Category: Thương Mại – Marketing

  • Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Th%E1%BB%B1c-ph%E1%BA%A9m-ch%E1%BB%A9c-n%C4%83ng-Ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-v%C3%A0-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-tr%E1%BB%B1c-tuy%E1%BA%BFn-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực phẩm chức năng Người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp

    THỰC PHẨM CHỨC NĂNG: NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRỰC TUYẾN CỦA DOANH NGHIỆP

    TP.HCM, năm 2014

     

    Hình. Thực phẩm chức năng bày bán trong một nhà thuốc tự chọn (thanhnien.com.vn)

    Nội dung:

     

    • Tổng quan thị trường
    • Cơ hội và thách thức
    • Người tiêu dùng
    • Hoạt động quảng cáo trực tuyến
    • Kết luận và dự báo
    • Danh sách một số công ty

    I.   TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG

     

    Theo Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng, thực phẩm chức năng (TPCN) là sản phẩm hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại bệnh tật. Tác dụng của TPCN là có khả năng cải thiện sức khỏe và làm giảm thiểu nguy cơ và tác hại bệnh tật, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học. Nó không phải là trị liệu y học nhằm mục

    đích điều trị hay cứu chữa bệnh tật của con người. Từ năm 1999, TPCN từ các nước bắt đầu nhập khẩu chính thức vào Việt Nam. Đồng thời, do có sẵn nguồn nguyên liệu, có lịch sử lâu đời nền y học cổ truyền, có sẵn dây truyền sản xuất thuốc và đội ngũ công nhân chuyên nghiệp và trào lưu phát triển TPCN trên thế giới, các công ty dược, các cơ sở sản xuất thuốc Y học cổ truyền bắt đầu chuyển sang sản xuất TPCN. Tính đến cuối năm 2012, gần như cả ngành dược Việt Nam đã lao vào lĩnh vực TPCN, với sự tham gia của 1,781 doanh nghiệp.

     

    2   Tổng quan thị trường                                                                                        Copyright by Moore 2014

     

    Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng năm 2000 là 13 cơ sở, đến cuối 2012 là 1,552 cơ sở, với hơn 5,500 sản phẩm. Năm 2013, số cơ sở SXKD TPCN đã tăng lên 3,512 cơ sở (tăng 226% so với 2012), với 6,851 sản phẩm (tăng 124%). Trong đó, 80% sản phẩm TPCN là nhập khẩu – 20% sản phẩm sản xuất trong nước. Sản phẩm xuất khẩu đang gia tăng nhanh chóng, tăng 172% giai đoạn 2012-2013, trong khi sản phẩm sản xuất trong nước giảm 23% giai đoạn 2012-2013.

     

    Số Cơ sở SXKD TPCN                                                         Số Sản phẩm TPCN

     

     

    Hình. Số cơ sở sản xuất kinh doanh TPCN và Số lượng sản phẩm TPCN giai đoạn 2005 – 2013

     

    Nguồn: Hiệp hội TPCN Việt Nam 2014

     

    5 nguyên nhân khiến thị trường bùng phát

     

    Thứ (1) là sự bùng nổ các bệnh của xã hội công nghiệp và ô nhiễm môi trường. Thứ (2), người tiêu dùng đang hướng về một lối sống lành mạnh, quan tâm hơn đến các sản phẩm thiên nhiên và các biện pháp phòng bệnh. Thứ (3), công chúng ngày càng quan tâm hơn đến mối quan hệ giữa thực phẩm, chế độ dinh dưỡng và sức khỏe. Thứ (4), nguyên nhân quan trọng nhất, nhận thức về tầm quan trọng tự bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật liên quan đến dinh dưỡng và lối sống. Thứ

     

    (5), những kết quả nghiên cứu khoa học về lợi ích của rau quả, ngũ cốc trong phòng bệnh, các chất chống ô xy hóa và các hợp chất toàn phần của thực vật có tác dụng tốt đối với sức khỏe, theo PGS-TS Lê Văn Truyền.

     

    3   Tổng quan thị trường                                                                                        Copyright by Moore 2014

     

    Phân loại TPCN

     

    Theo PGS.TS Trần Đáng – Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam, hiện nay, ở Việt Nam, việc phân loại TPCN chủ yếu có 5 cách phân loại: theo phương thức chế biến; theo dạng sản phẩm; theo cách quản lý; theo tác dụng và một phương pháp phân loại tương đối đặc biệt áp dụng theo cách của người Nhật Bản.

     

    Phân loại theo phương thức chế biến

     

    • Nhóm sản phẩm bổ sung vitamin (vitamin C, E)
    • Nhóm bổ sung khoáng chất (calcium, magnesium, kẽm, sắt)
    • Nhóm bổ sung hoạt chất sinh học (DHA, EPA)
    • Nhóm sản phẩm được bào chế từ thảo dược (linh chi, nhân sâm).

    Phân loại theo dạng sản phẩm

     

    • Thực phẩm – thuốc (dạng viên, dạng nước, dạng bột, dạng trà, dạng rượu, dạng cao, dạng kẹo, dạng thực phẩm cho mục đích đặc biệt)
    • Thức ăn – thuốc (cháo thuốc, món ăn thuốc, món ăn bổ dưỡng, canh thuốc, nước uống thuốc).

    Phân loại theo Nhật Bản

     

    • Nhóm các sản phẩm công bố về sức khỏe: Thực phẩm dùng cho mục đích đặc biệt và nhóm sản phẩm nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng.
    • Nhóm thực phẩm đặc biệt: Thực phẩm cho người ốm; Sữa bột trẻ em; Sữa bột cho phụ nữ có thai và cho con bú; Thực phẩm cho người gia nhai nuốt khó.

    Phân loại theo chức năng tác dụng

     

    Cách phân loại này chia TPCN thành 26 dạng khác nhau: nhóm sản phẩm hỗ trợ chống lão hóa; hỗ trợ tiêu hóa; hỗ trợ giảm huyết áp; hỗ trợ giảm đái tháo đường; tăng cường sinh lực; bổ sung chất xơ; phòng ngừa rối loạn tuần hoàn não; hỗ trợ thần kinh; bổ dưỡng; tăng cường miễn dịch; giảm béo;….

     

    Phân loại theo phương thức quản lý

     

    • Phần lớn các sản phẩm TPCN thuộc nhóm bổ sung vitamin và khoáng chất không phải đăng ký chứng nhận mà chỉ cần có công bố của nhà sản xuất về sản xuất theo tiêu chuẩn do cơ quan quản lý thực phẩm ban hành.
    • Các nhóm sản phẩm TPCN khác phải được đăng ký và Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) chứng nhận và cấp phép lưu

    4   Tổng quan thị trường                                                                                        Copyright by Moore 2014

     

    II. Cơ hội và thách thức

     

    1.   Cơ hội

     

    Dân trí ngày càng được nâng cao

     

    Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cùng với đời sống, dân trí ngày một nâng cao, thì người dân cũng ngày càng có ý thức nhiều hơn với sức khỏe của mình. Nhu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe được người dân từ đó cũng gia tăng. Bên cạnh việc ăn uống hàng ngày thì theo nhiều chuyên gia cho rằng nhu cầu bổ sung các thực phẩm chức năng giàu vitamin tất yếu sẽ trở thành xu hướng tương lai; vì bên cạnh việc bổ sung các chất dinh dưỡng thì đây cũng là nguồn “vacxin” phòng những bệnh mạn tính không lây, giúp hỗ trợ chức năng các bộ phận trong cơ thể giúp nâng cao sức đề kháng giảm bớt các nguy cơ bệnh tật.

     

    Và theo thống kê của ngành y tế, số lượng TPCN đưa vào lưu thông trên thị trường có xu hướng tăng lên rất rõ rệt, cả về nhập khẩu cũng như sản xuất trong nước. Tính đến 2013, chỉ riêng số lượng danh mục sản phẩm sản xuất trong nước chúng ta đã có trên 2,300 sản phẩm chiếm khoảng 40% tổng số sản phẩm lưu hành. Với năng lực sản xuất như vậy, hàng năm nhu cầu về nguyên liệu cho sản xuất thực phẩm chức năng của Việt Nam là khoảng từ 50,000 đến 70,000 tấn.

     

    Hãng nghiên cứu thị trường Euromonitor tin tưởng rằng sự phát triển của ngành thực phẩm chức năng thời gian qua đã chỉ ra rằng thị trường này sẽ tăng trưởng một cách nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng mỗi năm lên đến 20% trong 20 năm tới. Với dân số đông thứ 3 khu vực Đông Nam Á cũng dân trí cũng như nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe đã mở ra một triển vọng vô cùng tiềm năng cho thị trường thực phẩm chức năng ở Việt Nam.

     

    Điều kiện tự nhiên

     

    Được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu cùng tính đa dạng tự nhiên sinh học cao, Việt Nam có khoảng 3,948 loài thực vật, 408 loài động vật, 75 loại khoáng vật và trên 50 loại tảo có khả năng làm thuốc. Kết hợp với nền y học cổ truyền lâu đời thì đây rõ ràng là một tiềm năng vô cùng to lớn cho ngành thực phẩm chức năng.

    5   Cơ hội và Thách thức                                                                                         Copyright by Moore 2014

     

    Nhà nước đang chú trọng phát triển công nghệ sinh học mà sinh học là cốt lõi để phát triển thực phẩm chức năng. Nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu nhập ngày càng tăng, công nghệ thông tin bùng nổ hỗ trợ trong việc quảng bá sản phẩm. TPCN rất dễ áp dụng công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, tìm ra được một loại thuốc mới rất khó nhưng nghiên cứu một loại sản phẩm TPCN lại dễ, Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất được nhiều sản phẩm TPCN, chất lượng tương đương với nước ngoài.

     

    “Tập trung nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các quy trình công nghệ sản xuất một số sản phẩm chức năng có chất lượng cao mang bản sắc đặc hữu, độc đáo kết hợp giữa nền Y học cổ truyền lâu đời của nước nhà và ứng dụng các công nghệ chiết xuất, bào chế sản phẩm tiên tiến, hiện đại trên cơ sở sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú về cây cỏ và động vật làm thuốc của Việt Nam…”- theo định hướng phát triển của Viện Thực phẩm chức năng Việt Nam VIDS trong giai đoạn 2010-2015

     

    Việt Nam chịu ảnh hưởng của xu hướng Thế giới

     

    Theo PGS-TS Lê Văn Truyền thì 70% người dân ở Mỹ thường xuyên sử dụng TPCN để phòng bệnh. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2006), thị trường TPCN ở Mỹ chiếm 35%, Châu Âu 32%, Nhật Bản 25% và phần còn lại của các nước trên thế giới là 8%. Thị trường TPCN tại Mỹ năm 2007 là 27 tỉ USD và năm 2013 được dự đoán tăng lên 90 tỉ USD. Xu thế phát triển TPCN trên thế giới và khu vực ASEAN cũng tác động mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam lẽ đương nhiên. Tính đến 2013 thì có 39 quốc gia xuất khẩu 5,518 sản phẩm thực phẩm chức năng vào thị trường Việt Nam. Trong đó các sản phẩm thực phẩm chức năng của Mỹ chiếm 18.15% thị phần TPCN ở Việt Nam, sau đó là Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc, Pháp, Malaysia, Thái Lan, Canada, Đức…

     

    2.       Thách thức

     

    Thách thức lớn nhất là nhận thức chưa đầy đủ về TPCN: từ định nghĩa, phân loại, phân biệt, tác dụng, quản lý TPCN trên thế giới và ở Việt Nam.

     

    Các quy định pháp luật về TPCN còn thiếu và chưa đầy đủ, đặc biệt là các tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định quản lý.

    6   Cơ hội và Thách thức                                                                                         Copyright by Moore 2014

     

    Các cơ sở, công ty, tổ chức, cá nhân sản xuất còn mang tính riêng lẻ, trước mắt vì lợi ích riêng của mình, chưa có sự liên kết, tổ hợp để tạo ra sức mạnh dây chuyền và bền vững.

     

    Người tiêu dùng sử dụng TPCN còn thấp, mục đích sử dụng phần lớn là để hỗ trợ chữa bệnh. Kết quả điều tra của Cục ATTP (2011) cho thấy:

     

    Người sử dụng TPCN chủ yếu là người trưởng thành đang có bệnh.

     

    Tỷ lệ sử dụng TPCN ở Hà Nội là 68.1%, ở Tp. Hồ Chí Minh là 43.0%.

     

    Thời gian sử dụng mới chỉ từ 1-12 tháng

     

    Quảng cáo TPCN còn sai phạm: Kết quả điều tra của Cục ATTP (2011) cho thấy:

     

    Cứ 10 quảng cáo trên truyền hình thì 2 quảng cáo chưa có giấy phép quảng cáo

     

    (20%).

     

     Cứ 10 quảng cáo đã có giấy phép nhưng có 5 quảng cáo còn sai về nội dung so với công bố tiêu chuẩn (50%).

     

    Một số cơ sở kinh doanh đã tổ chức đi các vùng nông thôn liên kết với hội phụ nữ, hội người cao tuổi tổ chức tuyên truyền, khám bệnh, xét nghiệm rồi bán sản phẩm với phương thức “quét” một lần, đi qua không để lại đầu mối để liên hệ. Các hoạt động này vi phạm luật khám chữa bệnh và các quy định quản lý của ngành y tế.

     

     

     

    7   Cơ hội và Thách thức                                                                                         Copyright by Moore 2014

     

    • NGƯỜI TIÊU DÙNG

     

    1. Mối quan tâm đến sức khỏe

     

     

    Hình. Mức chi tiêu cho sức khỏe của một số quốc gia

     

    (Nguồn: Nielsen, 2013)

     

    2.         Nhu cầu tiêu dùng TPCN

     

    Báo cáo về người tiêu dùng Việt Nam 2013 của Nielsen cho thấy, sau những lo ngại về nền kinh tế chưa ổn định và việc làm, sức khỏe là mối quan tâm thứ ba của người tiêu dùng Việt Nam. Nếu như năm 1995, mức chi tiêu cho sức khỏe của người dân Việt Nam chưa đến 20 USD/người/năm, thấp hơn các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Philippines, Thái Lan, thì 10 năm sau, mức chi tiêu cho sức khỏe đã tăng gần gấp 5 lần lên 80 USD/người/năm, vượt qua Indonesia và Philippines.

     

    Trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa, cuộc cách mạng công nghiệp đã dẫn tới 4 thay đổi cơ bản là: phương thức làm việc, lối sống và sinh hoạt, lối tiêu dùng thực phẩm (chủ yếu là thực phẩm chế biến) và thay đổi về môi trường. Các bệnh mạn tính phổ biến là: tiểu đường, tim mạch, ung thư, xương khớp, dị ứng, tiêu hóa, thần kinh, tăng cân béo phì, bệnh về da, hô hấp, rối loạn chuyển hóa, rối loạn thị lực … cũng từ đó mà ra.

     

    Các bệnh mạn tính không lây chưa thể phòng bệnh bằng vắc xin mà cần thực hiện bổ sung thông qua các vitamin, các vi chất dinh dưỡng, khoáng chất, các chất chống ôxy hóa (Thực phẩm chức năng). Thực phẩm chức năng (TPCN) không chỉ cung cấp dinh dưỡng cơ bản mà còn có chức năng phòng chống bệnh tật và tăng cường sức khỏe nhờ các chất chống ôxy hóa (beta-caroten, lycopen, lutein, vitamin C, vitamin E…), chất xơ và một số thành phần khác.

     

    Từ nguồn gốc bệnh mạn tính và lợi ích của TPCN có thể thấy, nhu cầu tiêu thụ TPCN ngày càng tăng cao theo sự phát triển của xã hội, những người dân thành thị có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người dân

    8   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

     

    Lợi ích của TPCN

     

    Hỗ trợ điều trị bệnh tật

    nông thôn, những người lao động trí óc (như buôn bán kinh doanh, quản lý trong các lĩnh vực kinh

     

    tế, chính trị) sẽ có nhu cầu cao hơn người lao động chân tay, những người lớn tuổi hơn sẽ có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người trẻ tuổi, nữ giới sẽ có nhu cầu cao hơn nam giới (do quan tâm về làm đẹp, sức khỏe bản thân và gia đình cao hơn).

    Tăng

    Phòng

     

    cường

    chống

    3.  Các yếu tố tác động đến người mua TPCN

    sức khỏe

    bệnh tật

     

    Số người sử dụng TPCN ngày càng tăng. Chỉ tính những người sử dụng TPCN qua kênh bán hàng đa cấp cho thấy: Năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23

    tỉnh (1.1% dân số) sử dụng TPCN. Năm 2010 đã tăng lên 5,700,000 người ở khắp 63 tỉnh, thành phố (chiếm 6.6% dân số) sử dụng TPCN. Cục An toàn thực phẩm đã điều tra (năm 2011) cho thấy ở TP. Hồ Chí Minh có 43% số người trưởng thành và ở Hà Nội có 63% số người trưởng thành sử dụng TPCN.

     

     

     

     

       

    Hình. Các yếu tố tác động đến hành vi mua sắm sản phẩm dinh dưỡng.

         

    9

    Người tiêu dùng

    Copyright by Moore 2014

         

    Nguồn: Nielsen 2013

     

    Theo nghiên cứu của Nielsen, những yếu tố quan trọng có ảnh hướng đến quyết định mua sản phẩm dinh dưỡng là “Thành phần đầy đủ dinh dưỡng”, “Giảm nguy cơ mắc bệnh”, “Giá cả phải chăng” và “Được sự chứng nhận bởi các chuyên gia y tế”.

     

    Khảo sát thị trường một số sản phẩm TPCN cho thấy, TCPN có giá từ vài trăm ngàn đồng cho đến vài triệu, khá cao so với thu nhập bình quân hàng năm của người tiêu dùng là 24 triệu đồng/năm (2013). Bên cạnh đó, TPCN không giống như thuốc, không có tác dụng tức thì, người tiêu dùng phải sử dùng nhiều lần trong khoảng thời gian nhất dài mới có tác dụng càng khiến chi phí TPCN tăng cao. Với mức giá cao như hiện nay, khả năng tiêu dùng TPCN ở những hộ gia đình có thu nhập cao sẽ cao hơn những hộ gia đình có thu nhập thấp hơn.

     

     

     

    Hình. Giá bán một số sản phẩm TPCN trên website bán hàng trực tuyến (10/2014).

     

    4. Tâm lý người tiêu dùng

     

    Người tiêu dùng hiện nay tiếp cận thực phẩm chức năng chủ yếu qua kênh bán hàng đa cấp và quảng cáo trên Internet mà tư vấn viên chính là người bán hàng. Họ trước giờ vẫn coi TPCN như là thần dược cải thiện sức khỏe, sắc đẹp vóc dáng, thậm chí còn có khả năng khắc chế đối với bệnh nan y như ung thư, viêm gan. Không ít người còn quan niệm TPCN vô hại, “không bổ âm thì cũng bổ dương”, bởi họ cho rằng TPCN vừa là thuốc chữa bệnh vừa là thuốc bổ. Theo hiệp hội TPCN, có khoảng 2/3 số người sử dụng thực phẩm chức năng là để chữa bệnh, từ máu nhiễm mỡ đến cao

    10   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    huyết áp, ung thư, xương khớp…Lý do là vì người tiêu dùng Việt Nam còn thiếu kiến thức về thực phẩm chức năng, nhiều người vẫn chưa hiểu đúng và sử dụng thực phẩm chức năng tùy tiện.

     

    Người Việt còn có tâm lý “có bệnh thì vái tứ phương” nghe ai mách gì điều làm theo nấy, nên khi bản thân hay người thân mắc bệnh, họ đã vội vàng ra quyết định, tin tưởng vào những lời quảng cáo TPCN có nội dung không phù hợp với nội dung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, thậm chí còn mua và tin dùng TCPN chỉ vì “nghe nói” từ người khác.

     

    Sản phẩm TPCN chỉ mới được biết đến rộng rãi trong vài năm trở lại đây, số lượng sản phẩm lớn, chủng loại đa dạng nên người tiêu dùng vẫn chưa quen và bị nhầm lẫn các khuyến cáo, thuật ngữ thực phẩm chức năng. Thông tin về hàng loạt sản phẩm TPCN giả, sản phẩm chưa được kiểm định đã công bố, quảng cáo nội dung không phù hợp khiến người tiêu dùng bâng khuâng khi chọn mua TPCN, có thái độ e dè, nghi ngại về chất lượng sản phẩm và tính trung thực của các quảng cáo về tác dụng của sản phẩm.

     

    5.       Vai trò của Phụ nữ

     

    Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong quyết định chi tiêu. Nhìn chung, phụ nữ Việt Nam thường lập danh sách trước khi mua sắm cũng như theo dõi quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh. Chất lượng sản phẩm tác động lớn đến sự trung thành của phụ nữ đối với một thương hiệu.

     

    Phụ nữ trong độ tuổi 30 có hành vi mua sắm bốc đồng nhất và thường xuyên sử dụng các phương tiện truyền thông, trong khi phụ nữ với tuổi trung bình là 47 có thói quen mua sắm chuẩn bị trước, có

     

    • thức về giá trị hàng hóa tốt và ưa chuộng các quảng cáo thương mại. Phụ nữ trong độ tuổi 67 là người mua sắm thường xuyên nhất và luôn đánh giá cao tầm quan trọng của truyền miệng.

    Trong gia đình, phụ nữ thường là người ra quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng. Nghiên cứu của Nielsen 2011 cho thấy, trung bình trong 100 quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng thì 71 lần người ra quyết định chính là phụ nữ. So với nam giới, phụ nữ Việt thích xem tivi, nghe nhạc, đọc báo và đi mua sắm hơn. Họ cũng quan tâm nhiều hơn đến gia đình và sức khỏe.

     

    11    Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    1. Thu nhập của người dân

     

     

     

    Hình: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam , mức chi tiêu và tiết kiệm 2011.

     

    Nguồn: Euromonitor 2013

     

    Năm 2011, Việt Nam có khoảng 88.9 triệu người, thu nhập (sau thuế) bình quân hàng năm đạt 19 triệu VND (US$ 928), tăng 3.2% so với năm 2010. Trong đó, chi tiêu tiêu dùng chiếm 96.5% thu nhập, tiết kiệm 3.5%. Euromonitor dự báo giai đoạn 2013 – 2020, nền kinh tế sẽ ổn định dần, thu nhập bình quân và chi tiêu tiêu dùng sẽ tăng với tốc độc trung bình hàng năm là 5.9% và 6.1%.

     

    Phần lớn những người giàu có ở Việt Nam rơi vào độ tuổi trung niên. Trong năm 2011, nhóm tuổi 40

     

    – 44 là nhóm có thu nhập hàng năm cao nhất Việt Nam, trung bình đạt 36.6 triệu VND (US$ 1,786), theo sau là nhóm tuổi 45 – 59 với thu nhập hàng năm đạt 35.9 triệu VND (US$ 1,753). Cơ cấu này hình là do sự thành công của những chuyên gia và nhà quản lý. Trên thực tế, hầu hết các vị trí cao trong các lĩnh vực kinh doanh và chính trị điều đang được nắm giữ bởi những người ngoài 40 tuổi.

     

    Đến năm 2020, nhóm tuổi 40 – 44 được dự báo vẫn sẽ là nhóm có thu nhập hàng năm cao nhất, đạt 61.2 triệu VND (US$ 2,937).

     

    12   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    7.         Mức độ tin tưởng vào quảng cáo

     

    Theo khảo sát người dùng Internet có độ tuổi từ 18 trở lên của công ty Vinaresearch, Báo mạng là kênh truyền thông được theo dõi thường xuyên nhất, kế đến là Các website khác báo mạng, Tivi và Các trang blog, mạng xã hội.

     

     

     

     

    Hình: Mức độ theo dõi các kênh truyền thông (%)

     

    Nguồn: Vinaresearch 9/2013

     

    Mặc dù mức độ theo dõi các kênh truyền thông Internet thường xuyên hơn nhưng người tiêu dùng tin tưởng cao hơn vào các quảng cáo trên kênh truyền thông truyền thống là Tivi, Báo giấy, Tạp chí, Radio. Nguyên nhân có thể là do những quảng cáo trên các phương tiện truyền thông truyền thống được kiểm duyệt chặt chẽ hơn so với quảng cáo trên Internet. Những quảng cáo không giấy phép, quảng cáo không đúng nội dung đã đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước, quảng cáo quá sản phẩm đăng tải trên Internet đã gây ảnh hưởng đến lòng tin người tiêu dùng.

     

    13   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

     

     

    Hình. Mức độ tin cậy vào quảng cáo theo kênh truyền thông (%)

     

    Nguồn: Vinaresearch 9/2013

     

    8.       Mua sắm trực tuyến

     

    Khảo sát của Google 2014 cho thấy, có 19% số người online có mua sắm trực tuyến, khoảng 6.8 triệu người, và 55% tìm kiếm thông tin online nhưng mua sắm offline. Thiết bị sử dụng để mua sắm online là PC/Laptop (77%), Điện thoại thông minh (14%) và Máy tính bảng (4%). 44% số người online chưa từng mua hàng trực tuyến nhưng có mong muốn mua hàng trên mạng trong vòng 12 tháng tới. Khi mua online, người mua thường cân nhắc, xem xét 1 đến 3 nhãn hiệu và nghiên cứu thông tin về sản phẩm qua Internet.

     

    Theo khảo sát của Nielsen 2013, mặt hàng được nhiều người mua trực tuyến nhiều nhất là Quần áo/ phụ kiện/giày dép/trang sức (47% người tiêu dùng), kế đến Đồ gia dụng (47%), Thiết bị di động và phụ kiện (43%), Thực phẩm và Đồ uống (39%), Đặt phòng du lịch (36%) và Mua vé (36%)

     

    Mặc dù thói quen mua sắm trực tuyến chưa thật sự phổ biến phổ biến ở Việt Nam nhưng hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới do Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua sắm.

    14   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    Khảo sát của Nielsen 2013 cho thấy, 72% người tiêu dùng cho biết họ có tìm kiếm sản phẩm qua Internet, 59% so sánh giá với các sản phẩm khác và có tới 47% mua hàng trực tuyến.

     

     

     

     

    Hình. Hành vi mua sắm trực tuyến của NTD Việt Nam (Nguồn: Nielsen 2013)

     

     

     

     

    15   Người tiêu dùng                                                                                                   Copyright by Moore 2014

     

    IV.     HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRỰC TUYẾN

     

    • Việt Nam, bác sỹ không được phép kê đơn thực phẩm chức năng trong đơn thuốc. Chính vì điều này mà lâu nay thực phẩm chức năng được nhiều cá nhân, tổ chức tự hiện quảng cáo trên webste, mạng xã hội,.. và cả kênh phân phối, tư vấn trực tiếp của những người không có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực y tế (thông qua mạng lưới bán hàng đa cấp). Cùng với sự bùng phát của các cơ sở, cá nhân kinh doanh TPCN, mức chi tiêu cho quảng cáo trực tuyến các sản phẩm TPCN những năm qua luôn đứng đầu trong các sản phẩm thực phẩm nói chung, cao hơn cả mức chi quảng cáo cho sản phẩm Sữa và Đồ uống có cồn/không cồn.

    1.           Website và quảng cáo tìm kiếm

     

     

    Brand

    Web Traffic

    Direct

    Referral

    Search

    Social

    Display

                   
     

    Aladin

    45,000

    15%

    9.5%

    75%

    0.21%

    0.25%

     

    Lô Hội

    15,000

    31%

    11.5%

    52.4%

    5.18%

    0.04%

     

    Vision

    10,000

    16,35%

    44.5%

    36%

    3.1%

    0%

     

    Herbalife

    9,000

    8%

    76%

    16%

    0.36%

    0%

     

    Dailyvita

    7,000

    47%

    13%

    39%

    0.44%

    0.45%

     

    Labwell

    3,000

    24%

    34%

    42%

    0.4%

    0%

     

    Vipteen

    4,000

    38,5%

    23.73%

    32.71%

    4.39%

    0.67%

                   

    Điểm qua thông tin website của những nhãn hàng lớn thuộc ngành thực phẩm chức năng cho thấy rằng hầu hết các nhãn hàng đều sử dụng tìm kiếm là công cụ chủ đạo mang đến lượng traffic về Website cho các nhãn hàng.

     

    Lương tìm kiếm một số từ khóa liên quan đến thực phẩm chức năng trên Gooogle.com khá lớn và phân bổ đều vào các tháng trong năm. Trên trang Google.com nhận thấy không chỉ nhà sản xuất mà cả những nhà phân phối thực phẩm chức năng cũng tăng cường khai thác hiệu quả từ Google Adwords.

     

    16   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

    Biểu đồ: Lượng tìm kiếm các từ khóa liên quan đến thực phẩm chức năng từ 10/2013 – 9/2014

     

    Không chỉ dùng quảng cáo từ khóa (Google Adwords) và tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) để thu hút lượng khách hàng đến thăm website của mình mà các doanh nghiệp còn sử dụng công cụ Google Re-marketing với mong muốn chuyển đổi lượng khách hàng quan tâm trở thành khách hàng thực hiện hành vi mua hàng.

     

    2.         Quảng cáo hiển thị

     

    Là một kênh quảng cáo vô cùng quen thuộc và được rất nhiều ngành hàng sử dụng, quảng cáo hiển thị bằng cách đặt banner trên các Website lớn như Dân Trí, Vietnamnet, VNExpress,…hoặc các chuyên trang như Ngôisao, Vneconomy, Afamily, Webtretho,… cũng được các nhãn hàng thực phẩm chức năng ưu ái lựa chọn.

     

    Nếu các banner trên báo hay những Website lớn với lợi thế về vị trí, khả năng gây ấn tượng, nhận biết cho những người dùng khi truy cập vào Website thì hệ thống Ad network cũng có những ưu thế nhất định của mình. Và đây là cũng là một lựa chọn của không ít các nhãn hàng thực phẩm chức năng.

    3.       PR Article

    Thực phẩm chức năng là sản phẩm gắn liền với sức khỏe nên người tiêu dùng có xu hướng tìm kiếm và lựa chọn sản phẩm kỹ hơn so với các sản phẩm thông thường. Do đó, nếu banner là bước đầu tiên gây ấn tượng với người tiêu dùng, tìm kiếm về các thông tin của sản phẩm là bước tiếp theo thì

    17   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

    các bài PR trên các chuyên trang uy tín sẽ là bước tiếp theo để tạo niềm tin sâu sắc hơn cho người tiêu dùng về sản phẩm.

     

    Search

     

     

    Người tiêu dùng xem bài viết có nội dung về

     

    hoạt chất Lepidium Meyenii

     

     

    Kết quả tìm kiếm với từ khóa Lepidium Meyenii

     

    cho kết quả là sản phẩm Sâm Angela

     

    Bài PR đôi khi được kết hợp với quảng cáo trên trang tìm kiếm. Các nội dung đăng tải trên báo điện tử sẽ là nguyên liệu để thực hiện tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, đưa thông tin của doanh nghiệp lên trang đầu tiên trong dãy kết quả tìm kiếm. Đồng thời, sử dụng các từ khóa chính được lập lại nhiều lần trong các nội dung (ví dụ: Lepidium Meyenii, UC-II,…) để quảng cáo theo từ khóa (Google Adwords).

     

    4.       Social media

     

    Với mạng xã hội thì hầu hết các nhãn hàng đều lựa chọn cho mình kênh Facebook để kết nối và tương tác với người tiêu dùng.

     

     

    18   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

    Brand

    Fanpage

    Lượng Fan

         

    Aladin

    Aladin.com.vn

    3,600

    Lô Hội

    Công ty Lô Hội

    22,000

    Vision

    Vision Việt Nam

    2,000

    Herbalife

    Herbalife (page chung)

    2,100,000

    Dailyvita

    Dailyvita.vn

    4,900

    IMC

    IMC Garden (Profile)

    1,121

    Labwell

    Lab WELL

    2,000

    Plan Do See

    Plan Do See Việt Nam

    3,100

    Vina-link

    Vina-link Group

    1,400

    Thiên Sư

    Thực phẩm chức năng Thiên sư

    166

    Giai Cảnh

    Công ty TNHH Giai Cảnh

    150

    Vipteen

    Vipteen Vinh Gia

    7,776

    Bảng: Thống kê lượng Fan của các nhãn hàng thực phẩm chức năng, 10/2014

     

    Mặc dù vẫn có mặt trên mặt trận Facebook nhưng hoạt động trên Fanpage Facebook của các nhãn hàng thực phẩm chức năng không sôi động và được chăm chút như một số ngành hàng khác. Nhìn chung, lượng tương tác trên Fanpage của các doanh nghiệp trong ngành hàng này không cao.

     

    5.       Case study: Thiên Bảo Tiền Liệt Khang

     

    Thiên Bảo Tiền Liệt Khang là một thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị và giảm bớt những triệu chứng khó chịu của bệnh Phì đại tiền liệt tuyến, một bệnh ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và là bệnh của nam giới.

     

     

    19   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

     

     

    Thiên Bảo Tiền Liệt Khang do Công ty dược phẩm Đông Á phân phối và tiếp thị. Sản phẩm có website riêng (tienlietkhang.com), được thiết kế bắt mắt, các dấu hiệu nhận diện thương hiệu đồng bộ. Đây là nơi công ty cung cấp thông tin xoay quanh đến bệnh phì đại tiền liệt tuyến, thông tin về sản phẩm và các giải pháp phòng ngừa, điều trị, tư vấn chuyên gia.

     

    Thiên Bảo Tiền Liệt Khang được định vị là nhãn hiệu hỗ trợ điều trị bệnh phì đại tiền liệt tuyến bán chạy nhất tại Mỹ, sản phẩm có chất lượng cao, có thể giảm bớt các triệu chứng rối loạn tiết niệu, giảm phì đại tiền liệt tuyến.

     

    Đối tượng mục tiêu là nam giới, những người bị bệnh phì đại tiền liệt tuyến hoặc những người trong độ tuổi mãn dục, có nguy cơ mắc bệnh cao.

     

    20  Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

     

     

     

    Hình. Quảng cáo Tiền Liệt Khang trên Vneconomy.vn

     

    Phương tiện truyền thông trực tuyến cho Tiền Liệt Khang là các trang tin tức điện tử có lượng truy cập lớn, uy tín, có nội dung liên quan đến Tin tức tổng hợp, Gia đình – sức khỏe – đời sống vợ chồng, Kinh tế – tài chính. Ngoài ra, còn có mạng xã hội Facebook, mạng chia sẻ video Youtube và trang tìm kiếm Google.

     

    Hình thức quảng cáo trên trang tin điện tử là Boxapp, quảng cáo ứng dụng, có kích thước lớn, có thể chèn nhiều thông tin, hình ảnh, box tư vấn, thích hợp cho những sản phẩm cần cung cấp nhiều thông tin như Tiền Liệt Khang và thực phẩm chức năng nói chung.

     

    Facebook chính thức của Thiên Bảo Tiền Liệt Khang được thành lập vào tháng 5/2014, hiện có 40 người hâm mộ. Công ty không sử dụng các công cụ quảng cáo nhằm tăng số lượng người hâm mô cũng như quảng cáo bài viết.

     

    21   Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

     

     

     

    Sản phẩm Thiên Bảo Tiền Liệt Khang nằm trong top 3 kết quả tìm kiếm trên Google.com với từ khóa “Tiền liệt tuyến”. Khối lượng tìm kiếm liên quan đến tiền liệt tuyến tương đối lớn, khoảng 3,000 lượt/tháng, do đó, Google.com là kênh hiệu quả để quảng cáo sản phẩm.

     

     

     

     

    22  Hoạt động Quảng cáo trực tuyến                                                                 Copyright by Moore 2014

     

    1. KẾT LUẬN VÀ DỰ BÁO

     

    1. Kết luận

    Trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa, cuộc cách mạng công nghiệp, các bệnh mạn tính không lây bùng phát và chưa thể phòng bệnh bằng vắc xin khiến nhu cầu tiêu thụ TPCN ngày càng tăng cao. Số người sử dụng TPCN ngày càng tăng. Chỉ tính những người sử dụng TPCN qua kênh bán hàng đa cấp cho thấy: Năm 2005 có khoảng 1 triệu người ở 23 tỉnh (1.1% dân số) sử dụng TPCN. Năm 2010 đã tăng lên 5,700,000 người ở khắp 63 tỉnh, thành phố (chiếm 6.6% dân số) sử dụng TPCN.

     

    Thực phẩm chức năng (TPCN) là sản phẩm hỗ trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại bệnh tật. Nó không phải là trị liệu y học nhằm mục đích điều trị hay cứu chữa bệnh tật của con người. Số lượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng năm 2000 là 13 cơ sở, đến cuối 2012 là 1,552 cơ sở, với hơn 5,500 sản phẩm. Năm 2013, số cơ sở SXKD TPCN đã tăng lên 3,512 cơ sở (tăng 226% so với 2012), với 6,851 sản phẩm (tăng 124%). Trong đó, 80% sản phẩm TPCN là nhập khẩu – 20% sản phẩm sản xuất trong nước. Thách thức lớn nhất cản trở thị trường TPCN phát triển là nhận thức chưa đầy đủ về TPCN: từ định nghĩa, phân loại, phân biệt, tác dụng, quản lý TPCN trên thế giới và ở Việt Nam. Bên cạnh đó là Quảng cáo TPCN còn sai phạm, nội dung chưa đúng với nội dung đã công bố, gây mất lòng tin cho người tiêu dùng.

     

    Trong gia đình, phụ nữ thường là người ra quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng. So với nam giới, phụ nữ Việt thích xem tivi, nghe nhạc, đọc báo và đi mua sắm hơn. Họ cũng quan tâm nhiều hơn đến gia đình và sức khỏe. Những yếu tố quan trọng có ảnh hướng đến quyết định mua sản phẩm dinh dưỡng là “Thành phần đầy đủ dinh dưỡng”, “Giảm nguy cơ mắc bệnh”, “Giá cả phải chăng” và “Được sự chứng nhận bởi các chuyên gia y tế”.

     

    TPCN dùng cho các bệnh mạn tính không lây, thường gặp ở những người sống trong môi trường áp lực cao, ít vận động, ô nhiễm, thường sử dụng thực phẩm chế biển sẳn, thực phẩm bảo quản. Điều này dẫn đến sự khác biệt trong nhu cầu tiêu thụ TPCN giữa các nhóm: những người dân thành thị có nhu cầu tiêu thụ TPCN cao hơn người dân nông thôn, những người lao động trí óc (như buôn bán

    23  Kết luận & Dự báo                                                                                               Copyright by Moore 2014

     

    kinh doanh, quản lý trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị) sẽ có nhu cầu cao hơn người lao động chân tay, những người lớn tuổi hơn sẽ có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người trẻ tuổi, nữ giới sẽ có nhu cầu cao hơn nam giới (do quan tâm về làm đẹp, sức khỏe bản thân và gia đình cao hơn), những hộ gia đình có thu nhập cao sẽ có nhu cầu cao hơn những hộ gia đình có thu nhập thấp hơn.

     

    Người tiêu dùng hiện nay tiếp cận thực phẩm chức năng chủ yếu qua kênh bán hàng đa cấp và quảng cáo trên Internet mà tư vấn viên chính là người bán hàng. Họ trước giờ vẫn coi TPCN như là thần dược cải thiện sức khỏe, sắc đẹp vóc dáng, thậm chí còn có khả năng chữa bệnh. Lý do là vì người tiêu dùng còn thiếu kiến thức về thực phẩm chức năng, nhiều người vẫn chưa hiểu đúng và sử dụng thực phẩm chức năng tùy tiện.

     

    1. Dự báo

    Nhìn nhận một cách khách quan, sự phát triển của thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam không phải chỉ là một hiện tượng bùng phát nhất thời, mà đó chính là những dấu hiệu của xu hướng tương lai khi mà thực phẩm chức năng giàu vitamin tất yếu sẽ trở thành một trong những nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá và là “vắc-xin” phòng những bệnh mạn tính (còn gọi là mãn tính) không lây, theo PGS. TS. Trần Đáng – Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam.

     

    Theo công ty nghiên cứu thị trường Euromoniter International, thị trường thực phẩm chức năng ở Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới, trên 20%/năm, cao hơn mức tăng trưởng trung bình thế giới là 15%/năm. Top 10 sản phẩm TPCN được người tiêu dùng Việt quan tâm nhiều nhất là sản phẩm dành cho trí nhớ, sản phẩm tổng hợp, làm đẹp, xương, mãn dục, khớp, hệ miễn dịch, sức khỏe đôi mắt, sức khỏe tình dục, trái tim. Đồng thời, khuynh hướng tiêu dùng của người Việt càng ngày càng “hướng về thiên nhiên” nhiều hơn.

     

     

    24  Kết luận & Dự báo                                                                                               Copyright by Moore 2014

     

    Phụ lục. Các công ty Thực Phẩm Chức Năng

     

    STT   Công ty                                                 Hỗ trợ                                           Nhãn hiệu

     

    Ung thư, Xương khớp              Tâm Lan

     

    Cân nặng, Lão hóa                   Slim, Reviv

     

    Tim mạch, Xương khớp          Herbalife

     

    Spivital

     

    Tiêu hóa, Ung thư                     Triso, Ancan, Gióng

     

    Tiêu hóa, Xương khớp            An Nguyệt Linh, Omixton

     

    Hệ miễn dịch, Tiêu hóa          Genecel, Kidsmune, Man-link

     

    Cân nặng, Tim mạch               Agri+, Vitolize, CardioHealth

     

    Cân nặng, Trí nhớ                     Dokyo, Dohacin, Dosaka

     

    Tiêu hóa, Hô hấp                      Vương Bảo, Vegeplus

     

    Gan, Tim mạch                           Varicause, Picoman

     

    Giảm cân, Xương khớp,          Labwell

     

    Tim mạch, Xương khớp          Thiên Sư, Orecare

     

    Tim mạch, Cân nặng               Vision

     

    Cân nặng, Tiểu đường            Neocell, Uloric, Schiff

     

    Lão hóa, Sinh lực                       Hanamai, Nutricep, Aloha

     

    Sinh lực, Làm đẹp                     Burn 60, Aloe Vera, Prenatal

     

    Làm đẹp, Lão hóa                     Luminesce, AM

     

    Xương khớp, Làm đẹp            Agels, Miracle

     

    Tim mạch, Đái tháo                  Vạn Lý Hành, Thanh Đường

     

    đường                                            An

     

    Xương khớp, Lão hóa              Pure, My-C, Alove, Vita

     

    Tiêu hóa, Xương khớp            Tametop, Ergomin, Lacto

     

    Tiêu hóa, Thần kinh                 Becoginsen, Oresol

     

    Làm đẹp, Cân nặng                  Placenta, Aojiru

     

    Copyright by Moore 2014

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    News:

     

    Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng, http://vads.org.vn/

     

    Công Thăng – Bạch Dương (2014), Bùng nổ kinh doanh thực phẩm chức năng, vì sao?, http://news.zing.vn/Bung-no-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang-vi-sao-post444923.html

     

    Linh Chi, 5 cách phân loại thực phẩm chức năng, http://healthplus.vn/5-cach-phan-loai-thuc-pham-chuc-nang-d4210.html

     

    Thùy Minh (2013), Khó phát triển ngành thực phẩm chức năng vì còn rào cản, http://vnmedia.vn/VN/kinh-te/tin-tuc/26_1729033/kho_phat_trien_nganh_thuc_pham_chuc_nang_vi_con_rao_can.html

     

    Trung tâm dược liệu (2013), Tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu việt nam, http://www.trungtamduoclieu.com/2013/02/hinh-anh-hoat-ong.html

     

    Võ Khối (2013), Bùng nổ’ thực phẩm chức năng, http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131130/bung-no-thuc-pham-chuc-nang.aspx

     

    Vương Linh (2013), Nhiều người sai khi dùng thực phẩm chức năng để chữa bệnh, http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/nhieu-nguoi-sai-khi-dung-thuc-pham-chuc-nang-de-chua-benh-2843013.html

     

    Report:

     

    Trần Đáng (2014), Số liệu thị trường TPCN 2000 – 2013, http://vads.org.vn/

     

    Cục An toàn thực phẩm, Hướng dẫn quản lý thực phẩm chức năng, http://vfa.gov.vn/

     

    Hiệp hội Thực Phẩm Chức Năng (2013), Chiến lược phát triển thực phẩm chức năng giai đoạn 2013 – 2020 và tầm nhìn 2030, http://vads.org.vn/

     

    Nielsen (2013), Vietnam Grocery Report 2013,

     

    http://www.nielsen.com/content/dam/nielsenglobal/vn/docs/Reports/2014/grocery-report-2013.pdf

     

    Vinaresearch (2013), Nghiên cứu ảnh hưởng của chương trình quảng cáo – khuyến mãi, http://vinaresearch.net/ (Và một số nguồn tham khảo khác)

     

     

    Copyright by Moore 2014

     

    LỜI NGỎ

     

    Các thông tin và nhận định trong báo cáo được thu thập và phân tích dựa vào các nguồn thông tin có sẵn, hợp pháp và tin cậy mà nhóm thực hiện có được trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, số liệu nghiên cứu có thể sai khác với số liệu mà quý vị có. Điều này xuất phát từ nguồn dữ liệu hoặc phương pháp thống kê của chúng tôi với những báo cáo của quý vị.

     

    Nếu quý vị có những thông tin tin cậy, hợp pháp và phù hợp với cấu trúc nội dung của bài báo cáo vui lòng góp ý với chúng tôi bằng cách gửi thông tin đến địa chỉ [email protected] để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn trong những báo cáo tiếp theo.

     

    Để cập nhật thường xuyên những báo cáo và nhận định về các ngành khác, vui lòng truy cập website moore.vn và đăng ký nhận Bản tin, chúng tôi sẽ gửi cho quý vị ngay khi các báo cáo được hoàn thiện.

     

    Nhóm thực hiện

     

     

     

     

     

    Copyright by Moore 2014


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BA%BFm-ti%E1%BB%81n-th%E1%BA%ADt-100-tr%C3%AAn-m%E1%BA%A1ng-v%E1%BB%9Bi-Cashfiesta-B%E1%BA%A3n-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-chi-ti%E1%BA%BFt-nh%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiếm tiền thật 100% trên mạng với Cashfiesta (Bản hướng dẫn chi tiết nhất)

    KIẾM TIỀN THẬT 100% TRÊN MẠNG VỚI CASHFIESTA (bản hướng dẩn chi tiết nhất)

    (1/1)

    SERPANT18:
    KIẾM TIỀN THẬT 100% TRÊN MẠNG VỚI CASHFIESTA (bản hướng dẩn chi tiết nhất)

    CASHFIESTA được đánh giá là một trong những chương trình kiếm tiền trên mạng trên mạng nổi tiếng nhất, đây là chương trình trả nhiều tiền nhất cho các thành viên tham gia. Trung bình trên một thành viên CASHFIESTA chi trả khoảng 90 USD/tháng và rất nhiều thành viên của CASHFIESTA dễ dàng kiếm được 500-600 USD/tháng.

    1. Vậy tại sao Cashfiesta lại trả tiền cho mình ? Cashfiest lấy tiền ở đâu để thanh toán cho chúng ta ?

    Cashfiesta trả tiền cho mình vì mình chấp nhận cho chương trình Cashfiesta để một góc quảng cáo trên màn hình máy tính của mình mỗi khi mình lên Internet. Trên góc quảng cáo này sẽ thấy các mẫu quảng cáo của các công ty, các casino, các cửa hàng và chính các công ty này sẽ trả tiền để được quảng cáo trên Cashfiesta, còn Cashfiesta trả tiền cho mình để mình xem các quảng cáo đó. Mình thấy cách kiếm tiền này cũng thú vị và muốn giới thiệu chương trình này để mọi người kiếm tiền chung với mình. Cũng thú thật là nếu các bạn tham gia chung thì mình cũng được lợi rất nhiều, tại sao mà mình được lợi thì các bạn đọc ở dưới sẽ hiểu rõ. Mình cũng nói trước với các bạn là cách kiếm tiền này tuy dễ nhưng thật cũng không quá dễ dàng mà đòi hỏi các bạn phải kiên nhẫn, người ta không tự nhiên trả tiền cho mình phải không các bạn, để có được thu nhập 100-1000 USD thì các bạn cũng phải tích cực và kiên nhẫn..

    2. Ban có thể kiếm được bao nhiêu tiền từ CASHFIESTA ?

    *Có 2 cách để kiếm tiền khi sử dụng chương trình này: 
    – Cách 1 là bạn tự sử dụng một mình và được trả tiền sử dụng. (Kiếm Được 90USD/tháng)
    – Cách 2 là giới thiệu thật nhiều người khác sử dụng chương trình và hưởng thêm hoa hồng. 
    Phân cấp hoa hồng của Cashfiesta như sau:
    Giờ sử dụng trung bình một ngày: 1 giờ/ ngày, mỗi người sử dụng sẽ giới thiệu 3 người khác.
    – 3 người: cấp 1 hưởng 15%
    – 3–> 9 người: cấp 2 hưởng 7%
    – 9–> 27 người: cấp 3 hưởng 5%
    – 27–> 81 người: cấp 4 hưởng 4%
    – 81–> 243 người: cấp 5 hưởng 3%
    – 243–> 729 người: cấp 6 hưởng 2%
    – 729–> 2187 người: cấp 7 hưởng 1%
    – 2187–> 6561 người: cấp 8 hưởng 1%
    Bạn phải kết hợp cả 2 cách để kiếm tiền hiệu quả nhất. (Kiếm Được trên 500 USD/tháng)

    Chương trình Cashfiesta sẽ trả cho các bạn mỗi giờ sử dụng internet khoảng cao nhất 15.000đ. Thực ra phần tiền khi chúng ta sử dụng trực tiếp các chương trình này không cao, chỉ được vài chục USD một tháng, nhưng phần tiền huê hồng khi giới thiệu người khác rất hấp dẫn.

    Hiện tại theo mình biết chính xác thì Cashfiesta trả cho trung bình cho tất cả các thành viên trên khắp thế giới mỗi người khoảng 90 USD/Tháng. Rất nhiều người đã tạo cho mình được thu nhập khoảng 500-600 USD/tháng nhờ tiền huê hồng chỉ riêng với chương trình Cashfiesta. 

    3. CASHFIESTA thanh toán tiền cho chúng ta như thế nào?

    Chương trình này thanh toán tiền mặt bằng cách gửi séc(check) tới tận nhà. 
    Cashfiesta chịu trả tiền cho các bạn như vậy thì tại sao vẫn có ít người sử dụng? Vì ở Việt Nam phần lớn không biết đến các chương trình này cũng như chưa tin tưởng,họ nghĩ là nó ko trả tiền cho mình và cứ kêu là trang SCAM.,chỉ vì họ ko đủ kiên nhẫn chỉ muốn kiếm được tiền ngay mà ko phải bỏ công sức thật quá sai lầm. Nếu bạn là những người đi đầu sẽ có nhiều cơ hội giới thiệu đến người khác chưa biết và khi bạn giới thiệu được nhiều người thì bạn đã tạo được cho mình một hệ thống kiếm tiền cho riêng bạn để khỏi lo về việc cạn túi vì nếu thất nghiệp cũng có Cashfiesta ”Chu Cấp” cho bạn hàng tháng .Hãy tạo cho mình một hệ thống tự động kiếm tiền, các bạn ơi nhanh lên nhé! Mình sẽ hướng dẫn cho các bạn một cách chi tiết, nhớ làm từng bước đúng như mình hướng dẫn thì sẽ sử dụng được một cách chính xác và hoàn hảo để tránh trường hợp nhầm lẫn nhé,nhớ đừng đăng kí nhiều tài khoản để kiếm tiền cùng 1 lúc nhé,rất dễ bị fake IP đó, đây là kinh nghiệm của mình.
    Bạn không tin hãy thử 1 lần đi, cũng chẳng mất gì mà. Tôi sẽ chỉ cho bạn tất cả. Để có thể kiếm được trên 50 USD mỗi tháng bạn hãy làm theo các bước sau.

    4. Đăng ký làm thành viên như thế nào http://www.cashfiesta.com/php/join.php?ref=sallydiemngoc
    – Authentication Information

    Login: bạn tự chọn, vd: chocobo ( bạn phải nhớ tên sử dụng mà bạn chọn để lần sau có thể đăng nhập vào hệ thống để kiểm tra)
    Password: bạn tự đặt, ít nhất 6 ký tự
    Verify password: xác nhận lại Password bạn vừa đặt
    – First, tell us where we can send your checks
    First name: Họ và tên đệm
    Last name: ghi tên thật ( Bạn phải ghi rõ họ tên thật, vì thông tin này rất cần thiết khi nhận tiền)
    Street address: ghi địa chỉ nhà, vd số 9779 đường XYZ Quận ABC TP.HCM ( nhớ ghi địa chỉ thật, để CASHFIESTA chuyển SEC nhận tiền )
    City: ghi tên thành phố, VD: Ho Chi Minh, Ha Noi
    Zip/postal code : mã vùng, nếu ở HCM ( hoặc các tỉnh phía Nam) thi ghi là
    70000, nếu bạn ở miền Bắc hay Hà Nội thì ghi là 10000, Huê là  47000 (xem nhớ điền thêm 3 số 0 vào Cho đủ 5 số nhé).
    An Giang 94000,Vũng Tàu 74000, Bạc Liêu 99000, Bắc Kạn 17000, Bắc Giang 21000, Bắc Ninh 16000, Bến Tre 83000, Bình Dương 72000, Bình Định 53000, Bình Phước 77000, Bình Thuận 62000, Cà Mau 96000, Cao Bằng 22000, Cần Thơ – Hậu Giang 92000, Đà Nẵng 59000, ĐắkLắk – Đắc Nông 55000, Đồng Nai 71000, Đồng Tháp 93000, Gia Lai 54000, Hà Giang 29000, Hà Nam 30000, Hà Nội 10000, Hà Tây 31000, Hà Tĩnh 43000, Hải Dương 34000, Hải Phòng 35000, Hoà Bình 13000, Hưng Yên 39000, Hồ Chí Minh 70000, Khánh Hoà 57000, Kiên Giang 95000, Kon Tum 58000, Lai Châu – Điện Biên 28000, Lạng Sơn 20000, Lao Cai 19000, Lâm Đồng 61000, Long An 81000, Nam Định 32000, Nghệ An 42000, Ninh Bình 40000, Ninh Thuận 63000, Phú Thọ 24000, Phú Yên 56000, Quảng Bình 45000, Quảng Nam 51000, Quảng Ngãi 52000, Quảng Ninh 36000, Quảng Trị 46000, Sóc Trăng 97000, Sơn La 27000, Tây Ninh 73000, Thái Bình 33000, Thái Nguyên 23000, Thanh Hoá 41000, Thừa Thiên Huế 47000, Tiền Giang 82000, Trà Vinh 90000, Tuyên Quang 25000, Vĩnh Long 91000, Vĩnh Phúc 11000, Yên Bái 26000
    bạn có thể vào địa chỉ  sau để tham khảo http://danhba.vdc.com.vn/tracuu/danhba/mavungdt.asp 

    State: not select , không cần chọn, chỉ dùng cho công dân MỸ
    Province : ghi tên tỉnh, ở tỉnh nào thì ghi tên tỉnh đó.
    Country: Viet Nam
    Email address: ghi dia chi email, ( nhớ ghi đúng địa chỉ e-mail của mình) 
    Verify Email address : ghi lại địa chỉ email.

    – Now, please tell us more about yourself

    Year of birth: năm sinh
    Gender: male ( nam ) female (nữ)
    Education: chọn mục nào cũng được
    Annual household income: less than $ 20000
    Industry: chọn mục nào cũng được
    Title: chọn mục nào cũng được
    Additional Information: đánh dấu hết tất cả các mục
    – Payment Information: hình thức thanh toán tiền
    Preferred check size : chon 50$
    – Đánh dấu vào mục I have read and understand the Member Agreement
    – Nhan vao Submit Registration để hoàn tất .
    Nếu bạn thực hiện đầy đủ các bước ơ trên trang chủ sẽ hiện lên dòng chữ Congratulation. Ngược lại bạn phải kiểm tra lại các thông tin bạn đã điền (chỗ nào chưa đúng thì nó sẽ được tô màu đỏ).

    5.Làm thế nào để lấy chương trình CASHFIESTA?

    Sau khi đã hoàn tất việc đăng ký bạn vào trang web CASHFIESTA, vào mục members
    nhập username và password vào để đăng nhập, khi đã vào được trang web ban kiếm
    hàng chữ Download CASHFIESTA và nhấn chuột vào đó để download CASHFIESTA về.hay
    là click vao link sau http://www.cashfiesta.com/download/y/FiestaBarInstall.exe để download về máy.

    **************************************************
    HƯỚNG DẪN CÁCH SỬ DỤNG CHƯƠNG TRÌNH CASHFIESTA

    ************************************************** 
    Khi bạn vào CASHFIESTA sẽ có 1 thanh quảng cáo hiện lên ở phía trên cùng màn hình và trang web của CASHFIESTA ở phía dưới, bạn có thể tắt trang web này đi, chỉ cần thanh CASHFIESTA chạy là đủ. Trên thanh quảng cáo CASHFIESTA có 1 chú bế đội mũ, mặc quần xanh đang ngồi, ban rê chuột vào là chú bé đứng dậy và đi bộ, như vậy có ngĩa là chương trình đang hoạt động và điểm cua bạn sẽ tăng, nếu
    chú bé đứng đi bộ và ngồi xuống thi bạn phải rê chuột vào để nó đứng dậy đi tiếp. 
    Ô kế bên POINTS là ô tính điểm của bạn, mỗi một giờ trên internet điểm sẽ tăng khoảng 600 điểm ( 1000 điểm được tối đa 1,666 USD) Tiếp theo là ở ô REFERAL là ô hiện số người bạn giới thiệu được . Ô kế bên là SETTING là ô để chỉnh sửa chương trình CASHFIESTA. Bạn muốn coi mình. được bao nhiêu điểm thì vào SETTING/ACCOUNT/BALANCE.

    (1) Tôi ra máy ngoài dịch vụ internet có sử
    dụng CASHFIES dụng được không?

    Được, nếu máy ngoài dịch vụ không cài sẵn chương trình thì bạn chỉ cần vào CASHFIESTA và download chương trình về cài vô máy là xong ( chỉ mất khoảng 1 phút ).

    (2) Có phải CASHFIESTA sẽ trả tôi 1,666 USD
    cho 1000 điểm không ?

    Đúng với điều kiện bạn là thành viên của câu lạc bộ vàng GOLD CLUB của CASHFIESTA. Khi bạn chưa là thành viên của GOLD CLUB thì CASHFIESTA sẽ trả tiền cho bạn theo 6 cấp tùy vào số ĐĂNG KÝ ĐẶC BIỆT ( Special offer ) mà bạn đặt được, các Special offer này để chứng tỏ bạn có tham gia và quan tâm tới CASHFIESTA .
    1/0 Specialoffer :1.000 diểm =0.01 $
    2/1 Specialoffer: 1.000 diểm =0.04 $
    3/2 Specialoffer: 1.000 diểm =0.333 $
    4/3 Specialoffer: 1.000 diểm =0.50 $
    5/4 Specialoffer: 1.000 diểm =0.66 $
    6/5 Specialoffer: 1.000 diểm =0.83 $
    7/6 Specialoffer: 1.000 diểm =1$
    8/ GOLD CLUB : 1.000 diểm =1.666$
    (3) Làm cách nào tôi đặt được các SPECIAL
    OFFER?

    Rất đơn giản, bạn vào trang chủ CASHFIESTA, đăng nhập vào account của mình, nhấn chuột vào phần SPECIAL OFFER, bạn sẽ thấy rất nhiều ô quảng cáo nhỏ ở trong trang web, hãy lựa các SPECIAL OFFER cho phép đăng ký FREE và trên toàn thế giới WORLD, bạn chỉ cần nhấn chuột vào đó, một trang web khác sẽ mở lên, bạn vào đó và đăng ký thành viên của trang web đó thì coi như bạn đã được 1 SPECIAL OFFER ( lưu ý khi đăng ký bạn phải đăng ký lúc đang chạy chương trình CASHFIESTA và quan trọng là phải khai báo địa chỉ email giống như khai báo email với CASHFIESTA Nếu không sẽ không được tính).

    (4) Tôi đã đăng ký SPECIAL OFFER làm sao biết mình có bao nhiêu cái?

    Bạn có thể vào account của mình và nhấn vào phần SPECIAL OFFER DONE , nhưng lưu ý rằng kể từ khi đăng ký SPECIAL OFFER thì khoảng 2 đến 4 tuần sau CASHFIESTA mới kiểm tra được và xác nhận SPECIAL OFFER của mình, và đó cũng là lý do tại sao CASHFIESTA thanh toán tiền cho chúng ta trong vòng 30 ngày kể từ khi đạt được 50$.

    (5) Làm thể nào để trở thành thành viên của GOLD CLUB?

    Muốn trở thành thành viên của GOLD CLUB bạn phải có được 3 điều kiện sau : đăng ký được 6 SPECIAL OFFER , kiếm được 10.000 điểm thưởng từ các SPECIAL OFFER và đạt được 133 GPS.

    (6) Làm sao kiếm được điểm GPS (Gold Club Point) ?

    Mỗi ngày bạn sử dụng CASHFIESTA khoảng 30 phút sẽ được 1 GPS, mỗi ngày nếu các thành viên của bạn sử dụng CASHFIESTA và đem lại cho bạn 100 points thi bạn được thêm 1 GPS , ngoài ra cuối tháng CASHFIESTA sẽ cộng cho bạn tối đa 15 GPS đưa vào số thành viên mới do bạn giới thiệu, CASHFIESTA sẽ cộng thêm15 GPS cho bạn đưa vào tổng thời gian các thành viên của bạn sử dụng CASHFIESTA.Trung bình 1 tháng bạn sẽ kiếm được 100 GPS.

    (7) Tại sao hết tháng thì points lại nhảy về số 0?

    Bạn đừng lo cuối tháng CASHFIESTA sẽ quyết toán 1 lần và lưu lại điểm cho bạn, đưa vào số SPECIAL OFFER của bạn để thanh toán tiền cho bạn, khi đó bạn sẽ thấy số tiền của bạn hiện lên trong ô tháng trước.

    (8) Bao giờ thì CASHFIESTA thanh toán tiền cho
    tôi?
    Khi nào trong toài khoản của bạn có dư 50 $ thì nút PAYMENT REQUEST sẽ hiện lên, bạn nhấn vào nút đó để yêu cầu thanh toán tiền, trong vòng từ 2-4 tuần thì tiền sẽ đến Việt Nam ( trừ đi 2$ tiền phí chuyển tiền).

    Nhanh lên các bạn ơi, hãy click vào đây để đăng ký ngay lập tức
    http://www.cashfiesta.com/php/join.php?ref=sallydiemngoc

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qua-m%E1%BA%A1ng-Internet.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nghiên cứu thị trường qua mạng Internet

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    48

       

    NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG

    QUA MẠNG INTERNET

     

    Dương Thị Phương Chi

    Renaissance International School Saigon

     

    Tóm tắt:

     

    Trình bày khái quát về hoạt động nghiên cứu thị trường qua mạng internet. Giới thiệu tiêu chí đánh giá, phương thức tăng cường ứng dụng nghiên cứu thị trường qua mạng trong hoạt động thư viện – thông tin.

     

    1. Nghiên cứu thị trường qua mạng: hình thức và phương pháp thực hiện

     

    Nghiên cứu thị trường qua mạng là quá trình khảo sát để tìm hiểu cơ hội kinh doanh của một sản phẩm, dịch vụ trong những khoảng thời gian nhất định, ở những thời điểm nhất định nhằm tìm ra phương hướng, chiến lược kinh doanh thích hợp với thị trường và mang lại hiệu quả cao cho tổ chức thông qua mạng internet. Quá trình nghiên cứu thị trường này thực chất là quá trình thu thập số liệu, thông tin có liên quan đến thị trường như đâu là thị trường tiềm năng của tổ chức, sản phẩm/dịch vụ nào của tổ chức cần có những thích ứng gì đối với đòi hỏi của thị trường, phương thức cung cấp nào là phù hợp với loại thị trường này, đối thủ cạnh tranh của tổ chức là những ai trên thị trường,… để phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm rút ra những kết luận khoa học giúp cho tổ chức hoạt động đúng hướng, hoạt động có hiệu quả cao trước mọi biến động của thị trường.

     

    Hình thức nghiên cứu thị trường qua mạng gồm có:

     

    –  Sử dụng các bảng câu hỏi tích hợp vào các website để thu thập thông tin;

     

    – Thực hiện phỏng vấn sâu theo nhóm qua mạng trong các forum, chatroom hoặc netmeeting;

     

    –  Trực tiếp thu nhận ý kiến khách hàng thông qua các mẫu phản hồi thông tin

    (feedback form) đặt trên website của tổ chức;

     

    – Tìm hiểu hành vi của khách hàng qua các giao dịch thông qua các phần mềm theo dõi quá trình khách hàng duyệt website của tổ chức.

     

    Trong nghiên cứu thị trường truyền thống có ba phương pháp cơ bản là phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm và điều tra sử dụng bảng câu hỏi. Cả ba phương pháp này đều có thể sử dụng internet để triển khai hiệu quả và thuận tiện hơn.

     

    –  Phỏng vấn nhóm (Focus group): việc phỏng vấn được tiến hành qua mạng thông qua các forum, chatroom hoặc netmeeting. Hình thức phỏng vấn nhóm khách hàng qua mạng khắc phục được các nhược điểm của hình thức phỏng

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    49

    vấn nhóm kiểu truyền thống vì người tham gia không còn bị phụ thuộc vào người điều khiển, tránh khả năng gặp mặt trực tiếp nên tăng sự tự do khi đưa ra

     

    • kiến,…

     Ưu điểm:

     

     Thời gian thực hiện phỏng vấn linh hoạt vì người được phỏng vấn tham gia qua mạng;

     

     Địa điểm thực hiện phỏng vấn linh hoạt, thuận tiện, người tham gia không phải di chuyển đến một địa điểm nhất định để phỏng vấn như trước đây;

     

     Thông tin thu thập được nhiều hơn do các thành viên tham gia có thể suy nghĩ độc lập khi phỏng vấn.

     

     Hạn chế:

     

     Khó theo dõi được tính chân thật của thông tin được đưa ra trong phỏng vấn do người phỏng vấn và người được phỏng vấn không trực tiếp đối mặt;

     

     Cần có các yêu cầu kỹ thuật như phần mềm ứng dụng chuyên dụng để hỗ trợ như hội thảo trực tuyến (video conferencing), diễn đàn (forum), hoặc giao tiếp qua mạng (message chat, voice chat);

     

     Tiến độ thực hiện phỏng vấn chậm hơn do không có tác động và điều khiển trực tiếp của người phỏng vấn đến các thành viên tham gia phỏng vấn.

     

    – Phỏng vấn chuyên gia (Indepth interview): với phương pháp này các chuyên gia được mời phỏng vấn qua mạng. Người phỏng vấn đưa ra các câu hỏi qua mạng cho các chuyên gia và nhận được lời giải đáp cũng qua mạng. Hình thức này có thể triển khai qua các ứng dụng như nhóm thư điện tử (email group), chatroom hoặc họp trực tuyến (netmeeting). Với các ứng dụng qua mạng, hình thức nghiên cứu thị trường này có những ưu điểm như:

     

     Tập trung được nhiều câu hỏi từ phỏng vấn viên và người theo dõi,  Có thể kết hợp để phỏng vấn được đồng thời nhiều chuyên gia,

     

     Thông tin chi tiết do các chuyên gia có thời gian suy nghĩ trong quá trình phỏng vấn và được tham khảo nhiều ý kiến của các chuyên gia khác.

     

    – Điều tra bằng bảng hỏi qua mạng: điều tra bằng bảng hỏi truyền thống thường gặp một số hạn chế về đi lại, phân phối bảng câu hỏi, nhập dữ liệu nhưng ứng dụng điều tra bằng bảng câu hỏi qua mạng góp phần hạn chế được các nhược điểm này, cụ thể là:

     

     Việc gửi bảng câu hỏi qua mạng nhanh hơn, tiết kiệm thời gian,

     

    Việc sử dụng website thu thập dữ liệu giảm chi phí nhập dữ liệu trước

    đây,

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    50

     Phạm vi điều tra rộng do người được phỏng vấn có thể truy cập bảng câu hỏi qua internet.

     

    Tuy nhiên, việc điều tra bằng bảng hỏi qua mạng có một hạn chế là mức độ phản hồi thấp nếu không có các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích và động viên người được phỏng vấn tham gia.

     

    2. Ứng dụng nghiên cứu thị trường qua mạng trong các thư viện/cơ quan thông tin

     

    Hiện nay, nhiều thư viện/cơ quan thông tin (gọi tắt là thư viện) trên thế giới đã sử dụng mạng internet và các công cụ hỗ trợ để nghiên cứu người sử dụng thư viện (gọi tắt là NSD). Để thu thập các số liệu, thông tin có liên quan đến nhu cầu của NSD rất nhiều thư viện hiện đã tích hợp bảng khảo sát NSD vào website thư viện (như The national library of Finland hay Mälardalen University Library,…); trực tiếp thu nhận

     

    • kiến của NSD bằng các mẫu phản hồi thông tin trên website (như Explore the

    British Library feedback form của British Library hay Website user feedback của

    National Taiwan University Library,…). Bên cạnh đó, các thư viện như Binghamton

    University  Libraries,  Texas  A&M  University  Libraries  sử  dụng  tin  nhắn  nhanh

    (Instant messaging) trên internet như Yahoo, Google talk, MSN messenger,… để trao

     

    đổi, nhận ý kiến phản hồi và tìm hiểu nhu cầu tin, xây dựng quan hệ giữa cán bộ thư viện và NSD thư viện. Ở Việt Nam, một số thư viện cũng đã dùng các mẫu phản hồi hoặc tin nhắn nhanh trên website thư viện để tìm hiểu, tiếp nhận góp ý của NSD như Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐHQGHN, Thư viện Trung tâm ĐHQGTPHCM hay Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM…

     

    Hoạt động nghiên cứu NSD qua mạng được đánh giá dựa trên số lượng và chất lượng thông tin về các vấn đề có liên quan đến hoạt động marketing mà thư viện thu thập được. Đó chính là:

     

    – Số liệu thống kê về số lượng NSD trả lời các phiếu khảo sát, số lượng các câu hỏi được trả lời hay số lượng các mẫu phản hồi (feedback) thu được, số liệu thống kê hành vi của NSD khi họ duyệt website thư viện;

     

    – Mức độ đầy đủ, chính xác của dữ liệu thu được từ phiếu khảo sát hay mẫu phản hồi. Kết quả tổng hợp, phân tích các thông tin này có giúp thư viện đo lường, phân khúc, so sánh các nhóm NSD không? có xác định yếu tố thúc đẩy NSD sử dụng thư viện là gì không? có đánh giá được nhu cầu của NSD và tình hình thực tế của thư viện để từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp trong tương lai không?

     

    Nghiên cứu NSD qua mạng ngày càng trở nên phổ biến và thông dụng vì ngoại trừ đặc thù về mặt kỹ thuật thì gần như không có sự khác biệt giữa nghiên cứu NSD qua mạng so với phương pháp nghiên cứu truyền thống. Tuy nhiên, nghiên cứu qua mạng không mất nhiều chi phí thực hiện và cho ra kết quả nhanh hơn do dữ liệu được phân tích, thống kê tự động. Do đó, các thư viện nên xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai và phát triển hoạt động nghiên cứu NSD qua mạng.

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    51

    • Về nội dung nghiên cứu

    Để thu thập đầy đủ thông tin chính xác nhằm xác định NSD cần gì và điều gì làm họ hài lòng thì thư viện cần tập trung vào nhu cầu thường xuyên và cả nhu cầu đột xuất của NSD, đo lường được mức độ thỏa mãn các nhu cầu về SP/DV TT-TV mà thư viện cung cấp, kể cả việc phục vụ NSD như thái độ, chất lượng phục vụ, xây dựng mới quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với NSD để nắm bắt những nhu cầu mới phát sinh để có biện pháp điều chỉnh kịp thời các hoạt động nghiệp vụ và công tác phục vụ trong thư viện.

     

    Thư viện nên tạo hồ sơ NSD với các thông tin về tuổi, nghề nghiệp, nhu cầu tin, thói quen khai thác thông tin,… những thông tin này sẽ giúp thư viện biết cách làm thế nào để để tiếp cận, thỏa mãn nhu cầu NSD trong tương lai.

    • Về hình thức nghiên cứu

    Sử dụng phiếu khảo sát trực tuyến, để đảm bảo việc khảo sát bằng phiếu khảo sát thực sự hiệu quả thì thư viện nên chú ý các vấn đề dưới đây khi tạo một phiếu khảo sát:

     

     Xác định rõ mục đích của việc khảo sát và những thông tin mà thư viện muốn NSD cung cấp,

     

    Tạo ra khuyến khích để NSD cảm thấy có lý do để tham gia khảo sát,

     

    Trình bày câu hỏi trong phiếu khảo sát đơn giản, dễ hiểu và không nên sử dụng thuật ngữ chuyên môn để đảm bảo rằng NSD hiểu được câu hỏi,

     Thiết kế câu hỏi nên đi vào cụ thể vấn đề, thư viện không nên đặt ra quá nhiều câu hỏi mở và nên đưa ra câu hỏi với nhiều câu trả lời để NSD lựa chọn,

     Tiến hành khảo sát thử nghiệm để biết được thời gian cần thiết để trả lời bảng khảo sát hoặc các câu hỏi có gây ra sự lúng túng cho NSD không để có sự điều chỉnh kịp thời trước khi tiến hành khảo sát thực sự.

     

    Sau khi hoàn thành phiếu khảo sát trực tuyến, thư viện có hai phương thức phân phối phiếu khảo sát là chia sẻ liên kết (link) đến phiếu khảo sát lên website thư viện, mạng xã hội hoặc gửi phiếu khảo sát đến email của NSD, bằng cách như sau:

     

     Dùng các website có cung cấp dịch vụ làm khảo sát trực tuyến để tạo các phiếu khảo sát trực tuyến, sau đó đăng liên kết (link) đến phiếu khảo sát trên website hoặc gửi trực tiếp phiếu khảo sát trực tuyến đến email NSD,

     

     Tạo phiếu khảo sát dưới dạng văn bản (.doc) và gửi kèm (attached file) đến email NSD để họ có thể tải (download) và gửi lại theo email hoặc fax.

     

    Sử dụng các mẫu phản hồi thông tin (feedback), một hình thức thu thập thông tin hoặc nhận ý kiến đóng góp từ NSD mà thư viện nên sử dụng là tích hợp các mẫu phản hồi thông tin trên website thư viện. Tuy nhiên, các mẫu phản hồi này chỉ phù hợp khi thư viện cần khảo sát những câu hỏi nhanh, ngắn gọn.

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013

     

    Nghiên cứu – Nghiệp vụ

    52

    Phỏng vấn qua mạng thông qua các diễn đàn trên web hoặc trên các mạng xã hội hay cộng đồng mạng. Đây là các hình thức trao đổi thông tin hiệu quả trên mạng internet và cũng là một trong những phương thức tìm hiểu NSD trên internet nở rộ trong những năm gần đây. Thư viện nên xây dựng diễn đàn trên website thư viện hoặc tham gia vào các diễn đàn theo các chủ đề phù hợp với lĩnh vực hoạt động của thư viện và xem đây là kênh trao đổi giữa thư viện và NSD. Trên các diễn đàn này, NSD có thể gặp gỡ, trao đổi thông tin về những chủ đề mình quan tâm, đưa ra nhận xét, đánh giá, ý kiến đề xuất của mình về tất cả các hoạt động của thư viện hoặc đưa ra những câu hỏi, thắc mắc,…. Đối với thư viện, thông qua diễn đàn thư viện sẽ tư vấn thông tin, trả lời/giải đáp thắc mắc, thu nhận được những thông tin phản hồi từ NSD để cải thiện và đẩy mạnh các hoạt động của mình ngày một hiệu quả hơn.

     

    –  Phân tích thói quen, hành vi của NSD bằng cách sử dụng các phần mềm theo dõi hoặc các công cụ phân tích website như Google Analytics, ClickHeat, ClickTale… để theo dõi NSD khi họ truy cập website thư viện. Đặc biệt khi quyết định tiến hành hoạt động marketing trực tuyến, thư viện cần biết về số lượng người truy cập website, số trang (site) được xem, thời gian NSD ở lại trên website, nguồn truy cập vào website… tất cả những thông tin này sẽ ảnh hưởng tới cách thiết kế website thư viện và các giải pháp thu hút NSD truy cập

     

    đến website thư viện.

     

    Tóm lại, kết quả nghiên cứu NSD qua mạng sẽ giúp thư viện biết được nhiều tham số về nhu cầu, đánh giá và mong muốn của NSD đối với thư viện, SP/DV TT-TV,… để từ đó đưa ra kế hoạch, chiến lược tiếp theo nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Brian Halligan, Dharmesh Shah; Tống Liên Anh dịch. Tiếp thị trực tuyến trong kỹ nguyên mới, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, 2011.
    1. Davis John. Đo lường tiếp thị : 103 công cụ đo lường thiết yếu cho các chuyên gia marketing, Nhà xuất bản Tổng hợp, Tp.Hồ Chí Minh, 2011.
    1. Dinesh Gupta Marketing libraries in a Web 2.0 World, De Gruyter Saur, Berlin ; New York , 2011.
    1. Ian Chaston. E-Marketing strategy, McGraw-Hill, Singapore, 2001.
    1. Phi Chương, Nguyên Hằng, Lan Thảo, “Xây dựng chiến dịch online marketing”, Tạp chí Marketing Việt Nam, Số 53(2009), trang 35.
    1. Rogers, C.R. Social media, libraries, Web 2.0: How American libraries are using new tools for public relation and to attract new users // http://themwordblog.blogspot.com

     

    Thông tin & Thư viện Phía Nam

    Số 35/2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Nghiên cứu thực chứng hiệu ứng kỷ luật thị trường ngành ngân hàng Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/5-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-ti%E1%BA%BFp-th%E1%BB%8B-tr%C3%AAn-facebook-%C4%91%C3%A3-thay-%C4%91%E1%BB%95i-l%C3%A0m-th%E1%BA%BF-n%C3%A0o-%C4%91%E1%BB%83-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-trong-n%C4%83m-2018.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

     

    5 phương thức tiếp thị trên facebook đã thay đổi (làm thế nào để sử dụng trong năm 2018)

    Tôi muốn đưa bạn trở về năm 2013.

     

    Khi đó, tôi bắt đầu viết blog chuyên nghiệp. Obama là tổng thống, Snowden chưa tiết lộ với thế giới bất kỳ điều gì kinh khủng và truyền thông trên mạng xã hội cho doanh nghiệp chưa có nhiều việc để làm.

     

    Thuật toán của Facebook vẫn chưa đưa ra một sự khó khăn nào trong việc hạn chế khả năng tiếp cận tự nhiên. Các quảng cáo trên Facebook chưa chiến ưu thế trong News Feeds.

     

    Đó là những ngày tươi đẹp.

     

    Bài viết này sẽ lướt qua những thay đổi mà chúng ta đã thấy trên Facebook trong vài năm gần đây, và những cơ hội nào còn lại mà bạn có thể tận dụng cho doanh nghiệp của mình.

     

    1.   Bạn còn có thể tiếp cận được người hâm mộ của mình?

     

    Lượt tiếp cận tự nhiên (Organic reach) đã từng chiếm 15-20% đối với hầu hết các trang trên Facebook. Tuy nhiên, trong vài năm qua lượng tiếp cận này đã sụt giảm đáng kể. Điều này không có gì bất ngờ đối với các marketer.

     

    Vậy, trong năm 2018 này có những cách nào để tăng khả năng tiếp cận. Nó bao gồm:

     

    • Thể hiện phong cách riêng của bạn
    • Đặt những câu hỏi
    • Sử dụng hình ảnh (kích thích, trend, chế…)
    • Cung cấp một cái nhìn bên trong
    • Đo lường và lặp lại các bước trên
    • Chia sẻ nội dung của Fan. (Mục đích nói rằng bất kỳ người nào là thành viên của trang đều đáng được trân trọng)
    • Trình bày bài viết đơn giản
    • Sử dụng thông điệp nhất quán và nội dung thực sự có ích
    • Trân trọng và đánh giá cao những Fan của mình
    • Luôn vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. (Đừng cung cấp nội dung gì hay làm gì để trang của mình thành nơi công kích lẫn nhau)

    Để thành công trên Facebook năm 2018, bạn sẽ phải làm tất cả những điều này và nhiều hơn nữa. Khi nói đến “nhiều hơn”, có 2 chiến lược chính mà bạn cần đặc biệt quan tâm. Đó là Livestream Facebook và Video được biên tập và tải lên Facebook.

     

    2.   Facebook Live Video (hay còn gọi là Livestream Facebook)

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Snapchat, Youtube Live, Periscope và tất cả các nền tảng video trực tiếp khác. Do đó, Facebook khuyến khích, và ưu tiên người dùng sử dụng nền tảng này theo nhiều cách khác nhau.

     

    Chúng tôi đã nghe tin đồn về điều này vào đầu năm 2017, và cho phép thử nghiệm vào tháng 5. Đây là hoạt động của các bài đăng trên Facebook của chúng tôi từ ngày 22 đến 30 tháng 5 năm 2017.

     

    5 cách để video Live của bạn nhiều người xem

     

     

    • Giới thiệu chủ đề của video, giới thiệu bạn, nhiều lần và đừng quên chào những người tham gia video live của bạn.
    • Tạo không khí vui vẻ. (biểu cảm khuôn mặt, các động tác cơ thể…)
    • Trò chuyện nhiều hơn với khán giả, cố gắng kéo dài thời gian trước khi bắt đầu nội dung chính. Nếu bạn bắt đầu những thứ hấp dẫn nhất của buổi live thì những người vào sau sẽ không biết điều gì đã xảy ra cả.
    • Thường xuyên yêu cầu người xem chia sẻ, like và bình luận video trực tiếp của bạn để tăng lượt xem video. Đặc biệt là khi mới bắt đầu.

    3.       Video được quay lại bằng Facebook

     

    Facebook muốn cạnh tranh với Youtube. Do đó mỗi video được tải lên trực tiếp bằng nền tảng của họ sẽ thấy nó được “đánh dấu” nếu video đó được tải lên qua Youtube.

     

    Vào tháng 3/2016, nền tảng phân tích phương tiện truyền thông xã hội Quintly phân tích 6,2 triệu bài viết bởi 167.000 người trên Facebook. Kết quả đúng như họ dự đoán, các video gốc trên Facebook được sự chia sẻ nhiều hơn với mức tăng 478%.

     

    Nhưng vào tháng 12 năm 2016, các video gốc của Facebook đột nhiên nhận được tỷ lệ chia sẻ trung bình cao hơn 1055,41% so với các video trên Youtube. Rõ ràng Facebook đã cập nhật thuật toán của mình. Và dĩ nhiên là họ ưu tiên con đẻ của mình hơn rồi.

     

    Biết được giá trị của một Fan (người hâm một, 1 lượt like)

     

    Trước kia, mục tiêu của một doanh nghiệp khi truyền thông trên mạng xã hội chỉ đơn thuần là lượt like, like và like.

     

    Là một công ty quảng cáo truyền thông xã hội (Social media), điều này thật dễ dàng với chúng tôi. Nền tảng của chúng tôi được xây dựng xung quanh việc khuyến khích người dùng trở thành 1 Fan (chính xác hơn là làm mọi cách để nhiều người like trang càng tốt)

     

    Tuy nhiên, khi sự tiếp cận tự giảm mạnh và các doanh nghiệp bắt đầu thực sự đo lường giá trị

     

    giữa số tiền họ bỏ ra (mua like) và kết quả thu được. Toàn bộ ngành công nghiệp đã phải thay đổi.

     

    Hãy làm một phép toán nhanh để bạn hình dung những gì tôi đang nói:

     

    Giả sử bạn có 10.000 người hâm mộ (like, follows)

     

    Khi bạn đăng một bài viết, có thể bạn sẽ đạt được 6,5% lượt tiếp cận tự nhiên. Tức là khoảng 650 người trong tổng số 10.000 người.

     

    Bây giờ, vào trình quản lý quảng cáo, bạn sẽ thấy các thông số chi tiết ví dụ như:

     

    Bài đăng của bạn có 650 tiếp cận (nhìn thấy), tỉ lệ nhấp chuột là 5%. Như vậy bạn thực chất chỉ có 33 người xem bài viết của bạn.

     

    Thế nhưng 50% trong số đó đã là khách hàng của bạn, vậy bạn chỉ còn lại 16 người. Tỉ lệ chuyển đổi là 5% (mức trung bình) và thật không may, chúng tôi đã ở dưới mức 1%.

     

    Như vậy cơ hội chuyển 1 trong 10.000 người like thành khách hàng thông qua Facebook ít hơn 0.01%.

     

    Vậy phải làm gì?

     

    Chuyển người hâm mộ (like, follows) thành khách hàng tiềm năng bằng cách.

     

    • Tạo quảng cáo “chỉ dành cho người hâm mộ”. Yêu cầu họ cung cấp địa chỉ email để tham gia và có cơ hội giành được giải thưởng của bạn.

    Đây là chiến lược hoàn chỉnh:

     

    • Sử dụng các cuộc thi trên Facebook để khuyến khích người hâm mộ cung cấp cho bạn địa chỉ của họ.
    • Phân loại khách hàng tiềm năng của bạn dựa trên sản phẩm mà họ muốn nhận được khi chiến thắng.
    • Nhắc nhở họ chia sẻ cuộc thi trên trang của họ, gắn thẻ bạn bè… để có thêm cơ hội giành chiến thắng.
    • Thông báo người chiến thắng giải thưởng lớn và chắc chắn rằng bạn sẽ trao cho tất cả người trúng thưởng các giải thưởng mà họ trúng như đã hứa. Đồng thời cũng tặng cho tất cả người chơi phiếu giảm giá (mang thương hiệu của cuộc thi) 10% hoặc miễn phí vận chuyển… khi mua hàng của bạn. Tạo mã giảm giá của bạn trong khoảng thời gian nhất định.
    • Gửi email nhắc nhở 48h trước khi phiếu giảm giá hết hạn. Và cho họ thêm 2h nữa để mua hàng. Khi đó nhấn mạnh với họ rằng: Vì bạn tham gia cuộc chơi nên mới có ưu đãi về thời gian như thế.
    • Khi bạn tiếp tục chạy bán hoặc quảng bá sản phẩm có liên quan đến dữ liệu khách hàng của cuộc thi kể trên, hãy chắc chắn gửi cho họ một thông báo bằng email.

    Bạn có phải trả tiền để chơi cuộc chơi này?

     

    Một trong những thay đổi lớn nhất của Facebook là cái gọi là cấu trúc “trả tiền để chơi”. Điều này làm ảnh hưởng trầm trọng đến nhiều marketer.

     

    Thế thì bạn có phải trả tiền để tham gia cuộc chơi?

     

    Câu trả lời là có, nhưng không phải quá nhiều như google hay những nền tảng khác.

     

    Quảng cáo Facebook thực sự mang lại một lựa chọn tốt hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp so với việc sử dụng cách tiếp cận thông thường.

     

    Tôi muốn mọi nhà tiếp thị về Social media ngừng suy nghĩ về Quảng cáo trên Facebook như là một giải pháp thay thế cho phạm vi tiếp cận tự nhiên.

     

    Việc tăng số lượng bài viết là rất tốt, nhưng tại sao bạn phải trả tiền để nhắm tới mục tiêu là

     

    những người đã biết. Trong khi bạn hoàn toàn có thể dùng nó để nhắm tới mục tiêu khách hàng mới.

     

    Hãy bắt đầu suy nghĩ về quảng cáo trên Facebook như là sự thay thế cho Quảng cáo Google, nếu bạn làm điều đó bạn sẽ sớm vui vẻ như tôi.

     

    Quảng cáo Facebook cung cấp tính năng nhắm mục tiêu đến đối tượng chính xác và giá mỗi lần nhất chuột được hiển thị rất trực quan và ấn tượng.

     

    Giả sử bạn là một nhiếp ảnh gia ở Victoria, Canada và bạn đang điều hành chương trình khuyến mại trong mùa thu dành cho đối tượng gia đình.

     

    Bạn sẽ chụp ảnh toàn bộ gia đình với giá 450 đô la. Bạn tạo tài khoản Facebook Business Manager và truy cập vào phần quản lý quảng cáo của Facebook.

     

    Bước 1: Chọn mục tiêu quảng cáo của bạn (để thu hút lưu lượng truy cập đến trang chiến dịch của bạn, tôi sẽ chọn Traffic)

     

    Bước 2: Chọn vị trí đối tượng của bạn

     

    Bước 3: Chọn đối tượng cụ thể của đối tượng của bạn

     

    Bước 4: Chọn ngân sách của bạn.

     

    Bước 5: Tạo hình ảnh quảng cáo của bạn. Bạn có thể tự thiết kế hoặc thiết kế bằng các công cụ hỗ trợ online.

     

    Bước 6: Xuất bản quảng cáo của bạn.

     

    Chú thích:

     

    Đây chỉ là một hướng dẫn rất cơ bản cách quảng cáo trên Facebook. Có hàng chục cách để tối ưu hóa và cải thiện kết quả của chiến dịch quảng cáo. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều hướng dẫn chi tiết bằng cách search.

     

    1. Sử dụng Facebook cho việc tương tác với khách hàng.

    Dịch vụ khách hàng

     

    Rất nhiều công cụ trợ giúp đã được Facebook tích hợp, điều đó đồng nghĩa với việc nhân viên hỗ trợ khách hàng của bạn có thể phản hồi các tin nhắn trên Facebook thông qua rất nhiều hình thức khác nhau.

     

    Facebook đã thực sự trở thành một phần mở rộng trong hệ thống website của bạn. Là nơi bạn đăng các sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Là nơi bạn giới thiệu phong cách thương hiệu của bạn, giới thiệu nhân sự mới, chia sẻ cuộc họp và là nơi trả lời các câu hỏi từ khách hàng, người hâm mộ.

     

    Dịch vụ khách hàng trên Facebook chỉ là một trong nhiều điều mà các doanh nghiệp đã rời khỏi Facebook bỏ lỡ. Sự sụt giảm trong phạm vi tiếp cận tự nhiên có thể khiến bạn bực bội và từ bỏ cuộc chơi. Nhưng nền tảng “trả tiền để chơi” cũng có rất nhiều điều tích cực và hay ho nếu bạn chịu khó khám phá.

     

    Có một điều ai cũng thấy và nó không thay đổi với Facebook kể từ năm 2012 đó là: Facebook là nơi khách hàng, và khách hàng tiềm năng của bạn xuất hiện nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới.

     

    Phản hồi của khách hàng

     

    Hãy cân nhắc việc hỏi những người hâm mộ, theo dõi bạn về:

     

    • Sản phẩm mà họ yêu thích
    • Điều gì ở doanh nghiệp của bạn (sản phẩm, dịch vụ) làm cho họ phiền toái nhất.
    • Tên của sản phẩm mới, danh mục sản phẩm, tính năng sản phẩm…
    • Thông tin của họ

    Trong một nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng một số tính năng ít được biết đến của họ, Facebook có xu hướng ưu tiên hiển thị cho các cuộc thăm dò (và các câu đố) trong thuật toán tin tức của họ.

     

    Mặc dù không phải tất cả người hâm mộ của bạn sẽ nhìn thấy nó, nhưng tỷ lệ xuất hiện sẽ cao hơn nhiều so với hầu hết các loại bài đăng khác và chắc chẳn đủ để bạn có được cái nhìn sâu sắc hơn về khách hàng và người hâm mộ của mình.

     

    Tổng kết lại

     

    Tính đến tháng 6 năm 2017, Facebook đã có hơn 2 tỷ người dùng. Một con số ấn tượng nhưng đó là kết quả của cả một chặng đường dài.

     

    Một số người trong chúng ta sẽ nhớ lại vào năm 2005, khi mà chúng ta phải có một email đại học để có thể tạo được 1 tài khoản.

     

    Tôi nhớ khi quảng cáo lần đầu tiên xuất hiện trên Newsfeed và khi nút Like được giới thiệu. Tôi nhớ được sự huyền diệu khi lần đầu viết bài về tiếp thị trên Facebook.

     

    Vì vậy, từ năm 2013 Facebook dù không phải là nền tảng duy nhất nhưng nó vẫn là một nền tảng rất có khả năng để phát triển việc kinh doanh trực tuyến của bạn.

     

    Bạn có sử dụng Facebook cho việc sáng tạo hay bất kỳ việc gì khác trong năm qua?

     

    Bạn cảm thấy thất vọng bởi những gì bạn thấy trong Facebook marketing hoặc có câu hỏi về quảng cáo?

     

    Hãy để lại trong mục bình luận bên dưới để chúng ta cùng trao đổi nhé!

     

    Tác giả: James Scherer

     

    Dịch bởi: Chiasekhoahoc.net

     

    Bài viết gốc: https://www.postplanner.com/blog/ways-marketing-on-facebook-has-changed-how-to-use-it-2018


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Customer satisfaction with online group buying services


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-marketing-mix-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-nh%E1%BA%ADn-bi%E1%BA%BFt-li%C3%AAn-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-v%C3%A0-l%C3%B2ng-trung-th%C3%A0nh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Sanest-Kh%C3%A1nh-H%C3%B2a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu – Trường hợp Sanest Khánh Hòa

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ MARKETING-MIX ĐẾN SỰ NHẬN BIẾT, LIÊN TƯỞNG VÀ LÒNG TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU – TRƯỜNG HỢP SANEST KHÁNH HÒA

     

    THE INFLUENCE OF MARKETING-MIX ELEMENTS ON THE AWEARNESS, ASSOCIATIONS AND LOYALTY OF BRAND – A SITUATION OF KHANH HOA SANEST

     

    Lê Thị Hồng Yến1, Hồ Huy Tựu2

     

    Ngày nhận bài: 01/10/2013; Ngày phản biện thông qua: 26/11/2013; Ngày duyệt đăng: 13/8/2014

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu kiểm định vai trò và mối quan hệ của các yếu tố marketing-mix (chất lượng, giá, phân phối và xúc tiến) đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu cho Sanest Khánh Hòa. Dựa vào 333 mẫu điều tra khách hàng, phương pháp phân tích CFA, SEM để đánh giá độ tin cậy, giá trị các thang đo, kiểm định mô hình đề xuất, giả thuyết. Kết quả là bốn nhân tố marketing-mix đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Đến lượt nó, lại có ảnh hưởng dương đến lòng trung thành thương hiệu. Nghĩa là, các yếu tố marketing-mix đều ảnh hưởng gián tiếp đến lòng trung thành thông qua nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Điều này là quan trọng giúp Sanest Khánh Hòa có những định hướng phù hợp trong chiến lược marketing-mix để xây dựng và phát triển thương hiệu.

     

    Từ khóa: marketing-mix, nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu, Sanest Khánh Hòa

     

    ABSTRACT

     

    This study tests the role of marketing-mix elements (quality, price, distribution and promotion) on the awareness, associations and loyalty of brand for the case of Khanh Hoa Sanest company. Based on a data set of 333 customers, confi rmatory factor analysis (CFA) and structural equation model (SEM) were used to assess the reliability and validity of the constructs, and to test the proposed theoretical model and hypotheses. Results show that the marketing-mix elements have positive effects on the awareness and associations of brand. In its turn, on the awareness and associations of brand has a positive effect on brand loyalty. Therefore, the results say also that the marketing-mix elements have indirect effects on brand loyalty via the awareness and associations of brand. The results are important to help Khanh Hoa Sanest company with its marketing-mix strategies which need to build and develop the brand.

     

    Keywords: marketing-mix, awareness, association and brand loyalty, Khanh Hoa Sanest

     

     

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Các tranh luận về mặt lý thuyết và thực tiễn gần đây trên thế giới cho rằng chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu là các thành phần cốt lõi của giá trị thương hiệu và các nhân tố marketing-mix là tiền đề quan trọng tạo nên giá trị thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Keller, 2001; Wood, 2000). Mặc dù, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu đã thực hiện ở trong và ngoài nước (Yoo, Donthu và Lee, 2000; Aaker, 1996; Nguyễn Đình Thọ

     

    và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002) nhưng chưa có nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu. Vì vậy, bài báo này kiểm định vai trò của các yếu tố marketing-mix đối với giá trị thương hiệu trong mô hình quan hệ cấu trúc chung, trong đó các yếu tố marketing-mix được đề nghị có ảnh hưởng dương trực tiếp đến sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và có ảnh hưởng dương gián tiếp lên trung thành thương hiệu thông qua sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    • Lê Thị Hồng Yến: Cao học Quản trị kinh doanh 2009 – Trường Đại học Nha Trang
    • Hồ Huy Tựu: Khoa Kinh tế – Trường Đại học Nha Trang

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 209

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Yến sào Khánh Hòa (Sanest Khánh Hòa) là một trong những công ty gặt hái được nhiều thành công và khẳng định được thương hiệu của mình. Tuy nhiên, hoạt động marketing hướng đến xây dựng, củng cố thương hiệu còn nhiều hạn chế: hình ảnh cửa hàng không ấn tượng, chương trình hậu mãi và dịch vụ sau bán hàng không được quan tâm đúng mức, quảng bá mờ nhạt. Vì thế, nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng lý luận về xây dựng và phát triển thương hiệu thông qua xem xét ảnh hưởng của marketing-mix đến sự nhận biết, liên tưởng và lòng trung thành thương hiệu sử dụng phương pháp lập mô hình phương trình cấu trúc. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cung cấp một số hàm ý marketing giúp cho lãnh đạo Công ty có những thông tin cần thiết về tầm quan trọng của các yếu tố marketing-mix đến các thành phần nói trên mà công ty đang xây dựng.

     

    1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    2. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là khách hàng đã biết đến thương hiệu Sanest Khánh Hòa.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    2.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đối với khách hàng trên thị trường Nha Trang. Đối tượng phỏng vấn có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên và phỏng vấn khoảng 350 khách.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đọan chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp… Bảng câu hỏi được gửi đến trực tiếp 350 khách hàng nhưng thu về được 333 mẫu hợp lệ. Tác giả tiến hành các phân tích như: kiểm định độ tin cậy các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích SEM, và các phân tích cần thiết khác.

     

    1. Cơ sở lý thuyếtt, mô hình nghiên cứu đề xuất

     

    • Cơ sở lý thuyết

     

    • Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu và mối quan hệ với trung thành thương hiệu

    Quan điểm tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng cho rằng tài sản thương hiệu bao gồm chất lượng cảm nhận, sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu (Aaker và Keller, 1990). Nhận biết thương hiệu là một thành phần thái độ của khách hàng với thương hiệu, có nhiều mô hình về thái độ

    con người. Mô hình thông thường cho rằng thái độ là một khái niệm đa thành phần: nhận biết, đánh giá, thích thú và xu hướng hành vi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức độ nhận biết thương hiệu nói lên khả năng nhận dạng, phân biệt các đặc điểm của một thương hiệu trong tập hợp các thương hiệu trên thị trường của khách hàng (Aaker, 1991). Liên tưởng thương hiệu mà khách hàng cảm nhận, đánh giá có thể là các thuộc tính sản phẩm, hình tượng cá nhân hoặc một biểu tượng nào đó và nó cũng được dẫn dắt bởi đặc tính của thương hiệu, đó chính là cái mà công ty muốn thương hiệu đại diện trong tâm trí khách hàng (Keller và Aaker, 1990). Một số tác giả cho rằng nhận biết thương hiệu có mối quan hệ mật thiết với liên tưởng thương hiệu và hầu như giữa chúng không có sự tách biệt rõ rệt. Vì thế, họ thường cho 2 nhân tố này là một (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua của khách hàng bằng cách gợi lại trong tâm trí của họ hình ảnh sản phẩm, nó giống như sự hiển thị của cảm xúc đối với sản phẩm ấy (Keller, 1993). Lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu nói lên xu hướng mà khách hàng mua, sử dụng một thương hiệu nào trong một họ sản phẩm, kí mới những hợp đồng giao dịch và lặp lại hành vi này, hay chống lại khả năng chuyển đổi sang nhà cung cấp khác (Aaker, 1991). Gia tăng sự trung thành đóng vai trò quan trọng khi các đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản phẩm vượt trội (Aaker và Keller, 1990). Sự trung thành thương hiệu thường được xem lại kết cục của sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Aaker, 1991). Tức là, nếu khách hàng có sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng nhiều thì lòng trung thành thương hiệu càng cao và ngược lại. (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Dựa vào các cơ sở lý thuyết và bàn luận trên đây, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H1: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh, mức độ trung thành thương hiệu càng cao

     

    3.1.2. Các yếu tố marketing-mix 4P và 4C của khách hàng

    Lý thuyết marketing cho rằng các yếu tố marketing-mix (4P) là nỗ lực của doanh nghiệp có tác dụng thúc đẩy mức độ mua hàng ở thị trường mục tiêu (Kotler, 2007). Quan điểm hành vi khách hàng lại cho rằng các yếu tố 4P có sự tương thích một đối một với 4 yếu tố cảm nhận quan trọng (4C) của khách hàng (Schiffman và Kanuk, 2010). Bởi vì giá trị thương hiệu là một hiện tượng cảm nhận và tích lũy kiến thức thương hiệu của khách hàng

     

    210 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    (Aaker, 1991). Do đó nghiên cứu này tiếp cận định nghĩa và đo lường các nổ lực marketing-mix dựa trên sự cảm nhận của khách hàng (Yoo, Donthu và Lee, 2000) hơn là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp.

     

    Thứ nhất, sản phẩm (Product – P1) mang đến giải pháp cho khách hàng (Customer solution – C1) được biểu hiện qua chất lượng cảm nhận (Schiffman và Kanuk, 2010). Vì thế, nghiên cứu này tiếp cận chất lượng cảm nhận được đánh giá dựa vào những niềm tin nhận thức quan trọng liên quan đến một sản phẩm, dịch vụ hoặc thương hiệu (Olsen, 2002).

     

    Thứ hai, giá (Price – P2) phản ánh chi phí (Cost – C2) khách hành bỏ ra để có sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Các nghiên cứu đã cho rằng người tiêu dùng không phải luôn nhớ các mức giá thực sự của sản phẩm mà ghi nhận giá theo các cách có ý nghĩa với họ. Nghiên cứu này định nghĩa yếu tố giá theo cách hiểu của Zeithaml (1988).

     

    Thứ ba, phân phối (Place – P3) thường được liên hệ với cảm nhận về sự thuận tiện của khách hàng (Convenience – C3) (Schiffman và Kanuk, 2010). Các noõ lực phân phối của doanh nghiệp có thể liên quan đến cường độ, mật độ phân phối và xây dựng hình ảnh của nhà phân phối (Kotler, 2007). Tuy nhiên, đối với khách hàng cái họ cần là sự sẵn có, dễ dàng tìm mua, tốn ít thời gian và nỗ lực… để có được sản phẩm (Schiffman và Kanuk, 2010). Nghiên cứu này tiếp cận yếu tố phân phối chỉ tập trung vào cường độ phân phối bỏ qua các khía cạnh khác và định nghĩa yếu tố phân phối như cảm nhận về sự thuận tiện thị trường của sản phẩm (Seiders và ctv, 2005).

     

    Cuối cùng, xúc tiến (Promotion – P4) cung cấp thông tin cho khách hàng (Communication – C4) liên quan đến sản phẩm hoặc thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010). Khách hàng có thể có thông tin qua đánh giá của họ về hoạt động quảng cáo, khuyến mãi… của doanh nghiệp (Kotler, 2007). Từ đây, xúc tiến được định nghĩa bao gồm tất cả cảm nhận của khách hàng về thông tin truyền thông mà họ nhận được đối với thương hiệu (Schiffman và Kanuk, 2010).

     

    3.1.3. Quan hệ giữa chất lượng cảm nhận với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Người tiêu dùng là người có khả năng nhận biết và liên tưởng thương hiệu tốt nhất, bởi vì khi khách hàng sử dụng sản phẩm và tin tưởng vào chất lượng mà nó đem lại, họ sẽ cố gắng lưu trữ hình ảnh thương hiệu đó trong tâm trí ngay lập tức (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Vì vậy, chất lượng cảm nhận của thương hiệu càng cao thì giúp họ nhận biết và

    liên tưởng thương hiệu càng nhanh (Aaker, 1991;

     

    Keller, 1993). Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H2: Chất lượng càng được cảm nhận tốt, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.4. Quan hệ giữa giá với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

    Hầu hết các nghiên cứu trước đây khẳng định giá có ảnh hưởng gián tiếp đến nhận biết và liên tưởng thương hiệu thông qua chất lượng cảm nhận, đặc biệt khi giá được cảm nhận ở mức cao hoặc thấp (Kamakura và Russell, 1993; Yoo, Donthu và Lee, 2000). Mức giá vượt trội cũng được xem là kết quả của thương hiệu mạnh (Aaker, 1996). Tuy nhiên, có thể tranh luận rằng việc định giá ở các mức cực biên (rất rẻ hoặc rất đắt) thường có tác dụng gia tăng sự nhận biết và liên tưởng trong giai đoạn kiến tạo thương hiệu bởi tạo nên sự khác biệt cho thương hiệu. Chẳng hạn, Wal-mart đã không thể nổi tiếng như bây giờ nếu thiếu đi chiến lược định giá rẻ cốt lõi ngay những ngày đầu tiên xâm nhập thị trường (Magretta, 2002). Bởi vì, Sanest Khánh Hòa đã và đang thực hiện một chiến lược định giá cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh, nó đã tạo lập được danh tiếng thương hiệu của mình như một nhà cung cấp các sản phẩm yến sào cao cấp. Vì vậy, nghiên cứu này kỳ vọng rằng giá có tác động đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu.

     

    H3: Giá đươc cảm nhận càng cao (thấp), sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng mạnh

     

    3.1.5. Quan hệ giữa phân phối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Khi một sản phẩm được phân phối với số lượng lớn trong các cửa hàng, siêu thị, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hơn bởi vì họ có thể mua chúng mọi nơi, mọi lúc với ít nỗ lực và thời gian (Smith, 1992). Vì vậy, khi cường độ phân phối tăng lên, khách hàng sẽ cảm nhận nhiều giá trị đạt được hơn đối với sản phẩm phân phối (Seiders và ctv, 2005). Giá trị khách hàng tăng thêm này sẽ có tác động làm gia tăng liên kết tích cực đối với thương hiêu (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Việc phân phối rộng khắp tất nhiên cũng làm gia tăng mức độ tiếp xúc của khách hàng đối với sản phẩm và thương hiệu, qua đó gia tăng mức độ nhận biết của họ đối với thương hiệu. Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:

     

    H4: Phân phối với cường độ càng mạnh, mức độ nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.1.6. Quan hệ giữa xúc tiến với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu:

    Các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng mức độ xúc tiến quảng bá làm gia tăng sự nhận biết

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 211

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    thương hiệu (Boulding, Lee và Staelin, 1994). Các thông tin quảng bá được lặp đi lặp lại sẽ làm tăng xác suất lưu giữ hình ảnh thương hiệu và tạo ra các liên kết đối với thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng (Shimp, 1997). Vì vậy, cường độ xúc tiến quảng bá có tác động tích cực đến sự nhận biết và

     

    liên tưởng làm gia tăng giá trị thương hiệu (Aaker, 1996). Do đó, giả thuyết sau được đề nghị:

    H5: Hoạt động xúc tiến quảng bá càng mạnh, sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu càng tăng lên

     

    3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

     

     

    Hình 1. Ảnh hưởng của các nhân tố marketing-mix đến giá trị thương hiệu

     

     

    1. Đo lường các cấu trúc khái niệm

    Các khái niệm đều được đo trên thang đo Likert 7 điểm từ (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) không đồng ý đôi chút, (4) trung dung,

     

    • đồng ý đôi chút, (6) đồng ý và (7) hoàn toàn đồng ý. 1. Đo lường khái niệm Giá

    Được đo lường bằng 3 biến quan sát trên thang đo Likert 7 điểm là: Giá các sản phẩm Sanest là:

    • cao; (2) đắt và (3) hợp lý (Smith và Park, 1992). 2. Đo lường khái niệm Chất lượng cảm nhận

    Được đo lường trên thang đối cực 7 điểm mở đầu bằng câu giới thiệu chung: “Khi dùng các sản phẩm Sanest, tôi cảm thấy”: (1) vô ích/hữu ích;

    • vô dụng/hữu dụng; (3) dở/ngon; (4) không tốt/ tốt cho sức khỏe; (5) rủi ro/an toàn và (6) kém bổ dưỡng/bổ dưỡng (Olsen, 2002).

    4.3. Đo lường khái niệm Phân phối

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Smith (1992) gồm 5 biến quan sát mở đầu bằng: “Tôi nhận thấy trên thị trường, các sản phẩm Sanest thì”: (1) rất nhiều; (2) vượt trội về số lượng; (3) thuận tiện để mua; (4) bao phủ rộng khắp; và (5) được phân phối ở những nơi hợp lý.

     

    4.4. Đo lường khái niệm Xúc tiến quảng bá

     

    7 biến quan sát được sử dụng để đo lường khái niệm này trên thang đo Likert 7 điểm như sau:

    • Tôi cảm thấy Sanest đã tốn nhiều chi phí đầu tư cho hoạt động quảng bá; (2) Hoạt động quảng bá của

    Sanest là rất chuyên nghiệp; (3) Hoạt động quảng bá của Sanest là rất thường xuyên; (4) Chương trình cổ động của Sanest là rất mạnh; (5) Sanest thường xuyên khuyến mãi bằng quà tặng; (6) Chính sách chiết khấu của Sanest là hấp dẫn; và (7) Quảng bá của Sanest là ấn tượng (Kirmani và Wright, 1989). 4.5. Đo lường khái niệm Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu

     

    Tác giả sử dụng thang đo Likert 7 điểm được phát triển bởi Yoo, Donthu và Lee (2000) gồm 11 biến quan sát: (1) Các sản phẩm Sanest có nguồn gốc từ thiên nhiên; (2) Các sản phẩm Sanest là rất khác biệt; (3) Các sản phẩm Sanest là dành cho mọi người; (4) Các sản phẩm Sanest là đáng tin cậy; (5) Các sản phẩm Sanest là cao cấp; (6) Các sản phẩm Sanest là rất dễ hình dung trong tâm trí;

     

    • Tôi biết rất rõ các sản phẩm Sanest; (8) Tôi có thể nhận biết các sản phẩm Sanest trong số các thương hiệu cạnh tranh; (9) Logo và slogan của Sanest là rất ấn tượng; (10) Tôi dễ dàng nhận biết được kí hiệu và biểu tượng của Sanest; và (11) Tôi cảm thấy dễ dàng nhận ra logo và slogan của Sanest.

    4.6. Đo lường khái niệm Lòng trung thành thương hiệu Sử dụng thang đo Likert 7 điểm của Beauty và Kahle (1988) với 5 biến quan sát: (1) sự lựa chọn hàng đầu của, (2) luôn ca ngợi, (3) khuyến nghị mọi người dùng, (4) không mua sản phẩm khác nếu có thương hiệu Sanest, (5) luôn quan tâm. Thêm vào đó,

     

    212 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    nghiên cứu Olsen (2002) tác giả đo lường 5 biến quan sát trong tháng đến: số lần mua/dùng, số lần muốn mua/sử dụng, dự định mua/sử dụng, mong muốn mua/sử dụng, cần mua/sử dụng.

     

    III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

     

    1. Phân tích các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha

    Độ tin cậy của thang đo “Chất lượng” với hệ số alpha = 0.949 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.949. Độ tin cậy của thang đo “Giá” với hệ số alpha = 0.765 là khá tốt. Tuy nhiên, chỉ báo PR3 (giá thương hiệu Sanest là hợp lý) không đóng góp vào thang đo “Giá” (0.909 > 0.765). Vì vậy, chúng sẽ bị loại bỏ mục này ra khỏi thang đo. Độ tin cậy của thang đo “Hệ thống phân phối” với hệ số alpha = 0.920 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.920. Độ tin cậy của thang đo “Xúc tiến” với hệ số alpha = 0.921 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.921. Độ tin cậy của thang đo “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” với hệ số alpha = 0.946 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.946. Độ tin cậy của thang đo Likert “Lòng trung thành thương hiệu” của Olsen (2002) với hệ số alpha = 0.924 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.924. Thêm vào đó, ta cũng đi phân tích “Lòng trung thành thương hiệu” của Beauty và Kahle (1988) với hệ số alpha = 0.937 là tốt, đồng thời các số trong cột Cronbach’s Alpha if Item Deleted < 0.937. Điều này chứng tỏ tất cả các thang đo này có thể sử dụng được và không nên loại bỏ mục nào (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

    1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các chỉ báo sử dụng

    Trong quá trình phân tích và loại biến có trọng số < 0.3. Kết quả phân tích nhân tố cuối cùng là rất tốt, chỉ số Kaiser – Mayer – Olkin là 0.937 thuộc phạm vi được xem là thích hợp, tổng phương sai được giải thích bởi 6 nhân tố này là 75.749%. Đúng như mong đợi, 6 nhân tố được rút ra, các nhân tố khác nhau là tách rời, và các giá trị trọng số nhân tố đều lớn hơn 0.5. Do đó, cả 34 chỉ báo này đều được giữ lại cho bước phân tích tiếp theo.

     

    1. Phân tích mô hình đo lường

    Các thang đo khái niệm sẽ được tiến hành phân tích nhân tố khẳng định (CFA). Kết quả cho thấy giá trị của thống kê chi – bình phương là 2000.135 với 512 bậc tự do, xác suất 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do CMIN/DF = 3.907 > 2.0. Giá trị RMSEA là 0.094 > 0.08, đồng thời giá trị CFI = 0.864 < 0.90 và GFI = 0.829 < 0.90 nên không thể chấp nhận được. Tác giả tiếp tục thực hiện các bước phân tích tiếp theo để có thể cải thiện độ phù hợp của mô hình tốt hơn. Đề tài này sử dụng một kỹ thuật lấy tổng trung bình các chỉ báo đối với 5 thang đo: “Chất lượng” có 6 chỉ báo lấy tổng ngẫu nhiên 3 trong số 6 chỉ báo, “Phân phối”, “Xúc tiến”, “Lòng trung thành thương hiệu” đều có 5 chỉ báo, lấy tổng ngẫu nhiên 2 và 3 trong số 5 chỉ báo của mỗi khái niệm, “Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu” có 11 chỉ báo lấy tổng 5 và 6 trong số 11 chỉ báo để hình thành nên 2 chỉ báo chung cho mỗi thang đo của 5 cấu trúc khái niệm này. Kỹ thuật này đã giúp cải thiện độ phù hợp của mô hình ở mức chấp nhận được (GFI > 0.95; CFI > 0.98; RMSEA = 0.073). Kết quả trên bảng 1 cung cấp các chứng cứ về độ giá trị hội tụ và tin cậy của các thang đo.

     

    Bảng 1. Cấu trúc khái niệm, trọng số nhân tố và độ tin cậy tổng hợp

     

    Cấu trúc khái niệm

    Trọng số nhân tố

    t-values

    Độ tin cậy

    Phương

     
       

    Không chuẩn hóa

    Chuẩn hóa

    tổng hợp

    sai trích

     
       
             
                 

    Giá

    1.13 – 1.21

    0.88 – 0.94

    16.83 – 18.06

    0.91

    0.83

     
                 

    Chất lượng

    3.29 – 3.69

    0.87 – 0.91

    19.06 – 20.58

    0.88

    0.80

     
                 

    Phân phối

    2.38 – 3.17

    0.89 – 0.91

    20.14 – 20.64

    0.90

    0.81

     
                 

    Xúc tiến

    2.00 – 3.27

    0.84 – 0.87

    17.81 – 18.73

    0.84

    0.73

     
                 

    Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu

    5.20 – 5.90

    0.89 – 0.93

    20.14 – 21.66

    0.91

    0.83

     
                 

    Trung thành thương hiệu

    2.95 – 3.34

    0.82 – 0.99

    16.98 – 21.98

    0.91

    0.83

     
                 
    1. Đánh giá các quan hệ cấu trúc và kiểm định giả thuyết

    Kết quả cho thấy giá trị của thống kê Chi – bình phương là 122.419 với 43 bậc tự do, xác suất P = 0.000 chứng tỏ rằng thống kê này là có ý nghĩa với kích thước mẫu 333. Tỷ số Chi – bình phương chia bậc tự do

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 213

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

    CMIN/DF = 2.847 < 3.0 là khá tốt. Giá trị RMSEA = 0.075 < 0.08, đồng thời hai giá trị GFI = 0.941 và CFI = 0.975 là cao hơn mức đề nghị 0.90. Kết quả phân tích này hàm ý rằng mô hình phương trình cấu trúc có độ phù hợp tốt so với dữ liệu hiện có.

     

    Bảng 2. Kiểm định các quan hệ cấu trúc trong mô hình đề xuất

     

    Giả thuyết

    Kết luận

    Hệ số cấu trúc

     

    Thống kê t

         

    Không chuẩn hóa

     

    Chuẩn hóa

           
               

    H1

    Ủng hộ

    0.42

     

    0.64

    10.54***

               

    H2

    Ủng hộ

    1.82

     

    0.35

    5.14***

               

    H3

    Ủng hộ

    0.82

     

    0.16

    3.43***

               

    H4

    Ủng hộ

    1.93

     

    0.37

    4.41***

               

    H5

    Ủng hộ

    0.91

     

    0.18

    2.45*

               

    p < 0.05, ** p < 0.01, *** p < 0.00

     

    R2: Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu = 79.8%, Lòng trung thành thương hiệu = 41.5%.

     

     

    1. Thảo luận

    Kết quả phân tích khẳng định rằng, 4P đều ảnh hưởng dương đến sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, đến lượt nó cũng tác động rất mạnh đến lòng trung thành thương hiệu. Mặc dù tất cả 5 giả thuyết nghiên cứu đều được ủng hộ nhưng vai trò của chúng là khác nhau. Thật vậy, tương quan giữa sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu đối với lòng trung thành thương hiệu là mạnh nhất. Thứ hai, là tác động dương của phân phối đối với sự nhận biết và liên tưởng đó. Mối quan hệ của phân phối còn mạnh hơn của chất lượng cảm nhận tiếp đến là xúc tiến. Giá có ảnh hưởng yếu nhất. Điều này xuất phát từ thực tế vì khi đi mua sản phẩm thương hiệu người ta quan tâm đến chất lượng và xem giá như là một dấu hiệu của chất lượng. Vì thế, giá có tác động yếu nhất đối với sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu (Yoo, Donthu và Lee, 2000).

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
    2. Kết luận

    Mục tiêu nghiên cứu ở đây là kiểm định mối quan hệ giữa Chất lượng, Giá, Phân phối, Xúc tiến, Sự nhận biết và liên tưởng thương hiệu, Lòng trung thành thương hiệu Sanest Khánh Hòa, Khách hàng, bao gồm các đoàn khách du lịch trên cả 3 miền đến Nha Trang. Kết quả đã ủng hộ 5 giả thuyết tác giả đưa ra. Nhưng Công ty cần tập trung nâng cao Lòng trung thành thương hiệu thông qua Sự nhận biết, liên tưởng đối với sản phẩm vì sự tương quan giữa 2 yếu tố này là mạnh nhất. Tuy nhiên, để làm được điều đó công ty cần đẩy mạnh công tác marketing-mix. Phân phối và Chất lượng có tác động mạnh đối với Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu. Vì thế, nên tập trung hoàn thiện hệ thống phân phối, chất lượng để đem lại sự thuận tiện và tự tin cho khách hàng,

    đó là yếu tố quan trọng trong bối cảnh ngày nay. Xúc tiến có tác động tương đối yếu nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng xúc tiến giúp khách hàng lưu giữ hình ảnh rất tốt. Do đó, Công ty nên có các chiến lược xúc tiến ấn tượng vì khách hàng đánh giá không cao yếu tố này. Giá cũng có ảnh hưởng đến Sự nhận biết, liên tưởng thương hiệu nhưng khách hàng nhận xét giá là cao, điều này phù hợp với lý luận ở trên và chiến lược giá mà Công ty xây dựng. Tuy nhiên, Công ty cũng nên hết sức linh hoạt để có những chiến lược giá sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay. Mặt khác, bài báo cũng có một số hạn chế: trước tiên là đối tượng điều tra, mẫu thuận tiện đã làm hạn chế tính khái quát hóa các kết quả của mô hình, điều này yêu cầu phải lặp lại nghiên cứu tương tự cho một mẫu có tính đại diện và ngẫu nhiên để tăng tính chính xác, khái quát hơn. Tiếp đến, vì chỉ tập trung nghiên cứu các biến marketing-mix, nên nghiên cứu này đã bỏ qua một số yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu như hình ảnh cửa hàng, văn hóa, giá khuyến mãi (Yoo, Donthu và Lee, 2000). Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng để có bức tranh toàn diện hơn.

     

    1. Kiến nghị

    Chất lượng và xúc tiến là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp khách hàng nhận biết, liên tưởng và tăng sự trung thành của người tiêu dùng. Với mục tiêu duy trì và nâng cao chất lượng của sản phẩm, đề tài này muốn đưa ra một số kiến nghị như sau:

     

    Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách thông thoáng và thủ tục tinh gọn hơn trong vấn đề nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại tiên tiến trên thế giới để phổ biến về cho các cán bộ học tập và chuẩn bị tiếp cận. Đây là một tiền đề hết sức quan trọng để

     

    214 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

     

    Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản

    Số 3/2014

     

     

    các công ty không ngừng phát triển trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề, tính chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, đó cũng là nền tảng để tạo ra những sản phẩm chất lượng với giá cả hợp lý giúp khách hàng có điều kiện tiếp xúc với sản phẩm một cách dễ dàng hơn và hơn thế nữa nó là nhân tố nâng cao sự nhận biết, liên tưởng và trung thành thương hiệu trong họ.

     

    Thứ hai, hiện nay, thương hiệu Sanest đã được đa số khách hàng biết đến và tin dùng. Do đó, trong thời gian gần đây công ty chủ quan nên không có những điều tra về nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng. Vì thế, nếu muốn đáp ứng tốt hơn nhu

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Tiếng Việt

    cầu ngày càng cao của họ thì Công ty cần nỗ lực nhiều hơn trong việc tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của khách hàng. Từ đó, góp phần nâng cao sự hài lòng để đạt được mục tiêu cuối cùng là lòng trung thành của họ.

     

    Cuối cùng, hệ thống phân phối của Công ty hầu hết tập trung ở các thành phố lớn. Vì thế, Công ty nên mở rộng mạng lưới phân phối ở các tỉnh lẻ để họ có cơ hội tiếp cận với sản phẩm một cách dễ dàng hơn. Nhưng ở các tỉnh lẻ thì giá cả là vấn đề khiến họ quan tâm. Do đó, Công ty cần có chính sách giá theo khu vực phù hợp với thu nhập vẫn còn đang thấp.

     

    1. Phillip Kotler, 2007. Quản trị Marketing. NXB Thống kê. TP. Hồ Chí Minh.
    1. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002. Nghiên cứu các thành phần của giá trị thương hiệu và đo lường chúng trong thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam. B2002-22-33.

    Tiếng Anh

     

    1. Aaker, D.A. and Keller, K.L., 1990. Consumer evalutions of brand extensions. Journal of Marketing, 54 (1): 27-41.
    1. Aaker, D.A., 1991. Management brand equity: Capitalizing on the value of a brand name. New York, the free press.
    1. Aaker, D.A., 1996. Measuring brand equitty aross products and markets. California Management Review, 38 (3): 102-120.
    1. Beauty, S.E. and Kahle, L.R., 1988. Alternative hierachies of the attitute behavior relationship: The impact of brand

    commitment and habit. Journal of Academy of Marketing Science, 16 (summer): 1-10.

     

    1. Boulding, W., Lee, E. and Stealin, R., 1994. Mastering the marketing mix do advertising, promotion and sales force activities lead to differentiation. Journal of Marketing Research, 31 (3): 159-172.
    1. Keller, K.L., 1993. Conceptualizing, measuring and managing customer-based brand equity. Journal of Maketing, 57 (1): 1-22.
    1. Keller, K.L., 2001. Building customer-based brand equity: A blueprint for creating strong brand. Marketing Management, 7: 15-19.
    1. Kamarura, W.A. and Russell, G.J., 1993. Measuring brand value with scanner data, International Journal of research marketing April: 3-22.
    1. Kirmani, A. and Wright, P., 1989. Money talks: Perceive advertising exppenditures and expected product quality. Journal of

    Consumer Reseach, 16 (12): 344-355.

     

    1. Magretta, J., 2003. What management is? How its works and why it’s everyone’s business. Profile books.
    1. Olsen, S.O., 2002. Comparative evaluation and the relationship between quality, satisfaction and repurchase loyalty. Journal of the Academy of Marketing Science, 30: 240-249.
    1. Schiffman, L.G. and Kanuk, L.L, 2010. Consumer behavior. 10th Pearson Prentice Hall, Boston, MA.
    1. Seiders, 2005. Do satisfied customers really buy more? Examining moderating influences in a retailing context. Journal of Marketing, 69 (October): 26-43.
    1. Shimp, T.E., 1997. Advertising, promotion and supplemental aspects of integrated maketing communication. Fort Worth TX: Druden Press.
    1. Smith, D.C and Park, C.W., 1992. The effect of brand extension on marketing share and advertising efficiency. Journal of Marketing Research, 29 (8): 296-313.
    1. Wood, L., 2000. Brands and brand equity: definition and management. Management Dicision, 38 (9): 662-669.
    1. Yoo, B., Donthu, N. and Lee, S., 2000. An examination of selected maketing mix elements and brand equality. Journal of Academy Maketing Science, 28 (2): 195-211.
    1. Zeithaml, V.A., 1988. Consumer perception of price, quality and value: a mean-end model and synthesis of evidence. Journal

    of Maketing, 52 (7): 2-22.

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 215


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Customer satisfaction with online group buying services

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Customer-satisfaction-with-online-group-buying-services.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Customer satisfaction with online group buying services

    Journal of Economics and Development Vol. 15, No.1, April 2013, pp. 91 – 120

    ISSN 1859 0020

       

    Customer Satisfaction with

     

    Online Group-Buying Services

     

    Vu Huy Thong

    National Economics University, Vietnam

    Email: [email protected]

     

    Tran Mai Trang

    Academy of Finance, Vietnam

     

    Abstract

     

    Given the essential role of customers to the success of any business, particularly newly-established ones, it is crucial for Hanoi’s online group-buying (OGB) compa-nies to make constant efforts to keep their customers satisfied. This research aims at investigating customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB through both quantitative and qualitative methods including an online customer survey with 150 OGB customers, in-depth interviews with 20 customers, and participant observation of five OGB websites.

     

    The research results show that the key factors affecting OGB customer satisfac-tion include product price, merchandise variety, information quality, product quali-ty, and delivery. Also, despite the high likelihood of customers’repurchasing and rec-ommending to others, Hanoi’s OGB business has not yet met customer satisfaction, particularly in terms of the information quality, supplier’s reputation, product qual-ity and delivery. The root causes of this situation include the incomplete legal frame-work and ineffective management at macro-level; the poor quality management and business ethics of OGB companies; and the limited OGB customers’ awareness of their rights and responsibilities.

     

    Keywords: Online group-buying, customer satisfaction, macro-management, Hanoi, business ethics.

     

    Journal of Economics and Development                            91                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. Introduction

     

    Vietnam’s market adopted the Online Group-Buying (OGB) business model in late 2010 and since then the business has been developing rapidly in big cities of the country, particularly Ho Chi Minh City (HCMC) and Hanoi. With its dominant economic advan-tages, OGB is considered a potential purchas-ing channel, which has attracted an increasing customer volume, particularly under the diffi-cult situation of Vietnam’s economy at the cur-rent time. Statistics show that as of April 2012, approximately 97 group-buying websites have been operating in Vietnam, in which Nhommua, Muachung, Hotdeal, and Cungmua are the four biggest players, accounting for around 90% of the total OGB market share (FTA Marketing Research and Consultant Company, 2011). Geographically, HCMC is a much more active market for OGB than Hanoi with its market share being 71% compared to only 23% for Hanoi (Do, 2011). The rapid establishment of group-buying websites regis-tered signals the fierce competition in order to attract and retain customers.

     

    On the other hand, the growth of OGB busi-ness is characterized by the revenue and num-ber of deals provided. Results from market research show a dramatically increasing trend of these two indicators in Vietnam’sOGB mar-ket.

     

    Despite the increasing number of OGB companies established in Vietnam, this new model is still in its initial development stage with a modest market share and a great level of spontaneity. Poor experience and professional-ism in operating this new type of business has resulted in the recent shutdowns of a number

     

    of OGB sites, which further implies the severe competition within this harsh and unsystemat-ic business context. This stresses the necessity for attracting and retaining OGB customers to maximise the potential of the business model. Improvement in customer satisfaction can be seen as the key to achieving this purpose, since customer satisfaction plays a role as a remark-able determinant of repeat sales, good word-of-mouth, and customer loyalty leading to an increase in profitability and growth (Sheth, 2001). This is particularly essential in today’s market where customers are presented with lots of choices and thus are becoming more demanding and very critical when their expec-tations are not met.

     

    Therefore, an in-depth understanding of OGB customers’ perspectives on this emerging business in Vietnam is of great importance, which has however, not been thorough ly examined yet. This research aims to:

     

    – identify key factors affecting customers satisfaction of Hanoi’s OGB;

     

    – measure the customer satisfaction degree for each key factor;

     

    – determine underlying reasons causing OGB customer dissatisfaction; and

     

    – come up with recommendations for key stakeholders to improve customer satisfaction in the context of Hanoi’s OGB business.

     

    The research focuses on Hanoi’s OGB mar-ket given its strong potential for the OGB busi-ness development in terms of high internet penetration rate (Cimigo, 2011), modest OGB market share (Do, 2011), and high level of cus-tomer loyalty (AC Nielsen, 2009).

     

    2. Theoretical framework

     

     

    Journal of Economics and Development                            92                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    2.1. Online group-buying

     

    OGB refers to a computer-based mercantile exchange mechanism that enables consumers to benefit from volume discounts achieved through shopping together (Kauffman, & Wang, 2001). In this mechanism, OGB web-sites play an intermediate role to enlarge the reach for the vendors offering discounts and create a convenient platform for customers to find the best bargains.

     

    Being one type of online shopping, OGB has all the advantages that online shopping can offer such as time and money savings, global access, reduction of customer’s discomfort caused by factors like judgmental sales assis-tants, traffic jams, etc. (Rowley, 1996). Furthermore, one major advantage of OGB has over ordinary online shopping is its impressive discount offer, which is either a dynamic pric-ing mechanism or a static one (Anand, & Aron, 2003; Kauffman, & Wang, 2001). The former mechanism determines the discount prices by price-quantity functions; whereas, the latter has pre-determined and fixed discount prices.

     

    On the other hand, online shopping cus-tomers in general and OGB customers in par-ticular face numerous challenges that might hinder their adoption of these shopping chan-nels. These challenges include: the possibility to physically examine the product or the retail-er (Ba, Whinston, & Zhang, 2003); the credi-bility and security of online transactions; the invasion of privacy (Libbon, 1999); the mech-anism of payment and refunds, reliability, cus-tomer service; and the ability to cancel orders online (Jones, & Vijayasarath y, 2000). Particularly, given the increasingly great con-cern of online customers on the privacy issues,

     

    numerous academic efforts over years have been made to address this issue such as those of Devlin (1965), Van Swaay (1995) and Flaherty (1991).

     

    2.2. Concept of customer satisfaction Despite the importance of customer satis-

     

    faction, there is still a lack of a consensus in the definition of this concept due to its ambi-guity. From the literature, customer satisfac-tion definitions are divided into two schools of thought that put stress on either an evaluation process or a response to an evaluation process (Giese, & Cote, 2002) with more representa-tives in the latter school. However, each of these definitions only focuses on one segment of response and at a certain stage of the pur-chasing process; thus, it might be difficult for either definition to create a whole conceptual picture of customer satisfaction.

     

    Addressing those weaknesses, Kotler’s def-inition of customer satisfaction is used in this research to conceptually shed light on Hanoi’s OGB customer satisfaction. Kotler (1997) states that customer satisfaction refers to the result of the customer’s experiences coming from various purchasing processes, including: need arousal, information search, alternatives evaluation, purchase decision, and post-pur-chase behaviour. This definition covers all possible responses that might occur as a result of the purchasing experience. Furthermore, it does not restrict the satisfaction timing in a single purchasing phase like many other defi-nitions but instead goes from the most initial stage to the very last step.

     

    2.3. Theoretical models on OGB customer satisfaction

     

     

    Journal of Economics and Development                            93                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    As the literature shows, very little customer satisfaction research has specialised in OGB. There is hardly any model that specifically looks into the satisfaction of OGB customers. Nonetheless, numbers of academic studies on online customer satisfaction can be utilised for the analysis of customer satisfaction in the OGB context, provided that suitable adapta-tion and adjustments are in place.

     

    After reviewing the most relevant models, two remarkable approaches stand out. The first approach stresses the analysis of processes through which customers reach satisfaction, while the second emphasises determinants of customer satisfaction during different stages of the purchasing process.

    A typical model of the first approach is the Expectation-Confirmation Theory (ECT). It emphasises the cause and effect relationship between consumers’ expectations prior to pur-chase, their perceived performance, and their confirmation, satisfaction and intention to repurchase goods or continue service use. It states that consumers’ repurchase intentions mainly depend on their satisfaction with the previous use of that product or service (Anderson, & Sullivan, 1993) while holding expectation as an additional determining factor of satisfaction (Bhattac herjee, 2001). However, Bhattacherjee (2001) is critical that the ECT model does not consider the possible changes in a customer’s expectation resulting from previous consumption experience. In addition, Yi (1990) singles out the differences and even contradictions in conceptualising whether the satisfaction construct in the ECT studies can be interpreted as attitude and emo-tion. The concept of expectation is also

     

    defined very differently across the ECT stud-ies.

     

    To address the lack of the post-consumption expectation construct in the ECT and better adapt the ECT to the information system con-text, Bhattacherjee (2001) introduces the

    Expectation-Conf irmation Model of Information System (IS) Continuance. This model only focuses on the post-consumption variables with the justification that the effects of pre-consumption variables are already cap-tured in the “confirmation” and “satisfaction” constructs. More importantly, it adds a crucial construct of post-consumption perceived use-fulness as a representative of the post-con-sumption expectation, a very essential but missing construct in the ECT model. However, as this advanced model only focuses on the whole process leading to the continuance of use in the IS context, it does not cover the spe-cific determinants contributing to customer satisfaction, thus it hardly facilitates a practical analysis to come up with realistic recommen-dations for the development of a specific type of business.

     

    The second approach puts great stress on the factors contributing to customer satisfaction during different stages of the purchasing process instead of the process leading to cus-tomer satisfaction. Two outstanding represen-tatives include the E-service Quality Dimension model (Lee, & Lin, 2005), and the Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment (Liu, He, Gao, & Xie, 2008).

     

    Lee and Lin’s E-service Quality Dimension model (2005) establishes linkages between e-service quality dimensions in online shopping with overall service quality and customer sat-

     

    Journal of Economics and Development                            94                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 1: Proposed research model for OGB customer satisfaction analysis

     

     

     

     

     

     

    Source: Adapted from Smith (2007) and Liu et al. (2008)

    isfaction, which in turn affect customer pur-

    Gao and Xie (2008) looks into various factors

    chase intentions, and therefore can be suitable

    that can affect customer satisfaction in the

    for studies on e-service in general, but not

    three stages of the purchasing process, namely

    research on particular aspects of the OGB cus-

    information search and alternatives evaluation

    tomer satisfaction.

    (pre-purchase), purchase, and post-purchase.

    The Model of Satisfaction Process in E-

    Nonetheless, Liu et al.’s model still misses

    commerce Environment proposed by Liu, He,

    some important factors typical for OGB that

    Journal of Economics and Development                            95                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    can affect customer satisfaction, particularly in Vietnam’s context; for example supplier’s rep-utation, quality of product and sales assistant’s attitude.

     

    Incorporating both of the above approaches, Smith (2007) introduces a comprehensive model called the Measuring Model for Customer Satisfaction, which covers both sat-isfaction process and factors affecting satisfac-tion. However, its list of product/service attrib-utes is quite generic and does not include dis-tinct characteristics of OGB where the partici-pation of an intermedia te party exists. Specifically, it does not cover attributes of OGB websites like website design and transac-tion capability as well as security and privacy factors, which are typical for online shopping.

     

    After a thorough analysis of the pros and cons of different relevant theoretical models, the authors developed the Proposed Model for OGB Customer Satisfaction Analysis to be used in this research (see Figure 1) to explore the customer satisfaction in general, and for each key factor affecting satisfaction in partic-ular while taking into account the customer’s expectation prior to purchase for further impli-cations on how well OGB companies fulfil the needs of customers.

     

    This model was adapted from the Smith’s Measuring Model for Customer Satisfaction and Liu et al.’s Model of Satisfaction Process in E-commerce Environment. Specifically, it expressed the interaction between customer expectation, perceived quality and satisfaction and positive post-purchase behaviours, i.e. the process of customers reaching their satisfac-tion using the OGB service, as presented in Smith’s model, while listing a number of fac-

     

    tors affecting customer satisfaction suitable to the OGB context as introduced in Liu et al’s model. Moreover, three elements specifically related to Vietnam’s context including suppli-er’s reputation, product quality and sales assis-tant’s attitude were added as extra factors affecting OGB customer satisfaction in Hanoi’s context. These elements were derived from the results of the authors’ desk study via a number of relevant articles from newspapers like Thanh Nien, Tuoi Tre, Tien Phong, etc as well as the authors’ interviews prior to the sur-vey.

     

    3. Research methodology

     

    The aims of this research were not to test any assumption or theory but to explore how Hanoi’s customers are satisfied with OGB companies and to present remarkable patterns and phenomena related to this issue based on the proposed model in Section 2.3. Therefore, the authors followed an inductive approach to carry out the research. Given the limited sam-pling size, the research could hardly formulate a generalised theory for the phenomena that were observed. Instead, it could be a good starting point to facilitate any further research on a larger scale and with more statistical sig-nificance.

     

    Following this approach, a combination of quantitative and qualitative research was applied. The qualitative research, including in-depth interviews with 20 Hanoi OGB cus-tomers and observations on five OGB websites and stores in Hanoi, was conducted prior to the quantitative research to explore factors affect-ing OGB customer satisfaction, customer sat-isfaction relating to the affecting factors, and key root causes of customer dissatisfaction in

     

    Journal of Economics and Development                            96                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    order to provide insights for the formulation of the quantitative research. The selected inter-viewees were the authors’ acquaintances who purchased through the OGB channel at least five times. The limited number of interviewees was due to the authors’ time being constrained, scared financial resources as well as the reluc-tance of many people to do in-depth inter-views, as it is a time-consuming process. Key findings from the qualitative research are pre-sented in Box A1 – Appendix.

     

    On the other hand, the quantitative research in the form of a customer survey aimed at quantifying general patterns about the issues related to shopping experiences of Hanoi’s OGB customers and more importantly, meas-uring customer satisfaction towards OGB companies in Hanoi. To design the question-naire for the survey, it was important to find a suitable rating scale to measure the degree of satisfaction of Hanoi’s OGB customers. In this sense, the authors applied the Likert-type five-category satisfaction scale of “Very Dissatisfied – Dissatisfied – Neutral – Satisfied – Very Satisfied” (Vagias, 2006) with the rationale that a five to seven-point scale pro-vides a higher level of reliability and validity than a scale with fewer points; while more thoroughly graded scales were proven not to improve the reliability and validity any further and the results of five- and seven-point scales were found to be quite compatible (Dawes, 2008).

     

    In brief, the questionnaire design was based on the proposed theoretical framework, inputs of the qualitative research, and the Likert-type five-category satisfaction scale to measure Hanoi’s customer satisfaction with OGB serv-

     

    ices. Technically, the questionnaire was creat-ed through the exploitation of Google Docs, a free online survey-creation tool that assists both survey creation and data analysis.

     

    Before launching the survey, the question-naire was pre-tested for necessary adjust-ments; and then, in late September 2012, post-ed on online social networks including Facebook1, Webtretho forum2, sent via e-mail and online messengers3 with an invitation to join the research and help identify new cases by forwarding the invitation to their acquain-tances. In other words, non-probability sam-pling with self-selection and snowball sam-pling techniques were applied to collect pri-mary data.

     

    With regard to the sample size of the survey, given the current statistical system of Vietnam, it was very difficult (or, it could be said, impossible) to identify the total number of OGB customers currently in Hanoi. Therefore, instead of calculating the sample size using a specific formula and confidence level, the authors determined the sample size based on past research experience. Also, considering the above-mentioned limitations in terms of resources as well as the long-awaited respons-es of the two sampling techniques, the authors decided to finish the survey when 150 respons-es collected.

     

    The data analysis was executed with the help of Google Docs and Microsoft Excel. Google Docs was used to process the data col-lected in the forms of frequency distribution and percentage frequency distribution while Excel was for cross tabulation analysis.

     

    1. Results and discussion

     

     

    Journal of Economics and Development                            97                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    4.1. General characteristics of Hanoi’s OGB customers

     

    4.1.1 Profile of respondents

     

    This section presents the profile of the sur-vey respondents regarding their age, gender, marital status, occupation, and monthly per-sonal income as in the table 1.

     

    Table 1 shows that the majority of the respondents are female and in the younger age groups with 84% of the respondent under 36 years old. The dominant occupation is office staff and students accounting for 89% of the respondents in which office staff are in the

     

    majority (74%). There are no big differences in the proportion of married to single respondents as well as in the distribution of respondents in the various personal income groups.

     

    4.1.2. Overall OGB shopping experiences This section presents the sources of infor-

     

    mation through which the respondents learn of OGB, reasons they buy via OGB, and their shopping habits related to frequency, price range and product type.

     

    The survey results show that the majority of the respondents first learned of OGB websites through the Internet and friends/acquaintances,

     

     

    Table 1: Profile of respondents

       
             
       

    [1]

    

    

     

     

     

    [1]

    

     
     

    [1]

       
       
       

      

    

    

       

    
       

    

    


     

     

    

     

    
        

       
     

     

    

       
       

    [1]

       
       

    

    

    


     

      

     

    [1] 

    

    

       

    [1]

       
       

    ‑‑­  [1]‑‑

     

    

       

    ! 

    

     

     [1]

     

    “[1] 

       
       

    # 

     

    

       

    [1]

       
       

    $ % &'( 
     

    

     
       

    
     &'(      #[1]

     

     

    


    [1]

     

       
    [1]   [1]

     

    
     &'(   

     

    

    

       

     &'(

     

    

    

       

    [1]

       

    Journal of Economics and Development                            98                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    accounting for 70% and 60% respectively. This is expected given the high prevalence of the Internet in Hanoi and its advantages in terms of global access, availability, and inex-pensiveness, as well as the power of word-of-mouth advertising in such a collectivist socie-ty like Vietnam. This reasoning was also con-firmed by the interviewees’ answers in the qualitative research carried out prior to the sur-vey. In contrast, it seems that T.V. is not an appropriate advertising channel for OGB as only 4% reported that they first heard of OGB from T.V.

     

    It can be seen that attractive price is the most common reason for the majority of the respondents (82%) becoming OGB customers, followed by door-to-door delivery (49%). These results were similar to the findings of the qualitative research where most of the interviewees said that they selected this shop-ping channel mostly because of its pricing advantage and door-to-door delivery charac-teristic. These factors can be considered the key advantages of OGB over the traditional purchasing model. The attractiveness of dis-counts to Hanoi’s people is also emphasised in AC Nielsen’s 2009 report on HCMC and Hanoi regional consumer differences.

     

    With regard to shopping frequency, over half of the respondents made their latest pur-chases within the last month, in which 28% purchased within the last week. Women are found to have a greater OGB experience than men with 61% using OGB within one month while this percentage is 45% for men. However, most of the respondents are not reg-ular OGB shoppers since only 7% shop every week and 9% do it every two weeks.

     

    In terms of price range, the respondents gen-erally buy products at rather low prices through this purchasing channel. Sixty percent often buy products priced from VND 200,000 to 500,000 and only 9% buy items over VND 1,000,000. Interestingly, the personal income level seems to be not strictly related to the price of the products bought. Many high-income respondents whose monthly salary is over VND 10 million, purchase products with-in the low price ranges, with 29% buying less than VND 200,000 and 54% buying from VND 200,000 to below VND 500,000.

     

    The most consumed product type is food and beverages (64%), followed by household items (47%) and fashion products (41%) which might result from the generally good experience of the customers with these prod-ucts and the fact that eating is among the most basic human needs, and eating out in a group is a Vietnamese people’s habit.

     

    Regarding the payment method, the majori-ty of the respondents (84%) chose to pay in cash. This possibly results from the incomplete technology infrastructure for online payment in Vietnam, consumer’s concern about online payment security, and the Vietnamese habit of using cash. Additionally, due to the lack of trust in the quality of OGB products, many customers want to check the products physi-cally before making payment instead of paying online in advance. These findings are support-ed by Cimigo’s recent research in Vietnam, which states that very few Internet users feel safe to buy products online and many do not trust online payment systems (Cimigo, 2011).

     

    4.2. Key factors affecting OGB customer

     

     

    Journal of Economics and Development                            99                                                    Vol. 15, No.1, April 2013

     

    satisfaction

     

    4.2.1. Factors affecting customer satisfac-tion

     

    Figure 2 presents the respondents’ percep-tion of factors affecting their satisfaction towards Hanoi’s OGB in three stages of the purchasing process, in which the factors in the pre-purchase and post-purchase stages were generally considered more meaningful than those in the during-purchase stage with higher rates of selection in these first and last stages by respondents. Interestingly, the four most voted factors include price level, product qual-ity, information quality and delivery, were also mentioned by many interviewees as the factors that had great impact on their satisfaction with OGB business.

     

    The section below provides a detailed analysis of the five most salient factors cited by the highest rates of the respondents (50% or more) as ones that affected their satisfaction towards Hanoi’s OGB including product price, merchandise variety, information quality, product quality, and delivery. Another factor – security/privacy – despite a low rate of selec-tion, signals a significant discrepancy between the findings and existing literature, and thus is also put into consideration.

     

    1. a) Product Price

    Most of the respondents (81%) selected the product price as a factor influencing their over-all satisfaction. This is rational since psycho-logically, customers in general and Hanoi’s customers in particular favour promotional

     

    Figure 2: Factors affecting the respondent’s satisfaction towards Hanoi’s OGB in different stages of purchasing process

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           100                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    programs (AC Nielsen, 2009), among which big discounts may be the most attractive par-ticularly in the current difficult economic con-ditions. The significant discount rates certain-ly give customers the feeling of getting a good deal economically. Therefore, it can be said that the product price receives the greatest attention of customers when judging their sat-isfaction. This goes in line with the finding in Section 4.1.2 that attractive price is the most popular reason for website visitors to use OGB.

     

    1. b) Information quality

    Approximately 50% of the respondents cited the information quality of the OGB web-sites as a factor affecting their satisfaction level. This can be explained by the fact that OGB customers cannot physically examine the products prior to purchase, so the information posted on the OGB websites is the key refer-ence source for their purchasing decisions.

    To enable customers to make informed pur-chasing decisions, it is therefore crucial to have detailed, complete and correct product information on the OGB websites. This is sup-ported by Liu et al.’s studies (2012) in their discussions about the importance of informa-tion quality in the OGB model.

     

    1. c) Merchandise variety

    52% of the respondents picked the merchan-dise variety as a factor that can vary their OGB satisfaction with the rationale that they consid-ered OGB as one of the main shopping chan-nels, and they expected a wide enough variety of products from the OGB websites to satisfy their needs. An inability to provide such a wide product range may damage customers’ positive

     

    feelings about the websites and make them turn to other shopping models eventually.

    Other interviewees, who did not pick this factor, thought of OGB as a “journey of enjoy-ment” rather than a normal purchasing experi-ence. They therefore tend to buy stuff that catches their interest, not necessarily based on their needs. The merchandise variety is there-fore not really their concern.

     

    1. d) Delivery

    The delivery of the purchased product is perceived by about half of the respondents as a contributing factor to their satisfaction. Delivery plays an important role in the opera-tion of an OGB website since delayed deliver-ies, lack of delivery points, charged deliveries or wrong deliveries can easily make customers frustrated. It is thus fair to say that delivery receives significant attention of customers, particularly in the new and flourishing OGB market in Hanoi where unsystematic operation is expected.

     

    1. e) Product quality

    Quite a high percentage (58%) of the respondents considers product quality as hav-ing an effect on their satisfaction with Hanoi’s OGB. Given that the quality issue is particular-ly crucial for Vietnam’s OGB in general and Hanoi’s OGB in particular, customers tend to put extra attention on this factor instead of just concentrating on big discounts. This proves the increasingly demanding characteristic of Hanoi’s consumers who love discount prices without tolerating low quality in exchange. This finding is supported by AC Nielsen’s sur-vey (2009) where the quality-consciousness of Hanoi’s consumers is emphasised.

     

    Journal of Economics and Development                           101                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    1. f) Security/Privacy

    The survey shows a modest percentage of the respondents (19%) think that the issue of security/privacy can affect their satisfaction level. This finding is totally opposite to the results of many academic studies worldwide where privacy and security in e-commerce have become increasing concerns of online customers; however, this is understandable in the particular context of Vietnam. The risks of the lack of security or privacy being violated mainly occur in two forms, including the expo-sition of customers’ personal contacts without their consent, and the leak of their banking information during online transactions. While many interviewees in the pre-survey qualita-tive research shared their experience about the first form, they hardly thought of it as privacy

     

    violation. This may signal a high level of Hanoi’s OGB customers’ lack of awareness and consciousness of the security/privacy issue. Besides, as most of the respondents pay directly in cash, they are not exposed to the risks of security caused by online payment.

     

    4.2.2. Factors affecting customer satisfac-tion in relation to demographic variables

     

    The research results show that respondents’ perception of which factors affect their satis-faction with OGB business to some extent depends on their demographic status in terms of gender, marital status, occupation, age and personal income.

     

    1. a) Gender

    The study results show differences in the way men and women perceive various factors as contributing to their satisfaction, particular-

     

    Figure 3: Factors affecting the satisfaction of female and male respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           102                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ly product price, and delivery and transaction capability (see Figure 3).

     

    It is found out that women generally paid more attention to the price of products than men (85% versus 68%) as they were often responsible for daily expenditures in their fam-ily. Also, since women in general might not be as good as men in information technology, they were more concerned about the transac-tion capability of the OGB websites (42% ver-sus 24%), i.e. the ease to order deals, pay online and track orders. Regarding delivery, the male respondents seemed to have greater interest than women (63% versus 45%), which is reasonable as men generally want to shop in

     

    the most efficient way, whereas women enjoy shopping and do not mind going to the OGB company offices or suppliers’ stores to choose the most suitable products. This finding is in agreement with Knowledge Wharton’s study (2007) about the variation of shopping behav-iour of different genders.

     

    1. b) Marital status

    The biggest difference between the married and the single respondents was their interest in the delivery, with 70% of the former caring about this factor when talking about their sat-isfaction with OGB compared to 38% of the latter (see Figure 4). While the single people seem to have more leisure time, the married

     

    Figure 4: Factors affecting the satisfaction of single and married respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           103                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    ones are often busier, thus they are likely to be more concerned with how efficiently a product is delivered.

     

    1. c) Occupation

    Figure 5 shows a significant difference between office staff, students and traders in terms of their perception of product price as a factor affecting their OGB satisfaction, since the selection rates for the three groups were 100%, 77% and 63% respectively. The absolute rate of the student group is explain-able because most students are financially dependent on their parents; therefore, they have to be price-conscious.

     

    1. d) Age

    Clear discrepancies in the perception of the youngest group (under 23) and the oldest group (over 50) can be observed in the selec-tion rates of product price and delivery factors (see Figure 6). Almost all respondents in the youngest group (96%) cared about the product price. As most of the respondents within this age group were likely to belong to the student group, the results of these two groups were understandably comparable (see Section 4.2.2-

     

    c).Meanwhile, 78% of the oldest group were concerned about delivery compared to 38% of the youngest group. This might be because older people tend to be busier so they may

     

    Figure 5: Factors affecting the satisfaction of respondents from different occupations towards Hanoi’s OGB

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           104                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Figure 6: Factors affecting the satisfaction of younger and older group of respondents towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Figure 7: Factors affecting the satisfaction of lowest and highest personal income group towards Hanoi’s OGB

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           105                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    cherish the time-saving characteristic of deliv-ery more than the youngsters.

     

    It can be concluded that the younger age group generally paid more attention to the product price while the older group tended to be more concerned about the delivery process.

     

    1. e) Personal income

    As shown in Figure 7, 91% of the respon-dents who earned less than VND 3 million per month paid great attention to the product price when buying via OGB. This is expected since people with a lower level of personal income usually have to live on a tighter budget than others and thus have a tendency to be more critical of product prices.

     

    4.3. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

     

    The analysis in this section focuses on the overall satisfaction of the survey respondents towards OGB business in Hanoi and the satis-faction degree for each of the factors perceived by most of the respondents as the ones that affect their satisfaction level with OGB busi-ness. These include product price, information quality, merchandise variety, delivery and product quality (see Section 4.2.1). The input data were computed by taking the average sat-isfaction ratings of different variables (see Table A1 – Appendix). The respondents’ expectations of each factor were also taken into account in the analysis to have better insights into OGB business performance.

     

    4.3.1. Overall satisfaction

     

    The survey results on overall satisfaction show that the majority of the respondents (63%) stayed neutral about OGB performance, 27% were satisfied and 10% felt dissatisfied

     

    and worse, which suggests a medium level of overall satisfaction of the respondents (mean: 3.15). From these data, it can be commented that the overall performance of OGB in Hanoi was somewhat up to the respondents’ expecta-tion.

     

    4.3.2. Satisfaction degree for key factors affecting customer satisfaction

     

    1. a) Product price

    As the product price was perceived as the factor affecting customer satisfaction by the highest number of respondents, and the respondent’s top reason to use OGB, the prices offered by OGB were expected to be consider-ably cheaper than those offered by traditional shopping channels.

     

    The survey results show fairly good responses to this factor with the mean satisfac-tion ratings being 3.44 out of 5. Specifically, nearly 40% of the sample found it satisfactory and 5% expressed their utmost satisfaction. This clearly implies that the OGB economical-ly meets or exceeds the expectations of numer-ous Hanoi’s consumers in their search for a money-saving shopping model, particularly in the current difficult situation of the economy.

     

    1. b) Information quality

    It is common sense for customers, particu-larly OGB customers, to expect truthful infor-mation about the products they intend to buy, so that they can make informed purchasing decisio ns. Unfortun ately, the satisfaction degree of the respondents for information quality was quite low, with 45% of the respon-dents reporting their dissatisfaction and the mean satisfaction degree being only 2.57. This may suggest that many customers do not trust

     

    Journal of Economics and Development                           106                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    the information posted on the OGB websites. The  in-depth  intervie ws  captured  com-plaints  about  the  informatio n  inaccuracy regarding products’ original prices, key fea-tures and images as well as unclear and non-transparent origins of goods or unknown sup-pliers. The same findings are found through the authors’ observation of five OGB websites including Nhommua, Muachung, Cungmua,

     

    Hotdeal, and Cucre.

     

    Therefore, it is fair to state that the quality of information provided by Hanoi’s OGB web-sites generally do not meet the customer’s expectation in terms of truthfulness.

     

    1. c) Merchandise variety

    Consumers are likely to expect that the OGB websites will provide them with a large range of goods and services i.e. great merchan-dise variety to facilitate their shopping.

     

    The survey shows that generally the respon-dents were quite satisfied with this factor as the mean satisfaction level was 3.30. Percentage wise, 38% were either very satis-fied or satisfied with the merchandise variety while merely 10% were dissatisfied. Several interviewees who reported dissatisfaction expressed that sometimes they did not find the needed products in these websites or the prod-ucts they wanted to buy quickly had run out of stock.

     

    The above ratings suggest that the OGB websites meet and even exceed the expecta-tions of most customers about the product range.

     

    1. d) Delivery

    It is reasonable for customers to expect quick and free-of-charge delivery with correct

     

    types and sizes of products. Nonetheless, it is revealed through the survey that the delivery seemed not to satisfy the respondents with 36% choosing the “Dissatisfied” category whereas only 19% expressed their satisfaction, which meant an average satisfaction rating of 2.83. The in-depth interviews discovered that key complaints of the delivery focus on delayed, charged and incorrect delivery. This completely matches the authors’ experiences as OGB customers and the related secondary data in this area.

     

    This rating pattern suggests the inability of some OGB companies in meeting the cus-tomer’s expectation of product delivery.

    1. e) Product quality

    As it is often believed that there is a trade-off between low price and good quality, it is seen from the interviews that the respondents tend to set their expectation of the OGB prod-uct quality to be at an acceptable level.

     

    Looking at customer’s expectation of goods and services separately, while the buyers of goods often wish the goods to be functional with rather appealing appearance and good durability, customers buying services expect good quality, friendliness of service providers and particularly equal treatment with normal customers who do not buy through discount vouchers.

     

    Given the above expectation, the product quality received low levels of satisfaction as the respondents rated their satisfaction 2.68 in average 31% of the respondents expressing dissatisfaction, compared to only 2% reporting satisfaction. The qualitative interviews further explored that among the OGB products

     

    Journal of Economics and Development                           107                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    offered, the quality of food and beverage deals were likely to most satisfy the interviewees, while the quality of fashion deals received a lot of negative comments in terms of counterfeits, fakes, unregistered or Chinese products of low quality, which greatly disappointed customers.

     

    4.3.3. Satisfaction degree in relation to demographic and customer shopping habits variables

     

    The examination of possible relationships between the factors affecting customer satis-faction and the demographic, as well as the shopping habits variables, provides a more insightful understanding about the OGB cus-tomer satisfaction. Due to the time limitation, only two key variables were carefully studied, which included gender and shopping frequen-

     

    cy.a) Satisfaction degree and gender

     

    The following radar chart compares the average satisfaction ratings of female and male respondents with regard to different factors affecting customer satisfaction (see TableA2 – Appendix).

     

    The general trend illustrates a medium level of satisfaction from both genders across all the factors, in which females tend to express greater satisfaction than their male counter-parts. However, the factor of supplier’s reputa-tion seemed to please male respondents more than females. This is quite reasonable as females often shop more frequently than males, which might make them more familiar with brands and the repute of suppliers.

     

    Figure 8: Customer satisfaction degree in relation to gender

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           108                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Women can be more critical than men when it comes to supplier’s reputation. The satisfac-tion patterns between female and male do not differ much among the remaining factors.

     

    1. b) Satisfaction degree and shopping fre-quency

    A rough examination of the relationship between the respondents’ shopping frequency and their average ratings of satisfaction demonstrates some interesting findings (see Table A3 – Appendix).

     

    As shown in Figure 9, the more frequent shoppers, who shop every week, generally have a greater degree of satisfaction related to a variety of factors. It might be rationalised that when these respondents interact more fre-quently with OGB, they are likely to under-stand better about the business, have greater chance to experience good things, and become

     

    more tolerant with the OGB experience. This reasoning is in agreement with Zeithaml, Berry and Parasuraman’s journal (1996) about the relationship between shopping frequency and overall satisfaction.

     

    The average rating of supplier’s reputation of the frequent shoppers was remarkably high-er than that of the less frequent buyers, who only purchase via the OGB channel less fre-quently than every two months. This probably implies that the more a person experiences OGB, the better chance they will have to do transaction with more competent and presti-gious suppliers.

     

    4.3.4. Likelihood of using and recommend-ing the OGB channel in the future

    To comprehensively assess customer satis-faction with the OGB business, apart from measuring the satisfaction degree for each fac-

     

    Figure 9: Customer satisfaction degree in relation to shopping frequency

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           109                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tor affecting customer satisfaction, it is neces-sary to explore the likelihood for the existing customers to repeat their OGB buying practice and recommend this shopping model to others.

    Statistically, the majority of respondents (87%) stated that they would continue to buy via this channel and a remarkable percentage (75%) confirmed the likelihood of recommen-dation. This is surprising given the low degree of satisfaction about the product quality among the respondents as previously analysed. A possible explanation for this result is that the huge financial advantage of this OGB channel outweighs the existing quality problems for many customers. This implies that if OGB companies focus more on fixing current quali-ty issues, they can surely win over many more

     

    customers.

     

    4.4. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

     

    The analysis in the previous parts proposes that apart from the respondents’ positive reflection on Hanoi’s OGB business, there are lots of complaints about the business perform-ance. The survey reveals a number of direct reasons for the customer dissatisfaction as illustrated by Figure 10, among which low quality products, false discount rates and incorrect information provided on websites receive the highest level of dissatisfaction.

    To thoroughly address these defects, it is crucial to have a clear idea of the root causes of this dissatisfaction. To this end, the second-ary data from online articles and T.V. inter-views and the primary data from the qualita-

     

    Figure 10: Direct reasons for OGB customer dissatisfaction

     

     

     

     

    Journal of Economics and Development                           110                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    tive research provided a great help. Reviewing these sources of data, the root causes can be distributed into three stakeholder categories; namely: macro-level management, OGB com-panies and OGB customers.

     

    4.4.1. Shortcomings related to legislation and infrastructure at macro level

    Like other businesses, OGB is subject to macro-level management. Thus, to improve the OGB performance, it is necessary to exam-ine the weaknesses in macro management of this business in Vietnam. Based on the aggre-gation of data collected from different sources, the root causes related to macro-level manage-ment can be divided into two main categories regarding the legal framework and the technol-ogy infrastructure.

     

    1. a) Lack of legislative regulations and super-vision

    Despite being a hot-trend in the recent years, OGB business still gets little attention from policy makers in Vietnam. Although there are a number of legislative documents related to consumer protection and e-com-merce such as the Law of Consumer Rights Protection, the Decree on E-commerce, and the Circular on Regulation on Operation Management of E-Commerce Websites Selling Goods or Providing Services, it is fair to say that these documents are still incomplete and insufficient. Particularly, they lack forceful sanctions for violation. Additionally, there has been no legislative document specialised in the segment of OGB, where there is clear involve-ment of a third party.

     

    Furthermore, the supervision and inspection on compliance with the legislations related to

     

    consumer rights protection and e-commerce is inefficient and even weak. Consequently, numerous violations of OGB consumer rights related to low quality and counterfeit products, false price discount, incorrect advertisement information , disputes and redress, online fraud, and etc., increasingly take place without being rightfully addressed by any agencies. This is supported by the survey results about the key reasons for customer dissatisfaction with OGB as aforementioned. Customers who have been defrauded are eligible to take legal action against the fraudulent seller, but the process is particularly time and effort consum-ing while positive results are quite uncertain.

     

    The lack of legislative regulations on the specific responsibilities of each party involved in OGB is proven more clearly given the recent temporary shutdown of Nhommua.com. This shutdown caused a huge blow to its cus-tomers as they felt really anxious about who would protect their consumer rights and how if Nhommua.com was out of the picture.

     

    b)Underdeveloped technology infrastruc-ture in Vietnam

     

    To optimise the advantages of OGB, it is necessary to develop a modern and stable infrastructure of technology that allows smooth and safe online orders and payment.

     

    Unfortunately, the currently underdevel-oped technology infrastructure in Vietnam restricts the capacity of carrying out smooth online transactions while ensuring customer security and privacy. Although the respondents seem not to realise the seriousness of the pri-vacy and security issues with only 8% feeling discouraged by the possible leak of private information and 1% expressing displeasure

     

    Journal of Economics and Development                           111                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    with the risk of their money being stolen (see Figure 10), consumers are certainly exposed to these great risks.

     

    Besides the risk of security/privacy, retrieval of money through Vietnam’s online payment system is quite troublesome, which somewhat prevents customers from using this purchasing channel.

     

    4.4.2. Lack of business management skills and business ethics of OGB companies

    OGB companies are likely to be the party that receives the greatest blame from unhappy customers. The root causes of this dissatisfac-tion related to this party can be categorised into two main issues as follows:

     

    1. a) Limited business management skills of OGB companies

    One of the issues of most concern men-tioned by OGB’s unhappy customers is prod-uct quality. Statistics show that 55% of the respondents reason their dissatisfaction with the below-standard quality of products. This is partly due to the companies’ poor quality con-trol over the goods and services provided, par-ticularly the lack of efficient checking and test-ing of the product quality before signing the contract with suppliers.

     

    Turning to delivery, three main reasons for the respondents’ displeasure include slow delivery, wrong delivery and charged delivery with the consensus of 20%, 6%, and 24% of the respondents respectively. This owes to the OGB companies’ inability to create a system-atic procedure for accurate, smooth and timely delivery as well as to cover their expenses rea-sonably.

     

    The lack of management competence of

     

    many OGB companies is also demonstrated in their lack of professionalism in the handling of questions and complaints from customers, which was the contributing factor to the dissat-isfaction of 17% of the respondents.

     

    Furthermore, the OGB companies are responsible for the protection of customer’s privacy/security. Nevertheless, as David Tran, co-founder of Nhommua.com stated, many OGB companies still pay little attention to per-sonal informati on protection (Stories of Vietnamese products, 2012).

     

    Apart from the above mentioned factors, the inefficient operation of the websites, which dissatisfied 6% of the respondents, also proves the poor management of the OGB companies, particularly in terms of information technolo-

     

    gy.b) Lack of business ethics of OGB compa-nies

     

    Besides resulting from the incompetence in quality management, low product quality can also be caused by the poor business ethics of OGB companies that only focus on high com-missions and large numbers of vouchers sold by offering extremely cheap but low quality products.

     

    The most common demonstration of OGB companies’ unethical practices however, does not relate to the quality problem but involves false discount rates with 47% of the respon-dents being disappointed by this factor. In some cases, the discount prices are even high-er than when the products are sold in a regular manner.

     

    The dishonesty of some OGB companies is also expressed through incorrect product infor-

     

    Journal of Economics and Development                           112                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    mation posted on their websites with 38% of the survey participants expressing frustration. These websites have tons of beautiful and vivid photos of the products, most of which are either purely illustrative or heavily retouched and in no sense describe the actual state of the products. Also, the text descriptions of the product characteristics are sometimes inten-tionally vague or even inaccurate. These cer-tainly mislead site visitors to a high expecta-tion of the products advertised.

     

    4.4.3. OGB customers’ lack of awareness of consumer rights and responsibilities

     

    The dissatisfaction of customers comes from not only objective causes but also the customers themselves. The interview results and the secondary data show two main subjec-tive reasons for customer dissatisfaction , including the customers’ lack of awareness of their rights and their responsibilities while doing trading transactions.

     

    1. a) Customer’s lack of awareness of their rights

    This lack of perception has been described in articles in the mass media. As the customers do not perceive their rights as consumers ade-quately, they become more vulnerable to the bad practices of OGB companies. It is unfortu-nate that this unawareness together with hesi-tation psychology prevents many customers from exercising their rights legitimately.

     

    1. b) Customer’s lack of responsibility during trading transactions

    Besides being entitled to a set of rights, cus-tomers must be responsible for their shopping behavio urs to minimise possible harmful results. However, a lot of customers still lack

     

    this sense of responsibility during their involvement in the purchasing process.

     

    In terms of goods deals, a common problem is a customer’s hasty decision to buy eye-catching but unnecessary goods offered by OGB websites. This leads to a later waste as they hardly find any chance to use that prod-uct. Furthermore, the OGB companies often have tight policies on goods change or cash refund after the receipt of goods. Therefore, some customers who do not carefully check the product before finalising the purchase may get into trouble later if they are not satisfied with the products and want a refund.

     

    In terms of service deals, one serious mis-take that customers can make is not.reading the voucher’s instructions thoroughly This may create troubles for customers when using the vouchers.

     

    5 Conclusions and recommendations

     

    5.1 Conclusions

     

    5.1.1. Key factors affecting OGB customer satisfaction

    It is revealed that product price, product quality, merchandise variety, delivery, and information quality are the most popular fac-tors selected by the highest percentage of the respondents; whereas the response time, pay-ment method, and security/privacy are the least popular ones. It is surprising yet reason-able that the finding about security/privacy goes against the literature where security-pri-vacy is among of the most concerned areas in e-commerce.

     

    Some interesting findings come into view considering different demographic variables. Specifically, females pay more attention to the

     

    Journal of Economics and Development                           113                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    product price and transaction capability when shopping, but are less attentive to the product delivery than males. Delivery seemed to attract more attention of married people than the sin-gle ones, as well as more interest of the older age group than the younger age groups.

    5.1.2. Satisfaction degree of Hanoi’s OGB customers

    The measurement of the customer satisfac-tion degree with the OGB business indicates a medium level of overall satisfaction of the respondents. Among the key factors listed above, the product price and merchandise vari-ety have higher satisfaction degrees while the information quality, product quality and deliv-ery have lower rates.

     

    Taking gender and shopping frequency into account, female customers tended to have higher satisfaction rates than males and more frequent shoppers seemed to be more satisfied than less frequent buyers.

     

    It is revealed that despite not being quite satisfied, the respondents are likely to repeat purchase and recommend to others, which implies that the price advantage outweigh existing problems. This is clearly a good signal for the development of Hanoi’s OGB.

     

    5.1.3. Underlying reasons of customer dis-satisfaction

    The root causes of customer dissatisfaction can result from three parties, including macro-level management, OGB companies, and OGB customers.

    Firstly, the macro-level management over OGB is considered ineffective due to the lack of specific legislative regulations related to OGB and a functional supervision system to

     

    manage the OGB companies’ operation, as well as the underdeveloped technology infra-structure, which may lead to the poor perform-ance of OGB companies and eventually cus-tomer dissatisfaction.

     

    Secondly, the OGB companies are claimed by the majority of interviewees to be responsi-ble for customer dissatisfaction, particularly in terms of the product quality, false price dis-counts, unprofessionalism in complaint han-dling, and incorrect product information. This may be due to their limitation in quality man-agement and more seriously, their poor busi-ness ethics.

     

    Lastly, the customers themselves may con-tribute to the bad purchasing experiences with OGB businesses where they are probably vul-nerable. This happens as a result of the limited awareness of the OGB consumers about their rights and responsibilities.

     

    5.2. Recommendations

     

    From the previous analysis, it is certain that necessary measures need to be taken to improve the satisfaction of Hanoi’s OGB cus-tomers. In this sense, the authors would pro-pose a number of recommendations as fol-lows:

     

    5.2.1. Strengthen macro-level management over the OGB market

     

    Given the incomplete legal framework spe-cialised in OGB, customers’ growing interest in this business form and the current chaotic situation of this market in Vietnam, it is the right time for the authorities to develop specif-ic and detailed regulations with strict sanctions for bad practices in the management and oper-ation of OGB. This is once again re-empha-

     

    Journal of Economics and Development                           114                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    sised by the incident of Nhommua, a big and firmly established OGB company, which tem-porary shut down last December.

     

    As a latecomer to the already-developed worldwide e-commerce market, Vietnam can and should fully take the advantages as a mar-ket follower to learn from the macro-manage-ment of other countries. Vietnam’s govern-ment can then tailor suitable regulations to proactively manage new e-commerce models instead of passively waiting until problems arise to generate ad-hoc solutions.

     

    Several important categories may be taken into consideration with regard to these legal regulations , for example contrac t terms between OGB companies and their suppliers to protect customers, especially in the case of business disputes, as well as a better method of securing suppliers and customers’ money in the case of OGB companies’ bankruptcy. The latter can be implemented through two possi-ble ways. First, OGB companies might be legally required to put customer’s money into an intermediate means of settlement, like an electronic wallet, which would be managed by a concerned governmental authority. Otherwise, OGB companies might be com-pelled to either put aside daily deposits or buy insurance on their business operation to reduce the financial risk for both suppliers and cus-tomers.

     

    These legal regulations should be broadly disseminated to concerned parties, particularly consumers. The OGB customers should be educated to become well-aware of their rights and responsibilities related to OGB business. In this aspect, the relevant social organisations can play a significant role.

     

    Furthermore, macro-level supervision over the operation of OGB companies must be taken into serious consideration. There should be clear-cut regulations prescribing that a gov-ernmental agency will be the direct manage-ment unit of these companies so that they can operate according to the rules while being strictly monitored by the specific agency that bears specific accountability in front of the government.

     

    Additionally, it is necessary for the govern-ment to develop a strategic plan to strengthen the country’s technology infrastructure in order to ensure a safer online transaction envi-ronment to facilitate the operation of e-com-merce in general and OGB in particular.

     

    5.2.2. Improve quality management and business ethics of OGB companies

    Capacity building activities for OGB com-panies are needed to enhance their manage-ment, particularly with regard to quality inspection, delivery, human resources training, question and complaint handling procedures, and information technology skills.

     

    More importantly, these companies must realise that for long-term profits, they have to use more ethical and more professional meas-ures to attract customers, such as improving the product quality and diversity, delivery process, and information quality, rather than trick customers with incorrect descriptions about products or falsely stated discount rates as some OGB companies are doing now. Otherwise, they will soon lose customers due to current fierce competition and increasingly demanding consumers.

     

    5.2.3. Raise awareness of OGB customers

     

     

    Journal of Economics and Development                           115                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    about customer rights and responsibilities Firstly, OGB customers need to well under-

     

    stand their rights and responsibilities to keep themselves from being vulnerable. They have to be continuously updated with legal knowl-edge related to e-commerce and particularly OGB as well as laws about consumer rights protection.

     

    Secondly, consumers should be critical about their responsibilities when shopping. They should refrain from impulse shopping and spend adequate efforts to study a product pre-purchase. Furthermore, they need to care-

     

    fully check the goods before finalising their purchase to avoid potential troubles later, as well as to thoroughly read the vouchers for service deals about the expiration date, appli-cable items, reservation, time requirement, and etc.

     

    Thirdly, given the current chaotic situation of low quality goods and services offered by many OGB websites, it is strongly advisable that the customers only choose deals from prestigious suppliers or from ones that are highly recommended by their family and friends.

     

    APPENDIX

     

    Box A1: Key findings from the qualitative research

     

    • Attractive price and door-to-door delivery were the most common reasons for selecting the OGB channel.
    • With advantages and a high prevalence of the Internet in Hanoi, and the power of word-of-mouth advertising, these channels were the main sources of information through which the interviewees learned about OGB websites.
    • Customer satisfaction was affected differently by different factors including price level, information quality, merchandise variety, supplier’s reputation, website design, sales assistant’s attitude, payment, response time, privacy, transaction capability, product quality, delivery and customer services, in which the most selected factors included price level, product quality, information quality and delivery.
    • Despite the exposition of customers’ personal contacts without their consent experienced by many interviewees, they were unaware of the security/privacy issues.
    • Product level and merchandise variety were the most satisfactory factors due to low price and a copious range of OGB products offered. In contrast, with fake, counterfeit and low quality OGB products generally, and inaccurate information on products’ original prices and features, the product quality and information quality were the least satisfactory ones.
    • Key root causes of customer dissatisfaction resulted from the ineffective macro-level management of OGB in terms of legislative regulations, supervision systems and technology infrastructure; the quality management limitation and poor business ethics of OGB companies; and the limited awareness of OGB consumers about their rights and responsibilities.

    Journal of Economics and Development                           116                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Table A1: Means and standard deviations of satisfaction degree for all the respondents

     

     [1] 
    

     

     
    
    [1]

    [1]

     
         

    

     [1]

    

       
    

    [1]

     
       

    [1] [1] [1]  

       

    

     

     

       


    

     

    ­[1] ! [1] “[1]

     

    

     

    #  $ [1]  %

    [1][1]&

    

     

    #   %

    [1][1]&

    ‑

     

    (    $ 

    


    ’

     

    )[1] $ [1] [1]

     

    ‑

     

    *[1] +#” 

       

    ’

     

    #[1]

     

    ‘

     

    ,[1]”[1] %$ [1]- [1]  [1][1]  ! [1]&

    ’

    ‑

     

    *[1] $[1]$[1].  [1]

     

    ‘‑

     

    /[1]    $ !

     


     

    *$$[1].  [1]$

    

     

    0″[1]   

     

    

     

    

     

    Table A2: Means and standard deviations of satisfaction degree for female and male

     

    

    [1]

     

       


    

     

    [1] [1]

      [1]
             

    [1]
    [1]

    
    
    

    [1]
    [1]

     

    
    
    

     

    

     

    [1]

     

     

    

     

     

    [1]

     

     

    [1]    

     

    

    

     

    

     

    

     

     

    

     

    

     

    ‑­­

    !”  #

     

    

    ‑­

    

     

    
    ‑

    $! %!

    

     

    ­

     


    ‑­

    $! 

    

    

       

    ‑‑‑

    &! !% 

    ‑
    ‑‑‑

    

     

    ­­

    ‘ %  

    

    

     

    ­‑

    ( !)$#!

     

    ­

       

    ­­

    $   “

    

    
    ­

       

    ‑

    * #  +%! ,      !” -

    ‑

    ­
    ‑

    ‑­

     

    ­‑

    ­

    ( % % . 

    

    

    ­

     

    ‑

    /  0 !% “

    

    ­

     

    
    
    

    (%% . %

    ­

    ­­‑‑­

    

     

    

    Journal of Economics and Development                           117                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Journal of Economics and Development

    118

     

    Vol. 15, No.1, April 2013

    Table A3: Means and standard deviations of satisfaction degree for respondents with regard to shopping frequency

     

     

    [1]   

     

    [1]

    

     

    [1]

     

    [1]

     

     [1]

     
               

    

      
     

     

       

     

     

     

     

     

       

     

     

     

     
                         
     

    [1]

    

     

    [1]

     

    

    [1]

     

     [1]

    [1]

     

    

     

    [1]

     

    

     
       

    [1]

         

    [1]

           

    [1]

         

    [1]

     
                     

    [1] [1] [1]  

     

    

     

    

     

    

    

     

    
    
    

    

     

    

         

    

    

     

     ‑­

    

    
    

         

    

    

     

    

       

    

    
    

     

    

     

    
    

     

    [1]!” [1] #[1]­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

    

     

    $! %![1]

     

    

     

    

     

    

    

     

    

    

     

    

    

     

    

     

    
    

     

    $! ‑­

    

    
    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    

     

    & ! !% ‑­

     

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    

         

    

     

    ‘[1] % [1] [1]

     

    
    

    

     

    

     

    

    

     

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    ([1]!­)$#!­

     

    

         

    

       

    

     

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    $­[1]

     

    

    

     

    

     

    

       

    

    

     

    
    

     

    

     

    

    

     

    *[1]‑#[1]­

    

    

    

         

    

    

     

    

    

    

     

    
    

         

    

     

    (‑[1] %[1]%‑[1]+  [1]

    

    
    

         

    

    

    

     

    

    

           

    

     

    

     

    ,[1] - !%‑ “‑

    

    
    

         

    

       

    

    

       

    
    

         

    

     

    (%%‑[1]+  [1]%

    

    
    

     

    

     

    

       

    

    

     

    

     

    

     

    

     

    Notes:

     

    1. A very popular online social network in the world in general and in Vietnam in particular.
    1. A social interactive forum designed mainly for mothers, fathers and other adults to talk about issues regarding family, society, etc. This is a very popular and highly-active forum in Vietnam with more than 1 million members a t the moment. Link: http://www.webtretho.com/forum/
    1. Yahoo Messenger and Skype.

    References

     

    AC Nielsen. (2009), Ho Chi Minh City and Hanoi Regional Consumer Differences, The Nielsen Company, New York, the United States:

     

    Anand, K.S., & Aron, R. (2003), Group Buying on the Web: A Comparison of Price-Discovery Mechanisms’, Management Science, 49(11), 1546-1562.

     

    Anderson, E.W., & Sullivan, M.W. (1993), ‘The Antecedents and Consequences of Customer Satisfaction for Firms’, Marketing Science, 12(2), 125-143.

     

    Ba, S., Whinston, A. B., & Zhang, H. (2003), ‘Building Trust in Online Auction Markets through an Economic Incentive Mechanism’, Decision Support Systems, 35(3), 273-286.

     

    Bhattacherjee, A. (2001), ‘Underst anding Information Systems Continuance: An Expectation-Confirmation Model’, MIS Quarterly, 25(3), 351-370.

    Cimigo.(2011), 2011 Vietnam NetCitizens Report: Internet Usage and Development in Vietnam. Cimigo. Dawes, J. (2008), ‘Do Data Characteristics Change According to the Number of Scale Points

     

    Used? An Experiment Using 5 Point, 7 Point and 10 Point Scales’, International Journal of Market Research, 50(1), 1-19.

     

    Devlin, P. (1965), The Enforcement of Morals. Oxford, Oxford University Press, the United Kingdom. Do, Q.T. (2011), ‘Vietnam Group-Buying Market Overview 2010-2011 [PowerPoint slides]’, Accessed

     

    August 8, 2012, < http://www.doquangtu.net/2011/11/nghien-cuu-oc-lap-ve-thi-truong-group.html>. Flaherty, D.H. (1991), ‘On the Utility of Constitutional Rights to Privacy and Data Protection’, Case

     

    Western Reserve Law Review, 41(3), 831.

     

    FTA Marketing Research and Consultant Company. (2011), Survey on Online Shopping Behaviour, Accessed August 5, 2012, < http://www.ftaresearch.com/vn/library.php?id=106>.

    Giese, J.L., & Cote, J.A. (2002), ‘Defining Consumer Satisfaction’, Academy of Marketing Science Review, 2000(1), Accessed October 17, 2012, <http://www.amsreview.org/ articles/giese01-2000.pdf>.

     

    Jones, J.M., & Vijayasarathy, L.R. (2000), ‘Print and Internet Catalogue Shopping: Assessing Attitudes

     

    and Intentions’, Internet Research: Electronic Networking Applications and Policy, 10, 191-202.

     

    Kauffman, R.J., & Wang, B. (2001), ‘New Buyer’s Arrival under Dynamic Pricing Market Microstructure: The Case of Group-Buying Discounts on the Internet’, Journal of Management Information System, 18(2), 157-188.

     

    Knowledge Wharton. (2007), Men Buy, Women Shop”: The Sexes Have Different Priorities When Walking

     

     

    Journal of Economics and Development                           119                                                   Vol. 15, No.1, April 2013

     

    Down the Aisles, Accessed November 16, 2012, <http://knowledge.wharton.upenn.edu/article.cfm?

    articleid=1848>.

       

    Kotler, P. (1997), Marketing Management: Analysis, Planning, Implementation, and Control, Prentice-

    Hall, New Jersey, United States:.

       

    Lee, G. G., & Lin, H. F. (2005), ‘Customer Perceptions of E-service Quality in Online Shopping’,

    International

    Journal  of  Retail  &  Distributio n

    Manageme nt,

    33(2),  161-176.  doi:

    10.1108/09590550510581485.

       

    Libbon, R.P. (1999), ‘Data Dog’, American Demographics, 21(2), 35.

     

    Likert, R. (1932), ‘A Technique for the Measurement of Attitudes’, Archives of Psychology, 140(1), 55.

    Liu, X., He, M., Gao, F., & Xie, P. (2008), ‘An Empirical Study of Online Shopping Customer Satisfaction

    in China: A Holistic Perspective’, International Journal of Retail & Distribution Management,

    36(11), 919-940. doi: 10.1108/09590550810911683.

       

    OBG websites: Cucre. Available at http://cucre.vn; Cungmua. Available at http://www.cungmua.com;

    Hotdeal. Available  at  http://www.hotdeal.vn/;  Muachung. Available  at  http://muachung.vn;

    Nhommua. Available at http://www.nhommua.com <Accessed November, 2012>.

    Rowley, J. (1996), ‘Retailing and Shopping on the Internet’, International Journal of Retail and

    Distribution, Management, 24(3), 26–37.

     

    BMA Review, Retrieved,

    Sheth, J. N. (2001), ‘Competitive Advantages through Customer Satisfaction’,

    from http://www.jagsheth.net/publications_subject.html <Accessed Agust 12, 2012>.

    Smith, S.M. (2007), ‘How to Measure Customer Satisfaction: Satisfaction Measurement and Theory’,

    About Surveys. Available at http://www.aboutsurveys.com/how-to-measure-customer-satisfaction-

    satisfaction-measurement-and-theory/ <Accessed November 24, 2012>.

     

    Stories of Vietnamese Products. (2012), ‘Mua Hang Theo Nhom va Quyen Loi cua Nguoi Tieu Dung

    [Group-buying and Consumers’ Rights] [Motion picture]’, HTV9, Vietnam.

    Vagias, W.M. (2006),

    Likert-type Scale Response Anchors, Clemson International Institute for Tourism &

    Research Development, Department of Parks, Recreation and Tourism Management. Clemson

    University.

     

    Computer Networks and ISDN Systems,

    Van Swaay, M. (1995), ‘The Value and Protection of Privacy’,

    26(4), 149-155.

         

    Yi, Y. (1990), ‘A Critical Review of Consumer Satisfaction. In V.A. Zeithmal (Ed.)’, Review of Marketing (pp. 68-123), American Marketing Association, Chicago, the United States.

     

    Zeithaml, V.A., Berry, L.L., & Parasuraman, A. (1996), ‘The Behavioural Consequences of Service Quality’, Journal of Marketing, 60(2), 31-46.

     

     

    Journal of Economics and Development                           120                                                   Vol. 15, No.1, April 2013


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-t%C3%ADnh-v%E1%BB%8B-ch%E1%BB%A7ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-uy-t%C3%ADn-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t-v%C3%A0-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-c%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-th%C3%B4ng-minh-th%C6%B0%C6%A1ng-hi%E1%BB%87u-Vi%E1%BB%87t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Vai trò của tính vị chủng tiêu dùng đối với uy tín thương hiệu Việt và giá trị cảm nhận – Nghiên cứu đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt

     

    • Trƣơng Mỹ Ngọc
    • Lê Nguyễn Hậu

    Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG HCM – Email: [email protected]

     

    (Bài nhận ngày 31 tháng 10 năm 2016, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 12 năm 2016)

     

    TÓM TẮT

     

     

    Bài viết này khám phá vai trò của tính vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Dựa trên kiểm nghiệm mô hình cấu trúc với bộ dữ liệu thu thập từ 259 khách hàng, kết quả cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến cảm nhận về uy tín thương hiệu, dẫn đến lượng giá

    sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng. Bên cạnh ý nghĩa lý thuyết, kết quả này gợi cách tạo uy tín cho các thương hiệu mới của điện thoại thông minh Việt nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu dựa trên tính vị chủng tiêu dùng.

     

     

    Từ khóa: Tính vị chủng, uy tín thương hiệu, giá trị cảm nhận, sẵn lòng mua, điện thoại thông minh, thương hiệu Việt.

     

     

    1.   GIỚI THIỆU

     

    Ngày nay, những chiếc điện thoại thông minh đang thật sự trở thành tâm điểm của thế giới công nghệ. Với việc ngày càng được tích hợp nhiều ứng dụng tiên tiến, điện thoại thông minh giờ đây không chỉ đơn thuần là thiết bị để nghe, gọi hoặc nhắn tin mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng của máy tính, máy ảnh, máy nghe nhạc, v.v… Vì vậy, điện thoại thông minh đang dần thay thế các sản phẩm công nghệ cao khác mang lại nhiều loại giá trị cho con người.

     

    Trong những năm gần đây, thị trường điện

     

    thoại thông minh ở Việt Nam đã có sự tăng trưởng lớn nhất khu vực Đông Nam Á (Phan Tuấn, 2015). Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng sẽ là 10% – 15% đến năm 2019 (Trần Nghĩa, 2015). Về phía cung, gần như tất cả các thương hiệu danh tiếng thế giới như: Sony, Samsung, LG, HTC và mới đây là Huawei, Oppo,… đều đã có mặt và đang chiếm được phần to của “miếng bánh”. Ở phần còn lại, từ năm 2008 đã xuất hiện các thương hiệu Việt như Q – Mobile, Mobiistar, F – Mobile, Avio, Q – Smart và gần đây là Bphone của Bkav. Mặc dù đã góp mặt trong mọi phân khúc từ thấp đến cao cấp, nhưng gần như chưa có một thương hiệu điện

     

    Trang 68

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    thoại Việt nào đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm điện thoại thông minh của nước ngoài. Trong báo cáo gần đây của IDC cho biết trong quý II năm 2015, thị phần điện thoại thông minh của các thương hiệu Việt đã giảm xuống chỉ còn 7%, so với 10% của cùng kỳ năm 2014 (Phan Tuấn, 2015). Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và nghiên cứu là ở giai đoạn đầu chưa có nhiều tương tác với thị trường để tích lũy uy tín thì làm cách nào để smartphone Việt tạo dựng uy tín thương hiệu và giá trị cảm nhận cho người tiêu dùng Việt?

     

    Trong bối cảnh đó, bài báo này được hình thành dựa trên ý tưởng “có thể có sản phẩm hay thương hiệu toàn cầu, nhưng động cơ mua thì không toàn cầu” (De Mooij, 2013) và quan điểm văn hoá đa dạng trong phạm vi quốc gia (Henderson & ctg, 2013). Theo đó, những đặc thù riêng của dân tộc, xã hội và văn hoá của mỗi thị trường và mỗi cá nhân có thể có vai trò khác nhau đối với thái độ và hành vi người tiêu dùng v.v. Trong đó, nghiên cứu này sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của tính vị chủng của người tiêu dùng Việt đối với trường hợp sản phẩm điện thoại thông minh. Lược khảo sơ bộ cho thấy đã có một vài nghiên cứu trước đây ở Việt nam về chủ đề tính vị chủng (Nguyen & ctg, 2008; Le & ctg., 2011, 2013). Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tính vị chủng và cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu thì chưa được khám phá.

     

    Mục tiêu của bài báo này là tìm hiểu tác động của tính vị chủng lên cảm nhận về uy tín thương hiệu, từ đó dẫn đến sự lượng giá và cảm nhận giá trị sản phẩm và sự sẵn lòng mua của người tiêu dung Việt đối với chiếc điện thoại thông minh Việt nam. Bên cạnh hàm ý lý thuyết về vai trò của tính vị chủng trong hành

     

    • mua, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các nhà sản xuất điện thoại thông minh Việt nam xây dựng chiến lược phát triển uy tín thương

    hiệu trong giai đoạn khó khăn mới thâm nhập thị trường.

     

    2.   CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ THUYẾT

     

    2.1. Các khái niệm nghiên cứu

     

    Tính vị chủng tiêu dùng (consumer ethnocentrism): Khái niệm tính vị chủng tiêu dùng có xuất sứ từ khái niệm tính vị chủng, vốn là một khái niệm tâm lý – xã hội nhằm diễn tả tính cách của một cá nhân trong một bối cảnh văn hoá – xã hội (Sumner, 1906; Levine & Campbell, 1972). Khái niệm tính vị chủng được định nghĩa là khuynh hướng của một người xem cộng đồng văn hoá của họ là trung tâm của vũ trụ, là quy chiếu cho các cộng đồng khác. Họ có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm cộng đồng văn hoá khác và đánh giá cao, tự hào một cách mù quáng các giá trị, chuẩn mực và con người thuộc nhóm văn hoá của mình (Booth 1979; Worchel and Cooper, 1979).

     

    Từ đó, khái niệm tính vị chủng tiêu dùng là sự vận dụng khái niệm tính vị chủng vào môi trường kinh tế để biểu thị tính vị chủng trong hành vi tiêu dùng (Chryssochoidis & ctg., 2007). Tính vị chủng tiêu dùng được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về sự đúng đắn về đạo lý (moral appropriateness) trong việc mua các sản phẩm nước ngoài. Theo đó, người có tính vị chủng tiêu dùng cao sẽ cho rằng việc mua sản phẩm nước ngoài là sai trái; điều đó sẽ gây tác hại cho sản xuất trong nước, gây mất công ăn việc làm trong nước, là không yêu nước (Shimp & Sharma, 1987; Spillan, 2008).

     

    Uy tín thƣơng hiệu (brand credibility):

     

    Uy tín thương hiệu được định nghĩa là mức độ đáng tin của các tín hiệu hàm chứa trong một thương hiệu (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm hoặc định vị thương hiệu) trong mối tương quan với thị trường và người tiêu dùng

     

    Trang 69

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    (Erdem & Swait, 2004). Khái niện này được cấu thành bởi hai thành phần là sự đáng tin (trustworthiness) và năng lực (capability) của thương hiệu trong việc thực hiện các cam kết với khách hàng (Erdem & Swait, 1998).

     

    Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu là kết quả tích lũy lâu dài của sự tương tác giữa thương hiệu và thị trường nói chung, thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008). Đối với mỗi cá nhân khách hàng (đặc biệt là khách hàng mới) trong điều kiện thông tin bất đối xứng (doanh nghiệp hiểu rõ về sản phẩm hơn khách hàng rất nhiều), thì uy tín thương hiệu là tín hiệu quan trọng để họ xem xét và lựa chọn thương hiệu (Erdem & Swait, 2004; Wernerfelt, 1988).

     

    Lƣợng giá sản phẩm (product judgement)

     

    được định nghĩa là đánh giá chung của người tiêu dùng về sự đáng giá của một sản phẩm dựa trên cảm nhận của họ về sự công bằng về giá và cảm nhận về chất lượng (Hansen, 2005). Nói cách khác, lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc hai (second-order reflective construct), được hình thành bởi hai thành tố là chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Chất lượng cảm nhận của sản phẩm gồm một tập hợp các thuộc tính của một sản phẩm tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu tường minh và tiềm ẩn của khách hàng (Zeithaml, 1988). Theo Lee (1996), Monroe & Krishnan (1985) cho rằng chất lượng cảm nhận là đánh giá của khách hàng về khả năng sản phẩm có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra sự hài lòng cho họ. Mặt khác, cảm nhận sự công bằng về giá hay giá cảm nhận phản ánh cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng về mức độ hợp lý hay sự tương xứng giữa sản phẩm với giá bán của nó (Agrawal & ctg, 2007; Jacoby & Olson, 1977).

     

    Giá trị cảm nhận (perceived value): Giá

     

    trị cảm nhận được xem là đánh giá tổng thể của người tiêu dùng đối với những lợi ích mà sản phẩm mang lại so với những gì mà họ bỏ ra (Zeithaml, 1988; Treacy & Wiersema, 1995). Cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ thì giá trị cảm nhận có thể khác nhau đối với mỗi người, tuỳ vào tính cách, hoàn cảnh, vào nhận định về mức độ quan trọng của lợi ích và chi phí mà họ phải bỏ ra (Le & ctg., 2013). Đã có nhiều nghiên cứu về các thành phần của giá trị cảm nhận. Đối với điện thoại thông minh, Bakon và Hassan (2013) đề nghị bốn thành phần biểu hiện là giá trị chức năng, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức. Giá trị chức năng đề cập đến chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận. Do nghiên cứu này đã xem xét riêng 2 thành phần này trong khái niệm lượng giá sản phẩm nên chỉ xét ba biểu hiện còn lại của giá trị cảm nhận.

     

    Giá trị xã hội gồm những lợi ích từ khả năng một sản phẩm giúp đề cao cảm nhận cá nhân về mặt xã hội (Sweeney & Soutar, 2001; Le & ctg., 2013). Giá trị cảm xúc liên quan đến những trải nghiệm tích cực về tình cảm hay cảm xúc mà một sản phẩm mang lại (Sweeney

     

    • Soutar, 2001). Giá trị tri thức là giá trị có được dựa trên sự đổi mới, tính hiếu kỳ hoặc mới lạ, bởi người tiêu dùng cảm thấy quá quen với những sản phẩm hiện tại (Seth & ctg, 1991). Sự phát triển không ngừng của công nghệ đã kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng về sự đổi mới liên tục các chức năng của điện thoại thông minh (Krajaluoto & ctg., 2005; You & ctg., 2011; Khan & Hyunwoo, 2009).

    Sẵn lòng mua (Willingness to buy): Theo Ajzen (1991), một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó. Quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định cho rằng ý định và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán hành

     

    1. Ý định được thừa nhận là động cơ dẫn đến hành vi, là dấu hiệu của mức độ sẵn sàng mua. Như vậy, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng

    Trang 70

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    lên hành vi là ý định hay khuynh hướng hành

     

    1. Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng mua để biểu thị cho khuynh hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng. Sẵn lòng mua được nói đến cả trong khuynh hướng mua (Lumpkin & ctg., 1985) và khuynh hướng mua lại (Hossain, 2006).

    2.2. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

     

    Tính vị chủng và uy tín thƣơng hiệu

     

    Như đã đề cập, uy tín thương hiệu thể hiện lòng tin của khách hàng về các tín hiệu hàm chứa trong thương hiệu và về năng lực thực hiện sự cam kết của thương hiệu với khách hàng. Một số học giả cho rằng uy tín thương hiệu được tích lũy dần thông qua sự nhất quán trong các hoạt động tiếp thị và đầu tư nguồn lực cho thương hiệu nhằm đảm bảo thực hiện đúng cam kết với khách hàng (Sweeney & Swait, 2008).

     

    Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, như đã nêu trong phần giới thiệu đề tài, do còn mới trên thị trường, lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu chưa được tích lũy qua quá trình tương tác trong quá khứ theo cách tiếp cận duy lý nêu trên. Ngược lại, nó được phát triển theo cách tiếp cận xã hội và cảm xúc, dựa vào lòng tin và lòng tự tôn của những người trong cùng một cộng đồng, nghĩa là theo tính vị chủng của họ. Vì người có tính vị chủng cao thường xem cộng đồng của họ là trung tâm, là mẫu mực (Sumner, 1906; Shimp

     

    • Sharma, 1987), nên họ sẽ có xu hướng tin tưởng, nâng cao giá trị và sản phẩm do con người thuộc nhóm của mình tạo ra

    (Chryssochoidis & ctg., 2005). Nghiên cứu thực nghiệm Obradovic (2013) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao sẽ đánh giá thương hiệu nội địa thuận lợi hơn thương hiệu nước ngoài về chất lượng thương hiệu, uy tín thương hiệu và dự định mua. Do đó, giả thuyết

     

    được đặt ra như sau:

     

    H1: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và cảm nhận về uy tín của các thương hiệu điện thoại thông minh Việt Nam.

     

    Tính vị chủng và giá trị cảm nhận

     

    Những khám phá của Shimp & Sharma (1987), Steenkamp & ctg. (2003), Vida và Reardon (2008) cho thấy những khách hàng có tính vị chủng cao thường có thái độ yêu thích và hướng đến các thương hiệu nội địa hơn là những thương hiệu nước ngoài, ngay cả khi các thương hiệu nước ngoài có chất lượng cao hơn (Shimp & Sharma, 1987). Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tác động của tính vị chủng của khách hàng lên việc hình thành thái độ của họ (e.g., Batra & ctg., 2000; Pharr, 2005; Vida & Reardon, 2008). Dimitrovic & ctg. (2009) đã chỉ ra rằng tính vị chủng của khách hàng có hàm ý quan trọng đối với nhận thức của họ về giá trị sản phẩm. Trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, nghiên cứu này kỳ vọng tính vị chủng của khách hàng tạo nên một ảnh hưởng tích cực vào nhận thức của họ về giá trị của sản phẩm, dựa trên khía cạnh phi vật chất của nó (tức là giá trị cảm xúc, giá trị xã hội và giá trị trí thức). Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được đề nghị như sau:

     

    H2: Có mối quan hệ đồng biến giữa tính vị chủng tiêu dùng của người Việt Nam và giá trị cảm nhận của họ đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Uy tín thƣơng hiệu và lƣợng giá sản phẩm

     

    Uy tín thương hiệu được xem là có mối quan hệ trực tiếp với lượng giá sản phẩm với hai biểu hiện chất lượng cảm nhận và giá cảm nhận (công bằng giá). Vigneron và Johnson (1999) đã chứng minh rằng khách hàng đánh

     

    Trang 71

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    giá chất lượng của một sản phẩm thông qua uy tín thương hiệu. Các nghiên cứu của Baek & ctg. (2010); Hanzaee & Taghipourian (2012) cũng đều cho thấy uy tín thương hiệu có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng cảm nhận. Nghĩa là uy tín thương hiệu chính là dấu hiệu tổng quát quan trọng về sự cam kết chất lượng và khả năng tạo ra chất lượng sản phẩm (Grunert

     

    • , 2001; Jeddiand & Imed, 2010). Mặt khác, uy tín thương hiệu còn thể hiện sự đáng tin (trustworthiness) của thương hiệu đối với khách hàng. Ở đây là sự đáng tin về giá bán sản phẩm. Nghĩa là, một khi khách hàng đánh giá uy tín thương hiệu càng cao thì họ càng yên tâm về sự công bằng trong giá bán trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Vì vậy, giả thuyết H2 có thể được phát biểu như sau:

    H3: Có mối quan hệ đồng biến giữa cảm nhận về uy tín thương hiệu và lượng giá sản phẩm của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Lƣợng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận

     

    Mối quan hệ giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận được biện giải dựa trên lý thuyết mục đích – phương tiện MEC (Gutman

     

    • Alden, 1985; Zeithaml, 1988). Theo đó, chất lượng và giá trong lượng giá sản phẩm là những yếu tố cụ thể được khách hàng cân nhắc trước khi mua xem liệu sản phẩm có mang lại những giá trị mà họ mong muốn hay không (Reynolds & Gutman, 1984). Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi khách hàng

    đánh giá cao về chất lượng sản phẩm hoặc công bằng về giá thì họ sẽ cảm nhận tốt về giá trị sản phẩm mà họ sử dụng (Hu & ctg., 2009; Chen, 2008). Một vài học giả khác cho rằng lượng giá sản phẩm bao gồm cảm nhận chất lượng và cảm nhận công bằng về giá có tương quan mạnh với giá trị chức năng của sản phẩm (Chen

     

    • Hu, 2010), một yếu tố làm nền tảng cho cảm nhận về các giá trị khác như giá trị xã hội và

    giá trị cảm xúc (Rust & ctg., 2000). Ở Việt nam, Le & ctg (2013) cũng đã cho thấy lượng giá cảm nhận có tác động tích cực lên giá trị cảm nhận. Vì vậy, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

     

    H4: Có mối quan hệ đồng biến giữa lượng giá sản phẩm và giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt.

     

    Giá trị cảm nhận (kỳ vọng) và sự sẵn lòng mua

     

    Giá trị cảm nhận được nhiều học giả xác định là khái niệm có khả năng dự đoán tốt hơn sự hài lòng về các hành vi sau mua trong tiếp thị (Egger & Ulaga, 2002; Whittaker & ctg., 2007). Hơn nữa, giá trị cảm nhận có thể hình thành (kỳ vọng) trước khi mua và sử dụng sản phẩm (Gronroos, 2008). Theo đó, giá trị kỳ vọng có vai trò dẫn dắt thái độ và hành vi tiêu dùng (Sweeney & Soutar, 2001) trong đó có sự sẵn lòng mua. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rằng giá trị cảm nhận của một sản phẩm/ thương hiệu dẫn đến ý định hành vi đối với sản phẩm/ thương hiệu đó (Nguyen & ctg., 2008). Tương tự, Flynn & ctg. (2013) cũng đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá trị cảm nhận và sự sẵn lòng mua. Vì vậy, trong trường hợp điện thoại thông minh thương hiệu Việt, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:

     

    H5: Có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị cảm nhận của khách hàng Việt Nam đối với điện thoại thông minh thương hiệu Việt và sự sẵn lòng mua của họ.

     

    Mô hình nghiên cứu

     

    Với năm giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như trong Hình 1. Theo đó, tính vị chủng tiêu dùng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về uy tín thương hiệu (H1), đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị

     

    Trang 72

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    cảm nhận đối với sản phẩm (H2). Tiếp đến, uy tín thương hiệu được giả thuyết là có tác động tích cực đến lượng giá sản phẩm (H3). Lượng giá sẽ được kiểm định mối quan hệ với giá trị cảm nhận (H4), yếu tố được xem là tiền đề quan trọng cho sự sẳn lòng mua của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt (H5).

     

    Trong mô hình nghiên cứu này (hình 1), khái niệm lượng giá sản phẩm là khái niệm tiềm ẩn bậc 2 được cấu thành bởi Chất lượng cảm nhận và Công bằng về giá. Tương tự như vậy, Giá trị cảm nhận cũng là một khái niệm tiềm ẩn bậc 2 bao gồm ba thành phần là giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị tri thức.

     

                             

    Chat luong

     

    UY TIN

       

    H3+

       

    LUONG GIA

       

    cam nhan

     
                       

    THUONG HIEU

             

    SAN PHAM

               
             

    Cong bang

     
                               
                               

    ve gia

     
                             

    H1+

                 

    H4+

           
                                 
                                   
                                     

    TINH

       

    H2+

       

    GIA TRI

    H5+

     

    SAN LONG MUA

    VI CHUNG

               

    CAM NHAN

         
                           
                                   
                           
                                     
           

    Gia tri xa hoi

       

    Gia tri cam xuc

     

    Gia tri tri thuc

     
                               
       

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

               

    3.   PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    Mô hình và các giả thuyết được kiểm định dựa trên bộ dữ liệu có kích thước 259 cases. Mẫu được thu thập qua một cuộc khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng Việt Nam có độ tuổi từ 18 tuổi đến dưới 50 tuổi (nhóm khách hàng chính của điện thoại thông minh). Họ là nhưng người đã/ đang sử dụng điện thoại thông minh và đã biết đến điện thoại thông minh thương hiệu Việt (được nhận dạng thông qua câu hỏi gạn lọc). Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn trực tiếp tại nơi làm việc, học tập, tại nhà hoặc nơi thuận tiện khác.

     

    Nội dung các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước, có hiệu chỉnh thông qua bước phỏng vấn sơ bộ (xem Bảng 2). Theo đó, thang đo Tính vị chủng gồm 4 biến quan sát (Keilor & Hult, 1999), Uy tín thương hiệu gồm 4 biến quan sát (Baek & ctg, 2010), thang đo Lượng giá sản phẩm gồm 2 thành phần Cảm

     

    nhận công bằng về giá (4 biến quan sát) và Chất lượng cảm nhận (6 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001, trong đó có 3 biến bổ sung từ phỏng vấn định tính), thang đo Giá trị cảm nhận gồm 3 thành phần là Giá trị cảm xúc (3 biến quan sát), Giá trị xã hội (4 biến quan sát) (Sweeney & Soutar, 2001) và Giá trị tri thức (4 biến quan sát) (Almakrami, 2013). Thang đo Sẵn lòng mua gồm 3 biến quan sát (Sweeney & Soutar, 2001). Các thang đo có dạng Likert 7 điểm.

     

    1. KẾT QUẢ Mô tả mẫu

    Như trình bày trong Bảng 1, mẫu dữ liệu được thu thập từ 259 người tiêu dùng đã biết đến smartphone thương hiệu Việt như Bphone, Mobiistar, Q – Smart, Viettel, Hkphone, F – Mobile, Masstel, Vivas và Avio. Về giới tính, mẫu gồm 152 nam (58,7%) và 107 nữ (41,3%);

     

    • người thuộc độ tuổi 18 – 34 chiếm 70,7% và 76 người 35 – dưới 50 tuổi (29,3%). Phân bố

    Trang 73

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    thu nhập chủ yếu ở mực trung bình và khá, cụ thể là 4 – 9 trđ/th (45,2%) và 9 – 20 trđ/th (36,7%). Qua đó cho thấy mẫu khảo sát là đủ

     

    đa dạng cho các phân tích thống kê và phản ánh nhóm khách hàng tiềm năng của loại sản phẩm này.

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu (n = 259)

     

     

    Tần số

    Tỷ lệ

     

    Tần số

    Tỷ lệ

    Thương hiệu được biết:

     

    Độ tuổi:

     

    Bphone (Bkav)

    84

    32,4

    18-34 tuổi

    183

    70,7

    Mobiistar

    53

    20,5

    35-49 tuổi

    76

    29,3

    Q-Smart (Q-Mobile)

    46

    17,8

    Tổng

    259

    100

    Viettel

    23

    8,9

    Thu nhập (trđ/th):

       

    HKphone (ROVI)

    22

    8,5

    Dưới 4

    17

    6,6

    F-Mobile (FPT)

    19

    7,3

    Từ 4 – dưới 9

    117

    45,2

    Masstel, Vivas, Avio

    12

    4,6

    Từ 9 – dưới 20

    95

    36,7

    Tổng

    259

    100%

    Từ 20  trở lên

    30

    11,5

    Giới tính:

       

    Tổng

    259

    100

    Nam

    152

    58,7

         

    Nữ

    107

    41,3

         

    Tổng

    259

    100

         

    Đánh giá và gạn lọc thang đo

     

    Các thang đo được đánh giá sơ bộ bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và độ tin cậy Cronbach’s alpha. Với 32 biến ban đầu, sau khi loại 6 biến (đo uy tín thương hiệu, chất lượng

     

    cảm nhận, tính vị chủng, giá trị xã hội và giá trị tri thức) do hệ số tải nhân tố thấp (< 0.4) hoặc có hệ số tải cao trên 2 nhân tố, các thang đo với

     

    • biến còn lại được đưa vào kiểm định chính thức với phân tích CFA.

    ảng 2. Kết quả đánh giá thang đo

     

     

    Hệ số tải

    Thang đo và biến quan sát

    chuẩn

     

    hóa

    Uy tín thƣơng hiệu: Cronbach’s Alpha = 0,845; CR = 0,846; AVE = 0,649

     

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại có uy tín

    0,838

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại cao cấp

    0,683

    Tôi nghĩ thương hiệu X là thương hiệu điện thoại được nhiều người tin dùng

    0,882

    Tôi nghĩ thương hiệu X luôn thực hiện đúng những cam kết như đã hứa

    *

    Lƣợng giá sản phẩm (2 thành phần):

     

    + Cảm nhận giá: Cronbach’s Alpha = 0,946; CR = 0,948; AVE = 0,820

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá hợp lý

    0,873

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X mang lại những lợi ích tương xứng với giá bán

    0,956

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tương xứng với giá bán

    0,944

    Trang 74

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có giá phù hợp với mong muốn chi trả của tôi

     

    0,846

    + Chất lƣợng cảm nhận: Cronbach’s Alpha = 0,899; CR = 0,859; AVE = 0,672

     

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có chất lượng tốt

     

    0,881

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X đáng tin cậy

     

    0,883

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có độ bền cao

     

    0,679

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có những tính năng đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    **

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có cấu hình đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X có thời lượng pin đáp ứng nhu cầu của tôi

     

    *

    Tính vị chủng: Cronbach’s Alpha = 0,834; CR = 0,841; AVE = 0,639

       

    Tôi nghĩ người Việt Nam chân chính thì luôn ủng hộ các thương hiệu Việt

     

    *

    Mua điện thoại nước ngoài là góp phần làm cho một số người VN bị mất việc

     

    0,856

    Tôi nghĩ mua điện thoại nước ngoài sẽ gây tổn hại cho các thương hiệu điện thoại VN

     

    0,802

    Tôi nghĩ mua điện thoại thông minh thương hiệu Việt là thể hiện lòng yêu nước

     

    0,735

    Giá trị cảm nhận (3 thành phần):

       

    + Giá trị cảm xúc: Cronbach’s Alpha = 0,923; CR = 0,896; AVE = 0,812

     

    Tôi sẽ cảm thấy sung sướng khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,868

    Tôi sẽ cảm thấy thích thú khi sử dụng điện thoại thương hiệu X

     

    0,933

    Tôi nghĩ điện thoại thông minh X sẽ mang lại cho tôi sự hài lòng

     

    **

    + Giá trị xã hội: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,916; AVE = 0,784

     

    Sử dụng điện thoại X giúp tôi duy trì mối quan hệ với người thân/bạn bè/đồng nghiệp

     

    *

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi được nhiều người tôn trọng

     

    0,868

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ giúp tôi thể hiện vị trí xã hội của tôi

     

    0,902

    Tôi nghĩ nếu tôi sử dụng điện thoại X thì sẽ tạo được ấn tượng với người khác

     

    0,887

    + Giá trị trí thức: Cronbach’s Alpha = 0,885; CR = 0,924; AVE = 0,801

     

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ thỏa mãn tính hiếu kỳ của tôi về công nghệ

     

    0,865

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi nhiều kiến thức về công nghệ mới

     

    0,949

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ khơi dậy tính sáng tạo của tôi

     

    *

    Tôi nghĩ điện thoại X sẽ mang lại cho tôi những trải nghiệm về công nghệ mới

     

    0,869

    Sẵn lòng mua: Cronbach’s Alpha = 0,856; CR = 0,872; AVE = 0,699

       

    Nếu có ý định mua điện thoại thông minh, tôi sẽ mua thương hiệu X

     

    0,966

    Tôi sẽ mua điện thoại thông minh thương hiệu X trong tương lai gần

     

    0,855

    Tôi sẽ mua điện thoại X ngay cả khi có một điện thoại nước ngoài khác cùng chất lượng

     

    0,657

    và giá

       

    Ghi chú: * loại qua EFA;   ** loại qua CFA

     

    Tám thang đo đơn hướng được đưa vào phân tích CFA. Kết quả cho thấy các biến quan sát có giá trị Skewness từ -0,82 đến -0,07 và Kurtosis từ -0,68 đến +0,98 nên được xem là không vi phạm đáng kể về phân phối chuẩn.

     

    Tiếp tục loại thêm 2 biến (đo chất lượng cảm nhận và giá trị cảm xúc) do tương quan giữa các sai số cao, kết quả cho thấy mô hình thang đo với 24 biến quan sát đạt độ phù hợp với dữ liệu thực tế. Cụ thể, ước lượng ML cho kết quả

     

    Trang 75

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    như sau: Chi-square = 253,4; df = 224; p = 0,086; Chi-square/df = 1,13, GFI = 0,926, CFI = 0,994, TLI = 0,992 và RMSEA = 0,023.

     

    Như thể hiện trên Bảng 2, hệ số tải chuẩn hoá của các biến dao động từ 0,66 đến 0,97, đồng thời phương sai trích của các thang đo AVE = 0,64 – 0,82 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Độ tin cậy tổng hợp Composite reliability (CR) từ 0,84 đến 0,95 nên các thang đo đạt độ tin cậy. Tương quan giữa các khái niệm dao động từ 0,28 tới 0,64, thấp xa đáng kể với 1 (với p = 0,05) nên các thang đo đạt độ giá trị phân biệt.

     

    Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình này có 242 bậc tự do, giá trị Chi – square = 276,21, Chi – square/df = 1,14, p = 0,06; các chỉ tiêu khác là GFI = 0,919, TLI = 0,992, CFI = 0,993 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,023. Như vậy, có thể kết luận là mô hình này phù hợp tốt với dữ liệu thu thập

     

    được từ thực tiễn và 60% phương sai của yếu tố Sẵn lòng mua được giải thích bởi các yếu tố có trong mô hình nghiên cứu.

     

    Kết quả ước lượng (Bảng 3) cho thấy các mối quan hệ kiểm định đều có hệ số hồi quy chuẩn hoá dương và có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05), do đó các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được ủng hộ.

     

    Đồng thời, kết quả còn cho thấy các khái niệm bậc 2 là Giá trị cảm nhận được phản ánh bởi ba khái niệm bậc 1 là Giá trị cảm xúc (l = 0,80), Giá trị xã hội (l = 0,72) và Giá trị tri thức (l = 0,82); còn Lượng giá sản phẩm được phản ánh bởi Cảm nhận giá (l = 0.62) và chất lượng cảm nhận (l = 0.77). Ngoài ra, phân tích cấu trúc đa nhóm cũng đã được thực hiện với các nhóm thu nhập khác nhau. Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thu nhập về các mối quan hệ được kiểm định trong mô hình.

     

    ảng 3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính

     

     

    Mối quan hệ

    Hệ số chuẩn

    p

    Kiểm định

     

    hóa

    giả thuyết

           

    Tính vị chủng

    Uy tín thương hiệu

    0,50

    0,007

    Ủng hộ H1

    Tính vị chủng

    Giá trị cảm nhận

    0,38

    0,005

    Ủng hộ H2

    Uy tín thương hiệu

    Lượng giá sản phẩm

    0,74

    0,003

    Ủng hộ H3

    Lượng giá sản phẩm →

    Giá trị cảm nhận

    0,69

    0,005

    Ủng hộ H4

    Giá trị cảm nhận

    Sẵn lòng mua

    0,77

    0,004

    Ủng hộ H5

    Giá trị cảm nhận → Giá trị cảm xúc

    0,80

    0,004

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị xã hội

    0,72

    0,002

     

    Giá trị cảm nhận → Giá trị trí thức

    0,82

    0,003

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận chất lượng

    0,77

    0,004

     

    Lượng giá sản phẩm → Cảm nhận giá

    0,62

    0,004

     

    5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ

     

    Thông qua trường hợp của sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, bài viết này tìm hiểu vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu

     

    đối với những loại sản phẩm tiêu dùng công nghệ cao, đa giá trị và được sản xuất trong nước trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong bối cảnh như vậy thì việc tạo được uy tín trên thị

     

    Trang 76

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    trường và sự chấp nhận mua của người tiêu dùng là một thách thức rất khó vượt qua của các thương hiệu mới nổi của Việt nam.

     

    Với sản phẩm điện thoại thông minh thương hiệu Việt, việc tạo dựng uy tín thương hiệu bằng cách thức tích lũy dần lòng tin của người tiêu dùng nói riêng và thị trường nói chung thông qua tương tác kinh tế – xã hội như con đường truyền thống đã được đề cập nhiều trong các tài liệu là quan trọng, nhưng cần có nhiều thời gian và phải đầu tư nguồn lực thì mới đạt được mục đích. Trước mắt, khi mà uy tín thương hiệu còn thấp, cần phải có cách tiếp cận khác. Đó chính là cách tiếp cận dựa trên các giá trị xã hội, cộng đồng được chia sẻ thông qua khái niệm tính vị chủng tiêu dùng.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng của người tiêu dùng là yếu tố có tác động mạnh đến cảm nhận của người tiêu dùng về uy tín thương hiệu. Do đó, yếu tố này là cơ sở rất tiềm năng cho vấn đề xây dựng uy tín thương hiệu Việt. Mặt khác, tính vị chủng Việt còn có tác động trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thông minh thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của họ. Với tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua uy tín thương hiệu), tính vị chủng tiêu dùng có khả năng tác động mạnh (std. total effect = 0,64; p

     

    • 0,003) đến cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm, trong đó bao gồm giá trị chức năng (lượng giá sản phẩm) và giá trị phi chức năng (xã hội, cảm xúc và tri thức).

    Tiếp đến, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của uy tín thương hiệu đối với việc người tiêu dùng lượng giá sản phẩm (β = 0.74; p = 0.003). Trong điều kiện khách hàng khó có thể đánh giá chính xác chất lượng sản phẩm điện thoại thông minh Việt (do đặc điểm công nghệ của sản phẩm) thì uy tín thương hiệu chính là yếu tố đại diện để xem xét sản phẩm. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu cũng cung

     

    cấp một cứ liệu thực nghiệm khẳng định quan điểm rằng với những sản phẩm thiết yếu có mức giá trung bình thì giá trị chức năng đóng vai trò cơ bản, làm tiền đề (β = 0,69; p = 0,005) cho các dạng giá trị xã hội, cảm xúc và tri thức.

     

    Như vậy, đóng góp đáng chú ý của bài báo này là tìm ra ảnh hưởng quan trọng (trực tiếp và gián tiếp) của tính vị chủng đến uy tín thương hiệu và cảm nhận của người tiêu dùng về giá trị sản phẩm trong giai đoạn đầu mới thâm nhập thị trường, chưa được nhiều người biết đến. Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín thương hiệu cho điện thoại thông minh thương hiệu Việt trong việc thuyết phục khách hàng chấp nhận sản phẩm. Kết quả này cũng gợi ý tổng quát cho những sản phẩm thương hiệu Việt có tính chất tương tự như đa giá trị (chức năng, cảm xúc, xã hội, tri thức) và uy tín thương hiệu là chỉ báo cho chất lượng sản phẩm.

     

    Về hàm ý quản trị, con đường khả dĩ để bắt đầu xây dựng uy tín thương hiệu Việt chính là thông qua tín vị chủng. Quá trình này tập trung vào việc chọn nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng có tính vị chủng cao (thường là lớn tuổi hơn) và xây dựng chiến lược và nội dung truyền thông phù hợp.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Bài viết này tập trung vào việc khám phá vai trò của tính vị chủng trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, có công nghệ cao, đa giá trị được sản xuất trong nước và mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có ảnh hưởng mạnh đến uy tín thương hiệu, lượng giá sản phẩm và cảm nhận giá trị. Đồng thời, tính vị chủng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về giá trị của điện thoại thương hiệu Việt, dẫn đến sự sẵn lòng mua của người tiêu dùng Việt.

     

    Trang 77

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    Kết quả này gợi ý một phương án dành cho các thương hiệu điện thoại thông minh mới nổi của Việt Nam trong bước đầu xây dựng thương hiệu. Đó là dựa trên tính vị chủng tiêu dùng, dựa trên sự tự hào, tự tôn dân tộc, trên những chuẩn mực giá trị được chia sẻ trong cộng đồng.

     

    Như những nghiên cứu khác, bài viết cũng còn một số hạn chế. Bên cạnh việc không tìm thấy sự khác biệt trong kết quả giữa các nhóm

     

    nhu nhập, có thể có sự khác biệt liên quan đến yếu tố khác như nhóm tuổi, hoặc trình độ học vấn. Thêm vào đó, các nghiên cứu tiếp theo cũng có thể mở rộng ra những sản phẩm tương tự. Đồng thời tiếp tục tìm hiểu hiện trạng và vai trò của tính vị chủng của Việt trong thái độ và hành vi tiêu dùng của họ đối với các nhóm sản phẩm khác nhau trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

     

     

     

     

     

     

    Trang 78

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    The effects of consumer ethnocentrism on Vietnamese brand credibility and perceived value – A Study of Vietnamese branded smartphone

     

    • Truong My Ngoc
    • Le Nguyen Hau

    University of Technology, VNU HCM – Email: [email protected]

     

    ABSTRACT

     

    This   study   investigated   the   role   of

    value. Ethnocentrism also has a direct impact

    consumer ethnocentrism on the perception of

    on the perceived value of Vietnamese branded

    brand  credibility  in  the  case  of  Vietnamese

    smartphone, resulting in the willingess-to-buy.

    branded  smartphone –  a  high-tech, multiple-

    Besides contributing to the current literature,

    value  product  being  manufactured  locally.

    the findings also provide suggestions for new

    Based  on  a  survey  of  259  consumers,  the

    Vietnamese  smartphone  brands  to  develop

    analysis revealed that ethnocentrism exerts a

    brand  credibility  on  the  basis  of  consumer

    strong impact on brand credibility which leads

    ethnocentrism

    to  positive  product  judgement  and  perceived

     

    Keyword: Ethnocentrism, brand credibility, perceived value, willingess-to-buy, smartphone, Vietnamese brand.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    • Agarwal, N. K., Wang, Z., Xu, Y., & Poo,
    1. C. C. Factor affecting 3G adoption: An empirical study. Proceeding of 11th Pacific-Asia Conference on Information System (PACIS), 256-270 (2007).
    • Ajzen, I. The Theory of Planned Behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50, 179-211 (1991).
    • AlMakrami, A. H. An investigation into brand value dimensionality and its effects on loyalty: evidence from the high-tech brandscape in Saudi Arabia (Doctoral dissertation, Brunel University) (2013).
    • Baek, T. H., Kim, J., & Yu, J. H. The differential roles of brand credibility and brand prestige in consumer brand choice. Psychology & Marketing, 27(7), 662-678 (2010).
    • Batra, R., Ramaswamy, V., Steenkamp, J. B., & Ramachander, S. Effects of brand local and nonlocal origin on consumer attitudes in developing countries. Journal of Consumer Psychology, 9(2), 83-95 (2000).
    • Chen, C.F., Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction and behavioral

    Trang 79

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    intentions for air passengers: evidence from Taiwan, Transportation Research Part A: Policy and Practice, Vol. 42, pp. 709-717 (2008).

     

    • Chen, P. and Hu, H., How determinant attributes of service quality influence customer-perceived value: an empirical investigation of the Australian coffee outlet

    industry, International Journal of Contemporary Hospitality Management, Vol. 22 No. 4, pp. 535-551 (2010).

     

    • Chryssochoidis, G., Krystallis, A., & Perreas, P. Ethnocentrism beliefs and country-of-origin (COO) effect: Impact of country, product and product attributes on Greek consumers’ evaluation of food products. European Journal of Marketing, 41(11), 1518-1544 (2007).
    • De Mooij,    Global  marketing  and

    advertising: Understanding cultural paradoxes. Sage Publications (2013).

     

    • Dimitrovic, T., Vida, I., & Reardon, J. Purchase behavior in favor of domestic products in the West Balkans. International Business Review, 18(5), 523-535 (2009).
    • Eggert, A., & Ulaga, W. Customer perceived value: A substitute for satisfaction in business markets. Journal of Business & Industrial Marketing, 17(2/3), 107-118 (2002).
    • Erdem, T., & Swait, J. Brand credibility, brand consideration, and choice. Journal of consumer research, 31(1), 191-198 (2004).
    • Flynn, J., Greig, T., & Mukaiwa, M. The influence of perceived product quality, relative price and risk on customer value and willingness to buy: A study of private label merchandise. Journal of Product & Brand Management, 22(3), 218-228 (2013).
    • Grönroos, C. Service logic revisited: who

    creates value? And who co-creates?. European business review, 20(4), 298-314 (2008).

     

    • Grunert, K. G., Lahteenmaki, L., Niellsen, N. A., Poulsen, J. B., Ueland, O., & Astrom, A. Consumer perception of food products involving genetic modification:

    Results from a qualitative study in four nordic countries. Food Quality and Preference, 12(8), 527-542 (2001).

     

    • Gutman, J., & Alden, S. D. Adolescents’ cognitive structures of retail stores and fashion consumption: a means-end chain analysis of quality. Perceived quality: how

    consumers view stores and merchandise/edited by Jacob Jacoby, Jerry C. Olson (1985).

     

    • Hansen,    Perspectives   on   consumer

    decisionmaking:Anintegrated

     

    approach. Journal           of            Consumer

     

    Behaviour, 4(6), 420-437 (2005).

     

    • Hanzaee, K. H., & Taghipourian, M. J. The effects of brand credibility and prestige on consumers purchase intention in low and high product involvement. Journal of Basic and Applied Scientific Research, 2(2), 1281-1291 (2012).
    • Henderson, G.R., Guzman, F., Huff, L. and Motley, C.M., “The Ian’s pizza tribe: reconceptualzing cross-cultural research in the digital age”,Journal of Business

    Research, Vol. 66, pp. 283-287 (2013).

     

    • Hossain, P. A relational study on perceived value, brand preference, customer satisfaction, and repurchase intention in context of Akij Textile Mills LTD in Bangladesh. Bangladesh: Independent University (2006).
    • Hu, H.H., Kandampully, J. and Juwaheer, T.D., Relationships and impacts of service

    quality, perceived value, customer satisfaction, and image: and empirical study, The Service Industries Journal, Vol. 29 No. 2, pp. 111-125 (2009).

     

    • Jacoby, J., & Olson, J. C. Consumer response to price: An attitudinal information processing perspective. In Wind, Y., & Greenberg, P. (Eds), Moving ahead with attitude research (pp. 73-86). Chicago: American Marketing Association (1977).
    • Jeddiand, N., & Imed, Z. The impact of label perception on the consumer’s purchase intention: An application on food

    Trang 80

     

    TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH & CN, TẬP 20, SỐ Q1 – 2017

     

    products. IBIMA Business Review, 20, 1-14 (2010).

     

    • Karjaluoto, H., Karvonen, J., Kesti, M., Koivumaki, T., Manninen, M., Pakola, J., Ristola, A., & Salo, J. Factors affecting consumer choice of mobile phones: Two studies from Finland. Journal of Euromarketing, 14(3), 59-82 (2005).
    • Keillor, B.D. and Hult, G.T.M., A five-country study on national identity: implications for international marketing research and practice, International Marketing Review, Vol. 16 No. 1, pp. 65-82 (1999).
    • Khan, K., & Hyunwoo, K. Factor affecting consumer resistance to innovation – A study of Smartphone (Master’s thesis). Sweden: Jonkoping International Business School (2009). Retrieved from http://hj.diva-portal.org.
    • Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức Anh Người Việt dùng hàng Việt: Vai trò của tính vị chủng và lượng giá đối với sự sẵn lòng mua hàng Việt Nam. Science & Technology, 14(3), 56-67 (2011).
    • Le, N. H., Nguyen, T. H. M., & Nguyen V. T. National identity and the perceived values of foreign products with local brands

    – The case of local wine in Vietnam. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 25(5), 765-783 (2013).

     

    • Lee, D. B. S. H. E. The relationship between price and objective apprarel quality: A comparison between the United States market and Korean market (Master’s thesis). Texas: Texas Tech University (1996).
    • Lumpkin, J. R. Shopping orientation segmentation of the elderly consumer. Journal of Academy of Marketing Science, 13, 271-289 (1985).
    • Monroe, B, K., & Krishnan, R. The effect of price on subjective product evaluations. In Jacoby, J., & Obson, C. J. (Eds),

    Perceived Quality (pp. 210-231). Lexington, MA: D. C. Health and Company (1985).

     

    • Nguyen, D. T., Nguyen, T. T. M., & Barrett, N. Consumer ethnocentrism, cultural sentivity, and intention to purchase local product – Evidence from Vietnam. Journal of Consumer Behavior, 7, 88-100 (2008).
    • Nguyen, T. T. M., & Smith, K. The impact of status orientations on purchase preference for foreign products in Vietnam, and implications for policy and society. Journal of Macromarketing, 32(1), 52-60 (2012).
    • Obradovic, J. Consumer perspective: Does brand globalness really matter? (Master of Science). Vienna: University of Vienna (2013).
    • Phan Tuấn. 5 điểm nhấn của thị trường di

    động Việt trong năm 2015. Báo Dân trí.

     

    Khai thác từ http://dantri.com.vn (27/12/2015).

     

    • Pharr, J. M. Synthesizing country-of-origin research from the last decade: Is the concept still salient in an era of global brands?. Journal of Marketing Theory and Practice, 13(4), 34-44 (2005).
    • Reardon, J., Miller, C., Vida, I., & Kim, I. The effect of ethnocentrism and economic development on the formation of brand and ad attitudes in transitional economies. European Journal of Marketing, 39(7/8), 737-754 (2005).
    • Reynolds, T. J., & Gutman, J. Laddering: Extending the repertory grid methodology to construct attribute-consequence-value hierarchies. Personal values and consumer psychology, 2, 155-167 (1984).
    • Rust, R.T., Zeithaml, V.A. and Lemon, K.N., Driving Customer Equity, The Free Press, New York, NY (2000).
    • Shimp, T. A., & Sharma, S. Consumer ethnocentrism: Construction and validation of the CETSCALE. Journal of Marketing Research, 24(3), 280-289 (1987).
    • Spillan, J. E., Kucukemiroglu, O., & de Mayolo, C. A. Profiling Peruvian consumers’ lifestyles, market segmentation,

    Trang 81

     

    SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 20, No Q1 – 2017

     

    and ethnocentrism. Latin American Business Review, 8(4), 38-59 (2008).

     

    • Steenkamp, J. B. E. M., Batra, R., & Alden, D. L. How perceived brand globalness

    creates brand value. Journal of International Business Studies, 34, 53-65 (2003).

     

    • Sumner, G. W. Folkways: The Sociological Importance of Usage, Manner, Custom, Mores, and Morals. Boston: Ginn and Co (1906).
    • Sweeney, J. C., & Soutar, G. N. Consumer perceived value: The development of a multiple item scale. Journal of Retailing, 77(2), 203-220 (2001).
    • Sweeney, ,  &  Swait,  J.  The  effects  of

    brand credibility on customer loyalty. Journal of retailing and consumer services, 15(3), 179-193 (2008).

     

    • Trần Nghĩa Smartphone Việt “teo tóp”. Báo Nhịp Cầu Đầu Tư. Khai thác từ http://nhipcaudautu.vn (08/12/2015).
    • Treacy, M., & Wiersema F. The Discipline of Market Leader. United States: Addison-Wesley (1995).
    • Vida, I., & Reardon, J. Domestic consumption: Rational, affective or normative choice?. Journal of Consumer Marketing, 25(1), 34-44 (2008).
    • Vigneron, F., & Johnson, L. W. A review and a conceptual framework of prestige-seeking consumer behavior. Psychology & Marketing, 21, 487-508 (1999).
    • Wernerfelt, B. Umbrella branding as a signal of new product quality: An example of signalling by posting a bond. The RAND Journal of Economics, 458-466 (1988).
    • Whittaker, G., Ledden, L., & Kalafatis, S. P. A re-examination of the relationship between value, satisfaction and intention in business services. Journal of Services Marketing, 21(5), 345-357 (2007).
    • You, J. H., Le, J. H., & Park, C. Factors affecting adoption and post-adoption of Smartphone. 2011 International Conference on Software and Computer Applications, 9, 108-112 (2011).
    • Zeithaml, V. A. Consumer perceptions of price, quality, and value: A means-end model and synthesis of evidence. The Journal of Marketing, 52(3), 2-22 (1988).

     

     

     

    Trang 82


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-MARKETING-%C4%90%E1%BB%8AA-PH%C6%AF%C6%A0NG-NH%E1%BA%B0M-THU-H%C3%9AT-KH%C3%81CH-DU-L%E1%BB%8ACH-%C4%90%E1%BA%BEN-S%C6%A0N-LA.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN SƠN LA

     

    Lê Ngọc Nương*, Nguyễn Hải Khanh

    Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Hoạt động marketing ngày nay không chỉ giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp hay một ngành nghề cụ thể mà còn phát triển trong phạm vi của một vùng, khu vực, địa phương hay quốc gia. Marketing như vậy được gọi là marketing địa phương và có thể được vận dụng trong một tỉnh (thành phố). Sơn La là một tỉnh miền núi nằm phía Tây Bắc tổ quốc, có nền văn hoá đa sắc màu cùng với những ưu đãi của thiên nhiên. Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trên cung đường du lịch Tây Bắc với nhiều lợi thế về phát triển du lịch. Tuy nhiên, trên thực tế tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Sơn La chưa được khai thác một cách hiệu quả để xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng khai thác, phát triển du lịch và xây dựng những giải pháp marketing địa phương nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương và thu hút khách du lịch đến Sơn La ngày một nhiều hơn.

    Từ khóa: Marketing địa phương, Sơn La.

     

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Sơn La là một tỉnh miền núi nằm phía Tây Bắc tổ quốc, vị trí địa lý nằm sâu trong lục địa với trung tâm là thành phố Sơn La, cách Hà Nội 320 km theo trục Quốc lộ 6 Hà Nội – Sơn La – Điện Biên – Lai Châu. Có thể nói Sơn La là một tỉnh có nền văn hoá đa sắc màu với 12 dân tộc anh em sinh sống, cùng với những ưu đãi của thiên nhiên như nguồn nước nóng, các hang động, thung lũng, núi non hùng vĩ… cho thấy Sơn La có một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch địa phương.

     

    Nhân dịp cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 năm 2011 (từ ngày 27/8 đến 2/9/2011) lần đầu tiên những sản phẩm du lịch sinh thái, văn hóa lịch sử nổi tiếng tại Sơn La và vùng Tây Bắc đã được tỉnh Sơn La tổ chức, giới thiệu trong chương trình du lịch “Qua miền Tây Bắc, Sơn La – 2011”. Chương trình đã nhận được sự quan tâm, quảng bá rộng khắp của các cơ quan thông tấn, báo chí, mọi người trong và ngoài nước.

     

    Sự kiện lớn này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước dành cho ngành du lịch Sơn La. Bởi lẽ Sơn La có vị trí chiến lược quan trọng trên cung đường du lịch Tây Bắc

     

    • Tel: 0973282586

    với nhiều lợi thế về phát triển du lịch, có thể kể đến như khu du lịch cao nguyên Mộc Châu, du lịch lòng hồ Thủy điện Sơn La – thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, các di tích lịch sử, văn hóa cộng đồng… Tuy nhiên, trên thực tế tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Sơn La chưa được khai thác một cách hiệu quả để xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Trong khi đó, tại Sơn La chưa có nghiên cứu ứng dụng nào đề cập đến vận dụng lý luận marketing địa phương để tạo lợi thế cạnh tranh cho địa phương và thu hút khách du lịch đến Sơn La ngày một nhiều hơn.

     

    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

     

    Đánh giá thực trạng khai thác, phát triển du lịch Sơn La trong giai đoạn 2008 – 2012, khảo sát – đánh giá các nguồn lực, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách cần thiết cho phát triển du lịch bền vững và xây dựng những giải pháp marketing địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến Sơn La giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020.

     

    ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

     

    • Đối tượng  nghiên  cứu:  Chủ  thể  là

    Marketing địa phương, khách thể là ngành du lịch Sơn La.

     

    141

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng du lịch

    Sơn La từ năm 2008 – 2012 tại địa bàn tỉnh Sơn La.

     

    • Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả thực hiện đề tài sử dụng các phương pháp sau:

    Phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở các thông tin và số liệu thu thập được, nhóm tác giả tiến hành công việc tổng hợp phân tích, đánh giá.

     

    Phân tích – so sánh: Những thông tin và số liệu thu thập trong một thời kỳ nhất định, nhóm tác giả sử dụng để so sánh, phân tích đánh giá giữa các thời kỳ khác nhau

     

    Điều tra, phỏng vấn: thiết kế bảng hỏi, chọn mẫu và tiến hành thu thập dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

    Phân tích – dự báo: Sau khi tổng hợp được tất cả các thông tin, trên cơ sở đó đưa ra những dự báo cho vấn đến nghiên cứu trong những năm tiếp theo.

     

    KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Phương pháp và kết quả điều tra xã hội học về du lịch Sơn La

     

    Nhóm tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi và phát ngẫu nhiên cho 140 khách du lịch tại TP. Sơn La, Mộc Châu và Mường La. Số phiếu thu về, sử dụng được là 140 phiếu. Trong đó, 50 phiếu tại Thành phố Sơn La, 45 phiếu tại Mộc Châu và 45 phiếu tại Mường La. Đặc điểm của đối tượng được khảo sát cụ thể như sau:

     

       

    Bảng 1. Đối tượng khách du lịch được khảo sát

         
                     

    (Đơn vị tính: người)

       

    Giới tính

         

    Độ tuổi

         
     

    Du khách

    Nam

     

    Nữ

    <18

    18-24

     

    25-34

    35-55

    >55

     
     

    1. Khách nội địa

    69

    56

    5

    23

    36

    52

    9

     
     

    Miền Bắc

    36

    26

    3

    12

    17

    25

    5

     
     

    Miền Trung

    21

    17

    2

    8

    13

    18

    2

     
     

    Miền Nam

    12

     

    13

    0

    3

     

    6

    9

    2

     
     

    2. Khách Quốc tế

    8

    7

    0

    2

    4

    7

    2

     

    Bảng 2. Mức độ đánh giá của du khách về du lịch Sơn La

     

    (Đơn vị tính: %)

     

    Những ý kiến về cơ sở hạ tầng và chất lượng phục vụ tại các điểm du lịch Sơn La

     

    1. Hệ thống giao thông thuận lợi
    1. Giá cả sinh hoạt hợp lý
    1. Cảnh quan thiên nhiên đẹp
    1. Có những nét văn hóa đặc trưng của địa phương
    1. Con người tại địa phương thân thiện, hiếu khách
    1. Phòng ở tiện nghi, thoải mái
    1. Các điểm du lịch có nhà vệ sinh sạch sẽ
    1. Dễ dàng lựa chọn phương tiện đi lại
    1. Những di tích lịch sử được bảo tồn tốt
    1. Các lễ hội văn hóa độc đáo
    1. Hệ thống điện, nước tại các điểm du lịch tốt
    1. Có nhiều đoàn khách khác cùng đến tham quan
    1. Có sẵn những chỉ dẫn thông tin du lịch
    1. Hướng dẫn viên, thuyết minh viên địa phương nhiệt tình, chuyên nghiệp
    1. Hài lòng khi du lịch đến Sơn La
     

    Thang đánh giá

       

    Rất

    Không

     

    Trung

     

    Đồng

     

    Rất

    không

    đồng

     

    lập

     

    ý

     

    đồng

    đồng

    ý

             

    ý

    ý

                 

    24%

    67%

    7%

    2%

    0%

    2%

    19%

    25%

    51%

    3%

    1%

    9%

    14%

    34%

    42%

    27%

    41%

    18%

    12%

    2%

    3%

    8%

    10%

    44%

    35%

    15%

    21%

    32%

    24%

    8%

    21%

    39%

    26%

    11%

    3%

    22%

    36%

    28%

    13%

    1%

    26%

    35%

    27%

    9%

    3%

    20%

    33%

    20%

    18%

    9%

    19%

    28%

    29%

    19%

    5%

    14%

    29%

    34%

    17%

    6%

    25%

    40%

    25%

    8%

    2%

    19%

    33%

    22%

    21%

    5%

    8%

    29%

    54%

    13%

    4%

    142

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    Qua bảng 1 chúng ta thấy tỉ lệ khách du lịch là nam đi du lịch nhiều hơn (55%), độ tuổi đi du lịch nhiều nhất là từ 35 đến 55 tuổi. Với khách nội địa thì đa số du khách đến Sơn La là từ miền Bắc (chiếm 48%). Số liệu cho thấy lượng khách có độ tuổi từ 18 đến 34 chưa nhiều và đối tượng khách trên 55 còn thấp, đối tượng khách dưới 18 tuổi còn rất ít. Thực tế này sẽ định hướng cho ngành du lịch Sơn La phát triển những sản phẩm du lịch dành cho lứa tuổi chiếm đa số là từ 35 đến 55 tuổi.

     

    Qua số liệu bảng 2, chúng ta cần lưu ý những điểm tốt và chưa tốt, cụ thể như sau:

     

    • Những điểm được đánh giá chưa tốt:

    Cơ sở vật chất phục vụ du lịch: Về hệ thống giao thông, có đến 67% không đồng ý là giao thông thuận lợi, có đến 58% người cho rằng việc lựa chọn phương tiện đi lại không dễ dàng. Điều này ảnh hưởng đến việc quyết định đi du lịch của du khách và ảnh hưởng đến việc du khách có quyết định quay lại Sơn La hay không. Về phòng ở tiện nghi, thoải mái: chỉ có 32% số người đồng ý, còn lại cho rằng không đồng ý và ý kiến trung lập không đánh giá rõ rệt.

     

    Ấn tượng địa phương: Có đến 68% số người cho rằng Sơn La chưa có những điểm đặc trưng riêng về du lịch. Các lễ hội chưa gây ấn tượng khó phai trong du khách (có 53% số người không đồng ý). Nghĩa là việc tạo dựng ấn tượng, các lễ hội và hình tượng của địa phương chưa hiệu quả và chưa được chú trọng gìn giữ và phát huy đúng mức.

     

    Tại các điểm du lịch: Các nhà vệ sinh bị đánh giá là không tốt, có đến 60% du khách cho rằng nhà vệ sinh chưa đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh. Hệ thống điện nước cũng bị đánh giá là chưa tốt (47% không đồng ý và 29% là ý kiến trung lập). Thông tin chỉ dẫn về du lịch cũng không sẵn có tại các điểm du lịch (65% số người không đồng ý và rất không đồng ý). Những di tích lịch sử chưa được bảo tồn đúng mức (61%).

     

    • Những điểm được đánh giá tốt

    Về cảnh quan thiên nhiên được đa số du khách đánh giá là đẹp (chiếm 76%), giá cả

    sinh hoạt và tiền thuê phòng được cho là hợp lý (chiếm 54%), con người tại địa phương được đánh giá là rất thân thiện, hiếu khách (chiếm 79%).

     

    Về mức độ hài lòng sau khi đi du lịch Sơn La, số liệu khảo sát chưa kết luận được về mức độ hài lòng, ý kiến trung lập chiếm 54%, số cho là hài lòng chiếm 17% và số cho là không hài lòng chiếm 37%. Nghĩa là du lịch Sơn La chưa xác định rõ được nhu cầu và mong muốn của du khách, chưa có những giải pháp hiệu quả thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của du khách tốt hơn những địa phương khác trong toàn quốc.

     

    Thực trạng marketing địa phương nhằm thu hút khách du lịch đến Sơn La

     

    • Số lượt khách du lịch đến Sơn La

    Năm 2012, lượng khách đến với Sơn La đạt hơn 400.000 lượt, tăng 4,8 lần so với năm 2003, trong đó có 63.606 lượt khách quốc tế.

     

    Qua đồ thị 1, chúng ta thấy rằng lượt khách đến Sơn La tăng vọt từ năm 2008 sang 2009, sau đó tiếp tục giữ được mức tăng trong các năm tiếp theo. Trong đó, việc thu hút khách nội địa tăng cao hơn so với lượng khách quốc tế. Sự việc này do công tác phát triển và xúc tiến du lịch được quan tâm mạnh mẽ của chính quyền địa phương.

     

    * Thu nhập từ du lịch Sơn La

     

    Đồ thị 2 cho thấy thu nhập từ du lịch năm 2012 đạt hơn 200 tỷ đồng, tăng 6,5 lần so với năm 2003, nâng cao vai trò của du lịch ở địa phương. Ngày càng khẳng định ngành du lịch Sơn La hoàn toàn có thể trở thành ngành mũi nhọn góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế xã hội Sơn La phát triển.

     

    * Nguồn lực ngành du lịch Sơn La

     

    Sau hơn 10 năm thực hiện chiến lược phát triển du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú và dịch vụ hỗ trợ đã phát triển khá nhanh, thu hút trên 150 tổ chức, doanh nghiệp và cùng nhiều thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực phát triển du lịch, tạo việc làm cho trên 2.000 lao động trực tiếp trong ngành và trên

     

    4.000 lao động gián tiếp, được thể hiện qua đồ thị 3.

     

    143

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

     

     

     

    Đồ thị 1. Lượt khách du lịch đến Sơn La trong giai đoạn 2003-2012

     

     

     

    Đồ thị 2. Thu nhập du lịch đến Sơn La trong giai đoạn 2003-2012

     

    Đồ thị về tỷ lệ cơ cấu trình độ trong nguồn lực du lịch cho thấy rằng tỷ lệ những người có trình độ đại học và trên đại học còn hạn chế (dưới 10%), điều này khó có thể thúc đẩy và nâng tầm du lịch Sơn La lên mức đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng, ngang tầm đẳng cấp với ngành du lịch trên toàn quốc và trong khu vực, dẫn đến sức cạnh tranh yếu trong thu hút du khách. Số lượng nhân lực chưa qua đào tạo và làm việc trái ngành chiếm tỷ lệ lớn (trên 60%), điều này dẫn đến chất lượng phục vụ trong ngành du lịch không chuyên nghiệp do không được đào tạo đúng chuyên ngành, cần phải đào tạo lại và đào tạo bổ sung cho lực lượng lao động này.

     

    144

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

     

     

     

    Đồ thị 3. Cơ cấu trình độ nguồn nhân lực ngành du lịch

     

     

    NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

     

    Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Tổ quốc. Diện tích tự nhiên rộng đứng thứ 3 cả nước, nhưng Sơn La lại là một trong 7 tỉnh nghèo nhất nước. Cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch còn nhiều khó khăn, hạn chế. Đường giao thông, đường sông chất lượng chưa cao, chưa đa dạng về loại hình vận tải. Bên cạnh đó hệ thống khách sạn nhà nghỉ, nhà hàng, chất lượng và số lượng buồng phòng còn hạn chế.

     

    Nền kinh tế còn chậm phát triển do điểm xuất phát của nền kinh tế Sơn La thấp. Mặc dù mấy năm gần đây, kinh tế của tỉnh đã có khởi sắc, xuất hiện một số điển hình là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển của tỉnh. Tuy nhiên, kinh tế Sơn La nói riêng và kinh tế Tây Bắc nói chung vẫn phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả nước. GDP/người chỉ bằng 61% so với mức trung bình của cả nước, thu không đủ chi, cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm.

    Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, khả năng cạnh tranh chưa cao. Mặc dù có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng sản phẩm nhưng các sản phẩm chưa tạo được đặc trưng rõ nét, chưa đa dạng để đáp ứng những nhu cầu du lịch phong phú của khách hàng du lịch tiềm năng. Nguyên nhân là do chưa có những chuyên gia, tổ chức chuyên nghiệp về du lịch tư vấn và triển khai những loại hình du lịch hấp dẫn hướng về khách hàng.

     

    Môi trường kinh doanh, đầu tư du lịch chưa thực sự hấp dẫn cho nên cho thu hút được đầu tư vào du lịch Sơn La. Những điểm du lịch mặc dù có tiềm năng nhưng không được đầu tư đúng mức thì vẫn đủ sức hấp dẫn để lôi cuốn khách hàng đến với Sơn La. Các chính sách ưu đãi về đầu tư cho du lịch, chế độ miễn giảm thuế, ưu đãi về thuê đất cho lĩnh vực du lịch chưa đồng bộ và rõ nét.

     

    Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn nhiều hạn chế, dẫn đến khách du lịch, nhất là khách du lịch nước ngoài rất thiếu thông tin về Sơn La. Hiện nay, chủ yếu thông qua hoạt động triển lãm hàng năm để quảng bá về du lịch.

     

    145

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    Các loại hình tuyên truyền, quảng bá chưa phong phú và chưa được tiến hành thường xuyên.

     

    CÁC GIẢI PHÁP MARKETING ĐỊA PHƯƠNG NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN TỈNH SƠN LA

     

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch

     

    Để thực hiện tốt hoạt động Marketing địa phương cần phải hết sức coi trọng đến lực lượng phục vụ trong du lịch bởi chính những người này sẽ có một sự tác động mạnh mẽ tới du khách. Đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho các trường cao đẳng nghề, cao đẳng cộng đồng hoạt động để từ đó có thể dễ dàng thu hút các học sinh tốt nghiệp phổ thông theo học nghề, giúp cho họ có một tay nghề kỹ thuật vững chắc, góp phần vào sự nghiệp phát triển du lịch của thành phố.

     

    Đa dạng hóa sản phẩm du lịch hướng về khách hàng

     

    Dựa trên nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng có thể phát triển các loại hình du lịch đặc trưng có sức hấp dẫn du khách như du lịch khám phá, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch giúp đỡ người nghèo…

     

    hướng về thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách du lịch. Bên cạnh đó cần chú trọng đến đầu tư hoặc khuyến khích xây dựng các tụ điểm vui chơi giải trí để giữ chân khách như casino, vũ trường hiện đại, khách sạn đầy đủ tiện nghi.

     

    Rà soát lại quy hoạch du lịch

     

    Sơn La hiện nay chủ yếu khai thác yếu tố thiên nhiên mà chưa có một quy hoạch tương xứng với những gì mình có. Vì thế cần rà soát lại quy hoạch để Sơn La trong tương lai sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn, trở thành điểm đến du lịch bền vững. Sự quy hoạch du lịch cần tính đến sự liên hoàn giữa các khu du lịch, sự kết nối tạo thành chuỗi giá trị không những trong ngành du lịch và hỗ trợ tạo điều kiện lẫn nhau trong việc thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

     

    146

    Tăng cường quảng bá du lịch

     

    Để hình ảnh Sơn La trở nên quen thuộc với mọi người cần chú ý đến hoạt động quảng bá du lịch. Quảng bá Sơn La bằng cách thành lập bộ phận chuyên trách hoặc thuê một công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài để tổ chức các sự kiện lớn nhằm quảng bá cho Sơn La.

     

    Bên cạnh đó cần hoàn thiện khâu cung cấp thông tin du lịch qua website, email, liên kết với các web tìm kiếm nổi tiếng như Google, Yahoo, MSN… để du khách nước ngoài dễ tìm kiếm.

     

    Nâng cao ý thức người dân

     

    Sự thân thiện và lòng hiếu khách của người dân Sơn La hiện nay đang được du khách đánh giá cao, địa phương cần tập trung vào thế mạnh này. Bởi lẽ cộng đồng địa phương có một vai trò rất lớn trong sự phát triển du lịch, các hoạt động du lịch đều có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Vì thế, để nâng cao khả năng thu hút khách cần tác động đến ý thức của cộng đồng để họ thực sự trở thành những người bảo vệ các đối tượng du lịch.

     

    Thực hiện công tác liên kết phát triển du lịch

     

    Trong quá trình cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì liên kết hợp tác trong phát triển du lịch để cùng nhau phát triển lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hoạt động liên kết giữa các tỉnh khu vực Tây Bắc, đặc biệt các tỉnh trên cung đường quốc lộ 6 như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên cần được triển khai thực hiện đồng bộ. Các địa phương cũng phối hợp nhau để tổ chức các sự kiện lớn như Festival qua miền Tây Bắc, Hành trình “Điện Biên năm xưa”, liên hoan văn hóa du lịch Tây Bắc. Chính hoạt động liên kết sẽ khai thác được các nét đặc trưng cũng như phát huy được các thế mạnh về du lịch của các tỉnh để phát triển du lịch của khu vực.

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch

     

    • Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch
    • Đường bộ: những tuyến đường được xác

    định là lộ trình du lịch với hành trình dài cần

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    xây dựng và hình thành trạm dịch vụ dừng chân dọc theo các tuyến đường bộ với khoảng cách hợp lý. Thường xuyên duy tu, sửa chữa các tuyến đường hiện có.

     

    • Đường không: Xúc tiến quá trình cải tạo và xây dựng sân bay Nà Sản trở thành một sân bay quốc tế hiện đại… Có chủ trương hỗ trợ đối với các đường bay mới, ít khách để có thể duy trì hoạt động.
    • Đường sông: Nghiên cứu thiết lập đa dạng các tuyến du lịch bằng đường sông đến Sơn La qua dòng sông Đà. Xây dựng những điểm ven sống thành chợ hàng hóa kết hợp du lịch, xây dựng khu bán hàng lưu niệm, ẩm thực phục vụ khách du lịch văn minh, sạch đẹp.
    • Hoàn chỉnh hệ thống viễn thông – công nghệ thông tin; xây dựng đồng bộ và hiện đại hoá hệ thống biển báo, chỉ dẫn giao thông và du lịch; xây dựng và cải tạo mạng lưới cấp điện, nước cho các khu đô thị và du lịch.

    * Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

     

    • Phát triển cả số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú nhằm đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch, đạt tiêu chuẩn 3 sao, 4 sao thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ chất lượng cao của phân khúc thị trường cao cấp.
    • Kiểm tra, lựa chọn và thông báo rộng rãi những khách sạn, nhà hàng, dịch vụ ăn uống, điểm mua sắm đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ở các điểm du lịch, giúp du khách có cơ sở để lựa chọn và quyết định.
    • Ban hành những chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút và lựa chọn những dự án xây dựng khách sạn cao cấp với quy mô lớn, đẳng cấp quốc tế, kêu gọi xây dựng hạ tầng xanh thân thiện với môi trường mà lại tiết kiệm được chi phí.
    • Nâng cấp và xây dựng thêm các khu vui chơi giải trí, các resort, các khu mua sắm lớn, hiện đại và đa dạng hóa về chủng loại hàng hóa, các khu thể thao phù hợp với điều kiện địa hình của thành phố.
    • Phát triển các khu mua sắm để tăng chi tiêu của du khách và có những chính sách ưu đãi với những gian hàng của các làng nghề trong khu mua sắm;
    • Cần xây dựng một số khu vui chơi giải trí hiện đại mang đặc trưng và sự khác biệt so với những nơi khác.
    • Nâng cao hơn nữa chất lượng các dịch vụ kèm theo như dịch vụ vận chuyển, viễn thông, y tế, ngân hàng… và đầu tư nâng cấp, trùng tu các khu bảo tàng, văn hóa, sinh thái.

    Phát triển du lịch gắn kết với cộng đồng địa phương

     

    Gia tăng sự hiểu biết về phát triển du lịch bền vững, hướng tới cân bằng lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và vấn đề bảo vệ môi trường. Đảm bảo sự tham gia của cộng đồng dân cư vào quá trình xây dựng quy hoạch phát triển du lịch. Muốn vậy phải để người dân địa phương tham gia từ việc đánh giá thực trạng du lịch bền vững, lấy

     

    • kiến người dân về những biện pháp, đề ra những nội quy để phát triển du lịch bền vững. Khi người dân được tham gia và cùng trải nghiệm quá trình này thì bản thân mỗi người

    đã ý thức được trách nhiệm đối với môi trường du lịch.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nguyễn Văn Mạnh (2009), Giáo trình marketing du lịch, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.
    1. Vũ Thị Thoa (2012), “Phát triển du lịch bền vững”, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, http://www.vtr.org.vn/index.php?options=items&c ode=2979
    1. Kai Partale (2012), “Quản lý điểm đến cho 8 tỉnh miền núi Tây Bắc”, Chương trình Phát triển

    Năng lực Du lịch có trách nhiệm với Môi trường

     

    và Xã hội, http://www.esrt.vn/default.aspx? portalid=1&tabid=356&itemid=16

     

    1. Hoàng Vượng (2012), “Bộ thương hiệu du lịch tám tỉnh Tây Bắc mở rộng”, Du lịch Việt Nam – 2012 – Số Xuân (2) – Tr. 50-51.
    1. Sở Thương mại & Du lịch Sơn La (2006), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sơn La giai đoạn 2007 -2020.
    1. Vũ Trí Dũng, ThS Nguyễn Đức Hải (2011), Marketing lãnh thổ, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.

    147

     

    Lê Ngọc Nương và Đtg                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                            125(11): 141 – 148

     

    SUMMARY

     

    LOCAL MARKETING SOLUTIONS TO ATTRACT TOURISTS

    IN SON LA PROVINCE

     

    Le Ngoc Nuong*, Nguyen Hai Khanh

    College of Economics and Business Administration TNU

     

    Today’s marketing activities are not limited in the scope of the business or a particular industry but are developed in the scope of area, region, local or nation. This marketing is called local marketing and can be applied in a province (city). Son La is a mountainous province located northwest of the country, with colorful culture along with the good conditions in terms of nature. Son La has an important strategic position with many advantages of tourism development. However, Son La tourism has not been developed effectively as key economic sectors which contribute to promote the social and economic development of the province. Research has shown reality of development, tourism development and built local marketing solutions to create competitive advantages and to attract more tourists to Son La.

     

    Key words: Local marketing, Son La

     

     

     

     

     

    Ngày nhận bài: 12/3/2014; ngày phản biện: 09/4/2014; ngày duyệt đăng: 26/9/2014

     

    Phản biện khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Anh – Trường Đại học Kinh tế & QTKD – ĐH Thái Nguyên

     

    • Tel: 0973282586

     

    148


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

    ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

    ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Marketing xã hội giải pháp hữu hiệu của các vấn đề xã hội ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%80-XU%E1%BA%A4T-CHI%E1%BA%BEN-L%C6%AF%E1%BB%A2C-MARKETING-FESTIVAL-TR%C3%80-TH%C3%81I-NGUY%C3%8AN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Trần Kim Yến*, Nguyễn Thị Tâm

    Trường Đại học Hải Phòng

     

    TÓM TẮT

     

    Festival Trà Thái Nguyên là dịp để các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp giới thiệu, quảng bá cho hình ảnh, thương hiệu của trà Thái Nguyên tới bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của thương mại và du lịch Thái Nguyên. Tuy nhiên, do hình thành và phát triển chưa lâu nên Festival trà Thái Nguyên vẫn còn rất nhiều những khiếm khuyết và hạn chế trong công tác truyền thông, quảng bá, xây dựng các chiến lược Marketing để giới thiệu hình ảnh, thúc đẩy phát triển du lịch và thương mại của Festival nói riêng và Thái Nguyên nói chung.

    Từ khóa: Festival trà, chiến lược, marketing, Thái Nguyên

     

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Thái Nguyên là mảnh đất có đặc trưng riêng biệt với những đồi chè xanh tươi ngút ngàn, là vùng sản xuất chè lớn nhất Việt Nam, những sản phẩm chè Thái Nguyên đã xây dựng được thương hiệu của riêng mình, ví dụ chè Tân Cương; chè Hoàng Bình… Chính bởi điều đó, Festival Trà Thái Nguyên đã trở thành một điểm đến du lịch khá hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm, chú ý của đông đảo du khách. Bên cạnh đó, festival cũng là dịp để giới thiệu, quảng bá cho hình ảnh, thương hiệu của chè Thái Nguyên tới bạn bè trong nước và quốc tế.

     

    Tuy nhiên, do hình thành và phát triển chưa lâu, từ 2011 đến 2013 nên Festival trà Thái Nguyên vẫn còn rất nhiều hạn chế trong công tác truyền thông, quảng bá, xây dựng các chiến lược Marketing. Xuất phát từ thực tiễn và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng chiến lược Marketing cho Festival trà Thái Nguyên” để nghiên cứu.

     

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING

     

    Khái niệm chiến lược Marketing

     

    Theo Phillip Kotler: “Chiến lược Marketing là một hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ marketing của mình. Nó bao gồm những chiến lược cụ

     

    • Tel:

    thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với các phức hệ marketing và mức chi phí cho marketing.”[3]

     

    Như vậy, chiến lược marketing tập trung giải quyết các vấn đề chính yếu:

     

    • Lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định thị trường tiềm năng.
    • Đề ra các chính sách marketing thích hợp với về sản phẩm, kênh phân phối hay xúc tiến quảng bá…

    Khái niệm chiến lược marketing du lịch

     

    Ngoài chiến lược marketing cơ bản 4P truyền thống gồm các yếu tố sản phẩm (Product), giá (Price), kênh phân phối (Placement) và xúc tiến quảng bá (Promotion) thì chiến lược marketing trong du lịch còn có thêm 3C là khách hàng (Customers), bản thân tổ chức kinh doanh du lịch (Company itself) và đối thủ cạnh tranh (Competitors).

     

    Customers: Khả năng đáp ứng các nhu cầu, mong muốn của khách hàng chính là thước đo cho sự thành công của tổ chức kinh doanh.

     

    Company itself: Một tổ chức, doanh nghiệp cần xác định rõ được các điểm mạnh, điểm yếu của chính tổ chức mình, để từ đó xây dựng được các chiến lược nhằm phát triển các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu.

     

    Competiors: Để xây dựng một chiến lược marketing hợp lý và hiệu quả, cần xác định và tìm hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

     

    3

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    HOẠT ĐỘNG MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Giới thiệu festival Trà

     

    Thời gian tổ chức

     

    Liên hoan Trà quốc tế Thái Nguyên lần đầu được tổ chức trong 5 ngày từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 11 năm 2011. Sự kiện này là cơ hội để giới thiệu, quảng bá với bạn bè quốc tế về các sản phẩm chè Việt Nam nói chung và sản phẩm chè Thái Nguyên nói riêng, cũng như giao lưu, trao đổi, học hỏi những kinh nghiệm về cây chè và sản phẩm trà giữa các tổ chức, doanh nghiệp.

     

    Tiếp nối thành công từ Festival Trà lần thứ nhất năm 2011, Liên hoan Trà Thái Nguyên lần thứ hai đã được tổ chức vào năm 2013, từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 11 nhằm giới thiệu, quảng bá sâu rộng hơn nữa thương hiệu trà Thái Nguyên, tôn vinh các sản phẩm cùng văn hóa trà đặc trưng, khẳng định hơn nữa danh hiệu “Đệ nhất danh trà” đối với du khách trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, festival cũng tạo cơ hội để xúc tiến thương mại, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành chè, tăng cường các mối liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là phát triển cây chè, sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm trà với các tỉnh thành khác, mở rộng giới thiệu sản phẩm ra khu vực và trên thị trường quốc tế.

     

    Các hoạt động chính của Festival

     

    Trong khuôn khổ festival diễn ra các hoạt động chính như: Lễ khai mạc, lễ hội Văn hóa Trà, carnaval Trà Thái Nguyên, hội thảo về thương hiệu Trà và xúc tiến đầu tư phát triển ngành chè, xúc tiến du lịch, cuộc thi Người đẹp xứ Trà, bắn pháo hoa chào mừng… Trong đó Lễ hội văn hóa Trà là hoạt động chính của festival với sự tham gia của một số đoàn quốc tế, các tỉnh có thế mạnh về cây chè, các doanh nghiệp, các làng nghề và các nghệ nhân tiêu biểu…

     

    Ngoài ra còn có hàng loạt các hoạt động hưởng ứng khác như: Chương trình biểu diễn

    nghệ thuật và lễ hội với sự tham gia của các đoàn nghệ nhân, nghệ thuật trong nước và quốc tế, triển lãm ảnh giới thiệu về đất nước, con người và trà Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung, tổ chức khu Chợ quê để trưng bày các sản phẩm trà và các sản vật đặc trưng của các tộc người,…

     

    Kết quả đạt được

     

    Festival Trà quốc tế lần thứ nhất, thứ hai đều đã được tổ chức thành công tốt đẹp, đúng với nội dung kịch bản đề ra và đảm bảo được an toàn tuyệt đối, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân, du khách và bạn bè quốc tế. Đặc biệt, tại festival lần thứ nhất đã vinh dự ghi được 2 kỷ lục Việt Nam mới: Bộ ấm trà lớn nhất Việt Nam, chương trình nghệ thuật pha trà, thưởng trà có số lượng người tham gia đông nhất; còn tại festival lần thứ hai đã công nhận thêm 1 kỷ lục Việt Nam cho Trà Thái Nguyên là thương hiệu Trà danh tiếng được nhiều người Việt Nam biết đến nhất và sản phẩm Trà Thái Nguyên thuộc top các đặc sản quà tặng có giá trị của châu Á.

     

    Đánh giá hoạt động festival trà qua công thức SWOT

     

    Bảng 01. Phân tích SWOT về hoạt động của

    Festival Trà Thái Nguyên

     

    Strengths

    (Điểm

    Weakenese (Điểm

    mạnh)

       

    yếu)

       

    – S1: Festival Trà là sự

    – W1: Cơ sở vật chất

    kiện văn hóa, du lịch và

    kỹ thuật phục vụ cho

    thương   mại

    về   sản

    festival

    còn

    sài,

    phẩm chè lớn nhất Việt

    đơn  giản,  tính

    thẩm

    Nam.

     

    mỹ chưa cao.

       

    – S2: Festival Trà là sự

    –  W2:  Mức  đầu  tư

    kiện quốc tế nổi bật, thu

    khá  lớn  nhưng

    hiệu

    hút nhiều các quốc gia

    quả kinh tế mang lại

    khác tham gia trưng bày

    từ festival chưa cao.

    sản  phẩm  và  xúc  tiến

    – W3: Các chiến lược

    thương mại.

     

    marketing, quảng bá

       

    cho festival còn hạn

       

    chế và chưa thu hút

       

    được  nhiều  sự  quan

       

    tâm của dư luận.

     
       

    -W4:

    Chất

    lượng

       

    nguồn  nhân lực còn

       

    thiếu và yếu, chuyên

       

    môn hóa chưa cao.

    4

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    Opportunities (Cơ hội)

    Threats

    (Thách

    – O1: Nhu cầu sử dụng

    thức)

           

    chè và các sản phẩm từ

    – T1: Suy thoái kinh

    chè ngày càng gia tăng.

    tế khiến mức đầu tư

    – O2: Trên thế giới cũng

    của cả nhà  nước và

    có rất nhiều các festival

    các nhà đầu tư khác

    trà  được  tổ  chức,  tạo

    đều sụt giảm.

       

    điều kiện cho chè Thái

    – T2: Sự cạnh tranh

    Nguyên được tham gia,

    không

    lành

    mạnh

    quảng  bá  và  xúc  tiến,

    giữa

    các

    sản

    phẩm

    tiêu thụ sản phẩm.

    chè

    trong

    nước

    –  O3:  Festival  Trà  nói

    quốc tế.

           

    riêng và ngành sản xuất

    – T3:  Các  thông  tin

    chè  nói  chung  đã  và

    thất

    thiệt,

    một

    số

    đang nhận được sự quan

    doanh

    nghiệp

    kinh

    tâm, chỉ đạo sát sao.

    doanh

    không

    đúng

                 
    • O4: Sản phẩm chè với đạo đức nghề Thái Nguyên đã xây nghiệp, gây ảnh

    dựng được thương hiệu

    hưởng tới danh tiếng

    ở cả trong nước và quốc

    của sản phẩm và tạo

    tế.

         

    tâm  lý  lo  ngại  cho

    –  O5:  Tài  nguyên  du

    khách hàng.

     

    lịch

    của

    tỉnh

    Thái

    – T4: Các sản phẩm

    Nguyên rất đa dạng, có

    trà và các festival trà

    thể kết hợp với festival

    trên

    thế

    giới

    ngày

    để  xây  dựng  chương

    càng nhiều.

     

    trình  du  lịch  hấp  dẫn,

    –  T5:  Người

    nông

    thu hút du khách.

     

    dân trồng chè không

    – O6: Festival có được

    được hưởng nhiều lợi

    sự quan tâm và đầu tư

    ích

    từ

    festival

    tạo

    của

    nhà

    nước,

    các

    tâm

    không

    tích

    doanh

    nghiệp

    trong

    cực.

         

    nước và quốc tế.

             

    Trong khuôn khổ của bài viết, các tác giả chỉ phân tích một số yếu tố có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của Festival Trà Thái Nguyên.

     

    Điểm mạnh

     

    • Festival Trà là sự kiện văn hóa, du lịch và thương mại về sản phẩm chè lớn nhất Việt

    Nam. Ngoài một số sự kiện nhỏ lẻ của các tỉnh thành, các địa phương giới thiệu về các sản phẩm trà, văn hóa trà như Lễ hội văn hóa Trà của tỉnh Lâm Đồng, Lễ hội Trà Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên… thì Việt Nam chưa có một hoạt động nào mang tầm quốc tế để quảng bá, giới thiệu rộng rãi về các sản phẩm trà của mình.

     

    Festival Trà quốc tế Thái Nguyên lần đầu tiên được tổ chức năm 2011 là sự kiện văn hóa, du lịch và thương mại đầu tiên và cũng là lớn

    nhất Việt Nam nhằm mục đích nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người và sản phẩm Trà Việt Nam nói chung và sản phẩm Trà Thái Nguyên nói riêng.

     

    Bảng 02. Quy mô tổ chức festival Trà 2011 và 2013

     

     

    2011

    2013

         

    Kinh phí

    14 tỷ đồng

    11 tỷ đồng

           

    Số tỉnh/ thành tham gia

    38

    đoàn

    34 đoàn

           

    Số nước tham gia

    5

    đoàn

    10 đoàn

         

    Số lượng các hoạt động

    18 hoạt động

    16 hoạt động

           

    (Nguồn: Sở du lịch tỉnh Thái Nguyên)

     

    Qua hai kỳ festival đã tạo được tiếng vang nhất định trên thị trường khu vực và quốc tế, góp phần quảng bá, truyên truyền và tôn vinh giá trị của cây chè và các sản phẩm trà Việt Nam cũng như khẳng định thương hiệu Trà Thái Nguyên.

     

    Điểm yếu

     

    • Các chiến lược marketing, tuyên truyền, quảng bá về festival còn hạn chế và chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của dư luận. Các chiến lược marketing, các hình thức quảng bá, giới thiệu về festival Trà của tỉnh Thái Nguyên còn khá hạn chế quy mô và phạm vi nhỏ hẹp, tập trung chủ yếu trong tỉnh và một số vùng lân cận, hình thức quảng bá còn đơn điệu, chưa có sức hấp dẫn. Với phương thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu là báo chí Thái Nguyên, đài truyền hình tỉnh, cổng thông tin điện tử của tỉnh mà không phải trên truyền hình trung ương hay các trang báo uy tín của cả nước nên độ phủ sóng không cao khiến cho vẫn có rất nhiều người không biết tới festival này. Ngoài ra, các tập sách ảnh hay đặc san Trà Việt cũng chỉ được phát hành trong thời gian ngắn khi diễn ra festival và chủ yếu trong phạm vi tỉnh Thái Nguyên nên hiệu quả tuyên truyền, quảng bá cũng chưa cao. Các hội nghị, hội thảo hay các buổi họp báo giới thiệu về festival cũng chỉ được tổ chức với quy mô nhỏ, khá đơn giản và sơ sài khiến hiệu ứng tuyên truyền, quảng bá cho festival tới người dân trong nước và cả bạn bè quốc tế đã không được như mong đợi.

     

     

    5

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    Cơ hội

     

    • Sản phẩm chè Thái Nguyên đã xây dựng được thương hiệu ở cả trong nước và quốc tế. Ở Việt Nam, nói đến chè ngon người ta nghĩ ngay đến Thái Nguyên với thương hiệu “chè Thái” đã trở nên quen thuộc với người dân. Sản phẩm chè Thái Nguyên đã được người tiêu dùng trong cả nước và quốc tế biết đến với các sản phẩm trà xanh đặc sản, trà xanh cao cấp ướp hương đóng gói, đóng hộp và trà đen. Sản phẩm trà của Thái Nguyên đã có mặt ở trên thị trường 50 tỉnh, thành phố trên cả nước và cũng đã chinh phục được một số thị trường khó tính như Trung Quốc, Pakistan, Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, Srilanca…

    Nhu cầu sử dụng chè và các sản phẩm từ chè của Việt Nam, các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng gia tăng. Theo thống kê của một số nhà nghiên cứu, trà là thức uống được tiêu thụ nhiều thứ hai thế giới chỉ sau nước. Ở Trung Quốc, trà không chỉ được coi là thức uống hàng ngày giống như nước mà còn là một vị thuốc trị bệnh, bổ sung sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Tại Nhật Bản, trà không chỉ còn là thức uống bình thường mà văn hóa ẩm trà đã được nâng lên thành một nền nghệ thuật, một nền văn hóa đặc trưng của đất nước này: Trà đạo. Bên cạnh đó, nếu như cả thế giới trung bình uống 500 triệu tách trà mỗi ngày thì nước Anh đã dùng đến 1/4 số đó.

     

    Còn tại Việt Nam, trà cũng đã trở thành một thứ thức uống bình dị, quen thuộc đối với tất cả mọi người dân ở mọi lứa tuổi, mọi giai cấp. Việt Nam, có thể nói trà có mặt trong mọi hoạt động của xã hội, từ trong gia đình tới các hàng quán vỉa hè và cả những nhà hàng, khách sạn sang trọng. Từ các dịp lễ hội, cưới hỏi, sinh nhật, ma chay, cúng giỗ…đều có sự xuất hiện của trà.

     

    Thách thức

     

    • Các sản phẩm trà và các festival trà trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm trà Thái

    Nguyên. Trên thế giới có rất nhiều quốc gia

    nổi tiếng về chè, các sản phẩm trà và thậm chí là cả văn hóa thưởng trà, có thể kể đến như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Nga…

     

    Trung Quốc được coi là quê hương của cây chè, các sản phẩm trà của Trung Quốc đã có mặt tại rất nhiều quốc gia trên khắp thế giới, đặc biệt được ưa chuộng ở Mỹ, Anh, Pháp, các nước châu Âu và cả Việt Nam. Một số loại trà tiêu biểu được biết đến nhiều nhất của Trung Quốc như: Trà Long Tỉnh, Trà thiết Quan Âm, Phổ Nhĩ, Đại Hồng Bào…Trong đó trà Đại Hồng Bào được coi là bảo vật quốc gia của Trung Quốc với giá khoảng 1,25 triệu USD/kg.

     

    Một đất nước châu Á nữa; Nhật Bản cũng được biết đến là “quốc gia trà đạo” với nền văn hóa thưởng trà của người Nhật đã được nâng lên thành một triết lý, một môn nghệ thuật nổi tiếng trên khắp thế giới. Về các sản phẩm trà của Nhật Bản, riêng trà xanh cũng đã được chia ra làm rất nhiều loại với chất lượng và hương vị khác nhau, tạo được sự đa dạng, phong phú trong lựa chọn cho người sử dụng. Ngoài ra người Nhật còn sáng tạo ra những món ăn, những loại đồ uống có sử dụng trà làm nguyên liệu, tạo nên sự độc đáo riêng biệt và sức hấp dẫn đối với cả khách hàng trong nước và quốc tế.

     

    Bên cạnh đó trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều các sự kiện, các festival mang tầm cỡ quốc tế về sản phẩm trà và văn hóa trà. Có thể kể tới một số festival tiêu biểu nổi bật như Festival Trà quốc tế của Nhật Bản được tổ chức ba năm một lần hay Festivel Trà xanh Boseong được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần vào tháng 5 tại Boseong, nơi nổi tiếng với các đồi chè và các sản phẩm trà hảo hạng của đất nước Hàn Quốc. Hoặc tại đất nước nổi tiếng ưa chuộng các sản phẩm trà là nước Anh cũng tổ chức festival Trà và Cà phê hai năm một lần vào mùa thu ở thủ đô Luân Đôn. Ngoài ra chúng ta còn có thể tìm hiểu về trà thông qua festival Trà của Đức, Festival Trà Vancouver, Festival Trà Toronto của Canada hay Festival Trà quốc tế Los Angeles… Chỉ

     

    6

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    tính riêng trong năm 2014, theo thống kê thì trên thế giới có khoảng 12 sự kiện, lễ hội về trà được tổ chức [6]

     

    Chất lượng nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, tính chuyên môn hóa chưa cao, những chương trình đào tạo ngắn hạn theo mùa vụ không mang lại hiệu quả cao. Qua điều tra thực tế thì lực lượng lao động ở các đơn vị kinh doanh du lịch chỉ có 20% đạt trình độ đại học, còn lại là trình độ trung cấp, sơ cấp nghiệp vụ và lao động không chuyên theo mùa vụ với chuyên môn nghiệp vụ yếu, thiếu tính chuyên nghiệp, đặc biệt là khả năng ngoại ngữ rất hạn chế, nên có thể nói là chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch của tỉnh Thái Nguyên còn khá yếu và thiếu. Hiện nay tỉnh cũng đã có 3 trường đào tạo về du lịch là: Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên, Cao đẳng Thương mại và Du lịch và trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc, tuy nhiên do mới thành lập thêm khoa Du lịch và đi vào hoạt động chưa lâu nên chưa thể đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực cho tỉnh Thái Nguyên.

     

    Bên cạnh đó, trong thời gian chuẩn bị và tổ chức festival Trà Thái Nguyên, ban tổ chức sử dụng chủ yếu là lực lượng lao động tại chỗ, chính là những hộ nông dân trồng chè – nguồn lao động không chuyên theo mùa vụ. Trong thời gian chuẩn bị cho festival, người nông dân đã được đào tạo các khóa ngắn hạn về nghiệp vụ du lịch, cách tiếp đón và phục vụ khách du lịch, cách thức marketing, quảng bá cho festival nói riêng và các sản phẩm trà nói chung. Tuy đây là một nguồn lao động khá dồi dào và có thể sử dụng tại chỗ, phục vụ cho loại hình du lịch cộng đồng, du lịch homestay, nhưng với những chương trình đạo tạo ngắn hạn mang tính thời vụ khiến cho hiệu quả mang lại không cao, chất lượng phục vụ du lịch không đồng đều ở các địa phương, khu vực và gây ra sự tốn kém, lãng phí cho kinh phí của tỉnh và nhà nước khi mỗi sự kiện, mỗi kỳ festival lại phải tổ chức đào tạo lại.

     

    Các thông tin thất thiệt, một số doanh nghiệp kinh doanh không đúng với đạo đức nghề

    nghiệp, gây ảnh hưởng tới danh tiếng của sản phẩm và tạo tâm lý lo ngại cho khách hàng. Khoảng giữa năm 2011, trên các trang báo, tạp chí, báo điện tử đồng loạt đưa thông tin về việc phát hiện ở Yên Bái, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một số tỉnh sản xuất chè ở khu vực phía Bắc, người dân đã đã trộn lẫn phân lân, bùn, bột đất hay xi măng khi chế biến chè và sau đó đem phơi ở trên sân, trên đường quốc lộ…

     

    Tuy Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản đã được xác định là thông tin không chính xác nhưng những thông tin này cũng đã làm dấy lên sự hoang mang và phẫn nộ trong lòng người tiêu dùng, làm giảm sút lòng tin vào các sản phẩm chè trong nước và ảnh hưởng tới uy tín của các thương hiệu trà nổi tiếng như Yên Bái, Thái Nguyên… Bên cạnh đó, những thông tin này được đưa ra ngay trước thời gian diễn ra Festival Trà quốc tế Thái Nguyên lần thứ nhất đã có những ảnh hưởng tiêu cực rất lớn tới các hoạt động và hiệu quả của festival: Làm giảm sút uy tín của các sản phẩm trà, gây cản trở cho hoạt động quảng bá, giới thiệu và tôn vinh thương hiệu “trà Thái”, làm giảm hiệu quả xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư, liên doanh liên kết, ảnh hưởng tới số lượng khách du lịch và các đoàn quốc tế đăng ký tham gia festival cũng giảm từ 8 đoàn xuống 5 đoàn.

     

    Năm 2013, dư luận từng xôn xao về thông tin một số cơ sở chế biến trà đã tái chế bã trà phế thải của các doanh nghiệp sản xuất nước giải khát trà xanh đóng chai. Bã trà đã qua sử dụng của các doanh nghiệp sản xuất trà xanh đóng chai đáng lẽ phải đem tiêu hủy hoặc làm phân bón thì lại được bán lại cho các cơ sở chế biến với giá 200 – 300 VND/ kg. Sau đó, bã trà tại các cơ sở này được phơi, sấy khô, phân loại rồi ướp hương để bán ra thị trường với giá 10.000 VND/ kg. Điều này đã gây ảnh hưởng không hề nhỏ tới uy tín và danh tiếng của các thương hiệu trà Việt Nam, làm mất lòng tin của khách hàng, tạo tâm lý lo ngại, khiến sản lượng tiêu thụ các sản phẩm trà

     

    7

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    trong nước và trà xuất khẩu đều giảm trong năm 2013.

     

    CHIẾN LƯỢC MARKETING FESTIVAL TRÀ THÁI NGUYÊN

     

    Chiến lược marketing sản phẩm

     

    Chiến lược marketing về chất lượng sản phẩm

     

    Để sản xuất “chè sạch”, các hộ dân trồng chè cần được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất chè từ khâu chăm sóc đến thu hái, bảo quản và chế biến sản phẩm một cách khoa học theo đúng quy chuẩn đề ra. Đồng thời, các hộ phải tuân thủ, đáp ứng các yêu cầu như: Thường xuyên cập nhật sổ sách, ghi chép về tình hình sản xuất, yếu tố nguồn nước tưới, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng liều lượng và thời gian quy định… Các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương cũng cần vận động, tuyên truyền cho người dân chuyển từ bón phân hóa học sang bón phân sinh học, vi sinh cho chè, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cho phép nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường và chất lượng chè, dọn dẹp nhà xưởng, khu chế biến chè sạch sẽ, vệ sinh, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tránh ô nhiễm môi trường.

     

    Chiến lược marketing về hình thức, mẫu mã sản phẩm

     

    Sản phẩm trà, đặc biệt là trà ướp hương không ưa bất cứ mùi vị nào khác lạ nên cần được bảo quản rất kỹ càng với bao gói đóng vào giấy thiếc, đóng vào lọ sành, sứ hay hộp giấy và bảo quản nơi khô mát. Những năm gần đây, đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, các doanh nghiệp và làng chè truyền thống của Thái Nguyên đã tăng cường nghiên cứu và thiết kế thêm rất nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau có thể làm quà tặng, quà biếu, để cưới hỏi…

     

    Các chiến lược marketing cho hình thức, mẫu mã bao bì sản phẩm trà nên tập trung vào nhu cầu sử dụng của khách hàng, có thể đưa ra một số đề xuất như:

     

    • Sản phẩm thuần Việt được sử dụng trong thờ cúng tổ tiên, lễ tết hoặc đám cưới, lễ hỏi,

    ma chay…Các sản phẩm được thiết kế mẫu mã, bao bì với chất liệu và hình thức, hình ảnh mang đậm chất truyền thống của dân tộc.

     

    • Chất liệu: Có thể sử dụng chất liệu gỗ, giấy hoặc chất liệu tre được đan thành những chiếc hộp, giỏ thủ công tinh xảo không chỉ thu hút khách hàng trong nước mà còn là món quà lưu niệm yêu thích của những du khách nước ngoài.
    • Hình ảnh bao bì: Các hình ảnh trên bao bì các sản phẩm trà thường là các đồi chè, búp chè xanh và những người nông dân hái chè cần mẫn, là thể hiện nét đặc trưng của sản phẩm. Bên cạnh đó, với chiến lược tập trung vào nhu cầu sử dụng của khách hàng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể thiết kế thêm nhiều loại mẫu mã bao bì mới, đa dạng và đặc trưng cho từng nhu cầu sử dụng. Nên lựa chọn 2- 3 màu chủ đạo như vàng, xanh, nâu cho các mẫu sản phẩm để khách hàng dễ dàng nhớ đến hình ảnh, kiểu dáng của mỗi sản phẩm.
    • Kiểu dáng: Kiểu dáng hộp đựng của các sản phẩm trà cũng rất đa dạng và phong phú, có thể là hình vuông, hình lục giác, hình ống tròn… Ngoài ra có thể khai thác các hình ảnh mang tính truyền thống như ống tre, búp sen, gùi tre…
    • Sản phẩm mang tính hiện đại, thuận tiện cho việc vận chuyển, bảo quản và đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng cũng như dùng làm quà tặng, biếu hoặc xuất khẩu. Các sản phẩm tập trung vào nhu cầu sử dụng của khách hàng không cần quá cầu kỳ về hình thức mẫu mã nhằm mục đích giảm giá thành, hạ giá bán. Và các sản phẩm này cần đảm bảo được quá trình vận chuyển và bảo quản lâu dài nên chất liệu được sử dụng có thể là gỗ cứng hoặc kim loại. Lưu ý và chú trọng vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm.

    Chiến lược quảng bá, giới thiệu festival Trà

     

    Với số lượng các sự kiện giao lưu, các chương trình festival về trà trên thế giới ngày càng nhiều, Thái Nguyên có thể đưa các sản phẩm trà của mình tới tham dự, chú trọng nhấn mạnh vào các chương trình mang tầm cỡ quốc tế với độ phủ sóng cao, được dư luận thế giới quan tâm nhiều, để giới thiệu, tạo được

     

    8

     

    Trần Kim Yến Đtg                  Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ                                  133(03)/1: 3 – 9

     

    ấn tượng và tìm kiếm những mối liên kết, đầu tư. Bên cạnh đó, ngoài việc tổ chức các festival Trà tại Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung cũng cần xây dựng kế hoạch, đầu tư tổ chức các festival Việt Nam tại nước ngoài. Đó có thể là các festival Trà riêng biệt hoặc là các festival văn hóa, festival tổng hợp và trà là một trong những sản phẩm được chú trọng giới thiệu.

     

    Qua các hoạt động giao lưu, quảng bá này, Thái Nguyên có cơ hội để tìm hiểu, nghiên cứu và so sánh giữa các sản phẩm trà của nước mình với các quốc gia khác trên thế giới. Từ đó sẽ giúp các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất trà tìm ra được những điểm mạnh, những điểm đặc trưng độc đáo được ưa chuộng để phát huy thế mạnh của mình và những hạn chế, những thiếu sót về chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì hay kĩ thuật sản xuất, chế biến để cải tạo, khắc phục, nâng cao khả năng cạnh tranh.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nguyễn Văn Mạnh (2008), Marketing Du lịch, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
    1. Đỗ Ngọc Quỹ (2010), Văn hóa trà thế giới và Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
    1. Phan Thăng (2007), Marketing căn bản Marketing Essentials, Nxb Lao động -Xã hội, Hà Nội; 437
    1. Báo Thái Nguyên (21/07/2013), “Tài liệu tuyên truyền Festival Trà Thái Nguyên – Việt Nam lần

    thứ hai năm 2013“, http://www.baothainguyen.org.vn/tin-tuc/van-ban/tai-lieu-tuyen-truyen-festival-tra-thai-nguyen-viet-nam-lan-thu-hai-nam-2013-210655-184.html

     

    1. Thanh Tâm (26/12/2013), “Tổng kết Festival

    Trà Thái Nguyên – Việt Nam“, http://festivaltrathainguyen.vn/Home/tin-tuc-su-kien/196/Tong-ket-Festival-Tra-Thai-Nguyen-Viet-Nam

     

    1. blogspot.com, “2014 TeaEvents“, http://internationalteamoment.blogspot.com/p/tea-events.html

    SUMMARY

     

    MARKETING STRATEGY FOR THAI NGUYEN TEA FESTIVAL

     

    Tran Kim Yen*, Nguyen Thi Tam

    Hai Phong University

     

    Thai Nguyen Tea Festival is an opportunity for the State agency on tourism, businesses introduce and promote the image of Thai Nguyen Tea brand to domestic and international customers, while promoting the development of Thai Nguyen trade and tourism. However, due to the formation and development should no longer Thai Nguyen Tea Festival is still a lot of flaws and limitations in communicating, promoting, developing marketing strategies for the festival and Thai Nguyen tea.

     

    Keywords: Tea Festival , strategy, marketing, Thai Nguyen

     

     

    Ngày nhận bài:01/12/2014; Ngày phản biện:25/12/2014; Ngày duyệt đăng: 03/4/2015

     

    Phản biện khoa học: TS. Nguyễn Công Hoàng – Trường Đại học Khoa học – ĐHTN

     

    • Tel:

     

     

    9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài giảng Viết bài quảng cáo facebook


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-phi%E1%BA%BFu-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-facebook-theo-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-%C4%91%E1%BB%83-t%C4%83ng-g%E1%BA%A5p-%C4%91%C3%B4i-doanh-s%E1%BB%91.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

     

    Xây dựng phiếu bán hàng facebook theo chiến lược để tăng gấp đôi doanh số

    Đây là chiến lược bán hàng facebook hiệu quả giúp bạn nhanh chóng tăng gấp đôi doanh số bán hàng…

     

    Bạn có thấy rất nhiều người đang làm giàu từ việc bán hàng facebook?

     

    Bạn cũng muốn bán hàng trên facebook?

     

    Facebook hiện tại là mạng xã hội lớn nhất.

     

    Facebook có khoảng 1,86 tỷ người sử dụng mỗi tháng.

     

    Số lượng tài khoản, số lượng người truy cập vào facebook ngày càng tăng lên và không có dấu hiệu gì của việc đi xuống trong nhiều năm tới.

     

    Cùng nhìn vào biểu đồ dưới đây:

     

     

    3

     

     

    Điều này có nghĩa rằng cơ hội marketing rất phong phú. Đừng lo ngại việc có quá nhiều người đang bán hàng trên Facebook. Bạn vẫn có nhiều cơ hội.

     

    Theo tôi thấy, hiện nay, Facebook là kênh dẫn traffic tốt nhất, hiệu quả nhất.

     

    Có thể bạn đã biết về quảng cáo Facebook và Google, hãy so sánh chi phí trên một lượt click (CPC) của Facebook và trả tiền theo mỗi lượt click PPC của Google Adwords.

     

    CPC trung bình trên mạng tìm kiếm Adwords là $2.32.

     

    4

     

     

    Vậy Facebook thì sao?

     

    CPC trung bình trên Facebook chỉ là $0.64! Nếu bạn làm nhiều và có kinh nghiệm thì con số này sẽ giảm rất nhiều!

     

    Điều đó lý giải tại sao nó trở nên hấp dẫn đối với hầu hết những người làm marketing.

     

    Một điều nữa mà tôi yêu thích về quảng cáo trên Facebook là sự đa dạng về những lựa chọn sẵn có.

     

    5

     

    Ví dụ, bạn có thể xây dựng sự nhận biết thương hiệu, tăng số lượng tương tác, lựa chọn đưa độc giả đến website của bạn để chuyển đổi hoặc bán hàng luôn cho họ.

     

    Nó thực sự chỉ phụ thuộc vào các mục tiêu cụ thể của bạn và cái mà bạn đang cố gắng thực hiện.

     

    Hãy nhìn vào tất cả các mục tiêu marketing khác nhau mà bạn có thể lựa chọn.

     

     

    Nhưng điều tuyệt vời hơn cả là…

     

    Facebook là một kênh khác với những trang quảng cáo trả tiền truyền thống như Adwords.

     

    6

     

    Nói cách khác, Facebook không chỉ là mua lượt click hay tạo sự ấn tượng. Nếu được sử dụng đúng cách, Facebook sở hữu một phiễu bán hàng vô cùng mạnh mẽ.

     

    Tôi sẽ giải thích cho bạn.

     

    Tiếp cận theo một góc nhìn khác

     

    Hãy để tôi hỏi bạn một câu hỏi.

     

    Mục đích bạn đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình là gì?

     

    Có phải để đọc những tin tức mới của bạn bè, bình luận những bức ảnh và nói chung là xem điều gì đang xảy ra trong network của bạn?

     

    Hay bạn đăng nhập để tìm kiếm sản phẩm và để mua hàng?

     

    Facebook là nơi để kết bạn, không phải để tiêu tiền.

     

    7

     

    Đây là một biểu đồ của AaronZakowski.com chỉ ra hầu hết những người sử dụng Facebook dùng nó vào việc gì.

     

     

     

    Bạn có thấy rằng, Facebook nghiêng về giao lưu nhiều hơn là nơi để mua bán?

     

    Rất hiếm khi một người quyết định mua hàng khi họ đang lướt facebook của mình.

     

    8

     

    Điều này có nghĩa là về tổng quan thì xu hướng mua hàng trên Facebook là rất thấp. Có phải sẽ thật ngớ ngẩn khi cố gắng bán hàng trên kênh này?

     

    Vâng, đối với một số người, đúng là như vậy. Và kết quả là, rất nhiều người đã nhận thất bại khi ROI quá thấp.

     

    Có thể họ đang có nhiều người theo dõi hơn, tạo

     

    nhiều tương tác hơn, và rất nhiều thứ khác, nhưng nó không dẫn đến việc mua hàng thực sự.

     

    Vấn đề không phải tại Facebook. Mà vấn đề nằm ở cách thức các marketer tiếp cận và “đưa ra lời chào hàng”( hành động quá sớm). Hầu hết mọi người thất bại khi bán hàng là do họ mang đến trước mặt đối tượng của mình một thứ mà họ không thích.

     

    Và điều đó khiến khách hàng tiềm năng không thể ngay lập tức rút thẻ ra và thanh toán cho bạn. Họ không có ý định mua nó…

     

    9

     

    Bạn đã từng nhìn thấy vòng tròn dưới đây chưa?

     

     

     

    Bạn phải đối mặt với nó. Nếu ai đó đang trong giai đoạn” Nhận diện cơ hội”, họ có thể sẽ không rút thẻ credit card ra để mua hàng.

     

    Nhưng không phải bạn sẽ mất tất cả. Vì có nhiều khách hàng đã sẵn sàng để mua hàng. Đa số người dùng Facebook đều không có ý định mua hàng, nhưng vẫn có cách để khiến họ mua hàng.

     

    Vậy làm cách nào?

     

    10

     

    Chìa khóa đầu tiên để thành công với quảng cáo trên Facebook là xây dựng một phễu bán hàng.

     

    Bạn phải thực sự nhạy bén, logic, và cân nhắc kĩ thực tế rằng hầu hết người dùng Facebook không hề có ý định “mua hàng ngay”.

     

    Như đã đề cập ở trên, tôi sẽ hướng dẫn bạn các bước để tạo một phễu bán hàng Facebook.

     

    Chúng ta sẽ cùng bắt đầu.

     

    Bước 1 Tạo nội dung phân đoạn

     

    Để bắt đầu bạn cần phải xây dựng được các form optin.

     

    Bắt buộc phải xây dựng chúng trên trang web của bạn.

     

     

    11

     

    Đưa thông tin, hình ảnh, video… liên quan đến sản phẩm muốn bán với chất lượng cao nhất lên trang web đó.

     

    Ví dụ, tôi có thể sử dụng các bài blog post từ successoceans.com.

     

    Bạn sẽ cần có nhiều form nội dung khác nhau để có thể tiếp cận được những phân khúc khách hàng khác nhau.

     

    Một số khách hàng thờ ơ có thể không quan tâm lắm đến việc mua hàng qua facebook, đơn giản chỉ là họ đang tìm kiếm thứ gì đó khác.

     

    Còn một số khách hàng quan tâm và nghiêm túc xem xét việc mua hàng ngay lập tức.

     

    Nếu Content của bạn đa dạng thì việc tương tác sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

     

    12

     

    Và một khi họ tiếp xúc với nội dung của bạn, họ đã nằm trong phễu của bạn.

     

    Thật tuyệt vời đúng không?

     

    Bước 2 Quảng cáo nội dung đến với những “khách hàng quan tâm”

     

    Cái mà tôi khuyên bạn làm đầu tiên là quảng cáo nội dung của bạn đến với những người đang thực sự “quan tâm”.

     

    Bằng cách này, ý tôi là những người đã từng tiếp xúc với thương hiệu của bạn và những người đã có ấn tượng với bạn.

     

    Họ sẽ là những người đầu tiên theo dõi fanpage của bạn

     

     

    13

     

    Cái mà bạn cần làm là tập trung vào mức độ tương tác và xác định nội dung nào đang giúp bạn bán được nhiều hàng nhất.

     

    Điều thú vị là, những người quan tâm đến bạn phản ứng một cách tích cực thì các khách hàng thờ ơ cũng sẽ dần yêu thích chúng ta.

     

    Mục tiêu “lookalike audiences – đối tượng tương tự”

     

    Facebook có một thuật ngữ mà họ đặt tên

     

    lookalike audiences, là “Những người giống với những khách hàng hiện tại của bạn, khách thăm website của bạn hoặc fanpage.”

     

    Nói cách khác, họ là những cá thể với những sở thích, thói quen, hành vi tương tự với những khách hàng cốt lõi hiện tại của bạn.

     

    14

     

    Bạn có thể hình dung về họ là một khách hàng thờ ơ nhưng có thể dễ dàng thuyết phục để trở thành khách hàng tiềm năng.

     

    Do đó, đây là những khách hàng mà bạn muốn nhắm đến.

     

    Để thực hiện được điều này, bạn sẽ cần đến Audiences section của Facebook ads.

     

    Giờ hãy click vào “Tạo Đối tượng tương tự.”

     

     

     

    Đây là cái bạn sẽ nhìn thấy

     

    15

     

     

    Bắt đầu bằng cách lựa chọn nguồn của bạn. Nhập vào bất cứ thông tin nào phù hợp.

     

    Sau đó chọn một địa điểm và Quy mô đối tượng nằm trong khoảng từ 1% đến 10% tổng dân số của đất nước hoặc những quốc gia mà bạn lựa chọn.

     

    Luôn nhớ rằng tỷ lệ Quy mô đối tượng càng nhỏ, tỷ lệ lookalike audience càng tiến gần hơn với khách hàng hiện có của bạn.

     

    Sau đó chọn “Tạo đối tượng”

     

    16

     

     

    Lookalike audience sẽ trở thành một phần của khách hàng chưa quan tâm cần phải được làm nóng lên.

     

    Quảng cáo nội dung tốt nhất

     

    Hãy chọn nội dung tốt nhất cho khách hàng quan tâm đến bạn.

     

    Bây giờ bạn hãy lấy nội dung đó và để những khách hàng chưa quan tâm tiếp xúc với nó.

     

    17

     

    Bạn có thể quảng cáo nội dung bằng video, blog post, hội thảo trên web hoặc bất cứ hình thức nào.

     

    Lý tưởng hơn, bạn sẽ có khả năng chuyển một phần rất lớn số lượng khách hàng chưa quan tâm vào sâu trong phễu bán hàng trên Facebook do đó họ trở thành một trong những khách hàng quan tâm của bạn.

     

    Tại thời điểm này, họ sẽ nhận thức được thương hiệu của bạn và ít nhất cũng xem xét đến khả năng mua hàng.

     

    Remarketing hiệu quả

     

    Đây là một cách quảng cáo trên Facebook.

     

    Bạn không thể nào ngay lập tức chuyển đổi tất cả khách hàng chưa quan tâm thành khách hàng tiềm năng được.

     

    18

     

    Trong hầu hết các trường hợp, khách hàng chưa quan tâm sẽ cần được tiếp xúc với thương hiệu của bạn nhiều lần trước khi họ thực sự mua hàng.

     

    Vậy làm thế nào để thu hút họ một cách hiệu quả và đưa họ vào phễu?

     

    Chỉ một từ — remarketing.

     

    Và Facebook là một môi trường hoàn hảo để thực hiện nó.

     

    Sử dụng pixel Facebook

     

    Một trong những yếu tố mà tôi thích nhất ở Facebook Ads là pixel.

     

    Các bước để sử dụng pixel Facebook

     

    1. Bạn tạo ra một pixel Facebook
    1. Bạn thêm pixel vào mã trang web của bạn

    19

     

    1. Bạn sử dụng nó để remarketing và đưa khách hàng quay lại trang web và tiếp tục mua hàng.

    Chú ý: Chúng tôi đã có bài hướng dẫn chi tiết cách setup để có được pixel Facebook trong bài

     

     

    Remarketing với một video

     

    Hiện tại có rất nhiều phương pháp remarketing khác nhau.

     

    Cụ thể khi nói đến Facebook, chúng tôi thường sẽ sử dụng video để thu hút được nhiều khách hàng vào phễu bán hàng của mình.

     

    Bạn thậm chí có thể nhìn thấy một số video của chúng tôi hiện xung quanh Facebook.

     

    20

     

    Có ai đó đã vào xem video, hình ảnh, đọc bài viết của chúng tôi.

     

    Họ đã được tiếp xúc với thương hiệu của chúng tôi và có thể đã thực sự quan tâm ở một mức độ nào đó.

     

    Điều mà chúng tôi muốn làm là quảng cáo cho họ một video, để họ vào xem và đến trang web của chúng tôi..

     

    Tôi có thể nói một cái gì đó kiểu như, “Cảm ơn bạn đã xem video [X], nhưng bạn đang bỏ lỡ một số thông tin quan trọng đã có sẵn trên landing page của tôi.”

     

    Chú ý: Tôi không ép họ thực hiện mua hàng ngay lập tức.

     

    Tôi chỉ đơn giản là khuyến khích họ nghiên cứu kỹ một cách sâu hơn và tìm hiểu thêm.

     

    21

     

    Tôi thấy đây là một cách hiệu quả để khiến khách hàng tiến sâu hơn vào phễu hoặc landing page của tôi mà không bị làm phiền quá nhiều vì bán hàng.

     

    Tiếp tục Remarketing

     

    Tại thời điểm này, bạn sẽ tạo ra một số chuyển đổi. Nhưng tất nhiên, không phải tất cả khách hàng sẽ thực hiện “chuyển đổi”.

     

    Vậy bạn phải làm gì?

     

    Tôi khuyên bạn nên tạo ra một quảng cáo remarketing khác để tiếp cận với những ai không chuyển đổi và khuyến khích họ opt-in vào danh sách email của bạn.

     

    Ví dụ, quảng cáo của bạn có thể nói một cái gì đó như: “Cảm ơn bạn vì đã xem [trang X], nhưng bạn chưa đăng ký để [dùng thử nghiệm, ebook miễn phí, hoặc bất cứ điều gì] của chúng tôi.

     

    22

     

    Miễn là bạn đã có một lời đề nghị tuyệt vời, may mắn một phần nhỏ của những lead đã không chuyển đổi sẽ opt in.

     

    Sau đó, bạn đã có họ trong danh sách email của bạn, vì vậy bạn có thể làm họ nóng lên cho đến khi họ sẵn sàng để mua..

     

    Hãy thu hút khách hàng tiềm năng của bạn nhiều hơn

     

    Vậy bạn đã thu hút được một phần đối tượng của bạn opt in.

     

    Thật là tuyệt vời, nhưng chưa đủ.

     

    Thực sự thì sẽ chỉ có khoảng 25 % những người opt in mở email của bạn, vì vậy bạn vẫn đang bỏ lỡ khoảng 75 % khách hàng tiềm năng có thể bán hàng cho họ.

     

    23

     

    Vì vậy, giả sử rằng có ai đó đã truy cập trang dùng thử miễn phí hoặc trang ebook của bạn nhưng họ không chuyển đổi.

     

    Tôi khuyên bạn nên thiết lập một quảng cáo nêu lên toàn bộ lợi ích của sản phẩm cho họ để giảm bớt tất cả những thắc mắc hoặc hoài nghi của họ.

     

    Đưa ra lời chứng thực, giải thích thêm về các tính năng của sản phẩm, đưa ra các con số đáng chú ý hoặc những thương hiệu đã sử dụng sản phẩm của bạn…

     

    Chỉ cần làm bất cứ điều gì có ý nghĩa để tạo uy tín hơn cho thương hiệu của bạn và khiến mọi người tin tưởng rằng sản phẩm của bạn sẽ thực sự đáp ứng được những điều mà họ mong muốn.

     

    Những người không chịu mua hàng

     

    24

     

    Cần thêm một bước nữa liên quan đến phễu bán hàng trên Facebook.

     

    Có những người đã dùng thử sản phẩm, tải ebook của bạn… nhưng họ vẫn chưa mua hàng. Chúng ta cần phải làm gì với những người này?

     

    Tôi nhận thấy rằng cách tiếp cận tốt nhất cho phân khúc khách hàng này là thiết lập một quảng cáo video được cá nhân hoá có nội dung kiểu như “Cảm ơn bạn đã xem nội dung [X] nhưng vì một lý do nào đó bạn chưa mua [Sản phẩm X].”

     

    Sau đó, đến phần bán hàng với một lời chào hàng hấp dẫn.

     

    Đến thời điểm, bạn cần phải làm cho tất cả các lead biết về thương hiệu của bạn và khiến họ thích sản phẩm của bạn hết mức có thể.

     

    Họ đang được tác động và sẵn sàng mua hàng

     

    25

     

    Tóm tắt

     

    Tôi hiểu rằng mình đã đưa ra rất nhiều thông tin và đầu của bạn có thể đang quay cuồng.

     

    Nhưng hãy để tôi tóm tắt lại:

     

    1. Bắt đầu bằng cách tạo nhiều loại nội dung cho “khách hàng quan tâm” hiện tại của bạn để xem thứ khiến họ phản ứng tốt nhất.
    1. Tạo một lookalike audience (khách hàng chưa quan tâm), bao gồm những người có cùng sở thích với các khán giả nhiệt tình của bạn.
    2. Quảng cáo nội dung hay nhất cho khách hàng chưa quan tâm của bạn.
    3. Một phần khách hàng sẽ trở thành khách hàng quan tâm và sẽ mua sản phẩm của bạn.
    1. Sử dụng Pixel Facebook cho các mục đích tiếp thị lại hướng tới những người chưa mua hàng.

    26

     

    1. Hoàn thành bốn giai đoạn tiếp thị lại mà mục tiêu của bạn là nhắm đến những người ban đầu không chuyển đổi.
    1. Tối đa hóa chuyển đổi.

    Khi thực hiện đúng cách, bạn sẽ dần dần có nhiều triển vọng hơn thông qua kênh bán hàng trên Facebook.

     

    Với từng giai đoạn, họ sẽ có cảm tình với thương hiệu và quan tâm tới sản phẩm của bạn.

     

    Điều này rất quan trọng bởi vì hầu hết mọi người đều không sẵn sàng mua sản phẩm của bạn trong thời gian đầu.

     

    Trong thực tế, nó ảnh hưởng đáng kể tới thương hiệu và sản phẩm của bạn trong một khoảng thời gian trước khi họ đủ niềm tin ở bạn để mua hàng.

     

    Hiệu quả thông qua tự động hóa

     

    27

     

    Điều tuyệt vời khi thiết lập loại kênh bán hàng này chính là phần lớn nó tự động.

     

    Sau khi bạn đã tạo một vài quảng cáo tiếp thị lại khác cho các cá nhân ở các giai đoạn khác nhau trên facebook, thì bạn sẽ có nhiều thời gian rảnh.

     

    Điều này rất hữu ích bởi bạn có thời gian chỉnh sửa nội dung hiện có và viết thêm nội dung mới, điều đó góp phần thu hút nhiều người hơn vào kênh bán hàng trên Facebook của bạn.

     

    Từ đó trở đi, bạn chỉ cần tối ưu hoá chiến dịch của bạn và tối đa hóa tỉ lệ chuyển đổi.

     

    Kết luận

     

    Theo tôi, Facebook là một trong những công cụ hàng đầu cho việc quảng bá thương hiệu của bạn và là cách cực kỳ hiệu quả để tăng doanh số bán hàng.

     

    28

     

    Nhưng để làm điều này, trước tiên bạn phải hiểu được tâm lý học sau khi tiếp cận người dùng Facebook.

     

    Bạn cần phải hiểu rằng để có một ai đó mua hàng của bạn là một quá trình và phải mất thời gian.

     

    Khi bạn tạo một kênh bán hàng trên Facebook, bạn có thể tiếp cận các khách hàng tiềm năng theo từng bước thông qua quá trình mua hàng và cung cấp tất cả thông tin cần thiết giúp họ đưa ra quyết định mua hàng thông minh.

     

    Chỉ là vấn đề chờ đợi và cho phép Facebook thực hiện công việc của mình.

     

    Phần tốt nhất là mức độ tự động hóa khi bạn đã tạo lại các nội dung cơ bản của mình và tiếp tục quảng cáo.

     

    Chúc bạn thành công!

     

    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]