Category: Ôn thi

  • Văn mẫu Cảm nghĩ của em về câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành”

    Văn mẫu Cảm nghĩ của em về câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành”

    Văn mẫu Cảm nghĩ của em về câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Những bài văn nghị luận xã hội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ của em về câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành”

    Văn mẫu lớp 9

     Cảm nghĩ của em về câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành”

    BÀI LÀM

    Trong sự nghiệp xây dựng đất nước công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước ngày

    nay, xã hội ta ngày một phát triển. Cùng với đó là sự hiểu biết về trình độ và khả

    năng chuyên môn là điều không thể thiếu của mỗi người.

    Tuy nhiên, đã có nhiều bạn trẻ hiện nay quá chú trọng vào việc học lí thuyết ở nhà

    trường mà đôi khi quên mất phải thực hành-một điều hết sức quan trọng. Mối quan

    hệ giữa học và hành một lần nữa được nhấn mạnh qua câu tục ngữ: “Học đi đôi với

    hành”.

    Vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem học là gì? Hành là gì? Mà lại có sự tương quan,

    liền kề với nhau như thế?

    Học là hoạt động tiếp thu những tri thức của nhân loại đã được đúc kết qua mấy

    ngàn năm lịch sử.

    Chúng ta có thể học ở trường qua sự truyền thụ của thầy cô, học ở bạn bè; tự học ở

    sách vở và thực tế cuộc sống. Học để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân. Tuy

    nhiên khi học phải tóm lược kiến thức cơ bản để dễ nhớ, dễ vận dụng…

    Hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào những công việc hàng

    ngày. Ví dụ như một bác sĩ đem những kiến thức tiếp thu được trong suốt quá trình

    đào tạo sáu, bảy năm ở trường đại học để vận dụng vào việc chữa bệnh cho mọi

    người. Những kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng đem kiến thức đã học để thiết kế và thi

    công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, trường học, công viên…để phục vụ

    đời sống con người. Học sinh vận dụng những điều thầy giáo dạy để làm một bài

    toán khó, một bài văn…Đó là hành.

    Bác Hồ cũng đã từng khẳnng định: Học để hành, có nghĩa là học để cho tốt. Thực

    tế cho thấy có học có hơn.

    Ông cha ta ngày xưa đã nói: Bất học, bất tri lí ( Không học thì không biết đâu là

    phải, là đúng). Mục đích cuối cùng của sự học là nhằm phục vụ cho mọi công việc

    đạt hiệu quả cao hơn. Nếu học được lí thuyết dù cao siêu đến đâu chằng nữa mà

    không đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền

    bạc mà thôi.

    Học kết hợp với hành không phải là vừa học vừa làm.

    Như khi ta học lí thuyết môn toán Lượng giác ở trường, ta thực hành những kiến

    thức đó bằng cách làm thật nhiều bài tập để nắm vững những lí thuyết ấy. Nói

    chung phương châm “Học đi đôi với hành” là hoàn toàn chính xác. Nếu không kết

    hợp học với hành thì không thể đạt được hiệu suất cao trong công việc được. Bởi

    trong công việc cái người ta cần, người ta quan tâm hàng đầu là sản phẩm-thành

    quả lao động chứ không phải là hiểu biết trên lí thuyết, một khi không đạt chỉ tiêu

    đó thì dẫu cho có thành tích học tập tốt đến đâu thì ta cũng sẽ nhanh chóng bị xã

    hội đào thải, trở thành một kẻ thất bại đáng thương hại mà thôi.

    Như một học sinh học tập rất tốt, Điểm môn Công dân luôn cao, vậy mà khi ra

    đường trong thấy một bà lão ăn xin té ngã trên đường, không những không giúp đỡ

    mà ngược lại còn tỏ thái độ khinh thường ghê tởm bà ấy, thiếu thực hành về mặt

    học vấn thì có thể bù đấp lại chứ thiếu thực hành ở mặt đạo đức thì thật không thể

    chấp nhận được. Một ngôi nhà không hoàn hảo thì có thể tạm sử dụng hoặc xây lại,

    còn con người có đạo đức suy thoái thì chỉ là đồ vô dụng. Một khi gạo đã thành

    cơm, dủ cho có chỉnh sửa thế nào thì cái ác tâm trong đầu cũng chẳng thể nào mất

    đi được chỉ có thể đầu thai chuyển kiếp khác thì mới có thể sống tốt được thôi.

    Những ví dụ đó đã phần nào cho ta thấy những tác hại của việc học mà không đi

    đôi với hành. Ngược lại, nếu bạn kết hợp tốt học với hành thì bạn sẽ đạt được

    nhiều thành tựu.

    Trong giai đoạn xã hội phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức con

    người là tiền đề vô cùng quan trọng. Lí thuyết mà gắn với thực hành thì sẽ thúc đẩy

    công việc, sản xuất một cách nhanh chóng và đạt hiệu quả cao hơn.

    Thực tế cho thấy trong tất cả các cấp học ngày nay, phương châm học đi đôi với

    hành là hoàn toàn đúng. Những kiến thức mà ta tiếp thu được từ nhà trường, sách

    vở,… phải được áp dụng vào thực tế cuộc sống để sáng tạo ra những thành quả vật

    chất, tinh thần phục vụ con người.

    Là học sinh trong thời gian học ở nhà trường, chúng ta cần phải chăm chỉ học tập

    kết hợp đi đôi với hành. Học bao gồm cả văn hoá, chữ nghĩa và kinh nghiệm cuộc

    sống để nâng cao trình độ văn hoá, tiếp thu nền khoa học và công nghệ hiện đại

    nhằm nâng cao nhận thức về chính trị xã hội. Và sau này, khi bước vào đời thì phải

    tiếp tục nâng cao trình độ hiểu biết, nâng cao chuyên môn để làm việc có hiệu quả

    hơn…

    Tóm lại, câu phương châm “Học đi đôi với hành” đã nêu rõ tầm quan trọng của

    việc học kết hợp với hành. Thực hiện phương châm này đúng cách ta sẽ đạt hiệu

    quả cao trong học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp sau này, đồng thời góp

    phần tích cực vào việc xây dựng một đất nước phồn vinh tiến bộ…

  • Những bài văn nghị luận xã hội

    Những bài văn nghị luận xã hội

    Những bài văn nghị luận xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích đoạn trích Tình yêu và thù hận


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những bài văn nghị luận xã hội 

    Những bài văn nghị luận xã hội

    Bài soạn văn mẫu Nói với con- Y Phương

    NÓI VỚI CON

    I.Tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 1.Tác giả

    • Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, dân tộc Tày, sinh năm 1948, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Y Phương nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển công tác về Sở Văn hóa – thông tin Cao Bằng. Từ năm 1993, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng.
    • Thơ Y Phương thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy hình ảnh của con người miền núi

    2.Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau tiếp nối xứng đáng, phát huy truyền thống của tổ tiên, quê hương vốn là một tình cảm cao đẹp của con người Việt Nam suốt bao đời nay. Bài thơ Nói với con cũng nằm trong cảm hứng lớn rộng, phổ biến ấy nhưng Y Phương đã có một cách nói xúc động của riêng mình. Hình thức người cha tâm tình, dặn dò đối với con đã đem đến cho bài thơ giọng điệu thiết tha, trìu mến, ấm áp và tin cậy.

    II.Phân tích bài thơ

    1.Tình yêu thương của cha mẹ, sự đùm bọc của quê hương đối với con.

    • Con lớn lên từng ngày trong tình yêu thương, trong sự nâng đón và mong chờ của cha mẹ. ở bốn câu thơ đầu, bằng các hình ảnh thật cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chút, mừng vui đón nhận.
    • Con được trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương.
    • Cuộc sống lao động cần cù và tười vui của “ người đồng mình” được nhà thơ gợi lên qua các hình ảnh đẹp: “ Đan lờ cài nan hoa – Vách nhà ken câu hát”. Các động từ cài, ken vừa miêu tả cụ thể nói lên tình cảm gắn bó, quấn quýt.
    • Rừng núi quê hương thật thơ mộng và nghĩa tình. Thiên nhiên ấy đã che chở, đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn, lối sống: “ Rừng cho hoa – Con đường cho những tấm lòng”

    2.Những đức tính cao đẹp của “ người đồng mình” và mong ước của người cha qua lời tâm tình với con.

    • “ Người đồng mình thương lắm …Không lo cực nhọc”, “ Người đồng mình” sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ gắn bó với quê hương dẫu còn cực nhọc đói nghèo. Từ đó, người cha mong muốn con phải có nghĩa tình chung thủy với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằng ý chí, bằng niềm tin của mình.

    – “ Người đồng mình thô sơ da thịt…Nghe con”. Người đồng mình mộc mạc

    nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể thô sơ da thịt nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí và mong ước xây dựng quê hương. Chính những con người như thế, bằng sự lao động cần cù, nhẫn nại hàng ngày, đã làm nên quê hương với truyền thống, với phong tục tập quán tốt đẹp: “ Người đồng mình tự **c đá kê cao quê hương – Còn quê hương thì làm phong tục ”. Từ đó, người cha mong muốn con biết tự hào với truyền thống quê hương, dặn dò con cần tự tin mà vững bước trên đường đời.

    3.Cảm nhận về tình cảm của người cha đối với con, rút ra điều lớn lao nhất mà người cha truyền tới được cho con.

    • Tình cảm yêu thương trìu mến, thiết tha và niềm tin tưởng của người cha qua lời nói với con.
    • Điều lớn lao nhất mà người cha truyền tới cho con chính là lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời.

    4.Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ

    • Giọng điệu thiết tha trìu mến
    • Xây dựng các hình ảnh cụ thể mà có tính khái quát, mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ.

    – Bố cục chặt chẽ, dẫn dắt tự nhiên.

    Cảm nghĩ về thân phận người phụ nữ qua bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

    Vận dụng các kĩ năng nghị luận văn học để nêu những suy nghĩ về số phận của người phụ nữ qua 2 tác phẩm : Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, yêu cầu đạt được các ý sau :

    1. Nêu khái quát nhận xét về đề tài người phụ nữ trong văn học, số phận cuộc đời của họ được phản ánh trong các tác phẩm văn học trung đại ; những bất hạnh oan khuất được bày tỏ, tiếng nói cảm thông bênh vực thể hiện tấm lòng nhân đạo của các tác giả, tiêu biểu thể hiện qua : Bánh trôi nước và Chuyện người con gái Nam Xương.

    b. Cảm nhận về người phụ nữ qua 2 tác phẩm :

    * Họ là những người phụ nữ đẹp có phẩm chất trong sáng, giàu đức hạnh :

    • Cô gái trong Bánh trôi nước : được miêu tả với những nét đẹp hình hài thật chân thực, trong sáng : “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. Miêu tả bánh trôi nước nhưng lại dùng từ thân em – cách nói tâm sự của người phụ nữ quen thuộc kiểu ca dao : thân em như tấm lụa đào… khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh nước da trắng và tấm thân tròn đầy đặn, khoẻ mạnh của người thiếu nữ đang tuổi dậy thì mơn mởn sức sống. Cô gái ấy dù trải qua bao thăng trầm bảy nổi ba chìm vẫn giữ tấm lòng son. Sự son sắt hay tấm lòng trong

    sáng không bị vẩn **c cuộc đời đã khiến cô gái không chỉ đẹp vẻ bên ngoài mà còn quyến rũ hơn nhờ phẩm chất của tấm lòng son luôn toả rạng.

    • Nhân vật Vũ Nương trong Chuyện ngươì con gái nam Xương : mang những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
    • Trong cuộc sống vợ chồng nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà”. Nàng luôn là người vợ thuỷ chung yêu chồng tha thiết, những ngày xa chồng nỗi nhớ cứ dài theo năm tháng : “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” nàng lại âm thầm nhớ chồng.
    • Lòng hiếu thảo của Vũ Nương khiến mẹ chồng cảm động, những ngày bà ốm đau, nàng hết lòng thuốc thang chăm sóc nên khi trăng trối mẹ chồng nàng đã nói : “Sau này, trời xét lòng lành, […], xanh kia quyết chẳng phụ con”. Khi mẹ chồng khuất núi, nàng lo ma chay chu tất, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình.
    • Nàng là người trọng danh dự, nhân phẩm : khi bị chồng vu oan, nàng một mực tìm lời lẽ phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Khi không làm dịu được lòng ghen tuông mù quáng của chồng, nàng chỉ còn biết thất vọng đau đớn, đành tìm đến cái chết với lời nguyền thể hiện sự thuỷ chung trong trắng. Đến khi sống dưới thuỷ cung nàng vẫn luôn nhớ về chồng con, muốn được rửa mối oan nhục của mình.
    • Họ là những người chịu nhiều oan khuất và bất hạnh, không được xã hội coi trọng :
    • Người phụ nữ trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương đã bị xã hội xô đẩy, sống cuộc sống không được tôn trọng và bản thân mình không được tự quyết định hạnh phúc :

    “Bảy nổi ba chìm với nước non,

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

    • Vũ Nương bị chồng nghi oan, cuộc sống của nàng ngay từ khi mới kết hôn đã không được bình đẳng vì nàng là con nhà nghèo, lấy chồng giầu có. Sự cách biệt ấy đã cộng thêm một cái thế cho Trương Sinh, bên cạnh cái thế của người chồng, người đàn ông trong chế độ gia trưởng phong kiến. Hơn nữa Trương Sinh là người có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức, lại thêm tâm trạng của chàng khi trở về không vui vì mẹ mất. Lời nói của đứa trẻ ngây thơ như đổ thêm dầu vào lửa làm thổi bùng ngọn lửa ghen tuông trong con người vốn đa nghi đó, chàng “đinh ninh là vợ hư”. Cách xử sự hồ đồ độc đoán của Trương Sinh đã dẫn đến cái chết thảm khốc của Vũ Nương, một sự bức tử mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô can.

    Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến chỉ xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh ở đây không được bênh vực, che chở mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lí ; chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hơi sữa và vì sự hồ đồ vũ phu của anh chồng ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

    c. Đánh giá chung : Số phận người phụ nữ trong xã hội xưa bị khinh rẻ và

     

    không được quyền định đoạt hạnh phúc của mình, các tác giả lên tiếng phản đối, tố cáo xã hội nhằm bênh vực cho người phụ nữ. Đó là một chủ đề manh tính nhân văn cao cả của văn học đương thời.

  • Văn mẫu Phân tích đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nghĩ về tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Văn mẫu lớp 11

     Phân tích đoạn trích “Tình yêu và thù hận”

    BÀI LÀM

    Uy-li-am Sếch-xpia là tác gia tiêu biểu của nền văn học châu Âu thời kì Phục hưng. Sống

    vào giai đoạn quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản, ông đã nhanh nhạy nắm

    bắt được hơi thở, mạch đập của thời đại và đưa vào tác phẩm của mình. Và sự nghiệp

    sáng tác của Sếch-xpia là sự phản ánh và phê phán cả hai chế độ đó. Chế độ tư bản với

    những quan hệ “trả tiền ngay” rất tàn nhẫn của giai cấp tư sản buổi ban đầu đã được khái

    quát và điển hình hoá ở hình tượng tên lái buôn Do Thái Sai-lốc trong vở Người lái buôn

    thành Vơ-ni-dơ và ở số phận vua Lia trong vở Vua Lia. Sự tàn bạo, lạc hậu, hủ lậu đầy

    thành kiến của chế độ phong kiến già nua đã được phơi bày trong một loạt bi kịch của

    ông như Mác-bét, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Ô-ten-lô… Sếch-xpia luôn lên tiếng ngợi ca con

    người và đòi quyền sống, quyền tự do đích thực cho họ. Nhân vật của Sếch-xpia là những

    con người mới của thời đại mới, những con người luôn sống bằng chính trái tim của

    mình, dám cất lên tiếng nói thể hiện khát vọng của mình, vượt lên mọi thù hận, mọi ràng

    buộc xã hội. Rô-mê-ô và Giu-li-ét là đại diện tiêu biểu cho những con người ấy.

    Trong suốt thời trung cổ, cả châu Âu chìm trong đêm tối của chế độ phong kiến và

    nhà thờ. Mọi quyền tự do của con người dường như đều bị tước bỏ. Tư tưởng nhân văn

    cao đẹp của nền văn hoá Hi Lạp – La Mã cổ đại đều bị chìm trong đống đổ nát của những

    thành tựu văn hoá từng phát triển rực rỡ. Thời cổ đại người ta ngợi ca con người bao

    nhiêu thì thời trung cổ con người bị vùi dập bấy nhiêu. Phong trào văn nghệ Phục hưng ra

    đời đã đánh thức khát vọng của con người, đề cao con người và khẳng định con người là

    cao quý nhất. Hoàng tử Hăm-lét, nhân vật chính của vở kịch Hăm-lét, đứa con tinh thần

    yêu quý của Sếch-xpia, đã có một phát ngôn bất tử về con người : “Kì diệu thay là con

    người, về vẻ đẹp nó sánh ngang với thần thánh, trí tuệ sánh ngang với thượng đế. Con

    người thật là kì diệu, là trung tâm của vũ trụ, là kiểu mẫu của muôn loài. Con người phải

    được thoả mãn mọi nhu cầu vốn có như ăn, uống, ngủ, nghỉ, các sinh hoạt trần thế, sự

    hiểu biết và sự phát triển về mặt trí tuệ”. Phát ngôn này là sự kế tục tinh thần của Prô-ta-

    gô-rốt, nhà triết học cổ đại Hi Lạp : “Con người là thước đo của vạn vật”, là tư tưởng

    chung của chủ nghĩa nhân văn trong văn học Hi Lạp cổ đại và cũng chính là tư tưởng chủ

    đạo của văn học thời Phục hưng. Là tác giả tiêu biểu của văn học Phục hưng Anh, Sếch-

    xpia đã thể hiện sâu sắc tư tưởng này trong tác phẩm của mình. Sự vĩ đại của Sếch-xpia là

    sản phẩm của sự kết hợp giữa tài năng, sự hiếu học, sự phát triển rực rỡ của thời đại Phục

    hưng và hiện thực xã hội Anh cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII. Với sự thắng thế của tinh

    thần nhân văn chủ nghĩa, văn học Phục hưng giai đoạn đầu luôn vui tươi và tràn đầy tinh

    thần lạc quan. Nhưng đến giai đoạn sau, tinh thần lạc quan ấy giảm dần bởi sự hiện hữu

    lạnh lùng của những quan hệ tư sản mới. Những mâu thuẫn giữa lí tưởng cao đẹp và hiện

    thực xã hội đầy phức tạp của buổi giao thời giữa phong kiến và tư bản đã để lại dấu ấn rất

    đậm nét trong sáng tác của các nhà văn Phục hưng. Và Sếch-xpia là đại diện tiêu biểu

    nhất.

    Sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Sếch-xpia cũng có thể chia làm hai giai đoạn. Giai

    đoạn đầu, trước năm 1600, sáng tác của nhà văn mang âm hưởng lạc quan, đây là thời kì

    của những vở hài kịch. Giai đoạn sau, từ năm 1600 trở đi, chủ yếu ông sáng tác bi kịch.

    Vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét viết khoảng 1594 đến 1595, có thể coi là gạch nối tư

    tưởng hai giai đoạn sáng tác của ông. Tuy là một bi kịch tình yêu, kết thúc là cái chết của

    hai nhân vật chính nhưng vở bi kịch này không để lại âm hưởng thê thảm như những vở

    bi kịch ở giai đoạn sau.

    Rô-mê-ô và Giu-li-ét là một vở kịch thơ xen lẫn văn xuôi vì vậy dù đã dịch sang văn

    xuôi nhưng ngôn ngữ đối thoại của nhân vật vẫn là những câu văn vần rất uyển chuyển,

    nhịp nhàng tạo cho đoạn trích một sức hấp dẫn đặc biệt. Dù là độc thoại hay đối thoại, lời

    thoại của các nhân vật đều rất giàu chất thơ, có vần điệu.

    Sau cuộc gặp gỡ ở buổi dạ hội, cả Rô-mê-ô và Giu-li-ét đều đã mang trong mình mối

    sầu tương tư. Và như người ta vẫn nói, khi hai ánh mắt đã gặp nhau, trái tim đã đồng điệu

    là lúc hai tâm hồn đã thuộc về nhau. Rô-mê-ô và Giu-li-ét là hai người như thế. Vì vậy,

    họ mới có chung một cảm xúc và không hò hẹn, họ đã cùng nhau than thở dưới trăng

    trong vườn nhà Ca-piu-lét. Những lời độc thoại và đối thoại của đôi trai gái trong Tình

    yêu và thù hận đã thể hiện họ là những con người biết yêu thương bằng chính trái tim

    mình.

    Đoạn trích gồm hai phần. Phần 1 gồm sáu lời thoại đầu. Hai người tự nói bộc lộ cảm

    xúc của mình. Chính tình huống kịch này đã làm tăng tính chất chân thành, say đắm của

    mối tình Rô-mê-ô và Giu-li-ét. Phần 2 là cuộc đối thoại trực tiếp giữa hai người. Đoạn

    trích tập trung thể hiện nội dung chính là : mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ không

    cản trở được hai trái tim yêu mà chỉ làm họ say đắm hơn mà thôi. Họ sẵn sàng vượt lên

    tất cả để được yêu nhau.

    Rô-mê-ô và Giu-li-ét đại diện cho những con người khao khát tự do và hạnh phúc.

    Họ sẵn sàng vượt lên hàng rào ấy để giành lấy tự do, hạnh phúc cho riêng mình. Họ sẵn

    sàng từ bỏ tên họ của mình để được đến bên nhau. Hành động này không phải là sự vô

    tình của kẻ dám từ chối gia đình mình, mà đó là sự từ chối những thành kiến vô lí. Giu-li-

    ét nói : “chàng hãy thề là chàng yêu em đi, và em sẽ không còn là con cháu nhà Ca-piu-

    lét nữa”. Và Rô-mê-ô : “Chỉ cần em gọi tôi là người yêu, tôi sẽ thay tên đổi họ ; từ nay,

    tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa”. Những lời tha thiết ấy của hai người đã chứng

    tỏ tình yêu say đắm của họ. Đó là một mối tình trong sáng và mãnh liệt. Dưới ánh mắt

    của chàng Rô-mê-ô đang yêu, Giu-li-ét đẹp và dịu hiền hơn tất cả. Với chàng, “nàng Giu-

    li-ét là mặt trời”. Rô-mê-ô đã dùng một loạt hình ảnh so sánh tuyệt vời nhất để miêu tả vẻ

    đẹp của nàng Giu-li-ét : “chẳng qua hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng,

    đã thiết tha nhờ mắt nàng lấp lánh, chờ đến lúc sao về”. Lời thoại dài nhất của Rô-mê-ô

    trong đoạn trích là lời ca ngợi vẻ đẹp của nàng Giu-li-ét còn lời thoại dài nhất của Giu-li-

    ét là đoạn bộc lộ tình yêu say đắm của nàng với Rô-mê-ô. Chính lời thoại này của Giu-li-

    ét thể hiện tư tưởng cốt lõi của đoạn trích : “Mông-ta-ghiu là cái gì nhỉ ? […] thì mười

    phân chàng vẫn cứ vẹn mười.”

    Rô-mê-ô vượt tường rào vào vườn nhà Giu-li-ét chỉ vì nhớ nàng không thể ngủ được.

    Tình yêu đã làm chàng quên đi rằng vì mối thù truyền kiếp chàng có thể bị giết chết nếu

    bị người nhà Ca-piu-lét bắt. Khát vọng yêu là khát vọng của muôn đời và của mọi dân

    tộc. Trong văn học Việt Nam, nàng Kiều dám vượt qua hàng rào lễ giáo phong kiến

    “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để đến vườn Lãm Thuý thề nguyền cùng

    chàng Kim trong một đêm trăng :

    Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

    Đinh ninh hai miệng một lời song song.

    thì bên khung cửa sổ tràn đầy ánh trăng trong vườn nhà Ca-piu-lét, Rô-mê-ô và Giu-

    li-ét vượt qua mối thù địch của hai dòng họ cũng thề nguyền cùng nhau với những lời tha

    thiết. Cuộc thề hẹn dưới trăng của Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã đánh thức khát vọng sống của

    cả thời đại. Tình yêu của họ đã chứng tỏ những thế lực và xiềng xích của những hủ tục,

    thành kiến của mối quan hệ phong kiến đã dần mất tác dụng. Nó đang bị phá bỏ hoặc tự

    tan rã. Thời đại trung cổ đã qua đi, con người đã được giải phóng khỏi những quy tắc hà

    khắc vô lí. Lời của Rô-mê-ô đã trực tiếp thể hiện điều này, “Tôi vượt được tường này là

    nhờ đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu ; mấy bức tường đá ngăn sao được tình yêu ; mà cái

    gì tình yêu có thể làm là tình yêu dám làm…”. Cuộc đối thoại giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét

    trong đoạn trích đã khẳng định rằng tình yêu có thể vượt lên tất cả. Và chỉ tình yêu có

    quyền lên tiếng trong trái tim hai người đang yêu. Tuy đoạn trích không có những xung

    đột đầy kịch tính như các hồi kịch khác nhưng tính kịch vẫn được thể hiện rất rõ qua

    ngôn ngữ và hành động kịch, đó là hoàn cảnh đầy bất trắc, là cảm xúc yêu thương mãnh

    liệt, là những băn khoăn trước sự trái ngang của tình yêu.

    Với một giọng văn thấm đẫm chất thơ và cảm hứng lãng mạn, Sếch-xpia đã tạo nên

    một đêm trăng thề hẹn thật trữ tình. Tình yêu trong sáng thuần khiết của đôi trẻ đặt bên

    cạnh mối thù hận truyền kiếp làm cho mối thù ấy trở nên vô nghĩa và mang đầy tính chất

    phản nhân văn. Ngôn ngữ kịch của Sếch-xpia vốn rất giàu nhạc tính và hình ảnh với

    những lối ví von so sánh rất gợi cảm, nhất là những câu Rô-mê-ô miêu tả vẻ đẹp của nàng

    Giu-li-ét. Mặc dù đã dịch sang văn xuôi nhưng đó vẫn là những câu văn uyển chuyển, gợi

    cảm và thấm đẫm chất thơ. Ngôn ngữ đối thoại giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét tràn đầy tình

    yêu thương, nó thể hiện sự đồng điệu tâm hồn của hai người trẻ tuổi. Chỉ một lần gặp

    nhau với thời gian ngắn ngủi nhưng dường như họ đã hiểu hết những điều người kia

    muốn nói.

    Tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét tuy gặp nhiều trở ngại nhưng họ đều đã dũng cảm

    vượt qua, và đến cái chết cũng không chia lìa được họ. Cái chết của hai người đã thức

    tỉnh và hoá giải được mối thù của hai dòng họ. Tình yêu của họ đã làm được điều mà

    chính quyền lực của Vương chủ thành Vê-rô-na cũng không làm được. Mối tình Rô-mê-ô

    và Giu-li-ét đã trở thành một huyền thoại tình yêu thật đẹp, là tình yêu lí tưởng cho toàn

    nhân loại. Cho đến nay con người vẫn khao khát một tình yêu như thế.

  • Văn mẫu Cảm nghĩ về tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

    Văn mẫu Cảm nghĩ về tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

    Văn mẫu Cảm nghĩ về tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Thuyết minh về danh lam thắng cảnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nghĩ về tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

    Văn mẫu lớp 9

     Cảm nghĩ về tác phẩm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải

    BÀI LÀM

    Một người Hà Nội là truyện ngắn giàu tính triết luận, được sáng tác trong bối cảnh đổi

    mới văn học sau 1986. Triết luận vốn là một nét trội trong phong cách văn xuôi Nguyễn

    Khải thuộc giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy mươi (của thế kỉ XX) trở đi, gắn

    liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học.

    Trước đó, sáng tác của Nguyễn Khải đầy ắp cảm hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn

    đề thời sự, chính trị của đất nước và thường lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để

    bàn luận, đánh giá sự kiện, con người. Rõ ràng, sự chuyển đổi từ cảm hứng chính luận

    sang cảm hứng triết luận đánh dấu một bước phát triển đáng ghi nhận trong tư duy nghệ

    thuật của nhà văn. Hứng thú quan sát, thể hiện những vấn đề thế sự, đặc biệt là vấn đề

    khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người giữa một hoàn cảnh sống mà cái “tôi” chưa

    được nhìn nhận công bằng, thoả đáng, tất cả đều liên quan tới việc chuyển đổi cảm hứng

    nói trên. Các sáng tác lúc này vẫn không thiếu tính thời sự, nhưng giá trị của chúng đã

    vượt ra khỏi cái khung thời sự nhất thời để gây ám ảnh lâu dài. Việc nhà văn có ý thức tô

    đậm kinh nghiệm, thể nghiệm của cá nhân mình trong việc trình bày mọi vấn đề đã làm

    cho những trang viết của ông thấm đượm tinh thần đối thoại dân chủ, thoát li dần kiểu áp

    đặt chân lí một chiều trước đây.

    Với một sáng tác mang tính triết luận, việc xếp đặt các nhân vật được miêu tả trong đó

    vào các phạm trù tốt – xấu, chính diện – phản diện quen thuộc một thời đã trở nên bất

    cập. Sự đánh giá về nhân vật có thể rất đa chiều. Lời khen hay lời chê của tác giả (thể

    hiện qua nhân vật kể chuyện xưng “tôi”) lúc này cũng chỉ có giá trị tham khảo thuần tuý,

    không hề mang tính chất “chân lí”, không phải là kết luận tối hậu. Trong Một người Hà

    Nội “, “tôi” nhìn nhận bà Hiền là “một hạt bụi vàng”, đó là quyền của “tôi”. Người khác

    có thể có cách nhìn nhận khác, tất nhiên, không thể không tham khảo cách nhìn có tính

    chất gợi ý mà “tôi” đưa ra. Nếu không hiểu nguyên tắc đánh giá này, lại lấy cách xây

    dựng nhân vật trong truyện của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác trước làm hệ quy

    chiếu, độc giả rất dễ có những phán quyết vô lí về tác giả trên các vấn đề quan điểm, lập

    trường chính trị, hoặc ngược lại, ra sức tán dương nhân vật bà Hiền, gán cho bà những

    phẩm chất tốt đẹp (theo mong muốn hay tưởng tượng, suy diễn của chính độc giả) mà

    bản thân nhân vật “tôi” không nói tới trong câu chuyện của mình.

    Nếu căn cứ vào những gì đã được thể hiện trong truyện ngắn, độc giả có thể đặt lại tên

    tác phẩm Một người Hà Nội thành Nghĩ về một người Hà Nội. Dĩ nhiên, đây là đặt cho

    mình, nhằm mục đích lĩnh hội đúng tinh thần tác phẩm, cảm nhận đúng ý nghĩa của

    “thành phần” suy nghĩ trong kết cấu truyện ngắn này. Quả là chuyện kể không có gì thật

    đặc biệt, nhưng suy nghĩ, đánh giá của nhân vật “tôi” thì lại chứa đựng nhiều điều thú vị.

    Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Khải vốn là thế : tỉ trọng những lời phân tích, bình luận

    bao giờ cũng lớn, nhiều khi lấn át cả sự miêu tả, trần thuật khách quan về đối tượng.

    Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca ngợi một con

    người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm hứng chính của ông là

    khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong

    lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai. Không

    phải ngẫu nhiên mà khi ngắm hình ảnh bà Hiền “lau đánh cái bát bày thuỷ tiên”, ông đã

    có một ghi chú tưởng như là bâng quơ : “nếu là một thiếu nữ thì phải hơn”[1], rồi cảm

    thán : “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội”. Cũng

    hoàn toàn hợp lô gích việc nhà văn đã kết lại truyện ngắn như thế này : “Một người như

    cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất

    cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên

    cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng !”. Lô gích thì lô gích nhưng vẫn lạ. Ai đã từng

    quen với giọng văn tinh sắc, tỉnh táo, thậm chí là “lọc lõi” của Nguyễn Khải, hẳn phải

    ngỡ ngàng trước cái giọng “bốc” lên khá đột ngột mà nhà văn biểu lộ ở đây. Một chút

    giỡn đùa với chính văn mình hay niềm xúc động tận đáy tâm can cứ bật ra không nén

    được ? Trả lời quyết hẳn theo bề nào cũng khó, nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn

    là : Nguyễn Khải thật sự yêu quý Hà Nội, có những suy nghĩ thâm trầm về “đất kinh kì”

    và tha thiết được thấy một Hà Nội hiện đại, đẹp, sang, xứng với bề dày văn hoá truyền

    thống của nó.

    Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một

    linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con

    của nó. Bà Hiền không phải là một “tấm gương” kiểu mẫu hiểu theo nghĩa thông thường

    để các tổ chức xã hội nêu lên cho mọi người học tập, theo cách người ta vẫn thường làm

    nhằm mục đích tuyên truyền, vận động. Bà chỉ là người dân bình thường, dù xuất thân là

    con nhà “tư sản”, dù đã có một thời “vang bóng” (mà thực ra, “tư sản” thì cũng có thể là

    người dân bình thường được chứ !). Tác giả (và người kể chuyện) hiểu vậy nên chọn cách

    giới thiệu, chuyện trò về bà thật dung dị. Bà là một người bà con xa, người dì họ của

    “tôi”, thế thôi ! Mọi việc bà làm đều tự nhiên, như cuộc sống hàng ngày, chẳng gây chấn

    động gì tới xung quanh cả. Ấy vậy, ai dám bảo chất Hà Nội ở bà không đậm đặc ? Vả lại,

    muốn khám phá bề sâu văn hoá của một vùng đất, tuyệt đối không được bỏ qua những

    điều tưởng là nhỏ nhặt. Nhiều khi chính chúng lại cung cấp cứ liệu thuyết minh về vấn đề

    có sức nặng hơn hẳn những chuyện to tát. Dõi theo mạch kể của nhân vật “tôi”, người

    đọc thấy quả không có gì đáng gọi là “sự kiện” việc bà Hiền lấy chồng, quản lí gia đình,

    sinh con, dạy con, cho con đi bộ đội, tiếp khách, bài trí nơi ở, duy trì nếp sinh hoạt

    riêng,…

    Một câu bình phẩm của “tôi”, rằng, việc bà lấy ai không lấy, lại lấy một ông giáo cấp tiểu

    học hiền lành chăm chỉ làm chồng đã “khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”, phần nhiều chỉ

    là một cách nói ngoa ngôn khá đặc thù của văn chương. Nếu quả người ta có kinh ngạc,

    thì đó là sự kinh ngạc trước một chuyện không ngờ lại xảy ra bình thường (thậm chí là

    tầm thường) quá như thế. Tuy vậy, nếu bình tâm suy xét, ta lại thấy trong tất cả những cái

    bình thường kia lại chứa đựng một triết lí sống đáng vị nể, vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân

    một con người, vừa bộc lộ kiểu ứng xử đặc trưng của đất kinh kì. Bà Hiền biết rõ mình là

    ai (câu tuyên bố “thẳng thừng” của bà đối với nhân vật “tôi” đã chứng thực điều đó :

    “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ”), và cũng tương tự thế, bà hiểu sâu xa

    mình là người Hà Nội. Sau năm 1954, gia đình bà chẳng di cư vào Nam vì “không thể rời

    xa Hà Nội”. Đây không đơn giản chỉ là một biểu hiện của tình yêu đối với nơi đã sinh ra

    và nuôi dưỡng mình, mà còn là một biểu hiện của niềm tin vào thế tồn tại bền vững của

    mảnh đất đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, có văn hoá riêng đã thấm vào máu thịt

    cư dân nơi này.

    Bà Hiền có thể không nghĩ một cách rành rọt như vậy, nhưng tác giả và nhân vật “tôi” –

    một sự hoá thân của ông – thì ý thức về điều này quá sâu sắc. Nhân vật “tôi” cũng khó

    lòng quên lời bà Hiền răn lũ con của anh : “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng,

    nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Hoá ra vậy, làm người

    Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Bà Hiền hẳn là luôn đau đáu về vấn

    đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn để lộ tâm sự đó của mình khi hỏi

    người cháu (“tôi”) vừa mới từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm : “Anh ra Hà Nội lần này

    thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào ?” Ngỡ đó chỉ là một câu hỏi xã giao thông thường

    mà thực chất lại gửi gắm bao nỗi niềm, bao phấp phỏng và hi vọng về tương lai của Hà

    Nội.

    Những điều vừa nói trên chứng minh sự gắn bó làm một, rất máu thịt, giữa bà Hiền và Hà

    Nội. Nhưng cốt lõi ứng xử của người Hà Nội được thể hiện qua bà Hiền là cái gì ? Khi kể

    về bà, nhân vật “tôi” rất hay nói đến chữ tính : “tính thế là đúng”, “Mọi sự mọi việc đều

    được các bà tính trước cả. Và luôn tính đúng…”, “đã tính là làm”, “Cô tôi tính toán việc

    nhà việc nước đại khái là như thế”, “cô muốn mở rộng sự tính toán…”. Dĩ nhiên, đã “tính

    đúng” thì người đó là người khôn (“cô khôn hơn các bà bạn của cô”), người “có đầu óc

    rất thực tế”, biết thích ứng. Với người “khôn”, mọi điều khó mấy xem ra cũng có thể thu

    xếp được một cách khá nhẹ nhàng : là “tư sản” mà khi ở với chính quyền mới, gia đình bà

    Hiền không bị hề hấn gì, bà lại có khả năng nuôi cả gia đình đủ ăn mà không phải dính

    dáng gì tới hai chữ “bóc lột”… Bà Hiền có thể “cười rất tươi” – một kiểu cười quá đỗi tự

    tin – khi ông cháu thóc mách : “Tại sao cô không phải học tập cải tạo, cô giấu cũng tài

    nhỉ ?” Nói ra toàn những chuyện như thế về bà Hiền, phải chăng tác giả muốn kết luận

    rằng cái “bản sắc” của người Hà Nội là tính và khôn ? Sự thực hoàn toàn không phải thế.

    Đằng sau mỗi câu chuyện kể về bà Hiền, tác giả luôn luôn cho ta thấy sự tồn tại của một

    bản lĩnh sống vững vàng, một khả năng tự ý thức rất cao, một lòng tự trọng không thể

    nghi ngờ.

    Tự trọng ở đây gắn liền với việc không để mình rơi vào tình trạng nhục nhã, sống giữ

    được cốt cách và đặc biệt là không quên trách nhiệm với cộng đồng (một tinh thần trách

    nhiệm không cần tuyên bố ồn ào, bốc đồng, hời hợt). Những lời thổ lộ của bà Hiền xung

    quanh việc bằng lòng cho hai đứa con đi bộ đội thể hiện rõ điều này : “Tao đau đớn mà

    bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là

    biết tự trọng”, “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó

    tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”, “Tao cũng muốn

    được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm

    gì”… Không phải không có những ngộ nhận về tính cách người Hà Nội. Trong truyện,

    tác giả đã khéo tạo ra một tình huống để làm rõ vấn đề này. Trong khi nhân vật “tôi”,

    giữa một bữa tiệc, đã “nói hơi nhiều” những ý chê trách Hà Nội trong sự so sánh nó với

    những vùng miền khác, thì nhân vật Dũng, con bà Hiền, mới từ chiến trường miền Nam

    trở về, đã kể cho mọi người nghe về phản ứng tâm lí của một người mẹ Hà Nội có con hi

    sinh : “Bà níu chặt lấy một cánh tay của cháu, người bà run bần bật nhưng không khóc,

    và bà nói run rẩy : “Nín đi con, nín đi Dũng ! Cô đã biết cả. Cô biết từ mấy tháng nay

    rồi”. Đúng là một sự đối trọng. Câu chuyện của Dũng tự nó nói lên bao điều !

    Ta đã phân tích khả năng tính của bà Hiền, một người Hà Nội. Tính không phải bao giờ

    cũng gắn với thói thực dụng. Nhiều khi, nó là đòi hỏi bắt buộc của một cách tồn tại giữa

    thời cuộc có nhiều thay đổi, xáo trộn khó lường. Bà Hiền quá nhạy cảm về vấn đề này.

    Bà có chính kiến, chủ kiến riêng về nhiều chuyện “vĩ mô” của nhà nước, chế độ. Khi đứa

    cháu nói : “Nước được độc lập vui quá cô nhỉ ?”, bà đã trả lời : “Vui hơi nhiều, nói cũng

    hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ ?”. Theo bà “Chính phủ can thiệp vào nhiều việc của

    dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải

    sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người

    ở…”. Bà cũng nhận ra có cái gì đó không phù hợp trong cách nghĩ “không thích cá nhân

    làm giàu” : “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ

    phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không phải sống ăn bám”. Đặc biệt, bà có

    một quan điểm hết sức khác thường : “Xã hội lúc nào cũng phải có một giai tầng thượng

    lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị…”. Chưa hết, bà còn phát biểu về cái huyền vi

    của sự sống mà càng ngày ta càng phải thừa nhận : “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của

    tạo vật không thể lường trước được”.

    Như vậy, trong cái tính của bà Hiền có chứa đựng một “tầm nhìn xa” đáng để cho nhân

    vật “tôi” phải thốt lên khâm phục : “Bà vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá.

    Một người như cô phải chết đi thật tiếc…”. Chính tầm nhìn xa có ở bà Hiền, rộng ra là có

    ở nền văn hoá của đất kinh kì đã tạo nên cái mà trên kia ta đã gọi là thế tồn tại uyển

    chuyển và ngoan cường của Hà Nội, vượt lên trên mọi ba động của đời sống chính trị.

    Chi tiết bà Hiền kể cho nhân vật “tôi” nghe về sự hồi sinh sau cơn bão của cây si cổ thụ ở

    đền Ngọc Sơn mang ngụ ý triết lí sâu sắc. Các nhân vật trong truyện dường như chỉ

    “luận” về sự kiện này xoay quanh sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Hà Nội. Kì thực, ý

    nghĩa của nó trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm còn lớn hơn thế. Cũng cần lưu ý :

    nhiều quan điểm được nói ra từ miệng bà Hiền cũng là cái mà nhân vật “tôi” và tác giả tỏ

    ra tâm đắc. Lời trần thuật khách quan về đối tượng đã quyện chặt với lời phân tích mang

    theo cách đánh giá riêng của người viết. Đây quả là một nét đặc sắc của văn Nguyễn Khải

    – một nhà văn vẫn được nhiều người viết khác cùng thế hệ bái phục về “năng khiếu” có

    thể gài lồng được vào sáng tác của mình những tư tưởng riêng đầy táo bạo, không dễ phát

    ngôn, về đời sống.

    Nói về “dân” Hà Nội, người ở nhiều vùng miền khác vẫn thường thừa nhận thanh lịch là

    đặc điểm nổi bật. Vậy, ở một người khôn ngoan, giỏi tính toán như bà Hiền, nét thanh

    lịch ấy có tồn tại không và nếu có thì nó được biểu hiện như thế nào ? Thực ra, không hề

    có sự đối chọi nào giữa các phẩm chất ấy trong con người bà Hiền cả. Đừng lầm về kiểu

    xưng hô bỗ bã của bà đối với con cháu (vốn nó biểu hiện rõ tư cách của con người quyết

    đoán, ý thức mình là “nội tướng” trong gia đình), mà hãy nhìn vào thực chất của vấn đề,

    biểu hiện qua thái độ chu tất trong nết ăn, nết mặc, trong cử chỉ lau đánh cái bát đựng hoa

    thuỷ tiên, trong việc duy trì một cách “bướng bỉnh” cái nền nếp sinh hoạt xa lông một

    thời vẫn thường bị định kiến là “tư sản”. Không, trong ngày thường, một người như bà

    Hiền đã hoà nhập rất tốt vào cuộc sống chung, cũng “áo bông ngắn, quần thâm, đi dép

    hoặc đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc quanh cổ hay bịt đầu”.

    Nhưng bà, cũng như các bạn của mình, không vì vậy mà không được quyền sống cho

    mình. Họ, lúc cần, đã biết rũ bỏ “đồng phục” để hoá thân thành những con người khác,

    đáng để cho những kẻ yêu cái đẹp ngắm nhìn : “bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên

    sân khấu, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo

    ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển”. Tất cả những điều đó cũng là biểu hiện cụ thể của bản

    lĩnh sống – một vấn đề hết sức nghiêm túc cần được nhìn nhận thấu đáo trong hoàn cảnh

    sống của đất nước, của thời đại bây giờ.

    Nhìn chung, bà Hiền đúng là một người Hà Nội, dù bà không thuộc “típ” điển hình quen

    thuộc mà văn học cách mạng một thời ưa xây dựng trong cảm hứng ngợi ca. Dĩ nhiên, bà

    cũng đã dành được sự ngợi ca, quý trọng rất mực của nhân vật “tôi”, của tác giả, nhưng

    đây là sự ngợi ca, quý trọng xuất phát từ một tiêu chí đánh giá khác với trước. Cái lõi của

    tiêu chí đó chính là sự khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người trong đời sống – điều

    sẽ khiến cho con người trong khi biết thích ứng với thời đại thì vẫn đóng góp được nhiều

    cho việc cải biến, cải tạo môi trường tồn tại của mình theo hướng tích cực.

    Viết về một mẫu người như bà Hiền, văn Nguyễn Khải trở nên khoái hoạt hơn bao giờ

    hết. Hoàn toàn có thể nói bà Hiền chính là nhân vật lí tưởng (không nhất thiết phải là

    nhân vật anh hùng, nhân vật phi thường) của sáng tác Nguyễn Khải giai đoạn từ khoảng

    1978 trở đi (theo sự tự phân chia của chính nhà văn). Qua bà cũng như qua các nhân vật

    khác thuộc loại này, nhà văn đã thực sự có đóng góp cho việc dân chủ hoá hoạt động

    sáng tác văn học nước nhà. Các thước đo về con người, cuộc sống trở nên đa dạng hơn,

    và chính điều đó đã kích thích tinh thần đối thoại ở độc giả. Thì đó, nhân vật “tôi” trong

    tác phẩm đâu có được xây dựng như một con người nắm giữ chân lí, có quyền đưa ra lời

    phán quyết sau cùng về mọi sự. Anh ta đã từng hiện lên như một kẻ khôn ranh, ứng xử

    thiếu đàng hoàng với người cô “tư sản” (không ghi tên bà Hiền trong lí lịch cán bộ), một

    kẻ tự thị vô lối khi đưa ra những lời nhận xét hấp tấp về Hà Nội trong một bữa tiệc. Anh

    ta cũng có thể sai, cũng phải chịu lời phản biện từ chính thực tế cuộc sống. Biết nghĩ về

    sự “nín lặng” (không đồng nghĩa với sự chấp thuận) của người khác thì cũng đồng nghĩa

    với việc tự mình biết sẵn sàng nín lặng khi những “ý thức” khác cất lời. Sự hấp dẫn của

    văn của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác thứ hai chính được đưa tới từ đặc điểm giàu

    tính đối thoại dân chủ này.

    Dù không có ý áp đặt cho ai về cách đánh giá một con người, cụ thể ở đây là bà Hiền,

    Nguyễn Khải, thông qua nhân vật “tôi”, vẫn có khả năng tạo được sự tán đồng của người

    đọc khi ông đưa ra nhận xét : bà Hiền chính là một người Hà Nội, tuy chỉ là hạt bụi

    nhưng đó lại là hạt bụi vàng của đất kinh kì.

  • Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Miêu tả về cảnh quang ngày khai trường


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Cách làm bài văn lập luận giải thích

    I.                 HƯỚNG DẪN CHUNG

    1.     Các bước làm bài văn lập luận giải thích

    1. Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý – Đề yêu cầu giải thích vấn đề gì?

    Có khi vấn đề cần giải thích được nêu ra một cách trực tiếp (ví dụ: giải thích về “lòng

    nhân đạo”, giải thích về “lòng khiêm tốn”,…) nhưng cũng có khi đề bài gián tiếp đưa ra

    vấn đề bằng cách mượn hình ảnh, câu văn, câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ, …, ví dụ:

    Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy giải thích nội

    dung câu tục ngữ đó. Trước những đề bài dạng này, khi xác định vấn đề (luận điểm)

    chính cần giải thích phải lưu ý:

    Cắt nghĩa được hình ảnh, câu văn, câu tục ngữ, thành ngữ, … nêu ra ở đề bài. Nghĩa

    là phải tiến hành giải thích từ ngữ, nghĩa gốc, nghĩa chuyển,… của hình ảnh, câu văn… để

    nắm được nội dung của chúng từ đó mới xác định được chính xác vấn đề cần giải thích.

    • Liên hệ với thực tế đời sống, với những ý kiến trong sách vở,… khác để xác định những biểu hiện cụ thể của vấn đề. Ví dụ, với yêu cầu giải thích câu tục ngữ “Đi một

    ngày đàng, học một sàng khôn”, một mặt cần tìm những ví dụ cụ thể trong thực tế (đi

    tham quan để hiểu biết thêm những điều mới lạ, những khám phá của con người trước

    những miền đất mới, em đã từng thất bại khi làm một việc gì đó nhưng vì thế mà em có

    được kinh nghiệm để bây giờ có thể làm tốt được việc ấy,…), mặt khác cần liên hệ với

    những câu ca dao, tục ngữ tương tự (Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng

    Nai đã từng; Đi cho biết đó biết đây, Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn;…) thậm chí liên

    hệ đến những dẫn chứng có ý nghĩa tương phản: Ếch ngồi đáy giếng,…

    1. Bước 2: Lập dàn bài

    Lập dàn bài theo bố cục ba phần:

    – Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần giải thích hoặc giới thiệu câu tục ngữ, thành ngữ, ca

    dao, câu văn,… và nêu ra nội dung của nó. Ví dụ: Giới thiệu câu tục ngữ “Đi một ngày

    đàng, học một sàng khôn” và ý nghĩa về sự đúc kết kinh nghiệm và thể hiện mơ ước đi

    nhiều nơi để mở mang hiểu biết.

    – Thân bài: Giải thích vấn đề (luận điểm) đã giới thiệu ở phần Mở bài

    + Giải thích các từ ngữ, khái niệm, ví dụ: Đi một ngày đàng nghĩa là gì? Một sàng

    khôn nghĩa là gì? “nhân đạo” là gì? “khiêm tốn” là thế nào? “phán đoán” là gì? “thẩm mĩ”

    là gì?

    • Giải thích các ý nghĩa mở rộng của vấn đề, liên hệ với thực tế, với các dẫn chứng

    khác

    • Giải thích ý nghĩa khái quát của vấn đề đối với cuộc sống của con người, lí giải sâu vấn đề

    Chú ý cân nhắc cách sắp xếp các ý giải thích để làm sáng rõ, nổi bật vấn đề

    • Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của vấn đề vừa làm sáng tỏ c) Bước 3: Viết bài
    • Mở bài: Có thể viết theo các cách:
    • Giới thiệu thẳng vào vấn đề cần giải thích, ví dụ: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm học tập của nhân dân ta, qua đó thể hiện ước mơ vươn tới những chân trời mới để mở mang hiểu biết.
    • Đi từ vấn đề có ý nghĩa đối lập, dẫn tới vấn đề cần giải thích, ví dụ: Em cứ nhớ mãi hình ảnh một chú ếch không huênh hoang, kiêu ngạo, không chịu mở rộng tầm mắt để

    dẫn tới hậu quả bị chết bẹp dưới chân trâu. Thế mới thấy thấm thía lời răn dạy của cha

    ông ta: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Còn gì thú vị hơn khi được đi đến những

    chân trời mới, ở những nơi cho ta bao điều mới lạ, kì thú.

    + Đi từ cái chung đến cái riêng, dẫn dắt vào vấn đề, ví dụ: Cha ông ta để lại cho con

    cháu muôn đời cả một kho tàng ca dao, tục ngữ. Đó cũng là cả một kho tàng kinh nghiệm

    quý báu. Ta có thể tìm thấy ở đó những lời khuyên răn bổ ích về việc phải mở mang tầm

    hiểu biết, đi đây đi đó để trau dồi vốn sống, vốn tri thức.

    • Thân bài: Mỗi ý giải thích nên viết gọn thành một đoạn. Chú ý đến việc lựa chọn cách dẫn dắt từ Mở bài đến Thân bài, từ đoạn này chuyển sang đoạn khác.
    • Kết bài: Cách Kết bài phải hô ứng với cách Mở bài; thâu tóm được những ý chính

    đã triển khai trong phần Thân bài.

    II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

    Với đề bài: Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy

    viết thêm những cách kết bài khác.

    Gợi ý: Tham khảo hai đoạn kết bài sau:

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn là một chân lí sống sâu sắc và tiến bộ không chỉ

    trong thời trước mà cả trong thời đại ngày nay nữa.

    Khi thế giới đang ngày càng có xu hướng mở rộng giao lưu thì với mỗi cá nhân việc đi để

    mà học lấy những cái khôn lại càng trở nên cần thiết, nhất là đối với những người trẻ

    tuổi. Hơn bao giờ hết, ngày nay, chúng ta cành cần phải “đi cho biết đó biết đây” để mà

    giao lưu, mà học hỏi, để học tập và làm việc tốt hơn.

    – Nói một cách công bằng thì bài học đã được nhân dân ta đức kết trong câu tục ngữ “Đi

    một ngày đàng, học một sàng khôn” là một chân lí không bao giờ cũ. Ngày xưa người ta

    mong ước được đi đây, đi đó để vượt ra khỏi cái không gian chật trội của làng của xã.

    Ngày nay, trong một xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, con người lại càng nhất thiết

    phải học hỏi, giao lưu.

    Đi nhiều “ngày đàng” để học lấy nhiều “sàng khôn” hơn nữa nếu không muốn đất nước

    mình tụt hậu, đó là trách nhiệm của mọi người và của bản thân mỗi chúng ta.

  • Văn mẫu Miêu tả về cảnh quang ngày khai trường

    Văn mẫu Miêu tả về cảnh quang ngày khai trường

    Văn mẫu Miêu tả về cảnh quang ngày khai trường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nguyễn Công Trứ – người dệt mẫu hình “tay ngất ngưởng” từ những trang đời ông Hy Văn


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Miêu tả về cảnh quang ngày khai trường

    Bài văn mẫu: Miêu tả về cảnh quang ngày khai trường.

    Hãy miêu tả quang cảnh buổi lễ khai giảng vừa diễn ra ở trường em.

    1/Yêu cầu chung:

    • Chữ viết rõ ràng, trình bày sạch đẹp,không mắc các lỗi về chính tả,từ ngữ,cú pháp.
    • Bố cục: Đủ 3 phần cân đối; từ ngữ rõ ràng , chính xác; câu văn trôi chảy, thể hiện tình cảm, thái độ người viết.
    • Nắm vững phương pháp làm văn miêu tả cảnh , biết lựa chọn hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc và miêu tả theo một trình tự hợp lí.

    2/Yêu cầu cụ thể a. Mở bài : (0,75 đ)

    Giới thiệu thời gian, địa điểm, quang cảnh chung…của buổi lễ khai giảng. b. Thân bài : (3,5 điểm )

    Tả chi tiết theo trình tự thích hợp: Trình tự thời gian, trình tự không gian. * Trước giờ khai giảng:

    • Con đường gần trường học, học sinh nô nức kéo về.
    • Cổng trường: băng rôn, khẩu hiệu, cờ hoa,…
    • Học sinh: gương mặt tươi vui, áo quần chỉnh tề, khăn quàng phấp phới.
    • Sân trường: ồn ào, náo nhiệt.
    • Khán đài: rực rỡ cờ hoa, biểu ngữ, ảnh Bác,…

    * Lễ khai giảng:

    • Ổn định hàng ngũ.
    • Mở đầu buổi lễ: Chào cờ, Quốc ca, Đội ca hùng tráng.
    • Điểm qua chương trình buổi lễ : diễn văn khai giảng của thầy ( cô ) hiệu trưởng, thả bong bóng chào mừng học sinh lớp Sáu, thư của Chủ tịch

    Bài làm :

    Buổi lễ khai giảng của trường THCS Lê Độ được diễn ra trong không khí ấm cúng và trang trọng tại tiền sảnh mặc dầu ngoài kia trời Đà Nẵng vẫn tầm tả trong mưa.

    Đại biểu các ban ngành, chính quyền và đoàn thể về tham dự buổi lễ.Các tiết mục văn nghệ chào mừng mở đầu chương trình lễ.

    Mùa thu ơi mùa thu!Mùa thơm trang sách mới! Tiếng hát ngày khai trường!Trong sáng như trời thu…Tiếng hát trong trẻo đáng yêu của Thúy An và Thu Sương

    lớp 9/1 thể hiện qua ca khúc: “Mùa thu ngày khai trường”

    Bài học hôm nay có cánh cò bay lả

    Có điệu lý quê em mang hơi ấm tình người

    Các em Phương trinh(8/4); Minh Trân(8/2); Phương Thảo(8/2) dịu dàng ,

    đằm thắm qua ca khúc “Điệu lí quê em” của Thái Nghĩa.

    Đà Nẵng hôm nay đang thay da,đổi thịt

    Có chiến công em – Cô du kích năm xưa.

    • Cô du kích Đà Nẵng” nhạc và lời của Thanh Anh qua giọng hát của cô giáo:Trần Thị Lộc

    Chương trình lễ:

    Trống chào mừng rộn rã vang lên làm át đi tiếng mưa rơi!

    Các em khối 6 được các thầy cô, các anh chị khối lớp trên đón vào trường với bao yêu thương bằng những bó hoa tươi thắm.

    Đại diện các lớp lên nhận hoa

    Thầy hiệu trưởng Lê Quốc Hùng đọc diễn văn khai mạc với lời nhắn nhủ chân thành đến các thầy cô giáo và các em học sinh.

    Và các em học sinh chăm chú lắng nghe!

    Tiếng trống khai trường vang lên giòn giã: Năm học mới bắt đầu!

    Tạm biệt mùa hè! Các em lại tung tăng đến trường chào mừng năm học mới! Các em sẽ gặp lại thầy cô, bè bạn, mái trường thân thương…và lòng các em lại rộn rã bao niềm vui tươi thắm..Tốp ca “Chào mừng năm học mới” được các em lớp 6/1;6/2 và 7/1 trình bày.

    Đồng chí Lê Quốc Tự đại diện Quận ủy Sơn Trà tham dự lễ khai trường và đọc thư của Bộ Trưởng gửi cho ngành giáo dục.

    Anh Lê Độ- người anh hùng mà trường mang tên với bao tự hào về chiến công anh dũng, tinh thần kiên cường của người con Đà thành.”Hành khúc Lê Độ”của thầy giáo VÕ Ngọc Bích do tập thể thầy cô giáo trong ban văn nghệ trình bày.

    Đại diện hơn 500 em học sinh khối 6 mới vào trường, em Mỹ Thảo lớp 6/1 phát biểu cảm nghĩ.

    Phát biểu ý kiến của Chủ tịch Phường An Hải Bắc : Nguyễn Thành Nam

    Đã bao mùa thu khai trường! Đã bao mùa hè trôi qua!…Bóng dáng ngôi

    trường cứ mãi hằng ghi trong tâm trí của bao thế hệ học trò…Tình yêu mái trường ấy được Thanh THơm và Đặng Phương lớp 9/4 thể hiện qua ca khúc “Bóng dáng ngôi trường” khép lại chương trình lễ của buổi khai trường năm học 2009-2010.

    Do điều kiện thời tiết phần hội đã không thể tiến hành như kế hoạch. Các hoạt động như : Thi đó vui về ATGT, trò chơi dân gian, thi vẽ ném bóng…sẽ được Ban hoạt động ngời giờ tổ chức vào các buổi lễ chào cờ.

    Buổi lễ khai trường kết thúc khi ngoài trời mưa vẫn rơi hòa quyện cùng tiếng nhạc hào hùng của “Hành khúc học sinh”.

    Ban hoạt động ngoài giờ chân thành cám ơn quí vị đại biểu đã không ngại thời tiết đến tham dự buổi lễ khai giảng năm học 2009-2010 của trường THCS Lê Độ cùng tất cả các đồng nghiệp, các em học sinh,các bậc phụ huynh…đã tạo cho buổi lễ thành công tốt đẹp.

    kể một lần lầm lỗi của em ở trường cho ba mẹ nghe

    Đọc sách, tôi rất thích một câu nói của nhà văn người Úc: “Không có gì là hoàn hảo, có chăng chỉ là sự đề cao mà thôi”. Đúng, thử hỏi trong chúng ta có ai dám tự nói mình chưa mắc lỗi dù chỉ một lần không?

    Tôi cũng vậy, có lẽ tôi không thể quên lỗi lầm mình gây ra hôm đó, khiến người tôi yêu quý nhất – mẹ tôi, buồn lòng…

    Hôm ấy, đất dát vàng ánh nắng, trời mát dịu, gió khẽ hôn lên má những người đi đường. Nhưng nó sẽ là ngày tuyệt đẹp, nếu tôi không có bài kiểm tra khoa học tệ hại đến như vậy, hậu quả của việc không chịu ôn bài. Về nhà, tôi bước nhẹ lên cầu thang mà chân nặng trĩu lại. Tôi buồn và lo vô cùng, nhất là khi gặp mẹ, người tôi nói rất chắc chắn vào tối qua: “Con học bài kỹ lắm rồi”.

    Mẹ đâu biết khi mẹ lên nhà ông bà, ba đi công tác, tôi chỉ ngồi vào bàn máy tính chứ nào có ngồi vào bàn học, bởi tôi đinh ninh rằng cô sẽ không kiểm tra, vì tôi được mười điểm bài trước, nào ngờ cô cho làm bài kiểm tra mười lăm phút. Chả lẽ bây giờ lại nói với mẹ: “Con chưa học bài hôm qua” sao? Không, nhất định không.

    Đứng trước cửa, tôi bỗng nảy ra một ý “Mình thử nói dối mẹ xem sao”. Nghĩ như vậy, tôi mở cửa bước vào nhà. Mẹ tôi từ trong bếp chạy ra. Nhìn mẹ, tôi chào lí nhí “Con chào mẹ”. Như đoán biết được phần nào, mẹ tôi hỏi: “Có việc gì thế con”? Tôi đưa mẹ bài kiểm tra, nói ra vẻ ấm ức: Con bị đau tay, không tập trung làm bài được nên viết không kịp”… Mẹ tôi nhìn, tôi cố tránh hướng khác. Bỗng mẹ thở dài! “Con thay quần áo rồi tắm rửa đi!”.

    Tôi “dạ” khẽ rồi đi nhanh vào phòng tắm và nghĩ thầm: “Ổn rồi, mọi việc thế là xong”. Tôi tưởng chuyện như thế là kết thúc, nhưng tôi đã lầm. Sau ngày hôm đó, mẹ tôi cứ như người mất hồn, có lúc mẹ rửa bát chưa sạch, lại còn quên cắm nồi cơm điện. Thậm chí mẹ còn quên tắt đèn điện, điều mà lúc nào mẹ cũng nhắc tôi. Mẹ tôi ít cười và nói chuyện hơn. Đêm đêm, mẹ cứ trở mình không ngủ được.

    Bỗng dưng, tôi cảm thấy như mẹ đã biết tôi nói dối. Tôi hối hận khi nói dối mẹ. Nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để xin lỗi mẹ. Hay nói cách khác, tôi vẫn chưa thừa nhận lỗi lầm của mình. Sáng một hôm, tôi dậy rất sớm, sớm đến nỗi ở ngoài cửa sổ sương đêm vẫn đang chảy “róc rách” trên kẽ lá.

    Nhìn mẹ, mẹ vẫn đang ngủ say. Nhưng tôi đoán là mẹ mới chỉ ngủ được mà thôi. Tôi nghĩ: Quyển “Truyện về con người” chưa đọc, mình đọc thử xem”. Nghĩ vậy, tôi lấy cuốn sách đó và giở trang đầu ra đọc. Phải chăng ông trời đã giúp tôi lấy cuốn sách đó để đọc câu chuyện “lỗi lầm” chăng ! “…

    Khi Thượng đế tạo ra con người, Ngài đã gắn cho họ hai cái túi vô hình, một túi chứa lỗi lầm của mọi người đeo trước ngực, còn cái túi kia đeo ở sau lưng chứa lỗi lầm của mình, nên con người thường không nhìn thấy lỗi của mình”. Tôi suy ngẫm: “Mình không thấy lỗi lầm của mình sao?”. Tôi nghĩ rất lâu, bất chợt mẹ tôi mở mắt, đi xuống giường. Nhìn mẹ, tự nhiên tôi đi đến một quyết định: Đợi mẹ vào phòng tắm, rồi lấy một mảnh giấy nắn nót đề vài chữ.

    Mẹ tôi bước ra, tôi để mảnh giấy trên bàn rồi chạy ù vào phòng tắm. Tôi đánh răng rửa mặt xong, đi ra và… chuẩn bị ăn bữa sáng ngon lành do mẹ làm. Và thật lạ, mảnh giấy ghi chữ: “Con xin lỗi mẹ” đã biến đâu mất, thay vào đó là một chiếc khăn thơm tình mẹ và cốc nước cam. Tôi cười, nụ cười mãn nguyện vì mẹ đã chấp nhận lời xin lỗi của tôi.

    Đến bây giờ đã ba năm trôi qua, mảnh giấy đó vẫn nằm yên trong tủ đồ của mẹ. Tôi yêu mẹ vô cùng, và tự nhủ sẽ không bao giờ để mẹ buồn nữa. Tôi

    cũng rút ra được bài học quý báu: Khi bạn biết xin lỗi bố mẹ, bạn sẽ có nhiều hơn một thứ bạn vẫn đang có, đó là tình thương. “Từ thuở sinh ra tình mẫu tử

    Trao con ấm áp tựa nắng chiều”.Nếu như cần thì chép cả câu này vào cũng được.

  • Nguyễn Công Trứ – người dệt mẫu hình “tay ngất ngưởng” từ những trang đời ông Hy Văn

    Nguyễn Công Trứ – người dệt mẫu hình “tay ngất ngưởng” từ những trang đời ông Hy Văn

    Nguyễn Công Trứ – người dệt mẫu hình “tay ngất ngưởng” từ những trang đời ông Hy Văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận bài thơ ‘Đàn ghita của Lor-ca’ của Thanh Thảo


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nguyễn Công Trứ – người dệt mẫu hình “tay ngất ngưởng” từ những trang đời ông Hy Văn

    Nguyễn Công Trứ – người dệt mẫu hình “tay ngất ngưởng” từ những trang đời ông Hy Văn

    BÀI LÀM

    1.     Nguyễn Công Trứ (1778- 1858) tên tục là Củng,  tự Tồn Chất,  hiệu

    Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, người làng Uy Viễn (nay là xóm Lam Thủy, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh). Nguyễn Công Trứ là nhân vật “công thành”, “thân thoái” khá muộn trong lịch sử danh nhân Việt Nam. Ngoài bốn mươi tuổi mới đỗ đạt và làm quan, và lần thứ hai ở tuổi “thất thập” ông xin cáo quan về hưu mới được nhà vua chấp nhận. Có thể hình dung cuộc đời của ông Hy Văn là là đầy ắp những trang đời về sự kiện: giữ chức hành tẩu ở Quốc sử quán, giữ các chức tri huyện Đường Hào ở Hải Dương, Tư nghiệp quốc tử giám, Tham tán quân vụ, Thị lang Bộ hình, Hữu tham tri bộ hình, Dinh điền sứ, Bố chánh sứ Hải Dương, Tham tri Bộ binh, Tổng Đốc Hải An, Tuần phủ tỉnh An Giang, làm lính thú ở biên thùy, làm chủ sự Bộ hình, quyền Án sát Quảng Ngãi, làm ở Phủ thừa phủ Thừa Thiên v.v.v…và đến năm 1847 ông được thăng làm Phủ Doãn. Năm 1848, ông cáo quan về hưu.Từ thủa “bạch diện thư sinh” cho đến “thượng quan”, “trí sĩ” gắn liền hàng loạt chuỗi sự kiện mang nhiều biến cố trong cuộc đời ông Hy Văn mà chính Nguyễn Công Trứ đã dệt nên mẫu hình tay ngất ngưởng.

    Trong sự nghiệp thơ văn của mình, Nguyễn Công Trứ dành cho mảng thơ “Tự thuật ” một vị trí quan trọng: thuật về chuyện đi thi, chuyện làm quan, chuyện thăng, giáng chức, chuyện cầm-kì-thi-tửu, chuyện “trong phận sự ” và chuyện “ngoài vòng cương tỏa” v.v.v…Ở cương vị và hoàn cảnh nào, vẫn lừng lững một Hy Văn “tài bộ” và một “tay ngất ngưởng” Nguyễn Công Trứ.

    2.     Trong Tiếng Việt, ngất ngưởng là từ dùng để chỉ, hiểu theo các nghĩa

    sau :

    Thứ nhất, ngất ngưởng để chỉ một tư thế tồn tại ở vị trí chênh vênh trên cao, lắc lư, dễ ngã, dễ đổ.

    Thứ hai, nghĩa của từ ngất ngưởng còn để biểu thị một cách sống, lối sống, thái độ sống, thậm chí khinh bạc, thách thức với các chuẩn mực thông thường.

    Từ ngất ngưởng nếu hiểu, dùng ở nghĩa thứ nhất thì nét nghĩa từ vựng lại nhằm khắc họa một tư thế, hoạt động còn hiểu theo nghĩa thứ hai lại là sự biểu thị một tích cách, quan niệm sống (tuy nhiên giữa tư thế, hoạt động và tính cách một con người nhiều khi lại đồ chiếu lên nhau, khó lòng tách bạch, cái này là sự biểu hiện cái kia và ngược lại ). Ở Hy Văn, từ ngất ngưởng với đích dùng nghĩa thứ hai. Ngất ngưởng trong quan niệm của con người là những điều khác với lẽ đời, khác với chuẩn mực sống của thời đại.Ông Hy Văn là người ngất ngưởng – khác đời, nhưng với Nguyễn Công Trứ, những trang đời của Hy Văn còn khẳng định ông là một tay ngất ngưởng- hơn đời. Cái khác đời của ông được minh chứng bằng những trang đời ngất ngưởng: khi “ vinh hoa, phú quý” lúc thì “trảm giam hậu”, lúc “thăng”, lúc “giáng” cũng có khi cái “khác đời” đang chênh vênh, chực ngã thì cái “hơn đời” lại nâng đỡ Hy Văn. Ông Hy Văn hành đạo cũng giống như nghệ sĩ xiếc trên sợi dây thăng bằng, có lúc lắc lư, chao đảo tưởng chừng như chực đổ trong rạp xiếc quan trường nhưng bằng tài năng của người nghệ sĩ và lớn hơn là bản lĩnh hơn đời, Nguyễn Công Trứ luôn trụ vững và để lại nhiều ấn tượng sâu đậm cho đời trong những khắc thời gian nghiêng ngả. Chỗ đứng ấy không những không làm ông “lắc lư, dễ đổ, dễ ngã” mà trái lại, nó trở thành điểm tựa, điểm nhấn cho mẫu hình ông Hy Văn càng thêm vững chãi và còn cao hơn chuẩn mực thông thường. Với Hy Văn, “thăng” có cái vinh của “thăng”, “giáng” có cái quang của “giáng”, “hành đạo” có cái nghĩa của con người xã hội , “hành lạc” có cái lí của con người cá nhân. Vì vậy, với ông cái gì cũng là “phận sự” : “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” (trong trời đất, không có cái gì là không liên quan đến ta) và hành đạo hay hành lạc đều mang cốt cách của con người ngất ngưởng.

    3.     Một trong những lời tuyên ngôn về quan niệm và lí tưởng sống – bản

    tổng kết về cuộc đời của ông chính là Bài ca ngất ngưởng. Bài thơ được sáng tác khi ông cáo quan về quê. Cáo quan về hưu là lúc ông thoát ra “vòng cương tỏa” và dịp để ông bước vào “thế giới tự do”, khép lại chặng đường của con người phận vị để mở ra hành trình cho con người cá nhân, giã từ vị trí một “Thượng quan” để tận hưởng thời gian của một “Trí sĩ ”. Bao trùm lên bài thơ là giọng điệu khẳng định, thách thức của nhân vật trữ tình trong tâm thế ngất ngưởng: ngất ngưởng trong tư thế của một thượng quan, ngất ngưởng khi làm một trí sĩ cưỡi bò vàng, ngất ngưởng lúc đến thăm cửa phật và ngất ngưởng khi làm xong “đạo sơ – chung”. Tay ngất ngưởng ấy càng trở nên sinh động và thành thực hơn khi được cộng hưởng bởi hình thức thể loại hát nói-một điệu thức của ca trù “thể thơ của con người cá nhân và tự do” [1], “một thể thơ thông dụng trong ca trù thể hiện một con người tài tử thoát khỏi vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tụy lục, danh lợi, nắm lấy phút vui hiện tại” [2]. Ở bài thơ này, yếu tố nhạc và thơ xoắn xuýt vào nhau, chất thơ và chất văn xuôi có dịp tự tình trong nhịp phách réo rắt, cắc, tùng mà người cầm chầu là Tướng công Uy viễn. Như được dịp cởi bỏ cái chật chội của khuôn phép nhà Nho hành đạo, lồ lộ hiện ra một nhà Nho tài tử dập dìu trong tiếng nhạc, cung đàn:

    “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

    Không Phật, không Tiên không vướng tục.”

    Qủa thật, “trong nghệ thuật chơi này, không có sự phân biệt quá rõ giữa người hát và người nghe, tất cả cảm thấy đều là nghệ sĩ. Tất cả cảm thấy mình đang sống trong một không gian khác, tạm thời siêu thoát khỏi không gian xã hội chật hẹp câu thúc, gò bó đầy lễ nghi phiền toái, giả tạo.”[3]. Lời tuyên ngôn, bản tổng kết về cuộc đời của Nguyễn Công Trứ là hành trình ngất ngưởng từ những trang đời của Hy Văn.Với Nguyễn Công Trứ, cái gọi là chuẩn mực của cuộc sống đương thời không trùng khít với quan niệm sống và cao hơn nữa là lí tưởng của ông, nên suốt một đời Hy Văn đành làm

    một con người “lệch chuẩn”. Nói cách khác, ở ông là sự tồn tại kiểu con người “khổng lồ” về tư tưởng mà chiếc áo chuẩn mực cũn cỡn của xã hội bấy giờ không che nổi người lực sĩ tính cách Nguyễn Công Trứ. Ngất ngưởng – khác đời nhưng không phải là cách sống của kiểu người lập dị, ngổ ngáo, ngạo ngược mà ngất ngưởng ở Hy Văn là ngất ngưởng của một con người có tài và nhân cách sống cao đẹp. Vẻ đẹp của một nhà Nho dám sống “vì đời” và “vì mình”, luôn “ tận hiến” và biết “ tận hưởng”, một lí tưởng sống đứng cao hơn cách sống của thói đời. Như một sở nguyện, Nguyễn Công Trứ đến với thơ văn là đến với cuộc đời thứ hai của mình để thỏa mãn “Chí nam nhi ” và hát lên “Bài ca ngất ngưởng” về con người, “khác biệt với dòng tư tưởng Phải có danh gì với núi sông, Nguyễn Công Trứ còn bộc lộ cả những tiếng nói trữ tình, đa tình và đa tài. Nguyễn Công Trứ quả đã tạo lập và hoàn thiện mẫu hình ông ngất ngưởng”. [4]. Vì thế, qua những trang đời của mình, ông càng khẳng định và thủy chung với quan niệm, lí tưởng sống mà bản thân hướng tới. Mặt khác, Hy Văn còn ngang nhiên thách thức với đời :

    “Chẳng Trái, Nhạc, cũng vào phường Hàn, Phú Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông !”

    Hy Văn ngất ngưởng với đời không chỉ vì ông là người khác đời và hơn đời ở chức danh, phận vị cao, thấp, nếm trải cảnh thăng, giáng thất thường và cách vượt lên thói đời để :

    “ Được mất dương dương người thái thượng,

    Khen chê phơi phới ngọn đông phong.”

    Mà với Hy Văn, ngất ngưởng còn là sự thủy chung trong lối hành xử của kẻ sĩ “hoàn danh”, “vẹn đạo”- “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”. Thói đời khác ông và ông đứng trên thói đời – sự tỏa sáng trong phương châm xử thế của một nhà Nho nhân cách. Cho nên, ông là người dám sống tận cực và chấp nhận cách sống hết mình “vì đời” và “vì mình”.

    Cội rễ ngất ngưởng ở Hy Văn là sự thức tỉnh con người cá nhân trong mọi phận vị “dường như ông đã tạo được cho mình một sự thoải mái tận độ trong mọi trạng thái tâm lí, tinh thần và vươn đến cái tự do có thể. Con người cá nhân và nhu cầu trần thế có thể có trong văn học Việt Nam trung đại đến Nguyễn Công Trứ là một bước phát triển đột xuất. Thơ văn của ông là sự khẳng định con người cá nhân trên mọi phương diện của lí tưởng kẻ sĩ và lí tưởng nhân sinh” [5]. Trong quan niệm của Hy Văn thì không có gì thuộc về con người mà lại xa lạ đối với con người. Vì vậy, cuộc đời của Hy Văn là hành trình của con người ngất ngưởng đi tìm những giá trị về lí tưởng của kẻ sĩ và lí tưởng nhân sinh. Trên con đường đi tìm lí tưởng ấy, “con người hành đạo” và “con người hành lạc” được thức tỉnh triệt để về ý thức cá nhân. Chính vì thế, ở chốn quan trường hay khi là một hưu quan thì với Hy Văn vẫn là một con người nhất quán – thống nhất trong các thế cực.

    1. Nguyễn Công Trứ là hiện tượng “Tiền-hậu bất kiến”, một nhà văn độc đáo trong văn học dân tộc Việt Nam, một danh nhân đặc sử, một sự

    tích tụ giá trị văn hóa nhân loại và kết tinh của một trào lưu nhân đạo mới mẻ trong văn học trung đại. Điều đó cũng không ngoại trừ “quá trình diễn tiến tư tưởng của Nguyễn Công Trứ từ quan niệm chí nam nhi đến triết lí hành lạc là quá trình sụp đổ hoàn toàn của lí tưởng xã hội ở nhà thơ này.”[6]. Nếu thế, Hy Văn là người xác lập ra một lí tưởng mới – lí tưởng nhân sinh ? Và như vậy, ngất ngưởng là tuyên ngôn sống, thái độ sống và lí tưởng sống của con người, một định ngữ cho nhân sinh mà cả cuộc đời Nguyễn Công đã “phổ” vào cây đàn độc điệu để hát lên “Bài ca ngất ngưởng” vì con người. Và mẫu hình “tay ngất ngưởng” được dệt từ trang đời của Hy Văn, và nó chính là hình mẫu cho Nguyễn Công Trứ và con người trần thế hướng đến. Một hình mẫu con người xã hội và con người cá nhân, một mẫu hình mà chủ nghĩa nhân văn từng vươn tới. Về điểm này, Nguyễn Công Trứ vượt xa thời đại ông và gần gũi hơn với thời đại chúng ta.

    Chú thích:

    • Trần Đình Hượu, Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, H, 1995.
    • Trần Đình Sử, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
    • Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn

    hóa, Nhà xuất bản Giáo Dục, 2003.

    • Nguyễn Hữu Sơn, Văn học trung đại Việt Nam – Quan niệm  con

    người và tiến trình phát triển, Nhà xuất bản Khoa học Xã Hội, 2005.

    • Biện Minh Điền, Sự thống nhất những đối cực trong phong cách

    nghệ thuật Nguyễn Công Trứ, Tạp chí Khoa học, Tập XXXV, Số 3B, Trường Đại học Vinh, 2006.

    • Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII- hết thế kỉ

    XIX), Nhà xuất bản  Giáo Dục, 1999.

  • Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    Bài văn mẫu lớp 9:

    Cảm giác ngày đầu vào học lớp 10

    BÀI LÀM

    Với tuổi học trò, ai cũng có cái nao nao của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT.Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng.

    Ngày đầu tiên đến trường – đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái , theo sự thông báo của nhà trường , tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách…. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi

    trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp… đều mới tinh.Trong những năm trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hàng cây, ghế đá,..in đậm bao kỹ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba – một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, và không gian thoáng đãng..Từ cổng trường là một hàng cây me già rợp bóng mát dẫn lối vào các dãy phòng học ba tầng uy nghi, đẹp đẽ . Nào là hàng cây, phòng học, cột cờ ….tất cả đều dập vào mắt

    tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng , bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”.

    Chúng tôi, các lớp 10 cũng như anh chị lớp 11 dược phân công về các lớp. Tôi thầm ước sao cho mình có thể học chung với một số người bạn cũ. Tiếc thay, lớp tôi học hoàn toàn là bạn lạ. “Nhưng dần rồi mình cũng sẽ quen với những bạn ấy thôi” – Tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ ban đầu, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của cô làm cho tôi gợi nhớ về cô giáo chủ nhiệm năm lớp 9.Vẫn một dáng người thon thả, đôi mắt hìên lành, mái tóc đen dài.. Chính hình ảnh có của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là bạn lạ. Lởi đầu tiên cô

    nói với chúng tôi là những lời dạy bảo ân cần về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này..

    Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ dài trắng tinh, tôi ra dáng là một nữ sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới.

    Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học – Trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt, bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ . Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường.

    Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi , có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng…. Bấy nhiêu cảm xúc

    của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ …

    Thuyết minh Nguyễn Du & Truyện kiều

    Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng)

    tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều

    Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

    Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

    Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

    Truyện kiều của nguyễn du là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại truyện nôm trong văn học trung đại VN.

    ND là kon người có trái tim giàu lòng yêu thương. chính nhà thơ đã từng viết trong Truyện Kiều: “chữ tâm kia mới= 3 chữ tài”. Mộng Liên Đường, chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của ND:”nếu không có con mắt trông thấy cả 6 cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”.

    ND dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân (TQ), có bố cục theo 3 phần truyền thống của tác phẩm cổ điển:

    p1:Gặp gỡ & đính ước

    p2: Gia biến & lưu lạc

    p3:Đoàn tụ.

    Nhân vật chính là người kon gái tài sắc Thúy Kiều. nhưng phần sáng tạo của ND là rất lớn. Điều này làm nên giá trị của kiệt tác truyện kiều.

    về nội dung, truyện kiều có 2 giá trị lớn là hiện thực &nhân đạo. tác phẩm đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị & số phận những kon ngừ bị áp bức đau khổ, đặc biệc là số phận bi kịc của ngừ phụ nữ.

    TK mang giá trị nhân đạo với những nội dung cơ bản: niềm thương cảm sâu sắc trc những đau khổ của kon ngừ, sự lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo, sự trân trọng, đề cao kon ngừ từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, khát vọng chân chính.

    về nghệ thuật, TK có những thành tựu lớn về nhìu mặt, nôit bật là ngôn ngữ

    • thể loại. đến TK, tiếng việt đã đạt đến trình độ đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật bỉu đạt, biểu cảm& thẩm mĩ, kết hợp giữa ngôn ngữ dân tộc& ngôn ngữ bác học. nghệ thuật tự sự, miêu tả trong tác phẩm thật đa dạng.

    Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều.Kiệt tác TK có sức chinh phục lớn đối với nhìu thế hệ độc giả.

    tác phẩm đã đc dịch ra nhiều thứ tiếng & đc giới thịu nhìu nc’ trên thế giới Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

    Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.

  • Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa

    Văn mẫu lớp 9:

     “Cảm nhận về nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa”

    BÀI LÀM

    “Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện

    thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con

    người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi

    mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp

    áp” (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về

    con người, T.C Văn học,1993, số 3, tr.20).

    Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khámphá trong

    văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và

    cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm

    đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người

    làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn

    chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện

    một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt

    phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.

    Hiện thực của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa không phải là bức tranh hoành tráng của

    mảnh đất chiến trường xưa A So từng ghi dấu bao chiến công, cũng không phải là những

    con người tạc dáng đứng hào hùng của mình vào lịch sử. Nhân vật Phùng trở về với

    mảnh đất từng chiến đấu, một người lính năm xưa giờ là phóng viên ảnh trở về ghi lại

    những vẻ đẹp cuộc sống đời thường cho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc

    sống lao động khoẻ khoắn tươi rói của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp

    bí ẩn của màn sương buổi sáng bổ sung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh (!). Thế nhưng,

    những gì anh chứng kiến đã khiến anh và những người bạn của mình nhận ra một sự thật

    gắn với cuộc sống của những người dân chài lam lũ:

    “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái,

    hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản

    quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”.

    Từ cuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn khiến con người phải ngỡ ngàng. Một câu

    chuyện đơn giản nhưng đã chứa đựng những phát hiện mới mẻ hàm chứa quan niệm văn

    chương hướng về con người của Nguyễn Minh Châu. Nếu chỉ nghĩ suy một cách xuôi

    chiều đơn giản, cuộc sống khi có ánh sáng cách mạng sẽ đổi đời cho số phận người lao

    động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người. Thế nhưng Nguyễn Minh Châu đã

    chỉ rõ cho chúng ta : cách mạng không phải giải quyết bi kịch trong một sớm một chiều,

    con người vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, dung hoà với nó. Cách lý giải về

    con người của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứa những suy ngẫm về số phận dân tộc phải

    trải qua những khổ đau để đối diện với hiện thực bao thách thức.

    Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống, ngỡ như anh đã

    phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng người xem về cái đẹp có

    thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánh sáng, tôi đã hình dung

    thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh

    đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc

    trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khung cảnh bình minh là một

    khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn

    thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay

    thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà,

    hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm

    đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” . Và những người dân vùng

    biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống lao động đầm ấm khoẻ khoắn,

    những con người gặp gỡ thật đáng yêu…

    Tất cả những ấn tượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của chiếc –

    thuyền – ngoài – xa. Người đàn ông xuất hiện cùng với người đàn bà trong khung cảnh

    nên thơ đã nhanh chóng phá vỡ đi cảm giác thăng hoa nghệ thuật bằng trận đòn dây lưng

    quật thẳng tay vào người vợ không thương xót. Có lẽ khó ai hình dung cảnh tượng ấy lại

    diễn ra trong bối cảnh cuộc sống mới, nó hoàn toàn đối lập với điều chúng ta hằng xây

    dựng cho cuộc sống này “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Điều bất công

    diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng đất

    nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát. Bản thân anh nghĩ về

    người đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữ

    xấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình.

    Hành động tấn công gã đàn ông khiến cho anh ngộ nhận mình là anh hùng: “Tôi nện hắn

    bằng tay không, nhưng cú nào ra cú ấy, không phải bằng bàn tay một anh thợ chụp ảnh

    mà bằng bàn tay rắn sắt của một người lính giải phóng đã từng mười năm cầm súng. Tôi

    đã chiến đấu trong mấy ngày cuối cùng chiến tranh trên mảnh đất này. Bất luận trong

    hoàn cảnh nào tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và

    tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh”.

    Nhưng phản ứng của người đàn bà trước ông chánh án đã khiến anh choáng váng: “Quí

    tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Hoá ra, người

    cần được thông cảm lại là những quan toà cách mạng có lòng tốt nhưng “các chú đâu có

    phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn

    lam lũ, khó nhọc”. Người đàn bà khốn khổ ấy đã không chối bỏ người đàn ông đích thực

    của mình, dù trong lòng đau đớn khi hàng ngày phải chịu những trận đòn, phải chứng

    kiến cảnh hai cha con đối xử với nhau như kẻ thù, phải chấp nhận cuộc sống đương đầu

    nơi gió bão.

    Có người đã nhận định: Chiếc thuyền ngoài xa là hình tượng có ý nghĩa biểu tượng, như

    vẻ đẹp của một bức tranh toàn bích, nhưng đàng sau hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp là

    cuộc sống đầy khắc nghiệt, dữ dội và những số phận con người vật vã trong cuộc mưu

    sinh.

    Hoá ra hành trình tìm kiếm hạnh phúc không hề đơn giản : người đàn ông kia dù cục súc

    nhưng trên chiếc thuyền phải có lúc có đàn ông, hạnh phúc đơn giản khi cả nhà quây

    quần trong bữa ăn trên chiếc thuyền khiến người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả.

    Hành trình của gia đình kỳ lạ kia vẫn tiềm ẩn những nguy cơ: đứa con yêu mẹ sẵn sàng

    đánh nhau với bố, thủ dao găm tìm dịp trả thù, những trận đòn tàn khốc có thể làm cho

    người đàn bà kia gục ngã bất cứ lúc nào…Thế nhưng trong cuộc sống nghèo khổ, chật

    vật và ngày ngày phải nuôi đủ cho mười miệng ăn trên chiếc thuyền ọp ẹp, người đàn bà

    ấy là hiện thân của một sự hy sinh vô bờ bến.Tình yêu chồng con được nhìn nhận từ cuộc

    đời trăm đắng ngàn cay có vẻ đẹp riêng khiến cho “một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị

    Bao Công của cái phố huyện vùng biển”. Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan

    niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị

    nhân bản sâu sắc. Những kết hợp ấy trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đem đến cái

    nhìn đa diện về số phận con người.

    Nếu như trước kia, trong văn học 1945 – 1975, khi đề cập đến số phận con người thì bao

    giờ các nhà văn cũng đề cao vào khả năng con người vượt qua nghịch cảnh và những tác

    động của môi trường, của xã hội mới sẽ giúp con người tìm thấy hạnh phúc. Khi diễn tả

    sự vận động của tính cách con người, các nhà văn cũng thường nói về sự vận động theo

    chiều hướng tích cực, từng bước vượt lên hoàn cảnh, hồi sinh tâm hồn. Cách minh họa tư

    tưởng ấy không tránh khỏi có phần giản đơn và phiến diện. Nguyễn minh Châu đã không

    đi theo con đường mòn đó. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn đã nói về những

    nghịch lý tồn tại như một sự thật hiển nhiên trong đời sống con người. Bằng thái độ cảm

    thông và sự hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về

    cái đẹp cuộc sống, hiểu cả bề mặt lẫn chiều sâu.

    Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng

    tâm mà tâm điểm là con người” (Phỏng vấn đầu xuân 1986 của báo Văn nghệ), “Nhà văn

    tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho

    những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến

    chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến ê chề, hoàn

    toàn mất hết lòng tin vào con người vhà cuộc đời để bênh vực cho những con người

    không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi). Tư tưởng ấy được thể hiện trong tác

    phẩm Chiếc thuyền ngoài xa như một minh chứng cho tấm lòng hướng về con người, khả

    năng giải mã những mặt phức tạp của cuộc đời. Bức thông điệp trong tác phẩm về mối

    quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống là nhận thức thấm thía : “cuộc đời vốn dĩ là nơi sản

    sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng là nghệ thuật, và

    rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật nhưng

    nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người và cuộc đời thì phải tiếp

    cận với cuộc đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời.”(Lê Ngọc Chương-

    Chiếc thuyền ngoài xa, một ẩn dụ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu).

    Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến cho công

    chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được sự

    thật nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia?

    Phần kết của tác phẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi

    lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi

    nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy

    đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường

    nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã

    nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt

    đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.”

    Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra

    những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia

    cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật ẩn khuất sau màn sương huyền

    ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người.

  • Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Hãy chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta

    Văn chứng minh

     Hãy chứng minh rằng “ Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống quanh ta “.

    BÀI LÀM

    Suốt chiều dài Tổ quốc, từ mục Nam Quan cho tới mũi Cà Mau đâu đâu cũng có rừng. Những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc, Việt Bắc, Trường Sơn,miền Đông Nam Bộ… Những khu rừng nguyên sinh Cúc Phương, Cát Tiên, Bạch Mã, Cần giờ, U Minh… là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá đã tồn tại từ bao đời nay. Tục ngữ có câu “ Rừng vàng, biển bạc”, quả là rừng đã đem lại cho con người những lợi ích lớn lao. Con người không thể sống thiếu rừng, cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.

    Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, rừng gắn bó thân thiết với con người:

    “ Núi giăng thành lũy thép dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” ( Tố Hữu)

    Núi rừng Việt Bắc đã trở thành thủ đô của cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp.Núi rừng Trường Sơn với con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đau thương và oanh liệt.

    Trong thực tế, ai cũng biết rừng là nơi cung cấp nguyên liệu làm giấy, xây dựng nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Thậm chí, phút cuối của đời cũng nằm trong mấy tấm gỗ của rừng…Cảnh quang đẹp đẽ của rừng cùng với không khí trong lành là cơ sở cho những tua du lịch xanh cho thỏa trí tò mò mà biết bao người muốn khám phá, đem lại cho ta những phút thư giãn tuyệt vời sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng.

    Rừng còn là kho dược liệu vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Các loại cấy quý hiếm có thể trị được các bệnh nan y thường có trong rừng

    sâu.Ngoài ra,từ những cảnh rừng già, rừng nguyên sinh ấy còn là nơi nuôi dưỡng của các loài vật quý phục vụ cho con người như hổ,báo, hươu,nai… và cả những động, thực vật nằm trong sách đỏ cũng chọn rừng làm nơi sinh sống.

    Nhưng quan trọng hơn hết, rừng chính là môi trường cho loài người, các quá trình quang hợp của cây xanh liên tục xảy ra, cây hút khí cacbonic và nhả ra khí Oxi, một thứ rất cần thiết cho cuộc sống. Đơn giản hơn, rừng chính là “ nhà máy lọc bụi tối tân nhất”. Rừng điều tiết khí hậu. Rừng là lá chắn vững chắc nhất, là rào cản đầu tiên trước mọi biến động thiên tai. Rừng cản lũ, lụt, rừng chống sa mạc hóa, rừng ngăn cát, rừng giữ đất giữ nước…

    Rừng bị tàn phá sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Diện tích rừng của nước ta ngày càng bị thu hẹp một cách đáng lo ngại, một phần bởi nạn “lâm tặc” phá rừng lấy gỗ quý, làm giàu bất chính, một phần bởi sự kém hiểu biết của người dân địa phương phá rừng lấy đất trồng trọt. Cũng cách làm thô sơ, lạc hậu như đốt rừng, làm nương rẫy, đốt ong lấy mật… chỉ sơ ý một chút là gây ra tổn hại khôn lường, hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh bị cháy rụi, hàng ngàn động vật bị tiêu diệt, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ… thế mấy trăm năm nữa mới khôi phục lại được những cánh rừng như thế ?

    Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là việc làm cần thiết nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người phải biết bảo vệ rừng. Cùng với việc chặt cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây gây rừng.Khai thác lâm sản rừng phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chẳng mấy chốc mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì để chống đỡ với gió, với cát, với nước lũ … và lấy đâu ra “ rừng vàng” cho con cháu mai sau ?! Rừng thực sự bị đe dọa. Cái chết của những cánh rừng đang báo động hiểm họa với nhân loại cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ chính

    môi trường sống của chính con người. Hi vọng màu xanh của rừng sẽ trở lại. của chúng ta được trong lành và con tim chúng ta sẽ nghe được nhạc rừng từ những giọng chim ca …

    Viết thư kể về buổi thăm trường sau 20 năm xa cách

    undefinedCuộc sống đầy biến động . Những học sinh trường tôi đã chia tay nhau tái mái trường Thuận Thành yêu dấu này . Kể từ ngày đó một phần do bận việc cơ quan phần khác do công việc gia đình nên tôi chưa có dịp về thăm trường , thăm thầy , thăm cô . Hôm ấy nhân chuyến đi công tác tôi xin phép cơ quan nghỉ ba ngày để có dịp thăm lại trường xưa bạn cũ. Đi cùng tôi còn có mấy đồng nghiệp trong tòa soạn . Đó là chuyến đi đầy xúc động của tôi trong suốt những năm công tác ở hà nội

    Bánh xe lăn đều và nhan htreen con đường quen thuộc . Chỉ còn khoảng năm phút nữa là chúng tôi tới trường . Lòng tôi cứ bồn chộn rạo rực . Xe dừng lại ngay trước cổn gtruwonwfg. Cảnh trường khac sxuwa nhiều quá tôi gần như ko thể nhân jra. Thế là đã hai mươi năm kể từ khi chia tay , giờ tôi mới được trở lại đây nơi tôi đã từng có những kỉ niệm êm đẹp . CỎng tường này là này là nơi lũ học trò chung tôi vẫn đợi nhau . Tôi ngó nghiêng như ngóng chờ 1 điều gì đó …Áp mặt vào những thanh sát của cánh cổng trường tôi nhìn xa xăm…Vẫn màu áo xanh hòa bình nhưng học sinh đang vui vẻ nô đua hồn nhiên trong sân trường làm tôi nhớ quá những lần đá cầu nhảy dây trốn tìm

    ….cùng các bạn . Nước mắt tôi ứa ra , họng tôi tắc nghẹn như có cái gì chặn

    ngang . Tôi không thể kìm nổi xúc động này . Thầy cô ơi .. tiếng gọi sao mà

    thân thương quá . Mong tìm lại những kỉ niệm ngày xưa , tôi bước vào , hàng vú sữa đã thay bằng hàng phượng vĩ nhưng tôi vãn người thấy đâu đây mùi hương quen thuộc

    hè đến phượng nở đỏ rực cả một góc trời . Ve kêu râm ran .ve ve …Tiếng ve gọi hè gọi cả những hồi ức ấo thơ đẹp đẽ . Tôi đi dạo một vòng quanh trường như dạo lại hững bài hát mà chúng tôi đã từng hát khi còn học dưới mái trường này . Tôi lẩm bẩm ” hàng gế đá , xanh hàng cây góc sân trường , bạn thân hỡi …” tôi dừng lại ko hát nữa nói đúng hơn là ko hát nổi..Xúc động !

    Tôi ghét lại chỗ hàng liễu xanh rì , đó là nơi tôi và các thầy cô cùn gcacs bạn chụp bức hình cuối cùng ” bức ảnh ” tôi nghĩ trong dầu và chạy lại về phía phi cơ Tôi bới tung va li tìm kiếm bu ức ảnh

    Đây rồi ! mắt tôi sáng lên vui vẻ Tay tôi lướt trên bướt ảnh , lướt trên từng khuôn mặt nụ cười của thầy cô và các b ạn . nƯớc mắt trao dâng , cảnh vật xung quanh nhòa đi trước mắt tôi

    Tôi chạy vào văn phfong , chẳng có ai ngoài Bác hiền bác bảo v ệ mà học sinh chúng tôi ngày xưa rất kính trọng và tin tưởng . Bác quý học sinh như con của mình . Bác dã già nhưng vẫn vui tính và nhanh nhẹn như ngày xưa . Hồi đó bố mẹ gởi tôi lên học và nhờ bác lo cơm nước cho tôi . Hằng ngày tôi nhổ tóc sâu cho bác . hai b ác cháu nói chuyện với nhau rất vui vẻ . Trong 2 năm học ở trường bác đã cho tôi ko ít những lời khuyên bổ ích và đún gđắn . Tôi tiến gần chỗ bác :

    Bác…bác hiền ơi..>! tôi nghẹn ngào

    Bác quay sang phía tôi , chăm chú nhìn

    Trang…hã ?

    Giọng bác run run , mát bác sáng ngời và mặt bác vui vẻ . Bác trách tôi: Sao lâu rồi mày chẳng về đây với bác bác có bao nhiu chuyện mà chẳng biết kể với ai , bác cứ ngóng mày mãi \! THẾ Hôm nay có việc gì mà lại về đây

    Cháu về thăm bác . Tôi đùa

    Thăm bác ? lại xạo rồi Bác cười hiền hậu .

    Sao bác biết ? tôi nũng nịu > Cháu đùa thôi . HÔm nay cơ quan phân tụi cháu về trường mình làm bài phóng sự về phong trào thi đua và học tập của trường

    à ! ra thế >Bác cười

    Mấy bác cháu tôi ngồi nói chuyện hồi lâu thật vui vẻ . Một lúc bác hiền bảo Thôi mấy đứa ngồi nói chuyện bác phải lên đánh trống đây

    BỌn tôi ngồi đùa 1 cách vui vẻ . nhác thấy xa có bo ngs người quen quen tôi tìm lại kí ức ” cô huyền ‘ tôi nghĩ . Vẫn dáng người nhỏ nhắn tay hay đưa lên đầu và cả cách ôm cặp nữa . \ĐÚNG rồi tôi đứng bật dậy chạy lại phía cô ôm lấy cô thật chặt trông cô có vẻ xanh xao mệt mỏi : Cô không khỏe ạ \! tôi thắc mắt

    à…ừ …! mấy hôm nay thời tiết oi bức cô hơi mệt

    Tôi lúng túng hỏi

    Thế cô uống thuố chưa à ? cô đừng quá sực cô à ! Cô nhfin tôi với con mắt trìu mến . 2 cô trò trò chuyện với nhau cả buổi sáng . CÔ hroi tôi nhìu về cuộc sống của tôi .CÁc thầ y cô khác trng trường cùng đến nhưng chảng còn ai , toàn giáo viên trẻ . Cô đứng lên nghiêm mặt Trang!

    Dạ! tôi bật dạy

    Hôm nay là lần gặp mặt đầu tiên sau 20 năm của cô trò mình cô trò mình phải tâm sự với nhau thật nhiều chứ nhỉ cô vẫn cưng tôi như ngày nào toi hôm đó , tôi đưa đồng nghiệp vào nhà trọ rồi ngủ với cô , 2 cô trò nsoi chiện thâu đêm suốt sáng

    Đó là 1 chuyến công tác và là 1 chuyến thăm trường dầy xúc đọng cảu tôi . TÔI RA Về , tới chào mọi người nhưng tôi hứa với bác HIỀn và cô sẽ trở lại vào 1 ngày ko xa . chuyến đi nàu đã giúp tô đậm thêm những kỉ niêm về mọi người , về thầy cô và các bạn . Ngay ngày sau đó bài phòng sự về trường Thuận Thanh đã đc in ngay trên tờ báo nơi tôi làm việc