Author: Nguyễn Huyền

  • NGHỆ THUẬT TRONG BÁN HÀNG

    NGHỆ THUẬT TRONG BÁN HÀNG

    NGHỆ THUẬT TRONG BÁN HÀNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo thực tập Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở Công ty Vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NGHỆ THUẬT TRONG BÁN HÀNG

    NGHỆ THUẬT TRONG BÁN HÀNG

    Các cuộc gọi ngẫu nhiên

    Các cuộc gọi ngẫu nhiên là các cuộc điện thoại hay thăm viếng khách hàng tiềm năng mà họ không biết bạn. Mục đích của các cuộc gọi ngẫu nhiên là để thu thập thông tin về tiềm năng của khách hàng, thông tin cho khách hàng tiềm năng biết về lợi ích khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của bạn và trong rất nhiều trường hợp là để hẹn gặp. Có rất nhiều thử thách khi thực hiện các cuộc gọi ngẫu nhiên bao gồm: hơi run, phải thông qua trợ lý, thư ký hay những người “gác cổng” khác hay tìm ra đúng người cần gọi; tìm ra cách để rao hàng nhanh chóng mà sẽ thúc đẩy quá trình bán hàng.

    Những lời khuyên dưới đây sẽ giúp bạn vượt qua những thử thách đó:

    Tránh có những cuộc gọi ngẫu nhiên quá tẻ nhạt

    Hỏi khách hàng hiện tại về khách hàng tiềm năng và sử dụng tên của khách hàng hiện tại để bắt đầu làm quen khi gọi điện. Để có được khách hàng tiềm năng, hãy tìm cách lấy được những thong tin đó từ những câu chuyện tự nhiên hang ngày với khách hang quen của họ thay vì chỉ đề nghị họ cho tên tuổi và số điện thoại của khách hàng tiềm năng. Ví dụ nếu bạn muốn hỏi ai đó có biết người quan tâm đến việc mua bảo hiểm, họ có thể trả lời là không vì họ không thể nghĩ ra ai tức thời. Nhưng nếu như bạn nói chuyện với người đó về việc sinh con và hỏi liệu bạn của họ cũng đang sinh con, anh ta sẽ nhận ra rằng họ biết rất nhiều người có quan tâm tới kế hoạch cho tương lai…người mà muốn mua bảo hiểm.

    Lao vào tức thời

    Bạn sẽ không bao giờ cảm thấy đủ sẵn sàng để thực hiện các cuộc gọi bán hàng, do đó đừng bao giờ chờ đợi khoảnh khắc hoàn hảo. Sự sợ hãi của bạn sẽ không bao giờ tiêu tan và gọi điện đẻ bị từ chối thì bạn không bao giờ mong chờ. Do vậy, thay vì đưa ra các lý do để trì hoãn, hãy làm ngay khi có thể.

    Hãy thẳng thắn

    Dù cho bạn gặp thư ký, trợ lý hay chính bản thân khách hàng tiềm năng trên điện thoại, hãy thẳng thắn đề cập lý do bạn gọi điện. Giới thiệu mình và giải thích lý do cuộc gọi. Hãy trung thực và ngắn ngọn. Người ta sẽ bực mình và nghi ngờ nếu bạn không đưa ra lý do tại sao bạn gọi điện. Phải biết được liệu đó có phải thời gian thích hợp để gọi điện không – nếu đúng, hãy đưa thêm thông tin; nếu không, hỏi khách hàng khi nào là thời gian thích hợp cho bạn gọi lại.

    Gọi điện nhiều lần

    Nếu quá khó khăn để gặp người nào đó, hoặc là bởi vì trợ lý hay thư ký luôn trả lời điện thoại hay máy trả lời tự động, bạn nên thử gọi điện vào những giờ không bình thường. Khách hàng tiềm năng sẽ có thể nhận điện thoại vào lúc 8 giờ sáng hay 6.30 chiều. Hơn nữa, lúc đó họ có vẻ thoải mái hơn và có thời gian để nói chuyện vì họ không phải chụi áp lực từ 9 xuống 5. Nếu bạn gọi điện chào hàng cho cá nhân vào các giờ không bình thường thì buổi tối có lẽ là thời điểm tốt hơn là buổi sáng.

    Đừng mong đợi khách hàng sẽ gọi điện lại cho bạn

    Bạn không nên đợi khách hàng tiềm năng gọi điện lại cho bạn. Họ có thể sẽ không goi, ngay cả khi họ rất quan tâm đến sản phẩm của bạn. Đừng quá tự tin là khi khách hàng tiềm năng nói họ sẽ gọi điện lại cho bạn họ sẽ làm. Hãy vượt lên cái tôi của bạn và gọi cho họ. Và khi bạn làm việc đó, hãy vui vẻ, cho dù bạn cảm thấy bực mình khi họ không bao giờ gọi lại cho bạn.

     

    Tạo cảm tình với khách hàng

    Chúng ta đều biết rằng nhân viên bán hàng không thể dừng lại để nghỉ ngơi mà luôn dồn ép chúng ta bằng những lời rao hàng của họ. Không nên làm điều đó. Nó không tự nhiên và không có hiệu quả. Người ta chỉ mua hàng từ những người mà họ thích., những người mà họ cho rằng hiểu họ và công việc làm ăn của họ. Thu hút khách hàng tiềm năng của bạn bằng cách hỏi thật nhiều câu hỏi và tỏ ra thực sự quan tâm tới khách hàng

    Không nói quá nhiều

    Hãy thực hiện các cuộc gọi ngẫu nhiên để thu thập thông tin về nhu cầu của khách hàng tiềm năng. Tất nhiên bạn cần phải cung cấp đầy đủ thông tin về những ích lợi mà sản phẩm hay dịch vụ của bạn đem lại cho họ để thu hút họ nói chuyện với bạn. Nhưng đừng nói quá nhiều. Nếu bạn đưa ra một đoạn rao hàng quá dài mà không cần biết khách hàng tiềm năng của bạn nghĩ gì, bạn sẽ làm họ khó chịu. Hãy hỏi khách hàng tiềm năng về những vấn đề và nhu cầu của họ (bạn cần phải chuẩn bị những câu hỏi ) và chăm chú lắng nghe câu trả lời của họ. Rồi tập trung vào những thông tin có lợi cho bạn để giải quyết những vấn đề đó và đáp ứng nhu cầu của họ. Cố gắng có được cuộc gặp mặt trực tiếp.

    Nếu ai đó yêu cầu bạn gửi cho tài liệu quảng cáo, hỏi họ xem liệu bạn có thể gặp họ trong vòng 15 phút để giới thiệu các sản phẩm của bạn không. Bằng cách này nó có thể hiệu quả hơn đối với họ để biết về công việc kinh doanh của bạn vì bạn có thể giới thiệu thông tin và trả lời các câu hỏi của họ. Hơn nữa, gặp mặt trực tiếp ai đó sẽ có quan hệ thân thiện hơn và sẽ dễ làm họ nhớ bạn là ai và tại sao họ cần sản phẩm hay dịch vụ của bạn.

     

    Kết thúc bán hàng

    Kết thúc bán hàng hay khiến khách hàng tiềm năng chấp nhận mua đôi khi cũng đơn giản như khi chào mời hàng hoá. Khi bạn đã có đủ thông tin nhờ đánh giá được khách hàng tiềm năng, tìm hiểu được nhu cầu của họ và cho họ thấy được sản phẩm hay dịch vụ của bạn có thể đáp ứng được những nhu cầu đó, đây chính là lúc có thể đề nghị họ đặt hàng. Những lời khuyên dưới đây có thể giúp thực hiện quá trình này thuận lợi và tự nhiên.

    Thiết lập cơ sở cho công việc:

    Trong quá trình bán hàng, nếu bạn tìm hiểu được nhu cầu của khách hàng và giúp họ hiểu được rằng những thứ mà bạn đang bán có thể đáp ứng được nhu cầu của họ, thì việc “kết thúc” là không cần thiết. Nếu bạn thường xuyên do dự làm thế nào để “kết thúc” thì có lẽ nên xem xét lại phương pháp xác định nhu cầu của khách hàng và cách thức quảng cáo lợi ích của sản phẩm hay dịch vụ của bạn.

    Tiếp cận với người ra quyết định:

    Đảm bảo rằng bạn đã tiếp cận được với người ra các quyết định mua hàng. Đôi khi một người không thể mua sản phẩm hay dịch vụ của bạn chỉ đơn giản là anh ta không có quyền quyết định. Nếu trong trường hợp này bạn phải tìm ra được người sẽ ra quyết định mà khách hàng tiềm năng gợi ý bạn.

    Đưa ra thời hạn:

    Nếu như bạn có một khách hàng còn đang do dự khi mua sản phẩm, có một cách để “kết thúc” là nói với họ rằng dịch vụ của bạn sẽ hết nếu quá một ngày cụ thể nào đó. Ví dụ, nếu một khách hàng nói rằng họ muốn thuê nhưng không đi đến một bản hợp đồng nào, thì bạn hãy đưa ra một thời hạn nào đó hay nói rằng bạn sẽ không thực hiện nếu quá một khoảng thời gian cụ thể nào đó. Điều này có độ rủi ro lớn bởi vì nó có thể có nghĩa rằng bạn sẽ không giao dịch với người khách hàng này trong tương lai gần. Tuy nhiên điều này cũng giúp bạn có thể tách được những hách hàng tiềm năng thực sự khỏi những khách hàng tiềm năng nhưng không thể ra được quyết định cuối cùng lựa chọn sản phẩm của bạn. Bằng cách này hay cách khác, buộc khách hàng đưa ra được quyết định sẽ có lợi cho công việc của bạn. Nếu họ quyết định không mua sản phẩm của bạn thì nó cũng giúp bạn cảm thấy thoải mái để theo đuổi khách hàng khác.

    Tính toán trên cơ sở thời điểm khách hàng cần sản phẩm của bạn It

    Phải biết được khi nào khách hàng cần sản phẩm hay dịch vụ của bạn và tính toán để cho thấy được việc “kết thúc” lúc đó là rất quan trọng. Ví dụ, nếu bạn là một công ty quảng cáo, bạn tìm hiểu thời điểm khách hàng tiềm năng muốn giới thiệu sản phẩm mới của họ ra thị trường. Từ đó, bạn có thể thuyết phục họ nên thuê công ty bạn ngay từ bây giờ để đảm bảo việc quảng cáo sản phẩm sẽ thành công.

    Đề cập khả năng tăng giá

    Nếu công ty của bạn có kế hoạch tăng giá vào tháng một, thì hãy bắt đầu kêu gọi khách hàng mua sản phẩm của bạn từ tháng 10 trước khi giá tăng. Định vị sản phẩm ở đây mới là điều quan trọng – hãy nhớ rằng bạn đang thông báo cốt để cung cấp một dịch vụ cho khách hàng tiềm năng chứ không hăm doạ để họ buộc phải mua hàng. Điều này không chỉ giúp bạn tiếp cận khách hàng mà còn làm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của bạn đánh giá cao việc thông báo trước của bạn.

    Đề cập ảnh hưởng của việc chậm mua hàng

    Hãy hỏi khách hàng để họ nói ra những thiệt hại nếu họ không mua sản phẩm của bạn – một rủi ro không được bảo hiểm, tai nạn xe hơi vì không điều chỉnh máy móc hay thay lốp mới, hay một chiến dịch bán hàng không thành công vì không tiến hành nghiên cứu thị trường. Thiệt hại có thể là tiền bạc, thời gian và danh tiếng và nhiều thứ khác nữa

    Làm thế giữ được khách hàng

    Chăm sóc và giữ được khách hàng quen là nền tảng đưa đến sự thành công của nhiều doanh nghiệp nhỏ. Bạn có thể giữ khách bằng điện thoại, gặp mặt trực tiếp hay qua thư. Dưới đây là một số phương pháp cụ thể bạn có thể áp dụng:

    Gọi điện cho khách hàng sau khi bán hàng một vài tuần

    Nếu bạn là chủ một cửa hàng sửa chữa ô tô, gọi điện lại cho tất cả khách hàng 2 tuần sau khi họ nhận xe để tìm hiểu xem xe của họ hoạt động ra sao và để biết chắc chắn rằng họ cảm thấy thoả mãn với sự phục vụ của bạn. Điều này sẽ giúp bạn biết được những điều khách hàng chưa thoả mãn, nếu có. Đây cũng là dịp tốt để bạn cám ơn khách hàng đã lui tới doanh nghiệp bạn thường xuyên.

    Viết thư cám ơn

    Viết một thư tay cám ơn khách hàng đã mua sản phẩm của bạn là một bước rất đơn giản mà rất nhiều người chủ doanh nghiệp đã bỏ qua. Hình thức tiếp cận cá nhân này luôn luôn được đánh giá cao và được ghi nhớ. Không có một mẫu chung nào cho lọai thư này vì nhủ vậy sẽ mất đi mối quan hệ cá nhân .

    Giữ liên lạc với khách hàng

    Gọi điện thường xuyên cho khách hàng để biết được liệu công việc kinh doanh của họ có gì thay đổi không và liệu bạn có thể giúp đỡ gì cho họ. Khách hàng thường đánh giá cao nếu họ được thông báo về bất kỳ một sự phát triển nào, đổi mới nào hay bất kỳ sản phẩm mới nào.

     

    Tìm kiếm nguồn thông tin từ khách hàng

    Một tờ khảo sát như ví dụ dưới đây có thể được in ở mặt sau của thẻ trả lời của doanh nghiệp và gửi đến cho tất cả khách hàng. Nó được trích dẫn từ cuốn Bí quyết bán hàng thành công của Barry J. Farber (Career Press). Farber gợi ý nên sử dụng bản khảo sát này để quyết định xem bạn cần cải tiến những điểm gì trong dịch vụ theo dõi khách hàng và dịch vụ khách hàng của mình.

    Kính thưa quý khách hàng,

    Để giúp chúng tôi phục vụ quý khách hàng tốt hơn, xịn quý vị hãy điền vào bản khảo sát này và gửi lại cho chúng tôi.

    Tên quý vị __________________________________________________________________
    Tên công ty ________________________________________________________________
    Điện thoại ____________________________ ngày_____________

    Hãy trả lời các câu hỏi sau bằng cách chọn câu trả lời thích hợp.

    Tác phong lịch sự và giúp ích của nhân viên tiếp tân
    __ Tuyệt vời  __ Tốt  __ Trung bình  __ Kém
    Trả lời các thông tin được yêu cầu
    __ Tuyệ vời  __ Tốt  __ Trung bình  __ Kém
    Tác phong lịch sự, thái độ và phong cách của nhân viên
    __ Tuyệ vời  __ Tốt  __ Trung bình  __ Kém
    Phong cách giao tiếp của công ty với khách hàng
    __ Tuyệ vời  __ Tốt  __ Trung bình  __ Kém
    Sự phục vụ của đại diện bán hàng của công ty’s sales rep(s)
    __ Tuyệ vời  __ Tốt  __ Trung bình  __ Kém
    Đánh giá chung
    __ Tuyệ vời  __ Tốt  __ Trung bình  __ Kém
    Đại diện bán hàng của công ty có trả lời lại cuộc điện thoại yêu cầu dịch vụ tức thời không?
    __ Có    __ Không
    Quý vị có giới thiệu sản phẩm của chúng tôi với người khác không?
    __ Có    __ Không
    Hãy gọi điện cho tôi để thảo luận về những đánh giá của tôi.
    __ Có    __ Không
    Bình luận
    __________________________________________________________
    __________________________________________________________
    __________________________________________________________
    __________________________________________________________

    Làm thế nào để bán hàng ở các cuộc triển lãm thương mại

    Theo nghiên cứu của Trung tâm Tổ chức triển lãm, phần lớn khách tham quan triển lãm là những người đưa ra quyết định hay có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định đang có kế hoạch mua sắm trong vòng 12 tháng tới. Đừng bỏ qua cơ hội đó – áp dụng những chỉ dẫn dưới đay để đảm bảo rằng nhân viên của bạn sẵn sàng bán hàng một cách có hiệu quả.

    Tránh bán hàng chậm

    Triển lãm thương mại cần áp dụng biện pháp tiếp cận bán hàng ngay (hard-sell approach). Khi người tham quan triển lãm quan tâm tới gian hàng của bạn, tiếp cận họ tức thời và mời họ tìm hiểu thêm về sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Đừng để họ đợi – sự tập trung của khách hàng ở các cuộc triển lãm thương mại là rất ngắn và người ta sẽ rời gian hàng của bạn nếu họ không nhận được sự giúp đón tiếp trong vòng 60 giấy hay ít hơn.

    Tỏ ra hiếu khách

    Cách thức để chào đón khách hàng tới gian hàng của bạn là cho thấy nghiệp vụ chuyên môn và long hiếu khách . Tránh sử dụng những câu trả hỏi tẻ nhạt như” “Tôi có thể giúp gì?”, “Xin chào, quý vị có khoe không?” hay “Quý vị thấy triển lãm thế nào?”. Thay vào đó, hãy hỏi các câu hỏi liên quan trực tiếp đến khách hàng và giúp bạn phán đoán mối quan tâm của khách hàng với sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn — “Quý vị muốn biết thông tin gì về hệ thống lò sưởi kiểu mới của chúng tôi?” hay “Xin chào, Quý vị cần thông tin gì về loại cửa hiên này?”

    Xem xét thái độ của bạn

    Thái độ thờ ơ trong gian hàng bạn cho thấy rằng bạn không quan tâm tới khách hàng. Không được ngồi. Không được ăn uống hay hút thuốc trong quầy hàng, Không bao giờ để gian hàng không có ai đón khách. Không giành thời gian tán chuyện với đồng nghiệp mà phải tập trung vào khách hàng.

    Đánh giá nhanh chóng khách hàng tiềm năng

    Việc đầu tiên khi tiếp xúc với một khách hàng mới là phải xác định được họ là ai (người mua, người đưa ra quyết định, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, vv) và họ ở đâu. Việc này giúp bạn không tiêu phí thời gian quý báu cho người mà không có trách nhiệm mua sản phẩm hay dịch vụ của bạn hay họ ở khu vực mà công ty bạn không phục vụ. Bạn có thể có được thông tin này bằng cách hỏi một số các câu hỏi cơ bản, quan sát biểu hiện của họ hay xin danh thiếp có chức danh và địa chỉ.

     

    Hỏi hàng loạt các câu hỏi

    Thu hút khách hàng tiềm năng bằng cách hỏi hàng loạt các câu hỏi mở — các câu hỏi yêu cầu câu trả lời chứ không chỉ có hay không. Nó giúp bạn xác định được nhu cầu và mối quan tâm của khách hàng. Tập trung câu trả lời của bạn vào việc sản phẩm hay dịch vụ của bạn có thể đáp ứng được nhu cầu của họ như thế nào. Đảm bảo theo sát nguyên tắc 80/20 — lắng nghe 80% thời gian và nói 20% thời gian. Cố gắng tránh bất kỳ hình thức nào của lời rao hàng đã chuẩn bị sẵn như người máy rao hàng.

    Ghi chép cẩn thận

    Ghi chép đầy đủ các thông tin có liên quan tới khách hàng tiềm năng vào mẩu giấy giới thiệu hàng bao gồm tên, chức danh, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (tất cả các thông tin này có thể có từ danh thiếp), nhu cầu/sở thích, ngân quỹ và thời gian. Sử dụng thẻ này cho phần theo dõi khách hàng sau triển lãm khi bạn quay trở về công ty.

    Làm thế nào để giải quyết vấn đề khả năng tín dụng kém của khách hàng tiềm năng

    Bạn có được bản báo cáo về khả năng tín dụng của khách hàng tiềm năng và nhận thấy có dấu hiệu cảnh báo – thanh toán chậm, vụ kiện chưa được giải quyết, nợ tồn đọng nhiều. Khách hàng này có thể là một rủi ro tín dụng cho công ty. Điều đó có nghĩa là gây ảnh hưởng tới việc kinh doanh của công ty? Có thể không hẳn là như thế. Thực hiện các bước sau để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng của công ty.

    Tìm ra nguyên nhân:

    Khả năng tín dụng của mỗi khách hàng tiềm năng sẽ bị ảnh hưởng bởi các trường hợp khác nhau, vì thế rất cần phải tìm ra nguyên nhân gây ra khả năng tín dụng kém. Ví dụ, nếu một khách hàng bán đồ trang trí cho ngày nghỉ lễ, có tình huống luồng tiền sẽ khó khăn hơn cho doanh nghiệp này trong mùa hè hơn là mùa đông. Nếu bạn quyết định chấp nhận công việc kinh doanh này, bạn có thể sử dụng những hiểu biết này để lập ra các điều khoản tín dụng làm tăng khả năng thanh toán. Bạn có thể yêu cầu thanh toán theo hình thức trả tiền khi nhận hàng (C.O.D) trong giai đoạn ít khách và thanh toán từng phần khi lượng hàng tiêu thụ lớn.

    Kiểm tra nguồn thông tin tham khảo:

    Nếu một khách hàng tiềm năng đưa ra lời bào chữa về tình trạng tín dụng kém của họ, bạn hãy tìm hiểu thông tin thêm về nó từ những nguồn thông tin tham khảo khác trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Bạn có thể thấy được rằng lời đồn đó đã không công bằng khi gán cho khách hàng tiềm năng là có sự rủi ro về tín dụng. Bạn cũng có thể cần có danh sách đầy đủ của những nhà cung cấp để có thể chọn ngưòi bán hàng bạn gọi điện liên lạc để lấy thông tin thay vì liên lạc với những ngưòi do khách hàng tiềm năng cung cấp.

    Phác thảo các điều khoản thanh toán:

    Đừng để những khách hàng có độ rủi ro cao có cơ hội phê phán rằng họ không hiểu các điều khoản thanh toán của bạn. Hãy tự bảo vệ mình bằng cách yêu cầu họ xem xét lại các chính sách thanh toán và ký vào biên bản chấp nhận chúng. Đảm bảo rằng các điều khoản của bạn được đặt ở vị trí dễ thấy trong đơn đặt hàng và hoá đơn. Nó bao gồm các chi tiết như phương thức thanh toán, thời kỳ ân hạn, chiết khấu cho việc thanh toán sớm, hình thức phạt nếu thanh toán chậm, và quá trình công ty thực hiện để theo dõi các hoá đơn thanh toán chậm.

    Yêu cầu thanh toán trước:

    Nếu một công ty có độ rủi ro cao, bạn đừng ngần ngại khi yêu cầu họ thanh toán toàn bộ hay một phần trước.Phần lớn các doanh nghiệp có tình trạng tín dụng kém đều biết điều đó và cũng đoán trước là bạn sẽ cảnh giác khi làm việc với họ. Một công ty có tình trạng tín dụng kém luôn muốn tăng vị trí của họ lên, bạn có thể khuyến khích họ chấp nhận các điều khoản thanh toán trước bằng cách để họ biết rằng bạn sẽ là người chứng nhận khả năng tín dụng cho họ nếu công việc làm ăn tiến triển tốt.

    Xem xét đến lịch sử tín dụng cá nhân:

    Nếu bạn làm việc với một công ty mới thành lập mà chưa có lịch sử về tín dụng, thì bạn nên xem xét đến báo cáo tín dụng cá nhân của người chủ doanh nghiệp để đánh giá xem người đó thanh toán các hoá đơn như thế nào. Thường một người có thói quen tốt về tài chính cá nhân thì cũng thực hiện các nghiệp vụ quản lý tiền của doanh nghiệp tốt.

    Hỏi về các khoản phải thu sắp tới:

    Một số công ty có thể cung cấp các hợp đồng đã ký hay các bằng chứng khác về luồng doanh thu sắp có. Trong khi các giấy tờ này không đảm bảo rằng bạn sẽ được thanh toán, chúng có thể chứng minh khách hàng tiềm năng có các nguồn tài chính để thanh toán cho các đơn đặt hàng của họ hay không. Hơn nữa, bạn phải đảm bảo xác minh tất cả các hợp đồng bằng nguồn thông tin tham khảo đáng tin cậy.

    Khởi đầu mối quan hệ làm ăn dần dần:

    Nếu bạn còn do dự về khách hàng mới, bạn nên hạn chế mối quan hệ làm ăn với họ cho đến khi bạn hình thành được mối quan hệ với họ. Một cách khác là đầu tiên nên yêu cầu thanh toán trước và sau đó cho họ trả chậm nhiều hơn.

    Đơn giản là nói không:

    Mặc dù đại đa số các công ty là không có độ rủi ro cao về tài chính, vẫn có các doanh nghiệp bạn phải xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa họ vào bảng danh sách khách hàng của bạn. Nếu bạn đã nghiên cứu và vẫn không thấy thoải mái với khách hàng tiềm năng này, bạn hãy lịch sự từ chối làm ăn với họ. Điều phức tạp bạn tránh bằng cách nói “không” sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian và tiền bạc sau này.

    Làm thế nào để hình thành mạng lưới có hiệu quả

    Hình hành mạng lưới là một nghệ thuật xây dựng và duy trì các mối quan hệ. Mục đích của việc hình thành mạng lưới là tạo ra nhóm khách hàng và nguồn thông tin mà có thể trực tiếp làm tăng chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ của bạn, làm giảm sự mệt mỏi của khách hàng và có lẽ quan trọng nhất là làm cho các đối thủ cạnh tranh của bạn tự hỏi là làm thế nào mà bạn có được công việc mà họ không bao giờ biết đến.

    Nhiều chủ các doanh nghiệp nhỏ không muốn hình thành mạng lưới vì họ cho rằng nó chỉ như là bạn đang trao danh thiếp của bạn cho ai đó và khoa trương việc bạn đang làm. Trên thực tế, hình thành mạng lưới thực chất là để biết được người có thể giúp được bạn và người bạn có thể giúp.

    Ông Steven M. Krauser, chuyên gia hình thành mạng lưới, chủ tịch Hiệp hội mạng lưới ở Hicksville, N.Y. cho rằng phần lớn những doanh nhân không biết làm thế nào để biến việc hình thành mạng lưới trở thành công cụ kinh doanh hữu hiệu. Ông nói” Nếu kết quả của việc hình thành mạng lưới của bạn là việc xếp danh thiếp trong ngăn kéo và không có thêm nhiều hợp đồng kinh doanh mới, thì là lúc bạn phải đánh giá lại phương pháp làm việc của bạn”.

    Krauser cho rằng chỉ các doanh nghiệp nhỏ nên tổ chức gặp mặt mọi người với hai mục tiêu: để quen biết càng nhiều người càng tốt và để họ biết mình. Và ông đưa ra bốn bước dưới đây để giúp hình thành mạng lưới:

    Trao và nhận thông tin

    Mạng lưới là một con đường hai chiều. Khi bạn gặp ai đó, bạn muốn hỏi họ về công việc làm ăn và họ cũng sẽ hỏi bạn. Hãy bắt đầu từ những thứ cơ bản – tên, công ty, mạng lưới kinh doanh, vị trí, tình hình kinh doanh, vv. Tiếp theo bạn có thể tìm ra liệu cả hai có thể đem lại lợi ích gì cho nhau. Cố gắng giới thiệu cho họ những thông tin:

    • Công ty bạn làm gì?
    • Bạn phục vụ những khách hàng nào?
    • Ai quyết định mua hàng trong công ty bạn cho mỗi một loại sản phẩm hay dịch vụ?
    • Điều gì làm bạn nổi bật hơn các đối thủ cạnh tranh?

    Đánh giá giá trị của mối quan hệ

    Bạn không thể hình thành mạng lưới rộng khắp với tất cả mọi người. Một khi bạn đã có những thông tin ban đầu, bạn cần phải quyết định xem có nên gặp lại người này và tạo mối quan hệ hay không. Bạn có thể giúp đỡ họ và họ có thể giúp đỡ bạn không? Câu trả lời cho cả hai câu hỏi nên là “có”.

    Một tiêu chí khác đó là tìm kiếm những người mà thực sự muốn giúp đỡ những người khác giải quyết vấn đề mà không có điều kiện ràng buộc. Nói cách khác, không coi mình là người phát triển mạng lưới mà là một người giúp giải quyết vấn đề, và tìm kiếm những người có những phẩm chất như vậy để đưa vào mạng lưới cá nhân của bạn.

    Hình thành khối liên minh chiến lược

    Mạng lưới không phải là việc sưu tập danh thiếp mà là con người. Giành thời gian để hiểu được công việc kinh doanh của những người trong mạng lưới. Nếu bạn chọn được những người trong mạng lưới một cách khôn ngoan, đó là một điều đáng mừng. Chắc chắn rằng bạn đã cho họ biết về công việc của bạn và những đối tác có liên hệ làm ăn với. Trao đổi những thông tin cập nhật khác và sự ủng hộ. Kết quả là bạn sẽ trở thành những người bán hàng cho nhau.

    Nhớ rằng mục đích của việc hình thành mạng lưới không phải là nhận được hợp đồng kinh doanh từ người bạn có quan hệ mà là từ những người quen của người bạn có quan hệ.

    Bạn có thể cũng nên trao đổi những ý kiến về quản lý, đưa ra lời khuyên, hay thậm chí những gợi ý những mối hợp tác. Bạn có thể học hỏi lẫn nhau và cùng đóng góp cho sự phát triển cả về lợi nhuận và công việc làm ăn cho nhau.

    Duy trì

    Khi nền tảng của mối quan hệ phát triển, bạn phải đánh giá lại những người trong mạng lưới thông tin. áp dụng những kỹ năng quản lý có hiệu quả về mặt thời gian và giành quyền ưu tiên cho các mối quan hệ hiệu quả của bạn. Bạn sẽ muốn tiếp tục giữ quan hệ thường xuyên với những người mà hữu dụng nhất với bạn. Họ sẽ trở thành người thân cận của bạn.

    Cẩn thận đừng bao giờ rút ván khi qua đường, bạn không bao giờ biết khi nào ai đó có thể giúp bạn hay khi nào bạn có thể giúp bạn. Nếu bạn cảm thấy ai đó tại hiện tại không hữu ích cho bạn, bạn vẫn nên thỉnh thoảng có liên lạc với họ vì họ có thể rất quan trọng trên con đường của bạn về sau. Nói cách khác, hãy tử tế với tất cả mọi người vì bạn không thể biết trước được khi nào họ có thể giúp bạn.

    Lập kế hoạch triển lãm thương mại hiệu quả

    Tham gia các cuộc triểm lãm thương mại, triển lãm hội nghị, hội chợ hay các loại hình triển lãm khác cho bạn một cơ hội bán hàng duy nhất giúp bạn tìm nguồn khách hàng mới, tìm nhà cung cấp, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, thực hiện một số công việc mạng lưới và hình thành quan hệ công chúng. Tóm lại, tại một cuộc triển lãm thương mại có thể làm được những điều mà bạn phảimất hàng tuần thậm chí hàng tháng nếu làm tại công ty. Thậm chí nó còn giúp bạn tiết kiệm được chi phí – Theo nghiên cứu của Trung tâm Tổ chức Triển lãm, nó giúp giảm 62% chi phí cho việc đàm phán một hợp đồng trong triển lãm so với thực hiện ngoài thị trường.

    Nhưng để có được thành công trên, bạn phải lập kế hoạch rất cẩn thận. Điều đó có nghĩa là chọn lựa đúng triển lãm, đặt mục tiêu rõ ràng, tạo ra một triển lãm có hiệu quả cho công ty, quảng cáo cho sự có mặt của công ty. Thực hiện điều đó thậm chí trước khi tham gia triển lãm. Hãy nhấn chuột vào những tiểu mục dưới đây để biết thêm kinh nghiệm trong việc tổ chức triển lãm thương mại.

     Chọn đúng triển lãm

    Với hơn 10.000 triển lãm thương mại được tổ chức trên thế giới hàng năm, hãy chọn một trong số đó nhằm thu được lợi ích lớn nhất từ khoản đầu tư về thời gian cũng như tiền bạc bạn đã phải bỏ ra.

    Bắt đầu nghiên cứu bằng cách tìm kiếm các triển lãm thương mại mà thích hợp với sản phẩm và dịch vụ của bạn. . Trên mạng, bạn có thể một trong những địa chỉ mạng sau để tìm hiểu về các hội chợ thương mại trên thế giới:

    Một nguồn thông tin khác bạn có thể biết về triển lãm là từ hiệp hội doanh nghiệp của ngành vì rất nhiều triển lãm và hội nghị là do các ngành đứng ra tài trợ. Phòng thương mại và công nghiệp cũng nhủ chi nhánh ở các tỉnh và thành phốcũng có thể giúp bạn có được thông tin về các triển lãm thương mại nhỏ của địa phương.

    Dưới đây là một số lời khuyên giúp bạn đưa ra lựa chọn đúng:

    Đừng lựa chọn bằng những con số

    Những cuộc triển lãm thương mại lớn có thể chỉ tốn thời gian nếu bạn không xem xét đến người mua hay khách hàng tiềm năng cho sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Nghiên cứu kỹ số liệu của các cuộc triển lãm thương mại trong các năm trước sẽ giúp bạn đánh giá khách hàng có đúng là khách hàng của bạn không. Cơ quan quản lý triên lãm có thể cung cấp cho bạn số liệu.

     

    Nhờ khách hàng giúp đỡ

    Hỏi khách hàng của bạn để biết được họ thường xuyên tới các cuộc triển lãm thương mại nào,vì những cuộc triển lãm đáp ứng được nhu cầu của họ có lẽ sẽ có nhiều khách hàng tiềm năng của bạn. Bạn có thể hỏi các đối thủ cạnh tranh về triển lãm nào họ thấy hũu ích nhất.

    Phải kiểm định trước

    Cách tốt nhất để đánh giá một cuộc triển lãm là phải tự quan sát. Trước khi bạn đăng ký tham gia, bạn hãy đến triển lãm như một người tham quan. Triển lãm này có năng động và lý thú không? Những người đi xem triển lãm có phải là khách hàng tiềm năng của bạn không? Doanh nghiệp tham gia triển lãm là ai và sản phẩm hay dịch vụ của bạn đặt ở đâu thì thích hợp trong triển lãm đó? Nói chuyện với mọi người và hãy lắng nghe.

    Đánh giá cẩn thận

    Khi bạn có danh sách của các cuộc triển lãm, hãy tự hỏi những câu hỏi dưới đây để quyết định xem triển lãm nào là phù hợp với mục đích của bạn:

    • Nó có đủ lớn để dựng nên một khu vực gặp mặt của khách hàng tiềm năng và người bán không nhưng cũng không quá rộng để bạn sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ nặng cân trong ngành công nghiệp của bạn?
    • Nó có đúng là chỗ thích hợp để thu hút khách hàng của địa phương, khu vực, trong nước hay quốc tế không?
    • Nó đã được lên kế hoạch tổ chức đúng vào lúc khi bạn có thể giới thiệu một số sản phẩm dịch vụ mới và tìm kíếm khách hang mới không?
    • Cơ quan tổ chúc quảng cáo triển lãm có đáng tin cậy và ban quản lý của họ đã từng đạt được thành công nào chưa?

     

    Đừng đợi đến phút cuối cùng

    Một số cuộc triển lãm thương mại nổi tiếng được đăng ký tham dự rất nhanh. Nếu bạn chờ qua lâu, bạn có thể chỉ ở trong danh sách dự bị. Thêm vào đó, bạn càng đăng ký sớm, bạn càng có nhiều cơ hội để lựa chọn vị trí tốt cho gian hàng của bạn.

    Xác định rõ mục tiêu

    Để có thể thu được lợi từ khoảng thời gian, tiền bạc và năng lượng bạn bỏ ra cho việc tham gia triển lãm thương mại, bạn cần phải xác định mục đích của việc tham gia và đặt ra các mục tiêu vừa sức.Mọi việc bạn thực hiện trước, trong và sau triển lãm nên được đánh giá trên tiêu chí là nó có giúp đạt được các mục tiêu đã đề ra không.

    Các mục tiêu có thể đạt được trong cuộc triển lãm thương mại

    Dưới đây là một số lý do các doanh nghiệp tham gia triển lãm thương mại. Mục tiêu của bạn có thể là một vài trong số dưới đây, hay những lý do khác lại quan trọng cho doanh nghiệp nhỏ của bạn:

    • Ký hợp đồng bán hàng
    • Nghiên cứu cạnh tranh
    • Nghiên cứu xu thế phát triển tại chỗ
    • Quảng bá sản phẩm trợ giúp bán hàng sau này
    • Hình thành danh sách địa chỉ khách hàng
    • Tìm nhà cung cấp nguyên liệu re hơn hay tốt hơn
    • Thiết lập quan hệ với khách hàng hiện tại
    • Được báo chí quảng bá
    • Làm tăng sự háo nức của khách hàng với sản phẩm mới
    • Làm tăng hình ảnh của công ty trong ngành công nghiệp

     

    Đảm bảo rằng nhân viên của bạn tại gian hàng rất phù hợp và nhanh nhẹn

    Bạn không thể thực hiện công việc một mình. Dù mục tiêu của bạn là gì, bạn sẽ cần ít nhất một người để thay thế bạn khi bạn rời quầy để nghỉ ngơi hay xem xét việc bị cạnh tranh. Một nguyên tắc cần phải nhớ là ở mỗi 33 m vuông của triển lãm phải có 2 nhân viên của bạn. Nhân viên phải ăn mặc chỉnh tề, được đào tạo kỹ lưỡng, có trình độ và hiếu khách. Họ phải nắm được mục tiêu của bạn và thấy được vai trò của họ trong việc giúp công ty đạt được mục tiêu đó. Nếu bạn không có nhân viên trong công ty, hãy thuê họ hàng, bạn bè hay những người làm thuê theo giờ.

    Tập trung vào thông điệp của bạn

    Chỉ nên chọn hai hay ba mục tiêu chính mà bạn muốn đạt tới trong cuộc triển lãm, hãy tự đào tạo mình cũng như nhân viên phải “tập trung vào thông điệp”. Thiết kế đồ hoạ, quảng cáo trước triển lãm, tài liệu in và các tờ quảng cáo trong triển lãm đều phải xoay quanh thông điệp của bạn.

    Tạo ngân sách

    Khi bạn đã quyết định tham gia triển lãm nào và mục tiêu của bạn là gì, bạn phải soạn thảo ngân sách. Không dự toán ngân sách, mọi khoản chi tiêu sẽ khó có thể quản lý được (ví dụ những chi tiêu bất chợt ở phút cuối nhằm làm sôi động quầy của bạn) và sẽ phá vỡ kế hoạch đã được chuẩn bị kỹ càng của bạn. Một nguyên tắc cần phải nhớ là chi phí thuê không gian chỉ nên chiếm một phần tư tổng ngân sách của bạn. Vì thế khi biết phải chi cho việc thuê chỗ là bao nhiêu bạn hãy nhân lên bốn lần để có được lương chi tiêu thô cho cuộc triển lãm, chưa tính chi phí cho nhân sự.

    Có được một cuộc triển lãm có hiệu quả

    Vị trí và vẻ ngoài của gian hàng của bạn sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự thành công của cuộc triển lãm thương mại. Một số lời khuyên dưới đây sẽ giúp bạn.

     

    Chọn vị trí có mật độ người qua lại cao

    Bạn hãy xem sơ đồ mặt sàn của triển lãm trước khi chọn vị trí cho gian hàng. Đi bộ là hình thức phổ biến trong các khu vực triển lãm thương mại. Hãy chọn vị trí cho gian hàng gần lối ra vào, nơi ăn uống, nhà vệ sinh, phòng nghỉ, phòng hội thảo, hay gần những gian hàng thâm gia triển lãm lớn. Cố gắng tránh các đường cụt, nơi chất hàng, dãy quầy khuất, hay những nơi ít người qua lại.

    Xem xét việc chia gian hàng

    Những công ty mới tham gia triển lãm thường nhận được những vị trí không như mong muốn. Có một biện pháp là chia gian hàng có vị trí tốt vơi một đồng nghiệp trong ngành công nghiệp có liên quan. Hãy bàn bạc với người đại diện bán hàng của bạn hay cố gắng liên hệ với công ty tham gia triển lãm đã được xếp chỗ mà sản phẩm hay dịch vụ của họ bổ trợ cho sản phẩm và dịch vụ của bạn.

    Làm phấn chấn các giác quan

    Phải đảm bảo rằng khách hàng đến với gian hàng của bạn sẽ giữ lại được điều gì đó về sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Để cho họ sờ, nhìn, cảm nhận, nghe hay nếm thử sản phẩm. Bạn đang bán gối trang trí? Hãy bày chúng ở một khung cảnh phù hợp và có mẫu hàng cho khách có thể cảm nhận được. Bạn vừa phát triển một phần mềm mới? Nên có các máy vi tính để khách tham quan triển lãm có thể thử sản phẩm của bạn.

    Trang trí đơn giản

    Cố gắng đừng sử dụng nhiều tranh ảnh trang trí cho gian hàng. Một bức tranh lớn có thể nhìn thấy từ xa sẽ có ảnh hưởng lớn hơn là nhiều bức tranh nhỏ. Duy nhất một khẩu hiệu bắt mắt dùng để mô tả công ty còn có thể truyền đạt nhiều hơn các dòng chữ dài.

     

    Các mẹo quảng cáo

    Các mẹo quảng cáo và quà tặng khuyến mãi sẽ thu hút khách hàng đến gian hàng của bạn. Tổ chức một cuộc thi, cuộc quảng cáo sản phẩm ồn ào, phát miễn phí kẹo, thuê một người làm nghề xoa bóp và phục vụ xoa bóp lưng miễn phí. Bạn phải chắc chắn được rằng các mẹo quảng cáo này phải phù hợp với hình ảnh của công ty và sự nhạy cảm của khách hàng.

    Quảng cáo cho sự có mặt của công ty

    Nhớ rằng kế hoạch triển lãm thương mại tốt nhất cũng sẽ bị đổ bể nếu như không ai biết bạn ở đó. CEIR ước tính khoảng ba phần tư số khách tham quan triển lãm biết trước được những sản phẩm triển lãm nào họ muốn xem trước khi đến triển lãm. Một cuộc quảng cáo trước triển lãm sẽ giúp khách hàng và khách hàng tiềm năng của bạn biết về việc tham gia triển lãm của bạn. Một số lời khuyên khi thực hiện việc này.

    Gọi điện thoại

    Một tháng hay 6 tuần trước triển lãm, bắt đầu goi điện cho các khách hàng chính hay khách hàng tiềm năng để sắp xếp các cuộc gặp. Nhiều người sẽ đến theo đúng kế hoạch định trước của công ty và giành rất ít thời gian hay không có thời gian để xem các gian hàng khác, do vậy điều quan trọng là phải xúc tiến việc gọi điện lên kế hoạch đó càng sớm càng tốt. Sau đó trước một tuần hay ngay trước triển lãm phải gọi điện lại để khẳng định một lần nữa.

    Gửi thư

    Người quản lý triển lãm thường bán cho bạn danh sách địa chỉ của những người đăng ký trước xem triển lãm. Cố gắng thực hiện việc gửi thư cho họ trước triển lãm tập trung vào một hay hai lợi ích mà họ có được khi tham quan gian hàng của bạn. Hãy cho họ các thông tin về gian hàng của bạn bao gồm cả số gian hàng.

    Sử dụng phương tiện thông tin đại chúng

    Viết một vài bài báo trên các ấn phẩn thương mại và báo địa phương mà sẽ đề cập tới cuộc triển lãm. ấn phẩm của bạn phải nổi bật khi đưa thông tin về việc tham gia triển lãm của công ty – ví dụ giới thiệu một sản phẩm mới hay một cuộc trình diễn đặc biệt. Bạn cần phải chuẩn bị nhiều bộ ấn phẩm cho cuộc triển lãm và phải chuyển nó tới phòng thông tin của triển lãm để phóng viên có thể tìm thấy.

    Để ý tới các ấn phẩm của triển lãm

    Quảng cáo trên các ấn phẩm mà được phát ở triển lãm có thể rất tốn kém nhưng kém hiệu quả. Những ấn phẩm này thường ít được quan tâm và nó sẽ bị lãng quên trong đống giấy tờ mà người tham quan triển lãm có được.

    Lập kế hoạch cho chiến lược theo dõi của công ty Thời gian lập kế hoạch cho chiến lược theo dõi là trước khi bắt đầu triển lãm. Bằng cách này bạn có thể tiếp cận khách hàng tiềm năng với bản theo dõi trong khi những ấn tượng về triển lãm vẫn còn nguyên trong đầu họ.Dưới đây là một số điều bạn cần biết về bản theo dõi.

    Giành quyền ưu tiên cho bản theo dõi

    Theo nghiên cứu của Trung tâm Tổ chức Triển lãm., 80% hàng hoá quảng cáo trong triển lãm là không được theo dõi về sau. Giành quyền ưu tiên số một cho việc theo dõi sản phẩm sau triển lãm, giành vị trí cho nó cao hơn bất cứ một công việc nào khác – bao gồm cả việc bắt kịp với những công việc bạn đã bỏ qua khi ở công ty.

    Viết phong bì thư theo dõi trước triển lãm

    Lá thư bạn gửi đi sau triển lãm có thể chỉ đơn giản là một lời cảm ơn hay một quyển quảng cáo với một câu ngoài phong bì. Viết hay in nó trước khi bạn làm triển lãm để bạn có thể gửi nó đi ngay sau khi bạn làm triển lãm về.

    Đánh giá chất lượng sản phẩm trong triển lãm

    Xếp loại sản phẩm của bạn theo tầm quan trọng và sở thích, và dựa vào những điểm ưu tiên này để có những nỗ lực sau triển lãm. Gọi điện cho các khách hàng tiềm năng nhất của bạn trong vòng một tuần sau triển lãm — bạn mà càng để lâu, họ càng trở nên lạnh nhạt. Gửi tới mọi khách hàng bức thư theo dõi.

    Giữ lời hứa của bạn

    Đảm bảo rằng bạn sẽ thực hiện tất cả những lời hứa bạn đã đưa ra tại gian hàng triển lãm. Bạn phải chuẩn bị đủ quyển quảng cáo và tờ rơi giới thiệu sản phẩm trước triển lãm để bạn có thể gửi các thông tin cần thiết đi đúng hạn.

    Trau dồi kỹ năng giới thiệu bán hàng

    Khi bạn giới thiệu sản phẩm trực tiếp đến với khách hàng, bạn có cơ hội thể hiện cho khách hàng tiềm năng một số khả năng cùng một lúc. Vẻ bề ngoài, sự chọn lựa từ ngữ, cách xử sự và lòng nhiệt tình đều đóng vai trò quan trọng trong việc được đánh giá liệu bạn có mạnh mẽ và có sức thuyết phục hay còn yếu và không có hiệu quả. Không thể có hai lần giới thiệu sản phẩm lại giống nhau hoàn toàn nhưng có một số yếu tố chung để tạo nên một lần giới thiệu sản phẩm thành công.Dưới đây là một số chỉ dẫn giúp bạn thành công trong lần giới thiệu hàng tiếp sau:

    Phải nhiệt tình:

    Bạn không thể thuyết phục được ai nếu như bạn không thuyết phục được bản thân mình. Tin tưởng vào những gì bạn đang chào mời khách và nói lại với khách hàng về điều đó với lòng nhiệt tình của bạn. Không cần thiết phải trình bày quá nhanh và quá to. Bạn hãy nói một cách tự nhiên và ngừng lại để mạnh điểm gì đó và đưa ra những câu hỏi của bạn.

    Làm cho nó thật đơn giản:

    Đừng cố gắng làm khách hàng ngạc nhiên với những biệt ngữ và những từ hoa mỹ của bạn. Người ta hiếm khi có ấn tượng bởi những từ ngữ mà người ta không hiểu. Thay vào đó, người ta lại cảm thấy lúng túng, giận dữ hay chán. Bạn hãy nói một cách rõ ràng và súc tích. Hãy là chính mình và sử dụng ngôn ngữ mà bạn dùng hàng ngày.

    Thỉnh thoảng hãy kiểm tra:

    Nhớ rằng một lần giới thiệu hàng thành công và có sức thuyết phục mạnh sẽ ảnh hưởng lẫn nhau. Khi bạn thực hiện việc giới thiệu hàng, bạn phải hoàn toàn quản lý được quá trình giao tiếp của mình bằng những câu hỏi “điều ông/bà đã rõ chưa?” “Những yếu tố này là quan trọng nhất đối với ông/bà có đúng không?”

    Phải giao tiếp cả bằng ánh mắt:

    Khi bạn nhìn vào mắt ai đó, bạn có lẽ sẽ giành được sự tự tin và lòng tin của họ. Nhớ rằng buổi giới thiệu hàng cũng giống như một cuộc hội thoại. Bạn hãy giao tiếp bằng ánh mắt với tất cả mọi người trong phòng, không nên chỉ tập trung vào một hay hai người mà bạn cho là quan trọng. Bạn không cần phải biết ai là người quan trọng và những người khác đóng vai trò như thế nào trong quá trình đưa ra quyết định. Và bạn đừng bao giờ tỏ ra xa lánh bất kỳ ai trong khán giả.

    Đặt mình vào cương vị người nghe:

    Bạn phải làm cho giới thiệu sản phẩm phải hay và chứa đựng nhiều thông tin và phải không quá dài dòng. Hãy đặt mình vảo vị trí người nghe và hỏi “Điều gì tôi muốn được nghe và được xem bây giờ?” Nhớ rằng điều đó là cho khách hàng của bạn. Chẳng có cái gì về bạn và sản phẩm của bạn vốn đã hay với họ. Bạn phải làm cho anh ta quan tâm bằng cách trả lời các câu hỏi mà anh ta đã tự đặt ra: “Cái gì vậy?” “Tôi cần gì ở nó?” “Tôi có lợi gì ở nó?”

     

    Phải được tập luyện kỹ lưỡng:

    Đừng nghĩ là bạn hiển nhiên có thể giới thiệu hàng thành công. Chuẩn bị kỹ lưỡng bài giới thiệu và tập qua nó nhiều lần để thành thạo kỹ năng và tạo sự tự tin. Hãy tính giờ. Nếu bạn sử dụng giấy kính hay biểu đồ, phải xếp chúng theo đúng thứ tự. Cố gắng dự đoán trước các câu hỏi và vấn đề mà khách hàng tiềm năng của bạn có thể hỏi và chuẩn bị các câu trả lời trước.

    Chuẩn bị trang phục là một yếu tố cho thành công:

    Ngày nay trong thời đại văn phòng, đôi khi cũng khó để quyết định nên mặc trang phục gì cho phù hợp. Bạn nên ăn vận ít nhất là cũng lịch sự như các khách mời của bạn. Không nên ăn mặc quá diện. Khi còn do dự tốt nhất bạn nên mặc bộ quần áo công sở truyền thống.

    Ra khỏi phòng một cách lịch sự:

    Không cần biết bạn nghĩ là bạn có thành công không, hãy tỏ ra lịch sự và sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại. Luôn luôn kết thúc bằng việc cám ơn khách hàng tiềm năng vì đã giành thời gian của họ cho bạn.

    Triển lãm thương mại không có gian hàng

    Bạn không cần phải có gian hàng của riêng mình để tham gia một cuộc triển lãm thương mại. Có rất nhiều cách khác nhau mà bạn vẫn có thể thu lợi được từ triển lãm thương mại mà không cần phải mất thời gian và tiền bạc để tạo ra gian hàng riêng cho mình. Dưới đây là một số cách:

    Hãy là một phát ngôn viên

    Nhiều cuộc triển lãm thương mại lớn thường tổ chức các chương trình hội thảo sâu rộng. Bạn có thể khai thác chuyên môn của mình bằng cách tham gia vào danh sách báo cáo viên hay trong phần công nghệ. Hãy tìm cách làm cho nó phù hợp với bạn. Ví dụ, một kế toán có thể diễn thuyết tại cuộc hội thảo các nhà phát triển phần mềm thảo luận vấn đề sự thay đổi mã thuế gần đây đã ảnh hưởng đến ngành công nghiệp của họ như thế nào.Tương tự như vậy, một người thiết kế mạng có thể diễn thuyết tại một cuộc họp của các kế toán viên để chỉ cho họ cách các kế toán chuyên nghiệp đã thiết kế ra các mạng internet hiệu quả như thế nào. Đảm bảo rằng bạn có sẵn một số bản sao bài phát biểu và danh thiếp để khán giả có thể liên hệ được với bạn. Sau bài phát biểu sẵn sàng trả lời các cây hỏi và các cuộc nói chuyện

    Tổ chức các cuộc gặp riêng

    Một trong những lợi ích chính của triển lãm là chúng tập trung khách hàng của bạn ở một địa điểm duy nhất. Bạn có thể xem xét việc tổ chức một cuộc gặp gỡ với khoảng hơn chục khách hàng và khách hàng tiềm năng lớn của bạn thay vì mua một gian hàng. Các cuộc gặp gỡ này có thể tổ chức ngay tại phòng lớn của khu triển lãm, ở một khách sạn hay nhà hàng gần đó hay tại phòng khách riêng của bạn tại khách sạn. Bjan sẽ chỉ phải chi phí ít tiền hơn — chỉ là tiền khách sạn, bữa ăn và đi lại. Thêm vào đó, khách hàng lại có thể đánh giá cao việc bạn kéo họ ra khỏi sự ồn ào, náo nhiệt của khu triển lãm.

    Trưng bày sản phẩm/dịch vụ của bạn ở gian hàng của người khác

    Tìm kiếm những công ty mà sản phẩm của họ bổ sung cho sản phẩm của bạn. Họ có thể là đối tác marketing, nhà cung cấp, khách hàng của bạn hay một công ty khác. Xem xét nếu gian hàng của họ có đủ chỗ để giới thiệu hai sản phẩm bổ trợ cho nhau không. Ví dụ, một công ty phát triển phần mềm có thể trưng bày trưng bày sản phẩm mới của mình với một công ty bán máy vi tính. Một nhà cung cấp đồ dùng gia đình có thể trưng bày gối và các vật dụng khác đi kèm với giường và ghế tực của nhà sản xuất đồ đạc gia đình.

    Tổ chức nghiên cứu

    Có lẽ bạn cùng cần phải tới thăm một số cuộc triển lãm thương mại chỉ để nghiên cứu. Đây có thể là cơ hội tuyệt vời để biết thêm về đối thủ cạnh tranh và thấy được họ bán hàng như thế nào tiếp thị ra sao và giá thành sản phẩm/dịch vụ của họ ra sao. Bạn cũng có thể tự mắt trông thấy khách hàng phản ứng với những cố gắng của đối thủ cạnh tranh như thế nào. Hay bạn có thể tìm kiếm nhà sản xuất của các sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm của bạn và gặp những thành viên ban giám đốc của công ty đó bàn về chiến lược sẽ đem lại lợi ích cho cả hai doanh nghiệp trong tương lai. Cuối cùng, triển lãm thương mại là nơi lý tưởng để tìm các nhà cung cấp nguyên liệu thô, nhà phân phối và các đại diện bán hàng mà có lẽ đang tham gia triển lãm hay cũng đi tìm kiếm như bạn.

    Hướng dẫn xây dựng mẫu thực hiện dịch vụ cho khách hàng

    Việc sử dụng mẫu sau sẽ giúp chính nội bộ công ty của bạn có được  hệ thống thông tin về mong muốn của khách hàng và những kế họach hành động cụ thể. Có thể sửa đổi mẫu để phản ảnh loại hình sản phẩm và dịch vụ mà bạn cung cấp. Xem xét cẩn thận tất cả những công việc (ghi trong mẫu) trong cả nội bộ công ty và khi cá nhân bạn trực tiếp tham gia. Hi vọng các nhân viên của bạn sẽ có thể tự giải quyến mọi tình huống mà bạn không phải can thiệp trực tiếp. Ví dụ như khi gửi nhầm hàng cho khách, thì các nhân viên của bạn phải nhanh chóng gửi lại hàng đúng theo yêu cầu và thu xếp lấy lại hàng đã gửi nhầm trước đó. Nhưng nếu những mặt hàng đó được sản xuất thường xuyên hay đó là khách hàng lớn của bạn thì có lẽ bạn phải tham gia giải quyết ngay từ ban đầu. Và cuối cùng mẫu theo dõi thực hiện dịch vụ khách hàng phải đến tay bạn. Đó là cách mà bạn có thể xem xét lại hàng loạt những vấn đề phát sinh và xem nhân viên của mình giải quyết ra sao.

    Phải làm rõ cho nhân viên của bạn thấy mẫu này không phải là một thủ tục hình thức: đó là một phần nỗ lực của công ty bạn nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Mỗi nhân viên phải có mẫu này để theo dõi tình hình khi phải đối mặt với những sự cố mà bản thân họ không thể giải quyết được. Và mọi người phải nắm bắt được trình tự ưu tiên thực hiện đối với những bản báo cáo này và thời gian dự tính có thể giải quyết tình hình. Lưu ý in những mẫu báo cáo này lên các loại giấy màu khác nhau để các nhân viên không lẫn đâu đó trên bàn hay trong thùng.

    Mẫu báo cáo này giúp tránh tình trạng bỏ qua những trục trặc trong quan hệ với khách hàng, đồng thời tạo cơ chế để bàn giao sự việc một cách có trật tự cho người có khả năng giải quyết. Mẫu này cũng nhằm gửi một vài thông điệp đến nhân viên của bạn. Trước hết phải có  hướng giải quyết cụ thể  trong trường hợp khách hàng phàn nàn. Thứ hai, bạn cần tìm hiểu xem ý kiến đóng góp của nhân viên để nhận ra vấn đề và đưa ra giải pháp nhanh chóng (v thường xuyên thực hiện). Thứ ba, mẫu biểu này chứng tỏ rằng các nhân viên trong công ty của bạn là một nhóm làm việc có tổ chức, hoạt động vì mục tiêu chung. Trong một tổ chức kinh doanh có hiệu quả thì những nhân viên có những trực tiếp tiếp xúc với khách hàng sẽ là những người lập ra những mẫu biểu này chứ không phải các nhà quản lý.

    MẪU thỰc HIỆN DỊCH VỤ khách hàng

    Khách hàng Ngày giờ
    Người lập
    Điện thọai: Phòng
    Điện thọai:
    Vấn đề cần giải quyết
    TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
    Gửi Phòng
    Thời gian nhận
    Công việc đã tiến hành
    Đề xuất bước tiếp theo
    Gửi Phòng
    Thời gian nhận
    Công việc đã tiến hành
    Đề xuất bước tiếp theo
    Gửi Người cuối cùng

    Mẫu điều tra sự thoả mãn của khách hàng

    Lợi ích:Sự thoả mãn của khách hàng là nhân tố chính mang lại thành công. Tìm hiểu xem những gì khách hàng nói tốt về hoạt động kinh doanh của bạn và để xem chỗ nào bạn cần cải tiến hơn nữa, điều này sẽ đảm bảo rằng công việc kinh doanh của bạn luôn luôn đáp ứng sự mong mỏi của khách hàng. TMẫu điều tra sự thoả mãn của khách hàng được thiết kế dưới đây nhằm xem xét thực sự khách hàng họ nghĩ gì về bạn. Mẫu này được thiết kế giúp khách hàng dễ dàng điền và thuận tiện cho bạn nếu cần phải điều chỉnh cho phù hợp với những hoạt động của doanh nghiệp mình. Hướng dẫn này cũng gới ý những phương thức gửi phiếu điều tra này đến khách hàng để đảm bảo nhận được những phản hồi từ họ cũng như cách thức hành động sau khi nhận được những nhận xét từ khách hàng.

    Mô tả file: File bao gồm một văn bản dài hai trang (một trang hướng dẫn cách thức tổ chức cuộc điều tra và một trang là mẫu điêu tra sự thoả mãn của khách hàng) dưới dạng RTF có thể sử dụng với phần lớn các chương trình xử lý văn bản chạy trong môi trường Windows.

    Đặc điểm cơ bản: Điều tra này có những đặc điểm sau:

    • bao trùm mọi hoạt động của doanh nghiệp; sản phẩm, dịch vụ và hỗ trợ, giao hàng, đặt hàng và thanh toán, và thậm chí cả về đội ngũ nhân viên. Bạn có thể dễ dàng điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp.
    • dễ điền; không cho điểm từ một đến năm về chất lượng, không hỏi dài dòng, trong mẫu điều tra chỉ là một loạt các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của bạn và khoảng trống để khách hàng điền câu trả lời, tất cả chỉ gói gọn trong một trang.
    • Một lá thư đi kèm với phiếu điền tra cũng được thảo sẵn giúp bạn.

    Phần chỉ dẫn trước phiếu điều tra đề cập đến:

    • Cách thức gửi phiếu điều tra đến khách hàng.
    • Làm thế nào khách hàng sẽ điền vào phiếu và gửi lại cho doanh nghiệp.
    • Cách thức thực hiện hành động sau khi nhận được phản hồi từ khách hàng.

    Hướng dẫn điều tra sự thoả mãn của khách hàng.

    Sự thoả mãn của khách hàng là nhân tố chính mang lại thành công. Các bạn mong muốn khách hàng của mình hài lòng với những sản phẩm và dịch vụ mà bạn cung cấp cho họ. Nếu khách hàng cảm thấy là hàng hoá họ nhận được xứng đáng với đồng tiền họ bỏ ra thì công việc kinh doanh của bạn sẽ có tiến triển tốt.. Tìm hiểu xem những gì khách hàng nói tốt về hoạt động kinh doanh của bạn và để xem chỗ nào bạn cần cải tiến hơn nữa, điều này sẽ đảm bảo rằng công việc kinh doanh của bạn luôn luôn đáp ứng sự mong mỏi của khách hàng.

    Một cuộc điều tra về sự thoả mãn của khách hàng là một phương pháp để thu thập những thông tin quý giá này. Có rất nhiều cách để gửi phiếu điều tra đến khách hàng của bạn. Các phiếu điều tra có thể gửi kèm đơn đặt hàng, gửi thư trực tiếp thường xuyên trong một khoảng thời gian nhất định, gửi và nhận bằng fax, nói chung là bằng bất cứ cách nào mà bạn thấy là thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của mình. Rất nhiều phiếu điều tra sẽ không được gửi lại nhưng những phiếu điều tra được gửi lại sẽ bù đắp xứng đáng công sức mà bạn đã bỏ ra.

    Mẫu điều tra sự thoả mãn của khách hàng được thiết kế dưới đây nhằm xem xét thực sự khách hàng họ nghĩ gì về bạn. Không cho điểm từ một đến năm về chất lượng, không hỏi dài dòng, trong mẫu điều tra chỉ là một loạt các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của bạn và khoảng trống để khách hàng điền câu trả lời. Việc giới hạn sự lựa chọn của khách hàng ở hai mức ” xuất xắc” và “nhu cầu cần cải tiến” sẽ như một bức thông điệp rõ ràng của bạn đến khách hàng, đó là bạn luôn mong muốn sản phẩm và dịch vụ bạn cung cấp luôn sẵn có và phù hợp nhất với họ. Phiếu điều tra chỉ nên gói gọn trong một trang giấy để khách hàng có thời gian trả lời. Điều này cũng giúp cho việc gửi phiếu điểu tra bằng fax thuận tiện hơn. Phải chú ý thêm phần hướng dẫn để cho khách hàng biết làm thế nào để gửi trở lại phiếu điều tra đã hoàn thành. Thông báo số fax, bao gồm cả phong bì dán tem, có ghi địa chỉ hoặc bất cứ thông tin nào khác để bạn có thể nhận được thông tin phản hồi từ khách hàng.

    Đừng quên theo dõi những thông tin từ phía khách hàng mà bạn nhận được. Nếu bạn phải thay đổi một quy trình, hãy thảo luận với nhân viên những gì bạn muốn làm và chọn một công ty dịch vụ giao nhận làm giúp. Quảng cáo những gì bạn đã làm. Gửi thư cảm ơn đến những khách hàng mà ý kiến của họ đã giúp bạn thay đổi. Hãy cho họ biết rằng bạn có thể thậm chí làm tốt hơn nữa vì khách hàng đã dành thời gian giúp bạn cải thiện tình hình.

    Mẫu điều tra sự thoả mãn của khách hàng [in trên giấy có đầy đủ thông tin địa chỉ của công ty]

    Chúng tôi luôn luôn mong muốn tìm cách cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình. Để thực hiện điều đó, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến của quý khách hàng. Chúng tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu quí khách hàng dành một vài phút trả lời một vài câu hỏi dưói đây. Là một khách hàng quan trọng, đánh giá của quý khách hàng về chúng tôi sẽ là những thông tin quí giá nhất đối với chúng tôi. Xin hãy giúp chúng tôi để sản phẩm của chúng tôi ngày càng tốt hơn – và tốt nhất nếu có thể!

    Xin hãy gửi phiếu điều tra này sau khi điền …. [nói bạn muốn thu thập lại phiếu điều tra bằng cách nào.]

    Xin hãy khoanh tròn “xuất xắc” hay “yêu cầu cải tiến” và những nhận xét cá nhân:

    Sản phẩm:                             Xuất xắc                      Cần cải tiến

    Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng: Xuất xắc                           Cần cải tiến

    Giao hàng:                                     Xuất xắc              Cần cải tiến

     

    Đặt hàng và quảng cáo:      Xuất xắc                       Cần cải tiến

    Nhân viên:                            Xuất xắc                        Cần cải tiến

  • Báo cáo thực tập Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở Công ty Vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim

    Báo cáo thực tập Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở Công ty Vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim

    Báo cáo thực tập Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở Công ty Vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kỹ năng bán hàng: Nghệ thuật bán hàng trong kinh doanh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở Công ty Vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim

    Báo cáo tốt nghiệp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển, nhất định phải có phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế. Để đứng vững và phát triển trong điều kiện: có sự cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý, nhu cầu của người tiêu dùng với sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã phong phú, đa dạng chủng loại. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải giám sát tất cả các quy trình từ khâu mua hàng đến khâu tiêu thụ hàng hoá để đảm bảo việc bảo toàn và tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giữ uy tín với bạn hàng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp đảm bảo có lợi nhuận để tích luỹ mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.

    Hơn thế nữa nhu cầu tiêu dùng trên thị trường hiện nay đòi hỏi Doanh nghiệp phải tạo ra doanh thu có lợi nhuận.Muốn vậy thì Doanh nghiệp phải sản xuất cái thị trường cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có và tự đặt ra cho mình những câu hỏi”Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào và sản xuất bao nhiêu?

    Để đạt được mục tiêu lợi nhuận: Đạt lợi nhuận cao và an toàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty phải tiến hành đồng bộ các biện pháp quản lý

    • trong đó hạch toán kế toán là công cụ quan trọng, không thể thiếu để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế, kiểm tra việc sử dụng, quản lý tài sản, hàng hoá nhằm đảm bảo tính năng động, sáng tạo và tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tính toán và xác định hiệu quả của từng hoạt động sản xuất kinh doanh làm cơ sở vạch ra chiến lược kinh doanh.

    Công ty cổ phần thuốc lá và chế biến thực phẩm Bắc Giang là một doanh nghiệp sản xuất đóng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, ngoài việc sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Doanh nghiệp còn làm nhiệm vụ xuất khẩu nhằm giải quyết một phần việc làm cho người lao động tại địa phương, tăng nguồn thu ngoại tệ, đồng thời đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho doanh

    Báo cáo tốt nghiệp

    nghiệp.

    Sau thời gian tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như bộ máy quản lý của công ty, em nhận thấy kế toán nói chung và kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng của công ty nói riêng là một bộ phận quan trọng trong việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, nên luôn luôn đòi hỏi phải được hoàn thiện. vì vậy em quyết định đi sâu nghiên cứu công tác kế toán của công ty với đề tài “Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim ” để viết chuyên đề báo cáo của mình.

    Trong quá trình thực tập, em đã được sự chỉ dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo bộ môn kế toán doanh nghiệp sản xuất, trực tiếp là thầy giáo Nguyễn Vũ Việt cùng các bác, các cô cán bộ kế toán công ty cổ phần thuốc lá và chế biến thực phẩm Bắc Giang. Tuy nhiên, phạm vi đề tài rộng, thời gian thực tế chưa nhiều nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bác, các cô phòng kế toán công ty để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    Báo cáo gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong Doanh nghiệp.

    Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả ở công ty công ty vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim

    Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả ở công ty vật tư thiết bị toàn bộ – MaTexim.

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  2

    Báo cáo tốt nghiệp

    Chương 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH

    KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DNTM

    1.1. Sự cần thiết tổ chức kế toán bán hàng và kết quả bán hàng trong Doanh nghiệp.

    1.1.1.Quá trình bán hàng, kết quả bán hàng.

    Hoạt động sản xuất của con người là hoạt động tự giác có ý thức và có mục đích, được lặp đi lặp lại và không ngừng được đổi mới, hình thành quá trình tái sản xuất xã hội, gồm các giai đoạn: Sản xuất – lưu thông – phân phối – tiêu dùng. Các giai đoạn này diễn ra một cách tuần tự và tiêu thụ là khâu cuối cùng quyết định đến sự thành công hay thất bại của một Doanh nghiệp.

    Sản phẩm của doanh nghiệp sau khi được sản xuất xong thì vấn đề hàng đầu mà tất cả các doanh nghiệp quan tâm tới là vấn đề tiêu thụ. Tiêu thụ hay bán hàng là quá trình chuyển hoá vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị “tiền tệ” và hình thành kết quả bán hàng. Hoặc nói một cách khác bán hàng việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm hàng hoá gắn với phần lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.

    Mối quan hệ trao đổi giữa doanh nghiệp với người mua là quan hệ “thuận mua vừa bán” Doanh nghiệp với tư cách là người bán phải chuyển giao sản phẩm cho người mua theo đúng các điều khoản quy định trong hợp đồng kinh tế đã ký giữa hai bên. quá trình bán hàng được coi là kết thúc khi đã hoàn tất việc giao hàng và bên mua đã trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán cho số sản phẩm hàng hoá đó. Khi quá trình bán hàng chấm dứt doanh nghiệp sẽ có một khoản doanh thu về tiêu thụ sản phẩm, vật tư hàng hoá hay còn gọi là doanh thu bán hàng.

    Như chúng ta đã biết hoạt động bán hàng chỉ là cơ sở để xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp, thông qua hoạt động bán hàng doanh nghiệp có thể biết được lợi nhuận cao hay thấp? Từ đó sẽ biết được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghịêp mình như thế nào để có phương hướng quản lý tốt hơn.

    1.1.2.Yêu cầu quản lý quá trình bán hàng, kết quả bán hàng.

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  3

    Báo cáo tốt nghiệp

    Quản lý quá trình bán hàng và kết quả bán hàng là một yêu cầu thực tế, nó xuất phát từ mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản lý tốt khâu bán hàng thì mới đảm bảo được chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch tiêu thụ và đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Do vậy vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là:

    • Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ đối với từng thời kỳ, từng khách hàng, từng hoạt động kinh tế.
    • Quản lý chất lượng, cải tiến mẫu mã và xây dựng thương hiệu sản phẩm là mục tiêu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
    • Quản lý theo dõi từng phương thức bán hàng, từng khách hàng, tình hình thanh toán của khách hàng, yêu cầu thanh toán đúng hình thức, đúng hạn để tránh hiện tượng mất mát, thất thoát, ứ đọng vốn. Doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức tiêu thụ sản phẩm đối với từng đơn vị, từng thị trường, từng khách hàng nhằm thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ đồng thời phải tiến hành thăm dò, nghiên cứu thị trường, mở rộng quan hệ buôn bán trong và ngoài nước.
    • Quản lý chặt chẽ vốn của thành phẩm đem tiêu thụ, giám sát chặt chẽ các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các số liệu, đồng thời phân bổ cho hàng tiêu thụ, đảm bảo cho việc xác định tiêu thụ được chính xác, hợp lý.
    • Đối với việc hạch toán tiêu thụ phải tổ chức chặt chẽ, khoa học đảm bảo việc xác định kết quả cuối cùng của quá trình tiêu thụ, phản ánh và giám đốc tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước đầy đủ, kịp thời.

    1.1.3.Vai trò, nhiệm vụ của kế toán bán hàng kết quả bán hàng.

    Nhìn trên phạm vi Doanh nghiệp tiêu thụ thành phẩm hay bán hàng là nhân tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Tiêu thụ thể hiện sức cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Nó là cơ sở để đánh giá trình độ tổ chức quản lý hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác nó cũng gián tiếp phản ánh trình độ tổ chức các khâu cung ứng, sản xuất cũng như công tác dự trữ. Bảo quản thành phẩm.

    Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, bán hàng có một vai trò đặc biệt , nó

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  4

    Báo cáo tốt nghiệp

    vừa là điều kiện để tiến hành tái sản xuất xã hội vừa là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, phản ánh sự gặp nhau giữa cung và cầu về hàng hoá, qua đó định hướng cho sản xuất, tiêu dùng và khả năng thanh toán.

    Với một doanh nghiệp việc tăng nhanh quá trình bán hàng tức là tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn và trực tiếp làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó sẽ nâng cao đời sống, thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước.

    Trong doanh nghiệp kế toán là công cụ quan trọng để quản lý sản xuất và tiêu thụ, thông qua số liệu của kế toán nói chung, kế toán bán hàng và kết quả bán hàng nói riêng giúp cho doanh nghiệp và cấp có thẩm quyền đánh giá được mức độ hoàn thành của doanh nghiệp về sản xuất, giá thành, tiêu thụ và lợi nhuận.

    Để thực sự là công cụ cho quá trình quản lý, kế toán bán hàng và kết quả bán hàng phải thực hiện tốt, đầy đủ các nhiệm vụ sau:

    *Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời giám sát chặt chẽ tình hình hiện có và sự biến động của từng loại sản phẩm.

    *phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp.

    *Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.

    *Cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng , xác định và phân phối kết quả. Nhiệm vụ kế toán bán hàng và kết quả bán hàng phải luôn gắn liền với nhau.

    1.2. Lý luận cơ bản về bán hàng và kết quả bán hàng:

    1.2.1.Phương thức bán hàng.

    Công tác tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp có thể được tiến hành theo những phương thức sau:

    *Phương thức bán buôn:

    Bán buôn là việc bán sản phẩm của doanh nghiệp cho các doanh nghiệp

    Báo cáo tốt nghiệp

    khác, các cửa hàng, đại lý…Với số lượng lớn để các đơn vị tiếp tục bán cho các tổ chức khác hay phục vụ cho việc khác nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế. Có 2 phương thức bán buôn.

    • Bán buôn qua kho.
    • Bán buôn không qua kho. * Phương thức bán lẻ:

    Bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm đáp

    ứng nhu cầu sinh hoạt cá nhân và bộ phận nhu cầu kinh tế tập thể. Số lần tiêu thụ của mỗi lần bán thường nhỏ, có nhiều phương thức bán lẻ:

    • Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp.
    • Phương thức bán hàng đại lý(ký gửi).
    • Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm.
    • Các phương thức bán hàng khác.

    1.2.2.Doanh thu bán hàng.

    Theo chuẩn mực số 14 ban hành theo quyết định 149 ngày 31/12/2001 của Bộ tài chính thì:

    Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu.

    Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

    Chỉ ghi nhận Doanh thu trong kỳ kế toán khi thoả mãn đồng thời các điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng sau:

    *Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.

    *Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.

    *Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  6

    Báo cáo tốt nghiệp

    *Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

    Doanh thu bán hàng = Doanh thu bán hàng Các khoản giảm trừ
    và cung cấp dịch vụ theo hoá đơn doanh thu bán hàng

    1.2.3.Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng.

    Các khoản giảm trừ doanh thu như : Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp, được tính giảm trừ vào doanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần, làm cơ sở để tính kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán.

    *Chiết khấu thương mại:

    là khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng (sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ) với lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trong hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.

    *Giảm giá hàng bán:

    Là giảm trừ được doanh nghiệp (bên bán) chấp thuận một cách đặc biệt trên giá đã thoả thuận trên hoá đơn, vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng.

    *Hàng bán bị trả lại:

    Là số sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng kinh tế. Như hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại. Hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng , số lượng hàng bị trả lại, giá trị hàng bị trả lại, đính kèm hoá đơn(nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hoá đơn(nếu trả lại một phần).

    *Thuế TTĐB, thuế XK, thuế GTGT là khoản thuế gián thu tính trên doanh thu bán hàng, các khoản thuế này tính cho các đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ phải chịu, các cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ là đơn vị thu nộp thuế thay cho người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  7

    Báo cáo tốt nghiệp

    +Thuế TTĐB:

    Là khoản thuế doanh nghiệp phải nộp trong trường hợp doanh nghiệp tiêu thụ những hàng hoá đặc biệt thuộc danh mục vật tư, hàng hoá chịu thuế TTĐB.

    +Thuế XK:

    Là khoản thuế doanh nghiệp phải nộp khi xuất khẩu hàng hoá mà hàng hoá đó phải chịu thuế xuất khẩu.

    • Thuế GTGT trong trường hợp doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.

    Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – thuế GTGT đầu vào. Trong đó:

    Thuế GTGT           =             Giá tính thuế của hàng   x                 Thuế suất

    đầu ra                                          hoá dịch vụ bán ra                       thuế GTGT(%)

    Thuế GTGT đầu vào = tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu.

    Trong chỉ tiêu doanh thu bán hàng còn có cả thuế phải nộp về hàng tiêu thụ(tổng giá thanh toán). Tổng số doanh thu bán hàng sau khi trừ các khoản giảm giá hàng bán, doanh thu của số hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thu đặc biệt, thuế XNK được gọi là doanh thu thuần.

    1.2.4. Giá vốn hàng tiêu thụ, giá vốn hàng xuất bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho hàng tiêu thụ.

    * Giá vốn hàng tiêu thụ.

    Là toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình bán hàng, bao gồm giá trị giá vốn của hàng xuất kho đã bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng đã bán trong kỳ.

    Trị giá vốn của Trị giá vốn của CP BH, CPQLDN
    = –  phân bổ cho hàng đã
    hàng bán ra hàng xuất ra đã bán
    bán

    * Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán.

    Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán được xác định bằng 1 trong 4 phương

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  8

    Báo cáo tốt nghiệp

    pháp và đồng thời phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể.

    + Đối với doanh nghiệp sản xuất.

    Trị giá vốn hàng xuất kho đã bán hoặc thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất kho hoặc giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành, có 4 phương pháp tính.

    • Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này khi xuất kho thành phẩm thì căn cứ vào số lượng xuất kho thuộc lô nào và giá thành thực tế nhập kho của lô đó để tính giá trị xuất kho.
    • Phương pháp nhập trước, xuất trước: với giả thiết thành phẩm nào nhập kho trước thì sẽ xuất trước, thành phẩm nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo giá đó, sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính thực tế xuất kho. Như vậy giá vốn thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ được tính theo giá thành thực tế của thành phẩm thuộc các lần nhập sau cùng.
    • Phương pháp nhập sau, xuất trước: Với giả thiết thành phẩm nào nhập kho sau thì xuất trước, thành phẩm nhập theo giá nào thì xuất theo giá đó, sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá trị xuất kho. Như vậy giá vốn thực tế của thành phẩm tồn kho được tính theo giá thành thực tế của thành phẩm thuộc các lần nhập đầu tiên.
    • Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này trị giá vốn

    của thành phẩm xuất kho để bán được căn cứ vào số lượng thành phẩm xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền (giá thành sản xuất thực tế đơn vị bình quân).

    Giá thành sản xuất thực tế Giá thành sản xuất thực tế của
    của thành phẩm tồn kho đầu +  thành phẩm tồn kho trong kỳ
    Giá thành sản xuất = kỳ
    đơn vị bình quân Số lượng thành phẩm tồn kho + Số lượng thành phẩm tồn
    kho trong kỳ
    đầu kỳ
    Giá thành của thành Số lượng thành phẩm Giá thành thực tế đơn vị
    phẩm xuất kho =
    xuất kho bình quân

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                  9

    Báo cáo tốt nghiệp

    Trên đây là cách tính đơn giá bình quân gia quyền cố định của toàn bộ số thành phẩm tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ. Ngoài ra có thể tính theo đơn giá bình quân gia quyền liên hoàn (đơn giá bình quân được xác định sau mỗi lần nhập).

    Mỗi phương pháp tính giá thành thực tế của thành phẩm xuất kho trên đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Lựa chọn phương pháp phù hợp nhất thì doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình thực tế yêu cầu hạch toán của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo nguyên tắc nhất quán để các báo cáo tài chính có thể so sánh được và đảm bảo nguyên tắc công khai. Cả ba phương pháp đầu muốn áp dụng được đều phải có đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập, trong khi hầu hết các doanh nghiệp đều không thể làm được điều đó với thành phẩm cho nên hầu như nó không được sử dụng trong thực tế.

    + Đối với doanh nghiệp thương mại:

    • Trị giá vốn của hàng xuất kho đã bán bao gồm: Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho đã bán và chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng đã bán.
    • Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho đã bán được xác định theo một trong 4 phương pháp tính giá tương tự như trên.
    • Chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng đã bán: Do chi phí mua hàng liên quan đến nhiều chủng loại hàng hoá, liên quan cả đến khối lượng hàng hoá trong kỳ và hàng hoá đầu kỳ, cho nên cần phân bổ chi phí mua hàng cho hàng đã bán trong kỳ và hàng tồn cuối kỳ.

    Tiêu chuẩn phân bổ chi phí mua hàng được lựa chọn là:

    • Số lượng.
    • Trọng lượng .
    • Trị giá mua thực tế của hàng hoá.
    Chi phí mua hàng Chi phí mua hàng
    của hàng hoá tồn + của hàng hoá phát
    Chi phí mua kho đầu kỳ sinh trong kỳ
    hàng phân bổ =
    cho hàng hoá Tổng tiêu thức phân bổ của hàng hoá tồn
    đã bán trong kỳ cuối kỳ và hàng hoá đã

    xuất bán trong kỳ

    Tiêu chuẩn phân bổ

    • của hàng hoá đã xuất bán trong kỳ

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 10

    Báo cáo tốt nghiệp

    (Hàng hoá tồn cuối kỳ bao gồm:hàng hoá tồn kho, hàng hoá đã mua nhưng còn đang đi trên đường và hàng hoá gửi đi bán nhưng chưa được chấp nhận)

    *Chi phí bán hàng:

    Là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ bao gồm:

    +Chi phí nhân viên bán hàng.

    +chi phí vật liệu, bao bì.

    +Chi phí dụng cụ đồ dùng.

    • Chi phí khấu hao TSCĐ.
    • Chi phí bảo hành sản phẩm.
    • Chi phí bằng tiền khác.

    Chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ cần được phân loại rõ ràng và tổng hợp theo đúng nội dung quy định. Cuối kỳ kế toán cần phân bổ và kết chuyển chi phí bán hàng để xác định kết quả kinh doanh. Việc phân bổ và kết chuyển chi phí này tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm sản xuất kinh doanh.

    • Đối với doanh nghiệp trong kỳ không có sản phẩm ,hàng hoá tiêu thụ thì toàn bộ chi phí bán hàng được kết chuyển sang theo dõi ở “chi phí chờ kết chuyển”.
    • Đối với các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, trong kỳ có sản phẩm tiêu thụ ít hoặc đối với các doanh nghiệp thương mại kinh doanh hàng hoá có dự trữ và luân chuyển hàng hoá lớn (tốn nhiều, xuất bán nhiều) thì cuối kỳ cần phải phân bổ chi phí bán hàng cho hàng tồn kho cuối kỳ, tức là chuyển một phần chi phí bán hàng thành “chi phí chờ kết chuyển” và phần chi phí bán hàng còn lại phân bổ cho hàng đã được bán trong kỳ để xác định kết quả.

    Chi phí bán hàng phân bổ cho hàng còn lại cuối kỳ được xác định theo công thức sau:

    Chi phí mua Chi phí bán hàng phân Chi phí bán hàng cần Trị giá
    hàng phân bổ  = bổ cho hàng + phân bổ phát x  hàng mua
    cho hàng còn tồn đầu kỳ sinh trong kỳ còn lại

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 11

    Báo cáo tốt nghiệp

    lại cuối kỳ Trị giá mua Trị giá mua hàng cuối kỳ
    + xuất trong kỳ
    còn lại cuối kỳ

    Từ đó xác định phần chi phí bán hàng phân bổ cho khách hàng đã bán trong kỳ theo công thức sau:

    Chi phí bán Chi phí bán hàng Chi phí bán Chi phí bán háng
    hàng phân bổ phân bổ cho hàng
    _
    cho hàng bán ra = phân bổ cho hàng  + hàng phát còn lại cuối kỳ
    trong kỳ tồn đầu kỳ sinh trong kỳ

    *Chí phí quản lý doanh nghiệp:

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung toàn doanh nghiệp bao gồm:

    +Chi phí nhân viên quản lý.

    +chi phí vật liệu quản lý.

    +Chi phí đồ dùng văn phòng.

    • Chi phí khấu hao TSCĐ.
    • Thuế phí, lệ phí.
    • Chi phí dự phòng.
    • Chi phí dịch vụ mua ngoài. +chi phí bằng tiền khác.

    1.2.5. Kết quả bán hàng:

    Kết quả bán hàng là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và chi phí kinh doanh liên quan đến quá trình bán hàng bao gồm trị giá vốn của hàng xuất kho để bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán.

    + Xác định doanh thu thuần:

    Doanh thu bán hàng Các khoản giảm trừ(CKTM,
    Doanh thu bán GGHB,HBBTL và thuế TTĐB,
    =  và cung cấp dịch vụ    _
    hàng Thuần thuế XK, thuế GTGT phải nộp
    theo hoá đơn
    • Xác định giá vốn của hàng xuất kho để bán: Đối với các doanh nghiệp sản xuất trị giá vốn thành phẩm xuất kho để bán hoặc thành phẩm hoàn thành

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 12

    Báo cáo tốt nghiệp

    không nhập kho đưa đi bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành. Trị giá vốn thành phẩm xuất kho để bán được tính bằng 4 phương pháp đã nêu ở trên.

    + Xác dịnh lợi nhuận gộp:

    Lợi nhuận Doanh thu thuần Trị giá vốn của hàng xuất
    =
    gộp kho để bán

    +Xác định chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán được trình bày ở trên.

    + Xác định lợi nhuận bán hàng:

    Chi phí bán hàng,

    Lơị nhuận bán

    –  CPQLDN phân bổ cho

    hàng trước                  =               Lợi nhuận gộp

    hàng đã bán

    thuế

    Nếu chênh lệch mang dấu (+) thì kết quả là lãi và ngược lại.

    1.3. TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP.

    1.3.1. Chứng từ tài khoản kế toán sử dụng:

    chứng từ chủ yếu sử dụng trong kế toán bán hàng.

    • Hoá đơn GTGT.
    • Hoá đơn kiêm phiếu xuất,
    • Phiếu thu tiền mặt.
    • Giấy báo có của ngân hàng.
    • Bảng kê hàng hoá bán ra.
    • Các chứng từ, bảng kê tính thuế..

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 13

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả

    Báo cáo tốt nghiệp

     

    • Nhóm tài khoản sử dụng phản ánh doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng.

     

    • TK511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán của hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Nguyên tắc hạch toán vào TK 511.
    • Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện đối tượng chịuthuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
    • Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán.
    • Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc diện đối tượng chịu thuế TTĐB hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế TTĐB,hoặc thuế XK).
    • Những doanh nghiệp nhận gia công, vật tư, hàng hoá thì chỉ phản ánh vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, số tiền gia công được hưởng không bao gồm giá trị vật tư, hàng hoá nhận gia công.
    • Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giá hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phần hoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng.
    • Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính, phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định.
    • Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hoá đơn bán hàng và đã thu

     

    14

    Báo cáo tốt nghiệp

    tiền bán hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá số hàng này không được coi là tiêu thụ và không được hạch toán vào TK511. Mà chỉ hạch toán vào bên có TK131 về khoản tiền đã thu của khách hàng , khi thực hiện giao hàng cho người mua sẽ hạch toán vào TK511 về giá trị hàng đã giao, đã thu trước tiền bán hàng, phù hợp với điều kiện ghi nhận doanh thu.

    • TK512- Doanh thu bán hàng nội bộ: Dùng để phản ánh doanh thu của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ,dịch vụ tiêu thụ giữa các đơn vị trực thuộc trogn cùng một công ty.
    • TK521 – Chiết khấu thương mại. Phản ánh số tiền doanh nghiệp giảm giá cho khách hàng mua với số lượng lớn.

    + Nguyên tắc hạch toán vào Tk521.

    Chỉ hạch toán vào Tk này khoản chiết khấu thương mại người mua được hưởng đã thực hiện trong kỳ theo đúng chính sách chiết khấu thương mại của doanh nghiệp đã quy định.

    • Trường hợp người mua hàng nhiều lần mới đạt lượng hàng mua được hưởng chiết khấu thì khoản chiết khấu thương mại này được giảm trừ vào giá bán trên “hoá đơn GTGT” hoặc “hoá đơn bán hàng” lần cuối cùng.
    • Trường hợp khách hàng không trực tiếp mua hàng, hoặc khi số tiền chiết khấu thương mại cho người mua. Khoản chiết khấu thương mại trong các trường hợp này được hạch toán vào TK521.
    • Trường hợp người mua hàng với khối lượng lớn được hưởng chiết khấu thương mại , giá bán phản ánh trên hoá đơn là giá đã giảm (đã trừ chiết khấu thương mại) thì khoản chiết khấu thương mại này không được hạch toán vào Tk521. Doanh thu bán hàng đã phản ánh theo giá đã trừ chiết khấu thương mại.
    • TK531 – Hàng bán bị trả lại. Phản ánh doanh thu của số thành phẩm hàng bán đã tiêu thụ trong kỳ nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 15

    Báo cáo tốt nghiệp

    lỗi thuộc về doanh nghiệp.

    +Nguyên tắc hạch toán vao Tk531:

    • Chỉ hạch toán vào Tk này giá trị hàng bán bị khách hàng trả lại do doanh nghiệp vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như: Hàng kém phẩm chất,sai quy cách, chủng loại. Đồng thời hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng hàng bị trả lại, giá trị hàng bị trả lại đính kèm hoá đơn (nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hoá đơn (nếu trả lại một phần).
    • TK532 -Giảm giá hàng bán; Được dùng để phản ánh các khoản giảm bớt giá cho khách hàng do thành phẩm, hàng hoá kém chất lượng, không đạt yêu cầu của khách hàng.
    • Nguyên tắc hạch toán vào TK532.
    • Chỉ hạch toán vào Tk này khoản giảm giá hàng bán, các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm giá ngoài hoá đơn, tức là sau khi đã phát hành hoá đơn bán hàng, không phản ánh vào TK532 số giảm giá đã được ghi trên hoá đơn bán hàng và đã được trừ vào tổng giá bán ghi trên hoá đơn.
    • TK131 – Phải thu của khách hàng . phản ánh các khoản phải thu của khách hàng về hoạt động tiêu thụ hàng hoá và tình hình thanh toán các khoản phải thu.
    • TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp; phản ánh tình hình thanh toán với nhà nước về thuế và các khoản có nghĩa vụ khác. Tk này có các Tk cấp 2 sau:
    • TK3331: Thuế GTGT phải nộp.
    • TK3332 : Thuế TTĐB.
    • TK3331: Thuế XNK.
    • TK3387 – Doanh thu chưa thực hiện . phản ánh khoản tiền mà doanh
    Kế toán bán hàng và xác định kết quả 16

    Báo cáo tốt nghiệp

    nghiệp nhận trước cho nhiều kỳ, nhiều năm như lãi vay vốn, khoản lãi bán hàng trả góp.

    Nhóm TKsử dụng để kế toán giá vốn hàng bán:

    -TK632 – Giá vốn hàng bán. phản ánh giá vốn của thành phẩm, hàng hoá xuất bán đã được chấp nhận thanh toán hoặc đã được thanh toán, các khoản được quy định tính vào giá vốn hàng bán và kết chuyển trị giá vốn hàng bán để xác định kết quả.

    • TK155 – Thành phẩphản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm thành phẩm theo trị giá thực tế.
    • TK157 – Hàng gửi đi bán .phản ánh trị giá thành phẩm hoàn thành đã gửi bán cho khách hàng hoặc nhờ bán đại lý, ký gửi nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.

    Nếu doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ thì TK155, TK157 chỉ sử dụng để phản ánh giá trị vốn của thành phẩm và hàng gửi bán tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ. Còn việc nhập, xuất kho của thành phẩm phản ánh trên TK632.

    *Nhóm tài khoản sử dụng để kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:

    • TK641 – Chi phí bán hàng . Dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh.
    • TK642 – Chi phí quản lý doanh nghiệdùng để tập hợp và kết chuyển chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp.

    Nhóm tài khoản sử dụng để kế toán kết quả bán hàng:

    • TK911 – Xác định kết quả kinh doanh. Phản ánh xác định kết quả hoạt

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 17

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả

    Báo cáo tốt nghiệp

     

    động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác cuả doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán.

     

    • TK421 – Lợi nhuận chưa phân phối. Phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình phân phối, xử lý kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

     

    Ngoài các tài khoản chủ yếu trên kế toán bán hàng và kết quả bán hàng còn sử

     

    dụng các tài khoản liên quan như:TK111,112….

     

    1.3.2. Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

     

     

    Diễn giải trình tự sơ đồ1.1 như sau:

     

     

    (1a) Phản ánh trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ theo phương thức bán hàng trực tiếp.

     

    (1b) Khi đưa hàng đi gửi đại lý.

     

    (1c) Phản ánh trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ theo phương thức gửi hàng.

     

    (2) Bán hàng thu tiền ngay.

     

     

    (3a) bán theo phương thức trả góp.

     

    (3b) kỳ kết chuyển tiền lãi bán hàng trả góp.

     

    (4a) Các khoản chiết khấu thương mại , giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại thực tế phát sinh.

     

    (4b) Các khoản chiết khấu thương mại , giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại sang TK511 để xác định doanh thu thuần.

     

    • Tập hợp chi phí bán hàng phát sinh trong kỳ.
    • Tập hợp chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ.
    • Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả.

     

    18

    Báo cáo tốt nghiệp

    • cuối kỳ kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính để xác định kết quả.
    • Cuối kỳ kết chuyển trị giá vốn hàng tiêu thụ sang TK911.
    • Cuối kỳ kết chuyển chi phí bán hàng sang TK911.

    (11a) Cuối kỳ kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp sang TK911.

    (11b) Cuối kỳ kết chuyển chờ phân bổ kỳ trước chuyển.

    (12a) Kết chuyển lỗ.

    (12b) Kết chuyển lãi.

    Sơ đồ 1.1. Trình tự kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng (trường hợp doanh nghiệp kế toán bán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên).

    Chú ý : Trong trường hợp doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là doanh thu bao gồm cả thuế GTGT (tổng giá thanh toán). Khi đó để ghi nhận doanh thu bán hàng, kế toán ghi như sau:

    Nợ TK111,112

    Có Tk511 – Tổng giá thanh toán.

    Cuối kỳ xác định số thuế GTGT đầu ra.

    Nợ TK511

    Có TK333(1) – Số thuế GTGT

    Các nghiệp vụ khác vẫn tương tự như trường hợp doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.

    1.3.3. Sổ và báo cáo kế toán sử dụng .

    Tuỳ thuộc từng hình thức kế toán áp dụng ở doanh nghiệp mà hệ thống

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 19

    Báo cáo tốt nghiệp

    sổ kế toán được mở để ghi chép, theo dõi, tính toán xử lý và tổng hợp số liệu lên các báo cáo kế toán. Dưới đây là các loại sổ sách được tổ chức theo 4 hình thức kế toán.

    • Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung: Kế toán sử dụng các loại sổ chủ yếu sau:
    • Sổ Nhật ký chung: Sổ ghi phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo trật tự thời gian phát sinh của chúng.
    • Sổ Nhật ký bán hàng, sổ nhật ký thu tiền, nhật ký tiền gửi ngân hàng…
    • Sổ cái: TK 511, TK632, TK641, TK911…
    • Sổ chi tiết: TK511, TK632, TK641, TK642…
    • Hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ: Kế toán sử dụng các loại sổ chủ yếu sau:

    – Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ: ghi theo trật tự thời gian các nghiệp vụ

    kinh tế tài chính phát sinh đã lập chứng từ ghi sổ.

    Sổ cái: TK511, TK632, TK641, TK911…

    Sổ chi tiết: TK511, TK632, TK641, TK642…

    *Hình thức sổ kế toán Nhật ký sổ cái:

    Kế toán sử dụng các loại sổ chủ yếu sau:

    • Nhật ký sổ cái: Sổ này phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo trật tự thời gian.

    *Hình thức sổ kế toán nhật ký chứng từ:

    Kế toán phản ánh tình hình tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả bán

    hàng trên các sổ sau:

    • Bảng kê số5: Tập hợp CPBH, CPQLDN.
    • Bảng kế số 6: bảng kê chi phí trả trước và chi phí phải trả.
    • Bảng kê số 10: Hàng gửi bán.
    • Bảng kê số 11: phải thu của khách hàng.
    Kế toán bán hàng và xác định kết quả 20

    Báo cáo tốt nghiệp

    • Nhật ký chứng từ số 8, nhật ký chứng từ số 10.
    • Các sổ chi tiết liên quan TK641, TK642, TK 511, TK911 và các sổ liên quan…
    • Để cung cấp các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp và cho các đối tượng có liên quan doanh nghiệp phải lập các báo cáo kế toán theo qui định của nhà nước, các báo cáo sử dụng trong kế toán bán hàng và kết quả bán hàng là:
    • Báo cáo kết quả kinh doanh .
    • Báo cáo theo chỉ tiêu,doanh thu, chi phí.
    • Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch.
    • Báo cáo kế toán quản trị…

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 21

    Báo cáo tốt nghiệp

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ Ở CÔNG TY VẬT TƯ THIẾT BỊ TOÀN BỘ – METEXIM

    2.1. Đặc điểm tình hình chung của công ty vật tư thiết bị toàn bộ ( VT và TBTB ).

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.

    Công ty VT và TBTB tên giao dịch là METEXIM ( Material and Techial Export-Import Corporation ) là công ty thương mại thuộc Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam ( VEAM ) trực thuộc Bộ công nghiệp được thành lập ngày 17/09/1969.

    Quá trình hình thành và phát triển của công ty trải qua các giai đoạn sau:

    * Giai đoạn 1969 – 1978.

    Tiền thân của công ty VT và TBTB là công ty vật tư trực thuộc Bộ cơ khí và luyện kim, được thành lập theo quyết định số 14/CKLK/TC ngày 17/09/1969 của Bộ trưởng Bộ cơ khí và luyện kim.

    Khi mới thành lập, Công ty có các tổng kho, các ban tiếp nhận và các xí nghiệp, cụ thể như sau:

    • Các tổng kho: Tổng kho 1 (Yên viên, Gia lâm, Hà Nội), Tổng kho 2 (Hải phòng ), Tổng kho 3 (Bắc thái).
    • Các ban tiếp nhận: Ban tiếp nhận 1 ( Yên viên, Gia lâm, Hà nội ), Ban tiếp nhận 2 ( Hải phòng), Ban tiếp nhận 3 ( Đà nẵng ).
    • Các xí nghiệp: xí nghiệp vận tải ( Yên viên, Hà nội ), xí nghiệp vật liệu 1 ( Kim Anh – Hà nội ).

    Giai đoạn này, nhiệm vụ chủ yếu của công ty là quản lý kho tàng, giữ và cấp phát hàng hoá theo lệnh của Bộ cơ khí và luyện kim, phục vụ cho ngành và một phần cho nền kinh tế quốc dân. Có thể nói, công ty đảm nhận nhiệm vụ “ hậu cần” cho Bộ cơ khí và luyện kim. Trong những năm chiến tranh (1972-1973), công ty đảm nhận thêm nhiệm vụ chiến đấu, vận tải lương thực, vũ khí đạn dược… cho chiến trường miền nam.

    Báo cáo tốt nghiệp

    Hàng hoá của công ty chủ yếu được nhập từ Liên Xô, các nước XHCN qua cảng Hải phòng và cửa khẩu Lạng sơn.

    Năm 1978, theo yêu cầu, nhiệm vụ phát triển chung của toàn ngành, xí nghiệp thiết bị toàn bộ của công ty vật tư được nhà nước quyết định tách ra và thành lập Công ty vật tư thiết bị toàn bộ trực thuộc Bộ cơ khí và luyện kim.

    * Giai đoạn 1979-1993.

    Hơn một năm sau ngày thành lập Công ty thiết bị toàn bộ, cũng do yêu cầu phát triển mới của toàn xã hội ngày 12/01/1979. Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 14-CP, hợp nhất công ty vật tư và công ty thiết bị toàn bộ thành Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ trực thuộc Bộ cơ khí và luyện kim.

    Nhiệm vụ chính của công ty trong giai đoạn này là thu mua, tiếp nhận, gia công, khai thác, chế biến hàng hoá để cung cấp chủ yếu cho các xí nghiệp, đơn vị của Bộ. Hàng hoá ở đây là các loại vật tư chuyên dùng, chuyên ngành thông dụng, các thiết bị toàn bộ.

    Đến năm 1991, Công ty được Bộ công nghiệp nặng giao thêm nhiệm vụ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp với các công ty nước ngoài.

    * Giai đoạn 1993 đến nay.

    Ngày 05/05/1993, công ty được thành lập lại theo quyết định số 214/TCNSTD với tên giao dịch MATEXIM.

    Giấy phép đăng ký kinh doanh số 018234 cấp ngày 20/05/1993

    Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu số 1.01.1.122/CP ngày 20/09/1993 Trụ sở chính công ty đóng tại số 2- Đường Hoàng Quốc Việt -Hà nội Điện thoại: 8.343.065 – 8.361.692 – 8.344.241 Fax: 84-4-8345416

    Tài khoản số:

    • 362 -111 -370 – 257 Tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
    • 710A – 00626 Tại Ngân hàng Công thương Vịêt Nam.
    • 710A – 00454 Tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hà nội. Năng lực kinh doanh :

    Tính đến ngày 05/05/1993 Số vốn kinh doanh của công ty là 25.180 triệu

    đồng. Trong đó:

    + Vốn cố định: 5.710 triệu đồng

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 23

    Báo cáo tốt nghiệp

    • Vốn lưu động: 19.470 triệu đồng
    • Nguồn vốn NSNN cấp: 16.742 triệu đồng
    • Vốn tự bổ sung: 7.438 triệu đồng
    • Vốn huy động: 1.000 triệu đồng

    Tài sản của công ty tính bằng hiện vật:

    • Đất: 200.000 m2 : Hàng rào: 10.500 m2 ; Nhà xưởng sản xuất kinh

    doanh: 2.215 m2 ; Trụ sở 4.250 m2; Hai tàu vận tải biển với trọng tải 1000 tấn. Đội vận tải đường sông với 5 xà lan trọng tải gần 5000 tấn; 9 xe ôtô vận tải (4 – 16 tấn ); 9 xe cẩu, 3 xe nâng hàng (4 – 12 tấn); 9 xe cẩu, 3 xe nâng hàng ( 5 – 16 tấn ); 8 xitec chứa nhiên liệu, máy móc, thiết bị và một số dây chuyền sản xuất thép, gạch men, nước khoáng…

    * Những thành tích về kinh tế của công ty đã đạt được trong những năm qua:

    Năm 2000 2001
    1. Doanh thu 75.765.981.186 79.664.655.146
    2. Lợi nhuận trước thuế 198.945.253 282.249.457
    3. Nộp NSNN 9.098.586.114 10.091.418.116
    4. Thu nhập bình quân (người / tháng) 797.000 837.000

    * Chức năng nhiệm vụ của công ty.

    Công ty VT và TBTB nằm trong Bộ công nghiệp (Bộ sản xuất) nhưng lại mang đặc thù riêng là hoạt động thương mại. Cong ty đảm nhận nhiều chức năng, nhiệm vụ khác nhau, thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:

    • Hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp và kinh doanh các loại vật tư, phụ tùng thiết bị phục vụ cho ngành công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân trong cả nước.
    • Làm dịch vụ liên quan đến mọi lĩnh vực xuất, nhập khẩu kinh doanh và sản xuất…
    • Dịch vụ cho thuê xe, bến bãi, kho tàng…
    • Công ty kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, các dịch vụ ăn uống, xăng dầu…
    • Làm đại lý bán hàng cho tập đoàn SUDMO của CHLB Đức về thiết bị, phụ tùng và dây chuyền sản xuất bia, nước giải khát, sữa, chế biến hoa quả; Đại

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 24

    Báo cáo tốt nghiệp

    lý bán các loại xe nâng cho hãng Logi trans (Đan mạch); đại lý bán và vận chuyển xe máy cho công ty Honda – Việt Nam.

    • Ngoài hoạt động kinh doanh công ty còn tổ chức sản xuất các mặt hàng cơ khí, sắt thép, chế biến khoáng sản và mặt hàng mây tre đan.
      • Khách hàng của công ty:

    Trên thị trường quốc tế, công ty có quan hệ mua bán giao dịch với khoảnh

    • nước như: Thái lan, Singapo, Malayxia, Hồng kông, Trung quốc, Nhật bản ( Châu á); các nước thuộc Liên Xô cũ; Pháp, Đức, Hà lan, Italya…(Châu âu); Mỹ, Canada…

    Hiện nay, công ty VT và TBTB là công ty thương mại trực thuộc tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM) và là:

    • Hội viên của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)
    • Thành viên sáng lập công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
    • Thành viên sáng lập công ty cơ khí Việt – Nhật (VJE) chuyên sản xuất các sản phẩm bằng gang đúc có chất lượng cao

    Ngoài trụ sở chính của công ty đóng tại số 2- Hoàng Quốc Việt (Hà nội) công ty còn có 10 chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng trực thuộc trên phạm vi toàn quốc.

    Trải qua hơn 30 năm phấn đấu va trưởng thành, mặc dù có nhiều khó khăn, tồn tại nhưng công ty VTvà TBTB vẫn không ngừng phấn đấu và vươn lên và đã đạt được những thành tích đáng kể. Công ty đã nhận được nhiều huân, huy chương của Đảng và Nhà nước trao tặng như: Huân chương lao động hạng hai, bằng khen của Bộ công nghiệp, các sản phẩm của công ty được nhiều người biết đến… Công ty ngày càng khẳng định được mình, đứng vững trong nền kinh tế thị trường có nhiều khó khăn như hiện nay và có chiều hướng ngày càng phát triển. Công ty luôn đề ra các biên pháp giúp mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên.

    2.1.2. Đặc điểm tổ chưc bộ máy hoạt động của công ty VT và TBTB.

     

    • 2.1. Vấn đề nhân sự.

     

    Khi mới thành lập, công ty có khoảng trên 300 cán bộ công nhân viên.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 25

    Báo cáo tốt nghiệp

    Năm 1973 số lượng công nhân viên lên đến mức cao nhất là 1400 người. Trong quá trình sắp đặt lại cơ cấu tổ chức, tinh giảm biên chế, số lượng công nhân viên công ty giảm dần và đến nay còn khoảng 600 công nhân viên hoạt động tại tất cả các chi nhánh.

    Trong đó:

    • Trình độ đại học: 150 người
    • Trình độ trung học: 250 người
    • Công nhân kỹ thuật và lao động phổ thông khoảng 200 người

    2.1.2.2. Mạng lưới kinh doanh trực thuộc.

    Hiện nay công ty có 10 thành viên trực thuộc ở Hà nội và hầu hết các tỉnh, thành phố lớn ở cả 3 miền đất nước Bắc – Trung – Nam

    • Khu vực phía Bắc:

    Tổng kho 1 (Cầu Diễn, Hà nội ), chi nhánh vật tư Hải phòng (Hải phòng), chi nhánh vật tư Thái nguyên (Thái nguyên), chi nhánh vật tư Nam Hà nội (Hà tây), xí nghiệp thương mại, dịch vụ (Hà nội), xí nghiệp vật tư vận tải Gia lâm (Hà nội), cửa hàng bán xe và dịch vụ Huyndai uỷ thác (Hà nội).

    • Khu vực miền Trung: chi nhánh vật tư miền trung (TP Đà nẵng)
    • Khu vực Tây nguyên: chi nhánh vật tư Tây nguyên (TP Buôn Mê Thuột)
    • Khu vực miền Nam: chi nhánh vật tư miền nam (TP Hồ Chí Minh)

    Các chi nhánh của công ty được thành lập năm 1993 theo quyết định số 388/CP (quyết định cho phép tất cả các cơ sở nằm ngoài tỉnh có doanh nghiệp chính đều được phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh). Các đơn vị trực thuộc công ty đều được thực hiện hạch toán độc lập. Với 10 thành viên trực thuộc trải dài từ Bắc vào Nam, công ty có ưu thế nhanh chóng tiếp cận thị trường trong nước.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 26

    Báo cáo tốt nghiệp

    2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức công ty.

    • Ban lãnh đạo: Gồm giám đốc, phó giám đốc, đảng uỷ và công đoàn. Ban lãnh đạo phụ trách tổng quát đồng thời chỉ đạo trực tiếp các phòng ban, các chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng trực thuộc.
    • Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của công ty, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban Giám đốc. Công ty VT và TBTB có 8 phòng ban mỗi phòng ban có chức năng, nhiệm vụ khác nhau:
    • Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu có chức năng tham mưu cho giám đốc về kinh doanh mua bán hàng hoá, quan hệ với bạn hàng, để cung cấp hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của thị trường, kinh doanh xuất nhập khẩu, uỷ thác nhập khẩu, mua bán các loại vật tư hàng hoá thiết bị đồng bộ.
    • Phòng tài chính kế toán: có chức năng mở sổ sách kế toán, ghi chép các nhiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng tổng hợp thanh quyết toán theo kỳ đảm bảo nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giám sát vốn hiện có tạm ứng vốn cho các cơ sở, theo dõi quản lý TSCĐ, thực hiện đầy đủ các chế độ kế toán tài chính, lập các báo cáo Tài chính theo quy định.
    • Phòng kỹ thuật kho và vận tải: có chức năng quản lý về kỹ thuật, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải…
    • Phòng tổ chức lao động: có nhiệm vụ quản lý toàn bộ lực lượng lao động về chế độ chính sách quản lý tình hình đi và đến của người lao động trong công ty.
    • Ban kiểm toán nội bộ ( thành lập 1999) theo quy định của Nhà nước hoạt động riêng trực thuộc giám đốc, có nhiệm vụ kiểm toán, kiểm soát công tác kế toán, tài chính giúp giám đốc kiểm tra số liệu, sổ sách kế toán để kịp thời sửa chữa, chấn chỉnh những sai sót.
    • Văn phòng công ty: phụ trách vấn đề hành chính và quản trị trong công ty phục vụ hội nghị, lễ tân…
    • Tổng kho Hà nội (mới thành lập): tổ chức tiếp nhận bảo quản bốc xếp và giao nhận vật tư hàng hoá…

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 27

    Báo cáo tốt nghiệp

    • Phòng kinh doanh thiết bị: là cơ quan nghiệp vụ giúp việc cho giám đốc công ty tổ chức chỉ đạo kinh doanh khai thác mua bán, cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, tiêu thụ các sản phẩm của ngành công nghiệp…

    Các phòng ban của công ty đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng mục đích chung là phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ mày kế toán và hình thức sổ kế toán sử dụng ở công ty.

    2.1.3.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán ở công ty .

    Công ty VT và TBTB là công ty thương mại có quy mô lớn và mạng lưới chi nhánh, xí nghiệp trực thuộc trải dài từ Bắc vào Nam, công ty áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung- phân tán.

    Cơ cấu theo sơ đồ sau:

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 28

    Báo cáo tốt nghiệp

    Nhiệm vụ của các bộ phận kế toán trong phòng kế toán.

    • Kế toán trưởng: phụ trách, chỉ đạo chung hoạt động của phòng kế toán, chịu trách nhiệm trực tiếp trước giám đốc và công tác tài chính kế toán.
    • Phó phòng kế toán (kiêm kế toán tổng hợp): làm tham mưu cho kế toán trưởng về hoạt động của phòng kế toán, phụ trách chuyên môn, điều hành phòng kế toán khi kế toán trưởng vắng mặt, kiểm tra, đối chiếu số liệu, báo cáo kế toán gửi lên cấp trên và thực hiện các phần kế toán còn lại.
    • Kế toán thuế: theo dõi các khoản nộp ngân sách, thuế xuất nhập khẩu, thuế GTGT.
    • Kế toán thanh toán, tiền mặt: thanh toán các khoản chi của công ty cho các bạn hàng, kiểm tra tính hợp lệ của các chứng từ, lập các phiếu thu chi tiền mặt chuyển cho thủ kho.
    • Thủ kho: quản lý tiền mặt trong két, xuất nhập tiền mặt theo các phiếu thu chi tiền mặt.
    • Kế toán ngân hàng: chịu trách nhiệm riêng về hoạt động giao dịch với ngân hàng.
    • Kế toán theo dõi hàng tồn kho: theo dõi tình hình xuất, nhập, tồn kho hàng hoá, vật tư.
    • Kế toán mua hàng và thanh toán với người bán: hạch toán mua hàng nhập khẩu vật tư hàng hoá và tình hình thanh toán với người bán.
    • Kế toán thanh toán với khách hàng: theo dõi tình hình bán hàng và các khoản phải thu với khách hàng.
    • Kế toán TSCĐ: theo dõi TSCĐ toàn công ty và khấu hao TSCĐ.
    • Kế toán chi phí: theo dõi toán bộ CPBH, CPQLDN, chi phí dịch vụ toàn công ty.
    • Kế toán xác định kết quả.

    Công ty VT và TBTB sử dụng hầu hết các tài khoản cấp 1 trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/01/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính cùng với các tài khoản cấp 2,3 cần thiết để phản ánh đầy đủ mọi hoạt động kinh tế tài chính phát sinh trong công ty phù hợp

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 29

    Báo cáo tốt nghiệp

    với đặc trưng riêng của công ty. Mỗi bộ phận kế toán có nhiệm vụ theo dõi một số tài khoản nhất định.

    2.1.3.2. Hình thức sổ kế toán áp dụng ở công ty.

    Căn cứ vào số lượng tài khoản sử dụng cũng như quy mô, đặc điểm hoạt động của công ty. Hình thức kế toán được sử dụng là hình thức kế toán “ chứng từ ghi sổ”.

    Sơ đồ 12:

    Trình tự kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ ở công ty

    Chứng từ gốc

    Sổ quỹ Sổ kế toán chi tiết

    Phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển

    chứng từ gốc

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Sổ cái

    Báo cáo kế toán

    Phòng kế toán lập và gửi báo cáo tài chính vào cuối quí, vào cuối niên độ kế toán (năm dương lịch) nhằm phản ánh tổng quát tình hình kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cho ban giám đốc, các đối tượng khác ngoài công ty. Công ty lập cả 4 báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính. Cuối kỳ công ty còn lập bảng tổng hợp TSCĐ, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ, báo cáo bán ra, báo cáo mua vào ( theo tháng ), báo cáo CPBH, báo cáo chi phí dịch vụ, báo cáo CPQLDN.

    Định kỳ hàng quý các đơn vị trực thuộc nộp báo cáo lên phòng kế toán công ty để quyết toán. Các cán bộ chuyên quản có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động kế toán ở đơn vị cấp dưới. Trên công ty bộ phận kiểm toán nội bộ đảm nhận nhiệm vụ kiểm tra theo định kỳ tháng một.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 30

    Báo cáo tốt nghiệp

    • Công ty hạch toán theo tháng, quý, năm.
    • Công ty kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
    • Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
    • Phương pháp xác định giá vốn hàng xuất kho theo phương pháp đích danh.

    2.1.4. Phương thức bán hàng.

    Công ty tổ chức bán hàng theo 4 phương pháp.

    • Bán hàng tại kho
    • Bán hàng giao thẳng
    • Xuất khẩu hàng hoá
    • Xuất khâủ uỷ thác

    2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở công ty VT và TBTB.

    2.2.1. Tổ chức kế toán hàng hoá xuất kho và phương pháp xác định giá vốn hàng xuất bán.

    2.2.1.1. Đặc điểm kinh doanh hàng hoá của công ty.

    Công ty VT và TBTB là công ty thương mại trực thuộc Bộ công nghiệp hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, khách hàng ngoài nước của công ty khoảng 20 nước trên thế giới ( Mỹ, Nhật bản, Trung quốc, Malayxia…)

    Hàng hoá của công ty là các loại vật tư, thiết bị toàn bộ phục vụ cho ngành công nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Có thể kể một số mặt hàng chủ yếu sau:

    • Mặt hàng kinh doanh và xuất khẩu chủ yếu: các loại động cơ Diezel, động cơ xăng, các loại máy nông nghiệp, chế biến lương thực, các loại phụ tùng máy nông nghiệp, các sản phẩm thủ công mây tre đan…
    • Mặt hàng kinh doanh và nhập khẩu chính: thép Bilet để sản xuất thép, gang thỏi, hợp kim cao cấp, thép dụng cụ, các loại kim loại mầu ( Fe, Al, Cu, Zn…), vật tư phụ tùng chiếu sáng, thiết bị văn phòng…
    • Đặc biệt công ty còn nhập khẩu dây chuyền thiết bị theo đơn đặt hàng của khách như: dây chuyền sản xuất bia (cho Nhà máy bia Thanh hoá, Bắc thái)

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 31

    Báo cáo tốt nghiệp

    2.2.1.2. Tổ chức công tác kế toán hàng hoá tại công ty.

    2.2.1.2.1. Phương pháp xác định trị giá vốn thực tế hàng mua vào.

    • Hàng mua vào giao bán thẳng (hàng nhập khẩu): hàng nhập khẩu tính theo giá CIF ( cost insurance feight ), giao bán ngay tại cảng (cửa khẩu) Việt Nam.

    Trị giá vốn thực

    tế hàng mua vào  =    Giá CIF   +    Thuế nhập khẩu (nếu có)

    giao thẳng

    • Hàng mua vào nhập kho (hàng nhập khẩu hoặc mua vào trong nước): trị giá vốn thực tế hàng mua vào nhập kho được xác định theo trị giá thực tế mua vào và chi phí mua:

    Trị giá thực tế     Tiền phải              Thuế nhập khẩu        Giảm giá hàng bán

    mua vào của   = trả cho       +      thuế khác              –       hàng bán bị trả lại

    hàng hoá                 người bán                ( nếu có )                                  ( nếu có )

    Chi phí mua   = Chi phí             + Phí bảo + Phí mở  + Phí kiểm

    vận chuyển            hiểm                    L/C                      định

    Trị giá vốn thức tế hàng mua vào = trị giá thực tế mua vào của hàng hoá + chi phí mua

    Chi phí mua thường chiếm khoảng 5 – 7% trị giá thực tế mua vào của hàng hoá, chi phí mua được theo dõi từng loại hàng, từng lần nhập. Tuy nhiên không phải công ty lúc nào cũng xuất bán một lần toàn bộ lô hàng đã nhập mà lô hàng ấy có thể xuất bán nhiều lần. Do đó chi phí mua có liên quan đến cả hàng đã tiêu thụ và hàng còn lại.

    2.2.1.2.2. Phương pháp xác định trị giá vốn thực tế hàng xuất bán

    Trị giá vốn thực tế                  Trị giá thực tế                Chi phí mua phân

    hàng xuất bán         =    mua vào của hàng + bổ cho hàng xuất

    trong kỳ                                xuất bán trong kỳ            bán trong kỳ

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 32

    Báo cáo tốt nghiệp

    Trong đó:

    • Trị giá mua vào thực tế của hàng xuất bán trong kỳ: xuất lô hàng nào thì lấy trị giá mua vào thưc tế của lô hàng đó để tính trị giá mua hàng xuất bán (theo phương pháp đích danh).
    • Chi phí mua phân bổ cho hàng xuất bán trong kỳ: được phân bổ cho hàng đã bán theo tiêu thức số lượng hàng xuất bán ( kế toán căn cứ vào số lượng hàng hoá xuất kho trên thẻ kho).
    Chi phí mua Chi phí mua của + Chi phí mua của
    phân bổ cho = hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
    hàng xuất bán Số lượng hàng + Số lượng hàng mua
    trong kỳ mua tồn đầu kỳ nhập trong kỳ

    + Trình tự nhập xuất kho hàng hoá:

    • Phòng kinh doanh mua hàng về có đầy đủ hoá đơn, khi hàng về phòng kinh doanh phát lệnh nhập kho, ghi thẻ kho làm 3 liên phòng kế toán theo dõi 1 liên, phòng kinh doanh 1 liên, thủ kho theo dõi 1 liên. Sau khi nhập kho căn cứ vào việc lập hiệu quả lỗ – lãi phòng kinh doanh ký lệnh xuất hàng (bán ra), khách hàng nhận hàng, nhận hoá đơn và thanh toán tiền. Hàng bán tháng nào thì nộp thuế và tính hiệu quả (KQKD) vào tháng đó.

    VD: Ngày 20/01/2002 công ty bán thép hợp kim G12.MoV cho Thanh Hoằng hoá đơn GTGT số 012216

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 33

    Báo cáo tốt nghiệp
    hoá đơn (gtgt) Mẫu sổ: 01 GTGT – 03LL
    liên 3 (dùng để thanh toán)
    Ngày 20/01/2001 No 012216
    Đơn vị bán hàng : Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ ( MATEXIM )
    Địa chỉ : Đường Hoàng Quốc Việt – Hà Nội… số tài khoản…
    Điên thoại : 8361692 … MS 0100100336 \\\\
    Họ tên người mua hàng: Thanh Hoằng
    Đơn vị : Chi nhánh vật tư Thái Nguyên
    Địa chỉ : Phổ yên, Thái Nguyên … số tài khoản…
    Hình thức thanh toán: 02/MTX – CNTN/01 MS:
    STT  Tên hàng hoá, dịch vụ Đơn vị tính số lượng Đơn giá   Thành
    tiền
    USD USD
    A B C 1 2 3=1*2
    Thép hợp kim G12MoV
    # 40 mn Tấn 3,445 1170 4.030,65
    # 60 mn Tấn 3,005 1170 3.515,85
    # 100 mn Tấn 0,549 1170 642,33
    Tổng số Tấn 6,999 8.188,83
    Quy ra VND theo tỷ giá tạm tính 15120đ/USD
    15120đ/USD * 8.188,83 USD = 123.815.110,00đ
    Cộng thành tiền 123.815.110,00đ
    Thuế suất: 5% Tiền thuế GTGT: 6.190.755,00đ
    Tổng cộng tiền thanh toán: 130.005.865,00đ
    Số tiền viết bằng chữ: Một trăm ba mươi triệu, năm nghìn tám trăm sáu lăm đồng
    Người mua ký Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị

    Ngày 10/01/2002 Công ty mua thép hợp kim G12MoV hoá đơn GTGT Số 296415 – của công ty thương mại Hà việt

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 34

    Báo cáo tốt nghiệp

    Ngày 14/01/2002 Công ty mua tôn Siloc của công ty Gia Anh có hoá đơn

    GTGT – Số lượng 11,575 tấn
    Số 359618 thuế suất : 5%
    đơn giá : 7.500.000
    Ngày 15/01/2002 Công ty mua thép dẹt S45C của công ty kim khí Hà nội
    có hoá đơn GTGT – số 46981 với số lượng 15 tấn
    thuế suất: 5%
    đơn giá: 4.177.060
    Trích hoá đơn GTGT hàng thep hợp kim G12MoV
    hoá đơn gtgt Số 296415
    Ngày 10/01/2002
    Đơn vị bán hàng  : Công ty thương mại Hà Việt
    Địa chỉ : Số TK
    Điện thoại Mã số: 0100100336-1
    Họ tên người mua hàng: Nguyễn Thanh Vân
    Đơn vị : Công ty VT và TBTB
    Địa chỉ : Số TK
    Hình thức thanh toán Mã số: 010010036-1
    TT  Tên hàng hoá,dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành
    tiền
    1. Thép hợp kim
    G12MoV Tấn 6,999 15.690.000
    109.828.000
    Cộng tiền hàng: 109.828.000
    Thuế   suất   thuế   GTGT: 5% Tiền   thuế GTGT
    5.491.400
    Số tiền viết bằng chữ
    Người mua hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn

    Việc nhập kho đánh giá lô hàng như sau:

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 35

    Báo cáo tốt nghiệp

    • Tại kho, thủ kho căn cứ vào hoá đơn GTGT và kết quả kiểm nhận, ghi số lượng thực nhập vào phiếu nhập kho và thẻ kho. Sau đó chuyển phiếu nhập kho và hoá đơn GTGT cho phòng kế toán.
    • Tại phòng kế toán: Căn cứ vào hoá đơn GTGT, kế toán xác định trị giá mua thực tế của hàng nhập kho là tiền hàng (chưa có thuế GTGT) ghi trên hoá đơn : 109.828.000 đồng
    Chi phí vận chuyển (ghi trên hoá đơn cước vận chuyển) được theo dõi
    trên sổ theo dõi chi phí mua vào, số tiền là: 7.676.000 đồng
    Bảng 1A: phiếu nhập kho Số 08/156.1
    Đơn vị   : Công ty VT và TBTB
    Nhập của : Công ty TM Hà Việt
    Địa chỉ :
    Ngày 10/01/2002
    Nhập theo hoá đơn: số 296415 ngày 10/01/2002
    Nhập vào kho: của công ty VT và TBTB
    TT Tên hàng và quy ĐVT Số lượng Số lượng Thành tiền
    theo chứng theo thực
    cách phẩm chất
    từ tế
    Thép  hợp  kim Tấn 6,999 6,999 109.828.000
    G12MoV Đúng loại
    Cộng Tấn 6,999 6,999 109.828.000
    Phụ trách cung tiêu Người giao hàng Thủ kho
    ( Ký, họ tên ) ( Ký, họ tên ) ( Ký, họ tên )
    Khi bán toàn bộ 6,999 tấn thép hợp kim G12MoV. Kế toán xác định trị
    giá vốn thực tế hàng xuất bán là : 109.828.000 + 7.676.000 = 117.504.000
    Chi phí phân bổ cho hàng đã bán: 7.676.000 đồng
    Bảng 1B: phiếu nhập kho Số 10/156.1
    Đơn vị   : Công ty VT và TBTB
    Nhập của : Công ty Gia Anh
    Địa chỉ :
    Ngày : 14/01/2002

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 36

    Báo cáo tốt nghiệp

    Nhập theo : Hoá đơn GTGT số: 359618 ngày 14/01/2002
    Nhập vào : Kho của công ty VT và TBTB
    ST Tên hàng và quy ĐVT Số lượng Số lượng Thành tiền
    T cách phẩm chất theo chứng theo thực tế
    từ
    Tôn Siloc Tấn 11,575 11,575 86.812.500
    Cộng 11,575 11,575 86.812.500
    Phụ trách cung tiêu Người giao hàng Thủ kho
    (Ký, họ tên ) ( Ký, họ tên ) (Ký, họ tên )

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 37

    Báo cáo tốt nghiệp

    Với chi phí vận chuyển ghi trên hoá đơn “ cước phi vận chuyển” được theo dõi cho hàng mua vào là 3.400.000 đồng. Kế toán xác định trị giá vốn thực

    tế hàng xuất bán, khi công ty bán 11,575 tấn Siloc là:
    3.400.000 + 86.812.500 = 90.212.500 đồng
    Bảng 1C: phiếu nhập kho Số 15/156.1
    Đơn vị: Công ty VT và TBTB
    Nhập của : Công ty kim khí Hà nội
    Địa chỉ :
    Ngày 15/01/2002
    Nhập theo: Hoá đơn GTGT – số 46981 ngày 15/01/2001
    Nhập vào kho công ty VT và TBTB
    ST Tên hàng và quy ĐV Số lượng Số lượng
    theo chứng Thành tiền
    T cách phẩm chất T thực tế
    từ
    Thép dẹt S45C Tấn 15 15 62.656.000
    Cộng Tấn 15 15 62.656.000
    Phụ trách cung tiêu Người giao hàng Thủ kho
    ( Ký, họ tên ) ( Ký, họ tên ) ( Ký, họ tên )

    Khi xuất 15 tấn thép dẹt S45C, kế toán xác định trị giá vốn thực tế hàng xuất bán là : 62.656.000 đồng + 2.500.000 đồng = 65.156.000 đồng, 2.500.000 đồng là chi phí phân bổ cho hàng đã bán ( ghi trên sổ theo dõi cước phí hàng mua vào ).

    Đến ngày 20/01/2002 xuất toàn bộ 6,999 tấn thép hợp kim G12MoV 25/01/2002 xuất toàn bộ 11,575 tấn tôn Siloc 25/01/2002 xuất 15 tấn thép dẹt S45C

    Trích phiếu xuất kho ngày 20/01/2002

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 38

    Báo cáo tốt nghiệp

    Bảng 1D:                       phiếu xuất kho                                           Số 16/1561

    Ngày 20/01/2002

    Tên người nhận hàng:

    Đơn vị:

    Lý do xuất

    Xuất tại kho:    Công ty VT và TBTB

    T Tên và quy cách ĐV Số lượng theo Số lượng Thành tiền
    T phẩm chất T chứng từ theo thực
    tế
    Thép hợp kim G12MoV Tấn 6,999 6,999 117.504.000
    Cộng Tấn 6,999 6,999 117.504.000
    Phụ trách bộ phận sử dụng Phụ trách cung tiêu Người nhận Thủ kho
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên ) ( Ký, họ tên )   (Ký,họ tên)
    Bảng 1E1 phiếu xuất kho Số 17/1561

    Ngày 25/01/2002

    Tên người nhận hàng

    Đơn vị:

    Lý do xuất:

    Xuất tại kho:       Công ty VT và TBTB

    ST Tên và quy cách ĐV Số lượng Số lượng Thành tiền
    T phẩm chất T theo chưng từ theo thực tế
    1. Tôn Siloc Tấn 11,575 11,575 90.212.500
    Cộng Tấn 11,575 11,575 90.212.500
    Phụ trách bộ phận sử dụng Phụ trách cung tiêu Người nhận Thủ
    kho
    (Ký, họ tên ) (Ký, họ tên ) (Ký, họ tên ) (Ký, họ
    tên)

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 39

    Báo cáo tốt nghiệp
    Bảng 1E2 phiếu xuất kho Số 18/1561
    Ngày 25/01/2002
    Tên người nhận hàng:
    Đơn vị:
    Lý do xuất:
    Xuất tại kho: Công ty VT và TBTB
    STT Tên và quy cách ĐVT Số lượng Số lượng Thành tiền
    phẩm chất theo chứng từ theo thực tế
    1. Thép dẹt S45C Tấn 15 15 65.156.000
    Cộng Tấn 15 15 65.156.000

    Phụ trách bộ phận sử dụng    Phụ trách cung tiêu    Người nhận        Thủ kho

    ( ký, họ tên )                                     ( ký, họ tên )                ( ký, họ tên ) (ký, họ tên)

    Các phiếu xuất kho ghi căn cứ vào hoá đơn GTGT (liên 3 dùng để thanh

    toán).

    Căn cứ vào các phiếu nhập kho, xuất kho, hoá đơn GTGT, hoá đơn cước vận chuyển, cuối tháng kế toán ghi váo “ phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc”

    Bảng 1F  phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc

    Số TK : 632 Số: 01
    Ngày 31 Tháng 1 Năm 2002 Đơn vị: đồng
    STT Diễn giải TK đối ứng Số tiền Ghi
    chú
    Nợ Nợ
    1. Xuất  kho  thép  hợp  kim 632 1561hk 117.504.000
    2. G12MoV 632 1561sl 90.212.500
    3. Xuất kho tôn Siloc 632 1561td 65.156.000
    Xuất kho thép dẹt S45C
    Cộng 272.872.50
    0
    Người lập Kế toán trưởng
    (ký, họ tên) (ký, họ tên)

    Cuối tháng căn cứ vào “ phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc” kế

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 40

    Báo cáo tốt nghiệp

    toán ghi vào sổ cái TK632. Cuối kỳ lấy dòng tổng cộng của sổ cái TK 632 kết chuyển sang bên Có của TK911 để xác định kết quả

    Bảng 1G:

    sổ cái

    Tháng 01/2002

    Tên TK: Giá vốn hàng bán

    Số hiệu: TK 632

    Đơn vị: đồng
    Ngày Chứng từ Diễn giải TK Số tiền
    ghi sổ S N ĐU Nợ
    31/01 08 10/01 Hàng  thép  hợp  kim 1561 117.504.00
    G12MoV đã bán
    31/01 10 14/01 Hàng tôn Siloc đã bán 0
    31/01 15 15/01 Hàng thép dẹt S45C đã bán 911 90.212.500 272.872.50
    31/01 Kết chuyển giá vốn để xác
    định kết quả 65.156.000 0
    Cộng số phát sinh 272.872.50
    Số dư cuối kỳ
    272.872.50 0
    0
    Người lập sổ Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
    (ký, họ tên) (ký, họ tên) (ký, họ tên)

    2.2.1.2.3. Kế toán chi tiết hàng hoá.

    Công ty thực hiện chi tiết kế toán hàng hoá theo phương pháp ghi thẻ song song, phục vụ phương pháp này công ty sử dụng các mẫu sổ chi tiết như sau: thẻ kho, sổ chi tiết hàng hoá,bảng kê tổng hợp nhập – xuất – tồn hàng hoá và sử dụng TK chi tiết: TK 1561A – gt – Hàng giao thẳng.

    TK 1561A – xk – Hàng xuất kho.

    TK 1561B               – Hàng uỷ thác.

    Phương pháp này có ưu điểm là cách ghi đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu, có khả năng cung cấp thông tin nhanh cho quản trị hàng tồn kho và khá phù hợp với đặc điểm của công ty ( các nghiệp vụ nhập xuất hàng hoá không nhiều nên không sử dụng giá hạch toán) việc hạch toán chi tiết hàng hoá ở kho và phòng kế toán như sau:

    • ở kho: thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn hàng ngày của từng loại hàng hoá theo chỉ tiêu số lượng (thẻ kho được mở cho

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 41

    Báo cáo tốt nghiệp

    từng loại hàng ). Hàng ngày thủ kho thực hiện nhập-xuất hàng hoá lập các chứng từ nhập xuất sau đó căn cứ vào các chứng từ đó để ghi váo thẻ kho. Ngoài ra thủ kho còn có nhiệm vụ sắp xếp, phân loại hợp lý các chứng từ nhập xuất để giao cho kế toán.

    • ở phòng kế toán: định kỳ 10 ngày, kế toán xuống kho để kiểm tra, ký xác nhận vào thẻ kho và nhận các chứng từ nhập xuất mang về phòng kế toán. Tại phòng kế toán, kế toán kiểm tra các chứng từ nhập, xuất, căn cừ vào đó để ghi vào sổ chi tiết hàng hoá, mỗi chứng từ một dòng. Sổ chi tiết hàng hoá theo dõi cả hiện vật (số lượng), giá trị (số tiền) của hàng hoá. Cuối tháng, kế toán cộng số liệu trên sổ chi tiết hàng hoá và lập bảng kê tổng hợp nhập – xuất – tồn.

    Trình tự hạch toán chi tiết hàng tồn kho tại công ty diễn ra theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 13:

    Trình tự hạch toán chi tiết hàng tồn kho.

    Phiế u nhập kho Thẻ kho
    Tập hợp phân loại Sổ chi tiết Bảng kê tổng
    Phiế u xuất kho
    PNK, PXK hàng hoá hợp N – X – T

    VD: Tháng 01/2002 phiếu xuất kho số 10 ngày 20/01/2002 (xuất thép hợp kim G12MoV. Việc hạch toán chi tiết thép hợp kim như sau:

    • kho thủ kho căn cứ vào phiếu xuất kho ghi số thực xuất vào thẻ kho.

    thẻ kho

    Ngày lập thẻ: 01/01/2002

    Kho: của công ty VT và TBTB – MATEXIM.

    Tổ số 1: Tên hàng: Thép hợp kim G12MoV Mã số:

    Đơn vị tính: Tấn

    Chứng từ Diễn giải Ngày Số lượng Chữ ký
    của kế
    Số Ngày N-X Nhập Xuất Tồn
    toán
    Tồn đầu tháng
    08 20/01/0 01/2002 10/01 6,999
    10 2 Nhập 20/01 6,999
    20/01/0 Xuất
    2
    Cộng phát sinh 6,999 6,999

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 42

    Báo cáo tốt nghiệp

    Tồn cuối tháng 01/02

    • phòng kế toán: Căn cứ phiếu nhập, xuất kho (hoá đơn GTGT) kế toán ghi vào sổ chi tiết hàng hoá. Thép hợp kim G12MoV xếp vào loại hàng kim khí.

    Cuối tháng thủ kho ghi số lương nhập-xuất- tồn vào bảng kê nhập – xuất – tồn hàng hoá (lấy dòng tổng cộng phát sinh và tồn cuối tháng trên các sổ chi tiết hàng hoá.

    2.2.1.2.4. Kế toán tổng hợp hàng hoá.

    Hạch toán chứng từ ban đầu: Sổ cái TK156, sổ theo dõi TK156. Tổng hợp, chứng từ, hoá đơn cước phí vận chuyển…

    Bảng kê hàng hoá tồn kho cuối tháng, sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc.

    Kế toán hàng hoá sử dụng           TK156 – Hàng hoá

    TK111 – Tiền mặt

    TK112 – TGNH

    Hàng ngày các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng hoá, kế toán tập hợp ghi vào sổ chi tiết TK156 sau đó cuối tháng ghi vào phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 43

    Báo cáo tốt nghiệp

    Sau đó đến cuối tháng kế toán ghi vào “phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc”

    Bảng 5:

    phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứngTừ GốC

    Số TK 1561

    Tháng 01/2002

    STT Diễn giải TK đối ứng Số tiền Ghi
    chú
    Nợ Nợ
    1. Nhập  kho  kim 1561kk 331 517.485.651 186.767.42
    2. khí 632 1561sm 2
    Xuất  kho  hàng 6.149.160
    3. SupMo 632 1561L/
    Xuất  kho  hàng e
    L/e 472.310.00
    0
    Cộng 517.485.651 665.226.58
    2
    Người lập Kế toán trưởng
    (ký,họ tên) (ký,họ tên)

    2.2.2. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu.

    2.2.2.1. Kế toán doanh thu bán hàng.

    • Doanh thu bán hàng tại cảng (giao thẳng) – Tổ chức chứng từ ban đầu:

    Do giá trị của mỗi lần xuất hàng để bán buôn thường rất lớn, các nhân

    viên phòng kinh doanh phải nộp hoá đơn bán hàng (hoá đơn GTGT) cho hàng bán ra. Hoá đơn bán hàng có giá trị như tờ lệnh xuất kho, đồng thời là cơ sở để kế toán theo dõi, ghi chép, phản ánh doanh thu bán hàng, theo dõi công nợ cũng như việc xuất tồn kho trên thẻ kho kế toán.

    Vậy chứng từ ban đầu làm căn cứ ghi sổ kế toán doanh thu bán hàng là:

    hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT theo mẫu 01 GTKT – 03SLL – Số 012216.

    – Tài khoản kế toán sử dụng:

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 44

    Báo cáo tốt nghiệp

    Để phản ánh theo dõi doanh thu bán hàng kế toán sử dụng:

    TK 5111GT – Doanh thu bán hàng giao thẳng

    và TK liên quan TK 131 – phải thu của khách hàng TK 3331 – thuế GTGT đầu ra

    • Sổ kế toán sử dụng + Thẻ kho kế toán hàng nhập khẩu
    • Sổ cái TK 131, TK 5111, TK 3331
    • Ngoài ra còn sử dụng các bảng kê, chứng từ bán

    hàng, phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc.

    • Phương pháp kế toán doanh thu bán hàng

    Khi nhận được hoá đơn (liên 3 dùng để thanh toán) – hoá đơn GTGT, do phòng kinh doanh chuyển sang. Kế toán căn cứ vào tổng số tiền khách hàng chấp nhận thanh toán để hạch toán doanh thu và các khoản phải thu của khách hàng. Kế toán doanh thu bán hàng ghi vào “ phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc” theo bút toán :

    Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng

    Có TK 5111 – Doanh thu bán hàng nhập khẩu Có TK 3331 – Thuế GTGT đầu ra

    Khi nhận được phiếu thu tiền mặt hoặc giấy báo có của Ngân hàng thông báo khách hàng đã trả tiền, kế toán mới thực hiện bút toán ghi giảm khoản phải thu. Đồng thời căn cứ vào hoá đơn GTGT, kế toán ghi sổ chi tiết bán hàng, thẻ kho kế toán hàng nhập khẩu và lên bảng kê chứng từ hàng nhập khẩu ( báo cáo chi tiết giao thẳng – bảng 6)

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 45

    Báo cáo tốt nghiệp

    – Phương thức thanh toán.

    Phòng kinh doanh cử người xuống tiếp nhận hàng hoá có thể giao trực tiếp từ tàu xuống và giao cho khách hàng. Khách hàng có thể đặt mua từ trước, xuống công ty nộp tiền lấy hoá đơn kiêm phiếu xuất kho. Khi hàng về khách hàng xuống cảng đưa hoá đơn cho nhân viên tiếp nhận hàng của phòng kinh doanh để lấy hàng. Khách hàng đế mua trực tiếp thì các nhân viên tiếp nhận hàng lập hoá đơn kiêm phiếu xuất, xuất hàng cho khách và thu tiền đó nộp về công ty.

    • Doanh thu bán hàng tại kho.
    • Kế toán sử dụng tài khoản: TK5111 – Doanh thu bán hàng hoá
    • Căn cứ vào hoá đơn bán hàng (hoá đơn GTGT)
    • Sổ kế toán sử dụng : Sổ chi tiết TK 1561A, 1561B, sổ chi tiết bán hàng, sổ theo dõi thanh toán, thẻ kho, sổ cái TK511, TK131
    • Phương pháp kế toán: căn cứ vào hoá đơn bán hàng kế toán ghi sổ “sổ theo dõi hoá đơn bán hàng”,thẻ kho, bảng kê chứng từ bán hàng. Kế toán ghi “ phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc” làm căn cứ ghi sổ cái

    Cách ghi phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc

    • Từng ngày kế toán căn cứ vào nội dung nghiệp vụ kế toán ghi vào cột diễn giải
    • Căn cứ vào định khoản kế toán ghi vào cột tài khoản đối ứng và ghi số tiền tương ứng vào cột số tiền

    VD: Bảng 8

    phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc

    Số TK: 5111hk

    Tháng 01/2002

    ST Diễn giải TK đối ứng Số tiền Ghi
    T Nợ Nợ chú
    1. Doanh thu bán thép hợp kim 131h 5111 123.815.11
    G12MoV k 5111 0
    2. Doanh thu bán tôn Siloc 256.069.30
    3. Doanh thu bán thép dẹt S45C 131sl 5111
    4. Kết chuyển sang 911 xác định kết 131t 911 567.922.50 0
    quả 5111 0 188.038.09
    0
    Cộng 567.922.50 567.922.50
    0 0

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 46

    Báo cáo tốt nghiệp
    Người lập Kế toán trưởng
    (ký, họ tên) (ký, họ tên)
    Bảng 9:
    sổ cái
    Tháng 01/2002
    Số hiệu: TK 5111
    Ngày chứng từ Diễn giải TK Số tiền Ghi
    đối
    ghi sổ Số Ngày Nợ chú
    ứng
    31/01 01221 20/01 Doanh thu bán 131 123.815.110
    6 thép hợp kim
    31/01 25/01 Doanh thu bán 131 256.069.300
    tôn Siloc
    31/01 25/01 Doanh thu bán 131 188.038.090
    thép dẹt S45C
    Kết chuyển
    doanh thu thuần 911 567.922.50
    XĐKQ
    0
    Cộng  số  phát
    sinh 567.922.50 567.922.500
    Dư cuối tháng 0
    Người ghi Kế toán trưởng
    (ký, họ tên) (ký, họ tên)
    – Phương thức thanh toán:

    Phòng kinh doanh lập hoá đơn kiêm phiếu xuất kho làm 5 liên, lưu lại 1 liên và 4 liên giao cho khách hàng mang hoá đơn sang phòng kế toán trả tiền. Kế toán tiêu thụ căn cứ vào hoá đơn ghi vào sổ theo dõi hoá đơn bán hàng.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 47

    Báo cáo tốt nghiệp

    Khách hàng cầm liên 4 xuống kho, thủ kho kiểm tra hoá đơn và căn cừ vào hoá đơn giao hàng cho khách. Sau đó khách hàng cầm một hoá đơn để vận chuyển hàng. 1 liên lưu ở kho, 2 liên gửi về phòng kinh doanh và phòng tài chính kế toán. Thủ kho căn cứ vào hoá đơn ghi sổ chi tiết theo dõi hàng hoá cho từng loại hàng.

    * Doanh thu bán hàng uỷ thác:

    Hình thức này công ty thực hiện với danh nghĩa của mình nhận xuất khẩu cho bên giao uỷ thác và công ty hưởng hoa hồng uỷ thác. Hình thức này được coi là hoạt động cung cấp dịch vụ nên kế toán hạch toán vào TK5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ. Công ty hưởng hoa hồng uỷ thác mỗi lần từ 0,8% đến 1% doanh thu uỷ thác.

    Phương thức xuất khẩu uỷ thác công ty thực hiện ký kết hợp đồng với khách hàng. Tiến hành làm thủ tục xuất, nhập khẩu, nộp các khoản thuế xuất khẩu. Những chi phí mà công ty chi ra sẽ thu lại của bên uỷ thác. Tổng số hàng hoá xuât khẩu uỷ thác phản ánh vào TK 156B

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 48

    Báo cáo tốt nghiệp

    2.2.2.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu.

    Công ty không sử dụng tài khoản phản ánh các khoản giảm trừ doanh thu (TK531, TK532), trên báo cáo tài chính. Do công ty VT và TBTB là một DNTM chủ yếu kinh doanh loại hàng hoá kim khí, thiết bị dây chuyền công nghệ. Công ty bán hàng khi đã định trước nơi tiêu thụ (có thể gọi là hình thức bán theo đơn đặt hàng) và chỉ làm hợp đồng bán buôn chứ không ban lẻ nên kế toán không sử dụng tài khoản phản ánh các khoản giảm trừ doanh thu.

    Doanh thu thuần = tổng doanh thu

    Theo số liệu phần trước ta có :

    Doanh thu thuần = 567.922.500 (đồng)

    2.2.3. Kế toán thuế GTGT đầu ra và thuế xuất nhập khẩu.

    Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Số thuế GTGT của

    hàng xuất bán được tính theo thuế suất của mặt hàng ấy:

    Thuế GTGT                                                                                             Thuế suất

    đầu ra          =      Số lượng    *         Đơn giá      * thuế GTGT

    Khi phản ánh doanh thu bán hàng, kế toán chỉ hạch toán theo giá chưa có thuế GTGT còn thuế GTGT đầu ra phản ánh riêng để theo dõi số thuế phải nộp cho Nhà nước.

    Công ty không có các loại phí, lệ phí, thuế TTĐB. ở đây thực hiện nộp thuế xuất nhập khẩu và thuế TNDN.

    Gồm 3 sổ chi tiết theo dõi thuế: – Sổ theo dõi thuế GTGT đầu ra được khấu trừ của hàng hoá, dịch vụ.

    • Sổ theo dõi thuế GTGT đầu ra phải nộp.
    • Sổ theo dõi thuế GTGT hàng nhập khẩu.

    Ba sổ này theo dõi thuế phải nộp cho Nhà nước và làm căn cứ lập “ phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc” làm căn cứ ghi sổ cái.

    • Tài khoản sử dụng: TK1331 – thuế GTGT đầu ra được khấu trừ của hàng hoá, dịch vụ.

    TK33311 – thuế GTGT đầu ra phải nộp. TK33312 – thuế GTGT hàng nhập khẩu.

    TK3333 – thuế xuất, nhập khẩu và một số tài khoản liên quan khác.

    • Trình tự kế toán thuế GTGT đầu ra và thuế X-NK trong kỳ có các nghiệp vụ nhập, xuất bán hàng hoá phát sinh. Cuối kỳ kế toán xác định số thuế GTGT được khấu trừ và số thuế phải nộp cho Nhà nước.
      • Phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ

    Nợ TK33311

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 49

    Báo cáo tốt nghiệp

    Có TK1331

    • Phản ánh số thuế GTGT đầu ra phải nộp Nợ TK33311

    Có TK111, 112

    • Khi nhận được số tiền của Nhà nước về số thuế GTGT được hoàn kế
    toán ghi: Nợ TK111, 112
    Có TK1331
    Đối với hàng xuất khẩu sẽ phải chịu thuế xuất khẩu. Với hàng nhập khẩu
    công ty phải chịu thuế GTGT đầu ra.
    Trích “tờ khai thuế GTGT” tháng 01/2002
    tờ khai thuế giá trị gia tăng
    Tháng 01/2002
    (Dùng cho cơ sở tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ)
    Tên cơ sở: công ty vật tư và thiết bị toàn bộ
    Địa chỉ: Đường Hoàng Quốc Việt – Cầu Giấy – Hà Nội
    Mã số: 0100100336-1
    ST Chỉ tiêu kê khai Doanh số Thuế GTGT
    T
    1 Hàng hoá, dịch vụ bán ra 23.337.586.47 832.997.274
    1
    2 Hàng hóa, dịch vụ thuế GTGT 21.041.684.07 832.997.274
    1
    a Hàng hoá xuất khẩu thuế suất 0% 6.376.799.034 0
    b Hàng hoá, dịch vụ thuế suất 5% 12.669.824.58 633.491.229
    4
    c Hàng hoá, dịch vụ thuế suất 10% 1.995.060.453 199.506.045
    d Hàng hoá, dịch vụ thuế suất 20%
    3 Hàng hóa, dịch vụ mua vào 19.420.459.53 1.185.685.280
    7
    4 Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua 1.185.685.280
    vào
    5 Thuế GTGT được khẩu trừ 1.185.685.280
    6 Thuế GTGT phải nộp hoặc được thoái x -352.688.006
    trong kỳ (tiền thuế 2-5)
    7 Thuế GTGT kỳ trước chuyển qua x
    1.677.998.281
    a Nộp thiếu x
    b Nộp thừa hoặc chưa được khấu trừ x

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 50

    Báo cáo tốt nghiệp

    1.677.998.281
    8 Thuế GTGT đã nộp trong tháng x
    9 Thuế GTGT được hoàn lại trong tháng x
    10 Thuế GTGT phải nộp tháng này x
    2.030.686.287

    Ngày 08 tháng 02 năm 2002

    TM/cơ sơ

    giám đốc công ty

    2.2.4. Kế toán CPBH và CPQLDN.

    Công ty VT và TBTB có hoạt động khá phức tạp: công ty vừa hoạt động sản xuất vừa hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ. Để thuận lợi cho việc XĐKQ từng mảng hoạt động kinh doanh cũng như đảm bảo cung cấp thông tin nhanh cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp của ban lãnh đạo. Kế toán đã theo dõi riêng chi phí, doanh thu, lợi nhuận của từng khối hoạt động. Do đó CPBH và CPQLDN trong quá trình hạch toán cũng được kế toán tập hợp, phân bổ riêng cho từng loại hoạt động. Chi phí của kỳ nào thì phân bổ hết cho số hàng bán ra của kỳ đó không để lại đến kỳ sau.

    CPBH và CPQL DN phát sinh trong tháng phân bổ hết cho hàng xuất bán tháng đó, theo phương pháp.

    Tổng doanh thu – giá vốn hàng bán = lãi gộp

    Vì các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý gần như cố định doanh nghiệp thường phân bổ theo định mức sau:

    Lợi nhuận ròng = 1% x lãi gộp

    CPBH = 36% x (lãi gộp – lợi nhuận ròng))

    CPQL DN = 52% (lãi gộp – lợi nhuận ròng)

    CPHĐKD = 12% x (lãi gộp – lợi nhuận ròng)

    Theo như số liệu các phần trên ta có :

    Lãi gộp = 567.922.500 – 272.872.500 = 295.050.000 (đồng)

    LN ròng = 1% x 295.050.000 = 2.950.500 (đồng)

    CPBH = 36% x 292.099.500 = 105.155.820 (đồng)

    CPQLDN = 52% x 292.099.500 = 151.891.740 (đồng)

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 51

    Báo cáo tốt nghiệp

    CPHĐTC = 12% x 292.099.500 = 35.051.940 (đồng)

    2.2.4.1. Kế toán CPBH.

    • Nội dung: CPBH của công ty VT & TBTB bao gồm các khoản chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá. CPBH phân bổ cho toàn bộ hàng tiêu thụ trong kỳ phục vụ cho việc xác định kết quả bán hàng.

    Bao gồm: + Chi phí nhân viên bán hàng: lương, BHXH, BHYT, KPCĐ

    • Chi phí vận chuyển, bốc vác, lưu kho, giao nhận
    • Phí ngân hàng, phí mở L/C
    • Điện nước, điện thoại
    • Hải quan, giám định, bảo hiểm
    • Chi phí bằng tiền khác

    Công ty kinh doanh đảm bảo có lãi, bù đắp chi phí chi ra khi thực hiện kinh doanh: mua văn phòng phẩm, tiếp khách, xăng dầu, công tác phí, điện thoại…đồng thời phòng kinh doanh tập hợp chứng từ chứng từ chứng minh khoản chi đó là có thực, hợp lý để kế toán căn cứ tập hợp chi phí bán hàng.

    -Chứng từ ban đầu: Phiếu chi tiền mặt, giấy báo nợ của ngân hàng, bảng kê chi, chứng từ vận chuyển, hoá đơn thanh toán các dịch vụ mua ngoài…

    • Tài khoản sử dụng: Kế toán sử dụng TK641 – Chi phí bán hàng và các TK liên quan khác
    • Phương pháp ghi sổ:

    Căn cứ vào chứng từ gốc phản ánh các chi phí bán hàng, phiếu chi, giấy báo nợ của ngân hàng, bảng chi lương và các khoản trích theo lương : Kế toán ghi vào sổ chi tiết theo dõi TK641 để theo dõi từng nghiệp vụ phát sinh, đồng thời căn cừ vào chứng từ gốc đó kế toán ghi bảng kê chi tiền mặt, TGNH do phòng kinh doanh chuyển sang, sau đó ghi váo phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc, cuối kỳ ghi vào sổ cái TK641.

    Trích báo cáo lỗ, lãi tháng 01/2002

    Đơn vị: Đồng

    Chỉ tiêu Số tiền
    – Doanh thu thực tế 26.054.540.084

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 52

    Báo cáo tốt nghiệp
    – Giá vốn 24.649.474.838
    – Lợi nhuận gộp 1.405.065.246
    – CPBH 664.633.988
    – CPQLDN 715.477.385
    – Chi phí hoạt động kinh doanh 24.953.873
    – Tổng lợi nhuận 130.677.079

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 53

    Báo cáo tốt nghiệp

    Bảng 12:

    Phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc TK 641 – Chi phí bán hàng Ngày 31/01/2002

    Đơn vị: Đồng
    ST Diễn giải TK đối ứng Số tiền Ghi chú
    T
    Nợ Nợ
    1 Chi phí bằng tiền 641 1111 201.042.65
    chi ra trong tháng 0
    2 Chi phí bằng tiền 641 1121 3.707.350
    phát sinh
    Cộng 664.633.98
    8
    Người ghi Kế toán trưởng
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Căn cứ vào phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc kế toán ghi vào sổ cái TK 641

    Bảng 13:

    sổ cái

    Tài khoản 641

    Tháng 01/2002

    Ngày Chứng từ Diễn giải TK Số tiền Ghi
    ghi sổ Số Ngày ĐU Nợ chú
    31/01 01 CPBH  bằng  tiền
    phát sinh 1111 201.042.65
    31/01 01 Chi phí bằng tiền 0
    phát sinh 112
    31/01 Kết chuyển CPBH 911 3.707.350 664.633.98
    8
    Cộng số phát sinh 664.633.98 664.633.98
    8 8
    Người lập sổ Kế toán trưởng

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 54

    Báo cáo tốt nghiệp

    (ký, họ tên)                                                                                                       (ký, họ tên)

    Sau đó kết chuyển CPBH sang TK911 để xác định kết quả kinh doanh theo bút toán :

    Nợ TK911                                                      664.633.988

    Có TK641                                               664.633.988

    2.2.4.2. Chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí gián tiếp chỉ phục vụ cho quá trình quản lý liên quan đến toán bộ hoạt động của doanh nghiệp. Cũng giống CPBH, CPQLDN tập hợp cho từng hoạt động kinh doanh.

    CPQLDN bao gồm :

    • Chi phí nhân viên quản lý: lương, BHXH, BHYT, KPCĐ
    • Chi phí công cụ, văn phòng phẩm, hành chính
    • Khấu hoa TSCĐ
    • Fax, điện thoại, vệ sinh, tiếp khách, công tác phí, xăng,

    dầu, cầu, phà…

    • Sửa chữa thường xuyên
    • Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
    • Chi phí bằng tiền khác
    • Chứng từ sử dụng:

    Phiếu chi, giấy báo nợ của ngân hàng, bảng phân bổ lương, bảng phân bổ khẩu hao TSCĐ, các chứng từ liên quan…

    – Tài sản sử dụng:

    Kế toán sử dụng TK642 để phản ánh các khoản CPQLDN của cả doanh nghiệp Kế toán CPQLDN không sử dụng tài khoản cấp 2 – Phương pháp hạch toán:

    Giống như CPBH kế toán căn cứ vào chứng từ gốc ghi vào sổ chi tiết theo dõi TK642 (bảng 13). Đồng thời kế toán lập bảng kê chi tiền mặt, TGNH, bảng kê lương, bảng tính khấu hao… để cuối kỳ ghi vào “phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc” làm căn cứ ghi vào sổ cái TK642.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 55

    Báo cáo tốt nghiệp

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 56

    Báo cáo tốt nghiệp

    Bảng 15:

    Phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp Ngày 31/01/2002

    Đơn vị: Đồng
    ST Diễn giải TK đối ứng Số tiền Ghi chú
    T
    Nợ Nợ
    1 Chi phí bằng tiền 642 1111 715.477.38
    chi ra trong tháng 5
    Cộng 715.477.38
    5
    Người ghi Kế toán trưởng
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Căn cứ vào phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc kế toán ghi vào sổ cái TK 642.

    Bảng 16:

    sổ cái

    Số hiệu TK : 642- CPQLDN

    Tháng 01/2002

    Ngày Chứng Diễn giải TK Số tiền Ghi
    tháng từ ĐƯ chú
    S N Nợ
    31/01 01 CPQLDN  bằng  tiền 1111 715.477.38
    phát sinh
    ……. 5
    Kết   chuyển   sang 911 715.477.385
    TK911 để xác định kết
    quả
    Cộng số phát sinh 715.477.38 715.477.385
    5
    Người lập Kế toán trưởng
    (ký, họ tên) ( ký, họ tên)

    Cuối kỳ kết chuyển CPQLDN sang TK911 để xác định kết quả kế toán

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 57

    Báo cáo tốt nghiệp

    lập “phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc” theo bút toán:

    Nợ TK 911                                          715.477.385

    Có TK 642                                  715.477.385

    2.2.5. Kế toán xác định kết quả bán hàng.

    Kế toán sử dụng TK : TK911- Xác định kết quả kinh doanh TK421 – Lợi nhuận chưa phân phối

    Cuối kỳ căn cứ vào số liệu của kế toán bán hàng và kế toán tập hợp chi phí chuyển sang, kế toán tổng hợp thực hiện kết chuyển doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, CPBH, CPQLDN vào TK 911 – xác định kết quả kinh doanh (thực hiện các bút toán trên sổ cái).

    Cuối kỳ kế toán thực hiện các bút toán sau để xác định kết quả:

    – Kết chuyển doanh thu thuần:

    Nợ TK 511 567.922.500
    Có TK 911 567.922.500
    – Kết chuyển giá vốn hàng bán:
    Nợ TK 911 272.872.500
    Có TK 632 272.872.500
    – Kết chuyển chi phí bán hàng:
    Nợ TK 911 105.155.820
    Có TK 641 105.155.820
    – Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp:
    Nợ TK 911 151.891.704
    Có TK 642 151.891.704

    Kết quả = DTT – giá vốn – CPBH – CPQLDN

    • 922.500 – 272.872.500 – 105.155.820 – 151.891.704
    • 074.476 (đồng)

    Sau đó ghi sổ cái TK 911: Theo số liệu tính toán ở phần 2.2.4.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 58

    Sổ cái Báo cáo tốt nghiệp
    TK 911 – xác định kết quả
    Tháng 1/2002
    Đơn vị: đồng
    Chứng Số tiền Gh
    Ngày từ Diễn giải TKĐƯ i
    ch
    S N Nợ
    ú
    31/1 31/1 Kết chuyển DTT 511 567.922.500
    31/1 Kết chuyển
    632 272.872.500
    GVHB
    31/1 Kết chuyển CPBH 641 105.155.820
    31/1 Kết chuyển 642 151.819.704
    CPQLDN
    Lợi  nhuận  chưa 4211 38.074.476
    phân phối
    Cộng số phát sinh 567.922.500 567.922.500
    Dư cuối kỳ
    Người lập Kế toán trưởng
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 59

    Báo cáo tốt nghiệp

    chương 3

    một số đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức công tác

    bán hàng và XĐKQ ở công ty VT & TBTB

    3.1. Những nhận xét và đánh giá chung về công tác kế toán bán hàng và XĐKQ ở công ty VT & TBTB.

    Sau thời gian thực tập tại phòng kế toán của công ty VT & TBTB, được tìm hiểu, tiếp xúc với thực tế công tác quản lý nói chung và công tác kế toán bán hàng và XĐKQ ở công ty, em nhận thấy công tác quản lý cũng như công tác kế toán đã tương đối hợp lý song bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề chưa được phù hợp. Với mong muốn hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán ở công ty, em mạnh dạn nêu ra một số nhận xét của bản thân về tổ chức công tác kế toán bán hàng và XĐKQ như sau:

    3.1.1 Những ưu điểm.

    Thứ nhất: Hình thức tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán của công ty nhìn chung là phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh ở công ty. Công ty VT & TBTB là một công ty thương mại có quy mô lớn với mạng lưới chi nhánh, xí nghiệp trực thuộc trải dài từ Bắc vào Nam. Vì vậy việc áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung – phân tán là hợp lý, đảm bảo được hiệu quả hoạt động của phòng kế toán. Các nhân viên kế toán được phân công công việc khá khoa học, luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ đơn giản dễ ghi chép, thuận tiện cho việc phân công lao động kế toán. Công ty hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên là phù hợp với tình hình nhập – xuất hàng hoá diễn ra thường xuyên, liên tục ơ công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán bán hàng. Hệ thống tài khoản thống nhất giúp kế toán ghi chép, phản ánh chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

    Thứ hai: Hệ thống chứng từ kế toán dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến bán hàng được sử dụng đầy đủ đúng chế độ chứng từ kế toán nhà nước. Trình tự luân chuyển chứng từ hợp lý tạo điều kiện hạch toán đúng, đủ, kịp thời quá trình bán hàng.

    Thứ ba: Công ty chủ yếu dùng vốn vay ngắn hạn của ngân hàng để mua hàng hoá. Sở dĩ như vậy, công ty có thể vay ngân hàng với khối lượng lớn là do

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 60

    Báo cáo tốt nghiệp

    công ty làm ăn có hiệu quả tạo được uy tín với ngân hàng.

    Thứ tư: Các chứng từ kế toán liên quan đến hàng xuất khẩu uỷ thác theo đúng chế độ kế toán, số ngày chứng từ, các bên tham gia mua bán, số lượng, phẩm chất hàng xuất khẩu đúng giá…

    Thứ năm: Công tác kế toán xác định kết quả bán hàng ở công ty dễ thực thi, cách tính đơn giản và tổng kết tính toán một cách chính xác, giúp cho ban lãnh đạo công ty thấy được xu hướng kinh dơnh trong thời gian tới, để đầu tư vào thị trường nào, mặt hàng nào, có cần thay đổi phương thức bán hàng không.

    Bên cạnh những ưu điểm công ty còn một số tồn tại cần khắc phục.

    3.1.2. Những điểm cần hoàn thiện.

    Thứ nhất: Hệ thống danh điểm hàng tồn kho:

    Tuy thủ kho sử dụng thẻ kho để theo dõi hàng ngày tình hình nhập xuất tồn kho hàng hoá nhưng công ty vẫn chưa xây dựng được hệ thống danh điểm hàng tồn kho thống nhất toàn công ty. Hàng hoá của công ty đa dạng, phong phú về chủng loại, quy cách nguồn gốc… mà thủ kho mới chỉ phân chia được các loại hàng hoá thành từng nhóm ( VD như nhóm hàng kim khí, nhóm thiết bị lẻ, hàng điện…)

    Khi đối chiếu từng loại hàng trong một nhóm, thủ kho và kế toán phải đối chiếu từng tên hàng, chủng loại quy cách, nguồn gốc, rất mất thời gian và công sức. Vậy, nếu xấy dựng được hệ thống danh điểm hàng tồn kho thống nhất toàn công ty sẽ giảm được khối lượng công việc cho thủ kho, kế toán, công việc quản lý hàng tồn kho sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

    Thứ hai: Lập sổ đăng ký chứng từ ghi sổ:

    Trong trình tự ghi sổ theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ, công ty không sử dụng sổ đăng ký chứng từ ghi sổ. Từ những chứng từ gốc, sổ chi tiết, báo cáo chi tiết, cuối tháng kế toán lập phiều ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc, rồi chuyển cho kế toán tổng hợp ghi sổ cái tài khoản. Mặc dù công ty không xảy ra hiện tượng bỏ sót hay thất lạc chứng từ ghi sổ thì không sử dụng sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, Nhưng theo em nên lập sổ đăng ký chứng từ ghi sổ để có thể quản lý chặt chẽ hơn các phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc, làm cơ sơ

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 61

    Báo cáo tốt nghiệp

    đối chiếu, kiểm tra số liệu với bảng cân đối số phát sinh.

    Thứ ba: Ghi sổ kế toán chưa cụ thể:

    Sổ chi tiết TK511 – Doanh thu bán hàng còn đơn giản chỉ thể hiện ở mặt tổng số của từng lần tiêu thụ mà không thể hiện được đơn giá, số lượng của từng lần tiêu thụ.

    Công ty hiện nay vẫn thực hiện kế toán thủ công chưa áp dụng kế toán máy mà chỉ có chương trình kiểm kê hàng hoá được đưa vào máy nối mạng để cơ quan cấp trên kiểm tra tình hình nhập – xuất – tồn hàng hoá ở công ty.

    Thứ tư: Công ty VT&TBTB là công ty lớn có số lượng xuất nhập hàng hoá trong kỳ nhiều. Mà việc phân bổ chi phí BH và CPQLDN lại định theo tỷ lệ từ đầu kỳ việc này không hợp lý lắm vì số lượng hàng nhập xuất trong kỳ không đều nhau và đơn vị có thể không nhất nhất.

    3.2. Một số ý kiến cần hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng của công ty VT & TBTB.

    Công tác kế toán bán hàng và XĐKQ bán hàng của công ty đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến, đổi mới nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại ở một số khâu cần sửa đổi hoàn thiện hơn. Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác kế toán

    • công ty, em xin mạnh dạn đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng để công ty xem xét.

    3.2.1. Công ty cần xây dựng hệ thống danh điểm hàng hoá thống nhất toàn công ty.

    Để đảm bảo quản lý hàng hoá được chặt chẽ, thống nhất phục vụ cho việc kiểm tra, đối chiếu được dễ dàng và dễ phát hiện khi có sai sót giữa kho và phòng kế toán, tạo điều kiện cho việc áp dụng tin học vào công tác kế toán. Công ty cần phải sử dụng một mẫu danh điểm hàng hoá gắn liền với chủng loại, quy cách, kích cỡ của hàng hoá. Khi nhìn vào danh điểm của một loại hàng hoá naò đó có thể nêu được tên cũng như đặc điểm của loại hàng hoá đó.

    Việc lập danh điểm như sau:

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 62

    Báo cáo tốt nghiệp

    Hệ thống danh điểm này được sử dụng thống nhất trong toàn công ty. Tuy thời gian đầu sử dụng các thông số kỹ thuật nhiều, sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng sẽ dần phát huy khả năng phù hợp với sử dụng kỹ thuật máy làm cho việc quản lý thuận tiện, hợp lý không mất thời gian.

    3.2.2 Công ty nên xem xét mở thêm sổ kế toán để hoàn thiện hệ thống sổ kế toán.

    Công ty áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ. Đặc điểm cơ bản của hình thức kế toán này là tách rời việc ghi sổ theo thời gian với việc ghi sổ theo hệ thống trên hai sổ kế toán tổng hợp riêng rẽ là: “sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và sổ cái tài khoản”.Tuy nhiên công ty lập phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc vào cuối tháng, theo từng tài khoản, từ đó ghi vào sổ cái mà không lập sổ đăng ký chứng từ ghi sổ. Căn cứ để ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc là các báo cáo chi tiết, các sổ chi tiết chứ không phải là chứng từ gốc. Phiếu này được lập vào cuối tháng nên đôi khi có tình trạng dồn công việc sẽ nhiều vào cuối tháng. Công ty nên lập phiếu ghi sổ kiêm luân chuyển chứng từ gốc với định kỳ ngắn hơn, lập chứng từ ghi sổ loại sổ tổng hợp theo thời gian để quản lý chặt chẽ các phiếu ghi sổ, tránh thất lạc, bỏ sót không ghi sổ, đồng thời sử dụng số liệu của sổ để đối chiếu với số liệu của bảng cân đối số phát sinh và làm hoàn thiện hệ thống sổ kế toán.

    Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ có mẫu sau:

    Bảng C:

    sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    Năm…

    Chứng từ ghi Chứng từ ghi sổ
    sổ Số tiền Số tiền
    S N S N
    01 31/01 272.872.50
    0
    Cộng 272.872.50 Cộng tháng
    0 Luỹ  kế  từ đầu
    tháng
    Người ghi sổ Kế toán trưởng Giám đốc

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 63

    Báo cáo tốt nghiệp

    (ký, họ tên)                                 (ký, họ tên)                                     (ký, họ tên)

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 64

    Báo cáo tốt nghiệp

    3.2.3. Công ty nên xem xét lại sổ chi tiết TK511 – Doanh thu bán hàng.

    Do đặc điểm các mặt hàng kinh doanh của công ty rất phức tạp và đa dạng, nên kế toán chi tiết tiêu thụ hàng hoá cần có hệ thống sổ chi tiết theo dõi tình hình doanh thu theo từng lô hàng.

    Sổ chi tiết bán hàng có mẫu như sau:

    sổ chi tiết bán hàng

    Lô hàng

    Đơn vị: Đồng

    Chứng Ngày Số Ngày Ghi
    từ Diễn giải xuất Đơn giá Thành tiền thanh
    lượng chú
    S N hàng toán
    Xuất kho 16.788.68 117.540.0
    16 20/1 thép hợp 20/01 6,999 20/01
    kim G12 4 00
    M0V
    Cộng

    Cơ sở ghi vào sổ chi tiết bán hàng là các hoá đơn kiêm phiếu xuất kho và các hoá đơn thanh toán.

    Ngoài ra sổ chi tiết doanh thu bán hàng cần mở theo mẫu sau:

    sổ chi tiết doanh thu bán hàng
    Tháng … Mặt hàng…
    Ngày ghi Chứng từ Diễn giải Số Đơn giá Thành tiền
    sổ lượng
    S N
    20/01 01221 20/1 Doanh thu bán 6,999 17.690.4 123.815.1
    6 thep 00 10
    Người ghi sổ Kế toán trưởng
    (ký, họ tên) (ký, họ tên)

    3.2.4. Việc áp dụng tin học vào công tác kế toán.

    Hiện nay, công ty mới chỉ sử dụng phần kiểm kê hàng hoá đưa lên mạng nối với bộ và các ban lãnh đạo, để trực tiếp kiểm tra việc hạch toán, cũng như

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 65

    Báo cáo tốt nghiệp

    tình trạng nhập – xuất – tồn của hàng hoá. Đây cũng là một bước tiến của công ty, song để thuận lợi cho công tác kế toán, em nghĩ công ty nên nhanh chóng áp dụng kế toán trên máy vi tính. Việc sử dụng kế toán trên máy tạo điều kiện làm việc của nhân viên kế toán được tốt hơn, công việc sẽ không dồn nhiều vào cuối tháng, đồng thời chất lượng quản lý và cung cấp thông tin kế toán cho công tác quản lý sẽ tăng nhiều hơn. Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ này thì công ty nên bồi dưỡng thêm trình độ kỹ thuật máy cho đội ngũ kế toán, nhằm thích ứng kịp thời, không dời rạc.

    3.2.5. Công ty nên áp dụng phương pháp phân bổ CPBH và CPQLDN hợp lý hơn:

    Theo em cũng là hình thức phân bổ theo việc định tỷ lệ cho hàng bán ra trong kỳ nhưng ở đây nên định vào cuối kỳ thì hợp lý hơn, lúc này hàng nào trong tháng bán ra với số lượng nhiều thì sẽ có tỷ lệ phân bổ chi phí nhiều.

    Ví dụ: Ba mặt hàng đã bán trong tháng là.

    Tôn Silốc với khối lượng : 11,575 (tấn)
    Thép hợp kim G12 M0V : 6,999 (tấn)
    Thép dẹt S45C : 15 (tấn)
    • Số lượng thép dẹt gấp đôi thép hợp kim, nếu phân bổ chi phí bán thép dẹt là 10% thì thép hợp kim sẽ là 5% (trường hợp này cùng đơn vị tính).
    • Ngoài ra trong còn có nhiều mặt hàng khác, đơn vị đo lường khác nhau (tấm, tấn, Conterner) thì cũng có tỷ lệ phân bổ khác nhau.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 66

    Báo cáo tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển các doanh nghiệp nhà nước phải nỗ lực hơn nữa bằng chính năng lực của mình. Muốn đạt được điều này thì công tác kế toán nói chung và công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nói riêng càng phải được củng cố và hoàn thiện hơn nữa để công tác này thưc sự trở thành công cụ quản lý tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp.

    Nhận thức được điều đó công ty VT & TBTB đã rất chủ động, quan tâm tới khâu quản lý kinh doanh và XĐKQ bán hàng, trong đó phòng kế toán đã góp phần không nhỏ vào thành công chung của công ty. Trong thời gian tới, với quy mô kinh doanh càng mở rộng, em hy vọng rằng công tác tổ chức kế toán của công ty sẽ hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao của nền kinh tế thị trường.

    Cuối cùng, em muốn bày tỏ sự biết ơn chân thành tới thầy giáo Thạc sỹ: Trần Văn Hợi đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành luận văn này, và em cũng muốn cám ơn các bác, các cô, các chú phòng TC – KT của công ty VT

    • TBTB, đặc biệt là bác Vũ Thị Khánh đã rất nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thu thập tài liệu.

    Do kiến thức có hạn, chưa có kinh nghiệm thực tế, thời gian đi thực tập lại không nhiều, nên bản luận văn tốt nghiệp này của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu xót nhất định. Em rất mong được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, để luận văn của em được hoàn thiện hơn.

    Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2002

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Luyên

     

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 67

    Báo cáo tốt nghiệp

    Tài liệu tham khảo

    1. Giáo trình Kế toán tài chính – Trường Đại học Tài chính – Kế toán HN 1999.
    1. Giáo trình Kế toán Quản trị – Trường Đại học Tài chính – Kế toán HN 1999.
    1. Hệ thống chuẩn mực Kế toán ban hành 31/12/2001.
    1. Hệ thống Kế toán doanh nghiệp – Hướng dẫn về chứng từ Kế toán và sổ kế toán năm 1995.
    2. Hướng dẫn thực hành chế độ kế toán mới – NXB thống kê 2000.
    1. Tài liệu đặc điểm và sự hình thành phát triển của công ty VT & TBTB.
    1. Thuế và Kế toán (8/1998) TS. Vũ Công Ty

    PGS.TS. Ngô Thế Chi

    1. Kế toán Thương mại – Trường ĐH Thương mại Hà Nội.
    1. Phân tích Kế toán kiểm toán.

    Kế toán bán hàng và xác định kết quả                 68

  • Kỹ năng bán hàng: Nghệ thuật bán hàng trong kinh doanh

    Kỹ năng bán hàng: Nghệ thuật bán hàng trong kinh doanh

    Kỹ năng bán hàng: Nghệ thuật bán hàng trong kinh doanh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giáo trình Kỹ năng bán hàng cơ bản


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng bán hàng: Nghệ thuật bán hàng trong kinh doanh

    KỸ NĂNG BÁN HÀNG (Thạc sỹ Vũ Anh Trọng)

    Nghệ thuật bán hàng trong kinh doanh

                                    I. BÁN HÀNG VÀ NHÂN VIÊN BÁN HÀNG

    1. Thuận lợi và bất lợi.

    a.      Thuận lợi:

    –                      Được gặp gỡ và và giao tiếp với các đối tượng khách hàng khác nhau.

    –                      Có được thu nhập hứa hẹn: Lương cố định + % doanh số.

    –                      Tạo ra sự linh hoạt trong công việc .

    –                      Có điều kiện học việc từ cơ bản.

    –                      Có cơ hội thăng tiến rất cao.

    –                      Tạo ra rất nhiều thách thức và tính trách nhiệm của từng thành viên.

    b.      Bất lợi:

    –                      Về thời gian không bao giờ có thời gian chính xác => ít được giám sát.

    –                      Xung đột tiềm ẩn giữa công ty và khách hàng mà bạn là người bạn đại diện.

    – Gây ra sự thất vọng khi hoạt động kinh doanh.

    –                      Có những định kiến tiêu cực.

    –                      Hay gặp phải sự bực tức trong công việc.

    – Ngại yêu cầu khách hàng mua sản phẩm.

                Phẩm chất của nhân viên bán hàng.

    • Phải luôn biết tự động viên chính mình.
    • Phải biết sử dụng thời gian một cách hiệu quả.
    • Có thể tin và đáng tin.
    • Phải luôn có động lực học hỏi để phát triển.
    • Phải có đạo đức và giỏi kiến thức về sản phẩm.
    • Có khả năng giao tiếp và xử lý tốt các tình huống.
    • Có được sự nhạy cảm.

    2.         Khái quát hoạt động bán hàng.

    • Bán hàng là công đoạn cuối cùng để hoàn vốn.
    • Bán hàng là hoạt động thể hiện phong cách đồng thời thể hiện sự vận dụng sáng tạo.
    • Bán hàng là hoạt động trao đổi và nhận tiền.
    • Bán hàng là hoạt động kinh doanh giữa con người và con người nhằm khám phá, thoả mãn và có lợi cho cả hai bên.
    • Bán hàng là sự khởi nguồn của tất cả các hoạt động.

     

    3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng.

    1. Do sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu.

    + Thời kỳ thiếu thốn qua đi, mọi thứ sản xuất ra đều bán được.

    + Thời kỳ vật chất tạm ổn định, khách hàng quan tâm đến chất lượng vật lý.

    + Khách hàng bắt đầu quan tâm đến chất lượng tâm lý (nhu cầu thiết thực được giải quyết).

    + Nền kinh tế càng phát triển thì kéo theo nhu cầu cùng phát triển theo.

    1. Do tâm lý và sự hiểu biết của khách hàng.

    + Do khách hàng chưa biết tới sản phẩm dịch vụ.

    + Do khách hàng chưa nghe và sử dụng sản phẩm đó bao giờ.

    + Do khách hàng thiếu thông tin cần thiết về sản phẩm và dịch vụ.

    + Do khách hàng luôn mong chờ những sản phẩm và dịch vụ mới tốt hơn.

    + Do khách hàng chưa thật sự tin tưởng vào sản phẩm và nhân viên của doanh nghiệp.

    1. Do sự chủ quan của doanh nghiệp

    + Lúc đầu coi trọng khách hàng, về sau chuyển sang coi trọng hoạt động bán hàng.

    + Tự cho mình thoả mãn thì khách hàng cũng thoả mãn.

    + Không quan tâm đến việc xây dựng cải tiến và hoàn thiện hoạt động bán hàng.

    + Không bao giờ lắng nghe những ý kiến phản hồi từ phía khách hàng.

    + Không chú ý đến chính sách và chiến lược của đối thủ cạnh tranh.

    1. Do đội ngũ bán hàng.

    + Do thiếu tính lịch sự trong giao tiếp.

    + Do thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

    + Do thái độ bán hàng không lịch sự và niềm nở.

    + Do dáng vẻ bề ngoài không gọn gàng sách sẽ.

    + Do tác phong làm việc không nhanh nhẹn, không có khả năng tạo thiện cảm.

    + Thiếu kỹ năng giới thiệu sản phẩm kém và tinh thần trách nhiệm không cao.

               

     

    So sánh hai phương pháp bán hàng:

    BÁN HÀNG KIỂU CŨ

    –                      Nhân viên bán hàng là người rất giỏi thủ đoạn, mánh khoé.

    –                      Nhân viên bán hàng phản bác được ý kiến của khách hàng.

    –                      Nhân viên bán hàng tìm mọi cách để chiến thắng khách hàng.

    –                      Hoạt động bán hàng thực sự là một cuộc đấu trí.

    –                      Coi khách hàng là đối thủ và phục vụ họ không cần phong cách.

    BÁN HÀNG KIẺU TƯ VẪN

    –                      Nhân viên bán hàng là người hiểu biết, quan tâm đến khách hàng.

    –                      Nhân viên biết tìm giải pháp phù hợp cho mọi tình huống.

    –                      Nhân viên bán hàng và khách hàng đều cùng có lợi.

    –                      Hoạt động bán hàng cung cấp và hỗ trợ những sản phẩm tốt nhất.

    –                      Coi khách hàng là đối tác quan trọng và thực hiện một cách chuyên nghiệp.

                Công cụ xác định nguyên nhân, gốc rễ gây ra thất bại trong bán hàng.

    • (55%) Do thiếu tính sáng tạo.
    • (39%) Không có kế hoạch và tổ chức tồi.
    • (37%) Thiếu sự hiểu biết về sản phẩm.
    • (31%) Thiếu sự nhiệt tình.
    • (31%) Thiếu quan tâm đến khách hàng.
    • (23%) Thiếu đào tạo bài bản.
    • (20%) Thiếu mục tiêu cá nhân rõ ràng.
    • (19%) Thiếu hiểu biết thị trường.
    • (16%) Thiếu kiến thức về công ty, doanh nghiệp mình.
    • (9%) Thiếu sự kiểm soát chặt chẽ.

                                    II. NGHIÊN CỨU TÂM LÝ KHÁCH HÀNG.

    1.              Tại sao phải nghiên cứu khách hàng.

    • Chỉ khi nắm rõ được tâm lý khách hàng thì mới bán được hàng.

    – Khi nghiên cứu giúp ta nắm rõ động cơ mua hàng của khách hàng.

    • Chỉ có thể cung cấp những giải pháp tốt nhất để chúng ta hiểu khách hàng => Thoả mãn khách hàng.
    • Đôi bên cùng đạt được mục tiêu.
    • Khi nắm được tâm lý khách hàng => sẽ có những giải pháp tốt hơn cho lần sau.
    • Tao ra sự thân thiện và thấu hiểu nhau hơn.

    2. Phân tích tâm lý một số đối tượng khách hàng

    1. Khách hàng là phụ nữ:
    • Hiểu biết về hàng hoá tốt hơn là nam giới trừ một số mặt hàng.
    • Họ rất thích thanh toán tiền và rất thành thạo.
    • Thường chú ý đến mẫu mã của các sản phẩm dịch vụ.
    • Rất thích mua hàng giảm giá.
    • Thời gian lựa chọn và ra quyết định mua lâu.
    • Rất hay lựa chọn và quyết định lâu.
    • Rất hay phàn nàn về những hàng hoá đã mua.

                * Khách hàng là nam giới:

    • Thích được nhân viên bán hàng tư vấn.
    • Thời gian lựa chọn và quyết định mua rất nhanh.
    • Không thích mua hàng giảm giá, hạ giá.
    • Thích thử thách nhân viên bán hàng.
    • Quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm.
    • Thích các vấn đề phải rõ ràng.
    • Họ thích mua hàng ở những cửa hàng có thương hiệu, có tiếng.

                * Khách hàng là người có kiến thức:

    • Họ đánh giá rất nhanh chóng về chất lượng, giá cả sản phẩm.
    • Họ thích nhân viên bán hàng trả lời thẳng thắn các vấn đề họ đặt ra.
    • Họ sử dụng rất nhanh chóng và chính xác các từ ngữ và thuật ngữ.
    • Đồng thời họ hiểu rất rõ quy trình và hướng dẫn.
    • Họ thích nhân viên bán hàng thể hiện tính chuyên nghiệp.
    • Họ tư duy các vấn đề hết sức nhanh chóng.
    • Họ quan tâm tới tất cả giá trị, chất lượng, hình thức.

                * Khách hàng là đối tượng khác:

    • Thường dựa vào kinh nghiệm đã có trong cuộc sống.
    • Họ thích các giá trị thực tế hơn vẻ bề ngoài.
    • Họ rất dễ tiếp thu những ý kiến của nhân viên bán hàng.
    • Họ thích được phục vụ nhanh chóng tận tình chu đáo.
    • Họ rất dễ hưng phấn nhưng cũng rất dễ bực bội và trút giận.
    • Họ luôn hy vọng được những hàng hóa tốt hơn rẻ hơn.
    • Họ luôn sọ bị thiệt thòi và chờ đợi cơ hội mới.
    • Họ luôn muốn được đối xử một cách bình đẳng.

                                    III. YÊU CẦU VÀ KỸ NĂNG BÁN HÀNG CƠ BẢN

                “Người bán hàng giỏi là người biết lắng nghe”

                “Nói là gieo và nghe là giặt”

    1.              Yêu cầu cơ bản đối với nhân viên bán hàng.

    • Nhân viên bán hàng phải có thái độ niềm nở và lịch thiệp.

    + Thể hiện ở sự yêu thích công việc.

    + Phải biết chế ngự tình cảm.

    + Biết phục vụ khách hàng một cách chu đáo, tận tình.

    + Sẵn sàng tiếp thu những yêu cầu của khách hàng.

    • Nhân viên bán hàng phải có tính kiên trì.

    + Thể hiện tính sáng tạo.

    + Phải biết chia sẻ lời khuyên: chỉ hướng dẫn, không chỉ đạo, dạy họ.

    + Thể hiện sự năng động linh hoạt trong công việc giao tiếp.

    + Thể hiện qua lời nói và cách ứng xử.

    + Thể hiện qua thái độ và cử chỉ.

    • Nhân viên bán hàng phải trung thực, có đầu ó thẩm mĩ và kiến thức chuyên môn.

    + Phải thẳng thắn trung thực với khách hàng trong mọi trường hợp

    + Không được lợi dụng khách hàng.

    + Biết trả lời chính xác, đầy đủ mọi câu hỏi của khách hàng trong mọi trường hợp.

    + Phải có mục đích rõ ràng và phấn đấu để đạt được.

    + Có khả năng am hiểu về sản phẩm dịch vụ của công ty.

    + Phải khả năng can thiệp tới sản phẩm dịch vụ.

    + Phải biết xác định công việc và cải tiến đồng thời phải biết lập danh sách ưu tiên công việc mỗi ngày.

                Những điều nên tránh nói với khách hàng:

    • Tôi ngạc nhiên vì ông (bà) chưa biết đến sản phẩm và dịch vụ của chúng tôi.
    • Đó không phải là công việc của tôi.
    • Xin lỗi đã hết giờ, tôi không thể phục vụ được.
    • Ông (bà) là người đầu tiên than phiền về sản phẩm và dịch vụ của chúng tôi.
    • Xin nhắc lại tên ông (bà) và cho biết yêu cầu của ông (bà).
    • Vấn đề mà ông bà đưa ra đi ngược chính sách của chúng tôi.
    • Than phiền với khách hàng về vấn đề mà mình gặp phải.

    2.              Dụng cụ

    • Catalogue có gắn danh thiếp của bạn.
    • Các bảng so sánh có gắn các chỉ tiêu.
    • Thẻ quầy và biểu mẫu bán hàng.
    • Bảng giá, bút và sổ ghi chép.
    • Tài liệu, dụng cụ chào hàng, trưng bày.
    • Báo cáo bán hàng hàng ngày, hợp đồng mẫu, máy tính cá nhân.
    • Cặp đựng tài liệu và hồ sơ

    3.              Tính chuyên nghiệp

    1. Chuyên nghiệp trong dáng vẻ:
    • Tươi tỉnh, gọn gàng sạch sẽ.
    • Trang phục phù hợp toát lên vẻ tự tin và tin cậy.
    • Tác phong di chuyển phải nhanh nhẹn hoạt bát, phải lịch sự và chững chạc.
    • Luôn mang theo sổ tay, bút và sẵn sàng ghi chép.

                Ghi nhớ:

    – Gây ấn tượng tốt từ đầu là rất quan trọng.

    –           Dáng vẻ chuyên nghiệp chứng tỏ bạn là người có năng lực.

    1. Chuyên nghiệp trong thái độ phục vụ:
    • Suy xét theo quan điểm khách hàng:

    +          Bán hàng không phải là sự chiến thắng trong một cuộc đấu trí.

    +          Bán hàng là giúp khách hàng thoả mãn nhu cầu của họ.

    +          Bán hàng giúp hai bên đều đạt được lợi ích.

    +          Bán hàng là bán giải pháp tốt với chi phí phù hợp.

    +          Bán hàng là bán sự nhanh chóng, nhiệt tình để đem lại lòng tin và sự thoả mãn của khách hàng.

    • Điều chỉnh cung cách cho phù hợp:
    Khách hàng

    * Là người lịch sự và chuyên nghiệp (ăn mặc, dáng vẻ)

    * Khách hàng là người bình thường giản dị

    * Khách hàng là người lớn tuổi, trông có vẻ hơi lo lắng phân vân

    Phong cách nói chuyện

    * Trang trọng và chuyên nghiệp.

    * Thoải mái thân thiện

    * Thật nhẹ nhàng và kiên nhẫn.

    – Thể hiện thái độ chuyên nghiệp:

    +          Luôn biết làm hài lòng khách hàng.

    +          Mình chỉ hài lòng khi khách hàng hài lòng.

    +          Luôn thể hiện thái độ tôn trọng khách hàng.

             Ghi nhớ:

             – Bán hàng là phần thưởng giúp khách hàng thoả mãn nhu cầu.

             – Lấy lại lòng tin khó hơn rất nhiều so với xây dựng lòng tin khách hàng.

    1. Chuyên nghiệp trong kiến thức về sản phẩm:

    – Hiểu về sản phẩm và dịch vu:

    + Nắm rõ sự ra đời sản phẩm và dịch vụ

    + Nắm được vị trí sản phẩm và dịch vụ đó trong hệ thống sản phẩm, dịch vụ nói chung.

    + Nắm được một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, chỉ tiêu về an toàn.

    + Nắm được thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.

    – Cần có kiến thức về sản phẩm:

    + Biết giải thích 4 điểm trên về sản phẩm và dịch vụ trên bằng ngôn ngữ dễ hiểu.

    + Phải cho khách hàng biết được lợi ích khi làm chủ sản phẩm dịch vụ.

    + Giải thích tại sao sản phẩm và dịch vụ chúng ta vượt trội so với đối thủ cạnh tranh.

    1. Chuyên nghiệp trong quan điểm bán hàng:

    – Quan điểm đối với khách hàng:

    + Trung thực, thẳng thắn và rõ ràng.

    + Đáp ứng các yêu cầu khách hàng một cách chuyên nghiệp.

    –           Quan điểm đối với công ty và đồng nghiệp:

    + Công ty là nơi tạo ra thu nhập để nuôi sống ta và gia đình.

    + Gắn bó tâm huyết với công ty.

    + Lấy sự phát triển của công ty làm cơ hội phát triển của mình.

    + Hỗ trợ và giúp đỡ đồng nghiệp cùng phát triển.

    + Trao đổi kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau.

    – Quan điểm đối với đối thủ cạnh tranh:

    + Tìm điểm mạnh để học hỏi và hoàn thiện.

    + Thực hiện các công việc hoàn hảo hơn để chiến thắng.

    1. Chuyên nghiệp trong kỹ năng bán hàng:
    • Xem lại kế hoạch.
    • Mở đầu cuộc bán hàng.
    • Xem xét lại cửa hàng.
    • Chào hàng.
    • Kết thúc chào hàng.
    • Ghi chép số liệu
    • Thu tiền.
    • Trưng bày hàng hoá.
    • Kết thúc và đánh giá.
    1. Thực hiện kỹ năng bán hàng.

    1) Xem xét lại các kế hoạch cho cửa hàng:

    –           Xem lại mục tiêu phải đạt được:

    +          Xem lại doanh thu và mục tiêu phân phôi.

    +          Xem lại các chỉ tiêu trưng bày theo quy định

    +          Xem xét các chương trình khuyến mãi và dịch vụ hỗ trợ khách hàng.

    – Xem lại các điều kiện về thẻ quầy:

    +          Xem xét các cơ hội và khó khăn còn tồn tại.

    +          Xem xét các vấn đề còn vướng mắc và các giải pháp.

    2) Tiếp cận khách hàng:

    –           Lựa chọn thời điểm tiếp cận cho phù hợp.

    –           Điều chỉnh cung cách nói chuyện cho phù hợp:

    Khách hàng

    * Là người đòi hỏi nhiều vấn đề

    * Là người hoà nhã và dễ mến

     

    * Là người tháo vát và thực tế.

    Cung cách nói chuyện

    * NVBH phải đối đáp một cách tự tin và lịch sự.

    * NVBH phải biét kéo dài câu chuyện và hỏi thăm thêm và xây dựng mối quan hệ.

    * NVBH phải nhanh chóng hướng sự chú ý của họ vào sản phẩm và dịch vụ.

    3) Mở đầu cuộc bán hàng.

    – Quan sát bộ mặt tổng quát của cửa hàng.

    – Chào hỏi chủ cửa hàng và nhân viên cửa hàng: thân thiện nồng nhiệt và cởi mở.

    – Kiểm tra các Poster của mình và đối thủ cạnh tranh.

    – Thể hiện phong cách chuyên nghiệp.

    – Xin phép được xem xét cửa hàng cũng như hàng hoá.

    Ghi nhớ

    – Ấn tượng ban đầu là khắc sâu hơn hết và mỗi khách hàng có cá tính riêng.

    – Chào lịch sự nhưng không qua vồn vã và gây áp lực với khách hàng.

    – Hãy gọi tên khách hàng khi nói chuyên.

    4) Xem xét cửa hàng và đánh giá khách hàng:

    – Xem xét cửa hàng nhằm mục đích:

    + Kiểm tra hàng tồn và nơi trữ hàng.

    +          Kiểm tra giá cả, phải kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá..

    + Kiểm tra hoạt động trưng bày và các chương trình khuyến mãi.

    + Kiểm tra hoạt động của đối thủ cạnh tranh.

    + Kiểm tra các poster của mình và đối thủ.

    + Kiểm tra không gian và kệ trưng bày, kiểm tra sự có mặt các nhãn hàng.

    + Kiểm tra kho hàng để ghi nhận mức hàng tồn kho của tất cả các chủng loại sản phẩm.

    + Kiểm tra chất lượng hàng tồn kho của đối thủ cạnh tranh.

    – Đánh giá khách hàng:

    + Tại sao phải đánh giá khách hàng:

                – Đánh giá khách hàng để nắm bắt được nhu cầu thực của họ.

                – Chúng ta có được thông tin cần thiết về khách hàng, từ đó để có được phương pháp tư vấn cho khách hàng phù hợp.

                –  Có được cơ sở để củng cố và phát triển niềm tin.

                – Nắm bắt được khả năng thanh toán của khách hàng.

    + Những điểm cần lưu ý đối với nhân viên bán hàng khi đánh giá khách hàng.

                – Những điều mà nhân viên bán hàng nên làm:

                + Luôn xác định chúng ta có hai tai nhưng chỉ có một miệng.

                + Chúng ta phải biết đặt những câu hỏi thích hợp.

                + Tạo điều kiện thời gian và không gian khách hàng nói về mình.

                + Xác định xem khách hàng có muốn mua sản phẩm dịch vụ đó hay không.

                + Khéo léo hỏi về cuộc sống và sở thích của khách hàng, từ đó tìm kiếm những đề tài mà khách hàng thích nói chuyện.

                + Hãy trả lời và giải thích câu hỏi của khách hàng bằng những câu hỏi thích hợp.

                + Hãy xác định sự quan tâm và lợi ích chung về sản phâm và dịch vụ với khách hàng.

                – Những điều không nên làm.

                + Không nên hấp tấp, trình bày sản phẩm và dịch vụ.

                + Không nên chê sản phẩm và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh một cách không công bằng.

                + Không bao giờ nên thổi phồng quá sản phẩm và dịch vụ của mình.

                +Không bao giờ hứa với khách hàng điều mà mình không chắc chắn.

                + Nên biết đặt những câu hỏi thích hợp và lắng nghe ý kiến của khách hàng.

                + Trò chuyện với khách hàng về nhu cầu của họ, về những điều mình thích.

    5) Chào hàng và trình bày sản phẩm dịch vụ:

    1. Chào hàng

    – Trình bày quầy chào hàng phải nêu bật được đặc điểm kinh doanh có lợi cho quầy hàng và khách hàng.

    – Trình bày bằng thẻ quầy và hệ thống bảng biểu.

    – Giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới đồng thời lắng nghe ý kiến khách hàng.

    1. Trình bày sản phẩm và dịch vụ.

    – Thứ tự trình bày.

    + Giới thiệu lý do ra đời của sản phẩm và dịch vụ.

    + Thông báo nhãn hàng mới được tung ra thị trường.

    + Giải thích được công dụng và lợi ích sản phẩm và dịch vụ mới.

    + Trình bày các chương trình hỗ trợ và quảng cáo.

                            Chú ý khi trình bày.

    – Trình bày từ từ, rõ ràng bằng ngôn ngữ dễ hiểu.

    – Vừa trình bày vừa quan sát thái độ khách hàng.

    – Trình bày thưo những quan điểm công ty hay khách hàng.

    – Trong quá trình trình bày, không nên có những động tác thiếu lịch sự. Đặc biệt là vừa trình bày vừa phải lắng nghe câu hỏi của khách hàng.

                Ghi nhớ:

                – Khi khách hàng hỏi nên trả lời mạch lạc, rõ ràng, nếu không trả lời được ngay nên tham khảo tài liệu tại chỗ và hỏi đồng nghiệp.

                – Nói thật là rất quan trọng và khách hàng đánh giá cao điều đó.

    6) Thương thảo và kết thúc giao hàng:

    1. Quy tắc trong thương thảo:

    – Phải vượt qua được sự phản đối của khách hàng.

    – Sự phản đối không phải là tín hiệu của sự cự tuyệt.

    – Nhân viên bán hàng cần khuyến khích khách hàng nói ra những khúc mắc đó.

    – Lắng nghe khi khách hàng nói và không ngắt lời, không bao giờ tranh cãi với khách hàng.

    – Hãy thảo luận với khách hàng và tìm phương hướng giải quyết.

    1. Chào giá

    – Trước khi nêu giá, hãy nói cho khách hàng biết những gì liên quan đến sản phẩm và dịch vụ.

    – Khi nêu giá, hãy nêu một cách giản dị, rõ ràng, tự tin.

    – Hãy nhình thẳng vào khách hàng khi nêu giá (không lắc đầu, nhún vai).

                Ghi nhớ:

                + Không bao giờ lường gạt khách hàng.

                + Chỉ cho khách hàng thấy gí trị sản phẩm dịch vụ với giá cả hợp lý.

                + Luôn giữ vững quan điểm hợp tác chứ không tranh đấu với khách hàng.

    1. Kết thúc chào hàng

    – Dấu hiệu kết thúc chào hàng:

    + Khách hàng yêu cầu sửa đổi một số điều khoản đưa ra.

    + Khách hàng đồng ý với những quyền lợi và kế hoạch mà bạn đưa ra.

    + Khách hàng đòng ý với cách giải thích của bạn về những gì mà bạn phản bác.

    + Khách hàng có biểu hiện thỉch sản phẩm và ý tưởng của bạn.

    + Khách hàng hỏi đến giá cả và dịch vụ cũng như địa điểm giao hàng.

    + Có sự ngập ngừng, biểu hiện cân nhắc trước khi đưa ra quyết định.

    + Có một số câu hỏi thăm dò.

    – Kỹ năng kết thúc

    + Đề nghị thẳng với đơn đặt hàng.

                “em giao cho chị năm thùng nhé”

    + Đưa ra sự lựa chọn 1 trong 2 và cái nào cũng được.

                “Em giao cho chị cái màu xanh hay cái màu đỏ”

    + Ta sử dụng câu hỏi mở.

                “em sẽ giao hàng cho chị ngay nhé”

    + Sử dụng kỹ năng kết thúc chủ động.

                “chị đồng ý thì em sẽ về lên kế hoạch chi tiết”

    – Điều kiện để kết thúc thành công:

    + Hãy làm tất cả để đem lại sự tin tưởng cho khách hàng.

    + Đừng ngại đề cập tới vấn đề đơn đặt hàng.

    + Kết thúc dựa vào tình huống cụ thể.

    + Đừng nấn ná với bất kỳ một vấn đề đã được quyết định.

    + Hãy coi như mọi việc được thoả thuận và tiến hành bước kế tiếp.

    7) Giao hàng, ghi chép và thu tiền.

    – Giao hàng:

    + Sau khi có đơn hàng ta tiến hành (hoặc giám sát) hoạt động giao hàng.

    + Đảm bảo hàng hoá được giao phải đầy đủ, đúng hẹn và đúng địa điểm.

    + Nhắc nhở khách hàng đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng.

    + Gọi điện lại để kiểm tra khách hàng có cần tư vấn gì thêm không.

    – Ghi chép:

    + Chọn đúng vị trí, đúng chỗ để tiến hành hoạt động ghi chép mà không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của cửa hàng.

    + Hoàn thành đơn hàng và cập nhát thẻ quầy.

    + Phải chắc chắn số liệu báo cáo được hoàn tất.

    + Cập nhật báo cáo hàng ngày theo quy định.

    – Thu tiền:

    + Mục tiêu là thu được tất cả các khoản nợ dến hạn của khách hàng.

    + Thu tiền phải kiên quyết nhưng phải hết sức khéo léo.

    + Hoàn tất thủ tục và giấy tờ cần thiết.

    + Tìm rõ nguyên nhân của những khoản nợ quá hạng. Trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán hãy tìm hiểu lý do, đánh giá mức độ rủi ro, tìm cách hỗ trợ và giúp đỡ khách hàng giải quyết.

    8) Liên hệ và níu giữ khách hàng:

    – Liên hệ khách hàng:

    + Liên hệ sau bán hàng là sự khởi đầu và kết thúc của một chu trình bán hàng.

    + Tiến trình liên hệ và lưu giữ khách hàng thường là 1 tuần, 1 thàng hoặc 1 năm.

    + Liên hệ và lưu giữ khách hàng là phương pháp quản trị để giữ khách hàng cũ và có thêm khách hàng mới: Duy trì 2% khách hàng cũ tương đưong với cắt giảm 10 % chi phí.

    + Mất 7 lần thăm để đạt được 1 thương vụ mới nhưng chỉ là 4 lần với khách hàng cũ hoặc được khách hàng cũ giới thiệu.

     -Trưng bày hàng hoá:

    + Đảm bảo việc trưng bày hàng hoá theo đúng tiêu chuẩn của công ty.

    + Phối hợp với hệ thống cửa hàng để thống nhất cách trưng bày.

    + Trưng bày phải đảm bảo tính thẩm mỹ và an toàn.

    9) Tổng kết và đánh giá:

    – Chắc chắn rằng bạn đã để lại được ấn tượng tốt đẹp của bản thân và doanh nghiệp.

    – Đánh giá kết quả vừa đạt được, phân tích điểm mạnh điểm yếu cần hoàn thiện.

    – Thông báo lịch viếng thăm lần kế tiếp cho khách hàng.

    – Dùng công cụ của vòng tròn Deming để cải tiến.

  • Giáo trình Kỹ năng bán hàng cơ bản

    Giáo trình Kỹ năng bán hàng cơ bản

    Giáo trình Kỹ năng bán hàng cơ bản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giáo trình Kỹ năng bán hàng cơ bản

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ BÁN HÀNG

    MỤC ĐÍCH:

    Sau khi học xong chương này bạn có thể:

    1. Hiểu được bản chất và vai trò của việc bán hàng
    1. Các loại nghề nghiệp bán hàng
    1. Các loại cấu trúc tổ chức lực lượng bán hàng
    1. Hiểu các giai đoạn phát triển bán hàng

    1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC BÁN HÀNG

    1.1.1 Bán hàng

    Có lẽ không lĩnh vực nào của hoạt động kinh doanh lại tạo ra nhiều tranh luận bỏ đi và liên quan trực tiếp tới nhiều nhóm như hoạt động bán hàng. Điều này không làm cho chúng ta ngạc nhiên khi chúng ta nghĩ đến vai trò của hoạt động bán hàng trong việc cung cấp những tiện ích cho khách hàng. Ngay cả những ai không liên quan trực tiếp đến việc bán hàng vẫn dính líu đến nó với vai trò là người tiêu dùng. Có lẽ vì đặc tính quen thuộc này mà không ít người đã có những quan điểm sai lệch về việc bán hàng và về những người bán hàng. Đáng ngạc nhiên hơn nữa là một số người đã bỏ ra một phần cuộc đời cho việc bán hàng cũng có quan niệm sai lầm như thế; có lẽ như ngạn ngữ nói “quen quá hóa nhàm”

    Bán hàng liên quan đến năng lực giao tiếp của nhân viên – người đại diện cho bên bán (doanh nghiệp) với khách hàng nhằm làm cho khách hàng nhận thức được sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, qua đó khách hàng quyết định mua hàng hóa và dịch vụ để mang lại lợi ích cho khách hàng và lợi ích của doanh nghiệp

    1.1.2 Đặc điểm của nghề nghiệp bán hàng

     

    www.ebook.edu.vn

    • Bán hàng liên quan đến kỹ năng giao tiếp, trong đó cần chú ý các kỹ năng giao tiếp không bằng lời
    • Bán hàng liên quan đến khả năng phải làm việc bên ngoài doanh nghiệp
    • Đối với khách hàng, người bán hàng là người đại diện cho doanh nghiệp. Người bán hàng truyền đạt các lợi ích của sản phẩm, tiến hành các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng…trong hầu hết các công ty nhân viên bán hàng chính là cầu nối duy nhất, quan trọng với khách hàng
    • Người bán có khả năng giao tiếp với nhiều người và có điều kiện biết được thu nhập của họ

    Cách đơn giản nhất là nghĩ đến bản chất và vai trò của việc bán hàng (hay đôi lúc còn được gọi là nghệ thuật bán hàng)

    Vai trò của việc bán hàng là bán được hàng. Câu nói có vẻ hiển nhiên này che lấp một quy trình rất phức tạp liên quan đến việc sử dụng một loạt các nguyên tắc, kỹ thuật và nhiều kỹ năng cá nhân, và nó bao gồm rất nhiều loại công việc bán hàng. Có rất nhiều sách và tài liệu nói về bán hàng và bàn về những phương cách “làm sao để bán hàng”. Các công ty cũng bỏ ra những khoản tiền lớn để đào tạo nhân viên của mình về nghệ thuật bán hàng. Lý do cho sự quan tâm về việc bán hàng cá nhân này rất đơn giản: trong hầu hết mọi công ty, nhân viên bán hàng là cầu nối duy nhất và quan trọng nhất với mỗi khách hàng. Những nỗ lực thiết kế và kế hoạch hóa cho hoạt động tiếp thị vẫn có thể thất bại chỉ vì lực lượng bán hàng làm việc không hữu hiệu. Đối với nhiều khách hàng thì người bán hàng thuộc về công ty. Vì thế, nhiều hãng đã có những đầu tư rất lớn cho hoạt động bán hàng, cùng với những chi phí rất cao khác dùng cho việc tuyển chọn, huấn luyện và duy trì lực lượng bán hàng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của hoạt động bán hàng và để biện giải cho những cố gắng nhằm nâng cao hiệu năng trong lĩnh vực này.

    Bán hàng luôn chứa đựng một loạt tình huống, ví dụ, có những vị trí bán hàng mà người bán hàng chủ yếu chỉ có nhiệm vụ là đem giao sản phẩm cho khách hàng một cách đều đặn. Ngoài ra, một số người bán hàng chỉ chuyên lo về thị trường xuất

    www.ebook.edu.vn

    khẩu, còn một số người khác thì bán hàng trực tiếp cho khách hàng. Như vây, một trong những khía cạnh đáng lưu ý nhất của từ ngữ bán hàng là tính đa dạng của nghề nghiệp bán hàng

    Mặc dù vậy, khuynh hướng chung cho tất cả các công việc bán hàng là sự đề cao ngày càng tăng tính chuyên nghiệp của lực lượng bán

    1.1.3 Vì sao nghề bán hàng cần thiết?

    • Hàng hóa sản xuất mang tính xã hội nhưng tiêu dùng có tính cá nhân
    • Hàng hóa được sản xuất liên tục nhưng tiêu dùng không phải lúc nào cũng liên tục
    • Hàng hóa được sản xuất ở một nơi nhưng được bán ở nhiều nơi

    Nhân viên bán hàng là gạch nối đầu tiên và quan trọng nhất để kết nối quan hệ với khách hàng. Những kế hoạch marketing hay nhất sẽ không thành công nếu công tác bán hàng không hiệu quả. Khi sản phẩm đã ra thị trường, tất cả phụ thuộc một phần rất lớn vào đội ngũ bán hàng. Nếu đội ngũ này không năng động, nhạy bén, biết cách đưa sản phẩm tới khách hàng hiệu quả nhất, sản phẩm sẽ thất bại. Vì vậy, đối với nhiều khách hàng, nhân viên bán hàng chính là bộ mặt của công ty và sản phẩm họ bán ra

    1.2 Phân loại nghề nghiệp bán hàng

    Nghề bán hàng có liên quan đến 3 nhóm người, họ có thể là những người độc lập thực hiện những chức năng khác nhau với các nhóm khách hàng. Hình 1.1 cho thấy có sự phân biệt căn bản giữa những người tiếp nhận đơn đặt hàng, những người tạo đơn đặt hàng, và những người tìm kiếm các khách hàng mới. Những người tiếp nhận đơn đặt hàng chỉ phản ứng với những khách hàng đã có sẵn; những người tạo đơn đặt hàng không trực tiếp tiếp nhận các đơn đặt hàng vì họ đơn thuần chỉ đóng vai trò tư vấn cho người mua; còn những người tìm kiếm đơn đặt hàng thì tìm cách trực tiếp thuyết phục khách hàng đặt mua hàng.

    a, Những người tiếp nhận đơn đặt hàng

     

    www.ebook.edu.vn

    • Nhân viên bán hàng tại chỗ

    Nhiệm vụ của nhân viên bán hàng hoàn toàn có tính trao đổi – nhận tiền và trao hàng hoặc tiếp nhận những đơn đặt hàng của khách hàng qua điện thoại, internet, fax. Trong trường hợp này, khách hàng hoàn toàn tự do chọn lựa các sản phẩm mà không cần đến sự hiện diện của người bán hàng

    • Nhân viên giao hàng

    Nhiệm vụ chủ yếu là đi giao sản phẩm. Ở nhiều quốc gia các sản phẩm sữa, nhật báo và tạp chí được giao đến tận nhà. Những người này không tìm cách thuyết phục các hộ gia đình tăng thêm số lượng sữa hay báo chí: những thay đổi về lượng mua đều xuất phát từ phía khách hàng. Việc có thêm hay mất đi những đơn đặt hàng tùy thuộc rất nhiều vào mức tin cậy của việc giao hàng

    • Nhân viên bán hàng bên ngoài

    Nhiệm vụ là tiếp xúc với khách hàng và tích cực tìm cách thuyết phục họ, những người tiếp nhận đơn đặt hàng này không đi giao hàng.

    1. Nhân viên tạo nhu cầu mua (nhân viên bán hàng “thuyết dụ”)

    Trong vài ngành công nghiệp, nhất là ngành dược phẩm, bán hàng không phải là kết thúc bằng một đơn đặt hàng mà là thuyết phục, tư vấn cho những người có ảnh hưởng quan trọng đến việc chọn lựa sản phẩm hoặc dịch vụ của khách hàng.

    Ví dụ: một trình dược viên tiếp xúc với các bác sĩ không phải để bán hàng trực tiếp vì những bác sĩ này không đích thân mua các loại thuốc mà họ là người chỉ định (kê toa) thuốc cho bệnh nhân. Trong ngành xây dựng cũng vậy, các kiến trúc sư là người tư vấn các loại vật liệu cần thiết cho chủ công trình, và vì vậy mục đích của cuộc tiếp xúc không phải là kết thúc bằng một đơn đặt hàng. Vì vậy, trong những tình huống này, nhiệm vụ của việc bán hàng là thông tin, tư vấn và xây dựng thiện chí với người quyết định mua hàng.

    1. Nhân viên tìm kiếm các khách hàng mới

     

    www.ebook.edu.vn

    Loại cuối cùng này bao gồm những người mà mục đích chính yếu của họ là thuyết phục các khách hàng tiềm năng mua hàng

    • Nhân viên mở đường:

    Nhiệm vụ bán hàng của họ là tìm kiếm những khách hàng mới bằng cách xác định, và bán hàng cho những đối tượng là cá nhân hay tổ chức trước đó chưa mua sản phẩm của công ty

    • Nhân viên bán hàng cho tổ chức:

    Những người bán hàng này có nhiệm vụ xây dựng những quan hệ chặt chẽ và lâu dài với những khách hàng tổ chức. Công việc bán hàng đòi hỏi sự hợp tác nhiều nhóm nhân viên trong đó những người bán hàng nhận được sự yểm trợ của những chuyên viên kỹ thuật và tài chính

    • Nhân viên bán hàng cho người tiêu dùng:

    Những người này bán những sản phẩm và dịch vụ như xe hơi, bảo hiểm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các cá nhân và hộ gia đình

    • Nhân viên hỗ trợ kỹ thuật:

    Nếu một sản phẩm có tính kỹ thuật cao và đòi hỏi việc thương lượng lâu dài thì người bán hàng có thể được hỗ trợ bởi những chuyên viên về kỹ thuật sản phẩm; những người này có thể cung cấp những thông tin kỹ thuật chi tiết mà khách hàng cần đến. Việc này có thể thực hiện theo dạng bán hàng cho những khách hàng lớn với sự trợ giúp của các chuyên viên kỹ thuật

    • Nhân viên hỗ trợ hậu cần:

    Những người này cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho những người bán sỉ và bán lẻ. Họ tư vấn cho người bán buôn và bán lẻ về cách trình bày, thực hiện các đợt khuyến mãi, theo dõi lượng hàng tồn kho và lưu kho, và duy trì quan hệ với những giám đốc cửa hàng

    www.ebook.edu.vn

    1.3 Những quan niệm không đúng về nghề nghiệp bán hàng

    Bạn hãy hỏi những người không liên quan gì đến việc bán hàng rằng điều gì hiện ra ngay trong tâm trí họ khi có ai nói đến “bán hàng” và kết cục thấy được có rất nhiều loại phản ứng khác nhau. Một tỉ lệ không nhỏ biểu lộ những thái độ tiêu cực, đôi lúc đố kỵ, như: “thiếu đạo đức”, “phường gian lận”…Liệu những thái độ đó có chính đáng không? Và những thái độ như vậy về việc bán hàng phần lớn xuất phát từ những quan điểm sai lầm, như những trường hợp sau đây:

    a, Bán hàng không phải là nghề đáng giá

    Nhiều người chia sẻ quan niệm này và cho rằng những ai có tài đều phí phạm tài năng của mình trong việc bán hàng. Nghề bán hàng không có tương lai và rất ít cơ hội thăng tiến. Nhưng bạn nghĩ sao về con số 85% các nhà lãnh đạo, doanh nhân ngày nay đã từng là nhân viên bán hàng? Để có được thành công, họ cũng từng phải mang sản phẩm đi chào hàng, đối diện và vượt qua sự lạnh nhạt hay phản đối từ khách hàng để chứng tỏ khả năng thuyết phục và chất lượng sản phẩm của mình.

    Điểm mấu chốt của việc bán hàng chính là lắng nghe và chia sẽ với khách hàng để hiểu rõ về tính cách cá nhân, sở thích, nhu cầu và mong muốn của họ, từ đó đưa ra những đề ghị xác đáng, đáp ứng đúng nhu cầu và ước muốn của khách hàng.

    b, Những sản phẩm tốt đương nhiên sẽ bán chạy và như vậy bán hàng chỉ làm tăng thêm chi phí một cách vô ích

    Những sản phẩm tốt tự chúng không thể bán chạy. Một sản phẩm ưu việt có thể không được ai biết đến trừ phi những lợi ích và những đặc tính của chúng được giải thích cho khách hàng. Một sản phẩm ưu việt nào đó có thể hoàn toàn không thích hợp cho một khách hàng nào đó. Điểm độc đáo của việc bán hàng là nó giải quyết được những nhu cầu đặc biệt của mọi khách hàng cụ thể, và người bán hàng với kiến thức chuyên sâu về sản phẩm của mình, là người có vị thế để đánh giá những tình huống này và theo đó mà tư vấn riêng cho từng khách hàng.

    www.ebook.edu.vn

    c, Trong việc bán hàng có gì đó thiếu đạo đức, và chúng ta phải dè dặt với những ai sống nhờ hoạt động này

    Chúng ta không biết rõ về nguồn gốc và lý do cho suy nghĩ này, có lẽ là lệch lạc và tác hại nhất về danh dự của nghề nghiệp bán hàng. Những thái độ như vậy có thể gây khó khăn cho những người bán hàng, làm cho họ phải vượt qua những rào cản trong đó quan hệ giữa khách hàng với người bán hàng. Tự thân việc bán hàng và người bán hàng không có gì là phi luân lý hay thiếu đạo đức cả. Việc bán hàng góp mức vào guồng máy trao đổi và thông qua quy trình này những nhu cầu và ước muốn của khách hàng được đáp ứng. Thêm nữa, hầu hết ai ai, trong một thời điểm nào đó của cuộc sống, đều có những lúc liên quan đến việc bán hàng, như việc tự bản thân cũng có lúc giới thiệu (nếu không muốn nói là “bán”) khả năng và nhân cách của mình để có được một công việc tốt trong xã hội

    Thực tế vẫn tồn tại những cá nhân và tổ chức vô lương tâm trong buôn bán, họ dựa vào sự thiếu hiểu biết và lòng cả tin của khách hàng. Những cá nhân này không phải là những người bán hàng chuyên nghiệp, nói đúng ra họ là những người buôn bán thiếu ý thức, thậm chí là những kẻ gian lận. Người bán hàng không phải là hoàn toàn không có trách nhiệm về những hành vi sai phạm của mình, nhưng ngày nay cùng với những thay đổi căn bản về môi trường kinh doanh, người bán hàng đang trở nên chuyên nghiệp hơn, có trách nhiệm hơn với khách hàng và đây là cách để doanh nghiệp phát triển bền vững trong thời đại ngày nay.

    1.4 Cấu trúc tổ chức lực lượng bán hàng

    Cấu trúc tổ chức phản ánh mối liên hệ giữa các bộ phận, mô tả số cấp, số bộ phận cấu thành, mức độ phân quyền trong việc thực thi nhiệm vụ và biết được ai phải báo cáo cho ai trong tổ chức.

    Chúng ta sẽ xem xét các loại cấu trúc tổ chức lực lượng bán sau:

    • Cấu trúc theo địa lý

    www.ebook.edu.vn

    Một lợi điểm của dạng tổ chức này là tính đơn giản của nó. Mỗi người bán hàng được phân bổ một địa phận trong đó đương sự là người duy nhất chịu trách nhiệm về kết quả bán hàng

    • Ưu điểm:
    • Phát triển những mối quan hệ cá nhân mật thiết với khách hàng
    • Chi phí vận chuyển thấp hơn so với cấu trúc theo sản phẩm hay theo khách hàng
    • Hạn chế
    • Người bán hàng phải bán tất cả các loại sản phẩm của công ty. Những sản phẩm này có thể rất khác nhau về mặt kỹ thuật nên đòi hỏi người bán hàng phải có kiến thức sâu sắc cho mỗi sản phẩm
    • Khó tiếp cận với những nhóm khách hàng khi giữa họ có sự khác nhau về hành vi mua
    • Cấu trúc theo sản phẩm

    Loại cấu trúc này rất phù hợp với những công ty bán ra nhiều loại sản phẩm đa dạng và khá phức tạp về mặt kỹ thuật.

    • Ưu điểm:
    • Nhân viên bán hàng am hiểu sâu sắc về sản phẩm nên phục vụ khách hàng tốt hơn
    • Hạn chế:
    • Nếu sản phẩm của công ty chủ yếu bán cho cùng những khách hàng thì có thể phát sinh những vấn đề trùng lắp lộ trình và vì vậy chi phí vận chuyển cao hơn và làm khách hàng nhàm chán
    • Cấu trúc theo khách hàng

    www.ebook.edu.vn

    • Ưu điểm:
    • Mỗi nhóm khách hàng có sự khác nhau về nhu cầu, việc chuyên biệt theo khách hàng sẽ giúp công ty hiểu rõ nhu cầu của từng khách hàng để phục vụ một cách tốt nhất
    • Thiết lập mối quan hệ mật thiết với khách hàng
    • Hạn chế:
    • Một số khách hàng có nhu cầu cùng lúc nhiều loại sản phẩm đòi hỏi người bán hàng cũng phải am hiểu về tất cả các loại mặt hàng của công ty
    • Cấu trúc tổ chức hỗn hợp

    Trên thực tế, nhiều công ty sử dụng những cách pha trộn giữa các loại cấu trúc. Nhiều công ty sử dụng cùng lúc rất nhiều dạng bán hàng. Ví dụ, một công ty sử dụng cấu trúc nhóm bán hàng cùng lúc hai sản phẩm, nhằm mục đích giảm chi phí di chuyển, có thể chia thị trường theo vùng địa lý và mỗi vùng có những nhân viên bán hàng chuyên trách các loại sản phẩm khác nhau. Cấu trúc tổ chức hỗn hợp cho phép tận dụng những ưu điểm của tất cả các loại cấu trúc trên và hạn chế những hạn chế của chúng.

    1.5 Các giai đoạn phát triển của hoạt động bán hàng

    Khi tìm hiểu sự phát triển của hoạt động bán hàng, chúng ta có thể kể đến ba giai đoạn kế tiếp của sự hình thành tập quán kinh doanh hiện nay

    1. Giai đoạn đề cao sản xuất
    1. Giai đoạn hướng theo doanh số
    1. Giai đoạn hướng theo khách hàng

    1.5.1 Hướng theo sản xuất

     

    www.ebook.edu.vn

    Thời đại này mang đặc trưng bởi trọng tâm những cố gắng của công ty hướng về sản xuất hàng hóa hay dịch vụ. Những cố gắng của ban lãnh đạo đều nhắm đến việc đạt được tính hiệu quả cao trong sản xuất, thường bằng cách sản xuất đại trà những sản phẩm có cùng những tiêu chuẩn. Trong một doanh nghiệp như vậy, những chức năng như tài chính, và nhân lực đều là thứ yếu so với chức năng sản xuất. Triết lý trong giai đoạn này: khách hàng sẽ mua những sản phẩm làm ra, miễn là những sản phẩm đó có đủ số lượng ở một mức giá vừa phải.

    Một trong những ví dụ mà nhiều người biết đến là triết lý sản xuất ở xưởng sản xuất xe Model T của Henry Ford. Ý tưởng của ông là nếu ông có thể sản xuất một kiểu xe tiêu chuẩn với số lượng lớn bằng kỹ thuật sản xuất đại trà thì ông có thể thỏa mãn mức cầu tiềm năng về phương tiện di chuyển cá nhân với mức giá tương đối rẻ. Vào thời kỳ đó (những năm 1920 tại Mỹ) Ford có lý; thời ấy có một mức cầu như vậy và sản phẩm của ông đã thành công. Như vậy, việc các doanh nghiệp hướng về sản xuất và thích hợp với môi trường kinh tế trong đó mức cầu tiềm năng vượt xa hẳn mức cung, như tình hình đã xảy ra trong những năm 1920 trước khi những kỹ thuật sản xuất đại trà ra đời. Tuy nhiên, thời thế đã thay đổi, và một triết lý như vậy không thích hợp với phong cách kinh doanh của môi trường kinh tế ngày nay, nơi mà mức cung tiềm năng luôn luôn vượt trội mức cầu

    1.5.2 Hướng theo doanh số

    Với sự ra đời của những kỹ thuật sản xuất đai trà trong những năm 1920 và 1930, nhất là tại Mỹ và tại Tây Âu, và sự gia tăng mạnh mẽ khắp thế giới về cạnh tranh đi kèm theo sự kiện này, nhiều xí nghiệp đã chấp nhận hướng theo doanh số.

    Công ty theo hướng doanh số sẽ đặt trọng tâm vào chức năng bán hàng. Vấn đề chính yếu ở đây không phải là sản xuất bằng cách nào, khi kinh doanh đã có sản phẩm rồi, làm sao để bảo đảm rằng sản lượng sẽ được bán hết. Trong nền kinh doanh hướng về doanh số tồn tại quan điểm: nếu cứ để mặc thì khách hàng sẽ mua rất chậm và mua miễn cưỡng. Một số khách hàng nào đang tìm mua một loại sản phẩm hay dịch vụ cùng một lúc có nhiều nhà cung cấp để lựa chọn. Tình huống này còn bị trầm trọng hơn, nếu trong quan hệ giữa cung và cầu thì cầu hàng hóa và dịch vụ luôn thấp hơn so với cung. Đó là trường hợp xảy ra ở nhiều nền kinh tế phát triển

    www.ebook.edu.vn

    vào nhhững năm 1930, và vào chính thời gian này nhiều kỹ thuật “bán ép” ra đời. Hẳn rằng nhiều kỹ thuật này được cho là cố mọi cách để buộc khách hàng mua và phần lớn hình ảnh bị ố bẩn của nghề nghiệp bán hàng mà chúng ta đã thảo luận ở trên đã phát huy công dụng của chúng trong thời gian này.

    1.5.3 Hướng theo khách hàng

    Giai đoạn này cho rằng chìa khóa cho việc kinh doanh thành công và có lợi nằm ở chổ xác định được những nhu cầu và ước muốn của khách hàng và cung cấp những sản phẩm và dịch vụ để thỏa mãn những nhu cầu và ước muốn của họ. Bề ngoài, một ý niệm như vậy có vẻ như chẳng tiến được đâu xa và cũng không khác biệt gì bao nhiêu với triết lý hướng theo doanh số, nhưng trên thực tế ý niệm tiếp thị này đòi hỏi một cuộc cách mạng về cách suy nghĩ và hành động của công ty, so với cách hướng theo sản xuất hay doanh số. Tâm điểm của cuộc cách mạng này trong cách suy nghĩ của giới kinh doanh là trọng tâm được đặt vào những nhu cầu và ước muốn của khách hàng. Sự tương phản giữa phương cách này và phương cách hướng theo doanh số được trình bày trong hình 1.2

    a, Hướng theo doanh số

    Nhiều công ty đã thừa nhận rằng cách thức bán hàng hướng vào khách hàng là phù hợp với môi trường kinh doanh hiện nay. Ngày nay, khách hàng có nhiều thông tin hơn và có được nhiều sự lựa chọn hơn. Mức thu nhập thực tế của khách hàng và dân cư đã tăng đều suốt những năm qua và người tiêu dùng ngày nay có trọn quyền để phân bổ tài nguyên (tiền bạc) cho một loạt cùng lúc ngày càng lớn cách thức để thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Để có được bất cứ cơ may thành công nào, người ta phải đặt những nhu cầu của khách hàng vào tâm điểm của kế hoạch kinh doanh. Một phần nào đó, việc này được thể hiện bởi việc hiểu biết hành vi của người mua

    www.ebook.edu.vn

    CHƯƠNG 2:

    NHIỆM VỤ CỦA NHÂN VIÊN BÁN HÀNG VÀ

    CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN BÁN HÀNG

    MỤC ĐÍCH:

    Sau khi học xong chương này bạn có thể:

    1. Biết được các công việc của một nhân viên bán hàng
    1. Phương châm của người bán hàng
    1. Hiểu được những phẩm chất cần có của một nhân viên bán hàng
    1. Biết được những kiến thức cần trang bị khi làm một nhân viên bán hàng
    1. Nắm được các khái niệm liên quan đến hoạt động bán hàng

    2.1 Nhiệm vụ của nhân viên bán hàng:

    Chúng ta hoàn toàn có thể hình dung công việc thường ngày của một nhân viên bán hàng đứng bán tại cửa hàng (hoặc gian hàng, quầy hàng):

    • Lấy hàng, sắp xếp, trưng bày các sản phẩm thất bắt mắt và khoa học, sao cho dễ gây ấn tượng và dễ tìm nhất.
    • Giới thiệu sản phẩm với khách hàng, trả lời các câu hỏi về sản phẩm, tư vấn cho khách hàng, lựa chọn sản phẩm phù hợp, lấy hàng, tính tiền hàng, trao hàng cho khách, gói hàng và nhận tiền…
    • Lưu hóa đơn, số liệu về bán hàng, báo cáo thường xuyên về doanh thu, công tác bán hàng…
    • Thực hiện các điều tra của công ty khi có yêu cầu, theo dõi phản ứng, độ đón nhận của khách hàng với sản phẩm, kịp thời phản ánh thông tin về khách hàng, sản phẩm lên bộ phận quản lý.

    www.ebook.edu.vn

    • Ngoài ra, người bán hàng kiêm luôn viên trông nom, giữ gìn vệ sinh và an toàn cho cửa hàng (hoặc quầy hàng) mà mình đứng bán.

    …………

    Công viên trên không chỉ là những phần việc cụ thể mà bao gồm rất nhiều yếu tố về thái độ, kỹ năng ứng xử:

    • Luôn tận tình với khách hàng: mời chào, bắt chuyện, trưng bày sản phẩm, giúp khách chọn hàng….
    • Giúp khách hàng khắc phục những nghi vấn, băn khoăn khi lựa chọn sản

    phẩm.

    • Tranh thủ tình cảm của khách hàng, luôn tránh va chạm với khách hàng…
    • Nâng cao năng suất lao động của cửa hàng: phục vụ nhanh gọn, không nhầm

    lẫn.

    Tuy nhiên, công việc của người bán hàng không chỉ có vậy. Chức năng của người bán hàng có thể khác nhau, tùy theo loại hình kinh doanh.

    Đối với các doanh nghiệp công nghiệp đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp, (các nhà máy vận chuyển container, các nhà máy in, khu công nghiệp….).

    Các nhân viên kinh doanh có nhiệm vụ trực tiếp đến tiếp xúc với khách hàng, bám sát các nhân vật quan trọng trong doanh nghiệp khách hàng để xây dựng và duy trì mối quan hệ lâu dài.

    Còn đối với doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (bột giặt, dầu gội đầu, thực phẩm, nước giải khát, quần áo thời trang.), họ thường sử dụng mạng lưới phân phối để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng.

    Người tiêu dùng hầu như không thấy mặt nhân viên bán hàng của nhà sản xuất. Tuy nhiên, vai trò của lực lượng bán hàng “nằm trong hậu trường” này vô cùng quan trọng, họ phải kết nối đều đặn với nhà phân phối, các trung tâm bán lẻ, siêu thị

    www.ebook.edu.vn

    để hướng dẫn các nhân viên bán viên bán hàng trực tiếp làm thế nào để bán được nhiều nhất sản phẩm của công ty mình.

    Tùy vào từng điều kiện cụ thể, công việc bán hàng có thể bao gồm những nhiệm vụ sau:

    • Chuẩn bị bán hàng: chọn sản phẩm, giới thiệu, cạnh tranh với đối thủ, tìm kiếm khách hàng mới.
    • Theo dõi đơn hàng: nhận và xử lý đơn hàng, theo dõi sự thay đổi những vấn đề phát sinh…
    • Thực hiện dịch vụ bán hàng: trước, trong và sau khi bán hàng…
    • Quản lý thông tin, thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin thị trường cần thiết kịp thời, chính xác…
    • Tổ chức sự kiện, tổ chức các hội nghị khách hàng, hội thảo bán hàng, triển lãm, hội chợ, ….
    • Tham gian tuyển và đào tạo nhân viên mới, ngưòi từ bộ phận khác, đầo tạo nhân viên bán hàng cho thị trường khác, cho sản phẩm khác…
    • Đi công tác xa để khảo sát thị trường, tìm hiểu kinh nghiệm hay vấn đề mà thị trường khác cần giải quyết.
    • Xây dựng mối quan hệ lâu dài với các nhà phân phối.

    2.2 Phương châm của người bán hàng

    • Làm thế nào để khách hàng ra đi với một (hoặc nhiều gói hàng) và quay lại tay không
    • Làm thế nào để “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”
    • Thuyết phục để khách thôi thúc muốn mua món hàng và vui lòng mở hầu

    bao

    www.ebook.edu.vn

    • Dẹp tự ái và tận tình hỗ trợ khi khách hàng than phiền về sản phẩm
    • Tươi cười khi khách hàng phàn nàn hoặc to tiếng, nỗ lực làm tròn nghĩa vụ “làm dâu trăm họ”

    Elmer Wheeler – một trong bốn “người khổng lồ” trong lĩnh vực bán hàng trên thế giới đã từng nói rất hóm hỉnh về cách thức thành công: “Đừng bán miếng thịt nướng, mà hãy bán tiếng xèo xèo hấp dẫn”

    2.3 Địa điểm làm việc của nhân viên bán hàng

    Trên thực tế lựa chọn nghề bán hàng là bạn đã chọn một trong những nghề nghiệp có cơ hội việc làm lớn nhất, đa dạng và phong phú nhất. Đặc biệt, khi nền kinh tế thị trường phát triển, nhu cầu về nguồn nhân lực mạnh trong nghề bán hàng càng cao. Khi ban bước ra phố, vào chợ, tới siêu thị, trung tâm thương mại, ghé qua hiệu sách…bạn đều gặp người bán hàng. Thậm chí bạn đang nằm dài trên giường nghe nhạc lại có người bán bảo hiểm tới gõ cửa nhà bạn. Bất kỳ nơi đâu diễm ra hoạt đông thương mại đều cần đến nhân viên bán hàng.

    Tùy vào năng lực, sở thích, nguyện vọng và điều kiện của bản thân, bạn có thể làm việc tại:

    • Các cửa hàng, cửa hiệu bán lẻ.
    • Các cửa hàng, trung tâm giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp.
    • Siêu thị, trung tâm thương mại.
    • Bộ phận bán hàng của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, các đại lý phân phối.

    Và rất nhiều nơi khác.

    Tất nhiên, tùy vào nơi làm việc mà công việc của người bán hàng có những điểm khác biệt và yêu cầu cũng rất khác nhau. Chẳng hạn, nếu bạn muốn tham gia vào bộ phận bán hàng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh… yêu cầu đối

    www.ebook.edu.vn

    với bạn se cao hơn. Bạn phải có kiến thức về thương mại, thị trường, hiểu biết về các sản phẩm của các doanh nghiệp, có độ nhạy bén, sắc sảo…

    Và với những nghiệp vụ bán hàng, bạn hoàn toàn có thể “làm việc cho chính mình”. Tức là bạn mở và quản lý, tự đứng bán ở cửa hàng của chính mình.

    Trong nền kinh tế phát triển, khách hàng không mua sản phẩm mà mua giải pháp cho phép đáp ứng nhu cầu cá nhân. Vì thế, việc bán hàng không phải là bán sản phẩm mà là bán “lợi ích” sản phẩm có thể đem lại cho khách hàng. Nhân viên bán hàng không chỉ đơn thuần là những người “bán nụ cười”, mà phải thực sự là chuyên gia am hiểu về sản phẩm của hãng mình cung cấp cho khách hàng những giải pháp tối ưu cho vấn đề của họ.

    2.4 Những phẩm chất cần thiết của một nhân viên bán hàng

    Chỉ cần đứng trông ở quầy hàng, tính tiền hàng khách mua, giao hàng, ghi hóa đơn (nếu cần), bỏ tiền vào tủ khóa lại. Nhiều người nghĩ rằng như vậy đã là một nhân viên bán hàng. Và như vậy, hầu như bạn chẳng cần chút năng khiếu nào cả

    Nhưng người bán hàng thực thụ hoàn toàn không phải vậy. Đây là một nghề bắt đầu tưởng rất dễ, nhưng lại cần nhiều phẩm chất để thành công, đạt đến vị trí cao trong nghề. Không ít phầm chất trong đó thuộc về yếu tố bẩm sinh, về cái mà chúng ta vẫn thường gọi là năng khiếu. Tuy nhiên, chúng ta đều biết rằng yếu tố học tập, trau dồi, chăm chỉ và nỗ lực vẫn luôn là chìa khóa vàng dẫn đến thành công của nghề nghiệp.

    • Bạn có phải là người hướng ngoại?

    Hãy thử cùng điểm xem bạn có thuộc nhóm những người:

    • Dễ dàng biến một người không quen thành bạn bè, thích thú với việc gặp và xây dựng mối quan hệ tốt với những người bạn mới. Không ngại dùng điện thoại để hẹn với những người không quen biết
    • Có thể thu hút sự chú ý và lôi cuốn những người không quen khi ở chỗ đông

    người

    www.ebook.edu.vn

    • Thích thuyết trình bảo vệ ý kiến của mình
    • Tự tin khi mặc đẹp vào các dịp lễ, tết. Luôn tươi cười và lạc quan ngay cả khi gặp những chuyện tồi tệ nhất
    • Bạn có yêu thích kinh doanh, thích thử thách và hoàn cảnh mới?

    Người bán hàng là một mắt xích quan trọng trong thương mại. Bởi vậy, nghề nghiệp này chỉ dành cho những bạn trẻ yêu thích kinh doanh, thích thử thách và những hoàn cảnh mới. Nếu căn cứ trên quan niệm về người bán hàng truyền thống trng thập niên 1980 hay những năm đầu 1990, bạn muốn một công việc chỉ phải đứng an nhàn trong các quầy hàng và lựa chọn nghề bán hàng thì bạn hoàn toàn sai lầm. Bán hàng ngày nay không phải là chờ đợi khách đến mà là chủ động tìm kiếm, thuyết phục khách hàng, nghiên cứu thị trường, đối thủ cạnh tranh…

    Bạn thường nghe “thương trường là chiến trường”. Cuộc cạnh tranh cam go giữa các doanh nghiệp ngày nay thể hiện rõ rệt nhất trên phương diện bán hàng. Bản thân chặng đường của người bán hàng đã là một đường đua khốc liệt.

    • Bạn có phải là người nhiệt tình, biết lắng nghe, biết thuyết phục, bình tĩnh và tự tin?

    Sẽ rất tuyệt vời nếu một người bán hàng có khiếu ăn nói, biết nói “đến con kiến trong lỗ cũng phải bò ra”, biết khiến khách hàng thấy “ngọt tai”. Nhưng quan trọng hơn, để giữ khách ở lâu hơn với bạn là thái độ chân thành, biết lắng nghe và chia sẻ để tìm ra những sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng.

    Mỗi ngày, người bán hàng tiếp xúc với rất nhiều người khách khác nhau và không ít trong số đó là những vị khách khó tính, thậm chí khó chịu. Nếu một người bán hàng không có “cái đầu thật lạnh” để vẫn bình tĩnh nở nụ cười tự tin mà lại “nổi đóa” lên, đó sẽ là thảm họa đối với cửa hàng, doanh nghiệp và công việc của chính người bán hàng ấy

    • Và cuối cùng bạn có sức khỏe tốt?

    www.ebook.edu.vn

    Đọc những mục thông tin tuyển dụng nhân viên bán hàng, bạn sẽ thường xuyên gặp những dòng yêu cầu đại loại như: Sức khỏe tốt, có khả năng chịu áp lực công việc.

    Công việc bán hàng vất vả, phải đứng nhiều hoặc đi nhiều, nói nhiều…Bước chân vào nghề nghiệp này cũng có nghĩa là bạn chấp nhận công việc căng thẳng, không làm theo giờ hành chính, thường xuyên bị “vi phạm” các ngày lễ tết, ngày nghỉ…Dù đam mê đến đâu, không có sức khỏe dẻo dai, bạn sẽ rất khó trụ lại với nghề

    Với những tố chất pù hợp và đam mê nghề nghiệp, bạn hãy chủ động xây dựng cho mình hình ảnh một người bán hàng chuyên nghiệp từ bây giờ:

    • Yêu thích công việc, sẵn lòng làm việc hết mình, làm thêm giờ để đạt doanh thu cao nhất
    • Luôn niềm nở, lịch thiệp và chu đáo với mọi khách hàng. Quan tâm và có thiện chí với mọi góp ý của khách hàng, biết nhận lỗi về mình
    • Thao tác bán hàng nhanh gọn và đẹp mắt

    Có hiểu biết rộng và kiến thức sâu về sản phẩm mà mình bán. Có ước muốn và nỗ lực để thành công

    • Làm việc nhiệt tình, vui tươi và giàu cảm hứng. Có cái nhìn lạc quan về mọi vấn đề trong cuộc sống cũng như công việc
    • Sử dụng thời gian một cách khoa học theo kế hoạch đã định trước
    • Có khả năng trình bày gãy gọn, thuyết phục, biết đặt câu hỏi và lắng nghe
    • Có đủ sức khỏe thể chất và tinh thần cho công việc bán hàng nặng nhọc
    • Kiên nhẫn, chịu khó. Người bán hàng càng nhận thức đúng đắn về vai trò và nhiêmh vụ của họ bao nhiêu thì cách xử sự của họ càng chuyên nghiệp bấy nhiêu. Hiểu rõ sản phẩm và tự tin vào kiến thức của bản thân sẽ khiến công việc bán hàng

    www.ebook.edu.vn

    trở nên lý thú, đáng chờ đợi, nhất là khi khách hàng mỉm cười, khen ngợi và quay lại nhiều lần

    2.5 Những kiến thức nhân viên bán hàng cần trang bị

    • Hiểu biết về sản phẩm
    • Hiểu biết về khách hàng
    • Hiểu biết về đối thủ cạnh tranh
    • Hiểu biết về Công ty

    2.5.1 Hiểu biết về sản phẩm

    • Nhân viên bán hàng cần phải có kiến thức gì về sản phẩm? – Cách sử dụng sản phẩm

    – Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của sản phẩm – Giá cả và việc giao hàng

    – Vấn đề bảo hành, sửa chữa…

    • Các kiến thức đó lấy từ đâu?
    • Tài liệu về sản phẩm
    • Các đợt tập huấn về sản phẩm
    • Khách hàng, nhà phân phối
    • Bản thân sản phẩm…

    2.5.2 Hiểu biết về khách hàng:

    – Bản thân khách hàng: tính tình, sở thích, tuổi tác, ưu điểm, nhược điểm…

    www.ebook.edu.vn

    • Về công ty, cửa hàng…của khách hàng, vị trí chức vụ, vai trò của người mình định gặp và ảnh hưởng của người xung quanh khách hàng
    • Quy trình làm việc của bộ phận, Công ty mà mình định tiếp cận…

    2.5.3 Hiểu biết về đối thủ cạnh tranh:

    P1: Product (Sản phẩm)

    • Các công ty nào đang bán sản phẩm tương tự
    • Đặc điểm sản phẩm của họ khác sản phẩm của công ty như thế nào?
    • Chủng loại sản phẩm của công ty họ ra sao?
    • Bao bì, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng, bảo hành…thế nào?

    P2: Price (Giá cả)

    • Giá bán của họ ra sao?
    • Mức chiết khấu thế nào?
    • Mức giảm tối đa cho phép là bao nhiêu? P3: Place (Phân phối)
    • Họ đã sử dụng chủ yếu kênh phân phối nào?
    • Chính sách đối với các trung gian phân phối ra sao?
    • Họ dùng các chiêu thức gì để lôi kéo các khách hàng trung gian?
    • Hệ thống vận chuyển, giao hàng của họ ra sao?

    P4: Promotion (Xúc tiến)

    – Họ thường sử dụng phương tiện quảng cáo nào?

    www.ebook.edu.vn

    • Mức độ quảng cáo của họ ra sao?
    • Các hình thức khuyến mại chủ yếu của họ?
    • Các hoạt động khuyến mại khác?

    2.5.4 Hiểu biết về Công ty

    • Lịch sử của Công ty
    • Cơ cấu tổ chức của công ty
    • Nhân sự của công ty
    • Các chính sách hỗ trợ bán hàng, các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm…
    • Chương trình tiếp thị, xúc tiến bán hàng của Công ty
    • Kênh phân phối của công ty…

    2.6 Các khái niệm liên quan đến hoạt động bán hàng

    2.6.1 Khách hàng

    Có quá nhiều khái niệm về khách hàng, và đây là một trong những khái niệm đã, đang được áp dụng và mang lại nhiều thành công: “Theo quan điểm trọng tiếp thị”

    Khách hàng là một trong những nhân vật mãi mãi quan trọng nhất trong công ty chúng ta. Khách hàng không phụ thuộc vào chúng ta mà chính chúng ta phụ thuộc vào người đó. Khách hàng không phải là người khiến công việc của chúng ta phải ngắt quảng, mà chính họ là cái đích khiến chúng ta phải ngưng công việc lại. Không phải chúng ta ban ơn cho họ bằng việc chúng ta phục vụ họ mà chính họ ban ơn cho chúng ta bởi cho chúng ta cơ hội được phục vụ họ. Khách hàng chẳng phải là người để chúng ta tranh luận hay tranh khôn – không bao giờ có ai được thắng trong tranh luận với khách hàng cả

     

    www.ebook.edu.vn

    Khách hàng là người mang đến cho chúng ta nhu cầu của họ – nhiẹm vụ của chúng ta là xử lý các nhu cầu đó có lợi cho khách hàng và cho chính chúng ta

    • Khách hàng bên ngoài: Khách hàng bên ngoài bao gồm tất cả những người bên ngoài doanh nghiệp mà chúng ta phục vụ dù họ có trả tiền cho dịch vụ của chúng ta hay không

     

    • Khách hàng nội bộ: Tất cả các phòng ban, bộ phận và nhân viên …phục vụ trong công ty

    2.6.2 Nhu cầu

    Nhu cầu là một cảm giác thiếu hụt của con người cần được thỏa mãn

    Nhân viên bán hàng không tạo ra nhu cầu nhưng họ có thể làm thỏa mãn nhu

    cầu

    2.6.3 Sự hài lòng của khách hàng

    Theo Philip Kotler: Sự thỏa mãn chính là sự hài lòng hay sự thất vọng của khách hàng khi họ so sánh những gì nhận được từ sản phẩm với những gì họ mong đợi

    Sự hài lòng = Sự cảm nhận/sự mong đợi

    – Sự cảm nhận: Giá trị hữu hình (sản phẩm) và giá tị tâm lý

    Nhân viên bán hàng có thể làm tăng sự cảm nhận của khách hàng trên nhiều góc độ:

    • Thái độ giao tiếp, cởi mở, quan tâm
    • Chế độ chăm sóc khách hàng…
    • Sự cảm thông chia sẻ

    www.ebook.edu.vn

    CHƯƠNG 3

    HÀNH VI MUA SẮM CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ CỦA CÁC TỔ CHỨC

    MỤC ĐÍCH:

    1. Hiểu các động cơ mua sắm của người tiêu dùng và của các tổ chức
    1. Nghĩ ra các chiến lược để tiếp cận người tiêu dùng và các tổ chức mua sắm

    3.1 Những khác biệt về mua sắm giữa người tiêu dùng và tổ chức

    Có một số khác biệt quan trọng cần nhấn mạnh về mua sắm giữa người tiêu dùng và tổ chức, và những khác biệt này có hệ quả quan trọng đối với việc tiếp thị những hàng hóa và dịch vụ nói chung và chức năng bán hàng nói riêng

    * Số lượng doanh nghiệp mua sắm ít hơn

    Một công ty bán những sản phẩm công nghệ sẽ có ít khách hàng tiềm năng hơn là một công ty bán hàng cho thị trường tiêu dùng nhưng số lượng sản phẩm bán cho các tổ chức lại chiếm nhiều hơn. Thường đến 80% sản phẩm sẽ bán cho chừng 10-15 tổ chức. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của khách hàng tổ chức đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

    • Những mối quan hệ lâu dài và gắn bó giữa tổ chức và doanh nghiệp

    Quan hệ giữa công ty và khách hàng tổ chức phần lớn là thường xuyên và cần phải gắn bó lâu dài với họ. Và trong số các khách hàng tổ chức có rất nhiều khách hàng lớn, vì thế việc thiết lập mốí quan hệ với những nhóm khách hàng lớn sẽ quyết định đến sự tăng trưởng của việc bán hàng cho những khách hàng chính yếu này. Trong lĩnh vực này, các công ty sử dụng những lực lượng bán hàng và tiếp thị chuyên nghiệp để phục vụ những khách hàng trọng yếu. Ngược lại, khách hàng cũng thấy nhiều thuận lợi trng việc thiết lập những quan hệ mật thiết với các nhà

    www.ebook.edu.vn

    cung cấp. Bản chất mối quan hệ trong thị trường tiêu dùng thì lại khác: khách hàng và nhà sản xuất ít gặp nhau và việc chuyển đổi nhãn hiệu là chuyện thông thường

    • Các tổ chức mua sắm thường dựa vào lý trí hơn

    Những tổ chức mua sắm cũng có những con người và không ít người trong số họ cũng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố cảm xúc. Nhưng, các quyết định mua sắm phải dựa trên lý trí và phải tuân theo những quy tắc kinh tế vì những người mua hàng công nghệ phải lý giải với các thành viên khác trong tổ chức

    • Việc mua sắm cho tổ chức phải đáp ứng một số yêu cầu riêng biệt của

    họ

    Trong những lần tiếp thị sản phẩm công nghệ, không hiếm khi người mua đưa ra những quy cách cho sản phẩm và người bán phải thay đổi để phù hợp với yêu cầu của họ (gọt dũa các chi tiết sản phẩm). Trong thị trường tiêu dùng khó có thể đáp ứng được nhu cầu của từng cá nhân vì làm như vậy rất tốn kém

    * Mua sắm ở các tổ chức thường xảy ra trường hợp mua qua mua về

    Vì người mua sản phẩm công nghệ có vị thế rất vững trong thương lượng với người bán cho nên họ thường đòi hỏi người bán phải nhượng bộ sau đó mới đặt hàng. Trong vài tình huống họ yêu cầu người bán phải mua ngược lại một sản phẩm nào đó của mình. Ví dụ: Xí nghiệp sản xuất xe hơi khi đặt mua vỏ xe sẽ yêu cầu người bán (nhà máy sản xuất vỏ xe) đặt mua xe hơi nơi mình để sử dụng cho nội bộ nhà máy.

    • Việc mua sắm của tổ chức có tính phức tạp hơn

    Do tính chất mua sắm của các tổ chức là mua số lượng lớn, số tiền nhiều vì thế hành vi mua thường dính líu đến nhiều người ở các cấp độ khác nhau trong tổ chức. Ví dụ: muốn thay thế một loại máy móc nào đó thì phải có sự tham gia của các kỹ sư, đốc công, giám đốc sản xuất, phòng kế toán, giám đốc điều hành. Do đó, hành vi mua khá phức tạp

    • Khi một tổ chức mua sắm vấn đề thương lượng rất quan trọng

    www.ebook.edu.vn

    Thương lượng đóng một vai trò quan trọng khi bán hàng cho một tổ chức vì cả người mua và người bán đều là giới chuyên nghiệp, vì số tiền mua bán rất lớn. Bảng chào giá của nhà cung cấp có thể dùng làm khởi điểm cho việc thương lượng.

    3.2 Hành vi mua sắm của người tiêu dùng

    Người tiêu dùng là những cá nhân mua sắm hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng cho cá nhân hoặc gia đình. Nhiều lúc khó để phân biệt một loại sản phẩm sẽ được bán cho khách hàng là người tiêu dùng cá nhân hay cho khách hàng tổ chức. Ví dụ, xe hơi bán cho người tiêu dùng để dùng cho cá nhân và bán cho các tổ chức để làm phương tiện đi lại hoạt động trong công ty. Đối với hai loại người mua này, chúng ta sẽ tìm hiểu bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:

    • Ai là người quan trọng trong quyết định mua?
    • Họ mua bằng cách nào?
    • Những quy tắc chọn lựa của họ là gì?
    • Họ mua ở đâu?
    • Khi nào họ mua?

    Chương này chúng ta chỉ bàn về 3 câu hỏi đầu vì những câu hỏi này thường khó trả lời nhất

    3.2.1 Ai mua?

    Nhiều vụ mua hàng tiêu dùng mang tính cá nhân. Nhiều quyết định mua cũng có thể do một tập thể như hộ gia đình. Trong tình huống cụ thể như vậy, một số cá nhân có tác động ảnh hưởng đến quyết định này. Chúng ta sẽ xem xét 5 vai trò khác nhau liên quan đến tiến trình mua sắm hàng hóa

    • Người khởi xướng: là người đầu tiên đề nghị hoặc có suy nghĩ về việc mua sản phẩm
    • Người ảnh hưởng : là người mà ý kiến của họ ảnh hưởng đến hành vi mua
    • Người quyết định: là người quyết định toàn bộ hoặc một phần của việc mua

    www.ebook.edu.vn

    • Người mua: là người thực hiện hành vi mua: đến cửa hàng thanh toán, mang hàng về
    • Người sử dụng: là người tiêu dùng trực tiếp sản phẩm sau khi mua.

    Một người có thể đảm trách nhiều vai trò cùng lúc trong nhóm mua sắm này.

    Ví dụ, trong việc mua đồ chơi, một bé gái có thể là người khởi xướng và tìm cách gây ảnh hưởng nơi cha mẹ là người quyết định. Người mua là cha hoặc mẹ bé gái sẽ đến cửa hàng để mua món đồ chơi đó. Cuối cùng, bé gái là người sử dụng. Tuy vụ mua sắm này chỉ nhằm cho một người nhưng nhưng những người bán hàng lại có 3 cơ hội: bé gái, cha mẹ chúng – để làm thay đổi kết quả của quyết định mua sắm

    3.2.2 Họ mua như thế nào?

    Nhu cầu

    Ví dụ một người mua máy tính điện tử để đáp ứng nhu cầu tính toán và tăng khả năng tính toán của mình lên. Và nhờ máy tính này có thể cải thiện các phép tính nhanh và chính xác hơn. Trong trường hợp này, nhu cầu xuất phát từ việc nhận rõ vấn đề cần giải quyết từ thực tế – chủ yếu máy tính cần các tính năng gì để đáp ứng công việc. Trong tình huống này, người bán hàng sau khi đã biết về những nhu cầu của khách hàng, nên biểu diễn cho khách hàng thấy tốc độ và sự chính xác của chiếc máy mà mình định bán. Việc bán hàng thành công buộc phải xác định các nhu cầu một cách rõ ràng

    Tuy nhiên, đối với một số sản phẩm thì việc thỏa mãn các nhu cầu có thể có tính cảm xúc hay tâm lý hơn. Ví dụ, người ta mua cây bút Sheafferr phần lớn vì sự danh giá của nó chứ không vì chất lượng cao hơn so với những cây bút của những nhãn hiệu khác. Một nhận xét chính xác về loại nhu cầu mà một sản phẩm phải thỏa mãn sẽ cho phép người bán hàng hoạch định cách chào hàng thích hợp. Nghĩa là, trình bày sản phẩm đó như là phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng hoặc giải quyết những vấn đề của họ.

    Những nhu cầu có thể xuất phát từ bên trong hoặc bên ngoài. Vì thế, người bán hàng cần phải biết khơi gợi nhu cầu của khách hàng một cách hợp lý

    www.ebook.edu.vn

    Thu thập thông tin

    Nhiều nhu cầu chỉ có thể được thỏa mãn sau một thời gian sưu tầm thông tin. Ví dụ như, một người có nhu cầu mua một chiếc xe máy với mức tiêu thụ xăng ít. Điều này có thể phải tìm tòi khá lâu mới quyết định loại xe nào sẽ thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của mình. Việc tìm kiếm này có thể bao gồm việc đến những nơi trưng bày xe, xem các chương trình về xe trên TV, đọc các tạp chí về xe và tham khảo với bạn bè. Rõ ràng là người này phải thu thập nhiều nguồn thông tin ngoài nguồn thông tin mà người bán hàng ở phòng trưng bày cho biết. Người bán hàng cần phải xem xét khách hàng của mình có xu hướng thu thập thông tin từ nguồn nào và họ cần những thông tin gì về sản phẩm để kịp thời cung ứng.

    Đánh giá các giải pháp và chọn giải pháp tốt nhất

    1. 1. Những quy tắc để đánh giá chọn lựa. Đây là những thước đo mà người tiêu dùng sử dụng để so sánh hay đánh giá các sản phẩm và nhãn hiệu. Trong ví dụ xe máy những quy tắc đánh giá thích hợp có thể là mức tiêu thụ xăng, giá mua và mức độ tin cậy
    1. Niềm tin. Đây là những mức độ theo đó một sản phẩm có được một không gian nào đó trong đầu óc người mua.

     

    1. Thái độ. Đây là những mức độ thích hay không thích về một sản phẩm nào đó, và nó tùy thuộc vào các quy tắc dùng để đánh giá. Và như vậy, niềm tin đòi hỏi phải có kiến thức, như kiểu tiêu thụ một lít xăng cho 55km, còn thái độ đòi hỏi yếu tố thích hay không thích, như kiểu xe máy X là loại xoàng

    Người bán hàng nên tìm hiểu xem người mua định sử dụng những quy tắc nào để xét đoán và để so sánh giữa các sản phẩm thay thế nhau. Ví dụ, một khách hàng định mua một dàn stereo, người bán sẽ tìm cách để biết người mua đó đánh giá các bộ stereo chủ yếu theo thiết kế bên ngoài hay theo chất lượng âm thanh. Thêm nữa, người bán tìm cách thay đổi được những quy tắc đánh giá của người mua sẽ mang lại sự hữu hiệu hơn trong bán hàng. Ví dụ, nếu người bán tin rằng lợi thế cạnh tranh của bộ stereo mà mình chào bán nằm ở chất lượng âm thanh, nhưng quy tắc của người mua lại đề cao mẫu mã thì người bán này sẽ nhấn mạnh vào chất lượng âm

    www.ebook.edu.vn

    thanh và giảm thiểu tầm quan trọng của thiết kế bên ngoài. Cũng vậy, nếu lý do chính yếu của người mua là chất lượng âm thanh nhưng họ lại thích sản phẩm của một nhãn hiệu cạnh tranh hơn thì nhiệm vụ của người bán hàng là làm khách hàng này thay đổi thái độ để hướng về sản phẩm mà mình đang bán

    Đánh giá quyết định sau khi mua

    Nghệ thuật tiếp thị hiệu quả là mang lại sự thỏa mãn cho khách hàng. Hầu hết các doanh nghiệp đều trông cậy vào việc khách hàng mua đi mua lại sản phẩm của mình. Điều này có nghĩa là khách hàng phải được thỏa mãn trong những lần mua sản phẩm của doanh nghiệp (nếu không họ sẽ không mua thêm). Kết quả của việc đánh giá sau khi mua tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Chất lượng của sản phẩm và mức độ dịch vụ hậu mãi đóng vai trò quan trọng rõ rệt trong việc tạo cảm tình ở khách hàng, và chính người bán hàng mới là người có thể giúp người mua yên tâm rằng sản phẩm mà họ mua đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của họ. Điều này có nghĩa là về lâu về dài thì người bán không nên thúc ép khách hàng mua những món hàng cao giá có những tính năng mà khách hàng không thực sự muốn, tuy bán được hàng họ có thể nhận khoản tiền lời mang lại thu nhập trước mắt, và nếu làm như vậy người bán có thể dẫn đến doanh số sụt giảm dần dần do khách hàng thật sự mất lòng tin sau này khi sử dụng các hàng hóa và dịch vụ mua được

    3.2.3 Những quy tắc chọn lựa

    Các quy tắc chọn lựa là những đặc tính hay những lợi ích mà khách hàng sử dụng khi họ đánh giá các hàng hóa và dịch vụ. Chúng cung cấp cơ sở cho việc quyết định chấp nhận mua nhãn hiệu này hay nhãn hiệu khác. Các quy tắc khác nhau cho những người mua khác nhau

    Ví dụ, em bé sẽ sử dụng hình ảnh bản thân khi chọn lựa đôi giày, còn bố hay mẹ thì nghĩ đến quy tắc giá cả. Hoặc, một bé trai có thể muốn một video – game đắt tiền nhất còn bố mẹ thì muốn một thứ khác rẻ hơn.

    Khi nguồn thu nhập tăng thì giá cả có thể không còn là quy tắc chọn lựa chính yếu nữa và sẽ được thay thế bằng những suy tư về vị thế hay thành phần trong xã hội. Các quy tắc chọn lựa có thể mang tính kinh tế hay cá nhân

    www.ebook.edu.vn

    • Những quy tắc kinh tế bao gồm: công năng, độ tin cậy, giá cả
    • Những quy tắc xã hội bao gồm địa vị và nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó trong xã hội
    • Những quy tắc cá nhân: quan tâm đến khía cạnh sản phẩm và dịch vụ liên quan thế nào với mỗi cá nhân về mặt tâm lý

    Ví dụ, một ai đó tự thấy mình như là một doanh nhân trẻ, hướng thượng và thành công, sẽ ước ao mua sắm những sản phẩm nào phản ánh được hình ảnh đó.

    Những người bán hàng và những nhà quản lý tiếp thị cần phải hiểu những quy tắc chọn lựa đang được người tiêu dùng sử dụng khi họ đánh giá sản phẩm hay dịch vụ. Một kiến thức như vậy sẽ cho phép người bán hàng uốn nắn các hành vi trong giao tiếp thích hợp với mỗi khách hàng mà mình đang tiếp

    3.3 Hành vi mua sắm của tổ chức

    Hành vi mua sắm của tổ chức đã được fisher (1976) chia ra làm 3 thành tố

    1. Cấu trúc. Yếu tố “ai” giải nghĩa cho việc ai tham gia vào quá trình ra quyết định và vai trò của họ như thế nào

     

    1. Tiến trình. Quan tâm đến việc “cách nào” – phương thức thu thập thông tin, phân tích và quyết định, lần lượt như vậy khi một tổ chức mua sắm chuẩn bị đi đến quyết định

     

    1. Các tiêu chí chọn lựa nhà cung cấp. Hướng đến “cái gì” mà tổ chức mua sắm cần, cái gì làm trọng tâm: yêu cầu về kỹ thuật, giá cả và điều kiện thanh toán; điều kiện giao hàng và bảo hành, dịch vụ sau khi ban hoặc khả năng bảo đảm tính liên tục của nhà cung cấp – những quy tắc chọn lựa được sử dụng ở mỗi giai đoạn của quy trình và rất khác nhau ở mỗi thành viên của hội đồng ra quyết định

    3.3.1 Cấu trúc

     

    www.ebook.edu.vn

    Một điểm cần hiểu rõ trong việc mua sắm của khách hàng tổ chức là người mua hay người có trách nhiệm trả tiền không phải là người duy nhất có ảnh hưởng đến quyết định hay người thật sự có quyền đưa ra quyết định cuối cùng. Thay vì vậy, việc quyết định nằm ở trong tay một nhóm người được gọi là Hội đồng quyết định hay Trung tâm mua

    Có 6 vai trò trong cấu trúc của Hội đồng quyết định

    1. Người khởi xướng là người khởi đầu của tiến trình mua sắm, đặt vấn đề cần phải giải quyết

     

    1. Người sử dụng: là nơi thực tế sử dụng sản phẩm hàng hóa mua

     

     

    1. Người quyết định: là người có quyền hạn trong việc chọn lựa nhà cung cấp

     

     

    1. Người gây ảnh hưởng: là người cung cấp thông tin và đưa thêm những quy tắc chọn lựa xuyên suốt tiến trình

     

    1. Người mua: là người có quyền hạn thực hiện những dàn xếp trong hợp đồng mua bán với nhà cung cấp

     

    1. Người gác cửa: là người có những quyền hạn trong việc làm chậm tiến trình mua sắm, hoặc làm nhiễu thông tin như: cô thư ký có thể giúp hay ngăn ngừa việc gặp vị tổng giám đốc trong công ty, hay cản trở việc người bán muốn tiếp xúc với một thành viên nào đó trong Hội đồng quyết định

    Nhiệm vụ của người bán là xác định và liên hệ được với những thành viên chủ chốt để thuyết phục họ về sản phẩm của mình. Nếu chỉ tìm cách tìm kiếm sự đồng thuận của người thu mua là chưa đủ, vì người này chỉ có ảnh hưởng thứ yếu trong việc chọn lựa nhà cung cấp

    Những người bán hàng cần tránh hai sai phạm chết người

    1. Làm việc trong phạm vi “vùng thoải mái” của mình với những người thân quen. Đây là nơi họ bỏ ra quá nhiều thời gian với những người họ thích và cảm thấy

    www.ebook.edu.vn

    thoải mái, nhưng lại là những người không quan trọng đối với sản phẩm hay nhà cung cấp mà các công ty cần mua hay cần tiếp xúc.

    1. Bỏ ra quá nhiều thời gian với những “người nói không”. Đây là những người có quyền nhưng lại không có quyền quết định. Chính nhóm người thứ 3 này mới là những người mà mọi cố gắng truyền thông cần phải hướng đến, nghĩa là những người quyết định.

    Khi vấn đề cần giải quyết có tính kỹ thuật cao, nhà cung cấp có thể làm việc với các kỹ sư của tổ chức mua để giải quyết các vấn đề và để nắm được đơn đặt hàng.

    Một ví dụ điển hình về một vụ thương thảo thành công ở một công ty Mỹ, công ty này chuyên cung cấp các van chế hòa khí, chính sách của công ty là tăng cường nỗ lực tiếp xúc với các kỹ sư trong công ty chế tạo ôtô. Việc tiếp xúc thường xuyên trong suốt cả tiến trình với các kỹ sư quan trọng này. Cuối cùng, với sự hỗ trợ của các kỹ sư thiết kế ôtô, công ty – bên bán đã được chấp nhận trở thành nhà cung cấp van chế hòa khí của nhà chế tạo ôtô hàng đầu của Mỹ

    Trong những tình huống không tiếp cận được những thành viên của Hội đồng quyết định thì người ta có thể dùng phương cách thay thế là quảng cáo. Thêm nữa, nếu những người sử dụng là nguồn ảnh hưởng quan trọng và sản phẩm tương đối rẻ tiền và dễ tiêu thụ thì những người bán hàng nên phát hàng mẫu: đây là cách khá hiệu quả thường được ưa thích

    3.3.2 Tiến trình mua

    Bản chất chính xác của tiến trình này sẽ tùy thuộc vào tình hình mua sắm. Trong vài tình huống, một vài giai đoạn có thể bỏ qua; ví dụ trong trường hợp mua lại thường lệ thì người thu mua không nhất thiết phải qua các giai đoạn 3, 4 và 5 (tìm kiếm nhà cung cấp, phân tích và đánh giá các đề nghị). Những giai đoạn này sẽ được bỏ qua, vì người mua khi nhận ra nhu cầu – như thiếu văn phòng phẩm – sẽ đặt mua trở lại từ nhà cung cấp hiện nay.

    Nói chung, quyết định càng phức tạp và món hàng càng đắt tiền thì mỗi giai đoạn sau đây sẽ phải thông qua và quy trình này sẽ kéo dài thời gian hơn.

    www.ebook.edu.vn

    1. Nhận thức nhu cầu hay nhận ra vấn đề

    Người ta có thể nhận ra những nhu cầu và vấn đề qua những yếu tố bên ngoài hoặc bên trong. Một điển hình của yếu tố bên trong là việc nhận ra sự thiếu hụt công suất dẫn đến việc mua thêm nhà máy và thiết bị. Như vậy, việc nhận thức bên trong dẫn tới hành vi hoạt động (nội bộ/hoạt động)

    Một số vấn đề được nhận thức bên trong có thể không dẫn tới một hành động nào cả. Tình huống này có thể được gọi là nội bộ hoặc thụ động. Một giám đốc sản xuất có thể nhận ra rằng một cỗ máy đang có vấn đề, nhưng vì nhu cầu cấp bách phải quyết định “sống chung với vấn đề” nên cần phải gấp rút và tiến trình diễn ra nhanh chóng. Nhiều vấn đề tiềm tàng khác có thể không được nội bộ nhận ra, và chỉ trở thành vấn đề nhờ ở những “gợi ý bên ngoài”. Một giám đốc sản xuất có thể khá hài lòng về quy trình sản xuất của mình cho đến lúc biết được có một phương pháp hữu hiệu hơn mới được phát hiện. Rõ ràng là những vấn đề này có vai trò to lớn với người bán hàng. Tình trạng nội bộ/ thụ động này cho thấy người bán, sau khi nhận thức tình huống, có cơ hội suy xét vấn đề bằng cách phân tích tỉ mỉ những điểm kém hiệu quả của hệ thống đang tồn tại và những dấu hiệu khác, để nhận ra rằng đây là vấn đề cấp bách và cần một giải pháp cho nội bộ hoạt động. Tình huống nội bộ/hoạt động đòi hỏi những người bán phải chứng minh lợi ích khác biệt giữa sản phẩm của mình và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Trong trường hợp này, sự khích động vấn đề là không cần thiết, nhưng trong những trường hợp không có sự nhận thức nội bộ thì người bán có thể cung cấp những gợi ý bên ngoài cần thiết. Một đại lý bán xe nâng có thể khơi mào vấn đề nhận thức bằng cách chỉ cho thấy xe nâng của họ có thể tiết kiệm tiền bạc cho khách hàng như thế nào, như: chi phí bảo trì thấp, và khả năng nâng chuyển lớn hơn sẽ dẫn tới sử dụng mặt bằng nhà kho hiệu quả hơn.

    1. Xác định các đặc điểm, quy cách và số lượng của món hàng đang cần
    • giai đoạn này của quy trình quyết định, Hội đồng quyết định sẽ phác họa món hàng đang cần. Ví dụ, công ty mua sắm đang cần 5 máy tiện và phải đáp ứng một số quy cách. Khả năng của người bán hàng phải hướng đến việc đáp ứng đầy

    www.ebook.edu.vn

    đủ các quy cách, và chỉ ra các bằng chứng mà sản phẩm của họ có thể đem lại cho công ty những lợi thế nào.

    1. Truy tìm và sàng lọc nhưng nguồn hàng tiềm năng

    Trong việc mua sắm ở khách hàng tổ chức thì người ta phải làm công việc truy lùng ở những cấp độ khác nhau. Nói chung, món hàng càng rẻ, càng ít quan trọng, và lượng thông tin về một hàng hóa nào đó mà người mua có được càng nhiều thì việc lùng kiếm sẽ càng ít đi. Các khách hàng tổ chức chuyên nghiệp thường có các thông tin về các nhà cung cấp thường xuyên. Các thông tin này bao gồm về uy tín, năng lực trong lĩnh vực mà khách quan tâm, các bằng chứng về sản phẩm và dịch vụ đã cung cấp trước đó… tất cả các dữ liệu về nhà cung cấp là những tài liệu quan trọng để tìm ra các nhà cung cấp dễ dàng.

    1. Tiếp thu và phân tích các đề nghị

    Sau khi đã tìm ra một số công ty được xem như là có đủ khả năng để cung cấp một sản phẩm nào đó (có lẽ thông qua tay nghề và uy tín của họ), công ty mua sẽ mời các nhà cung cấp gởi hồ sơ đề nghị đến và phân tích chúng

    1. Đánh giá các hồ sơ đề nghị và chọn lựa nhà cung cấp

    Mỗi hồ sơ sẽ được đánh giá theo những quy tắc mà mỗi thành viên của Hội đồng quyết định cho là quan trọng. Điều quan trọng cần nhận thức là mỗi thành viên có thể dùng một số quy tắc riêng khi họ nhận xét về các hồ sơ. Tuy điều này có thể tạo nhiều vấn đề nhưng kết quả của phương cách này là chọn ra được một hay vài nhà cung cấp

    1. Chọn lựa thủ tục đặt hàng

    Kế tiếp người ta sẽ thảo luận những chi tiết về thanh toán và giao hàng. Thông thường việc này do người thu mua thực hiện. Trong vài quyết định mua, giai đoạn này, được sáp nhập với giai đoạn 4 và 5 nếu việc giao hàng là một yếu tố quan trọng khi chọn lựa nhà cung cấp

    1. Phản hồi kết quả và đánh giá

     

    www.ebook.edu.vn

    Việc làm này có thể có tính cách nghiêm chỉnh thông qua việc bộ phận thu mua soạn ra một mẫu đánh giá để các bộ phận sử dụng điền vào, hay chỉ mang tính có thể trao đổi bằng lời khi gặp nhau

    Trong từng giai đoạn của tiến trình mua ở khách hàng tổ chức, người bán có thể tạo ảnh hưởng tốt thông qua việc gây ảnh hưởng về nhận thức nhu cầu, qua thiết kế các quy cách của sản phẩm, và bằng cách trình bày rõ ràng những ưu điểm của sản phẩm mình so với các sản phẩm của những người cạnh tranh phù hợp với các yêu cầu nhiều khi có tính riêng biệt của từng thành viên quan trọng trong Hội đồng quyết định. Bằng cách tiếp xúc sớm, người bán có thể có lợi nhờ ở tiến trình lần đầu qua đó tổ chức mua sắm càng lúc càng kết dính với nhà cung cấp, nhờ vậy nhà cung cấp này đã lấn được chân vào quy trình và đã đem lại một phần nào đó sự yểm trợ kỹ thuật cho người mua

    3.3.3 Các tiêu chí chọn lựa nhà cung cấp

    Hành vi mua sắm ở khách hàng tổ chức liên quan đến những quy tắc mà các thành viên Hội đồng quyết định sử dụng để đánh giá các hồ sơ của các nhà cung cấp. Những quy tắc này có sự khác nhau ở các thành viên trong hội đồng. Ví dụ, một giám đốc sản xuất nào đó đánh giá một nhà cung cấp sẽ thiên về các tiêu chuẩn về chi phí mua sắm vì ông là người chuyên trách về lĩnh vực này, đối với người khác là một số kỹ sư công nghệ lại chỉ thiên về đánh giá các tiêu chuẩn về kỹ thuật của quy trình sản xuất mà người này thiết kế ra

    Cũng như với người tiêu dùng, việc mua sắm của các tổ chức có những đặc điểm về khía cạnh kinh tế và cả khía cạnh về tâm lý. Những lý do chính yếu cho việc mua sắm nhà máy và thiết bị, có thể là tiền lời so với vốn đầu tư, còn đối với việc mua sắm nguyên vật liệu và bộ phận thiết bị thay thế thì có thể là giá bán vật tư và điều kiện thanh toán, cùng với các điều kiện giao hàng, trợ giúp chất lượng và kỹ thuật. Vì thời gian ngừng sản xuất có thể gây tổn thất lớn nên điều quan tâm lớn cho bộ phận thu mua là phát triển một hệ thống cung cấp lâu dài cho tổ chức. Những yếu tố tâm lý có thể cũng rất quan trọng, nhất là khi các sản phẩm chào bán cùng lúc từ nhiều nhà cung cấp giống nhau. Trong trường hợp này, quyết định cuối cùng

    www.ebook.edu.vn

    có thể tùy theo sự thích hay không thích của nhà cung cấp nào đó đối với người bán hàng. Sau đây chúng ta khảo sát một số quy tắc quan trọng

    Kinh tế Cảm xúc
    – Giá cả – Uy tín
    – Giao hàng – Giảm rủi ro cá nhân
    – Năng suất – phí vận hành so với lời – Ngữ cảnh văn phòng
    – Chi phí trong suốt thời gian tồn tại – Cuộc sống yên tĩnh
    – Độ tin cậy – Sự thích thú
    – Độ lâu bền – Sự qua lại
    – Khả năng nâng cấp – Sự tự tin
    – Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật – Sự sẵn sàng
    – Dịch vụ hỗ trợ thương mại
    – An toàn
    1. Chất lượng

    Việc xuất hiện khái niệm quản lý chất lượng toàn phần là một khía cạnh chính trong hoạt động của các tổ chức và điều này chi phối rất lớn đến việc đánh giá sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp. Nhiều tổ chức mua sắm tránh việc mua được giá hời nhưng phải hy sinh chất lượng. Đặc biệt, người mua giờ đây muốn có chất lượng cho cả hai sản phẩm và dịch vụ, cho nên đối với những sản phẩm quan trọng, giá tiền lớn (như xe hơi) phải có độ tin cậy cao, chi phí kiểm tra giảm và vận hành hoạt động đều. Các nhà sản xuất xe hơi thiết lập một hệ thống cung cấp đúng lúc, và những hệ thống này trông cậy vào nguồn vật liệu bảo đảm chất lượng

    www.ebook.edu.vn

    1. Giá cả và tổn phí hoạt động trong suốt chu kỳ sử dụng

    Đối với nguyên vật liệu và linh kiện cùng quy cách và chất lượng thì giá cả trở thành điều cân nhắc chính yếu. Đối với những món hàng đã có quy cách chuẩn như là bạt lán trại thì giá cả có thể là yếu tố quan trọng nếu muốn bán chạy, vì nhiều nhà cung cấp có thể đáp ứng việc giao hàng và quy cách như yêu cầu của khách hàng tổ chức. Chúng ta không nên quên rằng giá cả các yếu tố đầu vào là thành phần chiếm tỷ trọng của chi phí đối với nhiều tổ chức mua sắm. Càng ngày các tổ chức mua sắm càng lưu ý tới những tổn phí cho suốt chu kỳ sử dụng gồm những tiết kiệm nhờ tăng năng suất, chi phí bảo trì và cả những giá trị các hàng hóa mua về ứ đọng chưa sử dụng hết thừa đọng… Những nhà tiếp thị có thể sử dụng phân tích tổn phí trong suốt chu kỳ tồn tại để lập ra danh mục nhà cung cấp riêng. Bằng cách tính chiết khấu phí tổn trong suốt chu kỳ tồn tại với người mua để chọn lựa ra những nhà cung cấp hấp dẫn

    1. Khả năng của nguồn cung cấp liên tục

    Một tổn phí chính yếu khác của công ty là sự gián đoạn trong sản xuất. Những chậm trễ thuộc loại này có thể gây tổn hao lớn khi máy móc không sản xuất và có thể làm mất luôn cả khách hàng. Vì vậy, khả năng đảm bảo tính liên tục của nguồn nguyên vật liệu là một suy nghĩ hàng đầu trong nhiều tình huống mua sắm. Những công ty sao lãng điều này sẽ mất dần khách hàng, ngay cả khi giá bán của họ có tính cạnh tranh cao, vì một lợi thế không nhỏ này lại không bù đắp được những tổn hao lớn lao do việc giao hàng không đáng tin cậy. Những công ty cung cấp nào bảo đảm được các chuyến hàng và giữ được những gì đã hứa có thể đạt một ưu thế nổi trội trên thị trường. Những công ty khách hàng giờ đây đòi hỏi những quan hệ khăng khít với những nhà cung cấp uy tín nào có thể bảo đảm nguồn cung cấp đáng tin cậy

    1. Rủi ro có thể xảy ra

    Sự rủi ro dự kiến có thể xuất hiện dưới hai dạng: rủi ro chức năng như sự bất trắc về sản phẩm và dịch vụ. Loại rủi ro thứ hai – sợ làm mất lòng “sếp”, sợ bị giảm uy tín, bị những người khác trong phòng ban chê bai, hay sợ mất việc – đều có thể đóng một vai trò nào đó trong việc ra các quyết định mua sắm. Những người đi mua

    www.ebook.edu.vn

    thường giảm thiểu sự bất trắc bằng cách thu thập thông tin từ nhiều nhà cung cấp cạnh tranh, rà hỏi ý kiến của những người khác trong công ty, bằng cách chỉ mua những nhà cung cấp quen thuộc hay đáng tin cậy, và bằng cách rải rộng ra sự rủi ro nhờ mua ở nhiều nhà cung cấp

    1. Sự không đồng thuận trong việc chọn lựa nhà cung cấp

    Các tàhnh phần chính trị trong nội bộ công ty mua sắm cũng có thể gây ảnh hưởng cho kết quả của quyết định mua sắm. Sự tranh chấp giữa các khối phòng có thể thể hiện trong việc hình thành những “phe” tranh chấp nhau về một vụ mua sắm sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Ví dụ, bộ phận X thích nhà cung cấp 1 thì bộ phận Y tự động sẽ chọn nhà cung cấp 2. Kết quả của sự không đồng nhất này rất khó chọn lựa một nhà cung cấp cuối cùng và cũng gây khó khăn để triển khai công việc khi một nhà cung cấp nào đó được xét chọn

    1. Vấn đề ưa thích cá nhân

    Người đi mua thường thích người bán này hơn người bán khác, và điều này có thể ảnh hưởng đến việc chọn lựa nhà cung cấp, đặc biệt là khi xuất hiện nhiều sản phẩm cạnh tranh và giữa chúng có sự tương đồng cao. Ngay cả khi việc chọn lựa nhà cung cấp được dựa theo hình thức đấu thầu, người ta vẫn thấy những vụ người đi mua giúp người bán mà họ ưa thích để những người bán này có “lợi thế cạnh tranh”. Hiển nhiên, sự nhận thức rất quan trọng trong mọi vụ mua sắm của tổ chức, vì một ai đó hành động ra sao tùy thuộc vào nhận thức người đó về tình huống. Người đi mua này có thể nhận thấy người bán này là trung thực, đáng tin cậy, dễ mến, còn người đi mua khác không nhận định như vậy.

    www.ebook.edu.vn

    CHƯƠNG 4

    PHÂN LOẠI KHÁCH HÀNG VÀ CÁCH THỨC

    MARKETING NHẰM TIẾP CẬN VÀ THU HÚT KHÁCH HÀNG

    Người ta thường ví nghề bán hàng là “làm dâu trăm họ” tức là người bán hàng hàng ngày phải tiếp xúc với rất nhiều loại khách hàng và điều khó khăn hơn là phải làm thỏa mãn tất cả những khách hàng này. Muốn vậy, trước khi tiếp xúc thật sự với khách hàng, người bán cần trang bị cho mình những kiến thức để nhận biết tất cả các loại khách hàng, từ đó có những cách thức tác động thích hợp. Dưới đây là một số cách thức phân loại khách hàng và các giải pháp tác động hiệu quả

    4.1 PHÂN LOẠI KHÁCH HÀNG THEO THÁI ĐỘ

    4.1.1 Khách hàng phụ thuộc

    Đây là loại khách hàng thường hay mắc cỡ hoặc sợ sệt, e dè khi quyết định mua hàng. Họ thường yêu cầu người bán giúp đỡ họ thậm chí hỏi ý kiến người cùng mua hàng

    Khách hàng này có thể chậm quyết định mua, người bán cần kiên nhẫn tìm hiểu ý định, nhu cầu về sản phẩm hay dịch vụ mà khách hàng đang cần đến. Nếu được đáp ứng đúng nhu cầu, khách hàng phụ thuộc này sẽ tìm đến mua lần nữa và cố tìm đến người bán hàng lần trước để mua hàng

    4.1.2 Khách hàng đa nghi

    Khách hàng đa nghi bước vào khách hàng với thái độ ngờ vực, thiếu tin tưởng, âm thanh giọng nói của họ dường như chứa đựng sự mỉa mai. Họ hỏi sản phẩm hay dịch vụ đồng thời với việc yêu cầu chứng cớ, thái độ này xuất phát từ sự thất vọng của những lần mua hàng trước đây

    Người bán hàng có kinh nghiệm cần chịu khó tìm hiểu và xóa tan nỗi nghi ngờ thông qua các chứng cớ về hàng hóa mà mình đang bán. Khách hàng đa nghi dù có

    www.ebook.edu.vn

    khó chịu nhưng khi người bán hàng xây dựng được mối quan hệ tốt với họ, họ sẽ trở thành khách hàng thường xuyên

    4.1.3 Khách hàng nói nhiều

    Đây là loại khách hàng rất thoải mái khi bước vào cửa hàng. Họ nói huyên thuyên mọi chuyện với người bán, đôi khi chẳng dính dáng gì đến hàng hóa đang được bày bán. Trong trường hợp này người bán hàng phải biết chọn thời điểm thích hợp để xen vào và cố gắng xoay qua vấn đề chủ yếu là hàng hóa bày bán

    4.1.4 Khách hàng tự cao

    Có những khách hàng bước vào cửa hàng với thái độ tự cao, hách dịch. Họ có vẻ như đang ban ơn cho người bán

    Gặp loại khách hàng này, người bán cần khéo léo cư xử, một sự trân trọng, một lời ca tụng hơi quá một tý…sẽ chứng minh được sự thành công và khách hàng tự cao sẽ quyết định mua nhanh chóng

    4.1.5 Khách hàng hay giận dữ

    Khi đến cửa hàng, nếu người bán chưa kịp chào mời, khách hàng loại này sẽ tỏ thái độ bực tức như có ai đang xúc phạm đến họ. Đây là loại khách hàng ít khi hài lòng bất cứ điều gì và hay thích cự nự với người bán.

    Gặp khách hàng này, người bán này phải rất lịch sự, quan sát nét mặt, cử chỉ đang thể hiện tâm trạng giận dữ của họ, lắng nghe nguồn gốc của sự giận dữ đó thì mới xác định được nhu cầu mà họ đang cần. Người bán hàng chỉ thành công khi biết tự kiềm chế và làm cho khách hàng bình tĩnh trở lại

    4.1.6 Khách hàng chỉ đến xem

    Khách hàng chỉ đến xem xuất phát từ những lý do như: giết thời gian rảnh rỗi, đang chờ người thân… họ đến cửa hàng mà không có động cơ mua hàng rõ rệt

    www.ebook.edu.vn

    Trong trường hợp này, người bán hàng không nên tập trung chú ý vào họ, điều này khiến họ ngài ngùng. Người bán chỉ nên để “một mắt” quan sát họ, lúc họ tập trung vào một loại hàng nào thì nên nắm lấy cơ hội để chào mời. Đôi khi khách hàng loại này có thể mua một vài món hàng

    4.1.7 Khách hàng do dự

    Đây là loại khách hàng có động cơ mua hàng rõ ràng. Người bán giới thiệu đầy đủ, họ không quyết định được là mua hay không. Họ vẫn tiếp tục bỏ đi từ cửa hàng này sang cửa hàng khác.

    Khi tiếp xúc với loại khách hàng này, người bán hàng ngoài việc giới thiệu cần bổ sung một “áp lực” như: đây là hàng sắp hết, doanh nghiệp chỉ khuyến mãi hoặc tặng quà trong dịp này thôi… Nếu khách hàng thực sự có nhu cầu thì họ sẽ mua

    4.2 PHÂN LOẠI KHÁCH HÀNG THEO ĐỘ KHÓ

    Chúng ta chia thành 10 cấp nắm lấy khách hàng, cấp độ 10 có nghĩa là khách hàng khó chiều

    4.2.1 Khách hàng vâng vâng dạ dạ (độ khó 4)

    Kiểu hành động. Là khách hàng đồng ý với bất kỳ cách nói nào. Nhân viên có nói gì họ cũng gật đầu đồng ý, dù có giới thiệu những sản phẩm khả nghi họ cũng cứ gật

    Suy nghĩ nội tâm. Dù nhân viên bán hàng có nói gì, trong lòng họ cũng đã nghĩ là không mua. Nói cách khác họ chỉ đồng ý để nhân viên sớm kết thúc việc giới thiệu,họ cho rằng cứ gật đầu bừa, hoặc phụ họa theo thì nhân viên sẽ “chột dạ” và không dám giới thiệu nữa.

    Nhưng trong lòng họ rất sợ nếu không cảnh giác se bị nhân viên mượn cớ để bán hàng.

    Khách hàng kiểu này cũng rất dễ chinh phục.

    www.ebook.edu.vn

    Phương pháp tấn công. Nếu không muốn kiểu khách hàng này nói “có” thì hãy hỏi thẳng “tại sao hôm nay không mua”, từ đó tấn công vào sự không chú ý của khách hàng. Khách hàng thường bất ngờ vì bạn “đọc ra vị” của họ, không vó caác giải thích nên phải nói thật.

    4.2.2 Trong mềm ngoài rắn (độ khó 4)

    Kiểu hành động khách hàng kiểu này cho rằng: họ tinh thông về hàng hóa nhiều hơn nhân viên bán hàng. Loại khách hàng này không muốn nhân viên chiếm ưu thế hay kiểm soát họ, cũng không muốn tỏ ra kém hơn người khác. Họ có thể tạo ra ranh giới “tôi biết rồi” để bảo vệ bản thân.

    Phương pháp tấn công. Hãy tương kế tựu kế nếu khách hàng ngya từ đầu đã nói về sản phẩm thì cứ để họ nói tùy thích nhưng cũng đừng chỉ vì những việc đấy hãy giả vờ học ra điều gì đấy từ lời nói của họ, gật đầu tỏ vẻ đồng tình triệt để khen ngợi, khách hàng sẽ đắc ý nói tiếp nhưng có lúc sẽ không hiểu hết nên không biết phải làm gì. Lúc này bạn nên nói “không sai. Ông hiểu rất rõ ưu điểm của sản phẩm này, vậy sẽ dự định mua bao nhiêu”.

    4.2.3 Khách hàng trâu vàng (độ khó 4)

    Kiểu khách hàng. Loại khách hàng này rất thích nói rằng họ có nhiều tiền và trước đây đã có những thành công gì. Họ sẽ kể rằng mình đã qua lại với ai, cũng phóng đại lên “chỉ cần đồ tôi thích mua chục cái cũng chẳng sao”. Họ luôn lủng lẳng chỉ vàng hay đồng hồ xịn trên tay với ý cho đối phương hiểu rằng mình có tiền.

    Phương pháp tấn công. Cần phụ họa họ, giả vờ quan tâm đến họ, hãy ra sức khen ngợi, nghe ngóng bí quyết thành công của họ. Cố gắng tôn trọng họ, tỏ ý coi họ như bạn bè. Và đến lúc kỳ hợp đồng hãy hỏi xem mấy ngày nữa họ sẽ có tiền đặt cọc mua hàng. Nếu làm như vậy, họ sẽ có để thời gian để gom tiền giữ được thể diện cho họ. Nhân viên bán hàng không nên hỏi dồn: “Bây giờ anh có tiền không?” cho dù biết họ không có tiền và cung không nên tỏ thái độ.

    4.2.4 Khách hàng suy nghĩ cận trọng (độ khó 8)

     

    www.ebook.edu.vn

    Kiểu hành động. Loại khách hàng ngồi bình tĩnh trên ghế suy nghĩ, không hề mở miệng, họ không ngừng hút thuốc hoặc nhìn ra cửa số chằng nói câu nào. Họ nhìn bạn với ánh mắt hoài nghi tỏ vẻ thiếu kiên nhẫn.

    Khi gặp mặt có thể bắt tay rất lịch sự nhưng thực tế cũng chỉ đến đó mà thôi. Khách hàng cẩn trọng này là những người suy nghĩ thực sự. Họ muốn lắng nghe lời của nhân viên bán hàng cũng như muốn nhìn xem nhân viên đó có chân thành hay không. Họ ngồi nhìn phân tích và đánh giá về người bán hàng. Đây thông thườn là phần từ tri thức, có hiểu biết nhất định về sản phẩm hay công ty. Họ rất cẩn trọng, phát ngôn rất chính xác, có thể chất vấn bạn bất cứ khi nào.

    Đứng có nói sơ lược, chú ý lắng nghe những gì khách hàng nói cũng là điều quan trọng. Từ những lời nói của họ có thể biết được họ đang nghĩ gì. Khi marketing với khách hàng này cần phải thật lẽ phép. Nói cách khác cần dùng phương pháp marketing nhã nhặn mà bảo thủ. Đừng có hưng phấn quá mức nhưng cần phải rất nhiệt tình khi nói về sản phẩm và chính sách của công ty. Hơn nữa, cần nói thoải mài về bản thân, gia đình hay công việc của mình. Như vậy, họ sẽ muốn hiểu rõ về bạn hơn. Kết quả là họ sẽ phá bỏ tư thế phòng ngừa, dần dần nói về mình. Như vậy là có thể mở được cánh cửa đối thoại.

    4.2.5 Khách hàng sợ chết (độ khó 3)

    Kiểu hành động. Loại khách hàng này nhát gan đến mức bạn đứng sau lưng họ kêu lên một tiếng mà tim họ cũng đập loạn lên. Họ rất sợ nhân viên marketing, mắt họ thường đảo khắp nơi, hiếm khi để yên một chỗ.họ có vẻ hay lấy tay nghịch bút hay vật gì đó trên bàn. Kiểu khách hàng này có cảm giác sợ hãi khi đứng trước nhân viên bán hàng, do họ nghĩ rằng mình phải trả lời các câu hỏi về cá nhân, công việc. Do biết là mình cuối cùng sẽ bị thuyết phục mà đành phải mua nên họ sẽ không vui khi thấy nhân viên bán hàng xuất hiện.

    Phương pháp tấn công. Với khách hàng này cần phải thân mật, thận trong. Sau đó quan sát kỹ, khen ngợi họ vì điều họ cần là “tự tin” của bản thân và “tình cảm” của nhân viên bàn hàng. Chỉ cần nói qua về công việc của họ đừng có quá đi sâu vào đời tư của họ, đồng thời tìm ra điểm chung giữa mình và khách hàng nhằm làm

    www.ebook.edu.vn

    cho họ chú ý loại bỏ cảm giác căng thẳng để cho họ cảm động, để cho họ cảm thấy bạn thực lòng quan tâm đến họ.

    4.2.6 Khách hàng lạnh nhạt (độ khó 7)

    Kiểu hành động. Có thái độ mua hay không cũng chẳng quan trọng, xem ra họ chẳng quan tâm đến chất lượng hàng hay sở thích của mình Biểu hiện của họ cho thấy họ không thích nhân viên bán hàng, tỏ vẻ mất kiên nhẫn và không thể tiếp cận. Khách hàng này không thích nhân viên gây áp lực hoặc chào bán sản phẩm với họ. họ thích tự mình điều tra về sản phẩm chứ không thích bị động ngồi nghe.

    Phương pháp tấn công. Dùng cách giới thiệu thông thường sẽ không có hiệu quả, phải tìm cách để họ tự nguyện mua hàng mà không có ý kiến gì.

    4.2.7 “Hôm nay không mua” hoặc “chỉ xem thôi” (độ khó 3)

    Kiểu hành động. Khách hàng này vừa nhìn thấy nhân viên bán hàng đã nói:

    “Tôi đã quyết định hôm nay không mua cái gì”

    “Tôi chỉ nhìn xem sao, hôm nay tôi không có cả hướng”

    Đối với loại khách hàng này họ đã chuẩn bị trước về mặt tâm lý, họ có thể nói chuyện thoải mái với nhân viên bán hàng và không có sự phòng ngừa gì với marketing. Có thể đây là đối tượng có thể marketing nhất trong tất cả các loại khách hàng.

    Phương pháp tấn công. Không cần để ý đến câu nói ban đầu của họ, bới đó không phải là cân nói thực lòng, bạn chỉ cần có lòng nhiệt tình và có sự thân mật là có thể marketing bình thường với họ.

    Họ không hề có phản kháng gì với giao dịch có điều kiện tốt với họ.Vì thế, có thể giảm thêm chút giá là ký được hợp đồng.

    4.2.8 Khách hàng tò mò (độ khó 3)

     

    www.ebook.edu.vn

    Kiểu hành động. Kiểu khách hàng này chằng gặp trở ngại gì về hàng hóa mà họ chỉ muốn có thêm thông tin về sản phẩm.

    Chỉ cần có thời gian, họ đồng ý ngồi nghe giới thiệu sản phẩm. Lúc đó họ có thái độ rất lịch sự và khiêm tốn. Nếu bạn nói rõ được vấn đề họ sẽ tích cực hỏi. Họ là điển hình của loại người mua hàng do nhất thời thích thú chỉ cần có động cơ là mua hàng ngay không do dự. Thích mua đồ chỉ cần có ấn tượng về hàng hóa, thương hiệu hay nhân viên

    là họ mua liền.

    Phương pháp tấn công. Để thỏa mãn sự hiếu kỳ và cần giới thiệu nhiều về sản phẩm, để khách hàng hưng phấn và đi theo hướng marketing của bạn. Riêng khách hàng kiểu này, cần cho họ thấy rằng: đó là một cơ hội tốt.

    4.2.9 Khách hàng phẩm chất tốt

    Kiểu hành động. Đây là khách hàng rất lịch sự, không chỉ không có thành kiến với nhân viên mà còn hỏi thăm: “làm marketing thật là vất vả!”. Họ rất hay nói thật lòng,lại rất chú ý lắng nghe. Họ cũng không gây áp lực cho nhân viên.

    Phương pháp tấn công. Nếu gặp khách hàng như vậy thì coi như đã thành công một phần rồi. Hãy nói rõ về sưc hấp dẫn của hàng hóa và coi trọng chúng. Nhân viên bán hàng cần có thái độ lịch sự, tỏ ra mình có phong cách chuyên nghiệp giới thiệu theo quy trình chuyên nghiệp.

    4.2.10 Khách hàng thô lỗ và đa nghi

    Kiểu hành động. Khách hàng này sẽ đi hùng hục vào cửa hàng, họ không hề tin vào bạn hay sản phẩm. Khách hàng kiểu này rất khó ứng phó. Họ luôn tìm cơ hội để tranh cãi với nhân viên bán hàng.

    Phương pháp tấn công. Cần có thái độ thân mật,cới mở, đừng có tranh luận với họ tránh nói những câu gây áp lực với họ, nếu không sẽ làm cho họ càng lo lắng. Khi giới thiệu sản phẩm, cần nói nhỏ và lịch sự, chậm rãi. Nếu bỏ qua khách hàng này, không giới thiệu sản phẩm cho họ thì họ bỏ đi là chuyện thông thưòng nhưng

    www.ebook.edu.vn

    nhân viên bán hàng tài giỏi khác với nhân viên bán hàng bình thường là có thể ngồi cùng họ, thay đổi suy nghĩ của họ.

    www.ebook.edu.vn

    CHƯƠNG 5

    BÁN HÀNG TRỰC TIẾP

    MỤC ĐÍCH:

    1. Phân biệt các giai đoạn của quy trình bán hàng
    1. Áp dụng các vấn đề này vào các tình huống bán hàng
    1. Hiểu được những gì liên quan đến phần chào bán và biểu diễn
    1. Biết cách xử lý những chỉ trích, phản bác của khách hàng
    1. Hiểu và ứng dụng nghệ thuật thương lượng mua bán
    1. Kết thúc một vụ chào bán

    Để phát triển những kỹ năng cá nhân về bán hàng, chúng ta nên phân biệt 6 giai đoạn của quy trình bán hàng

    5. 1 Gặp gỡ

    Những ấn tượng ban đầu có thể che lấp những nhận thức sau đó và vì vậy điều quan trọng là nghĩ đến những cách mà chúng ta có thể gây được những phản ứng thuận lợi ngay từ đầu

    Người mua kỳ vọng vào người phong cách và hành vi. Tóc tai bù xù và y phục luộm thuộm có thể làm mất sự tự tin ở khách hàng

    Người bán hàng phải mở đầu bằng sự mỉm cười, bắt tay và giới thiệu mình và công ty cho khách hàng. Người bán hàng phải tuân theo những phép tắc thông thường. Ví dụ: người bán hàng phải chờ khách hàng tỏ dấu hiệu mời ngồi rồi mới ngồi xuống, hay ít ra, xin phép hay cáo lỗi với khách hàng rồi mới ngồi. Việc lưu ý tới chi tiết như phải cầm hồ sơ bên tay trái để tay phải dùng để bắt tay, sẽ tránh được sự lúng túng trao hồ sơ từ tay phải qua tay trái khi khách hàng đưa tay ra bắt

    www.ebook.edu.vn

    Cách đưa và nhận danh thiếp

    Cách trao danh thiếp Cách nhận danh thiếp
    – Để danh thiếp ở chỗ dễ lấy nhất (túi – Nhận bằng hai tay
    áo trên, kẹp vào sổ tay…)
    – Lấy ra ngay lúc gặp khách hàng – Cúi đầu chào về hướng danh thiếp
    – Phải trao trước mặt khách, phía tay
    phải – Để hướng danh thiếp trên bàn, ngay
    trước mặt
    – Nên dùng hai tay, trao theo chiều – Nếu không có bàn, sau khi chào ta bỏ
    thuận vào túi áo hoặc sổ tay
    – Không nên cho vào túi quần hoặc vừa
    – Không nên âm thầm để lên mặt bàn cầm vừa mân mê, nắn bóp
    – Vừa trao vừa nói

    Những điều cần tránh khi tiếp xúc với khách hàng:

    • Đeo kính mát
    • Chải đầu, trang điểm, dũa móng tay, nhai kẹo cao su, hút thuốc lá
    • Chỉ trích đối thủ cạnh tranh
    • Đề cập đến những vấn đề tế nhị: tôn giáo, chủng tộc, địa phương
    • Than phiền về một số khách hàng khác…

    Những câu nói mở đầu rất quan trọng vì nó hiệu đính âm thanh cho suốt phần còn lại của cuộc tiếp xúc. Thường thì những câu nói đó phải liên quan đến việc mua

    www.ebook.edu.vn

    bán vì đây là mục đích mà họ đến, không để khách hàng thấy họ đang phí phạm thời gian. Khi khách hàng là người quen hay đã biết qua và nếu người bán nhận thấy khách hàng có ý muốn nói vài chuyện xã giao thì người bán hiển nhiên có thể làm theo. Việc này sẽ tạo thêm sự thân mật cần thiết với khách.

    Lỗi lầm lớn nhất mà nhiều người bán hàng lẻ thường vấp phải là mở đầu với “Tôi giúp được gì nào?” vì khách sẽ đáp lại “Không, cảm ơn. Tôi chỉ xem qua thôi”.

    5.2 Nhận dạng nhu cầu

    Hầu hết những người bán hàng có nhiều thứ để bán. Người bán xe hơi có một loạt các kiểu xe, từ kiểu xe nhỏ sử dụng cho gia đình đến những kiểu xe hạng sang nhất. Những người bán lẻ xe đạp sẽ có nhiều kiểu xe lấy từ nhiều nguồn sản xuất để bán cho khách hàng. Người bán thuốc tây sẽ giới thiệu cho các bác sĩ một loạt thuốc cho nhiều loại bệnh. Trong mỗi trường hợp trên, mục đích đầu tiên của người bán hàng là khám phá vấn đề và nhu cầu thực sự của khách hàng. Ví dụ, trước khi người bán xe hơi có thể bán được họ phải biết khách cần xe lớn hay xe nhỏ? Khách muốn xe có mức tiết kiệm xăng cao hay công suất cao? Khách thích có cốp sau hay cửa sau? Khách định mua xe với tầm giá nào? Khi đã có những thông tin này thì người bán hàng mới ở trong tư thế chào bán kiểu hàng thích hợp với những nhu cầu của khách hàng. Người bán máy vi tính có thể dò hỏi những yêu cầu của khách hàng trước khi gợi ý một hệ thống máy thích hợp. Người bán lẻ xe đạp phải hỏi xem mua xe cho ai sử dụng, khách thích loại nào,loại xe leo núi hay xe đua và khách thích màu nào trước khi có thể gợi ý chiếc xe nào là thích hợp. Người chào dược phẩm sẽ thảo luận với bác sỹ những vấn đề xảy ra trong khi chữa bệnh. Việc làm này sẽ cho người bán cơ hội đề xuất một giải pháp cho những vấn đề đó nhờ ở sản phẩm của công ty mình

    Phân tích nhu cầu thực sự gắn với việc đặt câu hỏi và xem xét khách hàng thảo luận (quy trình bán hàng người bán hàng phải lấy tư thế hỏi và nghe). Nhằm khuyến khích khách hàng thảo luận những vấn đề và nhu cầu của mình thì người bán phải sử dụng loại câu hỏi “mở” thay vì câu hỏi “đóng”. Câu hỏi mở là câu hỏi đòi hỏi phải trả lời dài trên một tiếng hay một từ ngữ. Ví du:

    www.ebook.edu.vn

    • “Tại sao Ông cho rằng hệ thống vi tính này không thích hợp cho công ty của Ông?”
    • “Lý do Ông định mua máy photo của hiệu XYZ là gì?”
    • “Ông không thích kiểu dáng chiếc xe này ở những điểm nào?”

    Mặt khác, câu hỏi đóng sẽ đem lại câu trả lời một tiếng hay một từ ngữ mà thôi. Những câu hỏi đóng có thể dùng để có được những thông tin từ sự việc thực tế nhưng dùng nhiều quá sẽ làm giới hạn mối quan hệ và sẽ dẫn đến đối thoại nhát gừng thiếu suôn sẻ. Ví dụ câu hỏi đóng:

    • “ Cô có biết tên của loại thiết bị cô đang dùng?”
    • “Công ty của Ông đang sản xuất sản phẩm X phải không?”
    • “Tên của kỹ sư công trình này là gì nhỉ?”

    Trên thực tế, người ta có thể dùng nhiều loại câu hỏi trong một cuộc tiếp xúc chào hàng. Người bán hàng nên tránh bị sa lầy vào việc trình bày chào hàng trước khi biết được những nhu cầu của khách hàng?

    • cuối quy trình này, người bán nên tóm tắt lại những điểm đã được nêu ra để xác nhận lại những điều đã bàn với khách hàng. Ví dụ:

    “Tốt rồi, thưa ông Lam. Tôi nghĩ tôi đã có ý kiến tốt về loại bất động sản mà Ông đang tìm. Ông muốn mua một căn nhà có bốn phòng ngủ chỉ cách chỗ ông làm việc chừng 15 phút đi xe. Ông muốn ngôi nhà biệt lập hay song song nhưng không muốn có vườn đất rộng xung quanh. Ông định đấu giá chừng 400 triệu đồng đến

    • triệu đồng. Tôi đã nêu hết những điều ông muốn chưa ạ? Tôi còn bỏ sót những điểm nào không?”

    Các loại câu hỏi thường sử dụng khi bán hàng trực tiếp

    Loại câu hỏi Mục đích Ví dụ
    Câu hỏi ràng buộc Dùng để xác nhận hay để Ông muốn chương trình chạy

    www.ebook.edu.vn

    ràng buộc khách như ý chứ?
    Câu hỏi dẫn dắt Hướng dẫn hay lèo lái tư Cô mặc áo khoác này cảm
    tưởng của khách thấy thế nào?
    Câu hỏi chọn lựa Để thúc đẩy câu trả lời bằng Bà thích kiểu màu đỏ hay
    cách chọn một trong nhiều màu xanh?
    phương án
    Câu hỏi khẳng định Một câu khẳng định kèm Máy này có thể quay 5000
    theo câu hỏi để thúc đẩy vòng/phút và xử lý 3đv/phút.
    khách suy nghĩ về câu đó Ông nghĩ sao về năng suất
    này?
    Câu hỏi góc nhọn Để gài khách vào một vị thế Nếu tôi kiếm được kiểu màu
    nào đó xanh là hợp lý ông chứ?
    Câu hỏi dò la thông Để thu thập sự kiện Nơi ông có bao nhiêu công
    tin nhân?
    Chuyển tiếp Để từ giai đoạn này qua giai Ngoài  việc  đó  ra  ông còn
    đoạn khác muốn  biết  gì  thêm  không?
    Nếu không tôi sẽ nói về…

    5.3 Trình bày và giới thiệu

    Một khi những nhu cầu và vấn đề của người mua đã được xác định thì tiếp sau đó đến phần trình bày.

    Câu hỏi đặt ra đầu tiên là trình bày cái gì? Phần trên đã cho phép người bán chọn lựa những sản phẩm thích hợp nhất để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Thứ hai, sau khi đã thảo luận đầy đủ những gì khách hàng muốn, người bán phải biết nhấn mạnh vào lợi ích nào của sản phẩm. Bất cứ loại sản phẩm nào cũng đều có cả loạt các loại đặc điểm đem lại lợi ích cho khách hàng, nhưng những người mua đặt những ưu tiên khác nhau cho những sản phẩm này. Nói tóm lại, sau khi đã xác định nhu cầu và vấn đề của khách hàng thì phần trình bày sẽ đem lại cơ hội cho người bán thuyết phục khách hàng về việc mình đã có giải đáp.

    www.ebook.edu.vn

    Chìa khóa của việc bán hàng là luôn nhận thức rằng khách hàng mua những lợi ích và chỉ quan tâm đến những đặc điểm nào của sản phẩm đem lại những lợi ích họ mong muốn. Các lợi ích phải phân tích ở hai cấp độ: những lợi ích có thể có được do việc mua một loại sản phẩm nào đó và những lợi ích do mua sản phẩm đó tại một nhà cung cấp riêng biệt nào đó.

    Điều bất lợi trong bán hàng nếu chỉ trình bày sản phẩm sa vào các đặc điểm thay vì phải trình bày lợi ích của nó. Một phương pháp đơn giản để kết nối đặc điểm và lợi ích trong phần trình bày là kết hợp chúng bằng những cụm từ sau đây:

    • “Điều này có nghĩa là”
    • “Điều này đem lại kết quả là”
    • “Điều này cho phép ông…”

    Ví dụ: Một nhân viên địa ốc có thể nói: “ngôi nhà đó cách chỗ ông làm việc chừng 6km (đặc điểm sản phẩm), điều này có nghĩa là ông dễ dàng có mặt nơi làm việc trong vòng mười lăm phút sau khi rời nhà” (lợi ích cho khách hàng) hay “Kiểu này có trang bị hệ thống siêu tốc (đặc điểm sản phẩm), điều này cho phép ông giảm mức tiêu thụ xăng khi di chuyển trên xa lộ” (lợi ích cho khách hàng)

    Người bán hàng không nên để từ ngữ “trình bày” đánh lạc theo hướng một chiều. Tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi không chỉ giới hạn vào giai đoạn xác định nhu cầu và vấn đề. Đặt câu hỏi trong trình bày có hai chức năng:

    • Thứ nhất, nó rà soát rằng người bán đã nắm hiểu những loại lợi ích mà người mua đang tìm kiếm. Sau khi đã giải thích một lợi ích nào đó rồi thì người bán tập thói quen hỏi người mua “có phải đây là thứ ông đang tìm không?”
    • Thứ hai, việc đặt câu hỏi cho thấy liệu người mua đã hiểu được những gì người bán nói hay không?

    Một trở ngại lớn cho sự hiểu biết là việc sử dụng tiếng long kỹ thuật mà người mua không thể hiểu biết được. Hễ khi nào phần trình bày nhất thiết phải rắc rối và

    www.ebook.edu.vn

    dài dòng, thì người bán nên ngưng ở vài nơi và hỏi xem khách hàng có gì hỏi không. Việc này tạo cho người mua cơ hội hỏi bất cứ điều gì mà họ không hiểu thấu đáo. Phương cách nêu câu hỏi này cho phép người bán hàng gia giảm tốc độ và nội dung của phần trình bày cho thích hợp với những tình huống mà mình đang gặp phải. Những người mua có kiến thức khác nhau, trình độ hiểu biết và tài năng kỹ thuật khác nhau. Việc đặt câu hỏi cho phép người bán truyền thông hiệu quả hơn vì nó cung cấp thông tin cần thiết cho người bán biết cách thay đổi phần trình bày cho từng người mua.

    Mặc dù, khi người bán trình bày tất cả những lợi ích cho khách hàng nhưng vẫn tồn tại rất nhiều nguy cơ. Bởi vì khách hàng rất dè dặt trong việc chuyển đổi nhà cung cấp. Vì thế, có 4 cách để có thể làm giảm nguy cơ đó:

    • Bán hàng có dẫn chứng
    • Biểu diễn
    • Bảo đảm
    • Mua thử
    • Bán hàng có dẫn chứng

    Bán hàng có dẫn chứng bao gồm việc sử dụng những khách hàng hài lòng để thuyết phục người mua về tính hiệu quả của những sản phẩm đang được chào bán. Trong giai đoạn chuẩn bị, người bán soạn ra một danh sách khách hàng một danh sách khách hàng hài lòng, sắp xếp theo loại sản phẩm. Các thư từ của những khách hàng hài lòng cũng được lưu giữ và được xuất trình trong khi chào bán để tăng thêm lòng tin nơi người mua. Kỹ thuật này rất hữu hiệu trong việc chào bán vì nó chuyển dịch người mua từ vị trí quan tâm đến sản phẩm đến vị trí bị thuyết phục rằng sản phẩm này là giải pháp cho vấn đề của mình.

    • Biểu diễn

    Ngạn ngữ Trung Quốc: “Anh nói thì tôi quên, anh chỉ cho tôi thì có lẽ tôi nhớ,

    anh đưa tôi vào cuộc thì tôi sẽ hiểu”. Ví dụ: những người bán xe chịu để cho khách

    www.ebook.edu.vn

    lái thử xe. Đối với hầu hết các sản phẩm, ngoại trừ những sản phẩm đơn giản nhất, người ta nên chia phần biểu diễn ra thành hai giai đoạn:

    • Giai đoạn thứ nhất: mô tả ngắn gọn đặc điểm và lợi ích của sản phẩm và một lời giải thích sản phẩm này sử dụng ra sao
    • Giai đoạn thứ hai: liên quan đến phần trình diễn thực sự và người bán phải làm việc này

    Lý do cho việc tồn tại hai giai đoạn này là người mua thường rất khó hiểu được nguyên lý về cách hoạt động của máy nếu chỉ qua thông tin về sản phẩm. Một khi thiết bị đã được biểu diễn chạy tốt, người mua được khuyến khích tự tay sử dụng máy với sự theo dõi của người bán. Nếu đáp ứng những nhu cầu của khách hàng, người bán lựa chọn được thiết bị đúng và nó chạy tốt thì việc biểu diễn này đã đưa người mua đến gần với giai đoạn mua

    Thực hiện phần biểu diễn

    1. Bạn hãy khởi đầu thật vắn tắt cho biết bạn sẽ làm gì hay dẫn chứng điều gì
    1. Bạn hướng dẫn người mua tiềm năng có thể tham gia phần biểu diễn bằng cách nào
    1. Bạn hãy làm cho phần biểu diễn thật lý thú và thỏa mãn khách hàng tối đa
    1. Cho khách thấy những sản phẩm đáp ứng những nhu cầu ra sao hay làm sao để giải quyết những vấn đề của khách hàng
    1. Đừng rời khách cho đến khi nào khách hoàn toàn thỏa mãn với phần biểu diễn. Sự hài lòng đó sẽ giúp làm giảm những than phiền xảy ra sau khi mua
    • Bảo đảm

    Những bảo đảm về độ tin cậy của sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và việc giao hàng có thể củng cố thêm lòng tin ở người mua và giảm bớt chi phí cho khách hàng nếu có gì không may xảy ra

    www.ebook.edu.vn

    • Mua thử

    Trong trường hợp khách hàng định mua lại ngay nơi nhà cung cấp cũ thì chiến lược cuối cùng nhằm làm giảm bớt nguy cơ đó là người bán khuyến khích khách hàng mua thử ngay cả nếu như không kinh tế cho công ty và người bán nếu khách hàng đó thực sự quan trọng. Phương cách duy nhất cho những nhà cung cấp mới để chen chân vào là nắm cho được một đơn đặt hàng nhỏ để chứng minh khả năng của công ty trong việc cung cấp những mặt hàng chất lượng cao đồng đều và nhanh chóng. Sự tin cậy được tạo ra như vậy về lâu dài sẽ dẫn đến sự hợp tác cao hơn với khách hàng đó.

    5.4 Ứng xử với những chỉ trích

    Người bán không nên ngạc nhiên với những lời chỉ trích. Nhiều chỉ trích đơn giản chỉ là những cách diễn đạt sự quan tâm của người mua và họ cần có thêm thông tin vì người mua quan tâm đến những gì người bán nói. Vấn đề là người mua chưa được thuyết phục. Sau đây là một số kỹ thuật xử trí với những chỉ trích:

    • Lắng nghe và không làm gián đoạn

    Việc cắt ngang chối bỏ sự nể trọng mà người mua đáng được có. Phương cách đúng ở đây là chủ yếu lắng nghe, nghe một cách chăm chú và nể trọng. Người mua sẽ cảm kích người bán chịu nghiêm chỉnh tiếp thu vấn đề của mình và người bán sẽ có lợi do hiểu biết thấu đáo vấn đề của khách hàng thực sự là gì

    • Đồng ý và phản biện

    Phương cách này duy trì sự nể trọng mà người bán tỏ cho người mua. Trước hết người bán đồng ý rằng tất cả những gì người mua nói đều nghe được và hợp lý trước khi đưa ra một quan điểm khác. Vì vậy cách này làm mài mòn sự gay cấn của những chỉ trích và tạo ra một bầu không khí tương thuận thay vì tương phản. Ví dụ:

    Người mua: Vấn đề xe ủi đất của anh là nó đắt tiền hơn xe đối thủ của anh

    Người bán:

     

    www.ebook.edu.vn

    1. “Tôi hiểu sự quan tâm của ông về việc máy ủi đất của chúng tôi đắt tiền hơn của hãng khác. Tuy nhiên, tôi muốn dẫn chứng cho ông thấy rằng…”
    1. “Cách đây một năm, ông khách A của chúng tôi cũng có ý kiến như vậy. Tôi có thể đảm bảo với ông rằng ông A hiện rất hài lòng về quyết định mua sắm đó vì khoản tiết kiệm về chi phí qua thời gian đã vượt quá mức cao giá ban đầu”
    1. “Điều đó hoàn toàn đúng – chi phí ban đầu có phần cao hơn. Đây là lý do tại sao tôi muốn dẫn chứng cho ông thấy …”
    • Từ chối thẳng thừng

    Sử dụng phương pháp này phải rất cẩn thận. Tuy nhiên người ta vẫn có thể dùng nó nếu người mua thật tình muốn tìm thêm thông tin. Ví dụ:

    Người mua: Tôi e rằng loại xe này sẽ khó chùi rửa

    Người bán: Không đâu, ông khách ạ, không hẳn thế. Vật liệu này là sợi tổng hợp mới được chế tạo, nó không bám bẩn và các vết dơ có thể lau sạch với chỉ miếng vải ướt và xà phòng

    • Hỏi vặn lời chỉ trích

    Ví dụ một khách hàng có thể nói là họ không thích dáng vẻ của sản phẩm, hay rằng sản phẩm không có chất lượng tốt. Trong tình huống bày, người bán nên hỏi lại bản chất của lời chỉ trích nhằm làm sáng tỏ vấn đề đang nêu ra. Đôi khi việc này đem lại kết quả là lời chỉ trích nghiêm trọng lại hóa ra là một vấn đề dễ giải quyết

    Người mua: Tôi rất tiếc là tôi không thích hình dáng của chiếc xe này

    Người bán: Xin ông nói rõ ông không thích điểm nào nơi dáng vẻ của nó?

    Người mua: Tôi không thích hoa văn nơi các ghế ngồi

    Người bán: Ồ, thật ra kiểu xe này có nhiều mẫu mã ghế đệm. Hay là ông xem trong catalog này có loại hoa văn nào vừa ý ông không?

    www.ebook.edu.vn

    Một lợi ích khác của việc hỏi vặn là trong khi tìm cách giải thích rõ ràng bản chất của lời chỉ trích người mua tự nhận thấy sự việc không đến nỗi tệ hại như vậy

    • Mời mua thử

    Biến chỉ trích thành kết thúc mua khi người bán nhận thấy rằng khách hàng đã cảm giác hài lòng nhưng còn ngần ngại ở một số điểm. Thông thường, người bán thực hiện việc kết thúc này sau khi quy trình bán hàng đã trải qua chặng đường khá dài và người bán nhận thấy rằng chỉ còn một chỉ trích nữa thôi. Trong tình huống này người bán có thể nói: “Nếu như tôi có thể chứng minh xe của chúng tôi có mức tiêu thụ xăng ít hơn thì ông sẽ mua chứ?”

    Khi sử trí chỉ trích, người bán phải nhớ rằng những tranh cãi gay cấn sẽ không giúp được việc bán hàng.

    • Chỉ trích ngầm

    Không phải khách hàng nào đều nêu rõ chỉ trích của họ. Phản ứng đúng đắn của người bán đối với những chỉ trích tiềm ẩn là đưa ra những câu hỏi bộc lộ bản chất của những chỉ trích đó. Ví dụ:

    • “Cho đến bây giờ ông có thấy điều gì bất ổn không?”
    • “Ông suy tư gì thế?”

    Đối với những người mua ít nói thì việc biết những chỉ trích của họ là khá khó. Phương cách cuối cùng là người bán có thể phán đoán điều mà họ tin đang gây trở ngại và nêu câu hỏi như: “Tôi e rằng ông chưa hoàn toàn tin vào khả năng vượt trội của sản phẩm chúng tôi chứ gì?”

    • Ngăn chặn lời chỉ trích

    Với phương pháp này, người bán không những tiên liệu lời chỉ trích và trù liệu cách chống đỡ mà ngược lại còn nêu lên một chỉ trích như là một phần của cách trình bày chào hàng

    www.ebook.edu.vn

    Nó được sử dụng nhiều nhất khi người bán phải đối diện lời chỉ trích đó nhiều lần. Tuy nhiên, mối hiểm nguy của phương pháp này là người bán có thể nêu lên vấn đề mà người mua trước đó không nghĩ tới

    Ví dụ: sau khi bạn giới thiệu xong với bà chủ nhà về đặc điểm của nồi áp suất, bạn có thể nói tiếp rằng: “Hiện tại, chắc bác đang suy nghĩ đến áp lực liệu có quá lớn phải không? Xin bác cứ yên tâm, tác dụng của van an toàn này chính là chống áp lực quá lớn”. Do rất nhiều người đã từng nghe nói tới trường hợp nồi áp suất bị nổ, nên bà chủ nhà này có lẽ cũng đang lo lắng về vấn đề này, chuẩn bị đề xuất ý kiến với bạn nhưng bạn đã chủ động nêu ra trước.

    5.5 Thương lượng

    – Hãy khởi đầu với giá khá cao nhưng bạn phải nên thực tế.

    Có nhiều lý do chính đáng để mở đầu với giá khá cao. Thứ nhất, người mua có thể đồng ý với giá đó. Thứ hai, nó soạn chỗ cho việc thương lượng. Người mua chờ đợi người bán nhượng bộ để bán được hàng

    • Tìm cách nhượng qua để có nhượng lại: Đôi khi người ta phải nhân nhượng đơn giản chỉ để bán được hàng. Trong một số trường hợp, người bán có đôi chút thẩm quyền trong việc đáp ứng những yêu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh thì người bán có thể nhân nhượng qua về với người mua. Một cách đơn giản để làm được việc này là kỹ thuật “nếu…thì”
    • “Nếu ông có thể sắp xếp để nhận hàng tại cơ sở của chúng tôi thì tôi sẵn sàng giảm ngay 50 USD khỏi giá bán”
    • “ Nếu ông chịu thanh toán trong vòng 28 ngày thì tôi sẽ giảm giá 2,5%”

    Đây là công cụ quý báu vì nó khuyến khích nhích lại gần thỏa hiệp mà vẫn đảm bảo được việc nhượng cho người mua cái gì đó và có lại cái gì khác

    • Những kỹ thuật thương lượng của người mua

    www.ebook.edu.vn

    Người mua cũng có một số kỹ thuật để thương lượng. Người bán phải ý thức thực tại đó vì đôi lúc hậu quả của chúng rất là tác hại. Kennedy và cộng sự (1980) mô tả một số kỹ thuật nhằm suy yếu vị thế của người thương lượng

    • Thứ nhất, phương cách súng dài là người mua nói: “Trừ phi ông chịu giảm giá ngay 20% còn không chúng tôi sẽ tìm nhà cung cấp khác”. Theo một nghĩa nào đó thì ở đây người mua đã ra đòn kỹ thuật “nếu…còn không”, nhưng trong bối cảnh này thì hậu quả là rất nghiêm trọng. Phản ứng thỏa đáng tùy thuộc vào kết quả của việc đánh giá cán cân quyền lực được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị. Nếu người mua có một số cách chọn lựa mà tất cả đều đem lại cũng chừng đó lợi ích như của sản phẩm của người bán thì người bán có thể nhượng bộ. Nếu sản phẩm của người bán có lợi hơn hẳn những sản phẩm cạnh tranh thì người bán bác bỏ đề nghị đó
    • Kịch bản thứ hai mà người mua có thể sử dụng là kỹ thuật “bạn cứ bán rẻ chuyến này đi, tương lai sẽ sáng sủa”. Đây có thể là câu nói chân thực. Quả vậy, mục đích của người bán là có được một chân đứng trong công việc kinh doanh của người mua. Nếu vị trí của người mua tương đối vững mạnh thì người bán sẽ muốn biết những yêu cầu chính xác hay những cam kết rõ ràng
    • Một kỹ thuật cuối cùng có tên là “Chiến thuyền Noah”. Người mua gõ gõ một ngón tay vào hồ sơ chào hàng và nói: “Anh phải nghĩ lại về giá cả đi. Tôi đã có thư chào giá của các đối thủ của anh và tất cả đều có giá thấp hơn.” Phản ứng của người bán tùy thuộc vào mức độ tự tin của mình. Người bán có thể cho là người mua nói xạo và đề nghị cho xem các bảng giá; hay đề nghị người mua để mình giải thích tại sao giá cả phải như vậy; hoặc nếu người bán tin chắc vào thành công trong qúa khứ thì người bán có thể nói: “Vậy thì tôi khuyên ông nên mua nơi họ”

    5.6 Kết thúc vụ chào bán

    Những kỹ năng và kỹ thuật trước đây, tự chúng chưa đủ để đảm bảo sự thành công liên tục. Chúng ta cần một yếu tố cuối cùng nữa để hoàn chỉnh – khả năng kết thúc một vụ chào hàng

    Một số người bán hàng tin rằng một cuộc trình bày hiệu quả tất nhiên sẽ dẫn đến người mua hỏi mua sản phẩm đang chào bán và người bán không cần kết thúc vụ

    www.ebook.edu.vn

    chào bán. Chuyện này đôi lúc cũng xảy ra nhưng thường thì người bán phải chủ động.

    Một điều quan trọng cần suy nghĩ là chọn thời gian. Một quy tắc tổng quát là tìm cách kết thúc vụ chào bán khi người mua tỏ vẻ quan tâm cực độ hay có ý định rõ ràng muốn mua. Thế nên người bán hàng nên nhanh chóng nắm bắt những dấu hiệu muốn mua và phản ứng lại một cách kịp thời. Sau đây là một số kỹ thuật kết thúc mà người bán có thể sử dụng

    • Yêu cầu khách hàng đặt hàng

    Kỹ thuật đơn giản nhất là hỏi ngay vào việc mua hàng:

    • “Tôi để riêng cho ông một máy nhé?”
    • “Ông muốn mua sản phẩm này chứ?”
    • “Ông có thích nó không?”

    Điểm chính yếu cho việc sử dụng kỹ thuật này là giữ im lặng sau khi bạn đã yêu cầu đặt mua hàng. Người bán đã đưa ra “câu hỏi đóng” ngầm yêu cầu một câu trả lời có hay không?

    • Tóm tắt rồi yêu cầu

    Kỹ thuật này cho phép người bán nhắc lại cho người mua những điểm chính yếu trong lập luận chào hàng và đặt mua là bước kế tiếp tự nhiên

    Thưa ông Lam, chúng ta đã đồng ý rằng kiểu máy này đáp ứng những yêu cầu của ông là ít tiếng ồn, năng suất cao, thoải mái cho người lái xe và ở mức giá mà ông có thể trang trải được. Vậy tôi ghi vào Ông đặt mua máy này nhé?

    • Kết thúc bằng nhượng bộ

    Kỹ thuật này là giữ riêng một nhượng bộ để sử dụng như là cú đẩy cuối cùng hướng đến đồng ý: “Nếu ông đặt mua ngay bây giờ thì tôi sẵn sàng giảm thêm 2.5%”

    www.ebook.edu.vn

    • Kết thúc bằng một đề nghị khác

    Kỹ thuật kết thúc này giả định rằng người mua muốn mua nhưng chưa quyết định nên mua màu xanh hay màu đỏ, ngày giao hàng sẽ là Thứ tư hay Thứ sáu, thanh toán bằng tiền mặt hay thẻ tín dụng…Trong những trường hợp này ngưới bán đề nghị hai phương án, việc đồng ý với một trong hai đều là kết thúc vụ chào bán

    • “Ông thích kiểu màu xanh hay màu đỏ?”
    • “Ông muốn máy được giao vào ngày Thứ tư hay Thứ sáu?”
    • Kết thúc khi có lời chỉ trích

    Kỹ thuật này sử dụng một chỉ trích của khách hàng để kích thích việc mua. Nếu người bán tin chắc rằng lời chỉ trích đó là rào chắn lớn cho việc bán hàng thì họ gài người mua bằng cách nói: “Nếu tôi có thể thuyết phục được ông rằng đây là kiểu máy tiết kiệm nhất trong dòng máy này thì ông mua chứ?”

    • Đồng ý về một hành động

    Trong một vài tình huống, người ta không phải luôn muốn tìm cách kết thúc bằng một đơn đặt hàng, người bán chỉ tìm cách đạt được sự “đồng ý sẽ làm” đối với sản phẩm dược phẩm hay “đồng ý xem xét” lại và hẹn lần gặp mặt sau.

    Một khi việc mua bán đã được thỏa thuận thì người bán phải theo sát hai quy tắc. Thứ nhất, họ không được để lộ cảm xúc. Thứ hai, bạn phải rời đi ngay nhưng vẫn giữ vẻ lịch sự

    5.7 Theo dõi

    Giai đoạn cuối cùng của quy trình chào hàng là rất cần thiết để đảm bảo rằng khách hàng được hài lòng với vụ mua đó và không có vấn đề gì về giao hàng, lắp đặt hay sử dụng, tư vấn. Việc theo dõi chứng tỏ người bán thật sự có trách nhiệm với khách hàng và nó cũng có thể cho biết việc khách hàng quyết định mua có đúng hay không.

    www.ebook.edu.vn

    www.ebook.edu.vn

  • Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    I.                  Logistics Là Gì?

    I.1       Các Khái Niệm Về Logistics

    Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing” , từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữ khác. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó. Nhưng rất nhiều công ty giao nhận vận tải lại được đăng ký là ví dụ như AB Logistics như vậy vô tình công ty này có thể được hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics, mà không biết logistics là gì?

    Một số định nghĩa Logistics là hậu cần, số khác lại định nghĩa là nhà cung ứng các dịch vụ kho bãi và giao nhận hàng hoá vv …và chúng ta thấy rằng đây giống như là một cái áo thời trang mà công ty giao nhận vận tải hàng hóa nào cũng muốn có để tăng thêm sức mạnh cho mình. Vậy Logistics Là Gì?

    Có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ này :

     Logistics được hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sự lưu thông và tích trữ một cách hiệu qủa tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc nhằm mụch đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng.

     Logistics có thể được định nghĩa là việc quản lý giòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan…..từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo

    yêu cầu của khách hàng. Hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và xử lý rác thải (Nguồn : UNESCAP……………………..)

     Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin

    liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (World Marintime Unviersity‐ Đại học Hàng Hải Thế Giới, D. Lambert 1998).

     Thực ra Logistics được áp dụng rất rộng rãi trong nhiều ngành không chỉ trong Quân sự từ rất lâu, được hiểu là hậu cần, mà nó còn áp dụng trong sản xuất tiêu thụ, giao thông vận tải vv..

    Vì vậy trên cơ sở Logistics tổng thể (Global Logistic) người ta chia hoạt động logistics thành Supply Chain Managment Logistics –Logistics quản lý chuỗi cung ứng. Transportation Management Logistics‐ Logistics quản lý vận chuyển hàng hóa. Warhousing/ Inventery Management Logistics – Logistics về quản lý lưu kho, kiểm kê hàng hoá, kho bãi.

    Như vậy quản lý Logistics là sự điều chỉnh cả một tập hợp các hopạt động của nhiều ngành cùng một lúc và chỉ khi nào người làm giao nhận có khả năng làm tất cả các công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục hải quan, phân phối….mới được công nhận là

    nhà cung cấp dịch vụ logistics. Xét về điều kiện này thì hầu như chưa có công ty Việt Nam nào có thể làm được, chỉ một số rất it các công ty nước ngoài và cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay như: DHL Danzas, TNT Logistics……

    Vì lĩnh vực Logistics rất đa dạng, bao gồm nhiều quy trình và công đoạn khác nhau nên hiện nay người ta chia thành 4 phương thức khai thác hoạt động Logistic như sau:

    • Logistics tự cung cấp:

    Các công ty tư thực hiện các hoạt động logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Đây là những

     

    5

    tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạng lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa phương.

    • Second Party Logistics (2PL)

    Là việc quản lý các hoạt động logistics truyền thống như vận tải hay kho vận. Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài các dịch vụ cung cấp logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản. Lý do của phương thức này là để cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư.

    • Third Party Logistics (TPL) hay logistics theo hợp đồng.

    Phương thức này có nghĩa là sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động Logistics, cã thÓ lμ toμn bé qu¸ tr×nh qu¶n lý Logistics hoÆc chØ mét sè ho¹t ®éng cã chän läc. C¸ch gi¶i thÝch kh¸c cña TPL lμ c¸c ho¹t ®éng do mét c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics thùc hiÖn trªn danh nghÜa kh¸ch hμng cu¶ hä, tèi thiÓu bao gåm viÖc qu¶n lý vμ thùc hiÖn ho¹t ®éng vËn t¶i vμ kho vËn Ýt nhÈt 1 n¨m cã hoÆc kh«ng cã hîp ®ång hîp t¸c. §©y ®−îc coi nh− mét liªn minh chÆt chÏ giøa mét c«ng ty vμ nhμ cung cÊp dÞch vô Logistics, nã kh«ng chØ nh»m thùc hiÖn c¸c ho¹t ®éng Logistics mμ cßn chia sÎ th«ng tin, rñi ro vμ c¸c lîi Ých theo mét hîp ®ång dμi h¹n.

    • Fourth Party Logistics (FPL) hay Logistics chuçi ph©n phèi.

    FPL lμ mét kh¸I niÖm ph¸t triÓn trªn nÒn t¶ng cña TPL nh»m t¹o ra sù ®¸p øng dÞch vô, h−íng vÒ kh¸ch hμng vμ linh ho¹t h¬n. FPL qu¶n lý vμ thùc hiÖn c¸c ho¹t ®éng Logistics phøc hîp nh− qu¶n lý nguån lùc, trung t©m ®iÒu phèi kiÓm so¸t vμ c¸c chøc n¨ng kiÕn tróc vμ tÝch hîp c¸c ho¹t ®éng Logistics. FPL bao gåm lÜnh vùc réng h¬n gåm c¶ c¸c ho¹t ®éng cña TPL , c¸c dÞch vô c«ng nghÖ th«ng tin, vμ qu¶n lý c¸c tiÕn tr×nh kinh doanh. FPL ®−îc xem lμ mét ®iÓm liªn l¹c duy nhÊt , n¬i thùc hiÖn viÖc qu¶n lý, tæng hîp c¸c nguån lùc vμ gi¸m s¸t c¸c chøc n¨ng TPL trong suèt chuçi ph©n phèi nh»m v−¬n tíi thÞ tr−êng toμn cÇu, lîi thÕ chiÕn l−îc vμ c¸c mèi quan hÖ l©u bÒn.

    Trong mét sè nghiªn cøu ng−êi ta l¹i ph©n lo¹i c¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics theo c¸c nhãm nh− sau.

    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô VËn T¶i

    – C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô vËn t¶i ®¬n ph−¬ng thøc.

     

    6

    VD: C«ng ty cung cÊp dÞch vô vËn t¶i ®−êng bé, ®−êng s¾t, hμng kh«ng, ®−êng biÓn.

    • C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô vËn t¶i ®a ph−¬ng thøc
    • C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô khai th¸c c¶ng
    • C¸c c«ng ty m«i giíi vËn t¶i
    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô Ph©n Phèi -C«ng ty cung cÊp dÞch vô kho b·i

    -C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô ph©n phèi

    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô Hμng Ho¸ – C¸c c«ng ty m«i giíi khai thuª h¶i quan

    – C¸c c«ng ty giao nhËn, gom hμng lÎ

    – C¸c c«ng ty chuyªn ngμnh hμng nguy hiÓm – C¸c c«ng ty dÞch vô ®ãng gãi vËn chuyÓn

    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô Logistics Chuyªn Ngμnh
    • C¸c c«ng ty c«ng nghÖ th«ng tin
    • C¸c c«ng ty viÔn th«ng
    • C¸c c«ng ty cung cÊp gi¶i ph¸p tμi chÝnh, b¶o hiÓm
    • C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô gi¸o dôc vμ ®μo t¹o

    C¸c c«ng ty nμy l¹i cã thÓ ®−îc chia thμnh 2 lo¹i: C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics cã vμ kh«ng cã tμi s¶n.

    C¸c c«ng ty së h÷u tμi s¶n thùc sù cã riªng ®éi vËn t¶i , nhμ kho vv vμ sö dông chóng ®Ó qu¶n lý tÊt c¶ hay mét phÇn c¸c ho¹t ®éng Logistics cho kh¸ch hμng cña m×nh. C¸c c«ng ty Logistics kh«ng së h÷u tμi s¶n th× ho¹t ®éng nh− mét ng−êi hîp nhÊt c¸c dÞch vô Logistics vμ phÇn lín c¸c dÞch vô lμ ®i thuª ngoμi. Hä cã thÓ ph¶i ®i thuª ph−¬ng tiÖn vËn t¶i, nhμ kho, bÕn b·i ..ViÖc thuª ngoμi ®· nhanh chãng ph¸t triÓn trong vμi n¨m gÇn ®©y. Ngμy nay cã rÊt nhiÒu lo¹i h×nh dÞch vô Logistics nh»m ®¸p øng yªu cÇu ®a d¹ng kh¸c nhau cña c¸c ngμnh hμng kh¸c nhau. Kh¸c víi tr−íc ®©y, kh«ng chØ c¸c dÞch vô Logistics c¬ b¶n nh− vËn t¶i vμ kho vËn mμ c¸c lo¹i dÞch vô phøc t¹p vμ ®a d¹ng kh¸c còng ®· xuÊt hiÖn. ViÖc thuª ngoμi c¸c dÞch vô Logistics gäi theo thuËt ng÷ chuyªn ngμnh lμ Outsourcing.

     

    7

    I.2            Nh÷ng B−íc C¬ B¶n Cña Quy Tr×nh Logistics

    B−íc thùc hiÖn              Kh¸ch hμng              Chñ hμng            C«ng ty Logistics                H·ng tμu

    KiÓm tra sè PO

    vμ quyÕt ®Þnh

    Göi Booking cho c«ng ty

    Logistics

    X¸c nhËn Booking tõ

    c«ng ty Logistics, chuÈn

    bÞ giao hμng

    KiÓm tra sè PO trong hÖ

    thèng hoÆc xin ý kiÕn

    kh¸ch hμng

    NhËp chi tiÕt booking

    vμo hÖ thèng

    X¸c nhËn booking víi

    chñ tμu/lÞch tμu/thêi gian

    cut-off

     

    ChÊt hμng lªn xe t¶i

    Giao hμng t¹i kho cïng

    víi chøng tõ cÇn thiÕt

    NhËn copy FCR vμ kØÓm

    tra néi dung

    Book container víi h·ng

    tμu

    Dì hμng, kiÓm tra,

    barcode scanning

    KiÓm ho¸/ §ãng hμng lÎ

    vμo Container/ H¹ b·i

    CËp nhËt th«ng tin trong

    hÖ thèng

    Göi b¶n copy FCR cho

    chñ hμng/ X¸c nhËn chÝnh

    x¸c B/L, SWB

    NhËn B/L, SWB gèc,/ in

    FCR gèc

    Cung cÊp Booking container cho c«ng ty Logistics

    H¹ b·i

    Tμu ch¹y

    Lμm B/L, SWB, göi copy cho c«ng ty Logistics

     

    NhËn Shipping Advice

    Nép chøng tõ theo yªu cÇu /

    NhËn FCR gèc

    NhËn chøng tõ vμ khai b¸o

    h¶i quan

    Göi Shipping Advice cho

    kh¸ch hμng

    KiÓm tra chøng tõ

    Ph©n lo¹i chøng tõ vμ göi

    cho kh¸ch hμng

     

    Gi÷a ng−êi mua hμng vμ c«ng ty Logistics sau khi ®¹t ®−îc tho¶ thuËn vÒ dÞch vô ®−îc cung cÊp, bªn cung cÊp dÞch vô sÏ x©y sùng lªn quy tr×nh Logistics trong ®è thÓ hiÖn râ mäi yªu cÇu vÒ dÞch vô cña ng−êi mua hμng mμ theo ®ã c«ng ty Logistics cã

     

    8

    bæn phËn ph¶i thùc hiÖn ®óng. Quy trình này thường có tên là quy trình Logistics hiện hành hay quy trình khai thác tiêu chuẩn (Standard Operating Procedure). Quy trình Logistics bao gồm các bước sau:

    • Booking: Theo hợp đồng thương mại ký kết với khách hàng về

    một đơn hàng cụ thể, chủ hàng sẽ gửi chi tiết số đơn hàng (Purchasing Oder) theo mẫu booking quy định cho công ty Logistics bao gồm số PO, số loại hàng, số chiếc, số khối……….Những chi tiết yêu cầu này thay đổi tuỳ

    theo khách hàng, được quy định trong quy trình Logistics. Ngoài ra trong mẫu booking cần có những thông tin quan trọng khác như tên người gửi hàng, người nhận hàng, số L/C…Sau khi nhận được booking từ chủ hàng, người phụ trách khách hàng của công ty Logistics sẽ kiểm tra những chi tiết này trên hệ thống dữ liệu mà đã được khách hàng cập nhật. Ngoài ra quy trình cũng quy định thời gian chủ hàgn gửi booking cho công ty Logistics, chủ hàng không thể tuỳ tiện gửi booking theo tình hình hàng hóa.

    • Giao hàng: Hàng sau khi được Booking sẽ được xuất theo hai dạng là hàng lẻ hoặc container. Đối với hàng lẻ, chủ hàng phải giao hàng trước thời gian cut‐off time của công ty Logistics. Tại kho, mã số hàng hoá phải được quét mã vạch, việc quét mã vạch này được công ty Logistics thực hiện khi nhận hàng và đóng hàng vào container. Dữ liệu trên sẽ được cập nhật trên hệ thống của công ty Logistics. Một số trường hợp hàng hóa phải có thư cam kết (Letter of Guarantee) từ phía chủ hàng. Vd: Hàng nguy hiểm, hàng chất lỏng…Việc thực hiện thủ tục hải quan hàng xuất tại kho sẽ

    do chủ hàng thực hiện nhưng chủ yếu vẫn là các công ty Logistics làm thay cho chủ hàng, như vậy sẽ thuận tiện và nhanh chóng hơn. Khi nhận đủ hàng từ chủ hàng, công ty Logistics sẽ đóng hàng vào container theo kế hoạch đóng hàng và hạ bãi.

     

    9

    • Chứng từ: Sau khi giao hàng vào kho của công ty Logistics hoặc hạ bãi container chủ hàng sẽ cung cấp chi tiết lô hàng cho công ty Logistics để làm vận đơn đường biển (Bill of Lading‐B/L, Seaway Bill‐

    SWB hay House Bill) chứng nhận nhận hàng (Forwarder’s Cargo Receipt‐ FCR). Dựa trên chi tiết cung cấp kết hợp với chi tiết thực nhận trong kho, nhân viên chứng từ công ty Logistics sẽ cập nhật vào hệ thống và in ra chứng từ đã nêu cho chủ hàng. Hầu hết các công ty Logisticsđảm nhận luôn công việc phân loại, kiểm tra và gửi toàn bộ chứng từ của lô hàng cho khách hàng. Như vậy khi chủ hàng lấy B/L, SWB hay FCR gốc, chủ hàng cần phải nộp chứng từ gốc cần thiết cho công ty Logistics như (commercial invoice, packing list, certificate of origin…)

    Sau khi hoàn thành việc cập nhật chi tiết lô hàng vào hệ thống, công ty Logistics sẽ gửi thông báo hàng xuất cho khách hàng (Shipping Advice) bao gồm những thông tin cơ bản về lô hàng (PO, số container, ngày tàu chạy…..)

    Đa số những công ty cung cấp dịch vụ Logistics tại Việt nam đều hoạt động theo nội dung của quy trình Logistics đã nêu trên. Quy trình này bao hàm những dịch vụ được cung cấp như quản lý đơn hàng, gom hàng, quản lý chứng từ, dịch vụ tại kho…..Nhưng thực ra đây mới chỉ là những khâu

    cơ bản nhất trong chuỗi Logistics mà các công ty Việt nam đã và đang làm được.

    II       Giới Thiệu Các Tập Đoàn Logistics Thế Giới

    • ©y lμ nh÷ng tËp ®oμn kinh tÕ kh«ng lå, cã tèc ®é ph¸t triÓn nhanh, ®ang ho¹t ®éng trong nhiÒu ngμnh vËn t¶i kh¸c nhau vμ cã mÆt ë kh¾p n¬i trªn thÕ giíi. Nh÷ng tËp ®oμn nμy thèng trÞ vμ chi phèi toμn bé lÜnh vùc chuyÓn ph¸t nhanh toμn cÇu bao gåm TNT, DHL, Fedex, UPS.

     

    10

    Trong vËn t¶i ®−êng biÓn th× cã Maerks Logistics, Schenker Logistics, APL Logistics,

    Kuehne&Nagel, MOL Logistics, SDV Logistics, Yusen Global Logistics,

    Thomas Nation Wide Transport (TNT) ®−îc thμnh lËp t¹i Australia n¨m 1946 víi dÞch vô ban ®Çu chØ lμ ph¸t chuyÓn nhanh b−u kiÖn vμ th− tÝn. TNT hiÖn nay lμ sù hîp nhÊt cña TNT EXPRESS WORLDWIDE vμ TNT

    LOGISTICS vμ ROYAL TPG POST, mét h·ng b−u ®iÖn cña

    Hμ Lan ®ang ho¹t ®éng t¹i ch©u ¢u vμ toμn cÇu. TNT hiÖn ®ang

    sö dông h¬n 160.000 ng−êi trªn 200 n−íc toμn thÕ giíi.

    TNT EXPRESS WORLDWIDE ®−îc ®¸nh gi¸ lμ m¹ng

    l−íi ph¸t chuyÓn nhanh b»ng ®−êng bé vμ ®−êng hμng kh«ng lín nhÊt ch©u ¢u. Trong khi ®ã TNT Logistics lμ c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics lín thø hai trªn thÕ giíi.

    TNT vào Việt nam năm 1995 bằng việc liên doanh với công ty Viettrans thuộc Bộ Thương Mại và ở

    Việt nam nó có tên là TNT‐Viettrans Express Worldwide Co Ltd.

     Welivetodeliver

    Federal Express khai tr−¬ng dÞch vô vËn chuyªn nhanh vμo n¨m 1973 t¹i Mü vμ b¾t ®Çu ph¸t triÓn sang khu vùc ch©u ¸ -Th¸i B×nh D−¬ng vμo ®Çu nh÷ng n¨m 1980. N¨m 1989, Fedex ®−îc phÐp thùc hiÖn c¸c chuyÕn bay ®Õn 21 quèc gia ch©u ¸ th«ng qua viÖc mua l¹i Flying Tiger, mét h·ng hμng kh«ng chuyªn vËn chuyÓn hμng ho¸.

    HiÖn nay Fedex cã ®éi ngò nh©n viªn kho¶ng 140.000 ng−êi vμ cung cÊp dÞch vô t¹i 378 s©n bay trªn toμn thÕ giíi. Fedex ®−îc xem lμ h·ng vËn chuyÓn tèc hμnh lín nhÊt thÕ giíi, mçi ngμy vËn chuyÓn h¬n 3.5 triÖu mãn hμng ®Õn 220 n−íc.

     

    11

    Fedex hiÖn cã 50.000 ®iÓm giao hμng, cã 671 m¸y bay vËn t¶i vμ 41000 xe vËn t¶i c¸c lo¹i ho¹t ®éng trªn m¹ng n−íi toμn cÇu.

    United Parcel Service được thành lập Mỹ năm 1907 với hoạt động chính là truyền tin. Ngày nay UPS đã trở thành một tập đoàn với trị

    giá tài sản 36 tỷ USD. UPS hiện đang sử dụng 317000 người tại Mỹ và 40000 nhân công tại nước ngoài. UPS được đánh giá là công ty phát chuyển bưu kiện lớn nhất thế giới, đồng thời là nhà cung cấp hàng đầu về dịch vụ Logisticstoàn cầu. UPS hiện là một thương hiệu rất nổi tiếng trên thế giới. Hàng ngày UPS quản lý dòng lưu chuyển hàng hóa, tiền vốn và thông tin đến hơn 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.

    DHL thμnh lËp vμo n¨m 1969 t¹i Sanransisco víi dÞch vô vËn chuyÓn tμi liÖu, giÊy tê hμng ho¸ cña tμu biÓn b»ng ®−êng hμng kh«ng. §iÒu nμy cho phÐp hä thùc hiÖn c¸c thñ tôc h¶i quan tr−íc khi tμu cËp c¶ng, qua ®ã gi¶m ®−îc thêi gian chê ®îi trong c¶ng. DHL ®−îc coi lμ c«ng ty s¸ng lËp dÞch vô chuyÓn ph¸t nhanh quèc tÕ b»ng ®−êng hμng kh«ng. B¾t ®Çu tõ 1979, DHL kh«ng chØ vËn chuyÓn tμi liÖu mμ cßn b¾t ®Çu vËn chuyÓn b−u kiÖn. §Õn 1988, DHL ®· cã mÆt ë 170 n−íc trªn thÕ giíi. Ngμy nay DHL cã tæng sè nh©n viªn trªn kh¾p thÕ giíi lμ 350.000 ng−êi, cung cÊp c¸c dÞch vô vËn chuyÓn vμ ph¸t chuyÓn nhanh th«ng qua c¸c ph−¬ng thøc ®−êng bé, ®−êng s¾t, ®−êng hμng kh«ng, ®−êng biÓn còng nh− dÞch vô kho b·i, giao nhËn vμ c¸c gi¶i ph¸p Logistics kh¸c.

    N¨m 2002, DHL thuéc quyÒn së h÷u 100% cña Deustche Post World Net, h·ng b−u ®iÖn lín nhÊt ch©u Âu.

     

    12

    N¨m 2003, tÊt c¶ c«ng ty con cña Deustche Post trong lÜnh vùc ph¸t chuyÓn nhanh vμ Logistics nh− Deutsche Post Euro Express vμ Danza ®−îc s¸p nhËp d−íi mét th−¬ng hiÖu chung lμ DHL

    13

    Maersk Headquater in Denmark

    Công ty A.P Moller‐Maersk được thành lập hơn 100 năm về trước vào 1904 tại Đan Mạch. Người sáng lập là thuyền trưởng A.P Moller và con trai ông Mærsk Mc‐Kinney Møller. Nguyên thuỷ công ty chỉ khai thác vận tải biển, nhưng hiện nay lĩnh vực kinh doanh bao gồm khai thác dầu khí, cung cấp tàu biển, dịch vụ Logistics đa dạng, hệ thống siêu thị Dans Supermarket, khai thác cầu cảng và có cả một hãng hàng không là Maersk Air, cung cấp dịc vụ hàng không tại thị trường châu Âu.

    Ba doanh nghiệp chính kinh doanh dịch vụ container là Maersk Sealand, Maersk Logistics và APM Terminal.

    Tập đoàn Maersk hiện có trên 60000 nhân viên toàn cầu và có văn phòng tại hơn 125 quốc gia trên thế giới. Maersk có mặt tại Việt nam năm 1991 với việc mở văn phòng đại diện của Maersk Line, sau đó đổi tên thành Maersk Sealand khi Maersk mua hãng Sealand năm 1999

    Năm 1995 Maersk Logistics mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm đa dạng hoá dịch vụ tại Việt nam bao gồm: Lưu giữ hàng hoá, hoàn tất chứng từ, khai thác vận tải đường bộ và đường không. Tại Việt Nam, A.P Moller Maersk có hơn 130 nhân viên tại thành phố Hồ Chí Minh,

    • nhân viên tại Hà nội và các văn phòng đại lý tại Hải Phòng, Đà nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang.

    14

    • −îc thμnh lËp bëi Gottfried Schenker c¸ch nay h¬n 130 n¨m. Lóc ®Çu Schenker Logistics lμ c«ng ty chuyªn vÒ vËn t¶i ®−êng bé vμ ®−êng s¾t trªn toμn ch©u ¢u víi h¬n 30 n−íc.

    Ngμy nay Schenker Logistics cung cÊp c¸c gi¶I ph¸p tÝch hîp ®èi víi c¶ vËn t¶I ®−êng biÓn vμ ®−êng hμng kh«ng ë quy m« toμn cÇu. C¸c trung t©m tÝch hîp Schenker Logistics trªn thÕ giíi t¹o ®iÒu kiÖn vËn chuyÓn hμng ho¸ mét c¸ch hiÖu qu¶ toμn cÇu vμ kÕt nèi c¸c nhμ vËn chuyÓn t¹o ra mét lo¹t c¸c dÞch vô trÞ gi¸ gia t¨ng. C¸c dÞch vô chuyªn nghiÖp cña Schenker cung cÊp c¸c gi¶I ph¸p toμn diÖn lu«n ®¸p øng ®−îc nhu cÇu cña kh¸ch hμng mét c¸ch ®¸ng tin cËy. Schenker cã gμn 35000 nh©n viªn trªn toμn cÇu vμ 1100 v¨n phßng trªn toμn thÕ giíi víi doanh thu 8 tû Euro mçi n¨m .

    N¨m 1990 Schenker më v¨n phßng ®¹i diÖn t¹i ViÖt nam vμ lμ mét trong nh÷ng c«ng ty ho¹t ®éng trong lÜnh vùc giao nhËn vËn t¶i vμ Logistics s¬m nhÊt. Ngμy nay Schenker ®· ph¸t triÓn rÊt nhanh vμ lμ mét trong nh÷ng c«ng ty Logistics hμng ®Çu t¹i thμnh phè Hå ChÝ Minh. Schenker ®· liªn doanh víi Gemadept vμ cung cÊp cÊp c¸c lo¹i dÞch vô vËn t¶i hμng kh«ng còng nh− ®−êng biÓn.

    Các Hãng Tàu Lớn Trên Thế Giới.

    Dưới đây là bảng số liệu tham khảo về 10 hãng tàu container lớn nhất thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt nam, các hãng tàu này sớm muộn cũng đã có mặt và đóng góp thêm vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên chính sự xuất hiện của các hãng tàu này đã làm cho thị trường Logistics Việt nam cạnh tranh khốc liệt hơn và kẻ được lợi bao giờ cũng là những kẻ mạnh. Các hãng tàu này đã dành được những phần béo bở từ miếng bánh Logistics Việt nam, chỉ để lại cho các hãng tàu trong nước một phần nhỏ. Nói một cách khách quan và công bằng thì các hãng tàu Việt Nam không đủ lực để cạnh tranh với các đại gia trên thế giới.

     

    15

    10 Hãng Khai Thác Tàu Container Lớn Nhất Thế Giới.

    (Số liệu tính đển hết năm 2005‐Visaba Times số 79&80)

    Xếp Tên Hãng Tàu Đội Tàu Đang Khai Thác Đội Tàu Đang Đặt Đóng Mới
    Hạng Chiếc TEU Chiếc TEU
    1 Maersk Line 570 1.592.000 150 722.000
    2 MSC 264 713.000 41 306.000
    3 CMA/Delmas 242 484.000 80 377.000
    4 Evergreen 148 441.000 38 205.000
    5 Hapag‐Loyd 135 400.000 17 108.000
    6 APL 102 325.000 24 83.000
    7 China Shipping 116 317.000 24 166.000
    8 Hanjin 82 309.000 11 75.000
    9 Coscon 123 306.000 23 179.000
    10 NYK 116 299.000 27 158.000
    Đội Tàu thuộc T ổng công ty Hàng Hải Việt nam Số Lượng(Chiếc)
    Công ty Vận tải Biển Việt Nam VOSCO 25
    Công ty Vận tải và thuê tàu biển Việt Nam VITRANSCHART 14
    ‐ Công ty Vận tải biển III VINASHIP 15
    ‐ Công ty Vận tải Biển Bắc NOSCO 4
    ‐ Công ty Vận tải biển VINALINES 16
    ‐ Công ty Vận tải Dầu khí Việt Nam FALCON 8
    ‐ Công ty Hàng hải Đông Đô VISERITRANS 12
    ‐ Công ty Cổ phần Vận tải biển Hải Âu SESCO 3
    Inlaco HP 4
    Inlaco SG 3
    Tổng số 104 Tàu (www.visabatimes.com) ngày 28/7/2006

    16

    Các “Đại Gia” hàng đầu thế giới trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Logistics

    ( Nguồn: Viện nghiên cứu Logistics toàn cầu –Global Logistics Istitute)

    Xếp Hng Tên Công Ty Quc Gia Lĩnh Vc Hot Đng Tng Doanh Thu
    (Triu USD)
    1 USPS M Mail, Express 122.122
    2 DHL Đc Mail, Express, Logistics 76.411
    Finance
    3 UPS M Express, Logistics 48.875
    4 FedEx M Express 43.736
    5 Maersk Đan Mch Shipping, Logistics 39.368
    6 La Post Pháp Mail, Express 33.465
    7 Cosco Trung Quc Shipping 31.86
    8 Japan Post Nht Bn Mail 24.596
    9 TNT Hà Lan Mail, Express,Logistics 22.364
    10 Royal Mail Anh Mail, Express 22.033
    11 Nippon Express Nht Bn Freight Forwarding, 21.867
    Logistics
    12 Schenker Đc Rail freight, Logistics 20.477
    13 NYK Line Nht Bn Shipping, Logistics 18.325
    14 Union Pacific Corp M Rail freight, Logistics 17.661
    15 Mitsui OSK Line Nht Bn Shipping 17.092
    16 Burlington Northern Santa M Rail freight, Logistics 16.128
    17 Poste Italiane Italia Mail 15.157
    18 Exel Anh Freight Forwarding, 14.204
    Logistics
    19 Yamato Transport Nht Bn Logistics 13.245
    20 Kuehne& Nagel Thu S Freight Forwarding, 13.091
    Logistics
    21 Norfolk Sourthern Corp M Rail freight, Logistics 12.942
    22 CSX Corp M Rail freight, Logistics 11.79
    23 SNCF Pháp Rail freight, Logistics 11.316
    24 Panalpina Thu S Freight Forwarding, 10.832
    Logistics
    25 China Post Trung Quc Mail 10.089
    26 US Freightways M Trucking 9.848
    27 Yellow Inc Roadway M Trucking 9.724
    28 Canada Post Canada Mail 9.611
    29 Canadian National Railway Canada Rail freight, Logistics 9.482
    30 APL Singapore Shipping Logistics 9.388

     

    17

    II.               Cơ Sở Hạ Tầng Ở Việt Nam

    III.1 Cảng Biển Việt Nam

    Việt nam có hơn 80 cảng biển với hơn

    2.2 triệu mét vuông bến bãi và một

    triệu mét vuông bến cảng. Các cảng

    chính ở Việt nam do Cục Hàng Hải

    quản lý và bây giờ được chuyển giao

    cho Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam.

    Các cảng chính là cảng Hải Phòng,

    cảng Đà Nẵng và cảng Sài Gòn, nhưng

    đều là cảng ở cửa sông và cách biển

    khoảng 30 đến 90 km. Điều này rất

    bất lợi cho tàu lớn cập cảng. Công

    suất bốc dỡ hàng năm gia tăng một

    cách đáng kể, cứ khoảng 5 năm lại

    gấp đôi, từ 56 triệu tấn năm 1998 lên

    • triệu tấn năm 2003. Các cảng gần vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm gần hai phần ba tổng sản lượng cả nước.

     

    Đội tàu cũng phát triển từ 679 chiếc với công suất 1.6 triêu DWT năm 2000 lên 928 chiếc vói công suất 1.8 DWT năm 2003, tăng 12% số lượng tàu và 4% công suất tàu.Tuy công suất khai thác vẫn thấp hơn so với các cảng hiện đại trong khu vực nhưng, các cảng biển Việt nam làm ăn ngày càng hiệu quả với chi phí bến cảng, kho bãi thấp. So với chí phí kho bãi, bến cảng thì Việt nam vẫn rẻ hơn so với Trung Quốc và các cảng trong khu vực ASEAN.

    Các cảng chính ở Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

    • Tân Cảng Sài Gòn ( SaiGon New Port), Cảng Cát Lái, C ảng Thị Vải C ảng Cái Mép, Cảng Khánh Hội
    • Cảng VICT ( Vietnam International Container Terminal) gần khu chế xuất Tân Thuận.

    Đây là cảng container lớn nhất Việt nam và có thể sánh cùng với các cảng tầm cỡ của các nước trong khu vực. Vị trí cảng rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hoá từ thành phố Hồ Chí Minh đi khắp nơi trên thế giới và là nơi tiếp nhận container từ nước ngoài về. Các nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt nam đã rất để ý đến khu chế xuất Tân Thuận bởi vì một lý do hết sức quan trọng đó là việc vận chuyển hàng hoá thuận tiện thông qua cảng VICT.

    Cảng nước sâu Phú Mỹ ở Vũng Tàu. Các cảng Chùa Vẽ và cảng Đình Vũ

    Hải Phòng. Ở Quảng Ninh thì có cảng nước sâu Cái Lân, Cảng Chân Mây ở

    Huế. Theo ước t ính, Việt nam có khoảng trên dưới 50 cảng biển lớn nhỏ.

    19

    Các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam:

    1. Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco)
    2. Công ty Vận tải Dầu khí Việt Nam (Falcon)
    3. Cảng Hải Phòng (Haiphongport)
    4. Cảng Sài Gòn (Saigonport)
    5. Cảng Đà Nẵng (Danangport)
    6. Đại lý Hàng hải Việt Nam (Vosagroup)
    7. Cty Hợp tác Lđộng với nước ngoài phía Nam (Inlacosaigon)
    8. Công ty Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải (Inseco)
    9. Công ty Liên doanh Vận tải biển Việt ‐ Pháp (Gemartrans)
    10. Cty LD Vận chuyển container VW‐Waterfront Việt Nam
    11. Công ty Tiếp vận Ahlers‐Vina
    12. Công ty CP Tin học & Công nghệ Hàng hải (Miteco)
    13. Công ty CP Hàng hải Hà Nội (Marina Hanoi)
    14. Công ty CP Đại lý Vận tải Safi
    15. Công ty Cổ phần Container Việt Nam (Viconship)
    16. Công ty CP Hàng hải Sài Gòn (SMC)

     

    H ệ Thống Đường Thuỷ:

     

    Với 41,000 km đường thuỷ trong đó 8000km có thể khai thác hiệu quả kinh tế. Có thể nói Việt nam là một nước có mạ ng lưới giao thông rẩt phong phú và dày đặc với mật độ cao. Mặc dù việc đầu tư phát triển hệ thống đường thuỷ chưa được quan tâm đúng mức nh ưng đây vẫn là hệ thống v ận tải hữu hiệu đối v ới các lo ại tàu thuyền cỡ nhỏ. Đặc biệt các loại hàng hoá trị giá thấp như : than đá, gạo, cát, đá và các loại vật liệu khác rất thuận tiện và hiêu qủa khi vận chuyển bằng đường thuỷ nội bộ với khối lượng lớn. Giao thông đường thuỷ vẫn chiếm vị trí khá quan trọng đối với hai vùng châu thổ đó là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    20

    III.2   Các Cảng Hàng Không

    Việt nam có tổng số 32 sân bay phục vụ cho mục đích dân sự, quân sự quốc phòng. Trong đó Cục Hàng Không Dân Dụng Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý 18 sân bay với các sân bay tầm cỡ quốc tế như:

    Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế Đà Nẵng. Các sân bay trong nước có mặt ở rất nhiều địa phương như: Hải Phòng, Nghệ An, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc, Điện Biên, Huế, Quy Nhơn.

    Lượng khách quốc tế năm 1998 là 2,3 triêu người và khách nội địa là 3,3 triệu người. Năm 2002, hai sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Nội Bài đã đạt tổng số 8 triệu khách thương mại trong đó 4,2 triệu là khách quốc tế và 3,8 triệu là khách nội địa. Lượng khách quốc tế đến Việt nam qua hai cảng hàng không ngày càng gia tăng và đã vượt mức 10 triệu tính đến năm 2007

    Năm 1998 khoảng 60000 tấn hàng được vận chuyển bằng đường hàng không quốc tế đến Việt nam và 46000 tấn vận chuyển nội địa. Năm 2002, 112000 ngàn tấn hàng vận chuyển quốc tế, trong đó thư tín là 2 tấn và 78000 tấn vận chuyển nội địa. Tổng số đạt 190000 tấn. Khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, các mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng thì nhu cầu vận tải bằng hàng không ngày càng gia tăng. Ước tính năm 2007 Việt Nam đạt khoảng 220000 tấn hàng vận tải bàng đường hàng không.

     

    IV.

    Và Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Nam

     

    IV.1

    Những Thách Thức Với Ngành Logistics Việt Nam.

     

    T¹i ViÖt nam thÞ tr−êng Logistics lμ mét m¶ng thÞ tr−êng kh¸ míi mÎ, mÆ dï Logistics ®· phæ biÕn trªn thÕ giíi hμng tr¨m n¨m nay . Theo tÝnh to¸n cho thÊy, chi tiªu hμng n¨m cña mét quèc gia cho m¶ng Logistics lμ rÊt lín. C¸c n−íc ch©u ¢u vμ Mü lμ nh÷g n−íc cã nhiÒu kinh nghiÖm vÒ chuçi qu¶n lý Logistics th× chi tiªu cho Logistics còng chiÕm gÇn 10% GDP, cßn c¸c n−íc ®ang ph¸t triÓn, nh− Trung Quèc ch¼ng h¹n, chi tiªu cho Logistics còng ®· chiÕm tíi 19%.

    21

    Ph¶i nãi th¼ng th¾n r»ng ë ViÖt nam, ngμnh Logistics ch−a ®−îc coi träng t−¬ng xøng víi sù ph¸t triÓn cña nÒn kinh tÕ. C¸c doanh nghiÖp vËn t¶i ViÖt nam th× chØ míi dõng l¹i ë mét trong rÊt nhiÒu chuçi Logistics lμ h×nh thøc giao nhËn vËn t¶i, cho thuª kho b·i vμ vËn chuyÓn néi ®Þa. TÇm cì cña c¸c c«ng ty ViÖt nam trong lÜnh vùc nμy lμ rÊt yÕu vμ thiÕu chuyªn nghiÖp. Nguyªn nh©n x©u xa cña nh÷ng vÊn ®Ò nμy lμ :

    • C¸c doanh nghiÖp ViÖt nam phÇn lín lμ c¸c doanh nghiÖp sinh sau ®Î muén so víi rÊt nhiÒu c«ng ty n−íc ngoμi vèn cã lÞc sö ph¸t triÓn kinh doanh tõ rÊt l©u ®êi nh− Schenker Logistics, Maersk Logistics vv
    • TÇm bao phñ ho¹t ®éng cña c¸c c«ng ty ViÖt nam chØ trong ph¹m vi néi ®Þa hoÆc mét vμi n−íc trong khu vùc, trong khi tÇm bao phñ cña c¸c c«ng ty n−íc ngoμi lμ cÊp ®é toμn cÇu. §©y lμ mét c¶n trë rÊt lín khi c¸c doanh nghiÖp cung cÊp c¸c dÞch vô trän gãi cho kh¸ch hμng v× ngμy nay, trong xu thÕ toμn cÇu hãa, c¸c c«ng ty lín th−êng cã xu h−íng sourcing (khai th¸c nguån hμng vμ dÞch vô) tõ nhiÒu quèc gia vμ

    l·nh thæ trªn thÕ giíi nh− : NIKE, Adidas, Nokia Chóng ta cã thÓ tÝnh ®Õn vai trß cña c¸c ®¹i lý mμ c¸c c«ng ty ViÖt nam thiÕt lËp ë c¸c quèc gia kh¸c, nh−ng quan hÖ nμy rÊt láng lÎo vμ kh«ng ®ång nhÊt.

    • PhÇn lín c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam chØ tËp trung vμo khai th¸c nh÷ng m¶ng nhá trong toμn bé chuçi cung øng mμ chóng ta thÊy phæ biÕn lμ h×nh thøc giao nhËn vËn t¶i (Freight Forwarding). §©y lμ h×nh thøc kh¸ ®¬n gi¶n, c¸c c«ng ty giao nhËn ®ãng vai trß lμ ng−êi bu«n c−íc sØ sau ®ã b¸n l¹i cho ng−êi mua lÎ. Th«ng qua c¸c h·ng vËn t¶I biÓn, còng nh− hμng kh«ng. Hμng sau khi ®−îc gom thμnh nh÷ng container ®Çy sÏ ®−îc vËn chuyÓn ®Õn quèc gia cña ng−êi nhËn. T¹i ®ã c¸c ®¹i lý mμ

    c¸c c«ng ty ViÖt nam cã ®èi t¸c sÏ lμm thñ tôc h¶I quan vμ giao hμng cho ng−êi nhËn t¹i kho. Nh− vËy h×nh thøc nμy chØ lμ mét phÇn nhá trong chuçi gi¸ trÞ gia t¨ng Logistics . Trong chuçi Logistics hiÖn ®¹i mμ c¸c c«ng ty Logistics lín ®ang cung cÊp cho kh¸ch hμng cña m×nh th× nã bao gåm rÊt nhiÒu dÞch vô ®a d¹ng víi trÞ gi¸ gia t¨ng cao mμ chóng ta cã thÓ liÖt kª:

    -DÞch vô giao tËn nhμ/ Door to Door

    -Gom hμng nhanh t¹i kho/ Consolidation Docking – Qu¶n lý ®¬n hμng/ PO Management

    22

    • DÞch vô kho b·i trÞ gi¸ gia t¨ng / Value Added Warehousing

     

    • Gom hμng tõ nhiÒu quèc gia ®Õn mét c¶ng trung chuyÓn th−êng lμ Singapore, Hong Kong, Kaoshiung-Cao Hïng /Multi-Country Consolidation.

    -DÞch vô kiÓm so¸t chÊt l−îng hμng ho¸/ QA-QI Program

     

    -DÞch vô container treo (dμnh cho hμng may mÆc)/ Hanger Pack Service.

     

    -Qu¶n lý d÷ liÖu vμ cung cÊp d÷ liÖu ®Çu cuèi cho kh¸ch hμng/ Data Management/ EDI clearing house.

     

    -DÞch vô quÐt vμ in m· v¹ch/ Barcode scanning and Label Production. -Dich vô x©y dùng bé tiªu chuÈn cho ho¹t ®éng Logistics

    -DÞch vô NVOCC / NVOCC Operation.

     

    -DÞch vô theo doi kiÓm hμng th«ng qua m¹ng Internet/ System Track and Trace /Web base Visisbility

     

    -DÞch vô nhμ cung cÊp Logistics thø t− (FPL). §©y lμ m« h×nh dÞch vô Logistics rÊt míi gióp cho c¸c h·ng Logistics gia t¨ng dÞch vô trÞ gi¸ gia t¨ng cho m×nh.

     

    • Chóng ta cã thÓ thÊy râ lμ trong quan hÖ th−¬ng m¹i quèc tÕ, phÇn lín c¸c nhμ xuÊt khÈu cña ViÖt nam chñ yÕu lμ xuÊt khÈu hμng theo ®iÒu kiÖn FOB, FCA nghÜa lμ chØ cÇn b¸n hμng qua lan can tÇu t¹i c¶ng bèc hμng theo quy ®Þnh lμ hÕt tr¸ch nhiÖm. Nh− vËy quyÒn ®Þnh ®o¹t vÒ vËn t¶I ®Òu do ng−êi mua chØ ®Þnh vμ dÜ nhiªn ng−êi mua sÏ chØ ®Þnh mét c«ng ty n−íc hä ®Ó thùc hiÖn ®iÒu nμy. Vμ c¸c c«ng ty Logistics ViÖt nam sÏ lμ ng−êi ngoμi cuéc. BÊt cËp nμy kh«ng ph¶I dÔ dμng gi¶I quyÕt v× phÇn lín c¸c nhμ xuÊt khÈu cña ViÖt nam ®Òu gia c«ng hoÆc xuÊt hμng cho nh÷ng kh¸ch hμng lín- ng−êi mμ ®· cã nh÷ng hîp ®ång dμi h¹n vμ toμn cÇu víi c¸c c«ng ty Logistics. VÝ dô nh− c«ng ty giμy NIKE, ®©y lμ c«ng ty cã rÊt nhiÒu hîp ®ång lμm ¨n víi c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam nh−ng riªng vÒ kh©u vËn t¶i vμ Logistics th× c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam kh«ng thÓ tham gia vμo qu¸ tr×nh th−¬ng th¶o. Râ rμng mét «ng lín nh− Nike th× viÖc ký ®−îc hîp ®ång gia c«ng víi hä ®· lμ qu¸ tèt víi c¸c doanh nghiÖp gia dμy cña ViÖt nam råi chø ®õng nãi ®Õn viÖc ®μm ph¸n vÒ vËn t¶i vμ

    Logistics. Trªn thùc tÕ hai c«ng ty ®ang cung cÊp dÞch vô Logistics cho Nike lμ Maersk Logistics vμ APL Logistics.

    Nh−ng ®èi víi c¸c nhμ nhËp khÈu ViÖt nam th× sao? NÕu nh×n vμo c¸n c©n th−¬ng m¹i quèc tÕ cña ViÖt nam th× chóng ta thÊy râ lμ ViÖt nam lu«n nhËp siªu. Vμ ®©y chÝnh lμ thÞ tr−êng kh¸ tèt cho c¸c c«ng ty Logistics ViÖt nam. Trªn thùc tÕ th× m¶ng nhËp khÈu còng lμ thÕ m¹nh cña c¸c c«ng ty ViÖt nam. NÕu nh− tr−íc ®©y c¸c nhμ nhËp

     

    23

    khÈu cña ViÖt nam chñ yÕu mua hμng theo ®iÒu kiÖn CIF, CIP th× nay c¸c doanh nghiÖp nhËp khÈu cña ViÖt nam ®ang chuyÓn dÇn sang h×nh thøc mua FOB, ®iÒu nμy t¹o ra c¬ héi cho c¸c doanh nghiÖp Logistics ViÖt nam khai th¸c. Tuy nhiªn mét phÇn kh¸ lín trong miÕng b¸nh nμy vÉn n»m trong tay c¸c h·ng Logistics n−íc ngoμi do cã nhiÒu c«ng ty n−íc ngoμi ®Çu t− trùc tiÕp t¹i ViÖt nam mμ còng chÝnh hä lμ ng−êi nhËp kh¼u hμng nhiÒu nhÊt. H¬n thÕ n÷a phÇn lín c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam vÉn cßn ch−a cã nhiÒu ý thøc trong viÖc ®Çu t− vμo qu¶n lý hiÖu qu¶ chuçi cung øng. §iÒu nay cho thÊy râ ë chç c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam hÇu hÕt kh«ng cã phßng qu¶n lý Logistics hoÆc chuçi cung øng mμ phßng nμy th−êng ®−îc hiÓu lμ phßng kinh doanh xuÊt nhËp khÈu. §iÒu nμy t¹o ra rμo c¶n ®èi víi c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam trong viÖc chμo c¸c dÞch vô Logistics gi¸ trÞ gia t¨ng.

    • Chóng ta ®ang ®èi mÆt hÖ thèng h¹ tÇng giao th«ng vËn t¶i cßn rÊt thiÕu vμ

    yÕu. §iÒu nμy lμm cho c¸c chi phÝ Logistics cña ViÖt nam cao h¬n h¼n c¸c n−íc kh¸c. B¶n th©n c¸c c«ng ty Logistics sÏ tèn nhiÒu chi phÝ ®Çu t−, lμm gi¶m lîi nhuËn cña hä còng nh− kh¶ n¨ng më réng dÞch vô.

    • VÒ h¹ tÇng th«ng tin, ®©y chÝnh lμ ®iÓm yÕu cña c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam. MÆc dï c¸c doanh nghiÖp Logistics ®· cã nhiÒu ý thøc trong viÖc ¸p dông c«ng nghÖ th«ng tin vμo ho¹t ®éng kinh doanh cña m×nh nh−ng nh÷ng ®iÒu nμy vÉn cßn kÐm xa so víi tr×nh ®é quèc tÕ. NÕu chØ xÐt vÒ khÝa c¹nh x©y dùng website th× phÇn lín website cña ViÖt nam chØ ®¬n thuÇn giíi thiÖu vÒ m×nh, vÒ dÞch vô cña m×nh mμ thiÕu h¼n c¸c tiÖn Ých mμ kh¸ch hμng cÇn nh− c«ng cô Track & Trace ( Theo dâi ®¬n hμng, theo dâi lÞch tr×nh tμu), booking, theo dâi chøng tõ. Chóng ta nªn biÕt kh¶ n¨ng nh×n thÊy vμ kiÓm so¸t ®¬n hμng lμ mét yÕu tè ®−îc c¸c chñ hμng ®¸nh gia rÊt cao khi hä lùa chän nhμ cung cÊp dÞch vô Logistics cho m×nh. §Ó lμm ®−îc ®iÒu nμy ®ßi hái ph¶I cã gi¶I ph¸p ®Çu t− tæng thÓ vμ chi tiÕt, cã ®Þnh h−íng dμi h¹n. H¬n thÕ n÷a viÖc ®Çu t− x©y dùng hÖ thèng IT còng gióp chÝnh c¸c doanh nghiÖp hiÖu qu¶ vμ n¨ng suÊt. Cô thÓ trong lÜnh vùc Logistics c¸c doanh nghiÖp cÇn ®Çu t− x©y dùng hÖ thèng phÇn mÒm WMS (Warehouse Management System) ®©y lμ hÖ thèng phÇn mÒm qu¶n lý kho gióp qu¶n lý mét c¸ch hiÖu qu¶, gi¶m chi phÝ, n©ng cao n¨ng suèt h¬n rÊt nhiÒu.
    • Cho ®Õn nay, tÝnh liªn kÕt cña c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam cßn rÊt yÕu, c¸c c«ng ty hÇu nh− ho¹t ®éng ®éc lËp. Trong su h−íng outsourcing, mçi doanh nghiÖp cÇn tËp trung vμo thÕ m¹nh cña m×nh vμ se thuª ngoμi c¸c dÞch vô kh«ng ph¶I lμ thÕ m¹nh, nh− vËy th× tÝnh liªn kÕt lμ cÇn thiÕt h¬n bao giê hÕt. §· ®Õn lóc chóng ta cÇn ngåi l¹i

    24

    vμ hîp t¸c ®Ó cã thÓ ®−a ra thÞ tr−êng mét chuçi c¸c dÞch vô Logistics tæng thÓ cho kh¸ch hμng. Mét c«ng ty giao nhËn cã thÓ liªn kÕt víi mét c«ng ty vÒ kho b·i, vÒ vËn t¶i, m«i giíi, hμng kh«ng t¹o thμnh mét chuçi liªn kÕt chÆt chÏ.

    • VÊn ®Ò th−¬ng hiÖu: HiÖn t¹i ViÖt nam vÉn ch−a cã ®−îc th−¬ng hiÖu m¹nh tÇm cì khu vùc chø ch−a nãi g× ®Õn tÇm cì thÕ giíi, vÒ vÊn ®Ò nμy cÇn cã sù hç trî chÆt chÏ vμ nhiÖt t×nh tõ phÝa nhμ n−íc th× míi cã thÓ lμm ®−îc. Chóng ta cÇn cã nh÷ng th−¬ng hiÖu ®Çu ngμnh lμm ®Çu kÐo cho ngμnh Logistics ph¸t triÓn ®óng h−íng.
    • Nh©n lùc: Chóng ta ®ang thiÕu mét ®éi ngò chuyªn viªn trong ngμnh Logistics chuyªn nghiÖp vμ ®−îc ®μo t¹o bμi b¶n. B¶n th©n c¸c tr−êng ®¹i häc lín còng ch−a hÒ cã khoa d¹y vÒ nghÒ nμy. H¬n bao giê hÕt sù thμnh c«ng b¾t ®Çu tõ con ng−êi.

    IV.2                 Chiến Lược Nào Cho Ngành Logistics Việt Nam

    Trên c¬ së ph©n tÝch ë trªn chóng ta cã thÓ rót ra mét sè bμi häc quý b¸u cho ViÖt nam trong viÖc øng dông vμ ph¸t triÓn ngμnh Logistics trong t−¬ng lai gÇn. §Ó lμm ®−îc viÖc nμy cÇn ph¶I cã sù phèi hîp chÆt chÏ gi÷a nhμ n−íc vμ c¸c c¬ quan, tæ chøc chuyªn ngμnh, c¸c hiÖp héi vËn t¶I ë ViÖt nam còng nh− sù phèi hîp chÆt chÏ gi÷a nhμ n−íc vμ c¸c ®Þa ph−¬ng.

    Thø nhÊt: X©y dùng vμ hiÖn ®¹i ho¸ c¬ së h¹ tÇng giao th«ng nãi chung, hÖ thèng cÇu c¶ng, bÕn b·i nãi riªng cho c¶ ngμnh hμng kh«ng vμ hμng h¶i vμ ®−êng s¨t.

    Sù thay ®æi t− t−ëng cña §¶ng vμ Nhμ n−íc trong viÖc ph¸t triÓn kinh tÕ thÓ hiÖn b»ng chÝnh s¸ch “§æi Míi” ®· t¹o mét b−íc ngoÆt lÞch sö, cã thÓ nãi lμ mét b−íc nh¶y tiÕn bé ®èi víi nÒn kinh tÕ ViÖt nam sau 20 n¨m tõ 1986 ®Õn nay. Tuy nhiªn ph¶i nh×n nhËn th¼ng th¾n r»ng c¬ së h¹ tÇng ë ViÖt nam vÉn cßn ch−a ph¸t triÓn kÞp cïng víi sù ph¸t triÓn cña nÒn kinh tÕ nÕu kh«ng muèn lμ l¹c hËu. ViÖc ph¸t triÓn tèt hÖ thèng giao th«ng sÏ t¹o ®iÒu kiÖn cho vËn t¶i ®a ph−¬ng thøc ph¸t triÓn. §ã lμ sù kÕt nèi hμi hoμ gi÷a vËn t¶i b»ng ®−êng bé-hμng kh«ng-®−êng s¾t vμ ®−êng biÓn. ViÖc hoμn tÊt dù ¸n n©ng cÊp vμ x©y míi nhμ ga quèc tÕ T©n S¬n NhÊt vμo cuèi n¨m nay 2007 sÏ tiªn ®o¸n mét sù ph¸t triÓn nh¶y vät trong lÜnh vùc vËn t¶i hμng kh«ng. L−îng hμng ho¸ xuÊt nhËp khÈu qua c¶ng hμng kh«ng T©n S¬n NhÊt sÏ t¨ng m¹nh, dù ®o¸n cã thÓ t¨ng gÊp r−ìi trong n¨m 2008.

    Còng nh− viÖc hiÖn ®¹i ho¸ c¬ së h¹ tÇng c¶ng hμng kh«ng quèc tÕ T©n S¬n NhÊt, chÝnh phñ nªn x©y dùng c¸c c¶ng biÓn tÇm cì quèc tÕ t¹i H¶I Phßng hoÆc Thμnh phè Hå ChÝ Minh. ViÖc nμy kh«ng khã, nÕu ViÖt nam kh«ng ®ñ tr×nh ®é ®Ó x©y dùng c¸c

     

    25

    c¶ng n−íc s©u vμ hiÖn ®¹i th× ta cã thÓ thùc hiÖn theo c¸ch liªn doanh víi c«ng ty n−íc ngoμi hoÆc ®Êu thÇu trùc tiÕp, mêi gäi c¸c nhμ thÇu n−íc ngoμi. Mét khi ®· x©y dùng ®−îc hÖ thèng c¶ng biÓn hiÖn ®¹i th× rÊt cã thÓ ViÖt nam sÏ lμ mét tr¹m trung chuyÕn lín (HUB) cña thÕ giãi.

    • èi víi ngμnh ®−êng s¾t ta còng nªn xo¸ bá thÕ ®éc quyÒn ®Ó t¹o ®iÒu kiÖn c¹nh tranh b×nh ®¼ng h¬n. Việt Nam cã h¬n 1700 km chiÒu dμi ®−êng s¾t, tõ L¹ng S¬n ®Õn Thμnh phè Hå ChÝ Minh, nh−ng cã thÓ nãi viÖc vËn t¶i b»ng ®−êng s¾t ch−a mang l¹i hiÖu qu¶ cao cho nÒn kinh tÕ. Chõng nμo ngμnh vËn t¶i ®−êng s¾t cßn ®éc quyÒn th× nã cßn chËm ph¸t triÓn. ë ViÖt nam, hiÕm cã doanh nghiÖp Logistics nμo cã lÜnh vùc kinh doanh lμ vËn t¶i ®−êng s¾t.

    Thø hai: X©y dùng mét tr−êng ®¹i häc nÕu cã thÓ hoÆc Ýt nhÊt x©y dùng mét khoa Logistics häc trong tr−êng §¹i häc Hμng H¶i hoÆc §¹i häc Kinh tÕ

    • ©y lμ mét viÖc hÕt søc cÇn thiÕt t¹o ®iÒu kiÖn nghiªn cøu vμ ph¸t triÓn ngμnh Logistics ë ViÖt nam ®· ®Õn lóc nã ph¶i ®−îc nghiªn cøu ®óng møc so víi tÇm quan träng cña nã.

    Thø ba: Thμnh lËp hiÖp héi Logistics ViÖt nam.

    C¸ch nay hμng chôc n¨m Singapore ®· x©y dùng hÖ thèng c¶ng biÓn, c«ng ty vËn t¶I biÓn, h·ng hμng kh«ng, c«ng ty Logistics thμnh mét chuçi dÞch vô thèng nhÊt theo m« h×nh One-Stop Shop (chØ dõng ch©n mét lÇn lμ cã thÓ mua ®−îc tÊt c¶). N−íc nμy còng ®· chuyÓn ®æi HiÖp Héi Giao NhËn thμnh HiÖp Héi Logistics, ®iÒu nμy thÓ hiÖn sù ph¸t triÓn v−ît bËc cña ngμnh Logistics Singapore. §èi víi ViÖt nam, tíi nay chóng ta míi chØ cã HiÖp Héi §¹i Lý Vμ M«i Giíi Hμng H¶i Việt Nam vμ HiÖp Héi Giao NhËn Kho VËn Việt Nam (VIFFAS). B¶n th©n tªn cña hiÖp héi nμy còng ®· qu¸ cò. §Ó n©ng cao nhËn thøc cña c¸c thμnh viªn trong héi, thóc ®Èy sù ph¸t triÓn cña ngμnh Logistics ViÖt nam vμ x©y dùng nh÷ng chiÕn l−îc tæng thÓ vμ dμi h¹n thiÕt nghÜ chóng ta nªn thμnh lËp hiÖp héi Logistics ViÖt nam trªn c¬ së kÕ thõa cña nh÷ng thμnh tùu ®· ®¹t ®−îc. Tuy muén nh−ng chóng ta nªn häc tËp theo kinh nghiÖm cña Singapore.

    Thø t−: Nªn thμnh lËp mét tæng c«ng ty vÒ lÜnh vùc Logistics ë ViÖt nam

    Chóng ta ®· cã c¸c tËp ®oμn lín nh− B−u ChÝnh ViÔn Th«ng, DÇu KhÝ, Hμng Kh«ng, §iÖn Lùc vv. ChÝnh v× sù lín m¹nh cña c¸c tËp ®oμn nμy mμ c¸c tËp ®oμn n−íc ngoμi cã Ýt c¬ héi thèng trÞ c¸c thÞ tr−êng, c¸c lÜnh vùc quan träng ë ViÖt nam. V× vËy nÕu ë ViÖt nam cã mét tËp ®oμn Logistics th× ch¾c ch¾n thÞ tr−êng Logistics néi ®Þa sÏ do

     

    26

    c¸c c«ng ty ViÖt nam kiÓm so¸t vμ c¸c tËp ®oμn n−íc ngoμi sÏ khã cã c¬ héi lμm chñ thÞ tr−êng Logistics ViÖt nam.

    ViÖc thμnh lËp tæng c«ng ty Logistics Việt Nam cã thÓ b»ng c¸ch s¸p nhËp nh÷ng c«ng ty giao nhËn vËn t¶i nhμ n−íc l¹i víi nhau hoÆc thμnh lËp d−íi sù gi¸m s¸t cña bé chñ qu¶n sau ®ã cæ phÇn ho¸. Muèn hy väng c¸c c«ng ty Logistics ViÖt nam cã thÓ v−¬n ra thÞ tr−êng quèc tÕ th× ®iÒu kiÖn tr−íc tiªn lμ ph¶I v÷ng m¹nh ë thÞ tr−êng s©n nhμ tr−íc.

    Suy cho cïng th× c¸c n−íc trong khu vùc §«ng Nam A còng cã t×nh tr¹ng t−¬ng tù nh− ViÖt nam lμ ®Ó c¸c tËp ®oμn Logistics lín trªn thÕ giíi chiÕm phÇn lín miÕng b¸nh Logistics ngay trªn s©n nhμ. ThËm chÝ ngay trªn s©n nhμ nh− ViÖt nam th× c¸c c«ng ty Logistics trong n−íc còng chØ ®−îc mét phÇn nhá cña miÕng b¸nh mμ th«i.

    Thø n¨m: X©y dùng c¬ së d÷ liÖu c«ng nghÖ th«ng tin phôc vô cho céng ®ång Logistics ViÖt nam vμ c¸c doanh nghiÖp xuÊt nhËp khÈu..

    Ph¶i nãi r»ng c¬ së d÷ liÖu hÖ thèng th«ng tin cña ViÖt nam nãi chung, ngμnh Logistics nãi riªng cßn nhiÒu bÊt cËp. C¸c trang web cña c¸c c¬ quan chuyªn ngμnh Logistics ch−a thùc sù m¹nh, ch−a thùc sù hç trî nhiÒu cho doanh nghiÖp, d÷ liÖu th«ng tin cßn ch−a phong phó, ch−a ®¸p øng tho¶ m·n nhu cÇu cña kh¸ch hμng. NhiÒu khi c¸c trang web ë n−íc ngoμi l¹i chøa ®ùng nhiÒu th«ng tin vÒ ViÖt nam h¬n h¼n nh÷ng website trong n−íc. §Æc biÖt c¸c c«ng ty trong n−íc th× chØ dõng l¹i ë viÖc giíi thiÖu vÒ c«ng ty m×nh, nh÷ng dÞch vô mμ m×nh cã. Nh÷ng tiÖn Ých dμnh cho kh¸ch hμng nh− hÖ thèng (Track and Trace) t×m kiÕm c¬ së d÷ liÖu cña l« hμng hÇu nh− kh«ng doanh nghiÖp nμo lμm ®−îc.

    Ph¶I x©y dùng hÖ thèng th«ng tin hiÖn ®¹i, c¬ së d÷ liÖu ph¶I m¹nh ®Ó nã thËt sù gióp Ých lμ cÇu nèi gi÷a céng ®ång Logistics ViÖt nam vμ c¸c doanh nghiÖp xuÊt nhËp khÈu.

    1. Kết Luận

    Sau hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt nam đã phát triển rõ rệt, có những bước tiến bộ đáng kể. Các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận thấy Việt nam là một điểm đến lý tưởng để đầu tư kinh doanh, sản xuất.

     

    27

    Việt nam có được lợi thế giá nhân công rẻ, chính trị ổn định, vị trị địa lý rất thuận lợi trong việc vận tải hàng hóa quốc tế vv.

    Tuy nhiên để ngành Logistics phát triển kịp với tốc độ phát triển kinh tế thì chúng ta còn rất nhiều điều phải làm. Chính phủ cần phải xây dựng một cơ sở hạ tầng hiện đại đủ thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, đường sắt cũng như đường hàng không. Khi làm được điều này thì chắc chắn Việt nam sẽ còn thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn nữa. Không phải ngẫu nhiên mà trong 10 năm trở lại đây lĩnh vực Logistics ở Việt nam lại phát triển mạnh đến như vậy. Đây là một điều tất yếu, theo quy luật cung‐cầu. Khi các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam xuất hàng đi thì việc đầu tiên là họ nghĩ đến một công ty Logistics có khả năng cung cấp cho họ những dịch vụ tốt nhất và các hãng tàu, các công ty Logistics Việt nam thì chưa đủ sức làm những việc này một cách bài bản. Miếng fomát Logistics ngon một lần nữa lại thuộc về các công ty nước ngoài.

    Do đó dù muộn còn hơn không, nhất định Việt nam phải giải quyết cho bằng được những ưu tiên cấp thiết để phát triển ngành Logistics. Về vị trí địa lý Việt nam là một quốc gia có đầy đủ các điều kiện thuân lợi để trở thành trung tâm (HUB) vận chuyển hàng hoá của khu vực cũng như quốc tế.

    Cơ sở hạ tầng của chúng ta chưa phát triển nên chi phí vận tải luôn cao hơn so với các nước trong khu vực, một lý do đơn giản là khi hàng hóa từ Việt nam xuất đi quốc tế phải qua cảng trung chuyển và sẽ bị mất thêm nhiều chi phí khác. Một khi chúng ta có hệ thống cầu cảng bến bãi hiện đại tầm cỡ trong khu vực thì chúng ta sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình và sẽ giảm bớt được thời gian và chi phí vận chuyển, mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành Logistics.

     

    28

    Tài Liêu Tham Khảo :

    Tạp chí Visaba Times‐Hiệp Hội Đại Lý Và Môi Giới Hàng Hải Việt Nam Năm 2006. (12 số)

    www.visabatimes.com.vn

    Tạp chí Chủ Hàng Việt Nam‐Vietnam Shipper. Năm 2006&2007 (12 số) www.vietnamshipper.com

    www.tnt.com

    www.dhl.com

    www.ups.com

    www.fedex.com

    www.mol‐logistics.co.jp

    www.schenker.com

    www.logisticsworld.com

    www.maerskline.com

    www.vietnamairlines.com

    29

    Logo một số công ty giao nhận ở Việt nam:

    30

  • Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người. Trước Các Mác, vấn đề bản chất con người chưa được giải đáp một cách khoa học. Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người. Bằng sự phát triển sự phát triển toàn diện thì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ.

    Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độ nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra tri thức mới, chứa dựng những tri thức mới.

    Ở nước ta, từ đại hội Đảng lần thứ III đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Muốn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân…thì không còn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa. Để làm được như vậy thì một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao kỹ thuật, công nghệ, và trong đó đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực.

    Đã có rất nhiều ngành, môn khoa học nghiên cứu về vấn đề con người đây được coi là vấn đề thiết thực nhất đòi hỏi sự phát triển toàn diện nhất trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này chúng ta chỉ đề cập tới một khía cạnh đó là: “Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    I. QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    1.1.  Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.

    Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.

    Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.

    Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.

    Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”.

    Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.

    Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.

    Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.

    Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.

    1..2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội

    Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đén cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.

    Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.

    Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.

    Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

    Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử – xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên. Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”.

    Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.

    Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.

    Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trung khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.

    Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.

    1.3 Sự phát triển xã hội loài người trong nền kinh tế tri thức

    Trong thời gian 150 năm, từ năm 1750 đến 1900 (thời kỳ của cách mạng công nghiệp), chủ nghĩa tư bản và công nghệ đã chinh phục toàn thế giới và tạo ra một nền văn minh thế giới mới. Nét mới quan trọng của tư bản và các phát triển công nghệ trong thời kỳ này là nhịp độ lan truyền và ảnh hưởng có tính toàn cầu của chúng đối với nhiều nền văn hóa, giai cấp và khu vực địa lý. Nhịp độ và phạm vi đó đã biến tư bản thành “chủ nghĩa tư bản”, và biến những tiến bộ về khoa học công nghệ thành cuộc “ Cách mạng công nghiệp”. Chủ nghĩa tư bản và Cách mạng công nghiệp – do nhịp độ và quy mô của chúng – đã tạo ra một nền văn minh thế giới mới.

    Sự chuyển đổi này đã được thúc đẩy bởi những thay đổi căn bản về ý nghĩa tri thức. ở cả phương Đông và phương Tây trước đây, tri thức được quan niệm là phục vụ cho chính nó. Nhưng sau một khoảng thời gian ngắn, tri thức đã được áp dụng vào tổ chức lao động, trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và trở thành một loại hàng hóa công cộng.

    Sự biến đổi ý nghĩa của tri thức trải qua 3 giai đoạn:

    Trong giai đoạn đầu (khoảng 100 năm), tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm. Điều này tạo ra cuộc Cách mạng công nghiệp đồng thời cũng tạo ra điều mà Marx gọi là các giai cấp mới, các cuộc đấu tranh giai cấp và gắn liền với chúng là Chủ nghĩa cộng sản.

    Trong giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ khoảng cuối thể kỷ 19 và kết thúc vào Chiến tranh thế giới thứ 2, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động. Giai đoạn này tạo ra cuộc Cách mạng năng suất trong 75 năm và chuyển những người vô sản trở thành tầng lớp trung lưu với thu nhập gần với tầng lớp thượng lưu.

    Giai đoạn cuối cùng thì tri thức đang được áp dụng cho chính bản thân tri thức. Đó là cuộc cách mạng quản lý. Tri thức trở thành một nhân tố sản xuất, làm giảm vai trò của cả vốn là lao động. Có thể là hấp tấp khi nói rằng chung ta hiện nay đang ở trong “xã hội tri thức”- hiện nay chúng ta mới chỉ có một nền kinh tế tri thức. Nhưng rõ ràng xã hội  của chúng ta hiện nay đã là “xã hội hậu tư bản”

    Các phát minh trong thời trước cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như kính mắt) cũng đã được lan truyền rất nhanh nhưng chúng ta chỉ gắn với một ngành, nghề thủ công hoặc một ứng dụng cụ thể nào đó. Những phát minh trong thời cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như động cơ hơi nước) nhanh chóng được ứng dụng trên diện rộng và tác động đến tất cả các ngành, nghề thủ công.

    Chúng ta hiểu rằng những sự kiện lịch sử trọng đại bắt nguồn không chỉ từ một nguyên nhân duy nhất và một cách giải thích duy nhất mà thường là kết quả hội tụ của nhiều tiến triển riêng rẽ và độc lập. Có thể lấy ví dụ về việc phát triển máy tính phải dựa vào rất nhiều phát minh khoa học trước đó.

    Tuy nhiên, có một nhân tố rất quan trọng mà không có nó thì tư bản và tiến bộ kỹ thuật có lẽ không thể có tác động  lan truyền mang tính xã hội và rộng khắp đến thế trên thế giới. Đó là sự thay đổi căn bản ý nghĩa của tri thức vào những năm 1700 và một thời gian ngắn sau đó.

    Vào thời kỳ Plato (những năm 400 trước công nguyên) có 2 học thuyết ở phương Đông và 2 học thuyết ở phương Tây về ý nghĩa và chức năng của tri thức. Nhà hiền triết Socrates, người phát ngôn của phái triết học Plato, cho rằng chức năng của tri thức là vì chính tri thức: sự phát triển tri thức, đạo đức và tinh thần của cá nhân. Địch thủ của ông ta, nhà triết học Protagoras lại cho rằng mục đích của tri thức là làm cho người có tri thức có thể hiểu được những gì cần phải nói và làm thế nào để nói chúng. Theo Protagoras, tri thức có nghĩa là logich, ngữ pháp và hừng biện (tu từ).

    Ở phương Đông cũng có hai học thuyết tương tự về tri thức. Đối với Khổng giáo, tri thức là biết được những gì cần nói và làm thế nào để nói chúng là con đường dẫn tới tiến bộ và thành công trên trần thế. Theo Đạo Lão và phái Thiền (Phật giáo) thì tri thức là vi tri thức, và là con đường đi đến sự thông thái và khôn ngoan.

    Khác với những người đương thời của mình của mình ở phương Đông, tức là những người theo Khổng giáo ở Trung Quốc, những người coi thường bất cứ những gì không thuộc nghiên cứu sách vở, cả Socrates lẫn Protagoras đều coi trọng kỹ thuật (techne) mặc dù cả hai ông này đều cho rằng kỹ thuật không phải là tri thức dù nó có đáng khâm phục đến đâu. Kỹ thuật gắn với một ứng dụng cụ thể và không có tính nguyên tắc để áp dụng cho tất cả các trường hợp.

    Nền tảng tạo ra 3 giai đoạn của tri thức – Cách mạng công nghiệp, Cách mạng năng suất, và Cách mạng quản lý – là sự thay đổi về căn bản ý nghĩa của tri thức. Chúng ta đã chuyển từ chỗ tri thức là số ít lên tri thức là số nhiều.

    Tri thức theo kiểu truyền thống là một thức chung chung. Còn tri thức bây giờ là những kiến thức cần thiết cực kỳ chuyên sâu.

    Khác với cách hiểu về tri thức trong thời kỳ Plato như đã nói ở trên, tri thức bây giờ được hiểu là tri thức thông minh cho chính nó trong hoạt động. Cái mà bây giờ chúng ta hiểu về tri thức chính là thông tin thực tế đối với hoạt động, thông tin nhấn mạnh đến kết quả. Những kết quả này nằm ngoài một cá nhân- nằm trong một xã hội và một cộng đồng.

    Để có thể thực hiện được công việc, tri thức phải có tính chuyên môn hóa cao. Đây chính là lý do giải thích tại sao trước đây người ta lại coi tri thức chuyên sâu có vị trí tầm thường như kỹ thuật và kỹ xảo. Nó không học được cũng không dạy được; nó cũng không có một nguyên tắc chung nào. Nhưng ngày nay, chúng ta không gọi những tri thức chuyên sâu này là “bí quyết”, chúng ta nói đó là “những môn học”. Đây chính là một sự thay đổi lớn hơn bất cứ sự thay đổi nào trong lịch sử tri thức.

    Mỗi môn học sẽ chuyển một “bí quyết” thành một phương pháp luận, sẽ chuyển từng kinh nghiệm riêng lẻ thành một hệ thống và chuyển giai thoại thành thông tin. Mỗi môn học sẽ chuyển các kỹ năng thành các thứ có thể dậy và học được.

    Bước chuyển từ đơn tri thức lên đa tri thức đã làm cho tri thức có sức mạnh tạo ra một xã hội mới. Nhưng xã hội này phải được xây dựng trên những tri thức có tính chuyên sâu, và những con người có tri thức như là một chuyên gia. Nó cũng đặt ra những câu hỏi cơ bản – về giá trị, về nhân sinh quan, về niềm tin, về tất cả mọi thứ làm cho xã hội gắn kết với nhau và làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa.

    II. NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

    2.1 Vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

    Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta  đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có những nguồn lực cần thiết như : nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý… Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ.

    Ngày nay, đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- công nghệ hiện đại  của các nước phát triển. Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người, còn nhớ rằng công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng. Đó là một điều rất đáng lưu ý.

    Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi những lí do sau:

    Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng, chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý thức của con người. Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và có ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác và gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình CNH-HĐH phát triển kinh tế. Các nguồn lực khác đều là khách thể chịu sự cải tạo và khai thác của con người, vì thế cho nên hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người nếu họ biết cách tác động và chi phối. Do đó trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại.

    –           Thứ hai,  các nguồn khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sinh sản về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lí. Đó là cơ sở làm làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực  tiễn của con người phát triển không ngừng, nhờ vậy con  người đã biết làm chủ  tự nhiên, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, phát minh ra nhiều công cụ sản xuất hiện đại hơn, đưa xã hội chuyển từ thấp đến cao.

    –  Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được  vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển như vũ bão của   cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghiệp hiện đại đang dẫn nền kinh  tế của các nước công nghiệp phát triển và vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Gìơ đây sức  mạnh của trí tuệ đã  đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “ bắt chước’’ hay “phỏng theo’’ những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi thần kỳ trước cả quá trình phát triển của mình.

    –    Thứ tư, kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của phát triển kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như cách tổ chức thực hiện của con người. Cơ cấu lao động cần cho quá trình phát triển kinh tế phải bao gồm : các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề…Nếu không có các nhà chính khách, các học giả thì khó có thể có được những chiến lược những chính sách phát triển đúng đắn. Nếu không có các nhà kinh doanh thì cũng sẽ không có những người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn nhân lực công nghệ. Sự thiếu vắng, kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên  sẽ có hại cho quá trình phát triển kinh tế đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên đây, ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con người có vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, muốn phát trriển kinh tế thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hóa, y tế, giáo dục ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và cũng được coi là  khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    2.2. Thực trạng của vấn đề đào tạo, sử dụng và phát triển con người ở Việt Nam.

    Xét về mặt tổng thể mà nói thì sau 10 năm thực hiện CNH-HĐH, chúng ta đã đi những bước vững chắc và quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình phát triển sau này. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn. Nhưng nhìn lại nguồn lực con người Việt Nam chúng ta không khỏi băn khơăn lực lượng lao động tuy dồi dào, cần cù, sáng tạo song chất lượng còn hạn chế, sự bất hợp lý về phân công lao động, khó khăn về phân bố dân cư. Theo thống kê năm 1989  cho thấy ; nguồn lao động phân bố không đồng đều giữa các ngành các vùng :80%ở nông thôn ,70%làm trong lĩnh vực nhà nước; 14% sống, làm việc trong khu vực nhà nhà nước ; 10% lao động tiểu thủ công nghiệp; 90% lao động thủ công.

    Do năng suất lao động thấp nên tình trạng thiếu việc làm vẫn diễn ra thường xuyên cả ở thành thị và nông thôn, cả số lao động trong khu vực nhà nước và quốc doanh.

    Theo một số nhận định thì trong những năm đầu của thế kỷ này tình trạng dư thừa lao động vẫn diễn ra. Lao động ở nước ta chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp công nhân phần biên chế… Song do nhu cầu CNH, HĐH yêu cầu con người lao động phải có tay nghề, có chuyên môn thì vấn đề việc làm một nan giải.

    Trong quá trình CNH, HĐH đất nước hiện nay đang cần nhiều lao động có trí tuệ, có thể coi đây là điều kiện để đảm bao cho sự phát triển bền vững, nhanh chóng nền kinh tế.

    Trong một số năm gần đây trí thức Việt Nam phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay cả nước có khoản trên 80 vạn trí thức đã đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng đất nước. Song so với yêu cầu thực tế của quá trình CNH, HĐH thì con số đó quả là khiêm tốn và chất lượng còn hạn chế.

    Không những thế, đội ngũ tri thức ở nước ta còn phân bố không đều phần lớn tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội… và một số trung tâm công nghiệp khác. Điều đó là do tác động của cơ chế thị trường đối với sự phân công lao động trong cả nước. Do chính sách đầu tư không đảm bảo cân đối giữa các ngành, giữa các vùng nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. ở những vùng này rất ít trí thức mà nếu có thì chất lượng rất hạn chế do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan do yếu tố tâm lý của người dân tộc nên việc bồi dưỡng, nâng cao việc giáo dục đào tạo lại chưa được chú ý một cách thoả đáng.

    Trong khi số người được đào tạo giảm thì số sinh viên tốt nghiệp, đại học, cao đẳng, không tìm được việc làm lại tăng lên theo thống kê chưa đầy đủ thì từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng ở khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% lên 35,38* đến nay khoảng 40%. Việc số sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm là do một số ngành đào tạo chưa được cơ chế thị trường châps nhận.

    2.2.1. Ưu điểm.

    Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức. Hội nghị Trung ương 6 khoá IX nhận định đội ngũ lao động của Việt Nam đang có bước phát triển mới: “lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng 17,2%/năm từ hơn 800.000 năm 1995 đến 1.300.000 năm 2000. Số lao động qua đào tạo chiếm gần 20% năm 2000”.

    Theo Bộ Lao động thương binh – xã hội thì số người trong độ tuổi lao động là 60-66% dân số (khoảng 48,5 triệu người). Có 40,7 triệu người  từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên (thành thị có 9,7 triệu người, nông thôn có 31 triệu người). Đặc biệt chúng ta có “mỗi năm ta có thêm 1,2 triệu việc làm mới”.

    Ngoài ra thì người lao động còn được các trung tâm xúc tiến và giới thiệu việc làm, trung tâm đào tạo và dạy nghề giúp mình tiếp cận việc làm hoặc tự tạo việc làm cho  mình.

    Không để sự hụt hẫng về thế hệ thì Nhà nước đã quan tâm đến vấn đề giáo dục các cấp, chúng ta đã có những thành công: “Hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập tiểu học trong cả nước, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng, một số thành phố, số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. “Năm học 1999 – 2000 so với năm 1994 – 1995 số học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần. Trung học cơ sở gấp 1,6 lần. Trung học phổ thông gấp 2,3 lần. Đào tạo đại học gấp 3 lần.Đào tạo nghề gấp 1,8 lần”. Ở bậc đào tạo đại học Nhà nước không chỉ quan tâm đến số lượng học sinh vào đại học mà còn quan tâm đến ngành nghề đào tạo để phục vụ cho nhu cầu của đất nước. “Đặc biệt chú trọng đào tạo chất lượng cao một số ngành công nghệ, kinh tế và quản lý Nhà nước để đáp ứng nhu cầu nhân lực và nhân tài của đất nước.

    Vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng được quan tâm điều này thể hiện qua kết quả. Một số bệnh viện được ânước ngoài cấp cải tạo và xây dựng mới. Trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng được hình thành. Nhiều nơi triển khai tốt chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo, gia đình có công với cách mạng.

    2.2.2. Hạn chế.

    Tuy đạt được một số thành công bước đầu nhưng chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế rằng đã có sự chênh lệch giữa lao động nông thôn và thành thị cả về số lượng và chất lượng. Số lao động ở nông thôn là 31 triệu người thì ở thành phố là 9,7 triệu người nhưng số lao động chưa biết chữ ở nông thôn cao gấp 6 lần ở thành thị. Số lao động qua đào tạo ở nông thôn là 11,98% còn ở thành thị là 44,6%

    Cũng như vậy, cơ cấu đào tạo đội ngũ lao động tính theo tỷ lệ giữa lao động có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1:1,75: 2,3 vẫn là cơ cấu bất hợp lý dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, kỹ sư phải đi làm việc của công nhân kỹ thuật

    Hiện nay chúng ta có hơn 1 triệu cán bộ các ngành có trình độ đại học với tỷ lệ sư phạm 33,3%; khoa học kỹ thuật 25,5%; nông nghiệp 8,1%; khoa học tự nhiên 6,8% ta thấy nước ta đang còn là một nước nông nghiệp mà chỉ có 8,1% cán bộ nông nghiệp được đào tạo qua đại học một con số quá ít chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá, bên cạnh đó còn phần lớn sinh viên sau khi ra trường không có việc làm, nếu có thì không đúng với chuyên ngành mà mình được đào tạo dẫn đến lãng phí trong đào tạo.

    Việc học tập ở mọi cấp bị chi phối bởi nhiều tâm lý lấy số lượng đào tạo, lấy bằng cấp. Chưa quan tâm đến chất lượng đào tạo tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan

    Công tác bồi đưỡng và sử dụng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức, chưa có những chính sách đối với những cán bộ khoa học và công nghệ. Cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ cao ở nước ta là rất ít. “Vào cuối năm 2002 chúng ta có 1032 giáo sư và 4563 phó giáo sư”. Trong khi đó các cán bộ này đã cao tuổi, ít có những cán bộ trẻ kế cận. Sự hụt hẫng về cán bộ khoa học nếu không được quan tâm thì sảy ra là điều tất yếu.

    Chế độ khen thưởng và tiền lương cho giáo dục đào tạo chưa hợp lý, còn tồn tại chế độ tiền lương của những giáo viên, giảng viên còn thấp so với người lao động bình thường.

    2.2.3. Nguyên nhân

    1. Về mặt ưu điểm

    Do Nhà nước đã quan tâm đến vấn  đề giáo dục, nhận thức được vấn đề con người và nguồn  nhân lực với sự phát triển của đất nước. Có mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ ngoài có trình độ khoa học, kinh tế, quản lý còn chú ý xây dựng tư tưởng cạnh tranh, tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình. Có lý tưởng XHCN tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học và chí tiến thủ.

    Do đặc điểm của lao động Việt Nam: số lượng lao động lớn đa số là lao động trẻ có thể lực, trí lực dồi dào. Các lao động của thế hệ trước thì cũng nhanh chóng thay đổi được nếp cũ chấp nhận sự năng động, chấp nhận đào tạo lại. Thế hệ trẻ thích nghi nhanh với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

    b.Về mặt nhược điểm

    Chưa có một cơ quan tổ chức cụ thể phát triển và đào tạo nguồn nhân lực. Buông lỏng quản lý cơ cấu đào tạo để phát triển tự phát theo nhu cầu của người dân, còn nặng tâm lý khoa cử chưa quan tâm đến thực nghiệm. Việc đào tạo chưa bám sát cơ cấu lao động, một bộ phận xã hội nhận thức chưa đúng với sứ mệnh đào tạo nghề của giáo dục đại học.

    Mặt khách quan: thị trường lao động chủ mới hình thành làm cho đào tạo của nước ta chưa bám sát vào cơ cấu lao động. Chưa có một chiến lược đào tạ và quản lý nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI Ở VIỆT NAM

    3.1. Đào tạo trước đòi hỏi của kinh tế tri thức

    Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại với đặc trưng là cách mạng tri thức, cách mạng thông tin phát triển như vũ bão, đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong mọi hoạt động của xã hội loài người, từ cách sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đến quan hệ xã hội, văn hóa, lối sống, làm thay đổi cả những khái niệm và phương pháp tư duy. Xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển, loài người đang bước vào nền văn minh trí tuệ. Con người phải có đủ năng lực để thích nghi và thúc đẩy xu thế phát triển đó. Nước nào không có nguồn nhân lực tài năng sẽ bị gạt ra ngoài lề. Trên phạm vi toàn thế giới đang diễn ra một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng để thích ứng với sự phát triển mới.

    Nhân tố cơ bản nhất để phát triển nền kinh tế tri thức là nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên nền giáo dục tiên tiến. Kinh tế tri thức có  nhiều khác biệt cơ bản so với kinh tế công nghiệp, do đó đòi hỏi phải đổi mới, cải cách nền giáo dục. Bởi vì, thứ nhất, trong nền kinh tế tri thức vốn tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên; giáo dục – đào tạo với chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức trở thành ngành sản xuất cơ bản nhất. Do đó, vị trí, vai trò của giáo dục thay đổi cơ bản. Thứ hai, sáng tạo đã trở thành động lực quan trọng nhất. Nếu như trong nền kinh tế công nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh và việc tạo ra giá trị mới chủ yếu là do hoàn thiện, tối ưu hóa cái đã có, thì trong nền kinh tế tri thức việc nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do sáng tạo ra cái mới. Cái có giá trị nhất là cái chưa biết, cái đã biết thì dần sẽ mất đi. Con người không có năng lực thì không có chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Thứ ba tốc độ đổi mới rất nhanh. Trong nền kinh tế công nghiệp, sản phẩm có thể tính bằng thập kỷ, con trong nền kinh tế tri thức, chu kỳ tính bằng năm, thậm chí bằng tháng. Sản phẩm mới tăng lên không ngừng, vòng đời công nghệ và sản phẩm rút ngắn, tốc độ đổi mới ngày càng tăng nhanh trong tất cả các ngành, các doanh nghiệp. Tốc độ trở thành cái trên hết, người ta làm việc theo tốc độ của tư duy. Các doanh nghiệp buộc phải đổi mới, doanh nghiệp nào không kịp thời đổi mới sẽ bị tiêu vong. Cứ mỗi sáng chế mới ra đời là xuất hiện một doanh nghiệp mới, đó là những doanh nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học.

    Hoạt động chính trong nền kinh tế tri thức là tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức. Tạo ra tri thức là mục đích của các hoạt động nghiên cứu sáng tạo do những người được đào tạo tốt tiến hành. Truyền bá tri thức tức là nhân lên vốn tri thức, làm cho vốn tri thức xã hội tăng lên nhanh chóng, đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục. Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức. Vì vậy, người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức. Sử dụng tri thức là quá trình đổi mới, biến tri thức thành giá trị, đưa tri thức vào trong hoạt động xã hội của con người. Đó cũng là nhiệm vụ của giáo dục đặc biệt là giáo dục thường xuyên. Trong thời đại cách mạng thông tin, cách mạng tri thức quá trình tạo ra tri thức, truyền bá tri thức và sử dụng tri thức không còn là quá trình kế tiếp nhau mà trở thành đan xen nhau, tương tác nhau; và cái quan trọng nhất là sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị. Giáo dục phải tạo ra con người có tri thức và biết sử dụng tri thức trong hoạt động thực tiễn để tạo ra nhiều giá trị mới.

    3.2. Cải cách giáo dục để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

    Đảng ta từ rất sớm đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục – đào tạo, coi giáo dục – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến nay đã có hơn 20% số người lao động qua đào tạo trong số đó có khoảng 1,5 triệu người tốt nghiệp đại học và cao đẳng: 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ. Trình độ học vấn của đội ngũ công nghiệp kỹ thuật được nâng cao khá nhanh. Nguồn nhân lực ấy đã góp phần lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa, yêu cầu “đi tắt đón đầu”, đẩy nhanh và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực hiện có của nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập. So với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực của nước ta còn thua kém về số lượng, cơ cấu cũng như về trình độ, năng lực.

    Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, trước hết Nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực (khoa học – công nghệ, quản lý kinh doanh, văn học – nghệ thuật, các nghệ nhân…). Thực hiện việc đánh giá đúng và trả thù lao xứng đáng với kết quả lao động sáng tạo của đội ngũ tri thức, không để lẫn lộn người có tài với kẻ bất tài; có chính sách tích cực để khuyến khích cán bộ khoa học tiến thân bằng những cống hiến do năng lực chuyên môn của mình. Xây dựng và thực hiện cơ chế đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, sàng lọc hợp lý; thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ trí thức. Có sử dụng tốt thì mới có giáo dục tốt. Có trọng dụng người tài thì mới có nhiều người tài.

    Nền giáo dục nước ta phải thực sự đổi mới để đảm bảo đào tạo được một thế hệ trẻ có đủ năng lực làm chủ đất nước. Không có nền giáo dục tốt thì không tạo dựng được nội sinh về khoa học – công nghệ để trụ vững trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay nhằm phát triển nhanh đất nước. Ai đó còn nghĩ rằng nếu có nhiều vốn thì có thể mua tri thức được tri thức, mua công nghệ của nước ngoài để phát triển, thì hãy nhìn lại bài học không thành công ở một số nước giàu tài nguyên mà không có năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ. Truy cập vào kho tri thức toàn cầu, mua công nghệ là việc nhất thiết phải làm đối với những nước đi sau, nhưng nếu không có đủ năng lực tri thức nội sinh thì chỉ có được tăng trưởng nhất thời, sau đó là sự tụt hậu và lệ thuộc.

    Nền giáo dục phải thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản.

    Một là, nâng cao mặt bằng dân trí, mỗi người dân đều có khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức mới cần thiết cho công việc của mình. Mặt bằng dân trí phải theo kịp mức các nước tiên tiến trong khu vực.

    Hai là, phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao thích nghi với sự đổi mới và phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa vào tri thức.

    Ba là, phải chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân tài. Nếu đến năm 2010 nước ta không có được ít nhất một vạn các chuyên giỏi, đầu đàn trong tất cả các lĩnh vực thì khó tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế theo hướng dựa vào tri thức.

    Đi đôi với việc nâng cao chất lượng giáo dục, cần phát triển nhanh quy mô giáo dục. Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào trước năm 2010, phổ cập giáo dục trung học vào năm 2015, nâng số năm đi học bình quân của người trong độ tuổi lao động lên 9 năm vào năm 2010, lên 12 năm vào năm 2020. Nâng tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân ngang với các nước xung quanh. Tuy số người đi học hiện nay so với số dân khá cao, số người đi học đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp tăng khá nhanh, nhưng so với yêu cầu hiện đại hóa dựa vào tri thức cũng như so với yêu cầu của các nước đang phát triển thì còn thấp. Xét về tỷ lệ đi học trong độ tuổiở bậc trung học, số sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân, nước ta kém xa Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a. Hiện nay, có hiện tượng sinh viên học xong ra trường không có việc làm, nhưng đó chỉ là tạm thời, do sản xuất, kinh doanh chưa bùng phát; và cũng do chất lượng đào tạo thấp nên nhiều người không tìm được việc làm bởi họ không đủ năng lực, tiêu chuẩn của nhà tuyển dụng yêu cầu. Nếu đào tạo tốt, người học ra trường có nhiều khả năng sáng tạo, biết tổ chức ra việc làm mới, thì các doanh nghiệp mới sẽ phát triển và thu hút nhiều việc làm. Các doanh nghiệp nếu biết đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm nhanh thì cũng sẽ thu hút đựơc nhiều lao động có tay nghề cao. Một trong những mục tiêu của giáo dục ở nhà trường là đào tạo cho các học sinh, sinh viên khả năng tự tạo việc làm. Như vậy chúng ta phải phát triển nhanh giáo dục phổ thông và giáo dục cho mọi người. Cần hết sức quan tâm giáo dục trẻ thơ vì đó là nền tảng cho cho phát triển nền giáo dục sau này. Đầu tư vào đây nhiều thì sẽ bớt được chi phí cho sự khắc phục những khiếm khuyết về chất lượng giáo dục trong tương lai.

    Phát triển hệ thống học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dưỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn dựa trên tri thức. Trong một nền kinh tế dựa vào tri thức thì mọi người đều phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để có thể thích nghi với sự phát triển và đổi mới nhanh của khoa học – công nghệ, sản xuất, kinh doanh. Xã hội học tập và xã hội thông tin là tiền đề cho nền kinh tế tri thức. Hệ thống giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện cho mọi người ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể tham gia học tập nâng cao trình độ để theo kịp sự phát triển của thời đại. Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục. Huy động sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức cá nhân tham gia phát triển giáo dục; đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước trong việc hình thành xã hội học tập và chế độ học tập suốt đời. Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân và nhân dân tham gia phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập; khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo ở nước ta. Đa dạng hóa phải đi đôi với chuẩn hóa. Coi trọng cả giáo dục cơ bản và giáo dục đại học; cả giáo dục cho mọi người và giáo dục tinh hoa. Nhiệm vụ cấp bách là phải tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong giáo dục, cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, hệ thống giáo dục và phương thức tổ chức quản lý giáo dục – đào tạo.

    Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người có đủ khả năng, bản lĩnh thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện: dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Học là để xây dựng nhân cách, xây dựng năng lực cho con người; học để có thể làm việc trong cộng đồng, cống hiến cho xã hội, để có thể tự khẳng định mình. Kiên quyết khắc phục tình trạng đi học chỉ để lấy bằng cấp, mà không quan tâm đến xây dựng năng lực. Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển.Kiên quyết khắc phục phương pháp giảng dạy cũ kỹ, lac hậu, thầy giảng trò ghi, thụ động một chiều. Nội dung chương trình phải hiện đại nhưng tinh giản. Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản nhất, và giúp người học biết nhân lên vốn tri thức của mình, hướng dẫn người học cách tiếp thu tri thức mới, bồi dưỡng cho họ những kỹ năng cần thiết, phương pháp tư duy, trí sáng tạo…, thông qua các trường hợp điển hình để bồi dưỡng phương pháp và năng lực giải quyết vấn đề. Tăng cường sự tương tác giữa thầy giáo và sinh viên, sử dụng công nghệ mới nhất là công nghệ thông tin trong giảng dạy. Tăng cường dạy công nghệ thông tin trong tất cả các bậc học. Giáo dục đại học đi theo xu thế đào tạo theo diện rộng; đào tạo chuyên ngành hẹp không cònphù hợp với sự thay đổi ngành nghề, thay đổi việc làm đang diễn ra ngày càng nhanh hiện nay.

    Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống – đào tạo kỹ năng để ra làm việc cho đến nghỉ hưu, sang mô hình giáo dục mới: học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa học tập, vừa làm việc suốt đời. Theo mô hình này, khi kết thúc mỗi bậc học, người học có hai khả năng lựa chọn: hoặc là học tiếp hoặc là ra trường vừa lao động vừa tiếp tục học tập.

    Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản lý giáo dục, tập trung vào vấn đề quản lý chất lượng. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, tăng cường thanh tra kiểm tra, thay đổi cách tổ chức thi cử, tuyển sinh, khắc phục tình trạng nặng về quản lý đầu vào, nhẹ quản lý đầu ra; kiên quyết chống bệnh thành tích. Tăng quyền chủ động cho các trường công lập cũng như các trường ngoài công lập. Bộ và các Sở Giáo dục – Đào tạo tăng cường chức năng quản lý Nhà nước, nhất là thanh tra chất lượng giáo dục đối với tất cả các trường, không làm thay các công việc của trường, xóa bỏ cơ chế xin – cho. Các trường chủ động thực hiện quá trình đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo. Trong nền kinh tế thị trường, có thị trường lao động, thì sản phẩm của giáo dục cũng là một thứ hàng hóa, là hàng hóa đặc biệt, là dịch vụ công, phải được thị trường đánh giá, lựa chọn, chấp nhận. Không cho phép thương mại hóa giáo dục, biến trường thành chợ, vì lợi nhuận tối đa; nhưng cần vận dụng cơ chế thị trường để huy động các nguồn lực và tạo thêm động lực cho phát triển giáo dục. Trong một xã hội có hệ thống đánh giá , sử dụng, đãi ngộ đúng đắn thì sự cạnh tranh giữa các trường sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà nước vừa chăm lo xây dựng một số trường trọng điểm chất lượng cao, ngang tầm quốc tế; vừa thực hiện chính sách công bằng xã hội, tạo điều kiện để những người nghèo, những đối tượng chính sách, có hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội học tập để phát huy hết khả năng của mình.

    Mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục – đào tạo với nước ngoài. Cần mở rộng giao lưu về giáo dục với các nước, tiếp cận với những mô hình giáo dục tiên tiến nhất, để vận dụng sáng tạo vào nước ta. Có chính sách tuyển cử đông đảo giáo viên, sinh viên đi học tập , nghiên cứu ở các nước phát triển và thu hút nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài vào nước ta giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm. Mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết các trường đại học ở nước ta với các trường đại học ở nước ngoài để đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các đại học quốc tế ở nước ta, được các trương uy tín trên thế giới cấp bằng.

    Cải cách giáo dục là cuộc cách mạng sâu sắc không chỉ trong ngành giáo dục mà còn trong cẩ xã hội, bắt nguồn từ sự đổi mới tư duy về giáo dục. Ngành giáo dục đã cố gắng xử lý rất nhiều vấn đề, nhưng hầu như mới chỉ là những vấn đề ngọn, cắt gọt được cái này thì phát sinh cái khác, đối phó, giải quyết từng vụ việc, chưa thay đổi tận gốc, có thể do còn vướng mắc trong tư duy. Nếu không có quyết tâm cao trong cải cách giáo dục, không có bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục thì sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước, trước hết là các nước ASEAN. Muốn chấn hưng đất nước cần phải cải cách giáo dục, nhanh chóng đưa nền giáo dục nước ta lên ngang mức tiên tiến các nước trong khu vực.

    KẾT LUẬN

    Trong các ký đại hội VI, VII, VIII của Đảng ta đã chủ trương xã hội nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt bởi chủ trương đó xuất phát từ trình độ và hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta về các mặt. Chúng ta, thực hiện quá trình CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đã khơi dậy năng lực sáng tạo, tính chủ động của con người phát triển. Do đó, mà nền kinh tế của chúng ta đã thực sự được đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn. Từ một nước nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về khoa học kỹ thuật, đói kém, thì nay ta đã đảm bảo cho dân được ăn no, và còn có sp dư thừa để xuất khẩu.

    Mặc dù vậy, chúng ta vẫn còn rất nhiều khó khăn ở phía trước đòi hỏi nhà nước phải có chính sách, biện pháp khắc phục để cho sự nghiệp CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đạt được kết quả.

    Hơn nữa, chúng ta phải đặt vấn đề nhân lực con người lên hàng đầu phát triển đồng bộ giữa các ngành, giữa các vùng, đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý đảm bảo công cuộc CNH, HĐH phát triển nhanh. Phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về kinh tế có trình độ, năng lực quản lý, có tư cách đạo đức tốt điều đó đòi hỏi ta phải có sự giáo dục đào tạo thế hệ trẻ ngay từ khi còn là học sinh, sinh viên đó là nguồn lực quý giá cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Triết học Mác_Lênin.
    2. Đảng CSVN – Cương lĩnh XH Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. NXB Sự thật, Hà Nội 1991
    3. Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII.
    4. Một số nhận thức mới về con đường XHCN của Việt Nam – Tg: PTS. Đào Duy Quát- Cao Thái- NXB Tư tưởng Văn hoá 1992
    5. Môi trường kinh doanh – Đạo đức kinh doanh – NXB-Hà Nội 1997
    6. Kinh tế tri thức- Xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI – NXB Chính trị quốc gia 2000.
  • Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    LỜI NÓI ĐẦU

     

     

    Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta. Bước vào thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Học tập, quán triệt những quan điểm cơ bản và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống xã hội toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là nhân tố quyết định thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

    Em chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội” để nghiên cứu. Lí do em chọn đề tài này là em nhận thấy trong di sản của Người tư tưởng về đạo đức chứa đựng những nét đặc sắc ngang tầm thời đại, là kim chỉ nam xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong giai đoạn đất nước ta đang đổi mới. Đặc biệt khi em đang là sinh viên đang học tập tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, em sẽ phải rèn luyện và tu dưỡng đạo đức rất nhiều.

    Trong quá trình làm tiểu luận có nhiều sai sót em kính mong sự góp ý và giúp đỡ của thầy cô giáo trong Khoa. Em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

     

    I.                   TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

     

    Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và xã hội.

    Hồ Chí Minh là lãnh tụ bàn nhiều nhất về đạo đức, nhưng Người thực hành về đạo đức nhiều hơn những điều Người đã nói và viết về đạo đức. Vì thế muốn nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh thì không thể chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói mà phải thâm nhập vào toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người và những tiếng nói tâm huyết của các học trò và bạn bè quốc tế về Người.

    1. Nguồn gốc đạo đức Hồ Chí Minh

    1.1. Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam

    Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã xây dựng được một hệ giá trị đạo đức độc đáo đặc sắc, đó là: Lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập tự do hạnh phúc. Thấy được sức mạnh của đoàn kết, lấy dân làm gốc, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo. Thủy chung gắn bó cá nhân, gia đình, làng xã, nếp sống nghĩa tình đạo đức, trung hiếu, cần kiệm liêm chính,….

    Từ hệ giá trị đạo đức dân tộc này Hồ Chí Minh tiếp thu, khai thác, và nâng cao những giá trị đó lên trình độ mới.

    1.2. Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị đạo đức nhân loại

    – Giá trị đạo đức phương đông, trước hết là nho giáo

    • Xuất thân từ gia đình tri thức uyên bác nho học, Người thấy những giá trị đạo đức của Nho giáo, coi Nho giáo như khoa học về tu thân dưỡng tính, khắc kỹ, phục lễ, vi nhân, kính trọng người lao động, dân là gốc của nước (dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi), tứ hải giai huynh đệ, nhân nghĩa, trung hiếu, cần kiệm, liêm chính.
    • Người viết: Đạo đức Khổng tử, học vấn của ông, những kiến thức của ông làm những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục… Chúng ta hãy tự hoàn thiện đạo đức của mình bằng cách đọc các tác phẩm của ông.
    • Người chỉ ra những hạn chế của Nho giáo: Tư tưởng đẳng cấp, coi khinh lao động chân tay, phụ nữ, KHKT, tài năng, dùng học thuyết chính danh quân tử, tiểu nhân để chuyên chế xã hội làm cho xã hội trì trệ, chậm phát triển.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị đạo đức của tôn giáo:

    Đó là tư tưởng từ bi, cứu nạn cứu khổ, thiện chí, bình đẳng, an lạc, hạnh phúc, sống hòa hợp với môi trường, tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức của Phật Giáo.

    Tư tưởng bao dung nhân ái, hy sinh cao cả của Thiên chúa.

    Tư tưởng tự do bình đẳng bác ái, coi trọng con người trong văn hóa phương Tây, trong tuyên ngôn độc lập Pháp, Mỹ.

    1.3. Đến với đạo đức Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức

    Đến với CN Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã khám phá ra kho tàng đạo đức MacXit, đó là thứ đạo đức đích thực, cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xã hội, mang lại tự do, ấm no, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho con người, vì sự tiến bộ, phát triển xã hội, đưa nhân loại từ chỗ bị tha hóa đến vương quốc tự do, vương quốc đích thực, chủ nghĩa nhân đạo đích thực.

    Hồ Chí Minh còn thấy được ở Mac, Aghen, LêNin là những tấm gương đạo đức sáng ngời, họ không chỉ là những lãnh tụ thiên tài về chính trị mà còn là những lãnh tụ giản dị, khiêm tốn, coi khinh xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng… là hiện thân của tình anh em bốn bể. Họ dạy chúng ta phải cần kiệm, liêm chính.

    Hồ Chí Minh chỉ rõ đạo đức cũ và đạo đức Mac-Lê Nin đối lập nhau. Đạo đức mới là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, dân tộc, nhân loại, nó đòi hỏi phải phá tan xiềng xích nô lệ, xây dựng xã hội mới bình đẳng tốt đẹp cho mọi người.

    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng vô sản, mang bản chất cách mạng và khoa học, đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp tinh hoa giữa nhân loại, là 1 hệ thống mở phát triển cùng với thực tiễn Việt Nam, góp phần tạo dựng bộ mặt văn hóa Việt Nam, là vũ khí tinh thần trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường XHCN.

    1. Những đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    2.1. Sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị

    Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, là đạo đức Vô sản, là đạo đức cách mạng nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người phục vụ tổ quốc, nhân dân, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Các quan điểm đạo đức của người luôn thấm nhuần những tư tưởng chính trị và ngược lại, nhiều quan điểm vừa là chính trị vừa là đạo đức (trung với nước hiếu với dân).

    2.2. Thống nhất giữa tư tưởng và hành vi, động cơ và hiệu quả, lý luận và thực tiễn

    Hồ Chí Minh nói, viết, giáo dục đạo đức luôn gắn với hành động thiết thực, thể hiện bằng kết quả công việc, lý luận đạo đức luôn gắn với đời sống. Mỗi hành vi của Người đều chứa đựng tư tưởng đạo đức cao thượng, đẹp đẽ.

    Người thường nhắc nhở: Nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả công việc để đo đạo đức, quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói mà phải thể hiện trong hành động, nói trung với nước hiếu với dân thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

    2.3. Thống nhất giữa đức và tài

    Đức và tài gắn chặt nhau, vì có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì vô dụng, thậm chí còn có hại.

    Giữa đức và tài thì đức là gốc, trong đức có tài và trong tài có đức, tài càng cao thì đức càng lớn, con người phải có tài và đức thì mới làm tròn nhiệm vụ.

    2.4. Thống nhất giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, giữa việc nhỏ và việc lớn

    Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức đời thuờng, trong đó phải đặt đạo đức cách mạng trên hết, hi sinh phấn đấu vì tổ quốc, vì nhân dân, không quên rèn luyện đạo đức trong những việc nhỏ.

    Rèn luyện đạo đức trong mọi môi trường, mọi phạm vi từ gia đình đến môi truờng đến xã hội, nơi sinh hoạt, công tác và cần phải có sự phối hợp giữa các môi trường để giáo dục đạo đức toàn diện cho con người, rèn luyện đạo đức trong mọi mối quan hệ

    2.5. Đạo đức cần cho mọi người nhất là cho những người cách mạng, cho cán bộ, đảng viên

    Bác không để lại 1 tác phẩm chuyên về đạo đức, nhưng đạo đức Người đề cập liên quan tới mọi tầng lớp nhân dân, lứa tuổi, ngành nghề.

    • Quân đội: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
    •   Công an: Đối với tự mình cần kiệm liêm chính, đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép, đối với công việc phải tận tụy, đối với kẻ địch phải kiên quyết và khôn khéo, đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.
    •  Thanh niên: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, có chí ắt làm nên.
    • Phụ nữ: Trung hậu, đảm đang.
    • Thiếu niên: Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt, giữ gìn vệ sinh thật tốt, khiêm tốn thật thà dũng cảm.

    Người luôn nhấn mạnh phải rèn luyện đạo đức trong điều kiện Đảng cầm quyền .

    Người cầm quyền có sức mạnh để bảo vệ thành quả của cách mạng. Nhưng nếu tha hóa đạo đức, người cầm quyền trở thành sâu mọt, tham quyền cố vị, đe dọa sự sống còn của Đảng.

    2.6. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò to lớn đối với dân tộc và nhân loại

    Những đức tính như khiêm tốn, độ lượng, giản dị, thật thà, tự nhiên, tình yêu nhân loại, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư đã để lại dấu ấn không phai mờ trong lòng dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại tiến bộ trên thế giới hôm nay và mai sau.

     

    1. Quan điểm về vai trò của đạo đức cách mạng

     

              Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu; phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.  Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên của Việt Nam từ những năm 1920 là bài giảng về “tư cách của một người cách mạng”. Đến khi viết Di chúc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về vấn đề đạo đức, yêu cầu mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, Đảng phải quan tâm chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.

    Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”1.

    Người so sánh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.

    Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải “viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

    Vai trò của đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng cao thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.

    Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải một chiều phụ thuộc vào tồn tại xã hội, vào những điều kiện vật chất kinh tế. Nó có khả năng tác động tích cực trở lại, cải biến tồn tại xã hội. Giá trị đạo đức tinh thần một khi được con người tiếp nhận sẽ biến thành một sức mạnh vật chất.

    Có  đạo  đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản…; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v..

    Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức – tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi.

    1. Nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng HCM

    4.1 Tu dưỡng đạo đức cách mạng bền bỉ suốt đời

    Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà củng cố và phát triển cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì thế phải gian nan rèn luyện mới thành công. Rèn luyện phải tự nguyện tự giác.

    4.2 Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm

    Nói nhưng không làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo là đặc trưng của giai cấp bốc lột. Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm, ở phương đông một tấm gương sống về đạo đức còn giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền.

    Trong rèn luyện thực hành đạo đức phải chú trọng đạo “làm gương”. Muốn hướng dẫn nhân dân thì mình phải mực thước, khiến cho người ta bắt chước. Hô hào tiết kiệm mình phải tiết kiệm trước làm trước, Đảng viên đi trước làng nước đi sau…

    4.3 Xây dựng đạo đức mới đi đôi với chống những hiện tượng phi đạo đức

    Chống cái xấu, sai, ác phải đi đôi với xây dựng cái tốt đẹp, cái thiện, trong đó xây là chính.

    Cách mạng là nhiệm vụ nặng nề, luôn có 3 kẻ thù chống phá là CNĐQ, chủ nghĩa cá nhân, những thói quen & tập quán lạc hậu. Đạo đức cách mạng vô luận là lúc nào cũng phải chống 3 kẻ thù trên.

    II.                VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

     

    1. Đặt vấn đề

    Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng người, một nước, một khu vực nhất định. Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn. Những qui tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ… Trong số đó, có những qui tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen. Đó là lối sống cá nhân. Có những qui tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó. Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên. Đó là lối sống cộng đồng. Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng. Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng. Lối sống là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một con người. Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mối quan hệ.

    1. Thực trạng

    Hiện nay, Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nước theo công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là một quá trình khó khăn, đầy thử thách mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta đã đạt được một số thành tựu khả quan: Tỷ lệ tăng trưởng GDP năm 2003 đạt mức cao nhất so với các năm trước – 7,24%, nạn thất nghiệp giảm bớt, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao cả về mặt chất cũng như mặt lượng. Và trong giai đoạn phát triển này thì không thể không kể đến vai trò của lớp trẻ mà cụ thể là Sinh viên – thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thì lối sống, cách nghĩ của sinh viên cũng biến chuyển theo: Có rất nhiều Sinh viên đã trưởng thành và phát huy mọi khả năng của mình để góp một phần sức lực trong việc đổi mới đất nước, cũng có nhiều sinh viên đã biết vượt qua số phận nghiệt ngã của chính mình để học tập. Đồng thời đó cũng không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt các tệ nạn như: đua xe, ma tuý, cờ bạc, rượu chè… ngày càng xâm nhập sâu vào giảng dường. Tất cả những điều đó trở thành điều nhức nhối cho toàn xã hội. Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”. Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.

    Đối với Sinh viên trường ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây.

    • Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. v… Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
    • Tính năng động: Nhiều Sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là Sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện). Nhiều Sinh viên cùng một lúc học hai trường.
    • Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: Sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân.
    • Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong Sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
    • Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là Sinh viên. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh vŕ quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận Sinh viên.

    Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.

    Em có đọc được bài viết này và nhận thấy rằng thực trạng đó rất giống với Sinh viên trường ta:

    “THẤY GÌ QUA LỐI SỐNG SINH VIÊN THỜI NAY
    Trương Hiệu
    Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay.

    60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội!
    Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ!
    Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này.

    10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!
    Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới…”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập…”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ…”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng “sành điệu”. Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến quên cả lối về!

    30% sinh viên say mê học tập?
    Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập.

    Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh.”

    (Nguồn: chungta.com)

    1. Giải pháp

    Dưới đây là ý kiến chủ quan của riêng em:

    * Ở nhà trường, cần dạy Sinh viên những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu lạc hậu không còn phù hợp, cần phải đưa Sinh viên vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Cần thay đổi cách đánh giá sinh viên thay cách đánh giá đơn thuần bằng điểm số. Nên có quy định khi đánh giá xếp loại hạnh kiểm sinh viên hàng năm, giáo viên phải ghi rõ những mặt mạnh, yếu, mặt nào cần rèn luyện, những biểu hiện sai lệch để học sinh cố gắng trong năm sau. Cần đưa ra những tiêu chí định hướng cho sinh viên rèn luyện cũng như những điều cần nhận xét như: năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sở trường, cá tính, ý thức tập thể, chuyên cần, thái độ với mọi người.

    * Ở gia đình, các bậc phụ huynh nên dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con lòng khoan dung, sự độ lượng vị tha và những chuẩn mực, giá trị đạo đức mà con người phải sống theo, dạy con điều hay lẽ phải. Nhưng để làm được điều đó, trước hết cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo. Trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thì những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm, nhưng nếu các bậc cha mẹ đã không đóng đúng vai trò của mình thì đừng đòi hỏi những đứa con ở nhà sẽ trở thành một công dân tốt. “Môi trường tạo nên tính cách”, vì thế nếu cha mẹ rượu chè, cờ bạc, vi phạm pháp luật thì hình ảnh của họ sẽ như thế nào trong mắt con cái ?

    * Ra ngoài xã hội, Sinh viên cần được quan tâm nhiều hơn nữa từ các ban ngành, đoàn thể mà cụ thể trước nhất là Đoàn thanh niên. Các tổ chức Đoàn hiện nay chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục đạo đức làm người cho thanh niên, cụ thể là trong những chương trình trọng điểm ở Đại hội Đoàn các cấp đưa ra chưa nhận thấy được diễn biến phức tạp trong tâm lý, đời sống lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay, không có nhiều chương trình & kế hoạch quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, không có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình & nhà trường trong việc quản lý, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Lẽ nào những hành vi, lối sống phi chuẩn của thanh niên trong thời gian qua chưa đủ để xã hội quan tâm ?

    Khi chúng ta mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ chắc chắn cũng sẽ tràn vào. Vấn đề ở đây là không phải và cũng không thể ngăn chặn các luồng văn hóa ấy, mà phải tạo cho từng thành viên trong xã hội, nhất là giới trẻ, sức đề kháng trước các luồng văn hóa, lối sống ấy. Đừng để giới trẻ hiện nay bị tha hóa về đạo đức. Muốn vậy hãy cùng chung tay tạo sức đề kháng cho thế hệ trẻ để tránh những cạm bẫy của xã hội, sống tốt hơn để góp sức mình trong công cuộc sây dựng đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với sinh viên- chúng em, những ngày ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát tốt, chúng em sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn.

    Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước, với một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nêu cao khẩu hiệu “Sinh viên Bách Khoa năng động, sáng tạo, kỷ luật và thanh lịch” – Tuổi trẻ Bách Khoa nguyện phát huy truyền thống anh hùng, chăm chỉ rèn đức luyện tài vì Thủ đô phát triển, vì đất nước phồn vinh, khẳng định vai trò, vị thế của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sinh viên Thủ đô ngàn năm văn hiến, tạo dựng hình ảnh người sinh viên Việt Nam trong thời đại mới có hoài bão, có lí tưởng và có trách nhiệm với xã hội và đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sự năng động của các bạn tình nguyện ĐH Bách Khoa Hà Nội

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tác giả: Nhiều Tác giả

    Nhà xuất bản: NXB Chính trị Quốc gia

    Ngày xuất bản: 06 – 2009.

    1. Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức

    Tác Giả: GS.TS Trần Văn Bính

    Năm xuất bản: 2010.

     

     

    1. Sách, báo, tạp chí và Internet.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

  • Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Trong sản xuất nông nghiệp đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Do vậy, lĩnh vực đánh giá tài nguyên đất rất được quan tâm nhằm đề ra các giải pháp sử dụng đất hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ nhất định.

    Cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào lớp đất trồng trọt để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu sản xuất công nghiệp phục vụ cho cuộc sống của mình. Tuy nhiên lớp đất có khả năng canh tác này lại luôn chịu những tác động mạnh mẽ của tự nhiên và các hoạt động canh tác do con người. Những tác động này có thể làm chúng bị thoái hóa và dần mất đi khả năng sản xuất, một trong những nguyên nhân làm cho đất bị thoái hóa mạnh nhất là do xói mòn. Hiện tượng mất đất do xói mòn mạnh hơn rất nhiều so với sự tạo thành đất trong quá trình tự nhiên, một vài cm đất có thể bị mất đi chỉ trong một vài trận mưa, giông hoặc gió lốc trong khi đó để có được vài cm đất đó cần phải có thời gian hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm mới tạo ra được. Trên thế giới hầu như không có quốc gia nào là không chịu ảnh hưởng của xói mòn, nhất là ảnh hưởng của xói mòn do nước và do gió[giáo trình thổ nhưỡng mới]

    Việt Nam là nước 3/4 diện tích đất ở vùng đồi núi, có độ dốc cao, lượng mưa lớn (1800 – 2000mm/năm) tập trung vào 4 – 5 tháng mùa mưa với lượng mưa chiếm tới 80% tổng lượng mưa, thì hiện tượng xói mòn đất luôn xảy ra và gây hậu quả nghiêm trọng. Chính vì những lí do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

     

    PHẦN 2. NỘI DUNG TÌM HIỂU

    1. THOÁI HÓA ĐẤT VÀ CÁC NGUYỄN NHÂN DẪN TỚI THOÁI HÓA ĐẤT

    1.1. Đất bị thoái hóa:

    là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp

    Một loại đất bị thoái hóa nghĩa là bị suy giảm hoặc mất đi:

    – Độ phì đất: các chất dinh dưỡng; cấu trúc đất; màu sắc ban đầu của đất; tầng dày đất, thay đổi pH đất…

    – Khả năng sản xuất: các loaik cây trồng, các loại vật nuôi, các loại cây lâm nghiệp

    – Cảnh quan sinh thái: Rừng tự nhiên , rừng trồng, hệ thống cây trồng

    – Hệ sinh vật: cây – con

    – Môi trường sống của con người: cây xanh, nguồn nước, không khí trong lành, nhiệt độ ôn hòa, ổn định…

    Sự thoái hóa đất là hậu quả của các tác động khác nhau từ bên ngoài và bên trong của quá trình sử dụng đất:

    – Thiên tai: khô – hạn – bão – lũ lụt – nóng – rét – lốc xoáy

    – Hoạt động sản xuất không hợp lý của con người

    + Các hoạt động sản xuất và kinh tế khác nhau

    + Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp trực tiếp đến đất

    1.2. Nguyên nhân của sự thoái hóa đất

    * Do tự nhiên:

    – Vận động địa chất của trái đất: song thần, song suối thay đổi dòng chảy, núi lở…

    – Do thay đổi khí hậu, thời tiết: Mưa, nắng, nhiệt độ, gió, bão…

    * Do con người gây nên:

    – Chặt đốt rừng làm nương rẫy

    – Canh tác trên đất dốc lạc hậu: cạo sạch đồi, chọc lỗ bỏ hạt, không chống xói mòn, không luân canh…

    – Chế độ canh tác độc canh, bỏ hoang hóa, không bón phân, hoặc bón phân không hợp lý, không phun thuốc trừ sâu, trừ cỏ…

    Từ các nguyên nhân trên đã dẫn đến các kiểu thoái hóa đất

    – Chua hóa, nghèo kiệt dinh dưỡng trong đất

    – Kết von đá ong hóa – Xói mòn, rửa trôi
    – Bạc màu hóa – Sa mạc hóa/ khô hạn
    – Mặn hóa – Ô nhiễm đất bởi các chất thải gây độc

    Trong số các kiểu thoái hóa đất thì tại Việt Nam, xói mòn đất xảy ra liên tục và nghiêm trọng nhất. Vậy xói mòn đất là gì?, nó gây những hậu quả gì? và giải pháp khắc phục xói mòn đất như thế nào?

    2. XÓI MÒN ĐẤT, TÁC HẠI VÀ GIẢI PHÁP

    2.1. Xói mòn đất:

    là quá trình làm mất lớp đất trên mặt và phá hủy các tầng đất bên dưới do tác động của nước mưa, băng tuyết tan hoặc do gió. Đối với sản xuất nông nghiệp thì nước và gió là hai tác nhân quan trọng nhất gây ra xói mòn và các tác nhân này có mức độ ảnh hưởng tăng giảm khác nhau theo các hoạt động của con người đối với đất đai. Có hai kiểu xói mòn đất chủ yếu là:

    – Xói mòn do nước                            – Xói mòn do gió

    2.2. Tác hại của xói mòn

    2.2.1. Mất đất do xói mòn

    Lượng đất mất do xói mòn là rất lơn và phụ thuộc vào độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ trên mặt đất, dao động từ 100 đến 500 tấn đất/ha/năm.      Theo nghiên cứu về lượng xói mòn trên đất canh tác rẫy ở Tây Bắc của hội Khoa Học Đất Việt Nam:

    Vụ Độ dày tầng đất bị xói mòn (cm) Lượng đất mất (tấn/ha)
    Vụ 1 (1962) 0,79 119,2
    Vụ 2 (1963) 0,88 134,0
    Vụ 3 (1964) 0,77 115,5
    Cả 3 vụ gieo 2,44 366,7

    2.2.2. Mất dinh dưỡng

    đi Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp, đất đồi núi miền Bắc nước ta hàng năm mất khoảng 1cm tầng đất mặt (100m3/ha), trong đó có khoảng 6 tấn mùn (tương đương khoảng 100 tấn phân chuồng) và 300kg N (tương đương khoảng 1,5 tấn sunphat amon). Đặc biệt, có nơi như Tây Bắc mất đi khoảng 3cm đất mặt, tương đương 150 – 300 tấn đất/ha. Mỗi năm nước cuốn ra biển khoảng 250 triệu tấn phù sa màu mỡ, riêng song Hồng mất đi khoảng 80 triệu m3/năm. Xói mòn làm thay đổi tính chất hóa lí đất, số liệu thể hiện trong bảng sau:

    Chỉ tiêu qua sát Số lượng bị trôi (%)
    Cấp hạt lớn hơn 1mm 21,00
    Cấp hạt nhỏ hơn 1mm 79,00
    N % 0,48
    P2O5 % 0,23
    K2O % 5,80
    Mùn 11,00

    (Nguồn: “Thổ Nhưỡng học”, Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, 1979)

    Theo Trần Đức Toàn và cộng sự (1998) sau khi đo kết quả xói mòn trên các hệ thống canh tác tại huyện Tam Dương (cũ) – Vĩnh Phúc. Trong điều kiện lượng mưa/năm thay đổi từ 800 – 1890mm thì lượng đất mất và lượng dinh dưỡng mất trên đất đồi trọc khoảng 599,2kg chất hữu cơ, 52kg đạm, 26,2kg lân và 34,6kg kali trong 1 năm. Còn trên đất trồng sắn thì mất 295kg hữu cơ, 28,3kg đạm, 21,3kg lân và 22,4 kg kali trong 1 năm. cụ thể được thể hiện trong bảng sau:

    Hệ thống canh tác Dòng chảy mặt

    (m3/ha/năm)

    Đất mất (tấn/ha/năm) Dinh dưỡng mất

    (kg/ ha/năm)

    OC Đạm Lân Kali
    Đồi trọc 42520 37,2 599,2 52,0 26,6 34,6
    Sắn 32628 24,5 295,0 28,3 21,3 22,4
    Sắn + đỗ đen 30946 22,7 282,8 27,7 21,9 28,2
    Sắn + đỗ đen + băng cốt khí + dứa chắn xói mòn 29256 21,1 346,9 32,2 20,5 25,8
    Sắn + đỗ đen + băng cốt khí + keo tai tượng + dứa 27437 17,5 277,6 29,2 19,9 22,5

    2.2.3. Năng suất cây trồng: giảm nhanh, có khi không thu hoạch. Như ở Nông trường Mộc châu, Tây Bắc, năm 1959 mới khai phá, năng suất lúa 25 tạ/ha, đến năm 1960 chỉ còn 18 tạ/ha, năm 1961 còn 5 tạ/ha và năm 1962 gieo ngô cũng không thu hoạch được

    2.2.4. Tàn phá môi trường: do xói mòn đất, nương rẫy chỉ gieo trồng vài ba vụ rồi bỏ, lại phá rừng đốt rẫy. Lâm sản bị tiêu hao rất nhiều. Sau nhiều lần phá như vậy, cuối cùng chỉ còn đồi núi trọc, hậu quả là đất đai bị thoái hóa. Khi rừng cây bị phá sẽ kèm theo nạn lũ lụt, hạn hán và khí hậu khu vực thay đổi rõ rệt

    Dựa vào sơ đồ nhân quả của sự xói mòn đất mà có các giải pháp sau:

    2.3. Giải pháp hạn chế xói mòn đất

    2.3.1. Một số biện pháp công trình nhằm hạn chế xói mòn

    Trong các vùng nhiệt đới biện pháp công trình (thiết kế đồi ruộng, xây dựng ruộng bậc thang nắn dòng chảy…) là rất cần thiết trong việc canh tác và bảo vệ đất dốc. Chức năng chủ yếu của công trình là dẫn dòng, ngăn dòng làm cho chảy chậm lại, lưu chứa tạm thời hay bố trí dòng chảy an toàn đễn xói mòn là thấp nhất. Các biện pháp công trình bao gồm thiết kế lô thửa, xây dựng hệ thống ruộng bậc thang. Những biện pháp này có tác dụng bảo vệ đất  tốt nhất (đạt hiệu quả bảo vệ 80- 90%) nhưng cũng đòi hỏi việc đầu tư vốn lớn sau đây là một số biện pháp chính thường được áp dụng ở vùng đồi núi nước ta:

    a. Thềm bậc thang

    – Ðể xây dựng ruộng bậc thang đất đai phải có các điều kiện để sau đây:

    + Ðất phải có tầng dày tối thiểu từ 60 cm trở lên, đất càng dày làm ruộng bậc thang càng thuận lợi, bề rộng của mặt ruộng càng rộng.

    + Ðộ dốc có thể xây dựng ruộng bậc thang tốt nhất từ 5- 250, ở những nơi có độ dốc lớn hơn 250 vẫn có thể làm được ruộng bậc thang như ở vùng Sapa, tuy nhiên đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và rất tốn đất.

    + Những nơi làm ruộng bậc thang để trồng lúa nước đòi hỏi phải có nguồn nước hoặc có khả năng giải quyết được nước tưới.

    – Nguyên tắc thiết kế ruộng bậc thang:

    + Ruộng bậc thang phải thiết kế theo đường đồng mức

    + Ruộng bậc thang nhất thiết phải có bờ. Mặt ruộng rộng hay hẹp phụ thuộc vào độ dốc và tầng dày đất.

    + Ðất bị san làm tầng không vượt quá 2/3 độ dày tầng đất ban đầu, phải đảm bảo trả lại được lớp đất màu trên mặt, tỷ lệ sử dụng đất phải đạt 65- 70% so với diện tích ban đầu.

    1. Các công trình và thềm đơn giản

    Thềm cây ăn quả: là một dạng thềm canh tác không liên tục của dạng thềm bậc thang hẹp, dốc nghịch. Thềm cây ăn quả có thể làm trên sườn dốc > 30o (58%). Khoảng cách giữa hai hàng cây ăn quả được bảo vệ bằng những băng lớp phủ thực vật tự nhiên lâu năm hay các cây cỏ, cây họ đậu và các cây bảo vệ đất khác. Cây trồng chính được trồng theo các bồn riêng.

              Thềm sử dụng linh hoạt: là các dạng thềm nằm cách nhau khá xa, xen kẽ là các dải sườn đồi chưa được xử lý dùng để canh tác hỗn hợp. Thềm để trồng cây lương thực là chủ yếu, trong khi ở phần sườn dốc chưa xử lý ở giữa thì trồng cây dài ngày hay cây lấy gỗ.

    Thềm tự nhiên: thềm tự nhiên được hình thành sau khi tạo ra các bờ thấp (dải chắn) bằng đất hay đá có thể thu lượm tại chỗ, hay các dải cỏ dày theo đường đồng mức trên các sườn dốc thoải. Chúng được thiết kế và thi công sao cho đỉnh của đê chắn phía dưới cao ngang tâm điểm giữa đoạn sườn dốc tới đê kế tiếp ở phía trên. Sau vài năm canh tác thềm sẽ được hình thành do sự bồi đắp tự nhiên. Loại này thường chỉ áp dụng cho sườn dốc 7-12o.

    2.3.2. Biện pháp nông nghiệp

    Biện pháp bảo vệ bằng nông nghiệp thực chất là các kỹ thuật đã được áp dụng qua việc quản lý, sử dụng đất trồng, chúng liên quan chặt chẽ với các quy trình canh tác bình thường, nhưng được thiết kế hay lựa chọn một cách đặc biệt nhằm đem lại lợi ích cho công tác bảo vệ đất trồng, chi phí đòi hỏi không lớn và có thể áp dụng tương đối dễ dàng. Các biện pháp thường được áp dụng trong nông nghiệp như: canh tác theo đường đồng mức, cày bừa ngang dốc, bố trí đa canh, trồng cây thành dải, biện pháp phủ bổi, trồng cây bảo vệ đất, làm đất tối thiểu, trồng các dải cây chắn… Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ có thể áp dụng được trên những sườn đồi núi không dốc lắm (dưới 12o), ở những nơi có độ dốc cao hơn thì cần phải kết hợp giữa biện pháp nông nghiệp với các biện pháp công trình đơn giản ở trên.

    2.3.3. Biện pháp lâm nghiệp: trên các đỉnh đồi, núi, sườn dốc đứng và ở những vị trí hợp thủy không có điều kiện xây dựng đồi ruộng phải được trồng rừng hoặc bảo vệ rừng tái sinh. Các diện tích rừng bảo vệ này có tác dụng chống xói mòn, ngăn chặn dòng chảy và giữ ẩm cho đất đồng thời còn hạn chế cả xói mòn gây ra do gió.

    2.3.4. Biện pháp hóa học: một số nước tiên tiến trên thế giới người ta nghiên cứu các chất kết dính hóa học (phụ phẩm của ngành chế biến gỗ) đưa vào đất để tạo cho đất có thể liên kết chống xói mòn. Ngoài ra người ta còn dùng một số chất có khả năng giữ đất khác như thạch cao, sợi, thủy tinh tạo thành màng bảo vệ trên mặt đất.

    2.3.5. Biện pháp canh tác khống chế và giảm thiểu xói mòn

    Luôn duy trì độ ẩm cho đất, tránh để hiện tượng đất bị khô kiệt. Có thể thực hiện bằng các biện pháp xây dựng hồ chứa nước, hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, các giếng khoan.

    Thường xuyên che phủ cho đất bằng các đai rừng chắn gió, thảm thực vật tự nhiên (rừng đồng cỏ…) và các hệ thồng cây trồng thích hợp cho khu vực thông qua việc sử dụng các mô hình nông – lâm kết hợp các công thức luân canh và xen canh.

    – Trong hoạt động quản lý canh tác ở các vùng xói mòn do gió phải hết sức chú ý tới các đai rừng bảo vệ, không cày bừa hoặc lên luống theo hướng gió thổi thường xuyên mà phải cắt vuông góc với hướng gió, tạo cho mặt đất có độ gồ ghề bằng cách lên luống cao, không nên làm đất quá kỹ làm các hạt đất bị vỡ nhỏ hình thành nhiều các hạt mịn dễ bị gió cuốn đi.

    – Bón phân hoá học kết hợp hữu cơ và trả lại phụ phẩm cây trồng cải thiện độ phì nhiêu đất và giảm lượng xói mòn

     

    PHẦN 3. KẾT LUẬN

    1. Việt Nam là nước có 3/4 diện tích tự nhiên là đồi núi với khí hậu nhiệt đới (nóng ẩm, mưa nhiều). Thì xói mòn là nguyên nhân chủ yếu của thoái hóa đất và là tác nhân gây ra các hiện tượng mất đất, mất dinh dưỡng, giảm năng suất cây trồng và tàn phá môi trường.
    2. Để hạn chế các tác hại của thoái hóa đất do xói mòn thì nên sử dụng các biện pháp: công trình, nông nghiệp, lâm nghiệp, hóa học và các biện canh tác hợp lý

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bài giảng “Thoái hóa và phục hồi đất”, PGS.TS. Đào Châu Thu, 2006
    2. Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam”, Viện Thổ nhưỡng nông hóa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội – 1998
    3. Cẩm nang ngành Lâm nghiệp”, GS.TSKH. Đỗ Đình Sâm và cs, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác), năm 2006
    4. Bài giảng “Các trở ngại của đất trong sản xuất nông nghiệp”, TS. Võ Thị Gương – Trường Đại học Cần Thơ, 2001
    5. Đất Việt Nam”, Hội Khoa học đất Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2000
    6. Thổ nhưỡng học” Nguyễn Mười, Trần Văn Chính, Ðỗ Nguyên Hải, Hoàng Văn Mùa, Phạm Thanh Nga, Ðào Châu Thu. Nxb Nông nghiệp, 2000.
    7. Giáo trình Thổ nhưỡng học”, Bộ môn Khoa học đất – trường Đại học nông nghiệp 1 Hà Nội, Nxb Nông nghiệp – Hà Nội 2006
    8. Nông nghiệp vùng cao, thực trạng và giải pháp”, Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn (chủ biên), Nxb Nông nghiệp – Hà Nội 2003
    9. Đất và Phân Bón”, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005 (tập 3)
    10. www.uit.edu.vn/data/gtrinh/MT010/Htm/Chuong_05_07.htm – 42k
  • Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Lời mở đầu

     

    Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực của xã hội. Trong thương mại quốc tế, mọi giao dịch đều đòi hỏi phải có tốc độ nhanh chóng, thanh toán bằng tiền mặt đã cho thấy những mặt hạn chế của nó. Do vậy vào những năm 50 của thế kỷ 20, một số ngân hàng trên thế giới đã giới thiệu thẻ thanh toán. Cho đến nay việc thanh toán bằng thẻ đã khẳng định được những tính năng ưu việt của nó so với các phương tiện thanh toán khác.

    Mặc dù thẻ thanh toán đã ra đời được hơn 50 năm nhưng nó mới  được biết đến ở Việt Nam khoảng 10 năm trước đây. Và đến năm 1996 chỉ có 2 ngân hàng thương mại Việt Nam là Ngân hàng Ngoại Thương và Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) tham gia phát hành thẻ thanh toán. Trong những năm đầu phát hành, ACB đã từng bước khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam này. Tuy vậy, ACB vẫn còn gặp nhiều khó khăn để có thể mở rộng và không ngừng hoàn thiện dịch vụ thanh toán thẻ của mình.

    Nhận thức được tính cấp thiết phải mở rộng và hoàn thiện dịch vụ thanh toán thẻ ở Việt Nam nói chung và của Ngân hàng ACB nói riêng, em đã chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB” cho đề tài tiểu luận của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài : Thông qua việc nghiên cứu  cơ sở lí luận, tình hình thực tế phát hành và thanh toán thẻ tại ACB, các văn bản pháp quy liên quan…để thấy được những tồn tại trong phát hành và thanh toán thẻ , từ đó đưa ra một số ý kiến để mở rộng dịch vụ thẻ hiện nay và trong thời gian tới.

    Kết cấu khoá luận của em được chia làm 3 chương như sau:

    Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của NHTMCP Á Châu ACB

    Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTM Cổ phần Á Châu ACB

    Chương 1: Một số vấn đề  cơ bản về thẻ thanh toán:

     

    I.             Quá trình hình thành và phát triển của các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hàng hoá:

    1.    Sự xuất hiện của tiền tệ với  chức năng phương tiện thanh toán:

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    2. Sự xuất hiện của hệ thống ngân hàng thương mại với chức năng làm trung gian thanh toán của nền kinh tế:

     

    Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay:
    Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
    Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ.
    Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.

    3. Sự xuất hiện của phương thức thanh toán phi tiền mặt và tính ưu việt của nó:

    Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hóa…, có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã, đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa, đặc biệt là giao dịch có giá trị và khối lượng lớn.

    Các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về khoảng cách. Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt, nhất là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn kém; Việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng lớn dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc các chủ nợ; Vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền mặt luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm; Sử dụng nhiều tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia.

    Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn ở mức phổ biến trong xã hội, tình hình sẽ càng phức tạp và khó kiểm soát hơn.

    Hiện các hình thức thanh toán điện tử phổ biến gồm: Thanh toán thông qua thẻ (POS, ATM…), trên Internet thông qua tài khoản mở tại ngân hàng, thông qua điện thoại di động và thanh toán thông qua một mạng lưới mà các thành viên tham gia cùng chấp nhận một nguyên tắc chung như hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT, trong nước là hệ thống CITAD…

    Dựa vào chủ thể tham gia, có thể phân chia thương mại điện tử ra các loại hình sau:

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B (business to business).

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng – B2C (business to consumer).

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước – B2G (business to government).

    – Giao dịch trực tiếp giữa các người tiêu dùng với nhau – C2C (consumer to consumer).

    – Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân – G2C (government to consumer).

    Điếm khác biệt lớn nhất giữa thanh toán điện tử và thanh toán truyền thống là thông qua các phương tiện điện tử, loại bỏ hầu hết việc giao nhận giấy tờ và việc ký truyền thống thay vào đó là các phương pháp xác thực mới.

    Dùng phương pháp mới để xác nhận đúng người có quyền ra lệnh thanh toán mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Lợi ích lớn nhất là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch. Các giao dịch qua kênh điện tử có chi phí vận hành rất thấp. Chi phí chủ yếu là đầu tư ban đầu, trong điều kiện công nghệ phát triển nhanh chi phí đầu tư cũng giảm đáng kể. Doanh nghiệp không cần phải đầu tư nhân sự, địa điểm và các chi phí lưu chuyển hồ sơ cho việc giao dịch.

    Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với phương pháp truyền thống. Thông thường giao dịch tại quầy cho một khách hàng chuyển tiền mất khoảng 15 phút, không kể thời gian đi lại và chờ đợi nhưng giao dịch trên Internet, Mobile hoặc qua hệ thống thẻ chỉ qua một vài thao tác đơn giản trong một vài phút.

    Với thanh toán điện tử, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, không bị giới hạn bởi không gian địa lý. Với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ nhanh chóng. Việc không phải mang theo nhiều tiền mặt, giảm thiểu rủi ro mất tiền, tiền giả, nhầm lẫn… sẽ giảm bớt được việc thiếu minh bạch so với giao dịch bằng tiền mặt.

    4. Các phương tiện thanh toán phi tiền mặt chủ yếu:

     

    • Thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS

     

    • Séc: là một trong những phương tiện thanh toán đã có lâu đời ở các nước phát triển, dựa trên Công ước thế giới về Séc năm 1933, các nước đều ban hành Luật Séc, hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Séc, để việc sử dụng séc được nhanh chóng, thuận tiện không chỉ trong cùng địa phương và cùng tổ chức phát hành séc, các nước đều có Trung tâm xử lý thanh toán bù trừ séc ngoài hệ thống và khác địa phương do Ngân hàng Trung ương hoặc Hiệp hội Ngân hàng quản lý, nhờ vậy, phương tiện thanh toán bằng séc được sử dụng phổ biến ở nhiều nước phát triển.

    Thương mại điện tử (TMĐT) : còn nhiều rào cản: theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Công thương, trong những năm gần đây, TMĐT đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng từ 31% năm 2005 lên 45% năm 2008, tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84% của năm trước. Hiện có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối internet. Tuy nhiên, do thói quen mua sắm của người tiêu dùng và khâu thanh toán khiến TMĐT Việt Nam chậm phát triển; người mua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng.

    II. Giới thiệu chung về thẻ thanh toán:

     

    1.Khái niệm về thẻ thanh toán:

    Đối với thẻ thanh toán có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn đạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán:

    • Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động.
    • Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty.
    • Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
    • Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.

    Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động.

    2. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán:

     

    – Năm 1990 hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa giữa ngân hàng Pháp BFCE và Ngân hàng Ngoại thương VN đã mở đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào VN. Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến VN ngày càng nhiều. Sau Ngân hàng Ngoại Thương, Sài Gòn Thương Tín cũng liên kết với trung tâm thanh toán thẻ Visa để làm đại lý thanh toán. Có lẽ chính sách mở cửa thông thoáng đã đem lại cho VN một bộ mặt kinh tế – xã hội nhiều triển vọng. Các dự án đầu tư nước ngoài tăng từ số lượng đến quy mô, các định chế tài chính lớn đã chú ý đến VN và đi theo những tập đoàn này là các dịch vụ song hành trong đó thẻ thanh toán là không thể thiếu được.

    – Năm 1995 cùng với Ngân hàng Ngoại thương TP.HCM, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Liên doanh First-Vina-Bank và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Eximbank được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN cho phép chính thức gia nhập tổ chức thẻ quốc tế Mastercard.

    – Năm 1996 Ngân hàng Ngoại thương chính thức là thành viên của tổ chức Visa International. Tiếp sau đó là Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Công thương VN cũng lần lượt là thành viên chính thức của tổ chức Visa Card, trong đó Ngân hàng Ngoại thương và Á Châu thực hiện thanh toán trực tiếp với tổ chức này. Cũng trong năm này Ngân hàng Ngoại thương VN (Vietcombank) phát hành thí điểm thẻ ngân hàng đầu tiên, đồng thời Hội các ngân hàng thanh toán thẻ VN cũng được thành lập với bốn thành viên sáng lập gồm Vietcombank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) và First Vinabank. Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ lúc ấy chỉ là quyết định số 74 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành ngày10/4/1993, qui định “thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ thanh toán”. Việc ứng dụng thẻ ở VN vào thời điểm đó còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật… Trên cơ sở thỏa thuận của Ngân hàng Nhà Nước, ngân hàng thương mại thí điểm phát hành thẻ tự xây dựng qui chế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tức tính pháp lý chỉ dừng ở mức điều chỉnh “nội bộ” giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ.

    – Thị trường thẻ năm 2006, 2007 trở lên sôi động vì VN đã bước vào sân chơi rộng là WTO, thị trường tài chính VN càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều ngân hàng nước ngoài đầu tư vào đây và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại “vũ khí” đắc lực để ngân hàng thâm nhập thị trường. Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra một cuộc “so tài” phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước. Đầu tiên là Ngân hàng TMCP Kỹ thương VN – Techcombank, ngân hàng này đã tung ra hàng loạt thẻ thanh toán, nổi trội là thẻ Fastaccess. Tiếp theo đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank đã kết hợp cùng tổ chức Visa ra mắt thẻ thanh toán Quốc tế Sacom Visa Debit. Đây là phương tiện thanh toán năng động nhắm vào giới doanh nhân: chủ tài khoản có thể dùng thẻ để thanh toán trong và ngoài nước.

    3. Đặc điểm và phân loại thẻ thanh toán:

    Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ…

    3.1. Phân loại theo công nghệ sản xuất:

    Có 3 loại:

    1. Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
    2. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin…
    3. Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính.

    3.2. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:

     

    1. Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay … chấp nhận loại thẻ này.

    Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả.

    1. Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn … đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn… Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.

    Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.

    Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:

    – Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.

    – Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.

    1. Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.

    Thẻ rút tiền mặt có hai loại:

    Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.

    Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ.

    3.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:

     

    – Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.

    – Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.

    3.4. Phân loại theo chủ thể phát hành:

     

    – Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng.

    – Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn… phát hành như Diner’s Club, Amex…

    4. Vai trò, tiện ích và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:

     

    Vai trò, tiện ích:

    Với đặc tính chức năng của mình, thẻ tín dụng mang lại rất nhiều tiện ích cho người sử dụng.

    – Nếu sở hữu một thẻ tín dụng và thường xuyên mua sắm tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ: Siêu thị, cửa hàng, sân bay, thanh toán trực tuyến… thì lợi ích của việc này là được chậm trả những khoản tiền bạn dùng để mua sắm. Ngân hàng ứng trước một hạn mức cho thẻ tín dụng của bạn để thực hiện thanh toán trong một tháng, và sau đó bạn có tối đa 45 ngày để thanh toán những khoản tiền đã chi tiêu mà không bị tính lãi.

    – Ở các nước phát triển, khi mọi cửa hàng đều có thiết bị thanh toán cho các loại thẻ thì hầu hết người dân có thu nhập ổn định đều chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Sử dụng thẻ sẽ an toàn, thuận tiện hơn mang theo tiền mặt, giúp tiết kiệm thời gian.

    – Tại Việt Nam, giới văn phòng có mức thu nhập khá ở các thành phố, đặc biệt là những người hay đi công tác, thường xuyên có nhu cầu đặt phòng khách sạn, đặt vé máy bay… thì sử dụng thẻ tín dụng cũng là một giải pháp hay.

    – Những người hay ra nước ngoài thích hợp với các loại thẻ tín dụng quốc tế để có thể sử dụng ở hầu hết các điểm chấp nhận thẻ cả trong nước và ngoài nước. Thẻ quốc tế sẵn có tính năng thanh toán trực tuyến với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, bảo mật giúp chủ thẻ yên tâm khi sử dụng.

    – Các thẻ quốc tế thông dụng ở nước ta hiện có: Visa, Master, American Express, JCB, Dinner Club… do rất nhiều ngân hàng phát hành: Vietcombank, ACB, Eximbank, Sacombank, Incombank, VIBBank Techombank, Agribank…

    – Các ngân hàng cũng phát hành thẻ tín dụng nội địa của ngân hàng mình, với những tính năng riêng giúp gia tăng tiện ích cho chủ thẻ: Chức năng thanh toán trực tuyến, thanh toán qua thư, điện thoại, tự động thanh toán hóa đơn định kỳ, ưu đãi khi thanh toán tại các cửa hàng là đối tác của ngân hàng phát hành…

    Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:

    • Thứ nhất, đại đa số người dân Việt Nam có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán hàng ngày bởi họ cho rằng tiền mặt là phương tiện thanh toán này đơn giản và thuận tiện nhất.
    • Thứ hai, cổng thanh toán trực tuyến chỉ chấp nhận các loại thẻ thanh toán quốc tế như VISA card, Master Card… Trong khi đó, theo thống kê, trong số hơn 20 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam thì chỉ có 20% có thẻ ghi nợ và 1% có thẻ tín dụng tại các ngân hàng trong và ngoài nước.
    • Tâm lý sợ rủi ro :

    Chị Trần Minh Nguyệt, quận Cầu Giấy, Hà Nội mua chiếc máy tính xách tay hiệu Lenovo tại Công ty Thế giới gi động, với giá 7,2 triệu đồng. Vì mang thiếu một triệu đồng, sau một hồi thương lượng với công ty, chị Nguyệt đã thanh toán nốt số tiền còn thiếu thông qua chuyển khoản bằng internet banking.

    – Tuy nhiên, thương vụ đã không thành vì đang thực hiện giao dịch thì hệ thống internet bị treo. “Ngoài việc phải chạy tới chạy lui ngân hàng làm bản tường trình, xác minh lại số tiền trên, đến hơn một tháng sau tôi mới nhận được tiền bị ‘kẹt’ trong hệ thống,” chị Nguyệt bức xúc.

    – Chị Nguyễn Minh Trang, Giám đốc một doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội cũng cho biết, hầu hết trong các thương vụ của chị đều thực hiện theo phương châm “tiền trao, cháo múc” vì rất sợ xảy ra sự cố phát sinh khi chuyển tiền qua tài khoản.

    – Theo Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước, hiện nay đã thiết lập được hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, kết nối 63 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố. Cả nước hiện có trên 10.000 máy ATM, hơn 36.000 thiết bị chấp nhận thẻ được lắp đặt và 22 triệu thẻ ngân hàng được phát hành, đã hình thành một số công ty chuyển mạch của các liên minh thẻ, kết nối giao dịch thẻ giữa các ngân hàng thành viên như Banknet, Smartlink. Song trên thực tế, đa số người dân chỉ sử dụng thẻ ATM để… rút tiền.

    – Theo các chuyên gia của ngành ngân hàng, việc người tiêu dùng Việt đã quá quen và lệ thuộc vào tiền mặt, cũng như tâm lý “sờ tận tay, nhìn tận mắt” mới yên tâm đã khiến cho thanh toán phi tiền mặt gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng vào đời sống. Có một thực tế là dù nhiều công ty đã tiến hành trả lương cho công nhân, nhân viên qua ATM, nhưng chỉ vài phút sau khi có lương, các nhân viên đã ùa ra quầy ATM để rút sạch tiền, với lý do “để tiền trong tài khoản ngân hàng thì… không yên tâm.”

    • Còn quá ít dịch vụ

    – Ông Đào Minh Tuấn, Phó Tổng giám đốc phụ trách về công nghệ của Vietcombank thừa nhận, ngoài thói quen sử dụng tiền mặt của người dân còn quá lớn, người dân không thích sử dụng thanh toán qua ATM còn do các dịch vụ trên Internet Banking, Mobile Banking hiện vẫn chưa thực sự đa dạng, công tác quảng bá của nhà băng về dịch vụ lại khá ít nên không thu hút được sự quan tâm nhiều của khách hàng.

    • Đến nay, Vietcombank có hơn 4 triệu tài khoản thẻ nhưng chỉ có khoảng 1 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking, chủ yếu là để vấn tin nhanh. Còn chuyển khoản, thanh toán chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 10% (tương đương 100 nghìn người).
    • Ông Phạm Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Vietinbank cũng cho biết, qua một số vụ việc mất an ninh, giao dịch lừa đảo, đã khiến cho niềm tin của người dân vào các dịch vụ như chuyển khoản qua SMS, Internet Banking hoặc Phone Banking… chưa cao.
    • Theo ông Phạm Anh Tuấn, trong thời gian vừa qua, nhiều ngân hàng đã làm mất uy tín đối với khách hàng khi thực hiện các giao dịch trực tuyến trên mạng, điều này gây ra tâm lý lo ngại cho người dân khi thực hiện thanh toán online. Thêm vào đó, khi sử dụng thanh toán thẻ, khách hàng sẽ phải trả một khoản phí cho nhà phát hành thẻ như Visa, Master Card, mà khoản phí này đối với Việt Nam vẫn còn quá cao. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp không mặn mà lắm với việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ, do đó họ hay viện cớ để yêu cầu khách hàng thanh toán bằng tiền mặt, hoặc khi thanh toán thì khách sẽ phải chịu phí.
    • Thẻ nhiều nhưng máy còn quá ít

     

    • Chị Nguyễn Hương Giang, nhân viên của một công ty truyền thông nước ngoài tại Việt Nam cho biết: “Tôi hiện đang sở hữu hai chiếc thẻ rút tiền phổ biến nhất của Vietcombank và BIDV. Thẻ ATM mang lại cho tôi rất nhiều tiện lợi khi cất giữ tiền bạc cũng như khi đi mua sắm. Tuy nhiên, không phải lúc nào tôi cũng có thể rút được tiền với những tấm thẻ đó trong tay. Khi mất điện hay có sự cố phần mềm tại cây ATM, hoặc vào những dịp lễ Tết có đông khách rút tiền, hai tấm thẻ ATM của tôi trở thành vô dụng. Hoặc những khi ra đến ngoại thành Hà Nội và đặc biệt khi đi công tác ở những tỉnh xa, tôi buộc phải cầm theo một xấp tiền vì ở đó không có máy ATM”.
    • Thật vậy, tương ứng với 2,1 triệu thẻ đã được các ngân hàng Việt Nam phát hành mới chỉ có 1.200 máy ATM được lắp đặt trên toàn quốc (tính tới thời điểm cuối năm 2005). Tính trung bình có tới 1.750 người chen chúc nhau sử dụng một chiếc máy ATM, một tỉ lệ quá nhỏ bé, chưa kể sự phân bố của hệ thống ATM là không đồng đều tại các địa phương cũng như tại các khu vực trong cùng một địa phương.

    Nhiều chuyên gia nhận xét rằng hiện nay các ngân hàng mới chỉ chạy theo bề nổi, tức số lượng thẻ phát hành ra, mà chưa chú ý tới chiều sâu, tức là sức sống của chiếc thẻ sau khi được đưa đến tay người sử dụng và những tiện ích đi kèm.

    Không chỉ có những bất tiện trong việc sử dụng thẻ ATM, người dùng Việt Nam còn đối mặt với hàng loạt những vấn đề khó chịu khác như hợp đồng dài dòng với những con chữ li ti hết sức khó đọc mà các nhân viên ngân hàng cũng chẳng mấy khi giải thích thấu đáo.

    • Thách thức bảo mật thẻ:

     

    Đặc biệt, khi một loạt các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực như Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… đang tích cực chuyển sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV có độ bảo an cao hơn, những kẻ tội phạm giả mạo thẻ đang có xu hướng chuyển hoạt động sang địa bàn Việt Nam, vì tuyệt đại đa số người Việt Nam đang sử dụng thẻ từ – loại thẻ dễ bị làm giả.

    Đứng trước nguy cơ này, nhiều ngân hàng Việt Nam dường như vẫn “bình chân như vại”. Cũng đã có một số trường hợp kiện cáo vì bị mất tiền từ thẻ ATM.

    Có thể trong một số trường hợp, lỗi thuộc về phía khách hàng nhưng cách giải quyết của nhiều ngân hàng nhiều khi chưa “thấu tình đạt lý”. Đa phần trong các vụ kiện này, người sử dụng bị thua kiện vì ngân hàng luôn “nắm đằng chuôi”.

    Công việc trang bị kiến thức bảo mật thẻ cho khách hàng dường như chỉ được thực hiện một cách qua loa và thiếu sự quan tâm đúng mức. Với những bất cập trong hệ thống thanh toán ATM của mình, đa phần các ngân hàng sử dụng biện pháp “mũ ni che tai”. Còn người sử dụng, nếu không may mắc phải, thì cũng đành than trời và dặn nhau “Thôi đành tự bảo trọng!”.

    Dù sao đi nữa, người tiêu dùng Việt Nam cũng đã quen dần với việc sử dụng một trong những phương thức thanh toán hiện đại, tiện dụng – thẻ ATM.

    Thực ra, bản thân công nghệ hiện đại phục vụ cuộc sống không bao giờ có lỗi. Có chăng thì đó là con người, nhân vật sáng tạo và sử dụng nó. Ông Nguyễn Trọng Khang – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty liên doanh Thẻ thông minh MK – cho biết: “Đứng trước cuộc cạnh tranh quyết liệt trên thị trưởng thẻ đầy tiềm năng như Việt Nam, các ngân hàng sẽ ngày càng chuyên nghiệp hóa hơn trong khâu phát hành thẻ cũng như thực hiện các dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng tốt hơn. Theo tôi, năm 2006 sẽ đánh dấu bước phát triển vượt bậc về chất của thị trường thẻ nước ta. Các ngân hàng sẽ chuyền dần sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV an toàn hơn và có thể tích hợp được nhiều dịch vụ gia tăng trên một tấm thẻ hơn”.

    Chiếc thẻ nhựa xinh xắn như một tấm danh thiếp đã trở thành một phần “tất yếu” của cuộc sống của nhiều người tiêu dùng Việt Nam. Với việc dịch vụ thanh toán thẻ qua hệ thống ATM ngày càng mở rộng thêm nhiều tiện ích như: nộp phí bảo hiểm, tiền điện, nước, trả cước điện thoại… và Ngân hàng Nhà nước sắp đưa ra những quy định mới bảo vệ người sử dụng, hy vọng trong năm mới này chiếc thẻ sẽ trở thành sự lựa chọn của nhiều người tiêu dùng Việt Nam.

    5. Các chủ thể tham gia trong quan hệ phát hành và sử dụng thẻ thanh toán:

     

    Các thành phần tham gia hoạt động thẻ: Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ trong nước có sự tham gia của 4 thành phần cơ bản: Ngân hàng phát hành, Ngân hàng thanh toán thẻ. Chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối với thẻ tín dụng quốc tế còn có thêm một thành phần nữa là Tổ chức thẻ quốc tế.

    Tổ chức thẻ quốc tế: Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp. Các tổ chức thẻ quốc tế nổi tiếng như: Công ty thẻ American express, Tổ chức thẻ Visa, MasterCard…

    Ngân hàng phát hành: Là NH được tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của tổ chức và công ty này. Ngân hàng phát hành được quyền in tên NH mình trên thẻ thể hiện đó là sản phẩm của mình.

    Ngân hàng thanh toán: Là NH chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cùng cấp hàng hoá dịch vụ. NH sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hướng dẫn cách thức vận hành cũng như cách thức quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này.

    Chủ thẻ: Là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty uỷ quyền sử dụng), có tên được in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều kiện NH quy định.

    Đơn vị chấp nhận thẻ: Là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký hợp đồng với NH về việc chấp nhận thẻ thanh toán như một phương tiện thanh toán. Các đơn vị chấp nhận thẻ thường là các khách sạn, sân bay, siêu thị…

    6. Quy trình phát hành và sử dụng thẻ:

     

    • Phát hành:

      Applicant apply —–> Issuer Bank review base on income and credit worthiness approve/ of deny credit ——->
      1 —>deny issuer bank send letter to applicant
      2 ——> approved bank send applicant profile to credit card making company —-> after card is made —> send to applicant

      Puchase processing:

      Card holder purchase at merchant – merchant machine —-> data sent to ———>
      Central processing center (card services) —–>
      1 – To issuer bank —–> sent statement to card holder
      2 – Send money to merchant credit card service —–> merchant’s bank account

      Payment:

      Card holder sent payment ——>
      1 – issuer bank —–> central processing center ——> CPC sent money back to issuer bank ( minus royalty & servíce fees)
      2 – direct to central processing center—-> CPC sent money back to issuer bank ( minus royalty & servíce fees)

      Central Processing Center ( Phoenix, Arizona (Visa), Wellmington, DE, Sioux Fall, S D (Mastercard)

      Discover Card và American Express cũng tuơng tự nhưng họ có hệ thống riêng, chỉ xài chung Merchant card service

    • Qui trình thanh toán trực tuyến bằng thẻ tín dụng

    Khi bạn bán sản phẩm hoặc dịch vụ trên mạng Internet, bạn cần cung cấp cho người mua một phương án thanh toán trực tuyến trên mạng bên cạnh các phương án thanh toán khác. Cách phổ biến nhất trong thanh toán trực tuyến hiện nay là sử dụng thẻ tín dụng Credit card của các hãng Visa, Master, American Express, JBC…được các ngân hàng phát hành (Issuer).

    Trước hết, nếu bạn là người bán (merchant), bạn phải tạo lập một tài khoản bán hàng trên mạng (Internet merchant account). Tài khoản bán hàng này bạn có thể đăng ký với Ngân hàng của bạn nếu ngân hàng có dịch vụ này hoặc với các dịch vụ cung cấp phần mềm xử lý quá trình thanh toán trực tuyến như Cybercash, Paymentnet, Merchantwarehouse…

    Các ngân hàng hoặc nhà cung cấp dịch vụ khi cấp cho bạn Merchant account sẽ được gọi là Acquirer, chịu trách nhiệm xử lý thông tin thẻ trong quá trình thanh toán.

    Trên website bán hàng, người bán phải trang bị những tính năng sau:

    – Shopping cart (giỏ mua hàng): có thể do nhà cung cấp dịch vụ thiết kế website xây dựng hoặc phần mềm có sẵn bán trên mạng. Người mua hàng khi đang xem hàng trên website có thể chọn mua sản phẩm bằng cách nhấn nút “Buy”, mặt hàng sẽ được lưu lại trong giỏ hàng, người mua có thể chọn nhiều mặt hàng, khi quyết định mua hàng có thể xem giỏ hàng để xem lại các mặt hàng, thay đổi số lượng hàng, tính tiền. Để kết nối được với dịch vụ thanh toán qua mạng, shopping cart cần được xây dựng để đạt một số tiêu chuẩn tích hợp.

    – Payment gateway: là một phần mềm dùng để xử lý việc thanh toán của thẻ tín dụng bao gồm việc xác nhận thông tin của thẻ tín dụng là có thật và hợp lệ, thực hiện các lệnh chuyển tiền. (công nghệ tốt sẽ hạn chế rủi ro của thẻ tín dụng giả mạo)

    Quá trình thanh toán thẻ tín dụng

     

     

    Hai tính năng trên của website phải được thực hiện trên máy chủ an toàn (secure server) để đảm bảo tính bảo mật của các thông tin về thẻ tín dụng khi nhập trên website và trong quá trình thực hiện giao dịch.

    Qui trình thanh toán được thực hiện như sau:

    – Người mua có thẻ tín dụng (Cardholder) khi quyết định mua hàng sẽ nhập các thông tin về thẻ tín dụng của mình như: số thẻ, mã số an toàn, thời hạn của thẻ, họ và tên chủ sở hữu, địa chỉ thanh toán trên website, những thông tin này sẽ được chuyển đến cho ngân hàng hay nhà dịch vụ cung cấp payment gateway là các Acquirer. Acquirer sẽ gửi thông tin về thẻ tới dịch vụ cung cấp thẻ và ngân hàng phát hành thẻ để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ và kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ. Nếu mọi điều kiện đều phù hợp, ngân hàng phát hành thẻ sẽ gửi thông tin ngược trở về cho Acquirer, thông tin được giải mã gửi về cho người bán và việc thanh toán được thực hiện. Tiền sẽ được chuyển từ thẻ tín dụng của người mua tới tài khoản bán hàng merchant account trên Acquirer, sau đó sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của người bán.

    Phí cho việc thanh toán trực tuyến:

    – Thông thường việc mở Internet merchant account không tốn phí

    – Việc sử dụng phần mềm ứng dụng payment gateway thường có phí cài đặt ban đầu từ vài chục đến vài trăm đô la và phí duy trì hàng tháng khoảng vài chục đô la

    – Trong mỗi giao dịch thanh toán qua mạng, các acquirer sẽ thu phí khoảng từ 1.5% đến 4% giá trị giao dịch và khoảng từ 0.3$ cho tới 0.5$ phí xác nhận thông tin thẻ/lần giao dịch

    – Ngoài ra, nếu có sai sót trong quá trình thanh toán hoặc bị thẻ tín dụng giả, người bán phải chịu thêm chi phí chargeback khoảng vài chục đô la.

    Việc tiến hành thanh toán qua mạng có thể tiến hành đơn giản hơn bằng cách sử dụng dịch vụ của bên thứ ba (Third Party) chịu trách nhiệm mọi khâu thanh toán, người bán chỉ cần liên kết phần shopping cart của mình vào website của nhà cung cấp dịch vụ, mọi khâu từ việc nhập thông số thẻ, xử lý thanh toán đều thực hiện tại website của nhà cung cấp dịch vụ, người bán không cần mở merchant account, không cần sử dụng paymentgateway, giảm được các chi phí này nhưng chi phí trên mỗi giao dịch sẽ cao hơn.

    7. Rủi ro trong phát hành và sử dụng thẻ::

    • Rủi ro trong phát hành thẻ:

     

    Rủi ro trong tiếp nhận thẩm định hồ sơ

    – Chưa đầy đủ hồ sơ theo quy định của NHCTVN
    – Hồ sơ chưa đầy đủ thông tin khách hàng
    – Nội dung trong đơn xin phát hành thẻ có thông tin giả mạo
    – Đại lý phát hành thẻ giả mạo hồ sơ để phát hành thẻ phụ mà khách ko yêu cầu
    – Các giấy tờ của khách hàng không có bản gốc đối chiếu, chữ ký ko hợp lệ
    – Thẩm định không đúng quy trình, quy định của NHCT VN
    – Không thực hiện kiểm tra CMT gốc hoặc số CMT bị mờ không chính xác khi chấp nhận phát hành thẻ ATM cho khách hàng
    – Không thẩm định kỹ thông tin về khách hàng đăng ký làm đơn vị chấp nhận thẻ/ Điểm ứng tiền mặt
    – Không thẩm định kỹ tư cách chủ thẻ, khả năng thanh toán khi mở thẻ tín dụng quốc tế cho khách hàng

     Phát hành và gia hạn thẻ

    – Phát hành ATM tập thể: Doanh nghiệp cung cấp CMT bị mờ, không chính xác
    – Sai tên chủ thẻ, sai hạng thẻ, thiếu các thông tin khác
    – Giao phong bì thẻ ATM bị mất niêm phong cho khách hàng
    – Giao nhầm thẻ cho khách hàng
    – Giao thẻ có họ tên thẻ trùng nhau cho khách hàng mà không kiểm tra chứng minh thư để xác định chủ thẻ hoặc có kiểm tra CMT nhưng không kết nối được với máy trạm để kiểm tra
    – Giao nhận thẻ không đúng quy trình ( trao thẻ và PIN cho khách hàng mà không hướng dẫn khách hàng ký vào phiếu xác nhận đã nhận thẻ hoặc không ghi ngày giờ nhận )
    – Không kích hoạt thẻ mới phát hành
    – In thẻ làm chậm / PIN nhòe không rõ số
    – Hết phôi in thẻ không thông báo sớm để điều chỉnh ngày hẹn giao thẻ với khách hàng
    – Trung tâm thẻ gửi nhầm số PIN hoặc nhầm thẻ của chi nhánh này sang cho chi nhánh khác
    – Kế hoạch phát hành thẻ không sát với thực tế nhu cầu
    – Thẻ in chậm, không giao cho khách hàng đúng hẹn
    – Cung cấp sai số PIN/ số tài khoản cho khách hàng
    – Mất thẻ do trung tâm thẻ gửi bằng đường bưu điện
    – Không gia hạn thẻ cho khách hàng

    Bảo mật


    – Một cán bộ làm nhiều việc một lúc ( cán bộ vừa năm chìa khóa ATM, vừa có user chương trình quản lý thẻ MOSAIC, vừa đang giữ thẻ bị nuốt …)
    – Thành viên tiếp quỹ lộ mã khóa két khoang chứa tiền máy ATM
    – Lộ trình kế hoạch tiếp quỹ các ATM ngoài trụ sở bị lộ
    – Đặt lại PIN tại các máy trạm Mosaic không xác thực đúng chủ thẻ
    – CB cho mượn mã truy cập
    – CB để lộ mật khẩu ( Password) , mã truy cập
    – Số dư TK thẻ của khách hàng bị tiết lộ
    – Phân cấp, phân quyền trên trạm MOSAIC không đúng quy định

    Giao dịch chuyển tiền từ TK thẻ:


    – CB ngân hàng chuyển tiền vào thẻ ATM sai tài khoản/ sai số thẻ
    – KH chuyển nhầm tiền vào tài khoản người khác khi thực hiện chuyển khoản
    – Phong tỏa tài khoản thẻ do chuyển nhầm tài khoản
    – Nhập sai số tiền khách hàng nộp vào thẻ ATM

     Hạch toán kế toán:

    – Chi tiền cho khách hàng tại quầy quên ghi nợ tài khoản khách hàng hoặc ghi nợ chậm
    – Hạch toán kế toán nhầm người hưởng, nhầm tài khoản, nhầm số tiền, loại tiền
    – Nhầm lẫn trong bàn giao hồ sơ mở thẻ giữa phòng tổng hợp tiếp thị và kế toán
    – Thu phí thừa hoặc thiếu/ Quên không thu phí
    – Tiền tồn quỹ ATM có sai lệch giữa báo cáo ATM và thực tế
    – Thu nợ thẻ tín dụng quốc tế thừa/ thiếu

    Rủi ro trong xử lý sự cố:

    – Xử lý các giao dịch không thành công
    – Xử lý trường hợp máy ATM nuốt thẻ không kịp thời theo quy định
    – Thẻ hỏng, ngừng xử dụng chưa xóa khỏi hệ thống
    – Sự cố hết giấy, hết tiền tại máy ATM không xử lý kịp thời
    – Không phong tỏa tài khoản kịp thời khi chủ thể bị mất cắp, thất lạc
    – Rút tiền nhưng KH chưa nhận được tiền thì trên tài khoản đã bị trừ tiền
    – Giao dịch không thành công nhưng tài khoản khách hàng vẫn bị trừ tiền phí giao dịch
    – Đơn vị chấp nhận thẻ có những giao dịch nghi ngờ gian lận nhưng giao dịch viên vẫn báo có cho đơn vị chấp nhận thẻ
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ/ ứng tiền mặt in nhiều hóa đơn thanh toán cho 1 thẻ
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ không đối chiếu, kiểm tra chữ ký, hộ chiếu và đặc điểm an toàn thẻ khi chủ thẻ thực hiện giao dịch
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ thao tác sai, cà nhầm số tiền giao dịch
    – Đơn vị chấp nhận thẻ thực hiện tổng kết muộn quá thời gian quy định
    – Đơn vị chấp nhận thẻ/điểm ứng tiền mặt ko theo quy trình, nguyên tắc chấp nhận thanh toán thẻ

     Rủi ro trong kiểm tra, rà soát:

    – Các báo cáo ATM chưa được chấm đối chiếu hằng ngày
    – Không kiểm tra chặt chẽ khi thực hiện đổi mã PIN
    – Thực hiện chi tiền mặt tại quầy mà không vấn tin tài khoản trước khi chi trả/ không ghi nợ tài khoản khách hàng
    – Không chấm kịp thời sổ chi tiết ở TK TM 10105 ở các máy ATM
    – Không thường xuyên kiểm tra tình trạng ATM làm ảnh hưởng đến giao dịch của khách

     Máy thanh toán thẻ (EDC)

    – Máy EDC tại đơn vị chấp nhận thẻ không thanh toán được thẻ tín dụng quốc tế
    – Tổng kết giao dịch trên EDC muộn
    – Máy EDC hỏng không sửa chữa kịp thời
    – Máy EDC tại đơn vị chấp nhận thẻ vẫn thể hiện 16 số thẻ TDQT Visa ( không tuân thủ theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế VISA)
    – Kĩ thuật viên cài sai thông số cho các máy EDC ( nhầm ngoại tệ với nội tệ, nhầm thông số của các DVCNT khác)

     Nhập tiền vào máy ATM:

    – Kỹ thuật viên quên không đóng chu kỳ cũ và mở chu kỳ mới dẫn đến sai lệch số tiền tồn quỹ giữa hai chu kỳ
    – Kỹ thuật viên không khai báo số tiền mới nạp vào máy ATM dẫn đến kiểm quỹ chênh lệch giữa sổ kế toán và báo cáo tồn quỹ ATM
    – Tiền không đủ khay
    – Nhập tiền vào máy ATM không đủ thành phần
    – Đặt nhầm loại tiền vào hộc tiền

     Gian lận thẻ:


    – Lấy cắp thẻ của khách hàng
    – Trộm dữ liệu dưới nhiều hình thức khác nhau ( quay camera, qua vai..)
    – Cài đặt các thiết bị ăn cắp dữ liệu thẻ
    – Dùng điện thoại gắn camera để ghi hình chụp ảnh và sử dụng toàn bộ thông tin đó vào mục đích phạm pháp
    – Làm thẻ TDQT giả và rút tiền từ máy ATM ( truy cập Internet lấy trộm thông tin
    – Chủ thẻ thường xuyên dùng thẻ TDQT để rút tiền lớn vượt hạn mức rút tiền mặt từ các máy ATM
    – Chủ thẻ thường xuyên dùng thẻ TDQT để chi tiêu vượt hạn mức thẻ tín dụng quốc tế

    Rủi ro trong việc sử dụng thẻ:

    Hoạt động Thanh toán thẻ cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro, trong đó có sự tham gia của Ngân hàng, chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ và các thiết bị đầu cuối (ATM, POS…). Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán thẻ bao gồm:

    • Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) giả mạo (Fraudulen Merchant)
    • ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ: đánh cắp dữ liệu thẻ sử dụng vào mục đích bất hợp pháp hoặc thông đồng với chủ thẻ chấp nhận thanh toán thẻ giả;
    • Thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ qua các phương tiện viễn thông qua thư, điện thoại, Internet: Thay đổi số tiền trên hóa đơn, đánh cắp tiền trong tài khoản
    • Nhân viên ĐVCNT in nhiều hoá đơn thanh toán của một thẻ (Multiple imprint)
    • Các ĐVCNT có tỷ lệ rủi ro cao (High Risk Merchant): Hàng hóa, dịch vụ có giá trị lớn, có tính chất dễ chuyển đổi sang tiền mặt;
    • ĐVCNT gian lận: Thực hiện giao dịch không đúng loại hình giao dịch đã đăng ký, sửa đổi số tiền giao dịch, không xin chuẩn chi theo thoả thuận qui định;
    • Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (fraudulent use of account): Sử dụng trong môi trường thanh toán không phải xuất trình thẻ (thanh toán qua thư/điện thoại hoặc thương mại điện tử);
    • Chủ thẻ để lộ số PIN
    • Thẻ bị mất/mất trộm (lost/stolen card)
    • Thẻ giả (counterfeit): thẻ thật đã bị thay đổi thông tin, thẻ chỉ giả mạo thông tin trên dải băng từ hoặc thẻ bị sao chép làm giả hoàn toàn.
    • Dữ liệu băng từ (skimming) hoặc dữ liệu trên đường truyền (tapping) bị đánh cắp.

    Rủi ro trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương

    Theo số liệu thống kê gần đây của Tổ chức Visa – khu vực, rủi ro đối với hoạt động thanh toán thẻ trong khu vực như sau:
    • Gần 50% là rủi ro thẻ giả (counterfeit). Đây là loại rủi ro phổ biến nhất với thẻ Tín dụng và là loại rủi ro chiếm tỷ trọng thứ hai với thẻ ghi nợ trong khu vực. Nó cũng là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn trong các rủi ro của hoạt động thanh toán thẻ. Loại rủi ro này đang gia tăng nhanh chóng, mối lo ngại ở các nước trong khu vực thông qua hình thức ăn cắp thông tin trên đường truyền.
    • 27% là sự lợi dụng tài khoản thẻ trong môi trường thanh toán không sử dụng thẻ. Đây là sự cảnh báo cho các loại giao dịch gián tiếp không dùng thẻ;
    • Hiện tượng gian lận thẻ đang chuyển hướng sang các nước: Đài Loan, Thái Lan. Các nước như Australia, Hồng Kông đã đầu tư cho việc phòng ngừa gian lận đã làm giảm tỷ lệ rủi ro trong lĩnh vực này.
    • Ở Việt Nam, thẻ giả mạo là loại hình rủi ro phổ biến nhất, chiếm 75% tổng các loại rủi ro trong Phát hành thẻ; Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng công tác phòng ngừa rủi ro với loại hình đang phát triển hiện nay là giả mạo thẻ bằng cách ăn cắp thông tin trên đường truyền.

     

    Chương II. Thực trạng phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

    I.             Giới thiệu chung về ACB:

     

    Tên gọi:      Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

    Tên giao dịch quốc tế:    ASIA COMMERCIAL BANK

    Tên viết tắt:          ACB

    Trụ sở chính:        442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh.

    Điện thoại:  (08) 929 0999.

    Website:      www.acb.com.vn

    Logo:

    Vốn điều lệ:          1.100.046.560.000 đồng.

    Giấy phép thành lập:     Số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/1993.

    Giấy phép hoạt động:    Số 0032/NH-GP do Thống đốc NHNN cấp ngày 24/4/1993.

    Giấy CNĐKKD:   Số 059067 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp cho đăng ký lần đầu ngày 19/5/1993, đăng ký thay đổi lần thứ chín ngày 23/2/2006.

    Mã số thuế: 0301452948.

    Ngành nghề kinh doanh:

    Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;

    Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định;

    Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;

    Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được NHNN cho phép;

    Hoạt động bao thanh toán.

    1. Cơ cấu tổ chức của ACB:

     

    • Bảy khối : Khách hàng cá nhân, Khách hàng doanh nghiệp, Ngân quỹ, Phát triển kinh doanh, Giám sát điều hành, Quản trị nguồn lực, Công nghệ thông tin;

    Bốn ban: Kiểm tra– Kiếm soát nội bộ, Chiến lược, Đảm bảo chất lượng, Chính sách và Quản lý tín dụng.

    • Hai phòng : Quan hệ Quốc tế, Thẩm định tài sản (trực thuộc Tổng giám đốc).

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của ACB:

    BỘ MÁY QUẢN TRỊ VÀ ĐIỀU HÀNH

     

    • Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Ngân hàng.

    Hội đồng quản trị: do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hàng năm; chỉ đạo và giám sát hoạt động của Ngân hàng thông qua Ban điều hành và các Hội đồng.

    • Ban kiểm soát: do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân hàng; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán; hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của Ngân hàng.
    • Các Hội đồng: Do HĐQT thành lập, làm tham mưu cho HĐQT trong việc quản trị ngân hàng, thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh; đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an toàn và đúng mục tiêu đã đề ra. Hiện nay, Ngân hàng có bốn Hội đồng, bao gồm:
    • Hội đồng nhân sự: có chức năng tư vấn cho Ngân hàng các vấn đề về chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực để phát huy cao nhất sức mạnh của nguồn nhân lực, phục vụ hiệu quả cho nhu cầu phát triển của Ngân hàng.
    • Hội đồng ALCO: có chức năng quản lý cấu trúc bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng, xây dựng và giám sát các chỉ tiêu tài chính, tín dụng phù hợp với chiến lược kinh doanh của Ngân hàng.
    • Hội đồng đầu tư: có chức năng thẩm định các dự án đầu tư và đề xuất ý kiến cho cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.
    • Hội đồng tín dụng: quyết định về chính sách tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên toàn hệ thống Ngân hàng, xét cấp tín dụng của Ngân hàng, phê duyệt hạn mức tiền gửi của Ngân hàng tại các tổ chức tín dụng khác, phê duyệt việc áp dụng biện pháp xử lý nợ và miễn giảm lãi theo Quy chế xét miễn giảm lãi.
    • Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước HĐQT, trước pháp luật về hoạt động hàng ngày của Ngân hàng. Giúp việc cho Tổng giám đốc là các Phó Tổng giám đốc, các Giám đốc khối, Giám đốc tài chính, Kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ.

    2. Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB:

     

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    TTS 15.419.534 24.272.864 38.177.588
    Tổng vốn huy động 14.353.766 22.341.236 31.670.517
    Tổng dư nợ 6.759.675 9.563.198 14.464.327
    Tổng thu nhập kinh doanh 475.638 687.654 787.943
    Thuế và các khoản phải nộp (**) 74.367 102.179 101.298
    Lợi nhuận trước thuế 282.148 391.550 457.684
    Lợi nhuận sau thuế 214.091 299.201 369.293
    Tỷ lệ chia cổ tức (%) 36,7 28 38 (*)
    Bằng tiền mặt (% trên mệnh giá ) 12 12 08 (*)
    Bằng cổ phiếu (% trên số lượng) 24,7 16 30 (*)

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Các chỉ tiêu khác.

    Thu nhập.

    ĐVT: triệu đồng

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Thu nhập tín dụng 350.295 73,65% 514.265 74,79% 576.092 73,11%
    Thu nhập phi tín dụng 125.343 26,35% 173.389 25,21% 211.851 26,89%
    Tổng thu nhập 475.638 100,00% 687.654 100,00% 787.943 100,00%

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Chi phí.

    ĐVT: triệu đồng

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Lương và chi phí liên quan 71.035 108.538 132.044
    Chi phí khấu hao 17.874 25.520 30.588
    Chi phí hoạt động khác 93.064 157.255 147.431
    Tổng chi phí kinh doanh 181.973 291.313 310.063

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Về tỷ lệ khấu hao TSCĐ.

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Tòa nhà 4,0% 4,0% 4,0%
    Thiết bị văn phòng 20,0% 33,0% 33,0%
    Xe cộ 10,0% 14,0% 14,0%
    Tài sản cố định khác 20,0% 20,0% 20,0%
    Phần mềm vi tính 12,5% 12,5% 12,5%

    Nguồn: ACB.

    Hoạt động đầu tư.

    ĐVT: triệu đồng

    STT Loại hình Số dư đầu tư 2004 Tỷ trọng Số dư đầu tư 2005 Tỷ trọng Số dư đầu tư 30/9/2006 Tỷ trọng
    1 Đầu tư trái phiếu 2.891.750 98,3% 4.823.767 97,2% 3.705.280 91,6%
    2 Góp vốn đầu tư 51.273 1,7% 136.716 2,8% 338.231 8,4%
    Tổng cộng 2.943.023 100% 4.960.483 100% 4.043.511 100%

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Ghi chú:

    Đầu tư trái phiếu bao gồm:

    Sẵn sàng để bán và

    Giữ đến ngày đáo hạn.

    CHI TIẾT CÁC KHOẢN GÓP VỐN ĐẦU TƯ TÍNH ĐẾN THÁNG 09/2006

    ĐVT: triệu đồng

    STT Tên doanh nghiệp Vốn góp thực tế
    ACB
    1 Công ty CP Bảo hiểm Nhà Rồng(BẢO LONG) 15.400
    2 Công ty CP Sài Gòn- Phú Quốc 1.958
    3 Công ty CP Thương mại và Du lịch Sài Gòn (SP Co) 638
    4 Công ty CP Mắt kính Sài Gòn 1.076
    5 Công ty CP Thể Thao ACB 300
    6 Công ty CP TM DV Đông Anh 1.000
    7 Công ty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối 1.067
    8 Công ty CP địa ốc ACB 2.500
    9 Công ty CP dịch vụ bảo vệ Ngân hàng Á Châu 100
    10 Công ty CP Sài Gòn Kim Hoàn ACB – SJC 1.000
    11 Công ty CP Thủy Tạ 4.100
    12 Công ty CP Song Tân 16.000
    13 Công ty CP lương thực Bình Trị Thiên 2.654
    14 Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang 10.000
    15 Lợi nhuận đóng góp từ các công ty liên kết (ACBR, ACB-SJC, ACBD) 431
    Tổng cộng 58.224
    ACBS
    1 Nagarjuna Int’l Vietnam Ltd. 31.047
    2 Công ty CP Thủy Tạ 8.682
    3 Công ty may Phương đông 7.462
    4 Công ty CP Tơ tằm Á châu 1.000
    5 Eximbank 16.684
    6 Giadinh bank 1.000
    7 Công ty dược phẩm 3 tháng 2 3.710
    8 Viconship 2.527
    9 Saigon tourist 15.158
    10 Công ty Thủy sản Việt Long 9.188
    11 Công ty CP địa  ốc Gò Môn 1.583
    12 Ngân hàng Đại Á 37.400
    13 Công trái giáo dục 20.000
    14 Công ty TNHH đào tạo ngân hàng 310
    15 Công ty TNHH Tân Tạo 35.000
    16 Ngân hàng Việt Á 866
    17 Công ty CP Chuyển mạch tài chánh quốc gia 10.000
    18 Công ty CP ĐT PT Bình Thắng 3.643
    19 Golf Hoa Việt 436
    20 Golf sông Bé 492
    21 Công ty CP khu công nghiệp Đức Hoà 3 15.938
    22 Công ty CP Đại Cát Hoàng Long 476
    23 Công ty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối 4.162
    24 Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang 10.000
    25 Công ty CP địa ốc ACB 3.750
    26 Tổng cộng 240.513
    ACBA
    1 Công ty CP địa ốc ACB 6.000
    2 Công ty LT Bình Trị Thiên 6.758
    3 Công ty Khoan và dịch vụ Khoan dầu khí 17.680
    Tổng cộng 30.438
    Công ty CP Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn
    1 Các khoản đầu tư của công ty CP Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn 9.055
    Tổng cộng 338.231

    Nguồn: ACB.

    Các chỉ tiêu khác.

     Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Thu nhập ròng từ lãi/TTS bình quân 2,70% 2,60% 1,84%
    Thu nhập ngoài lãi/TTS bình quân 0,90% 0,80% 0,68%
    Chi phí hoạt động/TTS bình quân 1,30% 1,40% 0,99%
    Lợi nhuận trước thuế/TTS bình quân 2,10% 1,90% 1,47%
    Lợi nhuận ròng/TTS bình quân 1,60% 1,50% 1,18%
    Suất lợi nhuận/ Vốn tự có (ROE) 33,65% 30,02% 23,87%

    Nguồn: ACB

    Ghi chú: Số liệu tính toán dựa theo Báo cáo tài hợp nhất chính năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    II. Thực trạng phát hành thẻ thanh toán tại ACB:

    ACB là một trong các ngân hàng Việt Nam đi đầu trong việc giới thiệu các sản phẩm thẻ quốc tế tại Việt Nam. ACB chiếm thị phần cao về các loại thẻ tín dụng quốc tế như Visa và MasterCard. Trong năm 2003, ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam đưa ra thị trường thẻ thanh toán và rút tiền toàn cầu Visa Electron.

    • Năm 2004, ACB tiếp tục phát hành thẻ MasterCard Electronic. Trong năm 2005, ACB đã đưa ra sản phẩm thẻ MasterCard Dynamic là loại thẻ thanh toán quốc tế kết hợp những tính năng của thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
    • Ngoài ra, để đáp ứng các nhu cầu thanh toán nội địa, ACB đã phối hợp với các tổ chức như Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, hệ thống siêu thị Co-opmart, Maximark, Citimart để phát hành các loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu cho khách hàng nội địa. Thẻ ACB đã góp phần tạo nên thương hiệu ACB trên thị trường và tạo nguồn thu dịch vụ đáng kể.

    CÁC SỐ LIỆU VỀ THẺ NĂM 2004, 2005 VÀ ĐẾN 30/9/2006

    Nội dung Đơn vị tính Năm 2004 Năm 2005 30/9/2006
    Số lượng thẻ phát hành Thẻ 80.601 145.267 193.207
    Thẻ quốc tế Thẻ 62.767 123.063 170.270
    Thẻ nội địa Thẻ 17.834 22.204 22.937
    Số lượng đại lý Đại lý 4.790 5.584 5.972
    Doanh số giao dịch chủ thẻ Triệu đồng 841.516 1.265.800 1.261.164

    Nguồn: ACB.

     Các sản phẩm thẻ hiện có của ACB:

    Thẻ tín dụng quốc tế ACB Visa/MasterCard (24/05/10)

    Thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Electron/MasterCard Electronic (19/05/10)

    Thẻ thanh toán và rút tiền nội địa ACB E. Card (19/05/10)

    Thẻ ghi nợ nội địa 365 Styles (19/05/10)

    Thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Prepaid/MasterCard Dynamic (19/05/10)

    Thẻ tín dụng nội địa (04/12/09)

    Thẻ ATM2+ Năng động sánh bước cùng bạn. (14/10/09)

    ACB phát hành thẻ ATM2+

    Ngày 24/8, được sự chấp nhận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Chi nhánh TP.HCM), Ngân hàng ACB đã chính thức đưa thẻ ATM2+ và hệ thống gần 100 máy ATM hiện đại tham gia thị trường thẻ ngân hàng trên toàn quốc.

    ATM2+ là thẻ kết nối trực tiếp với tài khoản tiền gởi thanh toán, là sản phẩm thẻ kết hợp với thương hiệu VISA. Bên cạnh tiện ích được chấp nhận thanh toán tại hàng ngàn đại lý chấp nhận thanh toán thẻ VISA, chủ thẻ còn có thể dùng thẻ ATM2+ rút tiền tại tất cả các máy ATM của ACB và các máy ATM mang thương hiệu VISA tại Việt Nam.

    Dịch vụ này thích hợp cho khách hàng có tài khoản tiền gởi thanh toán và các doanh nghiệp có nhu cầu chi trả lương qua tài khoản tiền gởi thanh toán tại ACB, các cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ cho các hoạt động chuyển khoản, thanh toán, rút tiền… Từ ngày 24/8 – 31/12/2007, ACB sẽ miễn phí phát hành thẻ và phí thường niên năm đầu tiên cho khách hàng.

    TP.HCM ngày 7 tháng 10 năm 2008 Ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, và JCB International (JCBI), chi nhánh quốc tế của JCB, chính thức công bố: ACB bắt đầu triển khai mạng lưới chấp nhận thẻ và đang phát triển thêm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ JCB. ACB dự kiến hợp tác với khoảng 4.000 đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ JCB tính đến cuối tháng 1 năm 2009. Thỏa thuận này sẽ gia tăng đáng kể tiện ích cho các chủ thẻ JCB khi du lịch tới Việt Nam.

    5. Đánh giá về hoạt động phát hành, thanh toán thẻ của Ngân hàng ACB:

     

     

    Chương III. Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

    I. Định hướng phát triển Ngân hàng và thẻ thanh toán:

     

    1.Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của ACB:

     

    Cơ sở cho việc xây dựng chiến lược hoạt động qua các năm là:

    • Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu khách hàng và hướng tới khách hàng.
    • Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để đảm bảo cho sự tăng trưởng được bền vững.
    • Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn cao, tối ưu hóa việc sử dụng vốn cổ đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính vững mạnh, có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh doanh còn chưa hoàn hảo của ngành ngân hàng Việt Nam.
    • Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên chuyên nghiệp nhằm đảm bảo quá trình vận hành của hệ thống liên tục, thông suốt và hiệu quả. Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống một cách xuyên suốt. ACB đang từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa.
    • Chiến Lược Tăng Trưởng Ngang: Thể Hiện 3 Hình Thức:
      1. Tăng trưởng thông qua mở rộng hoạt động: hiện nay trên phạm vi toàn quốc, ACB đang tích cực phát triển mạng lưới kênh phân phối tại thị trường mục tiêu, khu vực thành thị Việt Nam, đồng thời nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới để cung cấp cho thị trường đang có và thị trường mới trong tình hình yêu cầu của khách hàng ngày càng tinh tế và phức tạp. Ngoài ra, khi điều kiện cho phép, ACB sẽ mở văn phòng đại diện tại Hoa Kỳ.
    1. Tăng trưởng thông qua hợp tác, liên minh với các đối tác chiến lược: hiện nay, ACB đã xây dựng được mối quan hệ với các định chế tài chính khác, ví dụ như các tổ chức thẻ quốc tế (Visa, Master Card), các công ty bảo hiểm (Prudential, AIA, Bảo Việt, Bảo Long), chuyển tiền Western Union, các ngân hàng bạn (Banknet), các đại lý chấp nhận thẻ, đại lý chi trả kiều hối, v.v… Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ACB đang quan hệ hợp tác với các định chế tài chính và doanh nghiệp khác để cùng nghiên cứu phát triển các sản phẩm tài chính mới và ưu việt cho khách hàng mục tiêu, mở rộng hệ thống kênh phân phối đa dạng. Đặc biệt, ACB đã có một đối tác chiến lược là Ngân hàng Standard Chartered, một ngân hàng nổi tiếng về các sản phẩm của ngân hàng bán lẻ. ACB đang nỗ lực tham khảo kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn cũng như công nghệ của các đối tác để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình cho quá trình hội nhập.
    1. Tăng trưởng thông qua hợp nhất và sáp nhập: ACB ý thức là cần phải xây dựng năng lực tiếp nhận đối với loại tăng trưởng không cơ học này và thực hiện chiến lược hợp nhất và sáp nhập khi điều kiện cho phép.
    • Chiến Lược Đa Dạng Hóa

    – Đa dạng hóa là một chiến lược tăng trưởng khác mà ACB quan tâm thực hiện, ACB đã có Công ty chứng khoán (ACBS), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (ACBA), đang chuẩn bị thành lập Công ty Cho thuê tài chính và Công ty Quản lý quỹ. Với vị thế cạnh tranh đã được thiết lập khá vững chắc trên thị trường, trong thời gian sắp tới, ACB có thể xem xét thực hiện chiến lược đa dạng hóa tập trung để từng bước trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính toàn diện thông qua các hoạt động sau đây:

    – Cung cấp và tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm để phối hợp cung cấp các giải pháp tài chính cho khách hàng.

    Nghiên cứu thành lập công ty thẻ (phát triển từ trung tâm thẻ hiện nay), công ty tài trợ mua xe

    – Nghiên cứu khả năng thực hiện hoạt động dịch vụ ngân hàng đầu tư.
    Tuy ACB đã khẳng định được mình nhưng luôn nhận thức rằng thách thức vẫn còn phía trước và phải nỗ lực rất nhiều, đẩy nhanh hơn nữa việc thực hiện các chương trình trợ giúp kỹ thuật, các dự án nâng cao năng lực hoạt động, hướng đến áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để có khả năng cạnh tranh và hội nhập khu vực thành công. Do vậy, từ năm 2005, ACB đã bắt đầu cùng các cổ đông chiến lược xây dựng lại chiến lược mới. Đó là chương trình Chiến lược 5 năm (2006-2011) và tầm nhìn 2015.

    2. Định hướng phát triển thanh toán thẻ của Ngân hàng TMCP Á Châu trong thời gian tới;

     

    • Phát triển thẻ thanh toán nội địa:

    Thẻ tín dụng nội địa cung cấp phương tiện thanh toán hiện đại, an toàn cho người tiêu dùng do không phải mang theo một lượng lớn tiền mặt khi đi muasắm, giải trí, du lịch, công tác… và đối phó với rủi ro bị mất tiền. Khi mất thẻ thì vẫn giữ được tiền nếu thông báo kịp thời cho Trung tâm thẻ ACB. Ngoài ra, trên thẻ còn có ảnh và chữ ký của chủ thẻ đề phòng khi mất thẻ người khác cũng không sử dụng được. Đồng thời đây cũng thực sự là phương tiện thanh toán đem lại hiệu quả kinh tế nhất định cho người tiêu dùng, do ngân hàng sẽ chi trả thay chủ thẻ ngay khi thực hiện giao dịch thanh toán tại các đạị lý bán hàng hóa, dịch vụ, sau đó hằng tháng chủ thẻ mới thanh toán lại cho ngân hàng các khoản chi tiêu của mình, như vậy mặc nhiên người sử dụng thẻ đã được ngân hàng cho vay miễn lãi một thời gian nhất định khoảng từ 16 đến 45 ngày tùy thời điểm thanh toán. Nếu đến hạn thanh toán, chủ thẻ vẫn chưa có điều kiện và nhu cầu thanh toán cho ngân hàng, các khoản chi tiêu đó sẽ chuyển thành khoản tín dụng với mức lãi suất 0,04%/ngày.

    Dự kiến trong đợt phát hành thẻ đầu tiên, Trung tâm thẻ sẽ phát hành khoảng 1.000 thẻ, chủ yếu là cho các chủ thẻ quốc tế hiện tại của Trung tâm thẻ và một số đối tượng khác. Sau đó, chơng trình sẽ được quảng bá rộng rãi đến các đối tượng được cấp thẻ tín chấp (miễn ký quỹ). Đó là các đối tượng: Lãnh đạo các cơ quan, công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp, các bác sĩ, giáo sư đại học, giáo viên cán bộ công nhân viên có thu nhập ổn định, có tài khoản lương tại ACB, các cá nhân đang có quan hệ tín dụng với ACB, có tài sản đảm bảo, các đối tượng đang được cho vay tín chấp theo chương trình cho vay tiêu dùng 10 triệu đồng tại ACB… Còn các đối tượng khác nếu có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng nội địa có thể mở sổ tiết kiệm hoặc tài khoản. Trong thời gian sử dụng thẻ, số dư sổ tiết kiệm hoặc tài khoản vẫn được hưởng lãi bình thường.

    • Tăng kênh tiêu thụ, phát triển thương hiệu:

    Ngân hàng Thương mại Á Châu (ACB) và Công ty Đông Hưng đã công bố chương trình hợp tác phát hành thẻ Visa Electron. Chương trình hợp tác này không chỉ mang lợi ích cho người sử dụng thẻ mua hàng, mà còn tạo ra hiệu quả kinh tế cho tổ chức tín dụng ACB và hệ thống bán lẻ Citimart của Công ty Đông Hưng. Với thẻ Visa Electron, người tiêu dùng mua hàng tại các siêu thị của Citimart sẽ được ACB thanh toán hộ (tất nhiên, người tiêu dùng phải đóng tiền trước để được cấp thẻ). Cái lợi của người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ này là mua hàng không cần mang theo tiền, thêm vào đó họ được giảm 3% trên tổng giá trị hóa đơn mua hàng. Còn đối với ACB và Citimart, thông qua chương trình hợp tác cùng nhau bán hàng, họ có thêm nhiều khách hàng mới.

    Liên kết tiêu thụ:

    ACB và Standard Chartered liên kết ATM, hợp tác phát hành thẻ tín dụng

    Khách hàng của hai ngân hàng này có thể sử dụng miễn phí hơn 270 máy ATM trong mạng lưới hợp tác, ACB cũng sẽ phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng của Standard Chartered.

    II. Những thuận lợi và khó khăn

     

     

    1.Thuận lợi:

    • Mạng lưới kênh phân phối: Gồm 80 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc.
    • Là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế: Visa, MasterCard.
    • Thẻ thanh toán đồng thương hiệu: Saigontourist; Saigon Co-op; Mai Linh Taxi; HSBC; Vera; VDC; Vietravel; Citimart.
    • Bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng: Prudential, AIA.
    • Xếp hạng Tín nhiệm Quốc tế:Bắt đầu từ năm 2001, Fitch (tổ chức đánh giá xếp hạng quốc tế) đã có đánh giá xếp hạng tín nhiệm ACB. Tháng 4/2004, Fitch đánh giá tiêu chí năng lực bản thân của ACB là D, và xếp hạng theo tiêu chí hỗ trợ từ bên ngoài là 5T.
    • Các giải thưởng quốc tế:Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2006; Ngân hàng bán lẻ xuất sắc nhất Việt Nam 2006; Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 2006; Sản phẩm dịch vụ xuất sắc lĩnh vực tài chính ngân hàng 2006; Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2005;..v.v

    2.Khó khăn:

    • Gánh nặng từ và chip:

    Các tổ chức phát hành thẻ thế giới như Master, Visa Card  đề nghị, bắt đầu năm  2006 các ngân hàng phải chuyển đổi hệ thống theo chuẩn EMV trên thẻ để đảm bảo tính bảo mật, tức phải chuyển thẻ từ sang thẻ chip. Các tổ chức này khuyến cáo, nếu sau giai đoạn này mà các ngân hàng không chuyển đổi xong, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm cho những rủi ro xảy ra đối với thẻ từ như bị hacker, điều mà trước đây họ phải gánh thay cho NH.

    Ông Lê Vũ Kỳ, Phó Tổng giám đốc ACB và là Giám đốc khối công nghệ thông tin ACB, cho rằng ngoài chi phí, thì công nghệ cũng là một trong những vấn đề của việc chuyển đổi. Việc tích hợp thông tin từ thẻ từ sang thẻ chip, lại phải đảm bảo tính kết nối của những ngân hàng liên kết với nhau, đòi hỏi giải pháp kỹ thuật cao và chi phí cho kỹ thuật này cũng không nhỏ.

    III. Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

     

    1. Giải pháp vĩ mô:

    1.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước:

    1. Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    2. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.
    3. Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
    4. Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
    5. Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    1.2. Đối với Ngân hàng ACB:

     

    Cần có một đội ngũ phát triển thẻ để thu thập thông tin thị trường, tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng để hoàn thiện sản phẩm hiện có, nghiên cứu phát triển thêm các sản phẩm mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu về tâm lí khách hàng, thu nhập, thói quen, sự ưu tiên trong tiêu dùng, dự báo những thay đổi trong nhu cầu theo sự thay đổi của thu nhập, tuổi, giới, địa vị… để phục vụ khách hàng tốt hơn. Nghiên cứu thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhằm đưa ra những chiến lược hợp lý.

    – Hoàn thiện quy định về quy trình nghiệp vụ, đạt tiêu chuẩn chất lượng.

    – Xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu càng ngày càng khắt khe của khách hàng

    – Tăng cường quảng bá sản phẩm, tiến hành các đợt giảm giá khuyến mãi thu hút các đối tượng sử dụng thẻ.

    – Ngân hàng cũng nên có chính sách khuyến mãi với những khách hàng thường xuyên giao dịch và có số dư bình quân trên tài khoản tiền gửi ổn định ở mức độ nhất định.

    – Củng cố hạ tầng kỹ thuật và công nghệ cung cấp dịch vụ ngân hàng

    – Chủ động tham gia hội nhập và thực thi những thông lệ khu vực và thế giới

    IV. Một số kiến nghị:

     

     

    1.    Đối với chính phủ:

     

    – Nhà nước cần áp dụng các biện pháp mạnh, có quy định cụ thể đối với tổ chức và cá nhân được phép thanh toán bằng tiền mặt với mức tiền cụ thể, phù hợp với tình hình phát triển chung của nền kinh tế. Ví dụ, hiện nay nên quy định đối với cá nhân, thanh toán dưới 5 triệu đồng, đối với tổ chức dưới 10 triệu đồng được sử dụng tiền mặt, trên mức đó phải thanh toán KDTM. Đồng thời phải xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

    – Nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.

    • Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
    • Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
    • Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.

    2.    Đối với Ngân hàng Nhà nước:

     

     

    • Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    • Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.
    • Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động thanh toán, ngay từ việc sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng để củng cố vị thế pháp lý của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt; đồng thời hoàn thiện các văn bản dưới Luật liên quan đến các phương tiện, hình thức thanh toán hiện đại để đảm bảo tính ổn định, an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và sự giám sát hợp lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tăng cường lòng tin của người sử dụng và giới doanh  nghiệp vào hệ thống thanh toán quốc gia.

    3. Đối với ACB:

    – Phát triển mạng lưới của mình,

    – Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ.

    – Phát triển các nhánh dịch vụ, đặc biệt là các kênh phân phối

    – Chú trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh mạnh

    – Lựa chọn các sản phẩm “lõi” của mình

    – Đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể

    – Thị trường: Xác định thị trường tiềm năng là khối dân doanh – ngoài quốc doanh, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (kể cả các công ty cổ phần, công ty TNHH).

    Ngoài ra, khách hàng cá nhân là khách hàng to lớn và lâu dài của thị trường thẻ. Chú ý tới khách hàng trẻ tiềm năng trong độ tuổi 21-29 (65% dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 30) vì tính năng động trong tiếp cận sản phẩm và tính sẵn sàng sử dụng DVNH

    – Chú trọng đến vấn đề bảo mật và an toàn cho khách hàng sử dung thẻ.

     

    Kết luận:

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Việc phát

    triển  thanh  toán không dùng  tiền mặt nói chung, bằng  thẻ  thanh  toán nói riêng  là một bước quan trọng trong việc xây dựng một nền văn minh tiền tệ, phù hợp với xu hướng chung của  thế giới. Thẻ  thanh  toán có vai  trò quan  trọng và những  lợi  ích không  thể phủ nhận. Hiện nay, thẻ thanh toán vẫn còn tiềm năng phát triển rất lớn trong nước và trên thế giới. Việc phát triển dịch vụ thẻ có ý nghĩa ngày càng to lớn trong chiến lược phát  triển  thời  kỳ mới  của  các  ngân hàng Việt Nam nói chung  và ngân hàng TMCP Á Châu ACB nói riêng.

    Trên cơ sở mục đích, đối  tượng nghiên cứu đã được xác định, với nội dung “Giải

    pháp  phát  triển  thẻ  thanh  toán  tại Ngân Hàng TMCP Á Châu ACB”, tiểu luận đã tập trung giải quyết được những vấn đề cơ bản sau:

    1)  Tiêủ luận đã nghiên cứu  những  vấn  đề  lý  luận  c ơ  bản  về  thẻ  thanh  toán.

    Trong  đó, đề tài tiểu luận cũng  nêu  rõ  tầm  quan  trọng,  ý  nghĩa  thẻ  thanh  toán,

    những lợi  ích to lớn của việc sử dụng thẻ thanh toán đem lại không chỉ cho

    người sử dụng, cho ngân hàng mà cho cả nền kinh tế.

    2)  Bằng phương pháp  tiếp cận  thực  tế,  thu  thập  thông tin, phân tích, đánh giá,

    luận văn đã nêu rõ được thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng

    TMCP Á Châu ACB trong  những  năm  vừa  qua   có  những  bước phát triển mạnh mẽ với nhiều kết quả đáng khích lệ.

    3)  Tuy  nhiên,  bên  cạnh những  thành  tựu đạt được  thì quá  trình phát  triển  thẻ

    thanh  toán  tại ngân hàng TMCP Á Châu ACB còn bộc  lộ nhiều  khó khăn,

    tồn  tại  cần  khắc  phục  như  phạm  vi  sử  dụng  thẻ  c òn  hạn  chế,  tiện  ích  thẻ

    chưa nhiều…Từ đó luận văn cũng xác định rõ những nguyên nhân dẫn đến

    hạn chế trong việc phát triển thẻ thanh toán, gồm nguyên nhân xuất phát từ

    chính ngân hàng, nguyên nhân từ phía người sử dụng thẻ và các yếu tố pháp

    lý tác động.

    4)  Từ  những  kết  quả  phân  tích  về  mặt  lý  luận  ở  chương  1  và  thực  tiễn  ở

    chương 2,  luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những  tồn

    tại, cũng như đưa  ra các giải pháp phát  triển  thẻ  thanh  toán của ngân hàng

    TMCP Á Châu trong tương lai. Các giải pháp đưa ra hết sức cần thiết.

    (**) Bao gồm tất cả các khoản thuế phải nộp trong  kỳ báo cáo.

    (*) Dự kiến đến 31/12/2006.

  • Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thương hiệu ngày càng có vai trò quan trọng trong xu thế cạnh tranh và phát triển định hướng hội nhập kinh tế thế giới. Thương hiệu dẫn dắt chiến lược tổ chức, là chất xúc tác quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu kinh doanh và là điểm trọng tâm kết nối mọi nguồn lực hay khía cạnh quản trị tổ chức, nhân viên, đối tác & khách hàng của bạn.Thương hiệu còn dẫn dắt nhận thức, thái độ và hành vi nhân viên trong công việc hàng ngày nếu tổ chức chú trọng đến việc truyền thông thương hiệu nội bộ trước khi truyền thông ra bên ngoài. Sở hữu thương hiệu mạnh thậm chí danh mục các thương hiệu mạnh là mơ ước của tất cả mọi lãnh đạo trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế…. Xây dựng thương hiệu đã khó thì phát triển và làm mới thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng càng khó hơn. Chính vì thế nhóm G7 đã chọn đề tài “ tái định vị thương hiệu ” để đi sâu vào phân tích lý thuyết tái định vị thương hiệu và đem áp dụng vào thực tế là dãy sản phẩm của Kotex Việt Nam.

    Chương I: Một số lý thuyết cơ bản về thương hiệu.

    1. Thương hiệu là gì?

    Hiện nay trong các văn bản pháp lý của Việt Nam không có định nghĩa về thương hiệu. Tuy nhiên, thương hiệu không phải là một đối tượng mới trong sở hữu trí tuệ, mà là một thuật ngữ phổ biến trong marketing thường được người ta sử dụng khi đề cập tới:

    1. Nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu sản phẩm):

    Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch  vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng màu sắc. (Điều 785 bộ luật dân sự quy định)

    1. Tên thương mại của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (thương hiệu doanh nghiệp) đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, có thể phát âm được.

    Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh. (Điều 14 Nghị định 54/2000/NĐ-CP).

    1. Các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa:

    “Tên gọi xuất xứ hàng hóa” là tên điạ lý của nước, của điạ phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mạt hàng này có các tính chất, chất lương đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả 2 yếu tố đó. (Điều 786 Bộ luật dân sự quy định)

    “Chỉ dẫn địa lý” là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa đáp ứng đủ các yêu cầu sau:

    _Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia

    _Thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.

    Theo hiệp hội Hoa Kỳ:

    Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ, hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh.

    _Có thể nói thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài, tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong (cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp). Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin cảu người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. Giá trị của một thương hiệu là triền vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.

    Thương hiệu quốc gia:

    Cần phân biệt thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu sản phẩm với thương hiệu quốc gia (hay còn gọi là nhãn sản phẩm quốc gia) là loại thương hiệu dùng cho sản phẩm của một nước, thường do tổ chức xúc tiến thương mại của nước đó chủ trì, phát hành, nhằm quảng bá hính ảnh quốc gia thông qua sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

    1.1. Một số tác dụng của thương hiệu trong cạnh tranh:

    Làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm.

    Tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, giúp bảo vệ người bán chống lại các đối thủ cạnh tranh, đồng thời giảm chi phí marketing.

    Dễ thu hút khách hàng mới.

    Giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn.

    Tạo thuận lợi hơn khi tìm thị trường mới.

    Nhãn hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty, thu hút vốn đầu tư, thu hút nhân tài.

    Giúp việc triển khai tiếp thị, khuếch trương nhãn hiệu dễ dàng hơn.

    Uy tín cao của nhãn hiệu sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có điều kiện “phòng thủ”, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá.

    Nhãn hiệu thương mại của người bán  khi đã đăng ký bao hàm sự bảo hộ của pháp luật đối với những tính chất độc đáo của những sản phẩm trước những sản phẩm bị đối thủ cạnh tranh “nhái” theo.

    1.2. Tái định vị thương hiệu:

    1.2.1. Khái niệm:

    Tái định vị thương hiệu là công việc làm mới hình ảnh của thương hiệu, tạo một sức sống mới cho thương hiệu nhằm đáp ứng được sự thay đổi của thị trường cũng như của người tiêu dùng hay một mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Tái định vị là một chiến lược thay đổi vị trí cảm nhận về thương hiệu trong tâm trí khách hàng mục tiêu.

    Tập trung vào:

    + Xác định cơ hội mới

    + Hướng vào yếu tố giá trị có tính xu hướng

    + Đưa ra đặc điểm mới nổi trội hơn, độc đáo hơn.

     

     

    Điều kiện tái định vị thương hiệu:

    + Có tiềm năng

    + Dựa trên các yếu tố đã có sẵn từ trước, vẫn giữ nguyên thương hiệu không được bỏ vì nếu bỏ tức là từ bỏ thương hiệu đã có.

    Tái định vị thương hiệu khi:

    Môi trường cạnh tranh thay đổi

    Doanh nghiệp không có sự cảm nhận tốt từ khách hàng

    Hình ảnh thương hiệu mờ nhạt, già nua, thiếu sức sống

    Muốn thay đổi nhóm khách hàng mục tiêu

    Doanh nghiệp muốn lột xác để bước sang một giai đoạn mới của quá trình cạnh tranh

    1.2.2. Tái định vị thương hiệu để làm gì ?

    Tái định vị để mạnh mẽ hơn:

    Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, phần lớn các doanh nghiệp đối diện với sự cạnh tranh, thất bại, thờ ơ và thất vọng của khách hàng. Để khẳng định mình và phát triển, nhà lãnh đạo sử dụng nhiều cách thức, trong đó phương pháp tái định vị là lựa chọn ưu tiên.Có thể lấy Sfone làm ví dụ. Khi thâm nhập thị trường Việt Nam với công nghệ CDMA hiện đại, các nhà quản trị Sfone tin vào sự thành công. Ban đầu Sfone xuất hiện với slogan: Nghe là thấy cùng màu xanh trên logo. Họ kỳ vọng hình ảnh thương hiệu cùng slogan trên sẽ phù hợp nhóm khách hàng trẻ. Nhưng kết quả ngược lại, khách hàng không đón nhận. Slogan khá khó hiểu với đa số khách hàng. Màu xanh cũng không làm Sfone nổi bật, khác biệt.Sfone đã xây dựng hình ảnh mới. Họ tung ra hệ thống nhận diện mới với màu cam khá lạ mắt. Về nguyên tắc, màu cam là màu nóng, mạnh, giúp liên tưởng đến nhiệt huyết, sự trẻ trung, năng động… Sfone còn tung ra các chiến dịch truyền thông nhắm vào đối tượng: người trẻ đang yêu, bạn bè. Những dịch vụ: Forever, nhạc chuông, tin nhắn, game… thể hiện điều đó.Sfone cố gắng đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Tỏ ra “biết mình, biết người”, họ nhắm vào đối tượng khách hàng trẻ. Thậm chí, họ chấp nhận bù lỗ với cước phí thấp, giá điện thoại rẻ để tạo ra xu hướng mới cho khách hàng tiềm năng.Còn quá sớm để nói rằng Sfone đã thành công từ việc tái định vị thương hiệu. Nhưng quá trình này tạo ra một Sfone khác biệt, ấn tượng… làm tiền đề cho sự bứt phá trong tương lai.Một ví dụ khác là Ngân hàng Công thương Việt Nam (vietinBank). Trước đây, khách hàng biết đến họ như là một trong những ngân hàng nhà nước với lối quản lý nặng nề, cũ kỹ. Đứng trước vận hội mới, các nhà quản trị VietinBank quyết định thay đổi hình ảnh, hệ thống nhận diện. Với ba màu xanh, trắng, đỏ và logo là hình ảnh đồng tiền cổ, VietinBank gửi gắm thông điệp: Tin cậy, hiệu quả và hiện đại… Họ kết hợp với slogan: Nâng giá trị cuộc sống.Bằng hình ảnh mới, VietinBank muốn khẳng định mình đi cùng khách hàng. Đồng tiền biểu tượng cho kinh doanh và là phương tiện giao dịch. Đây là hình ảnh cần thiết để VietinBank chuyển thành ngân hàng thương mại và hướng đến tập đoàn tài chính mạnh.

    Tái định vị phù hợp nhu cầu khách hàng:

    Đôi khi, một số thương hiệu phải thích ứng để phù hợp nhu cầu khách hàng. Đó là cà-phê Việt của Nestlé. Trên toàn cầu, Nestlé có nhãn cà-phê nổi tiếng Redcup. Đây là nhãn hiệu được đầu tư khá bài bản. Các nhà quản trị của Nestlé hy vọng chất lượng cà-phê tinh chất, sự bài bản về công nghệ chế biến sẽ giúp Redcup chinh phục người tiêu dùng Việt. Tuy nhiên, kỳ vọng này mang lại thất vọng, Redcup có thể phù hợp với thị trường khác nhưng tại Việt Nam, cái tên đó không chút ấn tượng.Mới đây, Nestlé tiến hành tái định vị Recup khi cho ra đời nhãn hiệu mới “Cà-phê Việt”.Với thành phần và công thức pha chế không khác biệt nhiều so với Redcup, nhưng khi khoác chiếc áo mới, Cà-phê Việt để lại ấn tượng. Với slogan Bạn đã đủ mạnh để thử? Cùng hình ảnh nhãn hiệu là chàng trai mạnh mẽ, hiện đại và sự xuất hiện đầy khiêu khích, Cà-phê Việt đã tạo dấu hiệu nhận biết tốt trong tâm trí khách hàng. Hơn thế, tên của nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt chấp nhận dễ dàng.Rõ ràng, việc Nestlé thay đổi chiến lược chứng tỏ: Dù là nhãn hiệu hàng đầu, nhưng nếu nó xa lạ với người tiêu dùng địa phương thì cách tốt nhất là thay đổi.

    1.2.3. Các bước chuẩn bị để tái định vị thương hiệu.

    1/ Xác định rõ mục tiêu chiến lược của việc tái định vị.

    2/ Cần triển khai một cuộc nghiên cứu thị trường nghiêm túc trước khi quyết định thực hiện nhằm giảm thiểu rủi ro.

    3/ Cân nhắc giữa tái định vị thương hiệu hay chỉ làm mới hình ảnh cũ ?. Cái gì cần giữ lại để đảm bảo tính kế thừa, điểm gì cần cải thiện, giá trị nào cần thêm mới vào.

    4/ Tất cả mọi người trong doanh nghiệp cần chuẩn bị một tinh thần thay đổi, và sẵn sàn cho sự thay đổi, vì việc thay đổi hệ thống định vị sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các phòng ban chức năng. Người cần có nhận thức đầu tiên trong doanh nghiệp cho việc tái định vị phải là người đứng đầu doanh nghiệp.

    5/ Chụẩn bị tài chính cho việc tái định vị, nếu chúng ta tái định vị nửa vời, thiếi triệt để và không nhất quán sẽ để lại những hậu quả khó lường.

    6/ Kết hợp thật hiệu quả với các công cụ Marketing, PR, HR để việc triển khai thực hiện tái định vị được hiệu quả, giảm ngân sách đầu tư.

    7/ Cân nhắc giữa mục tiêu của tái định vị nhắm đến khách hàng mới, so với nhóm khách hàng hiện tại.

    8/ Làm những động tác cần thiết để người tiêu dùng hiểu và cảm nhận được thông điệp mới một cách chính xác bằng một chiến dịch truyền thông.

    1.2.4. CÁCH THỨC TÁI ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU:

    Tùy theo từng mục tiêu chiến lược của từng chương trình tái định vị mà chúng ta quyết định có phải thay đổi sản phẩm hay không.

    Doanh nghiệp có thể không thay đổi sản phẩm, nếu chiến lược của doanh nghiệp chỉ đơn giản là tạo một cảm xúc mới lạ thông qua thông điệp truyền thông bằng hình ảnh mới. Nhưng, nếu sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp chưa tốt, điều này được người tiêu dùng cảm nhận được thì dù hình ảnh thương hiệu có làm mới đẹp đến mấy thì cũng vô nghĩa. Việc doanh nghiệp tái định vị mà chỉ thực hiện bằng việc thay đổi thông điệp truyền thông, hệ thống nhận diện không thôi thì chỉ là một cách thể hiện lời hứa của Doanh Nghiệp. Còn khi người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của chúng ta họ có hài lòng hay không điều đó thể hiện là việc làm của chúng ta có đúng lời hứa hay không. Do vậy thông thường đi kèm với việc tái định vị thương hiệu thì ta còn phải xem xét tính năng, lợi ích của sản phẩm nhằm cải tiến để sản phẩm doanh nghiệp tốt hơn có nhiều giá trị tăng thêm cho khách hàng. Ngược lại cũng tương tự, khi doanh nghiệp có sản phẩm mới hoàn toàn, nếu đây là sản phẩm chính duy nhất và doanh nghiệp từ bỏ sản phẩm cũ thì việc tái định vị là cần thiết. Nhưng nếu doanh nghiệp có thêm một sản phẩm mới trong một chuỗi các sản phẩm có sẵn, sản phẩm này chỉ bổ sung một giá trị nào đó không lớn thì doanh nghiệp không nhất thiết phải tái định vị lại thương hiệu. Vì chúng ta đều hiểu rằng tái định vị thương hiệu có hai mặt của nó: có cả tích cực và không tích cực. Nói chung, phải xem lại mục tiêu của tái định vị, xác định nhu cầu mới của khách hàng sau khi tái định vị (khách hàng cũ và mới) để quyết định những vấn đề liên quan đến sản phẩm. Nếu doanh nghiệp có nghiên cứu chu đáo trong quá trình thực hiện tái định vị thì hiệu quả mang lại rất lớn. Doanh nghiệp sẽ làm hài lòng khách hàng về những hình ảnh cảm nhận. Khách hàng sẽ nghĩ rằng doanh nghiệp rất quan tâm đến họ. Đáp ứng được nhu cầu mong đợi của khách hàng. Doanh nghiệp sẽ có được một lượng khách hàng mới thông qua việc tái định vị thương hiệu: nhiều khách hàng trước đây chưa hiểu, chưa thích thì bây giờ lại thích thú khi doanh nghiệp tái định vị.

    Thực tế, tái định vị không hề đơn giản và không phải muốn là làm được. Sau đây là vài điều cần quan tâm trước và trong khi tái định vị:

    1/ Vị trí của thương hiệu trên thị trường:

    Không nên nghĩ khi đang dẫn đầu thị trường hoặc có thị phần tốt thì không cần đổi mới. Tái định vị có thể thực hiện khi có những sự kiện quan trọng liên quan đến thương hiệu hoặc ngành đã và sắp xảy ra. Khi trên thị trường liên tiếp có những mặt hàng sữa tươi được tung ra đa dạng về mẫu mã và chủng loại thì ViNaMilk đã thay đổi thông điệp quảng bá của mình là “100% sữa tươi nguyên chất” để duy trì vị thế của mình trên thị trường.

    2/ Vị trí của thương hiệu trong tâm trí của khách hàng:

    • Cần cân nhắc thái độ và cảm xúc của khách hàng mục tiêu với định vị hiện tại “Liệu khách hàng có phản ứng tích cực với định vị mới hay không?” là câu hỏi cần được trả lời xuyên suốt trong quá trình tái định vị.
    • Định vị mới cũng không được thay đổi tính cách đặc trưng của thương hiệu nếu tính cách này đã được chấp nhận.

    3/ Nắm rõ mục đích tái định vị:

    Tái định vị có hai mục đích chính là tạo thêm giá trị cho thương hiệu; thay đổi đối tượng khách hàng mục tiêu. Chỉ nên chọn một mục đích và làm thật tốt không nên nhắm đến cả hai mà làm nửa vời.

    4/ Thực hiện mạnh tay và phải đồng bộ:

    • Khi tái định vị, phải chấp nhận rằng tái định vì là một điều cần thiết và bắt buộc trong quá trình phát triển thương hiệu.
    • Tái định vị sẽ thay đổi nhận thức của khách hàng, vì thế nếu không mạnh tay thực hiện triệt để, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), quảng bá… thì hiệu quả sẽ không như mong muốn.
    • Nguy hiểm hơn khách hàng sẽ mơ hồ giữa định vị cũ và định vị mới của sản phẩm.
    • Phải thực hiện đồng bộ để khách hàng biết được việc tái định vị của thương hiệu. Đồng thời tranh thủ sự đồng tình của khách hàng với quá trình này, nhiều hoạt động phải được diễn ra liên tục đúng và sát với kế hoạch để phục vụ cho định vị mới của thương hiệu.

    Ta thấy rằng  tái định vị không chỉ đơn giản dừng lại ở việc thay đổi logo, mà còn là việc đầu tư cho công tác R&D để tung ra sản phẩm mới, quảng bá và tổ chức sự kiện…. Nếu việc định vị thực hiện tốt thì chúng ta sẽ có được trái tim khách hàng, ngăn ngừa việc thâm nhập vào tâm trí khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Thể hiện sức mạnh đổi mới và sức sống mãnh liệt của thương hiệu,…. Ngược lại, nếu làm không tốt thì có thể có nhiều rủi ro xảy ra: mất khách hàng trung thành, khách hàng cũ, chi phí tăng cao, hình ảnh không đồng bộ, thiếu sự kế thừa,… Nếu không đủ ngân sách cho định vị thay đổi sẽ rất nguy hiểm làm cho hình ảnh cũ và mới sẽ bị tranh chấp, không rõ ràng, thiếu nhất quán,…Thời điểm để tái định vị thương hiệu cũng là vấn đề cân nhắc, lựa chọn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương II: Các ứng dụng thực tế của tái định vị thương hiệu.

    2.1. Hậu quả của việc tái định vị sai lầm.

    Thất bại ngọt ngào của New Coke ở tuổi 25

    Với hơn 40 ngàn kết quả có được khi tìm kiếm trên mạng với từ “New Coke” và “sự sai lầm”, nó được xem như câu chuyện về bài học cảnh báo được đưa vào giảng dạy tại các trường kinh tế. Vậy mà trong những ngày đầu tháng Tư sôi động của năm 1985, Coke đã nghĩ rằng họ cầm chắc phần thắng trong tay.

    Điều này dễ dàng trách mắng Coke khi quyết định thay đổi sản phẩm, vì trước đó việc thay đổi này được đã được khuyên rằng là đi sai hướng. Tuy nhiên, nó có những lí do riêng của mình.

    Theo số liệu thống kê trong ngành giải khát năm 1985, bản khảo sát của Coca Cola đã chứng minh rằng 55% trong 200,000 thử nghiệm được khảo sát, đã trả lời là họ thích sản phẩm New Coke hơn, trong khi chỉ có 45% chọn sản phẩm thức uống nguyên thủy với công thức tồn tại 99 năm qua. Tuy nhiên, những mẫu được chọn để khảo sát được cho là không chất lượng khiến cho đa số mọi người đều nghi ngờ mức độ tin cậy của kết quả khảo sát này.

    Có thể New Coke có cơ hội, và kết quả từ Focus – group đã đúng. Vài tháng sau, New Coke đã có 1 sự tặng trưởng mạnh, tuy nhiên sau đó, lại bị tẩy chay và hoàn toàn không thể phục hồi.

    Các tờ nhật báo hàng ngày vốn đã có sự quan tâm ngay từ lúc CoCa Cola bắt đầu tung ra sản phẩm mới, thì lúc này họ càng quan tâm đến cuộc chiến trong ngành thức uống, và chiến lược media càng bùng phát dữ dội hơn sau đó với dự báo về thất bại của chiến dịch này. Và việc thất bại của New Coke đồng nghĩa với sự quay trở lại của thức uống Original Coke, điều này đã được tờ The Atlanta Jounal – Constitution minh họa và so sánh như 1 cuộc giải cứu Coke nguyên thủy được đăng và phát hành ngày 11/7:

    “Thứ năm, ngày 11 tháng 7 năm 1985, sau công nguyên, ngày này sẽ mãi mãi đổ chuông trong lịch sử của chúng ta như là ngày cuối cùng kết thúc cuộc khủng hoảng con tin. Nó không phải là sự giải cứu con tin ở sân bay, gây ra những cuộc hỗn chiến và bạo loạn. Mà nó là sự giải cứu thành công loại thức uống Coke nguyên thủy – original formula Coke – điều này được ví như những tia nắng mặt trời tỏa sáng đại dương được mang đến bởi bộ ba vị lãnh đạo trang trọng của Coca Cola lúc bấy giờ.”
    New Coke trở thành sai lầm đáng chế giễu nhất của công ty.
    Nhưng khi suy nghĩ kĩ thì nó ko phải là 1 tổn thất. Nó không gây ra thiệt hại về tài sản thế chấp cũng như gây ra sự sa thải sâu rộng. Nó chứng tỏ sức mạnh của người tiêu dùng trong mối quan hệ với thương hiệu. Đây không phải là một thất bại, mà là một thảm họa tốt. Vì sau đó Coca Cola đã phát triển vượt bậc.

    Tất cả ý nghĩa của bài học này là gì? Nếu bạn sẵn sàng thất bại, thất bại một cách ngớ ngẩn nhất, nhưng có thể hình ảnh đó cũng sẽ là ngoạn mục nhất. Dám thất bại hay về nhà? Một ngày nào đó, nước Mỹ sẽ yêu bạn vì điều đó, miễn là bạn thành công lần nữa.

    2.2. Kotex đã tái định vị thương hiệu như thế nào?

    Lịch sử hình thành:

    Kotex là thương hiệu của tập đoàn KIMBERLY CLARK.

    KIMBERLY CLARK được thành lập vào năm 1872 là một tập đoàn hàng đầu của Hoa Kỳ và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Mỗi ngày có hơn 1.3 tỷ người tin dung các sản phẩm của Kimberly Clark. Kimberly Clark luôn giữ vị trí số 1 hay số 2 về thị phần tại hơn 80 quốc qua trên thế giới. Các thương hiệu của KIMBERLY CLARK được bán rộng rãi trên hơn 150 quốc gia. Có trụ sở chính đặt tại Dallas, Texas, với gần 65.000 thành viên trên toàn thế giới và hoạt động tại 35 quốc gia. Tự hào được tạp chí Fortune liệt kê trong danh sách những tập đoàn “Được yêu thích nhất” kể từ năm 1983 đến nay. Công ty cùng nỗ lực trở thành một trong số những tập đoàn “Tốt nhất thế giới”. và sản phẩm tiêu dùng đầu tiên của công ty được sản xuất  ra nhằm phục vụ nhu cầu trong chiến tranh, khăn lót xen-lu-lô. Cellucotton, nhãn hiệu được đăng ký bởi KIMBERLY CLARK, được phát triển từ năm 1914 và trở thành vật dụng y khoa quan trọng trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ I.

    Cellucotton được dùng trong các bệnh viện thời chiến, các trạm sơ cứu, nơi thường phải giải phẩu, băng bó và bông cotton thì không phải dễ kiếm. Các cô y tá quân y cũng thường dùng những miếng khăn lót này để giải quyết vấn đề kinh nguyệt. Không lấu sau đó, năm 1920, KIMBERLY CLARK bắt đầu sản xuất Kotex-Băng vệ sinh dân sự. Sau đó, KIMBERLY CLARK mới bắt đầu phát triển thêm các sản phẩm Scott, Andrex, Huggies, Pull-Ups, Kleenex. Năm 2009 số tiền thu được từ hoạt động bán hàng của KIMBERLY CLARK là 19.100.000.000 $.

    Thâm nhập vào thị trường Việt Nam những năm 1995, Kotex đã không ngừng khẳng định vị trí của mình về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe giới tính, với các sản phẩm như:

    • Kotex® Style

    Kotex® Style – Mặt lưới khô thoáng:

    Kotex® Style Maxi Không Cánh

    Kotex® Style Maxi Cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng không cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng an toàn

    Kotex® Style Overnight

    Kotex® Style – Mặt bông mền mại

    Kotex® Style Maxi Không Cánh

    Kotex® Style Maxi Cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng cánh

    • Kotex® Pro

    Kotex Pro Siêu Mỏng Cánh

    Kotex Pro Siêu Mỏng Không Cánh

    • Kotex® Freedom

    Kotex Freedom Bông Maxi

    Kotex Freedom Bông Maxi Cánh

    Kotex Freedom Lưới Maxi

    Kotex Freedom Lưới Maxi Cánh

    Kotex Freedom Lưới Siêu Mỏng Cánh

    • Kotex® Hằng ngày

    Kotex Hàng ngày Trà Xanh

    Kotex Hàng ngày hương Tự Nhiên

    Kotex Hàng ngày Siêu Bảo vệ

    • Kotex® Tampons

    Kotex White PRO Maxi Cánh

    Kotex White PRO Mỏng Không Cánh

    Kotex White PRO Mỏng Cánh

     

    Kotex tái định vị thương hiệu :

    Những chuyển động mạnh mẽ của nền kinh tế những năm 2000, nhu cầu xã hội ngày càng phát triển, giới trẻ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe giới tính của bản thân. Điều này cho thấy một cơ hội kinh doanh lớn về lĩnh vực sức khỏe giới tính đang mở ra và Kotex đã nhanh chân triển khai các kế hoạch lớn nhằm nắm bắt lấy cơ hội đ ặc biệt này, trong khi các Công ty sản xuất sản phẩm cùng loại lại có vẻ chuyển mình chậm chạp.

    Kotex đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhiều mặt,  xác định được những mặt thiếu xót, phân tích rõ những ưu điểm và khuyết điểm của các đối thủ cạnh tranh, từ đó Kotex đã  có những chiến lược tái định vị thương hiệu một cách hiệu quả. Ra đời từ những năm 1980 đến năm 2005 Kotex đã chính thức ra mắt hệ thống nhận diện thương hiệu hoàn toàn mới và ấn tượng.

    Biểu tượng mới của Kotex có vẻ nhẹ nhàng và bay bổng hơn, với những nét cách điệu ở chữ K đầu gợi cho ta liên tưởng tới một cô gái thướt tha nhưng không kém phần năng động được thể hiện ở nét thẳng đứng, với khẩu hiệu “Tự tin là chính mình (2006-2009); Tôi tự tin. Tôi hiểu. Tôi chia sẽ (2009-2010)”.

    Kotex không chỉ đơn thuần thay đổi hệ thống nhận diện, triển khai những hình thức truyền thông, quảng bá mới, mà là một chiến lược thương hiệu mang tính thống nhất cao, có định vị thương hiệu theo phân khúc thị trường và mục tiêu phát triển lâu dài, có hệ thống cấu trúc thương hiệu bền vững.

    Hướng tới hình ảnh một nhãn hàng tận tăm, đồng hành và chăm sóc những vấn đề sức khỏe riêng tư cho các bạn nữ. Chiến lược định vị thương hiệu tác động đến mọi hoạt động của Kotex từ suy nghĩ của cán bộ công nhân viên, đến hành vi, thái độ ừng xử với khách hàng; quy trình làm việc, phục vụ các sản phẩm và dịch vụ cụ thể.

    Một thương hiệu muốn ăn sâu vào tâm trí khách hàng khi khách hàng đã được trải nghiệm, và Kotex đã nổ lực để khách hàng được trải nghiệm một cách tốt nhất về sản phẩm và dịch vụ của Công Ty.

    Kotex đã có 1 định hướng rõ ràng, thay vì hướng tới những khách hàng chung chung thì Kotex tập trung sản phẩm cho đối tượng là các bạn gái mới lớn, đây là khách hàng tiềm năng của Kotex trong tương lai.

    Ngoài những sản và dịch vụ cho khách hàng, Kotex cũng chú trọng đến việc quảng báo cho hình ảnh của mình bằng những hoạt động thiết thực như:

    • Quỹ học bổng KOTEX vì nữ sinh tài năng – nơi tiếp sức cho tài năng tỏa sáng

    Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam được thành lập từ 2003 dành cho các nữ sinh từ lớp 6 đến lớp 12 trên khắp cả nước đạt kết quả xuất sắc trong học tập và rèn luyện đạo đức, thể hiện tài năng xuất sắc trong mọi lĩnh vực văn hóa, thể thao, nghệ thuật, âm nhạc… và các bạn có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn đội, các hoạt động xã hội. Đây là một trong những hoạt động đóng góp cho xã hội, cho cộng đồng đầy ý nghĩa và thiết thực của công ty Kimberly Clark Việt Nam, nhằm đóng góp một phần kết quả kinh doanh của công ty để hỗ trợ cho cộng đồng phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là nữ sinh, những tài năng tương lai của đất nước. Chính vì vậy, Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ nhiều phía như nhà trường, thầy cô giáo, học sinh và các ban ngành có liên quan.

    Sau gần 7 năm hoạt động, Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam đã chứng tỏ đây thực sự là một hoạt động lâu dài và hiệu quả nhất từ trước đến nay dành cho nữ sinh nói riêng và vì sự phát triển tài năng của các bạn gái trẻ nói chung. Với nhiều hoạt động thiết thực như: trao tặng học bổng, tặng quà, giáo dục giới tính, Quỹ đã giúp hàng triệu nữ sinh thuộc các tỉnh thành trên toàn quốc nắm vững và nâng cao kiến thức về giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe vị thành niên.Với những đóng góp gần 7 năm qua cho sự nghiệp giáo dục, Kotex đã nhiều lần được Bộ Giáo Dục & Đào Tạo tôn vinh. Tiêu biểu như trong năm 2007 Kimberly Clark được tôn vinh vì những đóng góp cho ngành giáo dục với tấm bằng khen và kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”; tháng 9/2008, nhãn hàng Kotex S-tyle thuộc công ty Kimberly-Clark Việt Nam cũng đã được Sở Giáo dục & Đào tạo TP.HCM tặng bằng khen vì có nhiều thành tích đóng góp thực hiện thành công các chương trình văn hoá, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Chính sự ghi nhận và ủng hộ của các cơ quan chính quyền, của các thầy cô giáo và các em nữ sinh sẽ là những lời khích lệ, động viên quý báu để nhãn hàng Kotex cũng như Kimberly-Clark bước tiếp con đường gần 7 năm qua.

    Trong 7 năm, ngàn suất học bổng được trao tặng, ngàn nữ sinh cả nước được tôn vinh, hỗ trợ phát triển mọi mặt, Quỹ học bổng Kotex Vì nữ sinh tài năng VN đã chứng tỏ đây thực sự là Quỹ hoạt động thiết thực dành cho nữ sinh, vì sự phát triển của bạn gái trẻ.

    Trong tháng 10 và 11 năm 2009, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo cùng công ty Kimberly-Clark Việt Nam cũng sẽ lần lượt trao tặng 300 suất học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam năm học 2008 – 2009 cho các nữ sinh tài năng tại 20 tỉnh thành trên toàn quốc gồm: Hà Nội, Nam Định, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Phú Thọ, Hải Dương, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Gia Lai, Đaklak, Lâm Đồng, TP.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Phước. 300 suất học bổng, mỗi suất trị giá một triệu đồng (1.000.000VND) là học bổng nằm trong khuôn khổ Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam – một chương trình hợp tác giữa công ty Kimberly-Clark Việt Nam và Bộ Giáo Dục & Đào Tạo. Hoạt động của quỹ được tập trung vào 3 nội dung lớn là hỗ trợ phát triển tài năng của các nữ sinh, giáo dục giới tính và các hoạt động xây dựng khác cho cộng đồng.

    • Hoạt động cộng đồng:
      1. Chiến dịch 270gram” – Hành trình chinh phục “một nửa” của con gái hiện đại.
      2. Chiến dịch “Đồng hành cùng cô gái Origami” – Tôi tự tin. Tôi hiểu. Tôi chia sẻ.
      3. TVC (Quảng cáo truyền hình)

     Kotex: Quảng cáo “Tự tin là chính tôi” gây ấn tượng mạng với hình ảnh những cô gái hết sức cá tính, tự tin, cho thấy con gái có thể làm những việc được cho là “bât thường”, “khác thường”, đập tan quan niệm con gái “yếu đuối, ủy mị”.

    Hình ảnh cô gái với nụ cười tươi tắn, mặc bộ đồ công nhân màu cam trong garage sửa xe ô tô của Kotex đã được Tạp chí Marketing bình chọn là một trong những ảnh quảng cáo ấn tượng.

    BÀI HÁT  “Tự tin là chính tôi”(Ca sĩ – nhạc sĩ Phương Uyên sáng tác)

    Nội dung bài hát: gắn liền với thông điệp của chiến dịch, phù hợp với thị hiếu khách hàng mục tiêu.

    • Tài trợ cuộc thi:
      1. Cuộc thi Chinh phục thử thách PRO

    “Chinh phục Thử thách PRO” là cuộc thi dành cho sinh viên của các trường Đại học và Cao đẳng tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội do nhãn hàng Kotex PRO của Công ty Kimberly Clark tổ chức và phối hợp với Trung ương Hội Sinh Viên Việt Nam.

    Cuộc thi sẽ giúp trang bị và rèn luyện những kỹ năng như: quản lý thời gian, tư duy sáng tạo, tinh thần đồng đội, kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định… nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho các bạn sinh viên sắp ra trường khi phải đối mặt với những thử thách dù là trong công việc hay trong cuộc sống.

    1. Bước nhảy xì teen 2010:

    Sau 3 mùa hè khuấy đảo đời sống teen Việt, Bước nhảy Xì Tin season 4 (do nhãn Kotex Style – Công ty Kimberly Clark Việt Nam tổ chức) sẽ chính thức bùng nổ từ ngày 12/6 và kéo dài đến ngày 25/9/2010 với trận chung kết cuối cùng diễn ra tại Tp.Hồ Chí Minh. Bước Nhảy Xì Tin năm nay mở ra cơ hội lớn chưa từng có cho V-Teen. Năm nay, lần đầu tiên cuộc thi sẽ mở rộng ra đến… 21 tỉnh thành và đến 70 trường học.

    • TẶNG SẢN PHẨM MẪU VÀ KHUYẾN MẠI.
    • CÁC CHƯƠNG TRÌNH ROADSHOW
    • Ngoài ra, Kotex còn xây dựng một hệ thống website với diễn đàn riêng tư về sức khỏe giới tính, đặc biệt là mục tư vấn với sự góp mặt của tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn tại địa chỉ http://girlspace.com.vn or http://bandonghanh.com

    Với mục đích hàng đầu là đem lại cho giới trẻ Việt Nam một cái nhìn đúng đắn hơn về sức khỏe tình dục , sức khỏe sinh sản , kotex đã tạo ra một sân chơi lành mạnh cho giới trẻ Việt Nam , với các chuyên mục như : teen space18+ Space , Dr Huou các bạn gần như tìm được đầy đủ thông tin về sức khỏe sinh sản của bản thân, sau khi tự tìm tòi, học hỏi nếu chưa thấy tự tin với những kiến thức mình có được các bạn có thể làm bài trắc nghiệm tại mục Iknow :http://www.girlspace.com.vn/iknow , sau khi trắc nghiệm nếu thấy vẫn chưa ổn thì Dr Huou luôn sẵn sàng tư vấn tâm lý tại mục: http://www.girlspace.com.vn/tu-van.

    Ngoài ra để cho việc học tập thêm sôi động và thú vị , girlspace còn tổ chức hàng loạt các hoạt động ngoại khóa khác như :
    Date Khôi If you Can : các bạn sẽ có cơ hội được gặp gỡ , ăn tối, tung tăng dạo phố cùng anh Khôi:http://girlspace.com.vn/live/datekhoiifyoucan

    Vạch lá tìm HƯƠU – Trổ tài tư vấn, Giật giải cực Kul!!

    Trong ngày 20-10 và quốc tế phụ nữ 8-3 Kotex sẽ có hàng loạt các chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Thời điểm này là lúc Kotex có thể tập trung cho các mục tiêu mới làm nên tảng cho giai đoạn phát triển mới cao hơn, bền vững hơn.

    Nối tiếp thành công của các chương trình giáo dục giới tính những năm trước, bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11/2009, Công ty Kimberly Clark, nhãn hàng Kotex S-tyle khởi động hành trình giáo dục giới tính xuyên Việt với chủ đề “Mình tự tin vì mình hiểu, vì mình sẵn sàng chia sẻ”. Năm 2009 chương trình sẽ đến với 130 trường trung học cơ sở thuộc 18 tỉnh thành trong cả nước bao gồm: Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Đồng Nai, Bình Dương, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Định, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Tây.

    Chương trình giáo dục giới tính năm 2009 sẽ tập trung cung cấp cho các nữ sinh những hiểu biết đúng đắn về sự phát triển của cơ thể, giải mã những ngộ nhận, tưởng tượng trong các bạn gái trẻ về chính cơ thể mình để từ đó các bạn sẽ không còn hoang mang, lo lắng trước những biến đổi cơ thể trong giai đoạn dậy thì và tự tin hơn trong cuộc sống. Đặc biệt hơn, những kiến thức thường được xem là “rất nhạy cảm” này sẽ được truyền cho các em bằng một chương trình học thú vị, sinh động do các chuyên gia tâm lý giàu kinh nghiệm như Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, cô Lý Thị Mai… đảm nhiệm.

    Một điểm nổi bật và mang đậm tính nhân văn của chương “Mình tự tin – vì mình hiểu, vì mình sẵn sàng chia sẻ” năm nay chính là vai trò tích cực của các bạn nữ sinh khi chung tay cùng nhãn hàng Kotex để chia sẻ thông tin đúng đến các bạn nữ khác. Với hình thức mỗi nữ sinh khi tham gia chương trình sẽ gửi cho Kotex S-tyle một lời đề nghị, Kotex S-tyle sẽ chia sẻ những kiến thức đúng đến một người bạn nữ của họ. Bằng hình thức này, những thông điệp đúng sẽ ngày càng nhân rộng, những ngộ nhận, những thông tin sai lệch sẽ bị xóa bỏ dần để mỗi bạn gái trẻ hiểu biết đúng về bản thân mình hơn, từ đó sẽ chăm sóc mình tốt hơn và tự tin hơn trong cuộc sống.

    Điều đặc biệt hơn nữa của chương trình năm nay chính là sự tham gia chia sẻ kinh nghiệm thực tế của ca sĩ trẻ Thanh Ngọc, một thần tượng âm nhạc của teen và là đại sứ của chương trình giáo dục giới tính năm 2009.

    Thông tin thêm về chương trình giáo dục giới tính tuổi dậy thì: 12 đến 15 tuổi (tuổi dậy thì) là thời diểm xuất hiện hàng loạt những thay đổi và biến chuyển về cấu tạo cơ thể, tâm sinh lý đối với nữ sinh để các em từ một bé gái trở thành một thiếu nữ. Theo một khảo sát được thực hiện bởi Kotex trong tháng 4/2009 cho thấy rằng, trong giai đoạn này, các bạn gái trẻ có nhu cầu rất lớn về việc tìm hiểu về những thay đổi trong cơ thể mình, tuy nhiên, các bạn lại cảm thấy e ngại, không biết hỏi ai và đã có rất nhiều tưởng tượng, ngộ nhận sai lầm về sự phát triển của cơ thể. Và hậu quả là, không ít các bạn gái cảm thấy bối rối, mất tự tin, thậm chí là lo sợ trước những thay đổi của bản thân.

    Là một nhãn hàng luôn thấu hiểu và gắn bó với tuổi teen, Kotex S-tyle mong muốn giúp các bạn gái mới lớn có cách nhìn nhận và hiểu biết đúng đắn về cơ thể mình, để từ đó các bạn sẽ tự tin với chính mình và tự tin hơn khi chia sẻ thông tin đúng đắn cho các bạn khác. Do vậy, chương trình giáo dục giới tính 2009 với chủ đề: “Mình tự tin – vì mình hiểu, vì mình sẵn sàng chia sẻ” với sự thay đổi rất nhiều về nội dung và hình thức tổ chức, hứa hẹn sẽ là một chương trình bổ ích và lý thú cho các bạn tuổi mới lớn trên khắp cả nước.

    Song song với việc giáo dục, cung cấp những kiến thức và hiểu biết đúng đắn về những thay đổi ở lứa tuổi dậy thì, chương trình năm nay còn phát tặng và hướng dẫn sử dụng các sản phẩm Kotex S-tyle cho nữ sinh tại 390 trường trung học cơ sở với số lượng lên đến 210.000 mẫu.

    Kotex luôn phấn đấu trở thành công ty sáng tạo hàng đầu và mang lại cho khách hàng lợi ích cốt lõi. Tất cả các hoạt động trên chứng tỏ kotex đang dần làm mới thương hiệu của mình, thu hút được sự quan tâm của khách hàng và chủ yếu là giới trẻ.

    Chương III: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

    3.1. Một số kiến nghị.

    Doanh nghiệp có cần phải đổi mới sản phẩm khi đổi mới thương hiệu không? Và ngược lại, nếu chúng ta làm mới sản phẩm thì có nhất thiết phải đổi mới hình ảnh thương hiệu không?

    Tùy theo từng mục tiêu chiến lược của từng chương trình tái định vị mà chúng ta quyết định có phải thay đổi sản phẩm hay không.Chúng ta có thể không thay đổi sản phẩm, nếu chiến lược của chúng ta chỉ đơn giản là tạo một cảm xúc mới lạ thông qua thông điệp truyền thông bằng hình ảnh mới. Nhưng, nếu sản phẩm hiện tại của chúng ta không tốt, điều này được người tiêu dùng cảm nhận được thì dù hình ảnh thương hiệu có làm mới đẹp đến mấy thì cũng vô nghĩa. Việc chúng ta tái định vị mà chỉ thực hiện bằng việc thay đổi thông điệp truyền thông, hệ thống nhận diện không thôi thì chỉ là một cách thể hiện lời hứa của doanh nghiệp. Còn khi người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm. dịch vụ của chúng ta họ có hài lòng hay không điều đó thể hiện là việc làm của chúng ta có đúng lời hứa hay không.Do vậy thông thường đi kèm với việc tái định vị thương hiệu xem xét tính năng, lợi ích của sản phẩm nhằm cải tiến để sản phẩm doanh nghiệp tốt hơn có nhiều giá trị tăng thêm cho khách hàng. Ngược lại cũng tương tự, khi chúng ta có sản phẩm mới hoàn toàn, nếu đây là sản phẩm chính duy nhất và doanh nghiệp từ bỏ sản phẩm cũ thì việc tái định vị là cần thiết. Nhưng nếu chúng ta có thêm một sản phẩm mới trong một list các sản phẩm có sẵn, sản phẩm này chỉ bổ sung một giá trị nào đó không lớn thì chúng ta cũng không nhất thiết phải tái định vị lại thương hiệu. Vì chúng ta phải hiểu rằng tái định vị thương hiệu có hai mặt của nó: có cả tích cực và không tích cực.Tóm lại, phải xem lại mục tiêu của tái định vị, xác định nhu cầu mới của khách hàng sau khi tái định vị (khách hàng cũ và mới) để quyết định vnhững vấn đề liên quan đến sản phẩm.

    Những hiệu quả và những hiệu ứng mà việc tái định vị thương hiệu có thể đem lại

    Nếu doanh nghiệp có nghiên cứu chu đáo trong quá trình thực hiện tái định vị thì hiệu quả mang lại rất lớn. Doanh nghiệp sẽ làm hài lòng khách hàng về những hình ảnh cảm nhận. Khách hàng sẽ nghĩ rằng doanh nghiệp rất quan tâm đến họ. Đáp ứng được nhu cầu mong đợi của khách hàng. Doanh nghiệp sẽ có được một lượng khách hàng mới thông qua việc tái định vị thương hiệu: nhiều khách hàng trước đây chưa hiểu, chưa thích thì bây giờ lại thích thú khi doanh nghiệp tái định vị. à Thị phần có thể sẽ tăng lên. Ngăn ngừa việc thâm nhập vào tâm trí khách hàng của đối thủ cạnh tranh, nếu việc định vị thực hiện tốt thì chúng ta sẽ lấy được trái tim khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Thể hiện sức mạnh đổi mới và sức sống mãnh liệt của thương hiệu,….Tuy nhiên, việc tái định vị phải được cân nhắc thật kỹ lưỡng. Nếu chúng ta làm không tốt thì có thể có nhiều rủi ro xảy ra:

    (1) Mất khách hàng trung thành, khách hàng cũ.

    (2) Chi phí tăng cao. Nếu không đủ ngân sách cho vị thay đổi sẽ rất nguy hiểm làm cho hình ảnh cũ và mới sẽ bị tranh chấp, không rõ ràng, thiếu nhất quán,…

    Cần phải làm thế nào để thoát ra khỏi cái bóng của thương hiệu cũ khi chúng ta tái định vị thương hiệu, nhất là đối với những thương hiệu đã có một số khách hàng trung thành nhất định?

    Đây là vấn đề mà rất nhiều doanh nghiệp quan tâm, để thoát khỏi cái bóng cũ không tốt đè nặng thì yêu cầu doanh nghiệp không tái định vị nửa vời, nghĩa là:

    (1) Phải thực hiện tái định vị một cách triệt để. Thay đổi toàn bộ nhận diện cũ sang nhận diện mới. Việc này cần thực hiện nhanh chóng và hợp lý. Đương nhiên trong quá trình thực hiện phải xét đến yếu tố kế thừa của thương hiệu.

    (2) Bắt đầu bằng một hệ thống nhận diện thương hiệu mới được thiết kế kỹ lưỡng, công phu để thể hiện sự nhất quán mới.

    (3) Để trung hòa được khách hàng mới và cũ, đặc biệt là nhóm khách hàng trung thành thì trước khi thực hiện phân tích thật kỹ những giống và khác nhau giữa những nhóm khách hàng này để quyết định chi tiết cho chương trình tái định vị.

    3.2 Kết luận.

    Qua việc thực hiện đề tài nhóm G7 đã cố gắng hiểu và mang đến cho bạn đọc một cái nhìn chi tiết nhất về quản trị thương hiệu. Và đặc biệt là lý thuyết “tái định vị thương hiệu”, các bước để thực hiện tái định vị thương hiệu một cách tốt nhất. Đề tài do nhóm thực hiện ít nhiều có những thiếu xót, mong Thầy và các bạn đóng góp ý kiến để nhóm thực hiện hoàn thiện hơn.