Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    ThS. Nguyễn Thị Cúc

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-t%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-theo-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%C3%A0-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    Tóm tắt

    Tính cho đến đến tháng 12/2005 Bộ Tài Chính đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán. Như vậy, so với số lượng 38 chuẩn mực kế toán quốc tế thì Việt Nam còn thiếu nhiều chuẩn mực tương đương. Một vấn đề lớn nữa đối với việc soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kế toán ở Việt Nam là chúng ta hiện nay chưa có một khung khái niệm để cung cấp nền tảng và những nguyên tắc cơ bản cho việc soạn thảo cũng như phát triển các chuẩn mực kế toán. Bài viết trình bày sau đây, cá nhân tôi muốn bàn luận thêm về một khía cạnh nhỏ trong vấn đề phù hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán một số nước trên thế giới so với chuẩn mực kế toán tại Việt Nam và từ đó đưa ra một số tồn tại hạn chế đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam về tài sản cố định. 

    1. So sánh chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam về TSCĐ

    Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) ra đời nhằm tạo “ngôn ngữ chung” cho việc thực hành kế toán, sử dụng thông tin kế toán ở các quốc gia khác nhau. Chuẩn mực quốc tế là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong việc ghi chép và trình bày hệ thống báo cáo tài chính. Cho đến nay, hệ thống chuẩn mực quốc tế gồm 38 chuẩn mực trong đó có các chuẩn mực IAS 16 (Nhà xưởng, máy móc và thiết bị), IAS 36 (Giảm giá trị tài sản) IAS 38 (Tài sản vô hình) là liên quan đến TSCĐ và TSCĐ. Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) ra đời cho đến nay đã góp phần đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập, mở cửa về dịch vụ kế toán. Việc ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính theo thông lệ IAS/IFRS đã tạo cho kế toán Việt Nam có tiếng nói chung với bạn bè Quốc tế, tạo sự thu hút của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Và từ năm 2001 đến nay Việt Nam đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán trong đó Chuẩn mực số 03 “Tài sản cố định hữu hình”, Chuẩn mực số 04 “Tài sản cố định vô hình” là những chuẩn mực kế toán hướng dẫn về tài sản cố định. Mặc dù đã có những chuẩn mực kế toán tương đương hướng dẫn về TSCĐ nhưng giữa IAS và VAS vẫn còn có những nội dung chưa thực sự hòa hợp, chưa tương đồng làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhà đầu tư. 

    1.1. Tóm tắt một số nội dung căn bản về TSCĐ theo IAS

    Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ: 

    – Nhà xưởng, máy móc, thiết bị và tài sản vô hình được ghi nhận là TSCĐ khi thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn: 

    + Chắc chắn DN thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản; 

    + Giá trị tài sản đối với DN được tính toán một cách đáng tin cậy. 

    – TSCĐ trong doanh nghiệp được chia làm hai loại: TSCĐ và TSCĐ. Trong đó: uy tín, sự tín nhiệm được tạo ra từ nội bộ DN, nhãn hiệu thương mại, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các khoản mục tương tự không được ghi nhận là tài sản của DN.  Nguyên giá (giá trị ban đầu của TSCĐ): 

    – Giá trị ban đầu của nhà xưởng, máy móc, thiết bị bao gồm giá mua, thuế nhập khẩu và các khoản thuế không được hoàn lại và các khoản chi phí liên quan tới việc đưa TSCĐ vào trạng thái sử dụng theo mong muốn, các khoản chiết khấu và khấu trừ trên giá mua của tài sản. Các chi phí hành chính và các chi phí chạy thử, chi phí phát sinh trước khi sử dụng cũng không được tính vào giá trị của nhà xưởng, máy móc, thiết bị trừ khi chúng liên quan tới việc đưa tài sản vào trạng thái làm việc như hiện tại.

    – Giá trị của tài sản tự xây dựng được xác định tương đương với các chi phí sản xuất ra sản phẩm để bán, các chi phí lãng phí, lao động sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình xây dựng không được tính vào nguyên giá của tài sản. 

    – Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu được hạch toán tăng giá trị tài sản khi các chi phí này làm tăng lợi ích kinh tế mà tài sản đó có thể mang lại cho DN hoặc thực sự cải thiện trạng thái hiện hữu của tài sản so với trạng thái ban đầu của nó. Các chi phí sửa chữa, bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc, thiết bị nhằm bảo tồn khả năng mang lại lợi ích kinh tế của tài sản được ghi nhận là chi phí.  Về khấu hao: 

    – Giá trị có thể khấu hao của nhà xưởng, máy móc và thiết bị cần được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng có ích của nó. Giá trị khấu hao mỗi kỳ được hạch toán vào chi phí trừ khi chúng được tính vào giá trị kế toán của tài sản khác. 

    – Các phương pháp tính khấu hao hao bao gồm: Phương pháp khấu hao tuyến tính, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm sản xuất. Phương pháp khấu hao đối với mỗi loại tài sản cần được thực hiện thống nhất qua các kỳ kế toán trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản. 

    – Đối với tài sản vô hình, nếu cách thức mang lại lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản không thể xác định một cách đáng tin cậy thì phương pháp khấu hao tuyến tính được áp dụng với thời gian sử dụng dự kiến không quá 20 năm kể từ ngày sử dụng tài sản.  Về giảm giá trị tài sản: 

    – IAS 36 đề cập đến tổn thất do giảm giá trị tài sản và hạch toán giảm giá trị tài sản. Vào ngày lập Bảng cân đối kế toán, giá trị tài sản có thể thu hồi cần được dự tính nếu có dấu hiệu về sự giảm giá trị của tài sản. Những yếu tố cần xem xét bao gồm những dấu hiệu bên ngoài (như sự giảm giá của thị trường hay những thay đổi có thể gây bất lợi cho DN) và những dấu hiệu bên trong (chẳng hạn như bằng chứng về sự lỗi thời của tài sản hoặc tài sản hoạt động không như mong đợi của DN). Giá trị có thể thu hồi của một tài sản được tính toán với giá cao hơn giá bán thuần và giá trị đang sử dụng, trong đó giá bán thuần là số có thể thu hồi được từ việc giao dịch bán tài sản giữa các bên có đầy đủ hiểu biết và sẵn sàng trao đổi sau khi trừ đi các chi phí có liên quan trực tiếp, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai dự tính sẽ phát sinh từ việc tiếp tục sử dụng tài sản và thanh lý nó khi hết thời gian sử dụng. Một sự tổn thất do giảm giá trị tài sản sẽ tồn tại bất cứ nào mà giá gốc của tài sản vượt giá có thể thu hồi của nó. Khi cả giá bán thuần và giá trị đang sử dụng của một tài sản lớn hơn giá gốc của nó thì không bị giảm giá. Tổn thất do giảm giá trị tài sản cần được ghi nhận trong báo cáo thu nhập và được hạch toán như khoản giảm giá trị tài sản do đánh giá lại. Sau khi ghi nhận tổn thất do giảm giá trị tài sản, chi phí khấu hao cần được điều chỉnh tương ứng trên cơ sở giá trị đã điều chỉnh của tài sản.  Về công bố thông tin: – DN cần thông bố chính sách kế toán bao gồm: Cơ sở tính toán cho từng loại tài sản, phương pháp và tỷ lệ khấu hao áp dụng với từng loại tài sản. – Báo cáo thu nhập và thuyết minh cần trình bày chi phí khấu hao của từng loại tài sản và ảnh hưởng của những thay đổi quan trọng trong việc dự tính các loại chi phí có liên quan đến TSCĐ. – Bảng cân đối kế toán và thuyết minh cần trình bày giá trị ghi sổ và khấu hao lũy kế của từng loại tài sản ở đầu kỳ và cuối kỳ, sự biến động của nguyên giá TSCĐ trong kỳ, giá trị tài sản đang trong quá trình xây dựng, giá trị tài sản dùng để thế chấp và các cam kết về vốn cho việc mua tài sản. 

    1.2. Điểm giống và khác nhau giữa VAS và IAS về TSCĐ

    2. Kế toán TSCĐ theo hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    2.1. Kế toán TSCĐ của Mỹ 

    2.1.1. Tóm tắt một số nội dung căn bản về TSCĐ theo kế toán Mỹ

    Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ: 

    – TSCĐ là những tài sản có thời gian sử dụng trên một năm, được đầu tư để phục vụ hoạt động SXKD nhằm tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho DN. – TSCĐ trong DN bao gồm TSCĐ (đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải), TSCĐ (bằng phát minh, sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu, chi phí thành lập, đặc quyền và uy tín, sự tín nhiệm) và tài nguyên thiên nhiên (mỏ than, mỏ khí đốt, mỏ khoáng sản).  Về nguyên giá TSCĐ:

    – Theo kế toán Mỹ bao gồm tất cả các phí tổn cần thiết và hợp lý để đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Đối với TSCĐ mua, nguyên giá được xác định trên cơ sở giá mua, cộng các chi phí vận chuyển, lắp ráp, chạy thử, trừ chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán sớm.

    – Đối với nhà cửa, thiết bị tự xây dựng, nguyên giá là giá trị công trình được xây dựng bao gồm giá trị vật liệu, lương công nhân, chi phí thiết kế, chi phí bảo hiểm, phí xin giấy phép.

    – Đối với đất đai, nguyên giá bao gồm giá mua, hoa hồng môi giới, phí trước bạ và các chi phí thu dọn, cải tạo.  Về biến động TSCĐ trong DN: – TSCĐ trong DN tăng do mua, được biếu tặng, tự xây dựng. Trường hợp TSCĐ tăng do mua, căn cứ vào các chứng từ liên quan đến chi phí mua TSCĐ, kế toán ghi tăng TSCĐ, giảm tiền hoặc ghi tăng công nợ phải trả. Nếu mua công trình trên đất thì phải xác định riêng giá trị nhà cửa và giá trị đất để ghi nhận vào các tài khoản tương ứng. Đối với TSCĐ được biếu tặng, kế toán ghi tăng TSCĐ và ghi tăng doanh thu được biếu tặng. Trường hợp tự xây dựng, kế toán tập hợp chi phí xây dựng trên tài khoản trung gian, khi công trình hoàn thành, quyết toán kế toán ghi tăng nguyên giá.

    – TSCĐ có thể giảm do thanh lý, nhượng bán, biếu tặng và ảnh hưởng của các nguyên nhân hỏa hoạn, lũ lụt, mất mát. Đối với TSCĐ thanh lý, GTCL của TSCĐ (nếu chưa khấu hao hết giá trị) và các chi phí thanh lý được ghi nhận là chi phí (lỗ thanh lý) trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành. TSCĐ nhượng bán, kế toán phản ánh số khấu hao bổ sung tính đến thời điểm nhượng bán, chênh lệch giữa giá bán và GTCL được ghi nhận là lỗ do bán tài sản (chi phí) hoặc lãi do bán tài sản (doanh thu) trên Báo cáo kết quả kinh doanh. Các chi phí phát sinh trong quá trình nhượng bán TSCĐ sẽ làm tăng chi phí (nếu lỗ) hoặc làm giảm doanh thu (nếu lãi) trên Báo cáo kinh doanh kỳ hiện hành. Khi DN biếu, tặng TSCĐ cho tổ chức, cá nhân khác thì chi phí quyên góp được hạch toán theo giá thị trường và GTCL được ghi nhận là lãi hoặc lỗ do chuyển nhượng. Trường hợp TSCĐ giảm do các nguyên nhân hỏa hoạn, lũ lụt, mất mát thì giá trị thiệt hại thực được ghi nhận là chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành.  Về trao đổi TSCĐ:

    – Kế toán Mỹ để cập đến hai trường hợp trao đổi là trao đổi TSCĐ cùng loại và TSCĐ khác loại. Đối với trao đổi TSCĐ cùng loại, lãi do trao đổi (giá thỏa thuận lớn hơn GTCL của TSCĐ mang đi) được ghi nhận giảm giá trị của TSCĐ nhận về. Nếu trao đổi TSCĐ cùng loại phát sinh lỗ (giá thỏa thuận nhỏ hơn GTCL của TSCĐ mang đi) thì về mặt kế toán, khoản lỗ được ghi nhận là chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành, còn về phương diện thuế thu nhập thì khoản lỗ trao đổi được hạch toán tăng giá trị phải khấu hao của TSCĐ nhận về. Khi khoản lỗ là không đáng kể thì có thể sử dụng phương pháp thuế thu nhập cho mục đích kế toán tài chính.

    – Đối với trao đổi TSCĐ khác loại, khoản lãi hay lỗ do trao đổi được ghi nhận là doanh thu hay chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành. Đối với Việt Nam, trao đổi TSCĐ được chia làm trao đổi tương đương và trao đổi không tương đương và khi tiến hành trao đổi TSCĐ thì không phát sinh khoản lãi hay lỗ nào.  Về tính khấu hao TSCĐ:

    – Kế toán Mỹ chia thành hai trường hợp là khấu hao theo mục đích kế toán tài chính và khấu hao theo mục đích thuế. Đối với mục đích kế toán tài chính, TSCĐ có thể được tính khấu haotheo các phương pháp: phương pháp đường thẳng, phương pháp sản lượng, phương pháp số dư giảm dần và phương pháp tổng các số thứ tự năm sử dụng.

    – Với mục đích thuế, trước năm 1981, các phương pháp số dư giảm dần và phương pháp tổng của các số thứ tự năm sử dụng được áp dụng để xác định chi phí khấu hao. Từ năm 1981 đến năm 1986, hệ thống hoàn vốn nhanh được sử dụng và từ 1/1/1987 được thay thế bằng Hệ thống hoàn vốn nhanh đã điều chỉnh. Khi tính được khấu hao TSCĐ, kế toán ghi tăng chi phí đồng thời ghi tăng hao mòn lũy kế TSCĐ.

    – Đối với TSCĐVH, phương pháp khấu hao đường thẳng được sử dụng trừ khi, DN chứng minh được phương pháp khấu hao thích hợp hơn. Thời gian sử dụng để tính khấu hao đối với những TSCĐVH như đặc quyền sáng chế, bản quyền tác giả và quyền sử dụng hợp đồng theo thời gian hiệu lực do pháp luật, hợp đồng hoặc bản chất của tài sản quyết định còn đối với những TSCĐVH như sự tín nhiệm và nhãn hiệu hàng hóa có thời gian sử dụng vô hạn thì thời gian sử dụng để tính khấu hao tối đa là 40 năm. Khấu hao TSCĐVH được ghi tăng chi phí và ghi giảm trực tiếp TSCĐVH tương ứng, điều này cũng có nghĩa TSCĐVH được trình bày trên bảng cân đối kế toán theo giá trị chưa khấu hao.  Về sửa chữa TSCĐ: – Kế toán Mỹ đề cập ba loại sửa chữa là sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn và sửa chữa cải tiến TSCĐ. Sửa chữa thường xuyên là công việc nhằm duy trì trạng thái hoạt động bình thường cho TSCĐ, chi phí sửa chữa thường xuyên được ghi nhận là chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành. Sửa chữa lớn là công việc không ngừng duy trì tình trạng hoạt động bình thường của TSCĐ mà còn kéo dài thời gian sử dụng hữu dụng của TSCĐ so với thời gian ước tính ban đầu, chi phí sửa chữa lớn được ghi giảm giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ. Sửa chữa cải tiến TSCĐ là công việc thay thế một hoặc một số bộ phận của TSCĐ nhằm làm cho TSCĐ hoạt động hiệu quả và năng suất cao hơn, chi phí sửa chữa cải tiến được ghi tăng nguyên giá TSCĐ. Như vậy đối với sửa chữa lớn TSCĐ và sửa chữa cải tiến TSCĐ thì sau khi công việc sửa chữa hoàn thành trên cơ sở giá trị phải khấu hao và thời gian sử dụng dự kiến của TSCĐ sau sửa chữa để kế toán tính và ghi nhận khấu hao. 2.2. Kế toán TSCĐ của Pháp 2.2.1. Tóm tắt một số nội dung căn bản về TSCĐ theo Kế toán Pháp  Tiêu chuẩn ghi nhận: – Tài sản bất động (TSBĐ) là tất cả các loại tài sản mà DN sở hữu, quản lý và sử dụng trong một thời gian dài (tối thiếu là hơn 1 năm), TSBĐ gồm ba loại: TSBĐ hữu hình, TSBĐ vô hình và TSBĐ tài chính.

    – TSBĐ hữu hình là những tài sản có hình thái cụ thể như: đất đai, các công trình kiến trúc, các phương tiện vận tải, các phương tiện kỹ thuật và các TSBĐ hữu hình khác. – TSBĐ vô hình là những tài sản không có hình thể nhưng có thể mang lại lợi ích kinh tế lâu dài trong tương lai cho DN, thuộc TSBĐ vô hình có: phí tổn thành lập, phí tổn nghiên cứu và phát triển, quyền đặc nhượng, bằng sáng chế, quyền thuê nhà, lợi thế thương mại và TSBĐ vô hình khác. – TSBĐ tài chính gồm các cổ phiếu, trái phiếu tiền đóng kỹ quỹ các khoản đầu tư, cho vay.  Về việc xác định giá trị ban đầu:

    – Nguyên giá của TSBĐ vô hình là toàn bộ các phí tổn mà DN chi trả từ khi thực hiện cho đến khi hoàn thành từng TSBĐ vô hình cụ thể. Nguyên giá TSBĐ hữu hình mua sắm gồm giá mua và các chi phí vận chuyển, lệ phí hải quan, bảo hiểm, lắp đặt, chạy thử ( không bao gồm thuế trước bạ, phí hoa hồng và môi giới).

    – Đối với TSBĐ hữu hình DN tự xây dựng, nguyên giá là toàn bộ các chi phí phát sinh từ lúc chuẩn bị xây dựng cho đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng.

    – Đối với TSBĐ nhận vốn góp, cổ phần khi thành lập công ty, nguyên giá là giá thỏa thuận của Đại hội đồng sáng lập. Còn với TSBĐ tài chính, nguyên giá là giá mua hoặc giá ghi trên hợp đồng mua bán, các chi phí mua chứng khoán không tính vào nguyên giá mà được ghi vào chi phí kinh doanh và trừ vào kết quả của niên độ tài chính.  Về hạch toán biến động TSBĐ: – TSBĐ trong DN có thể tăng do mua, nhận vốn góp và tự xây dựng. Trường hợp nhận vốn góp bằng TSBĐ, kế toán phản ánh các bút toán hứa góp, gọi góp và thực hiện góp. Đối với TSBĐ mua, căn cứ vào chứng từ liên quan, kế toán ghi tăng nguyên giá và phản ánh thanh toán tiền mua cho người bán. TSBĐ tự xây dựng, các chi phí phát sinh trong quá trình xây dựng được tập hợp trên tài khoản trung gian (TSBĐ chưa hoàn thành) khi công trình hoàn thành nghiệm thu và đưa vào sử dụng kế toán ghi tăng nguyên giá TSBĐ.

    – TSBĐ trong DN có thể giảm do thanh lý khi khấu hao hết giá trị và nhượng bán. TSBĐ khấu hao hết, kế toán xóa sổ bằng cách ghi giảm khấu hao và giảm nguyên giá TSBĐ. Trường hợp nhượng bán, kế toán xóa sổ TSBĐ và phản ánh số tiền thu được từ nhượng bán, kết quả nhượng bán TSBĐ là chênh lệch giữa giá bán và GTCL của TSBĐ.  Về tính khấu hao: – TSBĐ có thể được tính khấu hao theo các phương pháp như: phương pháp cố định (khấu hao tuyến tính), phương pháp giảm dần (với hai cách tính giảm dần: theo một tỷ lệ nhất định trên GTCL và theo tổng của các số thứ tự năm sử dụng) và phương pháp sản lượng.

    – Đối với một số TSBĐ vô hình và TSBĐ tài chính, kế toán Pháp không tính khấu hao mà thực hiện lập dự phòng nếu có hiện tượng giảm giá. Chi phí dự phòng không tính vào giá thành sản phẩm mà được trừ vào kết quả của niên độ. Khi không còn hiện tượng giảm giá hoặc sự giảm giá ít hơn thì phần chênh lệch dự phòng được hoàn nhập tăng kết quả niên độ.

    2.2.2. Điểm giống và khác nhau giữa Kế toán Pháp và VAS về TSCĐ

    3. Những hạn chế của chuẩn mực kế toán Việt Nam (xét trên khía cạnh TSCĐ) 

    VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị trong trường hợp có quyết định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn thất tài sản hàng năm. Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và được xác định phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần tổn thất này theo quy định tại IAS 36.  VAS hiện thiếu một số chuẩn mực liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh như: thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02); công cụ tài chính (IFRS 9); phúc lợi của nhân viên (IAS 19) các khoản tài trợ của Chính phủ (IAS 20); nông nghiệp (IAS 41); tổn thất tài sản (IAS 36)…  IAS/IFRS ngày càng hướng tới đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý nhằm đảm bảo tính “liên quan” của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng, trong khi đó giá gốc vẫn là cơ sở đo lường chủ yếu được qui định bởi VAS.Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm suy giảm tính trung thực, hợp lý của BCTC và chưa phù hợp với IAS/IFRS.

    4. Kết luận

    Có thể nói rằng, việc áp dụng IAS/IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các yếu tố của BCTC, loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong lập và trình bày BCTC. IAS/IFRS được chấp nhận như chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc sử dụng IAS/IFRS mang lại những lợi ích khá rõ, như: tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận; sự hội nhập về kế toán giúp cho các công ty huy động vốn trên thị trường quốc tế. Đến nay, đã có hơn 119 quốc gia trên thế giới thực hiện việc yêu cầu (bắt buộc) hoặc cho phép (không bắt buộc) các công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán của họ sử dụng IAS/IFRS khi lập và trình bày BCTC. Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS không phải là hoàn toàn dễ dàng đối với các doanh nghiệp ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Từ những hạn chế của VAS đã phân tích nêu trên, có thể thấy, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, trong thời gian sắp tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán, phù hợp quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, Việt Nam cần tiến hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bao gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực kế toán và giải pháp thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    hS. Ngô Vũ Mai Ly

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-chi-tr%E1%BA%A3-c%E1%BB%95-t%E1%BB%A9c-b%E1%BA%B1ng-ti%E1%BB%81n-m%E1%BA%B7t-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    Tóm tắt

    Chính sách cổ tức được xem là một trong những quyết định “đau đầu” nhất trong quản trị tài chính của công ty cổ phần. Chính sách cổ tức có tác động đến giá cổ phiếu của công ty, nguồn tiền công ty có thể sử dụng để tái đầu tư và có ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của các cổ đông hiện hành. Một thông điệp mà những nhà quản trị thường lấy đó làm mục tiêu ứng xử là: “chính sách cổ tức phải có tính ổn định, không thay đổi thất thường và phải đặc biệt thận trọng trước khi quyết định thay đổi một chính sách cổ tức này bằng một chính sách cổ tức khác”. Chính sách chi trả cổ tức có vai trò rất quan trọng đối với một công ty niêm yết, vậy để đưa ra chính sách chi trả cổ tức thì nhà quản lý công ty căn cứ trên những nhân tố nào? Các nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ chi trả cổ tức của doanh nghiệp đang niêm yết?

    1. Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức của các công ty niêm yết

    – Cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành để trả cho những người chủ sở hữu (cổ đông). Cổ tức có thể được trả bằng tiền mặt (dạng phổ biến nhất), cũng có thể được trả bằng cổ phiếu hay tài sản. 2, tr.95 – Tỷ lệ chi trả cổ tức: Tỷ lệ chi trả cổ tức là một tỷ số phản ánh công ty trả cổ tức bao nhiêu phần cho cổ đông từ lợi nhuận sau thuế. 2, tr.105 Cách tính: 

    * Các phương thức trả cổ tức

    Không có quy định nào về mặt pháp lý bắt buộc các công ty phải trả cổ tức cho các cổ đông của nó cả, ngay cả công ty làm ăn có lãi cũng vậy. Hội đồng quản trị có thể tăng, giảm, hoặc từ bỏ việc trả cổ tức. Cổ tức thường được trả theo quý, theo tháng, nửa năm hoặc một năm. Công ty có thể trả cổ tức dưới rất nhiều dạng: trả cổ tức bằng tiền mặt là dạng phổ biến nhất, ngoài ra công ty có thể trả cổ tức dưới dạng cổ phiếu hoặc tài sản,… 

    * Chính sách cổ tức

    Ba dạng chính sách tài chính quan trọng quyết định sự tồn tại, phát triển và thịnh vượng của công ty là chính sách tài trợ, chính sách đầu tư và chính sách cổ tức. Chính sách cổ tức liên quan tới việc xác định lượng tiền mặt dùng để trả cổ tức cho các cổ đông thường của công ty. Chính sách cổ tức, chính sách tài trợ và đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bởi vì việc trả cổ tức sẽ làm giảm khoản lợi nhuận công ty giữ lại để tái đầu tư, vì thế ảnh hưởng đến nhu cầu huy động vốn bên ngoài của công ty.

    2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức

    * Mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố đến chính sách chi trả cổ tức

    Dòng tiền hoạt động, dòng tiền tự do, kích thước công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. – Đối với các thị trường chứng khoán đã phát triển ổn định thì các sự tác động của các nhân tố lên chính sách chi trả cổ tức có mối quan hệ tương đồng với lý thuyết đã mô tả. Dựa trên các lý thuyết:

    Cổ tức giảm rủi ro cho nhà đầu tư, chi phí đại diện và vấn đề dòng tiền tự do, tín hiệu, hiệu ứng nhóm khách hàng tác giả lựa chọn các biến độc lập có thể giúp để xem xét việc chi trả cổ tức ở Việt Nam có gắn với lý thuyết hay không. Tuy nhiên, do những hạn chế của thị trường Việt Nam, chỉ có một số lý thuyết được lựa chọn để phân tích. Trong các lý thuyết về cổ tức, xét trên thị trường Việt Nam có hai lý thuyết là Chi phí đại diện, Dòng tiền tự do và lý thuyết Tín hiệu có sự tác động mạnh và rõ rệt nhất. Theo lý thuyết tín hiệu và chi phí đại diện có nhiều nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức như chỉ tiêu số lượng tài sản cố định của doanh nghiệp, quyền kiểm soát công ty, quyền kiểm soát nội bộ, rủi ro thị trường, lạm phát, lãi suất ngân hàng, biến đổi dòng tiền (CFV), dòng tiền tự do (FCF), kích thước công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của doanh thu (GROW), tỷ lệ nợ, chương trình mua lại chứng khoán… Dựa trên các mô hình phân tích thực nghiệm khác thì các nhân tố trên cũng được chứng minh có sự tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Xét trên điều kiện thị trường Việt Nam ta thấy: – Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường chứng khoán mới nổi, thành phần tham gia thị trường chưa đa dạng, các quy định, chính sách pháp luật về chứng khoán chưa cụ thể. Cổ đông hầu hết chưa có kiến thức nhiều về cổ tức, đa phần đều đánh giá giá trị của công ty thông qua dòng tiền hoạt động cũng như dòng tiền tự do mà công ty đó công bố. Chính vì vậy yếu tố dòng tiền tự do có tác động nhiều đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. – Đa phần các công ty tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là các công ty có quy mô vừa và nhỏ nên các công ty cần nhiều tiền cho các hoạt động đầu tư, việc chú trọng quảng bá hình ảnh công ty nhằm tăng doanh thu cũng rất cần thiết. Vì những điều trên mà ban quản lý công ty hay sử dụng tỷ lệ cổ tức nhằm đánh bóng hình ảnh công ty của mình thông qua sự tác động của các biến quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Chính vì vậy mà yếu tố dòng tiền hoạt động, doanh thu của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi quyết định chính sách chi trả cổ tức tại Việt Nam

    Trong các lý thuyết về cổ tức, xét trên thị trường Việt Nam có hai lý thuyết là Chi phí đại diện, Dòng tiền tự do và lý thuyết Tín hiệu có sự tác động mạnh và rõ rệt nhất. Theo lý thuyết tín hiệu và chi phí đại diện có nhiều nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức như chỉ tiêu số lượng tài sản cố định của doanh nghiệp, quyền kiểm soát công ty, quyền kiểm soát nội bộ, rủi ro thị trường, lạm phát, lãi suất ngân hàng, biến đổi dòng tiền (CFV), dòng tiền tự do (FCF), kích thước công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của doanh thu (GROW), tỷ lệ nợ, chương trình mua lại chứng khoán… Dựa trên các mô hình phân tích thực nghiệm khác thì các nhân tố trên cũng được chứng minh có sự tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Xét trên điều kiện thị trường Việt Nam ta thấy: – Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường chứng khoán mới nổi, thành phần tham gia thị trường chưa đa dạng, các quy định, chính sách pháp luật về chứng khoán chưa cụ thể. Cổ đông hầu hết chưa có kiến thức nhiều về cổ tức, đa phần đều đánh giá giá trị của công ty thông qua dòng tiền hoạt động cũng như dòng tiền tự do mà công ty đó công bố. Chính vì vậy yếu tố dòng tiền tự do có tác động nhiều đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. – Đa phần các công ty tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là các công ty có quy mô vừa và nhỏ nên các công ty cần nhiều tiền cho các hoạt động đầu tư, việc chú trọng quảng bá hình ảnh công ty nhằm tăng doanh thu cũng rất cần thiết. Vì những điều trên mà ban quản lý công ty hay sử dụng tỷ lệ cổ tức nhằm đánh bóng hình ảnh công ty của mình thông qua sự tác động của các biến quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Chính vì vậy mà yếu tố dòng tiền hoạt động, doanh thu của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi quyết định chính sách chi trả cổ tức tại Việt Nam Trong các lý thuyết về cổ tức, xét trên thị trường Việt Nam có hai lý thuyết là Chi phí đại diện, Dòng tiền tự do và lý thuyết Tín hiệu có sự tác động mạnh và rõ rệt nhất. Theo lý thuyết tín hiệu và chi phí đại diện có nhiều nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức như chỉ tiêu số lượng tài sản cố định của doanh nghiệp, quyền kiểm soát công ty, quyền kiểm soát nội bộ, rủi ro thị trường, lạm phát, lãi suất ngân hàng, biến đổi dòng tiền (FV), dòng tiền tự do (FCF), kích thước công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của doanh thu (GROW), tỷ lệ nợ, chương trình mua lại chứng khoán… Dựa trên các mô hình phân tích thực nghiệm khác thì các nhân tố trên cũng được chứng minh có sự tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Xét trên điều kiện thị trường Việt Nam ta thấy: – Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường chứng khoán mới nổi, thành phần tham gia thị trường chưa đa dạng, các quy định, chính sách pháp luật về chứng khoán chưa cụ thể. Cổ đông hầu hết chưa có kiến thức nhiều về cổ tức, đa phần đều đánh giá giá trị của công ty thông qua dòng tiền hoạt động cũng như dòng tiền tự do mà công ty đó công bố. Chính vì vậy yếu tố dòng tiền tự do có tác động nhiều đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. – Đa phần các công ty tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là các công ty có quy mô vừa và nhỏ nên các công ty cần nhiều tiền cho các hoạt động đầu tư, việc chú trọng quảng bá hình ảnh công ty nhằm tăng doanh thu cũng rất cần thiết. Vì những điều trên mà ban quản lý công ty hay sử dụng tỷ lệ cổ tức nhằm đánh bóng hình ảnh công ty của mình thông qua sự tác động của các biến quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Chính vì vậy mà yếu tố dòng tiền hoạt động, doanh thu của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi quyết định chính sách chi trả cổ tức tại Việt NamDấu “+” nghĩa là các nhân tố có tương quan thuận với tỷ lệ chi trả cổ tức và dấu “_” nghĩa là các nhân tố có tương quan nghịch với tỷ lệ chi trả cổ tức.

    * Phân tích tương quan (Correlation)

     Mô hình được xây dựng với giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập. Đầu tiên, tác giả đo lường mối quan hệ giữa các biến định lượng. Về mối quan hệ giữa biến phụ thuộc POR và các biến độc lập CFV, FCF, SIZE, GROW. Các số liệu được lấy qua các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 của 112 mẫu trên thị trường HOSE. Sử dụng một số thống kê có tên là hệ số tương quan Pearson (ký hiệu là r) để lượng hóa mức độ chặt chẽ giữa các mối liên hệ tuyến tính giữa 2 biến định lượng. Trị tuyệt đối của r cho biết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính. Gía trị tuyệt đối của r tiến gần đến 1 khi hai biến có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ. Gía trị r>0 thì đường thẳng dốc lên, r<0 đường thẳng dốc xuống, r=0 chỉ ra rằng hai biến không có mối liên hệ tuyến tính (không có mối quan hệ tuyến tính không có nghĩa là 2 biến đó không có mối liên hệ, do đó hệ số tương quan tuyến tính chỉ nên được sử dụng để biểu thị mức độ chặt chẽ của liên hệ tương quan tuyến tính). Để phân tích dữ liệu tổng hợp 5 năm 2008 – 2012, tương quan ma trận đã được sử dụng.

    3. Kết luận

    Khi thị trường chứng khoán lên như diều gặp gió, không mấy nhà đầu tư quan tâm đến cổ tức, những vướng mắc liên quan đến cổ tức cũng vì thế dễ được bỏ qua. Nhưng tình hình bây giờ đã khác. Thị trường lao dốc vừa lâu, vừa sâu, nhà đầu tư không dám mơ tới lợi nhuận từ buôn qua, bán lại. Vì thế, khoản cổ tức từ doanh nghiệp

     – dù nhỏ, lúc này trở nên có ý nghĩa. Với các dữ liệu của 112 công ty niêm yết trên sàn HOSE trong 5 năm 2008- 2012, nghiên cứu đã phân tích các yếu tố quyết định đến chính sách chi trả cổ tức. Kết quả nghiên cứu đã nhận diện các nhân tố tác động mạnh đến chính sách chi trả cổ tức (POR) của các công ty niêm yết hiện nay là: 

    1) Biến đổi của dòng tiền hoạt động (CFV): việc sử dụng dòng tiền hoạt động là một tín hiệu mà các công ty sử dụng như một hình ảnh về chính sách chi trả cổ tức trong tương lai của mình. Tuy nhiên, tại Việt Nam nhân tố này chưa có mối quan hệ với POR. 

    2) Dòng tiền tự do (FCF): Dòng tiền phục vụ đầu tư TSCĐ được xem là cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Vì vậy, dòng tiền tự do (có được sau khi trừ đi nguồn vốn đầu tư TSCĐ) càng lớn chứng tỏ tình hình tài chính của doanh nghiệp tích cực. FCF và POR có mối quan hệ tỷ lệ thuận. 

    3) Tăng trưởng trong quá khứ và tương lai (GROW) nếu trong quá khứ hoặc dự đoán trong tương lai tăng trưởng của công ty thấp, thì các nhà quản lý ở Việt Nam lại không có xu hướng tiết kiệm kinh phí để tái đầu tư bằng cách thiết lập một tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền thấp mà lại thiết lập một chính sách chi trả cổ tức cao. GROW và POR có mối quan hệ tỷ lệ nghịch

    4) Quy mô kích thước của công ty được đại diện qua biến SIZE, theo lý thuyết SIZE biến động tỷ lệ thuận với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt, với quy mô công ty lớn, công ty sản xuất kinh doanh hiệu quả, tạo ra được nhiều doanh thu thì sẽ chi trả cổ tức cao và ngược lại. Xét trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2008- 2012, các công ty có quy mô phát triển nhỏ chi trả cổ tức tiền mặt với tỷ lệ thấp, SIZE và POR có mối quan hệ tỷ lệ thuận. Hơn nữa, nghiên cứu cũng đã nhấn mạnh tác động của lý thuyết tín hiệu trên chi trả cổ tức bằng tiền mặt của các công ty Việt Nam: 

    – Các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE có xu hướng chi trả cổ tức bằng tiền mặt ổn định và tăng dần, ngay cả dưới áp lực cao của yêu cầu về vốn. Các công ty niêm yết có mối quan tâm lớn về việc thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức vì họ tin rằng tỷ lệ chi trả cổ tức được coi là một tín hiệu về hiệu quả kinh doanh của các công ty. Cắt giảm tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ tạo ra một tác động xấu đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Một khi quyết định tăng tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt, các công ty luôn luôn quan tâm liệu họ có thể duy trì mức này trong tương lai hay không. 

    – Các công ty niêm yết trên sàn HOSE có thể thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng doanh thu bán hàng của họ và hoàn cảnh của nền kinh tế. 

    – Chính sách cổ tức của các công ty bị ảnh hưởng nhiều bởi lý thuyết tín hiệu có thể dẫn đến các thao tác của công ty trong việc chi trả cổ tức. Nếu công ty không có thu nhập nhưng vẫn cố gắng duy trì hoặc tăng mức độ chi trả cổ tức, sẽ phải chịu rủi ro trong tương lai. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ hơn về việc chi trả cổ tức của các công ty thông qua các quy định cụ thể. Từ các kết quả đề tài đã đưa ra các biện pháp hoàn thiện chính sách chi trả cổ tức trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Các giải pháp tập trung vào hoàn thiện danh mục đầu tư của nhà đầu tư, giúp doanh nghiệp nhận định về các nhân tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức, đưa ra lời khuyên cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã đáp ứng các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán Việt Nam mang đặc điểm của thị trường mới nổi, các nhà đầu tư trên thị trường mang nhiều yếu tố “tâm lý bầy đàn”, “hành vi tâm lý” là chủ yếu cho nên vấn đề chính sách cổ tức còn chưa được nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư coi trọng. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    ThS. Nguyễn Đình Đại

    Khoa Kinh tế – Trường ĐHXD Miền Trung 

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/B%C3%A0n-v%E1%BB%81-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-ch%C3%AAnh-l%E1%BB%87ch-t%E1%BB%B7-gi%C3%A1-h%E1%BB%91i-%C4%91o%C3%A1i-theo.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    Tóm tắt

    Trong xu thế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu ngày càng chiếm khối lượng giao dịch lớn trong doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Điều này dẫn đến phát sinh các giao dịch tiền tệ, phi tiền tệ bằng ngoại tệ và việc xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái (CLTG) trong công tác kế toán trở nên phức tạp, tạo ra nhiều khó khăn, lúng túng cho cơ quan xây dựng chính sách và DN áp dụng. Từ năm 2002 Bộ Tài chính (BTC) ban hành VAS 10, rồi quyết định 15 ban hành năm 2006 đến thông tư 201 năm 2009 và thông tư 179 năm 2012 đã liên tục điều chỉnh, hướng dẫn xử lý CLTG. Nhưng thực tế áp dụng trong DN vẫn còn nhiều điểm bất cập và chưa rõ ràng. Đến cuối năm 2014, BTC ban hành thông tư 200/2014/TT-BTC (TT200) hướng dẫn khá chi tiết và giải quyết được nhiều vướng mắc cho DN. Tuy nhiên, thực tế vận dụng trong doanh nhiều còn nhiều vấn đề cần bàn luận. Bài viết trình bày một số nội dung trọng tâm liên quan đến kế toán CLTG theo TT 200 và trao đổi của tác giả giữa TT200 với các quy định khác của BTC có liên quan. Từ khóa Chênh lệch tỷ giá hối đoái.

    1. Một số nội dung trọng tâm về chênh lệch tỷ giá hối đoái theo TT 200

    1.1. Quy định chung về tỷ giá hối đoái

    CLTG là khoản chênh lệch phát sinh từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi cùng một số lượng tiền tệ khác sang đơn vị tiền tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác nhau. Đồng tiền kế toán được sử dụng cho tất cả các loại hình DN là đồng Việt Nam (Trừ trường hợp được phép sử dụng ngoại tệ hạch toán theo quy định của pháp luật). Vì vậy, khi phát sinh các đơn vị tiền tệ khác thì phải quy đổi sang đồng Việt Nam. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra đồng Việt nam phải căn cứ vào: – Tỷ giá giao dịch thực tế; – Tỷ giá ghi sổ kế toán

    1.2. Nguyên tắc xác định tỷ giá giao dịch thực tế

    * Tỷ giá giao dịch thực tế phát sinh trong kỳ:

    – Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua bán ngoại tệ là tỷ giá ký kết trong hợp đồng mua, bán ngoại tệ giữa DN và ngân hàng thương mại.

    – Trường hợp hợp đồng không quy định tỷ giá thanh toán thì DN ghi sổ kế toán theo nguyên tắc: 

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi góp vốn hoặc nhận vốn góp: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng nơi DN mở tài khoản để nhận vốn của nhà đầu tư tại ngày góp vốn

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải thu: Là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi DN chỉ định khách hàng thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận tài sản, doanh thu, thu nhập, chi phí: Là tỷ giá công bố của ngân hàng thương mại nơi DN thường xuyên có giao dịch

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải trả: Là tỷ giá bán của ngân hàng thương mại nơi DN dự kiến giao dịch tại thời điểm giao dịch phát sinh

    + Đối với các giao dịch mua sắm tài sản hoặc các khoản chi phí được thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi DN thực hiện thanh toán;

    + Trường hợp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc thu nhập có liên quan đến doanh thu nhận trước hoặc giao dịch nhận trước tiền của người mua thì doanh thu, thu nhập tương ứng với số tiền nhận trước được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nhận trước của người mua (không áp dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu, thu nhập)
    + Trường hợp tài sản được mua có liên quan đến giao dịch trả trước cho người bán thì giá trị tài sản tương ứng với số tiền trả trước được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm trả trước cho người bán (Không áp dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận tài sản).

    * Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập Báo cáo tài chính:

    Tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá công bố của ngân hàng thương mại nơi DN thường xuyên có giao dịch (Do DN tự lựa chọn) theo nguyên tắc:

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được phân loại là tài sản: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi DN thường xuyên có giao dịch tại thời điểm lập Báo cáo tài chính. Đối với các khoản ngoại tệ gửi ngân hàng thì tỷ giá thực tế khi đánh giá lại là tỷ giá mua của chính ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ. Trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau và tỷ giá mua của các ngân hàng không có chênh lệch đáng kể thì có thể lựa chọn tỷ giá mua của một trong số các ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ làm căn cứ đánh giá lại

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được phân loại là nợ phải trả: Là tỷ giá bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại tại thời điểm lập Báo cáo tài chính

    + Các đơn vị trong tập đoàn được áp dụng chung một tỷ giá do Công ty mẹ quy định (phải đảm bảo sát với tỷ giá giao dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phát sinh từ các giao dịch nội bộ.

    1.3. Nguyên tắc xác định tỷ giá ghi sổ. 

    – Tỷ giá ghi sổ gồm: Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh hoặc tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền liên hoàn.

    – Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh: Là tỷ giá khi thu hồi các khoản nợ phải thu, các khoản ký cược, ký quỹ hoặc thanh toán các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, được xác định theo tỷ giá tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc tại thời điểm đánh giá lại cuối kỳ của từng đối tượng.

    – Trường hợp trong kỳ phát sinh nhiều khoản phải thu hoặc phải trả bằng ngoại tệ với cùng một đối tượng thì tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối tượng được xác định trên cơ sở bình quân gia quyền liên hoàn của các giao dịch với đối tượng đó.

    – Tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền liên hoàn là tỷ giá được sử dụng tại bên Có tài khoản tiền khi thanh toán tiền bằng ngoại tệ.

    1.4. Xác định các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ

    Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ là các tài sản được thu hồi bằng ngoại tệ hoặc các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, bao gồm: 

    – Tiền mặt, các khoản tương đương tiền, tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ; 

    – Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ, ngoại trừ:

    + Các khoản trả trước cho người bán và các khoản chi phí trả trước bằng ngoại tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về việc người bán không thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ và DN sẽ phải nhận lại các khoản trả trước bằng ngoại tệ thì các khoản này được coi là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ; 

    + Các khoản người mua trả tiền trước và các khoản doanh thu nhận trước bằng ngoại tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về việc DN không thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ và sẽ phải trả lại các khoản nhận trước bằng ngoại tệ cho người mua thì các khoản này được coi là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. 

    – Các khoản đi vay, cho vay dưới mọi hình thức được quyền thu hồi hoặc có nghĩa vụ hoàn trả bằng ngoại tệ; 

    – Các khoản đặt cọc, ký cược, ký quỹ được quyền nhận lại bằng ngoại tệ; Các khoản nhận ký cược, ký quỹ phải hoàn trả bằng ngoại tệ. 

    1.5. Nguyên tắc kế toán chênh lệch tỷ giá 

    – DN phải theo dõi cả nguyên tệ và đồng Việt Nam trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản tiền, nợ phải thu, nợ phải trả.

    – Tất cả các khoản CLTG đều được phản ánh ngày vào doanh thu hoạt động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ) tại thời điểm phát sinh. 

    – DN phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá giao dịch thực tế tại tất cả các thời điểm lập báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Đối với các DN đã sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái thì không được đánh giá lại các khoản vay, nợ phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái. – Khoản CLTG trong giai đoạn trước hoạt động của DN Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có thực hiện dự án, công trình trọng điểm quốc gia gắn với nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh, quốc phòng được tập hợp, phản ánh trên TK 413 và được phân bổ dần vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính khi DN đi vào hoạt động theo nguyên tắc: 

    + Khoản lỗ Phân bổ trực tiếp từ TK 413 vào chi phí tài chính, khoản lãi phân bổ trực tiếp từ TK 413 vào doanh thu hoạt động tài chính; 

    + Thời gian phân bổ thực hiện theo quy định của pháp luật đối với loại hình DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Riêng số phân bổ khoản lỗ tỷ giá tối thiểu trong từng kỳ phải đảm bảo không nhỏ hơn mức lợi nhuận trước thuế trước khi phân bổ khoản lỗ tỷ giá (Sau khi phân bổ lỗ tỷ giá, lợi nhuận trước thuế của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bằng không). 

    – DN không được vốn hóa các khoản CLTG vào giá trị tài sản dở dang.

    2. Ví dụ giao dịch thực tế phát sinh

    2.1. Ví dụ 1: Nhập khẩu hàng hóa

    Công ty N ký hợp đồng nhập khẩu lô hàng, giá mua 10.000 USD. Giả sử có các trường hợp thanh toán như sau: 

    – Trường hợp 1, chưa thanh toán: Ngày 10/01/2016, công ty N đã làm thủ tục nhập khẩu và nhận hàng nhập kho, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá bán USD của ngân hàng thương mại DN dự kiến giao dịch (NHTM) là 22.200 VND/USD. Kế toán ghi: Nợ TK 156: 222.000.000đ (10.000 USD x 22.200) Có TK 331: 222.000.000đ (10.000 USD x 22.200) – Trường hợp 2, thanh toán trước một phần: 

    + Ngày 05/01/2016, công ty N chuyển 4.000 USD tiền gửi ngân hàng, ứng trước cho người bán, biết tỷ giá bán USD của NHTM là 22.050, tỷ giá ghi sổ ngoại tệ 22.000 VND/USD. Kế toán ghi: Nợ TK 331: 88.200.000đ (4.000 USD x 22.050); Có TK 112: 88.000.000đ (4.000 USD x 22.000 Có TK 515: 200.000đ.

    + Ngày 10/01/2016, công ty N đã làm thủ tục nhập khẩu và nhận hàng nhập kho, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá bán USD của ngân hàng thương mại DN dự kiến giao dịch (NHTM) là 22.200 VND/USD. Kế toán ghi: Nợ TK 156: 221.400.000đ (4.000 USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200); Có TK 331: 221.400.000đ (4.000 USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200).

     2.2. Ví dụ 2: Xuất khẩu hàng hóa

    Công ty N ký hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, giá bán 20.000 USD/FOB. HCM. Giả sử có các trường hợp thanh toán như sau: 

    – Trường hợp 1, chưa thu tiền: Ngày 21/01/2016, công ty N đã làm xong thủ tục xuất khẩu, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá mua USD của NHTM là 22.150 VND/USD. Kế toán ghi nhận doanh thu: Nợ TK 131: 443.000.000đ (20.000 USD x 22.150); Có TK 511: 443.000.000đ (20.000 USD x 22.150). – Trường hợp 2, thu trước một phần: 

    + Ngày 07/01/2016, khách hàng chuyển khoản trả trước cho DN 5.000 USD, biết tỷ giá mua USD của NHTM là 22.050. Kế toán ghi: Nợ TK 112: 110.250.000 (5.000 USD x 22.050); Có TK 131: 110.250.000 (5.000 USD x 22.050). 

    + Ngày 21/01/2016, công ty N đã làm xong thủ tục xuất khẩu, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá mua USD của NHTM là 22.150 VND/USD. Kế toán ghi nhận doanh thu: Nợ TK 131: 442.500.000 (5.000 USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150); Có TK 511: 442.500.000 (5.000 USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150).

    3. Bàn về quy định hiện hành xử lý CLTG

     – Thứ nhất: Từ quy định TT 200, ví dụ 1 và ví dụ 2 cho thấy, việc ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào và doanh thu cung cấp hàng hóa, dịch vụ bị ảnh hưởng bởi nghiệp vụ ứng trước tiền hàng, có nghĩa bị ảnh hưởng bởi dòng tiền, có quan tâm đến thời điểm thu, chi. Nhưng theo VAS 01 quy định nguyên tắc kế toán Cơ sở dồn tích áp dụng cho DN hiện nay là “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền…”. Vậy, nên cần xem xét sự phù hợp của TT 200 trong trường hợp trên với nguyên tắc cơ sở kế toán dồn tích theo VAS 01. 

    – Thứ hai: Việc quy định ghi nhận tỷ giá theo kế toán và thuế không trùng khớp với quy định áp dụng tỷ giá để xác định trị giá tính thuế của cơ quan hải quan. Tại khoản 3, điều 21, nghị định 08/2015/NĐ-CP hướng dẫn: “Tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng tiền nước ngoài dùng để xác định trị giá tính thuế là tỷ giá ngoại tệ mua vào theo hình thức chuyển khoản của Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm cuối ngày của ngày thứ năm tuần trước liền kề hoặc là tỷ giá cuối ngày của ngày làm việc liền trước ngày thứ năm trong trường, hợp ngày thứ năm là ngày lễ, ngày nghỉ. Tỷ giá này được sử dụng để xác định tỷ giá tính thuế cho các tờ khai hải quan đăng ký trong tuần”. Trong trường hợp xảy ra nghiệp vụ ứng tiền trước thì cả tỷ giá trên hóa đơn xuất khẩu, tỷ giá theo tờ khai hải quan và tỷ giá theo kế toán sẽ khác nhau. Điều này dẫn đến: Kế toán sẽ khó có thể căn cứ vào chứng từ gốc để ghi sổ; Cùng một nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng mỗi cơ quan quy định cách xác định tỷ giá khác nhau. Trong khi các cơ quan này cùng đơn vị chủ quản là BTC. Vậy, BTC nên có quy định thống nhất tỷ giá trong trường hợp này thì sẽ thuận lợi hơn cho cả DN vận dụng và cơ quan Nhà nước khi kiểm tra. 

    – Thứ ba: Theo TT 200, thời điểm lập báo cáo tài chính, DN đánh giá lại tất cả các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, nợ phải thu, nợ phải trả,…) và kết chuyển số thuần vào doanh thu tài chính nếu lãi, ngược lại kết chuyển vào chi phí tài chính. Trong khi đó, theo quy định ở điểm 2.21 điều 4, và điều 5 thông tư 96/2015/TT-BTC quy định về tính thuế Thu nhập doanh nghiệp thì chỉ chấp nhận đối với khoản nợ phải trả. Điều này làm phát sinh khoản chênh lệch tạm thời giữa kế toán và thuế, làm cho công tác kế toán trở nên phức tạp. Trong trường hợp này, quy định tính thuế nên thống nhất theo kế toán thì sẽ giảm thiều được chênh lệch giữa Thuế – Kế toán, và công tác kế toán cũng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn. 

    – Thứ tư: Trong TT 200, cùng quy định về tỷ giá để đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng bằng ngoại tệ. Nhưng ở điểm g, khoản 1, điều 13 không khớp với điểm b, 1.3, khoản 1, điều 69. Vậy, nên thống nhất hướng dẫn sử dụng ở hai điểm này. Một vấn đề nữa, BTC có quy định: “Trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau và tỷ giá mua của các ngân hàng không có chênh lệch đáng kể thì có thể lựa chọn tỷ giá mua của một trong số các ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ làm căn cứ đánh giá lại”. Theo tinh thần hướng dẫn Nguyên tắc thận trọng trong VAS 01, khi xem xét, cân nhắc, đánh giá thì không nên đánh giá cao hơn giá trị tài sản và thu nhập. Hay, DN đứng trước các phương án lựa chọn thì kế toán chọn phương án không thổi phồng tài sản, thu nhập. Vậy, trong trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau, thì nên chọn ngân hàng có tỷ giá mua thấp nhất để đánh giá ngoại tệ sẽ phù hợp theo nguyên tắc thận trọng trong kế toán. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    Đặng Lê Trần Vũ

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

     

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/So-s%C3%A1nh-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-h%C3%A0ng-t%E1%BB%93n-kho-Vi%E1%BB%87t-Nam-VAS-02-v%E1%BB%9Bi-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-IAS-02.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    Tóm tắt: Kể từ năm 2000, Bộ tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam. Chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho được ra đời theo quyết định số 149/ 2001/QĐ – BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, về cơ bản được xây dựng trên nền tảng chuẩn mực quốc tế IAS 02 kèm theo một số điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù của Việt Nam. Trong bài báo này, tác giả đã phân tích, so sánh chuẩn mực kế toán của Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho nhằm phục vụ cho mục đích tìm hiểu, học tập, hệ thống hóa từ đó sử dụng các chuẩn mực kế toán một cách dễ dàng, thuận tiện và phù hợp. 

    Để so sánh VAS 02 với IAS 02 ta thực hiện so sánh trên những nội dung cơ bản là: Những quy định chung; Nội dung chuẩn mực; Quy định về việc thành lập và trình bày báo cáo tài chính.

    I. Những quy định chung

    Cả 2 chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” của kế toán Quốc tế và Việt Nam đề có một mục đích đó là quy định và hướng dẫn về nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho. Bao gồm: Định nghĩa hàng tồn kho; Nguyên tắc vận dụng kế toán hàng tồn kho; Xác định giá trị hàng tồn kho; Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở cho việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” của kế toán Việt Nam và Quốc tế đều quy định phạm vi áp dụng như sau: Chuẩn mực này được áp dụng cho tất cả hàng tồn kho là tài sản, bao gồm: Hàng tồn kho: Được giữ để bán; Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang; Nguyên liệu để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ. Đối với nhà cung cấp dịch vụ, hàng tồn kho gồm chi phí dịch vụ tương ứng với doanh thu chưa được ghi nhận. Các nguyên tắc được vận dụng trong chuẩn mực kế toán hàng tồn kho bao gồm: Nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc nhất quán và nguyên tắc phù hợp.

    II. Nội dung chuẩn mực

    1. Xác định giá trị hàng tồn kho

    1.1. Giá gốc hàng tồn kho

    * Chuẩn mực IAS 02 và VAS 02 về xác định giá trị hàng tồn kho:

    Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02), hàng tồn kho phải được ghi nhận theo giá thấp hơn giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được theo nguyên tắc thận trọng. Đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 02), hàng tồn kho phải được ghi nhận theo giá gốc. Trong trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì ghi nhận theo giá trị thuần cụ thể thực hiện được.

    * Về cách xác định giá gốc hàng tồn kho:

    Cả IAS 02 và VAS 02 đều cùng có chung cách xác định về giá gốc, nhưng với VAS 02 dựa trên cơ sở IAS 02 để đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cụ thể: – IAS 02 và VAS 02 đều quy định cách tính giá gốc cho hàng tồn kho như sau: + Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí thu mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. (IAS 02- mục 10, VAS 02- mục 03). -Trong đó các chi phí xác định như sau: + Chi phí thu mua của hàng tồn kho bao gồm: Giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua. (IAS 02- khoản 11, VAS 02- khoản 06); + Chi phí chế biến: Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm; + Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng… và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất. Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp; + Không bao gồm các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái.

    1.2. Giá trị thuần có thể thực hiện được và trường hợp giảm giá trị hàng tồn kho

    * Giống nhau:

    Cả hai chuẩn mực IAS 02 và VAS 02 đều đưa ra khái niệm Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ đi (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho tiêu thụ chúng. Những ước tính này phải dựa trên bằng chứng đáng tin cậy nhất thu thập được vào thời điểm ước tính.

    2. Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho

    IAS 2 đưa ra các phương pháp để tính giá trị hàng tồn kho là phương pháp tiêu chuẩn và phương pháp bán lẻ ( Áp dụng cho các ngành bán lẻ). Bên cạnh đó, áp dụng 3 phương pháp tính giá trị hàng tồn kho là: PP tính theo giá đích danh, PP bình quân gia quyền và PP nhập trước xuất trước (Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 02 sửa đổi đã loại trừ phương pháp PP LIFO (Nhập sau – xuất trước) trong tính giá hàng tồn kho). VAS 02 cũng áp dụng các phương pháp tính giá hàng tồn kho như trên sông chưa loại bỏ phương pháp LIFO và không đề cập đến phương pháp giá tiêu chuẩn.

    3. Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

    – Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng là không đánh giá cao hơn giá trị của các loại tài sản. 

    – Các nguyên nhân làm giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá gốc: hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời, giá bán bị giảm; chi phí hoàn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên…

    – Theo VAS 02: Đối tượng lập dự phòng là toàn bộ các loại vật tư, sản phẩm hàng hoá tồn kho. 

    + Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho. Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính theo từng loại dịch vụ với mức giá riêng biệt; + Bằng chứng để lập dự phòng là khi có biến động của giá cả, chi phí trực tiếp liên quan đến các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc năm tài chính, mà các sự kiện này được xác nhận với các điều kiện có ở thời điểm ước tính;

    + Các trường hợp đặc biệt: Khi số lượng hàng tồn kho lớn hơn yêu cầu thì phần chênh lệch này, giá trị thuần được đánh giá trên cơ sở giá bán ước tính. Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần cấu tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mà giá thành sản xuất sản phẩm cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được thì nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được;

    + Hoàn nhập dự phòng: Đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ kế toán. – Theo IAS 02, đối tượng lập dự phòng chủ yếu là các loại hàng tồn kho dùng để bán. Các loại tồn kho dùng để sản xuất chỉ lập dự phòng khi bán các thành phẩm sản xuất ra từ các loại vật tư đó giảm sút trên thị trường. IAS 02 đề cập đến dự phòng giá trị thuần có thể thực hiện được và giá trị có thể thấp hơn giá gốc. Việc ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được là phù hợp với nguyên tắc ghi nhận tài sản, nghĩa là giá trị tài sản được ghi nhận không lớn hơn giá trị thực hiện ước tính từ việc bán và sử dụng chúng.

    4. Ghi nhận chi phí

    – Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho (IAS 02) quy định các khoản mục được ghi nhận chi phí là: Giá trị hàng tồn kho đó được bán ra; Điều chỉnh giảm xuống giá trị thuần có thể thực hiện được; Mất mát hàng trong kho; Hao phí bất thường; Chi phí sản xuất chung không được công bố;

    – Theo VAS 02, khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đó bán được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi nhận. Tất cả các khoản chênh lệch giữa khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối niên độ kế toán năm nay lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đối lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho, sau khi bù trừ phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra và chi phí sản xuất chung không phân bổ, được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trong trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập cuối niên độ năm nay nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đối lập ở cuối niên độ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh; Ghi nhận giá trị hàng tồn kho đó bỏ vào chi phí trong kỳ phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu. 6. Quy định về trình bày thông tin hàng tồn kho trên BCTC

    * Giống nhau:

    IAS 02 khoản 36 và VAS 02 khoản 27 điều quy định báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày:

    – Các chính sách kế toán áp dụng trong việc đánh giá hàng tồn kho, gồm cả phương pháp tính giá trị hàng tồn kho;

    – Giá gốc của tổng số hàng tồn kho và giá gốc của từng loại hàng tồn kho được phân loại phù hợp với doanh nghiệp;

    – Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho

    – Giá trị hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho; – Những trường hợp hay sự kiện dẫn đến việc trích lập thêm hoặc hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho;

    – Giá trị ghi sổ của hàng tồn kho (Giá gốc- dự phòng giảm giá hàng tồn kho) đã dùng để thể chấp, cầm cố đảm bảo cho các khoản nợ phải trả. 

    – Không áp dụng đối với hàng tồn kho thuộc thuộc sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản, và môi giới thương mại 

    – Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ không có tác dụng tới hàng tồn kho.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Trần Minh Loan Khoa

    Kinh tế, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

    ThS. Lê Thị Thanh Huyền

    Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Ti%E1%BA%BFn-t%E1%BB%9Bi-h%C3%B2a-h%E1%BB%A3p-th%E1%BB%91ng-nh%E1%BA%A5t-gi%E1%BB%AFa-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-trong-l%C4%A9nh-v%E1%BB%B1c-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%E1%BB%9Bi-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-c%C3%B4ng-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Tóm tắt

    Trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập báo cáo tài chính (BCTC) hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế nhằm phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm hụt thuần cho từng năm để có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất. BCTC của từng quốc gia không phù hợp với CMKT công quốc tế thì không thể so sánh và khó có thể có sự thừa nhận của quốc tế đối với quốc gia đó. Đây chính là nội dung quan trọng mà tất cả các cam kết trong quá trình hội nhập các quốc gia phải tuân thủ. Với yêu cầu như vậy, Việt Nam có đáp ứng được không? Có cần thiết không? Với hoạt động kinh kế, đầu tư đa quốc gia thì có cần phải công bố các thông tin minh bạch? Điều đó sẽ mang lại những lợi thế gì cho Việt Nam? Để trả lời những câu hỏi này, cần xem xét những nội dung liên quan đến BCTC theo CMKT công quốc tế và theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) ở Việt Nam.

    1. Sự khác biệt giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam và CMKT công quốc tế

    a. Khác biệt quy định về hệ thống BCTC

    Theo CMKT công quốc tế (IPSAS), các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công hàng năm phải lập BCTC là những đơn vị kinh tế có thể sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng chịu sự kiểm soát của Chính phủ hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối thu, chi. Chênh lệch giữa các khoản thu (bao gồm cả kinh phí ngân sách cấp) đã sử dụng trong quá trình hoạt động là thặng dư hoặc thâm hụt thuần (doanh nghiệp gọi là lãi, lỗ) của đơn vị trong kỳ kế toán. Theo đó, IPSAS quy định: kế toán trên cơ sở tiền mặt lập một báo cáo thu – chi tiền mặt, kế toán trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần/Vốn chủ sở hữu; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC). Ở Việt Nam, chế độ kế toán HCSN quy định, các đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo (Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng; Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động; Báo cáo chi tiết kinh phí dự án; Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD); Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định; Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang) và 4 phụ biểu (Bảng cân đối tài khoản; Thuyết minh báo cáo tài chính; Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước; Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước). – Báo cáo có liên quan đến tình hình tài chính

    + IPSAS: Bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình tài chính. + Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam: Bảng cân đối tài khoản. Thực chất đây chỉ là một phương pháp kiểm tra của kế toán. Bảng cân đối tài khoản không phản ánh được tình hình tài chính, thực trạng, tài sản, nguồn vốn của đơn vị như đối với bảng cân đối kế toán. Do vậy, người sử dụng thông tin không thấy được tài sản và nợ phải trả theo hai loại ngắn hạn và dài hạn cũng như cơ cấu tài sản, nguồn vốn của đơn vị. – Báo cáo liên quan đến thu, chi trong quá trình hoạt động + IPSAS: đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập Báo cáo kết quả hoạt động để phản ánh thu, chi trong quá trình hoạt động để xác định thặng dư hoặc thâm hụt của đơn vị trong kỳ kế toán. Toàn bộ các khoản thu bao gồm cả số kinh phí đã tiếp nhận và các khoản chi bao gồm cả số kinh phí đã sử dụng phát sinh trong kỳ được phản ánh vào báo cáo kết quả hoạt động. Các đơn vị thuộc lĩnh vực công phải xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần trên cơ sở so sánh chênh lệch các khoản thu, chi phát sinh trong kỳ. Và các khoản thu chi phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích. + Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam: không lập báo cáo kết quả hoạt động mà toàn bộ thu, chi của đơn vị HCSN được phản ánh ở hai báo cáo: các khoản kinh phí đơn vị đã tiếp nhận và sử dụng trong kỳ kế toán được phản ánh riêng ở báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng; các khoản thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD phản ánh ở báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD. Toàn bộ quá trình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN và các khoản thu, chi của hoạt động sự nghiệp được phản ánh về cơ bản theo nguyên tắc cơ sở tiền mặt, các khoản thu, chi của hoạt động SXKD được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích. – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ + IPSAS: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để xác định các nguồn của những luồng tiền vào, những khoản mục chi bằng tiền trong kỳ kế toán, và số dư tiền tệ tại ngày kết thúc kỳ kế toán. + Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam hiện nay chưa có báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Do đó, để thực hiện được IPSAS thì việc đầu tiên bắt buộc phải tiến hành là các quy định về quản lý ngân sách và tài chính công phải được nghiên cứu, xem xét để ban hành cho phù hợp với thông lệ chung của các nước. 

    b. Khác biệt quy định về lập BCTC hợp nhất 

    – Theo CMKT công quốc tế: đơn vị kinh tế (đơn vị báo cáo) là một hoặc một nhóm đơn vị kiểm soát và một hoặc nhiều đơn vị bị kiểm soát. Đơn vị kiểm soát phải lập BCTC hợp nhất của các đơn vị bị kiểm soát. Để lập BCTC hợp nhất, đơn vị kiểm soát phải xác định các đơn vị bị kiểm soát. Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của đơn vị khác nhằm thu được lợi ích từ hoạt động của các đơn vị đó và đơn vị có quyền kiểm soát phải tuân theo qui định của pháp luật hoặc theo những thoả thuận chính thức, như: đơn vị có thẩm quyền quyết định thành lập và chi phối các chính sách tài chính và hoạt động; có quyền giải thể, thu hồi, xử lý tài sản và có trách nhiệm về các khoản nợ phải trả của các đơn vị khi giải thể . Như vậy theo IPSAS, Chính phủ và từng Bộ, ngành, tỉnh, thành phố…đều là các đơn vị kinh tế, đều phải lập BCTC trên cơ sở hệ thống CMKT công. BCTC của Chính phủ theo IPSAS phải được hợp nhất từ BCTC của tất cả các đơn vị trung gian do Chính phủ kiểm soát, trong đó bao gồm cả đơn vị được hoặc không được Nhà nước cấp kinh phí, vốn; đơn vị có thể hoạt động độc lập không được Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc giải thể…Các đơn vị chịu sự kiểm soát của Chính phủ phải được hợp nhất vào BCTC của Chính phủ. – Đối với Việt Nam, việc lập Báo cáo quyết toán ngân sách để phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội đã quá quen thuộc, nhưng công việc lập BCTC cho toàn bộ khu vực công theo hệ thống CMKT công quốc tế còn quá xa lạ. Các khái niệm về khu vực công và sử dụng CMKT công còn quá xa lạ và phức tạp với Việt Nam. Như đơn vị kinh tế trong lĩnh vực công phải lập BCTC; BCTC hợp nhất; đơn vị kiểm soát; đơn vị bị kiểm soát; kiểm soát vì mục đích BCTC; lợi ích và sở hữu của cổ đông thiểu số; hoạt động liên doanh liên kết giữa các chính phủ của các nước; hoạt động đầu tư, kể cả đầu tư của Nhà nước đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Như vậy, với những khác biệt quá lớn về hệ thống BCTC giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam và CMKT công quốc tế thì yêu cầu các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS đối với Việt Nam ngay lúc này chưa thể áp dụng được. 

    2. Những trở ngại về lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam và những lợi thế cho Việt Nam khi hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia công bố thông tin minh bạch 

    a. Những trở ngại về lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam

    Việc áp dụng CMKT công quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích như nâng cao tính toàn diện, công khai và minh bạch của BCTC; nâng cao chất lượng và tính so sánh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công cũng như tính nhất quán trong việc lập và báo cáo các thông tin tài chính, hạn chế tham nhũng… Tuy nhiên, CMKT công quốc tế được xây dựng trên cơ sở nền tài chính công ở các quốc gia phát triển ở mức độ cao, trong đó, quan hệ NSNN với các đơn vị sự nghiệp được thực hiện theo đơn đặt hàng, hoạt động sự nghiệp của đơn vị này được coi là các dịch vụ công thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước và khi hoàn thành nghiệm thu sẽ được Nhà nước thanh toán. Các đơn vị thuộc lĩnh vực công ở các nước này là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, tự cân đối thu, chi. Như vậy, chỉ có những nước phát triển mới có khả năng áp dụng ngay chuẩn mực này. Ngoài ra, trong khu vực công, thể chế chính trị, quan hệ cấp phát, thanh toán giữa NSNN với các đơn vị thuộc lĩnh vực công và tài chính công giữa các quốc gia còn nhiều khác biệt. Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành các mối quan hệ quốc tế. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ…đòi hỏi Việt Nam phải cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và phải được quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên, các thông tin tài chính, kế toán hiện hành trong lĩnh vực công cho thấy chưa có sự nhất quán giữa các hệ thống kế toán hiện nay. Lĩnh vực công của Việt Nam xét trên bình diện tổng thể vẫn chưa đầy đủ, hoàn chỉnh, chưa phù hợp với yêu cầu và thông lệ quốc tế. Chế độ kế toán HCSN ban hành kèm theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được xây dựng và ban hành trên cơ sở Luật Ngân sách, Luật Kế toán và các chính sách tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chế độ kế toán HCSN, Việt Nam chưa tham khảo CMKT công quốc tế nên còn nhiều điểm khác biệt với hệ thống CMKT công quốc tế, cụ thể: tổ chức ngân sách lồng ghép với nhiều cấp như Trung ương, tỉnh, huyện, xã, trong đó, cấp xã vừa là một cấp ngân sách vừa là một cấp dự toán; yêu cầu quản lý ngân sách và các quy định quản lý tài chính áp dụng cho các đơn vị sử dụng ngân sách và các cấp ngân sách khá phức tạp, không giống như các nước khác. Thực tế ở Việt Nam, hệ thống BCTC của đơn vị HCSN theo qui định hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, phù hơp với Luật NSNN và các chính sách quản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN. Tuy nhiên, BCTC của đơn vị HCSN hiện nay mới chỉ là một bộ phận cấu thành để tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách nhằm phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội. BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa phải là BCTC của một đơn vị kinh tế bị kiểm soát, phục vụ cho việc lập BCTC hợp nhất của Chính phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá năng lực tài chính và kết quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính. Do đó, việc lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam là cần thiết nhưng ngay lúc này thì chưa thể thực hiện. Khoảng cách giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam với CMKT công quốc tế là khá lớn. 

    b. Những lợi thế cho Việt Nam khi hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia công bố thông tin minh bạch

    Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình tăng trưởng và phát triển, nhận được sự đánh giá cao và niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế về cơ hội đầu tư trung và dài hạn. Hiện nay, với xu thế hội nhập, khuyến khích đầu tư từ nước ngoài thì vấn đề công bố thông tin minh bạch đối với hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia là cần thiết, đảm bảo cho việc quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, giúp nhà nước có những định hướng cho phát triển kinh tế, có cái nhìn đúng đắn về các hoạt động đầu tư để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp cho hoạt động đầu tư. Học hỏi được kinh nghiệm quản lý, tổ chức, phương thức hoạt động từ các hoạt động đầu tư đa quốc gia. Việc minh bạch thông tin giúp các nhà đầu tư trong nước có những quyết định đúng đắn, phù hợp với lợi ích của họ khi tham gia vào các hoạt động kinh tế.

    Tóm lại, trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm hụt cho từng năm để có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất. Điều này không chỉ là sự cần thiết, yêu cầu của hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia mà quan trọng hơn là việc công bố các thông tin minh bạch sẽ tạo ra lợi thế cho các khoản đi vay, cho vay giữa các quốc gia và với các tổ chức quốc tế . Do đó, Việt Nam cần phải ban hành CMKT công dựa trên cơ sở CMKT công quốc tế và phù hợp với hoàn cảnh trong nước. Để làm được điều đó phải nhanh chóng chuyển biến về nhận thức; phải đổi mới phương thức quản lý NSNN. Ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải đưa ra lộ trình cụ thể để áp dụng, tiến tới thống nhất BCTC trên cơ sở kế toán dồn tích từ Chính phủ xuống tất cả các đơn vị. Hiện nay các công ty sử dụng nguồn vốn từ ngân sách rất nhiều, chia thành nhiều đối tượng, như vậy: làm thế nào để các công ty con cũng tuân thủ nhất quán chế độ kế toán như các công ty mẹ đang là vấn đề. Việt Nam sẽ phải tiếp tục học hỏi kinh nghiệm từ các nước để đưa ra lộ trình riêng cho mình. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Lương Văn Hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-di%E1%BB%85n-bi%E1%BA%BFn-ph%E1%BB%A9c-t%E1%BA%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Tóm tắt

    Nền kinh tế Việt Nam nói chung, hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam nói riêng đang hội nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế và thị trường tài chính quốc tế. Các hoạt động thương mại, đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, xuất khẩu lao động, du lịch quốc tế, kiều hối, du học…. của Việt Nam với thế giới ngày càng phát triển mạnh. Theo đó, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM tại Việt Nam ngày càng phát triển mạnh, nhất là các NHTM của Việt Nam có thế mạnh về lĩnh vực này và các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong gần 2 năm: 2018 và từ đầu năm 2019 đến nay, thị trường ngoại hối quốc tế có sự biến động mạnh, đặc biệt là USD và Nhân dân tệ (NDT – CNY), với tác động của căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc kéo dài, sự mất giá mạnh của NDT, FED 3 lần tăng lãi suất trong năm 2018 và giữ nguyên từ đầu năm 2019 đến nay, giá dầu thô diễn biến 2 chiều: tăng khá nhưng cũng giảm đáng kể, đàm phán Brexit kéo dài và Quốc hội Anh chưa thông qua các điều khoản Brexit… Vậy trong bối cảnh năm 2018 và từ đầu năm 2019 đến nay dưới tác động của căng thẳng quan hệ thương mại Mỹ – Trung Quốc thường xuyên gia tăng, thương mại quốc tế diễn biến phức tạp, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam ra sao? Bài viết xin được phân tích về chủ đề này.

    1. Đặt vấn đề

    Ngoại hối bao gồm tất cả các phương tiện thanh toán được sử dụng trong các giao dịch trao đổi và thanh toán quốc tế. Xét trong phạm vi từng quốc gia thì ngoại hối bao gồm: Ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ (Bao gồm: Séc, trái phiếu, hối phiếu…), vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng nội tệ do người không cứ trú nắm giữ. Tuy nhiên trên thực tế, trên thị trường ngoại hối người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối. Muốn trở thành ngoại tệ để giao dịch trên thị trường ngoại hối, thì trước hết phải bán (chiết khấu) các giấy tờ có giá để có ngoại tệ, sau đó mới tiến hành mua bán trên thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng. Giao dịch trên thị trường ngoại hối có các nghiệp vụ, như: Nghiệp vụ ngoại hối giao ngay, nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối, nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ, nghiệp vụ tiền tệ tương lai. Thị trường ngoại hối có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia theo hướng mở. Thông qua thị trường ngoại hối, các giao dịch mua bán ngoại tệ được tiến hành một cách thuận lợi, qua đó, thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế phát triển. Cùng với sự phát triển của kinh tế đối ngoại, thì các hoạt động trao đổi trên thị trường ngoại hối cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, nếu như thị trường ngoại hối hoạt động lành mạnh và hiệu quả sẽ là tiền đề rất quan trọng để thúc đẩy kinh tế đối ngoại của một quốc gia phát triển lành mạnh và hiệu quả. Kinh doanh ngoại hối là việc mua và bán các loại tiền tệ với mục đích kiếm lợi nhuận từ những thay đổi trong giá trị của chúng. Kinh doanh trên thị trường ngoại hối là một nghiệp vụ khó, đòi hỏi các nhà đầu tư, đầu cơ và nhà phân tích thị trường phải hiểu rõ sự vận động của thị trường ở các thời điểm khác nhau, khung thời gian khác nhau, phân tich và dự báo những biến động và nhân tố tác động đến sự biến động đó.

    2. Nội dung nghiên cứu

    Thời gian giao dịch trên thị trường ngoại hối

    Không giống như các thị trường tài chính khác. Thị trường ngoại hối là thị trường hoạt động 24 giờ và được kết nối bằng hệ thống điện tử trong một mạng lưới của các ngân hàng trên toàn cầu tham gia hoạt động này. Để biết được thời gian tốt nhất để giao dịch thì nhà kinh doanh ngoại hối cần biết được sự hoạt động trong 24 giờ của thị trường là như thế nào? Thị trường ngoại hối được chia thành bốn phiên giao dịch chính: Sydney, Tokyo, London và phiên New York

    Vị thế của Nhân dân tệ trên thị trường tài chính quốc tế

    Ngày 1/10/2016, NDT chính thức gia nhập vào rổ tiền tệ quốc tế của IMF cùng với các đồng USD của Mỹ, Euro của EU, Yen Nhật và Bảng Anh. Đây là những loại tiền tệ các nước có thể nhận được thông qua các khoản vay của IMF. NDT cũng là một trong 5 đồng tiền dự trữ toàn cầu nói trên trong giỏ tiền SDR của IMF, với tỷ trọng 10,92% trong giỏ tiền tệ. Đây cũng là một cột mốc quan trọng trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong suốt một thập kỷ qua.Tỷ trọng NDT còn cao hơn so với Yên Nhật trong biểu đồ tại hình 1. Tỷ trọng này được dùng để xác định số tiền của mỗi đồng tiền được định giá trong rổ SDR mới có hiệu lực từ ngày 01/10/2016. Tại châu Á, các nước Malaysia, Philippines, Thái Lan đã đưa NDT vào hệ thống dự trữ quốc gia. Sau khi IMF tuyên bố đưa đồng NDT vào giỏ SDR, rất nhiều nước như Singapore, Tanzania… đã tuyên bố đưa đồng NDT vào dự trữ ngoại hối. Hàn Quốc cũng đang xem xét đa dạng hóa nguồn dự trữ ngoại tệ của mình, trong đó có tính đến đồng NDT. Ở châu Âu, tháng 1/2017, Hội đồng quản trị của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định bổ sung NDT vào thành phần hiện tại của kho dự trữ ngoại hối (gồm: USD, Yên Nhật, NDT, vàng và SDR). Theo đó, ECB đã bán một phần nhỏ lượng nắm giữ USD của mình (tương đương 500 triệu Euro) để đầu tư vào đồng NDT. Một số NHTW các nền kinh tế khác, như: Ngân hàng Trung ương Pháp, Ngân hàng Trung ương Đức cũng đã xác nhận nắm giữ NDT trong cơ cấu dự trữ ngoại hối từ tháng 1/2017. Anh chấp nhận thanh toán với Trung Quốc bằng NDT và đang xem xét đưa thêm NDT vào rổ dự trữ ngoại tệ. Tại châu Phi, Nigieria đã tuyên bố xem xét tăng tỷ lệ dự trữ đồng NDT thêm 5% – 10%. Trước thời điểm 1/10/2016, vào cuối năm 2015, sau hơn 5 năm tập trung tăng cường vị thế của Nhân dân tệ, Trung Quốc đã ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với gần 30 nước và có ngân hàng thanh toán tại gần 10 quốc gia. Theo số liệu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), từ năm 2013, NDT đã lọt top 10 đồng tiền được giao dịch nhiều nhất toàn cầu, nhờ tốc độ tăng trưởng GDP cao, cán cân thanh toán và vãng lai liên tục thặng dư cùng chính sách nới lỏng mạnh tay của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) suốt từ năm 2009, thời điểm nước này nhận ra mình đang “mắc bẫy USD”. Từ cuối năm 2017, khi căng thẳng thương mại Mỹ và Trung Quốc bắt đầu căng thẳng và liên tục gia tăng lớn cho đến nay, NDT đã thường xuyên biến động mạnh theo hướng giảm giá. Nhân dân tệ tại thị trường Trung Quốc ngày 3/8/2018 giảm xuống mức thấp nhất 15 tháng, với 6,8724 Nhân dân tệ đổi 1 USD, nếu so với mức tỷ giá 6,2352 Nhân dân tệ/USD hồi tháng 3, đồng Nhân dân tệ hiện đã giảm giá 10%. Cuối tháng 9/2018 tỷ giá Nhân dân tệ đóng cửa tại thị trường Thượng Hải ở mức 6,8725 Nhân dân tệ/USD, có thời điểm lên tới 6,9182 NDT/USD. Từ đầu năm 2019 đến nay, cuối tháng 6/2019, Nhân dân tệ tiếp tục diễn biến theo xu hướng giảm giá, thời điểm ngày 10/6/2019 tại thị trường đại lục có lúc giảm còn 6,9352 tệ đổi 1 USD, mức thấp nhất kể từ đầu năm tới nay. Tại thị trường Hồng Kông, tỷ giá Nhân dân tệ trong buổi sáng có lúc đứng ở mức 6,9538 tệ đổi 1 USD.

    Thực trạng kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

    Để thấy rõ thực trạng hoạt động kinh doanh ngoaị hối của các NHTM Việt Nam hiện nay trong bối cảnh tác động của cằng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc, bài viết xin đưa ra số liệu và hiệu quả kinh doanh này được công bố trong Báo cáo tài chính hết quý I/2019 của 24 NHTM cho thấy, số lượng ngân hàng có lợi nhuận tăng chiếm đa số. Xét về giá trị tuyệt đối, Vietcombank vẫn là NHTM có lợi nhuận cao nhất ngành. Trong quý 1, thu nhập lãi thuần của Vietcombank đạt trên 8.498 tỷ đồng (xếp thứ 2 trong ngành sau BIDV), tăng 37,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh và hoạt động khác giảm lần lượt 76% và 27% thì lãi từ hoạt động dịch vụ cũng như kinh doanh ngoại hối và vàng đều tăng. Hoạt động dịch vụ đạt lãi thuần trên 1.069 tỷ đồng, tăng 21%, hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng cũng đạt 928 tỷ đồng, tăng 51%. Đối với BIDV, đây cũng là NHTM có thu nhập lãi thuần cao nhất trong ngành với 8.545 tỷ đồng trong quý 1. Ở các mảng hoạt động khác, dù các hoạt động như dịch vụ, kinh doanh ngoại hối và vàng cùng hoạt động khác đều có sự tăng trưởng về lãi thuần tuy nhiên hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh chỉ đạt 38,7 tỷ lãi thuần, giảm 93%, ngoài ra hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư còn lỗ trên 389 tỷ.Do đó, lợi nhuận trước thuế của BIDV chỉ tăng nhẹ 1,4% lên 2.520 tỷ đồng. Ngân hàng này vẫn nằm trong top 5 ngân hàng có lợi nhuận lớn nhất ngành trong quý 1. Nhìn lại trong năm 2018, dựa trên báo cáo tài chính hết quý 3/2018, kết quả tổng hợp cho thấy, 20 ngân hàng có lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối, đạt hơn 4.200 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2018, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2017, cho thấy đây vẫn là mảng kinh doanh hấp dẫn; đồng thời các NHTM cũng chủ động, linh hoạt, có kinh nghiệm hơn và phòng ngừa rủi ro tốt hơn. Tổng số 20 NHTM được đề cập, đó là Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, MBB, VPBank, Techcombank, HDBank, ABBank, VietCapitalBank, SeABank, VietBank, Saigonbank, Kienlongbank, Bac A Bank, TPBank, VietABank, LienVietPostBank, VIB, NCB. Tổng hợp con số đầy đủ thì lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 4.293 tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ. Riêng quý 3/2018, 20 ngân hàng này có lãi 1.290 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối. Đây là quý có sự biến động mạnh nhất của NDT và VND so với USD, tức là có mức độ rủi ro lớn nhất, nhưng các NHTM Việt Nam vẫn duy trì được số lãi ổn định từ hoạt động kinh doanh này. Trong số đó, có 16 trên tổng số 20 NHTM Việt Nam được tổng hợp, phân tích có tăng trưởng dương ở mảng kinh doanh ngoại hối trong 9 tháng đầu năm 2018, cá biệt có một số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng rất cao trên 100%. VPBank cùng kỳ năm 2017 bị lỗ tới 43 tỷ đồng thì 9 tháng đầu năm 2018 có lãi tới 251 tỷ đồng; VietCapitalBank hoạt động kinh doanh ngoại hối có lãi 115 tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đây là động lực chính cho tăng trưởng lợi nhuận hợp nhất cùa ngân hàng này trong 3 quý đầu năm 2018. BIDV, một trong những NHTM Việt Nam có thị phần lớn nhất trên thị trường ngoại hối cũng có tăng trưởng lãi kinh doanh ngoại hối tới 55% đạt 797 tỷ đồng. Tham khảo số liệu so sánh kết quả kinh doanh ngoại hối trong 2 năm qua 2017-2018 của 10 NHTM Việt Nam Bên cạnh một số NHTM có kết quả kinh doanh ngoại hối tăng trưởng cao, thì một số NHTM khác, như: Vietcombank, Sacombank, BacABank và LienVietPostBank lại giảm so với cùng kỳ, riêng LienVietPostBank còn bị lỗ gần 7 tỷ đồng. Đối với riêng Vietcombank cho dù bị giảm 6% so với cùng kỳ năm 2017, nhưng Vietcombank vẫn có mức lãi từ kinh doanh ngoại hối đạt hơn 1.600 tỷ đồng, dẫn đầu các NHTM Việt Nam và có khoảng cách rất xa so với các NHTM khác. Trong nhiều năm gần đây, Vietcombank vẫn luôn giữ được thế mạnh truyền thống, có thị phần lớn nhất trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Tham khảo số liệu về lĩnh vực kinh doanh này 2 năm trước đó: 2016 – 2017 của Vietcombank cũng thấy rõ điều đó. Tính đến hết năm 2017, Vietcombank đạt doanh số kinh doanh ngoại tệ tăng 27,22% so với cùng kỳ và đạt 120,3% mục tiêu đề ra trong kế hoạch kinh doanh của năm 2017; Chuyển tiền kiều hối tăng 14,9% so với cùng kỳ 2016. Cũng trong khoảng thời gian nói trên, Vietcombank liên tục duy trì vị trí hàng đầu về mua bán ngoại tệ trên thị trường. Nhóm NHTM Việt Nam có thị phần lớn tiếp theo đó là BIDV, VietinBank, Sacombank, Techcombank, ACB, MBB, Eximbank và VPBank cũng đang tham gia cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường ngoại hối. Tại VPBank, kinh doanh ngoại hối vốn không phải là thế mạnh nhiều năm trước khi thường xuyên bị lỗ nặng: năm 2017 bị lỗ 159 tỷ đồng, năm 2016 lỗ 319 tỷ đồng, năm 2015 lỗ 290 tỷ đồng. Nhưng năm 2018 VPBank đang có bước thay đổi mạnh mẽ khi không chỉ thoát lỗ mà còn có lãi tới 251 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm ở mảng kinh doanh này. Kinh doanh ngoại hối thậm chí còn trở thành một trong những yếu tố cứu cánh cho tăng trưởng lợi nhuận của VPBank khi thu nhập từ tín dụng tăng chậm lại, hoạt động dịch vụ và mua bán chứng khoán sụt giảm. Ngoài các NHTM nói trên, thì trong 9 tháng đầu năm 2018 một số NHTM khác của Việt Nam cũng đạt số lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối ở mức khá, như: Sacombank đạt lãi 313 tỷ đồng, ACB đạt 308 tỷ đồng, MB đạt 302 tỷ đồng, Techcombank 247 tỷ đồng. Những NHTM này thậm chí còn phải cạnh tranh gay gắt với những ngân hàng nước ngoài có ưu thế về nguồn ngoại tệ dồi dào,kinh nghiệm trên thị trường tài chính quốc tế, khách hàng là các nhà xuất khẩu lớn. Ví dụ, đến nay chưa thấy công bố kết quả kinh doanh 9 tháng, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2018 tại HSBC Việt Nam, đã có lãi từ kinh doanh ngoại hối đạt tới 347 tỷ đồng, chỉ đứng sau Vietcombank, BIDV và tương đương với VietinBank. Trên thực tế, hoạt động kinh doanh ngoại hối là một mảng nhiều rủi ro, lên xuống khá thất thường, ngay cả ở những Ngân hàng lớn, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên, các NHTM Việt Nam cũng sẽ không bỏ qua mảng kinh doanh có nhiều triển vọng, nhiều tiềm năng bởi nhu cầu chi tiêu ngoại tệ cho các hoạt động du lịch, du học, định cư,…ở nước ngoài ngày càng lớn. Lượng kiều hối về Việt Nam cũng tăng nhanh theo từng năm. Đồng thời, các NHTM Việt Nam còn phải cạnh tranh với mua bán ngoại tệ trên thị trường “chợ đen”, chủ yếu là các cửa hàng vàng. Mặc dù các NHTM Việt Nam trong nhiều năm qua đưa ra không ít chương trình khuyến mại tặng quà, tặng tiền cho khách hàng thực hiện giao dịch ngoại tệ với ngân hàng,…hay bổ sung nhiều tiện ích, như cho phép đổi ngoại tệ tại cây ATM, thì thói quen mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do của người dân vẫn khó thay đổi. Đặc biệt là với những giao dịch Nhân dân tệ của tư nhân, của cá nhân ở khu vực biên giới phía Bắc.

    Hành lang pháp lý tạo cơ hội cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam mở rộng kinh doanh mua bán Nhân dân tệ trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc

    Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung gia tăng, nhiều dự báo sẽ chỉ ra rằng, các cơ hội gia tăng quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch quốc tế của Việt Nam và Trung Quốc sẽ lớn hơn, giao dịch bằng NDT sẽ lớn hơn, tập trung là khu vực biên giới. Đây là một mảng thị trường kinh doanh ngoại hối mà nhiều NHTM đang mở rộng cơ hội. Trong các báo cáo tài chính của các NHTMCP Việt Nam được đề cập nói trên, phần kinh doanh ngoại hối chỉ đề cập chung, tổng thể, không có thuyết minh chi tiết giao dịch mua bán NDT. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động này có phát sinh tại một số NHTM Việt Nam và đạt kết quả kinh doanh khá. Về cơ sở pháp lý, NHNN Việt Nam đã kịp thời ban hành Thông tư số: 19/2018/ TT-NHNN, hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc, có hiệu lực thi hành từ 12/10/2018. Đây là điều kiện cho các NHTM Việt Nam đẩy mạnh cạnh tranh về giao dịch mua bán NDT ở khu vực biên giới, nhất là trong bối cảnh quan hệ thương mại Mỹ – Trung Quốc chưa giảm bớt căng thẳng. Theo quy định pháp lý nói trên, các đối tượng được sử dụng Nhân dân tệ trong thanh toán gồm thương nhân, cư dân biên giới Việt Nam, Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới giữa 2 nước; các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh ngoại hối. Cùng với đồng Nhân dân tệ, VND và ngoại tệ tự do chuyển đổi cũng được dùng trong các giao dịch thanh toán ở biên giới. Phương thức thanh toán bao gồm thanh toán qua ngân hàng, bằng VND hoặc Nhân dân tệ (CNY) tiền mặt. Ngoài ra, thông tư cũng quy định một số hoạt động ngoại hối khác, như: ủy thác thanh toán bằng đồng CNY, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu CNY tiền mặt và VND tiền mặt. 

    3. Kết luận và khuyến nghị

    Dự báo, dù diễn biến quan hệ thương mại Mỹ – Trung Quốc tới đây như thế nào đi chăng nữa, thì quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch, dịch vụ hành không,… giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục gia tăng lớn, các giao dịch về thanh toán, chuyển tiền, chuyển đổi tiền tệ của doanh nhân, cá nhân người Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục ở quy mô lớn hơn và NDT sẽ có những biến động khó lường. Bên cạnh đó, với việc CPTPP chính thức có hiệu lực từ 30/12/2018, các hiệp định thương mại khác giữa Việt Nam và các khối, các nước khác được thực thi, quan hệ thương mại, đầu tư, dịch vụ, du lịch, lao động, chuyên gia, thanh toán, chuyển tiền, giao dịch vốn,… của Việt Nam với cộng đồng quốc tế sẽ tiếp tục phát triển lên các mức độ mới. Thị trường tài chính quốc tế tiếp tục diễn biến với những tác động kinh tế, chính trị, thiên tai,….bất thường. Đó là những cơ hội và thách thức lớn đối với các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên với kinh nghiệm rút ra trong thời gian qua, đặc biệt là trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019, chắc chắn hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam sẽ có kết quả bền vững hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Vấn đề đặt ra cho các NHTM Việt Nam, đó là tiếp tục tăng cường đào tạo cán bộ, thực hiện tốt các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ kinh doanh ngoại hối quốc tế, chủ động và linh hoạt mua bán ngoại tệ trên thị trường, chú trọng đến các nghiệp vụ phái sinh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    ThS. Nguyễn Thu Hương

    Bộ Môn Kinh Tế XD, Khoa Quản lý đô thị

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-m%C3%B4-h%C3%ACnh-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%83-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-b%C3%A1o-c%C3%A1o-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    Tóm tắt

    Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) có ý nghĩa quan trọng đối với không chỉ các nhà đầu tư, các nhà cho vay, mà còn đối với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng hay các cơ quan quản lý Nhà nước. Thông tin trên BCTC giúp các đối tượng này có những nhìn nhận chính xác hơn về tính trung thực và hợp lý của việc lập và trình bày các thông tin tài chính. Đồng thời, cũng giúp các đối tượng này ra các quyết định phù hợp liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Bài viết này tổng hợp một số mô hình đang được áp dụng để đánh giá chất lượng BCTC nhằm giúp các nhà phân tích, các đối tượng có liên quan có cơ sở đánh giá chính xác nhất.

    1. Đặt vấn đề

    Phân tích BCTC là một hệ thống các phương pháp tiếp cận các thông tin trên BCTC nhằm phục vụ cho mục tiêu ra quyết định. Các quyết định liên quan đến hệ thống BCTC doanh nghiệp rất đa dạng nhưng có một điểm chung đó là cùng đánh giá khả năng tạo ra dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai. Chính vì vậy, trong quá trình phân tích BCTC, các nhà phân tích thường quan tâm đến chất lượng BCTC đã công bố. Chất lượng BCTC có liên quan đến việc phản ánh trung thực, hợp lý về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và những thông tin này rất hữu ích cho dự báo dòng tiền trong tương lai. BCTC được lập dựa trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán. Yêu cầu của việc lập và trình bày BCTC phải đảm bảo tính trung thực, hợp lý và đáng tin cậy trong việc phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Yêu cầu về tính hợp lý của thông tin tài chính cho phép nhà quản trị doanh nghiệp có thể linh hoạt trong việc vận dụng các chính sách, các phương pháp kế toán. Đồng thời, để đảm bảo được tính tin cậy cũng đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải tuân thủ một cách chặt chẽ và chi tiết các chuẩn mực và chế độ kế toán. Tuy nhiên, trong thực tế BCTC của DN vẫn có thể bị tác động bởi các mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị doanh nghiệp. DeAngelo (1986) đã chỉ ra bằng chứng về việc các nhà quản trị doanh nghiệp đã tác động vào lợi nhuận dồn tích cùng với những thay đổi kế toán để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp. Schipper (1989) đã đề cập đến tính trung thực của việc lập và trình bày BCTC, trong đó đề cập đến hành vi can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích của nhà quản trị. Trueman and Titman (1989) đã xem xét đến động cơ của các nhà quản trị trong việc “đánh bóng” BCTC và kết luận doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh càng thấp thì càng có động cơ can thiệp vào BCTC càng nhiều. Do đó, hành động can thiệp vào BCTC doanh nghiệp chính là sự vận dụng khéo léo, linh hoạt các chuẩn mực, chế độ kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp. Như vậy, hành động can thiệp vào BCTC doanh nghiệp xây dựng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thông tin cung cấp cho các nhà đầu tư và các đối tượng bên ngoài, từ đó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của các đối tượng này. Bởi nó không phản ánh được bản chất, đôi khi có thể dẫn tới những thông tin sai lệch về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Hành động can thiệp làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC thực tế luôn tồn tại, vậy làm thế nào để các đối tượng bên ngoài có thể đánh giá được về chất lượng BCTC doanh nghiệp xây dựng? Bài viết này sẽ tổng hợp một số mô hình dùng để đánh giá chất lượng BCTC doanh nghiệp nhằm giúp các nhà phân tích, các đối tượng bên ngoài có cơ sở để đo lường chất lượng BCTC. Trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan có quyết định hợp lý đối với tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Trong đó, bài viết chủ yếu xem xét các mô hình đo lường chất lượng BCTC thông qua hành vi quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp. Đây là hành vi chủ yếu tác động đến doanh thu, chi phí và lợi nhuận từ đó làm sai lệch các thông tin về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hành vi quản trị lợi nhuận chính là việc nhà quản trị tài chính sử dụng những phản ánh chủ quan của mình trong quá trình lập và trình bày BCTC nhằm thay đổi các thông tin tài chính cung cấp cho các đối tượng có liên quan, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán.

    2. Động cơ tác động tới chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp

    Thông tin trên BCTC doanh nghiệp có thể được sử dụng cho rất nhiều mục tiêu khác nhau, vì vậy các nhà quản trị doanh nghiệp có rất nhiều động cơ khác nhau để tác động đến BCTC. Chẳng hạn như Friedlan (1994) đã đưa ra bằng chứng hàng loạt công ty tác động đến BCTC trước khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Hay Penman (2001) đưa ra kết quả đánh giá phần lớn các công ty đều tác động tới BCTC trước các đợt phát hành cổ phiếu tăng thêm… Vì vậy, động cơ tác động đến BCTC doanh nghiệp có thể xuất phát từ các lý do sau: – Phát hành cổ phiếu ra công chúng Khi các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp được công bố sẽ ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường. Theo Friedlan (1994) và Penman (2001), để giảm thiểu rủi ro khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, cũng như các đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn cho doanh nghiệp thì các doanh nghiệp đều có hành động can thiệp vào BCTC. Các doanh nghiệp đã linh hoạt trong việc vận dụng các chuẩn mực kế toán vào việc ghi chép và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh sao cho BCTC của doanh nghiệp “đẹp nhất” có thể trong con mắt các nhà đầu tư. Bởi các thông tin trên BCTC là một trong những cơ sở quan trọng để nhà đầu tư cân nhắc ra quyết định liên quan đến lựa chọn, hay cơ cấu lại danh mục đầu tư… Do đó, hành vi can thiệp vào BCTC của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu trên thị trường. Mặt khác, các nhà phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng luôn quan tâm đến các chỉ số phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như các chỉ tiêu phản ánh về khả năng sinh lời. Chính vì vậy, các nhà quản trị tài chính cũng phải quan tâm đến việc làm sao cho BCTC của họ trở nên “hấp dẫn” đáp ứng kỳ vọng của các nhà phân tích. Với lý do đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể có những tác động đến BCTC doanh nghiệp, từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. – Giảm chi phí thuế thu nhập Giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những yếu tố góp phần gia tăng lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp (Ronen and Yaari, 2008). Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ có những can thiệp nhất định vào hệ thống BCTC nhằm mục tiêu tiết kiệm đáng kể chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Chuẩn mực kế toán Việt Nam quy định rất rõ về các nguyên tắc lập và trình bày BCTC, vì vậy, nhà quản trị có thể thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua điều chỉnh lợi nhuận chịu thuế. Với việc thực hiện mục tiêu tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp các nhà quản trị doanh nghiệp đã làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. – Ảnh hưởng từ các hợp đồng Các thông tin kế toán có thể được sử dụng cho rất nhiều loại hợp đồng khác nhau như: Hợp đồng thù lao cho các nhà quản trị doanh nghiệp, hay hợp đồng vay vốn… Hợp đồng thù lao giữa các nhà quản trị doanh nghiệp với chủ doanh nghiệp thường dựa trên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Brick và Wald (2006) đã chứng mình rằng thù lao cho các nhà quản trị doanh nghiệp tỉ lệ thuận với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh càng cao thì thù lao cho các nhà quản trị doanh nghiệp càng lớn. Do đó, khi kết quả kinh doanh chưa đạt đến kỳ vọng của các nhà quản trị thì nhà quản trị có xu hướng tác động đến BCTC sao cho thỏa mãn được mục tiêu đã đề ra. Đồng thời, để tránh việc vi phạm các hợp đồng vay vốn của doanh nghiệp, các nhà quản trị cũng có khuynh hướng tác động đến BCTC. Khi ký kết hợp đồng vay vốn với các chủ nợ, doanh nghiệp được yêu cầu phải đảm bảo duy trì một số chỉ tiêu tài chính ở mức nhất định. Nếu doanh nghiệp vi phạm cam kết có thể dẫn đến hành động can thiệp của người cho vay như điều chỉnh tăng lãi suất hoặc yêu cầu trả nợ trước hạn. Vì khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không tốt sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả lãi vay và nợ gốc, do đó sẽ dẫn đến rủi ro cho các chủ nợ. Kết quả là các nhà quản trị sẽ có một số hành vi can thiệp đến BCTC để giảm thiểu việc vi phạm các cam kết về vay vốn. Bên cạnh những động cơ trên còn phải kể đến: việc thực hiện quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp & lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng. Cuối cùng, với mục tiêu ổn định lợi nhuận giữa các kỳ kinh doanh, tạo hình ảnh tốt về công ty để thu hút đầu tư từ bên ngoài, hay tránh công bố lợi nhuận cao, để tránh cơ quan quản lý Nhà nước có những hành động chính sách điều tiết hoạt động của doanh nghiệp như rút bớt các chính sách ưu đãi,… đều có thể dẫn đến hành vi can thiệp lên BCTC của các nhà quản trị, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng BCTC.

    3. Các mô hình đánh giá chất lượng BCTC

    Như đã trình bày trong phần trên, đánh giá chất lượng BCTC chủ yếu tập trung vào đánh giá chất lượng lợi nhuận hay công tác quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp. Chất lượng lợi nhuận thường được xem xét dựa trên tính ổn định và tính bền vững theo thời gian. Để đo lường chất lượng BCTC doanh nghiệp, trong phạm vi bài viết này tác giả trình bày một số mô hình được áp dụng phổ biến trên thế giới Mô hình 1: Theo Leuz et al (2003), nắm bắt được tâm lý của các nhà đầu tư dài hạn luôn thích sự tăng trưởng lợi nhuận đều đặn và ổn định qua các năm. Bởi sự ổn định giá cổ phiếu hoặc tăng giá trị thị trường của cổ phiếu thường được phản ánh thông qua chỉ tiêu này. Chính vì vậy, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cũng luôn tìm mọi cách để hạn chế tối đa sự biến động về lợi nhuận. Vì mục tiêu đó, họ luôn có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận theo hướng ổn định giữa các kỳ kế toán để đảm bảo lợi nhuận tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Trên quan điểm đó, Leuz et al (2003) đã đánh giá chất lượng lợi nhuận thông qua việc xác định mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh với độ lệch chuẩn của tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD). Độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ HĐKD Độ lệch chuẩn của tiền từ hoạt động kinh doanh (1) Theo đó, khi hệ số này càng cao thì chất lượng BCTC của doanh nghiệp càng cao tương ứng và ngược lại. Vì khi hệ số này càng cao, mức độ điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp càng thấp. Mô hình 2: Robinson et al (2009) chủ yếu bàn về lợi nhuận dồn tích, là cách đánh giá cơ bản về chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp để các nhà phân tích có thể dễ dàng sử dụng trong việc tính toán. Sử dụng số liệu trên bảng cân đối kế toán, chúng ta có thể đo lường sự thay đổi ròng của các khoản mục phi tiền tệ để tính tổng lợi nhuận dồn tích (aggregate accruals) trong năm tài chính. Lợi nhuận dồn tích chỉ đơn giản là sự thay đổi trong tài sản kinh doanh thuần từ đầu năm đến cuối kỳ. Tài sản kinh doanh thuần (Net operating assets- NOA) là phần chênh lệch giữa tài sản kinh doanh (tổng tài sản trừ tiền và tương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) và nợ kinh doanh (tổng nợ phải trả trừ đi các khoản vay phải trả lãi): Tài sản kinh doanh thuần (NOA) = Tài sản kinh doanh – Nợ kinh doanh (2) Theo cách tiếp cận từ bảng cân đối kế toán (Balance Sheet- B/S), chúng ta có thể xác định lợi nhuận dồn tích cho năm t: Lợi nhuận dồn tícht B/S = NGOAt – NGOAt-1 (3) Tuy nhiên, chỉ tiêu này sẽ chịu sự tác động bởi nhân tố quy mô hoạt động kinh doanh khi so sánh chất lượng BCTC giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, người phân tích cần có sự điều chỉnh quy mô doanh nghiệp khi tiến hành phân tích bằng cách đơn giản là đo lường lợi nhuận dồn tích thông qua tài sản kinh doanh thuần bình quân. Do đó, đánh giá đầu tiên về chất lượng BCTC được tính toán thông qua tỉ số dồn tích tính dựa trên bảng cân đối kế toán như sau: Tỉ số dồn tícht B/S = (NGOAt – NGOAt-1) (4) (NGOAt + NGOAt -1) / 2 Ngoài ra, chúng ta cũng có thể xác định tỉ số dồn tích dựa trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Cách tiếp cận này cho phép xem xét sự khác biệt giữa lợi nhuận dồn tích với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư. Từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement), lợi nhuận dồn tích sẽ được xác định như sau: Lợi nhuận dồn tícht CF = Nlt – (CFOt + CFlt ) (5) Trong đó, Nlt là lợi nhuận sau thuế của năm t. CFOt là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của năm t. CFlt là dòng tiền từ hoạt động đầu tư trong năm t. Xem xét đến sự khác biệt về quy mô, chất lượng BCTC có thể được đánh giá thông qua cách thứ hai dựa trên tỉ số dồn tích tính từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ như sau: Tỉ số dồn tícht CF = Nlt -(CFOt +CFlt ) (6) (NOAt + NOAt -1)/2 Các tỉ số dồn tích trong cả hai công thức trên đều xem xét đến phần lợi nhuận mà doanh nghiệp chưa thu được bằng tiền, vì vậy các tỉ số cao cho thấy chất lượng BCTC doanh nghiệp càng thấp. Mô hình 3: Xuất phát từ mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán với báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp, lợi nhuận dồn tích (accruals) chính là phần chênh lệch giữa lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh với dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Lợi nhuận dồn tích hay chính là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền, hay biến kế toán dồn tích: Lợi nhuận dồn tích = Tổng lợi nhuận – Lợi nhuận bằng tiền (7) Trong đó, phần lợi nhuận bằng tiền không thể điều chỉnh được, vì vậy các nhà quản trị tài chính chủ yếu điều chỉnh lợi nhuận dựa trên phần lợi nhuận dồn tích. Mặc dù vậy, trong lợi nhuận dồn tích không phải phần lợi nhuận nào cũng dẫn đến hành vi điều chỉnh của nhà quản trị. Lợi nhuận dồn tích (Total accruals) có thể đến từ hai phần là lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh (nondiscretionary accruals) và lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals). Lợi nhuận dồn tích (TA) = Lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) + Lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh (DA) (8) Phần lợi nhuận dồn tích không điều chỉnh được phản ánh mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Còn phần lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh được phụ thuộc chủ yếu vào việc vận dụng các phương pháp kế toán, các ước tính kế toán, do đó thể hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị. Từ đó, DeAngelo (1986) giả định rằng các thành phần NDA sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với phần lợi nhuận dồn tích (TA) của kỳ trước (t-1), do đó sự thay đổi trong lợi nhuận dồn tích giữa kỳ này (t) và kỳ trước (t-1) được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán. Lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh kỳ này (DAt ) = Lợi nhuận dồn tích kỳ này (TAt ) – Lợi nhuận dồn tích kỳ trước (TAt-1) (9) Với mô hình quan sát phần DA của DeAngelo (1986), giả định rằng lợi nhuận sau thuế không đổi, khi DA càng nhỏ thì chỉ tiêu lợi nhuận càng ít bị điều chỉnh, hay mức độ trung thực của lợi nhuận càng cao. Qua đó cho thấy chất lượng BCTC doanh nghiệp càng cao. Mô hình 4: Với quan điểm như trên, mô hình của Friedlan (1994) thực chất phát triển từ mô hình của DeAngelo (1986) khi xác định phần DA. Tuy nhiên, theo Friedlan (1994) trong mô hình của DeAngelo (1986), phần NDA được ước lượng trong mô hình sẽ chính xác nếu NDA không thay đổi theo thời gian và trung bình DA bằng 0 ở các kỳ ước lượng. Mà phần NDA lại thường phụ thuộc vào mức độ, quy mô hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Vì vậy, khi doanh nghiệp mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động kinh doanh thì dẫn đến phần NDA cũng biến động theo tương ứng. Khi đó việc xác định sẽ không còn chính xác và không thể giả định DA được xác định như trong công thức (9). Để hạn chế nhược điểm của mô hình này Friedlan (1994) đã xem xét đến sự biến động của DA trong mối quan hệ với sự biến động của quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể là Friedlan (1994) đã cải tiến mô hình trên, đo lường phần DA trong công thức (9) trong mối quan hệ với doanh thu của doanh nghiệp. Khi đó, mô hình Friedlan (1994) sẽ được thể hiện như sau: Lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh kỳ này (DAt ) = Lợi nhuận dồn tích kỳ này (TAt ) Doanh thut – Lợi nhuận dồn tích kỳ trước (TAt-1) Doanh thut-1 (10) Trong công thức (10), Friedlan (1994) đã giả định sự thay đổi trong DA là do ảnh hưởng của hai nhân tố sự thay đổi về quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sự thay đổi trong các lựa chọn kế toán. Cũng giống như mô hình trên, khi DA càng nhỏ thì chỉ tiêu lợi nhuận càng ít bị điều chỉnh, hay mức độ trung thực của lợi nhuận càng cao. Từ đó, người phân tích có thể đánh giá chất lượng BCTC doanh nghiệp càng cao. 

    Kết luận

    Xem xét, đánh giá chất lượng BCTC là vấn đề khá “nhạy cảm” khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng. Bài viết này chủ yếu tổng hợp các mô hình thường được áp dụng trên thế giới khi nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận qua đó đánh giá mức độ tin cậy trong việc sử dụng BCTC. Với bốn mô hình trình bày trong bài viết phần nào có thể giúp các nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan quản lý nhà nước, các đối thủ cạnh tranh có để đánh giá được chất lượng BCTC doanh nghiệp nhằm tối đa hóa lợi ích cho các bên liên quan. Đồng thời, trong quá trình đánh giá các nhà phân tích tài chính nên áp dụng nhiều hơn một thước đo để đánh giá chất lượng BCTC, từ đó có bằng chứng rõ hơn về mức độ tác động đến chất lượng BCTC trước khi có quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng./.

    Môi trường marketing trong việc xây dựng…

    + Động viên, kích thích: Nghiên cứu xây dựng quy định liên quan đến động viên, kích thích đối với cán bộ công nhân viên theo định hướng marketing xây dựng. 

    + Bảo vệ xã hội: Góp phần tạo ra những tiền đề nội bộ để chuyển doanh nghiệp xây dựng đến với marketing đạo đức – xã hội. Việc phân loại các yếu tố marketing thành các yếu tố của môi trường bên trong và các yếu tố của môi trường bên ngoài của marketing xây dựng ở mức độ nào đó giống với việc phân loại chúng thành các yếu tố kiểm soát được và các yếu tố không kiểm soát được bằng marketing. Các yếu tố được quản lý bởi bộ phận marketing của doanh nghiệp xây dựng thuộc về các yếu tố kiểm soát được, còn tất cả các yếu tố còn lại thuộc về các yếu tố không kiểm soát được. Không khó nhận thấy là mức độ kiểm soát được của các yếu tố được xác định bằng độ sâu xâm nhập của marketing vào hoạt động xây dựng và quy chế nội bộ doanh nghiệp của bộ phận marketing. Rõ ràng là các nguyên tắc của marketing được thực hiện đầy đủ hơn trong thực tế xây dựng thì phạm vi của các yếu tố kiểm soát được bằng marketing sẽ rộng hơn và ngược lại. Việc nghiên cứu các yếu tố của môi trường marketing của doanh nghiệp xây dựng đặc biệt quan trọng trong quản lý marketing thực tế. 

     

    3. Kết Luận

    Nghiên cứu xây dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp xây dựng là nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp. Việc tìm hiểu nội dung và mức độ ảnh hưởng của môi trường marketing tới việc xây dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp xây dựng là việc làm cần thiết, qua đó giúp doanh nghiệp xây dựng được chiến lược marketing phù hợp và hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu môi trường marketing (nghiên cứu môi trường marketing vĩ mô, môi trường marketing vi mô và môi trường marketing bên trong doanh nghiệp xây dựng) giúp doanh nghiệp xác định được mục tiêu marketing, định vị thị trường, thị trường mục tiêu, qua đó xây dựng được marketing hỗn hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường./.

    Workshop dự án “Đổi mới quản trị đại học tại Đông Nam Á” (PURSE) Sáng 02/3/2020 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã diễn ra workshop lần 2 – 3 – 4 thuộc Dự án “Đổi mới quản trị Đại học tại Đông Nam Á – PURSE”. Đây là một trong số các dự án Erasmus + KA2 do Ủy ban Châu Âu tài trợ nhằm tăng cường năng lực cho các Trường Đại học. Tham dự workshop có các đại biểu, nhà khoa học đến từ các tổ chức, các học viện, Trường Đại học: Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF), Đại học Lorraine Pháp, Đại học Bordeaux Montaigne Pháp, Đại học Toulouse Pháp, Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), Học viện Công nghệ Campuchia, Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Giao thông Vận tải… cùng đại diện các đơn vị tham gia Dự án và 01 đầu cầu trực tuyến Campuchia. Dự án “Đổi mới quản trị Đại học tại Đông Nam Á” (PURSE) được thực hiện trong 3 năm (2020 – 2023) với mục đích tăng cường năng lực quản trị đại học cho lãnh đạo, cán bộ quản lý của 08 Trường Đại học tại Đông Nam Á thông qua hoạt động xây dựng và triển khai chiến lược phát triển theo đặc thù của mỗi Trường. Tham gia Dự án có 16 thành viên, trong đó có 8 Trường Đại học tại Châu Á – Thái Bình Dương là các trường triển khai hoạt động và thụ hưởng trực tiếp các kết quả của Dự án. Các đối tác Châu Âu sẽ cử chuyên gia có kinh nghiệm về quản trị đại học, quản lý thay đổi, quản lý rủi ro tới tập huấn nâng cao năng lực cho các Trường trong khu vực Châu Á. Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF) đóng vai trò là đồng điều phối, quản lý hành chính và tài chính của Dự án. Các Trường tham gia Dự án sẽ trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau triển khai hoạt động thông qua các khóa tập huấn tại Việt Nam, Campuchia, Pháp và Bỉ. Hoạt động của Dự án được chia thành 10 nhóm, trong đó các nhóm hoạt động 2: Tự đánh giá mức độ và đặc điểm tự chủ của các Trường Đại học; Hoạt động 3: Phân tích môi trường bên ngoài Trường Đại học; Hoạt động 4: Tự đánh giá chiến lược phát triển của các Trường Đại học, phân tích bên trong; Hoạt động 5: Xây dựng kế hoạch và bộ công cụ quản trị chiến lược và quản lý thực hiện chiến lược; Hoạt động 6: Triển khai và giám sát việc thực hiện kế hoạch hành động, là cấu thành chính của Dự án. Các hoạt động 7: Tăng cường năng lực lãnh đạo, cán bộ quản lý của các Trường trong quá trình đổi mới chiến lược; Hoạt động 8: Đảm bảo chất lượng, quản lý rủi ro và đánh giá, sẽ xuyên suốt quá trình thực hiện Dự án với mục tiêu bồi dưỡng nhân lực các Trường Đại học. Workshop diễn ra từ 02/3 đến 05/3/2020. NCS Trần Nhật Khôi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành kiến trúc Chiều 19/3/2020, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức đánh giá luận án Tiến sĩ cấp Trường cho Nghiên cứu sinh Trần Nhật Khôi với đề tài: “Tổ chức không gian Kiến trúc chợ đầu mối nông sản thực phẩm phù hợp với đô thị Hà Nội”, chuyên ngành Kiến trúc, mã số 62.58.01.02. Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.KTS. Nguyễn Quốc Thông. Tham dự buổi bảo vệ có PGS.TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng; PGS.TS.KTS. Nguyễn Tuấn Anh – Phó Hiệu trưởng; PTS.TS.KTS. Phạm Trọng Thuật – Chủ tịch Hội đồng Trường; các nhà khoa học, các giảng viên đang làm công tác giảng dạy trong và ngoài Trường. Với những kết quả đạt được trong luận án, Nghiên cứu sinh Trần Nhật Khôi đã hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Luận án có những đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu các giải pháp tổ chức không gian kiến trúc chợ đầu mối nông sản thực phẩm phù hợp với quá trình phát triển đô thị Hà Nội. Hội đồng đánh giá đây là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc, bám sát và đáp ứng được những yêu cầu của luận án Tiến sĩ. Nghiên cứu sinh đã vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề nghiên cứu. Kết quả phân tích và một số nhận định có chất lượng khoa học. Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Với kết quả 06/06 phiếu tán thành, Hội đồng đã thông qua Nghị quyết và đề nghị Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cấp văn bằng học vị Tiến sĩ cho NCS Trần Nhật Khôi. Tiếp và làm việc với đoàn chuyên gia đánh giá ngoài của tổ chức đại học Pháp ngữ AUF Sáng 27/2/2020, lãnh đạo Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã tiếp và làm việc với đoàn chuyên gia đánh giá ngoài của Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF). Dẫn đầu đoàn chuyên gia đánh giá ngoài là ngài Yves Perraudeau – Cựu Tư vấn Giáo dục đại học, Đại sứ quán Pháp tại CHDCND Lào cùng các thành viên trong đoàn: Ngài Jun Oba – Viện nghiên cứu khoa học. Đại học Hiroshima; ngài Thierry Bontems – Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia; ngài Sabine Goulin – Giám đốc Tổ chức hỗ trợ Quản trị và Chất lượng – Đại học Lorraine và bà Nguyễn Thị Cúc Phương – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội, Điều phối dự án. PGS.TS.KTS. Lê Quân đã giới thiệu một cách ngắn gọn về lịch sử phát triển, các hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã nhận thức rất sâu sắc về ý nghĩa của hoạt động đánh giá ngoài cũng như công tác kiểm định chất lượng mang tầm cỡ quốc tế và cho rằng việc tổ chức đánh giá ngoài là một chủ trương rất đúng đắn, kịp thời, giúp cho lãnh đạo Nhà trường thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu, những tiêu chuẩn đã đạt được và những tiêu chuẩn chưa đạt được theo quy định, để từ đó Nhà trường có hướng khắc phục những thiếu sót và từng bước ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục lên một tầm cao mới. Ngài Yves Perraudeau – Cựu Tư vấn Giáo dục đại học, Đại sứ quán Pháp tại CHDCND Lào hoan nghênh và khẳng định sự hỗ trợ trong việc đánh giá, kiểm định chất lượng của Tổ chức giáo dục Đại học Pháp ngữ AUF sẽ giúp Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cải thiện nâng cao về năng lực quản trị đại học, nâng cao chất lượng. Đây cũng là động lực để khuyến khích nhiều Trường Đại học trong khối phát triển theo hướng này. Hai bên đã thống nhất lại toàn bộ nội dung, chương trình đánh giá chính thức và cũng chỉ ra một số nội dung mà Nhà trường cần phải bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới. Đồng thời các chuyên gia AUF cũng giải đáp mọi thắc mắc của Nhà trường về yêu cầu, ý nghĩa của một số tiêu chuẩn, tiêu chí và đề nghị Hội đồng tự đánh giá Trường tiếp tục bổ sung hoàn thiện nội dung các tiêu chí, minh chứng để đợt khảo sát chính thức đạt được kết quả tốt nhất.

    Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội tiếp và làm việc với IIG Việt Nam Chiều 26/2/2020 Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội – PGS.TS.KTS. Lê Quân đã có buổi tiếp và làm việc với đoàn công tác IIG Việt Nam do ông Đoàn Hồng Nam – Chủ tịch dẫn đầu. Cùng đi với ông Đoàn Hồng Nam có bà Tân Anh – Trưởng phòng Phát triển dự án II của IIG Việt Nam và một số thành viên khác. Tại buổi làm việc, HAU và IIG Việt Nam đã thống nhất giải pháp đối với các vấn đề còn tồn đọng, những khó khăn trong quá trình triển khai chương trình đào tạo tiếng Anh theo định hướng TOEIC và phương pháp ứng dụng phần mềm Office 365 vào giảng dạy. Theo ông Đoàn Hồng Nam – Chủ tịch IIG Việt Nam, việc dạy và học bằng phần mềm trở nên thuận tiện do các giảng viên có thể sử dụng kết hợp nhiều hình thức minh họa bài giảng, mang đến lượng kiến thức sinh động hơn tới sinh viên. Đối với việc giảng dạy truyền thống, cách thức truyền tải dường như có phần hạn chế hơn do chỉ thông qua giao tiếp, giáo cụ trực quan… Phương pháp giảng dạy trực tuyến bằng phần mềm đã và đang được triển khai thí điểm ở nhiều trường và mang lại những hiệu quả tích cực. Với những tính năng ưu việt của mình, dạy học trực tuyến được dự đoán sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục. Dạy học trực tuyến được kỳ vọng trở thành công cụ có thể thay thế cho việc dạy học truyền thống chứ không còn đơn thuần chỉ là công cụ hỗ trợ. Office 365 là phần mềm cho phép tạo các Teams có thể tương ứng với mỗi lớp, thành viên trong Teams chính là sinh viên của từng lớp. Giảng viên có thể luân phiên đăng nhập để giảng dạy cho Teams/ lớp đó đúng với thời khóa biểu hiện hành. Phần mềm cũng cung cấp nền tảng để các giáo viên và sinh viên thu hình, thu tiếng trực tiếp thông qua camera. Các giảng viên có thể giảng bài trực tuyến và sinh viên theo dõi qua màn hình. Nội dung bài giảng cũng được tải lên cho sinh viên tham khảo dưới nhiều hình thức như Powerpoint, Excel, Word. Ngoài ra, Office 365 còn cung cấp các công cụ quen thuộc như Office, Outlook và OneNote, kết hợp với Microsoft Lync, SharePoint và Exchange để tạo ra một giải pháp tuyệt vời nhất để giao tiếp và tương tác, phục vụ cho quá trình giảng dạy một cách hiệu quả. Với vị thế là tổ chức giáo dục hàng đầu Việt Nam, hiện nay IIG đã chính thức trở thành nhà phân phối các sản phẩm Office 365 in Education của Microsoft tại Việt Nam. Lãnh đạo hai bên cũng giao nhiệm vụ cho Phòng phát triển Dự án 2 IIG cùng Viện Đào tạo Hợp tác Quốc tế HAU tổ chức cuộc họp chuyên môn tổng kết việc triển khai chương trình giảng dạy trong thời gian vừa qua, đề xuất những điều chỉnh, bổ sung chương trình nâng cao hiệu quả triển khai trong thời gian tới. Tọa đàm “Kiến trúc đô thị Nhật Bản thế kỷ XX” Nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác với các Trường Đại học, Tập đoàn Nhật Bản, sáng 20/02/2020 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã diễn ra buổi tọa đàm với chủ đề “Kiến trúc đô thị Nhật Bản thế kỷ XX”. Buổi tọa đàm có sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Kiến trúc, Quy hoạch của Việt Nam và một số chuyên gia đến từ Tập đoàn Plantec Architect Nhật Bản. Tham dự buổi tọa đàm có ông Hiroyuki Tsurumi – Tổng Giám đốc Plantec Architect Nhật Bản; bà Nguyễn Phan Mỹ Linh – Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng; KTS. Nguyễn Tấn Vạn – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam; GS.TS.KTS. Nguyễn Quốc Thông – Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam; ThS.KTS. Lã Thị Kim Ngân – Viện trưởng Viện Kiến trúc, Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Về phía Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội có PGS. TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng Nhà trường; TS.KTS. Ngô Thị Kim Dung – Phó Hiệu trưởng; PGS.TS.KTS. Phạm Trọng Thuật – Chủ tịch Hội đồng Trường cùng một số chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Kiến trúc, Quy hoạch và Xây dựng… Plantec là một tập đoàn của Nhật Bản có trụ sở chính tại Tokyo và các chi nhánh ở Nhật Bản, Bangkok Thái Lan, HongKong, Italia và Việt Nam… Plantec hoạt động trên các lĩnh vực: Tư vấn quy hoạch đô thị, thiết kế kiến trúc, giám sát, xây dựng, quản lý dự án, quản lý xây dựng, quản lý cơ sở, thiết kế nội thất, bán và xuất khẩu vật liệu xây dựng, vật cố ánh sáng và thiết bị sưởi ấm… Trung tâm Sài Gòn và Trụ sở Acecook là những dự án có sự tham gia của các chuyên gia Plantec. Tại buổi tọa đàm, các đại biểu được nghe chuyên gia của Plantec – ông Hiroyuki Tsurumi – Tổng Giám đốc thuyết trình giới thiệu về Kiến trúc Nhật bản thế kỷ XX. Tại Nhật Bản, Phần lớn những ngôi nhà cổ và những nhà thờ tại Nhật đều được xây dựng bằng gỗ. Những cách thức và kỹ thuật được sử dụng trong xây dựng không chỉ phản ánh khí hậu của Nhật Bản mà còn thể hiện được nguồn gốc sâu xa trong sự phát triển của văn hóa Nhật Bản. Khi Nhật Bản mở cửa, kiến trúc phương Tây bắt đầu thay thế những tòa nhà truyền thống của Nhật. Các kiến trúc sư ở Nhật Bản bắt đầu kết hợp các phương pháp xây dựng truyền thống với thiết kế châu Âu. Họ cũng áp dụng những vật liệu xây dựng mới như bê tông và thép. Người Nhật luôn áp dụng phương châm: “Kỹ thuật từ Tây – Lấy hồn Nhật làm tâm điểm”. Trước học văn hóa – mỹ thuật Nhật Bản và Châu Á, sau đó mới tiếp thu có chọn lọc văn hóa, kỹ thuật phương Tây. Nhật Bản là nước duy nhất đạt được tính hiện đại do bản thân không bị đè nặng bởi truyền thống quá khứ hoặc di sản thuộc địa như hầu hết các nước Châu Á khác. Một số Kiến trúc sư Nhật Bản như Tange Kenzo hoặc Arata Isozaki đã tạo ra phong cách độc đáo và phát triển thiết kế hiện đại mang tính quốc tế… Buổi tọa đàm thu hút nhiều câu hỏi, sự quan tâm, trao đổi kinh nghiệm của các chuyên gia đầu ngành cũng như chia sẻ quan điểm, xu hướng và hành nghề kiến trúc tại Nhật Bản. Đây cũng là tiền đề mở ra cơ hội hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ giữa Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và đối tác Nhật Bản. Workshop lần 3 Dự án ERASMUS Sáng 20/2/2020 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã diễn ra workshop lần thứ 3 trong dự án MONTUS. Tham dự workshop có PGS.TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Hội thảo còn có sự tham gia của các nhóm nghiên cứu đến từ Trường Đại học Công nghệ (ĐHQGHN), Đại học Toulouse II (Cộng hòa Pháp), Đại học Ferrara (Cộng hòa Italia), Đại học VUB (Vương Quốc Bỉ), Đại học Walailak và Viện Công nghệ Châu Á (Thái Lan), Viện Công nghệ Campuchia, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Đà Nẵng.Workshop lần thứ 3 nằm trong khuôn khổ dự án MONTUS “Master On New Technologies Using Services” được tài trợ bởi quỹ EU Erasmus+. Dự án là sự kế thừa những thành quả và tiếp tục phát triển dựa trên dự án TORUS “Toward an Open Resource Upon Service” trong thời gian từ năm 2015 – 2018. Đây cũng là một trong 6 dự án của Pháp được lựa chọn trong số 147 dự án được lựa chọn từ 874 ứng cử viên. Dự án được tài trợ bởi Liên minh Châu Âu trong 3 năm với khuôn khổ chương trình xây dựng năng lực Erasmus+ cùng mục tiêu phát triển các nghiên cứu về Điện toán đám mây trong khoa học môi trường và thúc đẩy nền giáo dục ở các nước Đông Nam Á. Mục tiêu chính của dự án là xây dựng và đề xuất khung chương trình đào tạo Thạc sĩ ứng dụng điện toán đám mây cho dữ liệu môi trường hướng tới môi trường bền vững. Dự án MONTUS kế thừa các kết quả nghiên cứu và đầu tư hạ tầng tính toán từ dự án TORUS. Đây là workshop có tính thực tiễn cao và nhận được sự quan tâm, hỗ trợ và phối hợp của tất cả các bên liên quan. Các phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề trong quá trình thực hiện workshop là những phương pháp tiếp cận mới nhằm đảm bảo thực hiện các giải pháp linh hoạt và bền vững với mục tiêu lâu dài. NCS Đào Công Hùng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình Sáng 15/1/2020, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức đánh giá Luận án Tiến sĩ cấp Trường cho nghiên cứu sinh Đào Công Hùng với đề tài: “Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan thành phố Bắc Giang hướng tới đô thị xanh”, chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình, mã số 62.58.01.06. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lương Tú Quyên và TS. Nguyễn Thị Lan Phương hướng dẫn. Tham dự buổi bảo vệ có PGS.TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng; PGS.TS.KTS. Nguyễn Tuấn Anh – Phó Hiệu trưởng; TS.KTS. Ngô Thị Kim Dung – Phó Hiệu trưởng; các nhà khoa học, các giảng viên đang làm công tác giảng dạy trong và ngoài Trường; đồng nghiệp cùng gia đình và bạn bè của Nghiên cứu sinh. Với những kết quả đạt được trong luận án, nghiên cứu sinh Đào Công Hùng đã hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Luận án có những đóng góp thiết thực vào việc đề xuất các giải pháp quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan thành phố Bắc Giang nhằm xây dựng và phát triển không gian, kiến trúc, cảnh quan theo hướng tới đô thị xanh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa, điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế – xã hội và chống chịu với biến đổi khí hậu. Hội đồng đánh giá đây là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc, bám sát và đáp ứng được những yêu cầu của luận án Tiến sĩ. Nghiên cứu sinh đã vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề nghiên cứu. Kết quả phân tích và một số nhận định có chất lượng khoa học. Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Với kết quả 07/07 phiếu tán thành, Hội đồng đã thông qua Nghị quyết và đề nghị Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cấp văn bằng học vị Tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Đào Công Hùng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    ThS. Hoàng Thị Hằng Nga

    Email: [email protected]

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%C4%90%E1%BB%81-xu%E1%BA%A5t-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-marketing-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    Tóm tắt

    Quản trị marketing bất động sản có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản, giúp định hướng cho các hoạt động quản trị khác của doanh nghiệp thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm soát các hoạt động marketing. Đây là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh bất động sản của các doanh nghiệp.

    1. Đặt vấn đề

    Trong thực tế Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản (BĐS) có lượng hàng tồn kho khá lớn. Theo báo cáo của Hiệp hội BĐS Việt Nam (VNREA), tổng giá trị BĐS tồn kho năm 2016 khoảng 29.573 tỷ đồng [1]. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, những nguyên nhân cơ bản nhất là do chức năng quản trị marketing BĐS của các doanh nghiệp chưa được chú trọng thực hiện theo đúng quy trình quản trị. Bài báo đặt vấn đề nghiên cứu làm rõ quy trình quản trị marketing BĐS trong hoạt động marketing BĐS. Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bao gồm: phương pháp thu thập, phân tích tài liệu và tổng hợp. 

    2. Tầm quan trọng của quản trị marketing BĐS

    Marketing BĐS là loại marketing được thực hiện trong lĩnh vực BĐS mà trong đó người bán cung cấp các dịch vụ, sản phẩm và nỗ lực nhằm thỏa mãn khách hàng và từ đó đạt mục tiêu lợi nhuận. Thực chất marketing trong lĩnh vực BĐS được xem là nghiên cứu những giải pháp để bộ phận bán hàng đẩy sản phẩm ra thị trường. [2], [4] Quản trị marketing BĐS là lĩnh vực quản trị tiếp thị BĐS thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm soát các hoạt động marketing. Do sản phẩm hàng hóa BĐS có những đặc thù riêng nên hoạt động marketing BĐS cũng có nhiều điểm khác biệt, như: marketing BĐS là một quá trình mang tính phức tạp, phản ứng của cung BĐS chậm hơn cầu; marketing BĐS là marketing những cam kết, hứa hẹn bởi khách hàng không thể biết trước được chất lượng hay nhìn thấy sản phẩm BĐS;… Bên cạnh đó, các hoạt động liên quan đến phân phối, truyền thông marketing BĐS cũng thực sự khác biệt. Từ khi doanh nghiệp bắt đầu có ý tưởng hình thành dự án thì việc lập kế hoạch cho hoạt động marketing cũng cần được bắt đầu và để đạt được hiệu quả cao trong kế hoạch marketing các nhà quản trị marketing BĐS cần phải có sự hiểu biết và tầm nhìn dài hạn.[3] Quản trị marketing BĐS có vai trò rất quan trọng trong việc dẫn đường, quyết định đến hoạt động kinh doanh BĐS và quyết định đến các lĩnh vực quản trị khác của doanh nghiệp. 

    3. Quá trình quản trị marketing BĐS

    Đánh giá thực trạng hoạt động marketing BĐS của một số doanh nghiệp đầu tư kinh doanh BĐS hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp đã thực hiện các hoạt động marketing, tuy nhiên vẫn chưa chú trọng đến chức năng quản trị marketing, các hoạt động marketing được tiến hành rời rạc, không có sự đồng bộ các hoạt động dẫn đến tình trạng các hoạt động marketing bị trùng lặp và không có bộ phận chịu trách nhiệm chính về các hoạt động marketing. Có những doanh nghiệp đã thực hiện chức năng quản trị marketing nhưng không có sự kiểm tra, kiểm soát các kế hoạch, chiến lược marketing đã đề ra. Xuất phát từ quá trình quản trị marketing nói chung, đề xuất quá trình quản trị marketing BĐS như sau:

    (1) Phân tích các cơ hội thị trường

    Doanh nghiệp vận hành hệ thống thông tin marketing để thu thập các thông tin về BĐS trên thị trường và các đối thủ cạnh tranh, từ đó phát hiện ra các cơ hội đầu tư BĐS. Ở giai đoạn này cần cố gắng xâm nhập vào thị trường càng sớm càng tốt, từ đó đề ra các chiến lược marketing thích hợp. Có thể sử dụng phương pháp phân tích bằng mạng lưới mở rộng sản phẩm và thị trường để đánh giá những lợi thế và hạn chế, cũng như những triển vọng và bế tắc của sản phẩm BĐS trên thị trường mục tiêu, rồi từ kết quả phân tích đó mà định dạng các cơ hội thị trường đối với sản phẩm.

    – Thâm nhập thị trường: thu hút thêm khách hàng của đối thủ cạnh tranh nhờ các biện pháp giảm giá, tăng thêm ngân sách quảng cáo và cải tiến nội dung khuyến mãi…, 81 S¬ 36 – 2019

    – Mở rộng thị trường: Đây là chiến lược triển khai sản phẩm hiện có sang phân đoạn thị trường mới với mong muốn giảm được lượng hàng BĐS tồn kho nhờ vào việc khuyến mãi những khách hàng mới. Muốn vậy, người làm marketing phải phân tích các phân đoạn thị trường theo những đặc trưng cơ bản nhất, như: thu nhập, tuổi tác, giới tính, hành vi mua hàng, mục đích sử dụng,… để phát hiện ra những khách hàng tiềm năng và tiếp cận họ bằng các giải pháp marketing thích hợp, nhằm biến họ thành khách hàng thực sự của doanh nghiệp.

    – Phát triển sản phẩm: Để Chiếm giữ thị phần và gia tăng sức mua trên thị trường hiện có, các nhà quản trị cần phải cân nhắc quyết định đổi mới sản phẩm hiện có hoặc đưa ra sản phẩm mới cho khách hàng của mình. Người làm marketing có thể tham mưu cho khách hàng những sản phẩm BĐS thay đổi có chất lượng cao hơn, chủng loại phong phú hơn, thẩm mỹ hơn, dịch vụ hoàn hảo hơn, sử dụng được tối đa diện tích hoặc đưa ra những sản phẩm mới hứa hẹn những lợi ích mới,… tất cả đều nhằm vào việc hướng khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp.

    – Đa dạng hóa sản phẩm: Tiếp nhận những ý kiến phản hồi của khách hàng về sản phẩm BĐS của doanh nghiệp, từ đó thay đổi các thiết kế phù hợp với từng khách hàng, giúp cho khách hàng linh hoạt hơn trong việc lựa chọn sản phẩm. 

    (2) Nghiên cứu thị trường BĐS và lựa chọn thị trường mục tiêu 

    1. Nghiên cứu thị trường BĐS

    Để đưa ra được những quyết định marketing phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu thị trường là một hoạt động không thể bỏ qua. Đây là bước đầu tiên trong quá trình ra quyết định của các nhà quản trị marketing. Về cơ bản, nghiên cứu marketing giúp doanh nghiệp tìm kiếm được cơ hội, những đe dọa, thách thức từ thị trường và môi trường marketing; đánh giá được khả năng thành công hay rủi ro của dự án một cách khách quan, từ đó doanh nghiệp sẽ có kế hoạch điều chỉnh chương trình marketing sao cho phù hợp nhất. Với mỗi dự án BĐS khác nhau, mục tiêu nghiên cứu marketing sẽ khác nhau, nhưng nhìn chung có một số hoạt động marketing cơ bản thường thực hiện để hỗ trợ công tác ra quyết định marketing là: 

    – Nghiên cứu thị trường: Xác định quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của thị trường, xác định thị phần. – Nghiên cứu hành vi mua sắm của người sử dụng: Tìm hiểu thói quen sử dụng, mức độ thích ứng đối với sản phẩm BĐS của khách hàng.

    – Nghiên cứu sản phẩm: Phát triển các sản phẩm mới, so sánh với các sản phẩm cạnh tranh khác. – Nghiên cứu giá bán: Phân tích chi phí, giá cạnh tranh, mức độ nhạy cảm về giá của người sử dụng. – Nghiên cứu phân phối: Phân tích các trung gian thương mại hiện có, đánh giá hiệu quả hoạt động của kênh phân phối hiện tại. – Nghiên cứu xúc tiến bán hàng: Xác định các thông điệp quảng cáo, phương tiện quảng cáo hiệu quả.

    1. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

    Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành nhiều nhóm khách hàng khác nhau theo những tiêu thức nhất định, sao cho mỗi nhóm gồm những khách hàng có những đặc điểm chung, nhu cầu và hành vi sử dụng sản phẩm BĐS là giống nhau. Trong kinh doanh BĐS, việc phân đoạn thị trường khách hàng chủ yếu dựa vào các yếu tố sau:

    – Các yếu tố địa lý: khu vực địa lý, quy mô, đặc tính dân cư, khí hậu.

    – Các yếu tố nhân chủng học: tuổi, giới tính, quy mô gia đình, chu kỳ sống của gia đình, thu nhập bình quân hộ gia đình, nghề nghiệp, học vấn, dân tộc, quốc tịch. – Lối sống: địa vị xã hội, tính cách. 

    – Hành vi tiêu dùng: Lý do mua, lợi ích tìm kiếm từ sản phẩm, sự trung thành với thương hiệu,… Sau khi hoàn thành công tác phân đoạn thị trường, cần phải xác định được thị trường mục tiêu cho từng nhóm sản phẩm BĐS. Việc lựa chọn thị trường mục tiêu cũng cần phải được xác định dựa trên các tiêu chuẩn nhất định, bao gồm: đo lường được, đủ lớn và có thể làm marketing. Nhìn chung, các thị trường mục tiêu được lựa chọn chủ yếu dựa vào sự phù hợp với nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, có tốc độ tăng trưởng cao, vững chắc và phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường. 

    (3) Hoạch định chiến lược marketing

    Dựa vào những phân tích ở các bước trên, căn cứ vào chiến lược kinh doanh, xây dựng và lựa chọn một chiến lược marketing thích hợp nhất để định hướng cho toàn bộ hoạt động marketing. Đối với sản phẩm BĐS nên lựa chọn chiến lược marketing có phân biệt, là xây dựng và thực hiện nhiều chiến lược marketing với các biện pháp khác nhau trên từng đoạn thị trường. Từ đó, mới nhận dạng được các điểm khác Phân tích các cơ hội thị trường Nghiên cứu thị trường bất động sản và lựa chọn thị trường mục tiêu Hoạch định chiến lược marketing

    Tổ chức thực hiện và kiểm soát hoạt động marketing  biệt giữa các đoạn thị trường và mỗi đoạn thị trường áp dụng chiến lược riêng nhằm tăng tối đa khả năng giành được thị phần, mở rộng thị trường kinh doanh. Để xây dựng hệ thống chiến lược marketing cần phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp nhằm phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Sử dụng ma trận SWOT làm công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng cho hoạt động marketing như sau: Ma trận SWOT(SO và ST là mặt tích cực, WO và WT là mặt tiêu cực) MA TRẬN SWOT Môi trường bên trong Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W) Môi trường bên ngoài Cơ hội (O) Sử dụng điểm mạnh để nắm bắt cơ hội Hạn chế điểm yếu để nắm bắt cơ hội và tận dụng cơ hội để hạn chế điểm yếu Thách thức (T) Sử dụng điểm mạnh để hạn chế thách thức Hạn chế điểm yếu để hạn chế thách thức và hạn chế điểm yếu để tránh rủi ro 

    (4) Thiết lập marketing – mix

    Marketing – mix là sự tập hợp các phương thức marketing có thể kiểm soát được, phối hợp sử dụng 4 chính sách: chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối, chính sách giao tiếp và khuyếch trương để tạo nên sự đáp ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu marketing của mình. Giai đoạn này doanh nghiệp có thể kết hợp và điều chỉnh các chính sách linh hoạt theo những thay đổi trên thị trường BĐS. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS cũng cần phải dự tính ngân sách marketing, có thể theo mục tiêu bán hàng, mục tiêu thị phần, theo mức độ cạnh tranh,… và phải phân phối ngân sách này cho các sản phẩm BĐS, các kênh phân phối, các phương tiện xúc tiến bán hàng. 

    (5) Tổ chức thực hiện và kiểm soát hoạt động marketing 

    Tổ chức thực hiện hoạt động marketing

    Chiến lược marketing xây dựng mới chỉ dừng lại ở dạng bản thảo, thể hiện các dự định cần tiến hành trong tương lai, vì vậy cần phải biến các dự định đó thành hiện thực bằng cách tổ chức thực hiện chiến lược marketing một cách hữu hiệu. Nội dung của tổ chức thực hiện chiến lược marketing BĐS bao gồm: 

    Tổ chức bộ phận marketing thích hợp với quy mô hoạt động của doanh nghiệp: phòng marketing phải thực hiện các chiến lược marketing trên cơ sở hoạch định của các nhà quản trị marketing và chịu sự quản lý trực tiếp của ban giám đốc doanh nghiệp.

    – Xây dựng các chương trình hoạt động marketing cụ thể. – Phát triển hệ thống khen thưởng và quyết định.Xây dựng môi trường làm việc tích cực có khả năng động viên toàn bộ nỗ lực của nhân viên marketing nói chung và nhân viên trong doanh nghiệp phối hợp trong việc hoàn thành mục tiêu marketing đã đề ra.

    – Phát triển nguồn nhân lực đủ khả năng thực hiện các chương trình marketing đã thiết kế. – Cần phải thực hiện việc kiểm tra các hoạt động marketing để đảm bảo rằng việc thực hiện được tiến triển theo đúng chiến lược đã đề ra, cũng như có thể tiến hành những sự điều chỉnh cần thiết để đạt được mục tiêu. 

    Kiểm soát hoạt động marketing Công việc của bộ phận marketing là lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hoạt động marketing. Một kế hoạch marketing dù được thiết kế hoàn hảo đến đâu, trong quá trình thực hiện vẫn có thể phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, vì thế bộ phận marketing phải thường xuyên theo dõi và kiểm soát các hoạt động marketing. Các hệ thống kiểm soát marketing nếu hoạt động tốt sẽ đảm bảo cho hoạt động marketing nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung đạt được mục tiêu với hiệu quả cao. Có thể tiến hành kiểm soát marketing theo kế hoạch năm, theo khả năng sinh lời, theo hiệu quả hay theo chiến lược marketing như sau: Nội dung kiểm soát Chịu trách nhiệm chính Mục đích kiểm soát Kiểm soát kế hoạch năm Ban lãnh đạo doanh nghiệp Kiểm soát mức độ đạt kế hoạch dự kiến, tiến hành những điều chỉnh cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch đề ra. Kiểm soát khả năng sinh lời Người kiểm soát Kiểm soát tình hình lỗ, lãi. Xác định khả năng sinh lợi thực của các sản phẩm, các khu vực, các thị trường và các kênh phân phối Kiểm soát hiệu suất của các yếu tố marketing Người kiểm soát Đánh giá và nâng cao hiệu suất của chi phí marketing thông qua các hoạt động bán hàng, quảng cáo, phân phối. Kiểm soát chiến lược marketing Ban lãnh đạo doanh nghiệp, người kiểm soát Kiểm soát mức độ khai thác về cơ hội thị trường, sản phẩm và kênh phân phối. 

    4. Kết luận

    Việc làm rõ quá trình quản trị marketing BĐS có ảnh hưởng tích cực, có thể ứng dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến tổ chức và quản lý hoạt động marketing của các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh BĐS. Bài viết đã chỉ ra được tầm quan trọng của quản trị marketing và đề xuất quá trình quản trị marketing BĐS, góp phần thuận tiện hơn trong việc thực hiện các chức năng quản trị của doanh nghiệp./.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

    KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

    KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 

     

    GVC. ThS. Phạm Đình Văn

    Phó trưởng, Phòng Tài chính – Kế toán, trường đại học học Xây dựng Miền Trung

     

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-S%E1%BB%ACA-CH%E1%BB%AEA-T%C3%80I-S%E1%BA%A2N-C%E1%BB%90-%C4%90%E1%BB%8ANH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 

    Tóm tắt: Chế độ kế toán hành chính s nghiệp ban hành theo Quyết định số 19/2006/Q – BTC và các quy định bổ sung, sửa đổi Chế độ kế toán hành chính s nghiệp ban hành theo Thông t số 185/2010/TT-BTC đã quy định, hướng dẫn nguyên tắc, nội dung và phương pháp kế toán sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ ) trong các đơn vị hành chính s nghiệp. Các quy định trên đã tương đối rõ ràng đối với những ng i làm công tác kế toán.

     

    Tuy nhiên, do các đơn vị hành chính sự nghiệp có những đặc điểm khác với các đơn vị sản xuất kinh doanh, đó là: Các đơn vị hành chính s nghiệp được trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước hoặc từ quỹ công theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. iều đó đòi hỏi việc quản lý chi tiêu phải đúng mục đích, đúng d toán đã phê duyệt theo từng nguồn kinh phí, từng nội dung chi tiêu theo tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước.

     

    Vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kế toán sửa chữa TSCĐ trong các đơn vị hành chính s nghiệp cần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề chủ yếu sau: 

     

    1. Phân loại sửa chữa lớn TSCĐ trong đơn vị HCSN

    Cũng nh các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, công tác sửa chữa TSCĐ trong đơn vị hành chính s nghiệp cũng được chia thành 2 loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn.

     – Sửa chữa thường xuyên: Là hoạt động sửa chữa nhỏ, hoạt động bảo trì, bảo dưỡng  theo yêu cầu kỹ thuật nhằm đảm bảo cho TSCĐ hoạt động bình th ng. Công việc sửa chữa được tiến hành th ng xuyên, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa th ng phát sinh không lớn. – Sửa chữa lớn: Mang tính chất khôi phục hoặc n ng cấp, cải t o khi TSCĐ bị h hỏng nặng hoặc theo yêu cầu kỹ thuật nhằm nâng cao năng l ự c hoạt động của TSCĐ . Th i gian tiến hành sửa chữa lớn th ng dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều, do vậy đơn vị phải lập kế ho ch, d toán theo từng công trình sửa chữa lớn. Nếu căn cứ vào phương thức tiến hành sửa chữa TSCĐ , thì đơn vị hành chính s nghiệp có thể tiến hành sửa chữa tài sản cố định theo 2 phương thức: T làm và thuê ngoài.

     – phương thức tự làm: đơn vị phải chi ra các chi phí sửa chữa TSCĐ nh : Chi phí vật liệu, phụ tùng, nh n công… 

    – phương thức thuê ngoài: ơn vị tổ chức cho các đơn vị bên ngoài đấu thầu hoặc giao thầu sửa chữa và ký hợp đồng sửa chữa với các đơn vị trúng thầu hoặc nhận thầu theo đúng quy định của pháp luật và quy trình sửa chữa tài sản do đơn vị ban hành. Hợp đồng giao thầu sửa chữa TSCĐ là cơ sở để đơn vị quản lý, kiểm tra và thanh quyết toán công tác sửa chữa TSCĐ . 

     

    2. Kế toán sửa chữa thường xuyên

     Sửa chữa thường xuyên là hoạt động sửa chữa nhỏ, bảo trì bảo dưỡng theo yêu cầu kỹ thuật, công việc sửa chữa có thể do THÔNG BÁO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ* SỐ 1-2012 66 đơn vị t làm hoặc thuê ngoài sửa chữa. Chi phí sửa chữa thường xuyên khi phát sinh được hạch toán thẳng vào chi phí của đơn vị, tùy thuộc vào TSCĐ đang phục vụ cho mục đích gì. Nợ TK 661- Chi hoạt động (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động HCSN) Nợ TK 662- Chi d án (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động bán) Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD) Có TK 111, 112, 152, 331…

    3. Kế toán sửa chữa lớn TSCĐ

    Đối với sửa chữa lớn, do chi phí sửa chữa phát sinh lớn, th i gian sửa chữa dài hơn nhiều so với sửa chữa thường xuyên, công tác sửa chữa lớn TSCĐ của đơn vị có thể tiến hành theo phương thức t làm hay giao thầu. H ch toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phải được theo dõi chi tiết được theo dõi chi tiết cho từng công trình, từng công tác sửa chữa lớn TSCĐ trên TK 241 – Xây d ng cơ bản dở dang (chi tiết TK 2413 – Sửa chữa lớn TSCĐ ). 

    – Theo phương thức t làm, khi phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ , căn cứ vào các chứng từ có liên quan, ghi: Nợ TK 241 (2413 – Sửa chữa lớn TSCĐ ) Có TK 111, 112, 331… Có TK 461, 462, 465… đồng thời ghi Có TK 008 hoặc có TK 009 (Nếu rút d toán chi hoạt động, chương trình, dán để chỉ sửa chữa lớn).

     – Theo phương thức giao thầu sửa chữa lớn, kế toán phải phản ánh số tiền phải trả cho ng i nhận thầu về khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành do bên nhận thầu bàn giáo và được chấp nhận thanh toán, ghi: Nợ TK 241 (2413 – Sửa chữa lớn TSCĐ ) Có TK 331 (3311 – Phải trả ng i cung cấp) – Trong hợp sửa chữa lớn TSCĐ thuộc nguồn vốn kinh doanh hoặc nguồn vốn vay để dùng cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ, ghi: Nợ TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) Nợ TK 311 (3113 – Thuế GTGT được khấu trừ) (Nếu có) Có TK 111, 112, 331… – Khi công trình sửa chữa lớn hoàn thành kế toán phải tính toán giá thành thực tế của từng công trình sửa chữa để quyết toán số chi phí này theo nguồn kinh phí dùng để sửa chữa lớn, ghi: Nợ TK 661- Chi hoạt động (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động HCSN) Nợ TK 662- Chi d án (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động bán) Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD) Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) – Nếu chi phí sửa chữa lớn TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD thực tế phát sinh lớn phải phân bổ dần, khi công tác sửa chữa lớn hoàn thành, ghi: Nợ TK 643 f- Chi phí trả trước Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) – định kỳ, khi phân bổ chi phí sửa chữa lớn vào chi hoạt động hoặc chi phí SXKD, ghi: Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD Có TK 643- Chi phí trả tr ớc THÔNG BÁO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ* SỐ 1-2012 67

     4. Kế toán sửa chữa nâng cấp TSCĐ

     Trong hợp sửa chữa lớn cãi t o n ng cấp làm tăng năng l c hoặc kéo dài th i gian sử dụng của TSCĐ , thì toàn bộ chi phí cải t o, n ng cấp TSCĐ sau khi đã hoàn thành phải ghi tăng nguyên giá TSCĐ : Nợ TK 211, 213 Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) Căn cứ vào nguồn kinh phí dùng cho hoạt động cải t o,n ng cấp TSCĐ , đồng thời ghi: Nợ TK 661- Chi hoạt động (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động HCSN) Nợ TK 662- Chi d án (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động bán) Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD) Có TK 466 – Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ

    5. Kế toán công tác sửa chữa lớn bằng nguồn kinh phí hoạt động đến cuối năm đã hoàn thành nhưng chưa bàn giao thanh quyết toán công trình

    5.1. Hạch toán năm báo cáo: Căn cứ vào bảng xác nhận giá trị khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành đến ngày 31/12, kế toán lập “Chứng từ ghi sổ” để phản ánh giá trị khối lượng công tác sửa chữa lớn hoàn thành liên quan đến số kinh phí ho t động được ngân sách nhà nước cấp cho công tác sửa chữa lớn trong năm được quyết toán vào chi hoạt động của năm báo cáo, ghi: Nợ TK 661 – Chi hoạt động (6612 – Năm nay) Có TK 337 – Kinh phí đã quyết toán chuyển năm sau (3372 – Giá trị khối lượng SCL hoàn thành).

     

    5.2. Hạch toán năm sau: ối với giá trị khối lượng công tác sửa chữa lớn hoàn thành đã quyết toán vào kinh phí năm trước, khi công tác sửa chữa lớn hoàn thành bàn giao đ a vào sử dụng, căn cứ biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, ghi: + Nợ TK 661 – Chi hoạt động (Phần quyết toán năm nay) + Nợ TK 337- Kinh phí đã quyết toán chuyển năm sau (3372 – Giá trị khối lượng SCL hoàn thành) (Phần đã quyết toán năm trước) + Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ )./. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/C%C3%81C-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-VI%E1%BB%86C-TRI%E1%BB%82N-KHAI-B%E1%BA%A2O.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    TÓM TẮT

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Các nhân tố ảnh hưởng được kiểm định bởi các mẫu khảo sát từ 330 hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố Thái Nguyên với các tiêu chí đánh giá và thang đo Likert 5 điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình, thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe và công tác thông tin tuyên truyền tác động cùng chiều với việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình. Từ kết quả nghiên cứu rút ra những gợi ý hữu ích về phát triển BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, địa hình có nhiều rừng núi cao với nhiều dân tộc sinh sống trên địa bàn. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu, kinh tế phát triển nhưng còn chưa đồng đều, một số vùng núi cao còn gặp nhiều khó khăn, người dân có thu nhập còn thấp. Việc thực hiện BHYT cho người lao động trên địa bàn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là phát triển BHYT hộ gia đình. Để có thể làm tốt hơn công tác BHYT hộ gia đình, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố, việc nghiên cứu và đánh giá các yếu tố tác động là rất cần thiết để làm căn cứ đề xuất giải pháp về phát triển BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Công tác thực hiện triển khai BHYT hộ gia đình = f(HB, TĐ, MP, CT, TT, CL). Các nhân tố được đưa vào khảo sát đó là: Thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe, hiểu biết của người

    dân về BHYT hộ gia đình, công tác thông tin tuyên truyền

    về BHYT hộ gia đình, mức phí BHYT hộ gia đình, thủ

    tục khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT, và chất lượng dịch

    vụ KCB bằng thẻ BHYT. Trong đó nhân tố thu nhập của người dân là một biến và được thiết kế trong bảng câu hỏi dưới dạng định tính, còn 6 yếu tố còn lại là 6 nhóm nhân tố mỗi nhóm bao gồm các biến và được xây dựng dưới dạng định tính trong bảng câu hỏi điều tra và được đánh giá bằng thang đo Likert – 5 điểm. 6 giả thuyết được đưa ra để kiểm chứng đó là:

    (1) Hiểu biết về BHYT hộ gia đình có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H1).

    (2) Thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H2).

    (3) Mức phí BHYT có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H3).

    (4) Công tác thông tin tuyên truyền có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H4).

    (5) Thủ tục KCB bằng thẻ BHYT có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H5).

    (6) Chất lượng dịch vụ KCB có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H6).

    III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

    3.1. Thống kê mô tả

    – Nhân tố hiểu biết: Kết quả phân tích thống kê mô tả về sự hiểu biết của người dân thành phố Thái Nguyên cho thấy: Nhìn chung, người dân chưa hiểu rõ về bản chất vai trò cũng như các thủ tục tham gia và thanh toán của BHYT hộ gia đình. Cụ thể là, trong tất cả các biến khảo sát của nhóm nhân tố “Hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình” ký hiệu là HB thì 2 biến HB1 và HB6 đạt giá trị trung bình cao nhất là 4.25 và 4.13 với độ lệch chuẩn lần lượt là 0.914 và 0.874. Trong khi đó, các biến HB2, HB3, HB5 và HB7 thì có giá trị trung bình rất thấp chỉ từ 2.05 – 2.14 với độ lệch chuẩn từ 0.789 – 0.846.

    – Nhân tố Thái độ: Người dân Thái Nguyên có thái độ rất tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe của cá nhân cũng như gia đình. Giá trị trung bình của các biến trong nhóm nhân tố khá cao, giao động từ 2.60 đến 3.55. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn khá cao từ 0.885 đến 1.044. Điều này nghĩa là sự dao động xung quanh giá trị trung bình lớn và sự ổn định của các con số không cao.

    – Nhân tố Mức phí BHYT: Người dân đánh giá cao về tính hợp lý của mức phí BHYT hộ gia đình, cũng như tính hợp lý của mức hưởng phí BHYT của BHYT hộ gia đình. Điều này được thể hiện rõ qua giá trị trung bình của kết quả phân tích thu được ở bảng 3.6. Giá trị trung bình dao động trong khoảng từ 3.38 – 3.44 với độ lệch chuẩn từ 0.888 đến 9.44. Sự chênh lệch của độ lệch chuẩn không nhiều nên giá trị trung bình có tính ổn định cao.

    – Nhân tố công tác thông tin tuyên truyền: Theo như đánh giá từ phía người dân, công tác thông tin tuyên truyền về BHYT hộ gia đình tại địa bàn thành phố Thái Nguyên chưa tốt, chưa triệt để và chưa thực sự đến với người dân. Cụ thể là giá trị trung bình (average mean score) của các biến trong nhóm nhân tố này tương đối thấp, giao động từ 2.02 đến 3.17 trong khi đó độ lệch chuẩn tương đối cao (trong khoảng từ 0.923 đến 1.029) do đó tính ổn định của giá trị trung bình không cao.

    – Nhân tố Thủ tục KCB: Thủ tục khám chữa bệnh bằng BHYT được đánh giá không cao. Trong tất cả tổng số 7 biến của nhân tố “Thủ tục KCB bằng BHYT” viết tắt là TT, có duy nhất 2 nhân tố được đánh giá cao là TT4 và TT5 với giá trị trung bình lần lượt là 3.95 và 3.94 cùng độ lệch chuẩn tương ứng là 0.934 và 0.937. Trong khi đó các biến còn lại là TT1, TT2, TT3, TT6 và TT7 có giá trị trung bình khá thấp, chỉ từ 1.79 đến 3.13 trong khi độ lệch chuẩn lại có biên độ giao động khá cao (0.943 – 1.048).

    Nhân tố Chất lượng dịch vụ KCB: Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bằng BHYT được đánh giá không cao. Trong tất cả tổng số 7 biến của nhân tố “Chất lượng dịch vụ KCB bằng BHYT” viết tắt là CL, có duy nhất 2 nhân tố được đánh giá cao là CL5 và CL7 với giá trị trung bình lần lượt là 3.86 và 3.64 cùng độ lệch chuẩn tương ứng là 0.879 và 0.886. Trong khi đó các biến còn lại là CL1, CL2, CL3, CL4 và CL6 có giá trị trung bình khá thấp, chỉ từ 2.17 đến 3.12.

    3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bảo hiểm

    Y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    – Phân tích nhân tố khám phá EFA

    Quá trình kiểm định thang đo- kiểm định Cronbach’s alpha và thực hiện phân tích 6 nhân tố và 37 biến khảo sát và đặt tên như sau: (1) Hiểu biết (gồm: HB1, HB2, HB3, HB4, HB5, HB6, HB7); (2) Thái độ (gồm TĐ1, TĐ2, TĐ3, TĐ4, TĐ5); (3) Mức phí (gồm MP1, MP2, MP3, MP4); (4) Công tác thông tin tuyên truyền (gồm CT1, CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7); (5) Thủ tục khám chữa bệnh (gồm TT1, TT2, TT3, TT4, TT5, TT6, TT7); (6) Chất lượng

    dịch vụ KCB (gồm CL1, CL2, CL3, CL4, CL5, CL6, CL7)

    – Phân tích hồi quy

    Giả sử X1 – X6 là tên gọi thay thế cho 6 nhân tố sử dụng trong nghiên cứu

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Có 3 biến là X1, X2, X4 ảnh hưởng tới biến độc lập Y vì Sig. nhỏ hơn 0.05 hay nói cách khác là có 3 nhân tố ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đó là hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình, thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe và công tác thông tin tuyên truyền. Có 3 biến là X3, X5, X6 không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến biến độc lập Y vì các Sig. lớn hơn 0.05 hay nói cách khác là các nhân tố mức phí BHYT hộ gia đình, thủ tục KCB bằng thẻ BHYT và chất lượng dịch vụ KCB bằng BHYT không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại địa bàn thành phố Thái Nguyên. Trình tự của 3 biến ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch là X2, X1 và X4 với Standardized coefficient Beta là 0,414, 0,233 và 0,195 tương ứng. Từ những phân tích trên, phương trình hồi quy của mô hình nghiên cứu là: Y = 0,397 + 0,414 * X2 + 0,233 * X1 + 0,195 * X4. Phương trình này cho thấy rằng các hệ số của X1, X2 và X4 là lớn hơn 0 vậy các biến này là đồng biến với các biến phụ thuộc Y.

    3.3. Đánh giá chung

    Qua các kết quả nghiên cứu trên, ta có thể kết luận rằng, trong tổng số 6 nhân tố trong mô hình nghiên cứu có duy nhất 3 nhân tố ảnh hưởng tỷ lệ thuận tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại địa bàn thành phố Thái Nguyên đó là: Hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình, Thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe, và Công tác thông tin tuyên truyền. Do vậy ta có thể nói trong tổng số 6 giả thuyết nghiên cứu nêu ra chỉ có 3 giả

    thuyết được chấp nhận đó là H1, H2, H4. Vì vậy, để nâng cao công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tác giả đưa ra một số giải pháp sau:

    * Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động

    – Đổi mới nội dung và tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, giáo dục với nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của cấp uỷ đảng, chính quyền, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và mọi người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHYT, BHYT hộ gia đình và lợi ích khi tham gia BHYT hộ gia đình.

    – Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động rộng rãi trong nhân dân về chính sách BHYT hộ gia đình, làm chuyển biến và nâng cao hiểu biết về chính sách, pháp luật về BHYT hộ gia đình trên các phương diện.

    – Cơ quan BHXH có trách nhiệm bố trí cán bộ, kinh phí tuyên truyền hợp lý nhằm thực hiện công tác tuyên truyền.

    – Sử dụng triệt để, có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng vào công tác tuyên truyền

    – Mở các chuyên mục “Hỏi – đáp”, diễn đàn, hội thảo, đối thoại trực tiếp với người dân, mở các lớp tập huấn, làm pano, áp phích để tuyên truyền sâu rộng về BHYT hộ gia đình tới người dân.

    * Khai thác, mở rộng đối tượng tham gia

    – Tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ và các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHYT.

    – Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, pháp  luật về BHYT chính, vận động tham gia, tăng cường tính hấp dẫn của BHYT, tổ chức các đại lý BHYT bảo đảm người có nhu cầu được tiếp cận với thông tin về BHYT hộ gia đình.

    – Xây dựng cơ chế thu đóng BHYT hộ gia đình về thời gian (chu kỳ đóng), hình thức thu phù hợp, trình BHXH tỉnh phê duyệt.

    – Phối hợp với phòng Lao động TBXH tỉnh hướng dẫn UBND thành phố rà soát, lập danh sách đối tượng, vận động, tổ chức tham gia BHYT theo hộ gia đình một cách khoa học.

    – Khuyến khích các địa phương, tổ chức đóng góp hỗ trợ kinh phí để mua thẻ BHYT, ngoài phần hỗ trợ theo quy định.

    * Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra về việc triển

    – Tăng cường thanh tra, kiểm tra, quản lý chống việc trốn đóng, lạm dụng quỹ BHYT từ nhiều phía.

    – Kiểm tra các cơ sở KCB về công tác KCB cho người có thẻ BHYT.

    * Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ BHYT

    – Hoàn thiện hệ thống tổ chức, giúp cho việc ổn định, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành.

    – Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác BHYT về mọi mặt, chú trọng đào tạo cán bộ chuyển đổi tác phong làm việc hành chính sang tác phong làm việc phục vụ mang tính chuyên nghiệp cao. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử để mỗi cán bộ giỏi trước hết phải là một tuyên truyền viên giỏi.

    – Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính thông qua việc thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa liên thông; công khai hoá các thủ tục hành chính; duy trì thực hiện làm việc sáng thứ bảy hàng tuần; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ quản lý.

    * Phối hợp với các cơ sở KCB nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân

    – Việc nâng cao chất lượng KCB đây là khâu đặc biệt quan trọng để người dân thấy được ý nghĩa của việc tham gia BHYT. Chính vì vậy BHXH thị xã cần phối hợp với các cơ sở KCB thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    – Phân công cán bộ có chuyên môn thường trực tại các cơ sở KCB lớn để hướng dẫn, giải quyết kịp thời những vướng mắc liên quan đến quyền lợi của người có

    thẻ BHYT.

    – Cùng phối hợp với cơ sở KCB cải cách thủ tục hành chính trong KCB, trong thanh toán chi phí KCB tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẻ BHYT khi đến khám và điều trị.

    – Tăng cường các biện pháp giám định để tránh lạm dụng quỹ BHYT, yêu cầu các cơ sở KCB không ngừng nâng cao tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp đảo bảo chất lượng KCB phục vụ tốt nhu cầu người có thẻ BHYT.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]