Category: Thương Mại – Marketing

  • Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-gi%E1%BA%A3ng-Vi%E1%BA%BFt-b%C3%A0i-qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-facebook.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

     

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Vì sao phải đầu tư vào Facebook content?

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Khách hàng làm trung tâm

    .Viết cái họ thèm muốn .Nêu vấn đề , giải quyết vấn đề cho khách hàng .Không chèo khéo hãy chia sẽ

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Nghiên cứu kĩ sản phẩm (Tuyệt đối phải tìm ra được điểm nổi bật, lợi ích khác biệt

    USP)

    => Bạn khó có thể bán 1 thứ gì nếu không tìm ra được 1 điểm gì “vượt trội” hơn sản phẩm tương tự khác.

    • Tưởng tượng trong tâm trí về hình ảnh tệp KH mình muốn hướng đến. => Họ là người như thế nào và tại sao họ cần phải mua sản phẩm này?
    • (Chú ý: Bước thứ 11 sẽ lặp lại câu hỏi này!)
    • Đặt mình trong tâm thế giao tiếp 1-1 với từng khách hàng.

    => Đừng oang oang bán sản phẩm cho cả 1 đám đông. Đến đa cấp còn phải bán 1 – 1 thì bạn cũng đủ hiểu: “Cá nhân hóa khách hàng sẽ thúc đẩy hành vi mua hàng cao hơn!”

    • Nhắm 1 và chỉ 1: 1 mục tiêu, 1 thông điệp & cố gắng bắt trúng 1 insight.

    => Hãy đơn giản và thật tập trung. Kéo căng dây cung và mọi giác quan chỉ cần nhắm trúng vào 1 đích.

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Sáng tạo ra 1 cái tiêu đề thật chất (bám vào điểm nổi bật, or sự khác biệt, or insight, or CTKM)

    => 1 con số ước lượng có căn cứ, rằng tiêu đề góp tới 80% vào tổng doanh số thu được. Tóm lại bạn chỉ có chưa đến 5s để họ chú ý đến bạn, họ thấy bạn thì họ mới quan tâm bạn có cái gì.

    • “Phải làm sao để khách hàng thấy rằng: Việc lướt qua 1 bài QC còn KHÓ KHĂN hơn là phải đọc nó!” <= Câu nói huyền thoại này là của ông tổ ngành quảng cáo Hoppkins thì phải.
    • Sau đó, viết thật tự nhiên như nói.

    => Não đọc thông tin bằng cách tưởng tượng ra hình ảnh. Vì vậy ngôn từ phải tạo ra hình ảnh thật gần gũi để độc giả dễ liên tưởng. Muốn gần gũi thì phải tự nhiên, trôi chảy, có cảm xúc.

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Liên tục đề cập tới vấn đề khách hàng quan tâm, ko lan man.

    => Đỉnh cao của trí tuệ là sự đơn giản. Khách hàng muốn bạn là người có trí tuệ, thấu hiểu được tâm tư của họ, và là chuyên gia đáng tin cậy cho họ trong vấn đề này.

    • Đơn giản ở đây được hiểu là “sự thấu hiểu sâu sắc”, thấu hiểu đến mức “biết họ cần điều gì”, và tóm gọn lại trong 1 vài ý súc tích nhất. Chứ đừng hiểu đơn giản là sự nông cạn, thiếu thông tin.
    • “Khách hàng sẽ phân vân điều gì tiếp theo?” Và viết câu sau để “trả lời” điều ấy.

    => Khá giống với bước 7. Thấu hiểu khách hàng tới mức này thì bạn càng dễ “chạm vào trái tim” của họ.

    • Bởi suy cho cùng, trái tim thật ra đếch có cảm xúc, mà là do trung khu tạo ra cảm xúc của lí trí lâu nay được ngta gắn nó với trái tim thôi. Ý ở đây là khách hàng mua hàng phần nhiều bằng cảm xúc, hãy chạm tới “trung khu cảm xúc của lí trí”, tức là trái tim.
    • Chỗ này hơi khó hiểu phải không? <= (câu hỏi)

    Like bài viết này và comment không hiểu chỗ nào đi rồi mình sẽ giải thích <= (trả lời)

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Show lợi ích sản phẩm 1 cách dễ hiểu cho người đọc, tự nhiên, gần gũi.
    • => Cái này quan trọng nhất. Ai cũng hiểu vì sao phải như vậy rồi nên mình chỉ nhấn mạnh thôi chứ không giải thích gì lan man.
    • “Kíttttttttt……”
    • Thỉnh thoảng “phanh” 1 cái như thế cho họ giật mình.

    => Đối với loại bài viết dài, nó giống như đi đường dài, muốn hành khách tỉnh ngủ và tiếp tục chú ý hãy phanh 1 phát cho họ “giật mình”. Nhưng đừng làm họ bực tức.

    • Đừng call – to- actions (CTA) quá mạnh!

    => Có vẻ đi ngược lại với nhiều anh chị em quảng cáo lâu nay. Nhưng cá nhân mình thấy, ai cũng cho mình là “mạnh nhất, tốt nhất”, thì kẻ nào khiêm tốn mới đáng được chú ý và dành nhiều tình cảm nhất. Vì vậy đừng CTA quá mạnh, nghe “nổ” và “chối” lắm.

    • Gần giống với bước 2: “Họ là người như thế nào và tại sao họ cần phải mua sản phẩm này…. ngay bây giờ?”

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    13 BƯỚC CẦN LÀM KHI VIẾT BÀI CHO SẢN PHẨM :

    • Đặt thông tin liên hệ xuống dưới cùng (Kèm theo thêm 1 lợi ích “có vẻ hời” nho nhỏ ở phần cuối qc.

    => Cái này thì đương nhiên rồi.

    • Đọc lại một đến vài lần nữa xem giọng văn đã trôi chảy, đề cập vấn đề có kích thích, và đủ sức thuyết phục hay chưa

    Dũng Content

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Các loại hình làm content

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Nên chia làm 3 phần rõ ràng

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Tiêu đề vũ khí tối thượng

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Xem thêm đặt đúng chỗ

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Dẫn dắt người đọc

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.1.Sáng tạo nội dung và nguyên tắc chung

    Tuân thủ chính sách của Facebook:

    https://www.facebook.com/policies/ads

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Tuân thủ chính sách của Facebook:

    https://www.facebook.com/policies/ads

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Tuân thủ chính sách của

    Facebook:

    Công cụ kiểm tra hình ảnh có vi phạm text hay không

    https://www.facebook.com/ads/tools/text_overlay

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Nên theo kích thước kiến nghị của Facebook:

    https://www.facebook.com/business/ads-guide/clicks-to-website/links/?toggle0=%E1%BA%A2nh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy 1 hình ảnh

    • Video 1200* 628
    • Click web : 1200 * 628
    • Bài viết : 1200 * 900 hoặc 900 * 900

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.2.Sáng tạo hình ảnh và nguyên tắc chung

    Theo kinh nghiệm thực tế :

    Nếu chạy nhiều hình ảnh

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Video trong quảng cáo Facebook

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Facebook thay đổi cách tính giá quảng cáo Video, Cơ hội nào cho

    nhà quảng cáo?

    Mạng xã hội lớn nhất thế giới đưa ra 1 lựa chọn mới đó là các nhà quảng cáo chỉ phải trả phí khi khách hàng xem ít nhất 10s đầu tiên của video hoặc xem hết 97% video nếu thời lượng video đó dưới 10s. So với trước đây thì các nhà quảng cáo phải trả phí ngay khi đoạn video xuất hiện trên màn hình của người dùng cho dù người dùng có xem hay

    không

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Facebook tham vọng

    thống trị thị trường quảng

    cáo video

    • Live stream
    • Auto xem video
    • Video 360 độ

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Tại sao nên quảng cáo video trên Facebook

    • Khả năng chốt đơn cao
    • Truyền đạt được nhiều cảm xúc
    • Người bán thể hiện tốt hơn
    • Xu hướng của tương lai
    • Remarketing Video
    • Độ lan truyền cao

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.3. Video trong quảng cáo Facebook

    Hãy đầu tư làm nội dung video

    hấp dẫn cho khách hàng của

    bạn

    • Lượt chia tự nhiên gấp gần 10 lần lượt tiếp cận do quảng cáo
    • Bán hàng ngay khi đã dừng chạy

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |Xây dựng nội dung cho page

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    Lên kế hoạch xây dựng nội dung

    cho page

    -Nghiên cứu khách hàng tiềm năng của page .Hiểu người dùng muốn muốn gì .Hãy chăm sóc họ mỗi ngày

    • Quy tắc 70% – 20% -10%
    • Không để khách hàng phải chờ đợi
    • Không theo các trend nhảm nhí
    • Tuân theo định hướng thương hiệu
    • Chạy quảng cáo tang like ban đầu

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    Lên kế hoạch xây dựng nội dung cho page

    1. Định hướng chung (Brief Recap)
    1. Mục tiêu (Objective)
    1. Khách hàng mục tiêu (Target Audience)
    1. Phân tích khách hàng mục tiêu (The Insight)
    1. Điểm nhấn (The Touch Point)
    1. Định hướng fanpage chung (Fanpage Concept): dựa trên các phân tích từ 1 đến 5 để đưa ra định hướng
    1. Thông điệp (Tone & Mood): Nội dung chính & màu sắc chủ đạo của fanpage
    1. So sánh với đối thủ cạnh tranh (Compare with competitors)
    1. Định hướng nội dung (Content Direction)
    1. Content Management
    1. KPI & Cost

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    Triển khai cụ thể

    1. Tìm từ khóa của page
    1. Xây dựng bài viết theo từ khóa
    1. Xây dựng kế hoạch đăng bài theo tuần theo ngày
    1. Xây dựng game , sự kiện

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    12 cách đơn giản tạo tương tác trên fanpage

    1. Đưa ra các sản phẩm/dịch vụ/con người và hỏi xem bạn thích điều gì hơn
    1. Điền vào chỗ trống ( Tôi cảm thấy … khi được ăn kem giữa mùa đông)
    1. Like & share, đưa ra 2 lựa chọn, thích bên trái thì like, thích bên phải thì share
    1. Polls giống khảo sát trong group. Bạn ở thành phố nào ? A. Hà Nội B. Đà Nẵng, C.Hồ Chí Minh
    1. Cần 1 câu bình luận độc đáo cho bức ảnh này
    1. Sử dụng hình ảnh gắn thương hiệu với 1 ngày đặc biệt nào đó (lễ, tết, trung thu, valentine…)

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    1. Chia sẻ 1 điều khách hàng nói về bạn thật tự nhiên (nên dùng hình chụp thật, viết tay càng tốt)
    1. Ảnh/video ngắn gọn làm thế nào để làm ra sản phẩm
    1. Chia sẻ chi tiết 1 mẩu thông tin có giá trị quan trọng (Bạn có biết 1 phụ nữ nuốt 7 kg suốt cuộc đời của họ)
    1. Hậu trường 1 video/chụp ảnh
    1. Minigames kèm khuyến mãi hấp dẫn
    1. Làm một tài liệu hữu ích giải quyết vấn đề khách hàng và cho tải miễn phí. (Nếu bạn bán thuốc. Ebook: những điều cần biết về bệnh phong thấp và cách chữa trị….)

    Một vấn đề bạn cần lưu ý đó là, hãy chia tỷ lệ loại nội dung sẽ đăng trên fanpage sao cho hợp lý. Nội dung nói về bạn, về lợi ích khách hàng nhận được, về kinh nghiệm, thủ thuật của chuyên gia…cần phải được tính toán số lượng đăng mỗi tuần cho phù hợp

    Trang Chủ

    Viết bài quảng cáo Facebook

    |4.4. Xây dựng nội dung cho page

    javascript:var inputs =

    document.querySelectorAll(‘a._42ft._4jy0._4jy3._517h’); for(var i=1; i<inputs.length;i++) { inputs[i].click();

    }

    Tăng Like tương tác bài viết ngày 300 ng

    Trang Chủ

     Facebook Marketing Từ A-Z

    Giaó trình của khóa học :Facebook Marketing Từ A-Z

    http://cuongbig.com/landingpage01

    Chúc các bạn học tốt

     

    Trang Chủ


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-marketing-h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-v%C3%A0-n%C4%83ng-l%E1%BB%B1c-c%E1%BA%A1nh-tranh-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p-du-l%E1%BB%8Bch-t%E1%BA%A1i-t%E1%BB%89nh-Th%E1%BB%ABa-Thi%C3%AAn-Hu%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

    Tạp chí Khoa học công nghệ và Thực phẩm 16 (1) (2018) 140-152

     

    NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA YẾU TỐ NĂNG LỰC MARKETING, HÌNH ẢNH THƢƠNG HIỆU VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

     

    Nguyễn Văn Ít1*, Hoàng Thị Chỉnh2, Trần Anh Minh3

    1Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM 2Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 3Trường Đại học Văn Lang *Email: [email protected]

     

    Ngày nhận bài: 19/7/2018; Ngày chấp nhận đăng: 30/8/2018

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mối quan hệ và đo lường ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch trên cơ sở khảo sát 490 lãnh đạo doanh nghiệp (doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài) thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian từ tháng 3 năm 2018 đến tháng 7 năm 2018. Phân tích dữ liệu bằng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình cấu trúc (SEM). Kết quả xác định được mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Nghiên cứu này còn đưa ra hàm ý quản trị phù hợp giúp các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh doanh tốt.

     

    Từ khóa: Văn hóa tổ chức, năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh.

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp du lịch đã và đang tìm mọi cách để đạt hiệu quả kinh doanh bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng là các doanh nghiệp du lịch cần nắm bắt được một trong những công cụ cơ bản là xây dựng năng lực marketing hiệu quả, hình ảnh thương hiệu tốt làm tăng khả năng cạnh tranh và từ đó tác động tích cực đến hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp [1]. Cũng như văn hóa tổ chức tác động đến năng lực cạnh tranh, từ đó sẽ tạo ra hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh [2]. Hiệu suất kinh doanh là đánh giá của bất kỳ chiến lược kinh doanh nào của doanh nghiệp và cải tiến hiệu suất là trọng tâm của doanh nghiệp. Như vậy, để đánh giá mối quan hệ và ảnh hưởng của các yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch là thật sự cần thiết đối với đối với các doanh nghiệp du lịch. Thừa Thiên Huế là tỉnh đại diện cho miền Trung Việt Nam được lựa chọn để nghiên cứu, bởi vì hiện tại còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp du lịch.

     

    140

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    2.1. Một số khái niệm

     

    2.1.1. Năng lực marketing

     

    Marketing là một quá trình mà các doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ với khách hàng mạnh mẽ để nắm bắt giá trị từ khách hàng đem lại cho doanh nghiệp [3]. Năng lực marketing của doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc liên tục theo dõi và đáp ứng được những thay đổi của khách hàng cùng với đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực du lịch, năng lực marketing đóng một vai trò quan trọng, giúp doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng, phản ứng với đối thủ cạnh tranh, thích ứng với biến đổi của môi trường cũng như việc cải thiện chất lượng mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và đối tác.

     

    2.1.2. Hình ảnh thương hiệu

     

    Hình ảnh thương hiệu là sự tin tưởng của khách hàng vào một tổ chức và tổng hợp tất cả những ấn tượng của khách hàng bởi hình ảnh thương hiệu được phân biệt rõ trong tâm trí của họ dựa trên những lợi ích chức năng và cảm xúc mà khách hàng cảm nhận được [4]. Hình ảnh của doanh nghiệp du lịch, khu du lịch được xác định là tất cả các niềm tin, ý tưởng và ấn tượng. Ngày càng có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm cho rằng hình ảnh của doanh nghiệp du lịch, khu du lịch bao gồm 2 khía cạnh: nhận thức và tình cảm, phát triển hình ảnh doanh nghiệp thành tài sản của doanh nghiệp, quản lý hình ảnh ấn tượng tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp đó.

     

    2.1.3. Văn hóa tổ chức

     

    Văn hóa là một hệ thống nhận thức được chia sẻ, tâm trí con người tạo ra văn hóa bằng trung bình của một số quy tắc hữu hạn các tổ chức, các hệ thống có kiến thức nằm trong mạng lưới các ý nghĩa chủ quan hoặc kinh tế các thành viên chia sẻ với các mức độ khác nhau và xuất hiện hoạt động theo cách giống như quy tắc [5]. Văn hóa tổ chức là hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên và nó có tác dụng phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác [6]. Chính vì vậy chúng còn được gọi là “bản sắc riêng” hay “bản sắc văn hóa” của một tổ chức mà mọi người có thể xác định được và thông qua đó nhận ra được quan điểm và triết lý đạo đức của một tổ chức doanh nghiệp. Văn hóa tổ chức bao gồm các khía cạnh dựa trên bản sắc doanh nghiệp và được nhận dạng bởi các thành viên trong tổ chức đó. Vì vậy, văn hóa tổ chức cần được xem xét duy trì và phát triển bản sắc của doanh nghiệp.

     

    2.1.4. Năng lực cạnh tranh

     

    Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là năng lực thiết kế, năng lực marketing của một doanh nghiệp về sản phẩm hoặc dịch vụ vượt trội so với những gì được cung cấp bởi các đối thủ cạnh tranh [7]. Một doanh nghiệp được cho là có lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp đó tạo ra giá trị kinh tế cao hơn đối thủ cạnh tranh, giá trị kinh tế được đề cập là so sánh lợi ích nhận được với chi phí bỏ ra của khách hàng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ đã mua. Lợi thế cạnh tranh là cơ sở cho một chiến lược tốt, đồng thời một chiến lược tốt sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh. Do đó, năng lực cạnh tranh rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi vì điều đó giúp phân biệt doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh [8]. Trong thực tế, cách tốt nhất để đạt được lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp lớn và nhỏ là cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng.

     

    141

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    2.1.5. Hiệu quả kinh doanh

     

    Hiệu quả kinh doanh là một bộ tiêu chí nhằm định lượng tính năng suất và hiệu quả các mặt hoạt động trong doanh nghiệp và nó được kiểm định bởi 3 cấp độ: cá nhân, mục tiêu của doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các tiêu chí đánh giá đó với môi trường hoạt động (văn hóa, thỏa mãn khách hàng, chiến lược phát triển) [8]. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là thành công của những nỗ lực để đạt được mục tiêu, thu được từ sáng tạo và có thể áp dụng, được nhìn thấy từ những nỗ lực của các nhân viên khi doanh nghiệp của họ tốt hơn so với giai đoạn trước như vốn, quy mô hoạt động và mở rộng kinh doanh, quan điểm về tài chính của nó hiệu suất bao gồm tính khả dụng, tính thanh khoản, khả năng thanh toán và hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Đối với các khía cạnh khác nhau của việc xác định thành công của doanh nghiệp là hiệu quả hoạt động kinh doanh được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm mối quan hệ của các yếu tố và năng lực cạnh tranh tác động đến hiệu quả kinh doanh như mở rộng quy mô, tăng lợi nhuận và sự tin tưởng của khách hàng ngày càng tăng.

     

    2.2. Mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu

     

    2.2.1. Văn hóa tổ chức và năng lực marketing

     

    Marketing được xác định dựa trên một nền văn hóa tổ chức riêng biệt của doanh nghiệp đó, sự phát triển định hướng khách hàng trong các doanh nghiệp liên quan đến văn hóa tổ chức của doanh nghiệp đó [9]. Giai đoạn phát triển tiếp theo của chiến lược lập kế hoạch thị trường phải bao gồm sự tích hợp chính thức của văn hóa tổ chức được cân đối, nội bộ nhất quán và cũng phải phù hợp với chiến lược, nếu chiến lược đó được triển khai [10], đây là yếu tố quyết định làm tăng hiệu quả marketing. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H1: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và năng lực marketing.

     

    2.2.2. Văn hóa tổ chức và hình ảnh thương hiệu

     

    Văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu, hàng ngày tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và khách hang. Để phát triển hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp thì văn hóa tổ chức là yếu tố quyết định hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp đó [11]. Văn hóa tổ chức tạo ra hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Hình ảnh của tổ chức thông qua sự nhận dạng của các thành viên trong tổ chức, đặc trưng về “bản sắc” riêng của từng tổ chức giúp phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, tạo nên hình ảnh thương hiệu khác nhau cho các doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H2: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và hình ảnh thương hiệu.

     

    2.2.3. Văn hóa tổ chức và năng lực cạnh tranh

     

    Văn hóa tổ chức là một lợi thế tạo ra cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp, quản lý văn hóa tổ chức như một nguồn lực cạnh tranh trong doanh nghiệp, một cái nhìn dựa trên nhận dạng về lợi thế cạnh tranh bền vững [12]. Trong việc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp không thể thiếu văn hóa tổ chức, chiến lược cạnh tranh và thực tiễn quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp [2]. Định hướng thị trường theo quan điểm văn hóa được hiểu như là văn hóa tổ chức; trong đó, thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh tạo thành trục trung tâm trong phương pháp làm việc của doanh nghiệp, định hướng này hàm ý sự tồn tại của một tập hợp các giá trị và thái độ trong tổ chức. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H3: Có mối quan hệ cùng chiều giữa văn hóa tổ chức và năng lực cạnh tranh.

     

    142

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    2.2.4. Năng lực marketing và hình ảnh thương hiệu

     

    Doanh nghiệp thể hiện hình ảnh thương hiệu rõ ràng, có thể giao tiếp hiệu quả với khách hàng về các dịch vụ, giá cả và thái độ của khách hàng [13]. Do đó, các chương trình marketing hiệu quả dựa trên xây dựng hình ảnh thương hiệu là quan trọng, bởi vì thông qua đó nâng cao nhận thức và kết nối hình ảnh thương hiệu với khách hàng. Trong đó bao gồm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẵn sàng chi trả một mức giá cao cho hình ảnh thương hiệu. Tầm quan trọng của bộ phận marketing, đặc biệt là nhân viên marketing, làm tăng trưởng về thương hiệu và phân khúc thị trường đã kích thích nhu cầu của khách hàng. Marketing được coi là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra hình ảnh thương hiệu thành công. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H4: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và hình ảnh thương hiệu.

     

    2.2.5. Năng lực marketing và năng lực cạnh tranh

     

    Các nguồn lực ảnh hưởng đến năng lực cạnh của doanh nghiệp bao gồm: khả năng phát triển sản phẩm, chất lượng dịch vụ khách hàng, hiệu quả trong sản xuất, năng lực marketing. Năng lực cạnh tranh của các cửa hàng Đài Loan bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như là chiến lược kinh doanh, năng lực tài chính, cơ sở vật chất các tiện nghi, sản phẩm hàng hóa, chất lượng dịch vụ, marketing, nguồn nhân lực. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hungary gồm: Lập kế hoạch, marketing, đảm bảo chất lượng, phương pháp tổ chức và kiểm soát tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [14]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H5: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và năng lực cạnh tranh.

     

    2.2.6. Hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh

     

    Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được hình thành từ năng lực nội bộ của doanh nghiêp, nguồn lực hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Nguồn lực vô hình và hữu hình ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, nguồn lực hữu hình chính là tài sản vật chất mà một doanh nghiệp có thể quan sát và đếm được như các nguồn lực tài chính, nguồn lực tổ chức, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ [15]. Nguồn lực vô hình chính là các tài sản mà doanh nghiệp không thể đếm được như nguồn lực con người, nguồn lực đổi mới, nguồn lực về danh tiếng (sức mạnh thương hiệu, danh tiếng với khách hàng). Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, cần nhấn mạnh vai trò của các yếu tố ảnh hưởng như: chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc doanh nghiệp, năng lực hoạt động, khả năng sáng tạo, nguồn lực hữu hình và vô hình khác. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H6: Có mối quan hệ cùng chiều giữa hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh.

     

    2.2.7. Năng lực marketing và hiệu quả kinh doanh

     

    Khi cạnh tranh trong ngành du lịch trở nên dữ dội hơn, ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động marketing trong kinh doanh du lịch để thu hút khách hàng cũng như giúp khách hàng phân biệt mình với đối thủ cạnh tranh. Các hoạt động marketing tốt có liên quan tích cực đến hiệu quả kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp dịch vụ muốn thực hiện tốt thì phải phân tích được thị trường, lập kế hoạch, thực hiện các chiến lược marketing đúng cách; doanh nghiệp cần tập trung đẩy mạnh chiến lược marketing sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện được hiệu quả kinh doanh ngay cả trong cuộc khủng hoảng kinh tế [16]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H7: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực marketing và hiệu quả kinh doanh.

     

    143

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    2.2.8. Hình ảnh thương hiệu và hiệu quả kinh doanh

     

    Thương hiệu là chìa khóa thành công của doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thương hiệu dựa trên nhận thức của khách hàng và nó quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp [17]. Khi du lịch là sản phẩm thì hình ảnh thương hiệu giúp người tiêu dùng có sự lựa chọn và giảm thiểu rủi ro trong việc đưa ra quyết định, một thương hiệu mạnh có thể giúp phân biệt sản phẩm dịch vụ của mình với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh [18]. Quá trình xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp du lịch, khu du lịch là rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh dài hạn, hiệu quả kinh doanh trên thị trường thông qua thương hiệu của doanh nghiệp. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H8: Có mối quan hệ cùng chiều giữa hình ảnh thương hiệu và hiệu quả kinh doanh.

     

    2.2.9. Năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

     

    Trên góc độ giá trị khách hang, một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp khác khi khách hàng có thể nhận thấy được giá trị dành cho họ là cao nhất. Trong đó, giá trị dành cho khách hàng là phần chênh lệch giữa tổng giá trị và tổng chi phí của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh là để đạt được hiệu suất cao, một doanh nghiệp phải phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm gia tăng khả năng mở rộng và phát triển thị phần, làm tăng hiệu quả tài chính, tăng sự ổn định và phát triển bền vững trong tương lai [19]. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đề nghị là H9: Có mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

     

    3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Dựa trên các nghiên cứu của Haluk & Özgül (2007), Prasad & Dev (2000), Li (2011)

    [16, 17, 19] và thông qua kết quả định tính, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Năng lực

     

    marketing

     

    H1

       

    H7

         
     

    H5

           
     

    H4

           
               
                 

    Văn hóa

    H3

    Năng lực

     

    H9

    Hiệu quả

       
       

    tổ chức

     

    cạnh tranh

       

    kinh doanh

    H6

    H2

    H8

     

    Hình ảnh

     

    thương hiệu

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

     

    4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu

     

    Phương pháp định tính: Thông qua việc thống kê, tổng hợp, phân tích: các lý thuyết về năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và các

     

    144

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    nghiên cứu trước đây từ các tạp chí kinh tế trong nước, ngoài nước để khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thành phần tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, các thang đo đối với từng yếu tố. Tác giả đã thảo luận trực tiếp với 9 chuyên gia nhằm xem xét mô hình và thang đo. Các chuyên gia này là những người am hiểu về lĩnh vực du lịch cả lý thuyết và thực tiễn, và các nhà quản trị đang trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

     

    Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu, áp dụng mô hình đã đề ra và dùng SPSS-AMOS để phân tích dữ liệu nhằm đánh giá mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Phương pháp này giúp tác giả kiểm định các thang đo và mối quan hệ cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh.

     

    4.2. Thu thập dữ liệu

     

    Mẫu và thông tin mẫu: Đối tượng chọn mẫu là các nhà quản lý, bao gồm: giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Sử dụng thang đo Likert 5 bậc (1: Hoàn toàn không đồng ý; 2: Không đồng ý; 3: Trung lập; 4: Đồng ý; 5: Hoàn toàn đồng ý). Thu thập 490 đơn vị mẫu đưa vào phân tích.

     

    Thu thập và phân tích dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20 và AMOS, tiến hành kiểm định thông qua các bước: (1) đánh giá sơ bộ thang đo, đo lường độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số Cronbach’s alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory factor analysis) để xác định độ hội tụ (factor loading) và tính phân biệt của các nhóm yếu tố, (2) kiểm định các thang đo với dữ liệu thu thập bằng phân tích khẳng định CFA, (3) phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm xác định các mối quan hệ của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch.

     

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    5.1. Thống kê mô tả mẫu

     

    Các mẫu được lựa chọn bằng phương pháp phi xác suất. Các cấu trúc nhân khẩu học, đặc điểm tổ chức của người được khảo sát, Trong đó công ty TNHH chiếm cao nhất là 51,1%, vị trí quản lý là giám đốc doanh nghiệp chiếm cao nhất 66,1%, số năm công ty hoạt động từ 5 đến 10 năm chiếm 44,3%, độ tuổi khảo sát phần lớn (52,4%) từ 35 đến 45 tuổi. Kết quả được trình bày ngắn gọn trong Bảng 1 và Bảng 2.

     

    Bảng 1. Thống kê mô tả

     

     

    Đặc điểm

    Tần số

    (%)

             
       

    Doanh nghiệp tư nhân

    56

    11,4

       

    Công ty TNHH

    265

    54,1

    Loại hình doanh nghiệp

     

    Công ty cổ phần

    144

    29,4

       

    Khác

    25

    5,1

             
       

    Giám đốc

    324

    66,1

    Vị trí quản lý

     

    Phó giám đốc

    103

    21,0

           
       

    Trưởng phòng kinh doanh

    63

    12,9

             

    145

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    Đặc điểm

     

    Tần số

    (%)

             
       

    < 5

    69

    14,1

    Số năm công ty được thành lập

     

    5 – 10

    217

    44,3

     

    10 – 15

    148

    30,2

       
       

    ≥ 15

    56

    11,4

             
       

    1 – 5

    169

    34,5

    Công ty có số lượng công ty thành

     

    5 – 10

    209

    42,7

    viên, chi nhánh và văn phòng đại

     

    10 – 15

    98

    20,0

    diện

     
       

    ≥ 15

       
       

    14

    2,9

             
       

    < 5

    29

    5,9

    Quy mô doanh nghiệp

     

    5 – 10

    217

    44,3

    (Số người)

     

    10 – 15

    177

    36,1

       

    ≥ 15

    67

    13,7

             
       

    18 – 25

    16

    3,3

    Số tuổi của đối tượng tham gia

     

    25 – 35

    86

    17,6

           

    khảo sát

     

    35 – 45

    257

    52,4

       
       

    ≥ 45

    131

    26,7

             

    Bảng 2. Thống kê mô tả các nhà quản lý

     

    Nhà quản lý

    Loại hình doanh nghiệp

    Tần số

     
           
     

    Doanh nghiệp tư nhân

    30

     
           

    Giám đốc

    Công ty TNHH

    190

     
         

    Công ty cổ phần

    90

     
     
           
     

    Khác

    14

     
           
     

    Giám đốc

    10

     

    Phó giám đốc

    Phó giám đốc

    50

     
         

    Trưởng phòng kinh doanh

    40

     
     
           
     

    Khác

    3

     
           
     

    Giám đốc

    16

     
           

    Phó giám đốc

    Phó giám đốc

    25

     
         

    Trưởng phòng kinh doanh

    14

     
     
           
     

    Khác

    8

     

    5.2. Phân tích độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha

     

    Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha các biến độc lập. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo thuộc yếu tố độc lập. Trong đó, trừ thang đo VHTC3,

     

    146

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    NLMT2 và HATH4 có hệ số tương quan biến – tổng (Corrected item – Total correlation) < 0,3, tác giả tiến hành loại biến và chạy lại. Kết quả chạy lại cho thấy các yếu tố còn lại đều có hệ số tương quan biến – tổng phù hợp (Corrected item – Total correlation) ≥ 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha > 0,6 nên các biến đều chấp nhận được và thích hợp đưa vào các phân tích tiếp theo. Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha các biến phụ thuộc. Kiểm định độ tin cậy của thang đo các yếu tố phụ thuộc hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch: các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng phù hợp (Corrected item – Total correlation) ≥ 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha > 0,6 nên các biến đều chấp nhận được và thích hợp đưa vào các phân tích tiếp theo.

     

    Bảng 3. Kết quả hệ số tin cậy Cronbach’s alpha thang đo các thành phần

     

    STT

    Các khái niệm

    Ký hiệu thành

    Số biến

    Cronbach’s

    Hệ số tương quan

     

    phần

    quan sát

    alpha

    biến tổng bé nhất

     
       
                 

    1

    Văn hóa tổ chức

    VHTC

    4

    0,864

    0,659

     
                 

    2

    Năng lực marketing

    NLMT

    6

    0,928

    0,712

     
                 

    3

    Hình ảnh thương hiệu

    HATH

    5

    0,912

    0,757

     
                 

    4

    Năng lực cạnh tranh

    NLCT

    4

    0,929

    0,825

     
                 

    5

    Hiệu quả kinh doanh

    HQKD

    4

    0,909

    0,774

     
                 

    5.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm xem xét mức độ hội tụ của các thang đo theo từng thành phần và giá trị riêng biệt giữa từng yếu tố. Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến độc lập cho thấy, 19 thang đo thuộc về biến yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh được nhóm thành 4 yếu tố như sau: NLMT, NLCT, HATH, VHTC. Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến phụ thuộc cho thấy, 4 thang đo thuộc về biến phụ thuộc hiệu quả kinh doanh được nhóm thành 1 yếu tố, các chỉ số phù hợp tiêu chuẩn [20] cụ thể: Hệ số tải nhân tố (Factor loading) đều > 0,5 nên các thang đo đều quan trọng trong nhân tố và có ý nghĩa thiết thực, mỗi thang đo có sai biệt về hệ số tải nhân tố đều > 0,30 đảm bảo sự phân biệt giữa các yếu tố. Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) = 0,922 là phù hợp (0,5 < KMO < 1), chứng tỏ phân tích nhân tố EFA phù hợp với dữ liệu. Tổng phương sai trích được là 69,879 % nên phù hợp (> 50%) cho biết các nhân tố trích rút ra giải thích được 69,879% biến thiên của dữ liệu, do vậy các thang đo rút ra được chấp nhận. Thống kê Chi-square của kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa Sig = 0,000 nên phù hợp (sig < 5%) chứng tỏ các thang đo có tương quan trong tổng thể.

     

    5.4. Phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory factor analysis)

     

    Trong nghiên cứu này, các tiêu chuẩn được sử dụng để xác định mô hình tốt nhất là kết quả của hệ số bình thường Chi-square χ2/Df ≤ 3, CFI > 0,9, GFI > 0,9, TLI > 0,9, RMSEA< 0,05. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA các biến độc lập như được trình bày ở Bảng 5.

     

    Các trọng số chưa chuẩn hóa đều có ý nghĩa thống kê (p-value < 0,05), và các trọng số chuẩn hóa > 0,5. Từ bảng 5 ta có tất cả các chỉ số đều đạt yêu cầu, đảm bảo tính nhất quán, sự hội tụ và sự phù hợp của mô hình.

     

    147

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    Bảng 4. Nhân tố khám phá (EFA)

     

                 

    Nhân tố

             
                             
       

    1

     

    2

     

    3

    4

     

    5

     
                             
     

    NLMT3

    0,917

                     
                             
     

    NLMT7

    0,914

                     
                             
     

    NLMT5

    0,854

                     
                             
     

    NLMT4

    0,851

                     
                             
     

    NLMT1

    0,696

                     
                             
     

    NLMT6

    0,691

                     
                             
     

    HATH6

         

    0,920

                 
                             
     

    HATH2

         

    0,842

                 
                             
     

    HATH5

         

    0,819

                 
                             
     

    HATH1

         

    0,818

                 
                             
     

    HATH3

         

    0,695

                 
                             
     

    NLCT4

             

    0,894

             
                             
     

    NLCT2

             

    0,886

             
                             
     

    NLCT3

             

    0,860

             
                             
     

    NLCT1

             

    0,858

             
                             
     

    HQKD2

               

    0,904

         
                             
     

    HQKD1

               

    0,828

         
                             
     

    HQKD4

               

    0,813

         
                             
     

    HQKD3

               

    0,796

         
                             
     

    VHTC2

                     

    0,908

     
                             
     

    VHTC4

                     

    0,828

     
                             
     

    VHTC1

                     

    0,698

     
                             
     

    VHTC5

                     

    0,624

     
                           
         

    Bảng 5. Kết quả kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn

         
                         
     

    STT

     

    Chỉ số

       

    Tiêu chuẩn

       

    Kết quả

     
                       
     

    1

     

    Chi-square /df

     

    ≤ 3

       

    2,146

     
                         
     

    2

     

    TLI

       

    ≥ 0,9

       

    0,965

     
                         
     

    3

     

    CFI

       

    ≥ 0,9

       

    0,970

     
                         
     

    4

     

    GFI

       

    ≥ 0,9

       

    0,923

     
                         
     

    5

     

    RMSEA

       

    ≤ 0,08

       

    0,048

     
                             

    148

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

     

     

     

     

    Hình 2. Kết quả phân tích mô hình CFA

     

    5.5. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural equation modeling-SEM)

     

    Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh. Phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Các chỉ số đạt kết quả tốt, cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu thu thập và kết quả các tác động có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

     

    Bảng 6. Kết quả kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn

     

    STT

    Chỉ số

    Tiêu chuẩn

    Kết quả

           

    1

    Chi-square /df

    ≤ 3

    2,198

           

    2

    TLI

    ≥ 0,9

    0,964

           

    3

    CFI

    ≥ 0,9

    0,968

           

    4

    GFI

    ≥ 0,9

    0,921

           

    5

    RMSEA

    ≤ 0,08

    0,049

           

    149

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

     

     

    Hình 3. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

     

    Kết quả cho thấy tất cả các chỉ số đều đạt yêu cầu, đảm bảo tính nhất quán, sự hội tụ và sự phù hợp của mô hình tái khẳng định năng lực marketing, hình ảnh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch.

     

    Bảng 7. Kết quả SEM

     

     

    Quan hệ

     

    Hệ số

    S.E.

    C.R.

    p

                 

    NLMT

    <—

    VHTC

    0,576

    0,049

    11,792

    ***

                 

    HATH

    <—

    VHTC

    0,305

    0,056

    5,428

    ***

                 

    HATH

    <—

    NLMT

    0,168

    0,052

    3,237

    0,001

                 

    NLCT

    <—

    VHTC

    0,315

    0,066

    4,777

    ***

                 

    NLCT

    <—

    NLMT

    0,121

    0,059

    2,061

    0,039

                 

    NLCT

    <—

    HATH

    0,123

    0,057

    2,154

    0,031

                 

    HQKD

    <—

    NLCT

    0,111

    0,032

    3,421

    ***

                 

    HQKD

    <—

    HATH

    0,355

    0,039

    9,159

    ***

                 

    HQKD

    <—

    NLMT

    0,278

    0,036

    7,751

    ***

                 

    Kết quả nghiên cứu bao gồm 9 giả thuyết đều tác động thuận chiều như kỳ vọng. Trong đó, yếu tố hình ảnh thương hiệu tác động lớn nhất (0,355), tiếp đến là năng lực marketing (0,278) và năng lực cạnh tranh tác động yếu nhất (0,111) đến hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa tổ chức tác động lần lượt tích cực đến năng lực marketing (0,576), năng lực cạnh tranh (0,315) và hình ảnh thương hiệu (0,305), năng lực marketing tác động tích cực (0,168) đến hình ảnh thương hiệu.

     

    5.6. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế

     

    Căn cứ kết quả điều tra thực tế 10 doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế, mối quan hệ giữa năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh thể hiện qua biểu đồ sau:

     

    150

     

    Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu…

     

    Điểm6 đánh giá

     

    5

     

    4

     

    3

    NLMT

     

    2

    HATH

     

    1

    NLCT

     

    0

    HQKD

     

    Doanh nghiệp

     

    Hình 4. Hiệu quả kinh doanh

     

    Biểu đồ trên cho thấy mối quan hệ thuận chiều năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế.

     

    6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

     

    Kết quả nghiên cứu xác định được các mối quan hệ và ảnh hưởng tác động tích cực từ năng lực marketing, hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp như sau:

     

    Một là, duy trì củng cố thêm hình ảnh của tổ chức đối với khách hàng và cộng đồng, cần một động lực thực sự, có một tầm nhìn rõ ràng, phác họa hình ảnh cụ thể mà tổ chức mong muốn trong tương lai cũng như văn hóa tổ chức luôn được duy trì dựa trên giá trị của tổ chức, phù hợp với mục tiêu cũng như hài hòa với giá trị cá nhân của các thành viên trong tổ chức và người lao động phải được xem là nguồn lực quan trọng có giá trị, luôn được tôn trọng.

     

    Hai là, để xây dựng hình ảnh thương hiệu bền vững, các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Thừa Thiên Huế cần đi đúng hướng như phân tích đánh giá thông tin qua hoạt động nghiên cứu marketing, xây dựng tầm nhìn thương hiệu, hoạch định chiến lược thương hiệu, định vị thương hiệu và xây dựng hệ thống bộ nhận diện thương hiệu.

     

    Ba là, thực hiện tốt chính sách khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng, tăng cường công tác tư vấn hỗ trợ khách hàng, trong suốt quá trình giao dịch cần xử lý công việc nhanh chóng hiệu quả cho khách hàng, luôn giữ gìn sự hài lòng và tăng cường hợp tác với khách hàng.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Craig J. B., Dibrell C., Davis P. S. – Leveraging family‐based brand identity to enhance firm competitiveness and performance in family businesses, Journal of Small Business Management 46 (3) (2008) 351-371.
    1. Chan L. L., Shaffer M. A., Snape E. – In search of sustained competitive advantage: the impact of organizational culture, competitive strategy and human resource management practices on firm performance, The International Journal of Human Resource Management 15 (1) (2004) 17-35.
    1. Kotler P, Amstrong G. – Principle of marketing (14th), Pearson Prentice Hall (2012) 32-33.
    1. Knapp D. E. – The Brand Mindset, McGraw-Hill, New York (2000) 56-58.
    1. Smircich L. – Concepts of culture and organizational analysis, Administrative Science Quarterly (1983) 339-358.
    1. Nguyễn Mạnh Quân. – Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2011) 8-9.

    151

     

    Nguyễn Văn Ít, Hoàng Thị Chỉnh, Trần Anh Minh

     

    1. Handaru A. W., Kartini D., Effendi N., Febrian E. – Firm competitiveness: Findings from five stars hotels in Jakarta, Indonesia, International Journal of Business and Commerce 5 (8) (24-39).
    1. Smith J. L., Flanagan W. G. – Creating competitive advantage: Give customers a reason to choose you over your competitors, Doubleday, New York (2006) 56-57.
    1. Bonoma T.V. – Making your marketing strategy work, Harvard Business Review 62 (2) (1984) 69-76.
    1. Schwartz H., Davis S. M. – Matching corporate culture and business strategy, Organizational Dynamics 10 (1) (1981) 30-48.
    1. Dowling G. R. – Developing your company image into a corporate asset, Long Range Planning 26 (2) (1993) 101-109.
    1. Fiol C. M. – Managing culture as a competitive resource: An identity-based view of sustainable competitive advantage, Journal of Management 17 (1) (1991) 191-211.
    1. Brown J. R., Ragsdale C. T. – The competitive market efficiency of hotel brands: An application of data envelopment analysis, Journal of Hospitality and Tourism Research 26 (4) (2002) 332-360.
    1. Kadocsa G. – Research of competitiveness factors of SME, Acta Polytechnica Hungarica 3 (4) (2006) 71-84.
    1. Man T. W., Lau T., Chan K. – The competitiveness of small and medium enterprises, Journal of Business Venturing 17 (2) (2002) 123–142.
    1. Haluk Köksal M., Özgül E. – The relationship between marketing strategies and performance in an economic crisis, Marketing Intelligence and Planning 25 (4) (2007) 326-342.
    1. Prasad K., Dev C. S. – Managing hotel brand equity: A customer-centric framework for assessing performance, Cornell Hotel and Restaurant Administration Quarterly 41 (3) (2000) 22-31.
    1. Lim K., O’Cass A. – Consumer brand classifications: An assessment of culture-of-origin versus country-of-origin, Journal of Product and Brand Management 10 (2) (2001) 120-136.
    1. Li V. – The methodology to assess the competitiveness of real estate developers in China, Queensland University of Technology (2011) 15-16.
    1. Hair J. F., Black, W. C., Babin B. J., Anderson R. E., Tatham R.L. – Mutilvariate data analysis, Prentice Hall, Upper Saddle River NJ (2010).

    ABSTRACT

     

    RESEARCH ON IMPACT OF MARKETING CAPABILITIES, BRAND IMAGES

     

    AND COMPETITIVENESS ON BUSINESS PERFORMANCE OF TOURIST ENTERPRISES IN THUA THIEN HUE PROVINCE

     

    Nguyen Van It1*, Hoang Thi Chinh2, Tran Anh Minh3

    1Ho Chi Minh City University of Food Industry

    2University of Economics Ho Chi Minh City

    3Van Lang University

    *Email: [email protected]

     

    The research on progress relationship and impacts of marketing capabilities, brand images, competitiveness on business efficiency of tourist enterprises was conducted on the basis of a survey of 490 tourism enterprises’ managers in Thua Thien Hue from March 2018 to July 2018. This study analyzed the data by Explorary Factor Analysis (EFA), Structural Equation Modeling (SEM). The results determined the relationship and level impacts of marketing capabilities, brand images, competitiveness on business performance of tourist enterprises. Based on these results, some implications are also considered to improve business efficiency for tourist enterprises.

     

    Keywords: Organizational culture, marketing capabilities, brand images, competitiveness, business performance.

     

    152


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập nhóm chương 3 Hành vi thị trường B2C và B2B


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C3%9D-%C4%90%E1%BB%8ANH-MUA-TRANG-PH%E1%BB%A4%CC%A3C-N%E1%BB%AE-QUA-M%E1%BA%A0NG-X%C3%83-H%E1%BB%98I-FACEBOOK.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

    Ý định mua trang phục …

     

    Ý ĐỊNH MUA TRANG PHỤ̣C NỮ QUA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

     

    PURCHASE INTENTION WOMEN’ S CLOTHING IN FACEBOOK NETWORK

     

    Hoàng Thị Phương Thả̉o*, Nguyễn Trúc Thanh Mai**

     

     

    TÓM TẮT

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook. Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên 198 người dùng Facebook là nữ, có độ tuổi từ 18 trở lên, đang sử dụng Facebook và chưa mua trang phục nữ qua loại hình này. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố có ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook, gồm: giá cảm nhận, nhận thức rủi ro, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến, số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook. Cuối cùng, kết quả phân tích phương sai cho thấy có sự khác nhau giữa các nhóm thu nhập và thời gian sử dụng Facebook đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội này. Cụ thể, nhóm thu nhập thấp có ý định mua trang phục nữ qua Facebook tích cực hơn, và thời gian sử dụng Facebook càng lâu thì ý định mua càng cao.

     

    Từ khóa:  ý  định  mua,  mạ̣ng  xã  hội,

     

    Facebook, mua sắm trực tuyến, trang phục nữ

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ứng dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Điều này không chỉ làm thay đổi phương thức bán hàng mà còn làm thay đổi cả thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Thay vì

     

    ABSTRACT

     

    The aims of this is to examine the effective factors for purchase intention of consumer who choose female clothes via social media, such as Facebook. Data analysis is investigated from 198 women who aregreater or equal 18 years old, using Facebook and never buy women’s clothing in Facebook before. The results indicate that perceived price, perceived risk, online purchase experience, the number of likes a page of interest or item of interest on Facebook are four factors to affect purchase intention. Furthermore, analysis of variance show that the relationship between purchase intention to income and time to use Facebook to purchase intention are different. In particular, purchase intention is higher when consumers have lower income and spend more time to use Facebook.

     

    Keyword: purchase intention, social network, Facebook, online shopping, women’s clothing.

     

    phải đến các cửa hàng, chợ, siêu thị…để ngắm nghía và lựa chọn, người tiêu dùng có thể ngồi tại nhà mua sắm qua mạng mà vẫn có thể có được những món hàng ưng ý với mức giá tốt nhất. Trong báo cáo của bà Trương Thanh Hà (2014) – chuyên gia phân tích và hoạch định chiến lược của Công ty Google châu Á – Thái

     

    25

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bình Dương về Hành vi người tiêu dùng trực tuyến cho thấy trang phục là mặt hàng được nhiều người lựa chọn nhất khi mua sắm trực tuyến, 51% số người sử dụng Internet tại Việt Nam chưa bao giờ mua hàng trực tuyến muốn thử mua trang phục trên mạng. Facebook là mạng xã hội được yêu thích nhất tại Việt Nam với 21% người sử dụng, và việc mua sắm qua trang mạng xã hội này chiếm gần 50% (Medialink, 2015). Mua sắm trên Facebook cũng tương tự như mua sắm trên các website bán lẻ, cũng mang những lợi ích cùng rủi ro như khi mua sắm trực tuyến. Tuy nhiên, Facebook lại có một số tính năng đặc trưng riêng mà các website không có, như việc có thể tự do kết bạn, người bán càng có nhiều bạn thì hình ảnh sản phẩm được đăng sẽ càng đến được với nhiều người, đồng thời tính năng like, share có tác động tích cực đến ý nghĩ của người dùng. Nắm bắt xu hướng đó, hiện nay, kinh doanh trang phục nữ qua Facebook thời gian gần đây có sự tăng trưởng vượt bậc. Bên cạnh đó, để có thể khai thác tốt thị trường và phát triển lâu dài cần hiểu rõ các nhân tố nào tác động đến ý định mua của người tiêu dùng. Hiện nay, các nghiên cứu trên thế giới cũng bắt đầu quan tâm đến ý định mua qua Facebook như đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng trên Facebook (Richard và Guppy, 2014), Sự ràng buộc mạnh mẽ của Facebook và hành vi trong ý định mua (Oosthoek, 2013), tuy nhiên vẫn còn chiếm số lượng hạn chế. Tại Việt Nam cũng có nghiên cứu riêng cho Facebook, nhưng vẫn còn mang tính chung chung của mô hình mua sắm trực tuyến mà chưa có nét đặc trưng riêng của Facebook. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook sẽ tìm ra được các nhân tố đặc trưng tác động cũng như khuyến nghị công tác quản trị nhằm thu hút người sử dụng Facebook đến với hình thức mua hàng qua mạng xã hội này, cải thiện và phát triển hơn nữa hình thức bán hàng tiện lợi qua kênh mới này.

    2. MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK VÀ KINH DOANH TRÊN FACEBOOK

     

    Facebook là một trang mạng xã hội được thành lập vào năm 2004 bởi một sinh viên trường Harvard, tên Mark Zuckerberg. Kể từ lúc hoạt động, Facebook đã đạt được danh tiếng khổng lồ, đặc biệt là trong các trường đại học. Năm 2006, Facebook mở đăng kí cho tất cả các sinh viên đại học, sau đó cho các sinh viên phổ thông, và hiện nay bất kỳ ai trên 13 tuổi đều có thể tạo cho mình một tài khoản Facebook.

     

    Facebook vào Việt Nam năm 2008 và sự gia tăng lượng người Việt Nam sử dụng nhanh hàng đầu của thế giới. Đặc biệt, có nhiều sinh viên sử dụng Facebook và dường như nghiện Facebook. Họ sử dụng Facebook để kết bạn, chia sẻ cảm giác của họ, ý tưởng, trò chơi, hình ảnh, video , âm nhạc…

     

    Facebook thu hút hàng triệu người dùng mỗi năm. Sự đơn giản trong thiết kế giao diện và sự tập trung vào kết nối con người với nhau đã giúp cho sự phát triển danh tiếng của Facebook và làm cho nó trở thành trang mạng xã hội được biết đến nhiều nhất (Nielsen, 2009).

     

    Facebook đã thay đổi cuộc sống con người, ít nhất là trong cách mọi người giao tiếp. Cùng với sự lây lan của các mạng xã hội, các mối quan hệ đã trở nên gần gũi hơn và rộng hơn so với trong quá khứ, và các trang web xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời của cuộc sống với tác động tích cực và tiêu cực của nó.

     

    Bất kì người sử dụng Facebook nào cũng có thể tạo riêng cho mình một cửa hàng trên Facebook bằng cách đăng sản phẩm trên trang cá nhân hoặc trang fanpage. Trong khi các cửa hàng trực tuyến chỉ tương tác hạn chế giữa một người mua với trang web bán hàng, thì các cửa hàng trên Facebook có thể tương tác đa chiều trong mạng xã hội. Các khách hàng có thể trao đổi thông tin, đánh giá sản phẩm, giới thiệu cho bạn bè hay những người trong mạng xã hội thông qua các trạng thái cập nhật. Ngoài ra, khi

     

    26

     

    Ý định mua trang phục …

     

    một người sử dụng và hài lòng về một sản phẩm nào đó, họ có thể gợi ý sản phẩm cho những người sử dụng tiềm năng khác thông qua các chức năng thích hoặc chia sẻ, đánh dấu bạn bè.

     

    1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT1. Ý định mua
      • định mua diễn tả “Những gì chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ mua” (Blackwell và cộng sự, 2001, trang 283). Người tiêu dùng có ý định mua sắm trực tuyến đề cập đến sự sẵn sàng của họ để mua hàng trong một cửa hàng trên mạng. Thông thường, yếu tố này được đo bằng sự sẵn sàng của người tiêu dùng để mua và quay trở lại mua thêm. Ý định của người tiêu dùng về mua sắm trực tuyến liên quan tích cực đến thái độ đối với mua sắm trực tuyến, và ảnh hưởng đến việc ra quyết định và hành vi mua sắm của họ. (Li và Zhang, 2002). Ý định là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hành vi (Ajzen, 1991). Hay nói cách khác, nghiên cứu về ý định mua hàng trực tuyến sẽ cho dự đoán tốt đối với hành vi mua hàng trực tuyến.

    3.2. Giá cảm nhận và ý định mua

     

    Giá là chi phí mà người tiêu dùng phải trả để có được sản phẩm, dịch vụ mong muốn. Facebook nói riêng và Internet nói chung đã thay đổi cách mua sắm của nhiều người và giúp mọi người tiết kiệm nhiều tiền bạc cũng như thời gian một cách dễ dàng. Có rất nhiều thông tin quảng cáo giảm giá nếu như khách hàng mua nhiều hàng hoặc giao hàng miễn phí. Khách hàng sẽ cảm thấy mình có được rất nhiều lợi ích với chi phí mình bỏ ra. Do đó, người tiêu dùng sẽ cảm nhận về giá thông qua việc cảm nhận mức chi phí bỏ ra thấp hơn khi thực hiện mua sắm. Trong nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến người tiêu dùng trực tuyến”, Hasslinger và cộng sự (2007) đã đề cập đến việc người tiêu dùng tin rằng mua hàng qua mạng thì tiết kiệm được về giá và có thể dễ dàng so sánh về giá. Nguyễn Lê Phương Thanh (2013), cũng chỉ ra rằng giá cảm nhận có ảnh hưởng tích cực đến ý

     

    định mua của người tiêu dùng. Do đó giả thuyết thứ nhất được đưa ra là:

     

    H1: Giá cảm nhận có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.3. Nhận thức sự hữu dụng và ý định mua

     

    Nhận thức sự hữu dụng là mức độ mà một cá nhân tin rằng bằng cách sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc mình (Davis và cộng sự, 1989). Putro và Haryanto (2015) đưa ra định nghĩa rằng nhận thức sự hữu dụng từ mua trực tuyến là sự mong đợi của người tiêu dùng về sự tiện lợi, chất lượng và dịch vụ của một sản phẩm sẽ có mặt tại bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào. Các chỉ số của biến này là hữu ích, hiệu quả, năng suất cao. Liat và Wuan (2014), Nguyễn Lê Phương Thanh (2013) cũng đã chỉ ra nhận thức sự hữu dụng có tác động dương đến ý định mua trực tuyến. Vì thế, giả thuyết thứ hai cũng được đưa ra cân nhắc:

     

    H2: Nhận thức sự hữu dụng có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.4. Nhóm tham khảo chuẩn tắc và ý định mua

     

    Nhóm tham khảo chuẩn tắc đề cập đến nhận thức áp lực xã hội của người tiêu dùng mà có thể ảnh hưởng đến họ để thực hiện hành vi nhất định (Fishbein và Ajzen, 1975). Mọi người thường bị ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè và những người thân đến ý định mua sắm (Liat và Wuan, 2014). Facebook là mạng xã hội, nơi kết nối mọi người lại với nhau. Khi những người mà họ xem là quan trọng giới thiệu một cửa hàng Facebook để mua sản phẩm, họ sẽ có xu hướng mua tại cửa hàng này hơn thay vì mua tại một cửa hàng xa lạ. Nghiên cứu này xem xét nhóm tham khảo chuẩn tắc như ý kiến, lời khuyên của những người quan trọng của cá nhân được khảo sát tác động đến ý định mua sắm trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook. Từ những lập luận trên, giả thuyết thứ ba được đề cập là:

     

    H3: Ý kiến tích cực của nhóm tham khảo có

     

    27

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.5. Nhận thức rủi ro và ý định mua

     

    Trong mô hình chấp nhận thương mại điện tử (E-CAM), nhận thức rủi ro bao gồm nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/ dịch vụ và nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến. Người tiêu dùng nhận thức rủi ro trong mua sắm trực tuyến bao gồm rủi ro tài chính (ví dụ, sợ thiệt hại kinh tế trong kết quả mua), rủi ro xã hội (ví dụ, sợ bị từ chối xã hội đối với sản phẩm mua trực tuyến), rủi ro hoạt động (ví dụ, sợ một sản phẩm mua trực tuyến không có chất lượng như quảng cáo), và rủi ro riêng tư (tức là, sợ tiết lộ các thông tin cá nhân) (Kim và cộng sự, 2004). Nhận thức rủi ro của người tiêu dùng là một rào cản quan trọng đến ý định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng (Kim và cộng sự, 2007). Nhận thức rủi ro làm giảm sự sẵn lòng mua hàng của người tiêu dùng qua Internet (Masoud, 2013). Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Lê Phương Thanh (2013) và Trịnh Minh Long (2014) cũng đã đề cập đến sự ảnh hưởng của nhận thức rủi ro đến ý định mua sắm trực tuyến. Do đó, giả thuyết thứ 4 được đưa ra là:

     

    H4: Nhận thức rủi ro có tác động âm đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.6. Kinh nghiệm mua sắm trực tuyến và ý định mua

     

    Hành vi mua sắm trực tuyến đề cập đến quá trình mua sản phẩm hoặc dịch vụ qua Internet (Liang and Lai, 2000). Những kinh nghiệm mua sắm trực tuyến ảnh hưởng tích cực đến nhận thức của người tiêu dùng mua sắm trực tuyến và ý định mua hàng trực tuyến (Dai và cộng sự, 2014). Kim và cộng sự (2004), Putro và Haryanto (2015) đã đề cập rằng kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có ảnh hưởng trực tiếp ý định mua trực tuyến. Trong nghiên cứu này, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến được hiểu rằng người tiêu dùng đã từng mua bất kì sản phẩm

    trực tuyến hoặc mua qua mạng xã hội Facebook (sản phẩm khác trang phục nữ). Từ đó, giả thuyết thứ năm cũng được đề xuất là:

     

    H5: Kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.7. Số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook và ý định mua

     

    “Like” là một hình thức để có được thông tin phản hồi hoặc kết nối với những gì mà bạn quan tâm trên Facebook. Khi nhấp vào nút “like” một điều gì đó, bạn dễ dàng để cho ai đó biết rằng bạn thích nó, mà không để lại một lời nhận xét (Harris và Dennis, 2011). Bởi thích một trang nào đó là người dùng đã tự nguyện chọn tham gia, tiếp nhận thông tin với các chủ sở hữu của trang đó. Các cá nhân có thể tạo ra các trang Facebook và sau đó khuyến khích người dùng Facebook để trở thành “fan” của những trang này bằng cách nhấn vào nút “like” trên trang. Khi trang này đã được thích, người dùng nhận được thông tin cập nhật kinh doanh và khả năng quan sát hoạt động người hâm mộ khác trong trang đó thông qua thông tin cá nhân của họ (Nelson-Field, 2012). Do đó, quảng cáo các mặt hàng mới, giảm giá, khuyến nghị và đánh giá bởi những người khác có thể và sẽ được người sử dụng nhìn thấy. Theo Richard và Guppy (2014) số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm ảnh hưởng tích cực đến ý định mua sản phẩm. Từ những lập luận trên, giả thuyết thứ sáu được hình thành:

     

    H6: Số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook có tác động dương đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    3.8. Sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook và ý định mua

     

    Facebook cho phép người dùng chia sẻ các thông tin về sản phẩm/dịch vụ nếu họ thấy quan trọng và thích hợp (Harris và Dennis, 2011). Chia sẻ là việc người dùng đăng các liên kết về hình ảnh của sản phẩm hoặc trang kinh doanh

     

    28

     

    Ý định mua trang phục …

     

    lên Facebook của họ, điều này sẽ dẫn đến việc những thông tin này xuất hiện trên trang chủ của bạn bè. Thông qua đó, mọi người đều có thể nắm bắt thông tin, bình luận và chia sẻ thêm liên kết đến bạn bè của họ. Theo Richard và Guppy (2014) sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm. Do đó, giả thuyết thứ bảy được đưa ra là:

     

    H7: Sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook có tác động dương đến đến ý định mua trang phục nữ qua Facebook.

     

    4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm khám phá, bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm trong mô hình. Kỹ thuật thảo luận tay đôi với các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất – chọn mẫu quota: gồm 4 người bán trang phục nữ trên Facebook trên 1 năm; 8 người dùng Facebook, từ 18 tuổi trở lên, đã mua sản phẩm bất kì trên Facebook và có ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội này. Thang đo được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu của Mansori và cộng sự (2012), Liat và Wuan (2014), Haryo and Budhi (2015), Kim và cộng sự (2004), Ling và cộng sự (2010), Richard và Guppy (2014). Các thang đo được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với đối tượng được khảo sát. Cuối cùng mô hình “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook” sử dụng 7 khái niệm thành phần có tác động đến ý định mua, và có tổng cộng 29 biến quan sát trong mô hình này – giá cảm nhận (PRICE1àPRICE3), nhận thức sự hữu dụng (PU4àPU8), nhóm tham khảo chuẩn tắc (SN9àSN11), nhận thức rủi ro (PR12àPR15), kinh nghiệm mua sắm trực tuyến (OSE16àOSE19), số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook (LIKE20àLIKE23), sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook (SHARE24àSHARE26), và 1

     

    biến phụ thuộc ý định mua trang phục nữ qua Facebook (INT27àINT29).

     

    Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bản câu hỏi khảo sát do đáp viên tự trả lời. Bản câu hỏi chính thức được hình thành từ cơ sở lý thuyết thông qua bước hiệu chỉnh từ nghiên cứu định tính. Thông tin thu thập được dùng để đánh giá độ tin cậy, kiểm định thang đo, kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu.

     

    5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Mẫu được thu thập theo phương pháp phi xác suất – chọn mẫu phán đoán. Hơn 200 phiếu khảo sát được phát ra gồm 150 phiếu khảo sát trực tuyến và 70 phiếu phát trực tiếp. Sau khi loại bỏ các phiếu khảo sát được trả lời không hợp lệ (do thiếu các thông tin quan trọng), còn lại 198 phiếu được đưa vào phân tích định lượng.

     

    Thống kê từ mẫu nghiên cứu cho thấy, đối tượng tham gia nghiên cứu phần lớn ở độ tuổi từ 18 đến 30, thu nhập trung bình chủ yếu dưới 10 triệu, hầu hết đều có kinh nghiệm sử dụng Facebook trên 3 năm. Như vậy, trong nghiên cứu này, đối tượng là những người trẻ tuổi, thu nhập chưa cao và đã trải nghiệm Facebook trong thời gian dài.

     

    5.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

     

    Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu (>0.6). Hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều đạt giá trị lớn hơn 0.3. Do vậy, các biến đo lường của các thành phần đều đạt yêu cầu và được sử dụng trong phân tích nhân tố.

     

    5.2. Phân tích nhân tố

     

    Hệ số KMO = 0.800 > 0.5, kiểm định Bartlett có sig = 0.000 < 0.05: đạt yêu cầu. Kết quả này chỉ ra rằng các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau và phân tích nhân tố (EFA) là thích hợp. Kết quả phân tích nhân tố đã đưa ra mô hình ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook vẫn giữ nguyên các yếu

     

    29

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    tố ban đầu với Eigenvalue > 1, các biến quan sát có hệ số tải > 0.5 và tổng phương sai trích = 64.849%.

     

    5.3. Ma trận hệ số tương quan

     

    Phân tích tương quan Pearson được thực hiện nhằm khẳng định có mối quan hệ tuyến tính

    giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập, khi đó việc sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính là phù hợp. Giá trị tuyệt đối |r| càng gần 1 thì tương quan càng mạnh. Đồng thời cũng cần phân tích tương quan giữa các biến độc lập với nhau, nếu các biến có tương quan chặt thì phải lưu ý đến vấn đề đa cộng tuyến sau khi phân tích hồi quy.

     

     

    INT

    PRICE

    PU

    SN

    PR

    OSE

    LIKE

    SHARE

                     

    INT

    1.000

    0.298*

    0.280*

    0.010

    -0.392*

    0.534*

    0.474*

    -0.028

                     

    PRICE

     

    1.000

    0.104

    0.027

    -0.064

    0.262

    0.276

    0.060

                     

    PU

       

    1.000

    -0.047

    -0.162

    0.280

    0.384

    -0.089

                     

    SN

         

    1.000

    0.010

    -0.051

    -0.002

    0.249

                     

    PR

           

    1.000

    -0.273

    -0.257

    0.095

                     

    OSE

             

    1.000

    0.521

    -0.060

                     

    LIKE

               

    1.000

    -0.078

                     

    SHARE

                 

    1.000

                     

    Ghi chú: * Tương quan ở mức ý nghĩa 5%

     

    Kết quả phân tích tương quan, các biến độc lập không có tương quan chặt với nhau và đều có tương quan đáng kể với biến phụ thuộc ngoại trừ biến “nhóm tham khảo chuẩn tắc” và “sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook” không có tương quan với biến phụ thuộc.

     

    5.4. Kiểm định giả thuyết

     

    Bảng 1 cho thấy, mô hình nghiên cứu có R2 hiệu chỉnh là 0.391, nghĩa là có 39.1% sự biến thiên của ý định mua (INT) được giải

    thích bởi sự biến thiên của các biến độc lập. Giá trị F = 19.045 tương ứng với sig = 0.000

    • 05, có thể kết luận mô hình hồi quy tuyến tính xây dựng được phù hợp với tổng thể. Hệ số Beta chuẩn hóa của các biến giá cảm nhận (PRICE), nhận thức rủi ro (PR), kinh nghiệm mua sắm trực tuyến (OSE), số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm (LIKE) đều có mức ý nghĩa quan sát sig < 0.05, vì thế giả thuyết H1, H4, H5, H6 được chấp nhận, giả thuyết H2, H3 và H7 bị bác bỏ.

    Bảng 1: Tóm tắt kết quả phân tích hồi quy

     

     

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số

       

    Thống kê đa cộng tuyến

       

    hóa

    chuẩn hóa

       

    Biến độc lập

     

    t

    Sig.

       
               

    B

     

    Sai số

    Beta

    Độ chấp nhận

    Hệ số phóng đại

           
       

    chuẩn

       

    của biến

    phương sai VIF

               
                     

    (Hằng số)

    4.801

     

    1.528

     

    3.143

    0.002

       
                     

    PRICE

    0.142

     

    0.060

    0.140

    2.379

    0.018

    0.896

    1.116

                     

    PU

    0.055

     

    0.048

    0.070

    1.149

    0.252

    0.838

    1.194

                     

    SN

    0.024

     

    0.058

    0.023

    0.408

    0.684

    0.933

    1.072

                     

    30

     

                     

    Ý định mua trang phục …

                         
                         

    PR

    -0.190

     

    0.046

    -0.240

     

    -4.099

    0.000

    0.899

     

    1.112

                         

    OSE

    0.254

     

    0.053

    0.320

     

    4.766

    0.000

    0.684

     

    1.461

                         

    LIKE

    0.157

     

    0.060

    0.181

     

    2.603

    0.010

    0.637

     

    1.570

                         

    SHARE

    0.021

     

    0.060

    0.020

     

    0.352

    0.725

    0.918

     

    1.089

                     

    Biến phụ thuộc: Ý định mua trang phục nữ qua Facebook

           
                   

    R2 hiệu chỉnh = 0.391

    ; F = 19.045

    ; sig = 0.000

             
                         

    Qua bảng kết quả phân tích cho thấy VIF đều nhỏ hơn 2, do đó ta có thể kết luận mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

     

    5.5. Kiểm định sự khác biệt về ý định mua trang phục nữ qua Facebook theo các đặc điểm cá nhân

    Phân tích ANOVA (Bảng 2) cho thấy các nhóm thu nhập và thời gian sử dụng Facebook khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến ý định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook.

     

    Bảng 2: Tóm tắt kết quả phân tích sâu ANOVA – Tukey

     

    (I)

    (J)

    Trung bình khác

    Sai số chuẩn

    Mức ý

     

    biệt (I-J)

    nghĩa

     
         
               

    Thu nhập

             
               

    < 5 triệu

    5 – 10 triệu

    .38750

    .30952

    .424

     
             

    10 – 15 triệu

    1.31429*

    .43588

    .008

     
     
               

    5 – 10 triệu

    < 5 triệu

    -.38750

    .30952

    .424

     
             

    10 – 15 triệu

    .92679

    .44230

    .093

     
     
               

    10 – 15

    < 5 triệu

    -1.31429*

    .43588

    .008

     

    triệu

    5 – 10 triệu

    -.92679

    .44230

    .093

     
               

    Thời gian sử dụng Facebook

           
               

    1 đến <3

    3 đến <5 năm

    .61308

    .40726

    .291

     

    năm

    5 năm trở lên

    -.31775

    .42559

    .736

     
               

    3 đến <5

    1 đến <3 năm

    -.61308

    .40726

    .291

     

    năm

    5 năm trở lên

    -.93083*

    .31748

    .010

     
               

    5 năm trở

    1 đến <3 năm

    .31775

    .42559

    .736

     

    lên

    3 đến <5 năm

    .93083*

    .31748

    .010

     
               

    Ghi chú: Biến phụ thuộc là Ý định mua; * Sự khác biệt có ý nghĩa tại mức ý nghĩa 5%.

     

     

    Cụ thể, có sự khác nhau giữa thu nhập dưới 5 triệu và thu nhập từ 10 đến 15 triệu đồng, nhóm thu nhập thấp có ý định mua trang phục nữ qua Facebook tích cực hơn; có sự khác nhau

     

    giữa thời gian sử dụng Facebook từ 3 đến 5 năm và nhóm sử dụng trên 5 năm, cho thấy thời gian sử dụng Facebook càng lâu thì ý định mua càng cao.

     

    31

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 nhân tố được rút trích với 28 biến quan sát, thể hiện 7 nhân tố tác động (7 biến độc lập) đến của ý định mua trang phục nữ qua Facebook (biến phụ thuộc). Trong đó có 4 biến ảnh hưởng là giá cảm nhận, nhận thức rủi ro, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến và số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm trên Facebook. Nhân tố kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có tác động

     

    dương mạnh nhất (β5 = 0.320), kế tiếp là tác động âm của nhận thức rủi ro (β4 = -0.240), rồi đến

     

    tác động dương của số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm (β6 = 0.181), cuối cùng là tác động dương của giá cảm nhận (β1 = 0.140).

     

    Biến giá cảm nhận, nhận thức rủi ro, kinh nghiệm mua sắm trực tuyến gần như tương đồng với nghiên cứu về ý định mua trực tuyến của các tác giả trước: Mansori và cộng sự (2012), Putro và Haryanto (2015), Trịnh Minh Long (2014). Riêng biến số lượt thích một trang hoặc mục quan tâm đã tạo nên sự khác biệt rõ nét loại hình mua sắm trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook so với mua sắm trên các trang web bán hàng. Đây là điểm đặc trưng của đề tài này bởi chức năng “thích” là một đặc trưng riêng biệt của Facebook. Một sản phẩm hoặc trang bán sản phẩm được nhiều người thích sẽ làm tăng sự tin cậy đối với người bán cũng như chất lượng sản phẩm được bán, từ đó sẽ có tác động tích cực đến ý định mua hơn so với các trang web bán hàng trực tuyến. Bên cạnh đó, một người bán hàng mới trên Facebook nhờ chức năng “thích” cũng sẽ tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng đến khách hàng hơn một người bán mới xuất hiện trên một trang mạng. Các biến nhận thức sự hữu dụng, nhóm tham khảo chuẩn tắc và sự chia sẻ của bạn bè trên Facebook không có ảnh hưởng đến ý định mua trong nghiên cứu này.

     

    Phân tích ANOVA cho thấy các nhóm thu nhập và thời gian sử dụng Facebook khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến ý

    định mua trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook.

     

    Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, một số kiến nghị được tác giả đưa ra cho những người kinh doanh trang phục nữ qua mạng xã hội Facebook:

     

    • Thứ nhất, giá trên Facebook thấp hơn so với giá tại cửa hàng là yếu tố quan trọng thúc đẩy người dùng Facebook mua thử sản phẩm. Người kinh doanh trang phục nữ qua Facebook nên thường xuyên tạo các chương trình khuyến khích khách hàng như mua với số lượng bao nhiêu thì sẽ miễn phí giao hàng hoặc sẽ bán với giá ưu đãi hơn. Có nhiều chương trình ưu đãi để những người truy cập Facebook khi nhìn qua sẽ cảm nhận được sản phẩm đang có giá tốt, phù hợp với túi tiền người dùng có thu nhập trung bình khá như đối tượng trong mẫu nghiên cứu.
    • Bên cạnh đó, nhận thức rủi ro càng cao, người tiêu dùng càng ít muốn mua sản phẩm. Vì thế việc tạo niềm tin đến khách hàng là yếu tố rất quan trọng. Người bán trang phục qua Facebook cần cố gắng giảm thiểu cảm nhận rủi ro của khách hàng. Sản phẩm đăng bán nên là ảnh chụp thật, màu sắc, chất liệu, kích cỡ cần được nêu rõ để người mua cảm nhận chân thực hơn sẽ thúc đẩy ý định mua hơn. Vì sản phẩm trang phục mang tính đặc thù, cần phù hợp với vóc dáng chiều cao và cân nặng của người mua vì thế người bán nên tạo lòng tin của khách hàng bằng cách liên kết với các công ty giao nhận, khi nhận được sản phẩm mới trả tiền sẽ giúp người mua cảm giác yên tâm hơn, và đưa ra chính sách đổi trả hàng rõ ràng, niềm nở, vui vẻ khi khách hàng mặc không vừa hoặc do lỗi sản phẩm.
    • Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm mua sắm trực tuyến có tác động mạnh nhất đến
    • định mua trang phục nữ qua Facebook (β5 = 0.320). Người dùng Facebook đã từng mua sản phẩm trên các website sẽ dễ mua sản phẩm được bán trên Facebook hơn. Sự quen thuộc với các hình thức thanh toán, giao nhận, lựa

    32

     

    Ý định mua trang phục …

     

    chọn sản phẩm, nên khi nhìn thấy trang phục nữ yêu thích được bán trên Facebook, người dùng Facebook dễ bị tác động đến ý định mua hơn. Người dùng Facebook lâu năm, đã từng mua sản phẩm khác trang phục cũng sẽ dễ chọn mua trang phục khi thấy thích. Người bán cần quan tâm kết bạn với những đối tượng thường mua hàng trực tuyến để tăng doanh số bán tốt hơn.

     

    • Cuối cùng, người kinh doanh trang phục nữ cần có những hoạt động nhằm khuyến khích khách hàng thích sản phẩm hoặc trang bán hàng của mình nhằm tăng càng nhiều số lượt “like”, cũng là cách để tăng sự tin tưởng đến người mua.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Ajzen, I. (1991). The theory of planned Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179–211.
    • Blackwell, R. D., Miniard, P. W., & Engel, J. F. (2001). Consumer behavior. Troy, MO: Harcourt College Publishers.
    • Dai, B., Forsythe, S., & Kwon, W. (2014). The impact of online shopping experience on risk perceptions and online purchase intention: Does product categogy matter?, Journal of Electronic Commerce Research, 15(1), 13-24.
    • Davis, D. F., Bagozzi, P. R. & Warshaw, R. P. (1989). User acceptance of computer technology: a comparison of two theoretical model. Management Science, 35, 982-1003.
    • Fishbein, M., and Ajzen, I. (1975). Belief, Attitude, Intention and Behavior: An Introduction to theory and research. Reading, MA:Addition – Wesley website http://people. umass.edu/aizen/f&a1975.html, ngày truy cập 20/11/2015.
    • Harris, L., & Dennis, C. (2011). Engaging customers on facebook: Challenges for eretailers. Journal of Consumer Behaviour, 10(6), 338-346.
    • Hasslinger, A., Hodzic, S., & Opazo, C. (2007). Consumer behaviour in online shopping.

    Kristianstad University.

     

    • Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Hồng Đức.
    • Kim, J. D., Ferrin, L. D., & Rao, H. R. (2007). A trust-based consumer decision-making model in electronic commerce: The role of trust, perceived risk, and their antecedents, Decision Support Systems 44, 544–564.
    • Kim, I. J., Lee, C. H.,& Kim, J. H. (2004). Factors Affecting Online Search Intention and Online Purchase Intention, Seoul Journal of Business, 10(2), 27-48.
    • Li, N., & Zhang, P.(2002). Consumer Online Shopping Attitudes And Behavior: An Assessment of Research, Eighth Americas Conference on Information Systems, 508-517.
    • Liat, B. C., & Wuan, S. Y. (2014). Factors Influencing Consumers’ Online Purchase Intention: A Study among University Students in Malaysia.International Journal of Liberal Arts and Social Science, 2(8), 121-133.
    • Liang, T., & Lai, H. (2000). Electronic store design and consumer choice: an empirical study. System Sciences Proceedings of 33rd International Conference in Hawaii.
    • Masoud, Y. E.(2013), The Effect of Perceived Risk on Online Shopping in Jordan, European Journal of Business and Management, 5(6), 76-88.
    • Medialink (2015). Tổng quan thị trường internet Việt Nam 2015. Received October 11, 2015, romhttp://www.medialink.com.vn/online-marketing/tong-quan-thi-truong-internet-viet-nam-2015.html.
    • Nelson-Field, K., Riebe, E.,& Sharp, B. (2012), ‘What’s not to “like?” Can a Facebook fan base give a brand the advertising reach it needs?’, Journal of Advertising Research, 52(2), 262-269.

    33

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    • Nielsen (2009). Global Faces and Networked Places: A Nielsen report on Social Networking’s New Global Footprint, Received June 08, 2016, from http://apo.org.au/resource/ global-faces-and-networked-places-nielsen-report-social-networkings-new-global-footprint.
    • Nguyễn Lê Phương Thanh (2013). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Oosthoek, A. (2013), What is the impact of Facebook tie strength and behavior on purchase intention?, Erasmus University Rotterdam.
    • Putro, H. & Haryanto, B. (2015). Factors Affecting Purchase Intention of Online

    Shopping in Zalora Indonesia. British Journal of Economics, Management & Trade, 9, 1-12.

     

    • Richard, E. J. & Guppy, S. (2014). Facebook: Investigating the influence on consumer purchase intention. Asian Journal of Business Research, 4(2), Special Issue, 1-15.
    • Trịnh Minh Long (2014). Factors affecting consumer’s online purchase intention: The moderating role of product category – An empirical study in Ho Chi Minh city. Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Trương Thanh Hà (2014). Báo cáo hành vi người tiêu dùng online. Khai thác từ http:// com/blog/bao-cao-google-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-online.html.

     

     

     

     

     

    34

     

    Áp dụng thẻ điểm cân bằng …

     

    ÁP DỤ̣NG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TẠI DOANH NGHIỆP VỪ̀A VÀ NHỎ – NHÌN TỪ̀ KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI

     

    Nguyễn Thị Thu Nhuần*

     

    BALANCED SCORECARD IMPLEMENTION IN SMALL AND MEDIUM-SIZED ENTERPRISES – REFLECTION ON THEORY AND PRACTICE IN THE WORLD

     

     

    TÓM TẮT

     

    Thẻ điểm cân bằng (BSC) đã được nhìn nhận là một trong mười công cụ quản trị chiến lược quan trọng, được quan tâm hàng đầu trên thế giới. Đã có rất nhiều nghiên cứu về khả năng áp dụng BSC và các phiên bản khác nhau của BSC vào các doanh nghiệp có quy mô lớn. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc áp dụng BSC đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ vẫn còn khá nhiều khoảng trống, do đó, khả năng áp dụng BSC vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, tại Việt Nam vẫn còn chưa được nghiên cứu thoả đáng.

     

    Từ khóa: thẻ điểm cân bằng, doanh nghiệp, vừa và nhỏ, kinh nghiệm thế giới

     

    1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BSC

    Các nghiên cứu gần đây đều cho thấy việc lập kế hoạch chiến lược có tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (đặc biệt là các doanh nghiệp siêu nhỏ) thì chưa có những nghiên cứu như vậy, chủ yếu do đặc thù các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh, do những khó khăn dễ thấy khi môi trường làm việc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quá nhiều mối quan hệ chồng chéo, bảo mật với nhiều điểm khuất tất. Do sự thiếu hụt đó, bài báo này chỉ bàn về khả năng áp dụng thẻ điểm

     

    ABSTRACT

     

    Balanced Scorecard (BSC) is one of the ten most important management concepts to have been introduced via articles in the Havard Business Review. Since its introduction in 1992, the BSC has featured in a wealth of academic and pratitioner papers. Writing on the BSC focuses on its application in large organisations, drawing on case sample – multi billion Dollar companies. But there is no comprehensive literature on BSC used by small and medium-sized enterprises (especially super–small–sized enterprises) in Vietnam exits today.

     

    Keywords: Balanced Scorecard, enterprise, small and world experience

     

    cân bằng (Balanced Scorecard) cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam dựa trên các nghiên cứu – kinh nghiệm trên thế giới.

     

    • BSC (Balanced Scorecard) là một hệ thống các thước đo nhằm đo lường kết quả hoạt động dựa trên chiến lược và tầm nhìn của doanh nghiệp. Hệ thống thước đo BSC phân chia kết quả hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu trên bốn khía cạnh: Tài chính – Khách hàng – Hoạt động nội bộ – Học hỏi và phát triển.
    • Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của Luật doanh nghiệp tại Việt Nam là doanh nghiệp có số vốn từ 100 tỷ trở xuống, hoặc có số nhân công dưới 300 người. Tuy nhiên, 96%
    • Phòng Thanh tra và KĐCLGD, trường Cao đẳng Công Nghiệp Tuy Hòa, ĐT: 090.808.2418, Email: [email protected]

     

     

    35

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc gia là doanh nghiệp siêu nhỏ (Vũ Tiến Lộc, 2016), tức là doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng, hoặc nhân lực từ 10 người trở xuống.

     

    Theo tác giả, việc thiếu hụt các nghiên cứu mang tính phổ quát về BSC đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể là nguyên nhân để đánh giá BSC chỉ phù hợp để sử dụng cho doanh nghiệp lớn. Các lý thuyết quản trị chiến lược hầu hết đều có thể sử dụng cho các doanh nghiệp – bất kể quy mô – mà chỉ cần điều chỉnh đôi chút cho phù hợp hình thức, mục tiêu kinh doanh.

     

    1. TÌNH HÌNH ÁP DỤ̣NG BSC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪ̀A VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI

    BSC thường được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động quản trị chiến lược tại các công ty lớn. Theo tờ Havard Business Review, trong ấn phẩm kỷ niệm phát hành thứ 75, BSC được xem là một trong 10 công cụ quản trị quan trọng nhất đã từng được giới thiệu trên tạp chí. Kể từ khi được giới thiệu vào năm 1992, BSC đã trở thành nguồn tư liệu nghiên cứu của rất nhiều bài báo, nhà khoa học kinh tế, nhiều quyển sách bán chạy. Các nghiên cứu không chỉ viết về một vài công ty tiêu biểu như Mobil và CIGNA (Kaplan và Norton 1996, 2000), ABB Skandia, SKF và Halifax (Olve, 1999) mà còn về rất nhiều tập đoàn đa quốc gia trị giá hàng tỷ USD.

     

    Nghiên cứu đo lường kết quả kinh doanh của 100 doanh nghiệp tại Kenya trên tổng thể 740 doanh nghiệp từ 5 ngành nghề chính (Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, vải vóc – may mặc – giày da; Gỗ và các sản phẩm từ gỗ, giấy, ngành in và xuất bản; Hoá chất, xăng dầu, cao su và nhựa dẻo; Ngành khai khoáng – khoáng sản phi kim, trừ xăng dầu; Luyện kim, cơ khí chế tạo) để xem xét sự ảnh hưởng của 4 khía cạnh đối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều có số lao động từ 50 người trở xuống. Kết quả nghiên cứu cho thấy 96% doanh nghiệp đang

    sử dụng BSC để đánh giá khía cạnh Tài chính, tuy nhiên, các thang đo chưa thực sự hiện hữu trong khía cạnh Hoạt động nội bộ, mảng Học hỏi và phát triển của doanh nghiệp còn chưa được nghiên cứu. Nhìn chung còn có một khoảng trống lớn giữa lý thuyết về đo lường khía cạnh Khách hàng với Hoạt động nội bộ, Học hỏi và phát triển, đồng thời là khoảng trống lớn về lý thuyết với áp dụng thực tế BSC vào các doanh nghiệp. Nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Kenya nên đầu tư phát triển các thang đo phi tài chính – bên cạnh các thang đo tài chính. Giá trị của doanh nghiệp được tạo ra từ Khách hàng nên các doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ các khía cạnh phi tài chính còn lại và xem đó là hướng đầu tư phát triển lớn. Nhà quản lý cũng cần xác định quá trình phát triển nội bộ trong dài hạn của doanh nghiệp, từ đó hoàn thiện các khâu về nhân lực, cấu trúc hệ thống và tổ chức cho phù hợp.

     

    Nghiên cứu về khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên lý thuyết BSC tại Mỹ cũng cho thấy: các doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ cùng một nội dung BSC như các doanh nghiệp lớn. Đối với khía cạnh Khách hàng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chọn lựa những tác động trực tiếp như: tính tập thể địa phương, tái chế sản phẩm, hả năng phản hồi tức thời, và các nhãn hiệu sạch, thân thiện với môi trường. Trong chuỗi giá trị trên thế giới, giữa các doanh nghiệp lớn, vẫn có những vị trí nhất định dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặc dù khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp kém hơn và các chiến lược hoạt động phần lớn phụ thuộc vào những khách hàng doanh nghiệp quy mô lớn mà họ cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho. Bằng việc lựa chọn mục tiêu phù hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể có cơ hội xác định vị trí phát triển bền vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.

     

    Nghiên cứu trên 500 doanh nghiệp nhỏ tại Anh và Cộng hoà Síp (cũng với quy mô không

     

    36

     

    Áp dụng thẻ điểm cân bằng …

     

    quá 50 nhân viên, hoặc trị giá từ 6,5 triệu bảng Anh trở xuống – theo tiêu chuẩn của Anh) về khả năng áp dụng (có chủ đích hoặc không) BSC vào chiến lược và kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng xác định lý do các doanh nghiệp nhỏ không áp dụng BSC vào việc đo lường kết quả kinh doanh. Thông qua việc phát phiếu điều tra, kết quả cho thấy các doanh nghiệp nhỏ tại Anh và Cộng hoà Síp hầu như chỉ tập trung vào việc đo lường phương diện tài chính. Kết quả là, các chỉ tiêu đo lường Tài chính chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò quan trọng hơn các phương diện – chỉ tiêu phi tài chính trong việc ra quyết định. Phần lớn các doanh nghiệp nhỏ tại Anh và Cộng hoà Síp không thực sự ứng dụng BSC, lý do chủ yếu do các doanh nghiệp không hề biết đến hoặc rất thiếu thông tin kiến thức chi tiết về BSC. Các doanh nghiệp nếu có biết đến BSC thì không áp dụng BSC vì cho rằng công cụ quản trị này không phù hợp với quy mô doanh nghiệp nhỏ. Do đó, chỉ có 7,5% doanh nghiệp được thực sự có áp dụng BSC để quản trị. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, những doanh nghiệp không hề biết hoặc không sử dụng BSC thật ra cũng sử dụng các cách tiếp cận đo lường kết quả hoạt động gần giống như BSC. Do vậy, các doanh nghiệp nhỏ cũng đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên bốn khía cạnh giống như mô tả của BSC, sử dụng các chỉ tiêu đo lường tương tự như BSC.

     

    1. KHẢ NĂNG ÁP DỤ̣NG BSC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪ̀A VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

    Hầu hết các nghiên cứu về việc áp dụng BSC cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới đều cho thấy sự cần thiết phải chỉnh sửa thay đổi và sự khác biệt trong cách áp dụng giữa BSC với các doanh nghiệp lớn và BSC với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hai đặc điểm thường được nhắc đến và so sánh nhiều nhất là sự khác biệt trong cấu trúc tổ chức và sự khác biệt trong quy trình quản trị. Các doanh nghiệp vừa và

     

    nhỏ (đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ) thường có cấu trúc đơn giản, hệ thống đơn giản; người quản lý (thường cũng là giám đốc điều hành, sở hữu hoặc đồng sở hữu doanh nghiệp) trực tiếp làm việc với một nhóm nhỏ các cộng sự mà gần như không cần thông qua các giám đốc, nhà quản lý trung gian. Nếu có khoảng 100 nhân viên trở lên thì cách làm việc này sẽ không hiệu quả, và nếu có khoảng 300 nhân viên thì nhất thiết phải có các quản lý cấp trung, thường là sẽ có giám đốc cho từng lĩnh vực riêng. Doanh nghiệp càng phát triển thì cấu trúc càng thay đổi cho phù hợp với các vấn đề giao tiếp, hợp tác làm việc phát sinh trong nội bộ.

     

    Khái niệm xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam khá giống với thế giới, mô hình kinh doanh và môi trường kinh doanh, đặc điểm cấu trúc nội bộ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ giống nhau ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, do đó có thể nói rằng, các kết quả nghiên cứu về BSC trên doanh nghiệp vừa và nhỏ của thế giới cũng có thể áp dụng tại Việt Nam. Theo đó, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều nhận ra được tầm quan trọng của bốn khía cạnh (BSC) nhưng hầu như chỉ tập trung mục tiêu đánh giá vào các chỉ tiêu Tài chính, do đó, chủ yếu nhìn nhận kết quả hoạt động và phát triển chiến lược kinh doanh dựa trên khía cạnh Tài chính. Như vậy, để chiến lược phát triển của doanh nghiệp hoàn thiện hơn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tăng cường nghiên cứu và phát triển các chỉ tiêu trong ba khía cạnh phi tài chính (Khách hàng, Hoạt động nội bộ, Học hỏi và phát triển), đặc biệt là khía cạnh Khách hàng vì khía cạnh này sẽ thúc đẩy các khía cạnh còn lại phát triển bền vững.

     

    1. KẾT LUẬN

    Như vậy, việc áp dụng BSC cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam là hoàn toàn khả thi. Đặc biệt, với quy mô nhỏ, khả năng phổ biến kiến thức về BSC và hình thành các tuyến báo

     

    37

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    cáo bám sát vào chiến lược đã vạch ra là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, yêu cầu nhà quản lý phải có kiến thức cụ thể về BSC và khả năng tuỳ biến BSC vào doanh nghiệp, đặc biệt là việc xây dựng và phát triển các chỉ tiêu thuộc khía cạnh phi tài chính. Tốt nhất là nhà quản lý đã từng có kinh nghiệm áp dụng BSC vào các tổ chức khác, hoặc có tham gia vào quá trình xây dựng và ứng dụng BSC ban đầu.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Subash Bijlani – Dr. Thomas J. Mierzwa , Satisfying sustainability in SMEs – Balanced Scorecard Metaphors for Managing SME Business Processes, 2012, University of Maryland University College;
    • George Giannopoulos – Andrew Holt –

    Ehsan Khansalar – Stephanie Cleanthous, The use of Balanced Scorecard in small companies, 2013, International Journal of Business and Management – vol.8 – no.14;

     

    • Chimwani Pamela Muhenje et al, Application of Strategic Performance Measures in Small and Medium- Sized Manufacturing Enterprises in Kenya – The used of Balanced Scorecard Perspectives, 2013, International Journal of Management Sciences and Business Research – vol.2 – issue 6;
    • Henrik Andersen, Ian Cobbold and Gavin Lawrie, Balanced Scorecard implementation in SMEs: reflection on literature and practice, Manufacturing information systems – The Fourth SMESME International Conference.

     

     

     

     

     

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập nhóm chương 3 Hành vi thị trường B2C và B2B

    Bài tập nhóm chương 3 Hành vi thị trường B2C và B2B

    Bài tập nhóm chương 3 Hành vi thị trường B2C và B2B

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ INTERNET BĂNG THÔNG RỘNG (FTTH) TẠI TP.HCM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-nh%C3%B3m-ch%C6%B0%C6%A1ng-3-H%C3%A0nh-vi-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-B2C-v%C3%A0-B2B.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập nhóm chương 3 Hành vi thị trường B2C và B2B

    BÀI TẬP NHÓM CHƯƠNG 3:

    HÀNH VI THỊ TRƯỜNG B2C VÀ B2B

    NỘI DUNG CÂU HỎI THẢO LUẬN:

    CÂU 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng qua mobile app của người tiêu dùng. Vì sao?

    CÂU 2: Người tiêu dùng thường chia sẻ trực tuyến thông tin gì? Lý do tại sao họ lại chia sẻ các thông tin đó?

    BÀI LÀM:

    CÂU 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng qua mobile app của người tiêu dùng. Vì sao?

    Theo nghiên cứu của Nielsen về cuộc sống kết nối (connected life), điện thoại di động dẫn dắt truyền thông và các thiết bị thông thường khác 24/24.

    Tỷ lệ sử dụng ứng dụng điện thoại để mua sắm đã tăng từ 40% trong năm 2016 lên tới 72% trong năm 2018. Những ứng dụng mua sắm trên điện thoại này mang lại cho người dùng trải nghiệm mua sắm đơn giản, thuận tiện và mượt mà (Nguồn: Báo cáo thị trường mua sắm trực tuyến, 2018)

    Có nhiều yếu tố tác động đến hành vì mua hàng qua Mobie app của người tiêu dùng tuy nhiên có 4 yếu tố chính ảnh hưởng lớn nhất: văn hóa, tâm lý, cá nhân, xã hội.

    1.      Các yếu tố văn hóa:

    Trong thời đại Smartphone lên ngôi như hiện nay, điện thoại được sử dụng mọi lúc mọi nơi, Smartphone trở thành công cụ thiết yếu, chúng ta vẫn thấy nhan nhản rất nhiều những hình ảnh giới trẻ cặm cụi vào chiếc smartphone từ đi học đi làm tới đi coffee, đi mua sắm, đi hẹn hò, đi làm đẹp và thậm chí là chờ đèn đỏ hay đi bộ qua đường… Vì vậy trong giai đoạn hiện tại, smartphone đã và đang thay đổi hành vi người tiêu dùng, việc mua hàng qua mobile app là rất thuận lợi để phát triển.

    Số liệu từ Nielsen Việt Nam cho biết tỷ lệ người dùng smartphone so với người dùng điện thoại phổ thông (feature phone) trong năm 2017 là 84% (Nguồn: Techtalk,  ngày 31/03/2018, https://techtalk.vn/nhung-con-so-biet-noi-trong-nganh-di-dong-nam-2018.html/ )

    Các thế hệ khác nhau sẽ tạo ra các xu hướng mua sắm và tiêu dùng khác nhau. Trong kỉ nguyên số này, hai thế hệ gần nhất được nhắc tới trong việc thay đổi ngành bán lẻ đó là thế hệ Y (hay còn gọi là Millenials, sinh từ 1980-1994) và thế hệ Z (1995-2012). Tại Việt Nam thệ Millennials (từ 20–37 tuổi) chiếm đến 35% dân số (Theo báo cáo Tetra Pak 2017). Tuy nhiên, thế hệ Z lại là thế hệ đóng vai trò then chốt trong tương lai gần, với những hành vi mua sắm khác biệt. Các đặc điểm hành vi của thế hệ Z là gì? Do được sinh trưởng trong thời đại công nghệ, không ngạc nhiên khi thế hệ Z được biết đến là thế hệ “kĩ thuật số” và liên kết mạnh mẽ với các thiết bị di động.

    (Nguồn: Hoàng Nam Lê – FPT Ventures, 11/07/2018, https://techinsight.com.vn/hanh-trinh-khach-hang-da-thay-doi-nhu-the-nao-trong-ky-nguyen-4-0/ )

    2.      Các yếu tố tâm lý:

    2.1.      Động cơ tiêu khiển:

    Trong thời đại công nghệ, phân đa người tiêu dùng đều sẽ có xu thế thích áp dụng công nghệ, họ cảm thấy tò mò và thích thú. Tâm lý tự nhiên của con người là thích sự tiện dụng và vui vẻ, nếu đáp ứng được thì họ sẽ mua thường xuyên hơn. Các app như facebook và zalo là một minh chứng.

    Nghiên cứu “Cơ hội cho các ứng dụng thương mại lớn tại Việt Nam” do Criteo vừa công bố cho biết, hơn 90% những người có cài ứng dụng thương mại điện tử vào smartphone đã mua sắm ít nhất một lần mỗi tháng. 60% mua 3 lần trở lên. Nguyên nhân được lý giải là người tiêu dùng Việt Nam (hơn 82%) thấy thú vị và thuận tiện hơn khi mua sắm qua ứng dụng di động thay vì web di động.

    (Nguồn: Viễn Thông, Thứ tư, 26/9/2018, 09:23 (GMT+7),  https://vnexpress.net/kinh-doanh/tranh-nhau-hut-khach-mua-sam-qua-ung-dung-o-viet-nam-3815125.html, https://www.brandsvietnam.com/16598-Tranh-nhau-hut-khach-mua-sam-qua-ung-dung-o-Viet-Nam )

    2.2.     Sự nhận thức:

    Người tiêu dùng ngày càng ý thức được sự tiện dụng của việc mua hàng qua mobile app: Thay vì phải dùng nhiều thao tác mở web, tìm kím chờ đợi… việc mua hàng qua app nhanh chóng và đơn giản hơn. Tỷ lệ sử dụng ứng dụng điện thoại để mua sắm đã tăng từ 40% trong năm 2016 lên tới 72% trong năm 2018. Những ứng dụng mua sắm trên điện thoại này mang lại cho người dùng trải nghiệm mua sắm đơn giản, thuận tiện và mượt mà.

    (Nguồn : Kurokawa Kengo, chỉnh sửa lần cuối ngày 17/01/2019,  https://www.brandsvietnam.com/congdong/topic/13609-Nhung-xu-huong-noi-bat-cua-thi-truong-thuong-mai-dien-tu-Viet-Nam-2018 )

    Tuy nhiên sự nhận thức cũng là rào cản lớn nhất ngăn cản người dùng tải ứng dụng. Bằng chứng, 42% những người chưa tải xuống app của thương hiệu mà họ yêu thích chưa bao giờ cân nhắc để tải. Trong đó, 25% người dùng không yêu thích một thương hiệu nào. “Tôi không muốn tải xuống bất cứ một ứng dụng nào, tôi muốn điện thoại mình thật gọn gàng. Thêm vào đó, không gian lưu trữ của thiết bị bị giới hạn” – ý kiến của 1 người dùng. Và 63% người dùng nói rằng, khi một thương hiệu buộc họ tải app để truy cập đến bước tiếp theo, họ thường xóa nó ngay sau đó. (Nguồn : Nguyễn Kiều Hiếu, 15/05/2018,   https://gobranding.com.vn/4-insights-ve-cach-nguoi-mua-sam-su-dung-aap-va-site-mobile )

    2.3.     Niềm tin và thái độ:

    Rất nhiều khách hàng vẫn nhìn việc mua sắm trực tuyến dưới cặp mắt nghi ngại cảnh giác và không yên tâm về chất lượng sản phẩm và lo lắng về nhiều rủi ro, rủi ro về kinh tế (rủi ro về tài chính / mất tiền), rủi ro về sự riêng tư, bảo mật.

    Tuy nhiên niềm tin của khách hàng đang dần được cải thiện. Shopee là trang thương mại điện tử được người dùng nhớ đến nhiều nhất khi mua sắm cho các hạng mục: thời trang, làm đẹp và thực phẩm. Riêng lĩnh vực công nghệ/điện máy, dẫn đầu là Thế Giới Di Động, tiếp đến là Tiki. Tuy nhiên, về mức độ hài lòng của khách hàng, Tiki lại cao hơn hẳn Shopee và Lazada: 46% khách mua hàng Tiki hài lòng về dịch vụ trong khi chỉ có con số này của Shopee chỉ là 22% còn Lazada là 24%.

    (Nguồn : Kurokawa Kengo, chỉnh sửa lần cuối ngày 17/01/2019,  https://www.brandsvietnam.com/congdong/topic/13609-Nhung-xu-huong-noi-bat-cua-thi-truong-thuong-mai-dien-tu-Viet-Nam-2018 )

    3.      Các yếu tố cá nhân:

    3.1.     Tuổi tác:

    Theo nghiên cứu của Nielsen Việt Nam, 60% người mua sắm trực tuyến từ nữ và 40% mua sắm online từ nam. Độ tuổi mua sắm online từ 25-29 tuổi chiếm 55%. Đa số người mua online đều là người độc thân, 55% đối tượng khách hàng là nhân viên văn phòng sử dụng dịch vụ mua sắm online. Hiện, 35,8 triệu người sử dụng kết nối internet, con số tăng hàng năm là 11%.

    3.2.     Nghề nghiệp:

    Đa số là nhân viên văn phòng và phụ nữ nội trợ – những người có ít thời gian để đi chợ và mua sắm trực tuyến trở thành giải pháp tối ưu cho họ.

    Ở một số công ty, đa số nhân viên đều sử dụng mạng nội bộ công ty và mạng này bị kiểm soát, nhân viên không thể tự ý truy cập vào các trang cộng đồng nếu không được sự đồng ý của bộ phận IT. Đối với nữ nội trợ, họ lại rất hiếm khi sử dụng laptop. Vì vậy việc đặt hàng trên trang điện tử của hai đối tượng chính này sẽ bị hạn chế.

    Ngày nay ai cũng sở hữu cho mình một chiếc smart phone nên việc mua hàng online trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

    3.3.     Thói quen:

    Cuộc sống hiện đại khiến con người phụ thuộc nhiều vào điện thoại.

    Các thiết bị di động, đặc biệt là smartphone mang tính cá nhân và gần gũi hơn so với laptop hay các thiết bị để bàn khác vì nhỏ gọn và dễ di chuyển.

    Thói quen tìm kiếm mua hàng trên thiết bị di động cũng ngày càng lan truyền phổ biến hơn. (Nguồn: Viễn Thông, Thứ tư, 26/9/2018, 09:23 (GMT+7), https://vnexpress.net/kinh-doanh/tranh-nhau-hut-khach-mua-sam-qua-ung-dung-o-viet-nam-3815125.html )

    4.      Các yếu tố xã hội – Các nhóm ảnh hưởng:

    4.1.     Mạng lưới xã hội trực tuyến:  

    Như facebook, zalo… là tập hợp các cộng đồng liên kết với nhau qua Internet. Đây là yếu tố đang được người tiêu dùng sử dụng phổ biến hiện nay. Người tiêu dùng có thể dễ dàng thấy các mẫu quảng cáo khi đang lướt xem tin tức, chat… và hơn 75% đã nhấp vào quảng cáo hiển thị hình ảnh và tiếp tục mua sản phẩm đã được quảng cáo trong ứng dụng bán lẻ. Kết quả khảo sát của Criteo cho thấy, ngày nay, quảng cáo trực tuyến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm lên tới 27% (tính từ năm 2014 đến năm 2017). Dự đoán, đến năm 2022, sẽ có hơn 34% người dùng có từ 2 thiết bị có thể kết nổi trở lên; Ngoài ra, đến 2022, 89% tổng ngân sách tiếp thị sẽ được đầu tư vào mảng trực tuyến. Đặc biệt, 89% người dùng di động tại Việt Nam đã thực hiện tất cả các bước để mua hàng trong ứng dụng.

    4.2.     Gia đình:

    Mỗi thành viên trong gia đình đều có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng (ví dụ: người vợ sẽ có xu hướng xem những mặt hàng thời trang, mỹ phẩm… còn người chồng có xu hướng xem về các thiết bị công nghệ…)

    4.3.     Địa vị:

    Người tiêu dùng lựa chọn những sản phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình trong xã hội. (vd: khi một người với vị trí quản lý cấp cao ở cty sẽ lựa chọn những bộ đồ công sở phù hợp với đẳng cấp của mình, còn khi về nhà họ sẽ lựa chọn những bộ quần áo bình thường) (Nguồn: Tạp chí điện tử tài chính, 20:10 21/10/2018,  http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/den-2022-du-kien-89-tong-ngan-sach-tiep-thi-quang-cao-se-duoc-dau-tu-vao-tiep-thi-truc-tuyen-144342.html, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nielsen-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-co-the-dat-10-ty-usd-301005.html ).

    CÂU 2: Người tiêu dùng thường chia sẻ trực tuyến thông tin gì? Lý do tại sao họ lại chia sẻ các thông tin đó?

    5.      Lý do người tiêu dùng chia sẻ thông tin trực tuyến:

    Các công cụ truyền thông tiên tiến như phương tiện truyền thông xã hội và công nghệ di động đã làm thay đổi cách mà người tiêu dùng chia sẻ thông tin. Mobile apps là một công nghệ di động tiên tiến đang phát triển, đây cũng là một công cụ để người tiêu dùng tham gia eWOM mà không bị ràng buộc về không gian và thời gian. eWOM thông qua mobile apps là một trong các hình thức của mWOM (mobile word of mouth), nghĩa là hành vi chia sẻ thông tin dựa trên nền tảng di động (Nguồn: Palka, Pousttch & Wiedemann, 2009). 

    Có rất nhiều lý do để người tiêu dùng chia sẻ thông tin trực tuyến. Phân tích kĩ hơn theo tâm lý học thì có thể chốt lại, người tiêu dùng chia sẻ các thông tin vì các lý do sau:

    5.1.     Yêu thích:

    Họ yêu thích dịch vụ/sản phẩm của công ty bạn hoặc họ yêu thích thương hiệu cá nhân của một nhân vật nào trong công ty đó.

    5.2.     Ghét:

    Họ ghét bạn vì nhiều lý do:

    1. Thái độ phục vụ: không tốt, không nhiệt tình, không xem trọng khách hàng…
    2. Chất lượng sản phẩm: không tốt, không như quảng cáo…
    3. Hình thức sản phẩm: Không giống như hình ảnh, không đẹp, không đa dạng…
    4. Hành vi gian dối: Lừa đảo tiền bạc khách hàng, giá trị sản phẩm không tương xứng với chất lượng…
    5. Nhiều lý do khác nữa….

    5.3.     Chủ đề bàn tán:

    Khi khách hàng chưa yêu cũng chẳng ghét sản phẩm bên bạn thì những chương trình khuyến mãi của bạn cũng được người tiêu dùng quan tâm và chia sẻ.

    Hầu hết các nhà bán lẻ thương mại điện tử ở Việt Nam đều từng dùng đến chiêu như giảm giá duy nhất, khuyến mại đặc biệt, tặng thêm quà… nếu khách hàng giao dịch trên ứng dụng thay vì dùng trình duyệt web di động hay truy cập bằng máy tính. (Nguồn: Tạp chí tài chính, 2018)

    Có rất nhiều lý do để người tiêu dùng chia sẽ thông tin trực tuyến, nhưng các nhà bán lẻ thương mại điện tử đánh vào tâm lí mua hàng của người tiêu dùng là mua được nhiều hàng hóa hơn với giá rẻ hơn thông qua các chương trình khuyến mãi và giảm giá…

    Để thu hút sự quan tâm và chú ý của người tiêu dùng, muốn tham gia chương trình khuyến mãi thì họ phải chia sẽ nội dung chương trình công khai thông qua các trang xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Instargram…

    Như vậy người tiêu dùng muốn tham gia các chương trình khuyến mãi đó thì họ sẽ chia sẽ thông tin để mua hàng với giá khuyến mãi hay được nhận quà tặng hấp dẫn…

    Ví dụ:

    1. Shop XXX đang giảm giá 80% cho những người có ngày sinh nhật xxyy.
    2. Shop quần áo N đang có chương trình xả hàng giảm giá tới 70%.
    3. Bạn sẽ nhận được mã giảm giá 20%, 30%…khi mua sách trên ứng dụng Tiki trên điện thoại di động, chương trình được áp dụng khi bạn chia sẽ link ứng dụng trên các trang mạng xã hội như Facebook dưới chế độ công khai về tường nhà mình ….
    4. Các shop bán hàng Online khi livestream sẽ khuyến mãi sản phẩm/dịch vụ của họ với giá ưu đãi giảm từ 10% ~ 30% với điều kiện người xem chia sẻ livestream của họ vào ít nhất 5 group họ tham gia trên Facebook.…….

    5.4.     Chế độ chia sẻ dễ dàng:

    Ở mẩu quảng cáo sales off trên website của bạn, có nút “Chia sẻ với bạn bè” thông qua Facebook, G+, Instagram… Hoặc trong các bài quảng cáo ở Facebook bạn có yêu cầu khách hàng chia sẻ thông tin để nhận ưu đãi nào đó…

    Họ muốn chia sẻ với mọi người: Khi người tiêu dùng chia sẻ với bạn bè của họ, nghĩa là họ đã cực kì tin tưởng và yêu mến sản phẩm và dịch vụ. Họ cho rằng công ty bạn cực kì tốt và họ muốn mang điều tốt đẹp đó đến với bạn bè người thân của mình.

    5.5.     Họ muốn gắn kết với cộng đồng riêng của mình:

    Khi người tiêu dùng chia sẻ thông tin lên bất cứ cộng đồng nào khác về sản phẩm/dịch vụ, nghĩa là họ muốn gắn kết họ và những người cùng nghề nghiệp, định hướng, sản phẩm đang sử dụng, sở thích …

    Ví dụ: Những người sử dụng điện thoại Iphone của hãng Apple họ lập các group trên Facebook hoặc các diễn đàn trên website để kết nối các thành viên – người đã, đang và sẽ sử dụng điện thoại Iphone. Trên đó họ chia sẻ tất cả các thông tin về sản phẩm, cách hướng dẫn sử dụng, review, kinh nghiệm… về sản phẩm cho mọi người.

    6.      Người tiêu dùng/Khách hàng chia sẻ nội dung trực tuyến ra sao?

    6.1.     Những loại người chia sẻ thông tin:

    Theo StatPro, một công ty chuyên phân tích các cơ sở dữ liệu, có thể phân chia khách hàng chia sẻ thông tin thành 6 loại như sau:

    1. Những người trẻ và năng động (hipster)
    2. Những người thích địa vị (careerist)
    3. Những người vị tha (altruist)
    4. Những người kết nối (connector)
    5. Những người lệ thuộc (boomerang)
    6. Những người chọn lọc (selective)

    (Nguồn: Nhất Nguyên theo marketingprof, 30/6/2014, https://doanhnhansaigon.vn/goc-nha-quan-tri/infographic-khach-hang-chia-se-noi-dung-truc-tuyen-ra-sao-1056105.html )

    6.2.     Tâm lý chia sẻ thông tin:

    6.3.     Người dùng chia sẻ thông tin như thế nào?

    7.      Những thông tin, nội dung được chia sẻ trực tuyến nhiều nhất:

    Trên thế giới có hơn 2.7 tỷ người sử dụng Internet, đây hiện là một thách thức cho bấy kỳ một cá nhân hoặc thương hiệu nào trong việc tạo ấn tượng với người theo dõi hay khiến cho họ yêu thích hoặc chia sẻ những nội dung liên quan. Những thông tin, nội dung nào tác động đến người xem nhiều nhất: hình ảnh, các liên kết url video hay các bảng số liệu?

    7.1.     Mục đích chia sẻ thông tin, nội dung trên Social Media:

    Tờ New York Time trong một bài nghiên cứu gần đây trên một nhóm người sử dụng mạng xã hội chỉ ra rằng :

    a/. 49% chia sẻ nội dung trên mạng xã hội để thông báo đến bạn bè về những sản phẩm mà họ đang quan tâm nhằm tạo ra những khả năng làm thay đổi suy nghĩ hoặc khuyến khích hành động mua hàng.

    b/. 94% đặc biệt quan tâm đến việc thông tin họ chia sẻ có hữu ích đối với người nhận hay không.

    c/. 68% cho rằng việc chia sẻ nội dung giúp người khác có cái nhìn tốt hơn về con người họ và những việc họ quan tâm.

    d/. 73% chia sẻ thông tin vì nó giúp họ dễ dàng kết nối với những người khác có chung vấn đề quan tâm.

    e/. 78% chia sẻ thông tin trên Internet nhằm giúp họ giữ kết nối với một nhóm người mà họ sẽ không giữ liên lạc theo cách thức thông thường.

    f/. 69% người cho rằng việc chia sẻ nội dung để thể hiện mình đang quan tâm tới các vấn đề trong cuộc sống khi chia sẻ thông tin trên mạng xã hội.

    g/. 84% chia sẻ vì đấy là một cách để giúp đỡ người khác.

    Như vậy có thể thấy việc chia sẻ thông tin, nội dung là hành động mang đến những nội dung có giá trị và giải trí cho những người trong mạng lưới kết nối với mục đích định hình và hoàn thiện bản thân, gắn kết và làm giàu các mối quan hệ hay lên tiếng về các vấn đề xã hội hoặc một thương hiệu nào đấy. (Nguồn: Industry Updates, 22/10/2013, http://blog.timeuniversal.vn/industry-updates/nhung-noi-dung-nao-duoc-chia-se-nhieu-nhat-tren-social-media/ )    

    7.2.     Những nội dung được chia sẻ nhiều nhất trên Social media:

    Theo báo cáo của Ipsos, tỷ lệ người dùng Internet chia sẻ hình ảnh trên mạng xã hội là lớn nhất, theo sau đó là các nội dung liên quan đến ý kiến cá nhân, status về các việc thường làm, chia sẻ Link về một bài viết, video clips và các nội dung khác.

    Biểu đồ phân tích các nội dung được chia sẻ trên Social Media

    (Nguồn: Time Universals Blog, 2013, https://www.brandsvietnam.com/3079-Nhung-noi-dung-nao-duoc-chia-se-nhieu-nhat-tren-Social-Media )

    7.3.     Những loại thông tin, nội dung hiệu quả nhất trên Social Media:

    Có rất nhiều những thông tin, nội dung được chia sẻ trực tuyến hàng ngày trên Social Media, nhưng những thông tin, nội dung nào là hiệu quả nhất, được người tiêu dùng chia sẻ và tương tác tốt nhất? Theo thông kê từ Buzzmetrics, 2016, Có 5 loại thông tin, nội dung được chia sẻ và tương tác tốt nhất trên mạng xã hội, bao gồm những loại thông tin sau:

     (Nguồn: Buzzmetrics, 08/03/2016, https://buzzmetrics.com/5-loai-noi-dung-tuong-tac-tot-nhat-tren-mang-xa-hoi-dau-nam-2016/ )

    7.3.1.     Facebook photo album tổng hợp nhiều nội dung:

    Mở đầu cho xu hướng tổng hợp thông tin bằng photo album này là một loạt các album Tổng hợp công thức làm các món ăn như Cách làm các món lẩu ngon (246,200 lượt shares); [công thức] XÔI CHÈ KEM – MÓN NGỌT – TRÁNG MIỆNG – MÓN ĂN VẶT (250,881 shares); Các món dưa muối ăn kèm (110,888 shares),….

    Có thể nói Facebook album đang là xu hướng nổi bật nhất từ đầu năm đến nay, trong đó đã có nhiều album khi đăng tải lên mạng xã hội nhận được nhiều phản hồi tích cực và lượt chia sẻ ồ ạt từ phía cộng đồng mạng. Dưới đây là thống kê những loại Facebook photo album đạt được lượt tương tác nhiều nhất trên social media trong khoảng thời gian gần đây:

     

    7.3.2.     Đánh giá – Review:

    Các bài đánh giá (review) không phải là loại nội dung mới trên social media tuy nhiên sức nóng của loại nội dung này vẫn chưa bao giờ hạ nhiệt. Sự phát triển nhanh chóng của các cộng đồng review ăn uống như Địa điểm ăn uống, Foody, Lozi… trong những năm gần đây là minh chứng rõ ràng nhất cho sức hút của các bài review. Loại nội dung này còn chứng tỏ khả năng tạo tương tác của mình qua các bài Review mỹ phẩm (từ các beauty blogger), và được mở rộng sang các lĩnh vực khác như Du lịch (phượt, du lịch bụi), Phim ảnh, công nghệ…

    Review Ăn uống:

    Review Du lịch:

    Review mỹ phẩm:

    Ngoài ra còn các bài review khác về phim ảnh, công nghệ….

    7.3.3.     Video ngắn quay lại các món ăn hấp dẫn:

    Các trang tạo được nhiều tương tác nhất nhờ vào việc đăng tải Food videos (trong khoảng thời gian từ đầu năm đến nay)

    7.3.4.     Photoshop Troll:

    Photoshop troll là một trào lưu mới xuất hiện trên mạng xã hội từ cuối năm 2015, trong đó một người đăng tải hình ảnh của họ lên một Facebook group và nhờ các “chuyên gia” Photoshop giúp đỡ để khiến hình ảnh trở nên sinh động hơn hoặc nhờ chỉnh sửa hình ảnh theo ý muốn, nhờ xoá phông, xoá các vật thể không mong muốn,… Điều đáng mừng là những lời kêu gọi này nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ từ phía cộng đồng mạng, tuy nhiên kết quả nhận lại thật khiến khổ chủ không biết nên khóc hay nên cười trước độ sáng tạo cộng với độ phũ của cộng đồng mạng

    7.3.5.     Bài hát chế

    Bài hát chế đã trở thành trào lưu vô cùng phổ biến trong giới trẻ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sức lan toả của trào lưu này vẫn chưa có dấu hiệu giảm xuống mà còn tăng lên đáng kể từ cuối năm 2015 đến nay.

    Ba bài hát chế được chia sẻ nhiều nhất năm 2016:

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ CÁC NGUỒN TÌM KIẾM THÔNG TIN:

    1. Báo cáo thị trường mua sắm trực tuyến, 2018.
    2. Techtalk, ngày 31/03/2018, https://techtalk.vn/nhung-con-so-biet-noi-trong-nganh-di-dong-nam-2018.html/
    3. Hoàng Nam Lê – FPT Ventures, 11/07/2018, https://techinsight.com.vn/hanh-trinh-khach-hang-da-thay-doi-nhu-the-nao-trong-ky-nguyen-4-0/ .
    4. Viễn Thông, Thứ tư, 26/9/2018, 09:23 (GMT+7), https://vnexpress.net/kinh-doanh/tranh-nhau-hut-khach-mua-sam-qua-ung-dung-o-viet-nam-3815125.html, https://www.brandsvietnam.com/16598-Tranh-nhau-hut-khach-mua-sam-qua-ung-dung-o-Viet-Nam
    5. Kurokawa Kengo,chỉnh sửa lần cuối ngày 17/01/2019,  https://www.brandsvietnam.com/congdong/topic/13609-Nhung-xu-huong-noi-bat-cua-thi-truong-thuong-mai-dien-tu-Viet-Nam-2018
    6. Nguyễn Kiều Hiếu, 15/05/2018,  https://gobranding.com.vn/4-insights-ve-cach-nguoi-mua-sam-su-dung-aap-va-site-mobile
    7. Tạp chí điện tử tài chính, 20:10 21/10/2018, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/den-2022-du-kien-89-tong-ngan-sach-tiep-thi-quang-cao-se-duoc-dau-tu-vao-tiep-thi-truc-tuyen-144342.html, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nielsen-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-co-the-dat-10-ty-usd-301005.html
    8. Palka, Pousttch & Wiedemann, 2009
    9. Tạp chí tài chính, 2018
    10. Nhất Nguyên theo marketingprof, 30/6/2014, https://doanhnhansaigon.vn/goc-nha-quan-tri/infographic-khach-hang-chia-se-noi-dung-truc-tuyen-ra-sao-1056105.html
    11. Buzzmetrics, 08/03/2016, https://buzzmetrics.com/5-loai-noi-dung-tuong-tac-tot-nhat-tren-mang-xa-hoi-dau-nam-2016/ .

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-V%E1%BB%80-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-GAME-TRUNG-QU%E1%BB%90C-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    TÌM HIỂU VỀ TÌNH HÌNH GAME TRUNG QUỐC HIỆN NAY Ở  THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

     

    Phạm Thùy Dương*

     

    Tóm tắt

     

    Trò chơi trực tuyến (game online) là một trong ngành công nghiệp mới nổi của Trung Quốc, nhưng nó đã tác động mạnh tới thị trường quốc tế thông qua việc nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường quốc tế và khu vực. Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Các nhà phát hành game Trung Quốc không những rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra quốc tế, mà còn đưa sản phẩm của mình chiếm lĩnh thị phần lớn ở một số nước, trong đó đáng chú ý là Việt Nam. Hiện nay, hơn 80% thị phần game ở Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông người chơi game Việt. Sự xâm nhập

     

    • ạt các sản phẩm game Trung Quốc vào Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội giải trí cho người dân Việt, tạo điều kiện phát triển ngành game Việt, nhưng cũng gây ra không ít tác động tiêu cực.

    Từ khóa: game Trung Quốc, nguyên nhân, tác động, thị trường.

     

    Mã số: 321. Ngày nhận bài:       . Ngày hoàn thành biên tập:         . Ngày duyệt đăng:             .

     

    Abstract

     

    Though online games has only been an emerging industry in China recently, it has drawn a significant influence upon the world market through its quick domination in both international and regional one. In the Top 100 highly industrialized countries of the world, China has taken the 2nd place, only after the United States. Chinese online games publishers not only succeeds in expanding their products and reputation to other parts of the world, but it also takes a high proportion in the market share of the target markets, especially Vietnam. Nowadays, more than 80% of Vietnam online games market share belongs to Chinese products, which become the number one choice for the majority of Vietnamese gamers. The massive market penetration of Chinese online games has brought numbers of entertainment opportunities for Vietnam, facilitating the advancement of Vietnam online games industry, however, this has still imposed some negative effects.

     

    Key words: Chinese online games, market, causes, consequences.

     

    Paper No. 321. Date of receipt:        . Date of revision:            . Date of approval:                .

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Từ một quốc gia chưa có tên trong ngành công nghiệp văn hóa thế giới vào những năm 90 thế kỷ XX, bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, Trung Quốc đã vươn lên đứng hàng thứ 5 trong những quốc gia xuất nhập khẩu văn hóa lớn nhất thế giới. Đồng thời, ngành công nghiệp không khói này

     

    cũng đã đóng góp rất lớn cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Hiện, tỉ lệ đóng góp của ngành thương mại xuất khẩu trong nền kinh tế Trung Quốc khoảng 20%, trong đó các sản phẩm văn hóa có tỉ lệ đóng góp không nhỏ. Nếu như năm 2010, xuất khẩu công nghiệp văn hóa Trung Quốc đạt 11.67 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2009, thì đến năm

     

    *

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 113

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    2012, xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25.9 tỷ USD, tăng 38.5% so với cùng kỳ năm 2011. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu công nghiệp văn hóa đạt 25,13 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 20061. Năm 2015, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa Trung Quốc là 2723,5 tỷ NDT, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 3,97% GDP, tăng 0,16% so với năm 20142. Chính bởi vậy, phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành một trong ba chiến lược quan trọng quốc gia của Trung Quốc: chiến lược “làm giàu kinh tế”; chiến lược “sáng tạo khoa học kỹ thuật”; chiến lược “phát triển sản nghiệp văn hóa”. Cùng với làn sóng mở cửa của toàn nền kinh tế, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã bước đầu thể hiện năng lực cạnh tranh quốc tế với các đối thủ mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc khi tác động tới các nhà đầu tư nước ngoài và thu hút mạnh nguồn vốn quốc tế đầu tư vào thị trường nội địa, đặc biệt thể hiện nổi bật ở lĩnh vực mới game online trong những năm gần đây. Chính phủ Trung Quốc hiện đang rất chú trọng đầu tư cho ngành game, với mong muốn chuyển đổi từ một Trung Quốc “chế tạo ” sang Trung Quốc “sáng tạo”, và qua 10 năm, ngành game của Trung Quốc đã có bước đột phá đáng kinh ngạc, “xâm lấn” hầu hết thị trường các nước trên thế giới, thậm chí tại số một số nước, game Trung Quốc chiếm thị phần rất lớn và có ảnh hưởng nhất định, trong đó có thị trường Việt Nam.

     

    2. Tình hình thị trường game Trung Quốc hiện nay

    10 năm trước đây, khi làng game Việt bắt đầu hình thành, các game thủ Việt Nam hầu hết chỉ quen thuộc với các game có xuất xứ từ Hàn Quốc; ngay cả tại Trung Quốc Đại lục, các sản phẩm game xứ Hàn cũng chiếm thị phần lớn. Tuy nhiên, chỉ mấy năm sau, giai đoạn 2005-2006, ngành game Trung Quốc phát triển một cách ngoạn mục, không chỉ giành vị trí đầu tiên trong làng game trong nước, game Trung Quốc còn dần xâm lấn sang các thị trường các nước có nền công nghiệp game tiên tiến khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Trong xếp hạng 100 quốc gia có ngành công nghiệp game phát triển nhất thế giới hiện nay của IESHerpa năm 2014, Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn thứ hai thế giới sau Mỹ3. Các nhà phát hành game Trung Quốc cũng rất thành công trong việc mở rộng thị trường của mình ra các nước trên thế giới. Nếu như doanh thu từ việc xuất khẩu game ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2010 chỉ đạt 230 triệu USD, thì đến năm 2012 con số này đã đạt 570 triệu USD, năm 2013 là 1,82 tỷ USD tăng 219,30% so với năm 2012, năm 2014 là 3,07 tỷ USD, tăng 69,02% so với năm 20134.

     

    Mặc dù hiện nay game Trung Quốc có mặt trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhưng sự phân bố thị trường của cường quốc game này có sự chênh lệch khá rõ nét.

     

    • Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/content_2530048. htm.
    • Năm 2015, công nghiệp văn hóa Trung Quốc tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml.
    • Theo thống kê của Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74.
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf

    114         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

     

    120

     

    100

     

    80

     

    60

     

    40

     

    20

     

    0

     

     

    4%

    12%

     

    Các nước khác

         
         

    27%

         

    Châu Âu

         
         
     

    9%

     

    Bắc Mỹ

       
       
       

    3%

     

    Nam Mỹ

         
         

    19%

       

    Đông Nam Á

    26%

       
       
       

    Đông Á

         
           
           

    Nội địa

           
           

    Hình 1: Tình hình phân bố thị trường game Trung Quốc năm 2012

     

                               

    Nguồn: GPC và IDC 20125

                     

    110

    113

     
                       
                           

    79

         
                                 

    50

                             
                             

    23

     

    37

                         
                       
         

    11

                     
                           
                                 
                       
                                       
                                       

    Các nước Châu Âu  Bắc Mỹ  Nam Mỹ

     

    Đông

    Đông Á  Nội địa

     

    khác

    Nam Á

               

    Hình 2: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu đến các nước trên thế giới năm 2012

     

    Nguồn: GPC và IDC 20126

     

     

    Theo tổng kết báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, ngoài thị trường nội địa chiếm 27% thị phần, khu vực Đông Nam Á là các nước đứng thứ hai trên thế giới trong bảng thị trường game của Trung Quốc với 26% thị phần, kế tiếp là các nước Đông Á chiếm 19%, châu Âu 12%, Bắc Mỹ 9%, Nam Mỹ 3% và các nước khác

     

    4%. Cũng theo bảng báo cáo, vào năm 2012, Trung Quốc đã xuất khẩu 110 đầu game vào thị trường Đông Nam Á, hơn 31 đầu game so với thị trường các nước Đông Á. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp game Trung Quốc đã tác động mạnh và chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á.Trong thị trường Đông Nam Á, Việt Nam và Malayxia là hai quốc gia nhập khẩu nhiều game Trung Quốc nhất.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 115

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

                                                 
                                                 
       

    2%

    7%

                             
                                         
                                         
                                           

    Brunei

         
                 

    21%

         

    2%

                       
                                     
                                               

    Phillipin

         
                                                     
                                                     
                                               

    Lào

         
                                                     
                                                     
                                 

    21%

             

    Malayxia

       
                                               
                                               
                                           

    Indonexia

       
                                         
                                                   
                                               

    Myanma

         
                                                     
                                                     

    17%

                             

    Thái Lan

         
                                   
                                   
                             

    tViNam

         
                                                     
                                                     
               

    2%

     

    11%

                     
                                       
                                           

    Hình 3: Tình hình xuất khẩu game Trung Quốc vào các nước khu vực

                     

    Đông Nam Á năm 2012

                 
                                       

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20127

    70

                                                       

    61

                 

    62

                             
                                             

    60

    50

         

    51

                                       

    50

                                             
                                                       

    40

                             

    32

                       
                                                   

    30

                   

    20

                                   
                                                   

    20

                                                 
                                   

    6

             

    6

       
                                                 

    10

                                   

    5

         

    0

                                                       

    Singapore   Malayxia

       

    Thái LanPhillipin

    Việt Nam   Indonexia   Myanma

       

    Lào

    Brunei

             

    Hình 4: Số lượng game Trung Quốc xuất khẩu vào các nước khu vực

     

    Đông Nam Á năm 2012

     

    Nguồn: GPC, IDC và CNG 20128

     

     

    Theo Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài do GPC và GNC thực hiện và công bố năm 2012, Việt Nam và Malayxia đều chiếm 21% thị phần game Trung Quốc tại thị trường Đông Nam Á, Trung Quốc đã xuất khẩu 62 sản phẩm game vào thị trường Việt Nam trong năm 2012, hơn thị trường Malayxia

     

    1 sản phẩm game. Điều đó cho thấy, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn đầy tiềm năng của ngành công nghiệp Trung Quốc không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà trên toàn thế giới. 10 năm sau khi các công ty đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu xâm nhập vào thị trường Việt Nam như: công ty Kim Sơn, công ty Cự Nhân,

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc

    ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html.

     

    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html

    116         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    hiện nay, hơn 80% thị phần thị trường game

     

    • Việt Nam thuộc về các sản phẩm game của Trung Quốc, và game Trung Quốc đã trở thành lựa chọn giải trí cho số đông cộng đồng người chơi game Việt9.

    3.           Nguyên nhân game Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

     

    Khi theo dõi các bài viết trên trang mạng xã hội và các diễn đàn game, chúng tôi nhận thấy đa số người chơi game Việt không ủng hộ các trò chơi game có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng tại sao các sản phẩm game Trung Quốc lại chiếm thị phần lớn như vậy?. Điều này có thể được lý giải từ phía nhà phân phối và phía người chơi.

     

    Đối với các nhà phân phối game: Nhìn khắp thị trường game Việt Nam hiện nay ta có thể thấy, những sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vẫn đã và đang được phát hành một cách liên tục do những lợi thế rất đặc biệt. Lý do các nhà phân phối Việt ưa chuộng game Trung Quốc bao gồm:

     

    Thứ nhất, sản phẩm game Trung Quốc rất đa dạng cả về số lượng và nội dung. Như ở trên đã đề cập tới, chỉ trong năm 2012, Trung Quốc đã tung ra 113 sản phẩm game phục vụ cho thị trường trong nước, 110 sản phẩm game xuất sang các nước Đông Nam Á, và 62 sản phẩm game đã xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Đây là con số chính thức nhập khẩu chính ngạch được tổng kết qua báo cáo cụ thể, chưa kể đến các sản phẩm game được nhập lậu. Với một lượng doanh nghiệp game khổng lồ, ngành công nghiệp game Trung Quốc có năng lực cung lớn hơn bất cứ quốc

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    gia nào trên thế giới. Ở mỗi thể loại game, từ nội dung cho đến chất lượng, dù là game PC hay webgame, các tựa game Trung Quốc đều rất phong phú, biến động không ngừng, đáp ứng được mọi nhu cầu do các nhà phân phối game đặt ra. Theo một nhà phát hành game: “Khi cần một webgame hoàn toàn mới cũng có thể được đối tác làm game Trung Quốc hoàn tất ngay trong vài tuần. Họ có cả một đội ngũ làm tiếng Việt, hệ thống đồ họa đầy đủ, khiến người mua game hài lòng với mức giá hợp lý nhất có thể. Với các lợi thế thể hiện và cạnh trạnh ấy, rõ ràng mạng lưới game Trung Quốc có thể lan tỏa và lấn chiếm mọi ngóc ngánh thị phần game Việt là điều dễ hiểu. Cho dù có phản đối, không thích, nhưng người chơi game cũng không thể dễ dàng quay đầu phủ nhận sức hấp dẫn khó giải thích của muôn hình game Trung Quốc10”.

     

    Thứ hai, một game online của Trung Quốc có giá mua thấp hơn rất nhiều so với những game cùng loại của Hàn Quốc hay Âu Mỹ. Được biết, các webgame (mà khi về Việt Nam nhiều gamer đánh giá là “game rác”) được định giá 15.000USD- dưới 35.000 USD là sản phẩm của các nhà sản xuất mới hoặc hạng trung của Trung Quốc sản xuất. Phân khúc game chất lượng cao hơn giá tầm 100.000USD. Chưa kể tới các sản phẩm game “bom tấn” mức giá sẽ bị đẩy cáo do các nhà phân phối cạnh tranh mua game11. Trong khi đó, đa số các nhà phân phối game hiện nay

     

    • Việt Nam đều là các nhà phân phối vừa và nhỏ, vốn không nhiều, định hướng chính của các nhà phân phối này là phát hành các game phân khúc dưới để dễ dàng thu hồi vốn cũng
    • Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_ market_15.04.23F.pdf.
    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                  117

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    như tăng doanh thu một cách nhanh chóng, nếu mua những sản phẩm game giá cao, thu hồi vốn chậm hơn, đồng nghĩa với rủi ro mà họ phải chịu là cao hơn. Đó là lý do tại sao game Trung Quốc với ưu thế về giá luôn là lựa chọn số một cho các nhà phân phối này.

     

    Thứ ba, Các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Một số doanh nghiệp phát hành game Việt Nam thừa nhận, gần như mọi yêu cầu sửa đổi sản phẩm, bổ sung tính năng, cập nhật tiện ích cho người chơi…, khi nêu ra, đều sẽ được nhà sản xuất Trung Quốc thỏa mãn trong thời gian nhanh nhất có thể12. Điều này thuận tiện hơn rất nhiều so với các sản phẩm game Hàn Quốc hay Âu Mỹ, họ thường yêu cầu tổng hợp các lỗi, bản chỉnh sửa…rồi mới tiến hành xử lý cho khách hàng.

     

    Về phía người chơi: Người chơi game Việt Nam thường chê game Trung Quốc nghèo nàn về cách chơi, lặp đi lặp lại các loại hình quen thuộc, nhưng game Trung Quốc vẫn phát triển không ngừng và thu hút được số lượng lớn người chơi. Đó là do các nhà sản xuất game Trung Quốc rất biết cách đánh đúng thị hiếu khách hàng.

     

    Thứ nhất, lối chơi đơn giản, dễ hiểu: Khi bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp game, các game online của Trung Quốc tuy lấy đề tài chủ yếu là kiếm hiệp nhưng cách chơi của game có nhiều nét giống với game Hàn Quốc. Nhưng, càng ngày, họ càng lược bớt những phần phức tạp để hướng tới đại đa số game thủ bình thường, đồng thời để bắt nhịp tốt với xu thế thời đại là chơi game chủ yếu để giải trỉ. Đặc biệt trong xã hội đầy áp lực như hiện nay, nhu cầu giải trí của con người ngày càng

     

    tăng, phần lớn thời gian mọi người dành cho học tập, công việc, nghiên cứu, thời gian giải trí rất hãn hữu. Do vậy, nếu chơi các game có tính năng khó, đòi hỏi sự tìm tòi, suy nghĩ, sẽ khiến người chơi rất dễ nản chí. Dù cách chơi và cách thức game của các sản phẩm game Trung Quốc rất hạn chế, lối chơi đơn giản, không đòi hỏi nhiều tư duy, nhưng chính đặc điểm này lại giúp cho nhiều game thủ tìm được thú vui giải trí.

     

    Thứ hai, do tác động của các sản phẩm văn hóa công nghiệp khác. Bên cạnh ngành công nghiệp game, từ rất sớm, Trung Quốc đã xuất khẩu nhiều phim truyền hình, phim điện ảnh và sách, tiểu thuyết vào thị trường Việt Nam. Các tập truyện kiếm hiệp như Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh hùng xạ điêu, Thiên Long bát bộ…đã được rất nhiều thế hệ Việt Nam tiếp nhận, đi kèm với nó là các bộ phim dài tập chiếu liên tục trên truyền hình và được phát hành dưới hình thức băng đĩa. Chính yếu tố “kiếm hiệp” này đã một phần tạo nên thành công cho game Trung Quốc tại Việt Nam. Các game online nhập vai kiếm hiệp luôn tạo được một lợi thế nhất định cho riêng mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Từ bối cảnh, tên môn phái cho tới các chiêu thức…tất cả vốn đã quen thuộc với người chơi, nay càng trở nên cuốn hút hơn. Theo Báo cáo số liệu điều tra tác động của công nghiệp văn hóa từ các nước Đông Bắc Á tới Việt Nam, 37,6% người được điều tra đã chọn lý do thích game Trung Quốc do nội dung hấp dẫn13.

     

    Thứ ba, do giá của các game Trung Quốc hợp lý, phù hợp với thu nhập của người Việt Nam. Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực- đó là nhận định trong báo cáo Năng suất Việt Nam 2014 do Viện Năng suất Việt Nam

     

    • Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế, truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu. vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html.
    • TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia

    118         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    (VNPI) biên soạn14. Cũng theo báo cáo, năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ đứng hàng thứ 7 trong các nước Asean, đạt 1911 USD, trong khi GDP bình quân đầu người của Phillippin là 2765 USD, Indonexia 3475 USD, Thái Lan 5779 USD, Malayxia 10538 USD và Singapore là 55182 USD. Thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng tỷ lệ người chơi game lại nhiều nhất khu vực Đông Nam Á, đó là do hầu hết các game thủ Việt Nam lựa chọn game Trung Quốc với chi phí rẻ, phù hợp với thu nhập của bản thân.

     

    4.           Tác động của game Trung Quốc tới Việt Nam

     

    Tác động tích cực: Ở Việt Nam, game bắt đầu xuất hiện vào năm 2004-2005 và phát triển mạnh mẽ, nhưng công nghiệp trong nước lại phát triển rất hạn chế. Chúng ta mới chỉ có game Flapy bird gần đây là một sự đột phá, trong khi nhiều nước đào tạo hàng nghìn người để sản xuất game, thị trường game Việt Nam chủ yếu vẫn là game nước ngoài. Cách đây 10 năm, Trung Quốc chủ yếu cũng nhập khẩu game từ nước ngoài, nhưng khi nhận thấy lợi ích của ngành game, chính phủ Trung Quốc đã đưa game vào chương trình nghiên cứu phát triển công nghệ cao. Năm 2004, dự án phát triển 100 game trực tuyến trong 5 năm được hưởng thuế ưu đãi, vốn… Đến năm 2009, Trung Quốc đã hình thành công nghiệp game phát triển mạnh mẽ15. Sự xâm nhập ồ ạt của game Trung Quốc đã khiến cho ngành game Việt Nam trở nên sôi động hơn, chính phủ Việt Nam có thể tham khảo các chính sách Trung Quốc đã từng áp dụng để đẩy mạnh ngành công nghiệp game, các công ty sản xuất

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    game Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ khâu sản xuất ra sản phẩm game, khâu tiếp thị quảng cáo game và dịch vụ hậu mãi của các công ty game Trung Quốc. Sự xuất hiện của các sản phẩm game Trung Quốc cũng đã góp phần làm phát triển ngành công nghiệp giải trí của Việt Nam, đem lại doanh thu nhất định cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động. Theo Bộ trưởng Nguyễn Bắc Sơn, năm 2012, doanh thu từ game của Việt Nam là khoảng 5000 tỷ, tạo việc làm cho khoảng 7500 người. Và trên đà phát triển, mới đây, Chính phủ cũng ban hành một Nghi định, trong đó đưa game vào là một trong nhưng dịch vụ nội dung số để khuyến khích góp phần phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam16.

     

    Hiện nay, khi cuộc sống ngày càng nhiều lo toan, áp lực, mọi người luôn tìm cho mình một phương thức giải trí để tránh căng thẳng, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Đó là lý do tại sao ở những nước có nền kinh tế càng phát triển, ngành công nghiệp giải trí cũng càng được chú trọng và không ngừng được mở rộng quy mô. Trong thời đại công nghệ thông tin như ngày nay, game online đã trở thành ngành chính trong nền công nghiệp giải trí. Khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, game Trung Quốc với những ưu điểm riêng đã đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người chơi game Việt Nam, đem lại cho họ thêm sự lựa chọn giải trí. Việt Nam có khoảng hơn 20 triệu người sử dụng internet, 50% số đó có sử dụng dịch vụ game, và trở thành thị trường game lớn thứ 4 trên thế giới. Điều đó cho thấy số lượng người chọn game để giải trí rất cao.

     

    Tác động tiêu cực: các doanh nghiệp Trung

     

    • GDP bình quân đầu người Việt Nam thua xa Phillipin (2015), truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016, từ http:// vn/vn/kinh-doanh/277585/gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-thua-xa-philippines.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http:// vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html.

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 119

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Quốc phát hành game không phép ngày một nhiều tại Việt Nam đã làm cho môi trường kinh doanh nước ta không lành mạnh. Theo thông tư số 24/2014/TT-BTTTT của Bộ TT&TT quy định rõ, đối với trò chơi điện tử có sự tương tác giữa nhiều người chơi với nhau đồng thời qua hệ thống máy chủ trò chơi của doanh nghiệp (trò chơi G1), phải có thông tin trụ sở chính với địa chỉ và số điện thoại rõ ràng. Doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục đề nghị cấp giấy phép cung ứng dịch vụ hoặc thủ tục cấp chứng nhận đăng ký cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử tương ứng với mỗi loại trò chơi. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều game Trung Quốc lại được nhập vào Việt Nam qua con đường không phép, và được gọi là “game lậu”, “game rác”, “game không phép”. Những game lậu này đã thu từ các game thủ Việt Nam một khoản tiền không nhỏ. Ví dụ: các cơ quan chức năng đã truy quét 3 cổng game lậu: Koramgame, Myw. vn, Gaubay.vn là những cổng game rất mạnh của nhà phát hành đến từ Trung Quốc. “Một ngày KoramGame thu được từ các game thủ Việt Nam 1,3-1,5 tỷ đồng”17. Một vụ game lậu điển hình gần đây nhất là vụ game Lục Long Tam Quốc 3D sau một thời gian liên tục đăng tin quảng bá trên các trang thông tin điện tử, đã chính thức ra mắt thị trường vào ngày 8/6/2016, tuy nhiên không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến nhà phát hành game này18. Trong khi các doanh nghiệp trong nước phải chịu sự chi phối của nhiều Nghị định, thông tư cũng như tuân thủ các quy định về phát hành trò chơi điện tử có phép theo luật pháp Việt Nam thì các doanh nghiệp Trung Quốc lại bằng các thủ đoạn khác nhau để phát hành trái phép,

     

    thu lợi bất chính. Cho đến giữa năm 2015, nước ta chỉ mới có 26 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh trò chơi điện tử G1, con số quá ít ỏi so với thực tiễn phát triển không ngừng của thị trường game online. Mặc dù được cấp phép kinh doanh, điều đó không có nghĩa toàn bộ sản phẩm của những doanh nghiệp này đã có giấy phép phát hành, mà vẫn phải trải qua quy trình theo đúng quy định, mới nhất là Thông tư 24 của Bộ Thông tin – Truyền thông. Trong khi đó, gần như pháp luật nước ta chưa có quy định liên quan để quản lý, thu thuế đối với các đối tượng nước ngoài kinh doanh phát hành game tại nước ta. Do vậy, việc game không phép tràn lan đã làm cho môi trường kinh doanh của ngành game trong nước chưa được công bằng và lành mạnh, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp nước ta còn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu; ngoài ra còn cản trở sự phát triển của các nhà phát hành game Việt kinh doanh lành mạnh, gây thiệt hại cho doanh thu của nhà nước.

     

    Trung Quốc hiện đang chú trọng phát triển ngành công nghiệp game với mục đích thu được khoản lợi nhuận cao, và hơn thế nữa là quảng bá hình ảnh Trung Quốc ra thế giới. Theo Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Sơn, nhà nước Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu tất cả các game của Trung Quốc phải sản xuất theo thuần phong mỹ tục của Trung Quốc và để tuyên truyền lịch sử của Trung Quốc. Nên, họ khuyến khích game Trung Quốc phát triển ra nước ngoài với điều kiện tất cả những game này phải đảm bảo các yếu tố đó, đưa văn hóa của Trung Quốc ra nước ngoài19. Thị trường

     

    • Không thể tin vào game rác của Trung Quốc (2014), truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2016 từ http://www.baomoi. com/khong-the-tin-vao-game-rac-cua-trung-quoc/c/13283246.epi
    • Điệp Lưu (2016), Lục Long Tam Quốc 3D – Game lậu núp bóng Trung Quốc hoành hành làng game Việt, truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016 http://infogame.vn/game-online/luc-long-tam-quoc-3d-game-lau-nup-bong-trung-quoc-hoanh-hanh-lang-game-viet-27884.html.
    • Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://viet-namnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

    120         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)

     

     

    xuất khẩu game lớn nhất của Trung Quốc là Việt Nam. Phần lớn người chơi game Việt ở độ tuổi thanh thiếu niên, đây là lứa tuổi còn đang dần phát triển cả về tâm sinh lý, nhận thức và định hướng trong cuộc sống. Việc tiếp nhận và chơi các game Trung Quốc trong một thời gian dài, vô hình chung sẽ có ảnh hưởng nhất định. Hơn nữa, bên cạnh các sản phẩm game phát hành lành mạnh, các game lậu phát hành chui vào Việt Nam đều là những sản phẩm chưa được kiểm duyệt nội dung, những đầu game này sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam.

     

    Hiện nay, đa số các game Trung Quốc phát hành tại Việt Nam đều là các game kiếm hiệp, ví dụ: Game Thần long huyết kiếm lấy bối cảnh Trung Quốc đầu thế kỷ 20 với nhiều trường phái võ hiệp như kiếm, đao, quyền, cước, pháp bảo cùng với các loại vũ khí hiện đại như sung (hỏa thương), trảo…, trong tháng 7/2016 có sự ra mắt của game Ngự kiếm hồng trần, lấy bối cảnh chính ở đời Thịnh Đường Võ Hoàng, đưa người chơi khám phá một thế giới quan rộng lớn, phiêu lưu mạo hiểm, giàu tính chiến thuật…Các nhà phát hành game Trung Quốc đã rất dày công sáng tạo ra các sản phẩm game để tái hiện lại các chiêu thức nổi tiếng trong các cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung, Cổ Long… Người chơi game khi chơi sẽ hóa thân vào các nhân vật, cùng tham gia phiêu lưu, và chiến đấu với các đối thủ. Đây cũng chính là mặt trái của game Trung Quốc, khi người chơi quá đắm chìm trong thế giới ảo, mất cân bằng với thế giới thực, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và công việc. Hơn thế, rất nhiều sự việc và vụ án đau lòng đã xảy ra do game online gây ra, nhiều người gọi đó là tình trạng xuống cấp hay suy thoái đạo đức thậm chí băng hoại đạo đức do game online.

     

    5. Kết luận

     

    Trong những năm gần đây, ngành công

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    nghiệp văn hóa của Trung Quốc có những những bước tiến đột phá, do được chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm và đầu tư thích đáng nên quy mô ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc không ngừng được mở rộng bao gồm cả ngành truyền thống như điện ảnh, xuất bản…,cũng như các ngành công nghiệp văn hóa kiểu mới có xu thế phát triển mạnh như game. Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, ngành game của Trung Quốc không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, mà còn xâm lấn thị trường các nước lớn như Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, và vươn lên trở thành thị trường game lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam luôn là điểm đến đầu tiên của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại khu vực này. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành thị trường lớn của ngành công nghiệp game Trung Quốc. Không thể phủ nhận ngành game của Trung Quốc đã đem lại nhiều cơ hội việc làm và giải trí cho người Việt Nam, tạo điều kiện cho các công ty phát hành game của Việt Nam học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, tình hình game lậu đã gây thất thoát về kinh tế cho chính phủ Việt Nam, gây khó khăn trong cạnh tranh lành mạnh cho các công ty game Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, xã hội Việt Nam khi nội dung của các game lậu không được thông qua kiểm duyệt. Do vậy, đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền hãy siết chặt công tác quản lý để ngăn chặn các game lậu có nội dung không lành mạnh xâm nhập vào Việt Nam. Đồng thời, các nhà phát hành game Việt cũng cùng liên kết sáng tạo ra các sản phẩm game Việt, mang đậm thuần phong mỹ tục của người Việt và dấu ấn lịch sử Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường game và phát triển ngành công nghệ thông tin nước nhà.q

     

     

    Soá 85 (10/2016)                                                                                           Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                 121

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bộ Tài chính đã phân bố 4,8 tỷ NDT cho Quỹ phát triển công nghiệp văn hóa năm 2013 (2013), truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016, từ http:// www.gov.cn/gzdt/ 2013-11/19/ htm

     

    1. Cải cách thể chế văn hóa Trung Quốc đã giành được những thành tựu mang tính lịch sử (2013), truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016 , từ http://news.xinhuanet.com/zgjx/2013-06/14/c_132453952.htm

     

    1. Công nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2015 tăng 11% so với năm trước, chiếm 3,97% GDP (2016), truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2016, từ http://finance.sina.com.cn/roll/2016-08-30/doc-ifxvixsh6951301.shtml

     

    1. Hà Thu (2016), Game chất lượng thấp vẫn ồ ạt tràn về Việt Nam, vì sao?, truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016, từ http://infogame.vn/thi-truong/game-chat-luong-thap-van-o-at-tran-ve-viet-nam-vi-sao-30108.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2012), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2012, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016, từ http://www.taodocs.com/p-45210415.html
    1. Hiệp hội ngành game Trung Quốc, công ty số liệu quốc tế (2014), Báo cáo thị trường ngành game Trung Quốc ở nước ngoài năm 2014, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016 , từ http://cdn.cgigc.com.cn/report/2014/2014report_market_15.04.23F.pdf
    1. Interactive entertainment Sherpa, truy cập ngày 16/11/2015, từ http://www.iesherpa. com/?cat=74,
    2. Không vì mặt trái mà triệt tiêu phát triển game online (2014), truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016 từ http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe/205574/khong-vi-mat-trai-ma-triet-tieu-phat-trien-game-online.html

     

    1. Nguyễn Văn Hy (2013): Tìm hiểu thêm về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa, tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 3, tr.54-59
    2. Nguyên Thi Thu Phương (chủ biên), 2013: Sư trôi dây cua sưc manh mêm Trung Quôc 2011-2020 va nhưng vân đê đăt ra cho Viêt Nam, Nxb. Tư điên Bach khoa, Ha Nôi.
    3. Nguyên Thi Thu Phương (2012): Văn hoa trong tiên trinh trôi dây cua Trung Quôc, Tap chi Nghiên cưu Trung Quôc, sô 9
    4. TS Phạm Hồng Thái (2016), Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở các nước Đông Bắc Á và tác động đến Việt Nam, Đề tài cấp trên Bộ, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
    1. Thanh Nguyên (2014), Vì sao game Trung Quốc thắng thế , truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016, từ http://gosu.vn/tin-tuc/game-trong-nuoc/lang-game-viet-vi-sao-game-trung-quoc-thang-the-.html
    1. Trương Văn Tịnh:Công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang trong thời cơ phát triển (2013),truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016, từ
    1. http://www.chinadaily.com.cn/hqgj/jryw/2013-09-08/content_10063874.html

    122         Taïp chí  Kinh teá ñoái ngoaïi                                                                                                    Soá 85 (10/2016)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-marketing-lan-t%E1%BB%8Fa-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-h%C3%A0nh-vi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-t%E1%BA%A1i-Th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING LAN TỎA ĐỐI VỚI HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    Nguyễn Xuân Minh*

     

    Nguyên Nư Thuân Giang

     

    Tóm tắt

     

    Viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Thông qua kết quả khảo sát, có thể thấy ảnh hưởng của viral marketing đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng là khá lớn. Tuy co thê tao nên lơi thê canh tranh to lơn cho doanh nghiêp so vơi cac đôi thu trên thi trương băng những chiên dich marketing ân tương, ca tinh, đôc đao, mang ban săc riêng ma vân tiêt kiêm đươc chi phi nhưng viral marketing cung co thê bi ap dung sai hay lam dung qua mưc, gây kho chiu cho ngươi tiêu dung, tao nên những phan ưng tiêu cưc đôi vơi cac san phâm/ dich vu cua doanh nghiêp. Do đo, môt khi quyêt đinh ap dung viral marketing, trươc tiên cac doanh nghiêp cân phai tim hiêu, nghiên cưu thật sư ki vê hinh thưc nay với nhữ̃ng giải pháp phù hợp tùy vào đặc điểm của ngành hàng và khách hàng mục tiêu mà doanh nghiệp đang muốn hướng đến.

     

    Từ khóa: marketing lan tỏa, viral marketing, hành vi người tiêu dùng.

     

    Mã số:102.031214. Ngày nhận bài: 13/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập:15/02/2015. Ngày duyệt đăng: 12/04/2015.

     

    Summary

     

    Viral marketing is a form of marketing activities utilizing the spreading effects of social networks and the Internet in order to promote companies’ messages about products and services to consumers. By the survey results, it can be noted that viral marketing can influence consumers’ attitudes and behaviour so significantly. Viral marketing can help companies to create meaningful competitive advantage over their competitors by impressive and unique marketing campaigns with saved budgets. However, it can be abused or utilized in a wrong way, which causes unpleasant feelings or negative behaviour. Companies should carefully consider characteristics of relevant industries and targeted customers as well as this form of marketing itself so as to choose suitable and effective solutions.

     

    Key words: viral marketing, consumers’ behaviour

     

    Paper No.102.031214. Date of receipt: 13/12/2014. Date of revision:15/02/2015. Date of approval: 12/04/2015.

     

     

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với không chỉ các công ty nội địa mà còn với các công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia. Trước tình hình đó, nhiều

     

    doanh nghiệp trong nước đã nỗ lực đầu tư cho hoạt động marketing nhằm mở rộng thị trường, nâng cao khả năng nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ. Việc tận dụng sức mạnh lan truyền thông tin thông

     

    * PGS, TS. Trường Đại học Ngoại thương; Email: [email protected]

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       61

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    qua mạng lưới Internet thực sự mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp đã áp dụng phương pháp marketing lan tỏa (tạm dịch từ “viral marketing”), bởi đây là một hoạt động marketing vừa tiết kiệm chi phí vừa đảm bảo truyền được thông điệp mà doanh nghiệp muốn gửi gắm tới khách hàng tiềm năng của mình.

     

    Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra các tác động tích cực, tiêu cực của hình thức này nhằm giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đưa ra các chiến lược truyền thông phù hợp. Người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng khảo sát nhằm thu thập nguồn thông tin sơ cấp cho việc phân tích thực trạng và ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    1. Tổng quan về viral marketing

     

    Viral marketing, hay còn gọi là marketing lan tỏa có nguồn gốc từ hình thức marketing truyền miệng (word-of-mouth marketing). Marketing truyền miệng sử dụng nguyên lý truyền thông tự phát của con người trong cuộc sống hàng ngày, sử dụng những câu chuyện có sức ảnh hưởng để tạo nên sự lan truyền những mẫu quảng cáo sản phẩm/ dịch vụ hay tin đồn nào đó (Mindcomet Corporation, 2008). Theo Cruz, D. and Fill, C. (2008) thì có nhiều nguyên nhân khiến người tiêu dùng thích nói về những sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã sử dụng, có thể là do mong muốn chia sẻ kinh nghiệm mua sắm của mình với những người tiêu dùng khác hay đơn giản là họ muốn bàn tán về những vấn đề liên quan đến uy tín của một thương hiệu (Cruz, D. and Fill, C., 2008). Cũng chính vì chủ yếu sử dụng hình

     

    thức truyền miệng giữa người với người nên marketing truyền miệng bị giới hạn ở tốc độ truyền thông tin. Do đó, hình thức này đòi hỏi phải tốn khá nhiều thời gian để thông điệp bao phủ khắp nơi. Dù có nhược điểm như vậy nhưng trong một số trường hợp nhất định, hình thức marketing truyền miệng lại có sức ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng lớn hơn nhiều so với những hình thức quảng cáo trên các tạp chí, đài phát thanh hay các kênh bán hàng cá nhân (Engel et al,1969) vốn chủ yếu được sử dụng khi Internet chưa thực sự phát triển.

     

    Thuật ngữ “viral marketing” được Steve Juvertson và Tim Draper dùng vào năm 1997 để mô tả cách thức dịch vụ email (thư điện tử) miễn phí- hotmail được quảng bá, xúc tiến. Cụ thể, dòng chữ ký của tất cả các email được gửi thông qua hotmail- đại lý email miễn phí trực tuyến đầu tiên, đều ghi một lời mời để người dùng tạo ra một tài khoản hotmail.com miễn phí. Phương pháp xúc tiến thương mại này được coi là “viral” (lan tỏa), bởi thông điệp đã được truyền đi bởi chính người dùng tới những người dùng khác. Từ “viral” bắt nguồn từ từ “virus”, nó tượng trưng cho cách thức mà thông điệp lây lan nhanh chóng như những con vi-rút, hoàn toàn không mang ý nghĩa tiêu cực (Rodić, N. & Koivisto, E., 2012). Theo Rodić, N. & Koivisto, E. (2012), có một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả hình thức marketing này như: “Word-of-mouth”- marketing truyền miệng (Goldenberg et al.2001), “Referral Marketing”- Marketing đề cử (De Bruyn and Lilien, 2004),…

     

    Cruz, D. and Fill, C. (2008) cho rằng marketing lan tỏa liên quan đến việc trao đổi thông tin về một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể bằng hệ thống mạng đồng đẳng, nơi người dùng có thể dễ dàng và thường xuyên trao đổi

     

    62            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    thông tin với nhau. Bên cạnh đó, họ cũng cho rằng không nên dùng các công cụ tài chính để điều khiển sự lan truyền của thông điệp bởi marketing lan tỏa không phải là một dạng của quảng cáo. (Cruz, D. and Fill, C.,2008). Chính vì vậy, cần để người tiêu dùng tự nguyện lan truyền thông điệp về các sản phẩm hay dịch vụ với nhau.

     

    Mặc dù có nhiều khái niệm và khác biệt khi nghiên cứu sâu về tính chất, đặc điểm của hoạt động viral marketing nhưng các tác giả trên đều thống nhất về một điểm, đó chính là sự lan tỏa- yếu tố quyết định của hình thức marketing này.

     

    Dựa trên những định nghĩa trên, tác giả đưa ra khái niệm về hoạt động viral marketing như sau: “viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng.”

     

    Đặc điểm của viral marketing

     

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing rất đa dạng, nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: email (thư điện tử), blog (trang web chia sẻ thông tin cá nhân trực tuyến), chatroom (thảo luận trực tiếp trên Internet), diễn đàn người dùng, forum seeding (gieo mầm thông tin trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội, …), mạng xã hội, video … (Xavier, L. and Summer, G., 2009).

     

    Theo Ralph F. Wilson (2000), những đặc điểm của một hoạt động viral marketing hiệu quả là cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ “miễn phí”, truyền tải thông tin một cách dễ dàng, lây lan, tạo hiệu ứng lan truyền nhanh chóng, tận dụng được những động cơ và hành vi thông thường, sử dụng hiệu quả các mạng

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    truyền thông hiện có, tạo được sự liên kết giữa các kênh truyền thông.

     

    Khi áp dụng hoạt động viral marketing thì doanh nghiệp có thể có những thuận lợi như:

     

    • Tiết kiệm một khoản tiền đáng kể khi so sánh với các hình thức marketing truyền thống (Fairbank, 2008).
    • Bỏ qua các hình thức hỗn loạn của marketing truyền thống, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng hiệu quả hơn (Mindcomet Corporation, 2008).
    • Chiến dịch viral marketing không yêu cầu sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp phải thực sự xuất sắc hay nổi bật. Thay vào đó, yếu tố thực sự cần phải xuất sắc và nổi bật chính là chiến dịch marketing đó (Mindcomet Corporation, 2008). Vì vậy, một doanh nghiệp tuy có sản phẩm, dịch vụ với chất lượng trung bình, không quá nổi bật vẫn hoàn toàn có thể thu được lợi nhuận bằng một chiến dịch viral marketing hiệu quả.
    • Được người tiêu dùng tiếp nhận, bất luận kết quả cuối cùng là doanh nghiệp sẽ nhận được phản ứng tiêu cực hay tích cực (Mindcomet Corporation, 2008). Điều này có nghĩa, khi được ai đó giới thiệu, chia sẻ về đường dẫn tới một trang web, một đoạn video ấn tượng, một chủ đề thảo luận trên mạng … người tiêu dùng có thể vì tò mò mà nhấn vào đường dẫn đó. Dù người tiêu dùng đó thích hay không thích nội dung của trang web, đoạn video … đó thì hoạt động viral marketing cũng đã gây được hiệu ứng lan truyền.

    Bên cạnh đó, viral marketing cũng gặp phải những bất lợi như:

     

    • Thứ nhất, việc để thông điệp tự lan truyền rủi ro hơn so với marketing truyền thống

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      63

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    bởi nếu không được thực hiện đúng, viral marketing có thể phản tác dụng và tạo tin đồn tiêu cực (Mindcomet Corporation, 2008). Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp bắt đầu kiểm soát thông điệp trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội thì người tiêu dùng lại cho rằng những thông tin đó là giả tạo và không đáng tin cậy. (Scott, D., 2007)

     

    • Thứ hai, viral marketing có thể gây khó chịu cho người tiêu dùng. Nếu những hình thức khuyến mại như: “Chỉ cần gửi tin nhắn này cho 5 người bạn của bạn, bạn sẽ được hưởng ưu đãi khi mua sắm tại đây” sẽ khuyến khích người tiêu dùng gửi thư rác (spam email) tới bạn bè của mình (Fairbank, 2008). Loại email này thường gây khó chịu cho người nhận vì họ nhấn vào đường dẫn mà chẳng nhận được thông tin bổ ích gì (Chaffey, D., 2003).
    • Thứ ba, các doanh nghiệp không thể kiểm soát số lượng người có thể tiếp cận chiến dịch marketing của mình (Fairbank, 2008). Bởi nếu số người xem quá đông, nhu cầu về một mặt hàng hay dịch vụ tăng đột biến, mà doanh nghiệp lại không đủ khả năng đáp ứng thì sẽ gây tác động xấu đến uy tín của doanh nghiệp.

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing là một hoạt động rất phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm email, blog, chatroom, diễn đàn trực tuyến, các trang mạng xã hội, clip, video… Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích các hình thức phổ biến nhất của hoạt động viral marketing tại Việt Nam, cụ thể là: email, social network (trang mạng xã hội), video, forum (diễn đàn trực tuyến).

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi người

     

    tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

     

    2.1. Phương pháp khảo sát

     

    Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi qua email và điều tra trực tiếp với 350 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Địa bàn khảo sát là 5 quận trung tâm thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4 và Quận 5), mỗi quận 100 phiếu trả lời được thu thập tại trung tâm mua sắm (25 phiếu), trường học (25 phiếu) và khu dân cư (25 phiếu) và các địa điểm khác (25 phiếu) theo sự lựa chọn tùy ý của điều tra viên. Nếu người được khảo sát sẵn sàng dành thời gian trả lời trực tiếp, điều tra viên phát phiếu khảo sát trực tiếp và lấy thông tin đầy đủ. Nếu người được khảo sát bày tỏ

     

    • kiến sẵn sàng trả lời nhưng không có đủ thời gian trả lời, điều tra viên thu thập thông tin về địa chỉ email và gửi phiếu khảo sát qua email để người được khảo sát trả lời trực tuyến. Kết quả thu được 150 phiếu trả lời trực tiếp có đầy đủ thông tin, phiếu khảo sát điện tử bằng ứng dụng Google Docs được gửi đến 200 người tiêu dùng qua email và có 100 người tiêu dùng trả lời. Tổng cộng có 250 phiếu khảo sát được thu về, sau khi loại bỏ những phiếu không hợp lệ (không điền đầy đủ thông tin) thì có 236 phiếu khảo sát được sử dụng để phân tích dữ liệu.Dữ liệu được thống kê và xử lý bằng phần mềm

    SPSS.

     

    2.2. Mô tả bảng câu hỏi khảo sát

     

    Các vấn đề trọng tâm được khảo sát bao gồm:

     

    -Ả̉nh hưởng của viral marketing đến khả năng nhận biết nhãn hiệu của người tiêu dùng.

     

    -Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối

     

    64            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    với các hình thức viral marketing phổ biến hiện nay.

     

    -Thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

     

    -Ả̉nh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành động của người tiêu dùng.

     

    Bảng khảo sát được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ.Thang đánh giá này sẽ cung cấp thông tin về mức độ ảnh hưởng của viral marketing đến người tiêu dùng. Bảng khảo sát được thiết kế gồm 16 câu hỏi chính, tương ứng với 16 biến khảo sát được đánh giá là có tác động đến hành vi của người tiêu dùng đối với viral marketing.

     

    Các biến nhân khẩu sử dụng trong nghiên cứu là giới tính, tuổi, mức thu nhập, trình độ học vấn. Cơ cấu mẫu quan sát được thể hiện trong bảng dưới đây.

     

    Bảng 1. Thông tin nhân khẩu của mẫu khảo sát

     

    Yếu tố

    Phân loại

    Số lượng

    Tỷ lệ

     

    (Người)

    (%)

     
       

    Giới

    Nam

    113

    47,88

     

    Nữ

    123

    52,12

     

    tính

    Tổng

    236

    100

     
     
     

    Dưới 18 tuổi

    38

    16,1

     
     

    Từ 18- 25 tuổi

    143

    60,59

     

    Tuổi

    Từ 25-35 tuổi

    41

    17,37

     

    Từ 35- 50 tuổi

    11

    4,66

     
     
     

    Trên 50 tuổi

    3

    1,27

     
     

    Tổng

    236

    100

     

    Mức

    Dưới 3 triệu

    139

    58,9

     

    thu

           

    Từ 3-10 triệu

    65

    27,54

     

    nhập

           

    Từ 10-20 triệu

    28

    11,86

     

    hàng

    Trên 20 triệu

    4

    1,69

     

    tháng

    Tổng

    236

    100

     

    (VND)

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

    THPT trở

    36

    15,25

     
     

    xuống

    Trình

         

    Cao đẳng

    43

    18,22

     

    độ học

    Đại học

    142

    60,17

     

    vấn

    Sau đại học

    15

    6,36

     
     
     

    Tổng

    236

    100

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát tháng 10/2014)

    2.3. Phân tích kết quả khảo sát – Về mức độ sử dụng Internet

     

    Kết quả khảo sát phản ánh khá sát với thực trạng hiện nay: có đến 69,07% số người khảo sát sử dụng mạng Internet tất cả các ngày trong tuần, và 16,53% sử dụng từ 5-6 ngày. Trong đó, khoảng thời gian mỗi ngày để sử dụng Internet đa số là từ 4-6 giờ (chiếm 45,76%) và từ 1-3 giờ (chiếm 33,47%). Đây là những con số khá lớn so với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Qua những số liệu này, có thể thấy đối với thành phố Hồ Chí Minh có thể phát triển các chiến dịch viral marketing- các chiến dịch xúc tiến thương mại tận dụng sự lan truyền thông tin nhanh chóng trên mạng Internet ngày nay.

     

    • Về mức độ sử dụng các hình thức phổ biến trong viral marketing

    Người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu sử dụng các trang mạng xã hội với 69,07% số người được khảo sát sử dụng từ 1-3 giờ/ngày, 13,56% sử dụng từ 4-6 giờ/ngày. Đối với các video, có 39,83% sử dụng ít hơn 1 giờ/ngày và 38,14% sử dụng từ 1-3 giờ/ngày. Trong khi đó, hình thức thư điện tử (email) được sử dụng khá ít với 73,31% số người được khảo sát trả lời chỉ dành ít hơn 1 giờ/ngày để sử dụng. Tuy nhiên, hình thức ít được sử dụng nhất là các diễn đàn trực tuyến (forum). Số lượng người

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      65

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    không sử dụng forum lên đến 30,08%, cao nhất trong cả 4 hình thức. Nhìn chung, do người tiêu dùng chủ yếu là giới trẻ có độ tuổi từ 18-25 nên ta có thể dễ dàng hiểu được nguyên nhân vì sao các trang mạng xã hội như Facebook, Zing Me,… với giao diện bắt mắt lại được ưa chuộng nhất trong khi các diễn đàn trực tuyến như Webtretho, Voz forum, Vn-zoom,… mặc dù là nơi trao đổi, chia sẻ thông tin khá hữu ích nhưng lại không được quan tâm do giao diện khá thô cứng, không đẹp mắt.

     

    • Về tầm quan trọng của việc lắng nghe kinh nghiệm, chia sẻ trên mạng của nhữ̃ng người tiêu dùng khác trước khi mua một sản phẩm hay dịch vụ

    47,03% người tiêu dùng đồng ý rằng việc tìm hiểu thông tin, kinh nghiệm trên Internet của những người tiêu dùng khác là quan trọng và 23,73% lại thấy đây là một việc rất quan trọng. Điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet đến tâm

     

    lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua bất kì một sản phẩm, dịch vụ nào là cực kì lớn. Cũng chính những thông tin này sẽ giúp người tiêu dùng biết đến những sản phẩm, dịch vụ mới đang được ưa chuộng và ảnh hưởng đến thái độ, cách nhìn nhận tiêu cực hay tích cực của người tiêu dùng đối với một sản phẩm, dịch vụ nào đó dù chưa từng sử dụng.

     

    • Về khả năng nhậ̣n biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ nhữ̃ng thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet

    Trước thực trạng người tiêu dùng không chú ý đến những mẫu quảng cáo phát trên truyền hình, đài phát thanh, in trên các báo, tạp chí, phớt lờ những biển hiệu bắt mắt hay những tờ rơi được phát tận tay thì việc có đến 52,97% người được khảo sát đồng ý và 19,49% người rất đồng ý rằng mình có thể nhận biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ những thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet đã thực sự chứng minh

     

     

     

    Hình 1.Tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet (Đơn vị tính: %)

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    66            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiệu quả của hoạt động viral marketing-một hoạt động marketing có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn nhân lực. Đây được coi là một trong những lợi thế ưu việt của các chiến dịch viral marketing do có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả nhận biết thương hiệu với nguồn chi phí hạn hẹp trong tình hình kinh tế còn khó khăn như hiện nay.

     

    Có đến 75% người tiêu dùng (44,92% đồng ý và 30,08% rất đồng ý) cho rằng họ có thể ghi nhớ một nhãn hiệu tốt hơn nhờ những thông tin hay quảng cáo ý nghĩa, ấn tượng, độc đáo, hài hước,…. Qua đó có thể

     

    thấy tầm quan trọng về mặt nội dung của những thông điệp được lan truyền. Thay vì những thông tin, quảng cáo có nội dung hời hợt, tương đồng nhau, không có sự khác biệt tràn lan của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì những thông tin, quảng cáo có giá trị về nội dung, mang một ý nghĩa sâu sắc, cảm động, mới lạ hay có tính giải trí cao sẽ giúp người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm, dịch vụ đó tốt hơn rất nhiều.

     

    • Về tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm / dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet

    Kết quả khảo sát phản ánh khá chính xác tâm lý của khách hàng trong thực tiễn: chỉ có 25,42% (20,34% người đồng ý và 5,08% người rất đồng ý) cho rằng các hoạt động viral marketing củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/ dịch vụ, 47,88% giữ ý kiến trung lập và 26,69% (22,88% không đồng ý và 3,81% rất không đồng ý) cho rằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên mạng không tác động tới niềm tin của họ đối với các sản phẩm/ dịch vụ. Điều này chứng tỏ mức độ tin tưởng của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh dành cho hình thức viral marketing chưa thực sự cao.

     

    • Về thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

    Người tiêu dùng cảm thấy khó chịu với những email quảng cáo tràn ngập trong hộp thư điện tử của mình. Họ thường không quan tâm đến nội dung của các email này và xóa chúng mà không hề đọc tiêu đề. Trái ngược lại với hình thức viral marketing bằng email, những thông tin, quảng cáo được thảo luận, chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến như vozforums.com, Vn-zoom.com, webtretho. com, lamchame.com,… nhận được phản hồi

     

    Bảng 2. Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối với các hình thức Viral Marketing (Đơn vị tính: %)

     

    Mức độ

    Rất không

    Không

    Bình

    Đồng ý

    Rất đồng

    Tổng

     

    Hình thức

    đồng ý

    đồng ý

    thường

    ý

         
                   

    Email

    20,76

    40,25

    33,90

    2,97

    2,12

    100

     
                   

    Trang mạng xã hội

    10,59

    30,51

    43,22

    13,14

    2,54

    100

     
                   

    Video

    11,44

    27,12

    38,98

    15,25

    7,20

    100

     
                   

    Diễn đàn trực tuyến

    5,93

    14,41

    27,12

    42,37

    10,17

    100

     
                   

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       67

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    khá tích cực. Người tiêu dùng không hề cho rằng đây là những thông điệp rác mà coi đó là nguồn thông tin khá hữu ích để tham khảo trước khi quyết định mua một sản phẩm/ dịch vụ.

     

    Trong các hình thức phổ biến của hoạt động viral marketing phổ biến tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hình thức lan truyền, phát tán thông tin bằng email (thư điện tử) nhận được ít sự tin tưởng nhất khi có đến 40,25% người cho rằng nội dung của những email quảng cáo từ bạn bè hay các doanh nghiệp là không đáng tin và 20,76% cho rằng nó không chỉ không đáng tin mà là rất không đáng tin. Bên cạnh đó, 30,51% cho rằng các thông điệp lan truyền trên mạng xã hội (Facebook, Zing Me,…) là không đáng tin cậy và 10,59% cho rằng nó rất không đáng tin. Hình thức viral marketing bằng video có mức độ tin cậy ở vị trí thứ hai khi có 22,45% (15,25% đồng ý và 7,2% rất đồng ý) cho rằng đây những thông tin, quảng cáo bằng video có thể tin cậy được. Có thể thấy, những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất. Có 52,54% (42,37% đồng

     

    • và 10,17% rất đồng ý) tin tưởng những gì mình xem được trên các forum mặc dù có đến 30,08% người được hỏi không sử dụng các diễn đàn này khi truy cập Internet.
    • Về ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi của người tiêu dùng.

    Sau khi tiếp nhận thông tin từ các hình thức của viral marketing, người tiêu dùng có thể bày tỏ ý kiến về thông tin, về sản phẩm, về doanh nghiệp hoặc chia sẻ những điều đó với

     

    người khác. Họ cũng có thể tiến hành mua thử sản phẩm.

    Qua khảo sát, tổng cộng có đến 55,09% người được khảo sát (35,17% đồng ý và 19,92% rất đồng ý) cho biết họ đã chia sẻ/ gửi đường link của một thông tin hay quảng cáo tới bạn bè, người thân vì nó ấn tượng, hài hước, hoặc vì sẽ được khuyến mãi. Chỉ có 4,66% rất không đồng ý và 18,64% không đồng ý. Chính việc người tiêu dùng tự truyền thông tin cho nhau sẽ tạo cơ hội rất lớn cho việc phát tán thông tin, quảng cáo, tạo nên làn sóng lan tỏa cho hoạt động viral marketing.

     

    Tuy nhiên, tỷ lệ người tiêu dùng đã thực sự mua một sản phẩm/ dịch vụ sau khi biết đến nó từ một hoạt động viral marketing chỉ chiếm 29,24% (21,61% đồng ý và 7,63% rất đồng ý). Đây là con số khá khiêm tốn so với số lượng người tiếp xúc với các hoạt động viral marketing.

     

    Có thể thấy, người tiêu dùng sẵn sàng trở thành một mắc xích trong dây chuyền lan tỏa thông điệp của các chiến dịch viral marketing vì họ cảm thấy thích thú trước nội dung mới lạ, độc đáo, có ý nghĩa, quan trọng của marketing lan tỏa và họ muốn chia sẻ với bạn bè, người thân hay vì họ sẽ nhận được những ưu đãi khi gửi đi những thông tin, quảng cáo đó. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẵn lòng chi trả một khoản tiền cá nhân để mua những sản phẩm/ dịch vụ đó.

    3. Một số vấn đề lưu ý đối với doanh nghiệp

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy các doanh nghiệp cần lưu ý những vấn đề sau đây trong hoạt động marketing:

     

    68            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    Thứ nhất, tỷ lệ người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng các trang mạng xã hội với thời gian từ 1-3 giờ/ngày chiếm tỷ lệ cao là cơ hội để các doanh nghiệp sử dụng kênh thông tin này để quảng bá sản phẩm, tiếp cận người tiêu dùng bằng viral marketing. Kênh truyền thông này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi vì mạng xã hội là cách tiếp cận khách hàng với chi phí thấp hơn so với các hình thức marketing truyền thống khác với tốc độ lây lan thông tin nhanh chóng và tiếp cận người tiêu dùng một cách dễ dàng.

     

    Thứ hai, những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đến đến tâm lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng các kênh thông tin quảng bá sản phẩm trên Internet, đặc biệt là đội ngũ chuyên viên quảng bá, tư vấn về sản phẩm trên các diễn đàn trực tuyến thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng để kịp thời đưa ra các nhận xét, bình luận tích cực về sản phẩm và tư vấn cho người tiêu dùng về lựa chọn sản phẩm. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu khi đa số người tiêu dùng được khảo sát cho rằng những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất.

     

    Thứ ba, những ý kiến tích cực tác động không mạnh mẽ đến người tiêu dùng nhưng những ý kiến tiêu cực về sản phẩm được lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Do vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng các phương án đối phó với khủng hoảng truyền

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    thông, giảm thiểu tối đa các thông tin tiêu cực lan tràn trên môi trường mạng. Doanh nghiệp cần mở rộng các kênh thông tin và hướng dẫn cụ thể khách hàng về cách thức tiếp cận, phản hồi thông tin cho doanh nghiệp khi sản phẩm gặp vấn đề về chất lượng hoặc khi gặp phải các rắc rối, phiền toái phát sinh đối với khách hàng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Từ đó, doanh nghiệp có thể có được phản hồi của khách hàng để liên hệ và xử lý kịp thời các lỗi kỹ thuật của sản phẩm hoặc giải thích cho khách hàng hiểu rõ các vấn đề kỹ thuật của sản phẩm cho đến khi đạt được sự đồng thuận, hài lòng của khách hàng.

     

    Thứ tư, tuy hoạt động viral marketing có thể gây hiệu ứng lan truyền rất mạnh mẽ giữa cộng đồng mạng Internet nhưng hình thức này vẫn chưa thực sự hiệu quả trong việc tác động đến quyết định mua hàng cuối cùng của người tiêu dùng. Lý giải cho vấn đề này, có thể thấy do mức độ tin tưởng của người tiêu dùng vào nội dung của các thông tin, quảng cáo được phát tán trên mạng Internet chưa cao. Vì vậy, chiến dịch viral marketing của doanh nghiệp không chỉ nhắm đến việc làm sao để tạo nên một chiến dịch quảng cáo thật ấn tượng, độc đáo, mới lạ mà cần chú

     

    • đến những vấn đề người tiêu dùng muốn biết thông qua những đoạn quảng cáo là cách thức sử dụng, tác dụng, hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

    Tóm lại, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc áp dụng hoạt động viral marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng là một xu thế tất yếu cho sự phát triển và mở rộng của các doanh nghiệp trong

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      69

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiện tại và tương lai. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch xây dựng chiến lược marketing lan tỏa của mình tùy theo đặc điểm ngành hàng và khách hàng mục tiêu để có thể khai thác tốt

     

    nhất những mặt mạnh và hạn chế các mặt tiêu cực của marketing lan tỏa để có thể tối ưu hóa kết quả hoạt động marketing trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. q

     

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bruyn, D. A., & Lilien, G. L. (2008). A Multi-Stage Model of Word of Mouth Through Viral Marketing, International Journal of Research in Marketing, Vol. 25, No.3, pp.143-225.
    1. Chaffey, D., 2003, Total E-Mail Marketing, Oxford: Butterworth-Heinemann.
    1. Cruz, D. and Fill, C., 2008, Evaluating viral marketing: Isolating the key criteria,

    Emerald Insight, Vol.6, No.7, pp.743-758.

     

    1. Engel et al, 1969, How information is used to adopt an innovation, Journal of Advertising Research, Vol.9, pp.3-8.
    1. Fairbank, V., 2008, A Study into the Effectiveness of Viral Marketing over the Internet, University of Gloucestershire.
    1. Goldenberg, J., Libai, B. & Muller, E., 2001, Talk the network: a complex systems look at the underlying process of word-of-mouth, Marketing Letters, 12, No.3, pp.211-23.
    1. Juvertson, S. and Draper, T., 1997, Viral Marketing: Viral Marketing phenomenon explained, Investor Reports.
    1. Mindcomet Corporation – white paper. (2008), Viral marketing: Understanding the concepts and benefits of viral marketing. Retrieved from http://cmginteractive. com/uploads/viral_marketing.pdf
    1. Rodić, N. & Koivisto, E., 2012, Best Practices in Viral Marketing, Aalto University school of Economics.
    1. Wilson, R.F., 2000, The six simple principles of viral marketing, Marketing Today Vol.70, pp.1–4.
    1. Xavier, L. J. W. &Summer, G. Y. S., 2009, Viral Marketing Communication: The Internet Word-of-Mouth, School of Management Blekinge Institute of

    70            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-marketing-xanh-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MARKETING XANH

    CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

     

    Nguyễn Thị Thu Hà*

     

    Bùi Quang Tín**

     

    Tóm tắt

     

    Mặc dù marketing xanh đã xuất hiện trên thế giới cách đây đã hơn 30 năm nhưng ở Việt Nam đây vẫn còn là một vấn đề mới mẻ với phần lớn doanh nghiệp. Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường hay còn gọi là sản phẩm xanh ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc chuyển sang marketing xanh. Bài viết khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về marketing xanh, những cơ hội thách thức đối với doanh nghiệp khi ứng dụng marketing xanh tại Việt Nam để từ đó đề xuất một số gợi ý giúp các doanh nghiệp tăng cường ứng dụng marketing xanh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường của người tiêu dùng và cạnh tranh bền vững. Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để làm rõ vấn đề nghiên cứu.

     

    Từ khóa:

     

    Mã số: 115.271214. Ngày nhận bài: 27/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập: 27/04/2015. Ngày duyệt đăng:2/10/2015.

     

    Summary

     

    Although green marketing appeared in the world more than 30 years ago in Vietnam, this is still a new issue for most Vietnamese enterprises. The trend towards consumption of environmentally friendly products aka green products has become increasingly popular around the world as well as in Vietnam. However, many Vietnam businesses are not ready for the switch to green marketing. This article will give an overview of theoretical issues and practices of green marketing, the opportunities and challenges for businesses when applying green marketing in Vietnam, then propose some suggestions to help enterprises enhance the application of green marketing, meet consumers’various demand for environmentally friendly products and boost sustainable competition. This paper uses synthesis, analysis methods to clarify the research issue.

     

    Key words: Enterprise, Green marketing.

     

    Paper No.115.271214. Date of receipt: 27/12/2014. Date of revision: 27/04/2015. Date of approval: 2/10/2015.

     

     

    1.   Tổng quan lý thuyết về Marketing

    xanh

     

    • Khái niệm về marketing xanh

    Polonsky (1994) cho rằng marketing xanh bao gồm các hoạt động nhằm tạo ra và thúc đẩy bất cứ trao đổi nào nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng trên

     

    cơ sở hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng quan điểm với Polonsky, Ottman (1998) cho rằng marketing xanh cần phải tập trung vào phát triển các sản phẩm có thể làm thỏa mãn tất cả những nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm chất lượng, giá cả hợp lí và khả năng sử dụng với sự tương hợp

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      87

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    với môi trường, tức là hạn chế tối thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên.

     

    Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (Environmental Protection Agency – EPA), hoạt động marketing xanh là “việc phát triển và xúc tiến các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bao gồm nhu cầu về chất lượng, hình thức, giá cả hợp lý, sử dụng tiện lợi mà không gây ra tác động tiêu cực đến môi trường”. Định nghĩa này chủ yếu dựa trên khái niệm mà Ottman đưa ra. Còn theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA), marketing xanh là hoạt động marketing các sản phẩm được coi là an toàn cho môi trường. Có nhiều ngộ nhận rằng marketing xanh chỉ liên quan tới chiêu thị và quảng cáo các sản phẩm bằng cách sử dụng các đặc điểm hoặc biểu tượng về môi trường. Nhưng về bản chất, marketing xanh chính là sự kết hợp một loạt các hoạt động bao gồm thay đổi quá trình sản xuất, đóng gói, quảng cáo để tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường (Polonsky, 1994).

     

    Dựa vào khái niệm của marketing xanh thì Philip Sloan và cộng sự (2012) cho rằng marketing xanh có các đặc điểm sau:

     

    Thứ nhất, hành động vì thế hệ mai sau. Một đặc điểm của marketing xanh đó là dùng những hành động tích cực, thân thiện với môi trường ở hiện tại (ngắn hạn) nhằm củng cố cho mục tiêu dài hạn, đó là giáo dục cho giới trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và tránh để các nguồn tài nguyên rơi vào tình trạng cạn kiệt.

     

    Thứ hai, marketing xanh đòi hỏi các doanh nghiệp cũng có trách nhiệm giống như những công dân mẫu mực khác. Hoạt động marketing xanh cần gắn liền với các hoạt động mang tính lâu dài về bảo vệ môi trường để quảng bá hình ảnh tốt đẹp cho doanh nghiệp. Theo đó, các tuyên bố và thông điệp truyền thông của

     

    doanh nghiệp cũng phải được cụ thể hóa bằng các hành động thực tế về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhờ đó cho thấy được mục đích nhân văn cao cả của doanh nghiệp. Yếu tố nhân văn của một doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác sẽ được cộng đồng xã hội so sánh một cách khách quan và rõ ràng hơn nhờ vào kết quả thực hiện các hoạt động nói trên như thế nào.

     

    Thứ ba, marketing xanh phải tạo được cầu nối giữa các doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp đối thủ và cả những cổ đông với nhau để làm cơ sở chung tay thực hiện các hành động nhân văn. Như vậy là cần phải có sự hợp tác cùng thực hiện. Quan điểm đạo đức chung

     

    • đây là phải làm thế nào để thế hệ sau phải có được cuộc sống tốt đẹp hơn, hoặc chí ít cũng phải bằng so với thế hệ trước. Quan điểm này chỉ ra rằng doanh nghiệp không thể chỉ tìm mọi cách thu lợi nhuận cho mình và quên đi sự sống còn của cả loài người và các sinh vật trên tráo đất. Do đó, cần một cách tiếp cận marketing toàn diện để đảm bảo cho việc phát triển bền vững là ý tưởng chủ đạo của hoạt động này.

    1.2. Marketing mix trong marketing xanh

     

    Như đã đề cập ở trên, marketing xanh không chỉ hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ mà rộng hơn, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Theo Rex và Baumann (2007) ý tưởng chính của hoạt động marketing xanh là khách hàng được cung cấp thông tin về các tác động tới môi trường của sản phẩm khi lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ để tiêu dùng. Từ phần mình, các doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang sản xuất và cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xanh của người mua hàng. Do vậy, khi thực hiện marketing xanh các doanh nghiệp

     

    88            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    cần triển khai các chiến lược xanh từ khâu sản phẩm, định giá, phân phối và chiêu thị.

     

    Chính sách sản phẩm

     

    Chính sách sản phẩm xanh của một công ty được thể hiện qua các yếu tố thiết kế, sản xuất, đóng gói và dán nhãn sinh thái.

     

    Thiết kế: Ottman (1998) cho rằng khi xây dựng chính sách sản phẩm khâu quan trọng nhất là quá trình thiết kế sản phẩm. Theo Ottman thì quá trình thiết kế quyết định khoảng 75% tác động đến môi trường của sản phẩm đó.

     

    Có nhiều phương pháp thiết kế để tạo ra một sản phẩm mới thân thiện với môi trường. Tuy nhiên dù áp dụng phương pháp nào chăng nữa thì trong khâu thiết kế, doanh nghiệp cũng cần chú ý tới nguyên tắc 3R (Reduction

     

    – Reuse – Recycling). Sản phẩm đó phải được thiết kế sao cho khi sản xuất có thể giảm thiểu nguyên vật liệu đầu vào hoặc được làm từ những vật liệu giảm thiểu tác động đến môi trường (Reduction). Thứ hai là sản phẩm đó được thiết kế để sử dụng nhiều lần hoặc không khuyến khích người tiêu dùng chỉ sử dụng một lần rồi bỏ đi (Reuse). Ở mức độ cao nhất, việc thiết kế sẽ xây dựng những sản phẩm có khả năng tái chế tức là có khả năng được dùng lại để sản xuất sản phẩm mới hoặc có khả năng chuyển đổi thành nguyên vật liệu dùng để tạo ra một loại sản phẩm khác (Recycle), điều này sẽ giúp loại bỏ đến mức thấp nhất tác động đến môi trường của sản phẩm.

     

    Sản xuất: Trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cần đảm bảo sử dụng công nghệ và kỹ thuật sạch, không gây ô nhiễm, sản phẩm sản xuất ra không có hại cho môi trường và sức khỏe con người.

     

    Đóng gói bao bì: Doanh nghiệp có thể sử dụng những loại bao bì làm bằng những chất liệu ít gây ô nhiễm, không độc hại và an toàn

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    với môi trường như bao bì có thể phân hủy được, hoặc cũng có thể sử dụng những loại bao bì có thể tái chế, tái sử dụng. Mặc khác, kích cỡ của bao bì cũng là một yếu tố có thể giúp bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích tiết kiệm chi phí bao bì, chi phí lưu trữ vận chuyển cho bản thân doanh nghiệp.

     

    Dán nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái có thể do chính doanh nghiệp tạo ra và đặt lên sản phẩm của mình như một cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để đảm bảo uy tín và tính khách quan, phần lớn các doanh nghiệp thường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn. Bên thứ ba có thể là một công ty độc lập khác, hiệp hội của ngành, một tổ chức phi chính phủ hay thậm chí là của một cơ quan ban ngành của chính phủ nhằm có sự đảm bảo uy tín về đặc tính thân thiện với môi trường của sản phẩm.

     

    Chính sách giá

     

    Có hai phương pháp định giá sản phẩm xanh doanh nghiệp có thể tham khảo. Thứ nhất là định giá cao hơn cho sản phẩm xanh so với mức giá của sản phẩm thông thường do sản phẩm được sản xuất theo công nghệ sạch. Khách hàng trả mức giá cao này đòi hỏi sản phẩm phải thực sự vượt trội hơn sản phẩm mà họ đang dùng chứ không chỉ thân thiện với môi trường một cách chung chung. Phương pháp thứ hai là định giá sản phẩm xanh bằng với sản phẩm thông thường cùng chất lượng. Khi này, khách hàng sẽ sẵn lòng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường thay vì trung thành với sản phẩm họ từng sử dụng.

     

    Chính sách phân phối

     

    Trong chiến lược marketing xanh, hệ thống phân phối cần đảm bảo hai chức năng quan trọng nhất. Thứ nhất, phân phối hàng hóa bằng phương thức ít tác động tiêu cực nhất

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      89

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    đến môi trường. Thứ hai, góp phần thông tin, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường đến người tiêu dùng. Việc xây dựng hệ thống phân phối rộng khắp cũng góp phần giúp công ty thực hiện chiến lược marketing xanh của mình. Thông qua kênh phân phối rộng khắp này, người tiêu dùng với mọi trình độ, vùng địa lý, thu nhập đều có thể tiếp cận được với sản phẩm của các công ty và các công ty cũng dễ dàng hơn trong việc truyền thông xã hội các thông tin về sản phẩm và môi trường.

     

    Chính sách chiêu thị

     

    Doanh nghiệp lựa chọn công cụ nào thì cũng lưu ý đến sự đáng tin cậy trong những thông tin truyền đạt cho khách hàng, tránh những sự thổi phồng hay hiểu lầm đáng tiếc có thể làm hủy hoại cả thương hiệu của mình. Thêm vào đó, thông điệp sản phẩm xanh gửi gắm đến khách hàng cần rõ ràng để khách hàng hiểu được tính năng bảo vệ môi trường của sản phẩm, những lợi ích sản phẩm xanh mang lại vượt trội so với các sản phẩm khác và nhấn mạnh được khả năng thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.

     

    2.   Các yếu tố thúc đẩy sử dụng marketing xanh trong doanh nghiệp

    Có nhiều lý do khiến các doanh nghiệp hướng tới marketing xanh, nổi bật lên là ba nhóm yếu tố như sau:

     

    Yếu tố về phía doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhận thức được rằng marketing xanh là một cơ hội để có thể đạt được mục đích của mình. Bằng việc sử dụng marketing xanh các doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình với cộng đồng và qua đó nâng cao được uy tín, hình ảnh của mình với người tiêu dùng.

     

    Các yếu tố mang tính xã hội. Hiện nay có nhiều nhóm hoạt động môi trường và người tiêu dùng đang tạo ra phong trào tiêu dùng xanh khiến nhiều người tiêu dùng chuyển

     

    sang sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường buộc các doanh nghiệp phải chuyển hướng theo để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Mặt khác, các nhóm hoạt động gia tăng áp lực lên chính phủ và doanh nghiệp buộc chính phủ và doanh nghiệp phải có biện pháp hiệu quả về phát thải và tiết kiệm năng lượng. Cùng với việc chi phí xử lý chất thải gia tăng thì các công ty phải thay đổi hành vi của mình hướng tới việc sử dụng công nghệ sạch, giảm thiểu sử dụng nguyên liệu đầu vào và hạn chế chất thải độc hại tới môi trường.

     

    Yếu tố mang tính pháp lý. Phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các chính phủ, vì vậy nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo sự thực thi hiệu quả việc bảo vệ môi trường. Trong thương mại quốc tế, nhiều quốc gia dựng lên các hàng rào kỹ thuật liên quan tới môi trường cũng là yếu tố buộc các doanh nghiệp phải chuyển sang marketing xanh để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Tại Việt Nam từ năm 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh như Quyết định phê duyệt tiêu chí Nhãn xanh Việt Nam 2232/QĐ-BNMT ngày 13/12/2010, Quyết định phê duyệt danh sách thành viên Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1907/ QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010, Quyết định ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1906/ QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010, Quyết định quy định trình tự, thủ tục, chứng nhận và cấp thí điểm “Nhãn xanh Việt Nam” 1493/QĐ-BTNMT ngày 13/08/2010, Quyết định Thành lập Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1492/QĐ- BTNMT 13/08/2010, Quyết định phê duyệt Chương trình cấp nhãn sinh thái 253/QĐ-BTNMT 05/03/2010… Từ

     

    90            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    ngày 1/1/2015 Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực cũng tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi mở đường cho xu hướng phát triển bền vững và xanh tại Việt Nam.

     

    3.   Một số gợi ý cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc ứng dựng marketing xanh

     

    3.1. Cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng marketing xanh tại Việt Nam

     

    Cơ hội

     

    Cơ hội từ tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế toàn cầu (GEP) công bố ngày 13/1/2015, Ngân hàng Thế giới vẫn dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 5,6% trong năm 2015. WB cho rằng, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam sẽ cải thiện hơn trong 2 năm tới khi dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ đạt 5,8% trong năm 2016 và 6% trong năm 2017 một phần nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế ổn định là cơ hội tốt để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng cường đầu tư vào công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài giàu kinh nghiệm trong việc xanh hóa hoạt động của mình và thể hiện trách nhiệm xã hội, nhất là các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh;

     

    Cơ hội từ phía người tiêu dùng: Người tiêu dùng Việt Nam hiện đã quan tâm hơn đến sản phẩm xanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong khảo sát toàn cầu của Nielsen với hơn 30.000 người tiêu dùng trực tuyến tại 60 quốc gia để tìm hiểu mức độ quan tâm của người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm đối với cam kết của doanh nghiệp thì gần ba phần tư người được hỏi tại Việt Nam (73%) sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm và dịch vụ đến từ các công ty có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường, đứng thứ ba thế giới

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    sau Philippines với 79% và Thái Lan với 71%. Con số này cao hơn hẳn so với mức trung bình của thế giới là 55%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, không chỉ thể hiện sự quan tâm của mình bằng lời nói, người tiêu dùng Việt Nam đang thực sự chi cho những sản phẩm có tác động lớn đến xã hội và môi trường. Gần 7 trên 10 người Việt Nam được hỏi (68%) cho biết trong 6 tháng vừa qua, họ đã mua ít nhất 1 sản phẩm hoặc dịch vụ của một công ty có hoạt động vì cộng đồng, cao thứ 2 tại Đông Nam

     

    • chỉ sau Philippines (76%). Đây là cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp triển khai marketing xanh khi người tiêu dùng có nhận biết và phản ứng rất tích cực đối với các hoạt động này.

    Cơ hội từ chính phủ. Nghị định 04/09/2014/ NĐ-CP được Chính phủ ban hành quy định những ưu đãi và hỗ trợ đối với các hoạt động bảo vệ môi trường theo đó doanh nghiệp có các dự án trong việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường sẽ được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, đất đai, về vốn, các loại thuế phí và các ưu đãi hỗ trợ khác. Đáng chú

     

    • là các ưu đãi về thuế. Doanh nghiệp có các dự án bảo vệ môi trường được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10%. Doanh nghiệp mới thành lập hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì sẽ được miễn thuế 4 năm và 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo, trường hợp dự án ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn sẽ được miễn 50% trong 9 năm tiếp theo. Doanh nghiệp cũng được miễn thuế nhập khẩu cho các loại móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ, vật liệu được nhập khẩu để phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các dự án đầu tư hoạt động bảo vệ môi trường (Chính phủ, 2009). Ngoài ra, Nhà nước cũng hỗ trợ thành lập Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam nhằm tư vấn cho các doanh nghiệp về các giải pháp sản xuất sạch hay về kỹ thuật công nghệ và tài chính.

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       91

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Bên cạnh đó, cuộc vận động “Mua hàng xanh” đang được Trung tâm Năng suất Việt Nam thúc đẩy và quảng bá thông qua việc thành lập Mạng lưới mua hàng xanh Việt Nam. Hoạt động của Mạng lưới mua hàng xanh Việt Nam sẽ thúc đẩy công cuộc bảo vệ môi trường thông qua tuyên truyền nâng cao kiến thức của người tiêu dùng trong mua hàng xanh, xây dựng các tiêu chí đối với các sản phẩm xanh, xây dựng các hướng dẫn mua hàng, xây dựng mạng lưới trao đổi thông tin giữa nhà sản xuất và người mua hàng… Trung tâm Năng suất Việt Nam cũng kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia vào Mạng lưới Mua hàng xanh Việt Nam nhằm chia sẻ thông tin và xây dựng một xã hội tiêu dùng xanh, hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

     

    Khó khăn và thách thức

     

    Nhóm thách thức từ phía người tiêu dùng

     

    Thách thức từ thu nhập của người tiêu dùng. Thu nhập bình quân đầu người của đại đa số người dân Việt Nam còn thấp nên một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng Việt Nam rất nhạy cảm về giá cả. Trong khi đó, các sản phẩm xanh có mức giá cao hơn sản phẩm thông thường nên sức cạnh tranh sẽ bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, tại thị trường Việt Nam đang bị hàng giá rẻ, không rõ xuất xứ, nguồn gốc chủ yếu nhập về từ Trung Quốc cạnh tranh mạnh mẽ cũng là sức cản lớn cho các doanh nghiệp có ý định đầu tư vào sản phẩm sinh thái.

     

    Thách thức từ nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm với môi trường và sử dụng sản phẩm xanh. Trên thực tế, ý thức bảo vệ môi trường của người dân Việt Nam còn thấp. Tâm lý bàng quan, thờ ơ xem việc bảo vệ môi trường là việc ‘không phải của nhà mình’ khiến nhiều người vẫn sử dụng các sản phẩm có tác nhân gây ô nhiễm hoặc phớt lờ

     

    những thông điệp xanh đến từ các công ty để lựa chọn sản phẩm không sạch nhưng có giá cả hợp với túi tiền.

     

    Thách thức từ mâu thuẫn giữa thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại một khoảng cách lớn giữa thái độ và hành vi tiêu dùng xanh. Không phải tất cả những người tiêu dùng Việt Nam có quan điểm xanh (ủng hộ marketing xanh) đều thực hiện hành vi xanh (mua hàng hóa thân thiện với môi trường). Nguyên nhân vì họ là những người tiêu dùng có kiến thức về vấn đề môi trường song không có niềm tin vào những phát ngôn mà doanh nghiệp đưa ra. Người tiêu dùng nhận thấy trào lưu các doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực đua nhau đưa ra các tuyên bố xanh về sản phẩm hay dịch vụ của họ cung cấp nhưng thực tế phần lớn trong số đó chỉ là những chiêu bài quảng cáo đơn thuần. Một ví dụ điển hình như Vedan được các giải thưởng về môi trường trong khi chính doanh nghiệp này đã bị phát hiện xả thải làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Bên cạnh đó giá cả cũng là rào cản lớn nhất khiến người tiêu dùng không mua sản phẩm xanh. Trong trường hợp này, lợi ích xanh của sản phẩm nhỏ hơn rất nhiều so với chi phí người tiêu dùng phải bỏ ra. Người tiêu dùng đã ý thức được trách nhiệm với môi trường nhưng không thực hiện hành vi mua hàng xanh vì giá cả một số sản phẩm và dịch vụ xanh còn khá đắt đỏ, thậm chí xa xỉ đối với người tiêu dùng có thu nhập trung bình.

     

    Khó khăn và thách thức từ phía doanh nghiệp

     

    Mâu thuẫn giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cổ đông. Các cổ đông có quyền tham gia vào việc hoạch định chính sách hoạt động cho doanh nghiệp. Sự đồng ý của các cổ đông chiến lược rất quan trọng và góp phần quyết định đến việc có hay không việc ứng dụng

     

    92            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    hoạt động marketing xanh. Tuy nhiên, thông thường các cổ đông không muốn áp dụng chiến lược marketing xanh bởi trong ngắn hạn hoạt động này không mang lại lợi ích trực tiếp. Chiến lược marketing xanh muốn thành công đòi hỏi sự thay đổi triệt để trong nhiều hoạt động của doanh nghiệp. Điều này cần có sự đầu tư ban đầu rất lớn, nghiên cứu kỹ lưỡng, công phu mà không phải cổ đông nào cũng chấp nhận rủi ro. Vì lợi ích trước mắt của cổ đông đối lập với lợi ích lâu dài của doanh nghiệp nên việc một số cổ đông không muốn hy sinh lợi ích cá nhân đã khiến doanh nghiệp gặp nhiều cản trở khi áp dụng chiến lược marketing xanh và nếu có thực hiện thì cũng rất hạn chế và mang tính chất bổ sung. Nếu các quyết định của doanh nghiệp chỉ đơn thuần dựa trên mục tiêu kinh tế – lợi nhuận, việc lồng ghép vấn đề môi trường vào chiến lược marketing tổng thể của doanh nghiệp có thể khó thực hiện được.

     

    Trình độ công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế. Đây có thể là rào cản lớn nhất của doanh nghiệp khi lựa chọn thực hiện marketing xanh ở Việt Nam. Sản xuất một sản phẩm thân thiện với môi trường là yếu tố tiên quyết trong chiến lược marketing xanh. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có những công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình này. Tuy nhiên, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế so với thế giới. Thực tế là các sản phẩm sản xuất ở Việt Nam chỉ mới đáp ứng được phần nào nhu cầu xanh của người tiêu dùng và xã hội.

     

    Thách thức từ khía cạnh pháp lý. Mặc dù Việt Nam đã có văn bản pháp luật và mới nhất là Luật bảo vệ môi trường 2014 có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 quy định về việc xử lý doanh nghiệp có hành vi xâm hại môi trường, gây nguy hại và ô nhiễm cho người tiêu dùng nhưng việc thực thi còn rất yếu kém. Các hành

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    • vi phạm ngày càng tinh vi trong khi khả năng phát hiện xử lý của đơn vị chức năng còn yếu nên đây là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp muốn thực hành marketing xanh khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có các hành vi ăn cắp môi trường.

    3.2. Một số đề xuất đối với doanh nghiệp trong việc triển khai marketing xanh

     

    Mặc dù có nhiều thách thức trong việc thực hiện marketing xanh nhưng đây là xu thế tất yếu khi người tiêu dùng ngày càng có nhận thức cao về tiêu dùng xanh và các quốc gia cũng đặt ra nhiều áp lực trong việc phát triển bền vững. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần phải định hướng để thực hiện chiến lược marketing xanh cho sản phẩm và dịch vụ của mình. Một số gợi ý cho các doanh nghiệp như sau:

     

    Thiết kế các chương trình nâng cao nhận thức về môi trường và phá bỏ những mâu thuẫn hành vi của người tiêu dùng

     

    Để tạo tiền đề cho việc ứng dụng marketing xanh thành công, doanh nghiệp cần có những chương trình nâng cao nhận thức môi trường của người tiêu dùng và khuyến khích họ phá bỏ những mâu thuẫn hành vi của mình nhằm tạo ra một thị trường người tiêu dùng xanh đủ lớn để đầu tư. Các chương trình này cần được thiết kế dựa trên những cân nhắc kỹ lưỡng từ các nghiên cứu thị trường thường xuyên để đảm bảo tính hiệu quả đối với người tiêu dùng. Ngoài ra, các chương trình cần phải đảm bảo tính hấp dẫn và kết nối được người tiêu dùng, tránh trường hợp marketing thiển cận.

     

    Về chương trình nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng, doanh nghiệp nên tạo ra những nhân tố thúc đẩy ý thức của người tiêu dùng bao gồm nhân tố lợi ích hay nhân tố đạo đức… Ví dụ như khi khách hàng được yêu cầu phải trả tiền cho những chiếc

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      93

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    túi mua hàng, họ sẽ nghĩ đến việc tái sử dụng những chiếc túi đó. Các chương trình này nên được thực hiện cùng các sự kiện của cộng đồng xã hội như sự kiện Giờ Trái Đất, hưởng ứng ngày Môi trường thế giới… nhằm thu hút đông đảo sự quan tâm của dư luận và thức tỉnh người tiêu dùng, khuyến khích họ có những hành động tích cực và thay đổi thói quen nhằm bảo vệ môi trường.

     

    Về các chương trình xóa bỏ những mâu thuẫn giữa nhận thức và hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp nên xem xét đến các nhân tố rào cản và tạo nhân tố thúc đẩy thói quen mua hàng của họ. Trên nguyên tắc đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chính sách tốt hơn cho sản phẩm xanh. Các rào cản đôi khi không phải là chất lượng sản phẩm, mà đến từ chính tâm lý hoài nghi và ngại thay đổi của khách hàng. Lấy trường hợp của sản phẩm nước xả một lần làm ví dụ. Nhiều người hoài nghi về tính hiệu quả của sản phẩm nước xả vải một lần xả bởi vì bình thường họ thấy rằng quần áo sau khi giặt phải xả bằng ba, bốn lần mới sạch. Như vậy, công ty cần phải xây dựng chương trình truyền thông nhằm phá bỏ rào cản này.

     

    Chú trọng đầu tư vào công nghệ và công tác nghiên cứu sản phẩm

     

    Việc đầu tư công nghệ sạch như sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời hay hệ thống tái sử dụng các chất thải từ quy trình sản xuất chắc chắn sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí sản xuất trong dài hạn. Với các công ty có trình độ khoa học kĩ thuật còn chưa cao có thể đi tắt đón đầu, tiết kiệm thời gian và chi phí phát triển bằng việc mua các dây chuyền công nghệ hiện đại trên thế giới. Doanh nghiệp cần cân nhắc lựa chọn mua dây chuyền công nghệ nào dựa vào khả năng tài chính, định hướng phát triển và quy mô sản xuất của mình. Các doanh nghiệp không có khả năng tài chính vững chắc có thể tìm sự hỗ

     

    trợ của chính phủ hoặc các tổ chức nước ngoài để nhận được hỗ trợ về tài chính cũng như sự hỗ trợ trong chuyển giao công nghệ. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới World Bank và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) sẵn sàng hỗ trợ tài chính cho các dự án sản xuất sạch để đối phó với vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

     

    Bên cạnh đó, với công nghệ được đầu tư hiện đại, doanh nghiệp nên chú trọng vào việc nghiên cứu phát triển sản phẩm xanh, đáp ứng nhu cầu xanh của người tiêu dùng. Sản phẩm xanh, đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng, là trung tâm và cơ sở quyết định các yếu tố khác trong hoạt động marketing xanh. Mức độ sản phẩm “xanh” như thế nào sẽ tác động lớn đến hình ảnh của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết và tuyên bố xanh của mình. Trước hết, muốn sản xuất được một sản phẩm xanh có chất lượng thì các công ty phải đầu tư cho mình một hệ thống sản xuất tiên tiến. Bên cạnh đó, để có một sản phẩm xanh với thiết kế và đặc tính nổi trội thì các doanh nghiệp cũng cần chú trọng phát triển và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, các nhà nghiên cứu, sáng chế giỏi. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần có sự nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của thị trường và hành vi mua của người tiêu dùng để làm căn cứ để sản xuất. Có như vậy mới có thể tạo ra được các sản phẩm xanh phù hợp, đáp ứng nhu cầu cùa khách hàng để từ đó được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, góp phần hướng đến tiêu dùng xanh.

     

    Xây dựng kênh phân phối xanh

     

    Việc xây dựng một kênh phân phối xanh là cần thiết vì nó thể hiện rõ nét nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt động marketing xanh ở tất cả các khâu.

     

    Đầu tiên doanh nghiệp cần lựa chọn kênh phân phối. Theo khảo sát của nhóm tác giả

     

    94            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    thực hiện năm 2014, hiện có tới 71,2% số người tiêu dùng được hỏi có thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng thường hay mua các sản phẩm xanh ở siêu thị. Như vậy các công ty có thể hợp tác với các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn trong nước để làm chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, để tạo sự khác biệt và nhận diện cao thì các sản phẩm xanh nên được bày bán trong siêu thi ở một khu tập trung, tách biệt với sản phẩm thông thường và phải là các địa điểm thuận tiện và dễ thấy. Các khu phân phối sản phẩm xanh này sẽ cam kết sử dụng những chất liệu thân thiện với môi trường để tạo nên những vật dụng trưng bày sản phẩm, quá trình vận chuyển sản phẩm xanh sử dụng tiết kiệm nhiên liệu và tạo ra ít khí thải…

     

    Doanh nghiệp cũng có thể tự tạo cho mình một một kênh phân phối xanh. Chuỗi cửa hàng xanh này sẽ chỉ bán các mặt hàng được xem là thân thiện với môi trường. Điểm mấu chốt ở đây là các kênh phân phối này bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng với các tiêu chí về an toàn, tiết kiệm, ổn định và thân thiện với môi trường thì yếu tố thuận tiện là quan trọng nhất. Theo kinh nhiệm thực hiện của một số quốc gia trên thế giới thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua hàng trên tuyến đường thuận lợi với mình nhất, chứ không đánh đường xa chỉ để mua một vài sản phẩm xanh. Do đó việc tính toán các cửa hàng này phải làm cho sản phẩm luôn sẵn sàng đến tay người tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Bên cạnh đó, các công ty có thể phối hợp với nhau xây dựng một kho hàng chung để tiết kiệm chi phí và thuận lợi cho việc cung ứng đến các chuỗi cửa hàng này. Từ các kho chung này, các phương tiện vận chuyển chung sẽ phân phối đến những khu vực có nhu cầu. Việc làm này sẽ tận dụng tối đa khả năng chuyên chở của phương tiện vận chuyển và đặc biệt là giảm thiểu được lượng khí thải CO2 ra môi

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    trường cũng như tiết kiệm được nhiên liệu.

     

    Tập trung nguồn lực cho phòng marketing để phát triển

     

    Một trong những giải pháp thúc đẩy ứng dụng marketing xanh từ chính bản thân doanh nghiệp là phát triển và tập trung nguồn lực cho phòng marketing. Việc tập trung nguồn lực cho phòng marketing nên được xem xét đầy đủ ở cả ba khía cạnh: lên kế hoạch marketing, ngân sách marketing và đào tạo con người.

     

    Về việc lên kế hoạch marketing, các nhà quản lí cần có sự chuẩn bị cho một kế hoạch truyền thông lâu dài. Việc thay đổi nhận thức của người tiêu dùng không hề đơn giản thế nên mục tiêu này chỉ có được thực hiện khi có một nỗ lực truyền thông dài hơi. Các thông điệp xanh cần phải được truyền tải đến người tiêu dùng hàng ngày có thể qua quảng cáo trên truyền hình, báo chí và cả qua các hoạt động xanh tổ chức thường niên giúp người tiêu dùng hiểu được tầm quan trọng của hành động mua sản phẩm xanh và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động vì môi trường để họ có cảm nhận tích cực hơn. Ngay từ bây giờ, các kế hoạch marketing dài hơi cũng cần chú

     

    • đến thế hệ trẻ bởi đây là khách hàng của các công ty trong tương lai và cũng là nhóm đối tượng dễ dàng giáo dục thay đổi nhận thức và hành vi. Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing xanh, các nhà quản lý cần đảm bảo sự tham gia và thống nhất ý kiến giữa các phòng ban trong công ty với những kế hoạch hoạt động của phòng marketing. Những hoạt động trong kế hoạch không phải của chỉ riêng phòng marketing mà cần nhận được hỗ trợ từ các phòng ban khác. Marketing xanh không thể phát triển nếu phòng nghiên cứu và phát triển (R&D) không hỗ trợ sáng tạo ra những sản phẩm thân thiện môi trường, nếu phòng kinh doanh không hỗ trợ tìm kiếm những kênh phân phối phù hợp và bộ phận sản

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      95

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    xuất đóng gói bao bì không ứng dụng những quy trình hoạt động giúp giảm thiểu tác động tới môi trường. Tất cả các phòng ban cần ý thức một cách nghiêm túc vai trò của họ trong việc thực hiện các hoạt động marketing xanh của công ty.

     

    Về ngân sách marketing, mặc dù những nhà điều hành cấp cao thường khẳng định tầm quan trọng của ngân sách marketing, nhưng những người làm marketing lại nhận thấy khó có thể thỏa mãn hết những yêu cầu đặt ra trong giới hạn ngân sách được cấp. Sự giới hạn của nguồn ngân sách làm cho những người làm marketing không muốn áp dụng chiến lược marketing xanh trong hoạt động của mình bởi lẽ chiến lược này đòi hỏi nguồn vốn đáng kể và đặc biệt là không mang lại lợi nhuận ngay lập tức. Trong khi đó, phòng marketing lại luôn chịu áp lực trong việc hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến doanh thu, hệ thống phân phối, cơ hội phát triển và phát triển thị trường. Vì vậy, một khi các nhà quản lý cấp cao trong công ty không tạo điều kiện cho marketing xanh có cơ hội được ứng dụng vào thực tiễn thì doanh nghiệp khó lòng nào nhận thấy được những lợi ích phát sinh từ đó.

     

    Về đào tạo con người, đội ngũ marketing cần phải được bồi dưỡng, cập nhật những kỹ năng mới mẻ và thực sự quan trọng đối với họ trong nền kinh tế mới. Thực tế, hầu như nhân viên marketing nào cũng được đào tạo các kỹ năng như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, bán hàng…. Tuy nhiên thị trường thay đổi

     

    thường xuyên buộc doanh nghiệp phải chú trọng vào việc đào tạo những kiến thức và kỹ năng mới cho đội ngũ marketing của mình như xu hướng marketing xanh, xu hướng sử dụng công cụ marketing trực tuyến, dữ liệu số Big Data hay mạng xã hội…

     

    Thường xuyên thực hiện công tác nghiên cứu thị trường

    Công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp cũng cần hoạt động thường xuyên để nhận ra xu hướng tiêu dùng xanh một cách nhanh nhất và đi đầu trong việc ứng dụng marketing xanh nhằm chiếm lĩnh thị trường này. Các nghiên cứu căn bản về thị hiếu hay xu hướng tiêu dùng cần được thực hiện thường xuyên mỗi tháng để phản ánh nhanh nhất những thay đổi của người tiêu dùng. Từ đó, doanh nghiệp cập nhật tình hình thị trường và đưa ra những đối sách marketing xanh cho thích hợp. Những cơ hội kinh doanh từ việc áp dụng marketing xanh được phát hiện thông qua nghiên cứu thị trường sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng marketing xanh trong hoạt động của mình vì khả năng mang lại lợi nhuận là rất tiềm năng.

     

    Ngoài ra, công tác nghiên cứu thị trường thường xuyên còn giúp cho doanh nghiệp hiểu được tình hình cạnh tranh trên thị trường, các động thái phát triển marketing xanh của đối thủ, nhờ vậy nhận thức được tầm quan trọng của marketing xanh trong chiến lược phát triển và xác định được mức độ xanh của chiến lược này nếu có áp dụng, tránh vấp phải sai lầm marketing thiển cận. Các nghiên cứu thị trường còn là công cụ đắc lực để doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của các hoạt động marketing xanh của mình như hệ thống phân phối, các hoạt động truyền thông, giá cả… nhằm kiểm tra tình trạng sức khỏe của thương hiệu nói chung và đặc biệt là thương hiệu xanh. Từ đó, doanh nghiệp có những đối sách cải thiện và nâng cao hiệu quả marketing xanh.

     

    4. Kết luận

     

    Marketing xanh không chỉ là xu hướng thay đổi hứa hẹn mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích mà nó còn có ý nghĩa lớn hơn

     

    96            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    với môi trường và sự phát triển bền vững của toàn xã hội. Marketing xanh có thể mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích như tăng doanh số và thị phần, nâng cao hình ảnh và thương hiệu trong lòng khách hàng, giảm chi phí sản xuất trong dài hạn và tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững. Bên cạnh đó, marketing xanh đóng góp tích cực cho cộng đồng khi góp phần nâng cao ý thức của

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    người tiêu dùng và giảm thiếu tác động xấu đến môi trường qua hoạt động cắt giảm chất thải. Ứng dụng marketing xanh là xu hướng tất yếu mà các doanh nghiệp cần nỗ lực triển khai để có thể cạnh tranh trong điều kiện các doanh nghiệp phải chịu áp lực ngày càng gia tăng không chỉ từ phía người tiêu dùng mà còn từ phía chính phủ cũng như các nhà hoạt động môi trường.q

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Chính phủ nước CHXH Chủ nghĩa Việt Nam, 2009, Nghị định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường số 04/2009/NĐ-CP.
    2. Hải Bình, 2008, Marketing xanh: Tuyệt chiêu thời ô nhiễm, Tạp chí Marketing số 47, trang 57-59.
    3. Bonini, S. And Oppenheim, J., 2008, Cultivating the Green Consumer, Standford Social Innovation Review, 58-59, UK.
    4. Charter, M. And Polonsky, M.J., 1999, Greener Marketing:A Global Perspectivve on Greening Marketing Practice, Greenleaf Publishing, Sheffeild, 33-67, UK.
    5. Fuller, D., 1999, Sustainable Marketing: Managerial-Ecological Issues, California, Sage Publications Inc, USA.
    6. Grant, J., 2007, The Green Marketing Manifesto, John Wiley & Sons Ltd, 21-24, UK.
    1. Ginsberg, J. M. and Bloom, P., 2004, Choosing the right green marketing strategy, MIT Sloan Management Review, Vol 46, 79-84.
    2. Kantar Worldpanel Vietnam, 2014, FMCG Monitor May 2014.
    1. Menon, A., Menon A., 1997, Enviropreneurial Marketing Strategy: The Emergence of Corporate Environmentalism as Market Strategy, Journal of Marketing, Vol.61, 51-67,
    1. Nielsen, 2014, Global Corporate Social Responsibility Report.
    1. Ottman, J., 1993, Green marketing: Challenges and Opportunity for The New Marketing Age, Lincolnwood.
    2. Ottman, J., 1998, Green Marketing: Opportunity for Innovation, NTC Bussiness Books, Chicago, USA.
    3. Ottman, J., Stafford, J. And Hartman, C., 2006, Advoiding Green Marketing Myopia, Environment Journal, Vol 48, 24-36.
    4. Polonsky, 1994, Regulation of Envvironmental Marketing Claims: Acomporative Perspective, International Journal of Advertising.

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       97


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-gi%C3%A0y-d%C3%A9p-cao-su-m%C3%A0u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    JSLHU   JOURNAL OF SCIENCE

    http://tapchikhdt.lhu.edu.vn

    OF LAC HONG UNIVERSITY

    T p chí Khoa h c L c H ng         

    VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    Application of activity based cost method at Casum Shoes Joint Stock Company

     

    Nguyễn Văn Hải1,*, Nguyễn Ngọc Quý2

    1                                            2

    [email protected], [email protected]

     

    TÓM TẮT. Bài báo tiến hành nghiên cứu việc vận dụng phương pháp ABC nhằm quản lý tốt nhất chi phí tại các dây chuyền sản xuất. Quản trị chi phí sản xuất tốt sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá nguồn lực tiêu hao tại các nhà máy sản xuất. Vận dụng phương pháp ABC nhằm cung cấp cho nhà quản lý một cái nhìn sâu sắc để quản lý nhiều vấn đề trong quá trình sản xuất, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm giảm chi phí sản xuất và sáng kiến cải tiến quy trình sản xuất.

     

    TỪ KHÓA: Quản trị chi phí; ABC; Công ty cổ phần giày dép cao su màu

     

    ABSTRACT. The article performed ABC (Activity-Based Costing Management) method application study in order to manage costs best on production lines best. If production cost is managed well, it will help appraise resources consumption in the factory. ABC method application will supply insight for managers to control issues in production process, make right decisions to reduce cost and invent to improve manufactoring process.

     

    KEYWORDS: Cost management; ABC; Casum shoes joint stock company

     

    1. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP ABC

     

    Theo Horngren (2000) phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản. Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó. Theo Maher (2001) cho rằng ABC là công cụ quản trị dựa trên hoạt động, trước hết, chi phí được phân bổ cho các hoạt động, sau đó sẽ phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ dựa trên các hoạt động mà sản phẩm hay dịch vụ đã tiêu dùng. Quản trị dựa trên hoạt động sẽ tìm kiếm sự cải tiến không ngừng. ABC cung cấp thông tin về hoạt động và nguồn lực cần thiết để thực hiện chúng. Vì thế, ABC không chỉ đơn thuần là quá trình phân bổ chi phí. ABC: Phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động được nghiên cứu và ứng dụng nhằm để khắc phục những hạn chế của phương pháp tính giá truền thống trong việc phân bổ chi phí sản xuất chung (thường chỉ lựa chọn một hoặc một vài tiêu thức phân bổ chung), hạn chế trong việc cung cấp thông tin về chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trình sản xuất để các nhà quản trị có cách nhìn đúng đắn trong việc hoàn thiện và thiết kế lại quá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí.

     

    Ta có thể thấy rằng mỗi học giả có khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp tính giá mà việc phân bổ các chi phí gián tiếp cho các sản phẩm, dịch vụ dựa trên mức độ hoạt động của chúng. Phương pháp ABC là tập hợp toán bộ chi phí gián tiếp trong quá trình sản xuất theo từng loại hoạt động hoặc các nhóm hoạt động tương tự nhau, sau đó phân bổ các chi phí gián tiếp đó cho từng sản phẩm theo mức độ sử dụng hoạt động cảu sản phẩm, phương pháp này tính giá khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tính giá truyền thống.

     

    1. ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY VÀ NGÀNH SẢN XUẤT GIÀY DÉP

    Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Giày Dép Cao Su Màu.

     

    Tên tiếng Anh: CASUM SHOES JOINT STOCK COMPANY.

     

    Địa chỉ: đường Bùi Hữu Nghĩa, xã Hoá An, TP.Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

     

    E-mail: [email protected] / [email protected]

     

    Website: www.casum.com.vn

    Công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu tiền thân là Công ty Cao Su Màu thành lập năm 1990 với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước chuyên sản xuất các mặt hàng liên quan đến Cao su như vỏ xe, ruột xe… Đến năm 2008 công ty Cổ phần hóa và lấy tên đầy đủ là Công ty Cổ phần Giày dép Cao Su Màu chuyên sản xuất các loại giày dép xuất khẩu.

     

    Từ chỗ chỉ có một xưởng sản xuất ở Hóa An với 300 công nhân, sau quá trình phát triển Casum hiện tại đang sở hữu 2 nhà máy sản xuất. Trong đó, một nhà máy sản xuất hoàn chỉnh tại Hóa An và một Nhà máy chuyên đặt may gia công tại Trị An với hơn 800 công nhân.

     

    Trong thời gian tới công ty sẽ tiếp tục mở rộng bằng việc đầu tư một nhà máy thứ 3 tại Tân Phú để đáp ứng nhu cầu phát triển của công ty ra các thị trường mới.

     

    Về vai trò ngành nghề sản xuất giày dép cao su màu: Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng 10 quốc gia xuất khẩu hằng đầu trong thị trường giày da quốc tế hiện nay, đặc biệt là EU. Việt Nam đứng thứ hai sau Trung Quốc. Ngành da giày Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia.

     

    Từ một ngành công nghiệp – kỹ thuật khiêm tốn, non trẻ, đến nay giày da Việt Nam đã lớn mạnh và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng giả trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu cho cả nước.

     

    1. THỰC TRẠNG TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

    Về máy móc thiết bị: có 02 dây chuyền sản xuất giày thời trang và 01 dây chuyền sản xuất dép, công nghệ sản xuất của

    Received: June, 6th, 2018

    st

    Accepted: July, 21 , 2018

    *Corresponding author.

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    97

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    Ý và Hàn Quốc, đội ngũ công nhân đầy kinh nghiệm và tay

    qua nhiều công đoạn nhưng Công ty không tập hợp chi phí

     

    nghề cao.

    sản xuất theo từng công đoạn.

       

    Quy trình sản xuất sản phẩm tại công ty

    Công ty chưa tổ chức khoa học các báo cáo về chi phí sản

     

    Quy trình sản xuất mũ giày

    xuất và giá thành sản phẩm, chưa phân tích sự biến động về

     

    chi phí phục vụ quản trị Công ty.

       
         

    Thiết kế và tách chi tiết

    § Điều này gây ra những mặt hạn chế như sau:

     
     

    Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

     
     

    phẩm ở Công ty CP giày dép cao su màu tuy đã có nhiều thay

     

    Cắt chi tiết

    đổi cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh,

     

    nhưng còn có một số hạn chế cần khắc phục.

     
     

    Nhìn chung, công tác hạch toán và phân bổ chi phí sản

     
     

    xuất ở công ty theo quy trình của kế toán tài chính. Quy trình

     

    Dãy chi tiết

    chung này có thể tóm lược như sau: Đối tượng chi phí được

     

    xác định là các loại sản phẩm do Công ty sản xuất ra; Tiêu

     
     
     

    thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu theo định mức từng sản

     
     

    phẩm, chi phí nhân công theo sản lượng, phân bổ chi phí sản

     

    May chi tiết

    xuất chung theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

     

    Như vậy có thể kết luận rằng mục đích phân bổ chi phí sản

     
     
     

    xuất chung tại Công ty nhằm để tính giá thành sản phẩm,

     
     

    cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính. Các mục

     

    Hoàn thiện chi tiết

    đích khác như phân bổ chi phí sản xuất chung để phục vụ cho

     
     

    việc lập kế hoạch và ra quyết định kinh doanh, kiểm soát và

     

    Quy trình hoàn tất giày

    đánh giá hiệu quả không được các nhà quản lý đặt ra.

     

    Nhiều khoản chi phí chưa được phản ánh hợp lý, kết quả

     
     
     

    là giá thành sản phẩm sẽ không phản ánh hợp lý giá phí của

     

    Làm sạch

    sản phẩm tại các bộ phận trong Công ty. Chẳng hạn chi phí

     
     

    tiền điện phân bổ theo định mức nhưng lại chưa có đồng hồ

     
     

    chi tiết cho từng bộ phận: các khoản chi phí chung khác được

     
     

    phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nên chưa phản

     

    Chất nền

    ánh chính xác mức chi phí mỗi sản phẩm gánh chịu. Đây là

     

    một hạn chế gây khó khăn và mất đi tính chính xác tuyệt đối

     
     
     

    trong công tác phân bổ chi phí, như vậy sẽ không phản ánh

     
     

    đúng bản chất của nó.

       

    Các lớp phủ ngoài

    Ngoài ra, với cách phân bổ chi phí và tính giá thành hiện

     

    tại của Công ty khiến cho thông tin về chi phí sản xuất và giá

     

    (Nguồn: Công ty Cổ phần Giày dép cao su màu)

    thành sản phẩm không phản ánh đúng bản chất, do đó việc ra

     

    quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp chưa được chính

     
     

    Qua thực tế tính giá thành tại công ty, nhóm tác giả thấy

    xác.

         

    việc phân bổ chi phí gián tiếp theo chi phí nguyên vật liệu

    4. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ABC VÀO CÔNG TY

     

    trực tiếp của từng sản phẩm chưa chính xác. Điều này dẫn

     

    CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    đến các sản phẩm có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cao thì

           

    gánh chịu nhiều chi phí gián tiếp nhưng chi phí sản xuất thực

    Bảng 1. Bảng so sánh giá thành theo phương pháp truyền thống

     

    tế sử dụng cho sản phẩm lại thấp chẳng hạn: Các chi phí gián

    và phương pháp ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    tiếp phục vụ cho sản xuất không liên quan đến khối lượng

    Nội dung

    PP truyền thống

    PP ABC

     

    cũng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân viên

    Giày trẻ em

     

    11.457.546.896

     

    phân xưởng, chi phí khấu hao…

    11.466.127.297

    Doanh nghiệp đã lập kế hoạch, dự toán nhưng khi có sự

    Giày dép nữ

    15.430.981.246

    15.421.671.233

     

    chênh lệch về số liệu chi phí sản xuất thì lại chưa nêu ra

    Giày dép nam

     

    9.190.555.720

     

    nguyên nhân, kỹ thuật phân tích số liệu và biện pháp xử lý

    9.194.425.476

    chỉ mang tích chất phục vụ báo cáo tài chinh hàng năm là

    Khác

    596.995.615

    596.832.294

     

    chính. Các dự toán, kế hoạch chủ yếu theo các khoản mục

    Tổng cộng

    36.688.529.634

    36.666.606.143

     

    chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

           

    công trực tiếp và chi phí sản xuất chung không phân loại theo

     

    (Nguồn: tính toán của nhóm tác giả)

     

    biến phí, định phí như vậy sẽ rất khó khăn cho việc đánh giá

    Sau khi áp dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt

     

    kiểm soát chi phí và đưa ra quyết định về định giá bán phù

    động, giá thành tất cả các sản phẩm giày dép sản xuất ra đều

     

    hợp.

    thấp hơn so với các tính truyền thống của công ty. Việc áp

     

    Doanh nghiệp nhận thức kế toán là công cụ phục vụ quản

    dụng tính gía thành theo phương pháp ABC sẽ tính toán được

     

    lý nhưng chỉ quan tâm ở gốc độ kế toán tài chính, chưa chủ

    Zsp sản xuất chính xác và hợp lý hơn so với phương pháp

     

    động tổ chức kế toán quản trị. Doanh nghiệp chưa nhận thức

    truyền thống mà công ty cao su màu đang áp dụng, phần chi

     

    được vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin kinh

    phí dôi ra sẽ được hạch toán vào TK 642, 632 và các tài

     

    tế tài chính của doanh nghiệp.

    khoản khác có liên quan theo quy định, qua đó đây là cơ sở

     

    Đặc điểm về qui trình sản xuất sản phẩm tại Công ty trải

    để nhà quản lý có những giải pháp cắt giảm chi phí.

     

    98        Tp chí Khoa h c L c H ng

     

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại Công ty Cổ phần Giày dép Cao su màu

     

    CP

    CP

    CP

    CP

    CP

    Để áp dụng thành công phương pháp ABC đòi hỏi phải có

     

    sự hợp tác giữa các phòng ban trong đơn vị cũng như tinh

     

    nhân

    điện

    khấu

    phục

    khác

    viên

    hao

    vụ sản

    thần làm việc nhóm trong phân xưởng, chẳng hạn như phân

     
       

    PX

       

    xuất

     

    xưởng lắp ráp giày dép có sự hỗ trợ cho các phân xưởng khác

     
             

    như PX dập, PX cắt…. Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ

     
             

    ra rằng sự kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, các nhóm

     
             

    làm việc góp phần thúc đẩy sự thành công khi áp dụng

     
             

    phương pháp ABC, có thể kể ra một sốtác giả như Landry

     

    Thời

    Số

    Chi

    NL

    Nguồn

    (1997), Gering (1999), Drake et al. (2001), Baird et al.

     

    (2007). Như vậy, để ứng dụng được ABC thì bản thân nội bộ

     

    gian

    KW

    tiết

    khác

    phát

    doanh nghiệp phải hợp tác và ủng hộ nếu không có sự ủng

     

    lao

    điện

    hoạt

    phục

    sinh

    hộ từ các bộ phận khác thì ABC khó ứng dụng thành công

     

    động

    CP

    động

    sử

    vụ

    trong tổ chức. Đây cũng chính là vấn đề thuộc về cơ cấu tổ

     
       
             

    chức cũng như văn hóa trong công ty.

     
             

    Thứ hai: Giải pháp nguồn nhân lực

     
             

    ABC không phải là một mô hình cứng ngắt, trong quá trình

     
             

    ứng dụng cũng có sự thay đổi về mối quan hệ của các tiêu

     

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    thức phân bổ chi phí, các trung tâm chi phí vì vậy đòi hỏi

     

    động

    động

    động

    động

    động

    người sử dụng phải có kiến thức sâu về phương pháp ABC

     

    chặt,

    cắt

    may

    lắp

    hoàn

    và kiến thức về kế toán quản trị. Theo TS Trần Phước (2011),

     

    ép

    dán

     

    ráp

    thiện,

    khảo sát kết quả kiến thức đào tạo chuyên ngành kế toán,

     
           

    kiểm toán thì có tới 50% câu trả lời là ít và đã đưa ra các giải

     
             
             

    pháp phát triển nguồn nhân lực ngành kế toán kiểm toán ở

     
             

    Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội

     
             

    nhập quốc tế. Như vậy, hiện nay chúng ta đang thiếu hụt kế

     

    Giày

    Giày

    Giày

    Giày

    ……

    toán viên có đủ trình độ để tiếp cận phương pháp mới, ví dụ

     

    như phương pháp ABC. Đối với các phương pháp, kỹ thuật

     

    dép

    dép

    dép

    dép

    ……

    cũng như yêu cầu của ABC, trường đại học cũng như các cơ

     

    trẻ

    nữ

    nam

    khác

    .

    sở đào tạo phải có những dự án cụ thể để cho sinh viên thực

     

    em

           
           

    hành và phân tích những thuận lợi cũng như những khó khăn

     
             
             

    khi áp dụng ABC vào trong doanh nghiệp. Chính phủ cũng

     
             

    như những trung tâm nghiên cứu ứng dụng kế toán của Việt

     
             

    Nam cũng phải có những dự án ứng dụng cụ thể: ứng dụng

     
     

    Chi phí nguyên vật lệu trực tiếp, chi phí

     

    ABC cho hầu hết các PX tại công ty, đánh giá so sánh hiệu

     
       

    quả giữa phương pháp tính giá hiện tại và ABC. Có thể lựa

     
       

    nhân công trực tiếp

       
           

    chọn ứng dụng thí điểm tại PX cắt và PX dập để có đủ điều

     
             

    kiện áp dụng ABC sau đó công bố kết quả ứng dụng cho các

     

    Hình 1. Mô hình tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại công

    công ty khác học hỏi và ứng dụng.

     
     

    ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    Thứ ba: Thay đổi quan điểm của nhà quản lý

     
       

    (Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất)

    Các nhà quản lý doanh nghiệp cần thay đổi thái độ trong

     

    Qua việc tính toán và phân tích giữa hai phương pháp ta

    quá trình điều hành và quản lý doanh nghiệp. Tâm lý hiện

     

    có thể thấy sự khác biệt này là do lựa chọn tiêu thức phân bổ

    nay của rất nhiều nhà quản lý là trông chờ vào sự hướng dẫn

     

    chi phí sản xuất chung của hai phương pháp. Với quy trình

    hay sự bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền mà bản thân họ

     

    sản xuất đã trình bày, hầu hết các sản phẩm phải đi qua nhiều

    không chủ động áp dụng những phương pháp quản lý mới.

     

    công đoạn và cũng tiêu hao nhiều nguồn lực. Đối với các chi

    Một phần là do thiếu hụt về kiến thức quản lý, một phần là

     

    phí: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí công cụ dụng

    tâm lý sợ thay đổi, sợ thất bại trong quá trình áp dụng cái

     

    cụ, chi phí tiền nước, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí

    mới. Ví dụ như sau khi thấy được sự thay đổi về chi phí sản

     

    tiền điện… Các chi phí này có nguồn phát sinh chi phí khác

    xuất, thì nhà quản lý sẽ có cái nhìn đúng hơn về việc cắt giảm

     

    nhau. Vì vậy khi phân bổ chi phí ta không chỉ dựa vào một

    chi phí nào và thay đổi loại chi phí nào ngay tại Công ty.

     

    tiêu thức chung để phân bổ cho các hoạt động chẳng hạn chi

    Thứ tư: Áp dụng phương pháp ABC phải gắn với nội lực

     

    phí nguyên vật liệu trực tiếp, mà còn phải dựa vào nhiêu tiêu

    doanh nghiệp và yêu cầu thực tế

     

    thức phân bổ khác để đảm bảo tính chính xác giá thành cho

    ABC không có một tiêu chuẩn nào cho mỗi doanh nghiệp,

     

    từng loại sản phẩm. Điều này chứng tỏ nếu vận dụng phương

    vì vậy khi áp dụng ABC phải gắn liền với tình hình thực tế

     

    pháp tính giá ABC sẽ cho kết quả chính xác hơn.

     

    của doanh nghiệp mình, không nên chạy theo phong trào

     

    Tóm lại, việc tính giá dựa trên cơ sở hoạt động sẽ cung cấp

    cũng không nên coi là mốt để rồi áp dụng không hiệu quả.

     

    thông tin về giá thành chính xác hơn và cạnh tranh hơn. Để

    Ngày nay, với sự cạnh tranh gay gắt và thông tin đòi hỏi ngày

     

    từ đó các nhà quản lý có những quyết định chính xác nhất

    càng đa dạng, bản thân ABC cũng có nhược điểm vì vậy cần

     

    5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

    kết hợp phương pháp tính giá thành ABC với các phương

     

    pháp khác như ABC kết hợp với phân tích biến phí, định phí;

     

    PHƯƠNG PHÁP ABC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

    ABC kết hợp với chi phí định mức; ABC kết hợp với BSC

     

    GIÀY DÉP CAO SU MÀU

       
       

    (Balanced Scorecard). Ngay tại Công ty Cổ phần Giày dép

     

    Thứ nhất: Sự hợp tác giữa các bộ phận, các nhóm làm

    Cao su màu, yêu cầu này khá cao, do số lượng sản phẩm sản

     

    việc

           

    xuất khá nhiều, số lượng sản phẩm cần thiết cho nhu cầu của

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    99

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    người tiêu dùng, cho nên việc áp dụng phương pháp tính giá ABC tại Công ty là rất cần thiết.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp ngày càng phải cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường. Phương pháp tính giá ABC là phương pháp tính mới, việc áp dụng phương pháp tính giá này là cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu nói riêng.

     

    Việc vận dụng phương pháp tính giá ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu giúp công ty tính giá thành một cách chính xác hơn so với phương pháp tính giá hiện tại của công ty. Với phương pháp tính giá hiện tại của công ty, công ty chỉ chọn một tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất gián tiếp là theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, làm cho việc phân bổ khoản chi phí này vào từng sản phẩm không được chính xác. Vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không phải là nguyên nhân gây ra tất cả chi phí gián tiếp, điều này làm cho giá thành một số sản phẩm cao hơn so với chi phí thực tế và một số sản phẩm giá thành lại thấp hơn so với chi phí thực tế. Do đó, có thể có những quyết định sai lầm trong việc định giá bán sản phẩm. Ngược lại, phương pháp tính giá ABC phân bổ chi phí gián tiếp cho các đối tượng chi phí dựa trên hoạt động tiêu dùng nguồn lực của đối tượng chi phí đó. Vì thế, hệ thống tính giá ABC làm tăng tính chính xác của giá thành

    sản phẩm hơn phương pháp tính giá truyền thống, từ đó giúp cho nhà quản trị có những quyết định đúng đắn

     

    1. CÁM ƠN

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu cùng với các anh chị Phòng kế toán và các anh chị phòng ban khác đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài báo này.

     

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO
    • Blocher, Chen, Cokins and Lin. Cost management – A strategic emphasis, 3nd Edition. Mc Graw Hill Irwin, UK, 2005.
    • Drake et al. Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh của ngành kinh tế, 2001.
    • Horngren Bjornenak, Trond and Mitchell, Falconer. The Development of Activity Based Costing. Journal Literature 1987-2000. European Accounting Review, 2002, vol. 11, no. 3.
    • Nguyễn Việt. Lợi ích của việc tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động ABC. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, 1997, số 82, tháng 08/1997.
    • Rober S.Kaplan, Robin Cooper. Cost and Effect. Havard Business School Press, 1998.
    • Trần Phước. Giáo trình Nguyên lý Kế toán. Nhà xuất bản: Phương Đông 2011.

     

     

     

     

     

    100      Tp chí Khoa h c L c H ng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-marketing-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-vi%E1%BB%87c-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-t%E1%BA%A1i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-H%E1%BB%93ng-%C4%90%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    VẬN DỤNG MARKETING DỊCH VỤ TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

     

    Lê Quang Hiếu1

     

    TÓM TẮT

     

    Trường Đại học Hồng Đức là trường đại học địa phương đầu tiên ở Việt Nam, được thành lập từ năm 1997, đến nay có quy mô đào tạo hơn 16.000 sinh viên. Xét trên phương diện kinh tế, trường đại học cũng là một tổ chức cung cấp dịch vụ vì vậy việc vận dụng marketing để thỏa mãn nhu cầu khách hàng là một điều tất yếu. Bài viết này sẽ dựa trên mô hình 7Ps của Marketing dịch vụ để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của trường Đại học Hồng Đức từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường.

     

    Từ khóa: Marketing dịch vụ, chất lượng đào tạo đại học, trường Đại học Hồng Đức

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, giáo dục đại học có vị trí then chốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lƣợng cao. Nhìn lại chặng đƣờng hơn một thập kỷ qua, kể từ ngày thành lập, ngày 24 tháng 09 năm 1997, trƣờng Đại học Hồng Đức đang từng bƣớc khẳng định đƣợc vị trí và đã đạt đƣợc những thành quả bƣớc đầu đáng khích lệ trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế và đã có những đóng góp tích cực vào thành tích chung của giáo dục đại học Việt Nam. Mặc dù vậy, nếu xét trên nhiều phƣơng diện trƣờng Đại học Hồng Đức cũng đang phải chịu nhiều áp lực trong việc đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với mục đích hƣớng đến là trong tƣơng lai gần 100% sinh viên ra trƣờng tìm đƣợc việc làm đúng ngành học, đáp ứng đƣợc nhu cầu xã hội trong bối cảnh mở cửa và hội nhập thế giới trong đào tạo nguồn nhân lực nhƣ hiện nay, việc phải tìm ra cho mình những hƣớng đi phù hợp nhằm hạn chế điểm yếu và phát huy thế mạnh để có thể đón đƣợc những cơ hội cũng nhƣ vƣợt qua đƣợc những thách thức từ bên ngoài mang lại, qua đó góp phần xây dựng và phát triển bền vững là vấn đề hết sức cấp thiết đối với trƣờng Đại học Hồng Đức.

     

    Mặt khác, theo cách tiếp cận của WTO, giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là một loại hình cung cấp dịch vụ mà ở đó khách hàng là những ngƣời học, những ngƣời sử dụng lao động,… với những nhu cầu hết sức phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, lý thuyết marketing dịch vụ và các khái niệm đã có hiệu quả trong kinh doanh, đang dần đƣợc áp dụng bởi nhiều trƣờng đại học nhằm mục đích đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh. Khái niệm marketing – mix đã đƣợc đƣa ra và công nhận trong lý thuyết marketing dịch vụ nhƣ là

     

    • Phó trưởng khoa KTQTKD, Trường Đại học Hồng Đức

    29

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thiết lập các công cụ marketing mà tổ chức sử dụng để theo đuổi các mục tiêu marketing của mình trong thị trƣờng mục tiêu, chịu ảnh hƣởng bởi các biến số môi trƣờng cụ thể. Công cụ 7Ps đƣợc nhiều nhà quản trị thừa nhận và vận dụng trong lĩnh vực dịch vụ gồm: P1: Sản phẩm (product), P2: Giá cả (price), P3: Phân phối (place), P4: Xúc tiến- khuếch trƣơng (Promotion) P5: Con ngƣời (People), P6: Quá trình dịch vụ (Process of services) và P7: Các yếu tố và bằng chứng vật chất của dịch vụ (physical evidences).

     

    Bài viết này đứng trên quan điểm của marketing dịch vụ nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển của trƣờng Đại học Hồng Đức từ đó đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.

     

    2.   THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC THEO QUAN ĐIỂM MARKETING DỊCH VỤ

     

    2.1. Chính sách sản phẩm

     

    Về ngành, nghề đào tạo: Nhà trƣờng tiến hành đa dạng hóa cơ cấu và điều chỉnh ngành, chuyên ngành đào tạo theo hƣớng đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng và đất nƣớc.

     

    Hiện nay, nhà trƣờng đang đào tạo 7 chuyên ngành sau đại học, 29 ngành bậc đại học, 21 ngành bậc cao đẳng. Cùng với đào tạo hệ chính quy, Nhà trƣờng đang đào tạo các hình thức vừa làm vừa học, liên thông, văn bằng đại học thứ 2 và bồi dƣỡng ngắn hạn để đáp ứng tối đa nhu cầu của ngƣời học. Quy mô đào tạo của Nhà trƣờng hiện nay là gần 16.000 học sinh, sinh viên. Từ năm 2008, nhà trƣờng từng bƣớc thực hiện chuyển đổi phƣơng thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Bên cạnh đó, Nhà trƣờng đã và đang liên kết với các trƣờng đại học để đào tạo các ngành, chuyên ngành đại học và sau đại học.

     

    • Đào tạo trình độ thạc sĩ: Đại học Hồng Đức là trƣờng đại học đầu tiên trong khối các trƣờng đại học địa phƣơng đƣợc phép tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ. Sau gần 16 năm thành lập, trƣờng đã đƣợc Bộ cho phép tự đào tạo 6 chuyên ngành gồm: Khoa học cây trồng, Ngôn ngữ Việt Nam, Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn- Tiếng Việt, Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Vật lý lý thuyết và Vật lý Toán và Toán giải tích.
    • Đào tạo trình độ đại học và cao đẳng tƣơng đối ổn định về số lƣợng trong những năm gần đây, tuy nhiên xét về cơ cấu thì có những thay đổi về ngành đào tạo, một số ngành không đáp ứng nhu cầu xã hội, khó tuyển sinh nhà trƣờng tạm thời đóng và mở ra những ngành mới có khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội.

    Cơ cấu ngành, chuyên ngành đào tạo đƣợc điều chỉnh phù hợp với nhu cầu:

     

    + Từ hai khối ngành (sƣ phạm và kỹ thuật nông nghiệp) năm học 1998 – 1999 lên bốn khối ngành gồm sƣ phạm, kinh tế, nông-lâm-ngƣ nghiệp và kỹ thuật – công nghệ;

     

    + Giảm bớt một số chuyên ngành không phù hợp với nhu cầu sử dụng nhƣ chuyên ngành ngữ văn, nuôi trồng thủy sản, kỹ nghệ hoa viên, mở các ngành đào tạo mới đáp ứng nhu cầu của xã hội; liên kết đào tạo chính quy và vừa làm vừa học;

     

    30

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Về mục tiêu, nội dung chương trình. Chƣơng trình giáo dục, kiểm tra đánh giá, thời khóa biểu, lịch thi đƣợc Nhà trƣờng hƣớng dẫn cụ thể, chi tiết; quy chế đào tạo và rèn luyện của Bộ Giáo dục & Đào tạo đƣợc cụ thể hóa và triển khai thực hiện.

     

    Chƣơng trình giáo dục đào tạo có mục tiêu đƣợc xác định cụ thể, rõ ràng về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, tác phong đối với ngƣời học. Nội dung, chƣơng trình đào tạo bám sát khung chƣơng trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và đƣợc cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung thƣờng xuyên theo hƣớng đáp ứng nhu cầu của ngƣời học và xã hội. Sinh viên tốt nghiệp ra trƣờng đảm bảo về trình độ kiến thức cơ bản, kỹ năng nghiệp vụ, có khả năng thích ứng nhanh với thị trƣờng lao động. Kết quả học tập của sinh viên hệ chính quy nhà trƣờng không ngừng đƣợc nâng lên đáp ứng đƣợc nhu cầu nguồn nhân lực trong quá trình phát triển của địa phƣơng và các tỉnh lân cận.

     

    Về sinh viên (sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội):

     

    Đã có sự điều chỉnh về bậc học một cách mạnh mẽ, chủ yếu tăng đào tạo đại học, giảm và tiến tới không đào tạo hệ trung cấp: Đến năm 2011, quy mô hệ đại học chính quy tăng 26 lần (từ 250 lên 6.600 sinh viên); sinh viên cao đẳng chính quy giảm 1,7 lần (từ 3.250 xuống còn 1.900 sinh viên).

     

    Thay đổi một cách thích hợp về quy mô đào tạo ở các khối ngành, đáp ứng với thực tế khách quan của nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực:

     

    • Chuyển đổi một phần đào tạo giáo viên trung học phổ thông sang đào tạo giáo viên trung học cơ sở hai môn có trình độ đại học, mở các ngành đào tạo cử nhân khoa học, tăng dần các chuyên ngành đào tạo kỹ thuật – công nghệ;
    • Chuyển hƣớng từ chỗ chỉ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh là chủ yếu sang đáp ứng một phần nhu cầu nguồn nhân lực của các tỉnh lân cận.

    Về hình thức đào tạo

     

    Qui mô đào tạo theo hình thức VLVH tăng nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu của

     

    xã hội:

     

    – Số HSSV hệ VLVH chiếm 46,5% năm 2009 (tự đào tạo);

     

    – Đào tạo liên thông từ cao đẳng lên đại học (12 chuyên ngành), chiếm 20% so với chính quy năm 2009;

     

    Công tác đào tạo của nhà trƣờng đã đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển; quy mô đào tạo của nhà trƣờng ngày một tăng; hình thức, cơ cấu ngành, nghề tƣơng đối hợp lý, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng của trƣờng, chất lƣợng đào tạo ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội.

     

    Về sản phẩm khoa học công nghệ

     

    Theo số liệu thống kê đến hết năm 2012 cán bộ, giảng viên nhà trƣờng đã thực hiện đƣợc 574 đề tài (dự án) khoa học các cấp, trong đó có 5 đề tài cấp Nhà nƣớc, 35 đề tài cấp Bộ, 48 đề tài cấp tỉnh và 486 đề tài cấp cơ sở; sinh viên toàn trƣờng đã thực hiện đƣợc 1.899 đề tài khoa học, có 328 đề tài đạt giải cấp trƣờng và 32 đề tài đạt giải trong các cuộc

     

    31

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thi “Tài năng khoa học trẻ”, 4 giải thƣởng sáng tạo kỹ thuật Việt Nam. Số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nƣớc (890), quốc tế và tuyển tập báo cáo tại các hội nghị khoa học (64). Ngoài ra, Nhà trƣờng đã chủ trì phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, tổ chức khoa học trong ngoài tỉnh tổ chức nhiều hội thảo khoa học thu hút đông đảo các nhà khoa học tham gia.

     

    Kết quả NCKH đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng, mở rộng quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo; đổi mới nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; xây dựng cơ sở thực hành, thực tập, rèn nghề; gắn đề tài NCKH với đề tài luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ để nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên; đổi mới công tác quản lý; phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hoá.

     

    2.2. Chính sách giá cả

     

    Trƣờng Đại học Hồng Đức là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. Hơn nữa, là trƣờng đa ngành, đa cấp, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, tạo nguồn nhân lực cho xã hội nói chung và cho tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Vì vậy, Nhà trƣờng đã có những giải pháp và kế hoạch tự chủ tài chính để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Cụ thể, hiện nay trƣờng có 2 nguồn thu nhƣ sau: Nguồn kinh phí Nhà nƣớc cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: thu từ học phí đào tạo, từ hoạt động nghiên cứu khoa học và thu từ hoạt động dịch vụ.

     

    Trong thời gian tới, trƣờng sẽ tiếp tục củng cố các hoạt động tài chính theo hƣớng minh bạch, công khai và có kế hoạch, phấn đấu đƣa quản lý tài chính là một động lực nâng cao chất lƣợng đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên nhà trƣờng.

     

    Về các khoản thu từ ngƣời học nhƣ: học phí cho HSSV đào tạo theo tín chỉ của Nhà trƣờng từ 80.000 – 93.000đ/tín chỉ (Đại học) hoặc 60.000-68.000đ/tín chỉ (Cao đẳng); Phí nội trú từ 60.000-70.000 ngƣời/tháng. Có thể nói rằng trƣờng Đại học Hồng Đức áp dụng chính sách giá thấp và linh hoạt cho các đối tƣợng.

     

    2.3. Chính sách phân phối

     

    Trƣờng Đại học Hồng Đức thực hiện chính sách phân phối hết sức linh hoạt cho từng đối tƣợng ngƣời học có nhu cầu. Đối tƣợng tuyển sinh của trƣờng là tất cả các cá nhân, tổ chức có nhu cầu và đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cả nƣớc.

     

    Về địa điểm tổ chức đào tạo: Đối với ngƣời học dài hạn thực hiện việc đào tạo và học tập tại các cơ sở của nhà trƣờng. Hiện tại nhà trƣờng có 3 cơ sở đào tạo đƣợc đặt trong thành phố Thanh Hóa: Cơ sở chính là nơi đặt trụ sở chính nhà điều hành và phục vụ đào tạo cho học sinh sinh viên thuộc các khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh, Kỹ thuật công nghệ, Công nghệ thông tin và truyền thông và Nông – lâm – ngƣ nghiệp; Cơ sở 2 phục vụ đào tạo cho sinh viên các khoa khối ngành sƣ phạm và xã hội nhƣ: Khoa Khoa học tự nhiên, khoa Mầm non, Khoa Ngoại ngữ…; Cơ sở 3 là Trung tâm Giáo dục quốc phòng chuyên phục vụ đào tạo về chƣơng trình giáo dục quốc phòng cho sinh viên toàn trƣờng. Tại cơ sở chính và cơ sở 2 đều có các khu nội trú và các sân bãi tập luyện thể dục thể thao tạo điều kiện đáp

     

    32

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ứng nhu cầu của ngƣời học. Đối với những chƣơng trình bồi dƣỡng ngắn hạn có thể tổ chức ngay tại các địa điểm theo yêu cầu của đối tác.

     

    Về thời gian phục vụ: Nhà trƣờng thực hiện linh hoạt thời gian học tập theo nhu cầu của từng đối tƣợng ngƣời học. Thời gian học tất cả các ngày trong tuần từ thứ 2- chủ nhật, đƣợc chia thành 13 tiết/ngày (trừ thứ 7 và chủ nhật là không quá 10 tiết)

     

    2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp

     

    Xúc tiến hỗn hợp cung cấp các thông tin về các chƣơng trình học, những thay đổi và phát triển trong chƣơng trình, những thông tin về cơ sở đào tạo, học phí… do đó giúp họ hiểu biết hơn về chƣơng trình, về cơ sở đào tạo… giúp họ tăng cơ hội lựa chọn trƣớc khi tham gia một khoá đào tạo cụ thể. Các thông tin này giúp họ tiết kiệm thời gian, tiền bạc khi quyết định về việc mình nên bổ sung kiến thức, kỹ năng gì, góp phần bảo vệ các học viên ở một mức độ nhất định.

     

    Ngay từ khi mới thành lập, lãnh đạo nhà trƣờng luôn tâm niệm mỗi ngƣời học, mỗi cán bộ của nhà trƣờng sẽ là những tuyên truyền viên tốt nhất về hình ảnh của nhà trƣờng, do đó hàng năm nhà trƣờng thƣờng tổ chức các buổi thông tin tuyên truyền tuyển sinh trƣớc hết cho cán bộ và HSSV đang theo học tại trƣờng. Ngoài ra việc gửi các tờ rơi, thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông nhƣ báo đài cũng đƣợc nhà trƣờng hết sức quan tâm.

     

    Công cụ quan hệ công chúng bằng cách tổ chức các sự kiện cũng đƣợc nhà trƣờng thƣờng xuyên tổ chức và đầu tƣ. Thông qua Đoàn trƣờng Đại học Hồng Đức, Hội sinh viên trƣờng và các tổ chức đoàn thể trong trƣờng đã có khá nhiều các sự kiện đƣợc tổ chức thành công thu hút sự chú ý của sinh viên trong trƣờng, sinh viên ngoài trƣờng và tổ chức truyền thông đại chúng.

     

    Bên cạnh đó việc cung cấp các thông tin cho ngƣời học tại trƣờng đƣợc xem là một nội dung quan trọng của Nhà trƣờng. Trƣờng Đại học Hồng Đức là một trong số ít trƣờng mà hệ thống internet wifi miễn phí đƣợc phủ sóng rộng khắp cả trƣờng, từ khu làm việc, các giảng đƣờng đến các khu nội trú dành cho sinh viên. Website của Nhà trƣờng cũng luôn đƣợc đầu tƣ nâng cấp và cập nhật các thông tin mới nhất, đầy đủ nhất cho các đối tƣợng quan tâm.

     

    2.5. Chính sách về con ngƣời

     

    Qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển trình độ đội ngũ của nhà trƣờng đã có những bƣớc tiến rõ rệt nhƣ: số lƣợng giảng viên có trình độ sau đại học, đặc biệt là trình độ tiến sĩ tăng nhanh; cơ cấu trình độ giảng viên các chuyên ngành từng bƣớc đáp ứng yêu cầu đào tạo; chất lƣợng đội ngũ đƣợc nâng cao một cách đáng kể; trên cơ sở quy hoạch đã từng bƣớc trẻ hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy.

     

    Số cán bộ giảng viên có trình độ chuyên môn cao tăng lên theo thời gian:

     

    • GS, PGS tăng tƣ̀0,2% (năm 1997) lên 0,4% (năm 2010) và gần 1% từ cuối năm 2013.
    • TS tăng từ 1,98% (năm 1997) lên 7,93% (năm 2010) và gần 10% năm 2013.
    • ThS tăng từ 24,15% (năm 1997) lên 48,7% (năm 2010).

    33

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Cơ cấu chất lƣợng đội ngũ thời điểm năm 2006 và năm 2010.

     

       

    Tổng số

     

    Chia theo trình độ chuyên môn

       

    TT

    Loại hình

    Tiến sĩ

    Thạc sĩ

    Đại học

     

    Dƣới ĐH

         
       

    2006

    2010

    2006

    2010

    2006

    2010

    2006

    2010

     

    2006

    2010

    1

    Biên chế

    678

    544

    25

    49

    189

    240

    328

    217

     

    136

    38

    1.1

    Giảng viên

    432

    361

    18

    39

    173

    206

    241

    116

         

    1.2

    GVTH, PTTN, Giáo vụ,

                         

    Quản sinh

    31

    22

         

    1

    3

    13

     

    28

    8

             

    1.3

    Cán bộ hành chính

    55

    86

    7

    10

    16

    33

    13

    29

     

    19

    14

    1.4

    Nhân viên thừa hành

    160

    75

           

    71

    59

     

    89

    16

    2

    Hợp đồng ngoài biên chế

    39

    193

    0

    0

    3

    27

    31

    144

     

    5

    21

    2.1

    Giảng viên

    6

    100

       

    1

    24

    5

    76

         

    2.2

    GVTH, PTTN, Giáo vụ,

                         

    Quản sinh

    16

    33

         

    1

    15

    25

     

    1

    7

             

    2.3

    Cán bộ hành chính

    7

    23

       

    2

    2

    5

    21

         

    2.4

    Nhân viên thừa hành

    10

    36

           

    6

    22

     

    4

    14

     

    Tổng cộng

    717

    737

    25

    49

    192

    267

    359

    351

     

    141

    60

    (Nguồn: Phòng TCCB)

     

    Nhà trƣờng đã thực hiện các chính sách đãi ngộ của tỉnh đối với CBGV có trình độ TS ở ngoài tỉnh về công tác tại trƣờng và chính sách hỗ trợ cho Thạc sỹ, tiến sỹ giảng dạy ở bậc Đại học.

     

    Mời các GS và các nhà khoa học đầu ngành trong nƣớc giảng dạy các chuyên đề (cho giảng viên) và những học phần mới (cho sinh viên), thông qua đó để đào tạo giảng viên của trƣờng.

     

    Cán bộ, giảng viên tham gia Đề án Liên kết đào tạo đại học và sau đại học với các trƣờng đại học nƣớc ngoài: 80 ngƣời. Số CBGV học đại học tiếng Anh (văn bằng 2): 56 ngƣời. Thực hiện các chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng ngoại ngữ khác (Đề án 165, Dự án Việt – Bỉ) 7 ngƣời.

     

    Công tác quy hoạch và đào tạo đội ngũ đƣợc đặc biệt quan tâm và thƣờng xuyên đƣợc rà soát, điều chỉnh nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài. Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của trƣờng đã đƣợc rèn luyện, trƣởng thành trong quá trình xây dựng nhà trƣờng, có phẩm chất đạo đức tốt, là nhân tố đảm bảo giữ vững và từng bƣớc nâng cao chất lƣợng đào tạo.

     

    2.6. Chính sách về quy trình hoạt động

     

    Trong những năm qua, trƣờng Đại học Hồng Đức đã không ngừng củng cố và hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của từng bộ phận và cá nhân, tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, quản lý của chuyên môn, sự phối, kết hợp đồng bộ của các tổ chức đoàn thể trong các hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà trƣờng, tranh thủ sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động VN và Bộ Giáo dục – Đào tạo, chủ động xây dựng các chiến lƣợc và kế hoạch phát triển Nhà trƣờng.

     

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Từ năm học 2007-2008, nhà trƣờng đã vận hành quy trình quản lý theo hệ thống quản lý chất lƣợng ISO: 9001-2000 và đến năm 2010 đã chuyển đổi và vận hành qui trình quản lý chất lƣợng ISO 9001:2008, đã ban hành các quy trình hoạt động, xây dựng hệ thống thông tin phản hồi về hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo tại trƣờng, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo, hiệu quả công tác quản lý, điều hành hoạt động trong nhà trƣờng.

     

    2.7. Chính sách về cơ sở hạ tầng

     

    Dự án đầu tƣ cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Cơ sở chính; cải tạo nâng cấp Cơ sở II đƣợc phê duyệt với tổng kinh phí 493 tỷ đồng, tổng diện tích xây dựng khoảng: 56.400m2. Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Thanh Hoá trực thuộc ĐHHĐ đã có quyết định đầu tƣ (98 tỷ đồng).

     

    Trong 10 năm mới thành lập, đã đầu tƣ mới, sửa chữa nâng cấp và đƣa vào sử dụng với số kinh phí 175 tỷ đồng: Khu giảng đƣờng 4 tầng (30.000 m2 sàn), 3 nhà ký túc xá sinh viên cơ sở 3 (138 phòng, 1.100 chỗ ở); 2 khu nhà ký túc xá cơ sở 1 (4.220 m2); đầu tƣ công trình hạ tầng với tổng số vốn đầu tƣ hơn 150 tỷ đồng. Đầu tƣ chiều sâu 26 phòng thí nghiệm, 8 phòng vi tính, hệ thống mạng thông tin (có dây và không dây), Trung tâm Thông tin – Thƣ viện, cơ sở hỗ trợ học tập KLF, trang thiết bị dạy và học, thiết bị văn phòng với giá trị hơn 25 tỷ đồng.

     

    Đầu tƣ mua sắm mới giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy với 5.250 đầu sách (132.313 cuốn tiếng Việt, 3.777 cuốn ngoại văn), 48.155 số báo tiếng Việt, 4.900 số báo ngoại văn, 162 đĩa CD cơ sở dữ liệu trong và ngoài nƣớc trị giá 2 tỷ đồng.

     

    Có thể thấy rằng cơ sở vật chất của trƣờng đƣợc đầu tƣ đáng kể, cơ bản đã đƣợc kiên cố hoá, đặc biệt là hệ thống giảng đƣờng và nhà làm việc, trang thiết bị phục vụ dạy- học. Tuy vậy, hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin, thƣ viện chƣa đáp ứng kịp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học trƣớc mắt và lâu dài. Cơ sở vật chất kỹ thuật chƣa đáp ứng yêu cầu để giáo dục toàn diện với sinh viên (giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, thực hành, thí nghiệm)

     

    3.   GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

     

    3.1. Nâng cao chất lƣợng chƣơng trình đào tạo, gắn với thực tiễn

     

    Để nâng cao chất lƣợng dịch vụ giáo dục, cần nâng cao chƣơng trình, gắn đào tạo với thực tiễn để khách hàng – học viên có đƣợc kiến thức cần thiết, thực hiện đƣợc những nhiệm vụ đƣợc giao trong đúng ngành nghề mà họ đƣợc đào tạo.

     

    Hoạt động kiểm định chất lượng, đƣợc coi nhƣ là một trong các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng của trƣờng. Dựa vào khung đảm bảo chất lƣợng và cơ chế đảm bảo chất lƣợng, trƣờng cần xây dựng mô hình chất lƣợng cho trƣờng mình. Tuy nhiên, công việc này trên thực tế là khó khăn và cái đã làm đƣợc chƣa phải là nhiều và chƣa làm hài lòng những ai quan tâm.

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Cần nhấn mạnh tính đáp ứng và năng động nhà trường đối với nhu cầu của nền kinh tế đang chuyển đổi. Trong khi nạn thất nghiệp vẫn là mối đe dọa đối với sinh viên tốt nghiệp thì các doanh nghiệp vẫn khó khăn trong tuyển dụng lao động có tay nghề cao, có khả năng linh hoạt, nhanh nhạy, năng động và sáng tạo, có trình độ tin học và ngoại ngữ.

     

    Bên cạnh đó, việc tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực cũng là một yêu cầu tất yếu trong xác định và quản lý chƣơng trình đào tạo.

     

    Hơn nữa, không thể chỉ nhà nƣớc lo vấn đề đào tạo đại học mà phải gắn với doanh nghiệp. Cần đẩy mạnh mô hình các doanh nghiệp tham gia vào việc đào tạo, tạo điều kiện thực tập cho sinh viên. Nhà trƣờng nên “bắt tay” với các doanh nghiệp tạo cơ hội việc làm cho sinh viên khi ra trƣờng, đây cũng là cách tốt nhất tự giải thoát mình khỏi bế tắc đầu ra, nhằm tăng cƣờng tính gắn kết giữa đào tạo và sử dụng, giữa nhà trƣờng và thị trƣờng lao động nói riêng, giữa nhà trƣờng và xã hội nói chung.

     

    3.2. Nâng cao chất lƣợng giảng viên và hệ thống cán bộ nhân viên hỗ trợ công tác giảng dạy

     

    Giảng viên, ngƣời truyền đạt không chỉ kiến thức mà cả niềm say mê nghề nghiệp cho sinh viên, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo.

     

    Thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên về chuyên môn, ngoại ngữ; tiêu chuẩn hóa cán bộ quản lý phù hợp với chức danh và nhiệm vụ đƣợc phân công. Ƣu tiên đặc biệt đối với những ngành đào tạo chƣa có giảng viên trình độ tiến sỹ.

     

    Thực hiện qui hoạch đào tạo bồi dƣỡng đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp và chuyên gia đầu ngành, đội ngũ giảng viên, nhân viên kỹ thuật; đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm định chất lƣợng từ trƣờng đến khoa.

     

    Quy định chính sách khuyến khích động viên để sớm có một tỷ lệ nhất định giảng viên đƣợc phong học hàm. Phát triển tổ chức làm nhiệm vụ tạo nguồn cho đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ phục vụ chiến lƣợc đào tạo cán bộ sau đại học trong và ngoài nƣớc.

     

    Tuyển dụng cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao, sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi về trƣờng.

     

    Hợp tác trao đổi giảng viên giữa nhà trƣờng với các trƣờng đại học nƣớc ngoài. Tăng cƣờng mời chuyên gia, cán bộ khoa học trình độ cao ở các trƣờng đại học, viện nghiên cứu trong nƣớc về giảng dạy các chuyên ngành còn thiếu giảng viên.

     

    Tổ chức cam kết trách nhiệm giữa cán bộ, giảng viên với nhà trƣờng về nghĩa vụ, quyền lợi, kịp thời tôn vinh những ngƣời có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và có đóng góp lớn đối với nhà trƣờng.

     

    3.3. Đổi mới quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục Đại học

     

    Việc này sẽ khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào quá trình cung cấp dịch vụ giáo dục, qua đó thay đổi cách đánh giá chất lƣợng giáo dục.

     

    Quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục đại học ở trƣờng còn nhiều bất cập. Điều đó

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ảnh hƣởng tới chất lƣợng cũng nhƣ hiệu quả của đầu tƣ cho giáo dục. Quy trình cung cấp dịch vụ đại học chắc chắn phải thay đổi. Sự thay đổi này hƣớng tới việc đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên.

     

    Sơ đồ 3.1. Quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục

     

    Nhu cầu của thị

    Khả

    năng

    cung

    cấp

    dịch  vụ

    trƣờng lao động về

     

    giáo dục của các trƣờng

    kiến thức và kỹ năng

    Khả

    năng

    cung

    cấp

    dịch  vụ

       

    của các địa phƣơng, ngành

       
    • Lƣợng cầu dịch vụ giáo dục ở

    Nhu cầu, khả năng

    các địa phƣơng/ngành

    của học sinh và định

    –  Yêu cầu về  các  kỹ năng và

    hƣớng của gia đình

    kiến thức bổ trợ

    Cung cấp

     

    dịch vụ

     

    Kiểm tra

     

    và đánh giá

     

    dịch vụ

     

    Thiết kế chƣơng trình và giáo trình

     

    Điều

    Xác định địa điểm đào tạo, thời gian, thời lƣợng đào tạo

     

    chỉnh

    Lựa chọn, đào tạo và bồi dƣỡng giảng viên

     

    dịch vụ

    Xác định học phí, mức đóng góp, cơ cấu, học bổng

     

    và quá

     

    trình nếu

    Thiết kế các chƣơng trình truyền thông giáo dục, định hƣớng

     
     

    cần thiết

     

    nghề nghiệp

     
         
           

    Bên cạnh đó, việc thay đổi phƣơng pháp giáo dục chất lƣợng dịch vụ giáo dục là cần thiết. Việc đánh giá chất lƣợng giáo dục không nên chỉ một chiều: giáo viên đánh giá sinh viên mà cần thiết phải có đánh giá của sinh viên về giáo viên. Dƣới góc nhìn của dịch vụ, sinh viên là khách hàng và họ có quyền đánh giá chất lƣợng dịch vụ thông qua trình độ, thái độ và khả năng của giáo viên.

     

    Nên thiết lập chế độ thƣởng theo thành tích, thƣởng và ghi nhận các giáo viên có những cải tiến trong công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Giáo viên nên đƣợc đánh giá thƣờng xuyên bởi chính sinh viên, đồng nghiệp, cấp trên và các tổ chức chuyên đánh giá chất lƣợng độc lập đƣợc mời từ bên ngoài trên các mặt nhƣ sự chuẩn bị bài giảng, phƣơng pháp giảng dạy và những đóng góp cho sự phát triển của khoa, trƣờng.

     

    3.4. Thực hiện các chương trình truyền thông giáo dục từ các cấp học phổ thông

     

    Thị trƣờng lao động ngày càng có nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời lao động trẻ nhƣng cũng hàm chứa trong đó không ít thách thức với không chỉ ngƣời lao động mà cả các cơ sở đào tạo cung cấp ngƣời lao động. Việc thực hiện các chƣơng trình truyền thông nhằm định hƣớng nghề nghiệp theo khả năng và sở thích của học sinh cần đƣợc xem nhƣ là một trong những cách giúp ngƣời lao động và các cơ sở đào tạo tránh lãng phí nguồn lực hữu

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    hạn của mình mà đạt đƣợc những mục tiêu mong muốn.

     

    Các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, trong các diễn đàn và tại các trƣờng phổ thông, việc định hƣớng nghề cho học sinh cần đƣợc chú trọng hơn với nhiều hoạt động nhƣ tƣ vấn nghề nghiệp, chọn ngành, chọn nghề hợp với sở thích, năng lực của các em và góp phần làm thay đổi cách nghĩ của nhiều bậc phụ huynh về những suy nghĩ trái chiều.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo (số 760/BC- BGDĐT ngày 29/10/2009 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT).
    • Trƣờng Đại học Hồng Đức- Chương trình Fulbright tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Mô hình trường đại học trực thuộc địa phương ở Việt Nam”, 04-05/12/2008 tại

    Thanh Hóa.

     

    • Trƣờng Đại học Hồng Đức- Chƣơng trình Fulbright tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Quản trị trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam”, 05-06/3/2010 tại

    Thanh Hóa.

     

    • Nguyễn Văn Bảo (2006), Trường đại học trực thuộc địa phương, Trường cao đẳng Cộng đồng – mô hình mới đào tạo nguồn nhân lực, Tạp chí kinh tế và phát triển, Hà Nội.
    • Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (1997), Về loại hình Trường cộng đồng trong điều kiện Việt Nam, Phát triển giáo dục, (4/1997), Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội
    • Tài liệu từ phòng Tổ chức cán bộ, phòng Đào tạo, phòng Công tác HSSV

    APPLYING SERVICE MARKETING TO IMPROVE THE

     

    TRAINING QUALITY AT HONG DUC UVIVERSITY

     

    Le Quang Hieu

     

    ABSTRACT

     

    Hong Duc University, which was established in 1997, is the fisrt local university in Việt Nam. Up to now, the scale of education of this university becomes larger with more than 16,000 students. From economic viewpoint, the university is also a service organization. Therefore applying marketing to satify customer’s needs is essential. This article focus on assessing factors which influence on the quality education of Hong Duc university based on 7P’s model of Marketing Services, and we finally propose some solutions in order to increase quality of the university.

     

    Key words: Marketing Services, quality of university education, Hong Duc University.

     

    Ngƣời phản biện: PGS.TS. Trần Hùng; Ngày nhận bài: 10/1/2014; Ngày thông qua

     

    phản biện: 20/1/2014; Ngày duyệt đăng: 18/3/2014

     

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-4.0-%C4%90%E1%BA%BEN-QUY%E1%BA%BET-%C4%90%E1%BB%8ANH-KH%E1%BB%9EI-NGHI%E1%BB%86P-KINH-DOANH-ONLINE-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-TH%C3%80NH-PH%E1%BB%90-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    EFFECTING OF INDUSTRY 4.0 TO DECIDE TO START DOING BUSINESS ONLINE OF UNIVERSITIES’ STUDENTS IN HO CHI MINH CITY

     

    Nguyễn Thị Liễu Điền1, Nguyễn Xuân Trường1

     

    Ngày nhận bài: 05/11/2018      Ngày chấp nhận đăng: 23/11/2018        Ngày đăng: 05/4/2019

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục đích xem xét ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định kinh doanh online của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (SEE), thuyết hành động hợp lý TRA, mô hình hành vi dự định TPB, mô hình chấp nhận công nghệ TAM, mô hình nghiên cứu của Krueger – Brazeal, mô hình nghiên cứu của Shapero – Sokol và các nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài để xác định mô hình nghiên cứu gồm 9 yếu tố. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp đã được áp dụng, trong đó nghiên cứu chính thức tiến hành với phương pháp khảo sát cắt ngang (cross-sectional) bằng bảng khảo sát (questionnaire). Phương pháp lấy mẫu thuận tiện đã được áp dụng. Kết quả thu được 503 bảng khảo sát hợp lệ của 503 đáp viên. Kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), nhân tố xác định (CFA) và phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mền ứng dụng SPSS 22 và AMOS 20. Kết quả cho thấy các yếu tố: Mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online; Sự tự tin với kinh doanh online và Xu hướng công nghệ có ảnh hưởng đến Ý định kinh doanh online của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng các yếu tố: Chuẩn chủ quan; Thông tin về kinh doanh online trên Internet; Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 và Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có tác động cùng chiều đến Sự mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online và yếu tố Sự tự tin khi kinh doanh online.

     

    Từ khóa: Công nghệ 4.0, khởi nghiệp, kinh doanh online, quyết định kinh doanh.

     

    JEL Classification Code: M31, M37, M39.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impact of technology 4.0 on the online business decision of students in Ho Chi Minh City. Based on the theory of entrepreneurial start-ups – SEE, Theory of Reasoned Action – TRA, Theory of Planned Behavior – TPB, Technology Acceptance Model – TAM, Research Model of Krueger-Brazeal, Research Model of Shapero-Sokol and previous

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    studies related to the topic, the team developed a proposed model of nine factors including the “Business Decision” factor. The study of 503 validated samples, using EFA, CFA, and SEM, indicated that the expectation factor for starting an online business, Confidence factor for online business and Technological Trends influence the Intent of Online Business of Students. In addition, the study also confirmed that Subjective norms, Information about online business on the Internet, Knowledge platform 4.0 technology, and the 4.0 Technology experience have a positive impact on Expectation factor and Confidence factor in Online Business.

     

    Key words: Technology 4.0, startup, online business, business decision.

     

    1. Giới thiệu

     

    Khởi nghiệp kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư hay còn gọi là cuộc cách mạng 4.0 đã tạo nên sự thay đổi lớn. Các công nghệ được nhắc đến trong cuộc cách mạng 4.0 hiện nay không hề mới, nhưng những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2017 các công nghệ này hội tụ với nhau và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động marketing trên toàn thế giới, xu hướng marketing sẽ dịch chuyển từ truyền thống sang công nghệ số để kịp thích nghi với những thay đổi của hành vi khách hàng trong thời đại công nghệ số. Tác động dễ thấy nhất của cuộc cách mạng 4.0 chính là sự bùng nổ của mạng Internet, thương mại điện tử và cách thức tiếp thị của các doanh nghiệp, chính sự thay đổi này đã tạo nên nhiều cơ hội kinh doanh trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Cách thức tiếp thị thời đại 4.0 chủ yếu được phát triển dựa trên nền tảng Internet, đây cũng là động lực để thúc đẩy các cá nhân, nhóm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về các chỉ số về tinh thần khởi nghiệp và đứng thứ 2 về thái độ tích cực đối với khởi nghiệp là kết quả khảo sát của tập đoàn Amway kết hợp cùng đại học Technische Univeritat Minchen và công ty Nghiên cứu thị trường Gft. Đó là về tinh

     

    thần khởi nghiệp, nhưng theo báo cáo về chỉ số khởi nghiệp của Theo diễn đàn Khởi nghiệp Việt Nam 2015, cứ 100 người Việt Nam thì có 18 người có ý định khởi nghiệp nhưng chỉ có 2 trong số đó là người triển khai ý định khởi nghiệp trên thực tế. Các doanh nghiệp startup chủ yếu hoạt động theo hình thức kinh doanh online. Hình thức này bùng nổ trong 5 năm trở lại đây và trở thành xu hướng khởi nghiệp của giới trẻ. Khởi nghiệp kinh doanh đã có lịch sử lâu đời nên theo sau đó cũng đã có nhiều lý thuyết và mô hình nghiên cứu về vấn đề khởi nghiệp xuất hiện. Tuy vậy các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc khai thác các yếu tố tác động đến ý định/mong muốn/quyết định kinh doanh online, nhưng chưa khai thác sâu vào những vấn đề đặt trong bối cảnh cùng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (hay còn gọi là cách mạng 4.0).

     

    Trước thực tiễn nêu trên, đề tài nghiên cứu

     

    “Ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm đo lường ảnh hưởng của chúng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2. Cơ sở lý thuyết

     

    2.1. Khái niệm công nghiệp (công nghệ) 4.0

     

    Cách mạng Công nghiệp 4.0 bắt đầu từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013. “Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. (Gartner, 2015).

     

    Theo Klaus Schwab, cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI); Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data).

     

    Trong nghiên cứu này, Công nghệ 4.0 được đề cập ở lĩnh vực kĩ thuật được ứng dụng trong kinh doanh online.

     

    2.2. Khái miệm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Theo Neil Blumenthal, đồng giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì: “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo).

     

    Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” – một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: A startup is “A human institution designed to create new products and services under conditions of

    extreme uncertainty” (tạm dịch: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”).

     

    Trong bài nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu là một động từ biểu thị cho hoạt động bắt đầu của một doanh nghiệp, kinh doanh một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.

     

    Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online: là một chuỗi các bước thực hiện, bắt đầu từ việc đưa ra thông tin, phân tích và cụ thể là lựa chọn bắt đầu kinh doanh trên những nền tảng được phát triển trên mạng Internet.

     

    2.3. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    • Các lý thuyết khoa học hành vi:

    Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý hành vi (Olson&Zanna, 1993).

     

    Theo học thuyết TRA của Ajzen & Fishben,

     

    • định hành vi (Behavior Intention – BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior – AB) và Chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN). Đến năm 1991, Ajzen đề xuất Thuyết hành vi dự định – TPB (Theory of Planed Behavior) bằng cách bổ sung thêm các yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” vào mô hình gốc ban đầu để dự đoán hành vi của con người. Yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” là việc mà các nhân cảm thấy dễ dàng hay khó khăn để thực hiện hành động dựa trên các nguồn lực và cơ hội có sẵn. Lý thuyết hành động hợp lý TRA và lý thuyết hành vi dự định TPB được chứng minh khác nhau của các cá nhân (Sheppard&ctg, 1998).

    52

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model):

    Trong nửa cuối thế kỉ 20, nhiều lý thuyết đã được hình thành và được kiểm nghiệm nhằm nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ của người sử dụng. Năm 1986, Davis đã đề xuất mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model). Lý thuyết này được công nhận là công cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của người sử dụng. Đặc biệt, TAM được công nhận rộng rãi là một mô hình đáng tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận IT của người sử dụng. Mô hình TAM bao gồm, nhận thức sự hữu ích là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ (Davis 1989, tr320), nhận thức tính dễ sử dụng, là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis 1989, tr320) và thái độ hướng đến việc sử dụng là cảm giác tích cực hay tiêu cực có tính ước lượng về việc thực hiện hành vi vì mục tiêu (Fishbein và zen 1975, tr 216). Định nghĩa này lấy từ thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action).

    2.4. Các nghiên cứu đã thực hiện về ý định và quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Nhìn chung, số lượng nghiên cứu về ý định và quyết định khởi nghiệp của sinh viên vẫn còn khá hạn chế. Một số nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này được trình bày ở bảng 1.

     

    2.5. Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Dựa vào các đề tài nghiên cứu tham khảo và nhân tố tác động làm cơ sở để xây dựng các biến cho mô hình đề xuất, gồm:

     

    • Chuẩn chủ quan, (2) Thông tin về kinh doanh online, (3) Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, (4) Xu hướng công nghệ, (5) Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, (6) Trải nghiệm công nghệ 4.0, (7) Sự tự tin khi kinh doanh online, (8) Ý định kinh doanh. Trong đó, biến độc lập là các biến Chuẩn chủ quan, Thông tin về kinh doanh online trên Internet, Xu hướng công nghệ, Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0. Biến trung gian là: Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, Sự tự tin khi kinh doanh online, Ý định kinh doanh online. Biến phụ thuộc là Quyết định kinh doanh online.

     

     

     

    53

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Bảng 1. Một số nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh và

     

    quyết định khởi nghiệp kinh doanh trong và ngoài nước

     

    STT

    Phạm

    Hướng tiếp cận

    Các yếu tố ảnh hưởng được xác định

    Nguồn tham

     
     

    vi

           

    khảo

         

    1

     

    Những yếu tố có thể lôi

    (1) (1) Cảm nhận sự khao khát, (2) Xu

    Shapero & Sokol

     
     

    kéo thúc đẩy cá nhân đi

    hướng hành động, (3) Cảm nhận tính

       

    (1982)

     
       

    đến ý định khởi nghiệp

    khả thi.

       
                   
                 

    2

     

    Tiềm năng để tạo ra một

    (2) (1) Sự khao khát, (2) Tính khả thi, (3)

     

    Krueger &

     
     

    công ty mới

    Xu hướng hành động.

    Brazeal (1994)

     
       
                       

    3

     

    Ý định khởi nghiệp của

    (3) (1) Cảm nhận sự khát khao, (2) Cảm

    Linan (2004)

     

    nước

    sinh viên

    nhận tính khả thi, (3) Chuẩn mực xã hội.

                 
                     
     

    Tác nhân khuyến khích ý

    (4) (1) Cảm nhận môi trường giáo dục đại

    Luthje & Franke

     
     

    Ngoài

    4

    định khởi nghiệp

    học, (2) Điều kiện thị trường và tài

    (2004)

         
         

    chính, (3) Tính cách cá nhân.

               
         

    (5) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    5

     

    Mô hình TPB

    & Manjit Singh

     
         

    Nhận thức kiểm soát hành vi.

    Sandhu (2012)

     
           
               
       

    Mô hình TPB& 2 yếu tố

    (6) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    6

     

    cảm xúc cha nhân (niềm

    Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Niềm

    & Manjit Singh

     
       

    tin, sự cam kết)

    tin tình cảm, (5) Cam kết cảm xúc.

    Sandhu (2013)

     
                       
       

    Các yếu tố ảnh hưởng đến

    (7) (1) Chuẩn mực xã hội, (2) Cảm nhận sự

               
       

    ý định khởi nghiệp của

    khát khao, (3) Cảm nhận tính khả thi, (4)

     

    Hoàng Thị

     

    7

     

    Cảm nhận môi trường giáo dục đại học,

     
     

    sinh viên trường Đại học

    Thương (2014)

     
       

    (5) Điều kiện thị trường và tài chính, (6)

       

    Lao động – Xã hội

               
       

    Tính cách cá nhân.

               
                     
                       
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

     

    Nguyễn

     

    Quốc

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

    (8) (1) Thái độ và sự đam mê đối với khởi

     
       

    Nghi,

     

    Thị

     

    8

     

    nghiệp của sinh viên khối

    sự kinh doanh, (2) Nguồn vốn, (3) Sự

    Diệu

    Hiền,

    Mai

     
       

    ngành quản trị kinh doanh

    sẵn sàng kinh doanh, (4) kinh nghiệm

    Ngọc

    Thanh

     
       

    tại các trường đại học/cao

    làm việc, (5) Chuẩn chủ quan, giáo dục.

    (2016)

         
     

    nước

    đẳng ở TPHCM

                 
     

    Các nhân tố ảnh hưởng

    (9) (1) Thái độ và sự hiệu quả có ảnh

               
                   
     

    Trong

    đến ý định khởi sự doanh

    Phan Anh Tú và

     
     

    nghiệp: Trường hợp sinh

    hưởng nhiều nhất, (2) Giáo dục và thời

       

    9

     

    cơ khởi nghiệp, (3) Nguồn vốn, (4)

    Giang  Thị

     

    Cẩm

     
     

    viên khoa kinh tế và quản

     
       

    Quy chuẩn chủ quan, (5) Nhận thức

    Tiên (2015)

       
       

    trị kinh doanh trường đại

       
       

    kiểm soát hành vi.

               
       

    học Cần Thơ

               
                     
               
         

    (10) (1)Sự ham muốn kinh doanh, (2) Khả

    Các nhân tố ảnh

     
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

    năng tài chính, (3) Khả năng tự chủ, (4)

    hưởng đến ý định

     
       

    Tính sáng tạo, (5) Tính bền bỉ, (5) Tư

    khởi

    sự

    doanh

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

       

    duy làm chủ, (6) Khuynh hướng chấp

    nghiệp  của

    sinh

     

    10

     

    nghiệp của sinh viên kinh

     

    nhận rủi ro, (7) Tính tự tin, (8) Nhu cầu

    viên

    kinh

     

    tế  đã

     
       

    tế đã tốt nghiệp trên địa

     
       

    thành đạt, (9) Nền tảng gia đình, (10)

    tốt

    nghiệp

    trên

     
       

    bàn thành phố Cần Thơ

       

    Giáo dục, (11) Chính sách Chính phủ

    địa bàn thành phố

     
         
         

    và địa phương.

    Cần Thơ (2015)

     
                       

    54

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2.6. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Giả thuyết

     

    • Chuẩn chủ quan

    Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) được phát hiện và nghiên cứu bởi Fishbein (1967), áp dụng cho các nghiên cứu về thái độ và hành vi. Trong thuyết này, ý định hành vi là yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng và ý định hành vi bị tác động bởi hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan. Chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn thực hiện hành vi đó (gia đình, bạn bè,…). Thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen (1991) nghiên cứu, Đây là sự mở rộng của thuyết hành động hợp lý (TRA). Trong thuyết này, Ajzen đã ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức là lòng tin của cá nhân về khả năng thực hiện hành vi, dự định thực hiện hành vi chịu tác động bởi 3 yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi và nhận thức. Với những lập luận trên, giả thuyết được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H1: Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Thông tin về kinh doanh online trên Internet

    Thông tin về kinh doanh online trên Internet trong nghiên cứu này được hiểu như là những dữ kiện và tin tức, tri thức có liên quan, phục vụ cho hoạt động kinh doanh online được truyền và cập nhật trên Internet.

     

    Biến Thông tin về kinh doanh online được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định.

    Với những lập luận trên giả thuyết về thông tin khởi nghiệp kinh doanh được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H2: Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Xu hướng công nghệ

    Yếu tố Xu hướng công nghệ ảnh hưởng đến

     

    • định tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh. Những yếu tố hoàn cảnh có thể hỗ trợ hoặc ngăn cản quá trình khởi sự kinh doanh. Tầm quan trọng của yếu tố bên ngoài trong các quyết định khởi nghiệp được nhấn mạnh trong các mô hình của Bird (1993), Martin(1984), và mô hình SEE của Shapero & Sokol (1982) đề xuất. Xu hướng công nghệ 4.0 được đề cập trong bài là những xu hướng công nghệ mới 4.0 xuất phát từ môi trường bên ngoài. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Reynolds

    – 1995, khi chứng minh rằng điều kiện môi trường, xu hướng của xã hội không chỉ là động lực giúp cá nhân khởi nghiệp kinh doanh, mà nó còn ảnh hưởng tích cực đến ý định cũng như quyết định khởi nghiệp của một người. Biến Xu hướng công nghệ 4.0 được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định. Với những lập luận trên 2 giả thuyết về xu hướng công nghệ được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H3a: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Giả thuyết H3b: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    55

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0

    Các nghiên cứu về yếu tố giáo dục được công bố là nghiên cứu của Schwarz & cs (2009) và Turker & Selcuk (2009) đánh giá yếu tố “môi trường giáo dục” là xem xét môi trường giáo dục nói chung có khuyến khích ý tưởng, sáng kiến khởi nghiệp của sinh viên hay không hoặc kiến thức, nội dung của môn học mang lại

     

    • tưởng khởi nghiệp và kỹ năng cho sinh viên. Kết quả trong nghiên cứu mô hình của nhóm nghiên cứu Vương Thanh Tuyền (2017); Phan Anh Tú (2015) cũng khẳng định điều đó. Với những nghiên cứu trên giả thuyết được đề xuất về nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 như sau:

    Giả thuyết H4: Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Trải nghiệm công nghệ 4.0

    Các hoạt động, công việc đã làm trước đây, đặc biệt các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp nên tác động tích cực đến sự tự tin của cá nhân về tính khả thi khởi nghiệp (Greve, A., & Salaff, J.W, 2003). Điều này cũng được chứng minh qua nghiên cứu về tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học do Nguyễn Thu Thủy thực hiện, kinh nghiệm lãnh đạo và kinh nghiệm thương mại ảnh hưởng rất lớn đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên.

     

    Dựa trên các nghiên cứu trước về các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp kinh doanh (Greve, A., & Salaff, J. W, 2003)

    để phát triển thang đo. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016) cũng đề cập đến yếu tố này. Từ các lập luận trên giả thuyết về trải nghiệp công nghệ 4.0 của bản thân được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H5: Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Mong đợi lợi ích từ khởi nghiệp kinh doanh online

    Yếu tố Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online được tham khảo từ kết quả của nghiên cứu của Alderson và Martin (1965) và ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh Đại học Cần Thơ của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất:

     

    Giả thuyết H6: Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh

     

    online

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Bên cạnh đó, nó cũng phản ánh niềm tin về khả năng thành công khi khởi nghiệp (Krueger N. &., 1994). Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Công nghệ ở Malaysia (MTU) do Amran Rasli và Bernard Wong – 2008 cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên trường này. Điều đó cũng được chứng minh qua

     

    56

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên do Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự thực hiện năm 2011.

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp của sinh viên và nghiên cứu tại Việt Nam của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H7: Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Ý định khởi nghiệp kinh doanh online
    • định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí để thúc đẩy sự sáng tạo kinh doanh hoặc liên doanh mới. Nghiên cứu về các yếu tố tác động

    đến ý định có các thuyết hành động hợp lý (TRA), thuyết dự định hành vi (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Gần đây nhất, có thêm một nghiên cứu của Kautomen 2015 đã xác nhận rằng, ý định khởi nghiệp dự đoán được hành vi trong hoạt động khởi nghiệp của con người. Trong đề tài này, ý định khởi nghiệp có thể được hiểu như là một dự định khám phá và phát triển những cơ hội kinh doanh để sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ trong tương lai bằng việc thành lập một tổ chức kinh doanh/ công ty mới (Venkataraman, 1997). Trong nước các đề tài nghiên cứu về ý định có nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Lao động – Xã hội (2014) của Hoàng Thị Thương; Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên. Từ các lập luận trên giả thuyết về

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H8: Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

     

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

    57

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức để kiểm định mô hình và các giả thuyết.

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính

    thức để kiểm định lại mô hình nghiên cứu và các giả thuyết trong mô hình.

     

    3.1. Quy trình nghiên cứu

     

    3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ

     

    • Xây dựng thang đo

    Thang đo được sử dụng cho 39 biến quan sát định lượng là thang đo Likert 5 điểm, thay đổi từ 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 là “Hoàn toàn đồng ý”, và bao gồm 10 thành phần sau đây: Chuẩn chủ quan (5 biến quan sát); Thông tin về kinh doanh online trên Internet (4 biến quan sát); Xu hướng công nghệ 4.0 (3 biến quan sát).

     

     

    Nghiên cứu sơ bộ

             
                 
     

    Cơ sở lý thuyết

       

    Mô hình nghiên cứu

     
         
               

    Mô hình nghiên cứu

     

    Thảo luận nhóm (n = 9)

       

    hoàn chỉnh

     
       
               
                   

    Phỏng vấn chuyên sâu

     

    (n = 33)

     

    Bảng câu hỏi

     

    sơ bộ

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    sơ bộ (n = 50)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    Bảng câu hỏi

     

    chính thức

     

    Hoàn chỉnh biến quan sát

    thang đo sơ bộ

     

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s

    Alpha và tương quan biến tổng

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    chính thức (n = 500)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    EFA

     

    CFA

     

    SEM

     

    Kiểm định Bootstrap

     

    và giả thuyết

     

    Nghiên cứu định

     

    lượng chính thức

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s  Alpha và tương quan biến tổng

     

    Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố  khám phá và phương sai trích

     

    Loại biến có trọng số EFA nhỏ

     

    Kiểm định sự phù hợp của mô

    hình với thị trường

     

    Kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị

     

    phân biệt, tính đơn hướng.

     

    Kiểm tra độ thích hợp của mô

    hình và giá trị liên hệ lý thuyết.

     

    Hình 2. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

     

     

    58

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (4 biến quan sát); Trải nghiệm của bản thân về công nghệ 4.0 (5 biến quan sát); Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (3 biến quan sát); Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (4 biến quan sát); Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (6 biến quan sát); và biến phụ thuộc Quyết định khởi nghiệp (5 câu hỏi).

     

    • Nghiên cứu định tính

    Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn chuyên sâu.

     

    • Nghiên cứu định lượng

    Nghiên cứu định lượng sơ bộ được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu cắt lát.

     

    Dựa vào kết quả trả về nhờ kĩ thuật phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha, không bỏ đi biến quan sát nào.

     

    Thang đo chính thức được hình thành với 9 yếu tố và 39 biến quan sát.

     

    3.1.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

     

    Đề tài sử dụng hai phần mềm phân tích thống kê SPSS (Statictical Package for the Social Sciences) và AMOS (Analysis of Moment Structures) để phân tích dữ liệu.

     

    Tiến hành phân tích dữ liệu thực hiện qua các bước sau: (1) Chuẩn bị thông tin, thu nhận các bảng câu hỏi, tiến hành làm sạch thông tin, mã hóa các thông tin trong bảng trả lời, nhập liệu vào phần mềm SPSS; (2) Thực hiện nghiên cứu thống kê mô tả, tiến hành thống kê mô tả dữ liệu thu nhập được về các điều kiện nhân khẩu học và mức độ cảm nhận của các đối tượng khảo sát về các phát biểu; (3) Đánh giá độ tin cậy của thang đo, tiến hành đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; (4) Thực hiện phân tích nhân tố khám phá, phân tích

    các khái niệm đo lường bằng phân tích nhân tố khám phá EFA; (5) Kiểm định tính hội tụ, phân biệt, tính đơn nguyên và mức độ phù hợp của dữ liệu bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA; (6) Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định độ thích hợp của mô hình;

     

    • Phân tích cấu trúc đa nhóm giữa các nhóm.

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

     

    Qua kết quả của kiểm định Cronbach’s Alpha trên ta thấy 8 thang đo bao gồm đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0.3. Vì vậy, rút ra kết luận rằng các biến quan sát của thang đo đều đạt yêu cầu và không loại biến quan sát nào cả.

     

    4.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA

     

    Phân tích EFA cho kết quả hệ số KMO = 0.882 nên dữ liệu phù hợp để phân tích EFA, kiểm định Barlett’s đạt mức ý nghĩa là 0,000, vì vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Có 8 nhân tố được rút trích, giải thích được 71.884% sự biến thiên của dữ liệu. Các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5. Kết luận được rằng thang đo được chấp nhận. Dữ liệu từ bảng Pattern Matrix được sử dụng. 8 nhân tố được rút trích đó là: Chuẩn chủ quan (CQ) được đo lường bởi các biến quan sát CQ1, CQ, CQ3, CQ4, CQ5. Thông tin về kinh doanh online trên Internet (TT) được đo lường bởi các biến quan sát TT1, TT2, TT3, TT4. Xu hướng công nghệ 4.0 (XH) được đo lường bởi các biến quan sát XH1, XH2, XH3. Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (KT) đo lường bởi các biến quan sát KT1, KT2, KT3.

     

    Trải nghiệm công nghệ 4.0 (TN) được đo lường bởi các biến quan sát TN1, TN2, TN3, TN4, TN5. Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (MD) được đo lường bởi các biến

     

    59

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    quan sát MD1, MD2, MD3. Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (STT) được đo lường bởi các biến quan sát STT1, STT2, STT3, STT4. Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (YD): YD1, YD3,YD4,YD5,YD6.

     

    4.3. Đánh giá độ phù hợp của mô hình

     

    Tiến hành kiểm định nhân tố khám phá (CFA) để kiểm định xem mô hình đo lường này có đạt được yêu cầu chưa. Kết quả CFA cho thấy rằng các giá trị đều thỏa điều kiện nên mô hình phù hợp với dữ liệu.

     

    4.4. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

     

    Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình có giá trị thống kê Chi-square là 1082.180 (p = 0,000); Chi-square/df = 1.804; GFI = 0.895; CFI = 0.959; TLI = 0.963; RMSEA= 0.040. Theo Hair và cộng sự (2006) trong một số trường hợp 0.8 < GFI < 0.9 vẫn có thể chấp nhận khi phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, như vậy các chỉ tiêu đánh giá mức độ đều phù hợp với dữ liệu thị trường trong mức cho phép, có ý nghĩa thống kê vì P-value bé hơn 0,05.

     

    Kết quả cho thấy các trọng số đều mang dấu dương, điều này có ý nghĩa như sau:

     

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Trải nghiệm công nghệ có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh. (0.505)

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đối với nhân tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online thì Chuẩn chủ quan có tác động mạnh hơn là Thông tin về kinh doanh online (0.616 > 0.114).

     

    Đối với nhân tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố tác động xếp thứ tự từ mạnh đến yếu lần lượt là Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0 và Xu hướng công nghệ 4.0 (0.43 > 0.233 > 0.011).

     

    Trong các yếu tố tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố Sự tự tin tác động mạnh mẽ nhất (0.505).

     

    60

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

     

     

    Hình 3. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyến định

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại TP.HCM sau khi chạy SEM

     

     

    4.5. Kiểm định mô hình

     

    Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và

    phân tích mô hình hồi quy tuyến tính SEM, các giả thuyết ban đầu nhóm đưa ra đã hiện chỉ còn 8 nhân tố và được tóm tắt như bảng sau đây:

     

    Bảng 2. Kết quả kiểm định mô hình

     

    Ký hiệu

    Giả thuyết

    Kiểm định

     
           

    H1

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

       

    H2

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến Mong đợi

    Chấp nhận

     
     

    khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H3a

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi

    Bác bỏ

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

         

    H3b

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H4

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến Sự

    Bác bỏ

     

    tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

         

    H5

    Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với

    Chấp nhận

     
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

       

    H6

    Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan

    Chấp nhận

     
     

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online

       
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan

       

    H7

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       
     

    Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng

       

    H8

    biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       

    61

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    4.6. Phân tích cấu trúc đa nhóm

     

    • Kiểm định sự khác biệt theo giới tính

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa sinh viên nam và sinh viên nữ.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm nam và nhóm nữ như sau: Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet có tác động đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.063 (gần bằng 0.05). Ngược lại nhóm nữ thì gần như yếu tố này lại không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên nữ, P-value = 0.727 ( >> 0.05).

     

    • cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến Sự tự tin của sinh viên khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm nam sự ảnh hưởng này không mạnh bằng nhóm nữ vì P-value = 0.023 ( < 0.05), trong khi nhóm nữ P-value bé hơn 0.05 nhiều.

    Cả 2 nhóm nam và nhóm nữ, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không ảnh hưởng nhiều đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ( P- value đều > 0.05. Lần lượt P value của nhóm nam, nhóm nữ là 0.245 và 0.332.

     

    Cả 2 nhóm đều cho thấy rằng Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có ảnh hưởng mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value nhỏ hơn 0.05 nhiều.

     

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng như nhau ở cả 2 nhóm do P-value = 0.002 (< 0.05 ).

    • Kiểm định sự khác nhau theo ngành học

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên không phải khối ngành kinh tế.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên thuộc các khối ngành khác như sau:

     

    Nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và nhóm không thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Chuẩn chủ quan đều tác động nhiều đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều < 0.05.

     

    • nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet không ảnh hưởng đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.475 (> 0.05). Nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế thì ngược lại, yếu tố Thông tin tác động mạnh đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.005 (< 0.05).
    • cả 2 nhóm sinh viên, trải nghiệm công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế sự ảnh hưởng này không mạnh mẽ bằng ở nhóm cìn lại vì P-value = 0.013.

    Cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều > 0.05.

     

    • cả 2 nhóm, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều tác động mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value đều

    62

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • 05. Tuy nhiên, ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế có vẻ như tác động mạnh hơn vì P-value nhóm này bé hơn nhóm còn lại.
    • nhóm sinh viên khối ngành kinh tế, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value < 0.05, ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành khác thì yếu tố Xu hướng hoàn toàn không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value = 0.329 (>> 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo năm học

     

    hiện tại

     

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên năm 1&2 và nhóm sinh viên năm 3&4.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 và nhóm sinh viên năm 3

     

    • năm 4 khác như sau: Nhóm sinh viên năm 3
    • năm 4, yếu tố Chủ quan ảnh hưởng mạnh đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online do P-value << 0.05. Nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, ảnh hưởng của Chuẩn chủ quan đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online không lớn, P-value = 0.054 (xấp xỉ 0.05).
    • nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, Thông tin về kinh doanh online không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.344 ( > 0.05). Nhóm sinh viên năm 3 năm & năm 4 thì thông tin có ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.046 (< 0.05).

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 hoàn toàn không ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp

    kinh doanh của 2 nhóm sinh viên năm 3 & năm 4, P-value = 0.941 ( >>0.05).

     

    • cả 2 nhóm sinh viên, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều ảnh hưởng đến
    • định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 thì yếu tố mong đợi ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online yếu hơn, do P-value = 0.02. Ở nhóm sinh viên năm 3 & năm 4 thì yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Ở nhóm còn lại thì Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.146 ( > 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu hàng tháng và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu hàng tháng. Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu như sau:

     

    • 2 nhóm này, yếu tố Thông tin về khởi nghiệp kinh doanh online đều không ảnh hưởng do P-value đều lớn hơn 0.05. Nhóm có thu nhập trên 3 triệu, trải nghiệm công nghệ 4.0 có ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng không mạnh mẽ bằng nhóm có thu nhập thấp.
    • cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ đều không tác động đến Sự tự tin, do P-value lớn hơn 0.05.

    63

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • nhóm thu nhập nhận cao hơn, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 có tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm thu nhâp thấp lại không có sự ảnh hưởng nêu trên do P-value = 0.63 ( > 0.05)

    5. Kết luận và hàm ý quản trị

     

    Kinh doanh online đang là xu hướng vì đây là mô hình kinh doanh hạn chế được nhiều chi phí cho những người bắt đầu khởi nghiệp, đồng thời mô hình kinh doanh online cũng đã có những đóng góp nhất định đến nền kinh tế. Xu hướng kinh doanh online mang ý nghĩa rất quan trọng, nếu doanh nghiệp không xuất hiện trên Internet thì xem như doanh nghiệp đánh mất lợi thế so với đối thủ. Vì vậy, vấn đề khởi nghiệp kinh doanh online đang được rất nhiều cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đã giúp phát triển nhiều ngành trong nền kinh tế, chẳng hạn như ngành lẻ, vận chuyển, giáo dục, sức khỏe, tương tác xã hội…

     

    Công nghệ 4.0 dần trở thành một khái niệm quen thuộc, với tầm quan trọng trong tương lai, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống cũng như các hoạt động kinh doanh trên toàn cầu.

     

    Ngày càng có nhiều doanh nghiệp startup thành công do áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất và vận hành, tạo nên sự khác biệt mạnh mẽ. Không chỉ xuất hiện ở các công ty công nghệ mới, xu hướng công nghệ 4.0 cũng lan tỏa sâu rộng đến những công ty sản xuất truyền thống đơn thuần, họ áp dụng thành tựu của nền công nghệ 4.0 vào hoạt động sản xuất và marketing. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh là một nghiên cứu cần thiết.

    Dự án được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu của nhóm. Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn của đề tài cung cấp những số liệu khoa học cụ thể, trong tất cả những yếu tố tác động đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, yếu tố Chuẩn chủ quan ảnh hưởng mạnh đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.616), yếu tố Nền tảng kiến thức công nghệ 4.0 ảnh hưởng mạnh đến biến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.43). Và yếu tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online với trị số cao (0.505).

     

    Theo kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ về những yếu tố tác động đến Ý định và Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online, yếu tố Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, vì vậy phải thiết kế chương trình mang đặc thù riêng cho từng giới. Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet tác động đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn. Ở cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Sinh viên khối ngành kinh tế và không thuộc ngành kinh tế: Sự khác biệt trong việc tiếp cận kiến thức, ảnh hưởng từ giảng đường đại học, vì vậy hành

     

    • khởi nghiệp kinh doanh online cũng khác nhau. Theo kết quả khảo sát, có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Ở nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Trải nghiệm công nghệ 4.0 tác động Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế. Ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh

    64

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    tế, yếu tố Thông tin công nghệ 4.0 tác động đến Mong đợi từ khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm còn lại. Ngoài ra còn thiết kế chương trình phù hợp với từng đối tượng sinh

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Việt

    viên: sinh viên năm nhất, năm hai và sinh viên năm ba, năm tư. Ở mỗi cấp sẽ có sự khác biệt rõ nét.

     

    Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi. (2013). “Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP.HCM”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 271.

     

    Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. (2007). Nghiên cứu khoa học Marketing- Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM.

     

    Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền và Mai Võ Ngọc Thanh. (2016). Nghiên cứu khoa học – Các nhân tố ảnh hưởng đến đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường Đại học, Cao đẳng ở Thành phố Cần Thơ.

     

    Nguyễn Thị Yến và cộng tác viên. (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP.HCM – Đề tài nghiên cứu Khoa học Euréka.

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học. Trong Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

     

    Dư Thị Chung. Bài giảng Nghiên cứu Marketing- chương trình đào tạo chất lượng cao và đặc biệt.

     

    Trường Đại học Tài chính- Marketing.

     

    Trần Thị Bích Đào. (2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ tại TP HCM.

     

    Tiếng Anh

     

    Ajzen. (1991). The theory of planned behaviour: Organizational behavior and human decision processes. 50(2), 179-211.

     

    Ajzen, I. &. (1975). Belief, Attitude, Intention and behaviour: An introduction to theory and research. 70-87.

     

    Benhardt, I. (1994). Comparative advantage in self-employment and paid work. Canadian Journal of Economics, 273-289.

     

    Dawson, C.Henley, A. & Latreille, P. (2009). Why do individuals choose self-employment? Institute for study of Labor (IZA), 3974.

     

    Garavan, T. N., O’Cinneide, B., (1994). Entrepreneurship education and training programs: a review and evaluation – Part 1. Journal of European Industrial Training, 18(8), 3-12.

     

    Galloway, L., Brown, W. (2002). Entrepreneurship education at university: a driver in the creation of high growth firms. Education Training, 44(8-9).

    Krueger. (1993). The impact of prior entrepreneurial exposure on perceptions of new venture feasibility and desirability. Entrepreneurship: Theory and practice, 18(1), pp.5-22.

     

    65

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Krueger, N. &. (1994). Entreupreneurial Potential and Potential Entreupreneurial. Entrepreneurship theory and practice, 18, 91-104.

    Mueller, S.(2011). Increasing entrepreneurial intention: Effective entrepreneurship course characteristics. International Journal of Entrepreneurship and Small Business, 13(1), 55–74.

     

    Shapero, A., & Sokol. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. Encyclopedia of entrepreneurship, 72 – 79.

    Link website

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học, Truy cập ngày 28/04/2018. <https://www.slideshare.net/garmentspace/nghin-cu-cc-nhn-t-nh-hng-n-tim-nng-khi-s-kinh-doanh-ca-sinh-vin-i-hc>.

     

    Hoàng Thị Thương. (2014). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Lao động – Xã hội, Truy cập ngày 29/04/2018 <https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/ Luan-van-thac-si–Cac-yeu-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-nghiep-cua-sinh-vien-truong-Dai-hoc-Lao-dong–xa-hoi-10723/>.

     

    Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Văn Long. (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khởi sự doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Truy cập ngày 29/04/2018. <http:// tapchikhcn.udn.vn/View.aspx?idbb=Cac_yeu_to_anh_huong_den_hanh_vi_khoi_su_doanh_ nghiep_vua_va_nho_tren_dia_ban_thanh_pho_Da_Nang-5859&Nam=2013&id=87>.

     

    ThS. Đỗ Thị Xuân Lan. (2014). Lý thuyết ra quyết định, Truy cập ngày 01/05/2018.

     

    <https://tailieu.vn/doc/bai-giang-chuong-1-ly-thuyet-ra-quyet-dinh-ths-do-thi-xuan-lan-1662657.

     

    html>.

     

    John T.Roger. (2016). Thuyết dự định hành vi TPB (Theory Plan of Behavior) của Aijen (1991), Truy cập ngày 01/05/2018 <https://vneconomics.com/thuyet-du-dinh-hanh-vi-tpb-theory-plan-behavior-cua-aijen-1991/>.

     

    Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn. (2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Truy cập ngày 02/05/2018 <https://123doc.org/document/3435581-cac-nhan-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-su-doanh-nghiep-cua-sinh-vien-kinh-te-da-tot-nghiep-tren-dia-ban-thanh-pho-can-tho.htm>.

     

    Sven Ove Hansson. (2015). Decision Theory, Truy cập ngày 02/05/201.

     

     

     

    66


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]