Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gian-l%E1%BA%ADn-thu%E1%BA%BF-GTGT-trong-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-v%C3%A0-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-ph%C3%B2ng-ng%E1%BB%ABa.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.

    Thực trạng tình hình thực hiện Luật thuế GTGT ở nước ta sau hơn 4 năm áp dụng cho thấy các vụ gian lận trong thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động cho toàn xã hội. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và từ đầu năm 2002 đến khoảng tháng 6 năm 2002 đã phát hiện 63 vụ, nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên 500 tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.

    Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu các mặt trái của thuế GTGT và đưa ra các biện pháp để giảm tối đa những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những điều đó em đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa”.

    Cụ thể bài viết gồm những nội dung chủ yếu sau:

    Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong kinh doanh

    Chương II: Thực trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

    Chương III: Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

     

    Chương I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT TRONG KINH DOANH

     

    I. VAI TRÒ CỦA THUẾ GTGT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

    1. Doanh nghiệp thương mại và nghĩa vụ thuế GTGT

    Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá. Nếu hoạt động trao đổi hàng hoá (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi nó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế). Theo luật thương mại thì các hành vi thương mại bao gồm: Mua bán hàng hoá, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá, gia công thương mại, đấu giá hàng hoá, đấu thầu hàng hoá dịch vụ giao nhận hàng hoá, dịch vụ giám định hàng hoá, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá và hội trợ triển lãm thương mại.

    Doanh nghiệp thương mại: là các tổ chức kinh tế được hình thành hợp pháp hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, buôn bán hàng hoá.

    Đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung khi đăng ký thành lập và đi vào hoạt động đều phải chịu nghĩa vụ thuế GTGT đối với Nhà nước.

    Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Việc đăng ký thuế phải tuân theo những quy trình thủ tục nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế.Kết quả của đăng ký thuế la mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Kể từ ngày được cấp mã số thuế, cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế đều phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế. Đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng, hoá đơn…., chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ, sổ sách kế toán, tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế.

    Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển số thuế đã thu hộ nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản của đối tượng nộp thuế.

    Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế thì việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết. Nghĩa vụ quyết toán thuế phải được quy định một cách chặt chẽ nhằm xác định đầy đủ, chính xác số thuế mà cơ sở kinh doanh thu hộ nhà nước để chuyển vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời nhằm tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu hộ nhà nước để phục vụ lợi ích riêng cuả mình.

    2.Vai trò của thuế GTGT đối với các DNTM.

    Qua những năm triển khai và thực hiện Luật thuế GTGT đã đem lại một số thành tựu đáng kể. Cụ thể góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Thuế GTGT góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế. Theo qui định  của Luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước  trợ giá cho hàng xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp tập trung được nguồn hàng để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền được hoàn tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 2.700 tỷ đồng; năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện thị trường xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23.18%; năm 2000 tăng 21.3%. Ngoài việc được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hàng hoá còn được ưu đãi hưởng thuế suất thuế TNDN 25%; nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu được miễn thuế thu nhập bổ sung đã tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu và xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt luật thuế GTGT đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

    Đặc biệt luật thuế GTGT góp phần đến công tác quản lý  của doanh nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy việc mua bán hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.

    II. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT

    Để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ khuyến khích phát triển nền KTQD, động viên 1 phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật này quy định thuế GTGT

    Nội dung về thuế GTGT bao gồm:

     

    1. Đối tượng nộp thuế và chịu thuế GTGT.

    Điều 1. Thuế giá trị gia tăng

    Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

    Điều 2. Đối tượng chịu thuế

    Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của luật này.

    Điều 3. Đối tượng nộp thuế

    Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng.

    Điều 4. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng

    Hàng hoá, dịch vụ dưới đây không thuộc diệ chịu thuế giá trị gia tăng:

    Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra.

    Sản phẩm muối

    Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

    Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được mà cơ sở có dự án đầu tư nhập khẩu để làm tài sản cố định theo dự án đó.

    Chuyển quyền sử dụng đất thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất.

    Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê.

    Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư

    Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh.

    Dịch vụ y tế.

    Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục thể thao không nhằm mục đích kinh doanh, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, phát hành và chiếu phim nhựa, phim video tài liệu.

    Dạy học, dạy nghề

    Phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

    In, xuất bản và phát hành báo, tạp chí, bản tinh chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách in bằng tiếng dân tộc thiểu số, tranh ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, in tiền.

    Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, phục vụ tang lễ v…v…

    Điều 5. Nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện luật thuế GTGT

    1. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định của luật này.
    2. Cơ quan thuế trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của luật này.
    3. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, phối hợp với cơ quan thuế trong việc thi hành luật thuế GTGT.
    4. Công dân Việt Nam có trách nhiệm giúp cơ quan thuế, cán bộ thuế trong việc thi hành luật này.
    5. Cơ sở tính thuế GTGT

    Gồm giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT

    Về giá tính thuế GTGT, về lý thuyết có hai cách xác định:

    Giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế GTGT, có nghĩa là thuế được tính trên giá bán đã bao gồm thuế.

    Giá tính thuế là giá chưa bao gồm thuế GTGT. Cách tính này làm cho bên mua và bên bán thấy rõ ràng hơn là giá chưa có thuế và thuế GTGT

    Điều 7. Giá tính thuế GTGT

    Giá tính thuế GTGT được quy định như sau:

    1. Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
    2. Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
    3. Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
    4. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ.
    5. Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa tính theo giá bán trả 1 lần không tính theo số tiền trả từng kỳ.
    6. Đối với gia công hàng hoá là giá gia công.
    7. Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do chính phủ quy định

    Về thuế suất là đại lượng xác định mức độ, phạm vi, nghĩa vụ nộp thuế trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Hay nói cách khác, thuế suất là định mức thu thuế trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Thuế suất biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, tức là thể hiện quan điểm động viên của Nhà nước với từng hoạt động sản xuất kinh doanh. Thuế suất thuế GTGT là loại thuế suất theo giá trị tức là thuế suất quy định tỷ lệ % huy động trên một đơn vị giá trị đối tượng nộp thuế.

    Về mức thuế suất thuế GTGT được quy định như sau:

    Mức thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu

    Mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ: nước sạch, nước sinh hoạt, phân bón, thuốc khám bệnh, đồ chơi trẻ em, sách khoa học….

    Mức thuế suất thông thường giao động từ 10 – 20%

    Nhóm thuế suất ưu đãi giao động từ 5%- 7%

    Nhóm thuế suất đặc biệt ưu đãi: dưới 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đặc biệt ưu đãi.

    Nhóm thuế suất điều tiết trên 20%.

    3. Phương pháp tính thuế GTGT

    Thuế GTGT phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

    3.1 Phương pháp khấu trừ thuế:

    Số thuế phải nộp bằng thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào.

    Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất.

    Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu.

    3.2 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

    Số thuế phải nộp bằng GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhân với thuế suất thuế GTGT.

    Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào.

    Phương pháp tính trực tiếp chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau:

    Cá nhân sản xuất kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo bước đầu tư nước ngoài tới Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.

    Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý.

     

    4. Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT

    Việc thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT phải thông qua một cơ chế nhất định vì vậy một trong những nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh thuế GTGT là cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT gồm: đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế.

    4.1 Đăng ký thuế và cấp mã số thuế

    Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là thời điểm để tính thời hạn thực hiện nghĩa vụ thuế. Việc đăng ký thuế phải tuân thủ theo những trình tự thủ tục nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế. Kết quả của đăng ký thuế là mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Mã số thuế là cơ sở pháp lý để nhận diện người nộp thuế, là điều kiện thiết yếu về phương diện pháp lý để quản lý và thực hiện thuế GTGT. Đối với đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng kinh tế, chứng từ nộp thuế. Các đơn vị được sử dụng hoá đơn tự in phải in sẵn mã số của mình vào từng tờ hoá đơn.

    Đối với cơ quan thuế phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế của đối tượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi số liệu nộp thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo nộp thuế, thông báo phạt, lệnh thu, các quyết định phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế.

    4.2 Kê khai thuế GTGT

    Mỗi chủ thể khi tham gia đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp mã số thuế thì đều phải thực hiện việc kê khai thuế theo quy định của pháp luật.

    Kê khai thuế là việc khai báo tất cả những nghiệp vụ chịu thuế phát sinh trong kỳ (tháng, quý hoặc năm), số thuế GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi bán hàng, số thuế GTGT đã nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế.

    Việc kê khai thuế được tiến hành theo mẫu tờ khai thuế. Người có nghĩa vụ kê khai thuế căn cứ vào các dữ liệu trên tờ khai thuế thực hiện hành vi kê khai, chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi lập xong tờ khai thuế phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Sau khi tính số thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế mới ra thông báo nộp thuế gửi cho các đối tượng nộp thuế. Việc kiểm tra tính đúng đắn của kê khai thuế xảy ra trước thời điểm nộp thuế. Việc sai sót trong việc tính số thuế phải nộp thuộc trách nhiệm của cơ quan thuế.

    4.3 Nộp thuế GTGT

    Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển thuế đã thu hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản nhất của mỗi đối tượng nộp thuế. Để thực hiện nghĩa vụ này một cách có hiệu quả cần điều chỉnh những vấn đề cơ bản sau:

    Thứ nhất, về hình thức nộp thuế, có thể nộp trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc có thể nộp thuế qua Ngân hàng, qua kho bạc.

    Thứ hai, về cơ chế nộp thuế. Hiện nay trong thực tiễn tiến hành thu thuế tồn tại hai cơ chế:

    * Cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính nộp thuế: cơ chế này nâng cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế, giảm khối lượng công việc cho cơ quan quản lý thuế cũng như chi phí quản lý hành chính thuế, phân định rạch ròi trách nhiệm của cơ quan thuế, của đối tượng nộp thuế.

    * Cơ chế nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế: tức nộp thuế theo sự tính toán của cơ quan thuế và được thực hiện bởi một quyết định quản lý hành chính của Nhà nước.

    Thứ ba, phạm vi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT. Đối với những tổ chức, cá nhân kinh doanh bất hợp pháp (không có đăng ký kinh doanh) có nghĩa vụ nộp thuế hay không ?

    Xét trên phương diện lý luận thì nghĩa vụ nộp thuế GTGT của các chủ thể chỉ phát sinh trên cơ sở các hành vi và hoạt động hợp pháp của các chủ thể vì vậy nếu đánh thuế vào những hoạt động kinh doanh không hợp pháp thì vô hình chung có một dòng tiền bất hợp pháp được chuyển vào ngân sách Nhà nước, được sự bảo trợ của Nhà nước và dòng tiền đó trở thành hợp pháp.

    4.4 Quyết toán thuế

    Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết. Thuế GTGT là thuế gián thu được đánh trên tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng theo phương pháp khấu trừ thì nghĩa vụ quyết  toán thuế phải được tính toán một cách chặt chẽ nhằm xác định đủ, chính xác số thuế nộp vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời, tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu được phục vụ lợi ích riêng của doanh nghiệp.

    5. Khấu trừ và hoàn thuế GTGT

    5.1 Khấu trừ thuế GTGT

    Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

    Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:

    – Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp.

    – Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa.

    – Cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp có quy định riêng.

    – Thuế đầu vào của TSCĐ được kê khai khấu trừ như đối với vật tư, hàng hoá khác. Nếu số thuế khấu trừ phát sinh lớn cơ sở được tính khấu trừ dần. Sau 3 tháng mà số thuế khấu trừ vẫn còn thì doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quan thuế xét hoàn thuế.

    5.2 Hoàn thuế GTGT

    Do thuế GTGT “thu hộ” của doanh nghiệp bán hàng là thuế GTGT “trả hộ” của doanh nghiệp mua hàng nên việc hoàn thuế GTGT của một doanh nghiệp có liên quan đến việc nộp thuế của doanh nghiệp khác. Vì vậy, có thể nói việc hoàn thuế GTGT diễn ra trên phạm vi rộng, bao hàm nhiều mối quan hệ phức tạp và có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế. Chính tính phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ của nghiệp vụ hoàn thuế GTGT cộng thêm sự chắp vá của các văn bản pháp luật về hoàn thuế GTGT khiến cho vấn đề hoàn thuế GTGT là một vấn đề nổi cộm lớn trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT hiện nay.

    Theo quy định của điều 16 luật thuế GTGT thì đối tượng được xét hoàn thuế GTGT trong các trường hợp sau:

    – Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp.

    Cơ sở kinh doanh 3 tháng liên tục trở lên có số luỹ kế số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.

    Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế GTGT có số thuế GTGT đầu ra, đầu vào như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Tháng kê khai thuế Thuế đầu vào được khấu trừ trong tháng Thuế đầu ra phát sinh trong tháng Thuế phải nộp Luỹ kế số thuế đầu vào chưa được khấu trừ
    Tháng 12/2000 200 100 -100 -100
    Tháng 1/2001 300 350 +50 -50
    Tháng 2/2001 300 200 -100 -150

    Doanh nghiệp A có luỹ kế 3 tháng liên tục số thuế đầu vào lớn hơn đầu ra. Doanh nghiệp A thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT với số thuế là 150 triệu đồng.

    Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu trở lên thì được xét duyệt hoàn thuế theo tháng, hoặc chuyến hàng.

    – Đối với hàng uỷ thác xuất khẩu, gia công chế biến xuất khẩu qua một cơ sở khác ký hợp đồng gia công xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng hoàn thuế là cơ sở hàng hoá đi uỷ thác xuất khẩu, cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu.

    – Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới đã đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế nhưng chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý.

    – Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan hoàn thuế hoàn lại số thuế nộp thừa.

    – Đối với các dự án sử dụng vốn ODA chủ dự án ODA không hoàn lại mua hàng hoá, dịch vụ từ các nhà cung cấp trong nước có thuế GTGT để sử dụng cho dự án này. Nhà thấu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trừ thuế sử dụng vốn ODA không ….. cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cho các dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng được tính khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua trong nước có thuế GTGT.

    – Tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng.

    6. Hoá đơn, chứng từ

    Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra để xác định số thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của Nhà nước và quyền lợi của doanh nghiệp. Do đó, việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ, hoá đơn hay tiếp nhận chứng từ hoá đơn có ý nghĩa quyết định với cơ quan quản lý chức năng trong việc tính toán số thuế phải nộp nói riêng và quản lý nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nói chung. Trong điều kiện kinh tế thị trường ngay càng phát triển với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phong phú, đa dạng thì vấn đề chứng từ, hoá đơn ngày càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Vì vậy, hoá đơn, chứng từ là một nội dung hết sức quan trọng được quy định trong pháp luật thuế GTGT.

    III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THUẾ

    1. Mặt tích cực

    Thực tế triển khai luật thuế GTGT ở nước ta trong nhứng năm vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã đáp ứng về cơ bản những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có đầy đủ các bộ phận hợp thành của pháp luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp luật được biểu hiện dưới hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công văn của nhà nước có thẩm quyền.

    Các quy định của pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế GTGT.

    Chính vì những lý do đó mà sau những năm triển khai thực hiện luật thuế GTGT đã được một số thành tựu đáng kể mà thành tựu bao trùm nhất là đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra trong luật thuế GTGT.

    Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác, khi nhập khẩu thiết bị, máy móc phương tiện vận tải chuyên dùng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản cố định theo dự án thì không thuộc dạng chịu thuế GTGT. Đặc biệt, kể từ khi thực hiện giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% khi thực hiện nộp thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư rất mạnh.

    Mặt khác, luật thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo đảm sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu nền kinh tế. Theo quy định của luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế.

    Biểu 1. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu từ năm 1999 đến 2003

     

    Mặt hàng Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Dầu thô (nghìn tấn) 14.881,9 15.423,5 16.731,6 16.879,0 17.169,0
    Dệt may (triệu đô) 1.746,2 1.891,9 1.975,4 2.752,0 3.630,0
    Giày, dép (triệu đô) 1.387,1 1.471,7 1.578,4 1.867,0 2.225,0
    Thuỷ sản (triệu đô) 973,6 1.478,5 1.816,4 2.023,0 2.217,0
    GTGTạo (nghìn tấn) 4.508,3 3.476,7 3.721,0 3.241,0 3.820,0
    Cà phê (nghìn tấn) 482,0 733,9 931,0 719,0 700,0
    Thủ công mỹ nghệ (triệu đô) 200,4 273,7 299,7 331,0 367,0
    Hạt tiêu (nghìn tấn) 34,8 37,0 57,0 77,0 74,4
    Hạt điều (nghìn tấn) 18,4 34,2 43,6 62,0 83,6
    Cao su (nghìn tấn) 263,0 273,4 308,0 449,0 438,0
    Than đá (nghìn tấn) 3.260,0 3.251,2 4.292,0 6.049,0 7.049,0
    Chè (nghìn tấn) 36,0 55,6 67,9 75,0 60,0
    Lạc (nghìn tấn) 56,0 76,1 78,2 105,0 83,3

    Việc triển khai luật thuế GTGT không gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Ngoài ra, luật thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp.

    Đồng thời, việc triển khai thực hiện luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho nguồn ngân sách Nhà nước. Không giảm hơn so với thuế doanh thu. Năm 1999 tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 102,1% so với dự toán năm Quốc hội giáo, năm 2000 đạt 117,4%. Trong đó thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu, riêng số thu thuế GTGT năm 1999 là 16.590 tỷ đồng, sau khi trừ đi số thuế phải hoàn còn lại tương đương với thuế doanh thu trước đây.

    Qua những con số ở trên, chúng ta có thể ít nhiều khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp dụng ở Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Luật thuế GTGT được thực hiện ở Việt Nam đã có những tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội nước ta, góp phần hoàn thiện luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    2. Mặt hạn chế

    Bên cạnh những mặt đã đạt được thì pháp luật thuế GTGT ở nước ta cũng có những mặt “chưa được”. Luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay chưa đủ mạnh để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Thể hiện ở những mặt sau:

    Một là, đối tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong  qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.

    Phạm vi đối tượng nộ thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong quản lý hành chính thuế.

    Hai là, căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

    Ba là việc quy định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.

    Bốn là quy định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực hiện.

    Năm là xác định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ, nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.

    Sáu là cơ chế thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện.

    Bảy là hoá đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.

    Những bất cập trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giả pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

     

     

    Chương II

    THỰC TRẠNG GIAN LẬN THUẾ Ở VIỆT NAM

     

    I. KHÁI QUÁT VIỆC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

    1. Quá trình xây dựng và triển khai thực hiện các quy định thuế GTGT ở nước ta.

    1.1 Quá trình xây dựng luật

    Lịch sử ra đời và phát triển thuế ở mỗi quốc gia là không giống nhau nhưng nó luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của đất nước. Để phục vụ cho quá trình phát triển cách mạng Việt Nam thì sự điều chỉnh pháp luật thuế GTGT ở nước ta cũng qua các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều phục vụ cho quan điểm sử dụng thuế khoá ở giai đoạn đó. Chính những quan điểm này đã định hướng sâu sắc đến quá trình điều chỉnh pháp luật thuế ở nước ta.

    Giai đoạn 1945-1954: Xuất phát từ quan điểm tạo lòng tin của nhân dân vào chính quyền mới những vẫn phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nhà nước đã xoá mọi thứ thuế bất công vô lý của Pháp, sửa đổi một số thuế cũ và ban hành một số thuế khác. Đặc biệt khi cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phản công, yêu cầu phải củng cố hậu phương và chi viện tích cực cho tiền tuyến, nhà nước đã các bỏ các thứ thuế ban hành tạm thời, banh hành 7 chế độ thuế áp dụng thống nhất cho cả nước gồm: chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế công thương nghiệp, chế độ thuế hàng hoá, chế độ thuế phát sinh, chế độ thuế trước bạ, chế độ thuế tem; chế độ thuế xuất nhập khẩu. Bảy chế độ thuế đó là nền móng đầu tiên của hệ thống pháp luật thuế nước ta được thực thi trong suốt thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến 1951-1954 và được kế thừa sử dụng cho các giai đoạn sau.

    Giai đoạn 1954-1975: trong giai đoạn này thuế được sử dụng, thực hiện nhiệm vụ khác nhau cụ thể:

    Từ 1954-1959 nhà nước sử dụng thuế để khôi phục kinh tế và để cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc bằng cách sưả đổi các chính sách thuế theo tinh thần phân biệt đối xử về thuế vì vậy, chế độ thuế nông nghiệp và chế độ lợi tức doanh nghiệp được sửa đổi một cách cơ bản góp phần tích cực vận động cá thể vào hợp tác xã, khuyến khích mô hình kinh tế hợp tác xã ra đời và phát triển.

    Từ 1960-1975 nhà nước tiếp tục thay đổi hệ thống pháp luật thuế trong đó chủ yếu sửa đổi chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế môn bài, chế độ thuế doanh thu, chế độ thuế lợi tức doanh nghiệp và cho thực hiện thí điểm hai chế độ thu mới không mang tính chất thuế, chế độ thu quốc doanh, chế độ phân phối trích nộp lợi nhuận và dần tách khu vực kinh tế quốc doanh ra khỏi sự điều chỉnh của thuế.

    Hai giai đoạn này hệ thống pháp luật thuế không được xây dựng mà chỉ trên tinh thần sửa đổi, bổ sung nên hệ thống pháp luật thuế không ổn định, các chế độ thuế mang tính chắp vá, hiệu lực pháp lý thấp.

    Giai đoạn 1975-1989: Xuất phát từ tình hình đất nước có nhiều biến đổi nên chế độ thuế trong giai đoạn này cũng được sửa đổi liên tục trong những năm đầu ở miền Nam tạm thời sửa đổi một số chế độ thuế của chính quyền Thiệu, sửa đổi một số chế độ thuế ở miền Bắc để áp dụng cho miền Nam.

    Năm 1980 hai miền Nam, Bắc thực hiện hệ thống thuế thống nhất dựa trên hệ thống thuế đã áp dụng ở miền Bắc có sửa đổi cho phù hợp với cả hai miền.Tháng 2/1983 nhà nước ban hành pháp lệnh  thuế nông nghiệp thay cho điều lệ thuế nông nghiệp và được sửa đổi vào năm 1983. Cũng trong năm 1983 pháp lệnh thuế công thương nghiệp cũng được ban hành thay cho điều lệ thuế công thương nghiệp và được sửa đổi bổ sung vào năm 1987. Tháng 7/1987 Quôc hội ban hành luật thuế xuất nhập khẩu.

    Giai đoạn 1990 đến nay: với sự thay đổi lớn, căn bản của đường lối phát triển kinh tế trong giai đoạn này đã kéo theo sự thay đổi căn bản trong quan điểm sử dụng thuế. Thuế phải trở thành công cụ động viên nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, phải trở thành công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước, thuế phải có tính pháp lý cao, phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, nhà nước quyết định cải cách thuế giai đoạn 1. Hệ thống pháp luật thuế được ra đời áp dụng thống nhất trong cả nước không phân biệt thành phần kinh tế, luật thuế doanh thu, luật thuế lợi tức, luật thuế xuất nhập khẩu, luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Hệ thống pháp luật thuế mới ra đời đã thể hiện và đáp ứng được quan điểm sử dụng thuế song cũng còn nhiều tồn tại cần được xem xét hoàn thiện để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cải cách thuế giai đoạn 2; bắt đầu từ năm 1996 và dự kiến kết thúc vào năm 2005, thời điểm Việt Nam chính thức ra nhập vào khu mậu dịch tự do ASEAN. Việc xây dựng, ban hành luật thuế GTGT thay cho luật thuế doanh thu được coi là một trong những sự kiện quan trọng của cải cách thuế trong giai đoạn này và sẽ kết thúc bằng việc xây dựng một hệ thống thuế có khả năng hội nhập cao.

              Các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT

    Ngày 3/9/2002 chính phủ ban hành nghị định số 76/2002 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 79/2002/NĐ-CP. Ngày 29/12/2002 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.

    Theo sửa đổi một số quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT đối với một số loại hàng hoá nhập khẩu trong các trường hợp như: viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, quà tặng của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức khác. Hơn nữa, nghị định còn bổ sung sửa đổi một số quy định về mức thuế 0% thuế GTGT đối với một số hàng hóa xuất nhập khẩu, bao gồm hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu, hàng hoá gia công xuất khẩu, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài, phần mềm máy tính xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu lao động, hoạt động xây dựng, xuất khẩu ra nước ngoài, xuất khẩu vào các khu chế xuất….và một số quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, hoàn thuế GTGT.

    Ngày 18/9/2002 Bộ tài chính ban hành thông tư số 82/2002/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 hướng dẫn thi hành nghị định 79/2000/NĐ-CP ngày 29/1/2000 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.

    Theo đó một số điểm đáng chú ý: thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa xuất nhập khẩu và số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ 1% trên giá mua đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT mua của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng; hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa có quy định chế biến mua của cơ sở sản xuất không chịu thuế GTGT. Khâu sản xuất sử dụng hoá đơn GTGT; hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản xuất để bán ra có hai hoá đơn bán hàng; bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT; hàng hoá mua là nông lâm thuỷ sản chưa qua chế biến, đất, đá, cát, xỏi và các phụ liệu của người bán không có hoá đơn tỷ lệ khấu trừ trên đây áp dụng cho các hoá đơn chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ từ 1/10/2002 và áp dụng thống nhất cho cả trường hợp kinh doanh trong nước và xuất khẩu.

    Ngày 18/9/2002 Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành quyết định số 110/2002/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng, ban hành kèm theo quyết định số 885/1998/QĐ-BTC ngày 16/7/98 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

    Theo đó thay thế nội dung, thủ tục mua hoá đơn đối với tổ chức, cá nhân mua hoá đơn lần đầu và thủ tục mua hoá đơn lần sau. Cơ quan thuế có quyền từ chối việc bán hoá đơn hoặc ra quyết định đình chỉ việc sử dụng hoá đơn đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn, chứng từ cụ thể: tạm dừng việc bán hoá đơn với các tổ chức, cá nhân mua hoá đơn không đủ thủ tục, điều kiện kèm theo quy định, không kê khai thuế hoặc kê khai thuế nhưng không có doanh thu sau 1 tháng mua hoá đơn, không thực hiện báo cáo sử dụng hoá đơn theo quy định. Đình chỉ việc sử dụng hoá đơn với tổ chức, cá nhân có hành vi bán khống hoá đơn (hoá đơn trùng) hoặc lập hoá đơn nhưng không có hàng hoá, dịch vụ, tiếp tục có hành vi tẩy xoá hoá đơn, ghi hoá đơn có giá trị hàng hoá, dịch vụ cao hơn giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ; ghi hoá đơn bán hàng, dịch vụ trên hoá đơn giao cho người mua khác với hoá đơn lưu tại cơ sở kinh doanh.

    Ngày 10/10/2002 Bộ tài chính thông tư số SO 90/2002/TT-BTC hướng dẫn về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế GTGT đối với hàng hoá bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.

    Thông tư này áp dụng đối với hàng hoá do doanh nghiệp tại Việt Nam (bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) sản xuất bán cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán ngoại thương, được thương nhân nước ngoài thanh toán tiền mua hàng bằng ngoại tệ nhưng hàng giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo sự chỉ định của thương nhân nước ngoài để tiếp tục sản xuất gia công hàng xuất khẩu.

    Điều kiện áp dụng chính sách thuế hướng dẫn tới thông tư này bao gồm: hàng hoá xuất khẩu tại chỗ, nhập khẩu tại chỗ trên cơ sở thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương ký với thương nhân nước ngoài trong đó ghi rõ mặt hàng, tên và số lượng, địa chỉ của doanh nghiệp nhận hàng tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài phải thực hiện thanh toán tiền đối với hàng xuất khẩu tại chỗ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi qua ngân hàng, doanh nghiệp phải mở tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ.

    Hàng hoá xuất khẩu tại chỗ được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ phải xuất trình với cơ quan thuế địa phương đầy đủ các hồ sơ bao gồm: hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ khi giao hàng, hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài, chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài qua ngân hàng bằng ngoại tệ từ đó chuyển đổi, tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu tại chỗ. Trường hợp cơ sở sản xuất tại chỗ không có đủ thủ tục hồ sơ trên thì không được áp dụng thuế suất 0%, cơ sở xuất khẩu tại chỗ phải thực hiện nộp thuế GTGT theo quy định của luật thuế GTGT như hàng hoá tiêu thụ nội địa.

    Ngoài ra thông tư còn hướng dẫn cụ thể việc xử lý vi phạm đối với các trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ không sử dụng hàng hoá đã nhập khẩu tại chổ để làm nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu mà đem bán hoặc sử dụng không đúng mục đích.

    Chính phủ vừa ban hành nghị định số 158/2003 quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT văn bản hướng dẫn các đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam với các mức thuế suất 0%, 5% và 10% đồng thời các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế GTGT theo đúng quy định của pháp luật.

    Các mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng gia công xuất khẩu, hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu.

    Mức thuế suất 5% áp dụng với các hàng hoá, dịch vụ: nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt, phân bón, quặng để sản xuất phân bón, máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế, bông và băng vệ sinh y tế, giáo cụ dùng giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em, sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản đánh bắt chưa qua chế biến, thực phẩm tươi sống, lương thực, lâm sản.

    Mức thuế suất 10% áp dụng với hàng hoá, dịch vụ: dầu mỏ, khí đốt, quặng điện, thương phẩm, điện tử, sản phẩm hoá chất, sản phẩm may mặc, thêu ren, giày, sữa, bánh kẹo, nước giải khát, sản phẩm gốm sứ, thuỷ tinh, dịch vụ tư vấn pháp luật, các dịch vụ tư vấn khác, khách sạn, dịch vụ ăn uống.

    Việc kê khai nộp thuế GTGT hợp pháp: cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu phải kê khai thuế GTGT theo quy định sau: cơ sở kinh doanh phải kê khai nộp thuế từng tháng và nộp tờ kê khai kèm theo bản kê khai hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra làm căn cứ xác định số thuế phải nộp của tháng cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo.

    Trong trường hợp không phát sinh số bán hàng hoá, dịch vụ thuế đầu vào, thuế đầu ra cơ sở kinh doanh vẫn phải nộp tờ kê khai thuế cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy đủ đúng mẫu tờ khai thuế và phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của việc kê khai. Thời điểm tính thuế GTGT đầu ra phát sinh là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ cho người mua không phân biệt người mua đã trả tiền hay chưa. Khi bán hàng hoá cơ sở kinh doanh phải lập hoá đơn theo cơ sở của pháp luật.

    Tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không có văn phòng hay trụ sở điều hành ở Việt Nam có cung ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam phải kê khai, nộp thuế GTGT thay cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất GTGT khác nhau phải kê khai thuế GTGT theo mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ. Nếu cơ sở kinh doanh không xác định được theo tổng mức thuế suất thì phải tính theo mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh. Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách nhà nước. Thuế nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam.

    2. Thực tế áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta

    Pháp luật thuế GTGT là một luật thuế hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử pháp luật tài chính nước ta và trong nhận thức của tầng lớp dân cư. Vì vậy, việc thực hiện các luật thuế mới nói chung và luật thuế GTGT nói riêng sẽ có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội của đất nước và những khó khăn bước đầu là không tránh khỏi.

    Sau những năm thực hiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn những biểu hiện bên ngoài. Các quy định của pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế GTGT. Các quy định của pháp luật thuế GTGT luôn tính đến các giải pháp qua đó nhằm áp dụng tốt nhất thuế GTGT trong điều kiện thực tế ở Việt Nam như quy định 2 phương pháp tính thuế, quy định khấu trừ khống, mở rộng diện miễn giảm thuế…

    Vì vậy, sau 4 năm thực hiện luật thuế GTGT đã đạt được những thành tựu đáng kể mà thành tựu bao trùm nhất là đạt được nhứng mục tiêu yêu cầu đặt ra trong luật thuế GTGT.

    Cụ thể: góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình. Không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư TSCĐ theo dự án thì không thuộc diện chịu thuế GTGT. Đặc biệt khi giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% so với thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư mạnh.

    Mặt khác, luật thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp cơ cấu lại nền kinh tế. Theo quy định của thuế GTGT, hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là toàn bộ thuế GTGT đã nộp ở đầu vào được hoàn lại, việc hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu thực chất là nhà nước  trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền hoàn vốn tăng cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Khoảng 2.700 tỷ đồng, năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23,18%, năm 2000 tăng 21,3%. Trong đó có những mặt hàng được hoàn thuế đầu vào nhiều, xuất khẩu tăng so với năm 1998 như: cao su 37,2%, cà phê 27,6% , gạo 21,4%, thuỷ sản 14,1%, giày dép 36,3%, dệt may 15,1%, thủ công mỹ nghệ 52%, điện tử 54%.

    Ngoài việc được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hàng hoá còn được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 25%, nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung nên đã tạo điều kiện về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng xuất khẩu thay thế nhập khẩu, đặc biệt luật thuế GTGT đã khuyến khích việc sản xuất kinh doanh những hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

    Việc triển khai luật thuế GTGT không gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Ngoài ra, luật thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp. Đến nay có khoảng 6.000 doanh nghiệp nhà nước, hơn 2.400 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 30.000 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã thực hiện đúng chế độ của nhà nước kê khai và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Cũng chính điều này mà việc quyết toán thuế được thực hiện chính xác hơn rất nhiều so với những năm trước đây.

    Đồng thời, việc triển khai thực hiện luật thuế GTGT đảm bảo về số thu ngân sách nhà nước không giảm hơn so với thuế doanh thu, không làm ảnh hưởng đến kế hoạch thu ngân sách của nhà nước.

     

    Biểu 2.  Thu ngân sách nhà nước & thu thuế GTGT

     từ năm 2001 đến năm 2003

    Năm Thu ngân sách nhà nước Thu thuế VAT % thu VAT
    2001 103.888 13952 13,43%
    2002 105.200 15.465 14,70%
    2003 123.700 19.238 15,56%

    Bảng số liệu cho thấy chỉ qua 3 năm: 2001, 2002 và 2003 tỷ lệ đóng góp thuế VAT trong nguồn thu của ngân sách nhà nước luôn tăng từ 13,43% năm 2001 lên 14,7% năm 2002 và 15,56% năm 2003. Điều này cho thấy việc áp dụng luật thuế VAT vào nước ta là hợp lý, sự tăng lên trong tỷ lệ đóng góp này cho thấy sự phát triển nhanh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

     

    Biểu 3 & 4.

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

      XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    DỰ TOÁN 2003 9154 3592 4228 2264 19238
    ƯỚC QI/2003 2205 870 1175 619 4869

    Nguồn thu từ thuế của Nhà nước tập trung chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh. Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách nhà nước luôn chiếm trên 45% (năm 2003 là 47%, trong tổng số thu từ tất cả các ngành). Đứng sau xí nghiệp quốc doanh là NQD 22%, XNĐT 19và XS 12%. Nhìn chung tỷ lệ đóng góp này tương đối ổn định.

     

    Biểu 5.Tình hình thu thuế VAT của ngành hải quan giai đoạn

    từ năm 1999 đến năm 2003

    ĐVT: Tỷ đồng

    TT Năm Tổng thu (KH) Tổng thu

    VAT

    VAT/Tổng thu Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch
    1 1999 21000 23669 8162 0.344839 113%
    2 2000 22960 24417 10718 0.438956 106%
    3 2001 25200 29519 11725 0.397202 117%
    4 2002 33200 37221 15010 0.403267 112%
    5 2003 38500 39223 17522 0.446728 102%

    Từ năm 1999 đến năm 2003 số thuế VAT đóng góp vào số thu của ngành Hải quan tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên. Năm 1999 là 8.162 tỷ đồng, năm 2000 là 1.0.718 tỷ đồng, năm 2001 là 11.725 tỷ đồng, năm 2002 là 15.010 tỷ đồng, năm 2003 là 15.722 tỷ đồng. Trong đó năm 2002 và năm 2003 là có số thu lớn nhất. Tỷ lệ thu thuế VAT ngày càng có xu hướng tăng nhanh từ năm 1999 đến năm 2003 đã tăng lên hơn 200%. Con số thu được thực tế luôn vượt mức kế hoạch đề ra. Năm 1999 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 113%, năm 2000 là 106%, năm 2001 là 117%, năm 2002 là 112% và năm 2003 là 102%. Tốc độ tăng ngày càng lớn và tỷ trọng đóng góp vào tổng thu của ngành Hải quan có xu hướng tăng nhanh chứng tỏ thuế VAT có vai trò lớn trong nguồn thu của ngành Hải quan nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung.

    Qua nhứng con số biết nói trên dù chưa đầy đủ nhưng cũng cho phép chúng ta khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Sau những năm đầu thực hiện cho thấy thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đã đạt được những hiệu quả nhất định. Đặc biệt việc thực hiện luật thuế GTGT đã có tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội ở nước ta góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

              Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì pháp luật điều chỉnh luật thuế GTGT ở nước ta còn có những điểm “chưa được” gây ra các phát sinh tiêu cực trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT, hay những vấn đề khó khăn trong áp dụng luật thuế GTGT.

              Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT  thuộc loại thuế tiêu dùng mà hàng hoá tiêu dùng được biển hiện thông qua việc trao đổi mua bán, vì vậy nếu hàng hoá, dịch vụ nằm trong kho hoặc chưa đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc trao đổi mua bán thì chưa bị đánh thuế GTGT.

              Thứ hai, cơ sở để tính thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác định khi thông qua quan hệ trao đổi mua bán. Nếu hàng hoá, dịch vụ cứ nằm im trong kho thì rõ ràng không thể biết đúng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.

              Thứ ba, việc quy định trực tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo như kỳ nộp thuế, hạch toán kế toán, kiểm tra thanh tra, giải quyết vấn đề tranh chấp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoặc nộp thuế sẽ gặp nhiều khó khăn trong nhận thức và sinh ra nhiều việc xác định mức độ, phạm vi của nghĩa vụ thuế.

              Việc luật thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và không chịu thuế GTGT không chính xác về mặt khoa học. Khi nói đến đối tượng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 luật thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hình thức cung ứng thuộc diện chịu thuế GTGT, nhưng được miễn trừ thuế. Luật thuế GTGT xác định diện miễn trừ thuế rất rộng tuy nhiên sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ, đặc biệt trong trường hợp các ngành sử dụng nguyên vật liệu thuộc diện miễn trừ thuế GTGT để sản xuất ra các sản phẩm chịu thuế GTGT hoặc ngược lại. Ví dụ khi sản xuất bột canh hoặc mỳ ăn liền đều phải sử dụng nguyên liệu muối, nhưng muối thuộc dạng miễn trừ thuế GTGT nên không có thuế GTGT phát sinh khi mua muối làm nguyên liệu, trong khi đó sản phẩm tạo ra (bột canh) lại thuộc diện chịu thuế GTGT vì vậy, khi bán những sản phẩm này doanh nghiệp phải lập hoá đơn, thu và nộp trọn vẹn số thuế GTGT phát sinh cho kho bạc nhà nước mà không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào tương ứng (trong đó muối chiếm 80% giá thành sản xuất bột canh). Do doanh nghiệp không được hưởng lợi tức khấu trừ nên khi áp dụng thuế GTGT sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá mua để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế và mức doanh lợi hoạt động. Nếu giá mua đầu vào (muối) bị giảm thì có nghĩa là chính người miễn thuế GTGT (người sản xuất muối) tưởng được ưu đãi nhưng thực chất có khi còn bị thiệt hại hơn trước.

    Ngoài ra, những ngôn ngữ được diễn đạt trong luật có khi còn gây ra những cách hiểu khác nhau do vậy gây khó khăn cho việc áp dụng luật.

    Tuy nhiên, thực tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy bên cạnh những cái “được”,  những cái “chưa được” còn tồn tại thực trạng gian lận thuế GTGT ở nước ta ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Thực tế, của vấn đề này là xuất phát từ những cái “chưa được” còn tồn tại trong luật thuế GTGT và lợi dụng những kẽ hở trong quản lý. Chỉ riêng gian lận trong việc hoàn thuế, năm 1999 có 4 vụ, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế lên 500 tỷ đồng từ năm 1999. Ngoài ra, tình trạng khai khống hoá đơn, mua bán hoá đơn, sửa đổi hoá đơn ngày càng tăng nhanh làm thất thu nhiều tiền của ngân sách nhà nước. Như công ty Đông Nam đã sửa đổi hoá đơn bán hàng chỉ riêng quý I/2001 đã “rút ruột” nhà nước 50 tỷ đồng. Công ty Vạn Lợi ở Long Xuyên, An Giang đã dùng việc mua bán hoá đơn của Bộ tài chính phát hành đã gây thiệt hại cho nhà nước 26,6 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động.

    Những thực tế đã nêu ở trên xuất phát từ những yếu tổ chưa chặt chẽ của luật thuế GTGT, từ sự lỏng lẻo trong công tác quản lý của các cán bộ có trách nhiệm và từ sự ý thức của người dân chưa cao do họ chưa được giáo dục một cách đầy đủ về pháp luật và họ mong muốn làm giàu bằng mọi giá. Vì vậy, sự điều chỉnh luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là sự đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn này.

    II. Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở nước ta trong thời gian qua

    1. Thực trạng áp dụng thuế ở các doanh nghiệp thương mại

    1.1 Những vấn đề lớn trong áp dụng thuế GTGT ở các doanh nghiệp thương mại.

    Thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong thời gian vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT còn có nhiều vấn đề lớn cần giải quyết. Chính những vấn đề này đã tạo ra kẽ hở cho một số kẻ lợi dụng để vi phạm pháp luật. Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ xác định thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của nhà nước và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ đối với cơ quan chức năng trong việc tính số thuế phải nộp nói riêng và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nói chung.

    Hiện nay, việc quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng được ban hành kèm theo quyết định số 885 có nhiều nội dung không đáp ứng được công tác quản lý thuế, vì vậy, chế độ này đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay chính phủ đã ra nghị định số 89/2002 ngày7/11/2002, quy định trình tự, thủ tục tự in hoá đơn. Hệ thống hoá đơn, chứng từ hợp pháp ở nước ta hiện nay được hình thành từ hai nguồn:

    – Thứ nhất, do Bộ tài chính phát hành

    – Thứ hai, do các cơ sở kinh doanh tự in

    Qua sự phân tích trên chúng ta nhận thấy hoá đơn, chứng từ là một căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng trong sự vận hành của thuế GTGT. Nhưng thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta nói chúng và ở các doanh nghiệp thương mại nói riêng trong thời gian qua cho thấy nạn hoá đơn giả phát triển tới mức báo động và được tồn tại dười nhiều dạng khác nhau.

    Dạng thứ nhât, là hóa đơn in giả hoàn toàn. Nhìn bề ngoài thì loại hoá đơn này giống như hoá đơn GTGT do Bộ tài chính phát hành và chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn người mua và người bán hàng khổng dễ phát hiện. Có những trường hợp mua phải hàng lậu và được cấp hoá đơn giả nhưng khi phát hiện thì người bán hàng đã biến mất nên vừa thiếu cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý vừa không được quyền khấu trừ thuế.

    Dạng thứ hai, là hoá đơn thật do Bộ tài chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị trường mua bán một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể thực hiện bằng cách bán hàng không cần hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống (lẽ ra phải cấp cho khách hàng) đem bán trên thị trường chợ đen hoặc bố cáo giải thể doanh nghiệp nhưng không thanh toán nộp lại hoá đơn và đem bán, hoặc lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, cấp mã số thuế và mua bán hoá đơn GTGT tại cơ quan thuế nhưng không tiến hành sản xuất kinh doanh mà sử dụng hoá đơn đó để kinh doanh bằng cách mua bán vòng vèo để hợp thức hoá số thuế đầu vào sau đó thực hiện khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế.

    Dạng thứ ba, cũng là dạng hoá đơn do Bộ tài chính phát hành được sử dụng khi mua bán hàng hoá nhưng ghi giá thanh toán không đồng nhất hoặc cố tình ghi sai mã số của người bán gây khó khăn cho sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế. Với thủ đoạn này số thuế đầu ra thu được ở người bán thì ít mà số thuế đầu vào phải khấu trừ ở người mua nhiều.

    Dạng thứ tư là cạo sửa hoá đơn mua hàng ghi số tiền cao hơn số thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết toán thuế.

    Dạng thứ năm, lập hóa đơn khống, tức thực tế khôg mua bán hàng hoá nhưng thông đồng với các đơn vị xuất khẩu để kê khai hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu, hoặc mua bán hoá đơn hàng dùng để kê khai khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào.

    Dạng thứ sáu, khi bán hàng hoá, dịch vụ việc lập giao hoá đơn cho khách hàng còn tuỳ tiện, không giao hoặc đòi nâng giá hàng khi giao hoặc giao hoá đơn không hợp pháp để trốn thuế. Đối với khách hàng khi mua hàng cho tổ chức hoặc cá nhân tiêu dùng thường không quan tâm đến việc đòi hoá đơn hợp pháp hoặc chủ động yêu cầu người bán lập hoá đơn với số tiền cao hơn thực tế thanh toán hoặc tự lập hoá đơn thanh toán tiền mua hàng cao hơn để tham ô công quỹ nhà nước.

    • Gian lận thuế GTGT ở các doanh nghiệp Việt Nam. Những con số và sự kiện

    Những hình thức đã được nêu ở phần trên là thực tế tồn tại trong các doanh nghiệp thương nghiệp nói riêng và nước ta nói chung hiện nay. Để chứng minh cho những lý luận ở trên em xin được đưa ra những dẫn chứng cụ thể:

    Hiện nay, lượng hàng hoá trôi nổi, không có nguồn gốc hợp pháp lưu thông trên thị trường nhiều, đặc biệt là các loại hàng hoá phục vụ thiết yếu đời sống của nhân dân. Một số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp ngành thương mại kinh doanh xăng dầu và vật liệu xây dựng…Khi bán hàng, tuỳ tiện trong việc ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ mua của hàng hoá đó, lập hoá đơn trên nhỏ, dưới to, bán hàng không xuất hoá đơn, giao cho khách hàng, không lập bảng kê, không ghi sổ kế toán, không kê khai tính thuế, và dùng khối lượng hàng hoá này để xé rời liên 2, ghi hoá đơn khống cho đối tượng cần hoá đơn GTGT.

    Tổng cục thuế cho biết thời gian gần đây tại một số địa phương đã phát hiện ra nhiều trường hợp liên 2 hoá đơn GTGT của các doanh nghiệp bán thẻ điện thoại, vàng bị cạo sửa để ghi tiền hàng với số lượng lớn làm hoá đơn đầu vào cho các doanh nghiệp khác. Với hình thức gian lận này tư thương đã móc túi ngân sách Nhà nước với số lượng tiền lớn do chênh lệch giữa hai liên hoá đơn GTGT, vì vậy, Tổng cục thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương cần sớm có giải pháp phối hợp với cơ quan công an để giám định về dấu, chữ viết, dấu hiệu cạo sửa, tẩy xoá trên hoá đơn để phát hiện những trường hợp nghi vấn. Vào tháng 1/2003 Tổng cục thuế thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra và phát hiện gian lận thuế tại Công ty Đông Nam. Năm 1999, đơn vị này khai doanh thu 31 tỷ đồng, thuế GTGT là 479 triệu, năm 2000 doanh thu gấp đôi là 68 tỷ đồng, thuế GTGT là 104 triệu, năm 2001 doanh thu là 93 tỷ đồng, thuế GTGT âm 407 triệu đồng, 11 tháng đầu năm 2002 doanh thu vọt lên 137 tỷ đồng nhưng thuế GTGT âm 1,3 tỷ đồng. Điều này là hoàn toàn bất hợp lý vì doanh thu hàng năm tăng sao thuế chỉ thu được số tiền ít ỏi. Năm 1999 truy thu 82 triệu đồng, năm 2000 truy thu 61 triệu đồng. Sai phạm này của công ty Đông Nam mới chỉ được phanh phui vào năm 2003 Đông Nam đã lậu thuế hàng trăm tỷ đồng, “việc dùng bút toán hạ thấp giá trị hàng hoá” để trốn thuế hàng trăm tỷ đồng ở Đông Nam xảy ra từ năm 2000. Chỉ riêng quý I/2001 tiền trốn thuế khoảng 50 tỷ đồng. Thủ đoạn làm ăn chủ yếu là khai thấp giá trị hàng nhập để trốn thuế, bán hàng không hoá đơn GTGT làm Nhà nước thất thu số tiền lớn.

    Thực hiện thông tư số 69/2002/TT-BTC ngày 16/8/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện quyết định số 41/2002/QĐ-TTg ngày 18/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chống thất thu thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp. Năm 2002, cơ quan thuế tổ chức điều tra giá bán thực tế của các cơ sở kinh doanh xe máy trên địa bàn đã phát hiện nhiều doanh nghiệp có số chênh lệch lớn để xử lý và chấn chỉnh tình trạng giá bán trên hoá đơn GTGT giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá bán trên thị trường. Qua tình hình xử lý tình trạng tờ khai thuế GTGT hàng tháng năm 2003 thấy rằng: tình trạng giá bán ghi trên hoá đơn GTGT ở một số doanh nghiệp kinh doanh nhỏ hơn giá bán thực tế để trốn thuế vẫn còn tiếp diễn. Cơ quan thuế lại có công văn yêu cầu các cơ sở kinh doanh thực hiện niêm yết giá bán hàng hoá ở các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu trên từng đơn vị sản phẩm hàng hoá. Trường hợp các mặt hàng nào đó do một nguyên nhân nào đó mà doanh nghiệp xây dựng giá bán hàng hoá bị lỗ hoặc không có hoá đơn GTGT thì phải có đầy đủ hồ sơ chứng minh cụ thể. Nhưng đến nay một số doanh nghiệp vẫn không chấp hàn nghiêm túc, tình trạng trốn thuế qua giá bán của một số doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục. Số thuế kê khai của các doanh nghiệp này không đúng với số phát sinh, thậm chí có doanh nghiệp còn âm thuế, không có số nộp ngân sách. Nguyên nhân gây ra tình trạng này trước hết là do ý thức chấp hành của một số doanh nghiệp bên cạnh đó phần lớn khách hàng không biết được ý đồ trốn lậu thuế của các cơ sở kinh doanh qua giá bán mà chỉ nghĩ ghi hoá đơn thấp để nộp thuế trước bạ ít hơn, nên không đòi hỏi. Tình trạng này đã làm thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước, gây bất bình trong giới kinh doanh và mất công bằng xã hội.

    Tình trạng mua bán hoá đơn do Bộ Tài Chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng được mua bán trên thị trường một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể được thực hiện bằng cáchbán hàng không cấp hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống đem ra bán trên thị trường hoặc trên chợ đen. Vào tháng 1/2002 hợp tác xã Vạn Lợi, thành phố Long Xuyên, An Giang đã bị phát hiện bán hơn 1000 hoá đơn VAT cho 16 tỉnh, Vạn Lợi đã gây thiệt hại cho Nhà nước 26,6 tỷ đồng. Năm 1996, thực hiện luật thuế GTGT, Vạn Lợi được cục thuế cấp 25 cuốn sổ gồm 1250 tờ hoá đơn VAT. Biết chủ trương của chính phủ cho khấu trừ thuế đầu vào cho các doanh nghiệp kinh doanh lương thực, nông sản, thực phẩm, phó chủ nhiệm hợp tác xã đã ký khống hoá đơn và các hợp đồng kinh tế rồi cho “tay chân” đi bán cho các đơn vị có yêu cầu. Từ tháng 1 đến tháng 9/1999, đã bán trên 1000 hoá đơn với tổng doanh số hơn 553 tỷ đồng: gây thiệt hại cho  Nhà nước gần 26,6 tỷ đồng. Qua việc mua bán hoá đơn họ đã bỏ túi kẻ nhiều nhất hơn 2,8 tỷ đồng và kẻ ít nhất là 2,9 triệu đồng. Vào tháng 6/2003 cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình vừa được chuyển hồ sơ, đề nghị VKSND truy tố 6 nhóm tội phạm với tội danh mua bán hoá đơn GTGT. Trong đó có chủ mưu Trần Văn Sở, nguyên cán bộ chi cục thuế thị xã Thái Bình cùng một số cán bô thuế và Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh. Theo kết quả điều tra năm 2000-2002, vợ chồng Sở đăng ký thành lập 34 công ty “ma”để mua bán hoá đơn VAT. Họ bán số hoá đơn trị giá 140 tỷ đồng giúp nhiều doanh nghiệp khác được hoàn thuế 10 tỷ đồng. Từ tháng 9/2000 đến tháng 9/2002, họ đã bán hơn 19,000 hoá đơn cho 700 đơn vị ở 22 tỉnh thành. Tổng số tiền ghi khống gần 1130 tỷ đồng.

    Về vấn đề hoàn thuế GTGT, đây là một vấn đề nổi cộm, một vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý bởi cả tính chất phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ cuả nghiệp vụ hoàn thuế GTGT và với sự chắp vá của các văn bản pháp luật. Lợi dụng những kẽ hở trong luật mà doanh nghiệp thường có các thủ đoạn sau: trước hết, doanh nghiệp chế biến tổ chức thu mua nông sản của nông dân để sơ chế sau đó bán lại cho doanh nghiệp xuất khẩu. Khi mua nông sản từ nông dân, doanh nghiệp chế biến sẽ lập bảng kê hàng hoá mua vào trong đó có đầy đủ các thông tin: số lượng, giá trị các mặt hàng đã mua, ngày tháng mua, địa chỉ của người bán. Nhưng những thông tin này đều do doanh nghiệp “tự vẽ ra”và được sắp xếp rất tinh vi như lập hoá đơn qua nhiều khâu nhiều công đoạn ở nhiều địa phương khác nhau để tránh sự kiểm tra kiểm soát, đối chiếu bảng kê, hoá đơn của cơ quan thuế. Khi “bán” nông sản đã qua “sơ chế” cho doanh nghiệp xuất khẩu thì doanh nghiệp chế biến sẽ xuất hoá đơn cho doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó cũng ghj đầy đủ các thông số: giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng giá thanh toán. Những thông tin này bịa đặt và các doanh nghiệp xuất khẩu đều thực hiện xuất khẩu qua biên giới đất liền.

    Tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu mở tờ khai hải quan về hàng nông sản đã xuất khẩu gửi cho cơ quan hải quan kèm theo hợp đồng mua bán nông sản. Ký với bên nhập khẩu, hoá đơn GTGT bán hàng cho nước ngoài, chứng từ thanh toán hoặc xác nhận thanh toán của khách hàng nước ngoài để chứng minh hàng hoá đã được xuất khẩu.Việc chứng minh này được thực hiện bằng cách câu kết với phía nước ngoài lập các hợp đồng kinh tế, các hoá đơn GTGT, chứng từ thanh toán khống. Sau đó sử dụng hàng kém phẩm chất hoặc mượn hàng của tư thương dán nhãn hàng xuất khẩu rồi xuất qua cửa khẩu trước sự làm ngơ của nhân viên hải quan vì đã bị mua chuộc hoặc thậm chí không có một gam hàng nào được xuất khẩu qua cửa khẩu. Sau khi ra khỏi cửa khẩu, số “nông sản xuất khẩu” này có thể được trở lại Việt Nam theo các con đường khác nhau để xuất khẩu tiếp.

    Sau đó doanh nghiệp hoàn tất hồ sơ hoàn thuế gồm công văn đề nghị hoàn thuế, bảng kê khai tổng hợp số thuế đầu vào, bảng kê hàng hoá mua vào, bán ra gửi cơ quan thuế.

    Theo thống kê của tổng cục thuế đến 30/9/2002, cục thuế các tỉnh thành phố đã nhận được 30.340 bộ hồ sơ xin hoàn thuế với số tiền thuế đề nghị hoàn là 18.054 tỷ đồng. Kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế đã loại trừ 4.272 hồ sơ có dấu hiệu sai phạm (chiếm 14% hồ sơ gửi đến) với số tiền 343 tỷ đồng (17,4% số tiền đề nghị hoàn). Với hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan thuế xử lý hoàn cho 16.341 trường hợp với số tiền hoàn thuế là 14.915 tỷ đồng trong đó hoàn thuế cho hàng xuất khẩu chiếm 80%. Số thuế hoàn cho hàng nông, lâm thủy sản chiếm 5%-7% tổng số tiền hoàn. Đặc biệt số vụ lừa đảo hoàn thuế không ngừng tăng lên trong các năm. Nếu như năm 1999, các cơ quan chức năng chỉ phát hiện được 4 vụ, năm 2000 phát hiện được 17 vụ thì năm 2001 đã phát hiện được 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế VAT bị chiếm đoạt là 500 tỷ đồng. Tính đến tháng 11 năm 2003, số doanh nghiệp vi phạm trong việc hoàn thuế GTGT là 140 doanh nghiệp, số tiền hoàn thuế bị gian lận và có dấu hiệu gian lận là 322,4 tỷ đồng, ngoài ra vi phạm về hoá đơn GTGT là 133 vụ, các vi phạm về hành chính thuế là 140 tỷ đồng.Tổng số tiền thu hồi được là 331,5 tỷ đồng. Tuy nhiên tổng số tiền có dấu hiệu gian lận của cơ quan điều tra là 192,5 tỷ đồng. Tuy nhiên trong số này có 42,8 tỷ đồng của 22 doanh nghiệp đã phá sản hoặc giám đốc bỏ trốn. Khó có khả năng thu được. Trong vấn đề này bọn tội phạm đã sử dụng nhiều hình thức tinh vi để qua mặt cán bộ quản lý. Vào tháng 12/2003, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tuyên phạt Trần Văn Thắng, chủ nhiệm Hợp tác xã Việt Thắng thành phố Hải Dương, án tù chung thân do gian lận trong việc xuất hàng sang Trung Quốc nhằm chiếm đoạt gần 5 tỷ đồng tiền thuế. Theo nhận định từ tháng 11/2000 đến tháng 3/2001, Việt Thắng đã gửi 5 lần hồ sơ xin hoàn thuế GTGT 9,2 tỷ đồng. Hồ sơ thể hiện HTX đã ký 11 hợp đồng xuất sang Trung Quốc 30.000 tấn hàng nông, lâm, hải sản tổng trị giá 45 tỷ đồng. Khi xác minh cơ quan chức năng phát hiệnhàng thực xuất chỉ 200 triệu đồng. Trong vụ án này, vợ ông chủ tịch HTX là Phạm Thị Nga tham gia bằng cách lo đầu ra cho số hàng “ảo”. Bà Nga đã tìm được 14 chữ ký của các doanh nghiệp Trung Quốc nhập hàng Giám đốc của một doanh nghiệp tư nhân ở Lào Cai, bà Trần thị Mai Luận cũng liên can do tiếp tay hợp thức hoá chứng từ giả. Các hoá đơn này thể hiện hàng của Hợp Tác Xã Việt Thắng được vận chuyển sang Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai.

    Ngoài ra, dù ai có “thờ ơ với thời cuộc” đến mấy thì cũng không khỏi giật mình xót xa trước những sự việc: Nguyễn Duy Thiện (28 tuổi) đã thành lập tới 30 công ty ma ở khắp Nam Bắc phát hành hoá đơn GTGT khống với doanh số thống kê ban đầu lên tới 674,7 tỷ đồng để rút ruột ngân sách Nhà nước gần 35 tỷ đồng; vợ chồng Nguyễn Thị hoa, Trần Văn Sở ở Thái Bình đã thành lập 12 công ty “ma” để thiết kế đường dây chiếm đoạt thuế GTGT lên tới 10 tỷ đồng; công ty xuất khẩu I tại Đà Nẵng thuộc Bộ Thương Mại có trụ sở tại Hà nội móc nối với một số công ty TNHH khác làm khống hoá đơn xuất khẩu các mặt hàng nông sản sang Trung Quốc để chiếm đoạt 27 tỷ đồng tiền hoàn thuế GTGT, Hoàng Văn Vinh, Cao Hoành Minh, Lục Văn Dê nguyên là các cán bộ công ty  TNHH Kiều Phương thành phố HCM đã móc nối với một số cán bộ hải quan các cửa khẩu thuộc tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang lập 37 bộ hồ sơ chứng từ khống xuất khẩu 1.014 tấn hải sản khô với tổng giá trị là 158 tỷ đồng, đồng thời móc nối với 19 doanh nghiệp khác ở thành phố HCM, các tỉnh Long An, Tây Ninh làm phiếu nhập khống hoá đơn bán hàng cho công ty cơ khí điện máy sau đó làm hồ sơ xin hoàn thuế. Tháng 7/2001, nhóm người này đã rút 7,5 tỷ đồng hoàn thuế để chia nhau. Công ty Việt Hải ở Hải Phòng bán hoá đơn khống không có hàng cho 11 đơn vị tại các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Giang, Hà Nội để các doanh nghiệp này lập chứng từ hoá đơn “rút ruột” Nhà nước tiền hoàn thuế GTGT khoảng 8 tỷ 883 triệu đồng.

    Biểu 6. Biểu đồ về số vụ lừa đảo hoàn thuế qua các năm

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy tình trạng gian lận về hoàn thuế tăng lên với tốc độ khá nhanh từ 4 vụ năm 1999 đến 17 vụ năm 2000, 64 vụ năm 2001 và 46 vụ với 6 tháng đầu năm 2002 đã được phát hiện. Với con số này chứng tỏ sự thách thức của những kẻ phạm tội đối với nhà quản lý. Chúng đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để qua mặt cán bộ quản lý, sự tăng lên nhanh chóng của số vụ gian lận cũng chứng tỏ chúng đã khá tinh vi trong việc sử dụng các mánh khoé. Thực trạng trên khiến các nhà làm luật và các nhà quản lý không thể khoanh tay đứng nhìn.

    Những con số biết nói ở trên đã phần nào nói lên được tình trạng của nước ta hiện nay trong vấn đề thực hiện thuế GTGT. Nhìn vào thực tế đó thì các nhà chức trách không thể khoanh tay đứng nhìn mà cần bắt tay ngay vào việc chống gian lận thuế GTGT một cách tích cực hơn nữa trong thời gian tới.

    II. Nguyên nhân của gian lận thuế GTGT

    1.  Về phía chính quyền

    Tình trạng gian lận thuế GTGT ngày càng có xu hướng tăng nhanh với nhiều hình thức ngày càng tinh vi để qua mặt các nhà quản lý. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể là nguyên nhân chủ quan, có thể là nguyên nhân khách quan nhưng có một số nguyên nhân cơ bản sau:

    Thứ nhất, do chính sách, pháp luật quy định diện được hoàn thuế rộng, cho phép khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ 0% tính theo giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê đối với nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến mua của người không có hoá đơn GTGT; không quy định việc xác nhận lý lịch tư pháp của người thành lập và quản lý doanh nghiệp, vì vậy hàng loạt các doanh nghiệp “hữu danh vô thực” ra đời. Đi kèm với những doanh nghiệp này là hàng vạn hoá đơn khống được phát hành vô tội vạ để cung cấp cho hoạt động “kinh doanh hoá đơn GTGT”. Sau khi thu được những “món hời” bất chính, những doanh nghiệp này làm thủ tục giải thể hoặc biến mất.

    Thứ hai, do trình độ quản lý chưa tương xứng với yêu cầu của công tác quản lý, vì vậy các cơ quan quản lý bị các doanh nghiệp “qua mặt” một cách dễ dàng; thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng với cơ quan thuế; giữa cơ quan thuế với cơ quan hải quan; giữa cơ quan thuế, cơ quan hải quan với cơ quan công an, biên phòng, quản lý thị trường…nên không phát hiện được và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận.

    Thứ ba, do công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức chưa đuợc quan tâm đúng mức dẫn tới sự tha hoá biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức như nhận hối lộ tiếp tay bao che cho hành vi gian lận của các doanh nghiệp.

    Thứ tư, do ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế và nhận thức của người dân về thuế còn hạn chế, kỷ cương về thuế còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp chỉ vì chạy theo đồng tiền mà bất chấp pháp luật bất chấp đạo lý, bất chấp kỷ cương thuế miễn sao thu được nhiều lợi nhuận.

    Thứ năm, do áp dụng cơ chế “tiền thoái hậu kiểm”, cơ chế này được áp dụng nhằm phục vụ chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi về vốn ho các doanh nghiệp phát triển sản xuất cũng như đề cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế. Nhưng mặt trái của cơ chế này là chi phí quản lý hành chính thuế sẽ tăng lên nhiều cho việc “hậu kiểm” và đây cũng sẽ là gánh nặng quá sức cho cán bộ thuế đồng thời gây không ít sức ép cho ngành.

     

    Chương III

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

     

    I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT

    1. Tính tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế thực hiện

    Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là một tất yếu.

    Bản thân nền kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển  cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.  Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là năng cao  vai trò của các thuế gián thu trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để nâng cao vai trò bù đắp sự suy giảm nguồn thu ngân sách của nhà nước.

    Trong xu hướng toàn cấu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi hỏi điều chỉnh phát luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.

    Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế – xã hội này đã đặt ra nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ Internet đứng ở góc độ quản lý có cả những thuận lợi và khó khăn. Trước hết, sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.

    Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Toàn cầu hoá với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hội và đặc biệt giao dịch thông qua các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn mua bán hoặc chuyển nhượng v..v…Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào ? Quản lý ra sao ? Sự ra đời và phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.

    Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho thấy,  sau hơn 4 năm triển khai áp dụng luật thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu,  tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho ra đời một luật thuế GTGT hiện đại.

    2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

    Trước hết, pháp luật thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không ? và chỉ khi phản ánh đúng bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT.

    Mở rộng và nâng cao quy mô của luật thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công…..

    Hoàn thiện luật thuế GTGT phải gắn liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau của cả hệ thống pháp luật thuế.

    Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp luật thuế GTGT.

    Để áp dụng thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

    Thứ nhất, cải cách thể chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.

    Thứ hai, cải cách bộ máy hành chính thuế gồm:

    • Cải cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
    • Cải cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ từng cơ quan thuế.
    • Cải tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.

    Thứ ba, xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực được.

    Thứ tư, cải cách chế độ tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công việc hành thu.

     

    1.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT

    1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý thuế

    Trên thế giới do đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi quốc gia có một hình thức tổ chức bộ máy quản lý thuế khác nhau. Tuy vậy, khi xây dựng bộ máy quản lý thuế các nhà nước phải giải quyết các vấn để cơ bản sau:

    • Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với chính quyền địa phương.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với hải quan.
    • Mô hình tổ chức bộ máy thuế ở các địa phương.

    Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính: trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế vấn đề đặt ra trước tiên là vị trí và quan hệ giữa cơ quan thuế với Bộ tài chính, cơ quan thuế là bộ phận trực thuộc Bộ tài chính hay là một tổ chức độc lập với Bộ tài chính. Trên thế giới hiện có hai mô hình điều hành ngân sách nhà nước. Mô hình thứ nhất là Bộ trưởng bộ tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về thu chi ngân sách, trong mô hình này cơ quan thuế là một tổ chức trực thuộc Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế báo cáo công tác trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ tài chính. Mô hình thứ hai là mô hình hội đồng các bộ trưởng độc lập: Bộ trưởng Bộ thu ngân sách và Bộ trưởng Bộ chi ngân sách cơ quan thuế được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ.

    Mối quan hệ của cơ quan thuế với chính quyền địa phương: là một vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy ngành thuế bởi vì trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thi hành pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương các cấp. Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật cua dân cư thấp.

    Mối quan hệ của ngành thuế với ngành hải quan: trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập chung, ngành thuế và ngành hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập. Mô hình ngoại thương chỉ giới hạn trong các nước XHCN. Hải quan giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch xuất khẩu, trao đổi hàng hoá. Hiện nay tại các nước chuyển đổi, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chính sách quản lý ngoại thương bằng hạn ngạch được thay bằng chính sách điều tiết xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu. Với chính sách điều tiết xuất nhập khẩu, ngành hải quan lúc này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu.

    Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương: Tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế. Do đó, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế ở các địa phương tối ưu là vấn đề có tính chiến lược ở các quốc gia.

     

    1.2.2 Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

    Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế  đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số doanh nghiệp đã kiểm tra. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng nhiều cách:

    * Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt: thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế.

    * Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định  ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.

    * Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra, kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

    * Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra, thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.

    * Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu khống.

     

    1.2.3 Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học

    Trong công cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:

    Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo dõi nợ đọng, quyết toán thuế.

    Thứ hai, ưu tiên cung cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục thuế, chi cục thuế.

    Thứ ba, cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang làm việc ở các phòng ban khác.

    Thứ tư, thực hiện nối mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.

     

    1.2.4 Tăng cường công tác quản lý chứng từ, hoá đơn giá trịn gia tăng.

    Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT, như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn, những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý.  Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện pháp:

    Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại hơn.

    Thứ hai, nhà nước cần công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn khi mua hàng.

     

    1.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế

    Tư vấn thuế là hoạt động trong đó các chuyên gia về pháp luật thuế cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp về lĩnh vực thuế cho đối tượng nộp thuế có nhu cầu để họ thực hiện nghĩa vụ phù hợp vơí nhà nước.

    Tư vấn thuế gồm 2 dạng:

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ công, với danh nghĩa này tư vấn thuế là một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế.

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ tư, đây là một hoạt động dịch vụ có thu, các đối tượng nộp thuế có nhu cầu phải trả dịch vụ phí cho mỗi hoạt động tư vấn.

    Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tư vấn thuế có một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với xã hội.

    Đối với doanh nghiệp, thông qua tư vấn thuế chu doanh nghiệp có được các thông tin cần thiết về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có thể hạch toán đầy đủ các chi phí và tính toán một cách chính xác tiền lãi của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Tư vấn thuế còn có vai trò đào tạo, bổ sung, cập nhật những kiến thức thường xuyên về thuế cho chủ doanh nghiệp sau mỗi sự thay đổi của luật thuế hoặc khi chủ doanh nghiệp thay đổi mặt hàng, phương thức sản xuất kinh doanh.

    Xét trên phạm vi toàn xã hội, tư vấn thuế là kênh thông tin hai chiều giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Vì vậy, nhà tư vấn thuế để giúp cho việc giải thích, tuyên truyền các chính sách,  pháp luật thuể để nâng cao nhận thức của mỗi người đối với nghĩa vụ thuế, qua đó cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp tiền thuế và các khoản thu khác theo luật định, tạo điều kiện duy trì kỷ cương xã hội. Vì vậy, tư vấn thuế là một công việc cần thiết, khách quan, một công việc tiến hành thường xuyên của cơ quan thuế.

    II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT

    1.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT

    Về đối tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ, sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong luật thuế GTGT. Ví dụ như có thể dùng thuật ngữ “nghiệp vụ chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT  bằng cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá, dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu thuế GTGT.

    Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

     

    1.2 Bổ sung một số quy định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không xác định cụ thể phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT nên trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã xảy ra những tranh chấp giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế do không đồng nhất quan điểm với nhau trong nhận thức. Vì vậy, để xác định phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối, chuẩn xác cần quy định rõ thế nào là ở Việt Nam. ở Việt Nam tức là nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam: vùng đất, vùng trời, vùng nước và vùng trong lòng đất. Trong phạm vi đó nhà nước Việt Nam  có toàn quyền quyết định tối cao. Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc tất cả các hoạt động chuyển giao hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu thuế GTGT ở Việt Nam.

     

    1.3 Quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT trong pháp luật thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT nên trên thực tế đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hành thu thuế và không ít tranh chấp xảy ra giữa cán bộ thuế và nộp thuế khi giải thích về vấn đề này. Để giải quyết triệt để vấn đề này cũng như đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT thì trong pháp luạat thuế GTGT cần phải xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Khi xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

    + Nguyên tắc công bằng

    + Nguyên tắc hiệu quả và thuận tiện

    + Nguyên tắc chắc chắn và chính xác

    + Nguyên tắc không được võ đoán.

    1.4 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế

    Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà nước.

    Về thuế suất, lý luận về thuế GTGT cũng như thực tiễn áp dụng thuế GTGT từ thập kỷ 80 người ta nhận thấy rằng nếu thuế GTGT càng ít thuế suất càng dễ áp dụng. áp dụng thuế GTGT với một thuế suất thống nhất khặc phục được nguy cơ gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất 5% và 10% (không tính mức thuế suất 0%). Trong tương lai sẽ áp dụng hệ thống mức thuế suất 7% và 10%.

    Về phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Bên cạnh phương pháp này pháp luật thuế GTGT cũng cần quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch toán và khấu trừ.

    1.5 Cần chuẩn hóa và sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

    Về khấu trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:

    Thứ nhất, để đảm bảo những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:

    + Chỉ khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT

    + Có thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống

    + Mua hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp pháp thì không được khấu trừ.

              Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu trừ toàn bộ hay một phần.

    Thứ ba, quy định cụ thể các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.

    Thứ tư, để đảm bảo quyền đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.

    Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong luật thuế GTGT. Mặt khác, nên thu hẹp diện hoàn thuế, chỉ áp dụng hoàn thuế cho các đối tượng:

    + Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

    + Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định

    Các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT. Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế.

     

    1.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT

    Về đăng ký thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký thuế để khắc phục những vướng mắc.

    Một là, lập  quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như sự phức tạp trong quản lý.

    Hai là, mã tình trạng nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động.

    Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm luật thuế.

    Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh nghiệp…

    III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong luật thuế GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như sau:

    Không quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

    Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được miễn trừ thuế GTGT”

    Đưa khoản 3, khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.

    Để loại bỏ, thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, luật thuế GTGT cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành “đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT”…

    Để tính toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 luật thuế GTGT, tức là bỏ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán.

    Để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp được hoàn thuế GTGT phải quy định cụ thể, chính xác trong luật thuế GTGT  vì vậy, có kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của luật thuế GTGT về hoàn thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:

    1. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
    3. Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn đầu ra theo ngưỡng do pháp luật quy định, nếu dưới ngưỡng đó tiếp tục chuyển kỳ sau để khấu trừ. Ngưỡng được hoàn thuế do chính phủ quy định.

    Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được hoàn theo quý hoặc theo năm”

    Quy định “thời hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

    Qua thực tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT ở nước ta về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có đầy đủ các bộ phận (các nhóm quy phạm pháp luật) hợp thành của pháp luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp luật này được biểu hiện dưới các hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công văn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các quy định của thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng.

    Trong quá trình xây dựng, triển khai luật thuế GTGT ở nước ta thể hiện sự nhận thức đúng đắn, tính phức tạp của thuế GTGT, nhất là kỹ thuật tính và thu thuế GTGT, nên bước đầu về cơ bản đã xác định được một cơ chế điều chỉnh thích hợp trong bối cảnh những điêù kiện để phát huy hiệu quả của sắc thuế này là chưa thực sự đầy đủ. Song quá trình xây dựng cũng như triển khai thực hiện đã có nhiều vấn đề vướng mắc phát sinh, vì lẽ đó mà các văn bản pháp luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung liên tục để đáp ứng những yêu cầu của đời sống xã hội luôn vận động phát triển cũng như yêu cầu của công tác quản lý thuê GTGT.

    Cũng qua quá trình triển khai thuế GTGT nhiều vấn đề nảy sinh khiến các nhà làm luật cũng như các cơ quan chức năng phải đau đầu. Sự thiếu sót trong luật cũng như trong quản lý khiến những kẻ cơ hội bắt chấp sự trừng phạt của pháp luật để tìm cách “lách luật” vi phạm pháp luật. Tình trạng gian lận thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua không còn là sự mới mẻ, nó ngày càng phát triển mạnh hình thức đa dạng hơn, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Chính những thực tế đó đòi hỏi phải có một bộ luật hoàn chỉnh hơn, một bộ máy quản lý làm việc có hiệu quả hơn để ngăn chặn tình trạng gian lận thuế GTGT trong xã hội hiện nay. Đây cũng là yêu cầu đòi hỏi của xã hội hiện nay để xây dựng một xã hội văn minh tiên tiến những vẫn giữ bản sắc dân tộc.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Giáo trình kinh tế thương mại đại học kinh tế quốc dân.
    2. Giáo trình quản trị doanh nghiệp thương mại đại học kinh tế quốc dân.
    3. Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2003 – 2004.
    4. Quyết định số 468/TC-QĐ/TCT của Bộ trưởng Bộ tài chính.
    5. Tài liệu hội nghị sơ kết một năm thực hiện các luật thuế mới ngày 24/04/2000.
    6. Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện các chính sách thuế mới ba năm từ năm 1999 đến năm 2001.
    7. Nghị định số 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.
    8. Luật thuế GTGT, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1997.
    9. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 247
    10. Báo nhân dân ngày 23/05/2002.
    11. Báo an ninh thế giới số 58 ngày 15/08/2002.
    12. Tạp chí tài chính số 2 năm 2002.
    13. Thông tư 122/2000/TT-BTC
    14. Tạp chí thuế nhà nước số 12.
    15. Giáo trình quản lý hành chính nhà nước nhà xuất bản lao động.
    16. Website của Tổng cục thuế và Bộ tài chính.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.Vấn đề áp dụng thuế GTGT ở các DNTM nói riêng và của nước ta còn nhiều bất cập.

    Một là, đối tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong  qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.

    Phạm vi đối tượng nộ thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong quản lý hành chính thuế.

    Hai là, căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

    Ba là việc quy định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.

    Bốn là quy định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực hiện.

    Năm là xác định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ, nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.

    Sáu là cơ chế thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện.

    Bảy là hoá đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.

    Những bất cập trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giả pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

    1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT
    2. Tính tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế thực hiện

    Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là một tất yếu.

    Bản thân nền kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển  cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.  Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là năng cao  vai trò của các thuế gián thu trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để nâng cao vai trò bù đắp sự suy giảm nguồn thu ngân sách của nhà nước.

    Trong xu hướng toàn cấu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi hỏi điều chỉnh phát luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.

    Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế – xã hội này đã đặt ra nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ Internet đứng ở góc độ quản lý có cả những thuận lợi và khó khăn. Trước hết, sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.

    Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Toàn cầu hoá với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hội và đặc biệt giao dịch thông qua các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn mua bán hoặc chuyển nhượng v..v…Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào ? Quản lý ra sao ? Sự ra đời và phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.

    Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho thấy,  sau hơn 4 năm triển khai áp dụng luật thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu,  tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho ra đời một luật thuế GTGT hiện đại.

    1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

    Trước hết, pháp luật thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không ? và chỉ khi phản ánh đúng bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT.

    Mở rộng và nâng cao quy mô của luật thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công…..

    Hoàn thiện luật thuế GTGT phải gắn liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau của cả hệ thống pháp luật thuế.

    Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp luật thuế GTGT.

    Để áp dụng thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

    Thứ nhất, cải cách thể chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.

    Thứ hai, cải cách bộ máy hành chính thuế gồm:

    • Cải cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
    • Cải cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ từng cơ quan thuế.
    • Cải tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.

    Thứ ba, xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực được.

    Thứ tư, cải cách chế độ tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công việc hành thu.

     

    1.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT

    1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý thuế

    Trên thế giới do đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi quốc gia có một hình thức tổ chức bộ máy quản lý thuế khác nhau. Tuy vậy, khi xây dựng bộ máy quản lý thuế các nhà nước phải giải quyết các vấn để cơ bản sau:

    • Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với chính quyền địa phương.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với hải quan.
    • Mô hình tổ chức bộ máy thuế ở các địa phương.

    Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính: trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế vấn đề đặt ra trước tiên là vị trí và quan hệ giữa cơ quan thuế với Bộ tài chính, cơ quan thuế là bộ phận trực thuộc Bộ tài chính hay là một tổ chức độc lập với Bộ tài chính. Trên thế giới hiện có hai mô hình điều hành ngân sách nhà nước. Mô hình thứ nhất là Bộ trưởng bộ tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về thu chi ngân sách, trong mô hình này cơ quan thuế là một tổ chức trực thuộc Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế báo cáo công tác trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ tài chính. Mô hình thứ hai là mô hình hội đồng các bộ trưởng độc lập: Bộ trưởng Bộ thu ngân sách và Bộ trưởng Bộ chi ngân sách cơ quan thuế được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ.

    Mối quan hệ của cơ quan thuế với chính quyền địa phương: là một vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy ngành thuế bởi vì trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thi hành pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương các cấp. Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật cua dân cư thấp.

    Mối quan hệ của ngành thuế với ngành hải quan: trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập chung, ngành thuế và ngành hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập. Mô hình ngoại thương chỉ giới hạn trong các nước XHCN. Hải quan giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch xuất khẩu, trao đổi hàng hoá. Hiện nay tại các nước chuyển đổi, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chính sách quản lý ngoại thương bằng hạn ngạch được thay bằng chính sách điều tiết xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu. Với chính sách điều tiết xuất nhập khẩu, ngành hải quan lúc này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu.

    Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương: Tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế. Do đó, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế ở các địa phương tối ưu là vấn đề có tính chiến lược ở các quốc gia.

    1.2.2 Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

    Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế  đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số doanh nghiệp đã kiểm tra. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.  Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng nhiều cách:

    * Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt: thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế.

    * Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định  ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.

    * Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra, kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

    * Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra, thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.

    * Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu khống.

    1.2.3 Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học

    Trong công cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:

    Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo dõi nợ đọng, quyết toán thuế.

    Thứ hai, ưu tiên cung cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục thuế, chi cục thuế.

    Thứ ba, cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang làm việc ở các phòng ban khác.

    Thứ tư, thực hiện nối mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.

    1.2.4 Tăng cường công tác quản lý chứng từ, hoá đơn giá trịn gia tăng.

    Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT, như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn, những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý.  Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện pháp:

    Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại hơn.

    Thứ hai, nhà nước cần công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn khi mua hàng.

    1.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế

    Tư vấn thuế là hoạt động trong đó các chuyên gia về pháp luật thuế cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp về lĩnh vực thuế cho đối tượng nộp thuế có nhu cầu để họ thực hiện nghĩa vụ phù hợp vơí nhà nước.

    Tư vấn thuế gồm 2 dạng:

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ công, với danh nghĩa này tư vấn thuế là một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế.

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ tư, đây là một hoạt động dịch vụ có thu, các đối tượng nộp thuế có nhu cầu phải trả dịch vụ phí cho mỗi hoạt động tư vấn.

    Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tư vấn thuế có một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với xã hội.

    Đối với doanh nghiệp, thông qua tư vấn thuế chu doanh nghiệp có được các thông tin cần thiết về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có thể hạch toán đầy đủ các chi phí và tính toán một cách chính xác tiền lãi của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Tư vấn thuế còn có vai trò đào tạo, bổ sung, cập nhật những kiến thức thường xuyên về thuế cho chủ doanh nghiệp sau mỗi sự thay đổi của luật thuế hoặc khi chủ doanh nghiệp thay đổi mặt hàng, phương thức sản xuất kinh doanh.

    Xét trên phạm vi toàn xã hội, tư vấn thuế là kênh thông tin hai chiều giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Vì vậy, nhà tư vấn thuế để giúp cho việc giải thích, tuyên truyền các chính sách,  pháp luật thuể để nâng cao nhận thức của mỗi người đối với nghĩa vụ thuế, qua đó cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp tiền thuế và các khoản thu khác theo luật định, tạo điều kiện duy trì kỷ cương xã hội. Vì vậy, tư vấn thuế là một công việc cần thiết, khách quan, một công việc tiến hành thường xuyên của cơ quan thuế.

    II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT

    1.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT

    Về đối tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ, sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong luật thuế GTGT. Ví dụ như có thể dùng thuật ngữ “nghiệp vụ chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT  bằng cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá, dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu thuế GTGT.

    Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

     

    1.2 Bổ sung một số quy định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không xác định cụ thể phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT nên trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã xảy ra những tranh chấp giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế do không đồng nhất quan điểm với nhau trong nhận thức. Vì vậy, để xác định phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối, chuẩn xác cần quy định rõ thế nào là ở Việt Nam. ở Việt Nam tức là nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam: vùng đất, vùng trời, vùng nước và vùng trong lòng đất. Trong phạm vi đó nhà nước Việt Nam  có toàn quyền quyết định tối cao. Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc tất cả các hoạt động chuyển giao hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu thuế GTGT ở Việt Nam.

     

    1.3 Quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT trong pháp luật thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT nên trên thực tế đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hành thu thuế và không ít tranh chấp xảy ra giữa cán bộ thuế và nộp thuế khi giải thích về vấn đề này. Để giải quyết triệt để vấn đề này cũng như đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT thì trong pháp luật thuế GTGT cần phải xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Khi xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

    + Nguyên tắc công bằng

    + Nguyên tắc hiệu quả và thuận tiện

    + Nguyên tắc chắc chắn và chính xác

    + Nguyên tắc không được võ đoán.

    1.4 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế

    Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà nước.

    Về thuế suất, lý luận về thuế GTGT cũng như thực tiễn áp dụng thuế GTGT từ thập kỷ 80 người ta nhận thấy rằng nếu thuế GTGT càng ít thuế suất càng dễ áp dụng. áp dụng thuế GTGT với một thuế suất thống nhất khặc phục được nguy cơ gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất 5% và 10% (không tính mức thuế suất 0%). Trong tương lai sẽ áp dụng hệ thống mức thuế suất 7% và 10%.

    Về phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Bên cạnh phương pháp này pháp luật thuế GTGT cũng cần quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch toán và khấu trừ.

    1.5 Cần chuẩn hóa và sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

    Về khấu trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:

    Thứ nhất, để đảm bảo những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:

    + Chỉ khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT

    + Có thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống

    + Mua hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp pháp thì không được khấu trừ.

              Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu trừ toàn bộ hay một phần.

    Thứ ba, quy định cụ thể các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.

    Thứ tư, để đảm bảo quyền đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.

    Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong luật thuế GTGT. Mặt khác, nên thu hẹp diện hoàn thuế, chỉ áp dụng hoàn thuế cho các đối tượng:

    + Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

    + Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định

    Các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT. Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế.

     

    1.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT

    Về đăng ký thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký thuế để khắc phục những vướng mắc.

    Một là, lập  quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như sự phức tạp trong quản lý.

    Hai là, mã tình trạng nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động.

    Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm luật thuế.

    Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh nghiệp…

    III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong luật thuế GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như sau:

    Không quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

    Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được miễn trừ thuế GTGT”

    Đưa khoản 3, khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.

    Để loại bỏ, thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, luật thuế GTGT cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành “đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT”…

    Để tính toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 luật thuế GTGT, tức là bỏ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán.

    Để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp được hoàn thuế GTGT phải quy định cụ thể, chính xác trong luật thuế GTGT  vì vậy, có kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của luật thuế GTGT về hoàn thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:

    1. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
    3. Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn đầu ra theo ngưỡng do pháp luật quy định, nếu dưới ngưỡng đó tiếp tục chuyển kỳ sau để khấu trừ. Ngưỡng được hoàn thuế do chính phủ quy định.

    Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được hoàn theo quý hoặc theo năm”

    Quy định “thời hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.

    Lời mở đầu

    Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.

    Thực trạng tình hình thực hiện thuế ở nước ta sau hơn 4 năm áp dụng cho thấy các vụ gian lận trong thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động cho toàn xã hội. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và từ đầu năm 2002 đến khoảng tháng 6 năm 2002 đã phát hiện 63 vụ, nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên 500 tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.

    Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu các mặt trái của thuế GTGT và đưa ra các biện pháp để giảm tối đa những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những điều đó em đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa”.

    Cụ thể bài viết gồm những nội dung chủ yếu sau:

    Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong kinh doanh

    Chương II: Thực trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

    Chương III: Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

                  BIỂU ĐỒ DỰ TOÁN THU THUẾ GTGT NĂM 2002

     

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

      XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    DỰ TOÁN 2003 9154 3592 4228 2264 19238
    ƯỚC QI/2003 2205 870 1175 619 4869

    Nguồn thu từ thuế của Nhà nước tập trung chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh. Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách nhà nước luôn chiếm trên 45% (năm 2003 là 47%, trong tổng số thu từ tất cả các ngành). Đứng sau xí nghiệp quốc doanh là NQD 22%, XNĐT 19và XS 12%. Nhìn chung tỷ lệ đóng góp này tương đối ổn định.

    BIỂU ĐỒ VỀ SỐ VỤ LỪA ĐẢO HOÀN THUẾ QUA CÁC NĂM

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy tình trạng gian lận về hoàn thuế tăng lên với tốc độ khá nhanh từ 4 vụ năm 1999 đến 17 vụ năm 2000, 64 vụ năm 2001 và 46 vụ với 6 tháng đầu năm 2002 đã được phát hiện. Với con số này chứng tỏ sự thách thức của những kẻ phạm tội đối với nhà quản lý. Chúng đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để qua mặt cán bộ quản lý, sự tăng lên nhanh chóng của số vụ gian lận cũng chứng tỏ chúng đã khá tinh vi trong việc sử dụng các mánh khoé. Thực trạng trên khiến các nhà làm luật và các nhà quản lý không thể khoanh tay đứng nhìn.

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

    Chỉ tiêu XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    Thu VAT 6895 2254 3173 1630 13.952

    TÌNH HÌNH THU THUẾ VAT CỦA NGÀNH HẢI QUAN GIAI ĐOẠN TỪ  NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2003

    ĐVT: TỶ ĐỒNG

    TT Năm Tổng thu (KH) Tổng thu VAT VAT/Tổng thu Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch
    1 1999 21000 23669 8162 0.344839 113%
    2 2000 22960 24417 10718 0.438956 106%
    3 2001 25200 29519 11725 0.397202 117%
    4 2002 33200 37221 15010 0.403267 112%
    5 2003 38500 39223 17522 0.446728 102%

    Từ năm 1999 đến năm 2003 số thuế VAT đóng góp vào số thu của ngành Hải quan tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên. Năm 1999 là 8.162 tỷ đồng, năm 2000 là 1.0.718 tỷ đồng, năm 2001 là 11.725 tỷ đồng, năm 2002 là 15.010 tỷ đồng, năm 2003 là 15.722 tỷ đồng. Trong đó năm 2002 và năm 2003 là có số thu lớn nhất. Tỷ lệ thu thuế VAT ngày càng có xu hướng tăng nhanh từ năm 1999 đến năm 2003 đã tăng lên hơn 200%. Con số thu được thực tế luôn vượt mức kế hoạch đề ra. Năm 1999 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 113%, năm 2000 là 106%, năm 2001 là 117%, năm 2002 là 112% và năm 2003 là 102%. Tốc độ tăng ngày càng lớn và tỷ trọng đóng góp vào tổng thu của ngành Hải quan có xu hướng tăng nhanh chứng tỏ thuế VAT có vai trò lớn trong nguồn thu của ngành Hải quan nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung.

    Thu ngân sách nhà nước và thu thuế GTGT từ năm 2001 đến năm 2003

    Năm Thu ngân sách nhà nước Thu thuế VAT % thu VAT
    2001 103.888 13952 13,43%
    2002 105.200 15.465 14,70%
    2003 123.700 19.238 15,56%

    Bảng số liệu cho thấy chỉ qua 3 năm: 2001, 2002 và 2003 tỷ lệ đóng góp thuế VAT trong nguồn thu của ngân sách nhà nước luôn tăng từ 13,43% năm 2001 lên 14,7% năm 2002 và 15,56% năm 2003. Điều này cho thấy việc áp dụng luật thuế VAT vào nước ta là hợp lý, sự tăng lên trong tỷ lệ đóng góp này cho thấy sự phát triển nhanh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

    CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU TỪ NĂM 1999 ĐẾN 2003

     

    Mặt hàng Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Dầu thô (nghìn tấn) 14.881,9 15.423,5 16.731,6 16.879,0 17.169,0
    Dệt may (triệu đô) 1.746,2 1.891,9 1.975,4 2.752,0 3.630,0
    Giày, dép (triệu đô) 1.387,1 1.471,7 1.578,4 1.867,0 2.225,0
    Thuỷ sản (triệu đô) 973,6 1.478,5 1.816,4 2.023,0 2.217,0
    Gạo (nghìn tấn) 4.508,3 3.476,7 3.721,0 3.241,0 3.820,0
    Cà phê (nghìn tấn) 482,0 733,9 931,0 719,0 700,0
    Thủ công mỹ nghệ (triệu đô) 200,4 273,7 299,7 331,0 367,0
    Hạt tiêu (nghìn tấn) 34,8 37,0 57,0 77,0 74,4
    Hạt điều (nghìn tấn) 18,4 34,2 43,6 62,0 83,6
    Cao su (nghìn tấn) 263,0 273,4 308,0 449,0 438,0
    Than đá (nghìn tấn) 3.260,0 3.251,2 4.292,0 6.049,0 7.049,0
    Chè (nghìn tấn) 36,0 55,6 67,9 75,0 60,0
    Lạc (nghìn tấn) 56,0 76,1 78,2 105,0 83,3

     

    3.1 Phạm vi áp dụng của thuế GTGT

              * Đối tượng chịu thuế GTGT

    Theo quy định của luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay, đối tượng chịu thuế GTGT là “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam”. Sự quy định nay chưa phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng. Bởi:

    Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT thuộc loại thuế tiêu dùng mà sự tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện qua mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nếu hàng hoá, dịch vụ nằm trong kho hoặc chưa được đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc mua bán, trao đổi thì chưa bị đánh thuế GTGT.

    Thứ hai, theo lý luận điều chỉnh pháp luật thuế GTGT, khẳng định những hoạt động chịu thuế được xác định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT, nên sự kiện pháp lý không thể là bản thân hàng hoá, dịch vụ.

    Thứ ba, cơ sở để tính thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác định khi thông qua quan hệ mua bán, trao đổi, nếu hàng hoá cứ nằm im trong kho thì không thể biết được giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ cụ thể đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.

    Thứ tư, việc quy định trực tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo như kỳ nộp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoãn nộp thuế sẽ gặp nhiều lúng túng trong nhận thức và sinh ra nhiều cách xử lý khác nhau, vì vậy, không đảm bảo tính công bằng trong việc xác định mức độ và phạm vi của nghĩa vụ thuế.

    Việc luật thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế GTGT như hiện nay cũng chưa chính xác về mặt khoa học. Bởi vì khi nói đến đối tượng không thuộc dạng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT, bởi vì nó không đáp ứng đầy đủ những thuộc tính của hình thức cung ứng hàng hoá, dịchvụ chịu thuế GTGT nên về nguyên tắc không được quy định trong luật thuế. Ví dụ như hành vi bán đồ trang sức của một cá nhân cho người khác mà người này không nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 luật thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT nhưng được miễn trừ thuế. Hay nói cách khác chúng đều là những hoạt động sản sinh ra từ thuế GTGT luôn thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT nhưng được miễn trừ thuế GTGT bằng một điều luật đặc biệt vì những lý do khác nhau. Hệ quả của sự miễn thuế này là khi các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ được khấu trừ không phải tính và thu thuế và cũng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào xuất phát từ chủ trương nhằm thực hiện ưu đãi về thuế. Luật thuế GTGT đã xác định diện miễn thuế GTGT rất rộng, có thể chia thành một số nhóm lớp sau:

    – Một số hoạt động, sản phẩm của một số ngành, lĩnh vực còn đang khó khăn, cần khuyến khích để tạo điều kiện phát triển như sản xuất nông, lâm, thuỷ sản dạng thô chưa qua chế biến, sản phẩm muối, tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

    – Một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ đời sống xã hội cộng đồng như dịch vụ khám chữa bệnh, dạy học, dạy nghề, dịch vụ công cộng vệ sinh, thoát nước.

    – Một số hàng hoá, dịch vụ liên quan đến công nghệ, vốn đầu tư, như thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, nhập khẩu làm tài sản cố định, dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, chuyển giao công nghệ..

    – Một số hàng hoá, dịch vụ sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh hoặc vì mục đích chính sách xã hội như vũ khí, khí tài chuyên dụng cho an ninh quốc phòng, duy tu sửa chữa các công trình văn hoá nghệ thuật…

    – Một số hàng hoá, dịch vụ cần ưu đãi có mức độ như tài nguyên xuất khẩu dạng chưa chế biến, hàng hoá, dịch vụ cung ứng cho vận tải quốc tế..

    – Một số hàng hoá, dịch vụ đưa vào diện không chịu thuế thể hiện tính kỹ thuật hệ thống thu như sản phẩm thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hàng chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập..

    Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng nhiều trường hợp lại có kết quả ngược lại với ý đồ của nhà hoạch định chính sách cũng như ý đồ của các nhà làm luật. Sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ đặc biệt trong trường hợp chủ thể sử dụng nguyên liệu thuộc diện miễn trừ thuế GTGT. Như ngành in báo, tạp chí, sách khoa học và những ấn phẩm thuộc dạng miễn trừ thuế. Tại khu vực khi bán hàng sẽ không phát sinh thuế GTGT, các doanh nghiệp sẽ không phải nộp thuế GTGT cho kho bạc nhà nước, nhưng khi mua nguyên vật liệu như giấy, điện hoặc máy móc thiết bị…lại phải chịu 10% thuế GTGT đầu vào. Do không có thuế GTGT đầu ra để khấu trừ nên toàn bộ số thuế GTGT đã trả khi mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị sẽ tính cả vào giá thành sản phẩm, làm đội giá bán gây khó khăn cho bán hàng.

    Hoặc ở khoản 3, điều 4 quy định “dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế GTGT ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”, tưởng rằng quy định này làm giảm gánh nặng thuế cho các doanh nghiệp sản xuất nhứng mặt hàng chiụ thuế tiêu thụ đặc biệt đã rơi vào tình trạng “khốn đốn, một cổ ba tròng”, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lắp ráp ô tô, máy lạnh có đầu vào chủ yếu là linh kiện nhập khẩu, vừa chịu thuế nhập khẩu vừa chịu thuế GTGT và khi bán ra thị trường sản phẩm này phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng được miễn thuế GTGT tức là không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đã thanh toán. Rõ ràng ở  đây thiếu sự công bằng, bình đẳng trong việc xác định phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT.

              * Đối tượng nộp thuế GTGT

    Đối tượng chịu thuế chỉ rõ sắc thuế điều chỉnh hoạt động kinh tế nào thì đối tượng nộp thuế chỉ rõ sắc thuế đó điều chỉnh các hoạt động kinh tế của ấy.

    Điều 3 luật thuế GTGT quy định “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế GTGT.

    Theo quy định này thì đối tượng nộp thuế rất rộng, bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT của Việt Nam không phân biệt hình thức sở hữu, ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cá nhân có nhập khẩu háng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, không phân biệt tổ chức kinh doanh nước ngoài hay trong nước. Việc quy định này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết song thực tiễn của vấn đề này cũng cần bàn tời bởi số lượng hộ kinh doanh cá thể ở nước ta chiếm một tỷ trọng lớn nhưng phần lớn hoạt động kinh doanh lại không có hiệu quả trong khi đó luật thuế GTGT lại không xác định ngưỡng chịu thuế GTGT như các nước khác nên chi phí quản lý hành chính thuế rất lớn so với số thuế GTGT thu được từ nhuững đối tượng này. Mặt khác cũng cần phải xem xét khái niệm “người nhập khẩu” và “cơ sở kinh doanh” bởi khái niệm cơ sở kinh doanh bao hàm cả người nhập khẩu. Nếu các cơ sở kinh doanh thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá thì được gọi là người nhập khẩu.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-r%E1%BB%A7i-ro-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-TMCP-Nam-Vi%E1%BB%87t-NAVIBANK.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    LỜI MỞ ĐẦU

    ˜ & ™

    1. Tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu

    Trong các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thì tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất, mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Đồng thời tín dụng cũng là hoạt động kinh doanh phức tạp nhất so với các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại (NHTM), đem lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng. Vì vậy,rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có tác động rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng (TCTD), cao hơn nó tác động ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.

    Bên cạnh đó, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung. Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng. Vì thế, làm thế nào để quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả đang là một vấn đề mà các ngân hàng thương mại rất quan tâm, nhất là trong tình hình kinh tế tài chính ngân hàng toàn cầu đầy biến động như hiện nay.

    Trong những tháng đầu năm 2008, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nói chung và Navibank nói riêng có dấu hiệu tăng cao vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Vậy đâu là nguyên nhân? Làm thế nào để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Nam Việt? Đây là một vấn đề đang được ban lãnh đạo Navibank đặc biệt quan tâm.

    Trong bối cảnh trên, là một sinh viên đang thực tập tại ngân hàng TMCP Nam Việt, em đã chọn đề tài  Nâng cao hiu ququn trri ro tín dng ti Ngân hàng TMCP Nam Việtlàm đề tài nghiên cứu.

    1. Mục đích nghiên cứu

    Tìm hiểu về rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng. Phân tích tình hình thực tiễn quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt. Từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt.

    1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng. Trong đó trọng tâm là nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng.

    Phạm vi nghiên cứu: khảo sát hoạt động của ngân hàng Nam Việt trong ba năm 2007, 2008, 2009. Từ đó, đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt.

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp.

    Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của ngân hàng TMCP Nam Việt, thông tin trên báo chí và internet

    1. Kết cấu của khóa luận

    Ngoài phần mở đầu với kết luận, Khóa luận chia làm 3 chương:

    Chương 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng

    Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cáo chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt

     

    1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:

    1.1.1. Khái niệm, bản chất của tín dụng ngân hàng:

    Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh là Credo (tin tưởng – tín nhiệm). Nhưng trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống, tuỳ theo góc độ nhìn nhận của mỗi người mà tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.

    • Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ, tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay từ người cho vay sang người đi vay.
    • Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả.
    • Tín dụng ở nghĩa hẹp được hiểu như một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.

    Tuy nhiên, xét ở góc độ tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:

    Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

    Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:

    • Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản).
    • Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải dựa trên cơ sở lòng tin và phải tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
    • Bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay sau khi hết thời hạn sử dụng thỏa thuận – Thông thường giá trị được hoàn trả lớn hơn giá trị lúc cho vay – phần lớn hơn này là lợi tức.

    Ngân hàng tham gia quan hệ tín dụng với 2 tư cách: Vừa là người đi vay vừa là người cho vay.

    1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng:

    Tùy mục tiêu nghiên cứu, mục tiêu của quản trị mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành các loại khác nhau.

    1.1.2.1. Xét theo mục đích:

    Tín dụng ngân hàng gồm:

    • Cho vay kinh doanh bất động sản: Gồm các khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
    • Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
    • Cho vay nông nghiệp: Loại vay nhằm hỗ trợ nông dân trong sản xuất như cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu.
    • Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các công ty tài chính khác.
    • Cho vay cá nhân: Là loại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
    • Cho thuê: Cho thuê các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị.

    1.1.2.2. Xét theo thời hạn:

    • Cho vay ngắn hạn: Là loại vay có thời hạn đến 12 tháng.
    • Cho vay trung hạn: Là loại vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm
    • Cho vay dài hạn: Là loại vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm tùy thuộc vào dự án và giấy phép đầu tư. Một số trường hợp cá biệt có thể lên tới 40 năm.

    1.1.2.3. Xét theo tài sản đảm bảo (TSĐB):

    • Cho vay không đảm bảo: là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cấp tín dụng chủ yếu dựa vào mức độ tín nhiệm và uy tín của khách hàng; năng lực tài chính của khách hàng, phương án vay hiệu quả và khả thi.
    • Cho vay có đảm bảo: Là loại vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố bằng tài sản của khách hàng; hoặc phải có sự bảo lãnh cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba; hay cho vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

    1.1.2.4. Căn cứ vào phương thức hoàn trả:

    • Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn cụ thể trong hợp đồng.
    • Cho vay không thời hạn: Là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu người đi vay trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

    1.1.2.5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:

    • Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
    • Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.

    1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế:

    1.1.3.1. Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế:

    Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồn tại trên thị trường. Do đó, hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và có thể giúp cho người thừa vốn có thể bảo quản an toàn đồng thời kinh doanh kiếm lời.

    Trong nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.

    1.1.3.2. Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất:

    Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội  để thực hiện cho vay các đơn vị kinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đầu tư tập trung là nhu cầu tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, hạn chế sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốn.

    1.1.3.3. Tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ:

    Tín dụng tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng luôn chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của chính phủ, vì vậy đã góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng quay vốn.

    1.1.3.4. Tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế:

    Với sự tài trợ tín dụng của các ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện một chế độ hạch toán kinh tế một cách minh bạch và hiệu quả hơn. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp phải tôn trọng các hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúng hạn, cũng như việc chấp hành các quy định ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ khác ghi trong hợp đồng như là vấn đề tài chính.

    Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

    1.1.3.5. Tín dụng tạo điều kiền hội nhập kinh tế quốc tế:

    Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không chỉ hoạt động trong phạm vi một quốc gia mà phải mở rộng quan hệ kinh tế ra phạm vi khu vực và thế giới. Tín dụng là công cụ giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới.

    1.1.3.6. Tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát triển và các ngành kinh tế trọng điểm:

    Với công cụ tín dụng, chính phủ sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốn lớn. Ngoài ra, Chính phủ còn tập trung vốn tín dụng vào việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

    1.2. RỦI RO TÍN DỤNG (RRTD) TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM:

    1.2.1. Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng:

    Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.

    Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng.(5) Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

    Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.(3)

    Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. (3)

    Còn theo Henie Van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.(3)

    Các định nghĩa khá đa dạng, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

    • Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm lỗ và/hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán.
    • Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vố Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

    Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn). Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.

    1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng:

    Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây:

     

    Sơ đồ 1.1: Phân loại  rủi ro tín dụng

    Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:

    • Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng
    • Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…
    • Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.

    Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành:

    • Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
    • Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

    1.2.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng:

    Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau:

    • Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
    • Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
    • Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.

    1.2.4. Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng:

    Thông thường để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn (NQH) và kết quả phân loại nợ.

    1.2.4.1. Nquá hn:

    Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn để được gia hạn nợ.

    Dư nợ quá hạn

    Hệ số nợ quá hạn =                                         x 100%

    Tổng dư nợ

    Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các NHTM thường chia nợ quá hạn thành các nhóm sau:

    • Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi
    • Nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày, có khả năng thu hồi
    • Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên (nợ khó đòi)

    1.2.4.2. Phân loi nợ:

    Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm như sau:

    • Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm
      • Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
      • Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh gái là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 1 theo quy định
    • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý ) bao gồm
      • Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày;
      • Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn lần đầu
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định
    • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
      • Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
      • Các khoản nợ gia hạn tời hạn trả nợ lần đầu;
      • Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng thanh toán lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định.
    • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
      • Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
      • Các khoản nợ cơ cấu thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
      • Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định.
    • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
      • Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
      • Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
      • Các khoản nợ cơ cấu lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ hai
      • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên
      • Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm năm theo quy định.

    Bên cạnh đó, quy định này cũng nêu rõ, thời gian thử thách để thăng hạng nợ (ví dụ từ nhóm 2 lên nhóm 1…) là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài hạn và 3 tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ gốc và lãi của khoản vay bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Và toàn bộ dư nợ của khách hàng tại các TCTD được phân vào cùng một nhóm nợ. Ví dụ: Khách hàng có hai khoản nợ trở lên tại các TCTD mà có bất cứ một khoản nợ nào được phân vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ còn lại thì toàn bộ các khoản nợ còn lại của khách hàng phải được TCTD phân vào nhóm nợ có độ rủi ro cao nhất đó.

    Nợ xấu (hay các tên gọi khác như nợ có vấn đề, nợ khó đòi…) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 và có các đặc trưng sau:

    • Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn.
    • Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi.
    • Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
    • Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày.

    Một tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong giới hạn cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá tỷ lệ 5% thì tổ chức đó cần phải xem xét, rà soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chỉ tiết và thận trọng hơn.

    1.2.5. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:

    Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro. Vì vậy, nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại. Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây:

    1.2.5.1. Nguyên nhân khách quan:

    • Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…
    • Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn.
    • Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường.
    • Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.

    1.2.5.2. Nguyên nhân chủ quan:

    1.2.5.2.1. Về phía khách hàng (KH):

    • Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý.
    • Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả.
    • Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được.
    • Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản.
    • Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo.
    • Do mất đoàn kết trong nội bộ Hội đồng quản trị, ban điều hành.

    1.2.5.2.2. Về phía ngân hàng (NH):

    • Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó.
    • Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý.
    • Do cạnh tranh của các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các ngân hàng khác.
    • Cán bộ tín dụng (CBTD) không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay. CBTD yếu kém về trình độ nghiệp vụ; cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh.
    • Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ.

    Tóm lại, các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng. Những nguyên nhân chủ quan, do các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và ngân hàng có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp.

    1.2.6. Hậu quả của rủi ro rín dụng:

    Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu.

    • Đối với ngân hàng bị rủi ro:

    Do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí) làm cho nguồn vốn ngân hàng bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí nếu trầm trọng hơn thì có thể bị phá sản.

    • Đối với hệ thống ngân hàng:

    Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế. Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

    • Đối với nền kinh tế:

    Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…

    • Trong quan hệ kinh tế đối ngoại:

    Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó.

    Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.

    1.3. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG:

    1.3.1. Những biểu hiện chủ yếu về những khoản cho vay có vấn đề và chính sách cho vay kém hiệu quả:

    Các dấu hiệu nhận biết một khoản cho vay có vấn đề Các dấu hiệu nhận biết chính sách cho vay kém kiệu quả của ngân hàng
    Thanh toán tiền vay không đúng kế hoạch Sự đánh giá không chính xác về rủi ro của khách hàng
    Kỳ hạn của khoản cho vay bị thay đổi liên tục. Cho vay dựa trên các sự kiện xảy ra bất thường có thể xảy ra trong tương lai
    Yêu cầu gia hạn nợ kém hiệu quả (vốn gốc trước mỗi lần gia hạn không giảm đáng kể) Cho vay do khách hàng hứa duy trì một khoản tiền gửi lớn.
    Lãi suất cao bất thường (cố gắng bù đắp rủi ro cao) Không xác định rõ kế hoạch hoàn trả đối với từng khoản cho vay
    Sự tích tụ bất thường của các khoản phải thu và/hoặc hàng tồn kho của khách hàng. Cung cấp tín dụng lớn cho các khách hàng không thuộc khu vực thị trường của ngân hàng
    Tỷ lệ (đòn bẩy) nợ trên vốn cổ phần tăng Hồ sơ tín dụng không đầy đủ
    Thất lạc các tài liệu (đặc biệt là các báo cáo tài chính của ngân hàng). Cấp các khoản tín dụng lớn cho thành viên trong nội bộ ngân hàng (nhân viên, giám đốc hay các cổ đông).
    Tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn. Có khuynh hướng cạnh tranh tăng thái quá (cấp các khoản tín dụng cho khách hàng để họ không tới ngân hàng khác dù khoản cho vay sẽ có vấn đề).
    Trông chờ việc đáng giá lại tài sản sản phẩm tăng vốn chủ sở hữu Cho vay để tài trợ các hoạt động đầu cơ.
    Không có các báo cáo hay dự đoán về dòng tiền Thiếu nhạy cảm đối với môi trường kinh tế có thay đổi
    Việc trông chờ của khách hàng vào các nguồn vốn bất thường để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán (ví dụ: bán các tòa nhà cao ốc hay trang thiết bị).  

     

    1.3.2. Các mô hình phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng:

    Các nhà kinh tế, các nhà phân tích đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình định lượng và mô hình định tính. Các mô hình này không loại trừ lẫn nhau nên các ngân hàng có thể sử dụng  nhiều mô hình để phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng.

    1.3.2.1. Mô hình định tính vri ro tín dng

    Khi có được thông tin về khách hàng vay vốn, CBTD cần phân tích những vấn đề thiết yếu để có thể ra quyết định cho vay hợp lý như sau:

     
       

    Mô hình 1.1: Phân tích tín dụng

    Các yếu tố định tính: CBTD cần phân tích 5 yếu tố sau:

    • Năng lực pháp lý: CBTD phải đánh giá tình trạng pháp lý khách hàng Dựa trên các bộ giấy tờ khác nhau (Quyết định thành lập công ty, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc và kế toán trưởng, giám đốc phải có tư cách như một cá nhân bình thường….)
    • Uy tín: Là thái độ, là phẩm chất của người vay. Thông thường uy tín thể thiện ở ba cấp bậc: Sẵn lòng trả nợ, mong muốn trả nợ, kiên quyết trả nợ. Uy tín là cái bên trong, để đánh giá uy tín của người vay, CBTD cần thông qua các biểu hiện bên ngoài rồi dựa vào quan hệ biện chứng với cái bên trong để kết luận cái bên trong. Cụ thể là lịch sử vay nợ của khách hàng, danh tiếng/dư luận, kết quả phỏng vấn trực tiếp (đây là căn cứ chính xác nhất).
    • Mục đích vay: CBTD cần xem xét mục đích vay của người vay có thỏa mãn hai yếu tố hợp lệ và hợp pháp hay không. Tính hợp lệ là phù hợp với giấy phép kinh doanh. Tính hợp pháp là ngành nghề kinh doanh không bị pháp luật nghiêm cấm.
    • Năng lực tạo lợi nhuận: Người vay phải có kiến thức về kinh tế, phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, phải đáp ứng các chỉ số tạo lợi nhuận (tần số tạo lợi nhuận cao hay thấp, tỉ suất lợi nhuận và vòng quay vốn lớn hơn hoặc bằng trung bình ngành)
    • Môi trường kinh doanh: CBTD cần nắm rõ các thông tin sau: Mức dự báo lạm phát; các biến động kinh tế, chính trị, xã hội; xu hướng tăng trưởng của ngành…

    Các yếu tố định lượng:

    • Nguồn trả nợ của khách hàng: CBTD cần xem xét tính cần thiết, tính hiệu quả, tính khả thi, phương án kỹ thuật, tiến dộ thực hiện của phương án vay. Bên cạnh đó CBTD còn phải đánh giá nguồn trả nợ thông qua năng lực tài chính ngoài phương án của khách hàng.
    • Tài sản đảm bảo: CBTD cần xem xét các tiêu chuẩn về tài sản như: Tài sản phải của người vay, có giá trị, có thị trường trong tương lai, phải có văn thư chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản đó cho ngân hàng trong thời gian vay…

    Ngoài ra, CBTD còn có thể phân tích tín dụng căn cứ theo tiêu chuẩn 6C:

    • Tư cách người vay (Character): CBTD phải chắc chắn rằng người vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.
    • Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự dể ký kết hợp đồng tín dụng.
    • Thu nhập của người vay (Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay, người vay có đủ khả năng trả nợ hay không.
    • Bảo đảm tiền vay (Collateral): Là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
    • Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ.
    • Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng.

    Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD.

    1.3.2.2. Các mô hình lượng hóa ri ro tín dng:

    Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại hơn, đó là lượng hóa rủi ro tín dụng. Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất:

    • Mô hình đim sZ:

    Mô hình này phụ thuộc vào:

    • Chỉ số các yếu tố tài chính của người vay – X;
    • Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau:

    Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0 X5 (1)

    Trong đó:

    X1: Tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”.

    X2: Tỷ số “lợi nhuận tích lũy/tổng tài sản”.

    X3: Tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản”.

    X4: Tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”

    X5: Tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”.

    Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.

    Z < 1,8     : Khách hàng có khả năng rủi ro cao.

    1,8 < Z <3: Không xác định được.

    Z > 3        : Khách hàng không có khả năng vỡ nợ.

    Bất kỳ công ty nào có điểm số Z < 1.81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.

    Ưu đim:

    Kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản.

    Nhược đim:

    Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro. Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay.

    Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến. Tương tự như vậy, bản thân các chỉ số cũng được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục.

    Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay (danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế).

    • Mô hình đim stín dng tiêu dùng:

    Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: Mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản…Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc.

    Mô hình này thường sử dụng 7 – 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 – 10.

    Ưu đim:

    Mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ động trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng.

    Nhược đim:

    Mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống gia đình.

    1.4. ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM:

    Vì mỗi mô hình quản trị rủi ro tín dụng đều có những ưu và nhược điểm, mặt khác các mô hình nay không loại trừ lẫn nhau, nên thông thường các ngân hàng thường kết hợp sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ rủi ro tín dụng. Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, các ngân hàng thường sử dụng mô hình định tính để đánh giá khoản vay từ khâu thẩm định đến việc quản lý, theo dõi, kiểm tra và giám sát các khoản nợ vay.

    • Yếu tố 1: Thẩm định cho vay: Nhìn chung các ngân hàng đều có quy định về quy trình thẩm định khoản vay bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
      • Thẩm định tính pháp lý: Kiểm tra tư cách pháp nhân, năng lực pháp luật của khách hàng vay, hồ sơ vay vốn, kiểm tra mục đích vay vốn của khách hàng có hợp pháp không.
      • Thẩm tra uy tín của khách hàng vay vốn, năng lực quản lý điều hành của khách hàng hay là ban quản lý doanh nghiệp: về phẩm chất đạo đức, thiện chí, uy tín trong giao dịch, năng lực quản lý điều hành, hệ thống kiểm tra – kiểm soát nội bộ…
      • Thẩm tra về khả năng tài chính, năng lực hoạt động: thông qua các chỉ số như khả năng thanh toán, tỷ trọng vốn tự có, vòng quay hàng tồn kho, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ suất lợi nhuận…
      • Thẩm tra về tính hiệu quả của phương án vay vốn: về khả năng thực hiện phương án kinh doanh, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ, về nguồn vốn tài trợ cho phương án, về vốn vay từ ngân hàng có hợp lý không…
      • Thẩm tra về nguồn trả nợ: khách hàng dự kiến dùng những nguồn thu nào để thanh toán nợ gốc và lãi, các nguồn thu này có ổn định không…
      • Thẩm tra về tài sản thế chấp khoản vay: tài sản thế chấp có thuộc sở hữu hợp pháp của người vay không, có dễ chuyển nhượng, dễ bán không, có bị hao mòn vô hình không…
    • Yếu tố 2: Kiểm tra tín dụng: các ngân hàng hầu hết đều có quy trình tín dụng riêng để kiểm tra tín dụng, tuy nhiên những nguyên lý chung nhất đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng là:

    Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định.

    Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, đảm bảo rằng những khía cạnh quan trọng của mỗi khoản tín dụng đều được kiểm tra, bao gồm:

    • Kế hoạch trả nợ của khách hàng nhằm đảm bảo trả nợ đúng hạn.
    • Chất lượng và điều kiện của tài sản đảm bảo.
    • Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, đảm bảo tính hợp pháp để sở hữu các tài sản khi người vay không trả được nợ.
    • Đánh giá điều kiện tài chính và những kế hoạch kinh doanh của người vay, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng.
    • Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của ngân hàng.
    • Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn. Vì chúng có ảnh hưởng rất lớn tình trạng tài chính của ngân hàng.
    • Quản lý thường xuyên, chặt chẽ các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra, giám sát khi phát hiện những dấu hiệu xấu liên quan đến khoản vay.
    • Tăng cường công tác kiểm tra khoản tín dụng khi nền kinh tế có nhiều hướng đi xuống, hoặc những ngành nghề cho vay có biểu hiện nghiêm trọng trong phát triển.

    Tóm lại, để có thể kiểm soát được rủi ro tín dụng, thì chức năng cho vay của ngân hàng phải được thực hiện một cách chặt chẽ nhằm tuân thủ chính sách và thực hành tín dụng của ngân hàng. Ngoài ra, để kiểm soát rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường xây dựng một “chính sách tín dụng” và “quy trình nghiệp vụ cấp tín dụng”.

    • Yếu tố 3: Xử lý tín dụng: Khi một khoản tín dụng trở nên có vấn đề, thì cần đến sự xử lý nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải tìm ra được nguyên nhân của tín dụng có vấn đề và hợp tác cùng khách hàng để tìm ra giải pháp để ngân hàng thu hồi vốn.

    Các chuyên gia đưa ra các giải pháp thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề như sau:

    • Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi nợ.
    • Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời vấn đề thực chất liên quan đến tín dụng.
    • Tách chức năng cho vay và xử lý tín dụng ra riêng biệt nhằm tránh xung đột có thể xảy ra với quan điểm của CBTD trực tiếp cho vay.
    • Dự tính những nguồn có thể dùng để thu hồi nợ có vấn đề.
    • Cần xem trọng chất lượng, năng lực và sự nhất quán trong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động và các tài sản của doanh nghiệp.
    • Phải cân nhắc mọi phương án có thể hoàn thành việc thu hồi nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn tạm thời nếu khách hàng chỉ gặp khó khăn trước mắt. Các khả năng khác là có thể bổ sung tài sản đảm bảo, yêu cầu có bảo lãnh của bên thứ ba…

     

     

     

    Kết luận chương 1

     

    Rủi ro tín dụng trong ngân hàng có tính tất yếu khách quan, không thể tránh khỏi. Vì thế, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế rủi ro tín dụng ở một mức thấp nhất có thể chấp nhận được. Cơ sở lý thuyết trong chương 1 đã khái quát các vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng cũng như đề cập đến các mô hình và biện pháp đảm bảo giảm thiểu rủi ro tín dụng, làm cơ sở cho các chương tiếp theo.

     

     

     

    2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    Tiền thân của ngân hàng TMCP Nam Việt là ngân hàng TMCP nông thôn Kiên Giang thuộc tỉnh Kiên Giang, thành lập năm 1995 với vốn điều lệ là 3 tỷ đồng. Với điểm xuất phát là ngân hàng thương mại nông thôn nên hoạt động chính của ngân hàng tập trung chủ yếu với tín dụng nông nghiệp dành cho các khách hàng là nông gia trên toàn tỉnh Kiên Giang.

    Đến năm 2004, vốn điều lệ chỉ còn 1.5 tỷ, nợ quá hạn ngày càng lớn, ngân hàng có nguy cơ phá sản và phải ở trong tầm kiểm soát đặc biệt.

    Sau đó các doanh nghiệp lớn như tập đoàn dệt may Việt Nam, Công ty cổ phần liên hiệp vận chuyển Gemadept, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo, Công ty cổ phần phát triển đô thị Kinh Bắc … tham gia đầu tư. Đến năm 2005, ngân hàng mới khôi phục và bắt đầu có lãi. Năm 2006, được sự chấp thuận của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, ngân hàng đã chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng TMCP nông thôn thành ngân hàng TMCP đô thị.

    Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt
    Tên giao dịch quốc tế: Nam Viet Commercial Joint Stock Bank
    Tên gọi tắt: NAVIBANK
    Hội sở: 343 Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (08) 38 216 216
    Fax: (08) 39 142 738
    Website: www.navibank.com.vn
    Email: [email protected]

    Được thành lập từ năm 1995, trải qua hơn 14 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường tài chính – tiền tệ thể hiện qua sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn định cả về quy mô tổng tài sản, vốn điều lệ lẫn hiệu quả kinh doanh. Hiện nay vốn điều lệ của Navibank là 2000 tỷ đồng. Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, để đón đầu xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Navibank xác định mũi nhọn chiến lược là nâng cao năng lực kinh doanh của mình thông qua năng lực tài chính, công nghệ thông tin và thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro. Bên cạnh đó, việc tập trung đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào việc nâng cao tính tiện ích cho các sản phẩm dịch vụ tài chính của ngân hàng cũng được quan tâm một cách đặc biệt.

    Sự phát triển ổn định và bền vững của một tổ chức chỉ có thể có được nếu tổ chức đó tạo dựng được uy tín và lòng tin đối với công chúng. Ý thức được điều này, toàn bộ các mảng hoạt động nghiệp vụ của Navibank đều được chuẩn hóa trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế thông qua việc triển khai vận dụng Hệ thống quản trị ngân hàng cốt lõi (core banking) Microbank. Với hệ thống này, Navibank sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ chính xác, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Navibank tự hào là điểm tựa tài chính vững chắc để hỗ trợ quý khách hàng của mình đạt được những thành công ngày càng rực rỡ hơn trong cuộc sống.

    2.1.2. Lĩnh vực kinh doanh:

    Huy động vốn của các tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, dưới mọi hình thức, tiếp nhận nguồn vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, vay vốn của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) và các tổ chức tín dụng khác.

    • Cho vay các tổ chức và cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
    • Cung cấp các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ dưới các hình thức cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ ngân quỹ.
    • Thực hiện các hoạt động kinh doanh như góp vốn, mua cổ phần, liên doanh theo quy định của pháp luật, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng.

    2.1.3. Mục tiêu chiến lược của Navibank:

    Mục tiêu hoạt động của ngân hàng là nhằm mang lại lợi nhuận cho các cổ đông, tạo ra việc làm ổn định cho người lao động, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Navibank định hướng trở thành một trong những ngân hàng thương mại bán lẻ hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng với sản phẩm đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, mạng lưới kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổ chức và quản lý theo chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến.

    2.1.4. Phương thức hoạt động:

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa tài chính đang diễn ra mạnh mẽ, Navibank hướng đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận và phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại – đa năng, tăng cường công tác quản lý rủi ro nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hệ số an toàn tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh. Những năm vừa qua, Navibank đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc cơ cấu lại tổ chức và hoạt động đi đôi với việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Với sức mạnh nội lực được tích tụ và phát triển qua nhiều năm hoạt động cùng tinh thần quyết tâm của tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên, chúng tôi tự tin có thể vượt qua mọi thách thức để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam.

    Navibank chú trọng đẩy mạnh công tác huy động vốn với nhiều hình thức phong phú, chủ yếu huy động vốn trung dài hạn trong dân cư để tạo nguồn cho vay, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trên phạm vi cả nước.

    Navibank hướng đến phát triển bền vững và nhanh chóng mạng lưới hoạt động tại các tỉnh thành lớn trong cả nước, mục tiêu chiếm lĩnh thị phần tại 3 địa bàn trọng điểm như TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng.

    Navibank tập trung phát triển sản phẩm thẻ (ATM và thẻ thanh toán) thông qua việc nghiên cứu gia tăng những tiện ích của thẻ như thanh toán, chuyển khoản và các giao dịch tiện ích khác,…nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

    Navibank sẽ tăng cường tìm kiếm và thu hút các cổ đông lớn chiến lược là các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư lớn, tiềm lực tài chính mạnh, đủ sức nâng vốn điều lệ ngân hàng.

    Navibank luôn quan tâm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, kỳ vọng của mỗi đối tượng khách hàng để đưa ra các giải pháp chăm sóc hữu hiệu, thỏa mãn cao nhất các nhu cầu hợp lý của khách hàng trong khả năng cho phép của mình.

    2.1.5. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Navibank:

    2.1.5.1. Sơ đồ tổ chức:

    Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của NAVIBANK

    2.1.5.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:

    • Phòng quan hệ khách hàng: có chức năng thiết lập, khai thác và phát triển quan hệ toàn diện với nhóm khách hàng tương ứng để cung ứng tất cả các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
    • Phòng quan hệ định chế tài chính và kinh doanh tiền tệ: có chức năng thiết lập, khai thác và phát triển quan hệ toàn diện với các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân hàng trong và ngoài nước.
    • Phòng kế hoạch – tiếp thị:
      • Có chức năng hoạch định kế hoạch kinh doanh và xây dựng các chính sách tiếp thị kinh doanh cho ngân hàng.
      • Lập đội theo dõi, kiểm tra, báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
    • Phòng phân tích tín dụng – đầu tư:
    • Có chức năng phân tích, thẩm định dự án vay vốn, dự án đầu tư phục vụ công tác tín dụng, đầu tư của ngân hàng.
    • Phân tích, thẩm định, đánh giá hiệu quả khả năng sinh lời các dự án đầu tư, phương án kinh doanh.
    • Phòng tài chính – kế toán: có chức năng thực hiện công tác quản lý tài chính và công tác kế toán của ngân hàng.
    • Phòng quản lý rủi ro:
    • Có chức năng quản lý các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
    • Xây dựng cơ chế, chính sách, quy trình; thiết lập hệ thống các giới hạn, hạn mức, định mức, tỷ lệ… để quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
    • Nhận diện, phân tích, định lượng, đánh giá các rủi ro; giám sát việc tuân thủ các giới hạn, hạn mức để đảm bảo các rủi ro.
    • Phòng kiểm soát nội bộ: có chức năng thực hiện công tác kiểm soát nội bộ bao gồm giám sát hoạt động và kiểm tra trực tiếp các hoạt động của ngân hàng.
    • Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân: có chức năng xử lý các nghiệp vụ ngân hàng phát sinh trong quá trình cung cấp các dịch vụ cho ngân hàng dành cho nhóm khách hàng.
    • Phòng dịch vụ khách hàng tổ chức: có chức năng xử lý các nghiệp vụ ngân hàng phát sinh trong quá trình cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho 2 nhóm khách hàng là doanh nghiệp và định chế tài chính.

    2.1.6. Các sản phẩm và dịch vụ tín dụng cung cấp chính:

    2.1.6.1. Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình:

    • Cho vay mua xe ô tô
    • Cho vay mua bất động sản
    • Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà
    • Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh
    • Cho vay mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư nhà xưởng
    • Cho vay trung hạn bổ sung vốn sản xuất kinh doanh
    • Cho vay tiêu dùng
    • Cho vay du học
    • Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi
    • Cho vay mua xe gắn máy trả góp

    2.1.6.2. Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp:

    • Cho vay bổ sung vốn lưu động
    • Tài trợ nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu
    • Tài trợ sản xuất, gia công hàng xuất khẩu
    • Cho vay đầu tư tài sản cố định
    • Cho vay thực hiện dự án nhà ở, đất ở
    • Gói sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp kinh doanh xe ô tô
    • Cho vay đầu tư xe ô tô đối với các doanh nghiệp vận tải

    2.1.7. Tác động của suy thoái kinh tế đối với Navibank:

    Năm 2008 kết thúc với nhiều biến động phức tạp, khó lường và được đánh giá là một năm đặc biệt khó khăn đối với kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. Xuất phát từ những bất ổn của thị trường nhà ở và hoạt động cho vay dưới chuẩn, hàng loạt các ngân hàng và các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản. Khủng hoảng tài chính bắt đầu tại Hoa Kỳ, lan rộng sang khu vực Châu Âu rồi ảnh hưởng đến toàn thế giới.

    Việt Nam tuy chưa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhưng thị trường trong nước vẫn bị sức ép khá lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính thể hiện qua việc sụt giảm nghiêm trọng kim ngạch xuất nhập khẩu, việc giải ngân dòng vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn, cán cân thanh toán mất cân đối nghiêm trọng, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, thị trường bất động sản và chứng khoán đóng băng… Trong bối cảnh đó, Chính phủ mà cụ thể là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, kiểm soát thị trường tài chính trong nước như gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định lãi suất trần, buộc các ngân hàng thương mại mua tín phiếu bắt buộc… Tất cả những chính sách này đã đặt các ngân hàng thương mại trong nước vào tình thế hết sức khó khăn khi phải tham gia cuộc đua lãi suất để đảm bảo khả năng thanh khoản, lại vừa phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng nợ xấu do khách hàng mất khả năng thanh toán…

    Trong tình hình đó, việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng TMCP Nam Việt đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những khó khăn chung của nền kinh tế. Thật vậy, trong năm 2008, Ngân hàng TMCP Nam Việt đã phải tạm gác mục tiêu tăng trưởng nhanh để tập trung cho nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là vượt qua khủng hoảng, duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động.

    Đến năm 2009, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đáng kể đến tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Ngoài ra, với việc không hoàn thành kế hoạch tăng vốn như dự kiến từ 1000 tỷ lên 2000 tỷ cũng đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông năm 2008 thông qua.

    Tuy kết quả thực hiện còn khá khiêm tốn nhưng qua kết quả kinh doanh đạt được cho thấy Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban điều hành và toàn bộ cán bộ công nhân viên đã cố gắng nỗ lực rất lớn. Thành công lớn nhất của ngân hàng trong năm 2009 là đã vượt qua khủng hoảng để có thể tiếp tục phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

    Ngoài ra, trong năm 2009 Ngân hàng đã hoàn tất việc điều chỉnh mạng lưới trên cơ sở nâng cấp 7 phòng giao dịch thành 7 chi nhánh mới và đưa vào hoạt động tại các địa bàn Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Đồng Nai, Bà rịa Vũng tàu, Đồng Nai, Long An và Bắc Ninh; nâng mạng lưới điểm giao dịch đạt 80 điểm gồm 1 Hội sở chính, 12 chi nhánh và 67 Phòng giao dịch.

    2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    2.2.1. Hoạt động huy động vốn:

    Trong giai đoạn 2007 – 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các TCTD trong nước gây ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM nói chung và ngân hàng Nam Việt nói riêng. Trước biến động về giá huy động vốn trên thị trường, ngân hàng TMCP Nam Việt đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay – huy động, cải thiện quản trị thanh khoản dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới. Các biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều khiển lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp để góp phần giảm thiểu tác động thị trường lên công tác huy động vốn, nâng cao hệ số sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn và sau cùng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    Trong 3 năm trở lại đây, Navibank đã cố gắng rất nhiều để vượt qua khủng hoảng, điều đó được thể hiện qua tình hình biến động nguồn vốn trong 3 năm 2007, 2008, 2009

    Biểu đồ 2.1: Biến động nguồn vốn của Navibank

    Bảng 2.1: Bảng tình hình huy động vốn của Navibank

    (ĐVT:  triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Giá trị Tỉ trọng (%) Giá trị Tỉ trọng (%) Giá trị Tỉ trọng (%)
    I. Vốn huy động 9.025.692 91% 9.424.071 88% 15.455.619 91%
    1. Tiền gửi của kho bạc nhà nước và TCTD khác 2.885.557 29% 3.402.210 32% 5.685.312 34%
    2. Vay của NHNN – TCTD khác 0 0% 0 0% 140.580 1%
    3. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế dân cư 6.140.135 62% 6.021.861 56% 9.629.727 57%
    II. Vốn khác 298.337 3% 254.810 2% 277.697 2%
    III. Vốn chủ sở hữu 579.028 6% 1.076.158 10% 1.166.039 7%
    Tổng nguồn vốn 9.903.057 100% 10.755.039 100% 16.899.355 100%

    (Nguồn: Bảng cân đối kế toán của Navibank giai đoạn 2007-2009)

    Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng liên tục tăng qua các năm, cụ thể: năm 2007 tổng nguồn vốn là 9.903.057 triệu đồng thì sang năm 2008 là 10.755.039 triệu đồng, với tốc độ phát triển là 110% (tăng 10%) so với năm 2007. Sang năm 2009 tổng nguồn vốn là 16.899.355 triệu đồng; gấp 1.57 lần so với năm 2008. Điều này đã khẳng định được nỗ lực của ngân hàng trong hoạt động huy động vốn, vượt qua những khó khăn, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới tác động đến Việt Nam.

    Tuy nhiên nguồn vốn huy động của ngân hàng đa phần là nguồn vốn có kỳ hạn, chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. Tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn trên tổng nguồn vốn huy động thấp sẽ gây khó khăn cho việc mở rộng hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng. Trong tương lai, Navibank cần có nhiều phương thức hiệu quả hơn nữa để tăng khả năng thu hút nguồn vốn này trong dân cư.

    2.2.2.  Hoạt động cho vay:

    Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng. Sự chuyển hoá từ vốn tiền gửi sang vốn tín dụng để bổ sung vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế. Vì thông qua cho vay mà tạo ra nguồn thu nhập để từ đó bồi hoàn lại tiền gửi của khách hàng, bù đắp chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên hoạt động cho vay mang lại rủi ro lớn, vì vậy ngân hàng cần phải quản lý các khoản nợ một cách chặt chẽ mới có thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro.

    Bảng 2.2: Kết quả hoạt động tín dụng của Navibank

    (ĐVT: triệu đồng)

     

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm So sánh
     

     

     

    2007

     

     

     

    2008

     

     

     

    2009

    2008/2007 2009/2008
    Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng giảm (%)  

     

    Mức tăng giảm

    Tỷ lệ tăng giảm (%)
    1. Cho vay các tổ chức kinh tế cá nhân trong nước 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.5 4.485.048 81.9
    2. Dự phòng khoản phải thu khó đòi (6.095) (21.942) (95.404) (15.847) 260 (73.462) 334.8
    Tổng doanh số cho vay 4.357.251 5.452.617 9.864.203 1.095.366 25.1 4.411.586 80.9

    (Nguồn: Kết quả hoạt động tín dụng của Navibank giai đoạn 2007-2009)

    Doanh số cho vay tăng qua các năm, đặc biệt tăng cao vào năm 2009, cụ thể như sau:

    Doanh số cho vay năm 2007 là 4.357.251 triệu đồng. Doanh số cho vay năm 2008 là 5.452.617 triệu đồng; tăng 1.095.366 triệu đồng tức là tăng 25.1% so với năm 2008. Doanh số cho vay năm 2009 là 9.864.203 triệu đồng; tăng 4.411.586 triệu đồng tức là tăng 80.9%.

    Ngân hàng chủ yếu tập trung cho vay các tổ chức kinh tế, dân cư. Hoạt động cho vay của ngân hàng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tuy không đáng kể so với các ngân hàng đã có một quá trình phát triển lâu dài như Vietcombank, ACB… Tính đến nay, ngân hàng Nam Việt đã có những cải tiến tích cực cơ cấu tín dụng, nâng cao tỷ lệ cho vay trung và dài hạn, mạnh dạn hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhiều hình thức tín dụng cho vay khá phong phú.

    2.2.3. Hiệu quả kinh doanh:

    Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng. Nó cũng như những doanh nghiệp sản xuất khác, luôn có mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận. Lợi nhuận là yếu tố then chốt, nói lên kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó là hiệu số giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Để gia tăng lợi nhuận, ngân hàng phải quản lý tốt các khoản mục tài sản có, nhất là các khoản mục cho vay và đầu tư, giảm thiểu các chi phí, trong đó tập trung quản lý chặt chẽ việc chi tiêu, mua sắm trang thiết bị, công tác phí… đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

    Navibank luôn chú trọng phát triển mở rộng một cách toàn diện tất cả các lĩnh vực hoạt động ngân hàng đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với từng lĩnh vực. Vì vậy Navibank đã đạt được những kết quả kinh doanh khá tốt và ổn định, ngay cả năm 2008 là năm có nhiều khó khăn đối với hoạt động kinh doanh.

    Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Navibank

    (Đơn vị: triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng thu 564.272 1.287.527 1.647.888
    Thu từ lãi 421.670 1.259.711 1.487.375
    Thu ngoài lãi 142.602 27.816 160.513
    Tổng chi 461.236 1.213.487 1.458.071
    Chi trả lãi 345.390 986.607 1.126.619
    Chi ngoài lãi 110.519 210.363 249.897
    Chi dự phòng 5.327 16.517 81.555
    Thu nhập ròng 103.036 74.040 189.817

     (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Navibank)

    Biểu đồ 2.2: Kết quả kinh doanh của Navibank qua các năm

    Qua bảng số liệu và biểu đồ, ta thấy kết quả kinh doanh của Navibank biến động qua các năm, cụ thể năm 2008 là 74.040 triệu đồng giảm 28.996 triệu đồng (-28.14%) so với năm 2007. Nguyên nhân do lãi suất huy động – cho vay trên thị trường biến động theo chiều hướng bất lợi kết hợp với tình hình nợ quá hạn, nợ xấu tăng nhanh làm ảnh hưởng đến doanh thu của Ngân hàng. Phần lớn lợi nhuận có được từ hoạt động đầu tư và góp vốn.

    Năm 2009 lợi nhuận trước thuế là 189.817 triệu đồng, tăng 115.778 triệu đồng (156.37%) so với năm 2008. Tuy kết quả đạt được còn khá khiêm tốn nhưng qua kết quả kinh doanh đạt được cho thấy HĐQT, Ban điều hành và toàn bộ cán bộ công nhân viên đã cố gắng nỗ lực rất lớn vượt qua ảnh hưởng khủng hoảng tài chính quốc tế để có thể tiếp tục phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

    2.3. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG:

    Rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn. Biểu hiện lớn nhất của rủi ro tín dụng là tỉ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao. Quy định hiện nay của NHNN là dư nợ quá hạn không được vượt quá 5% trên tổng dư nợ, khi tỷ lệ này trên 5% thì được coi là đáng báo động.

    Do đó, để đánh giá rủi ro tín dụng, người ta thường đánh giá qua hệ số:

    Hệ số nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay) x 100% < 5%

    Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có

    Thường thì hệ số này càng cao thì lợi nhuận sẽ càng lớn đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao.

    2.3.1. Tình hình dư nợ:

     

    Bảng 2.4: Tình hình dư nợ tín dụng của Navibank

    (ĐVT: Triệu đồng)

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm So sánh
     

     

     

    2007

     

     

     

    2008

     

     

     

    2009

    2008/2007 2009/2008
    Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng giảm (%) Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng giảm (%)
    I. Theo thành phần kinh tế 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.46 4.485.048 81.93
    1. Cá nhân 2.439.378 2.302.127 3.208.700 (137.251) (5.63) 906.573 39.38
    2. Tổ chức kinh tế 1.924.068 3.172.432 6.750.907 1.248.364 64.88 3.578.475 112.80
    II. Theo thời hạn 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.46 4.485.048 81.93
    1. Ngắn hạn 1.638.836 1.961.766 4.906.178 322.930 19.70 2.944.412 150.09
    2. Trung và dài hạn 2.724.610 3.512.793 5.053.429 788.183 28.93 1.540.636 43.86
    Tổng dư nợ 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.46 4.485.048 81.93

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết 2007, 2008, 2009  của Navibank)

    Biểu đồ2.3: Tình hình dư nợ tín dụng

    Trên cơ sở nhận định mức độ rủi ro của thị trường, Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để kiểm soát tăng trưởng và luôn có sự điều chỉnh về chính sách tín dụng cho phù hợp với những diễn biến của thị trường, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng. Cụ thể:

    • Dư nợ tín dụng của toàn ngân hàng năm 2008 đạt 5.474.559 triệu Đồng, tăng 1.111.113 triệu Đồng (tăng 25.46%) so với năm 2007. Dư nợ tín dụng tăng chủ yếu từ khách hàng tổ chức kinh tế (tăng 1.248.364 triệu Đồng) và tập trung ở trung – dài hạn. Dư nợ cho vay trung – dài hạn chiếm 64.17% và cho vay khách hàng tổ chức kinh tế chiếm 57.95% tổng dư nợ.
    • Dư nợ tín dụng của toàn Ngân hàng năm 2009 đạt 9.959.607 triệu đồng, tăng 4.485.049 triệu đồng (tăng 81.93%) so với năm 2008 (tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với toàn nền kinh tế khoảng 38%). Thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ, Ngân hàng đã tích cực triển khai hiệu quả, an toàn và đúng quy định chương trình hỗ trợ lãi suất. Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của toàn Ngân hàng tính đến 31/12/2009 đạt 1.876.695 triệu đồng, trong đó cho vay ngắn hạn chiếm gần 80% và tập trung chủ yếu nhóm ngành công nghiệp chế biến, thủy sản, xây dựng và thương nghiệp.

    2.3.2. Tình hình chất lượng tín dụng:

    Sự tăng trưởng, mở rộng đầu tư tín dụng luôn đi kèm với những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong tương lai. Kinh nghiệm và thực tế cho thấy, sự tăng trưởng nóng tín dụng một giai đoạn nào đó, thường để lại hậu quả về tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong nhưng năm tiếp theo. Và Navibank dường như cũng không thoát ra được quy luật khắc nghiệt đó của thị trường. Trong giai đoạn 2007-2009 tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của Navibank luôn được duy trì ở mức thấp khoảng trên dưới 2%/tổng dư nợ; Tuy nhiên trong năm 2008, chất lượng tín dụng của Navibank giảm sút thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao.

    2.3.2.1. Nợ quá hạn:

    Bảng 2.5: Tình hình chất lượng tín dụng

    (ĐVT: Triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm
    2007 2008 2009
    Tổng tài sản có 9.903.074 10.905.278 18.689.952
    Tổng dư nợ 4.363.446 5.474.559 9.959.607
    Các khoản nợ quá hạn 14.806 412.175 348.961
    – NQH dưới 181 ngày 9.172 302.200 154.315
    – NQH từ 181 đến 360 ngày 1.783 92.878 102.819
    – Nợ khó đòi 3.851 17.097 91.827
    Tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ 0.34% 7.53% 3.50%
    Hệ số rủi ro 0.44 0.50 0.53

    (Nguồn: báo cáo tài chính của Navibank)

    Năm 2007 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ duy trì ở mức 0.34%. Tuy nhiên, trong năm 2008 tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng tăng cao (7.53%) nguyên nhân là do nền kinh tế bị khủng hoảng, lạm phát cao xảy ra, Nhà Nước buộc phải tăng lãi suất cơ bản kéo theo sự gia tăng lãi suất cho vay của các NHTM. Lúc này, đối với những DN có tỷ lệ đòn cân nợ lớn, tiềm lực tài chính yếu sẽ dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ.

    Sang năm 2009, với sự cố gắng của tập thể cán bộ nhân viên ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ có tiến triển tốt, giảm từ 7.53% còn 3.5%. Đạt được kết quả này, ngoài những tác động thuận lợi từ môi trường vĩ mô và chính sách tín dụng của ngân hàng còn do những nguyên nhân sau:

    • Các khoản vay mới có chất lượng đáng kể, hiệu quả hoạt động của các đơn vị đi vay ngày càng tăng, môi trường kinh tế khả quan, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Nhờ vào khả năng cải tiến chất lượng hoạt động, tăng lợi nhuận kinh doanh qua các năm và chủ động trong việc trích lập dự phòng rủi ro nên quỹ dự phòng rủi ro đã là một công cụ đắc lực trong việc xử lý nợ tồn đọng của ngân hàng.
    • Trong cho vay, ngân hàng luôn tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của NHNN.

    2.3.2.2. Phân loại nợ:

    Kết quả phân loại nợ trong thời gian gần đây cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng TMCP Nam Việt đang giảm sút, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng ngày càng tăng cao, đặc biệt nợ xấu đã xuất hiện ở những Chi nhánh trước đây vẫn được đánh giá có chất lượng đảm bảo. Điều này thể hiện những hạn chế, bất cập về công tác quản trị rủi ro tín dụng, đòi hỏi phải được tổ chức nghiên cứu, tổng hợp các nguyên nhân để kịp thời rút kinh nghiệm và phòng tránh, giảm thiểu nợ xấu trong tương lai.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 2.6: Tình hình phân loại nợ vay của Navibank

    (ĐVT: Triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    1. Tổng dư nợ 4.363.446 5.474.558 9.959.607
    – Nợ đủ tiêu chuẩn 4.348.640 5.062.383 9.610.646
    – Nợ cần chú ý 7.703 253.102 104.725
    – Nợ dưới tiêu chuẩn 1.468 49.097 49.590
    – Nợ nghi ngờ 1.782 92.878 102.819
    – Nợ có khả năng mất vốn 385 17.097 91.826
    2. Tổng nợ xấu 3.635 159.072 244.235
    3. Tỷ lệ nợ xấu 0.08% 2.91% 2.45%

    (Nguồn: báo cáo tài chính của Navibank)

    Năm 2008, số dư nợ xấu (nợ phân loại các nhóm 3, 4, 5 theo Quyết định 493/2005/QĐ–NHNN và Quyết định 18/2008/ QĐ–NHNN) của toàn Ngân hàng là 159.072 triệu Đồng, tăng 151.971 triệu Đồng (21.39 lần) so với đầu năm và chiếm 2.91% tổng dư nợ.

    Năm 2009, số dư nợ xấu (nợ phân loại các nhóm 3, 4 và 5 theo quy định của NHNN) của toàn Ngân hàng là 244.236 triệu Đồng, chiếm 2,45% tổng dư nợ nhỏ hơn tỷ lệ quy định của Ngân hàng Nhà nước (3%).

    Qua số liệu trên có thể thấy tỷ lệ nợ xấu đã tăng mạnh trong năm 2008, trong năm 2009 tỷ lệ nợ xấu có giảm nhưng không nhiều. Thực tế đó đã phản ánh mô hình, chính sách quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Nam Việt chưa thực sự hiệu quả, cùng với sự khủng hoảng kinh tế trong năm 2008, cũng như chất lượng CBTD chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển là những nhân tố chính gây nên sự giảm sút chất lượng tín dụng. Đây là thách thức thật sự trong công tác quản trị rủi ro tín dụng và yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng là một đòi hỏi cấp bách, thiết thực để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững đối với ngân hàng Nam Viêt.

    2.3.3. Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Navibank:

    2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan:

    Môi trường kinh doanh bất ổn do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh…) hay sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới (khủng hoảng kinh tế, lạm phát, giá cả các mặt hàng thay đổi đột biến) gây tổn thất cho khách hàng vay vốn.

    Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý chưa hoàn chỉnh gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.

    Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên việc triển khai vào hoạt động ngân hàng còn gặp phải nhiều khó khăn như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong những trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.

    Hệ thống thông tin quản lý (CIC) còn nhiều bất cập:  Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơn điệu, không kịp thời, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cung cấp thông tin. Thông tin CIC chỉ dừng lại ở mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, chưa có thông tin phi tài chính, khả năng điều hành lãnh đạo của doanh nghiệp, cá nhân. Các thông tin về các cá nhân, doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng với các TCTD thì hoàn toàn không có cập nhật.

    2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan:

    2.3.3.2.1. Về phía khách hàng:

    • Đối với khách hàng doanh nghiệp:
    • Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:  Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
    • Hoạt động kinh doanh không được quản lý tốt dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, thiếu thông tin tài chính, không có kế hoạch kinh doanh được triển khai, các sản phẩm không có sự gắn kết, không có khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường, năng lực tài chính yếu, năng lực quản lý kinh doanh hạn chế. Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
    • Các báo cáo tài chính (BCTC) do khách hàng cung cấp không tuân thủ các chế độ hạch toán kế toán Việt Nam, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất, dễ xảy ra gian lận, thiếu sót. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
    • Khách hàng không có thiện chí trả nợ mặc dù hoạt động kinh doanh có hiệu quả, làm mất uy tín trong kinh doanh. Việc xác định uy tín của khách hàng rất quan trọng và rất khó để thực hiện. Điều này đòi hỏi CBTD phải có đủ năng lực, kinh nghiệm để xác định.
    • Đối với khách hàng cá nhân:
    • Hoạt động kinh doanh không thuận lợi.
    • Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mất việc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động.
    • Cá nhân khách hàng gặp nhiều chuyện bất thường trong cuộc sống, vì vậy họ phải sử dụng một số tiền lớn nên ảnh hưởng khả năng hoàn trả cho ngân hàng.
    • Đạo đức cá nhân không tốt: Cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vay không đúng mục đích.

    2.3.3.2.2. Về phía ngân hàng:

    Đứng trên góc độ NH nhìn nhận một cách đúng đắn về nguyên nhân tự thân NH gây ra nợ quá hạn là thực sự cần thiết và đây cũng là điều kiện tiên quyết để Navibank đưa ra những giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng. Theo thống kê tổng hợp, nhìn chung Ngân hàng chưa có quy trình quản trị rủi ro cụ thể, nợ quá hạn tại NH tồn tại chủ yếu do những nguyên nhân sau:

    • Áp lực công việc cường độ cao: Quy mô hoạt động của Navibank còn hạn chế. CBTD phải đảm nhiệm toàn bộ quy trình cho vay bao gồm: thẩm định dự án, bám sát khách hàng, quản lý theo dõi các khoản nợ thế chấp… ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của CBTD.
    • Quy trình thẩm định thiếu thông tin, thiếu các chuẩn mực so sánh để đưa ra kết luận. Do không xác định được quy mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đối với ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định được nguồn thu khách hàng từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức cho vay và cách thức giám sát hợp lý. Mặc khác, uy tín khách hàng là yếu tố quan trọng gắn liền với thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng, thường bị lãng quên trong quá trình thẩm định ban đầu.
    • Nguồn cung cấp thông tin: Rất khó kiểm chứng được toàn bộ những thông tin mà khách hàng cung cấp. NH vẫn chưa có sự liên thông với các cơ quan khác như thuế, hải quan… để kiểm chứng những thông tin tài chính do khách hàng cung cấp. Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.
    • Năng lực thẩm định của cán bộ còn nhiều hạn chế Các ngành nghề của các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng: Đa phần các CBTD không thể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực mà doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh. một số dự án đầu tư không được thẩm định chính xác về năng lực vốn, nguồn lao động tại khu vực triển khai dự án, năng lực của chủ doanh nghiệp nên khi dự án hoàn thành không thể đi vào hoạt động, không thể trả nợ vay ngân hàng
    • Quá trình kiểm tra, giám sát sau khi cho vay của ngân hàng còn nhiều sơ hở, sai sót nên không thể giám sát được việc sử dụng vốn vay của khách hàng cũng như không kịp thời thu hồi được tiền hàng để thu nợ. Do sự kiểm soát quá lỏng lẻo nên mặc dù một số phương án vay có hiệu quả, tiền bán hàng đã được trả nhưng khách hàng không trả nợ cho ngân hàng mà sử dụng số tiền đó vào những mục đích khác không hiệu quả và bị tổn thất.

    2.4. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NAM VIỆT:

    2.4.1. Bộ máy tổ chức cấp tín dụng:

    Tham gia trực tiếp vào hoạt động cấp tín dụng có các phòng nghiệp vụ tại Hội sở chính, Các chi nhánh (Quan hệ khách hàng, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, dịch vụ khách hàng) và các Phòng Giao dịch. Trong đó, Tổng giám đốc uỷ quyền cho cấp tín dụng thường xuyên đối với Giám đốc quan hệ khách hàng, Trưởng phòng quan hệ khách hàng, Trưởng phòng giao dịch với hạn mức và nội dung uỷ quyền phù hợp với quy định uỷ quyền quyết định tín dụng  số 167/2006/QĐ-TGĐ.

    Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng của ngân hàng TMCP Nam Việt có trình độ chuyên môn, được đào tạo bài bản, tốt nghiệp các chuyên ngành kinh tế – tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên đa số cán bộ còn trẻ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều. Nguyên nhân là do, hoạt động tín dụng tăng cao mà chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về nguồn nhân lực, mặt khác do cơ chế đãi ngộ chưa thỏa đáng dẫn đến hiện tượng một số cán bộ có năng lực và kinh nghiệm chuyển qua các TCTD khác.

    2.4.2. Quy trình cho vay:

    2.4.2.1. Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng:

    Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng (Hội sở, Sở giao dịch, chi nhánh) được tổ chức thành 4 khối cơ bản của quy trình cho vay. Tuỳ theo quy mô hoạt động của ngân hàng và tính chất của loại hình cho vay, một bộ phận có thể đảm nhiệm một hoặc một số khâu của quy trình cho vay.

    Quan hệ

     

    khách hàng

    Phân tích tín dụng Quyết định

     

    tín dụng

    Dịch vụ

     

    khách hàng

           
    • Khối quan hệ khách hàng: thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ toàn diện với khách hàng để cung cấp sản phẩm tín dụng và các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng cho khách hàng; chịu trách nhiệm lập tờ trình thẩm định tín dụng trình (hoặc chuyển Khối phân tích tín dụng thẩm định trước khi trình) cấp quyết định tín dụng.
    • Khối phân tích tín dụng: tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng từ Khối quan hệ khách hàng, thực hiện phân tích, thẩm định một cách độc lập để đưa ra các nhận xét đánh giá và ý kiến đề xuất cho vay hoặc không cho vay.
    • Khối quyết định tín dụng: Là cấp ra quyết định cuối cùng về việc cho vay hay không cho vay trong thẩm quyền quyết định tín dụng của mình. Hội đồng quản trị uỷ quyền quyết định tín dụng cho Hội đồng tín dụng và Tổng giám đốc. Tổng giám đốc uỷ quyền quyết định tín dụng cho các cấp trong ngân hàng theo quy định về uỷ quyền quyết định tín dụng do Tổng giám đốc ban hành.
      • Khối dịch vụ khách hàng: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn đã được cấp có thẩm qyền của Khối quyết định tín dụng phê duyệt cho vay, thực hiện công tác quản lý tiền vay như: ký hợp đồng, giải ngân, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn, chuyển nợ quá hạn, thu nợ, lãi, phí…

    2.4.2.2. Quy trình cho vay cụ thể:

    Bước 1: Tiếp thị khách hàng vay vốn

    • Nhân viên quan hệ khách hàng (NVQHKH) chủ động tiếp thị khách hàng, tìm hiểu nhu cầu tín dụng của khách hàng, xem xét có phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng hay không để chào bán sản phẩm tín dụng thích hợp.
    • Lập báo cáo tiếp thị

    Bước 2: Tiếp nhận nhu cầu vay vốn và hướng dẫn khách hàng thủ tục vay vốn

    • Khi khách hàng có nhu cầu đề nghị ngân hàng cung cấp các sản phẩm tín dụng, NVQHKH trao đổi, xác định nội dung: tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng, phương thức hoạt động; mục đích vay vốn…
    • Đề xuất cấp tín dụng cho khách hàng có phù hợp không
    • Nếu phù hợp, hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ
    • Trình cấp trưởng phòng

    Bước 3: Thẩm định hồ sơ tín dụng

    • Nội dung thẩm định: Năng lực khách hàng, khả năng tài chính, tình hình sản xuất và bán hàng
    • Phân tích về tài chính khách hàng
    • Phân tích thẩm đinh dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh
    • Đánh giá quan hệ khách hàng với ngân hàng và các TCTD khác
    • Đánh giá lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt: ước tính số tiền lãi, phí có thể thu.
    • Phân tích, thẩm định biện pháp bảo đảm tiền vay

    Bước 4: Quyết định tín dụng

    Sau khi nhận được tờ trình thẩm định cùng với toàn bộ hồ sơ vay vốn do cấp trưởng phòng trình, cấp có thẩm quyền quyết định kiểm tra lại các thông tin tại tờ trình, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của khoản vay, ra quyết định.

    Bước 5: Hoàn thiện các thủ tục trước khi giải ngân

    • Thông báo khách hàng hoàn tất, bổ sung các hồ sơ.
    • Lập hợp đồng tín dụng
    • Lập hợp đồng bảo đảm tiền vay
    • Công chứng hợp đồng bảo đảm tiền vay
    • Đăng ký giao dịch đảm bảo
    • Nhận hồ sơ TSĐB, nhập kho TSĐB
    • Nhập tài khoản ngoại bảng

    Bước 6: Lập và chuyển hồ sơ giải ngân

    • Nhân viên quản lý tín dụng (NVQLTD) có trách nhiệm: lập khế ước nhận nợ, kiểm tra sự phù hợp giữa các chứng từ rút vốn vay và các điều kiện cho vay
    • Sau khi lập hồ sơ giải ngân, (NVQLTD) chuyển hồ sơ giải ngân cho phòng giao dịch để thực hiện giải ngân và hạch toán.

    Bước 7: Theo dõi và kiểm tra sau khi giải ngân

    • Theo dõi tiền vay
    • Kiểm tra sau cho vay: trong vòng 10 ngày làm việc sau khi cho vay, phải tiến hành kiểm tra việc sử sụng vốn.

    Bước 8: Thu nợ gốc, lãi và phí khoản vay

    NVQLTD có trách nhiệm theo dõi và thống kê các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, phí phải trả của các khoản nợ vay, bảo lãnh vay vốn, chuẩn bị và thông báo trả nợ đến khách hàng vay vốn trước ngày đến hạn phải trả ít nhất 5 ngày.

    Bước 9: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

    Trường hợp khách hàng không trả được nợ đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng NVQLTD lập tờ trình cấp trưởng phòng.

    Bước 10: Xử lý TSĐB để thu nợ

    • Trường hợp khách hàng không trả được nợ vay đúng hạn và không được ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, NVQLTD phải:
    • Xem xét lại hồ sơ tín dụng, hồ sơ đảm bảo tiền vay để bổ sung những điểm còn thiếu về mặt pháp lý
    • Chuẩn bị hồ sơ để khởi kiện

    Bước 11: Thanh lý hợp đồng

    Khi bên vay trả xong nợ gốc và lãi thì hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản thanh lý hợp đồng.

    2.4.3. Bảo đảm tiền vay

    Phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả là tiêu chí quyết định trong việc xem xét cho vay. Tuy nhiên những rủi ro tín dụng rất đa dạng và có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người mà thẩm định tín dụng không thể lường hết được. Đồng thời việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay sẽ nâng cao tính chịu trách nhiệm và chia sẻ rủi ro của khách hàng với ngân hàng. Do đó Navibank cũng rất chú trọng tăng cường áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, đa dạng về hình thức: thế chấp, cầm cố tài sản, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay… Do đó tỷ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản có xu hướng gia tăng, góp phần vào giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra.

    Tuy tỷ lệ TSĐB được nâng cao nhưng tính thanh khoản của các tài sản còn hạn chế nên khả năng thu hồi nợ sẽ thấp hơn. Một số tài sản không có giấy tờ về quyền sở hữu, một số tài sản khác là quyền đòi nợ mà khả năng kiểm soát nguồn thu rất khó khăn. Do đó, khi xử lý tài sản bảo đảm trên thực tế rất phức tạp, cả về mặt pháp lý cũng như khả năng chuyển nhượng tài sản, mất rất nhiều thời gian và công sức.

    2.4.4. Phòng ngừa, phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng:

    Kiểm tra và phát hiện các dấu hiệu rủi ro là công việc không chỉ của các cán bộ tham gia vào quy trình cấp tín dụng mà còn được quán triệt đến từng cán bộ của Navibank. Tuy nhiên chủ yếu do Phòng Quan hệ khách hàng thực hiện bởi đây là bộ phận trực tiếp làm việc với khách hàng, thu thập các thông tin, kiểm tra sử dụng vốn vay… nên có khả năng phát hiện kịp thời những biến động bất. Thực tế những năm qua cho thấy, công tác phát hiện rủi ro tín dụng  chỉ mang tính thụ động, chủ yếu là xử lý khi những dấu hiệu rủi ro đã xuất hiện (không trả được nợ đúng hạn, kinh doanh thua lỗ, kết quả phân loại nợ không tốt…), khả năng dự báo và phòng ngừa từ xa chưa tốt do sự hạn chế về trình độ, kinh nghiệm của CBTD; hệ thống thông tin thị trường và xử lý thông tin qua các phân tích, dự báo chưa tốt; công tác kiểm tra sử dụng vốn còn hời hợt, chủ yếu dựa vào báo cáo do khách hàng cung cấp, đặc biệt là các khách hàng ở xa…

    Để hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra, Navibank cần có chủ trương yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm khi đầu tư dự án hoặc khi kinh doanh xuất nhập khẩu. Giải pháp này đã phát huy tác dụng đáng kể khi thiên tai xảy ra, vốn rất thường xuyên ở nước ta, vì có nguồn hỗ trợ để bù đắp các tổn thất vốn vay.

    2.4.5. Công tác xử lý nợ xấu:

    Định hướng chung của Navibank trong xử lý nợ xấu là thực hiện các giải pháp hợp lý trên cơ sở phân tích tình hình của từng khách hàng cụ thể như:

    • Đối với các khoản nợ xấu, ngân hàng thực hiện việc phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở hàng tháng để phục vụ cho công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín dụng.
    • Đối với các khoản vay bằng nguồn vốn tài trợ, uỷ thác của bên thứ ba mà bên thứ ba cam kết chịu toàn bộ trách nhiệm xử lý rủi ro khi xảy ra và các khoản cho vay bằng nguồn vốn góp đồng tài trợ của TCTD khác mà ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro nào thì ngân hàng không phải trích lập dự phòng rủi ro nhưng phải phân loại nợ nhằm đánh giá đúng tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng phục vụ cho công tác quản lý rủi ro tín dụng.
    • Đối với các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay và chấp nhận thanh toán, Ngân hàng phải phân loại vào nợ nhóm 1 để quản lý, giám sát tình hình tài chính, khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách hàng và trích lập dự phòng chung.

    Tuy nhiên, chủ trương của Navibank là thực hiện thương lượng, phối hợp với khách hàng trong xử lý nợ xấu để quá trình triển khai được nhanh chóng và ít tốn thời gian. Đối với các khách hàng có thái độ thiếu hợp tác, thoái thác trách nhiệm trả nợ, thì kiên quyết thực hiện các biện pháp pháp lý, khởi kiện ra tòa để tăng cường khả năng thu hồi nợ.

    2.5. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    2.5.1. Đánh giá chung:

    Từ những kết quả đã đạt được ở trên ta thấy hoạt động cho vay của Navibank đã có những bước phát triển nhanh chóng. Dư nợ tín dụng liên tục tăng, số lượng khách hàng quan hệ ngày càng tăng. Măc dù trong năm 2008 tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ tăng cao so với năm 2007. Nhưng sang năm 2009, tỉ lệ NQH trên tổng dư nợ cho vay giảm rõ rệt. Bên cạnh đó, Ngân hàng đã luôn duy trì một khoảng dự phòng để bù đắp rủi ro. Nhìn chung công tác quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) của Navibank đã có những thay đổi rõ rệt so với trước đây, cụ thể là:

    • Đội ngũ lãnh đạo ngân hàng có khả năng quản lý và hoạch định chính sách tốt. Đội ngũ nhân viên đông đảo, còn trẻ cho nên rất năng động, nhanh nhạy, có khả năng tiếp thu cái mới.
    • Nhờ những biện pháp QTRRTD hiện đại trong năm 2009, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của ngân hàng tính theo tiêu chuẩn Việt Nam đã giảm. Xu hướng giảm nợ xấu là một cố găng lớn của Navibank trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và ngăn ngừa nợ xấu.
    • Navibank đã đánh giá được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng và đã tích cực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và phát hiện rủi ro tín dụng. Navibank đã xây dựng một chính sách cho vay tương đối hợp lý, đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động thực tế, với các quy định chặt chẽ và tăng cường khả năng kiểm soát những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, bảo đảm mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng.
    • Navibank đang kiên quyết thực hiện các giải pháp đồng bộ để giảm nợ xấu, thực hiện kiểm soát tín dụng chặt chẽ, chú trọng đến chất lượng hơn là tăng trưởng dư nợ.

    2.5.2. Hạn chế cần khắc phục:

    Mặc dù có những tiến bộ trong quản trị rủi ro tín dụng nhưng công tác này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định về những quy định, mô hình quản trị rủi ro của Navibank cụ thể có một số hạn chế cơ bản sau:

    • Thiếu nguồn thông tin để phân tích tín dụng, thông tin trong nội bộ Ngân hàng còn đơn giản, chưa đầy đủ. Các thông tin về BCTC của doanh nghiệp chưa bị bắt buộc phải qua kiểm toán nên độ chính xác của các báo cáo chưa cao.
    • Về vấn đề bảo đảm tiền vay: Ngân hàng chỉ chấp nhận cho vay tín chấp với một số doanh nghiệp có uy tín, quan hệ tốt với ngân hàng và phương án kinh doanh xét thấy khả thi. Việc định giá tài sản đảm bảo còn chưa sát thị trường.
    • Các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản còn rất phức tạp, đặc biệt là các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và quản lý TSĐB. Khi công chứng giao dịch đảm bảo, các công chứng viên chỉ xác nhận hình thức của hợp đồng hoặc hành vi đại diện của các bên ký hợp đồng chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng. Việc công chứng hồ sơ tốn rất nhiều thời gian, các công chứng viên thường gây khó dễ cho CBTD của ngân hàng.
    • Nhân viên tín dụng còn thiếu trình độ chuyên môn về các ngành nghề. Trình độ chuyên môn về tín dụng chưa đủ mà còn phải trang bị thêm kiến thức chuyên môn kỹ thuật nữa. Bên cạnh đó số lượng CBTD được phân bổ chủ yếu dựa trên số dư nợ cho vay của các phòng giao dịch, không phù hợp với thực tế. Đối với các phòng giao dịch có số dư nợ cao thu được từ hợp đồng tín dụng của một số khách hàng doanh nghiệp lớn, thì việc quản lý các khách hàng đó không cần yêu cầu nhiều CBTD tham gia. Tuy nhiên do có số dư nợ tín dụng cao nên số lượng CBTD nhiều hơn mức cần thiết đẫn đến việc thừa nhân viên. Còn đối với những phòng giao dịch mà khách hàng chủ yếu là cá nhân nhỏ lẻ vì thế số lượng khách hàng đông đúc, đòi hỏi nhiều CBTD cùng tham gia để chia ra quản lý nhưng do quy mô của dư nợ tín dụng không cao nên số lượng CBTD bị hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng một CBTD phải quản lý nhiều khách hàng nên không thể quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ tình hình các khoản vay của khách hàng.

    è Tóm lại, việc mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh của Navibank hiện nay là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Để làm được điều này, Ngân hàng cần tìm hiểu những đặc thù của từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, những vấn đề tồn tại trong hoạt động cấp tín dụng và quản lý RRTD khi cho vay và nguyên nhân của những tồn tại trên, từ đó có những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng và giảm bớt RRTD.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận chương 2

     

    Trongnhiều năm qua, Navibank luôn phần đấu để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam và đã có những thành công bước đầu khả quan. Tuy nhiên, trong năm 2008, chất lượng tín dụng của Navibank đang bị giảm sút, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao và có xu hướng tăng lên. Mặc dù trong năm 2009 tình hình có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực nhưng yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng vẫn là yêu cầu hết sức cấp bách và là một thách thức thực sự đối với ngân hàng TMCP Nam Việt trong nỗ lực tăng trưởng tín dụng an toàn và hiệu quả. Chương hai của khóa luận đã nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt, từ đó làm cơ sở khoa học thực tiễn cho các giải pháp, đề xuất ở chương ba.

     

    3.1. TRIỂN VỌNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NAVIBANK:

    3.1.1. Phân tích SWOT:

    • Những điểm mạnh :
    • Các cổ đông chiến lược có tiềm lực tài chính vững mạnh như Tập đoàn dệt may Việt Nam, Công ty CP Đại lý Liên hiệp Vận chuyển, Tập đoàn đầu tư Sài Gòn.
    • Đội ngũ cán bộ, nhân viên trẻ, năng động, được đào tạo chính quy, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới.
    • Mạng lưới giao dịch rộng khắp, có 80 điểm giao dịch (kế hoạch cuối năm 2010 đạt 100 điểm giao dịch) tập trung tại 24 tỉnh/thành phố lớn trên cả nước, tạo thuận lợi cho khách hàng khi đến giao dịch.
    • Có điều kiện để phát triển khách hàng trong các khu công nghiệp do các cổ đông của Ngân hàng làm chủ đầu tư.
    • Những điểm yếu :
    • Công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới chưa được đầu tư đúng mức, chưa phù hợp với quy mô hoạt động của ngân hàng.
    • Chưa có chính sách giá độc lập mà chủ yếu dựa vào sự điều chỉnh giá của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
    • Công tác nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đúng mức để phân khúc, lựa chọn thị trường phù hợp dẫn đến chính sách chăm sóc khách hàng còn nhiều hạn chế.
    • Là ngân hàng mới so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nên chi phí hoạt động của ngân hàng đặc biệt là chi phí khấu hao tài sản còn cao dẫn đến kém cạnh tranh trong chính sách giá. Mạng lưới giao dịch rộng nhưng một số đơn vị (chi nhánh, phòng giao dịch) mới thành lập nên cần có thời gian mới đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng.
    • Những cơ hội :
      • Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5.32% trong năm 2009 và là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á.
      • Số lượng doanh nghiệp mới thành lập, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động vừa và nhỏ rất lớn (trên 83000 doanh nghiệp được thành lập trong năm 2009).
      • Việt Nam có dân số gần 87 triệu và theo thống kê chỉ mới có gần 20% người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng, chủ yếu tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
      • Các ngân hàng nước ngoài chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
      • Tâm lý của người dân thích giao dịch với các ngân hàng Việt Nam cũng sẽ là yếu tố thuận lợi để các ngân hàng trong nước quan tâm khai thác.
    • Những thách thức :
      • Thị trường tài chính tiền tệ còn chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế nên dự báo sẽ còn nhiều biến động phức tạp, khó lường trước.
      • Người dân Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thói quen cất giữ và thanh toán bằng tiền mặt và chưa thấy được các tiện ích của việc thanh toán không dùng tiền mặt.
      • Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong nước còn nhiều hạn chế so với các ngân hàng nước ngoài về quy mô vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị điều hành và quản lý rủi ro.

    3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh trong thời gian tới:

    Trong năm 2010, Ngân hàng TMCP Nam Việt xác định tiếp tục theo đuổi mục tiêu chiến lược đã lựa chọn là trở thành ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực hàng đầu Việt Nam. Tuy nhiên, để có thể đạt được mục tiêu chiến lược trong thời gian sớm nhất và với chi phí hợp lý nhất, Ngân hàng TMCP Nam Việt cần thiết phải xác định cho riêng mình chiến lược kinh doanh một cách cụ thể. Trên cơ sở chiến lược kinh doanh chung đã được xác định, các kế hoạch kinh doanh của từng bộ phận như kế hoạch tài chính, kế hoạch Marketing, kế hoạch nhân sự,… được xây dựng và triển khai thực hiện nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất về mục tiêu chiến lược trở thành ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực hàng đầu Việt Nam, hoạt động đa năng – đa lĩnh vực dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại cùng với đội ngũ cán bộ nhân viên thân thiện và tinh thần trách nhiệm cao.

    Các mục tiêu chủ yếu năm 2010 của toàn hệ thống Navibank:

    Chỉ tiêu Năm2010
    Vốn điều lệ 3000 tỷ đồng
    Lợi nhuận trước thuế 350 tỷ đồng
    Tổng tài sản 27.000 tỷ đồng
    Dư nợ cho vay khách hàng 17.000 tỷ đồng
    Huy động tiền gửi khách hàng 18.800 tỷ đồng
    Số chi nhánh và phòng giao dịch mới 21

    Bên cạnh đó Navibank còn có những định hướng trong giai đoạn 2010-2013 như sau:

    Trên cơ sở nhận định các điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội, thách thức nêu trên, để tận dụng tốt các lợi thế sẵn có như các cổ đông chiến lược có tiềm lực tài chính vững mạnh, mạng lưới kênh phân phối rộng khắp, khả năng am hiểu thị trường trong nước,… để có thể thực hiện thành công mục tiêu chiến lược trở thành Ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực hàng đầu Việt Nam, các chiến lược kinh doanh được đề nghị cùng phối hợp thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2013 bao gồm:

    • Chiến lược thâm nhập thị trường: chiến lược duy trì thị phần hiện tại, tập trung giải quyết vấn đề gia tăng thị phần của Ngân hàng trên các thị trường hiện có. Chiến lược này được thực hiện thông qua kế hoạch quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng,… nhằm gia tăng khả năng nhận biết cũng như tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính của Ngân hàng. Để thực hiện thành công chiến lược này, Ngân hàng dự tính sẽ sử dụng khoảng 10% tổng chi phí quản lý hàng năm của Ngân hàng cho hoạt động chiêu thị.
    • Chiến lược phát triển thị trường (mở rộng mạng lưới hoạt động): bên cạnh việc tập trung cho công tác đánh giá, đẩy mạnh hoạt động các kênh phân phối hiện tại nhằm hỗ trợ một các hữu hiệu trong hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển thị trường tập trung giải quyết vấn đề đa dạng hóa hệ thống kênh phân phối (bao gồm kênh phân phối truyền thống lẫn các kênh phân phối ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại) tại các thị trường mới nhằm đón đầu và chiếm lĩnh thị trường. Tiếp tục phát triển mạng lưới một cách chọn lọc trên các địa bàn trọng điểm đông dân cư, có tiềm năng phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ. Dự kiến hàng năm, Ngân hàng sẽ mở mới từ 20 đến 30 điểm giao dịch.
    • Chiến lược phát triển sản phẩm: tạo sự khác biệt cho các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng bằng việc ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng tính chính xác, an toàn, bảo mật, nhanh chóng trong quá trình giao dịch. Ngân hàng sẽ chủ động đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khảo sát nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để phục vụ cho công tác thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ chủ đạo, nổi bật dẫn đầu trong từng nhóm khách hàng. Sản phẩm dịch vụ tài chính của Ngân hàng phải được thiết kế theo hướng mở, đảm bảo tính linh hoạt cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu khác biệt của khách hàng.

    3.1.3. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng trong thời gian tới:

    Trong giai đoạn 2007 -2009, tổng dư nợ tín dụng của Navibank vẫn tăng đều mặc dù nền kinh tế năm 2008 không khả quan, có nhiều biến động không thể biết trước. Điều này đã chứng tỏ các nhà lãnh đạo của Navibank có năng lực quản lý tốt, có thể thích nghi với các điều kiện thay đổi của thị trường. Sang năm 2010,  Navibank có chủ trương tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động tín dụng như sau:

    • Đẩy mạnh hoạt động tín dụng, đặc biệt là gia tăng (tối thiểu 70,00%) tỷ trọng các khoản vay thuộc đối tượng áp dụng lãi suất thỏa thuận trên tổng dư nợ để đảm bảo mức chênh lệch lãi suất bình quân đầu vào – đầu ra tối thiểu đạt 4%/năm.
    • Tập trung tăng trưởng quy mô hoạt động bằng cách giao kế hoạch kinh doanh cụ thể cho từng chi nhánh, phòng giao dịch, trong đó, phòng giao dịch phải đạt mức quy mô hoạt động tối thiểu.
    • Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng; thực hiện các biện pháp cứng rắn để đốc thúc thu hồi nợ kết hợp với việc xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu khi cần thiết để đảm bảo nguồn thu gốc, lãi cho Ngân hàng.

    3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    3.2.1. Nâng cao chất lượng tín dụng:

    3.2.1.1. Hoạt động huy động vốn:

    Để hoạt động cho vay tốt đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn vốn đủ mạnh, trong đó, vốn lưu động là yếu tố rất cần thiết đối với ngân hàng. Nếu ngân hàng tổ chức thực hiện tốt công tác huy động vốn thì không những mở rộng được công tác cho vay mà càng mang đến cho ngân hàng ngày càng nhiều lợi nhuận. Để tăng cường nguồn vốn huy động cần thực hiện một số biện pháp:

    • Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn để thu hút khách hàng đến gửi tiền. Phát triển các dịch vụ mới như thẻ thanh toán, thẻ ATM.
    • Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiện ích ngày càng cao của khách hàng; cung cấp cho họ những phương tiện thanh toán thuận lợi, nhanh, an toàn và chính xác, hoàn thiện hệ thống mạng vi tính để có thể rút và gửi tiền ở bất cứ chi nhánh nào.
    • Tăng cường hoạt động marketing ngân hàng. Mở rộng phạm vi hoạt động ra khắp cả nước.
    • Xây dựng đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình, giao tiếp tốt và nắm vững chuyên môn nghiệp vụ nhằm giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới.
    • Thực hiện đảm bảo tiền gửi cho khách hàng

    3.2.1.2. Hoạt động cho vay:

    • Đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng: ngân hàng cần sử dụng nhiều phương thức cho vay để tăng doanh số cũng như khách hàng vay tại đơn vị mình. Các sản phẩm tín dụng có tiện ích cũng như sự thuận tiện khi sử dụng sẽ đễ dàng được khách hàng chấp thuận hơn. Chú trọng mở rộng sản phẩm về: hạn mức, hạn mức dự phòng, thấu chi, chiết khấu giấy tờ có giá, bão lãnh….
    • Thực hiện hoàn chỉnh quy trình tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế sai sót, hạn chế khả năng rủi ro và nâng cao chất lượng từng khoản vay. Các quy trình tín dụng đã được ban hành khá chặt chẽ và cụ thể hoá theo từng loại tín dụng. Tuy nhiên cần phải chi tiết hơn với từng khoản vay, từng loại khách hàng.
    • Có quy trình thẩm định phương án vay vốn khoa học, hợp lý, đánh giá tương đối chính xác đầu vào và đầu ra của phương án vay vốn để đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay. Điều chỉnh kỳ hạn nợ phù hợp với thị trường và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Thủ tục giấy tờ đơn giản, gọn nhẹ nhưng phải đảm bảo tính an toàn cho khách hàng cũng như ngân hàng. Tùy theo quy mô khoản vay; đối tượng cho vay; loại vay; cường độ cạnh tranh mà NH cần giảm bớt một số thủ tục. Nhưng có hai thủ tục tuyệt đối không được bớt là giấy đề nghị vay và hồ sơ pháp lý.
    • Triển khai công tác khách hàng thăm dò ý kiến khách hàng, để đánh giá chất lượng dịch vụ NH cung cấp và có cơ sở điều chỉnh hoạt động NH, chính sách KH cho phù hợp với tình hình chung và đáp ứng hơn nữa những yêu cầu của KH. Tìm cách tiếp cận trực tiếp với khách hàng để hiểu rõ nguyện vọng, nhu cầu về vốn và các dịch vụ mà KH cần. Từ đó tư vấn, hướng dẫn các phương thức cũng như điều kiện vay vốn phù hợp với từng đối tượng khách hàng.
    • Tăng cường phối hợp chặt chẽ với trung tâm thông tin tín dụng nhằm mục đích giúp cho ngân hàng có thêm thông tin cần thiết để làm cơ sở cho việc đầu tư tín dụng có hiệu quả, tránh thất thoát vốn, ngăn ngừa phát sinh nợ quá hạn.

    3.2.2. Những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt:

    Lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề: muốn có lợi nhuận, phải chấp nhận rủi ro. Nếu không chấp nhận rủi ro, sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận. Sự đối mặt và chịu sự tác động của rủi ro có thể ảnh hưởng xấu đến NH, thậm chí bị phá sản và loại ra khỏi thị trường.

    3.2.2.1. Phân loại khách hàng:

    Là một yêu cầu bắt buộc khi xác định giới hạn tín dụng đối với khách hàng. Đây là một phương pháp lượng hoá rủi ro của khách hàng thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm.

    Đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các chỉ tiêu đánh giá xếp hạng doanh nghiệp phải bổ sung chỉ tiêu tham chiếu đến khả năng tài chính và hoạt động của chủ đầu tư ở nước ngoài.

    Đối với khách hàng là các công ty cổ phần đã thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán thì xu hướng biến động thị giá cổ phiếu cũng cần được xem là một chỉ tiêu tham chiếu khi xếp hạng doanh nghiệp.

    Khi xếp hạng khách hàng dựa vào:

    • Tính cách, trách nhiệm và độ tin cậy của người đứng vay
    • Lịch sử nợ vay của người đi vay
    • Mức độ rủi ro ngành nghề kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện
    • Những biến động trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
    • Chất lượng của các chiến lược kinh doanh
    • Tài sản đảm bảo

    3.2.2.2. Trong công tác thẩm định, xét duyệt cho vay:

    Thẩm định là khâu quan trọng để giúp ngân hàng đưa ra quyết định đầu tư một cách chính xác, từ đó nâng cao chất lượng các khoản vay, hạn chế nợ quá hạn phát sinh, bảo đảm hiệu quả tín dụng vững chắc. Do đó, Navubank cần:

    • Hoàn thiện công tác thẩm định trên cơ sở đổi mới đồng bộ mô hình tổ chức, hoàn thiện quy chế, quy trình và cách thức tổ chức thẩm định. Trong công tác thẩm định cần vận dụng nguyên tắc 6C để đánh giá khách hàng.
    • Nâng cao trình độ thẩm định của CBTD, đặc biệt là thẩm định tư cách của khách hàng vì điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng.
    • Thường xuyên cập nhật các thông tin về kinh tế, kỹ thuật, các thông tin dự báo phát triển của các ngành, giá cả trên thị trường, tỷ suất lợi nhuận bình quân của một ngành, của các loại sản phẩm…để phục vụ cho công tác thẩm định.
    • Đặc biệt quan tâm đến thực trạng và chiều hướng biến động trong tương lai của thị trường kinh doanh mà sản phẩm doanh nghiệp tham gia. Xem xét hệ số sinh lời của đồng vốn đầu tư mà doanh nghiệp thu được.

    3.2.2.3. Nâng cao hiệu quả trong việc thu thập và sử dụng thông tin trong hoạt động tín dụng:

    Thông tin đầy đủ, chính xác về khách hàng, về thị trường, có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng cho vay, hạn chế rủi ro. Cần thực hiện có hiệu quả các khâu sau đây:

    • Thu thập thông tin về khách hàng: hiện nay, việc khai thác thông tin về khách hàng thường qua BCTC trong các năm gần đây của khách hàng (doanh nghiệp). Các BCTC do khách hàng lập thường không qua kiểm toán, hoặc nếu có nhưng chậm, không đủ, không chính xác. Do vậy đối với CBTD, bên cạnh việc thu thập thông tin từ khách hàng cần thu thập thêm thông tin thứ cấp từ:
    • Các đối tác của khách hàng
    • Từ những ngân hàng mà khách hàng có quan hệ. Tăng cường sự hợp tác giữa các ngân hàng trong vấn đề chia sẻ thông tin.
    • Từ cơ quan quản lý khách hàng
    • Từ trung tâm phòng ngừa rủi ro của NHNN (CIC)
    • Thu thập thông tin từ thị trường: bên cạnh các thông tin thu thập được về khách hàng, CBTD cần phải khai thác thông tin mang tính chất thị trường về sản phẩm khách hàng kinh doanh như dự toán tình hình cung cầu, giá cả sản phẩm, TSĐB.
    • Phân tích xử lý thông tin: CBTD phải tập trung phân tích, đánh giá xếp loại tín dụng doanh nghiệp dựa trên các thông tin thu thập được để làm căn cứ khi xem xét quyết định cho vay, nhằm hạn chế rủi ro.

    3.2.2.4. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ CBTD:

    Tín dụng là hoạt động chính mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Mặt khác, hoạt động tín dụng có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào trình độ của nhân viên tín dụng. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động, Navibank cần có những biện pháp để góp phần cải thiện chất lượng đội ngũ CBTD. Cụ thể như:

    • Việc đào tạo CBTD phải được coi là thường xuyên. Bên cạnh đó công tác tuyển dụng mới phải đảm bảo đúng quy trình, yêu cầu công viêc. ( phải được đào tạo chính quy, đúng chuyên ngành, có khả năng ngoại ngữ, tin học, có phẩm chất đạo đức, hiểu biết về xã hội và có khả năng giao tiếp)
    • Công tác đào tạo cần tập trung vào một số vấn đề như tăng cường hình thức đào tạo tập trung, kết hợp hình thức tập huấn tại chỗ. Phát động phong trào tự học, tự nghiên cứu, tự nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tránh sự tụt hậu trước sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, của công nghệ trong quá trình phát triển và hội nhập của ngân hàng.
    • Có chính sách khen thưởng cho các nhân viên tín dụng giỏi, có trình độ nghiệp vụ tốt, có tinh thần trách nhiệm trong công việc nhằm động viên tinh thần, khuyến khích CBTD tránh xảy ra rủi ro đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời cũng phải kiên quyết phê bình, kỷ luật và cuối cùng là sa thải đối với những CBTD sa sút về phẩm chất hoặc không có khả năng chuyên môn gây ảnh hưởng xấu đến công việc.

    3.2.2.5. Tăng cường công tác quản lý hạn chế rủi ro tín dụng:

    • Mở rộng hoạt động tín dụng phải đi đôi với quản lý phòng ngừa rủi ro tín dụng. Đây là việc làm thật sự cần thiết đối với Navibank trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể: đầu tư, thiết lập hẳn một bộ phận chuyên nghiên cứu dự báo kinh tế tầm vĩ mô ngắn hạn, trung và dài hạn để có khả năng đề ra chiến lược đầu tư, mở rộng hoạt động tín dụng.
    • Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm phòng ngừa rủi ro thuộc bộ phận quản lý rủi ro.
    • Tăng cường giám sát sử dụng vốn vay, tránh trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không trả nợ mà sử dụng vào việc khác, khi nợ đến hạn không có khả năng trả. Trong đó đặc biệt thực hiện:
    • Kiểm tra thường xuyên và đột xuất
    • Thay đổi nội dung kiểm tra, không chỉ kiểm tra mục đích vay mà còn các yếu tố khác như TSĐB, pháp lý, uy tín…
    • Sau khi kiểm tra, phải xử lý kết quả kiểm tra bằng cách đánh giá lại xếp hạng khách hàng và xử lý
    • Nâng cao vai trò kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng; phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do CBTD gây ra.
    • Tăng cường năng lực quản trị điều hành, tinh thần trách nhiệm; nắm chắc lĩnh vực nghiệp vụ và khách hàng phụ trách; nhất là những khách hàng đang có dấu hiệu khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Tổ chức kênh thông tin thông suốt từ ban giám đốc đến từng CBTD, đảm bảo mọi phản ánh của ban giám đốc đều được truyền đạt đúng, đầy đủ đến mọi CBTD và mọi phản ánh của doanh nghiệp đều được trình báo với ban giám đốc kịp thời.

    3.2.2.6. Biện pháp giải quyết nợ có vấn đề và nợ quá hạn :

    3.2.2.6.1. Biện pháp giải quyết nợ có vấn đề:

    • Khi khách hàng có dấu hiệu phát sinh nợ xấu, phải tìm hiểu nguyên nhân để có giải pháp thích hợp. Có biện pháp xử lý ngay từ đầu như quản lý kho hàng, kho nguyên vật liệu, phong toả tài sản, tiến hành khởi kiện sớm nên khả năng thu hồi nợ rất cao do máy móc thiết bị lúc này còn đang hoạt động có giá hơn lúc đã bị bỏ hoang.
    • Cần phải xây dựng hệ thống thẩm định nợ có vấn đề để thúc đẩy nhanh việc xử lý nợ tồn đọng tại ngân hàng.
    • Giúp đỡ thu hồi các khoản nợ bị chiếm dụng của khách hàng.
    • Tư vấn thêm cho khách hàng.
    • Nhận thêm tài sản thế chấp hoặc sự bảo lãnh.

    3.2.2.6.2. Biện pháp giải quyết nợ quá hạn:

    Biện pháp khai thác: áp dụng để xử lý những khoản nợ quá hạn thuộc loại khó đòi giống như một chương trình phục hồi.

    • Ngân hàng hướng dẫn, tư vấn khách hàng những vấn đề: khả năng tạo ra sản phẩm và lợi nhuận.
    • Gia hạn điều chỉnh lại kỳ hạn để giảm được quy mô hoàn trả trước mắt, cho vay tiếp để tăng sức mạnh tài chính cho người vay, khôi phục lại cho sản xuất kinh doanh và tổ chức giám sát.
    • Quản lý chặt chẽ ngân quỹ chi tiêu, khuyên bán bớt tài sản có giá trị, giảm lượng hàng tồn kho.
    • Đề nghị khách hàng nên cải tạo hệ thống sản xuất kinh doanh, tổ chức lại sản xuất, thay đổi thiết bị, máy móc và công nghệ. Khuyến khích khách hàng thu hồi những khoản nợ trả chậm bằng cách đẩy mạnh tiến trình thu hồi khoản phải đòi, giảm tối đa lượng vốn bị chiếm dụng.
    • Trực tiếp giúp đỡ khách hàng khi gặp khó khăn tài chính như cấp thêm tín dụng để phục hồi sản xuất kinh doanh.

    Cuối cùng nếu tình thế không thể giải quyết được thì tiến hành thanh lý tài sản.

    3.2.2.7. Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng:

    CBTD tiến hành đối chiếu phân tích tình hình sử dụng vốn vay, tính toán xác định nguồn thu, đánh giá khả năng trả nợ trên cơ sở đó làm cam kết và tiến độ trả nợ cụ thể với khách hàng, thông qua thứ tự ưu tiên: thu từ phương án, dự án kinh doanh (nguồn thu thứ nhất) tiếp đến thu từ phát mại TSĐB (nguồn thu thứ hai hay còn gọi là nguồn dự phòng) và cuối cùng là thu từ nguồn thu khác như: từ sản xuất kinh doanh, từ nguồn tài trợ, vốn khác

    Nguồn thu thứ nhất:

    Khi thẩm định, CBTD đã cùng khách hàng tính toán xác định chu kỳ kinh doanh, dòng tiền của phương án, dự án, hoặc nguồn trả nợ khác để thống nhất thời hạn cho vay, kỳ hạn nợ. CBTD phải phối hợp với khách hàng để làm rõ nguyên nhân. Nếu do năng lực thẩm định của CBTD yếu kém dẫn đến xác định thời hạn cho vay sai hoặc do nguyên nhân khách quan thì ngân hàng cùng doanh nghiệp bàn bạc điều chỉnh hoặc gia hạn nợ cho phù hợp. Nếu không vì lý do trên, CBTD phải cùng đơn vị đối chiếu dòng tiền giải ngân để xác định cụ thể hình thái biểu hiện của tiền vay. Trong qua trình đối chiếu nếu:

    • Vốn nằm ở khâu nguyên vật liệu: phải yếu cầu khách hàng hạch toán, xác định lại nếu thấy không cần thiết sử dụng hoặc không thể sử dụng được phải bán để trả nợ ngân hàng.
    • Vốn vay đang nằm trên dây chuyền sản xuất: phải xem xét từng trường hợp cụ thể để có biện pháp quản lý và kế hoạch đầu tư thích hợp.
    • Vốn vay ở khâu thành phẩm, hàng hoá: phải xem xét lại khâu tiêu thụ.
    • Vốn đang nằm ở khâu hàng gửi bán: đề nghị khách hàng kiểm tra, đối chiếu lại.
    • Vốn vay đang ở công nợ phải thu: yêu cầu khách hàng rà soát, đối chiếu với hợp đồng mua bán để biết được khoản nợ đã quá hạn hay chưa? Có khả năng thu hồi hay không?

    Trong qua trình xác định nguồn thu, đánh giá khả năng thu, làm cam kết với khách hàng về tiến độ trả nợ, CBTD cần kết hợp đánh giá, kiểm tra tính chính xác của các số liệu, xu hướng phát triển để có kế hoạch đầu tư đúng đắn, đảm bảo an toàn, hiệu quả.

    Thu từ tài sản đảm bảo:

    Để đánh giá nguồn thu này, CBTD cùng khách hàng phải rà soát lại tính pháp lý của tài sản, thực trạng tài sản, thủ tục và khả năng bán, chuyển nhượng và tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan chức năng xử lý thu hồi nợ vì càng để lâu càng khó xử lý, tài sản càng xuống cấp, mất giá trị.

    Thu từ nguồn khác:

    Thu từ sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp chỉ có thể lấy một phần lợi nhuận trả nợ còn vốn quay vòng tái sản xuất bảo đảm hoạt động bình thường.

    Thu từ nguồn khác: như các nguồn kinh phí hỗ trợ từ đơn vị chủ quản, các khoản đầu tư đến hạn, bán các tài sản khác, phát hành cổ phiếu…cần phải được thẩm định, đánh giá cụ thể cho từng trường hợp.

    3.2.3. Các giải pháp hạn chế tổn thất khi xảy ra rủi ro tín dụng:

    3.2.3.1. Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo sớm về rủi ro tín dụng:

    Hệ thống các dấu hiệu cảnh báo rủi ro phản ánh quan điểm và đánh giá của ngân hàng về những dấu hiệu phản ánh khả năng hoạt động giảm sút và mức độ rủi ro tăng lên của khách hàng. Hệ thống này được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết về quản trị rủi ro ngân hàng và cơ sở khách hàng có tính đặc thù của mỗi ngân hàng.

    3.2.3.2. Tổ chức giám sát và thu hồi những khoản nợ xấu:

    • Tiếp nhận toàn bộ hồ sơ khách hàng. Tiến hành phân tích tổng thể xác định nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro.
    • Tổ chức điều tra phân tích chuyên sâu, xác định chính xác mức độ rủi ro.
    • Trong trường hợp đáng giá khách hàng còn khả năng phục hồi kinh doanh và trả nợ ngân hàng, đề xuất cụ thể các giải pháp phục hồi như: tái cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, thay đổi các bộ quản lý, chuyển hướng sản xuất, cắt giảm chi phí, thanh lý các tài sản không cần thiết. Đồng thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ.
    • Trường hợp đánh giá khách hàng không còn khả năng phục hồi sản xuất kinh doanh, lựa chọn một giải pháp xử lý hữu hiệu: Bổ sung cầm cố và giám sát tồn kho; yêu cầu chuyển giao cho NH các quyền đòi nợ; bán tài sản thế chấp, cầm cố; tiến hành các thủ tục pháp lý về phá sản doanh nghiệp.

    3.3. KIẾN NGHỊ:

    3.3.1. Đối với ngân hàng nhà nước Việt Nam:

    3.3.1.1. Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành:

    Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành vĩ mô của nhà nước, cần phải có kế hoạch chi tiết phù hợp thực tiễn trước khi ban hành các văn bản pháp luật, hạn chế tình trạng sai tới đâu sửa tới đó. NHNN cần rà soát lại các văn bản liên quan tới lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng, nhanh chóng hoàn thiện thống nhất đồng bộ

    Tiếp tục hoàn thiện quy chế cho vay, bảo đảm tiền vay trên cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng. Hoàn thiện quy trình cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng rủi ro. Có cơ chế chính sách hướng dẫn cụ thể để các TCTD có thể chủ động trong việc xử lý và khai thác tài sản của khách hàng (phát mại tài sản và tự chịu trách nhiệm về việc làm của mình)

    NHNN cần phải có quy định kiểm toán BCTC bắt buộc đối với Doanh nghiệp. Hiện nay, do không có yêu cầu bắt buộc phải kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp nên ngân hàng khó xác định tính chính xác, trung thực và hơp lý của các số liệu trên BCTC mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng.

    Ban hành quy định về tiêu chuẩn, các yêu cầu đối với hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Quy định về công tác kiểm tra, kiểm soát trong ngân hàng, hệ thống quản lý tài sản nợ/ tài sản có và hệ thống quản lý rủi ro tín dụng.

    3.3.1.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC):

    Cần tạo lập hệ thống thông tin tín dụng có tính hữu ích cao hơn theo hướng:

    • Dựa trên cơ sở hợp tác, NHNN thực hiện kết nối kho thông tin dữ liệu giữa các ngân hàng để bổ sung, tăng tính đầy đủ và sự chính xác của kho dữ liệu, không chỉ là các dữ liệu về khách hàng mà còn các đánh giá và dự báo về ngành, làm nền tảng trong phân tích và thẩm định tín dụng.
    • Dựa trên thông tin về các doanh nghiệp, ngành hàng, dự án đã cấp tín dụng, Trung tâm thông tin tín dụng cần tổng hợp và đưa ra các đánh giá, phân tích và cung cấp các thông tin hữu ích cho toàn bộ hệ thống để sử dụng trong thẩm định tín dụng. Kho dữ liệu này cần có tính mở để có khả năng tích hợp với kho dữ liệu của các ngân hàng khác nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác trong cạnh tranh được đặt ra trong môi trường hội nhập.
    • Cần thiết lập các mối liên hệ với các tổ chức, dịch vụ cung cấp thông tin trên thế giới để có thể khai thác, mua tin khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu thông tin từ các Chi nhánh, đặc biệt là các thông tin về tình hình tài chính, hoạt động của các công ty mẹ – đối tác ở nước ngoài của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

    3.3.1.3. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát:

    • Nâng cao chất lượng thanh tra bằng cách nắm bắt kịp thời các nghiệp vụ kinh doanh, dịch vụ ngân hàng hiện đại, áp dụng công nghệ mới nhằm giám sát liên tục các ngân hàng thương mại dưới hai hình thức thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa. Trong đó:
    • Thanh tra tại chỗ sẽ nâng cao hiệu lực cho việc xử lý các vi phạm không tuân thủ các quy định pháp luật do nguyên nhân khách quan để áp dụng các chế tài cụ thể.
    • Giám sát từ xa giúp cảnh báo kịp thời các sai phạm đẻcácNHTM có biện pháp ngăn ngừa rủi ro trônghạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
    • Nghiên cứu và định hướng hoạt động phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng; tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm của các nước đang phát triển giúp các NHTM tăng trưởng an toàn và có khả năng cạnh tranh với các TCTD nước ngoài.

    3.3.2. Đối với Ngân hàng TMCP Nam Việt:

    Mặc dù thời gian thực tập tại ngân hàng Nam Việt tương đối ngắn, Nhưng tôi luôn nhận thấy đội ngũ nhân viên làm việc nhiệt tình, tận tuỵ trong công việc của toàn thể nhân viên trong ngân hàng. Trong thời gian tới, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính, là nghiệp vụ chủ yếu mang lại thu nhập cho ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề rủi ro tín dụng ở NH vẫn tồn tại và còn nhiều bất cập, đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa đến công tác quản trị rủi ro tín dụng. Sau đây, tôi xin đề xuất một số ý kiến:

    3.3.2.1. Tăng cường công tác quản lý hoạt động tín dụng:

    • Kịp thời triển khai việc xây dựng hệ thông xếp hạng tín dụng nội bộ hoá cao nhằm hỗ trợ cho quản trị rủi ro. Nghiên cứu, đưa vào áp dụng các mô hình quản trị rủi ro phù hợp với các quy định hiện hành, đặc điểm hoạt động của NH và thông lệ quốc tế.
    • Cần phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, đo lường, phân tích rủi ro tín dụng cho cán bộ. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng trong toàn hệ thống. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo phân loại mức độ rủi ro thích hợp gắn với việc đánh giá xếp loại doanh nghiệp.

    3.3.2.2. Phân tán rủi ro tín dụng:

    • Mở rộng cho vay đối với mọi thành phần kinh tế, mọi đối tượng khách hàng, tránh việc cho vay quá mức đối với một khách hàng, hạn chế rủi ro khi khách hàng gặp rủi ro không trả được nợ.
    • Thực hiện bảo hiểm tín dụng dưới các loại như: bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay. Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có bảo hiểm tài sản được thực hiện để hạn chế rủi ro đối với TSĐB ngân hàng yêu cầu đơn vị mua bảo hiểm toàn bộ giá tài sản đã làm đảm bảo cho ngân hàng và người thụ hưởng quyền bồi thường là ngân hàng.
    • Đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư, nguồn tiền ngân hàng được đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, tránh sự ảnh hưởng của chu kỳ tăng trưởng và suy thoái của các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.

    3.3.2.3. Đầu tư hệ thống hiện đại hoá công nghệ ngân hàng:

    Chú trọng hơn nữa đến đầu tư công nghệ thông tin giúp lãnh đạo có thể quản lý tài sản, an toàn hệ thống tốt hơn, nhất là quản lý rủi ro tín dụng. Các NHTM Việt Nam đang triển khai dự án hiện đại công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán. Qua hệ thống trên, các NHTM, các chi nhánh trong cùng hệ thống có thể thông tin cho nhau về tình hình hoạt động của khách hàng có cùng quan hệ tín dụng trong hệ thống một cách nhanh nhất.

    3.3.2.4. Đề xuất quy trình quản trị rủi ro tín dụng:

    Trước xu thế hội nhập, các tổ chức tài chính ngân hàng sẽ phải đối phó với sự cạnh tranh cũng như nhiều loại hình rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do xuất phát điểm của các ngân hàng khá thấp so với trung bình trong khu vực nên việc phải tập trung phát triển và quan tâm đến lợi nhuận được xem là ưu tiên số một. Chính vì thế, hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng Việt Nam hầu như vẫn chưa được đầu tư xây dựng một cách thoả đáng và chuyên nghiệp. Đó là lí do vì sao, tỷ lệ nợ xấu cùng nhiều vấn đề phát sinh do mất khả năng kiểm soát đang trở thành bài toán chưa có lời giải tại một số ngân hàng Việt Nam hiện nay. Đây cũng là vấn đề đối với ngân hàng TMCP Nam Việt, bởi vì Navibank chưa xây dựng cho mình một quy trình quản trị rủi ro tín dụng hoàn chỉnh. Từ thực trạng đó có thể đề xuất một quy trình như sau:

    Thứ nhất, nhận diện và phân loại rủi ro tín dụng: hiệu quả của việc quản trị rủi ro tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào việc phân loại rủi ro tín dụng. Phân loại rủi ro được hiểu là việc phân rủi ro thành từng nhóm riêng biệt theo dấu hiệu của chúng.

    Việc phân loại rủi ro là nhằm làm rõ các chỉ số cơ bản để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng, xác định những yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến kết quả tiềm năng mà ngân hàng có thể đạt được. Bởi vì có nhiều loại rủi ro tín dụng khác nhau không có cùng mức độ ảnh hưởng đến sự vững chắc của hoạt động tín dụng ngân hàng và hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau, có mức độ khác nhau nên không thể cùng áp dụng một loại phương pháp đánh giá và quản trị chung.

    Thứ hai, Phân tích rủi ro tín dụng: phân tích rủi ro được bắt đầu từ việc làm sáng tỏ nguồn gốc và nguyên nhân cảu chúng. Quan trọng nhất trong công việc này là xác định chính xác nguồn gốc của rủi ro, khả năng thiệt hại cũng như lợi nhuận từ những nghiệp vụ ngân hàng có tiềm ẩn rủi ro. Việc phân tích sẽ giúp ngân hàng lựa chọn kịp thời giải pháp tối ưu trong nhiều giải pháp khác nhau.

    Thứ ba, đánh giá rủi ro, tính toán và cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất khi rủi ro xảy ra, tạo điều kiện cho các nhà quản trị ngân hàng xác định đại lượng của rủi ro ngân hàng, để quyết định rủi ro nào NH có thể kiểm soát được và những rủi ro nào không thể kiểm soát. Đối với những rủi ro có thể kiểm soát, NH phải đánh giá liệu có chấp nhận rủi ro này hay không, mức độ giảm thiểu rủi ro mà NH muốn đạt được thông qua quá trình kiểm soát. Đối với rủi ro không kiểm soát được, NH phải chấp nhận.

    • Đối với tổn thất không thể dự đoán được: để đối phó với loại rủi ro này, ngân hàng phải có tiềm lực mạnh về vốn chủ sở hữu. Do đó, tỷ lệ bảo đảm về vốn luôn là mói quan tâm hàng đầu khi đánh giá tính ổn định và xếp loại đối với ngân hàng.
    • Đối với tổn thất có thể dự đoán được: NH phải tìm cách lượng hoá những tổn thất dự kiến và tiến hành trích lập quỹ dự phòng rủi ro.

    Mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng làm cơ sở cho việc trích lập dự phòng rủi ro: trên cơ sở mô hình tính toán dựa vào hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ.

    Tổn thất dự đoán = Xác suất khách hàng không trả được nợ x Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ x Tỷ lệ tổn thất dự tính trên tổng khoản nợ vay

    Cơ sở để tính xác suất khách hàng không trả được nợ là dữ liệu về nợ và tình trạng nợ của khách hàng trong quá khứ

    Dư nợ tại thời điểm không trả = Mức dư nợ bình quân x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân x Tỷ trọng phần hạn mức tín dụng có nhiều khả năng khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
    Tỷ lệ

     

    tổn thất

    dự tính

    = Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ _ Số tiền có thể thu hồi
    Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ

    Nhìn chung mô hình này khó áp dụng trên thực tế vì tính toán phức tạp nhưng nó có ưu điểm là dự liệu tương đối chính xác tổn thất xảy ra.

    Thứ tư, cảnh báo và giảm thiểu rủi ro: Cơ chế điều tiết nội bộ rủi ro ngân hàng là một hệ thống giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của rủi ro do bản thân ngân hàng xây dựng, lựa chọn và thực hiện. Hệ thống này hình thành trên phương pháp sau:

    • Xây dựng những phương pháp phòng chống rủi ro từ xa đối với từng loại nghiệp vụ cụ thể.
    • Xây dựng cơ chế giới hạn rủi ro thông qua các quy định giới hạn mức độ rủi ro cho phép cũng như đối với các nghiệp vụ ngân hàng.
    • Đa dạng hoá các hình thức kinh doanh
    • Phân bố rủi ro cho các đối tác thông qua nghiệp vụ ngân hàng.
    • Tự bảo hiểm bằng việc trích lập dự phòng rủi ro.

    Thứ năm, giám sát và kiểm tra: để phối hợp giữa việc thực hiện mục tiêu của ngân hàng và việc kiểm tra mức độ rủi ro tín dụng cần phải xây dựng một hội đồng kiểm tra và quy chế về chính sách kiểm tra rủi ro. Việc thực hiện giám sát các chương trình kiểm tra rủi ro cho thấy: để nâng cao tính hiệu quả của các chương trình kiểm tra rủi ro đòi hỏi việc xây dựng những tiêu chuẩn đối với các chương trình này, trong đó bao gồm việc lựa chọn và phân tích thông tin.

    Hội đồng quản trị phải có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược rủi ro tín dụng và những chính sách rủi ro tín dụng quan trọng cuẩ ngân hàng. Ban giám đốc có trách nhiệm thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng và xây dựng các chính sách, quy chế để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng. Ngân hàng phải xác định và quản trị rủi ro tín dụng đối với toàn bộ sản phẩm và hoạt động của ngân hàng.

    Trong quản trị rủi ro tín dụng, NH cần thực hiện quản trị rủi ro đối với từng khoản tín dụng và đối với toàn bộ danh mục tín dụng. Quản trị rủi ro tín dụng đối với từng khoản tín dụng đòi hỏi kiến thức cụ thể về hoạt động kinh doanh và điều kiện tài chính của đối tác trong khi quản trị rủi ro danh mục tín dụng yêu cầu kiến thức bao quát toàn diện để giám sát toàn bộ thành phần và chất lượng danh mục tín dụng. NH cần phải có hệ thống giám sát chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng phù hợp với tính chất, quy mô và tính phức tạp của danh mục tín dụng.

    NH cần có hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích có khả năng đo lường được rủi ro trong tất cả các hoạt động nội và ngoại bảng cân đối tài sản. Hiệu quả của quy trình đo lường rủi ro tín dụng phụ thuộc nhiều vào chất lượng cuả hệ thống thông tin quản lý. Việc đo lường RRTD cần xét tới các yếu tố như: tính chất của khoản tín dụng, các điều kiện tài chính và hợp đồng như thời hạn, lãi suất tham chiếu, rủi ro thất thoát có thể xảy ra cho đến khi đến hạn khoản vay do những biến động của thị trường, tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh, xếp hạng tín dụng nội bộ… Để bù đắp RRTD, ngân hàng thu lãi tiền vay theo lãi suất đủ để trang trải các chi phí đầu vào và công thêm phần lãi của ngân hàng. Mức lãi suất các ngân hàng áp dụng cho thấy mức độ rủi ro mà ngân hàng phải chịu. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay thì mức lãi giảm xuống, vì vạy, các ngân hàng cần phải đảm bảo rằng đầu tư của họ có chất lượng cao.

    Trong công tác QTRRTD, ngoài việc xếp hạng tín dụng, xác định giới hạn tín dụng đối với khách hàng, NH còn cần phải thường xuyên xem xét khoản vay, đánh giá những thay đổi hạn mức tín dụng của khách hàng. Bên cạnh đó, NH cũng cần xác định hạn mức cho từng ngành nghề hoặc khu vực kinh tế cụ thể, cho từng vùng miền và sản phẩm cụ thể nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng.

    Như vậy, QTRRTD được xem như một hệ thống tổ chức độc lập và phức tạp với cơ cấu kiến trúc đa tầng. Một trong những vấn đề cơ bản đặt ra trong lĩnh vực quản trị rủi ro là hình thành tối ưu phương pháp phân loại RRTD và bản chất quản trị chúng sẽ cho phép chi tiết hoá trong việc phân loại rủi ro.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận chương 3

    Từ thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Việt trong thời gian vừa qua, các giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tập trung xử lý những tồn tại ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng và nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng của Navibank; đề xuất sửa đổi về cơ cấu tổ chức, quy định tín dụng, hỗ trợ thông tin… góp phần hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong toàn hệ thống. Đồng thời cũng kiến nghị NHNN một số vấn đề để tạo lập một môi trường kinh doanh và quản trị rủi ro có hiệu quả, phát triển một hệ thống tài chính ổn định và bền vững. Sự nỗ lực của ngân hàng TMCP Nam Việt cùng với sự hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ đáp ứng các yêu cầu về tăng trưởng tín dụng an toàn và hiệu quả góp phần cho sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.

     

    KẾT LUẬN

    ˜ & ™

    Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động của cuộc sống con người, là những tình huống xảy ra mà con người không thể lường hết được dẫn đến tổn thất. Và trong hoạt động tín dụng, nguy cơ không thu hồi được nợ, xác suất khách hàng không trả nợ gốc và lãi vay khi đến hạn là tất yếu khách quan. Cùng với những khó khăn của nền kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu, chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Việt cũng chịu tác dộng không nhỏ.  Do đó nâng cao chất lượng tín dụng thông qua hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu của Navibank trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về bản chất, đặc trưng, các loại hình biểu hiện và mối tương quan của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Navibank. Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng được phân tích nhằm làm nổi bật nguyên nhân rủi ro trong mối quan hệ với các chủ thể liên quan trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Đối với Navibank, để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng khi cho vay, các đề xuất được đưa ra trong đề tài là:

    • Hoạt động tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo an toàn tín dụng.
    • Có những biện pháp quản lý tốt rủi ro tín dụng khi cho vay như chính sách cho vay cụ thể theo từng loại khách hàng, tăng cường chất lượng và hiệu quả nguồn thông tin, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng và nâng cao chất lượng tài sản đảm bảo.Tham khảo kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các nước trên thế giới.

    Rủi ro tín dụng cho dù xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì cũng không thể nào loại bỏ hoàn toàn được. Ngân hàng chỉ có thể áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng phòng ngừa và quản lý rủi ro tín dụng để kiểm soát tốt hơn rủi ro tín dụng, tránh những tổn thất to lớn khi có phát sinh.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ˜ & ™

    1. Văn bản pháp luật:

    (1) Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng.

    (2) Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007, luật sửa đổi bổ sung về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng.

    1. Giáo trình tham khảo:

    (3) TS.Hồ Diệu, 2002, Quản trị ngân hàng, TP.HCM, Nhà xuất bản thống kê

    (4) TS.Hồ Diệu, 2003, Tín dụng ngân hàng, TP.HCM, Nhà xuất bản thống kê

    (5) Peter.S.Rose, 2004, Quản trị ngân hàng thương mại, Hà Nội, Nhà xuất bản tài chính

    (6) PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản Thông kê

    (7) TS. Lê Thị Hiệp Thương, TS.Hồ Diệu, Th.S Bùi Diệu Anh(2009), Nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng, NXB Phương Đông.

    1. Một số tài liệu khác:

    (8) Báo cáo tài chính của Navibank qua các năm 2007, 2008, 2009

    (9) Tài liệu đào tạo quy trình cho vay cảu Navibank

    (10) Báo cáo thường niên của Navibank qua các năm 2007,2008,2009

    (11) Quyết định số 229c/2006/QĐ_TGĐ ngày 01/09/2006 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP Nam Việt

    (12) Quyết định số 05/2006/QĐ_TGĐ ngày 01/09/2006 của Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng TMCP Nam Việt.

    (13) Một số website:


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-tr%C3%ADch-theo-l%C6%B0%C6%A1ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Th%C6%B0%C6%A1ng-M%E1%BA%A1i-v%C3%A0-D%E1%BB%8Bch-vu-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%C4%90%C3%B4ng-Nam-%C3%81.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Với cơ chế thị trường mở cửa như hiện nay thì tiền lương là một trong những vấn đề rất quan trọng vì đó chính là khoản thù lao cho công lao động của người lao động.

    Lao động chính là hoạt động tay chân và trí óc của con người nhằm tác động biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người. Trong doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên thì chúng ta phải tái tạo sức lao động hay ta phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.

    Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Ngoài ra người lao động còn được hương một số thu nhập khác như: Trợ cấp, BHXH, tiền thưởng… Đối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý hạch toán tốt lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản trích đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm đến thời gian và chất lượng lao động.Từ đó nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành từ đó sẽ làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Sau khi thấy được tầm quan trọng của tiền lương và các khoản trích theo lương em đã chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á” để làm chuyên đề báo cáo thực tập dưới sự chỉ dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn thực tập cô Trần Ngọc Lan.

    Chuyên đề báo cáo của em gồm có 3 phần:

    – Chương I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.

    – Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán kế toán tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    – Chương 3: Các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    Do trình độ và thời gian có hạn nên trong báo cáo thực tập này không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế vì vậy em mong được sự chỉ bảo và giúp đữo của cô Trần Ngọc Lan.

    Em xin chân thành cảm ơn!.

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

     

    I. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.

    1. Bản chất và chức năng của tiền lương

    Tiền lương là biểu hiện bằng tiền hay sản phẩm mà xã hội trả cho người lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Như vậy tiền lương thực chất là khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời gian mà họ cống hiến cho doanh nghiệp. Tiền lương có chức năng vô cùng quan trọng nó là đòn bẩy kinh tế vừa khuyến khích người lao động chấp hành kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công, năng suất lao động giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    2. Vai trò và ý nghĩa của tiền lương

    1. Vai trò của tiền lương

    Tiền lương có vai trò rất to lớn nó làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động vì tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, người lao động đi làm cốt là để nhận được khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho họ để đảm bảo cho cuộc sống. Đồng thời đó cũng là khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra để trả cho người lao động vì họ đã làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp. Tiền lương có vai trò như một nhịp cầu  nối giữa người sử dụng lao động với người lao động. Nếu tiền lương trả cho người lao động không hợp lý sẽ làm cho người lao động không đảm bảo được ngày công và kỷ luật lao động cũng như chất lượng lao động, lúc đó doanh nghiệp sẽ không đạt được mức tiết kiệm chi phí lao động cũng như lợi nhuận cần có của doanh nghiệp để tồn tại như vậy lúc này cả hai bên đều không có lợi. Vì vậy công việc trả lương cho người lao động cần phải tính toán một cách hợp lý để cả hai bên cùng có lợi.

    1. ý nghĩa của tiền lương

    Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ cấp BHXH, tiền lương, tiền ăn ca… Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho người lao động từ đó sẽ làm cho người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động nâng cao năng suất lao động, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

    1. Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương

    Giờ công, ngày công lao động, năng suất lao động, cấp bậc hoặc chức danh thang lương quy định, số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành, độ tuổi, sức khỏe, trang thiết bị kỹ thuật đều là những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương cao hay thấp.

    II. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

    1. Hình thức tiền lương theo thời gian:

    Là tiền lương trả cố định căn cứ vào hợp đồng lao động và thời gian làm việc: Hình thức tiền lương theo thời gian được chia thành: Tiền lương tháng, ngày, giờ.

    – Tiền lương tháng: là tiền lương trả cho người lao động theo bậc lương quy định gồm có tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (nếu có). Được áp dụng cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.

    – Lương ngày: được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả công nhân, tính trả lương cho công nhân viên trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.

    – Lương giờ: Được tính bằng cách lấy lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày theo chế độ. Lương giờ thường làm căn cứ để tính phụ cấp làm thêm giờ.

    2.Hình thức trả lương theo sản phẩm:

    Là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra.

    3. Theo sản phẩm trực tiếp:

    Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng sản lượng hoàn thành đúng qui cách, phẩm chất và đơn giá sản phẩm.

    4.Theo sản phẩm gián tiếp:

    Được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận sản xuất như: công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất của lao động trực tiếp để tính lương cho lao động phục vụ sản xuất.

    5. Theo khối lượng công việc:

    Là hình thức tiền lương trả theo sản phẩm áp dụng cho những công việc đơn giản, có tính chất đột xuất như: Khoán bốc vác khoán vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm.

    6. Các hình thức đãi ngộ khác ngoài tiền lương:

    Ngoài tiền lương, BHXH công nhân viên có thành tích trong sản xuất, trong công tác được hưởng khoản tiền lương, tiền thưởng thi đua được trích từ quỹ khen thưởng căn cứ vào kết quả bình xét A, B, C và hệ số tiền lương để tính.

    – Tiền lương về sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động sẽ căn cứ vào hiệu quả kinh tế cụ thể để xác định.

    III. QUỸ TIỀN LƯƠNG, QUỸ BHXH, QUỸ BHYT VÀ KPCĐ

    1. Quỹ tiền lương

    Là toàn bộ số tiền lương trả cho số công nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương.

    Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ.

    – Tiền lương chính: là tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế bao gồm tiền lương cấp bậc, tiền lương, phụ cấp.

    – Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động khi họ không làm việc bao gồm: nghỉ lễ, nghỉ phép, ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan

    2. Quỹ bảo hiểm xã hội

    Quỹ BHXH là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ qui định là 20% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 15% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 5% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động.

    – Trợ cấp công nhân viên ốm đau, thai sản.

    – Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp.

    – Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động.

    – Chi công tác quản lý quỹ BHXH.

    3. Quỹ bảo hiểm y tế

    Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ qui định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ. Theo chế độ hiện hành doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng, trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHYT được chi tiêu trong trường hợp: khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang, kinh phí công đoàn.

    4. Kinh phí công đoàn

    Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp.

     

     

    IV. YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    – Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ số lượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động.

    – Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương. Mở sổ, thẻ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương theo đúng chế độ.

    – Tính toán phân bổ chính xác, đúng đối tượng chi phí tiền lương các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận đơn vị sử dụng lao động.

    – Lập báo cáo kế toán và phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương, đề xuất biện pháp khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động trong doanh nghiệp.

    V. HẠCH TOÁN CHI TIẾT TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    1. Hạch toán số lượng lao động:

    Căn cứ vào  chứng từ ban đầu là bảng chấm công hàng tháng tại mỗi bộ phận, phòng ban, tổ, nhóm gửi đến phòng kế toán để tập hợp và hạch toán số lượng lao động trong tháng đó tại doanh nghiệp và cũng từ bảng chấm công kế toán có thể  nắm được từng ngày có bao nhiêu người làm việc, bao nhiêu người với lý do gì.

    Hàng ngày tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm sẽ chấm công cho từng người tham gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó cuối tháng các phòng ban sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán. Tại phòng kế toán, kế toán tiền lương sẽ tập hợp và hạch toán số lượng công nhân viên lao động trong tháng.

    2. Hạch toán thời gian lao động

    Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc, ngừng việc, nghỉ BHXH của từng người cụ thể và từ đó có thể căn cứ tính trả lương, BHXH…

    Hàng ngày tổ trưởng (phòng ban, nhóm…) hoặc người ủy quyền căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận mình quản lý để chấm công cho từng người trong ngày và ghi vào các ngày tương ứng trong các cột từ 1 đến 31 theo các kí hiệu qui định. Kế toán tiền lương căn cứ vào các ký hiệu chấm công của từng người rồi tính ra số ngày công theo từng loại tương ứng để ghi vào các cột 32, 33, 34, 35, 36. Ngày công quy định là 8h nếu giờ lễ thì  đánh thêm dấu phẩy.

    Ví dụ: 24 công 4 giờ thì ghi 24,4

    Tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm sản xuất, công tác và trình độ hạch toán đơn vị có thể sử dụng một trong các phương pháp chấm công sau:

    Chấm công ngày: Mỗi khi người lao động làm việc tại đơn vị hoặc làm việc khác như họp, thì mỗi ngày dùng một ký hiệu để chấm công cho ngày đó.

    Chấm công theo giờ: Trong ngày người lao động làm bao nhiêu công việc thì chấm công theo các ký hiệu đã qui định và ghi số giờ công việc thực hiện công việc đó bên cạnh ký hiệu tương ứng.

    Chấm công nghỉ bù: Chỉ áp dụng trong trường hợp làm thêm giờ lương thời gian nhưng không thanh toán lương làm thêm.

    3. Hạch toán kết quả lao động

    Căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành. Do phiếu là chứng từ xác nhận số lượng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động nên nó làm cơ sở để kế toán lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho người lao động. Phiếu này được lập thành 2 liên: 1 liên lưu tại quyển 1 và 1 liên chuyển đến kế toán tiền lương để làm thủ tục thanh toán cho người lao động và phiếu phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng và người duyệt.

    Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành được dùng trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng theo hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc lương khoán theo khối lượng công việc.

    4. Hạch toán tiền lương cho người lao động

    Bảng thanh toán tiền lương: là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh đồng thời làm căn cứ để thống kê về lao động tiền lương. Bảng thanh toán tiền lương được lập hàng tháng theo từng bộ phận (phòng, ban, tổ chức, nhóm…) tương ứng với bảng chấm công.

    Cơ sở lập bảng thanh toán tiền lương là các chứng từ về lao động như: Bảng chấm công, bảng tính phụ cấp, trợ cấp, phiếu xác nhận thời gian lao động hoặc công việc hoàn thành. Căn cứ vào các chứng từ liên quan, bộ phận kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương, chuyển cho kế toán trưởng duyệt để làm căn cứ lập phiếu chi và phát lương. Bảng này lưu tại phòng kế toán. Mỗi lần lĩnh lương người lao động phải trực tiếp ký vào cột “ký nhận” hoặc người nhận hộ phải ký thay.

    Từ bảng thanh toán tiền lương và các chứng từ khác có liên quan kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương.

    VI. HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

    1. Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ:

    Các chứng từ ban đầu hạch toán tiền lương thuộc chỉ tiêu lao động tiền lương gồm các biểu mẫu sau:

    Mẫu số 01 – LĐTL – Bảng chấm công

    Mẫu số 02 – LĐTL – Bảng thanh toán TL

    Mẫu số 03 – LĐTL – Phiếu nghỉ ốm hưởng BHXH

    Mẫu số 04 – LĐTL – Danh sách người lao động hưởng BHXH

    Mẫu số 05 – LĐTL – Bảng thanh toán tiền lương

    Mẫu số 06 – LĐTL – Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn chỉnh

    Mẫu số 07 – LĐTL – Phiếu báo làm thêm giờ

    Mẫu số 08 – LĐTL – Hợp đồng giao khoán

    Mẫu số 09 – LĐTL – Biên bản điều tra tai nạn lao động

    2. Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

    Tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán

    * Tài khoản sử dụng:     TK 334 – phải trả công nhân viên

    TK 338 – phải trả phải nộp khác

    * TK 334 phản ánh các khoản phải trả CNV và tình hình thanh toán các khoản đó (gồm: Tiền lương, tiền thưởng, BHXH và các khoản thuộc thu nhập của CNV .

    Kết cấu TK 334:

    * Phương pháp hạch toán:

     
       
     
       

    Sơ đồ 2.1: Hạch toán các khoản phải trả CNV

    Hàng tháng căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương thanh toán TL và các chứng từ liên quan khác, kế toán tổng hợp số tiền lương phải trả CNV và phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo từng đối tượng sử dụng lao động, việc phân bổ thực hiện trên “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH”. Kế toán ghi:

    Nợ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp

    Nợ TK 627: Chi phí sản xuất chung

    Nợ TK 641: Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642: Chi phí QLDN

    Nợ TK 241: XDCB dở dang

    Có TK 334: Phải trả CNV

    – Tính ra số tiền lương phải trả CNV trong tháng, kế toán ghi:

    + Trường hợp thưởng cuối năm, thường thường kỳ:

    Nợ TK 431 – Quỹ khen thưởng, phúc lợi

    Có TK 334

    + Trường hợp thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thưởng tiết kiệm vật tư, thương NSLĐ:

    Nợ TK 642: Chi phí QLDN

    Có TK 334

    – Tính ra số tiền ăn ca, tiền phụ cấp trả cho người lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Nợ TK 622

    Nợ TK 627

    Nợ TK 641

    Nợ TK 642

    Có TK 334

    – Các khoản khấu trừ vào lương của CNV: khoản tạm ứng chi không hết, bồi thường vật chất, BHXH, BHYT công nhân viên phải nộp, thuế thu nhập phải nộp ngân sách Nhà nước.

    Nợ TK 334: Tổng số khấu trừ

    Có TK 141: Tạm ứng thừa

    Có TK 333: Thuế thu nhập cá nhân

    Có TK 338: Đóng góp của người lao động cho quỹ BHXH, BHYT.

    – Khi thanh toán lương cho người lao động

    Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    – Nếu vì một lý do nào đó mà người lao động: Nợ TK 3388

    Có TK 111, 112

    * TK 338: Dùng để phản ánh các khoản trả, phải nộp cho cơ quan quản lý, tổ chức đoàn thể xã hội.

    – Kết cấu TK 338

    + Phương pháp hạch toán

    Hàng tháng căn cứ vào tổng số tiền lương phải trả CNV trong tháng, kế toán trích BHXH, BHYT, CPCĐ theo tỷ lệ quy định tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận sử dụng lao động.

    Nợ TK 622: 19% lương CNTTSX

    Nợ TK 627: 19% lương NVQLPX

    Nợ TK 641: 19% lương NVBH

    Nợ TK 642: 19% lương NVQLDN

    Nợ TK 334: 6% tổng số lương

    Có TK 338: Tổng số BHXH, BHYT, KPCĐ

    Có TK 338 (2): 2% KPCĐ

    Có TK 338 (3): 20% BHXH

    Có TK 338 (4): 3% BHYT

    – Khi nộp BHXH, BHYT, KPCĐ cho các cơ quan quản lý quỹ:

    Nợ TK 3382, 3383, 3384

    Có TK 111, 112

    – Khi chi tiêu kinh phí công đoàn tại đơn vị:

    Nợ TK 3382

    Có TK 111, 112

    – Khi tính ra BHXH phải trợ cấp cho người lao động

    Nợ TK 3383

    Có TK 111, 112

    – KHi thanh toán BHXH cho người lao động

    Nợ TK 334

    Có TK 111, 112

    – KPCĐ và BHXH vượt chi khi được cấp bù:

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 3382, 3383

    – Thanh toán lương BHXH khi công nhân nghỉ ốm, thai sản

    Nợ TK 3383

    Có TK 334

    VII. HÌNH THỨC SỔ KẾ TOÁN

    Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc áp dụng hình thức sổ kế toán là hoàn toàn khác nhau, có thể áp dụng một trong 4 hình thức sau:

    – Nhật ký chung

    – Nhật ký sổ cái

    – Chứng từ ghi sổ

    – Nhật ký chứng từ

    1. Nhật ký chung:

    Là hình thức kế toán đơn giản, sử dụng sổ nhật ký chung để ghi chép cho tất cả các hoạt động kinh tế tài chính. Theo thứ tự, thời gian và theo quan hệ đối ứng tài khoản sau đó sử dụng số liệu ở sổ nhật ký chung để ghi sổ cái các tài khoản liên quan. Các loại sổ kế toán của hình thức này bao gồm: sổ nhật ký chuyên dùng, sổ  nhật ký chung, sổ cái và các sổ kế toán chi tiết.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 1.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức nhật ký chung

    1. Nhật ký chứng từ:

    Đặc điểm chủ yếu của hình thức kế toán này là mỗi nghiệp vụ kinh tế đều căn cứ vào chứng từ gốc để phân loại ghi vào các nhật ký – chứng từ theo thứ tự thời gian. Cuối tháng căn cứ vào số liệu tổng hợp ở từng nhật ký – chứng từ để lần lượt ghi vào sổ cái. Do nhật ký chứng từ vừa mang tính chất của sổ nhật ký, vừa mang tính chất của một chứng từ ghi sổ nên gọi là nhật ký  – chứng từ. Nhật ký chứng từ kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế và kết hợp việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán vào trong cùng một quá trình ghi chép.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 2.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức nhật ký chứng từ

    3. Chứng từ ghi sổ:

    Là hình thức kế toán chứng từ ghi sổ được hình thành sau các hình thức Nhật ký chung và Nhật ký sổ cái. Nó tách việc ghi nhật ký với việc ghi sổ cái thành 2 bước công việc độc lập, kế thừa để tiện cho phân công lao động kế toán, khắc phục những hạn chế của hình thức nhật ký sổ cái. Đặc trưng cơ bản là căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là chứng từ ghi sổ. Chứng từ này do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp các chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 3.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức chứng từ ghi sổ

    4. Nhật ký sổ cái:

    Đặc điểm của hình thức kế toán này là sử dụng sổ nhật ký – sổ cái làm sổ kế toán tổng hợp duy nhất để ghi sổ theo thứ tự thời gian kết hợp với ghi sổ phân loại theo hệ thống các nghiệp vụ kinh tế. Các loại kế toán sử dụng trong hình thức này bao gồm: sổ kế toán tổng hợp – sổ nhật ký sổ cái, sổ kế toán chi tiết.

     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ hoặc cuối tháng

    Đối chiếu

    Sơ đồ 4.1: Tổ chức hạch toán theo hình thức Nhật ký sổ cái.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

     

    I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ ĐÔNG NAM Á

    1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Đông Nam Á.

    Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á là công ty cổ phần trong đó có 70% vốn thuộc ngân sách Nhà nước. Được thành lập ngày 28-3-2005 do bà: Đỗ Thị Thanh Minh làm giám đốc

    Số vốn điều lệ: 1.800.000.000đ

    Giấy  phép kinh doanh số: 0103011527

    Mã số thuế: 0101900857

    Điện thoại: 04.636.7689

    Fax: 04.636.7689

    Địa chỉ: số 10 Ngõ 19 Lạc Trung, Hai Bà Trưng, Hà Nội

    2. Các ngành nghề kinh tế chủ yếu của công ty

    – Cung cấp văn phòng phẩm, thiết bị máy văn phòng

    – Cung cấp  dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng máy văn phòng

    1. Một số chỉ tiêu mà công ty đạt được từ quý 2/2005 đến quý 6/2006

    KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    Đơn vị: đồng

    Chỉ tiêu Mã số Quý 2/2005 Quý 2/2006 Sự tăng giảm
    Số tuyệt đối %
    DTBH và cung cấp dịch vụ 01 3.268.740.000 3.889.825.750 621.085.750 119,001%
    Các khoản giảm trừ 03 17.365.890 18.731.180 1.365.290 107,86%
    Chiết khấu TM 04 12.530.000 14.521.000 1.991.000 115,89%
    Giảm giá hàng bán 05 3.471.000 2.782.650 -688.350 80,17%
    Hàng bán bị trả lại 06 1.364.890 1.431.530 66.640 104,89%
    Doanh thu thuần 10 3.251.374.110 3.871.094.570 619.720.460 119,06
    Doanh thu HĐTC 21 19.612.242 17.307.168 -2.305.074 88,25
    Giá vốn hàng bán 11 2.614.125.000 2.526.531.200 -87.593.800 96,65
    Lợi nhuận gộp 20 637.249.110 944.563.370 307.314.260 148,23
    Chi phí tài chính 22 215.867.797 206.590.381 -9.277.416 95,7
    Chi phí bán hàng 24 17.021.500 19.325.680 2.304.180 113,54
    Chi phí QLDN 25 12.764.000 13.623.370 859.370 106,73
    Lợi nhuận từ HĐTC 30=20+(21-22)-(24-25) 30 411.208.055 722.331.107 311.123.052 175,67
    Thu nhập khác 31 231.508.686 195.758.794 -35.749.892 84,57
    Chi phí khác 32 32.819.352 29.325.757 -3.493.595 89,36
    Lợi nhuận khác (40=31-32) 40 198.689.334 166.433.037 -32.256.297 83,77
    Tổng lợi luận (50=30+40) 50 609.897.389 888.764.144 278.866.755 145,72
    Thuế TNDN phải nộp 51 162.568.705 193.553.729 30.986.024 119,06
    Lợi nhuận sau thuế (60=50-51) 60 447.328.684 695.209.415 247.880.731 155,4

    Qua biểu báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý 2/2005 so với quý 2/2006 cho thấy:

    + Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng hơn năm trước

    – Về số tuyệt đối tăng 621.085.750đ

    – Về số tuyệt đối tăng 119,001% tức là vượt 19,001%

    + Doanh thu thuần cũng tăng hơn so với năm trước:

    – Về số tuyệt đối tăng 619.720.460đ

    – Về số tương đối tăng 119,06% vượt 19,06%

    + Lợi nhuận sau thuế

    – Về số tuyệt đối tăng: 247.880.731đ

    – Về số tuyệt đối: 155,4% vượt 55,4%

    Như vậy, lợi nhuận sau khi đã nộp thuế thu nhập quý 2/2005 so với quý 2/2006 tăng 247.880.731đ hay 55,4%.

    Đặc biệt là tỷ lệ giá vốn hàng bán giảm 15,13% quý 2/2005 so với quý 2/2006 đã làm cho lợi nhuận tăng đáng kể

    x 100 = 65,27%  <   = 80,4%

    Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên ta có thể thấy công ty đã ngày càng lớn mạnh và làm ăn có lãi, tạo được niềm tin cho cán bộ công nhân viên, giúp họ hăng say trong công việc tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty và làm cho cuộc sống của họ ngày càng được nâng cao.

    4. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh của công ty cổ phần  thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á.

    * Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty

    Bộ máy của công ty quản lý theo hình thức tập chung, chức năng gọn nhẹ chuyên sản xuất, tổ chức bộ máy gồm có

     
       

    4.1. Mô hình bộ máy quản lý của công ty

    Giám đốc: là người đứng đầu, đại diện cho tư cách pháp nhân của công ty và là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kinh doanh của công ty.

    – Dưới giám đốc là phó giám đốc.

    + Phó giám đốc kỹ thuật: có nhiệm vụ xác định các định mức về kinh tế kỹ thuật.

    + Phó giám đốc tài chính: chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều động nhân lực và quản lý nguồn vốn gửi điểm của công ty.

    – Các phòng ban khối hành chính: chịu trách nhiệm về phương hướng kinh doanh và phát triển thị trường.

    – Phòng kế toán: Quản lý và thực hiện chặt chẽ chế độ tài vụ của công ty theo đúng nguyên tắc, quy định của Nhà nước và ban giám đốc của công ty. Hoàn thành việc quyết toán sổ sách và báo cáo tài chính, lưu trữ và bảo mật hồ sơ, chứng từ… Thực hiện đúng nguyên tắc về chế độ tiền lương, thường theo qui định. Quản lý trực tiếp các quỹ của công ty theo dõi và báo cáo kịp thời tình hình tài chính cho giám đốc.

    5. Đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á.

    1. Tổ chức bộ máy công tác kế toán

    Tổ chức bộ máy kế toán của công ty được tổ chức  theo hình thức tập trung chuyên sâu, mỗi người trong phòng kế toán được phân công phụ trách một công việc nhất định do vậy công tác kế toán tại công ty là tương đối hoàn chỉnh, hoạt động không bị chồng chéo lên nhau.

     
       

    5.1. Tổ chức công tác kế toán

    Phòng kế toán của công ty Đông Nam á có 5 người trong đó có 1 phó giám đốc, 1 kế toán trưởng và 3 kế toán viên.

    – Chức năng phòng kế toán: Giúp cho ban giám đốc chỉ đạo thực hiện toàn bộ chính sách của Nhà nước về quản lý tài chính.

    – Nhiệm vụ: Thực hiện ghi chép phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản có liên quan. Lập báo cáo cung cấp số liệu, tài liệu của công ty theo yêu cầu của giám đốc công ty và của cơ quan quản lý Nhà nước. Lập kế hoạch, kế toán tài chính, tham mưu cho giám đốc về các quyết định trong việc quản lý công ty.

    – Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm trước ban giám đốc và các cơ quan pháp luật về toàn bộ công việc kế toán của mình tại công ty. Có nhiệm vụ theo dõi chung. Chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức phân công kiểm tra các công việc của nhân viên kế toán.

    – Kê toán kho: Cập nhật chi tiết lượng hàng hoá, dụng cụ xuất ra cho các văn phòng, công ty và lượng hàng hoá mua vào của công ty. Dựa vào các chứng từ xuất nhập vật tư, cuối tháng tính ra số tiền phát sinh và lập báo cáo.

    – Kế toán tổng hợp: thực hiện công tác cuối kỳ, có thể giữ sổ cái tổng hợp cho tất cả các phần hành ghi sổ cái tổng hợp, lập báo cáo nội bộ cho bên ngoài đơn vị theo định kỳ báo cáo hoặc yêu cầu đột xuất.

    – Kế toán công nợ: phản ánh  các khoản nợ phải thu, nợ phải trả các khoản phải nộp, phải cấp cũng như tình hình thanh toán và còn phải thanh toán với đối tượng (người mua, người bán, người cho vay, cấp trên, ngân sách…). Ngoài ra  do mô hình thanh toán tức là sẽ ghi chép kịp thời các nghiệp vụ thanh toán phát sinh tính toán tiền lương và các khoản trích theo lương tiến hành phân bổ các khoản chi phí lương, chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ theo đúng chế độ kế toán hiện hành.

    – Thủ quỹ: phản ánh thu, chi tồn quỹ tiền mặt hàng ngày đối chiếu tồn quỹ thực tế với sổ sách để phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời đảm bảo tồn quỹ thực tế tiền mặt cũng bằng số dư trên sổ sách.

    1. Hình thức kế toán được công ty áp dụng: Chứng từ ghi sổ
     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi định kỳ

    Đối chiếu

    Sơ đồ 5.2: Hình thức kế toán của công ty

    II. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

    1. Đặc điểm về lao động của công ty cổ phần thương mại và dịch vụ ã Đông Nam Á

    Đặc điểm kinh doanh củâ công ty là kinh doanh về văn phòng phẩm và thiết bị văn phòng nhưng công ty cũng không đòihỏi tất cả mọi người đều phải có trình độ đại học mà chỉ bắt buộc đối với các trưởng phòng đại diện và nhữgn người làm trong phòng kế toán.

    Tại công ty tỷ trọng của những người có trình độ trung cấp và chiếm 4% trên tổng số CBCNV toàn công ty được thể hiện qua bảng sau:

    STT Chỉ tiêu Số CNV Tỷ trọng
    1 – Tổng số CNV

     

    + Nam

    + Nữ

    30

     

    16

    14

    30

     

    16

    14

    2 – Trình độ

     

    + Đại học

    + Cao đẳng

    + Trung cấp

    20

     

    6

    4

    20

     

    6

    4

    2. Phương pháp xây dựng qũy lương tại công ty

    Quỹ lương của công ty là toàn bộ số tiền lương trả cho cán bộ CNV của công ty. Hiện nay công ty xây dựng qũy tiền lương trên tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là 22%.

    Hàng tháng sau khi tổng hợp toàn bộ doanh số bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán sẽ lấy tổng doanh thu đó nhân với 22% sẽ ra quỹ lương của công ty trong tháng đó.

    Ví dụ:

    Doanh thu của công ty tháng 12 năm 2005 là 136.274.545,46đ

    136.274.545,46 x 22% = 35.920.400đ

    1. Hàng tháng công ty sẽ tính ra thưởng cho CNV lấy từ quỹ thưởng khoản tiền thưởng này góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất cho 1 lao động, khuyến khích họ hăng say trong công việc với thời gian ngắn nhất. Tiền thưởng của công ty được tính 15% trên tổng quỹ lương: 15% x 35.920.400 = 5.388.060đ.

    Sau đó sẽ phân chia cho các bộ phận:

    – Bộ phận QLDN sẽ là: 2% x 35.920.400 = 718.408 đ

    – Bộ phận kinh doanh: 7% x 35.920.400 = 2.514.428đ

    – Bộ phận kỹ thuật: 5% x 35.920.400 = 1.796.020đ

    – Bộ phận kế toán: 1% x 35.920.400 = 359.204 đ

    4. Nguyên tắc trả lương và phương pháp trả lương của công ty

    Theo qui định của Nhà nước thì hệ số lương của các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp như sau:

    – Đối với bậc đại học là 2,34

    – Đối với bậc cao đẳng là 1,80

    – Đối với bậc trung cấp là 1,70

    và mức lương cơ bản là 350.000đ

    Ở công ty việc chi trả lương đều do thủ qũy thực hiện, thủ quỹ căn cứ vào các chứng từ “Bảng thanh toán tiền lương” và “Bảng thanh toán BHXH” để chi trả lương và các khoản khác cho nhân viên trong công ty.

    Do qui mô còn nhỏ nên công ty chỉ áp dụng hình thức trả lương theo thời gian.

    Công thức tính như sau:

    Ltg =  x Số ngày làm việc trong tháng

    VD: Nhân viên Hồ Ngọc Chương thuộc bộ phận kinh doanh trong tháng 12 làm được 30 công, do là trưởng phòng nên sẽ có hệ số phụ cấp là 0,30 và hệ số lương là 2,34 vậy tháng lương của Hồ Ngọc Chương sẽ được tính như sau:

    x 30 = 924.000

    Cứ như vậy kế toán sẽ dựa vào hệ số lương, hệ số phụ cấp và sô ngày làm việc của từng nhân viên đẻ tính ra  tiền lương hàng tháng cho công nhân viên.

    Chỉ tính lương cho bộ phận quản lý doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ số lương và hệ số phụ cấp của từng người cùng với bảng chấm công. Bảng chấm công dùng để theo dõi thời gian làm việc của từng người trong tháng. Bảng chấm công do cán bộ phụ trách có trách nhiệm chấm công cho từng người, cuối tháng sẽ chuyển về phòng kế toán cùng với những chứng từ khác để tính ra số tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên.

    Do doanh nghiệp là công ty cổ phần có 70% vốn thuộc ngân sách Nhà nước nên hệ số chức vụ quản lý doanh nghiệp được tính như sau:

    Chức danh Hệ số lương Hệ số phụ cấp
    – Giám đốc

     

    – PGĐ – KTT

    – Trưởng phòng

    – Phó phòng

    4,98

     

    4,32

    0,30

     

    0,20

    4.1. Bảng tính hệ số lương, hệ số phụ cấp của công ty

    BẢNG CHẤM CÔNG PHÒNG KINH DOANH

    Tháng 11/2005

     

    STT Họ và tên Cấp bậc lương hoặc cấp bậc chức vụ Ngày trong tháng Cộng bảng lương sản phẩm Số công lương thời gian Sô công nghỉ việc hưởng 100% Số công nghỉ việc hưởng 100% Số công hưởng BH

     

    XH

    1 2 3 4 5 6 29 30 31
    1 Hồ Ngọc Chương (2,34  + 0,30) x x x x x x   x x     30      
    2 Nguyễn Hồng Phong (2,34 + 0,20) x x x x x x   x x     30      
    3 Nguyễn Ngọc Đức 2,34 x x x x x x   x x     30      
    4 Nguyễn Thị Hương 2,34 x x 0 x x x   x x     29      
    5 Đào Thanh Khoa 2,34 x x x x x x   x x     30      
    6 Phạm Quỳnh Hoa 2,34 x x x x x x   x x     30      
    7 Vũ Thị Hằng 1,80 0 x x x x x   0 x     28      
    8 Trương Thị Trang 1,80 x x x x x x   x x     30      
    9 Lê Thị Lan 1,80 x x x x x 0   x x     29      
    10 Trần Văn Lực 1,80 x x x x x x   x x     30      
    11 Đỗ Bích Thuỷ 1,80 x x x x x x   x x     30      
    12 Vũ Thị Yến 1,80 x x x x x x   x x     30      
    13 Vũ Thị Trang 2,34 x x 0 x x x   x x     29      
    14 Lê Thị Vân 2,34 x x x x x x   x x     30      
    15 Trần Thị Nga 2,34 x x x x 0 x   x x     29      
    16 Lê Ngọc Vân 1,80 x x x x x x   x x     30      
    17 Vũ Ngọc Lương 1,80 x 0 x x x x   x x     30      
    18 Phạm Văn Lực 1,80 x x x x x x   x x     29      
    19 Nguyễn Thị Lệ 1,80 x x x x x x   x x     30      

    4.2: Bảng chấm công bộ phận kinh doanh tháng 11

    Bộ phận: Quản lý doanh nghiệp

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11 năm 2005

    STT Họ và tên Chức vụ Lương chính Tổng số Tạm ứng kỳ I Các khoản khấu trừ 6% BHXH Tiền thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SL Hệ số lương Lương cơ bản
    1 Đỗ Thị Thanh Minh 30 4,98 350.00 1.743.000 400.000 104.580 179.602 1.418.022
    2 Bùi Văn Long PGĐ 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
    3 Lê Đức Hùng PGĐ 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
    4 Nguyễn Thị Lý KTT 30 4,32 350.00 1.512.000 400.000 90.720 179.602 1.200.882
      Tổng   120   1.400.000 6.279.000 1.600.000 376.740 718.408 5.020.668

    4.3: Bảng thanh toán lương bộ phận QLDN tháng 11

    Bộ phận: Phòng kinh doanh

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11 năm 2005

    TT Họ và tên Chức vụ Lương chính Phụ cấp khác Tổng số Tạm ứng kỳ I Các khoản khấu trừ 6% BHXH Thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SC Hệ số bậc Lương TT
    1 Hồ Ngọc Chương TP 30 2,34 350.000 0,30 924.000 300.000 55.440 132.338 700.898
    2 Nguyễn Hồng Phong PP 30 2,34 350.000 0,20 889.000 300.000 53.340 132.338 667.998
    3 Nguyễn Ngọc Đức NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    4 Nguyễn Thị Hương NV 29 2,34 350.000   791.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    5 Đào Thanh Khoa NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    6 Phạm Quỳnh Hoa NV 30 2,34 350.000   819.000 300.000 49.140 132.338 602.198
    7 Vũ Thị Hằng NV 28 1,80 350.000   588.000 300.000 35.280 132.338 385.058
    8 Trương Thị Trang NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    9 Lê Thị Lan NV 29 1,80 350.000   609.000 300.000 36.540 132.338 404.798
    10 Trần Văn Lực NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    11 Đỗ Bích Thuỷ NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    12 Vũ Thị Yến NV 30 2,34 350.000   630.000 300.000 37.000 132.338 424.538
    13 Vũ Thị Trang NV 29 2,34 350.000   630.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    14 Lê Thị Vân NV 30 2,34 350.000   791.700 300.000 49.140 132.338 602.198
    15 Trần Thị Nga NV 29 1,80 350.000   819.000 300.000 47.502 132.338 576.536
    16 Lê Ngọc Vân NV 30 1,80 350.000   791.000 300.000 37.800 132.338 424.538
    17 Vũ Ngọc Lương NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000 37.800 132.338 504.798
    18 Phạm Văn Lực NV 29 1,80 350.000   609.000 300.000 36.540 132.338 424.538
    19 Nguyễn Thị Lệ NV 30 1,80 350.000   630.000 300.000      
      Tổng   563   6.650.000   14.309.400 5.700.000 783.006 2.514.428 10.340.822

    4.4: Bảng thanh toán lương bộ phận kinh doanh tháng 11

     

    BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG

    Tháng 11/2005

     

     

    Bộ phận Lương chính Lương BHXH Tổng số Tạm ứng kỳ I Số tiền KT 6% BHXH Thưởng Kỳ II thực lĩnh
    SC ST SC ST
    1. Bộ phận QLDN

     

    2. Bộ phận kinh doanh

    3. Bộ phận kỹ thuật

    4. Bộ phận kê toán

    120

     

    563

    325

    59

    6.279.000

     

    14.309.400

    12.560.000

    2.772.000

    0

     

    0

    0

    0

    0

     

    0

    0

    0

    6.279.000

     

    14.309.400

    12.560.000

    2.772.000

    1.600.000

     

    5.700.000

    4.370.000

    1.200.000

    376.740

     

    783.006

    753.600

    166.320

    718.408

     

    2.514.428

    1.796.020

    359.204

    5.020.668

     

    10.340.822

    9.232.420

    1.764.884

    Tổng   35.920.4000 0 0 35.920.400 12.870.000 2.079.666 5.388.060 26.358.794

    4.5: Bảng thanh  toán lương của công ty tháng 11 năm 2005

    5. Hàng tháng công ty có hai kỳ trả lương vào ngày 15 và ngày 30.

    – Kỳ I: Tạm ứng cho CNV đối với những người có tham gia lao động trong tháng.

    – Kỳ II: Sau khi tính lương và các khoản phải trả cho CNV trong tháng của doanh nghiệp. Kế toán sẽ trừ đi số tiền tạm ứng trước đây và thanh toán nốt số tiền còn lại mà CNV được lĩnh trong tháng đó.

    – Khi muốn tạm ứng người có trách nhiệm của các bộ phận sẽ lập 1 giấy đề nghị tạm ứng và gửi lên cho thủ trưởng đơn vị để xin xét duyệt. Trong giấy đề nghị tạm ứng phải ghi rõ số tiền tạm ứng, lý do tạm ứng. Sau đó giấy đề nghị này sẽ được chuyển cho kế toán trưởng và kế toán trưởng xem xét và ghi ý kiến đề nghị. Căn cứ vào quyết định của thủ trưởng và kế toán trưởng, kế toán thanh toán lập phiếu chi kèm giấy đề nghị tạm ứng, chuyển cho thủ quỹ làm thủ tục xuất quỹ.

     

    GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Kính gửi: Ban giám đốc

    Tên tôi là: Hồ Ngọc Chương

    Địa chỉ: Trưởng phòng kinh doanh

    Đề nghị cho tạm ứng số tiền: 5.700.000đ

    (Viết bằng chữ): Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Lý do tạm ứng: Tạm ứng lương cho CNV

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Thủ trưởng đơn vị

     

    (Ký, họ tên)

    Kế toán trưởng

     

    (Ký, họ tên)

    Thủ quỹ

     

    (Ký, họ tên)

    Người nhận

     

    (Ký, họ tên)

    5.1: Giấy đề nghị tạm ứng

    Nợ TK: 334

    Có TK111

    PHIẾU CHI

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    Họ tên người nhận: Hồ Ngọc Chương

    Địa chỉ: Trưởng phòng kinh doanh

    Lý do tạm ứng: Tạm ứng lương kỳ I cho CNV trong tháng

    Số tiền: 5.700.000đ

    (Viết bằng chữ): Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Kèm theo 02 chứng từ gốc

    Thủ trưởng đơn vị

     

    (Ký, họ tên)

    Kế toán trưởng

     

    (Ký, họ tên)

    Thủ quỹ

     

    (Ký, họ tên)

    Người nhận

     

    (Ký, họ tên)

    Đã nhận đủ số tiền (bằng chữ) Năm triệu bảy trăm ngàn đồng chẵn

    Ngày 15 tháng 11 năm 2005

    5.2: Phiếu chi tạm ứng

    1. Hạch toán các khoản trích theo lương tại công ty
    2. Quỹ BHXH: Dùng để chi trả cho 1 người lao động trong thời gian nghỉ do ốm đau theo chế độ hiện hành. BHXH phải được tính là 20% trên tổng quỹ lương trong đó 15% tính vào chi phí kinh doanh của công ty. 5% do người lao động góp trừ vào lương công ty sẽ nộp hết 20% cho cơ quan bảo hiểm.

    Tháng 11 tổng quỹ lương của công ty là: 35.920.400đ

    Theo quy định công ty sẽ nộp BHXH với số tiền là:

    35.920.400 x 20% = 7.184.080đ

    Trong đó NV đóng góp trừ vào lương là:

    35.920.400 x 5% = 1.796.020đ

    Còn lại 15% công ty tính vào chi phí:

    7.184.080 – 1.796.020 = 5.388.060đ

    VD: Hồ Ngọc Chương thuộc bộ phận kinh doanh cuối tháng  kế toán tính ra số tiền lương là 924.000 vậy số tiền mà Chương phải nộp BHXH là:

    924.000 x 5% = 46.200đ

    Còn tiền BHXH mà công ty phải chịu vào chi phí là:

    924.000 x 15% = 138.600đ

    1. Quỹ BHYT: Dùng để chi trả cho người tham gia đóng góp trong thời gian khám chữa bệnh. BHYT được tính 3% trên tổng quỹ lương trong đó:

    – 2% tính vào chi phí của công ty

    – 1% tính vào lương của CNV

    Tháng 11 quỹ lương của công ty là 35.920.400đ. Theo qui định công ty sẽ nộp BHYT với số tiền: 35.920.400 x 5% = 1.077.612đ

    Trong đó: Nhân viên chịu trừ vào lương 1%

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    Còn lại 2% công ty tính vào chi phí:

    35.920.400 x 2% = 718.408 đ

    VD: Nhân viên Hồ Ngọc Chương với số lương là 924.000 thì số tiền mà Chương phải nộp BHYT là: 924.000 x1% = 9.240đ

    Còn 2% công ty tính vào chi phí:

    924.000 x 2% = 18.480đ

    1. KPCĐ: Dùng để duy trì hoạt động của công đoàn doanh nghiệp được tính 2% trên tổng quỹ lương, 1% nộp cho công đoàn cấp trên, 1% giữ lại tại doanh nghiệp.2% này được tính hết vào chi phí.

    Quỹ lương tháng 11 của công ty là: 35.920.400đ thì 2% KPCĐ được công ty tính vào chi phí là: 35.920.400đ x 2% = 718.408đ

    Trong đó: 1% mà doanh nghiệp phải nộp cấp trên là:

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    1% giữ lại tại doanh nghiệp là:

    35.920.400 x 1% = 359.204đ

    Như vậy: Hai khoản BHXH, BHYT phải thu của nhân viên được tính vào là 6% trừ luôn vào lương của người lao động khi trả lương.

    Số tiền mà doanh nghiệp sẽ trừ vào lương của nhân viên là:

    35.920.400 x 6% = 2.155.224đ

    1. Cuối tháng kế toán tính ra số tiền lương phải trả cho các bộ phận hạch toán như sau:

    * Ngày 15/11 tạm ứng lương kỳ I cho CNV:

    Nợ TK 334

    Có TK 111           11.870.000

    * Ngày 28/11 tính ra số tiền lương phải trả cho nhân viên QLDN (bộ phận kỹ thuật + bộ phận kế toán) và bộ phận bán hàng

    Nợ TK 641: 14.309.400đ

    Nợ TK 642: 21.611.000đ

    Có TK 334: 35.920.400đ

    * Ngày 28/11 tính ra các khoản phải trích theo lương

    Nợ TK 641: 14.309.400 x 19% = 2.718.786đ

    Nợ TK 642: 21.611.000 x 19% = 4.106.090đ

    Nợ TK 334: 35.920.400 x 6% = 2.155.224đ

    Có TK 338: 35.920.400 x 25% = 8.980.100đ

    Có TK 3382: 35.920.400 x 2% = 718.408

    Có TK 3383:35.920.400 x 20% = 7.184.080đ

    Có TK 3384: 35.920.400 x 3% = 1.077.612đ

    * Tính ra số tiền từ quỹ khen thưởng, tiền trợ cấp BHXH từ qũy BHXH không phản ánh vào chi phí:

    Nợ TK 431: 5.388.060đ

    Nợ TK 3383: 2.079.666đ

    Có TK 334:7.467.726đ

    * Khi thanh toán lương cho công nhân  viên (ngày 30/11/2005)

    Nợ TK 334

    Có TK 111           26.358.794

    * Khi nộp KPCĐ (1%), BHXH (20%), BHYT (3%) cho cơ quan quản lý quỹ lương bằng chuyển khoản.

    Nợ TK 338:  x 24 = 8.620.896đ

    Nợ TK 3382: 359.204đ

    Nợ TK 3383: 7.184.080đ

    Nợ TK 3384: 1.077.612đ

    Có TK 111: 8.620.896đ

     

     

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH

    Tháng 11 năm 2005

    STT      TK ghi có

     

    TK ghi nợ

    TK 334 TK 338 Tổng 338 Tổng
    Lương chính Phụ cấp Khác Cộng 3382 3383 3384
    1 TK 641 14.309.400     14.309.400 286.188 2.146.410 286.188 2.718.786 17.028.186
    2 TK 642 21.611.000     21.611.000 432.220 3.241.650 432.220 4.106.090 25.717.090
    3 TK 338     2.079.666           2.079.600
    4 TK 431     5.388.060           5.388.060
    5 TK 334           1.796.020 359.204 2.155.224 2.155.224
        35.920.400   7.467.726 35.920.400 718.408 7.184.080 1.077.612 8.980.100 52.368.160

    6.1: Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội tháng 11

    Từ bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương cùng bảng thanh toán tiền lương, kế toán lập một số chứng từ ghi sổ. Cuối tháng các chứng từ này sẽ được tổng hợp vào sổ đăng ký chứng từ.

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 01

    Ngày 15/11/2005

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tạm ứng lương kỳ I cho CNV 334 111 12.870.000
    Tổng cộng x x 12.870.000

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.2: Chứng từ ghi sổ số 01

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 02

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Trích TL phải trả trong tháng

     

    – Tiền lương NV QLDN

    – Tiền lương NV BH

    642

     

    641

    334 21.611.000

     

    14.309.400

    Tổng cộng     35.920.400

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.3. Chứng từ ghi sổ số 02

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 03

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tính ra các khoản trích theo lương

     

    – Tính vào chi phí bán hàng

    – Tính vào chi phí QLDN

    – Tính vào lương

    641

     

    642

    334

    338 2.718.786

     

    4.106.090

    2.155.224

    Tổng cộng x x 8.980.100

    Kèm theo 05 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.4. Chứng từ ghi sổ số 03

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 04

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    BHXH phải trả CNV trong tháng 334 338 2.079.666
    Tổng cộng x x 2.079.666

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.5: Chứng từ ghi sổ số 04

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 05

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Khấu trừ lương khoán BHXH 334 338 2.155.224
    Tổng cộng x x 2.155.224

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.6: Chứng từ ghi sổ số 05

     

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 06

    Ngày 28 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Tính ra số tiền thưởng phải trả CNV 431 334 5.388.060
    Tổng cộng x x 5.388.060

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.7: Chứng từ ghi sổ số 06

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 07

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Thanh toán lương cho công nhân viên 334 111 26.358.794
    Tổng cộng x x 26.358.794

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.8: Chứng từ ghi sổ số 07

    CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Số 08

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Trích yếu Số hiệu TK Số tiền
    Nợ
    Nộp KPCĐ, BHXH, BHYT cho cơ quan quản lý 338 112 8.620.896
    Tổng cộng x x 8.620.896

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    Người lập                                          Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)                                                   (Ký, họ tên)

    6.8: Chứng từ ghi sổ số 08

    – Cuối tháng tổng hợp các chứng từ vào sổ đăng ký chứng từ

    SỔ ĐĂNG KÝ CHỨNG TỪ GHI SỔ

    Tháng 11/2005

    Chứng từ ghi sổ Số tiền Chứng từ ghi sổ Số tiền
    SH NT SH NT
    01 15/11 12.870.000 05 30/11 2.155.224
    02 28/11 35.920.000 06 30/11 5.388.060
    03 28/11 8.980.100 07 30/11 26.358.794
    04 28/11 2.079.600 08 30/11 8.620.896

    Ngày 30 tháng 11 năm 2005

    Kế toán trưởng                                        Thủ trưởng đơn vị

    (Ký, họ tên)                                                  (Ký, họ tên)

    6.9: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    SỔ CÁI

    Tài khoản 334

    Đơn vị tính: đồng

    Chứng từ ghi sổ Diễn giải Số hiệu TK Số tiền
    SH NT Nợ
    01 15/11 Số dư đầu tháng

     

    Số phát sinh

    Tạm ứng lương kỳ I

    111 12.870.000  
    02 28/11 TL phải trả CNV

     

    – TL trả NVQLDN

    – TL trả VNBH

    642

     

    641

      21.611.000

     

    14.309.400

    04 28/11 BHXH phải trả CNV trong tháng 338   2.079.666
    05 30/11 Khấu trừ lương khoản BHXH 3383 2.155.224  
    06 30/11 Tiền thưởng phải trả 431   5.388.060
    07 30/11 Thanh toán lương cho CNV 111 26.155.224  
        Số phát sinh

     

    Dư cuối tháng

      41.180.448 43.388.126

     

    2.207.678

    6.11: Sổ cái tài khoản 334

    SỔ CÁI

    Tài khoản 338

    Đơn vị tính: đồng

    Chứng từ ghi sổ Diễn giải Số hiệu TK Số tiền
    SH NT Nợ
        Số dư đầu tháng      
    03 28/11 Trích BHXH, BHYT, KPCĐ

     

    – Tính vào CPBH

    – Tính vào CPQLDN

    – Trừ vào lương

    641

     

    642

    334

      2.718.786

     

    4.106.090

    2.155.224

    04 28/11 BHXH phải trả trong tháng 334 2.079.600  
    08 30/11 Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ 111 8.620.896  
        Cộng phát sinh

     

    Dư cuối tháng

      10.700.496

     

    1.720.396

    8.980.100

    6.10. Sổ cái tài khoản 338
    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á

    I. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY THƯƠNG MẠI THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KỸ THUẬT ĐÔNG NAM Á.

    1. Nhận xét chung về công tác kế toán của công ty

    Trong mỗi một công ty tư nhân, liên doanh hay thuộc ngân sách Nhà nước thì bộ phận kế toán là một bộ phận không thể thiếu. Hệ thống sổ sách của công ty tương đối hoàn chỉnh, kế toán đã sử dụng hình thức trả lương rất phù hợp đối với cán bộ công nhân viên trong công ty đặc biệt ở phòng kế toán được bố trí rất khoa học, hợp lý và được phân công theo từng phần hành cụ thể rõ ràng nên công việc không bị chồng chéo cùng với đội ngũ cán bộ đều có trình độ nên đã đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh doanh của công ty.

    2. Nhận xét về công tác kế toán lao động tiền lương trích BHXH, BHYT, KPCĐ tại công ty

    Hạch toán tiền lương là một hệ thống thông tin kiểm tra các hoạt động của tài sản và các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối trao đổi và tiêu dùng.

    Kế toán tiền lương ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng về tiền lương là giai đoạn gắn liền với lợi ích kinh tế của người lao động và tổ chức kinh tế. Phương pháp hạch toán chỉ được giải quyết khi nó xuất phát từ  người lao động vfa tổ chức kinh tế. Trong công ty việc trả lương công bằng luôn luôn được đặt lên hàng đầu, trả lương phải hợp lý với tình hình kinh doanh của công ty.

    Để công tác kế toán tiền lương các khoản trích theo lương của người lao động thực sự phát huy được vai trò của nó và là những công cụ hữu hiệu của công tác quản lý thì vấn đề đặt ra cho những cán bộ làm công tác kế toán lao động tiền lương và các nhà quản lý, doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu các chế độ chính của Nhà nước về công tác tiền lương và các khoản trích theo lương để áp dụng vào công ty mình một cách khoa học và hợp lý, phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty đồng thời phải luôn luôn cải tiến để nâng cao công tác quản lý lương và các khoản trích theo lương. Thường xuyên kiểm tra xem xét để rút  ra những hình thức và phương pháp trả lương một cách khoa học, công bằng với người lao động để làm sao đồng lương phải thực sự là thước đô giá trị lao động.

    Cùng với việc nâng cao chất lượng lao động công ty phải có lực lượng lao động với một cơ cấu hợp lý, trình độ tay nghề phải được qua đào tạo, có sức khoẻ và bố trí lao động phù hợp với khả năng để họ phát huy, tạo thuận lợi cho việc hoàn thành kế hoạch đồng thời công ty phải quản lý và sử dụng tốt thời gian lao động nhằm nâng cao thu nhập cho công ty. Ngoài ra công ty phải không ngừng nâng cao hoàn thiện trang thiết bị TSCĐ của công ty để phát huy khả năng lao động nhằm nâng cao thu nhập cho công ty và cải thiện đời sống cho người lao động thông qua số tiền lương mà họ được hưởng.

    Trong công ty ngoài tiền lương được hưởng theo số lượng và chất lượng lao động đã hao phí. Người lao động còn được hưởng, thu nhập từ các quỹ BHXH, khi ốm đau, tai nạn, thai sản mất sức…

    Công ty đã sử dụng qũy KPCĐ tại công ty rất hợp lý. Bộ máy quản lý của công ty rất quan tâm đến tình hình lao động cũng như cuộc sống của công nhân viên. Chính điều này đã làm cho CNV trong công ty  cảm thấy yên tâm về công việc cũng như công ty mà mình đã chọn để cống hiến sức lao động của mình sao cho đúng đắn.

    3. Ưu điểm

    Với hình thức trả lương theo thời gian với mức lương ổn định và tăng dần đã làm cho CBCNV thực sự tin tưởng và gắn bó với công ty cùng với điều hành của ban lãnh đạo cũng như sự lao động hiệu quả của phòng kế toán luôn đảm bảo công bằng hợp lý chính xác đã làm cho CNV yên tâm và hăng say trong công việc, do vậy công ty đã ngày càng phát triển hơn, đời sống CBCNV ngày càng được đảm bảo và nâng cao.

    4. Nhược điểm

    Do sự cập nhật của các chứng từ còn chậm hơn nữa sự giám sát, quản lý của các văn phòng vẫn còn buông lỏng do vậy các chứng từ về tiền lương, BHXH… đôi khi cũng chưa thật chính xác, chưa thập hợp lý. Do vậy công ty cần phải đưa ra chính sách quản lý thật đúng đắn, chặt chẽ để công tác kế toán hoạt động có hiệu quả hơn, chính xác hơn.

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY

    Để công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty thực sự phát huy hết vai trò của nó là công cụ hữu hiệu quả công tác quản lý, để từ đó nâng cao mức sống cho người lao động và để công ty ngày một phát triển thì công ty Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á nói chung và công tác kế toán nói riêng phải không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện hơn hình thức trả lương hiện nay của công ty để quản lý tốt lao động và nâng cao hiệu quả lao động.

    Phải quan tâm đến đời sống cán bộ CNV hơn nữa để tìm ra phương thức trả lương phù hợp với sức lao động mà họ đã bỏ ra.

    Để đáp ứng kịp thời thông tin nhanh và chính xác phù hợp với tình hình kinh doanh của công ty, xin đề nghị ban giám đốc và phòng kế toán quản lý tốt các hình thức trả lương hơn nữa.

    – Do công ty áp dụng hình thức trả lương là thời gian nên việc tính ra lương của công nhân viên vẫn chưa thiết thực.

    – Ngoài việc trả lương theo thời gian công ty nên áp dụng thêm hình thức trả lương theo sản phẩm, có như vậy thì việc tính toán lương của công nhân viên sẽ thực tế hơn.

    – Đối với bộ phận kỹ thuật và bộ phận kinh doanh nên áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, vì có như vậy công nhân viên mới tích cực tham gia, hoạt động kinh doanh tiêu thụ được nhiều hàng hoá giúp cho lợi nhuận của công ty tăng cao đồng thời việc hạch toán lương cũng cụ thể hơn, thiết thực hơn đối với năng lực của từng người.

    KẾT LUẬN

    Công tác kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương được tổ chức tốt sẽ góp phần quản lý chặt chẽ, thúc đẩy việc chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chế độ lao động, đảm bảo tính toán phân bổ đúng đắn, chính xác các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm tăng nhu thập cho người lao động và tăng lợi nhuận cho Công ty để công ty ngày càng lớn mạnh hơn. Để góp phần giúp kế toán thực hiện tốt chức năng quản lý lao động tiền lương thì kế toán cần phải biết kết hợp mô hình hạch toán dựa trên cơ sở kết hợp với thực trạng của công ty để đưa ra phương thức quản lý tốt nhất.

    Đề tài kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương  của người lao động, với những vấn đề quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á sẽ đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề đảm bảo công bằng trong việc trả lương của công ty cũng như ngoài công ty, ở nơi sử dụng lao động làm việc, giúp công ty tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

    Trên cơ sở lý luận trên xuất phát từ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật và đặc biệt quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.

    Đề tài đã đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty. Góp phần nâng cao hiệuq ảu sử dụng lao động và đưa phương pháp quản lý đạt kết quả cao hơn.

    Qua thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế về công tác quản lý kế toán đối với bộ phận kế toán nói chung và tiền lương nói riêng ở công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ kỹ thuật Đông Nam Á em thấy. Qua 1 năm xây dựng và phát triển đến nay đã có một bộ phận quản lý khá ổn định, quy mô kinh doanh vững chắc nhưng với thời đại ngày nay nền kinh tế nước ta đã và đang phát triển với một tốc độ rất nhanh chính vì thế mà công ty bằng mọi cách phải có biện pháp cố gắng hoà nhập vào chế độ kế toán mới, để hoà nhập bước đi của mình với nhịp độ kinh tế phát triển chung của đất nước.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Giáo trình Lý thuyết Hạch toán kế toán – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do Tiến Sỹ Nguyễn Thị Đông chủ biên – Nhà xuất bản Tài chính Tháng 11/1999.
    2. Giáo tình Kế toán Công trong đơn vị hành chính sự nghiệp – Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân do PGS – Tiến sỹ Nguyễn Thị Đông chủ biên – Nhà Xuất bản Tài chính T5/2003
    3. Giáo trình Kế toán Doanh nghiệp sản xuất – Trường Đại học Tài chính kế toán chủ tiên Tiến Sỹ Nguyễn Đình Đồ – Nhà xuất bản Tài chính Tháng 12/2000.
    4. Giáo trình Kế toán tài chính trường Đại học Kinh tế Quốc dân
    5. Giáo trình Tổ chức hạch toán kế toán trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

    A. LỜI MỞ ĐẦU

    Tín dụng cho người nghèo là một trong những chính sách quan trọng đối với người nghèo trong chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001- 2010. Viêt Nam là một nước đi lên từ sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển nên mục tiêu xóa đói giảm nghèo được Đảng và Nhà nước ta coi là mục tiêu hàng đầu cần đạt được.

    Đời sống bộ phận người dân ở nông thôn những năm gần đây đã có nhiều cải thiện, sinh hoạt của người lao động đã bớt nhiều khó khăn do mỗi hộ nông dân đã được tham gia làm kinh tế từ nhiều nguồn vốn tài trợ khác nhau, trong đó có nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội việt nam(NHCSXHVN). Tìên thân của NHCSXHVN là Ngân hàng phục vụ người nghèo, là ngân hàng của người nghèo nên nó ra đời xuất phát từ nhu cầu bức thiết của người lao động. Việc giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo trong nông nghiệp và nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và là một yêu cầu bức thiết không chỉ mang tính xã hội, tính chất nhân đạo giữa con người với con người mà nó còn mang tính chất kinh tế. Bởi lẽ nền kinh tế khi vẫn còn tồn tại một tỷ lệ không nhỏ nông dân nghèo sẽ kéo theo rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác, nền kinh tế khó có thể phát triển với tốc độ cao và ổn định.

    Việc tiếp nhận được nguồn vốn hỗ trợ từ hệ thống ngân hàng chính sách là có ý nghĩa to lớn đối với những hộ nghèo đang cần vốn để sản xuất kinh doanh, thay vì phải chấp nhận những nguồn vốn vay đắt đỏ từ những ngân hàng thương mại trong cả nước, khó khăn trong những đIều kiện về tín dụng. Từ khi ngân hàng chính sách xã hội ra đời, họ đã có thể được tiếp cận với một nguồn vốn rẻ hơn, những đIều kiện cho vay dễ dàng hơn, góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho người nghèo. Có thể tìm hiểu và nghiên cứu cụ thể về ngân hàng chính sách xã hội và những họat động của nó, vì thế cho nên chúng em quyết định lựa chọn Ngân hàng chính sách xã hội

    1

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Việt Nam làm đề tài nghiên cứu và hy vọng qua đề tài này sẽ có thể giúp chúng em hiểu thêm về hoạt động của ngân hàng chính sách và cách tiếp cận nguồn vốn ưu đãi này. Đề tài được hoàn thành có thể có nhều thiếu xót, Chúng em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để hoàn thiện thêm cho nội dung của để tài. chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo-Thạc sĩ Lê hương Lan-giảng viên bộ môn tài chính quốc tế-khoa Ngân hàng tài chính đã nhiệt tình giúp đỡ chúng em xây dựng đề cương và hoàn thành đề tài này.

    2

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    B. NỘI DUNG

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.

    1.Sự ra đời của NHCSXHVN.

    Ngân hàng chính sách xã hội viết tắt là NHCSXH, được thành lập theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày mồng 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ Tướng chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo.

    Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập năm 1995 và chính thức đI vào hoạt động năm 1996, do hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam làm đại lý giải ngân, với tổng số vốn cho vay hàng ngàn tỉ đồng tới các hộ nghèo ở nông thôn. việc tồn tại bộ phận nông dân nghèo ở nông thôn đã thúc đẩy việc ra đời và hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo. Có thể tổng kết một số nguyên nhân cơ bản tạo nên bộ phận nông dân nghèo thiếu vốn như sau:

    • thiếu vốn đầu tư vào những ngành nghề cây trồng, vật nuôI có năng suất cao, có giá trị hàng hóa nông sản lớn. Công cụ kĩ thuật canh tác và sản xuất lạc hậu, trình độ sản xuất kinh doanh hạn chế, không có điều kiện, không có khả năng tiếp thụ, tiếp cận khoa học tiên tiến. Từ đó năng suất lao động và chất lượng hàng hóa thấp, hạn chế khả năng cạnh tranh, khả năng tiêu thụ hàng hóa, hạn chế khả năng tích lũy để tiếp tục qúa trình táI sản xuất mở rộng và cảI thiện đời sống cho người nông dân.
    • cơ chế sản xuất công nghiệp và ngành nghề ở nông thôn chưa hợp lý, chưa phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. đối với những vùng thuần nông, thu nhập hộ gia đình còn rất hạn chế. ở những vùng sản xuất phụ thu nhập có khá hơn. Mặc dù trong thời gian qua đã thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôI, đa dạng ngành nghề ở nông thôn để khai thác có hiệu quả tiêm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế tự phát. Do đó một số sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ. Nhiều hộ gia đình rơI vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    • nguyên nhân của xã hội như tàn tật, thiếu sức lao động, một số tệ nạn xã hội ngày càng phát sinh như cờ bạc, rượu chè…ảnh hưởng đến sản xuất, thu nhập của một số hộ gia đình. Đặc biệt là nạn cho vay nặng lãI với lãI suất cắt cổ đã làm cho những người thiếu vốn đI vào con đường bế tắc… Xuất phát từ những nguyên nhân lớn trên đây cho thấy việc cho ra đời một ngân hàng dành cho các đối tượng trên là hoàn toàn cần thiết và kip

    thời.

    Ngân hàng phụ vụ người nghèo hoạt động được 6 năm, đến đầu năm 2003 Ngân hàng chính sách được thành lập, thực hiện nhiệm vụ cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

    Việc xây dựng Ngân hàng chính sách xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục là hộ nghèo, học sinh, sinh viên, có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giảI quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoàI và các tổ chức cá nhân hộ sản xuất kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa (chương trình 135).

    Ngân hàng chính sách được thành lập đã tạo ra một kênh tín dụng riêng, là sự tách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách ra khỏi hoạt động của ngân hàng thương mại; thực hiện đổi mới, cơ cấu lại tổ chức và hoạt động hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới- hội nhập quốc tế trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng hiện nay.

    2. Cơ cấu tổ chức.

    Từ khi mới thành lập NHCSXHVN đã thực hiện mô hình cơ cấu tổ chức quản lý như sau:

    4

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Tính đến 31/6/2004, toàn hệ thống NHCSXHVN đã hình thành Hội đồng quản trị, Ban điều hành, 64 chi nhánh cấp tỉnh, 593 phòng giao dịch cấp huyện trực thuộc tỉnh và sở giao dịch của Ngân hàng chính sách trung ương; Bổ nhiệm hàng trăm cán bộ lãnh đạo từ cấp phòng trở lên, tiếp nhận và tuyển dụng gần 5.000 CBNV nghiên cứu soạn thảo hàng trăm văn bản về cơ chế quản lý điều hành, cơ chế nghiệp vụ, tổ chức 5 đợt tập huấn cho trên 2.000 cán bộ lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ, xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm ổn định cho toàn hệ thống.

    II.HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG PHỤC VỤ CỦA NHCSXH :

    1. Những họat động chủ yếu : NHCSXH thực hiện các hoạt động sau:

     

    • Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức tầng lớp dân cư, bao gồm: tiền gửi có kì hạn , không kì hạn.Tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo.
    • Phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm bưu điện. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay NHNN

    5

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    • Được nhận các nguồn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính tín dụng và các tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
    • Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước.
    • NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và than gia hệ thống liên NH trong nước.
    • NHCSXH được thực hiện các dịch vụ về thanh toán và ngân quỹ :
    • Cung ứng các phương tiện thanh toán
    • Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước
    • Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt
    • Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc NHNN
    • Cho vay ngắn hạn trung hạn và daì hạn phục vụ cho sản xuất,kinh doanh tạo việc làm cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội
    • Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức Quốc tế, Quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác.

    2.                 Về đối tượng phục vụ:

    NHCSXH phục vụ các đối tượng sau:

    • Hộ nghèo
    • Học sinh , sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
    • Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm theo Nghị quyết

    120/HĐBT

    • Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
    • Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất , kinh doanh thuộc hải đảo , thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc chương trình phát triển

    6

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    kinh tế –xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi , vùng sâu , vùng xa

    • Các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ .

    III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH QUA CÁC NĂM:

    1.                 Những kết quả đạt được của NHCSXH qua qúa trình hoạt động từ khi thành lập cho đến nay:

     

    • Về các hoạt động nghiệp vụ:

    Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên quan tâm đến vấn đề xoá đói giảm nghèo. Vì vậy Chính phủ đã hình thành một chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo, thực hiện xã hội hoá, đa dạng hoá các kênh huy động vốn và hỗ trợ mọi mặt cho các hộ nghèo.Từ cuối năm 1995, Chính phủ đã quyết định thành lập riêng một định chế tài chính để hỗ trợ vốn tín dụng cho người nghèo , đó là Ngân hang phục vụ người nghèo Việt nam , có mạng lưới chi nhánh ở tất cả 64 tỉnh thành phố trong cả nước .Từ đầu năm 2003 thành lập và đưa vào hoạt động Ngân hàng chính sách xã hội , thực hiện chức năng của Ngân hàng phục vụ người nghèo trước đó , tiếp nhận chương trình cho sinh viên vay vốn học tập từ Ngân hàng Công thương Việt Nam chuyển sang , tiếp nhận một số chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước chuyển sang , triển khai cho vay vốn đi xuất khẩu lao động . NHCSXH ra đời là một hệ quả mang tính tất yếu của quá trình cải cách theo hướng hiện đại hoá ngành ngân hàng nhằm hướng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam nói nói chung cũng như của ngành ngân hàng nói riêng.Do đó có thể nói cho đến nay Việt nam đã đạt được những tiến bộ lớn, những kết quả quan trọng về xoá đói giảm nghèo , được nhiều tổ chức quốc tế như :UNDP,ADB, IMF…đánh giá cao. tiếp tục triển khai nhiều dự án mới tài trợ cho lĩnh vực này.

    7

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Từ khi thành lập đến nay hoạt động huy động vốn và cho vay vốn của định chế tài chính phục vụ cho người nghèo và các đối tượng chính sách trong các năm được thể hiện qua bảng số liệu sau:

    Huy động và cho vay vốn của Ngân hàng người nghèo và Ngân hàng chính sách xã hội giai đoạn 1996-2003 (Đơn vị :Tỷ đồng )

    Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
                     
    1.Tổng lượng 1956 2340 3421 4086 4746 267 6714 8400
                     
    Vốn điều lệ 500 500 700 700 700 1015 1015 2200
                     
    Vay NHNN 600 600 900 900 900 940 1031 1031
                     
    Vay NHTM 432 796 1282 2103 2183 3696 4022 300
                     
    Vay nước ngoài 221 221 221 221 221 151 154 154
                     
    Nhận vốn DVUT 183 199 289 349 909 413 443 443
                     
    Vốn  huy  động 20 24 29 34 54 52 49 4072
    khác                
                     
    2.Cho vay                
                     
    DSCV trong năm 1608 1094 1797 2001 1554 3244 2901 3720
                     
    DSTN trong năm 328 606 954 1204 1038 1350 1753 1550
                     
    Dư nợ cuối năm 1769 2257 3100 3897 4412 4704 6194 8070
                     
    % nợ quá hạn 0,7 1,8 1,44 1,49 1,69 1,7 1,73 2
                     
    Số hộ dư nợ 1282 1606 2060 2335 2464 2776 2760 3000
                     

    (Nguồn :Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

    Từ bảng số liệu trên ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

    • Tổng nguồn vốn của Ngân hàng đến ngày 31/12/2000 đạt 4746 tỷ đồng , tăng 660 tỷ đồng (tốc độ tăng trưởng 13,9%) so với năm 1999. Đến ngày 31/12/2003 ước tính sẽ là 8400 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2002, cụ thể như sau :

    + Vốn điều lệ :Năm 2000 là 700 tỷ đồng chiếm 14% tổng nguồn vốn

    • không tăng so với năm 1999 , năm 2003 là 2200 tỷ đồng, tăng 116% so

    8

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    với năm 2002 do được ngân sách Nhà nước bổ sung khi thành lập NHCSXH

    • Vốn vay NHNN: năm 2000 là 900 tỷ đồng, trong đó vay trung hạn 600 tỷ đồng và vay ngắn hạn 300 tỷ đồng, không tăng so với năm 1999.Năm 2003 là 1031, không tăng so với năm 2002.
    • Vốn vay các NHTM NN: Năm 2000 là 2183 tỷ đồng chiếm 46% trong nguồn vốn, đến năm 2002 là 4022 tỷ đồng trong đó chủ yếu là tăng số dư tiền vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

    (NHNN&PTNT VN). Cụ thể: đến 31/12/2000 số dư nợ vay NHNN&PTNT VN là 1972 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương Việt Nam là

    • tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 300 tỷ đồng. Nguồn vốn vay các NHTM là chủ yếu, chiếm 58% tổng nguồn vốn và toàn bộ là vốn vay ngắn hạn (thời hạn tối đa là 12 tháng ). Đến năm 2003, nguồn vay từ các NHTM chỉ còn 300 tỷ đồng do NHCSXH sử dụng nguồn vốn tiền gửi tại NHCSXH của các TCTD nhà nước để thanh toán các khoản nợ vay các

    NHTMNN.

    • Vốn vay nước ngoài năm 2000 là 6,1 triệu USD (tương đương 88 tỷ đồng).Đây là khoản vay trong Hiệp định vay 10 triệu USD của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới (OPEC) mà ngân hàng Phục vụ người nghèo trước đây đã kí Hiệp định vay vốn phụ với Bộ Tài chính từ tháng 8/1999 nhận vốn vay tháng 9/2000, tăng 100%, đến năm 2003 là 154 tỷ đồng không tăng so với năm 2002.
    • Vốn nhận dịch vụ từ một số tổ chức quốc tế để thực hiện một số dự án :51 tỷ đồng trong đó chủ yếu là dự án IFAD (Tuyên Quang ) 49 tỷ đồng , tăng 21,4%.
    • Nguồn vốn huy động từ cộng đồng người nghèothông qua các dự án: 36 tỷ đồng, tăng 5,8%.
    • Nguồn vốn từ ngân sách địa phương chuyển sang NHNg để cho vay hộ nghèo: 338 tỷ đồng, chiếm 6,7% tổng nguồn vốn, tăng 10%, điển

    9

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    hình như các tỉnh: Nghệ An 18,5 tỷ đồng, Hà Tây 17 tỷ đồng, Đắc Lắc 14,8 tỷ đồng, Khánh Hoà 13,7 tỷ đồng, Quảng Trị 8 tỷ, Lạng Sơn 10,9 tỷ, Hải Phòng 10,7 tỷ đồng .

    • Về diễn biến kết quả cho vay vốn tới các hộ nghèo trong cả nước các năm qua như sau:
    • Doanh số cho vay trong năm 2000 là 1554 tỷ đồng, trong đó doanh số cho vay quý IV là 724 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 46,5% doanh số cho vay cả năm, doanh số cho vay năm 2003 ước đạt 3720 tỷ đồ Doanh số thu nợ đạt năm 2000 là 1038 tỷ đồng, trong đó doanh số thu nợ quý IV là 452 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 43,5% doanh số thu nợ cả năm, doanh số thu nợ năm 2003 là 1850 tỷ đồng. Đến 31/12/2000 tổng dư nợ cho vay hộ nghèo đạt 4412 tỷ đồng, tăng 515 tỷ đồng (tăng 13,2%) so với năm 1999, trong đó quý IV tăng 326 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 63,3% trong tổng số tăng dư nợ cả năm. Hiện có gần 3 triệu hộ thuộc 208.000 tổ vay vốn dư nợ NHCSXH. Dư nợ bình quân một hộ là 1.880.000 đồng tăng so với năm đầu tiên hoạt động (1996) là 500000 đồng/hộ và tăng so với năm 1999 là 200000đồng/hộ.
    • Dư nợ phân theo thời hạn cho vay như sau:

    Dư nợ cho vay ngắn hạn là 1180 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 2,25% tổng dư nợ.

    Dư nợ cho vay trung hạn là 3519 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 74,8% tổng dư nợ. Như vậy trong tổng dư nợ, tỷ trọng cho vay trung hạn chiếm gần 75% trong khi đó nguồn vốn trung hạn chỉ  chiếm 29% tổng nguồn vốn. Đây là khó khăn của NHCSXH trong công tác kế hoạch hoá và cân đối nguồn vốn cho vay hộ nghèo. Ước tính đến 31/12/2003 tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân chung cho toàn quốc là: vùng khu 4 cũ: 26,1%, duyên hải miền trung 22,6%, đồng bằng sông Hồng: 20,9%, trung du miền núi phía Bắc: 20,6%. Vùng có

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tốc độ tăng trưởng dư nợ thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 12,8%, vùng Tây Nguyên 12,3%.

    Năm 2000 vốn tín dụng Ngân hàng phục vụ người nghèo (trước đây) tập trung ưu tiên cho các tỉnh có nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. So với năm 1999 dư nợ ở những vùng này tăng hơn nhiều và tăng hơn tốc độ chung của toàn quốc, cụ thể:

    • Dư nợ cho vay hộ nghèo vùng 3 là 550 tỷ đồng, tăng 123% (+28,8%) trong đó dư nợ các xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 CP của Chính phủ là 390 tỷ đồng, tăng 166 tỷ đồng (974%).
    • Dư nợ cho vay hộ nghèo dân tộc thiểu số là 780 tỷ đồng, tăng 177 tỷ đồng (+29%).
    • Dư nợ phân theo mức cho vay: trên 3 triệu đến 5 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 1,9% tổng dư nợ, tập trung ở vùng Đông Nam Bộ, vùng duyên hải miền trung. Đến nay có 30/67 chi nhánh có dư nợ loại này, trong đó duy nhất chỉ có Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Bình Phước có dư nợ loại này đạt 14% còn các chi nhánh khác đạt mức từ 4-7% tổng dư nợ là 4.615 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 98,1% tổng dư nợ.

    Dư nợ phân theo ngành kinh tế: vốn vay được hộ nghèo đầu tư vào ngành nông nghiệp là chủ yếu, chiếm 88% còn các ngành khác chiếm tỷ trọng nhỏ như: ngư nghiệp 2,4%, tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ 3,2%, ngành nghề khác 6,4%.

    Chất lượng tín dụng và kết quả xử lý nợ bị rủi ro bất khả kháng: đến cuối năm 2000 dư nợ quá hạn là 80 tỷ đồng, chiếm 1,7% tổng dư nợ, tăng 0,21% so với năm 1999. Nếu tính 102 tỉ đồng được khoanh và 117 tỷ đồng nợ bị rủi ro bất khả kháng xảy ra năm 1999 đang chờ Chính phủ xử lý thì tổng dư nợ quá hạn là 299 tỷ đồng, chiếm 6,4% tổng dư nợ. Nợ quá hạn đến 180 ngày: 47 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 59%. Nợ quá hạn từ 180 ngàyđến 360 ngày: 25 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 31%. Đến 31/12/2003 tỷ lệ nợ quá hạn ước là 2% so với tỉ lệ nợ quá hạn năm 2002 là 1,7%. Như vậy có thể

    11

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nói bên cạnh các khoản vốn tín dụng cho vay các hộ nghèo và đối tượng chinh sách thông qua các tổ chức tài chính vi mô như: hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, các chương trình quốc tế của các tổ chứcphi chính phủ … hoặc vốn hỗ trợ trực tiếp không hoàn lại cho các hộ nghèo thì nguồn vốn tín dụng thông qua NHCSXH là lớn nhất. Nguồn này được đa dạng hoá từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước, của ngân sách nhà nước và củacác doanh nghiệp.

    Bước sang năm 2004 NHCSXH cũng đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Do mới thành lập, cơ sở vật chất kĩ thuật đảm bảo cho hoạt động của NHCSXH còn rất sơ khai và nghèo nàn, từ sau khi có chỉ thị của thủ tướng Chính phủ (chỉ thị 05/2003/CT–TTg ngày 18/3/2003 và chỉ thị 09/2004/CT–TTg ngày 16/3/2004) NHCSXH đã nhận được sự giúp đỡ tạo điều kiện rất lớn từ chính quyền các cấp đặc biệt là việc bố trí trụ sởlàm việc và phương tiện làm việc. Đã có 41 chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố và hàng trăm ngân hàng cấp huyện được cấp hoặc cho mượn trụ sở để xử dụng lâu dài. Các tỉnh huyện được cấp trên 70 tỷ đồng để mua sắm công cụ làm việc và phương tiện đi lại.

    Sau 5 tháng NHCSXH triển khai nhiệm vụ năm 2004, bước đầu đã đạt được một số kết quả:

    Về tổ chức màng lưới: Hoàn thành các thủ tục cần thiết để thành lập chi nhánh NHCSXH tại 3 tỉnh mới được chia tách gồm: Lai Châu, Đắk Nông, Hậu Giang, đổi tên 2 chi nhánh NHCSXH Điện Biên và Cần Thơ. Thành lập với 14 phòng giao dịch huyện thuộc tỉnh: Đồng Nai, Cà Mau,Phú Yên, Quảng Ngãi, Bà Rịa–Vũng Tàu, Cần Thơ. Thành lập lại 13 phòng giao dịch huyện thuộc các chi nhánh NHCSXH Điện Biên, Lai Châu, Hậu Giang, Đắk Nông và Cần Thơ.

    Về công tác cán bộ, đã bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo chi nhánh NHCSXH một số tỉnh, thành phố, trưởng phó các phòng chuyên môn

    12

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nghiệp vụ tại hội sở chính. Đây cũng là quá trình nâng cao năng lực hoạt đọng của NHCSXH và chiển khai thực hiệnchi thị của thủ tướng chính phủ.

    Về công tác kiểm tra giám sát, trên cơ sở đề cương và chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát đã thực hiện kiểm tra thực tế tại địa phương, thành lập đoàn công tác thẩm địnhbáo cáo tài chính tại hội sở chính và một số chu nhánh tỉnh thành phố.

    Về chỉ đạo xử lý những vướng mắc trong hoat động nghiệp vụ. Ban điều hành xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời tiến hành giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể cho từng chi nhánh, chỉ đạo các chi nhánh thực hiện tốt công tác giải ngân cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách đi đôi với việc nâng cao chât lượng tín dụng.

    Về hoạt động tín dụng đến hết tháng 6 năm 2004: Tổng nguồn vốn đạt 11572 tỷ đồng, tăng 1044 tỷ đồng so với 31/12/2003. Tổng dư nợ đạt 1982 tỷ đồng, tăng 633 tỷ đồng so với 31/12/2003: trong đó dư nợ cho vay hộ nghèo là 8.742 tỷ đồng chiếm 79,6% tổng dư nợ.

    Trong 2 năm NHCSXH đã lỗ lực hết mình để hoàn thiện hệ thống, tập trung và tích tụ các kênh vốn phục vụ cho các đối tượng chính sách còn phân tán ở các tổ chức tín dụng và các đoàn thể quần chúng. Nguồn vốn của NHCSXH tăng nhanh, tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2004 ước đạt 15245 tỷ đồng, tăng 4.741 tỷ đồng so với năm 2003, đạt 116% kế hoạch năm 2004. Trong đó vốn điều lệ ước đạt 1531 tỷ đồng, vốn nhận từ các chương trình ước đạt 2565 tỷ đồng tăng 339 tỷ đồng : vốn nhận tài trợ, uỷ thác từ ngân sách địa phương, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước ước đạt 708 tỷ đồng, tăng 164 tỷ đồng so với năm 2003; nguồn vốn tự có huy động ước đạt 3956 tỷ đồng, tăng 2556 tỷ đồng so với năm 2003, đạt 117% kế hoạch năm 2004. Sau 2 năm, vốn hoạt động tăng gần gấp 2 lần và từ một đối tượng thụ hưởng là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất đã tiếp quản các nguồn vốn từ các chương trình quốc gia khác, mở rộng tín dụng ưu đãi tới 6 đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng của chính phủ.

    13

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Xuất phát từ phương châm “không vì mục tiêu lợi nhuận” với cơ chế thông thoáng, thuận tiện, có lợi cho người vay, kết hợp với phương châm xã hội hoá hoạt động, trong hai năm qua, vốn đầu tư của NHCSXH tăng mạnh. Tính đến 31/12/2004, tổng dư nợ của NHCSXH đạt 14109 tỷ đồng, tăng 3760 tỷ so với 31/12/2003, đạt 92,3% kế hoạch năm 2004. Trong đó: dư nợ cho vay hộ nghèo ước đạt 11489 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 81,4% tổng dư nợ) tăng 3240 tỷ so với 31/12/2003, đạt 100% kế hoạch năm 2004, dư nợ cho vay giải quyết việc làm ước đạt 2.202 tỷ đồng tăng 238 tỷ đồng so với năm 2003; dư nợ cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn ước đạt 133 tỷ đồng tăng 45 tỷ đồng so với năm 2003; các chương trình khác như cho vay đối tượng chính sách xuất khẩu lao động vay trả chậm nhà ở ĐBSCL… Do nhiều lý do khách quan chưa đạt được kế hoạch đề ra nhưng bước đầu đã có những chuyển biến tích cực khẳng định tính ưu việt của kênh tín dụng chính sách trong các chương trình hỗ trợ của chính phủ đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Đặc biệt, từ tháng 10/2004, NHCSXH triển khai chương trình thí điểm cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại 10 tỉnh: Sơn La, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Nghệ An, Khánh Hoà, Tiền Gíang, Kiên Giang, Đăc Lắc, Bình Thuận theo quyết định 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của thủ tướng chính phủ.

    Hoạt động hỗ trợ tín dụng ưu đãi từ NHCSXH đã góp phần đáng kể cho công cuộc xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm của nước ta trong thời gian qua. Các hộ nghèo thông qua sử dụng tín dụng đầu tư sản xuất , kinh doanh bước đầu đã biết tính toán đầu tư sản xuất chi tiêu gia đình có hiệu quả tiếp cận cách thức sản xuất tiên tiến và thị trường; hộ nghèo tự vươn lên tạo việc làm có thu nhập. Điều đó đã góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam trong thời gian qua. Từ năm 2001 đến năm 2003, bình quân mỗi năm giảm được 31 vạn hộ nghèo tương ứng 2,06%. Hiện nay có 5 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo dưới 5%; 23 tỉnh thành phố từ 5-dưới 10%; 13

    14

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tỉnh thành phố từ 10-dưới 15%; 16 tỉnh từ 15-dưới 20%; 4 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo trên 20%. Dự kiến đến hết năm 2003 có 18 tỉnh và 1 thành phố có khả năng về trứơc kế hoạch 5 năm 2001-2005 (hoàn thành kế hoạch xoá đói giảm nghèo vào năm 2003); 12 quận, huyện và 201 xã phường cơ bản không còn hộ nghèo.

    1.2.Các hoạt động khác :

    Nhằm xã hội hoá hoạt động, NHCSXH đã ký hợp đồng dịch vụ uỷ thác với 4 tổ chức chính trị xã hội gồm: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

    1.2.1. Hoạt động phối hợp giữa hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam với NHCSXH trong việc cung cấp vốn cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách:

    Là một tổ chức chính trị –xã hội, hoạt động vì sự bình đẳng tiến bộ và hạnh phúc của phụ nữ Việt Nam, một trong những mục tiêu hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (HLHPNVN) là giúp phụ nữ xoá đói giảm nghèo. Để thực hiện mục tiêu này hội đã phối hợp với Ngân hàng phục vụ người nghèo (nay là Ngân hàng chính sách xã hội) tín chấp cho phụ nữ thuộc diện hộ nghèo vay vốn .Mối quan hệ này đã được thiêt lập ngay từ khi ngân hàng mới thành lập thông qua dự án do UNFPA tài trợ cho hội LHPNVN 50 ngàn đô la Mỹ để thành lập quỹ bảo lãnh tại ngân hàng cho phụ nữ nghèo vay vốn. Cùng với thời gian mối quan hệ này ngày càng chặt chẽ và phát triển trên khắp cả nước tới cấp cơ sở. Và sự hợp tác này đã được đánh dấu một bước tiến mới bằng việc sau khi NHCSXH chính thức được thành lập, hội LHPNVN đã kí với Văn bản liên tịch về việc tổ chức thực hiện uỷ thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, rất cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận nguồn vốn bảo đảm vốn đến tay người nghèo. Đối

    15

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tượng vay vốn không chỉ bó hẹp trong phạm vi hộ nghèo mà còn mở rộng cho vay giải quyết việc làm, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn…

    Sau lễ kí kết liên tịch ở TW, nhiều tỉnh thành phố cũng tổ chức kí văn bản liên tịch: Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Trị, Nam Định… Các tỉnh khác chưa kí liên tịch nhưng đã triển khai thực hiện, bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận:

    • Cho vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm theo NQ 120/HĐBT: đến nay tổng nguồn vốn TW Hội quản lý là 39,5 tỷ đồng, cho vay 175 dự án với 14.592,5 triệu đồng. Hội phụ nữ đã hoàn thành kế hoạch năm 2003 với chỉ tiêu cho vay 4 tỷ đồng vốn mới vay cho vay lại 16 tỷ đồng vốn thu hồi hỗ trợ cho 7.542 lao động có việc làm. Ngoài nguồn vốn TW phân bổ theo thống kê chưa đầy đủ hội phụ nữ các tỉnh thành phố còn quản lý 180 tỷ đồng vốn giải quyết việc làm của các địa phương. Trong đó nhiều nơi còn nhận uỷ thác với NHCSXH (Quảng Trị, Nghệ An, Bà Rịa Vũng Tàu, Hải Phòng…).
    • Cho vay hộ nghèo: Hội tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền phổ biến các chủ trương chính sách cho vay các nhóm đối tượng thuộc NHCSXH, lựa chọn đối tượng, hướng dẫn thủ tục, quy chế vay vốn, duy trì và phát triển các tổ nhóm phụ nữ nghèo vay vốn ngân hàng ở 64 tỉnh thành phố.Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có 875.333 hộ nghèo được vay qua nhóm do Hội phụ nữ tổ chức với 1.507 tỷ đồng tiền vốn.

    Nhìn chung trong vòng chưa đầy một năm, sự phối hợp giữa Hội LHPNVN và NHCSXH đã đạt được một số kết quả quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận và sử dụng vốn có hiệu quả .

    1.2.2. Những kết quả bước đầu qua công tác thí điểm nhận bàn giao vốn uỷ thác từ NHNN &PTNT sang NHCSXH:

    Sau hơn 3 tháng triển khai thực hiện nhiệm vụ thí điểm nhận bàn giao vốn uỷ thác cho vay hộ nghèo từ NHNN&PTNT sang NHCSXH tại 9

    16

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hải Dương, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nam, Gia Lai, Long An, và Tây Ninh theo chỉ đạo tại Văn bản số 1313/VPCP – KTTH ngày 22/3/2004, các tỉnh được chọn làm thí điểm đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo đúng kế hoạch và nội dung chỉ đạo của NHNN cũng như sự thống nhất giữa hai ngân hàng NHNN&PTNT và NHCSXH. Đến ngày 30/4/2004 các số liệu bàn giao đã đựơc hai ngân hàng thống nhất. Từ sau ngày 10/5/2004 công tác bàn giao đã cơ bản hoàn thành. Ngay sau khi nhận bàn giao, chi nhánh NHCSXH các tỉnh đựơc chọn làm thí điểm đã triển khai ngay việc củng cố, kiện toàn lại các tổ tiết kiệm và vay vốn và triển khai cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội đảm bảo vốn đến với hộ nghèo không chậm trễ.

    Một số chi nhánh NHCSXH được thí điểm nhận bàn giao, sau 3 tháng hoạt động (sau bàn giao) hiệu quả của công tác cho vay thu nợ được thể hiện một cách rõ rệt: tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Quảng Nam doanh số cho vay 3 tháng đạt 23 tỷ đồng, tăng so với cùng kì khi uỷ thác toàn phần qua NHNN&PTNT là 19 tỷ đồng, doanh số thu nợ đạt 9,5 tỷ đồng, tăng so với cùng kì khi uỷ thác là 3,4 tỷ đồng. Tổng dư nợ đến 31/7/2004 của chi nhánh đạt 207 tỷ đồng tăng so với cùng kì 41,7 tỷ đồng và so với đầu năm 2004 là 21,7 tỷ đồng.Tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Tây Ninh, sau 3 tháng nhận bàn giao dư nợ cho vay hộ nghèo từ 64,5 tỷ đồng ( 4 tháng đầu năm giảm 1,2 tỷđồng) đã đạt trên 80 tỷ đồng, tăng 16 tỷ đồng. Tại chi nhánh NHCSXH tỉnh Long An đến 30/6/2004 tổng dư nợ đạt 134 tỷ đồng tăng so với đầu năm 21 tỷ đồng trong đó dư nợ cho vay hộ nghèo đạt 98 tỷ đồng, tăng so với đầu năm 19 tỷ đồng. Sau khi nhận bàn giao chi nhánh NHCSXH tỉn Long An đã tập trung củng cố lại các tổ nhóm gắn với các đoàn thể, chủ động kí kết hợp đồng uỷ thác với 4 đoàn thể cấp tỉnh (hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh và đoàn thanh niên); kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động cuẩ các tổ tiết kiệm và cho

    17

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    vay vốn (khi nhận bàn giao có 2.563 tổ tiết kiệm vay vốn, các tổ này được kiện toàn và củng cố lại còn 1.633 tổ, giảm 930 tổ).

    2.                 Những khó khăn cần giải quyết :

     

    • Vấn đề lãi suất:

     

    Hiện nay NHCSXH đang cho vay với nhiều mức lãi suất rất khác

     

    nhau:

     

    Mức 0,25 %/tháng: áp dụng cho vay trả chậm về nhà ở.

     

    Mức 0,35%/thấng: áp dụng trong cho vay giải quyết việc làm và cho thương bệnh binh và người tàn tật.

     

    Mức 0,45%/tháng: áp dụng trong cho vay học sinh, sinh viên và cho vay hộ nghèo vùng III, hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135.

     

    Mức 0.5%/tháng: áp dụng trong cho vay hộ nghèo, cho vay

    giải quyết việc làm thông thường và cho vay xuất khẩu lao động.

    Về lãi suất nợ quá hạn tính trên lãi suất khi cho vay cũng có nhiều mức khác nhau: mức 120% được áp dụng trong cho vay học sinh sinh viên, mức 130% được áp dụng trong cho vay hộ nghèo, cho vay xuất khẩu lao động và mức 200% được áp dụng trong cho vay giải quyết việc làm.

    Mặc dù có nhiều mức lãi suất cho vay khác nhau như trên nhưng nói chung lãi suất cho vay của NHCSXH đều rất thấp, thấp hơn lãi suất huy động vốn trên thị trường theo bất đẳng thức lãi kép sau: LSCV ưu đãi < LS huy động vốn thị trường < LSCV thị trường.

    Do lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất của các ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn, do đó ngay cả chính quyền cơ sở, ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo cũng có tư tưởng ban phát tín dụng nên dễ xảy ra hiện tượng bình quân chia đều, tiêu cực trong cho vay, nảy sinh nhu cầu gỉa tạo để sử dụng vốn sai mục đích (vay vốn để gửi tiết kiệm hoặc mua chứng chỉ có giá với lãi suất cao hơn để kiếm lời), mức vay bình quân của hộ nghèo hiện

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nay là hơn 2 triệu đồng/hộ, như vậy là thấp hơn nhu cầu mức vốn đầu tư của các hộ.

    Lãi suất cho vay không dựa trên cơ sở chi phí dịch vụ của ngân hàng, do đó thiếu sức thuyết phục để thu hút các nguồn vốn trong cộng đồng, doanh nghiệp các tổ chức quốc tế, vì các tổ chức tài chính quốc tế nghi ngại tính bền vững của ngân hàng nên hạn chế đầu tư. Vì vậy nguồn vốn của NHCSXH chủ yếu dựa vào “bao cấp” của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, chưa thực hiện được chủ trương xã hội hoá nguồn vốn cho vay đối với người nghèo. Từ trước đến nay, ngân sách nhà nước đã phải bỏ ra hàng trăm tỉ đồng mỗi năm để cấp bù cho các khoản tín dụng ưu đãi. Năm 2003 Ngân sách nhà nước đã cấp bù cho NHCSXH 356 tỷ đồng và kế hoạch năm 2004 sẽ cấp bù cho NHCSXH 450 tỷ đồng. Hiện nay kinh tế nước ta còn rất nhiều khó khăn, rất nhiều chương trình dự án cấc được ngân sách nhà nước hỗ trợ trong khi nguồn này lại quấ eo hẹp. Vì vậy đây là vấn đề còn rất nhiều bất cập cần có biện pháp tháo gỡ .

    Hơn nữa lãi suất ưu đãi đối với người nghèo chỉ có thể hỗ trợ trong thời gian có hạn, không thể là công cụ lâu đài giúp cho người nghèo phát triển được. Bởi vì: việc nâng cao đời sống và không ngừng phát triển đi lên đối với người nghèo chỉ có thể dựa vào sự phát triển chung của nền kinh tế, họ phải tự mình nỗ lực phấn đấu, không thể trông chờ ỷ lại vào sự giúp đỡ của xã hội. Cái chính không phải là việc ưu đãi lãi suất bao nhiêu cho người nghèo mà chính là người nghèo được giúp đỡ về việc làm, văn hoá, kĩ thuật… và họ cần vay bao nhiêu vốn để phất triển sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống và trả nợ Ngân hàng.

    2.2.Tiêu chí để xácđịnh người nghèo:

    Hiện nay có rất nhiều tiêu chí khác nhau của các tổ chức trong và ngoài nước đánh giá về nghèo đói.Các phương pháp đánh giá tổng hợp điều tra và thống kê cũng khác nhau, do đó con số đưa ra về tỉ lệ nghèo đói ở

    19

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nước ta chưa hoàn toàn trùng khớp nhau. Theo tiêu chí do Bộ Lao động thương binh và Xã hội đưa ra mới đây thì hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 80.000 đồng/tháng (miền núi, hải đảo), dưới 100.000 đồng/tháng (ở nông thôn) và dưới 150.000 đồng/tháng (ở thành thị). Theo Văn phòng chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm, trong giai đoạn 2001-2003, kết quả điều tra ở một số tỉnh nghèo nhất nước ta cho thấy, Lai Châu tỷ lệ hộ nghèo còn 36,84%, Bắc Kạn 26,05%, Sóc Trăng 27,08%, Quảng Trị 17,1%… Tính chung cả nước còn khoảng 2 triệu hộ nghèo. Vì vậy cần phải có cơ chế đánh giá chính xác và công bằng đối với các hộ nghèo để đồng vốn chính sách có thể đến đúng đối tượng cần vay, cần được ưu đãi.

    2.3.Vấn đề tái nghèo :

    Trong thực tế có nhiều trường hợp người nông dân được vay vốn của ngân hàng để làm kinh tế và có nhiều hộ thoát được đói nghèo nhưng do thời hạn vay vốn không dài nên sau khi trả vốn cho ngân hàng họ lại rơi vào tình trạng nghèo đói. Đây là một thực tế đã xảy ra ở rất nhiều địa phương trong cả nước. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này một phần là do người nghèo chưa sử dụng vốn có hiệu quả, họ chưa hiểu biết nhiều về khoâ học kĩ thuật nên chỉ có thể kinh doanh trên quy mô nhỏ nên hiệu quả đem lại không lớn.

    2.4.Vấn đề cho học sinh sinh viên vay vốn:

    Đảng và nhà nước ta khẳng định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội: “giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”. Chính vì vậy, trong những năm qua nền giáo dục nước nhà đã được Đảng , nhà nước ta và toàn xã hội đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển, cơ sỏ vật chất và điều kiện học tập của học sinh sinh viên ngày càng được cải thiện. Từ đó chất lượng giáo dục đã được nâng cao lên . Để hỗ trợ cho những học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, không

    20

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    đủ khả năng tài chính để trang trải chi phí học tập, đặc biệt là học sinh, sinh viên thuộc đối tượng chính sách, thuộc hộ nghèo, vùng sâu vùng xa… Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ như: miễn giảm học phí, thực hiện trợ cấp cho các đối tượng chính sách, ưu tiên về điều kiện tuyển sinh…

    trong đó chính sách hỗ trợ tín dụng cho đối tượng này cũng được thực hiện. Ngày 2/3/1998 Thủ tướng chính phủ kí quyết định số 51/1998/QĐ-TTg thành lập quỹ tín dụng đào tạo để cho vay với lãi suất ưu đãi đốivới

    học sinh sinh viên đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Quỹ có vốn ban đầu là 160 tỷ đồng bao gồm các nguồn: ngân sách nhà nước, vốn do các ngân hàng thương mại tự nguyện đóng góp và của các tổ chức cá nhân khác…

    Ngân hàng Công thương Việt Nam là đơn vị được giao quản lý qũy và cho vay từ khi thành lập, đến ngày 30/6/2003, quỹ tín dụng đào tạo được bàn giao sang Ngân hàng Chính sách xã hội quản lý và cho vay. Mặc dù đẫ thu được những kết quả bước đầu khá khả quan song trong quá trính cho vay với đối tượng này chúng ta vấn thấy nổi lên một số vấn đề:

    Trên thực tế nhiều trường không thông tin kịp thời cho ngân hàng những học sinh chuyển trường, bỏ học, bị kỉ luật, bị xoá tên, bị đình chỉ và buộc thôi học có vay vốn ngân hàng, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xác định địa chỉ cư trú của học sinh sinh viên do đó nguy cơ mất vốn là rất lớn.

    Từ bản thân học sinh,sinh viên, có nhiều học sinh, sinh viên có ý thức trách nhiệm trả nợ kém, nhiều trường hợp coi đây như một khoản hỗ trợ của nhà nước không cần hoàn trả, nhất là sau khi sinh viên ra trừơng ngân hàng không nắm được địa chỉ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc theo dõi thu nợ…

    Về quy chế cho vay: Theo quy định hiện hành thì ngân hàng tiến hành cho vay và giải ngân trực tiếp tới tay học sinh. Thực tế quy định này

    21

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    gây khó khăn cho ngân hàng trong việc theo dõi thu nợ sau khi học sinh ra trường, rủi ro mất vốn là khó tránh khỏi.

    Về chi phí hoạt động của quỹ tín dụng đầo tạo, theo quy định hiện hành tại thông tư 97/1997/TT-BTC của Bộ Tài chính về chế độ tài chính của quỹ chưa quy định cụ thể về các khoản chi cấn thiết cho hoạt động sơ kết tổng kết hoạt động của quỹ, chi phí cho hoạt động tuyên truyền quảng bá về kết quả và hoạt động của quỹ cũng gây nên khó khăn cho hoạt động triển khai hoạt động của quỹ tại ngân hàng quản lý quỹ.

    Về thu nhập của ngân hàng quản lý Quỹ tín dụng đào tạo theo quy định tại thông tư 97 thì phí dịch vụ chi trả cho ngân hàng quản lý tính trên dư nợ cho vay trong hạn là chưa hợp lí vì đâylà hình thức cho vay không áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền mặt, thời hạn trả nợ kéo dài, lại chứa đựng nhiều rủi ro làm ảnh hưởng đến khẳ năng tài chính của ngân hàng quản lí quỹ.

    Nguồn vốn dùng để cho vay học sinh sinh viên còn quá hạn hẹp .Nếu đáp ứng đủ nhu cầu vay của các đối tượng thuộc diện ưu đãi thì còn thiếu rất nhiều.

    2.5 .Một số vấn đề khác :

    Cho vay vốn đối với hộ nghèo còn hạn chế bởi một số cấp chính quyền địa phương, hội, đoàn thể chưa thực sự quan tâm đến công tác cho vay vốn đối với hộ nghèo. Có nơi còn sợ trách nhiệm không kí xét duyệt cho vay hoặc không hướng dẫn hộ nghèo thành lập tổ vay vốn để tiếp cận vốn vay ngân hàng. Còn nhiều tổ chức cho vay vốn đối với hộ nghèo dẫn đến sự chồng chéo (một hộ nghèo vay ở nhiều nơi) gây khó khăn trong kiêm tra sử dụng vốn và đánh giá hiệu quả vốn. Một số chủ dự án, tổ trưởng tổ vay vốn còn có biểu hiện thu thêm phí của người vay ngoài lãi suất trong hợp đồng tín dụng kí với ngân hàng. Một số ít trường hợp chủ dự án, tổ trưởng tổ vay vốn thu nợ của người vay không trả nợ vào ngân hàng

    22

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    hoặc sử dụng vốn vào mụch đích khác. Các khoản nợ quá hạn, nợ khoanh…

    đến nay khó có khả năng thu hồi vốn.

    IV.ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH:

    Từ những kết quả đã đạt được có thể thấy: việc triển khai cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội đã từng bước góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá hoạt động cho vay của NHCSXH, huy động các bộ các cấp các ngành, đặc biệt lầ các hội đoàn thể cùng gắn trách nhiệm với NHCSXH trong suốt quá trình từ khâu thẩm định đến khâu khi giải ngân, thu nợ, thu lãi, đảm bảo đồng vốn ưu đãi kịp thời đến với các đối tượng chính sách và hộ nghèo có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống. Việc huy động được một lực lượng đông đảo cán bộ của các hội đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội vào quá trình cho vay và thu nợ đã tạo ra cho NHCSXH một mạng lưới cán bộ không biên chế hết lòng vì người nghèo, được sống trong sự đùm bọc của cộng đồng, bớt đi những mặc cảm xã hội, phấn đấu vươn lên khắc phục khó khăn trong cuộc sống.

    Nhờ sự phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể chính trị xã hội, các món vay cũng tăng lên (trung bình 4,5 triệu đồng/hộ, cá biệt có hộ được vay tới 10triệu đồng/hộ), chất lượng tín dụng của NHCSXH cũng tăng lên. Nợ quá hạn đến 31/12/2004 ước 493 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ, giảm

    • tỷ đồng (-1,5%) so với 31/12/2003. Trong đó nợ quá hạn cho vay hộ nghèo là 369 tỷ đồng.

    Tuy nhiên trong quá trình hoạt động NHCSXH cũng đã gặp phải một số vấn đề cần tháo gỡ. Vì vậy trong thời gian tới để NHCSXH thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình và những nhiệm vụ lớn hơn khi được chính phủ giao, rất cấn sự hỗ trợ của các cấp các ngành và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền các cấp về một số vấn đề sau: củng cố lại các tổ tiết kiệm và vay vốn, nâng cao trách nhiệm của ban xoá đói giảm nghèo; xác định lại chuẩn nghèo trên cơ sở chuẩn nghèo do Bộ Lao động –Thương binh xã hội công bố, các địa phương cần tổ chức khảo sát đánh giáchung và

    23

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    công bốchuẩn nghèo phù hợp với thực tế địa phương mình, để từ đó có giải pháp giúp đỡ các hộ nghèo thoát nghèo một cách bền vững, chống tái nghèo; đồng thời từng bước xác định chuẩn nghèo của nứơc ta phù hợp với tiều chí đánh giá của thế giới và các nước trong khu vực.

    V. GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA NHCSXH

    1. Bài học kinh nghiệm từ NHCSXH Nhật Bản

     

    Sau chến tranh thế giới II, Nhật bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Để vượt qua tình trạng đó, Nhật Bản đã huy động nguồn lực trong nước là con người. Do vậy Nhật Bản đã đưa ra một mô hình cho vay thích hợp.

     

    * Về mô hình cho vay chính sách của Nhật Bản

     

    Huy động tiết kiệm:

     

    Trong huy động vốn, chính phủ Nhật khuyến khích phát huy nội lực dưới hình thức tiết kiệm của dân chúng gửi vào ngân hàng từng bước tích luỹ vốn tạo tiền đề cho phát triển kinh tế. Và hình thức huy động hiệu quả nhất được sử dụng đó là “ Tiết kiệm bưu điện”. Bởi đây là tổ chức kiểm soát 1/4 tài sản gia đình ở Nhật Bản.

     

    Nhờ áp dụng chính sách tăng cường tiết kiệm trong nước nên tỉ lệ tiết kiệm của Nhật Bản cao hơn nhiều so với các nước Âu–Mỹ. Trong đó tiền tiết kiệm bưu điện chiếm 30% tổng số tiền tiết kiệm quốc nội và 20% trong tổng số tiền tiết kiệm của hộ gia đình.

    Cho vay chính sách:

    Trong sử dụng vốn, Chính phủ luôn chú trọng đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp, công ty không thể tiếp cận với các vốn vay từ ngân hàng thương mại thì Chính phủ thành lập những cơ quan tài trợ của Chính phủ như: Ngân hàng phát triển Nhật

    24

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Bản, Cơ quan tài chính tài trợ doanh nghệp vừa và nhỏ, Cơ quan tài chính hỗ trợ dân sinh (NLFC)… để sử dụng nguồn tiết kiệm Bưu điện và Quỹ bảo hiểm lương hưu để thực hiện cho vay đầu tư tài chính hỗ trợ cho các chương trình kinh tế trọng điểm của Chính phủ như: đầu tư vào lĩnh vực hỗ trợ dân sinh về nhà ở, môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… theo lãi suất được Nhà nước quy định. Chính phủ sử dụng ngân sách quốc gia để đầu tư vào các công trình như xây dựng cơ sở hạ tầng.

    • Nhật Bản, doanh nghiệp vừa và nhỏ được coi là “bảo vật quốc gia” vì chính các doanh nghiệp này đã tạo nên sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản. Vì vậy, ở Nhạt Bản đã thành lập riêng một cơ quan chuyên hỗ trợ tài chính cho loại hình doanh nghiệp này có tên gọi “Ngân hàng Tín dụng” (Shinkin Bank), có hình thức tổ chức hoạt động giống như hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở nước ta hiện nay.

    Cơ chế hoạt động của NLFC:

    Cơ chế tạo lập nguồn vốn: NLFC không có hoạt động huy động vốn, không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của dân chúng, huy động tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân. Do đó, hầu hết nguồn vốn là do Nhà nước cấp 90% và 10% còn lại dưới dạng trái phiếu đầu tư tài chính (quốc trái) hoặc trái phiếu có bảo lãnh của Chính phủ.

    Cơ chế cho vay: Tại Nhật Bản, các ngân hàng tư nhân và các tổ chức tín dụng không muốn cho vay các doanh nghiệp cực nhỏ, doanh nghiệp mới khởi lập dù có tài sản thế chấp; do đó, Chính phủ giao cho NLFC đầu tư cho vay. Vì vậy khách hàng vay vốn của NLFC để kinh doanh bao gồm: 30% là những doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ không thể vay được từ ngân hàng thương mại, 70% số khách hàng vay từ ngân hạng thương mại và một phần từ NLFC.

    Trong cơ chế cho vay bao gồm: cho vay thường chiếm trên 60% tổng dư nợ; cho vay cải thiện tình hình kinh doanh; cho vay đặc biệt (ví dụ như doanh nghiệp mới khởi lập, ưu tiên đối với chủ doanh nghiệp là doanh

    25

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    nghiệp đầu tư thiết bị để tham gia vào lĩnh vực mới…) ; cho vay sinh hoạt; cho vay giáo dục; cho vay bảo đảm bằng tiền lương,với lãi uất ưu đãi bằng lãi suất ngân hàng thương mại. Nhật Bản cho vay ưu đãi đối với các doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt, cao hơn lãi suất huy động vốn và do Chính phủ quy định từng thời kỳ.

    Cơ chế tài chính: Do được bao cấp nên hoạt động của NLFC được phép lỗ theo kế hoạch. Sau hàng chục năm hoạt động, đến năm 2003, NLFC mới đạt được cân bằng thu chi, thoát khỏi tình trạng bao cấp của Chính phủ nhờ tiết kịêm giảm chi phí thông qua hệ thống thông tin quản lý; áp dụng khoa học kỹ thuật và sự thay đổi trong chính sách cho vay vốn của Chính phủ. Hiện nay, NLFC đã có thể trả nợ Bộ Tài chính trước hạn và những lúc cần thiết, NLFC được “vay nóng” của ngân hàng tư nhân với số lượng nhỏ, thời hạn ngắn, cuối năm tất toán hết.

    * Những bài học kinh nghiệm đối với NHCSXHVN:

    Thứ nhất: là tổ chức tài chính được thành lập với mục đích giúp Chính phủ thực hiện mục tiêu tạo công ăn việc làm, ổn định kinh tế, chính trị xã hội là chính, không vì mục tiêu lợi nhuận; do vậy, cần phải có những chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội phúc lợi xã hội… thoả đáng cho những đối tượng tham gia trong tổ chức tài chính này để ổn định cuộc sống, an tâm với công việc được giao chứ không nên thuần tuý chỉ thực hiện công tác giáo dục tư tưởng.

    Thứ hai: để thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Chính phủ trong việc hỗ trợ phát triển một số lĩnh vực kinh tế hay chính sách quan trọng, nhất thiết phải có sự trợ giúp từ Chính phủ đặc biệt trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, việc bao cấp chỉ nên thực hiện trong một giai đoạn nhất định, không nên kéo dài mà cần phải từng bước giảm dần, tiến tới tự chủ về tài chính.

    26

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Thứ ba: nghiên cứu chỉnh sửa phương thức cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn thông qua bố mẹ hoặc người bảo trợ của học sinh, sinh viên để từ đó, mở rộng đầu tư cho vay, đảm bảo an toàn và hiệu quả.

    Thứ tư: quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng và quản lý cán bộ. Đặc biệt, ngoài việc đào tạo kiến thức chuyên môn cần chú trọng giáo dục đạo đức nghề nghiệp, phong cách giao tiếp, tiếp xúc với khách hàng, thực sự coi khách hàng là “thượng đế ”.

    2. Giải pháp phát triển cho NHCSXHVN:

    Cần phải nhận thức sâu sắc NHCSXH là một ngân hàng, đồng thời là một tổ chức tín dụng của Nhà nước, nhằm tạo một kênh tín dụng ưu đãi một phần lãi suất và các điều kiện tín dụng khác để hỗ trợ các hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, thu hồi được vốn để tiếp tục cho vay chứ không phải là một tổ chức tài chính tài trợ bao cấp. Vì vậy, NHCSXH phải được tổ chức và hoạt động theo những chuẩn mực của một tổ chức tín dụng có hiệu quả kinh tế – xã hội, an toàn và phát triển đúng hướng.

    2.1. Giải pháp về tổ chức, bộ máy NHCSXHVN:

    Thứ nhất: NHCSXH và các bộ ngành liên quan cần lập đoàn cán bộ liên ngành để thực hiện kiểm tra, đánh giá lại vốn, tài sản và các khoản nợ đã cho các đối tượng chính sách vay ưu đãi, nay thuộc đối tượng vay vốn của NHCSXH, để xác định rõ số vốn và tài sản đã bị tổn thất; căn cứ vào đó để cân đối tài lực hàng năm trình Chinh phủ các phương án bổ sung vốn điều lệ cho NHCSXH

    Thứ hai: NHCSXH cần phối hợp chặt chẽ với các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương nhanh chóng triển khai hệ thống tổ chức bộ máy, nhân sự từ trung ương đến địa phương, đảm bảo việc cho vay hộ nghèo thuận lợi. Đồng thời NHCSXH cần khuyến khích mở tài khoản tiền gửi đối với nhiều tổ chức và doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi.

    27

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Thứ ba: Để đảm bảo an toàn và phục vụ đúng đối tượng, ngoài những quy định của luật pháp và Điều lệ, NHCSXH cần khẩn trương hoàn thiện và mở rộng hệ thống các tổ vay vốn ở cơ sở cho phù hợp với đối tượng vay vốn mới của ngân hàng.

    Thứ tư: Chấn chỉnh bổ sung các quy định về tổ chức hoạt đọng của các bộ phận chức năng, nhằm nâng cao quyền hạn, trách nhiệm đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Đồng thời triển khai hoạt động của NHCSXH tại các địa bàn tỉnh, huyện mới, vùng sâu vùng xa chưa có phòng giao dịch.

    Thứ năm: Đổi mới công tác quản lý và điều hành trong toàn hệ thống theo hướng phân cấp, phân quyền, giảm cấp trung gian, thực hiện chế dộ quản lý dân chủ từ cơ sở nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tự chịu trách nhiệm trước Đảng và chính quyền các cấp.

    Thứ sáu: Tập trung sức nâng cao năng lực tài chính cho NHCSXH để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng hợp tác quốc tế. Đây là một định hướng quan trọng trong việc tổ chức bộ máy của NHCSXH, bởi đây là một trong những nguồn thu hút các dự án với nhiều loại hình và qui mô khác nhau.

    Thứ bảy: Tăng cường cơ sở vật chất cho NHCSXH, bởi đây là điều kiện và phương tiện hoạt động, đảm bảo an toàn và thuận lợi. Vì vậy Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần phối hợp hoạt động với NHCSXH lập đề án đầu tư hoàn chỉnh trụ sở làm việc của hệ thống NHCSXH.

    2.2 Giải pháp về hoạt động

    Thứ nhất: Tăng cường nguồn vốn vay hỗ trợ do nhu cầu vay vốn hiện nay lớn hơn mức cho vay quy định, ví dụ như nâng mức cho vay xuất khẩu lao động tối đa từ 10 triệu lên 20 triệu/1khách hàng, cho vay hộ nghèo lên 10 triệu/1hộ, nâng mức cho vay sinh viên lên cho phù hợp với cuộc sống (tức là trên 300.000/tháng)…

    28

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Thứ hai: Chuyển cho vay trực tiếp đối với học sinh, sinh viên sang cho vay thông qua hộ gia đình để đảm bảo khả năng trả nợ. Mặt khác cũng cần điều chỉnh chính sách ưu đãi về lãi suất đối với học sinh, sinh viên đồng bộ với các đối tượng chính sách khác: cho vay theo cùng một mức lãi suất và thu lãi cả trong thời gian ân hạn.

    Thứ ba: Có cơ chế xử lý rủi ro triệt để cho người nghèo vay vốn khi gặp rủi ro bất khả kháng. Điều đó có nghĩa khi những đối tượng vay vốn gặp phải thiên tai nặng nề, ốm đau kéo dài, tai nạn lao động, thiệt hại về người… thì Chính phủ nên xoá nợ cho họ tạo điều kiện cho họ tiếp tục vươn lên.

    Thứ tư: Điều chỉnh lãi suất cho vay hiện nay đối với các đối tượng lên mức 0,6%/tháng. Với mức đều chỉnh này sẽ làm giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong việc cân đối nguồn tài chính cấp bù cho tín dụng chính sách.

    Thứ năm: Tăng cường công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ trong toàn hệ thống. Một mặt, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách làm nghiệp vụ ở Hội sở chính và các chi nhánh, mặt khác đẩy mạnh công tác kiểm tra hoạt động tại các chi nhánh trong cả nước để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh sửa chữa sai sót trong thực tiễn điều hành.

    Thứ sáu: NHCSXH cần phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh xã hội chỉ đạo, hướng dẫn phương pháp xác định và nhận diện hộ nghèo; kiểm tra giám sát quá trình tổ chức thực hiện, không nên “khoán trắng” nhiệm vụ này cho UBND cấp xã như thời gian vừa qua ở một số địa phương; đảm bảo nguồn vốn được chuyển tới đúng đối tượng cần vay.

    Thứ bảy: Các cấp chính quyền phối hợp chặt chẽ với mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng; dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, phát động phong trào thi đua sôi nổi trong cả nước, khơi dậy và phát huy tiềm lực của toàn dân của mỗi xóm làng… phấn đấu để nhanh chóng xoá đói,

    29

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho mình và cho đất nước; góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”.

    30

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    C. KẾT LUẬN

    Nghèo đói là điều tất yếu trong sự phát triển của mọi quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói ở mỗi quốc gia là khác nhau: có quốc gia chỉ có tình trạng nghèo tương đối so với mức sống bình quân của toàn xã hội, có quốc gia thì có tình trạng nghèo đói thực sự, thiếu ăn và thiếu các điều kiện sinh hoạt cần thiết. Theo tiêu chuẩn đánh giá của Liên hợp quốc, người có thu nhập bình quân một ngày dưới 2$ thì được coi là nghèo đói. Tình trạng nghèo đói ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển chung của nền kinh tế, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết. Nếu giải quyết không tốt nó có thể kéo thụt lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế, phân tán các nguồn lực quốc gia, tăng gánh nặng trợ cấp ngân sách quốc gia.

    Nhận thức rõ vấn đề quan trọng trên, trong thời kỳ đổi mới Nhà nước ta đã đưa ra một chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo. Từ cuối năm 1995, Chính phủ đã quyết định thành lập riêng một định chế tài chính để hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, đó là Ngân hàng Phục vụ Người nghèo Việt Nam có mạng lưới chi nhánh ở tất cả 61 tỉnh thành phố trong cả nước. Đến đầu năm 2003, thành lập và đưa vào hoạt động NHCSXH, thực hiện chức năng của Ngân hàng Phục vụ Người nghèo trước đó, tiếp nhận chương trình cho sinh viên vay vốn từ Ngân hàng Công thương Việt Nam chuyển sang, tiếp nhận một số chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước chuyển sang, triển khai cho vay vốn đi xuất khẩu lao động.

    NHCSXH đã đạt được một số kết quả đáng kể: tính đến ngày 31/12/2004 tổng nguồn vốn ước tính đạt 15.245 tỷ đồng, tăng 4.741 tỷ đồng so với năm 2003, đạt 116% kế hoạch năm 2004. Trong đó vốn điều lệ ước đạt 2.315 tỷ đồng, tăng 800 tỷ so với năm 2003; vốn vay Ngân hàng Nhà nước ước đạt 1.531 tỷ đồng; vốn nhận từ các chương trình ước đạt 2.565 tỷ đồng, tăng 339 tỷ đồng…. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 14.109 tỷ

    31

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    đồng, tăng 3.760 tỷ đồng so với cuối năm 2003, đạt 92,3% kế hoạch năm; nợ quá hạn tính đến ngày 31/12/2003 ước đạt 493 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ, giảm 7 tỷ đồng (-1,5%) so với cung kỳ năm trước. Trong đó, nợ quá hạn cho vay hộ nghèo là: 369 tỷ đồng…

    Mặc dù kết quả hoạt động là như vậy, những hạn chế cần khắc phục vẫn tồn tại. Như chúng ta đã biết, NHCSXH được phép huy động tiền gửi của cá nhân và tổ chức nhưng chủ yếu vẫn là từ nguồn Ngân sách Nhà nước. Nhưng đến nay, nguồn vốn điều lệ được cấp là 1.515 tỷ VND/5.000 tỷ (tính đến thời điểm 31/12/2003, năm 2004 chưa có số liệu chính xác), nguồn vốn ODA, nguồn vốn vay nước ngoài và các nguồn khác không đổi. Mặt khác, NHCSXH không thực hiện dịch vụ thanh toán nên không thu hút được tiền gửi thanh toán của dân cư và doanh nghiệp. Trong việc xác định đối tượng phục vụ của NHCSXH thì: theo Nghị định số 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, hộ nghèo vay vốn “phải có tên trong danh sách hộ nghèo của được UBND cấp xã quyết định theo chuẩn nghèo do Bộ Lao động-Thương binh xã hội công bố, được Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của UBND cấp xã”. Vấn đề nhận diện hộ nghèo được giao hoàn toàn cho UBND cấp xã, khi có danh sách NHCSXH theo danh sách đó xét cho vay vốn; do đó không tránh khỏi hiện tượng vốn không đến đúng đối tượng cần vay. Và vấn đề thu nợ, xử lý nợ quá hạn… đều bị vi phạm.

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động của NHCSXH thì cần có những biện pháp khắc phục. Trong đó có thể kể đến như: đa dạng hoá các hoạt động huy động vốn, nâng mức cho vay với mỗi đối tượng, nâng cao nghiệp vụ cho các cán bộ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nâng mức lãi xuất cho vay nhằm làm giảm gánh nặng cấp bù cho Ngân sách Nhà nước.

    Xoá đói giảm nghèo là sự nghiệp chung của cả nước, của mỗi người dân… Vì vậy cần được quan tâm của tất cả các cấp ngành, của toàn xã hội.

    32

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Chúng ta cần xoá bỏ tiêu chi đánh giá hộ nghèo ở nước ta tiến tới tiêu chi hộ nghèo của thế giới.

    33

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam

    Danh mục tài liệu tham khảo:

    1. “NHCSXH góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam” – Tạp chí Ngân hàng- Số chuyên đề 2004.
    1. “Quản trị các định chế tài chính nông thôn và đổi mới hoạt động của NHNN& PTNT” – Tạp chí Ngân hàng – Số chuyên đề 2004.
    2. Tạp chí Ngân hàng các số:

    Số 12/2000

    Số 6/2001

    Số (1+2)/2002

    Số 3, 4, 8, 14, 15, (1+2), 9/2003

    Số 4, 8, 9, 10, 11/2004

    1. Tạp chí Thị trường tài chính – Tiền tệ các số:

    Số (1+2), 8, 16, 19/2004.

    34

    Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÂU HỎI ÔN TẬP CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CÓ ĐÁP ÁN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-C%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-ho%C3%A1-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-ho%C3%A1-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-qu%E1%BB%91c-d%C3%A2n-l%C3%A0-nhi%E1%BB%87m-v%E1%BB%A5-trung-t%C3%A2m-trong-su%E1%BB%91t-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-qu%C3%A1-%C4%91%E1%BB%99-%C4%91i-l%C3%AAn-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công cuộc xây dựng xã hội mới phải được tiến hành toàn diện trên các mặt: quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, nền văn hoá và những con người của xã hội đó. Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Xây dựng cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước. Tuy nhiên, tuỳ từng nước khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên không giống nhau nên cách thức tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại sẽ không giống nhau.

    Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như nước ta, nền sản xuất nhỏ, là thuật thủ công là chủ yếu… công nghiệp hoá là quá trình chủ mang tính quy luật để tạo ra cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Chính vì vậy tại đại hội VIII Đảng ta khẳng định: tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước đi lên CNXH – là nhiệm vụ sắp tới của dân tộc ta.

    Những thành tựu sau 10 năm đổi mới, đặc biệt là kết quả thực hiện vượt mức những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm1991 – 1995 đã đưa nền kinh tế nước ta khỏi khủng hoảng và tạo được nhứng tiền đề cho phép chuyển sang giai đoạn của sự phát triển đất nước.

    Cũng tại đại hội lần thứ VIII của Đảng công sản Việt Nam xuất phát từ nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Từ điều kiện và khả năng thực tế của đất nước trong bối cảnh và xu thế của thời đại ngày nay đã khẳng định quyết tâm

    1

    phấn đấu đưa nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào khoảng năm 2020.

    Từ lý do trên em quyết định chọn đề tài “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Cho bài tiểu luận này.

    Với chút hiểu biết ít ỏi của mình, em mạnh dạn xin được trình bày một số ý kiến cá nhân mình với hy vọng góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm hệ thống lý luận trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề tài này để bài viết hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn và trân trọng ý kiến đóng góp.

    2

    PHẦN NỘI DUNG

    I.                   Những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.

     

    1. Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến độ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

    2. Tình tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Cơ sở vật chất – kỹ thuật của một xã hội toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.

    Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở – vật chất – kỹ thuật của một xã hội là: sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển khoa học – kỹ thuật, tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.

    Nói cơ sở vật chất kỹ thuật là một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở vật chất kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương thức sản xuât đó được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất và được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất cũ và được phát triển trên cơ sở bản thân đó.

    Đặc trưng của cơ sở vật chất – kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Cơ sở

    vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của nó là nền đại công nghiệp cơ khí hoá vàchỉ đến khi xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới trở thành phương thức sản xuất thống trị.

    Chủ nghĩa xã hội – giai đoạn phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản – đòi hỏi một cơ sở vật chất – kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ, kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại.

    Do vậy có thể hiểu: cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hôị sẽ là nền công nghiệp lớn hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và được thực hiện thông qua công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Đố là vì, cơ sở vật chất – kỹ thật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên quan đến sự phát triển về chất đổi mới với lực lượng sản xuất và năng suất lao động, đối với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối với sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.

    3. Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

    Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá có ý nghĩa lớn lao, như vậy nó phải được thực hiện triệt để, sâu rộng trong toàn nhân dân. Có nghĩa là phải tập trung mọi lực lượng trong nhân dân, khuyến khích phát triển nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích mọi doanh nghiệp, các nhân trong và ngoài nước cùng tham gia vào sự nghiệp chung góp phần

    tăng trưởng kinh tế -xã hội của đất nước như lời: tổng bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu tại hội nghị lần thứ VI ban chấp hành trung ương Đảng VIII:” Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nắng vững lợi thế so sánh, dựa vào sức mạnh nôi lực, phát huy cao độ nỗ lực của mọi người, mọi cấp, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, nắm thời cơ, tranh thủ nguồn từ bên ngoài vượt qua khó khăn thách thức, giữ vững ổn đinh và phát triển kinh tế xã hội, từng bước tạo điều kiện để cần thiết cho phát triển nhanh và bền vững khi có điều kiện”.

    Điều kiện quan trọng ở đây là:” phát huy mọi nguồn lực trong nhân dân, phát triên nhiều thành phần kinh tế nhưng trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo vận hành theo cơ chế thị trường cơ sự quản lý của nhà nước”. Đây chính là một bài học quan trọng mà Đảng rút ra sau 10 năm đổi mới. Sở dĩ chúng ta giành được những thắng lợi khả quan sau 10 đổi mới, ngoài những bài học khác thì một phần nhờ vào việc Đảng ta xác định chính sách kinh tế đúng đắn. Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.

    Kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu thế, tác động tích cực tới sự phát ytiển kinh tế -xã hội nhưng đồng thời nó cũng có những mặt tiêu cực, khuyết tật ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế- xã hội như hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, chèn ép lẫn nhau, phân hoá giàu nghèo dần đến khủng hoảng hoặc gây rối loạn xã hội, làm cho kinh tế phát triển không ổn định, gẵn liền với hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội… Vì thế nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN. Do đó Nhà nước phải nâng cao năng lưc quản lý vĩ mô nhằm phát huy tính tích tích cực đi đôi với ngăn ngừa và hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp văn minh. Cạnh tranh vì lợi

    5

    ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau làm chệch hướng đi lên chủ nghĩa xã hội

    Muốn vậy cần phải xác định rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ( đó là các doanh nghiệp nhà nước), phải làm sao để cho kinh tế nhà nước thực sự làm ăn có hiệu quả, phát huy tối đa vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã, phấn đấu dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

    Tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng an ninh. Đây là những ngành kinh tế chính yếu, là “bộ xương sống” của toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

    II công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam

    1.Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tự trang bị.

    Thế giới đã trải qua hai cuộc chiến tranh kỹ thụât: cuộc cách mạng kỹ thuật mà nội dung chủ yếu của nó là cơ khí hoá xuất hiện đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ 17 và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ 19. Đến khoảng giữa thế kỷ 20 xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại. Mấy thập niên đã trải qua, nhất là thập niên gần đây loài người đang chứng kiến những thay đổi rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.

    Từ nội dung của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, mặc dù còn có thể có ý kiến nào đó khác nhau, song ý kiến nhất trí cho rằng cuộc cách mạng nàycó hai đặc trưng chủ yếu:

    Một là, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách đây hơn một trăm năm. Các Mác đã dự đoánvề mối quan hệvà sự phát triển giữa khoa

    6

    học và lực lượng sản xuất. Người viết: “ Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu xe lửa, điện báo… Tất cả các thứ đólà thành quả sáng tạo của bộ óc con người, được bàn tay con người tạo ra là sức mạnh tri thức đã được vật hoá. Sự phát triển của vốn cố định là chỉ tiêu cho thấy rằng tri thức xã hội chung đã biến thành lực lượng sản xuất với mức độ bào, và do đó cũng là chỉ tiêu nói lên mức độ phụ thuộc và biến đổi của chính những điều kiện hoạt động đối với trí tuệ chung”

    Nói khoa học trở thành lực lượng sản xuất trưc tiếp là nó bao gồm cả khoa học tự nhiên- kỹ thuật lẫn khoa học xã hội, nhất là khoa học kinh tế, nó do con người toạ ra thông qua con người- nhân tố trung tâm- nhân tố chủ thể-đến lực lượng sản xuất. Nó đòi hỏi phải có chính sách đầu tư đúng đắn cho khoa học- kỹ thuật. Ngày nay, bất cứ một tiến bộ nào của kỹ thuật “công nghệ” sản xuất đều phải dựa trên những thành tựu khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó.

    Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế chio phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại, phạm vi ứng dụng của một thành tựu khoa học vào sản xuất đời sống ngày càng mở rộng.Đặc trưng này làm cho tài sản cố trong qúa trình sử dụng thậm trí vừa mới xây dựng xong không chỉ bị hao mòn hữu hình mà còn bị hao mòn vô hình nhanh chóng hơn trước. Nó đòi hỏi cần được kêt hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học –kỹ thụât với chiến lược kinh tế –xã hội.

    • nước ta, một nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá được tiến hành trong điều kiện thế giới trải qua hai cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn ra trong xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá. Trong hoàn cảnh đó công cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuât ở nước ta phải bao gồm cả cơ khí hoá và hiện đại hoá, coi nó là then chốt và coi khoa học- công nghệ là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững.

    7

    2. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội

    Từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa trong quá trinh công nghiệp hoá tất yếu phải phân công lại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động, tức là sự chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong nội bộ và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân. Nhân công lao động có tác động to lớn: nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệvà năng xuất lao động; cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự phân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau:

    • Tỷ trọng vầ số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày càng tăng
    • Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội.

    +Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng nhanh hơn mức độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.

    Nước ta hàng chục năm xây dựng cơ cấu kinh tế đã đem lại những thành công nhất định. Song trong việc bố trí cơ cấu kinh tế có những sai lầm không nhỏ về cơ cấu ngành, chạy theo công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí quá nhiều, công nghiệp lạc hậu… Qua nhiều lần đại hội, dưới ánh sáng của sự đổi mới nói chung, trong đó có đổi mới việc xây dựng cơ cấu kinh tế, đến nay đã đưa lại chuyển động bước đầu quan trọng. Thông qua cách mạng khoa học-kỹ thuật và phân công lại lao động với những tính quy luật vốn có của nó, thích ứng với điều kiện nước ta. Đảng ta đã xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà “ bộ xương” của nó là: “cơ cấu kinh tế công nông nghiệp- dịch vụ gắn liền với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng, sẽ cho phép nước ta kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

    8

    Cơ cấu nói trên ở nước ta trong thời kỳ qúa độ được thực hiện theo phương châm: Kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn- tiên tiến vừa vận dụng được nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép rút ngắn khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nước, lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính quy mô lớn nhưng phải là quy mô hợp lý và có điều kiện. Giữ được nhịp độ phát triển hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa các ngành hàng hoá, các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong nền kinh tế.

    III.Những điều kiện- giải pháp để thực hiện công nghiệp hoá, hiện

    đại hoá

    Sự nghiệp công nghiệp hoá mà sự thắng lợi của nó phụ thuộc vào nhưng điều kiện tiền đề (nhất là ở những nước có nền kinh tế kém pháp triển như ở nước ta) có 4 loại điều kiện tiền đề sau đây:

    1. Tạo nguồn vốn tích luỹ để công nghiệp hoá

    Công nghiệp hoá là để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật ngày một hiện đại, nên đòi hỏi nhiều vốn. Nguồn gốc của tích luỹ vốn là lao động thặng dư, cơ sở tự nhiên và cũng là biện pháp cơ bản tăng năng suất lao động. Cơ cấu vốn tích luỹ để công nghiệp hoá bao gồm: Tích luỹ vốn từ nguồn trong nước và tích luỹ vốn từ nguồn bên ngoài. ở nước ta, nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp cũng như nhiều nước kém hoặc đang phát triển, thời kỳ đầu đều phải dựa vào nguồn vốn nước ngoài, nước ta không thể là ngoại lệ.Tất nhiên phải rất coi trọng tạo ra chính sách đối ngoại hữu hiệu và việc sử dụng vay vốn có hiệu quả, có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi.

    2. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.

    Vị trí then chốt của khoa học- kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta đòi hỏi phải đặt khoa học và công nghệ như một “quốc sách”. Chính nó đã góp phần đưa nền kinh tế hàng hoá ở nước ta phát triển cả về chiều rộng

    lẫn chiều sâu, nhất là chiều sâu góp phần nâng cao năng lực tích luỹ vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.

    3. Làm tốt công tác về điều tra cơ bản

    Nước ta, công nghiệp hoá mới chỉ bắt đầu, tài nguyên khoáng sản tương đối nhiều nhưng chưa được khai thác. Do vậy, điều tra cơ bản thăm dò địa chất là điều kiện tiền đề không thể thiếu của công nghiệp hoá. Sẽ mất lợi thế nếu khai thác chậm, trước sự bùng nổ của vật liệu do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tác động và tạo ra khả năng thay thế nguyên liệu tự nhiên trong thế kỷ 21 và tiếp theo.

    4. Đào tạo cán bộ khoa học- kỹ thuật , khoa học quản lý và công nhân lành nghề cho công nghiệp hoá.

    Sự nghiệp công nghiệp hoá là sự nghiệp của quần chúng lao động xây dựng nên, trong đó cán bộ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và nhân công có tay nghề cao có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, phải làm cho họ có tri thức phải đào tạo họ.

    Những điều kiện tiền đề nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, nó đòi hỏi phải có mới tiến hành công nghiệp hoá được. Nước ta không thể không hoà nhập với các nước trong cộng đồng quốc tế, không thể không nẵm bắt những lý thuyết hiện đại để ứng dụng cho các nước kém phát triển.

    • Lý thuyết về lợi thế so sánh
    • Lý thuyết cân bằng
    • Lý thuyết cất cánh

    Mỗi lý thuyết về nội dung của nó đều có mặt tích cực và mặt hạn chế của nó,do vậy trong việc vận dụng phải biết vận dụng và phát huy mặt tích cực, khắc phục một cách có hiệu quả những hạn chế của nó. Bằng cách đó sớm đưa sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta nhanh đến thắng lợi

    10

    KẾT LUẬN

    Tóm lại, nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm tạo ra năng xuất lao động và tổ chức xã hội ngày càng tiên tiến.

    Nhiệm vụ ấy chỉ có được trên cơ sở công nghiệp hoá ,hiên đại hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và hiệu quả. Do đó, tiến hành công nghiệp hoá ,hiện đại hoá để xây dựng nền cơ cấu nền kinh tế hợp lý là nhiệm vụ quan trọng, đó là nền tảng chiến lược đưa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng van minh sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

    11

    12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Phần Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ph%C3%A1t-huy-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt N

    am

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Như một quy luật có tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giưói, đó là ở đâu có thị trường chứng khoán phát triển, thì ở đó hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, các Ngân hàng thương mại phát triển. Ngược lại, ở đâu có cạnh tranh hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính sôi động, thì ở đó giao dịch trên TTCK cũng nhộn nhịp. Hay nói cách khác, không thể nói đến sự tham gia tích cực của các tổ chức trung gian tài chính. Ngân hàng thương mại đã thực sự giữ một vai trò rất quan trọng đối sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển. Việc tham gia của các định chế tài chính đặc biệt là các Ngân hàng thương mại hiện nay còn rất hạn chế. Trong khi đây là một trong những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động chứng khoán một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy, trong phạm vi kiến thức của mình, em đã lựa chọn đề tài: “Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam” làm công trình nghiên cứu khoa học của mình với hi vọng có thể đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này.

    Về kết cấu của công trình nghiên cứu khoa học này, ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, công trình bao gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận về Ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán

    Chương 2: Hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 1:

    LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    1.1 Thị trường chứng khoán và hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán

    1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán

    Trong các sách báo kinh tế ở Việt Nam hiện tồn tại nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau về thị trường chứng khoán. Một số tác giả gắn thị trường chứng khoán với cụm từ Securities Market và cho rằng thị trường chứng khoán là “nơi giao dịch chứng khoán và công cụ tài chính có liên quan đến chứng khoán”. Ở đây, nếu từ Securities được giải nghĩa theo cụm từ Written evidence of ownership, bằng chứng giấy trắng mực đen về quyền sở hữu, thị trường tài chính. Một số tác giả khác giải thích thị trường chứng khoán xuất phát từ cụm từ Stock Market và cho rằng, thị trường chứng khoán “là đối với chứng khoán thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung”. Cách giải thích này nhấn mạnh thị trường chứng khoán với tư cách lĩnh vực trao đổi những loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu và công cụ tài chính phát sinh. Các tác giả của Trường đại học Tài chính – kế toán cho rằng “thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi. Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn do đặc tính của chứng khóan trong việc huy động vốn dài hạn”. Các tác giả của trường Đại học Ngoại thương nêu ra định nghĩa: “thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”.

    Những cách định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán như trên cho thấy, bản thân thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp với nhiều mối quan hệ và đặc trưng khác nhau. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là một hiện

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tượng kinh tế khách quan có sự phát sinh, phát triển. ở từng giai đoạn phát triển của mình thị trường chứng khoán cũng mang những nội dung khác nhau về mô hình tổ chức, chủng loại hàng hoá và về phương thức giao dụch. Chính vì thế, mặc dù cách định nghĩa khác nhau nhưng về nội dung khái niệm thị trường chứng khóan, các tác giả đều thng nhất ở một số điểm sau:

    Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một dạng thị trường đặc biệt, nằm trong một thị trường lớn hơn gọi là thị trường tài chính.

    Sơ đồ cấu trúc thị trường tài chính

    Thị trường tài chính

    Thị trường tín dụng                                            Thị trường trao đổi các giấy tờ có giá

    Thị trường tiền tệ                                                Thị trường chứng khoán

    • Thị trường tài chính là lĩnh vực trao đổi các giấy tờ có giá và quan hệ vay mượn qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tín dụng: thị trường vay và cho vay qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tiền tệ: trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn (thường dưới một

    năm).

    • Thị trường chứng khoán: thị trường trao đổi các giấy tờ có giá dài hạn (thường trên một năm).

    Thứ hai, hàng hoá trao đổi trên thị trường chứng khoán chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu dài hạn. Ngoài ra, trên các thị trường chứng khoán phát triển còn trao đổi các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu và trái phiếu, như chứng quyền, khế quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai…

    Thứ ba, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp (thị trường phát hành) và thị trường thứ cấp (thị trường mua – bán lại).

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ tư, thị trường chứng khoán bao gồm hai mô hình tổ hức quản lý chính, đó là Sở giao dịch chứng khoán và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC).

    Từ những nội dung căn bản của thị trường chứng khoán như trên, có thể nêu khái quát: thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá giao dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu, trái phiếu theo những phương thức có tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán, giao dịch trực tiếp và qua mạng.

    1.1.2 Hoạt động của thịh trường chứng khoán

    1.1.2.1 Thị trường chứng khoán chính thức

    Đây là TTCK tập trung, hoạt động đúng theo các quy định của pháp luật, là nơi giao dịch mua bán các loại CK đã được đăng ký (listed or registered securities) hay được biệt lệ. Vì lẽ đó, nó còn được gọi là thị trường niêm yết tập trung.

    CK đã được đăng ký là loại CK đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian, các môi giới và công ty môi giới. Chứng khoán sau khi phát hành đại chúng, nếu hội đủ một số yêu cầu chọn lọc, thì có thể niêm yết trên sàn giao dịch. Các tiêu chuẩn niêm yết thường chú trọng thâm niên hoạt động, thành tích lợi nhuận, quy mô cổ phần và lượng cổ đông. Sở dĩ như vậy là vì Sở giao dịch muốn chứng khoán niêm yết phải là loại đủ chất lượng và lượng cổ phần phải lớn, cổ đông nhiều thì mới có mua bán liên tục, sôi nổi và đảm bảo uy tín thị trường. Người đầu tư khi mua chứng khoán trong một đợt phát hành đại chúng(tức mua các IPO), dù đang mạo hiểm vào một chứng khoán mới, nhưng xem như họ được bảo vệ tối đa. Cả hệ thống dường như đã sàng lọc cho họ rồi, Trong đó Sở giao dịch là một khâu then chốt trong một hệ thống vận hành đồng bộ, Ta cũng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là đồng bộ. Ta cúng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua và bán chứng khoán tài sản giao dịch(tranding

    4

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    floor) của Sở giao dịch đó. Các yêu cầu về mua của người có tiền (cầu) và bán của người có chứng khoán (cung) sẽ được các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch, quá trình mua bán đó diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đầu gía. Còn lại, nói chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giớivà kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác.

    CK biệt lệ là loại CK được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, do Chính phủ trong các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm.

    TTCK chính thức là một tổ chức có thực thể, là thị trường minh bạch và được tổ chức cao, có địa điểm nhất định, với những trang thiết bị cần thiết, ở đó các CK được giao dịch theo những quy chế nghiêm ngặt và nguyên tắc nhất định.

    TTCK chính thức có thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định trên cơ sở đấu giá công khai có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán quốc gia. Việc mua bán CK được thực hiện tại sàn giao dịch thể hiện bằng các Sở giao dịch chứng khoán. Chính vì vậy, TTCK tập trung (hay TTCK có tổ chức – Organnied market) còn được gọi là Sở giao dịch, quá trình mua bán (The Stock Exchange). Tại Sở giao dịch, quá trình mua bán chứng khoán diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đấu giá. Còn lại chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giới kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác. Nó đóng vai trò là nơi tập trung thông tin và duy trì sự rõ ràng đáng tin cậy để người mua kẻ bán tiện tham khảo, tạo điều kiện cho những nhà đấu tư chẳng hề biết nhau vẫn có thể an tâm làm ăn với nhau. Nó là một định chế đầu mối (đầu mối chớ không phải trung gian hoặc chợ), là nơi tạo ra niềm tin, sự công bằng, trung thực và trật tự cho những nhà đầu tư chứng khoán. Những nhà đầu tư chứng khoán đều phải tốn tiền để mua những thứ đó từ Sở giao dịch. Nó là nơi tập hợp và chuyển hoá niềm tin thành những kết ước cụ thể của những nhà đầu tư chứng khoán.

    Hoạt động nhộn nhịp của Sở giao dịch có vẻ như là thứ hào quang chói sáng lấn át, làm cho người ta khó phân biệt. Khi nhắc đến TTCK, hầu như mọi

    5

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    người có thói quen liên tưởng ngay dến một Sở giao dịch (Stock exchange) nào đó. Nói đến TTCK là người ta hình dung đến các sàn giao dịch (tranding floor) được vận hành với những phương tiện hiện đại, là bàn bạc về một thị trường diễn biến nhộn nhịp nhưng lại có tiếng là trật tự và trung thực, với sự trợ giúp của các ngành kỹ thuật cao. Thế nhưng hoạt động tại các sàn giao dịch chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh TTCK. Cùng với cả một hệ thống vận hành đồng bộ, Sở giao dịch là một khâu then chốt tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi, vì vậy người ta gọi chung bối cảnh đó là thị trường. Các yêu cầu về mua của người có tiền(cầu) và bán của người có chứng khoán(cung) sẽ được các thông tin môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch để giao mua bán chào bán(bid và offer). Tại Sở giao dịch; quá trình mua bán đó bằng động tác đấu giá công khai (open/auction). Các nhà môi giới phải la lớn lên giá “bid” và “offer” của họ ngay tại các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua bán chứng khoán tại sàn giao dịch của Sở giao dịch đó. Và dù Sở giao dịch là nơi rất tập trung, nó cũng chỉ giữ nhiệm vụ là một khâu trong TTCK.

    1.1.2.2 Thị trường chứng khoán bán chính thức hay thị trường chứng khoán bán tập trung (thị trường OTC)

    Đây là thị trường không có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh CK như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có khu vực giao dịch diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, vào thời điểm và tại chỗ mà những người có nhu cầu mua bán CK gặp gỡ nhau. Đây là một loại thị trường bậc cao, được tự động hoá cao độ, hàng ngàn hãng môi giới trong cả nước giao dịch mua bán CK với nhau thông qua hệ thống điện thoại và hệ thốngvi tính nối mạng. Nó không phải là thị trường hiện hữu, vì vậy còn được gọi là thị trường giao dịch không qua quầy – thị trường OTC (Over-the-Counter Market). Thông thường, đối với các nước phát triển và các nước có TTCK phát triển và các nước có TTCK phát trin, mới có điều kiện hình thành loại thị trườngbậc cao này, vì chỉ các nhà đầu tư ngoài quỹ đầu tư, qũy hưu bồng, các công ty lớn mới có khả năng

    6

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, còn tham gia nối mạng máy lớn thì rất khó khăn, còn các nhà đầu tư nhỏ khó có thể trang bị cho mình những phương tiện máy móc thiết bị hiện đại, vì vậy thị trường OTC chưa thích hợp với các nước đang phát triển.

    Thị trường OTC có những nét đáng chú ý sau đây:

    +Về đặc điểm của thị trường OTC: thị trường OTC không có trung tâm giao dịch, mà giao dịch mua bán CK thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại. Một điều quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán CK như trong phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông. Thị trường OTC là thị trường thương lượng, không có vị trí tập trung để trực tiếp gặp nhau. Việc giao dịch được điều khiển thông qua điện thoại và mạng vi tính để liên lạc giữa những dealer chứ không đối mặt trực tiếp (face- to – face) như tại SGDCK. Thị trường OTC được quy định luật lệ bởi Hiệp hội những người kinh doanh CK (NASD). Một giao dịch CK trên OTC thường bắt đầu khi một khách hàng đặt một lệnh và người môi giới (broker) điền vào phiếu lệnh. Sau đó phiếu lệnh được chuyển đến nhân viên giao dịch trên OTC (OTC trader) của công ty để thi hành. Nhân viên giao dịch sẽ xác định người kinh doanh CK (dealer) đề ra thương lượng các điều khoản của giao dịch. Một người kinh doanh CK trên OTC (OTC dealer), người cung cấp liên tục các giá hỏi mua (bids) và giá chào bán (offers) cho một CK cụ thể thì được cho là “tạo một thị trường” (make a market) cho CK đó và được gọi là người tạo ra thị trường (market/ a market). Người tạo ra thị trường mua và bán CK vì lợi nhuận của chính họ và chấp nhận rủi ro. Nếu ở Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một người tạo ra thị trường cho mỗi loại CK (chuyên gia- specialist) thì trên OTC có thể có nhiều người tạo ra thị trường cho một loại CK. Một người tạo ra thị trường phải sẵn sàng bán hay mua cổ phiếu tại giá đưa ra (quoted price). Trừ khi công bố giá được định trước, tất cả các báo giá được đưa ra từ công ty CK.

    Có nhiều loại giao dịch trên OTC, bao gồm (nhưng không có giới hạn): cổ phiếu và trái phiếu công ty; trái phiếu chính quyền địa phương; chứng khoán

    7

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chính phủ Mỹ; và chứng khoán cơ quan Chính phủ Mỹ (U.S. Government Agency Securities).Khi việc giao dịch CK này được thương lượng giữa người mua và người bán, phải có mạng lưới liên lạc nối liền những người kinh doanh (dealer) và biểu diễn những thông tin báo giá. Có 2 hình thức chính của việc liên lạc là bảng điện và in ấn.

    Công ty chứng khoán trên OTC tương tự như công ty môi giới hoạt động trên một Sở giao dịch chứng khoán, do đó nó có tên gọi khác nữa là công ty giao dịch – môi giới. Công ty CK OTC luôn bán các loại CK phi tập trung cho các khách hàng của mình.

    Nhà môi giới trung gian là một loại công ty môi giới nhất định mà khách hàng của nó là các nhà giao dịch và môi giới trên thị trường. Các công ty thông báo cho nhà môi giới trung gian loại CK mà họ muốn mua hoặc muốn bán. Sau đó, nhà môi giới trung gian thông báo các yêu cầu này qua mạng lưới thông tin cho các thành viên khác biết.

    Thị trường OTC thực hiện vai trò của thị trường thứ cấp, tức là thực hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Nhờ có thị trường OTC, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu tư vào CK vì khi cần tiền họ có thể bán lại các CK của mình cho các nhà đầu tư khác trên TTCK. Có tiền, thấy có lợi, hoặc thích là mua. Kẹt tiền, thấy không hấp dẫn nữa hoặc không thích thì bán. Nếu không có thị trường thứ cấp, có lẽ người đầu tư mua cổ phần, trái phiếu sẽ còn bị kẹt dài dài.

    Các công ty thực hiện môi giới và kinh doanh CK là cầu nối giữa những người đầu tư trên thị trường OTC. Nhờ có các công ty này, quan hệ cung cầu CK trên thị trường được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn. Các công ty muốn hoạt động môi giới và kinh doanh CK phải được phép của cơ quan có thẩm quyền (NASD). Thông thường các công ty CK thường được phép thực hiện cả nghiệp vụ môi giới và kinh doanh mua bán CK cho chính mình.

    Các công ty CK trên thị trường OTC có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh mua bán một số loại CK nhất định. Các công ty

    8

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    CK giao dịch mua bán CK cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại CK đó. Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh CK như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán CK cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư CK, bảo lãnh phát hành.

    • Niêm yết Ck trên thị trường OTC: các CK buôn bán trên thị trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng (các nhà đầu tư) biết để cócác quyết định đầu tư. Các CK được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các điều kiện được niêm yết không quá nghiêm ngặt, chỉ cần được phép phát hành là CK có thể giao dịch trên thị trường này. Như vậy, hầu như tất cả các CK không được niêm yết để giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán đều được giao dịch ở đây. Các CK buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp nơi nên độ lớn của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán CK trên thị trường này là lớn hơn Sở giao dịch chứng khoán. Từ điều kiện niêm yết thông thường hơn mà CK của các công ty được buôn bán trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán cũng được mua bán ở thị trường này.

    yết giá trên thị trường OTC được thể hiện trên hệ thống màn hình yết giá tự động, tuỳ theo độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của một loại CK nhất định mà nó có các loại yết giá như: yết giá chắc chắn, yết giá phụ thuộc, yết giá có chủ định.

    Từ việc buôn bán giao dịch CK trên thị trường OTC không tại một địa điểm nhất định mà thay vào đó là tại các công ty CK và thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống viễn thông, nên việc niêm yết công khai cũng được đa dạng và đơn giản hơn. Giá thị trường hiện tại của các loại CK phổ biến trên thị trường OTC được thông bán trên hệ thống màn hình yết giá tự động của NASDAQ.

    Ngoài ra, yết giá công khai trên thị trường OTC còn được thực hiện dưới các hình thức ra các yết giá có chọn lọc là các yết giá do NASDAQ tập hợp hàng ngày các mức giá chào bán và giá đặt mua của một số loại CK trên thị trường

    9

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    OTC theo một danh sách có chọn lọc thông qua Uỷ ban yết giá của nó, sau đó nó được công bố trên nhiều tờ báo hàng ngày trong khắp cả nước. Các thông báo yết giá màu hồng là do một tổ chức có tên là Phòng yết giá quốc gia (National Quotation Bureau) xuất bản. Nó xuất bản hàng ngày giá bán buôn các loại CK trên thị trường OTC kèm theo đó là tên của những nhà giao dịch hay nhà giao dịch có liên quan. Các thông báo yết giá màu hồng không được phổ biến rộng rãi mà chỉ được phân phối cho các công ty đặt mua. Các công ty niêm yết CK trên thị trường OTC cũng phải công khai các thông tin về tình hình của công ty cho công chúng đầu tư biết. Quy trình công khai thông tin, các vấn đề, báo cáo cần công khai cho công chúng cũng như các yêu cầu công khai về thông tin công ty cũng tương tự như trên Sở giao dịch chứng khoán.

    • Giao dịch mua bán CK trên thị trường OTC: hoạt động giao dịch buôn bán CK trên thị trường OTC cũng diễn ra khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lượng CK nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh này ra cho công ty CK đang quản lý tài sản của mình yêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình. Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môi giới – giao dịch sẽ biết được giá chào bán thấp nhất của loại CK đó. Sau đó công ty này sẽ thông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện.

    CK giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi điều kiện các tiêu chuẩn như giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán. Điều kiện duy nhất là loại CK đó được phép phát hành và chưa được đăng ký yết giá tại trụ sở giao dịch nào cả. Hầu hết các loại CK mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị trường OTC, sau đó mới xin đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán.

    Quản trị thị trường OTC là Hiệp hội các nhà kinh doanh CK quốc gia. Hiệp hội có nhiệm vụ ban hành quy chế. Thành viên của Hiệp hội cũng là thành viên của TTCK và ngược lại.

    1.2 Hoạt động của NHTM trên TTCK

    1.2.1 Các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại:

    * Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)

    Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi roc ho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán: mặt khác, với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển. Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán

    • Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán. ở Mỹ, đạo luật Glass-Steagall 1933 bắt buộc hai hoạt động này tách biệt nhau Glass – Steagall chỉ cho phép các ngân hàng thương mại tiến hành chào bán các loại chứng khoán chính phủ mới phát hành lần đầu; nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môI giới chứng khoán. Tuy nhiên, hiện nay tại Mỹ, người ta đề nghị huỷ bỏ đạo luật Glass-Steagall, cho phép các ngân hàng được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán. Tháng 7 năm 1988, Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ đã cho phép thí điểm ngân hàng J.P Morgan được phép bảo lãnh phát hành tráI phiếu công ty từ tháng 1 năm 1989 và được phép bảo lãnh phát hành cổ phiếu từ tháng 9 năm 1990, tiếp đó dần dần mở rộng cho các ngân hàng khác.
    • Mô hình đa năng bao gồm:

    Một là mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán. NHTM không những được hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. (Các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán gồm bảo lãnh phát hành, môI giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư, tham gia vào lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán). Nó được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, áo… Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi roc ho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến động của thị

    11

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn có một số hạn chế: thị trường chứng khoán phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng dùng vốn để cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó ngân hàng thường quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán. Điều này đã thể hiện sự kém phát triển ở thị trường chứng khoán Châu Âu tương quan với thị trường chứng khoán Mỹ. Bên cạnh đó, còn nhược điểm là trong trường hợp biến động trên thị trường chứng khoán, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này. Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, hay vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở TháI Lan là một minh chứng.

    Hai là mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phảI thành lập công ty con- công ty chứng khoán , hoạt động độc lập. Mô hình này được áp dụng ở Anh và những nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, úc. Mô hình này có ưu điểm các ngân hàng được kết hợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách hàng rộng khắp của ngân hàng. Bên cạnh đó, bởi vì có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị trường. Đặc biệt, mô hình này phù hợp với những nước mới thành lập thị trường chứng khoán khi mà cần có tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trường và khi hệ thống luật, kiểm soát… còn nhiều mặt hạn chế.

    Mỗi một mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, tuỳ vào thể chế chính trị, đặc điểm nền kinh tế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một mô hình phù hợp nhất để có thể phát huy một cách có hiệu quả nhất vai trò của NHTM đối với TTCK.

    1.2.2 Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK

    1.2.2.1 Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chứng khoán

    12

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Kinh doanh chứng khoán là nghiệp vụ mua bán chúng khoán cho chính mình và tự gánh chịu rủi ro. Với vai trò kinh doanh chứng khoán, các trung gianm chứng khoán là một thành viên quan trọng của thị trường chứng khoán, có tác dụng làm cho hoạt đọng của thị trường đều đặn, không bị gián đoạn và sôi nổi. Là một nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả của thị trường. Có thể chia hoạt đọng kinh doanh chứng khoán của NHTM thành hai nhóm, đó là: hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán

    Hoạt động ngân quỹ là hoạt động của NHTM thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có tính ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được… chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Hoạt động ngân quỹ là cầu nôí quan trọng giữa tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ được chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM và ngược lại. Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trường giúp cho các NHTM có thể sử dụng tối đa các nguồn vốn để sử dụng có hiệu quả hoạt động. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường này cũng làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính.

    Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM mang tính đa dạng hơn ít tập trung vào một loạI chứng khoán và với thời hạn đầu tư dàI hơn. Là một định chế trung gian tích cực nhất trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NHTM tham gia trên TTCK với tư cách là nhà đầu tư và nhà tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư chứng khoán. NHTM có thể sử dụng các khoản vốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua các loại cổ phiếu và trái phiếu. Thực chất của hình thức kinh doanh này là NH luôn luôn mua CK của khách hàng bằng tiền mặt của mình và bán cho khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thị giá mua và thị giá bán. Nghĩa là NH sẽ tìm cách mua CK với giá thấp nhất và bán vơí giá cao nhất có thể. ở các Sở Giao dịch Chứng khoán khác nhau, thị giá của cùng một loại chứng

    13

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán cũng khác nhau. Giữa các Sở GDCK có mối liên hệ về thông tin rất chặt chẽ. Do đó, các NH sẽ mua các CK ở nơi có thị giá thấp để bán ở nơi có thị giá cao để kiếm lời cho tới khi thị giá được cân bằng giữa các thị trường. Khi mua cổ phiếu NHTM có thể trở thành cổ đông lớn của công ty cổ phần tham gia vào việc điều hành và kiểm soát công ty. Bằng nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm dày dạn trong kinh doanh tiền tệ, NHTM có ưu thế hơn các nhà đầu tư khác trong việc nắm bắt thông tin, phân tích chứng khoán và TTCK đúng lúc đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, bằng những phương tiện sẵn có, ngân hàng có thể đầu tư theo danh mục, quản lý danh mục đầu tư, thành lập quỹ đầu tư, để đầu tư trên TTCK có hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất. Khi mua trái phiếu, NHTM đã thực hiện các chức năng cho vay của mình. Trái phiếu thường có độ rủi ro tương đối thấp nên việc đầu tư vào trái phiếu là một hoạt động thường xuyên của NHTM. Hơn nữa với tính thanh khoản cao của NHTM có thể bán trái phiếu bất cứ lúc nào khi cần thu hồi vốn.

    1.2.2.2 NHTM với nghiệp vụ huy động vốn trên TTCK

    NHTM là một tổ chức kinh doanh, cũng cần có vốn để hoạt động. Vốn của NHTM có thể hình thành từ nhiều nguồn. Một nguồn vốn quan trọng của NHTM trong nền kinh tế thị trường là huy động vốn trên TTCK. Luật pháp từng nước khác nhâu, song về cơ bản, cá NHTM có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đẻ huy động vốn trên thị trường.

    Về phát hành cổ phiếu, đối với các NHTM cổ phần thì đây là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng. Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn khi thành lập ngân hàng và trong quá trình hoạt động có nhu cầu tăng vốn ngân hàng có thể phát hành thêm số phiếu mới. Khi phát hành cổ phiếu lần đầu hay cổ phiếu mới, ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định của TTCK.

    Về phát hành trái phiếu, NHTM khi có nhu cầu huy động vốn với số lượng lớn có thể phát hành trái phiếu trung và dài hạn. Để thu hút các nhà đầu tư và chiều theo thị hiếu khách hàng có nhiều loại tráI phiếu NHTM đã ra đời như: TP có lãI chuyển đổi, TP chiết khấu, TP có lãI suất thả nổi, TP có lãi suất cố

    14

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    định. Đối với NHTM sẵn có chuyên môn và cơ sở vật chất, việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn được xem như là giải pháp mang tính hiệu quả cao.

    Có thể thấy, với tính chuyên nghiệp cao, với uy tín lớn trên thị trường tài chính, và các mối quan hệ rộng rãi của NHTM, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thường khác, bên cạnh đó NHTM có thể tự đứng ra phát hành làm giảm chi phí huy động vốn. Do vậy, chứng khoán của các NHTM phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn so với các doanh nghiệp khác.

    1.2.2.3 NHTM với các nghiệp vụ trung gian trên TTCK

    Bản thân NHTM là một định chế tài chính trung gian rất phổ biến và hoạt động rất tích cực trên thị trường tài chính, do đó nó góp phần cực kỳ quan trọng trong hoạt động trung gian trên TTCK. Nghiệp vụ trung gian bao gồm nhiều hoạt động mà NHTM đều có thể tham gia với tư cách của một công ty chứng khoán con. Công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng. Công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải khai báo thành lập công ty chứng khoán độc lập.

    * Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

    Đây là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nước trên thế giới đã có TTCK, gọi là dịch vụ môi giới chứng khoán (Brokerage service). Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng sẽ đảm trách dịch vụ này và mang lại cho ngân hàng những lợi nhuận từ lệ phí giao dịch hay hoa hồng giao dich rất lớn. Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng có những ưu thế hơn so với các công ty chứng khoán khác trong nghiệp vụ môi giới vì:

    Thư nhất, Ngân hàng đã có mối quan hệ sâu sắc với các doanh nghiệp qua việc tín dụng thanh toán, nắm được các thông tin cần thiết cho việc môi giới chứng khoán, tạo được uy tín với khách hàng.

    15

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ hai, Ngân hàng đã có sẵn cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật một mạng lưới chi nhánh, đại lý rộng khắp sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu của nhà đầu tư.

    Thứ ba, Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn về kinh doanh tiền tệ liên quan chặt chẽ và gần gũi với nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

    Trong nghiệp vụ này, NHTM tiến hành các hoạt động như: đại diện cho khách hàng của mình để thương lượng mua bán chứng khoán sao cho có lợi nhất cho thân chủ. Ngân hàng cũng thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan tuỳ theo sự uỷ nhiệm quyền tự do linh hoạt, quyết đoán trong việc mua bán chứng khoán hộ cho họ mà không cần phải thông báo cho họ biết đã mua hoặc bán chứng khoán cho ngân hàng ký hợp đồng uỷ nhiệm nhận mua hộ và bán chứng khoán hộ không chỉ cho một khách hàng mà cho nhiều khách hàng, ngân hàng với tư cách là đối tác của khách hàng sẽ được hưởng nhiều khoản lợi nhuận qua việc mua bán chứng khoán (nếu mua hoặc bán chứng khoán của mình cho khách hàng theo thị giá) thì hoa hồng thực hiện lệnh mua hoặc lệnh bán, khoản thù lao môi giới.

    * Nghiệp vụ tư vấn chứng khoán

    Đây là các hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán. Một trong những trở rngại quan trọng đối với thị trường tài chính là vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Với chức năng là thủ quỹ doanh nghiệp, thực hiện kiểm soát vàgiám sát bằng đồng tiền đối với nên kinh tế quốc dân, NHTM có đặc quyền về việc thu thập các thông tin về các doanh nghiệp có phát hành chứng khoán qua mối quan hệ lâu năm rất sâu sát trong quan hệ tín dụng, thanh toán. Từ đó có thể phân tích mọi mặt sản xuất kinh doanh, các nguồn tài trợ và cả xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nguồn thông tin này là cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc phân tích và đánh giá doanh nghiệp, định giá chứng khoán, từ đó

    16

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có thể thực hiện việc tư vấn đầu tư cho khách hàng một cách nhanh chóng hiệu quả.

    * Nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

    NHTM thông thường là cơ quan thích hợp nhất đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Với một mạng lưới nhiều cơ sở của ngân hàng, công ty chứng khoán con sẽ có chứng khoán rộng rãi phục vụ nhu cầu của nhà đầu tư.

    Nghiệp vụ phân phối chứng khoán có thể thực hiện thông qua phương thức bảo lãnh phát hành hay đại lý phát hành.

    Về đại lý phát hành chứng khoán:

    • Công ty nhận phân phối chứng khoán ra thị trường cho cơ quan phát hành để hưởng hoa hồng. Khi thực hiện nghiệp vụ này:
    • Công ty không hứa mua trực tiếp số chứng khoán phân phối hộ.
    • Công ty không hứa bán với một giá nhất định
    • Công ty không hứa bán hết hay mua số chứng khoán không bán hết.

    Về bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán khi có một khả năng tài chính vững mạnh, thường đó là một tập đoàn tài chính bao gồm cả NHTM đứng ra đảm nhận thực hành công việc phát hành chứng khoán với chủ thể phát hành bằng cách:

    – Hứa mua trực tiếp toàn bộ hay một phần số chứng khoán được phát

    hành.

    • Đảm bản bán chứng khoán với một giá nhất định
    • Cam kết mua lại số chứng khoán không bán được.

    * Nghiệp vụ đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán

    Là một nghiệp vụ rất phổ biến, tại các nước phát triển đã có TTCK nhằm tạo sự tiện ích trong đầu tư.

    • Hoạt động đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán bao gồm: + Đăng ký chứng khoán

    17

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    • Thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán, nếu tất cả cá khoản thanh tón đều thực hiện bằng tiền mặt thì sẽ mất đi tính sôi động. Để giải quyết được nhược diểm trên người ta áp dụng thanh toán bằng chuyển khoản, đã giảm đi một gánh nặng lớn, theo đó tất cả những người mua và người bán , các môi giới, kinh doanh chứng khoán đều có tài khoản ở ngân hàng, khi các giao dich mua bán kết thúc thì mỗi người đều nhận được các giấy báo nợ, báo có mà không cần quan tâm đến tiền mặt nữa. Đây là một bước tiến giúp cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy hơn. Việc thực hiện công tác thanh toán đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu công tác này được tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của một thị trường chứng khoán
    • Lưu giữ, bảo quản chứng chỉ chứng khoán: Từ hoạt động kinh doanh của mình như huy động vốn, kinh doanh vàng, bạc, đá quý hay cho vay thanh toán, NHTM có nhiều kinh nghiệm trong việc thu nhận, quản lý, cắt giữ chứng từ có giá trị. Những nhà đầu tư cầm chứng khoán trong công ty với số lượng lớn sẽ không an toàn, họ có nhu cầu như ai đó quản lý hộ chẳng hạn như thuê két sắt và NHTM là một tổ chức rất ưu thế trong lĩnh vực này. Thông thường, khách hàng ngoài việc nhờ NHTM bảo quản hộ chứng khoán còn muốn ngân hàng cung cấp thêm một số các dịch vụ khác có liên quan như: mua, bán, thanh toán, giao hoán chứng khoán khi khách hàng thực hiện các giao dịch, chuyển những quyền sử dụng của khách hàng.
    • Hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng.
    • Các dịch vụ khác theo uỷ quyền của khách hàng có chứng khoán lưu ký.

    Trên đây là những nghiệp vụ cơ bản đã minh chứng được phần nào vai trò và ảnh hưởng to lớn của NHTM đối với TTCK. Có thể nói phát triển các hoạt động của NHTM trên TTCK là một trong những yêu cầu kiên quyết cho sự thành công của TTCK.

    18

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng thương mại và hoạt động của thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính bậc cao, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển. Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn, không thể thiếu được các tổ chức tài chính trung gian trong đó phải kể đến đầu tiên vai trò của ngân hàng thương mại mà đại diện là các công ty chứng khoán thuộc sở hữu của ngân hàng đó. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu được lưu thông tấp nập trên thị trường, qua đó một lượng vốn nhàn rỗi được đưa vào đầu tư cho phát triển kinh tế từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.

    Nói đến vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán có thể đến các khía cạnh sau: về hàng hoá, về tổ chức trung gian, về thông tin , về sự điều tiết cung cầu và về các đinh chế tài chính trên thị trường. Đó là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển của một thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Thông qua việc phân tích những ảnh hưởng và tác động của ngân hàng thương mại đến các yếu tố trên của thị trường chứng khoán sẽ cho ta thấy được hơn hết vai trò to lớn của ngân hàng thương mại đối với thị trường chứng khoán.

    1.3.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoá

    Hàng hoá của thị trưòng nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng (chứng khoán) là yếu tố không thể thiếu cúạư tồn tại và phát triển của thị trường. Chứng khoán có thể định nghĩa như sau: Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư ( tư bản đầu tư ), chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đợin hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời gian nào đó.

    19

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngân hàng thương mại có vai trò rất to lớn trong việc tạo ra hàng hoá cho thị trường chứng khoán dưói hai góc độ trực tiếp và gián tiếp

    Trên góc độ trực tiếp, các ngân hàng thương mại có thể tham gia hoạt động với tư cách là người phát hành và bán cổ phiếu của mình( ngân hàng cổ phần). Các ngân hàng cổ phần phát hành cả cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, tất cả các Ngân hàng thương mại không phân biệt thành phần sở hữu đề có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn từ nền kinh tế. Những việc này đã tạo cho thị trường chứng khoán một khối lượng hàng hoá rất lớn ở thị trường thứ cấp. Như vậy, với tư cách là một tổ chức kinh doanh đơn thuần trên thị trường, Ngân hàng thương mại thông qua các hoạt động phát hành của mình đã cung cấp một lượng chứng khoán lớn phong phú, đa dạng và đặc biệt là có chất lượng cao cho thị truờng. Ngoài các loại chứng khoán truyền thống là cổ phiếu và trái phiếu, các công ty chứng khoán thuộc Ngân hàng thương mại hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (trung ương và địa phương), chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh doanh. Trong những thị trường mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn diệu, nếu được tổ chức phát triển tốt, các Ngân hàng thương mại có thể góp phần cải thiện môi trường đầu tư này. Một môi trường đầu tư tốt đa dạng về sản phẩm, với chi phí dich vụ thấp và có lợi nhuận thoả đáng sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi cho tăng trưởng kinh tế.

    Bên cạnh đó, Ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian, thực hiện các nghiệp vụ trung gian chứng khoán như bảo lãnh phát hành, tư vân đầu tư chúng khoán, ….. đã góp phần không nhỏ giúp các doanh nghiẹp khác phát hành

    chứng khoán, gián tiếp tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Thứ nhất, phải kể đến đó là Ngân hàng thương mại là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước thành các công ty cổ phần. Ngân hàng tham gia vào việc thành lập công ty cổ phần hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước với tỷ lệ cổ phiếu đáng kể để có đủ điều kiện tham gia quản trị kinh doanh, tín nhiệm. Công ty cổ phần dù mới thành lập hay cổ phần

    20

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hoá, vốn vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu của kỹ thuật và công nghệ hiện đại, do đó ngân hàng phải là trợ thủ đắc lực cho công ty cổ phần, tạo điều kiện cho các công ty vay tín dụng. Như vậy, chính chế độ tín dụng và ngân hàng đã xã hội hoá các nguồn vốn, giải quyết các mâu thuẫn trong sự vận động của nguồn vốn giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ tính chất tư nhân các biệt của nguồn vốn trong công ty cổ phần. Một doanh nghiệp có thể bắt đầu hoạt động của mình bằng một món nợ vay ngân hàng. Vay ngân hàng là một cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp và năng lực kinh doanh của họ. Các ngân hàng là ngưòi đầu tiên đã lập ra việc kiểm tra các hoạt động của công ty, họ quyết định có nên cho vay hay không và có nên tiếp tục cung cấp tín dụng hay không. Ngân hàng sẽ cung cấp kinh doanh nếu biết được rằng một Công ty thành công cuối cùng có thể hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Như vậy kỷ cương tài chính của ngân hàng sẽ đưa công ty vào thị trường chứng khoán, gián tiếp bổ sung một lượng hàng hoá cho thị trường. Thứ hai, ngân hàng thương mại cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp các công ty phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Khi những nhà sáng lập một công ty nào đó muốn phát hành chứng khoán để thu hút vốn, họ có thể dựa vào uy tín, và kinh nghiệm của ngân hàng để ký hợp đồng về việc phát hành và bán các chứng khoán của mình. Như vậy, Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng môi giới phát hành chứng khoán giữa người muốn bán và ngưỡi muốn mua chứng khoán. Khi đảm nhận vai trò này, Ngân hàng sẽ giúp cho những người sáng lập công ty chọn lựa loại chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề như lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán, và các vấn đề kỹ thuật khác. Trong những trường hợp đặc biệt, như sẽ phát hành một lượng chứng khoán khá lớn, các Ngân hàng có thể cùng nhau chia sẻ việc dự định số phát hành này nhằm giảm thiểu rủi ro, hoặc mua toàn bộ các cổ phiếu, trái phiếu phát hành mới và sau đó bán lại cho công chúng. Bên cạnh đó, bằng cách cung cấp dịch vụ tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản

    21

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư của mình, bằng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm hàng hoá nới cho thị trường.

    1.3.2 Vai trò trung gian chứng khoán của Ngân hàng thương mại

    Bất kể một thị trường nào, thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng muốn hoạt động và phát triển thì ddeuf đến vai trò của các trung gian. Không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể gặp ngay được những đối tượng cần mua chứng khoán để cả hai cùng thực hiện việc mua bán lẫn nhau. Cũng như không phải bất kỳ người dân nào muốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng đủ hiểu biết, đủ thông tin để tìm được cho mình nơi mua loại chứng khoá hợp túi tiền, có mức lãi suất và thời gian đáo hạn đúng như ý muốn. Do những hạn chế này và nhu cầu tiẹn lợi cho các chủ thể, trên thị trường xuất hiện những người trung gian đưa đường dẫn lối, để người bán và người mua gặp nhau theo đúng yêu cầu của cả hai bên. Các trung gian sẽ giúp cho hoạt động của các thị trường được suôn sẻ, nhanh chóng và hiệu quả, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển của thị trường. Và Ngân hàng thương mại chính là một tổ chức trung gian quan trọng nhất trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Trong thị trường chứng khoán, vói tư cách là một tổ chức trung gian, Ngân hàng thương mại sẽ đưa đường dẫn lối để hai bên gặp nhau thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Ngân hàng thương mại với kiến thức rộng, am hiểu tình hình kinh tế chung và rất rành hoạt động của các công ty. Do vậy, ngân hàng thương mại không phải là một người môi giới thông thường, mà giữ vai trò vô cùng chủ động trong việc thương lượng chứng khoán, thay thế thân chủ để cam kết mua bán chứng khoán với giá định sẵn do chính trung gian chứng khoán lựa chọn. Với các nghiệp vụ chủ yếu của minh trên thị trường chứng khoán như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán và bảo lãnh chứng khoán đã góp phần vào hoạt động có hiệu quả của thị trường chứng khoán. Quả thật, Ngân hàng thương mại thông qua các công ty chứng khoán của mình đã thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nhà

    22

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nề n kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh chứng khoán, nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với các doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh thị trường chứng khoán cho các doanh nghiệp. Khi thực hiện môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán có hai nhiệm vụ chính là: nhiêm vụ cung cấp thông tin và tư vấn khách hàng ( thông qua các nhân viên lành nghề, công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư); đồng thời, cung cấp các sản phẩm và dich vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích khách hàng. Với nhiệm vụ này, nhân viên môi giới nhận đơn đặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm các tác nghiệp từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành truyền lệnh, xác nhân giao dịch,thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không chỉ dừng ở đó, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục quản lý tài koản của khách hàng, đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc… của khách hàng mà có thể dẫn đến những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề xuất chiến lược đầu tư mới thích hợp hơn. Trên thị trường sơ khai, khi sản phẩm hàng hoá còn đơn giản, nhà đầu tư có thể chưa có nhu cầu sủ dụng dịch vụ tư vấn và do mặt bằng dân trí thấp nên hoạ động tiếp thị, giới thiệu sản phẩm trên diện rộng lại giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Có thể nói, hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán dồng thời chứa đựng hàm lượng tư vấn đầu tư khá cao, người đàu tư trông chờ người môi giới cho biết khi nào thì nên mua, lúc nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường.

    Quả thật với vai trò một trung gian trên thị trường chứng khoán, ngân hàng thương mại đã đóng góp rất to lớn vào sự phát triển của thị trường. Để kể thêm vào những đóng góp của ngân hàng thương mại với tư cách một trung gain chứng khoán, ta có thể kể đến vai trò của ngân hàng nhu quản lý tài khoản tiền

    23

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    gởi của pháp nhân và thể nhân tạo tiền đề cho việc tích luỹ vốn để mua bán chứng khoán, kinh nghiệm về hoạt động tín dụng của ngân hàng tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được thuận lợi khi có nhu cầu đầu tư và đặc biệt là kinh nghiệm về tổ chức thanh toán giúp ngân hàng thương mại thực hiện tốt việc chi trả trong mua bán chứng khoán. Khi có thị trường chứng khoán, các quan hệ mua bán chứng khoán diễn ra thường xuyên, nhiều khi chóng mặt nhất là thị trường chứng khoán thứ cấp. Các quan hệ mau bán bao giờ cũng kéo theo quan hệ thanh toán: Người mua trả tiền cho người bán, người bán giao chứng khoán cho người mua. Có thể tới hàng trăm mối quan hệ thanh toán diễn ra với tốc độ rất nhanh, hàng ngàn giao dịch mỗi ngày tại Sở giao dịch chứng khoán của nhiều nước. Qua đó có thể thấy vai trò làm trung gian thanh toán của NHTM trên TTCK là không thể phủ nhận, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    1.3.3 Vai trò điều chỉnh cung cầu chứng khoán của NHTM trên TTCK.

    Ngân hàng thường mại là một trung gian tài chính quan trên thị trường tài chính với hoạt động cơ bản nhất đó là nhận tiền gửi và tiến hành cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Và chính hoạt động này có tác động rất lớn đến hoạt động của thị trường chúng khoán, mà cụ thể là giá cả, cung và cầu của chứng khoán trên thị trường. Bơi lẽ xet cho cùng, mục đích của bất kỳ nhà đầu tư nào dưới bất kỳ hình thức nào cũng xuất phát từ mục tiêu cuối cùng, đó là mục tiêu lợi nhuận. Việc họ quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào là tuỳ thuộc vào những nhận định và dự đoán của họ về khả năng sinh lời, đem lại thu nhập, và mức đọ rủi ro của nó. Chính vì vậy mà lãi suất tiền gửi và cho vay của các ngân hàng cũng có tác động không nhỏ đến mức cung cầu chứng khoán trên thị trường và giá của những chứng khoán đó.

    Khái niệm lãi suất dùng để chỉ mức lãi suất áp dụng cho cá khoản vay và cho vay giữa cá ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng và các khách hàng của họ trên thị trường. Còn lợi suất cổ phiếu hay trái phiếu, nói chung là lợi suất

    24

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    chứng khoán là mức lãi suất qui định sẵn trên mỗi trái phiếu hoặc mức lãi dự kiến sẽ nhận được vào lúc chia cổ tức của cổ phiếu. Đồng thời, đối với cổ phiếu đó là kỳ vọng tương lai về giá cổ phiếu gia tăng.

    Quan hệ giữa lãi suất và lợi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đối với giá của chứng khoán. Nếu lãi suất cao hơn lợi suất chúng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm. Ngược lại, nếu lãi suất thấp hơn lợi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ tăng. Trường hợp lãi suất ngân hàng giữ ở mức thấp hơn có thể dẫn đến hiện tượng gọi là phi trung gian hàng hoá. Lúc đó mọi người sẽ đổ xô đến rút tiền tuết kiệm và dùng nó để mua chứng khoán. Ngược lại, khi lãi suất ngân hàng cao, điều này sẽ khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.

    Thị giá chứng khoán không phải chỉ căn cứ vào số tiền ghi trên chúng khoán mà còn phụ truộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa lãi suất tiền gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán. TTCK chỉ có thể hoạt động bình thường nếu lãi suất tiềm gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán cạnh tranh được với nhau và hoà nhập với nhau, giữa người mua và người bán chỉ còn việc lựa chọn khả năng rủi ro và quyết định mạo hiểm. Chẳng hạn, nếu cổ tức quá bấp bênh và chỉ ở mức tối đa là 30%/năm, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm là 50%/năm, thì không ai mua cổ phiếu và TTCK sẽ khó vận hành. Ngược lại, nếu lợi tức cổ phần là 30%/ năm và lãi suất ngân hàng là 25%/ năm, thì bắt đầu có sự lựa chọn. Người ưa mạo hiểm và thích lãi suất cao sẽ đầu tư tiền của mình để mau cổ phiếu, còn người thích an bài sẽ gửi tiền của mình vào ngân hàng. Xu hướng này sẽ tạo điều kiện để vận hành TTCK.

    Một vai trò khác của NHTM đối với cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó là cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư. Thứ nhất, NHTM sẽ tạo cơ chế giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp thông qua các Sở GDCK. Công ty chứng khoán có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình thông qua trình độ chuyên môn chuyên nghiệp, kinh nghiệm dày dăn, và thông tin chính xác, đầy đủ. Toàn bộ các lệnh

    25

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    mua bán chứng khoán được tập hợp tại thị trưòng giao dịch tập trugn thông qua các công ty chứng khoán của NHTM, và trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài ra, thông qua hạot động tự doanh, các công ty chứng khoán của NHTM còn có một chức năng quan trọng là can thiệp vào thị trường, góp phần điều chỉnh giá chứng khoán. Thứ hai, NHTM còn tạo cơ chế giá trên thị trường sơ cấp: khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứng khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu, thoả thuận với các nhà đầu tư tiềm năng trong đợt phát hành và tư vấn cho tổ chức phát hành.

    1.3.4 Vai trò của NHTM trong việc cung cấp thông tin trên TTCK

    Đối với thị trường chứng khoán, thông tin giữ một vai trò hết sức quan trọng giúp cho thị trường duy trì và phát triển. Thông tin giúp các nhà đầu tư quyết định những phương án đầu tư để thu được lợi nhuận lớn nhất và tránh được những rủi ro trên thị trường. Thông tin giúp cho những cơ quan quản lý thị trường giám sát, quản lý thị trường một cách chặt chẽ và hiệu quả. Có thể nói, NHTM có một ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp một kênh thông tin rất phong phú và tương đối đáng tin cậy cho thị trường. Hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thương mại luôn chứa đựng cả hàm lượng tư vấn đầu tư cao, người môi giới chứng khoán cho biết khi nào nên mua, khi nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường. Các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đầy đủ không chỉ thực thực hiện lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua nghiên cứu thị trường rồi cung cấp thông tin đó cho các tổ chức và cá nhân đầu tư. Các dịch vụ ấy bao gồm: thu thập thông tin cung cấp theo yêu cầu của khách hàng; cung cấp thông ti về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng

    26

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai; cung cấp thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng cân nhắc. Bên cạnh đó, các NHTM cũng cung cấp các thông tin rất đáng tin cậy về tình hình diễn biến thị trường giúp các cơ quan quản lý thị trường có những điều chỉnh phù hợp nhất. Đó là một vài ví dụ về vai trò cung cấp thông tin của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    1.3.5 Vai trò của NHTM về định chế quản lý TTCK.

    Chính hoạt động của cá Công ty chứng khoán thuộc các NHTM và các nhân viên môi giới của họ là một yếu tố góp phần hoàtn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Nếu môi trường pháp lý không đủ chặt chẽ và việc thực hiện không nghiêm thì mâu thuẫn sẽ phát sinh có thể dẫn đến làm đổ vỡ thị trường. Công ty chứng khoán cùng cá nhân viên của mình sẽ đưa pháp luật đến với người đầu tư, giúo người đầu tư luôn có ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật trong quá trình tìm kiếm lợi ích; đồng thời các công ty chứng khoán cũng kịp thời phản ánh cho cá nhà làm luật kịp thời chỉnh sửa những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.

    27

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 2:

    HOẠT ĐÔNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

    2.1.Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Thị trường chứng khoán là một dạng của thị trường mà ở đó đối tượng được giao dịch là loại giấy tờ có giá ( chứng khoán ). TTCK là một dấu hiệu đồng thời là một bộ phận quan trọng của một nền kinh tế thị trường đang hoạt động. Sớm nhận thức được vai trò của TTCK, ngay từ những năm đầu của công cuộc cải tổ nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phải xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có trật tự, dưới sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở đạt được sự chính muồi về cá điều kiện thiết nhằm khai thác và sử dụng có hiệu qua nhất nguồn vốn hạn hẹp của nền kinh tế, đảm bảo các mục tiêu vốn trong nước là quyết định trong chiến lược huy động và sử dụng cá nguồn vốn. Trên cơ sở chủ trương này, ngay từ đầu những năm 1990 chúng ta đã rất tích cực học hỏi kinh nghiệm từ cá nước đi trước, đồng thời chuẩn cá điều kiện cần thiết cho việc hình thành và phát triển TTCK Việt Nam.

    Ngày 20/7/2000, Trung tâm giao dịch chưnứg khoán Tp. Hồ Chí Minh đã chính thức khai trương đi vào hoạt động, đây là cột mốc quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển TTCK Việt Nam, đồng thời là một bước đột phá cơ bản, quan trọng trong chiến lược khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ 21. Sau hơn hai tháng chính thức đi vào hoạt động, Trung tâm giao dịch chứng khoán thu hút một lượng nhất định cá nhà đầu tư tham gia giao dịch mua bán trên thị trường, trong hai tuần đầu thị trường khá sôi động nên chỉ số giá chứng khoán và khối lượng vốn giao dịch trên thị trường liên tục tăng lên, phiên

    28

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    cao nhất đạt khối lượng giao dịch đã đạt gần 2,5 tỷ đồng gấp 25 lần so với phiên giao dịch đầu tiên. tuy nhiên, hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh nói riên và TTCK Việt Nam nói chung trong thời gain này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

    Cho đến năm 2003, sau hơn hai năm hoạt động, trên sàn giao dich của TTGDCK đã có 19 loại cổ phiếu và 28 loại trái phiếu được niêm yết. Tuy nhiên, đây vẫn là thời kỳ thử nghiệm để đi đến xây dựng Trung tâm này thành một SDGCK hiện đại, hoàn chỉnh. Chúng ta vẫn chưa có một TTCK đầy đủ theo đúng nghĩa, sự tham gia của các định chế tài chính trung gian vào thị trường này còn ở mức độ thăm dò,nhiều tổ chức còn đứng ngoài cuộc. Đến năm 2003, sao hai năm hoạt động của TTCK VIệt Nam có thể được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, thời kỳ tăng trương và thời kỳ suy thoái.

    • Thời kỳ tăng trưởng bắt đầu từ phiên giao dịch đầu tiên ( ngày 27/7/2000 ) đén ngày 25/6/2001 là thời kỳ giá CK tăng liên tục ; số lượng tài khoản mở tại cá công ty CK cãng tăng rất nhanh, trung bình có 1000 tài khoản được mở trong một tháng; chỉ số VN- index tăng hơn 400%, đạt trên 500 diẻm, cao hơn cả TTCK Thái Lan và Thượng Hải – những thị trường ra đời trước thị trường của ta hàng chục năm.
    • Thời kỳ suy thoái bắt đầu từ ngày 26/6/2001 đến năm 2003, TTCK Việt Nam luôn ở trogn tình trạng sụt giảm cả về sức cầu lẫn các chỉ số đặc trưng của thị trường khiến các nhà quan sát đã phải dùng đến những từ “ ảm đạm”, “ngủ gật”, “sớm nắng chiều mưa”,v.v để chỉ tình trạng của TTCK Việt Nam. Cho đén phiên giao dịch lần thứ 419 ngày 13/11/2002, chỉ số VN- index sụt xuóng chỉ còn 175,63 điểm.

    Theo tư liệu của TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 tháng đầu năm 2002 có 193 phiên giao dịch vớ tổng khối lượng đặt mua là 49.081.240 CK (bình quân một phiên là 251.119); tổng khối lượng đặt bán là 51.071.580 CK ( bình quân 280.017 CK một phiên). Khối lượng CK được đặt bán cao hơn được đặt mua là 1.990.340. Hiện có khoảng 13.000 tài khoản giao dịch mở tại cá công ty chứng khoán nhưng thực tế giao dịch thực hiện chỉ ở triên vài trăm tài khoản.

    29

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong số cá nhà đầu tư có tổ chức, chỉ có duy nhất công ty Dragon Capital là tích cực tham gia mua cổ phiếu; số tổ chức còn lại thì hầu như hoạt động cầm chừng hoặc án binh bất động. Trước tình hình giao dịch CK ngày càng kém sôi động trên thị trường, một nhóm cá nhà đầu tư cá nhân kêu gọi thành lập Hiệp hội các nhà đầu tư CK để có tiếng nói mạnh hơn với cá nhà quản lý thị trường CK và bảo vệ quyền lợi của mình.

    Trên đây là một vài nét phác thảo qua về sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam trong những năm đầu mới thành lập, qua đó thấy được một chặng đường cũng vói những thành tích đã đạt được và những tồn tại của thị trường ( phần này sẽ được phân tích kỹ hơn trong mục sau nói về thực trạng của thị trường chúng khoán Việt Nam hiện nay)

    2.1.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

    2.1.2.1 Những đánh giá chung về thị trường chứng khoán hiện nay

    Sau gần bốn năm hoạt động, thị trường đã dần định hình và phát triển. Bắt đầu với hai công ty niêm yết vào năm 2000, hiện nay TTCK đã có 24 công ty niêm yết với tổng giá trị vốn điều lệ là 1240 tỷ đồng, 147 loại phiếu trái phiếu của chính phủ, hai laọi trái phiếu của Ngân hàng đầu tư và phát triển, 01 loại trái phiếu đô thị với tổng giá trị niêm yết trên 17300 tỷ đồng. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã cấp phép hoạt động cho 13 công ty chứng khoán, 01 công ty quản lý quỹ đầu tư và 5 ngân hàng lưu ký. Năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên đã tiến hành huy động vốn và đi vào hoạt động. Tính đến hết tháng 6/2004, có 820 phiên giao dịch đã được thực hiẹn thành công tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị giao dịch trung bình mỗi phiêm hơn 17 tỷ đồng. Ngày 30/6/2004, chỉ số chứng khoán VN Index là 249,7 điểm, tăng 80,5 điểm cơ sở (khoảng 47,6%) so với đầu năm.Tổng giá trị thị trường tính cùng thời điểm là 3,4% GDP, tăng hơn hai lần so với năm 2003.

    Ngày 28/ 11/2003, Nghị định số 144/CP cua rChính phủ về chứng khoán và TTCK (NĐ/144) đã được ban hành thay thế cho Nghị định 48/CP trước đây.

    30

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Nghị định này bao gồm những quy định mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc niêm yết của các công ty, sự vận hành của thị trường và yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư. Với quan diểm khuyến khích đầu tư và huy động vốn, NĐ 144 đã có những bước tiến đáng kể bằng cách áp dụng một hệ thống các itêu chuẩn và điều kiện niêm yết linh hoạt hơn, cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với TTCK tập trung để huy động vốn. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định cũng được mở rộng đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng. Đây là một thay đổi hết sức có ý nghĩa nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, NĐ 144 mới đã cho phép đa dạng hoá ccá loại hình đầu tư chứng khoán để có thể khuyến khích mọi tầng lớp từ nhà đầu tư nhỏ lẻ đến nhà đầu tư có tổ chức tham gia TTCK

    Tuy ở giai đoạn đầu phát triển, TTCK đã có những bước tiếp cận nhất định với những chuẩn mực quốc tế trong việc phát triển TTCK và thu hút nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Kiểm toán và công bố thông tin là điều kiện bắt buộc đối với các tổ chức phát hành và niêm yết. Các thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt đã được áp dụng trên TTCK nhằm tăng cường chất lượng của chứng khoán niêm yết. Hiện nay, tất cả những công ty niêm yết đều phải tuân thủ và áp dụng Điều lệ mẫu được ban hành vào tháng 11/2002

    Sau hai năm hoạt động, nhận thức được tầm quan trọng của việc mở cưa thị trường chứng cho nhà đầu tư nước ngoài, Thủ tướng Chính phủ đã nới rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết từ 20% lên 30%, không hạn chế sở hữu cảu người nước ngoài đối với trái phiếu. Chính phủ đã cho phép các tổ chức kinh doanh trái phiếu nước ngoài được góp vốn với đối tác trogn nước thành lập công ty chứng khoán liên doanh với tỷ lệ tối đa là 49%. Các chính sách về ngoại hối đã được sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đầu tư chứng khoán ra nước ngoài. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng như nước ngoài còn được miễn thuế thu nhập cá nhân khi đầu tư vào thị trường chứng khoán; Chính phủ đã bãi bỏ việc đánh thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

    31

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để tạo ra định hướng cơ bản cho việc phát triển TTCK về trugn và dài hạn, ngay 5/8/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và ban hành Chiến lược phát triên TTCK đến năm 2010. Việc xác định một quan điểm chiến lược trong phát triển TTCK và thiết lập một chứng trình hành động cụ thể chi từng năm là một nhiên\mj vụ được UBCK cho là có tầm trọng hàng đầu trong việc xây dựng và phát triển TTCK. Trên cơ sở Chiến lược, Bộ Tài chính đã xác định mô hình TTCK là: TTGDCK Tp HCM là thị trường tập trung, phát triển thàh Sở Giao Dịch Chứng Khoán có khả năng liên kết với các thị trường trong khu vực; TTGDCK Hà Nội là thị trường giao dịch cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô của TTCK. Cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các TTGDCK; phát triển các định chế tài chính trung gian, phát triển cơ sở các nhà đầu tư , tiến trình xây dựng một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ hiện đang được xuac tiến khẩn trương.

    Những con số và sự kiẹn vừa nêu là những bằng chứng sinh động về sự phát triển tuy chưa được nư kỳ vọng, song rát đáng khích lệ của một TTCK còn non tre và đang ở giai đoạn ban đầu như thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều trở ngại và hạn chế về mặt khuôn khổ pháp lý, thành viên thị trường và cơ sở đầu tư khiến TTCK chưa thể được coi là một thị trường hàon thiện

    2.1.2.2 Một số hạn chế và trở ngại của TTCK

    Một là, những hạn chế về mặt khuôn khổ pháp luật và năng lực hoạch định chính sách. Xét trên phương diện khuôn khổ luật pháp, trở ngại lớn nhất hiện nay là TTCK chưa có một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ. Lĩnh vực khoán và thị trường chúng khoán còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật phá sản. Do vị thế của NĐ 144 thấp hơn các Luật liên quan mà môi trưòng pháp lý hiện hành cón chưa đây đủ thì những bất cập và xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến TTCK là điều khó tránh khỏi. Một môi

    32

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường pháp lý ổn định và đầy đủ là yếu tố đầu tiên để đảm bảo lòngtin của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chỉ có thể đầu tư vào TTCK nếu họ nhận thấy rằng vốn đầu tư cũng như kỳ vọng sinh lời của họ được bảo vệ bởi một khuôn khổ pháp luật minh bạch và an tàon. Điều này cho thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng một Luật chứng khoán. Bên cạnh đó, năng lực hoạch định chính sách và thực thi luật pháp cũng là một vấn đề cần tính đến. Đánh giá một cách khách quan, UBCK và những cơ quan quản lý liên quan khác trên thị trường vốn chưa có đủ năng lực càn thiết để thực hiện chức năng giám sát, quản ly và cướng chế thực thi các chính sách trên TTCK một cách hiệu quả. Điều này xuất phá từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý thị trường thiếu kinh nghiệm, khả năng xây dựng và thực thi các chính sách thích hợp nhằm khuyển khích sự phát triển cảu thị trường, thu hút và bảo vệ nhà đầu tư.

    Hai là những hạn chế về mặt thể chế thị trường. Xét về goc độ thu hút vốn đầu tư những hạn chê về mặt thể chế thị trường là một trở ngại đáng kể, không chỉ trên phương diện đảm bảo an toàn cho chu trình lưu chuyển vốn đầu tư mà còn trên phương diện duy trì tính toàn vẹn của thị trường và niềm tin của công chúng đầu tư trong và nước ngoài. Đối với một thị trường mới hình thành à phát triển thì việc chưa có được một thể chế thị trường hoàn chỉnh là điều tất yếu. Sự vắng mặt của các tổ chức tự quản, tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, phạm vi hoạt động hạn hẹp, và tính chuyên môn hoá chưa cao của các công ty chứng khoán là những điểm yếu khiến cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài coi việc đầu tư vào TTCK phần nào mang tính chất mạo hiểm. Bên cạnh đó, sự thiếu hoàn thiện trong thể chế thị trường cũng khiến cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài gặp phải những khó khăn trong việc ra quyết định đầu tư và phải đối mặt với những rủi ro.

    Ba là những trở ngại và hạn chế về nguồn cung ứng chứng khoán. Một hạn chế nổi bật về nguồn cung ứng chứng khoán xét từ góc độ thu hút đầu tư trong nước và nước ngoàilà số lượng hàng hoá ít ỏi và chất lượng hàng hoá chưa cao. Một TTCK với 24 cổ phiếu niêm yết của những công ty có quy mô vốn chưa phải là lớn không thể đại diện cho nền kinh tế Việt Nam để các nhà đầu tư

    33

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nước ngoài có thể nhìn nhận và đánh giá sức khoả cũng như triển vọng của toàn bộ nền kinh tế nhằm đưa ra các quyết định đầu tư có cư sở. Tương tự, số lượng chứng khoán niêm yết quá ít ỏi trên thị trường cũng khiến cho cá nhà đầu tư trong nước chưa có nhiều sự lựa chọn để thay thế các khoản tiền gửi ngân hàng theo truyền thống của mình. Các cổ phiếu niêm yết trêb thị trường chưa thực sự là cổ phiếu của những công ty mạnh nhất để thuyết phục nhà đầu tư trong nước và nước ngoài rằng tiền bạc của họ sé sinh lời thông qua những cổ phiếu đó. Tuy nhiênm cần phải xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hàng hoá trên TTCK còn thưa thớt và chất lượng chưa cao. Có thể nhận diện một số nguyên nhân như sau: Nguyên nhân thứ nhất là sự bất cập của tiến trình cổ phần hoá. Từ năm 1992 đến nay, việc thực hiện CPH chỉ đạt 63% kế hoạch đặt rta xét về mặt số lượng các doanh nghiệp cần cổ phàn hoá; con số 6% số vốn tại doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá trong suốt thời kỳ này lại càng cho thấy những doanh nghiệp dược cổ phần hoá chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự bất cập này bắt nguồn từ những khó khăn trong định giá tài sản, xử lý nợ quá hạn, những hạn chế về năg lực và những tồn tại về mặt tư tưởng và nhận thức của những người quản lý doanh nghiệp. Nguyên nhân thứ hai là các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc ra niêm yết tại TTCK. Chưa quen với một văn hoá kinh doanh minh bạch, các doanh nghiệp coi việc công bố thông tin và đáp ứng những chuẩn mực về kiểm toán, kế toán, quản trị công ty là một gánh nặng và không muốn ra niêm yết trên TTCK. Nguyên nhân thư ba là xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh để vay vốn hoạt động. Mặc dù đã thực hiện sự chuyển đổi cơ chế thị trường và cổ phần trong một thời gian đáng kể, song cơ chế bao cấp tín dụng, tâm lý lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng vẫn còn phổ biến khiến cho các doanh nghiệp chua thực sự có nhu cầu và nhận thức được lợi ích của việc huy động vốn trên TTCK. Sự hội tụ những yếu tố kể trên là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hàng hoá chứng khoán niêm yết còn chua đáng kể trên thị trường.

    34

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Bốn là những trở ngại và hạn chế về cơ sở nhà đầu tư. Do bối cảnh kinh tế và xã hội, TTCK chưa có được một cơ sở nhà đầu tư hoàn thiện bao gồm các nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nhu những thị trường phát triển khác. Phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư nhỏ lẻ và chưa có đầy đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức về đầu tư chứng khoán. Đây là một vấn đề có tính hia mặt. TTCK chưa hoàn thiện, thiếu các định chế có vai trò trụ cột trong kiến tạo thị trường; hệ thống văn bản pháp quy chưa đầy đủ, hàng hoá ít ỏi là một nguyên nhân khiến TTCK chưa hấp dẫn các nhà đầu tư lại khiến thị trường không có động lực phát triển cần thiết. Các nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt cới TTCK do chưa tiếp cận được với những thông tin doanh nghiệp cần thiết để ra quyết định đầu tư. Trong khi đó, nhà đầu tư trong nước lại gặp phải những trở ngại về mặt kiến thức và kinh nghiệm. Trong 2 năm, từ 2001-2003, đã có nhiều đợt biến động giá cổ phiếu trên TTCK theo chiều hướng xấu trong khi tình hình hoạt động của nền kinh tế và cá doanh nghiệp niêm yết vẫn đang trên đà phát triển. Nghịch lý này tồn tại chủ yếu là do nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư tài chính nói chung và trên TTCK nói riêng. Đa số quyết định đầu tư của công chúng mang tính chất đầu cơ giá lên và tâm lý hơn là dựa trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của cá công ty niêm yết. Tuy nhiên, từ cuối năm 2003, chính các nhà đầu tư nước ngoài với nhứng quyết định đầu tư chuyên nghiệp hơn đã góp phần định hướng cho nhà đầu tư trong nước và giúp TTCK quay trở lại với nhịp độ phát triển phù hợp với quy luật thị trường. Điều này lại càng cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập song song cơ sở nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong quá trình phát triển TTCK.

    Vấn đề là thế nào để thị trường chứng khoán trở thành, một kênh huy động vốn trong nước và nước ngoài một cách hiệu quả cho đầu tư, phát triển theo đúng chức năng của một TTCK là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho chính phủ và các cơ quan lý thị trường. Một TTCK chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu có thể thu hút được các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài. Ngược lại, các nguồn vốn tiết kiệm dân cư, các luồng tiền nhàn rỗi trong nước và những nguồn vốn nước ngoài đang ngày càng gia tăng trong xu thế hội hập và trào lưu tìm

    35

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    kiếm những thị trường mới của các nhà đầu tư quốc tế chỉ có thể được phân bổ và sử dụng một cáh hiệu quả thông qua một TTCK được vận hành an toàn, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh.

    2.2 Sự tham gia của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    2.2.1 NHTM tham gia với tư cách tổ chức cung cấp dịch vụ thông qua các công ty chứng khoán của mình

    Tại Việt Nam, việc tham gia TTCK của các định chế tài chính trung gian hiện nay còn rất khiêm tốn. Trong khi đây là những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động CK một cách hiệu quả nhất. Hiện Việt Nam có vài chục NHTM và các định chế trung gian phi ngân hàng khác có khả năng thành lập công ty CK theo kiểu công ty con trực thuộc làm nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán, nhưng mới chỉ có chưa đầy 10 công ty chứng khoán được thành lập và tham gia làm thành viên của TTGDCK. Hơn nữa, hiện nay chúng ta chưa có công ty đầu tư Nhà nước để bình ổn thị trường thì vai trò của các công ty chứng khoán có nguồn gốc từ các định chế ngân hàng và tài chính là rất lớn. Công ty CK có thể tham gia vào hoạt động giao dich cả trên thị trường sơ cấp lẫn thứ cấp, có thể hoạt động theo mô hình đa năng hoặc chuyên doanh nhưng nói chung hiện nay, ở nước ta công ty CK hoạt động với các nghiệp vụ chính là: môi giới CK, bảo lãnh phát hành, tự kinh doanh… Kỳ vọng đối với hoạt động của các công ty chứng khoán là lớn nhưng kết quả hoạt động thực tế của các công ty chứng khoán trong bốn năm qua còn rất nhỏ bé. Nhìn chung, trong giai đoạn tăng trưởng của TTCK, các công ty chứng khoán đều kinh doanh có lãi. Song đến htời kỳ suy thoái thì ngược lại, các tài khoản khách hàng lần lượt bị đóng, cá công ty chứng khoán bị giảm cơ hội kinh doanh. Sở dĩ như vậy là vì các công ty chúng khoán mặc dầu có vốn không nhiều nhưng chỉ mới triển khai một số nghiệp vụ đơn giản không cần vốn nhiều như tư vấn, môi giới CK còn các nghiệp vụ khác như tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, v.v… là những nghiệp vụ có ý nghĩa lớn trong việc bình ổn thị

    36

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường, điều tiết quan hệ cung cầu thì các công ty chứng khoán chưa triển khai được nhiều, thậm chí các công ty chứng khoán phải đem nguồn vốn của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi tiền gửi. Như vậy, việc tham gia TTCK của cá định chế trung gian tài chính thông qua các công ty chứng khoán của mình là rất quan trọng và cần thiết. Nhưng để cho các công ty chứng khoán hoạt động có hiệu quả, bước đầu các chủ sở hữu phải hỗ trợ công ty chứng khoán cảu mình không những về vốn, về cung cấp và đào tạo cán bộ mà cả việc sử dụng những dịch vụ và tiện ích sẵn có của mình phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, đặc biệt là mạng lưới thông tin và hệ thống cá chi nhánh, nhằm mở rộng các đối tượng khách hàng và phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới. Chẳng hạn, công ty chứng khoán của Ngân hàng á Châu đã sử dụng mạng thông tin nhanh có sẵn của ACB để giúp khách hàng của mình trên khắp cả nước có thể giao dịch tức thời với sàn giao dịch tại trung tâm. Những khách hàng ở xa vẫn có thể biết được thời giá và đặt lệnh mua bán rất thuận lợi. Công ty chứng khoán ACB cũng đã giúp các khách hàng của mình mở một tài khoản đặc biệt tại Ngân hàng ACB, gọi là “ tìa khoản giao dịch CK’. Bằng tài khoản này, khách hàng vừa có thể sử dụng như một tài khoản tiền gửi thanh toán bình thường, vừa có thể sử dụng để giao dịch CK. Do đó, khách hàng chỉ cần gửi tiền tại một nơi duy nhất, nhưng có thể chủ động chi tiêu theo nhu cầu của mình, vừa có quyền đặt lệnh mua- bán CK bất kỳ lúc nào có phiên giao dịch mà không cần phải làm thủ tục ký quỹ trước.

    Đến nay, TTCK Việt Nam có 13 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động trong đó bao gồm 6 công ty chứng khoán thuộc NHTM: Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán ACB, công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Công thương ( cấp phép năm 2000 ), công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ( cấp phép năm 2001), Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương ( cấp phép năm 2002 ), Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông á.

    37

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Từ khi được cấp phép hoạt động, các công ty chứng khoán không ngừng củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức của mình, mở rộng địa bàn hoạt động bằng việc mở rộng đại bàn hoạt động bằng việc mở thêm chi nhánh tại Hà Nội, Tp. HCM, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh tại Hà Nội, Vũng Tàu, Hải Phòng, Đồng Nai, Cần Thơ…. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh cũng

    được cá công ty từng bước hoàn thiện qua việc mở rộng sàn giao dịch, trang bị thêm các thiết bị công bố thông tin, thiết lập trang Web riêng của công ty tạo điều kiện cho người đầu tư có thể tiếp cận được với công ty ở mọi nơi. Một số công ty chứng khoán sau một thời gian hoạt động đã xin tăng vốn để thực hiện thêm nghiệp vụ như cong ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng vốn lên 100 tỷ để gia tăng tiềm lực tài chính, có điều kiện mở rộng các loại hình kinh doanh chứng khoán.

    Về nhân lực, các công ty chứng khoán đã chú trọng tuyển chọn, những người có kinh nghiệm quản lý ở những ngành có liên quan, những người được đào tạo cơ bản ở nước ngoài về làm việc cho công ty với chính sách đãi ngộ thoả đáng. Mặt bằng trình độ chuyên môn ở các công ty chứng khoán hiện nay đều từ trình độ cử nhân trở lên, nhiều vị trí chủ chốt trong cong ty được sự đảm nhận bởi những người có học vị cao. Được sự giúp đỡ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong việc đào tạo nhân lực cho ngành chứng khoán, đến nay tổng số nhân viên của các công ty chứng khoán được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh là

    • người trong tổng số trên 400 người hiện đang làm việc cho các công ty chứng khoán.

    Việc tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự, đầu tư thêm cơ sở vật chất, tăng vốn đã cho phép các công ty mở rộng triển khai các nghiệp vụ của mình. Chúng ta có thể điểm qua một số nét về tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán qua các nghiệp vụ kinh doanh của công ty

    Đến nay, nghiệp vụ môi giới vẫn là một trong các nghiệp vụ được cá công ty triển khai tích cực nhất. Nếu như ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động chỉ có khoảng 500 tài khoản người đầu tư mở tại các công ty chứng khoán thì

    38

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đến cuối tháng 5/ 2004 đã có 18700 tài khoản trong đó có 170 nhà đầu tư có tổ chức. Các công ty ty chứng khoán đã thực hiện khá chính xác cá lệnh giao dịch của kháchhàng. Khi có sai sót trong việc thực hiện lệnh, các công ty chứng khoán cùng hợp tác, trợ giúp nhau khắc phục. Hình thức nhận lệnh giao dịch của khách hàng cũng đã phong phú hơn trước với các hình thức như qua điện thoại, qua fã, qua Internet. Nhờ đó góp phần giúp công ty chứng khoán mở rộng đối tượng khách hàng.

    Ngoài ra, các công ty chứng khoán cũng đã thực hiện tốt các dịch vụ phụ trợ cho hoạt động môi giới như cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch cho nhà đầu tư, tổ chức các buổi phân tích hiễn biến tình hình thị trường cho nhà đầu tư, phối hợp các NHTM thực hiện dịch vụ cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán. Nhờ đó khách hàng có thể đưa ra cá quyết định đúng đắn, kịp thời và gia tăng khoản đầu tư của mình, công ty chứng khoán cũng gia tăng giá trị giao dịch. Chính sách phí môi giới cũng được các công ty chứng khoán áp dụng linh hoạt trên cơ sở mức trần do pháp luật quy định. Mức phí thường được ưu đãi đối với những lệnh giao dịch lớn và với khác hàng có gái trị giao dịch lớn tính trong một thời gian nhất định ( hàng tuần, hàng tháng). Mức phí môi giới hiện nay cũng là một công cụ để các công ty chứng khoán cạnh tranh nhau. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ của các công ty chứng khoán thuộc NHTM cụ thể như sau:

    2.2.1.1 Về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

    Tự doanh chứng khoán là nghiệp vụ kinh doanh do công ty chứng khoán thực hiện vì lợi ích của chính mình. Như vậy, khi thực hiện nghiệp vụ nay, công ty chứng khoán đóng vai trò là người đầu tư có tổ chức trên thị trường. Nghiệp vụ tụ doanh cũng được các công ty chú trọng thực hiện, nhiều công ty tăng vốn điều lệ để được thực hiện nghiệp vụ này. Tổng giá trị giao dịch và doanh thu tự doanh đã tăng mạnh qua cá năm mặc dù mức độ có khấc nhau ở từng công ty. Hiện nay sự thay đổi về kết cấu danh mục đầu tư chứng khoán tự doanh ở các công ty chứng khoán. Nếu như 2 năm đầu đi vào hoạt động cá công ty tập trung

    39

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    bào tự doanh cổ phiếu chưa niêm yết thì bắt đầu vào nửa cuối năm 2002 đến nay các công ty tập trung vào tự doanh trái phiếu và cổ phiếu niêm yết. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Đệ Nhất, công ty chứng khoán ACB. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương, Công ty chứng khoán Ngân hàng công thương, công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Gần đây, giá trị trái phiếu tự doanh tăng là do một số công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ theo hình thúc cam kết chắc chắn và thực hiện giao dịch trái phiếu theo hợp đồng có kỳ hạn. Điều này góp phần kích hoạt thị trường thứ cấp về trái phiếu điều mà hơn 2 năm trước đây không có được.

    2.2.1.2 Về nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán:

    Cả 13 công ty chúng khoá trong đó có 6 công ty của các NHTM hiện nay đều được cấp phép để thực hện nghiệp vụ này. Những ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động, các công ty chúng khoán cũng là những chủ thể góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và TTCK cho công chúng đầu tư. Đến nay, ngoài việc tư vấn đầu tư trực tiếp cho khác hàng, cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch định kỳ có phân tích, khuyến cáo, giúp cho người đầu tư nhìn nhận diễn biến thị trường, lựa chọn chứng khoán đầu tư dưới con mắt của người đầu tư chuyên nghiệp, công ty chứng khoán đã mở rộng hình thức tư vấn có tính chất lượng chuêyn môn sâu hơn như tư vấn phát hành cho một số công ty niêm yết trên TTGDCK có ý định phát hành thêm, tư vấn tái cấu trúc tái chính, tư vấn dự án cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

    Đặc biệt trong thời gian qua, các công ty chứng khoán đã tích cực tham gia mạnh mẽ vào tiến trình cổ phần hoá bằng việc tư vấn cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp, tổ chức bán đấu giá cổ phần cho công ty cổ phần. Trong đó, đặc biệt có hợp đồng lớn như hợp đồng tư vấn cổ phần hoá Tổng công ty (TCty) Saigontourist, tổ chức đấu giá cho Công ty bảo hiểm Bảo Minh, TCty Sữa Việt Nam (Vinamilk). Có thể nói đây là nghiệp vụ có tính chuyển biến rõ rệt nhất

    40

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trong số các nghiệp vụ mà các công ty chứng khoán đã thực hiện. Ngoài ra, cùng với số lượng công ty được niêm yết trên TTGDCK tăng lên cũng là từng đó số công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niêm yết thành công. Về hoạt động tư vấn phát hành và tư vấn niêm yết, ngoài việc phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của công ty chứng khoán, còn phụ thuộc rất lứon vào tình hình giao dịch trên thị trường chính thức. Trong giai đoạn thị trường đi xuống ( từ cuôi năm 2001 đến hết quý III/2003), việc tư vấn niêm yết và tư vấn phát hànhlà đặc biệt khó khăn, nhiều hợp đồng đã được ký kết nhưng vẫn trong giai đoạn triển khai do thị trường chưa thuận lợi mặc dù vẫn được các công ty chứng khoán duy trì. Vì thế, số lượng công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niem yết thành công đều qua các năm như năm 2002 có thêm 11 công ty niêm yết, năm 2003 có thêm 2 công ty niêm yết và 5 tháng đầu năm 2004 có thêm 3 công ty niêm yết.

    Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong việc thực hiện nghiệp vụ nay, đó là: nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi tham gia đấu thầu các hợp đồng tư vấn, đặc biệt là giữa các công ty chứng khoán trên cùng đại bàn. Trong việc tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, các công ty chứng khoán mới chỉ thể hiện vai trò qua việc chuẩn bị hồ sơ xin niêm yết nhưng kể cả việc làm này vẫn chưa được tốt. Vai trò tư vấn sau niêm yết chưa được thể hiện, bằng chứng là đa phần các công ty niêm yết chưa thực hiện tốt quy định về công nố thông tin và một số công ty niêm yết còn lúng túng trong việc xử lý tình huống bất lợi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.

    2.2.1.3 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:

    Đây thực chất là hoạt động quản lý vốn cho khách, vì quyền lợi củakhách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết. Trong những năm đầu, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đều chưa triển khai tại hầu hết các công ty chứng khoán được cấp phép nghiệp vụ này. Trong Quý I/2003 không có công ty chứng khoán nào có doanh thu từ hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Các công ty vẫn tiếp tục thục

    41

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện các hợp đồng đã ký kết nhưng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi. Đến nay đã có 12 công ty chứng khoán được cấp giấy phép hoạt dộng nghiệp vụ này và trong đó mới có công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển thuộc hệ thống NHTM đã triển khai nghiệp vụ này. Tuy nhiên, sang năm 2004, đã có dấu hiệu nghiệp vụ này được tăng cường hoạt động, đã có thêm công ty chứng khoán ACB, công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn bắt đầu có xu hướng triển khai nghiệp vụ này với các hợp đồng có giá trị lớn hàng trăm, hàng chục tỷ đồng. Hiện tại, công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển vẫn chưa ký kết được một hợp đồng quản lý danh mục quản lý danh mục dầu tư nào. Nhưng công ty cũng mạnh dạn thí điểm các hình thức ban đầu của hoạt động quản lý dnah mục đầu tư như: hợp đồng uỷ thác giao dịch, hợp đồng bán hộ trái phiếu niêm yết,…

    Tuy nhiên , theo đánh giá một cách khách quan và tổng thể, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư vân tiếp tục dậm chân tại chỗ, doanh số giao dịch của nghiệp vụ này không cao, còn dè dặt, mang tính tập dượt. Điều này một phần là do xu hướng của người đầu tư trong giai đoạn đầu thường thích tự đầu tư hơn là uỷ thác cho người khác quản lý, đầu tư hộ mình. Thêm vào nữa, đây là nghiệp vụ đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao trong khi khả năg đáp ứng của công ty chứng khoán trong giai đoạn này còn rất khiêm tốn. Ngoài ra, do hàng hoá trên tị trường chưa nhiêu, số lượng cổ phiếu thực được giao dịch thấp hơn nhiều so với số lượng chứng khoán phát hành do tỷ lệ cổ phần của Nhà nước ở các doanh nghiệp này còn lứon, chưa đa dạng nên không có diều kiện triển khai.

    2.2.1.4 Về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

    Ngiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của NHTM là việc NHTM tiến hành nhứng hoạt động cần thiết nhằm giúp cho tổ chức phát hành thực hiện thành công việc chào bán cổ phiếu ra công chúng. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, bảo lãnh phát hành chứng khoán được coi là một nghiệp vụ quan tọng và là một trong số 5 nghiệp vụ được cấo giấy phép cho hoạt động của các công ty chứng khoan thuộc NHTM. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng

    42

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán trong đó quan trọng nhất là mang lại tính chuyên nghiệp cho thị trường. Tuy nhiên, hiện nay nghiệp vụ này mới chỉ được các công ty chứng khoán tiếp cận bước đầu. Theo quy định hiện hành và qua thực tế của TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, thì boả lãnh phát hành chứng khoán ở nước ta hiện nay được chia làm hai loại: Bảo lãnh phát hành trái phiếu, hiện có trái phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và vừa rồi là trái phiếu đô thị TP.HCM; và bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần ra công chúng. Hiện tại, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ quản lý việc phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu và trái phiếu trên TTGDCK, còn việc phát hành trái phiếu chính phủ thì thực hiện theo các qy định của Bộ Tài chính, tức là hầu như Bộ này quản lý việc phát hành trái phiếu chính phủ. Thực tê thì các NHTM mới chỉ triển khai hoạt động nhiều tỏng việc bảo lãnh trái phiếu chính phủ có độ rui ro rất thấp, còn việc triển khai các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần thì còn rất nhiêu hạn chế.Trong năm 2001, chỉ có công ty IBS có doanh thu từ nghiệp vụ này. trong năm 2002, chưa có công ty nào thực hiện được bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Công ty VCBS thực hiện việc bảo lãnh 6 đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ (qua Quỹ Hỗ Trợ Phát triển). Một số công ty chứng khoán khác như ASC, ACBS và VCBS đã làm đại lý phát hành kỳ phiếu của một số tổ chức tín dụng như Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng sông Cửu Long, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hoặc đại lý phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần Bảo Hiểm Nhà Rồng. Đến 31/3/2003 có một số công ty chứng khoán có doanh thu tư hoạt dộng bảo lãnh phát hành chứng khoán, hoạt động này tập trung ở một số công ty chứng khoán như: BVSC, VCBS, ARSC. Ngoài ra, các công ty còn ký tiếp các hợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam.

    Nguyên nhân khiến việc bảo lãnh cổ phiếu của các công ty cổ phần còn hạn chế bên cạnh những lý do từ phía thị trường và các công ty cổ phần, thi còn xuất phát tù những hạn chế của những công ty chứng khoán của các NHTM. Các công ty chứng khoán hiện nay yếu cả về tiềm lực vốn và nghiệp vụ chuyên môn

    43

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    để có thể đảm đương được vai trò của đơn vị bảo lãnh phát hành. Với mức vốn đáp ứng ở mức yêu cầu tối thiểu khi đăng ký như hiện nay, các công ty chứng khoán chỉ dám tham gia với vai trò làm đại lý phân phối cho tổ chức phát hành. Có thể nói nghiệp vụ này cũng chỉ được áp dụng tại một số NHTM có quy mô lớn, chủ yếu là các NHTMNN. Các NHTM cổ phần chưa mạnh dạn áp dụng nghiệp vụ này. Tuy nhiên, đối với những đợt phát hành có giá trị vài chục tỷ đồng thì bản thân các công ty chứng khoán này cũng sẽ gặp khó khăn về vốn nhất là trong diều kiện các công ty chứng khoán chưa có thói quen liên kết thành tổ hợp bảo lãnh phát hành. Đội ngũ cán bộ của các công ty chứng khoán hiện nay còn có nhuẽng hạn chế khi triển khai nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Hầu hết các cán bộ hoạt động tỏng các công ty chứng khoán là những cán bộ trẻ được đào tạo bài bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế. Trong khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành đòi hỏi những cán bộ không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có nững kinh nghiêm về ngành hay lĩnh vực hoạt động của tôt chức phát hành. Kinh nghiệm từ các thị trường khác cho thấy, tổ chức bảo lãnh phát hành thường phải tổ chức thành những nhóm hay có những cá nhân chuyên trách thực hiện nghiên cưu, phân tích và thường xuyên công bố các nghiên cứu của mình theo từng laọi cổ phiếu mà đơn vị tham gia bảo lãnh phát hành. Công việc này tốn kém nhưng cần thiết để hướng dẫn đầu tư cho thị trường. Đối với TTCK Việt Nam, các công ty chứng khoán hầu như chưa tổ chức thực hiện được công việc này. Có rất ít những nghiên cứu hay bài phân tích được công bố một cách có hệ thống nhằm thu hút nhà đầu tư mua cổ phiếu được đơn vị đó bảo lãnh phát hành. Đó chính là những thực tế đáng quan tâm đối với các NHTM để đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.

    2.2.1.5. Hoạt động lưu ký chứng khoán

    Hoạt động lưu ký chứng khoán la hoạt động mà các công ty chứng khoán đặc biệt là các công ty thuộc các NHTM rất quan tâm. Nhìn chung, các thanh viên luôn tìm cách thu hút số khách hàng vào lưu ký tại công ty mình ngày càng nhiều, song do ngày càng nhiều các thanh viên được cấp phép hoạt động lưu ký

    44

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nên đã diên ra sự cạnh tranh giữa các thanh viên. Tuy vậy, cũng có thành viên mới được cấp phép hoạt động đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường như Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), đã chiếm được 5,09% thị phần, trong khi đó có một số thành viên khác mặc dù có thời gian hoạt động từ khi thị trường thành lập nhưng vẫn chỉ đạt được mức khiêm tốn như công ty CK Đệ hất và công ty CK Thăng Long.

    Tính đến 31/12/2004 số thành viên lưu ký chứng khoán là 18 tổ chức trong đó có: 13 Công ty chứng khoán (6 công ty chứng khoán thuộc các NHTM); 02 Ngân hàng thương mại trong nước; 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoìa; số nhân viên nghiệp vụ lưu ký là 115 nhân viên.

    Tính đến cuối năm 2004 đã có 26 loại cổ phiếu, 207 loại trái phiếu, o1 loại chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết tại TTGDCK T.p Hồ Chí Minh. Là trên 234 triệu trái phiếu ( chiếm trên 98% tổng số trái phiếu phát hành) và trên 123 triẹu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư ( chiếm trên 75% tổng số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang lưu hành). Đối vơi nghiệp vụ này, có thể nói các NHTM đã tham gia rất tích cực sử dụng nhứng kỹ thuật vốn có và những kinh nghiệm quý báu của mình trên lĩnh vực hoạt động chủ yếu của mình là tín dụng để đẩy mạnh hơn nũa nghiệp vụ này, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển thuận lợi của thị trường. Trong năm 2004, các công ty chứng khoán của NHTM trên 12 công ty triển khai nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho khách hàng. Tổng số phiếu cấm cố / tổng số cổ phiếu niêm yết là cổ phiếu chiếm 0,45%. Tỷ lệ cầm cố trái phiếu/ tổng số trái phiếu niêm yết đạt là trái phiếu chiếm 3,12%. Tỷ lệ cầm cố trái chứng chỉ quỹ đạt xấp xỉ 4%. Việc giải toả chứng khoán do mất khả năng thanh toán.

    2.2.1.6 Hoạt động thanh toán bù trừ qua Ngân hàng chỉ định thanh toán

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được UBCK lựa chọn làm Ngân hàng chỉ định thanh toán. Hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của Ngân hàng chỉ định thanh toán cho đến nay được thực hiện tốt, không có hiện tượng vi phạm nguyên tắc thanh toán. Doanh số thanh toán bù trừ

    45

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tiền/chứng khoán tăng liên tục qua các năm. Năm 2000, doanh số thanh toán bù trư tiền/ chứng khoán đạt gần 39 tỷ đồng, năm 2001 là 396 tỷ đồng, năm 2002 là

    • tỷ đồng, năm 2003 đạt 839 tỷ đồng và năm 2004 doanh số thanh toán bù trừ tiền/ chứng khoán đạt gần 32.382 tỷ đồng.

    Hoạt động thanh toán các giao dịch chứng khoán được thực hiện đúng quy định kịp thời dảm bảo hời gian thanh toán chứng khoán, góp phần tăng tính thanh khoản của các chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán tập trung, Ngân hàng chỉ định than toán đã mở rộng cung cấp dịch vụ như dịch vụ cho vay tiền thực hiện các giao dịch chứng khoán, ứng trước tiền thanh toán giao dịch chứngkhoán cho khách hàng… Tính đến cuối năm 2004 số tiền cho vay ứng trước cho thanh toán giao dịch chứng khoán của Ngân hàng đạt gầ 300 tỷ đồng.

    Một đặc điểm dễ nhận thấy hệ thống bù trừ thanh toán ở Việt Nam hoạt động theo 2 cấp, TTGDCK chỉ mở tài khoản cho thanh viên lưu ký, quan rlý và thực hiện lưu ký, bù trừ thanh toán theo thanh viên lưu ký, còn các thành viên lưu ký quản lý và cung cấp dịch vụ lưu ký, bù trừ và thanh toán chi tiêt ho các nhà đàu tư. Trong hoạt động thanh toán, việc chyển giao chứng khoán diễn ra tại TTGDCK, còn thanh toán tièn do ngân hàng chỉ định thanh toán do ngân hàng chỉ định thanh toán thực hiện dực trên kết quả bù trừ của TTGDCK. Hệ thống thanh toán bù TTCKừ chứng khoán có những hạ hcế như sau: thứ nhất, đó là chưa đạt tính đồng bộ và hoàn thiện về mặt pháp lý, và chưa tạo dựng được các yếu tố thị trường đồng bộ. Thứ hai, là thiéu một cơ chế quản lý việc in ấn và lưu ký chứng khoán thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ ba là các biện pháp khắc phục lỗi giao dịch chưa chủ động và hiệu quả. Thứ ba là năng lực của hệ thống phần mềm phục vụ cho các hoạt động bù trừ thanh toán chứng khoán chưa cao. Thưa tư, khả năng khắc phục rủi ro thanh toán của quỹ hỗ trợ thanh toán chưa cao. Và cuối cùng là các biện pháp phòng ngừa và khắc phục rủi ro chưa hoàn hảo. Đó là những mặt được và hạn chế của hệ thống ngân hàng trong hoạt động thanh toán bù trừ chứng khoán.

    46

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.2. Sự tham gia vào TTCK của các NHTM với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán.

    2.2.2.1 Tình hình hoạt động của các NHTM cổ phần.

    NHTM cổ phần là loại hình tổ chức tín dụng được hình thành từ trước khi có Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính . Sau khi điều chỉnh theo các Pháp lệnh trên ở nước ta, có 53 NHTM cổ phần, trong đó có 32 NHTM cổ phần đo thị và 20 NHTM cổ phần nông thônm được phân bố ở các thành phố lớn và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có nên kinh tế hàng hoá tương đối phát triển. Đến ngày 31/12/2002, sau hơn 3 năm thực hiện Đề án chấn chỉnh, củng cố sắp xếp lại các NHTM cổ phần,còn 24 NHTM cổ phần đô thị và 15 NHTM cổ phần nông thôn.

    Với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu lần đầu để thành lập ngân hàng hoặc phát hành các lần tiếp theo để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên do cá NHTM cổ phần chưa thực sự lớn mạnh, số lượng vốn huy động còn nhỏ nên hiện nay, các n cổ phần Việt Nam mới chỉ thực hiện phương thực hiện phát hành riêng lẻ, nghĩa là huy động vốn cổ phần dưới hình thức kêu gọi các cổ đông hoặc nhóm cổ đông quen biết lẫn nhau cùng góp vốn. Chưa có ngân hàng nào phát hành, niêm yết giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các ngân hàng này mới chỉ có duy nhất loại cổ phiếu phổ thông có ghi tên, mỗi ngân hàng páht hành với một mệnh giá khác nhau: nếu ngân hàng có các cổ đông với tiềm lực vốn lớn thì mệnh giá thường cao ( 5 triệu đến 10 triệu đồng/ 1 cổ phiếu), những ngân hàng có cổ đông đại chúng thì mệnh giá thấp ( ngoài NHTM cổ phần Sài Gòn thương tín phát hành mệnh giá 0,2 triệu đồng/ 1 cổ phiếu, đa số các ngân hàng pháthành với mệnh giá 1 triệu đồng / cổ phiếu). Tính đến 31/12/2002/, toàn hệ thống NHTM cổ phần huy động được trên 2.200 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ, nếu tính tho mệnh giá 10.000đ/1cổ phiếu thì hiện nay, các nnn này năm giữ trên 200 nghìn tỷ cổ phiếu. Việc các NHTM cổ phần được phát hành cổ phiếu ra công chúng, được niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ giúo

    47

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    các ngân hàng có cơ hội nâng quy mô về vốn, gia tăng một khối lượng hàng hoá đáng kể cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, để thực hiện được thực hiện điều này, không phải điều dễ dàng đặc biệt là những trở ngại về cơ sở pháp lý. Thủ tướng Chính phủ đã có Ưuyết định số 172/1999/QĐ- TTg bgày 19/8/1999 “V/v các tổ chức tín dụng thành lập Công ty chứng khoán và tham gia niêm yết chứng khoán”. Theo đó, về chủ trương, các NHTM cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, chủ trương chưa được triển khai trong thực tiễn, do Ngân hàng Nhà nước chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các NHTM cổ phần, thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường vào tạo cơ sở pháp lý cần thiết để Ngân hàng Nhà nước xem xét, chấp nhận cho một số NHTM cổ phần đã có hơn và hồ sơ xin niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy đinhk về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát triển cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy định về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát hành cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán.

    2.2.2.2 Vấn đề cổ phần hoá NHTMNN.

    Trong chỉ thị 11/2004/Ct-TTg để đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 và tổ chức triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ tài chính và cá cơ quan cos liên quan xyâ dứng đề án CPH Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cưu Long, trình Thủ tướng Chính phủ xem xet quyết định trước ngày 30/6/2004. Cho đến nay, Đề án CPH VCB đã được xây dựng và trình thông đốc Ngân hàng Nhà nước. Trả lời báo chí, thông đốc Ngân hàng Việt Nam Lê Đức Thuý cho hay, tiến trình CPH VCB sẽ chậm hơn dự kiến khoảng 15 tháng. Trên cơ sở thực hiện Đề án CPH VCB sẽ rút kinh nghiệm để CPH Ngân hàng Đồng bằng sông Cửu Long và tiến toiư CPH cac NHTM nhà nước khác.

    48

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong bối cảnh hiện nay, chủ trương CPH cá NHTM nhà nước có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với ngành ngân hàng , mà còn tác động tích cực đến cá doanh nghiệp là khách hàng truyền thống của hệ thống ngân hàng này và có thể tạo “ đòn bẩy kép” cho sự phát triển của TTCK. Trên thực tế, các NHTM đều đang có nhu cầu về vốn cấp bách phải nâng cao năng lực về vốn, về quản trị điều hành và hiệu quả kinh doanh để có thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tê. Trong khi nguôn lực của Nhà nước có hạn, việc CPH NHTM nhà nước la fdiều tất yếu và sẽ mang lại lợi ích nhiều mặt đối với Nhà nước, xã hội và bản thân ngân hàng. CPH NHTM nhà nước , nếu được thực hiện thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, chính là tạo điều kiện cho công chúng đầu tư được cùng Nhà nước tham gia trực tiếp vào việc kiểm soát ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ chế sở hữu cổ phiếu của cán bộ nhân viên Ngân hàng được xác lập thông qua CPH là nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên đội ngũ nhân viên năng động và tích cực cho ngân hàng, đồng thời góp phần tăng cường công tác kiểm soát nội bộ. Là những doanh nghiệp có uy tín, ngân hàng thực hiện CPH thường gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu trên TTCK có tổ chức. Sự tham gia của ngan hàng vào TTCK không những làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng, mà còn làm tăng giá trị và tính thanh khoản cho cổ phiếu của ngân hàng; từ đó mở ra khả năng huy động những nguồn vốn lớn một cách thường xuyên và chủ động để đáp ứng yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Như vậy, CPH NHTM nhà nước không những thúc đẩy quá trình xã hội hoá đầu tư, tạo điều kiện cho những ngân hàng này tăng, giảm vốn một cách linh hoạt cùng với quy mô hoạt động mà còn tăng cường tính đại chúng của ngân hàng và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng không thể cho vay dễ dãi và không chờ Nhà nước khoanh nợ, xoá nợ cho cá khoản tín dụng xấu. Các doanh nghiệp khách hàng của ngân hàng do đó cũng sẽ phải tìm kiếm các nguồn vốn khác trên thị trường để bổ sung cho tín dụng ngân hàng, nhất là nguồn vố trùn và dài hạn. Vì những lợi ích to lớn đó, CPH hay đại chúng hoá chính là con đường phát triển của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới trong đó có ngân hàng.

    49

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    Một điều dễ nhận thấy là vai trò của NHTM đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán là còn rất hạn chế, các NHTM chưa thực sự vào cuộc, cùng bắt tay sẻ chia những khó khăn voiư sthị trường chứng khoán nhằm đưa TTCK phát triển. Các hoạt động của NHTM vẫn còn mang tính chất tham dò và tiến hành cá nghiệp vụ ít rủi ro, và không đòi hỏi vốn lớn. Nguyên nhân của những hạn chế này chủ yếu không phải là các NHTM không thấy được tiêm năng to lớn của TTCK và vai trò của mình trên TTCK mà đó xuất phát từ những hạn chế, yếu kém về năng lực và nguồn lực bên trong của các NHTM Việt Nam.

    Thứ nhất, về năng lực tài chính của các NHTM. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “ sau 15 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển ban đầu, năng lực tài chính của nhiều NHTM Việt Nam còn yếu, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.”Tuy chiếm gần 80% thị phần tín dụng nhưng vốn tự có của cá NHTM nhà nước thấp và chưa tương xứng với thị phần. Vốn tự có của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chỉ chiếm 4,1% trong tổng nguồn vốn; Ngân hàng Công thương là 2,9%. Tỷ lệ này là quá thấp so với chuẩn mực quốc tế 8%. Tính đến tháng 3/2003, NHTM nhà nước có vốn điều lệ lớn nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Viêt Nam với số vốn là 4.320tỷ đồng, tương đương với 280 triệu úD. Mức vốn này chỉ ngang với tổng vốn đầu tư của một dự án lớn của một doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, chứ chưa nói đến việc so sánh với vốn điều lệ hàng tỷ, hàng chục tỷ của cá ngân hàng nước ngoài. Trong khi đó, vốn tự có đóng vai trò quan trọng đói với hoạt động của một ngân hàng, vừa là nguồn lực đảm bảo sức mạnh tài chính vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Nếu không tăng được vốn ở mức cần thiết thì khó có thể nói đến việc tài trợ hiệu quả cho những dự án lớn, khách hàng lớn. Đồng thời, khi không có nguồn lực thì khó có thể đầu tư cho công nghệ hiện đại, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, không có khả năng đầu tư tài chính, vươn ra cạnh tranh trên các thị trường tài chính khu vực và thế giới. Để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về vốn, đến năm 2010, các

    50

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    NHTM nhà nứoc cần bổ sung khoảng 117.000 tỷ đồng. Nguồn vốn nói trên namư ngoài khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

    Thứ hai, về công nghệ ngân hàng, tuy vấn đề hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đã được quan tâm và đầu tư song chủ yếu cũng mới ở giai đoạn thử nghiệm và cũng mới được thực hiện ở một số ngân hàng lớn, thuộc khu vực đô thị. Còn lại phần lớn hệ thống ngân hàng có trình độ cơ giới thấp, công nghệ lạc hậu, mạng lưới chi nhánh rộng nhưng hoạt động kém hiệu quả. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các ngân hàng thương mại mà đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Đó là một trở ngại, một vấn đề lớn cần quan tâm của hệ thông ngân hàng Việt Nam hiện nay.

    Thứ ba, Về năng lực quản trị của các NHTM mà dặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước là rất thấp. Hiện nay, “đội ngũ lao động của các NHTM Việt Nam tương đối đông về số lượng nhưng trình độ chuyên môn thấp, nhất là cán bộ quản lý”. Năng lực quản trị của các NHTM không thể cải thiện được một khi cung cách hoạt động của ngân hàng vẫn mang nặng tính bao cấp, trông chờ bảo hộ, khoanh nợ, xoá nợ của Nhà nước. Năng lực của nhân viên ngân hàng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hôi nhập, đáp ứng được xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Đó là một hiện tượng đáng báo nói đến hiện nói. Nói riêng về các công ty chứng khoán hiện nay, nhân viên của họ được đào tạo tương đối bàn bản và quy củ nhưng họ thiếu nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh chứng khoán , vốn là một lĩnh vực hết sức khó khăn và phức tạp. Vì vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các NHTM còn dè dặt khi tham gia vào TTCk và chưa thực sự trở thành cầu nối giữa những tổ chức phát hành chứng khoán và những nhà đầu tư.

    Chương 3:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NNTM ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    51

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    3.1 Mục tiêu chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

    Quan điểm chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam là đi từ quy mô nhỏ đến lớn, theo định hướng XHCN, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng thị trường hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả, bảo vệ người đầu tư, và có thể linh hoạt thích ứng thực tế, đồng thời tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường.

    Mục tiêu tổng quát của chiến lược là “củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô htij trường; tăng cường hiệu quả quản lý giám sát thị trường, bảo vệ người đầu tư. Góp phần phát triển thj trường tài chính Việt Nam, đảm bảo ổn định và an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia; nâng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Tạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá và huy động nguồn vốn cho đầu tư pahs triển

    Mục tiêu giai đoạn 2003- 2005 là củng cố TTCK và hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho thị trường, từng bước phát triển quy mô, phạm vi hoạt động TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động TTCK; tăng cung hàng hoá; hoàn thiện cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật của thị trường; xây dựng và phát triển các định chế hoạt động trên thị trường.

    Mục tiêu gia đoạn 2006- 2010 là tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịc vụ của TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu là mở rộng và tăng cường năng lực của thị trường, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ; khuyến khích, tăng cường khả năng cạnh tranh; thúc đẩy hội nhập quốc tế

    Đó là những mục tiêu chính trong chiến lược phát triển ngành chứng khoán. Dựa vào đó ta có thể đưa ra những giải pháp phù hợp để phát triển thị trường mà ở trong phần nghiên cứu này em chỉ dám đua ra một vài những ý kiến nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của NNTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để phát triển TTCk hiện nay, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giã hoạt động của các trung gian tài chính với sự điều tiết nhanh nhạy của cá nhà uản lý thị trường, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về luật pháp, chính sách và cũng không loại trừ cả những giải pháp mạnh ở tầm vĩ mô lúc cần thiết. Trong tình hình hiện nay, ở Việt Nam nếu không có sự kết hợp đồng các tổ chức nói trên thì khó có thể phát huy được hết vai trò của các NNTM cũng như sự phát triển hon nữa của thị trường.

    3.2.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý thị trường

    3.2.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK Việt Nam và công tác pháp chế của UBCKNN

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK hiện nay với văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị Định số 144/2003/NDD-CP tuy đã khắc phục được nhiều mặt hạn chế, thiếu sót của Nghị định số 48/1998/NDD-CP nhưng do là văn bản dưới luật nên tính pháp lý của hệ thông pháp luật về chứng khoán và TTCK chua cao, chưa đồng bộ, không thể giải quyết được một cách triệt những mâu thuẫn xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan, chưa tạo được môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định để điều chỉnh mọi hoạt động trên TTCK phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển TTCK Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và TTCK Việt Nam hiện nay là chính là xây dựng Luật Chứng khoán. Đây cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK. Luật Chứng khoán với những ưu thế rất lớn sẽ tạo ra một môi trường pháp luý ổn định, vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích của cá chủ thể tham gia thị trường. Góp phần xây dựng và phát triển TTCK Việt nam trở thành một kênh huy động vốn quan trọng và thiết yếu đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Hoàn thiện khung pháp lý TTCK Việt nam là một trong những giải pháp nhằm bình ổn và phát triển TTCK, mở rộng phạm vi, quy mô của thị trường, đảm bảo

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    xây dựng một TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, hệu quả, được quản lý một cách chặt chẽ. Qua đó cũng tạo điều kiên thuận lợi, khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trên TTCK.

    3.2.1.2 Hiện đại hoá các hệ thống và nâng cấp hoạt động của TTCK

    Hoàn thiện hệ thống giao dịch theo hướng đảm bảo sự kết hợp giữa các điều kiện sẵn có của môi trường kinh tế với nhu cầu của các đối tượng tiềm năng tham gia TTCK, trong đó tập trung vào các yêu tố như: Tính ổn định của thị trường; tính đơn giản; tính thích nghi; tính bảo mật. Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống gaio dịch của TTGDCK được xây dựng từ các nguồn cung cấp khác nhau nhưng bước đầu đã đáp ứng được các nhu câu giao dich chứng khoán trên thị trường. Tuy nhiên, hệ thống giao dịch hiện tại sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu cho giao dịch sắp tới, đòi hỏi chúng ta cần phải thiết kế, xây dựng hệ thống mang tính đồng bộ, có công suất lớn và đảm bảo được sự tương thích giữa các hệ thống và có tính mở để có thể nâng cấp và khả năng kết nối với các hệ thống khác từ công ty chứng khoán, trung tâm lưu ký, trung tâm thanh toán ……,

    từng bước cho phép ứng dụng các giao dịch trực tuyến trên TTCk, tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc tiếp cận các phòng giao dịch thông qua mạng Internet; Mobile phne; fax; telex v.v..Cần pahir đưa hẹ thống giao dịch tự đọng mới vào vận hành, có thể khớp lệnh liên tục hoặc định kỳ. Kết nối mạng diện rộng với các công ty chứng khoán thành viên, áp dụng hệ thống ngừng giao dịch tự động khi đưa hệ thống khớp lệnh liên tục vào hoạt động.

    Hiện đại hoá hệ thống giám sát thị trường, xây dựng hệ thống giám sát tự động kết nối với các hệ thống giao dịch, công bố thông tin, lưu ký, thanh toán

    Nâng cấp hệ thống công bố thông tin, đảm bảo có một hệ thống công bố thông tin có thể truyền phát rộng và truy cập dễ dàng cho các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư. Mở rộng phạm vi thông tin cần công bố trên cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đầy dủ bao gồm thông tin giao dịch

    54

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trên thị trường, thông tin về các công ty niêm yết, thông tin về các tổ chức trung gian thị trường và thông tin quản lý thị trường.

    Tự động hoá một bước hệ thống lưu ký, và thanh toán bù trư chứng khoán. Thực hiện dịch vụ lưu ký cho các chứng khoán chưa niêm yết.; giảm thời gian thanh toán; tự đọng hoá tứng bước hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ; thực hiện nối mạng giữa các thanh fvieen lưu ký và TTGDCK

    3.2.1.3 Hoàn thiện thể chế TTCk va tăng cường năng lực cho các định chế trung gian khác

    Để đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định, giảm thiểu rủi ro thị trường, hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước, thể chế TTCK cần được hoàn thiện thông qua một số các hoạt động sau đây: Củng cố và hiện đại hoá các định chế thị trường thị trường đã có như các TTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.Bên cạnh đó, cũng cần phải phát triển và hoàn thiện hơn nữa những thể chế khác cho TTCk. Các quỹ đầu tư chứng khoán với quy mô ài chính lớn và kỹ năng chuyên nghiệp cân được khuyến khích hoạt động mạnh mẽ hơn nhằm chuyên môn hoá hoạt động đầu tư chứng khoán và tạo đinh hướng cho nhà đầu tư nhỏ lẻ. Việc phát triển các định chế quỹ đầu tư chứng khoán sẽ tạo ra một đội ngũ các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp định hướng đầu tư cho thị trường.

    Bên cạnh đó các định chế mang tính chất thiết yếu trong cấu trúc thị trường như tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký, ddanwg ký và thanh toán bù trừ chứng khoán độc lập cần được xây dưng và sớm đi vào hoạt động. Việc thành lập cá tổ chức tín nhiệm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu cũng như tổ chức tốt một thị trường trái phiếu thứ cấp. Có thể thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm dưới hình thức một công ty cổ phần với sự tham gia của các định chế ngân hàng, tài chính và có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm Việt Nam cần phải đáp ứng được các tiêu chí xếp hạng và nguyên tắc hoạt động cơ bản của một tổ chức định mức tín nhiệm trên thế giới, nhưng cần phải phù hợp với bối cảnh hiện tại ở Việt Nam.

    55

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngoài ra vai trò của những tổ chức tự quản như Hiệp hôi ngành chứng khoán và Hiệp hôi các nhà đầu tư tài chính cần được phát huy để có thể thực hện được các chức năng tự quản đối với các thanh viên tham gia thị trường, giảm nhẹ gánh nặng quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước, và tăng cường hiệu quả quản lý thị trường thông qua cơ chế kiểm tra và điều chỉnh.

    3.2.2 Các giải pháp đối với các NHTM

    3.2.2.1 Nâng cao vai trò cầu nối của các Cty chứng khoán của các NHTM

    Hiện nay, các hoạt động của NHTM tham gia vào TTCk mới chỉ chủ yếu là thông qua các công ty chứng khoán giông như nhiều các công ty chứng khoán khấc không thuộc ngân hang. Như vây, các NHTM chưa thuạc sự pahts huy dược vai trò của minh, thế mạnh của mình trên thị trường chứng khoán. Các công ty chứng khoán của các NNTM cần phải phát huy hiưn nữa vai trò cầu nối trung gian của minhf giữa các nhà đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh phát hành chứng khoán; nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với cá doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh TTCK cho các doanh nghiệp; nâng khả năng và tính chuyên nghiệp cho các công ty chứng khoán là một đòi hỏi rất quan trọng. Bên cạnh đó, bằng cachs cung cấp dịch vụ tư vấn CPH, tư vấn niêm yết thực hiện BLPH chứng khoán, cá công ty chứng khoán se phát huy vai trò tạo cơ chê giá, giup cá doanh nghiệp đánh giá phát ành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình bắng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm mới cho thị trường. Cuối cùng, công ty chứng khoán cần quan tâm hơn nữa tới việc tăng cường cầu nối trung gian trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường tiếp cận với khách hàng tiềm năng, góp phần tạo nên văn hoá đầu tư, tạo thói quen đầu tư trên TTCK cho nhà đầu tư, tạo thói quen và kỹ năng sử dụng

    56

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    dịch vụ tư vấn đầu tư thông qua việc xây dựng hình ảnh của công ty, tạo niềm tin và sự tín nhiệm của khách hàng đối với cá nhân người hành nghề kinh doanh chứng khoán và đối với chính công ty.

    3.2.2.2 Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên chứng khoán của các NHTM

    Thứ nhất, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên tác nghiệp tại các công ty chứng khoán và công tác đào tạo cấp giấy phép hành nghề chứng khoán có tình độ và kỹ năng nghề nghiệp ngang tầm với cá nước trong khu vực; đảm bảo chất lượng đào tạo và thi tuyển cấp phép hành nghề ngang tầm khu vực.

    Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ tư vấn đầu tư chứng khoán: Ngoài những kiến thức nền tảng về kinh tế tài chính, đội ngũ này cần có hiểu biết sấu sắc về kỹ năng phân tích chứng khoán và lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán, có khả năng tìm tòi, khai thác, phân tích tổng hợp thông tin.

    Các công ty chứng khoán nên phối hợp với TTNCKH& DDTCK cử các chuyên gia giảng dạy đối với từng nghiệp vụ chuyên sâu, cũng như thông tin tình hình của thị trường.

    3.2.2.3 Hiện đại hoá trang thiết bị cho các NHTM

    Hoạt động chứng khoán là hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi những công nghệ và thiết bị hiện đại. Để phát huy được vai trò của mình trên thị trường chứng khoán, cùng với sự đổi mới toàn ngành, hệ thống ngân hàng không thể không đổi mới công nghệ của minh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh. Các NHTM cần đầu tư đổi mới các cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho các hoạt động giao dịch và thanh toán được nhanh chóng và hiệu quả, áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của NHTM. Hiện đại hoá hệ thống htoong tin, nối mạng giữa các công ty chứng khoán với TTGDCK và người đầu tư; phát triển hệ thống tác nghiệp tập trung cho các công ty chứng khoán để hiện đại hoá hệ thống tác nghiệp trên cơ

    57

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sở tiết kiệm chi phí, dễ dàng chia sẻ thông tin giupc ho việc quản lý được thuận tiện , nâng cao chaat lượng xử lý giao dịch và dễ dàng nâng cấp trong tương lai.

    3.2.2.4 Cổ phần hoá NHTMNN nhằm nâng cao tiêm lực về vốn

    Có thể thấy, cổ phần hoá NHTMNN là một nhu cầu cần thiết và thực tế, một xu hướng tất yếu khi mà định hướng chung của kinh tế nước ta là hội nhập với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, cần phải quan tâm đến những yêu cầu sau đây:

    Một là, CPH các NHTMNN phải nằm trong kế hoạch tổng thể cơ cấu lại và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam. Một trong những trọng tâm của nó là việc nâng vốn của các NHTMNN lên càng sớm càng tốt, để khi tiến hành CPH xong thì tỷ lệ an toàn vốn phải đạt chuẩn mực quốc tế

    Hai là, CPH các NHTMNN cần phải tiền hành từng bước thận trọng. Do tính chất tương đối đặc thù, ngân hàng vốn được coi là một ngành nhạy cảm, hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng raat to lớn đến hầu hết cá ngành khác trong nền kinh tế. Do đó, CPH các NHTMNN cần hết sức thận trọng để đảm bảo độ an toàn và bên vững của không những hệ thống ngân hàng mà còn của toàn bộ nền kinh tế.

    Ba là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với việc nâng cao điều hành, quản trị, ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại, tạo ra cá sản phẩm ngân hàng mới, có sức cạnh tranh cao

    Bốn là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với trình xử lý các yếu kém tồn tại, lành mạnh hoá tài chính, giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn.

    Năm là, CPH các NHTMNN phải được tiến hành theo hướng công khai, minh bạch theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nwocs nắm giữ cổ phần chi phối. Tránh hiện tượng CPH khép kín. Hơn nữa, CPH NHTMNN không phải là bán tài sản hiện tại của Nhà nước cho khu vực tư nhân mà là giữ nguyên tài sản Nhà nước với mức tăng hàng năm do tái đầu tư bình thường, đồng thời huy động thêm vốn mới từ công chúng, nhằm nâng cao tiêm lực tài chính và quy mô hoạt dộng của các NHTMNN. Ngoài việc đảm bảo an toàn cho hoạt động cho cả hệ thống ngân hàng , cơ sở vốn bền vững còn là điều kiện cần thiết và là cơ hội để

    58

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện đại hoá công nghệ và quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện vai trog, vị thế và uy tín quốc tế của hẹ thống tài chính, ngân hàng Việt Nam, đồng thời có thể hỗ trợ đặc lực cho phát triển thị trường chứng khoán của nước ta.

    3.2.2.5 Tạo điều kiện cho phép các NHTM cổ phần mở rộng quy mô vốn

    Một trong những vấn đề đang thời sự hiện nay là ch phép các NHTM cổ phần niêm yết phát hành cổ phiếu trên TTGDCK để huy đông vốn, tăng thêm vốn điều lệ cho các ngân hàng này.Đó là một tỏng những giải pháp quan trọng được đưa ra bàn bạc sôi nổi trong thời gian qua. Được biết UBCKNN cũng mong muốn triển khai vấn đề này vì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt nam lên tầm cao mới , trước mắt là tăng thêm số lượng cổ phần giao dịch trên TTGDCK Tp.HCM. Đồng thời cho đến nay, Thống đốc NHNN cũng ủng hộ chủ trương nói trên. Hiện nay, trên thực tế, nhiều NHTM cổ phần trong nước làm ăn có bài bản, lãi lớn, hoạt động ổn định, hạch toán rõ ràng, được kiểm toán quốc tế hay kiểm toán độc lập, có uy tín trong nước và quốc tế, tạo được lòng tin trong dân chúng, nên chắc chắn việc niêm yết và phát hành cổ phiếu trên TTGDCK sẽ thành công.

    59

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    KẾT LUẬN

    Thị trường chứng khoán là thể chế tài chính bậc cao voíư sự tham gia của các tổ chức trung gian, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức trung gian đặc biệt là các ngân hàng thương mại

    Thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn đầu hình thành và triển. Thị trường chứng khoán đang dần đi vào ổn định, và đã thu được một số kết qảu đáng khích lệ nhưng bên cạnh đó cũng không ít những hạn chế và tồn tại. Có thể nói, ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại có nhiều lợi thế nhất trong việc trở thành trung gian, hỗ trợ cho sự páht triển thị trường. Nhưng trên thực tế, việc tham gia của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán là rất hạn chế, còn dè dặt, chưa phát huy được hết vai trò của các ngân hàng làm cầu nối trung gian trên thị trường chứng khoán.

    Bằng việc vận dụng những kiến thức đã học và sự tìm tòi tham khảo các tài liẹu thực tiến em đã nghiên cứu được một số vấn đề sau:

    Thứ nhất, nêu được những lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán và vai trò của ngân hàng thương mại đối với thị trường này.

    Thứ hai, phân tích thực trạng việc các ngân hàng thương mại thực hiện các vai trò của mình trên thị trường chứng khoán

    Thứ ba, đưa ra một số giả pháp nhằm phát huy vai trò của các ngân hàng thương mại để thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.

    Tuy nhiên, đay là một vấn đề mới, rất đa dạng và phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiến. Qua bài nghiên cứu nay, em chỉ hi vọng đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này, va mong rằng thì trường chứng khoán Việt Nam

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sẽ phát triển trong một tương lai không xa với sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, em rất mong muốn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các độc giả để có thể lĩnh hội và có hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực mà em đã quan tâm nghiên cứu.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ts Lê Văn Tư, “Ngân hàng thương mại” Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “Thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “ Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản thống kê.
    2. Phan Thị Thu Hà, “Giáo trình Ngân hàng thương mại- Quản trị và nghiệp vụ”
    1. Ts Phan Đình Nam (chủ biên), “Giáo trình Thị trưòng chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    2. Trần Thị Minh Châu, “ Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế-xã hội nhình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    3. Đỗ Đức Sơn- TC 41A, Luận văn tốt nghiệp “ Một số giải pháp nhằm thúc

    đẩy sự tham gia các hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán của chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hải Phòng”.

    1. Tạp chí Ngân hàng
    1. Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
    1. Một số tạp chí khác.

    61

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    62

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    63


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-ng%E1%BA%AFn-h%E1%BA%A1n-%E1%BB%9F-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đang vào giai đoạn chuẩn bị cho quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong khoảng gần chín năm nữa, khi hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực đối với thị trường tài chính tiền tệ thì về mặt luật pháp ngân hàng thương mại nước ta hoàn toàn được đối xử bình đẳng như ngân hàng nước ngoài khác. Điều này cho thấy nếu như ngân hàng thương mại nước ta đang đối mặt với những thách thức cạnh tranh mới trong tương lai.

    Hình thức ngân hàng liên doanh là hình thức mới ở Việt Nam, xuất hiện vào đầu những năm 90. Việc thành lập các ngân hàng liên doanh ở nước ta là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước để ngân hàng thương mại nước ta có dịp học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn, nâng sức cạnh tranh của ngân hàng mình.

    Ngân hàng liên doanh Chohung vina là ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước Hàn Quốc. Đây là một trong những ngân hàng liên doanh hoạt động hiệu quả ở nước ta, hơn nữa Hàn Quốc cũng là một nước có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, do đó học tập kinh nghiệm kinh doanh của ngân hàng liên doanh Chohung vina là một điều hết sức cần thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta.

    Xuất phát từ điều này nên em chọn thực tập tại ngân hàng liên doanh Chohung vina. Trong quá trình thực tập ở ngân hàng liên doanh Chohung vina em nhận thấy hoạt động tín dụng ngắn hạn của họ rất tốt có chất lượng cao do đó em tìm hiểu về kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung vina, qua đó ngân hàng thương mại nước ta có thể tham khảo và có thể áp dụng thành những giải pháp của mình. Đề tài như sau:

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    (nghiên cứu từ quá trình thực tập tại chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina)”

    Luận văn này gồm ba phần chính như sau:

    Chương1: Lý luận chung về chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.

    Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina.

    Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng Chohung vina).

    Do thời gian làm việc tại ngân hàng chưa lâu và trình độ hiểu biết thực tế có hạn nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy, cô giáo và các cô chú trong ngân hàng để luận văn được hoàn chỉnh, góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    ∗      ∗

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1. Ngân hàng thương mại

    1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

    • Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật.

    Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Việc đưa ra khái niệm niệm về ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. Theo Pháp lệnh Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính ban hành ngày 24/05/1990: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.1.2. Đặc trưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính của nhiều tổ chức kinh doanh tiền tệ, những tổ chức môi giới tài chính, hoạt động như những chiếc cầu chuyên tải những khoản tiền tiết kiệm- tích luỹ được trong xã hội đến tay những người có nhu cầu chi tiêu cho đầu tư. Nhưng giữa chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng như về đối tượng và phương pháp kinh doanh. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ những nguyên nhân về lịch sử và chế độ kinh tế.

    Lịch sử của ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ làm nhiệm vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền cho người sở hữu để nhận những khoản thù lao, trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi nghĩa là huy động tiền gửi không những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng gửi tiền để làm vốn cho vay nhằm tối ưu khoản lợi nhuận thu được.

    Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các ngân hàng thương mại đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán, trong đó quan trọng nhất là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thanh toán bằng séc- một trong những công cụ chủ yếu để tiền vận động qua ngân hàng và quá trình đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong giao lưu kinh tế là tiền qua ngân hàng. Do đó, hoạt động của ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.

    Trong thế giới hiện đại, tính cho đến thời điểm hiện nay thì ngân hàng thương mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài chính mỗi nước. Hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp theo hướng chuyên sâu.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.2. Tín dụng ngân hàng

    1.2.1. Khái niệm về tín dụng

    Có thể nói: tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn.

    Qua nhiều giai đoạn tồn tại và phát triển, ngày nay tín dụng được hiểu theo định nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thời hạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau:

    “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.”

    Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

    • Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
    • Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.
    • Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.2.2. Đặc trưng của tín dụng

    Có thể nói trong hoạt động kinh doanh tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng, đặc trưng của tín dụng đều dựa trên 3 đặc tính chủ yếu là: lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả.

    1.2.2.1.Yếu tố lòng tin:

    Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.

    Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện từ chủ yếu từ phía người cho vay đối với người đi vay bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng.

    1.2.2.2 Tính thời hạn và tính hoàn trả:

    Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay.

    Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho vay chỉ bán “giá trị (quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    bán “giá trị của khoản vay”, nên sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hoàn trả về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định. Như vậy, khối lượng hàng hoá hay tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên chở giá trị sử dụng của chúng, nó được phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về chứ không được bán đứt.

    Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy theo đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng mà tín dụng được phân chia theo các hình thức phù hợp. Thông thường các ngân hàng phân chia tín dụng theo tiêu thức thời gian bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, và tín dụng dài hạn.

    1.3. Khái niệm và vai trò của tín dụng ngắn hạn của ngân hàng

    1.3.1. Khái niệm

    Theo quyết định 324 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

    Thời hạn đối với tín dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

    1.3.2. Vai trò tín dụng ngắn hạn

    Tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính thực hiện một trong những chức năng chủ yếu của mình là tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sau đó cho ra đối với nền kinh tế. Thông qua các hoạt động cho vay của mình ngân hàng đã đảm bảo cho các doanh nghiệp nói

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng không chỉ duy trì sản xuất kinh doanh mà còn tái sản xuất mở rộng.

    Đối với các doanh nghiệp hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp là phổ biến và nghiêm trọng. Tín dụng ngắn hạn là hình thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bởi tính linh hoạt của nó. Tín dụng ngắn hạn không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung nữa mà đã dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn giúp cho các doanh nghiệp không bỏ lỡ thời vụ làm ăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, quá trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội.

    Mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường để thực hiện được các khoản đầu tư đó doanh nghiệp không chỉ cần có vốn lưu động tạm thời mà còn phải có một lượng vốn cố định và ổn định lâu dài. Qui mô vốn đầu tư cho các yêu cầu trên đôi khi vượt quá khả năng vốn của doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh đó.

    Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả

    Bản chất của tín dụng ngắn hạn không phải là hình thức cung ứng vốn mà là hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn qui định. Do đó, các doanh nghiệp sau khi sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn là đủ mà còn phải tìm ra nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ và thu lãi.

    Về phía ngân hàng, khả năng thu hồi khoản cho vay phụ thuộc rất lớn vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn. Vì vậy, trước khi cho vay ngân hàng thường xem xét đánh giá rất kỹ lưỡng phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có phương án khả thi, lợi nhuận đủ cao để có thể trả nợ ngân hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp muốn có được vốn vay ngân hàng thì phải hoàn thiện năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Thêm vào đó, trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quy trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay, thông qua việc làm đó ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những điều khoản như đã thoả thuận trong hợp đồng, sử dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất. Một yếu tố khác là do quyền lợi của ngân hàng luôn gắn chặt với quyền lợi của khách hàng, nên ngân hàng sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo gỡ những khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn đề có liên quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    Tín dụng ngắn hạn tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện, không những thoả mãn về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Hoạt động của các nhà doanh nghiệp phải đạt hiệu

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    quả kinh tế nhất định theo qui định chung của thị trường thì mới đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu mới, mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối doanh nghiệp với thị trường, nguồn vốn tín dụng ngắn hạn cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, theo kịp với nhịp độ phát triển chung, từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.

    1.4. Chất lượng tín dụng ngắn hạn

    1.4.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn

    Trong hoạt động ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả năng xảy ra với tỷ lệ cao. Trên thực tế nhiều nhân viên ngân hàng quan niệm cho vay có tài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định là an toàn nhất. Thực ra quan niệm này hết sức sai lầm, bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng là vấn đề quan trọng nhất để đảm bảo khả năng trả nợ của khách và khả năng thu hồi vốn gốc và lãi của ngân hàng. Tính đến tháng 12/1998, con số nợ quá hạn của toàn ngành ngân hàng lên tới trên 10% tổng dư nợ. Tình trạng nợ quá hạn cao cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng không thu được khoản vay và lãi, do đó kinh doanh không có lợi nhuận, thậm chí là mất vốn. Điều này khiến nhiều ngân hàng có phản ứng co cụm, không cho vay nữa, dẫn đến

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nền kinh tế trì trệ suy thoái. Đảm bảo chất lượng tín dụng đem lại lợi ích cho các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp của ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    Chất lượng tín dụng: Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay chất lượng tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân

    Chất lượng tín dụng có thể được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế khác nhau, từ phía ngân hàng, từ phía doanh nghiệp, từ phía nền kinh tế.

    • Từ phía doanh nghiệp : Do nhu cầu vốn vay được đáp ứng để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bù đắp được chi phí sản xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứng trên giác độ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thỏa mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả.
    • Từ phía ngân hàng : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi .
    • Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội : Tín dụng ngân hàng phản ánh sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.

    Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thống. Nâng cao chất lượng tín dụng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lí kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

    Tóm lại, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín của ngân hàng. Hiểu đúng bản chất và phân tích, đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác các nguyên nhân tồn tại của chất lượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng tìm được giải pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.

    1.4.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hoạt động tín dụng ngắn hạn

    Để xem xét hiệu quả hoạt động của một Ngân hàng, ta sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau nhưng có thể sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau:

    Chỉ tiêu nợ quá hạn

    Nợ quá hạn là những khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian đã được gia hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu. Nợ quá hạn có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía doanh nghiệp, hay do khách quan… Các ngân hàng luôn mong muốn giảm thấp tỉ lệ nợ quá hạn bởi nó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

    Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn

    Tỉ lệ nợ quá hạn =

    Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

    Tổng dư nợ các món vay có phát sinh nợ quá hạn

    Tỉ lệ đầu tư rủi ro =

    Tổng dư nợ cho vay

    Đây là hai chỉ tiêu chủ yếu đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn phản ánh chất lượng của khoản vay ngắn hạn, còn chỉ tiêu tỉ lệ đầu tư rủi ro thì phản ánh chất lượng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    của tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng. Các tỉ lệ này càng nhỏ thì phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng đó là hiệu quả, không có rủi ro mất vốn. Còn nếu các tỉ lệ này càng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, có thể từ việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn nữa là phá sản.

    Hai chỉ tiêu trên đều chịu ảnh hưởng của chính sách xóa nợ của ngân hàng, một ngân hàng có chính sách tốt là phải thiết lập được quĩ dự phòng rủi ro đủ mạnh và thông báo định kì về các món vay không có khả năng thu hồi, để tránh tình trạng trong một lúc phải thông báo con số nợ không có khả năng thu hồi là quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng. Thông thường khi lập bảng theo dõi nợ quá hạn ngân hàng thường phải phân nợ quá hạn theo thời gian 30, 60, 90,120 ngày. Sự phân loại này có ý nghĩa đối với việc quản lí chất lượng tín dụng và đánh giá thiết lập dự phòng mất vốn.

    Ngoài ra người ta còn xem xét các chỉ tiêu sau Nợ khó đòi quá hạn/ Tổng dư nợ ngắn hạn

    Khi nợ quá hạn tồn tại đến một thời điểm nào đó và có khả năng không thu hồi được thì khoản nợ này được coi là nợ khó đòi. Khi một khoản nợ được coi là khó đòi thì đồng nghĩa với nó là ngân hàng khó có thể thu hồi được vốn. Tỉ lệ nợ khó đòi cao chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng kém hiệu quả và chất lượng của khoản vay là thấp.

    Chỉ tiêu quản lí vốn

    Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá việc quản lí vốn của mỗi ngân hàng.

    Tổng số tiền cho vay đã được xóa nợ

    Tỉ lệ mất vốn =

    Dư nợ bình quân

    Tỉ lệ này càng nhỏ bàng tốt.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Các ngân hàng thường có những khoản vay không có khả năng thu hồi nhưng một ngân hàng quản lí tốt là tỉ lệ này ở mức thấp. Một món nợ khi đã được xóa thì vẫn phải có nỗ lực trong việc thu hồi nợ. Cho nên xóa nợ cũng chỉ là một phương thức quản lí tài chính của ngân hàng, không hề thừa nhận về mặt pháp lí rằng người vay không còn nợ ngân hàng nữa.

    Dự phòng mất vốn

    Tỉ lệ dự phòng =

    Tổng dư nợ

    Tỉ lệ này càng nhỏ càng tốt.

    Chỉ tiêu tỉ lệ lợi nhuận tín dụng ngắn hạn

    Chất lượng tín dụng ngắn hạn được đánh giá thông qua phần lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng ngắn hạn.

    Lợi nhuận tín dụng ngắn hạn

    Tỉ lệ lợi nhuận tín dụng ngắn hạn =

    Tổng lợi nhuận của ngân hàng

    Trong kinh doanh tín dụng phải thực hiện lãi suất dương, có nghĩa là lãi suất đầu ra phải cao hơn lãi suất đầu vào cộng với chi phí nghiệp vụ ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động kinh doanh là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng có thể tùy từng thời gian, điều kiện kinh doanh cụ thể để có chính sách khách hàng hợp lí, mở rộng đầu tư tín dụng, thu hút khách hàng nhưng vẫn đảm bảo cho hoạt động tín dụng có hiệu quả cao nhất. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay không thu hồi được gốc mà còn thu hồi được lãi, đảm bảo độ an toàn của đồng vốn cho vay.

    Hiện nay ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp tình thế để đảm bảo chất lượng tín dụng, thể hiện qua nhóm chỉ tiêu định tính và định lượng. Nhóm chỉ tiêu định tính thể hiện cho vay đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng. Nhóm chỉ tiêu định lượng nhằm phân tán rủi ro, đảm bảo các thông số tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tín dụng như dư nợ của 10 khách hàng nhỏ

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    hơn hoặc bằng 30% tổng dư nợ, dư nợ của một khách hàng nhỏ hơn hoặc bằng 10%vốn điều lệ và cấc quĩ, tỉ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn hoặc bằng 5% tổng dư nợ…

    Các nhóm chỉ tiêu trên có được thực hiện hay không là tùy thuộc vào ý thức chấp hành thể lệ tín dụng, qui trình kĩ thuật cho vay.

    1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.

    1.4.3.1. Những nhân tố khách quan

    Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh tế – xã hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh của mình nhưng nếu môi trường kinh tế – xã hội không ổn định thì cũng khó mà thành công. Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế – xã hội đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM từ các yếu tố sau:

    Môi trường kinh tế

    Môi trường kinh tế phát triển có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên. Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ. Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực tế sẽ giảm xuống và nếu như ngân hàng không cân đối giữa các khoản mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín dụng đó có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi. Cũng có thể có những biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến tình trạng dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng. Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    mà nó hoạt động, vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng.

    Môi trường pháp lý

    Một ngân hàng thương mại khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy định về luật pháp của Nhà nước, cũng như của ngân hàng Nhà nước như vậy môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp các ngân hàng dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình, góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.

    Môi trường chính trị –xã hội

    Môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư và mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng. Điều này giúp cho ngân hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Tác động của môi trường chính trị – xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng là không thường xuyên, nhưng khi có những biến động về chính trị, tác động của nó tới các ngân hàng là vô cùng lớn. Một sự thay đổi hệ thống chính trị bạo động có thể làm cho các ngân hàng mất toàn bộ các khoản tín dụng của mình, điều này sẽ đẩy nó đến bờ vực phá sản.

    1.4.3.2. Những nhân tố chủ quan.

    Chính sách tín dụng.

    Chính sách tín dụng là định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Thông thường chính sách tín dụng có các khoản mục sau: các loại cho vay được thực hiện, giới hạn tín dụng, kỳ hạn cho vay, hướng giải quyết tín dụng vượt giới hạn, thanh toán nợ…vì thế nó có quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư thu hút được nhiều

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời tuân thủ theo pháp luật và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Bất cứ một ngân hàng nào muốn có tín dụng tốt đều phải có một chính sách tín dụng rõ ràng phù hợp với ngân hàng của mình.

    Chất lượng của công tác thẩm định dự án.

    Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện. Thẩm định dự án giúp ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự án trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng hay không. Cũng thông qua công tác thẩm định, ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi hơn tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.

    Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng. Nếu chất lượng của công tác thẩm định không cao tức là nhân viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay không thì những khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc thu hồi các món nợ của mình. Chính vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi các nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng

    Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô của ngân hàng, chính sách tín dụng của ngân hàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó. Trong quy trình hoạt động tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ tiếp xúc trực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu nhập thông tin về khách hàng và dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn. Những thông tin về khách hàng và dự án sau khi được

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    các phòng ban chức năng của ngân hàng xem xét nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể giải ngân và thu nợ sau này. Trong quá trình này nếu các khâu được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các dự án tốt để cấp tín dụng, cũng như tạo uy tín trong lòng khách hàng.

    Như vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng thực hiện công việc của mình và nó có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.

    Chất lượng của đội ngũ nhân sự.

    Yếu tố mang tính quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chất lượng tín dụng lại chính là nguồn nhân lực của ngân hàng vì suy cho cùng quyết định cung cấp tín dụng của ngân hàng là những quyết định mang tính chất chủ quan. Một ngân hàng với một đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa ra được những chính sách hợp lý và phương thức phát triển phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế. Một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi sẽ giúp ngân hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất. Các cán bộ của các phòng ban, các bộ phận chức năng khác sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, tạo dấu ấn trong lòng thị trường.

    Ngoài ra, chất lượng nguồn thông tin khách hàng, thông tin thương mại khác cũng góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Điểm yếu của ngân hàng thương mại nước ta là thiếu hệ thống thông tin khách hàng một cách đầy đủ, kịp thời. Điều này đã phần nào giảm hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.

    1.4.3.3. Các yếu tố từ khách hàng.

    Do khách hàng kinh doanh thua lỗ.

    Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ quá hạn của ngân hàng. Đối với những khoản vay phục vụ mục đích kinh doanh thì nguồn vốn vay được

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    sử dụng có hiệu quả không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn là tiền đề cho sự hoàn trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi. Ngược lại, thua lỗ trong kinh doanh của doanh nghiệp xảy ra khi việc tính toán triển khai dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, không được thực hiện kỹ càng, xác thực, các rủi ro bất khả kháng của các định hướng sản xuất kinh doanh gây tác động xấu và sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ với các mức độ khác nhau.

    Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn sai mục đích.

    Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng không đúng phương án, mục đích xin vay vốn. Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ công nhân viên chức, nợ người bán hàng, nợ ngân hàng, nợ các đối tượng khác…). Cơ cấu về vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý, dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn.

    Tất cả những nguyên nhân trên gây nên khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn của khách hàng đối với ngân hàng, tạo ra các khoản nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng.

    Do chủ ý lừa đảo của người đi vay.

    Việc không trả nợ đúng hạn có thể xuất phát từ khả năng chi trả yếu kém của khách hàng, cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của người đi vay không muốn trả nợ (mặc dù có khả năng nhưng không muốn thực hiện). Năm 1997 đã xuất hiện hiện tượng một số công ty trách nhiệm hữu hạn và tư nhân dùng hồ sơ thế chấp nhà giả hoặc hồ sơ thế chấp nhiều ngân hàng để vay tiền rồi bỏ trốn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG LIÊN DOANH CHOHUNG VINA

    2.1. Tổng quan về ngân hàng liên doanh Hàn Quốc Chohung Vina

    Nước ta đang trên đà phát triển đổi mới. Nền kinh tế chuyển theo hướng mở, thông thương, mua bán với các nước trên thế giới. Sự ra đời của các ngân hàng liên doanh là những điều kiện nhằm hỗ trợ cho các hoạt động ngoại thương. Ngân hàng Chohung Vina là một ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Ngân hàng này được đổi tên từ ngân hàng liên doanh First Vina theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước vào ngày 2/1/2001.

    Ngân hàng First Vina được thành lập và cấp giấy phép hoạt động từ ngày 3/2/1993 theo giấy phép số 10/ NH-GP của Thống đốc ngân hàng Nhà nước cấp ngày 4/1/1993. Ngân hàng First Vina là ngân hàng liên doanh giữa các bên như sau:

    * Bên Việt Nam:

    Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

    Địa chỉ trụ sở: 47 – 49 Lý Thái Tổ, quận Hoàn kiếm, Hà Nội.

    • Bên nước ngoài: (gồm 2 cổ đông).

     

    1. Korea First Bank

    Địa chỉ trụ sở: 100 Kyngpyung-dong, Chong no-gu, Seoul 110-160 Hàn Quốc.

    1. Daewoo Securities co, LTD.

    Địa chỉ trụ sở: 34-3 Yongdungo Seoul Hàn Quốc.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Trụ sở chính của ngân hàng liên doanh First Vina tại thành phố Hồ Chí Minh, và có một chi nhánh ở Hà nội.

    Vốn điều lệ của ngân hàng là 10.000.000 USD (mười triệu đôla Mĩ), trong đó bên Việt Nam góp là 5.000.000 USD (năm triệu đôla Mĩ) bằng 50% vốn điều lệ. Bên nước ngoài là Korea First bank góp 4.000.000 USD (bốn triệu đôla Mĩ) bằng 40% vốn điều lệ, bên Công ty Daewoo securities góp 1.000.000 (một triệu đôla Mĩ) bằng 10% vốn điều lệ. Đến ngày 8-8-1995 căn cứ theo Quyết định số 217/QĐ-NH5 ngân hàng liên doanh được phép tăng vốn điều lệ từ 10 triệu lên 20 triệu USD.

    Chi nhánh ngân hàng liên doanh First Vina ở Hà Nội hoạt động từ năm 1993 đến năm 2001, sau đó đổi tên thành ngân hàng liên doanh Chohung Vina, do thay đổi bên đối tác nước ngoài góp vốn. Hiện tại bên đối tác nước ngoài góp vốn là Chohung Korea Bank cũng góp với số vốn là tám triệu USD, và đối tác thứ hai không thay đổi là Công ty Daewoo Securities và bên Việt Nam là ngân hàng ngoại thương với tổng số vốn góp là mười triệu USD.

    Nói chung, ngân hàng Chohung Korea và ngân hàng Korea First đều là ngân hàng lớn ở Hàn Quốc. Đặc biệt, ngân hàng Korea First là một ngân hàng hàng đầu ở Hàn Quốc có bề dày hoạt động, tích lũy nhiều kinh nghiệm là điều kiện để chúng ta học hỏi. Ngân hàng Korea First có 6 văn phòng đại diện, 12 chi nhánh nước ngoài và 276 chi nhánh ở trong nước .

    Năm 1990, ngân hàng Korea First được xếp thứ 13 trong số ngân hàng có vốn lớn nhất ở Hàn Quốc, đứng thứ 200 trong tổng số ngân hàng lớn nhất thế giới. Đại lí của ngân hàng Korea First bao gồm các chi nhánh ngân hàng ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Nha Trang, Quảng Ninh, và các chi nhánh xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Công ty Daewoo Securities là công ty con của tập đoàn Daewoo. Đây là tập đoàn lớn và có mối quan hệ chặt chẽ với Việt nam. Cuối năm 1992,

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    tập đoàn Daewoo có 200 dự án đầu tư tại Việt Nam tương đương 200 triệu USD, trong đó có 5 dự án đầu tư được Uỷ Ban Nhà nước hợp tác và đầu tư cấp giấy phép hoạt động.

    Thành lập chi nhánh ngân hàng liên doanh là một trong những chiến lược phát triển của Đảng giao cho ngân hàng Ngoại thương. Là một trong bốn ngân hàng Nhà nước : Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ngân hàng Ngoại thương phụ trách về mảng hoạt động ngoại thương, xuất nhập khẩu. Đây là mảng hoạt động kinh tế mang lại nhiều khoản lợi lớn cho ngân sách, và hỗ trợ thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung Ngân hàng ngoại thương là ngân hàng duy nhất được chính phủ giao cho các hoạt động đối ngoại, cung ứng tất cả các dịch vụ hoạt động và tài trợ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động ngoại thương. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm các cơ hội mang lại lợi ích quốc gia.Và đặc biệt việc hợp tác của ngân hàng với ngân hàng nước ngoài tạo ra hướng tích cực cho sự phát triển kinh tế, mở ra nhiều cơ hội cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước, đồng thời thu hút một lượng đầu tư các doanh nghiệp Hàn Quốc. Ngân hàng liên doanh First Vina ngay từ năm 1995 đã hoạt động rất hiệu quả. Theo số liệu thực tế thu thập được của chi nhánh Ngân hàng First Vina ở Hà Nội thì tình hình kinh doanh của Ngân hàng First Vina như sau:

    Năm Lãi (USD)
       
    1995 150,261.6
       
    1996 755,356.16
       
    1997 588,194.17
       
    1998 571,775.74
       
    1999 504,042
       

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    2000                  682,127.08

    Sau khi đổi tên thành ngân hàng Chohung Vina thì con số lãi của năm 2001 là 602,862 USD, năm 2002 là 625,018 USD, mang lại một nguồn thu lớn cho ngân sách.

    2.2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức năng các phòng ban

    2.2.1. Cơ cấu tổ chức

    Người đứng đầu chi nhánh Chohung Vina tại Hà Nội là ban giám đốc gồm Giám đốc và Phó giám đốc. Chi nhánh gồm 5 phòng là phòng tín dụng, phòng kế toán, phòng thanh toán quốc tế, phòng quĩ, phòng hành chính nhân sự. Các phòng hoạt động dưới sự chỉ đạo điều hành của Ban giám đốc.

    Phòng thanh toán quốc

    tế

          Phòng kế toán  
             
    Ban      
    Giám      
    Phòng tín dụng  
    Đốc      
         
             
             
          Phòng quĩ  
           
             
             
          Phòng hành chính  
          nhân sự  
             

    Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàng Chohung vina

     

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Giám đốc của chi nhánh là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của chi nhánh. Tuy nhiên, do chi nhánh Chohung Vina là ngân hàng liên doanh cho nên đối với những vấn đề quan trọng thì cần có sự bàn bạc, đánh giá thêm của cả hai bên, và quyết định đưa ra đều phải được cả hai bên thống nhất.

    2.2.2. Nhiệm vụ, chức năng của phòng tín dụng

    Để phục vụ cho nhu cầu tín dụng của các khách hàng, chi nhánh đã qui định rất rõ ràng, cụ thể về chức năng nhiệm vụ của phòng. Bao gồm các công việc cụ thể như sau:

    • Giới thiệu và tư vấn cho khách về các hình thức vay nợ
    • Phân tích tín dụng và các hợp đồng vay nợ của khách
    • Chuẩn bị các chứng từ liên quan tới các khoản nợ được xác nhận.
    • Thông báo cho ban giám đốc của chi nhánh và trụ sở chính xin ý kiến và thừa nhận đối với các khoản cho vay.
    • Hoàn thành các hợp đồng về cầm cố, thế chấp tài sản. Các chứng từ này đều phải được công chứng và đăng ký.
    • Thực hiện và quản lí các khoản tín dụng.
    • Thực hiện các mẫu chứng từ về việc phát hành L/C bảo đảm.
    • Phát hành các bảo lãnh ngân hàng (trừ bảo lãnh vận chuyển)
    • Thực hiện các chứng từ bảo đảm cho việc phát hành thẻ tín dụng.
    • Điều chuyển vốn trong nước hàng ngày.
    • Thường xuyên kiểm tra, thu thập hông tin về tình hình kinh doanh của khách.
    • Thường xuyên báo cáo tình hình kinh doanh của khách và khả năng có thể trả nợ của khách cho ban giám đốc của chi nhánh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Thường xuyên cập nhật các thông tin về các văn bản luật, các thông tin về tình hình kinh tế, đầu tư trong nước, ngoài nước và các thông tin có liên quan tới việc kinh doanh của ngân hàng.
    • Điều chỉnh về thời hạn, điều kiện vay nợ, lãi suất vay cho khách để phù hợp với sự thay đổi của lãi suất trên thị trường
    • Lập các báo cáo về hoạt động tín dụng.

    Đến nay chi nhánh có một khối lượng lớn các khách hàng vay vốn. Tình hình trả nợ của các khách hàng rất đúng qui định, cho đến nay chưa hề có một vấn đề xảy ra về việc vi phạm của khách hàng. Điều này cũng phải kể đến sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ tín dụng chi nhánh trong việc lựa chọn các khách hàng cho vay và thường xuyên kiểm tra tình hình kinh doanh của khách hàng. Các khoản cho vay của chi nhánh Chohung Vina hầu hết là các khoản ngắn hạn và cho vay theo phương thức “credit line” hay còn gọi là “hạn mức tín dụng” chiếm 90%. Phương thức này tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

    2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn của chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung Vina

    2.3.1. Tình hình sử dụng vốn vay

    Một ngân hàng kinh doanh hiệu quả là ngân hàng biết sử dụng đầu tư đồng vốn của mình vào đúng chỗ, mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Các ngân hàng chủ yếu sử dụng đồng vốn huy động được để tiến hành cho vay hưởng chênh lệch lãi suất.

    Ngân hàng Chohung vina đã tiến hành cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với Hàn quốc, hoặc doanh nghiệp 100%vốn Hàn Quốc. Đến nay tổng số khách hàng lên tới 17 khách hàng. Dư nợ tín dụng mỗi năm đạt khoảng 10-15 triệu USD.

      Luận văn tôt nghiệp       Nguyễn Phương Nhung
      Bảng 1: Tình hình dư nợ tín dụng từ năm 2000-2002    
      Đơn vị: USD          
                 
      Năm 2000 2001   2002  
                 
      Dư nợ tín dụng 13,173,434 12,191,663   13,581,900  
      ngắn hạn    
               
      Dư nợ tín dụng 14,637,149 13,546,293   15,091,000  
                 
      Nợ quá hạn ngắn 0   0  
      hạn    
               
      Lợi nhuận tín   618,000   523,000  
      dụng ngắn hạn      
               

    Qua bảng 1 cho ta thấy cơ cấu sử dụng vốn vay của ngân hàng Chohung vina, dư nợ tín dụng năm 2000 đạt 14,637,149USD tức là vào khoảng hơn 200 tỷ VND năm 2001 đạt 13,546,293 USD và đến năm 2002 con số này là 15,091,000 USD. Tình hình dư nợ ổn định và tăng đều đáp ứng nhu cầu vốn của các khách hàng. Riêng năm 2001 dư nợ tín dụng có giảm đi do nguyên nhân từ phía ngân hàng là có sự thay đổi cổ đông góp vốn và đổi tên ngân hàng. Tính đến năm 2002 ngân hàng chưa có trường hợp nào phải nợ quá hạn, các khách hàng tham gia vay vốn hoàn trả nợ đúng hạn và đầy đủ. Điều này phản ánh phần nào hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam và cũng đồng thời phản ánh cơ chế quản lí chính sách cho vay ngắn hạn.

    Ngân hàng Chohung vina chủ yếu là cho vay ngắn hạn, tỉ lệ cho vay ngắn hạn chiếm 90% tổng số cho vay, hình thức cho vay đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp. Đây là hình thức cho vay phù hợp với tình hình hoạt động của các khách hàng Chohung vina, bởi vì các doanh nghiệp này hầu hết là các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động dưới sự bảo trợ về vốn của công ty mẹ bên nước ngoài cho nên doanh nghiệp chỉ cần vay vốn của ngân hàng để đáp ứng về nhu cầu vốn lưu động của mình.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Tỉ lệ nợ quá hạn trong ngân hàng đạt mức tối thiểu là 0%, như vậy tình hình cho vay tín dụng đối với các khách hàng của ngân hàng được tiến hành rất hiệu quả, các doanh nghiệp chấp hành tốt những qui định của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản vay.

    Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng ngắn hạn năm 2001 là 618,000 USD, năm 2002 là 523,000 USD. Phần lợi nhuận này chiếm một phần lớn trong ngân hàng, là một trong ba mguồn thu của ngân hàng gồm: nguồn thu từ tiền gửi của ngân hàng tại ngân hàng khác, hoạt động thanh toán quốc tế, và lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Lợi nhuận từ tín dụng ngắn hạn trong năm 2002 giảm so với lợi nhuận trong năm 2001 là do trong năm 2002 lãi suất cho vay ngoại tệ trên thị trường biến động giảm.

    Dựa trên cơ sở qui định của ngân hàng nhà nước về các phương thức cho vay ngân hàng sẽ tiến hành thỏa thuận với khách hàng, tư vấn về các hình thức cho vay, và quyết định với khách hàng một hình thức phù hợp nhất. Qua các hồ sơ vay vốn của khách hàng thì hình thức vay vốn chủ yếu là hình thức “credit line” hay là hạn mức tín dụng, hình thức này có một đặc điểm là rất linh động trong quá trình vay vốn của khách hàng, các doanh nghiệp có thể vay vốn được nhiều lần, tuy nhiên tổng tín dụng tất cả các lần vay đều không vượt quá hạn mức tín dụng đã đề ra trong hợp đồng vay vốn, như vậy hình thức này sẽ không như hình thức vay vốn từng lần vay và trả phải đúng thời hạn qui định theo như hợp đồng, hình thức này khách hàng trong thời hạn một năm khách hàng có thể trả vốn bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian một năm đó, và khi trả bớt đi một phần vốn đó thì khi lúc nào cần nhu cầu về vốn trong khoảng thời gian năm đó khách hàng hoàn toàn có thể xin được vay tiếp miễn là sao cho tổng giá trị các lần mượn tối đa bằng với hạn mức tín dụng. Như vậy việc vay vốn sẽ rất thuận tiện cho hoạt động của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, vốn của doanh nghiệp được chu chuyển thường xuyên, khi ngân hàng thu được tiền thì doanh nghiệp sẽ chuyển trả lại cho ngân hàng tránh để tình trạng ứ đọng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    do không hợp với qui định về thời hạn trả tiền như các hình thức vay tiền khác và từ đó tránh gây tổn thất cho doanh nghiệp.

    Ngoài ra ngân hàng còn tiến hành các dịch vụ đi kèm với hoạt động tín dụng ví dụ ngân hàng còn tiến hành thanh toán hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng, mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, thực hiện thanh toán theo hóa đơn khi có nhu cầu của khách. Để thực hiện được điều này ngân hàng phải tăng cường đầu tư trang thiết bị công nghệ cơ sở vật chất. Và theo kinh nghiệm của ngân hàng thì vấn đề này là quan trọng sẽ sức hút mạnh đối với hoạt động tín dụng.

          So sánh  
    Tài sản có Năm 2000 Năm 2001 năm 2001/2000  
             
    Tiền gửi tai các 23,586,425 29,836,812 6,250,387  
    ngân hàng khác
           
             
    Đầu tư 244,526 240,093 -4,433  
    Cơ sở và thiết 131,298 131,862 564  
    bị
           
    Tài sản có khác 567,959 352,080 -215,879  
             

    Bảng2: Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng liên doanh Chohung vina

    Đơn vị: USD

    Nhìn lại cơ cấu vốn của ngân hàng như bảng trên thì ngân hàng đầu tư vào phần cơ sở vật chất trang thiết bị khá lớn, ngân hàng trang bị đầy đủ thiết bị máy vi tính, kết nối mạng cho các phòng. Trong năm 2002 ngân hàng đã tiến hành trang bị máy rút tiền tự động ATM để đáp ứng nhu cầu của khách.Tuy nhiên ta thấy phần tiền gửi ngân hàng khác chiếm tỉ lệ thị phần rất lớn vào năm 2000 tỉ lệ tiền gửi tại các ngân hàng khác là 23,586,425 chiếm khoảng 59.53% trên tổng số tài sản có, đến năm 2001 con số này là 29,836,812 chiếm 60.74% tổng tài sản có, như vậy ngân hàng còn dư thừa một lượng tiền khá lớn chưa phát huy được hiệu quả, thực ra

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    đây cũng là một đặc điểm riêng của ngân hàng liên doanh nước ta do có những ràng buộc trong qui định về pháp luật do đó việc cho vay vốn của ngân hàng liên doanh chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp.

    2.3.2. Đánh giá về thành tựu và những tồn tại của ngân hàng liên doanh Chohung vina

    2.3.2.1.Thành tựu

    Trong quá trình hoạt động tín dụng của ngân hàng thì một điểm nổi bật là chất lượng tín dụng khá cao, nợ quá hạn là bằng không. Điều này phản ánh quá trình cho vay của ngân hàng rất hiệu quả, thực tế chứng kiến quy trình cho vay của ngân hàng rất chặt chẽ, các cán bộ tín dụng có phẩm chất tốt, có năng lực, và đã chấp hành tốt các qui định trong quá trình cho vay vốn. Ngoài ra điều này cũng phản ánh hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, chấp hành tốt các qui định của ngân hàng.

    Trong những năm vừa qua ngân hàng đã cấp vốn tín dụng cho khá nhiều dự án trong các lĩnh vực khác nhau, ví dụ như cung cấp vốn cho công ty LGCable để sản xuất cáp điện; công ty LGIST để sản xuất tủ điện; trong lĩnh vực sản xuất thép có công ty VINAPIPE, công ty VPS(Vietnam Posco steel); trong lĩnh vực dệt có công ty dệt Pangrim; công ty sản xuất mì chính Miwon; công ty Duna Furniture sản xuất đồ gỗ… đóng góp rất lớn vào GDP, mở mang kĩ thuật, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.

    Ngoài ra ngân hàng liên doanh Chohung vina tạo ra một cầu nối thu hút luồng vốn của các doanh nghiệp Hàn quốc đầu tư trong nước, bởi vì xét về phía tâm lí nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào một nước nào đó thì cần phải xét xem là nước đó có ngân hàng của rnức họ chưa? Bởi vì nếu có ngân hàng nước họ thì sẽ thuận tiện hơn về mặt ngôn ngữ giao tiếp, cách thức thói quen, hơn nữa ngân hàng họ có những công nghệ hiện đại hơn, việc thanh toán với công ty mẹ dễ dàng hơn vì ngân hàng liên doanh cũng có những đường dây bên nước của họ. Trên thực tế, ngân hàng thương mại nước ta chưa thọc sâu vào đối tượng khách hàng này đó là về mặt thanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    toán quốc tế của ngân hàng nước ta còn kém, hiện nay ngoại trừ ngân hàng ngoại thương, các ngân hàng còn lại chưa đủ uy tín để thực hiện thanh toán quốc tế cho nên đối tượng khách hàng nước ngoài ở các ngân hàng này là rất ít, chủ yếu là do ngân hàng nước ngoài đảm nhiệm.

    Năm vừa qua ngân hàng liên doanh Chohung vina chịu một sức ép cạnh tranh của ngân hàng nước ngoài rất lớn, nhất là từ khi Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập ở nước ta rất nhiều, và để thu hút thị phần các ngân hàng thi nhau cạnh tranh lãi suất rất thấp nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình và chấp nhận lỗ những năm đầu, và trong thời gian đầu không ít những khách hàng của Chohung vina đã rời bỏ ngân hàng song qua một thời gian thì họ lại quay về ngân hàng vì họ đã cân nhắc rất kĩ những lợi ích mà họ nhận được. Ngân hàng Chohung vina không phải tham gia vào cuộc cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng nước ngoài mà họ vẫn thu hút được thị phần trên thị trường bởi vì họ tạo ra những tiện ích mà ngân hàng khác không có được, do đó trong những năm qua họ vẫn trụ vững, có lãi đều trong khi nhiều ngân hàng khác rơi vào thế lao đao.

    Ngân hàng Chohung vina thực hiện nghiêm chỉnh chính sách nhà nước, trong thời gian vừa qua ngân hàng đã nộp thuế lợi tức cho ngân sách nhà nước, mức thuế lợi tức bằng 25% lợi nhuận hàng năm, và mỗi năm dành 5% lãi ròng hàng năm để trích lập quĩ dự trữ bổ sung vốn điều lệ cho đến khi bằng với vốn điều lệ của ngân hàng; dành ra 5% lãi ròng hàng năm để thành lập quĩ trợ cấp thất nghiệp.

    Hơn nữa ở chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina đã có giám đốc điều hành là người Việt Nam, thông hiểu luật pháp, chịu trách nhiệm về chi nhánh đối với các đối tác và trụ sở chính, về điểm này ngân hàng liên doanh đã khắc phục được nhược điểm trước là người đứng đầu chi nhánh là người nước ngoài. Các nhân viên hoạt động trong chi nhánh rất có

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chuyên môn, kĩ thuật, học tập được nhiều kinh nghiệm và phong cách làm việc của nước ngoài.

    2.3.3.2.Tồn tại của ngân hàng

    Hiện nay việc huy động vốn nước ngoài để đầu tư tín dụng tại Việt Nam của ngân hàng liên doanh Chohung vina còn rất hạn chế. Ngoài số vốn huy động được từ các nhà đầu tư nước ngoài, ngân hàng chưa vay mượn trực tiếp từ thị trường vốn quốc tế để cho vay lại tại Việt Nam. Điều này cũng do một phần đối tác ngân hàng nước ngoài của ngân hàng Chohung vina mới chỉ là ngân hàng có tầm cỡ quốc gia, uy tín và kinh nghiệm hoạt động quốc tế còn hạn chế, mạng lưới hoạt động quốc tế còn nhỏ hẹp.

    Hơn nữa do mức vốn thấp, trong khi ngân hàng nước ngoài cũng không phải là ngân hàng lớn, nên ngân hàng liên doanh còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng địa bàn hoạt động, ngân hàng chưa thu hút được nhiều nguồn đầu tư lớn, chưa vay được khoản vốn lớn từ quốc tế do đó ngân hàng liên doanh Chohung vina hoạt động chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn.

    Về mặt luật pháp, do việc lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đã dẫn đến việc đưa ra những qui định nhằm hạn chế phạm vi và nội dung hoạt động của các ngân hàng liên doanh. Ví dụ như qui định về vốn góp của một cổ đông nước ngoài tại ngân hàng liên doanh chỉ được phép nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Việt Nam. Do đó ngân hàng liên doanh cũng bị hạn chế trong nghiệp vụ huy động vốn, và mở rộng phạm vi cho vay đối với khách hàng.

    Số lượng khách hàng tín dụng của ngân hàng hiện nay chỉ khoảng 17 như vậy là tương đối ít do đó không phát huy được hết hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, điều này cũng do hạn chế của nhà nước muốn

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    giảm tính cạnh tranh trên thị trường cho các ngân hàng thương mại trong nước. Điều này có thể không có hiệu lực khi Việt Nam tham gia kí kết các hiệp định thương mại. Do đó ngân hàng thương mại nước ta nên sớm khắc phục những tồn tại của mình để đủ sức tự nâng cao khả năng cạnh tranh mà không cần nhờ, chờ ngân hàng nhà nước giúp cho một số lợi thế cạnh tranh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN Ở HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    (nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung Vina)

    3.1. Những ảnh hưởng của xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Qua hơn 15 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, có được sự ổn định và tốc độ phát triển khá cao. Trước xu hướng quốc tế hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta đang mở rộng hội nhập cùng khu vực và quốc tế. Nước ta tham gia kí kết các hiệp định thương mại với các nước trên thế giới, tham gia vào tổ chức ASEAN, kí hiệp định thương mại với nước Mĩ và sắp sửa tiến tới gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới(WTO). Khi tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế thì nền kinh tế thị trường mỗi nước sẽ trở thành những sân chơi chung cho các quốc gia, thị trường tài chính mở rộng phạm vi hoạt động không biên giới.

    Giờ đây hầu hết các nước đang phát triển đều coi xu hướng hội nhập là con đường phát triển, qua đó có thể học hỏi kinh nghiệm các nước tiên tiến trên thế giới về thành tựu công nghệ, đẩy nhanh tiến trình phát triển nước mình, tuy nhiên cũng vừa làm sâu sắc thêm quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế, và dẫn đến hoạt động của các tổ chức kinh tế nước ta sẽ trở nên khó khăn hơn, cho nên hơn bao giờ hết các tổ chức kinh tế phải tìm ra những giải pháp nâng cao nội lực của chính mình.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Điều này đã được nhận rõ qua đường lối chính sách của Đảng Nhà nước trong những năm vừa qua trong việc nỗ lực tìm kiếm các đường đi nhằm đẩy mạnh sức mạnh của các tổ chức kinh tế nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế.

    Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, vấn đề nâng cao sức mạnh cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại quốc doanh nước ta còn đặc biệt quan trọng hơn vì hoạt động ngân hàng là hoạt động huyết mạch của một quốc gia, quyết định vận mệnh của một quốc gia. Khi tham gia hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài là không tránh khỏi. Yêu cầu của hội nhập là phải bình đẳng giữa các thành phần kinh tế không phân biệt các quốc gia khác nhau.

    Trước tình hình đó ngân hàng thương mại Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới hoạt động của mình nâng cao sức mạnh của chính mình thì mới mong trụ vững trong nền kinh tế. Trên thực tế trong những năm vừa qua tỉ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại nước ta còn ở mức rất cao như bảng sau

    Bảng 5: Tình hình nợ quá hạn ở ngân hàng thương mại Nhà nước năm 1991-2001

    Năm 91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000 2001
    Tỉ lệ                      
    NQH 19.7 13.7 11.1 6.0 7.8 9.3 12.3 13.1 13.7 12.78 8.53
    /TSC                      

    (Theo tài liệu khoa học đào tạo ngân hàng số 2/2003)

    Với một tỉ lệ xấu cao như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới tình hình hoạt động trong ngân hàng. Ngoài hậu quả của nó là ngân hàng có thể sẽ mất vốn, mà hơn nữa nó còn làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế, ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, điều này có thể so sánh như trên thị trường chứng khoán, các công ty cổ phần có uy tín thì giá cổ phiếu của công ty đó sẽ cao hơn, công ty có khả năng huy động được nhiều vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nếu công ty nào mà bị giảm uy tín thì sẽ rất khó khăn trong hoạt động huy động vốn, hơn nữa đối tượng kinh doanh của ngân hàng đó là tiền tệ, do đó hoạt động của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào lòng tin của khách hàng. Do đó việc tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng là điều quan trọng hiện nay của ngân hàng.

    Một trong những mục tiêu của việc thành lập ngân hàng liên doanh, hay ngân hàng nước ngoài ở nước ta là để nhằm học hỏi kinh nghiệm của họ, đặc biệt là những ngân hàng nước phát triển, bởi vì những nước phát triển hoạt động ngân hàng họ có một quá trình phát triển ngân hàng rất lâu so với ngân hàng nước ta do đó họ cũng tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động của mình. Do đó việc học hỏi kinh nghiệm và áp dụng linh hoạt vào hoạt động của ngân hàng nước mình là điều rất cần thiết, và đây cũng không phải là điều mới mẻ đối với nước ta trong những năm qua.

    Ngân hàng Chohung vina là ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước Hàn Quốc, mà Hàn Quốc cũng là một nước có nền tài chính phát triển mạnh, và có những đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện địa lí, kinh tế xã hội và đã nhiều quan hệ với Việt Nam trong những năm qua.

    Qua quá trình thực tập ở ngân hàng liên doanh Chohung vina em đã rút ra một sô những kinh nghiệm trong hoạt động của ngân hàng mà qua đó ngân hàng nước ta có thể tham khảo thêm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của mình.

    3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại nước ta rút ra từ quá trình nghiên cứu

    ngân hàng Chohung vina

    3.2.1. Đối với quá trình thẩm định đối với các dự án xin vay vốn.

    Đối với một hợp đồng tín dụng, khâu thẩm định là một bước rất quan trọng. Có thể nói, thẩm định toàn diện mọi nội dung của dự án là một trong

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    những yêu cầu quan trọng nhất giúp cho việc ra quyết định đầu tư của ngân hàng được chính xác đảm bảo tính khoa học, khách quan. Để được vay vốn, khách hàng phải giải trình dự án kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình với cán bộ tín dụng. Nội dung của công tác thẩm định nhằm khẳng định 2 vấn đề:

    Một là, phương án phải thoả mãn các điều kiện, nguyên tắc cho vay theo thể lệ chế độ quy định cụ thể đối với các khoản vay đó để có thể thu hồi được nợ gốc và lãi đúng hạn.

    Hai là, hồ sơ và thủ tục vay vốn phải đầy đủ hợp pháp, hợp lệ, nếu xảy ra tranh chấp thì phải đảm bảo tính pháp lý cho ngân hàng.

    Quá trình thẩm định dự án là bước nhằm để đưa ra quyết định cho vay hay không, như vậy thì ngân hàng phải kiểm tra hai điều từ hồ sơ và thủ tục vay vốn ở doanh nghiệp ; thứ nhất là tính chính xác của thông tin cấp cho ngân hàng, bước này đòi hỏi ngân hàng phải có trình độ phân tích và quan sát, tổng hợp các số liệu và tìm hiểu kĩ càng; thứ hai là kiểm tra tính khả thi của dự án mang lại, bước này nhằm để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi hoàn thành dự án.

    Nói chung trong hai bước kể trên thì bước thứ nhất ngân hàng liên doanh Chohung vina làm khá tốt. Trước một hồ sơ xin vay ngân hàng liên doanh yêu cầu doanh nghiệp phải nói rõ mục đích mà doanh nghiệp vay mượn, và kiểm tra tính chính xác của mục đích đó. Ví dụ doanh nghiệp muốn vay để mua nguyên vật liệu thì doanh nghiệp phải trình hóa đơn mua hàng của mình ra, mua của ai, số tiền phải trả là bao nhiêu? Sau khi kiểm tra chính xác các thông tin đó ngân hàng sẽ tự chuyển đến cho tài khoản của người bán. Như vậy đương nhiên quá trình trở nên rất chặt chẽ và hiệu quả. Đây là bước rất quan trọng đối với một dự án vay vốn, vì nếu doanh nghiệp vay vốn để sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì ắt sẽ có nguồn thu về sau này và sẽ có khả năng thanh toán cho ngân hàng, còn trong trường hợp mà do ảnh hưởng của những nguyên nhân khách quan đem lại, doanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nghiệp làm ăn thua lỗ ngân hàng nên xem xét gia hạn nợ cho doanh nghiệp, để có thể giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thực hiện đúng chức năng của một ngân hàng chân chính. Ngoài ra ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định các bước như sau

    • Thẩm định về phương diện thị trường: Phân tích khả năng tiêu thụ sản phẩm, giá cả, quy cách phẩm chất, mẫu mã thị hiếu của người tiêu dùng. Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm về số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn và phương thức thanh toán.
    • Thẩm định về phương diện kỹ thuật: Phải xem quy mô dự án có phù hợp với năng lực tiêu thụ sản phẩm hay không, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, năng lực quản lý của doanh nghiệp. Phải xem xét mặt công nghệ của thiết bị để đưa ra các phương án nhằm chọn được công nghệ tối ưu nhất. Thẩm định về mặt số lượng công suất, chủng loại, danh mục của thiết bị dây chuyền sản xuất và năng lực hiện có của doanh nghiệp so với quy mô của dự án.
    • Thẩm định tính khả thi của dự án về nội dung kinh tế tài chính: Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn các dự án đầu tư. Ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu tài chính đơn giản như: lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn, điểm hoà vốn… hoặc phân tích tính khả thi của dự án bằng phương pháp giá trị hiện tại, tỷ suất hoàn vốn nội bộ để xem xét độ nhậy bén của dự án. Nguồn trả nợ sẽ là tốt nhất nếu thu được từ dự án nhưng ngân hàng cũng nên tính đến khả năng trong thời gian đầu khi dự án chưa thu đựơc lợi nhuận thì doanh nghiệp có nguồn thu nào khác bù vào không.

    Ngoài ra còn thẩm định về môi trường xã hội, phương án tổ chức thực hiện, phương diện tổ chức quản lý…

    Đây cũng là những bước rất quan trọng của dự án song nó cũng chỉ có

    • nghĩa về mặt lý thuyết, còn trên thực tế còn có rất nhiều yếu tố khách quan tác động tới hoạt động của doanh nghiệp, do đó trong quá trình cho

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vay ngân hàng thường xuyên phải xuống thực tế của doanh nghiệp kiểm tra cụ thể.

    Điều này ngân hàng liên doanh Chohung vina làm khá tốt cũng do một mặt địa bàn hoạt động của chi nhánh tương đối hẹp, chỉ xung quanh mấy tỉnh phía bắc như Hà nội, Hải phòng, Quảng ninh, Thái Nguyên và khách hàng của ngân hàng là 17 doanh nghiệp, tuy nhiên đây chỉ xét là một chi nhánh liên doanh hoạt động nên ta không thể so sánh với các ngân hàng thương mại lớn khác.

    Còn ngân hàng thương mại nước ta hiện nay thì sao, do khối lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn là khá lớn dẫn đến tình trạng quá tải của các cán bộ tín dụng dẫn đến việc thẩm định dự án cho vay sẽ bị bỏ sót. Rút kinh nghiệm từ hoạt động ngân hàng liên doanh Chohung vina, ta nên học tập cách tổ chức của họ, lấy chất lượng tín dụng làm mục tiêu hàng đầu, đồng thời mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng địa bàn thì phải có sự phân bố hợp lí chi nhánh hoạt động trên địa bàn, nhằm có thể tiện lợi cho quá trình đi thực tế kiểm tra của cán bộ tín dụng.

    Đối với việc quá tải công việc của cán bộ tín dụng như hiện nay cần phải có chính sách tuyển thêm người, đào tạo nâng cao trình độ của các cán bộ tín dụng, giảm thiểu bớt những qui trình công đoạn không hợp lí, cần phải đi sâu vào trọng tâm. Ví dụ như: trong các khách hàng vay vốn trung dài hạn của ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thống và khách hàng lâu dài từ trước đã tham gia vay vốn ngắn hạn của ngân hàng. Vì vậy giữa bộ hồ sơ vay vốn trung dài hạn với bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn có hai điểm trùng nhau đó là: Báo cáo thực trạng tài chính của doanh nghiệp, báo cáo quyết toán của doanh nghiệp kế tiếp hai năm trước. Do đó, ngân hàng có thể đơn giản hai thủ tục này khi mà doanh nghiệp chưa có đủ thì hoàn toàn có thể áp dụng dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn: vì trong nghiệp vụ vay vốn ngắn hạn, cán bộ tín dụng vẫn phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ thường dùng cho các doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, còn đối với đơn vị lần đầu thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục. Việc đơn giản hóa như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của ngân hàng trước khi điều tra cho vay.

    3.2.2.Về hình thức tín dụng của ngân hàng

    Ngân hàng nên thỏa thuận với doanh nghiệp về hình thức vay vốn. Hiện nay, theo Quyết định số 217/ 2002/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 thì tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay theo các phương thức:

    • Cho vay từng lần.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng .
    • Cho vay theo dự án đầu tư.
    • Cho vay hợp vốn.
    • Cho vay trả góp.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
    • Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng .
    • Cho vay theo hạn mức thấu chi.
    • Theo các phương thức cho vay khác mà pháp luật Việt Nam không cấm, phù hợp với qui định tại Qui chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.

    Khi tiến hành cho vay vốn ngân hàng liên doanh cùng khách hàng thỏa thuận về hình thức cho vay, ngân hàng liên doanh Chohung vina thực hiện tư vấn cho khách hàng về các hình thức vay vốn trên cơ sở đó khách hàng quyết định hình thức vay vốn của mình. Trong các phương thức cho

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vay của ngân hàng Chohung vina, thì hình thức chủ yếu mà ngân hàng cùng khách hàng thỏa thuận là hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng, hình thức này phù hợp với tín dụng ngắn hạn, tiện lợi cho khách hàng trong quá trình sử dụng vốn và thanh toán vốn cho ngân hàng. Tuy nhiên hình thức này cũng đòi hỏi ngân hàng cần phải quan sát tình hình của doanh nghiệp chặt chẽ hơn, các hoạt động của khách hàng thì ngân hàng cần phải nắm bắt, điều này cũng trở nên dễ dàng nếu như doanh nghiệp hoạt động thanh toán qua tài khoản của mình tại ngân hàng, và ngân hàng thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.

    Đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta cũng vậy ngân hàng cần phải có những hình thức tín dụng trên cơ sở thỏa thuận, có thể thiết kế các hình thức tín dụng độc đáo nhưng phải dựa trên lợi ích của doanh nghiệp, như vậy ngân hàng mới có thể thu hút được khách hàng đến với ngân hàng mình, đã qua lâu rồi thời kì ngân hàng độc quyền trong kinh doanh nên có thể áp đặt hình thức vay mượn cho doanh nghiệp mà giờ đây phải coi khách hàng mình là thượng đế, phải phục vụ khách hàng theo nhu cầu của họ mới mong giữ được khách hàng của mình trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay.

    Trên thực tế thì hình thức tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế khá đơn điệu, chủ yếu là tín dụng theo dự án đầu tư trong khi đó mỗi khách hàng có đặc điểm riêng về sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn các thời kỳ, mức độ tín nhiệm trong quan hệ tín dụng cho nên nếu ngân hàng chỉ áp dụng hình thức tín dụng cố định thì có thể gây bất tiện cho ngân hàng, cho khách hàng phải tốn công sức và chi phí hơn nữa mỗi khi cần vay vốn lại không giải quyết kịp thời với nhu cầu vốn. Do vậy, ngân hàng nên tìm ra những phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay mà vẫn đảm bảo khả năng kiểm tra giám sát việc sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong thực tế có những khách hàng sau khi được thay đổi phương thức cho vay kịp thời đã hoạt động có hiệu quả hơn, thanh toán

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    được một phần nợ cũ. Như vậy việc áp dụng các phương thức cho vay đối với nhiều phương án kinh doanh khác của một khách hàng cũng có thể coi là biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng.

    3.2.3. Đa dạng và phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng:

    Đây là một yếu tố rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng hiện nay. Theo quan điểm hiện đại thì một ngân hàng kinh doanh hiệu quả không phải thể hiện ở số lượng tín dụng mà ngân hàng đó cung cấp ra thị trường mà là ở tính đa dạng sản phẩm ngân hàng, do đó thu nhập của ngân hàng không phải chủ yếu tập trung ở hoạt động tín dụng. Điều này hoàn toàn có thực, trên thực tế một doanh nghiệp khi lựa chọn vay vốn ở đâu thì họ phải cân nhắc về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có thuận tiện hơn ngân hàng khác không, bởi vì ngoài muốn vay vốn ngân hàng doanh nghiệp còn muốn hưởng thêm các dịch vụ khác chứ không chỉ đắn đo về mức lãi suất cho vay mà ngân hàng đưa ra, trên thực tế doanh nghiệp chấp nhận một hình thức lãi suất cao hơn một chút nhưng bù lại doanh nghiệp được tiện ích hơn trong các hoạt động thanh toán sau này.

    Bởi thế cho nên, trong thời gian qua trên thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng nước ngoài mới vào Việt Nam, các ngân hàng này thi nhau hạ mức lãi suất xuống rất thấp để thu hút khách hàng về phía mình, chấp nhận chịu lỗ trong thời gian đầu, trong khi đó ngân hàng liên doanh Chohung vina vẫn không cần phải hạ mức lãi suất xuống mà khách hàng của ngân hàng không rời bỏ bởi vì họ căn cứ vào những lợi ích do ngân hàng đem lại nhiều hơn.

    Điều này cũng phản ánh một thực trạng là hiện nay tại sao các ngân hàng thương mại nước ta chưa thọc sâu vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp nước ngoài này, bởi lẽ các ngân hàng chưa chú ý tới những sản phẩm dịch vụ đi kèm khoản tín dụng. Có thể chấp nhận được không khi một ngân hàng cung cấp hàng trăm tỉ đồng vốn tín dụng ra thị trường mà không thực hiện thanh toán được L/C, việc thực hiện thanh toán

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    này cần có uy tín trên thị trường quốc tế, điều này tương đối khó khăn cho ngân hàng thương mại nước ta bởi vì hiện nay tỉ lệ nợ xấu trong ngân hàng vẫn rất cao, tỉ lệ an toàn vốn thấp so với thế giới, do đó trong vấn đề này ngành ngân hàng nước ta cần phải phối hợp với những ngân hàng lớn khác trên thế giới để nhằm có thể mở rộng nghiệp vụ thanh toán của mình.

    3.2.4. Nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng

    Yếu tố con người đóng một vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng sau này. Các cán bộ tín dụng trước hết phải có phẩm chất đạo đức tốt, luôn đặt lợi ích của tập thể ngân hàng lên trên lợi ích cá nhân, một cán bộ như thế sẽ nhìn mọi sự việc bằng con mắt trí công vô tư. Thực tế đã chứng minh không ít những vụ án đã xảy ra ở Việt Nam vừa qua xuất phát từ những cán bộ tín dụng vì lòng tham ăn hối lộ dẫn đến không xuy xét cẩn thận tiếp tay cho những kẻ xấu lừa đảo và làm thiệt hại vốn tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên đi đôi với phẩm chất đạo đức thì cán bộ tín dụng cần phải có một trình độ chuyên môn, có óc nhận xét, quan sát.

    Tất cả các yêu cầu đó đối với một cán bộ tín dụng dường như là quá nhiều, một cán bộ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có đầy đủ những yếu tố đó. Vì vậy ngân hàng cần phải kế hoạch hóa công tác đào tạo cán bộ, sớm thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng, đưa việc nâng cao trình độ trở thành mục tiêu phấn đấu và làm việc thường xuyên. Công tác đào tạo cần tập trung theo trọng điểm và đào tạo một cách toàn diện để thực sự có những cán bộ có đủ năng lực và hiểu biết phục vụ yêu cầu công tác kinh doanh, tránh đào tạo tràn lan, lãng phí.

    Ưu tiên đào tạo cán bộ chủ chốt trước, sau đó đào tạo những cán bộ kế cận, có năng lực và phẩm chất đạo đức .

    Để nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng, ngân hàng nên tổ chức những lớp tập huấn đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức nghiệp vụ trong cơ chế thị trường cho các cán bộ quá lâu trong thời kỳ bao cấp; cho các cán bộ có năng lực đi học tập ở nước ngoài; tuyển chọn những cán bộ trẻ tuổi có

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    năng lực thực sự am hiểu về kinh tế thị trường chuẩn bị cho đội ngũ kế cận. Ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận lợi về giờ giấc, học phí … để giúp cán bộ tham gia các lớp học để nâng cao trình độ. Trong công tác đào tạo này, ngân hàng nên chú trọng chất lượng hơn là số lượng. Các lớp tập huấn kiến thức chung lại ngân hàng không nên tổ chức tại hội trường lớn – nơi mà ai cũng có thể làm việc riêng của người ấy mà nên tổ chức thành các lớp nhỏ với số lượng khoảng trên dưới 10 học viên. Cán bộ sau khi được ngân hàng cử đi học cũng phải chịu trách nhiệm cụ thể tránh căn bệnh hình thức, ngân hàng bỏ tiền cho cán bộ đi học những sau khi kết thúc khóa học lại không mang lại hiệu quả trong công việc.

    3.2.5. Tăng cường hoạt động Marketing ngân hàng và áp dụng chính sách khách hàng hợp lý.

    Nhìn chung, đại đa số các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay thì việc áp dụng Marketing vào hoạt động còn rất hạn chế, chỉ tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo khuếch trương, còn các chức năng chủ lực có ý nghĩa quyết định thành công trong hoạt động kinh doanh như nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, định vị hình ảnh, nâng cao về chất lượng dịch vụ ngân hàng hầu như còn rất mờ nhạt. Do vậy, các nhà quản lý ngân hàng cần phải chuyển sang tư duy mới, lấy quan điểm Marketing làm chủ đạo, có tầm nhìn chiến lược, có khả năng phân tích. Triết lý Marketing cần phải thâm nhập vào các bộ phận ngân hàng, tất cả các nhân viên với mục tiêu phục vụ tối đa những gì khách hàng cần. Mỗi cán bộ đều phải coi mình là nhân viên. Thành lập phòng chức năng Marketing trong cơ cấu tổ chức quản trị để đề ra và định hướng hoạt động Marketing một cách bài bản, với một đội ngũ nhân viên nhạy bén, am hiểu.

    Chính sách khách hàng: các ngân hàng nên xây dựng chính sách khách hàng lâu dài, ngân hàng và khách hàng luôn gắn bó với nhau, mối quan hệ này luôn tồn tại khách quan, bổ sung và tạo điều kiện cho nhau

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    cùng phát triển. Cần thiết phải đánh giá cao khách hàng truyền thống, có uy tín và mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới.

    Khách hàng truyền thống là khách hàng gắn bó với ngân hàng cả về thời gian và nội dung hoạt động, có cả quá trình lịch sử, hiện tại và tương lai, gắn liền với ngân hàng từ những ngày đầu đến nay. Đối với khách hàng có uy tín điều dễ nhận thấy là đều thực hiện tốt việc vay mượn, trả nợ sòng phẳng, có trách nhiệm với đồng vốn, sử dụng vốn có hiệu quả và có lãi. Vì vậy với đối tượng này, ngân hàng phải hết sức quan tâm gắn hoạt động khách hàng với ngân hàng, thẩm định và đầu tư kịp thời các dự án có hiệu quả. Cần xây dựng trong lòng khách hàng này hình ảnh ngân hàng luôn gần gũi và hỗ trợ kịp thời để sản xuất nhiều sản phẩm có chất lượng cao cho xã hội. Có chính sách lãi suất hợp lý, ưu đãi đối với các doanh nghiệp có số dư tiền vay lớn và không có nợ quá hạn.

    Mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới.

    Tích cực bằng mọi biện pháp để thu hút khách hàng thuộc khu vực Nhà nước để cho vay khép kín cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với chu trình sản xuất, đồng thời thiết lập và nâng cao hiệu quả xử lý thông tin tín dụng. Ngân hàng cũng cần quan tâm đến những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bởi đây là một lực lượng khách hàng tiềm năng đang ngày càng lớn mạnh, những dự án của các doanh nghiệp này vừa có tính khả thi cao, thiết thực với đời sống lại đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Với những khách hàng mới, việc cung cấp tín dụng sẽ có phần nào khó khăn hơn, tính rủi ro cao hơn nên ngân hàng cần chú ý.

    Thông qua xây dựng chiến lược khách hàng, ngân hàng có thể tiến hành quản lý khách hàng một cách sát thực hơn, chính xác hơn. Nhờ đó có thể chủ động trực tiếp tham gia vào những dự án mới của doanh nghiệp từ đầu, không phải đợi đến lúc doanh nghiệp tự mang dự án đến xin vay đồng thời ngân hàng qua đó cũng nắm rõ dự án hơn, giúp cho hoạt động tín dụng hiệu quả hơn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Trên đây là một số giải pháp rút ra từ kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung vina.

    3.3. Một số giải pháp khác.

    3.3.1. Tăng cường hoạt động huy động vốn

    Đối với chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina thì nghiệp vụ huy động vốn bị hạn chế bởi chính sách của nhà nước nhằm hạn chế khả năng huy động của ngân hàng liên doanh do đó dẫn đến khả năng mở rộng qui mô cho vay của ngân hàng cũng bị thu hẹp lại. Tuy nhiên đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta thì cần phải tăng cường huy động vốn trên thị trường nhằm mở rộng khả năng cho vay của ngân hàng.

    Đối với ngân hàng, khách hàng là đối tượng quan trọng trong chiến lược huy động vốn, họ đến với ngân hàng để gửi tiền và mở tài khoản với nhiều mục đích khác nhau, vì vậy có thể chia thành hai loại: Khách hàng thường xuyên và khách hàng không thường xuyên. Từ đó ngân hàng có đối sách thích hợp.

    Huy động tiền gửi:

    Khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ. Đối tượng này khi mở tài khoản tiền gửi hoặc tiền vay với mục đích chính là phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi, được sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Trên thực tế, tổng số nguồn vốn của các ngân hàng thương mại nước ta thì vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có tỷ trọng còn thấp (< 25%). Do đó ngân hàng cần phải tiến hành các biện pháp để tăng lượng tiền gửi trong ngân hàng mình lên:

    • Tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để các doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi và sử dụng tiền mặt một cách linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp để chi trả phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Có chính sách ưu đãi về lãi suất (lãi suất huy động và cho vay) đối với các doanh nghiệ Vì lãi suất là công cụ tác động mạnh đến việc khách hàng quyết định đặt giao dịch với ngân hàng hay không. Ngân hàng phải dành cho doanh nghiệp những điều kiện phục vụ thuận lợi như: không thu phí chuyển tiền, phí mở séc bảo chi, phí mở L/C…. Thay vào đó ngân hàng không phải trả lãi cho loại tiền gửi để thực hiện các dịch vụ này.
    • Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi những biến động trên tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp để rút ra những quy luật vận động của đồng vốn và giúp doanh nghiệp sử dụng tốt số dư trên tài khoản tiền gửi ở ngân hàng.

    Khách hàng là các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức đoàn thể: loại khách hàng này vốn hoạt động chủ yếu là do Ngân sách Nhà nước cấp, tuy nhiên trong pháp lý được Nhà nước cho phép những khoản tiền không có nguồn gốc từ ngân sách như tiền cho thuê mặt bằng… Các khoản tiền này sẽ gửi ở Ngân hàng dưới hình thức tài khoản chuyên dùng. Mục đích của đối tượng khách hàng này là gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi. Ngân hàng nên khai thác tốt nguồn vốn này, tạo điều kiện cho các cơ quan đơn vị gửi và sử dụng tiền gửi.

    Huy động tiết kiệm

    Khách hàng thuộc tầng lớp dân cư: khi nền kinh tế tăng trưởng, các tầng lớp dân cư có nguồn thu nhập dưới hình thức tiền tệ ngày càng tăng. Loại thu nhập này được phân tán ở các hộ dân cư trong toàn xã hội. Theo đánh giá của ngân hàng Nhà nước và WB thì đây là nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi nhất, không những bằng nội tệ mà còn bằng cả ngoại tệ, để thu hút được nguồn vốn quan trọng này, ngân hàng cần có những biện pháp thích hợp

    • Đa dạng hoá các loại hình tiền gửi với nhiều kỳ hạn khác nhau mang tính linh hoạ Kèm theo những loại tiền gửi này là những hình thức khuyến khích hấp dẫn đối với khách hàng.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Ngân hàng cần có những đại lý để thu hút tiền gửi của cán bộ, công nhân viên chức ở cơ quan xí nghiệp, ở những thời điểm tập trung dân cư chưa có ngân hàng và các quỹ tiết kiệm hoạt độ
    • Ngoài ra ngân hàng có thể bố trí khoa học giờ làm việc để giao dịch với các khách hàng một cách thuận lợi hơ Trong khả năng và điều kiện cho phép có thể làm việc cả ngày và ngoài giờ vì thời gian này sẽ thu hút được khách hàng bận việc đến giao dịch với ngân hàng.

    Ngân hàng còn có thể trường chứng khoán, vay trên

    huy động vốn thông qua việc tham gia thị thị trường liên ngân hàng …

    3.3.2. Đa dạng hoá các đối tượng cho vay.

    Đa dạng hóa đối tượng cho vay là một hình thức phân chia rủi ro trên thị trường.

    Hiện nay nền kinh tế thị trường nước ta phát triển, các loại hình doanh nghiệp đa dạng về các loại hình sở hữu. Chủ trương chính sách của Chính phủ nước ta là tiến tới bình đẳng về pháp luật của tất cả mọi loại hình kinh tế, do đó số lượng doanh nghiệp nước ta được thành lập ngày càng tăng tham gia vào tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, do đó nhu cầu về vốn luôn cần được đáp ứng. Khi nền kinh tế phát triển hơn thì các doanh nghiệp sẽ hoạt động ổn định hơn, cơ chế thị trường sẽ tự chọn lọc các doanh nghiệp làm ăn chân chính và có hiệu quả, loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn yếu kém và lúc đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay ngân hàng thương mại nước ta nên mở rộng thị phần hoạt động của mình, vừa giúp tăng lợi nhuận trong ngân hàng, vừa giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực hoạt động, tăng sức cạnh tranh.

    Đối với doanh nghiệp Nhà nước

    Hiện nay đối tượng chính thức được ngân hàng cho vay vốn là các doanh nghiệp Nhà nước. Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư cho các các doanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nghiệp làm ăn có hiệu quả, quan tâm tới các doanh nghiệp truyền thống đồng thời giúp các doanh nghiệp tạm thời khó khăn có điều kiện vươn lên sản xuất kinh doanh có lãi.

    • Ngân hàng cần bám sát tình hình tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư theo đúng ngành nghề kinh doanh đã đăng ký. Nắm vững tình hình tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp, các báo cáo này phải được kiểm tra kỹ lưỡng, kể cả yêu cầu doanh nghiệp thực hiện kiểm toán theo quy đị Đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính khả quan, có hướng phát triển đúng đắn, có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh Ngân hàng cần đầu tư và có thể mở rộng quy mô đầu tư vốn.
    • Ngân hàng cần chủ động nắm vững tình hình các doanh nghiệp nằm trong kế hoạch cổ phần hoá để xác định hướng cho vay phù hợ
    • Hạn chế việc đầu tư cho các doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Đối với những doanh nghiệp tình hình tài chính không lành mạnh, sản phẩm cạnh tranh kém… có thể đình chỉ cho vay, hạ dư nợ đến mức cần thiế

    Tăng cường cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

    Đa dạng hoá các loại hình cho vay nghĩa là vốn tín dụng của ngân hàng sẽ thâm nhập vào nhiều khách hàng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, cả tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn. Việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay cũng rất quan trọng.

    Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực mới thực sự đi vào hoạt động trong 10 năm trở lại đây. Quy mô của các doanh nghiệp thuộc loại này là không lớn nhưng đây là khu vực kinh tế rất năng động và tỏ ra có tiềm năng trong những năm tới. Trong những năm qua các ngân hàng chưa thực sự quan tâm tới khu vực kinh tế này, nó thể hiện ở doanh số cho vay nhỏ bé, dư nợ < 12% trong tổng số dư nợ của ngân hàng. Các doanh nghiệp

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    này được vay vốn bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các cơ sở kinh doanh được Nhà nước công nhận. Đối với các đơn vị này, ngân hàng chủ yếu cho vay vốn ngắn hạn chưa mạnh dạn cho vay trung và dài hạn mặc dù nhu cầu về vốn trung hạn và dài hạn của họ là rất lớn. Trong những năm tới, khu vực kinh tế này được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển cả về lĩnh vực hoạt động cũng như quy mô, thêm vào đó với sự khuyến khích và tăng cường công tác cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước do đó nó sẽ trở thành thị trường cho vay đầy tiềm năng đối với các ngân hàng thương mại.

    Muốn khai thác tốt thị trường kinh doanh mới mẻ này ngân hàng phải luôn theo sát sự biến động của và nhu cầu về vốn của các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực này, tăng cường tiếp cận đối với các đơn vị đó thông qua các hình thức tiếp xúc như hội nghị khách hàng, giới thiệu các sản phẩm tín dụng của ngân hàng qua phương tiện thông tin đại chúng. Để các khoản vay đối với các doanh nghiệp này thực sự có chất lượng, ngân hàng cũng nên thay đổi một số quan điểm về việc cho vay và không nên coi tài sản bảo đảm là chỗ dựa an toàn cho số tiền vay phát ra, là một công cụ duy nhất để bảo đảm việc thu hồi nợ mà phải xác định tư cách người vay cũng như việc doanh nghiệp đó sử dụng vốn vay đó như thế nào, khả năng trả nợ đó ra sao. Bởi vì tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh chỉ là cơ sở để ngân hàng thương mại có khả năng thu hồi nợ vay khi doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ, song không phải tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nào cũng dễ bán ra một cách kịp thời. Thực chất việc thu nợ bằng tài sản bảo đảm của khách hàng chẳng phải là một giải pháp tốt mà đó chỉ là một giải pháp tình thế, bắt buộc và khả năng thu hồi các khoản nợ từ việc phát mại tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh cũng rất khó khăn, thực chất đã chứng minh rằng thu nợ bằng tài sản xiết nợ đang là gánh nặng khi xử lý nợ của các ngân hàng thương mại. Việc quan trọng nhất khi xét duyệt hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp vay vốn là các cán bộ tín dụng phải xác định được thực lực tài chính của đơn vị đi vay, xác định được hiệu quả của dự

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    án mà đơn vị đó đã thực hiện. Điều này cũng đòi hỏi các cán bộ phải quan tâm nhiều hơn đến việc thẩm định tính hiệu quả của dự án của các doanh nghiệp thuộc các đơn vị kinh tế của Nhà nước.

    3.3.3. Tích cực xử lý nợ quá hạn.

    Để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, song song với việc thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế phát sinh nợ quá hạn mới thì việc xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi đang tồn đọng là điều rất quan trọng.

    Việc đầu tiên là phải phân tích từng loại nợ quá hạn, nợ khó đòi để tìm hiểu rõ nguyên nhân phát sinh, trên cơ sở đó phân thành nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi mà phải xử lý bằng tài sản thế chấp.

    Nghị định 178/NĐ-CP về khả năng phát mại tài sản đã tạo thuận lợi, tăng tính chủ động rất lớn trong việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố cho ngân hàng, tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc phát mại tài sản thường gặp khó khăn do số tiền phát mãi nhỏ hơn vốn cần cần phải thu hồi, thời gian phát mãi dài, nhiều chi phí phát sinh, thậm chí là không phát mãi được, trong những trường hợp này, ngân hàng nên:

    • Hoặc dùng tài sản để cho thuê và trực tiếp đứng ra thu tiền.
    • Dùng tài sản đó làm vốn góp liên doanh.
    • Liên hệ với ngân hàng khác có nhiều tài sản thế chấp thuận lợi

    Nợ quá hạn là điều không ai muốn xảy ra, nhất là cán bộ tín dụng. Song nếu đã xảy ra thì ngân hàng nên có biện pháp tích cực để thu hồi nợ về, tránh rủi ro xảy ra. Thực tế trong thời gian qua công tác thu hồi nợ còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với nợ quá hạn, chủ yếu vẫn dùng các biệp pháp khoanh nợ, gia hạn nợ…Để giảm thấp nợ quá hạn trong thời gian tới, các ngân hàng nên chú trọng hơn nữa công tác này. Bên cạnh đó như đã đề cập, để hạn chế nợ quá hạn mới tiếp tục phát sinh ngân hàng cần có biện pháp thẩm định và giám sát các món vay chặt chẽ hơn, phát hiện sớm những dấu

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    hiệu chủ yếu của nợ quá hạn để có biện pháp xử lý phù hợp. Những dấu hiệu của nợ quá hạn thường là:

    • Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thu hẹp biểu hiện qua doanh số bán hàng thấp hơn doanh số cho vay, dư nợ không giảm.
    • Các khoản công nợ trong thanh toán của doanh nghiệp lớn và tồn đọng lâu dài, không giải quyết được dẫn tới đơn vị thiếu vốn hoạt động làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.
    • Tồn kho hàng hoá tương đối lớn và trong thời gian dài do không tiêu thụ được vì chất lượng kém hoặc do sự cạnh tranh giảm giá với sản phẩm cùng loại trên thị trường.
    • Tiền lãi hàng tháng doanh nghiệp không trả đều đặn như theo hợp đồng tín dụng đã kí với ngân hàng, có tình trạng nợ lãi.
    • Số dư trên tài khoản tiền gửi, thanh toán ở ngân hàng giảm sút, xuất hiện tình trạng phát hành séc quá số dư.
    • Đơn vị trì hoãn việc nộp các báo cáo tài chính.

    3.3.4. Thực hiện bảo hiểm tín dụng.

    Bảo hiểm tín dụng là việc bảo hiểm số vốn tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng vay, bảo hiểm tài sản mà người vay đem thế chấp cho ngân hàng. Có các hình thức bảo hiểm phổ biến sau:

    Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Trong trường hợp này họ đã bảo hiểm gián tiếp cho vốn ngân hàng vì họ sẽ có nguồn thu khi gặp rủi ro trong kinh doanh và có thể dùng nguồn vốn đó để thanh toán nợ ngân hàng. Phương pháp này không làm ngân hàng phát sinh thêm nghiệp vụ và chi phí mà cũng khá an toàn. Do đó ngân hàng nên khuyến khích cách này bằng việc xem xét ưu đãi cho vay đối với khách hàng có mua bảo hiểm.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng hình thành các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại do không thu hồi hết nợ quá hạn, từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà không làm xáo động tình hình tài chính. Mặc dù ngân hàng có thể lấy vốn tự có để bù đắp những thiệt hại rủi ro, nhưng vốn tự có thường là rất nhỏ và thường là cơ sở huy động vốn nên việc hình thành quỹ dự phòng luôn là cần thiết. Trong quá trình trích lập các quỹ dự phòng vấn đề cần được giải quyết thoả đáng là quỹ dự phòng sẽ trích từ nguồn nào và trích như thế nào để vừa phản ánh được đúng kết quả kinh doanh vừa nâng cao chất lượng của ngân hàng.

    Ngân hàng mua bảo hiểm của các tổ chức chuyên nghiệp đối với hoạt động đầu tư cho vay của mình. Tuy nhiên theo biện pháp này thì ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí để trả cho công ty bảo hiểm, do vậy biện pháp này chỉ nên sử dụng với những khoản đầu tư lớn, thời hạn dài và ngân hàng chuyển một phần chi phí cho khách hàng cùng san xẻ.

    3.3.5. Giải pháp về thông tin.

    Cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại, công tác thông tin trong ngân hàng ngày càng được hoàn thiện dần đáp ứng được với những đòi hỏi của nền kinh tế. Triển khai thực hiện tốt các chương trình quản lý kế toán-tín dụng MISAC, tiết kiệm điện tử SAMIT. Chuyển đổi một số chương trình sang môi trường Visual Basic, Visual Foxpro, triển khai chương trình BACKUP số liệu trên máy chủ. Nghiên cứu thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ cho hoạt động ngân hàng như từ báo chí, số liệu thống kê và những định hướng chính sách của nhà nước. Thông tin mà Ngân hàng có được thường là do thu thập thông tin trực tiếp doanh nghiệp xin vay, thu thập thông tin từ nguồn khác.

    Thu thập thông tin từ các nguồn bên ngoài rất tốn kém và mất nhiều thời gian, song do sự chính xác và tính khách quan nên nó rất có ý nghĩa. Do vậy để tiết kiệm được thời gian và tiền bạc đồng thời vẫn đảm bảo chất

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    lượng thông tin, các ngân hàng thương mại phải tự xây dựng hệ thống thông tin cho mình:

    • Thiết lập hệ thống thông tin phản hồi: Ngân hàng cần thường xuyên thu thập thông tin về những mối quan hệ kinh doanh, thị trường mà doanh nghiệp quan tâm trong một giới hạn nhất định và nhận thông tin thường xuyên từ doanh nghiệp. Tuy nhiên, những thông tin này thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác do hầu hết khách hàng không muốn công khai hoá tình hình tài chính của mình. Vì vậy, để có được thông tin chính xác từ phía khách hàng, Ngân hàng nên đảm bảo các điều kiện sau:
    • Thực sự có uy tín trong việc thu thập thông tin, thông tin phải chính xác, có tính cập nhật.
    • Đảm bảo tính bí mật của các thông tin thu thập được.
    • Giữa các phòng ban cần có thông tin đa chiều, đặc biệt giữa phòng nguồn vốn, phòng kế toán và phòng kinh doanh.
    • Thiết lập thông tin với các ngân hàng khác trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác này sẽ tránh được những khoản vay đảo nợ, rủi ro do thế chấp cùng một tài sản tại nhiều Ngân hàng.
    • Thu thập thông tin từ quan hệ khách hàng lâu dài.

    Nếu đơn vị đã có mối quan hệ thanh toán, tín dụng với ngân hàng trong một thời gian dài thì nhìn vào hoạt động quá khứ của khách hàng có thể biết được những thông tin hữu ích đối với khoản tiền sắp cho vay. Những thông tin đó cho phép đánh giá một cách nhanh chóng và tương đối chính xác về khả năng sử dụng vốn vay, thái độ của người vay. Việc này sẽ giảm được chi phí và thời gian thu thập thông tin giúp Ngân hàng xử lý vấn đề được dễ dàng hơn, từ đó các kết luận cho vay hoặc từ chối chính xác hơn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    3.4. Một số kiến nghị

    3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước

    Đối với ngân hàng liên doanh

    Đối với các qui định hạn chế hoạt động của ngân hàng liên doanh Nhà nước cần tiến hành xem xét lại. Về mặt luật pháp, do việc lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đã dẫn đến việc đưa ra những qui định nhằm hạn chế phạm

    • và nội dung hoạt động của các ngân hàng liên doanh. Ví dụ như qui định về vốn góp của một cổ đông nước ngoài tại ngân hàng liên doanh chỉ được phép nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Việt Nam. Mặc dù đây chỉ là những qui định xuất phát từ sự bảo hộ của nhà nước đối với các ngân hàng trong nướ Tuy nhiên cho đến nay các quyết định đó có thể phải hủy bỏ khi trong tương lai nền kinh tế nước ta sẽ mở cửa, hội nhập cùng các nước trên thế giới chúng ta sẽ phải tuân theo các qui định quốc tế, đối xử bình đẳng giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Do đó thay vì chúng ta hạn chế phạm vi hoạt động của ngân hàng liên doanh thì hãy tập trung quyết tâm cố gắng làm cho hệ thống ngân hàng thương mại trong nước còn yếu sớm khắc phục được những tồn tại của mình để các ngân hàng trong nước đủ sức tự nâng cao khả năng cạnh tranh mà không cần nhờ, chờ NHNN giúp cho một số lợi thế cạnh tranh.

    Việc hạn chế nội dung và phạm vi hoạt động đối với các ngân hàng liên doanh còn chưa hợp lí, nhiều khi tạo ra sự bất lợi, hạn chế về hoạt động đối với các tổ chức kinh tế Việt Nam và bên cạnh đó gây ra sự lo ngại cho phía đầu tư kinh doanh chứ không chỉ bản thân các ngân hàng liên doanh gặp khó khăn trong quá trình hoạt động.

    Trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt bằng đồng Việt Nam, chẳng hạn việc đưa ra các qui định trong giải pháp hoạt động của NHNN cấp cho các ngân hàng liên doanh như đối với việc nhận tiền gửi của các tổ chức cá

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nhân là người Việt Nam và của các pháp nhân là các tổ chức kinh tế Việt Nam không quá 10% vốn được cấp và quĩ dự trữ của ngân hàng liên doanh. Điều này đã một mặt hạn chế khả năng hoạt động của ngân hàng liên doanh, mặt khác hạn chế khả năng buôn bán xuất nhập khẩu của các tổ chức kinh tế Việt Nam qua ngân hàng liên doanh trong khi vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh chỉ có khoảng 20 triệu USD cho nên 10% chỉ có khoảng 2 triệu USD nên ngân hàng liên doanh không thể nhận được một khoản tiền kí quĩ lớn để mở thư tín dụng cho khách hàng Việt Nam trong khi các ngân hàng thương mại trong nước chưa đủ uy tín để mở L/C.

    Về hoạt động cho vay, ngân hàng liên doanh không được cho vay với tổng dư nợ vượt quá 15% vốn điều lệ và quĩ dự trữ tức là khoảng 3 triệu USD nên đã gây những khó khăn nhất định đối với khách hàng xuất khẩu của Việt Nam có quan hệ thanh toán qua ngân hàng liên doanh.

    Nhà nước cần có những biện pháp nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh ổn định cho hoạt động của các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Ban hành, hoàn thiện và đồng bộ hoá các bộ luật và văn bản luật có liên quan.

    Đối với ngân hàng thương mại Việt Nam

    Cần có các văn bản liên ngành nhằm phối hợp kết hợp chặt chẽ hoạt động của Ngân hàng với hoạt động của các bộ, ngành liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Ví dụ giữa Ngân hàng với Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài Chính, Tổng Cục thuế…

    Bộ tài chính cần tổ chức thực hiện tốt việc kiểm tra buộc các doanh nghiệp tiến hành hạch toán theo pháp lệnh kế toán thống kê và đảm bảo số liệu chính xác, trung thực và kịp thời nhằm giúp cho ngân hàng có được các thông tin tài chính làm cho việc phân tích tín dụng được kịp thời chính xác.

    Nên giao cho một cơ quan tiến hành thống kê tổng hợp các tỉ lệ tài chính của các ngành, rút ra hệ thống các tỉ lệ trung bình hàng năm để làm

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    căn cứ phân tích kinh tế, so sánh đánh giá các doanh nghiệp đang ở trong tình trạng nào tốt, trung bình hay yếu kém.

    Việc ban hành, hoàn thiện và đồng bộ hoá các bộ luật, văn bản pháp luật phải tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong tất cả các thành phần kinh tế, dần xoá bỏ những ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.

    Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần tạo ra hành lang pháp lý để các ngân hàng thương mại có quyền tự chủ đứng ra tổ chức bán tài sản, cầm cố, thế chấp để thu hồi vốn đối với các khoản nợ quá hạn, đặc biệt cần có chính sách ưu tiên đối với những khoản nợ khó thu hồi phát sinh như miễn thuế doanh thu, thuế chuyển quyền sử dụng đất…

    Nhà nước cần tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanh nhằm tăng tiềm lực tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh và sức đề kháng của hệ thống ngân hàng trước những biến động của thị trường.

    Nhà nước cần có những chính sách cho vay hợp lý đối với những doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang cổ phần hoá.

    Kiên quyết sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, chỉ để tồn tại những doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, những doanh nghiệp thực sự cần thiết cho phát triển dân sinh, tạo điều kiện cho nâng cao hiệu quả tín dụng. Trong việc nhanh chóng tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp cần tập trung vào việc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Đây là một biện pháp nhằm huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác tham gia vào phát triển kinh tế. Thực hiện cổ phần hoá sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tăng vốn tự có, trang trải nợ nần, tạo ra sức cạnh tranh mới dưới một hình thức quản lý mới. Nếu chúng ta không khẩn trương thực hiện cổ phần hoá thì các doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiếp cận với các khoản tín dụng lớn, cũng như cơ hội phát triển khi mà thị trường chứng khoán nước ta mới ra đời. Vì vậy cổ phần hoá là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết những mâu thuẫn hiện nay trong nền kinh tế, đó là các ngân hàng thương mại thì thừa

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vốn tín dụng tạm thời nhưng không cho vay được, trong khi các doanh nghiệp lại thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhưng lại bị trói buộc về cơ chế tín dụng hiện hành của các ngân hàng thương mại hiện nay.

    Thực hiện chế độ kiểm toán chặt chẽ

    Để giúp các ngân hàng xét duyệt hồ sơ xin vay vốn của các khách hàng được chính xác, báo cáo tài chính của khách hàng phải phản ánh đúng tình hình thực tế, đồng thời việc thu thập thông tin của ngân hàng cũng phải được tiến hành thuận lợi và chính xác. Muốn vậy Nhà nước nên sớm ban hành quy chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với những khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Qua đó tăng cường tính hiệu lực pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ chuẩn mực của công tác hạch toán kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ ngân hàng có những kết luận chính xác về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Việc chấn chỉnh công tác kiểm toán phải đi đôi với nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Hiện nay ở nước ta đã có hệ thống kiểm toán nhà nước, 15 công ty kiểm toán độc lập bao gồm các công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ty kiểm toán của Nhà nước và trách nhiệm hữu hạn, song hiệu quả hoạt động của các công ty này chưa cao, một phần là do quan niệm của các doanh nghiệp thường rất ngại thực hiện kiểm toán do nhiều lí do khác nhau: có thể sợ kiểm toán phát hiện ra những sai sót về kế toán hay kiểm toán sẽ phát hiện những vấn đề mà doanh nghiệp còn giấu kín. Chi phí cao cho công tác kiểm toán cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp không muốn thực hiện. Tiến tới Nhà nước cần quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, qua đó để đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thẩm định các dự án đầu tư.

    3.4.2. Đối với Ngân hàng nhà nước

    Tăng cường hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ, chức năng giám sát kiểm tra đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng nhà nước nên hình thành cơ quan phân tích đánh giá về tài chính và dự báo xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại trên cơ sở đó kịp thời điều chỉnh các quy định và biện pháp giám sát.

    Cho phép NHTM được áp dụng nhiều biện pháp thích hợp với từng loại tài sản ngoài những biện pháp thông thường hiện nay để khai thác kể cả chấp nhận việc bán thấp hơn giá trị nhận cầm cố, thế chấp, coi đó là hiện tượng kinh tế bình thường để có vốn luân chuyển.

    Trong điều kiện kinh tế hiện nay Trung tâm thông tin Ngân hàng của nước ta còn chưa kịp thời đầy đủ, đề nghị Ngân hàng Nhà nước chấn chỉnh hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng từ khâu cập nhật số liệu, cung cấp số liệu đảm bảo thông tin chính xác kịp thời.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    KẾT LUẬN

    Ngân hàng có chức năng huy động mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để cho vay nên nó là công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu, thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần hút và đẩy tiền ra lưu thông, chống lạm phát, ổn định tiền tệ giá cả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp.

    Để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp, trước hết tín dụng ngân hàng cần phải có những giải pháp thích hợp để thu hút vốn và mở rộng các hình thức cho vay. Nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, các ngân hàng cần mở rộng cho vay trung và dài hạn để các doanh nghiệp từng bước đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế.

    Trước tình trạng số dư nợ quá hạn và nợ khó đòi ở các ngân hàng đang tăng cao, các ngân hàng cần đề ra các biện pháp để nâng cao chất lượng nghiệp vụ tín dụng, đảm bảo an toàn vốn vay, hạn chế thấp nhất các rủi ro thiệt hại có thể xảy ra.

    Trong tương lai gần, ngân hàng nước ta sẽ đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, mà quy luật cạnh tranh là kẻ nào mạnh thì thắng và tiếp tục tồn tại và phát triển còn kẻ nào yếu thì sẽ bị loại bỏ. Do đó ngân hàng thương mại nước ta cần nỗ lực hơn nữa nhằm tìm ra những giải pháp cho mình.

    Trong chuyên đề này, trên cơ sở nghiêm cứu, phân tích rút ra những kinh nghiệm từ hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng liên doanh Chohung vina và có thêm một số giải pháp riêng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng, mong rằng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    cứu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) cũng ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá phát triển nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh là rất lớn, tích luỹ không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy các doanh nghiệp đã cần sử dụng vốn tín dụng thực hiện mục đích của mình. Ở nước ta hiện nay thì chủ yếu mới chỉ có hoạt động tín dụng ngân hàng là thực hiện nhiệm vụ này, và các NHTM ngày càng phát triển thực hiện tốt chức năng vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.

    Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động tín dụng trong các NHTM và vai trò to lớn của nó trong nền kinh tế thị trường nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam, em xin chọn đề tài “Hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Bài viết bao gồm những nội dung sau:

    • Chương I: Lý luận chung về NHTM và tín dụng ngân hàng.
    • Chương II: Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động tín dụng của NHTM ở Việt Nam.
    • Chương III: Thực trạng hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng.

    Em hy vọng bài viết có thể làm rõ một số lý luận về NHTM, hoạt động tín dụng ngân hàng, và thực trạng của hoạt động tín dụng trong các NHTM Việt Nam hiện nay. Bài viết chắc còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp

    • của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

    1

    CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

    I/ Ngân hàng thương mại.

    1/ Khái niệm Ngân hàng thương mại.

    Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:” Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhưng người ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như tổng tài sản có của NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Cho thấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế quốc dân.

    2/ Các nghiệp vụ của NHTM.

    Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng).

    2.1/ Nghiệp vụ nợ.

    Đây là nghiệp vụ huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng, bao gồm các nguồn vốn sau:

    2.1.1. Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ.

    • Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thành lập, nó có thể do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liên

    2

    doanh đối với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân. Mức vốn điều lệ là bao nhiêu tuỳ theo quy mô của NHTM được pháp lệnh quy định cụ thể.

    • Vốn coi như tự có: bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanh toán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả.
    • Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng được trích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủi ro, được trích theo quy định của ngân hàng trung ương.

    2.1.2/ Nguồn vốn quản lý và huy động.

    Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn vốn của ngân hàng. Đây là tài sản của các chủ sở hữu khác, ngân hàng có quyền sử dụng có thời hạn cả vốn lẫn lãi. Nó bao gồm các loại sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nó có mục đích chủ yếu là để bảo đảm an toàn tài sản và giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông.
    • Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác. Đây là khoản tiền gửi có thời gian xác định, về nguyên tắc người gửi chỉ được rút tiền khi đến hạn, nhưng thực tế ngân hàng cho phép người gửi có thể rút trước với điều kiện phải báo trước và có thể bị hưởng lãi suất thấp hơn. Mục đích của người gửi chủ yếu là lấy lãi.
    • Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có 2 hình thức: một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng và không cần báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, là tiền gửi đến kỳ mới được rút.
    • Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Trái phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới được thanh toán.

    Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là: phát hành theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn); hai là:phát hành dưới hình thức chiết khấu (người

    3

    mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo đúng mệnh giá khi đến hạn).

    2.1.3/ Vốn vay.

    Bao gồm vốn vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác và các khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước … Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.

    2.1.4/ Các nguồn vốn khác.

    Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư. Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng.

    2.2/ Nghiệp vụ có.

    Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    2.2.1/ Nghiệp vụ ngân quỹ.

    • Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.
    • Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ lệ nhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng trung ương; tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loại này được sử dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng khi khách hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán…

    2.2.2/ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư.

    • Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt động quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:

    4

    • Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định. Có 2 loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
    • Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
    • Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
    • Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
    • Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
    • Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo lãnh.
    • Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư, có 2 loại: một là, tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng. Hai là, tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của NHTM.

    – Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu

    5

    tư chứng khoán có giới hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.

    Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động.

    2.3/ Nghiệp vụ trung gian.

    • đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:

    – Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.

    – Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.

    – Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.

    – Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích… nhằm thu hút vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành.

    – Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài sản( đá quý, chứng khoán…), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân hàng thực hiện các di chúc sau khi họ qua đời.

    2.4/ Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ.

    Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tương hỗ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác động qua lại, cùng giúp cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phải

    6

    có vốn, vậy trước tiên ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ là tiền đề để phát triển nghiệp vụ có, nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được mở rộng. Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay, kinh doanh càng nhiều, càng thu được nhiều lãi thì càng bổ sung thêm cho nguồn vốn, tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được phát triển.

    Giữa nghiệp vụ nợ – có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lại lẫn nhau. Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay đối với ngân hàng, họ có quan hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và có phát triển sẽ tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trung gian cũng có tác dụng tích cực đối với nghiệp vụ nợ – có, khi thực hiện các nghiệp vụ trung gian như thu hộ, uỷ thác, thương mại … sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được những khoản tiền mà nhờ đó bổ sung cho nghiệp vụ nợ và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời vào nguồn vốn để tiến hành cho vay.

    Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng. Nếu cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những người gửi tiền ở ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốn khả năng thanh toán làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ giảm xuống. Ngược lại nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơn nhưng thu lãi ít không bổ sung phát triển được nghiệp vụ nợ.

    Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hàng là hết sức quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoa học và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả.

    II/ Hoạt động tín dụng của NHTM.

    Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy vấn đề về tín dụng rất được các ngân hàng quan tâm, trong khuôn khổ đề tài này em xin được đi sâu vào hoạt động tín dụng của NHTM.

    1/ Khái niệm tín dụng ngân hàng.

    1.1/ Định nghĩa tín dụng.

     

    7

    Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.

    Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.

    Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.

    1.2/ Tín dụng ngân hàng.

    Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế.

    Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế.

    Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu

    8

    mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi.

    1.3/ Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.

    • Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân.
    • Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
    • Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế.
    • Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình thức khác là:

    Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.

    Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.

    Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.

    2/ Phân loại tín dụng ngân hàng.

     

    9

    Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:

    • Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau:
    • Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.
    • Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
    • Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

    Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.

    • Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:
    • Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
    • Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình… Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
    • Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
    • Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
    • Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối

    10

    với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…

    Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.

    3/ Lãi suất tín dụng ngân hàng.

    3.1/ Khái niệm.

    Trước hết ta cần xem xét lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay do việc sử dụng tiền vay của người này.

    • đây người đi vay sử dụng vốn vay được để sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được tạo ra trong quá trình này tất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đáng giữa người cho vay và người đi vay tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh. Phần lợi nhuận dành cho người cho vay này được gọi là lợi tức.

    Thực chất lợi tức là giá cả của lượng hàng hoá (tức lượng tiền tệ ) cho vay. Giá cả này lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn, nhưng khác với các hàng hoá thông thường khá là giá cả của chúng phản ánh và xoay quanh giá trị của chúng, còn giá cả của vốn lại hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn, nó còn phụ thuộc vào nhu cầu và sự thoả thuận của 2 bên. Chính vì vậy, lợi tức chưa phản ánh được hiệu quả của số vốn cho vay phát ra.

    Như vậy, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay người ta đã so sánh lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng. Vì vậy ta có định nghĩa khái quát về lãi suất tín dụng như sau: Lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó là cái giá của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó.

    3.2/ Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các hình thức tín dụng mà các loại lãi suất tín dụng cũng được hình thành một cách đa dạng, đại bộ phận chúng đều do ngân hàng trung ương kiểm soát và khống chế. Các hình thức lãi suất

    11

    càng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng vì chính lãi suất là chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng, do đó cần phải phân biệt được các loại lãi suất tín dụng ngân hàng để thấy được hiệu quả của chúng trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.

    Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại lãi suất sau:

    • Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho các NHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.
    • Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong một khung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ương ấn định cho các NHTM hoặc do NHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
    • Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung ương dành cho các NHTM, trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các NHTM, để từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.
    • Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực:

    Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ, nó được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước.

    Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ, như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ. Do đó ta có công thức tính lãi suất thực như sau: Lãi suất thực= lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự đoán.

    Do vậy, lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhưng lãi suất thực thì không phải lúc nào cũng dương, khi xảy ra lạm phát mà tỷ lệ lạm phát lại lớn hơn lãi suất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ <0 điều này sẽ gây bất lợi cho người cho vay và người đi vay lại có lợi hơn. Chính lãi suất thực ảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối thu nhập giữa người cho vay và người đi vay, vì vậy ngân hàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đưa ra được chính sách lãi suất thực dương.

    4/ Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.

     

    12

    Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng có những tác động nhất định đến hoạt động kinh tế. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, nó có vai trò khá quan trọng:

    4.1/ Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá

    trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội.

    Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng cường, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tín dụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp cho việc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát triển.

    Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế.

    4.2/ Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất.

    Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất.

    Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh tranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.

    13

    4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành.

    Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.

    Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng… do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước.

    14

    CHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM VÀ BIỂU HIỆN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM.

    Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, như: Môi trường kinh doanh, môi trường pháp luật, địa bàn hoạt động… Tuy nhiên trong chương này sẽ chỉ đề cập về một số yếu tố chủ quan, bản thân ngân hàng kiểm soát được có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng trong các NHTM, và tình trạng của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam.

    I/ Quy trình tín dụng.

    Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản của ngân hàng. Nó mang lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc cho vay là một vấn đề không đơn giản, nó mang lại khá nhiều rủi ro, bất trắc, vì vậy để đảm bảo cho hoạt động này có hiệu quả tích cực thì cần phải đảm bảo thực hiện cho vay theo đúng quy trình thủ tục đã được quy định. Quy trình cho vay đối với các đối tượng khác nhau cũng khác nhau. Và ở Việt Nam có quy định cụ thể về quy trình cho vay đối với các tổ chức tín dụng như sau:

    1/ Hình thành khoản vay.

    Đối với cá nhân thì hầu hết các khoản vay được bắt đầu bằng việc khách hàng xin vay vốn, họ đến gặp nhân viên ngân hàng và ghi những thông tin cần thiết vào đơn xin vay. Trong trường hợp cho vay kinh doanh, các doanh nghiệp thì thường bắt đầu bằng việc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng và đại diện các hãng. Đây chính là cơ hội đầu tiên để cán bộ ngân hàng tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp và thuyết phục họ về một khoản vay.

    2/ Xử lý yêu cầu vay vốn.

    Sau khi nhận được một yêu cầu vay vốn thì cán bộ ngân hàng cần xử lý yêu cầu vay vốn này. Với một khách hàng cá nhân thì anh ta cần trả lời đầy đủ các câu hỏi của cán bộ tín dụng, qua đó cán bộ có thể tìm hiểu về mục đích xin vay, tính cách và điều kiện, khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách hàng qua đó có thể chấp nhận hay từ chối khoản vay.

    Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cần thiết về doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tình hình tài chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thu

    thập thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệp mà cán bộ còn phải đi xuống tận cơ sở sản xuất kinh doanh để quan sát, nghiên cứu. Ngoài ra còn phải điều tra thêm về các thông tin khác có liên quan đặc biệt là việc thực thi các quan hệ tín dụng trước đó của doanh nghiệp thông qua tiếp xúc với các chủ nợ trước đó. Xác định các thông tin doanh nghiệp đã cung cấp và khám phá các thông tin mới cần thiết về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi đã xác định rõ thì ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng vay vốn về sự hợp lý của yêu cầu vay vốn và có thể gợi ý sự sửa đổi.

    3/ Đưa ra quyết định cho vay.

    Sau khi đã tập hợp đầy đủ thông tin tài liệu thì bộ phận phân tích tín dụng sẽ tiến hành phân tích các báo cáo tài chính nhằm xác định xem dòng tiền và các tài sản dự phòng của khách có đủ hoàn trả món vay hay không, sau đó sẽ chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt có kèm theo kết quả phân tích để gửi cho người có thẩm quyền xem xét. Từ đó rút ra kết luận chính xác về điểm mạnh điểm yếu trong yêu cầu xin vay của khách hàng. Sau khi đã xem xét khoản vay, chính sách tín dụng và mục đích, mục tiêu của ngân hàng, cán bộ phải đưa ra một quyết định có nên cho vay hay không và doanh nghiệp phải được thông báo ngay lập tức. Nếu yêu cầu được chấp thuận cán bộ tín dụng phải trao cho người vay danh mục các chứng từ cần thiết để ký kết khoản vay và đưa ra ngày dự tính ký kết.

    4/ Cấu trúc khoản vay, ký kết khoản vay.

    Một khoản vay có cấu trúc hoàn hảo là khoản vay đáp ứng được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp đồng thời cũng thoả mãn các tiêu thức tín dụng của ngân hàng. Cấu trúc của khoản vay gồm các yếu tố: lãi suất; thời hạn và lịch hoàn trả; sự đảm bảo; người bảo lãnh; các hạn chế và kiểm soát. Các yếu tố này phụ thuộc vào sự đàm phán thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp xin vay.

    Sau khi đã đạt được thoả thuận vay vốn thì hai bên cần xây dựng một hợp đồng tín dụng làm sao cho phù hợp với tình hình riêng biệt cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng. Và cuối cùng là việc ký kết khoản vay. Trước khi ký kết cần phải chuẩn bị lập ra một danh mục kiểm tra toàn bộ các chứng từ tài liệu cần thiết, và ngày ký kết phải có đầy đủ 2 bên, và đảm bảo cả 2 đều phải hiểu cặn kẽ giấy tờ vay vốn. Việc ký kết khoản vay được quản lý tốt sẽ có tác

    16

    dụng rất lớn trong việc thúc đẩy mối quan hệ làm ăn tốt giữa ngân hàng và doanh nghiệp.

    5/ Kiểm soát khoản cho vay.

    Ký kết tín dụng chưa phải là đã kết thúc một quá trình cho vay mà ngân hàng còn phải tiếp tục theo dõi khoản cho vay này để đảm bảo rằng khách hàng sẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi như đã cam kết. Còn với các khoản cho vay thương mại lớn cán bộ tín dụng phải đến và kiểm tra công việc kinh doanh của khách hàng định kỳ, đồng thời phải tổ chức quá trình kiểm soát cẩn thận và nghiêm túc để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả những đặc tính quan trọng nhất đối với khoản vay như: đánh giá quá trình thanh toán, đánh giá chất lượng, tình trạng của tài sản thế chấp, đánh giá sự thay đổi trong tình hình tài chính của người vay… Tiến hành theo dõi thường xuyên hơn đối với những khoản cho vay có vấn đề.

    Kiểm soát tín dụng là rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Nó không chỉ giúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những khoản cho vay có vấn đề nhanh hơn mà còn giúp xác định được vấn đề các cán bộ tín dụng có tuân thủ đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không.

    6/ Xử lý khoản vay có vấn đề.

    Mặc dù đã có những biện pháp quản lý an toàn áp dụng trong các chương trình cho vay song việc tồn tại các khoản cho vay có vấn đề là một thực tế không thể tránh khỏi, có nghĩa là người vay đã không thực hiện thanh toán đúng kế hoạch hay giá trị tài sản thế chấp đã sụt giảm đáng kể.

    Khi cán bộ tín dụng nhận ra khoản vay có vấn đề thường thì cán bộ tín dụng cần phải liên lạc với doanh nghiệp để giám sát khoản vay. Nếu ngân hàng và doanh nghiệp muốn sửa chữa khoản vay thì phải xác định được nguyên nhân của vấn đề và tìm ra giải pháp, khi kế hoạch sửa chữa đã được thiết lập thì ngân hàng phải giám sát việc thực hiện một cách liên tục, doanh nghiệp phải báo cáo thường xuyên và cả 2 bên cùng phải quan tâm tích cực và phải thường xuyên thận trọng phân tích kết quả của chương trình sửa chữa. Và thường thì ngân hàng chỉ tiến hành thủ tục pháp lý để thu hồi khoản nợ vay sau khi đã áp dụng các biện pháp chỉnh sửa mà không có hiệu quả.

    17

    7/ Thu nợ.

    Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng thì cán bộ tín dụng phải lập ngay một kế hoạch thu nợ, sau đó thận trọng cân nhắc vạch ra các phương án khác nhau để có thể thực hiện điều đó. Thường thì ngân hàng thuyết phục khách hàng tự động bán tài sản thế chấp của mình, nếu không được thì ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi tài sản cầm cố thế chấp và bán hoặc cho thuê tài sản này. Việc ngân hàng xử lý và bán lại tài sản làm đảm bảo phải chú ý thực hiện đúng mọi điều khoản luật pháp có liên quan, vì nếu không ngân hàng sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại xảy ra đối với khách hàng.

    • Đây là một quy trình rất cụ thể, nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo sự an toàn chắc chắn trong việc cho vay. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng nó còn nhiều tồn tại như: thủ tục, giấy tờ còn rườm rà, nhất là đối với việc cho hộ nông dân vay, đó là những món vay nhỏ lẻ, địa bàn cư trú của người vay phân tán, trình độ dân trí thấp, nhu cầu vay vốn cao, vậy mà hồ sơ, quy trình thủ tục vay vốn của họ lại rất phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Hay như, việc tuân thủ theo đúng quy trình của cán bộ tín dụng hoặc sự hợp tác của khách hàng vay vốn trong việc cung cấp thông tin, giám sát… cũng là một vấn đề bức xúc, do trình độ kém hay đạo đức nghề nghiệp khiến cho cán bộ tín dụng đôi khi không thực hiện đúng quy trình, hay khách hàng không hợp tác khiến cho việc cho vay gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến rủi ro lớn. Nhất là hiện nay vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi trong các NHTM là rất lớn, một phần là do quy trình thủ tục cho vay không được đảm bảo thực hiện đúng như quy định, đồng thời biện pháp thu hồi nợ sau khi cho vay trong các ngân hàng cũng chưa được xây dựng tổ chức tốt, vì vậy hiệu quả của các khoản tín dụng là rất thấp. Tình hình đó đòi hỏi các cán bộ tín dụng khi cho vay cần đảm bảo thực hiện đầy đủ và đảm bảo các bước trong quy trình cho vay mà các ngân hàng đều đã cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn của mình.

    II/ Các phương thức tín dụng.

    Nhìn chung các phương thức cấp tín dụng của NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp. Các ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ở chỗ cung ứng một khối lượng tín dụng to lớn cho thị trường mà là ở chỗ phương

    thức cấp tín dụng như thế nào. Ở Việt Nam các phương thức cho vay còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có chứ không thật quan tâm đến cái mà khách hàng cần, do đó kém sức hấp dẫn và khó mở rộng tín dụng. Trong Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30/9/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc “Ban hành quy chế cho vay của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng” có quy định về một số phương thức cho vay của các tổ chức tín dụng. Nó quy định tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng về phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phương thức cho vay sau:

    1. Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
    2. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh.
    1. Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
    2. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
    1. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi.
    1. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.

    19

    1. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
    2. Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nước.
      • Tuy nhiên Quyết định 324 còn quy định khá chung chung, và đối với các NHTM việc áp dụng cụ thể như thế nào lại thuộc quyền hướng dẫn của mỗi ngân hàng, và tất nhiên có bao nhiêu ngân hàng sẽ có bấy nhiêu văn bản pháp lý khác nhau quy định cụ thể về các phương thức cho vay. Nhưng có những điều mà các NHTM lại không thích quy định cụ thể rõ ràng trong văn bản vì nếu thế sẽ bị mắc trong quá trình thực hiện hoặc sẽ không có chỗ “lùi” khi mà quy định của ngân hàng mình lại “chặt” hơn ngân hàng bạn do đó giảm khả năng cạnh tranh. Vì vậy qua thực tiễn hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước nên sửa đổi quy định về phương thức cho vay theo hướng cụ thể hoá để thống nhất phương thức cho vay trong các tổ chức tín dụng là một vấn đề cấp thiết, không để tình trạng tự quy định dẫn đến sự sai lệch về phương thức cho vay và quản lý vốn vay như hiện nay.

    III/ Lãi suất tín dụng.

    Như ta đã biết lãi suất chính là giá của quyền được sử dụng vốn mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó trong một thời gian nhất định. Cái giá đó sẽ quyết định việc khách hàng có vay hay không, do vậy nó ảnh hưởng đến khả năng tín dụng ngân hàng. Để sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất trong phát triển tín dụng ta cần xem xét vấn đề sau:

    1/Nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng ngân hàng.

    • 1/ Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường.

     

    – Lãi suất huy động vốn < lãi suất cho vay. Điều này là đương nhiên nó cho phép đảm bảo tính có lợi nhuận của kinh doanh ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM kinh doanh có lãi, từ đó mới có thể tồn tại và phát triển được.

    • Lãi suất tín dụng bao giờ cũng dương (lãi suất thực >0) và tối đa bằng suất lợi nhuận bình quân. Lãi suất thực phải >0 thì mới đảm bảo có lãi cho ngân hàng, và tối đa bằng suất lợi nhuận bình quân vì ngân hàng cũng là một ngành trong nền kinh tế.
    • Lãi suất phi kinh tế là lãi suất của tín dụng nặng lãi, nó rất cao so với mặt bằng lãi suất tín dụng bình thường và suất lợi nhuận bình quân, do đó khoản vốn vay này không thể sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh mà chỉ sử dụng với mục đích phi sản xuất. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của nguồn vốn cho vay, khả năng chịu đựng của người đi vay và tính chất xã hội hoá hoạt động của màng lưới ngân hàng.

    1.2/ Những nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng theo luật định.

    Trong nền kinh tế thị trường, thông thường ngân hàng trung ương ấn định thống nhất một khung lãi suất trong từng thời kỳ và các tổ chức tín dụng tự xác định lãi suất riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Ngân hàng trung ương xác định lãi suất theo nguyên tắc sau:

    • Với lãi suất huy động vốn.
    • Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn < lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.
    • Lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế < lãi suất tiền gửi của dân cư.
    • Lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân cư là cao nhất.
    • Với lãi suất cho vay.
    • Lãi suất cho vay ngắn hạn < lãi suất cho vay dài hạn.
    • Lãi suất cho vay các ngành sản xuất < lãi suất cho vay các ngành thương mại, dịch vụ.
    • Lãi suất các khoản cho vay đến hạn < lãi suất các khoản cho vay quá

    hạn.

    • Lãi suất các khoản cho vay ưu đãi theo chính sách của Chính phủ là thấp

    nhất.

    2.Phân loại lãi suất.

    Ở đây ta phân loại lãi suất dựa theo cách phân loại các hoạt động tín dụng.

    • Theo thời hạn tín dụng thì có lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

    Đây là cách phân loại lãi suất theo độ dài thời gian mà ngân hàng cho các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vay. Cơ sở của nguyên tắc này là ở

    21

    chỗ thời gian cho vay vốn càng dài thì lợi nhuận làm ra càng nhiều đồng thời tính rủi ro mất vốn càng cao do đó thời hạn càng dài thì giá của quyền sử dụng vốn càng cao. Do vậy, lãi suất cho vay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay trung hạn, lãi suất cho vay trung hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.

    Tuy nhiên trên thực tế nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Chính phủ dùng công cụ lãi suất để điều chỉnh cơ cấu sản xuất xã hội hay chống khủng hoảng khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh chẳng hạn, khi đó cần vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản, kiến thiết nền sản xuất… do đó lãi suất trung, dài hạn có khi lại thấp hơn so với ngắn hạn.

    • Xét theo tính chất của các ngành nghề sản xuất kinh doanh thì có các loại lãi suất sau: lãi suất cho vay kinh doanh, lãi suất cho vay nông nghiệp, lãi suất cho vay tiêu dùng, lãi suất cho vay bất động sản.

    Lãi suất cho vay kinh doanh là lãi suất áp dụng cho các loại hoạt động kinh doanh, về mặt lý thuyết thì lãi suất này thường là thấp nhất trong số các loại lãi suất cho vay của NHTM vì thời hạn thu hồi vốn nhanh.

    Lãi suất cho vay nông nghiệp: thường thì nó cao hơn lãi suất sản xuất kinh doanh vì nó có rủi ro khách quan lớn (do biến động của khí hậu, thời tiết, điều kiện tự nhiên, sâu bọ, bệnh tật mà con người không kiểm soát được)và quy mô sản xuất lại nhỏ hơn, và thời gian thu hồi vốn lâu hơn (do tính thời vụ trong nông nghiệp).

    Lãi suất cho vay tiêu dùng: thường cao hơn các lãi suất cho khoản vay khác vì nó có quy mô nhỏ, rủi ro nhiều và khả năng trả nợ thấp.

    Lãi suất cho vay bất động sản: lãi suất tương đối cao do bị ảnh hưởng bởi kỳ hạn vay, tỷ lệ cho vay, nhu cầu về thanh khoản và tính chất đảm bảo hay bảo hiểm bởi một cơ quan khác.

    • Ngoài ra còn các hình thức lãi suất phụ thuộc vào chính sách tín dụng của nhà nước như: lãi suất thông thường, lãi suất ưu đãi, lãi suất quá hạn, lãi suất co dãn hoặc lãi suất cứng.

    3/ Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất.

    Đối với các NHTM thì để đưa ra mức lãi suất nào cho thoả đáng với mỗi khoản vay thì cần phải xem xét các yếu tố sẽ ảnh hưởng tới lãi suất sau:

    22

    • Điều kiện thị trường tiền tệ: nếu như ngân hàng phụ thuộc và khoản vốn huy động dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi mệnh giá lớn hoặc tiền vay Chính phủ thì giá vốn huy động nó sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các điều kiện của thị trường tiền tệ, hơn nữa thị trường tiền tệ lại quyết định sức hấp dẫn của các dự án đầu tư, do đó nó ảnh hưởng đến lãi suất cho vay.
    • Rủi ro: cho vay là một hoạt động luôn mang tính rủi ro, và lãi suất sẽ thay đổi theo mức độ rủi ro. Món vay có khả năng rủi ro càng cao, thì yêu cầu lãi suất càng lớn và ngược lại.
    • Lãi suất cố định và lãi suất có thể điều chỉnh: một món vay không bị điều chỉnh lãi suất trong một thời gian càng dài thì rủi ro do những biến động trong tương lai của điều kiện thị trường tiền tệ càng lớn nên lãi suất cho vay yêu cầu càng cao. Mặc dù hệ thống lãi suất thả nổi hay có thể điều chỉnh là kém hấp dẫn theo quan điểm của một số doanh nghiệp, hay có thể tạo ra một số vấn đề về quản lý và tính toán đối với ngân hàng, nhưng chắc chắn nó thể hiện là cách tính lãi suất tốt nhất cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
    • Các chi phí hoạt động và quản lý: Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngân hàng phải bỏ ra các chi phí tiền lương, tiền thuê và các phương tiện… Do đó ngân hàng phải đạt được mức lợi tức đủ để trang trải các chi phí này và cần phải có lợi nhuận, tăng tích luỹ… vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc xác định lãi suất.
    • Thời hạn hoàn trả: do trong thời gian dài sẽ có rất nhiều biến động trong tình hình tài chính của doanh nghiệp, hay giá trị của tài sản bảo đảm sẽ giảm sút, do đó rủi ro càng lớn yêu cầu lãi suất càng cao và ngược lại, thời hạn ngắn hơn thì lãi suất sẽ thấp hơn.
    • Cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, để có thể cạnh tranh mỗi ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất hợp lý để vừa đảm bảo thu hút khách hàng vừa đảm bảo lợi nhuận tối ưu.
    • Ngoài ra còn một số nhân tố khác như: các chính sách của Nhà nước (chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất…); sự ổn định của nền kinh tế, lạm phát; tỷ suất lợi nhuận bình quân…
      • Hiện nay ở Việt Nam sau khi Nhà nước chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản từ 2/8/2000 thì các NHTM có thể chủ động linh hoạt thay đổi lãi suất cho phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể, vì vậy đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh

    23

    lãi suất làm lãi suất hạ rất thấp gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực như “phá giá” lãi suất, gây áp lực cho các ngân hàng nhỏ, đồng thời môi trường hoạt động khó khăn…Vì vậy các NHTM muốn cạnh tranh thì cũng cần phải quan tâm đến các loại hình cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất để có thể đưa ra những khung lãi suất các loại một cách đúng đắn sao cho đảm bảo được hiệu quả tín dụng, mở rộng tín dụng phải có lợi nhuận, đặc biệt quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế.

    IV/ Chính sách tín dụng.

    Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêu chuẩn do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản. Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng. Một chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của danh mục cho vay sẽ phản ánh những gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra. Nếu điều này không xảy ra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem xét lại. Thông thường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau:

    • Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụ như nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loại hình, thời gian đáo hạn, quy mô và chất lượng của các khoản cho vay).
    • Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay. Công bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ.
    • Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩm định tín dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và trong việc thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng.
    • Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng.
    • Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lại trong hồ sơ tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết…).

    24

    Những hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp cho các món vay.

    • Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định lãi suất cho vay, các khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay.
    • Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng.
    • Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoản cho vay có vấn đề…
      • Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơ quan quản lý.

    Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chính sách tín dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu mới, tạo bước đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và nguồn lực bên ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tín dụng của các ngân hàng nên tập trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả với phương châm không để các dự án đầu tư có hiệu quả bị thiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển dịch có lợi cho đầu tư và phát triển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ý thích đáng việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phần khuyến khích phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương.

    V/ Rủi ro tín dụng.

    • Việt Nam từ khi chuyển sang nền cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng phong phú và sôi động. Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xẩy ra với các ngân hàng và nhất là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là tình trạng người đi vay

    25

    không có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ và đúng hạn.

    1/ Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM.

    Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảy ra quá nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn của mình để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc “xoá sổ” những khoản thất thoát này nữa và ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền thậm chí dẫn đến phá sản.

    2/ Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.

    Rủi ro tín dụng xảy ra rất phức tạp và đa dạng, nó có thể do khách hàng mất khả năng trả nợ hay do họ cố ý chây ỳ, tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Nguyên nhân rủi ro tín dụng thì có nhiều nhưng người ta thường chia làm 2 loại nguyên nhân rủi ro xuất phát từ các hành động có thể kiểm soát và không thể kiểm soát.

    • Những nguyên nhân có thể kiểm soát:
    • Quyết định cho vay sai lầm từ ban đầu do khâu phân tích thu thập thông tin không đủ hay sai lầm, hoặc việc xây dựng ký kết hợp đồng có sự khó hiểu thiếu sót.
    • Không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo.
    • Không có khả năng theo sát kiểm soát các khoản vay.
    • Không hành động kịp thời khi phát hiện khoản nợ có vấn đề.
    • Những nguyên nhân không thể kiểm soát được:
    • Sự phá sản của các doanh nghiệp vay nợ, hay hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả do quản lý không tốt, sản phẩm công nghệ lạc hậu, thiếu vốn và khả năng cạnh tranh yếu…
    • Một số nguyên nhân bất ổn khác từ bên ngoài như khách hàng gặp rủi ro bất chợt nên chưa thể trả nợ ngay, hay tài sản cầm cố thế chấp bị mất giá trị …

    khiến ngân hàng không thể thu hồi được khoản nợ…

    26

    Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiểm soát hay không thể giúp cho ngân hàng định hướng được việc ngăn chặn rủi ro tập trung vào những rủi ro mà nguyên nhân có thể kiểm soát. Trước hết là hệ thống các thể chế tạo hành lang và môi trường hoạt động an toàn và hiệu quả của tín dụng. Sau đó là các quy định điều kiện cụ thể đối với mỗi loại vay, mỗi đối tượng vay, để xác định các điều kiện và hình thức về giá trị vật chất, giá trị uy tín làm đảm bảo vốn vay tuỳ theo năng lực tài chính, tính chất và loại hình sản xuất kinh doanh, uy tín và mức độ rủi ro của người vay. Đối với rủi ro bất khả kháng, các ngân hàng chỉ có cách chống đỡ bằng việc thành lập các dự phòng tài chính, đủ khả năng chống đỡ cho mọi rủi ro có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Khả năng dự phòng càng cao, tính chủ động chống đỡ rủi ro càng lớn.

    3/ Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.

    Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng, hiện nay các ngân hàng đã và đang thực hiện một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng sau:

    • Mở rộng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng. Việc mở rộng khối lượng tín dụng là cần thiết để mở rộng kinh doanh, song vấn đề chất lượng tín dụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất của ngân hàng. Chất lượng tín dụng chính là kết quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọn vẹn, người vay thực hiện đúng các cam kết và ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn. Vì vậy, khi phân tích mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay cần phải suy xét kỹ càng về kinh nghiệm quản lý, tiềm năng, các chính sách, khả năng sinh lời, luân chuyển vốn và giá trị thực của khách hàng. Cán bộ tín dụng phải xem xét và tự đưa ra quyết định cho rằng nên cho khách hàng vay bao nhiêu, mục đích khoản vay và thời gian thu hồi nợ.
    • Hiệu quả và chất lượng tín dụng dựa trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinh doanh của người vay vốn. Khi người vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến tình trạng thua lỗ sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm cho các khoản tín dụng không được thực hiên đúng hạn, do đó ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không là phụ thuộc chủ yếu vào việc người vay vốn sử dụng vốn có hiệu quả hay không.

    27

    • Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ người vay. Việc tìm hiểu và đánh giá người vay cần được xem xét trên nhiều mặt. Trước hết là phẩm chất đạo đức kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túc trong việc chấp hành luật lệ. Thứ hai là người vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính để sử dụng tiền vay và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết đối với khoản vay. Thứ ba là đảm bảo xây dựng được các phương án dự phòng trả nợ.
    • Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc có cho vay hay không là một quyết định mang tính độc lập, không hề chịu ảnh hưởng bởi những người có liên quan và ngân hàng phải cảm thấy thoải mái khi đưa ra quyết định cho vay. Mọi sự can thiệp bên ngoài đối với mỗi khoản cho vay đều phi kinh tế, thiếu tính nghiệp vụ ngân hàng, thường đưa đến những sai lầm và gây ra những tổn thất, do đó khi ngân hàng chịu trách nhiệm hoàn toàn về những khoản cho vay, thì ngân hàng cũng phải hoàn toàn chủ động với quyết định của các khoản vay đó.
    • Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Việc phân tán rủi ro được thực hiện thông qua phân tán dư nợ và cộng đồng tài trợ. Cụ thể là mỗi ngân hàng không nên tập trung quá nhiều vốn cho một người vay, những dự án lớn cần huy động nhiều ngân hàng tham gia tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay, hạn chế cho vay trong các lĩnh vực có tỷ lệ rủi ro cao. Nhờ đó sẽ phân tán rủi ro, tránh tập trung rủi ro lớn vào một ngân hàng, làm cho ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ ảnh hưởng đến môi trường kinh tế chung. Phân tán rủi ro là một yêu cầu và xu thế quan trọng của mỗi NHTM hiện nay.
    • Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao. Trong các điều kiện vay vốn thì điều kiện về đảm bảo tiền vay được coi là quan trọng nhất. Đảm bảo có thể bằng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh để phòng khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì có thể dùng tài sản bảo đảm trả nợ thay. Vì vậy bản thân tài sản phải có giá trị, và bản thân nó phải trở thành hàng hoá để có thể chuyển thành giá trị để trả nợ ngân hàng, đồng thời tài sản phải có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, và có thị trường tiêu thụ hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
    • Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc bảo đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng.

    28

    Theo số liệu do NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả phân tích, đánh giá của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM trên toàn quốc là 15 nghìn tỷ đồng, tương đương với 1 tỷ USD, tuy nhiên nguồn tin từ các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá có thể lên đến 2-3 tỷ USD. Như vậy rủi ro tín dụng ở Việt nam là rất lớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín dụng còn lỏng lẻo như: chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao; việc quyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc các cơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu về vốn nào đó vì quyền lợi của người vay…; hay các tài sản đảm bảo nợ vay khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì lại không thể hoán chuyển thành giá trị được, tức là không thể bán để thu hồi nợ khi các ngân hàng phát mại tài sản đó. hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng còn kém hiệu quả do nhiều lý do về trình độ, môi trường kinh doanh, pháp lý…; đồng thời môi trường kinh doanh của nước ta còn kém, doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ít hơn là các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, không có lãi thậm chí lỗ, hay do pháp luật còn nhiều kẽ hở khiến nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa đảo. Vì vậy đã xảy ra những vụ rủi ro tín dụng lớn như trong vụ án TAMEXCO, Minh Phụng – Epco… mà đó chính là một bài học đắt giá cho các NHTM Việt Nam.

    Chính vì vậy việc nhận biết và nghiên cứu kỹ các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, các loại rủi ro, cách phát hiện, xử lý rủi ro cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc nguyên tắc an toàn tín dụng là những vấn đề hết sức quan trọng đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các NHTM cần phải tăng cường các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng như hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    29

    CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÁC NHTM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

    I/ Những thuận lợi và một số thách thức trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

    1/ Một vài nét về cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay.

    Hiện nay môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầy đủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiện nay; những vướng mắc, sơ hở, chồng chéo của cơ chế cũ đã được tháo gỡ, bãi bỏ làm cho hoạt động tín dụng được thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng. Một số văn bản pháp lý quan trọng được tập trung ban hành trong thời gian qua bao gồm:

    Các văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng như: Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ “về đảm bảo tiền vay của TCTD”; Quyết định số 266/2000 của NHNN, ngày 18/8/2000 về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh; Quyết định số 283/2000 ngày 25/8/2000 Của NHNN, ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng; Thông tư số 06/2000 ngày 4/4/2000 và Thông tư số 10/2000 ngày 31/8/2000 của NHNN, hướng dẫn thực hiện bảo đảm tiền vay của TCTD…

    Về xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thì có Thông tư liên tịch số 03/2001/ TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC được ban hành ngày 23/04/2001 hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các TCTD.

    Về một số hoạt động khác của tín dụng thì có Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg được Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999 về “Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn”; NHNN ban hành Quyết định số 428/2000 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại; Ngày 29/6/1999 Chính phủ đã ra Nghị định 43/1999/NĐ-CP “về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”; Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN5 về việc phân loại tài sản Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi

    30

    ro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành ngày 8/2/1999; Quyết định số 418/2000 ngày 21/9/2000 về đối tượng cho vay bằng ngoại tệ…

    Một số văn bản chung quan trọng khác như: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội ban hành quy định về Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng của Quốc hội ban hành được chủ tịch nước công bố ngày 26/12/1997, luật này quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng…

    Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hành cho mình những văn bản cụ thể riêng để điều hành, quản lý hoạt động của mình. Ví dụ như NHNO&PTNT VN có một số văn bản sau: Quyết định số 180/QĐ/HĐQT về việc ban hành quy định cho vay đối với khách hàng và có Quy định cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định này; Hướng dẫn thẩm định, tái thẩm định các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp; Hướng dẫn nội dung thẩm định cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác…

    Với các văn bản về cơ chế, chính sách nói trên, ngoài ra còn có thêm nhiều văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan cũng được bổ sung và sửa đổi khiến cho hoạt động tín dụng đã được phát triển lành mạnh và an toàn hơn. Tạo điều kiện cho các NHTM mạnh dạn hơn trong hoạt động cho vay góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

    2/ Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    Trong những năm qua, bối cảnh kinh tế nước ta xuất hiện nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển hoạt động tín dụng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá, tiêu biểu là hoạt động xuất nhập khẩu, có nguyên nhân quan trọng từ các giải pháp tiền tệ tín dụng; đồng thời đó cũng là tiền đề cho tăng trưởng tín dụng an toàn. Đặc biệt tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, thuỷ sản, hạt điều…đây là thuận lợi cho vốn tín dụng của các NHTM đầu tư trong các khâu sản xuất như thuê mua, chế biến, xuất khẩu… Các ngành trước đây hoạt động thua lỗ, nợ đọng vốn với ngân hàng lớn như xi măng, mía đường,…thì nay giá bán đã cải thiện, tình hình khả quan hơn, tiền vốn vay và lãi

    31

    treo đã thu hồi được. Sự phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển tín dụng, mở rộng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng.

    Môi trường vĩ mô cho hoạt động tín dụng ngân hàng dần dần đi vào ổn định, rõ ràng và an toàn hơn, thể hiện các đối tượng khách hàng sau:

    • Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại. Một số doanh nghiệp được cổ phần hoá và nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được hiệu quả của mình.
    • Luật doanh nghiệp mới ban hành có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến hết tháng 11/2000 trong cả nước đã có trên 12000 doanh nghiệp với đủ các loại hình được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký trên 10000 tỷ đồng. Do đó tư cách pháp lý, số vốn tự có thực sự…

    của doanh nghiệp được khẳng định.

    • Các hộ gia đình ở nông thôn đang định hình rõ nét: hộ làm ngành nghề, hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ, hộ có trang trại, hộ nuôi trồng thuỷ sản… Ngành chức năng đã ban hành tiêu chí cụ thể xếp loại trang trại, từ đó có các quy chế cụ thể về hoạt động tín dụng thực hiện đối với họ.

    3/ Một số thách thức mới trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

    Những năm gần đây, điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là thay đổi cơ cấu thu nhập, nhất là đối với các NHTM có quy mô lớn. Nhìn chung tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng giảm xuống ở hầu hết các ngân hàng, thu từ dịch vụ và nghiệp vụ khác như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán, đầu tư vào giấy tờ có giá…tăng lên. Tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính của các NHTM. Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số thách thức đáng lưu ý sau:

    Với cơ chế điều hành lãi suất cơ bản từ đầu tháng 8/2000 của NHNN, đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động cạnh tranh về lãi suất, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng giữa các NHTM, tuy nhiên nó lại dẫn đến những khó khăn cho các NHTM cổ phần quy mô nhỏ.

    Cạnh tranh về cung cấp vốn đầu tư, trong khi tổng đầu tư xã hội sụt giảm thì đầu tư của Nhà nước lại tăng nhanh, nhưng trong tổng nguồn vốn đầu tư chỉ có khoảng 10% là vốn huy động trong nước còn lại là nguồn vốn ODA, vốn đầu tư, tài trợ nước ngoài. Sự hiện diện của các nguồn vốn ưu đãi quốc tế rõ ràng sẽ làm giảm các cơ hội cung cấp tín dụng của các NHTM.

    32

    Tuy nền kinh tế tăng trưởng khá nhưng lại xuất hiện một số khó khăn mới như các ngành trước đây có kim ngạch xuất khẩu cao như hàng dệt may, giày da… nhưng năm 2000 lại không đạt kế hoạch, diễn biến không ổn định làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các hợp đồng tín dụng. Trước đây một số lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu lớn như gạo, cà phê…thì giờ lại gặp khó khăn làm cho vốn tín dụng cho vay cũng phải giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, khoản cho vay cũ chưa thu được lại phải cho vay mới. Nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long do lũ lụt đã gây ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh làm cho số vốn phải khoanh nợ, giãn nợ lên tới gần 1000 tỷ đồng. Đồng thời thị trường cũng bị ảnh hưởng biến động, khó dự đoán, gây áp lực lên chất lượng tín dụng ngân hàng.

    Tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường rủi ro đạo đức là rất lớn, do chính cán bộ tín dụng trong việc thực hiện các thể lệ chế độ gây ra. Dư nợ tiếp tục tăng nhanh trong khi số lượng cán bộ tín dụng hầu như không tăng, điều kiện giao thông nông thôn, miền núi không được cải thiện làm tăng lên áp lực quá tải của cán bộ tín dụng.

    Đó chính là một số thuận lợi và thách thức đối với các NHTM trong hoạt động tín dụng hiện nay, họ phải biết tận dụng và phát huy những thuận lợi và dám đương đầu với những thách thức để đưa hoạt động tín dụng tăng trưởng có hiệu quả và khẳng định được vai trò của mình trong thời đại mới.

    II/ Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam.

    1/ Một số kết quả đạt được.

    -Ước tính đến hết tháng 12/2000, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng 21% so với cuối năm 1999, tăng đáng kể so với mức tăng 19,1% của năm 1999;16,4% của năm 1998. Đồng thời ước tính tỷ lệ nợ quá hạn chỉ ở mức 11,7%, giảm gần 1,28% so với 13,5% của năm 1999. Và trong 6 tháng đầu năm nay tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế khoảng 9,1% so với 31/12/2000, so với cùng kỳ tăng 24,5%. Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã ngày càng được mở rộng.

    -Từ 2/8/2000 NHNN chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, các ngân hàng chủ động linh hoạt quy định lãi suất cho vay theo quan hệ với khách hàng, lãi suất cho vay của ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuống

    ngang hàng với DNNN, lãi suất cho vay linh hoạt theo diễn biến cung cấp vốn, theo yêu cầu của thị trường và khách hàng, làm cho tín dụng được mở rộng, và đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp.

    • Hiện nay, các NHTM đã quan tâm đến việc thiết kế các loại sản phẩm tín dụng bán ra, quan tâm đến sức mua của khách hàng. Như ngân hàng Á Châu và Ngân hàng Sài Gòn thương tín là 2 ngân hàng có nhiều sản phẩm được “thiết kế” khá công phu và được khách hàng tiếp nhận như: cho vay theo dự án BOT, cho vay mua hàng trả góp, cho vay đối với CBCNVC trả dần từ lương, cho vay hộ kinh doanh ở các chợ trả lãi và góp vốn mỗi ngày, mỗi tuần. Ngoài ra còn có thẻ tín dụng thấu chi cho một số khách hàng, bên cạnh đó còn có cả dự án cho vay mua nhà trả góp với thời hạn cho vay lên đến 10 năm. Tóm lại, đã có nhiều loại cho vay cụ thể để khách hàng lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu và khả năng của họ.
    • Thực hiện theo đúng đường lối chính sách đổi mới của Đảng về nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90 là: “Đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm,

    ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản”, hệ thống ngân hàng nhất là NHNO& PTNT đã tăng cường đầu tư cho khu vực nông nghiệp nông thôn. Ước tính đến hết tháng 6/2001, dư nợ cho vay khu vực này

    đạt khoảng 48500 tỷ đồng, tăng 12,7% so với 31/12/2000, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 4,6%. Cụ thể: NHNO&PTNT cho vay 32300 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương 3000 tỷ đồng, Ngân hàng ngoại thương1900 tỷ đồng… So với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nước thì khu vực nông nghiệp và nông thôn có tốc độ tăng trưởng khá hơn.

    • Thực tế từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay, ngân hàng người nghèo (NHNg) đã thực hiện cho người nghèo vay với lãi suất ưu đãi (lãi suất

    thấp hơn nhiều so với lãi suất thị trường, chỉ bằng khoảng 60%-80% lãi suất của NHNO&PTNT cùng thời kỳ). Cụ thể, hiện nay NHNO&PTNT cho vay 1,0% thì NHNg cho vay là 0,7%. Nhờ vậy, nó đã giúp người nghèo khắc phục được những khó khăn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, khuyến khích được các hộ nghèo mạnh dạn tính toán vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Và đã đạt được một số kết quả khá khả quan, tính đến 30/9/2000 đã có hơn 5,3 triệu lượt

    34

    hộ nghèo nhận được vốn tín dụng với tổng số tiền là 8396 tỷ đồng đầu tư vào sản xuất đạt hiệu quả, và ngân hàng cũng đã thu được nợ đạt 4017 tỷ đồng.

    • Bên cạnh đó ngân hàng còn cho vay phục vụ các đối tượng chính sách và chương trình phát triển kinh tế của Chính phủ đã mang lại hiệu quả rõ rệt về mặt xã hội, thông qua các chương trình như: Cho vay khắc phục hậu quả cơn bão số 5; cho vay tôn nền và làm sàn nhà trên cọc, chương trình một triệu tấn đường, chương trình đánh bắt cá xa bờ… nhờ đó đã giúp đồng bào sông Cửu Long khắc phục hậu quả lũ lụt, hay vực dậy và phát triển đội tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ, xây dựng các vùng mía nguyên liệu…

    2/ Những vấn đề còn tồn tại.

    • Mức tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng vẫn còn chậm, mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn tốc độ tăng trưởng vốn huy động, một số nguyên nhân chính là do: nhiều công ty làm ăn thua lỗ, phá sản, hàng loạt vụ án lớn đối với doanh nghiệp vay vốn bị đưa ra xét xử khiến ngân hàng e ngại không dám mở rộng cho vay như trước. Nhiều doanh nghiệp chưa đủ điều kiện pháp lý đảm bảo an toàn cho vay, không có dự án khả thi nên khó tiếp cận với vốn ngân hàng. Ngoài ra còn một số ngành trước đây tăng trưởng khá thì nay lâm vào tình trạng khó khăn do biến động của thị trường hay rủi ro thiên tai. Vì vậy ngân hàng gặp khó khăn trong phát triển tín dụng.
    • Từ 2/8/2000 khi NHNN áp dụng điều hành theo lãi suất cơ bản, dẫn đến tình trạng cạnh tranh lãi suất. Bên cạnh một số mặt tích cực cũng đang bộc lộ một số tồn tại đáng lo ngại như: Hạ lãi suất theo kiểu “phá giá”. Theo quy định của NHNN thì lãi suất cơ bản hiện nay là 0,75%/tháng với biên độ giao động tối đa tới 0,5%/tháng. Tuy vậy đã có NHTM hạ lãi suất cho vay xuống còn 0,6%/tháng, thậm chí thấp hơn cả lãi suất cho vay người nghèo. Với lãi suất đầu vào còn cao như hiện nay rõ ràng với lãi suất đó chỉ có tác dụng lôi kéo khách

    hàng chứ không thu được lợi nhuận, và nó sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng có môi trường kém thuận lợi hơn như NHNO&PTNT. Vì cạnh tranh các ngân hàng sẽ nới lỏng các điều kiện vay vốn như quy trình thẩm định cho vay, bảo đảm tiền vay như vậy sẽ dẫn đến những rủi ro tín dụng tiềm tàng, hậu quả khó lường. Đồng thời khách hàng sẽ lợi dụng đòi hạ lãi suất, nới lỏng điều kiện vay vốn, vay của ngân hàng này với lãi suất thấp hơn để trả cho ngân hàng kia.

    35

    • Trong nền kinh tế thị trường tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên. Thể hiện ở chỗ tổng số vốn bị nợ quá hạn tăng lên, bên cạnh đó xuất hiện một loạt khoản nợ khoanh mới không thể hiện trong tỷ lệ nợ quá hạn; xuất hiện các khoản dư nợ được điều chỉnh kỳ hạn, được giãn nợ…mà cũng còn nằm ngoài tỷ lệ nợ quá hạn. Hiện nay vấn đề nợ tồn đọng, xử lý nợ xấu là vấn đề rất khó khăn và cần phải tiếp tục giải quyết. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có chiều hướng giảm nhưng giá trị tuyệt đối lại tăng lên. Tiến độ xử lý các khoản nợ có liên quan tới vụ án và việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ xấu phát sinh từ những năm trước, mặc dù đã được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, nhưng kết quả đạt được là chậm so với yêu cầu đặt ra. Cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản thế chấp liên quan đến nợ xấu hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều khách hàng cố tình gây cản trở việc phát mại tài sản, không giao nộp tài sản thế chấp cho ngân hàng, hay trốn chạy khiến cho việc xử lý, thu hồi nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
    • Mặc dù một số ngân hàng đã có quan tâm đến việc đưa ra những loại cho vay cụ thể phù hợp với yêu cầu khách hàng nhưng trên thực tế hiện nay các loại cho vay của ta còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có mà không thật quan tâm đến cái mà khách hàng cần. Trong khi ngân hàng thiết kế công phu các thể lệ huy động vốn bao nhiêu thì các sản phẩm đầu ra lại đơn điệu bấy nhiêu, có những ngân hàng mà huy động loại nào thì cho vay loại đó, ví dụ như vốn huy động 6 tháng thì cho vay 5 tháng 25 ngày. Một số NHTM thường ít áp dụng phương thức cho vay luân chuyển mà chỉ cho vay theo từng món độc lập vì thế vốn tín dụng thường không tiếp cận kịp thời với đối tượng cho vay. Như vậy, thực tế hiện nay các khách hàng hầu như ít có cơ hội lựa chọn, nhiều khách hàng cần vốn dài hạn nhưng bắt buộc phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến tình trạng lúng túng về tài chính. Đây cũng là điều bất cập mà ngay cả ngân hàng cũng lúng túng khi khách hàng đáo hạn phải dàn xếp cho khách hàng gia hạn hay đảo nợ mà đáng lẽ các ngân hàng có thể khắc phục được bằng việc đưa ra các loại cho vay phù hợp với yêu cầu của khách hàng.

    -Tuy tín dụng ngân hàng phục vụ đối tượng chính sách đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng nó vẫn còn một số tồn tại vướng mắc, nhất là khả năng thu hồi vốn rất thấp, nợ quá hạn ngày càng gia tăng. Nhiều ngân hàng chỉ thu

    36

    được một phần số lãi phát sinh, còn vốn gốc chỉ thu được một tỷ lệ không đáng kể. Thực trạng này đã không những làm suy yếu năng lực tài chính của NHTM mà nguy hại hơn, đã hình thành tư tưởng ỷ lại trong một bộ phận dân cư, cho rằng đó là nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ nên chậm hoàn trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Hậu quả là việc cho vay chính sách đã mang lại gánh nặng tài chính cho chính các ngân hàng thực thi chính sách này.

    • Ngoài ra còn một số khó khăn về cán bộ tín dụng, tình trạng quá tải của cán bộ tín dụng hiện nay là một thực tế phổ biến, gây nhiều khó khăn trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nên việc thẩm định cho vay có trường hợp không đầy đủ, đúng quy trình…

    3/ Một số giải pháp khắc phục những vấn quả của hoạt động tín dụng ngân hàng hiện

     

    đề còn tồn tại và nâng cao hiệu nay.

     

    Trên đây ta đã thấy một số mặt được và chưa được trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM, để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế nước ta hiện nay thì cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn tại theo một số giải pháp sau:

    • Để có thể mở rộng tín dụng, mỗi NHTM cần phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng, xác định rõ chiến lược phát triển, xây dựng chiến lược kinh doanh trước mắt và lâu dài.

    Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị phù hợp với chiến lược khách hàng của từng NHTM, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Tăng cường cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế, đồng thời xây dựng nhiều phương thức cho vay mới, đa dạng phù hợp với nhiều loại khách hàng. Các chi nhánh NHTM trên địa bàn cần kịp thời phát hiện, xử lý và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cụ thể trên địa bàn mình. Đồng thời các cấp lãnh đạo, quản lý cũng cần có những sửa đổi bổ sung cơ chế chính sách có liên quan một cách kịp thời và đúng đắn.

    Về mặt cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ cán bộ theo nhiều phương thức, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ… Do đặc điểm của tín dụng là cơ chế chính sách thay đổi thường xuyên, nên mỗi khi có các văn bản bổ sung sửa đổi mới cần

    được tổ chức phổ biến, đào tạo ngắn ngày cập nhật thông tin cho cán bộ nghiệp vụ.

    • Đối với vấn đề lãi suất, nhằm khắc phục những hạn chế trong cạnh tranh lãi suất cần thực hiện một số biện pháp sau: NHNN cần ban hành lãi suất sàn trong cho vay để đảm bảo thực thực thi công cụ lãi suất, đem lại môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Đẩy mạnh kích cầu qua tín dụng ngân hàng, làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nói chung; từ đó mở rộng đầu tư cho tín dụng ngân hàng, khơi thông dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế. Các NHTM cần mở rộng các hình thức cạnh tranh mang tính chủ động thông qua chất lượng và công nghệ, do đó các NHTM cần chủ động cải tiến chất lượng, quy trình tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, cải tiến chất lượng phục vụ, đồng thời phải nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng, cải tiến các vấn đề nhân sự, chi phí quản lý…giảm tối đa chi phí kinh doanh. Ngoài ra còn cần phải chú trọng đến công tác tiếp thị thường xuyên lắng nghe, thấu hiểu khách hàng. Mở rộng tín dụng đến nhiều đối tượng khách hàng, đa dạng hoá các loại hình tín dụng để tăng trưởng tín dụng cân bằng với huy động vốn… nói chung có nhiều biện pháp nhằm khắc phục hạn chế của cạnh tranh lãi suất, tuy nhiên áp dụng linh hoạt biện pháp nào và vào khi nào, nơi nào cụ thể thì phải tuỳ theo đặc điểm, tính chất hoạt động của từng NHTM.
    • Về việc xử lý nợ xấu thì cần có giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm xử lý tốt nợ xấu của NHTM. Việc xoá bỏ nợ xấu không chỉ là nhiệm vụ của riêng hệ thống ngân hàng mà còn của cả nền kinh tế, nó không chỉ tuỳ thuộc vào các biện pháp của ngân hàng trung ương, NHTM, hay khách hàng vay mà còn tuỳ thuộc vào cả một hệ thống pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, một môi trường kinh tế thuận lợi. Cần thành lập một tổ chức mua bán nợ- một tổ chức tài chính- tín dụng đặc thù có trách nhiệm xử lý nợ xấu. (Mô hình này đã được ngành ngân hàng xem xét áp dụng, nhưng đến nay đề án thành lập của NHNN trình Chính phủ không khả thi, thay vào đó, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đang phối hợp với ngành ngân hàng xúc tiến hoàn chỉnh đề án thành lập một uỷ ban chuyên trách có chức năng xử lý nợ xấu). Cần tập trung tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, thủ tục pháp lý: hoàn chỉnh, bổ sung thủ tục giấy tờ đối với những tài sản

    38

    bảo đảm tiền vay để có thể bán, cho thuê…Đồng thời cần thực hiện phân loại tài sản “Có” trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; nâng cao chất lượng tín dụng của các khoản cho vay ngay từ những khâu đầu tiên của quy trình tín dụng.

    • Để tăng hiệu quả của tín dụng chính sách của Nhà nước cần nhanh chóng tách bạch việc cho vay thực hiện chính sách với cho vay thương mại của các ngân hàng. Nếu cần, các NHTM có thể thực hiện theo sự uỷ thác của Chính phủ để hưởng phí hoặc hoa hồng trên số vốn đã thực hiện. Như vậy, các ngân hàng sẽ nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm trong công việc của mình. Hơn nữa cần quan tâm đến khía cạnh kinh tế khi giải quyết các vấn đề xã hội, nếu không sẽ mang lại hậu quả ngược lại. Và một vấn đề quan trọng nữa là cần xem lại cơ chế tài chính trong việc thực hiện các chương trình kinh tế mang tính chính sách như trên, và nhất thiết phải có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng. Nên chăng có thể khoán thu ở mức tối thiểu nào đó để các ngân hàng cố gắng và có trách nhiệm trong việc thu hồi nợ, số còn lại có thể cho phép trừ vào các khoản phải nộp ngân sách hoặc ngân sách cấp hỗ trợ trực tiếp.

    Các giải pháp trên tuy chưa phải là đầy đủ, tối ưu song cũng có thể để tham khảo nhằm khắc phục những vấn đề còn hạn chế và cũng là để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng trong các NHTM.

    39

    PHẦN KẾT LUẬN.

    Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động tín dụng trong các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.

    Trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài em đã trình bày một số lý luận cơ bản về NHTM và hoạt động tín dụng của nó, cùng với một số vấn đề nổi cộm trong thực tế hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam, và có đưa ra một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Đăng Khâm đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành đề án này. Song do trình độ và thời gian có hạn nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, ngày 10/11/2001.

    40

    TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.- Nguyễn Đức Thảo. TpHCM.
    1. Ngân hàng thương mại. – Reed Edward, Gill Edwardk. TpHCM.
    1. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. – DCox. Nxb Chính trị quốc gia.
    1. Tiền và hoạt động ngân hàng. – Lê Vinh Danh. Nxb Chính trị quốc gia.
    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính. – Frederic. S. Mishkin.
    1. Quản trị ngân hàng thương mại. – Peter S.Rose. Nxb Tài chính.
    1. Tạp chí Ngân hàng.
    1. Thời báo Ngân hàng.
    1. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ.

    41


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-th%E1%BB%9Di-gian-qua-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-trong-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi-nh%E1%BA%B1m-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đề án Kinh tế đầu tư

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.

    Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.

    Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao… Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, hơn nữa được hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy Minh em đã nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:

    “Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “

    Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc…mà thời gian nghiên cứu hạn chế, nên em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.

    Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:

    Trang 1

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Chương I: Cơ sở lý luận chung.

    Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.

    Chương III: Phương hướng và giải pháp đối với vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút FDI trong thời gian tới.

    Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo nhằm giúp đỡ em trau dồi và nắm chắc hơn những gì mình đã học, những gì mình có thể vận dụng cho thực tiễn.

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

    I.                   MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển

    Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ “đầu tư ” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại có thể coi “đầu tư là việc bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó để tạo ra, khai thác sử dụng tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai”.

    Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới cũng như duy trì được những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.

    Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đã có. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó còn phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.

    2. Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    2.1. Khái niệm.

    • Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính

    Đề án Kinh tế đầu tư

    vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

    * Phân loại

    Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại

    • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
    • Cơ sở hạ tầng xã hội.
    • Cơ sở hạ tầng môi trường

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

    Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.

    Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

    2.2.Đặc điểm

    Trang 4

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc điểm sau:

    • Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán khác.

    • Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
    • Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người… trong hiện tại và cả trong tương lai nữa. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai.

    Trang 5

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.

    3.                 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    3.1. khái niệm.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

    3.2. Vai trò.

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.

    Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.

    Trang 6

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.

    Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.

    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.

    Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.

    FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

    Trang 7

    Đề án Kinh tế đầu tư

    * Lợi ích về công ăn việc làm

    Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.

    FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.

    * Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế

    giới.

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

    Trang 8

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3.3 Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI.

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các

    Trang 9

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thông xấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

    Qua việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cơ sở hạ tầng và FDI chúng ta đã phần nào thấy được mối quan hệ giữa hệ thống cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI. Song để hiểu rõ hơn mối quan hệ này chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp.

    II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN FDI.

    1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng .

    Các công trình cơ sở hạ tầng khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu và thường là việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua các ngành kinh tế khác. Do vậy, khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán kỹ vấn đề kinh tế kỹ thuật trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Công tác thăm dò tài nguyên, xác định nhu cầu sử dụng cơ sở hạ tầng mỗi vùng là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả của công trình. Bên cạnh đó, phương hướng phát triển của vùng, lãnh thổ cũng là nhân tố quyết định đến việc bố trí đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng.

    Với vai trò là nền tảng tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn đối với FDI nên khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng phải lựa chọn các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao, đây là vấn đề đảm bảo tính hiệu quả. Nếu tồn tại tình trạng lạc hậu cac cơ sở hạ tầng thì công trình không còn

    Trang 10

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mang tính hiệu quả nữa, thậm chí ảnh hưởng tới các ngành khác và nhịp độ thu hút FDI là điều không tránh khỏi.

    Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, xong đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp, chủ thể tham gia có thể là các chủ thể nươc sở tại hoặc nước ngoài. Dưới hình thức chủ đầu tư bỏ vốn và trực tiếp tham gia điều hành, quản lý công trình.

    Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, cần được củng cố và hoàn thiện. Tuy nhiên vồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng hết sức hạn hẹp. Khu vực tư nhân không thể đáp ứng nhiều về vốn trong lĩnh vực này. Do vậy, hình thức BOT ra đời là giải pháp tốt nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhưng dù hoạt động đầu tư có được tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiệu quả đầu tư không được coi nhẹ. Bởi đây là vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm những nội dung mang tính tổng hợp.

    Để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn đầu tư, người ta sử dụng mô hình Harrod- bomar. Nếu gọi K là tỷ số giữa vốn và đầu tư (ICOR), ta có:

    K =

    Trong đó:

    It là vốn đầu tư

    Yt, Yt+1 sản lượng năm t & t+1.

    -> ICOR là thước đo năng lực của vốn đầu tư, nó nói lên rằng để tạo ra một đơn vị sản lượng cần bao nhiêu vốn đầu tư. ICOR càng nhỏ chúng tỏ hiệu quả đầu tư càng lớn và ngược lại.

    Trang 11

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Theo ước tính, năm 2000 hệ số ICOR mọt số ngành nước ta như sau:

    Nông – lâm – nghiệp 1,5 – 2,5
    Công nghiệp 2,5 – 3,5
    Cơ sở hạ tầng 3 – 5

    Như vậy, qua đó ta thấy ICOR của lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cao hơn so với các ngành khác. Song tại sao chúng ta vẫn phải giành một vốn lớn cho cơ sở hạ tầng.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI.

    Cơ sở hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên thực tế cũng cho thấy những quốc gia nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu FDI đặt ra với lĩnh vực này.

    Khi một thị trường mới xuất hiện, thời gian đầu luôn là thời kỳ thăm, ào ạt vào thời gian đầu là những công ty nhỏ, thậm chí có cả những môi giới đầu tư. Những đầu tư vào lúc này vốn không lớn, thời gian không dài và chủ yếu ở khu vực dịch vụ và sản xuất nhỏ. Trong khi đó, các nhà đầu tư lớn lại đứng ở ngoài quan sát để quyết định xem có đầu tư hay không.

    Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI và nước chủ nhà cần phải chuẩn bị một môi trường đầu tư thuận lợi với các chính sách, quy tắc được nới lỏng theo hướng khuyến khích FDI, cải thiện cơ sở hạ tầng … Như vậy, để thu hút được FDI có rất nhiều việc phải làm, song điều quan trọng hơn là làm sao để dòng chảy đó được duy trì liên tục. Câu trả lời: phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bởi số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn

    Trang 12

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phụ thuộc vào sự thoả mãn thường xuyên về cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Malaixia với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến năm 2020 của thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.

    Về vai trò của cơ sở hạ tầng, theo kết quả khảo của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc …. Trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

    cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc, chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét để duy trì FDI ở nước này.

    Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào lĩnh vực này không đúng hướng và hợp lý thì sẽ làm mất đi một động lực quan trọng trong thu hút FDI. Để không rơi vào tình huống này. Chúng ta cần phải biết được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng kỹ thuật, nắm bắt được những thành tựu đã đạt được và những mặt tồn tại của nó cũng như các yêu cầu của FDI đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó, ở phần sau chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN QUA

    Kể từ khi áp dụng chính sách “mở cửa” nền kinh tế vào cuối thập niên trước đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật. Chẳng hạn, từ một nước nghèo, nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài, Việt nam đã vươn lên trở thành một trong số ít các quốc gia xuất khẩu gạo lớn

    Trang 13

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nhất thế giới. Những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này ta nhờ một phần đóng góp không nhỏ của FDI. Có thể coi FDI như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xu thế FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích trình trạng trên, xong theo các chuyên gia thì việc lợi thế so sánh của Việt nam đang bị giảm dần là một trong những lý do chính dẫn đến trình trạng trên.

    Muốn phát huy được những lợi thế so sánh, điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nắm được những yêu cầu của FDI. Đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng vậy, FDI có những yêu cầu riêng đối với hệ thống này.

    1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA FDI ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT. Theo sự thăm dò ý kiến của hơn 3000 bạn đọc của kinh tế Viễn Đông ở
    • nước Châu Á, được công ty ASIA Studies LTD Hồng Kông thưc hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1995. Hầu hết các doanh nghiệp khi được hỏi “Những trở ngại lớn nhất cho việc làm ăn ở các nền kinh tế đang nên như Việt nam, Trung Quốc, Myanma là gì ?” thì những khó khăn được độc giả đưa ra là:
    • Sự bất ổn không thể đoán trước được là trên 70 %
    • Sự bảo đảm về pháp luật là trên 70%
    • Tệ quan liêu trên 70%
    • Nạn tham nhũng trên 60%
    • Cơ sở hạ tầng phù hợp trên 60%

    Như vậy, sự phù hợp của cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình thu hút vốn FDI. Riêng đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì sự phù hợp

    Trang 14

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mà FDI yêu cầu cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: Sự hiện đại, đồng bộ và một mức giá hợp lý.

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư đều nhằm 3 mục tiêu chính, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả.

    Do đó, một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ la ba đỡ cho hoạt động đầu tư của họ. Thực tế cho thấy, ở nước ta trong thời gian qua hệ thống cơ sở hạ tàng kỹ thuật còn tồn tại sự mất cân đối giữa các vùng, miền đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Có nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào các vùng miền núi để khai thác tài nguyên phải bỏ dở cũng chỉ vì lú do ở đó chưa có điện, thêm vào đó đường đi đến các vùng này là khó khăn.

    Vì vậy, tính đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đồng bộ giữa mạng và nguồn, giữa đường sắt và đường bộ, giữa cảng với đường sắt, đường bộ…)là điều kiện cần làm cho hoạt động đầu tư được thuận lợi. Đồng thời hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải đạt được sự hiện đại cần thiết, sự hiện đại đó sẽ đem lại hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư.

    Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương xẽ là một minh chứng rõ ràng nhất cho yêu cầu này. Nếu không tính đến các dự án dầu khí ở tỉnh Quảng Ngãi thì Bình Dương là tính dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến nay, Bình Dương đã có 227 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,75 tỷ USD, hàng năm tạo ra giá trị lượng hàng hoá trên 110 tỷ USD. Vậy bằng cách nào Bình Dương đã hấp dẫn được các nhà đầu tư ? .

    Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sách thông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư .Với hệ thống đường giao thông từ Bình Dương tới TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng

    Trang 15

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3,6 m với tổng chi phí 100 tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá,

    100% xã đều có đường ôtô.

    Bưu chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt và sử dụng đến nay đã có 100% xã có điện và điện thoại.

    Tuy nhiên, để hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của FDI thì sự đồng bộ, hiện đại thôi là chưa đủ. Đi liền với nó phải có một mác giá hợp lý cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Sở dĩ các nhà đầu tư phải tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do các nguồn lực trong nước họ trở nên khan hiếm. Vì vậy, chi phí cho các nguồn lực này là rất cao. Điều này đã làm cho chi phí các yếu tố đầu vào tăng lên, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút. Như vậy, vấn đề mấu chốt là chi phí các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Nơi nào có chi phí thấp tất yếu dòng đầu tư sẽ chảy về đó. Bản thân các nhà đầu tư cũng hiểu rằng chi phí đầu vào thấp là tốt nhưng thấp quá không phải đã là tốt. Nếu thấp quá, các nước nhận đầu tư sẽ không có điều kiện tích luỹ. Khi đó, các yếu tố cần thiết cho hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ không được đảm bảo. Xong cũng không được quá cao, nếu cao hơn chi phí ở nước họ thì cũng chẳng cần đầu tư ra từ nước ngoài làm gì.

    Với các nước nhận đầu tư, điều này dường như là vô lý nhưng thực ra nó lại rất có lý bởi đó chính là chi phí cơ hội cho việc tiếp nhận đầu tư.

    Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giá cả cho việc sử dụng các dịch vụ này được coi là yếu tố đầu vào và được xác định trên cơ sở có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng không được quá thấp. Mức giá này không đứng một cách cô lập, bên cạnh nó phải là sự đồng bộ, hiện đại của hệ thống này. Dù cho đó là những khía cạnh khác nhau xong giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong đó giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố

    Trang 16

    Đề án Kinh tế đầu tư

    quyết định. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại, đồng bộ đến mấy mà chi phí cho cho những dịch vụ này quá cao thì hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó cũng không có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại cũng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ đó nhưng nước chủ nhà lại đưa ra một mức giá quá thấp thì sẽ không có điều kiện tích luỹ để đầu tư phát triển chánh hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó, làm cho nó trở nên lạc hậu. Từ đó cũng lại không có khả năng thu hút FDI.

    Do đó, yêu cầu của FDI đối với nước chủ nhà là phải xác định được một mốc giá hợp lý bên cạnh sự hiện đại, đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Trong thời gian qua, ở Việt nam các nhà đầu tư nước ngoài than phiền rất nhiều về giá cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mức giá này theo các nhà đầu tư là quá cao, đặc biệt là giá cước viễn thông, hàng không và hàng hải. Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm cho FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Theo số liệu điều tra của WB, cước phí vận tải container bằng đường biển từ Nhật về các cảng ở Việt Nam thường cao hơn gấp hai dến ba lần so với đến Singapore, Thái Lan, và Philippines. Chẳng hạn cước phí vận chuyển một container 20 feet từ Tokyo đến Singapore khoảng 500 USD, đến Bangkok khoảng 450-750 USD trong khi đến cảng Đà Nẵng trên 1 500 USD, Hải Phòng từ 1000 đến 1500 USD và cảng Sài Gòn là gần 900 USD.

    Nguyên nhân là các cảng của Việt nam không thể đón các tàu lớn và do khối lượng hàng hoá ít nên phải trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông, đôi khi để đi đến được Đà Nẵng hay Hải Phòng các tàu phải ghé qua TP.HCM để tiếp nhiên liệu

    Trang 17

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tương tự, cước phí vận tải hàng không cũng vào loại đắt nhất trong khu vực làm cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường không chậm phát triển.

    Về giá dịch vụ viễn thông, sở dĩ phải thu giá cước điện thoại quốc tế cao là để bù lỗ cho dịch vụ bưu chính và duy trì mạng viễn thông mà quốc tế cao. Còn cước nội tỉnh lại rất thấp hay nói cách khác: người có nhiều tiền nhất phải trả giá cao nhất.

    Như vậy, để thu hút FDI thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng được hai yêu cầu: sự đồng bộ, hiện đại và một mức giá hợp lý.Trong hai yêu cầu trên có một yêu cầu chúng ta chưa đáp ứng được, đó là việc xác định một mức giá hợp lý. Còn trên thực tế yêu cầu về sự hiện đại , đồng bộ có được đảm bảo hay không. Để trả lời câu hỏi này thì phải biết được hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta hiện nay và ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    II.               THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam nhìn chung còn yếu kém trên nhiều phương diện cả về số lượng và chất lượng, lại chưa được xây dựng theo một quy hoạch thống nhất dẫn đến tình trạng khập khiễng, chắp vá và chưa đồng bộ đang là vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhịp độ thu hút FDI.

    1. Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam

    1.1 Hệ thống giao thông.

    Trang 18

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống giao thông Việt nam được đưa vào khai thác từ hơn 100 năm nay. Trong cả thời gian này không được đầu tư đúng mức để bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp. Vì vậy sau một thời gian dù khai thác và trải qua hai cuộc chiến tranh, đến nay hệ thống giao thông Việt nam không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế

    Từ cuối những năm 80, Chính phủ Việt nam đã dành ưu tiên nguồn vốn NSNN và tín dụng ra ưu đãi đầu tư nước ngoài cho các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biến và hàng không. Đến nay, nước ta đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phong phú. Xong chất lượng còn chưa cao.

    • Đường bộ:

    Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là thấp so với các nước trong khu vực.

    Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300 km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan trọng, công trình có kỹ thuật cao như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông nội thị ở các thành phần phố lớn. Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung.

    Tuy nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.

    – Đường rải nhựa chiếm 22%
    • Đường nhựa bán thành nhập 38%

    Trang 19

    Đề án Kinh tế đầu tư

    – Đường đá 15%
    – Đường đất 25%
    • Đường sắt:

    Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà nội – Lào Cai 230 km, tuyến Hà nội-Hải phòng 100km. Hai tuyến trên vận tải quốc tế Hà nội – Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và Hà nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động .

    • Đường biển

    Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và tổng công suất trên nên trục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Xong đó chỉ là số ít, phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho việc bốc dỡ hàng hoá cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    • Hàng không

    Hiện có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số gần 20 sân bay đã được đưa vào khai thác sử dụng, có 3 sân bay cấp IV là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng đạt tương đương tiêu chuẩn quốc tế.

    1.2 Bưu chính viễn thông:

    Đã triển khai chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hoà nhập với quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cố gắng cải thiện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu hút FDI nói riêng.

    Trang 20

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tuy phát triển tăng tốc xong còn ở mức độ thấp, mới chỉ tập trung ở đô thị, đáp ứng được nhu cầu trước mắt với chất lượng chưa cao và chi phí đắt. Mạng cáp nội hạt quá cũ , bố trí cáp treo thiếu quy hoạch, kém an toàn và mất mỹ quan. Mạng viễn thông có hệ thống thiết bị chưa đồng bộ, tồn tại nhiều hệ khác nhau, chưa phát triển nhiều dạng thông tin, giá cả còn mang tính độc quyền.

    1.3 Cung cấp điện.

    Đã phát triển nhanh chóng nguồn điện, đến năm 98 sản lượng điện đạt 21,77 tỷ kwh, tốc độ tăng sản lượng điện thời kỳ 91-95 đạt bình quân 10,2%/ năm với việc đưa vào vận hành đường dùng 500 KV Bắc Nam tạo điều kiện khai thác hợp lý các nguồn điện trong cả nước, cung cấp điện an toàn, liên tục cho nhu cầu các vùng và toàn bộ đất nước.

    Cung cấp điện năng bình quân đầu người tăng lên đáng kể ( năm 90: 135 Kwh, 95: 175 kwh, 98: 279 kwh). Hệ thống lưới chuyển tải được mở rộng, lưới phân phối được cải tạo hoàn thiện từng bước. Đến nay đã có 85% số huyện và 60% số xã được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Tuy nhiên, thời gian qua phát triển nguồn điện chưa cân đối về cơ cấu, thuỷ điện chiếm tỷ trọng cao gần 71% năm 95 cả về công suất lẫn sảnlượng gây ra tính kém ổn định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn (năm 95 là 19%). Hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện đạt rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.

    Phần tiếp theo sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư phát triển và kết quả, hiệu quả đạt được trong quá trình xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Việt Nam trong thời gian qua.

    2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam trong thời gian qua.

    Trang 21

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đang tập trung cải tạo, nâng cấp, xây mới vừa góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước vừa đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI, hướng tới mực tiêu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Như phần trước đã phân tích và chỉ ra cho chúng ta thấy một thực cảnh về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta: lạc hậu và không đồng bộ. Thực trạng đó bắt nguồn từ những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, được tiếp nối bởi sự dẫn dắt của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, kém năng động và cuối cùng là thời gian đã tàn phá và hao mòn, huỷ hoại dần từng mảng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta lúc này phải từng bước hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đang ngày càng bức thiết.

    Nắm bắt được điều đó, các cơ quan chức năng đã đề ra mục tiêu đén năm 2020: mạng lưới giao thông vận tải phát triển, kết hợp hài hoà giữa các chủng loại có chất lượng cao, đảm bảo vận tải tiện lợi, nhanh chóng và an toàn Mạng bưu chính viễn thông đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới, tham gia mạng thông tin siêu tốc toàn cầu, nối mạng đến xã, máy điện thoại đạt bình quân 20 máy/100 người. Mạng điện quốc gia phủ khắp các đô thị đến nông thôn, đạt 100% điện khí hoá toàn quốc, có thể có điện nguyên tử.

    Để thực hiện được những mục tiêu thên đã đề ra thì vấn đề khó khăn lớn nhất với chúng ta chính là vốn đầu tư. Theo dự báo của chính phủ, trong vài ba năm tới cầu đầu tư khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP) để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, ngân sách chỉ đáp ứng chừng 3% GDP, nguồn ODA thêm chừng 2% GDP nữa. Khoảng 7% GDP hay chừng 2,1 tỷ USD hàng năm chỉ có thể trông chờ vào các nguồn vốn đầu tư khác. Do đó, một giải pháp lớn được đặt ra là thực hiện chiến lược thu hút, huy

    Trang 22

    Đề án Kinh tế đầu tư

    động một nguồn vốn đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước. Vậy thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như thế nào, chúng ta sẽ đi vào phân tích va đánh giá.

    Vốn đầu tư chính là điều kiện tiền đề để thực hiện các dự án đầu tư, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối với các công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nên cũng cần một khối lượng vốn lớn.

    Trong thời qua, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc củng cố và phát triển cơ sỏ hạ tầng của đất nước được thể hiện trong bảng sau:

    Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

          Đơn vị: tỷ đồng
               
    Năm 1990 1995   2000  
    Ngành       ( ước tính )  
               
    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 4.732,5 41.849,3   92.452  
               
    Ngành khác 5.6000,5 26.198,3   23.548  
               
    Tổng số 10.333 68.047,6   116.000  
               

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10+11/2000

    Tính toán các số liệu trong bảng 1 ta thấy được tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành trong tổng vốn đầu tư như sau:

    Trang 23

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Cơ sở hạ tầng 45,8 61,5 79,7
           
    Ngành khác 54,2 38,5 20,3
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Từ số liệu hai bảng trên ta thấy được rằng: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của năm 2000 ước tính 116.000 tỷ đồng chiếm 79,7%. Nếu so với các ngành khác thì quả là sự chênh lệch khá lớn. Điều này thể hiện những đặc điểm cơ bản trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, ít có sự tham gia của các thành phần khác trong lĩnh vực này.

    Theo số liệu ở bảng 2, trong năm 1990 tỷ trọng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm 45,8% trong tổng vốn đầu tư. Các năm sau 1990 và 2000 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tỷ trọng ngày càng cao 61,5% và 79,7%. Tại sao vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lại tăng cao như vậy, có thể giải thích rằng trước những năm 1990 thì thấy cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu và xuống cấp do hậu quả của những năm chiến tranh, sau đó đất nước lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế.

    Trang 24

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để đưa đất nươc ra khỏi khủng hoảng và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đảng và Nhà Nước thực hiện chủ trương mở cửa về kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì vậy nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trở nên hết sức cấp bách. Hơn nữa, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng nên tích luỹ trong nước rất thấp, nguồn vốn đầu tư XDCB hết sức hạn hẹp. Chúng ta muốn chuyển dịch sơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, thúc đẩy quá trình thu hút vốn FDI thì việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là lẽ đương nhiên.

    Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã có những bước tiến đáng kể. Để cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét dựa trên số liệu trên bảng sau:

    Bảng 3: vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống CSHT kỹ thuật thời gian qua.

          Đơn vị: tỷ đồng.
             
    Năm 1990 1995 2000  
    Ngành     ( ước tính )  
             
    Giao thông -Bưu điện 1.102,7 11.341,2 21.633,8  
             
    Công nghiệp 2.423,0 5.482,3 18.582,9  
             
    Nông nghiệp 1.206,8 25.025,8 52.235,3  
             
    Tổng số 4.732,5 41.849,3 92.452  
             

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10 + 11/2000

    Trang 25

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để tiện theo dõi, chúng ta sẽ tính tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực trong tổng số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vào bảng sau:

    Bảng 4: Tỷ vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thời gian qua.

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Giao thông – bưu điện 23,3 27,1 23,4
           
    Công nghiệp 51,2 13,1 20,1
           
    Nông nghiệp 25,5 59,6 56,5
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Nhìn vào bảng 4 có thể thấy rằng, thời gian qua vốn đầu tư cho ngành giao thông – bưu điện mặc dù có sự tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng vốn đầu tư cho CSHT kỹ thuật lại có xu hướng giảm. Điều này đã phản ảnh đúng thực trạng của các lĩnh vực này. Bên cạnh đó đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cũng còn tồn tại sự mất cân đối, cụ thể trong hai năm 1995 và 2000 đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trong rất cao 59,6% và 56,5% lớn hơn cả các lĩnh vực giao thông -bưu điện và công nghiệp cộng lại. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho các lĩnh vực của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều có sự tăng lên về số tuyệt đối. Đây cũng là điều đáng mừng, nhưng là việc đầu tư đó có đem lại kết quả hay không, để trả lời cho câu trả lời đó trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi vào đánh giá kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    III.            ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA.

    Trang 26

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1.Đánh giá tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    Khách quan mà nói, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua đã đạt được một thành tựu đáng kể.

    • Cải thiện hệ thống đường giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Trong đó, hai hệ thống đường bộ và đường không có sự chuyển biến đáng kể. Một loạt các tuyến đường đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải tạo như đường Mai Dịch – Nội Bài, quốc lộ 5, nhiều đoạn của quốc lộ 1, quốc lộ 18… cũng trong thời gian qua các các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất được xây dựng, bổ xung, hiện đại hoá máy bay và hệ thống thông tin liên lạc dưới mặt đất.

    Sự phát triển đó đã góp phần vào việc nâng cao khả năng lưu thông hàng hoá và đáp ứng phần nào yêu cầu của nhà đầu tư.

    • Xây dựng được mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp và kém hiệu quả trên toàn quốc. Đặc biệt ngành bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trược những năm 90, đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật số. Tốc độ tiếp thu dịch vụ mới của các ngành này tăng khá nhanh, trung bình có sau 6 tháng kẻ từ khi một dịch vụ mới được tung ra trên thị trường quốc tế.
    • Hệ thống điện năng từng bước được nâng cấp, giải quyết cơ bản nhu cầu điện cho sản xuất và tiêu dùng. Đến cuối năm 1999, tổng công suất lắp đặt các hệ thống điện nước ta đạt 5.774 MM, tổng sản lượng điện đạt khoảng 23.740 triệu Kwh. Lưới điện truyền tải có chiều dài 109.977 Km và dung lượng các trạm truyền tải lên tới 14.709 MA. Tất cả các tính toán trên toàn quốc đã có lưới điện quốc gia, 95,7% số huyện và 77,2% số xã, 68,1% số hộ trong nước đã có điện.

    Số liệu về phát triển của ngành điện và bưu chính viễn thông.

    Trang 27

    Đề án Kinh tế đầu tư

      1990 2000
         
    Sản lượng điện (tỷ Kwh) 8,79 2,5
         
    Số máy điện thoại trên 100 người dân 0,4 4
         

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể:

    • Giao thông đường bộ và đường sắt còn ở thế độc tuyến, chúng ta chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt đôi, nhiều điểm vượt sông không có cầu…mặc dù mỗi năm giao thông đường bộ được đầu tư 5000 tỷ đồng từ MSNN xong chỉ đáp ứng đủ 30 – 40 % nhu cầu. Vì vậy các công trình gần đây được đầu tư xây dựng một cách tình thế. Kết quả là đến nay còn 515 xã chưa có đường ôtô về trung tâm, trung bình 10km đường bộ có 4 km chưa được trải nhựa và khoảng 70% chiều dài toàn bộ nằm trong tình trạng này.

    Cả nước có gần 1000 cây cầu yếu, hàng nghìn km đường bị ngập và ách tắc. Chỉ cần 1 tai nạn gây ách tắc ở một đoạn đường sẽ gây ách tắc giao thông toàn tuyến, một ví dụ rất rõ là tình hình lũ lụt tại miền trung tháng 10/ 1999 gây áhc tắc giao thông từ nam ra bắc hoặc sự cố cầu Bến Lức tháng 1/2000 gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

    *Các cảng biển có chất lượng dịch vụ cao vẵn còn chưa nhiều. Trong lúc hiện nay ở các cảng trên thế giới năng suất qua lại đạt đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số phổ biến từ 500 m- 1000 tấn/m cầu tàu. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện thu hút cac tàu contenner trên 1.200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng, vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.

    Trang 28

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao sản lượng điện cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng như xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mới (Sông Hinh, Yaly…) cải tạo hệ thống nhiệt điện nhưng nếu cân đối với các yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, rõ ràng ta chưa thể đáp ứng được. Nếu so sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực thì quả thật chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

    So sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực.

      Việt Nam Thái Lan Indonexia Philipin Malaysia
               
    Tỷ lệ hộ có điện (%) 51 87 39 58 90
               
    Năng lượng (Mw) 4.890 13.003 14.327 9.539 7.391
               
    Sản lượng điện năm 19.151 80.068 61.199 29.697 45.453
    97 (Gwh)          
               
    Tiêu  thụ  điện  đầu 204 1294 315 399 2.032
    người mỗi năm (Kwh)          
               
    Tỷ lệ hao hụt điện qua 16 9 12 17 11
               

    Trang 29

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phân phối (%)

    Bên cạnh đó tiền điện dùng cho kinh doanh thuộc vào loại khá cao ảnh hưởng không nhỏ tới lợi thế so sánh của nước ta.

    So sánh chi phí đầu tư tại Hà nội, Tp Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn.

      Hà nội Tp. HCM Thượng Hải Bangkok Jakarta Kuala Lampar
                 
    – Phí điện thoại quốc tế 8,52 8,52 4,3 3,11 2,59 2,61
    (3 phút gọi dang Nhật)            
                 
    – Tiền điện dùng cho 0,07 0,07 0,035 0,03 0,0177 0,06
    kinh doanh / kwh            
                 
    – Vận chuyển container 1.825 1.375 880 1.466 1.252 895
    (40ft/container) chuyển            
    từ  nhà máy đến cảng            
    gần nhất ở Nhật – cảng            
    Yukohama            
                 

    Từ thực trạng kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như vừa nêu trên, cho thấy mặc dù đầu tư khá nhiều, xong nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn lạc hậu, chưa đồng bộ còn chi phí cho các dịch vụ này rất cao. Như vậy, những yêu cầu mà FDI đặ ra đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta chưa cung cấp được một cách hoàn hảo nhất. Điều đó là do việc đầu tư còn dàn trải, chưa xác định được những màu đột phá trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nguồn vốn còn eo hẹp bởi huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào làm việc này rất khó khăn.

    Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta được thể hiện rõ hơn qua sự so sánh ở bảng sau:

    So sánh môi trường đầu tư “cứng” của các nước ASEAN.

    Tên nước Sân bay Cảng biển Giao thông Điện lực Viễn thông Bình quân
                 
    Singapore 4,9 4,9 4,6 4,4 4,7 4,7
                 

    Trang 30

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Brunay 3,3 3,3 3,3 3,6 3,5 3,3
                 
    Thailan 3,1 2,5 1,6 2,7 3,0 2,6
                 
    Philipines 2,3 2,4 2,9 2,2 2,7 2,3
                 
    Indonesia 3,0 2,4 2,3 2,6 2,7 2,6
                 
    Malaysia 3,1 3,1 2,7 2,6 3,2 2,9
                 
    Myanma 1,6 1,5 1,6 1,4 1,4 1,5
                 
    Lào 1,5 1,5 1,5 1,7 1,5 1,5
                 
    Campuchia 1,6 1,5 1,8 1,4 1,4 1,5
                 
    Việt Nam 1,9 2,0 1,9 1,9 2,2 2,0
                 

    Xếp hạng: 5 điểm lớn nhất.

    Tuy sự so sánh trên còn có phần chưa thoả đáng vì nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, mọi điều kiện về vật chất, con người còn nhiều hạn chế so với các nước đã có quá trình phát triển trước rất nhiều năm. Nhưng dù sao khoảng cách khá chênh lệch đó cuĩng đòi hỏi nhiều hơn nữa cho việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

    Trên đây chúng ta đã đánh giá được một số vấn đề trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua. Trong quá trình đánh gía, chúng ta đã thấy được những thành tựu và những yếu kém. ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đánh giá đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với qua trình thu hút FDI.

    2. Đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với quá trình thu hút vồn FDI.

    Trang 31

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ tiền ra đầu tư vào một nơi nào đó, xem xét rất kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Trong đó có khía cạnh rất quan trọng từ cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy những nơi nào có kết cấu hạ tầng phát triển thì nơi đó có nhiều dự án đầu tư. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những kết quả dáng khích lệ trong việc thu hút vốn FDI.

    Tính đến thời điểm 30/6/2000 đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD, trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Tìm các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm tới 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực đầu tư nước ngoài không những đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, mà còn khai thác, đưa vào sử dụng nhiều nguồn lực trong nước như đất, tài nguyên, lao động.

    Để đạt mục tiêu đến năm 2005 GDP tăng gấp hai năm 95, sơ bộ

    • nhu cầu vốn đầu tư phát triển của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 khoảng
    • – 62 tỷ USD, trong đó dự kiến vốn đầu tư nước ngoài khoảng 25 tỷ USD. Vì vậy tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây xu thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có phần giảm sút, cụ thể:

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

    Đơn vị: triệu USD.

      91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000
                         

    Trang 32

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Vốn 1275 2027 2589 3746 6607 8640 4649 3897 1567 1600
    cam kết                    
                         
    Vốn 432 478 871 1936 2363 2447 4768 2062 1758 1800
    thực                    
    hiện                    
                         

    Theo số liệu ở bảng trên ta thấy rằng, năm 96 là năm có số vốn thu hút cao nhất từ trước đến nay. Sau thời kỳ ấy biểu đồ ngày càng đi xuỗng và đến thời điểm năm 2000 (dự kiến) cũng chỉ hơn năm 91 chút ít cũng sau thời điểm 96 đến nay FDI suy giảm cả về vốn cam kết và vốn thực hiện. So với cùng kỳ năm trước, nbịp tăng vốn đăng ký của các dự án FDI năm 97 giảm 49%, năm 98 giảm 16%, năm 99 giảm 60%. Số vốn thực hiện từ năm 97 – 99 giảm khoảng 40%. Sự suy giảm FDI đã gây ảnh tiêu cực đến việc huy động vốn đầu tư phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và một số năm tới.

    Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thu hút FID của các quốc gia thì nguyên nhân chính vẫn thuộc về chúng ta. Mặc dù, cơ chế chính sách, luật pháp đã có sự thông thoáng cởi mở. Song hệ thống CSHT kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của FDI đã dẫn đến chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, đã là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lưu lượng của dòng chảy FDI vào Việt Nam.

    Để Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới chúng ta cần phải cố gắng hơn nữa trong việc đề ra những giải pháp cho vấn đề này.

    Trang 33

    Đề án Kinh tế đầu tư

    CHƯƠNG III

    PHƯONG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NHẰM THU HÚT VỐN FDI TRONG THỜI GIAN TỚI

    I.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới định hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian tới và một số giải pháp để giải quyết những tồn tại trong thời gian qua. Nhưng dù có định hướng hay giải pháp gì đi chăng nữa thì cơ bản việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải tuân theo những nguyên tắc sau

    Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật một cách hoàn chỉnh, đồng bộ theo một quy hoạc tổng thể ngay từ ban đầu.

    Trang 34

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Trong điều kiện hạn chế về vốn có thể hoàn thành từng phần tránh đầu tư manh mún dẫn đến thất thoát, lãng phí và hiệu quả thấp.

    Cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .

    1. Hệ thống giao thông vận tải.

    Phương hướng phát triển hệ thống giao thông là tạo sự chuyển biến cơ bản về cơ cấu, quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, trong đó phát triển nhanh ngành hàng hải và hàng không, tận dụng tốt các đường sông, ngăn chặn sự xuống cấp, từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt trọng điểm, giải quyết giao thông đường bộ ở các vùng kinh tế trọng điểm. Hoàn chỉnh tuyến trục Bắc-Nam, củng cố các tuyến lên Tây Nguyên và xuống đồng bằng Cửu Long, cải thiện mạng lưới giao thôgn đồng bằng sông Hồng và giao thông các thành phố lớn. Mở rộng, hiện đại hoá các đầu mối giao lưu quốc tế: cảng biển, cảng hàng không, phát triển các tuyến nối trục giao thông quốc tế xuyên A’ và các nước láng giềng.

    Phát triển tuyến vận tải ven biển và các cảng nước sâu trên các vùng.

    Nâng cấp toàn bộ tuyến quốc lộ 1 từ Đồng Đăng đến Năm Căn Là trục huyết mạch, đến năm 2005 hoàn thành và nối kết các mạng đường bộ các vùng.

    Nghiên cứu khả thi và xây dựng dẫn trục xa lộ Bắc Nam để đáp ứng cho thời kỳ CNH-HĐH từ sau năm 2000.

    Nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Việt để tạo nên tuyến đường vận tải hàng hoá có khối lượng lớn từ Bác đến Nam và các tính miền Trung, một tuyến vận chuyển hành khách đường dài nhanh chóng tiện lợi.

    Tăng năng lực vận chuyển trên các tuyến hàng không hướng Bắc-Trung-Nam, và nâng cấp các sân bay này.

    Trang 35

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Triển khai chương trình giao thông nông thôn, giải quyết đường đến huyện và 599 xã cũng 15 điểm cụm xã có tổng chiều dài là 7425 km.

    2. Bưu chính viễn thông.

    Tăng cường và phát triển mạng bưu chính viễn thông công cộng cũng như chuyên dùng theo hướng đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá bằng kỹ thuật số, quang học với công nghệ tiên tiến để có dung lượng lớn, tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu 3T (tốc độ, tiêu chuẩn, tin học và đồng thời cập nhật kịp thời những công nghệ mới)

    Mở rộng các dịch vụ mới: Điện thoại thấy hình, hội nghị truyền hình, truyền số liệu tốc độ cao nhằm, internet, thư điện tử, bưu phẩm khai giá

    Đưa các dịch vụ đối với khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi, văn minh lịch sự. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dịch vụ, bỏ độc quyền dịch vụ bưu chính viễn thông.

    3. Cung cấp điện

    ưu tiên khai thác thuỷ năng, trước hết tập trung vào các công trình có hiệu quả kinh tế cao như Sông Đà, Sông Đồng Nai và một số công trình vừa và nhỏ trên các lưu vực sông khác nhằm kết hợp thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nhiệt điện dùng than ở các tỉnh phía Bắc trên cơ sở tăng cường khai thác sử dụng than Quảng Ninh.

    Tích cực chuẩn bị cho phát điện nguyên tử sau năm 2000

    Liên kết tất cả các huyện thị vào mạng lưới quốc gia. Phấn đấu đến năm

    2010 có 70% số hộ được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hoá lưới điện chuyển tải và phân phối nhằm nâng cao độ tin cây, chất lượng cung cấp và giảm tỷ lệ hao hụt xuống còn khoảng 10%.

    II.GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào sự đánh giá về tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở phần trước, căn cứ vào định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật . Trong thời gian tới để tăng cường thu hút vốn FDI một mặt chúng ta cần cải thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng những yêu cầu của FDI đối với lĩnh vực này. Mặt khác cần tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút FDI có hiệu quả. Nhưng xuất phát từ việc bài viết trên lĩnh vực kinh tế đầu tư nên đưa ra những giải pháp thuộc lĩnh vực kinh tế đầu tư chứ không thể đưa ra những giải pháp dựa trên lĩnh vực kỹ thuật.

    1.Giải pháp cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hiện đại là yếu tố quan trọng trong thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Do đó, để cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

    • Thứ nhất: Tổ chức này cấp hệ thống đường bộ các nước trên quan điểm phá vỡ thế lực tuyến (như hiện nay-vừa qua, dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1 từ 2000-2003 đã được khởi công). Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện thành công dự án này nhằm giải quyết hướng ra trong tương lai đối với giao thông đường bộ.
    • Thứ hai: Để khai thức có hiệu quả lợi thế về vị trí địa chính tạo trong thu hút FDI cần đầu tư hienẹ đại bản 3 sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm

    Trang 37

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đáp ứng các chuyến bay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ngành hàng không cũng cần phải tổ chức lại. Nếu tình trạng bù lỗ cứ kéo dài như hiện nay, chúng ta sẽ không có nguồn vốn cho đầu tư phát triển, dẫn đến tình trạng lạc hậu so với hàng không các quốc gia khác trong khu vực.

    • Thứ ba: Cải thiện hệ thống giao thông đô thị và chú ý phát triển mạng lưới giao thông ở các vùng nông thôn, vùng xa… ở các đô lớn như Hà nội, TP Hồ Chí Minh… hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại , chưa kể đến tầm phát triển trong tương lai. Điều này đã làm ngao ngán không ít các nhà đầu tư. Điển hình, tại TP HCM nạn kẹt xe ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn. Tại Hà nội, trong các giờ cao điểm trên trục đường hệ số sử dụng lòng đường đã vượt 1 đến 3 làn do lòng đường nội thành quá chật hẹp, các giao cắt đường mốc quá gần nhau, do đó đã dẫn đến tình trạng ùn tắc, lộn xộn mất trật tự.

    Như vậy, hệ thống giao thông đô thị đến nay đã trở lên quá tải, trong khi việc sửa chữa, áp dụng kỹ thuật còn quá thô sơ, manh mún, mang tính chắp vá không hề cải thiện tình hình giao thông. Việc xây dựng những con đường mới thực hiện quá chậm, thậm chí không đảm bảo chất lượng. Đó là thực trạng ửo các thành phố lớn nói chung ở nước ta hiện nay. Còn ở những thị xã, quận huyện xa thì vấn đề giao thông còn ách tắc hơn, gây cho nhà đầu tư tâm lý muốn đầu tư vào các đô thị lớn, nơi có môi trường đầu tư t*88 cả nước. Do đó, một mặt cần cải thiện hệ thống giao thông đô thị, mặt khác phải chú ý xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông ửo các vùng nông thôn, vùng núi, vùgn xa căn cứ trên quy hoạch chi tiết của từng địa phương.

    +Thứ tư: Đầu tư cải thiện hệ thống cảng biển trên quan điểm”cảng biển Việt nam cần chất lượng “ vì vậy cần tiếp tục đầu tư cải tạo và nâng cấp hiệu quả hoạt động của cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và cảng Hải Phòng tạo lên khu vực

    Trang 38

    Đề án Kinh tế đầu tư

    cảng lớn, mặt khác tập trung đầu tư phát triển hệ thống cảng biển miền Trung như Đà Nẵng, Ba Ngòi…. Và đặc biệt là cảng Dung Quất. Đội tàu viễn dương

    của ta đã quá cũ kỹ lạc hậu, vận tải đường biển còn kém phát triển trong khi đây là xu thế cảu Việt nam. Do vậy việc đầu tư hiện đại háo những cơ sở để phát triển kinh tế và thu hút FDI.

    • Thứ năm: hợp tác với các nước láng giềng để mở rộng hệ thống giao thông quốc tế, cụ thể: làm một hệ thống truvj giao thông sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên cơ sở hệ thống giao thông đã có, khai thông tuyến giao thông quốc tế đến Hà nội, mở rộng hệ thống giao thông đường sắt với Trung Quốc.

    +Thứ sáu:

    Đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt cần tăng số kênh thông tin quốc tế, tìm kiếm nguồn vốn để xây dựng hệ thống cáp quang biển hoà chung vào mạng cáp quang biên thông tin quốc tế khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của chủ đầu tư, điều chỉnh mức cước phí thông tin và bưu điện theo hướng phù hợp với nguồn sử dụng trong nước và hợp lý trong khu vực.

    Để thực hiện các giải pháp đầu tư cải thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảu nền kinh tế, một vấn đề cần giải quyết trước mắt là tìm kiếm, xác định được nguồn vốn đầu tư.

    Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn dành cho đầu tư lại hạn chế do nguồn thu ngân sách không đảm bảo. Do đó, để giải quyết bài toàn về vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần có những giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư một cách hợp lý.

    2. Giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

     

     

     

     

    Trang 39

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên quan điểm “tập trung dứt điểm” không đầu tư dàn trải và hậu quả của việc đầu tư dàn trải sẽ không cao, thực hiện đầu tư nhiều công trình nhưng đều chậm hoàn thành và khó đưa vào sử dụng do thiếu vốn. Muốn vậy cần có quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thống nhất và hợp lý. Những công trình trong tình trạng phân phối đều vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa phươgn mà phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế các địa phương.

    • Phải thực hiện chặt chẽ công tác phân cấp quản lý và đầu tư đói với những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc hế thống quốc gia như đường quốc lộ, những cồng trình mang tính chất liên ngành, liên vùng, những công trình hàng không, cảng biển quốc gia và hệ thống đường sắt. Tránh tình trạng chia nhỏ như trước đây, mỗi địa phương quản lý một đoạn quốc lộ v tổ chức thu kinh phí cho ngân sách địa phương. Cần tập trung nguồn thu này do ngân sách và điều phối một cách hợp lý, không quản lý manh mún, kém hiệu quả và việc đầu tư lại mang tính chắp vá như hiện nay.

    Đồng thời phải có sự phân cấp quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật một cách rõ ràng, chi tiết: bộ máy quản lý thành phố, tỉnh phải khác với huyện, xã. các công trình loại I, loại II thuộc trung ương thì phân cấp thế nào? Phạm vi nào thuộc quyền của tỉnh, lĩnh vực nào của Trung ương… một thực tế là sẹ phân cấp và phối hợp trong quản lý hệ thống giao thông còn rất yếu kém. Tại các thành phố, thị xã có quốc lộ đi qua thì Bộ giao thông vận tải quản lý, một số đoạn lại do sở giao thông công chính đảm nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng, còn cấp thoát nước, xây dựng mạng lưới điện, điện thoại lại do các cơ sở chuyên ngành nên có tình trạng đường làm xong thì phải đào lên để mắc điện thoại, làm cống thoát nước,/… đây là việc phân cấp quản lý vì mục đích chung lâu dài chứ không phải vì lợi ích nhất thời dàn trải. Việc đầu tư vào các hệ lĩnh vực thuộc hệ

    Trang 40

    Đề án Kinh tế đầu tư

    thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ do từng địa phương thực hiện một ngân sách để thực hiện tài trợ trong những trường hợp đặc biệt.

    Thực hiện xây dựng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với những công trình mang tính chất phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được bàn bạc từ Trung ương đến địa phương để không lặp lại? Trung ương cho gì, địa phương nhận “và” địa phương xin, Trung ương xem và cho”. Mặt khác, cần có sự chỉ đạo thống nhất trong xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa Trung ương và địa phương. Các nguồn vốn được cấp, sử dụng đều phải có sự giám sát của Họi đồng nhân dân và ở mức độ cho phép thì có sự tham gia của nhân dân.

    • hoàn thiện từng bước các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầ

    Trong những năm tới, chỉ riêng 4 lĩnh vực điện, đường bộ, viễn thông và cấp nước mỗi năm cần đầu tư hơn 3,5 tỷ USD, gấp 3 lần nguồn vốn ngân sách (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức –ODA) của Chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng nói chung.

    Cho đến nay ngân sách vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng như thế thì không thể đáp ứng hết các yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng. Do vậy cần phải có các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp, để bù đắp khoảng trống giữa cung, cầu về vốn.

    Từ những năm 92, chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, giá thuế đất và đưa hình thức đầu tư BOT vào các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài … từ đó đến nay nhiều đường quốc lộ đã được nâng cấp bằng nguồn vốn của doanh nghiệp như QL5L từ TP HCM

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đi vũng tàu, đường Láng-Hoà Lạc ở Hà nội, quốc lộ 14.. Tuy đã có một số kết quả nhưng các chính sách về thuế, đất đai vẫn chưa thuyết phục được ccs doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào cơ sở hạ tầng.

    Trong thời gian tới cần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia rộng rãi hơn vào một số lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang do các Doanh nghiệp Nhà nước kiểm soát bằng cách cổ phần hoá từng bước các mảng dịch vụ phân phối điện, dịch vụ viễn thông và đấu thầu khai thác các cảng biển cũng như sân bay.

    Trang 42

    Đề án Kinh tế đầu tư

    KẾT LUẬN.

    Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Hiện nay việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào hiệu quả của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng bỏng. Trong thời gian tới, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia, chắc chắn rằng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam sẽ có những bước tiến đáng kể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Chính vì thế ngay từ bây giờ chúng ta phải có sẹ tìm hiểu cụ thể thực trạng của hệ thống này để thấy được vai trò của nó đối với quá trình thu hút FDI. Qua đó tìm ra những giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại trong việc đầu tư phát triển hệ thống này.

    Trên cơ sở như vậy. bài viết được hoàn thành. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trang 43

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế đầu tư. NXB giáo dục – 1998.

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Thống kê – 1997.

     

    1. Bộ Kế hoạch – Đầu tư. Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam

     

    1. Nguyễn Anh Tuấn. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng. NXB Thế giới – 1994.

     

    1. Vũ Chí Lộc. Giáo trình đầu tư nước ngoài. NXB Giáo dục – 1997.

     

    1. Tổng cục Thống kê. Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới (1985 –

     

    1995).

     

    1. Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 96, 97, 98.
    1. Các báo, tạp chí sau:
    • Kinh tế và dự báo số 1+2/97, 4/98, 3/200, 10+11/2000
    • Thời báo kinh tế Sài Gòn số 27, 28, 36/2000
    • Nghiên cứu kinh tế số 1/98, 7/98, 4/99, 11/99, 9/2000
    • Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương số 4/97
    • Thông tin kinh tế xã hội số 2/96
    • Kinh tế và phát triển số 38/2000
    • Công nghiệp số 23/99
    • Phát triển kinh tế số 102/99
    • Thương mại số 1/2000
    • Giao thông vận tải số 1+2/2000

    Trang 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo thực tập tốt nghiệp ở Khoa dược bệnh viện đa khoa Kon Tum


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/PH%C3%82N-C%E1%BA%A4P-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-KINH-T%E1%BA%BE-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM-NH%C3%8CN-T%E1%BB%AA-G%C3%93C-%C4%90%E1%BB%98-TH%E1%BB%82-CH%E1%BA%BE.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TTIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ

    PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ1

    1.       Giới thiệu

    Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam được khởi động từ Đổi mới (1986) và được tăng tốc từ cuối thập niên 1990. Đồng thời, phạm vi phân cấp cũng liên tục được mở rộng, cho đến giữa thập niên 2000 đã bao trùm sáu lĩnh vực chính là: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển; ngân sách nhà nước; đất đai, tài nguyên; doanh nghiệp nhà nước; hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức. Chính phủ kỳ vọng rằng chính sách phân cấp sẽ giúp “phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.”2

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế, kết quả thu được không như kỳ vọng. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh các giữa chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

    Trong quá trình phân cấp ở Việt Nam, nổi lên bốn mâu thuẫn có tính nền tảng trong bản thân hệ thống nhà nước. Thứ nhất, phân cấp ở một quốc gia nhất thể và tôn ti trật tự như Việt Nam nhất thiết đòi hỏi sự chuyển đổi vai trò của nhà nước, từ vai trò truyền thống như người ra và thực hiện quyết định trở thành người định hướng và xác lập luật chơi. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này không hề đơn giản vì nó kéo theo không

    • Bài viết này do TS. Vũ Thành Tự Anh thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Bài viết này được thực hiện hoàn toàn với danh nghĩa cá nhân, và do vậy, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hay của Chương trình Việt Nam tại Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy. Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét quý báu của người thảo luận – Ông Trương Đình Tuyển – cố vấn cao cấp của Thủ tướng Chính phủ và nguyên Bộ trưởng Bộ Thương Mại. Đề nghị không phổ biến và trích dẫn nếu không được

    sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.

    • Nghị quyết 08/2004/NQ-CP.

     

    1

    chỉ thay đổi về tổ chức nội bộ, minh định lại các nhiệm vụ và chức năng, mà còn làm xói mòn quyền lực có tính tùy định vốn có của nhà nước. Thứ hai, trách nhiệm được phân cấp nhiều hơn trong nhiều trường hợp không đi đôi với sự gia tăng nguồn lực một cách cân xứng, khiến cho địa phương bị quá tải. Thứ ba, việc tăng tính tự chủ cho chính quyền địa phương không tự nó đảm bảo trách nhiệm giải trình. Và thứ tư, việc tăng tính tự quản (self-governance) của chính quyền địa phương trong nhiều trường hợp thực tế đã dẫn tới việc phá vỡ tính thống nhất của chính sách quốc gia.

    Theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này sẽ đánh giá tổng quan về phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam trên các phương diện cơ sở lý thuyết, bản chất, và những nguyên tắc của phân cấp; thực trạng phân cấp kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua và những hệ quả của nó; từ đó đưa ra những khuyến nghị về đổi mới chính sách phân cấp. Vì tính chất tổng quan, bài viết này sẽ không đi sâu vào các khía cạnh cụ thể của phân cấp – là chủ đề của các bài viết khác trong Diễn đàn này – mà tập trung vào các vấn đề chung, xuyên suốt các khía cạnh khác nhau của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng theo yêu cầu của UBKT Quốc hội, bài viết này chỉ tập trung phân tích mối quan hệ phân quyền giữa hai cấp chính quyền quan trọng nhất – đó là giữa chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng phân cấp là một khái niệm rất đa diện, và như sẽ chỉ ra trong bài viết này, việc chỉ thu hẹp mối quan tâm vào một số phương diện sẽ có nguy cơ dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức, thậm chí phiến diện trong thiết kế chính sách.

    • thời điểm hiện nay, việc thảo luận về định hình lại chính sách phân cấp đặc biệt thích hợp khi quá trình sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Quốc hội, trong đó mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung ương và địa phương hiển nhiên là một nội dung trọng yếu. Bên cạnh đó, hai đạo luật đặc biệt quan trọng đối với phân cấp là Luật Đầu tư công – mua sắm công và Luật Đất đai (sửa đổi) đã được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm 2013. Hơn nữa, việc sửa đổi các Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, và Luật ngân sách nhà nước sẽ được đưa vào chương trình xây dựng luật của năm

    2014.

    All data used for this analysis were obtained either from official government sources, including the General Statistical Office (GSO), Ministry of Finance (MOF), Ministry of Planning and Investment (MPI), or from studies funded by international donors such as the World Bank, UNDP, and USAID.

    Phần còn lại của bài viết này được chia thành năm phần. Phần 2 trình bày ngắn gọn khái niệm phân cấp. Phần 3 giải thích tại sao lại cần phân cấp từ góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn. Phần 4 thảo luận một cách khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

    2

    kể từ Đổi mới trở lại đây. Phần 5 sẽ đánh giá một cách tổng quan những thành công và hạn chế của phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam. Phần 6 sẽ kết luận và đưa ra một số gợi ý chính sách, trong đó nhấn mạnh nhu cầu thay đổi một cách cơ bản quan niệm về phân cấp và thiết kế phân cấp ở Việt Nam.

    2.       Khái niệm phân cấp

    Phân cấp (decentralization) là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các chính quyền địa phương hay cho khu vực kinh tế tư nhân. Ở một số quốc gia đang tiến hành chuyển đổi hệ thống kinh tế như Việt Nam, phân cấp còn bao hàm sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và cho thị trường. Các hình thức phân cấp này có đặc điểm chung là đều bắt đầu với sự minh định lại vai trò của nhà nước, để trên cơ sở đó tiến hành phân định quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa nhà nước với thị trường, và giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân và khu vực dân sự.

    Các lĩnh vực của phân cấp rất rộng, tuy nhiên về đại thể có thể chia thành bốn nhóm chính như sau:

    • : mục đích là tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân và các

    thể chế dân cử được tham gia và có tiếng nói trong quá trình hoạch định chính

    sách ở địa phương. Thông qua phân cấp chính trị, chính quyền địa phương và

    các đại biểu dân cử sẽ có trách nhiệm giải trình cao hơn trước người dân địa

    phương.

    • : là việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm trong việc

    thực hiện các nhiệm vụ công từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa

    phương. Thông qua quá trình này, công tác kế hoạch, quy hoạch, quản lý, điều

    hành, thậm chí cả tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công sẽ được

    chuyển giao từ cấp trung ương xuống các cơ quan hành chính địa phương. Phân

    cấp hành chính được chia thành 3 nhóm

    • Phi tập trung (deconcentralization) là hình thức chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm cho các đơn vị đại diện chính quyền trung ương ở các vùng hay địa phương (ví dụ văn phòng đại diện của bộ ở các vùng , theo đó các cơ quan đại diện này thực thi các chính sách quốc gia do các cơ quan trung ương ban hành. Đây là hình thức thấp nhất trong các hình thức phân cấp hành chính, thậm chí có người cho rằng nó không phải là hình

    thức phân cấp bởi vì việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chỉ diễn ra trong nội bộ ngành dọc của trung ương.

    • Uỷ quyền (delegation) là hình thức phân cấp hành chính trong đó chính quyền trung ương chuyển giao quyền quyết định và trách nhiệm điều hành cho cơ quan địa phương trong khuôn khổ các hướng dẫn do chính

    3

    quyền cấp cao hơn ban hành. Trong hình thức phân cấp này, chính quyền địa phương thay mặt chính quyền trung ương để ra quyết định, song chính quyền trung ương vẫn chịu trách nhiệm về các quyết định này.

    o    Phân ề (devolution): là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất theo đó toàn bộ chức năng ra quyết định, quản lý và tài chính được chuyển giao cho chính quyền địa phương. Trong các trường hợp cụ thể, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm giải trình trước các quan chức dân cử. Đồng thời, các quan chức dân cử sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri chứ không phải là trước chính quyền các cấp cao hơn.

    • Phân c p ngân sách: là trọng tâm của mọi biện pháp phân cấp. Mỗi đơn vị phân cấp chỉ có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp khi họ có đủ các nguồn lực cần thiết và có quyền đưa ra các quyết định chi tiêu. Bốn nội dung trọng tâm của phân cấp ngân sách bao gồm (i) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chi tiêu; (ii) chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm thu ngân sách; (iii) chuyển giao ngân sách từ trung ương cho địa phương và điều tiết ngân sách từ

    địa phương về trung ương; và (iv quy định về khả năng đi vay và phát hành nợ của chính quyền địa phương.

    • Phân c p th ường: là hình thức phân cấp trong đó nhà nước chuyển giao một số chức năng từ khu vực công sang khu vực tư và từ nhà nước sang thị trường. Như vậy một số quyền hạn và nhiệm vụ trước đây thuộc các cơ quan nhà nước sẽ được chuyển giao cho khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã, các hiệp hội, và các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Hình thức này lại có thể được phân thành hai nhóm, bao gồm: (i) “tư nhân hoá” – chuyển giao việc cung ứng một số sản phẩm và dịch vụ từ nhà nước sang các chủ thể ngoài nhà nước; và (ii) giải quy chế – giảm các rào cản hành chính, tạo điều kiện cho các chủ thể ngoài nhà nước tham gia vào thị trường.

    Cách phân loại phân cấp thứ hai không căn cứ vào lĩnh vực phân cấp mà căn cứ vào các chức ă g trong quá trình hoạch định chính sách công. Theo cách phân loại này, việc phân cấp có thể được thực hiện đối với một số hoặc toàn bộ các chức năng hoạch định chính sách công, từ việc đưa ra đề xuất chính sách và lập kế hoạch cho đến việc thực hiện, giám sát, và đánh giá chính sách.

    4

    Hình 1. Sơ đồ nội dung và chức năng phân cấp

    Trung Ương

     Hoạch định Phân cấp chính trị

    Tài trợ

    Phân cấp hành chính

    Địa phương Thực hiện
     

    Phân cấp ngân sách

    Giám sát

    Phân cấp thị trường

     Kiểm toán, đánh giá Các cấp NS thấp

    hơn

    Khái niệm và hai cách phân loại phân cấp được minh họa trong

    Hình 1. Sự kết hợp giữa hai cách phân loại này có thể đưa đến rất nhiều cấu hình (hay trạng thái) phân cấp khác nhau. Nói cách khác, lựa chọn trong việc thiết kế phân cấp không đơn thuần là “có” hay “không” phân cấp, mà là phối hợp các nội dung và các chức năng phân cấp như thế nào để tạo ra cấu hình phân cấp mong muốn. Bên cạnh đó, vì các nội dung và chức năng phân cấp có tính tương tác, nên khi thiết kế chính sách phân cấp, cần rất lưu ý đến trình tự và sự phối hợp giữa các nội dung và chức năng phân cấp để tạo ra hiệu quả tổng hợp cao nhất. Chẳng hạn như trong phạm vi của phân cấp ngân sách, nếu như phân cấp nguồn thu không đi trước, hoặc ít nhất là đi đôi với phân cấp nhiệm vụ chi thì địa phương sẽ không đủ nguồn tài chính để thực hiện những nhiệm vụ được giao thêm. Một ví dụ khác là nếu như việc phân cấp chức năng hoạch định và thực hiện đầu tư cho địa phương nhưng lại không đi kèm với những biện pháp đánh giá và điều phối thích hợp thì có thể dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả và lãng phí.

    Cần lưu ý rằng chính sách và quá trình phân cấp không được định hình và thực hiện một cách biệt lập mà trong một môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và pháp

    5

    luật nhất định – gọi chung là môi trường thế chế theo nghĩa rộng của thuật ngữ này3. Do vậy, thiết kế – và đương nhiên là cả kết quả – của chính sách phân cấp phụ thuộc vào môi trường thế chế chung của quốc gia. Một cách khái quát, các môi trường thể chế khác nhau sẽ tạo ra những động cơ khuyến khích khác nhau, từ đó đưa đến những hành vi và cuối cùng là các kết quả khác nhau. Những kết quả này, đến lượt mình, lại có tác động trở lại đối với môi trường thể chế, có thể theo hướng củng cố mà cũng có thể theo hướng làm rạn nứt các thể chế hiện tại. Và vòng lặp này cứ thế tiếp tục tái diễn.

    3.       Tại sao cần phân cấp?

    Làn sóng phân cấp trên thế giới trong mấy thập niên trở lại đây xuất phát từ cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Về phương diện lý thuyết, theo Stigler (1957) thì “một chính phủ đại diện hoạt động tốt nhất khi nó ở gần dân nhất” và “người dân phải có quyền bỏ phiếu cho loại hình và số lượng dịch vụ công mà họ cần”. Còn Olson (1969 đề xuất “nguyên lý tài khóa tương đương” như là tiêu chuẩn cho sự thiết kế phân chia quyền hạn giữa các cấp chính quyền, theo đó phạm vi của quyền hạn và lợi ích của dịch vụ công phải trùng nhau nhằm đảm bảo lợi ích biên của việc cung cấp dịch vụ công ngang bằng chi phí biên của nó và rằng không có vấn đề “người ăn theo”. Oates (1972 sau đó cụ thể hóa thêm khi viết rằng “dịch vụ công nên do cấp chính quyền đại diện tốt nhất cho vùng hay địa phương được hưởng lợi cung cấp” và “mỗi dịch vụ công nên được cung ứng bởi cấp chính quyền kiểm soát được khu vực địa lý tối thiểu trong đó “nội hóa” được các lợi ích và chi phí của việc cung cấp dịch vụ công này.”

    Lý thuyết của những học giả tiên phong về phân cấp này cũng như các lý thuyết phân cấp về sau (Shah 2004, WB 2010) đều cho rằng nhờ ở gần dân hơn nên so với chính quyền trung ương chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn về nhu cầu và ý nguyện của người dân, đồng thời thấu hiểu hơn những điều kiện đặc thù của địa phương. Vì vậy, chính quyền địa phương có thể đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước các yêu cầu của người dân, và do vậy thích hợp hơn trong việc ra các quyết định tác động trực tiếp đến phúc lợi của người dân địa phương. Ở chiều ngược lại, vì người dân ở gần chính quyền địa phương hơn nên tiếng nói của họ cũng được chính quyền cảm nhận một cách nhanh chóng và rõ ràng hơn. Tựu trung lại, các lý thuyết về phân cấp cho rằng việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương xuống cho chính quyền địa phương, nhờ đó đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn, sẽ giúp tăng cường hiệu quả, tính công bằng, sự minh bạch, và trách nhiệm giải trình của khu vực công.

    Những lý thuyết này dựa trên một số giả định (điều kiện tiền đề), trong đó quan trọng nhất là những giả định về:

    • Thể chế (institution theo Douglass North (1990 bao gồm các quy tắc thành văn và không thành văn cũng những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.

     

    6

    • Minh bạch thông tin: Cộng đồng dân cư địa phương phải được tiếp cận thông tin về các quyết định công một cách đầy đủ, kịp thời, và chính xác. Chẳng hạn như khi chính quyền địa phương cung ứng một hàng hóa hay dịch vụ công thì người dân phải được thông tin về các lựa chọn chính sách khả hữu cùng với chi phí và lợi ích của chúng. Nếu thông tin được minh bạch thì một mặt sẽ giúp đảm bảo rằng việc cung ứng hàng hóa – dịch vụ công là có ý nghĩa, mặt khác giúp cộng đồng dân cư giảm sát một cách hiệu quả đối với kết quả hoạt động của chính quyền địa phương.
    • Tiếng nói: Tồn tại những cơ chế có hiệu lực để cộng đồng dân cư địa phương truyền đạt ý nguyện và các ưu tiên của mình tới chính quyền. Điều này, cùng với yêu cầu về minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình sẽ khuyến khích người dân tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách để bảo vệ lợi ích của mình và của cộng đồng.
    • Trách nhiệm giải trình: Đối tượng được phân cấp phải có trách nhiệm giải trình

    hai chiều: với chính quyền cấp trên mà từ đó trách nhiệm và quyền lực được phân cấp xuống dưới và với các đối tượng phía dưới chịu tác động trực tiếp của phân cấp. Lấy ví dụ như phân cấp từ chính quyền trung ương cho địa phương.

    Chính quyền địa phương khi ấy phải chịu trách nhiệm giải trình trong việc tuân thủ chủ trương, chính sách do chính quyền trung ương ban hành; đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình trước người dân địa phương về chất lượng phục vụ của mình. Nếu thiếu những cơ chế đảm bảo trách nhiệm giải trình ở cả hai chiều này thì việc đưa cấp chính quyền ra quyết định đến gần dân hơn một mặt không

    đảm bảo nó sẽ phục vụ người dân tốt hơn, mặt khác lại đưa nó ra xa khỏi tầm quản lý của chính quyền trung ương.

    • Nguồn lực: Ngay cả khi thông tin minh bạch, người dân có tiếng nói, và chính quyền địa phương có trách nhiệm song lại không đủ nguồn lực thì cũng không thể đáp ứng một cách có hiệu quả các ý nguyện của người dân. Nói cách khác, nếu tiền và các nguồn lực khác không đi theo sự gia tăng quyền hạn và trách nhiệm thì phân cấp sẽ rất khó thành công.4
    • Quy mô: Đơn vị phân cấp nên có quy mô đủ lớn để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời bao trùm được các lợi ích và chi phí của các hoạt động hay chức năng được phân cấp (để có thể “nội hóa” được ngoại tác, cả tiêu cực lẫn tích cực). Quy mô của đơn vị phân cấp đủ lớn – hay số lượng đơn vị phân cấp đủ nhỏ – còn giúp cho việc điều phối chính sách của trung ương cũng như phối hợp chính sách liên địa phương hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu quy mô phân cấp quá bé và số lượng đơn vị phân cấp quá nhiều sẽ dễ dẫn đến cạnh tranh
    • Điều này cũng hàm ý rằng, ít nhất từ phương diện lý thuyết, các địa phương với nguồn lực và năng lực khác nhau sẽ nên được phân cấp các quyền hạn và trách nhiệm không giống nhau.

     

    7

    không lành mạnh thay vì hợp tác giữa các địa phương. Điều này một mặt làm tăng chi phí và xói mòn tác dụng của phân cấp, mặt khác còn có thể đưa đến nhiều tác động tiêu cực đối với nền kinh tế quốc gia.

    Các giả định này đồng thời là những điều kiện cần (mặc dù chưa đủ) cho sự thành công của hoạt động phân cấp. Có thể thấy rằng cả năm điều kiện này đều chịu tác động, thậm chí trong một chừng mực nào đó là sản phẩm của môi trường thể chế. Vì vậy, để phân cấp thành công thì những yếu tố của môi trường thể chế phải được điều chỉnh sao cho chúng vận hành cùng chiều và hỗ trợ cho quá trình phân cấp. Tuy nhiên, thể chế thường có tính tự duy trì, vì vậy trong nhiều trường hợp không những không hỗ trợ mà còn cản trở phân cấp.

    Từ góc độ thực tiễn, hầu hết các chương trình phân cấp của các quốc gia trên thế giới trong vòng hai thập niên trở lại đây xuất phát từ những động cơ và quan ngại về chính trị (xem thêm Shah 2004). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phân cấp không hề bị thúc đẩy bởi các yếu tố thực tiễn có tính phi chính trị. Sự chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như hiện nay đương nhiên đòi hỏi phải xác định lại một cách cơ bản vai trò của nhà nước, và đi kèm với nó, là tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phân cấp và phân quyền nhiều hơn. Ở những quốc gia nơi chính quyền trung ương luôn bị quá tải, phân cấp được đẩy mạnh với kỳ vọng rằng nó sẽ giúp giải tỏa những ách tắc trong quá trình ra quyết định, giảm bớt sự phiền hà của thủ tục hành chính, và tăng tính nhạy cảm của chính quyền trước nhu cầu, ý nguyện, và điều kiện đặc thù của địa phương. Ở những quốc gia có thành phần dân tộc và tôn giáo phức tạp và dễ xung đột, phân cấp được kỳ vọng sẽ đem lại sự tham gia và tiếng nói của những thành phần thiểu số, dễ bị tổn thương, và qua đó góp phần duy trì tính cố kết dân tộc.

    Bảng 1. Các xu thể thay đổi quản trị nhà nước trong thế kỷ 21

        THẾ K  20       THẾ K  21
                     
    Nhất thể   Liên bang
    Tập trung   •  Toàn cầu hóa và địa phương hoá5
    •  Trung ương quản lý   •  Trung ương lãnh đạo
    Quan liêu   Cùng tham gia
    •  Chỉ huy, kiểm soát   •  Đáp ứng nhu cầu của dân
    •  Kiểm soát đầu vào   •  Chú trọng đầu ra (kết quả)
    •  Trách nhiệm giải trình từ trên xuống   •  Trách nhiệm giải trình từ dưới lên
    •  Phụ thuộc nội bộ   Cạnh tranh
    Đóng và chậm   Nhanh và mở
    •  Không chấp nhận rủi ro   Tự quyết định thất bại thành công
                     
    • : Shah, Anwar (2004).
    • Thuật ngữ Shah sử dụng để miêu tả quá trình toàn cầu hóa song hành với địa phương hóa này là “glocalization”.

     

    8

    Từ góc độ quản trị nhà nước (public governance), theo Shah (2004), tiến trình phân cấp

    • các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển còn được thúc đẩy bởi làn sóng toàn cầu hóa và xu thế dân chủ hóa từ cuối thập niên 1980. Toàn cầu hóa biến thế giới thành một “ngôi làng toàn cầu” và thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia. Điều này, đến lượt

    mình, đòi hỏi chính quyền địa phương phải có nhiều thẩm quyền hơn và gần dân hơn để có thể phản ứng một cách hiệu quả hơn đối với những cơ hội và thách thức mới nổi lên của toàn cầu hóa. Song song với sự trao quyền này, chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giải trình và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Shah (2004 đã tổng kết các xu hướng thay đổi trong quản trị nhà nước trên thế giới trong thế kỷ 20 và 21 trong Bảng 1.

    4. Khái lược về chủ trương phân cấp ở Việt Nam

    Trong suốt lịch sử Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập dân tộc vào thế kỷ thứ X cho đến trước Đổi mới, dù ở chế độ phong kiến, dưới thời thực dân đô hộ, hay trong giai đoạn quá độ kế hoạch hóa tập trung, tuy mức độ nặng nhẹ khác nhau song cấu trúc nhà nước đều thiên về tập quyền hơn là phân cấp. Chính quyền trung ương luôn nắm hầu hết quyền lực mang tính quyết định, phân cấp nếu được sử dụng cũng rất giới hạn. Hệ quả là chính quyền địa phương hầu như lệ thuộc vào chính quyền trung ương cả về chính sách, ngân sách và nhân sự.

    Tuy vậy, trong đời sống thực tiễn, bên cạnh cấu trúc tập trung đậm nét, vẫn tồn tại vai trò của làng xã trong việc cung ứng hàng hóa công và giải quyết các sự vụ có tính địa phương, đặc biệt là ở miền Bắc.6 Hương ước của làng cũng là một điểm đặc biệt trong hệ thống luật pháp Việt Nam trong những thế kỷ trước, thể hiện một mức độ tự quản nhất định của làng. Nhưng dù làng có vị thế như vậy nhưng nó chưa bao giờ được thừa nhận như một đơn vị hành chính chính thức của bộ máy chính quyền. Lý trưởng trước kia và trưởng thôn ngày nay mặc dù được hưởng trợ cấp từ ngân sách nhưng không phải là công chức trong hệ thống hành chính. Như vậy, quyền lực của làng mang tính phi chính thức và chỉ có thể giải quyết được một số vấn đề với quy mô nhỏ trong phạm vi của làng.

    Ngay từ giai đoạn đầu của Đổi Mới, vấn đề phân cấp đã được Đảng nhìn nhận một cách nghiêm túc và được đưa ngay vào Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986):

    “Phải lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý kinh tế, xã hội. Chính cơ chế quản lý còn nặng tính chất tập trung quan liêu, vừa gò bó cấp dưới, vừa làm giảm hiệu lực quản lý tập trung là nguyên nhân trực tiếp làm rối loạn trật tự, kỷ cương. Vì vậy, không thể khắc phục sự rối ren bằng cách quay

    • Những câu tục ngữ như “phép vua thua lệ làng” hoặc nhận định Việt nam tuy có nhiều thời gian dài bị mất nước nhưng chưa bao giờ bị mất làng là những biểu hiện của sức sống của làng.

     

    9

    trở lại cơ chế cũ, mà phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý (chữ in nghiêng do tác giả nhấn mạnh) theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Việc phân cấp quản lý phải bảo đảm quyền làm chủ của ba cấp: quyền quyết định của trung ương (bao gồm cả các ngành trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, bảo đảm cho sự phát triển cân đối của toàn bộ nền kinh tế; quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ; quyền tự chủ sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở và vai trò làm chủ của các tập thể lao động. Trong sự phân công, phân cấp quản lý, trách nhiệm phải đi đôi với quyền hạn, nghĩa vụ gắn liền với lợi ích.”7

    Mặc dù có chủ trương song lý luận về phân cấp, đặc biệt là lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế mới, vẫn chưa rõ ràng, thiếu hệ thống, và còn nhiều khoảng trống. Vì vậy, sau một thời gian dài, phân cấp chưa đáp ứng được mục tiêu và đi sau thực tiễn như được thừa nhận trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP như sau:

    Tuy nhiên, quá trình đổi mới phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp vừa qua xét về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, còn nhiều hạn chế, bất hợp lý:

    • Phân cấp nhưng chưa bảo đảm quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán, cục bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chưa chú trọng việc thanh tra, kiểm tra đối với những việc đã phân cấp cho địa phương.
    • Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ công, đại diện chủ sở hữu đối với các tổ chức kinh tế nhà nước và tài sản nhà nước. Chưa xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp, của tập thể và cá nhân đối với những nhiệm vụ đã được phân cấp.
    • Phân cấp nhiệm vụ cho cấp dưới, nhưng chưa bảo đảm tương ứng các

    điều kiện cần thiết để thực hiện, còn thiếu sự ăn khớp, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực có liên quan, chưa tạo điều kiện thực tế cho địa phương chủ động cân đối các nguồn lực và các nhu cầu cụ thể của mình.

    • Một số nội dung phân cấp đã được pháp luật quy định nhưng chậm

    được triển khai thực hiện hoặc thực hiện không triệt để. Mặt khác, các

    7Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, trang 747

    10

    quy định phân cấp hiện hành chưa phù hợp với thực tiễn của mỗi khu vực, vùng lãnh thổ, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn.

    Những hạn chế, bất cập trên đây do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân: nhận thức, quan điểm về các chủ trương, giải pháp phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh chưa rõ ràng, rành mạch, thiếu nhất quán, lo ngại phân cấp mạnh dẫn đến tình trạng cục bộ, cát cứ, phân tán. Trong tổ chức chỉ đạo còn thiếu quyết tâm, mạnh dạn từ xây dựng, ban hành thể chế, chính sách đến tổ chức thực hiện; chưa chú trọng tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng với yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong tình hình mới.

    Mặc dù đồng ý với hầu hết những nhận định về nhược điểm của phân cấp của Chính phủ, song chúng vẫn chưa chạm đến những nguyên nhân cốt lõi – những nguyên nhân đã ăn sâu bám rễ trong hệ thống thể chế hiện tại. Cụ thể là Chính phủ luôn cố gắng bảo về quyền lực tối cao của trung ương, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền lực chính trị, ngân sách, và bổ nhiệm nhân sự. Một hệ quả của thực tế này là quan niệm về phân cấp ở Việt Nam chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi phân cấp quản lý kinh tế chứ hầu như không bao gồm phân cấp chính trị và nhân sự.8 Bên cạnh đó, việc định nghĩa lại vai trò của nhà nước trong một nền kinh tế ở đó khu vực tư nhân đóng vai trò động lực và quan trọng nhất cũng không được đặt ra. Không những thế, ngay cả khi khu vực nhà nước (cụ thể là DNNN, đầu tư công, và ngân hàng thương mại nhà nước được công nhận là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế trong giai đoạn gần đây thì các chương trình tái cơ cấu của chính phủ vẫn khẳng định nhiệm vụ hàng đầu là khôi phục và khẳng định vị trí chủ đạo, chủ lực của khu vực này.

    Với nhận định như vậy về những hạn chế trong chính sách và triển khai phân cấp, Nghị quyết 08 tiếp tục khẳng định mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước, đồng thời đưa ra một hệ thống quan điểm và nguyên tắc phân cấp như sau:

    1. Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, bảo đảm quản lý thống nhất của Chính phủ về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra; đồng thời phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
    1. Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ những nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ,
    • Như sẽ chứng minh ở một phần dưới, ngay trong địa hạt kinh tế, phân cấp ngân sách trên thực tế không những không làm tăng sự tự chủ mà trái lại còn làm tăng sự phụ thuộc của chính quyền địa phương vào trung ương.

     

    11

    ngành với nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với các hoạt động kinh tế – xã hội trên địa bàn lãnh thổ.

    1. Bảo đảm nguyên tắc hiệu quả, việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn các yêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện; phân cấp phải rõ việc, rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp.
    1. Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn,

    đặc thù của ngành, lĩnh vực, điều kiện và khả năng phát triển của từng khu vực, vùng lãnh thổ, với từng loại hình đô thị, nông thôn, với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.

    1. Phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; phải

    đồng bộ, ăn khớp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan.

    1. Bảo đảm quyền và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định, thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp; chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời phát huy dân chủ rộng rãi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
    1. Phân cấp phải thể hiện được sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị cơ sở.
    1. Đối với những vấn đề đã phân cấp, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện; các bộ, ngành trung ương có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc trái với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét.

    Bên cạnh những quan điểm và nguyên tắc chính thống được liệt kê ở trên thì trên thực tế, chính sách phân cấp ở Việt Nam còn được định hướng bởi hai nguyên tắc quan trọng khác. Nguyên tắc đầu tiên là “phân cấp từ trên xuống”, có nghĩa là những gì ở cấp trên không cần làm thì cấp dưới sẽ thực hiện” (từ trên xuống), hoàn toàn không tương ứng với nguyên tắc phân cấp phổ biến trên thế giới là “những gì cấp dưới không làm được thì cấp trên mới phải làm” (từ dưới lên). Nguyên tắc phân cấp từ trên xuống đã đẩy đến hiện tượng “cấp dưới luôn cảm thây bị gò bó và cấp trên luôn ở trong tình trạng “quá tải” và không thể kiểm soát được đồng thời tiếp tục làm tăng tính “ỷ lại” ở chính quyền cấp dưới.

    Nguyên tắc thứ hai là phân cấp theo quy mô, hay còn gọi là “nắm to, buông nhỏ”. Đây là một trong những tiêu chí chủ đạo trong quá trình phân cấp ở Việt nam, đặc biệt trong

    12

    vấn đề quản lý đầu tư và DNNN. Song quy mô đầu tư không phải lúc nào cũng tương ứng với tính chất và mức độ ảnh hưởng của dự án đầu tư. Chính nguyên tắc phân cấp này đã gây khó khăn không nhỏ cho các địa phương và đó cũng là một nguyên nhân khiến họ phải tìm những biện pháp “xé rào” để thu hút đầu tư nước ngoài.9

    5. Đánh giá khái quát kết quả phân cấp ở Việt Nam

    Việc đánh giá một chính sách lớn và phức tạp như phân cấp phải dựa trên nhiều nghiên cứu toàn diện, tỉ mỉ, và được tiến hành một cách khách quan. Đáng tiếc là cho đến thời điểm này, chúng ta hầu như chưa có những nghiên cứu như vậy.10 Mục đích của phần này, vì vậy, chỉ khiêm tốn là đưa ra một số đánh giá có tính khái quát từ góc độ thể chế về những thành công và hạn chế của việc thiết kế và thực hiện phân cấp, để từ đó làm cơ sở đưa ra những khuyến nghị chính sách cụ thể.

    5.1. Một số thành công của chính sách phân c p

    Có thể nói những thành công lớn nhất trong chính sách phân cấp ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đều gắn liền với sự hạn chế bớt vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế và sự tham gia ngày một tăng của thị trường và của khu vực dân doanh. Điều này xuất phát từ một thực tế là bản chất của quá trình cải cách ở Việt Nam kể từ năm 1986 là sự chuyển đổi vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Cho đến nay, ngoại trừ những hoạt động độc quyền hay tựa độc quyền của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước chiếm khoảng 20-25% GDP của cả nước, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang thị trường phi tập trung. Chính vì vậy, không ngạc nhiên khi nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới đến từ quá trình phân cấp thị trường. Có thể kể ra đây một vài ví dụ điển hình. Sự chuyển đổi của khu vực nông nghiệp trong giai đoạn cuối thập niên 1980 là kết quả trực tiếp của một loạt những thay đổi thể chế quan trọng như việc ban hành Luật đất đai 1987 công nhận những quyền sử dụng đất cơ bản, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (Khoán 10) vào tháng 4/1988 qua đó công nhận loại hình kinh tế hộ trong nông nghiệp, giảm vị trí độc quyền của kinh tế quốc doanh trong sản xuất và phân phối lúa gạo v.v. Kết qủa là chỉ sau một năm, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nhập khẩu lương thực, và sau đó vài năm trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

    Một thành tựu nữa của công cuộc Đổi mới được ghi nhận vào đầu những năm 1990 khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, và kéo theo nó là nguồn viện

    • Xem thêm Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2010 nhan đề “Các thể chế hiện đại” là một ngoại lệ. Tuy nhiên, như sẽ chỉ ra trong bài viết này, ý kiến khách quan – ít nhất là về mặt hình thức – của các nhà tài trợ nước ngoài về thành công và thất bại của phân cấp trong một số trường hợp cũng vẫn còn có ý kiến khác nhau.

     

    trợ nước ngoài lớn nhất của Việt Nam khi ấy. Cũng trong thời gian đó, Mỹ vẫn còn áp đặt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Kết quả là Việt Nam gần như hoàn toàn bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài. Một lần nữa, khu vực tư nhân – lần này là doanh nghiệp tư nhân – lại được giải phóng và trở thành cứu tinh của nền kinh tế thông qua Luật Công ty 1990, trong đó công nhận quyền sở hữu tư nhân và vai trò của khu vực tư nhân trong sự phát triển của nền kinh tế. Kể từ đó, nhà nước đã dần dần từ bỏ vị trí độc tôn của mình trong các ngành công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ. Việc thông qua Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 sau đó tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thị trường bằng việc tái khẳng định quyền tự do kinh doanh của người dân và giảm bớt chi phí giao dịch khi đăng ký thành lập công ty. Sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành, một số lượng kỷ lục các doanh nghiệp tư nhân đã được thành lập nhờ thủ tục đăng ký kinh doanh giờ đây đã trở nên dễ dàng hơn. Khối lượng vốn khổng lồ trong nước được các doanh nghiệp này huy động đã giúp cho Việt Nam hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997-1998 và duy trì một tốc độ tăng trưởng cao kể từ năm 2000.

    Từ những thành công trong phân cấp thị trường này, có thể rút ra một bài học là, nếu như ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới, nhận thức và lý luận về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, đồng thời lý luận về phân cấp (theo nghĩa rộng được nghiên cứu một cách nghiêm túc thì Việt nam đã có thể thiết kế được một lộ trình tương đối rõ ràng cho quá trình chuyển đổi và có thể hạn chế được rất nhiều sai lầm về thiết kế và triển khai chính sách phân cấp trong suốt hơn môt phần tư thế kỷ qua.

    Đối với các nội dung khác của phân cấp – bao gồm phân cấp chính trị, ngân sách, và quản lý hành chính – tuy Việt Nam cũng đã thu được một số thành công với các mức độ khác nhau, song những thành công này không thực sự thuyết phục như trường hợp phân cấp thị trường. Điều này có thể thấy rõ qua những đánh giá về sáu nội dung phân cấp được đề ra trong Nghị quyết 08 của Chính phủ trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010 và những bài viết của những tác giả khác trong Diễn đàn kinh tế mùa Thu 2012.11 Để không lặp lại nội dung của các tác giả khác, trong phần kế tiếp, bài viết này sẽ trình bày một số hạn chế phổ biến trong các hình thức phân cấp ở Việt Nam và phân tích những nguyên nhân cơ bản nằm đằng sau những hạn chế này.

    5.2. Một số   ượ      điểm trong thiết kế và thực hiện chính sách phân c p ở Việt Nam

    1. a) Phân c ưa thực sự đi kèm với nhữ g điều kiện cần để phân c p hiệu quả
    • Sáu nội dung phân cấp này bao gồm: (1) phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; (2 phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; (3 phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; (4 phân cấp quản lý doanh

    nghiệp nhà nước; (5 phân cấp quản lý các hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công; và (6 phân cấp quản lý về tổ chức bộ máy và cán bộ công chức.

    Như đã thảo luận ở Phần 2, lý thuyết và thực tiễn phân cấp cho thấy, để phân cấp một cách hiệu quả và công bằng thì phân cấp phải được thực hiện cùng với các điều kiện về minh bạch thông tin, tiếng nói, trách nhiệm giải trình, nguồn lực, và quy mô. Để đánh giá thực trạng của các điều kiện cần này, một cách lý tưởng, chúng ta cần so sánh số liệu trước và sau khi tiến hành phân cấp. Tuy nhiên, vì số liệu quá khứ không có nên chúng ta đành phải bằng lòng với việc chủ yếu sử dụng số liệu hiện tại.

    • Thông tin thiếu minh bạch: Số liệu Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công

    cấp tỉnh (PAPI)12 ở Việt Nam cho thấy mức độ minh bạch về thông tin rất thấp. Chẳng hạn như trong cả hai năm 2010 và 2011, trong số hàng ngàn người được phỏng vấn, chỉ khoảng một phần ba đã từng được nghe nói đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn, mặc dù Pháp lệnh này được thực thi từ đầu năm 2007 (Hình 2). Bên cạnh đó, có tới khoảng một phần ba số người được phỏng vấn chưa từng nghe đến khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mặc dù khẩu hiệu này đã được nói đi nói lại nhiều lần từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến nay.

    Hình 2. Tỷ lệ người dân đã từng nghe đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ và khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

    80%                  
      71%              
                     
    70%     65%          
    60%                 Đã từng nghe đến Pháp
                   
    50%                
                   
                    lệnh thực hiện dân chủ cơ
             
    40%                 sở ở xã, phường, thị trấn
      33% 34%          
                 
    30%                 Đã từng nghe đến khẩu
                   
                   
                      hiệu “dân biết, dân bàn,
    20%                 dân làm, dân kiểm tra”
                   
                     
    10%                  
                     
    0%                  
      2010 2011          
                       

    Nguồn: PAPI 2010 và 2011

    Tương tự như vậy, và bất chấp thực tế đất đai là một tài sản vô cùng quan trọng, số liệu PAPI cho thất có tới gần 80% người được phỏng vấn không hề được biết về quy

    • PAPI gồm có 6 chỉ số bộ phận, bao gồm: (i tham gia của người dân ở cấp cơ sở; (ii công khai, minh bạch; (iii trách nhiệm giải trình với người dân; (iv kiểm soát tham nhũng; (v thủ tục hành chính công; và (vi cung ứng dịch vụ công. PAPI được tiến hành lần đầu tiên vào năm 2010 bao gồm 30 tỉnh, sau đó được mở rộng ra tất cả 63 tỉnh thành trong năm 2011.

     

    15

    hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn của họ.13 Tỷ lệ này của năm 2011 còn tăng so với 2010. Bên cạnh đó, có chưa đến 20% số người được phỏng vấn biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở địa phương của họ. Không những thế, con số này còn giảm từ 18,6% trong năm 2010 xuống còn 16,2% trong năm 2011 (

    Hình 3).

    Hình 3. Tỷ lệ người dân được biết về quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất ở xã phường/thị trấn

    90%                    
      76.6% 79.2%                
    80%                  
                       
    70%                    
                  2010    
    60%                
                 
                       
                  2011    
    50%                
                 
                       
                       
    40%                    
                       
    30%                    
        18.6% 16.2%            
    20%                
            5.8%    
    10%         3.8%  
                     
    0%                    
        Không được biết   Được biết nhờ thông   Được biết nhưng qua  
            báo của chính quyền       nguồn khác  

    Ngu n: PAPI 2010 và 2011

    Không chỉ người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin chính sách mà doanh nghiệp cũng gặp phải tình trạng này. Hơn nữa, tình trạng này còn xấu đi trong những năm trở lại đây. Theo số liệu PCI (năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) của VCCI và VNCI thì đa số doanh nghiệp cho rằng cần phải có “mối quan hệ” để có được các tài liệu của tỉnh, và tỷ lệ này tăng từ 62% trong năm 2006 lên 73,3% trong năm 2011. Bên cạnh đó, khả năng dự đoán được việc thực thi pháp luật của tỉnh cũng rất thấp và giảm từ 10,5% trong năm 2006 xuống chỉ còn 8,9% trong năm 2011. Kết quả chung là trong giai đoạn 2006 – 2011, chỉ số đo lường mức độ minh bạch chính sách ở cấp tỉnh ở Việt Nam đã giảm từ 5,8 xuống còn 5,3.

    Bảng 2. Tính minh bạch trong chính sách của chính quyền cấp tỉnh

        Cần có “mối quan hệ” để có Khả năng có thể dự đoán được Minh bạch
        được các tài liệu của tỉnh trong thực thi pháp luật của tỉnh
        nói chung
        (% quan trọng hoặc rất quan (% luôn luôn hoặc thường
         
               
               
    • Số liệu của Báo cáo Phát triển Việt Nam cũng phản ảnh tình trạng “dân không biết” này. Trong số những người quan tâm, có tới hơn một nửa không hề được biết thông tin nào về ngân sách và kế hoạch của xã. Hơn nữa, nếu giả sử họ có được cung cấp thông tin đi chăng nữa thì những thông tin đó cũng không đủ đáp ứng được yêu cầu của họ.

     

    16

      trọng xuyên)  
           
    2006 62.0% 10.5% 5.8
    2011 73.3% 8.9% 5.3

    Ngu n: VCCI và VNCI

    • Trách nhiệm giải trình th p14

    Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào thực sự có hệ thống và đáng tin cậy về trách nhiệm giải trình của các đối tượng được phân cấp, và điều này càng đúng đối với các nghiên cứu có tính định lượng.15 Vì thế, phần này sẽ sử dụng một số trường hợp điển hình nhằm minh họa cho luận điểm rằng trách nhiệm giải trình theo cả hai chiều lên trên và xuống dưới ở Việt Nam nhìn chung còn rất thấp.

    Trường hợp đầu tiên liên quan đến các khiếu kiện về đất đai của người dân. Đã từ lâu, khiếu kiện về đất đai luôn chiếm tới 80-90% tổng số khiếu kiện chính thức của người dân. Điều đáng lưu ý là tuy là hiện tượng phổ biến, song số vụ khiếu kiện về đất đai đột nhiên tăng vọt ngay sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành (Hình 4). Rõ ràng là chính sách phân cấp đi đôi với đạo luật này đã không đảm bảo được trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương đối với người dân, khiến cho số lượng đơn khiếu kiện tăng đột biến.

    Hình 4. Các khiếu nại chính thức liên quan đến đất đai

    Ngu n: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010

    • Có thể thấy trách nhiệm giải trình thấp trong các nội dung phân cấp liên quan đến DNNN (điển hình là trường hợp của Vinashin và quản lý đầu tư công (cụ thể là PMU 18 . Độc giả có thể tham khảo thêm các bài trong kỷ yếu của Diễn đàn kinh tế mùa Xuân 2012.

     

    • Dự án PAPI đã nỗ lực đo lường trách nhiệm giải trình của chính quyền đối với người dân địa phương. Tuy nhiên, với thiết kế câu hỏi như hiện nay, PAPI không thể đo lường (chứ chưa nói đến việc đo lường chính xác trách nhiệm giải trình này.

     

    17

    Trường hợp thứ hai là phong trào “xé rào” trong ưu đãi đầu tư FDI của 32 tỉnh – thành phố trong giai đoạn 2001-2005 trong bối cảnh phân cấp quản lý FDI đang tiếp tục được đẩy mạnh.16 Cụ thể là các tỉnh này đã đưa ra những ưu đãi trái hoặc vượt quá khuôn khổ chính quyền trung ương quy định cho các nhà đầu tư, đặc biệt là trong các khu công nghiệp. Trước tình hình này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định số 1387 ngày 29/12/2005 ra lệnh chấm dứt ngay lập tức các ưu đãi đầu tư trái quy định mà 32 tỉnh đang áp dụng. Nhiều bộ, trong đó có Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên Môi trường, và Văn phòng Chính phủ đã tham gia vào việc ban hành Quyết định này. Quyết định của Thủ tướng cũng đã yêu cầu UBND của tất cả 64 tỉnh thành phải báo cáo về tất cả các

    • phạm trong các quy định về ưu đãi đầu tư.17 32 tỉnh xé rào ngoài ra còn được yêu cầu hải báo cáo về các biện pháp mà họ đã thực hiện để khắc phục những vi phạm

    đã mắc phải. Mặc dù hạn nộp báo cáo là ngày 1 3 2006, nhưng tính đến ngày 14/3/2006, chỉ mới có 14 tỉnh nộp báo cáo, và chỉ có 4 tỉnh trong số này thừa nhận là có vi phạm. Sau đó, chính quyền trung ương một lần nữa lại yêu cầu 50 tỉnh còn lại nộp báo cáo muộn nhất là ngày 15 4 2006. Nhưng cho đến ngày 2/8/2006, vẫn còn 22 tỉnh chưa nộp. Trong số 42 tỉnh đã nộp báo cáo, một số tỉnh báo cáo một cách chiếu lệ về những biện pháp khắc phục mà không hề đưa ra một danh sách các vi phạm như chính quyền trung ương đã yêu cầu. Ví dụ này cho thấy mức độ tuân thủ của chính quyền địa phương đối với quyết định của chính quyền trung ương (còn gọi là trách nhiệm giải trình lên trên) là rất hạn chế.

    • Nguồn lực của đa số đ a ươ  g       t hạn chế:

    Nguồn lực nhiều hơn là điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện những trách nhiệm địa phương được phân cấp thêm. Thoạt nhìn, có vẻ như chính quyền địa phương ở Việt Nam đang được giao ngày càng nhiều ngân sách, thể hiện qua thực tế là cả tỷ lệ thu và chi của cấp chính quyền địa phương so với tổng chi tiêu liên tục tăng trong 10 năm trở lại đây (Hình 5). Cụ thể là tỷ lệ thu ngân sách của địa phương trong tổng thu ngân sách nhà nước đã tăng từ 25% vào năm 2000 lên 38% vào năm 2010. Cũng trong giai đoạn này, tỷ lệ chi ngân sách địa phương trong tổng chi ngân sách nhà nước cũng tăng tương ứng từ 45% lên tới 53%.

    Hình 5. Thu, chi ngân sách ĐP và chuyển giao từ TƯ (1996-2010)

    • Trích từ nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh, Lê Viết Thái, và Võ Tất Thắng (2007 .

     

    • Báo cáo này cần phải được đệ trình đồng thời cho các Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Bộ Tư pháp, và VPCP.

     

    18

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

    Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào bức tranh thu chi ngân sách thì thấy tồn tại một số vấn đề quan trọng. Thứ nhất, tỷ lệ thu ngân sách của địa phương tăng lên trong thời gian gần đây không thực sự xuất phát từ những thay đổi cơ bản trong thiết kế phân cấp ngân sách, mà xuất phát từ việc gia tăng một số nguồn thu được để lại 100% ở địa phương, mà cụ thể là thu từ đất (lớn nhất là thuế chuyển quyền sử dụng đất). Đây là khoản thu có tính nhất thời, không thể duy trì trong dài hạn.

    Thứ hai, trong ngân sách chung của nhà nước, tỷ lệ thu của ngân sách địa phương vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ chi. Điều này có nghĩa là một phần rất lớn trong chi ngân sách của địa phương vẫn phụ thuộc vào các khoản chuyển giao từ chính quyền trung ương, và do vậy làm tăng sự phụ thuộc của địa phương vào trung ương. Điều này đặc biệt đúng với hơn 50 tỉnh hiện đang nhận trợ cấp từ trung ương (Hình 5).

    Bảng 3. Tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn (%

      2003 2005 2010
           
    Hà Nội 12.5 12.4 17.6
    Hồ Chí Minh 10.5 10.1 9.7
    Đà Nẵng 17.3 16.5 15.4
    Cần Thơ 54.4 27.1 36.3
    Hà Giang 312.0 118.7 180.3*
    Vĩnh Phúc 29.1 28.8 13.0
    Nam Định 107.0 174.3 114.5
    Quảng Bình 108.2 109.7
    Khánh Hòa 30.4 24.1 29.3
    Bình Định 73.7 45.2 89.9
    Đắc Lắc 173.8 8.3 77.8
    Đồng Nai 24.3 32.4 26.5*
    Bình Dương 20.7 33.8 25.7
        19  
    Long An 81.6 39.9 24.4
    Bạc Liêu 99.9 21.9 4.5

    Ghi chú: * là số liệu của 2009

    Ngu n: Tính toán từ số liệu của Bộ Tài chính

    Thứ ba, mặc dù tỷ lệ chi ngân sách địa phương tăng, song trong một phần rất lớn trong tỷ lệ tăng thêm này là những khoản chi có tính định mức, và do vậy chính quyền địa phương không hề được tự chủ mà buộc phải tuân theo. Một lần nữa, điều này đặc biệt đúng đối với các tỉnh không tự chủ được ngân sách, tức là không gian tài khóa vừa hẹp vừa thiếu khả năng tự chủ. Bảng 3 trình bày số liệu về tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối trên địa bàn của một số địa phương có tính đại diện cho các mức độ phát triển và vùng miền khác nhau trong các năm 2003, 2005 (là hai năm trước và sau khi Luật Ngân sách 2002 có hiệu lực và 2010 (là năm gần nhất có số liệu). Kết quả cho thấy tỷ lệ chi thường xuyên so với thu cân đối của các địa phương là hết sức khác nhau, thấp nhất là Hồ Chí Minh chỉ có 9,7%, cao nhất là Hà Giang, lên tới 180%. Rõ ràng là với tỷ lệ chi thường xuyên cao như thế này, tất cả nguồn thu cân đối trên địa bàn của Hà Giang chỉ đáp ứng được phân nửa nhu cầu chi thường xuyên, làm cho ngân sách của tỉnh luôn thâm hụt nặng, và vì vậy hoàn toàn không tự chủ.

    • Quy mô đ a ươ g nhận phân c           ươ g đối nhỏ

    Số lượng tỉnh khá lớn làm cho quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp ở Việt Nam tương đối nhỏ. Trên thực tế, đây là đặc điểm chung của các nước Đông Nam

    • Nếu so với các nước Đông Bắc Á thì quy mô trung bình của một đơn vị phân cấp – được đo bằng diện tích, dân số và GDP trung bình, của các nước Đông Nam Á nhỏ hơn rất nhiều (Bảng 4).

    Bảng 4. Quy mô của đơn vị phân cấp: Đông Bắc Á sv. Đông Nam Á (2010

      Số đơn vị Diện tích trung Dân số trung GDP trung  
    Nước bình (triệu
    phân cấp bình (km2) bình (tỷ USD)  
      người)
             
    Đô g Á          
    China 34 282.264 38,6 175,0  
    South Korea 9 10.010 5,5 112,8  
    Japan 47 8.041 2,7 116,8  
    Đô g Nam Á          
    Thailand 75 6.842 0,9 4,3  
    Việt Nam 63 5.257 1,4 1,6  
    Philippines 80 3.750 1,2 2,5  

    Với quy mô như thế này, các địa phương không tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đồng thời không giải quyết được một cách hiệu quả các vấn đề ngoại tác.

    20

    Không những thế, quy mô nhỏ cùng với số lượng đơn vị phân cấp nhiều còn có thể dẫn tới sự cạnh tranh quyết liệt giữa các địa phương.

    Hình 6. Sự chia cắt thể chế ở Việt Nam: Sân bay, cảng biển, khu kinh tế ven biển

         
    Sân bay Cảng biển Khu kinh tế ven biển
         

    Trên một số phương diện, chẳng hạn như xây dựng môi trường kinh doanh hay thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, sự cạnh tranh này là lành mạnh và đưa đến những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện khác, đặc biệt là liên quan đến việc tranh giành các nguồn lực cũng như sự ưu ái từ trung ương thì hệ quả có thể hết sức tiêu cực. Cụ thể là địa giới hành chính có thể bị biến thành địa giới kinh tế giữa các địa phương, nền kinh tế quốc gia bị chia cắt thành vô số mảnh nhỏ, đầu tư

    21

    công bị dàn trải và dẫm chân lên nhau – những điều trên thực tế đã và đang xảy ra ở Việt Nam (xem

    Hình 6).

    1. b) Phân c đồng loạ v    đại trà

    Nếu xét địa phương như là đơn vị phân cấp thì các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ở Việt Nam được chia ra thành ba nhóm. Nhóm một gồm Hà Nội và Hồ Chí Minh được hưởng chính sách phân cấp đặc biệt.18 Nhóm hai gồm ba thành phố trực thuộc trung ương còn lại, bao gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, và Cần Thơ, với hưởng chính sách phân cấp không rộng rãi như nhóm một, nhưng thông thoáng hơn so với nhóm ba, bao gồm 58 tỉnh còn lại, được hưởng chung một chính sách phân cấp, bất chấp sự khác nhau hiển nhiên về quy mô, không gian tài khóa, nguồn lực, năng lực v.v. của những địa phương này. Việc có một tấm áo phân cấp chung cho hầu như tất cả các địa phương là điều có thể hiểu được từ góc độ chính quyền trung ương, song điều này hạn chế hiệu quả của chính sách phân cấp.19 Một hệ thống phân cấp hiệu quả sẽ điều chỉnh mức độ tự quyết của chính quyền mỗi tỉnh sao cho phù hợp nhất với năng lực của chính quyền tỉnh đó. Tất nhiên, khi không gian phân cấp của một địa phương nào đó trở nên rộng rãi hơn thì cũng cần phải quy định trách nhiệm giải trình chặt chẽ hơn và công tác điều hành của chính quyền của địa phương đó phải minh bạch hơn.

    1. c) Phân c k ô g đồng bộ

    Phân cấp ở Việt Nam không cân đối trên ít nhất hai khía cạnh. Thứ nhất là các nội dung khác nhau của phân cấp không song hành với nhau, và do vậy không những không tạo ra tác dụng cộng hưởng mà còn hạn chế hiệu quả của phân cấp. Chẳng hạn như phân

    • Chẳng hạn như về phân cấp ngân sách, xem Nghị định 123/2004/NĐ-CP và 124/2004/NĐ-CP về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Hà Nội và Hồ Chí Minh.

     

    • Xem thêm Ninh Ngọc Bảo Kim và Vũ Thành Tự Anh (2008).

     

    22

    cấp về quản lý đất đai (đặc biệt là liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất), quản lý FDI, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã diễn ra khá mạnh mẽ, song lại không được đi kèm với phân cấp chính trị. Điều này có nghĩa là không gian tự quyết của địa phương được mở rộng, nhưng cơ chế để buộc chính quyền địa phương hành động thực sự vì lợi ích của người dân địa phương không được cải thiện một cách tương ứng. Kết quả là không gian tự chủ rộng rãi hơn này có thể bị lạm dụng, thậm chí đi ngược lại lợi ích của một bộ phận dân chúng địa phương.

    Khía cạnh không cân đối thứ hai tồn tại giữa các cấp chính quyền khác nhau ở địa phương. Ví dụ như cho đến thời điểm này, chính sách dân chủ cơ sở chủ yếu mới dừng lại ở cấp độ phường, xã, và thị trấn; trong khi chính quyền cấp tỉnh mới là đối tượng tiếp nhận quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu trong phân cấp. Sự bất cân xứng này, một lần nữa, vừa làm yếu tiếng nói của người dân vừa làm giảm trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

    ) Cá    ơ       ế giám sát và phối hợp còn thiếu và yếu

    Đây là một hạn chế được tổng kết trong Nghị quyết 08/2004/NQ-CP, nhưng cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên vẹn. Như các phần trên đã phân tích, quan hệ giữa các địa phương với nhau hiện nay mang tính cạnh tranh nhiều hơn là phối hợp. Mặc dù có tồn tại một số cơ chế điều phối vùng, chẳng hạn như thông qua các Ban chỉ đạo vùng, song Ban chỉ đạo này hoạt động trên cơ sở kiêm nhiệm và bán thời gian, trung bình một năm chỉ gặp nhau vài lần. Hơn nữa, nguồn lực về con người, tài chính, và tổ chức của các Ban chỉ đạo đều rất hạn chế. Tất cả những điều này dẫn đến một hệ quả là việc phối hợp giữa các địa phương với nhau hiện nay rất lỏng lẻo.

    Về phương diện giám sát, một cơ chế ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng là thông qua các cơ quan đại biểu dân cử. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân có tính kỹ thuật và những nguyên nhân có tính thể chế. Về phương diện kỹ thuật, thời gian, ngân sách, và các nguồn lực khác phục vụ cho hoạt động giám sát hết sức hạn chế, đồng thời nguồn thông tin và dữ liệu không đủ, dẫn đến các cơ quan dân cử không thể sâu sát trong việc giám sát hoạt động của UBND. Về phương diện thể chế, tỷ lệ chuyên trách của đại biểu HĐND rất thấp (chỉ khoảng từ 10% đến 30% tùy từng địa phương . Điều này có nghĩa là đa số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, chủ yếu là công chức nhà nước. Bên cạnh đó, hơn 90% số đại biểu là Đảng viên. Như vậy, câu hỏi đặt ra là những đại biểu này đại diện cho ai, cho dân, cho chính quyền, cho Đảng, hay cho cả ba?

    1. d) Hạn chế xu t phát từ sự ươ g  á       giữa chính sách phân c p với môi       ường thể chế

     

    23

    Phần này sẽ minh họa một luận điểm được nêu ra ở một phần trước, đó là kết quả của chính sách phân cấp phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thể chế và chính sách trong đó chính sách phân cấp được thiết kế và thực hiện.

    Chẳng hạn như khi tốc độ (chứ không phải chất lượng tăng trưởng GDP được sử dụng làm thước đo gần như duy nhất cho thành tích phát triển kinh tế thì một cách tự nhiên, mỗi địa phương sẽ tìm mọi cách để có tốc độ tăng GDP cao hơn, trong đó cách đơn giản nhất có lẽ là tăng đầu tư từ nguồn xin được của trung ương. Hơn nữa, do không có cơ chế điều phối hữu hiệu giữa các địa phương trong cùng một vùng nên các các tỉnh đều mạnh ai nấy xin trung ương, mạnh ai nấy đầu tư, cho dù có thể biết rằng làm như vậy sẽ khiến hiệu quả đầu tư chung của cả vùng giảm sút. Kết quả là vô hình trung, địa giới hành chính đã trở thành biên giới kinh tế giữa các địa phương, và nền kinh tế quốc gia bị phân rã thành 63 nền kinh tế nhỏ, kém hiệu quả.

    Bên cạnh đó, tư duy “nhiệm kỳ” khiến việc chạy đua GDP càng trở nên gấp gáp, và thường thì quyết định càng vội vã, xác suất phạm sai lầm càng lớn, nhất là khi người ra quyết định nhiệm kỳ sau không còn ở đó để nhận lãnh trách nhiệm cho quyết định của mình. Như vậy, trong bối cảnh thể chế hiện nay, tầm nhìn của lãnh đạo địa phương bị giới hạn về cả không gian (địa giới hành chính) và thời gian (nhiệm kỳ 5 năm .

    Các tỉnh nghèo sẽ tham gia cuộc đua tăng trưởng này bằng cách nào? Rõ ràng khi đang nhận trợ cấp của trung ương thì chúng không thể chạy đua nếu chỉ dựa vào nguồn ngân sách của bản thân mình. Vì vậy, các tỉnh này buộc phải dựa vào các yếu tố đến từ bên ngoài, có thể là từ nhà nước trung ương hoặc từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với công thức ngân sách như hiện nay, các tỉnh sẽ có rất ít động cơ để tiến tới tự cân đối thu chi tài khóa. Cụ thể là phương trình cân bằng tài khóa địa phương như sau:

    A = B + t.C + T

    Trong đó:

    • A = Tổng chi ngân sách của địa phương

     

    • B = Các khoản thu NSĐP hưởng 100%

     

    • C = Các khoản thu chia sẻ giữa TƯ và ĐP

     

    • t = Tỷ lệ phân chia

     

    • T = Chuyển giao (trợ cấp) từ TƯ cho ĐP

    Theo công thức này:

    • Nếu A > B + C thì NSTƯ sẽ bù thông qua trợ cấp (hay chuyển giao) T = A – (B + C). Tất nhiện khi ấy tỷ lệ phân chia ngân sách t = 100%.

     

    • Nếu A ≤ B + C thì NSTƯ không bù, nghĩa là T = 0 và tỷ lệ phân chia ngân sách t = (A – B)/C

     

    24

    Rõ ràng là với phương trình tài khóa và công thức chia sẻ ngân sách như thế này, các địa phương sẽ có động cơ tăng chi và giảm (hay giấu) nguồn thu – cả hai động cơ này đều có tác động tiêu cực đến sự lành mạnh của nền tài khóa quốc gia. Không những thế, nó còn tạo ra sự ỷ lại của địa phương, do vậy hạn chế sự nỗ lực cải thiện và nuôi dưỡng nguồn thu, đồng thời cải thiện hiệu quả của chi tiêu ngân sách.

    Có ý kiến cho rằng tình trạng đầu tư tràn lan của các địa phương hiện nay có nguồn gốc từ chính sách phân cấp quá mức. Điển hình là trong thời gian vừa qua, hiện tượng phát triển các khu, cụm công nghiệp và sân golf mang tính phong trào vì giờ đây chỉ bằng một quyết định của chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, hàng trăm héc-ta đất nông nghiệp có thể được chuyển thành đất công nghiệp hay thương mại.20 Mặc dù không thể phủ nhận một thực tế là nhiều địa phương đã lợi dụng nhiều khe hở của quá trình phân cấp nhưng suy đến cùng, chính sự thiếu giám sát, điều phối và kỷ luật lỏng lẻo của trung ương cùng với chất lượng quy hoạch thấp là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng đầu tư lan tràn, chồng chéo, và kém hiệu quả (Bảng 5).

    Bảng 5. Trách nhiệm và thẩm quyền của TƯ và ĐP trong đầu tư công

              Cảng       Sân       Khu       Quốc lộ       Điện  
                                       
                                       
              biển lớn       bay       kinh tế              
                                           
                                                 
                                             
                                             
      Quy hoạch                                
                                                 
                                         
      Thẩm định                                
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Phê duyệt                                
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Tài trợ                   TƯ ĐP              
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Thực hiện                   TƯ/ĐP              
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Giám sát       TƯ ĐP       TƯ ĐP       TƯ ĐP       TƯ ĐP       TƯ ĐP  
                                     
                                         
                                                 
                                         
      Kiểm toán                   TƯ ĐP              
                                     
                                                 
                                                 

    Một ví dụ minh họa là trường hợp cảng biển, theo quy hoạch (Quyết định 2190 QĐ-TTg ngày 24 12 2009 thì đến năm 2020 cả nước sẽ có 39 cảng biển với khoảng 100 khu bến cảng tổng hợp. Thế nhưng từ bản phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng đến bản quy hoạch chi tiết của Bộ Giao thông – Vận tải, số lượng bến cảng không ngừng mọc thêm. Lấy ví dụ như nhóm cảng số 6 ở ĐBSCL. Theo Quyết định 2190 QĐ-TTg thì ĐBSCL sẽ có 14 cảng biển với 21 bến tổng hợp. Chưa đầy 2 năm sau, đến Quyết định 1746 QĐ-

    • Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong giai đoạn 2000 – 2010, trung bình mỗi năm có

     

    • 300 héc-ta đất nông nghiệp bị thu hồi để chuyển thành đất công nghiệp, đô thị và hạ tầng.

    25

    BGTVT ngày 3/8/2011 về quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển ĐBSCL, con số bến tổng hợp đã tăng lên 27. Đấy là chưa kể đến 21 bến cảng chuyên dùng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh xăng dầu, gas, và nhiệt điện cũng mới được đưa vào quy hoạch.

    Sự phân mảnh về thể chế không chỉ nằm ở phạm vi của các tỉnh, giữa chính quyền trung ương và địa phương, mà còn giữa những bộ ngành khác nhau của trung ương. Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam 2010 của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương và Trường Chính sách công Lý Quang Diệu đã nhận định rằng việc hoạch định chính sách ở Việt Nam “thiếu tầm nhìn, thiếu trọng tâm và xác định thứ tự ưu tiên

    • Mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí xung đột giữa các chính sách và các quy định khác nhau, thiếu sự gắn kết giữa kế hoạch ngắn hạn và chiến lược dài hạn”21. Báo cáo này

    cũng chỉ ra rằng nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế này là do “thiếu sự phối hợp liên ngành trong xây dựng nội dung cũng như thực hiện chính sách” và thiếu cơ chế để buộc các bộ làm việc cùng nhau”.

    Kết luận

    Sau một phần tư thế kỷ đẩy mạnh phân cấp, Việt Nam hiện đang đứng ở ngã ba đường. Nhìn từ góc độ toàn xã hội, có thể nói rằng nhiều thành tựu nổi bật nhất của quá trình Đổi mới được bắt nguồn từ quá trình phân cấp thị trường, và đây đồng thời là những thành công quan trọng nhất của phân cấp kinh tế ở Việt Nam. Cốt lõi của những cải cách thành công trong quá trình Đổi mới chính là sự rút lui của nhà nước và trỗi dậy của thị trường. Trong nội bộ hệ thống nhà nước, phân cấp đã giúp chính quyền các tỉnh có nhiều không gian chính sách và quyền tự chủ hơn trong việc theo đuổi các mục tiêu của họ. Đặc biệt, phân cấp ngân sách đã cho phép chính quyền ở các địa phương có thặng dư ngân sách trở nên linh hoạt hơn trong việc huy động và phân bổ nguồn lực của họ. Ngoài ra, việc phân cấp quản lý FDI cũng giúp cho chính quyền địa phương gần như có toàn quyền tự chủ trong việc cấp giấy phép FDI.

    Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ tăng tốc phân cấp, kết quả đạt được thua xa so với kỳ vọng của chính phủ. Từ góc độ của chính quyền trung ương, phân cấp làm xói mòn tính thống nhất của chính sách quốc gia, gia tăng sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các chính quyền địa phương, do đó một mặt làm suy giảm mức độ kiểm soát của chính quyền trung ương, mặt khác làm tăng tính cục bộ địa phương. Từ góc độ địa phương, phân cấp chưa đi kèm với những điều kiện nguồn lực và thể chế cần thiết để triển khai phân cấp một cách hiệu quả. Không những thế, khung khổ chính sách phân cấp còn thiếu sự ăn khớp giữa các ngành và thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực phân cấp, vì vậy trong nhiều trường hợp đẩy chính quyền địa phương vào thế lúng túng, bị động. Cuối cùng, người dân và doanh nghiệp – những đối tượng chịu tác động cuối cùng của chính

    • Xem phần “Hoạch định chính sách kinh tế ở Việt Nam”, tr. 69-70.

     

    26

    sách phân cấp – chưa thực sự được tham gia và có tiếng nói đối với ngay cả những chính sách quan trọng nhất tác động đến hoạt động và kết quả kinh tế của họ.

    Những hạn chế của phân cấp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thực tế là cho đến tận ngày hôm nay, Việt Nam vẫn còn thiếu ngay cả những điều kiện tiền đề cơ bản cho phân cấp thành công. Đầu tiên phải kể đến sự thiếu ý chí chính trị. Quan điểm chủ đạo của chính thể hiện nay vẫn là tăng cường tập trung hóa và nhất thể hóa về chính trị và quản lý nhà nước. Biểu hiện cụ thể của tư tưởng này là nguyên lý “phân cấp từ trên xuống” và duy trì “vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước” bất chấp sự yếu kém của khu vực này.

    Thứ hai, môi trường thể chế và quản trị của Việt Nam còn yếu kém. Thông tin chưa minh bạch, tiếng nói của người dân, doanh nghiệp, và xã hội dân sự còn yếu ớt, trách nhiệm giải trình hai chiều của chính quyền còn hạn chế. Tất cả những điều này triệt tiêu phần lớn tác dụng kỳ vọng cải thiện hiệu quả của khu vực công thông qua việc đưa chính quyền đến gần người dân hơn nhờ phân cấp.

    Thứ ba, về phương diện chính sách, phân cấp ở Việt Nam còn khập khiễng. Trong khi phân cấp thị trường, và trong một chừng mực nào đó, phân cấp tài khóa đã được đẩy mạnh thì phân cấp chính trị và nhân sự hầu như chưa xảy ra. Bên cạnh đó, năng lực của các cấp chính quyền còn yếu, và càng xuống cấp chính quyền thấp hơn thì hạn chế về năng lực càng được bộc lộ rõ. Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, phân cấp không đi đôi với bổ sung nguồn lực, khiến cho chính quyền địa phương, cả giàu lẫn nghèo, đều luôn phải chịu áp lực quá tải. Không những thế, với công thức chia sẻ ngân sách được quy định bởi Luật Ngân sách hiện nay, các địa phương không có nhiều động cơ để nuôi dưỡng và huy động nguồn thu. Thêm nữa, việc áp dụng một chính sách phân cấp như nhau cho hầu hết các tỉnh làm vấn đề trở nên trầm trọng vì nó áp đặt thêm một số hạn chế đối với chính quyền địa phương về sự linh hoạt trong huy động nguồn lực và phát triển các chính sách sáng tạo, mà đến lượt mình điều này lại làm cho sự phân cấp trở nên không hiệu quả.

    Thứ tư, từ góc độ quản lý nhà nước, việc thực hiện phân cấp đòi hỏi phải có sự tham gia và phối hợp giữa các bộ ngành và giữa các tỉnh với nhau. Tuy nhiên, do thiếu sự liên kết, phối hợp, và hợp tác ở tất cả các cấp nên quá trình phân cấp trên thực tế tạo ra tình trạng cát cứ và chia cắt trong hệ thống quản lý nhà nước (cụ thể là giữa các bộ ngành và các địa phương cũng như một cuộc chạy đua xuống đáy giữa các tỉnh.22 Liên quan đến sự giám sát chính sách phân cấp, mặc dù vai trò của Hội đồng nhân dân đã được cải thiện, nhưng tính hiệu quả và hiệu năng của cơ quan này vẫn còn hạn chế cả về khía cạnh thể chế lẫn kỹ thuật.

    • See Vu Thanh Tu Anh, Le Viet Thai, and Vo Tat Thang (2007).

     

    27

    Cuối cùng, ở những khía cạnh kỹ thuật hơn, quy mô của các tỉnh ở Việt Nam quá nhỏ để có thể tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô cũng như để nội hóa các ngoại tác liên tỉnh. Hơn nữa, việc có quá nhiều tỉnh như vậy cũng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh thay vì là sự hợp tác giữa các tỉnh này với nhau, mà điều này lại làm tăng chi phí và làm xói mòn các lợi ích của sự phân cấp.

    Đối với Việt Nam, để thiết kế một chính sách phân cấp có hiệu quả, ưu tiên trước hết là phải chuẩn bị các điều kiện tiền đề – và điều này chỉ có thể có nếu như Chính phủ thực sự thay đổi quan niệm hẹp về phân cấp (chỉ bao hàm phân cấp quản lý kinh tế) và chấp nhận một sự thay đổi cơ bản về vai trò của nhà nước. Đây là quyết định chính trị chứ không phải quyết định kinh tế, và tương lai phân cấp của Việt Nam phụ thuộc một cách cơ bản vào quyết định chính trị này.

    28

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. CECODES, TCMT, BDN & UNDP (2012). Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân.
    1. Cộng đồng các nhà tài trợ (2009). Báo cáo Phát triển Việt Nam 2010: Các thể chế hiệ đại.
    1. Musgrave, Richard, 1986. “The Economics of Fiscal Federalism.” In: Richard Musgrave,

    Public Finance in a Democratic Society, Collected Papers. Vol. 2. New York University Press.

    1. Oates, Wallace (1972). Fiscal Federalism. New York: Harcourt Brace.
    1. Oates, Wallace and Robert Schwab (1988). Economic Competition Among Jurisdictions: Efficiency Enhancing or Distortion Inducing? Journal of Public Economics 35: 33-354.
    1. Oates, Wallace (1999). An Essay on Fiscal Federalism. Journal of Economic Literature, Vol.XXXVII (September): 1120-1140.
    1. Olson, Mancur (1969). The Principle of Fiscal Equivalence: The Division of Responsibilities among Different Levels of Government, American Economic Review, Papers and Proceedings, 59(2), 479-487.
    1. Shah, Anwar (2004). Fiscal Decentralization in Developing and Transition Economies: Progress, Problems, and the Promise. World Bank Policy Research Working Paper 3282.
    1. Stigler, George (1957). The Tenable Range of Local Functions. Reprinted in Wallace Oates, editor, (1998), pp.3-9.
    1. Willis, Garman and Haggard (1999). The politics of decentralization in Latin America. Latin American Research Review, Winter 1999, volume 34, issue 1: 7-46.
    1. World Bank (2001). Decentralization in the Transition Economies: Challenges and the Road Ahead. Europe and Central Asia Region.
    1. World Bank (2010). Local Government and Decentralization Project. Có thể truy cập từ địa chỉ: http://www.worldbank.org/projects/P111577/local-government-decentralization-project?lang=en

    29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]