Category: Ôn thi

  • Đề thi thử THPT Quốc gia lần 2 (năm học 2014-2015) môn Vật lý – Mã đề 132

    Đề thi thử THPT Quốc gia lần 2 (năm học 2014-2015) môn Vật lý – Mã đề 132

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề thi thử kì thi THPT quốc gia năm 2015 có đáp án môn Vật lí – Trường THPT Hàn Thuyên (Mã đề thi 132)


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi thử THPT Quốc gia lần 2 (năm học 2014-2015) môn Vật lý – Mã đề 132

    Đề thi thử THPT Quốc gia lần 2 (năm học 2014-2015) môn Vật lý

     Mã đề 132

    Câu 1: (ID.89297) Xét về tác dụng tỏa nhiệt trong một thời gian dài dòng điện nào sau đây tương đương với

    một dòng điện  không đổi có cường độ I = 2 I0? 2 cos(ωt + φ).
    A. i=2I0 cos(ωt+φ). B. i=I0
    C. i=   2 I0 cos(ωt + φ). D. i=I0 cos(ωt + φ).

    Câu 2: (ID.89298) Một vật thực hiên đồng thời hai dao động điều hòa cùng phương có các phương trình sau:

    (li độ x tính bằng cm, thời gian t tính bằng giây s)  x1 = 12cos(20πt + π/3) và x2 = 16cos(20πt + j2). Biên độ

    của dao động tổng hợp A = 20 (cm). Pha ban đầu j2 là:

    1. j2 = π/2. B. j2 = -π/2. C. j2 = π/6                            D. j2 = – π/6.

    Câu 3: (ID.89305) Một máy phát điện xoay chiều 1 pha gồm 4 cặp cực từ, muốn  dòng điện xoay chiều mà

    máy phát ra là 50Hz thì roto phải quay với tốc độ là bao nhiêu?

    1. 1500v/phút B. 500v/phút C. 750v/phút                        D. 12,5v/phút

    Câu 4: (ID.89306) Hai con lắc đơn có chiều dài và kích thước các quả nặng như nhau nhưng một con lắc làm bằng gỗ và một con lắc làm bằng kim loại chì. Cho hai con lắc dao động cùng lúc và cùng li độ cực đại trong không khí thì con lắc nào sẽ dừng lại trước?

    1. Không xác định được. B. Con lắc bằng chì.
    2. Cả hai dừng lại cùng lúc. D. Con lắc bằng gỗ.

    Câu 5: (ID.89307) Phát biểu nào sau đây về đại lượng đặc trưng của sóng cơ học là không đúng? A. Bước sóng là quãng đường mà sóng truyền được trong một chu kỳ.

    1. Tần số của sóng chính bằng tần số dao động của các phần từ dao động môi trường.
    2. Chu kỳ của sóng chính bằng chu kỳ dao động của các phần tử môi trường.
    3. Tốc độ của sóng chính bằng tốc độ độ dao động của các phần từ dao động.

    Câu 6: (ID.89308) Con lắc lò xo gồm lò xo k và vật m, dao động điều hòa với chu kì T=1s. Muốn tần số dao

    động của con lắc là f’= 0,5Hz thì khối lượng của vật m phải là

    1. m’= 3m B. m’= 4m C. m’= 5m                             D. m’= 2m

    Câu 7: (ID.89309) Một chất điểm dao động điều hòa với chu kì T. Khoảng thời gian trong một chu kì để vật

    có tốc độ nhỏ hơn 3 tốc độ cực đại là
    2
    A. T/6 B. 2T/3 C. T/12 D. T/3
    Câu 8: (ID.89310) Một mạch dao động gồm một cuộn cảm thuần có độ tự cảm xác định và một tụ điện

    là tụ xoay, có điện dung thay đổi được theo quy luật hàm số bậc nhất của góc xoay α của bản linh động. Khi α = 00, chu kỳ dao động riêng của mạch là T1 (s). Khi α = 600, chu kỳ dao động riêng của mạch là

    2T1  (s). Để mạch này có chu kỳ dao động riêng là 1,5T1 thì α bằng
    A. 350 B. 450 C. 250 D. 300

    Câu 9: (ID.89311) Cho đoạn mạch điện xoay chiều gồm cuộn dây mắc nối tiếp với tụ điện. Độ lệch pha của hiệu điện thế giữa hai đầu cuộn dây so với cường độ dòng điện trong mạch là p3 . Hiệu điện thế hiệu dụng giữa

    hai đầu tụ điện bằng 3 lần hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu cuộn dây. Độ lệch pha của hiệu điện thế giữa hai đầu cuộn dây so với hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch trên là

    A. 0. B. p . C. p . D. 2p .
    3 2 3
    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 1

    Câu 10: (ID.89312) Trong thí nghiệm Young về giao thoa ánh sáng, khoảng cách giữa hai khe là a = 2 mm, khoảng cách từ hai khe đến màn quan sát là D = 1,5 m. Nguồn sáng đơn sắc có bước sóng l = 0,6 mm. Xét trên khoảng MN trên màn, với MO = 5 mm, ON = 10 mm, (O là vị trí vân sáng trung tâm giữa M và N). Hỏi trên MN có bao nhiêu vân sáng, bao nhiêu vân tối?

    1. 33 vân sáng 34 vân tối B. 22 vân sáng 11 vân tối C. 34 vân sáng 33 vân tối D. 11 vân sáng 22 vân tối

    Câu 11 (ID.89314) Một con lắc lò xo có độ cứng k = 10N/m, khối lượng vật nặng m = 100g, dao động trên mặt phẳng ngang, được thả nhẹ từ vị trí lò xo giãn 6cm so với vị trí cân bằng. Hệ số ma sát trượt giữa con lắc và mặt bàn bằng μ = 0,2. Thời gian chuyển động thẳng của vật m từ lúc ban đầu đến vị trí lò xo không biến dạng là:

    A. p (s).. B. p (s). C. p (s). D. p (s).
    20 30 15
    25 5

    Câu 12: (ID.89315) Chu kì dao động của vật là

    1. khoảng thời gian giữa hai lần liên tiếp vật đạt li độ cực đại.
    1. khoảng thời gian ngắn nhất để độ lớn tốc độ trở về giá trị ban đầu.
    2. khoảng thời gian ngắn nhất sau đó vật lập lại trạng thái dao động như cũ.
    1. khoảng thời gian ngắn nhất để vật trở lại vị trí ban đầu.

    Câu 13: (ID.89316) Phát biểu nào sau đấy đúng đối với máy phát điện xoay chiều?

    1. Cơ năng cung cấp cho máy được biến đổi hoàn toàn thành điện năng.
    2. Tần số của suất điện động phụ thuộc vào số cặp cực của nam châm.
    3. Tần số của suất điện động phụ thuộc vào số vòng dây của phần ứng.
    4. Tần số của suất điện động không phụ thuộc vào tốc độ quay của roto.
    10 -4
    Câu 14: (ID.89317) Cho đoạn mạch như hình vẽ, biết u = 100  2 cos(100pt)V , C = F . Hộp kín X chỉ
    p

    chứa một phần tử (R hoặc cuộn dây thuần cảm), dòng điện trong mạch sớm pha p/3 so với điện áp giữa hai đầu đoạn mạch AB. Hộp X chứa gì ? điện trở hoặc cảm kháng có giá trị bao nhiêu?

    A. Chứa L;  ZL = 100 3 W B. Chứa R; R = 100/ 3 W
    C. Chứa R; R = 100 3 W D. Chứa L; ZL = 100/ 3 W

    Câu 15: (ID.89318) Một mạch dao động điện từ LC, có điện trở thuần không đáng kể. Điện áp giữa hai bản tụ biến thiên điều hòa theo thời gian với tần số f. Phát biểu nào sau đây là sai?

    1. Năng lượng điện từ bằng năng lượng từ trường cực đại.
    2. Năng lượng điện từ biến thiên tuần hoàn với tần số f.
    3. Năng lượng điện từ bằng năng lượng điện trường cực đại.
    4. Năng lượng điện trường biến thiên tuần hoàn với tần số 2f.

    Câu 16: (ID.89320) Trong một mạch dao động điện từ LC, điện tích của một bản tụ biến thiên theo hàm số q

    • qocosw Khi năng lượng điện trường bằng năng lượng từ trường thì điện tích của các bản tụ có độ lớn là
    A. q o . B. q o . C. q o . D. q o .
    2 4
    2 2 2

    Câu 17: (ID.89321) Một con lắc lò xo dao động điều hòa theo phương thẳng đứng, khi con lắc ở vị trí cân bằng lò xo dãn 9cm, thời gian con lắc bị nén trong 1 chu kỳ là 0,1s. Lấy g = 10m/s2 . Biên độ dao động của vật là:

    1. 6 3 cm B. 9cm C. 8cm                                    D. 4,5cm

    Câu 18: (ID.89322) Trong thí nghiệm Y-âng về giao thoa ánh sáng, hai khe được chiếu bằng ánh sáng đơn sắc l , màn quan sát cách mặt phẳng hai khe một khoảng không đổi D, khoảng cách giữa hai khe có thể thay đổi (nhưng S1 và S2 luôn cách đều S). Xét điểm M trên màn, lúc đầu là vân sáng bậc 4, nếu lần lượt giảm hoặc tăng khoảng cách S1S2 một lượng Da thì tại đó là vân sáng bậc k và bậc 3k. Nếu tăng khoảng cách S1S2 thêm 2Da thì tại M là:

    1. vân sáng bậc 7. B. vân sáng bậc 9. C. vân sáng bậc 8.            D. vân tối thứ 9 .
    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 2

    Câu 19: (ID.89323) Khi nói về dao động cưỡng bức đã ổn định, phát biểu nào sau đây là đúng? A. Biên độ của dao động cưỡng bức là biên độ của lực cưỡng bức.

    1. Dao động cưỡng bức có tần số nhỏ hơn tần số của lực cưỡng bức.
    2. Dao động cưỡng bức có biên độ không đổi và có tần số bằng tần số của lực cưỡng bức.
    3. Dao động của con lắc đồng hồ là dao động cưỡng bức.

    Câu 20: (ID.89324) Ba điểm A,B,C trên mặt nước là 3 đỉnh của 1 tam giác vuông và vuông ở A, trong đó A và B là 2 nguồn sóng nước giống nhau và cách nhau 2cm. Khoảng cách ngắn nhất giữa 2 đường cực đại giao thoa là 0,5cm. Để có đường cực tiểu giao thoa đi qua C thì khoảng cách AC phải bằng

    1. 2,75cm hoặc 0,58cm. B. 3,25cm hoặc 0,48cm.
    2. 3,75cm hoặc 0,68cm D. 3,75cm hoặc 0,58cm

    Câu 21: (ID.89326) Cho mạch điện xoay chiều R,L,C nói tiếp. Điện dung C có giá trị thay đổi được và cuộn

    dây thuần cảm. Điều chỉnh giá trị của C thì thấy: ở cùng thời điểm UR cực đại thì bằng 2 lần UC.Hỏi khi UC cực đại thì UCmax bằng mấy lần UR

    1. 22 lần B. 2,5 lần. C. 2 lần.                                  D. 1,5 lần.

    Câu 22: (ID.89327) Một đoạn mạch xoay chiều gồm 3 phần tử mắc nối tiếp: điện trở thuần R, cuộn dây có (L;

    1. và tụ điện có điện dung C. Đặt vào hai đầu đoạn mạch một điện áp xoay chiều, khi đó điện áp tức thời ở hai đầu cuộn dây và hai đầu tụ điện lần lượt là: ud = 80 6 cos(ωt + π6 ) V, uC = 40 2 cos(ωt – 23π ) V, điện áp

    hiệu dụng ở hai đầu điện trở là UR = 60 3 V. Hệ số công suất của đoạn mạch trên là

    1. 0,753. B. 0,862. C. 0,664.                                D. 0,908.

    Câu 23: (ID.89329) Phát biểu nào dưới đây về ánh sáng đơn sắc là đúng?

    1. Đối với ánh sáng đơn sắc, góc lệch của tia sáng đối với các lăng kính khác nhau đều có cùng giá trị
    2. Đối với các môi trường khác nhau ánh sáng đơn sắc luôn có cùng bước sóng
    3. Ánh sáng đơn sắc là ánh sáng có tần số hoàn toàn xác định.
    4. Ánh sáng đơn sắc là ánh sáng không bị lệch đường truyền khi đi qua lăng kính

    Câu 24: (ID.89331) Trong thí nghiệm giao thoa Y-âng, khoảng cách giữa hai khe là 0,9 mm, khoảng cách từ mặt phẳng hai khe đến màn là 1 m. Khe S được chiếu bằng ánh sáng trắng có bước sóng 0, 38 m m £ l £ 0, 76mm . Bức xạ đơn sắc nào sau đây không cho vân sáng tại điểm cách vân trung tâm 3 mm?

    1. l = 0, 675mm B. l = 0, 65mm . C. l = 0, 45mm .                  D. l = 0, 54mm .

    Câu 25: (89333)  Điện áp hiệu dụng ở hai đầu điện trở, hai đầu cuộn cảm thuần và hai đầu tụ điện lần lượt là

    30  2 V , 60 2 V và 90  2 V . Khi điện áp tức thời ở hai đầu điện trở là 30V thì điện áp tức thời ở hai đầu
    mạch là
    A. 90V B. 60V C. 81,96V D. 2,43V

    Câu 26: (ID.89334 ) ) Tại mặt chất lỏng có hai nguồn sóng A và B cách nhau 12 cm dao động theo phương thẳng

    đứng với phương trình:  u1 = u2 =acos 40pt (cm) , tốc độ truyền sóng trên mặt chất lỏng là  20cm / s . Xét đoạn thẳng

    CD = 6cm trên mặt chất lỏng có chung đường trung trực với AB. Để trên đoạn CD chỉ có 5 điểm dao động với biên độ

    cực đại thì khoảng cách lớn nhất từ CD đến AB là bao nhiêu?

    1. 71,5 B. 65,3 C. 24,52                                              D. 16,73

    Câu 27: (ID.89335) Nếu nối hai đầu đoạn mạch gồm cuộn cảm thuần L mắc nối tiếp với điện trở thuần R = 1

    • vào hai cực của nguồn điện một chiều có suất điện động không đổi và điện trở trong r thì trong mạch có dòng điện không đổi cường độ I. Dùng nguồn điện này để nạp điện cho một tụ điện có điện dung C = 2.10-6 Khi điện tích trên tụ điện đạt giá trị cực đại, ngắt tụ điện khỏi nguồn rồi nối tụ điện với cuộn cảm thuần L thành một mạch dạo động thì trong mạch có dao động điện từ tự do với chu kì bằng π.10-6 s và cường độ dòng điện cực đại bằng 8I. Giá trị của r bằng:
    1. 0,5 Ω B. 2,5 Ω C. 2 Ω                                     D. 1 Ω

    Câu 28: (ID.89336) Chọn câu sai: Khi truyền từ không khí vào nước thì

    1. năng lượng của sóng âm và sóng ánh sáng đều bị giảm.
    2. bước sóng của sóng âm giảm còn bước sóng của ánh sáng tăng.
    3. sóng âm và ánh sáng đều bị phản xạ tại mặt phân cách giữa không khí và nước.
    4. tần số và chu kỳ của sóng âm và sóng ánh sáng đều không đổi.

    Câu 29: (ID.89337) Khi mắc tụ điện có điện dung C1 với cuộn cảm L thì mạch thu được sóng có bước sóng λ1= 60 m; khi mắc tụ điện có điện dung C2 với cuộn L thì mạch thu được sóng có bước sóng λ2= 80 m. Khi mắc nối tiếp C1 và C2 với cuộn L thì mạch thu được sóng có bước sóng là

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 3
    1. λ= 140 m. B. λ= 70 m. C. λ= 100 m.                       D. λ= 48 m.

    Câu 30: (ID.89338) Đặt điện áp u = U 2 cos wt vào hai đầu một tụ điện thì cường độ dòng điện qua nó có giá trị hiệu dụng là I. Tại thời điểm t, điện áp ở hai đầu tụ điện là u và cường độ dòng điện qua nó là i. Hệ thức liên hệ giữa các đại lượng là

    u 2 + i 2 = 1 u 2 + i 2 = u 2 + i 2 = 2 u 2 + i 2 = 2
    A. B. 2 C. D.
    U 2 I2 U 2 I2 U 2 I2 U 2 I2
    0 0

    Câu 31: (ID.89339) Một nguồn điểm O phát sóng âm có công suất không đổi trong một môi trường truyền âm đẳng hướng và không hấp thụ âm. Mức cường độ âm tại vị trí cách nguồn âm r = 10m là L= 70dB. Biết cường

    độ âm chuẩn I0 = 10-12 W/m2. Công suất của nguồn âm là
    A. 1,256 mW. B. 3,14 mW. C. 6,28 mW. D. 12,57 mW.
    Câu 32: (ID.89340) Một con lắc lò xo nằm ngang có độ cứng k = 40( N / m) , vật nhỏ khối lượng m =100( g) ,

    hệ số ma sát trượt giữa vật và mặt bàn là m = 0,1 . Lấy g =10( m / s2 ) Ban đầu giữ vật sao cho lò xo bị nén 10(cm)

    rồi thả nhẹ. Tốc độ của vật lúc gia tốc của nó đổi chiều lần thứ 4 là:
    A. 2m/s B. 1,85m/s C. 1,65m/s D. 0

    Câu 33: (ID.89341) Một vật khối lượng m dao động điều hoà với chu kì T = 1s. Khi đi qua vị trí cân bằng, vật có vận tốc là v = 0,628m/s. Chọn gốc thời gian tại thời điểm vật qua vị trí có li độ x = -5cm theo chiều dương. Thời điểm thế năng bằng động năng là:

    A. t = k 11 (s) Với k = 1; 2; .. B. t = 5 + k (s) Với k = 0; 1; 2; ..
    2 24 24 4
    C. t = k 11 (s) Với k = 1; 2; .. D. t = 5 + k (s) Với k = 0; 1; 2; ..
    4 24 24 2

    Câu 34: (ID.89342) Một mạch dao động điện từ LC gồm tụ điện có điện dung C và cuộn dây thuần cảm có độ tự cảm L. Biết dây dẫn có điện trở thuần không đáng kể và trong mạch có dao động điện từ riêng. Gọi q0, U0 lần lượt là điện tích cực đại và điện áp cực đại của tụ điện, I0 là cường độ dòng điện cực đại trong mạch. Biểu thức nào sau đây không phải là biểu thức tính năng lượng điện từ trong mạch ?

    1 CU 2 . q 2 1 LI 2 . q 2
    A. W = B. W = 0 . C. W = D. W = 0 .
    2 0 2L 2 0 2C
    Câu 35: (ID.89343) Suất điện động xoay chiều được tạo ra bằng cách:
    A. Cho khung dây dẫn chuyển động tịnh tiến trong từ trường đều.
    B. Làm cho khung dây dẫn dao động điều hòa trong mặt phẳng nằm trong từ trường đều.
    C. Làm cho từ thông qua một khung dây dẫn biến thiên điều hòa.
    D. Cho khung dây dẫn quay đều quanh một trục.
    Đặt điện áp xoay chiều u = 100 coswt (có w thay đổi được trên đoạn [50 p ;100p ] )
    Câu 36: (ID.89344) 2
    vào hai đầu đoạn mạch có R, L, C mắc nối tiếp. Cho biết R = 100 W , L = 1 (H); C = 104 (F). Điện áp hiệu
    p p
    dụng giữa hai đầu tụ điện C có giá trị lớn nhất và nhỏ nhất tương ứng là
    200 3
    A. 200V; 100V. B. V; 100V. C. 200V; 100 3 V. D. 100 3 V; 100V.
    3

    Câu 37: (ID.89345) Một tên lửa bắt đầu bay lên theo phương thẳng đứng với gia tốc a = 3g. Trong tên lửa có treo một con lắc đơn dài l = 1 m, khi bắt đầu bay thì đồng thời kích thích cho con lắc thực hiện dao động nhỏ.

    Bỏ qua sự thay đổi gia tốc rơi tự do theo độ cao. Lấy  g = 10m / s2 ; p 2  »10.  Đến khi đạt độ cao h =1500 m  thì

    con lắc đã thực hiện được số dao động là:

    1. 20. B. 18. C. 10.                                      D. 14.

    Câu 38: (ID.89346)  Máy phát điện xoay chiều 3 pha mắc theo hình sao có điện áp pha là 220V, tần số 50Hz

    nối với 3 tải tiêu thụ mắc đối xứng theo hình tam giác. Mỗi tải tiêu thụ gồm một điện trở thuần R = 30 W , nối tiếp với cuộn dây thuần cảm có L = 0,4/ p (H). Công suất tiêu thụ của toàn mạch là

    1. 5226W B. 1742W C. 3625W                             D. 4750W

    Câu 39: (ID.89347) Con lắc gồm lò xo có độ cứng k = 100N/m ; vật nặng có khối lượng m = 200g và điện tích q = 100µC. Ban đầu vật dao động điều hòa với biên độ A = 5cm theo phương thẳng đứng . Khi vật đi qua

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 4

    vị trí cân bằng người ta thiết lập một điện trường đều thẳng đứng, hướng lên có cường độ E = 0,12 MV/m.

    Tìm biên dao động lúc sau của vật trong điện trường.
    A. 18cm B. 13cm C. 7cm D. 12,5cm

    Câu 40: (ID.89348) Một sợi dây đàn hồi căng ngang, đang có sóng dừng ổn định. Trên dây, A là một điểm nút, B là một điểm bụng gần A nhất, C là trung điểm của AB, với AB = 10 cm. Biết khoảng thời gian ngắn nhất giữa hai lần mà li độ dao động của phần tử tại B bằng biên độ dao động của phần tử tại C là 0,2 s. Tốc độ truyền sóng trên dây là

    1. 0,5 m/s. B. 1 m/s. C. 2 m/s.                                D. 0,25 m/s.

    Câu 41: (ID.89349) Phát biểu nào sau đây là không đúng? A. Tia X và tia tử ngoại đều có bản chất là sóng điện từ.

    1. Tia X và tia tử ngoại đều có tác dụng mạnh lên kính ảnh.
    2. Tia X và tia tử ngoại đều bị lệch khi đi qua một điện trường mạnh.
    3. Tia X và tia tử ngoại đều kích thích cho một số chất phát quang.

    Câu 42: (ID.89350) Trong thí nghiệm Iâng về giao thoa ánh sáng, khoảng cách giữa hai khe là a = 1,5mm, khoảng cách từ hai khe đến màn là D=1,5m và nguồn sáng phát hai bức xạ có bước sóng λ1 = 480nm và λ2 = 640nm. Kích thước vùng giao thoa trên màn là L = 2cm (chính giữa vùng giao thoa là vân sáng trung tâm). Số vân sáng quan sát được trên

    màn là
    A. 51. B. 61. C. 54. D. 72.
    Câu 43: (ID.89351) Chọn câu trả lời sai. Bước sóng được định nghĩa:
    A. Là quãng đường sóng truyền đi được trong một chu kì.
    1. Cả A, B đều đúng.
    2. Là khoảng cách giữa hai nút sóng gần nhau nhất trong hiện tượng sóng dừng.
    1. Là khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất trên cùng một phương truyền sóng dao động cùng pha. Câu 44: (ID.89352) Một sợi dây đàn hồi được treo thẳng đứng vào một điểm cố định, đầu dưới của dây để tự
    1. Người ta tạo sóng dừng trên dây với tần số bé nhất là f1. Để có sóng dừng trên dây phải tăng tần số tối thiểu đến giá trị f2. Tỉ số f2/f1 là:
    1. 3. B. 2. C. 7.                                         D. 5.

    Câu 45: (ID.89353) Đặt điện áp xoay chiều có trị hiệu dụng U=120V tần số f=50Hz vào hai đầu một bóng đèn huỳnh quang. Biết đèn chỉ sáng lên khi điện áp đặt vào đèn không nhỏ hơn 60 2 V. Thời gian đèn sáng

    trong mỗi phút là:

    1. 40s

    Câu 46: (ID.89354)

    1. 30s C. 20s D. 10s

    Trên mặt nước, cho hai nguồn sóng kết hợp cùng pha S1 và S2 cách nhau 8cm. Về một phía

    của S1S2 lấy thêm hai điểm S3 và S4 sao cho S3S4= 4cm và hợp thành hình thang cân S1S2S3S4. Biết bước sóng λ = 1cm. Hỏi đường cao của hình thang có giá trị lớn nhất là bao nhiêu để trên S3S4 có 5 điểm dao động cực đại ?

    1. 62(cm) . B. 4( cm) . C. 22(cm) .                        D. 35( cm) .

    Câu 47: (ID.89355) Một con lắc đơn gồm vật nhỏ khối lượng m treo vào dây dài ℓ. Từ vị trí cân bằng, kéo con lắc để dây treo lệch góc a 0 nhỏ so với phương thẳng đứng rồi buông nhẹ. Bỏ qua sức cản không khí. Cơ năng của con lắc bằng

    A. mg  a 2 . B. 2mg  a 2 . C. 1 mg a 2 . D. 2mg a 2 .
    0 0 2 0 0
    Câu 48: (ID.89356) Phát biểu nào sau đây là không đúng?
    1. Trong máy quang phổ, lăng kính có tác dụng phân tích chùm ánh sáng phức tạp song song thành các chùm sáng đơn sắc song song.
    1. Trong máy quang phổ, quang phổ của một chùm sáng thu được trong buồng ảnh luôn là một dải sáng có màu cầu vồng.
    1. Trong máy quang phổ, ống chuẩn trực có tác dụng tạo ra chùm tia sáng song song.
    2. Trong máy quang phổ, buồng ảnh nằm ở phía sau lăng kính.

    Câu 49: (ID.89357) Một con lắc đơn có chiều dài l = 64cm treo tại nơi có g= 10m/s2. Dưới tác dụng của ngoại

    lực tuần hoàn có tần số 1,25 Hz, con lắc dao động với biên độ A. Nếu ta tăng tần số của ngoại lực thì:
    A. Biên độ dao động giảm B. Biên độ dao động tăng.
    C. Không thể xác định D.Biên độ dao động không đổi
    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 5

    Câu 50: (ID.89358) Chiếu một chùm tia sáng trắng song song có bề rộng 5cm từ không khí đén mặt khối thủy tinh nằm ngang dưới góc tới 600. Cho chiết suất của thủy tinh đối với tia tím và tia đỏ ần lượt là 3 và 2 thì

    tỉ số giữa bề rộng chùm khúc xạ tím và đỏ trong thủy tinh là:
    A. 1,10 B. 0,91 C. 1,73. D. 1,58.
    ———————————————–
    ———– HẾT ———-

    LỜI GIẢI CHI TIẾT

    Câu 1: Đáp án A.
    Câu 2: Biên độ dao động tổng hợp của vật bằng:
    A2  = A 2 + A 2 + 2 A A .cosDj <=> 20 2 = 12 2  +16 2  + 2.12.16.cosDj
    1 2 1 2

    => cosDj = 0 => Dj = ± p

    2

    =>Đáp án D.

    Câu 3: ta có: f = np => n = 60 f = 60.50 = 750vong / phut
    60 p 4

    =>Đáp án C.

    Câu 4: Đáp án D.

    Câu 5: Đáp án D.

    f =                                                                  1 k

    2p  m

    Câu 6: Ta có:  f ‘ =   1 .   k

    2p  m

    => f = m = 0,5 => m‘ = 4m
    f m

    =>Đáp án B.

    Câu 7: Đáp án B.

    Câu 8: Ta có: Điện dung của tụ là hàm bậc nhất của góc xoay: C = aa + b

    Phạm vị thay đổi: C1 £ C £ C2

    • 1 £ a £ a2

     

    • = a1 => C = C1 => C1 = aa1 + b => C C1 = a(aa1 )

     

    • = a2 => C = C 2 => C 2 = aa2  + b => C 2 – C1 = a(a2  a1 )
    C C1 a a1
    => =
    C 2 – C1 a2   a1
    l2
    Lại có: l = 2p.c. LC => C =
    4p 2 .c 2 .L
    = 2p.
    T1 LC1
    = 2p.c.
    T2 LC2
    Do C tỉ lệ với T 2 T 2  T 2 = a a 1 <=> (1,5T )2 T 2 = a – 0
    nên ta được: 1 1 1
    T 2  T 2 a2  a1 (2T )2 T 2 60 – 0
    2 1 1 1

    => a = 250

    => Đáp án C.

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 6

    Câu 9: Độ lệch pha của hiệu điện thế giữa hai đầu cuộn dây so với cường độ dòng điện trong mạch là p3  =>

    Cuộn dây có điện trở trong r và: tan p3 = Zlr => Zl = r 3

    Hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu tụ điện bằng 3 lần hiệu điện thế hiệu dụng giữa hai đầu cuộn dây =>

    Uc = 3U d  <=> Zc = 3.r 2  + Zl 2  <=> Zc = 23r

    =>Độ lệch pha giữa điện áp hai đầu mạch với cường độ dòng điện là:

    tan j = Zl Zc = – r 3 => j = – p

    r                    r                          3

    =>Độ lệch pha giữa điện áp hai đầu đoạn mạch và điện áp hai đầu cuộn dây là:

    • ‘ = p3j = 23p

     

    =>Đáp án D.

    Câu 10: Ta có: i = laD = 0,45mm.

    Số vân sáng trên đoạn MN là:

    • 5mm £ ki £ 10mm => -11,11 £ k £ 22,2

    =>Có 34 giá trị của k => trên MN có 34 vân sáng.

    Số vân tối trên đoạn MN là:

    • 5mm £ (k ‘+ 12)i £ 10mm => -11,61 £ k ‘ £ 21,7

    =>Có 33 giá trị của k’ => trên MN có 33 vân tối.

    =>Đáp án C.

    Câu 11: Ta có: T = 2p  mk = p5 s

    Lại có: Dx = mmgk = 0,02m = 2cm

    Khi vật bắt đầu dao động VTCB của vật thay đổi cách VTCB cũ của vật 1 đoạn bằng Dx => Thời gian vật đi từ khi bắt đầu dao động đến lúc vị trí lò xo không biến dạng là:

    p

    t = T/4 + T/12 = 15 s

    Câu 12: Đáp án C.

    Câu 13: Đáp án B.

    Câu 14: Ta có: Zc = 1/wC = 100 W

    dòng điện trong mạch sớm pha p/3 so với điện áp giữa hai đầu đoạn mạch AB

    =>Hộp X chưa R và tan – p = Zc => Zc = R => R = 100 W
    3
    3 R
    3

    =>Đáp án B.

    Câu 15: Đáp án B.

    Câu 16: Khi năng lượng điện trường bằng năng lượng từ trường thì ta có:

    Qo2 q 2
    W = 2Wđ ó = 2. =>| q |= Qo  2
    2C 2C 2
    =>Đáp án A.
    Câu 17: Ta có: T = 2p Dl = 0,6s
    g

    Thời gian lò xo bị nén trong 1 chu kỳ là 0,1s = T/6

    =>Vị trí lò xo không biến dạng là: x = A3 / 2 => A = 63 cm =>Đáp án A.

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 7

    Câu 18: Giả sử tại M là vân sáng bậc k’ khi tăng S1S2 thêm 2Da

    4 l D = k l D = 3k l D = k lD
    a a a + Da
    – Da a + 2 Da
    Ta có xM = Þ a = a – Da = a + Da = a + 2 Da
    4 k 3k k

    Þ k = 2; k ‘ =8

    =>Đáp án C.

    Câu 19: Đáp án C.

    Câu 20: Khoảng cách ngắn nhất giữa 2 đường cực đại giao thoa là 0,5cm => l2 = 0,5 => l = 1cm

    Để C nằm trên đường cực tiểu giao thoa thì C phải nằm trên đường cưc tiểu thứ 1 hoặc thứ 2 về phía A.

    *C nằm trên đường cực tiểu thứ nhất ta có:

    d BC  d AC  = l2 = 0,5cm

    d BC 2  d AC 2  = 4cm

    => d AC  = 3,75cm

    *C nằm trên đường cực tiểu thứ 2 ta có:

    d BC  d AC  = 32l = 1,5cm

    d BC 2  d AC 2  = 4cm

    => d AC = 127 cm

    =>Đáp án D.

    Câu 21: ở cùng thời điểm UR cực đại thì bằng 2 lần Uc

    óR = 2Zc =2Zl.

    Do khi điều chỉnh C để U R  cực đại thì trong mạch xảy ra hiện tượng ộng hưởng.

    R 2 + Zl 2
    Khi điều chỉnh C để Ucmax ta có: Zc = = 5Zl = 2,5R
    Zl
    => Uc = 2,5U R
    =>Đáp án B. 5p
    Câu 22: Ta thầy Ud lệch pha so với Uc
    6
    p
    =>Ud lệch pha so với i
    p 3
    => tan = Zl => Zl = r
    3
    3 r
    = 2 Zc => Zc = r
    = 2 Uc <=>  r 2 + Zl 2
    U d 3 3
    3
    Lại có:

    U R  = 34 U d  <=> R = 34 r 2  + Zl 2  => R = 32 r

    Hệ số công suất của đoạn mạch là:

    R + r 3 r + r
    2
    cosj = = = 0,908
    (R + r)2  + (ZlZc)2 3 r + r)2 + (r r )2
    ( 3
    2
    3
    =>Đáp án D.
    Câu 23: Đáp án C.
    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 8
    Cau 24: Ta có: i = lD = l.10 4 m
    a 9
    Tại điểm M cách trung tâm 3cm ta có:
    3.10 3  = ki <=> 3.10 3 l.10 4 2,7
    = k. => k = mm
    l
    9

    => 3,5 £ k £ 7,1

    =>k=4,5,6,7

    *Với k = 4 => l = 0,675mm .

    *Với k = 5 => l = 0,54mm .

    *Với k = 6 => l = 0,45mm .

    *Với k = 7 => l = 0,385mm .

    =>Đáp án B.

    Câu 25: Điện áp hiệu dụng giữa 2 đầu đoạn mạch là: U = U R 2 + (U LU C ) 2 = 60V Độ lệch pha giữa điện áp 2 đầu đoạn mạch và điện á hai đầu điện trở là:

    tan j = Zl Zc = Ul Uc = -1 => j = – p
    R U R 4
    =>Điện áp 2 đầu mạch chậm pha hơn điện áp 2 đầu điện trở 1 góc p
    4

    =>Khi uR = 30V = UoR/2 thì điện áp hai đầu mạch là: u = 81,96V hoặc u = -21,96V =>Đáp án D.

    Câu 26: : Để trên CD chỉ có 5 điểm dao động với biên độ cực đại mà khoảng cách từ CD đến AB là lớn nhất thì C, D phải nằm trên đường cực đại k = ±2 (do trung điểm của CD là một cực đại).

    Bước sóng: l = vf = 2020 = 1cm .

    Gọi khoảng cách từ AB đến CD bằng x.

    Từ hình vẽ ta có:

    ìd 2 = x2 + 9
    2 2
    ï 1 ® d 2 d1 = x + 81 – x + 9 = 2l = 2 ® x = 16, 73cm
    í = x2 + 81
    ïd 2
    î 2
    => Đáp án D.
    Câu 27: ban đầu dòng điện không đổi ta có: I=E/(R+r)
    lúc sau I cực đai: 8I=Io = Qo.ω = C.Uo.2π/T = 2.10^-6.Uo.2π/(π.10^-6) = 4.Uo
    Uo cực đại ở đây = suất điện động E ban đầu nối vào mạch=> 4Uo = 4E
    8I = 4E => I = E/2  => R+r=2 => r = 1 W
    =>Đáp án D.
    Câu 28: Đáp án B.
    Câu 29: Ta có:
    l21
    l1  = 2p.cLC1  => C1 =
    4p 2 .9.1016.L
    l2 2
    l2  = 2p.cLC2  => C2 =
    4p 2 .9.1016.L
    Lại có: l = 2p.c. với
    LC
    l 2 l 2
    C1C2 1 . 2 l1 2 .l2 2 1
    C = = 4p 2 .9.1016.L 4p 2 .9.1016.L = .
    l 2
    C1 + C2 l 2 + l 2 + l 2 4p 2 .9.1016 L
    1 2 1 2
    4p 2 .9.1016.L 4p 2 .9.1016.L
    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 9
    => l = 2p.c. l 2 .l 2 1 l .l 60.80
    LC  = 2p.c =
    1 2 . 1 2 = = = 48m
    l1 + l2 4p 2 .9.1016.L l1 2 + l2 2 60 2  + 80 2
    => Đáp án D.
    Câu 30: Do u và i vuông pha nên tại mọi thời điểm ta có:
    i 2 u 2 i 2 u 2
    ( i ) 2  + ( u ) 2 = 1 <=> + = 1 <=> + = 2
    Io 2I 2 2U 2 I 2
    Uo U 2

    =>Đáp án D.

    Câu 31: tại vị trí cách nguôn âm 10m ta có:

    70 = 10 lg IoI => I = 10 5 W / m2

    Công suất của nguồn âm là: P = I.4pR 2  = 105.4.p.102  = 12,566mW

    =>Đáp án D.

    Câu 32: Do có ma sát nên tại VTCB của vật lực đàn hồi cân bằng với lực ma sát, khi đó lò

    xo biến dạng một đoạn : Dl = mmg = 0, 0025( m) x
    k C 1 O C2
    + Ta thấy có hai VTCB của vật phụ thuộc vào chiều chuyển động của vật, nếu vật đi
    sang phải lúc lò xo nén 2,5mm thì VTCB là bên trái O(vị trí C1), lúc vật đi sang trái mà
    lò xo giãn 2,5mm thì VTCB là bên phải O( vị trí C2)
    + Áp dụng đinh luật bảo toàn năng lượng, ta tính được độ giảm toạ độ cực đại sau
    mỗi lần qua O là hằng số và bằng : Dx = 2mmg = 0, 005( m)
    max k
    • Gia tốc của vật đổi chiều lần thứ 4 ứng với vật đi qua VTCB C2 theo chiều sang trái lần thứ 2, áp dụng định luật bảo toàn năng lượng ta được :
    kA 2 – ( k (Dl)2 + mv42 ) = mmg [A + 2( A – Dxmax ) + 2( A – 2 Dxmax ) + ( A – 3D xmax ) + ( A – 3D xmax  – Dl)] ® v4  =1, 65( m / s)
    2
    2 2

    => Đáp án C.

    Câu 33: Ta có: A = vmax  = vmax .T = 10cm

    w            2p

    Gốc thời gian là lúc vật đi qua vị trí x = -5cm theo chiều dương nên pha ban đầu của vật là:

    jo = – 23p

    Vật đi qua vị trí có động năng bằng thế năng khi x = ± A2 2

    t1  = 5  + k1  s

    =>           24        2

    t2  = 1124 + k22  s

    =>Đáp án D.

    Câu 34: Đáp án B.

    Câu 35: Đáp án C.

    L R 2
    C 2 = 50 p  nhận thấy 50p < wo < 100p
    Câu 36: Khi w thay đổi Ucmax ó wo = 2
    L2
    =>Ucmax = U .Zc = 200  3 V
    R 2 + (ZlZc) 2 3
    Ucmin khi mạch xảy ra hiện tượng cộng hưởng => Ucmin = 100V
    =>Đáp án B.
    Câu 37: Khi tên lửa bay lên với gia tốc a=3g
    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 10
    • con lắc dao động dưới tác dụng của lực quán tính hướng xuống
    • gia tốc hiệu dụng: ghd = g+a= 4g
    Nên chu kì dao động của con lắc là: T = 2p l = 1s
    g hd
    Khi lên đến độ cao 1500m mất thời gian là: t = 2S = 10s
    a
    • Số dao động toàn phần mà con lắc thực hiện được là 10 =>Đáp án C.

    Câu 38: Máy phát điện mắc theo hình sao => U d  = 3U P  = 2203V

    Tải mắc hình tam giác nên:

    U d  = U t  = 2203V .

    Z  =                                                  R        2              +             Zl     2          =    50    W

    Tổng trở của mỗi tải là:

    => I t  = U   Z t    =      22              5                                   3               A

    P = 3I 2 R = 3.( 22  3 )2 .30 = 5227W
    =>Công suất tiêu thụ của mỗi mạch là: 5

    =>Đáp án A.

    Câu 39:

    Vận tốc của vật ở VT cân  bằng O khi chưa có  điện trường :

    v0 = wA = 100 .0,05 = 0,5  5 (m/s)
    0,2
    Khi có điện trường đều thẳng đứng, hướng lên => có thêm lực điện F hướng lên
    tác dụng vào vật làm VTCB mới của vật dời đến vị trí O’. Taị O’ ta có :  E   Fđh F
    Fđh + F = P => k.Dl2 + qE = mg => Dl2 = mg/k – qE/k = Dl1 – x0
    => x0 = qE/k = 0,12m P
    Như vậy khi vật đang ở O vật có vận tốc v0 và li độ x0 nên :
    2 2 v02
    A’  = x0 + w 2   => A’ = 0,13m
    =>Đáp án B.
    Câu 40: Ta có : l / 4 = AB Þ l = 40cm
    Biên độ sóng dừng tại một điểm có dạng :  A = a | si n 2p x |
    bông l

    D                                                                                                                                                                                                                                l              2

    O’   D l 1

    O

    x

    ÞBiên độ sóng tại C là : A = a | sin 2p x abông ví i x = AB = 5cm
    C | = C
    C b ông l 2 2

    Khoảng thời gian ngắn nhất li độ bụng = bằng biên độ tại C ứng với vật đi từ điểm C đến B rồi về C:

    Dt = T + T = 0,2 s Þ T = 0,8s

    8    8

    => v = Tl = 0,40,8m = 0,5(m / s)

    =>Đáp án A.

    Câu 41: Đáp án C.

    l D

    i1  =   1a  = 0,48mm.

    Câu 42: Ta có: i2  = l2aD = 0,64mm.

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 11

    =>i º  = 1,92mm.

    Số vân sáng của 2 bức xạ và vân trùng trong trường giao thoa là:

    • = 2 é L ù +1 = 1 êë2i1 úû
    n 2 = 2 é L ù +1 = 31.
    ê ú
    ë 2it û
    • = 2 é L ù +1 =
      • êë2iº úû

    => số vân sáng quan sát được là

    n’ = 41 + 31 – 11 = 61

    => Đáp án B.

    Câu 43: Đáp án C.

    Câu 44: Do trên dây xuất hiện song dừng với 1 đầu kín 1 đầu tự do => l = (2k +1)v => f = (2k +1)v 4l 4 f

    v

    F min khi k = 0 => f1 = 4l

    Tần số tiếp theo để có thể tạo được song dừng trên dây là khi k =1

    =>f 2= (2.1 +1)v = 3v

    4l              4l

    =>f2/f1 = 3

    =>Đáp án A.

    Câu 45:

    đèn chỉ sáng lên khi điện áp đặt vào đèn không nhỏ hơn 60 2 V = Uo/2 =>thời gian sáng tắt trong 1 chu kỳ là t = T/3 = 1/150s

    =>Thời gian đèn sáng trong 1phut là: t’ = 40s

    =>Đáp án A.

    Câu 46: Để trên S3S4  có 5 điểm dao động cự đại

    thì tại S3,S4 là dao động cực đai thứ hai

    tức là k = ± 2

    d1 = S1S3; d2 = S2S3

    d1 – d2 = 2l = 2 cm (1)
    d1 2 = h2 + 62
    d2 2 = h2 + 22
    d12 – d 2 2 = 32  (2)
    Từ (1) và (2) suy ra
    d1 + d2 = 16 cm => d1 = 9cm
    92  – 62  = 3 = 6,71 cm
    => h = 5

    =>Đáp án D.

    Câu 47: Đáp án C.

    Câu 48: Đáp án B.

    Câu 49: Tần số dao động riêng của con lắc là:

    • = 21p gl = 0,625Hz

    =>Khi tăng tần số ngoại lực lên thì hiệu tần số riêng và tần số ngoại lực càng lớn => Biên độ càng giảm =>Đáp án A.

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 12

    H

    Câu 50: Ta có:

    i = 600  => IJ = IH/cos600 = 10cm

    Lại có: sini = ntsinrt => rt = 300  ; sini = nđsinrđ => rđ = 37,760

    =>Bề rộng chùm khúc xạ tím : JK = IJ.cosit = 8,66 cm

    Bề rộng chùm khúc xạ đỏ : JP = IJ.cosiđ = 7,9 cm

    => JK/JP = 1,1

    =>ĐÁp án A.

    >> Truy cập  http://tuyensinh247.com/ để học Toán-Lý-Hóa- Sinh- Văn- Anh tốt nhất. 13
  • Đề thi thử đại học năm học 2015-2016 môn Toán lần 2 – Trường THPT Yên Thế

    Đề thi chúng tôi học năm học 2015-2016

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các  đề cương đại học  hiện have of  Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống to Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sáu “mục lục” and “bản preview”

    (Từ đó là đề phạt của chúng tôi

    Đề xuất liên kết quan : Đề thi Văn học Đại học và Thiết kế Môn Sinh, A, A1, B và D (Năm 2014) – Trường THPT Hà Nội, Amsterdam


    [toc]

    Phần cuối cùng của chúng tôi đang chờ đợi trong năm 2015-2016

    Đề thi chúng tôi học năm học 2015-2016

    Câu 1 (2,0 điểm).

    Cho chức số y = 

    2 x +1 (1).
    x -1
    a) dữ liệu của chúng tôi và hình ảnh của chúng (1).
    b) Viết ra phần mềm trực tuyến (C), phần thưởng điểm có phần hình  x = 2.

    Câu 2 (1,0 điểm).

    æ x 2 1 ö 7
    a) Tìm addend contained x 5   in khai triển nhị thức Niu-ton of ç ÷ , x ¹ 0.
    è 2 x ø
    1. b) Nhật ký phiên bản 5 2 (5 x ) – 7 log 125 x =
    e æ
    3 + ln x
    Câu 3 ( 1,0 điểm). Tích hợp tôi = ò ç
    x
    1 è
    • 2 ln x ö ÷ dx .

    ø

    Câu 4 (1,0 điểm). Trong phần mềm của chúng tôi

    • x – 4 y – 2 = 0, bài hát BC song song mình, d, ngày, cao BH là x + y + 3 = 0 và trung điểm của AC là M (1; 1). Hạ gục

    Câu 5 (1,0 điểm).

    (

    ) (

    )

    æ

    p ö

    1 + c os2 x cos x -1
    a) = 4 2 sin ç x + ÷ .
    1 + tội lỗi x
    è 4 giờ
    1. Trong kỳ thi THPT quốc gia, An làm việc trong khi học tập. Đề thiọ 50 câu hỏi, câu hỏi có 4 câu dự án, trong đó là một trong những dự án đúng; Câu trả lời, câu, tối, 0,2 điểm. Một câu trả lời và câu hỏi và câu trả lời 45 câu; 5 câu thơ của bạn Một phần của chúng tôi không thể thiếu 9,5 điểm.

    Câu 6 (1,0 điểm). Cho uốn chóp S.ABCD có ABCD là thang thang (BC // AD). Đường che cao SH bằng a , với H là trung điểm của AD, AB = BC = CD = a , AD = 2 a . Phần cứng có thể tạo ra S.ABCD và cách khắc phục hai phần của SB và AD theo a .

    Câu 7 (1,0 điểm). Trong phần mềm của chúng tôi có thể sử dụng ABCD. Phần còn lại là phần mềm của trò chơi điện tử và trò chơi điện tử.

    æ 9 2 ö , K (9; 2) và b
    MNCK là kiểu bình thường. M ç ; ÷
    è 5 5 ø

    Tối ưu hóa 2 xy + 2 = 0 và  xy – 5 = 0, hoành trang của Cồng thiết 4. 4 chiều của bạn, A, B, C, D.

    Câu 8 (1,0 điểm). Bầu bí

    x – 3

    £

    2

    9 – x

    số lượng lớn

    3 x + 1 + x + 3 x

    Câu 9 (1,0 điểm). Cho tất cả các lựa chọn a, b, c thỏa các thứ một  b  c  3. Tối ưu của họ

    P = 2 + 3 abc
    3 + ab + bc + ca 1 + a   1 + b   1+ c )
    ( ) ( ) (

    —– Hốc —–

     

    GẠP ÁN

    Câu Hà nội dung Giáo phái
    1.a ( ) ( )
    TXĐ: D = – ¥; 1 1; +
    (1,0 điểm)
    -3
    y= < 0, x Î D and will hàm số (1) nghịch biến trên from ng spaces determined 0,25
    ( )
    x -1 2
    Tính properly limits and if hai đường tiệm cận,  x = 1 is tiệm cận đụ ng, 0,25
    y = 2 là Quảng Nam ngang
    Lập đúng BBT () 0,25
    Vẽ đồ thị, nhận xét tâm đối Xứng tôi 1; 2
    f (x) = (2x + 1) / (x-1)

    0,25

    1.b Mặt M ( x 0 ; y 0 ) là điểm của ta có  x 0 = 2; y 0 = 5 0,25
    (1,0 điểm) () 0,25
    Phần mềm này có phần trực tuyến là k = y ‘2 = -3
    ( ) 0,25
    Phương Đông trực tuyến là y = -3 x – 2 +5
    Kết nối pt trực tuyến y = -3 x +11 0,25
    Câu 2a æ x 2 ö 7 k æ 1 giờ k ( -1 k C k 0,25
    k = = ) 714-3 k
    (0,5 điểm) Phần cứng trong phần mềm trong phần mềm là: C 7 ç ÷ ç ÷ x
    7- k
    è 2 ø è x ø 2
    Hung x 5  khi 14 – 3 k = 5 k = 3 0,25
    Số một x 5  là – 35 x 5
    16
    Câu 2b Dẹt x > 0. Ta có log 5 2 (5 x ) – 7 log 125 x = 1 (1 + log 5 x ) 2 7 log 5 x – 1 = 0 0,25
    (0,5 điểm)
    3
    1 élog 5 x = 0 é x = 1 0,25
    ê
    Đăng nhập 5 2 x nhật ký 5 x = 0 1 Û ê
    ê x = = =
    3 ë x 3 5
    ê log 5 3
    ë
    KL
    Câu 3 e æ ö e e 0,25
    3 + ln x 3 + ln x
    (1 điểm) Tôi = ò + 2 ln x ÷ dx = ò dx + ò2 ln xdx = J + K
    x x
    1 è ø 1 1
    e e 0,25
    Ta có  K = ò 2ln xdx = 2 x ln x 1 e – ò 2 dx = 2 x ln x 1 đ – 2 x 1 đ = 2
    1 1
    dx 0,25
    Mít t = 3 + ln x Þ t 2   = 3 + ln x Þ 2 tdt =
    x
    2 2 16 – 6 0,25
    2 3
    Khí dung  J = ò 2 t 2 dt = t 3 = = .
    3
    3
    3 3
    22 – 6
    Phần mềm I = 3
    3
    Câu 4 Ta có  AC ^ BH ; M 1; 1 AC , hiện tại AC: xy = 0. Toạ lòng hạ A 0,25
    (1,0 điểm) ( )
    ì x – 4 y – 2 = 0 æ 2 2 giờ
    is nghiệm of hệ phương trình í y = 0 Þ Một ç ; ÷ .
    î x è 3 3 giờ
    M   1; 1 là điểm của AC AC C æ số 8 ; 8 giờ
    ÷
    ( ) ç 3
    è 3 giờ 0,25
    (
    Vì BC // d x – 4 y + 8 = 0. Suy ra BH Ç BC = B -4; 1 0,25
    )
    Váy Một æ 2 ; 2 ö , B ( -4; 1 , C æ số 8 ; số 8 ö 0,25
    ç 3 3 ÷ ) ç 3 ÷
    è ø è 3 giờ
    Câu 5a 1 + c os2 x ) ( cos x -1 æ p ö 0,25
    (0,5 điểm)    Cung cấp sin sin x ¹ -1. ( ) = 4 +
    2 sin ç x ÷
    1 + tội lỗi x
    è 4 giờ
    • 2 cos 2 x (cos x -1) = 4 ( sin x + cos x ) 1 + sin x
    ( ) ( ) ( ) 0,25
    Û 1 – tội lỗi x cos x – 1 = 2 sin x + cos x Û sin x + cos x + sin x cos x + 1 = 0
    Û ( ) ( cos x ) = 0 Û cos x = -1 Û x = p + k 2 p , k Î Z   (Vì tội lỗi x ¹ -1)
    tội lỗi x + 1 + 1
    KL.
    Câu 5b Bạn không phải là 9,5 điểm khi và trên mạng. 0,25
    (0,5 điểm Một câu trả lời đúng ít nhất 3 câu.
    Một phần của chúng tôi là 0,25; Trả lời sai là 0,75
    Cẩn trọng, trả lời, đúng 3 trên 5 câu là C 5 3 (0, 25) 3 (0, 75) 2 0,25
    Cẩn trọng, trả lời, đúng 4 trên 5 câu là C 5 4 (0, 25) 4 (0, 75)
    Câu trả lời Câu trả lời đúng 5 câu là (0, 25) 5
    Phần mềm của chúng tôi được gọi là 9,5 là
    C 5 3 (0, 25) 3 (0, 75) 2 + C 5 4 (0, 25) 4 (0, 75) + (0, 25) 5 = 0,104
    Câu 6 Đường con cao BK của thang thang ABCD, ta có 0,25
    (1,0 điểm)
    một 3
    BK =   AB 2AK 2 = =
    2
    AD + BC 3 a 2
    Gạc ghi ABCD là S ABCD  = . BK = 3
    2 4
    3 0,25
    Sáng tạo ra chóp S.ABCD là V = 1 SH . S ABCD   = một 3
    4
    3
    Lôi I là trung điểm của BC, con 0,25
    BC ^ SHBC ^ HI vinh BC ^ HJ . Từ tính HJ ^ ( SBC )
    Khói d ( AD , SB ) = d ( AD , ( SBC )) = d ( H , ( SBC )) = HJ
    Áp dụng của họ 0,25
    a . một  3
    SH . CHÀO = = một  21 . Phần mềm d ( AD , SB ) = một  21
    HJ = = = 2
    SH 2 + HI 2 một 2 + 3 a 2 7 7
    4
    Câu 7 MN là đường trung bình và tam tam HAB suy ra MN // AB và MN = 1 AB 0,25
    (1,0 điểm)
    2
    MNCK là kiểu bình thường của CK // MN; CK = MN = 1 AB = 1 CD  suy ra K là
    2 2
    trung điểm của CD và N là trực tuyến tam BCM, doon CN ^ MB và MK //
    CN MIT MK ^ MB
    36 8 giờ æ 9 số 8 ö 0,25
    B Î d : 2 xy + 2 = 0 Þ B ( b ; 2 b + 2), MK = ç ; ÷ , MB = ç b ; 2 b + ÷
    5 5
    5 5 giờ è ø
    MK . MB = 0 52 b52 = 0 b = 1 B 1; 4
    ( )
    5 5
    = ( c – 1; c – 9)
    C Î d ‘: xy – 5 = 0 Þ C ( c ; c – 5), ( c > 4), BC , KC = ( c – 9; c -7) 0,25
    = 0 ( c é c = 9 Þ C (9; 4)
    BC . KC – 1) ( c – 9) + ( c – 9) ( c – 7) = 0 Û ê
    ë c = 4 ( L )
    K (9; 2) là trung điểm của CD và C (9; 4) đỉnh D (9; 0) ( ) 0,25
    Tôi là trung điểm của BD thì tôi ( 5; 2 )
    và tôi là trung điểm của AC V A A 1; 0
    Câu 8 0,25
    x – 3 £ 2 9 – x
    (1,0 điểm)    Xét phương trình (1)
    3 x + 1 + x + 3
    x
    ĐK: -1 £ x £ 9, x ¹ 0 ( x + 3 + 3 )
    x 2 – 3 x – 2
    Khói (1) 9 – x x +1
    £ 0
    x (3 + x + 3)
    x + 1
    2 0,25
    Û ( x + 3) – 9 ( x + 1) – 2 9 – x ( x + 3 + 3  x +1 ) £ 0
    x (3 + x + 3)
    x + 1
    ( x + 3 + 3 ) ( x + 3 – 3 – 2 )
    Û x + 1 x + 1 9 – x £ 0
    (3 + x + 3)
    x x + 1
    • x + 3 ( – 3 x + 1 – 29 )x £ 0
      • 3 x + 1 + x + 3
    x + 1 – 3 + 2 – 2 0,25
    Û x + 1 9 – x £ 0
    x
    ( – 3) + 2 (1 – )
    Û x + 1 x + 1 9 – x £ 0
    x
    x – 8 æ ö
    x +1 2
    Û ç + ÷ £ 0
    x x + 1 +
    è 3 1 + 9 x ø
    Û x – 8 £ 0 Û 0 < x £ 8
    x
    Phần mềm của họ trong phần mềm tối thiểu 0 < x £ 8.
    Câu 9 Ta có ab + bc + ca 3 3 .
    ( abc ) 2
    (1,0 điểm) (1 + a ) (1 + b ) (1 + c ) = 1 + abbc + ca + a + b + c + abc ³ (1+ 3 ) 3
    abc
    Khí dung  P £ 2 + t , với t = 3 ,) < t £ 1
    abc
    3 + 3 t 2 t
    +1 t ( t + 1) ( 3 t 2 + t -1)
    Số ít f ( t ) = 2 + t , 0 < t £ 1, f ‘( t ) = =
    ( )
    3 + 3 t 2 t +1 ( ) 2 2
    3 1 + t Hơn 1 t 2
    Từ tính suy ra M ax P = 5 khi a = b = c = 1.
    6

    0,25

    0,25

    0,25

    0,25

    0,25

  • Văn mẫu Những bài văn hay cảm nghĩ về mẹ của em

    Văn mẫu Những bài văn hay cảm nghĩ về mẹ của em

    Văn mẫu Những bài văn hay cảm nghĩ về mẹ của em

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Ý nghĩa của nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Những bài văn hay cảm nghĩ về mẹ của em

    Những bài văn hay cảm nghĩ về mẹ của em

    BÀI LÀM

    Bài 1:

    “Mẹ ngay từ khi bập bẹ biết nói ,tiếng gọi mẹ là tiếng nói đầu tiên tron đời của con và cho đến tận bây giờ mỗi khi tiếng mẹ cất lên là trong lòng con lại bồi hồi sao xuyến -1 thứ tình cảm lạ thường khó tả .Cảm ơn mẹ đã cho tôi có mặt trên cuộc đời này .Tôi yêu mẹ vô cùng .

    Người đã nuôi dưỡng tôi .Cho tôi cuộc sống .Là mẹ .Không gì có thể so sánh được công lao của mẹ .Mẹ chăm lo cho tôi từng li từng tí .TÔI yêu mẹ rất nhiều ,yêu từ cái bóng lờ mờ ru con ngủ .

    Tất cả đều rất quen thuộc .Cõ lẽ tôi yêu đôi bàn tay dám nắng vì sương gió vì vất vả của mẹ .

    Bàn tay ấy ru tôi ngủ , mỗi lúc nóng bàn tay ấy cho toi gió ,lúc lạnh ủ ấm tôi . Mẹ là người cho tôi đi học cho tôi hành trang trong cuộc đời .Tôi cũng đã lớn dần trong bàn tay ấy .

    Mỗi lần ốm mẹ chăm sóc cẩn thận .Bát cháo mẹ nấu ngon lắm ,vì do tay mẹ nấu , do bàn tay yêu thương ấy làm .

    Những lúc mắc nỗi mẹ buồn lắm nhưng ko mắng tôi ,mẹ luôn khuyen tôi .NHờ những lời khuyên ấy tôi trưởng thành hơn đứng đắn hơn .

    MẸ! MẸthật bao dung,mẹ là tất cả của con .Con sợ lắm , sợ 1 ngày con sẽ mất mẹ , nhưng mẹ ợi, có lẽ con quá tham lam , con ko lên nghĩ cho mình nhìu quá .Con dù sợ nhưng mẹ sẽ vẫn phải ra đi phải ko ?

    Đó là quy luật của tự nhiên phải không ạ , ko gì là vĩnh hằng ,hay ngàn thu , phải không mẹ .

    Nhưng mẹ à , dù thế nào đi chăng nữa mẹ vẫn là mẹ con ,mẹ luôn ngự trị trong con ,mẹ là kim chỉ lam dẫn lối cho con .

    MẸơi! tình cảm ko thể vơi đi mà chỉ có thể tăng lên đúng ko ạ , tình cảm con dành cho mẹ cũng vậy thôi .

    Dù giấy bút có hết thì tình cảm con dành cho mẹ vẫn rất nhiều ………

    Con muốn nói với mẹ 3 chữ 8 tiếng:

    “CON YÊU MẸ “.

    Bài 2:

    “Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đang thức vì chúng con.

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”

    Cứ mỗi lần nghe những câu thơ này của nhà thơ Trần Quốc Minh vang lên, thì em lại

    chọt nghĩ đến người mẹ thân yêu của em. Em cảm thấy thật bất hạnh cho những ai không có mẹ, bởi vì mẹ là người dành trọn mọi sự thương yêu chăm sóc cho chúng ta. Và mẹ em chính là nguời như vậy đó.

    Mẹ năm nay đã gần bốn mươi tuổi nhưng ai cũng nói mẹ già hơn so với tuổi, có lẽ vì gánh nặng cuộc đời chăng? Công việc của mẹ rất giản dị đó chính là làm ruộng. Sở thích của mẹ rất khác với mọi người, đó chính là làm việc. Mẹ có dáng người dong dỏng cao, nước da ngăm đen đã bị rám nắng, mái tóc của mẹ dài ngang lưng đã bị cháy nắng ngoài đồng ruộng, nắng chói để đem lại cho em một cuộc sống ấm no. Khi đi làm mẹ thường búi tóc lên, để lộ ra mấy cộng tóc xoăn trông thật duyên dáng. Đi với mái tóc ấy chính là khuôn mặt hình trái xoan của mẹ. Vầng trán của mẹ cao rộng, có lúc nheo lại lộ vẻ suy tư. Năm tháng, thời gian đã hằn lên khuôn mặt mẹ những nếp nhăn nho nhỏ.

    Nhưng thời gian cũng không thể xóa nhòa được nét dịu hiền, phúc hậu trên khuôn mặt ấy. Đôi mắt mẹ đen láy thấm đượm sự bao dung, trìu mến. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” quả là không sai. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em có thể đoán được những suy nghĩ trong mẹ. Những lúc em làm được việc tốt đôi mắt ấy hạnh phúc như cười. Và cũng từng đỏ hoe khi mỗi lần em làm điều sai trái. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em tự trách mình vì đã làm mẹ buồn. Cùng với đôi mắt mẹ là cặp lông mi dài và đôi chân mày lá liễu dày. Mũi mẹ cao cao, cái miệng nho nhỏ, khi cười để lộ hàm răng trắng, đều như hạt bắp.

    Bài 3:

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

    Đúng vậy! nhờ có bàn tay đầy nghị lực của mẹ đã nuôi em khôn lốn đến chừng này. Bàn tay ấy đã bị bao sậm, hằn những vết nứt nẻ. Bao nhiêu vết là bấy nhiêu vất vả gian lao của mẹ. Đôi bàn chân cũng vậy, nó cũng đã bị nứt nẻ. Những khi trời trở lạnh, đôi bàn chân ấy lại đau, nhức khiến mẹ phải ngâm vào nước muối. Đôi vai mẹ gầy gộc đã trở bao nhiêu là mưa nắng. Nhìn tất cả những thứ ấy em cảm thấy yêu mẹ thật nhiều, thật nhiều.

    Nhìn bàn tay mẹ chăm sóc từng đám lúa, luống rau, em cảm thấy mẹ yêu cây cỏ đến

    chừng nào. Mẹ là một người mà không thể thiếu trong gia đình. Hằng ngày, mẹ như một cô tấm với những công việc như nấu ăn, giặt giũ, dọn nhà… thật nhanh nhẹn, gọn gàng. Dù nhà cửa có bề bộn đến mấy, mà nếu được bàn tay siêng năng của mẹ thì sẽ trở nên gọn gàng. Vì lo cho cuộc sống của gia đình mà mẹ chẳng bao giờ rảnh rỗi cả, hết việc nhà rồi lại làm ruộng.

    Mẹ là một người luôn dành trọn mọi sự yêu thương và lo toan cho em. Lúc em làm điều gì sai trái, mẹ không la mắng gì đâu mà mẹ dạy em những điều hay lẽ phải, khiến em luôn ghi nhớ trong lòng. Tuy mẹ bận rộn lắm nhưng mẹ vẫn luôn quan tâm tới công việc học hành của em. Lúc em đau ốm, mẹ là bàn tay ấm áp, che chở cho em vượt qua.

    Đối với mọi người trong làng xóm, mẹ rất hòa nhã, cởi mở với họ nên ai cũng quý mến mẹ. Trong công việc, mẹ rất nhiệt tình nên mỗi lần đi dặm hay gặt lúa thì ai cũng kêu mẹ đi.

    Bài 4:

    Thế đấy! Người mẹ thân yêu của em là như vậy đó, mẹ là một người rất yêu thương đứa con của mình. Em yêu mẹ lắm! Yêu mẹ rất nhiều. Em tự nhủ rằng sẽ cố gắng học tập thật giỏi để trở thành con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, mai sau đền đáp công ơn to lớn của mẹ đã bao năm chăm lo cho em từ miếng ăn đến giấc ngủ.

    “Mẹ như biển cả mênh mông

    Con luôn ghi nhớ công ơn của người”.

    “Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.”

    Với tôi cũng vậy, mẹ là người quan tâm đến tui nhất và cũng là người mà tôi yêu thương và mang ơn nhất trên đời này. Tôi vẫn thường nghĩ rằng mẹ tôi không đẹp. Không đẹp vì không có cái nước da trắng, khuôn mặt tròn phúc hậu hay đôi mắt long lanh… mà mẹ chỉ có khuôn mặt gầy gò, rám nắng, vấng trán cao, những nếp nhăn của cái tuổi 40, của bao âu lo trong đời in hằn trên khóe mắt. Nhưng bố tui bảo mẹ đẹp hơn những phụ nữ khác ở cái vẻ đẹp trí tuệ. Đúng vậy, mẹ tôi thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát lắm. Trên cương vị của một người lãnh đạo, ai cũng nghĩ mẹ là người lạnh lùng, nghiêm khắc. có những lúc tôi cũng nghĩ vậy. nhưng khi ngồi bên mẹ, bàn tay mẹ âu yếm vuốt tóc tôi, tất cả ý nghĩ đó tan biến hết. Tôi có cả giác lâng lâng, xao xuyến khó tả, cảm giác như chưa bao giờ tui được nhận nhiều yêu thương đến thế. Dường như một dòng yêu thương mãnh liệt qua bàn tay mẹ truyền vào sâu trái tim tôi, qua ánh mắt, đôi môi trìu mến, qua nụ cười ngọt ngào,

    • qua tất cả những gì của mẹ. Tình yêu ấy chỉ khi người ta gần bên mẹ lâu rồi mói cảm giác đuợc thôi. Từ nhỏ đến lớn, tôi đón nhận tình yêu vô hạn của mẹ như một ân huệ, một điều đương nhiên.

    Trong con mắt một đứa trẻ, mẹ sinh ra là để chăm nom con. Chưa bao giờ tôi tư đặt câu hỏi: Tại sao mẹ chấp nhận hy sinh vô điều kiện vì con? Mẹ tốt, rất tốt với tôi nhưng có lúc tui nghĩ mẹ thật quá đáng, thật… ác. Đã bao lần, mẹ mắng tôi, tôi đã khóc. Khóc vì uất ức, cay đắng chứ đâu khóc vì hối hận. Rồi cho đến một lần… Tôi đi học về, thấy mẹ đang đọc trộm nhật ký của mình. Tôi tức lắm, giằng ngay cuốn nhật ký từ tay mẹ và hét to:“ Sao mẹ quá đáng thế! Đây là bí mật (an ninh) của con, mẹ không có quyền động vào. Mẹ ác lắm, con không cần mẹ nữa! ” Cứ tưởng, tôi sẽ ăn một cái tát đau điếng. Nhưng không mẹ chỉ lặng người, hai gò má tái nhợt, Khóe mắt rưng rưng. Có gì đó khiến tui không dám nhìn thẳng vào mắt mẹ.

    Tôi chạy vội vào phòng, khóa cửa mặc cho bố cứ gọi mãi ở ngoài. Tôi vừa khóc, khóc nhiều lắm, ướt đẫm chiếc gối nhỏ. Đêm càng về khuya, tôi thao thức, trằn trọc. Có cái cảm giác thiếu vắng, hụt hẫng mà tui không sao tránh được. Tôi vừa tự an ủi mình bằng cách tui đang sống trong một thế giới không có mẹ, không phải học hành, sẽ rất hạnh phúc. Nhưng đó đâu lấp đầy dược cái khoảng trống trong đầu tôi. Phải chăng tui thấy hối hận? Phải chăng tui đang thèm khát yêu thương? …

    Suy nghĩ miên man làm tui thiếp đi dần dần. Trong cơn mơ màng, tôi cảm thấy như có một bàn tay ấm áp, khẽ chạm vào tóc tôi, kéo chăn cho tôi. Đúng rồi tôi đang mong chờ cái cảm giác ấy, cảm giác ngọt ngào đầy yêu thương. Tôi chìm đắm trong giây phút dịu dàng ấy, cố nhắm nghiền mắt vì sợ nếu mở mắt, cảm giác đó sẽ bay mất, xa mãi vào hư vô và trước mắt ta chỉ là một khoảng không thực tại. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tui cảm thấy căn nhà sao mà u buồn thế. Có cái gì đó thiếu đi. Sáng đó, tui phải ăn bánh mỳ, không có cơm trắng như tất cả ngày. Tôi đánh bạo, hỏi bố xem mẹ vừa đi đâu. Bố tui bảo mẹ bị bệnh, phải nằm viện một tuần liền. Cảm giác buồn tủi vừa bao trùm lên cái khối óc bé nhỏ của tôi. Mẹ nằm viện rồi ai sẽ nấu cơm, ai giặt giũ, ai tâm sự với tôi? Tôi hối hận quá, chỉ vì nóng giận quá mà vừa làm tan vỡ hạnh phúc của ngôi nhà nhỏ này. Tại tui mà mẹ ốm. Cả tuần ấy, tôi rất buồn. Nhà cửa thiếu nụ cười của mẹ sao mà cô độc thế. Bữa nào tôi cũng phải ăn cơm ngoài, không có mẹ thì lấy ai nấu những món tui thích. Ôi sao tôi nhớ đén thế những món rau luộc, thịt hầm của mẹ quá luôn.

    Sau một tuần, mẹ về nhà, tui là người ra đón mẹ đầu tiên. Vừa thấy tôi, mẹ vừa chạy đến ôm chặt tôi. Mẹ khóc, nói: “ Mẹ xin lỗi con, mẹ không nên xem bí mật (an ninh) của con. Con … con tha thứ cho mẹ, nghe con.” Tôi xúc động nghẹn ngào, nước mắt tuôn ướt đẫm. Tôi chỉ muốn nói: “ Mẹ ơi lỗi tại con, tại con hư, tất cả tại con mà thôi. ” . Nhưng sao những lời ấy khó nói đến thế. Tôi vừa ôm mẹ, khóc thật nhiều. Chao ôi! Sau cái tuần ấy tôi mới thấy mẹ quan trọng đến nhường nào. Hằng ngày, mẹ bù đầu với công chuyện mà sao mẹ như có phép thần. Sáng sớm, khi còn tối trời, mẹ vừa lo cơm nước cho bố con. Rồi tối về, mẹ lại nấu bao nhiêu món ngon ơi là ngon. Những món ăn ấy nào phải cao

    sang gì đâu. Chỉ là bữa cơm bình dân thôi nhưng chứa chan cái niềm yêu tương vô hạn

    của mẹ. Bố con tui như những chú chim non đón nhận từng giọt yêu thương ngọt ngào từ

    mẹ. Những bữa nào không có mẹ, bố con tui hò nhau làm chuyện toáng cả lên. Mẹ còn

    giặt giũ, quét tước nhà cửa… chuyện nào cũng chăm chỉ hết. Mẹ vừa cho tui tất cả nhưng

    tui chưa báo đáp được gì cho mẹ. Kể cả những lời yêu thương tui cũng chưa nói bao giờ.

    Đã bao lần tui trằn trọc, lấy hết can đảm để nói với mẹ nhưng rồi lại thôi, chỉ muốn nói

    rằng: Mẹ ơi, bây giờ con lớn rồi, con mới thấy yêu mẹ, cần mẹ biết bao. Con vừa biết yêu

    thương, nghe lời mẹ. Khi con mắc lỗi, mẹ nghiêm khắc nhắc nhở, con không còn giận dỗi

    nữa, con chỉ cúi đầu nhận lỗi và hứa sẽ không bao giờ phạm phải nữa. Khi con vui hay

    buồn, con đều nói với mẹ để được mẹ vỗ về sẻ chia bằng bàn tay âu yếm, đôi mắt dịu

    dàng. Mẹ không chỉ là mẹ của con mà là bạn, là chị… là tất cả của con. Con lớn lên rồi

    mới thấy mình thật hạnh phúc khi có mẹ ở bên để uốn nắn, nhắc nhở. Có mẹ giặt giũ

    quần áo, lau dọn nhà cửa, nấu ăn cho gia đình.

    Mẹ ơi, mẹ hy sinh cho con nhiều đến thế mà chưa bao giờ mẹ đòi con trả công. Mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất, cao cả nhất, vĩ đại nhất. Đi suốt đời này có ai bằng mẹ đâu. Có ai sẵn sàng che chở cho con bất cứ lúc nào. Ôi mẹ yêu của con! Giá như con đủ can đảm để nói lên ba tiếng: “ Con yêu mẹ! ” thôi cũng được. Nhưng con đâu dũng cảm, con chỉ điệu đà ủy mỵ chứ đâu được nghiêm khắc như mẹ. Con viết những lời này, dòng này mong mẹ hiểu lòng con hơn. Mẹ đừng nghĩ có khi con chống đối lại mẹ là vì con không KẾT mẹ. Con mãi yêu mẹ, vui khi có mẹ, buồn khi mẹ gặp điều không may. mẹ là cả cuộc đời của con nên con chỉ mong mẹ mãi mãi sống để yêu con, chăm nom con, an ủi con, bảo ban con và để con được quan tâm đến mẹ, yêu thương mẹ trọn đời. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trên đời này. Tình cảm ấy vừa nuôi dưỡng bao con người trưởng thành, dạy dỗ bao con người khôn lớn. Chính mẹ là nguời vừa mang đến cho con thứ tình cảm ấy. Vì vậy, con luôn yêu thương mẹ, mong được lớn nhanh để phụng dưỡng mẹ. Và con muốn nói với mẹ rằng: “Con dù lớn vẫn là con mẹ. Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con. ”

    Bài 5:

    Từ khi chào đời, cất tiếng khóc đầu tiên, mỗi chúng ta đều được vòng tay âu yếm của cha mẹ che chở cho đến khi trưởng thành. Đối với tôi, gia đình là trên hết. Cha mẹ luôn quan tâm chăm sóc và bảo vệ tôi. Nhưng có lẽ người luôn luôn giành tình cảm cho tôi nhiều nhất mãi chỉ có một. Đó chính là người mẹ kính yêu của tôi.

    Mẹ tôi năm nay đã ngoài ba mươi rồi. Nhưng đối với tôi mẹ vẫn còn trẻ như phụ nữ mười tám đôi mươi. Mẹ có dáng người thấp đậm. Mái tóc mẹ đen nhánh, dài và chấm ngang lưng ôm lấy khuôn mặt trái xoan của mẹ. Nước da mẹ không được trắng như bao người phụ nữ vì ngày xưa mẹ phải lao động vất vả kiếm tiền mua gạo nuôi cả gia đình. Đôi mắt mẹ đen láy ẩn sau hàng mi dài và cong. Chiếc mũi của mẹ tuy không cao nhưng rất hài hòa với khuôn mặt của mẹ. Làn môi đỏ hồng lúc nào cũng nở nụ cười tươi để lộ hai hàm răng trắng muốt, rất dễ mến dễ gần. “Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn.” Đôi bàn tay của mẹ phải làm lụng vất vả để nuôi tôi. Mỗi khi cầm đôi bàn tay trai sần của mẹ tôi

    thấy thương mẹ vô cùng.

    Mẹ là người rất nghiêm khắc trong việc dạy dỗ con cái nên người. Tính mẹ hơi nóng nhưng cũng có lúc mẹ rất hiền từ. Mỗi lần mẹ nói, tôi thấy mẹ như một cô giáo dạy văn đang đứng trên bục giảng bài. Mỗi khi tôi mắc lỗi, bằng giọng nói dịu dàng, truyền cảm, lời an ủi và động viên, mẹ đã khiến tôi nhận ra lỗi lầm của mình. Tôi nhớ có lần được điểm mười. Vừa đi học về, tôi chạy ngay đến bên mẹ và xà lòng mẹ khoe: “Mẹ ơi hôm nay con được điểm mười đấy, mẹ thưởng cho con một món quà nhé!” Mẹ cười tươi ôm chầm lấy tôi và nói: “Con gái của mẹ giỏi quá, mẹ thưởng cho con này!” Mẹ vừa nói vừa hôn lên má tôi một cái. Mẹ ôm chặt tôi vào lòng. Vòng tay mẹ ấm áp như ngọn lửa hồng sưởi ấm trái tim tôi. Cũng có lần tôi bị điểm kém, trên khuôn mặt của mẹ không còn nụ cười của mọi ngày nữa. Mà giờ đây gương mặt mẹ trùng xuống, buồn rầu. Nhưng mẹ không quát mắng em mà chỉ nhắc nhở nhẹ và cố gắng cười để an ủi tôi và động viên tôi cố gắng lần sau. Trong lúc đó, tôi cảm thấy mình đã phụ lòng mẹ, phụ công mẹ nuôi dạy chúng tôi. Vì vậy tôi đã tự hứa với mình rằng sẽ không bao giờ làm như vậy nữa. Những đêm tôi chưa học bài xong, vì lo lắng cho tôi nên mẹ đã lên phòng và ngồi cạnh tôi. Thấy tôi chán nản và buồn ngủ, mẹ đã động viên tôi giúp tôi không buồn ngủ và chán nản. Những lời nói của mẹ như một nguồn sức mạnh giúp tôi cảm thấy tỉnh táo và học tiếp bài.

    • nhà mẹ là một người phụ nữ đảm đang. Mặc dù buổi sáng mẹ phải thức dậy sớm để đi làm nhưng mẹ vẫn rất quan tâm tới tôi. Sáng nào mẹ cũng hẹn đồng hồ báo thức cho tôi dậy đi học. Mẹ chuẩn bị quần áo đồng phục cho tôi mặc. Nhưng cũng có ngày mẹ đi làm muộn. Những ngày đó, trước khi đi học mẹ bẻ áo cho tôi, chỉnh khăn quàng đỏ cho tôi.

    Có lần góc học tập và phòng ngủ của tôi rất bề bộn. Nhưng buổi tối, sau khi đi học thêm về, mọi thứ đã khác. Tất cả đều rất gọn gàng và ngăn nắp. Quần áo được gấp gọn gàng và để ngay ngắn trong tủ. Buổi trưa có những hôm đi làm về muộn nhưng mẹ vẫn chuẩn bị một bữa trưa đơn giản nhưng vẫn đầy đủ chất dinh dưỡng cho cha con tôi. Không chỉ ở nhà mà ở ngoài xã hội mẹ cũng tham gia rất nhiệt tình. Trong tổ, hàng xóm có việc gì mà nhờ đến mẹ, mẹ đều giúp đỡ . Ra ngoài, mẹ luôn chào mọi người bằng một nụ cười tươi. Mọi người ai cũng yêu quí mẹ như cha con tôi vậy.

    Bao lần xem trên ti vi, thấy các bạn nhỏ mồ côi không cha, không mẹ, không có họ hàng thân thiết, nơi ăn chốn ở và không có nơi nương tựa. Các bạn ấy phải đi bán những thanh kẹo cao su, những tấm vé số… để kiếm ăn sống qua ngày. Tội nghiệp các bạn nhỏ ấy làm sao! Bây giờ tôi mới biết mình thật may mắn. Tôi có cha mẹ và có cả một gia đình êm ấm, hạnh phúc trong vòng tay che chở của cha mẹ. Tôi muốn nói thật nhiều với mẹ: “Mẹ ơi, con yêu mẹ nhiều lắm!” Đúng là: “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ” .

    Bài 6:

    “Vũ trụ có rất nhiều kì quan nhưng kì quan đẹp nhất, lớn nhất đó chính là trái tim của mẹ”. Tôi nghe được câu nói này ở đâu đó và nó làm tôi nhớ mãi. Tôi thực sự chưa thể nào hiểu hết được ý nghĩa của câu nói này vì nó rộng lớn quá, kì vĩ quá. Tôi chỉ biết rằng trái tim con người ta được hình thành từ một khối máu và gắn liền với từng nhịp đập, vậy

    mà giờ nhìn mẹ tôi cảm nhận được từng nhịp đập trong tim mẹ, và tôi biết được rằng bên trong quả tim ấy là cả một tâm hồn sâu thẫm cùng với sự tần tảo, vất vả của mẹ. Tôi yêu mẹ- yêu quả tim với từng nhịp đập đã cho tôi sự sống như ngày nay.

    Lúc mẹ sinh con ra đã không có sự lo lắng, chăm sóc của cha vì nội đã không cho cha với mẹ sống với nhau. Mẹ đã một mình cưu mang con chín tháng 10 ngày và sanh con ra trong sự cô đơn và bùn tẻ. Tuy họ hàng và hàng xóm thường xuyên giúp đỡ mẹ, nhưng có ai biết được rằng trong những đêm khuya từng cơn đau bụng đã nhòi xé ruột gan mẹ, trong nhưng bữa cơm mẹ thường ói rất nhiều, lượng thức ăn mẹ ăn được chỉ đủ để đứa con thơ bé bỏng trong bụng không bị đói. Những lúc như thế mẹ rất cô đơn, buồn tủi, và con biết mẹ đã khóc rất nhiều.

    Đến lúc sanh con ra, nhìn thấy đứa con thơ bụ bẫm nằm bên vòng tay của người mẹ hiền

    mà không có cha nó đâu, từng giọt nước mắt mẹ rơi trên nước da non của con khiến ai

    cũng bật khóc. Trong suốt năm năm không có cha vậy mà mẹ đã chăm sóc, nuôi nấng con

    không thua kém đứa trẻ nào. Ai nấy cũng đều rất khâm phục mẹ, khâm phục một người

    đàn bà đảm đang, nhân từ. Không bao giờ thấy mẹ khóc hay than thở với ai nhưng tôi

    biết trong đêm khuya nước mắt của mẹ thấm ướt đẫm gối nằm.

    Khi cha đã từ bỏ gia đình và trở về với mẹ và tôi thì cuộc sống gia đình trở nên ấm cúng hơn, vui tươi hơn. Nhưng oái oăm thay khi cha về lại mang theo trong người căn bệnh bướu. Khổng thể xin việc làm mà cha lại phải thường xuyên khám bệnh và điều trị. Vậy là người phụ nữ duy nhất trong gia đình lại phải lao tâm, khổ cực hơn gấp bội.

    Trong ánh mắt của tôi, trong cảm nhận của tôi thì mẹ không đẹp. Mẹ không có gương mặt bầu bỉnh, hình trái xoan, không có thân hình đầy đặn và nước da trắng theo định nghĩa của cái đẹp. Mẹ tôi có đôi gò má cao, hai mắt sâu thẫm, thâm quần và nước da rám nắng vì công việc mưu sinh vất vả. Nhưng sẽ không ai bằng mẹ, không ai có một nghị lực phi thường như mẹ, không ai đảm đang, giỏi giang bằng mẹ, mẹ biết nấu, biết làm tất cả mọi món ăn, mọi thứ bánh. Và không ai yêu chồng, yêu con được như mẹ.

    Có đôi lúc tôi đã rất hỗn với mẹ khi mẹ đánh tôi, tôi rất uất ức, tức tối và … giận mẹ. Nhưng khi đêm đến trong sự mơn man, mơ màng trong giấc ngủ có bàn tay ấm áp đến rờ chán tôi, xoa đầu tôi và vuốt tóc tôi, hành động đó khiến tôi thức giấc. Trong đêm tối tôi chỉ kịp nhìn thấy phía sau lưng mẹ đang dần bước ra khỏi phòng tôi. Bỗng nhiên tôi thấy sợ, bóng tối u ám của sự tội lỗi bao trùm lấy tôi. Tôi như nghẹt thở, và ý thức của một đứa con đã sống dậy trong tôi. Tôi chạy ra ôm lấy mẹ từ phía sau và xin lỗi mẹ. Ôm mẹ khóc một hồi tôi ngủ thiếp đi.

    Rồi đến những ngày tựu trường là những lúc mẹ cực nhọc và lo toan nhiều nhất. Mẹ đã cho tôi một cuộc sống đầy đủ không thua kém bạn bè, mẹ thường xuyên hỏi thăm thầy cô giáo về tình hình học tập của tôi. Đến lớp 10 khi tôi đậu vào trường chuyên trong tỉnh, niềm vui nào có thể tả được, mẹ tôi còn mừng, còn vui hơn tôi nữa. Mặc chiếc áo dài mẹ may và tự soi mình trong gương, tôi thấy mình trở nên chững chạc hơn, trưởng thành hơn. ” Mẹ đã cho con hình hài này, cho con cuộc sống này, cho con trái tim này và cho con có …. mẹ”.

    Những lúc tôi bệnh không ai có thể lo lắng, chăm sóc cho con ngoài mẹ. Nhưng ngược lại những khi mẹ bệnh tôi lại không thể làm gì được. Nhìn thấy mẹ nằm yên trên giường không giãy giụa giống lúc tôi bệnh. Không phải vì mẹ không đau nhưng tôi biết mẹ đang

    cố chịu đựng, mẹ muốn tôi chuyên tâm học hành. Tôi biết mẹ đang chiến đấu với những con đau đầu, đau tim, đau dạ dày,… và còn nhiều thứ bệnh đáng ghét để dành lại sự sống lo cho tôi.

    Có giấy bút nào có thể kể hết công lao của mẹ, có thể kể hết sự vất và của mẹ. Có giấy

    mực nào có thể viết được, tả được tình mẹ yêu con. Nó vô bờ, vô bến, kì vĩ và tuyệt vời

    lắm. Không gì có thể chứa đựng hết những giọt nước mắt đã rơi trong cuộc đời mẹ nhưng

    những nụ cười thực sự của mẹ thì có thể đếm trên đầu ngón tay. ” Con sẽ cố làm cho mẹ

    vui, cho mẹ có cuộc sống sung sướng. đó không còn là ước mơ, hy vọng mà nó là sự

    quyết tâm của con, con sẽ làm được, bằng con đường học vấn mà mẹ đã lo cho con, con

    sắp đến đích rồi mẹ ạ, những gì con cần làm bây giờ là cố gắng bước qua cánh cửa đại

    học một cách nhẹ nhàng nhất”.

    Bài 7:

    “Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này.

    Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi

    một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. Nhưng hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi.

    Mẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc.

    Mẹ dạy tôi rất nhiều điều “Phải sống trung thực, ngay thẳng. Phải biết ơn nhưng không được nhớ oán. Phải biết tha thứ yêu thương người khác. Nhất định chị em phải đoàn kết với nhau mà sống, đừng để mọi người chê cười con không có dạy”. Đó là tất cả những gì mẹ để lại cho tôi trước lúc ra đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu gì cả, tôi sống vô tư có mẹ cũng như không có mẹ. Nhưng Mẹ ơi? Giờ con mới hiểu mồ cô mẹ là gì? Giờ con mới biết những lời nói đó là tài sản quý giá nhất mà mẹ đã dành cho con. Con nhớ me nhiều lắm, nhất định cn sẽ làm theo những gì mẹ dạy.

    Mẹ tôi đã vượt qua khó khăn để sống và tôi cũng sẽ thế. Mẹ luôn là một vầng ánh sáng soi dẫn đường tôi. Những nụ cười của mẹ sao nó cứ hiện mãi trong đầu tôi cả lúc mẹ ra đi nữa. Giờ tôi muốn được nắm tay mẹ, muốn được ngồi vào mẹ nhưng tôi không thể! Mẹ tôi rất thương yêu tôi, mẹ đã hi sinh cuộc đời mình để tôi được sống tốt hơn. Ngày ấy, lúc mẹ đau đớn giữa đêm khuya, thấy mẹ đau tôi chẳng biết làm gì mà chỉ biết khóc. Mẹ nắm

    tay tôi và cười trong những giọt nước mắt “Mẹ không sao đâu con. Thế là tôi đã ngủ

    thiếp đi, sao tôi lại khờ dại đến ngu ngốc thế chứ? Tôi hiểu mẹ yêu tôi nhường nào và tôi cũng vậy. Tuy giờ không có mẹ bên cạnh nhưng mẹ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi sẽ sống thật tốt để mẹ được vui lòng, giờ tôi chỉ có thể làm được thế thôi.

    Mẹ tôi là người thế đó, tôi chỉ có thể nói là mẹ tôi rất tuyệt. Mẹ là người tôi yêu quý nhất

    trên đời và dù me đi xa nhưng mẹ vẫn như còn đó đứng bên cạnh tôi. Giá như, tôi được

    sống với mẹ dù chỉ là một ngày. tôi sẽ chăm sóc cho mẹ, việc mà tôi chưa từng làm, tôi sẽ

    làm mẹ vui, không làm mẹ phải khóc. Và điều tôi muốn nói với mẹ là “Mẹ ơi! Con yêu

    mẹ rất nhiều, con rất muốn được sống và lo cho mẹ. Mẹ ơi! Con rất muốn”.

    Hỡi những ai còn mẹ thì đừng làm mẹ mình phải khóc, dù chỉ là một lần!”

    Bài 8:

    Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ…”

    Không biết từ bao giờ câu hát đó đã khắc sâu vào tâm trí tôi, đôi lúc nó lại vang lên vô thức làm thôi như thức nhớ lại một thuở xa xưa còn nằm trong nôi. Có thể với bạn đó chỉ là một câu hát ru bình thường như mọi câu hát khác, nhưng đối với tôi đó là cả một tình yêu thương bao la của mẹ dành cho tôi.

    Mẹ của tôi có dáng người hơi gầy. Đôi vai mẹ bé nhỏ mà nặng trĩu bao lo toan. Mẹ lo ngày mai phải dậy thật sớm cất mẻ cá bán cho sớm hết hàng còn về lo cơm nước cho bố con tôi, mẹ lo gọi thằng út dậy sớm đi học vì nó hay ngủ nước và còn nhiều nỗi lo khác, tất cả đều dồn lên đôi vai gầy guộc ấy của mẹ.

    Đôi bàn tay mẹ chai sần vì phải làm lụng vất vả nuôi chúng tôi khôn lớn, cho chị em chúng tôi được đi học như chúng bạn , mặc dù kinh tế nhà tôi cũng không phải là khá già gì. Một lần tôi đi chơi về chẳng may cái áo đứt một nút. Thế là tôi nằng nặc đòi mẹ mua cho cái áo mới, còn mẹ thì nói rằng: “Chúng ta có thể sửa lại nó còn à”. Nghe vậy tôi bèn bỏ vào buồng nằm khóc thút thít. Một lúc sau, ngó đầu ra khỏi phòng, tôi chợt chạnh lòng khi ấy mẹ đang khâu lại cái áo nút áo cho tôi. Nhìn dáng mẹ hao gầy, cặm cụi với từng đường chỉ mũi kim, cảm giác bàng hoàng xâm chiếm con người tôi. Tôi thẫn thờ nhìn vào khoảng không vô định trước mắt tôi. Là tôi đấy ư? Một đứa con gái tưởng chừng đã trưởng thành mà lại vô tâm đến mức này ư? Tôi chợt òa khóc, muốn ôm chặt lấy mẹ và nói rằng: “Mẹ ơi! Con yêu mẹ nhiều lắm….”

    Tôi thường thấy bố mẹ rủ bạn bè về nhà cùng vui vẻ, hả hê với những chai bia, bàn tán bao nhiêu chuyện…

    Rồi tôi lại thấy mẹ cặm cụi dọn dẹp những bát đĩa, lom khom nhặt từng vỏ chai xếp lại, sáng mai ra chợ đổi lấy chục chanh pha nước cho người chồng mệt mỏi đang nhức đầu vì

    say.

    Tôi thấy chị cả sau một ngày học tập mệt mỏi, về đến nhà vội vàng bật quạt ngả lưng nằm ngủ.

    Tôi thấy mẹ ra hiên nằm những ngày trời nóng rồi lẩm bẩm xem điện tháng này có quá định mức không.

    Tôi thấy thằng út thích chơi điện tử , cứ đi học về nó lại bắt đầu công việc bấm bấm, dí dí mấy cái nút điều khiển.

    Tôi thấy mẹ rất thích xem cải lương, vừa lau nước mắt rồi cười cho số phận đã bớt đau khổ của các nhân vật, chẳng để ý màn hình mất màu hay thỉnh thoảng lại nghe tiêng được tiếng mất.

    Tôi thấy mọi người đều chỉ nghĩ về những chuyện lớn lao, thích thú của riêng mình mà lắm lúc quên đi những chuyện nhỏ xung quanh.

    Tôi thấy mẹ suốt đời chắt chiu vụn vặt mà mẹ luôn dạy con mình những bài học lớn lao….

    Tất cả, tất cả những điều ấy tôi thấy từ mẹ, những điều dù chỉ nhỏ nhoi đều gợi lên trong tôi những suy nghĩ về cuộc đời, về một đức hi sinh cao cả, về một tâm hồn cao thượng chỉ biết về mọi người, về những vẻ đẹp ẩn náu trong những con người bình thường, giản dị..

    Mùa thu đã đến rồi, tôi thường ngắm cây hoa sữa trước cửa nhà bỗng một chiếc lá vàng buông xuống mặt đất , mang theo một nỗi luyến tiếc bâng khuâng. Tôi hốt hoảng, chợt nghĩ về một ngày nào đó mẹ tôi như chiếc lá vàng này. Tôi thầm ước : Thời gian ơi! Hãy ngừng trôi đi nhé! Để mẹ tôi mãi được ở bên tôi.

  • Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    Văn mẫu lớp 9

    Cảm nhận bài ca dao Khăn thương nhớ ai

    BÀI LÀM

    Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc, là niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam trực tiếp bày tỏ long mình mà không cần nhờ đến bất kì một khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ; là hoài bão, ước mơ, niềm mong mỏi… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài thương nhớ làm nên bản sắc văn hoá dân gian, bài ca dao được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá là “hay nhất Việt Nam”, “ Khăn thương nhớ ai” cũng trĩu nặng niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu, sâu lắng và hay lạ lùng…:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt

    Đèn thương nhớ ai

    Mà đèn không tắt

    Mắt thương nhớ ai

    Mắt ngủ không yên

    Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi không yên một bề.”

    Ca dao về nỗi nhớ là hợp âm các nốt trầm lắng đọng lòng người trong cung bậc tình yêu – vốn là đề tài muôn thưở và quen thuộc của người bình dân. Nỗi nhớ nhung nào có buông tha một ai? Mọi cảnh huồng, mọi số phận, mọi trang lứa; và nó nhẫn tâm bủa vây, bám víu lấy người con gái đơn chiếc. Nỗi nhớ ấy như muốn thiêu đốt tan chảy cả cõi lòng nhưng lại được che giấu kín đáo và ý nhị, không bộc lộ một cách buông tuồng, suồng sã. Tâm trạng nàng, biết tỏ cùng ai? Những câu hỏi không có câu trả lời, cô dành để hỏi những vật dụng quen thuộc nhất kề bên mình trong lúc cô đơn :

    “Khăn thương nhớ ai?…

    … Đèn thương nhớ ai?”

    Những câu hỏi cất lên rồi lại trôi dạt mãi vào hư vô im tiếng, cứ nén chặt niềm thương

    nỗi nhớ trong lòng, để rồi chực trào tuôn ra thành tiếng thở dài triền miên. Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và cũng được hỏi nhiều nhất’ cô gái hỏi vật trao duyên mang ý nghĩa thiêng liêng duy nhất của mình. Chiếc khăn ấy phải chăng đã ấp ủ biết bao hơi ấm bàn tay, đã thấm đượm nhiều vô chừng những lời ân ái mặn nồng :

    “Gửi khăn, gửi áo, gửi lời,

    Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”

    Giờ người đã xa, hơi ấm nồng đượm vương vấn nơi đây âu chỉ là nỗi buồn chờ đợi quá

    khứ, cái không gian cô quạnh cứ miên man trải rông trên nhiều chiều, nỗi nhớ cứ thế mà quanh quẩn trong tâm trí trăm mối tơ vò, khiến vật chứng nhân vô trí vô giác cũng động lòng mà:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt.”

    Ba hình ảnh đặc trưng cộng hưởng thêm ba câu thơ láy cô gái tự nhân hoá chiếc khăn lên rồi hỏi: “Khăn thương nhớ ai?”, cùng lối vắt dòng láy tổng cộng sáu lần từ “khăn” thành một điệp khúc tạo cảm giác dường như nỗi nhớ càng thêm triền miên. Mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ kia thêm trào dâng cuồn cuộn trong lòng. Ôi, sầu đong càng lắc càng đầy! Cô gái đang hỏi chiếc khăn trao duyên hay đang đối thoại với bản thân mình đây? Đằng sau nghệ thuật đảo thanh đầu uyển chuyển, cách sử dụng hình ảnh vận động trái chiều, đằng sau hết thảy các sử “xuống- lên”, “rơi- vắt” của khăn hiện lên hình ảnh một con người rất rõ, con người ấy đang tiếc nhớ khôn nguôi về mối tình đẹp đẽ. Nhớ đến mức không còn tự chủ được dáng đứng bước đi, không thề đứng yên ngồi ổn được, cứ thất thểu ra vào, bởi vậy người ta mới có câu:

    “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than”

    Nỗi nhớ cứ rừng rực trong lòng, len lỏi vào từng dòng máu thớ thịt, thế mà vẫn không đủ để cản ngăn dòng nước mắt khóc thầm:

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn chùi nước mắt”

    Nước mắt em rơi từ khoé lệ u sầu, rơi trên tiếng cười đùa hôm qua, và rơi trên u buồn

    hôm nay, những “ hai hàng nước mắt đầm đàm như mưa: làm khổ em biết bao nhiêu đêm

    dài. Nỗi nhớ sâu trong tâm hồn réo thúc bùng sôi nhưng được bộc lộ ý nhị, nọt ngào,

    mang màu sắc nữ tính, nhẹ nhàng. Cô gái trong bài ca dao là một con người biết trân

    trọng những kỉ niệm, biết ghìm nén lòng mình, dẫu cho trái tim đã băng hoại vì nỗi buồn

    man mác gậm nhấm lủi tàn mất rồi. Cái khăn đã giãi bày hộ cô gái cái nghẹn ngào đọng

    mãi trong lòng không nói ra được. Cái thứ cảm gáic không gọi được tên nặng trĩu trong

    lòng là thế, vậy mà cứ nhẹ tênh lan toả rộng khắp, thấm đượm vào không gian, vào cả sự

    đồng cảm nơi người đọc…

    Nhưng không chỉ có thế, nỗi nhớ ở đây còn được đong đếm theo bước chân thời gian chứ không chỉ thăng trầm theo từng bước đi của nhân vật. Ban đêm là thời khắc để bất kì con

    người nào cũng có thể suy ngẫm về người, về đời, rất thật. Đối với cô gái, đó là lúc niềm khắc khoải lại càng làm tim cô đau nhói. Niềm đau ở đây được diễn tả theo một cách riêng, nhất quán và không thể nhầm lẫn. Điệp khúc “thương nhớ ai” được giữ lại trọn vẹn còn tâm sự được gửi gắm tiếp vào ngọn đèn đêm:

    “Đèn thương nhớ ai

    Mà đèn không tắt”

    Cả bài ca dao là một hệ thống các câu hát lẻ độc lập: khi đứng riêng chúng hoàn toàn có thể diễn đạt hết nghĩa, còn khi ghép chúng lại với nau, chúng thu hút người đọc và nỗi lòng trải rộng mãi hết không gian rồi lại sang thời gian. Trong sự ưu phiền vò võ của đêm khuya khắc vợi canh tàn, trong bóng đêm mịt mù đến hốt hoảng, đốm lửa ấm dù nhỏ nhoi trên đầu ngọn bấc kia chứng tỏ người thắp đèn vẫn chưa tài nào ngủ yên được. Cô gái gửi tâm tình ngổn ngang trăm mối những đêm thâu trằn trọc vào ngọn lửa nhỏ, hay chính ngọn lửa tình bất diệt luôn cháy mãi trong tâm can? Chừng nào lửa tình vẫn cháy thì chừng ấy lửa đèn kia tắt làm sao được. Vẫn là câu hỏi không có lời đáp, và vẫn là hình ảnh tượng trưng được nhân hoá, “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ bao điều, buộc ta phải rung cảm suy nghĩ nhiều hơn, sâu sắc hơn những điều được đề cập trong lời ca da diết.

    Bày tỏ, giãi bày hộ cô gái bằng giá trị tượng trưng rất biểu cảm theo lối nói vòng đầy cuốn hút, nhưng rồi rốt cuộc “khăn” và” đèn”cũng chỉ là cách nói gáin tiếp thông qua biện pháp nhân hoá. Đến dòng thơ thứ chín, không kìm lòng được nữa, thứ “cảm xúc không gọi được tên” trên kia chực vỡ oà, cô tự hỏi chính mình:

    “Mắt thương nhớ ai

    Mắt ngủ không yên.”

    Hình tượng các nghệ nhân dân gian sử dụng thật hợp tình hợp lý, nhất quán và xuyên suốt: “đèn chẳng tắt” vì “mắt không yên”, “mắt không yên” nên “đèn chẳng tắt”. Nỗi ưu tư còn nặng trĩu, khối tinh thần bất biến vẫn vẹn nguyên, tình yêu chung thuỷ chẳng đổi dời. Cứ khép đôi bờ mi đẫm lệ, hình bóng người thương lại hiện về, giấc ngủ dẫu có cũng vô cùng ngắn ngủi và mãi chập chờn những giấc vơ vô ảo vô thực. Năm lần hỏi, năm lần điệp từ “ai” vang lên thổn thức xoày vào lòng ta một nỗi niềm khắc khoải, đồg cảm bi ai. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, nên câu trả lời thực chất được khẳng địh ngay từn câu hỏi tưởng như không có lời đáp. Cách khẳng định này không được diễn đạt bằng ý chính mà mang tính nghệ thuật, thi vị hơn, mạnh mẽ hơn. Dẫu vậy, với tính chấ nghệ thuật rất riêng của văn học dân gian, chẳng mấy ai yêu quý bài ca dao này không tự lý giải được, rằng không ai khác ngoài chàng trai đã gây nên nỗi lòng cô đọng trong điệp từ “ ai” kia. Mười câu thơ bốn chữ còn hay về cách gieo vần: vần chân xen lẽ vần lưng, trong đó thanh bằng và thanh trắt lại xoắn quýt lấy nhhau tạn nên âm điệu luyến láy liên hoàn, bâng khuâng mãi. Và nếu cứ đi theo cung cách cấu tứ như thế, lòng cứ tự hỏi lòng, thì bài ca dao sẽ trải dài cùng nỗi sầu đến vô tận. Lần theo mạch xúc cảm xuyên suốt, qua tới

    mấy lần hỏi, điểm cao trào bất chợt xuất hiện đột ngột dưới hình thức câu tho8 lục bát, biến nỗi nhớ nhung dằng dặc kia thành:

    “Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi không yên một bề”

    Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập và gây rung động lạ kỳ chuyển sang lục bát nhẹ nhàng và xao xuyến, bởi lẽ, cô gái một mực thương nhớ người yêu vẫn biết lo lắng cho số phận trái ngang của mình. Cô nhớ lắm, đến nỗi:

    “Qua cầu dừng bước trơng cầu

    Cầu bao nhiêu nhịp lòng sầu bấy nhiêu”

    Guồng quay cuộc sống thì cứ mãi lừng lững tiến về phía trước, hoàn cảnh trớ trêu không cho phép người con gái đơn thân mãi “ Thương thương nhớ nhớ sầu sầu”, xã hội không đồng ý để cô “Một ngày ba bận ra cầu đứng trông” . Từ “lo” được lặp lại đến hai lần, cùng chỉ từ số nhiều “những” chứng tỏ trong lòng cô gái đang có nhiều lo sợ mênh mông khi nghĩ về người mình yêu cùng một lúc; nhói cả tim khi nghĩ rằng anh sẽ thay đổi, sẽ như” vầng mây bạc giữa trời mau tan”; quặn cả lòng khi hay cả một xã hội phong kiến thối nát đang chực chờ ép duyên… Hạnh phúc quá mong manh và cái quyền tự do yêu đương cũng thật là bấp bênh, khi tình yêu tha thiết chân chính luôn bị nỗi sợ nơm nớp vô biên lấn át, “Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời”. Nỗi lo phiền trĩu nặng tâm can, xuất phát từ chính nỗi nhớ thươngkho6n nguôi, từ khát vọng yêu và được yêu, từ sự bức bối muốn được vùng dậy giải thoát. Tình yêu, nỗi nhớ nơi con tim mồ côi và nguội lạnh vẫn cứ chan chưa tình người, dạt dào sức sống mà không hề bị luỵ, đau thương, yếu hèn. Càng yêu, càng nhớ thì con người ta càng bộc lộ sự lạc quan trữ tình và chung thuỷ của mình:

    “Chờ anh cho tuổi em cao

    Cho duyên em muộn má đào em phai”

    Để diễn tả được hết nỗi long cũng như tính nhân văn sâu sắc, bài ca dao mang những yếu tố thi pháp và biện pháp nghệ thuật quen thuộc: điệp từ, điệp ngữ gây cảm giác quyến luyến mà dồn dập; dùng hình ảnh tượng trưng và nhân hoá chúng đạt hiệu quả cao. Quan trọng hơn cả, ẩn chưa trong toàn bài ca dao là nét đẹp kín đáo, thu hút, đằm thắm nữ tính; khá đặc biệt so với các khúc ca thương nhớ khác dung hình thức biểu đạt trực tiếp…:

    “Nhớ ai hết đứng lại ngồi,

    Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.”

    “Nhớ ai nhớ mãi thế này?

    Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

    Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

    …Vì thế, “Khăn thương nhớ ai” luôn có một chỗ đứng nhất định trong ca dao nỗi nhớ nói riêng , toàn bộ kho tàng văn học dân gian nói chung và một vị trí riêng trong lòng người đọc. Vượt chặng đường “những mấy nghìn năm”, bài ca dao sẽ mãi là viên ngọc long lanh, tuy hình thành từ bàn tay thô kệch nhưng được gọt giũa bởi tấm lòng và tâm hồn đẹp đẽ cao quý của người bình dân Việt Nam.

    Bài viết số 2:

    “ Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt.

    …..

    Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt không ngủ yên.

    Đêm qua em những lo phiền,

    Lo vì một nỗi không yên một bề… ”

    Bài ca nằm trong hệ thống ca dao về đề tài thương nhớ, một cung bậc trong ca dao tình yêu của người bình dân VN.Bài ca diễn tả nỗi nhớ niềm thương của 1 cô gái. Nhớ thương da diết, nhớ đến thao thức, cồn cào gan ruột mà ko dễ bộc lộ. Cô phải hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi ko có câu trả lời càng nén chặt nỗi thương nhớ, để cuối cùng trào ra trong nỗi lo âu cho hạnh phúc. Giọng thơ sâu lắng, dồn dập gợi nhiều cảm xúc.

    Đêm qua em những lo phiền

    Lo vì một nỗi ko yên một bề

    Mở đầu, chiếc khăn được hỏi đến đầu tiên và được hỏi nhiều nhất:

    Khăn thương nhớ ai,

    khăn chùi nước mắt

    Chiếc khăn thường là vật trao duyên, vật kỷ niệm gơi nhớ người yêu. Sáu câu thơ đc cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại 3 lần câu “khăn thương nhớ ai” như 1 điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết.

    Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. Cái khăn, tự nó không biết ”

    thương nhớ”, không biết tự “rơi xuống”, “vắt lên”, ” chùi nước mắt”, nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc người đã hiện lên hình ảnh con người với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi lo âu. Nhớ đến ngơ ngẩn, nỗi nhớ tỏa theo chiều hướng của ko gian (” khăn rơi xuống đất rồi lại ” khăn vắt lên vai”), cuối cùng thu lại trong cảnh khóc thầm (“khăn chùi nước mắt”).

    Nỗi nhớ trong 6 câu lan tỏa vào không gian, đến 4 câu tiếp lại xuyên suốt theo thời gian.

    Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:

    Đèn thuơng nhớ ai, mà không tắt

    Vẫn là điệp khúc “thương nhớ ai”, nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ ” khăn” sang “đèn”. Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn mãi không chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi. Cũng như chiếc khăn, ngọn đèn đã giúp cô gái thổ lộ nỗi lòng.

    Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hoá. Nỗi lòng của cô gái buộc phải bật ra trong cách nói trực tiếp:

    “Mắt thương nhớ ai,

    Mắt không ngủ yên”

    Thuơng nhớ đến không ngủ được, cứ trằn trọc thao thức là cách thức biểu lộ quen thuộc trong ca dao:

    “ Đêm nằm lưng chẳng tới giường, Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”

    Tuy nhiên, cũng là 1 tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa hơn nhiều. “Mắt ngủ ko yên” tạo nên 1 đối xứng rất đẹp với “đèn ko tắt” ở trên, gợi lên 1 khung cảnh rất thực: cô gái giữa đêm khuya 1 mình đối diện với ngọn đèn mà nhớ người thương. Vì “mắt ngủ ko yên” nên “đèn không tắt”. Nói đèn cũng chỉ là nói người mà thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi không nguôi.

    Mười câu thơ là 5 câu hỏi không có lời đáp. Điệp khúc ” thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào 1 nỗi niềm khắc khoải, da diết. Những lần ” thương nhớ” và 5 lần từ ” ai” xuất hiện. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên 1 nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, ko giới hạn. Từ “ai” ko xác định cụ thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hiểu được “ai” ấy là ai. Hỏi không có trả lời, nhưng thực câu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã được bộc lộ 1 cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt.

    Cách gieo vần của bài ca cũng rất đặc sắc. Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau (ai-ai,mắt-tắt), vần bằng vần trắc luân phiên, tất cả tạo nên 1 âm điệu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa nén lại, vừa như kéo dài ra mênh mông vô tận theo cả không gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ không có kết thúc… Nhưng bài ca phải có điểm dừng. Khi cô gái không hỏi nữa thì niềm thương nhớ trào ra thành nỗi lo phiền :

    “Đêm qua em những lo phiền,

    lLo vì một nỗi không yên một bề… ”

    Từ nhịp thơ 4 chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo ây của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” được nhắc đến 2 lần. Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình “không yên một bề”, tâm trạng của cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưng lun lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh.

    Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh hạot, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bát cuối cùng… Qua nỗi thương nhớ và niềm lo âu được diễn tả trong bài ca, ta nhận ra tiếng hát yêu thương và khao khát yêu thương của ngừơi bình dân xưa.

  • văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: văn mẫu Kể lại chuyện Tấm Cám

    Bài văn mẫu

     Kể lại truyên Tấm Cám

    BÀI LÀM

    Ngày xưa, nhà kia có hai chị em cùng cha khác mẹ, chị là Tấm, em là Cám. Mẹ Tấm mất sớm, ít năm sau thì cha Tấm cũng qua đời. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.

    Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ sai đi bắt tép, đứa nào bắt được nhiều thì được thưởng cho một cái yếm đỏ. Tấm vốn chăm chỉ lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi để bắt. Còn Cám do được mẹ nuông chiều, ham chơi nên chẳng bắt được. Cuối buổi, thấy giỏ Tấm nhiều tép, Cám nghĩ kế rồi nói:

    “Chị Tấm ơi chị Tấm

    Đầu chị lấm

    Chị hụp[5] cho sâu

    Kẻo về mẹ mắng!”

    Tấm nghe lời em, xuống ao tắm gội. Cám thừa dịp trút hết tép của Tấm vào giỏ mình rồi chạy về nhà.

    Lên bờ, thấy giỏ trống không, Tấm ôm mặt khóc nức nở. Bụt hiện lên hỏi, Tấm liền kể hết sự tình. Bụt bảo lấy con cá bống còn sót trong giỏ về nuôi dưới giếng, mỗi khi cho ăn thì gọi:

    “Bống bống bang bang

    Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

    Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa[6] nhà người.”

    Tấm về làm theo lời Bụt dạy. Từ ngày đó, mẹ Cám thấy Tấm hay dành một bát cơm mang ra giếng sau khi ăn, liền sinh nghi sai Cám đi rình. Biết được sự thật, hôm sau mẹ Cám bảo Tấm đi chăn trâu nơi xa[7], ở nhà mẹ con Cám bắt cá bống của Tấm lên ăn.

    Về nhà thấy không còn cá bống, Tấm lại khóc. Bụt hiện lên, Tấm kể lại đầu đuôi. Bụt bảo lấy xương cá bống bỏ vào bốn cái lọ rồi đem chôn dưới bốn chân giường Tấm nằm. Tấm nghe lời Bụt dạy làm ngay.[8]

    Ít lâu sau, nhà vua mở hội. Hai mẹ con Cám cũng đi dự. Tấm muốn đi dự hội nhưng bị mẹ Cám trộn một đấu gạo với một đấu thóc bắt ở nhà nhặt cho xong, vả lại không có quần áo đẹp để đi. Tấm buồn mà khóc. Bụt tiếp tục hiện lên giúp Tấm. Bụt gọi một đàn chim sẻ xuống nhặt thóc cho Tấm trong nháy mắt, rồi bảo Tấm đào bốn cái lọ ngày trước chôn ở dưới bốn chân giường lên. Tấm đào lên thì thấy bốn cái lọ chứa đầy quần áo đẹp, một đôi hài thêu kim tuyến óng ánh, lại có một con ngựa đầy đủ yên cương. Tấm thay quần áo rồi cưỡi ngựa đi. Lúc này, trông Tấm vô cùng xinh đẹp.

    Lúc qua cầu, Tấm vô ý làm rơi mất một chiếc hài xuống nước. Một lát, đoàn hộ tống nhà vua đi dự hội nhặt được chiếc hài ấy. Vua ngắm chiếc hài rồi ra lệnh: “Hễ đàn bà con gái nào dự hội ướm vừa chiếc hài này thì vua sẽ cưới làm vợ.” Ai cũng tranh nhau ướm thử nhưng không vừa. Mẹ con Cám cũng vậy. Đến lượt Tấm ướm thử thì vừa như in. Nhà vua cho đem kiệu rước Tấm về cung làm vợ mình trước con mắt hằn học của mẹ con Cám.

    Ngày giỗ cha, Tấm về ăn giỗ. Dì ghẻ bảo Tấm trèo cây cau, hái cau cúng

    cha. Đang khi Tấm ở trên ngọn cau thì ở dưới dì ghẻ lấy dao chặt cây làm Tấm té mà chết. Cám lấy quần áo Tấm mặc rồi vào cung thay Tấm. Tấm chết biến thành chim vàng anh cũng bay về cung.

    Thấy Cám giặt áo cho vua, chim bảo:

    “Giặt áo chồng tao

    Thì giặt cho sạch

    Phơi áo chồng tao

    Thì phơi bằng sào

    Chớ phơi bờ rào

    Rách áo chồng tao!”

    Vua thấy chim hay bay theo mình, nhớ Tấm, liền bảo chim rằng:

    “Vàng ảnh vàng anh

    Có phải vợ anh

    Chui vào tay áo.”

    Dứt lời, chim bay vào tay áo vua. Từ đó, vua suốt ngày quấn quýt với chim vàng anh, khiến Cám tức tối về mách mẹ. Mẹ Cám bảo Cám bắt chim đem cho mèo ăn, chôn lông chim ngoài vườn. Chẳng bao lâu nơi đó mọc lên một cây xoan đào, xum xuê tươi tốt. Vua thấy đẹp nên sai người mắc võng vào cây hóng mát. Mỗi khi nằm dưới bóng cây vua lại thấy hình ảnh Tấm hiện ra, nên rất quý cây. Cám được mẹ xui chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Lúc ngồi dệt vải, Cám nghe con ác[9] trên khung cửi kêu:

    “Cót ca cót két

    Lấy tranh chồng chị

    Chị khoét mắt ra.”

    Nghe lời mẹ chỉ, Cám đốt khung cửi rồi đổ tro bên đường xa cung vua. Từ đống tro ấy mọc lên một cây thị, chỉ có duy nhất một trái to vàng. Một bà bán hàng nước đi qua thấy trái thị liền nói:

    “Thị ơi thị rụng bị bà

    Bà để bà ngửi chứ bà không ăn.”

    Tức thì quả thị rụng ngay vào bị, bà lão đem về nhà. Từ đó, ngày nào đi chợ về bà cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm nước sẵn sàng. Ngạc nhiên, một hôm bà lão giả vờ đi chợ rồi quay lại rình xem. Bà thấy một cô gái xinh đẹp từ quả thị bước ra, nấu cơm, sửa soạn nhà cửa. Bà vội chạy vào nhặt cái vỏ thị, xé vụn. Từ đó hai người sống với nhau như mẹ con.

    Một hôm, nhà vua đi ngang ghé hàng nước của bà. Bà lão rót nước mời vua ăn trầu. Thấy miếng trầu têm cánh phượng giống hệt trầu Tấm têm cho vua ngày xưa, nhà vua mới hỏi bà lão ai đã têm trầu. Bà lão gọi Tấm ra. Vua nhận ra vợ mình, đón Tấm trở về cung. Cám thấy Tấm vẫn còn sống mà lại trắng đẹp hơn xưa nên băn khoăn tự hỏi vì sao. Tấm[10] bày cho Cám tắm với nước sôi thì sẽ đẹp. Cám hí hửng làm theo thì chết tức khắc. Nghe tin Cám chết, dì ghẻ cũng uất lên mà chết theo con.[11]

    Thuyết minh tà áo dài

    Thuyết minh áo zài

    Trải qua nhiều năm tháng áo dài đã trở thành thứ trang phục đặc biệt và không thể thiếu của người Việt Nam. Từ trước đến nay, áo dài là nguồn cảm hứng vô tận của biết bao nhà văn, nhà thơ, đã được dựng thành phim và những bài hát về áo dài chính là món quà vô giá của những người con Việt Nam dành tặng cho quê hương, đất nước.

    Không ai biết rõ áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và có nguồn gốc ra sao. Theo những hình khắc trên trống đồng Ngọc Lũ thì cách đây khoảng vài nghìn năm, người phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ. Vào trước thời Bắc thuộc, áo dài được gài về phía tay trái nhưng về sau vì bắt chước người Trung Quốc nên mới gài về bên phải. Kiểu sơ khai nhất của áo dài thời xưa là áo giao lãnh, khá giống áo tứ thân nhưng hai tà không buộc với nhau mà chỉ để giao nhau. Tiếp đó là áo tứ thân ra đời, áo tứ thân khá tiện cho việc đồng áng nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp của người phụ nữ nông thôn. Nhưng người thành thị thì lại khác, muốn có một chiếc áo tân tiến hơn để giảm đi chế nét dân dã lao động và cải tiến cho sang trọng hơn. Thế là áo ngũ thân ra đời. Áo ngũ thân che kín thân hình mà không để hở áo lót. Và rồi đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, khi xưng vương ông đã bắt quan, dân phải mặc quốc phục lấy mẫu từ trang phục của nhà Minh, Trung Quốc. Đây là câu chuyện được nhiều người biết đến nhất khi nói đến nguồn gốc của áo dài. Vì vậy ta có thể nói áo dài có xuất xứ từ phương Bắc.

    Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài của Việt Nam vừa hiện đại lại vừa truyền thống. Trang phục này không giới hạn địa điểm hay thời gian, ta có thể mặc nó ở mọi lúc mọi nơi. Đi chơi với bạn

    bè, tại công sở, tiếp khách cũng rất trang trọng, nó còn là người bạn gắn liền với nữ sinh và cũng không thể thiếu đối với những bữa tiệc. Việc mặc áo dài cũng rất đơn giản, không rườm rà như mặc kimono hay hanbok. Có thể mặc kèm với áo khoác hay khăn choàng cũng rất trang trọng, dưới chân thì đi giày cao gót, đi hài,… Một người phụ nữ có nhan sắc trung bình khi mặc áo dài lại trở nên mềm mại, thướt tha một cách lạ thường. Đây chính là điểm đặt biệt của trang phục này. Chính vì vậy mà các nhà tạo mẫu không ngừng thiết kế, sáng tạo cho áo dài thêm trẻ trung, năng động.

    Vào khoảng thế kỉ XVII, một nhà phê bình người Ý đã cho rằng kiểu cách ăn mặc của người Việt Nam rất kín đáo. Tuy là một nước thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới nhưng có thể nói là kín đáo nhất so với các dân tộc khác ở châu Á. Một nhà phê bình khác lại cho rằng người Việt có cổ không cao lắm, vì vậy họ đã biết may cổ áo thấp, khoảng từ một đến hai phân, rồi búi tóc hoặc vấn khăn để có cảm giác chiếc cổ dài ra. Đây cũng là lí do các nhà tạo mẫu không ngừng nghiên cứu, sáng tạo. Từ chiếc cổ truyền thống cho đến cổ trái tim, cổ tròn và cổ thuyền, …mang đậm chất phương Tây. Vào thế kỉ XIX là thời kì mà các nhà tạo mẫu áo dài xuất hiện nhiều nhất. Lúc đó vai áo được may phồng, được trang trí thêm hạt cườm ở phía sườn bên phải. Cổ áo được gắn thêm cổ bẻ hoặc nơ nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến năm

    1. Vào đến năm 1950, sườn áo đã may có eo, những người thợ khéo tay đã biết may áo lượn theo thân người. Vạt áo được cắt ngắn và hẹp. Gấu áo cắt thẳng và ngắn hơn, thân áo sau rộng hơn thân áo trước. Cho dù bị chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Đông nhưng áo dài vẫn giữ được nét đẹp riêng của mình. Trong các cuộc thi sắc đẹp, phần thi áo dài thật sự rất quan trọng. Và giờ đây các nữ sinh đã không còn xa lạ gì nữ với tà áo dài thướt tha bay trong gió.

    Em thật sự rất tự hào với bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình. Giờ đây tà áo dài phất phơ trên đất bạn là một tín hiệu đáng vui của người Việt.

  • Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Đọc – hiểu đoạn trích Vào phủ chúa trịnh

    Văn mẫu lớp 11

    Đọc – hiểu đoạn trích “Vào phủ chúa trịnh”

    BÀI LÀM

    1. Tim hiểu chung
    1. Tác gi

    – Lê Hữu Trác (1724 -1791) hiệu Hải Thượng Lãn Ông

    • Là y học, nhà văn, nhà thơ lớn nữa cuối thế kỉ XVIII. Ông là tác giả của bộ sách y học nổi tiếng “ Hải Thượng y tông tâm lĩnh”
    1. Tác phẩm “Thượng kinh ký sự” và đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”
    1. Tác phẩm “Thượng kinh ký sự”

    – Thượng kinh ký sự là tập nhật kí bằng chữ Hán, in ở cuối bộ “Y tông tâm tĩnh”

    – Tác phẩm tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa phủ chúa Trịnh và quyền uy thế

    lực của nhà chúa.

    1. Về đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”

    * Nội dung: SGK

    * Bố cục:

    1. Thể loại

    Thể kí sự là những thể văn xuôi ghi chép những câu chuyện, sự việc, nhân vật có thật và

    tương đối hoàn chỉnh.

    1. Đọc – hiểu văn bản

    1.Tác giả kể chuyện được vua cho đem cáng đến đón vào cung chữ bệnh

    – Cảnh bên ngoài:

    • Mấy lần cửa, theo đường bên trái dành cho người ngoài cung.
    • Tác giả thấy đâu đâu cũng cây cối “um tùm”, tiếng chim ríu rít, hoa đua thắm, mùi

    hương thoang thoảng, hành lang nối nhau liên tiếp, lời truyền báo rộn ràng, người qua lại

    như mắc cửi…

    • Quang cảnh phủ chúa Trịnh cực kì xa hoa tráng lệ nhằm khẳng định quyền uy tột cùng của nhà chúa trong khi đó dân tình trong nước đang chịu nhiều khổ cực vì đói rét, vì chiến tranh.
    1. Tác giả kể và tả những điều mắt thấy tai nghe khi được dẫn vào cung

    – Tác giả đi qua mấy lần cửa đến một cái điếm, ở đó “ có những cây lạ lùng và những hòn

    đá lì lạ”, “ cột và bao lơn lượn vòng”

    – Vượt qua một cái cửa lớn, bị chặn lại vì tác giả ăn mặc có vẻ lạ lùng”

    • Qua một đại đường rồi đến một gác tía, qua một cửa nửa tác giả quan sát kĩ “ nhà lớn thật cao và rộng, hai bên hai cái kiệu …trên sập mắc một cái võng điều”

    => Tác giả đã bị ngợp , bị động trước cảnh uy nghi cẩn mật quá mức tưởng tượng.

    • Thái độ của tác giả: tự coi mình là “quê mùa” → khiêm tốn thân mật với các lương y. Đó là nét nhân cách của ông.
    1. Tác giả kể và tả việc đi sâu vào nội cung và khám bệnh cho thế tử
    • Cảnh thâm cung: trướng gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáng lấp lánh, hương hoa

    ngào ngạt, cung nhân xúm xít, màu mặt phấn, màu áo đỏ.

    • Thủ tục rườm rà, nhiêu khê: bữa ăn sáng của tác giả ở điếm hậu mã, cảnh mọi người chầu chực hầu thế tử, cảnh chuẩn bệnh kê đơn, phải lạy chào bốn lạy, lại được khen một câu : “ Ông này lạy khéo”
    • Nội cung là một cảnh vàng son, nhưng tù hãm, thiếu không khí, ngột ngạt, cuộc sống thế tử như “ con chim non nhốt trong lồng son”.
    1. Tác giả nhận định bệnh và đề ra phương án chữa bệnh
    • Bồi dưỡng thể lực, thể lực tốt sẽ đuổi được bệnh (Quan điểm này xuất phát từ cuộc sống của thế tửi và các biểu hiện bên ngoài của bệnh)
    • Phương sách hòa hoãn, kéo dài thời gian chữa bệnh để ông có thể về lại quê nhà.

    => Đó là người thày thuốc giỏi ,giàu kinh nghiệm, có lương tâm ,có y đức.

    => Một nhân cách cao đẹp ,khinh thường lợi danh,quyền quí, quan điểm sống thanh đạm

    ,trong sạch.

    1. Bút pháp kí sự đặc sắc của tác phẩm
    • Khả năng quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động
    • Lối kể khéo léo ,lôi cuốn bằng những sự việc chi tiết đặc sắc.
    • Có sự đan xen với tác phẩm thi ca làm tăng chất trữ tình của tác phẩm.
    1. Tổng kết

    Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” phản ảnh quyền lực to lớn của Trịnh Sâm, cuộc sống xa

    hoa hưởng lạc trong phủ chúa đồng thời bày tỏ thái độ coi thường danh lợi quyền quý của

    tác giả.

  • Văn mẫu  Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    Văn mẫu lớp 10

     Thuyết minh về Hoàng Đức lương và tựa Trích diễm thi tập

    BÀI LÀM

    Nói đến Hoàng Đức Lương là phải nói đến bộ sách Trích diễm thi tập.Bộ sách

    khép lại cả một thời kỳ dài sưu tập thơ văn Lý – Trần từ Phan Phu Tiên với Việt

    âm thi tập đến Dương Đức Nhan với Tinh tuyển chư gia luật thi. Ý nghĩa của

    Trích diễm thi tập xưa nay từng được đánh giá rất cao, ở chỗ sau chính sách hủy

    diệt văn hóa tàn khốc của nhà Minh hồi đầu thế kỷ XV, thì đến thập niên cuối

    thế kỷ, Hoàng Đức Lương đã có công tìm kiếm, lưu chép cho hậu thế đến 15

    cuốn (trên thực tế chỉ còn 6 cuốn) về thi ca các triều đại trước Lê sơ. Sau này

    nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu khác từ cổ đến cận, hiện và đương đại cũng đã

    phải dựa vào đó rất nhiều để tiếp tục bồi đắp vốn văn chương cổ. Do đó, ngoài ý

    nghĩa văn học sử, Trích diễm thi tập còn có ý nghĩa to lớn đối với văn hóa, văn

    hiến nước nhà.

    Trước hết, tác giả nêu bật được một quan niệm về thơ bằng cách dùng hình ảnh

    so sánh thú vị: “Đối với thơ ca, người xưa thường ví với nem chả, hoặc ví với

    gấm vóc. Nem chả là vị rất ngon ở đời, gấm vóc là mầu rất đẹp ở đời. Phàm

    người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng, mà không vứt bỏ khinh thường. Có

    điều là: sắc đẹp của thơ lại ở ngoài mọi sắc đẹp, mắt thường không thấy được;

    cũng vậy, vị ngon của thơ lại ở ngoài mọi vị ngon, miệng thường không nếm

    thấy. Chỉ có thi nhân mới có thể thấy được sắc đẹp đó, nếm được vị ngon đó”.

    Như thế Hoàng Đức Lương cho rằng thơ là phải đẹp, mà phải “ở ngoài mọi sắc

    đẹp”, nghĩa là cái đẹp thông thường theo quan niệm của người đời là không thể

    so được.. Vậy, vẻ đẹp của thơ phải là vẻ đẹp mang tính vĩnh cửu, nó không bị

    biến chất, không bị mọi thứ tư duy thông thường xâm thực. Thơ không theo quy

    luật chung của cái đẹp thông thường. Thơ đã thế, người làm ra thơ cũng là loại

    người đặc biệt khác thường mới có thể “thấy” và “nếm” được thơ. Ở đây, theo

    quan niệm của Hoàng Đức Lương thì thi nhân vừa là người sáng tác, vừa là

    người thưởng thức, phê bình. Quan niệm như thế nên khi làm sách Hoàng Đức

    Lương chỉ Trích diễm, tức là chỉ chọn lựa cái hay, cái đẹp. Xem qua có vẻ như

    tác giả đã “tuyệt đối hóa” vai trò của thơ và của thi nhân, nhưng ngẫm kỹ thì

    dường như ông đã có lý. Thơ đối với cổ nhân đúng là một địa hạt đặc biệt, sau

    này Ngô Thì Sĩ cũng cho rằng kẻ phàm không vào thơ được.Hơn nữa, quan

    niệm của Hoàng Đức Lương còn tiến một bước xa trên con đường nhận thức

    thơ. Khi viết Tựa cho Việt âm thi tập vào năm 1433,

    Nhưng rõ ràng, cạnh việc nói chí thì thơ bao giờ cũng là địa hạt của xúc cảm

    thẩm mĩ, của cái đẹp. Có thể Hoàng Đức Lương còn đi xa hơn cả quan niệm của

    chúng ta hiện nay khi ông cho rằng cái đẹp của thơ còn “ở ngoài mọi sắc đẹp”

    như đã nói trên.

    Tiếp theo, bài Tựa còn đưa ra quan niệm về sự tiếp nhận, lưu truyền văn học, về

    thi học và phần nào là vấn đề tự do văn học. Sự tiếp nhận văn học, nói như ngôn

    từ hiện nay, thì ở người xưa là việc thẩm bình, cái mà tác giả đã gọi là nếm và

    thấy. Tức là yêu cầu người tiếp nhận phải có cả năng khiếu và năng lực, cũng có

    ý chỉ người tiếp nhận phải ở một trình độ cao, phải có một tầm đón nhận tương

    xứng. Biết sáng tác thơ và hiểu thơ là khó, nhưng tác giả vẫn muốn công việc

    sưu tập của mình “cốt được truyền bá rộng” di sản thơ Lý – Trần. Hẳn là có

    khao khát muốn bồi bổ, nâng cao năng lực tư duy, năng lực thẩm mĩ cho các thế

    hệ người đọc bằng thơ. Khái niệm thi học mà Hoàng Đức Lương dùng có ý chỉ

    cách học, phép làm thơ, nhưng cũng có thể hiểu là việc nghiên cứu tìm hiểu thi

    ca (Đức Lương thi học duy thị Đường chi bách gia – Thi học của Đức Lương

    tôi, duy chỉ dựa vào các thi gia đời Đường). Lê Quý Đôn rất tinh tường khi nói

    về Hoàng Đức Lương là người cực thích thi học (“khốc hiếu thi học”). Do đó,

    có thể thấy ngay từ thế kỷ XV, Hoàng Đức Lương đã nói đến vấn đề thi học,

    một trong những vấn đề cốt tử của thi ca.

    Khái niệm thi học bấy giờ nghĩa có thể chưa rộng như ngày nay, nhưng quả là

    cái gốc rễ thì đã thấy rõ. Bài Tựa cũng nêu ra một thực tế: “Qua sách vở thời Lý

    – Trần truyền lại đến ngày nay, chỉ thấy sách nhà chùa là nhiều.

    Thật ra, đâu có phải vì các nhà Nho học không giỏi bằng các nhà Phật học. Mà

    chính là trong nhà chùa không có sự cấm đoán in sách, cho nên mới có bản khắc

    truyền về sau.

    Còn thơ ca của các nhà Nho nếu như chưa được nhà vua cho phép, thì không

    được in ra để lưu hành” (4). Đó là sự chặt chẽ và lề luật quá nghiêm khắc đương

    thời.

    Toàn bộ thơ văn phải qua tay kiểm duyệt của một ông vua. Mặc dù nhà vua có

    cả một đội ngũ để giúp việc, nhưng việc “dắt bò qua cổ chai” đó đã khiến thơ

    văn mất hẳn sinh sắc. Người sáng tác lúc nào cũng nơm nớp húy phạm, nơm

    nớp câu chuyện “văn tự ngục”.

  • Văn mẫu Bình giảng bài Tống biệt hành

    Văn mẫu Bình giảng bài Tống biệt hành

    Văn mẫu Bình giảng bài Tống biệt hành

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Hãy phân tích bài Ngắm trăng


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Bình giảng bài Tống biệt hành

    Văn mẫu lớp 9

     Bình giảng bài Tống biệt hành

    BÀI LÀM

    Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi. Ngày 18.8.1950, nhà thơ mất trên

    đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng. Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi.

    Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng

    nghề vẽ tranh, viết văn, làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm.

    Đã thế,Thâm Tâm làm thơ ít, số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục. Nhưng

    thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi. Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài

    thơ về hoa ti gôn, màu hoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ,

    loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

    Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm , cũng là bài thơ Mới có nhiều ý

    kiến, bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.

    Bài thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào. Năm sau, được

    đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, với lời bình của Hoài Thanh:

    Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới

    đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt.

    Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ.

    Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

    • kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến

    nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những

    người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.

    Tên bài thơ:

    Tên bài thơ không có gì là khó hiểu, rõ ràng đằng khác: tiễn đưa nhau khi li biệt. Chỗ dễ

    gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành. Hành vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là

    khúc hát, bài ca. Bởi vậy, khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ

    nguyên chữ ấy như Trường Can hành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… mặc dù

    Trường Can, Lũng Tây đều là địa danh. Xa hơn nữa , người ta thấy , hành là thể thơ vốn

    thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ , Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ ,

    tức những bài thơ có thể phổ nhạc , nhưng chỉ để dùng trong cung cấm. Do đó, Trường

    Can hành là một khúc Nhạc phủ , song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ . Nội dung hai

    bài hoàn toàn khác nhau. Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về

    hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết . Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều

    đề tài : tình yêu nam nữ , về chiến tranh , loạn lạc , chia li… Thời Đương , các bài thơ

    hành thường viết theo thể thất ngôn (Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí

    Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài ,

    ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).

    Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông, thơ hành không thiếu. Ở Việt

    Nam , có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du. Tuy nhiên ,nhìn chung , số

    lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác. Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những

    năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bài hành của các nhà thơ Thâm

    Tâm (Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành). Nhiều bài thơ của các ông dù

    không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu. Cả ba vốn là bạn bè

    thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ

    Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.

    Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc,

    Duynh Trầm Ca… Thơ của họ, tuy nội dung có khác, nhưng gần gũi với các bậc “tiền

    bối” ở cái giọng kiêu bạc, khinh đời:

    • Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu Mà say chưa chắc đã quên đời Và chưa chắc ấm sầu xa xứ

    Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người

    (Hoàng Lộc)

    Rượu cuối năm gió lọt lòng ly

    Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ

    Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ

    Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay

    Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…

    (Đuynh Trầm Ca)

    Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm

    Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu

    thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành

    thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những

    điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt

    trái của chuyện đời:

    Quên mình, thề giết Hung Nô

    Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.

    Bên sông Vô Định xương tàn,

    Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.

    (Trần Trọng San dịch)

    Hay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang

    tàng, kiêu bạc:

    Rãy ruồng châu ngọc, thù son phấn

    Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay

    Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt

    Giữa chợ ai khóc mà nhân thay

    Rõ ràng, thơ hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là thơ hành của chính

    các ông, những nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

    Chuyện Tống Biệt

    Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm

    Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn

    Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng

    không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

    ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu

    tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu (

    Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với

    khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ:

    Ta đi theo đuổi bước tương lai,

    Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi

    Chí nặng bốn phương trời nước rộng,

    Từ nay thêm bận nỗi thương ai.

    Những chỉ gần mà không giống. Cách nhau độ năm, mười năm mà đã thế, làm sao bảo li

    khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?

    Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của

    không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư?

    Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:

    Những ngày nghỉ học tôi hay tới

    Đón chuyến tàu đi đến những ga

    Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,

    Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

    ( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )

    Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích:

    Kẻ về không nói bước vương vương…

    Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.

    Lẽo đẽo tôi về theo bước họ

    Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.

    Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy

    mãi trong lòng họ:

    Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?

    Ai đã làm chi lòng ta ?

    ……………………………………

    Ta đã làm chi đời ta xưa?

    Ta đã dùng chi đời ta chưa?

    Thiên thu? ngờ sự nghiệp!

    Chiều mưa rồi đêm mưa;

    Gió lùa gian gác xép,

    Đời tàn trong ngõ hẹp.

    ( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )

    Với các nhà thơ trường phái thơ hành, nỗi đời còn bức bách hơn. Trần Huyền Trân gào

    thét:

    Thế rồi thí bỏ rủi may

    Đưa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu

    Vai cày chẳng kẻo làm trâu

    Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm

    Nẻo về chật chội áo cơm

    Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…

    (Độc hành ca )

    Đi không đòng nghĩa với sung sướng. Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại: Kinh

    thành mây đỏ như son, Cái lồng chật chội giam con chim trời (Trần Huyền Trân-Vô đề).

    Người đi có phần bất chấp:

    Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,

    Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.

    (Nguyễn Bính –Hành phương Nam )

    Sau này, khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình (cũng là một cuộc

    ra đi từ trước năm 1945), Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải

    là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ

    khác , vì một bi kịch riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình đang

    quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về

    bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994).

    Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không

    chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994), có Bọn ta một lớp lìa nhà. Ở Can trường

    hành (1944), có chàng là bậc trẻ không biết sợ… Vợ con thí tất cho thiên hạ… Ta lênh

    đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó, vào năm 1940, người ra đi với bao quyết tâm:

    Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi

    Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe

    Đời nhiều nhưng có dăm người bạn

    Thì viễn li không có đường về

    ……………………………………………

    Ngày mai ngược gió tôi đi ngược

    Ai có quan tâm gọi trở về

    Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi

    Ngày mai cay đắng nhất li bôi…

    ( Ngược gió )

    Đến năm 1944, chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người

    đi lại rất cụ thể:

    Tiệc này đêm cuối mai chia li

    Anh cố lưu tôi có ích gì

    ………………………………….

    Đất trời rộng quá tôi không chịu

    Cắm chặt sông đây một cánh bè

    ……………………………………………

    Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh

    Sẽ thấy se lòng trận gió tê

    Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa

    Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .

    Cách đây không lâu, nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách

    ở bài thơ Tống biệt hành. Rất tiếc, các tư liệu ấy, có độ tin cậy cao (một người bạn thân

    của Thâm Tâm, một người là nhà văn cùng thời), nhưng lại trái ngược nhau. Tôi đồ rằng,

    sẽ còn những phát hiện như thế nữa. Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận

    bài thơ thêm khó khăn. Giả dụ rằng, không có cuộc chia tay với những con người cụ thể

    kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành, bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là

    chính nhà thơ Thâm Tâm!

    Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

    Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài

    thơ hay nhất của Thâm Tâm .

    Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp, như một thông báo, không nhiều lời:

    Đưa người, ta không đưa qua sông.

    Song, đây lại là câu mở đầu,khiến người ta liên tưởng rất xa. Đây là chuyện Kinh Kha

    ,người nước Tề , thời chiến quốc . Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng. Khi Tần sắp đem

    quân uy hiếp nước Yên , thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông

    Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:

    Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,

    Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

    (Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,

    Tráng sĩ một đi không trở về).

    Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung

    điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương. Đời

    Đường, Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao

    cảm khái:

    Tích thời nhân dĩ một,

    Kim nhật thuỷ do hàn.

    (Người xưa đã khuất rồi.

    Nước sông còn lạnh buốt).

    Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là

    chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu

    ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :

    Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

    Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,

    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

    Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng

    nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà

    dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng

    ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều

    đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật

    hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.

    Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi

    buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy

    ,mới có những câu thơ tiếp theo :

    Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,

    Một gã gia đình, một dửng dưng…

    Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất

    dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa

    tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà

    tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể

    cưỡng lại đuợc:

    • Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,

    Chí nhớn chưa về bàn tay không,

    Thì không bao giờ nói trở lại!

    Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.

    Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản

    ,bình thường.Việc gì người ta phải đánh đuổi, kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ

    thiêng liêng để ra đi , nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng

    chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời

    ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :

    Ta biết người buồn chiều hôm trước :

    Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

    Một chị ,hai chị , cùng như sen,

    Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

    Ta biết người buồn sáng hôm nay:

    Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,

    Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,

    Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

    Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và

    “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người

    ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh

    và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng

    nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:

    Đời người say tỉnh được bao dịp

    Xin cạn chén rượu để tôi đi

    Đau tình không xót bằng đau nghĩa

    Tay gầy cũng ném chén vô tri

    Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió

    Lòng không cùng sống với cầm thi…

    Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được

    Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ

    ngác:

    Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!

    Mẹ già coi như chiếc lá bay,

    Chị thà coi như là hạt bụi,

    Em thà coi như hơi rượu say.

    Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm

    hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm

    Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.

  • Văn mẫu Tiểu sử Lê Hữu Trác

    Văn mẫu Tiểu sử Lê Hữu Trác

    Văn mẫu Tiểu sử Lê Hữu Trác

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu lớp 9 Liên kết câu và liên kết đoạn văn


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Tiểu sử Lê Hữu Trác

     

    Văn mẫu lớp 10

     Tiểu sử Lê Hữu Trác

    BÀI LÀM

    Lê Hữu Trác (1720 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, quê ở làng Liêu Xá,

    huyện Đường Hào (nay là huyện Mỹ Vǎn, tỉnh Hải Hưng).Hải Thượng Lãn ông tên thật là Lê Hữu Trác, quê tại thôn Văn Xá, làng Lưu Xá, huyện Ðường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Hưng).Ông được biết đến là:

    • nhà y học có học vấn uyên bác;
    • nhà dược học nổi tiến, nhà thơ;
    • nhà vǎn xuất sắc;
    • nhà tư tưởng tiến bộ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo, có ý chí độc lập sáng tạo trong nghiên cứu.

    Lê Hữu Trác xuất thân từ một gia đình (ông, cha, chú, bác, anh, em) đều học giỏi, đỗ cao, làm quan to của thời vua Lê chúa Trịnh. Cha là Lê Hữu Mưu đỗ đệ tam giáp tiến sĩ và làm quan dưới triều Lê Dụ Tôn tới bậc thượng thư. Mẹ là Bùi Thị Thưởng quê ở xứ Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

    Biệt hiệu Hải Thượng do hai chữ đầu tiên tỉnh (Hải Dương) và tên phủ (Thượng Hồng), nhưng cũng có thể do chữ Bầu thượng là quê mẹ và là nơi Hải Thượng ở lâu nhất, từ năm 26 tuổi đến khi mất. Hải Thượng Lãn Ông có nghĩa là ông lười ở Hải Thượng. Nhưng thực tế chúng ta sẽ thấy lười ở đây là lười với công danh phú

    quý nhưng rất chăm chỉ đối với sự nghiệp chữa bệnh cứu người.

    Lúc nhỏ, Lê Hữu Trác theo cha lưu học ở thủ đô Thăng Long. Ngày còn đi học, Lê Hữu Trác đã nổi tiếng là học trò hay chữ, và đã thi vào tam trường.

    Năm 19 tuổi, cha mất sớm nên Lê Hữu Trác phải thôi học về nhà chịu tang. Lúc này khắp nơi nghĩa quân nổi lên chống chính sách hà khắc của chúa Trịnh, nhân dân rất khổ sở, nghĩa quân lại nổi ngay ở làng bên cạnh quê hương, nên không thể ngồi yên mà học được. Lê Hữu Trác đành xếp bút nghiên theo nghiệp kiếm cung.

    Rõ ràng đây là công việc không hợp ý Lê Hữu Trác. Cho nên khi được tin người anh mất, Lê Hữu Trác xin ra khỏi quân ngũ, lấy cớ về thay anh “nuôi mẹ già 70 tuổi và mấy cháu mồ côi” ở Hương Sơn.

    Về Hương Sơn không lâu thì Lê Hữu Trác bị ốm nặng trong vòng hai, ba năm liền chữa khắp nơi không khỏi. Chính trận ốm này là bước ngoặt quan trọng đối với cuộc đời của Lê Hữu Trác và nghề thuốc Việt nam. Sau nhiều năm tìm thầy chữa bệnh không kết quả, Lê Hữu Trác nhờ cáng đến nhà một thầy thuốc ở Rú Thành thuộc xã Trung Cần, huyện Thanh Chương (nay là xã Nam Trung, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An) tên là Trần Ðộc thi đỗ cử nhân rồi ở nhà làm thuốc được nhân

    dân rất tín nhiệm.

    Qua hơn một năm ở nhà thầy thuốc, Lê Hữu Trác đã khỏi bệnh. Trong thời gian nằm chữa bệnh ở đây, những lúc rỗi rãi Lê Hữu Trác mượn bộ sách thuốc Phùng thi cẩm nang Trung quốc để đọc, phần lớn đều hiểu thấu, thầy thuốc Trần Ðộc lấy làm lạ và đã có ý muốn truyền đạt nghề mình cho Lê Hữu Trác. Mặc dù lúc này Lê Hữu Trác đã phát hiện thấy trên đời còn một công việc rất quan trọng đối với con người là bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh cứu người nhưng cũng chưa quyết chí học thuốc. Lê Hữu Trác đã viết: “… Những chỗ ý nghĩa sâu xa về dịch lý âm dương trong sách thuốc, tôi đều hiểu thấu. Trần tiên sinh lấy làm lạ muốn đem hết cái hiểu biết về y học dạy cho tôi, nhưng lúc bấy giờ vì bận việc tôi chưa chú ý học…”.

    Ðến khi Lê Hữu Trác 30 tuổi, sức khỏe đã trở lại, tướng của chúa Trịnh cho người tới mời Lê Hữu Trác trở về quân ngũ, Lê Hữu Trác cố ý xin từ và lúc này mới quyết chí học thuốc. Lê Hữu Trác viết: “…Cái chí bon chen trong trường danh lợi mình đã vứt bỏ đi lâu rồi, nên xin cố từ, lấy cớ còn mẹ già không thể đi xa được. Và trở lại Hương Sơn làm nhà ở ven rừng quyết chí học thuốc, tìm đọc khắp các sách, đêm ngày mài miệt, tiếc từng giây phút”. Và từ đấy Lê Hữu Trác lấy biệt hiệu là Hải Thượng Lãn Ông.

    Vì nơi ở của Hải Thượng rất hẻo lánh, trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp cho, Hải Thượng phải tự học là chính. Ðể việc học tập có kết quả

    hơn, Hải Thượng đã làm bạn với một thầy thuốc nữa cũng họ Trần ở làng Ðỗ Xá

    gần làng Tình Diệm để cùng nhau trao đổi những kiến thức thu thập được trong khi đọc sách.

    Do kiến thức rộng, chẩn bệnh kê đơn thận trọng cho nên Hải Thượng Lãn Ông đã chữa khỏi nhiều trường hợp khó mà người khác chữa không khỏi, tên tuổi Hải Thượng lan nhanh khắp nơi, tới tận thủ đô Thăng Long. Trong thời kỳ này, cùng với việc chữa bệnh Hải Thượng Lãn Ông đã mở trường đào tạo thầy thuốc, người quanh vùng và các nơi xa nghe tiếng đều tìm đến học. Lãn Ông lại tổ chức ra Hội y ??

    Vừa chữa bệnh, vừa dạy học, Hải Thượng Lãn Ông vừa biên soạn sách.

    Năm 62 tuổi, Hải Thượng Lãn Ông được chúa Trịnh Sâm triệu ra thủ đô Thăng Long để chữa bệnh cho con là Trịnh Cán.

    Không may cho Hải Thượng, ra thủ đô Thăng Long ở gần một năm trời, cả hai việc

    đều không thành: đến thủ đô, Hải Thượng được đưa vào khám bệnh ngay cho

    Trịnh Cán, nhưng đơn thuốc kê lên bị các thầy thuốc khác trong phủ chúa gièm pha

    và không được dùng. Sách thuốc cũng chẳng tìm được ai chịu trách nhiệm cho in.

    Nhưng cũng chính trong chuyến đi này, Hải Thượng đã rất vui mừng được biết

    sách thuốc của mình biên soạn không những đã được học trò sao chép dùng tại chỗ

    mà còn được đưa đi rất xa tới tận thủ đô và có người nhờ học sách thuốc của mình

    mà đã trở thành thầy thuốc giỏi ở thủ đô nên đã lập bàn thờ, thờ sống Hải Thượng để tỏ lòng nhớ ơn.

    Cuối năm đó (1782) Hải Thượng Lãn Ông trở lại Hương Sơn, tiếp tục dạy học, biên soạn thêm một số tập trong toàn bộ tác phẩm “Y tông tâm lĩnh” cho đến khi ông mất. Nhân dân táng mộ Hải Thượng ở chân núi Minh Từ, khe Nước cạn, cách thị trấn Phố Châu, huyện Hương Sơn 4km, hiện nay vẫn còn.

    Hải Thượng Lãn Ông được nhân dân đương thời chú ý và trọng vọng do tài chữa bệnh, dạy học, viết sách và làm thơ văn.

    Sau khi Hải Thượng Lãn Ông mất, cho đến ngày nay chúng ta biết, học tập và nhớ ơn Hải Thượng Lãn Ông là do tác phẩm “Y tông tâm lĩnh” nghĩa là những điều đã lĩnh hội được của những thầy thuốc trước. Hiện nay người ta gọi tác phẩm này là “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”.

    Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác, thân thế và sự nghiệp, là niềm tự hào của dân tộc ta. Tuy sống cách ta hơn 250 năm, những tư tưởng và phương pháp tư tưởng tiến bộ cũng như thái độ khoa học chân chính của Hải Thượng Lãn Ông vẫn còn là bài học còn tính chất thời sự và rất quý báu đối với chúng ta ngày nay.

  • Văn mẫu Chứng minh văn học là tình thương

    Văn mẫu Chứng minh văn học là tình thương

    Văn mẫu Chứng minh văn học là tình thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Chứng minh câu Có công mài sắt, có ngày nên kim


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Chứng minh văn học là tình thương

    Văn mẫu lớp 9

     Chứng minh văn học là tình thương

    BÀI LÀM

    Từ khi xa xưa con người biết phản ánh tâm tư tình cảm của mình qua văn học truyền

    miệng hay trên những trang giấy, văn học đã trở thành người bạn thân thiết, gắn bó với

    con người. Nó là sợi dây liên kết vô hình khiến con người xích lại gần nhau hơn. Văn học

    giúp cho con người chung sống với nhau bằng tình cảm đẹp đẽ, sự sẻ chia và cảm thông.

    Vì thế ngay từ khi sinh ra, văn học và tình thương đã có mối quan hệ chặt chẽ: tình

    thương tạo nên sự hấp dẫn cho văn học và văn học có nhiệm vụ quan trọng là truyền tải

    tình thương.

    Văn học vô cùng quan trọng đối với cuộc sống tinh thần của con người. Nó là một bộ

    môn nghệ thuật có từ rất lâu đời, là công cụ giúp con người bày tỏ cảm xúc hay tình cảm

    của mình bằng những từ ngữ, kí hiệu và con dấu. Các tác phẩm văn học được làm nên từ

    các chất liệu có trong cuộc sống chính vì vậy chúng miêu tả được cuộc sống muôn hình

    vạn trạng một cách chân thực và chính xác hơn bất cứ ai. Văn học cũng chính là chiếc

    chìa khoá vàng mở rộng lòng nhân ái trong tâm hồn, phát triển nhân cách tốt đẹp. Văn

    học gồm nhiều thể loại tác phẩm nhgệ thuật như truyện ngắn, tự truyện, hồi kí hay tiểu

    thuyết,…

    Ta có thể nói văn học là nhân học, tức là nó có tính nhân văn. Văn học chứa đựng trong

    nó muôn vàn những tình cảm tốt đẹp giữa con người. Đó chính là tình thương. Nhưng cụ

    thể hơn, tình thương được thể hiện trong văn học khá sâu sắc và đa chiều. Chúng thể hiện

    những cung bậc cảm xúc khác nhau của con người. Đó cũng là khi những nhà văn, thi sĩ

    bộc lộ sự thương cảm xót xa sâu sắc đối với những mảnh đời, thân phận bất hạnh; phê

    phán gay gắt những việc làm sai trái và những kẻ chà đạp lên con người; hay là lời ca

    ngợi vẻ đẹp quê hương, thiên nhiên, đất nước.

    Văn học và tình thương gần như là hai khái niệm không thể tách rời, có quan hệ chặt chẽ

    với nhau. Văn học thể hiện tình thương trong nhiều mối quan hệ khác nhau. Ấm áp và

    thiết tha như tình cảm gia đình, cái nôi hình thành nhân phẩm đạo đức của mỗi người.

    Cũng vì vậy mà người xưa cũng rất coi trọng tình cảm thiêng liêng này và trân trọng đặt

    nó lên hàng đầu qua câu ca dao:

    “ Công cha như núi ngất trời,

    Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông.”

    Công lao cao cả của người bố cùng tình thương vô bờ bến của người mẹ được so sánh với

    các hình ảnh hùng vĩ của thiên nhiên đã in sâu vào tâm trí nhũng người làm con giúp cho

    họ làm tròn chữ hiếu, đền đáp lại công ơn trời biển của cha mẹ. Còn trong văn học hiện

    đại, tác phẩm tiêu biểu mà ta đã được học là “ Trong lòng mẹ”. Bài văn thể hiện tình cảm

    trong sáng, sâu sắc của bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh của mình. Bằng cả tâm hồn

    và tình yêu thương, em đã cố giữ cho hình ảnh người mẹ nhân hậu, hiền dịu không bị vấy

    bẩn bởi nhũng hủ tục và thành kiến thâm độc. Vì sao mà một cậu bé còn nhỏ đã có thể có

    tình thưong lớn lao và lòng tin tưởng tuyệt đối về người mẹ đến vậy?

    Tình cảm gia đình không chỉ có tình mẫu tử mà còn có tình anh em thắm thiết. Sau khi

    đọc tác phẩm “Bức tranh của em gái tôi” bạn có thể cảm nhận được tấm lòng khoan

    dung, sẵn sàng tha thứ cho người anh trai để rồi giúp cho người anh thức tỉnh khỏi sự

    ganh tị và ghen ghét. Cũng là tình cảm anh em nhưng bài “Cuộc chia tay của những con

    búp bê” lại thấm nặng tình nghĩa và cuộc chia ly đẫm nước mắt, buồn tủi của những đứa

    trẻ bất hạnh. Chũng yêu thương nhau biết bao thì lúc xa nhau càng đau đớn bấy nhiêu.

    Nỗi đau đấy đã để lại một ấn tượng sâu nặng trong lòng người đọc, khiến họ càng thêm

    xót xa và khâm phục tình cảm thiết tha của hai anh em Thành và Thủy.

    Không chỉ thế, văn học cũng góp phần khắc họa nên sự gần gũi, thân thiết và vui vẻ của

    tình bạn- một thứ tình cảm đẹp không hề vụ lợi, toan tính. Và đó chính là nhũng gì mà

    Nguyễn Khuyến đã miêu tả một cách chân thực trong bài thơ “ Bạn đến chơi nhà”. Mở

    đầu bài thơ là một câu chào hỏi vồn vã, thân tình như reo lên khi người bạn tri kỉ đến.

    Bằng một giọng văn hóm hỉnh, ông đã nêu lên những thiếu thốn về vật chất để khẳng

    định một tình bạn gắn bó giữa mình và bạn. Phải đó là một tình bạn cao đẹp vượt lên trên

    tất cả những tầm thường về vật chất và của cải để đến với nhau bằng tấm lòng.

    Ngoài tình thương đối với những người mà ta thân quen, văn học cũng ca gợi tình cảm

    giữa những người cùng chung sống trong một xã hội. Vì vây, “thương người như thể

    thương thân” từ lâu đã trở thành một truyền thống dạo lý của người Việt Nam.

    Văn học ca ngợi tình cảm đẹp và đồng thời cũng phê phán những việc làm, hành động

    hay những kẻ chà đạp lên con người. Văn học luôn lên án gay gắt những kẻ chỉ biết nghĩ

    tới bản thân mà thờ ơ với mạng sống của người khác. Nhân vật điển hình mà học sinh đã

    được học là viên quan phụ mẫu trong bài “Sống chết mắc bay”. Hắn là một con người tàn

    nhẫn đến độ có thể bình thản mà ngồi chơi bài trong khi mưa bão đang cướp đi mạng

    sống của những người dân đen. Tiếng thét kinh hoàng hòa cùng với tiếng gió giật, mưa rít

    vẫn không làm bậc “quan cha mẹ” bận lòng. Câu chuyện kết thúc cũng là lúc quan thắng

    ván bài, tất cả mọi thứ đều chìm trong biển nước. Nụ cười hả hê, phi nhân nghĩa của quan

    vang lên càng xoáy sâu vào lòng người đọc sự thương cảm, xót xa đến tột độ đến những

    con người bất hạnh. Câu chuyện “Cô bé bán diêm” đã nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc

    bởi hiện lên từng trang sách là hình ảnhcủa một em bé mồ côi nghèo khổ không được

    sống trong vòng tay yêu thương của gia đình. Cảnh ngộ đó còn đáng thương hơn khi con

    người xung quanh cũng lạnh giá như mùa đông khắc nghiệt. Câu chuyện đã tố cáo một

    cách kín đáo sự thờ ơ và vô tâm của xã hội lúc bấy giờ đã đẩy những con người nghèo

    khổ vào bước đường cùng.

    Và ngay với những kẻ gian ác xảo quyệt, dối trá cũng vậy văn học quyết không nương

    tay với chúng. Như trong chuyện Lí Thông cuối cùng cái thiện cũng thắng cái ác, hai mẹ

    con Lí Thông bị biến thành những con bọ hung suốt ngày chui rúc nhũng chốn bẩn thỉu

    cho đến cuối đời vì những tội ác chúng đã gây ra.

    Văn học nước ngoài cũng góp phần làm phong phú thêm kho tàng tình cảm của con

    người. Đặc biệt nó ca ngợi cả tình cảm đẹp giữa những người không cùng ruột già máu

    mủ. Và O’henri đã chỉ rõ cho ta thấy điều đó qua tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”. Khi

    Giôn-xi bị ốm, Xiu cùng cụ Bơ-men đã hết lòng chăm sóc mong giành lại cô khỏi cái

    chết đang đến gần. Cụ Bơ-men tuy chỉ xuất hiện rất ít nhưng lại để lại ấn tượng sâu sắc

    nhất. Cụ yêu thương Giôn-xi như con gái mình và sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình

    để cứu Giôn-xi khỏi những suy nghĩ tuyệt vọng đang kéo cô xa dần cuộc sống thực tại.

    Văn học trau dồi tình thương, gợi cảm xúc cho con người, làm cho họ gắn bó với nhau.

    Có người đã từng nói “Tình cảm của con người cũng giống một viên kim cương thô mà

    nhờ có văn chương “mài nhẵn” mới trở thành viên đá quý đẹp gấp vạn lần”. Đọc các tác

    phẩm văn học ta thấy gần hơn với những nhân vật trong chuyện và từ đó biết lắng nghe,

    rung động, cảm thông, chia sẻ. Đó là bước đi đầu để hình nhân phẩm đạo đức và từ đó có

    những suy nghĩ, hành động đúng. Quả thật không sai, như M.Gorki đã từng nói “xét đến

    cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người”. Nhờ thế, văn học không

    chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn được mở rộng thành những viên gạch đầu tiên

    xây đắp ngôi nhà của tình thương giữa con người với con người trong xã hội.

    Từ tất cả những dẫn chững trên ta càng thấy văn học và tình thương gắn bó chặt chẽ với

    nhau đến chừng nào. Bởi lẽ tình thương khởi nguồn cho văn học và làm cơ sở để văn học

    tiếp tục truyền tải tình thương. Văn học và tình thương hòa quyện vào nhau và tạo nên

    những điều tốt đẹp nhất cho con người giúp con người phát triển theo một định hướng

    chung để ngày một hoàn thiện. Có vậy, con người mới có thể cùng nhau chung sống

    trong tình yêu thương.