

    – Thời hạn thanh toán cũng có đặc điểm tương tự gồm hoặc thanh toán giao ngay và thanh toán kỳ hạn hoặc thanh toán kỳ hạn và thanh toán kỳ hạn.

    6.4. Nghiệp vụ tương lai (FUTURE): Là hợp đồng mua bán ngoại tệ giao sau. Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đẫ biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi sở giao dịch

    6.5. Nghiệp vụ quyền chọn (OPTION): Là giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước. Nếu bên mua quyền chọn thực hiện quyền của mình thì bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước.

    + Những lợi ích chính:

    – Bảo hiểm rủi ro tỷ giá cho khách hàng, đồng thời có thể giúp khách hàng thu thêm được lợi nhuận khi tỷ giá biến động theo chiều có lợi.

    – Xác định trước được mức chi phí tối đa (quyền chọn mua) hay mức lãi tối thiểu (quyền chọn bán) trong các giao dịch ngoại tệ tương lai.

    – Giúp khách hàng lựa chọn được mức tỷ giá mong muốn.

    + Những đặc điểm chính:

    – Có 2 kiểu quyền chọn:

    – Quyền chọn kiểu Châu âu, là loại quyền chọn mà bên mua chỉ được thực hiện quyền vào ngày đáo hạn của hợp đồng.

    – Quyền chọn kiểu Mỹ, là loại quyền chọn mà bên mua có thể thực hiện quyền vào bất kỳ ngày nào trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.

    – Kỳ hạn của hợp đồng: từ 3 – 365 ngày.

    – Tỷ giá thực hiện: Tỷ giá mà người mua quyền được mua hoặc bán ngoại tệ. Tỷ giá này do khách hàng tự lựa chọn.

    – Phí quyền chọn: là số tiền mà người mua phải trả cho người bán để có được quyền mua hoặc quyền bán ngoại tệ.

    II. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

    1. Khái niệm:

    Hối đoái: là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang đồng tiền khác.

    Sự chuyển đổi này xuất phát từ yêu cầu thanh toán giữa các cá nhân, các công ty, các tổ chức thuộc hai quốc gia khác nhau và dựa trên một tỷ lệ nhất định của hai đồng tiền.

    Tỷ giá hối đoái là: tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền nước này với đồng tiền nước khác hay cụ thể hơn là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền trong nước với đồng tiền nước ngoài.

    1. Cơ sở xác định tỷ giá:

    Giá trị của mỗi đồng tiền nằm ở sức mua hàng hóa dịch vụ của nó. Tỷ giá giữa các đồng tiền được xác định trên cơ sở so sánh sức mua tương đương

    – Tỷ giá đựơc xác định bởi cung cầu trên thị trường ngoại hối

    – Sự thừa kế nhất định từ chế độ bản vị vàng và BrettonWoods

    Các quốc gia áp dụng các chính sách tỷ giá khác nhau:

    – Tỷ giá cố định: : tỷ giá được quyết định bởi NHTW. NHTW công bố mức tỷ giá chính thức và cam kết duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nước với đồng tiền nước ngoài theo giá công bố dù cung cầu ngoại tệ trên thị trường có thay đổi. Khi có sự biến động thị trường, muốn duy trì tỷ giá đã ấn định thì NHTW phải điều hòa lượng ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để đảm bảo cân bằng cung cầu

    – Tỷ giá theo quan hệ cung cầu (thả nổi hoàn toàn): tỷ giá được quyết định bởi cung và cầu ngoại tệ trên thị trường. Khi cung cầu thay đổi đến đâu, tỷ giá thay đổi tương ứng đến đó theo mức cân bằng trên thị trường.

    – Tỷ giá thả nổi có sự quản lý ( kết hợp của thả nổi và cố định): tỷ giá này có thể do thị trường quyết định, cũng có thể do NHTW quyết định. Khi thị trường ít biến động, tỷ giá được thả nổi theo cung cầu trên thị trường ngoại hối. Khi có dao động mạnh và nhanh thì NHTW can thiệp để giữ ổn định tỷ giá.

    1. Quy ước tên đơn vị tiền tệ:

    Để thống nhất và tiện lợi trong các giao dịch ngoại hối Tổ chức Tiêu Chuẩn Quốc Tế (International Standard Oranization) gọi tắt là ISO quy ước tên đơn vị tiền tệ của một quốc gia được viết bằng ba ký tự. Hai ký tự đầu là tên quốc gia, ký tự sau cùng là tên đồng tiền

    Ví dụ: Tên đơn vị tiền tệ của Mỹ là USD

    – Hai ký tự đầu US viết tắt của The United States

    – Ký tự sau cùng (D) viết tắt tên dollar

     

     

     

    Ký hiệu đơn vị tiền tệ của một số quốc gia

    Tên đồng tiền Ký hiệu
    Bảng Anh GBP
    Dollar Mỹ USD
    Đồng Euro EUR
    Dollar Canada CAD
    Dollar Hồng Kông HKD
    Dollar Singapore SGD
    Dollar Úc AUD
    Franc Thụy sĩ CHF
    Yen Nhật JPY
    Đồng Việt Nam VND

     

    1. Phân loại tỷ giá

    Có rất nhiều loại tỷ giá tùy theo căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối hay căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá.

    4.1. Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối:

    – Tỷ giá mua vào: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẳn sàng mua vào đồng tiền yết giá.

    – Tỷ giá bán ra: Là tỷ giá mà tại đó Ngân hàng yết giá sẳn sàng bán ra đồng tiền yết giá.

    – Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá ngân hàng Thương mại áp dụng để mua ngoại tệ tiền mặt của khách hàng,

    – Tỷ giá chuyển khoản:  là tỷ giá mà ngân hàng Thương mại áp dụng để mua và bán ngoại tệ chuyển khoản với khách hàng.

    – Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày.

    – Tỷ giá đóng cửa: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng đựoc giao dịch trong ngày, thông thường các ngân hàng chỉ công bố các tỷ giá đóng cửa.

    – Tỷ giá liên ngân hàng: là tỷ giá áp dụng trong giao dịch mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

    4.2 Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá ta có:

    – Tỷ giá chính thức: Là tỷ giá do NHTW công bố,nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng ngoại tệ và được dùng để tính thuế XNK.

    – Tỷ giá chợ đen: Là tỷ giá hình thành bên ngoài hệ thống NH và do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định.

    – Tỷ giá cố định: Là tỷ giá do NHTW công bố trong một biên độ dao động hẹp và do tính chất cố định nên chịu sự can thiệp thường xuyên của NHTW và là nguyên nhân làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi.

    – Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường.

    – Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là tỷ giá được thả nổi nhưng chịu sự can thiệp của NHTW để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1. Các phương thức yết giá

    Trên thị trường ngoại hối nói chung có hai cách yết giá

    Yết giá trực tiếp: Là phương pháp biểu thị giá trị một đơn vị ngoại tệ thông qua một số lượng nội tệ nhất định.

    Các đồng tiền được yết giá trực tiếp gồm: Yen Nhật, Franc Thụy Sĩ, dollar Singapore, và nhiều đồng tiền khác trong đó có Việt Nam.

    Ví dụ: USD/VND = 16700

    1USD = 16700 VND

    Yết giá gián tiếp: Là phương pháp biểu thị giá rị một đơn vị nội tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.

    Các đồng tiền được yết giá gián tiếp gồm bảng Anh, dollar Úc và dollar New Zealand

    Ví dụ : EUR/USD = 1.5550

    1EUR = 1.5550USD

    à Riêng dollar Mỹ và Euro vừa yết giá trực tiếp vừa yết giá gián tiếp

    1. Tỷ giá chéo

    6.1. Khái niệm:

    Tỷ giá chéo là tỷ giá giửa hai đồng tiền bất kỳ được xác định thông qua đồng tiền thứ 3 (đồng tiền trung gian)

    Do đồng USD thường là đồng tiền được yết giá với các đồng tiền quốc gia khác, nên tỷ giá đồng tiền bất kỳ thường được suy ra từ tỷ giá giữa chúng với đồng USD. Từ đó tỷ giá chéo được hiểu là tỷ giá giữa hai đồng tiền bất kỳ được xác định thông qua USD

    • Phương pháp tính tỷ giá chéo

    Trường hợp 1:  tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền được yết giá trực tiếp

    VD: USD/VND =15.458 và USD/JPY= 119,01

    Tỷ giá chéo JPY/VND= USD/VND/USD/JPY=15,458/119,01=129.88

    Trường hợp 2: Tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền được yết giá gián tiếp

    VD : GBP/USD = 1,5475  và AUD/USD = 0.5957

    Tỷ giá chéo GBP/AUD = GBP/USD/AUD/USD=1,5475/0,5957 = 2,5978

    Trường hợp 3: Tỷ giá chéo giữa một đồng tiền yết giá trực tiếp và một đồng tiền yết giá gián tiếp

    VD: GBP/USD = 1,5475 và USD/VND =15.458

    Tỷ giá chéo : GBP/VND = GBP/USD x USD/VN

    = 1,5475 x 15.458 = 23,921

    1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá

    Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá hối đoái

    Tình hình lạm phát trong và ngoài nước: Nếu tỷ kệ lạm phát trong nước cao hơn ở nước ngoài, hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa nước ngoài. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu hàng hóa ngoại nhập và giảm nhu cầu hàng hóa nội địa. sự thay đổi nhu cầu hàng hóa này làm tăng cầu và giảm cung ngoại tệ. Làm cho ngoại tệ lên giá so với nội tệ (tỷ giá tăng). Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền nước còn lại.

    Tình hình thay đổi lãi suất nội tệ và ngoại tệ: Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối: nếu tốc dộ tăng trưởng kinh tế trong nước cao hơn tốc độc tăng trưởng kinh tế  nước ngoài thì nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu. Kết quả là cầu ngoại tệ nhanh hơn cung ngoại tệ làm cho ngoại tệ lên giá so với nội tệ

    Vai trò của chính phủ hay sự can thiệp của Ngân hàng Trung Ương:  Chính phủ thông qua ngân hàng trung ương có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối, bằng việc bán ra hoaặc mua vào ngoại tệ nhằn thay đổi cung cầu ngoại tệ.

    Chịu tác động nhiều của các yếu tố khác như: tình hình ổn định chính trị, đầu cơ, kỳ vọng, giá vàng, giá dầu trên thị trường quốc tế, tình hình thu hút kiều hối.

     

    CHƯƠNG 2

    CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI

     

    1. KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ.

    Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ (đại diện là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.

    1. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ.

    Các nội dung chính của chính sách tiền tệ bao gồm:

    – Hành vi phá giá nội tệ: bao gồm những can thiệp của chính phủ để đồng nội tệ trở nên định giá thấp hơn.

    – Hành vi nâng giá nội tệ: bao gồm những can thiệp của chính phủ để đồng nội tệ trở nên định giá cao hơn.

    – Hành vi duy trì tỷ giá ở một mức độ nhất định: là hành vi duy trì của chính phủ để duy trì tỷ giá ổn định không đổi.

    – Không can thiệp, để tỷ giá biến động tự do theo quan hệ cung cầu thị trường.

    Tùy theo tính chất tác động lên chính sách tỷ giá trực tiếp hay gián tiếp mà các công cụ được chia thành hai nhóm: nhóm công cụ trực tiếp và nhóm công cụ gián tiếp.

    2.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá.

    Đây là hoạt động của NHTW trên Thị trường ngoại hối thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cố định), hay là ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra (chế độ tỷ giá thả nổi). Để can thiệp, NHTW phải có một lượng dự dữ ngoại hối đủ mạnh.

    – Bên cạnh nhóm công cụ này còn phải nói đến các biện pháp can thiệp hành chính của chính phủ:

    + Biện pháp kết hối: Chính phủ qui định đối với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối.

    +  Ban hành các qui định: qui định hạn chế đối tượng mua và số lượng mua ngoại tệ, qui định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, qui định hạn chế thời điểm được mua ngoại tệ.

    Với xu thế mở cửa nền kinh tế, tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính thì các biện pháp can thiệp hành chính ngày càng trở nên không phù hợp, do đó xu hướng thế giới là ngày càng hạn chế can thiệp hành chính và chuyển sang sử dụng các công cụ thị trường.

    2.2.. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá.

    Bao gồm các công cụ như: lãi suất tái chiết khấu, thuế quan, hạn ngạch, giá cả…trong đó công cụ tái chiết khấu thường được sử dụng nhiều nhất.

    – Lãi suất tái chiết khấu: NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu sẽ tác động làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường; lãi suất thị trường tăng các nguồn vốn ngoại tệ chạy vào làm cho nội tệ lên giá. Khi lãi suất tái chiết khấu giảm sẽ có tác động ngược chiều.

    – Thuế quan: Thuế quan cao, làm hạn chế nhập khẩu, làm cho cầu ngoại tệ giảm, dẫn đến nội tệ lên giá. Khi thuế quan thấp sẽ có tác động ngược lại.

    – Hạn ngạch: Làm hạn chế nhập khẩu, tác động lên tỷ giá giống như thuế quan cao. Dỡ bỏ hạn ngạch tác động làm tăng nhập khẩu, tác động lên tỷ giá giống như thuế quan thấp.

    – Giá cả: Qua hệ thống giá cả, Chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu chiến lược hoặc đang trong giai đoạn đầu sản xuất. Trợ giá xuất khẩu làm tăng khối lượng xuất, tăng cung ngoại tệ, nội tệ lên giá. Chính phủ bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, bù giá làm tăng nhập khẩu, kết quả làm cho nội tệ giảm giá.

    Ngoài ra còn áp dụng một số biện pháp đặc biệt khác.

    + Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các NHTM: NHTW tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM nhằm điều chỉnh lượng cung cầu ngoại tệ trên thị trường.

    + Qui định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gữi bằng ngoại tệ.

    + Qui định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM ngoài mục đích phòng ngừa rủi ro tỷ giá, còn tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.

    1. CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ.

    Mỗi chế độ tỷ giá khác nhau thì nội dung cơ chế hoạt động khác nhau.

    3.1. Chế độ tỷ giá theo quan hệ cung cầu (thả nổi hoàn toàn)

    Chế độ tỷ giá theo quan hệ cung cầu (Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn) NHTW không can thiệp vào, tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do bởi qui luật cung cầu trên thị trường ngoại hối. Vì vậy sự biến động về tỉ giá là không có giới hạn. NHTW tham gia vào thị trường ngoại hối là do nhu cầu ngoại tệ chứ không phải nhằm mục đích can thiệp vào thị trường ngoại hối.

    3.2. Chế độ tỷ giá thả nổi có sự quản lý.

    Hiện nay NHTW Việt Nam đang áp dụng chế độ tỉ giá này. Đối với chế độ tỉ giá này NHTW không cam kết duy trì một tỉ giá nhất định trên thị trường nhưng cũng không để tỉ giá thay đổi hoàn toàn dựa trên quan hệ cung cầu. NHTW chỉ công bố tỉ giá trung bình của tỉ giá liên ngân hàng, mà tỉ giá liên ngân hàng do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định. Đây chính là yếu tố thả nổi của chính sách tỉ giá này. Tuy nhiên, tỉ giá này chỉ được giao động trong một biên độ tỉ giá nhất định do NHTW quy định. Đây chính là yếu tố có sự quản lý trong chính sách tỉ giá này.

    – Để cân bằng lượng nội tệ sau khi thực hiện việc điều chỉnh tỉ giá thì NHTW phải thực hiện thêm một số nghiệp vụ thông qua thị trường mở.

    3.3. Chế độ tỷ giá cố định.

    Đối với chế độ tỉ giá này NHTW hoàn toàn kiểm soát và duy trì ở một tỉ giá nhất định. Để duy trì tỉ giá cố định này NHTW phải thực hiện việc mua ngoại tệ vào khi lượng cung ngoại tệ trên thị trường tăng vượt quá lượng cầu và bán ngoại tệ ra khi lượng cầu vượt quá lượng cung. Để thực hiện tốt việc này thì NHTW phải có lượng ngoại tệ nhất định đủ để tác động lên thị trường.

    1. HỆ THỐNG CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ NGÀY NAY

    Theo IMF, tại ngày 31/12/2001, các chế độ tỷ giá gồm:

    4.1. Chế độ tỷ giá không có đồng tiền pháp định riêng

    Đây là trường hợp đối với một quốc gia khi không có đồng tiền pháp định riêng. Đồng tiền sử dụng trong lưu thông có thể là:

    + Quốc gia này sử dụng đồng tiền của một nước khác trong lưu thông như là một đồng tiền pháp định duy nhất.

    + Quốc gia này là thành viên của một liên minh tiền tệ trong đó các nước thành viên thống nhất sử dụng một đồng tiền pháp định chung.

    4.2. Chế độ bản vị tiền tệ

    Đây là chế độ tỷ giá có sự cam kết chính thức của chính phủ chuyển đổi nội tệ sang ngoại tệ là đồng tiền bản vị tại một mức giá cố định. Chế độ bản vị tiền tệ đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt trong việc phát hành tiền nhằm bảo đảm cam kết chính thức của chính phủ.

    4.3. Chế độ tỷ giá cố định thông thường.

    Đây là chế độ tỷ giá khi chính phủ neo đồng tiền của mình (một cách chính thức hay ngầm định) với một đồng tiền chính hay một rổ các đồng tiền tại một mức tỷ giá cố định, đồng thời cho phép tỷ giá được dao động trong một biên độ hẹp, tối đa là +/- 1% xung quanh tỷ giá trung tâm

    4.4. Chế độ tỷ giá cố định với biên độ dao động rộng:

    Đây là chế độ tỷ giá khi chính phủ neo đồng tiền của mình tại một mức tỷ giá cố định, đồng thời cho phép tỷ giá được dao động trong một biên độ rộng hơn +/-1% xung quanh tỷ giá trung tâm.

    4.5. Chế độ tỷ giá cố định trượt.

    Đây là chế độ tỷ giá cố định, nhưng định kỳ tỷ giá trung tâm sẽ được điều chỉnh hoặc theo một tỷ lệ nhất định đã được thông báo trước, hoặc để phản ánh những thay đổi trong một số chỉ tiêu nhất định đã được lựa chọn (lạm phát, cán vân thương mại)

    4.6. Chế độ tỷ giá cố định trượt có biên độ

    Đây là chế độ tỷ giá cố định với nội dung sau:

    + Tỷ giá được dao động trong một biên độ nhất định xung quanh tỷ giá trung tâm

    + Tỷ gia trung tâm được điều chỉnh định kỳ

    – Hoặc theo một tỷ lệ nhất định đã được thông báo trước

    – Hoặc để phản ánh nhũng thay đổi trong một số chỉ tiêu nhất định đã được lựa chọn.

    4.7. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết không thông báo trước

    Chính phủ can thiệp đến sự vận động của tỷ giá một cách tích cực, nhưng không có một thông báo nào về mức độ can thiệp của chính phủ.

    4.8. Chế độ tỷ giá thả nổi độc lập

    Tỷ giá được xác định theo quy luật cung cầu của thị trường, bất cứ một sự can thiệp nào của nhà nước cũng không làm thay đổi tỷ giá.

    4.9. Cấu trúc tỷ giá.

    – Nếu một quốc gia sử dụng một tỷ giá thì gọi là tỷ giá đơn.

    – Nếu quốc gia sử dụng hai tỷ giá khác nhau trở lên thì gọi là chế độ đa tỷ giá. Thị trường sử dụng hai tỷ giá gọi là chế độ tỷ giá kép.

     

    PHẦN II

    THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

    CHƯƠNG 1

    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Từ năm 1989, công cuộc Đổi Mới được đẩy mạnh hơn với chủ trương là phát triển một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa, hợp tác và hội nhập, phù hợp với xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới ngày càng mạnh mẽ. Nhằm bôi trơn và thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động XNK, thì việc hình thành và đưa vào hoạt động thị trường ngoại hối ở Việt Nam là cần thiết. Quá trình hình thành và phát triển trường ngoại hối Việt Nam có thể tóm tắt như sau:

    1. GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1991

    – Đặc trưng của giai đoạn trước 1991 Việt Nam phát triển kinh tế hướng nội, đóng cửa, các mối quan hệ với bên ngoài đều thông qua hệ thống độc quyền của Nhà nước về ngoại thương và ngoại hối

    Trước yêu cầu đổi mới, ngày 26/3/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT về việc tách hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp thành hai cấp, bao gồm:

    • Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
    • Hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM).

    – NHNN là Ngân hàng Trung Ương (NHTW) thực hiện chức năng quản lý vĩ mô, ban hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngân hàng…

    – Hệ thống NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và tín dụng; trong đó, chỉ có duy nhất Ngân hàng Ngoại thương (NHNT) được phép hoạt động và kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài khoản ở nước ngoài; các ngân hàng khác chỉ được hoạt động trong nước.

    Như vậy, cho đến thời điểm sau khi có Nghị định 53/HĐBT, thì một thị trường ngoại hối có tổ chức ở Việt Nam vẫn chưa được hình thành.

    Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nước, ngày 18/10/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 161/HĐBT về “Điều lệ quản lý ngoại hối”. Một trong những điểm mới về quản lý và kinh doanh ngoại hối theo tinh thần Nghị định 161 là: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam thông qua NHNN thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối. Mọi việc kinh doanh ngoại hối đều được thực hiện theo quy định của NHNN. NHNT là cơ quan được phép kinh doanh ngoại hối. Ngoài ra, các Ngân hàng chuyên doanh khác, các Ngân hàng liên doanh với nước ngoài, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế trong nước muốn kinh doanh ngoại hối hoặc dịch vụ thu ngoại tệ đều phải được NHNN-TW Việt Nam cho phép”.

    Có thể nói lần đầu tiên ở Việt Nam thế độc quyền trong kinh doanh ngoại hối đã được dỡ bỏ. Từ nay, các NHTM nói chung muốn kinh doanh ngoại hối có thể làm thủ tục để NHNN cấp phép. Đây được xem như sự khởi đầu tạo ra môi trường và điều kiện cho hoạt động của thị trường ngoại hối có tổ chức, hình thành một sân chơi chứa đựng yếu tố cạnh tranh của thị trường.

    1. GIAI ĐOẠN TỪ 1991 ĐỀN 1994

    Ngày 16/8/1991, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định 107-NH/QĐ, ban hành Quy chế hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ; trên cơ sở đó, hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ đã được thành lập và đi vào hoạt động tại TP. HCM và Hà Nội. Như vậy có thể nói, năm 1991 là năm đánh dấu mốc lịch sử về việc hình thành nền móng một thị trường ngoại hối có tổ chức ở VN.

    Qua thời gian hoạt động từ 16/8/1991 đến 1/12/1994, một số nét chính về hoạt động của hai Trung tâm có thể nêu ra như sau:

    1. Bước đầu hình thành phương thức xác định tỷ giá tương đối linh hoạt thông qua việc cân đối cung cầu ngoại tệ tại Trung tâm.
    2. Qua hoạt động của hai Trung tâm đã tạo ra tập quán, kiến thức kinh doanh ngoại hối cho NHNN, các NHTM và các tổ chức kinh tế.
    3. NHNN đã từng bước hoàn thiện chính sách quản lý vĩ mô về tỷ giá, cũng như khâu tổ chức, điều hành hoạt động thị trường ngoại hối.

    III. GIAI ĐOẠN TỪ 1994 ĐẾN 2004

    Trước nhu cầu phát triển một thị trường ngoại hối hoàn chỉnh hơn ở Việt Nam, Thống đốc NHNN đã quyết định chấm dứt hoạt động của hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh từ 1/12/1994 để nhường chỗ cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

    Ngày 20/10/1994, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định 203/QĐ-NH thành lập Thị trường Ngoại tệ Liên ngân hàng (Interbank) và ban hành Quy chế tổ chức & hoạt động của Interbank, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế.

    IV. GIAI ĐOẠN 2004 ĐẾN NAY

    Kể từ ngày 8/12/2004, Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN điều chỉnh giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng (TCTD) được phép hoạt động ngoại hối đã chính thức có hiệu lực thi hành và thay thế Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 về Quy chế giao dịch hối đoái năm 1998.

    – Mở rộng quyền được giao dịch ngoại tệ

    – Thị trường được đảm bảo an toàn hơn

    Từ đây thị trường ngoại hối VN trở nên sôi động hơn, linh hoạt, thông thoáng, tự chủ và an toàn hơn.

     

    CHƯƠNG 2

    THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM TỪ KHI CÓ INTERBANK

    (Thị trường ngoại hối liên ngân hàng)

    I. DOANH SỐ GIAO DỊCH

    – Interbank đi vào hoạt động từ 10/1994, hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam đã có nhiều  đổi sắc theo hướng tích cực.

    – Khi mới đi vào hoạt động doanh số giao dịch còn thấp. Nguyên nhân do thời điểm này hoạt động XNK của Việt Nam thấp, làm cho cung cầu ngoại tệ thấp.

    – Cuối 1996 và sang năm 1997, hoạt động XNK tăng, đầu tư vào Việt Nam tăng cùng với việc NHNN nới rộng biên độ dao động tỉ giá từ 1,10% lên 5,0% làm kích thích thị trường ngoại hối phát triển sôi động.

    – Tháng 8/1997, xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, tiền VNĐ mất giá mạnh làm tăng tình trạng đầu cơ ngoại tệ làm cho hoạt động thị trường ngoại tệ năm 1998 không tăng là bao so với năm 1997

    – Bước sang năm 1999, nền kinh tế của các nước Châu Á đã dần hồi phục, kinh tế Việt Nam lấy lại được đà phát triển, đặc biệt là Chính phủ đã có nhiều chính sách kích thích tăng trưởng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài làm cho cung ngoại tệ tăng lên đáng kể.

    – Bên cạnh đó, vào cuối năm 1998, Chính phủ đã ban hành Quyết định 173/1998/QĐ-TTg ngày 12/8/1998 về nghĩa vụ bán và mua ngoại tệ của Người cư trú là tổ chức.

    Ngoài ra, bước sang đầu năm 1999, NHNN đã ban hành Quyết định 64/1999/QĐ-NHNN& ngày 25/2/1999 về việc công bố tỷ giá của đồng Việt Nam với các ngoại tệ, đã làm thay đổi căn bản cơ chế điều hành tỷ giá, từ cơ chế “tỷ giá chính thức” sang cơ chế “tỷ giá giao dịch bình quân trên Interbank” làm cho thị trường ngoại hối hoạt động sôi động mạnh lên.

    – Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thấy rằng, sau 5 năm (từ 1995 đến 2000), doanh số giao dịch trên thị trường ngoại hối ước tính tăng gấp 2,34 lần, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 27%. Đối với một nước có điểm xuất phát thấp và đang trong quá trình mở cửa và hội nhập, thì tốc độ tăng như trên là thấp. So với thế giới vào những năm 1970, thì cứ hai năm doanh số giao dịch lại được nhân lên gấp đôi, nghĩa là tốc độ tăng bình quân đạt tới 50%/năm.

    II. HOẠT ĐỘNG CỦA INTERBANK

    Thị trường Interbank ra đời thay thế vai trò của 2 trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh từ 1/12/1994.

    – Tỉ trọng doanh số giao dịch thấp, chỉ 22,3% tổng doanh số giao dịch, trong khi thị trường ngoại hối quốc tế là 85%.

    – Trình độ phát triển thị trường ngoại hối nói chung và interbank nói riêng còn sơ khai.

    – Giao dịch interbank thấp dẫn đến vốn ngoại tệ không được luân chuyển làm cho thiếu ngoại tệ cục bộ, ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế.

    Ngoài những nét chính nêu trên, Interbank còn có những tồn tại và trở ngại để phát triển:

    – Quy định giao dịch tối thiểu 50 000 USD. Trong khi thực tế tại Việt Nam rất nhiều giao dịch có lượng thấp hơn. Do đó quy dịnh về giao dịch tối thiểu đã làm cản trở hoạt động giao dịch của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.

    – Áp dụng các công nghệ hiện đại vào trong giao dịch còn hạn chế.

    – Vai trò điều tiết thị trường của NHNN còn thiếu linh hoạt.

    III. VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XNK.

    – Thị  trường ngoại hối có vai trò bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK. Đối với những nhà xuất khẩu nhận được ngoại tệ, thường bán số ngoại tệ thu được trên thị trường ngoại hối (bán cho ngân hàng) để nhận nội tệ.Nhà nhập khẩu phải chi trả bằng ngoại tệ, thường dùng nội tệ để mua ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để thanh toán cho nước ngoài. Như vậy, hoạt động XNK của một nền kinh tế luôn gắn liền với hoạt động của thị trường ngoại hối; một khi thị trường ngoại hối có tính thanh khoản cao, hoạt động hiệu quả và thông suốt sẽ bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK phát triển. Đối với Việt Nam, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, thị trường ngoại hối còn sơ khai non trẻ, giá trị đồng Việt Nam còn chưa thật ổn định, tỷ giá do NHNN ấn định chưa thực sự linh hoạt, thì vai trò của thị trường ngoại hối đối với hoạt động XNK nhìn chung còn có những hạn chế nhất định.

    Vai trò của thị trường ngoại hối đối với hoạt động XNK ở Việt Nam có thể nhìn nhận đánh giá thông qua một số nét chính như sau:

    – Doanh số mua vào của các NHTM thường luôn thấp hơn khoản thu từ xuất khẩu của nền kinh tế. Theo ước tính, trung bình từ năm 1995 đến 2000, hệ thống NHTM mới chỉ thu mua được khoảng 60% doanh thu từ xuất khẩu.

    – Doanh số bán ra của các NHTM cũng thường luôn thấp hơn khoản chi cho nhập khẩu của nền kinh tế. Theo ước tính, trung bình từ năm 1995 đến 2000, hệ thống NHTM mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% doanh số  chi cho nhập khẩu.

    – Tổng doanh số mua bán ngoại tệ của các NHTM mới chỉ chiếm trung bình khoảng 55% tổng doanh số XNK của cả nền kinh tế.

    – Các tổ chức XNK thường xuyên duy trì số dư  ngoại tệ cho hoạt động của mình theo phương thức “tự cung tự cấp“ với một tỷ lệ lên tới 45% (= 100% – 55%). Cụ thể là, các khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu, các đơn vị không bán toàn bộ cho NHTM, mà duy trì ở dạng tiền gửi để chi cho nhu cầu nhập khẩu của mình.

    – Trên thế giới, doanh số hoạt động trên thị  trường ngoại hối thường lớn hơn gấp nhiều lần doanh thu từ hoạt động XNK, qua đó cho thấy trình độ phát triển thị trường ngoại hối Việt Nam đang còn rất sơ khai, chưa tạo ra được môi trường thanh khoản về ngoại tệ, cũng như môi trường chu chuyển vốn nhanh chóng và hiệu quả nhằm nâng cao hệ số sử dụng vốn của các đơn vị XNK và của cả nền kinh tế như một tổng thể.

     

     

    CHƯƠNG 3

    CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

    1. CƠ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI

    Thị trường ngoại hối có phát triển hay không do ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng ở Việt Nam quan trọng nhất là cơ chế và chính sách điều hành thị trường ngoại hối của Ngân hàng Trung ương.

    Ở thị trường hối đoái Việt Nam, do nền kinh tế còn quá kém, nên Ngân hàng nhà nước còn ấn định mức tỷ giá giao dịch và chỉ cho phép giao dịch biến động +/-5% / năm.

    Mặt khác, cơ quan điều hành thị trường cũng chỉ cho phép các tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu hàng hóa hoặc có nhu cầu mua bán ngoại tệ chính đáng mới được giao dịch và phải xin phép với các thủ tục rườm rà.

    Hiện nay, thị trường vẫn chưa thực sự mở cửa, cho phép các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được tham gia thị trường ngoại tệ, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ kinh doanh ngoại hối, đơn giản hóa các thủ tục cấp phép.

    Đánh giá về thị trường ngoại hối Việt Nam sau 19 năm (kể từ năm 1990) hoạt động vẫn thuộc loại kém phát triển. Đó là do chất lượng quản lý không cao, thiếu thống nhất, các quy định lỏng lẻo, tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm về quản lý

     

    Một số thực trạng về vấn đề quản lý ngoại hối

    + Đối với giao dịch vãng lai: Việt Nam đã tự do hóa việc chuyển đổi ngoại tệ và thanh toán đối với hầu hết các giao dịch loại này. Nhưng các quy định về hồ sơ, chứng từ trên thực tế còn rất rườm rà.

    + Đối với các giao dịch vốn: Văn bản cao nhất về vấn đề này là Nghị định 63/NĐ-CP của chính phủ chỉ nêu chung chung về việc cho vay, thu hồi nợ nước ngoài được thực hiện theo quy định riêng của pháp luật và cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định cụ thể về cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của doanh  nghiệp

    + Hoạt động đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam hoặc của Việt Nam ra nước ngoài: cũng không có cơ sở pháp lý đủ mạnh để thực thi  và thực tế là các nhà đầu tư gián tiếp ra nước ngoài phải “lách” bằng cách thông qua việc mua các trái phiếu, giấy tờ có giá phát hành ở nước ngoài hay ngân hàng nhà nước đầu tư từ nguồn dự trữ ngoài hối.

    1. CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ

    – Tỷ  giá hối đoái ở Việt Nam do NHTW quy định dựa trên kết quả giao dịch trong ngày trên cơ sở tỷ giá bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam và tỷ giá kinh doanh ngoại tệ của các NHTM không được lớn hơn +/- 0,25% so với tỷ giá chính thức. Mức dao động cho phép (biên độ). Biên độ của tỷ giá mà SBV quy định được nới rộng dần theo thời gian trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới của kinh tế Việt Nam. Ban đầu tỷ giá là cố định, sau đó tỷ giá có biên độ dao động từ mức +/- 0.25%; +/-0.3% … và hiện nay +/- (3%-5%)

    – Giá cả các loại tiền tệ phụ thuộc vào mức cung và cầu trên thị trường của chính nó và các loại tiền tệ khác nữa. Tuy nhiên, về cơ bản tỷ giá phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các quốc gia. Khi một quốc gia tăng trưởng kinh tế tốt, xuất khẩu mạnh hơn các nước liên đới thì nguồn ngoại tệ thu về dồi dào làm cho nội tệ lên giá và tỷ giá giảm và ngược lại. Vậy tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào Xuất Nhập Khẩu ròng (NX) của 1 quốc gia. Khi NX > 0 thì tỷ giá giảm và ngược lại. Một quốc gia phát triển tốt thì mức độ giao dịch diễn ra sôi động và thị trường hối đoái càng có điều kiện phát triển tốt hơn.

    – Ngoài ra, các yếu tố như lãi suất, lạm phát tác động đến tỷ giá hối đoái  theo hai hướng ngược nhau. Khi lãi suất tăng thì cầu về nội tệ sẽ tăng làm cho đồng nội tệ tăng giá nên tỷ giá sẽ giảm và ngược lại. Đối với lạm phát khi lạm phát tăng, thì giá cả hàng hóa trong nước sẽ tăng làm cho xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng, lượng cung tiền trong nuớc tăng lên làm cho giá trị nội tệ sẽ giảm hay tỷ giá sẽ tăng.

    – Mức dự trữ ngoại hối của NHTW cũng có tác động đến tỷ giá hối đoái. Khi dự trữ ngoại hối tăng thì cung ngoại tệ trên thị trường giảm và tỷ giá sẽ tăng do ngoại tệ tăng giá.

    – Chi tiêu ngân sách của chính phủ cũng tác động rất lớn đến tỷ giá hối đoái. Khi ngân sách thâm hụt do chính phủ chi tiêu nhiều thì giá  cả hàng hóa dịch vụ sẽ tăng làm cho xuất khẩu giảm nên  tỷ giá sẽ tăng.

    – Các quy định về giao dịch mua bán trên thị trường ngoại hối cũng tác động đến mức cung cầu tiền tệ các nước. Nếu quy định thông thoáng tự do thì sẽ có nhiều người giao dịch mua bán và  thị trường sẽ hoạt động hiệu quả  không nghiêng về phía cung như thị trường ngoại hối Việt Nam.

    – Cuối cùng, các loại công cụ , dịch vụ trên thị  trường càng đa dạng phong phú thì thị trường ngoại hối càng phát triển.

     

    III. DIỄN BIẾN TỶ GIÁ USD TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

    – Quý 1/2008, trên thị trường lien ngân hang, tỷ giá USD/VND giảm từ mức 16.112VND/USD xuống còn 15.960 đồng, trên thị trường tự do mức giá chỉ còn 15.700 – 15.800 VND/USD.

    – Quí 2/2008 tỷ giá giảm mạnh xuống còn 16.400 VND/USD và đến hết quý 3/2008.

    – Ngày 07/11/2008 Chính phủ đã nâng biên độ từ +-2% -> 3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hang.Tỷ giá USD/VND tăng lên và đạt mức 17.000

    – Cuối chiều 24/12 thống đốc ngân hang Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá USD/VND them 3%(tỷ giá liên ngân hang), thị trường ngoại tệ đồng USD sôi động, giá USD nhích lên từng ngày vượt mức 17.000 đồng lên mức 17.500 vào những ngày cuối năm.

    – Sang năm 2009, tỷ giá USD/VND không có sự biến động mạnh, tỷ giá giao động xung quanh mức 17.500 đồng.

    -Những tháng đầu năm 2009 đồng USD mất giá mạnh so với các đồng tiền khác(khủng hoảng tài chính toàn cầu, tâm là Mỹ)

    – Từ cuối tháng 8 đến nay, tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục tăng. Ngày 9/9, sau hơn tám tháng, tỷ giá này chính thức vượt mốc 16.980 VND và ở mức 16.981 VND. Sáng nay (10/9), tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 16.983 VND.

    – Giá USD mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại niêm yết sáng nay cũng đồng loạt lên mức cao nhất từ trước tới nay, kịch trần 5% biên độ cho phép theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, cùng áp ở mức 17.832 VND.

    – Trong lịch sử, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cao nhất ghi nhận ở mức 16.989 VND của ngày 25/12/2008 – ngày mà lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng một bước 3%, từ mức 16.494 VND. Từ thời điểm đó đến trung tuần tháng 2/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được áp dụng quanh mốc 16.980 VND. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3% nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở dưới 17.500 VND.

    – Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh “cân đối” với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới biên độ từ +/-3% lên +/-5%. – Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu tăng trở lại; hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay.

    – Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép; việc đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây.

    – Trong tháng 8 vừa qua, theo thông tin từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, tình hình cung – cầu ngoại tệ trên thị trường đã bớt căng thẳng; doanh nghiệp và người dân cũng đã bắt đầu bán ra USD thay vì chủ yếu găm giữ trước đó.

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008

     

    IV. GIẢI PHÁP CHO THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

    Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một cơ chế pháp lý, thiết chế theo hướng khẳng định thị trường ngoại hối phát triển theo cung cầu, các biện pháp đảm bảo an toàn thông qua việc cho phép cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp phong toả việc chuyển tiền hoặc tài sản của cá nhân, tổ chức có liên quan đến các lĩnh vực như khủng bố, rửa tiền bất hợp pháp.

    – Cần có quy định tương đối thông thoáng về thị trường ngoại hối với đối tượng tham gia thị trường và các công cụ của thị trường.

    – Từng bước nới lỏng các giao dịch vốn bằng việc nhấn mạnh đến việc quản lý và giám sát các luồng vốn ngoại tệ vào ra thông qua hệ thống ngân hàng được phép, thông qua các tài khoản ngoại tệ mở tại ngân hàng được phép áp dụng cho từng loại hình giao dịch vốn. – Quy định rõ quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoai đối với lợi nhuận, nguồn thu hợp pháp, quyền được chuyển đổi ra ngoại tệ để chuyển về nước.

    – Các luồng vốn đầu tư ra nước ngoài cũng cần được lựa chọn mở rộng từng bước theo thứ tự đầu tư trực tiếp đến đầu tư gián tiếp để áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.

    – Một vấn đề quan trọng khác là hoạt động vay, trả nợ nước ngoài và cho vay thu hồi nợ nước ngoài cần được thống nhất quản lý theo từng nhóm đối tượng, áp dụng các cơ chế kiểm soát thông qua cấp phép, quy định tổng hạn mức, đăng ký,…Đồng thời, Việt Nam cần thể hiện rõ lập trường kiên định và các biện pháp cụ thể trong việc từng bước hạn chế, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn hiện tượng đô la hoá, hạn chế tối đa việc sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.

    – Một cơ chế tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết của Nhà nước cũng là điều cần hướng tới trong thị trường ngoại hối theo hướng mở cửa, chuẩn hoá theo thông lệ quốc tế.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến, Tài chính quốc tế, NXB Thống kê, năm 2009
    2. TS. Nguyễn Minh Kiều, Thị trường ngoại hối và các giải pháp phòng ngừa rủi ro
    3. http://vi.wikipedia.org
    4. http://www.agribank.com.vn
    5. http://www.vietinbank.vn
    6. http://www.sacombank.com.vn
    7. http://www.vneconomy.vn

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Marketing-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc mua bán, trao đổi hàng hoá ngày càng được chú trọng và quan tâm. Người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn, nhiều cơ hội để tìm cho mình một loại sản phẩm phù hợp nhất và giá cả lại phải chăng. Trong các bạn, có lẽ không ai là không biết đến sản phẩm bột giặt OMO của tập đoàn Ulinever. Và chúng ta cũng biết rằng khi một thương hiệu đã chiếm được khối óc của người tiêu dùng thì đích đến cho nó là chiếm trái tim của họ. Điều này đúng với OMO- thương hiệu bột giặt dẫn đầu tại thị trường Việt Nam. Đây là một trong những lí do quan trọng đầu tiên thu hút chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu vế sản phẩm này.

    Trong xã hội hiện đại ngày nay, đối với mỗi gia đình, bột giặt là một trong những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu. Điều kiện sống càng phát triển thì nhu cầu của con người về những sản phẩm hoàn thiện cũng tăng lên. Theo chúng tôi, OMO đã đáp ứng tốt được phần nào mong muốn của khách hàng về chất lượng sản phẩm. Một sản phẩm muốn đứng vững trên thị trường, muốn tạo được niềm tin về chất lượng nơi người tiêu dùng không phải dễ. Song, OMO đã làm được điều ấy. Và giờ đây, sản phẩm này đã, đang và sẽ càng khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường Việt Nam và nước ngoài.

    Trên đây là một vài lí do chủ yếu khiến chúng tôi chọn OMO là sản phẩm để tìm hiểu và nghiên cứu.

    Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi trước tiên là khảo sát thực trạng khách hàng, tình hình của công ty. Từ đó tìm ra các ưu, nhược điểm và các đối thủ cạnh tranh để tìm ra giải pháp. OMO hiện đang là một sản phẩm có thương hiệu mạnh song về đối thủ cạnh tranh không phải là không có. Vì vậy việc nghiên cứu này rất cần thiết để có thể giữ vững vị trí của OMO trên thị trường. Chúng tôi nghĩ rằng, việc tìm hiểu, nghiên cứu này cần được diễn ra thường xuyên để có thể theo dõi được biến động của thị trường, để đưa ra được các giải pháp kịp thời, phù hợp.

    Khi chọn OMO là đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ khảo sát khách hàng là những sinh viên trong trường Đại học Công nghiệp TPHCM và người dân thành phố Thái Bình. Đây là một phạm vi không gian thích hợp và thuận tiện đêt chúng tôi nghiên cứu, nó gồm nhiều thành phần đối tượng với các mức thu nhập khác nhau. Vì vậy sẽ đảm bảo tính công bằng, khách quan của cuộc nghiên cứu. Phương pháp mà chúng tôi chọn là xác suất ngẫu nhiên phân tổ. Đây là một phương pháp ít tốn kém, có tính hiệu quả và ưu việt so với các phương pháp khác.

    Nội dung nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 phần chính:

    –         Chương1: Tổng quan

    –         Chương 2: Kết quả nghiên cứu

    –         Chương 3: Giải pháp, kiến nghị

    Đây là lần đầu tiên thực hiện đề tài này nên chúng tôi không tránh khỏi một vài thiếu sót. Mong các bạn và thầy cô góp ý để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn. Và chúng tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô khoa Kinh tế, đặc biệt là thầy Bùi Văn Quang đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bài tiểu luận này.

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

     

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG

    1.1 Phân tích thị trường

    1.1.1: Thực trạng

    Đứng trứơc cơn lốc cạnh tranh của nền kinh tế thời hội nhập WTO, các doanh nghiệp luôn ý thức được về sự sống còn của sản phẩm là do người tiêu dùng quyết định. Tại Việt Nam những năm gần đây sức cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài diễn ra hết sức quyết liệt đặc biệt là những sản phẩm có xuất xứ từ những công ty đa quốc gia và Unilever Việt Nam cũng là một trong những đại gia lớn trên thị trường hàng tiêu dùng, hàng thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng Việt Nam như bột giặt Omo. Omo đến với Việt Nam khi thị trường hàng tiêu dùng ở đây còn mới nên có nhiều đất để kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam còn thấp nên khả năng tiêu thụ cao. Hiện nay thị phần của bột giặt Omo khá rộng và có uy tín đối với người tiêu dùng trên cả nước nhưng thời gian gần đây trên thị trường xuất hiện những thương hiệu bột giặt khác như: Tide, Viso, Surf, Vì Dân, Hoa Mơ…đe doạ thị phần của bột giặt Omo.

    Bên cạnh đó, nạn hàng nhái, hàng giả nhãn mác bột giặt Omo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và lợi nhuận của công ty.

    1.1.2: Thị hiếu

    Gắn với nhu cầu thường xuyên, bột giặt trở thành mặt hàng thiết yếu và không thể thiếu trong mỗi gia đình. Với công việc bận rộn và có ít thời gian vì vậy bột giặt Omo tạo ra những tâm lý thích giặt trắng, giặt sạch, tẩy vết bẩn nhanh…đã đưa vào những sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu, sở thích , thị hiếu của người tiêu dùng. Tại nước ta thị phần của bột giặt Omo chiếm khá cao và được người tiêu dùng tin tưởng về cả chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Omo kết hợp 3 yếu tố: độ an toàn cho da tay, độ giặt tẩy trắng và hương thơm của bột giặt vào cùng một sản phẩm tung ra thị trường đã thu hút được sư yêu thích sản phẩm.

    Bột giặt Omo là một trong những mặt hàng giặt tẩy được các bà nội trợ Việt Nam rất tin dùng và ưa chuộng. Đồng thời nhắm vào tâm lý người Việt luôn đề cao lòng nhân ái, các bậc phụ huynh mong con em mình học được những điều tốt đẹp nhất nên những chương trình như: “Omo – áo trắng ngời sáng tương lai”, “ Triệu tấm lòng vàng”, “ Tết làm điều phúc sung túc cả năm”…càng làm tăng uy tín cho thương hiệu bột giặt Omo. Mặc dù hai thương hiệu Omo và Tide đều dễ nhớ, ngắn gọn nhưng nhiều bà nội trợ Việt Nam cho biết họ lựa chọn bột giặt Omo vì nhãn hiệu Omo dễ nhớ trong khi đó thì Tide lại mang lại cho họ cảm giác ngại ngùng khi đọc tên nhãn hiệu bột giặt Tide.

    Hơn nữa nguời tiêu dùng Việt Nam rất tin vào quảng cáo. Công ty Nielen công bố kết quả nghiên cứu thị trường Việt Nam đứng thứ 8 trong top 10 quốc gia tin vào quảng cáo nhất vì vậy Omo có những chiêu thức quảng cáo rất hay thu hút được nhiều nguời tiêu dùng chú ý đến chất lượng và mẫu mã sản phẩm.

    Tâm lý chung của khách hàng rất thích các hình thức khuyến mãi. Đánh vào tâm lý này Omo đã có những chương trình khuyến mãi rất hấp dẫn và có những hoạt động gắn kết với cộng đồng đã khẳng định thương hiệu trên thị trường, tạo được sư tin tưởng của khách hang.

    1.1.3: Khả năng đáp ứng

    Omo là một thương hiệu bột giặt nổi tiếng không chỉ ở thị trường trong nước mà còn là một thương hiệu bột giặt có uy tín trên thị trường quốc tế. Hơn nữa thị phần của thương hiệu bột giặt Omo chiếm 60% thị trường bột giặt trong nước, Tide-đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Omo chiếm 30% thị phần, 10% còn lại dành cho các thương hiệu bột giặt khác vì vậy khả năng đáp ứng của bột giặt Omo rất lớn cung cấp đủ nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều thương hiệu bột giặt khác như: Tide, Hoa Mơ, Surf, Vì Dân… vì thế người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn và điều này đang đe doạ thị phần của bột giặt Omo do đó Omo luôn tung ra những sản phẩm mới với nhiều tính năng để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hang đồng thời cũng để giữ được thị phần và chiếm lĩnh 10% thị phần của các thương hiệu bột giặt khác trên thị trường.

    Ngày nay, khi chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao có nhiều gia đình sử dụng máy giặt vì vậy Omo không chỉ phát triển dòng sản phẩm giặt tay mà còn phát triển cả dòng sản phẩm giặt máy với những tính năng giặt tẩy khắc phục được một số nhược điểm khi giặt quần áo bằng máy giặt .

    1.2 Phân tích về khách hàng

    Nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm bột giặt OMO  và các nhà sản xuất khác nhau – nghiên cứu uy tín của các thương hiệu (sự hiểu biết của người tiêu dùng về thương hiệu, về những đặc điểm chính của sản phẩm), những liên kết góp phần tạo giá trị hoặc làm giảm giá trị của thương hiệu.

    Nếu như trước kia nước ta ở thời kì bao cấp, bột giặt vẫn còn là hàng hóa xa xỉ hiếm có, thì hiện nay khi đã hội nhập với thế giới- là thành viên của WTO-thì việc mua bán bột giặt trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn. Bột giặt OMO đã có mặt ở khắp mọi nơi. Người tiêu dùng có thể mua bột giặt tại các siêu thị, đại lý, cửa hàng tạp hóa đến những cửa hàng nằm trong phố một cách dễ dàng.

    Unilever đã phối hợp với các chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông (nhất là TV, vì ở Việt Nam TV vẫn là kênh thông tin chủ lực, có sức lan tỏa lớn và nhanh), do đó dược nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng ngày càng nhiều.

    Người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn khi mua sản phẩm OMO. Vì OMO có đa dạng chủng loại: OMO tẩy trắng, OMO hương ngàn hoa, OMO tẩy hết 99% vết bẩn, OMO matic dùng cho máy giặt… khiến người tiêu dùng hứng thú với sản phẩm hơn.

    Ngoài ra, Unilever còn có tên trong danh sách các sản phẩm đạt danh hiệu Rồng vàng Việt Nam. Đây cũng chính là “tem bảo đảm” đối với người tiêu dùng khiến họ an tâm hơn khi sử dụng bột giặt OMO.

    Đồng hành với các hoạt động mở rộng thương hiệu Unilever còn đấu tranh mạnh mẽ với tệ nạn làm hàng giả, hàng nhái bằng cách thành lập Ban phòng chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tham gia vào Hội chợ hàng tiêu dùng và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam…Nhân viên Unilever đến tận nơi khoanh vùng sản xuất và nhập khẩu hàng nhái, hàng buôn lậu, rồi kết hợp với cơ quan chức năng lùng bắt,triệt phá tận hang ổ. Mặt khác, nhân viên của Unilever còn tổ chức các buổi nói chuyện tại các chợ, các khu dân cư về hậu quả tac hại của việc sản xuất, buôn bán, tiêu thụ, sử dụng hàng nhái, hàng giả, hàng buôn lậu. Trong quá trình sản xuất mẫu mã kiểu dáng sản phẩm, nhãn mác, Unilever cố gắng tạo nhiều dấu hiệu giúp người tiêu dùng nhận biết hàng thật, hàng giả. Do vậy đã hạn chế được nạn hàng nhái, hàng giả. Không những đem lại được nhiều lợi nhuận cho công ty mà còn được người tiêu dùng tin tưởng và chọn lựa.

    Không chỉ vì lợi nhuận Unilever đã biết quan tâm khách hàng. Một mặt, sản phẩm luôn được đổi mới và cải tiến để làm sạch quần áo đến mức tối ưu. Mặt khác, Omo Matic đã kết hợp với các hãng sản xuất máy giặt hàng đầu như Sam Sung, Toshiba, Sanyo, LG, Electrolux, Daewoo trong chiến dịch giới thiệu sản phẩm và chăm sóc khách hàng lâu dài. Ví dụ sự kết hợp giữa máy giặt Electrolux và bột giặt OMO đã để lại ấn tượng mạnh trong tâm trí người tiêu dùng. Khi nghĩ đến Electrolux người tiêu dùng nghĩ ngay đến OMO và ngược lại.

    Sự kết hợp giữa OMO và Comfort đã chinh phục người tiêu dùng khi Unilever thường khuyến mãi mua OMO tặng Comfort. Nhất là khi trong cuộc cạnh tranh với bột giặt Tide và nước xả vải Downy, OMO đã thành công. Vì khi P&G kết hợp bột giặt Tide với nước xả vải Downy vào chung thì vô tình đã hạ thấp Downy ( dùng bột giặt Tide có Downy thì không phải dùng Downy nữa)

    Trong cuộc đua với Tide – đối thủ cạnh tranh “ nặng ký” nhất, OMO định vị sản phẩm là “trắng sạch” trong khi Tide định vị sản phẩm là “không hại da tay” thì OMO đã được người tiêu dùng lựa chọn. Vì theo như số đông người tiêu dùng thì bột giặt nào cũng có chất tẩy rửa nên không tránh khỏi không hại da tay (đối với giặt tay) nên lấy không hại da tay ra làm tiêu chí như của Tide là sự thất bại rất rõ ràng. Bên cạnh đó, người tiêu dùng thường chọn OMO chứ không chọn Tide mặc dù cả hai thương hiệu này đều mạnh và tên gọi thì dễ nhớ, dễ gọi. Tuy nhiên người tiêu dùng đã chọn OMO vì khi nói tên gây được sự hứng thú của họ hơn. Họ ngại khi nói “bán cho tôi bột giặt Tide (thai) nghe nó… kỳ kỳ.

    Tuy nhiên giá của OMO vẫn cao hơn Vì Dân. Do đó, người tiêu dùng ở nông thôn thường mua Vì Dân vì giá rẻ hơn nên OMO có ít thị phần ở nông thôn hơn.

    Thói quen và hành vi của người tiêu dùng – mức mua hàng, sự ưa thích đối với các địa điểm bán hàng, các địa điểm bán hàng truyền thống, những phàn nàn của người tiêu dùng

    Người tiêu dùng thường thích mua sản phẩm giá rẻ nhưng chất lượng tốt. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thu nhập, sở thích, tuổi tác… của từng người mà có những thói quen và hành vi mua sắm khác nhau. Nếu thu nhập thấp thì người tiêu dùng quan tâm đặc biệt đến giá cả. Vậy nên yếu tố chất lượng bị đặt thấp hơn chứ không hẳn là không quan tâm. Ngược lại người có thu nhập cao họ quan tâm đến chất lượng hơn là giá cả. Vì họ có đủ khả năng chi trả và sẵn sàng “rút hầu bao” để mua sản phẩm  có chất lượng tốt hơn.

    Thường thì những người có thu nhập thấp, sống ở nông thôn, những gia đình ít người, thường mua ít , số lượng nhỏ (gói nhỏ) nhưng thường xuyên ( vì bột giặt là sản phẩm thiết yếu). Họ thường chọn các địa điểm gần gũi, truyền thống, giá rẻ, dễ tìm: chợ, tạp hóa. Những người có thu nhập cao thường tìm đến siêu thị, các đại lý bán buôn, bán lẻ (tuy nhiên cũng không ít người mua ở chợ và tạp hóa hoặc ở gần nơi làm việc vì địa điểm thuận lợi, nhanh chóng). Vậy nên chợ và tạp hóa vẫn là nơi phân phối nhiều nhất,  là nơi được nhiều người tiêu dùng chọn lựa. Người mua khối lượng lớn, nhất là sản phẩm dùng riêng cho máy giặt, họ thường mua ở siêu thị, đại lý.

    1.3 Phân tích đối thủ cạnh tranh

    Gắn với nhu cầu tiêu dùng thường xuyên mỗi ngày, bột giặt trở thành mặt hàng thiết yếu và nhà sản xuất đã tạo ra những trào lưu mới từ tâm lý thích làm trắng, tẩy vết bẩn nhanh, không làm hại ra tay …của các bà nội trợ. Nắm được tâm lý đó các nhà sản xuất bột giặt đã tạo ra những dòng sản phẩm làm hài lòng đại đa số khách hàng. Hiện nay trên thi trường có khá nhiều loại bột giặt của các nhà sản xuất khác nhau, bởi vậy nên có sự cạnh tranh quyết liệt để giành được thị phần của các doanh nghiệp. Dưới đây là bảng so sánh những đặc điểmcủa nhãn hiệu bột giặt Omo so với Tide, Vì dân:

    Các đặc điểm, yếu tố Omo Tide Vì dân
    1.Sản phẩm

     

    – Chất lượng

    – Kiểu dáng

    – Độ an toàn cho da

    – Tên gọi

    -Chủng loại

    Tốt

     

    Đa dạng

    Tương đối

    Đơn giản,dễ nhớ, được người tiêu dùng ưa thích

    Đa dạng

    Tốt

     

    Đa dạng

    Tương đối

    Đơn giản, dễ nhớ,không được người tiêu dung đánh giá cao

    Tương đối

    Bình thường

     

    Bình thường

    Tương đối

    Gần gũi với người dân Việt

    Ít

    2.Giá cả Đắt Đắt Rẻ
    3.Phân phối Rộng khắp Rộng khắp Trong phạm vi lãnh thổ
    4.Quảng cáo Hay, nhiều, hấp dẫn Hay, chưa nhiều Ít
    5.Khuyến mãi Nhiều, hấp dẫn Nhiều Ít
    6.Công nghệ Hiện đại Hiện đại Hiện đại
    7. Sự nổi tiếng của thương hiệu Nổi tiếng, có uy tín Nổi tiếng, uy tín Bình thường
    8.Quy mô Rộng lớn Rộng lớn Trong pham vi
    9.Khả năng quản lý Tốt Tốt Tốt

    Có thể nói, trước mối đe doạ từ các đối thủ cạnh tranh trong cuộc đua dành thị phần, các đại gia mỹ phẩm đã phải thay đổi đáng kể phong cách quảng cáo và chiến lược Marketing. Và dường như, đó cũng là xu hướng chung mà nhiều doing nghiệp cần nhận thấy để có những thay đổi kịp thời trong các chiến lược kinh doanh tiếp thị của mình.

    Kỹ thuật quảng cáo và các hình thức đã làm tăng đáng kể thị phần của các nhãn hiệu bột giặt. Trước năm 1995, nhãn hiệu bột giặt không là vấn đề quan trọng, người tiêu dùng chủ yếu mua sản phẩm đang sẵn có ở các chợ, tiệm tạp hoá. Cuối năm 1995, khi Omo chính thức ra mắt và dồn dập quảng bá thương hiệu, nhãn hiệu Tide cũng lao vào cạnh tranh thì cuộc chiến giành thị phần mới thực diễn ra.

    Người tiêu dùng bị cuốn vào các lời mời gọi hấp dẫnmời dùng thử sản phẩm miễn phí, tham dự các buổi giới thiệu công nghệ mới của siêu thị…Hai nhãn hiệu bột giặt này đẩy lùi các loại bột giặt khác về vùng nông thôn, chiếm kênh phân phối siêu thị, chợ, cửa hang. Tide là một đối thủ nặng kí của nhãn hiệu bột giặt Omo. Một ví dụ dưới đây sẽ minh hoạ cho việc chiến đấu không khoan nhượng để bảo vệ thi phần của 2 nhãn hiệu bột giặt này. Năm 2002, thị trường chứng kiến cuộc chiến một mất một còn giữa hai nhãn hiệu bột giặt Omo và Tide. Tide là bên khởi đọng cuộc chiến với việc giảm giá bán 20%. Ngay lập tức doanh số của Tide tăng vọt. Không chịu ngồi yên, Omo lập tức giảm giá xuống 20%. Tide cắt tiếp 15% giá bán, đồng thời thanh toán bù giá cho toàn bộ lượng hàng thị trường đẫ nhập về đợt trước. Lần này Omo cũng không chịu ngồi yên, họ giảm giá lần hai và đẩy mạnh việc khoá công suất sản xuất của đối thủ bằng các hợp đồng gia công bột giặt độc quyền với các tháp phun sấy bột giặt trên toàn quốc. Khi gviảm giá đến mức sàn, nhắm không gồng nổi nữa họ bèn rủ nhau tăng giá. Lúc này người tiêu dùng đã quen thuộc với thương hiệu Omo nên dù có tăng giá đôi chút họ vẫn sẵn sang móc hầu   bao ra trả, Omo bảo vệ được thị phần.
    Omo và Tide là hai nhãn hiệu được người tiêu dùng đánh giá là chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, mùi hương dễ chịu…và được phân phối rộng khắp nhưng Omo vẫn chiếm được thị phần lớn. Một trong những lý do khiến Omo chiếm thị phần vượt trội so với bột giặt Tide chính là vì người tiêu dùng thích nhãn hiệu bột giặt này. Hai nhãn hiệu này dều có tên gọi ngắn gọn và dễ nhớ thế nhưng nhiều bà nội trợ Việt Nam cho biết họ lựa chọn Omo vì nhãn hiệu này dễ nhớ trong khi Tide lai mang đến cảm giác …áo trắng sạch hờ có Tide(thai).

    Thương hiệu bột giặt Omo không chỉ thành công  nhờ quảng cáo dày đặc trên truyền hình mà còn nhờ các chương trình khuyến mãi, triển lãm, tài trợ học sinh nghèo hiếu học và đặc biệt là xây dựng quỹ khuyến học…nên có ảnh hưởng tích cực đến thái độ người mua. Với sản phẩm “Omo…..” Lever VN tiếp tục thành công khi khẳng định “sức mạnh giặt tẩy” của bột giặt nhãn hiệu Omo. Do vậy, đối thủ Proter & Gamble VN ( P& G) đã phải chuyển hướng chọ mùi thơm làm thế mạnh cho sản phẩm bột giặt Tide. Từ Tide cỏ mùa xuân đến Tide hương nắng mai, P& G đã hướng người tiêu dùng đến một nhu cầu mới: bột giặt thơm. Tuy nhiên Lever mới thực sự là kẻ nhanh chân. Lần này không phải là Omo mà là nhãn hiệu Viso (1 dòng sản phẩm của Lever) đã ngáng đường Tide.

    Hiện nay trên thị trường có nhiều loại bột giặt mà người mua thường dùng ngoài Omo, Tide còn có Surf, Viso, Vì dân… Nhưng không thể nói Surf và Viso là đối thủ cạnh tranh của Omo vì hai nhãn hiệu bột giặt này đều là của Univer. Do đó Tide vẫn là đối thủ cạnh tranh trực tiếp và có sức ảnh hưởng lớn đối với Omo. Còn nhãn hiệu bột giặt khác cũng là đối thủ nhưng không đáng lo ngại đối với một nhãn hiệu mạnh như Omo hiện nay. Tuy nhiên, có một vài ưu điểm của nhãn hiệu bột giặt Vì dân mà Omo phải quan tâm đó là: Bột giặt Vì dân áp dụng khá thành công các đặc tính về kỹ thuật nên được chuyển tải thông qua những gì đơn giản và dễ hiểu ở thị trường mục tiêu của họ. Chiếm lĩnh thị phần tại nông thôn, bột giặt Vì dân với giá rẻ, bao bì sản phẩm viết đầy đủ tất cả các thông tin về đặc tính của sản phẩm, xác nhận thông qua các chứng nhân của bên thứ ba – theo một số chuyên gia thì thông tin như vậy quá dầy và không dễ tiếp thu. Tuy nhiên đối tượng là người dân sống ở vùng nông thôn Việt Nam, họ không muốn mua sản phẩm giá cao như Omo hoặc Tide, thì việc đưa sản phẩm mới vào, họ cần biết sản phẩm tốt hay xấu. Việc ghi thông tin dầy đặc và chi tiết trên bao bì đã đưa đến thành công cho Vì dân.

    1.4: Phân tích tình hình công ty

    Trong những năm gần đây, sức cạnh tranh giữa hàng hoá Việt Nam và hàng hoá thị trường nước ngoài diễn ra hết sức quyết liệt, đặc biệt là các sản phẩm có xuất xứ từ các công ty đa quốc gia hiện đang có mặt và thống lĩnh trên thị trường Việt Nam. Unilever – Việt Nam cũng là một trong số trong những công ty đại gia lớn trên thị trường hàng tiêu dùng, hàng năm đã cung cấp một lượng lớn các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng Việt Nam như: Kem đánh răng P/S, dầu gội Sunsilk, bột giặt Omo…Đây không chỉ là mối đe doạ cho các nhà sản xuất trong nước mà còn là tấm gương để các doanh nghiệp học hỏi về kinh nghiệm Marketing của một công ty đa quốc gia lớn có tầm cỡ thế giới. Có thể nói, công ty Unilever đã có chiến lược tiếp thị chu đáo và đầy tính sáng tạo nhằm đánh bóng tên tuổi và thu hút sức tiêu thụ của khách hàng đối với sản phẩm của công ty. Công ty đã tận dụng những điểm mạnh tối đa vốn có của mình cũng như phát huy được những cơ hội của thị trường để mang lại doanh thu khổng lồ hàng năm cho công ty. Sau đây là một vài phân tích cơ bản về chiến lược marketing của công ty.

    1.4.1: Điểm mạnh của công ty:

    –  Được sự hỗ trợ của tập đoàn Unilever toàn cầu nên có tài chính vững mạnh

    – Chính sách thu hút tài năng hiệu quả: Quan điểm của công ty là “Phát triển thông qua con người, thông qua các ngày hội việc làm cho các sinh viên sắp tốt nghiệp của các trường đại học danh tiếng để từ đó đào tạo nên các quản trị viên tập sự sáng giá cho nguồn nhân lực của công ty. Ngoài ra, công ty cũng có chế độ lương bổng, phúc lợi thoả đáng và các khoá học tập trung trong và ngoài nước cho nhân viên nhằm nâng cao nghiệp vụ của họ…

    – Tình hình nghiên cứu và phát triển công nghệ của Unilever Việt Nam luôn được chú trọng và đầu tư thoả đáng. Đặc biệt, công tác R& D rất hiệu quả trong việc khai tháctính truyền thống của dầu gội như dầu gội bồ kết, kem đánh răng muối. Công nghệ hiện đại kế thừa từ Unilever toàn cầu, được chuyển giao nhanh chóng và có hiệu quả rõ rệt.

    – Giá tương đối chấp nhận được, trong khi chất lượng rất cao, không thua hàng ngoại nhập.

    – Môi trường văn hoá doanh nghiệp mạnh, đội ngũ nhân viên trí thức và có tinh thần trách nghiệm vì mục tiêu chung của công ty, đặc biệt các quan hệ với công chúng rất chú trọng tại công ty.

    1.4.2. Điểm yếu của công ty:

    – Gần đây công ty đã cắt giảm ngân sách ít nhiều do những khó khăn mà sự kiện 11-9 gây ra cho nền kinh tế thế giới.

    – Các vị trí chủ chốt trong công ty vẫn người nước ngoài năm giữ

    – Vẫn còn những công nghệ không áp dụng được tại Việt Nam do chi phí cao, vì vậy phải nhập khẩu ngoài nên tốn kém chi phí không tận dụng được hết nguồn lao động dồi dào và có năng lực ở Việt Nam.

    – Giá cả của Unilever còn khá cao so với thu nhập của người Việt Nam, nhất là những vùng nông thôn.

    – Là một công ty có nguồn gốc Châu Âu, chiến lược quảng bá sản phẩm của Unilever còn chưa phù hợp với văn hoá Á Đông.

    1.4.3. Cơ hội các yếu tố môi trường bên ngoài:

    – Chủ trương của các bộ nghành Việt Nam là cùng thống nhất xây dựng nền kinh tế Việt Nam theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; trong đó ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia như Unilever để tăng ngân sách.

    – Thị trường trong nước(bán buôn, bán lẻ, lưu chuyển hàng hoá…)đã phát triển nhiều hơn. Và cơ sở hạ tầng ở các thành phố lớn, nhất là Tp HCM đã và đang được đầu tư thích đáng, trước mắt là ngang bằng với các nước trong khu vực.

    – Trong bối cảnh khủng bố, dịch bệnh, chiến tranh,… thời gian qua, nền chính trị Việt Nam được đánh giá là ổn định và được bầu chọn là một trong những điểm an toàn nhất khu vực châu Á Thái Bình Dương nói riêng và mang lại sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    – Trình độ dân trí Việt Nam tương đối cao, nhất là khu vực thành thị. Tỷ lệ người tốt nghiệp đại học, cao đẳng…khá cao so với các nước; hơn nữa lao động trí óc ở Việt Nam giỏi xuất sắc về công nghệ nên đây cũng là một nguồn nhân lực khá dồi dào cho công ty.

    – Khách hàng mục tiêu của nhiều sản phẩm mà Unilever Việt Nam kinh doanh là giới trẻ thế hệ X(những bạn trẻ tuổi 18-29), hiện có phần tự lập và phóng khoáng, tự tin hơn thế hệ trước. Họ sẽ là người đưa ra quyết địnhcho phần lớn các vấn đề trong cuộc sống, bao gồm chọn mua những sản phẩm hàng tiêu dùng.

    – Việt Nam là một quốc gia tự do về tôn giáo nên việc phân phối, quảng cáo sản phẩm không phải chịu ràng buộc khắt khe như nhiều nước châu Á khác.

    – Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ và phổ biến là gia đình mở rộng(ông bà, cô chú,…), tạo nhiều cơ hội cho Unilever Việt Nam vì đây chính là khách hàng mục tiêu của công ty.

    – Việt Nam nằm ở vị trí tương đối thuận lợi trong khu vực, có đường bờ biển dài, có nhiều cảng biển lớn thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá khi công ty Unilever Việt Nam bắt đầu chú trọng đến việc xuất khẩu trong tương lai gần.

    – Unilever đến Việt Nam khi thị trường hàng tiêu dùng ở đây còn mới, có nhiều “Đất” để kinh doanh.

    1. Thách thức từ các yếu tố môi trường bên ngoài:

    -Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam còn thấp cho thấy khả năng tiêu thụ                                            sản phẩm cao.

    – Tài chính, tín dụng của Việt Nam không phát triển, thị trường chứng khoán còn manh mún. Thêm vào đó, hệ thống viễn thông, thông tin liên lạc, cước điện thoại, bưu điện và internet có mức giá thuộc hàng cao nhất thế giới. Do đó, việc đưa internet vào kinh doanh là không thể thực hiện được đối với Unilever, mặc dù công ty đã nhiều lần đề cập đến mục tiêu này như một cách tiếp cận khách hàng và quảng bá sản phẩm thành công ở các nước công nghiệp phát triển.

    – Bộ luật thương mại còn nhiều bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, nhất là chính sách thuế quan và thuế suất cao đánh vào các mặt hàng được coi là “xa xỉ phẩm” mà Unilever kinh doanh như kem dưỡng da sữa tắm…

    – Giới trẻ Việt Nam cũng bị nhiều chì trích từ phía xã hội do xu hướng ăn chơi hưởng thụ của không ít thanh niên đã gây bất bình trong người lớn tuổi, nghiêm khắc…Một số ý kiến đã cho rằng, chính những công ty đa quốc gia đã cổ động, mang lại lối sống hưởn thụ phương Tây, vốn xa lạ với người châu Á mà nhất là một nước còn ít nhiều tư tưởng phong kiến lễ giáo như Việt Nam.

    – Chính sách dân số-kế hoạch hoá của chính phủ sẽ khiến trong vài thập niên nữa lớp trẻ sẽ già đi và cơ cấu dân số già sẽ không là lợi thế cho Unilever. Ngoài ra những gia đình mở rộng ở mức trung lưu (cư cấu gia đình phổ biến nhất Việt Nam), việc chọn mua một sản phẩm nhất là sản phẩm cao cấp, thường được cân nhắc rất kĩ lưỡng. Vì vậy, nhóm này tiêu thụ những mặt hàng chăm sóc cá nhân (peronal care ) cao cấp không nhiều như nhóm SSWD (single-độc thân, saparate-sống riêng, widowe-goá phụ, divorced-li dị) ở các nước tư bản.

    – Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm không phù hợp với một số sản phẩm có xuất xứ từ công ty mẹ ở châu Âu.

    – Trong bối cảnh thị trường hàng tiêu dùng cung đang lớn hơn cầu, nhiều công ty mới “chen chân” vào và cạnh tranh sẽ rất gay gắt cho công ty Unilever.

    Trên cơ sở điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội-nguy cơ,Unilever đã thực hiện chiến lược Marketing-mix ở thị trường Việt Nam nhơ sau:

    ØĐịa điểm phân phối

    Năm 1995, Unilever vào Việt Nam đã tạo ra một hệ thống tiếp thị và phân phối toàn quốc, bao quát hơn 100.000 địa điểm.Unilever đã đưa khái niệm tiêu thụ bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhân viên bán hàng trực tuyến, những nhân viên này có nhiệm vụ chào các đơn hành mới, giao hàng và cấp tín dụng cho các đơn hàng tiếp theo.Các điểm bán lẻ được cấp tủ bày hàng năm sử dụng tối đa không gian trong cửa hàng và tính bắt mắt sản phảm. Ngoài ra, công ty còn giúp đỡ các hãng phân phối các khoản cho vay mua phương tiện đi lại, đào tạo quản lývà tổ chức bán hàng.

    ØSản phẩm

    Công ty đã vận dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm nhưng thích nghi với người tiêu dùng Việt Nam. Họ đã mua lại từ các đối tác của mình những nhãn hiệu có uy tín nhiều năm tại Việt Nam như bột giạet Viso, và kem đánh răng P/S. Sau đó, cải tiến công thức chế tạo bao gói và tiếp thị để gia tăng tiêu thụ những nhãn hiệu này. Bên cạnh đó, công ty cũng tìm hiểu sâu sắc nhu cầu người tiêu dùng Việt Nam đẻ “Việt Nam hoá” sản phẩm của mình.

    Với tầm quan trọng về uy tín thương hiệu, trong những năm qua Unilever Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc chống hàng gỉa để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tụe và uy tín với thương hiệu hàng hoá.Các sản phẩm của công ty hiện nay đã có thêm TEM BẢO HÀNH HÀNG THẬT, hay LÔG CHỐNG HÀNG GIẢ BẢO ĐẢM HÀNG THẬT nhằm giúp khách hàng có thể nhận biết rõ hàng giả – hàng thật và mang lại cảm giác an tâm khi sử dụng.

     

     

    ØQuảng bá

    Unilever có hai mảng chính trong hệ thông chiến lược quảng bá của mình là “Above-the-line” (quảng bá trực tiếp) và “below-the-line” (quảng bá gián tiếp)

    ØChính sách giá cả:

    Nhận biết 80% người tiêu dùng Việt Nam sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp, Unilever Việt Nam đã đề ra mục tiêu giảm giá thành sản xuất nhằm đem lại mức giá cả hợp lý cho người tiêu dùng. Công ty đã dựa vào các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương để tìm các nguyên liệu tại chỗ thay thế một số loại phải nhập khẩu; điều này vừa giảm được chi phí mua hàng vừa đóng thuế nhập khẩu ít hơn.

    Ngoài ra công ty cũng phân bố sản xuất, đóng gói cho các vệ tinh tại các khu vực Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển và kho bãi. Unilever cũng đã thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp địa phương có thể nâng cấp trang thiết bị sản xuất, chuyển giao kĩ thuật, tổ chức các chương trình huấn luyện sản xuất.

    ØNguồn nhân lực:

    Cùng với việc đa dạng hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh, Unilever Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực là bước đột phá về chất cho sự phát triển bền vững lâu dài, cả khi xã hội tiến vào nền “Kinh tế  tri thức” hoặc “kinh tế sinh học”. Để hiểu thấu đáo người tiêu dùng Việt Nam và phát triển hệ thống rễ giúp công ty có thể bám sâu vào thị trường, Unilever đã xây dựng một đội ngũ nhân viên bản địa chuyên nghiệp và thường xuyên chú trọng đến các chương trình huấn luyện nhân viên. Quan điểm của Unilever là “phát triển thông qua con người”, nên công ty luôn quan tâm đến quyền lợi của nhân viên và sẵn sàng hỗ trợ họ trong các lĩnh vục công tác. Hiện nay, đội ngũ quản lý Việt Nam đã thay thế các vị trí chủ chốt trước kia do các chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm.

    ØCông nghệ:

    Việc chuyển giao công nghệ trực tiếp được tiến hành đối với chuyển giao máy móc và hệ thống công thức cũng như đảm bảo chất lượng và những phân tích. Những nhà quản lý của Unilever cung cấp dịch vụ hỗ trợ thiết thực để giúp những nhà sản xuất tăng tính hiệu quả đồng thời nâng cao chất lượng và vòng đời sản phẩm.

    ØThương hiệu:

    Nhìn chung quãng đường định vị theo hướng mới của Omo vẫn chưa đủ dài song những gì họ làm được đáng để coi là thành công. Thành công trong việc mở cho mình một lối đi riêng trên thị trường Việt Nam, thành công trong việc nâng cao giá trị thương hiệu của một sản phẩm thuộc hàng tiêu dùng thiết yếu. Sau nay rất có thểnhững đối thủ cạnh tranh sẽ theo bước chân định vị của họ.Song Omo có lợi thế là người tiên phong trên thị trường, mà cái gì đầu tiên thường để lại ấn tượng lâu phai trong tâm trí khách hàng.

    Với chiến lược Marketing trên, công ty đã chiếm được cảm tình của đa số người tiêu dùng Việt Nam trong gần một thập niên qua. Trong tương lai, Unilever sẽ ra đời nhiều sản phẩm mới lạ và độc đáo hơn với hy vọng vẫn là người bạn đồng hành, thân thiết trong sinh hoạt của mọi nhà.A

     

     

     

    CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    2.1: Miêu tả nội dung nghiên cứu:

    –  Nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu hành vi khách hàng về loại bột giặt Omo

    – Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là sinh viên ngoài ra còn nhiều đối tượng khác nữa

    + Độ tuổi chia thành nhiều nhóm tuổi khác nhau nhưng tập trung vào sinh viên với độ tuổi từ 18- 24 tuổi.

    + Giới tính: 80% khách hàng được phỏng vấn là nữ, 20 % là nam.

    + Ngành nghề: sinh viên chiếm phần lớn, còn lại là các ngành nghề khác: bà nội trợ, công nhân viên chức, người buôn bán kinh doanh…

    + Thu nhập: phần đông sinh viên nhận tiền từ gia đình nên chi phí sinh hoạt tính trên tháng khoảng dưới 1 triệu.Các ngành nghề khác có mức thu nhập cao hơn ( từ 1 triệu trở lên).

    2.2: Kết quả nghiên cứu

    Sau khi khảo sát thực tế 100 khách hàng tại 3 địa điểm: Trường Đai học công nghiệp TPHCM, trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, người dân xung quanh trường công nghiệp TPHCM nhóm chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

    Về các loại bột giặt khách hàng từng sử dụng:

    Biểu đồ 2.1a: Các loại bột giặt khách hàng đã từng sử dụng

    Qua biểu đồ 2.1 ta thấy:

    • Số lượng khách hàng đã từng sử dụng bột giặt Omo chiếm tỉ lệ cao nhất: 75%
    • Ở vị trí tiếp theo là Tide và Surf chiếm 43% và 34%.
    • Hoa mơ là loại bột giặt không được khách hàng ưa dùng.

    Khách hàng vẫn ưu ái sử dụng loại bột giặt Omo và Tide nhiều nhất. Surf cũng là một loại bột giặt cũng được người tiêu dùng sử dụng nhiều. Trong khi đó bột giặt Hoa mơ hầu như không được khách hàng biết đến.

    Các loại bột giặt khách hàng đang sử dụng

    Biểu đồ 2.1b: Các loại bột giặt khách hàng đang sử dụng

    Qua biểu đồ 2.1b ta thấy:

    • Omo là loại bột giặt được khách hàng sử dụng nhiều nhất là 68%.
    • Ở vị trí thứ 2 là loại bột giặt Surf chiếm tỉ lệ 16%.
    • Tiếp theo là bột giặt Tide chiếm 9%.
    • Hoa mơ không được khách hàng chú ý tới: 0%

    Hiện nay bột giặt Omo vẫn chiếm vị trí thứ nhất. Nếu như trước kia người tiêu dùng ưa chuộng bột giặt Tide hơn Surf  thì nay xu hướng đã chuyển sang dùng bột giặt Surf và Tide đã xuống vị trí thứ ba. Bột giặt Hoa mơ vẫn không chiếm được sự quan tâm của người tiêu dùng.

    Biểu đồ 2.2: Kênh thông tin mà khách hàng sử dụng để biết sản phẩm

    Qua biểu đồ 2.2 ta thấy:

    • Quảng cáo là kênh thông thông tin được khách hàng sử dụng nhiều nhất để biết đến sản phẩm, chiếm tỉ lệ 74%.
    • Kênh thông tin qua bạn bè, người thân và người tiêu dùng cũng chiếm tỉ lệ khá cao, lần lượt là 34% và 23%.
    • Kênh thông tin được người tiêu dùng sử dụng nhiều thứ 2 là qua bạn bè, người thân: 34%.
    • Internet là kênh thông tin được khách hàng sử dụng ít nhất.

    Quảng cáo là kênh thông tin được khách hàng sử dụng nhiều nhất vì nó rất phổ biến và tiện lợi. Còn hiện nay người tiêu dùng ít biết đến sản phẩm qua Internet.

    Địa điểm khách hàng chọn mua sản phẩm

    Biểu đồ 2.3: Địa điểm người tiêu dùng chọn lựa sản phẩm.
    Qua biểu 2.3 đồ ta thấy:

    • Địa điểm được khách hàng chọn lựa mua sản phẩm nhiều nhất là cửa hàng tạp hoá chiếm 68%.
    • Người tiêu dùng chọn lựa mua sản phẩm tại siêu thị và chợ cũng chiếm tỉ lệ khá cao, lần lượt là 18% và 20%.
    • Các nơi khác chiếm một tỉ lệ khá khiếm tốn là 11%.

    Cửa hàng tạp hoá là địa điểm được khách hàng lựa chọn nhiều nhất để mua sản phẩm vì đây là nơi thuận tiện và giá cả phải chăng. Hiện nay hệ thống các siêu thị cũng đang phát triển nhưng do mức giá còn cao và tốn nhiều thời gian của người tiêu dùng nên cũng ít được lựa chọn hơn.

    Mức độ thuận tiện khi mua sản phẩm

    Biểu đồ 2.4: Mức độ thuận tiện khi mua sản phẩm

    Qua biểu đồ 2.4 ta thấy:

    – Người tiêu dùng cảm thấy dễ dàng khi mua loại bột giặt với tỉ lệ là 50%.

    – Mức độ rất dễ dàng cũng chiếm một tỉ lệ khá lớn chiếm 40%, số lượng khách hàg cảm thấy khó khăn hoặc rất khó khăn là không có(0%).

    Do hệ thống cửa hàng tạp hoá là rộng khắp nên mọi người thấy rất dễ dàng và dễ dàng khi chọn mua sản phẩm.

    Dòng bột giặt khách hàng đang sử dụng

    Biểu đồ 2.5: Dòng bột giặt mà khách hàng đang sử dụng

    Qua biểu đồ 2.5 ta thấy:

    • Khách hàng chủ yếu chọn dòng sản phẩm bột giặt tay chiếm 83%
    • Trong đó khách hàng sử dùng dòng sản phẩm giặt máy chỉ là 17%.

    Việc lựa chọn dòng sản phẩm bột giặt tay là chủ yếu được lý giải là do thu nhập của người tiêu dùng.

    Chỉ tiêu đánh giá sản phẩm của khách hàng

    Biểu đồ 2.6: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu đánh giá sản phẩm của khách hàng

    Qua biểu đồ 2.6 ta thấy:

    – Chất lượng của bột giặt được khách hang rất quan tâm chiếm tới 68%

    – Khách hang cũng rất quan tâm đến giá cả của sản phẩm chiếm tỉ lệ

    48%

    – Đồng thời đặc tính của sản phẩm như sự an toàn cho da cũng được khách hang chú ý chiếm 50%

    – Thương hiệu của sản phẩm ít được chú ý hơn chiếm khoảng 30%

    Khách hang quan tâm đến những chỉ tiêu trên để dễ dàng chọn được cho mình một sản phẩm phù hợp với thu nhập và sở thích của mình

    Trọng lượng khách hàng chọn lựa

    Biểu đồ 2.7: Biểu đồ trọng lượng bột giặt được khách hàng chọn lựa

    Qua biểu đồ 2.7 ta thấy:

    –    Trọng lượng bột giặt dưới 500g chiếm 19%

    • Khách hang lựa chọn trọng lượng từ 500g- 1kg khi mua bột giặt với tỉ lệ khá cao chiếm 34%
    • Tỉ lệ khách hang lựa chọn trọng lượng bột giặt từ 1-2 kg và 2-3 kg chiếm 34%
    • Trọng lượng trên 3kg chiếm 13%

    Việc lựa chọn trọng lượng bột giặt như thế để phù hợp với sự tiêu dùng của khách hang và sự tiện lợi khi mua

    Việc lựa chọn hình thức khuyến mãi

    Biểu đồ 2.8: Biểu đồ thể hiện sự lựa chọn hình thức khuyến mãi

    Qua biểu đồ 2.8 cho ta thấy:

    • Đa số khách hang thích giảm giá sản phẩm chiếm đến 44%
    • Ngoài ra khách hang cũng rất quan tâm đến hình thức khuyến mãi tăng khối lượng của sản phẩm chiếm 32%
    • Hình thức tặng kèm sản phẩm cung được chú ý chiếm 28%
    • Hình thức rút thăm trúng thưởng ít được quan tâm hơn chiếm 11%
    • Các hình thức được ít khách hang quan tâm chiếm 6%

    Nhận xét của khách hàng về giá cả loại bột giặt đang dùng

    Nguồn: Do nhóm sinh viên khảo sát trực tiếp( phụ lục          )

    Biểu đồ 2.10: Mức giá của sản phẩm so với mức thu nhập hiện tại của khách hàng

    NX: Theo số liệu khảo sát trực tiếp, với mức thu nhập hiện tại của khách hàng thì mức giá của sản phẩm được coi là bình thường có số lượng cao nhất chiếm tới 60%, sau đó dứng thứ hai với mức giá được coi là đắt chiếm 34%, nhưng ngược lại ở mức đánh giá quá rẻ thì 0%, còn ở mức giá quá đắt và rẻ thì chiếm phần trăm xấp xỉ bằng nhau chỉ 2%,4%.

    2.3: Nhận xét chung:

    Cuộc điều tra cho thấy phần lớn người tiêu dùng  đã và đang dùng bột giặt OMO. Khách hàng đã dành nhiều ưu ái khi được hỏi về lơại bột giặt này. Hầu hết mọi người đều cho rằng OMO có những đặc điểm vượt trội hơn hẳn so với các loại bột giặt khác trên thị trường hiện nay. OMO có chất lượng tốt, công dụng tẩy sạch vết bẩn cao, mùi hương dễ chịu, an toàn cho da tay… Không những thế hình ảnh bột giặt OMO đã trở nên quá quen thuộc  với người tiêu dùng bởi nó có những chương trình quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ. Đây là một trong những chiêu thức có hiệu quả nhất để đưa sản phẩm đến gần với người tiêu dùng hơn. Để làm được điều này chất lượng sản phẩm cũng quyết định một phần. Chất lượng sản phẩm có tốt thì mọi người sau khi dùng thử mới giới thiệu cho bạn bè, người thân. Vậy là sản phẩm của OMO lại một lần nữa được “ quảng cáo” có hiệu quả hơn. Còn một khía cạnh nữa mà khách hàng cũng rất quan tâm đó là kênh phân phối. Khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng, thoải mái khi mua được sản phẩm của mình ở bất cứ nơi đâu. OMO cũng đã làm được điều này. Ở bất cứ nơi đâu: chợ, siêu thị, cửa haàg tạp hoá,… bạn đều có thể chọn mua sản phẩm của công ty. OMO là hãng bột giặt luôn đi đầu  về công nghệ và quảng cáo.

    Bên cạnh những ưu điểm kể trên OMO cũng còn một số tồn tại cần khắc phục. Với mức thu nhập hiện nay, có một số khách hàng còn phản ánh rằng giá cả của OMO còn hơi cao, chưa phù hợp với người dân. Đây cũng là một trong những trở ngại đáng kể khiến OMO khó chiếm được thiện cảm của người tiêu dùng. Theo một phần nhỏ khách hàng thì bột giặt OMO vẫn còn gây hại cho da tay. Sau khi giặt xong, da tay bị khô rát. Theo họ có lẽ chất giặt tẩy của OMO quá cao ảnh hưởng không tốt đến da tay. Hiện nay trên thị trường, OMO đã chiếm được một vị trí khá tốt. Song với sự phát triển của nền kinh tế, của các hoạt động thương mại, OMO ngày càng gặp phải nhiều đối thủ cạnh tranh lớn mạnh: TIDE, SURF… Điều này đòi hỏi OMO cần chú trọng hơn nữa về các chương trình khuyến mãi và quảng cáo. Một số khách hàng cho rằng OMO chưa cải tiến nhiều về các hình thức quảng cáo và các chương trình khuyến mãi còn ít. Chúng  ta đều biết rằng người tiêu dùng muốn mua một loại sản phẩm điều đầu tiên mà họ quan tâm, tìm hiểu chính là mẫu mã, bao bì của sản phẩm. Họ chưa biết chất lượng ra sao nhưng nếu mẫu  mã đẹp, thu hút thì họ sẽ có cảm tình. Nhưng với OMO việc thay đổi mẫu mã, kiểu dáng bao bì còn hạn chế. Thực sự OMO chưa tạo được sự khác biệt rõ rệt với các sản phẩm bột giặt khác.

    Qua khảo sát, nghiên cứu, công ty đã tìm hiểu được thị trường của sản phẩm OMO. Và công ty cũng đã đưa ra các giải pháp phù hợp hi vọng sẽ đáp ứng được tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và đưa vị trí của OMO ngày càng được khẳng định và giữ vững.

    KẾT LUẬN

    Việc nghiên cứu hành vi khách hàng là một việc làm cần thiết. Nó giúp cho công ty hiểu rõ hơn vị trí sản phẩm của mình trên thị trường cũng như hiểu rõ hơn về tâm lí khách hàng. Kết quả của cuộc điều tra chính là một căn cứ để giúp công ty đưa ra những quyết định hiện tại cũng như trong tương lai. Qua điều tra khảo sát thực tế chúng ta biết được khách hàng đánh giá về chất lượng sản phẩm của mình ra sao, giá cả thế nào, các hình thức khuyến mãi, quảng cáo có hấp dẫn không, hệ thống phân phối có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không. Từ đó chúng ta có thể so sánh sản phẩm của công ty với đối thủ cạnh tranh trên tất cả các phương diện . Và có hiểu được đối thủ cạnh tranh chúng ta mới có thể đưa ra đựơc các giải pháp cho hợp lí.

    Nhìn chung bột giặt OMO đã đạt được những kết quả đáng tự hào trong quá trình xây dựng thương hiệu. Sản phẩm OMO được khách hàng đánh giá cao hơn hẳn đối thủ cạnh tranh ở tất cả các mặt. Nhưng họ vẫn còn một số tồn tại chưa làm hài lòng người tiêu dùng. Chính nhờ cuộc điều tra nghiên cứu này công ty sẽ tìm ra những giải pháp tối ưu để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-s%E1%BB%B1-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BB%91t-h%C6%A1n-quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Chúng ta đã biết được quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng hoá .Do đó mà ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự xuất hiện cuả quy luật giá trị.Mọi hoạt động cuả các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hoá đều chịu sự tác động cuả quy luật này.Quy luật giá trị là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì,phân hoá giàu nghèo,những cuộc cạnh tranh không lành mạnh…Chính vì thế chúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị,tìm hiểu vai trò và tác động của nó tới nền kinh tế,đặc biệt là trong thời kì phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay.

    Bài viết này chia thành 2 chương, bao gồm:

    Chương I: Cơ sở lí luận về quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị với nền kinh tế thị trường.

    Trong phần này sẽ trình bày những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về quy luật giá trị, bản chất, vai trò quy luật giá trị và nội dung của quy luật giá trị.

    Chương II: Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới.

    Chương này sẽ nghiên cứu cụ thể sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta, các đặc trưng và cấu trúc nền kinh tế thị trường ở nước ta.

    Em xin gửi lời chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Việt Tiến đã hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Trong bài viết còn nhiều sai sót mong thầy chỉ bảo để em rút kinh nghiệm lần sau sửa chữa. Em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

     

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    1.1. NỘI DUNG CUẢ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ

    • Khái niệm quy luật giá trị.

    Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất cuả sản xuất và trao đổi hàng hoá .Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị.

    1.1.2 Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị.

    Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá.Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,cụ thể là:

    -Trong sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợpvới hao phí lao động xã hội cần thiết.Vì trong nền sản xuất hàng hóa ,vấn đề đặc biệt quan trọng là hàng hóa sản xuất ra có bán được hay không.Để có thể bán được thì hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa cuả các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được .Mức hao phí càng thấp thì họ càng có khả năng phát triển kinh doanh,thu được nhiều lợi nhuận,ngược lại sẽ bị thua lỗ,phá sản…

    -Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết,tức là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá,hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau,nhưng có lương giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang nhau.

    Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan ,đảm bảo sự công bằng ,hợp lí,bình đẳng giữa những người sản xuất hàng hoá.

    Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo yêu cầu hay đòi hỏi cuả nó thông qua “ mệng lệnh” của giá cả thị trường.

    Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế ,nhất là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị.

    Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị,C.mác gọi đó là vẻ đẹp của quy luật giá trị.Trong vẻ đẹp này ,giá trị hàng hoá là trục ,giá cả thị trường lên xuống quanh trục đó.Đối với mỗi hàng hoá ,giá cả của nó có thể cao thấp khác nhau,nhưng khi xét trong một khoảng thời gian nhất định ,tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của nó

    Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị.

    1.1.3 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hoá.

    Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản thành quy luật giá cả sản xuất( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) và thành quy luật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền). Nó tiếp tục tồn tại và hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộỉ các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước và ở nước ta.

    Ta xét mối quan hệ giữa giá cả , giá cả thị trường , giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá :

    Gía cả : là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá . Gía trị là cơ sở của giá cả .Khi quan hệ cung cầu cân bằng,giá cả hàng hoá cao hay thấp là ở giá trị của hàng hoá quyết định

    Trong diều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuống xoay quanh giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng tiền.Sự hoạt động của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên thị trường.Tuy vậy, sự biến động của giá cả vẫn có cơ sở là giá trị , mặc dầu nó thường xuyên tách rời giá trị.Điều đó có thể hiểu theo hai mặt:

    .Không kể quan hệ cung cầu như thế  nào, giá cả không tách rời giá trị xã hội

    .Nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trong một thời gian dài thì thấy tổng số giá cả  bằng tổng só giá trị , vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bù vào bộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường. Gía cả thị trường là giá cả sản xuấtgiữa người mua và người bán thoả thuận với nhau)

    Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị , nó bằng chi phí  sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân.

    Trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh do hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân nên hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất

    Gía trị hàng hoá chuyển thành  giá cả sản xuất không phải là phủ nhận quy luật giá trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh.Qua hai điểm dưới đây sẽ thấy rõ điều đó:

    . Tuy giá cả sản xuất của hàng hoá thuộc nghành cá biệt có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị , nhưng tổng giá trị sản xuất của toàn bộ hàng hoá của tất cả các ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó.Tổng số lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được cũng bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra.

    .Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị . Gía trị hàng hoá giảm xuống, giá cả sản xuất giảm theo, giá trị hàng hoá tăng lên kéo theo giá cả sản xuất tăng lên.

    Giá cả độc quyền :

    Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng giá cả hàng hoá lên trên giá cả sản xuất và giá trị . Gía cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận bình quân.

    Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả sản xuất và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản độc quyền mua  của người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền.

    Gía cả độc quyền không  xoá bỏ giới hạn của giá trị hàng hoá , nghĩa là giá cả độc quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dư do xã hội sản xuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giá trị mà những người bán ( công nhân, người sản xuất nhỏ , tư bản vừa và nhỏ…) mất đi.Nhìn vào phạm vi toàn xã hội , toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cả không độc quyền về đại thể bằng toàn bộ giá trị .

    1.2 VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG .

    1.2.1. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Thực chất điều tiết sản xuất cuả quy luật giá trị là điều chỉnh tự phát các yếu tố sản xuất như: tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốn từ ngành này sang ngành khác,từ nơi này sang nơi khác.Nó làm cho sản xuất hàng hoá của ngành này ,nơi này được phát triển mở rộng ,ngành khác nơi khác bị thu hẹp,thông qua sự biến động giá cả thị trường.Từ đó tạo ra những tỷ lệ cân đối tạm thời giữa các ngành ,các vùngcủa một nền kinh tế hàng hoá nhất định.

    Quy luật canh tranh thể hiện ở chỗ :cung và cầu thường xuyên muốn ăn khớp với nhau,nhưng từ trước đến nay nó chưa hề ăn khớp với nhau mà thường xuyên tách nhau ra và đối lập với nhau.Cung luôn bám sát cầu ,nhưng từ trước đến nay không lúc nào thoả mãn được một cách chính xác

    Chính vì thế thị trường xảy ra các trường hợpsau đây:

    -Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá,trường hợp này xảy ra một cách ngẫu nhiên và rất  hiếm.

    -Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị ,hàng hoá bán chạy,lãi cao .Những người đang sản xuất những loại hàng hoá này sẽ mở rộng quy mô sản xuất và sản xuất hết tốc lực ;những người đang sản xuất hàng hoá khác ,thu hẹp quy mô sản xuất cuả mình để chuyển sang sản loại hàng hoá này.Như vậy tư liệu sản xuất ,sức lao động, tiền vốn được chuyển vào ngành này tăng lên,cung về loại hàng hoá này trên thị trường tăng lên .

    -Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị,hàng hoá ế thừa ,bán không chạy,có thể lỗ vốn.Tình hình này bắt buộc những người đang sản xuất loại hàng hóa này phải thu hẹp quy mô sản xuất ,chuyển sang sản xuất loại hàng hoá có giá cả thị trường cao hơn ;làm cho tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốn ở ngành hàng hoá này giảm đi.

    Thực chất điều tiết lưu thông của quy luật giá trị là điều chỉnh một cách tự phát khối lượng hàng hoá từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao,tạo ra mặt bằng giá cả xã hội.Giá trị hàng hoá mà thay đổi ,thì những điều kiện làm cho tổng khối lượng hàng hoá có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi .Nếu giá trị thị trường hạ thấp thì nói chung nhu cầu xã hội sẽ mở rộng thêm và trong những giới hạn nhất định ,có thể thu hút những khối lượng hàng hoá lớn hơn.Nếu giá trị thị trường tăng lên thì nhu cầu xã hội về hàng hoá sẽ thu hẹp và khối lượng hàng hoá tiêu thụ cũng sẽ giảm xuống.Cho nên nếu cung cầu đIũu tiết giá cả thị trường hay nói đúng hơn đIũu tiết sự chênh lệch giũa giá cả thị trường và giá trị thị trường thì trái lại chính giá trị thị trường điều tiết quan hệ cung cầu ,hay cấu thành trung tâm ,chung quanh trung tâm đó những sự thay đổi trong cung cầu làm cho những giá cả thị trường phải len xuống.

    Trong xã hội tư bản đương thời ,mỗi nhà tư bản  công nghiệp tự ý sản xuất ra cái mà mình muốn theo cách mình muốn ,và với số lượng theo ý mình .Đối với họ số lượng mà xã hội cần là một lượng chưa biết ,cái mà ngày hôm nay cung cấp không kịp thì ngày mai lại có thể cung cấp nhiều quá số yêu cầu .Tuy vậy người ta cung thoả mãn được nhu cầu một cách miễn cưỡng ,sản xuất chung quy là căn cứ theo những vật phẩm người ta yêu cầu

    “… Khi thực hiện quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá trong xã hội gồm những người sản xuất trao đổi hàng hoá cho nhau ,sự canh tranh lập ra bằng cách đó và trong điều kiện nào đó một trật tự duy nhất và mộy tổ chức duy nhất có thể có cuả nền sản xuất xã hội .Chỉ có do sự tăng hay giảm giá hàng mà những người sản xuất hàng hoá riêng lẻ biết được rõ ràng là xã hội cần vật phẩm nào và với số lượng bao nhiêu”(C.mác:sự khốn cùng của triết học ,nhà xuất bản Sự thật  {8,19_20})

    1.2.2. Kích  thích lực lượng sản xuất phát triển,tăng năng suất lao động xã hội

    Để tránh bị phá sản ,giành được ưu thế trong cạnh tranh và thu hút được nhiều lãi, từng người sản xuất hàng hoá đều tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật ,hợp lý hoá sản xuất, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất để giảm hao phí lao động cá biệt của mình ,giảm giá trị cá biệt của hàng hoá do mình sản xuất ra.Từ đó làm cho kỹ thuật của toàn xã hội càng phát triển lên trình độ cao hơn,năng suất càng tăng cao hơn.

    Như thế là chúng ta thấy phương thức sản xuất tư liệu sản xuất luôn bị biến đổi ,dẫn đến sự phân công tỉ mỉ hơn dùng nhiều máy móc hơn,lao động trên một quy mô lớn  đưa đến lao động trên một quy mô lớn hơn như thế nào.

    Đó là quy luật luôn hất sản xuất ra con đường cũ và luôn buộc sản xuất phải làm cho sức sản  xuất của lao động khẩn trương hơn .Quy luật đó không gì  khác mà là quy luật nhất định giữ cho giá cả hàng hoá nghang bằng với chi phí sản xuất của chính hàng hoá đó ,trong giới hạn của những biến động chu kì của thương mại.”…Nếu một người nào sản xuất dược rẻ hơn ,có thể bán được nhiều hàng hoá hơn và do đó chiếm lĩnh được ở trên thị trường một địa bàn rộng hơn bằng cách bán ra hạ giá hơn giá cả thị trường hiện hành hay hạ hơn giá trị thị trường thì anh taẽ làm ngay như thế và do đóẽ mở đầu một hành động dần dần buộc những người khác cũng phải áp dụng các phương pháp ít tốn kém hơn và làm cho thời gian lao động xã hội cần thiết giảm xuống một mức thấp hơn.

    Theo Mác thì trong sự vận động bên ngoài những tư bản ,những quy luật bên trong của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bắt buộc của sự cạnh tranh, rằng dưới hình thức đó đối với những nhà tư bản những quy luật biểu hiện thành động cơ của những hoạt động của họ,rằng như vậy là muốn phân tích một cách khoa học sự  cạnh tranh thì trước đó phảI phân tích tính chất bên trong của tư bản ,cũng như chỉ người nào hiểu biết sự vận động thực sự của các thiên thể –tuylà các giác quan không thể thấy được ,-thì mới có thể hiểu được sự vận động bề ngoài của những thiên thể ấy;

    1.2.3. Phân hoá những người sản xuất thành người giàu,người nghèo.

    Trong xã hội những người sản xuất cá thể , đã có mầm mống của một phương thức sản xuất mới .Trong sự phân công tự phát ,không có kế hoạch nào thống trị xã hội, phương thức sản xuất ấy đã xác lập ra sự phân công ,tổ chức theo kế hoạch ,trong những công xưởng riêng lẻ ;bên cạnh sản xuất của những người sản xuất cá thể nhỏ đã làm xuất hiện sản xuất xã hội .Sản phẩm của hai loại  sản xuất đó cùng bán trên một thị trường ,do đó giá cả ít ra cũng sấp xỉ nhau.Nhưng so với sự phân công tự phát thì tổ chức có kế hoạch đương nhiên mạnh hơn nhiều ;sản phẩm của công xưởng dùng lao động xã hội là rẻ hơn so với sản phẩm của những người sản xuất nhỏ,tản mạn.Sản xuất của những người sản xuất cá thể gặp thất bại từ nghành này đến nghành khác .Trong nền sản xuất hàng hoá ,sự tác động cuả các quy luật kinh tế ,nhất là quyluật giá trị  tất yếu dẫn đến kết quả:những người có điều kiện sản xuất thuận lợi ,nhiều vốn,có kiến thức và trình độ kinh doanh cao ,trang bị kĩ thuật tốt sẽ phát tài ,làm giàu.Ngược lại không có các điều kiện trên ,hoặc gặp rủi ro sẽ mất vốn phá sản.Quy luật giá trị đã bình tuyển ,đánh giá những người sản xuất kinh doanh .

    Sự bình tuyển tự nhiên ấy đã phân hoá những người sản xuất kinh doanh ra thành người giàu người nghèo.Người giàu trở thành ông chủ người nghèo dần trở thành người làm thuê.Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá đã chỉ ra là quá trình phân hoá này đã làm cho sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    “ …Mỗi người đều sản xuất riêng biệt ,cho lợi ích  riêng của mình ,không phụ thuộc vào nhà sản xuất khác .Họ sản xuất cho thị trường ,nhưng dĩ nhiên không một người nào trong số họ biết được dung lượng của thị trường .Mối quan hệ như vậy giữa nhưng người sản xuất riêng rẽ ,sản xuất cho một thị trường chung,thì gọi là cạnh tranh,Dĩ nhiên trong nhữnh điều kiện ấy,sự thăng bằng giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có thể có được sau nhiều lần biến động.Những người khéo léo hơn ,tháo vát hơn và có sức lực hơn sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ những sư biến động ấy;còn những người yếu ớt ,vụng về thì sẽ bị sự biến động đó đè bẹp .Một vài người trở nên giàu có,còn quần chúng trở nên nghèo đói,đó là kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh .Kết cục là những người sản xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họvà trở thành công nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ” (V.Lenin:Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường{9,127}

    Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ,cùng sự bần cùng hoá của nhân dân là những hiện tượng ngẫu nhiên.Hai điều đó tất nhiên đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội.Vấn đề thị trường hoàn toàn bị gạt đI,vì thị trường chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự phân công đó và của sản xuất hàng hoá.Người ta sẽ thấy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không những là có thể cómà còn là sự tất nhiên nữa,vì một khi kinh tế xã hội đã xây dựng trên sự phân công và trên hình thức hàng hoá của sản phẩm ,thì sự tiến bộ về kỹ thuật không thể không dẫn tới chỗ làm cho chủ nghĩa tư bản tăng cường và mở rộng thêm.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI

    2.1 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN  KINH TẾ THỊ TRỪONG Ở VIỆT NAM.

    2.1.1Khái niệm kinh tế thị trường .

    Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thị trường.

    2.1.2Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.

    Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế –xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất để trao đổi và bán trên thị trường .Mục đích là thoả mãn nhu cầu của ngươI mua tức là thoả mãn nhu cầu xã hội.

    Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá ,trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường .Kinh tế thị trường và kinh tế hàng hoá không đồng nhất với nhau,chúng khác nhau về trình độ phát triển,nguồn gốc và bản chất.

    Ở nước ta tồn tại những cơ sở khách quan để phát triển kinh tế thị trường như

    2.1.2.1Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của hàng hoá được phát triển cả chiều rộng và chiều sâu

    Phân công lao động trong từng khu vực ,từng địa phương ngày càng phát triển,nó thể hiện một cách phong phú ,đa dạng và ngày càng cao.

    2.1.2.2Tồn tại nhiều hình thức sở hữu .

    Đó là sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể ,sở hữu tư nhân(sở hữu cá thể ,sở hữu tiểu chủ,sở hữu tư bản tư nhân),sở hưu hỗn hợp…

    2.1.2.3Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể có những khác biệt nhất định.

    Tuy cùng dựa trên chế độ công hưu về tư liệu sản xuất nhưng mỗi đơn vị kinh tế lại có những quyền tự chủ ,lợi ích riêng.Mặt khác còn có sự khác nhau vểtình độ kĩ thuật, công nghệ,tổ chức quản lý.

    2.1.2.4Quan hệ hàng hoá tiền tệ cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại

    Ttrong bối cảnh phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển sâu sắcthì mối quan hệ đó càng cần thiết vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt,là người chủ sở hữu đối vớihàng hoá trao đổi trên thị trường thế giới.

    Như vậy kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu,khách quan,không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ được.

        2.2 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA.

    Việt nam với tư cách là nước phát triển muộn về kinh tế thị trường , lại diễn ra trong bối cảnh thời đại mới khác nhiều so với trước.Để nắm bắt” cơ hội’ , vượt qua “thách thức”, rút ngắn khoảng cách lạc hậu , “tụt hậu” xa so với các nước, giữ vững địng hướng xã hội chủ nghĩa đã chọnh , không thể phát triển theo mô hình kinh tế thị trường cổ điển, mà nên chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường rút ngắn, hiện đại là thích hợp.Tất nhiên không hoàn toàn giống như các nước đã đi theo mô hình này, nhất là về tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nó. Mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩả nước ta bao gồm các đặc trưng chủ yếu sau:

    2.2.1 Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa quy luật phát triển tuần tự với quy luật phát triển nhảy vọt.

    2.2.2 Phát triển cùng một lúc ba trình độ phát triển của hình thái kinh tế hàng hoá, đó là kinh tế hàng hoá giản đơn, kinh tế thị trường tự do(cổ điển) và kinh tế thị trường hỗn hợp(hiện đại). Tất nhiên, trong từng thời điểm, tính trội của mỗi trình dộ có khác nhau.

    2.2.3 Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời dại, coi trọng việc kết hợp vai trò thúc đẩy sự ra đời các nhân tố của kinh tế thị trường và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước xa hội chủ nghĩa trong qúa trình chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại .

    Ba đặc trưng nói trên có quan hệ mật thiết với nha, trong đó đặc trưng thứ ba có  ý nghĩa quyết định .

    2.3THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CŨNG NHƯ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

    Nền kinh tế nước ta dang từ sản xuất nhỏ đi lên san xuất lớn xã hội chủ nghĩa ,từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa .Quy luật giá trị gắn liền nền sản xuất hàng hoá đó còn hoạt động trên một phạm vi khá rộng và trong một thời gian dài.Vai trò và phạm vi hoạt động của nó biển đổi từng thời kì cùng với sự chuyển biến của quan hệ sản xuất ,của lực lượng sản xuất với sự phát triển của phân công lao động xã hội.Vì vậy trong khi xác nhận vai trò chủ đạo quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa,chúng ta cần nhận thức đúng quy luật giá trị,tự giác vận dụng quy luật giá trị và những phạm trù kinh tế gắn liền với qui luật đó như tiền tệ ,giá cả ,tín dụng ,tài chính ..để kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển ,thúc đẩy nền kinh tế nước ta tiến nhanh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Theo văn kiện đại hội đảng IX”Đảngvà nhà nước tachủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường , có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Với các đặc trưng của mô hình này như đã nói ở trên, các quy luật kinh tế được phép phát huy tác dụng của nó trong đó quy luật giá trị đóng vai trò là quy luật kinh tế căn bản chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế  .

    Như đã phân tích ở trên, quy luật giá trị có vai trò lớn trong nền sản xuất hàng hoá . Chúng ta đã vận dụng quy luật giá trị vào:

     2.3.1.Trong lĩnh vực sản xuất.

    Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự điều tiết của quy luật giá trị mà chịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội và quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân .Tuy nhiên ,quy luật giá trị không phảI không có ảnh hưởng đến sản xuất.Những vật phẩm tiêu dùng cần thiết để bù vào sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất ,đều được sản xuất và tiêu thụ dưới hình thức hàng hoá và chịu sự tác động của quy luật giá trị .Trong những thành phần kinh tế khác nhau ,tác động của quy luật giá trị có những điểm không giống nhau.Nhà nước ta đã chủ động vận dụng quy luật giá trị vào lĩnh vưc sản xuất.Vì thế các xí nghiệp của chúng ta không thể và không được bỏ qua quy luật giá trị

    Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức là thực hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hoá.Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật giá trị _ sản xuất và trao đỏi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:

    Xét ở tầm vi mô: Mỗi cá nhân khi sản xuát các sản phẩm  đều cố gắng làm cho thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội .

    Xét ở tầm vĩ mô:Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao động , chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết.

    Do vậy, nhà nước đua ra các chính sách để khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn.Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến may móc, mẫu mã, nâng cao tay nghề lao động. Nếu không, quy luật giá trị ở đây sẽ thực hiện vai trò đào thảicủa nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả , kích thích các cá nhân,nghành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả . Tất yếu điều đó dẫn tới sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngày càng cao, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến. Và cùng với nó, sự xã hội hoá, chuyên môn hoá lực lượng sản xuất cũng được phát triển.Đây là những vận dụng đúng đắn của nhà nước ta.

    Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì trong sản xuất giá trị cá biệt của từng xí nghiệp phải phù hợp hoặc thấp hơn giá trị xã hội,do đó quy luật giá trị dùng làm cơ sở cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh .Các cấp quản lí kinh tế cũng như các nghành sản xuất ,các đơn vị sản xuất ở cơ sở ,khi đặt kế hoạch hay thực hiện kế hoạch kinh tế đều phải tính đến giá thành ,quan hệ cung cầu ,để định khối lượng ,kết cấu hàng hoá…

    2.3.1.1 Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.

    Việc chuyển từ chế độ tầp trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì cùng với nó là việc loại bỏ cơ chế xin cho, cấp phát , bảo hộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải tự hạch toán, không bị ràng buộc  quá đángbởi các chỉ tiêu sản xuất mà nhà nước đưa ra và phải tự  nghiên cứu để tìm ra thị trường phù hợp với các sản phẩm của mình; thực hiện sự phân đoạn thị trường để xác định tấn công vào đâu, bằng những sản phẩm gì.

    Mặt khác, cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán, thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA , WTO; mỗi cá nhân , mỗi doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để có thể đứng vững khi bão táp của qúa trình hội nhập quốc tế ập đến. Sức cạnh tranh được nâng cao ở đây là nói đến sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp trong nươc, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, giữa các cá nhân trong nước với cá nhân trong nước, giữa cá nhân trong nước với cá nhân nứoc ngoài (cũng có thể coi đây là hệ quả tất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất)

    2.3.1.2 Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường Việt Nam.

    Cạnh tranh gay gắt sẽ đưa đến một hệ quả tất yếu là làm cho nền kinh tế năng động lên .Vì trong cạnh tranh, mỗi người sẽ tìm cho mình một con đường đi mới trong một lĩnh vực sản xuất, kinh doánhao cho tạo nên sự sản xuất hiệu quả nhất.Các con đường đó sẽ vô vàn khác nhau,các con đường đó luôn tạo ra những lĩnh vực sản xuất mới.Và hơn nữa, cạnh tranh năng dộng sẽ làm cho sản phẩm hàng hoá đa dạng về mẫu mã, nhiều về số lượng, cao về chất lượng. Bởi vì, sự đào thải của quy luật giá trị sẽ ngày càng làm cho ssản phẩm hoàn thiện hơn, mang lại nhiều lơi ích cho người tiêu dùng.

    Sự năng động còn thể hiện ở sự phát triển nhiều thành phần kinh tế. Bởi vì, việc phát triển nhiều thành phần kinh tế có tác dụng thu hút nguồn nhân lực vào các thành phần kinh tế, phát huy nội lực, tận dụng nội lực để sản xuất ra nhiều hàng hoá thu lợi nhuận(lợi nhuận siêu nghạch, lợi nhuận độc quyền) hay nâng cao trình độ sản xuất trong một nghành, một lĩnh vực nhất định .

    2.3.1.3 Thúc đẩy quá trình hộinhập quốc tế.

    Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, siêu lợi nhuận . Sự đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài ngày càng phát triển, hay nói cách khác là thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.

    Mỗi nước đều có những ưu thế, lợi thế riêng. Do thời gian và trình độ xuất phát điểm của nền kinh tế khác nhau nên khi nước này cần vốn thì nước kia lại thừa.Do tốc độ phát triển khác nhau nên khi nước này phát triển thì nước kia lại quá lạc hậu ; do sự phân bố tài nguyên khác nhau nên nước này có điều kiện sản xuất cía này, nước kia có điều kiện sản xuất cái kiavà tạo ra một lợi thế so sánh trên thương trường.Điều này thúc đẩy sự chuyên môn hoá, hiệp tác hoá sản xuất để có chi phí sản xuất thaaps và tuân theo sự điều tiết của quy luật giá trị , chi phí sản xuất thấp sẽ làm cho giá cả thấp, và do đó thắng trên thương trường.

    Ngoài  ra khi quy luật giá trị tác động như vậy sẽ có tác dụng giáo dục những cán bộ lãnh đạo kinh tế tiến hành sản xuất một cách hợp lí,và khiến họ tôn trọng kỉ luật .Nhờ đó mà học hỏi tính toán tiềm lực của sản xuất ,tính toán một cách chính xác ,tính đến tình hình thực hiện của sản xuất ,biết tìm ra những lực lượng dự trữ tiềm tàng giấu kín trong sản xuất

    Tuy nhiên điều tai hại là các cán bộ lãnh đạo ,các nhà chuyên môn về công tác kế hoạch ,trừ số ít đều hiểu không thấu đáo tác dụng của quy luật giá trị ,không nghiên cứu và không biết chú ý đến tác dụng đó trong khi tính toán .Đó là nguyên nhân vì sao chính sách nước ta còn hay mơ hồ.

    2.3.2. Trong lĩnh vực lưu thông .

    Phân phối và lưu thông trong xã hội chủ nghĩa có sự tác động khách quan của quy luật giá trị .Việc vận dụng quy luật trong lưu thông ,phân phối được thể hiện ở những mặt sau

    2.3.2.1. Hình thành giá cả.

    Hình thức vận dụng quy luật giá trị tập trung nhất là khâu hình thành giá cả.Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị,cho nên  khi xác định giá cả phải đảm bảo yêu cầu khách quan là lấy giá trị làm cơ sở,phản ánh đầy đủ những hao phí về vật tư và lao động để sản xuất hàng hoá .Giá cả phải bù đắp chi phí sản xuất hợp lí ,tức là bù đắp giá thành sản xuất ,đồng thời phải bảo đảm một mức lãi thích đángđể tái sản xuất mở rộng.Đó là nguyên tắc chung áp dụng phổ biến cho mọi quan hệ trao đổi ,quan hệ giữa các xí nghiệp quốc doanh với nhau ,cũng như nhà nước với nông dân  .

    Giá cả là một phạm trù phức tạp ,sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị là một tất yếu khách quan của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa .Nhà nước ta đã vận dụng quy luật giá trị vào những mục đích nhất định  ,đã phảI tính đến những nhiệm vụ kinh tế ,chính trị trước mắt và lâu dàI,căn cứ vào nhiều quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    2.3.2.2.Nguồn hàng lưu thông.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ,việc cung cấp hàng hoá cho thị trường dược thực hiện một cách có kế hoạch.Đối với nhưng mặt hàng có quan hệ lớn đến quốc kế dân sinh,nếu cung cầu không cân đối thì nhà nươc dùng biện pháp đẩy mạnh sản xuất,tăng cường thu mua ,cung cấp theo định lượng ,theo tiêu chuẩn mà không thay đổi giá cả.Chính thông qua hệ thống giá cả quy luật có ảnh hưởng nhất định đến việc sự lưu thông của một hàng hoá nào đó.Giá mua cao sẽ khơi thêm nguồn hàng ,giá bán hạ sẽ đẩy mạnh việc tiêu thụ,và ngược lại.Do đó mà nhà nước ta đã vận dụng vào việc định giá cả sát giá trị ,xoay quay giá trị để kích thích cải tiến kĩ thuật ,tăng cường quản lí.Không những thế nhà nước ta còn chủ động tách giả cả khỏi giá trị đối với từng loại hàng hoá trong từng thời kì nhất định ,lợi dụng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị để điều tiết một phần sản xuất và lưu thông ,điều chỉnh cung cầu và phân phối Giá cả được coi là một công cụ kinh tế quan trọng để kế hoạch hoá sự tiêu dùng của xã hội

    Ví dụ như là giá cả của sản phẩm công nghiệp nặng lại dặt thấp hơn giá trị để khuyến khích sự đầu tư phát triển ,áp dụng kĩ thuật vào sản xuất.

    Tuy nhiên sự đIều chỉnh này ở nước ta không phảI bao giờ cung phát huy tác dụng tích cực,nhiều khi những chính sách này lại làm cho giá cả bất ổn,tạo đIều kiện cho hàng hoá nước ngoài tràn vào nước do giá cả hợp lí hơn .

    Kinh tế thi trường tuân thủ nguyên tắc trao đổi ngang giá hàng hoá , theo đuổi hiệu

    quả phân phối tối ưu của các nguồn.Thứơc đo giá trị chú trọng hiệu quả kinh tế hình thành trong điều kiện kinh tế thị trường ; một khi được mở rộng, vận dụng vào lĩnh vực đời sống xã hội và quan hệ con người , không tránh khỏi sản sinh những quan khác nhau gắn bó với đạo đức con người đó là chuẩn mực giá trị” coi trọng tình nghĩa, xem thường lợi ích” hay “coi trọng lợi ích, xem thường tình nghĩa “.Do vậy , ở nước ta, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải chú ý sự chuyển đổi quan niệm giá trị xã hội sao cho phù hợp với đạo đức dân tộc truyền thống và hiện đại .Thể hiện rõ nhất ở nước ta hiện nay là nạn hàng giả, trốn thuế, buôn lậu…

    2.4NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA THỜI GIAN TỚI.

    2.4.1Những giải pháp của đảng và nhà nước ta.

    Để phát huy các tác động tích cực, đẩy lùi các tác động tiêu cực của kinh tế thị trường cần nâng cao vai trò quản lý của nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch , công cụ tài chính,; qua các phương thức kích thích , giáo dục, thuyêt phục và cả cưỡng chế nữa. Chủ trương của Đảng ta trong thời gian tới là :

    2.4.1.1 Phát triển kinh tế , công nghiệp hoá, hiện đại hoá là trung tâm .

    Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta.Phát triển kinh tế,công nghiệp hoá ,hiện đại hoá để từ đó tạo đà để thực hiện những nhiệm vụ khác,đưa nước ta nhanh chóng phát triển ,tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa

    2.4.1.2 Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

    Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế  cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

    2.4.1.3Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thi trường, tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước .

    Đây là một yêu cầu cấp thiết ,là đIều kiện cơ bản để xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời gian tới.

    2.4.1.4 Giải quyết tốt các vấn đề xã hội , nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    Đây là nhiệm vụ nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị với nền kinh tế nước ta

    2.4.1.5 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tếvà khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế , bảo đảm độc lập, tự chủvà định hướng xã hội chủ nghĩa , bảo vệ lợi ích dân tộc , giữ vững an ninh quốc gia , giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

    2.4.2Những giải pháp của bản thân.

    Em xin đưa ra một số biện pháp nhỏ nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta hiện nay.

    2.4.2.1Giải phóng lực lượng sản xuất ,huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy nhanh công nghiệp hoá,hiện đại hoá,nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội,cải thiện đời sống nhân dân.NHà nước bằng các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để dẫn dắt ,hướng dẫn cho hệ thống thị trường phát triển,nhànước có vai trò quan trọng trong quá trình phân phối đảm bảo công bằng ,hiệu quả,hướng tới xã hội công bằng,dân chủ,văn minh.

    2.4.2.2Nhà nước cần chú ý hơn tới vấn đề đồng bộ hệ thống thị trường ở nước ta

    ở nươc ta một số loại thị trường thì phátt triển nhanh chóng,phát huy được hiệu quả trong nền kinh tế thị trường,trong khi đó một số loại thị trường còn rất sơ khai,chưa hình thành một cách đầy đủvà bị biên dạng.Vì thế nhà nước cần có những biện pháp để vực dậy một số thị trường còn bỏ ngỏ.

    2.4.2.3Việc vận dụng quy luật giá trị trong  định giá giả cả phải có giới hạn,có căn cứ kỉnh tế .Như vậy mới có tác dụng trong việc phát triển sản xuất

    2.4.2.4Nhà nước ta khivận dụng quy luật  giá trị phảI xuất phát từ nhiều quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội.,căn cứ vào nhiệm vụ kinh tế ,chính trị từng thời kì  .

    PHẦN KẾT LUẬN:

    Quy luật giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế thi trường , nó là quy luật kinh tế căn bản chi phối sự vận động của nền kinh tế thị trường . Sự tác động của quy luật giá trị một mặt thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, mặt khác gây ra các hệ quả tiêu cực …Đối với nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn hiện nay, quy luật giá trị đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên có phát huy được các mặt tích cưc , đẩy lùi các mặt tiêu cực còn là một vấn đề phụ thuộc nhiều vào vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước và nhận thức của mỗi công dân.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-Nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-chung-v%E1%BB%81-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-m%E1%BB%9F-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Trung-%C6%AF%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    CHƯƠNG I

    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    I. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    1. Khái niệm

    Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá (GTCG) giữa một bên là Ngân hàng Nhà nước với bên kia là các tổ chức tín dụng (TCTD) trong đó NHNN đóng vai trò là người điều hành hoạt động thị trường. Nghiệp vụ TTM là một trong các công cụ được NHNN sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.

     2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở

    Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng.

    1. Về mặt lượng – Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng

    Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO).

    Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng

    Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng. Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên. Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.

    1. Về mặt giá – Tác động qua lãi suất

    Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:

    Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính. Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định.

    Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất

     

    Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng.

    Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường. Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.

    3. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở

    1. Đối với ngân hàng trung ương

    Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường. Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung – cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ. Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT.

    Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt. Đặc biệt khi thực hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường.

    OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ động khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. OMO có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch. NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG.

    OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác. Các giao dịch OMO có tính hai chiều, qua đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặt khác, với công cụ OMO, NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV. Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông.

    1. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương

    Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh hoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.

    Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường.       . Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bên cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch trong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng.

    Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG. OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường.

    OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như một hình thức “đánh thuế” đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB. Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.

    Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng.

    1. Đối với nền kinh tế

    Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và NHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.

    Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này. Điều này góp phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế.

    Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng.

    Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam á đều sử dụng OMO trong điều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới.

    4. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở

    4.1. Ngân hàng trung ương

    NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở theo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất thị trường theo mục tiêu CSTT. NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.

    Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mục tiêu xác định của nó.

    4.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương

    1. Các ngân hàng thương mại

    Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối tác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả.  Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi.

    Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan trọng xét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới hoạt động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ.

    1. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng

    Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham gia OMO. Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm … coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập thông qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua bán các GTCG.

    1. Các nhà giao dịch sơ cấp

    Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trung gian trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác. Các nhà giao dịch sơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính. Thực tế ở nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiện thông qua các nhà giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCG với các nhà giao dịch sơ cấp. Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc.

    5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở

    5.1. Tín phiếu kho bạc

    Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính. Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng.

    Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất định. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường.

    5.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương

    Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng

    Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn. Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các GTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá này.

    5.3. Trái phiếu Chính phủ

    Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn có thời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong các giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tài chính.

    5.4. Trái phiếu Chính quyền địa phương

    Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do các chính quyền địa phương lớn phát hành. Sự can thiệp của NHTW thông qua việc mua bán loại trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ.

    5.5. Chứng chỉ tiền gửi

    Chứng chỉ tiền gửi (CD) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định. Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày đến 7 năm nhưng thường là ngắn hạn. CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II.

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ  CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

     

    I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

    Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ OMO vào hoạt động. Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra một kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và tạo điều kiện cho các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG của mình. Công cụ OMO liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và dần trở thành một công cụ CSTT chủ yếu của NHNN.

    1. Doanh số trúng thầu nghiệp vụ thị trường mở

    Ngay từ khi triển khai, NHNN đã xác định OMO sẽ là một công cụ chủ yếu trong điều hành CSTT của NHNN. Để đạt được mục đích đó, NHNN đã tập trung thực hiện việc điều hoà lưu thông tiền tệ thông qua công cụ này. Điều này thể hiện ở doanh số mua bán GTCG trên thị trường mở tăng nhanh qua các năm. Những năm gần đây, tốc độ này đạt trên 200%.

    Bảng  1. Tổng doanh số trúng thầu OMO qua các năm

    Đơn vị: tỷ đồng

    Năm thực hiện Số phiên thực hiện Khối lượng trúng thầu theo các                           phương thức giao dịch
    Mua kỳ hạn Mua hẳn Bán kỳ hạn Bán hẳn Tổng cộng
    2000 17 873,50 480,00   550,00 1.903,50
    2001 48 3.253,81 60,00 50,00 570,00 3.933,81
    2002 85 7.245,53     1.900,00 9.145,53
    2003 107 9.844,15     11.340,00 21.184,15
    2004 123 60.985,91     950,00 61.935,91
    2005 159 100.679,15   700,00 1.100,00 102.479,15
    10t/2006 133 26.332,77   200,00 77.102,00 103.634,77
    Tổng cộng 672 209.214,82 540,00 950,00 93.512,00 304.216,82

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Thông qua hoạt động OMO, NHNN không chỉ mua GTCG để bơm thêm vốn khả dụng khi thị trường thiếu hụt vốn khả dụng và mà còn bán GTCG để hút tiền nhàn rỗi khi thị trường dư thừa vốn nhằm thực hiện mục tiêu CSTT. Doanh số trúng thầu OMO tăng mạnh qua các năm, trung bình tăng 1,9573 lần/năm, qua đó tăng khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của TCTD cũng như các điều kiện tiền tệ.

    Từ năm 2002-2004, doanh số trúng thầu tăng trưởng hàng năm trên 100% và năm 2004 bằng 2,924 lần năm 2003 và 15,74 lần năm 2001. Doanh số trúng thầu tăng nhanh bởi các phiên OMO đã được tổ chức thường xuyên hơn, và doanh số giao dịch từng phiên tăng lên. Năm 2005, doanh số trúng thầu bằng 165,5% so với năm 2004.

    Doanh số mua vào qua OMO tăng nhanh qua các năm từ khi khai trương đến nay và nhìn chung tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng doanh số giao dịch OMO. Đặc biệt doanh số mua vào năm 2004 tăng đột biến, bằng 6,2 lần so với năm 2003. Doanh số mua vào năm 2005 bằng 165,1% so với doanh số mua vào năm 2004. Điều này chứng tỏ sự thay đổi của NHNN trong điều hành CSTT và diễn biến thị trường thường xuyên thiếu vốn khả dụng. Bên cạnh đó, tỷ trọng doanh số mua vào tăng từ 71,1% năm 2000 lên đến 98,2% vào năm 2005. Chỉ có năm 2003, tỷ trọng này giảm chỉ còn 46,5%.

    Doanh số trúng thầu bình quân của từng phiên cũng tăng tăng lên qua các năm. Năm 2000 mới đạt 112 tỷ đồng thì năm 2005 đã đạt 649 tỷ đồng, bằng 5,8 lần năm 2000. Bên cạnh đó, doanh số trúng thầu cao nhất trong một phiên cũng tăng lên theo các năm. Năm 2000, doanh số trúng thầu tối đa trong một phiên là 250 tỷ thì đến năm 2005 là 3.939 tỷ đồng. Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của các TCTD và các điều kiện của thị trường tiền tệ ngày càng tăng.

    2. Tần suất và phương thức giao dịch trên thị trường mở

    2.1. Tần suất giao dịch

    Để tăng cường khả năng tác động của công cụ này, NHNN đã tăng tần suất giao dịch thị trường mở. Trong thời gian đầu khi mới triển khai, các phiên OMO được tổ chức với tần suất 10 ngày/phiên. Ngày giao dịch OMO được tính theo ngày làm việc. Từ phiên thứ 14 vào ngày 29/11/2000, OMO được thực hiện với tần suất 1 tuần/phiên vào ngày thứ Tư hàng tuần. Điều này đã giúp cho các TCTD chủ động điều chỉnh kịp thời, linh hoạt vốn khả dụng của mình. Từ năm 2001, Ban điều hành OMO đã tăng định kỳ tổ chức các phiên giao dịch OMO 2 phiên/1 tuần vào ngày thứ 3 và thứ 5 hàng tuần. Ngoài ra để đáp ứng kịp thời vốn khả dụng cho TCTD, NHNN đã tổ chức các phiên đấu thầu đột xuất theo ngày, cá biệt 2 phiên/ngày trong thời gian giáp Tết Nguyên đán. Việc tổ chức các phiên đột xuất đã hỗ trợ kịp thời cho các TCTD khắc phục khó khăn về thiếu hụt vốn khả dụng, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ. Bắt đầu từ tháng 11/2004, giao dịch OMO đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, vào ngày thứ 2, 4 và 6, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD. Trong năm 2005, NHNN đã tổ chức được 158 phiên thị trường mở, tăng 28,5%so với năm 2004. Mặc dù hiện nay đã giao dịch với tần suất 3 phiên/tuần nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu giao dịch vốn của các ngân hàng.

    Bảng 2. Số lượng các phiên giao dịch OMO

     

     

    Năm

    Số phiên Số phiên mua Số phiên bán Tần suất giao dịch
    Mua hẳn Mua có kỳ hạn Bán hẳn Bán có kỳ hạn
    2000* 17 4 10 3 0 10 ngày/phiên
    2001 48 3 39 5 1 1 tuần/phiên
    2002 85 1 58 26 0 1 tuần/2 phiên
    2003 107 0 52 55 0 1 tuần/2 phiên
    2004 123 0 109 0 14 1 tuần/3 phiên
    2005 158 0 150 6 2 1 tuần/3 phiên

    Tổng số

    538 8 418 95 17  

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (*) từ 12/7 đến 31/12/2000

    NHNN chủ yếu thực hiện các giao dịch nhằm cung ứng vốn khả dụng cho TCTD, chiếm tới 79,2% tổng số phiên OMO. Các phiên giao dịch nhằm hấp thụ vốn dư thừa của hệ thống ngân hàng được tổ chức rất ít, điều này xuất phát từ thực tế của hệ thống ngân hàng là thường xuyên thiếu hụt vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng và thanh toán của nền kinh. Trong 2 năm gần đây, NHNN chỉ tổ chức 22 phiên bán GTCG trong tổng số 281 phiên OMO.

    2.2. Phương thức đấu thầu, xét thầu

    Bảng  3. Phương thức đấu thầu, xét thầu trên thị trường mở

    Năm Tổng số Phương thức đấu thầu Phương thức xét thầu
    Lãi suất khối lượng Riêng lẻ Thống nhất
    2000* 17 13 4 14 3
    2001 48 14 34 12 36
    2002 85 68 17 67 18
    2003 107 88 19 86 21
    2004 123 123 0 83 40
    2005 158 158 0 84 74

    Tổng số

    538 464 74 346 192

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (*) từ 12/7 đến 31/12/2000

    Về phương thức giao dịch trên thị trường mở, NHNN chủ yếu sử dụng phương thức đấu thầu lãi suất và phương thức xét thầu riêng lẻ. Phương thức đấu thầu lãi suất đã được NHNN sử dụng trong 86,2% số phiên giao dịch trong 5 năm qua và tới 100% số phiên trong 2 năm gần đây. Điều này xuất phát từ lý do NHNN đang điều hành CSTT theo khối lượng tiền tăng thêm nên nhu cầu giao dịch GCTG của NHNN thường được xác định trước. Ngoài ra, NHNN cũng sử dụng phương thức xét thầu riêng lẻ trong 65,3% số phiên giao dịch. Trong nửa cuối năm 2005, NHNN hầu như chỉ áp dụng phương thức xét thầu thống nhất trong các phiên OMO.

    2.3 Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở

    Nhìn chung, lãi suất OMO khá bám sát các lãi suất khác của NHNN công bố như lãi suất cơ bản, lãi suất TCV và lãi suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu thường nằm giữa mức lãi suất TCV và lãi suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu, trong các phiên đấu thầu lãi suất, thể hiện khá chính xác và phù hợp với diễn biến thị trường.

    1. Lãi suất công bố trong phương thấu đấu thầu khối lượng

    Trước khi thực hiện các phiên đấu thầu khối lượng, Ban điều hành OMO công bố lãi suất để các thành viên đặt thầu mua bán GTCG. Lãi suất công bố này là lãi suất trúng thầu trong các phiên. Vì vậy, lãi suất trúng thầu trong các phiên đấu thầu khối lượng thường chỉ có một lãi suất nhất định. Tuy nhiên, do lãi suất trúng thầu đã được NHNN xác định nên các thành viên không có sự lựa chọn về lãi suất khi giao dịch với NHNN và lãi suất này chưa phản ánh được nhu cầu về vốn của các thành viên trên thị trường. Đây là một nhược điểm của phương thức đấu thầu khối lượng trong giao dịch thị trường mở. Vì thế, trong 2 năm trở lại đây, NHNN đã không áp dụng phương thức đấu thầu khối lượng trong các phiên OMO nữa.

    1. Lãi suất trúng thầu trong phương thức đấu thầu lãi suất

    Trước mỗi phiên đấu thầu, Ban điều hành OMO dự kiến khối lượng GTCG cần giao dịch. Khối lượng giao dịch có thể được NHNN thông báo hoặc không thông báo trước. Đồng thời, căn cứ vào dự báo tình hình vốn khả dụng, NHNN cũng xác định một lãi suất chỉ đạo làm điểm dừng khi giao dịch. Lãi suất này không thông báo cho các thành viên thị trường khác. Trường hợp NHNN mua GTCG, lãi suất chỉ đạo sẽ là lãi suất mua thấp nhất của NHNN và ngược lại. Mục đích của NHNN khi đưa ra lãi suất chỉ đạo là để định hướng lãi suất trên thị trường tiền tệ.

    Trường hợp áp dụng phương thức xét thầu thống nhất, lãi suất trúng thầu chỉ có một mức nhất định. Trường hợp áp dụng phương thức xét thầu riêng lẻ, nhìn chung sẽ có nhiều mức lãi suất trúng thầu. Do lãi suất trúng thầu trong các phiên OMO theo phương thức đấu thầu lãi suất phản ánh chính xác hơn diễn biến của thị trường nên tại Việt Nam, NHNN chủ yếu thực hiện OMO theo phương thức đấu thầu lãi suất, chiếm tới 86,2% tổng số phiên và 100% số phiên trong 2 năm gần đây.

    3. Kết quả đạt được của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở

    Thứ nhất, các cơ chế và quy trình OMO đã được không ngừng cải tiến và hoàn thiện

    Dưới sự chỉ đạo của Ban điều hành OMO, các Vụ Cục chức năng của NHNN đã kịp thời sửa đổi, bổ sung cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật có liên quan. Về cơ bản, các vướng mắc về cơ chế, quy trình và hạ tầng kỹ thuật đã được từng bước xử lý, khắc phục. Công tác tổ chức, điều hành hoạt động OMO của NHNN được thực hiện bài bản, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong các phiên giao dịch.

    Các GTCG được sử dụng trong OMO đã được mở rộng theo tinh thần Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NHNN năm 2003. Đến nay các GTCG được giao dịch không chỉ gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN mà còn cả các loại trái phiếu dài hạn do ngân sách trung ương thanh toán.

    Quy trình thanh toán từng bước được rút ngắn. Từ thanh toán sau 2 ngày kể từ ngày đấu thầu (T+2) năm 2000, thanh toán sau ngày đấu thầu 1 ngày (T+1) năm 2001 và từ năm 2002 đến nay việc thanh toán được thực hiện ngay trong ngày đấu thầu (T+0). Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN đưa vào vận hành từ tháng 5/2003 đã tạo điều kiện cho các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và OMO được thanh, quyết toán tức thời, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các TCTD.

    Tần suất giao dịch cũng được từng bước tăng cường từ 10 ngày/phiên trong thời gian bắt đầu hoạt động lên 1 tuần/phiên trong năm 2001, 2 phiên/tuần năm 2002. Từ tháng 11/2004 hoạt động OMO đã thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD. Trong những dịp giáp Tết, NHNN đã thực hiện giao dịch hàng ngày và tổ chức thêm các phiên giao dịch đột xuất (cá biệt 2 phiên/ngày), giúp các TCTD đáp ứng kịp thời vốn đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hệ thống.

    Thủ tục đấu thầu ngày càng được cải tiến. Nhất là từ ngày 15/12/2004, NHNN đã bắt đầu áp dụng công nghệ trang Web trong giao dịch OMO, cho phép thành viên kết nối trực tuyến với NHNN, không phải đầu tư máy chủ, tiết kiệm chi phí đầu tư khi tham gia nghiệp vụ này. Điều này đã tạo điều kiện thu hút thêm thành viên tham gia thị trường, qua đó nâng cao vai trò điều tiết của công cụ này.

    Thứ hai, OMO được kết hợp chặt chẽ và đồng bộ với các công cụ khác nhằm phát tín hiệu điều hành CSTT và thực hiện mục tiêu CSTT.

    Từ tháng 7/2000 đến năm 2002, việc NHNN mua bán GTCG thông qua OMO đã góp phần điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các TCTD theo mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ. Nhất là trong thời điểm các TCTD gặp khó khăn về vốn khả dụng, OMO đã được kết hợp sử dụng đồng bộ với các công cụ CSTT khác như nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, nghiệp vụ cho vay cầm cố để hỗ trợ kịp thời cho các TCTD đảm bảo khả năng thanh toán, góp phần duy trì ổn định tiền tệ và thực hiện mục tiêu CSTT.

    Tỷ trọng doanh số mua qua OMO trong tổng doanh số hỗ trợ vốn của NHNN qua các kênh (TCV, OMO và Swap) ngày càng tăng qua các năm, từ khoảng 45% năm 2001 lên 75% năm 2003 và khoảng 82% từ năm 2004 đến nay. Điều này cho thấy vai trò điều tiết vốn khả dụng của OMO ngày càng đóng vị trí quan trọng.

    Trong năm 2003, do NHNN tăng cường mua ngoại tệ từ các TCTD nên vốn khả dụng của các TCTD tăng lên. Để điều hoà vốn khả dụng VND của hệ thống ngân hàng, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN thông qua OMO. Từ tháng 4-7/2003, trước xu hướng các TCTD liên tục tăng lãi suất huy động VND trong khi vốn khả dụng vẫn dư thừa khá lớn, bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, giảm tỷ lệ DTBB, NHNN đã liên tục chào mua GTCG trong các phiên giao dịch OMO với lãi suất thấp nhằm phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng vốn khả dụng với chi phí thấp, các TCTD cần theo dõi và chủ động cân đối vốn hợp lý. Trong năm 2004 và 2005, chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tục tăng trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế vẫn được Chính phủ và NHNN hết sức quan tâm thực hiện. NHNN liên tục chào mua GTCG để cung ứng vốn ra nền kinh tế nhằm góp phần hạ nhiệt lãi suất thị trường. Chính vì vậy mà doanh số giao dịch OMO tăng đột biết trong 2 năm 2004-2005.

    Nhìn chung, việc điều hành OMO đã được kết hợp tương đối đồng bộ với các công cụ CSTT khác nhằm thực hiện mục tiêu CSTT. Lãi suất OMO đã kết hợp khá chặt chẽ với lãi suất TCV, lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường.

    Thứ ba, OMO là kênh để NHNN có được nguồn thông tin về tình hình nguồn vốn của các TCTD và về tình hình thị trường tiền tệ nói chung, làm cơ sở cho việc điều hành CSTT.

    Trong điều kiện thông tin về thị trường tiền tệ còn chưa thu thập được đầy đủ và kịp thời, kết quả hoạt động OMO có thể coi là kênh thông tin hữu hiệu phản ánh một phần tình hình thị trường tiền tệ phục vụ cho điều hành CSTT. Thông qua việc tổng hợp, phân tích các thông tin về khối lượng, lãi suất đặt thầu và trúng thầu trong các phiên giao dịch OMO cũng có thể đưa ra các nhận định về vốn khả dụng của các TCTD, cũng như xu hướng lãi suất thị trường.

    Trong điều kiện NHNN chuyển sang điều hành bằng các công cụ tiền tệ gián tiếp như hiện nay, việc dự báo trước các diễn biến của thị trường để có quyết định phù hợp và kịp thời về việc điều chỉnh các công cụ CSTT ngày càng đóng vai trò quan trọng. Bằng việc theo dõi, dự báo thường xuyên vốn khả dụng của các TCTD, NHNN đã nắm bắt được các diễn biến về vốn của các TCTD để đưa ra các quyết định điều hành OMO và điều hành CSTT nói chung.

    Thứ tư, hoạt động OMO đã góp phần phát triển thị trường tiền tệ, hỗ trợ các TCTD sử dụng vốn có hiệu quả.

    Thông qua hoạt động OMO, tính thanh khoản của các GTCG do các TCTD nắm giữ được tăng cường. Điều này góp phần thúc đẩy hoạt động của thị trường sơ cấp, giúp cho các TCTD yên tâm hơn khi đầu tư vào các trái phiếu dài hạn của Chính phủ, khuyến khích các hoạt động mua bán lại trái phiếu chính phủ.

    Nhiều TCTD không chỉ coi việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ là hình thức đầu tư an toàn mà còn là hình thức dự trữ thanh khoản có hiệu quả cao. Khi cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán, các TCTD có thể sử dụng các GTCG trong các giao dịch OMO cũng như các nghiệp vụ thị trường tiền tệ nói chung, tạo điều kiện cho các TCTD điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng tăng tỷ suất đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

    Qua theo dõi, phân tích các kết quả hoạt động OMO được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin, các TCTD có thể tham khảo về diễn biến thị trường để quyết định việc tham gia các hoạt động thị trường tiền tệ, nắm bắt tín hiệu về định hướng điều hành CSTT của NHNN để có hướng cân đối nguồn vốn thích hợp.

    Thứ năm, công tác phân tích, dự báo vốn khả dụng của các TCTD làm cơ sở cho việc quyết định giao dịch OMO ngày càng được tăng cường.

    Bộ phận quản lý vốn khả dụng đã cố gắng cải tiến phương pháp dự báo, nâng cao chất lượng dự báo vốn khả dụng, khắc phục khó khăn trong thu thập thông tin, khai thác tối đa các nguồn thông tin khác, thường xuyên trao đổi với các TCTD nhất là các NHTMNN để nắm bắt diễn biến thị trường, qua đó giảm sai số khi dự báo, đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của công cụ này.

    Bằng việc đưa hệ thống thông tin báo cáo mới của NHNN theo Quyết định số 477/2004/QĐ-NHNN vào áp dụng, NHNN đã bước đầu có điều kiện khai thác một số thông tin về vốn khả dụng qua mạng. Thông tin về vốn khả dụng của các TCTD đã được phản ánh toàn diện và kịp thời hơn. Các thành viên OMO đã có sự quan tâm, chú trọng hơn đối với việce theo dõi, phân tích và dự báo luồng vốn, thực hiện quản lý vốn ngày càng hiệu quả hơn để có thể tăng cường tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền tệ, nhất là nghiệp vụ OMO.

    4. Những hạn chế và nguyên nhân

    1. Những hạn chế

    Qua các năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả khả quan của hoạt động OMO thì vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định:

    Thứ nhất, tác động của OMO đến thị trường tiền tệ còn hạn chế

    – Công cụ OMO chủ yếu phát huy vai trò điều tiết khối lượng vốn khả dụng của các TCTD hơn là điều tiết lãi suất của thị trường. Nguyên nhân là do NHNN đang thực hiện khối lượng tiền chứ không phải điều tiết lãi suất.

    – Mặc dù lãi suất thị trường mở mang tính thị trường nhưng NHNN vẫn phải áp dụng lãi suất chỉ đạo mang tính hành chính trong một số phiên giao dịch OMO, để qua đó có thể can thiệp tới lãi suất của thị trường. Ngoài ra mối quan hệ giữa lãi suất OMO cũng như các lãi suất khác của NHNN và lãi suất thị trường chưa thật chặt chẽ.

    – Doanh số giao dịch OMO thấp, bình quân 373 tỷ đồng/phiên, nên mức độ tác động của OMO đến các điều kiện thị trường vẫn còn khá khiêm tốn.

    – Chưa có mối liên hệ rõ ràng giữa hoạt động của thị trường mở với tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế.

    Như chúng ta đã biết, OMO tác động trực tiếp đến số dư tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN, là một bộ phận của tiền cơ sở MB. Mặt khác, MB lại là nhân tố cấu thành M2. Vì vậy, về mặt lý thuyết thì giữa số dư ròng OMO và M2 phải có mối quan hệ hàm số với nhau.

    Qua theo dõi sự biến động theo từng quý của số dư ròng OMO và M2 tại Việt Nam trong 5 năm qua (22 quan sát), có thể nhận xét như sau: Nhìn chung giữa số dư ròng của OMO và M2 có sự biến động không cùng chiều với nhau và không có mối quan hệ hàm số. Cụ thể: M2 tăng trưởng đều hàng quý, với tỷ lệ tăng trưởng hàng quý bình quân khoảng 6,05% trong khi số dư ròng OMO biến động không đều, lúc tăng lúc giảm với biên độ khá lớn.

    Thứ hai, hoạt động thị trường mở còn một số bất cập

    – Tốc độ và chất lượng đường truyền kết nối qua mạng giữa NHNN và các thành viên còn chậm và đôi lúc bị ngắt quãng, nhất là khi nhiều thành viên đồng thời giao dịch với NHNN;

    – Các ngân hàng khi muốn lưu ký GTCG để tham gia các giao dịch với NHNN đều phải đến trực tiếp Sở Giao dịch NHNN để hoàn thành các thủ tục. NHNN chưa cho phép đăng ký lưu ký GTCG thông qua trang Web của NHNN để giảm thiểu thủ tục giấy tờ và việc nhập liệu thủ công của Sở Giao dịch NHNN.

    – NHNN không thông báo định hướng phân bổ tỷ trọng mua/bán giữa các loại GTCG như trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, công trái … trước từng phiên giao dịch. Nhiều ngân hàng đã bị trượt thầu trong một số phiên do không nắm được định hướng tỷ lệ phân bổ xét thầu cho từng loại GTCG của NHNN nên đã đặt thầu giao dịch với các loại GTCG mà NHNN mua/bán với khối lượng thấp mặc dù đã đặt thầu ở mức lãi suất cạnh tranh.

    – NHNN chưa chấp nhận hoàn toàn các chữ ký điện tử trong các giao dịch với NHNN. Hiện nay mặc dù bản đăng ký mua bán GTCG và hợp đồng, phụ lục hợp đồng đều được ký duyệt chữ ký điện tử trên mạng, Sở Giao dịch NHNN yêu cầu phải có chữ ký của lãnh đạo NHTM trên bản in để chuyển tiền, không chấp nhận chữ ký điện tử và chữ ký cấp phòng của NHTM được uỷ quyền.

    – Thời gian để rút được GTCG lưu ký ra khỏi NHNN phải chờ đợi lâu (thường đến 5-7 ngày), do Trung tâm giao dịch chứng khoán TPHCM phải đợi bản gốc văn bản của NHNN gửi đến mới hoàn tất thủ tục cho khách hàng.

    Thứ ba, hoạt động của thị trường mở chưa thực sự sôi động.

    Tuy thời gian triển khai không còn ngắn nhưng công cụ OMO vẫn đang còn là một nghiệp vụ mới đối với một số các TCTD, nhất là các NHTMCP. Việc tham gia thị trường mở vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, hạn chế. Các NHTMCP tham gia không thường xuyên và không nhiều. Điều này xuất phát từ nguyên nhân các NHTMCP chưa nhận thức được đầy đủ các ưu điểm của công cụ này. Bên cạnh đó, vấn đề tâm lý khi giao dịch với NHNN vẫn chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn.

    Trong mỗi phiên giao dịch OMO thường chỉ có từ 1 đến 5 thành viên tham gia, chiếm tỷ lệ tương đối thấp so với tổng số các thành viên đăng ký tham gia OMO và chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số các TCTD. Các thành viên tích cực tham gia vẫn là các NHTMNN và một số NHTMCP. Điều này làm giảm hiệu quả và mức độ tác động của NHNN tới dự trữ của hệ thống ngân hàng.

    Thứ tư, kỳ hạn mua bán GTCG ngắn và chưa đa dạng

    Hiện nay, NHNN chỉ thực hiện thống nhất một loại kỳ hạn giao dịch trong một phiên đấu thầu. Điều này đã hạn chế sự lựa chọn về kỳ hạn của các thành viên thị trường, mặc dù nhu cầu về khối lượng và thời gian của các thành viên là khác nhau. Bên cạnh đó, NHNN chỉ thực hiện giao dịch theo một chiều nhất định (mua hoặc bán GTCG) trong một phiên và chủ yếu thực hiện việc mua GTCG nên các TCTD cũng không thể tham gia nếu không phù hợp với nhu cầu vốn của họ. Điều này đã được chứng minh trong thực tế khi tại nhiều phiên giao dịch, không có thành viên nào tham gia.

    Mặc dù về quy định là kỳ hạn giao dịch đã được đa dạng hoá từ 7 ngày đến 182 ngày nhưng trên thực tế, NHNN thường chỉ giao dịch với các kỳ hạn từ 7-30 ngày, dẫn đến các khoản thanh toán với NHNN đến hạn dồn dập trong một thời gian ngắn và tăng gánh nặng thanh toán cho các NHTM.

    1. Nguyên nhân

    Thứ nhất, thị trường tiền tệ ở Việt Nam còn chưa thực sự phát triển, các kênh truyền dẫn tác động CSTT chưa hoàn thiện làm hạn chế hiệu quả các công cụ CSTT. Việc thu thập thông tin về tình hình thị trường tiền tệ còn nhiều khó khăn. Đến nay NHNN vẫn chưa có hệ thống theo dõi kịp thời và đầy đủ các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Việc theo dõi, dự báo vốn khả dụng vẫn còn có những khó khăn nhất định. Trong khi đó, bản thân một số TCTD thành viên cũng gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về tình hình thị trường. Việc đánh giá, phân tích tình hình thị trường thông qua xem xét phản ứng của một số thành viên đôi khi không chính xác diễn biến thực tế.

    Chính vì vậy cho đến nay, NHNN vẫn chưa xây dựng được cơ chế truyền tải của CSTT và chưa lượng hoá được mức độ tác động của các công cụ CSTT đến M2 và các chỉ tiêu vĩ mô khác của nền kinh tế. Đây là một trong những nhược điểm lớn trong điều hành CSTT của NHNN.

    Thứ hai, cơ sở hạ tầng cho hoạt động OMO còn bất cập. Sự không đồng bộ trong ứng dụng công nghệ thông tin giữa NHNN và các thành viên thị trường làm hạn chế số lượng thành viên tham gia, đặc biệt là các NHTMCP (các chương trình phần mềm ứng dụng từ năm 2000-2004 còn có sự tách biệt nên khó sử dụng đối với các thành viên ít giao dịch). Việc nâng cấp hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho các nghiệp vụ thị trường mở nói riêng và các nghiệp vụ của NHNN nói chung còn chậm làm hạn chế đến tiến độ triển khai các ứng dụng công nghệ hiện đại vào các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ trong đó có nghiệp vụ OMO.

    Thứ ba, nhiều TCTD vẫn chưa quan tâm và chưa nhận thức đầy đủ tính hiệu quả của công cụ này. NHNN đã tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, tổ chức tập huấn triển khai hoạt động thị trường mở … nhằm phát triển hoạt động OMO nói riêng cũng như các hoạt động thị trường tiền tệ nói chung nhưng vẫn chưa được một số TCTD thực sự quan tâm. Số lượng thành viên thường xuyên tham gia OMO đã tăng nhưng vẫn còn hạn chế, chỉ có 14/29 TCTD thường xuyên tham gia các giao dịch OMO. Điều này không chỉ làm hạn chế sự tác động của OMO đến thị trường mà còn hạn chế khả năng sử dụng vốn hiệu quả của TCTD.

    Thứ tư, hàng hoá của OMO tuy đã được mở rộng nhưng vẫn chưa thực sự đa dạng hoá. Trong thời gian từ năm 200-2003, công cụ giao dịch OMO chỉ bao gồm các GTCG ngắn hạn. Thực hiện Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NHNN, danh mục GTCG đã được mở rộng, lượng GTCG có thể giao dịch trong OMO đã tăng lên, song vẫn tập trung tại các NHTMNN.

    Kỳ hạn của trái phiếu, tín phiếu Chính phủ – loại hàng hoá chủ yếu trong OMO – vẫn chưa thực sự đa dạng hoá, nhất là các tín phiếu kho bạc với thời hạn dưới 364 ngày ít được phát hành. Điều này cũng làm cho nhiều NHTM khó có điều kiện đầu tư vào GTCG, tạo hàng hoá tham gia OMO và các nghiệp vụ thị trường tiền tệ khác.

     

     

     

    CHƯƠNG III.

    GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ

    CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

    1. Bổ sung thêm hàng hoá giao dịch trên thị trường mở

    Để hoạt động trên thị trường thực sự sôi động thì một trong những điều kiện cần thiết là phải bổ sung thêm các loại hàng hoá cho thị trường. Vì vậy, trong thời gian tới, NHNN cần xem xét bổ sung thêm các loại GTCG được phép giao dịch trên thị trường mở.

    Bên cạnh các GTCG do Bộ Tài chính phát hành thì NHNN có thể chấp thuận các loại GCTG khác do các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có uy tín, các chính quyền địa phương hoặc các tổng công ty lớn của Nhà nước được phép giao dịch trên thị trường mở như: trái phiếu của Quỹ Hỗ trợ phát triển, trái phiếu của các NHTMNN, trái phiếu đô thị của UBND các tỉnh, thành phố lớn đã tự chủ được ngân sách địa phương, trái phiếu của các Tổng công ty dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam. Việc đa dạng hoá hàng hoá giao dịch trên thị trường mở sẽ thúc đẩy các NHTM đầu tư vào các GTCG này, từ đó tăng thêm tính thanh khoản của các GTCG này và thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán trái phiếu.

    2. Đa dạng hoá các kỳ hạn giao dịch và tiến tới giao dịch nhiều kỳ hạn trong một phiên

    Hiện nay, phần lớn trong một phiên giao dịch chỉ có một kỳ hạn và giao dịch theo một chiều mua hoặc bán nên các thành viên thị trường mở không có nhiều sự lựa chọn. Kỳ hạn giao dịch ngắn nhất là 7 ngày và thường giao dịch với kỳ hạn 15 ngày và 30 ngày.

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong việc lựa chọn kỳ hạn giao dịch, NHNN cần đa dạng hoá hơn nữa các kỳ hạn giao dịch trong một phiên giao dịch. Trong thời gian trước mắt, NHNN có thể áp dụng 2 kỳ hạn giao dịch trong một phiên. Việc áp dụng nhiều kỳ hạn trong một phiên sẽ cho phép các thành viên có thêm sự lựa chọn phù hợp với dự báo nhu cầu vốn của họ. Qua đó, sẽ tạo thêm cơ hội và tăng sự hấp dẫn của thị trường mở đối với các thành viên.

    Bên cạnh đó, NHNN cần phân bổ hợp lý các kỳ hạn giao dịch. Trong thời gian chưa triển khai được việc đa dạng kỳ hạn giao dịch trong một phiên, NHNN cần phân bổ kỳ hạn hợp lý nhằm tránh tình trạng các thành viên phải dồn trả nhiều hợp đồng vào cùng một ngày hoặc vào các ngày quá gần nhau làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của họ, ví dụ hợp đồng 30 ngày và hợp đồng 15 ngày đáo hạn cùng một thời điểm.

    NHNN cũng cần tiến tới áp dụng giao dịch mua bán kỳ hạn qua đêm đối với OMO. NHNN sẽ định hướng đưa ra giao dịch repo kỳ hạn qua đêm để thúc đẩy thị trường hoạt động linh hoạt và kịp thời. Công tác dự đoán và quản lý vốn của NHNN và NHTM do đó được tiến hành trên cơ sở từng ngày, đảm bảo chính xác và hiệu quả. Để giao dịch ở kỳ hạn này, NHNN và NHTM cần có những cải tiến và hoàn thiện về mặt quản lý, trình độ và công nghệ. Đây là một đòn bẩy để giúp thị trường vốn phát triển theo xu hướng quốc tế.

    3. Tăng tần suất giao dịch trên thị trường mở, tiến tới giao dịch 02 phiên/ngày

    Hiện nay, tần suất giao dịch thị trường mở là 3 phiên/tuần, nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của thị trường, nhất là vào những thời kỳ mà nhu cầu vốn của hệ thống ngân hàng tăng nhanh. Chính vì vậy, việc gia tăng tần suất giao dịch của thị trường mở là hết sức cần thiết để tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng thêm mức độ can thiệp của NHNN đến thị trường.

    Trước mắt, trong năm 2006, NHNN có thể định kỳ tổ chức 01 phiên/ngày vào lúc 11 giờ sáng, tức là 5 phiên/tuần, tăng thêm 2 phiên/tuần so với hiện nay. Điều này cho phép NHNN có thể bổ sung hoặc hấp thụ vốn kịp thời từ hệ thống ngân hàng, tăng thêm khả năng và mức độ can thiệp thị trường của NHNN. Ngoài ra cũng cho phép NHNN có thể kịp thời sửa chữa các sai lầm của mình trong các phiên trước đó.

    Sau đó, cùng với sự gia tăng của các thành viên thị trường và khối lượng giao dịch trên thị trường, NHNN cần tiến tới tổ chức giao dịch 2 phiên/ngày vào lúc 11 giờ sáng và 3 giờ chiều. Khi đó, NHNN có thể can thiệp kịp thời tới thị trường để đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng nhu cầu vốn của các TCTD thành viên cũng như hệ thống ngân hàng.

    4. Hoàn thiện các quy định lưu ký giấy tờ có giá tại Ngân hàng Nhà nước

    Hiện nay, mặc dù việc đặt thầu, xét thầu và thông báo đều đã thực hiện qua mạng nhưng việc theo dõi, lưu ký GTCG của NHNN thực hiện hoàn toàn thủ công bằng văn bản. Điều này làm kéo dài thời gian giao nhận GTCG giữa NHNN và các TCTD khi thực hiện các giao dịch thị trường mở. Vì vậy, việc theo dõi lưu ký GTCG bằng phần mềm sẽ góp phần khắc phục hạn chế này. Phần mềm lưu ký GTCG phải cho phép nối mạng giữa NHNN, các thành viên thị trường và các tổ chức lưu ký. Khi các TCTD có nhu cầu giao dịch với NHNN thì việc giao nhận GTCG cần được thực hiện nhanh chóng. Các GTCG đang lưu ký tại các tổ chức lưu ký như Trung tâm giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán, các công ty chứng khoán có thể nhanh chóng được chuyển vào tài khoản lưu ký GTCG của NHNN. NHNN cũng có thể kiểm tra tức thời các tài khoản lưu ký GTCG này để thực hiện các giao dịch với các TCTD.

    Mặt khác, NHNN cần tiến tới việc quản lý lưu ký GTCG trong hệ thống NHNN tập trung về Hội sở chính của NHNN. Việc quản lý lưu ký GTCG của NHNN hiện nay đang thực hiện phân tán tại Sở Giao dịch NHNN và các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố. Điều này cho phép Ban điều hành OMO và các đơn vị liên quan tại NHNN có thể theo dõi sự luân chuyển GTCG chặt chẽ hơn.

    5. Cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng công nghệ cho thị trường mở

    Bên cạnh việc cải tiến, hoàn thiện các quy định thì NHNN cần thực hiện đồng bộ việc cải tiến, nâng cấp hạ tầng công nghệ của thị trường mở. Để làm được điều đó, NHNN cần phải thực hiện một số biện pháp sau :

    – Tiếp tục nâng cấp và đồng bộ hoá các trang thiết bị phần cứng, hoàn thiện chương trình phần mềm ứng dụng đối với OMO để tạo điều kiện cho các TCTD thành viên thực hiện nghiệp vụ một cách nhanh chóng, thông suốt, đáp ứng yêu cầu phát triển của nghiệp vụ này;

    – Hiện nay tốc độ đường truyền giữa NHNN với các TCTD đã được nâng lên tới 64kps nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về tốc độ. Hiện tượng quá tải và nghẽn mạch đường truyền đã xảy ra khi cùng lúc có nhiều thành viên đăng nhập giao dịch. Chính vì vậy, NHNN cần phải nhanh chóng tăng tốc độ đường truyền. NHNN có thể tăng cường tốc độ đường truyền bằng cách mở rộng băng thông đường truyền, nhất là đường truyền giữa các TCTD và NHNN và giữa Sở Giao dịch NHNN với Cục Công nghệ tin học ngân hàng. Việc nâng cấp đường truyền cần được thực hiện nhanh chóng để đáp ứng sự gia tăng về thành viên và khối lượng giao dịch của thị trường mở trong tương lai. Bên cạnh đó, NHNN cũng cần xây dựng các kênh dự phòng để đảm bảo giao dịch được thực hiện thông suốt, không bị đứt quãng.

    – NHNN cần tích hợp phần mềm giao dịch OMO với phần mềm đấu thầu tín phiếu kho bạc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý GTCG, thao tác nghiệp vụ và luân chuyển thông tin giữa 2 thị trường sơ cấp và thứ cấp.

    – Kết nối với hệ thống lưu ký GTCG, hệ thống kế toán, thanh toán để thống nhất quản lý GTCG từ khi phát hành, luân chuyển giữa các TCTD, thanh quyết toán và sử dụng trong các giao dịch trên thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng và thị trường chứng khoán.

    – NHNN cũng cần tăng cường an ninh trên mạng máy tính, nhất là với các thông tin mang tính nhạy cảm của NHNN. Đến nay, mặc dù chưa để xảy ra trường hợp thông tin bị lấy cắp hay can thiệp trái phép trên đường truyền nhưng không vì thế mà công tác an ninh mạng có thể lơ là. Bên cạnh việc sử dụng các tính năng bảo mật của các phần mềm thì NHNN cần trang bị các thiết bị an ninh mạng chuyên dụng và tăng cường nhân lực về công nghệ thông tin để đảm bảo an toàn, bảo mật các thông tin trong giao dịch thị trường mở, đảm bảo mạng máy tính hoạt động thông suốt, an toàn, phát hiện và xử lý kịp thời các truy nhập, can thiệp trái phép vào hệ thống.

    6. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, thông tin rộng rãi về OMO để thu hút thêm các TCTD tham gia thị trường mở

    Mở rộng hệ thống công nghệ thông tin OMO từ chỗ chỉ là nơi thuần tuý thực hiện các giao dịch mua bán GTCG phát triển thành cổng thông tin của thị trường tiền tệ như thông tin về nhu cầu vốn khả dụng, nhu cầu mua bán GTCG của các TCTD, thông tin về khối lượng GTCG do NHNN và Bộ Tài chính phát hành, khối lượng GTCG do NHNN và các TCTD nắm giữ.

    Hiện nay, dù đã qua 5 năm hoạt động nhưng số lượng thành viên tham gia còn ít, nhất là các NHTMCP và chi nhánh NHNg. Điều này làm hạn chế tính hiệu quả của công cụ và giảm mức độ can thiệp của NHNN đối với thị trường tiền tệ thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Do đó, việc tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về tính ưu việt, tiện dụng, hiệu quả của nghiệp vụ OMO là hết sức cần thiết. Mục tiêu là đến năm 2007 phải đạt được 40 thành viên tham gia OMO và có tới 25 thành viên hoạt động thường xuyên.

    Để thực hiện được mục tiêu này, NHNN cần tăng cường biện pháp trao đổi thông tin giữa NHNN và các thành viên thị trường để kịp thời nắm bắt diễn biến thị trường làm cơ sở cho việc thực hiện OMO nói riêng và điều hành CSTT nói chung. NHNN cần công bố tỷ lệ định hướng xét thầu giữa các loại GTCG trong từng phiên để các thành viên có cơ sở đặt thầu cạnh tranh. Việc công bố định hướng điều hành của NHNN có thể thông qua Website của NHNN. NHNN cũng cần cho phép các thành viên thị trường mở có thể theo dõi trực tiếp các GTCG của mình đang lưu ký tại Sở Giao dịch NHNN và tình trạng giao dịch của các GTCG đó, đồng thời bổ sung kịp thời các thông tin về kết quả chi tiết của các phiên đấu thầu thị trường mở như thông tin cập nhật trên mạng tin Reuters.

    Bên cạnh đó, các TCTD cũng cần quan tâm hơn nữa đến các tín hiệu và cảnh báo của NHNN trên thị trường tiền tệ để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

    7. Nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành nghiệp vụ thị trường mở

    Con người luôn là yếu tố then chốt và quyết định trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội. Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ của cán bộ NHNN trong xây dựng và điều hành CSTT là nhu cầu vừa mang tính cấp thiết vừa lâu dài.

    Theo kinh nghiệm của các quốc gia điều hành thành công CSTT thì năng lực và kinh nghiệm của các cán bộ xây dựng và điều hành CSTT được đặc biệt chú trọng. Tại một số quốc gia, như Mỹ, Hội đồng lãnh đạo NHTW có nhiệm kỳ làm việc rất dài. Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ NHTW cao hơn chế độ thông thường.

    Do vậy, để hoàn thiện và triển khai hiệu quả OMO tại Việt Nam, điều quan trọng là phải nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành OMO, không chỉ tại NHNN mà còn tại các TCTD thành viên. NHNN và các ngân hàng cần phải thường xuyên đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý ngân hàng, cán bộ nghiệp vụ. Chương trình đào tạo cần phải được chuẩn hoá và phù hợp với yêu cầu, xu thế phát triển của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đào tạo lý thuyết cơ bản thì cũng cần tiến hành các khoá học ở trong nước và nước ngoài.

    8. Mở rộng các thành viên thị trường mở

    Hiện nay, thành viên thị trường mở chủ yếu là các ngân hàng và tại Việt Nam vẫn chưa hình thành các nhà giao dịch sơ cấp. Điều này là phù hợp với thực tế và trình độ quản lý hiện nay của NHNN cũng như các TCTD.

    Trong tương lai, để tăng cường khả năng can thiệp của NHNN thông qua thị trường mở, NHNN cần nghiên cứu mở rộng các thành viên thị trường. Theo đó, các tổ chức như Quỹ Hỗ trợ phát triển, Kho bạc Nhà nước, Quỹ Bảo hiểm xã hội, Công ty tiết kiệm bưu điện … sẽ được chấp thuận là thành viên của thị trường mở. Điều kiện tiên quyết là các tổ chức này phải có tài khoản giao dịch tại NHNN và có hệ thống máy tính nối mạng với NHNN. Việc mở rộng thành viên thị trường mở cho phép các tổ chức sử dụng vốn nhàn rỗi hiệu quả hơn trên thị trường.

    9. Công nhận chữ ký điện tử trong các giao dịch thị trường mở

    Hiện nay, mặc dù tại các bản đăng ký mua, bán GCTG và hợp đồng, phụ lục hợp đồng đều được ký duyệt trên mạng nhưng NHNN vẫn yêu cầu phải có chữ ký của lãnh đạo các TCTD trên các bản in để thực hiện chuyển tiền, không chấp nhận chữ ký điện tử hay chữ ký của người được uỷ quyền. Tại các TCTD, hiện nay việc thực hiện các giao dịch trên thị trường tiền tệ thường do Lãnh đạo của bộ phận phụ trách nguồn vốn trực tiếp thực hiện. Do đó, việc yêu cầu các giấy tờ có chữ ký của lãnh đạo các TCTD đã tăng thêm các thủ tục hành chính trong các giao dịch giữa NHNN với các TCTD.

    Để giảm bớt thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian hoàn thành các giao dịch thị trường mở, NHNN cần chấp nhận sử dụng các chữ ký điện tử của lãnh đạo TCTD hoặc những người được uỷ quyền trong các giao dịch này. Để thực hiện được điều này, NHNN cần bổ sung quy định về việc sử dụng chữ ký điện tử trong các giao dịch tiền tệ với NHNN và chấp nhận hoàn toàn chữ ký điện tử trong các giao dịch thị trường mở. Các TCTD cần thông báo và đăng ký các chữ ký của những người chịu trách nhiệm thực hiện các giao dịch thị trường mở với NHNN. Bên cạnh đó, NHNN cũng cần tăng cường công tác bảo mật chữ ký điện tử và an ninh mạng nhằm tránh trường hợp các chữ ký này bị sử dụng ngoài ý muốn của TCTD và các hoạt động thị trường mở bị can thiệp bất hợp pháp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%C4%83n-tin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    A. PHẦN  MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Hiện nay, các quán café phục vụ cho các tầng lớp và lứa tuổi mọc ra rất nhiều ở thành phố Biên Hòa. Nhưng để tìm một địa điểm phù hợp để thư giãn trong thời gian rảnh, một không gian yên tĩnh để làm việc ….cho các tầng lớp và lứa tuổi, đặc biệt cho sinh viên là rất khó. Bên cạnh đó, giá cả cũng quyết định phần nào đến quyết định của họ vì đa phần chúng có giá khoảng 17,000 trở lên, đối với sinh viên hay những người có thu nhập trung bình thì đó là cái giá không rẻ. Vì vậy chúng tôi quyết định lập 1 dự án đầu tư vào quán café nhằm phục vụ cho những ai yêu thích tiểu thuyết, thích không gian yên tĩnh, thu nhập thấp đối với sinh viên, giá cả phải chăng đáp ứng điều kiện hiện có của mọi tầng lớp.

    1. Mục tiêu nghiên cứu :

    – Đạt được lợi nhuận ngay từ năm đầu hoạt động

    – Là nơi giao lưu của sinh viên, cán bộ công nhân viên, và các đối tượng khác.

    – Sự hài lòng của khách hàng

    – Đạt uy tín với các đối tượng có liên quan: Nhà cung cấp, khách hàng,…..

    – Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mở ra các loại hình kinh doanh không còn khó khăn và luôn được nhà nước  khuyến khích Cho nên với loại hình kinh doanh quán cafe thì việc đăng ký sẽ dễ dàng

    • – Thị trường kinh doanh cafe trong tương lai sẽ phát triển cao và là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    B. NỘI DUNG

    Chương I: Mô Tả Tổng Quan

    1. Đầu tư

    1.1 Tên

    – Tên quán: “Charming coffee”

    – Địa điểm: 165 Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất, tp Biên Hòa, Đồng Nai.
    – Ngành nghề kinh doanh: dịch vụ giải khát

    – Sản phẩm: café , trà , đặc biệt café kem

    1.2 Đại diện được ủy quyền

    – Họ và tên: Vũ Chu Cung

    – Sinh ngày: 09-09-1989

    – Chức vụ : Giám đốc

    – Số CMND: 272456756 cấp ngày 26/06/2006 tại CA Đồng Nai

    – Hộ khẩu thường trú : 169/6 kp6 p.Tân Hòa – Biên Hòa – Đồng Nai

    – Điện Thoại: 0952439171

    1.3 Trụ sở :

    – Tổng diện tích: 1500m2 ( 25*60 )

    – 165 đường Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất , tp Biên Hòa , Đồng Nai.

    – Điện thoại : 061.3846542

    – Fax           : 061.3846543

    1.4 Giấy phép kinh doanh

    – Ngày 01/10/2010 : nộp hồ sơ cần thiết cho UBND Tỉnh Đồng Nai

    – Vốn đăng kí :

    – Dự kiến 02/11/2011 nhận được giấy phép kinh doanh .

    2. Sản phẩm

    2.1Các loại sản phẩm kinh doanh

    Các loại sản phẩm của quán có 4 nhóm:

    I. CAFE II. CAFÉ KEM III. TRÀ
    Cafe Macchiato Trà lipton
    Cafe đá Latte Trà lipton sữa
    Cafe sữa nóng Cappuchino Trà lài
    Cafe sữa đá mocha Trà đào
    Cafe rum Americano Trà dâu
    Cafe sữa rum   Trà cam
    Bạc sỉu nóng   Trà chanh dây
    Bạc sỉu đá   Trà gừng
        Trà bí đao

    2.2 Yếu tố cạnh tranh

    – Những tách cafe kem mới lạ, thơm ngon và độc đáo

    Được bắt nguồn từ nước Ý, Espresso còn có nghĩa là “một cách tức khắc” – tức là loại café có thể phục vụ cho khách hàng ngay lập tức và bắt đầu xuất hiện vào khoảng những năm 1930. Ngày nay, người ta đếm có khoảng ít nhất 10 loại café được bắt nguồn từ Espresso được phổ biến và ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới. Để không khiến các ấy “hoa mắt”, chúng mình sẽ chỉ “điểm mặt” các loại café quen thuộc đối với teens chúng mình nhất thôi nhé!

    Ảnh: Imagine

    Để có được một tách Espresso “chính hiệu” thì người ta phải rang những hạt café sẫm màu rồi xay rất nhuyễn, sau đó được pha chế bằng cách dùng nước nóng nén dưới áp suất cao. Nhờ vậy mà một tách Espresso sẽ có vị rất đậm và trên mặt có một lớp bọt màu nâu còn gọi là Crema rất thơm mà không đắng ngắt. Có kha khá nhiều những “tranh cãi” nảy lửa về phương thức làm ra một tách Espresso “tuyệt hảo” nhất, người thì nói rằng nguyên liệu cần phải có sự pha chế theo tỉ lệ 60% là café Arabica và 40% là Robusta, người thì lại “cương quyết” cho rằng chỉ có một tách Espresso với 100% là hạt café Arabica mới là “số dzách” cơ đấy.

    Gần giống với Espresso nhất là Espresso con panna với một chút kem tươi ở phía trên

    Trong tiếng Ý thì “Macchiato” có nghĩa là lốm đốm và cũng vì “cái tên” này mà có khá nhiều tranh cãi trong cách pha chế của loại đồ uống này. Có người thì nói Macchiato là Espresso được cho thêm vài vệt sữa trên bề mặt tạo thành các đường vân trong khá đẹp mắt mà thôi. Tuy nhiên hiện nay thì nhiều quán café họ lại cho kha khá nhiều sữa vào tách Macchiato, thế nên có rất nhiều sự nhầm lẫn giữa Macchiato và Latte.

    Ảnh: Mado

    “Latte” được bắt nguồn từ từ Caffellatte trong tiếng Ý có nghĩa là café và sữa. Nếu người “thưởng thức” không thật sành sẽ rất hay nhầm lẫn vị của Latte với Cappuccino bởi cả hai đều có 3 thành phần cơ bản: café espresso, sữa nóng và bọt sữa. Tuy nhiên, nếu như ở Cappuccino người ta cho lượng sữa nóng có thể tương đương so với bọt sữa thì ở Latte lượng bọt sữa lại được cho bằng 1 nửa với sữa nóng mà thôi. Vì thế mà một tách Latte bao giờ cũng ít “bồng bềnh” hơn so với Cappuccino. Và theo đúng “chuẩn” truyền thống thì Cappuccino được uống trong những tách dày được hâm nóng trước còn Latte lại được uống trong các chiếc ly khá to đấy nhá! Có một điểm thú vị nữa là Latte lúc mới được “sáng tạo” là để dành riêng cho trẻ em vì lượng cafein trong này khá ít và có độ ngậy tương đối cao. Về sau thì dần dần chính người lớn cũng bị mê mẩn bởi thức uống này nên nó trở thành đồ uống cho mọi lứa tuổi. Cũng xuất phát từ cùng một lý do đó, ở Ý người ta còn nghe danh thêm cafe hag (có tên đầy đủ là granita di caffè con panna) cũng là một loại café không chứa cafein, rất chi là thích hợp cho tuổi teens chúng mình nhỉ!

    Ảnh: Imagine

    Và chắc chẳng ai còn xa lạ gì với café Cappuccino rồi đúng không? Một tách café này cũng gồm có 3 phần là: café Espresso, sữa nóng và bọt sữa và thường được chia rất đều nhau nhá! Tuy nhiên, tùy vào nơi pha chế mà lượng Espresso cũng khác nhau. Có nơi để nguyên Espresso đậm đặc nhưng lại có nơi pha loãng Espresso cùng với lượng nước gấp đôi. Và để hoàn thiện tách Cappucino thì không thể không nhắc đến “nghệ thuật vẽ” trên mặt lớp bọt sữa rồi. Còn về tên gọi của Cappucino thì trên dự đoán là được bắt nguồn từ tên gọi của các nhà tu dòng Capuchin vì màu áo thụng của các vị ấy rất giống với màu của café. Cái này thì chưa có ai kiểm chứng được đâu…

    Ảnh: Imagine

    Thứ đồ uống được các teens không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều nước ưa chuộng nữa chính là Mocha. Không “đơn giản” như Cappuccino hay Latte, ở Mocha, người thưởng thức sẽ được hưởng trọn vẹn cả vị thơm béo của kem tươi và vị ngậy của chocolate nóng. Espresso trong Mocha cũng được pha chế bằng hơi nước nên lượng cafein cũng rất ít. Với mùi hương nhẹ của café trộn với vị ngọt dịu của kem và chocolate, lại còn không gây mất ngủ, lo lắng vì sợ nóng, Mocha luôn được coi là thức uống “ưa thích bậc nhất” cho mọi lứa tuổi.

    Ảnh: Imagine

    Cuối cùng được “điểm danh” đến là loại café nghe tên “rất Mỹ” nhưng lại hoàn toàn bắt nguồn từ nước Ý – café Americano. Thực ra, Americano chính là Espresso nhưng được pha loãng với lượng nước gấp đôi. Nhiều người không hề thích Americano tẹo nào vì họ cho rằng nó đã “phá tan” cái “chuẩn” của Espresso nhưng lại có những người rất khoái Americano vì nó vừa giữ được hương vị của Espresso nhưng đồng thời cũng hạn chế được nhiều tác hại từ cafein.

    – Phong cách trầm lắng, không gian thoáng đãng , thoải mái , không quá rộng để cảm thấy trống trải, không quá chật để cảm thấy nghẹt thở.

    – Ngoài ra nét độc đáo tại quán đó là được hòa mình vào nhũng cuốn tiểu thuyết lãng mạng, một không gian chỉ có ở Charming coffe . Với hơn 500 cuốn tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại sẵn sang phục vụ .

    – Bạn muốn thưởng thức một sức sống mới ? bạn muốn có 1 không gian tiểu thuyết hoàn hảo ? bạn muốn có 1 nơi để suy tư, để cho tâm hồn được bay bổng ? mời bạn hãy đến với Charming coffe của chúng tôi.

    3. Thị trường tổng quan

    – Thông qua các cuộc tiếp các cuộc khảo sát trên thị trường TP BIÊN HÒA chúng tôi được biết đa số những người ở đây có thói quen , sở thích uống café để thư giãn.

    – Do dó, nhu cầu cần có quán café giá cả thích hợp và cách trang trí đẹp là rất cần thiết, theo nghiên cứu thì ở BIÊN HÒA có khoảng hơn 30 quán café lớn và rất nhiều quán café nhỏ và vừa.

    – Đối thủ cạnh tranh đa số vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng .

    Ví dụ: quán café NGỌC PHÁT , khách hàng chủ yếu là những người có thu nhập khá ; quán River Side , giá cao , trang trí chưa đẹp , đường vào sâu, khó tìm …

    4. Thị trường trọng tâm

    công nhân viên ,học sinh,sinh viên là khách hàng chủ yếu của chúng tôi vì đây là tầng lớp có nhu cầu lớn  uống café rất lớn

    5.  Đặc điểm khách hàng

    Do khách hàng chính của chúng tôi chủ yếu là công nhân viên, học sinh,sinh viên nên họ có cách sống của họ đơn giản,dễ gần gũi. Khi đến quán, điều mà họ quan tâm nhất là hình thức phục vụ và không gian có thoải moái hay không… Ngoài ra, theo tìm hiểu qua các cuộc nói chuyện với khách hàng chúng tôi được biết khi đến quán café họ  còn cân nhắc những điều sau :

    – Quán café có hiện đại, tiện nghi không

    – Mức giá có phù hợp không

    – Có phục vụ nhanh không

    – Nhân viên phục vụ có nhiệt tình vui vẻ không

    6.  Đối thủ cạnh tranh

    Mặc dù mở ra quán càfe có nhiều điều kiện khách quan cũng như chủ quan thuận lợi. Nhưng để thành công không phải là chuyện dễ vì không chỉ có quán café của mình mà còn các đối thủ cạnh tranh, họ cũng muốn đạt những gì họ muốn, do đó chúng tôi phải làm tốt hơn đối thủ thì mới thu hút được khách hàng .

    Hiện nay ở BIÊN HÒA (đường Võ Thị Sáu) đã có nhiều 8-10 quán cà phê, đó là những đối thủ gần mà chúng tôi phải đối mặt, họ đã có mối quan hệ lâu bền với khách hàng trong vùng khá lâu. Dù rằng, họ có những thuận lợi đó nhưng theo tìm hiểu thì họ còn yếu trong cung cách phục vụ. Ngay từ đầu thành lập quán café chúng tôi đã chuẩn bị tốt mọi thứ để làm hài lòng khách hàng ở  mức cao nhất, đặc biệt là chuẩn bị khâu mà đối thủ đang yếu.

     7.  Nhà cung cấp

    – Café Trung Nguyên

    – Công ty trà TNHH SX – TM – DV Việt Thiên

    Chương II: HOẠCH ĐỊNH CHỨC NĂNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH

    1. Tiếp thị

    1.1 Chiến lược giá

    Quán chúng tôi sẽ cung cấp nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại với nhiều mức giá phù hợp khác nhau .

    Bảng 1: Giá bán các sản phẩm tại thời điểm quán bắt đầu hoạt động

    SẢN PHẨM GIÁ
    I.                  Café  
    Cafe 10.000/ly
    Cafe đá 10.000/ly
    Cafe sữa nóng 12.000/ly
    Cafe sữa đá 12.000/ly
    Cafe rum 15.000/ly
    Cafe sữa rum 15.000/ly
    Bạc xỉu 12.000/ly
    Bạc xỉu đá 12.000/ly
    II.               Trà  
    Trà lipton 10.000/ly
    Trà lipton sữa 12.000/ly
    Trà lài 10.000/ly
    Trà đào 10.000/ly
    Trà dâu 10.000/ly
    Trà cam 10.000/ly
    Trà chanh dây 10.000/ly
    Trà gừng 10.000/ly
    Trà bí đao 10.000/ly
    III.            Café kem sữa  
    Macchiato 25.000/ly
    Latte 25.000/ly
    Cappuchino 25.000/ly
    mocha 25.000/ly
    Americano 25.000/ly

    Bàng 2 : giá Trang thiết bị đầu tư ban đầu

                  Đvt: ngàn đồng.
    STT HẠNG MỤC ĐẦU TƯ SL ĐVT   GIÁ   THÀNH TIỀN
    1 Bàn mây tròn: 50 cái x 450 = 22,500
    2 Ghế mây 200 cái x 300 = 60,000
    3 Bàn gỗ_kiếng vuông, thấp: 25 cái x 420 = 10,500
    4 Ghế gỗ trệt có tựa+ nệm ngồi 100 cái x 300 = 30,000
    5 Đế lót ly bằng gổ 300 cái x 3,65 = 1,095
    6 Gạt tàn thuốc bằng gốm 30 cái x 19,3 = 579
    7 Mâm Inox bưng nước cho nhân viên (304-36cm): 10 cái x 100,9 = 1,009
    8 Ly nhỏ uống trà đá cho khách 300 ly x 5,5 = 1,650
    9 Ly nhỏ uống café sữa nóng 75 ly x 7,6 = 570
    10 Ly uống cà phê đá 150 ly x 22 = 3,300
    11 Fin pha café 50 cái x 5,6 = 280
    12 Ly pha chế 4 cái x 17 = 68
    13 Muỗng nhỏ 70 cái x 1,5 = 105
    14 Muỗng cà phê đá và cà phê sữa bằng Inox: 200 cái x 4,5 = 900
    15 Cây khuấy nước (cam vắt, Lipton, nước khác, …): 100 cái x 1 = 100
    16 Bình thủy tinh lớn châm trà đá (LUMINARC, 1,3 lít): 5 cái x 60 = 300
    17 Phin lớn pha cà phê bằng Inox: 2 cái x 60 = 120
    18 Tấm lượt pha cà phê: 2 cái x 25 = 50
    19 Bình thủy Rạng Đông 2 cái x 130 = 260
    20 Nồi lớn nấu nước sôi: 1 cái x 500 = 500
    21 Bình chứa cà phê pha sẳn: 1 cái x 120 = 120
    22 Kệ lớn đựng ly bằng Inox: 2 cái x 600 = 1,200
    23 Các loại chai, lọ khác đựng một số thứ khác 1 bộ x 500 = 500
    24 Dù gổ lớn che nắng thời trang: 16 cái x 1,490 = 23,840
    25 Dàn Amply (Pioneer VSX-817-S, công suất 360W): 1 cái x 8,390 = 8,390
    26 Đầu đĩa đa năng: 1 cái x 1,900 = 1,900
    27 Tivi 40 inch (hiệu TCL): 1 cái x 9,990 = 9,990
    28 Tivi 32 inch (hiệu TCL): 3 cái x 5,990 = 17,970
    29 Máy quay sinh tố (SANYO): 2 cái x 950 = 1,900
    30 Tủ đông đá 1 cái x 8,500 = 8,500
    31 Máy điều hòa LG 2 cái x 7,300 = 14,600
    32 Dàn loa (Mỹ, 500W/cặp): 2 cặp x 3,500 = 7,000
    33 Cáp truyền Quốc tế: 1 bộ x 600 = 600
    34 Tiền lắp đặt Internet + Bộ phát sóng Wifi: 1 bộ x 1,500 = 1,500
    35 Điện, đèn, nước, tiền công: 1 bộ x 35,000 = 35,000
    36 Đồng phục nhân viên: 30 bộ x 300 = 9,000
    37 Máy tính tiền điện tử CASIO TK-T200 (có két tiền): 1 cái x 6,900 = 6,900
    38 Máy vi tính 2 cái x 10,000 = 20,000
    39 01 tủ quầy bar tính tiền và để dàn nhạc: 1 bộ x 4,000 = 4,000
    40 Trang trí nội thất, sửa chữa quán, trang trí cây cảnh: 1 lần x 300,000 = 300,000
    41 Chi phí bảng hiệu, hộp đèn: 1 bộ x 20,000 = 20,000
    42 Chi phí PANO vải quảng cáo: 3 tấm x 1,500 = 4,500
    43 Chi phí đặt cọc 02 tháng thuê mặt bằng: 2 tháng x 30,000 = 60,000
    44 Chi phí hổ trợ bồi thường xây dựng cho chủ đất: 1 lần x 60,000 = 60,000
    45 Sách ( tiểu thuyết ) 500 Cuốn x 100,000 = 50,000
      TỔNG           801,296
                   

    1.2 Chiến lược marketing

    • Phát tờ rơi quảng cáo tại các trường ĐH, các công ty và người trung niên ở khu vực xung quanh đó. (1000 tờ rơi phát trong tháng đầu, sau đó có thể cân nhắc phát thêm hay không). Mỗi tờ rơi giảm 10% cho 1 ly, nhưng không cộng gộp với nhau
    • Quảng cáo thông qua các hình thức chủ yếu  treo băng rôn ở các tuyến đường chính
    • Trong tuần đầu khai trương  khách hàng sẽ được giảm giá 50% trong ngày đầu và 30% trong các ngày tiếp theo cho tất cả các sản phẩm.

    2. Nhân sự  và trụ sở

    2.1 Bảng 3 : Nhu cầu lao động

      Công việc Số lượng Tiền lương

     

    (triệu đồng)

    Thành tiền

     

    (triệu đồng)

    Quản lý quản lý 1 7 7
    Kế toán 1 2.5 2.5
    thu ngân 2 2 4
    Bảo vệ 4 2 8
    Nhân viên Pha chế 4 2.5 10
    Phục vụ 15 1.5 22.5
    Lao công 2 1.5 3
    Tổng   29   57

    2.2 Mặt bằng địa điểm

    – Địa chỉ: Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất, tp Biên Hòa, Đồng Nai.

    – Hiện trạng : mặt tiền , đất trống , bằng phẳng , gần khu chung cư.

    – Thuê mặt bằng: 30tr/tháng

    2.3 Nghĩa vụ

    – Chủ quán: Nghĩa vụ : Là người quản lý và điều hành mọi hoạt động quán, chịu trách nhiệm trước pháp luật

    – quản lý:  Là người thay mặt chủ quán điều hành hoạt động của nhân viên

    – Kế toán: Theo dõi và ghi chép lại tất cả mọi hoạt của quán và tổng hợp chi phí và xác định doanh thu, lợi nhuận của quán báo cáo thuế

    – Pha chế: là người pha chế các loại thức uống

    – Thu ngân: Là người trực tiếp tính chi phí, thu tiền..

    – Phục vụ: giới thiệu menu và phục vụ khách hàng

    – Lao công: là người rửa ly và dọn vệ sinh

    – Bảo vệ: là người giữ xe và bảo vệ tài sản của quán

    3. Nhu cầu nhân viên, lương, đào tạo và khen thưởng

    1. Nhu cầu nhân viên

    – quản lý : 1 người, trình độ cao đẳng ngành Quản Trị Kinh Doanh

    – Kế toán : 1 người, trình độ trung cấp trở lên chuyên ngành kế toán

    – thu ngân: 1 người, trình độ trung học phổ thông trở lên, biết sử dụng áy tính

    – Pha chế:  4người, có bằng nghề chuyên ngành.

    – Phục vụ : 15người, có kinh nghiệm phục vụ, thông qua sự kiểm tra của chủ quán.

    -Lao công: 2 người

    – Bảo vệ: 4 người, nam tuổi từ 18 đến 35, có sức khỏe tốt

     

    1. Đào tạo và khen thưởng

    – Đào tạo: Chủ quán chịu trách nhiệm hướng dẫn cho nhân viên của mình quen với công việc, đặc biệt là nhân viên phục vụ và quản lý hướng dẫn phục vụ và ứng xử, ngoài ra chính bản thân người chủ cũng cần phải học về kiến thức chuyên ngành để phục vụ tốt hơn.

    – Khen thưởng: Ngoại trừ những đợt thưởng thêm lương vào dịp lễ, tết, tặng lịch, áo, nón, cửa hàng còn trích lợi nhuận thưởng nếu vượt chỉ tiêu doanh thu. Biện pháp này nhằm kích thích sự phấn khởi nhiệt tình của nhân viên trong công việc để họ làm tốt công việc.

     

    4.Mô hình xây dựng:

    • Thầu công trình xây dựng , trang trí nội thất : 300tr
    • Quán café rộng 1200m2 (20*60) được chia lam 3 khu chính
      • Khu A : gồm 50 bàn mây tròn, ngoài trời ( có dù )
      • Khu B : gồm 25 bàn gỗ được bố trí trong gian nhà kính kín trang nhã, có máy lạnh, chủ yếu phục vụ truy cập wifi, đọc sách .
      • Khu C : khu pha chế , thu ngân , nhà vệ sinh.
    • Tiến độ xây dựng
      • 1/10->3/10 : phát cỏ , san bằng bề mặt
      • 4/10 : khởi công xây dựng
      • Dự kiến 31/11 hoàn thành
      • Chuẩn bị , trang trí , lắp ráp trang thiết bị , điện : 10 ngày
      • Dự kiến khai trương ngày 12/12/2010

    Với vị trí trên đường Võ Thị Sáu, đường rộng , không gian thoáng đãng, chung quanh quán ít có những tòa nhà cao tầng, nên khi quý khách ngồi trong quán sẽ cảm nhận được sự thoải mái, hòa mình cùng bầu không khí trong lành.

    4. Hoạch định tài chính

    4.1 Các khoản đầu tư và nguồn vốn dự kiến ban đầu

       TỔNG CỘNG CHI PHÍ ĐẦU TƯ BAN ĐẦU 801,296
       Vay NH: 100,000,000
       Vốn tự có: 900,000,000
     Stt  Số cổ phần hùng vốn  Thành tiền
           1 Vũ Chu Cung 100,000,000
           2 Huỳnh Thị Thu Hạnh 100,000,000
           3 Lại Thu Hằng 100,000,000
           4 Trần Thị Thu Hằng 100,000,000
    5 Trần Vũ Thúy Liễu 100,000,000
    6 Lý Thái Luật 100,000,000
    7 Dương Hữu Minh 100,000,000
           8 Nguyễn Thị Mai Trâm 100,000,000
    9 Phạm Thị Ngọc Sương 100,000,000
                                       

     

    Tổng Cộng :

    900,000,000

    Vốn linh động :198,704,000

    Bảng kế hoạch trả nợ ngân hàng  ( lãi suất 1,25% tháng , 15% năm )

    Đơn vị : triệu đồng

    Năm Dư nợ đầu kì Hoàn trả trong kì Dư nợ cuối kì
        Nợ gốc Lãi Tổng  
    1 100 33.333 15 48.333 66.667
    2 66.667 33.333 10 43.333 33.334
    3 33.334 33.333 5.0001 38.333 0.001

    4.2 Dự trù doanh thu chi phí

    1. doanh thu
    Thông số
    Tổng số bàn 75 bàn
    Đơn giá bình quân 14,000 Đồng/ly
    Công suất thiết kế
    Bình quân ly/ bàn / giờ 1,5 Ly/bàn/giờ
    Giờ hoạt động 16 Giờ/ngày
    Tổng số ly bán 1 ngày 1600 Ly/ngày
      Số lượng bán bình quân Doanh thu ngày

     

    ( đ/ ngày)

    Doanh thu năm

     

    ( đ/ năm )

    Năm thứ 1 (50%) 900 12,600,000 4,536,000,000
    Năm thứ 2 ( 75% ) 1350 18,900,000 6,804,000,000
    Năm thứ 3 ( 90% ) 1620 22,680,000 8,164,800,000
    1. chi phí
      Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3
    Lương nhân viên: 684,000,000 684,000,000 684,000,000
    Điện: 18,000,000 18,000,000 18,000,000
    Nước: 18,000,000 27,000,000 32,400,000
    Nguyên liệu: 1,393,200,000 2,089,800,000 2,507,760,000
    Tiền ăn nhân viên: 156,600,000 156,600,000 156,600,000
    Chi phí mặt bằng: 360,000,000 360,000,000 360,000,000
    Chi phí lãi vay NH 48,333,000 43,333,000 38,333,000
    Chi phí khấu hao TSCĐ 160,260,000 160,260,000 160,260,000
    TỔNG 2,838,393,000 3,538,993,000 3,957,353,000

    ( khấu hao tài sản cố định : giá trị đầu tư ban đầu là 801,296,000 , dự tính giá trị còn lại sau 3 năm là 40% )

    1. Lợi Nhuận

                                                                                                   Thuế TNDN 28%

      Doanh thu thuần Chi phí Lợi nhuận trước thuế Lợi nhuận sau thuế
    Năm thứ 1 4,536,000,000 2,838,393,000 1,697,607,000   1,222,277,040
    Năm thứ 2 6,804,000,000 3,538,993,000 3,265,007,000   2,350,805,040
    Năm thứ 3 8,164,800,000 3,957,353,000 4,207,447,000   3,029,361,840

    Báo cáo ngân lưu lập theo phương pháp trực tiếp.

    Năm   0 1 2 3
    Dòng ngân lưu vào   4,536,000,000 6,804,000,000 8,485,318,000
      Doanh thu   4,536,000,000 6,804,000,000 8,164,800,000
    Giá trị thanh lý       320,518,000
    Dòng ngân lưu ra 1,000,000,000 3,948,213,000 5,283,853,000 6,083,237,000
      Chi phí đầu tư 1,000,000,000      
    Tổng giá thành sản xuất   2,678,133,000 3,378,733,000 3,797,093,000
    Thuế TNDN         1,270,080,000       1,905,120,000       2,286,144,000
    Dòng ngân lưu ròng -1,000,000,000 587,787,000 1,520,147,000 2,402,081,000
                 

     

    Chương 3 : Đánh Giá Hiệu Qủa Tài chính

    1. Hiện giá thuần(NPV)

    P: vốn đầu tư ban đầu

    r: lãi suất chiết khấu

    CF: dòng thu nhập ròng qua các năm

    Lấy lãi suất chiết khấu là 10%/năm

    Vậy ta có NPV >0, dự án khả thi.

    3.      Tỷ Suất thu hồi nội bộ(IRR)

    Dùng Excel tính IRR ta có : =IRR(-1,000,000,000: 2,402,081,000)=97%

    Ta thấy, suất sinh lời thực tế của dự án IRR >10%, dự án khả thi.

    4.      Tỷ số lợi ích trên chi phí

    Nghĩa là bình quân cứ 1 đồng chi phí tạo ra được 1.19 đồng thu nhập trong suốt vòng đời dự án.

    5.      Thời gian hoàn vốn(PP)

    Là thời gian để ngân lưu tạo ra của dự án đủ bù đắp chi phí đầu tư ban đầu

    Năm 0 1 2 3
    Ngân lưu ròng -1,000,000,000 587,787,000 1,520,147,000 2,402,081,000
    Hiện giá dòng ngân lưu ròng -1,000,000,000      529,008,300       1,368,132,300       2,161,872,900
    Số chưa thu hồi -1,000,000,000 -470,991,700

    Thời gian hoàn vốn : 1+(470,991,700/1,368,132,300)*12 tháng=1 năm 4 tháng

     

    C. Những rủi ro có thể gặp và biện pháp khắc phục

     1. Những rủi ro có thể gặp

    • Đối thủ cạnh tranh
    • Bị thiếu sót trong phân tích đánh giá
    • Chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những thay đổi của điều kiện tự nhiên(mưa , bão, …)
    • NVL bị hư hại trong vận chuyển, lưu trữ.
    • Gía cả thị trường biến động => giá NVL tăng

    2. Một số biện pháp khắc phục rủi ro

    • Bám sát các nguồn thông tin có liên quan
    • Quan tâm đến hướng phát triển của đối thủ cạnh tranh cũng như nhu cầu khách hàng.
    • Kiểm soát hạn chế tổn thất nếu có xảy ra

    D. Kết thúc dự án

    Rút ra kinh nghiệm để góp phần làm tốt hơn trong dự án sắp tới .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/T%C3%80I-LI%E1%BB%86U-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-D%E1%BA%AAN-TR%C3%8CNH-B%C3%80Y-TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    (Tham khảo)

    Tiểu luận là một bài viết ngắn để trình bày quan điểm, nghiên cứu phát hiện về một chủ đề nào đó mà bạn tâm đắt. Nó có độ dài thông thường từ 5 đến 15 trang. Dù viết về một vấn đề gì thì nhiệm vụ của mộ t bài tiểu luận phải: (1) nêu lên đượ c vấn đề; (2) phân tích vấn đề; và (3) trình bày những kết quả mới mà bạn phát hiện được hay ý kiến, quan điểm, kết luận của bạn về vấn đề đó.

    Một bài tiểu luận khoa học không thể trình bày (format) một cách ngẫu hứng theo sở thích củ a bạn mà phải theo những tiêu chuẩn qui định. Chẳng hạn theo tiêu chuẩn của Modern Language Association (MLA), American Psychology Association (APA), Chicago … các chu ẩn này có nhữ ng qui định chặc chẽ v ề size ch ữ, khoảng cách giữa các dòng, canh lề, kiểu chữ, tiêu đề, trình bày lời cảm ơn, ghi chú, trích dẫn, tài liệu tham khảo …

    Các bài tiểu luận ở l ớp họ c thường được đơn giả n hoá đi nhiều nhưng cũng phải tuân theo một số c ấu trúc bắt buộc để đảm bảo tính khoa học của bài viết. Phần dưới s ẽ trình bày cấu trúc mộ t bài viết thông thường, định dạng bài viết, cách ghi chú, nguồn số li ệu và phần không thể thiếu là tài liệu tham khảo. Ví dụ sau đây như là một hướng dẫn gợi ý cách trình bày một bài tiểu luận thông thuờng cho các môn học ở Trường Fulbright.

    A. Định dạng chung (theo Fulbright School)

    Paper size A4 (8.17 x 11.69 inches) 21.0 x 29.7 cm
    Top margin 1.25 inches 3.17 cm
    Bottom margin 1.25 inches 3.17 cm
    Left margin 1.25 inches 3.17 cm
    Right margin 1.0 inches 2.54 cm
    Header 0.5 inches 1.27 cm
    Footer 0.5 inches 1.27 cm

    Nguyễn Hoài Bảo                                                                                                                                                          1

    Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright                     Kinh tế Phát triển                                                 Tài liệu hướng dẫn …

    Niên khóa 2007-2008                                                Bài đọc tham khảo

    B. Cấu trúc một bài viết thông thường ( theo APA)

    [Trang bìa]

    Tựa đề bài viết

    Tên của bạn

    Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

    Tóm tắt

    [Trang 1]

    Tựa đề bài viết

    Nội dung bài viết …

    [Trang mới sau khi kết thúc bài viết chính]

    Tài liệu tham khảo

    [Trang mới sau khi kết thúc mục tài liệu tham khảo] Phụ lục (nếu có)

    C. Trình bày Footnote/Endnote

    Trong bài viết, đ ôi lúc phải sử dụng đến các ghi chú cuối chân trang (footnote) hoặc ghi chú ở trang cuối cùng (endnote). Mục đích là nói rõ thêm hoặc gợi ý các vấn đề có liên quan mà người viết muốn giải thích thêm cho nội dung chính. Ví dụ:

    1Baer, Miles và Moran (1999) vẫn bảo lư u ý kiến cho r ằng, chính sách công nghiệp có hại cho các nước Đông Á và là gốc rễ gây ra khủng hoảng.

    Hoặc:

    2Xem Ngân hàng Thế giới (1998) để có phần tổng kết đầy đủ nhiều vấn đề có liên quan về giá công nghiệp.

    Cũng nên nhớ r ằng, những tài liệu được ghi chú này phải có mặt ở phần “Tài liệu tham khảo”, việc này giúp người đọc tra cứu được các tài liệu gốc khi cần.

    D. Trích dẫn

    Tài liệu trích dẫn (works cited) là những câu văn, công thức, định lý rõ ràng mà chủ quyền tác giả thuộ c về người viết gốc và tác giả dùng nó vào việc chứng minh. Khi có trích dẫn trong bài viết, bạn phải ghi rõ ngu ồn gốc trích dẫn đó là từ đâu. Có nhiều cách trích dẫn, chẳng hạn như trích dẫn một quan điểm, một câu ngắn được để trong dấu ngoặc kép, hoặc trích dẫn một đoạn dài.

    Ví dụ 1: Trích dẫn ngắn trong ngoặc kép:

    “Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nhân loại, việc học của con người rất khác nhau.” (Lam, 2004, tr. 6)

    Ví dụ 2: Nếu trích một đoạn dài:

    Trong các giai đoạn phát triển khác nhau củ a nhân lo ại, việc học củ a con người rất khác nhau. Tuy nhiên, đứng trước quá trình toàn cầu hoá ngày nay, khi khối lượng kiến thức bùng nỗ với cấp số nhân thì năng lực sáng tạo, làm việc độ c lập, làm việc nhóm, năng lực tự học, năng lực thích ứng, sự nhạy cảm … lại trở nên quyết định. (Lam, 2004, tr.6)

    Trong ngoặ c đơn sau mỗi trích dẫn là tên tác giả, nă m xuất bản và trang được trích dẫn. Tên tác giả này được ghi l ại trong phần tài liệu tham khảo. N ếu là trích dẫn một đoạn dài như ví dụ 2 thì toàn bộ nội dung này phải đẩy vô 1 inche (hay 1 tap) so với lề trái.

    E. Nguồn số liệu

    Bảng: Số liệu Việt Nam

      1820 1998
    Dân số (triệu người) 6.3 76.2
    GDP trên đầu người ($US, PPP1990) 546 1,677
    Nguồn: Agus Maddision, 2001    

    Sau một số li ệu, bảng số liệu hay biểu đồ, hình ảnh bạn phải ghi thậ t rõ ràng nguồn để đảm bảo mức tin cậy. Đó có thể là báo cáo của một cơ quan thống kê, trích lại của tác giả khác hoặc điều tra của chính bạn. Nếu không có điều này thì mọi lập luận của bạn dựa vào số liệu, hình ảnh đó sẽ không có gía trị gì.

    F. Danh mục tài liệu tham khảo ( theo APA)

    Cũng như tài liệu trích dẫn, danh mục tài li ệu tham khảo (reference) phải được ghi lại ở cuối bài viết. Đây là những tài liệu mà tác giả mượn ý để làm tiền đề cho sáng tác của mình. Có các loại tài liệu tham khảo khác nhau, chẳng hạn sách, một bài viế t trong một tập sách gồm nhiều tác giả, tạp chí, tài liệu từ internet …ứng với mỗi tài liệu này đều có cách ghi khác nhau. Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày một số cách ghi tài liệu tham khảo cơ bản.

    • Tài liệu là báo chí

    Doe, J. Q. (1999, 12 August). “Tên bài báo”. Tên tạp chí, 212, 23.

    Nguyễn Hữu Lam. (2004). “Điểm xuất phát của đổi mới giáo dục đại học”. Tuổi trẻ Chủ

    Nhật, 31-2004, 6.

    • Tài liệu là tạp chí khoa học chuyên ngành

    Doe, J. R. (1987). “Tên bài nghiên cứu”. Tên tạp chí khoa học, 35, 112-128.

    Bùi Tất Thắng. (2004). “Toàn cầu hoá và cơ may rút của công nghiệp hoá rút ngắn Việt

    Nam” . Nghiên cứu Kinh tế, 314, 40-51.

    • Tài liệu là sách:

    Lastname, F. (1998). Tên sách. Nơi xuất bản (City): Nhà Xuất bản.

    World Bank. (1993). The East Asian Miracle: Economic Growth and Public, New York:

    Oxford University Press.

    • Tài liệu lấy từ Internet.

    Maner, M. (1999, 14 April). Tựa đề tài liệu tham khảo lấy từ Internet. Được lấy về từ:

    http://www.dianahacker.com/resdoc/

     

    David Dapice, t.g.k. (2004). Lịch sử hay chính sách: tại sao các tỉnh phía Bắc không

    tăng trưởng nhanh hơn. Được lấy về từ :

    http://www.fetp.edu.vn/Research_casestudy/display.cfm?fid=84

    Như vậy có một trật tự như sau: Tên tác giả, thời gian xuất bản, tự a đề của tài liệu (tên bài nghiên cứu hoặc sách), số của tạp chí, nhà xuất bản (nếu là sách), số trang.

    Lưu ý r ằng, theo phong cách của APA thì họ (last name) của tác giả được viết trước và tên viết sau. Thứ tự củ a danh mục tài liệu tham khảo được xếp theo chữ cái abc. Tuy vậy có thể không tiện lắm trong trường hợp tác giả là người phương Tây và phương Đông. Vì thế ngày nay ngườ i ta thường tôn trọng tên nguyên thuỷ của tác giả nhưng vẫn xếp thứ tự abc dựa theo họ từ trên xuống dưới.

    Danh mục tài liệu tham khảo bắt đầu một trang mới. Dòng thứ hai của một tài liệu tham khảo phải cách lề trái 0.5 inche (5 spaces). Nếu một tài liệu tham khảo nào có nhi ều tác giả thì chỉ viết tác giả đầu và sau đó viết tắt “tác giả khác” , t.g.k (đồng nghĩa với et. al. trong tiếng Anh).

    Để biết chi tiết hơn bạn có thể tham khảo:

    Anthony C. Winkler và Jo Ray McCuenm. (1989). Writing the Research Paper, Harcourt Brace Jovanovich Publishers.

    Có rất nhiều hướng dẫn và mẫu về cách trình bày một bài nghiên cứu trên Internet, bạn có thể tham khảo thêm một số địa chỉ sau:

    http://webster.commnet.edu/apa/index.htm http://owl.english.purdue.edu/handouts/research/r_mla.html#General http://www.dianahacker.com/resdoc/

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích tài chính của Vinamilk


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Từ khi xuất hiện con người trên hành tinh này, đến ngày nay đã trải qua 5 phương thức sản xuất: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội. Tư duy nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà ngày càng phát triển hoàn thiên hơn. Từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất. Từ hái lượm săn bắt để duy trì cuộc sống đến trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu, đến ngày nay trình độ khoa học đã đạt tới mức tột đỉnh. Mà cốt lõi của nền sản xuất xã hội chính là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, như Mác và Ănghen nói, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

    Từ quan điểm này của chủ nghĩa Mác xít, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội nước ta trong giai đoạn từ đổi mới đến nay.

    Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho chúng ta có được nhận thức về sản xuất xã hội và kĩ thuật. Thấy được ý nghĩa đó, tôi xin bày tỏ một vài ý kiến bản thân về vấn đề: “Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay“.

    PHẦN NỘI DUNG

    I.                   Lực lượng sản xuất – Quan hệ sản xuất – quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

    1. Lực lượng sản xuất

    • Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, đồng thời thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm: người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là cong cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau thành lực lượng sản xuất.

    Trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, con người lao động và công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất. Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động (công cụ lao động) tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Công cụ lao động do con người tạo ra với mục đích “nhân” sức mạnh bản thân lên trong quá trình lao động sản xuất. Sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất.

    2.                 Quan hệ sản xuất

    Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Do con người không thể tách khỏi cộng đồng nên trong quá trình sản xuất phải có những mối quan hệ với nhau. Vậy việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là một vấn đề có tính quy luật. Nhìn tổng thể quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:

    • Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất, nói cách khác là tư liệu sản xuất thuộc về ai.
    • Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như: phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động, quan hệ giữa người quản lý và công nhân…
    • Quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra, tức là quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và sản phẩm với cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lí và có hiệu quả tư liệu sản xuất.

    3. Qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

    Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Từ đó tạo nên qui luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.

    Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.

    Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời thì yêu cầu quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp này tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất để lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hoàn thiện. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một mức nhất định sẽ làm cho quan

    hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều này dẫn đến quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và yêu cầu khách quan tất yếu là phải thay thế quan hệ sản xuất. Như Các Mác đã viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có.. trong khi đó từ trước đến giờ các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội.

    Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trửo lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quyết định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ… do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngược lại sẽ kìm hãm. Và khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

    Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất vừa có tác động cho nhau lại vừa mâu thuẫn với nhau. Việc phản ánh mâu thuẫn này là yêu cầu cần có. Nó phải thông qua nhận thức và cải tạo xã hội của con người. Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, qua cách mạng xã hội.

    II.               Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội nước ta từ đổi mới đến nay

    1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Sau độc lập, nền kinh tế nước ta còn gặp vô vàn khó khăn do thói quen lao

    động tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ lẻ, trình độ khoa học kém phát triển, đời

    sống xã hội vô cùng khó khăn… Với hoàn cảnh mới, đất nước tiến lên CNXH, đòi hỏi nước ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

    Thời gian qua, chúng ta quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất, cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường san đất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quan niệm ấy là sai lầm, sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời gian qua là minh chứng cho điều ấy và do đó gây ra sự mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế – xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta. Mối mâu thuẫn ấy đã đem theo nhiều hậu quả ngoài ý muốn: Kinh tế kém phát triển, xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn, trình độ quản lý yếu kém… yêu cầu cấp thiết là phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế – xã hội. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Đó là sự cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản, buôn bán tự do rộng rãi, nâng cao đời sống xã hội,… Như lời của đồng chí Lê Khả Phiêu nói: “… không chất nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với CNTB trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt”. Hay quan điểm từ Đại hội Đảng VI cũng khẳng định: không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể mà còn phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kì quá độ.

    2.                 Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được vận dụng trong quá trình CNH-HĐH đất nước

     

    CNH- HĐH được xem xét từ tư duy triết học là thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất trong mối quan hệ biện chứng của phương thức sản xuất. Muốn CNH-HĐH đất nước cần phải có tiềm lực về kinh tế, con người, trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố vô cùng quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Với tiềm năng lao động lớn nhưng công cụ lao động lại hết sức thô sơ lạc hậu, CNH-HĐH đứng trước khó khăn lớn cần nhanh chóng khắc phục. Đảng ta đã thực hiện một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lí và trong thời cơ cũng như thách thức to lớn hiện nay, đất nước ta đang có rất nhiều tiềm năng phát triển, mà cốt lõi của sự phát triển ấy vẫn là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Mục tiêu CNH-HĐH đất nước đang được nỗ lực thực hiện và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Cùng với nó vẫn là những khó khăn, hạn chế song tương lai phát triển đất nước vẫn mang nhiều yếu tố khả quan.

    III.            Thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam từ đổi mới đến nay

    1. Thành tựu

    Trong đại hội Đảng VI (12/1986) là một thời gian qua trọng, đánh dấu bước chuyển mình phát triển của đất nước ta: xoá bỏ chế độ bao cấp sản phẩm, bãi bỏ sự cấm đoán phát triển kinh tế thị trường, sự phát triển yếu ớt của đời sống xã hội được thay thế bằng sự hội nhập với thế giới, quan tâm và chú trọng phát triển đời sống của nhân dân…

    Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (6/1996), Đại hội IX (4/2001) đã tiếp tục khẳng định bổ sung và hoàn thiện các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế – xã hội: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới về công cụ lao động và chính sách quản lý kinh tế-

    xã hội, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Sau 18 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng.

    • Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm tốc đọ cao. Trong 5 năm đầu đổi mới (1986-1990), khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần, các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, khu vực kinh tế tư nhân và cá thể chưa phát triển, nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn, bình quân chỉ đạt 3,9%/năm (riêng 1986: 0,3%) và lạm phát cao kéo dài. Nhưng đầu thập kỉ 90, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ổn định và đạt đến đỉnh cao là 9,5% vào năm 1995. Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (1991-1995), ta đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu chủ yếu đưa nước ta thực sự thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, chuyển sang thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Toàn bộ các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996-2000 và chiến lược 10 năm đều đạt và vượt kế hoạch. GDP trong 10 năm này tăng bình quân 7,56%/năm đến GDP 2000 gấp 2,07% lần năm 1990. Đến năm 2000-2002 tốc độ tăng trưởng đạt ổn định 6,7%; 6,8% và 7,0%.

    Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản. Sản lượng lương thực tăng nhanh từ 21,5 triệu tấn (1990) lên 27,5 triệu tấn (1995) và 34,5 triệu tấn (2000), gần 36 triệu tấn (2002), bình quân mỗi năm tăng 1,4 triệu tấn. Tốc độ tăng lương thực bình quân 5%, cao hơn tốc độ tăng dân số (1,8%) nên sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 304 kg (1985) lên 364 kg (1995); 444,8 kg (2000) & 450 kg (2002). Việt Nam từ nước thiếu lương thực, đến 1989 trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Sở dĩ nông nghiệp tăng nhanh là nhờ những đổi mới trong cơ chế chính sách quản lý nhà nước: Nông dân được giao ruộng để sử dụng lâu dài, phát triển trang trại, khuyến khích khaihoang mở rộng diện tích canh tác, nâng cao năng suất cây trồng. Những thành tựu trên mặt trận lương thực đã góp phần quan trọng vào sự ổn định đời sống nhân dân.

    Trong 10 năm 1991 – 2000, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6%, cao su tăng 12,4%; cà phê tăng 17,7%; rau quả tăng 10,8%; hạt tiêu 24,8%; hạt điều tăng 37,5%. Tổng giá trị nông sản xuất khẩu chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Một nền nông nghiệp hàng hoá hình thành gắn với thị trường quốc tế.

    Công nghiệp tăng liên tục, bình quân trong thời kì 1991-1995 tăng 13,7%; 1996-2000 tăng 13,2%. Công nghiệp tăng nhanh là do đầu tư lớn của nhà nước trong những năm trước đây cho một số ngành quan trọng như dầu khí, điện, xi măng, thép, giấy, đường… nhưng quan trọng hơn cả là sự đổi mới cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước, xoá bỏ bao cấp, nhận vốn đầu tư nước ngoài…

    Hệ thống đường giao thông, bưu điện được xây dựng mới và nâng cấp trên khắp mọi miền tổ quốc: quốc lộ 1A, 5, 18, sân bay, bến cảng được nâng cấp và xây dựng. Thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc.

    • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: chuyển từ khu vực I (Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản) sang khu vực II (công nghiệp – xây dựng) và khu vực III (dịch vụ), chuyển từ khu vực quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần và chuyển theo hướng hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc- Trung- Nam.
    • Đẩy lùi lạm phát: 1986: 774,7%; 1990: 67,4%; 1995: 12,7%; 1997: 3,7%;

    1999: 0,1%.

    • Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: kim ngạch xuất khẩu 1996: 882,9 triệu USD; 2001: 15,027 tỉ USD; Nhập khẩu: 2,16 tỉ USD (1986); 16,162 tỉ USD (2001).
    • Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt: lao động có việc tăng tăng nhanh, mỗi năm tạo 1,3 triệu việc làm mới, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 400 USD/năm . Số hộ giàu tăng > 10%; số hộ nghèo giảm 55% (1989) còn 11,4% (2000).

    Những thành tựu tăng trưởng và ổn định hoá kinh tế, tình hình xã hội đã được cải thiện rất nhiều. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm 1‰ và giữ mức

    bình quân 2,1%/ năm, giảm so với thời kỳ trước (2,3%) nhưng vẫn cao hơn mục tiêu đề ra (1,9%). Số người đi học bình quân tính trên 1 vạn dân, tăng từ 1834 người (1990) tăng lên 2171 người (1995).

    Tỉ trọng chi cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 24,4 – 28,4% tổng ngân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên. Hệ thống y tế được cải thiện, đặc biệt là hệ thống bảo hiểm y tế.

    Tình hình nông thôn được cải thiện thêm một bước. Có khoảng 60,2% số xã có điện; 86,4% số xã có đường ô tô, 91,6% số xã có trường phổ thông cơ sở.

    Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất để phát triển kinh tế – xã hội hiện nay.

    2. Hạn chế

    Do nền kinh tế nước ta chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công nghiệp còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất kĩ thuật chưa xác được nhiều. Mặc dù cơ cấu các ngành trong GDP có chuyển dịch rõ rệt nhưng cơ cấu lao động chậm biến đổi. Hiện nay hơn 75% dân số vẫn sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp vẫn chiếm > 60% tổng số lao động xã hội.

    Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng, hiệu quả còn thấp. Đất nước Việt Nam vẫn thuộc 20 nước nghèo nhất thế giới. Đây là thách thức cực kì to lớn cần phát huy mọi tiềm năng để giải quyết.

    Vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế – xã hội còn yếu: khả năng kiềm chế lạm phát còn chưa vững chắc. Ngân sách thu không đủ chi, tỉ lệ bội chi ngân sách còn cao.

    Tình trạng bất công xã hội, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỉ cương còn nặng và phổ biến. Nạn buôn lậu và tệ quan liệu được coi là quốc nạn, được đưa vào chương trình nghị sự quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Song hiện nay vẫn chưa chống được, thậm chí còn có phần nghiêm trọng hơn.

    Hạn chế trong nền kinh tế xã hội nước ta còn nhiều. Nguyên nhân của những yếu kém đó là do hậu quả của nhiều năm trước để lại khi không hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sự phù hợp mang tính tất yếu của chúng, đòng thời những bất lợi của tình hình thế giới hiện nay và những khuyết điểm còn mang tính chủ quan duy ý chí trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta.

    PHẦN KẾT LUẬN

    Đảng và Nhà nước cần phải hiểu và vận dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trên thực tế không thể có sự phù hợp tuyệt đối giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất song phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Sự vận dụng đúng đắn của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại thành tựu vô cùng to lớn cho nền kinh tế – xã hội nước ta, hoàn thành tốt mục tiêu CNH-HĐH đất nước. Tuy vậy, hạn chế, yếu kém vẫn còn rất nhiều, đòi hỏi cần có sự nỗ lực hết sức, phát huy mọi tiềm năng vốn có để khắc phục.

    Chỉ tính từ đổi mới đến nay, đất nước ta đã có những bước chuyển mình lớn lao trong đời sống kinh tế xã hội. Đó là nhờ sự nhận thức và vận dụng kịp thời quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mở ra con đường đầy hứa hẹn cho sự phát triển của đất nước. Trong tương lai, chúng ta sẽ là những người gánh vác nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, vì vậy ngay từ lúc này cần nhận thức rõ ràng và đúng đắn mối quan hệ biện chứng của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, như quan điểm triết học Mác xít thì đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
    1. Giáo trình Triết học Mác – Lênin – NXB Chính trị quốc gia
    1. Giáo trình lịch sử kinh tế – NXB Thống kê