Category: Ôn thi

  • MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ PHÂN TÍCH VĂN HỌC

    Ví dụ thứ nhất: Phân tích bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện

    Thanh Quan.

    – “Những bài làm văn mẫu lớp 11”, mở bài viết:

    “Hoài cổ” là nhớ xưa. “Thăng Long thành hoài cổ” là trước cảnh thành Thăng Long nhớ về xưa. Nguyễn thị Hinh quen gọi là Bà Huyện Thanh Quan, quê làng Nghi Tàm ven Hồ Tây, là người Thăng Long, đất kinh kỳ bao đời. Bà lại có học thức và lịch duyệt. Trước những thăng trầm của đất nước ở thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, nhìn cảnh Thăng Long, bà động lòng nhớ cổ thương kim là chuyện dĩ nhiên và dễ hiểu:

    “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường,

    Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.

    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

    Nước còn cau mặt với tang thương.

    Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

    Cảnh đến người đây luống đoạn trương”.

    Chữ nghĩa bài thơ đã khái quát cả thời đại non một kiếp người. Sự suy thoái của chế độ phong kiến Đàng ngoài lẫn Đàng Trong đã đến tận cùng: bế tắc, phản động,

    sụp đổ. Sụp đổ rồi gượng dậy, để đi đến phản động hơn và cuối cùng là đầu hàng, mất nước.

    • Bài “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan, chỉ đọc qua một lần, nhưng cái điệu thơ, hồn thơ làm ta bâng khuâng mãi:

    “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

    Cảnh đất người đây luống đoạn trường”.

    Nữ sĩ sống trong nửa đầu thế kỷ 19 ở nước ta. Bà chỉ để lại khoảng 6 bài thơ Nôm, thể thất ngôn bát cú Đường luật. “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”… là những bài thơ tuyệt bút. Ngôn ngữ trang nhã, giọng thơ du dương, điệu thơ chậm và buồn, màu sắc cổ kính, tài hoa… là phong cách thơ của nữ sĩ.

    Làng Nghi Tàm ven Hồ Tây là quê cha đất tổ của Bà Huyện Thanh Quan: xuất thân trong một gia đình quý tộc đời Lê, nên Thăng Long mãi mãi đẻ lại trong tâm hồn nữ sĩ những tình cảm vô cùng sâu sắc. Đầu thế kỷ 19, Phú Xuân trở thành kinh đô cảu triều Nguyễn, Thăng Long được đổi thành Hà Nội. Nôi niềm tâm sự nhớ xưa kinh thành Thăng Long là nỗi niềm của người đi xa. Có thể Bà Huyện Thanh Quan viết bài

    thơ này trong thời gian làm nữ quan “Cung trung giáo tập” tại Phú Xuân, những tháng ngày xa cố hương, xa nơi nghìn năm văn vật(?)”.

    • Tác giả bài số 32 cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” đã viết mở bài như sau: “Lại một bức tranh thuỷ mặc với mấy nét chấm phá không phải về một buổi trời

    chiều mà là về một bức tranh cổ: Thành Thăng Long xưa. Nếu gọi “Chiều hôm nhớ nhà” mang nặng tình non nước là có phần chưa thật thoả đáng thì với “Thăng Long thành hoài cổ” chúng ta được chứng kiến cái thế giới hoài cổ của nữ sĩ khi viết bài này. Ai cũng đều biết: đế đô Thăng Long từ triều Lý đến triều Hậu Lê đã ngót 800 năm lịch sử bi hùng. Lúc Gia Long lên ngôi (1802) lấy Huế làm kinh đô và đến triều Minh Mệnh thì đổi tên cựu đô Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Chưa biết lúc Bà Huyện Thanh Quan vào tân đô nhận chức Cung trung giáo tập dưới thời Minh Mệnh thì Thăng Long đã đổi thành Hà Nội chưa? Chắc chắn bài thơ này ghi lại sự kieenj trọng đại kể trên đã làm xúc động các cựu thần củ a tiên triều và nhân dân cả nước. Quả thật, “Thăng Long thành hoài cổ” (Nhớ Thăng Long xưa) là một tác phẩm nổi tiếng của Bà Huyện Quan, bởi vì nó tiêu biểu đầy đủ nội dung biểu đạt và hình thức thể hiện của chùm thơ bà”.

    2.                 Minh họa phân tích một phần trong thân bài

     

    • Ví dụ: Phân tích hai câu 5, 6 trong phần luận bài thơ “Đất Vị Hoàng” của Tú Xươ

     

    – Tác giả bài 49 cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” viết: “Keo cú người đâu như cứt sắt,

     

    Tham lam chuyện thở những hơi đồng”.

    Tính “keo cú”, tính “tham lam” vốn là sản phẩm của những mặt tiêu cực của cuộc sống đô thị hóa; con người hà tiện, keo cú để tích luỹ vốn liếng: con người sống trong môi trường kinh tế hàng hóa, thị trường, chạy theo đồng tiền, tham lam. Lối so sánh “keo cú như cứt sắt” ta vẫn gặp trong lời nói hằng ngày của nhân dân. “Tham lam chuyện thở những hơi đồng”, cách nói này ta cũng đã gặp trong “Truyện Kiều”: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”. Tú Xương đã sử dụng những hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ có trong truyền thống văn hóa cổ truyền để vạch trần những nét tiêu cực của tính cách con người trong thời đô thi hóa ở làng Vị Hoàng buổi ấy”.

    – “Sổ tay văn học lớp 11” đã phân tích:

    “Hai câu trong phần luận mở rộng ý thơ trong phần thực, làm cho bức tranh “Đất Vị Hoàng” được tô đậm sắc màu hiện thực. Không còn ước lệ nữa. Hai nét vẽ về cảnh đời đáng buồn, đáng thương hại đối nhau. Một bộ tứ bình biếm họa hoàn chỉnh.

    • cái đất Vị Hoàng thuở ấy nhan nhản những loại người “tham lam” và “keo cú”. “Keo cú” đến bần tiện, ghê tởm và hôi hám. Nhà thơ ngạc nhiên hỏi và so sánh: “người đâu như cứt sắt” sao mà đáng sợ, đáng khinh bỉ! Lại có loại người “tham lam” đến cùng cực, nhịp sống cuộc đời họ chỉ là chuyện thở rặt hơi đồng”. “Thở” là nhãn tự, rất linh diệu; nếu thay bằng chữ “nói” hay một từ nào khác thì không lột tả được bản chất loại người tham lam, đê tiện này. Vì đã “thở” phải đi liền với “hơi” – “hơi đồng”, tiền bạc. “Truyện Kiều” cũng có câu: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê!”. Chỉ vì tiền, coi tiền bạc là trên hết, là trước hết trong mọi mối quan hệ gia đình và xã hội. “Rặt” là từ cổ, là nói cách dân gian, nghĩa là “toàn là”, “đều là”. Phép đảo ngữ rất có giá trị thẩm mỹ, tạo nên ngữ điệu dữ dội, khinh bỉ, một tiếng chửi đời cay độc, lên án loại người tham lam, keo cú mất hết nhân tính:

    “Keo cú // người dâu như cứt sắt,

    Tham lam// chuyện thở rặt hơi đồng”.

    • Ví dụ: Phân tích một đoạn thơ trong bài “Tây Tiến của Quang Dũng: “Sài Khao sương lấp… Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

    – Thái Văn Vinh, lớp 12 chuyên Bình Định viết:

    “Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng núi ấy, nhớ về rừng núi ấy thiết tha như thẻ làm cho người đọc chú ý ngay. Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân:

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

    Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của một vùng rừng núi biên ải. Đọc đoạn thơ, chưa cần suy ngẫm cái nội dung bên trong chúng ta đã có thể hình dung ra cái con đường mà Quang Dũng miêu tả qua thanh luật của đoạn thơ. Kết cấu của đoạn thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khiễng. Nhạc điệu êm ả, triền miên. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng… Tất cả chỉ lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng mỗi địa danh gắn liền với một đặc điểm của địa vật: nếu ta chỉ thay “Sài Khao” bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy tan biến ngay. Đoàn quân Tây Tiến cất bước trên con đường xa vạn dặm,

    với cái trắc trở gập ghềnh của con đường. Đã “dốc len khúc khuỷu” mà lại còn “dốc thăm thẳm”, thì đúng là độ cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi. Đã “ngàn thước lên cao” rồi lại “ngàn thước xuống”, tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nỗi khó khăn của đoàn Tây Tiến khi hành quân. Nó có ghi lại một ấn tượng về một miền rừng núi thật là dữ dội và khắc nghiệt. Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nối thành cồn “heo hút”, và để diễn tả chiều cao của núi thì chỉ ba chữ “súng ngửi trời” là đủ đưa ta đến tuyệt đỉnh cao vời. “Súng ngửi trời” nghe thật ngộ nghĩnh. Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc. Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết cấu âm của đoạn thơ cũng đã đủ vẽ lên trước mắt ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua. Có những câu thơ dùng toàn thanh bằng rất hay, rất đắt:

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Sau khi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, người chiến sĩ Tây Tiến như đứng trước đỉnh núi cao nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa. Những ngôi nhà như đang trôi bồng bềnh trong màn mưa trắng. Thanh bằng của từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng”.

    (Trích bài thi Giải nhi 16 điểm, thi học sinh giỏi Văn toàn quốc)

    – Nguyễn Thị Minh Tâm, lớp 12 trường PTTH Đồng Hới, Quảng Bình đã phân

    tích:

    “(…) Nỗi nhớ dẫn tác giả trở về với những kỷ niệm khó quên. Đó là những vất vả, gian nan mà người lính đã trải qua:

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

    Người lính hay nhớ đến những đêm dài hành quân, bởi đời lính thường gắn với những cuộc hành quân. Nói đến người lính là nói đến những cuộc hành quân dài, vất vả, gian khổ, mệt nhọc mà vẫn thắm đẹp chất oai hùng. Quang Dũng cũng nói đến những cuộc hành quân như vậy:

    “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

    Ta chợt thấy lạ! Ít ai nói như Quang Dũng: “đoàn quân mỏi”. Nhưng đâu có sai, mỏi chứ, những cuộc hành quân suốt ngày đêm; vượt qua hàng chục cây số đèo dốc thì “mỏi” là đúng. Đưa hình ảnh “đoàn quân mỏi” vào đây mà lại hay, hay ở chính cái thực của nó. Và hay bởi vì còn xó câu thơ tiếp theo:

    “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

    “Đoàn quân mỏi” nhưng tâm hồn, ý chí của họ không “mỏi”. Cho nên tâm hồn của họ vẫn biết hướng vào cái đẹp, vẫn nghĩ đến những cái còn cao hơn, đẹp hơn những gian khổ mà họ đã trải qua: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Lại những thanh bằng tạo nên trong lòng ta một cảm giác thật nhẹ nhàng, nó cân bằng, trung hòa với những gì mà câu thơ tạo ra. Có như thế, những câu thơ mạnh mẽ, gãy khúc, nhịp thơ ngắn, nặng lại đi với những câu thơ nhẹ nhàng, mênh mang:

    “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

    Có thực sự sống trong cuộc kháng chiến như Quang Dũng, thì mới có những câu thơ thực và đúng về những gian khổ của người lính như thế. Những câu thơ làm cho ta tưởng như được thấy, được trải qua gian khổ đó. Đã “dốc lên khúc khuỷu” rồi lại còn “dốc thăm thẳm” nữa. Chỉ hai từ “thăm thẳm” thôi mà vẽ lên trong ta một hình ảnh rõ nét, tạo cho ta cảm giác choáng ngợp: “thăm thẳm” là cao, lại là sâu. Không phải là “cao chót vót” mà là “thăm thẳm” thì mịt mù lắm, cao lắm, nó vượt ra khỏi tầm mắt của ta. Cũng vì có từ “thăm thẳm” cho nên mới “heo hút”, chứ “chót vót” thì không thể “heo hút” được. Cái tài của Quang Dũng là đó. Và chợt ta bắt gặp hình ảnh “súng ngửi trời”. Phải là “súng ngửi trời” thì mới nói hết độ cao của dốc, của gian khổ. Nhưng cũng vì có hình ảnh “súng ngửi trời” mà câu thơ viết về gian khổ lại không mang chút bi quan mà phảng phất chút dí dỏm. Đã dốc “khúc khuỷu”, đã “thăm thẳm”, “heo hút” rồi lại còn “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” nữa mới thật rõ cái gian khổ, vất vả của người lính. Nhưng từ đỉnh cao “ngàn thước” đó, tâm hồn người lính lại mở ra, phóng tầm mắt ra giữa ngút ngàn trời đất:

    “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Vẫn là một câu thơ rất nhẹ với những thanh bằng, với vần “ơi” mênh mang, tạo nên trong ta một cảm giác mênh mông, dàn trải, lại vừa gợi lên một màn mưa lưa thưa, mờ mờ. Đó chính là nét thi sĩ trong tâm hồn người lính – học sinh. Câu thơ như thoảng một chút mơ màng, một chút mộng mơ rất đáng yeu”.

    (Những bài văn đựoc điểm cao)

    3. Minh họa phần kết bài

     

    • Với đề bài văn “Phân tích những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuânthể hiện trong bài ký “Người lái đò Sông Đà” có những cách viết kết bài sau:

     

    – Tác giả cuốn “99 bài văn” viết:

     

    Đọc “Người lái đò Sông Đà” ta biết thêm một Nguyễn Tuân uyên bác, tài hoa, độc đáo. Tả cảnh thì biến hoá, trong bốn mùa, trong mọi thời gian, đa thanh và phức diệu lúc nói về thác, ghềnh… Bao liên tưởng đầy thi vị, với bao cảm giác mạnh đầy mầu sắc và góc cạnh với một kho chữ nghĩa giàu có. Văn của Nguyễn Tuân đúng là những giọt mật của con ong yêu hoa; cần mẫn và sáng tạo, đem thơm thảo cho đời. Câu văn xuôi tài hoa, lúc thì vang vọng âm ba của thác ghềnh, lúc thì mênh mang dư vị của hương nguồn hoa núi.

     

    Đọc “Người lái đò Sông Đà”, ta yêu thêm con người Việt Nam dũng cảm, cần cù và tài hoa; ta tự hào về núi sông Tổ quốc nguy nga, tráng lệ. Sông Đà quả là quà tặng của thiên nhiên:

     

    …“Ôi những dòng sông bắt đầu từ đâu

     

    Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đo, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”.

    (“Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm) (Tr 563-564)

     

    – Phan Huy Dũng, trong cuốn “Để viết hay bài làm văn lớp 12”, đã kết bài để văn trên như sau:

     

    “Người lái đò Sông Đà” cho thấy một số nét đặc sắc của phong cách Nguyễn Tuân, nổi bật nhất là ở cái nhìn sắc sảo, tài hoa cảu một nghệ sĩ bậc thầy luôn phát

    hiện ra những điều mới lạ của sự vật, con người và thể hiện chúng thật độc đáo; độc đáo trong dùng từ tạo câu, độc đáo trong lựa chọn hình ảnh, ví von, so sánh. Và cả ở niềm say mê thiên nhiên, núi sông Tổ quốc đi liền với sự hiểu biết cặn kẽ, sâu sắc và phong phú về những gì nhà văn miêu tả lên mỗi trang viêt. Bút ký này cho chúng ta hiểu và thêm quý trọng tài năng và phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân”. (Tr. 114)

    Trên đây, chúng tôi đã đưa ra một số “mẫu” để minh hoạ cho độc giả tham khảo, dàn ý phân tích văn và một vài thao tác như mở bài, kết bài, phân tích một chi tiết, một khía cạnh, một phần của tác phẩm. Văn chương cần sáng tạo; người sáng tác thơ văn tất sáng tạo để vươn lên, tiếp cận cái đẹp. Người học sinh làm một bài văn trên lớp trong phòng thi – cũng phải sáng tạo. Học tập và đọc sách là để sáng tạo, chứ không để sao chép; xin giới thiệu một vài ý kiến xa, gần:

    • Đỗ Phủ viết: “Độc thư phá vạn quyển Hạ bút như hữu thần”. (Đọc sách phá vạn quyển, Hạ bút (viết) như có thần).

    Ông lại nói:

    “Rất trọng (cái hay trong thơ) của người đời nay, nhưng cũng rất quý (cái hay trong thơ) của cổ nhân. Câu hay lời đẹp của họ ta đều yêu mến cả. Trộm mong được kề vai sát cánh cùng đi với Khuất Nguyên, Tống Ngọc, chứ không muốn đi theo cái mặt trái (uỷ mỵ, yếu đuối của thơ ca) đời Tề, Lương.

    Chưa bằng được các bậc tiền hiền càng không nghi ngờ, rồi đây biết lấy ai là người khôi phục thuật lại được người xưa. Cắt phăng những cái giả tạo, hư nguy, lập

    nên vẻ phong nhã mới, học tập cái hay của những người khác, biến thành cái hay của mình”.

    Viết văn đòi hỏi một cuộc sống phong phú, đồng thời đòi hỏi phải đọc sách. Học văn cũng vậy. Có đọc sách (sách tốt) mới có thể mở rộng tầm nhìn, tích luỹ tri thức, năng lực tưởng tượng được phong phú hơn và năng lực biểu đạt cũng được tăng thêm. Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” cũng có chỉ rõ: “Kiến văn rộng là lương thực để giải cứu sự nghèo nàn” (Bác kiến vi quỹ bần chi lương).

    Không đọc sách theo lối “ăn sống nuốt tươi:, sao chép, bắt chước sách vở một cách tuỷ tiện, trở thành “cái hòm đựng sách”. Người học văn cũng như “Người làm thơ vốn là người đọc sách, mà chẳng dùng một chữ nào ở trong sách” (Tác thi nguyên thị độc thư nhân, bất dụng thư trung nhất cả tự).

    Viên Mai trong “Tuỳ viên thi thoại” có nhắc:

    “ Tằm ăn lá dâu nhưng nhả ra tơ chư không phải nhả ra lá râu.Ong hút nhụy hoa mà gây thành mật,chư không phải gây thành nhụy hoa.Dọc sách như ăn cơm vậy, kẻ “khéo ăn”, tinh thần sẽ lớn lên, kẻ không khéo ăn “ sinh ra đởm, bướu”.

    Học văn mà không đọc sách, ít đọc sách, đọc sách mà thiếu phương pháp, hoặc thiếu ý thức học tập cái tinh hoa của người thì khó mà đến hai chữ văn chương.Lỗ Tấn, văn hào Trung quốc từng nhắc nhũ các nhà văn trẻ:

    “Không nên đọc riêng tác phẩm của mọi người, để đề phòng họ bị trói chặt chân tay mình, mà phải học tập rộng ở nhiều người, tiếp thu những cái hay ở họ, chỉ có như vậy thì về sau mói đứng độc lập được”.

  • Văn mẫu Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

    Văn mẫu Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

    Văn mẫu Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

    Văn mẫu lớp 10:

    Phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai giếng nước trong truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

    BÀI LÀM

    Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ kết thúc với sự thất bại của Âu Lạc,

    An Dương Vương đi vào lòng biển, Mị Châu, Trọng Thuỷ phải chết. Tuy kết thúc có

    phần đau đớn song câu chuyện không vì thế mà quá bi thương bởi trong sâu thẳm vẫn

    sáng lên niềm tin, chất nhân văn sâu sắc qua hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”.

    Chúng ta có thể thấy rằng “ngọc trai – giếng nước” vừa là hình ảnh có giá trị thẩm mĩ cao,

    vừa là một tình tiết đắt xét về phương diện tổ chức cốt truyện. Nó là sự kết thúc duy nhất

    hợp lí cho số phận của đôi trai gái Mị Châu, Trọng Thủy, cùng với sự thể hiện tư tưởng,

    tình cảm, cách đánh giá của nhân dân đối với bi kịch tình yêu này nói chung, nhân vật Mị

    Châu nói riêng.

    Nàng Mị Châu bởi nhẹ dạ, cả tin làm nên nổi “cơ đồ đắm biển sâu”. Nàng đã phải nhận

    lấy cái chết cho danh nghĩa một kẻ bất hiếu, phản nghịch.. Nhưng sâu xa, tác giả dân gian

    đã thấu hiểu nỗi lòng một người con gái ngây thơ, trong trắng vì tình yêu đã vô tình gây

    nên tội mà đã cho nàng được hoá thành những viên ngọc trai. Những viên ngọc trai lấp

    lánh như đáp lại lời cầu nguyện của nàng trước khi vua cha chém đầu. Nàng không phải

    là người có lòng phản nghịch muốn hại cha, nàng là người có lòng trung hiếu nhưng vô

    tình bị người ta lừa dối. Những viên ngọc ấy ẩn sâu trong lớp vỏ trai dưới làn nước đầy

    bụi bẩn vẫn thanh lọc để sáng lên như chính tâm hồn ngây thơ trong trắng của Mị Châu.

    Ánh sáng ngọc trai ám ảnh tâm trí người đọc, tìm sự chia xẻ, đồng cảm.

    Tác giả dân gian đã có tấm lòng vô cùng độ lượng khi thấu hiểu và cảm thông với nàng

    Mị Châu. Để nàng được toại nguyện biến thành ngọc trai. Sự hoá thân ấy mang theo một

    ước mơ của nhân dân về những Mị Châu sáng suốt sau này, “vừa say đắm yêu thương

    vừa luôn luôn cảnh giác”.

    Nói về Trọng Thuỷ. Hắn là một kẻ chiến thắng trên phương diện chính trị nhưng lại là kẻ

    thất bại thảm hại về phương diện tình cảm. Hắn đã mất đi người vợ yêu quí, mất đi sự

    thanh thản trong tâm hồn và càng ám ảnh hơn chính hắn gây nên cái chết Mị Châu trong

    trắng, ngây thơ hết lòng yêu thương hắn. Giếng nước ở Loa thành là tấm gương hội tụ và

    phản chiếu tất cả tội ác mà Trọng Thuỷ gây nên. Chính ở nơi này hắn nhìn thấy bản chất

    xấu xa của mình và thực lòng hối cải. Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự vẫn, dòng máu

    hoà dòng nước nơi giếng ngọc là sự chứng nhận cho sự hối cải tội lỗi của hắn.

    Từ tương truyền, nếu dùng nước giếng ở Cổ Loa mà rửa ngọc thì ngọc thêm sáng hơn, có

    người cho rằng, hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là hình ảnh ngợi ca mối tình thuỷ

    chung của Mị Châu – Trọng Thuỷ. Nhưng thiết nghĩ, với tinh thần yêu nước, cha ông ta

    sẽ không bao giờ sáng tạo nghệ thuật để ngợi ca những ai đưa họ đến bi kịch mất nước.

    Chỉ có thể lí giải rằng, hình ảnh ngọc sáng hơn bởi ở thế giới bên kia Mị Châu đã tha thứ,

    hoá giải tội lỗi cho Trọng Thuỷ. Màu ngọc ấy cũng sáng như tấm lòng yêu thương, vị tha

    của công chúa Mị Châu. Hư cấu chi tiết này, người xưa còn muốn giảm nhẹ bớt tội lỗi

    của nàng trong việc mất cảnh giác làm nước mất, nhà tan.

    Để Mị Châu biến thành ngọc trai, Trọng Thuỷ tự vẫn nơi giếng nước và để hình ảnh

    “ngọc trai – giếng nước” sáng là tạo nghệ thuật đẹp tới mức hoàn mĩ. Đó chính là tấm

    lòng nhân đạo bao dung, nhân hậu của nhân dân. Nó thể hiện truyền thống nhân văn sâu

    sắc.

    Chúng ta không thể không nhắc tới Trọng Thuỷ. Một nhân vật với vị trí và bản chất khá

    phức tạp trong cốt truyện.

    Trọng Thuỷ là con Nam Việt vương Triệu Đà – luôn có âm mưu thôn tính Âu Lạc. Trọng

    Thuỷ sang Âu Lạc với mục đích giảng hoà để đánh cắp nỏ thần. Trước lúc cầu hôn Mị

    Châu, Trọng Thuỷ chưa hề có cảm tình mà chỉ là toan tính. Đến khi trở thành vợ chồng

    với Mị Châu, tình yêu của Trọng Thuỷ mới nảy nở. Nhưng ý thức làm con, làm tôi trung

    thành trong hắn vẫn lớn hơn. Hắn dối lừa người vợ cả tin, ngây thơ của mình để đánh cắp

    nỏ thần, thôn tính nước Âu Lạc, dồn An Dương Vương và Mị Châu đến bước đường

    cùng. Hắn đúng là tên gián điệp nguy hiểm trong cái nhìn của cha ông chúng ta. Hắn

    xứng đáng phải chịu nỗi ân hận vò xé tâm can khi dẫn đến cái chết của người vợ yêu quí.

    Không có nổi khổ nào bằng sự day dứt lương tâm. Bản án đích đáng của Trọng Thuỷ là

    cái chết trong nổi ám ảnh. Nhân dân đã bày tỏ thái độ căm phẫn không tha thứ và không

    đội trời chung với kẻ cướp nước. Kẻ cướp nước sẽ bị toà án lương tâm và lịch sử phán

    xét, sớm muộn chúng sẽ thất bại thảm hại trong cuộc chién tranh chính nghĩa bảo vệ độc

    lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Đấy là niềm tin mạnh mẽ của nhân dân trước những thử

    thách của lịch sử.

    Song không vì lòng căm phẫn mà khiến dân gian đánh mất đi truyền thống nhân văn sâu

    sắc của dân tộc. Hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” chính là sự khoan hồng, ân xá cho kẻ

    đã biết ân hận, khát khao được hoá giải tội lỗi như Trọng Thuỷ.

    Mỗi nhân vậtutrong truyền thuyết này được nhìn nhận, đánh giá, định đoạt số phận một

    cách khác nhau. Ở đối tượng này có hơi dễ dãi, (như đối với An Dương Vương) ở đối

    tượng kia có phần hơi nghiêm khắc (như đối với Mị Châu). Song nhìn chung những nhân

    vật lịch sử, sự kiện lịch sử ấy đã được cảm nhận ghi lại bằng tất cả lòng nhiệt thành, tự

    tôn dân tộc. Và nhất là, cái sâu sắc nhất đọng lại sau mỗi số phận nhân vật là tình người,

    chất nhân văn truyền thống.

    Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ là một truyền thuyết đẹp, để lại

    nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Câu chuyện là một cách giải thích nguyên

    nhân việc mất nước Âu Lạc. Qua đó nêu lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ

    thù và cách xử lí đúng đắn mỗi quan hệ giữa riêng với chung, giữa nhà với nước, giữa cá

    nhân với cộng đồng. Thể hiện chất trí tuệ sắc sảo, bản chất nhân đạo sâu sắc của dân tộc

    Việt Nam ta.

  • Văn mẫu Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám

    Văn mẫu Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám

    Văn mẫu Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám

    Văn mẫu lớp 10

    Đề bài: Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám

    BÀI LÀM

    Thời gian thấm thoắt thoi đưa, từ ngày được ông Bụt cưu mang cứu sống, chẳng mấy

    chốc đứa trẻ mồ côi lang thang trong rừng sâu hoang vắng ngày nào, giờ đây đã trở thành một cô thiếu nữ. Tôi đã trở thành cô con gái nuôi yêu quý của Bụt. Chẳng còn gì nguy hiểm trong khu rừng sâu ấy nữa, khu rừng ngày xưa suýt nữa đã cướp đi của tôi mạng sống giờ lại cho tôi một người cha, gia đình, bè bạn,… Tôi làm bạn với cỏ cây, muông thú núi rừng, hàng ngày đi hái thuốc chữa bệnh cho người dân dưới núi. Một hôm, Bụt gọi tôi đến và nhẹ nhàng nói:

    • Lan Hoa con, bệnh tật không phải nỗi khổ nhất của con người trần thế. Rất nhiều người

    sống dưới chân núi kia cũng phải chịu bao nỗi bất hạnh như con ngày xưa. Có một cô gái tên là Tấm đang rất cần sự giúp đỡ của hai cha con ta. Con hãy thay cha mang đến hạnh phúc cho cô gái đó, và cũng để con được tận mắt chứng kiến cuộc sống bên ngoài khu rừng này.

    • Cô Tấm ấy khổ lắm phải không cha?
    • Tấm có một em gái tên là Cám, hai chị em cùng cha nhưng khác mẹ. Hai chị em suýt

    soát tuổi nhau. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha con cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám. Dì ghẻ là người rất cay nghiệt. Hằng ngày, Tấm phải làm việc vất vả, hết chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo; đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó thì Cám được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm việc nặng.

    Thế nhưng chưa hết đâu con, ta biết rằng Tấm sẽ còn gặp nhiều khó khăn trở ngại lắm.

    Nghe xong câu chuyện, nhớ về thời thơ bé của mình, tôi càng thương Tấm nhiều hơn . Ngay sau hôm đó, tôi đã được biến thành một con Bống, sống trong một thửa ruộng gần làng nọ và chờ đợi chị em Tấm xuất hiện. Trong hình dạng bé nhỏ, tôi len lỏi khắp các thửa ruộng, mọi vật xung quanh lạ lẫm quá! Không có cây rừng mà chỉ có những nhành cỏ yếu ớt, không có hổ, không có chim chóc, không có những chú sâu đáng yêu,… những con vật xung quanh tôi gọi nhau bằng những cái tên thật lạ: Ốc Vặn, Ốc Nhồi, Cua Càng,

    Cá Cờ, Rô Phi,…Tôi nhanh chóng làm quen với những người bạn ấy, nghe họ kể những

    câu chuyện về thời tiết, mùa nước cạn, mùa nước lên, mùa nào con người hay ra đồng bắt

    tép, và họ còn bàn cả với nhau làm thế nào để không phải chui vào chiếc giỏ của chị

    Tấm…Ô! Nghe đến đây tôi giật mình! Họ vừa nhắc đến Tấm kìa! Chắc cô gái này hay ra

    đồng, hay đi mò cua bắt tép lắm đây! Thảo nào mà những người bạn mới quen lại sợ

    Tấm, sợ chiếc giỏ của Tấm đến thế!

    Thửa ruộng yên bình quá! Đang trầm tư suy nghĩ thì tôi cảm nhận được dường như mặt nước có sự thay đổi. Nước dưới thân tôi động đậy; cua, ốc, cá, tép,… không thì thầm to nhỏ nữa mà dáo dác gọi nhau chạy đi ẩn nấp, mọi thứ hoảng loạn, và tôi nghe thấy có âm thanh của những bước chân sục sạo… “Cô Tấm đó mọi người ơi!” (Cá Cờ kêu lên). À! Thì ra là Tấm! Đúng rồi, trước khi đi cha Bụt đã dặn dò mình sẽ được gặp Tấm trong lần Tấm và Cám ra đồng thi bắt con tôm cái tép mà. Chẳng chạy trốn, tôi ngoan ngoãn chui vào giỏ của Tấm. Tôi ngạc nhiên vì mới chỉ một buổi Tấm bước chân xuống ruộng mà đã đầy trong giỏ vừa cá vừa tép. Một giọng lanh lảnh từ đâu cất lên:

    • Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng.

    ( Tôi tự nhủ: “Giọng này chỉ có thể là của Cám!”)

    Trong một khắc, Cám đã trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng ra về. Chỉ còn mình tôi trong chiếc giỏ của cô Tấm đáng thương. Nhưng Tấm đâu thấy tôi, lúc Tấm bước lên chỉ còn giỏ không, bèn ngồi xuống bưng mặt khóc huhu. Đúng lúc đó, cha Bụt của tôi liền hiện lên hỏi Tấm:

    – Con làm sao lại khóc?

    Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe. Bụt bảo:

    – Thôi con hãy nín đi! Con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không?

    Tấm nhìn vào giỏ và nói:

    • Chỉ còn một con cá bống.
    • Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, đáng ăn ba bát thì con

    ăn hai, còn một đem thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn, con nhớ gọi thế này:

    Bống bống, bang bang,

    Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

    Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.

    Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy!

    Cha Bụt nói xong rồi biến mất. Và cũng từ hôm đó mà tôi được sống giữa nguồn nước ngọt mát, được thỏa thuê tung tăng bơi lội, được ăn những hạt cơm trắng ngần. Tấm thân quen với tôi từ lúc nào mà không hay. Tôi chờ Tấm đâu phải chỉ vì bát cơm mà Tấm mang đến, đó còn là vì tôi cảm nhận được có một tình cảm rất chân thành đang dần nảy sinh giữa chúng tôi. Phải chăng có một sợi dây liên kết vô hình nào đó đã gắn kết tôi và Tấm lại với nhau , giữa hai con người cùng chung một số phận.

    Buổi trưa hôm đó, như bao buổi trưa khác, vẫn lời gọi như mọi khi nhưng sao lại thiếu đi sự nhẹ nhàng, đầm ấm. “Chắc Tấm bị ốm nên lạc giọng thôi!” (Tôi thầm nghĩ). Nghĩ vậy, tôi ngoi lên mặt nước. Trời ơi, mẹ con Cám đã chực sẵn, bắt lấy tôi đem về nhà làm thịt.

    Tôi thì sợ gì chuyện bị giết thịt chứ, tôi đã có cha Bụt bên cạnh cơ mà. Thân Bống chỉ để giúp tôi hóa thân mà thôi, mẹ con Cám đâu giết được linh hồn tôi. Chỉ tội cho Tấm, không có tôi Tấm biết trò chuyện cùng ai? Đã bao lần Tấm tâm sự tôi là niềm vui, là người bạn duy nhất của cô ấy. Giờ đây trở về nếu không thấy tôi Tấm sẽ lại khóc, lại buồn, và tuyệt vọng!

    Mẹ con Cám cũng thật ác, đã lấy thân Bống làm thịt lại còn vùi xương Bống vào đống tro. Tấm làm sao tìm thấy tôi được đây? Tôi đã nghe thấy tiếng khóc của Tấm ở đâu đó, tiếng khóc vỡ òa vừa như hối hận vừa như trách móc kẻ đã cướp mất Bống. Nhưng thật may, cha Bụt đã xuất hiện:

    • Con Bống của con người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi! Rồi về nhặt lấy xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống bốn chân giường con nằm.

    Nhờ có con gà giúp đỡ mà Tấm mới tìm được xương của tôi. Cô bèn nâng niu nhặt cẩn thận từng chiếc xương bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời Bụt dặn. Từ đây, tôi sẽ lại âm thầm nuôi ước mơ cho cô Tấm tốt bụng nhưng cuộc đời lại bất hạnh, gặp nhiều trắc trở, khó khăn.

    Ít lâu sau, tôi thấy mọi người trong nhà nói chuyện với nhau rằng nhà vua mở hội trong mấy ngày đêm. Già trẻ trai gái các làng đều nô nức đi xem. Trên các nẻo đường, quần áo

    mớ ba mớ bảy dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹo để đi trẩy hội. Tấm cũng muốn đi lắm nhưng mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc và bắt Tấm nhặt cho xong. Nhưng đến bao giờ mới nhặt xong được chứ? Tấm bèn khóc một mình. Giữa lúc ấy Bụt lại hiện lên và sai đàn chim sẻ xuống nhặt giúp. Đàn chim lăng xăng ríu rít, chỉ trong một lát đã làm xong không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ đã bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc, Bụt lại hỏi:

    • Con làm sao còn khóc nữa?
    • Con rách rưới quá, sợ người ta không cho con vào xem hội.
    • Con hãy đào những cái lọ xương Bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ mọi thứ cho con đi trẩy hội.

    Tôi liền nhanh chóng làm theo lời Bụt dặn từ trước. Lọ thứ nhất tôi biến thành một bộ áo mớ ba, một cái xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Lọ thứ hai lại là một đôi giày thêu, đi vừa như in. Lọ thứ ba, tôi hóa thành một con ngựa đưa Tấm đi trẩy hội. Và lọ thứ tư là một bộ yên cương xinh xắn. Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi thắng bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đi. Ngựa phóng một chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giày xuống nước, không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giày còn lại rồi chen vào biển người.

    • lại cùng chiếc giày mà Tấm đã làm rơi xuống nước, tôi chờ vua đi qua. Nhà vua đã nhặt được chiếc giày thêu và rao mời tất cả đám đàn bà con gái đi xem hội đi xem hội

    đến ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giày thì vua sẽ lấy làm vợ. Cô nào cũng đến thử nhưng nào có ai vừa, kể cả mẹ con nhà Cám. Tấm cũng đi thử giày, vừa đặt chân vào thấy vừa như in. Cô mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giày giống nhau như đúc.

    Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn thị nữ rước nàng vào cung. Tấm từ đây sống hạnh phúc bên cạnh một người chồng luôn thương yêu cô hết mực.

    Thấy Tấm được sống sung sướng, hạnh phúc trong cảnh hoàng cung tôi cũng vui lắm.

    Nhưng tôi không thể đi theo cô Tấm được nữa. Nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành, còn bao

    người dân dưới chân núi đang chờ những thang thuốc lá rừng của tôi. Tôi trở về với cuộc

    sống của một cô thiếu nữ giữa chốn núi rừng, không còn trong hình dạng một con Bống

    nữa. Thế nhưng hàng ngày tôi vẫn luôn hỏi thăm Bụt về cuộc đời của Tấm và biết được

    rằng Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại. Nhưng với sự giúp đỡ của Bụt qua những lần giúp

    Tấm hóa thân (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị), Tấm đã khẳng định sức

    trỗi dậy mãnh liệt của con người trước sự vùi dập của kẻ ác. Đây là sức mạnh của cái

    thiện luôn chiến thắng cái ác. Cô Tấm từ trong quả thị bước ra càng xinh đẹp hơn xưa, lại

    được vua thương yêu, trân trọng. Còn mẹ con Cám đã phải chết bởi chính sự độc ác, ngu

    dốt, và lòng đố kị của mình…

  • Văn mẫu Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích tâm trạng bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du

    Văn mẫu Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du

    Đề bài: Cảm hứng nhân đạo trong truyện Kiều của Nguyễn Du

    BÀI LÀM

    Nếu như cảm hứng nhân bản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ngợi ca vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là cảm hứng bao trùm.

    Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là lòng thương. Bản chất của nó là chữ tâm đối với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, không những thế phải đồng cảm xót thương những số phận bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ chính đáng của con người.

    Nguyễn Du yêu thương con người đến tận cùng, vì vậy các tác phẩm của ông cũng nhân đạo đến tận cùng. Chỉ qua ba đoạn trích Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh ký trong SGK, người đọc cũng hiểu được phần nào tấm lòng nhân đạo của thi hào Nguyễn Du.

    Cảm thương cho những kiếp hồng nhan mà đa truân, tài tử mà đa cùng không phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởi Nguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình.

    Sắc đẹp khuynh thành và tài năng hiếm có của Thúy Kiều đã được Nguyễn Du đặc tả trong hai câu thơ:

    “Một hai nghiêng nước nghiêng thành

    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

    (Truyện Kiều)

    Còn Tiểu Thanh, một con người có thật sống cách Nguyễn Du 300 năm ở Trung Quốc cũng là một người con gái đẹp, có tài thơ, còn để lại tập di cảo Tiểu Thanh ký. Truyện kể lại rằng trước khi chết, Tiểu Thanh đã khóc vì nhìn bức chân dung của mình và nhận ra mình đẹp. Đau đớn biết bao nhiêu khi một người con gái còn rất trẻ khi sắp chết lại thấy mình đẹp. Thế nhưng chính Nguyễn Du lại thấm thía hơn ai hết rằng: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, rằng: “Có tài mà cậy chi tài – Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cuộc đời Thúy Kiều và Tiểu Thanh chính là minh chứng và cũng là nạn nhân của những bất công, phi lý của cuộc đời.

    Thúy Kiều tài sắc như vậy nên người nàng yêu cũng phải là một văn nhân “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người đã thề nguyền “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” và có vầng trăng trên trời làm chứng. Nhưng rồi tai họa ập đến với gia đình khiến Thúy Kiều đành phải hy sinh chữ tình vì chữ hiếu. Việc Kiều bán mình chuộc cha không phải vì nàng hành động theo đạo lý tam cương của Nho

    gia mà đó là đạo hiếu của kẻ làm con: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nhưng chỉ Nguyễn Du mới hiểu đến tận cùng bi kịch của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim. Nàng giờ sống mà như đã chết. Biết bao đau đớn khi Kiều nhận mình là kẻ phụ bạc:

    “Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

    (Truyện Kiều)

    Màn trao duyên ấy chính là bi kịch đầu tiên mở ra quãng đời 15 năm “oan khổ lưu ly” của Thúy Kiều. Cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che” ngày xưa giờ đã thay bằng cuộc sống “Dập dìu lá gió cành chim – Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Thúy Kiều không tìm thấy chút vui thú nào trong cuộc sống “bướm lả ong lơi” ấy, mà tâm trạng thực của nàng là vui gượng, là sầu, buồn, cuối cùng đọng lại

    • nỗi đau, một nỗi đau luôn dày vò, không thể giải tỏa. Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng cái “giật mình mình lại thương mình xót xa” của cô Kiều mới đáng quý

    biết chừng nào. Nếu không có những phút “giật mình” ấy thì nàng Kiều cũng tầm thường như một cô gái làng chơi mất hết nhân phẩm. Cái “giật mình” ấy chứng tỏ Thúy Kiều đã đau đớn biết bao nhiêu khi nhân phẩm bị nhơ bẩn, “Mặt sao dày gió dạn sương – Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”. Nàng phẫn uất, đay

    nghiến thực trạng phũ phàng, cuộc sống bị cầm tù trong một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát:

    “Đã cho lấy chữ hồng nhan

    Làm cho cho hại cho tàn cho cân

    Đã đày vào kiếp phong trần

    Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

    (Truyện Kiều)

    Người đọc dường như không phân biệt được đâu là lời của nhân vật, đâu là lời của nhà thơ vì Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng.

    Thúc Sinh xuất hiện trong cuộc đời Kiều không phải chỉ như một khách làng chơi mà còn như một người tình, một người chồng, một ân nhân. Chính Thúc Sinh đã chuộc nàng ra khỏi xanh và cưới nàng làm vợ lẽ. Nhưng mối duyên này ngắn ngủi. Thúc Sinh phải về quê báo tin “vườn cũ thêm hoa” với vợ cả là Hoạn Thư. Cảnh từ biệt của hai người không chỉ có buồn, có lưu luyến như các cuộc chia ly thong thường khác mà còn có dự cảm về một cuộc chia tay vĩnh viễn

    “Vầng trăng ai xẻ làm đôi

    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

    (Truyện Kiều)

    Những nỗi đoạn trường cứ bám lấy cuộc đời Thúy Kiều như một định mệnh, không cho nàng được sống thanh thảnh, vui vẻ, dù là ngắn ngủi.

    Tiểu Thanh cũng vậy. Nàng tài sắc là thế mà phải làm lẽ, sống trong sự dày vò của người vợ cả độc ác. Tiểu Thanh không giống Thúy Kiều, 16 tuổi đã phải dấn thân vào kiếp đoạn trường, nhưng cảnh sống bị cầm tù ở núi Cô Sơn, ngày ngày lo sợ bị người vợ cả hãm hại thì có khác gì cái chết. Một cái chết dần dần, mòn mỏi, và không kém phần đau đớn. Sau 300 chỉ có Nguyễn Du lặng lẽ viếng nàng bên khung của qua tập di cảo còn sót lại. Cảnh đẹp Tây Hồ cũng chịu số phận truân chuyên của giai nhân:

    “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang

    Thổn thức bên song mảnh giấy tàn”

    (Độc Tiểu Thanh ký)

    Nguyễn Du xót thương cho số phận của “văn chương”, của “son phấn” cũng bị liên lụy vào nỗi đoạn trường bởi chúng mang cái mệnh của con người:

    “Chi phấn hữu thần liên tử hận

    Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

    (Son phấn có thần chôn vẫn hận

    Văn chương không mệnh đốt còn vương) (Độc Tiểu Thanh ký)

    Vẫn biết rằng “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nhưng đó vẫn là “nỗi hờn kim cổ” mà Nguyễn Du muốn chất vấn trời cao, hay chất vấn cuộc đời, song rốt cuộc vẫn không có lời giải đáp. Chỉ biết rằng đó là “phong vận kì oan” (nỗi oan lạ lùng) của những kẻ mang nết phong nhã. Hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng là cái án tiền định của những người như Thúy Kiều, Tiểu Thanh phải mang. Tiếng khóc của nàng Kiều trước mộ Đạm Tiên:

    “Đau đớn thay phận đàn bà

    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

    (Truyện Kiều)

    cũng chính là tiếng khóc của nàng cho chính mình mai sau và là tiếng khóc cho những phận đàn bà nói chung.

    Rốt cuộc thì Đạm Tiên, Thúy Kiều hay Tiểu Thanh dù số phận có nhiều điểm khác nhau thì cũng là “cùng một lứa bên trời lân đận”. Nguyễn Du cũng tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với những người mắc nỗi oan lạ lùng vì vết phong

    nhã. Tố Như đau cho số phận của Tiểu Thanh cũng là tự thương cho chính những lận đận của mình, bởi vậy mới khao khát tri kỷ:

    “Bất tri tam bách dư niên hậu

    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

    (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

    Người đời ai khóc Tố Như chăng)

    (Độc Tiểu Thanh ký)

    “Khấp” có nghĩa là khóc thầm, còn “khốc” là khóc lớn, khóc thành tiếng. Nguyễn Du cả đời khóc thương cho những bất hạnh của con người nhưng cuối cùng cũng chỉ mong được người đời sau khóc thầm. Đó là khao khát tri âm khiêm nhường của một con người rất hiểu đời.

    Đọc “Truyện Kiều” và “Độc Tiểu Thanh ký”, Nguyễn Du luôn hỏi trời về những đau khổ của con người nhưng thực tế trong tác phẩm, Nguyễn Du lại cho thấy nguyên nhân nhưng đau khổ của con người là do những thế lực thù địch chà đạp lên cuộc sống và quyền sống chính đáng của con người. Nếu không có chế độ phong kiến với sự thống trị của đồng tìền thì Kiều đâu có 15 năm lênh đênh trong bể đoạn trường, nếu không có chế độ đa thê thì Tiểu Thanh chắc cũng không có số

    phận bi kịch như thế. Nguyễn Du đau nỗi đau của con người, hiểu thấu được nguyên nhân của những bi kịch ấy nhưng Nguyễn Du bất lực bởi chính ông cũng là nạn nhân của những bể dâu cuộc đời. Nỗi đau của Nguyễn Du, sự cô đơn của Nguyễn Du, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đều xuất phát từ một trái tim nghệ sĩ lớn.

    Nếu như cảm hứng nhân bản nghiêng về đồng cảm với những khát vọng rất người của con người, cảm hứng nhân văn thiên về ngợi ca vẻ đẹp của con người thì cảm hứng nhân đạo là cảm hứng bao trùm.

    Cốt lõi của cảm hứng nhân đạo là lòng thương. Bản chất của nó là chữ tâm đối với con người. Một tác phẩm mang cảm hứng nhân đạo khi nó ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, không những thế phải đồng cảm xót thương những số phận bị chà đạp, lên án tố cáo những thế lực thù địch, đồng thời phải biết đồng tình với khát vọng và ước mơ chính đáng của con người.

    Nguyễn Du yêu thương con người đến tận cùng, vì vậy các tác phẩm của ông cũng nhân đạo đến tận cùng. Chỉ qua ba đoạn trích Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh ký trong SGK, người đọc cũng hiểu được phần nào tấm lòng nhân đạo của thi hào Nguyễn Du.

    Cảm thương cho những kiếp hồng nhan mà đa truân, tài tử mà đa cùng không phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởi Nguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình.

    Sắc đẹp khuynh thành và tài năng hiếm có của Thúy Kiều đã được Nguyễn Du đặc tả trong hai câu thơ:

    “Một hai nghiêng nước nghiêng thành

    Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

    (Truyện Kiều)

    Còn Tiểu Thanh, một con người có thật sống cách Nguyễn Du 300 năm ở Trung Quốc cũng là một người con gái đẹp, có tài thơ, còn để lại tập di cảo Tiểu Thanh ký. Truyện kể lại rằng trước khi chết, Tiểu Thanh đã khóc vì nhìn bức chân dung của mình và nhận ra mình đẹp. Đau đớn biết bao nhiêu khi một người con gái còn rất trẻ khi sắp chết lại thấy mình đẹp. Thế nhưng chính Nguyễn Du lại thấm thía hơn ai hết rằng: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, rằng: “Có tài mà cậy chi tài – Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Cuộc đời Thúy Kiều và Tiểu Thanh chính là minh chứng và cũng là nạn nhân của những bất công, phi lý của cuộc đời.

    Thúy Kiều tài sắc như vậy nên người nàng yêu cũng phải là một văn nhân “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người đã thề nguyền “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” và có vầng trăng trên trời làm chứng. Nhưng rồi tai họa ập đến với gia đình khiến Thúy Kiều đành phải hy sinh chữ tình vì chữ hiếu. Việc Kiều bán mình chuộc cha không phải vì nàng hành động theo đạo lý tam cương của Nho gia mà đó là đạo hiếu của kẻ làm con: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nhưng chỉ Nguyễn Du mới hiểu đến tận cùng bi kịch của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim. Nàng giờ sống mà như đã chết. Biết bao đau đớn khi Kiều nhận mình là kẻ phụ bạc:

    “Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

    (Truyện Kiều)

    Màn trao duyên ấy chính là bi kịch đầu tiên mở ra quãng đời 15 năm “oan khổ lưu ly” của Thúy Kiều. Cuộc sống “êm đềm trướng rủ màn che” ngày xưa giờ đã thay bằng cuộc sống “Dập dìu lá gió cành chim – Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh”. Thúy Kiều không tìm thấy chút vui thú nào trong cuộc sống “bướm lả ong lơi” ấy, mà tâm trạng thực của nàng là vui gượng, là sầu, buồn, cuối cùng đọng lại

    • nỗi đau, một nỗi đau luôn dày vò, không thể giải tỏa. Có nhà nghiên cứu đã nhận

    xét rằng cái “giật mình mình lại thương mình xót xa” của cô Kiều mới đáng quý biết chừng nào. Nếu không có những phút “giật mình” ấy thì nàng Kiều cũng tầm thường như một cô gái làng chơi mất hết nhân phẩm. Cái “giật mình” ấy chứng tỏ Thúy Kiều đã đau đớn biết bao nhiêu khi nhân phẩm bị nhơ bẩn, “Mặt sao dày gió dạn sương – Thân sao bướm chán ong chường bấy thân”. Nàng phẫn uất, đay nghiến thực trạng phũ phàng, cuộc sống bị cầm tù trong một vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát:

    “Đã cho lấy chữ hồng nhan

    Làm cho cho hại cho tàn cho cân

    Đã đày vào kiếp phong trần

    Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”

    (Truyện Kiều)

    Người đọc dường như không phân biệt được đâu là lời của nhân vật, đâu là lời của nhà thơ vì Nguyễn Du đã nhập thân để hiểu tận cùng nỗi đau của Thúy Kiều và bất bình thay cho nàng.

    Thúc Sinh xuất hiện trong cuộc đời Kiều không phải chỉ như một khách làng chơi mà còn như một người tình, một người chồng, một ân nhân. Chính Thúc Sinh đã

    chuộc nàng ra khỏi xanh và cưới nàng làm vợ lẽ. Nhưng mối duyên này ngắn ngủi. Thúc Sinh phải về quê báo tin “vườn cũ thêm hoa” với vợ cả là Hoạn Thư. Cảnh từ biệt của hai người không chỉ có buồn, có lưu luyến như các cuộc chia ly thong thường khác mà còn có dự cảm về một cuộc chia tay vĩnh viễn

    “Vầng trăng ai xẻ làm đôi

    Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

    (Truyện Kiều)

    Những nỗi đoạn trường cứ bám lấy cuộc đời Thúy Kiều như một định mệnh, không cho nàng được sống thanh thảnh, vui vẻ, dù là ngắn ngủi.

    Tiểu Thanh cũng vậy. Nàng tài sắc là thế mà phải làm lẽ, sống trong sự dày vò của người vợ cả độc ác. Tiểu Thanh không giống Thúy Kiều, 16 tuổi đã phải dấn thân vào kiếp đoạn trường, nhưng cảnh sống bị cầm tù ở núi Cô Sơn, ngày ngày lo sợ bị người vợ cả hãm hại thì có khác gì cái chết. Một cái chết dần dần, mòn mỏi, và không kém phần đau đớn. Sau 300 chỉ có Nguyễn Du lặng lẽ viếng nàng bên khung của qua tập di cảo còn sót lại. Cảnh đẹp Tây Hồ cũng chịu số phận truân chuyên của giai nhân:

    “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang

    Thổn thức bên song mảnh giấy tàn”

    (Độc Tiểu Thanh ký)

    Nguyễn Du xót thương cho số phận của “văn chương”, của “son phấn” cũng bị liên lụy vào nỗi đoạn trường bởi chúng mang cái mệnh của con người:

    “Chi phấn hữu thần liên tử hận

    Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

    (Son phấn có thần chôn vẫn hận

    Văn chương không mệnh đốt còn vương) (Độc Tiểu Thanh ký)

    Vẫn biết rằng “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nhưng đó vẫn là “nỗi hờn kim cổ” mà Nguyễn Du muốn chất vấn trời cao, hay chất vấn cuộc đời, song rốt cuộc vẫn không có lời giải đáp. Chỉ biết rằng đó là “phong vận kì oan” (nỗi oan lạ lùng) của những kẻ mang nết phong nhã. Hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng là cái án tiền định của những người như Thúy Kiều, Tiểu Thanh phải mang. Tiếng khóc của nàng Kiều trước mộ Đạm Tiên:

    “Đau đớn thay phận đàn bà

    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

    (Truyện Kiều)

    cũng chính là tiếng khóc của nàng cho chính mình mai sau và là tiếng khóc cho những phận đàn bà nói chung.

    Rốt cuộc thì Đạm Tiên, Thúy Kiều hay Tiểu Thanh dù số phận có nhiều điểm khác nhau thì cũng là “cùng một lứa bên trời lân đận”. Nguyễn Du cũng tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với những người mắc nỗi oan lạ lùng vì vết phong nhã. Tố Như đau cho số phận của Tiểu Thanh cũng là tự thương cho chính những lận đận của mình, bởi vậy mới khao khát tri kỷ:

    “Bất tri tam bách dư niên hậu

    Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

    (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

    Người đời ai khóc Tố Như chăng)

    (Độc Tiểu Thanh ký)

    “Khấp” có nghĩa là khóc thầm, còn “khốc” là khóc lớn, khóc thành tiếng. Nguyễn Du cả đời khóc thương cho những bất hạnh của con người nhưng cuối cùng cũng chỉ mong được người đời sau khóc thầm. Đó là khao khát tri âm khiêm nhường của một con người rất hiểu đời.

    Đọc “Truyện Kiều” và “Độc Tiểu Thanh ký”, Nguyễn Du luôn hỏi trời về những đau khổ của con người nhưng thực tế trong tác phẩm, Nguyễn Du lại cho thấy nguyên nhân nhưng đau khổ của con người là do những thế lực thù địch chà đạp lên cuộc sống và quyền sống chính đáng của con người. Nếu không có chế độ phong kiến với sự thống trị của đồng tìền thì Kiều đâu có 15 năm lênh đênh trong bể đoạn trường, nếu không có chế độ đa thê thì Tiểu Thanh chắc cũng không có số phận bi kịch như thế. Nguyễn Du đau nỗi đau của con người, hiểu thấu được nguyên nhân của những bi kịch ấy nhưng Nguyễn Du bất lực bởi chính ông cũng là nạn nhân của những bể dâu cuộc đời. Nỗi đau của Nguyễn Du, sự cô đơn của Nguyễn Du, tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đều xuất phát từ một trái tim nghệ sĩ lớn.

  • Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu về vẻ đẹp trữ tình của hình tượng dòng sông trong tác phẩm qua tác phẩm Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    Văn mẫu Cảm nhận về Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

    BÀI LÀM

    Giá trị lớn nhất của bài phú này là: với lòng tự hào dân tộc,bằng một hơi văn liền

    mạch,bút pháp bi hùng,tác phẩm gợi lên trong lòng người đọc cảm hứng hào hùng về

    những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng,cảm hứng bi tráng thuộc hào khí Đông A.

    1.Tác giả

    • Trương Hán Siêu ( ?-1354 ) tự là Thăng Phủ ,hiệu Đôn Tẩu , người xã phúc thành , huyện Yên Ninh ( nay thuộc thị xã Ninh Bình ). Ông có tài và học giỏi , từng là môn khách của Trần Hưng Đạo , sau làm quan từ triều Trần Anh Tông đến triều Trần Dụ Tông , lúc chết được thăng tước Thái Bảo , Thái phó và được thờ ở Văn Miếu ( Thăng Long ).
    • Tính tình cương trực , học vấn uyên thâm , sinh thời được các vua Trần tin cậy , nhân dân kính trọng.
    • Tác phẩm: còn 4 bài thơ và 3 bài văn , trong đó có Bặch Đằng giang phú nổi tiếng nhất.

    2. Hoàn cảnh sáng tác:

    • Bạch Đằng là một nhánh sông Kinh Thầy , nơi ghi dấu những chiến công hào hùng và trở thành thi tứ cho nhiều tác phẩm văn học.
    • Ước mơ đoán viết vào khoảng 50 năm sau cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông thắng lợi.

    3. Thể loại:

    • Viết theo thể phú , nguyên tác bằng chữ Hán.
    • Phú là thể hiện văn vần , dùng để tả cảnh vật , phong tục , tập quán , tính tình .Hai loại phú phổ biến là phú cổ thể và phú Đường Luật .Phú cổ thể vốn có từ trước đời nhà

    Đường , có vần , không đối , như bài ca dài , hoặc bài văn xuôi có vần , vì thế nên còn gọi là phú lưu thuỷ ( nước chẩy ).Còn Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường , có vần ,

    đối , theo luật bằng trắc khá chặt chẽ .Bài phú của Trương Hán Siêu viết theo lối cổ thể .Bản dịch theo nguyên điệu , trừ hai bài ca cuối cùng chuyển sang thể lục bát .

    4. Câu tứ:

    – Dùng hình thức đối đáp giữa khách và bô lão. Khách ở đây chính là tác giả.

    5.Phân tích:

    5.1 Giới thiệu người và hoàn cảnh:

    • Người:
    • Khách : là nhân vật do tác giả sáng tạo nên , nhưng ở đây cũng chính là tác giả .Trong thể phú , thường có nhân vật khách để kể chuyện cho hấp dẫn.
    • Khách đến những địa danh nổi tiếng

    Tính ước lệ -> người có lòng yêu thiên nhiên , thú du ngoạn , tâm hồn khoáng đạt , chí khí lớn lao , mang tráng chí bốn phương .

    Bặch Đằng ->tả thực .Không chỉ có thú tiêu dao mà còn là người yêu lịch sủ dân tộc ,học ltheo Tử Trường xưa.

    Giọng văn thanh thản , phơi phới.

    =>Hình tượng nhân vật khách : tự khẳng định mình là một hồn thơ,một khách hải hồ đồng thời là một kẻ sĩ thiết tha với đất nước và lịch sử dân tộc.

    – Cảnh:

    + Sông Bặch Đằng hùng vĩ , hoành tráng:

    Bát ngát sóng kinh muôn dặm,

    Thướt tha đuôi trĩ một mầu.

    Nước trời : một sắc.

    Phong cảch: ba thu.

    + Nhưng lại ảm đạm , hiu hắt:

    Bò lau san sát,

    Bến lách đìu hiu.

    Sông chìm giáo gãy,

    Gò đầy xương khô.

    • Qua cách nhìn cảnh vật , ta đọc tâm trạng của khách vừa vui , vừa buồn , vừa tự hào , vừa tiếc nhớ .Vui với cảnh sông nước mênh mồn , có thuyền bè xuôi ngược .Buồn

    đau,nuối tiếc vì thấy cảnh chiến trường xưa ,chiến thắng oanh liệt còn hừng hực là thế , mà nay sao trơ trọi , hoang vu , hiu quạnh là vậy .Dòng thời gian đang làm mờ bao dấu vết.Bởi thế:

    Buồn vì cảnh thảm,

    Đứng lặng giờ lâu.

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu.

    • Giọng điệu trầm lặng .Một tâm hồn phóng túng , mạnh mẽ cũng trở nên sững sờ , buồn tiếc.

    => Nhân vật khách , tuy có tính chất công thức của thể phú , đã được Trương Hán Siêu

    thổi vào , trở nên sinh động .Nhân vật khách chính là cái tôi của tác giả , một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước, với lịch sửdân tộc.

    5.2 Lời các bô lão:

    – Bô lão:

    • Hình ảnh tập thể , người dân địa phương , có thể từng chứng kiến hoặc tham gia các trận chiến xưa.
    • Xuất hiện như một sự hô ứng có tính lịch đại,có thể nhằm tạo không khí đối đáp tự

    nhiên,kể cho khạch nghe về những trận thuỷ chiến.

    • Thái độ các bô lã nhiệt tình hiếu khách. – Trận Bặch Đằng qua lời kể các bô lão: +Lời kể được sắp xếp tho dòng hồi tưởng.

    +Giới thiệu hai trận đánh.

    +Tả lại cnảh chiến trận,chủ yếu là chiến tích năm 1288.

    Lúc đầu ra quân trong thế trận giằng co , ngang sức ngang tài , bất phân thắng bại .Cuộc chiến diễn ra ác liệt , đến nỗi : Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ / Bầu trời đất sắp đổi. Câu văn sử dụng biện pháp đối lập báo hiệu một trận đánh kinh thiên động địa .

    So sánh trận chiến thắng Bạch Đằng với trận Xích Bích , Hợp Phì ( của Trung Hoa ) với niềm tự hào dân tộc.

    Nghệ thuật: lời kể súc tích , đầy cảm hứng , có hồi hộp nhưng sảng khoái của người trong cuộc .Lời kể , lúc dùng câu ngắn gợi không khí gấp gáp căng thẳng , lúc câu dài gợi không khí trnag nghiêm dõng dạc.

    Cách miêu tả ngắn gọn mà vẫn cụ thể , tỉ mỉ khiến người đọc tưởng như cuộc chiến đang diễn ra trong hiện tại.

    – Lời bình luận các bô lão:

    +Suy nghĩ về nỗi nhục của kẻ thù .

    +Suy ngẫm về nguyên nhân ta thắng , địch thua .Ta chiến thắng vì ta chiến đấu bảo vệ non sông , chiến đấu cho chính nghĩa .Trời lại cho nơi đất hiểm .Nhưng điều quyết định là ta có nhân tài.

    Từ khi có vũ trụ,

    Đã có giang san.

    Quả là : trời đất cho nơi hiểm trở,

    Cũng nhờ : nhân tài giữ cuộc điện an.

    Nhấn mạnh yếu tố con người là cảm hứng mang tính nhân văn , có tầm triết lý sâu sắc.

    Lời bình luận vừa hào hùng sâu lắng thiêng liêng.

    +Tâm trạng của các bô lão khi nhắc đến người xưa , cũng buồn thương , tiếc nuối :

    Đến chơi sông chừ ủ mặt,

    Nhớ người cưa chừ lệ chan.

    +Lời ca của bô lão là lời tuyên ngôn sảng khoái , dõng dạc về chân lý: nhưng kẻ nghĩa tiêu vong , người anh hùng sẽ bất tử như sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông lịch sử.

    5.3 Lời ca của khách:

    • Ca ngợi công đức hai vị vua Trần ( Trần Thánh Tông , Trần Nhân Tông) đem lại thái bình cho đất nước.
    • Bày tỏ khát vọng hoà bình muôn thuở.
    • Ở câu cuối , khách vừa biện luận , vừa khẳng định chân lý : sức mạnh chính nghĩa , đạo

    đức dân tộc là yếu tố quyết định chiến thắng.

    • Lời ca của khách chỉ có bốn câu mà ý tưởng sâu xa.Giọng văn phơi phới , hân hoan.

    6.Chủ đề:

    Qua việc tái hiện không khí chiến thắng hào hùng trên sông Bặch Đằng , tác phẩm toát lên niềm tự hào dân tộc – tự hào về truyền thống anh hùng bất khất , tinh thần chuộng đạo lý của dân tộc , vẻ đẹp tâm hồn con người Đại Việt Dựa vào gợi ý sau rồi làm nhé

    Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần truy phong là Thiếu Bảo.Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cỗ Việt Nam có một số tác phẫm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

    “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Bài cảm nhận về “Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.

    Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thuỷ. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chữ, có những kiểu câu được quy pạm rõ rang. “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu viết theo lối phú cổ thể, có vần sử dụng phép đối rất sáng tạo:

    … “Tiếng thơm đồn mãi,

    Bia miệng không mòn.

    Đến chơi sông chừ ủ mặt

    Nhớ người xưa chừ lệ chan…”

    Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng sông lịch sử đã gán liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh

    Hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của “Bạch Đằng giang phú”.

    “Giương buồm giong gió chơi vơi”.

    “Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.

    Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…

    Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:

    “Nơi có người đi

    Đâu mà chẳng biết”.

    Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.

    “Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều

    Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.

    Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.

    “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”

    Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi:

    “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,

    Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”

    “Bát ngát sóng kình muôn dặm

    Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn

    nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng

    kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”.

    Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu

    thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng

    Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn

    làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm

    tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:

    “ Bờ lau san sát Bến lách đìu hiu

    Sông chìm giáo gãy

    Gò đầy xương khô

    Bờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).

    Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi

    cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua

    những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông

    Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:

    “ Buồn vì cảnh thảm

    Đứng lặng giờ lâu

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.

    Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn”

    “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”

    Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên:

    “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

    Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.

    hoặc ………………………………………….. …

    Trương Hán Siêu là một nhân vật lớn đời Trần. Ông tên chữ Lăng Phủ, quê ở làng Phúc Am, huyện An Khánh, Ninh Bình. Trương Hán Siêu lúc trẻ làm môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba. Ông làm quan trải qua bốn triều vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông). Trương Hán Siêu là một người học vấn uyên bác, thông hiểu sâu sắc đạo Nho, đạo Phật, lại giàu lòng yêu nước và có nhiều công lao đối với triều Trần, vì vậy ông được các vua Trần tôn kính, xem như bậc thầy.

    Năm 1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ. Đời Minh Tông ông giữ chức Hành khiển. Đời Trần Dụ Tông, năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung ở Môn hạ. Đời Trần Dụ Tông đổi sang Tả Tư Lang kiêm chức Kinh Lược sứ ở Lạng Giang, năm 1345 ông được thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính sự. Ông được vua Dụ Tông sai cùng với Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ “Hoàng Triều Đại Điển” và bộ “Hình Luật

    Thư”. Năm 1351, ông được phong Tham tri Chính sự.

    Năm 1353, ông lãnh chiếu chỉ ra trấn nhậm Hoá Châu (Huế), sai người xây thành đắp luỹ, lập kế chống quân Chiêm. Năm 1354, ông cáo bệnh xin nghỉ nhưng trên đường về Bắc chưa kịp đến nhà thì mất, sau được truy tặng Thái phó và cho phối thờ ở Văn Miếu, Thăng Long.

    Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng chức Thái phó và được đưa vào thờ tại Văn Miếu ngang với các bậc hiền triết xưa. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên. Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú” được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

    “Bạch Đằng Giang phú” là một kiệt tác trong văn chương cổ Việt Nam. Về mặt nghệ thuật, đây là tác phẩm thể hiện đỉnh cao của tài hoa viết phú. Về nội dung tư tưởng, Bạch Đằng Giang phú là áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc khi nhìn nhận nguyên nhân thành công của dân tộc trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước.

    “Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này.

    Ở Trương Hán Siêu, hành vi ứng xử nổi bật nhất, in đậm vào sử sách, là thái độ gần gũi

    thiên nhiên, cách ông nhìn ngắm thiên nhiên tạo vật. Về điều này, nếu nói Trương Hán Siêu gắn bó với cảnh trí của đất nước thì không có gì sai nhưng hình như vẫn chưa đủ. Nhà thơ nhà văn Việt Nam xưa nay rất ít người thờ ơ trước vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc: “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi/Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu” (Nguyễn Trãi). Trương Hán Siêu cũng thế thôi. Nhưng với ông, trong tình yêu thiên nhiên hình như còn có một điều gì khác hơn, một khao khát thường trực muốn chiếm lĩnh thế giới tự nhiên, nhận biết cho hết mọi tri thức lịch sử – xã hội ẩn ngầm trong ngoại giới. Như chính ông phô bày trong vai một “người khách “ ở bài Bạch Đằng giang phú, hầu như cả một đời, ông đã coi lẽ sống của mình là ngược xuôi tìm đến mọi danh lam thắng cảnh:

    “Khách có kẻ,

    Giương buồm giong gió khơi vơi;

    Lướt bể chơi trăng mải miết.

    Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

    Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt;

    Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt

    Nơi có người qua đâu mà chẳng biết.

    Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều

    Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết…”

    Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là những lời tâm niệm của Trương Hán Siêu bởi các địa danh nói trên đều là điển cố trong văn liệu, ông được đọc qua sách vở, hay là thông qua sách vở mà tìm đến chúng chứ chưa chắc đã một lần ghé thăm. Song cũng vì vậy, thiên nhiên như cái đích tìm kiếm của ông dường như có mang một hàm nghĩa thâm thúy: đây là nơi tập kết mọi trải nghiệm văn hóa của con người, và cũng là chứng tích để con người nhìn xa vào lịch sử. Vẫn trong bài phú về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý nguyện bắt chước “thú tiêu dao” của Tử Trường tức Tư Mã Thiên – nhà viết sử nổi tiếng của Trung Quốc, trước khi bắt tay cầm bút đã đi khắp mọi nơi đầu sông cuối bể nhằm nuôi dưỡng tình cảm và thu nhận kiến thức.

    Ta để ý nếu ở phần trên, các địa danh thực ra đều là ảo – địa danh trong điển tích, không phải trong thực tế – thì đến đây mới là địa danh thực. Nhà thơ đưa ra một cái tên Bạch Đằng chưa hề có trong các pho sách kinh điển nhưng lại hiển hiện trước mắt với tất cả sức thuyết phục của những chiến công vang dội của nó.

    Bạch Đằng giang phú ú là một bài phú lưu thủy, người viết cốt biểu đạt ý tưởng một cách

    phóng khoáng, tuôn chảy, không quá chú trọng gò gẫm bằng trắc đối xứng và hiệp vần.

    Nhưng cấu trúc bài phú cũng là cả một dụng công. Bằng sự phân vai khéo léo giữa

    “khách” và “bô lão” trong nghệ thuật biểu hiện để tạo nên sự đồng hiện về thời gian,

    bằng cách chuyển đoạn thần tình trong tâm trạng người trần thuật từ bâng khuâng hoài cổ

    sang cảm xúc bồng bột của người đang chứng kiến sự việc tiếp diễn, bằng nghệ thuật sắp

    xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại

    khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu… mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm

    lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc. Đặc biệt, không ít những bậc tự xem là tri âm tri kỷ có

    thiên hướng muốn đón nhận toàn bộ hình tượng nghệ thuật của bài phú như những đường

    nét khắc họa chân thực quang cảnh chiến trận Bạch Đằng.

    Nếu để ý ta sẽ thấy bức tranh đằng đằng sát khí của trận Bạch Đằng còn là một đối cực nữa của một bức tranh thủy mạc lặng tĩnh mà tác giả vẽ lên, như đã dẫn ở một phần trước:

    Thiệp Đại Than khẩu / tố Đông Triều đầu,

    Để Bạch Đằng giang / thị phiếm thị phù.

    Tiếp kình ba ư vô tế;

    Trám diêu vĩ chi tương mâu.

    Thủy thiên nhất sắc / phong cảnh tam thu

    Chử địch ngạn lô / sắt sắt sâu sâu

    Chiết kích trầm giang / khô cốt doanh khâu

    Thảm nhiên bất lạc / trữ lập ngưng mâu

    (Qua cửa Đại Than / ngược bến Đông Triều,

    Đến sông Bạch Đằng / nổi trôi mặc chèo.

    Bát ngát sóng kình muôn dặm/

    Xanh xanh đuôi trĩ một màu.

    Nước trời một sắc / phong cảnh ba thu

    Sông chìm giáo gãy / gò đầy xương khô

    Buồn vì cảnh thảm / đứng lặng giờ lâu

    Đây lại là đối cực động-tĩnh giữa hiện tại và quá khứ. Đối cực này đã khiến người đọc

    như rơi vào trạng thái mơ màng, bâng khuâng, trong khi đuổi theo cái cố gắng “đi tìm

    thời gian đã mất” của tác giả. Ta chợt tự hỏi: Không hiểu giữa hiện hữu thứ nhất (thực tại

    tĩnh lặng trước mắt mà cũng là một hụt hẫng trong tâm trạng) và hiện hữu thứ hai (thực

    tại sống động trong tiềm thức mà cũng là một miên viễn của tưởng tượng) thì hiện hữu

    nào mới là có thật? Sự vấn vương ở đây có chút gì đó làm lòng ta nặng trĩu khi nghĩ đến

    dòng chảy của thời gian và thói vô tình dễ quên của người đời. Nói cách khác, những âm

    hưởng trữ tình đối lập ở trong tác phẩm đã tạo nên một ngân vang sâu thẳm và ngân vang

    này chính là triết lý: sự sống là một tiếp biến không ngừng không nghỉ, cái đang diễn ra

    và cái đã đi vào vĩnh cửu cứ đan quyện lấy nhau, mà cái nhân tố có khả năng kết nối làm

    nên sự đan quyện ấy, khiến cho sợi dây chuyền vô hình nghiệt ngã của thời gian có lúc

    tưởng như bị đảo ngược: hiện tại không hẳn đã trôi về quá khứ tất cả, mà có phần nào đó

    còn trôi theo chiều ngược lại, còn có “dấu vết lưu lại” với hậu thế – cái nhân tố ấy là con

    người, được quyết định bởi con người:

    • Trời đất đặt ra nơi hiểm trở, Bậc anh tài tính cuộc tồn an
    • Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao

    Nhìn trở lại toàn bộ bài phú, nghệ thuật phối trí thời gian và không gian của Trương Hán

    Siêu đã đạt đến chỗ thần tình. Nhà thơ đưa không gian Bạch Đằng từ một viễn cảnh trải rộng và hết sức bao la đến với cận cảnh của một trận thủy chiến dữ dội, và cuối cùng dồn vào một tiêu điểm là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ huy quân sự quyết định sự thắng bại của chiến cuộc, đồng thời cũng chính là đang từ một không gian hiện thực ông quay trở về với không gian hồi cố, không gian tâm tưởng, cùng theo đó, thời gian nghệ thuật cũng đi lùi từ hiện tại về quá vãng. Vậy mà cảm hứng của người đọc lại không bị đẩy lùi bởi dòng hoài niệm, trái lại tiếp nhận nó như chính cái đang diễn ra trước mắt mình. Thủ pháp mờ chồng giữa hai thời đoạn cách quãng trên quang cảnh một con sông, thủ pháp hoán đổi điểm nhìn linh hoạt của tác giả… đã góp phần hóa giải tâm trạng hoài cổ của bài phú, tạo nên một tâm lý cân bằng và gây hứng thú sâu sắc trong cảm xúc thẩm mỹ.

    Tóm lại, bằng lượng thông tin đa nghĩa, những ẩn ngữ phong phú đọng lại phía sau ngôn từ, Bạch Đằng giang phú đã gợi lên được nhiều tiếng nói cùng một lúc trong cảm nhận nhiều chiều của người đọc. Sự dồn nén nghệ thuật của bút pháp Trương Hán Siêu quả đã đến một trình độ bậc thầy.

    Trương Hán Siêu là một danh nhân nổi tiếng của mảnh đất Trường Yên – Ninh Bình, một chứng nhân rõ rệt cho truyền thống văn hóa lâu đời của vùng đất văn vật này. Nhưng ông lại cũng là một nhân vật có tầm thước cả nước, một người con ưu tú của văn hóa Thăng Long dưới triều đại Trần. Ông xứng đáng được xếp vào hàng danh nhân tôn vinh ở Văn miếu Quốc tử giám như nhà Trần đã từng “liệt hạng” xưa kia, mặc dù ông không hề có mảnh bằng nào thông qua thi cử. Điều đó cũng nói lên rằng triều đại Trần có sức năng động lớn vì nó biết chuộng thực học, biết lựa chọn tài năng theo những tiêu chí thực tiễn. Bỏ qua mọi thứ phù danh, với những người như Trương Hán Siêu, nhà Trần đã biết cách làm cho mình trở thành bất tử.

    Nếu như người dân trung hoa tự hào có bài “phú cao đường” của Tống Ngọc đời nhà hán thì người dân Việt Nam lấy làm vẻ vang vinh dự khi được tiếp nhận và thừa hưởng 1 kiệt tác văn học của Trương Hán Siêu: “Phú sông Bạch Đằng”. Bằng ngòi bút tài hoa của

    mình THS đã cho chúng ta thấy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lí nhân nghĩa và chủ nghĩa nhân văn cao đẹp.

    THS là nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XII_ nửa đầu thế kỉ XIII. Ông là người tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua trần trọng dụng. Thơ văn của ông còn lại ko nhiều nhưng có giá trị nhất là bài “Phú sông Bạch Đằng”.Phú sông Bạch Đằng mang đặc trưng cơ bản của thể phú. Phú là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi.

  • Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    Văn mẫu Phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

    BÀI LÀM

    Chinh phụ ngâm nguyên văn bằng chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác. Bản Nôm hiện hành, nhiều ý kiến thống nhất, là của dịch giả Đoàn Thị Điểm. Trước cảnh chiến tranh liên miên đầu thế kỉ XVIII, cảm động trước thời thế, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm. Qua nỗi niềm và tâm trạng cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ, tác phẩm đã nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Bản dịch đã thể hiện tài năng của tác giả và dịch giả trong việc thể hiện những trạng thái tâm lí vô cùng tinh tế và phức tạp của người vợ nhớ chồng.

    • Về bản dịch Chinh phụ ngâm hiện có tất thảy bảy bản dịch và phỏng dịch bằng các thể song thất lục bát (bốn bản) và lục bát (ba bản) của các dịch giả : Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh, nhưng chưa biết bản dịch nào của ai. Riêng bản dịch thành công nhất và được phổ biến rộng rãi xưa nay, thể song thất lục bát, 412 câu (bản in chữ Nôm cũ hiện còn (1902, AB 26), hoặc 408 câu (một bản khác lưu tại thư viện Pa-ri) có người cho là của Đoàn Thị Điểm, có người cho là của Phan Huy Ích.

    (Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, tập I, Sđd)

    • So bản dịch của bà với bản chữ nho thì thấy văn dịch rất sát nghĩa nguyên văn mà lời văn êm đềm, ảo não, rõ ra giọng một người đàn bà buồn bã, nhưng có vẻ thê lương hơn là vẻ đau đớn, không đến nỗi réo rắt, sầu khổ như giọng văn cung oán, thật là lời văn hợp cảnh vậy. Bản dịch viết theo thể “song thất”. Có nhiều đoạn đặt theo lối liên hoàn, những chữ cuối câu trên láy lại làm chữ đầu câu dưới, cứ thế đặt dài tới mấy câu, thật hợp với tình buồn liên miên không dứt của người chinh phụ.

    (Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, 1950)

    1. Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh quyền quý, nàng tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập công danh nơi yên ngựa và trở về trong cảnh vinh hoa. Thấm nỗi cô đơn lẻ loi, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang đi qua và hạnh phúc lứa đôi ngày

    càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực. Khúc ngâm thể hiện tâm trạng cô đơn ấy của người chinh phụ. Đoạn trích miêu tả tâm trạng lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng.

    Đầu đời Cảnh Hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê Mạc đánh nhau đến Trịnh Nguyễn kéo dài cuộc phân tranh, đất nước chia làm hai nửa dưới cái ngai vàng mục ruỗng, rồi khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh nồi da nấu thịt, loạn li chinh chiến, cha mẹ xa con, vợ xa chồng. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất thối nát, bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến và nỗi đau khổ của con người những nạn nhân của chế độ xã hội ấy. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm của rất nhiều nho sĩ. Nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời, trong đó bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm là bản dịch thành công hơn cả vì dịch giả đã gặp được ở đó sự đồng cảm sâu sắc.

    Hình tượng nổi bật của Chinh phụ ngâm là hình tượng người chinh phụ héo mòn trong trông ngóng chờ đợi. Người chinh phụ hiện lên trong khúc ngâm với ước vọng công hầu và khát khao hạnh phúc lứa đôi. Được nuôi dưỡng trong nền giáo dục Nho gia, người phụ nữ quý tộc phong kiến cũng từng mong ước, tự hào về hình ảnh một người chồng dũng mãnh :

    Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

    Xếp bút nghiên theo việc đao cung

    Thành liền mong tiễn bệ rồng

    Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời

    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

    Thế nhưng sau những ngày mỏi mòn chờ chồng trong tuyệt vọng, nàng rơi vào tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng và cất lời oán trách. Qua tâm trạng của người thiếu phụ, khúc ngâm là

    tiếng nói oán trách chiến tranh phong kiến đã giày xéo lên hạnh phúc lứa đôi.

    Chinh phụ ngâm là một tác phẩm trữ tình, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn chỉ là tâm trạng của nhân vật trữ tình người chinh phụ. Khúc ngâm được phát triển theo mạch tâm trạng và nỗi nhớ nhung của người chinh phụ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bao quát được những trạng thái tâm trạng của người chinh phụ. Nội tâm đầy biến động được diễn tả qua những từ ngữ chỉ ngoại hình, tả hành động, tả việc làm của người chinh phụ. Người thiếu phụ trong Khuê oán của Vương Xương Linh vẫn vô tư trang điểm má hồng để lên lầu biếc ngắm cảnh xuân, chỉ khi ngắm màu dương liễu mới bừng tỉnh và nhận ra cảnh ngộ cô đơn của mình ; còn người chinh phụ này luôn chìm đắm trong nỗi cô đơn. Sự trông đợi mỏi mòn và vô vọng đã khiến nàng trễ nải cả việc điểm phấn tô son, công việc quan trọng nhất của người phụ nữ nơi gác tía lầu son như nàng :

    Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng,

    Lệch vòng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

    Nỗi đau buồn của người thiếu phụ trong cảnh đợi chồng đi chiến trận đã khiến nàng mất hết sức lực, như người mộng du trong ngôi nhà của mình :

    Há như ai hồn say bóng lẫn,

    Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.

    Sự chờ đợi vô vọng đã khiến nàng tê liệt cả tinh thần. Với việc miêu tả dáng vẻ bề ngoài, tác giả đã lột tả được trạng thái tâm lí phức tạp trong nội tâm của người thiếu phụ. Người thiếu phụ hiện lên với vẻ mệt mỏi và buông xuôi, nỗi cô đơn đã giày vò cả tâm thần và thể xác của người thiếu phụ khiến nàng nhạt phấn phai hương. Nỗi cô đơn bao trùm cả lên không gian và thời gian, ngày và đêm. Trong và ngoài căn phòng đều tràn ngập nỗi cô đơn. Chỉ có người thiếu phụ đối diện ngọn đèn, tình cảnh lẻ loi càng hiện rõ hơn. Cái vẻ lẻ loi tội nghiệp ấy hiện lên thật rõ ràng với hình ảnh :

    Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

    Giữa cái không gian tĩnh mịch của đêm, tiếng bước chân chậm rãi như gieo vào lòng người cái âm thanh lẻ loi cô độc. Pu-skin trên con đường mùa đông vắng vẻ, cô đơn hơn bởi tiếng lục lạc đơn điệu thì người chinh phụ cô đơn hơn khi nghe tiếng bước chân của mình. Nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng mà thôi. Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được không hay sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng. Ngọn đèn chỉ là vật vô tri vô giác, “có biết dường bằng chẳng biết” :

    Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

    Buồn rầu nói chẳng nên lời,

    Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

    Cảnh vật không san sẻ mà cộng hưởng cùng nỗi sầu của người chinh phụ khiến nàng đau càng đau, sầu càng sầu. Nỗi chờ đợi ngày càng vô vọng. Dường như người thiếu phụ thức trắng cả năm canh và bị nỗi nhớ nhung giày vò :

    Gà eo óc gáy sương năm trống,

    Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

    Dịch giả đã sử dụng rất hợp lí những từ ngữ thuần Việt với những chữ như “eo óc”, “phất phơ”, những từ ngữ ấy dùng để tả cảnh nhưng đã chuyển tải được nỗi cô độc, buồn sầu của người thiếu phụ. Nó vừa gợi hình ảnh, vừa gợi tâm trạng. Dáng hoè phất qua bên nọ bên kia gợi nên hình ảnh người chinh phụ vật vã trong nhớ nhung giữa đêm khuya lẻ loi. Đếm từng khắc thời gian trôi đi chậm chạp, nhìn xung quanh thì bốn phía chỉ là cây hoè rủ bóng, nàng chìm ngập trong nỗi cô đơn. Khi chờ đợi bao giờ thời gian cũng rất dài.

    Thuý Kiều trong tâm trạng đợi chờ Kim Trọng :

    Sầu đong càng lắc càng đầy,

    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê !

    Giống như tâm trạng người chinh phụ chờ chồng :

    Khắc giờ đằng đẵng như niên,

    Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

    Thời gian cứ dài dằng dặc và không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian. Biết nỗi đợi chờ là vô vọng, nàng đã cố gắng để đưa mình ra khỏi nỗi cô đơn. Gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn nhưng càng cố gắng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc. Soi gương thì nước mắt đầm đìa bởi nàng phải đối diện với gương mặt thanh xuân đang mỏi mòn dần và thì xuân sắc đang phũ phàng trôi qua. Khúc đàn loan phượng thì gợi nhớ cảnh chồng vợ chia lìa.

    Nỗi đau đớn, tủi hờn của người chinh phụ thể hiện nỗi khao khát hạnh phúc lứa đôi chân chính. Với nỗi niềm cảm thông sâu sắc, tác giả và dịch giả đã thể hiện rất tinh tế và thành công những trạng thái tâm lí phức tạp của người thiếu phụ, qua đó thể hiện thái độ của mình trước những cuộc chiến tranh, binh biến liên miên dưới chế độ phong kiến thế kỉ XVIII. Tuy tác phẩm không nói rõ tính chất cuộc chiến tranh mà người chinh phu tham gia, song dựa trên những điều kiện lịch sử khi tác phẩm ra đời, có thể nhận thấy, đó không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc, mà là cuộc chiến giành giật quyền lực của các tập đoàn phong kiến, những cuộc chiến phi nghĩa.

    Dịch Chinh phụ ngâm, dịch giả đã chọn thể thơ song thất lục bát, một thể thơ dân tộc có khả năng lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật, nhất là tâm trạng buồn đau, sầu muộn. Dịch giả đã dịch rất thanh thoát nội dung của nguyên tác, thể hiện chân thực nỗi buồn của người thiếu phụ phương Đông, mãnh liệt, da diết nhưng kín đáo. Chinh phụ

    ngâm đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngôn ngữ văn học dân tộc. Với tác phẩm này, tiếng Việt đã chứng minh khả năng diễn tả tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc, tinh tế. Với tấm lòng thương yêu và sự cảm thông sâu sắc với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, tác giả và dịch giả cất lên tiếng kêu nhân đạo, tiếng kêu phản đối chiến tranh phi nghĩa. Thái độ phản chiến tuy không bộc lộ trực tiếp song lại rất mạnh mẽ. Chiến tranh đã cướp đi của con người hạnh phúc và tuổi trẻ, thậm chí cả mạng sống. Vì một cuộc chiến, có biết bao người vợ phải xa chồng, phải giam mình trong nỗi cô đơn, buồn tủi như người chinh phụ kia. Có người đón chồng trở về khi tóc đã pha sương, nhưng đó còn là may mắn. Có người đau xót đón tin chồng không trở về sau những ngày mỏi mòn trông đợi.

    “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” là lời oán thán nặng nề nhất trong Chinh phụ ngâm, lời ai oán không mạnh mẽ nhưng uất ức và oán trách. Đó là một trong những giá trị của Chinh phụ ngâm. Nhưng cao hơn cả, tác phẩm là sự tiếp nối xuất sắc cảm hứng nhân đạo của nền văn học dân tộc, một lần nữa, những khao khát hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến lại được ủng hộ. Đề tài về thân phận người phụ nữ lại được góp thêm một tiếng nói mới đầy sức mạnh nhân văn.

  • Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    Văn mẫu Phân tích nhân vật “Khách” trong Bạch Đằng giang phú

    BÀI LÀM

    Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính

    là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc

    tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật

    “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm

    làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ

    tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.

    Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm

    hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi

    vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với

    thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”,

    ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…

    Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu

    Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở

    đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha

    thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:

    “Nơi có người đi

    Đâu mà chẳng biết”.

    Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có

    những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt

    bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà

    “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao

    cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.

    “Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều

    Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.

    Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm

    trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.

    “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”

    Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng.

    Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc

    “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử

    Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác

    giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem

    là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo

    sông núi:

    “Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,

    Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”

    “Bát ngát sóng kình muôn dặm”

    Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn

    nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng

    kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”.

    Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu

    thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng

    Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn

    làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm

    tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non,

    bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:

    “ Bờ lau san sát Bến lách đìu hiu

    Sông chìm giáo gãy

    Gò đầy xương khô

    Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm

    giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức

    Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng

    dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).

    Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi

    cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua

    những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông

    Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:

    “ Buồn vì cảnh thảm

    Đứng lặng giờ lâu

    Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

    Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.

    Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều

    biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ

    đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ

    chung “uống nước nhớ nguồn”

    “Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”

    Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ

    chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm

    điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách

    và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào

    hùng oanh liệt của tổ tiên:

    “ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

    Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.

  • Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích Trao Duyên – Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    BÀI VĂN MẪU LỚP 9

    Đề bài: Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải

    BÀI LÀM

    Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu . Ở các quốc gia tiên tiến , vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường rất được chú trọng nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa. Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Đáng buồn thay, ở nước ta, hiện tượng vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng , không giữ gìn vệ sinh đường phố rất phổ biến. Việc làm này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về hiện tượng này.

    Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng . Ăn xong một que kem hay một chiếc kẹo , người ta vứt que, vứt giấy xuống đất . Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối , vứt lon , vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần. Thậm chí khi ăn xong một tép kẹo cao su, họ cũng không mang đến thùng rác mà vo tròn rồi trét lên ghế đá và cứ thế bỏ đi chỗ khác. Công viên, nơi được xem là có bầu không khí trong lành, sạch đẹp, giúp con người thư giản, hay chùa chiền, vốn là nơi tôn nghiêm cũng không tránh khỏi hiện tượng này. Bến tàu, nhà ga, kênh rạch đâu đâu cũng có rác. Một biểu hiện phổ biến khác là một số tài xế chở gạch,đá phế thải ở các công trinh xây dựng đem đổ khắp nơi và cả trên dưới phố. Con người ta còn vô ý thức đến mức mang xác súc vật chết như chó, mèo, chuột, gia cầm như gà, vịt ném xuống hồ ,ao, sông rạch và ra đường. Ở một số hàng, quán bán trên vỉa hè người ta đổ tất cả đồ ăn dư thừa, nước rửa chén, bát xuống cống khiến cho nước thải bị ứ đọng ,cống bị tắt nghẽn. Thế nhưng hiện tượng xả rác đó còn lan sâu vào một tầng lớp trí thức trẻ ngày nay. Biểu hiện cụ thể ở một số sinh viên làm gia sư. Họ thường đứng ở các ngã ba, ngã tư đường để phát tờ rơi quảng cáo nhóm gia sư của mình một cách bừa bãi khiến khắp đường phố rải rác đầy những tờ rơi. Trong lớp học, sân học, học sinh cũng ngang nhiên xả rác ở hộc bàn, góc lớp, hành lang,… Nguy hiểm hơn cả là tình trạng bệnh viện chôn rác xuồng lòng đất ngay bên cạnh khu dân cư, hay mới đây là vụ nhà máy bột ngọt Vedan đã thải nước xuống dòng sông Thị Vãi mấy chục năm biến dòng sông thành dòng sông chết.

    Vậy do đâu mà hiện tượng xả rác bừa bãi lại tràn làn như vậy? nguyên nhân Đầu tiên là do những thói quen xấu lười biếng và lối sống lạc hậu ích kỷ chĩ nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số người . Họ sống theo kiểu

    “Của mình thì giữ bo bo 

    Của người thì thả cho bò nó ăn ”

    Họ nghĩ đơn giản rằng chỉ cần nhà mình sạch thì được còn bẩn thì ai bẩn mặc ai . Những nơi công cộng không phải là của mình , vậy thì việc gì mà phải mất công gìn giữ. Cứ ném rác vội ra là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp. Cách nghĩ như thế thật là thiểu cận và nguy hại làm sao. Nguyên nhân tiếp theo là do thói quen đã có từ lâu, khó sửa đổi, phải có sự nhắc nhở thì người ta mới không xả rác bừa bãi. Ở các lớp học, hằng ngày, các thầy cô và ban cán sự lớp phải thường xuyên nhắc nhở thì mới giữ cho lớp học sạch đẹp. Nhưng xã hội là một phạm vị rộng lớn hơn lớp học rất nhiều. Mọi người đều bận rộn với công việc của mình và không một ai có đủ thời gian để đi nhắc nhở từng người một . Không được nhắc nhở , con người ta lại quay về với thói quen trước kia . Việc giáo dục ý thức giữ gìn , bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức , chưa được tổ chức thường xuyên . Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi , không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hòi của người dân . Do đó mà trình độ hiểu biết của người dân còn thấp dẫn đến thái độ tuân thủ nội quy nơi công cộng chưa đi vào nề nếp. Một phần là do sự quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, kém hiệu quả, …chưa có hình thức xử lý nghiêm khắc những cá nhân, đơn vị, công ty vi phạm, hay nói cách khác là biết mà làm ngơ. Cứ thử phạt thật nặng một người nào đó xả rác ra đường phố làm gương, thì còn ai dám xả rác nữa.

    Với tình hình vứt rác bừa bãi hiện nay, thì những hậu quả kéo theo nó cũng không phải nhỏ. Trước tiên là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Rác bị xả bừa bãi liên tục, ngày càng nhiều nếu không được thu dọn sẽ bốc mùi, gây ô nhiễm môi trường không khí. Nguồn nước bị ô nhiễm nặng do dân cư ven các con sông thải chất thải sinh hoạt xuống sông, tệ hại hơn, họ còn ném xác gia cầm bị H5N1 xuống sông. Người dân chẳng may sử dụng phải nguồn nước nay, hay sống gần những bải rác sẽ dễ mắc các bệnh về đường ruột, bệnh ngoài da, ệnh đau mắt hột…Đặc biệt gần đây ở nước ta có nhiều người tử vong vì bị tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn tả từ nước bị ô nhiễm. Về vấn đề kinh tế mà nói, ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất là ngành nuôi trồng thủy sản. Do môi trường sinh thái bị ô nhiễm, cá tôm chết nhiều hoặc bị bệnh tác hại nghiêm trọng đến sản lượng, kinh tế người dân và tốn kém nhiều tiền bạc trong việc cải tạo môi trường. Rác trong lớp học, sân trường, nếu không thu dọn kịp thời sẽ bốc mùi hôi thối khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự tiếp thu bài của học sinh, sự truyền đạt kiến thức của giáo viên và còn làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của ngôi trường. Và độc hại hơn cả, là rác thải y tế với những mầm bệnh ung thư, nước nhiễm chì, nhiễm bẩn. Rác tồn đọng, ứ lại trên các kênh rạch, cống rãnh gây nên ngập lụt vào mùa mưa gây ảnh hưởng đến đời ống của người dân, nhà nước, địa phương phải tốn thêm một khoản chi phí không nhỏ để thuê nhân công thu dọn, nạo vét, khai thông cống rãnh, ao hồ, kênh rạch. Và một thiệt thòi đối với nước ta nếu hiện tượng xả rác còn tràn lan là sẽ để lại ấn tượng không tốt đẹp cho khách du lịch. Thử hỏi còn ai dám đến tham quan một đất nước đầy rác ngoài phố, mùi hôi khó chịu, mất vệ sinh!!? Lúc ấy, chúng ta sẽ mất một nguồn lợi khá lớn về du lịch.

    Vậy làm thế nào để giảm thiểu được hiện tượng xả rác này. Nhà trường phối hợp với các ban ngành thướng xuyên nhắc nhở, tuyên truyền, kiểm tra ý thức tự giác của mọi người về việc giữ gìn vệ sinh. Nên có những hình thức khiển trách đúng mức đối với những học sinh có thói quen vứt rác bừa bãi. Đối với người dân vi phạm thì họp tổ dân phố kiểm điểm. Còn công ty nào vi phạm thì . Tốt nhất là các cơ quan nhà nước thẳng tay phạt nặng, rút giấy phép hoạt động cần đưa ra những bộ luật thật cụ thể về vấn đề xâm hại môi trường.

    Hành vi xả rác nơi công cộng đang là vấn đề đau đầu của các cơ quan chức năng bởi mức hiệt . Bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sống của mọi người, vì tác hại của nó đối với XH, vậy mỗi người chúng ta cần có ý thức, góp phần chung tay xây dựng một môi trường xanh-sạch-đẹp.

    Đề : Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng.Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng,người ta cũng tiện tay vứt rác xuống.em hãy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.

    Bài làm
    Rác – tác nhân hủy hoại môi trường!

    Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta có rất nhiều hiện tượng làm ảnh hưởng đến môi trường va đặc biệt là mỹ quan đường phố. Đó chính là hiện tượng vút rác bừa bãi. Vậy chúng ta cần làm gì để ngăn chặn hiện tượng trên.
    Vâng! Quả đúng như vậy,như chúng ta đã biết vứt rác ra nơi công cộng là chính chúng ta đã góp phân làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống của con người. những bãi rác chính là đầu mối gây ra các mùi hôi thối, khó chịu. nó còn là ổ dịch truyền nhiễm thông qua nững con côn trùng như hiện tượng bùng nổ dịch cúm gia cầm H5N1, một số người dân khi thấy gà, vịt chết hàng loạt đã không báo cho cơ quan thú y xử lí ma họ đã tự ném xác chúng xuống ao, hồ. đó quả là một việc làm vô cùng nguy hiểm vì lỡ nếu con gà hay vịt ấy mang trong mình mầm bệnh thì dịch bệnh sẽ phát tán trên cả khu vực rộng lớn, do nước từ các ao, hồ này chảy ra sông – nguồn nước sinh hoạt của nhiều hộ gia đình…
    Không chỉ vậy, mà việc vứt rác còn ảnh hưởng to lớn đến cảnh quan môi trường như: thành phố Nha Trang là một trong những thành phố đang có tiềm năng du lịch, hiện tại là thời kì mở cửa thu hút nhiều khách du lịch tham quan. Nếu việc vứt rác bừa bãi của chúng ta sẽ khiến cho khách du lịch có cái nhìn không tốt về nơi đây, đặc biệt là người dân đang sinh sống, học tập, làm việc nơi đây. Họ sẽ đánh giá ngay đây là một thành phố kém văn hóa và không có lịch sự. vậy liệu họ còn dám đến đây tham quan nghĩ ngơi nữa không.chúng ta hãy đặt ra những câu hỏi như vậy và hãy tự trả lời trước những hành động và việc làm của mỉnh. Để xem rẳng việc vứt rác là hành động như thế nào?
    Những người vứt rác ra nơi công cộng là những con người thiếu ý thức về việc bảo vệ môi trường, không chỉ do trình đô dân trí của họ thấp mà là do họ mang một căn bệnh khó chữa. họ chỉ biết cái lợi cho riêng mình mà quên đi cái lợi tập thể, cộng đồng. hơn thế nữa họ còn quên cái môi trường mà hằng ngày, hằng giờ họ dang sống và làm việc phải hít thở không khí từ môi trường ấy. họ quả là những con người không có trách nhiệm, đáng bị xã hội lên án và phê phán.
    Vậy trước những tình trạng trên chúng ta cần làm gì để bảo vệ môi trường. là học sinhđang còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta hãy tự rèn cho mình một ý thức bảo vệ môi trường thật tốt vì môi trường bị ô nhiễm thì mọi người đều phải chịu ảnh hưởng trong đó có cả mình, gia đình và bạn bè. Chúng ta hãy nghĩ thử xem, nếu chúng ta là người vứt rác thì không chỉ chúng ta chịu ảnh hường mà còn là người gây ra hậu quả, việc làm đáng bị xã hội và người đời lên án.vì vậy, chúng ta cần tuyên truyền cho mọi người cùng tham gia, học tập và đề ra những biện pháp thiết thực nhất để bảo vệ môi trường. như tổ chức các phong trào “ mùa hè xanh”, quét dọn dường phố, làm sạch sân trường,…. Và đề ra những quy định chung như: dổ rác đúng nơi quy định để giữ cho môi trường xanh – sạch – đẹp
    Có lẽ rằng ai trong chúng ta cũng cần có một cuộc sống thật tốt, một môi trường thật trong lành, ở mọi nơi dù trong nhà hay ngoài ngõ, dù trên cạn hay dưới sông dều cần có một môi trường sống tốt đẹp cho chính bản thân mình và còn cho mọi người. đứng trước xu thế hiện nay làm thế nào để vươn ra biển lớn, để hòa nhập với bạn bè bốn phương. Thiết nghĩ cần nhất là một gương mặt, một diện mạo mới của đất nước. một con đường sạch đẹp ở thành phố luôn tạo cho mọi người, nhất là các khách du lịch quốc tế một cảm giác thật thoải mái. Hãy làm cho mình đẹp hơn dưới con mắt cũa mọi người.
    Qua đây, cho ta thấy được môi trường rất cần thiết đối với chúng ta, vì vậy chúng ta không nên vứt rác ra đường. đồng thời em muốn gửi tới tất cả mọi người một thông điệp theo tinh thần cao đẹp: “ mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Và hi vọng rằng với việc nhỏ nhoi đó sẽ làm cho đất nước ta đẹp hơn và ngày càng phát triển hơn.

  • Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    Văn mẫu Cảm nghĩ về nhận định ‘Thơ Bác đầy trăng’

    BÀI LÀM

    Nhà văn Hoài Thanh có nói: “Thơ Bác đầy trăng”. Thật vậy, Bác đã viết nhiều bài

    thơ trăng. Trong số đó, bài “Ngắm trăng” là bài thơ tuyệt tác, mang phong vị

    Đường thi, được nhiều

    người ưa thích.

    NGẮM TRĂNG

    “Trong tù không rượu cũng

    không hoa

    Cảnh đẹp đêm nay khó

    hững hờ.

    Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một

    hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn

    Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng

    trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết.

    Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh,

    và đó cũng là sự thật “Trong tù không rượu cúng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy

    lòng mình bối rối, vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm

    nay. Một niềm vui chợt đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi.Trăng, hoa, rượu là

    ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hản

    rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên

    nhiên.

    Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình

    trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế

    mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?

    “Trong tù không rượu cũng không hoa,

    Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.

    Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghia

    sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù,

    Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một

    tâm thế “vượt ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh

    thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác:

    “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”…

    Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng tới vầng trăng, nhìn về ánh sáng, tâm hồn thêm

    thư thái. Song sắt nhà tù tỉnh Quảng Tây không thể nào ngăn cách được người tù

    và vầng trăng! Máu và bạo lực không thể nào dìm được chân lý, vì người tù là một

    thi nhân, một chiến sĩ vĩ đại tuy “thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần” ở ngoài

    lao”

    Câu thứ tư nói về vầng trăng. Trăng có nét mặt, có ánh mắt và tâm tư. Trăng được

    nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỷ từ viễn xứ đến chốn ngục tù tăm tối

    thăm Bác. Trăng ái ngại nhìn Bác, cảm động không nói nên lời, Trăng và Bác tri

    ngộ “đối diện đàm tâm”, cảm thông nhau qua ánh mắt. Hai câu 3 và 4 được cấu

    trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hoà giữa người và trăng, giữa ngôn từ, hình

    ảnh và ý thơ:

    “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

    Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

    Ta thấy: “Nhân, Nguyệt” rồi lại “Nguyệt, Thi gia” ở hai đầu câu thơ và cái song sắt

    nhà tù chắn ở giữa. Trăng và người tù tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà tù đáng

    sợ ấy. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người xuất hiện một sự hóa

    thân kỳ diệu: “Tù nhân” đã biến thành thi gia. Lời thơ đẹp đầy ý vị. Nó biểu hiện

    một tư thế ngắm trăng hiếm thấy. Tư thế ấy chính là phong thái ung dung, tự tại,

    lạc quan yêu đời, yêu tự do. “Ngắm trăng” là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Bài thơ

    không hề có một chữ “thép” nào mà vẫn sáng ngời chất “thép”. Trong gian khổ tù

    đầy, tâm hồn Bác vẫn có những giây phút thảnh thơi, tự do ngắm trăng, thưởng

    trăng.

    Bác không chỉ ngắm trăng trong tù. Bác còn có biết bao vần thơ đặc sắc nói về

    trăng và niềm vui ngắm trăng: Ngắm trăng trung thu, ngắm trăng ngàn Việt Bắc, đi

    thuyền ngắm trăng,… Túi thơ của Bác đầy trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ…”,

    “… Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền…”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền

    chờ trăng thưo…” Trăng tròn, trăg sáng… xuất hiện trong thơ Bác vì Bác là một

    nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, vì Bác là một chiến sĩ giàu tình yêu đất nước quê

    hương. Bác đã tô điểm cho nền thi ca dân tộc một số bài thơ trăng đẹp.

    Đọc bài thơ tứ tuyệt “Ngắm trăng” này, ta được thưởng một thi phẩm mang vẻ đẹp

    cổ kính, hoa lệ. Bác đã kế thừa thơ ca dân tộc, những bài ca dao ói về trăng làng

    quê thôn dã, trăng thanh nơi Côn Sơn của Nguyễn Trãi, trăng thề nguyền, trăng

    chia ly, trăng đoàn tụ, trăng Truyện Kiều. “Song thưa để mặc bóng trăng vào”…

    của Tam Nguyên Yên Đổ, v.v….

    Uống rượu, ngắm trăng là cái thú thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa, nay –

    “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén” (Nguyễn Trãi). Ngắm trăng, thưởng trăng

    đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do

    cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở.

    Đó là cảm nhận của nhiều người khi đọc bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh.

  • Bài tập lớn Vận dụng thuyết cấu tạo Hoá học để giải một số bài tập định tính phần phi kim trong đề thi học sinh giỏi Hóa học và đề thi Olympic Hóa học

    Bài tập lớn Vận dụng thuyết cấu tạo Hoá học để giải một số bài tập định tính phần phi kim trong đề thi học sinh giỏi Hóa học và đề thi Olympic Hóa học

    Bài tập lớn Vận dụng thuyết cấu tạo Hoá học để giải một số bài tập định tính phần phi kim trong đề thi học sinh giỏi Hóa học và đề thi Olympic Hóa học

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn học Thiết kế tối ưu – Tối ưu hóa thể tích móng đơn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-V%C3%A2%CC%A3n-du%CC%A3ng-thuy%C3%AA%CC%81t-c%C3%A2%CC%81u-ta%CC%A3o-Hoa%CC%81-ho%CC%A3c-%C4%91%C3%AA%CC%89-gi%E1%BA%A3i-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-b%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%C3%ADnh-ph%E1%BA%A7n-phi-kim-trong-%C4%91%E1%BB%81-thi-h%E1%BB%8Dc-sinh-gi%E1%BB%8Fi-H%C3%B3a-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-%C4%91%E1%BB%81-thi-Olympic-H%C3%B3a-h%E1%BB%8Dc-.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Bài tập lớn Vận dụng thuyết cấu tạo Hoá học để giải một số bài tập định tính phần phi kim trong đề thi học sinh giỏi Hóa học và đề thi Olympic Hóa học

                PHẦN 1:                    MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài

    Trong sự phát triển của Hóa Học, thuyết liên kết hóa trị – Valence Bond (VB), thuyết orbital phân tử – Molecular Orbital (MO) và thuyết liên kết hóa học đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích bản chất cấu tạo của các chất, từ đó giúp ta có thể dự đoán và giải thích được tính chất lý – hóa của các chất.

    Tuy nhiên, việc vận dụng thiếu tư duy các kết quả nghiên cứu trong học tập sẽ làm cho học sinh khó định hướng được cách giải quyết các vấn đề thuộc về bản chất mà các phương pháp nêu trên có thể làm rõ toàn bộ hay một phần.

    Do đó, để giúp các bạn học sinh – sinh viên nắm chắc được giá trị thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp VB, MO và liên kết hóa học, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Vận dụng thuyết cấu tạo hóa học để giải một số bài tập định tính phần phi kim trong đề thi HSG Hóa Học và Olympic Hóa Học 30/4.”

    1.2. Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu

                – Đối tượng nghiên cứu: Các lý thuyết về cấu tạo hóa học

                – Phạm vi nghiên cứu:  Một số bài tập định tính phần phi kim trong đề thi HSG Hóa Họcvà Olympic Hóa Học 30/4.

    1.3. Mục đích nghiên cứu

    Hiểu và vận dụng kiến thức các lý thuyết về cấu tạo hóa học để giải một số bài tập định tính trong đề thi HSG Hóa họcvà Olympic Hóa học 30/4.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp tiếp cận tài liệu

    – Phương pháp giải bài tập

    1.5. Tài liệu tham khảo

    1. Đào Đình Thức, Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học (2010), Tập 1 và 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
    2. Nguyễn Văn Xuyến, Hóa Lý: Cấu tạo phân tử và liên kết hóa học (2007), Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật.
    3. Hoàng Nhâm, Hóa học vô cơ (2000), Tập 1, 2, Nhà xuất bản giáo dục
    4. Nguyễn Đức Vận, Hóa Học Vô Cơ (2008), Tập 1, 2, Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật.
    5. Tuyển tập đề thi Olympic 30 tháng 4, lần thứ XVIII – 2012. Hóa Học. Ban Tổ chức kì thi, Nhà xuất bản Đại Học Sư Phạm.
    6. Đề thi HSG THPT của tỉnh Đồng Nai và một số tỉnh khác.

     

     

     

     

     

     

     

                PHẦN 2:        NỘI DUNG

     

    2.1. Cơ sở lý thuyết

    2.1.1. Thuyết liên kết hóa học[1][3]:

    -Trong phân tử tồn tại cả tương tác đẩy lẫn tương tác hút giữa các nguyên tử: tồn tại đồng thời lực hút với thế năng hút và lực đẩy với thế năng đẩy. Giữa các liên kết tồn tại góc liên kết hay góc hóa trị, góc hóa trị bị chi phối bởi sức đẩy của các cặp điện tử.

    – Quá trình hình thành và phá vỡ phân tử gắn liền với việc giải phóng và thu nhận năng lượng tương ứng. Độ bền liên kết nội phân tử phụ thuộc năng lượng phân ly thành các nguyên tử tự do, theo bậc liên kết.

    -Trong liên kết ion:

    + Khi các ion ngược điện gần nhau, hiện tượng xảy ra là các đám mây điện tử dịch chuyển so với hạt nhân tạo sự phân cực hóa ion. Sự phân cực hóa ion làm xuất hiện momen lưỡng cực cảm ứng của từng ion. Sự tăng nhiệt độ kích thích phân cực hóa.

    + Sự phân cực hóa nội ion làm tăng độ bền liên kết ion và làm giảm khả năng phân ly của hợp chất ion[2].

    + Sự phân cực lẫn nhau giữa các ion khác nhau làm suy yếu cấu trúc tinh thể, do đó, nhiệt độ nóng chảy của tinh thể giảm xuống[2].

    – Trong liên kết cộng hóa trị:

    + Phân tử cộng hóa trị thuần túy có momen lưỡng cực bằng 0, nhưng trong phân tử cộng hóa trị có cực thì momen lưỡng cực có giá trị bằng tổng các momen thành phần cùng với dấu của chúng.

    + Loại liên kết mang tính chất liên kết ion và liên kết cộng hóa trị là liên kết bán phân cực – là một trường hợp của liên kết cho nhận (liên kết cho nhận là loại liên kết trong đó: cặp điện tử chung do một cấu tử đóng góp hoàn toàn).

    – Trong liên kết giữa các phân tử:

    + Liên kết hidro: hidro trong các phân tử có liên kết bão hòa hidro vẫn có thể liên kết với các nguyên tử của nguyên tố âm điện mạnh. Liên kết hidro ảnh hưởng nhiều đến tính chất của các chất

    + Liên kết Val der Waals: lực Val der Waals biểu hiện trong chất khí và chất lỏng, bắt nguồn từ 3 lực: lực định hướng – sinh ra do tương tác giữa các phân tử có momen lưỡng cực, lực cảm ứng – sinh ra khi phân tử không phân cực tương tác gần với phân tử phân cực làm xuất hiện momen lưỡng cực cảm ứng, lực khuếch tán – sinh ra khi xuất hiện các momen lưỡng cực tức thời khi 2 phân tử không phân cực ương tác lẫn nhau.

    – Độ âm điện đặc trưng cho khả năng hút các điện tử khi tạo liên kết hóa học và sự khác nhau càng lớn về độ âm điện giữa hai nguyên tử trong phân tử càng lớn thì độ phân cực càng tăng. [1]

    – Dựa trên cơ sở lý thuyết ba tính chất cơ bản của các điện tử[1]:

    + Các điện tử đẩy lẫn nhau.

    + Các điện tử có spin giống nhau không thể ở trên cùng một orbital.

    + Mặc dù có sức đẩy tĩnh điện nhưng hai điện tử ngược spin có thể ở trên cùng 1 orbital.

    Hình thành mô hình sức đẩy cặp điện tử VSEPR được Sidgewich và Powell đưa ra năm 1940, phát triển và bổ sung bởi Lenard – Jones, Gillespie và Nyholm.

    Trong VSEPR, người ta chú ý đến khoảng không gian cư trú của các điện tử sao cho đạt được khoảng cách xa nhất giữa các điện tử. Điểm quan trọng của VSPER là cho phép xác định chính xác góc liên kết trong các phân tử có tính đối xứng cao, giải thích định tính các góc liên kết trong các phân tử ít đối xứng.[1]

    + Sức đẩy của các cặp điện tử được sắp xếp như sau[1]:

    • Mạnh nhất là tương tác giữa các cặp điện tử không liên kết với nhau.
    • Kế đến là tương tác giữa các cặp điện tử không liên kết với các cặp điện tử liên kết.
    • Tương tác yếu nhất là tương tác giữa các cặp điện tử liên kết với nhau.

    Do đó, không gian cư trú cho các điện tử tự do và liên kết cũng tương ứng giảm dần như thứ tự sắp xếp tương tác trên.Trong các phân tử có những liên kết đôi – ba, những liên kết này có chung 1 không gian cư trú: chỉ cần chú ý đến số cặp điện tử tự do và số phối tử. [1]

    Lưu ý: Trong các phân tử có các phối tử khác nhau thì góc liên kết hình học lí tưởng của VSEPR khác nhau[1]. Các phối tử có độ âm điện càng lớn sẽ làm lệch cặp điện tử liên kết về nó nhiều hơn về nguyên tử trung tâm, liên kết dài ra và tương tác giữa các cặp điện tử thay đổi.

    Bảng bên dự đoán phân bố hình học theo thuyết VB và mô hình VSEPR.

    Về nguyên tắc: VSEPR không áp dụng cho các phân tử mà nguyên tử trung tâm là nguyên tố chuyển tiếp vì phải xét thêm vai trò của các điện tử trên các phân lớp d chưa bão hòa. [1]

    A: nguyên tử trung tâm; B: phối tử; E: số cặp điện tử tự do.

    + Nếu giả thiết phân bố hình học phân tử nằm trong một hình cầu thì thường xét đến 2 vị trí trục và xích đạo phân tử: trục phân tử là đường thẳng vuông góc với hướng quan sát và xích đạo vòng quanh trục.

    Ví dụ: Trong phân tử SF4, 2 cặp điện tử tự do nằm ở vị trí 2 đầu trục và 4 nguyên tử flo nằm trên mặt phẳng xích đạo (như hình vẽ ở bảng trên về mô hinh VSEPR).

    Công thức kinh nghiệm Gillespie dự đoán dạng lai hóa của nguyên tử trung tâm và dạng hình học phân tử:

    Tổng số các điện tử hóa trị – 8. Số phối tử
    2

    n = X + E = X +

    Với:

    n là số orbital lai hóa.
    X là số nguyên tử liên kết với nguyên tử trung tâm (phối tử).
    E là số cặp điện tử tự do.

    Ngoại trừ: nhân 2 cho số phối tử hidro.

    Theo đó ta dự đoán gần chính xác dạng hình học phân tử khi biết dạng lai hóa và số cặp điện tử tự do.

    Bảng dự đoán dạng phân bố hình học không gian VSPER dựa theo kết quả của công thức Gillespie:

    Số
    orbital
    lai hóa
    Phân bố
    hình học
    không gian
    Số cặp
    điện tử
    tự do
    Phân bố
    hình học
    phân tử
    Góc
    liên kết
    Ví dụ
    2 Thẳng 0 Thẳng 180 BeCl2, CO2, HCN,, HCN, C2H2, BeF2, NO2+
    3 Tam giác
    phẳng
    0 Tam giác
    đều
    120 BF3, BCl3, C2H4, CO32-, NO3, CH3+
    1 Góc 119,5 O3, SO2
    4 Tứ diện 0 Tứ diện
    đều
    109,5 CH4
    1 Chóp
    tam giác
    107 NH3, CH3
    2 Góc 104,5 H2O
    5 Lưỡng tháp
    tam giác
    0 Lưỡng tháp
    tam giác
    90/120 PCl5
    1 Tứ diện
    lệch
    90/120 SF4
    2 Hình T 90 ClF3
    3 Thẳng 180 XeF2, I3
    6 Bát diện 0 Bát diện 90 SF6
    1 Tháp vuông 90 BrF5
    2 Vuông
    phẳng
    90 XeF4

    – Trong phân tử phân cực + và – thì phân tử ấy được nhận định là 1 lưỡng cực điện.

    +       –

    Ví dụ:

    H – Cl

    + Phân tử phân cực có một momen và momen được biểu diễn bằng 1 vectơ theo hướng lưỡng cực điện từ dương sang âm – momen lưỡng cực vĩnh cửu μ khi và chỉ khi các trọng tâm điện tích trong phân tử không trùng lên nhau:

    +      –

    H  – Cl

    + Momen lưỡng cực vĩnh cửu đặc trưng cho tính phân cực của phân tử. Trong trường hợp tổng các momentheo hướng của chúng tự triệt tiêu lẫn nhau.

    Ví dụ: Trong phân tử CO2: Liên kết C – O có μ = 1,84D, 2 momen cua 2 liên kết ngược chiều nhau nên chúng tự triệt tiêu nhau momen phân tử μ = 0: phù hợp với thực nghiệm – phân tử CO2 không phân cực.

    + Phân tử được đặt trong một điện trường sẽ có một momen lưỡng cực cảm ứng. Momen này có thể làm biến dạng phân cực[1]. Các hợp chất có momen lưỡng cực vĩnh cửu chịu tác dụng của momen lưỡng cực cảm ứng và momen lưỡng cực vĩnh cửu[1]. Tức là phân tử vừa bị biến dạng phân cực và phân cực hóa định hướng – tính định hướng phân tử theo hướng của điện trường ngoài.[1]

    + Phân cực hóa cảm ứng không phụ thuộc nhiệt độ nhưng phân cực hóa định hướng phụ thuộc nhiệt độ, tỉ lệ nghịch với nhiệt độ.

    + Ngoài momen lưỡng cực phân tử μ, phân tử còn có momen từ vĩnh cửu μm luôn luôn tồn tại ở các phân tử có điện tử độc thân như những gốc tự do. Momen từ của phân tử do giá trị momen spin xác định.

    + Phân tử được đặt trong một từ trường sẽ hình thành monen từ cảm ứng trong phân tử biểu hiện qua độ cảm từ χ.

    – Từ hiện tượng cảm ứng từ, ta có định nghĩa ngắn về chất nghịch từ và chất thuận từ:

    + Chất nghịch từ là chất mà trong phân tử không còn điện tử độc thân.

    Ví dụ: Nito là chất nghịch từ vì trong phân tử không có điện tử độc thân: (KK)(σ2s)2*2s)2x)2y)2z)2

    + Chất thuận từ là chất mà trong phân tử còn điện tử độc thân.

    Ví dụ: Oxi là chất thuận tử: (KK)(σ2s)2*2s)2x)2y)2z)2*x)1*y)1– phân tử có 2 điện tử độc thân ở 2 orbital π*x và π*y.

    2.1.2 Phương pháp liên kết hóa trị – Valence Bond (VB)[1][3]: Phương pháp VB được phát triển trên cơ sở phương pháp Heitler – London về phân tử H2 năm 1927.

    – Cấu tạo điện tử của các nguyên tử trong phân tử có thể thừa nhận rằng vẫn tồn tại các trạng thái đơn điện tử nguyên tử với các điện tử được phân bố trên cơ sở nguyên lý Pauli.[1]

    – Trong phương pháp VB, người ta đề cập đến sự trao đổi các điện tử giữa các nguyên tử trong phân tử, sự ghép đôi các điện tử sự thiết lập hàm sóng toàn phần của phân tử dựa trên sự ghép đôi các điện tử mà ở trạng thái nguyên tử chúng là những điện tử độc thân.[1]

    – Trong phương pháp VB, ta gọi những hàm đơn phần thu được từ các cấu hình điện tử là những cấu tạo hóa trị. Cấu tạo hóa trị có thể được biểu diễn bằng công thức vạch hóa trị – biểu thị cho 1 cặp điện tử đối song (spin ngược nhau).[1]

    – Cấu tạo hóa trị chứa tích các orbital thuộc hai nguyên tử khác nhau (a, b) gọi cấu tạo đồng cực; cấu tạo mà hai cặp điện tử được thừa nhận hoặc là ở nguyên tử a hoặc lcấu tạo đồng cực; cấu tạo mà hai cặp điện tử được thừa nhận hoặc là ở nguyên tử a hoặc là ở nguyên tử b gọi là cấu tạo ion.[1]

    – Theo phương pháp VB, hóa trị của một nguyên tố bằng số điện tử độc thân có trong nguyên tử; trong nhiều trường hợp: cấu hình điện tử biến đổi khi hình thành liên kết, do hóa trị kích thích của nguyên tử quy định. Trạng thái này được gọi là trạng thái hóa trị[1][3].

    – Nguyên lý xen phủ cực đại: liên kết sẽ được phân bố theo phương hướng nào để mức độ xen phủ các các orbital liên kết có giá trị lớn nhất. Và đối với phân tử nhiều nguyên tử (n>2), các góc liên kết có những giá trị xác định, đặc tính này gọi là tính định hướng hóa trị[1].

    – Sự lai hóa orbital trong khuôn khổ phương pháp VB[1]:

    + Các orbital lai hóa mô tả trạng thái hóa trị của nguyên tử.

    + Các liên kết hình thành bởi các orbital lai hóa bền vững hơn liên kết bởi các orbital cơ bản.

    + Trạng thái lai hóa là trạng thái suy biến, xuất hiện khi mức năng lượng các orbital nguyên tử xấp xỉ nhau. Số các orbital lai hóa bằng số các orbital tham gia lai hóa.

    – Điều kiện lai hóa các AO cần các điều kiện[1]:

    + Năng lượng của các orbital tham gia lai hóa phải xấp xỉ nhau.

    + Mật độ điện tử của orbital đủ lớn  orbital có kích thước nhỏ.

    + Độ xen phủ của các orbital lai hóa với các orbital của các nguyên tử khác liên kết phải đủ lớn để tạo liên kết bền

    – Các liên kết sigma ϭ, liên kết pi π, liên kết delta δ[1]:

    + Liên kết ϭ là liên kết mà đám mây điện tử đối xứng quay quanh trục liên kết, có mật độ cực đại trên đường nối 2 hạt nhân.

    + Liên kết π là liên kết mà đám mây điện tử có mặt phẳng đối xứng đi qua trục liên kết. Liên kết π có thể được tạo bởi 2 orbital p và d (hình hoa 4 cánh) hoặc 2 orbital d.

    + Liên kết δ là liên kết mà đám mây điện tử có 2 mặt phẳng đối xứng thẳng góc với nhau và đi qua trục liên kết, thường chỉ có trong các phức chất kim loại chuyển tiếp hay hợp chất các nguyên tố chu kì 3. Tạo bởi xen phủ 2 orbital d hình hoa 4 cánh d.

    – Theo thuyết VB: Để hình thành các liên kết đặc biệt như liên kết cho nhận trong một số phân tử như CO, SO2, … thì trong phân tử đó, tồn tại năng lượng kích thích để tạo nên các điện tử độc thân hay các orbital trống để xen phủ các orbital.

    – Hiệu quả của phương pháp VB: cho hình ảnh cụ thể về phân tử, biện luận nhiều tính chất về liên kết như: năng lượng, độ dài, momen … thông qua việc khảo sát đồng thời tính chất của các điện tử.

    – Hạn chế của phương pháp VB: chưa giải phương pháp được quan hệ liên kết trong phân tử thuận từ, giải thích các quá tình kích thích quang phổ, yêu cầu tính toán quá lớn, thiên về tính chất cộng hóa trị, chưa giả thích được tại sao liên kết công hóa trị có thể do số lẻ điện tử tạo thành.

    2.1.3 Phương pháp Orbital Phân tử – Molecular Orbital (MO)[1][3]: phương pháp được phát triển bởi Hund, Mulliken, Lenard – Jones trng khoảng 1927 – 1929.

    – Các MO được xác định bằng phương pháp gần đúng LCAO (tổ hợp tuyến tính các orbital nguyên tử – AO) qua việc sử dụng giới hạn một số AO (AO – orbital nguyên tử) nhằm phản ánh tính đối xứng hay không của phân tử.[1]

    – Các AO có thể tương tác với nhau tạo các MO là các orbital có năng lượng xấp xỉ nhau, mức độ xen phủ rõ rệt và tính đối xứng giống nhau đối với trục liên kết. Hiệu ứng liên kết hoặc phản liên kết mạnh nhất thu được khi 2 AO tham gia tổ hợp có năng lượng xấp xỉ hay bằng nhau.[1]

    – Theo phương pháp MO: sự hình thành liên kết hình thành nhờ sự chuyển các điện tử từ các AO của các nguyên tử tương tác về các MO thuộc toàn bộ phân tử có giới hạn xét riêng các điện tử hóa trị[1]. Mỗi MO chỉ có tối đa 2 điện tử có spin ngược nhau được sắp xếp theo mức năng lượng lớn dần.

    – Khi được cung cấp năng lượng, điện tử có thể chuyển từ các MO có đủ 2 điện tử lên các MO còn trống với mức năng lượng cao hơn  phân tử ở trạng thái kích thích.

    Ví dụ:

    Cấu hình điện tử của phân tử N2 ở 2 trạng thái:

    + Cơ bản: (σ2s)2*2s)2x)2y)2z)2.

    + Kích thích bằng bức xạ: (σ2s)2*2s)2x)2y)1z)1*y)1*z)1 hoặc các trường hợp tương tự khác.

    σ*z
    π*x          π*y
    πx            πy
    σz

    – Nếu năng lượng cung cấp đủ lớn, điện tử của phân tử có thể được giải phóng khỏi phân tử – ion hóa phân tử.[1]

    – Các MO liên kết hay phản liên kết (do dấu của chúng quy định) hình thành do sự xen phủ các AO nhờ tính đối xứng nhau, được gọi là các orbital ϭ, π, δ.

    – Sự xen phủ các orbital các lớp bên trong của nguyên tử rất nhỏ, do đó, chỉ cần xét các điện tử hóa trị và sự phân bố của chúng trên các MO.[1]

    – Trong phân tử đồng hạch A2 (A – nguyên tố chu kì 2), khi được cung cấp năng lượng đủ lớn, các điện tử trong các MO có điện tử có thể chuyển lên các MO trống, tạo trạng thái kích thích trong phân tử và cũng có thể ion hóa phân tử.[1]

     

    * Giản đồ năng lượng các phân tử đồng hạch A2 nguyên tố chu kì 2:

    Từ Liti đến Nito                                              Từ Oxi đến Neon

    – Trong phân tử dị hạch AB (Giả thiết B âm điện hơn A), Sự xen phủ 2 AO với năng lượng khác nhau tạo 1 MO liên kết làm xuất hiện phân tử có cực, nguyên tử có năng lượng thấp sẽ chiếm điện tích riêng phần của liên kết.

    – Các MO phản liên kết có năng lượng cao hơn các MO liên kết.[1]

    – Đồng thời, các phân tử MO có năng lượng ion hóa cao hơn các nguyên tử AO tham gia tổ hợp MO[1].

    Ví dụ:

    Phân tử O2 có các điện tử ngoài cùng nằm ở các MO phản liên kết nên năng lượng ion hóa cao hơn năng lượng ion hóa của nguyên tử O.

    – Độ bội liên kết  được sử dụng để đánh giá độ bền liên kết.

    – Hiệu quả của phương pháp MO: đánh giá được tính đối xứng, tính thuận từ, số liên kết, mức độ xen phủ của các orbital, các kích thích quang phổ, khả năng tạo liên kết của các phân tử thông qua việc khảo sát riêng biệt từng điện tử.

    – Hạn chế của phương pháp MO: chưa đánh giá được tính định hướng trong liên kết cộng hóa trị, chưa thể hiện mô hình phân tử cụ thể, khả năng biện luận các tính chất của liên kết, thiên về tính chất ion của liên kết, tính bão hòa của liên kết.

    2.2. Vận dụng

    2.2.1. Một số bài tập trong đề thi HSG

    Bài 1: (Kì thi học sinh giỏi thành phố, Thành phố Đà Nẵng 2004 – 2005)

    Xét hai phân tử PF3 và PF5

    1. Cho biết trạng thái lai hóa của nguyên tử trung tâm và dạng hình học phân tử của chúng?
    2. Cho biết sự phân cực của hai phân tử trên. Giải thích?

    Nội dung giải:

    1. Sử dụng công thức kinh nghiệm Gillespie để dự đoán dạng lai hóa của:
    • PF3: = 4  phân tử PF3 có 4 orbital lai hóa sp3 và có 1 cặp điện tử tự do.
    • PF5: = 5 phân tử PF5 có 5 orbital lai hóa sp3

    Sử dụng mô hình VSEPR, ta xác định được phân tử:

    • PF3 có phân phối hình học tháp tam giác.
    • PF5 có phân phối hình học lưỡng tháp tam giác.
                Phân Tử PF3                                   Phân tử PF5
    1. Theo thuyết liên kết hóa học: Nguyên tử flo âm điện hơn nguyên tử photpho nên các cặp điện tử liên kết lệch về các nguyên tử flo hơn photpho.

    – Phân tử PF3 phân cực mạnh do tổng momen lưỡng cực phân tử lớn có chiều hướng xuống dưới mặt phẳng 3 nguyên tử flo.

    -Phân tử PF5 không phân cực vì tổng momen lưỡng cực 3 liên kết phẳng bằng 0 – đạt được góc liên kết FOF lý tưởng 1200 và tổng momen lưỡng cực 2 liên kết ngược chiều ở trục phân tử cũng bằng 0.

    Bài 2: (Đề thi chọn Học sinh giỏi Quốc gia THPT, 2012 – Bộ Giáo dục và Đào Tạo)

    Phân tử NH3 có dạng hình chóp tam giác đều (nguyên tử N ở đỉnh hình chóp). Ion  có dạng hình tứ diện đều (nguyên tử N nằm ở tâm của tứ diện đều). Dựa vào sự xen phủ của các orbitan, hãy mô tả sự hình thành các liên kết trong phân tử NH3 và ion .

    Nội dung giải:

    Vận dụng công thức kinh nghiệm Gillespie, ta xác định số các orbital lai hóa của NH3 và NH4+:

    • NH3: Phân tử NH3có 4 orbital lai hóa sp3 với 1 cặp điện tử tự do.
    • NH4+: Ion NH4+ có 4 orbital lai hóa sp3.

    Kết hợp với lý thuyết lai hóa trong khuôn khổ phương pháp VB, ta nhận xét:

    – Trong phân tử NH3: có 3 liên kết σ với 3 nguyên tử hidro bởi 3 orbital lai hóa, còn 1 cặp điện tử tự do nằm trên orbital lai hóa còn lại.

    – Trong ion NH4+: ngoài 3 liên kết với các nguyên tử hidro như NH3 còn có liên kết giữa orbital có 2 điện tử với nguyên tử hidro H được kích thích thành H+ – orbital 1s trống, tạo liên kết σ thứ tư.

    Phân bố hình học lần lượt của NH3 và NH4+

     

    Bài 3: (Đề thi chọn Học sinh giỏi Quốc gia THPT, 2009 – Bộ Giáo dục và Đào Tạo)

    So sánh và giải thích khả năng tạo thành liên kết π của C và Si.

    Nội dung giải:

    Ở trạng thái cơ bản, cấu hình điện tử của:

    – Cacbon C: 1s2 2s2 2p2.

    – Silic Si: [Ne] 3s2 3p2.

    Vận dụng thuyết liên kết hóa học: Bán kính nguyên tử của cacbon nhỏ hơn bán kính nguyên tử của silic.

    Dựa trên điều kiện lai hóa theo phương pháp VB:

    • Các orbital p của C nhỏ hơn các orbital p của Si.
    • Mật độ điện tử trên các orbital p của C lớn hơn đại lượng tương ứng của Si.

    Do vậy, các liên kết πp – p của nguyên tử cacbon với các nguyên tử cacbon khác hay nguyên tử nguyên tố khác đạt hiệu quả cao hơn việc tạo liên kết π của nguyên tử Si.

    Kết luận: Cacbon có khả năng tạo liên kết π tốt hơn khả năng tạo liên kết π của silic kể cả đơn chất lẫn hợp chất.

    Bài 4: (Kì thi chọn Học sinh giỏi cấp tỉnh THPT lớp 12, 2009 – Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh)

    Điểm sôi của NF3 = 1290C còn của NH3 = 330C. Amoniac tác dụng như một bazơ Lewis còn NF3 thì không. Momen lưỡng cực của NH3 = 1,46D lớn hơn nhiều so với momen lưỡng cực của NF3 = 0,24D mặc dù độ âm điện của F lớn hơn nhiều so với H. Hãy giải thích.

    Nội dung giải:

    Sử dụng công thức Gillespie để xác định số các orbital lai hóa của NF3 và NH3:

    – NF3:  Phân tử NF3 có 4 orbital lai hóa sp3 và có 1 cặp điện tử tự do.

    – NH3:  Phân tử NH3 có 4 orbital lai hóa sp3 và có 1 cặp điện tử tự do.

    Vận dụng thuyết liên kết hóa học:

    – Phân tử NH3 có thể tạo được liên kết hidro liên phân tử, phân tử NF3 thì không  điểm sôi của NH3 lớn hơn điểm sôi của NF3.

    – Tính bazơ theo Lewis của NH3 và NF3 tùy thuộc theo mật độ điện tử trên nguyên tử nito của NH3 và NF3. NH3 là 1 bazơ Lewis nhưng NF3 không phải là bazơ Lewis vì:

    + Trong phân tử NH3: độ âm điện của nguyên tử nito lớn hơn độ âm điện của nguyên tử hidro, làm lệch cặp điện tử liên kết về nguyên tử nito  mật độ điện tử trên nguyên tử nito lớn.

    + Trong phân tử NF3: độ âm điện của nito nhỏ hơn độ âm điện của flo nên cặp điện tử liên kết lệch về nguyên tử flo  mật độ điện tử trên nguyên tử nito thấp hơn đại lượng tương ứng của NH3.

    – Vì độ âm điện của flo lớn hơn nhiều so với độ âm điện của hidro nên:

    + Momen lưỡng cực của cặp điện tử tự do ngược chiều với tổng momen lưỡng cực trong phân tử NH3 cùng chiều nhau.

    + Momen lưỡng cực của cặp điện tử tự do ngược chiều với tổng momen lưỡng cực trong phân tử NF3 ngược chiều nhau.

    Phân bố hình học lần lượt của NH3 và NF3

    Bài 5: (Đề thi HSG Hóa Học 12 cấp tỉnh, 2010-2011 – Sở Giáo Dục và Đào tạo Đồng Nai)

    Anion X2- có cấu hình electron giống cấu hình electron của khí hiếm agon. Nguyên tố X có thể kết hợp với flo thành hợp chất XFn trong đó n có giá trị cực đại.

    1. Xác định nguyên tố X và chỉ số n dựa vào cấu hình electron của nguyên tố X.
    2. Cho biết trong phân tử XFn, nguyên tử X có kiểu lai hoá gì? Viết công thức cấu tạo và vẽ mô hình phân tử XFn, biết các góc liên kết trong phân tử đều bằng 900.

    Nội dung giải:

    1. Cấu hình điện tử lớp ngoài cùng của agon là 3s23p6, cùng cấu hình lớp ngoài cùng của X2- X có cấu hình điện tử lớp ngoài cùng là 3s23p4 X là lưu huỳnh.

    Theo phương pháp liên kết hóa học và VB, cấu hình điện tử lớp ngoài cùng của lưu huỳnh:

    • Ở trạng thái cơ bản: 3s23p43d0.
    • Ở trạng thái kích thích:
      • 3s23p33d1
      • 3s13p33d2

    Do đó, ta xác định n bằng số các liên kết đơn, bằng số điện tử hóa trị: n = 4, n = 6.

    Theo yêu cầu đề, n = 6.

    1. Vận dụng công thức kinh nghiệm Gillespie (theo phương pháp liên kết hóa học và VB):

    Phân tử SF6 có orbital lai hóa  nguyên tử lưu huỳnh có kiểu lai hóa sp3d2.

    SF6 có công thức cấu tạo:

    hoặc

    Dựa theo bảng dự đoán dạng phân bố hình học VSEPR, phân tử SF6 có mô hình phân tử:

    S
    F
    F
    F
    F
    F
    F

    Bài 6: (Đề thi HSG Hóa Học 12 cấp tỉnh, 2011-2012 – Sở Giáo Dục và Đào tạo Đồng Nai).

    Cho 3 nguyên tố A, B, D được xác định như sau:

    – Nguyên tử A mất 1 electron được gọi là proton.

    – Ion B2- có tổng điện tích âm là -1,6.10-18 (C).

    – Tổng số hạt trong nguyên tử D là 18 (ZD≤ND≤1,5ZD)

    a/ Tìm tên A, B, D.

    b/ Xác định trạng thái lai hóa của nguyên tố trung tâm trong các phân tử DA4, BA2, DB2 và cho biết hình dạng của các phân tử này.

     

    Nội dung giải:

    1.  

    – Nguyên tử A mất 1 điện tử thì được gọi là proton  A là nguyên tố hidro.

    – Ion B2- có = -1,6.10-18 (C) nguyên tử B có = -1,6.10-18 – 2.(-1,6.10-19) = -1,28.10-18 (C)  Tổng số điện tử của nguyên tử B bằng  B là nguyên tố oxi.

    – Trong nguyên tử D:

    Ta có: 2Z + N = 18

    mà ZD≤ND≤1,5ZD 2Z + 1,5Z = 18 hoặc 2Z + Z = 18 với N = 1,5Z hoặc N = Z.

    Với N = 1,5Z, ta có Z = 5,14.

    Với N = Z, ta có Z = 6.

    Do Z  N*  ta chọn Z = 6  D là nguyên tố cacbon.

    1. Từ a) DA4, BA2 và DB2 lần lượt là CH4, H2O và CO2.

    Vận dụng công thức Gillespie để dự đoán dạng lai hóa và hình học phân tử:

    – Phân tử CH4 có  orbital lai hóa sp3 xung quanh nguyên tử trung tâm – cacbon  Phân tử CH4 có phân phối hình học dạng tứ diện đều với góc liên kết 109,50.

    – Phân tử H2O có  orbital lai hóa sp3 và 2 cặp điện tử tự do xung quanh nguyên tử trung tâm – oxi  Phân tử H2O có phân phối hình học dạng góc với góc liên kết 104,50.

    – Phân tử CO2 có  orbital lai hóa và 1 cặp điện tử tự do xung quanh nguyên tử trung tâm – cacbon  Phân tử CO2 có phân phối hình học dạng đường thẳng.

    Bài 7: (Đề thi HSG Hóa Học 12 cấp tỉnh, 2006-2007 – Sở Giáo Dục và Đào tạo Đồng Nai)

    Cho các chất: CO2, C2H5OH, CH4, NH3.  Hãy sắp xếp các chất theo thứ tự từ trái sang phải có độ tan tăng dần trong nước, trong CCl4 và trong dung dịch NaOH.Giải thích (ngắn gọn) tại sao chúng có độ tan tăng dần.

    Cho biết các góc liên kết trong các phân tử như sau: HCH = 109,50 , OCO = 1800 , CCH = 109,50,  COH = 109,50 , HNH = 1070,  HOH = 104,50 , ClCCl= 109,50

    Nội dung giải:

    Vận dụng công thức Gillespie và bảng VSEPR trong phương pháp liên kết hóa học:

    – Phân tử CH4 có orbital lai hóa sp3 và đạt cấu hình hình học bền, các góc liên kết HCH = 109,50. Phân tử không phân cực với cả 4 liên kết đơn, bền σ.

    – Phân tử CO2 có  orbital lai hóa sp và có cấu hình hình học thẳng với góc liên kết OCO = 1800. Phân tử không phân cực và có 2 liên kết yếu π trong phân tử.

    – Phân tử NH3 có  orbital lai hóa sp3 và 1 cặp điện tử tự do. Phân tử phân cực và có xu hướng liên kết giữa cặp điện tử tự do với các tiểu phân khác loại.

    – Phân tử C2H5OH phân cực và có dạng phân cực và có dạng lai hóa gần giống H2O, có các cầu liên kết hidro với nhau ở nhóm –OH.

    Do H2O, CCl4 và NaOH lần lượt là các dung dịch: phân cực, không phân cực và phân cực mạnh nên thứ tự độ tan của CO2, C2H5OH, CH4, NH3 sẽ là:

    – Trong H2O: CH4< CO2< NH3< C2H5OH.

    Do các liên kết π của CO2 có thể được thế bởi H+ của nước; nhóm hydroxyl của C2H5OH tạo liên kết hidro với oxi của nước tốt hơn so với việc nhận H+ của cặp điện tử tự do trong NH3.

    – Trong CCl4: NH3< C2H5OH < CO2< CH4.

    Do C2H5OH có gốc CH3– không phân cực nên tan tốt hơn NH3.

    – Trong NaOH: CH4< NH3< CO2< C2H5OH.

    Do C2H5OH tạo được các liên kết hidro, ảnh hưởng của cân bằng NH3 + H2O  NH4+ + OH.

    2.2.2. Một số bài tập trong đề thi Olympic Hóa học 30/4

    Bài 1: (Đề thi đề nghị Olympic XVIII, 2012 – Trường THPT chuyên Bến Tre, Bến Tre)

    Hãy giải thích:

    1. CO và N2 có tính chất vật lí gần giống nhau nhưng lại có tính chất hóa học khác nhau?
    2. SiCl4 lại dễ bị thủy phân CCl4 lại không bị thủy phân?
    3. Vì sao O3 hoạt động hóa học hơn O2?
    4. Phân tử CO2 là chất khí, còn SiO2 là phân tử khổng lồ?

    Nội dung giải:

    1. Vận dụng phương pháp MO, ta nhận thấy CO và N2 có cùng một cấu hình phân bố điện tử lớp ngoài cùng: (σ2s)2*2s)2x)2y)2z)2

    Do đó, CO và N2 gần giống nhau tính chất vật lý vì:

    • Đều có thể tạo liên kết 3.
    • Phân bố của các điện tử trên các orbital liên kết và phản liên kết giống nhau.
    • Mức năng lượng các orbital xấp xỉ nhau.

    Vận dụng phương pháp VB để giải thích sự khác nhau về hóa tính của CO và N2:

    – Trong phân tử N2: nguyên tử N có cấu hình điện tử bán bão hòa khi tồn tại 3 điện tử độc thân trên 3 AO 2p  mật độ xen phủ điện tử giữa hai nguyên tử lớn  năng lượng kích thích để chuyển trạng thái lớn  năng lượng họa hóa lớn  khó phá vỡ cấu trúc phân tử để tạo liên kết với nguyên tử nguyên tố khác.

    – Trong phân tử CO: có liên kết cho nhận, mật độ xen phủ đạt giá trị không cao như của phân tử N2, phân tử phân cực yếu (momen lưỡng cực nhỏ)  liên kết cho nhận dễ bị thay thế bằng liên kết δ tạo phức hoặc tham gia phản ứng hóa học.

    * Mặt khác, xét riêng phân tử CO theo phương pháp liên kết hóa học và VB:

    – Ở trạng thái cơ bản, nguyên tử oxi có cấu hình điện tử 1s22s22p4 và nguyên tử cacbon có cấu hình điện tử 1s22s22p2. Nhưng nguyên tử cacbon có 1 orbital 2p trống.

    Oxi                     Cacbon

    – Khi ở trạng thái kích thích, 1 điện tử orbital 2p của oxi chuyển qua orbital 2p trống của nguyên tử cacbon. Cấu hình điện tử kích thích của oxi là 1s22s22p3 và của cacbon là 1s22s22p3.

    – Để đạt cấu hình bền của nguyên tử, các nguyên tử tham gia liên kết cộng hóa trị và tạo liên kết ba trong phân tử, trong đó có 1 liên kết cho – nhận  từ giữa oxi với cacbon.

    1. CCl4 không bị thủy phân nhưng SiCl4 bị thủy phân vì:

    – Ở trạng thái cơ bản: nguyên tử cacbon có cấu hình điện tử 1s22s22p2 và nguyên tử silic có cấu hình điện tử 1s22s22p63s23p23d0.

    Cacbon

    Silic

    – Ở trạng thái kích thích: nguyên tử cacbon có cấu hình điện tử 1s22s12p3 và silic có cấu hình điện tử 1s22s22p63s13p33d0.

    Cacbon*

    Silic*

    – Do trong phân tử CCl4, nguyên tử cacbon đã đủ điện tử nên có tính trơ và trung hòa. Trong phân tử SiCl4, nguyên tử Si vẫn còn AO 3d0, do đó nguyên tử Si vẫn có thể được điền thêm điện tử vào AO đó  thể hiện tính axit khi hòa vào nước và bị nước thủy phân:

    SiCl4 + 3H2O  H2SiO3 + 4HCl

    1. O3 hoạt động hóa học mạnh hơn O2 vì:

    – Trong phân tử oxi, mỗi nguyên tử đạt cấu hình bền khi góp chung 2 điện tử độc thân tạo 2 cặp điện tử đầy đủ. Độ phân cực bằng 0 làm cho cấu trúc bền, khó phá vỡ.

    – Trong phân tử O3: có 3 nguyên tử oxi liên kết nhau bằng 2 liên kết ϭ bền và 1 liên kết π không định chỗ kém bền cấu trúc không ổn định, phân tử phân cực khi cung cấp năng lượng đủ lớn, liên kết π sẽ bị đứt để tạo oxi nguyên tử hoạt động mạnh.

    1. Phân tử CO2 là chất khí nhưng SiO2 là phân tử khổng lồ vì theo phương pháp liên kết hóa học:

    – So sánh nguyên tố cacbon và silic: độ âm điện của cacbon cao hơn của silic nhưng điện tích hạt nhân của silic lớn hơn  bán kính nguyên tử của cacbon nhỏ hơn. Mặt khác, nguyên tử nguyên tố Si có khối lượng lớn hơn khối lượng nguyên tử nguyên tố C.

    – Trong phân tử CO2: nguyên tử C có điện tích hạt nhân và bán kính nhỏ, dễ tạo liên kết đôi p – p bền có cấu trúc thẳng.

    – Trong phân tử SiO2: nguyên tử Si có điện tích hạt nhân và bán kính lớn, đồng thời lực đẩy mạnh từ các lớp điện tử phía trong tác dụng lên các điện tử liên kết  tương tự CO2, SiO2 cũng có liên kết π trong liên kết đôi, song liên kết này kém bền hơn liên kết cùng loại trong CO2 SiO2 có xu hướng kết hợp thêm oxi bằng tạo polime (SiO4)n bằng các liên kết đơn.

    Bài 2: (Đề thi đề nghị Olympic XVIII, 2012 – Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP Hồ Chí Minh)

    Năng lượng cần thiết để tách một điện tử ngoài cùng ra khỏi nguyên tử của nó ở trạng thái khí (hơi) được gọi là năng lượng thứ nhất của nguyên tử (I1). Người ta đo được các gía trị I1 của một số nguyên tố thuộc các chu kì ngắn trong bảng tuần hoàn như sau:

    Nguyên tố E F G H I J K L
    Điện tích
    hạt nhân
    Z Z+1 Z+2 Z+3 Z+4 Z+5 Z+6 Z+7
    I1 (kJ/mol) 1402 1314 1680 2080 495 738 518 786

    (E, F, G không là kí hiệu hóa học của các nguyên tố).

    1. Nguyên tố nào thuộc nhóm khí hiếm (khí trơ)?
    2. 8 nguyên tố trên có cùng chu kì hay không?
    3. Nguyên tố nào thuộc nhóm kim loại kiềm, nguyên tố nào thuộc nhóm halogen?
    4. Tại sao nguyên tố J có I1 ao hơn nguyên tố I và K trước và sau nó?
    5. Dự đoán xem đơn chất L có nhiệt độ nóng chảy cao hay thấp, tại sao?

    Nội dung giải:

    1. H là nguyên tố nhóm khí trơ, vì: I1 rất lớn 2080 kJ/mol. Do đó, cấu hình điện tử lớp ngoài cùng của H là ns2np6.
    2. Vì: ZI – ZH = 1 I và H không cùng chu kì (H là nguyên tố cuối chu kì – khí trơ) 8 nguyên tố không cùng chu kì.
    3. I là nguyên tố kim loại kiềm và G là nguyên tố halogen (dựa vào Z và tương quan với H).
    4. Dựa vào tương quan với H, ta xác định J thuộc nhóm nguyên tố IIA J có cấu hình điện tử bão hòa ns2, do đó năng lượng ion hóa sẽ lớn hơn năng lượng ion hóa của: I – có cấu hình điện tử bán bão hòa ns1 và năng lượng ion hóa của K – cấu hình điện tử ns2np1 với mức năng lượng của phân lớp p cao hơn phân lớp s.
    5. Dự đoán: L có nhiệt độ sôi cao. Giải thích theo phương pháp liên kết hóa học:

    L là nguyên tố nhóm IVA có cấu hình điện tử trung gian ns2np2 số điện tử hóa trị cực đại bằng số orbital hóa trị  tổng năng lượng ion hóa lớn (theo phương pháp VB)  năng lượng để phá vỡ cấu trúc bền sẽ lớn.

    Bài 3: (Đề thi đề nghị Olympic XVIII, 2012 – Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Long)

    1. Tại sao trong các phân tử H2O, NH3 các góc liên kết (104,50) và (107,50) lại nhỏ hơn góc tứ diện (109028)?
    2. Xét hai phân tử H2O và H2S, tại sao góc (92015) lại nhỏ hơn góc (104028’)?
    3. Xét hai phân tử H2O và F2O, tại sao góc (103015) lại nhỏ hơn góc (104,50)?

    Nội dung giải:

    1. Vận dụng công thức Gillespie cho phân tử H2O và phân tử NH3:

    H2O:  phân tử H2O có 4 orbital lai hóa sp3 với 2 cặp điện tử tự do.

    NH3:  phân tử NH3 có 4 orbital lai hóa sp3 với 1 cặp điện tự tự do.

    Theo phương pháp liên kết hóa học: do sự tồn tại của các cặp điện tử không liên kết làm xuất hiện các lực tương tác làm thay đổi giá trị góc liên kết với xu hướng nhỏ hơn góc liên kết tứ diện lý tưởng – 109028’.

    1. Xét 2 phân tử H2O và H2S:

    – Độ âm điện µ của oxi µO lớn hơn µS momen lưỡng cực của liên kết O – H lớn hơn momen lưỡng cực của liên kết S – H  tương tác đẩy giữa các cặp điên tử liên kết trong phân tử H2O lớn hơn tương tác cùng vị trí trong phân tử H2S.

    Do đó, góc liên kết  lại nhỏ hơn góc liên kết .

    1. Xét 2 phân tử H2O và F2O theo phương pháp liên kết hóa học:

    – Phân tử F2O:

    • Flo âm điện hơn oxi cặp điện tử liên kết lệch về phía nguyên tử flo, liên kết dài ra, momen lưỡng cực phân tử hướng về 2 nguyên tử flo.
    • Bán kính nguyên tử của flo nhỏ hơn oxi khoảng cách tương tác giữa 2 nguyên tử flo nhỏ.

    – Phân tử H2O:

    • Oxi âm điện hơn hidro cặp điện tử liên kết lệch về phía nguyên tử oxi, liên kết ngắn lại, momen lưỡng cực phân tử hướng về nguyên tử oxi.
    • Bán kính nguyên tử hidro lớn khoảng cách tương tác giữa 2 nguyên tử hidro lớn.

    Bài 4: (Đề thi đề chính thức Olympic XVIII, 2012 – Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bà Rịa – Vũng Tàu)

    1. Các phân tử AX4 có những dạng hình học nào? Cho ví dụ cụ thể đối với mỗi dạng hình học.
    2. Các kết quả thực nghiệm cho thấy liên kết Cl – F trong phân tử ClF3 có độ dài khác nhau: 169,8pm và 159,8pm. Hãy giải thích liên kết nào trong phân tử ClF3 ứng với độ dài nào, giải thích.

    Nội dung giải:

    Tổng số các điện tử hóa trị – 8. Số phối tử
    2
    1. Theo công thức kinh nghiệm Gillespie: n = X + E = X +

    Ngoại trừ: nhân 2 số phối tử hidro.

    Kết hợp với VSEPR, ta xác định phân tử AX4 có những dạng cụ thể như:

    – AX4 có dạng hình tứ diện như CH4, SO42-.

    – AX4E có dạng hình tứ diện biến dạng như SF4, SeF4.

    – AX4E2 có dạng hình vuông phẳng như XeF4, ICl4.

    Với E là số cặp điện tử tự do.

    (A: nguyên tử trung tâm)

    1. Áp dụng đáp án câu a):

    Phân tử ClF3 có orbital lai hóa sp3d với 2 cặp điện tử tự do  phân tử ClF3 có dạng phân tử AX3E2. Nhận định:

    – Trong phân tử ClF3 có 2 vị trí liên kết ở trục phân tử và 1 liên kết ở xích đạo phân tử

    – 2 cặp điện tử nằm trên xích đạo phân tử.

    Do liên kết ở xích đạo xa cặp điện tử tự do hơn liên kết ở trục phân tử nên, tương tác giữa các cặp điện tử liên kết và tự do ở vị trí xích đạo yếu hơn ở trục, độ dài liên kết ở xích đạo phân tử ngắn hơn liên kết ở trục phân tử: mỗi liên kết ở trục dài 168,9 pm và liên kết ở xích đạo dài 159,8 pm.

    Bài 5: (Đề thi đề nghị Olympic XVIII, 2012 – Trường THPT chuyên Hùng Vương, Gia Lai)

    Giải thích tại sao khi F2 chuyển thành F2+ thì độ bền liên kết tăng, còn N2 chuyển thành N2+ thì độ bền liên kết giảm xuống.

    Nội dung giải:

    Vận dụng công thức tính độ bội liên kết để đánh giá độ bền liên kết:

    Theo phương pháp MO, ở trạng thái cơ bản:

    – Phân tử F2 có cấu hình điện tử lớp ngoài cùng: (ϭ2S)2*2S)2Z)2X)2Y)2*X)2*Y)2. Số liên kết bằng 1.

    – Cấu hình điện tử lớp ngoài cùng của ion F2+ sẽ là: : (ϭ2S)2*2S)2Z)2X)2Y)2*X)2*Y)1. Số liên kết bằng 1,5.

    – Phân tử N2 có cấu hình điện tử lớp ngoài cùng: (ϭ2S)2*2S)2X)2Y)2Z)2. Số liên kết bằng 3.

    – Cấu hình điện tử lớp ngoài cùng của ion N2+ sẽ là: (ϭ2S)2*2S)2X)2Y)2Z)2. Số liên kết bằng 2,5.

    Vậy, khi F2 chuyển thành F2+ thì độ số liên kết tăng ứng với độ bền liên kết tăng; khi N2 chuyển thành N2+ thì số liên kết giảm ứng với độ bền liên kết giảm.

    Bài 6:. (Đề thi đề nghị Olympic XVIII, 2012 – Trường THPT Phan Châu Trinh, Đà Nẵng)

    Xét các phân tử BF3, NF3, và IF3. Hãy

    – Viết công thức electron Lewis của các chất trên.

    – Dựa vào thuyết lai hóa obitan nguyên tử hãy cho biết trạng thái lai hóa của nguyên tử trung tâm và dạng hình học của mỗi phân tử. Xác định xem phân tử nào là phân cực và không phân cực. Giải thích kết quả đã chọn.

    Nội dung giải:

    – Công thức electron Lewis của BF3, NF3, và IF3 lần lượt là:

    – Dựa theo thuyết lai hóa AO trong phương pháp VB:

    • Trong phân tử BF3: nguyên tử bo ở trạng thái lai hóa sp2, có dạng hình tam giác phẳng, góc liên kết.
    • Trong phân tử NF3: nguyên tử nito ở trạng thái lai hóa sp3, có dạng tháp tam giác, góc liên kết.
    • Trong phân tử IF3: nguyên tử Iôt ở trạng thái lai hóa sp3d, có dạng hình chữ T.

    Bài 7: (Đề thi đề nghị Olympic 30/4 XVIII, 2012 – Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Long)

    Hợp chất A có công thức XYy; thành phần phần trăm về khối lượng của Y là 60%. Nguyên tử X, nguyên tử Y đều có số proton bằng số nơtron. Tổng số proton trong phân tử A là 40. Biết rằng Y thuộc chu kì 2 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.

    1. Theo thuyết MO, viết cấu hình electron của các tiểu phân Y2, Y2+, Y2, y22-; Cho biết từ tính của các tiểu phân trên; tính độ bội liên kết và sắp xếp các tiểu phân trên theo thứ tự tăng dần độ dài liên kết giữa 2 nguyên tử Y.
    2. X, Y tạo thành với nhau 2 hợp chất A, B. Cho biết dạng hình học của phân tử hai hợp chất đó; so sánh góc YXY của 2 phân tử đó, giải thích.

    Nội dung giải:

    Ta có: Thành phần phần trăm của Y trong XYy là 60%  *

    Tổng số proton của A là 40  **

    Từ * và **  ta có hệ phương trình 2 ẩn ZX và yZY. Giải hệ ta được:

    ZX = 16 X là lưu huỳnh.

    yZY = 24. Do Y thuộc chu kì 2  3  10. Chọn y = 3 nhận được ZY = 8 (thỏa điều kiện)  Y là oxi.

    1. Theo thuyết MO, các tiểu phân O2, O2+, O2, O22- có các cấu hình điện tử lớp ngoài cùng như sau:

    – O2: (σ2S)2*2S)2Z)2X)2Y)2*X)1*Y)1.

    – O2+: (σ2S)2*2S)2Z)2X)2Y)2*X)1

    – O2: (σ2S)2*2S)2Z)2X)2Y)2*X)2*Y)1

    – O22-: (σ2S)2*2S)2Z)2X)2Y)2*X)2*Y)2

    Các tiểu phân O2, O2+, O2 có tính thuận từ, vì trong phân tử vẫn còn những điện tử độc thân ở các orbital: π*X, π*Y.

    Tiểu phân O22- có tính nghịch từ, vì trong phân tử không có điện tử độc thân.

    Độ bội liên kết của các tiểu phân O2, O2+, O2, O22- tính được như sau theo khái niệm số liên kết trong phương pháp MO: :

    – O2: α = 2.

    – O2+: α = 2,5.

    – O2: α = 1,5.

    – O22-: α = 1.

    Vì có số lượng điện tử tăng dần từ O2 đến O22-  tương tác đẩy giữa các điện tử liên kết cũng tăng dần, làm cho độ dài liên kết giữa hai nguyên tử oxi trong các tiểu phân cũng tăng dần từ O2 đến O22-: O2+< O2< O2< O22-.

    1. Vận dụng công thức Gillepie để dự đoán trạng thái lai hóa cho SO2 và SO3:

    – SO2 có orbital lai hóa sp2 và có 1 cặp điện tử tự do, phân bố hình học dạng góc – góc liên kết 119,50.

    – SO3 có orbital lai hóa phân bố hình học dạng tam giác đều phẳng – góc liên kết 1200.

    Giải thích:

    – Trong phân tử SO2:

    • 1 trong 2 nguyên tử oxi được kích thích để tạo 1 orbital trống tạo liên kết cho nhận S O, liên kết này không định chỗ (có thể xảy ra cho 1 trong 2 nguyên tử oxi bất kì)
    • Nguyên tử lưu huỳnh có dạng lai hóa sp2 với 1 cặp điện tử không liên kết đẩy mạnh các cặp điện tử liên kết.
    • Liên kết cho nhận πp – d của 1 cặp điện tử độc thân của nguyên tử oxi đến orbital d trống của nguyên tử lưu huỳnh, thêm phần làm ngắn liên kết S – O.
    • Do đó, tương tác của các cặp điện tử tự do và liên kết làm thay đổi giá trị lý tưởng 1200 của góc liên kết OSO trong phân tử SO2: 119,50.

    Trong phân tử SO3:

    • Cũng có sự hình thành liên kết πp – d giữa các nguyên tử oxi và lưu huỳnh.
    • Nguyên tử lưu huỳnh có dạng lai hóa sp2 nhưng không có điện tử độc thân trong phân tử. 3 orbital lai hóa liên kết σ với cả 3 nguyên tử oxi, 1 orbital p còn lại không lai hóa của lưu huỳnh có điện tử độc thân liên kết với orbital p có điện tử độc thân của 1 trong 3 nguyên tử oxi bất kì.
    • Do đó, tương tác nội phân tử của SO3 không đáng kể làm cho góc liên kết đạt giá trị lý tưởng 1200 của góc liên kết OSO trong phân tử SO3.

    Bài 8: (Đề thi đề nghị Olympic 30/4 XVIII, 2012 – THPT chuyên Hùng Vương, Gia Lai)

    Viết cấu hình electron của phân tử CO và NO theo phương pháp MO. Ở nhiệt độ thấp các phân tử NO có thể đime hóa tạo thành chất rắn màu xanh, không bền. Viết phương trình phản ứng và vẽ công thức cấu tạo của sản phẩm đime hóa trên? Phân tử CO có thể thực hiện phản ứng đime hóa không? Vì sao?

    Nội dung giải:

    – Theo phương pháp MO, ta có các cấu hình điện tử của:

    • CO: (KK) (σ2S)2*2S)2x)2y)2z)2
    • NO: (KK) (σ2S)2*2S)2x)2y)2z)2*x)1.

    – Khả năng đime hóa của:

    • CO: Không thể tạo liên kết, vì trong phân tử không có orbital đơn điện tử, năng lượng ion hóa của phân tử lớn.
    • NO: Orbital phản liên kết đơn điện tử năng lượng cao nhưng chưa bền nên vẫn có thể kết hợp thêm 1 điện tử ở điều kiện thích hợp.

    Phương trình phản ứng và công thức cấu tạo của N2O2:

    2
    N2O2

    Bài 9: (Kì thi Olympic 30/4 XV, 2009 – THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP Hồ Chí Minh)

    Trong số các cacboyl halogenua COX2, người ta chỉ điều chế được 3 chất: cacbonyl florua COF2, cbonyl clorua COCl2, cacbonyl bromua COBr2.

    1. Vì sao không có hợp chất cacbonyl iodua COI2?
    2. So sánh góc liên kết ở các phân tử cacbonyl halogenua đã biết.

    Nội dung giải:

    1. Phân tử COX2 có bản chất liên kết ion.

    Độ âm điện của các halogen giảm dần từ flo đến iod (trong bài không xét đến atatin) làm giảm độ phân cực hóa nội ion dẫn đến làm suy yếu các liên kết trong hợp chất ion của COX2.

    Mặt khác:

    – Đối với các cacbonyl halogenua trước iod: bán kính nguyên tử các nguyên tử halogen nhỏ nhưng tăng dần từ flo đến brom, tương tác đẩy giữa các điện tử tăng dần  độ bền liên kết bền nhưng cũng giảm dần theo độ âm điện.

    – Đối với cacbonyl iodua: bán kính nguyên tử iod trong phân tử lớn, tương tác giữa các phân tử lớn làm cho liên kết dài ra  liên kết yếu dễ bị phá vỡ.

    Từ các yếu tố cấu thành trên, ta nhận định tổng quan: do độ âm điện của iod nhỏ không đủ để làm bền liên kết nên không tồn tại hợp chất cacbonyl iodua COI2 (cũng như cacbonyl atatinua COAt2).

    1. Trong phân tử COX2: nguyên tử cacbon thuộc dạng lai hóa sp2 và không có điện tử tự do.

    Thành phần các liên kết trong phân tử cacbonyl halogenua COX2 gồm: liên kết X – C, C = O. Tương ứng có các 2 góc liên kết chính: góc XCX và góc XCO.

    X

    – Góc liên kết XCX: độ lớn của góc giảm dần từ đến  .

    – Góc liên kết XCO: độ lớn của góc giảm dần từ đến .

    Nguyên nhân chính là do sự giảm dần độ âm điện của các nguyên tử halogen từ flo đến brom làm cho liên kết X – C tăng dần từ F – C đến Br – C dẫn đến:

    – Không gian tương tác giữa 2 nguyên tử halogen giảm dần.

    – Không gian tương tác giữa nguyên tử halogen và oxi giảm dần.

    Bài 10: (Đề thi đề nghị Olympic 30/4 XII, 2006 – THPT chuyên Lê Quý Đôn, Đà Nẵng)

    So sánh và giải thích:

    1. Nhiệt độ sôi của photphin và amoniac.
    2. Nhiệt độ sôi của silan và metan.
    3. Nhiệt độ nóng chảy của silic đioxit và cacbon đioxit

    Nội dung giải:

    1. PH3 và NH3:

    Nhiệt độ sôi của PH3 là -880C và nhiệt độ sôi của NH3 là -33,40C  nhiệt độ sôi của NH3 cao hơn nhiệt độ sôi của PH3. Xét theo phương pháp liên kết hóa học:

    – Các liên kết P – H và N – H là liên kết cộng hóa trị: liên kết P – H không phân cực và liên kết N – H phân cực mạnh.

    – Phân tử PH3 không phân cực nên tương tác hút nhau  Val der Waals giữa các phân tử PH3 rất bé hầu như bằng 0  năng lượng để phá vỡ tương tác Val der Waals nhỏ  nhiệt độ sôi thấp.

    – Phân tử NH3 phân cực mạnh nên tương tác Val der Waals giữa các phân tử NH3 diễn ra mạnh hơn  năng lượng phá vỡ liên kết Val der Waals cao hơn năng lượng tương ứng của PH3 nhiệt độ sôi cao hơn.

    Mặt khác nếu xem phân tử PH3 gồm 2 ion P và PH2+ và dựa trên độ âm điện của photpho: sự phân cực hóa ion nội ion PH2+ có giá trị rất nhỏ  độ bền liên kết ion giảm  độ bền nhiệt của hợp chất ion là PH3.

    Tương tự cho phân tử NH3 gồm 2 ion N và NH2+: sự phân cực hóa nội ion NH2+ có giá trị lớn hơn độ phân cực hóa nội ion của PH2+ (độ âm điện µN> µP)  độ bền liên kết ion tăng  nhiệt của NH3 cao hơn độ bền nhiệt của PH3.

    1. Silan có nhiều hợp chất khác nhau có công thức phân tử tổng quát SinH2n+2, trong trường hợp cơ bản ta xét SiH4 – tạm gọi là silan.

    Nhiệt độ sôi của CH4 và SiH4 lần lượt là: -1640C và -1120C  nhiệt độ sôi của CH4 thấp hơn nhiệt độ sôi của SiH4 vì xét theo phương pháp liên kết hóa học:

    – Liên kết Si – H là liên kết cộng hóa trị phân cực mạnh, liên kết C – H là liên kết cộng hóa trị không cực  lực hút Val der Waals giữa các phân tử SiH4 mạnh hơn lực tương tự giữa các phân tử CH4.

    – Đồng thời, nguyên tử silic có khối lượng lớn hơn khối lượng nguyên tử cacbon.

    1. Như đã so sánh SO2 và SiO2 ở câu Bài 1: oxit silic là chất rắn và CO2 là chất khí nên nhiệt độ nóng chảy của SiO2 rất cao và nhiệt độ nóng chảy của CO2 rất thấp.

    Bài 11: (Đề thi đề nghị Olympic 30/4 XII, 2006 – THPT thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp)

    Trong số các cấu trúc có thể có sau đây:

    1. a) Của ICl4(-): b) Của TeCl4:
    2. c) Của ClF3:

    những cấu trúc nào có khả năng tồn tại ưu tiên hơn? Vì sao?

    Nội dung giải:

    1. Của ICl4(-): Cấu trúc vuông phẳng (a) có khả năng tồn tại ưu tiên hơn.

    Vì nguyên tử trung tâm iod có 2 cặp điện tử không liên kết và 2 cặp điện tử này cần không gian khu trú lớn. Do đó, theo sự thừa nhận của mô hình VSEPR: 2 cặp điện tử này ưu tiên chiếm 2 vị trí cách xa nhau tối đa có thể – 2 vị trí đầu trục phân bố hình học của ICl4(-) (như hình trong đề bài).

    1. Của TeCl4: Cấu trúc tứ diện biến dạng (c) có khả năng ưu tiên hơn.

    Theo mô hình VSEPR: cặp điện tử tự do duy nhất của nguyên tử telu cần không gian khu trú lớn nên chiếm vị trí xích đạo của phân bố hình học của TeCl4 (như hình trong đề bài).

    1. Của ClF3: Cấu trúc hình T (cấu trúc thứ nhất) có khả năng ưu tiên hơn.

    Khác với ICl4(-) có 4 phối tử clo, phân tử ClF3 chỉ có 3 phối tử flo nhưng lại cũng có 2 cặp điện tử tự do. 2 cặp điện tử này chiếm 2 vị trí trên xích đạo phân phối hình học cách xa các điện tử liên kết tối đa.

    Bài 12. (Đề thi đề nghị Olympic 30/4 XII, 2006 – THPT thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp)

    Tại sao nước đá nhẹ hơn nước lỏng? (có vẽ hình minh họa)

    Nội dung giải:

    Nước đá ở 00C nhẹ hơn nước lỏng vì theo phương pháp liên kết hóa học:

    – Ở nhiệt độ từ 00C trở xuống, các phân tử nước tạo liên kết hidro với nhau thành tinh thể nước đá: mỗi phân tử H2O liên kết với 4 phân tử H2O khác tạo nên kiến trúc tinh thể nước đá.

    Liên kết của 5 phân tử H2O                             Kiến trúc tinh thể nước đá

    Độ dài mỗi liên kết O – H trong phân tử H2O đơn lẻ là 1,99 Å nhưng mỗi liên kết hidro H – O thêm vào nguyên tử oxi dài 1,76 Å và từ nguyên tử hidro trong liên kết đến nguyên tử oxi của phân tử nước tham gia liên kết là 1 Å  các phân tử nước không xếp sít nhau, cấu trúc rỗng, xốp  nước đá nhẹ hơn nước lỏng ở  cùng 1 thể tích.

    – Từ 00C trở lên, đặc biệt là ở 40C, các liên kết hidro bị đứt ra một phần làm cho các phân tử nước sắp xếp lại gần nhau  đạt giá trị khối lượng riêng lớn hơn khối lượng riêng nước đá.

                PHẦN 3:                    KẾT LUẬN

     

    Thuyết cấu tạo hóa học là thuyết hóa học kinh điển có khả năng giải quyết mạnh mẽ các vấn đề cơ bản của hóa học như đặc điểm vật lí – hóa học của các chất. Bằng những phương pháp nghiên cứu như phương pháp liên kết hóa học, phương pháp liên kết hóa trị – Valence Bond (VB), phương pháp orbital phân tử – Molecular Orbial (MO) mà việc định hướng giải quyết vấn đề hóa học trở nên dễ dàng và tương đối chính xác.

    Phương pháp liên kết hóa học giúp giải quyết các vấn đề hóa học: khả năng hòa tan, sự tồn tại của các chất… thông qua giải thích tương tác các đại lượng vật lí như độ âm điện, năng lượng ion hóa,…

    Phương pháp VB làm rõ các cơ chế hình thành liên kết hóa học, dạng lai hóa, phân bố hình học trong không gian của các chất ở các dạng đơn chất – hợp chất, giải thích độ lớn các góc liên kết, khả năng hóa trị, oxi hóa – khử của các chất,…

    Phương pháp MO giải thích tính chất từ của các chất tồn tại ở dạng phân tử, các mức năng lượng khác nhau của phân tử, đánh giá mức độ ion hóa của phân tử, giải thích một số cặp chất gần giống nhau về tính chất vật lí nhưng khác nhau về tính chất hóa học như CO và N2,…

    Việc vận dụng thuyết cấu tạo hóa học để giải các bài tập định tính chỉ mang tính khách quan vì phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố chỉ có thể xét gần đúng như sức đẩy cặp điện tử, momen lưỡng cực, mật độ điện tử.

    Song, bên cạnh đó, việc giải và trình bày các bài tập nghiên cứu không được sắp xếp và phân loại theo một khuôn mẫu nhằm giúp học sinh – sinh viên có khả năng tư duy sáng tạo, linh động, có liên hệ với nhau trên cùng cơ sở lí thuyết. Các bài tập được chọn mang những nét đặc trưng cơ bản của vấn đề mà các phương pháp nghiên cứu đã nói trên có thể giải quyết.

    Qua các điểm nêu trên, ta thấy: cách vận dụng khoa học thuyết cấu tạo hóa học sẽ hình thành cho học sinh – sinh viên một thế giới quan khoa học nền tảng, giá trị của một lí thuyết chỉ có giá trị trong thực tiễn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]