Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-M%C3%94-H%C3%8CNH-CH%E1%BA%A4M-%C4%90I%E1%BB%82M-T%C3%8DN-D%E1%BB%A4NG-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-C%C3%81-NH%C3%82N-VAY-TI%C3%8AU-D%C3%99NG-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

     

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM

     

    Đào Thanh Bình

    Đại học Hà Nội

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 26/03/2019                         Ngày nhận lại:     14/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 19/04/2019

     

    Trong bối cảnh nhiều ngân hàng Việt Nam hướng tới tín dụng tiêu dùng và cho vay cá nhân, bài báo này nhằm mục tiêu đưa ra một mô hình chấm điểm tín dụng cho vay tiêu dùng có thể áp dụng cho các ngân hàng Việt Nam. Bài báo sử dụng phương pháp của hệ thống FICO có tính đến tình hình

     

    của Việt Nam. Bài báo cũng nhằm mục tiêu giúp cho người tiêu dùng tính được điểm tín dụng của mình một cách đơn giản.

     

    Từ khóa: Tín dụng tiêu dùng, chấm điểm tín dụng, vỡ nợ.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Thị trường tiêu dùng ngân hàng tại Việt Nam được phát triển và thay đổi nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Mặt khác, vì tín dụng tiêu dùng vẫn được coi là một dịch vụ non trẻ trong lĩnh vực ngân hàng và thị trường tài chính Việt Nam, các sản phẩm ngân hàng bán lẻ hiện vẫn còn hạn chế.

     

    Bên cạnh đó, hệ thống đánh giá tín dụng tiêu dùng ở Việt Nam vẫn còn rất ít phát triển. Điều này làm cho nhiều ngân hàng vẫn do dự để quảng bá sản phẩm cho vay tiêu dùng vì ngại rủi ro mà họ phải gánh chịu. Thứ nhất, việc thiếu thông tin đáng tin cậy gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng để cung cấp tín dụng nói chung cũng như thực hiện quá trình tính điểm tín dụng. Mặc dù một số công ty báo cáo quốc tế có tiềm năng như TransUnion xuất hiện tại Việt Nam, việc thành lập và phát triển của các công ty này chỉ là bước đầu tiên của con đường dài. Như vậy, dữ liệu được sử dụng cho quá trình tính điểm tín dụng chủ yếu được thu thập từ quá trình thẩm định của cán bộ tín dụng. Nói cách khác, phương pháp này chủ yếu dựa trên thông tin tự khai báo của khách hàng và điều này có thể gây ra rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng có thể giấu thông tin tín dụng tiêu cực của họ, đặc biệt là các khoản nợ xấu. Thứ hai, hệ thống đánh giá tín dụng nội bộ cho tín dụng tiêu dùng của hầu hết các ngân hàng thương mại

    Việt Nam đặt ra một số hạn chế. Các hệ thống đánh giá tín dụng được xây dựng trên cơ sở của một phương pháp định tính mà điểm và trọng số của mỗi biến không phải là kết quả của một phương pháp thống kê, mà dựa vào kinh nghiệm và sự xét đoán của nhân viên tín dụng. Hơn nữa, các ngân hàng không thể xác định mức độ đóng góp của mỗi biến định tính (thông số) với tổng số điểm do cùng một trọng số (ví dụ là 10% cho mỗi yếu tố phi tài chính). Quan trọng hơn, khi hệ thống này được áp dụng, xác suất của việc không trả được nợ vẫn không được ước tính.

     

    Theo những lý do nêu trên, để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam, nhu cầu cho những cải tiến với sự công khai của thông tin tín dụng cũng như chất lượng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tăng lên đáng kể. Việc nâng cao phương pháp luận và phương pháp tiếp cận từng bước để thiết lập mô hình tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam nên được áp dụng, đó là lý do cho sự phát triển của mô hình đánh giá tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam.

     

    Mô hình chấm điểm tín dụng lần đầu tiên được giới thiệu vào những năm 1940 và trong những năm qua đã phát triển đáng kể do sự cạnh tranh gia tăng trong ngành công nghiệp tài chính cùng với những tiến bộ trong công nghệ thông tin. Đánh giá tín dụng

     

     

    khoa học

     
       

    47

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    47

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    có nhiều lợi ích không chỉ cho người cho vay mà còn cho khách hàng vay. Từ quan điểm của người cho vay, đánh giá tín dụng giúp tăng tốc độ và tính thống nhất của quá trình xin vay và cho phép tự động hóa quá trình cho vay. Hơn nữa, nó bảo vệ lợi ích của khách hàng vay vì điểm số tín dụng giúp giảm sự phân biệt đối xử vì mô hình này cung cấp một phân tích khách quan cho tín dụng tiêu dùng. Bởi vì lợi ích của nó, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình đã không được nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam.

     

    Theo đề xuất ở trên, mục đích chính của bài báo này là để áp dụng và phát triển một mô hình tính điểm tín dụng cao cấp hơn cho các khoản vay tiêu dùng. Ban đầu, phương pháp MDA (Multiple Discriminant Analysis) và phần mềm SPSS đã được sử dụng để xác định các biến số chính khi xây dựng mô hình tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam. Sau đó, mô hình mới bao gồm các biến số chính được tạo ra trên cơ sở kết quả của SPSS. Mô hình này được áp dụng để tính toán Z-score, và sau đó xác định xác suất của việc không trả được nợ.

     

    Phần tiếp theo của bài báo đề cập đến vấn đề tổng quan lý thuyết về chấm điểm tín dụng tiêu dùng chủ yếu cho Việt Nam. Phần ba sẽ xây dựng mô hình tín dụng tiêu dùng, phần bốn tổng hợp hai mô hình tìm được, ước lượng xác suất vỡ nợ của mẫu và phần cuối là tổng hợp và kết luận.

     

    2. Tổng quan lý thuyết

     

    Phân tích biệt thức (Discriminant Analysis – DA) đã từng là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất để đưa ra điểm tín dụng trên thế giới. Năm 1936, Fisher đã giới thiệu ý tưởng phân biệt giữa các nhóm trong một tổng thể để kiểm tra khả năng phân biệt của các nhóm trong một quần thể thực vật dựa trên những đặc điểm khác nhau (đặc biệt là giữa hai loài hoa diên vỹ bằng cách sử dụng phép đo kích thước vật lý của các giống thực vật). Sau đó, vào năm 1941, Durand, người đã làm việc cho một dự án nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ, nhận ra rằng việc phân tích biệt thức của Fisher có thể được sử dụng để phân biệt giữa các khoản vay tốt và xấu. Cụ thể hơn, ông muốn xác định các thông số cho vay quan trọng và những đặc điểm có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên cứu của mình, ông đã trình bày một hệ thống dựa trên điểm số sử dụng cho việc phân loại độ tín nhiệm của mỗi đương đơn đi vay để mua một chiếc xe cũ (tín dụng tiêu dùng). Các biến

    quan trọng nhất trong phương trình kiểm định của ông là: tuổi tác, giới tính, nơi cư trú, nghề nghiệp, ngành nghề, độ ổn định của công việc, tài khoản ngân hàng và quyền sở hữu nhà.

     

    Đã có một vài nghiên cứu tại Việt Nam bao gồm các chủ đề về đánh giá tín dụng nói chung và các mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng nói riêng. Về mô hình chấm điểm tín dụng cho tín dụng doanh nghiệp, hai nghiên cứu được thực hiện bởi Đào B., (2012) và Đào B., (2013) đã cung cấp thêm kiến thức về mô hình điểm số Z Altman cũng như ứng dụng của nó trong việc phát triển một mô hình chấm điểm tín dụng. Hơn nữa, phương pháp làm việc trong hai bài trên đã tạo lập một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng cho các khoản tín dụng tiêu dùng. Cụ thể, cả hai bài đều tập trung vào cùng một chủ đề của mô hình chấm điểm tín dụng cho các công ty phi sản xuất và sản xuất ở Việt Nam sử dụng phân tích biệt thức. Một điểm khác cần lưu

     

    • là bài viết xây dựng mô hình sử dụng Z-score để hiệu chỉnh xác suất vỡ nợ (PD), và sau đó dựa trên thông tin của Standard & Poor đề nghị xếp hạng các công ty phi sản xuất tại Việt Nam. Các thảo luận về việc thành lập mối quan hệ giữa Z-score, xác suất của việc vỡ nợ và xếp hạng cũng như ma trận chuyển đổi có thể giúp góp phần nâng cao chất lượng hệ thống xếp hạng tín dụng Việt Nam.

    Liên quan đến mô hình tính điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, một trong những bài nghiên cứu nổi tiếng nhất được thực hiện bởi Dinh và Kleimeier (2007), bao gồm các chủ đề về thành lập mô hình chấm điểm tín dụng thị trường tiêu dùng của Việt Nam. Tất cả các khoản vay tiêu dùng nổi bật vào một ngày cụ thể trong năm 2005 được trích dẫn từ cơ sở dữ liệu của các ngân hàng thương mại Việt Nam và sau đó 22 biến số được lựa chọn ban đầu bao gồm cả 9 biến số định lượng và 13 biến số định tính. Ngoài ra, cỡ mẫu gồm 56.307 khoản vay, trong đó 798 khoản là vỡ nợ. Sau đó, phương pháp lựa chọn từng bước được sử dụng để chọn trong số 22 biến. Áp dụng phương pháp này, 16 biến đã được đưa vào mô hình. Các bài báo cũng đề cập đến việc thiếu thông tin về điểm tín dụng bán lẻ được xác định bằng những đặc điểm của bên vay mà ngân hàng cần thu thập. Các yếu tố dự đoán quan trọng nhất được tìm thấy là thời gian, giới tính, số tiền vay và thời hạn vay. Dinh và Kleimeier (2007) đề nghị các công ty cập nhật thông tin tín dụng tiêu dùng

     

    48

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thường xuyên để đáp ứng với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung và người vay nói riêng.

     

    3. Chấm điểm tín dụng tiêu dùng cho các ngân hàng Việt Nam

     

    3.1. Thu thập dữ liệu và mã hóa biến

     

    Chấm điểm tín dụng thường được áp dụng để đánh giá tín dụng của người vay, ngân hàng sẽ căn cứ vào điểm số này để cấp quyết định tín dụng. Tuy nhiên, thực tế là rất khó khăn để thu thập các dữ liệu trực tiếp từ người nộp đơn vay, các nhà nghiên cứu có thể thấy rằng không thể xây dựng mẫu cho các khoản vay. Vì vậy, mẫu đại diện của người xin vay đã được xây dựng bằng cách sử dụng các khoản vốn vay tiêu dùng đã được cấp bởi các ngân hàng. Mục đích chính của bài nghiên cứu này là để phát triển một mô hình tính điểm tín dụng tiêu dùng nhằm đánh giá các đơn xin vay cũng như cho mục đích tính toán xác suất vỡ nợ các khoản vay, đặc biệt là đối với các khoản vay hiện tại. Tuy nhiên, kết quả cũng có thể được áp dụng trong đánh giá cho vay nói chung.

     

    Theo đề xuất ở trên, để phát triển các mô hình, 200 khoản vay tiêu dùng đã được lựa chọn ngẫu nhiên từ các cơ sở dữ liệu của năm ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, do sự khác nhau của dữ liệu, chỉ có 122 khoản vay đã được chọn. Sau đó, số tiền vay được sử dụng để phân loại các khách hàng vay thành hai nhóm khác nhau, vì ứng viên có điểm số cao hơn có nhiều khả năng để vay số tiền vay lớn hơn. Sự phân loại cũng được áp dụng cho các khoản vay khác như bất động sản và xe hơi. Bên cạnh đó, các cuộc phỏng vấn ý kiến chuyên gia được thực hiện để đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong việc phân loại nhóm.

     

    Đầu tiên, một số biến được chọn lựa cẩn thận trên cơ sở danh sách các biến số thường được sử dụng cho các nước đang phát triển trong những nghiên cứu của Crook (1996), Vigano (1993) và Kleimeier và Dinh (2007). Phương pháp tiếp cận kiến thức chuyên môn và sự có sẵn thông tin cũng được đưa vào xem xét. Sau đó, sáu biến số định lượng và bốn biến số định tính đã được lựa chọn. Thứ hai, về các biến định tính, thay vì sử dụng các biến giả, với thang đánh giá 10 (cao nhất) và 0 (thấp nhất) đã được áp dụng dựa trên nguyên tắc: các cụ thể càng tốt, điểm số (mã) các khoản cho vay đương đơn sẽ nhận được càng cao. Mã hóa biến phần lớn dựa trên các nguyên tắc phân loại trong Rose (2008) (Phụ lục A1).

    3.2. Thử nghiệm của tất cả 10 biến trong SPSS Như đã đề cập ở trên, mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng thường được xây dựng theo mô hình Z-score của Altman. Trong bước đầu tiên, phân tích biệt thức và phần mềm SPSS được sử dụng để kiểm tra khả năng phân biệt của mỗi biến. Nói cách khác, kỹ thuật thống kê này sẽ giúp các nhà nghiên cứu xác định các biến cần thiết để bao gồm trong mô

    hình tín dụng tiêu dùng.

     

    Sau khi tuân thủ nghiêm ngặt các phương thức kiểm tra, kết quả của SPSS đã được đưa ra. Trước hết, trong bảng “Thử nghiệm sự khác biệt của trung bình nhóm” kết quả phân tích ANOVA thực hiện cho mỗi biến độc lập được trình bày. Năm trong số các biến bao gồm Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập cá nhân hàng năm, Số người phụ thuộc và Tài khoản là có ý nghĩa thống kê vì tất cả đều có mức ý nghĩa thấp hơn 5%. Điều này đi đôi với kết quả Lambda của Wilks. Lambda của một biến độc lập càng thấp, biến trong mô hình có khả năng phân biệt càng mạnh. Năm biến có ý nghĩa thống kê kể trên cũng có Lambda thấp nhất theo thứ tự tăng dần: Thu nhập, Tài khoản, Nghề nghiệp, Số người phụ thuộc, và Học vấn.

     

    Giá trị riêng 1,3889 cho thấy tỷ lệ phương sai được giải thích, do đó, một giá trị riêng lớn thường thể hiện một hàm số mạnh. Giá trị 1,3889 cho thấy có một tỷ lệ tương đối cao của phương sai được giải thích trong biến phụ thuộc, và thể hiện một khả năng phân biệt khá tốt của hàm. Điều này cũng được minh họa bằng kết quả Lambda của Wilks tức là tỷ lệ tổng phương sai của điểm số biệt thức không được giải thích bởi sự khác biệt giữa các nhóm. Lambda bằng 1,00 xảy ra khi các trung bình nhóm được quan sát là bằng nhau (tất cả các phương sai được giải thích bởi các yếu tố khác hơn là sự khác biệt giữa các trung bình), trong khi một lambda nhỏ xảy ra khi sự biến đổi trong nhóm là nhỏ so với tổng biến đổi. Giá trị Wilks Lambda 0,4186 có giá trị đáng kể (Sig. = 0,000), do đó, các trung bình nhóm thường là khác nhau.

     

    Thử nghiệm biệt thức với mười biến phát hiện ra rằng chín giá trị trong nhóm “Đầu” và bốn trong nhóm “Đáy” được xếp đặt không đúng chỗ tương đương với 6,55% lỗi Loại I và 14,75% lỗi Loại II xảy ra. Do đó, trung bình 89,3% trường hợp các nhóm ban đầu được phân loại chính xác (Xem phụ lục A2).

     

     

    khoa học

     
       

    49

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Tóm lại, các yếu tố nổi bật nhất cần lưu ý là năm biến số, bao gồm Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập, Số người phụ thuộc và Tài khoản, đóng một vai trò quan trọng trong việc phân biệt hai nhóm vì tất cả đều có mức ý nghĩa thấp hơn 5%. Hơn nữa, Số người phụ thuộc là biến đóng góp nhiều nhất cho khả năng phân biệt của mô hình với giá trị F cao nhất 86,26. Bên cạnh đó, các biến còn lại bao gồm Tuổi (Age), Số năm công tác (Yearwork), Số năm ở một nơi (YearResi), Số năm quan hệ với ngân hàng (YWBank) và Hình thức sở hữu nhà ở (ResiStatus) là các biến không có ý nghĩa thống kê với giá trị F rất thấp. Do đó, với mục đích phát triển một mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng tốt hơn, năm biến với khả năng dự đoán cao nhất sẽ được chọn như là các biến độc lập.

     

    3.3. Thử nghiệm năm biến số quan trọng nhất Trên cơ sở các thủ tục thử nghiệm được áp dụng và kết quả của các thử nghiệm trước, năm biến thể hiện tốt nhất trong việc phân biệt các nhóm được

     

    đưa vào MDA trong phần mềm SPSS.

     

    Bảng nhóm các số liệu thống kê minh họa sự khác biệt về giá trị trung bình của mỗi tỷ lệ tài chính. Đặc biệt, sự khác biệt lớn nhất giữa hai nhóm được thể hiện rõ ràng trong Reven I (thu nhập cá nhân hàng năm) có ảnh hưởng mạnh nhất lên mô hình dự đoán. Chi tiết hơn, thu nhập cá nhân hàng năm của những người được xếp vào nhóm 1 gấp khoảng 4 lần so với những người nhóm 2. Xếp hạng tiếp theo trong khả năng phân biệt tương ứng là Tài khoản, Học vấn, Nghề nghiệp, đều thể hiện các số liệu Nhóm 2 cao hơn Nhóm 1. Ngược lại, những người xin vay từ Nhóm 2 có ít biến Số người phụ thuộc hơn Nhóm 1 (Xem Phụ lục A3).

     

    Sự khác biệt về giá trị trung bình từng biến được minh họa rõ ràng bằng giá trị Lambda của Wilks, thử nghiệm F và mức ý nghĩa. Tất cả 5 biến đều thấp hơn đáng kể mức 5%, thể hiện có sự khác biệt đáng chú ý của các biến này giữa các nhóm. Nói chung, ở mức độ đơn biến, tất cả các tỷ lệ đều cho thấy người vay ở nhóm “Đầu” có những giá trị cao hơn (Xem Phụ lục A4).

     

    Vec-tơ tỷ lệ (Scaled vector) được sử dụng để “xác định sự đóng góp tương đối của mỗi biến cho tổng khả năng phân biệt của hàm số cuối cùng và tương tác giữa hai yếu tố” (Altman, 1968). Các con số thống kê có liên quan trong thử nghiệm này được quan sát thấy như một Vec-tơ tỷ lệ được tính theo công thức dưới đây:

    Vec-tơ tỷ lệ = Độ lệch chuẩn x Hệ số của biến Kết quả của vec-tơ tỷ lệ phù hợp với giá trị của thử nghiệm F. Nó chỉ ra rằng hai biến Thu nhậpTài khoản đóng góp chủ yếu vào hàm dự đoán (Xem

    Phụ lục A5).

     

    Như đã đề cập ở trên, giá trị riêng cho thấy tỷ lệ phương sai trong biến phụ thuộc có thể được giải thích bởi các biến độc lập. Rõ ràng là cần lưu ý rằng giá trị riêng 0.998 gần giá trị 1 có nghĩa rằng hầu như tất cả các phương sai trong điểm số biệt thức có thể được đóng góp cho sự khác biệt nhóm.

     

    4. Xây dựng mô hình

     

    Theo phương pháp luận cho việc phát triển mô hình chấm điểm tín dụng đối với tín dụng tiêu dùng dựa trên mô hình Z-score của Altman (1968), các hàm số được thể hiện trong hình thức sau:

    Z = W’X = W1 X1 +….+Wk Xk

    Trong đó: Z = Chỉ số tổng thể, X1 … Xk = biến độc lập, w1 … Wk = Hệ số biệt thức (hệ số của biến thứ k)

     

    Hằng số có hai hình thức: hình thức phi chuẩn hóa (có hằng số) và hình thức chuẩn hóa (không có hằng số) có thể được thể hiện trong bảng Hệ số tương quan của hàm biệt thức.

     

    Hàm phi chuẩn hóa

     

    Dựa trên kết quả của SPSS, mô hình Z-score phi chuẩn hóa áp dụng cho tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam như sau:

    Z = 0,2256X1 + 0,004083X2 + 0,0055X3

    0,3004X4 + 0,1318X5 – 3,3022                             (1)

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp;

    X3 = Thu nhập; X4 = Số người phụ thuộc; X5 =

    Tài khoản

     

    Trong phương trình 1, hệ số có độ lớn cao nhất là Học vấn (X1) mặc dù giá trị của F thấp hơn so với những tỷ lệ khác. Nếu tỷ lệ này tăng một đơn vị, số điểm tăng lên 0.2256. Số người phụ thuộc (X4) có mối quan hệ nghịch biến với điểm số của người xin vay 0,3004 lần. Hằng số (-3,3022) cho biết khi tất cả các biến độc lập bằng 0, số điểm là -3,3022 có vẻ hợp lý.

     

    Với dạng phi chuẩn hóa, điểm cắt cho mô hình biệt thức được xác định như sau:

     

    C =

    Z * N + Z * N

       

    1122

    (2)

     

    N+ N

    cutoff

       
     

    12

       

    Trong đó: Z1 là mức trung bình của Z-score Nhóm 1 tính toán bằng cách sử dụng công thức (1)

     

     

    50

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    N1 là số được quan sát trong Nhóm 1

    PD =

    1

     

    Z2 là mức trung bình của Z-score Nhóm 2 tính toán bằng cách sử dụng công thức (1)

    N2 là số được quan sát trong Nhóm 2

     

    Với mục đích kiểm tra tính hợp lý của giá trị nhóm trọng tâm, giá trị trung bình điểm Z cho hai nhóm khác nhau được tính toán bằng -0,992 và 0,992 tương ứng cho Nhóm 1 và Nhóm 2 (Xem phụ lục A7). Chúng có cùng một giá trị, nhưng trái dấu.

     

    Sau đó, áp dụng phương trình 2 – hàm chuẩn hóa, các điểm cắt sẽ bằng không vì trung bình của Z-score phi chuẩn hóa cho hai nhóm có giá trị bằng nhau nhưng trái dấu ((0,992 * 61 – 0,992 * 61)/(61 +61) = 0). Trên cơ sở điểm cắt này, kết quả cho thấy rằng 11 giá trị trong nhóm 1 và 2 giá trị trong nhóm 2 không được phân loại đúng, đem lại kết quả phân loại chính xác là 89,4% (Xem Phụ lục A6).

    Hàm chuẩn hóa

    Hàm chuẩn hóa có thể viết như sau:

    Z = 0,2453X1 + 0,0754X2 + 0,8148X3 -0,2412X4

    + 0,4011X5                                              (3)

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp; X3=

    Thu nhập (đơn vị triệu đ); X4 = Số người phụ thuộc;

    X5 = Tài khoản

     

    Có thể thấy từ bảng Phụ lục A7, khác với hình thức phi chuẩn hóa, Thu nhập (X3) có hệ số cao nhất, phù hợp với kết quả thử nghiệm F và Vec-tơ tỷ lệ. Ngược lại, Nghề nghiệp (X2) là biến với hệ số thấp nhất.

     

    Điểm cắt được xác định bằng cách áp dụng phương trình (2): (286 * 61 + 82 * 61)/(61+61)=

     

    1. Kết quả là, hai mươi giá trị từ Nhóm 2 nhưng không có giá trị nào thuộc Nhóm 1 được xếp không đúng chỗ, đại diện cho 84% độ chính xác của mô hình dự đoán bằng cách sử dụng hình thức được chuẩn hóa. Con số này thấp hơn so với kết quả phân loại theo hàm phi chuẩn hóa (89,4%).

    Ước lượng xác suất vỡ nợ từ điểm số Z hàm phi chuẩn hóa

     

    Dựa trên các nghiên cứu đã được thực hiện bởi tác giả khác nhau trên thế giới, bài báo này sẽ lập ra Z-score xuất phát của mô hình mới về xác suất vỡ nợ (PD) và xếp hạng tín dụng. Theo bài nghiên cứu được tiến hành bởi Đinh và Kleimeier (2007), xác suất không trả được nợ (PD) được xác định bằng cách áp dụng công thức logit như sau:

    1+e-z                    (4)

    Trong đó: PD là xác suất vỡ nợ, Z là Z-score (điểm số càng cao, thì càng tốt), e = 2,71828.

     

    Tuy nhiên, các kết quả tính toán dựa trên phương trình trên tạo ra xác suất vỡ nợ rất cao cho đơn xin vay trong nước. Vì vậy, theo nghiên cứu của Đào (2010) trong hiệu chỉnh chấm điểm tín dụng và xác suất vỡ nợ, phương trình trên được điều chỉnh thành:

     

    PD =

    1

    (5)

     

    -Z

     

    1+e*20

     
           

    Áp dụng phương trình (5) cho mẫu gồm 122 người tiêu dùng Việt Nam, xác suất vỡ nợ đã được đưa ra.

     

    Kết quả cho thấy hầu như tất cả người xin vay từ Nhóm 2 có xác suất vỡ nợ thấp hơn rất nhiều so với Nhóm 1. Chỉ có 11 ứng viên thuộc Nhóm 2 với xác suất vỡ nợ cao đáng lẽ được phân loại vào Nhóm 1 và 2 ứng viên thuộc Nhóm 1 với xác xuất vỡ nợ thấp đáng lẽ được phân loại vào Nhóm 2. Tổng số là 13 khách hàng vay phân loại không đúng, đem lại độ chính xác là 89,34%. Ví dụ về mười khoản vay thuộc về 5 giá trị đầu và cuối của mỗi nhóm 1 và 2 được trình bày trong Phụ lục A7(1) và A7(2).1

    5. Kết luận

     

    Trong bài báo này, tổng quan về sự phát triển của chấm điểm tín dụng tiêu dùng thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng sẽ được trình bày ngắn gọn. Sau đó, tổng quan lý thuyết cung cấp kiến thức nền về điểm tín dụng và những phương pháp tính điểm tín dụng phổ biến. Thu thập dữ liệu và xử lý quá trình thực hiện trên cơ sở của các giả định này được ghi nhận trước khi đưa tỷ lệ tài chính vào DA của SPSS để tạo ra kết quả thống kê. Ban đầu, phân tích biệt thức với mười biến độc lập được tiến hành để kiểm tra khả năng phân biệt của các biến trong phân loại nợ. Bài kiểm tra đã phát hiện ra năm yếu tố phân biệt đáng kể nhất mà sau đó được sử dụng thêm một lần trong SPSS để tạo ra các phương trình cuối cùng. Có hai nhóm hệ số, chuẩn hóa và phi chuẩn hóa. Hàm phi chuẩn hóa được mô tả như sau:

     

    • = 0,2256X1 + 0,0483X2 + 0,0055X3 – 0,3004X4 + 0,1318704X5 – 3,3022

     

    Trong đó: X1 = Học vấn; X2 = Nghề nghiệp; X3

    • Thu nhập (đơn vị triệu đ); X4 = Số người phụ thuộc; X5 = Tài khoản

     

     

    1. Kiểm định ngoài mẫu cũng đã được thực hiện, độc giả có quan tâm xin liên hệ trực tiếp với tác giả.
     

    khoa học

     
       

    51

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Một trong những phát hiện quan trọng là 89,4% của 122 người xin vay được phân loại chính xác với hàm phi chuẩn hóa. Trung bình số điểm của Nhóm 2 và Nhóm 1 là bằng 0,992 nhưng trái dấu. Hàm chuẩn hóa được trình bày dưới đây:

     

    • = 0,245X1 + 0,0754X2 + 0,81480X3 – 0,24127X4 + 0,4011X5

     

    Như đã đề cập ở trên trong kết quả phân loại, hình thức phi chuẩn hóa đã được chứng minh là mạnh hơn so với hình thức chuẩn hóa. Tuy nhiên, cả hai đã thực hiện một mức độ chính xác tương đối

     

    Phụ lục

     

    A1: Mã hóa các biến số định tính

    cao trong việc phân loại nhóm. Sau đó, xác suất của vỡ nợ được tính trên cơ sở điểm phi chuẩn hóa.

     

    Tóm lại, mặc dù có một số nhược điểm không thể tránh khỏi, điểm số mới được phát triển vẫn có

     

    • nghĩa và hữu ích cho người cho vay về đánh giá chính xác tín dụng của khách hàng vay, do đó có thể giảm rủi ro tín dụng. Bài viết đã cung cấp cho độc giả các phương pháp và cách tiếp cận để phát triển một mô hình tính điểm tín dụng cao cấp với mức ứng dụng, tính chính xác và tính khả thi cao để dự đoán tín dụng của người xin vay.

    Bieán soá

    Caùc loaïi

    Maõ

     
     

    Toát nghieäp Tieán só

    10

     
     

    Thaïc só, Sau Ñaïi hoïc

    9

     
     

    Toát nghieäp Ñaïi hoïc

    8

     

    Hoïc vaán

    Toát nghieäp Cao ñaúng

    7

     
     

    Toát nghieäp tröôøng daïy ngheà

    6

     
     

    Toát nghieäp Trung hoïc phoå thoâng

    5

     
     

    Döôùi Trung hoïc phoå thoâng

    0

     
     

    Ñieàu haønh chuyeân nghieäp (Giaùm ñoác, Phoù Giaùm ñoác, Keá toaùn tröôûng)

    10

     
     

    Ñieàu haønh chuyeân nghieäp ôû caáp ñoä thaáp hôn (Tröôûng /Phoù Tröôûng phoøng), Kieán truùc

    9

     
     

    Doanh nhaân, ngaân haøng, coâng nhaân coù tay ngheà cao

    8

     
     

    Ngheà nghieäp

    Nhaân vieân vaên phoøng

    7

     

    Sinh vieân

    5

     
     
     

    Lao ñoäng khoâng coù tay ngheà

    4

     
     

    Lao ñoäng baùn thôøi gian

    2

     
     

    Nghæ höu

    0

     
     

    Chuû sôû höõu nhaø

    10

     

    Hình thöùc

    Nhaø rieâng

    8

     

    Thueâ nhaø

    6

     

    sôû höõu nhaø ôû

    Soáng cuøng baïn beø, ngöôøi thaân

    4

     
     
     

    Soáng cuøng boá meï

    2

     
     

    Coù caû taøi khoaûn vaõng lai vaø taøi khoaûn tieát kieäm

    10

     

    Taøi khoaûn

    Coù taøi khoaûn vaõng lai

    6

     

    Coù taøi khoaûn tieát kieäm

    5

     
     
     

    Khoâng coù taøi khoaûn

    0

     

    A2: Phân loại kết quả với 10 biến

     

       

    Nhoùm

    Döï ñoaùn soá löôïng nhoùm

     

    Toång

    Ban ñaàu

    Soá löôïng

     

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

       
       

    1

    57

     

    4

    61

                 
       

    2

    9

     

    52

    61

                 
     

    %

    1

    93,44%

     

    6,56%

    100

                 
       

    2

    14,75%

     

    85,25%

    100

                 

    A3: Số liệu thống kê nhóm 5 tỷ lệ quan trọng nhất

     

           

    Bieán soá

     

    Trung bình

       

    Ñoä leäch chuaån

       
           

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

    Toång

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

    Toång

     
               
       

    Hoïc vaán

    7,4754

    7,9918

    7,7336

    1,1952

    0,9682

    1,1137

     
       

    Ngheà nghieäp

    7,3279

     

    7,8361

    2,1191

         
       

    8,3443

    1,5263

    1,9085

     
       

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    96,8813

    346,1430

    221,5121

    36,0447

    204,5403

    192,4863

     
         
       

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

    1,5574

     

    1,3607

    0,8470

         
       

    1,1639

    0,7568

    0,8239

     
       

    Taøi khoaûn

    1,9344

    4,3934

    3,1639

    2,9432

    3,1373

    3,2711

     
         
                       

    52

    khoa học

                 

    thương mại

                 

    Sè 128/2019

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    A4: Khả năng phân biệt riêng lẻ của 5 biến số

     

     

    Wilks’ Lambda

    F

    df1

    df2

    Sig.

     
                 

    Hoïc vaán

    0,9458

    6,8751

    1

    120

    0,0099

     

    Ngheà nghieäp

     

    9,2396

    1

    120

    0,0029

     

    0,9285

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    0,5773

    87,8620

    1

    120

    0,0000

     

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

     

    7,3189

    1

    120

    0,0078

     

    0,9425

    Taøi khoaûn

    0,8576

    19,9327

    1

    120

    0,0000

     
                 

    A5: Vec-tơ tỷ lệ của 5 biến số

     

    Bieán soá

    Ñoä leäch chuaån

    Heä soá

    Vec -tô tyû leä

    Xeáp haïng

     
               

    Hoïc vaán

    1,1137

    0,2454

    0,2733

    3

     

    Ngheà nghieäp

    1,9085

    0,0754

    0,1439

    4

     

    Thu nhaäp (trieäu ñoàng)

    192,4863

    0,8148

    156,8389

    1

     

    Soá ngöôøi phuï thuoäc

    0,8239

    -0,2413

    -0,1988

    5

     

    Taøi khoaûn

    3,2711

    0,4011

    1,3121

    2

     
               

    A6: Kết quả phân loại

     

    Ban ñaàu

     

    Nhoùm

    Döï ñoaùn soá löôïng nhoùm

    Toång

               
         

    Nhoùm 1

    Nhoùm 2

     
     

    Soá löôïng

    1

    59

    2

    61

     
       

    2

    11

    50

    61

       
     

    %

    1

    96,72%

    3,28%

    100

     
     

    2

    18,03%

    81,97%

    100

     
       

    A7 (1): Tính toán Điểm hàm chuẩn hóa và Phi chuẩn hóa cho 10 đại diện ứng viên cho vay của Nhóm

     

    2 cùng xác suất vỡ nợ

     

               

    Thu

    Soá

     

    Ñieåm Z

    Ñieåm Z

           
         

    Hoïc

     

    Ngheà

    nhaäp

    ngöôøi

    Taøi

    PD haøm phi

       
     

    STT

    Y

     

    haøm chuaån

    haøm phi

       
         

    vaán

     

    nghieäp

    (trieäu

    phuï

    khoaûn

    hoùa

    chuaån hoùa

    chuaån hoùa

       
               

    ñoàng)

    thuoäc

             
                             
     

    1

    2

    8

     

    10

    1,051

    1

    0

    859

    4,44

    0,06%

       
     

    2

    2

    8

     

    8

    1,000

    0

    6

     

    5,17

         
       

    820

    0,03%

       
     

    3

    2

    8

     

    10

    1,000

    2

    6

    819

    4,65

    0,05%

       
           
     

    4

    2

    8

     

    8

    800

    1

    6

     

    3,76

         
       

    657

    0,12%

       
     

    5

    2

    6

     

    8

    720

    1

    10

    3,39

    3,39

    0,17%

       
           
             

    10

                   
     

    57

    2

    8

     

    180

    2

    6

    151

    0,10

    4,33%

       
     

    58

    2

    8,5

     

    10

    180

    2

    6

    151

    0,21

    3,88%

       
           
     

    59

    2

    8

     

    8

    180

    2

    0

     

    -0,77

         
       

    149

    9,77%

       
     

    60

    2

    8,5

     

    8

    180

    1

    6

    152

    0,43

    3,15%

       
           
     

    61

    2

    8

     

    9

    168

    1

    0

     

    -0,50

         
       

    139

    7,60%

       
                                 
       

    Trung bình

           

    286

    0,992

           
       

    Ñoä leäch chuaån

         

    167

    1.29

           
                     
                                 
                           

    khoa học

     
                               

    53

                           

    thương mại

    Sè 128/2019

                     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    A7(2): Tính toán Điểm hàm chuẩn hóa cho 10 đại diện ứng viên cho vay của Nhóm 1 cùng xác suất vỡ nợ

     

       

    Hoïc

    Ngheà

     

    Thu nhaäp

    Soá ngöôøi

    Taøi

    Ñieåm Z haøm

    Ñieåm Z haøm

    PD haøm phi

    STT

    Y

     

    khoaû

    phi chuaån

    vaán

    nghieäp

     

    (trieäu ñoàn g)

    phuï thuoäc

    chuaån hoùa

    chuaån hoùa

         

    n

    hoùa

                     

    1

    1

    5

    4

     

    216

    2

    0

    177

    -1,41

    17,04%

    2

    1

    8

    8

     

    168

    2

    6

    141

    -0,05

    4,99%

     

    3

    1

    8,5

       

    156

    2

    0

    129

    -0,83

    10,32%

    7

     

    4

    1

    8

    7

     

    150

    1

    6

    127

    0,11

    4,28%

     

    5

    1

    9

       

    150

    3

    0

    124

    -1,01

    12,11%

    8

     

    57

    1

    5

    4

     

    48

    2

    0

    40

    -2,35

    34,29%

     

    58

    1

    8,5

       

    48

    0

    0

    42

    -0,83

    10,31%

    7

     

    59

    1

    6

    4

     

    43

    3

    0

    36

    -2,45

    36,61%

     

    60

    1

    5

       

    20

    0

    0

    17

    -2,07

    28,28%

    0

     

    61

    1

    5

    0

     

    18

    1

    0

    16

    -2,37

    34,95%

     
                         
             

    Trung bình

       

    82

    -0,992

     
           

    Ñoä leäch chuaån

       

    30

    0,58

     
                 
                         

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Altman, E. I. (1968), “Z-score”, chi tiết tại: http://www.valuebasedmanagement.net/methods_al tman_z-score.html (Truy cập vào ngày 18 tháng 10, 2009).
    1. Altman, E.I., (1968), Financial Ratios, Discriminant Analysis, and the Prediction of Corporate bankruptcy, Journal of Finance, Tập 23, Số 4, (Tháng 9, 1968), Trang 589-609
    1. Beaver, W., (1968), Alternative Accounting Measures as Predictors of Failure, Accouting Review, tháng 1, trang 46-53.
    1. Crook, J. N. (1996), Credit scoring: an overview, Working Paper Số 96/13, ban nghiên cứu kinh doanh, Trường Đại học Edinburgh.
    1. Dinh, T. H. T., và Kleimeier S., (2007), A Credit Scoring Model for Vietnam’s retail banking market, International Review of Financial Analysis, Tập 16, Số 5, trang 471-4.
    1. Durand, D., Risk Elements in Consumer Installment Lending, National Bureau of Economic Research, New York, 1941, Tập 15, Số 8.
    1. Đào, T.T. Bình (2013), Mô hình chấm điểm tín dụng cho các công ty sản xuất ở Việt Nam, Tạp chí

    Kinh tế & Phát triển , số 188 tháng 02 năm 2013, trang 39-49. http://ktpt.edu.vn/tap-chi/so-188/nghien-cuu-trao-doi-685/mo-hinh-xep-hang-tin-dung-cho-cac-cong-ty-san-xuat-o-viet-nam.372652.aspx

     

    1. Fisher, R. A. (1936), The Use of Multiple Measurements in Taxonomic Problems, Annals of Eugenics, Tập 7, trang 179-188.
    1. Vigano, L. (1993), A credit scoring model for development banks: An African case study, Savings and Development, 17(4), trang 441-482.

    Summary

     

    In the context of focusing on consumer credit and personal lending in many Vietnamese banks, this paper aims to provide a consumer credit scoring model that can be applied to Vietnamese banks. The article uses the method of FICO system, taking into account the situation of Vietnam. It also provides suggestions to help consumers simply calculate their credit score.

     

    khoa học

     

    54   thương mại

    Sè 128/2019

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG INTERNET BANKING TRONG THANH TOÁN HỌC PHÍ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

     

    Bùi Thị Thu Loan

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    Email: [email protected]

    Vũ Duy Hào

    Trường Đại học Kinh tê/quô/c dân

    Email:[email protected]

    Chu Thi;Hiên

    Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 18/03/2019                         Ngày nhận lại:     10/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 16/04/2019

     

    • hói quen thanh toán không dùng tiền mặt của người dân, trong đó có hình thức thanh toán trực tuyến (Internet banking) vẫn còn hạn chế tại các nước có nền kinh tế mới nổi như tại Việt Nam bất

    chấp những đặc tính ưu việt do hình thức thanh toán này mang lại. Mặc dù đã có một vài nghiên cứu kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ internet banking, song các nghiên cứu này chỉ tập trung trên các đối tượng đã có thu nhập. Trong khi thói quen sử dụng một dịch vụ cần được xây dựng và định hướng dựa trên hành vi nhận thức tính hữu ích của giới trẻ. Do đó, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán trực tuyến dựa trên đối tượng khảo sát là sinh viên với quy mô mẫu 228. Kết quả phân tích cho thấy, ngoài ảnh hưởng của các yếu tố được biết đến trong hầu hết các nghiên cứu hiện có bao gồm nhân tô€chuẩn chủ quan và tính hữu ích đối với dịch vụ thì phong cách giới trẻ cũng là một yếu tố mới được phát hiện có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến ý định sử dụng internet banking. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng hàm ý một số giải pháp tư•kê€t qua‚hô•i quy và gợi mở hướng nghiên cứu trong tương lai.

     

    Từ khóa: thanh toán trực tuyến, phong cách giới trẻ, ý định, thanh toán không dùng tiền mặt.

     

     

    1. Giới thiệu

    Inernet banking (IB) là một ứng dụng được sử dụng phổ biến trong thanh toán hiện nay tại hầu hết các quốc gia. Đây là dịch vụ ngân hàng điện tử dùng để truy vấn thông tin tài khoản và thực hiện các giao dịch chuyển khoản thanh toán qua mạng internet. Dịch vụ này bắt đầu được sử dụng từ những năm 80 tại hầu hết các nước phát triển. Tại Việt Nam, dịch vụ Internet-banking bắt đầu được du nhập khá muộn từ năm 2001 dưới hình thức ngân hàng điện tử trên internet và chính thức trở thành kênh giao dịch điện

    tử vào năm 2004. Dịch vụ Internet banking với ưu thế nhanh gọn, tiện lợi và tiết kiệm chi phí ngày càng được nhiều khách hàng lựa chọn. Dựa trên nhu cầu này, các ngân hàng cũng ngày càng cạnh tranh để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ tối ưu nhất cho khách hàng.

     

    Trong giai đoạn hiện nay, ứng dụng công nghệ thay thế cho các phương pháp thanh toán truyền thống thủ công là tính tất yếu. Việc triển khai và cung cấp các dịch vụ này từ hệ thống ngân hàng, một mặt khẳng định vị thế của ngân hàng trong việc hiện đại

     

     

    khoa học

     
       

    55

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    55

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    hóa hạ tầng công nghệ cung cấp sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng. Mặt khác, góp phần hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, giúp tiết kiệm chi phí xã hội cũng như minh bạch hóa các hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.

     

    Về phía khách hàng, sự xuất hiện của internet banking đã mang lại lợi ích lớn về thời gian và chi phí. Các giao dịch thanh toán không còn giới hạn về thời gian và khoảng cách địa lý thông qua các ứng dụng thanh toán qua hệ thống internet 24/24 và 24/7. Thêm vào đó, phí thanh toán qua hệ thống thanh toán trực tuyến cũng được xem là rẻ hơn so với các hình thức thanh toán chuyển tiền truyền thống tại ngân hàng.

     

    Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt nam, thói quen sử dụng tiền mặt vẫn diễn tra trong phần lớn các giao dịch mặc dù Chính phủ đã có những quy định hạn chế nhất định. Theo số liệu từ Ngân hàng thể giới (WB), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao nhất trong khu vực, chiếm tới 95,1 % (WB, 2018). Ngay tại môi trường giáo dục Đại học, nơi giúp định hình thói quen và trách nhiệm tuân thủ các quy định về việc nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế, thì vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt dường như chưa được quan tâm đúng mức tại một số nơi. Vấn đề này được đặt ra bởi trong bối cảnh tại Việt nam hiện nay, mặc dù thông tư 02 về quy định bắt buộc đối với việc thanh toán qua ngân hàng sắp có hiệu lực nhưng sinh viên tại một số trường đại học nói chung và trường đại học công nghiệp nói riêng vẫn duy trì thói quen thanh toán học phí bằng tiền mặt. Đây đồng thời cũng là một thực tế gây áp lực đối với việc nâng cao chất lượng dịch vụ của nhà trường.

     

    Trên cơ sở đó, theo hướng tiếp cận của lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991), nghiên cứu này áp dụng phân tích định lượng để kiểm tra mức độ ảnh hưởng và chiều ảnh hưởng của các yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và yếu tố phong cách giới trẻ đến ý định sử dụng thanh toán internet banking trong thanh toán học phí, nghiên cứu trường hợp tại đại học công nghiệp Hà nội.

    1. Tổng quan nghiên cứu

    Lý thuyết TPB của Ajzen (1991), giải thích và dự đoán về hành vi được ứng dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau dựa trên nền tảng lý thuyết

    Hành động có lý trí (hay hành động hợp lý), theo lý thuyết này, ý định của một cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi nhất định chịu ảnh hưởng của 03 yếu tố, đó là: Thái độ (Attitude); Chuẩn chủ quan (Subjective Norm); Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control). Lý thuyết TPB được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển và mở rộng để giải thích và dự đoán hành vi của con người trong bối cảnh cụ thể, như: Chang (1998), Choo và cộng sự (2004), đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng tích cực của các yếu tố Thái độ, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định thực hiện hành vi. Theo hướng tiếp cận này, nhiều nghiên cứu đã mở rộng phạm vi các yếu tố ảnh hưởng trong hướng nghiên cứu cụ thể về hành vi sử dụng IB (Long Phạm, 2014; ChinHo Lin, 2011). Nghiên cứu của Pham và cộng sự ( 2014); Wang, Lin và Tin ( 2003) cho biết khả năng chấp nhận công nghệ (IT) đóng vai trò quan trọng đối với hành vi sử dụng dịch vụ này bên cạnh các yếu tố về thái độ đối với dịch vụ, chuẩn chủ quan và tính hữu ích của dịch vụ (Long và cộng sự, 2014 ; Wang, Lin và Tin, 2003; Bùi Hải Yến). Tuy nhiên các nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn việc ứng dụng các phiên bản công nghệ tích hợp trên máy tính và điện thoại chưa thực sự phổ biến như hiện nay. Đồng thời, các nghiên cứu được tiến hành trên mẫu khảo sát là các đối tượng đã có thu nhập, do đó, khả năng chấp nhận công nghệ có thể là yếu tố ảnh hưởng tiên quyết do tính đặc thù về độ tuổi. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu có sự khác biệt đáng kể giữa sinh viên, những người chưa tạo ra thu nhập và những người đã đi làm mà thu nhập của họ có thể được thanh toán qua hệ thống ngân hàng đối với ý định sử dụng internet banking không. Nếu có, thì yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định này và liệu đối với đối tượng là sinh viên, còn yếu tố nào có thể tham gia vào mô hình mà có khả năng luận giải thêm đối với ý định sử dụng IB, nghiên cứu cụ thể đối với ứng dụng thanh toán tiền học phí. Việc trả lời câu hỏi nghiên cứu này cũng là mục tiêu hướng đến của bài viết.

     

    1. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

     

    • Giả thuyết nghiên cứu

     

    – Ý định sử dụng internet banking trong thanh toán học phi‹

     

    Có nhiều lý thuyết khác nhau được sử dụng để lý giải mối quan hệ giữa các yếu tố tiền đề và hành vi

     

    56

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    của người sử dụng dịch vụ. Trong nghiên cứu này, tiếp cận theo lý thuyết TPB, ý định sử dụng internet banking được hiểu là ý định của cá nhân đối với khả năng chấp nhận sử dụng thanh toán trực tuyến qua hệ thống ngân hàng thay thế cho hành vi sử dụng tiền mặt. Đây được coi là giai đoạn trong việc hình thành và phản ánh nhận thức về lợi ích của việc thanh toán không dùng tiền. Khi đó, nếu ý định sử dụng dịch vụ thanh toán internet banking của sinh viên càng cao thì khả năng thực hiện hành vi thanh toán qua hệ thống giao dịch trực tuyến dựa trên các ứng dụng công nghệ được cung cấp bởi mỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình càng lớn. Vì vậy, nghiên cứu ý định thực hiện hành vi thanh toán qua internet banking của sinh viên dựa trên lý thuyết TPB làm lý thuyết khung và tiền đề cho nghiên cứu nhằm mục đích nhận diện các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ, từ đó, hàm ý giải pháp thay đổi hành vi, thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán. Trên cơ sở đó, nho‹m tác giả đưa ra nho‹m 3 giả thuyết như sau:

     

    Gia&thuyê’t H1: Thái độ có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng dịch vụ IB trong thanh toan€ ho„c phi€của sinh viên;

     

    Gia&thuyê’t H2: Chuẩn chủ quan có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng IB trong thanh toan€ ho„c phi€của sinh viên;

     

    Gia&thuyê’t H3: Nhận thức về kiểm soát hành vi có mối quan hệ thuận chiều đối với ý định sử dụng IB trong thanh toa€n ho„c phi€của sinh viên.

     

    Phong cách giới trẻ đối với khuynh hướng sử dụng ứng dụng công nghệ hiện đại trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng

     

    Phong cách tiêu dùng hay sử dụng dịch vụ được đề cập lần đầu trong nghiên cứu của Mai và cộng sự (2009); Tambyah, Nguyễn và Jung (2009), theo đó khuynh hướng tiêu dùng có thể theo hướng truyền thống và hiện đại. Những thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ cũng ảnh hưởng đến khuynh hướng lựa chọn và sử dụng dịch vụ của các cá nhân. Mặc dù các nghiên cứu dựa trên mô hình có tính đến khả năng chấp nhận công nghệ (Pham và cộng sự, 2009; Wang, 2003) song trên thực tế, trong bối cảnh Việt Nam những năm gần đây cho thấy, mặc dù người Việt có tỷ lệ sử dụng internet và điện thoại thông minh rất cao song tỷ lệ thanh toán qua internet lại không tương xứng.

    Phong cách sống cá nhân được đặc trưng bởi cái nhìn thực tại về thế giới quan, cá tính, bản sắc cá nhân (bản ngã hay cái tôi) cũng như ảnh hưởng của môi trường xung quanh như gia đình, nơi sinh sống, giáo dục, văn hóa và ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố truyền thông. Trong đó, giới trẻ được đánh giá là những người tiên phong cho những trào lưu mới, thời thượng và táo bạo. Đồng thời, họ là những người đi đầu cho xu hướng sử dụng những dịch vụ mới hiện đại hơn.

     

    Kết quả phỏng vấn sâu đối với 11 sinh viên cũng cho thấy họ nhận thức việc thanh toán qua các ứng dụng trực tuyến sẽ trở thành xu hướng và định hình phong cách giới trẻ trong các giao dịch giúp họ thể hiện sự tự tin đối với việc bắt kịp một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết H4:

    Gia&thuyê’t H4: Phong cách giới trẻ có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng internet banking trong thanh toán

     

    3.2. Phương pha’p nghiên cư’u va*mô hi*nh nghiên cư’u

     

    Trước hết, như đã đề cập ở trên, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kiểm tra sơ bôŒsự phù hợp của các thang đo trong mô hình nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trước khi tiến hành phân tích hồi quy. Nghiên cứu định tính sơ bộ thông qua phỏng vấn sâu được thực hiện với đối tượng là 11 sinh viên đang học tại trường đại học công nghiệp Hà nội; độ dài trung bình mỗi cuộc phỏng vấn từ 25 đến 30 phút dựa trên lưới phỏng vấn, trong đó, đối tượng sinh viên trả lời phỏng vấn, gồm: 06 sinh viên nữ và 5 sinh viên nam.

     

    NôŒi dung phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm bước đầu kiểm tra sự phù hợp của các biến độc lập có ảnh hưởng đến ý định sử dụng internet banking của sinh viên, nhận diện sơ bộ mối quan hệ giữa các biến trong mô hình.

     

    Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ ủng hộ mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả. Phần lớn sinh viên được phỏng vấn đều cho rằng sử dụng thanh toán trực tuyến sẽ đem lại sự tiện lợi, nhanh chóng và an toàn. Đặc biệt giảm sự khó chịu khi tham gia thanh toán học phí bằng tiền mặt. Họ hoàn toàn ủng hộ và muốn sử dụng trong thời gian tới bởi IB phù hợp với phong cách sinh viên năng động hiện nay. Tuy nhiên việc sử dụng dịch vụ này lại khó khăn từ

     

     

    khoa học

     
       

    57

     

    thương mại

    Sè 128/2019

     

    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

     

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

     

    phía gia đình hơn là bạn bè, do đó ảnh hưởng nhất

    Dựa trên các phản hồi, mẫu phân tích cuối cùng

    định đến việc thay đổi hoàn toàn hình thức thanh

    được sử dụng trong phân tích hồi quy là 228. Trong

    toán này ở hiện tại. Kết quả đáng chú ý trong phân

    đó, nam giới chiếm tỷ lệ 44% và nữ giới chiếm tỷ lệ

    tích định tính đó là sự tham gia của biến phong cách

    56%. Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu

    giới trẻ được nhận diện trong mô hình nghiên cứu.

    hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức điểm, tương ứng

    ViêŒc nhâŒn diêŒn biê‹n nghiên cư‹u na‘y, dựa vào mô

    với 1 điểm là Hoàn toàn không đồng ý cho đến 5

    hình gốc theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991),

    điểm là Hoàn toàn đồng ý. Các câu hỏi cho các

    nhóm tác giả xây dựng mô hình gồm 4 yếu tố được

    thang đo trong nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở

    đề cập dươ‹i đây (Hình 1).

           

    kế thừa từ kết quả các nghiên cứu trước đây của

                                     

    Ajzen (1991, 2002), Holak và Leman

     

    7KiL ÿӝ

                             
                               

    (1990), Nguyễn Thị Tuyết Mai (2016),

                     

    H1(+)

               

    Adewal và cộng sự (2016), kết hợp với

                                 
                     

    H2 (+)

               

    sự điều chỉnh theo kết quả nghiên cứu

     

    Chuҭn chӫ quan

                   

    định tính sơ bộ được thực hiện trong

               

    é ÿӏnh sӱ dөng ,% WURQJ WKDQK

     
                             

    nghiên cứu định tính trước đó. Các câu

                     

    (H3+)

       

    WRiQ KӑF SKt cӫa sinh viên

     
                           

    hỏi nghiên cứu được dựa trên cơ sở các

       

    Nhұn thӭc NLӇP

                   
                         

    thang đo gốc đã được chuyển thể và sử

                         
       

    VRiW KjQK YL
    WtQK

                     
         

    (H4+)

               

    dụng trong các nghiên cứu trước đó. Một

                                 
                                     

    số biến được mô tả tóm tắt trong Bảng 1.

     

    Phong cách giӟi trҿ

                     
                       

    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

                                     
                                     

    Đánh giá thang đo

     

    Nguồn: Tổng hợp từ nhóm tác giả

       
         

    Kết quả phân tích Cronbach Alpha (Bảng

             

    Hình 1

    : Mô hình nghiên cứu đề xuất

       

    2) cho thấy, thang đo của 04 yếu tố đều lớn

                         
     

    Tiếp theo, nhóm nghiên cứu sử dụng phương

    hơn 0,7 đảm bảo yêu cầu về độ tin cậy và giá trị (Hair và

    pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu sơ

    cộng sự, 1998). Dữ liệu được sử dụng trong phân tích

    cấp thu được từ một mẫu khảo sát ban đầu là 245

    đảm bảo phù hợp với phân tích yếu tố, giá trị KMO bằng

    sinh viên đang học tại trường Đại học Công nghiệp

    0,902 (>0,5). Kết quả phân tích EFA dựa trên báo cáo

    Hà Nội (Haui). Chúng tôi sử dụng phạm vi nghiên

    phương sai trích và hệ số tải cho thấy, các thang đo đạt yêu

    cứu điển hình này là do nghiên cứu ban đầu với việc

    cầu với phương sai trích đạt 62.12 % và hệ số tải lớn hơn

    tham gia của biến mới nên được thực hiện nghiên

    0,5. Kê‹t qua•ma trâŒn xoay nhân tô‹cu™ng thê•hiêŒn ti‹nh ô•n

    cứu sơ bộ để xác nhận kết quả trước khi kiểm soát

    điŒnh cu•a nho‹m trong ca‹c thang đo đươŒc kiê•m tra.

    các yếu tố trên

             

    Bảng 2: Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo

    diện

    rộng.

                               

    Trên thực

    tế,

         

    Bieán quan saùt

     

    Cronbach Alpha

     

    N of Items

    Thaùi ñoä caù nhaân

           

    0,827

       

    5

    trường

     

    Đại

               
     

    Chuaån chuû quan

           

    0,717

       

    5

    học

    Haui

               

    Nhaän thöùc haønh vi

           

    0,915

       

    4

    trường

    được

               

    Phong caùch giôùi treû

           

    0,858

       

    6

    biết đến với tỷ

               

    lệ

    sinh

    viên

    KMO

                     

    0,902

    chủ yếu đến từ

    Bartlett’s Test

                 

    Sig = 0,000

     

     

    các khu vực nông thôn

     

    (trên 85%). Việc thay đổi thói quen sử dụng một dịch vụ thường có những đặc điểm riêng bao gồm cả ảnh hưởng từ yếu tố nhận thức, hành vi, tính hữu ích của dịch vụ và có thể cả từ môi trường học tập và xã hội nơi các chủ thể chịu ảnh hưởng nhất định.

     

    Thống kê mô tả

     

    Kết quả thống kê mẫu ban đầu cho thấy sử dụng tiền mặt hiện là phương thức thanh toán chính được sử dụng đối với sinh viên bao gồm cả nam giới và nữ giới. Tỷ lệ thanh toán tiền mặt được báo cáo trong mẫu nghiên cứu lên tới 95,9%. Trong khi điểm

     

     

    58

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Bảng 1: Tóm tắt thang đo các biến

     

    Maõ hoùa

     

    Bieán quan saùt

    Thang

    Nguoàn

           

    ñieåm

     
     

    TÑ1

    1.

    Toâi thích yù töôûng söû duïng dòch vuï internet banking

    Likert 5

    Long vaø coäng söï

       

    trong thanh toaùn hoïc phí

    möùc ñieåm

    (2014); Wang, Lin

    Thaùi ñoä

    TÑ2

    2.

    Toâi hoaøn toaøn uûng hoä yù ñònh söû duïng dòch vuï internet

     

    (2003); Chan vaø

     

    banking trong thanh toaùn hoïc phí

     

    Chen (2001),

    (TÑ)

    TÑ3

    3.

    Söû duïng dòch vuï internet banking trong thanh toaùn hoïc

     

    Nguyeãn Thò Tuyeát

       

    phí laø moät yù ñònh toát

     

    Mai (2016), Holak

     

    TÑ4

    4.

    Toâi hoaøn toaøn tin töôûng söû duïng internet banking laø

     

    vaø Leman (1990).

       

    moät yù ñònh hay

       
     

    CQ1

    1. Gia ñình vaø baïn beø coù aûnh höôûng ñeán yù ñònh söû duï ng

    Likert 5

    Holak vaø Leman

    Chuaån

     

    internet banking cuûa toâi

    möùc ñieåm

    (1990), Nguyeãn Thò

    chuû

    CQ2

    2.

    Toâi thaáy haàu heát caùc baïn SV hieän nay ñeàu söû duïng

     

    Tuyeát Mai (2016),

    quan

     

    neân toâi cuõng coù yù ñònh söû duïng IB

     

    Long vaø coäng söï

    (CQ)

    CQ3

    3.

    Caùc phöông tieän truyeàn thoâng coù aûnh höôûng ñeán yù

     

    (2014); Wang, Lin

       

    ñònh söû duïng dòch vuï IB

     

    (2003); Chan vaø

     

    CQ4

    4. Caùc nhu caàu töø coâng vieäc laøm theâm cuûa toâi aûnh höôûng

     

    Chen (2001).

       

    ñeán yù ñònh söû duïng IB

       

    Phong

    PS1

    1.

    Söû duïng dòch IB theå hieän loái soáng thôøi thöôïng vaø hieän

    Likert 5

    Nguyeãn Thò Tuyeát

    caùch

     

    ñaïi hôn

    möùc ñieåm

    Mai (2016), Wang,

    giôùi treû

    PS2

    2.

    Thay vì ñeán taän tröôøng ñeå ñoùng hoïc phí toâi thích ôû nhaø

     

    Lin (2003); Chan vaø

    (PS)

     

    click chuoät treân chieác smartphone coù keát noái internet hôn

     

    Chen (2001).

     

    PS3

    3.

    Toâi thích theå hieän ñaúng caáp cuûa baûn thaân, thích söï môùi

       
       

    meû vaø hieän ñaïi

       
     

    PS4

    4.

    Toâi thích söû duïng dòch vuï thanh toaùn hoïc phí vöøa tieän

       
       

    lôïi, nhanh goïn nhö IB

       
     

    PS5

    5.

    Söû duïng IB ñeå thanh toaùn hoïc phí toâi coù theå ñoäc laäp

       
       

    maø khoâng caàn phuï thuoäc thaày coâ giaùo thu phí theå hieän loái

       
       

    soáng töï laäp cuûa giôùi treû.

       

    YÙ ñònh

    YÑ1

    1.

    Toâi seõ caân nhaéc veà yù ñònh söû duïng IB trong thanh toaùn

    Likert 5

    Long vaø coäng söï

    söû duïng

     

    hoïc phí neáu ñöôïc nhaø tröôøng khuyeán khích

    möùc ñieåm

    (2014); Wang, Lin

    IB trong

    YÑ2

    2. Toâi tin raèng toâi seõ söû duïng vaø tieáp tuïc söû duïng dòch vuï

     

    (2003); Chan vaø

    TTHP

     

    IB ñeå thanh toaùn hoïc phí

     

    Chen (2001),

    (YD)

    YÑ3

    3. Toâi seõ keâu goïi baïn beø toâi cuøng söû duïng dòch vuï IB ñeå

     

    Nguyeãn Thò Tuyeát

       

    thanh toaùn hoïc phí

     

    Mai (2016), Holak

             

    vaø Leman (1990).

    (Nguồn:Tổng hợp của tác giả)

     

    đáng lưu lý là mức độ sử dụng internet từ thường xuyên đến rất thường xuyên của sinh viên là 79,4%. Thêm vào đó, trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường tài chính hiện nay, dịch vụ mở tài khoản thẻ miễn phí thuận tiện tại chỗ từ các Ngân hàng cho sinh viên Haui đã giúp nâng tỷ lệ sinh viên sở hữu tài khoản thẻ ngân hàng, yếu tố căn bản có thể giúp sinh viên sử dụng được dịch vụ IB, lên tới 72,5%. Tuy nhiên, tính trung bình trong mẫu chỉ có 13,6%

    sinh viên đã từng sử dụng dịch vụ IB trong thanh toán hoŒc phi‹, một tỷ lệ được đánh giá là rất thấp.

     

    Kê’t qua&phân tích hồi quy

     

    Kết quả phân tích hồi quy bội kiểm tra (Bảng 3) cho thấy, mô hình nghiên cứu là phù hợp, có ý nghĩa thống kê với F = 79,09; p < 0,01. Các yếu tố trong mô hình có thể giải thích được 65,4% ý định sử dụng IB trong thanh toa‹n hoŒc phi‹của sinh viên. Mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số

     

     

    khoa học

     
       

    59

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    VIF trung bình nhỏ hơn 5) và hiện tượng tự tương quan (hệ số Dubin-Watson là 2,160).

    mối quan tâm của giới trẻ chịu ảnh hưởng bởi quan niệm, thói quen và hành vi sử dụng dịch vụ từ bạn

     

    Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng

     

    đến ý định sư‚du„ng IB trong thanh toan€ ho„c phi€cu‚a sinh viên

     

    Coefficients a

       

    Unstandardized

    Standardizd

       

    Collinearity

       

    Coefficients

    Coefficients

       

    Statistics

     

    Model

    B

    Std. Error

    Beta

    T

    Sig.

    Tolerane

    VIF

    1

    (Constant)

    -2.183

    1.201

     

    1.818

    .070

       
     

    Thaido

    .058

    .052

    .054

    1.120

    .264

    .659

    1.518

     

    Chuanchuquan

    .110

    .053

    .084

    2.061

    .040

    .922

    1.085

     

    Loi ich su dung

    .308

    .035

    .487

    8.688

    .000

    .487

    2.055

     

    Phongcachgioitre

    .303

    .048

    .338

    6.376

    .000

    .542

    1.845

     

    Durbin- Watson

               

    2.160

     

    R2

     

    0.660

    R2 adjust

       

    0.654

    1. Dependent Variable: ydinhsudung IB TT hoc phi* p <0,05; ** p < 0,01; *** p < 0,001

     

     

    Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

     

    Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, yếu tố Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi hay nhận thức về tính hữu ích đối với việc sử dụng dịch vụ và phong cách giới trẻ là các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng IB trong thanh toán học phí (hệ số â chuẩn hóa lần lượt là 0,110; 0,308 và 0.303 với mức ý nghĩa 5%).

     

    Như vậy, kết quả này cung cấp bằng chứng đối với việc các giả thuyết H2, H3 và H4 được chấp nhận. Tuy nhiên mô hình nghiên cứu cho thấy chưa đủ căn cứ để kết luận thái độ của chính bản thân sinh viên có ảnh hưởng đến ý định này. Cần lưu ý rằng, về chiều hướng tác động của yếu tố thái độ của sinh viên đối với ý định sử dụng dịch vụ là thuận chiều cho thấy, mặc dù kết quả này chưa nhận được sự ủng hộ bởi các nghiên cứu thực nghiệm hiện có, song không trái với nội dung lý thuyết về hành vi. Tuy nhiên trong mẫu nghiên cứu hiện tại, chưa đủ cơ sở kết luận tại mức ý nghĩa 5%.

     

    Thảo luận kết quả nghiên cứu

     

    Kết quả nghiên cứu ghi nhận yếu tố chuẩn chủ quan có tác động tích cực đáng kể, có ý nghĩa đối với ý định thực hiện hành vi sử dụng IB trong thanh toán học phí của sinh viên, nghiên cứu trường hợp sinh viên Haui. Kết quả này gợi ý rằng ảnh hưởng từ môi trường xã hội bên ngoài đến ý định thực hiện hành vi sử dụng IB được xem là một yếu tố dự đoán tốt đối với giới trẻ (Phạm Lan Hương, 2014), bởi vì

     

    bè, gia đình, môi trường học tập và truyền thông (Bindah và Othman, 2012). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu liên quan của Pham và cộng sự (2014); Wang và cộng sự (2003) và Jaruwachirathanakul, B., & Fink, D. (2005).

     

    Nhận thức tính hữu ích của dịch vụ cũng là yếu tố quan trọng trong mô hình ảnh hưởng đến ý định sử dụng internet banking của sinh viên trong trường hợp cụ thể là thanh toán học phí. Chính những bất tiện trong việc sử dụng hình thức thanh toán học phí bằng tiền mặt hiện nay, nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã thúc đẩy mong muốn hình thức thay thế thanh toán giúp tiết kiệm thời gian, an toàn, tiện lợi. Do đó đây cũng là yếu tố được xem có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong mô hình đến ý định sử dụng dịch vụ IB của sinh viên Haui. Điều này cũng hàm ý, một mặt các trường đại học là nơi giúp tăng cường nhận thức đối với sinh viên trong việc ứng dụng công nghệ để gia tăng tính an toàn tiện lợi trong thanh toán đồng thời nâng cao

     

    • thức thanh toán không dùng tiền mặt trong giới trẻ, điều mà sau đó thói quen này góp phần nâng cao tính minh bạch trong nền kinh tế, vấn đề mà Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hướng tới thông qua với các chính sách về điều khoản thanh toán không dùng tiền mặt đối với các doanh nghiệp hiện nay.

    Phong cách giới trẻ được thể hiện bởi tính năng động, nhanh chóng hòa hợp và bắt kịp xu hướng

     

    60

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    mới của thời đại. Yếu tố này một phần ảnh hưởng bởi nhu cầu khẳng định cái tôi khi đối chiếu về cách thức sử dụng một dịch vụ của bản thân so với các đối tượng khác trong một bối cảnh xã hội nhất định (Onkvisit và Shaw, 1987). Kết quả này phù hợp với lý giải của (Grubb & Grathwohl, 1967) khi cho rằng cách thức sử dụng dịch vụ có thể giúp gia tăng cái tôi của họ. Cùng quan điểm này, nghiên cứu của Tambyah S, Nguyen T T Mai, Jung K (2009) cũng cho biết khuynh hướng tiêu dùng thể hiện những đặc điểm cá nhân nhất định. Trên thực tế, kết quả nghiên cứu định tính cũng cho biết có tới 5/8 sinh viên được phỏng vấn cho biết hình thức thanh toán học phí hiện nay không còn phù hợp nữa. Họ cho rằng “cái gì càng nhanh chóng, càng tiện lợi” sẽ được ưa thích. Bởi theo họ “những cái hiện đại, cái mới và tiện lợi hữu ích” sẽ phù hợp với giới trẻ hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh “Hầu như ai cũng có smart phone và thích online trực tuyến thường xuyên”. Do đó, IB “phù hợp với phong cách sinh viên ngày nay” vì bên cạnh sự tiện lợi, cũng là “một cách thức thể hiện đẳng cấp với bạn bè”.

     

    Mặc dù nghiên cứu cung cấp bằng chứng ý định sử dụng IB chịu ảnh hưởng bởi sự tiện lợi, tính hữu ích và là xu hướng của giới trẻ bởi nhu cầu thể hiện cái tôi, phong cách của giới trẻ hiện nay. Tuy nhiên, giả thuyết về thái độ của sinh viên Haui đối với ý định sử dụng dịch vụ này lại không được ủng hộ, trong khi các nghiên cứu liên quan hiện có xác nhận vai trò của yếu tố này đến việc sử dụng IB (Pham, 2009; Wang, 2003). Kết quả này hàm ý một thực tế về sự khác biệt giữa ý định sử dụng (sự yêu thích, nhận thức về lợi ích) và hành vi sử dụng giữa các đối tượng nghiên cứu khác nhau bởi thái độ đối với hành vi sử dụng dịch vụ thanh toán còn phụ thuộc vào đặc tính phụ thuộc về thu nhập đối với chủ thể. Đối với sinh viên Haui, bên cạnh vấn đề các khoản thanh toán phụ thuộc thu nhập, thì một đặc tính thực tế khách quan đó là thói quen sử dụng tiền mặt của những người chu cấp cho các khoản thanh toán của sinh viên cũng như vẫn còn rất nhiều khó khăn đối với việc sử dụng IB tại các khu vực nông thôn xa trung tâm. Nghiên cứu của Jaruwachirathanakul, B.,

     

    • Fink, D. (2005) cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến ý định sử dụng IB của khách hàng no‹i chung.

    Do đó, để đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt, rõ ràng cần có sự đồng bộ hơn về hạ tầng

    dịch vụ giữa các chủ thể tham gia thanh toán. Đối với trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, để nâng cao chất lượng dịch vụ nói chung, chất lượng dịch vụ phục vụ thanh toán học phí nói riêng, nhà trường cần sớm thực hiện các chương trình tuyên truyền, khuyến khích sinh viên sử dụng IB trong thanh toán học phí.

     

    1. Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai

     

    Trên cơ sở kế thừa lý thuyết TPB, thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu này đã đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (Thái độ; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi; Phong cách giới trẻ) đến ý định sử dụng IB của sinh viên. Kết quả nghiên cứu đã giúp nhận diện và cung cấp bằng chứng thú vị về ảnh hưởng của phong cách giới trẻ đến ý định sử dụng dịch vụ này bên cạnh các yếu tố chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Các phát hiện của nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy sự khác biệt trong ý định sử dụng dịch vụ IB giữa giới trẻ và những người đã đi làm bởi đặc tính phụ thuộc của thu nhập cũng như sự thiếu đồng bộ trong khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các chủ thể tham gia. Mặc dù, mục tiêu nghiên cứu là rõ ràng, tuy nhiên chúng tôi thừa nhận phạm vi, đối tượng khảo sát trong nghiên cứu này còn hạn chế. Do đó, các phát hiện của nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra ý định sử dụng dịch vụ IB trong thanh toán học phí của sinh viên, nghiên cứu trường hợp sinh viên Haui, mà chưa kết luận đối với hành vi sử dụng IB của sinh viên nói riêng và của giới trẻ trong thời kỳ cách mạng công nghệ hiện nay nói chung. Đây cũng là những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ hơn ở những nghiên cứu tiếp theo bởi bối cảnh và môi trường tiếp cận dịch vụ IB khác nhau có thể dẫn đến các kết quả nghiên cứu khác nhau. Khi các vấn đề này được làm rõ hơn, chúng tôi cũng kỳ vọng vào việc xác định hành vi sử dụng IB trong giới trẻ nói chung và sử dụng IB trong thanh toán học phí của sinh viên nói riêng thay vì chỉ dừng lại nghiên cứu ở góc độ “ý định”, đề từ đó các hàm ý chính sách đối với việc khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt ở góc độ cá nhân được thực thi hiệu quả hơn.

     

     

    khoa học

     
       

    61

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Ajzen, I., 1991, The theory of planned behav-iour, Organizational Behavior and Human Decision Processes, Vol. 50.
    1. Bindah E.V, & Othman Md. N. (2012), The Effect of Peer Communication Influence on The Development of Materialistic values among Young Urban Adult Consumers, International Business Research, Vol.5, No.3, 2-15.
    2. Choo, H., Chung, J.E. & Pysarchik, D.T.

    (2004), Antecedents to new food product purchasing behaviour amonginnovator groups in India, European Journal of Marketing, 38 (5/6), 608-625.

    1. Holak, S.L. &amp; Lehmann, D.R. 1990, Purchase intentions and the dimensions of innova-tion: An exploratory model, Journal of Product Innovation and Management, 7, 59-73.
    1. Hair, Joseph F., Anderson, Rolph E., Tatham, Ronald L. & Black, William C. (1998), Multivariate Data Analysis (5th), Prentice-Hall, Inc. Upper Saddle River, New Jersey.
    1. Keh, Hean Tat, Nguyen Thi Tuyet Mai, Hwei Ping Ng(2007), The efects of Entrepreneurial Ỏrientation and Marketing Information on the Performance of SMEs, Jounal of Business Venturing, 22, 592-611
    1. Jaruwachirathanakul, B., & Fink, D. (2005), Internet banking adoption strategies for a develop-ing country: The case of Thailand, Internet

    Research, 15(3), 295-311. Dois:10.1108/10662240510602708.

     

    1. Nguyen T Tuyet Mai, Smith K, Cao J (2009), Measurement of Modern and Traditional Self – Concepts in Asian Transitional Economies, Journal of Asia Pacific Bussiness, 10, 201 -220, 2009
    1. Tambyah S, Nguyen T T Mai, Jung K (2009), Measure status orientations: Scale development and validation in the contex of an Asian transitional econ-omy, Journal of Marketing Theory and Practice, 2009.
    1. Onkvisit S. & Shaw J. (1987), Self-concept and Image Congruence: Some Research and Managerial Implications, Journal of Consumer Marketing, Vol.4, No.1, 13-23.
    1. Pham Long, Đoan N P Anh (2014), Intention to Use E-Banking in a Newly Emerging Country, International Journal of Enterprise Information

    Systems, 10(2), 103-120, April-June 2014  103.

     

    1. Pham T Lan Hương (2014), Dự đoán ý định mua xanh của người tiêu dùng trẻ: Ảnh hưởng của nhân tố tâm lý và văn hóa, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 200, 2/2014, tr. 66-78.
    1. Wang, Y., Lin, H., & Tang, T. (2003), Determinants of user acceptance of Internet bank-ing: An empirical study, International Journal of Service Industry Management, 14(5), 501–519. doi:10.1108/09564230310500192.
    1. World Bank. (2018), Vietnam development report 2018: Pillars of development, Report No.VN. Washington, DC: World Bank.

    Summary

     

    Non-cash payment habits, including online pay-ment (Internet banking) are still unpopular in emerging countries like Vietnam despite its promi-nent features. Although there have been a few stud-ies examining the factors affecting the intention to use internet banking services, these studies only focus on those who have income. While the habit of using a service needs to be built and oriented basing on the behavior of recognizing the usefulness of the youth. Therefore, this study provides empirical evi-dence of the factors affecting the intention to use online payment services based on student surveys with a sample size of 228. Analysis results show that beside the effects of the widely-known factors in most of the existing studies including subjective standard factors and service usefulness, youth style is also a newly discovered element with positive and significant influence on the intention to use Internet banking. In addition, this study also implies some solutions from regression results and suggests future research directions.

     

    khoa học

     

    62   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%C3%81NH-GI%C3%81-N%C4%82NG-L%E1%BB%B0C-QU%E1%BA%A2N-L%C3%9D-C%E1%BB%A6A-NH%C3%82N-S%E1%BB%B0-PH%E1%BB%A4-TR%C3%81CH-KINH-DOANH-T%E1%BA%A0I-C%C3%81C-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-NHTM-VI%E1%BB%86T-NAM-B%E1%BA%B0NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-MA-TR%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÂN SỰ PHỤ TRÁCH KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP MA TRẬN

     

    Dương Thị Hoài Nhung

    Trường Đại học Ngoại thương

    Email: [email protected]

    Lê Thái Phong

    Trường Đại học Ngoại thương

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 04/03/2019                         Ngày nhận lại:     05/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • ài viết tập trung làm rõ khái niệm và thang đo năng lực quản lý đối với vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh trong các Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Dựa vào kết quả kiểm định thang

    đo năng lực quản lý, tác giả tiến hành đánh giá thực trạng năng lực quản lý của vị trí này tại 10 NHTM Việt Nam hoạt động trên địa bàn Hà Nội. Kết quả phân tích ma trận GAP cho thấy, hai nhóm năng lực lập kế hoạch – tổ chức thực hiện và năng lực quản lý nhóm thuộc nhóm năng lực phát triển đúng hướng; năng lực nhạy bén với hoàn cảnh và giải quyết vấn đề thuộc nhóm năng lực cần phát triển. Qua đó, bài viết đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý cho nhân sự phụ trách kinh doanh trong NHTM trong thời gian tới.

     

    Từ khóa: Năng lực quản lý, nhân sự phụ trách kinh doanh, ngân hàng thương mại

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp, là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Tại Việt Nam, tín dụng từ khu vực ngân hàng vẫn đang là một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế. Tỉ lệ tín dụng so với GDP tăng liên tục trong giai đoạn 2012 – 2017, từ 95,2% năm 2012 lên tới 130% (tính đến giữa năm 2017). Trong khi đó, tỉ lệ này tại một số nước trong khu vực như Indonesia, Philippines, chỉ khoảng trên dưới 50% (Nguyễn Viết Lợi, 2018).

     

    Vì vậy, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống ngân hàng là vấn đề luôn được xã hội đặc biệt

    quan tâm. Thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy, nếu sự phát triển của hệ thống ngân hàng được hỗ trợ bởi sự phát triển tương xứng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao trong đội ngũ quản lý sẽ tạo nên sự bền vững cho ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nhân sự phụ trách kinh doanh – một trong những vị trí quản lý cấp trung luôn giữ một vai trò chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Để thực hiện tốt vai trò của mình, nhân sự phụ trách kinh doanh tại các NHTM thực sự phải có đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất nhằm quản lý hiệu quả bản thân, đội ngũ, và tổ chức. Một trong những năng lực quan trọng giúp vị trí này có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình đó là năng lực quản lý. Trong bối cảnh đó, một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu: thực trạng năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam như thế nào? Và giải pháp nào giúp nâng cao năng

     

    20

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    20

     

    lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam?

     

    Để trả lời câu hỏi trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu cấu phần của năng lực quản lý, đánh giá thực trạng năng lực quản lý và đề xuất giải pháp cải thiện năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    2. Cơ sở lý luận

    2.1. Nhân sự phụ trách kinh doanh

     

    Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định.

     

    Trong doanh nghiệp, hệ thống các chức danh quản lý được chia theo nhiều cách khác nhau ví dụ như theo cấp độ, theo chức năng. Nhân sự phụ trách kinh doanh hay còn gọi là nhân sự quản lý kinh doanh (Sales manager) là một trong những chức danh quan trọng, đóng vai trò then chốt cho bộ phận kinh doanh nói riêng và toàn doanh nghiệp nói chung. Kahle (2008) cho rằng nhân sự phụ trách kinh doanh là người chịu trách nhiệm cho việc quản lý kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng và thực hiện việc tổ chức và trình bày kế hoạch kinh doanh hiệu quả. Theo nghiên cứu của Phạm Quốc Luyện (2015) nhân sự phụ trách kinh doanh là người chịu trách nhiệm cho việc lãnh đạo và hướng dẫn đội nhóm kinh doanh.

     

    Trên cơ sở lý thuyết, tác giả tổng hợp và đề xuất sử dụng khái niệm về nhân sự phụ trách kinh doanh như sau: Nhân sự phụ trách kinh doanh là người chịu trách nhiệm hướng dẫn và điều hành đội ngũ nhân viên kinh doanh. Nhiệm vụ của nhân sự phụ trách kinh doanh thường bao gồm quản lý địa bàn kinh doanh, thiết lập hạn mức kinh doanh, hướng dẫn các thành viên trong nhóm, thực hiện đào tạo nghiệp vụ kinh doanh, xây dựng kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng cũng như sa thải nhân viên kinh doanh.

     

    2.2. Năng lực quản lý

     

    Trước khi nghiên cứu về khái niệm năng lực quản lý, cần xem xét đến khái niệm năng lực. Theo cách tiếp cận kinh doanh, Parry (1998) cho rằng “Năng lực là một nhóm các kiến thức, kĩ năng, thái độ liên quan và có ảnh hưởng đến công việc nào đó hay kết quả trong công việc. Những năng lực đó có

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thể được đo lường thông qua các tiêu chuẩn được cộng đồng chấp nhận. Năng lực có thể được cải thiện thông qua đào tạo và phát triển” (Lucia và Lepsinger, 1999, tr 5). Khái niệm trên của Parry (1998) đã đề cập tới ba yếu tố chính tạo nên khái niệm năng lực gồm Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skills) và Thái độ (Attitudes), hay còn gọi là mô hình KSAs.

     

    Năng lực quản lý thể hiện vai trò của nhà quản lý. Nhà quản lý phải chịu trách nhiệm về kết quả công việc của nhân viên dưới quyền và đạt mục tiêu thông qua việc tác động vào nhân viên dưới quyền cũng như các đối tác có liên quan. “Năng lực quản lý bao gồm kiến thức về quản lý, kỹ năng về quản lý và thái độ của cán bộ quản lý đối với công việc mà người đó đang đảm nhận” (Pablo Hernamdez-Marrero, 2006).

     

    Thị trường lao động hiện nay đòi hỏi nhà quản lý phải được đào tạo cơ bản, được trang bị những kiến thức cơ bản và không thể thiếu về quản lý. Kiến thức của nhà quản lý bao gồm kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực làm việc và kiến thức quản lý cũng những kiến thức khác có ích cho công việc quản lý như kiến thức xã hội và tâm lý con người. Kiến thức của nhà quản lý trước hết ảnh hưởng bởi trình độ của bản thân, khả năng tiếp cận kiến thức của họ.

     

    Kỹ năng quản lý chính là khả năng vận dụng các tri thức về quản lý. Để đáp ứng được đòi hỏi của công việc, nhà quản lý phải rèn luyện các kỹ năng quản lý cần thiết.

     

    Thái độ và hành vi làm việc có ảnh hưởng tới tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc. Thái độ quản lý góp phần quan trọng trong kết quả hoàn thành nhiệm của nhà quản lý. Thái độ và hành vi quản lý là yếu tố khó tác động, cải thiện nhất so với yếu tố kiến thức và kỹ năng. Thái độ làm việc của nhà quản lý ảnh hưởng mạnh đến thái độ làm việc của nhân viên, vì thế nếu cán bộ quản lý có hành vi và thái độ làm việc tích cực sẽ có khả năng truyền lửa và lôi cuốn nhân viên làm việc tốt.

     

    2.3. Đánh giá năng lực

     

    Năng lực là một thể thống nhất bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ không tách biệt lẫn nhau. Do đó đánh giá theo năng lực là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề để đạt tới mục tiêu, có được kiến

     

     

    khoa học

     
       

    21

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    thức có thể áp dụng trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong thực tế cuộc sống. Do đó khái niệm đánh giá năng lực được định nghĩa “là một quá trình thu thập, phân tích, diễn giải chứng cứ và đưa ra kết luận về một người đã đạt tiêu chuẩn năng lực của nghề hay chưa” (VEETAC, 1993, tr 13).

     

    Sở dĩ cách tiếp cận đánh giá dựa trên năng lực có sự phát triển mạnh mẽ là do nhiều nhà nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực xem cách tiếp cận này là cách thức có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, được ủng hộ lớn nhất để cân bằng đào tạo và những yêu cầu công việc, là cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu (Kerka, 2001). Xem xét dưới góc độ đào tạo và phát triển, đánh giá năng lực có ý nghĩa rất lớn đối với cả cá nhân và tổ chức. Thứ nhất, đối với cá nhân, kết quả đánh giá năng lực giúp nhân viên nhận thức rõ sự nhìn nhận của bản thân và mọi người xung quanh về năng lực thực của chính mình. Họ sẽ nhận biết được năng lực nào còn yếu, còn thiếu và sẽ biết rõ mình cần trau dồi thêm những năng lực nào. Từ đó, các cá nhân chủ động hơn trong việc tự cập nhật nâng cao năng lực bản thân (tự nguyện tham gia các chương trình đào tạo phù hợp một cách tích cực), chủ động hơn trong việc phát triển nghề nghiệp với niềm đam mê của bản thân, vốn là điều kiện cần thiết giúp nâng cao hiệu quả đào tạo (Holbeche, 2007). Thứ hai, đối với tổ chức, kết quả đánh giá năng lực giúp tổ chức biết rõ năng lực nhân viên của mình đang ở mức nào và sẽ cần được đào tạo lên đến mức nào thì phù hợp công việc hiện tại và tương lai. Khi ấy các chương trình đào tạo được thiết kế sẽ thích hợp với năng lực thực tế và nhu cầu công việc của nhân viên.

     

    2.4. Phương pháp ma trận GAP

     

    Phương pháp ma trận GAP được thiết kế và sử dụng nhằm giúp tổ chức xác định mức độ đáp ứng của các năng lực hiện tại và nhận diện những “khoảng thiếu hụt về năng lực”. Trên cơ sở đó, người nghiên cứu hoặc các nhà hoạch định, quản lý của doanh nghiệp có thể phân tích các nguyên nhân tạo ra khoảng trống, từ đó đề xuất giải pháp, kế hoạch chiến lược nhằm giúp các cá nhân nâng cao năng lực của mình.

     

    Đối tượng tham gia đánh giá khoảng trống năng lực quản lý nên là sự tham gia của nhiều bên. Kaplan

     

    • Palus (1994) cho rằng đánh giá năng lực quản lý cần được đánh giá đa chiều, cụ thể bao gồm các hình thức: lãnh đạo tự đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp

    dưới đánh giá… Cũng theo Kaplan và Palus, có hai lý do đánh giá lãnh đạo đa chiều. Thứ nhất, đó là vị trí mà công việc có tính phức tạp, nhiều thách thức và thay đổi hơn các vị trí khác. Thứ hai, đó là kết quả đánh giá đa chiều, dù tích cực hay chưa tích cực, sẽ có nhiều ý nghĩa (với hình ảnh và uy tín của người lãnh đạo) hơn là kết quả đánh giá một chiều. Trên thế giới ngay từ những năm 1990, nhiều doanh nghiệp đã nhận rõ giá trị của đánh giá đa chiều. Lợi ích lớn nhất của đánh giá đa chiều là thông tin đánh giá toàn diện và khách quan (Mohrman, Mohrman, & Lawler, 1992) . Kết quả đánh giá đa chiều có độ tin cậy cao hơn kết quả đánh giá một chiều (Wohlers, Hall, & London, 1993). Trong đánh giá đa chiều, tự đánh giá và đánh giá bởi cấp dưới thường được sử dụng đồng thời (Mohrman, Mohrman, & Lawler, 1992). Budman & Rice (1994) cho rằng sự kết hợp này mang lại nhiều lợi ích hơn đánh giá một chiều (ví dụ chỉ có cấp trên đánh giá).

     

    Phương pháp phân tích ma trận GAP được thực hiện qua các bước sau:

     

    Bước 1: Xác định nhóm các năng lực cần thiết đối với vị trí cần đánh giá. Trong bước này, nhà nghiên cứu cần xác định mức độ quan trọng của các năng lực dựa trên thang đo Likert 5 mức gồm: 5 – Rất quan trọng, 4 – Quan trọng, 3 – Tương đối quan trọng, 2 – Chưa thực sự quan trọng, 1 – Hoàn toàn không quan trọng (Wickramasinghe và Zoyza, 2009; Leslie, 2015).

     

    Bước 2: Xác định mức độ đáp ứng năng lực của vị trí cần đánh giá. Trong bước này, nhà nghiên cứu xác định mức độ năng lực hiện tại mà nhà quản lý đang sở hữu. Thang đo được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức gồm: 5 – Đáp ứng vượt trội, 4 – Đáp ứng, 3 – Đáp ứng cơ bản, 2 – Chưa đáp ứng, 1 – Hoàn toàn không đáp ứng (Wickramasinghe và Zoyza, 2009; Leslie, 2015).

     

    Bước 3: Xác định khoảng trống năng lực hiện tại. Bước này, nhà nghiên cứu đo lường sự khác biệt giữa mức độ đáp ứng năng lực hiện tại và mức độ tầm quan trọng của năng lực, từ đó xác định được khoảng trống thiếu hụt về năng lực (Wickramasinghe và Zoyza, 2009; Leslie, 2015).

     

    Bước 4: Xây dựng ma trận GAP về năng lực Ma trận GAP về năng lực được xây dựng dựa

     

    trên hai tiêu chí: mức độ đáp ứng năng lực hiện tại và tầm quan trọng của năng lực (hình 1). Trong ma trận này, sẽ có 4 tình huống xảy ra:

     

    22

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    • Nhóm năng lực phát triển quá mức: khi năng lực được đánh giá là mạnh, nhưng không quan trọng. Những năng lực thuộc nhóm này không cần tìm các giải pháp để cải thiện.
    • Nhóm năng lực không cần phát triển: khi năng lực được đánh giá là yếu và không quan trọng. Những năng lực thuộc nhóm này không cần tìm các giải pháp để cải thiện.
    • Nhóm năng lực phát triển đúng hướng: khi năng lực được đánh giá là mạnh và giữ vai trò quan trọng.
    • Nhóm năng lực thuộc khoảng trống cần phát triển: Khi năng lực được đánh giá là yếu nhưng giữ vai trò quan trọng. Những nhóm năng lực thuộc phần này sẽ cần tìm giải pháp để cải thiện vể năng lực.

    3. Phương pháp nghiên cứu

    3.1. Lựa chọn và phát triển thang đo năng lực quản lý

     

    Cho tới thời điểm nghiên cứu, chưa có nghiên cứu về năng lực quản lý cho nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM tại bối cảnh Việt Nam, nên thang đo năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh đã được tác giả kế thừa các thang đo từ các nghiên cứu trong và ngoài nước để điều chỉnh và bổ sung thêm một số định nghĩa giải thích các năng lực cho phù hợp với bối cảnh. Các năng lực quản lý cho nhân sự phụ trách kinh doanh gồm 4 loại năng lực gồm: (1) Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, (2) năng lực quản lý nhóm, (3) năng lực giải

     

    Cao

    5

    Mӭc

    ÿӝ

    ÿiS

     

    ӭng 2.5 hiӋn

     

    tҥi

     

    Thҩp       0

     

    PHÁT TRIӆN QUÁ MӬC

         

    PHÁT TRIӆ1 ĈÒ1*  +ѬӞNG

     


    1ăQJ  O
    F  ÿ˱ͫc  xem xét  là  m̩nh,

       


    1ăQJ  O F  ÿ
    ˱ͫc xem xét là m̩nh và

     

    QK˱QJ NK{QJ TXDQ WU ng)

         

    quan tr͕ng)

     

    KHÔNG CҪN PHÁT TRIӆN

         

    KHOҦNG  TRӔNG  CҪN  PHÁT

     
           

    TRIӆN

     


    1ăQJ  O F  ÿ˱ͫc xem xét là y͇u

       

    (1ăQJ  O  F  ÿ˱ͫc xem xét là y͇X  QK˱QJ

     

    không quan tr͕ng)

         

    quan tr͕ng)

     

    0

               

    5

    2.5

         

    Thҩp

    Tҫm quan trӑng cӫD QăQJ Oӵc

    Cao

     

    Nguồn: Leslie, J.B, 2015

     

    Hình 1: Ma trận GAP về năng lực

     

    Bảng 1: Thang đo Năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh

     

     

    Maõ

    Naêng löïc quaûn lyù

    Nguoàn

       
               
     

    QL1

    Naêng löïc laäp keá hoaïch vaø toå chöùc thöïc

    Favia (2010), Busch (2012), Leâ Quaân &

       
       

    hieän (5 thang ño)

    Ñoã Vuõ Phöông Anh (2017)

       
               
     

    QL2

    Naêng löïc quaûn lyù nhoùm (6 thang ño)

    Traàn Thò Vaân Hoa (2009), Favia (2013),

       
         

    Leâ Quaân & Ñoã Vuõ Phöông Anh (2017)

       
               
     

    QL3

    Naêng löïc giaûi quyeát vaán ñeà (5 thang ño)

    Leslie (2002), Murale V. (2011)

       
               
     

    QL4

    Naêng löïc nhaïy beùn vôùi hoaøn caûnh trong

    Leslie (2002), Murale V. (2011), Favia

       
       

    kinh doanh (5 thang ño)

    (2010)

         
                 

    Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu

           
           

    khoa học

     
               

    23

           

    thương mại

    Sè 128/2019

     

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    quyết vấn đề, (4) năng lực nhạy bén với hoàn cảnh trong kinh doanh.

     

    3.2. Đối tượng tham gia đánh giá

     

    Trong bài viết, nhóm tác giả đã thực hiện đánh giá năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh theo phương thức đa chiều (gồm nhiều bên tham gia). Đối tượng tham gia đánh giá bao gồm bản thân các nhân sự phụ trách kinh doanh (với các chức danh: Trưởng/Phó phòng Khách hàng khối doanh nghiệp, Khối bán lẻ, Khách hàng SMEs; Giám đốc/Phó Giám đốc các chi nhánh NHTM), quản lý cấp trên, đồng nghiệp ngang hàng và cấp dưới của vị trí này trong các NHTM Việt Nam. Việc có sự tham gia trả lời câu hỏi khảo sát của nhiều bên sẽ giúp kết quả khảo sát mang tính khách quan hơn và có cái nhìn đa chiều về thực trạng và hiểu được kỳ vọng yêu cầu về năng lực, làm căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh.

     

    3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu

     

    Phương pháp thu thập dữ liệu thông qua bảng hỏi khảo sát gồm 2 phần, phần 1 đánh giá về tầm quan trọng của nguồn nhân lực và năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM và phần 2 đánh giá về mức độ đáp ứng năng lực quản lý. Bảng hỏi khảo sát về năng lực quản lý được thiết kế gồm 21 câu hỏi chia thành 4 năng lực gồm: (1) Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, (2) năng lực quản lý nhóm, (3) năng lực giải quyết vấn đề, (4) năng lực nhạy bén với hoàn cảnh trong kinh doanh.

     

    Để đánh giá tầm quan trọng các nguồn lực và năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ: 1 – Hoàn toàn không quan trọng, 2 – Chưa thực sự quan trọng, 3 – Tương đối quan trọng, 4 – Quan trọng, 5 – Rất quan trọng.

     

    Để đánh giá mức độ đáp ứng năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ: 1 – Hoàn toàn không đáp ứng, 2 – Chưa đáp ứng, 3 – Đáp ứng cơ bản, 4 – Đáp ứng, 5 – Đáp ứng vượt trội.

     

    3.4. Phương pháp phân tích số liệu Phương pháp phân tích số liệu định tính Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu thực hiện

     

    phỏng vấn các chuyên gia trong ngành quản trị nhân sự (gồm các giảng viên chuyên ngành quản trị nhân sự và chuyên gia tư vấn quản lý doanh nghiệp) để

    đánh giá danh mục năng lực quản lý được xây dựng có phù hợp hay không? Với kiến thức, kinh nghiệm của họ sẽ giúp đưa ra ý kiến nên nhìn nhận đánh giá năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh

     

    • những khía cạnh nào. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn các nhà quản lý kinh doanh đã và đang làm việc tại các NHTM Việt Nam về nhận định của họ với danh mục năng lực quản lý sơ bộ ban đầu. Bởi họ là những người thực làm, hiểu bản chất công việc, do đó sẽ có những đánh giá chính xác đâu là năng lực cần thiết và quan trọng nhất cho việc thành công trong công việc.

    Phương pháp phân tích số liệu định lượng Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những

    đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm. Phân tích thống kê tần số để mô tả các thuộc tính của nhóm mẫu khảo sát theo khu vực, theo loại hình doanh nghiệp và theo các đặc điểm cá nhân của nhân sự quản lý.

     

    Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach Alpha để đánh giá độ tin cậy (tính nhất quán nội tại) của thang đo năng lực quản lý. Hệ số Cronbach Alpha là một hệ số kiểm định thống kê về mức độ tin cậy và tương quan giữa các biến quan sát trong thang đo.

     

    Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    để phân tích các yếu tố cấu thành năng lực quản lý có độ kết dính cao hay không và chúng có thể gom lại thành các nhóm như dự kiến ban đầu của nghiên cứu hay không.

     

    Phương pháp phân tích ma trận GAP

     

    Kết quả khảo sát sẽ được sử dụng trong mô hình phân tích khoảng cách (GAP) giữa tầm quan trọng của các năng lực và mức độ đáp ứng năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh. Nghiên cứu phát triển ma trận GAP về “khoảng trống trong năng lực quản lý” của vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh. Dựa trên kết quả phân tích, khoảng cách giữa tầm quan trọng của năng lực và mức độ đáp ứng hiện tại của năng lực nhân sự phụ trách kinh doanh sẽ được xác định. Trong bước này, các nguyên nhân dẫn đến mức độ năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra sẽ cần phải tìm hiểu và phân tích. Việc nhận diện chính xác các nguyên nhân sẽ giúp việc đưa ra các đề xuất để cải thiện và nâng cao năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh tại các NHTM Việt Nam đáp ứng yêu cầu đặt ra sẽ phù hợp và chính xác hơn.

     

    24

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    3.5. Mẫu nghiên cứu

     

    Bảng hỏi khảo sát được gửi tới 170 người (bao gồm nhân sự phụ trách kinh doanh, quản lý cấp trên, đồng nghiệp ngang hàng và cấp dưới của vị trí này) tại 10 NHTM Việt Nam hoạt động trên địa bàn Hà Nội thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến. Trong số 10 ngân hàng tham gia mẫu khảo sát có 7/10 ngân hàng thuộc nhóm top 10 NHTM Việt Nam uy tín (Vietnam Report, 2018), và thuộc nhóm top 10 NHTM chiếm 80% lượng lực lao động trong ngành ngân hàng trong tổng số 20 NHTM được thống kê (Kinh tế & Tiêu dùng, 2017). Kết quả số lượng phiếu khảo sát thu về là 148 phiếu hợp lệ. Kết quả số lượng phiếu khảo sát thu về tại 10 ngân hàng như bảng 2 sau:

    về trình độ học vấn của đội ngũ nhân sự tại các NHTM Việt Nam trong mẫu khảo sát nhìn chung khá cao. Tỷ lệ người tham gia khảo sát có trình độ đại học là 70% và thạc sỹ là 30%. Như vậy, qua phân tích đặc điểm của đối tượng tham gia khảo sát trong mẫu điều tra, chúng ta có thể thấy mẫu điều tra phản ánh khá tương đồng với đặc điểm chung của tổng thể.

     

    3.6. Kết quả kiểm định thang đo Năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh

     

    Việc phát triển thang đo được thực hiện theo quy trình chuẩn hai bước để kiểm tra độ tin cậy của các nhân tố gồm kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).

     

    Bảng 2: Số lượng phiếu khảo sát thu về phân bổ theo các NHTM Việt Nam hoạt động trên địa bàn Hà Nội

     

    STT

    Teân ngaân haøng thöông maïi Vieät Nam

    Soá löôïng phieáu

    Tyû troïng

       

    khaûo saùt

    (%)

    1

    NH Ñaàu tö vaø phaùt trieån Vieät Nam (BIDV)

    17

    11,5

    2

    NH Böu ñieän Lieân Vieät (LPB)

    9

    6,1

    3

    NH Haøng Haûi Vieät Nam (Maritimebank-MSB)

    20

    13,5

    4

    NH Quaân ñoäi (MB)

    8

    5,4

    5

    NH Ñaïi chuùng Vieät Nam (PVcom)

    18

    12,2

    6

    NH Ñoâng Nam AÙ (SeAbank)

    8

    5,4

    7

    NH Kyõ thöông Vieät Nam (Techcombank)

    9

    6,1

    8

    NH Ngoaïi Thöông Vieät Nam (VCB)

    19

    12,8

    9

    NH Coâng Thöông Vieät Nam (Viettinbank)

    27

    18,2

    10

    NH Vieät Nam Thònh Vöôïng (VPbank)

    13

    8,8

     

    Toång

    148

    100

    Nguồn: Kết quả điều tra năm 2018

     

     

    Đối tượng tham gia khảo sát gồm có vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh (14,9%) và các bên liên quan có quan hệ trong công việc với vị trí này bao gồm cấp trên trực tiếp (29,1%), đồng nghiệp ngang hàng (21%) và cấp dưới (35%). Về đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát có 57,4% là nữ và 42,6% là nam trên tổng số 148 người tham gia điều tra. Độ tuổi của các đối tượng tham gia điều tra khá trẻ, nhóm tuổi từ 21-40 tuổi chiếm tỷ trọng lớn 94%, chỉ có 6% đối tượng tham gia khảo sát là trên 41 tuổi. Với độ tuổi khá trẻ thì số lượng người tham gia khảo sát có dưới 5 năm kinh nghiệm chiếm 38,5%, từ 6-10 năm kinh nghiệm 36,5% và trên 10 năm kinh nghiệm 25%. Kết quả thống kê cũng chỉ rõ đặc điểm

    Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thang đo Năng lực quản lý đều có giá trị Cronbach’s alpha

     

    • 0,7 (xem bảng 5). Điều này khẳng định thang đo Năng lực quản lý là phù hợp và đáng tin cậy. Vì vậy tất cả các biến quan sát có thể được sử dụng trong bước phân tích nhân tố khám phá (EFA) tiếp theo.

    Kết quả phân tích EFA (lần 3) cho nhóm biến Năng lực quản lý cho số lượng nhân tố trích được là 3 gồm năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện (X1), năng lực quản lý nhóm (X2), năng lực nhạy bén với hoàn cảnh và giải quyết vấn đề (X3). Với kết quả kiểm định KMO = 0,847 > 0,5 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05) nên đảm bảo các điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố khám phá

     

     

    khoa học

     
       

    25

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

         

    Bảng 3: Độ tin cậy Cronbach’s alpha của thang đo Năng lực quản lý

     

    4.

    Đánh

    giá năng lực

                                         

    quản lý của nhân sự phụ

       

    Thang ño

                           

    Cronbach’s Alpha

                                             

    trách kinh doanh trong các

       

    Naêng löïc quaûn lyù

                             
                                 

    NHTM Việt Nam

       
       

    QL1- Naêng löïc laäp keá hoaïch vaø toå chöùc thöïc hieän

     

    0,790

           
             

    Để đánh giá năng lực

       

    QL2- Naêng löïc quaûn lyù nhoùm

       

    0,841

       
               

    quản lý của nhân sự phụ

       

    QL3- Naêng löïc giaûi quyeát vaán ñeà

       

    0,804

       
               

    trách kinh doanh, nghiên cứu

       

    QL4- Naêng löïc nhaïy beùn vôùi hoaøn caûnh trong kinh doanh

     

    0,790

       
             

    sử dụng phương pháp phân

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm nghiên cứu năm 2018

     
         

    tích

    ma trận GAP để cho

    EFA (xem bảng 5). Giá trị hội tụ của các biến đo

             

    thấy sự chênh lệch trong

    lường được kiểm định là chấp nhận được thông qua

    cách đánh giá về tầm quan trọng và mức độ đáp ứng

    tổng phương sai trích là 52,157%, nghĩa là 3 nhóm

    về năng lực quản lý của vị trí này trong NHTM, từ

    nhân tố này giải thích được 52,157% biến thiên của

    đó rút ra khoảng trống hay thiếu hụt về năng lực

    các biến quan sát (xem bảng 4), và tất cả các hệ số tải

    quản lý. Việc xác định được năng lực hiện tại của

    nhân tố của các nhân tố trong từng nhóm yếu tố đều

    các nhân sự sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ tình hình hiện

    > 0,5 (xem bảng 5). Như vậy, thang đo Năng lực quản

    tại và có lộ trình bồi dưỡng, đào tạo bù đắp cho

    lý của nhân sự quản lý kinh doanh trong các NHTM

    những năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu, duy trì

    Việt

    Nam  từ

         

    Bảng 4: Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo

       

    các chính sách đào tạo

    khung lý

    thuyết

             

    đối

    với những

    nhóm

             

    Năng lực quản lý

         

    được

    xây

       

    dựng

                   

    năng

    lực

    đang

    phát

                                     

    gồm 4 năng lực

    Heä soá KMO (Kaiser-Meyer-Olkin).

             

    ,847

     

    triển

    đúng

    hướng và

    và 21 thang đo,

                             

    đáp ứng được yêu cầu

               

    Giaù trò Chi bình phöông xaáp

     

    650,946

     

    sau khi sử dụng

    Kieåm ñònh Bartlett

    xæ (Approx. Chi-Square)

       

    đặt ra.

           

    phương

       

    pháp

                     

    Theo kết quả thống

       

    df

             

    55

     

    phân tích nhân tố

                           

    của

    nghiên

    cứu,

               

    Sig.

             

    ,000

     

    khám phá (EFA)

                           

    không có sự chệnh lệch

                                 

    đã được rút gọn

       

    Tổng phương sai trích:: 52,157%

                 

    nhiều

    về

    tầm

    quan

    thành 3 năng lực

                     

    trọng và mức độ đáp

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm nghiên cứu năm 2018

    và 11 thang đo.

       

    ứng năng lực hiện tại

         

    Bảng 5: Kết quả phân tích EFA (lần 3) đối với thang đo Năng lực quản lý

    của nhóm Năng lực lập

                                                 

    kế hoạch – tổ chức thực

                                 

    Nhaân toá

         

    hiện  (xem  hình  2).

                         

    Naêng löïc nhaïy beùn vôùi

    Naêng löïc quaûn lyù

    Naêng löïc laäp keá

       

    Năng lực lập kế hoạch

                         

    hoaøn caûnh vaø giaûi

    nhoùm (X2)

       

    hoaïch vaø toå chöùc

     

    và tổ chức thực hiện

                         

    quyeát vaán ñeà (X3)

         

    thöïc hieän (X1)

       

    được đánh giá tầm quan

                                                 

    trọng

    là 4,09

    điểm và

       

    QL3.16

               

    ,690

                       

    mức độ đáp ứng đạt 3,9

       

    QL4.20

               

    ,681

                       
                                   

    điểm. Đây được xem là

       

    QL3.14

               

    ,621

                       
                                   

    thế mạnh về năng lực

       

    QL4.21

               

    ,596

                       
                                   

    quản

    lý của

    nhân sự

                                                 
       

    QL3.15

               

    ,542

                       
                                   

    phụ

    trách

    kinh

    doanh

       

    QL4.17

                       

    ,748

                 
                                         

    trong các NHTM Việt

       

    QL2.8

                       

    ,731

                 
                                         

    Nam,

    khi

    họ có khả

       

    QL2.6

                       

    ,531

                 
                                         

    năng trình bày các đề

       

    QL2.10

                       

    ,511

                 
                                         

    xuất

     

    về

    hoạt

    động/dự

       

    QL1.4

                             

    ,654

             
                                       

    án mới

    một

    cách rõ

       

    QL1.2

                             

    ,609

           
                                       

    ràng, thuyết phục. Các

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của nhóm nghiên cứu năm 2018

         
             

    nhân sự phụ trách kinh

    26

     

    khoa học

                                               
     

    thương mại

                                     

    Sè 128/2019

     

    doanh có khả năng xây dựng và phát triển kế hoạch kinh doanh cho từng công việc cụ thể phù hợp với hoạt động kinh doanh theo từng thời kỳ của đơn vị và phù hợp với tầm nhìn, định hướng chiến lược của ngân hàng. Bên cạnh đó, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ như hoàn thiện và ứng dụng các quy định, quy trình lập kế hoạch kinh doanh, cách thức phân bổ, giao chỉ tiêu kinh doanh đến từng đơn vị trong hệ thống một cách chất lượng và hiệu quả.

    Đối với nhóm Năng lực quản lý nhóm tầm quan trọng trung bình của năng lực là 4,2 điểm và mức độ đáp ứng đạt 3,5 điểm. Như vậy, Năng lực quản lý nhóm của nhân sự phụ trách kinh doanh trong NHTM Việt Nam đã đáp ứng được phần nào yêu cầu đặt ra. Các nhân sự phụ trách kinh doanh làm tương đối tốt việc cập nhật thông tin cho mọi người về tiến triển làm việc của nhóm, chia sẻ tất cả những thông tin hữu ích có liên quan. Bên cạnh đó, các nhân sự đã đánh giá chính xác, công bằng; khen ngợi công khai những đóng góp và thành quả đạt được của các thành viên trong nhóm; và sẵn sàng trao quyền cho nhân viên khi nhân viên được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về năng lực.

    Sau khi đánh giá hai tiêu chí mức độ đáp ứng năng lực và tầm quan trọng của năng lực quản lý, nhóm nghiên cứu đã thiết lập ma trận GAP để xác định khoảng trống thiếu hụt về năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh. Kết quả cho thấy, nhóm Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện và

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    Năng lực quản lý nhóm thuộc “nhóm năng lực phát triển đúng hướng” của các NHTM Việt Nam (xem hình 3). Tuy nhiên, hai nhóm năng lực này mới chỉ dừng lại là đáp ứng được yêu cầu đặt ra nhưng chưa phải là đáp ứng vượt trội. Do đó, để thúc đẩy việc cải thiện nhóm năng lực này, các NHTM cần thiết lập các chính sách hỗ trợ tích cực hơn nữa để nhóm năng lực này đạt được kết quả tốt hơn trong tương lai. Nhóm “năng lực cần phát

    triển” là Năng lực nhạy bén

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát của nhóm nghiên cứunăm 2018

    với hoàn cảnh và giải quyết

    Hình 2: Kết quả đánh giá tầm quan trọng và mức độ đáp ứng về Năng lực vấn đề. Nhóm năng lực này

    quản lý của Nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam                             được đánh giá có tầm quan

     

    trọng cao trong 3 nhóm năng lực quản lý với điểm trung bình 4,1 điểm. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng năng lực của nhóm này khá thấp, chỉ đạt 2,3 điểm. Điều này cho thấy nhiều nhân sự phụ trách kinh doanh trong NHTM chưa đáp ứng được năng lực nhạy bén với hoàn cảnh và giải quyết vấn đề. Đây được xem là “khoảng trống”, là sự “thiếu hụt” về năng lực của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    1. Các giải pháp nâng cao năng lực quản lý của nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

    Trong giai đoạn hiện nay, nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM đóng vai trò quan trọng đối vơ‹i sự thành công hay thất baŒi của tổ chức. Họ không chi•đo‹ng vai trò quản lý hệ thống kinh doanh ma‘còn la‘người quản lý các mối quan hệ vơ‹i kha‹ch ha‘ng, truyền tải những giá trị của tổ chức đê‹n vơ‹i người tiêu dùng, tìm cách thiê‹t lập mối quan hệ vơ‹i khách hàng và duy trì nó. Để phát huy vai trò đó của mình, đội ngũ nhân sự phụ trách kinh doanh cần phát huy và nâng cao năng lực quản lý. Những giải pháp giúp cải thiện nhóm năng lực này được đề xuất như sau:

     

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò năng lực quản lý của đội ngũ nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM

     

    Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý kinh doanh là tập trung vào cải thiện doanh thu, cải thiện

     

     

    khoa học

     
       

    27

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

     

    động của tổ chức. Việc tuyển

     

    chọn nhân sự phụ trách kinh

     

    doanh phải dựa trên tiêu

     

    chuẩn đảm bảo nguyên tắc

     

    dân chủ, công khai, minh

     

    bạch, theo quy trình chặt

     

    chẽ. Các ngân hàng có thể

     

    chuyển  từ

    phương

    pháp

     

    tuyển dụng truyền thống dựa

     

    trên bảng mô tả công việc

     

    (tập trung chủ yếu vào việc

     

    đáp ứng nhiệm vụ và trách

     

    nhiệm công việc) sang tuyển

    Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát của nhóm nghiên cứu năm 2018

    dụng dựa

    trên năng

    lực.

    Hình 3: Ma trận GAP khoảng trống năng lực quản lý của nhân sự phụ trách Tuyển dụng dựa trên năng

             

    kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

     

    lực là việc ra quyết định

     

    hiệu quả làm việc của nhân viên kinh doanh như khả

       

    tuyển dụng ứng viên dựa

     

    trên việc đánh giá năng lực của ứng viên đó có đạt

     

    năng xây dựng kênh phân phối sản phẩm mới (hữu

    được so với yêu cầu của vị trí hay không. Đặc điểm

     

    hình hoặc vô hình); tìm kiếm khách hàng mới; đạt

    điển hình của một nhân viên xuất sắc dựa trên các

     

    mục tiêu doanh thu của doanh nghiệp hàng tháng,

    hình mẫu của các cá nhân hoàn thành xuất sắc công

     

    hàng quý, hoặc hàng năm. Hiện nay, nhân sự phụ

    việc trong quá khứ hoặc dựa trên khung năng lực đã

     

    trách kinh doanh còn chịu trách nhiệm lập kế hoạch

    được xác định cho vị trí đó. Khung năng lực sẽ xác

     

    chiến lược và xác định các cơ hội mà đội nhóm kinh

    định rõ các năng lực cần thiết và cấp độ chuẩn năng

     

    doanh có thể tận dụng, tạo động lực và thúc đẩy sự

    lực và các biểu hiện hành vi của cấp độ chuẩn đó,

     

    tham gia, hoàn thành công việc của mỗi thành viên

    giúp nhà tuyển dụng dễ dàng hơn trong xác định ứng

     

    trong nhóm. Bởi sự tham gia của đội ngũ nhân viên

    viên phù hợp.

     

    kinh doanh có liên hệ mật thiết đến sự thành công

     

    Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo và phát triển nhân

     

    chung của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với sự tác

     

    sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

     

    động đa chiều của nhiều yếu tố đối với ngành ngân

     

    Công tác đào tạo và phát triển nhân sự phụ trách

     

    hàng như công nghệ thông tin, thay đổi hành vi tiêu

     

    kinh doanh trong các ngân hàng là yêu cầu thường

     

    dùng của khách hàng thì khả năng nhạy bén với

    xuyên nhằm cập nhật kiến thức, kỹ năng mới về

     

    hoàn cảnh trong kinh doanh như nhận diện các nguy

    quản lý. Để cải thiện năng lực quản lý cho các nhân

     

    cơ và thách thức trước người khác hay đối thủ cạnh

    sự phụ trách kinh doanh, các NHTM Việt Nam cần

     

    tranh là một yêu cầu tất yếu của nhân sự phụ trách

    xây dựng một mô hình đào tạo dựa trên năng lực

     

    kinh doanh trong các ngân hàng hiện nay. Năng lực

    phù hợp. Bài viết xin đưa ra mô hình đào tạo dựa

     

    giải quyết vấn đề cũng là năng lực tiên quyết giúp

    trên năng lực gồm có 5 bước như sau (xem hình 4).

     

    đội ngũ nhân sự phụ trách kinh doanh có thể giải

     

    Bước 1: Phân tích tầm nhìn, kế hoạch phát triển

     

    quyết các vấn đề trong nội bộ và với khách hàng một

     
           

    tổng thể của ngân hàng để xác định chức năng,

     

    cách hiệu quả, giúp cá nhân, đơn vị, bộ phận đạt

    nhiệm vụ đối với vị trí nhân sự phụ trách kinh

     

    được mục tiêu đề ra.

    doanh, từ đó xác định các yêu cầu đối với công việc.

     
     

    Thứ hai, đổi mới quy trình tuyển chọn Nhân sự

       

    Bước 2: Xem xét thực tiễn về hoạt động kinh

     

    phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam

     
           

    doanh của ngân hàng từ đó xác định năng lực cần

     
     

    Đổi mới quy trình tuyển chọn nhân sự phụ trách

     

    thiết cho vị trí nhân sự phụ trách kinh doanh nhằm

     

    kinh doanh nhằm chọn những nhân sự có trình độ,

    ứng dụng vào công tác đào tạo nhân lực nhằm nâng

     

    kỹ năng, thái độ, phẩm chất tốt, tạo điều kiện để

    cao chất lượng của đội ngũ nhân sự phụ trách kinh

     

    nhân sự phụ trách kinh doanh trong ngân hàng có

    doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    thể phát huy hết khả năng quản lý, đồng thời nâng

           

    cao vai trò, trách nhiệm của họ đối với hiệu quả hoạt

           

    28

    khoa học

           

    thương mại

           

    Sè 128/2019

     

     QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    ChӭF QăQJ Yj

    Yêu c u công vi c

    nhiӋm vө

    Phát tri n và th  c hi n

     

    n ‹ †—‰ ¯‘ – o  K ho …Š ¯‘ – o t ng th

     

    0žŠ ‰‹ž ¯‘ – o

     

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

     

    LT và th  c ti n v

     

    £‰ Ž c

     

    £‰ Ž c c n thi t

     

    Phân tích kho ng

     

    cách (GAP)

     

    Kh o sát v nhu c — £‰  l c và nhu c — ¯‘ – o

     

    Hình 4: Mô hình đào tạo dựa trên năng lực

     

     

    Bước 3: Tiến hành khảo sát nhằm xác định khoảng cách về năng lực cần thiết, các nhu cầu và các rào cản đối với hoạt động đào tạo.

     

    Bước 4: Thiết kế một kế hoạch tổng thể cho nhân sự phụ trách kinh doanh, giúp xử lý về khoảng cách năng lực cần thiết để bù lắp khoảng trống thiếu hụt.

     

    Bước 5: Phát triển các chương trình đào tạo (bao gồm nội dung và phương pháp) dựa trên kế hoạch đào tạo tổng thể cho nhân sự phụ trách kinh doanh trong các NHTM Việt Nam.

     

    Sau khi xây dựng mô hình đào tạo dựa trên năng lực, các ngân hàng có thể cân nhắc tới chu kỳ đào tạo. Theo kinh nghiệm của các chuyên gia, chu kỳ đào tạo tháng là rất quan trọng. Chu kỳ đào tạo phụ thuộc lớn vào năng lực của nhân sự trong tổ chức. Nếu nhân sự có năng lực tốt, chu kỳ đào tạo có thể là 1 năm/lần. Trong trường hợp năng lực của nhân sự chưa đáp ứng yêu cầu, chu kỳ đào tạo nên rút ngắn, cho phép hoạt động đánh giá bám sát hơn với công việc, sử dụng đào tạo như một công cụ tăng cường năng lực lập kế hoạch, tổ chức triển khai và kiểm soát công việc.

     

    Thứ tư, đổi mới chế độ và chính sách đối với các nhân sự phụ trách kinh doanh.

     

    Đãi ngộ nhân sự là một trong những hoạt động quản trị nhân sự quan trọng nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả làm việc của mỗi người và quyết định kết quả thực hiện mục tiêu của cá nhân, đơn vị, tổ chức. Bên cạnh việc doanh nghiệp trả lương theo vị trí chức danh và kết quả công việc, thì trả lương dựa trên năng lực của nhân sự phụ trách

    kinh doanh (kỹ năng, kiến thức, thái độ,…) thực hiện công việc là một căn cứ nên đưa vào để xem xét. Đối với việc vận hành hệ thống lương, việc quyết định một người ở bậc lương nào trong một thang lương sẽ dễ dàng hơn và có cơ sở rõ ràng hơn vì doanh nghiệp chỉ cần so sánh mức độ đáp ứng của nhân viên với yêu cầu năng lực của vị trí đó. Việc gắn kết đánh giá năng lực với hệ thống đãi ngộ sẽ giúp các nhân sự phụ trách kinh doanh phải nỗ lực không ngừng cải thiện các năng lực cần thiết cho vị trí để nhận được những đãi ngộ xứng đáng của doanh nghiệp.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Budman, M., & Rice, B. (1994), The rating game, Across the Board, 31(2), 34-38.).
    2. Busch, T. K. (2012), Determining Competencies for Frontline Sales Managers in For-Profit Organizations, truy cập vào ngày 4 tháng 1 năm 2018 từ http://oaktrust.library.tamu.edu/bit-stream/handle/1969.1/ETD-TAMU-2012-05-10960/BUSCH-DISSERTATION.pdf?sequence=2
    1. Favia, M. J. (2010), An initial competency model for sales managers at fifteen B2B organiza-tions, truy cập vào ngày 15 tháng 3 năm 2018 từ http://search.proquest.com/docview/746616237?ac countid=28180. (746616237).
    1. Holbeche, L. (2007), Career Development. Butterworth Heinemann.
     

    khoa học

     
       

    29

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

     

    1. Kahle, D. (2005), What’s a professional slaes manager?, Agency Sales, 35(1), 51-54.
    2. Kaplan, R. E., & Palus, C. J. (1994), Enhancing 360-Degree Feedback for Senior Executives. How To Maximize the Benefits and Minimize the Risks, North Carolina: Greensboro.
    1. Kerka, S. (2001), Capston experiences in career and technical education, Practice application brief, 16 (1).
    1. Kinh tế & Tiêu dùng (2017), BIDV quán quân số lượng nhân viên và điểm giao dịch, nhưng VPBank mới là vô địch tuyển dụng, truy cập lần cuối 15/02/2019, từ https://vietnambiz.vn/infographic-bidv-quan-quan-so-luong-nhan-vien-va-diem-giao-dich-nhung-vpbank-moi-la-vo-dich-tuyen-dung-45359.html.
    1. Leslie J., B. (2002), Managerial effectiveness in a global context, truy cập vào ngày 9 tháng 3 năm

    2018 từ https://www.ccl.org/wp-content/uploads/2015/04/ccl_managerialeffective-ness.pdf.

    1. Leslie, J.B. (2015), An Organizational Analysis of Leadership Effectivenessand Development Needs, Center for Creative

     

    1. Lê Quân, Đỗ Vũ Phương Anh (2017), Năng lực của nhà quản trị cấp trung trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 238, 58-66.
    1. Lucia, A. D., & Lepsinger, R. (1999), The art and science of competency models: Pinpointing crit-ical success factors in organizations, Jossey-Bass/Pfeiffer, San Francisco.
    1. Mohrman, A. M., Mohrman, S. A., & Lawler, E. E. (1992), The performance management of teams (Vol. 217), Boston: Harvard Business School
    1. Murale V. and Preetha R. (2011), Middle Level Managers: Competency and Effectiveness, Journal of Indian Management, 38-50.
    1. Nguyễn Viết Lợi (2018), Thị trường tiền tệ, tín dụng – Triển vọng và thách thức, Tạp chí ngân hàng, số 5-2018.
    1. Pablo Hemandez-Marrero (2006), Determinants of self-perceived managerial effec-tiveness in the Canarian health service, truy cập vào ngày 15 tháng 8 năm 2018 từ http://search.pro-quest.com/docview/1440111855?accountid=63189.
    1. Parry S. B. (1998), Just What Is a Competency? (And Why Should You Care?), Training, 35(6), 58-64.
    1. Pham Quoc Luyen (2015), Competencies of first-line sales managers of business to business market for curriculum development in Ho Chi Minh city, Vietnam, truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2018 từ http://www.aarf.asia/published-thesis.php.
    1. Trần Thị Vân Hoa (2009), Xây dựng năng lực của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 26 (5+6/2009), 60-65.
    2. Vietnam Report (2018), Top 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2018, truy cập lần

    cuối 15/02/2019, từ: http://thoibaonganhang.vn/vietnam-report-cong-bo-top-10-ngan-hang-uy-tin-nhat-nam-2018-77149.html.

     

    Summary

     

    The article focuses on clarifying the concept and scale of management capacity for the position of personnel in charge of sales in Vietnamese Commercial Banks (commercial banks). Based on the inspection results of management capacity scale, the author conducted an assessment of the capacity of this position in 10 Vietnamese commercial banks operating in Hanoi. The results of GAP matrix analysis showed that two groups of capacity, includ-ing planning – implementing and group manage-ment, are developing in the right direction; the other two groups of capacity for adaptability and prob-lem-solving are in need of reinforcing. Thereby, the article has proposed some solutions to improve management capacity for sales managers in com-mercial banks in the coming time.

     

    khoa học

     

    30   thương mại

    Sè 128/2019


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BB%9Bi-quy-m%C3%B4-giao-d%E1%BB%8Bch-c%E1%BB%A7a-tr%C3%A1i-phi%E1%BA%BFu-doanh-nghi%E1%BB%87p-ni%C3%AAm-y%E1%BA%BFt.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của trái phiếu doanh nghiệp niêm yết

    MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUY MÔ GIAO DỊCH CỦA TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT

    Tần Thị Thu Hiền

    Viện Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân

    Email: [email protected]

    Đàm Văn Huệ

    Viện Ngân hàng – Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận: 13/08/2018                         Ngày nhận lại:     04/04/2019                     Ngày duyêt đăng: 14/04/2019

     

    • hị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) có vai trò quan trọng trong việc hình thành vốn dài hạn cho doanh nghiệp. Trong đó, thị trường trái phiếu thứ cấp có tác dụng tăng tính thanh khoản

    và xác định giá của các trái phiếu được phát hành trên thị trường sơ cấp. Từ đó, thị trường thứ cấp tạo ra động lực phát triển cho thị trường sơ cấp nói riêng và toàn bộ thị trường nói chung. Tại Việt Nam, quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói chung và thị trường thứ cấp nói riêng vẫn còn rất nhỏ bé. Điều này được thể hiện rõ nhất ở quy mô giao dịch hàng năm của các trái phiếu được niêm yết. Vì thế, xem xét các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch trái phiếu hàng năm là cơ sở để tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Nghiên cứu đã xây dựng mô hình kinh tế lượng về một số yếu tố tác động đến quy mô giao dịch của TPDN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả kiểm định cho thấy tuổi của trái phiếu, biến động lợi nhuận và quy mô phát hành là những yếu tố có tác động rõ rệt tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết.

     

    Từ khóa: trái phiếu doanh nghiệp, quy mô giao dịch, thời hạn phát hành, xếp hạng tín dụng

     

    1. Đặt vấn đề Giai đoạn 2012 – 2015, quy mô giao dịch chỉ vài Thị trường giao dịch TPDN còn manh mún, nhỏ nghìn tỷ, trung bình đạt trên 3,8 nghìn tỷ mỗi năm,

    lẻ và rất ít hoạt động so với thị

     

    Bảng 1

    : Giao dịch TPDN tại các Sở GDCK từ 2012 – 2017

     

    trường phát hành. Thanh khoản

     
       

    trên thị trường thứ cấp rất hạn chế,

               

    Naêm

    Soá laàn (laàn)

    Soá traùi phieáu (TP)

    Giaù trò (tyû ñoàng)

     

    với ít giao dịch được ghi nhận. So

       

    56

    25.638.260

    2.333

     

    với quy mô trái phiếu đã được phát

    2012

    hành, theo số liệu thống kê về giao

                 
     

    2013

    68

    44.689.440

    3.912

     

    dịch trên thị trường niêm yết, số

     
         

    49

    33.661.500

    3.218

     

    lượng giao dịch tại các Sở giao dịch

    2014

    (SGD) là rất thấp. Trong đó, không

                 
     

    2015

    120

    48.538.356

    4.990

     

    có trái phiếu nào được niêm yết và

     

    giao dịch trên SGD chứng khoán

    2016

    522

    102.133.469

    10.471

     

    Hà Nội (HNX) trong giai đoạn

                 
     

    2017

    1.313

    165.994.858

    17.212

     

    2012 – 2017. Trên SGD chứng

     

    khoán TP.HCM (HSX), cũng có rất

    Toång

    2.128

    420.655.883

    42.136

     

    ít giao dịch được ghi nhận.

         

    (Nguồn: HSX)

    10

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

    10

     

                       

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

    năm 2016 đạt trên 10 nghìn tỷ, trung bình 2016 –

             

    Giao dịch trên thị trường OTC cũng hầu như

    2017, mỗi năm có 7 nghìn tỷ giá trị TPDN giao dịch

    không có số liệu về giao dịch thứ cấp TPDN. Theo

    trên thị trường thứ cấp. Có thể thấy giai đoạn 2012

    Lê Thu Hà (2018) – chuyên viên phân tích của Công

    – 2015 là giai đoạn mà quy mô giao dịch TPDN rất

    ty chứng khoán Ngân hàng Vietcombank (VCBS),

    thấp, thể hiện ở số lượng trái phiếu giao dịch, số lần

    do phần lớn TPDN được nắm giữ bởi các ngân hàng

    giao dịch và giá trị giao dịch rất thấp. Sau đó, quy

    thương mại (NHTM) và thường được coi là các

    mô giao dịch có sự tăng vọt và đạt đỉnh vào năm

    khoản nợ thứ cấp nên các giao dịch mua bán ít được

    2017. Mặc dù có xu hướng tăng mạnh trong những

    thực hiện. Các nhà đầu tư chủ yếu nắm giữ đến khi

    năm gần đây, doanh số giao dịch vẫn còn rất nhỏ bé

    trái phiếu đáo hạn hoặc chuyển đổi thành cổ phiếu.

    tính trên quy mô trái phiếu hiện hành. Trong giai

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

           

    đoạn 2012 – 2017, tỷ lệ giá trị trái phiếu niêm yết

    Đã có nhiều nghiên cứu về phát triển thị trường

    được giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành luôn

    TPDN thứ cấp thông qua xem xét các yếu tố tác

    rất thấp, trung bình khoảng từ 0,1 – 0,6%. Trong

    động tới quy mô giao dịch của trái phiếu. Trong đó,

    hàng chục doanh nghiệp phát hành trái phiếu, chỉ có

    nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000) là

    28 trái phiếu của 10 doanh nghiệp có giao dịch,

    nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này. Những nghiên

    trong đó trái phiếu của VIC, BID, NVL được giao

    cứu sau đó của Hotchkiss và Jostova (2017) hay

    dịch nhiều nhất.

             

    Wahyudi và Robbi (2009) cũng có những kết luận

           

    Bảng 2: Khối lượng giao dịch

         

    tương tự. Theo đó, quy mô

     

    (Đơn vị: Trái phiếu)

                 

    giao dịch của TPDN niêm yết

                         

    bị tác động bởi khối lượng

     

    Traùi phieáu

    Naêm 2012

    Naêm 2013

    Naêm 2014

    Naêm 2015

    Naêm 2016

     

    Naêm 2017

    phát

    hành,

    thời

    hạn

    phát

     

    ANC11601

               

    10.954.771

     

    51.221.850

                   

    hành, rủi ro phá sản và biến

     

    BID1_106

    12.172.510

    22.325.460

    11.016.860

    23.342.580

    4.600.000

       
         

    động lợi nhuận của trái phiếu.

     

    BID1_206

    7.150.000

    14.358.900

    16.931.780

    3.403.000

         
           

    Theo Alexander và cộng

     

    BID10107

    3.311.000

                   
                     

    sự (2000),

    khối

    lượng

    phát

     

    BID10306

    1.900.000

    7.500.000

    5.700.000

    2.100.000

    12.300.600

       
         

    hành

    càng

    lớn thì

    quy

     

    CII1709

                   

    2.301.265

                     

    giao dịch của trái phiếu cũng

     

    CII11713

                   

    300.000

                         

    càng lớn. Nghiên cứu chỉ ra

     

    CII41401

           

    12.860

    72.860

    6.560

     

    2

     

    HCM_0507

             

    450.000

         

    rằng các nhà môi giới vẫn có

     

    HCM_0706

    840.000

                   

    thể dễ dàng quản lý danh mục

     

    HCMA0206

    260.000

    440.000

             

    đầu tư với quy mô lớn nên

     

    KBC11710

                   

    4.062.740

    việc nắm giữ càng nhiều trái

     

    MSN11718

                   

    549.450

    phiếu

    sẽ giúp các

    nhà

    môi

     

    NVL11605

                   

    9.196.883

                     

    giới giảm bớt chi phí quản lý

     

    NVL11708

                   

    1.700.163

                     

    hơn và làm giảm chi phí giao

     

    NVL11714

                   

    3.122.968

                     

    dịch cho các nhà đầu tư. Điều

     

    NVL11715

                   

    1.892.178

                     

    này sẽ trở

    thành động

    lực

     

    NVL21602

                   

    881.178

                     

    giúp

    trái phiếu

    được

    giao

     

    NVL21603

                   

    6.510

                     

    dịch thường xuyên hơn. Kết

     

    NVL21604

                   

    850.599

                     

    quả

    nghiên

    cứu

    của

     

    TDH41029

    4.750

    65.080

             
     

    VIC11501

             

    19.169.916

    22.010.298

     

    13.013.312

    Hotchkiss và Jostova (2017)

     

    VIC11502

               

    22.859.772

     

    14.161.363

    và Wahyudi và Robbi (2009)

     

    VIC11503

               

    12.165.413

     

    13.832.888

    đã củng cố thêm những kết

     

    VIC11504

               

    17.236.055

     

    19.636.972

    luận trên. Ngoài ra, thời hạn

     

    VIC11707

                   

    19.273.121

    phát hành hay “tuổi” của trái

     

    VIC11711

                   

    8.345.272

    phiếu cũng là yếu tố có tác

     

    VIC11716

                   

    1.646.144

                     

    động mạnh tới quy mô giao

                         
     

    Nguồn: HSX

                   

    dịch

    trái

    phiếu.

    Thông

                             

    khoa học

         
                                 

    11

                             

    thương mại

    Sè 128/2019

                       
                                         

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    thường, các trái phiếu được phát hành trong khoảng thời gian gần nhất sẽ được giao dịch thường xuyên nhất. Trái phiếu có tuổi càng lớn thì lại càng ít được giao dịch. Alexander và cộng sự (2000) giải thích rằng do trái phiếu là tài sản dài hạn có lãi suất tương đối ổn định nên sau khi phát hành, chúng sẽ thường nằm trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư thích nắm giữ đến khi đáo hạn hay trong thời gian dài. Theo thời gian, các nhà đầu tư này sẽ ngày càng có thêm nhiều TPDN khác và chỉ giao dịch một số lượng rất ít trái phiếu. Với số lượng trái phiếu giao dịch ít, các nhà môi giới đòi hỏi chi phí cao hơn và trái phiếu sẽ trở nên kém thanh khoản. Nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009) cũng chỉ ra rằng trái phiếu thường được giao dịch nhiều nhất trong 2 năm đầu tiên sau khi phát hành.

     

    Các nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009) cũng đều cho thấy các trái phiếu có mức độ rủi ro phá sản cao thường có tính thanh khoản thấp, ít được giao dịch hơn. Rủi ro phá sản là nguy cơ doanh nghiệp không thể trả hết các khoản nợ của mình. Rủi ro phá sản gia tăng trong các giai đoạn suy thoái, khủng hoảng, hoặc từ các cú sốc từ bên ngoài. Rủi ro phá sản càng cao, càng làm chùn bước các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư vào TPDN. Nghiên cứu của Harris và Raviv (1993) về mối quan hệ giữa giá và quy mô giao dịch của chứng khoán cho rằng 2 yếu tố này có mối quan hệ thuận chiều. Nghĩa là chứng khoán có biến động giá càng lớn sẽ càng được giao dịch nhiều hơn. Nguyên nhân do biến động giá phản ánh các ý kiến khác nhau của các nhà đầu tư. Nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000) đối với TPDN cũng cho kết quả tương tự là quy mô giao dịch tăng khi giá trái phiếu biến động nhiều hơn. Tuy nhiên, Hotchkiss và Jostova (2017) lại cho rằng trái phiếu có biến động lợi nhuận lớn lại ít được giao dịch hơn.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

    • Lựa chọn biến số

     

    Dựa trên lý thuyết nền tảng và mô hình nghiên

     

    cứu của Alexander và cộng sự (2000) và Hotchkiss và Jostova (2017), bài viết sẽ đi sâu vào xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm xem xét và đánh giá các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của các TPDN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

     

    Biến phụ thuộc

     

    Quy mô giao dịch trái phiếu được thể hiện qua nhiều phương diện, bao gồm: số lượng trái phiếu được giao dịch, số lượt giao dịch và giá trị trái phiếu được giao dịch (Alexander và cộng sự, 2000). Vì thế, quy mô giao dịch trái phiếu được đo lường bằng các biến số sau:

     

    • Số lần giao dịch bình quân trong năm
    • Số lượng trái phiếu giao dịch bình quân trong năm
    • Bình quân doanh số trong năm
    • Giá trị trái phiếu giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành

    Biến độc lập

     

    Như đã đề cập ở trên, có 4 biến độc lập chính tác động đến quy mô giao dịch trái phiếu của doanh nghiệp là:

     

    • Khối lượng phát hành đo lường bằng giá trị phát hành theo mệnh giá.
    • Thời hạn phát hành hay tuổi của trái phiếu là số năm từ khi phát hành. Thời hạn phát hành được gắn biến giả: = 1 nếu trái phiếu đang trong hai năm phát hành đầu tiên; = 0 nếu đã trên hai năm; = -1 nếu tại thời điểm đó trái phiếu chưa được phát hành.
    • Rủi ro phá sản đo lường bằng xếp hạng tín nhiệm của trái phiếu. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa thực hiện xếp hạng đối với trái phiếu nên tác giả sử dụng mức xếp hạng của doanh nghiệp tại thời điểm nghiên cứu.
    • Biến động lợi nhuận đo lường bằng chênh lệch của giá bình quân theo khối lượng giao dịch (Volume Weighted Average Price – VWAP) năm nay và năm trước.

    3.2. Cấu trúc dữ liệu và quy trình phân tích Số liệu của bài viết được thu thập trên cùng một

     

    số trái phiếu và tại các mốc thời gian khác nhau được gọi là số liệu mảng (panel data). Trong số liệu mảng, chỉ số i thường được dùng để chỉ cá thể (hộ gia đình, hãng, ngân hàng,…), i=1,2,..,n; và t là chỉ số thời gian, có thể là năm, tháng, tuần, ngày,…, t=1,2,…,T.

     

    Theo Nguyễn Thị Minh và cộng sự (2014), một mô hình số liệu mảng cơ bản có dạng như sau:

     

    Yit= β1 + β2X2it + + βkXkit+ci + γt + uit Trong đó: uit là sai số ngẫu nhiên thông thường,

     

    được giả định là thỏa mãn các điều kiện chuẩn tắc của phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square – OLS); ci thể hiện đặc trưng thay đổi theo thời gian, không quan sát được của mỗi cá thể,

     

    12

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Bảng 3: Cơ sở lựa chọn biến số nghiên cứu

    Tùy vào bản chất

                 

    của c

    3

    phương

    Bieán

     

    Chieàu taùc ñoäng

     

    Cô sôû

     

    i

           
                 

    pháp

    ước

    lượng

    Quy moâ giao dòch traùi phieáu

         

    Alexander vaø coäng söï (2000);

         

    bản

    phương pháp

               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    ước lượng OLS gộp

               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

               

    (Pooled

     

    OLS

    Khoái löôïng phaùt haønh

     

    +

     

    Alexander vaø coäng söï (2000);

     
               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    POLS),

    hình

    tác

               

    động

    ngẫu

    nhiên

               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

               

    (Random

     

    Effects

    Thôøi haïn phaùt haønh (Trong 2

     

    +

     

    Alexander vaø coäng söï (2000);

     

    naêm)

         

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    Model – REM) và mô

         

    hình tác động cố định

               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

             

    (Fixed Effects Model

    Ruûi ro phaù saûn

     

     

    Alexander vaø coäng söï (2000);

               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017);

    – FEM).

           
               

    Wahyudi vaø Robbi (2009)

    Quy trình lựa chọn

    Bieán ñoäng lôïi nhuaän

     

    +/-

     

    Harris vaø Raviv (1993);

    để tìm mô hình phù

               

    Alexander vaø coäng söï (2000);

    hợp nhất với số liệu là

               

    Hotchkiss vaø Jostova (2017).

    kiểm định sự tồn tại

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

         

    của ci xem có tồn tại

         

    yếu tố ci không. Nếu

    γt là đặc trưng không quan sát được tại mỗi thời

       

    không tồn tại thì sử

    điểm quan sát và không có sự khác biệt giữa các cá

    dụng POLS và các hiệu chỉnh của nó. Nếu có tồn tại

    thể như điều kiện kinh tế vĩ mô của quốc gia khi

    c_i thì kiểm định về mối quan hệ tương quan giữa

    nghiên cứu doanh nghiệp hay các tỉnh, thành phố.

    yếu tố này và các biến độc lập. c_i có tương quan

    Tùy vào đặc tính của các yếu tố không quan sát

    thì mô hình tác động cố định (FEM) được lựa chọn,

    được này mà người ta đưa ra các phương pháp ước

    còn ngược lại thì sử dụng mô hình tác động ngẫu

    lượng khác nhau sao cho các hệ số ước lượng thu

    nhiên (REM).

               

    được là tốt nhất.

       

    Sơ đồ quá trình lựa chọn mô hình số liệu mảng:

    Xét bài toán không có yếu tố γt:

    Yit= β1+ β2X2it +        + βkXkit + ci + uit

     

     

    REM

    prob<0,1

    prob>0,1

     
     

    xttest0

    Hausman

     

    test

    POLS

    prob>0,1                                                 prob<0,1

     

     

    REM

         

    FEM

       
               
                     

    Nguồn: Nguyễn Thị Minh và cộng sự (2014)

     
       

    Sơ đồ 1: Quy trình lựa chọn mô hình số liệu mảng

     
                 

    khoa học

     
                   

    13

                 

    thương mại

    Sè 128/2019

             

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    3.3. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

     

    Có thể thấy Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt

    Mô hình các biến số và thang đo:

    Nam (BIDV), NoValand và Vingroup là các doanh

         

    Bảng 4: Biến số và thang đo

         

    nghiệp

    nhiều

    trái

                             

    phiếu

    niêm

    yết

    được

    Bieán soá

             

    Thang ño

     

    Teân bieán

    Ñôn vò

     

    giao dịch nhất. Đây cũng

    Quy moâ giao dòch

     

    Soá laàn giao dòch bình quaân trong naêm

    TIMES

    Giao dòch

     
       

    là những trái phiếu có

         

    Bình quaân soá löôïng traùi phieáu giao

     

    NBOND

    Traùi phieáu

     
             

    khối lượng

    phát

    hành

         

    dòch trong naêm

           
                 

    chiếm tỷ trọng lớn nhất

         

    Bình quaân doanh soá trong naêm

     

    TOVER

    Tyû ñoàng

     
             

    trong tổng các trái phiếu

         

    Giaù trò traùi phieáu giao dòch/Giaù trò traùi

    VOL

    %

     
           

    niêm yết.

       
         

    phieáu hieän haønh

               
                 

    Theo hình 1, có thể

    Khoái löôïng phaùt haønh

     

    Ln (Giaù trò phaùt haønh theo meänh giaù)

     

    LSIZE

    Nghìn ñoàng

     
         

    thấy các trái phiếu có

    Thôøi haïn phaùt haønh

    = -1 traùi phieáu chöa ñc phaùt haønh

     

    AGE

    Bieán giaû

     
       

    giao dịch trong giai đoạn

    Tuoåi cuûa traùi phieáu

     

    = 1 neáu phaùt haønh trong 2 naêm

           

    (Naêm töø khi phaùt haønh)

     

    = 0 neáu phaùt haønh treân 2 naêm

           

    2012

    –  2017  không

    Ruûi ro phaù saûn

    – Xeáp

    = 1 neáu xeáp haïng A

     

    RATING

    Bieán giaû

     

    nhiều, chủ yếu là những

    haïng tín duïng

       

    = 0 neáu xeáp haïng B

           

    trái phiếu mới được phát

    Bieán ñoäng lôïi nhuaän

     

    Cheânh leäch Gia ù bình quaân theo khoái

     

    DVWAP

    %

     

    hành từ năm 2015 trở về

    (Bieán thieân cuûa giaù)

     

    löôïng giao dòch (VWAP) naêm nay vaø

           

    đây và có kỳ hạn dưới 3

         

    naêm tröôùc

                 

    năm (CII, NVL, VIC).

    Mô hình dự kiến được xây dựng như sau:

           

    Những

    trái

    phiếu

    được

    phát hành từ lâu (trước 2007) có giao dịch trong giai

    TIMESit  = α0  + α1SIZEit  + α2AGEit  + α3

    đoạn này chủ yếu là những trái phiếu có kỳ hạn dài

    RATINGit + α4DVWAPit + ci + uit

    (1)

       

    trên 10 năm (BID, HCM).

           

    NBONDit   =  α01SIZEit2AGEit  +  α3

     

    Có thể chia xếp hạng tín dụng (XHTD) mỗi năm

    RATINGit + α4 DVWAPit+ci+uit (2)

    của các doanh nghiệp có trái phiếu niêm yết được

    TOVERit  = α0  + α1SIZEit  + α2AGEit  + α3

    giao dịch thành 3 nhóm: hạng A, hạng B và không

    RATINGit + α4DVWAPit + ci + uit

    (3)

       

    được xếp hạng. Việc thay đổi hình thức xếp hạng từ

    VOLit

    = α0

    + α1SIZEit + α2AGEit + α3

    năm 2016 là do trung tâm thông tin tín dụng (CIC)

    RATINGit + α4DVWAPit + ci + uit

    (4)

       

    sử dụng bộ tiêu chuẩn xếp hạng mới. Tuy nhiên, các

    Trong đó: i=1,2,..,28 (đại diện cho 28 trái phiếu

    tiêu chuẩn mới cũng không thay đổi quá nhiều về

    nghiên cứu), t = 2012, 2013,…, 2017.

    nội dung cơ bản so với bộ tiêu chuẩn cũ. Trong đó,

    Các giả thuyết nghiên cứu

         

    các doanh nghiệp trong nhóm có mức xếp hạng A là

    – Giả thuyết H1: Khối lượng phát hành có tác

    những doanh nghiệp có xác suất vỡ nợ rất thấp

    động thuận chiều tới quy mô giao dịch TPDN Việt

    (thường dưới 2%), xếp hạng B là những doanh

    Nam.

                   

    nghiệp có xác suất vỡ nợ thấp. Đối với công ty

    – Giả thuyết H2: Thời hạn phát hành càng lâu thì

    ANC, do công ty mới được thành lập vào năm 2014

    quy mô giao dịch TPDN Việt Nam càng nhỏ.

    nên năm 2012 và 2013 sẽ không có dữ liệu về

    – Giả thuyết H3: Rủi ro phá sản có tác động

    XHTD của doanh nghiệp. Còn công ty HCMA là

    ngược chiều tới quy mô giao dịch TPDN Việt Nam.

    công ty quản lý vốn Nhà nước nên không có hoạt

    – Giả thuyết H4: Biến

     

    Bảng 5: Thống kê mô tả các biến phụ thuộc

         
                                     

    động lợi nhuận có tác động thuận chiều/ngược chiều tới quy mô giao dịch TPDN Việt Nam.

    1. Kết quả nghiên cứu
    • Thống kê mô tả

    các biến

     

       

    Ñoä leäch

       
     

    Trung bình

    chuaån

    Giaù trò nhoû nhaát

    Giaù trò lôùn nhaát

    TIMES

    12,667

    37,806

    0,000

    244,000

    NBOND

    2503,904

    6554,663

    0,000

    51221,850

    TOVER

    250,806

    660,226

    0,000

    5211,648

    VOL

    0,311

    0,870

    0,000

    8,465

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

     

    14

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

     

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Hình 1: Diễn biến khối lượng phát hành TPDN

     

    động huy động vốn từ NHTM, không được CIC thực hiện XHTD.

     

    Bình quân của Giá bình quân theo khối lượng giao dịch (VWAP) cũng có xu hướng tăng mạnh theo thời gian, tương ứng với xu hướng tăng của số lượng trái phiếu giao dịch và giá trị giao dịch. Trong đó, tốc độ tăng mạnh nhất của giai đoạn này là từ hơn 99 nghìn đồng/trái phiếu năm 2016 lên hơn 192 nghìn đồng/trái phiếu năm 2017. Nguyên nhân do trong năm 2017 giá trị giao dịch cũng có tốc độ tăng mạnh, hơn 7.000 tỷ đồng so với năm 2016.

     

    4.2. Phân tích tương quan các nhóm biến

    Tác giả thực hiện kiểm định mối tương quan giữa các biến phụ thuộc và mối tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc lập. Các biến có mối quan hệ chặt chẽ khi hệ số tương quan lớn hơn 0,7 (Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2013). Kết quả như sau: (Bảng 7)

     

    Có thể thấy hệ số tương quan giữa các biến phụ thuộc thấp nhất vẫn lớn hơn 0,5. Trong đó mối tương quan giữa các biến TIMES, NBOND và TOVER là rất chặt chẽ (hệ số

    Nguồn: Tính toán của tác giả

    tương quan đều lớn hơn 0,8), Mối

    Hình 2: Thống kê thời hạn phát hành và kỳ hạn trái phiếu

    tương quan giữa VOL và các biến

    của các doanh nghiệp

     

    Bảng 6: Thống kê xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp qua các năm

     

     

    STT

     

    Maõ CK

    2012

    2013

    2014

    2015

    2016

    2017

       
     

    1

     

    ANC

    N/A

    N/A

    AA+

    AAA+

    A2

    A3

       
     

    2

     

    BID

    B+/B2

    B+/B2

    B+/B1

    B+/B1

    B+/B1

    B+/B1

       
     

    3

     

    CII

    BB+

    BB+

    BBB+

    BBB+

    A3

    B1

       
     

    4

     

    HCM

    AA+

    AA+

    AA+

    AA+

    A2

    A3

       
     

    5

     

    HCMA

    N/A

    N/A

    N/A

    N/A

    N/A

    N/A

       
     

    6

     

    KBC

    B-

    B-

    B-

    B-

    A3

    A3

       
     

    7

     

    MSN

    A+

    BBB+

    BBB+

    A+

    A3

    A3

       
     

    8

     

    NVL

    BBB+

    B-

    BB+

    BB+

    A3

    A2

       
     

    9

     

    TDH

    BBB+

    BBB+

    BBB+

    BBB+

    A2

    A2

       
     

    10

     

    VIC

    BBB+

    A+

    BBB+

    BB+

    A2

    A2

       

    Nguồn: CIC

                       
                       

    khoa học

     
                         

    15

                     

    thương mại

    Sè 128/2019

               

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

     

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Hình 3: Bình quân của VWAP (nghìn đồng/trái phiếu)

     

    Kết quả ước lượng như sau:

     

    Có thể thấy với xác suất đều bằng 0,000, các mô hình đều đáng tin cậy. Hệ số R2 cho thấy các biến độc lập giải thích được bao nhiêu phần trăm sự thay đổi của biến phụ thuộc (Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2013). Kết quả của các mô hình (1), (2), (3) và (4) lần lượt là 39,79%, 60,48%, 57,60% và 25,77%. Còn lại sự thay đổi của các biến phụ thuộc được giải thích bởi các yếu tố khác.

     

    Mô hình (1) được ước lượng theo FEM, vì thế biến LSIZE – không thay

     

     

    Bảng 7: Tương quan của các biến phụ thuộc

     

    Bảng 9: Kết quả lựa chọn mô hình hồi quy với các

                             

    biến phụ thuộc

         
       

    TIMES

    NBOND

     

    TOVER

    VOL

                   
                                     

    TIMES

    1

               

    Bieán phuï thuoäc

    TIMES

    NBOND

    TOVER

    VOL

    NBOND

    0,822

    1

             

    Keát quaû

     

    TOVER

    0,842

    0,998

     

    1

         

    xttest0

       

    9,73

     

    18,17

    9,52

    1,15

    VOL

    0,531

    0,607

     

    0,617

    1

           

    0,0009

     

    0,000

    0,0010

    0,142

    Nguồn: Tính toán của tác giả

           

    Hausman

       

    10,25

     

    15,45

    6,67

    x

               

    0,0365

    0,0038

    0,1542

    x

    khác có mức độ thấp hơn nhưng vẫn có thể chấp

         
     

    Moâ hình öôùc löôïng

     

    FE

    FE

    RE

    POLS

    nhận được do hệ số tương quan đều lớn hơn 0,5.

     

    Nguồn: Tính toán của tác giả

         

    Điều này cho thấy các biến phụ thuộc này có mối

           

    tương quan chặt chẽ và đều có thể sử

       

    Bảng 10: Kết quả ước lượng 4 mô hình

     

    dụng để đo lường cho quy mô giao

         
                                 

    dịch của TPDN niêm yết.

     

    Bieán phuï thuoäc

    TIMES

    NBOND

     

    TOVER

     

    VOL

    Về tương quan giữa các biến phụ

    Moâ hình öôùc löôïng

    FE

    FE

       

    RE

     

    POLS

    thuộc và biến độc lập, hệ số tương

    R2 – within

           

    0,5990

    0,7592

     

    0,6013

     

    x

    quan đều nhỏ hơn 0,7, Điều này đảm

    R2 – between

           

    0,0124

    0,2465

     

    0,5075

     

    x

    bảo mô hình phù hợp do không có đa

    R2 – overall

           

    0,3979

    0,6048

     

    0,5760

    0,2577

    cộng tuyến (Nguyễn Quang Dong và

    Kieåm ñònh söï phuø hôïp

    50,79

    107,20

     

    231,60

     

    11,25

    Nguyễn Thị Minh, 2013).

     

    Prob

           

    0,000

     

    0,000

       

    0,000

     

    0,000

    4.3. Phân tích kết quả ước lượng

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    mô hình

         

    Kết hợp kết quả của bảng 9 và sơ đồ 1, mô hình

    đổi qua các năm – sẽ không có ý nghĩa, hay không

     

    (1) và (2) sẽ được ước lượng theo FEM, mô hình (3)

    có tác động tới biến phụ thuộc (Bảng 11).

     

    phù hợp với REM và mô hình (4) sẽ sử dụng POLS,

       

    Bảng 8: Tương quan của các biến phụ thuộc với biến độc lập

     

    Bieán phuï thuoäc

           

    Bieán ñoäc laäp

    TIMES

    NBOND

    TOVER

    VOL

    SIZE

    0,119

    0,169

    0,170

    -0,040

    AGE

    0,428

    0,431

    0,439

    0,446

    RATING

    0,285

    0,129

    0,145

    0,068

     

    0,239

    0,227

    0,235

    0,209

    DVWAP

    Nguồn: Tính toán của tác giả

    Bảng 11: Kết quả ước lượng mô hình (1)

     

    Bieán ñoäc laäp

    Heä soá öôù c löôïng

    Sai soá chuaån

    Möùc xaùc suaát

    LSIZE

    x

    x

    x

    AGE_2

    1,887

    0,400

    0,000

    AGE_3

    2,235

    0,313

    0,000

    RATING

    0,252

    0,211

    0,236

    DVWAP

    0,005

    0,003

    0,056

    CONS

    -0,203

    0,132

    0,128

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

     

    16

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    Biến AGE có 3 giá trị và là biến dùng để phân loại tuổi của các trái phiếu nên khi ước lượng mô hình sẽ chuyển thành các biến giả, cụ thể:

     

    üAGE_1 = 1 nếu là trái phiếu chưa phát hành tại thời điểm nghiên cứu, = 0 nếu là khác.

     

    üAGE_2 = 1 nếu là trái phiếu phát hành trên 2 năm tại thời điểm nghiên cứu, = 0 nếu là khác.

     

    üAGE_3 = 1 nếu là trái phiếu phát hành trong 2 năm tại thời điểm nghiên cứu, = 0 nếu là khác.

     

    Kết quả ước lượng cho thấy các biến AGE_2 và AGE_3 có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1%, DVWAP có ý nghĩa mức 10%. Biến RATING không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10% do trên thực tế các doanh nghiệp phát hành trái phiếu đều là những doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), được đảm bảo khả năng thanh toán hay có rủi ro phá sản thấp. Theo kết quả ước lượng trong bảng 11, mô hình (1) về số lượng giao dịch trái phiếu được trình bày như sau:

     

    TIMES = – 0,203 + 1,887AGE_2 + 2,235AGE_3

     

    • 0,005DVWAP + e Trong đó:

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm

    (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

     

    TIMES = – 0,203 + 1,887 + 0,005DVWAP + e Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm

    (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

     

    TIMES = – 0,203 + 2,235 + 0,005DVWAP + e Có thể thấy được trái phiếu phát hành trong vòng

     

    2 năm sẽ có số lần giao dịch (TIMES) lớn hơn trái phiếu phát hành trên 2 năm. Đồng thời biến động lợi nhuận (DVWAP) cũng có tác động cùng chiều với số lần giao dịch.

     

    Bảng 12: Kết quả ước lượng mô hình (2)

     

    Bieán ñoäc

    Heä soá öôùc

    Sai soá

    Möùc xaùc

    laäp

    löôïng

    chuaån

    suaát

    LSIZE

    x

    x

    x

    AGE_2

    10,162

    1,381

    0,000

    AGE_3

    8,327

    1,081

    0,000

    RATING

    -0,104

    0,729

    0,887

    DVWAP

    0,063

    0,009

    0,000

    CONS

    -0,506

    0,457

    0,270

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Mô hình (2) cũng được ước lượng theo FEM, vì thế biến LSIZE sẽ không có ý nghĩa, hay không có tác động tới biến phụ thuộc. Kết quả ước lượng cho thấy các biến AGE_2, AGE_3, DVWAP đều có ý

     

    nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% và biến RATING không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Theo kết quả ước lượng trong bảng 12, mô hình (2) về số lượng trái phiếu giao dịch được trình bày như sau:

     

    NBOND = -0,506 + 10,162AGE_2 + 8,327AGE_3 + 0,063DVWAP + e

    Trong đó:

     

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

     

    NBOND = -0,506 + 10,162+ 0,063DVWAP + e Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm

    (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

     

    NBOND = -0,506 + 8,327+ 0,063DVWAP + e Tương tự mô hình (1), kết quả của mô hình (2)

     

    cũng cho thấy biến động lợi nhuận (DVWAP) có mối quan hệ thuận chiều với số lượng trái phiếu giao dịch. Tuy nhiên, trái với mô hình (1), kết quả của mô hình này cho thấy trái phiếu được phát hành trên 2 năm có số lượng trái phiếu được giao dịch lớn hơn các trái phiếu mới được phát hành. Nguyên nhân của sự khác biệt với mô hình (1) là do các trái phiếu BID của BIDV (là những trái phiếu có kỳ hạn dài, được phát hành từ năm 2006, 2007) có số lượng trái phiếu được giao dịch tương đối nhiều trong giai đoạn nghiên cứu, đạt tổng số là 148.112.690 trái phiếu – tương đương gần 40%. Đây cũng là giai đoạn mà những trái phiếu này sắp đến lúc đáo hạn.

     

    Bảng 13: Kết quả ước lượng mô hình (3)

     

    Bieán ñoäc

    Heä soá öôùc

     

    Sai soá

    Möùc xaùc

    laäp

    löôïng

     

    chuaån

    suaát

    LSIZE

    0,623

    0,140

    0,000

    AGE_2

    3,500

    0,475

    0,000

    AGE_3

    3,939

    0,543

    0,000

    RATING

    -0,494

    0,339

    0,145

    DVWAP

    0,017

    0,005

    0,000

    CONS

    -9,552

    2,207

    0,000

    Nguồn: Tính toán của tác giả

     

    Do mô hình (3) được ước lượng theo REM, biến LSIZE lúc này sẽ có ý nghĩa. Kết quả ước lượng cho thấy các biến LSIZE, AGE_2, AGE_3, DVWAP đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 1% và biến RATING không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%. Theo kết quả ước lượng trong bảng 12, mô hình (3) về bình quân doanh số được trình bày như sau:

    TOVER = -9,552 + 0,623LSIZE + 3,5AGE2 +

    3,939AGE3+ 0,017DVWAP + e

     

     

    khoa học

     
       

    17

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Trong đó:

           

    mức độ tương quan giữa biến phụ thuộc và biến độc

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm

     

    lập của mô hình (4) là thấp và tỷ lệ giá trị trái phiếu

    (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

           

    giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành (VOL) quá

    TOVER = -9,552 + 0,623LSIZE + 3,5 +

     

    thấp. Tuy nhiên, kết quả của mô hình này cũng cho

    0,017DVWAP + e

           

    thấy các trái phiếu được phát hành trong 2 năm có

    Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm

     

    giá trị giao dịch trên giá trị trái phiếu hiện hành lớn

    (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

           

    hơn của những trái phiếu đã phát hành trên 2 năm.

    TOVER = -9,552 + 0,623LSIZE +

           

    Bảng 15: Tổng hợp kết quả 4 mô hình

     

    3,939+ 0,017DVWAP + e

                       

    Có thể thấy quy mô phát hành

     

    Bieán ñoäc

    Heä soá öôùc löôïng

    Heä soá öôùc löôïng

    Heä soá öôùc löôïng

     

    Heä soá öôùc löôïng

    (LSIZE) và biến động lợi nhuận

     

    laäp

     

    NTIMES

    NBOND

    TOVER

     

    VOL

     

    LSIZE

       

    x

    x

    0,623***

     

    -0,081*

    (DWAP) đều có tương quan thuận

           
     

    AGE_2

     

    1,887***

    10,162***

    3,500***

     

    0,499***

    chiều với doanh số giao dịch của

                   
     

    AGE_3

     

    2,235***

    8,327***

    3,939***

     

    1,439***

    TPDN. Đồng thời, tương tự với mô

                     
     

    RATING

     

    0,252

     

    -0,104

    -0,494

     

    -0,314**

    hình (1), kết quả ước lượng của mô

                     
     

    DVWAP

     

    0,005*

     

    0,063***

    0,017***

     

    -0,003**

    hình (3) cũng cho thấy các trái phiếu

     

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

         

    được phát hành trong vòng 2 năm có

           

    doanh số giao dịch nhiều hơn các trái

     

    Trong đó: *: có ý nghĩa mức 10%, **: có ý nghĩa mức 5%, ***:

    phiếu được phát hành trên 2 năm.

    có ý nghĩa mức 1%

           

    Bảng 14: Kết quả ước lượng mô hình (4)

     

     

    Bieán

    Heä soá öôùc

    Sai soá

    Möùc xaùc

     

    ñoäc laäp

    löôïng

    chuaån

    suaát

    LSIZE

    -0,081

    0,041

    0,052

    AGE_2

    0,499

    0,163

    0,003

    AGE_3

    1,439

    0,231

    0,000

    RATING

    -0,314

    0,133

    0,019

    DVWAP

    -0,003

    0,002

    0,089

    CONS

    1,398

    0,657

    0,035

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

     

    Mô hình (4) được ước lượng theo POLS, biến AGE_3 có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%, biến AGE_2 và RATING có ý nghĩa ở mức 5% và 2 biến còn lại có ý nghĩa ở mức 10%. Theo kết quả ước lượng trong bảng 13, mô hình (4) về giá trị trái phiếu niêm yết giao dịch trên giá trị trái phiếu phát hành:

     

    VOL = 1,398 – 0,081LSIZE + 0,499AGE_2 + 1,439AGE_3 – 0,314RATING – 0,003DVWAP + e

    Trong đó:

     

    Mô hình với trái phiếu phát hành trên 2 năm (AGE_2 = 1; AGE_3 = 0):

     

    VOL = 1,398 – 0,081LSIZE + 0,499– 0,314RATING – 0,003DVWAP + e

     

    Mô hình với trái phiếu phát hành trong 2 năm (AGE_2 = 0; AGE_3 = 1):

     

    VOL = 1,398 – 0,081LSIZE + 1,439– 0,314RATING – 0,003DVWAP + e

     

    Khác với các mô hình trên, biến LSIZE, RAT-ING và DVWAP có tác động ngược chiều tới biến phụ thuộc VOL. Điều này khá trái ngược với kết luận của ba mô hình trên. Nguyên nhân có thể do

    4.4. Thảo luận về kết quả nghiên cứu

    Từ kết quả nghiên cứu có thể nhận xét như sau:

    • Các lý thuyết về các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết cho thấy sự tương đồng và khả thi trong nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
    • Theo kết quả ước lượng của 4 mô hình trên, khối lượng phát hành, tuổi của trái phiếu, rủi ro phá sản và biến động lợi nhuận đều có tác động tới quy mô giao dịch TPDN. Trong đó:

    + Các trái phiếu được phát hành trong vòng 2 năm có số lần giao dịch, doanh số giao dịch và giá trị giao dịch trên giá trị hiện hành lớn hơn các trái phiếu được phát hành trên 2 năm. Điều này là tương đồng với các nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009). Tuy nhiên, trái ngược với các nghiên cứu trên, các trái phiếu được phát hành trên 2 năm lại có số lượng trái phiếu được giao dịch nhiều hơn.

     

    + Biến động lợi nhuận là yếu tố có tác động thuận chiều tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết. Điều này là tương đồng với các nghiên cứu của Harris và Raviv (1993) và Alexander và cộng sự (2000).

     

    + Không hòan toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Hotchkiss và Jostova (2017) và Wahyudi và Robbi (2009), khối lượng phát hành có tác động thuận chiều với bình quân doanh số giao dịch và tác động ngược chiều tới giá trị giao dịch trên giá trị hiện hành của TPDN niêm yết.

     

    + Trái ngược với các nghiên cứu trước đó, rủi ro phá sản có tác động không rõ ràng tới quy mô giao

     

    18

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    dịch. Điều này có thể lý giải do đặc trưng tại Việt Nam không có XHTD đối với trái phiếu và những doanh nghiệp phát hành trái phiếu hầu hết đều là doanh nghiệp lớn hay DNNN, được đảm bảo về khả năng thanh toán.

     

    • Một số những hạn chế của nghiên cứu: (1) Phạm vi nghiên cứu mới chỉ gói gọn trong các TPDN được niêm yết trên sàn. Nếu so sánh với các giao dịch riêng lẻ thì quy mô giao dịch của các trái phiếu niêm yết là rất nhỏ bé, chưa hoàn toàn đại diện được cho quy mô của thị trường TPDN thứ cấp; (2) Số lượng biến độc lập là 4 biến, chưa phản ánh được đầy đủ các yếu tố tác động tới quy mô giao dịch của TPDN niêm yết.
    1. Kết luận

    Thị trường TPDN nói chung và thị trường TPDN thứ cấp nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế của một quốc gia. Việc tìm hiểu về các yếu tố tác động tới sự phát triển của thị trường trở thành vấn đề cấp thiết và tất yếu. Bài viết này đã xây dựng mô hình kinh tế lượng thể hiện cụ thể mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố tác động và quy mô giao dịch TPDN, đồng thời cho kết quả cụ thể về sự thay đổi của quy mô giao dịch TPDN khi các yếu tố thay đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời hạn phát hành, biến động lợi nhuận, quy mô phát hành và rủi ro phá sản là những yếu tố có tác động tới quy mô giao dịch của các TPDN niêm yết tại Việt Nam trong thời gian qua. Trong đó, thời hạn phát hành là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất tới quy mô giao dịch trái phiếu. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, các trái phiếu được phát hành trong vòng 2 năm có quy mô giao dịch lớn hơn các trái phiếu được phát hành trên 2 năm. Vì thế, để tăng tính thanh khoản cho các TPDN niêm yết, các doanh nghiệp phát hành có thể tập trung vào phát hành những trái phiếu có kỳ hạn ngắn hơn, khoảng từ 3-5 năm. Ngoài ra, do đặc thù tại Việt Nam nên xếp hạng tín dụng không thể hiện mối quan hệ rõ ràng với quy mô giao dịch trái phiếu. Điều này không có nghĩa là không cần quan tâm tới yếu tố rủi ro phá sản của trái phiếu. Ngược lại, Nhà nước cần ban hành những quy định cụ thể về việc minh bạch thông tin và xếp hạng tín dụng trái phiếu. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư có cơ sở vững chắc hơn trong việc ra quyết định, tăng cường khả năng huy động vốn bằng trái phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng tính thanh khoản cho các trái phiếu đã được phát hành.

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Alexander Gordon J., Amy K. Edwards và Michael G. Ferri (2000), The determinants of trading volume of high-yield corporate bonds, Journal of Financial Markets, Số 3, Trang: 177 – 204.
    2. Harris Milton và Artur Raviv (1993), Differences of Opinion Make a Horse Race, The Review of Financial Studies, Số 6(3), Trang: 473-506.
    1. Hotchkiss Edith và Gergana Jostova (2017), Determinants of corporate bond trading: A compre-hensive Analysis, Quarterly Journal of Finance, Số 7(2), Trang: 1-30.
    1. Lê Thu Hà (2018), Báo cáo năm 2017: Trái phiếu doanh nghiệp, VCBS, Hà Nội.
    1. Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh

    (2013), Giáo trình Kinh tế lượng, Xuất bản lần thứ 2, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

     

    1. Nguyễn Thị Minh, Hoàng Bích Phương, Trịnh Trọng Anh, Vũ Duy Thành và Phạm Bảo Lâm (2014), Nhân khẩu học Việt Nam và một số vấn đề kinh tế xã hội, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội.
    1. Wahyudi Imam và Abdu Robbi (2009), Exploring Determinant Factors of Bond Trading with Inventory Management Theory (Case Study of Indonesian Capital Market, January – March 2009), Indonesian Capital Market Review, Trang: 87-108.

    Summary

     

    The corporate bond market plays an important role in forming long-term capital for businesses. Specifically, the secondary bond market stimulates liquidity and determines the prices of bonds issued on the primary market. Since then, the secondary market has created a driving force for the primary market in particular and the entire market in general. In Vietnam, the size of the corporate bond market in general and the secondary market in particular is still very small. This situation is obviously reflected in the annual trading extent of the listed bonds. Therefore, considering the factors affecting the annual bond trading volume is the basis for finding suitable solutions to promote the development of the market. The study has developed an econometric model on some factors affecting the trading scale of listed corporate bonds on Vietnam’s stock market. The test results show that the bond’s age, profit fluc-tuations and issuance volume are the factors that have a significant impact on the transaction of listed corporate bonds.

     

    khoa học

     

    Sè 128/2019                                                                                                                                   thương mại 19

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: IAS 41 – NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/BI%E1%BA%BEN-%C4%90%E1%BB%98NG-GI%C3%81-C%E1%BB%94-PHI%E1%BA%BEU-XUNG-QUANH-TH%C3%94NG-B%C3%81O-MUA-L%E1%BA%A0I-C%E1%BB%94-PHI%E1%BA%BEU-C%E1%BB%A6A-C%C3%81C-C%C3%94NG-TY-NI%C3%8AM-Y%E1%BA%BET-TR%C3%8AN-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-CH%E1%BB%A8NG-KHO%C3%81N-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU XUNG QUANH THÔNG BÁO MUA LẠI CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

     

    Nguyễn Thị Hoa Hồng

    Trường Đại học Ngoại thương

    Email: [email protected]

    Nguyễn Văn Tùng

    Trường Đại học Ngoại thương

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận:  11/01/2019                       Ngày nhận lại:     13/04/2019               Ngày duyêt đăng: 16/04/2019

     

    Bài viết nghiên cứu biến động giá cổ phiếu xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu trên thị trường mở của các công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017. Sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty niêm yết tại Việt Nam hầu như

     

    không xuất hiện lợi nhuận bất thường tích lũy trong cửa sổ sự kiện năm ngày trước và xung quanh thời điểm doanh nghiệp thông báo mua lại, ngoại trừ biến động giá giảm xuống tại ngày thông báo và sau thời điểm đó. Nghiên cứu cũng đưa ra giải thích rằng các doanh nghiệp chỉ có ý định thông báo mua lại cổ phiếu để tăng giá cổ phiếu chứ không có ý định thực hiện nên thị trường phản ứng tiêu cực sau thông báo. Bên cạnh đó, nghiên cứu phân tích các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị ghi sổ càng ít, tỷ lệ sở hữu nhà nước thấp thì càng có ảnh hưởng tới lợi nhuận bất thường tích lũy xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu.

     

    Từ khóa: Biến động giá cổ phiếu, lợi nhuận bất thường tích lũy, mua lại cổ phiếu, hồi quy OLS.

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Từ đầu những năm 90, mua lại cổ phiếu đã được xem là một chiến lược tài chính rất quan trọng của các công ty ở các nước phát triển như Mỹ hay các nước ở Châu Âu (Grullon và Michaely, 2002). Một trong những động cơ quan trọng mà các doanh nghiệp muốn đạt được thông qua mua lại cổ phiếu là cải thiện giá cổ phiếu bằng cách phát tín hiệu đến thị trường rằng cổ phiếu của doanh nghiệp đang bị định giá thấp (Dittmar, 2000; Voss, 2012). Các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra phản ứng tích cực của thị trường sau các thông báo mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp, với lợi nhuận bất thường tích lũy từ 2,2% đến 17% xung quanh ngày thông báo (Masulis, 1980; Comment và Jarell, 1991 hay Chan và cộng sự, 2004).

     

    Tại thị trường Việt Nam, hoạt động mua lại cổ phiếu đã xuất hiện từ năm 2005 và trở nên phổ biến

    vào giai đoạn 2010-2012 theo số liệu được cung cấp bởi Công ty CP StoxPlus. Nghiên cứu của Từ Thị Kim Thoa và cộng sự (2015) đã kiểm định một số giả thuyết ảnh hưởng đến quyết định mua lại cổ phiếu ở Việt Nam và đưa ra kết quả doanh nghiệp thực hiện mua lại cổ phiếu nhằm phát tín hiệu tới thị trường về cổ phiếu đang bị định dưới giá. Tuy nhiên, quy định về mua lại cổ phiếu ở Việt Nam lại có nhiều khác biệt so với quy định trên các thị trường tiên tiến trên thế giới, trong đó tại Việt Nam các thông báo về chương trình mua lại cổ phiếu được thực hiện sau khi đã hoàn tất giao dịch, khiến phản ứng của nhà đầu tư đối với các thông báo mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp Việt Nam sẽ có những điểm không giống với thị trường thế giới.

     

    Với sự khác biệt về thị trường, pháp luật và quy mô, việc tìm hiểu về biến động giá cổ phiếu xung quanh các thông báo mua lại cổ phiếu tại Việt Nam

     

    khoa hoïc

     

    2thöông maïi

    Sè 128/2019

    2

     

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    là rất cần thiết để các doanh nghiệp nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của hoạt động này cũng như sử dụng công cụ mua lại cổ phiếu một cách hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ảnh hưởng sâu rộng tại Việt Nam.

     

    2. Tổng quan nghiên cứu về biến động giá cổ phiếu xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu

     

    Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đánh giá về biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp xung quanh các thông báo mua lại cổ phiếu, trong đó đều xuất phát từ giả thuyết doanh nghiệp thông báo mua lại cổ phiếu nhằm phát tín hiệu ra thị trường về việc doanh nghiệp đang bị định giá thấp. Nghiên cứu của Vermaelen (1981) trên 131 thương vụ chào mua cổ phiếu với giá cố định và 243 vụ mua lại cổ phiêu trên thị trường mở giai đoạn 1962-1978 đưa ra kết quả doanh nghiệp xuất hiện lợi nhuận bất thường dương trong 60 ngày trước và sau thông báo mua lại cổ phiếu. Nghiên cứu của Lakonishok và Vermaelen (1991) trên 258 vụ mua lại cổ phiếu với giá cố định tại Mỹ từ năm 1962 đến năm 1986 cũng đưa ra kết quả các thông báo mua lại cổ phiếu đều mang lại cho doanh nghiệp lợi nhuận bất thường tăng từ 15,75% lên 30,11%. Comment và Jarell (1991) tiếp tục cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về phản ứng của giá cổ phiếu đối với thông báo mua lại cổ phiếu trung bình khoảng 8,3% và 9,3% trong vòng 3 ngày và 7 ngày xung quanh ngày thông báo. Chan và các cộng sự (2004) tiến hành nghiên cứu trên 5508 thông báo mua lại cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường Mỹ giai đoạn 1980 – 1996 cũng cho kết quả tích cực: lợi nhuận bất thường tích lũy trong 3 ngày xung quanh ngày thông báo mua lại là 2,2%, phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đó. Nhóm tác giả Hatakeda và Isagawa (2004) sau khi kiểm định giá cổ phiếu của 452 doanh nghiệp niêm yết trên sàn Tokyo, Nhật Bản xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu từ tháng 11/1995 đến tháng 11/1998 cũng cho thấy kết quả giá cổ phiếu tăng sau khi doanh nghiệp thông báo mua lại cổ phiếu, cụ thể tăng 0,91% ngay trong ngày thông báo và 1,24%; 2,15% vào ngày +1 và ngày +2 sau thông báo.

     

    Có thể thấy rằng các nghiên cứu về biến động giá cổ phiếu xung quanh các thông báo mua lại cổ phiếu đều sử dụng phương pháp kiểm định xem có sự xuất hiện của lợi nhuận bất thường xung quanh sự kiện này hay không. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trịnh Tấn Lực (2015) cũng chỉ ra

     

    rằng thị trường có phản ứng với các thông báo mua lại cổ phiếu trong giai đoạn 1008-2014 nhưng phản ứng chậm thông qua việc giá cổ phiếu tăng trong một giai đoạn sau khi thông tin được công bố. Tuy nhiên, vẫn rất ít nghiên cứu bổ sung thêm nội dung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường tích lũy xung quanh các thông báo mua lại cổ phiếu. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước thì bài viết tập trung phân tích biến động giá cổ phiếu xung quanh các thông báo mua lại cổ phiếu trên thị trường mở tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 và kiểm định các nhân tố có ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường tích lũy xung quanh sự kiện này.

    3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

    3.1. Dữ liệu

     

    Mẫu nghiên cứu ban đầu bao gồm tất cả các thông

     

    báo mua lại cổ phiếu trên thị trường mở của tất cả các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017 được cung cấp bởi Công ty CP StoxPlus. Trong giai đoạn này có 833 thông báo mua lại cổ phiếu trên thị trường mở, tuy nhiên chỉ những thông báo thỏa mãn các điều kiện loại trừ mới được giữ lại trong nghiên cứu:

     

    Ủy ban Chứng khoán Việt Nam cho phép các công ty thông báo mua lại cổ phiếu sau khi thực hiện trong thời hạn không quá 10 ngày, vì vậy nghiên cứu loại bỏ các thông báo quá thời hạn này.

     

    Nghiên cứu cũng loại bỏ các công ty trong ngành tài chính, các thông báo có tỷ lệ cổ phiếu đăng ký mua lại trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường của công ty đó nhỏ hơn 0,25%.

     

    Nghiên cứu loại bỏ các thông báo không có đầy đủ dữ liệu theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu như giá cổ phiếu và giá tham số thị trường VN-Index trong cửa sổ dự báo là [-121, -11] và cửa sổ sự kiện [-5, 5].

     

    Sau khi lọc dữ liệu với các tiêu chí trên, từ 833 thông báo mua lại cổ phiếu giai đoạn 2011 – 2017, mẫu quan sát của bài nghiên cứu còn lại 206 thông báo.

     

    Nghiên cứu chia 206 thông báo thành ba nhóm (Bảng 1):

     

    • Nhóm A – Các công ty không mua lại bất kỳ cổ phiếu nào như thông báo
    • Nhóm B – Các công ty thực hiện mua lại cổ phiếu ít hơn so với số lượng đã thông báo
    • Nhóm C – Các công ty thực hiện mua lại nhiều hơn hoặc bằng 100% số lượng cổ phiếu đã đăng ký
     

    khoa học

     
       

    3

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    trước đó. Số quan sát của toàn bộ mẫu và của mỗi

    Lợi nhuận kỳ vọng của một cổ phiếu được xác

    nhóm được cho trong bảng sau.

           

    định bằng mô hình thị trường (market model), với

       

    Có thể thấy rằng trong giai đoạn 2011 – 2017,

    chỉ số thị trường được dùng là chỉ số VN-Index:

    nhiều công ty nhiều lần thông báo mua lại cổ phiếu

    E(Ri,t) = αi + βi x Rm,t

     

    với 174 công ty nhưng có đến 206 thông báo mua lại

    Trong đó Rm,t là lợi nhuận của thị trường ở ngày

    cổ phiếu trên thị trường mở. Xét theo ba nhóm, số

    t, sử dụng chỉ số VN-Index. Các tham số α và β

    lượng các thông báo trong nhóm A và nhóm B (139

    được ước lượng bằng phương pháp hồi quy trong

    thông báo) cao hơn 2 lần so với nhóm C (67 thông

    cửa sổ dự báo [-121, -11]

     

    báo). Điều này cho thấy chỉ có 32,5% số lượng thông

    Lợi nhuận bất thường (Abnormal Return – AR)

    báo mua lại được các công ty thực hiện đầy đủ.

     

    và lợi nhuận bất thường tích lũy (Cumulative

         

    Bảng 1: Số lượng thông báo mua lại cổ phiếu và công ty theo 3 nhóm

    Abnormal Return – CAR)

                       

    trong giai đoạn 2011 – 2017

           

    được tính như sau:

                                       
           

    Năm

     

    2011

    2012

     

    2013

     

    2014

    2015

    2016

    2017

    Tәng

     
       

    Sӕ công ty

     

    74

    44

     

    13

     

    13

    17

    6

    7

    174

       
       

    Sӕ thông báo

     

    91

    55

     

    13

     

    14

    19

    6

    8

    206

       
       

    Nhóm A

     

    8

    4

     

    0

     

    2

    6

    0

    0

    20

       
       

    Nhóm B

     

    55

    37

     

    9

     

    6

    6

    2

    4

    119

     

    Trong đó ARi,t là lợi

       

    Nhóm C

     

    28

    14

     

    4

     

    6

    7

    4

    4

    67

     
               

    nhuận bất thường của cổ

                                           

    phiếu  i  trong  ngày  t;

       

    Nguồn: Nhóm tác giả thống kê từ dữ liệu tài chính của StoxPlus

       

    CARi[t1;t2] là lợi nhuận

       

    3.2. Phương pháp nghiên cứu

               

    bất thường tích lũy của cổ

           

    phiếu i trong khoảng thời gian từ ngày t1 đến ngày t2;

       

    Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đánh

    Lợi nhuận bất thường tích luỹ trong bài nghiên

    giá biến động giá cổ phiếu xung quanh thông báo

    cứu được tính toán trong các cửa sổ sự kiện là [-5, –

    mua lại cổ phiếu là phương pháp nghiên cứu sự kiện

    1], [-4, -1], [-3, -1], [-2, -1], [1, 2], [1, 3], [1, 4], [1,

    (Event Study) để tính toán lợi nhuận bất thường tích

    5], [-5, 5], [-3, 3], [-1, 1].

     

    lũy xung quanh thời điểm doanh nghiệp thông báo

    4. Kết quả nghiên cứu

    mua lại cổ phiếu và kiểm định giá trị thống kê T để

    4.1. Kết quả mô hình sử dụng phương pháp

    đánh giá giả thuyết cho rằng thông báo mua lại cổ

    nghiên cứu sự kiện

     

    phiếu có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty

    Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra

    hay không. Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng phương

    rằng thông báo mua lại làm tăng giá cổ phiếu doanh

    pháp hồi quy bình phương thông thường nhỏ nhất

    nghiệp như Masulis (1980), Comment và Jarell

    (Ordinary Least Square – OLS) nhằm phân tích các

    (1991), Chan và cộng sự (2004) và Andriosopoulos

    nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường tích lũy

    and Lasfer (2015). Tuy nhiên, kết quả từ nghiên cứu

    xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu.

       

    này lại có sự khác biệt rất lớn với những nghiên cứu

       

    Phương pháp nghiên cứu sự kiện trong bài chọn

    trên thế giới, trong đó tất cả các công ty niêm yết tại

    cửa sổ dự báo từ -[121, -11] và cửa sổ sự kiện [-5;

    Việt Nam đều không xuất hiện lợi nhuận bất thường

    5] để đánh giá tác động của thông báo mua lại cổ

    tích lũy (CAR) trong các cửa sổ sự kiện trước và

    phiếu đến giá cổ phiếu với ngày sự kiện (ngày t=0)

    xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu. Điều này có

    là ngày công ty đưa ra thông báo mua lại cổ phiếu.

    thể được lý giải là do khung pháp luật và các quy

       

    Lợi nhuận hằng ngày thực tế của một cổ phiếu

    định về mua lại cổ phiếu tại Việt Nam chưa được

    được tính theo công thức:

           

    hoàn thiện nên các doanh nghiệp dường như chỉ sử

                                   

    dụng mua lại cổ phiếu để làm tăng giá cổ phiếu mà

                                   

    không có ý định thực hiện theo đúng thông báo.

       

    Trong đó: Ri,t là lợi nhuận thực tế của cổ phiếu i

    Điều này phần nào làm mất niềm tin với cổ đông

    tại ngày t, Pi,t là giá của cổ phiếu i vào ngày t, Pi,t–1

    nên cổ đông không quan tâm tới những tín hiệu mà

    là giá của cổ phiếu i vào ngày t–1.

       

    các thông báo mua lại cổ phiếu phát ra cho thị

    4

       

    khoa học

                               
       

    thương mại

                             

    Sè 128/2019

     

    Sè 128/2019

     

    trường. Bằng chứng là trong 206 thông báo mua lại cổ phiếu chỉ có 67 thông báo là hoàn thành, còn lại là không được thực hiện theo đúng như thông báo (Số liệu Bảng 1).

    Kết quả từ bảng 2 cũng chỉ ra lợi nhuận bất thường tích lũy âm chỉ tồn tại ở cửa sổ sự kiện [1, 2], [1, 3], [1, 4] sau thông báo mua lại cổ phiếu có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và 10% với toàn bộ mẫu và nhóm B (nhóm những công ty mua lại cổ phiếu ít hơn so với thông báo). Con số này một lần nữa

     

    6ӕ WURQJ QJRһF ÿѫQ Oj JLi WUӏ WKӕQJ Nr W

     
     
     

    WѭѫQJ ӭQJ YӟL FiF PӭF ê QJK D 5% và 10%

     

    7UѭӟF QJj\ W   

    t = 0

    Sau ngày t = 0

    Xung quanh ngày t = 0

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

       

    Bảng 2: Lợi nhuận bất thường tích luỹ của các công ty niêm yết

    chứng minh cho nguyên

         

    báo mua lại cổ phiếu tại Việt Nam giai đoạn 2011-2017

     
     

    có thông

    nhân nhóm tác giả đưa ra

     

    CAR

    7RjQ Eӝ PүX

    Nhóm A

    Nhóm B

    Nhóm C

    rằng

    doanh nghiệp

    chỉ

     
     

    định sử dụng mua lại cổ

         

    0,004

    -0,001

    0,005

    0,003

     

    [-5;-1]

    phiếu

    như

    một công

    cụ

     

    (1,018)

    (-0,114)

    (0,994)

    (0,441)

    thao túng giá nên các nhà

         
         

    0,004

    0,002

    0,005

    0,002

    đầu tư mất niềm tin vào

     

    [-4;-1]

    các thông tin này. Vì vậy,

     

    (1,106)

    (0,402)

    (1,079)

    (0,282)

         

    giá cổ phiếu có xu hướng

         

    0,002

    0,004

    0,002

    0,001

     

    [-3;-1]

    giảm xuống sau thông báo

     

    (0,510)

    (0,564)

    (0,385)

    (0,140)

    mua lại với -4%; -4%; –

         
     

    [-2;-1]

    0,001

    0,003

    0,001

    0,001

    6% sau 2; 3; 4 ngày thông

     

    báo mua lại đối với toàn

     

    (0,401)

    (0,610)

    (0,146)

    (0,304)

         

    bộ mẫu và -4%; -7%; -7%

         

    -0,002

    -0,005

    -0,001

    -0,003

     

    [0]

    sau 2; 3; 4 ngày thông báo

     

    (-1,229)

    (-1,495*)

    (-0,413)

    (-1,120)

    đối với nhóm B. Nói một

         
     

    [1;2]

    -0,004

    -0,006

    -0,004

    -0,002

    cách

    khác, việc

    không

     

    (-1,561*)

    (-0,769)

    (-1,462*)

    (-0,383)

    thực hiện mua lại cổ phiếu

         

    theo

    đúng

    số lượng

    cổ

         

    -0,004

    0,001

    -0,007

    -0,001

     

    [1;3]

    phiếu như đã thông báo đã

             
     

    (-1,428*)

    (0,090)

    (-1,876**)

    (-0,193)

    gây thất vọng cho một số

         
     

    [1;4]

    -0,006

    -0,005

    -0,007

    -0,003

    nhà đầu tư quan tâm tới

     

    (-1,573*)

    ( -0,432)

    (-1,647*)

    (-0,477)

    các thông báo này. Vì vậy,

         

    phản ứng tiêu cực của thị

         

    -0,004

    -0,013

    -0,003

    -0,003

     

    [1;5]

    trường đối với thông báo

     

    (-1,083)

    (0,807)

    (-0,721)

    (-0,400)

         

    mua  lại  cổ  phiếu  của

     

    [-5;5]

    -0,002

    -0,019

    0,001

    -0,003

    doanh nghiệp kể từ thời

     

    (-0,381)

    (-1,036)

    (0,117)

    (-0,265)

    điểm doanh này là một lẽ

         

    tất yếu, đặc biết

    thể

         

    -0,005

    -0,001

    -0,006

    -0,004

     

    [-3;3]

    thấy rõ tại nhóm những

     

    (-0,972)

    (-0,040)

    (-0,929)

    (-0,403)

         

    doanh nghiệp không mua

     

    [-1;1]

    -0,001

    -0,003

    -0,003

    0,003

    lại một cổ phiếu nào như

     

    (-0,284)

    (-0,480)

    (-0,699)

    (0,677)

    thông báo – Nhóm A (phản

         
         

    ứng ngay tại ngày sự kiện

                 
                 

    với CAR là -5% có ý

                 

    nghĩa thống kê ở mức

    Nguồn: Nhóm tác giả tính toán bằng phần mềm stata 13

     

    10%)

     

    nhóm

    những

     

    doanh nghiệp không hoàn

                 

    thành kế hoạch mua lại

             

    (phản ứng ở các khoảng thời gian lần lượt là 2 ngày,

             

    3 ngày và 4 ngày sau thông báo).

           
             

    4.2. Kết quả mô hình sử dụng phương pháp hồi

             

    quy với dữ liệu chéo

                 
             

    4.2.1. Mô hình nghiên cứu

               
             

    Để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng tới lợi

             

    nhuận bất thường tích lũy xung quanh thông báo

             

    mua lại cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt

             

    Nam giai đoạn 2011-2017, nghiên

    cứu sử dụng

                     

    khoa học

         
                           

    5

                     

    thương mại

       
                               

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS).

    nhân tố có ảnh hưởng tới lợi nhuận bất thường tích

    Mô hình được xây dựng bao gồm các biến độc lập

    luỹ xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu. Trong

    và phụ thuộc như sau:

    vòng 7 ngày xung quanh thời điểm doanh nghiệp

    CARit[-3;3]

    = α0  + α1REPOit+ α2SIZEi(t-1)+

    thông báo mua lại cổ phiếu, CAR dao động từ –

    α3LEVi(t-1)+

    α4MTBVi(t-1)+   α5ROAi(t-1)   +

    30,4% đến 26,2%; tỷ lệ đăng ký mua lại (REPO) cao

    α6STATEi(t-1) +ui

    nhất là 25% (đây là tỷ lệ đăng ký của mã chứng

    Trong đó:

     

    khoán VCS, công bố ngày 29/9/2014). Tính thanh

    i là công ty thông báo mua lại cổ phiếu

    khoản của 206 mẫu quan sát cũng khá tốt với giá trị

    t là thời gian, được đo lường bằng năm tài chính

    trung bình của biến LEV là 1,496. Biến MTBV có

    của công ty

     

    giá trị trung bình là 0,932 chứng tỏ các doanh

    Hầu hết các biến độc lập trong mô hình được tính

    nghiệp có giá trị sổ sách cao hơn giá trị thị trường.

    ở thời gian (t-1), tức là

     

    vào năm tài chính Bảng 3: Định nghĩa các biến và dấu kỳ vọng của các biến độc lập trong mô hình OLS trước năm công ty

    thông báo mua lại cổ

    BiӃQ ÿӝc lұp

       

    Dҩu kǤ

     

    phiếu,

    riêng

     

    biến

    Giҧi thích

    Lұp luұn vӅ dҩu kǤ vӑng

    vӑng

     
         
       

    BiӃn phө thuӝc, là lӧi nhuұn

         

    REPO được đo lường

           
     

    bҩW  WKѭӡng tích luӻ cӫa công

         

    vào

       

    năm

     

    doanh

           
         

    CAR [-3; 3]

    ty trong cӱa sә sӵ kiӋn [-3, 3]

         

    nghiệp thông báo mua

     

    xung quanh ngày thông báo

         

    lại cổ phiếu.

               

    mua lҥi cә phiӃu

         
               

    Tӹ lӋ giӳa sӕ Oѭӧng cә phiӃu

    Tӹ sӕ REPO càng cao sӁ tҥo ra kǤ

       

    Khung sự kiện [-3,

         

    REPO

    F{QJ W\ ÿăQJ Nê PXD Oҥi và sӕ

    vӑng vӅ viӋF  WăQJ  FKӍ sӕ thu nhұp

    +

     

    3] được coi là khoảng

     

    Oѭӧng cә phiӃX ÿDQJ OѭX KjQK

    trên mӝt cә phiӃu (EPS) khiӃn nhu

     
         

    thời

     

    gian

    vừa

       

    đủ,

       

    cҫu vӅ cә phiӃX F{QJ W\ WăQJ

       
           

    /RJDULW FӫD WәQJ WjL VҧQ

    &iF F{QJ W\ FjQJ QKӓ WKѭӡQJ Fy NKҧ

       

    không quá dài để đo

         
       

    QăQJ FjQJ  tW  [ҧ\  UD  KLӋQ  WѭӧQJ  EҩW

       

    lường được chính xác

    SIZE

     

    +

     
     

    FkQ [ӭQJ  WK{QJ  WLQ QrQ  FiF QKj ÿҫX

     

    những tác động của sự

       

    Wѭ  Fy  [X  KѭӟQJ  WLQ  WѭӣQJ  YjR  FiF

       

    kiện mua lại cổ phiếu

       

    WK{QJ EiR PXD OҥL Fә SKLӃX KѫQ

       
     

    7әQJ Qӧ9ӕQ FKӫ Vӣ KӳX

    &iF  F{QJ  W\  Fy  FKӍ  Vӕ  ÿzQ  Eҭ\  WKҩS

       

    lên

    CAR của

    doanh

    LEV

       
     

    Fy  [X  KѭӟQJ  PXD  OҥL  Fә  SKLӃX  ÿӇ

    ±

     

    nghiệp,

    đây

    cũng là

       
       

    ÿѭD FKӍ Vӕ ÿzQ Eҭ\ YӅ PӭF WӕL ѭX

       

    khung

    sự kiện

     

    phổ

     

    Tӹ lӋ giá trӏ thӏ WUѭӡng trên giá

    Sӵ chênh lӋch càng lӟn giӳa giá trӏ

       

    biến trong các nghiên

    MTBV

    trӏ ghi sә

    thӏ WUѭӡng và giá trӏ sә sách càng

    +

     

    cứu

    kiểm định

    OLS

     

    WK~F  ÿҭy doanh nghiӋp thӵc hiӋn

     
       

    mua lҥi cә phiӃX ÿӇ phát tín hiӋu tӟi

       

    các nhân tố ảnh hưởng

           
       

    thӏ WUѭӡng

       

    đến CAR của doanh

     

    7ӹ  OӋ  JLӳD  OӧL  QKXұQ  VDX  WKXӃ

    7K{QJ WKѭӡng, các doanh nghiӋp có

       

    nghiệp

    xung

    quanh

     

    WUrQ WәQJ WjL VҧQ

    chӍ sӕ ROA cao có nhiӅX Fѫ KӝL KѫQ

       
       

    vӟi nhӳng khoҧQ  ÿҫX  Wѭ  WKӵc sinh

       

    thông báo mua lại cổ

           

    ROA

     

    lӡi so vӟi nhóm doanh nghiӋp có chӍ

    ±

     

    phiếu như Grullon và

       
     

    sӕ ROA thҩS  KѫQ  Vì vұy doanh

     
           

    Michaely

    (2002),

       

    nghiӋp vӟi chӍ sӕ ROA thҩp cҧm

       

    Andriosopoulos

       

    and

       

    thҩy viӋc dùng tiӅQ ÿӇ mua lҥL Oѭӧng

       
           

    cә phiӃu là giҧL SKiS WăQJ 52$

       

    Lasfer (2015)…

                 
           

    7ӹ OӋ Vӣ KӳX QKj QѭӟF

    &iF  F{QJ  W\  QJRjL  NKӕL  TXӕF  GRDQK

       

    4.2.2. Thống kê mô

       

    Fy  [X  KѭӟQJ  NLӇP  VRiW  Yj  F{QJ  Eӕ

       

    tả các biến trong mô

    STATE

     

    WK{QJ WLQ WӕW KѫQ VR YӟL FiF F{QJ W\

    ±

     

    hình hồi quy

               

    QKj QѭӟF QrQ FiF WK{QJ EiR PXD OҥL

     
                 

    Fә SKLӃX FӫD FiF F{QJ W\ QJRjL TXӕF

       

    Bảng 4

    dưới

       

    đây

           
           

    GRDQK  WKѭӡQJ  ÿѭӧF  WKӏ  WUѭӡQJ  tin

       

    mô tả một số đặc điểm

       

    WѭӣQJ KѫQ

       

    định

     

    lượng

    của

       

    các

    (Trong đó: + là tương quan thuận chiều, – là tương quan nghịch chiều)

    biến

     

    trong

    hình

    hồi quy kiểm định các

    Nguồn: Tác giả tự xây dựng và tổng hợp

       

    6

     

    khoa học

                   
     

    thương mại

             

    Sè 128/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    Biến ROA có giá trị nhỏ nhất là -0,072, cho thấy trong 206 thông báo mua lại cổ phiếu vẫn có những doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu âm. Trong số các mẫu quan sát có các công ty không có sở hữu nhà nước nhưng cũng có công ty mà nhà nước sở hữu đến 96,7%.

     

    4.2.3. Kết quả nghiên cứu sử

     

    Bảng 4: Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy

     

     

    BiӃn

    Sӕ Oѭӧng

    Giá trӏ

    Ĉӝ lӋch

    Giá trӏ

    Giá trӏ

     

    mүu

    trung bình

    chuҭn

    nhӓ nhҩt

    lӟn nhҩt

       
     

    CAR[-3;3]

    206

    -0,005

    0,069

    -0,304

    0,262

     

    REPO

    206

    0,049

    0,041

    0,003

    0,250

     

    SIZE

    206

    27,387

    1,817

    23,381

    32,877

     

    LEV

    206

    1,496

    1,836

    0,038

    12,966

     

    MTBV

    206

    0,932

    0,531

    0,259

    3,118

     

    ROA

    206

    0,088

    0,080

    -0,072

    0,415

     

    STATE

    206

    0,174

    0,215

    0

    0,967

    Nguồn: Nhóm tác giả tính toán bằng phần mềm stata 13

     

    Bảng 5: Kết quả hồi quy OLS theo toàn bộ mẫu và từng nhóm doanh nghiệp

     

     

    dụng mô hình hồi quy tuyến tính

     

    Kết quả kiểm định hồi quy OLS nhằm phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến lợi nhuận bất thường tích luỹ trong cửa sổ sự kiện [-3, 3] xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu được trình bày ở Bảng 5 dưới đây:

     

    Kết quả từ mô hình OLS trong bảng 5 đã giải thích sự phụ thuộc của lợi

     

    nhuận bất thường tích lũy trong cửa sổ sự kiện [-3, 3] xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu vào các biến độc lập SIZE, MTBV và STATE với mức ý nghĩa thống kê cao.

     

    CAR[-3,3]

    ‘ҩX NǤ YӑQJ

    7RjQ Eӝ PүX

    Nhóm A

    Nhóm B

    Nhóm C

     
                 

    REPO

    +

    0,046

    -0,369

    0,264

    -0,152

     

    (0,31)

    (-0,72)

    (1,50)

    (-0,80)

     
       

    SIZE

    +

    0,007

    -0,001

    0,008

    0,011

     

    (2,63***)

    (-0,28)

    (2,31**)

    (1,69*)

     
       

    LEV

    ±

    0,001

    0,005

    -0,000

    0,002

     

    (0,41)

    (0,34)

    (-0,03)

    (0,27)

     
       

    MTBV

    +

    -0,012

    -0,027

    -0,007

    -0,031

     

    (-1,66*)

    (-0,57)

    (-0,77)

    (-2,04**)

     
       

    ROA

    ±

    0,098

    0,199

    0,070

    0,173

     

    (1,69*)

    (0,86)

    (0,92)

    (0,80)

     
       

    STATE

    ±

    -0,047

    -0,162

    -0,025

    -0,063

     

    (-2,18**)

    (-2,70***)

    (-0,86)

    (-1,23)

     
       

    _cons

     

    -0,198

    0,090

    -0,246

    -0,283

     
     

    (-2,43**)

    (0,59)

    (-2,35**)

    (-1,58)

     
       

    N

     

    206

    20

    119

    67

     

    R2 ÿLӅX

     

    0,030

    0,344

    0,048

    0,015

     

    FKӍQK

     
               

    7KӕQJ Nr )

     

    2,07*

    2,66*

    2,01*

    1,16*

     
                 

    WѭѫQJ ӭQJ YӟL FiF PӭF ê QJKƭD   Yj 

     

    Nguồn: Nhóm tác giả tính toán bằng phần mềm stata 13

     

     

     

    khoa học

     
       

    7

     

    thương mại

    Sè 128/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Biến SIZE tương quan dương giống dấu kỳ vọng với biến phụ thuộc CAR trong cửa sổ [-3, 3] với ý nghĩa thống kê ở mức 1% trên toàn bộ mẫu và 5%; 10% trên nhóm B và nhóm C, chỉ ra rằng công ty có quy mô càng lớn thì phản ứng của thị trường càng tích cực với các thông báo mua lại cổ phiếu.

     

    Nghiên cứu cũng tìm ra bằng chứng về mối liên hệ giữa tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách với CAR [-3, 3] nhưng khác với dấu kỳ vọng thì biến MTBV có tương quan âm với biến phụ thuộc ở mức thống kê ở mức 10% trên toàn bộ mẫu và 5% với nhóm C. Điều này cho thấy doanh nghiệp càng ít có sự chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách thì có xu hướng thực hiện các hoạt động mua lại cổ phiếu.

     

    Bên cạnh đó, biến STATE cũng xác định được mối tương quan âm với CAR [-3, 3] giống với dấu kỳ vọng ở mức ý nghĩa thống kê 5% trên toàn bộ mẫu và 1% với nhóm A, tức doanh nghiệp mà tỷ lệ sở hữu nhà nước càng ít thì thị trường càng phản ứng tích cực với các thông báo mua lại cổ phiếu.

     

    Mô hình có hệ số xác định bội R2 lần lượt là 0,030; 0,344; 0,048 và 0,015 với toàn bộ mẫu, nhóm A, nhóm B và nhóm C thể hiện các biến độc lập giải thích được 3%; 34,4%; 4,8% và 1,5% giá trị của biến phụ thuộc CAR[-3, 3]. Thống kê F của mô hình cũng đều nhỏ hơn 0,1 nên mô hình này được coi là phù hợp.

     

    Kết luận

     

    Mua lại cổ phiếu là một công cụ tài chính không còn xa lạ và được các công ty trên nhiều thị trường chứng khoán tiên tiến trên thế giới sử dụng nhằm mang lại những ảnh hưởng tích cực về giá cổ phiếu tới chính doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, khác với những kết quả tích cực về giá cổ phiếu xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu trên thế giới thì nghiên cứu tại Việt Nam trên hai sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2011-2017 trên tất cả các thông báo mua

     

    lại cổ phiếu trên thị trường mở lại đưa ra kết quả khác biệt. Bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện, kết quả cho thấy hầu như không xuất hiện lợi nhuận bất thường tích lũy vào thời điểm trước và xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu tại Việt Nam. Nhóm tác giả cũng đưa ra giải thích do hệ thống pháp luật và quy định của Việt Nam còn nhiều lỗ hổng nên các nhà đầu tư dương như không mấy quan tâm tới các thông báo mua lại cổ phiếu trong khi các doanh nghiệp cũng chỉ có ý định sử dụng mua lại cổ phiếu nhằm tăng giá cổ phiếu mà không mất nhiều chi phí chứ không có ý định thực hiện mua lại theo đúng thông báo. Bằng chứng là ngay tại thời điểm doanh nghiệp thông báo và sau thông báo đã xuất hiện lợi nhuận bất thường tích luỹ âm với toàn bộ mẫu quan sát và những nhóm không mua lại cổ phiếu nào hoặc mua lại ít hơn so với đăng ký.

     

    Kết quả mô hình hồi quy OLS cũng đã đưa ra thêm thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến CAR [-3, 3] xung quanh thông báo mua lại cổ phiếu bao gồm biến SIZE, MTBV và STATE. Điều này chỉ ra rằng, doanh nghiệp càng lớn, càng ít có sự chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách cũng như tỷ lệ sở hữu nhà nước thấp thì thị trường phản ứng tích cực hơn với các thông báo mua lại cổ phiếu.

     

    Có thể thấy phần lớn các chương trình mua lại cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đáp ứng được kỳ vọng của cả thị trường và doanh nghiệp đến từ nhiều phía, vì thể đòi hỏi Nhà nước cần hoàn thiện hơn thị trường chứng khoán tương lai cũng cần nâng cao hiểu biết và nhận thức về mua lại cổ phiếu với tất cả các đối tượng tham gia thị trường tài chính như doanh nghiệp, nhà đầu tư, các đối thủ cạnh tranh…. Thực

     

    hiện được những điềunày, trong tương lai, thị trường chứng khoán Việt Nam mới có thể trở

     

    8

    khoa học

     

    thương mại

     

    Sè 128/2019

           

    thành một kênh đầu tư an toàn, hiệu quả và hấp dẫn. Các nhà đầu tư cũng có niềm tin vào các thông tin tài chính từ doanh nghiệp và trên thị trường. Doanh nghiệp cũng sẽ sử dụng công cụ mua lại cổ phiếu hiệu quả hơn để thực hiện những mục tiêu nhất định của mình.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Andriosopoulos, D. and Lasfer, M., 2015, The market valuation of share repurchases in Europe, Journal of Banking and Finance,55, 327-339.
    2. Comment, R. & Jarrell, G.A., 1991, The rela-tive signaling power of dutchauction and fixed-price self-tender offers and open-market share repurchas-es, Journal of Finance, 46(4), 1243–1271.
    3. Chan, K., Ikenberry, D. & và Lee, I., 2004,

    Economic sources of gain in stock repurchases, Journal of Financial Economics, 8(2), 139-178.

    1. Grullon, G.  and  Michaely,  R.,  2002,

    Dividends,     Share     Repurchases,      and     the

     

    Substitution     Hypothesis,        The     Journal     of

     

    Finance,LVII(4), 1649-1684.

     

    1. Hatakeda, T. and Isagawa, N., 2004, Stock price behavior surrounding stock repurchase announcements: Evidence from Japan, Pacific-Basin Finance Journal,12, 271-290.
    1. Lakonishok, J. & Vermaelen, T., 1990,

    Anomalous Price Behavior Around Repurchase Tender Offers, The Journal of Finance, XLV(2), 455-477.

    1. Masulis, R.W., 1980, The effects of capital structure change on security prices: A study of exchange offers, Journal of financial economics, 8(2), 139-178.
    2. Vermalen, T., 1981, Common Stock Repurchases and Market Signalling: An Empirical Study, Journal of Financial Economics, 9, 139-183.

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    1. Từ Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Uyên Uyên và

    Vũ Minh Hà, 2015, Nhân tố nào tác động đến mua lại cổ phiếu? Trường hợp Việt Nam, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 23 (33)/2015, trang 65-71.

    1. Võ Xuân Vinh và Trịnh Tấn Lực, 2015, Phản ứng của thị trường khi doanh nghiệp công bố thông tin mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 117, trang 35-44.

    Summary

     

    The paper examines stock price fluctuations around the announcement of stock repurchase on the open market of companies listed on the HOSE and HNX in Vietnam for the period of 2011-2017. Using the method of event research, the study indicates that listed companies in Vietnam hardly display abnormal accumulated profits in the event window of five previous days and around the time the busi-ness announces buy-back activity, except for price reduction at the announcement day and after that time. The study also explained that businesses only intended to announce the acquisition of shares to increase stock prices but did not implement the real transaction; therefore, the market reacted negatively after the announcement. Besides, the study also ana-lyzed that enterprises with larger scale, the less the difference between market value and book value, the lower the state ownership rate will have greater effect on the abnormal accumulated profit around the buy-back notice.

     

     

    khoa học

     

    Sè 128/2019                                                                                                                                   thương mại  9


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/PH%C3%82N-T%C3%8DCH-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-T%C3%81C-%C4%90%E1%BB%98NG-T%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-T%C3%80I-CH%C3%8DNH-H%E1%BB%86-TH%E1%BB%90NG-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TH%C6%AF%C6%A0NG-M%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-GIAI-%C4%90O%E1%BA%A0N-T%C3%81I-C%C6%A0-C%E1%BA%A4U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TÁI CƠ CẤU

     

    Lê Thanh Phương

     

    Trường đại học Hàng hải Việt Nam

     

    Email: [email protected]

     

    Ngày nhận:  19/02/2019                        Ngày nhận lại:     06/03/2019               Ngày duyêt đăng: 12/03/2019

     

    • ài báo đi sâu phân tích một số nhân tố bên trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể tác động tới hiệu quả sinh lời của các ngân hàng trong giai đoạn tái

    cơ cấu. Sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu từ 2011 đến 2015, tác giả chỉ ra các nhân tố bao gồm cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, mức độ nợ xấu và quy mô tài sản có tác động đáng kể tới khả năng sinh lời các ngân hàng. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM.

     

    Từ khóa: hiệu quả tài chính, tái cơ cấu, ngân hàng thương mại.

     

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Các ngân hàng thương mại Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt đối với khu vực tài chính nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Hệ thống các NHTM đã và đang là trụ cột của hệ thống tài chính khi là kênh huy động và cung ứng vốn chủ đạo phục vụ tăng trưởng kinh tế. Theo chiến lược phát triển thị trường tài chính đến năm 2020, giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu phải đạt mức 70% GDP, tuy nhiên tính đến cuối năm 2015 mới đạt 34%. Đến năm 2020, dư nợ thị trường trái phiếu phải đạt 38% GDP nhưng tính đến năm 2015 mới đạt mức 24,6%. Với sự phát triển

    thiếu cân bằng của thị trường tài chính, đến nay hệ thống ngân hàng cùng với các tổ chức tín dụng khác đang chiếm tới 96% tổng giá trị tài sản của hệ thống tài chính (UBGSTCQG, 2016). Do đó, hiệu quả hoạt động khu vực ngân hàng đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO chứng kiến sự phát triển nóng của toàn hệ thống song không đi liền với nâng cao hiệu quả và chất lượng quản trị. Hệ quả là chất lượng tài sản và tín dụng các ngân hàng thương mại giảm sút, nợ xấu tăng cao.

     

     

    khoa học

     
       

    15

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    Nhận thức được tính cấp thiết của việc cơ cấu lại hệ thống TCTD, NHNN đã chủ động yêu cầu toàn ngành Ngân hàng phát huy nội lực để triển khai các biện pháp cơ cấu lại ngay khi Đề án được ban hành. NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 454/QĐ-TTg ngày 13/03/2013 và Quyết định 363/QĐ-TTg ngày 11/03/2014 thành lập Ban chỉ đạo liên ngành triển khai Đề án. Về phía ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2012 về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, làm cơ sở để triển khai thực hiện Đề án. Trên cơ sở đó và trước áp lực từ phía thị trường, bản thân các NHTM cũng chủ động xây dựng và triển khai đề án tái cơ cấu cho riêng mình.

     

    Giai đoạn 2011-2015, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực hiện đề án tái cơ cấu theo quyết định 254 ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ với nhiều biện pháp như: yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng vốn; đưa các ngân hàng cổ phần yếu kém vào diện kiểm soát và bảo đảm thanh khoản; cho phép sáp nhập và mua lại; NHNN mua lại các ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng; xử lý nợ xấu và thành lập công ty quản lý tài sản (VAMC). Các biện pháp đã nêu có tác động lớn tới hệ thống NHTM trong ngắn hạn cũng như dài hạn, đặc biệt là khả năng sinh lời của các ngân hàng. Các biện pháp tái cơ cấu đòi hỏi các NHTM phải tuân thủ các quy định chặt chẽ hơn trong cho vay, giới hạn tăng trưởng tín dụng bị giảm, nợ xấu phải được giải quyết dựa trên cơ sở trích lập dự phòng rủi ro tín dụng… chính những điều này tác động không nhỏ tới lợi nhuận và khả năng sinh lời các NHTM.

     

    Nghiên cứu các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của NHTM sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách bao gồm Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đề ra các chính sách nhằm gia tăng năng lực hoạt động và khả năng sinh lời của các ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng giúp các nhà quản trị ngân hàng nhận biết các nhân tố bên trong hệ thống NHTM có thể tác động tới hoạt động và khả năng sinh lời, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả tài chính hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay.

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

    Nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Việt Nam thu hút tương đối nhiều các tác giả với các nội dung liên quan tới tác động của tự do hóa tài chính đến các NHTM, nghiên cứu về năng suất và hiệu quả hệ thống, tác động của rủi ro tín dụng tới hoạt động các ngân hàng.

     

    Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2007) về hiệu quả và năng suất của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ 2001 – 2003 với 13 ngân hàng. Sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu, tác giả phát hiện hiệu quả chi phí trung bình là 60.6%. Chỉ số năng suất Malmquist giảm qua các năm. Các kết quả dựa trên quy mô mẫu tương đối nhỏ và khung thời gian ngắn, do đó độ tin cậy trong các kết quả không cao.

     

    Nguyễn Hồng Vinh (2012) sử dụng kỹ thuật phân tích bao dữ liệu giản đơn để đo lường hiệu quả và năng suất của các ngân hàng giai đoạn 2007-2010, sử dụng mẫu gồm 20 ngân hàng. Tác giả cho rằng hiệu quả liên tục tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên, phần phân tích các nhân tố tác động tới hiệu quả và năng suất các ngân hàng chưa được đề cập.

     

    16

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    Tác giả Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2013) ước lượng hiệu quả của khu vực ngân hàng Việt Nam sử dụng mẫu gồm 32 ngân hàng giai đoạn 2001-2005. Sử dụng mô hình Slack-based DEA với giả thiết hiệu suất thay đổi theo quy mô (VRS). Điểm hiệu quả trung bình ở mức 80% và có xu hướng tăng trong giai đoạn nghiên cứu. Bên cạnh đó một số nhân tố tác động tới hiệu quả các ngân hàng bao gồm: dạng sở hữu, quy mô, chất lượng lao động và thị phần, được xem xét thông qua mô hình hồi quy Tobit.

     

    Võ Xuân Vinh (2015) phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE) theo biến số tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng hiệu quả theo quy mô có tác động đáng kể tới tỷ suất sinh lời của cổ phiếu.

     

    Nguyễn Phương Anh và Michel Simioni (2015) sử dụng chỉ số Färe-Primont để đo lường năng suất khu vực ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2008-2012. Kết quả chỉ ra rằng khu vực ngân hàng chịu sự suy giảm năng suất mặc dù có nhiều đổi mới công nghệ quan trọng. Sự suy giảm về hiệu quả theo qui mô và hiệu quả theo phạm vi là nguyên nhân cơ bản dẫn tới suy giảm năng suất của các ngân hàng.

     

    Các nghiên cứu về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng:

     

    Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hướng tới ba mục tiêu bao gồm: 1) tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống; 2) cải thiện năng lực của các tổ chức tài chính và 3) phục hồi niềm tin của công chúng (Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2014). Các nghiên cứu về quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân

     

    hàng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.

     

    William và Nguyễn Nghĩa (2005) nghiên cứu tác động của thay đổi quản trị lên hiệu quả ngân hàng tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn từ 1990 đến 2003, giai đoạn chứng kiến quá trình tự do hóa hệ thống ngân hàng, khủng hoàng tài chính Châu Á và các chương trình tái cấu trúc. Nghiên cứu khẳng định tác động tích cực của chương trình tư nhân hóa và sở hữu nước ngoài lên hiệu quả các ngân hàng.

     

    Banker và cộng sự (2010) nghiên cứu tác động của cải cách hệ thống ngân hàng lên năng suất các ngân hàng tại Hàn Quốc giai đoạn 1996-2005. Nghiên cứu chỉ ra rằng những thay đổi liên quan tới cấu trúc vốn và quản lý rủi ro tác động khác nhau tới năng suất hệ thống và những thay đổi này có tác động đáng kể tới các ngân hàng có ưu thế về vốn và nhận ưu đãi từ phía chính phủ.

     

    Hệ thống ngân hàng Việt Nam được tái cấu trúc từ năm 2011 theo Quyết định 254 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của chương trình tái cấu trúc còn rất hạn chế và chỉ dừng ở mức định tính (như nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự, 2014). Đề xuất nghiên cứu của chúng tôi đi tiên phong trong việc đánh giá một cách định lượng với bằng chứng khoa học về tác động của các biện pháp tái cấu trúc lên hoạt động của hệ thống ngân hàng. Kết quả của nghiên cứu sẽ mang đến cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý ngân hàng và công chúng một đánh giá khách quan về tác động của các biện pháp tái cấu trúc đã thực hiện.

     

     

    khoa học

     
       

    17

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    3. Các nhân tố tác động tới hiệu quả tài chính các NHTM

     

    Các biện pháp trong giai đoạn tái cơ cấu tác động đáng kể tới hoạt động NHTM, làm thay đổi cấu trúc nguồn vốn và cơ cấu nợ của NHTM. Bên cạnh đó, cấu trúc tài sản, quy mô tài sản của NHTM cũng thay đổi đáng kể khi mà hoạt động cho vay bị kiểm soát chặt chẽ hơn, do đó việc đa dạng hóa danh mục tài sản nhằm giảm tỷ trọng tài sản cho vay và tăng khả năng sinh lời là hướng ưu tiên của các ngân hàng.

     

    Những thay đổi kể trên trong hoạt động của hệ thống ngân hàng tác động ra sao tới khả năng sinh lời của các ngân hàng? Điều này cần phải được làm rõ thông qua xây dựng các biến đại diện (proxy) và mô hình hồi quy thích hợp (regression models).

     

    Để phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, hai biến bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) được sử dụng trong nghiên cứu. Các biến đại diện cho sự thay đổi trong hoạt động của các ngân hàng giai đoạn tái cơ cấu bao gồm:

     

    (1) Thay đổi trong cấu trúc vốn (Equity on Asset ratio_EA): biến đại diện EA cho biết trong tổng quy mô nguồn vốn, bao nhiêu phần trăm thuộc về chủ sở hữu ngân hàng. Khi giá trị EA tăng thì khả năng chống đỡ với những rủi ro mất vốn cũng tăng lên, tuy nhiên biến này chịu ảnh hưởng lớn từ biến động trên thị trường chứng khoán. Nếu thị trường tăng trưởng tốt, các NHTM sẽ phát hành thêm cổ phiếu và việc gia tăng EA sẽ dễ dàng hơn và ngược lại. Mối quan hệ giữa EA và khả năng sinh lời được xem là thuận chiều, bởi khi EA tăng sẽ có nhiều cổ đông tham gia vào ngân

     

    hàng do đó làm gia tăng sự kiểm soát đối với hoạt động của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc, từ đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động điều hành ngân hàng.

     

    • Thay đổi trong cấu trúc tài sản (Loan on Asset ratio_LA): biến đại diện LA cho biết trong tổng quy mô tài sản có bao nhiêu phần trăm là các khoản cho vay. Hoạt động cho vay được xem là hoạt động kinh doanh truyền thống của NHTM, tuy nhiên phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động này nhằm tạo lợi nhuận sẽ dẫn tới gia tăng rủi ro về nợ xấu. Các biện pháp tái cơ cấu đòi hỏi các ngân hàng phải thận trọng hơn trong cho vay đồng thời đi kèm các biện pháp kiểm soát và xử lý các khoản nợ xấu. Các ngân hàng trong giai đoạn tái cơ cấu nếu đa dạng hóa danh mục tài sản và từ đó làm giảm tỷ lệ LA được kỳ vọng sẽ có khả năng sinh lời cao hơn.
    • Tỷ trọng chi phí trích lập rủi ro tín dụng trên tổng quy mô nợ (Loan-loss Provisioning Cost on Total Loan_LP): biến LP cho biết mức độ nợ xấu trên tổng quy mô cho vay của ngân hàng. Ngân hàng có mức độ nợ xấu càng cao thì tỷ lệ LP càng lớn và làm xói mòn khả năng sinh lời của các NHTM.
    • Quy mô tài sản (Log of Total Asset_LogA): biến logA phản ánh quy mô tài sản dưới dạng logarit. Theo lý thuyết kinh tế về hiệu suất theo quy mô, quy mô tài sản càng lớn khả năng sinh lời càng cao do tiết kiệm các khoản định phí. Bên cạnh đó, trong hoạt động ngân hàng quy mô tài sản càng lớn thì khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay sẽ tốt hơn và do đó làm giảm rủi ro tín dụng. Vậy biến LogA được kỳ vọng có

    18

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

     

    quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM.

     

    Căn cứ vào các biến đại diện được xác

     

    định ở trên, các mô hình hồi quy được xây

     

    dựng như sau:

     

    Mô hình 1:

     

    ROE=a+αEA+βLA+γLP+δLogA+ε

     

    Mô hình 2:

     

    ROA=b+κEA+λLA+μLP+νLogA+ε

     

    Để ước lượng mô hình 1 và 2, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS.

     

    4. Dữ liệu

     

    Trong giai đoạn tái cơ cấu 2011-2015, hệ thống NHTM nước ta có những thay đổi đáng kể. Một số ngân hàng quy mô nhỏ, hoạt động không hiệu quả buộc phải sáp nhập với ngân hàng lớn, như ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long sáp nhập với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam; ngân hàng Phát triển nhà Hà Nội sáp nhập với ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiến hành mua lại một số ngân hàng hoạt động quá yếu kém, không có khả năng tái cơ cấu, bao gồm ngân hàng Dầu khí toàn cầu, ngân hàng Đại Dương và ngân hàng Xây dựng. Tính đến cuối năm 2018, hệ thống ngân hàng của Việt Nam bao gồm 7 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối, 31 ngân hàng cổ phần, 09 ngân hàng nước ngoài và 02 ngân hàng liên doanh.

     

    Để phân tích tác động của các nhân tố tới hiệu quả tài chính hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn tái cơ cấu, tác giả thu thập dữ liệu của 28 ngân hàng trong giai đoạn từ 2011 đến 2015. Các dữ liệu được sàng lọc và lựa chọn dựa trên các bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập chi phí của các ngân hàng. Thống kê mô tả về các biến giải thích

     

    và biến độc lập được trình bày trong Bảng 1. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời có sự biến động đáng kể giữa các ngân hàng trong giai đoạn 2011-2015. Cụ thể, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng đạt mức cao nhất 41.47% trong khi đó ngân hàng đạt mức lợi nhuận thấp nhất là 0,01%. Điều này cho thấy, trong giai đoạn tái cơ cấu vẫn có những ngân hàng làm ăn tốt, trong điều kiện các biện pháp tái cơ cấu tác động đáng kể tới chi phí và khả năng sinh lời các

     

    ngân hàng.

     

    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trung bình ở mức 11,38%, về cơ bản đạt yêu cầu của NHNN. Tuy nhiên, ở nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn thì tỷ lệ này không đạt.

     

    Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản đạt ở mức 53,16%, đặc biệt có những ngân hàng tỷ lệ này còn cao ở mức trên 75%. Điều này cho thấy các ngân hàng chưa thật sự đa dạng trong cấu trúc tài sản và rủi ro tín dụng vẫn còn tiềm ẩn.

     

    Tỷ lệ chi phí trích lập dự phòng rủi ro trên tổng quy mô nợ ở mức trung bình là 1,57%. Tỷ lệ này khá cao nếu so sánh với thời kỳ trước, cá biệt có những ngân hàng chi phí dự phòng chiếm đến gần một nửa tổng quy mô nợ. Chính sách mới về trích lập dự phòng rủi ro tác động rất lớn đến chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng và là yếu tố cơ bản quyết định lợi nhuận các ngân hàng. Cho dù các ngân hàng bán tài sản cho VAMC song vẫn phải trích lập dự phòng trên cơ sở số nợ xấu đã bán.

     

    Quy mô tài sản các ngân hàng có sự biến động khá lớn giữa các nhóm ngân hàng. Các

     

     

    khoa học

     
       

    19

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    NHTM thuộc sở hữu nhà nước hoặc nhà nước nắm cổ phần chi phối có quy mô rất lớn lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong khi đó các ngân hàng nước ngoài hay cổ phần thì giá trị tài sản đôi khi chỉ ở mức vài nghìn tỷ đồng. Các ngân hàng với quy mô tài sản nhỏ gặp khó khăn trong đa dạng hóa danh mục tài sản và dễ bị rủi ro. Do đó, sáp nhập các ngân hàng nhỏ lại với nhau là biện pháp thích hợp giúp hạn chế rủi ro, giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh (bảng 1).

     

    (ROE). Như vậy, các ngân hàng có mức độ an toàn về vốn cao hơn lại đạt mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp hơn.Điều này được giải thích là do yêu cầu tăng tỷ lệ an toàn vốn từ phía NHNN trong bối cảnh thị trường chứng khoán đi xuống, buộc các NHTM phải tăng vốn bằng lợi nhuận để lại.

     

    Hai là, tỷ trọng tài sản cho vay trên tổng tài sản (LA) càng cao thì tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hoặc tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao. Phát hiện này cho

     

    Bảng 1: Thống kê mô tả các biến độc lập và biến giải thích

     

    Teân bieán

    Kyù

    Min

    Max

    Trung bình

    Ñoä leäch

     

    hieäu

    chuaån

     
           

    Bieán ñoäc laäp

               

    Tyû suaát sinh lôøi treân voán chuû sôû

    ROE

    0,0001

    0,4147

    0,1083

    0,0841

     

    höõu

               

    Tyû suaát sinh lôøi treân taøi saûn

    ROA

    0,000

    0,0369

    0,0110

    0,0086

     
                 

    Bieán giaûi thích

               
                 

    Tyû leä voán chuû sôû höõu treân toång

    EA

    0,0421

    0,7983

    0,1138

    0,0786

     

    taøi saûn

               

    Tyû leä taøi saûn cho vay treân toång

    LA

    0,1982

    0,8095

    0,5316

    0,1329

     

    taøi saûn

               

    Tyû troïng chi phí döï phoøng tín duïng

    LP

    0,0086

    0,5397

    0,0157

    0,0450

     

    treân toång quy moâ nôï

               

    Quy moâ taøi saûn (ÑVT: trieäu ñoàng)

    A

    2.337.884

    741.815.049

    101.421.243

    153.082.576

     
                 

    (Nguồn: Bảng cân đối tài sản, báo cáo thu nhập – chi phí các ngân hàng)

     

     

    5. Phân tích kết quả

     

    Bảng 2 trình bày kết quả hồi quy với hai biến độc lập phản ánh khả năng sinh lời của các NHTM trong giai đoạn tái cơ cấu (2011-2015) với một số kết quả đáng chú ý như sau.

     

    Một là, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn (EA) có quan hệ ngược chiều với biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

    thấy vai trò của cấu trúc tài sản đối với khả năng sinh lời hệ thống NHTM Việt Nam. Trong đó, các ngân hàng vẫn phụ thuộc đáng kể vào các khoản cho vay để tạo ra lợi nhuận. Đa dạng hóa danh mục tài sản và tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận bền vững cho các ngân hàng.

     

    20

    khoa học

     
     

    thương mại

    Sè 127/2019

             

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

                 
       

    Bảng 2: Kết quả hồi quy

                 
     

    ROE

     

    ROA

    EA

    -0,1923**

       

    0,0102

     
     

    (0,1023)

       

    (0,01)

     

    LA

    0,0847*

       

    0,0155***

     
     

    (0,0543)

       

    (0,005)

     

    LP

    -0,1223

       

    -0,0147

     
     

    (0,1557)

       

    (0,0151)

     

    Log(A)

    0,0024

       

    -0,002***

     
     

    (0,0006)

       

    (0,0006)

     

    Trong đó: ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu; ROA là tỷ suất sinh lời trên tài sản; EA là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản; LA là tỷ lệ tài sản cho vay trên tổng tài sản; LP là tỷ trọng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ; Log(A) là log của tổng tài sản. Ký hiệu *, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.

     

     

    (Nguồn: Tính toán của tác giả)

     

    Ba là, tỷ trọng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ các ngân hàng có mối quan hệ nghịch chiều với các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời. Tuy về mặt thống kê mối quan hệ tương quan này không có ý nghĩa, song về mặt thực tiễn lại có ý nghĩa đáng kể. Cụ thể là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng là nhân tố tác động lớn tới hai chỉ tiêu ROE và ROA. Các chính sách của chính phủ trong việc tăng cường kiểm soát rủi ro và yêu cầu các NHTM trích lập đầy đủ chi phí dự phòng đã phát huy tích cực. Ngân hàng nào cho vay nhiều song không quản lý tốt rủi ro sẽ dẫn tới tăng chi phí dự phòng và hệ quả làm giảm lợi nhuận cũng như khả năng sinh lời.

     

    Bốn là, kết quả với biến Log(A) trong Bảng 2 chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô tài sản và khả năng sinh lời của tài sản. Điều này một lần nữa cho thấy chất lượng tài sản mới là yếu tố quyết định khả năng tạo lợi nhuận của các NHTM. Nếu chất lượng tài sản không tốt, nhiều nợ xấu thì càng

     

    tăng quy mô tài sản thì càng làm tăng các khoản chi phí dự phòng; hệ quả là lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận giảm.

     

    6. Kết luận và kiến nghị

     

    Sau giai đoạn tăng trưởng nóng và thiếu bền vững, hệ thống NHTM Việt Nam bước vào giai đoạn tái cơ cấu với mục tiêu ổn định và phát triển bền vững. Hàng loạt biện pháp tái cơ cấu được triển khai như sáp nhập và mua lại với các ngân hàng yếu kém, thành lập công ty mua bán nợ (VAMC), tăng cường các tiêu chuẩn hoạt động… Các biện pháp này tác động lớn tới toàn hệ thống cũng như khả năng sinh lời của các ngân hàng trong giai đoạn tái cơ cấu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích bốn nhân tố cơ bản có thể tác động tới lợi nhuận của các NHTM, bao gồm: cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tác động của nợ xấu và quy mô tài sản. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: (1) tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có tác động nghịch chiều với lợi nhuận; (2) tỷ trọng tài sản cho vay trên

     

     

    khoa học

     
       

    21

     

    thương mại

    Sè 127/2019

    Kinh tÕ vμ qu¶n lý

     

    tổng tài sản tác động cùng chiều với khả năng sinh lời; (3) Nợ xấu tác động tiêu cực tới lợi nhuận và (4) quy mô tài sản tác động nghịch chiều với khả năng sinh lời trên tài sản.

     

    Từ những kết quả và phân tích được trình bày ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam. Một là gia tăng sự đóng góp vốn của các cổ đông nhằm đảm bảo tỷ lệ an toàn về vốn. Hai là các ngân hàng cần đa dạng hóa danh mục tài sản, trách phụ thuộc quá nhiều vào tài sản cho vay. Ba là chất lượng tài sản mới là yếu tố quyết định tới khả năng sinh lời của ngân hàng, do đó NHNN cũng như các NHTM cần chú trọng công tác quản lý rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, nhằm nâng cao chất lượng các khoản nợ.

     

    Tài liệu tham khảo:

     

    1. Trúc, L. T., & Danh, V. T. (2012), Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 21, 158-168.
    1. Đình Bảo, Hồ., & Thanh Tùng, Nguyễn (2016), Ứng dụng phương pháp bao dữ liệu trong đánh giá và phân loại hiệu quả – Rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2008-2012, Tạp chí Kinh tế
    • Phát triển, 199, 46-52.
    1. Tô Ngọc Hưng (2017), Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, Tạp chí Ngân hàng.
    1. Le, Phuong Thanh, Charles Harvie, and Amir Arjomandi. (2017), Testing for differ-ences in technical efficiency among groups

    khoa học

    within an industry, Applied Economics Letters, vol 24 no 3, pp 159-162.

     

    1. Le, Thanh Phuong, and Minh Thuy Do. (2017), A productivity analysis of the Vietnamese banking sector using non-per-forming loans as a bad output, Scholars Journal of Economics, Business and Management vol 8B, no 4: pp 532-540.
    1. Vietnam National Assembly Economic Commission (NAEC) (2012), From Macroeconomic Turbulent to Restructuring, (Giau, NV, Chairperson), Hanoi.
    1. Vo Tri, T & Nguyen Anh, D (2009), Vietnam after Two Years of Wto Accession: What Lessons Can Be Learnt?, ASEAN Economic Bulletin, vol. 26, no. 1, pp. 115-123.

    Summary

     

    The article analyzes some of the internal factors within Vietnamese commercial bank-ing system that may affect the profitability of banks during the restructuring period. Using regression model with data collecting from 2011 to 2015, the author points out factors which have significant impacts on the prof-itability, including asset structure, capital structure, bad debt level and asset scale. Since then, the author proposed a number of solu-tions to improve the profitability of the com-mercial banking system.

     

    22     thương mại                                                                                                                                   Sè 127/2019

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phát triển hoạt động trên thị trường chứng khoán phái sinh tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-h%E1%BB%97-tr%E1%BB%A3-ra-quy%E1%BA%BFt-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-vay-c%E1%BB%A7a-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-doanh-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-c%C3%A1c-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-phi-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp hỗ trợ ra quyết định tín dụng đối với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – trường hợp các yếu tố phi tài chính

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 13 – 17

     

    e-ISSN: 2615-9562

         

    GIẢI PHÁP HỖ TRỢ RA QUYẾT ĐỊNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC

     

    KHOẢN VAY CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP CÁC YẾU TỐ PHI TÀI CHÍNH

     

    Đỗ Năng Thắng

    Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro từ phía khách hàng gây ra. Chính vì vậy, một công cụ hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc cảnh báo rủi ro tín dụng là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên mỗi công trình đều chỉ phát huy thế mạnh ở một khía cạnh nào đó và chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Với tính cấp thiết như vậy, bài báo đề xuất một phương pháp kết hợp giữa chấm điểm các yếu tố phi tài chính với xếp hạng tín dụng của S&P, từ đó giúp ngân hàng thương mại có thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết định tín dụng hạn chế rủi ro.

     

    Từ khóa: Rủi ro tín dụng; mô hình cảnh báo; mô hình chấm điểm; hệ số phi tài chính; xếp hạng tín dụng.

     

    Ngày nhận bài: 28/3/2019; Ngày hoàn thiện: 19/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

    SOLUTIONS TO SUPPORT THE CREDIT DECISION FOR LOANS OF ENTERPRISES IN VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS CASE STUDY: NON-FINANCIAL FACTORS

     

    Do Nang Thang

    TNU – Information and Communication Technology University

     

    ABSTRACT

     

    Economists often call the Bank a “risky business”. In fact, it has proved that there is no industry that has the potential to lead to big risks such as in the field of currency trading – credit. The Bank has to bear the risks not only due to its subjective causes, but also the risks of its customers. Therefore, a tool can support commercial banks in warning credit risks is necessary, especially in the context of fierce competition like today. In the world there have been some researches related to this issue. However, each project only develops its strengths in a certain aspect and is not really suitable with the actual conditions in Vietnam. With such urgency, the paper proposes a method of combining the scoring of non-financial factors with the credit rating of S&P, thereby helping commercial banks has more one tool for support in credit decision.

     

    Keywords: Credit risk; warning model; scoring model; non-financial coefficient; credit ratings.

     

    Received: 28/3/2019; Revised: 19/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

    Email: [email protected]

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           13

     

     

    Đỗ Năng Thắng                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 13 – 17

     

    1. Giới thiệu

     

    Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 đã nhen nhóm lại các nguyên nhân và triệu chứng của cuộc khủng hoảng tài chính tiềm năng. Nếu những triệu chứng này có thể được phát hiện trước, chính phủ có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn cuộc khủng hoảng hoặc ít nhất là để giảm thiểu tác động bất lợi của khủng hoảng đối với nền kinh tế trong nước. Việt Nam đang thực hiện cam kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, thực tế hội nhập trong khu vực và trên thế giới mang lại cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức và rủi ro ở mức cao hơn. Các yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời. Việc xây dựng một giải pháp hỗ trợ các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc ra quyết định tín dụng là rất cần thiết đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Hiện nay trên thế giới đã có một số công trình tiêu biểu về cảnh báo rủi ro tín dụng như mô hình Merton (1974) có vai trò mang tính khai sáng trong quản trị rủi ro tín dụng như là vai trò của mô hình Black-Scholes trong định giá quyền chọn [1]. Tuy nhiên hạn chế của mô hình dựa trên giả định doanh nghiệp chỉ có một khoản nợ duy nhất và trả nợ tại một thời điểm duy nhất. Mô hình điểm số Z do E.I.Altman khởi tạo năm 1977 và thông thường được sử dụng xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp [2]. Mô hình này dùng để đo xác suất vỡ nợ của khách hàng thông qua các đặc điểm cơ bản của khách hàng. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người vay và phụ thuộc vào các yếu tố tài chính của người vay. Mô hình CreditMetrics, được J.P. Morgan giới thiệu vào năm 1997 [3], là một mô hình được sử dụng phổ biến trong thực tiễn. Mô hình này có thể xem là có nguồn gốc từ mô hình Merton, tuy nhiên có một điểm khác biệt cơ bản giữa mô hình CreditMetrics với Merton là ngưỡng phá sản trong mô hình CreditMetrics được xác định từ xếp hạng tín dụng chứ không phải từ các khoản nợ. Do đó, mô hình này cho phép xác định cả xác suất vỡ nợ và

     

    xác suất suy giảm tín dụng. Ở Việt Nam có một số công trình như công trình của tác giả Lê Văn Tuấn năm 2016 “Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng” trong nghiên cứu tác giả đã nghiên cứu và ứng dụng mô hình KMV vào cảnh báo rủi ro tín dụng [4] hay công trình nghiên cứu thứ 2 của tác giả Lê Văn Tuấn “Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính” công trình nghiên cứu này đã làm rõ mô hình Merton và ứng dụng trong cảnh báo rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam [5]. Công trình nghiên cứu Nguyễn Phi Lân “Mô hình cảnh báo sớm và chính sách hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô”, theo tác giả việc cảnh báo sớm rủi ro kinh tế vĩ mô và khủng hoảng tiền tệ được tác giả xây dựng dựa trên mô hình cảnh báo sớm (EWS) tham số [6]. Tuy nhiên các mô hình trên đều khá phức tạp và khó áp dụng phù hợp với tình hình thực tế tại các NHTM ở Việt Nam. Mặt khác các mô hình trên chỉ tập trung phân tích các yếu tố tài chính mà không đề cập đến các yếu tố phi tài chính. Xuất phát từ nguyên nhân đó, bài báo đề xuất giải pháp kết hợp giữa chấm điểm các yếu tố phi tài chính với xếp hạng tín dụng của S&P, từ đó giúp NHTM có thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết định tín dụng.

     

    2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Bài báo sử dụng giải pháp kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính là chủ yếu. Xuất phát từ nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các tiêu chí chấm điểm phi tài chính của một số NHTM lớn, từ đó bài báo tiến hành thu thập các thông tin liên quan đến các yếu tố phi tài chính của một doanh nghiệp cụ thể như: Trình độ quản lý, Quan hệ của khách hàng với ngân hàng, các nhân tố bên ngoài, đặc điểm khác… và tiến hành chấm điểm các yếu tố đó dựa trên cơ sở xác định trọng số của chúng, trong đó trọng số của các yếu tố phi tài chính lại được quyết định bởi mức độ ảnh hưởng của chúng đến khả năng trả nợ của khách hàng, hoạt động này được thực hiện dựa trên phương pháp Chuyên gia. Ngoài ra bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp đối với các yếu tố phi tài chính dựa trên lý thuyết xếp hạng tín

     

    14                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

     

    Đỗ Năng Thắng

     

    Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN

    201(08): 13 – 17

     
                     
     

    dụng của S&P, từ đó hỗ trợ các NHTM có

    3.2. Bảng kết quả tính điểm các chỉ tiêu phi

     

    thêm một công cụ trong việc trợ giúp ra quyết

     

    tài chính

           
     

    định tín dụng.

                 
                     

     

    3. Kết quả và bàn luận

    Dựa trên mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố

     

    3.1. Mô hình phân tích

    phi tài chính (chỉ tiêu chính) đến khả năng

                 

    trả  nợ  của  khách  hàng  doanh  nghiệp,  bài

             

    Trình độ quản lý

     
               

    báo tiến hành xác định trọng số của từng

       

    Điểm

           
               
           

    Quan hệ với ngân hàng

     

    yếu tố đó và trong mỗi chỉ tiêu chính, bài

     

    phi tài

         
       

    chính

       

    Các nhân tố bên ngoài

     

    báo đưa ra các chỉ tiêu phụ cũng như trọng

                 

    số của chúng và tiến hành chấm điểm dựa

                 
             

    Đặc điểm khác

     
               

    trên các thông tin thực tế thu thập được, cụ

                 
     

    Hình 1. Mô hình chấm điểm các yếu tố phi tài chính

    thể như bảng 1.

           
             

    Bảng 1. Kết quả chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính DNB

         
                       
     

    STT

    Trọng số

     

    Các chỉ tiêu phi tài chính

    Giá trị

    Điểm

    Điểm cuối

                           
     

    I

     

    30%

     

    Trình độ quản lý

             
                           
     

    1

    1.1

    5%

    Lý lịch tư pháp của người đứng đầu doanh nghiệp

    Lý lịch tư

    100

    5

     
     

    pháp tốt

     
                         
                         
     

    2

    1.2

    7%

    Kinh nghiệm chuyên môn của người đứng đầu doanh nghiệp

    15 năm

    100

    7

     
                           
     

    3

    1.3

    7%

    Trình độ học vấn của người quản lý

     

    Đại học

    60

    4,2

     
                         
     

    4

    1.4

    6%

    Năng lực điều hành của người trực tiếp lãnh đạo doanh nghiệp

    Rất tốt

    100

    6

     
                         
     

    5

    1.5

    5%

    Cơ cấu tổ chức và môi trường kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp

    Rất tốt

    100

    5

     
                           
     

    II

     

    30%

    Quan hệ với ngân hàng

             
                           
     

    6

    2.1

    4%

    Lịch sử trả nợ của khách hàng trong 12 tháng qua

    Luôn trả nợ

    100

    4

     
     

    đúng hạn

     
                         
                         
     

    7

    2.2

    4%

    Số lần cơ cấu lại thời gian trả nợ trong 12 tháng qua

    0 lần

    100

    4

     
                         
     

    8

    2.3

    3%

    Số lần các cam kết ngoại bảng mất khả năng thanh toán

    0 lần

    100

    3

     
                         
     

    9

    2.4

    3%

    Tình hình cung cấp thông tin yêu cầu của ngân hàng

    Luôn đầy đủ

    100

    3

     
                         
     

    10

    2.5

    4%

    Mức độ sử dụng các dịch vụ của ngân hàng

    Lớn nhất

    100

    4

     
                           
     

    11

    2.6

    4%

    Tỷ trọng chuyển doanh thu qua ngân hàng

     

    80%

    80

    3,2

     
                           
     

    12

    2.7

    3%

    Thời gian quan hệ với ngân hàng

     

    5 năm

    100

    3

     
                           
     

    13

    2.8

    3%

    Tình trạng nợ quá hạn tại các ngân hàng

     

    Không có nợ

    100

    3

     
       

    quá hạn

     
                         
                         
     

    14

    2.9

    2%

    Định hướng quan hệ với khách hàng trong thời gian tới

    Phát triển

    100

    2

     
                           
     

    III

     

    25%

    Các nhân tố bên ngoài

             
                           
     

    15

    3.1

    4%

    Triển vọng phát triển của ngành

     

    Cao

    100

    4

     
                         
     

    16

    3.2

    4%

    Khả năng sản phẩm của doanh nghiệp bị thay thế bởi các sản

    Khó

    100

    4

     
     

    phẩm khác

       
                     
                           
     

    17

    3.3

    5%

    Nguồn cung ứng

     

    Ổn định

    60

    3

     
                           
     

    18

    3.4

    2%

    Mức độ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

     

    Không nhiều

    60

    1,2

     
                         
     

    19

    3.5

    4%

    Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành

    Bình thường

    60

    2,4

     
                         
     

    20

    3.6

    2%

    Khả năng ra nhập mới của các doanh nghiệp trong ngành

    Khó

    100

    2

     
                         
     

    21

    3.7

    4%

    Nhu cầu trên thị trường đối với sản phẩm của doanh nghiệp

    Lớn

    100

    4

     
                           
     

    IV

     

    15%

    Các đặc điểm khác

             
                           
     

    22

    5.1

    1%

    Sự phụ thuộc vào một số ít nhà cung cấp

     

    Bình thường

    60

    0,6

     
                           
     

    23

    5.2

    1%

    Số năm hoạt động của doanh nghiệp

     

    10 năm

    100

    1

     
                           
     

    24

    5.3

    4%

    Tốc độ tăng trưởng doanh thu

     

    20%

    67

    2,68

     
                           
     

    25

    5.4

    4%

    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

     

    125%

    100

    4

     
                           
     

    26

    5.5

    1%

    Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp

     

    Toàn quốc

    60

    0,6

     
                           
     

    27

    5.6

    1%

    Triển vọng phát triển của doanh nghiệp

     

    Phát triển

    100

    1

     
                           
     

    28

    5.7

    1%

    Lợi thế kinh doanh

     

    Thuận lợi

    80

    0,8

     
                           
     

    29

    5.8

    2%

    Quy mô của doanh nghiệp

     

    Lớn

    100

    2

     
                         
     

    Tổng cộng

    100%

               

    89,68

     
                           

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            15

     

     

    Đỗ Năng Thắng                            Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 13 – 17

     

    3.3. Xếp hạng tín dụng theo S&P

     

    Bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng đối với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp của ngân hàng (đối tượng vay vốn với kỳ hạn dài vừa mang lại doanh thu ổn định cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro). Để giúp NHTM có thêm các thông tin cụ thể và trực quan hơn về chất lượng tín dụng của khách hàng doanh nghiệp, bài báo tiến hành xếp hạng tín dụng doanh nghiệp dựa trên lý thuyết của Standard & Poor’s, là một công ty dịch vụ tài chính có trụ sở tại Hoa Kỳ. Đây là một công ty con của McGraw-Hill. Standard & Poor’s là một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới (hai công ty còn lại là Moody’s Fitch Ratings). S&P đánh giá người vay từ mức AAA cho tới D [7]. Số liệu cụ thể được thể hiện trong bảng 2.

     

    3.4. Kết quả xếp hạng tín dụng theo S&P

     

    Bảng 3. Xếp hạng các chỉ tiêu phi tài chính của DNB theo S&P

     

    Điểm  Thang đo     S&P               Giải thích

     

    Chất                      lượng       tín           dụng

    89,68                                                                  84,8-92,3  AA          cao, mức độ rủi ro thấp,

     

    khả năng trả nợ cao

     

    Thông qua kết quả chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính và các chỉ tiêu tài chính theo mô hình điểm số Z, ta thấy doanh nghiệp DNB có chất lượng tín dụng cao, mức độ rủi ro thấp, khả năng trả nợ cao.

     

    4. Một số kiến nghị đối với các NHTM

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay đối với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, các NHTM không nên chỉ tập trung vào việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính mà còn cần phân tích kết hợp với các chỉ tiêu phi tài chính để có thông tin đầy đủ và chính xác hơn. Tuy nhiên khi phân tích các chỉ tiêu phi tài chính (các chỉ tiêu không thể hiện bằng con số cụ thể nên thường dễ bị chi phối bởi yếu tố chủ quan, cảm tính), các ngân hàng cần lưu ý một số vấn đề sau:

     

    Một là, khi chấm điểm các yếu tố phi tài chính, ngân hàng cần thành lập Hội đồng chuyên gia và điểm chấm là điểm của cả Hội đồng chứ không phải của cá nhân;

     

    Hai là, khi tiến hành chấm cần tuân thủ đúng theo thang điểm, tỷ trọng của từng yếu tố;

     

    Ba là, khi tiến hành chấm điểm phải dựa vào các minh chứng số liệu cụ thể, không dựa vào cảm tính chủ quan của người chấm;

     

    Bảng 2. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp theo S&P

     

    Điểm

     

    • 92,3

    84,8 – 92,3

     

    77,2 – 84,7

     

    69,6 – 77,1

     

    62,0 – 69,5

     

    54,4 – 61,9

    S&P                                                                     Nội dung

     

    AAA    Chất lượng tín dụng cao nhất, có độ rủi ro thấp nhất, có khả năng trả nợ cao nhất

     

    AA      Chất lượng tín dụng cao, mức độ rủi ro thấp, khả năng trả nợ cao

     

    Đạt trên mức trung bình các nhân tố về đảm bảo khả năng trả nợ ngắn và dài hạn

     

    • chưa thật chắc chắn nhưng vẫn đạt độ tin cậy cao. Do đó được xếp hạng có khả năng trả nợ

    Đạt mức trung bình, mức an toàn và rủi ro không cao nhưng cũng không thấp.

     

    • Khả năng trả nợ gốc và lãi hiện thời không thật chắc chắn nhưng không có dấu hiệu nguy hiểm
    • Đạt mức dưới trung bình, khả năng trả nợ gốc và lãi không thật chắc chắn và mức

     

    độ an toàn như BBB

     

    • Đối tượng này thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư. Sự đảm bảo về hoàn trả gốc và lãi trong tương lai là rất nhỏ

     

     

    46,8 – 54,3

    CCC

    Khả năng trả nợ thấp, dễ xảy ra vỡ nợ

    39,2 – 46,7

    CC

    Rủi ro rất cao, thường bị vỡ nợ

    31,6 – 39,1

    C

    Đối tượng trong tình trạng sắp phá sản

    < 31,6

    D

    Khả năng phá sản là gần như chắc chắn

    Nguồn: S&P

     

    16                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Đỗ Năng Thắng                                Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 13 – 17

     

    Bốn là, khi có một số yếu tố thay đổi bất thường nhất thiết phải tiến hành chấm và xếp loại tín dụng lại đối với các khách hàng doanh nghiệp;

     

    Năm là, khi tính điểm phi tài chính của doanh nghiệp cần đối chiếu với xếp hạng tín dụng theo S&P để biết được cụ thể chất lượng tín dụng của doanh nghiệp hiện nay;

     

    Sáu là, cần tính điểm các yếu tố phi tài chính kết hợp với chấm điểm các yếu tố tài chính để đưa ra kết quả một cách chính xác nhất;

     

    Bảy là, cần thu thập thông tin cả trong và ngoài doanh nghiệp để có thể nắm được thông tin một cách chính xác và khách quan nhất.

     

    1. Kết luận

    Rủi ro tín dụng mang lại hậu quả rất lớn cho các ngân hàng. Tuy nhiên việc đối mặt với nó là tất yếu đối với mọi ngân hàng đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như ngày nay. Bài báo cung cấp một công cụ có thể phân tích và nhận biết những khách hàng có và không có nguy cơ mất khả năng trả nợ, từ đó hỗ trợ cho các NHTM trong việc ra quyết định tín dụng một cách chính xác hơn và hạn chế được rủi ro. Tuy nhiên khía cạnh nghiên cứu của bài báo là các yếu tố phi tài chính, cho nên các ngân hàng cần chấm điểm một cách khách quan nhất, dựa trên cơ sở minh chứng cụ thể.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Merton, Robert C., “On the pricing of corporate debt: The risk structure of interest rates”,

    Journal of Finance, vol. 29, pp. 449-470, 1972.

     

    • Altman, Edward   ,   “Financial   Ratios,

    Discriminant Analysis and the Prediction Of

     

    Corporate Bankruptcy”, Journal of Finance, vol. 23, no. 4, pp. 589-609, 1968.

     

    • P. Morgan,  “Introduction  to  CreditMetrics”,

    13/08/2010,https://vi.scribd.com/document/3582 1973/Intro-to-Credit-Metrics-JP-Morgan, truy cập ngày 10/01/2019.

     

    • Lê Văn Tuấn, “Khám phá sự thú vị của phần mềm R trong định lượng rủi ro tín dụng”,

    05/06/2016,https://tuanvanle.wordpress.com/20 16/06/05/kham-pha-su-thu-vi-cua-phan-mem-r-trong-dinh-luong-rui-ro-tin-dung, truy cập ngày 17/01/2019.

     

    • Lê Văn Tuấn, “Ứng dụng mô hình Merton trong giảng dạy rủi ro tín dụng và định giá trái phiếu cho sinh viên ngành tài chính”,

    11/11/2016,https://tuanvanle.wordpress.com/2 016/11/11/ung-dung-mo hinh-merton-trong-giang-day-rui-ro-tin-dung-va-dinh-gia-trai-phieu-cho-sinh-vien-nganh-tai-chinh, truy cập ngày 17/02/2019.

     

    • Nguyễn Phi Lân, “Mô hình cảnh báo sớm và chính sách hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô”,

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, T. 2, S.3, tr. 27-32, 2011.

     

    • S&P, “S&P Global Rating Definitions”,31/10/2018,

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%81C-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-S%E1%BB%B0-H%C3%80I-L%C3%92NG-C%E1%BB%A6A-KH%C3%81CH-H%C3%80NG-C%C3%81-NH%C3%82N-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-D%E1%BB%8ACH-V%E1%BB%A4-T%E1%BA%A0I-EXIMBANK-TP.-HCM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

     

    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TẠI EXIMBANK – TP. HCM

     

    Nguyễn Ngọc Chánh *

     

    TÓM TẮT

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòngcủa khách hàng đối với chất lượngdịch vụ tại Eximbank – TP.HCM.Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 300 khách hàng đang sử dụng dịch vụ tại ngân hàng (NH). Các phương pháp kiểm định Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), mô hình hồi qui tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnmức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại NH là sự tin cậy, sự đáp ứng, hình ảnh và giá cả. Trong đó, nhân tố giá cả có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ hài lòng của khách hàng.

     

    Từ khóa: khách hàng, mức độ hài lòng, chất lượng dịch vụ

     

    TITLE: FACTORS AFFECTING THE CUSTOMER SATISFACTION TOWARDS SERVICE QUALITY OF EXIMBANKIN HO CHI MINH CITY

     

    ABSTRACT

     

    This study aims at determining the factors that affect customer satisfaction towards service quality of Eximbank in Ho Chi Minh City. Research data was collected from 300 customers,who have been using the services in the bank. Cronbach’s Alpha test, Exploratory Factor Analysis (EFA) and Linear Regression Analysis were used in the study. Research results have identiied the factors affecting the customer satisfaction for banking services are the reliability, responsiveness, imagineand price. In particular, the price are the most powerful inluence on customer satisfaction.

     

    Key words: customer , satisfaction, service quality

     

    * ThS. Giảng viên Khoa Tài chính – Ngân hàng, trường Đại học Văn Lang, Tp. HCM

     

     

    18

     

    Các nhân tố . . .

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Với số dân khoảng hơn 90 triệu người, cùng với mức thu nhập cũng như trình độ dân trí của người dân ngày càng cao VN đang được đánh giá là thị trường rất tiềm năng dành cho dịch vụ NH bán lẻ. Tuy các NH trong nước vẫn chiếm tới 90% thị phần bán lẻ ở VN thế nhưng các NH nước ngoài đang nỗ lực thu hẹp thị phần này bằng cách tung ra những tiện ích, dịch vụ công nghệ cao mà nhiều NH trong nước không có. Mục tiêu chính của các NH ở đây lại chính là các khách hàng cá nhân (KHCN), chiến lược kinh doanh hướng đến KHCN đang trở thành chiến lược quan trọng hàng đầu của các NH. Làm thế nào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng tốt nhất luôn là vấn đề mà các NH cố gắng thực hiện với tất cả khả năng của mình. Vì vậy, nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại NH là một công việc quan trọng phải thực hiện thường xuyên và liên tục để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu của họ. Từ đó NH có thể phục vụ khách hàng tốt hơn, làm cho họ luôn được thỏa mãn khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của NH. Ngân hàng nào dành được mối quan tâm và sự trung thành của khách hàng NH đó sẽ thắng lợi và phát triển. Từ đó nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại Eximbank

     

    – TP. HCM” được tác giả thực hiện nhằm giúp NH thấy được các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng cho khách hàng để có những đề xuất, giải pháp thích hợp nhằm duy trì và gia

    tăng lượng khách hàng cũng như gia tăng lợi nhuận cho NH.

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    Theo Kotler (dẫn từ Lin, 2003), sự hài lòng hay sự thất vọng của một người bắt nguồn từ sự so sánh cảm nhận với mong đợi về chất lượng một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau:

     

    – Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không hài lòng.

     

    – Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận hài lòng.

     

    – Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là hài lòng hoặc thích thú.

     

    Còn Zeithalm & Bitner (2000) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm,chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân. Theo Parasuraman, Zeithaml, Berry (1991), có 5 nhân tố ảnh hưởNG đếN sự hài lòng của khách hàNG đối với dịchvụ:

     

    • Độ tin cậy (Reliability), (2) Mức độ đáp ứng (Responsivaness), (3) Sự đảm bảo (Assurance), (4) Sự cảm thông (Empathy), và

     

    • Phương tiện hữu hình(Tangible).

     

    Thông qua lược khảo tài liệu, đồng thời tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóM (nghiên cứu định tính) với 10 khách hàNG

     

    đang sử dụng dịch vụ tại ngân hàng để thảo luận và xác định 24 tiêu chí được xem là có khả năng ảnh hưởNG đến mức độ hài lòng của khách hàng. (Bảng 1)

     

     

         

    Bảng 1: Các tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng

           

    TT

    MH

    DIỄN GIẢI

           
         

    ĐỘ TIN CẬY

           

    1

    TC1

     

    NH hứa sẽ thực hiện một điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể NH sẽ thực hiện

           

    2

    TC2

     

    NH thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên

           

    19

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    3

    TC3

     

    NH sẵn sàng quan tâm và giải quyết thỏa đáng những vấn đề mà khách hàng gặp phải

           

    4

    TC4

     

    NH cung cấp dịch vụ đúng như thời gian họ đã hứa

           

    5

    TC5

     

    NH thông báo chính xác cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện

           
         

    ĐÁP ỨNG

           

    6

    DU1

     

    Nhân viên NH thực hiện dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng

           

    7

    DU2

     

    Nhânviên NH luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ khách hàng

           

    8

    DU3

     

    Nhânviên NH không bao giờ tỏ ra quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của KH

           
         

    NĂNG LỰC PHỤC VỤ

           

    9

    PV1

     

    Hành vi của nhânviên NH ngàycàngtạosựtintưởngđốivớikhách hàng

           

    10

    PV2

     

    Khách hàngcảmthấyantoànkhithực hiện giao dịch với ngân hàng

           

    11

    PV3

     

    Nhânviên NH baogiờcũngphục vụ khách hàng tận tình, chu đáo

           

    12

    PV4

     

    Nhânviên NH có đủ kiếnthứcchuyênmônđể trả lời các câu hỏi của KH

           
         

    SỰ ĐỒNG CẢM

           

    13

    DC1

     

    NH có các chương trình thể hiện sự quantâmđếnKH

           

    14

    DC2

     

    Nhânviên NH chủ động quan tâmđến từng KH

           

    15

    DC3

     

    NH luôn lấy lợi ích của khách hàng làm tâm niệm

           

    16

    DC4

     

    Nhânviên NH hiểurõnhucầu cụ thể củaKH

         
     

    PHƯƠNG TIỆN HỮU HÌNH

           

    17

    HH1

     

    Cơ sở vật chất ,trangthiếtbị của NH rất hiệnđại

           

    18

    HH2

     

    Các tiện nghi phục vụ khách hàng tốt ( nơi để xe thuận tiện, nhà vệ sinh, khu vực

     

    đợi ,nước uống …)

         

    19

    HH3

     

    Nhânviêncủa NH có trangphụcgọngàng,lịchsự

           

    20

    HH4

     

    NH bốtrí thờigianlàmviệcthuậntiện

           

    21

    HH5

     

    NH có các tài liệu, sách ảnh giới thiệu về dịch vụ NH rất cuốn hút

           
         

    GIÁ CẢ

           

    22

    GC1

     

    NH áp dụngmức lãi suất cạnh trạnh

           

    23

    GC2

     

    Chi phí giao dịch của NH là hợp lý

           

    24

    GC3

     

    NH có chính sách giá linh hoạt

           
         

    SỰ HÀI LÒNG CHUNG

           
     

    HL1

     

    Nhìn chung u6ng/ bà hoàn toàn hài lòng khi giao dịch với NH

           
     

    HL2

     

    Ông/ bà sẵn sàng giới thiệu NH cho những người khác

           
     

    HL3

     

    Trong thời gian tới ông/bà vẫn tiếp tục sử dụng dịch vụ của NH

           

    Mô hình nghiên cứu lý thuyết được tác giả đề xuất (Hình 1)

     

     

    20

     

    Các nhân tố . . .

     

    Độ tin cậy

     

    Đáp ứng         Sự Hài Lòng

     

    Năng lực phục vụ    Chất lượng dịch vụ

     

    Sự đồng cảm                                            Giá cả

     

    Phương tiện hữu hình

     

    Hình 1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết đặt ra

     

     

    Việc định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng gồm 3 bước: (1) Bước 1: Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm định mức độ chặt chẽ và sự tương quan giữa các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu. (2) Bước 2: Sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhận diện các nhân tố được cho là phù hợp với mức độ hài lòng. (3) Bước 3: Sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến để phân tích ảnh hưởng của các biến độc lập đến mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ của ngân hàng đồng thời cho biết mức độ tác động của từng biến nghiên cứu.

     

    Số liệu của nghiên cứu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các khách hàng đã và đang sử dụng dịch của NH theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp với ngẫu nhiên. Hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu, vấn đề kích thước mẫu là bao nhiêu, như thế nào là đủ lớn vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hơn nữa, kích thước mẫu còn tùy thuộc vào các phương pháp ước lượng sử dụng trong nghiên cứu cụ thể. Theo một số nghiên cứu, tính đại diện của số lượng mẫu được lựa chọn khảo sát sẽ thích hợp nếu kích thước mẫu là 5 mẫu cho một ước lượng. Mô hình khảo sát tác giả đề xuất có 24 biến quan sát. Do đó, số lượng mẫu cần thiết là từ 24×5=120 mẫu trở lên. Vậy số

    lượng mẫu dùng trong khảo sát là n= 300 nên tính đại diện của mẫu được đảm bảo cho việc khảo sát. Thực tế tác giả đã tiến hành điều tra 335 khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ của Eximbank – TP.HCM trong khoảng thời gian từ (2/2014 – 5/2014) sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ 300 phiếu được đưa vào khảo sát.

     

    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

     

    Để kiểm định mô hình nghiên cứu và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hành đối với việc sử dụng dịch vụ của NH, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để hỗ trợ phân tích, kết quả thực hiện mô hình nghiên cứu như sau:

     

    Bước 1: Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s alpha

     

    Cronbach’s alpha là công cụ giúp loại đi những biến quan sát, những thang đo không đạt yêu cầu. Các biến quan sát có hệ số tương quan biến-tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi hệ số Cronbach alpha là từ 0,6 trở lên (Nunnally & Burnstein 1994). Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS 2, NXB Hồng Đức-2008) cho rằng nhiều nhà nghiên cứu đồng

    • cronbach anpha từ 0.80-1 là một thang đo lường tốt, từ 0.70 đến 0.80 là sử dụng

     

     

    21

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    được. Cũng có nhà nghiên cứu đề nghị rằng Cronbach’ Alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả

     

    lời trong bối cảnh nghiên cứu (Hair 1998). Kết quả cho thấy tất cả các biến đều phù hợp và được sử dụng trong phân tích nhân tố tiếp theo. (Bảng 2)

     

     

    Bảng 2. Bảng tóm tắt phân tích Cronbach’s Alpha

     

     

    Thành phần

    Số biến

    Độ tin cậy

    Đánh giá

     

    quan sát

    (Cronbach’anpha)

         
     

    Độ tin cậy

    5

    0.887

     

    Chất

    Đáp ứng

    3

    0.85

     

    lượng

    Năng lực phục vụ

    4

    0.84

     

    dịch vụ

    Sự đồng cảm

    4

    0.882

    Đạt yêu cầu

     

    Hữu hình

    5

    0.85

     

    Giá cả cảm nhận (GC)

    3

    0.87

     

    Sự Hài Lòng Chung (HL)

    3

    0.864

     
     

    Nguồn: Xử lý dữ liệu điều tra năm 2014

    Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

     

    Khi phân tích nhân tố khám phá, các

    Mộng Ngọc, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với

    nhà nghiên cứu thường quan tâm đến hệ số

    SPSS 2, NXB. Hồng Đức- 2008).

    KMO≥0,5, mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett

    Khi phân tích EFA sử dụng phương pháp

    ≤ 0,05, hệ số tải nhân tố (factor loading) ≥ 0,5.

    trích Principal Component Analysis với phép

    Nếu biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố <

    xoay Varimax và điểm dừng khi các yếu tố có

    0,5 thì phân tích nhân tố có khả năng không

    eigenvalue lớn hơn 1. (Kết quả được thể hiện

    thích hợp (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn

    ở bảng 3)

    Bảng 3: Bảng kết quả phân tích EFA các biến chất lượng dịch vụ

     

       

    Thành phần

     

    Các yếu tố

           

    Hình

    Đáp

    Độ tin

     
     
     

    ảnh

    ứng

    cậy

     

    NH hứa thực hiện sẽ thực hiện

       

    .788

     

    NH thực hiện đúng ngay từ đầu tiên

       

    .787

     
       

    NH sẵn sàng quan tâm giải quyết các vấn đề khách hàng

       

    .688

     
       

    NH cung cấp dịch vụ đúng hạn

       

    .651

     
       

    NH thông báo chính xác cho khách hàng khi thực hiện dịch vụ

       

    .611

     
       

    Nhân viên NH thực hiện dịch vụ nhanh chóng

     

    .617

       
         

    Nhân viên NH sẵn lòng giúp đỡ khách hàng

     

    .657

       
         

    Nhân viên NH không tỏ ra bận rộn

     

    .594

       
         

    Hành vi của nhân viên NH ngày càng được tin tưởng

     

    .624

       
         

    Khách hàng cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch

     

    .630

       
         

    Nhân viên NH phục vụ tận tình, chu đáo

     

    .735

       
         

    Nhân viên NH đủ kiến thức chuyên môn

     

    .671

       
         
             

    22

     

    Các nhân tố . . .

     

    Có chương trình quan tâm khách hàng

    .620

       

    Chủ động quan tâm KH

         

    .659

       

    Lấy lợi ích KH làm tâm niện

         

    .652

       

    Nhân viên NH hiểu rõ nhu cầu KH

         

    .646

       

    Cơ sở vật chất, trang thiết bị NH hiện đại

         

    .699

       

    Các tiện nghi phục vụ khách hàng tốt

         

    .638

       

    Nhân viên NH có trang phục gọn gàng, lịch sự

         

    .738

       

    Thời gian làm việc thuận tiện

    .721

       
       

    Tài liệu, sách ảnh về dịch vụ NH rất cuốn hút

    .612

       
           
     

    Nguồn: Xử lý dữ liệu điều tra năm 2014

    Kết quả cho thấy hệ số KMO= 0.934, kiểm

    khả năng sử dụng 3 nhóm này để giải thích

    định Barlett có mức ý nghĩa là 0.00 thể hiện

    cho 21 biến quan sát ban đầu là 63.411%. Kết

    các biến quan sát có tương quan với nhau xét

    quả được nhóm lại thành 3 nhân tố (độ tin cậy,

    trên phạm vi tổng thể. Do đó, phân tích nhân tố

    sự đáp ứng, hình ảnh) và mô hình nghiên cứu

    phù hợp. Với mức giá trị Eigenvalue là 1.101,

    được thiết lập lại Nhân tố 1: Hình ảnh gồm

    ta thấy 21 biến quan sát được nhóm thành 3

    9 biến, Nhân tố 2: Sự đáp ứng gồm 7 biến,

    nhóm với phương sai trích là 63.411%, tức là

    Nhân tố 3: Độ tin cậy gồm 5 biến (Hình 2)

    Độ tin cậy

         

    Sự đáp ứng

    Chất lượng

       
     

    Sự Hài Lòng

     

    Hình ảnh

    dịch vụ

       
     

    Hình 2: Mô hình nghiên cứu được thiết lập lại

    Giá cả

     
         

    Bước 3 : Phân tích hồi quy tuyến tính

     

    Tiến hành phân tích hồi quy bội để kiểm tra quan hệ nhân quả, sự tác động của 4 biến độc lập (điểm số nhân tố của các biến độ tin cậy, sự đáp ứng, hình ảnh, giá cả) đến biến phụ thuộc (điểm số nhân tố của thỏa mãn của khách hàng-HL). Kết quả thể hiện ở bảng 4

     

    Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy

     

    Mô hình

    Hệ số chưa chuẩn hóa

    Hệ số đã

       

    Thống kê cộng tuyến

     

    chuẩn hóa

    t

    Sig.

               
     

    B

    Sai số

    Hệ số

    Độ chấp

    Hệ số

     
         
     

    chuẩn

    Beta

       

    nhận

    VIF

     
           

    Hằng số

    -8.564E-17

    .036

     

    .000

    1.000

     

    1.366

     

    Hình ảnh (NT1)

    .289

    .043

    .289

    6.786

    .000

    .732

    1.286

     

    Sự đáp ứng (NT2)

    .206

    .041

    .206

    4.999

    .000

    .778

    1.178

     

    Độ tin cậy (NT3)

    .228

    .040

    .228

    5.763

    .000

    .849

    1.830

     

    Giá cả (GC)

    .433

    .049

    .433

    8.794

    .000

    .547

       
           

    Nguồn: Xử lý dữ liệu điều tra năm 2014

     

     

     

    23

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Hệ số tương quan r=0.78, vậy độ chặt chẽ của quan hệ tuyến tính của các biến trong mô hình cao. Giá trị kiểm định d = 2.049 của Durbin-Watson (trong khoảng 1-3) nên ta tin tưởng giả thiết không có sự tương quan ở đây. R2 = 0.609, phân tích ANOVA có giá trị Sig = 0.00 ≤ 0.05 nên mô hình hồi quy này hoàn toàn phù hợp với tổng thể. Hệ số phóng đại phương sai của các biến trong mô hình VIF < 5 nên mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.

     

    Với kiểm định t các biến độc lập trong mô hình, thì có 4 biến (NT1, NT2, NT3, GC) có giá trị Sig ≤0.05, vậy các biến này có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

     

    Như vậy phương trình hồi quy được viết như sau:

     

    HL = 0.289*(NT1) + 0.206*(NT2) + 0.228*(NT3) + 0.433*(GC)+ (-8.564E-17)

     

    Điều này có nghĩa là khi một trong các nhân tố tác động từ hình ảnh, sự đáp ứng, độ tin cậy, giá cả, tăng thêm 1% thì sự hài lòng của khách hàng lần lượt tăng thêm 0,289%, 0,206%, 0,228%, 0,433%. Cũng theo đó, cho thấy rằng giá cả là yếu tố đang được khách hàng cá nhân quan tâm nhất tiếp đến là hình ảnh, độ tin cây, sự đáp ứng.

     

    1. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    Kết quả phân tích cho thấy có 4 biến tác động đến sự hài lòng chung của khách hàng bao gồm: hình ảnh, sự đáp ứng, độ tin cậy, giá cả. Trong đó biến giá cả có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại Eximbank – TP.HCM như sau:

     

    Đối với chính sách giá cả:

     

    Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay cần phải được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với

     

    cung cầu vốn trên thị trường ở từng thời kì, sử dụng lãi suất làm công cụ để điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu đầu tư tín dụng cho phù hợp, áp dụng lãi suất ưu đãi cho những khách hàng có lượng tiền gửi lớn hay giảm phí giao dịch đối với những khách hàng có số dư lớn, những khách hàng truyền thống của ngân hàng.

     

    Tiến hành khảo sát về giá dịch vụ và lãi suất ở một số ngân hàng cùng địa bàn để xem xét lại chính sách giá cả và lãi suất của ngân hàng mình. Cập nhật thông tin về biến động thị trường cũng như giá cả giao dịch để cũng cố lòng tin của khách hàng về tính cạnh tranh về giá của ngân hàng.

    Đối với việc xây dựng hình ảnh NH:

     

    Ngân hàng cần chú trọng công tác tuyển dụng nhân sự. Để có những dịch vụ tốt thì trước tiên ngân hàng cần tuyển dụng nhân viên tốt. Các nhân viên này có ngoại hình dễ nhìn, năng nổ trong giao tiếp, có kĩ năng diễn đạt và thuyết phục tốt, biết cách ứng xử khéo léo, luôn giữ được nụ cười trên môi, sau đó hãy tạo cho họ những kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết.

     

    Trụ sở ngân hàng cần phải được bố trí đẹp, dễ nhận biết đối với các quầy giao dịch, có logo và cam kết đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Bên cạnh đó, đối với vị trí đặt máy ATM, tránh việc đặt ở nơi không thuận tiện, không an toàn, không phục vụ tốt cho khách hàng mỗi khi đến giao dịch. Ngoài ra, việc mặc đồng phục và tác phong giao dịch của nhân viên cũng cần phải chú trọng. Điều này sẽ khiến cho khách hàng có cảm giác thân thiện và yên tâm hơn khi giao dịch với ngân hàng.

     

    Tờ rơi, panô và các bộ băng ron quảng cáo trước các điểm giao dịch phải được bố trí phù hợp với không gian, có chỗ giữ xe an toàn, nhân viên bảo vệ phải lịch sự, vì đây là yếu tố

     

     

    24

     

    Các nhân tố . . .

     

    cảm nhận đầu tiên khi khách hàng giao dịch với ngân hàng.

     

    Đối với độ tin cậy:

     

    Ngân hàng cần phải thực hiện dịch vụ đúng, giải quyết thỏa đáng nhu cầu của khách hàng cũng như NH cần phải xây dựng nên một quy trình xử lý nghiệp vụ thật nhất quán, thông suốt giữa các phòng để rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng. Đồng thời, cần đặt ra tiêu chuẩn về thời gian thực hiện một giao dịch với khách hàng nhằm đảm bảo mọi giao dịch đều được thực hiện một cách nhanh chóng, an toàn, chính xác, tạo lòng tin nơi khách hàng.

     

    Đối với sự đáp ứng:

     

    NH cần đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có đầy đủ kiến thức chuyên môn để đáp ứng, trả lời thắc mắc cho khách hàng phục vụ khách hàng một cách tận tình chu đáo.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trao đổi thông tin với khách hàng để hiểu và đáp ứng kỳ vọng của khách hàng. Thông qua đó, ngân hàng truyền tải đến khách hàng thông tin về sản phẩm, dịch vụ, xử lý các yêu cầu của khách hàng, đồng thời thu thập các ý kiến phản hồi cũng của khách hàng liên quan đến các mặt hoạt động ngân hàng. Ngân hàng cũng cần thiết lưu trữ dữ liệu thông tin tập trung khách hàng để có chính sách chăm sóc kịp thời.

     

    NH cần phân khúc thị trường nhằm đảm bảo tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Từ đó, ngân hàng sẽ có chính sách ưu đãi đặc biệt để nâng cao chất lượng phục vụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng.Góp phần tạo dựng niềm tin, nâng cao sự thỏa mãn của KH đối với chất lượng dịch vụ của NH.

     

     

    • Cronin, J. J., & Taylor, S. A. (1992). Measuring service quality: A Reexamination and extension. Journal of Marketing, 56, 55-68.

     

    • Gronroos, C, A, (1984), Service Quality Model and Its Marketing Implications, European, Journal of Marketing, 18 (4): 36-44.Hall, USA.

     

    • Hair, Black,Babin,Anderson (2006). Multivariate Data Analysis,Prentical – Hall International.Inc .

     

    • Hoàng Trọng- Chu Nguyễn Mộng Ngọc, (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức.

     

    • Kotler, P., & Keller, K.L. (2006), Marketing Management, Pearson Prentice.

     

    • Nguyễn Đình Thọ,(2011).Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh.NXB Lao động xã hội.

     

    • Nguyễn Thị Mai Trang,(2006). Chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành đối với siêu thị tại TP.HCM. Tạp chí Phát triển KH&CN, tập 9, Số 10-2006.

     

    • Nguyễn Đình Thọ – Nguyễn Thị Mai Trang (2008), Nghiên cứu khoa học Marketing – Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP.HCM.

     

    • Nguyễn Viết Hải, 2011. Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Kon Tum. Luận văn Thạc sĩ. Đại Học Đà Nẵng.
    • Nunnally,J.(1978), Psycometric Theory ,New York, McGraw- Hill .

     

    • Parasuraman .A., V.A. Zeithaml, & L.L Berry (1985), A conceptual model of service quality and its implications for future, Journal of Marketing, 49 (Fall): 41-50

     

    • Parasuraman, A., V.A Zeithaml, & L. L. Berry (1988), Servqual: a multiple-item scale for measuring

     

    consumer perceptions of service quality, Journal of Retailing, 64(1): 12 – 40

     

    • Parasuraman, A., L. L. Berry, & V. A. Zeithaml (1991),Reinement and Reassessment of the SERVQUAL Scale, Journal of Retailing, 67 (4): 420-450.

     

    • Philip Kotler , (1999). Marketing căn bản.Nhà xuất bản Thống kê.

     

     

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/CH%C3%8DNH-S%C3%81CH-T%C3%80I-KH%C3%93A-V%C3%80-T%C4%82NG-TR%C6%AF%E1%BB%9ENG-KINH-T%E1%BA%BE-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-NH%E1%BB%AENG-N%C4%82M-G%E1%BA%A6N-%C4%90%C3%82Y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

    Chính sách tài khóa . . .

     

    CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

     

    Huỳnh Xuân Hiệp*

     

    TÓM TẮT

     

    Kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2014 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở châu Âu chưa được giải quyết dứt điểm. Nền kinh tế thế giới vẫn còn nhiều gam màu tối đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước. Trước tình hình này, Chính phủ chủ trương tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm thông qua nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 (Nghị quyết 01) về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2014. Ngoài việc phân tích thực trạng nền kinh tế và chính sách tài khóa tại Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị, đề tài đã cố gắng trả lời câu hỏi về tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế. Đề tài xem xét tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế thông qua ước lượng mô hình bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế . Tuy nhiên kết quả vẫn không tìm ra bằng chứng thực nghiệm nào.

     

    Từ khóa: tăng trưởng kinh tế, chính sách tài khóa, ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách

     

    FISCAL POLICY AND ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM

     

    IN RECENT YEARS

     

    ABSTRACT

     

    In 2014, Vietnamese Social and Economy is still affected by the instability of the world economy because the world inancial crisis and the public debt of European Countries have not been resolved deinitively. The economy still has many dark sides and it affected the production and business activities of residents and companies in Viet Nam. In order to solve problem, Vietnamese Government continued to implement tighten iscal policy, radical saving policy through resolution No 01/NQ-CP date 02/01/2014 (resolution 01). The resolution gives out tasks, main solutions, implementations of economic development plans and estimation of national budget in 2014. In addition to the analysis of economic policy and iscal policy in Viet Nam in order to give recommendation, the paper tried to answer questions about the impact of iscal policy to economic growth. This activity is considered by estimating national budget deicit and economic growth models. However, the result did not ind any empirical evidence.

     

    Keywords: economic growth, iscal policy, national budget, budget deicit.

     

    • Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. HCM

    11

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Mục tiêu tổng quát hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam năm 2014 là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí, cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo đảm quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

     

    Một vấn đề đặt ra là liệu chính sách tài khóa sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chính sách tài khóa được Chính phủ thực hiện thông qua công cụ thuế và chi tiêu công. Do đó, ảnh hưởng của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế cho thấy tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế. Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để trả lời câu hỏi này. Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) và Swan (1956), câu trả lời chủ yếu là “không”. Trong các mô hình này, thuế và chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc ưu đãi đầu tư vào vốn vật chất hay vốn con người, cuối cùng ảnh hưởng đến tỷ lệ cân bằng chứ không phải là tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu theo mô hình tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư vào vốn con người và vốn vật chất ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng ổn định, và do đó thuế và chi tiêu công có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Kể từ những đóng góp tiên phong của

     

    Barro (1990), King và Rebelo (1990), Lucas (1990), một số bài nghiên cứu đã mở rộng việc phân tích thuế, chi tiêu công và tăng trưởng, chứng minh các biến số tài khóa có thể ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng dài hạn trong các điều kiện khác nhau (ví dụ: Jones và cộng sự, 1993;. Stokey và Rebelo, 1995; Mendoza và cộng sự, 1997.).

     

    Lý thuyết là khá rõ ràng, tuy nhiên, có rất ít hoặc chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về tác động của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế. Theo Stokey và Rebelo (1995), ‘’những ước tính gần đây về tăng trưởng tiềm tàng từ tác động của việc cải cách thuế rất khác nhau, dao động từ không đến tám điểm phần trăm’’. Do đó để điều hành chính sách tài khóa có hiệu quả, rất cần thiết có một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chính sách tài khóa đến sự tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

     

    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2.1. Cơ sở lý thuyết

     

    Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Hai công cụ của chính sách tài khóa là hệ thống thuế và chi tiêu công của chính phủ.

     

    Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế. Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn.

     

    –  Chính sách trung lập

     

    Là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G = T (G: chi tiêu công của chính phủ, T: thu nhập từ thuế). Chi tiêu công của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế

     

     

    12

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính đến các hoạt động kinh tế.

     

    –  Chính sách mở rộng

     

    Là chính sách tăng cường chi tiêu công của chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu công của chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

     

    –  Chính sách thu hẹp

     

    Là chính sách trong đó chi tiêu công của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu công hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn hơn so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

     

    2.2. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam trong những năm vừa qua.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính toán thông qua tốc độ tăng trưởng GDP. Chính sách tài khóa được thể hiện thông qua thuế T và chi tiêu công G. Số liệu thứ cấp được thu thập từ tổng cục thống kê từ năm 2005 đến năm 2013.

     

    Để nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, đề tài thực hiện hồi quy OLS với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến độc lập là bội chi ngân sách nhà nước.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thực trạng nền kinh tế và chính sách tài khóa của Việt Nam

     

    3.1.1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô trong bối

    cảnh khủng hoảng kinh tế, Việt Nam đã duy trì tăng trưởng ở tốc độ 6,24% năm 2011, 5,25% năm 2012, và ở mức 5,42% năm 2013. Dù tốc độ tăng trưởng trong ba năm này thấp hơn mức trung bình trong cả thập kỷ trước, nhưng đây được coi là thành công bởi những áp lực bất lợi từ khủng hoảng kinh tế thế giới là rất lớn.

     

     

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP được tính theo giá so sánh năm 2010)

     

    Đơn vị tính: %

     

     

     

    Tốc độ tăng trưởng này được nhìn nhận một phần là do tác động của chính sách tài khóa mở rộng thông qua các gói kích cầu và chính sách tiền tệ mở rộng. Thực tế cho thấy,

     

     

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

     

    khi các gói kích cầu tài khóa đã dừng lại vào năm 2010 thì chính sách tiền tệ mở rộng tiếp tục được duy trì là nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy đạt được những thành quả

     

     

    13

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    đáng kể nhưng đến nay Việt Nam liên tục phải đương đầu với những bất ổn kinh tế do sự kéo dài và thiếu nhất quán của các chính sách vĩ mô. Hậu quả đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế như lạm phát, thiếu thanh khoản, nợ công tăng nhanh, trong đó nợ nước ngoài tăng đáng kể, thâm hụt ngân sách cao và tình trạng nhập siêu kéo dài.

     

    3.1.2. Chính sách tài khóa của Việt Nam Trong giai đoạn trước 2011, chính sách tài khóa (CSTK) được mở rộng đáng kể, thể hiện ở việc tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2006-2010 cao gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2001-2005. Việc thực thi CSTK mở rộng, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, đã tác động tích cực tới duy trì tốc độ tăng trưởng và

     

    giúp Việt Nam sớm thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, việc mở rộng CSTK nhanh

     

    cũng góp phần khiến lạm phát tăng cao trở lại và làm bội chi ngân sách, nợ công tăng nhanh.

     

    Từ sau năm 2011, các giải pháp và các quyết sách của Chính phủ tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội đã được thực hiện đồng bộ, kịp thời và quyết liệt. Thu nội địa năm 2011 đạt 425.000 tỷ đồng, vượt 11,3% so với dự toán, tăng 19,9% so với thực hiện năm 2010, đến năm 2013 con số này là 545.500 tỷ đồng, tăng 28,35% so với năm 2011. Tất cả các mục thu đều thực hiện vượt dự toán.

     

    Bội chi NSNN đã tăng từ mức trung bình là 4,0% GDP giai đoạn 1996-2000 lên 4,9% GDP giai đoạn 2001-2005, giai đoạn 2006-2010 là 5,5% GDP, và giai đoạn 2011-2013 là 5,81% GDP. Năm 2011, bội chi NSNN ở mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-2013 nhưng đã là một con số đáng kể, do đó phải có biện pháp cắt giảm hơn nữa tronh những năm tiếp theo để đảm bảo sự bền vững tài khóa trong trung và dài hạn.

     

     

    Bội chi ngân sách ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2013                                                Đơn vị tính: tỷ đồng

     

     

     

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

     

    3.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác      của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh

     

    động của chính sách tài khóa đối với tăng            tế tại thị trường Việt nam, tác giả sử dụng hồi

     

    trưởng kinh tế.                                                                       quy đơn theo phương pháp OLS với biến phụ

     

    Dựa trên các nghiên cứu đã được tiến          thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến độc

     

    hành trên thế giới. Để xác định ảnh hưởng        lập là bội chi ngân sách nhà nước. Mô hình

     

     

    14

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    nghiên cứu như sau:

     

    Trong đó:

     

    y là tốc độ tăng trưởng kinh tế BC là bội chi ngân sách nhà nước Thu thập dữ liệu.

     

    Dữ liệu về Tổng sản phẩm quốc nội tính theo giá so sánh với năm 2010 được thu thập từ tổng cục thống kê.

     

    Việc tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế dựa trên tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) qua các năm.

     

    Trong đó:

     

    y là tốc độ tăng trưởng kinh tế

     

    GDPt+1 là GDP năm (t+1) tính theo giá so sánh năm 2010

     

    GDPt là GDP năm t tính theo giá so sánh năm 2010

    Dữ liệu về thu chi NSNN được thu thập từ tổng cục thống kê và cổng thông tin điện tử chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bội chi NSNN được tính toán thông qua công thức sau:

     

    BC = Tổng chi – Tổng thu

     

    Trong đó: BC là bội chi ngân sách nhà nước.

     

    Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

     

     

       

    Bảng kết quả hồi quy mô hình

     
               
     

    Hệ số hồi quy

     

    Hệ số hồi quy

    Thống kê t

    Sig.

     

    chưa chuẩn hóa

    đã chuẩn hóa

       

    Hệ số

    Sai số chuẩn

           

    Hằng số

    .107

    .033

     

    3.225

    .018

    LN(BC)

    -.004

    .003

    -.495

    -1.396

    .212

    (Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm SPSS 16.0)

     

    Kiểm định hệ số hồi quy.

     

    Hệ số hồi quy của biến độc lập ln(BC) có Sig. = 0,212 > mức ý nghĩa 5% nên không có ý nghĩa thống kê hay biến độc lập ln(BC) không có ảnh hưởng đến biến phụ thuôc y là tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hay nói cách khác với dữ liệu thu thập được trên thị trường Việt Nam, chưa đủ cơ sở để kết luận CSTK có tác động đến tăng trưởng kinh tế.

     

    Bảng mức độ giải thích của mô hình.

     

    Model

    R

    R2

    R2 hiệu chỉnh

    Sai số chuẩn của ước lượng

    1

    .495a

    .245

    .119

    .0069272

             

    (Nguồn: Tính toán của tác giả bằng phần mềm SPSS 16.0)

     

     

    Hệ số R2 = 24,5% rất thấp, cho thấy biến độc lập ln(BC) chỉ giải thích được 24,5% sự biến thiên của tốc độ tăng trưởng kinh tế.

     

    Như vậy 1 – R2 = 75,5% mức độ biến thiên của tốc độ tăng trưởng kinh tế được giải thích bởi các yếu tố ngoài mô hình. Hay nói cách

    khác tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác chứ không phải từ CSTK.

     

    Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ 2005 – 2013 cho thấy, CSTK biểu hiện thông qua bội chi NSNN không tác đông đến tăng trưởng

     

     

    15

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    kinh tế. Điều này có thể lý giải bằng kiến thức kinh tế vĩ mô, tác động của thuế và chi tiêu ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm hoặc ưu đãi đầu tư vào vốn vật chất hay vốn con người, cuối cùng ảnh hưởng đến cân bằng sản lượng của nền kinh tế chứ không phải là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Điều này cũng phù hợp với kết luận mà các nhà nghiên cứu Solow (1956) và Swan (1956) thu được khi nghiên cứu về CSTK và tăng trưởng kinh tế.

     

    4. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

     

    4.1. Kiến nghị về chính sách tài khóa tại Việt Nam

     

    Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (CSTT)

     

    Một là, giữa Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà Nước cần phải cung cấp, trao đổi thông tin thường xuyên trong việc xây dựng, hoạch định và thực thi CSTK, CSTT trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.

     

    Hai là, CSTK và CSTT cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn để góp phần thực hiện cùng một lúc hai mục tiêu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn kịp thời tình trạng số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng. Trong dài hạn, CSTK phải sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội, CSTT cần kiên trì theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát.

     

    Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết kiệm trong năm 2014

     

    Bằng cách thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 01/NQ-CP của chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2014. Trong đó, nêu rõ trong năm 2014 tiếp tục thực hiện CSTK chặt chẽ, triệt để tiết kiệm. Bội chi NSNN không quá 5,3%

     

    GDP, thực hiện nghiêm kỷ luật tài chính. Kiểm soát ngân sách nhà nước

     

    Thiết lập cơ chế thu ngân sách nhà nước ổn định. Tăng cường chỉ đạo công tác thu, quản lý NSNN, chống thất thu, gian lận thuế, giảm các khoản nợ đọng thuế. Thực hiện thu đầy đủ, kịp thời các khoản thu năm 2010, 2011, 2012 được gia hạn sang năm 2013. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách thuế và thu ngân sách mới như luật quản lý thuế, luật sửa đổi và bổ sung luật thuế thu nhập cá nhân.

     

    Quản lý chi Ngân sách Nhà Nước hiệu quả. Tăng cường quản lý chi NSNN theo hướng tiết kiệm, hiệu quả trên cơ sở thực hiện rà soát lại các khoản chi NSNN và trong từng khoản chi cần rà soát lại các nội dung chi để xác định đúng thứ tự ưu tiên chi NSNN. Ưu tiên chi an sinh xã hội; bố trí chi đầu tư phát triển gắn với tái cơ cấu đầu tư công, bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công ngiệ, y tế, văn hoá, môi trường, kiên quyết cắt, giảm, hoãn, lùi thời gian chi đối với các khoản chi chưa thực sự cần thiết.

     

    Cần có cơ chế giám sát đầu tư công. Chi tiêu cho đầu tư công cầ được tiếp tục cắt giảm mạnh và có chọn lọc. Cắt giảm đầu tư công sẽ giúp giảm nợ công và tiến tới giảm bội chi ngân sách. Các dự án đầu tư công cần cắt giảm và có bước cải cách mạnh mẽ trong khâu thẩm định, ra quyết định đầu tư, hết sức tránh đầu tư tràn lan và kéo dài thời gian thi công xây dựng..

     

    Tiếp tục rà soát lại hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách sửa đổi. Cần bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế theo hướng tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ cho thị trường. Định hướng chính sách thuế và thu NSNN nên theo hướng giảm thuế suất, mở rộng đối tượng chịu thuế, tăng thuế

     

     

    16

     

    Chính sách tài khóa . . .

     

    suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và các mặt hàng có khả năng sản xuất trong nước, tăng thuế suất đối với thuế xuất khẩu các sản phẩm từ khai thác tài nguyên.

     

    4.2. Kết luận

     

    CSTK là công cụ đắc lực trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Tuy nhiên lựa chọn thực hiện CSTK nào lại là một vấn đề rất khó khăn đòi hỏi Chính phủ phải cân nhắc trên nhiều khía cạnh để thực hiện tốt nhất các chức năng và nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Nhà nước.

    Nghiên cứu đã tóm tắt được các vấn đề tổng quan về CSTK cũng như phân tích thực trạng nền kinh tế và CSTK của Việt Nam trong những năm vừa qua, thông qua đó đưa ra các đánh giá và các kiến nghị.

     

    Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về vấn đề tác động của CSTK đến tăng trưởng kinh tế trên thị trường Việt Nam. Do đó, cần một nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn, được đầu tư tài chính và thời gian nghiên cứu đủ dài để có thể đưa ra được câu trả lời chính xác cho vấn đề liệu có hay không ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Barro, R., 1990. Government spending in a simple model of endogenous growth. Journal of Political Economy 98 (1), s103–117.
    • King, R., Rebelo, S., 1990. Public policy and economic growth: Developing neoclassical implications. Journal of Political Economy 98 (1), s126–151.
    • Solow, R.M., 1956. A contribution to the theory of economic growth. Quarterly Journal of Economics 71 (1), 65–94.
    • Swan, T.W., 1956. Economic growth and capital accumulation. Economic Record 32(3),334–361.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-suy-ngh%C4%A9-v%E1%BB%81-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%99ng-v%C3%A0-%C4%91i%E1%BB%81u-h%C3%A0nh-l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số suy nghĩ về biến động và điều hành lãi suất hiện nay

    Một số suy nghĩ . . .

     

    Nghiên cứu – Trao đổi

     

    MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ

     

    BIẾN ĐỘNG VÀ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT HIỆN NAY

     

    Nam Phương*, Đỗ Linh Hiệp**

     

    TÓM TẮT

     

    Thị trường tiền tệ trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua, đã chứng kiến nhiều sự kiện biến động về lãi suất và những hoạt động có liên quan. Bên cạnh những dấu hiệu của sự biến động tích cực, liệu có tiềm ẩn những gì khiến chúng ta cần quan tâm suy nghĩ ? Trên cơ sở đó có thể giúp cho việc điều hành công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, thực sự đạt được mục tiêu cuối cùng như mong đợi. Nói cách khác, cần có giải pháp gì để hỗ trợ đồng bộ với điều hành công cụ lãi suất, nhằm tăng tính hiệu quả của nó, đối với mục tiêu kích cầu tín dụng, kích thích khả năng phục hồi và tăng trưởng kinh tế nói chung.

     

    Đây là bài viết có nội dung tương đối chuyên sâu về một lĩnh vực (tiền tệ-ngân hàng). Vì vậy, để tiện việc theo dõi của đọc giả, trước hết chúng tôi muốn giới thiệu đôi nét sơ lược, về một số vấn đề có tính chất nguyên lý cơ bản trực tiếp liên quan. Trên cơ sở đó, sẽ phân tích diễn biến, nhận định và đề xuất ý kiến giải quyết vấn đề.

    Từ khoá: Biến động, điều hành, lãi suất

     

    SOME THOUGHTS ABOUT PRESENT INTEREST CHANGE AND MANAGEMENT

    ABSTRACT

     

    Banking market for the irst days of May changed a lots in interest and its related activities. Besides the signs of active changes, is there any implicit that makes us think? Based on that can help to manage interest method of State Bank gain the last purpose as expected. In other words, what solutions to comprehensive assist/ support with manage interest method which raises its effectiveness for the goal of demand stimulation credit, in general, stimulate rehabilitate capacity and economic development. This essay which has promptly content about one aspect ( banking – monetary). First of all, we would like to introduce cursorily some basic principles which directly related so the readers easily monitor. Based on that, we will analyze the happenings, consider and put forward ideas for solving problems.

     

    Key word: Change, manage, interest

     

    • GVC. Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh
    • TS. Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Bình Dương

     

     

    51

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1.   Tìm hiểu những nguyên lý cơ bản về công cụ lãi suất

     

    Trên phương diện lý thuyết, lãi suất được hiểu một cách chung nhất, đó chính là một loại giá phải trả, để có được quyền sử dụng, một khoản vốn tiền tệ không thuộc sở hữu của mình, trong một khoảng thời gian nhất định. Chẳng hạn, khi ta gửi một khoản tiền vào ngân hàng, tức là đã nhường quyền sử dụng khoản tiền đó cho ngân hàng, trong thời hạn thỏa thuận giữa hai bên. Đổi lại, ta sẽ nhận được khoản tiền lãi, theo lãi suất tiền gửi của ngân hàng. Sau đó, ngân hàng sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ của ta để cho vay, cũng có nghĩa là họ đã bán lại quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ này cho người khác (doanh nghiệp chẳng hạn). Đương nhiên, ngân hàng sẽ bán lại với mức giá (tức lãi suất cho vay) cao hơn khi ta bán cho họ; bởi lẽ về nguyên lý, lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ tạo ra khoản thu, mà khoản thu này phải đủ để bù đắp lại chi phí mua vốn, các khoản chi phí quản lý phát sinh trong kinh doanh và đương nhiên phải bao gồm cả lợi nhuận của ngân hàng nữa chứ! Như vậy ta có thể hiểu một cách dễ dàng và đơn giản là khi ngân hàng mua vốn (nhận tiền gửi)với giá cao, thì cũng sẽ phải bán vốn ra (cho vay) với lãi suất cho vay cao. Đó cũng là vấn đề hiển nhiên và hoàn toàn phù hợp với nguyên lý chung của hạch toán kinh tế mà thôi!

     

    Cũng cần tìm hiểu sâu thêm một chút, về lãi suất mà người gửi tiền được hưởng: trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, tức là có sự mất giá của đồng tiền, lãi suất tiền gửi chỉ thực sự đem lại thu nhập cho người gửi tiền, khi mức lãi suất này lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Giả sử lãi suất tiền gửi (công bố của ngân hàng hay còn gọi là lãi suất danh nghĩa) là 7% /năm; tỷ lệ lạm phát cũng là 7%/năm, thì thực

    sự người gửi tiền cũng không có lợi gì. Bởi vì khoản lãi ngân hàng trả cho họ, cũng chỉ vừa đủ để bù đắp lại cái mà họ đã bị mất đi (vì sự mất giá của đồng tiền do lạm phát), trong thời gian họ nhường quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ của mình cho ngân hàng. Điều đó có thể diễn đạt tóm tắt qua công thức:

     

    Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát

     

    Với công thức trên ta thấy rõ, người có dư tiền sẽ chỉ sẵn sàng gửi tiền vào ngân hàng, khi lãi suất thực đạt được là số dương và đạt được ở giới hạn kỳ vọng của họ.

     

    Một vấn đề khác có liên quan tới phạm trù lãi suất, cũng cần được đề cập tới trước khi bàn về thực trạng của nó hiện nay. Như ta đã biết, trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng được tổ chức và vận hành theo mô hình hệ thống 2 cấp; trong đó cấp 1 là ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam gọi là Ngân hàng Nhà nước), thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mọi hoạt động về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng nói chung; không có chức năng kinh doanh tiền tệ. Còn hệ thống cấp 2 là ngân hàng trung gian (bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chuyên doanh,… ) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.

     

    Để thực hiện chức năng của mình, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo điều hành thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu của chính sách này, thông qua các công cụ như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá, chính sách tín dụng,… Tùy tình hình thực tế của nền kinh tế ở mỗi thời kỳ, NHNN sẽ sử dụng những biện pháp cụ thể của từng công cụ đó, nhằm đạt được mục tiêu chung của chính sách tiền tệ đã dự kiến. Chẳng hạn, trong thời kỳ cần đẩy mạnh tăng

     

     

    52

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    trưởng kinh tế, NHNN thực thi chính sách tiền tệ mở rộng, tức là chủ trương tăng cung ứng lượng tiền trong lưu thông. Để thực hiện được chủ trương này, NHNN sẽ chủ động hạ lãi suất tái cấp vốn, tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại (NHTM), được nhận các khoản vay từ NHNN với lãi suất thấp. Do vậy, các NHTM sẽ có điều kiện để hạ lãi suất cho vay, kích thích mở rộng tín dụng cho nền kinh tế. Hoặc giả sử có tình huống ngược lại, khi muốn hạn chế tình trạng tăng trưởng tín dụng quá nóng của nền kinh tế; đồng thời kiềm chế khả năng lạm phát có thể xẩy ra, NHNN có thể: hoặc chủ động nâng lãi suất tái chiết khấu, gây áp lực tăng lãi suất cho vay của các NHTM, từ đó dẫn tới hệ quả thu hẹp tín dụng trong nền kinh tế. Hoặc NHNN có thể quy định trần lãi suất huy động ở mức giới hạn thấp, buộc các NHTM không được huy động tiền gửi cao hơn giới hạn này, từ đó hạn chế khả năng mở rộng nguồn vốn, mở rộng tín dụng trong nền kinh tế. Đó cũng chính là một vài nội dung đơn giản về cơ chế điều hành công cụ lãi suất của NHNN, nhằm đạt được mục tiêu chung của chính sách tiền tệ quốc gia.

     

    2.   Câu chuyện phức tạp về lãi suất thực tế hiện nay

     

    Hãy tạm gác lại những vấn đề lý luận cơ bản nêu trên, bởi dù sao chúng cũng đã hoàn thành vai trò của mình, tạo cơ sở ban đầu giúp ta có điều kiện dễ dàng, theo dõi diễn biến của những câu chuyện thực tế đa dạng và phức tạp hiện nay, trên thị trường tiền tệ, tín dụng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế-xã hội nói chung.

     

    Chủ đề mà ta đang muốn tìm hiểu và bàn luận ở đây cũng là một vấn đề thực tiễn, có liên quan và ảnh hưởng sâu rộng, đối với hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế-xã hội;

    trong đó đương nhiên bao gồm cả chúng ta. Đó chính là câu chuyện diễn biến của lãi suất tiền gửi hiện hành qua những tín hiệu thông tin thị trường.

     

    2.1. Trần lãi suất huy động tiền gửi vẫn còn khả năng hạ tiếp

     

    Nếu những ai quan tâm theo dõi thì chắc hẳn còn nhớ rằng, khoảng tháng 9/2012, các NHTM trong đó khởi đầu là ACB, đã tạo một đợt sóng đẩy lãi suất tiền gửi tiết kiệm (loại kỳ hạn trên 1 năm) lên 13%/năm. Tiếp theo là các NHTM khác cũng đồng loại tăng theo. Có thể biện giải cho hiện tượng bất bình thường này là do, một số NHTM muốn đảm bảo cho thanh khoản trong dài hạn được dồi dào để phòng hờ rủi ro; một số NHTM khác vẫn còn trong tình trạng thiếu thanh khoản, do vậy phải đẩy lãi suất huy động lên để có hy vọng thu hút thêm được nguồn vốn huy động, bù đắp lỗ hổng thiếu hụt thanh khoản đã xuất hiện, do tồn tại các khoản nợ xấu. Hoặc tại một số NHTM khác quá xa đà vào việc cấp tín dụng, dẫn đến tình trạng tỷ trọng số tiền cho vay /vốn huy động quá cao, hơn nữa có những khoản tiền cho vay nhưng không thu hồi được nợ, xuất hiện tình trang nợ xấu gia tăng, từ đó cũng phải vào cuộc theo đà nâng lãi suất huy động tiền gửi để có thêm thanh khoản. Một số NHTM có được những dự án đầu tư lớn, có hiệu quả; tuy nhiên vốn huy động chưa đáp ứng yêu cầu cho vay và thế là họ cũng sẵn sàng chấp nhận lao vào cuộc đua tăng lãi suất huy động…

     

    Để lập lại trật tự lãi suất tiền gửi trong nền kinh tế, cuối tháng 12/2012, NHNN đã chỉ đạo hạ trần lãi suất huy động tiền gửi xuống còn 8%/năm. Bước sang năm 2013, từ 26/03, NHNN quy định giảm trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn từ 8%/năm xuống 7,5%/năm. Tiếp theo, ngày 10/05 vừa qua trên cơ sở các

     

     

    53

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    yếu tố điều hành kinh tế vĩ mô, với thực trạng diễn biến lạm phát được kiểm soát trong giới hạn cho phép, cũng như tình hình thanh khoản của các tổ chức tín dụng, ngày 10/05/2013, NHNN đã công bố quyết định cắt giảm 1% đối với các lãi suất chủ chốt (được coi là các lãi suất điều hành). Cụ thể: Với lãi suất tái cấp vốn giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm; lãi suất chiết khấu từ 6%/năm xuống 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN, đối với các ngân hàng từ 9%/năm xuống 8%/năm. Còn với trần lãi suất tiền gửi, vẫn được giữ nguyên ở mức hiện hành 7,5%/năm. Cùng với việc đưa ra quyết định giảm lãi suất điều hành chủ chốt, giữ nguyên trần lãi suất tiền gửi, NHNN cũng có đưa ra quy định, về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND, của các tổ chức tín dụng, đối với các nhu cầu tín dụng thuộc các đối tượng được ưu đãi như: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, …giảm từ 12%/năm xuống 11%/năm.

     

    Thông qua việc giảm các loại lãi suất điều hành như trên cho thấy, định hướng hỗ trợ lãi suất đầu vào của NHNN đối với các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM có điều kiện thực hiện giảm lãi suất đầu ra, với các khách hàng có nhu cầu tín dụng.

     

    Đối với lãi suất huy động tiền gửi, NHNN chủ trương vẫn tiếp tục duy trì trần lãi suất ở mức 7,5%/năm, với lý giải rằng căn cứ vào các yếu tố điều hành kinh tế vĩ mô, diễn biến kiểm soát lạm phát với mức kỳ vọng trong năm 2013 là khoảng 6,5% – 7%, do vậy mức trần lãi suất huy động ngắn hạn ở mức 7,5%/ năm vẫn được duy trì và được cơ quan quản lý vĩ mô coi là hợp lý.

    Chúng tôi đề xuất giảm trần lãi suất xuống 6,5%/năm

     

    Có ý kiến cho rằng, nên giảm tiếp trần lãi suất tiền gửi xuống mức 7%/năm với lý do, để có thể tiếp tục giảm thêm lãi suất cho vay, kích thích tăng trưởng tín dụng mạnh hơn. Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện hiện nay, việc giảm trần lãi suất tiền gửi xuống 7%/năm cũng sẽ không có hiệu ứng gì khác hơn. Thật vậy, thực tế cho thấy, ngay trước khi có quy định trần lãi suất tiền gửi giảm từ 8%/năm xuống 7,5%/năm, một số ngân hàng lớn đã chủ động cắt giảm lãi suất xuống dưới mức trần quy định. Cụ thể như Vietcombank hạ lãi suất kỳ hạn 1 tháng xuống 6%/năm, 2 tháng 6,5%/ năm, 3 tháng 6,8%/năm và kỳ hạn 6-9 tháng chỉ còn 7%/năm. Vietinbank với lãi suất kỳ hạn 1-12 tháng là 7%/năm. Tại BIDV tình hình cũng tương tự, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3-12 tháng chỉ còn 7%/năm;…Hiện nay, tình trạng các ngân hàng huy động tiền gửi, với mức lãi suất dưới trần quy định, đã trở thành khá phổ biến trên thị trường tiền tệ.Thực ra hiện tượng này cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm. Nó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, song có điều chắc chắn là các ngân hàng này đang trong tình trạng dư thừa thanh khoản, chưa tìm được dự án khả thi để đầu tư (‘đầu vào” đang lớn hơn “đầu ra”).

     

    Tuy nhiên, cũng không nên từ thực trạng nêu trên, để có thể tùy tiện đưa ra quyết định tiếp tục giảm trần lãi suất tiền gửi thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Bởi lẽ, khi hạ trần lãi suất tiền gửi quá giới hạn hợp lý, người gửi tiền sẽ cảm thấy băn khoăn khi tiền lãi tiết kiệm ngày càng ít đi, họ sẽ sẵn sàng rời bỏ “sân chơi tiền gửi” để đến với “sàn vàng”, hay dự trữ USD,…Khi đó trình trạng khó khăn về vốn, thiếu hụt thanh khoản của các NHTM sẽ có thể lại xuất hiện và sẽ trở nên

     

     

    54

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    trầm trọng, khi tăng trưởng tín dụng có cơ hội quay trở lại. Chúng tôi cho rằng, cần nghiên cứu để điều chỉnh hạ trần lãi suất tiền gửi xuống 6,5%/năm. Điều này hoàn toàn phù hợp thực trạng điều hành chỉ tiêu lạm phát và yêu cầu kéo giảm lãi suất cho vay hiện nay.

     

    2.2. Lời giải nào cho bài toán kích cầu tín dụng

     

    Câu chuyện lãi suất bây giờ không chỉ dừng lại ở lãi suất huy động tiền gửi, mà điều cần quan tâm nhiều hơn chính lại là lãi suất cho vay, nếu như muốn tìm lời giải cho bài toán kích cầu tín dụng. Xét trên giác độ vĩ mô, tăng trưởng tín dụng không phải là mục tiêu cuối cùng, song chính nó lại là một trong những công cụ rất quan trọng và là mục tiêu trung gian, góp phần đưa nền kinh tế đạt mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế.

     

    2.2.1. Giảm lãi suất cho vay phải được coi là nhiệm vụ cấp bách hiện nay

     

    Chúng ta đã bình luận khá nhiều về lãi suất huy động tiền gửi, song hãy đừng quên rằng mục tiêu của huy động là để cho vay. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, việc giảm lãi suất huy động chính là tiền đề trực tiếp và rất quan trọng để hướng tới mục tiêu giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, diễn biến lãi suất thực tế cho thấy, lãi suất cho vay vẫn còn ở mức cao so với trần lãi suất huy động. Hiện nay lãi suất cho vay đối với các ngành được ưu đãi như nông nghiệp-nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao mới được hưởng mức lãi suất 9-11%/năm; còn lại các lĩnh vực khác từ 12-15%/năm. Chưa kể, với các khoản dư nợ cũ còn tồn tại của một số doanh nghiệp, hiện vẫn phải tiếp tục chịu đựng với lãi suất trên 15%.

     

    • Lãi suất cho vay cao, ngân hàng “ế vốn”

     

    Theo số liệu báo cáo của NHNN về tình

     

    hình hoạt động tín dụng của các NHTM, tính

    đến ngày 23/4/2013, huy động vốn tăng 5,34% so

     

    với cuối năm 2012, cao hơn gấp 1,5 lần mức tăng của cùng kỳ năm 2012, trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 1,44%. Số liệu thống kê này, trong một mức độ nhất định, cho thấy hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng “ế vốn”. Vậy điều gì sẽ xẩy ra khi tình trạng “tồn kho” tiền của các ngân hàng cứ tiếp tục kéo dài và gia tăng? Trước hết nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của ngân hàng và đồng thời ảnh hưởng tới họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế-xã hội. Để có thể tháo gỡ khó khăn này, cần nhận diện những nguyên nhân của tình trạng trên. Chúng tôi cho rằng hiện tượng ế vốn như trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân; song trước hết có thể lý giải là do lãi suất cho vay quá cao, so với khả năng chịu đựng của các doanh nghiệp. Thật vậy, lãi suất tiền vay cấu thành trong giá thành sản phẩm. Khi các yếu tố khác không đổi, lãi suất vay càng cao thì giá thành sản phẩm sẽ càng cao. Nếu doanh nghiệp muốn có lãi thì phải bán sản phẩm giá cao. Đương nhiên người tiêu dùng sẽ không chấp nhận. Kết cục là doanh nghiệp không vay và vốn của ngân hàng cũng không có đầu ra. Điều nguy hại hơn là khi doanh nghiệp không bán được hàng, tồn kho tăng lên, sản xuất sẽ không thể tiếp tục; đồng thời khi doanh nghiệp không trả được vốn vay, nợ xấu của ngân hàng cũng sẽ tiếp tục gia tăng.

     

    • Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao lại có tình trạng lãi suất cho vay cao như vậy?

     

    Nhiều ý kiến cho rằng, các ngân hàng thương mại (NHTM) lâu nay đã và đang hưởng khoản chênh lệch phần trăm giữa lãi suất huy động và cho vay gọi là tỷ lệ lãi biên (NIM) khá lớn. Theo tính toán của VnEconomy, năm 2012 NIM của 6 NHTMCP

     

     

    55

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    hàng đầu, niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, đạt trung bình ở mức 4,1%, thấp hơn mức trung bình 4,3% của năm 2011, nhưng cao hơn mức 3,6% và 3,5% của các năm 2010 và 2009. Như vậy, nếu lấy lãi suất cho vay trung bình là 12,5% và trần lãi suất tiền gửi là 7,5% thì NIM hiện nay là 5%. Đây rõ ràng là một vấn đề bất hợp lý; tuy nhiên việc tìm giải pháp xử lý mang tính thuyết phục cũng không phải là đơn giản; bởi lẽ lâu nay các NHTM đã quen kinh doanh trong điều kiện NIM khá thoải mái.

     

    • Đề xuất quy định trần lãi suất cho vay 10%/năm

     

    Với tầm nhìn vĩ mô, các cơ quan quản lý nhà nước cần suy nghĩ, để có giải pháp xử lý hiệu quả trong việc điều hành giảm lãi suất cho vay. Đồng thời NHNN cần coi đây là trách nhiệm, là nhiệm vụ cấp bách chứ không thể chỉ hô hào chung chung, kêu gọi các NHTM phấn đấu trong năm 2013, đưa lãi suất cho vay xuống 13%/năm (!). Chúng tôi cho rằng NHNN cần quy định trần lãi suất cho vay của các NHTM trong điều kiện hiện nay chỉ ở mức 10%/năm và sẽ tiếp tục giảm tùy tình hình thực tế. Đương nhiên với một số NHTM, việc áp dụng mức trần lãi suất cho vay này sẽ gặp những khó khăn nhất định; đặc biệt là những ngân hàng có tình trạng nợ xấu nhiều, năng lực tài chính yếu và công tác quản trị không tốt. Với những ngân hàng này, có thể quy định lộ trình cụ thể và đây cũng được xem là bước thử thách, trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã và đang được triển khai.

     

    2.2.2. Khẩn trương triển khai biện pháp xử lý nợ xấu

     

    Lãi suất vay cao cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng, dẫn đến tình trạng giá thành sản phẩm cao, hàng hóa khó

    tiêu thụ, tồn kho ngày càng nhiều, nợ vay không trả được, tình trạng “nợ xấu” tại các NHTM xuất hiện ngày càng nhiều.

     

    Cho đến thời điểm hiện nay con số nợ xấu chính xác là bao nhiêu cũng đang là một vấn đề chưa rõ ràng vì nhiều lý do. Có nhiều con số về nợ xấu trong nền kinh tế được công bố nhưng thiếu độ tin cậy. Tại Diễn đàn kinh kinh tế mùa xuân tháng 4/2013, PGS,TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Hiện nay có có nhiều thứ còn xấu hơn cả nợ xấu…Việc không biết chính xác số nợ xấu, còn xấu hơn cả nợ xấu, bởi không có số liệu đáng tin cậy thì không thể xây dựng chiến lược đúng để giải quyết vấn đề.

     

    Nhiều ý kiến cho rằng, nợ xấu tại các NHTM đến nay ước khoảng 500.000 tỷ đồng. Một khối lượng vốn không nhỏ đang nằm bất động đang tạo ra một lực cản rất lớn đối với dòng vốn tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế. Vì vậy cùng với việc tích cực áp dụng các biện pháp khả thi của mỗi NHTM trong việc giải quyết nợ xấu đã phát sinh, không để nợ xấu mới phát sinh thêm, Nhà nước cần sớm triển khai hoạt động có hiệu quả đối với Công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC), góp phần đẩy nhanh quá trình giải quyết tình trạng nợ xấu, góp phần khơi thông dòng chảy tín dụng trong nền kinh tế, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Đương nhiên cần xác định trách nhiệm giải tỏa nợ xấu trước hết và chủ yếu vẫn thuộc về cả hệ thống ngân hàng cũng như phía các doanh nghiệp, song vai trò điều hành vĩ mô của Nhà nước để phối hợp hành động lúc này là vô cùng quan trọng.

     

    2.2.3. Giải cứu tình trạng doanh nghiệp phá sản

     

    Như đã nêu trên, điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề kích cầu tín dụng không chỉ

     

     

    56

     

    Một số suy nghĩ . . .

     

    là lãi suất cho vay của ngân hàng. Một vấn đề cũng hết sức quan trọng, đó là khả năng hấp thụ, là sức cầu tín dụng của các doanh nghiệp hiện nay ra sao. Cũng lại có hiện tượng tương tự như vấn đề nợ xấu, đó là con số doanh nghiệp phá sản, tính đến thời điểm hiện nay hiện nay là bao nhiêu? Có lẽ không ai có câu trả lời chính xác! Con số được nhiều người nhắc đến là hơn 50.000 doanh nghiệp phá sản. Thế nhưng, tại phiên họp ngày 14/05/2013 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn sinh Hùng cho rằng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát,tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn , tỷ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%”. Có thể coi đây là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng đối với vấn đề phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế. Rõ ràng thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay, dù lãi suất cho vay có giảm thì khả năng tăng trưởng tín dụng với chỉ tiêu điều hành là 12% trong năm 2013 cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi. Nhiều doanh nghiệp đã phát biểu rằng, trong thời gian gần đây, tuy lãi suất cho vay của một số ngân hàng đã giảm chút ít, song doanh nghiệp cũng không không muốn vay vì không biết vay để làm gì khi hàng tồn kho còn quá nhiều. Hoặc với một số doanh nghiệp khác, nợ xấu còn đè nặng trên vai, nên cũng rất khó tiếp cận với khoản vay mới, dù có nhu cầu.

     

    Khôi phục tình hình hoạt động của các doanh nghiệp là vấn đề cực kỳ khó khăn và đòi hỏi phải xử lý đồng bộ nhiều giải pháp, kể cả vi mô và vĩ mô. Từng doanh nghiệp phải nỗ lực song sự hỗ trợ từ giải pháp vĩ mô cũng vô cùng quan trọng. Nhà nước cần áp dụng các giải pháp cần thiết như :

     

    • Xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Cùng với việc giảm lãi suất cho vay, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp lúc này sẽ tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp có lợi nhuận, có động cơ cần thiết kích thích sản xuất. Việc xem xét giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thể sẽ là quyết định không dễ chấp nhận đứng trên giác độ cân đối ngân sách trong thời gian trước mắt. Tuy nhiên, hãy vì mục tiêu lâu dài giải cứu doanh nghiệp để cứu cả nền kinh tế đang lâm nguy, chúng ta rất cần áp dụng giải pháp này.

     

    • Áp dụng các giải pháp cần thiết liên quan tới kích cầu tiêu dùng.

     

    Thời gian qua sức tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp rất thấp, dẫn tới tình trạng giá trị hàng tồn kho trong nền kinh tế ngày càng gia tăng và hệ quả đáng lo ngại của nó, chính là con số các doanh nghiệp phá sản lên tới hàng trăm ngàn như hiện nay. Vì vậy Nhà nước cần nghiên cứu để sớm đưa ra giải pháp kích cầu tiêu dùng, tương tự như kích cầu mua nhà ở xã hội vừa được triển khai. Điều này là hoàn toàn cần thiết và có thể khả thi, bởi lẽ với điều kiện thực tế đã 3 tháng liên tục (3,4,5/2013), CPI tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều giảm và tính chung CPI tháng 5/2013 cả nước giảm 0,06%.

     

    Kết luận

     

    Để có thể biến chỉ tiêu định hướng tăng trưởng kinh tế 5,5% trong năm 2013 thành hiện thực, trong bối cảnh nền kinh tế đang trong tình trạng vô cùng khó khăn như hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó công cụ lãi suất cần được điều hành hết sức hợp lý, theo hướng tạo điều kiện hỗ trợ tối đa, để các doanh nghiệp phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Riêng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2013 dự kiến 12%, cho đến thời điểm

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P-T%C3%81I-C%E1%BA%A4U-TR%C3%9AC-TH%E1%BB%8A-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-CH%E1%BB%A8NG-KHO%C3%81N-T%E1%BB%AA-G%C3%93C-NH%C3%8CN-V%C4%A8-M%C3%94.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

    Giái pháp . . .

     

    GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TỪ GÓC NHÌN VĨ MÔ

     

    Lê Thị Tuyết Hoa*

     

    TÓM TẮT

     

    Gần 13 năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) đã gặt hái được những thành tựu nhất định trong việc phát huy vai trò quan trọng trong kênh huy động vốn đầu tư, góp phần tăng trưởng kinh tế và từng bước hoàn thiện hệ thống thị trường tài chính Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, TTCKVN cũng còn bộc lộ khá nhiều vấn đề bất cập về mọi mặt, ảnh hưởng tới việc phát triển bền vững và ổn định của thị trường.

     

    Bởi vậy, việc nghiên cứu xây dựng và tổ chức triển khai dự án tái cấu trúc thị trường chứng khoán (TTCK) đang là một vấn đề bức xúc hiện nay và cần được tiến hành một cách đồng bộ, toàn diện, bao gồm: Tái cấu trúc cơ sở hàng hóa và sản phẩm dịch vụ; Tái cấu trúc cơ sở nhà đầu tư; Hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm; Tổ chức thị trường; Cơ sở hàng hóa cho TTCK. Bài viết này muốn trao đổi về một số giải pháp từ góc nhìn vĩ mô, nhằm giải quyết vấn đề này, với mục tiêu hướng tới là gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng sản phẩm hàng hóa trên TTCK.

    Từ khóa: Giải pháp tái cấu trúc, thị trường chứng khoán, vĩ mô

    SOLUTIONS FOR RECONSTRUTING

     

    THE STOCK MARKET FROM MACRO VIEW

     

    ABSTRACT

     

    Over the past 13 years, VN stock market has obtained certain achivements in developing its crucial roles in atracting investment, enhancing economics growth and step- by- step completing VN stock market system. Beside impressive achivements, VN stock market has also revealed quite many imperfections in all aspects, which affect the duration and sustainability of the market.

     

    Therefore, the research of reconstrcting and implementing reconstrution projects of the stock market is an impulsing matter and needs carrying out syatematically and perfectly, including

     

    • reconstructing goods production base and services, reconstructing investors, systematising stock market organisations and insurance companies, organising market and goods production base for stock market. This paper aims at exchanging some solutions through a micro view and suggesting solutions to the problem with the purpose of increasing the quatity, quantity and variety of products.

    Key words: reconstructing solutions, stock market, macro.

     

    • Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

     

     

    15

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    1.   Những tín hiệu pháp lý của tái cấu trúc TTCK Việt Nam

     

    Trước những bất cập trên TTCK trong thời gian qua, cho chúng ta thấy rõ trên giác độ vĩ mô, cần mạnh dạn lập lại một “trật tự mới”, để có thể gia tăng tính hiệu lực, hiệu quả, trong quản lý và điều hành hoạt động của một TTCK ổn định bền vững. Những thay đổi hợp lý trên phương diện quản lý vĩ mô, có ý nghĩa hết sức quan trọng và mang tính quyết định cho phương án tái cấu trúc. Chính vì vậy, bàn luận về những giải pháp tái cấu trúc TTCK một cách đồng bộ và toàn diện, từ giác độ quản lý vĩ mô là câu truyện không chỉ bức xúc mà còn rất phức tạp hiện nay.

     

    Có thể nói rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam đã bắt đầu chính thức triển khai quá trình tái cấu trúc trong thời gian gần đây, trên cơ sở các văn bản pháp lý của Chính phủ. Cụ thể là:

     

    Ngày 01 tháng 03 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 252/ QĐ-TTg, phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 -2020”. Tiếp theo đó, trên cơ sở chiến lược phát triển này, ngày 06 tháng 12 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm”. Nội dung chủ yếu của đề án bao gồm: mục tiêu, định hướng và quan điểm tái cấu trúc; các giải pháp và lộ trình thực hiện. Đây chính là một cơ sở pháp lý quan trọng, là định hướng cho việc triển khai hoạt động tái cấu trúc TTCK Việt Nam, giai đoạn từ nay đến năm 2020.

     

    Toàn bộ nội dung đề án như một bức tranh toàn cảnh, miêu tả những nội dung cần thực hiện, để hướng tới những thay đổi rất cơ bản và toàn diện, về phương diện cơ cấu tổ

    chức, cũng như các mặt hoạt động của TTCK Việt Nam, trong những năm sắp tới. Khi đó, những bất cập từ khâu quản lý điều hành vĩ mô trong thời gian qua, về cơ bản sẽ được loại bỏ. Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đi vào hoạt động ổn định hơn, với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững hơn. Chỉ trên cơ sở đó, TTCK Việt Nam mới có thể xứng tầm là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ đạo của nền kinh tế; đồng thời phát huy vai trò hỗ trợ tích cực cho thị trường tiền tệ, trong quá trình tái cơ cấu ngân hàng và các định chế tài chính tín dụng nói chung.

     

    Tuy nhiên, từ ý tưởng đến hiện thực luôn tồn tại một khoảng cách nhất định. Khoảng cách đó dài hay ngắn, một phần rất quan trọng, tùy thuộc nội dung phương án triển khai và quá trình chỉ đạo thực hiện đề án. Đương nhiên, những yếu tố vĩ mô liên quan tới toàn bộ nền kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế nói chung, cũng có tác động ảnh hưởng nhất định và rất cần được dự báo chính xác.

     

    Tái cấu trúc TTCK chỉ có thể đạt kỳ vọng trên cơ sở xây dựng và triển khai thực hiện một cách đồng bộ, các giải pháp toàn diện cả trên phương diện vĩ mô và vi mô.

     

    Trong phạm vi bài này, người viết muốn nêu ý kiến cá nhân, tập trung bàn luận về một giải pháp triển khai, thực hiện đề án tái cấu trúc TTCK trên giác độ vĩ mô, đó là giải pháp tái cấu trúc cơ sở hàng hóa của TTCK.

     

    2.   Về giải pháp tái cấu trúc cơ sở hàng hóa của TTCK

     

    Hàng hóa trên TTCK bao gồm các loại sản phẩm tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các loại chứng khoán phái sinh,…). Các loại hàng hóa này chủ yếu do các chủ thể như các doanh nghiệp cổ phần, chính phủ, quỹ đầu tư,…cung cấp cho thị trường.

     

     

    16

     

    Giái pháp . . .

     

    Yêu cầu đặt ra đối với tái cấu trúc cơ sở hàng hóa của TTCK, xuất phát từ một trong những tồn tại khá cơ bản của TTCK Việt Nam hiện nay, đó là tình trạng hàng hóa trên thị trường chưa đáp ứng yêu cầu. Những biểu hiện của tồn tại thể hiện trên cả 3 khía cạnh: vừa ít về số lượng, vừa kém về chất lượng và lại vừa nghèo nàn về chủng loại. Vì vậy giải pháp về hàng hóa cho TTCK cần hướng tới việc giải quyết đồng bộ, để có thể đồng thời đạt cả 3 mục tiêu chủ yếu: tăng số lượng, nâng chất lượng và đa dạng mặt hàng.

     

    2.1. Làm gì để thực hiện mục tiêu gia tăng số lượng cổ phiếu niêm yết?

     

    Có lẽ không ít người nghĩ rằng, về mục tiêu tăng số lượng cổ phiếu niêm yết, có thể thực hiện một cách dễ dàng và nhanh chóng. Họ lập luận qua một ví dụ đơn giản như sau: giả sử một người chăn nuôi gà đẻ, nếu như đàn gà có 100 con, mỗi con đẻ 1 trứng/ ngày, hàng ngày họ sẽ có 100 trứng cung cấp cho thị trường. Vậy muốn có 200 trứng cung cấp cho thị trường thì chỉ việc tăng gấp đôi số lượng gà đẻ. Tương tự như vậy, giả sử trung bình mỗi công ty cổ phần niêm yết 20 triệu cổ phiếu trên sàn giao dịch. Để có 200 triệu cổ phiếu giao dịch, sẽ phải có 10 công ty cổ phần niêm yết. Giả định các công ty cổ phần này đều không có phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, vậy nếu muốn TTCK tăng thêm 200 triệu cổ phiếu niêm yết, nền kinh tế chỉ cần có thêm 10 công ty cổ phần mới ra đời (đương nhiên là các công ty này phải đủ điều kiện và sẵn sàng niêm yết).

     

    Cứ cho rằng, bài toán số học này có thể áp dụng vào TTCK một cách đơn giản như vậy, thì phương án dựa vào việc thành lập mới các công ty cổ phần (CTCP), để tăng thêm số lượng cổ phiếu niêm yết, lại không đơn giản chút nào; đặc biệt là trong điều kiện

    tăng trưởng kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay! Có thể thấy, ở một khía cạnh khác, chúng ta không loại trừ tình huống thực tế là một số CTCP hiện đang tồn tại với quy mô nhỏ, chưa đủ điều kiện niêm yết. Nếu họ thực hiện phương án sáp nhập hay hợp nhất với nhau, sẽ tạo ra khả năng hình thành thêm những CTCP, làm xuất hiện khả năng cung cấp thêm, khối lượng chứng khoán cho thị trường.

     

    Bên cạnh các phương án nêu trên, một phương án có ý nghĩa rất quan trọng, khả thi và do đó cần quan tâm chỉ đạo nhiều hơn, để có thể đạt mục tiêu làm tăng thêm số lượng CTCP, đó chính là giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

     

    Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (CPHDNNN) như “một mũi tên trúng nhiều đích”: Trước hết, tiến hành CPHDNNN cũng chính là thực hiện được chủ trương tái cấu trúc hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Hai là nhà nước sẽ bớt được gánh nặng “bao cấp” cho các doanh nghiệp, vốn dĩ hoạt động kém (thậm chí không có) hiệu quả. Đồng thời thu hút thêm nguồn vốn đầu tư (kể cả nguồn vốn ngoài nước) cho nền kinh tế. Ba là sẽ nhanh chóng tạo thêm các CTCP, có điều kiện hoạt động hiệu quả, có lợi cho nền kinh tế; đồng thời tạo khả năng cung cấp thêm hàng hóa cho TTCK…

     

    Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chủ trương lớn, chứa đựng nhiều ý nghĩa quan trọng như vậy. Tuy nhiên, nhìn lại hoạt động này thời gian qua, đặc biệt từ 2011 đến nay, lại rất “ì ạch” và gần như bị “đóng băng”. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, song trước hết cần thấy rõ, những bất cập ngay trong cơ chế chính sách. Tuy đã được tháo gỡ qua một số văn bản chỉ đạo như Nghị định Chính phủ (59/2011) và Quyết

     

     

    17

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    định Chính phủ (21/2012), song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề trong chỉ đạo thực hiện, cần được tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ, để có thể “phá băng” trong công tác quan trọng này.

     

    Ngoài ra, cũng cần nhìn nhận một lý do thực tế, đó là tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế và sự hoạt động thiếu ổn định của TTCK thời gian qua, sự sụt giảm lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đối với thị trường, đã tạo ra những trở ngại nhất định, đối với việc xúc tiến quá trình CPHDNNN. Cứ như vậy, cổ phần hóa chờ TTCK phát triển và ngược lại, TTCK chờ cổ phần hóa để có cơ hội gia tăng số lượng hàng hóa. Ở đây cần khẳng định về nguyên tắc, cổ phần hóa có mục tiêu chủ đạo là tái cơ cấu hệ thống các doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, trong mọi tình huống CPH DNNN đều cần phải được triển khai theo lộ trình kế hoạch; không nên vì chờ đợi cơ hội TTCK phát triển thuận lợi, để rồi bỏ lỡ mất mục tiêu chính yếu và quan trọng này. Để làm tốt công tác này cũng cần chú trọng nâng cao chất lượng tư vấn cổ phần hóa và đặc biệt là yếu tố minh bạch, công bằng trong quá trình đấu giá; đồng thời cần kết hợp chào bán ra công chúng với đăng ký niêm yết giao dịch tập trung trên sàn.

     

    Được biết, theo dự kiến kế hoạch, trong năm 2013 sẽ có hàng loạt tổng công ty lớn như :tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), tổng công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam (Vietnamotor), tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex),…sẽ tiến hành cổ phần hóa. Đây sẽ là những đơn vị đầy tiềm năng về phương diện cung cấp cho TTCK, một khối lượng lớn cổ phiếu với chất lượng tốt.

     

    2.2 Cần quan tâm đầy đủ hơn tới chất lượng cổ phiếu niêm yết

     

    Song song với biện pháp tăng khối lượng cổ phiếu niêm yết, một khía cạnh khác cũng

    cần đặc biệt quan tâm và xử lý triệt để, đó là việc nghiên cứu áp dụng những giải pháp thiết thực, nhằm nâng cao chất lượng của loại hàng hóa chủ lực này. Thực tế đã minh chứng, một trong những nguyên nhân quan trọng, dẫn đến tình trạng bất ổn và khá ảm đạm của TTCK thời gian qua, cũng chính xuất phát từ yếu tố chất lượng của cổ phiếu niêm yết. Chất lượng hàng hóa không tốt, nhà đầu tư sẽ rời bỏ thị trường.

     

    Để giải quyết yêu cầu về chất lượng cổ phiếu niêm yết, trên phương diện vĩ mô, trước mắt cần chú trọng một số nội dung sau đây:

     

    2.2.1 Từng bước nâng cao chất lượng báo cáo thông tin công khai của các công ty niêm yết

     

    Chất lượng của cổ phiếu niêm yết là yếu tố tổng hợp, phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh của công ty niêm yết. Trong thực tế, các chủ thể tham gia TTCK có thể tìm hiểu chất lượng cổ phiếu qua những kênh thông tin khác nhau. Tuy nhiên, về phương diện lý thuyết, nguồn thông tin chính thức và có độ tin cậy cao, dùng làm cơ sở phân tích đánh giá chất lượng cổ phiếu, chính là các báo cáo thông tin công khai của đơn vị niêm yết.

     

    Từ kết quả phân tích đánh giá chất lượng cổ phiếu thông qua các báo cáo thông tin công khai, giúp các nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn, hạn chế được rủi ro. Còn với các cơ quan quản lý giám sát TTCK, với những loại cổ phiếu không còn duy trì điều kiện chất lượng theo chuẩn mực quy định, họ sẽ áp dụng biện pháp xử lý theo từng mức độ như cảnh báo, tạm đình chỉ giao dịch hoặc loại khỏi danh sách niêm yết,… đảm bảo chất lượng hàng hóa cho thị trường.

     

    Sự minh bạch của các thông tin được phản ánh trong báo cáo công ty chính là điều

     

     

    18

     

    Giái pháp . . .

     

    kiện cần thiết, để đánh giá chất lượng cổ phiếu của công ty niêm yết. Ta có thể ví nó tương tự như nguyên liệu để sản xuất ra hàng hóa. Nguyên liệu tốt là điều kiện cần để có sản phẩm tốt.

     

    Vì vậy, cùng với việc tăng cường kiểm tra giám sát chất lượng của báo cáo, cần nghiên cứu để từng bước áp dụng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về nghiệp vụ kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính công ty.Trên cơ sở đó, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng báo cáo, đáp ứng kịp thời, đầy đủ các thông tin cần thiết, giúp cho việc đánh giá chất lượng cổ phiếu của công ty niêm yết, một cách thuận tiện và chính xác hơn. Đây cũng chính là một trong những biện pháp cần thiết, để sàng lọc cổ phiếu đang niêm yết và giao dịch trên các sàn chứng khoán hiện nay.

     

    2.2.2. Sẽ không có hàng hóa tốt, nếu không nâng cao yêu cầu về các tiêu chuẩn và điều kiện niêm yết

     

    Để giải quyết mục tiêu đảm bảo chất lượng cổ phiếu niêm yết và cũng là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán, cùng với biện pháp nâng cao chất lượng báo cáo thông tin công khai như đã nêu trên, cần quan tâm xử lý tốt, ngay từ khâu đưa ra các quy định có liên quan, theo hướng: nâng cao yêu cầu về tiêu chuẩn và điều kiện niệm yết; trong đó cần đặc biệt chú trọng tới các tiêu chuẩn định lượng như: mức vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, lỗ lũy kế, tình trạng nợ xấu và thời gian hoạt động.

     

    Thứ nhất, về mức vốn chủ sở hữu:

     

    Với quy định hiện hành, tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), đơn vị niêm yết cổ phiếu phải đạt mức vốn điều lệ từ 80 tỷ VNND trở lên. Còn tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội là 10 tỷ VND trở lên.

    Trải qua hơn một thập niên, từ khi TTCK chào đời, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, trong đó có yếu tố quy mô trung bình của các doanh nghiệp đã gia tăng, sức mua của VND cũng đã có biến động nhất định theo hướng suy giảm, mức độ cạnh tranh ngày càng gia tăng trong tiến trình hội nhập quốc tế, … và đặc biệt là yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết trên TTCK, đòi hỏi phải nâng điều kiện về quy mô vốn điều lệ đối với công ty cổ phần niêm yết.

     

    Về nguyên tắc, có thể khẳng định đây là định hướng đúng đắn, hiện đang được cơ quan chức năng nghiên cứu, trình Chính phủ quyết định để triển khai áp dụng trong thời gian sắp tới. Tuy nhiên, quy định mức khởi điểm là bao nhiêu cho phù hợp?

     

    Có ý kiến cho rằng, nên nâng mức khởi điểm về vốn điều lệ của công ty cổ phần niêm yết tại sàn HOSE lên 120 tỷ VND và tại sàn HNX lên mức 30 tỷ VND. Nếu áp dụng tiêu chuẩn này trong thời điểm hiện tại, tính chung cả hai sàn giao dịch sẽ có hơn 25%, số doanh nghiệp đang niêm yết không đạt chuẩn (một tỷ lệ không nhỏ).

     

    Bởi vậy, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị như sau:

     

    a/ Nên quy định mức khởi điểm là 100 tỷ VND đối với doanh nghiệp lớn (hiện tại là 80 tỷ VNĐ) và 20 tỷ VND đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (hiện tại là 10 tỷ VNĐ) thì phù hợp hơn trong điều kiện hiện nay. Đương nhiên mức khởi điểm cũng cần được xem xét, để điều chỉnh nâng lên sau từng thời kỳ, tương ứng với mức độ phát triển của nền kinh tế.

     

    b/ Cần có quy định cụ thể, theo hướng phân loại đối tượng áp dụng: với những doanh nghiệp đang và sẽ làm thủ tục niêm yết, tại

     

     

    19

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    thời điểm áp dụng quy định, bắt buộc phải đạt chuẩn. Còn với các doanh nghiệp hiện đang niêm yết, sẽ cho phép một thời gian cần thiết để có thể “hội nhập”(nhưng không quá 3 năm), sau khi áp dụng chuẩn mới, sẽ phải hội đủ điều kiện này.

     

    c/ Ngay cả sau khi đã thực hiện tái cấu trúc mô hình tổ chức thị trường chứng khoán theo hướng cả nước chỉ có 01 Sở giao dịch chứng khoán duy nhất, cũng sẽ tồn tại 2 loại mức quy định phù hợp từng loại hình doanh nghiệp.

     

    Thứ hai, về điều kiện chỉ tiêu “Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu” (ROE).

     

    Sẽ là một thiếu sót lớn, khi đánh giá tiêu chuẩn chất lượng của một doanh nghiệp niêm yết, nhưng lại bỏ qua điều kiện về chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu, bởi lẽ đây chính là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp.

     

    Vì vậy, không chỉ dừng lại ở chỉ tiêu về khối lượng vốn điều lệ, sắp tới các công ty cổ phần muốn đăng ký niêm yết sẽ phải thỏa mãn thêm một chỉ tiêu định lượng nữa: chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu (ROE). Đây là một tiêu chuẩn mới, nhằm trực tiếp thẩm định chất lượng hoạt động của doanh nghiệp cổ phần có nhu cầu niêm yết. Yêu cầu cụ thể về tiêu chuẩn tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, trong năm gần nhất tối thiểu phải đạt mức mà một doanh nghiệp trung bình phải thực hiện được là 5%.

     

    Trên thực tế, trong điều kiện hiện nay, vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp chưa đạt đến chuẩn mức này. Vì vậy, nếu tổng hợp cả điều kiện về vốn điều lệ và chỉ tiêu ROE, hiện tại trên cả 2 sàn giao dịch HOSE và HNX, số doanh nghiệp chưa đạt điều kiện lên tới gần

    50%! Một con số khiến tất cả những ai quan tâm tới lĩnh vực TTCK, không thể không suy nghĩ về chất lượng cổ phiếu niêm yết hiện nay. Rõ ràng, đây cũng chính là một trong những lý do dẫn tới tình trạng, chất lượng hàng hóa trên TTCK thời gian qua thiếu ổn định.

     

    Quan điểm của chúng tôi cho rằng, khi xem xét chấp thuận cho doanh nghiệp niêm yết, điều kiện về chỉ tiêu ROE là rất cần thiết và không thể nhân nhượng, bởi lẽ nó phản ánh trực tiếp chất lượng hoạt động của tổ chức niêm yết và cũng là chất lượng hàng hóa trên TTCK. Trái lại, về điều kiện vốn điều lệ, có thể cho phép một dung sai nào đó (thấp hơn quy định 15% chẳng hạn).

     

    Ngoài ra, một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cổ phiếu, thông qua chất lượng hoạt động của công ty niêm yết được quy định như hiện nay, vẫn cần được tiếp tục duy trì như : hoạt động kinh doanh 2 năm liền, trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi và không có lỗ lũy kế, tính đến năm đăng ký niêm yết; không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng,…

     

    2.3. Xúc tiến các phương án đa dạng hóa sản phẩm niêm yết trên TTCK

     

    Hàng hóa lưu thông trên TTCK bao gồm các sản phẩm tài chính nói chung; trong đó thành phần chủ lực là các loại cổ phiếu. Liên quan tới việc gia tăng số lượng và nâng cao chất lượng loại hàng hóa này, chúng ta đã đề cập ở phần trên.

     

    Đa dạng hóa sản phẩm niêm yết, một mặt góp phần trực tiếp làm gia tăng tổng số lượng hàng hóa niêm yết. Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng hơn nhiều của các giải pháp theo định hướng này, cũng sẽ nhắm tới mục tiêu hỗ trợ phân tán và phòng ngừa rủi ro biến động giá cho các nhà đầu tư, thu hút thêm các

     

     

    20

     

    Giái pháp . . .

     

    đối tượng tham gia giao dịch và làm gia tăng tính sôi động của TTCK trong tương lai. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu cần hướng tới của hoạt động tái cấu trúc cơ sở hàng hóa cho TTCKVN.

     

    Về nguyên lý cũng như thực tiễn tại TTCK các nước phát triển, một khi trên thị trường đã lưu thông các loại chứng khoán “gốc” như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chỉ số chứng khoán,…thì tất yếu cũng sẽ xuất hiện các loại sản phẩm phái sinh với nhiều chủng loại như chứng quyền, quyền tiên mãi, quyền lựa chọn,… trong lưu thông.

     

    TTCKVN đã có tuổi đời hơn 12 năm, tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, bộ phận TTCK phái sinh chưa xuất hiện chính thức trên TTCK. Thực ra, thời gian qua một số loại sản phẩm phái sinh cũng đã có xuất hiện và lưu thông một cách phi chính thức như: giao dịch ký quỹ (Margin Trading), quyền tiên mãi, quyền chọn mua, quyền chọn bán, bán khống…trong đó mới chỉ có sản phẩm margin được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho phép lưu hành có giới hạn.

     

    Rõ ràng, sự xuất hiện và lưu thông không chính thức các sản phẩm phái sinh trên thị trường, đã thể hiện nhu cầu khách quan, bức thiết của nhà đầu tư đối với loại công cụ này. Tuy nhiên, các sản phẩm phái sinh đã xuất hiện và giao dịch trên thị trường trong thời gian qua còn mang tính tự phát, thiếu sự quản lý của nhà nước và tiềm ẩn khả năng rủi ro cao.

     

    Với những nét đặc thù của chứng khoán phái sinh, các loại hàng hóa này cần được lưu thông trên một thị trường có tính chuyên môn hóa cao. Điều này đặt ra yêu cầu khách quan, cần sớm thiết lập một thị trường giao dịch các chứng khoán phái sinh, với cơ chế pháp lý đầy đủ và được vận hành dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước.

    Việc triển khai xây dựng TTCK phái sinh cũng chính là một hoạt động đồng bộ nằm trong các giải pháp tái cấu trúc mô hình tổ chức TTCK. Cụ thể là trên cơ sở hợp nhất hai sở giao dịch chứng khoán hiện hữu, thành một sở duy nhất với 3 sàn giao dịch; trong đó có sàn giao dịch chứng khoán phái sinh, cùng song hành với sàn giao dịch cổ phiếu và sàn giao dịch trái phiếu.

     

    Để TTCK phái sinh có thể đi vào vận hành, Chính phủ cần sớm ban hành một văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức Nghị định Chính phủ, nhằm cụ thể hóa những quy định về mô hình thị trường này và tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai vận hành TTCK phái sinh tập trung.

     

    Mô hình hoạt động của TTCK phái sinh khá phức tạp và hoàn toàn mới mẻ với Việt Nam. Do vậy, nội dung Nghị định cần chứa đựng đầy đủ các quy định về mô hình tổ chức, cơ chế vận hành, thành phần tham gia hoạt động và điều kiện hành nghề kinh doanh chứng khoán phái sinh, về hàng hóa trên thị trường, cũng như những quy định liên quan tới nghĩa vụ thuế, phí, về công bố thông tin,… để bảo đảm một hành lang pháp lý cần thiết, giúp cho thị trường này vận hành ổn định và hiệu quả ngay từ đầu.

     

    Cùng với việc tái cơ cấu thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, việc hình thành thị trường chứng khoán phái sinh chính cũng là giải pháp làm gia tăng khối lượng và đa dạng hóa sản phẩm lưu thông trên TTCK nói chung; góp phần hoàn thiện mô hình TTCKVN.

     

    3.  Kết luận

     

    Nhìn từ góc độ vĩ mô ta có thể khẳng định, tái cấu trúc TTCK Việt Nam là vấn đề bức xúc hiện nay. Việc tái cấu trúc cần được tiến hành đồng bộ để giải quyết nhiều vấn

     

     

    21

     

    Taïp chí Kinh teá – Kyõ thuaät

     

    đề bất cập. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, trước hết cần triển khai sớm phương án tái cấu trúc cơ sở hàng hóa cho thị trường; trong đó nghiên cứu áp dụng các biện pháp khả thi và có hiệu quả, nhằm tăng khối lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm lưu thông trên TTCK. Điều đó cũng rất tự nhiên, bởi lẽ xây dựng một cái “chợ” là để tạo ra nơi

    mua – bán hàng hóa. Nhưng nếu ở đó lượng hàng quá ít, thiếu đa dạng, phong phú; đồng thời chất lượng lại chưa tốt, thì người đến chợ chắc chắn sẽ thưa dần…Và cho đến một ngày nào đó, người ta sẽ phải “tái cấu trúc lại cơ sở hàng hóa”, nếu như không muốn nó hoàn toàn bị dẹp bỏ, trong đời sống thường nhật của tất cả những ai quan tâm./.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển TTCKVN giai đoạn 2011-2020;
    • Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tái cấu trúc TTCK và các doanh nghiệp bảo hiểm;
    • Thị trường chứng khoán: vượt khó, tạo tiền đề mới phát triển- TS. Vũ Bằng; tạp chí Tài chính số 01/2013;
    • Các trang thông tin điện tử: baomoi.com; WWW.tinnhanhchungkhoan.vn; WWW.ckvn.com; WWW.stockchart.vn; …

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]