Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/NANG_CAO_CHAT_LUONG_DICH_VU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Nhâm TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
    1. Nguyễn Văn Thành and Đặng Thành Lê – Giải pháp policy nâng cao capabilities cạnh tranh of the doanh nghiệp công nghiệp Hải Thời gian trong gian gian. Mã số: 135.1BMkt.11
    Chính sách để cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp ở thành phố Hải Phòng trong
    Coming Time
    2. Nguyễn Hoàng, Lê Trung Hiếu and Phan Chí Anh – Phân tích quan hệ between elements input to
    năng suất output của chúng tôi có thể làm việc ở Việt Nam. Mã số:
    135BMkt.11TRMg.11
    Phân tích mối quan hệ giữa đầu vào với đầu ra của doanh nghiệp du lịch và du lịch tại
    Việt Nam

    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    3. Nguyễn Viết Lâm – Nâng cao chất lượng dịch vụ Nhâm Augmented cường sự hài lòng of customers at
    bank thương mại Việt Nam. Mã hóa: 135.2FiBa.21
    Nâng cao chất lượng dịch vụ để nâng cao sự hài lòng của khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
    4. Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thị Thanh Phương, Trần Thị Thu Trang và Lê Thanh Huyền
    – Việt Nam – tại Việt Nam
    . Mã số: 135.2BAdm.21
    Một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bảo hiểm trực tuyến tại Việt Nam – một trường hợp tại
    Hà Nội
    5. Hà Minh
    tiêu hóa: tổng hợp trong khi ở TP. Hồ Chí Minh. Mã số: 135.2BMkt.21
    tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của cà phê chuỗi cửa hàng của người tiêu dùng: một trường hợp ở Thành phố Hồ Chí Minh
    6. Lê Thị Thu Trang and Save Tiến Thuận – Ảnh hưởng of administrative quan hệ khách hàng and administrative
    trải nghiệm khách hàng tập trung và hoàn hảo và tập trung vào hàng hóa
    . Mã số: 135.2BMkt.21
    Ảnh hưởng của mối quan hệ khách hàng và quản lý trải nghiệm khách hàng đối với
    sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng : Một nghiên cứu tình huống về siêu thị tại Cần Thơ City KI KI
    TRAO ĐỔI
    7. Nguyễn Thị Minh Hòa – Ghi chú và khen ngợi của anh ấy : Văn từ
    một phần của chúng tôi ở Hà Nội. Mã số:
    135.3OMIs.31
    Ignored Lời cảm ơn và khen thưởng: Bằng chứng từ một khảo sát thực nghiệm trên
    Loyalty của người lao động tại một số doanh nghiệp và tổ chức tại Hà Nội Thành phố
    ISSN 1859-3666
    1
    1. Giới thiệu
    Đã có many nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ
    Phần cứng, có phần
    của bạn và phần của nó.
    Trên thực tế, the bank thương mại Việt Nam
    are is already hết sức chú ý to việc nâng cao chất lượng
    dịch vụ to cải thiện sự hài lòng of customers,
    but Mức độ thực tế đạt been still thấp. Và chủng tộc
    to nâng cao sức cạnh tranh of bank based
    sự hài lòng of customers, the bank, but need
    not quan tâm more nữa to việc nâng cao chất
    lượng dịch vụ của mình. Bằng kết quả khảo sát thực
    tế tại the bank thương mại đại diện, nghiên cứu
    have known chỉ Mức độ đáp ứng requested khách hàng của
    Thanh Tùng nhảy thành chất lượng dịch vụ của ngân
    hàng. Đồng thời, nghiên cứu are vạch ra those
    biểu hiện cụ thể with the Meaning is the nguyên nhân làm
    restricted Mức độ đáp ứng this. Trên cơ sở that, nghiên
    cứu have đề xuất 05 nhóm giải pháp khắc phục those
    mặt còn restricted and phát huy maximum number of elements tích
    cực for hy vọng Move lại sự cải thiện đáng statistics about sự
    Hải Long of customers for the quality services
    of bank in bối cảnh kinh doanh sắp to the
    lĩnh vực bank.
    2. Cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu and
    phương pháp nghiên cứu
    2.1. Cơ sở lý thuyết and model nghiên cứu
    Để đánh giá chất lượng dịch vụ of the ngân
    hàng thương mại one cách khách quan, chính xác
    nhất possible, nghiên cứu have based on lý thuyết về
    chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1988 ) và mô
    hình của bạn, và khi bạn đang sử dụng thì đó là sự phục vụ
    của Cronin và Taylor (1992). Theo that,
    chất lượng dịch vụ been đo bằng 5 components (Độ
    tin cậy, Khả năng đáp ứng, Sự bảo đảm, Sự đồng
    cảm and Phương tiện hữu hình) với mô hình nghiên
    cứu been biểu diễn bằng công thức toán học và bằng
    sơ đồ (hình vẽ) is:
    Trọng model been biểu diễn bằng sơ đồ Neu
    trên, the biến độc lập is: (1) Phương tiện hữu hình,
    (2) Độ tin cậy, (3) Khả năng đáp ứng, (4) Sự bảo
    đảm and (5) Sự đồng cảm; Phần mềm
    của họ Trọng model been biểu diễn
    bằng công thức: (1) SQi is chất lượng dịch vụ khách
    hàng i receive, (2) K is zero lượng of components
    of quality services (k = 5), (3) pij là một trong những phần mềm
    của chúng tôi
    . Quan quan sát / của tiêu
    19
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
    Nhâm TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
    TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Trọng khuôn khổ đề tài cấp Bộ mã số: B2018-KHA.28, mục tiêu initial of nghiên cứu This is
    progress khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ of the following bank thương mại Việt
    Nam. Kết cấu của chúng tôi, một trong những món ăn ngon, ngon miệng,
    ngon miệng, ngon miệng. Vậy Bởi, mục tiêu thứ hai đặt ra cho
    nghiên cứu is search of giải pháp hữu hiệu giúp the bank nâng cao chất lượng dịch vụ của mình,
    hướng to việc Augmented cường sự hài lòng of customers Nhâm Augmented cường năng lực cạnh tranh trong
    gian gian.
    Từ khóa: trong khi đó, từ khóa của bạn.
    ?
    chí đo lường each components of quality services
    về cơ bản based on bộ đo lường of Parasuraman
    (1988) have tham khảo and additional add an số tiêu
    chí khác from nghiên cứu of Daniel Onwonga
    Auka (2012), Sulieman Ibrahem Shelash Al –
    Hawary (2013) và Hậu môn Metabis Suleiman Aburoub
    và cộng sự (2011).
    2.2. Phương pháp nghiên cứu
    – Nghiên cứu định tính been progress Nhâm
    sàng lọc, bổ sung and completely Thiên Các tiêu chí đo lường
    of components of quality services are kế thừa
    from nghiên cứu out nước ngoài to ensure the tiêu
    chí chủ yếu là tổng hợp
    Nam before progress nghiên cứu định lượng
    chính thức. Nghiên cứu định tính been done
    as phỏng vấn sâu Các chuyên gia ngân hàng
    gồm: 01 Lãnh đạo phòng quản lý chất lượng dịch
    vụ, 01 Đối tác chất lượng dịch vụ region, 02 Lãnh đạo
    vùng, 03 Lãnh đạo chi nhánh, 02 Lãnh đạo trung
    tâm transaction and resulting is already have a number of 28 tiêu chí
    chính thức used đề đo lường 5 components
    of quality services bank (in which: 7 tiêu
    chí đo lường sự tin cậy, 7 tiêu chí đo lường sự đáp
    ứng, 4 tiêu chí đo lường sự ensure, 4 tiêu chí đo
    lường sự đồng cảm và 6 tiêu chí đo lường phương
    tiện hữu hình).
    – Phần mềm và phần mềm
    qua bảng hỏi the object customers was and đang sử
    dụng dịch vụ of the bank Nhâm đánh giá sự
    hài lòng of khách về each components of chất
    lượng dịch vụ. Các tiêu chí đo lường / Các phát biểu
    trong bảng hỏi altogether based on the tiêu chí have
    been rút from nghiên cứu định tính, been normalization
    in model and đo Lương Bằng thang đo Likert 5
    bậc (Tổng cộng have 28 phát biểu tượng). Về kích thước
    mẫu, trên cơ sở cân nhắc between phương pháp tính
    toán quy mô mẫu, the terms ràng buộc về thời gian
    and kinh phí nghiên cứu, nghiên cứu have select
    kích thước mẫu ban đầu is 390 phần tử (đảm bảo
    thỏa mãn all phương pháp tính kích thước
    mẫu). Cơ cấu
    đương nhau between bank After thu thập
    phiếu điều tra, đánh giá sơ bộ and type those phiếu
    điều tra lỗi, 370 phiếu điều tra a valid been nhập dữ
    liệu and analysis. Một phần
    của chúng tôi là một phần của nhau
    . Do tầm tay có thể
    và làm được
    one số NHTM nhà nước and NHTM cổ phần của Việt
    Nam trên địa bàn Hà Nội have been selected for khảo
    sát (Ngân hàng BIDV, Ngân hàng VCB, Ngân hàng
    TMCP Quân đội MB, Ngân hàng TMCP Bưu Điện
    – Liên Việt .. .). Nghiên cứu This is not mentioned of
    bank thương mại liên doanh and bank
    thương mại 100% vốn đầu tư nước ngoài.
    3. Kết quả khảo sát đánh giá sự hài lòng of
    customers for the quality services bank
    3.1. Về độ tin cậy
    Theo kết quả khảo sát, muc điểm bình quân
    chung trên all tiêu chí Phan Anh Mức độ tin
    cậy of services and trên all bank is 3,70
    điểm, in which point Bình Quân matches Cửa Tùng
    bank is: MB – 3,65; Sòng bạc – 3,68;
    Ngân hàng công nghệ – 3,73; CRLLV – 3,61 và VCB – 3,81.
    Kết quả this chứng tỏ, độ tin cậy of services
    bank at the bank khảo sát retained not set
    20 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    SQi = |
    k = 1
    k
    pij
    ??? ዛዓ ?? ???? ዉ n h ዟ u
    hình
    0 ዒ thiếc c ኼ y
    Kh ኷ ?? £ ???? ¯ ????
    S ዠ ¯኷ mb ኷ o
    S ዠ ¯ዏ ng c ኷ m
    S ዠ Hải Long c ዚ một
    khách hàng
    been Mức khá, new Chí Dũng out level trên trung bình
    khá. Điều which means that the bank Văn Can tiếp
    tục phấn đấu nâng cao to Mức độ tin cậy of khách
    hàng against ‘sản phẩm dịch vụ của mình Nhậm đạt
    to one chất lượng dịch vụ cao than. Đi sâu vào thực
    tế activity of multiple bank various còn cho
    thấy those biểu hiện cụ thể of those mặt restricted
    về độ tin cậy of services bank like: (1) Hệ
    thống cung cấp dịch vụ của bank retained usually
    have sai Sot hay system error in the transaction, (2) Xuất
    hiện nhiều tội phạm trong việc use devices
    thẻ ATM giả to execute the hành vi rút tiền of
    customers, (3) Nhân viên còn sai Sot in too
    trình tác nghiệp, executing does not properly requested
    khách hàng. Ngoài ra, may also an invalid number Sot khác
    like: transactions qua not done been on
    execution thanh toán tại Các máy POS, do not rút
    been tiền trên máy ATM, transactions internet
    ngân hàng, ngân hàng di động failed ‘. ..
    3.2. Về capabilities responses
    With 7 tiêu chí be given to đo lường capabilities
    responses of dịch vu bank, số liệu obtained from
    khảo sát cho thấy Mức điểm bình quân set of
    all tiêu chí is 3,34 điểm. This is a resulting
    thấp against ‘elements Mức độ tin cậy vì on the level
    bình thường một phần. Possible see here is điểm yếu về
    chất lượng dịch vụ của ngân hàng mà the bank
    must be headers many to khắc phục.
    Những biểu hiện cụ thể of the essential kém về Khả
    năng đáp ứng of services possible listed like
    21
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Hình 1: Kết quả khảo sát về độ tin cậy
    Hình 2: Kết quả khảo sát về capabilities đáp ứng
    ?
    following: (1) Nhân viên ngân hàng chưa actually quan tâm
    giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình giao
    dịch and use services at bank; (2) Khách
    hàng chưa hài lòng về việc nhân viên ngân hàng đáp
    ứng requested one cách nhanh chóng; (3) Hàng
    are chưa thấy hài lòng về one number of quy trình quy
    định liên related too trình provide the work dịch
    vụ and to handle nghiệp vụ; (4) Hàng hóa của chúng tôi
    ,
    một trong những thứ khác nhau
    .
    3.3. Về sự ensure
    Cũng like capabilities đáp ứng, able to
    ensure the services bank at the bank
    khảo sát, nhìn chung not đánh giá cao. Điểm
    chung của chúng tôi và phần còn lại của bạn
    (3,32 điểm). This are make
    the bank must be continued headers multiple to nâng
    cao chỉ số this lên. Trong số các mục
    của chúng tôi
    have trội than (3,71 điểm) but Cung Văn not set
    been trình độ khá. Các loại hàng hóa của chúng tôi có thể có những thứ
    khác nhau. Góc nhìn this tiếp
    tục cho thấy here is mặt restricted mang tính phổ biến
    về chất lượng dịch vụ of the bank thương
    mại Việt Nam. Xét kết quả đánh giá theo each tiêu
    chí in each bank, nhìn chung kết quả đánh
    giá will xấp xỉ nhau and will be Nam Ô Mức trên trung
    bình, does not have tiêu chí nào been đánh giá thật nổi
    trội and are with no tiêu chí phạm vi giá trị là
    quá lớn Tóm lại, để góp phần nâng cao chất
    lượng dịch vụ bank, the bank will be much to be
    quan tâm nâng cao an how to toàn diện Các tiêu chí
    Phan Anh capabilities responses of the services in
    the time to.
    3.4. Về sự đồng cảm
    Xét trong 5 bank been khảo sát, chỉ duy
    nhất có 2 bank, muc độ đồng cảm been đánh
    giá cao than (Ngân hàng Techcombank and BĐLV)
    with the Mức điểm Bình Quân is 3,36. Các loại hàng
    hóa của chúng tôi có thể sử dụng một số thứ khác
    nhau (MB – 3.23; VCB – 3,15; TOUR – 3,19). Nhìn
    chung, muc điểm rating of all bank
    (KE cả bank been đánh giá cao newer) are new
    address is out level trên trung bình. If Move comparing with the kết
    quả khảo sát of the elements rest of quality
    services, elements Mức độ đồng cảm receive resulting
    đánh giá lowest – 3,26 điểm.
    Report thực tiễn về tình hình sản xuất kinh
    doanh tại multiple bank are for found việc đảm
    bảo capabilities đồng cảm trong chất lượng dịch vụ
    of the bank thương mại Việt Nam are đang
    còn exists but biểu hiện chưa tốt. Có thể là: (1)
    Nhân tính, hàng hóa, quan trọng, quan trọng, hàng hóa, sức khỏe
    và sức khỏe
    . Still state bank quên
    no nhắc khách hàng accounts due,
    do not nắm rõ nhu cầu dẫn to tư vấn sản phẩm
    22 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Hình 3: Kết quả khảo sát về sự Không giới hạn tổng
    hợp. Ví dụ: Tải về
    but need linh hoạt for when the need you can rút ra, nhân
    viên lại tư vấn khách hàng mở sổ kỳ hạn dài mặc though
    hưởng lãi suất cao than but if rút tiền trước hạn
    will be lãi suất thấp much … (2) Trọng too the server,
    nhân viên còn chưa tính toán đầy đủ Các phương án
    to have lợi nhất cho khách hàng. Examples trong trường
    hợp khách hàng requested rút tiền trước hạn, nhân
    viên ngân hàng execution tất toán ngay which is does not
    tính toán cho khách hàng phương án Khắc Nhu vay
    cầm cố lại sổ tiết kiệm to address lost lãi less than, dẫn
    trên bầu trời có thể cho ăn hàng …
    3.5. Về phương tiện hữu hình
    Among the elements Phan Anh chất lượng dịch vụ
    ngân hàng, elements phương tiện hữu hình receive
    kết quả giá trị cao tối cao. Mức điểm bình quân
    chung of all tiêu chí trên toàn bộ Các ngân
    hàng is 4,21 điểm, beyond lên trên Mức trình độ khá
    of thang đo chất lượng dịch vụ. Một phần của chúng tôi là
    hàng của Việt Nam. This are
    is already interpret vì sao việc Augmented cường cơ sở vật chất ít
    gặp those khó khăn and become ngại than vs việc
    headers for creating ra and grow cường those cái gọi is
    “assets mềm” of bank such as: trình độ chuyên
    nghiệp of Employee, capabilities giao tiếp ứng xử,
    trình độ tổ chức quản lý, able to make dựng mối
    quan hệ tốt đẹp with the customers.
    Ngoài those mặt ưu điểm, thành tích those have
    you been, việc nâng cao chất lượng dịch vụ ngân
    hàng through elements hữu hình are still one số vấn
    23
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Hình 4: Kết quả khảo sát về sự đồng cảm
    Hình 5: Kết quả khảo sát về phương tiện hữu hình
    ?
    đề must be completely thiện tiếp: (1) Các bank thương
    mại hiện nay most was first tư đồng phục cho nhân
    viên, quy định tiêu chuẩn chất lượng cho đội ngũ
    nhân viên về trang phục, đầu tóc … however, thực tế
    found trang phục of đội ngũ nhân viên not
    khách hàng đánh giá cao; (2) Hiện tại, theo đánh giá
    of customers, the documents, biểu mẫu, tờ rơi sản
    phẩm của bank did not actually đáp ứng nhu cầu
    hàng hóa; (3) Trang device and công nghệ of the
    bank did not actually is such as expected (tình
    trạng network failed, server quá tải, bị treo máy …).
    Tóm tắt, từ tính, kết nối với nhau, trong khi đó là trò chơi
    của họ
    .
    – Biểu hiện direct and mang tính chất tổng hợp
    of quality services of the bank còn hạn
    chế is Ô Chợ, the elements components Phan Anh chất
    lượng dịch vụ của ngân hàng not đánh giá
    cao trong con mắt of hàng hóa. Bằng chứng is
    theo kết quả khảo sát of đề tài, trong số 05 elements
    Phan Anh chất lượng dịch vụ only one elements been
    đánh giá with the resulting is 4,21 điểm bình quân cho tất
    cả hai hàng hàng hóa – điện tử Các
    elements rest only đánh giá with the resulting trên
    Mức điểm bình quân one chút. Cụ be: độ tin cậy
    đạt 3,7 điểm, capabilities responses đạt 3,34 điểm, Khả
    năng ensure đạt 3,32 điểm, capabilities đồng cảm đạt
    3,26 điểm.
    – Biểu hiện cụ thể, indirect về chất lượng dịch
    vụ còn restricted of the bank been thể hiện tập
    trung out of one số phương diện sau: (1) Số lượng chủng
    loại dịch vụ and contents of the Tung Chung loại dịch vụ
    Vì vậy, chúng tôi có thể giống như vậy
    . (2) Toàn bộ phần thưởng và phần thưởng của bạn
    ; (3) Công việc
    của họ và phần còn lại của họ
    Giáo đúng văn; (4) Cơ cấu phần mềm và phần thưởng của phần mềm
    ; (5) Quảng cáo của họ
    . (6) Năng lực và sức mạnh và sức mạnh
    của họ
    (7) Quy trình procedure of the bank còn phức
    tạp and gây mất nhiều thời gian and phiền hà cho
    khách hàng; (8) Mạng lưới và thời gian,
    giao
    thông
    , giải trí, giải trí, giải trí, giải trí, giải trí và giải trí.
    4. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch
    vụ bank Nhâm Augmented cường sự hài lòng of
    customers
    4.1. Cải tiến, đổi mới việc determined mục tiêu
    chất lượng dịch vụ của ngân hàng
    Một phần của chúng tôi là
    một phần của chúng
    . Liên related giải pháp this, the bank need
    chú ý those điểm sau:
    – Cần xác định mục tiêu chất lượng dịch vụ phù
    combined with each loại hình bank. This was captured
    the source from chỗ, khách hàng thường with those kỳ vọng
    various trong việc Thu Hương services of those
    loại hình doanh nghiệp / bank various (Ngân
    hàng lớn, vừa hay nhỏ). Nói cách khác, Lý làm khách
    hàng select bank for tiếp cận Transaction
    do not like nhau. Vậy Bởi, việc determined mục tiêu
    chất lượng Cửa Tùng bank could nhất thiết must be
    like nhau but be phân biệt based sự hiểu
    Hiểu biết về nhu cầu của hàng hóa. Chang Han: against ‘
    bank lớn, khách hàng mong đợi more về
    able to select loại dịch vụ, giá thấp and sự trải
    nghiệm mua sắm nhanh chóng; during which, against ‘
    bank smaller sự thân thiện and chuyên nghiệp of
    24 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Bảng 1: Đánh giá tổng hợp về thực trạng chất lượng dịch vụ of the bank
    Nguồn: Kết quả khảo sát of đề tài
    Tiêu chí MB BIDV Techcombank? 0 ?? VCB Bình
    quân
    0 ዒ ?????? ኼ ?? 3,65 3,68 3,73 3,61 3,81 3,70
    ??? ኷ ?? £ ???? ¯ ???? ???? 3,23 3,14 3,31 3,26 3,76 3,34
    ??? ኷ ?? £ ???? ¯኷ ???? ኷ ?? 3,26 3,27 3,30 2,83 3,71 3,32
    ? ዠ ¯ዏ ?????? ?? 3,23 3,19 3,36 3,36 3,15 3,26
    ??? ዛዓ ???? ?? ?? ?? ???? 4,51 3,84 4,64 4,24 3,81 4,21
    Bình quân 3,57 3,42 3,67 3,46 3,65 3,56
    nhân viên lại là điều important mà khách hàng
    mong đợi [3]. Một nghiên cứu cho thấy 70% khách
    hàng not available trả giá cao than unless they receive
    dịch vụ khách hàng tuyệt vời, been cá nhân hóa.
    81% khách hàng thiếc that the doanh nghiệp nhỏ
    cung cấp dịch vụ khách hàng better để with
    doanh nghiệp lớn [4].
    – There is a tuyên bố về tầm nhìn cùng as the system
    the value cốt core of bank against ‘chất lượng dịch
    vụ an how to ambiguous. Phạm vi
    và phần thưởng của họ và phần thưởng của họ
    . Kinh Đức và cuối cùng
    nghiệp / bank cho thấy, an tuyên bố về tầm
    nhìn tốt would make cho nhân viên ý thức tốt trong việc
    phục vụ khách hàng; còn against ‘customers, they would
    cảm thấy been bank chào đón, đánh giá cao and
    of course them much Hải Long.
    – ensure “bộ mặt” của bank been đánh
    giá cao trên all điểm tiếp xúc with the customers.
    Bộ mặt of bank been thể hiện trên many
    phương diện khác nhau: (1) Độ is đội ngũ nhân viên
    giao tiếp direct and interactive hàng ngày for khách
    hàng. Đội ngũ this need not have to đào tạo been the
    kỹ năng dịch vụ khách hàng one cách sâu sắc, tôn
    trọng, thân thiết and hieu biet khách hàng; (2) Đảm
    bảo sự interactive direct with the customers trên điểm
    tình yêu của họ Các nghiên cứu cho
    thấy khách hàng much thích nói chuyện to a user
    rather than through điều hướng hệ thống phản hồi bằng
    giọng nói interactive auto [5]. If you bank
    sự hiện diện trên phương tiện truyền thông xã hội will
    be able to answer nhanh chóng các câu hỏi of
    customers; (3) Điểm của mối
    quan hệ tình cảm và sự quan tâm đến sức khỏe
    . Địa điểm This is not address to include
    the văn phòng Transaction traditional mà còn bao
    gồm of disks điểm immediate and sự hiện diện trực
    tuyến of bank. Tất cả các phần của chúng tôi
    đều có thể sử dụng được
    .
    4.2. Perform those biện pháp tích cực trong
    việc đo lường performance services of bank
    – Define cách thức nhanh chóng giải quyết vấn
    đề of customers. Các nghiên cứu as well as thực
    tế cuộc sống cho thấy that, if you one the problem is
    move đi move from user this hát other people
    hay non trải qua more than once interpret would make ra nỗi
    thất vọng lớn cho khách hàng. Mặt khác, not a
    lúc nào nhân viên also đủ kiến thức and quyền
    hạn to giải quyết các vấn đề of customers. Bởi
    vậy, họ cần been đào tạo to determine ngay the problem and
    tìm người have not resolve the problem [6]. Loại hành vi
    This is not chỉ thân thiện, it useful and nhanh
    chóng, and it possible would làm Tăng Long trung thành of
    hàng hóa gia đình hàng cáp hạ hàng.
    – Yêu cầu hạ gục cá nhân. Hầu
    hết khách hàng thích been requested phản hồi. Một trong những thứ mà chúng ta
    quan tâm đến sự quan tâm
    của
    họ.
    – Thường xuyên và tối cao và hoàn hảo
    . Trên
    thực tế, đã many bank quan tâm and tiến
    hành active this. However, at no ít ngân
    hàng, việc khảo sát chất lượng dịch vụ còn mang
    tính hình thức, not start tư Xứng đáng, specially
    Nội dung khảo sát còn sơ sài chưa mang lại nhiều
    thông tin thiết authorized to cải thiện chất số lượng lớn
    Để nâng cao hiệu quả and phát huy vai trò actually of
    tool this, công tác khảo sát chất lượng dịch vụ
    need to be tập trung into a số Nội dung sau: (1) Theo
    Đồi Sứ Hải Long về cảm xúc bằng cách setting questions
    determined chất lượng tổng thể hay hay hạnh phúc of
    customers; (2) Theo SoundTracker lòng trung thành bằng
    cách setting questions determined xem khách hàng you like to
    giới thiệu bank for other people or not; (3)
    Theo Đồi Sứ Hải Long of customers with elements
    cư the quality of service ‘; (4) Theo SoundTracker ý định
    quay trở lại bank of customers bằng questions
    cụ thể, thích hợp; (5) Có sổ đóng góp ý kiến setting tại
    Quầy of Transaction viên to end of each ngày tổng hợp
    ý kiến of customers and định kỳ 6 tháng 1 lần ngân
    hàng organizations getting phiếu thăm dò ý kiến of khách
    hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ and thái độ
    phục vụ của nhân viên ngân hàng. Ngoài ra, để nâng
    cao chất lượng khảo sát, bank requires the biện
    pháp khuyến khích khách hàng tham gia and hoàn
    thành cuộc khảo sát one how to co trach nhiem, avoid
    qua loa đại khái or join answer tables hỏi
    miễn Mùi, cốt chí là gay.
    4.3. Cải tiến, đổi mới công tác đào tạo and creating
    động lực cho nhân viên ngân hàng
    – Về công tác đào tạo nguồn nhân lực. Như have
    to parse above, công tác đào tạo nguồn nhân lực no
    effect manh me to việc nâng cao chất lượng
    hàng loạt của hàng Hôm nay làm thế nào để phát triển huy
    25
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    ?
    been vai trò then, the bank need làm tốt those
    activity sau: (1) Specify rõ mục tiêu / nhu cầu đào
    tạo and the object đào tạo. Ngoài mục tiêu chung, the
    bank must be ensure giáo dục cho of Employee
    become users tâm huyết gắn bó with the ngân
    hàng, be able and Move hết capabilities sẵn Cổ Phúc
    vụ khách hàng tốt nhất bằng chính vị trí công bản thân
    của bản thân Các mục của chúng tôi
    và các
    bộ phận của nam tính và tài năng của họ . (2) Nội dung
    và thiết kế của chúng tôi
    . Chương trình đào tạo gồm: chương
    trình ngắn hạn (a few ngày), the program trung hạn
    (a few tuần) and the program dài hạn (a few tháng).
    Chương trình đào tạo also phân biệt theo chủ
    đề such as: đào tạo tổng hợp (multiple Nội dung trên multiple
    lĩnh vực) hay đào tạo chuyên sâu (only tập trung vào
    an chủ đề). Nội dung đào tạo tập trung trang bị of
    kiến thức like: i) kiến thức chung về bank, ii)
    kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp ứng xử nội bộ with the
    customers, kỹ năng xử lý Các tính huống trong giao
    dịch , kỹ năng thuyết phục and đàm phán hiệu quả, kỹ
    năng làm việc nhóm), iii) kiến thức and kỹ năng
    phạm môn, iv) (3) Lựa chọn
    phương thức đào tạo thích hợp such as: i) kết hợp tự đào
    tạo and thuê of organizations đào tạo chuyên nghiệp bên
    ngoài; ii) kết hợp đào tạo định kỳ and đào tạo đột
    xuất, iii) kết hợp đào tạo tại chỗ (in jobs)
    with the đào tạo ngoài công việc, iv) kết hợp use the
    user huấn luyện is White Balance bộ of bank, Các
    chuyên gia and other giảng viên đại học, v) to use
    phương pháp đào tạo tiến bộ such as: uses phương
    tiện trình chiếu, đóng vai, thảo luận nhóm …
    – Về việc đãi ngộ, tạo động lực cho nhân viên .
    Bên cạnh công tác đào tạo, công tác đãi ngộ, tạo
    động lực cho nhân viên chính is nhân tố tác động
    direct to sự hài lòng of Employee from which is tác
    năng lượng của bạn With the Meaning that, công
    tác đãi ngộ, tạo động lực cho nhân viên need been
    completely thiện on one số phương diện sau: (1) Hoàn
    thiện công tác trả lương and phụ cấp. Cụ thể, must have a
    formula determined lương mounting with the hệ số trách nhiệm,
    hệ số năng suất applicable to your system toàn ngân
    hàng. Đi đôi với việc hoàn thiện cách thức trả lương
    need chú trọng công tác đánh giá execution jobs
    for ensure sự công bằng. (2) Phần mềm
    và phần thưởng và phần thưởng. Requires Mức
    thưởng logical than tương Xứng as thành tích đạt
    been of Employee and Mức thưởng cạnh tranh trên
    thị trường. Trẻ em,
    Bạn có thể
    làm được điều đó. (3) Xây dựng tiêu
    chí đánh giá hiệu quả làm việc of Employee (KPI)
    cụ thể cho each positional for those normalization and thang
    điểm ambiguous to đánh giá đúng năng lực làm việc of
    each cá nhân, from That mechanisms lương thưởng phù
    hợp. (4) Hệ thống lương bổng and other modes đãi ngộ
    khác be phù combined with mặt bằng tiền lương chung
    trong vực Ngân hàng. Bẻ chỉ có
    thể ăn được và có thể ăn được
    . (5) Từ chối và cài đặt, tích
    hợp. Phần mềm, phần mềm
    và phần mềm và phần thưởng
    năng lực, sức mạnh của con người, sức mạnh, sự
    quan tâm
    của họ Tăng cường
    cơ hội thăng tiến, đề bạt bổ nhiệm against ‘those
    nhân viên may thành tích cao trong công tác and have
    năng lực nổi trội. (6) Cổ Chiên lược khuyến khích and
    thu hút nhân tài. Bên cạnh việc áp dụng modes khen
    thưởng must have chế tài Trừng phạt nghiêm
    Minh those cases vi phạm trên cơ sở quy chế
    khen thưởng, discipline and resulting đánh giá thành tích
    execution công việc.
    4.4. Hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng
    Chăm sóc khách hàng (CSKH) been coi is bộ
    phận important most of dịch vụ khách hàng, as a
    trong thành phần
    của chúng tôi Bởi vậy, chất lượng công tác
    CSKH determined direct chất lượng dịch vụ ngân
    hàng. Trên thực tế, those điểm yếu về chất lượng
    dịch vụ bank qua khảo sát hầu like will have liên
    quan and / or part of khâu chăm sóc khách hàng.
    Để khắc phục those restricted this, công tác CSKH
    need been completely thiện trên các hệ phương diện sau:
    – Về hoạch định chiến lược chăm sóc khách
    hàng: (1) Mục tiêu, định hướng chung is to handle Kip
    thời Phan Anh, Vương mắc of customers, giải
    quyết triệt for the khiếu nại, phản ánh of khách
    hàng Nhâm Move back Mức độ hài lòng highest cho
    khách hàng. (2)
    tối thiểu CSKH. Hàng hóa có thể chia
    thành thành 4 tháng, nhau: i) Hàng hóa quan
    (()) (bảng), kim Bạch, kim Kim
    ); ii) Hàng hóa của hàng điện tử (A2); iii) Khách
    hàng của chúng tôi (A3); iv) Khách hàng important
    26 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    tiềm năng (B). (3) Chiến lược CSKH luôn hướng
    to customers mới, khách hàng tiềm năng but
    must specify known as chi phí, công sức chăm sóc one
    khách hàng cũ thấp than many against ‘việc chăm
    sóc, thu hút one khách hàng mới . Muốn vậy cần: i)
    xây dựng văn hóa phục vụ khách hàng, ii) phát triển
    dịch vụ khách hàng hiệu quả, iii) Augmented cường sự ủng
    hộ of Ban giám đốc ngân hàng, iv) give the problem of
    customers to in the program thảo luận tại every
    cuộc họp nhân viên (Nguyễn Viết Lâm, 2016).
    – Các biện pháp CSKH cụ thể: (1) bien pháp
    chăm sóc khách hàng important: Here is a those
    customers with nhu cầu thông tin, làm which you can xây
    dựng chương trình ưu đãi provide the low quality of
    information tài chính – hàng hàng, tình yêu và kinh tế
    trong và nước qua email. Policy CSKH
    need is most quán creating sự chủ động cho cán bộ
    QLKH and creating niềm tin cho khách hàng. (2) Biên
    pháp chăm sóc khách hàng thân thiết: Nhân viên
    chăm sóc khách hàng thường xuyên gọi điện thăm
    hỏi khách hàng, get information about nhu cầu of khách
    hàng, tối thiểu cho đến
    hàng Tiếp cận and have chính
    sách chăm sóc cụ thể against ‘which have KHTT balances
    tiền gửi bình quân lớn chuẩn bị chuyển lên KHQT.
    (3) Biên pháp chăm sóc khách hàng phổ thông:
    Chăm sóc khách hàng table of the program trước
    Transaction and in the transaction. Các chương trình
    khuyến mại, dự thưởng need not quảng bá and truyền
    thông thông through phương tiện the information such as báo
    trong, đài phát thanh truyền hình, Cổng thông tin điện
    tử, đài phát thanh … to customers known been the
    policy CSKH của hàng hàng.
    – Some giải pháp khác: (1) Tăng cường nhận
    thức of toàn có thể bộ nhân viên ngân hàng về
    Càng đông CSKH. Toàn có thể bộ nhân viên ngân
    hàng need not phổ biến về vai trò, tầm quan trọng
    of customers for the bank. (2) Xây dựng bộ
    phận / tổ chăm sóc khách hàng tại Các chi nhánh
    ngân hàng. Bộ phận / tổ chăm sóc khách hàng may
    nhiệm vụ important is nắm bắt tâm lý and mong
    wants to the customers, from hiểu been khách hàng
    actually expected explain what, cái gì họ cần, họ
    thích. Định kỳ hàng quý will perform phân đoạn
    khách hàng, from the given name of policy cụ thể cho
    each phân đoạn khách hàng, nghiên cứu sản phẩm
    dịch vụ phù hợp cho each the object khách hàng cụ
    thể. (3) Hoàn thiện Các kênh thông tin khách hàng
    phản hồi with the bank. Trẻ em chung
    cuối cùng, tin vào phần cuối cùng của bạn
    .
    Purpose is for giải tỏa those Phan nàn, thắc mắc,
    khiếu nại, khiếu tố of customers ngay from bước
    đầu avoid khiếu kiện beyond cấp, đồng thời khắc phục
    kip thời those yếu kém and to handle sự cố miễn phí cho
    khách hàng một cách tối thiểu (Nguyễn Viết
    Lâm, 2016).
    4.5. Tăng cường cơ sở vật chất, updating of
    công nghệ tiên tiến góp phần nâng cao chất lượng
    dịch vụ của ngân hàng
    – Về cơ sở vật chất: Các bank need chú trọng
    đầu tư cơ sở vật chất one cách đồng bộ tại tất both of
    điểm transaction, địa điểm transaction Thuận Tiến, may
    chỗ to xe cho khách hàng. Các phòng cấm trong
    bank need not layout logical, khoa học, may sơ
    đồ instructions positional, avoid cases customers
    to Transaction but do not know right for phòng ban
    nào, ở đâu. Should set the one Quầy lễ tân ngay Recent cửa ra
    vào to tư vấn cho khách hàng. For the chi nhánh,
    phòng transaction bank requires those biển treo
    corresponding nhiệm vụ Cửa Tùng Quầy various
    like move tiền, gửi tiết kiệm hay ngân quỹ … to
    customers with easily nhận thấy vị trí phù tổng hợp khi
    giao dịch. Các chi nhánh, phòng Transaction of ngân
    hàng and will layout sảnh làm việc rộng, thiết kế bàn Quầy
    Transaction đẹp mắt, dễ giao between Employee and
    customers, may ghế ngồi chờ cho khách hàng, have
    ấn phẩm của bank file contains all the information về ngân
    hàng, sản phẩm dịch vụ hay the program activity
    of the bank to customers read in lúc chờ, bố
    trí nước uống, kệ sách báo, máy đánh giày … phục vụ
    hàng hóa.
    – Về trang device and công nghệ: (1) Xây dựng cơ
    sở dữ liệu tập trung trong toàn hệ thống, toàn bộ dữ
    liệu activity of the bank to be tập trung tại
    databases trung tâm, all changes would phần mềm
    trực tuyến và phần lớn Xây dựng hệ thống
    mạng connecting xuyên suốt from hội sở to the chi nhánh
    and phòng transactions. Phối hợp with cơ quan bưu
    chính viễn thông nâng cao chất lượng đường truyền
    data, trên cơ sở then building mạng máy tính băng
    Thông tin về việc kết nối
    với nhau. Bên cạnh hệ thống chính thức
    must be the system dự phòng luôn out of state thái not available
    to use, in cases may sự cố gây tắc nghẽn
    hoàn toàn. (2) Cần cập nhật one số công nghệ support for
    27
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    direct for bank and Move lại lợi ích when
    applicable. Làm thế nào để tôi có thể sử dụng (như facebook, twitter, Instagram]. Khi usage mạng xã
    hội, the bank quảng bá been hình ảnh của
    mình one cách rộng khắp trong interval
    short and tiết kiệm chi phí, cập nhật information sản
    phẩm, activity of the bank to customers
    nhanh chóng, tiếp nhận ý kiến khách hàng one how to
    direct. Các bank requires one bộ phận chuyên
    biệt quản lý fanpage, giao tiếp khách hàng and giải
    quyết các vấn đề truyền thông trên mạng xã hội. ii) Số điện thoại
    hàng của chúng tôi (Ngân hàng số). Ngân
    hàng So La model bank based on nền tảng
    công nghệ to trao đổi the information and execute the giao
    dịch centered bank with the customers. iii) Khai số
    dữ liệu lớn (anylytics – Dữ liệu lớn). Ngân hàng có thể có thể
    sử dụng dữ liệu.
    Phần mềm parsing the database lớn hiện nay have chức
    năng auto determined and detect hành vi hiding in the
    lines database khổng lồ, tinh chỉnh and give
    information thói quen, sở thích, hành vi of khách
    hàng, from help bank determined been those
    sản phẩm phù combined with customers. iv) Bảo Tin
    thông tin (an ninh mạng). Cụ thể: Apply bảo vệ đa
    cấp hardware, in which use lớp bảo mật:
    tường lửa outside ‘is lớp bảo vệ chủ lực to chống lại
    Các cuộc tấn công from the outside like virus, haker …
    lớp an ninh trung gian: access Control list restricted
    access to the user name cuối qua those an application,
    partitioning does not part permissions on mình, establish
    username, password. v) Ứng dụng điện toán đám
    mây (cloud computing) còn gọi is điện toán máy
    chủ ảo. Ở model this, all capabilities liên related
    công nghệ thông tin will be provided as
    dịch vụ, allow to use the access các dịch
    vụ công nghệ from a nhà: điện lạnh provide the any which
    in đám mây which is does not requires kiến thức về công
    nghệ then as well as do not need quan tâm to cơ sở hạ
    tầng phục vụ công nghệ nghệ thuật.u
    Tài liệu tham khảo:
    1. Cornin. JJ.and Taylor, SA (1992), Đo lường
    chất lượng dịch vụ:
    Tạp chí Tiếp thị và mở rộng Tạp chí Tiếp thị, số 5, tháng 7, tr.56-68.
    2. Daniel Onwonga Auka (2012), Chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, giá trị cảm nhận và lòng trung thành của
    khách hàng trong ngân hàng thương mại tại
    thành phố Nakuru , Kenya. Tạp chí
    quản lý tiếp thị châu Phi Vol. 4 (5), trang 185-203, tháng 10.
    3. https://www.sba.gov/bloss/3-simple-waysimprove-customer-satisfaction-today.
    4. https://www.sba.gov/sites/default/files/TRAN
    SCRIPT_Customer_Service.pdf.
    5. http://link.springer.com/ch
    CHƯƠNG / 10.1007/978- 3-319-09009-2_3.
    6. https://www.americanexpress.com/us/smallbusiness/openforum/articles/7-customer-serviclessons-compiances-best/
    7. Nguyễn Giả Lâm (2016), tiếp thị Các
    bank thương mại Việt Nam, Đề tài khoa học
    cấp Bộ. Mã số B2016-KHA-14.
    8. Nguyễn Viết Lâm & Nguyễn Thái Hà (2018),
    Phát huy vai trò of marketing error in the
    bank thương mại Việt Nam, Tạp chí Khoa học
    Thương mại số 118, Tháng 6/2018.
    9. Ký sinh trùng, A., Zeithaml. VA và Berry,
    LL (1988), SEVQUAL: thang
    đo nhiều mặt hàng để đo lường nhận thức của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ,
    Tạp chí Bán lẻ. Mùa xuân, trang 12-40.
    10. Sulieman Ibraheem Shelash Al – Hawary;
    Kama l AM Al – Qudah; Petra Mash’al Abutayeh;
    Sherrihan M ash’al Abutayeh; Dyala Yahya Al –
    Zyadat (2013), Tác động của tiếp thị nội bộ đối
    với sự hài lòng công việc của nhân viên ngân hàng thương mại ở
    Jordan, Tạp chí liên ngành của nghiên cứu đương đại
    về bản sao kinh doanh © 2013 của viện
    nghiên cứu busines liên ngành 811 tháng 1
    , ngày 9 tháng 9.
    Tóm tắt
    Trong khuôn khổ mã dự án:
    B2018-KHA.28, mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu này là
    tiến hành khảo sát và đánh giá tình trạng
    chất lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
    Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ của các ngân hàng
    theo đánh giá của khách hàng là thấp, chỉ đạt
    mức trung bình với thang đo Likert 5 cấp.
    Do đó, mục tiêu thứ hai được đặt ra cho nghiên cứu là
    tìm ra các giải pháp hiệu quả để giúp các ngân hàng cải thiện
    chất lượng dịch vụ của họ, nhằm mục đích nâng cao sự hài lòng của khách hàng để nâng cao khả năng cạnh tranh.
    Vẽ tranh trong tương lai.
    28 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI  THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC

    BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC

    BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC 

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tìm hiểu mô hình tổ chức bộ máy kế toán của một ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Ban_ve_xu_ly_chenh_lech_ty_gia_hoi_doai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC 

    Thông báo khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    63
    BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
    THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC
    ThS. Nguyễn Đình Đại
    Khoa Kinh tế – Trường ĐHXD Miền Trung
    Tóm tắt
    Trong xu thế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc
    tế ngày càng sâu, rộng. Hoạt động kinh doanh
    xuất, nhập khẩu ngày càng chiếm khối lượng
    giao dịch lớn trong doanh nghiệp (DN) Việt
    Nam. Điều này dẫn đến phát sinh các giao dịch
    tiền tệ, phi tiền tệ bằng ngoại tệ và việc xử lý
    chênh lệch tỷ giá hối đoái (CLTG) trong công
    tác kế toán trở nên phức tạp, tạo ra nhiều khó
    khăn, lúng túng cho cơ quan xây dựng chính
    sách và DN áp dụng.
    Từ năm 2002 Bộ Tài chính (BTC) ban hành
    VAS 10, rồi quyết định 15 ban hành năm 2006
    đến thông tư 201 năm 2009 và thông tư 179
    năm 2012 đã liên tục điều chỉnh, hướng dẫn xử
    lý CLTG. Nhưng thực tế áp dụng trong DN vẫn
    còn nhiều điểm bất cập và chưa rõ ràng. Đến
    cuối năm 2014, BTC ban hành thông tư
    200/2014/TT-BTC (TT 200) hướng dẫn khá chi
    tiết và giải quyết được nhiều vướng mắc cho
    DN. Tuy nhiên, thực tế vận dụng trong doanh
    nhiều còn nhiều vấn đề cần bàn luận. Bài viết
    trình bày một số nội dung trọng tâm liên quan
    đến kế toán CLTG theo TT 200 và trao đổi của
    tác giả giữa TT 200 với các quy định khác của
    BTC có liên quan.
    Từ khóa
    Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
    1. Một số nội dung trọng tâm về
    chênh lệch tỷ giá hối đoái theo TT 200
    1.1. Quy định chung về tỷ giá hối đoái
    CLTG là khoản chênh lệch phát sinh
    từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi cùng
    một số lượng tiền tệ khác sang đơn vị tiền
    tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác nhau.
    Đồng tiền kế toán được sử dụng cho
    tất cả các loại hình DN là đồng Việt Nam
    (Trừ trường hợp được phép sử dụng ngoại
    tệ hạch toán theo quy định của pháp
    luật). Vì vậy, khi phát sinh các đơn vị tiền
    tệ khác thì phải quy đổi sang đồng Việt
    Nam. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra đồng
    Việt nam phải căn cứ vào:
    – Tỷ giá giao dịch thực tế;
    – Tỷ giá ghi sổ kế toán.
    1.2. Nguyên tắc xác định tỷ giá giao
    dịch thực tế
    * Tỷ giá giao dịch thực tế phát sinh
    trong kỳ:
    – Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua bán
    ngoại tệ là tỷ giá ký kết trong hợp đồng
    mua, bán ngoại tệ giữa DN và ngân hàng
    thương mại;
    – Trường hợp hợp đồng không quy định tỷ
    giá thanh toán thì DN ghi sổ kế toán theo
    nguyên tắc:
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi góp
    vốn hoặc nhận vốn góp: Là tỷ giá mua
    ngoại tệ của ngân hàng nơi DN mở tài
    khoản để nhận vốn của nhà đầu tư tại
    ngày góp vốn;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi
    nhận nợ phải thu: Là tỷ giá mua của ngân
    hàng thương mại nơi DN chỉ định khách
    hàng thanh toán tại thời điểm giao dịch
    phát sinh;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi
    nhận tài sản, doanh thu, thu nhập, chi phí:
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    64
    Là tỷ giá công bố của ngân hàng thương
    mại nơi DN thường xuyên có giao dịch;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi
    nhận nợ phải trả: Là tỷ giá bán của ngân
    hàng thương mại nơi DN dự kiến giao dịch
    tại thời điểm giao dịch phát sinh;
    + Đối với các giao dịch mua sắm tài
    sản hoặc các khoản chi phí được thanh
    toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các
    tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực
    tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương
    mại nơi DN thực hiện thanh toán;
    + Trường hợp bán hàng hoá, cung
    cấp dịch vụ hoặc thu nhập có liên quan đến
    doanh thu nhận trước hoặc giao dịch nhận
    trước tiền của người mua thì doanh thu, thu
    nhập tương ứng với số tiền nhận trước được
    áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời
    điểm nhận trước của người mua (không áp
    dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời
    điểm ghi nhận doanh thu, thu nhập);
    + Trường hợp tài sản được mua có
    liên quan đến giao dịch trả trước cho người
    bán thì giá trị tài sản tương ứng với số tiền
    trả trước được áp dụng tỷ giá giao dịch
    thực tế tại thời điểm trả trước cho người
    bán (Không áp dụng theo tỷ giá giao dịch
    thực tế tại thời điểm ghi nhận tài sản).
    * Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá
    lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ tại thời điểm lập Báo cáo tài chính:
    Tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá
    công bố của ngân hàng thương mại nơi
    DN thường xuyên có giao dịch (Do DN tự
    lựa chọn) theo nguyên tắc:
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh
    giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ được phân loại là tài sản: Là tỷ giá mua
    ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi
    DN thường xuyên có giao dịch tại thời
    điểm lập Báo cáo tài chính. Đối với các
    khoản ngoại tệ gửi ngân hàng thì tỷ giá
    thực tế khi đánh giá lại là tỷ giá mua của
    chính ngân hàng nơi DN mở tài khoản
    ngoại tệ. Trường hợp DN có nhiều tài
    khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác
    nhau và tỷ giá mua của các ngân hàng
    không có chênh lệch đáng kể thì có thể
    lựa chọn tỷ giá mua của một trong số các
    ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ
    làm căn cứ đánh giá lại;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh
    giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ được phân loại là nợ phải trả: Là tỷ giá
    bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại
    tại thời điểm lập Báo cáo tài chính;
    + Các đơn vị trong tập đoàn được áp
    dụng chung một tỷ giá do Công ty mẹ quy
    định (phải đảm bảo sát với tỷ giá giao
    dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản
    mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phát sinh từ
    các giao dịch nội bộ.
    1.3. Nguyên tắc xác định tỷ giá ghi sổ.
    – Tỷ giá ghi sổ gồm: Tỷ giá ghi sổ
    thực tế đích danh hoặc tỷ giá ghi sổ bình
    quân gia quyền liên hoàn.
    – Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh:
    Là tỷ giá khi thu hồi các khoản nợ phải
    thu, các khoản ký cược, ký quỹ hoặc
    thanh toán các khoản nợ phải trả bằng
    ngoại tệ, được xác định theo tỷ giá tại
    thời điểm giao dịch phát sinh hoặc tại
    thời điểm đánh giá lại cuối kỳ của từng
    đối tượng.
    – Trường hợp trong kỳ phát sinh
    nhiều khoản phải thu hoặc phải trả bằng
    ngoại tệ với cùng một đối tượng thì tỷ giá
    ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối
    tượng được xác định trên cơ sở bình quân
    gia quyền liên hoàn của các giao dịch với
    đối tượng đó.
    – Tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền
    liên hoàn là tỷ giá được sử dụng tại bên
    Có tài khoản tiền khi thanh toán tiền bằng
    ngoại tệ.
    1.4. Xác định các khoản mục tiền tệ
    có gốc ngoại tệ
    Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ là các tài sản được thu hồi bằng ngoại
    tệ hoặc các khoản nợ phải trả bằng ngoại
    tệ, bao gồm:
    – Tiền mặt, các khoản tương đương
    tiền, tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ;
    – Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả
    có gốc ngoại tệ, ngoại trừ:
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    65
    + Các khoản trả trước cho người bán
    và các khoản chi phí trả trước bằng ngoại
    tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo
    có bằng chứng chắc chắn về việc người
    bán không thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ
    và DN sẽ phải nhận lại các khoản trả trước
    bằng ngoại tệ thì các khoản này được coi
    là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ;
    + Các khoản người mua trả tiền
    trước và các khoản doanh thu nhận trước
    bằng ngoại tệ. Trường hợp tại thời điểm
    lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về
    việc DN không thể cung cấp hàng hoá,
    dịch vụ và sẽ phải trả lại các khoản nhận
    trước bằng ngoại tệ cho người mua thì các
    khoản này được coi là các khoản mục tiền
    tệ có gốc ngoại tệ.
    – Các khoản đi vay, cho vay dưới mọi
    hình thức được quyền thu hồi hoặc có
    nghĩa vụ hoàn trả bằng ngoại tệ;
    – Các khoản đặt cọc, ký cược, ký quỹ
    được quyền nhận lại bằng ngoại tệ; Các
    khoản nhận ký cược, ký quỹ phải hoàn trả
    bằng ngoại tệ.
    1.5. Nguyên tắc kế toán chênh lệch tỷ
    giá
    – DN phải theo dõi cả nguyên tệ và
    đồng Việt Nam trên sổ kế toán chi tiết các
    tài khoản tiền, nợ phải thu, nợ phải trả.
    – Tất cả các khoản CLTG đều được
    phản ánh ngay vào doanh thu hoạt động
    tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính
    (nếu lỗ) tại thời điểm phát sinh.
    – DN phải đánh giá lại các khoản
    mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá
    giao dịch thực tế tại tất cả các thời điểm
    lập báo cáo tài chính theo quy định của
    pháp luật. Đối với các DN đã sử dụng công
    cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái thì
    không được đánh giá lại các khoản vay, nợ
    phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công
    cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái.
    – Khoản CLTG trong giai đoạn trước
    hoạt động của DN Nhà nước nắm giữ
    100% vốn điều lệ có thực hiện dự án,
    công trình trọng điểm quốc gia gắn với
    nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh,
    quốc phòng được tập hợp, phản ánh trên
    TK 413 và được phân bổ dần vào doanh
    thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài
    chính khi DN đi vào hoạt động theo
    nguyên tắc:
    + Khoản lỗ Phân bổ trực tiếp từ TK
    413 vào chi phí tài chính, khoản lãi phân
    bổ trực tiếp từ TK 413 vào doanh thu hoạt
    động tài chính;
    + Thời gian phân bổ thực hiện theo
    quy định của pháp luật đối với loại hình
    DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều
    lệ. Riêng số phân bổ khoản lỗ tỷ giá tối
    thiểu trong từng kỳ phải đảm bảo không
    nhỏ hơn mức lợi nhuận trước thuế trước
    khi phân bổ khoản lỗ tỷ giá (Sau khi
    phân bổ lỗ tỷ giá, lợi nhuận trước thuế
    của báo cáo kết quả hoạt động kinh
    doanh bằng không).
    – DN không được vốn hóa các khoản
    CLTG vào giá trị tài sản dở dang.
    2. Ví dụ giao dịch thực tế phát sinh
    2.1. Ví dụ 1: Nhập khẩu hàng hóa
    Công ty N ký hợp đồng nhập khẩu lô
    hàng, giá mua 10.000 USD. Giả sử có các
    trường hợp thanh toán như sau:
    – Trường hợp 1, chưa thanh toán:
    Ngày 10/01/2016, công ty N đã làm thủ
    tục nhập khẩu và nhận hàng nhập kho,
    biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100
    VND/USD, tỷ giá bán USD của ngân hàng
    thương mại DN dự kiến giao dịch (NHTM)
    là 22.200 VND/USD. Kế toán ghi:
    Nợ TK 156: 222.000.000đ (10.000
    USD x 22.200)
    Có TK 331: 222.000.000đ (10.000
    USD x 22.200)
    – Trường hợp 2, thanh toán trước
    một phần:
    + Ngày 05/01/2016, công ty N
    chuyển 4.000 USD tiền gửi ngân hàng,
    ứng trước cho người bán, biết tỷ giá bán
    USD của NHTM là 22.050, tỷ giá ghi sổ
    ngoại tệ 22.000 VND/USD. Kế toán ghi:
    Nợ TK 331: 88.200.000đ (4.000
    USD x 22.050);
    Có TK 112: 88.000.000đ (4.000
    USD x 22.000
    Có TK 515: 200.000đ.
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    66
    + Ngày 10/01/2016, công ty N đã
    làm thủ tục nhập khẩu và nhận hàng nhập
    kho, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là
    22.100 VND/USD, tỷ giá bán USD của
    ngân hàng thương mại DN dự kiến giao
    dịch (NHTM) là 22.200 VND/USD. Kế toán
    ghi:
    Nợ TK 156: 221.400.000đ (4.000
    USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200);
    Có TK 331: 221.400.000đ (4.000
    USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200).
    2.2. Ví dụ 2: Xuất khẩu hàng hóa
    Công ty N ký hợp đồng xuất khẩu hàng
    hóa, giá bán 20.000 USD/FOB. HCM. Giả sử
    có các trường hợp thanh toán như sau:
    – Trường hợp 1, chưa thu tiền: Ngày
    21/01/2016, công ty N đã làm xong thủ
    tục xuất khẩu, biết tỷ giá trên tờ khai hải
    quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá mua USD
    của NHTM là 22.150 VND/USD. Kế toán
    ghi nhận doanh thu:
    Nợ TK 131: 443.000.000đ (20.000
    USD x 22.150);
    Có TK 511: 443.000.000đ (20.000
    USD x 22.150).
    – Trường hợp 2, thu trước một phần:
    + Ngày 07/01/2016, khách hàng
    chuyển khoản trả trước cho DN 5.000
    USD, biết tỷ giá mua USD của NHTM là
    22.050. Kế toán ghi:
    Nợ TK 112: 110.250.000 (5.000
    USD x 22.050);
    Có TK 131: 110.250.000 (5.000
    USD x 22.050).
    + Ngày 21/01/2016, công ty N đã
    làm xong thủ tục xuất khẩu, biết tỷ giá
    trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD,
    tỷ giá mua USD của NHTM là 22.150
    VND/USD. Kế toán ghi nhận doanh thu:
    Nợ TK 131: 442.500.000 (5.000
    USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150);
    Có TK 511: 442.500.000 (5.000
    USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150).
    2.3. Ví dụ 3: Cuối niên độ kế toán,
    đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng
    ngoại tệ
    Cuối năm 2015, Công ty N đánh giá
    lại (ĐGL) số dư tiền gửi ngân hàng ngoại
    tệ theo tỷ giá mua của ngân hàng nơi DN
    mở tài khoản giao dịch như sau:
    Bảng: Đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng ngoại tệ tại ngày 31/12/2015
    Số Dư
    Ngân Hàng
    USD VND
    Tỷ Giá
    ĐGL
    Số Dư
    ĐGL
    Chênh Lệch
    ĐGL
    1122 – BIDV 40.000 892.400.000 22.450 898.000.000 5.600.000
    1122 – ACB 60.000 1.338.000.000 22.440 1.346.400.000 8.400.000
    Tổng cộng 100.000 2.230.400.000 2.244.400.000 14.000.000
    Căn cứ kết quả đánh giá lại theo bảng trên, kế toán ghi sổ:
    Nợ TK 112: 14.000.000
    Có TK 413: 14.000.000
    3. Bàn về quy định hiện hành xử lý
    CLTG
    – Thứ nhất: Từ quy định TT 200, ví
    dụ 1 và ví dụ 2 cho thấy, việc ghi nhận
    giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào và
    doanh thu cung cấp hàng hóa, dịch vụ bị
    ảnh hưởng bởi nghiệp vụ ứng trước tiền
    hàng, có nghĩa bị ảnh hưởng bởi dòng
    tiền, có quan tâm đến thời điểm thu, chi.
    Nhưng theo VAS 01 quy định nguyên tắc
    kế toán Cơ sở dồn tích áp dụng cho DN
    hiện nay là “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài
    chính của doanh nghiệp liên quan đến tài
    sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu,
    doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế
    toán vào thời điểm phát sinh, không căn
    cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc
    thực tế chi tiền…”. Vậy, nên cần xem xét
    sự phù hợp của TT 200 trong trường hợp
    trên với nguyên tắc cơ sở kế toán dồn tích
    theo VAS 01.
    – Thứ hai: Việc quy định ghi nhận tỷ
    giá theo kế toán và thuế không trùng
    khớp với quy định áp dụng tỷ giá để xác
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    67
    định trị giá tính thuế của cơ quan hải
    quan. Tại khoản 3, điều 21, nghị định
    08/2015/NĐ-CP hướng dẫn: “Tỷ giá giữa
    đồng Việt Nam với đồng tiền nước ngoài
    dùng để xác định trị giá tính thuế là tỷ giá
    ngoại tệ mua vào theo hình thức chuyển
    khoản của Hội sở chính Ngân hàng thương
    mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam tại
    thời điểm cuối ngày của ngày thứ năm
    tuần trước liền kề hoặc là tỷ giá cuối ngày
    của ngày làm việc liền trước ngày thứ
    năm trong trường, hợp ngày thứ năm là
    ngày lễ, ngày nghỉ. Tỷ giá này được sử
    dụng để xác định tỷ giá tính thuế cho các
    tờ khai hải quan đăng ký trong tuần”.
    Trong trường hợp xảy ra nghiệp vụ ứng
    tiền trước thì cả tỷ giá trên hóa đơn xuất
    khẩu, tỷ giá theo tờ khai hải quan và tỷ
    giá theo kế toán sẽ khác nhau. Điều này
    dẫn đến: Kế toán sẽ khó có thể căn cứ
    vào chứng từ gốc để ghi sổ; Cùng một
    nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng mỗi cơ
    quan quy định cách xác định tỷ giá khác
    nhau. Trong khi các cơ quan này cùng đơn
    vị chủ quản là BTC. Vậy, BTC nên có quy
    định thống nhất tỷ giá trong trường hợp
    này thì sẽ thuận lợi hơn cho cả DN vận
    dụng và cơ quan Nhà nước khi kiểm tra.
    – Thứ ba: Theo TT 200, thời điểm lập
    báo cáo tài chính, DN đánh giá lại tất cả
    các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ
    (Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
    chuyển, nợ phải thu, nợ phải trả,…) và kết
    chuyển số thuần vào doanh thu tài chính
    nếu lãi, ngược lại kết chuyển vào chi phí
    tài chính. Trong khi đó, theo quy định ở
    điểm 2.21 điều 4, và điều 5 thông tư
    96/2015/TT-BTC quy định về tính thuế
    Thu nhập doanh nghiệp thì chỉ chấp nhận
    đối với khoản nợ phải trả. Điều này làm
    phát sinh khoản chênh lệch tạm thời giữa
    kế toán và thuế, làm cho công tác kế toán
    trở nên phức tạp. Trong trường hợp này,
    quy định tính thuế nên thống nhất theo kế
    toán thì sẽ giảm thiều được chênh lệch
    giữa Thuế – Kế toán, và công tác kế toán
    cũng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn.
    – Thứ tư: Trong TT 200, cùng quy
    định về tỷ giá để đánh giá lại số dư tiền
    gửi ngân hàng bằng ngoại tệ. Nhưng ở
    điểm g, khoản 1, điều 13 không khớp với
    điểm b, 1.3, khoản 1, điều 69. Vậy, nên
    thống nhất hướng dẫn sử dụng ở hai điểm
    này. Một vấn đề nữa, BTC có quy định:
    “Trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại
    tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau và tỷ giá
    mua của các ngân hàng không có chênh
    lệch đáng kể thì có thể lựa chọn tỷ giá
    mua của một trong số các ngân hàng nơi
    DN mở tài khoản ngoại tệ làm căn cứ
    đánh giá lại”. Theo tinh thần hướng dẫn
    Nguyên tắc thận trọng trong VAS 01, khi
    xem xét, cân nhắc, đánh giá thì không
    nên đánh giá cao hơn giá trị tài sản và thu
    nhập. Hay, DN đứng trước các phương án
    lựa chọn thì kế toán chọn phương án
    không thổi phồng tài sản, thu nhập. Vậy,
    trong trường hợp DN có nhiều tài khoản
    ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau, thì
    nên chọn ngân hàng có tỷ giá mua thấp
    nhất để đánh giá ngoại tệ sẽ phù hợp theo
    nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Bộ Tài Chính, 2002. Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC về Chuẩn mực kế toán.
    2. Bộ Tài Chính, 2006. Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC về Chế độ kế toán DN.
    3. Bộ Tài Chính, 2009. Thông tư số 201/2009/TT-BTC về Chênh lệch tỷ giá.
    4. Bộ Tài Chính, 2012. Thông tư số 179/2012/TT-BTC về Chênh lệch tỷ giá.
    5. Bộ Tài Chính, 2014. Thông tư số 200/2014/TT-BTC về Chế độ kế toán DN.
    6. Bộ Tài Chính, 2015. Thông tư số 26/2015/TT-BTC về Thuế GTGT.
    7. Bộ Tài Chính, 2015. Thông tư số 96/2015/TT-BTC về Thuế TNDN.
    8. Bộ Tài Chính, 2015. Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về Luật Hải quan.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-T%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-GDP-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-1995-2011.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Chương 1: TỔNG QUAN

    1. Lý do chọn đề tài:

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu có tính cơ sở phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và sự thay đổi mức giá cả của một quốc gia. Bởi vậy, GDP là một công cụ quan trọng, thích hợp được dùng phổ biến trên thế giới để khảo sát sự phát triển và sự thay đổi trong nền kinh tế quốc dân. Nhận thức chính xác và sử dụng hợp lý chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát và đánh giá tình trạng phát triển bền vững, nhịp nhàng, toàn diện nền kinh tế. Bất cứ một gia quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể cho những nổ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, các yếu tố ảnh hưởng đến GDP giúp chính phủ có thể thay đổi các chính sách để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những vấn đề vĩ mô mà ai hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đều quan tâm. Đó là lý do nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011”

    2. Mục tiêu nghiên cứu:

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố: Đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    3. Phạm vi nghiên cứu:

    Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    4. Kết cấu của bài tiểu luận:

     

    Chương 1: Tổng quan

     

    Chương 2: Cơ sở lý luận

     

    Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu.

     

    Chương 4: Kết quả nghiên cứu

     

    Chương 5: Kết luận

    Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều không phân biệt khuynh hướng chính trị, mổi quốc gia đều tự xác định riêng cho mình một chiến lược riêng để phát triển kinh tế – xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến

    bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Không riêng một đất nước nào cả, ở Việt Nam cũng vậy luôn xem việc phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất bức thiết. Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, đã có những bước phát triển đáng kể, đất nước ta từ nền kinh tế thời bao cấp trì trệ đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổng thu nhập quốc dân hằng năm đã tăng lên. Hơn thế nữa đất nước chúng ta hiện nay gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu WTO, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một bước tiến rất quan trọng và mở ra cho nền kinh tế nước nhà nhiều hứa hẹn. Tăng trưởng kinh tế diễn ra nó biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP ngày càng cao và ổn định trong thời gian dài, nền kinh tế sẽ có nhiều thành tựu to lớn. Như vậy thu nhập và mức sống của người dân càng ổn định thì đất nước càng phát triển. Chính vì vậy mà việc tăng trưởng kinh tế được xem như là vấn đề hấp dẫn trong nghiên cứu kinh tế, nó chính là tiêu điểm để phản ánh sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc gia. Để đánh giá nền kinh tế của một quốc gia, các nhà kinh tế đánh giá qua tổng sản phẩm quốc nội GDP.

    2.1.  Khái niệm:

    Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia.

    Đầu tư: trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.

    Xuất khẩu: là những hàng hoá được sản xuất ra ở trong nước được bán ra nước ngoài (lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài – làm tăng GDP).

    Nhập khẩu: là những hàng được sản xuất ra ở nước ngoài, nhưng được mua để phục vụ nhu cầu nội địa (lượng tiền trả cho nước ngoài do mua hàng hóa và dịch vụ – làm giảm GDP)

    2.2. Nguồn gốc của mô hình từ lý thuyết:

    Có phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP): có 3 phương pháp

    2.2.1. Phương pháp tính theo luồng sản phẩm:

    Hàng năm dân cư của mỗi nước tiêu thụ rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng như: gạo, thịt, cam, táo, xoài…;c hăm sóc y tế, thương mại và du lịch… những hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua và sử dụng. Toàn bộ các khoản chi tiêu tính bằng tiền để mua các sản phẩm cuối cùng, sẽ có được toàn bộ GDP của nền kinh tế hàng hóa đơn giản này.

    Như vậy, trong nền kinh tế giản đơn, ta có thể dể dàng tính được thu nhập hay sản phẩm quốc dân bao gồm tổng số hàng hóa cuối cùng cộng với dịch vụ.

    Vậy, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của luồng sản phẩm cuối cùng mà một quốc gia tạo ra. GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong thời gian một năm. Được thể hiện như sau:

    GDP = C + I + X – Z – Te = C + I + G +NX – Te Trong đó: GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

    C: Tiêu dùng của hộ gia đình

    I: Đầu tư của các nhà sản xuất

    • Xuất khẩu
    • Nhập khẩu

    Te: Thuế gián thu

    NX: Xuất khẩu ròng

    • Chi tiêu của Chính phủ

    2.2.2. Phương pháp tính theo tiền thu nhập hoặc chi phí:

    Đây là phương pháp thứ hai tương tự để tính GDP trong một nền kinh tế giản đơn. Các ngành kinh doanh thanh toán tiền công, tiền lãi, tiền thuê nhà và lợi nhuận. Đó là các khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật dùng để sản xuất ra luồng sản phẩm.

    GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất. GDP cũng bao gồm nhiều thuế gián thu và khấu hao mà chúng không phải là thu nhập của các yếu tố. Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất bao gồm:

    • Tiền lương và các khoản tiền thưởng mà người lao động được hưởng: (W)
    • Thu nhập của người cho vay: Tiền lãi (i)
    • Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác: Tiền thuê (R)
    • Thu nhập của các doanh nghiệp: Lợi nhuận (r)
    • Thuế gián thu (Te)

    Trang 3

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Khấu hao (De)

    Như vậy, Tổng sản phẩm quốc nội cũng có nghĩa là tổng tiền thu nhập về các yếu tố sản xuất (lương, tiền lãi cho vay, thuê nhà và lợi nhuận), dùng làm chi phí sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng của xã hội. GDP theo tiền thu nhập được thể hiện như sau:

    GDP = W + i + R + r + Te + De

    Tóm lại, việc tính toán bằng nhiều phương pháp đều cho những kết quả giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế có những chênh lệch nhất định do những sai sót từ những con số, thống kê hoặc tính toán.

    Trang 4

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.2.3. Mô hình nghiên cứu :

    Thiết bị

    Cơ sở hạ tầng

    Công nghệ

    Trình độ

    Nguồn lao động

    Xuất khẩu

    Giới tính

    Vốn chủ sở hữu

    Vốn

    Vốn vay

    Giá

    Nhu cầu tiêu dùng

    Thu nhập cá nhân

    GDP   Nhập khẩu

    Chính sách nhà nước

       

    Tín dụng

         
         

    Kinh tế nhà nước

     

    Tài khóa

         
         
       

    Tiền tệ

         

    Thu nhập dân cư

    Đầu tư

    Kinh tế ngoài nhà nước                 Lạm phát

    Tỷ giá

    K.Vực có vốn đầu tư

    nước ngoài

    Trang 5

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.3. Lý thuyết đưa các biến phụ thuộc vào mô hình:

    Theo PGS – TS Nguyễn Văn Công, GDP chính là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nước trong thời kỳ nhất định. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP gồm các nhân tố chủ chốt sau:

    Thứ nhất, nguồn nhân lực. Một số quan điểm cho rằng con người là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế. Con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có nhiệt huyết, động lực, nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Thứ hai, vốn đầu tư. Để sản xuất hàng hóa, để mua máy móc thiết bị, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, chúng ta cần có vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu lên mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế với công thức ICOR, đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP. Thứ ba, tài nguyên thiên nhiên. Các nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Không những có thể khai thác đưa vào sản xuất mà còn có thể phục vụ xuất khẩu, mua về những hàng hóa cần thiết.

    Thứ tư, tri thức công nghệ. Khoa học kỹ thuật luôn là chìa khóa thần kỳ mở cánh cổng bước vào tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất và hiệu suất sản xuất, có thể khiến sản lượng tăng đột biến.

    Thứ năm, đó là xuất khẩu ròng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính.Chúng ta xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ nhất trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí. Khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu là xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế, vì nó là một phần của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra. Xuất khẩu ròng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất sản phẩm nhiều hơn.

    Tuy nhiên, trong tất cả các yếu tố trên, được quan tâm nhắc đến nhiều nhất, vẫn là vốn đầu tư và xuất khẩu ròng (xuất khẩu và nhập khẩu). Vì hai yếu tố trên chịu ảnh hưởng tác động nhiều nhất của các chính sách kinh tế, và cũng do hai nhân tố trên dễ thống kê với số liệu chính xác hơn nên thường xảy ra bàn cải xoay quanh các chính sách về hai nhân tố này. Do tính thời sự của hai nhân tố này, chúng tôi quyết định đưa đầu tư, xuất khẩu và nhập khẩu vào mô hình, nghiên cứu mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của nhóm. Qua đó sẽ thấy được mối tương quan, độ ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố này tăng trưởng kinh tế.

    Trang 6

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 3: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng

    Mô hình gồm 4 biến:

    • Biến phụ thuộc : Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Đơn vị tính: tỷ đồng )
    • Biến độc lập :
    • Đầu tư I (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Xuất khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Nhập khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng )

    GDP = β1 + β2 I +β3XK + β4NK + V

    3.2. Dự đoán kỳ vọng giữa các biến:

    • β2 dương : Khi Đầu tư tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β3 dương : Khi giá trị xuất khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β4 âm : Khi giá trị nhập khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP giảm.

    3.3. Mô tả số liệu

    • Số liệu bao gồm: Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.
    • Số liệu tìm được từ tổng cục thống kê Việt Nam.
    • Bảng số liệu :

    STT

    Năm

    GDP

    Đầu tư I

    Xuất khẩu NX

    Nhập khẩu NX

               

    1

    1995

    228677

    72447.0

    5448.9

    8155.4

               

    2

    1996

    269654

    87394.0

    7255.9

    11143.6

               

    3

    1997

    308600

    108370.0

    9185.0

    11592.3

               

    4

    1998

    352836

    117134.0

    9360.3

    11499.6

               

    5

    1999

    392693

    131171.0

    11541.4

    11742.1

               

    6

    2000

    435319

    151183.0

    14482.7

    15636.5

               

    7

    2001

    474855

    170496.0

    15029.2

    16218.0

               

    8

    2002

    527056

    200145.0

    16706.1

    19745.6

               

    Trang 7

    GVHD : Trương Bích Phương

    9

    2003

    603688

    239246.0

    20149.3

    25255.8

               

    10

    2004

    701906

    290927.0

    26485.0

    31968.8

               

    11

    2005

    822432

    343135.0

    32447.1

    36761.1

               

    12

    2006

    951456

    404712.0

    39826.2

    44891.1

               

    13

    2007

    1108752

    532093.0

    48561.4

    62764.7

               

    14

    2008

    1436955

    616735.0

    62685.1

    80713.8

               

    15

    2009

    1580461

    708826.0

    57096.3

    69948.8

               

    16

    2010

    1898664

    830278.0

    72236.7

    84838.6

               

    17

    Sơ bộ 2011

    2415204

    877850.0

    96905.7

    106749.9

     
               

    (Đơn vị tính : tỷ đồng)

    3.4. Mô hình hồi quy

    • Mô hình hồi quy tổng thể :

    (PRF)    GDP =      1+  2 I+  3 XK+ β4NK +Vi

    • Mô hình hồi quy mẫu:

    (SRF) GDP =     1  +     2  I+ ˆ 3 XK +       4 NK+ ei  ( ei là ước lượng của Vi)

    Trang 8

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    4.1. Xác định mô hình hồi quy và đọc ý nghĩa các hệ số :

    • Kết quả chạy mô hình từ phần mềm Eviews
    • Từ kết quả trên ta có mô hình hồi quy như sau:

    (SRF)  GDP = 80485,27 + 1,147315I + 31,03140XK – 16,21289NK + ei

    • Ý nghĩa của các hệ số hồi quy:

    Đối với  1 = 80485,27 có ý nghĩa là tổng giá trị Đầu tư, Xuất khẩu, Nhập khẩu đồng thời

    bằng 0 thì GDP đạt giá trị trung bình là 80485,27 tỷ đồng/ năm.

    Đối với  2 = 1,147315 có ý nghĩa là khi Xuất khẩu, Nhập khẩu NX không đổi, tổng giá trị

    Đầu tư tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 1,147315 tỷ đồng /năm.

    Đối với 3 = 31,03140 có ý nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Nhập khẩu không đổi và nếu Xuất khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 31,03140 tỷ đồng /năm.

           Đối với 4 = 16,21289 có nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Xuất khẩu không đổi, Nhập khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP giảm (tăng) 16,21289 tỷ đồng /năm.

    Trang 9

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.2. Kiểm định giả thiết và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

    4.2.1. Hệ số thu được từ hàm hồi quy có phù hợp với lý thuyết kinh tế không ?

    – Kiểm định giả thiết :

    H

    0

    :

    1

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    1    0

    Ta thấy β1 có giá trị kiểm định t = 4,01689 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0015< α=0,05

    • Bác bỏ H01 ≠ 0 Khi I=XK=NK=0 thì GDP ≠ 0 .

    – Kiểm định giả thiết:

    H

    0

    :

    2

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    2

    0

    Ta thấy β2 có giá trị kiểm định t = 4,029686 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0014< α=0,05

    • Bác bỏ H02 ≠ 0 Đầu tư ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý

    thuyết kinh tế.

             

    – Kiểm định giả thiết:

    H

    0

    :

    3

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    3

    0

    Ta thấy β3 có giá trị kiểm định t = 6,911423 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0000< α=0,05

    • Bác bỏ H03 ≠ 0 Xuất khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP   Phù hợp với lý

    thuyết kinh tế

             

    – Kiểm định giả thiết

    H

    0

    :

    4

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    4

    0

    Ta thấy β4 có giá trị kiểm định t = -3,806839 mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0022< α=0,05

    à Bác bỏ H0 4 ≠ 0 Nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý thuyết kinh tế

    4.2.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

    – Kiểm định giả thiết :

     

    H 0

    : R

    2

    0

    với mức ý nghĩa α=0,05

     
       
     

    H1

    : R2

    0

     

    ( H0 : Mô hình không phù hợp ; H1 : Mô hình phù hợp )

    Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,995305 có xác suất Pvalue = 0,000000 < α=0,05

    Trang 10

    GVHD : Trương Bích Phương

    Bác bỏ H0 , tức là mô hình hồi quy là phù hợp

    4.3. Kiểm định và khắc phục các hiện tượng trong mô hình hồi quy

    4.3.1. Kiểm định sự tồn tại của đa cộng tuyến:

    4.3.1.1. Nhận biết đa cộng tuyến

    1. Xét hệ số tương quan giữa các biến I, XK, NK: với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên cho thấy:

    • Hệ số tương quan giữa I và XK là 0,984396 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa I và NK là 0,987254 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa XK và NK là 0,994846 > 0,8
    • Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
    1. Hồi quy phụ I theo XK và NK:

    Mô hình hồi quy phụ:

    Ii =     1 +      2 XKi3NKi+Vi

    – Kiểm định giả thiết: Ho: R2 = 0

    H1: R2 ≠ 0, với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 11

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Từ kết quả trên ta thấy F= 274,74 có xác suất Pvalue= 0,000000 nên ta bác bỏ giả thiết Ho:

    R2 = 0. Tức mô hình hồi quy phụ phù hợp. Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

    4.3.1.2. Biện pháp khắc phục:

    1. Sử dụng sai phân cấp 1:
    • Hồi quy D(GDP) theo D(I), D(NK) và D(XK), ta được kết quả như sau:
    • Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,916563, các Pvalue ứng với các hệ số hồi quy của 3 biến D(I), D(XK), D(NK) rất thấp (<0,05). Do đó, cách khắc phục này là hợp lý.
    1. Loại bỏ biến I hoặc XK hoặc NK khỏi mô hình ban đầu.

    Hồi quy lại mô hình trong đó loại bỏ biến I:

    Trang 12

    GVHD : Trương Bích Phương

    Mô hình hồi quy đã loại bỏ XK :

    Mô hình hồi quy đã loại NK :

    • So sánh R2 ở 3 mô hình hồi quy lại ta thấy R2loại XK < R2loại I < R2loại NK. Vậy ta có thể loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.

    4.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi: (Dùng kiểm định White)

    Kiểm định giả thiết: Ho: Phương sai không thay đổi, với mức ý nghĩa α=0,05.

    4.3.2.1. Kiểm định phương sai thay đổi mô hình ban đầu:

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 13

    GVHD : Trương Bích Phương

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 12,13429 có xác suất Pvalue= 0,2058 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng hương sai thay đổi.

    Trang 14

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.3.2.2 Kiểm định phương sai thay đổi mô hình sau khi đã loại bỏ biến

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 10,13299 có xác suất Pvalue= 0,0716 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

    Trang 15

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 5: KẾT LUẬN

    5.1. Kết luận:

    • Tổng giá trị vốn đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011.
    • Mô hình lựa chọn phù hợp với lý thuyết kinh tế
    • I, XK, NK giải thích được 99,5 % sự biến động của GDP, còn 0,5% là các yếu tố khác chưa biết, chưa đưa vào mô hình.
    • Mô hình ban đầu có hiện tượng đa cộng tuyến và đó là hiện tượng đa cộng tuyến không hoàn hảo, khắc phục bằng cách loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.
    • Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi
    • Có thể bỏ biến NK ra khỏi mô hình trong trường hợp cần thiết.

    5.2. Kiến nghị:

    • Để tăng GDP trong một nước thì phải tăng cường thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư, tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
    • Chú trọng thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án lớn, công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, tạo bước chuyển biến trong tái cơ cấu, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện cho DN trong nước phát triển.
    • Để tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu:
    • Ở cấp độ nhà nước đó là sự ổn định về chính trị- xã hội, quan hệ quốc tế tốt đẹp, hành lang pháp lý hoàn chỉnh rõ ràng, minh bạch và theo phương hướng ổn định; bộ máy điều hành nhanh nhậy, cơ chế chính sách, các công cụ điều hành vĩ mô hợp lý, trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
    • Nâng cao khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là khả năng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhanh nhậy nắm bắt tình hình cung – cầu (cả lượng lẫn chất) trên thị trường thế giới cả sản xuất và kinh doanh. Các mặt hàng và loại hình dịch vụ thì khả năng cạnh tranh được thể hiện trước hết ở giá thành hạ, chất lượng cao, mẫu mã, bao bì phù

    hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được tiếp thị rộng rãi.

    5.3. Hạn chế của bài

    • Có thể đưa thêm một số biến nữa vào mô hình để độ phù hợp của mô hình tăng lên, tuy nhiên làm như vậy mô hình sẽ phức tạp hơn, có thể sẽ có nhiều khuyết tật hơn gây khó khăn trong việc kiểm định .

    Trang 16

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Do năng lực bản thân của mỗi thành viên trong nhóm còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận được những đóng góp ý kiến và phê bình của thầy cô và các bạn để chúng tôi kịp thời nắm bắt và củng cố kiến thức.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-KINH-T%E1%BA%BE-L%C6%AF%E1%BB%A2NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

     

    Đề bài

    Cho các biến K,L FDI,GDP

    Xây dựng mô hình    GDP=A. . . . (1)

    Đơn vị:+GDP,A,K là tỷ USD

      +L là triệu người

    Từ mô hình (1) ta chuyển đổi về dạng đơn giản hơn như sau:

    lnGDP=lnA+ .lnK+ .lnL+ .lnFDI+Ui (2)

    Yêu cầu

    1. Chạy phần mềm eview để đưa ra mô hình hồi quy mẫu của (1) và (2). Nêu ý nghĩa của các hệ số.
    2. Mô hình (2) có đa cộng tuyến hay không?
    3. Mô hình (2) có phương sai sai số không?
    4. Mô hình (2) có tự tương quan hay không?
    5. Mô hình (2) có thiếu biến hay thừa biến không?

    Bảng số liệu như sau:

    K

    L

    FDI

    GDP

    12.68300

    11.85000

    1.169000

    57.65000

    24.99720

    2.230000

    63.12000

    112.6000

    47.46720

    2.900000

    138.4000

    204.6000

    54.33880

    2.670000

    189.7000

    222.7000

    71.63640

    50.13000

    31.66000

    294.8000

    72.29580

    10.91000

    77.70000

    357.9000

    85.09000

    12.50000

    45.40000

    335.0000

    86.82240

    4.940000

    41.32000

    326.4000

    89.00000

    45.73000

    29.23000

    222.5000

    94.15420

    22.49000

    37.66000

    431.9000

    98.19600

    20.49000

    90.40000

    467.6000

    115.2140

    16.10000

    60.04000

    523.7000

    127.1411

    7.500000

    450.9000

    638.9000

    142.4500

    37.12000

    69.06000

    519.9000

    199.5616

    108.0000

    21.91000

    845.6000

    211.6368

    10.90000

    246.2000

    766.8000

    280.2800

    17.90000

    398.4000

    1274.000

    290.8950

    45.38000

    236.2000

    1353.000

    329.0020

    99.47000

    214.3000

    1838.000

    335.2680

    23.99000

    133.0000

    1206.000

    370.8000

    24.86000

    294.8000

    1800.000

    392.9010

    30.71000

    1135.000

    2147.000

    402.7440

    75.10000

    271.6000

    2076.000

    419.4960

    22.01000

    439.4000

    1362.000

    427.8690

    27.76000

    697.4000

    2067.000

    521.2720

    43.63000

    763.9000

    2833.000

    942.8700

    516.4000

    67.72000

    2965.000

    1064.497

    66.70000

    88.62000

    4417.000

    2162.160

    146.1000

    1818.000

    13860.00

    2972.146

    803.3000

    758.9000

    7043.000

    BÀI LÀM

     

    1.Xét hàm hồi quy mẫu

    i= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi

    Với 1=lnA

          2=

          3=

        4=

    Bước 1 Nhập số liệu vào eview.

    Bước 2 Tại ô gõ câu lệnh LS log(GDP) C log(K) log(L) log(FDI)

    Sau đó ta có kết quả bảng eview:

    Suy ra MHHQ mẫu:

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Suy ra mô hình (2) :

    • lnGDP =1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi +Ui

    Từ kết quả trên ta được lnA=1,479245 => A= =4.38963

    =0,908368

    =0,008015

    =0,087486

    Suy ra mô hình (1):

    GDP=4.38963. . . .

    * Ý nghĩa của các hệ số

    – 2: khi vốn tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không thay đổi thì GDP tăng lên 0,908368 tỷ USD.

    3: khi số lượng lao động tăng lên 1 triệu người,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,008015 tỷ USD.

    4: khi vốn đầu từ trực tiếp từ nước ngoài tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,087486 USD.

    2.Phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

    a.Phương pháp R2 cao và ttn thấp

    Từ kết quả mô hình hồi quy thu được ở trên khi chạy eview ta thấy như sau:

    R2=0,973080>0,8àR2 cao

    Các ttn lần lượt là 9.095672 ;0.122274 và 1.615056 đem so sánh với  = =2.056 à Các ttn không đồng thời nhỏ hơn  nên chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    b.Phương pháp hệ số tương quan cặp cao

    Từ cửa sổ chính eview chọn quick/group statistics/correlations. Cửa sổ series list xuất hiện sau đó đưa vào danh sách các biến của ma trận tương quan.

    Ta có kết qủa hiển thị ma trận tương quan như sau:

    Nếu hệ số tương quan cặp giữa các biến giải thích cao ( >0.8) thì có khả năng tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.

    Nhìn vào bảng trên thì ta thấy  nhưng lại <0.8.Suy ra chưa thể kết luận được mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    c.Phương pháp hồi quy phụ:

    Hồi quy lần lượt các biến giải thích theo các biến giải thích còn lại.

    Giả sử hồi quy biến FDI theo biến K và L.

    Suy ra mô hình hồi quy lnFDIi= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+vi

    Chạy kết quả eview bằng cách viết công thức vào màn hinh chính

    Ls log(FDI) C log(K) log(L)

    Mô hình hồi quy:

    lnFDIi= + .lnKi .lnLi thu được R2=0.753507.

    Có =0.05 cần kiểm định giả thiết  Ho: R2=0

                                                              H1: R2  0

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F=

    Nếu Ho đúng thì F F(k-1,n-k)

    Ta thấy P-value của thống kê F =0<  .Vậy nên bác bỏ giả thiết cho rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến.

    Kết luận:Với mức ý nghĩa   =5% có thể nói rằng  mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.

    3.Phát hiện hiện tượng phương sai sai số

    a.Phương pháp dựa trên biến phụ thuộc

    Bước 1: Ước lượng mô hình ban đầu

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Bước 2: Ước lượng mô hình = 1+ 2ln i2+vi

    Tạo biến , ta được bảng kết quả

    Sử dụng phần mềm tạo lnGDP: vào forecast -> tích vào log(GDP) và điền YF vào forecast name.

    Chạy eview:

    Tại cửa sổ chính vào Quick -> estimate equation -> hiện bảng nhập Ei2 c yf

    Kiểm định giả thuyết:    Ho: R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

                                           H1: R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F= 2 .Nếu H0 đúng thì F F(1,n-2)

    Nhìn vào bảng eview thấy p-value của ftn=0.038260<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1

    Kết luận với =0.05 thì mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    1. Kiểm định park

    -Hồi quy mô hình gốc thu được phần dư ei.

    + Ước lượng mô hình hồ quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Ki)+vi

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

     Log(Ei^2) C Log(log(K))àOK

    Chạy eview ta thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Ki)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.2293>0.05àchấp nhận Ho, bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Li)+vi

    Tương tự

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

     Log(Ei^2) C Log(log(L))àOK

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Li)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.1903>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(FDIi)+vi

    Tương tự chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy:Ln ei2= -0.239734.ln(ln(FDIi)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.6867>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    => Kết luận chung Với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuật hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    1. Kiểm định glejser

    Ta đã tạo được phần dư e ở trên nên chỉ phải ước lượng mô hình

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Ki)+ vi để ước lượng

    Tại vị trí gõ lệnh, ta gõ cú pháp sau: ABS(Ei) C log(K)

     Chạy eview thu được bảng

    Suy ra mô hình hồi quy:|ei| = -0.059054 + 0.040758ln(Ki)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.0292<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Li)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.007808 + 0.045048ln(Li)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value= 0.0059<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(FDIi)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.098770 + 0.011792ln(FDIi)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.465119>0.05 suy ra chấp nhận H0 bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    àKết luận chung:Với mức ý nghĩa 0.05 thì chúng ta chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không.

    1. Kiểm định White:

    Ước lượng mô hình hồi quy:ei2= 1+  2ln(K) +  3ln(L) +  4ln(FDI) +  5ln2(K) +  6ln2(L) +  7ln2(FDI) +  8ln(K).ln(L) +  9ln(L).ln(FDI) +  10ln(K).ln(FDI) + ui

     

    Chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình: ei2=0.448595 -0.240865 ln(K) + 0.088626ln(L) + 0.005712ln(FDI) + 0.024483ln2(K) + 0.031051ln2(L) -0.019771ln2(FDI) -0.056395ln(K).ln(L) + 0.003875ln(L).ln(FDI) + 0.034515ln(K).ln(FDI) + ui

    Kiểm định giả thiết:   Ho:R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

                                        H1:R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định:

    Nếu  đúng thì 

    Nhìn vào bảng ta thấy P-value=0.0485<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1.

    Kết luận với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    4.Phát hiện hiện tượng tự tương quan

    1. Kiểm định d.Durbin – Watson

    Bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, ta có bảng kết quả sau:

     

    Mô hình hồi quy gốc

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Bài toán kiểm định:

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Thay số suy ra:

    Với

    Ta có các khoảng sau:

                0     (1)      dL       (2)        dU       (3)    4-dU       (4)     4-dL         (5)               4

               0                                                2.35                   2.786                    4

    Từ bảng Eview, ta có  nên mô hình không có tự tương quan.

    b.Kiểm định Breush – Godfrey (BG)

    Kiểm định tự tương quan bậc 1

    Từ bảng kết quả eview ta suy ra mô hình hồi quy gốc từ ý 1:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Giả sử có hiện tượng

    Ước lượng mô hình sau đây bằng phương pháp OLS:

    Chạy lại eview bằng cách:

    Từ cửa sổ equation,chọn views/residual test/serial correlation LM test

    Cửa sổ Lag specificationànhập số thời kì p cho biến trễ .kết quả xuất hiện bảng như sau:

    Bài toán kiểm định

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Nhìn vào bảng eview có P-value=0.1361>0.05àchấp nhận H0.

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 1.

    -Kiểm định tự tương quan bậc 2.

    Làm tương tự như trên ta có kết quả eview

    Mô hình hồi quy gốc:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Ước lượng mô hình

    Suy ra

    Bài toán kiểm định 

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Từ bảng kết quả Eview, ta thấy  nên chấp nhận H0,  bác bỏ H1

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 2.

    1. Mô hình thừa biến hay thiếu biến

    a.Kiểm định sự thừa biến

    Bước 1: Ước lượng mô hình (2)

    Log(GDP) C Log(K) Log(L) Log(FDI)

    Từ bảng kết quả ta có mô hình hồi quy

    LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • Kiểm định thừa biến Ln(K)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(K) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết               Ho: 2=0 (biến Log(K) là không cần thiết)

                                 H1: 2≠0 (biến Log(K) là cần thiết)

    Ta thấy Prob(F-Statistic ) = 0 <α = 0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận biến log(K) là biến cần thiết trong mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(L)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(L) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 3=0 (biến Log(L) là không cần thiết)

                             H1: 3≠0 (biến Log(L) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(L) là cần thiết cho mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(FDI)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(FDI) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 4=0 (biến Log(FDI) là không cần thiết)

                             H1: 4≠0 (biến Log(FDI) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(FDI) là cần thiết cho mô hình

    Kết luận chung: Với α= 0.05 mô hình (2) không thừa biến

    1. Mô hình thiếu biến

    –  Bước 1 Sử dụng phần mềm Eviews ta được bảng kết quả

    Hồi quy mô hình(2) ta được mô hình sau:

     LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • = 0.973080
    • Bước 2 Hồi quy mô hình

    LnGDP= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi +  + Vi

    Từ cửa sổ equation => stability test => Ramsey reset test

    Ta được bảng kết quả

    Từ bảng kết quả ta thu được mô hinh

    LnGDP=1.528175+).882845.lnKi+0.007223.lnLi+0.085943.lnFDIi +  

    • = 0.973091
    •  

    Tiêu chuẩn kiểm định

    F= .

    Từ bảng kết quả ta có

    Prob(F-Statistic)=0<  =0.05 nên bác bỏ Ho

    • Chấp nhận Ho, bác bỏ H1
    • Kết luận Với α=0.05 mô hình không thiếu biến

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các  đề cương đại học  hiện có của  Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan : Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I. Đặt Vấn Đề:

    Mạnh mẽ là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của họ. Một phần của chúng tôi, một trong những tài sản của chúng tôi sức mạnh và làm việc ở nước ta

    Trong trọng lượng của chúng tôi, bạn có thể quan tâm và quan trọng. Tối nay, bạn có thể sử dụng NPK, là một trong những vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, nhu cầu, sức khỏe, sức mạnh, sức mạnh, sức mạnh, sức mạnh

    Mạnh mẽ, bạn có thể sử dụng NPK.

    II. PHƯƠNG PHÁP

    2.1. Phương pháp

    – trên mạng

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá rẻ NPK cho lúa, thu thập, chăn nuôi, chăn nuôi.

    • Đẹp

    Trong lòng có một phần của họ, phần còn lại, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng của bạn 4 4, một phần lớn

    2.2. Phương pháp văn hóa

    Tôi nhận được một số thứ khác nhau.

    Voi: Y i là cầu hôn NPK của nam tính (kg)

                        X 1 là thu khách và thú tính (triệu đồng / năm)

                        X 2 là NPK (giá đồng / kg)

                        X 3 là tích phục

    Ta có mô hình tổng hợp:

                                              Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.           KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    3.1.         Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    3.2.         Kết quả và giải thích mô hình   

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT

    Yi

    X1

    X2

    X3

    1

    9.4

    4.3

    4.7

    4.2

    2

    9.7

    5.2

    4.5

    4.6

    3

    10.3

    5.6

    4.6

    5.2

    4

    10.5

    4.9

    4.4

    5.5

    5

    10.9

    6.4

    4.3

    5.8

    6

    11.7

    6.8

    4

    6

    7

    12.1

    6.5

    4.1

    6.2

    8

    12.4

    7

    4.2

    6.3

    9

    12.2

    7.2

    3.9

    6.1

    10

    12.9

    7.5

    3.6

    6.4

    11

    13.4

    7.8

    3.8

    6.9

    12

    13.7

    7.6

    3.7

    7

    13

    13.9

    8.1

    3.5

    7.2

    14

    14.9

    8.3

    3.4

    7.6

    15

    14.2

    8.6

    3.3

    7.4

    16

    15.3

    8.9

    3.1

    7.9

    17

    15.8

    9.3

    3.2

    8.2

    18

    16.3

    9.7

    2.9

    8.6

    19

    17.5

    9.5

    3

    9.1

    20

    16.9

    9.8

    2.8

    8.9

    21

    18.7

    10.2

    2.3

    9.5

    22

    18.1

    10.5

    2.6

    9.1

    23

    18.6

    10.8

    2.5

    9.4

    24

    18.9

    11.2

    2.7

    9.8

    25

    19.7

    11.6

    2.4

    10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

     

    Regression Statistics

    Multiple R

    0.9957504

    R Square

    0.9915188

    Adjusted R Square

    0.9903072

    Standard Error

    0.3095768

    Observations

    25

    ANOVA

     

    df

    SS

    MS

    F

    Significance F

    Regression

    3

    235.2874062

    78.4291354

    818.35283

    6.68667E-22

    Residual

    21

    2.012593808

    0.0958378

       

    Total

    24

    237.3

         

     

    Coefficients

    Standard Error

    t Stat

    P-value

    Lower 95%

    Upper 95%

    Lower 95.0%

    Upper 95.0%

    Intercept

    6.9449215

    2.711499803

    2.561284161

    0.0181912

    1.306048988

    12.58379401

    1.306048988

    12.58379401

    X1

    0.0532633

    0.187956968

    0.283380083

    0.7796603

    -0.33761465

    0.444141173

    -0.33761465

    0.444141173

    X2

    -0.9242324

    0.413411223

    -2.23562481

    0.0363651

    -1.783968087

    -0.064496687

    -1.78396809

    -0.06449669

    X3

    1.3895078

    0.229648716

    6.050579381

    5.272E-06

    0.911927138

    1.867088432

    0.911927138

    1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

     

    Regression Statistics

    Multiple R

    0.9957504

    R Square

    0.9915188

    Adjusted R Square

    0.9903072

    Standard Error

    0.3095768

    Observations

    25

    ANOVA

     

     

    df

    SS

    MS

    F

    Significance F

    Regression

    3

    235.2874062

    78.4291354

    818.35283

    6.68667E-22

    Residual

    21

    2.012593808

    0.0958378

       

    Total

    24

    237.3

         

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

                 Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

                Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

                Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

                Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

     

    IV.            KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề cương ôn tập môn khai thác tàu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-%C4%90%E1%BA%A7u-T%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Đầu tư có vai trò quan trọng, là nhân tố tế quốc dân của mỗi nước, thúc đẩy sự tăng nước.

    quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh trưởng và phát triển nền kinh tế đất

     

    Thực hiện đường lối đổi mới về phát triển kinh tế, trong những năm qua Chính phủ đã đầu tư vốn cho xây dựng cơ bản chiếm khoảng 30 – 35% GDP. Trong năm năm 2001 – 2005, vốn đầu tư xây dựng trong toàn xã hội đạt khoảng 50 tỷ USD, trong đó riêng vốn ngân sách Nhà nước đầu tư khoảng 35 tỷ USD. Hàng chục công trình trọng điểm của Nhà nước đã được đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng, cải tạo, như quốc lộ 1A; đường Hồ Chí Minh; Thủy điện Sơn La; Khu lọc dầu Dung Quất; Khu công nghiệp khí, điện, đạm Cà Mau; các công trình phục vụ SEA Games 22…

     

    Những công trình nói trên cùng với hàng trăm công trình khác đã làm thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội của đất nước, góp phần quan trọng bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế đất nước đạt bình quân 7,5 %/năm và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của toàn xã hội.

     

    Thực tế tình hình đầu tư của nước ta trong những năm vừa qua đặc biệt là từ năm 2001 – 2006 tăng khá mạnh, song bên cạnh đó chúng ta còn thấy nhiều mặt trái trong hoạt động đầu tư trong đó nổi lên là tình trạng thất thoát, lãng phí. Trong hai năm 2002 – 2003, thanh tra chuyên ngành xây dựng đã tổ chức thanh tra 31 dự án xây dựng với tổng vốn đầu tư là 17.300 tỷ đồng, thì cả 31 dự án đều có sai phạm với số tiền thất thoát, lãng phí lên đến 2.070 tỷ đồng.Thất thoát, lãng phí trong đầu tư đã làm giảm đáng kể hiệu quả của hoạt động đầu tư. TTLP như là căn bệnh truyền nhiễm lan tràn trên tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội:lãng phí tài nguyên, nguồn nhân lực, chất xám,tài sản,…lãng phí trong nông nghiệp, công nghiệp…và đặc biệt là trong ĐTXDCB đây là một trong vấn đề nhức nhối nhất mà các ngành, các cấp và toàn xã hội đang quan tâm nó kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầm trọng. Theo đánh giá chung tỉ lệ thất thoát trong ĐTXDCB chiếm tới hơn 30% tổng số vốn đầu tư tương đương với 20-25 ngàn tỉ mỗi năm. Vậy mà đến nay mặc dù đã có nhiều cải cách nhưng vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế.

     

    Vậy những nguyên nhân nào gây ra thất thoát, lãng phí? biểu hiện của nó ra sao? thực trạng ở nước ta thời gian qua thế nào? Do giới hạn về hiểu biết và thời gian trong bài viết này chúng em xin được chỉ nêu những nội dung chung nhất về TTLP nói chung và chỉ đi sâu vào thất thoát, lãng phí trong ĐTXDCB

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    Chương I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ

    TRONG ĐẦU TƯ

     

    I.                   Khái niệm về thất thoát, lãng phí

     

    Theo pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí ngày 26/2/1998 thì “Lãng phí là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định. Thất thoát là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ sở vật chất tăng thêm năng lực cho xã hội”.

     

    Qua phân tích những dự án có thất thoát đã được đưa ra ánh sáng, phân tích quy trình đầu tư nhận thấy tiền đầu tư bị thất thoát ở mọi giai đoạn đầu tư và diễn ra nổi lên theo một số dạng sau đây: Nâng giá; Khai khống khối lượng; Bớt vật tư, tráo vật tư…

     

    Cả ba dạng trên, để được thanh toán dĩ nhiên phải có hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ và để tránh bị phát hiện. Do vậy chúng phải hợp pháp hoá, hợp lý hoá hồ sơ, chứng từ ngay từ khâu đầu đến khâu cuối (dự toán, đấu thầu, hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán, giải ngân, kiểm toán). Chúng phải sử dụng nhiều thủ đoạn gian dối, tinh vi, tạm kể ở đây một số thủ đoạn thông thường sau: hối lộ quan chức, cán bộ, thậm chí bằng cả cách của “maphia”; lợi dụng những sơ hở trong các quy định quản lý; mua bán hoá đơn chứng từ, lập hoá đơn chứng từ giả; tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình; lập các công ty “ma”; liên kết giữa các nhà thầu; làm rối các thủ tục, quy trình triển khai quản lý; thiếu minh bạch, dân chủ trong quản lý dự án; phối hợp chặt chẽ, thông đồng giữa những kẻ có liên quan.

     

    Vì những thủ đoạn gian dối, tinh vi trên nên trong thực tế không dễ gì phát hiện những khoản tiền đầu tư bị thất thoát.

     

    Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí.

     

    Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tư khi chưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, công suất không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm và thời điểm không hợp lý; Thiết bị và công trình của dư án có chất lượng thấp làm giảm tuổi thọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung, chi phí khác, chi phí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một số khoản chi phí trong dự án được chi chưa tiết kiệm.

     

    TTLP là hai căn bệnh kinh niên trong đầu tư nói chung và đặc biệt là trong xây dựng cơ bản . Trong sự lãng phí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất thoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    không cần thiết hoặc làm giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư

    II.                Nội dung thất thoát, lãng phí trong đầu tư

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

    Có thể hiểu việc thất thoát trong lĩnh vực xây dựng cơ bản là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản không đúng mục đích không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành nhưng không sử dụng được, bỏ phí, không mang lại hiệu quả hoặc đạt hiệu quả nhưng chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn định mức của nhà nước.

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư.

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu chuẩn bị đầu tư (quy hoạch, quyết định quy hoạch), thiếu lồng ghép giữa các loại quy hoạch, tình hình đầu tư không gắn với quy hoach vùng, địa phương, quyết định đầu tư sai, chất lượng báo cáo nghiên cứu khả thi kém…

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu thực hiện đầu tư : như là khảo sát không đạt yêu cầu dẫn đến thiết kế sai làm chất lượng công trình không đảm bảo phải khắc phục sửa chữa, nhiều trường hợp buộc phải huỷ vì không thể khắc phục được; công tác thiết kế sơ sài, giải pháp thiết kế chưa hợp lý, chậm giải phóng mặt bằng…

     

    Ngoài ra còn có trong các khâu đấu thầu, trong ký kết hợp đồng, trong thi công, quyết toán, nghiệm thu…

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực, chất xám

    Các doanh nghiệp nhà nước lâu nay vẫn được coi là sân sau của bộ máy công quyền trực tiếp liên quan đến doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Con cháu cán bộ lãnh đạo thường được gửi gắm vào những vị trí then chốt trong các công ty nhà nước. Điều này tạo thực tế ở DNNN thừa người không biết làm việc nhưng thiếu người có năng lực. Bên cạnh đó còn vấn đề đạo tạo cán bộ chuyên môn cũng gây ra nhiều bức xúc cho xã hội. Tình trạng đào tạo theo phong trào tràn lan nhưng đào tạo không hợp lý, chất lượng đào tạo thấp nên mặc dù hàng năm chính phủ đã tốn rất nhiều chi phí nhưng nguồn lực này không đáp ứng được nhu cầu cho xã hội

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong việc sử dụng đất, công nghệ,chi tiêu, chi phí trong công tác nghiên cứu lập dự án.

    Đất do DNNN sử dụng đều là những mảnh đất “đắc địa” có giá trị rất lớn nhưng khi tính toán hiệu quả kinh doanh của DNNN người ta lại không tính toán giá trị sử dụng đất vào giá trị DNNN. Điều này làm cho hiệu quả kinh doanh của DNNN được tính không đúng. Nếu tính cả giá trị, giá trị sử dụng đất vào giá trị của DNNN có lẽ nhiều DNNN làm ăn không có lãi.

     

    Thực tế cho thấy có nhiều dự án được cấp đất nhưng vẫn bỏ không do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như chậm giải phóng mặt bằng rồi thiếu vồn…cũng đă gây thất thoát, lãng phí hàng chục tỷ đồng của nhà nứơc trong khi đó giá thuê đất ở Việt Nam vẫn được đánh giá là rất cao trong khu vực và trên thế giới còn người dân thì không có đất canh tác sản xuất.

     

    Thất thoát, lãng phí trong nghiên cứu và sử dụng công nghệ.

     

    \

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    Lâu nay người ta vẫn thường kháo nhau rằng: lãng phí trong các đề tài nghiên cứư khoa học rất nhiều nhưng mà… khó nói. Bởi lẽ lãng phí ấy chẳng rõ ràng, cụ thể và cũng chẳng chết ai. Những đề tài nghiên cứu xong chỉ cần qua một vài cuộc bảo vệ, đề tài được nghiệm thu thế là hoàn tất. Còn việc có đi vào cuộc sống hay không thì không cần biết. Thực tế cho thấy nhiều công trình nghiên cứu xong không được sử dụng, chất lượng công trình không cao, không đạt hiệu quả tối ưu,nhiều dự án nghiên cứu xong thì đắp chiếu bỏ đấy không sử dụng nhưng vốn rót vào đầu tư nghiên cứu thì không phải là nhỏ. Hàng năm NSNN phải tốn rất nhiều cho hoạt động này

     

    Trong việc sử dụng công nghệ cũng TTLP đáng kể. Các công nghệ được nhập về hoặc là không được sử dụng hoặc là sử dụng không hợp lý. Tình trạng này một mặt là do ta còn thiều cán bộ KHCN trình độ, kĩ năng chuyên môn thấp nên không tiếp cận được sự phát triển như vũ bão của công nghệ thế giới nên đã cản trở việc ứng dụng CN hiện đại vào sản xuất.

     

    III.             Tác hại của thất thoát và lãng phí trong đầu tư

     

    Thất thoát, lãng phí làm giảm đáng kể hiệu quả của đầu tư. Theo số liệu điều tra của Thanh tra Nhà nước 100% các công trình xây dựng cơ bản đều thất thoát 1052 tỷ đồng sai phạm kinh tế trong 995 dự án được thanh tra trên toàn quốc do thanh tra nhà nước, thanh tra của các địa phương, các Bộ ngành. Khoản thu tăng thêm cho ngân sách nhà nước (NSNN) là lấy từ phần GDP tăng thêm hằng năm. Trong khi đó để có được 1 đồng tăng thêm cho NSNN xã hội phải tốn kém một khoản tiền đầu tư nhiều gấp gần 5 lần. Sự yếu kém trong quản lý đầu tư, dàn trải thất thoát trong xây dựng cơ bản làm mỗi năm cả nước mất đi từ 1-2% tăng trưởng GDP. Vì vậy thất thoát và lãng phí mất mát trên thực tế còn lớn hơn nhiều những cái mà chúng ta đo đếm được.Thất thoát lãng phí đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước giảm uy tín cùa Việt Nam trước cộng đồng quốc tế nhất là trước các nhà đầu tư, tài trợ. Chỉ tiêu thất thoát, lãng phí của Việt Nam xếp thứ 97 trên hơn 100 nước làm các nhà đầu tư ngần ngại khi rót vốn vào nước ta.

     

    IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát, lãng phí trong đầu tư

     

    1. Nhân tố khách quan
    1. Do đặc điểm của hoạt động đầu tư

    Sản phẩm xây dựng có tính chất cố định, nơi hoạt động gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu nên nếu công tác khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên không chính xác sẽ dẫn đến lãng phí nghiêm trọng vì kết cấu kỹ thuật không phù hợp và chất lượng công trình kém.

    Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, có kết cấu phức tạp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài. Do đó vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí hoặc nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn kéo dài thời gian xây dựng, công trình bị bỏ hoang làm gia tăng thất thoát, lãng phí.

     

    Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, tuổi thọ cao nên sai lầm trong xây dựng sẽ gây tổn thất lớn cả về giá trị ( chi phí xây dựng dự án) và chất lượng dự án.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    1. Do cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu, đường sá giao thông, điện nước còn hạn chế nên dẫn đến không đảm bảo tiến độ thi công, cản trở công tác thực hiện đầu tư.
    1. Vấn đề giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập dẫn đến chậm bàn giao mặt bằng làm tiến độ thi công dự án chậm chạp gây thất thoát, lãng phí.
    1. Nhân tố chủ quan

    Các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu nhiều nhưng vẫn còn nhiều sơ hở, không là một hệ thống ban hành đồng bộ và thường xuyên thay đổi; chủ quan duy ý chí trong đầu tư tạo ra kẻ hở cho người thi hành vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân.

     

    Do sự vận hành chính sách cơ chế quản lý của Nhà nước gây ra, Nhà nước đã ban hành Bộ luật Xây dựng nhưng cũng chưa quy định rõ nguyên tắc đầu tư dẫn đến tình trạng phổ biến là tất cả các khâu tham gia trong một công trình đều thuộc một cơ quan theo dõi và quản lý, việc tổ chức thực hiện thường theo một chu trình khép kín từ khâu thiết kế thi công, đến giám sát đấu thầu, nghiệm thu đều do một bộ hoặc một cơ quan, một tổ chức đảm nhiệm, trọng tài là người cùng đơn vị, hiện tượng vừa “đá bóng, vừa thổi còi” thì làm sao đảm bảo tính khách quan, trung thực được? Vì vậy, vai trò của giám sát tư vấn coi như bị xoá sổ. Nghị định về quy chế đấu thầu mới trong xây dựng cơ bản cũng chưa có quy định rõ ràng, rành mạch, dẫn đến tình trạng ở nước ta, ai cũng có thể trở thành chủ đầu tư, hay trưởng ban quản lý dự án, bất kể là họ có chuyên môn về lĩnh vực xây dựng cơ bản hay không?

     

    Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp nhiều chồng chéo, không quy rõ trách nhiệm, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị và khép kín. Chính sách về tài chính thiếu ổn định, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư không thống nhất và thiếu nhất quán.

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư nguyên nhân chủ yếu là do con người. Nói về nguyên nhân chủ yếu của lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng,

    nhiều nhà quản lý thường đổ lỗi là do “cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư xây dựng chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; do sự bất cập giữa thể chế nhà nước với quy luật của thị trường và xã hội; do thể chế tổ chức và quản lý doanh nghiệp chưa theo kịp các cải cách về luật lệ và chính sách kinh tế…”. Điều đó cần phải được nhìn nhận lại.

     

    Có đúng là tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua do nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế, chính sách hay không? Chúng ta hãy quay lại thời kỳ bao cấp cách đây hơn chục năm, lúc ấy làm gì có đầy đủ các văn bản pháp luật như bây giờ. Các công trình xây dựng từ ngân sách nhà nước, nếu để xảy ra lãng phí vài khối bêtông, vài tấc gỗ, công nhân lấy vài “cặp lồng” ximăng, vài thanh sắt, đã bị lên án, bị kỷ luật rất nặng chứ đâu có chuyện thất thoát, lãng phí lớn và nghiêm trọng như hiện nay. Phải chăng nếu những người có chức, có quyền trong quản lý đầu tư xây dựng có tâm trong sáng, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, không tiêu cực, tham nhũng chắc chắn sẽ không xảy ra lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng như những năm vừa qua.

     

    Mỗi dự án đầu tư đều được những nhà chuyên môn tư vấn nghiên cứu tính toán kỹ qua nhiều bước, được nhiều cấp thẩm định, xét duyệt, được bàn kỹ trong

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tập thể lãnh đạo trước khi quyết định và quyết định rồi mới đến đấu thầu rồi triển khai thực hiện. Song song với các quá trình đó đều có sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan chức năng theo từng lĩnh vực quản lý. Chúng ta cũng có hệ thống định mức, dự toán XDCB, có hệ thống các tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật tương đối đầy đủ để làm căn cứ tính toán và xem xét. Thế nhưng tình trạng lãng phí vẫn diễn ra ở nhiều dự án với mức độ được công luận đánh giá là “thật kinh khủng”. Vậy tại sao?

     

    Câu trả lời tại sao thất thoát, lãng phí trước hết là do chủ quan của các đối tượng tham gia có ý đồ trục lợi,cố tình vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân; nếu không chỉ có thể là: buông lỏng quản lý; quản lý chưa khoa học; năng lực của tổ chức tư vấn, của nhà thầu xây dựng và của cán bộ quản lý dự án còn hạn chế dẫn đến tính toán đầu tư, xây dựng chưa hợp lý.

     

    Những dự án nào có thất thoát, lãng phí thì chắc chắn ở đó công tác quản lý bị buông lỏng, quản lý chưa khoa học và gần chắc chắn có những sai phạm về trình tự thủ tục, sai phạm về quy chế đấu thầu; sai phạm kỹ thuật thiết kế và thi công; vi phạm về nghiệm thu; vi phạm thanh quyết toán và có tiêu cực xảy ra ở phía chủ đầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung cấp. Ngược lại có vi phạm và tiêu cực thì có thất thoát, lãng phí, và buông lỏng quản lý.

     

    Báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về số liệu thất thoát, lãng phí còn ở mức độ rất hạn chế, chủ yếu căn cứ vào công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Trên thực tế, khó định lượng một cách chính xác số liệu về thất thoát, lãng phí. Tỉ lệ lãng phí, thất thoát 20%-30% mà dư luận xã hội hoặc một số chuyên gia đưa ra chưa đủ để khẳng định nhưng cũng đủ để thấy tính chất rất nghiêm trọng của tình hình. Một số dự án, công trình bị thất thoát lớn do tham nhũng. Tình trạng lãng phí, thất thoát do vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều lĩnh vực, địa phương. Đó là hiện tượng “thông đồng”, “móc ngoặc”, “chạy thầu”, “vây thầu”, “quân xanh, quân đỏ”… để được trúng thầu. Trong số các dự án đã thanh tra, các sai phạm trong quá trình đấu thầu thường là hưởng chênh lệch do bán thầu, nhượng thầu, thu phí nhà thầu sai chế độ, điều chỉnh giá trúng thầu sai quy định, bỏ thầu quá thấp, sau đó tạo cớ điều chỉnh, bổ sung, kéo dài thời gian thi công… Tình trạng này còn xảy ra trong các dự án thuộc nguồn vốn của doanh nghiệp Nhà nước, như đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm thiết bị, ô tô không đúng quy định, không tương ứng với kết quả sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư làm thất thoát lớn như trong các tổng công ty dầu khí, bưu chính viễn thông, thủy sản.

     

    Các cơ quan chức năng rất coi nhẹ việc cần làm rõ trách nhiệm của các đơn vị thiết kế thi công và tư vấn giám sát các công trình, thường thì chỉ khi nào báo chí vào cuộc, nêu cụ thể thì họ mới bắt tay tiến hành điều tra, khảo sát, thiết kế.

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

     

    I. Nhận diện thất thoát, lãng phí ở một số lĩnh vực

     

    1. Nhận diện thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

    Thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có thể hiểu là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành nhưng không sử dụng được, bỏ phí không mang lại hiệu quả hoặc đạt hiệu quả nhưng chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn, định mức quy định của nhà nước.

     

    Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xảy ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư.

     

    Theo báo cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội trong những năm 2001 – 2005, trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm tra, có 176 dự án vi phạm quy định về thẩm định dự án; 198 dự án, công trình vi phạm quy chế đấu thầu; 802 dự án, công trình thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình; 415 dự án, công trình vi phạm về thiết kế, khảo sát; 720 dự án, công trình vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng.

     

    Báo cáo của Tổng hội Xây dựng Việt Nam về 59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng phí, thất thoát cho thấy, có 27% các công trình do chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp, chất lượng kém (đặc biệt là các công trình của chương trình 135); 25% các công trình do quyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng, riêng Công trình đường Thạch Yên – Công Sự của tỉnh Kiên Giang thất thoát tới 58,6% vốn đầu tư…

     

    Nhiều dự án do không làm tốt công tác điều tra, khảo sát các báo cáo tiền khả thi báo cáo, khả thi sơ sài, không chính xác, công tác thẩm định yếu kém, chiều theo ý người quyết định đầu tư, dẫn đến lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp: Chợ không có người họp, cảng không có tàu cập bến hoặc công suất sử dụng thấp, nhà máy không có nguyên liệu phải sản xuất cầm chừng hoặc phải di dời…Theo số liệu quan sát đầu tư 9 tháng đầu năm 2005 của hơn 5000 dự án thuộc các bộ, ngành của hơn 10 địa phương thì có tới hơn 15% dự án đang thi công thì phải điều chỉnh mức đầu tư.Nhiều dự án kéo dài thời gian thực hiện quá lâu như theo số liệu thống kê năm 2005 có tới hơn 960 dự án nh óm B &C bố trí quá thời hạn qui định trong đó 230 dự án nhóm B bố trí kéo dài quá 4 năm, 730 dự án nhóm C kéo dài hơn 2 năm chưa đ ược khắc phục.

     

    Tình hình cụ thể ở các khâu như sau:

     

    1.1 Thất thoát, lãng phí do đầu tư không có quy hoạch hoặc chất lượng quy hoạch thấp

     

    Quy hoạch là sự sắp xếp, bố trí hợp lý giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất xã hội phải phân công lại lao động xã hội hợp lý trên các vùng lãnh thổ đất nước. Do vậy quy hoạch phải đi trước một bước. Trong nhiều năm qua, tuy công

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tác quy hoạch đã được chú ý, hàng năm Chính Phủ đều bố trí vốn đầu tư cho công tác quy hoạch, song thực tế quy hoạch chưa thực sự đi trước một bước để làm căn cứ xác định địa điểm xây dựng cho dự án đầu tư nên không ít dự án lớn, quan trọng của nhà nước khi ra quyết định về chủ trương đầu tư đã thoát ly quy hoạch nên thiếu chính xác. Vì thế trong thực tế có không ít dự án khi xây dựng không có quy hoạch tổng thể được phê duyệt nên trong quá trình triển khai thực hiện dự án phải rời đi rời lại gây tổn thất lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp. Qui hoạch chưa sát thực tế, còn chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú trọng thỏa đáng yếu tố môi trường xã hội.

     

    Việc bố trí nhiều sân bay, bến cảng gần nhau mà chưa tính hết sự gắn kết trong việc khai thác hiệu quả tổng hợp, kết cấu hạ tầng hiện có chưa phù hợp với khả năng phát triển kinh tế và nguồn vốn đầu tư dẫn đến nhiều đoạn đường, cảng biển, cảng sông, cảng sân bay khai thác hiệu quả thấp.

     

    Quy hoạch phát triển ngành giao thông đến năm 2010 cần đến 300.000 tỷ đồng thiếu tính khả thi, không phù hợp với nhu cầu khai thác và huy động vốn. Vì vậy 5 năm qua mới huy động khoảng 60.000 tỷ đồng ( 20%).

     

    Trong công nghiệp, qui hoạch ngành chưa thống nhất qui hoạch vùng, địa phương. Một số dự án không nằm trong qui hoạch vẫn được các điạ phương phê duyệt, triển khai.

    – Một số địa phương quyết định đầu tư dự án sản xuất thép có công suất thấp không theo qui hoạch, vùng Bắc Giang qui hoạch nhà máy bột giấy 200 ngàn tấn/năm, ván nhân tạo 300 ngàn tấn/năm trong khi trước đó 3 năm đã có qui hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vùng cung cấp gỗ mỏ 255 ngàn m3/năm. Dự án nhà máy bột giấy Kon Tum công suất 130 ngàn tấn/năm (giai đoạn I), 260 ngàn tấn/năm (giai đoạn II) được phê duyệt trước khi phê duyệt vùng nguyên liệu giấy nay phải ngừng triển khai theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

     

    – Qui hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp ở các địa phương còn tràn lan, chưa cân đối, chưa có sự phối hợp tốt với các Bộ, ngành trong việc xây dựng qui hoạch tổng thể, giữa khu công nghiệp với khu ngoài hàng rào khu công nghiệp về giao thông, nhà ở công nhân, tập trung quá gần khu đô thị … ở nhiều địa phương nhiều dự án chưa quan tâm đến việc xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường.

     

    Trong nông nghiệp nhiều trường hợp qui hoạch đầu tư nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm, rau quả chưa gắn kết hoặc không phù hợp với vùng nguyên liệu và thị trường, điển hình là các nhà máy đường xây dựng xong không đủ nguyên liệu bị thua lỗ hoặc phải di chuyển đi nơi khác. Nhiều dự án đầu tư nhà máy chế biến rau quả, hải sản công suất khai thác rất thấp hoạt động không có hiệu quả.

     

    Qui hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng cơ sở ở các địa phương thiếu đồng bộ, chưa có sự phối hợp giữa các ngành giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, cấp thoát nước… làm cho hạ tầng giao thông thường xuyên bị đào bới, hư hại gây lãng phí lớn.

     

    Hệ thống bệnh viện Trung ương tại các thành phố lớn quá tải, các địa phương đều đầu tư xây dựng đài phát thanh truyền hình nhưng thời lượng sử dụng và chương trình nội dung rất hạn chế.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, qui hoạch phát triển và đầu tư chưa được chú trọng thỏa đáng, qui hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch triển khai chậm, vốn đầu tư còn thấp, còn vướng mắc với qui hoạch khác vì vậy đã hạn chế khai thác lợi thế và chương trình quốc gia về du lịch…

     

    1.2 Thất thoát, lãng phí trong khâu xác định chủ trương đầu tư

     

    Sai lầm trong chủ trương đầu tư, bắt nguồn từ qui hoạch sai hay không có qui hoạch, chất lượng báo cáo tiền khả thi thấp, thường “bỏ qua điều tra xã hội học, môi trường, các công trình hạ tầng hoặc điều tra không kỹ thị trường tiêu thụ và các yếu tố cho sản xuất kinh doanh”.

     

    Sai lầm trong quyết định đầu tư bắt nguồn từ chủ trương đầu tư sai: đầu tư theo “phong trào”, theo ý muốn chủ quan, chạy theo thành tích, và còn do sai lầm trong lập và thẩm định báo cáo khả thi dẫn đến sai lầm trong việc chọn địa điểm đầu tư, xác định qui mô đầu tư không phù hợp, không đồng bộ, lựa chọn công nghệ sản xuất không phù hợp hoặc lạc hậu.

     

    Các sai lầm thiếu sót trong quyết định đầu tư dẫn đến hậu quả:

     

    – Công trình xây dựng xong đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế xã hội, thậm chí không có hiệu quả (nhà máy không có đủ nguyên liệu, chợ không có người họp, cảng không khai thác hết công suất,…)

     

    – Công trình xây dựng với chi phí quá cao dẫn đến giá thành sản phẩm cao, không đủ sức cạnh tranh hoạt động cầm chừng càng sản xuất càng lỗ.

     

    Định hướng đầu tư, xác định khả năng hiệu quả đầu tư, tính khả thi của dự án xây dựng, đây là công đoạn ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả đầu tư. Chủ trương đầu tư sai chiếm tới 60 đến 70% số thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Có thể mất trắng toàn bộ vốn và gây hậu quả lâu dài cho khu vực và xã hội có thể lớn hơn rất nhiều lần so với vốn trực tiếp đầu tư cho công trình ban đầu. Ví dụ:Chi phí ước tính cho sân bay Long Thành – Đồng Nai là 8tỷ USD.

     

    Việc đầu tư theo phong trào dẫn đến hiệu ứng xi măng và các nhà máy đường mọc lên ở khắp mọi nơi tuy nhiên một số nhà máy khi xây dựng không tính toán hết các điều kiện và nguyên liệu để hoạt động. Chẳng hạn: nhà máy đường Quảng Bình đến hết năm 2002 lỗ khoảng 136 tỷ đồng chưa kể khoản vay khó trả để xây dựng nhà máy là trên 170 tỷ đồng.

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu quyết định đầu tư thường bắt nguồn từ việc xác định mục tiêu đầu tư dự án do không được chủ đầu tư cân nhắc, tính toán trước khi xây dựng nên khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng chủ đầu tư mới nhận thấy công trình phát huy không hiệu quả.

     

    Ví dụ: tại một số địa phương đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để cải thiện và xây dựng mới một loạt chợ như chợ đầu mối Đền Lừ với số vốn đầu tư hơn 10 tỷ đồng, chợ đầu mối Hải Bá (Đông Anh) đầu tư 13 tỷ đồng…

     

    1.3. Thất thoát, lãng phí trong khâu thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán

     

    Tình trạng phê duyệt lại nhiều lần là khá phổ biến hiện nay, thậm chí một số dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất là hợp pháp hoá các thủ tục thanh quyết toán khối lượng phát sinh, điều chỉnh. Chẳng hạn tổng mức đầu tư của dự án cầu Sông Danh phải điều chỉnh 3 lần trong quá trình thực hiện (năm 1995 là 186 tỷ đồng, năm 1998 là 239 tỷ đồng và năm

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    2000 là 257 tỷ đồng); hay gần đây nhất là dự án đầu tư xây dựng TTGD – LĐXH Hải Phòng qua 3 lần điều chỉnh dự án đã bổ sung, điều chỉnh cả về quy mô và tổng mức đầu tư, tăng 49 tỷ 210 triệu đồng, đưa tổng mức đầu tư từ 72tỷ 482triệu đồng lên 121tỷ 692 triệu đồng (tăng 67,8%). 3 lần điều chỉnh dự án đều là do công tác khảo sát lập dự án không đến nơi đến chốn.

     

    Chất lượng công tác thẩm định thiết kế, dự toán có nhiều sai sót, dẫn đến ở một vài dự án có giá trị trúng thầu cao hơn có giá trị thực tế do tính toán sai khối lượng.

     

    1.4 Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư trong khâu kế hoạch hoá đầu tư Trong những năm qua mặc dù đã có một số tiến bộ nhưng tình trạng đầu tư

    dàn trải trong bố trí kế hoạch của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố vẫn chưa được khắc phục triệt để. Tình trạng này được tích tụ nhiều năm gây thất thoát, lãng phí lớn. Chẳng hạn, tổng dự toán của các công trình giao thông được đưa vào kế hoạch năm 2004 gấp hơn 10 lần số vốn bố trí trong kế hoạch do đó chỉ có một số công trình được tập trung vốn để hoàn thành sớm còn lại là kéo dài.

     

    Việc bố trí danh mục các dự án còn quá phân tán, hàng năm số dự án đưa vào kế hoạch đầu tư quá lớn. Theo số liệu Bộ tài chính công bố, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2005 có 19 dự án với tổng vốn là 125 tỷ đồng chưa có quyết định đầu tư mà đã được ghi vào danh mục đầu tư. Có 336 dự án với tổng vốn là trên 1000tỷ chưa phê duyệt tổng dự toán nhưng cũng được ghi vào.

     

    Bố trí kế hoạch không đồng bộ,còn mang tính “xin cho”, cũng theo số liệu trên, 16 dự án nhóm C đã thực hiện quá 2 năm (quy định không được quá 2 năm), 30 dự án nhóm B quá 4 năm (quy định không được quá 4 năm) cũng được ghi vào kế hoạch đầu tư.

     

    1.5 Thất thoát, lãng phí trong đấu thầu xây dựng

    Đấu thầu có thể được hiểu là một cách thức mua sắm (hàng hoá, công trình, dịch vụ) mà trong đó người mua tiến hành lựa chọn người bán theo một quy trình nhất định, quy trình này được áp dụng cho tất cả các hoạt động mua bán của người mua trong một thời gian dài. Đây là một phương thức tiến bộ tuy nhiên trong thực tế ở nước ta hiện nay, đất thầu đã và đang bộc lộ nhiều tiêu cực. Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành. Hạ giá thầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưng vẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thông thầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rất nghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầu khí…

     

    Tình trạng không tuân thủ quy chế đấu thầu như dự án mở rộng cảng Cái Lân(Quảng Ninh), cơ quan chức năng đã phát hiện tổng số sai phạm lên đến 36,7 tỉ đồng. Trách nhiệm chính thuộc về Bộ GTVT, Cục Hàng hải VN. Trong đó, nguyên thứ trưởng thường trực Bộ GTVT Nguyễn Việt Tiến (bị can trong vụ án PMU18) phải chịu trách nhiệm về 6 tỉ đồng thất thoát.

     

    Tại gói thầu số 1 có tổng vốn đầu tư theo giá trúng thầu 510,1 tỉ đồng nhưng qua thanh tra đã phát hiện 26,1 tỉ đồng sai phạm ở các khâu thuộc quá trình đấu thầu. Cụ thể, chủ đầu tư đã đưa các nhà thầu không đủ tiêu chuẩn vào giai đoạn 2 nhưng không báo cáo Bộ GTVT. Kết quả là nhà thầu Penta Ocean dù không đủ tiêu chuẩn vẫn trúng thầu. Sau khi trúng thầu, nhà thầu này ký với 36 nhà thầu phụ

     

    10         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tham gia dự án trong khi hồ sơ mời thầu qui định chỉ được phép ký với một nhà thầu phụ VN.

    Trong việc mời thầu hợp đồng tư vấn của dự án với tổng giá trị 98,4 tỉ đồng, chủ đầu tư đã chấm cho Công ty tư vấn Nippon Koei trúng thầu mà không cần đấu thầu.

    Có sự móc ngoặc giữa hai bên A và B để tính phát sinh khối lượng, rút tiền của dự án. Tiêu biểu là vụ tiêu cực ở Vietsovpetro đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu do những cán bộ có chức vụ quyền hạn thuộc xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô và công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) thuộc tổng công ty dầu khí Việt Nam thực hiện. Cụ thể như sau: đầu tháng 11/1999 biết tin liên danh PTSC/Corall trúng thầu nhưng chưa công bố chính thức, Dương Quốc Hà (phó tổng giám đốc Vietsovpetro) là phó hội đồng xét thầu đã gặp Nguyễn Quang Thường (phó tổng giám đốc tổng công ty dầu khí Việt Nam) thống nhất nâng giá bỏ thầu từ 15,5 triệu USD lên 16,9 triệu USD để rút tiền vênh hơn 1,2 triệu USD chia nhau.

     

    1.6 .Thất thoát, lãng phí trong công tác chuẩn bị xây dựng

     

    Công tác đền bù giải phóng mặt bằng chưa chấp hành đúng các quy định của nhà nước ở một số dự án như dự án khôi phục và phát triển hệ thống thuỷ lợi khu vực miền trung và thành phố Hồ Chí Minh, các hồ sơ đền bù thiếu và không đảm bảo so với quy định nhưng đã chi phí đền bù 39 tỷ đồng. Ban quản lý cho tiến hành xây dựng trong khi công tác đền bù cũng chưa hoàn thành nên khi dân khiếu kiện phải dừng thi công gây thiệt hại gần 400 triệu đồng.

     

    Theo các chi cục thuế, đến thời điểm thanh tra 10/2004 nhiều đơn vị còn nợ tiền sử dụng đất như công ty đầu tư và xây dựng TNXP Cinco nợ hơn 60 tỷ đồng công ty xây dựng và kinh doanh nhà Phú nhuận nợ trên 26 tỷ đồng.

     

    Lại có những dự án sau khi giải phóng mặt bằng xong lại bỏ không, không đầu tư xây dựng. Chẳng hạn dự án đầu tư cụm khách sạn 5 sao – trung tâm hội nghị quốc tế và cao cố văn phòng ở đường Lý thường kiệt tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là dự án được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế thu hồi đất cấp cho công ty bất động sản Sông Đà để đầu tư xây dựng. Sau khi được giao đất công ty này đã san lấp mặt bằng và rào chắn bằng một hệ thông tôn bao che. Tuy nhiên tiến độ xây dựng công trình thì được triển khai một cách chậm chạp và đến nay thì dừng hẳn.

     

    1.7. Thất thoát và lãng phí trong khâu tổ chức thực hiện

     

    Thất thoát và lãng phí ở khâu này được coi là rất nghiêm trọng.Việc bớt liệu trong quá trình xây dựng làm cho các công trình không đảm bảo chất lượng khi đưa vào sử dụng. Nhà thi đấu Gia Lâm (Trâu Quỳ, Gia Lâm) được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước với 7 gói thầu, tổng số vốn đầu tư là hơn 37,6 tỷ đồng. Đây là công trình phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao của nhân dân trong huyện và đặc biệt là SEA Games 22. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn, công trình đã có biểu hiện xuống cấp. Theo Thanh tra Nhà nước thành phố, trong số 17 hạng mục thanh toán (gói thầu số 2) thì hầu hết đã bị khai tăng số lượng, vật liệu thi công không đúng chủng loại, gây thất thoát lên đến 522 triệu đồng.

     

    Tiến độ xây dựng công trình chậm diễn ra phổ biến nhiều dự án đã làm tăng chi phí lên nhiều tỷ đồng. Theo thanh tra nhà nước thì có tới nửa các dự án thanh

     

    11         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tra kiểm tra chậm tiến độ. Chỉ riêng dự án đường vành đai 3 ở Hà nội, việc chậm tiến độ đã làm phát sinh thêm khoảng trên 1000 tỷ đồng đầu tư. Hay là dự án xây dựng quốc lộ 5 sử dụng vốn JBIC Nhật Bản do bàn giao mặt bằng chậm nên nhà nước đã phải bồi thường cho nhà thầu hơn 570 triệu yên Nhật.

     

    1.8. Thất thoát và lãng phí trong khâu nghiệm thu thanh toán

     

    Công tác nghiệm thu thanh toán thường căn cứ theo thiết kế dự toán được duyệt. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp tình trạng nghiệm thu thanh toán không đúng khối lượng thực tế, không đúng chế độ, đơn giá thực tế và chủng loại vật tư. Việc làm này đã làm tăng giá trị công trình không đúng chế độ, thoát ly thực tế, gây ra thất thoát và lãng phí vốn. Như dự án trung tâm triển lãm văn hoá nghệ thuật Việt Nam thất thoát và lãng phí gần 450 triệu đồng, dự án trung tâm sách VN gần 311 triệu đồng, dự án nhà hát lớn Hà Nội khoảng 12.418 triệu đồng…

     

    Công tác thanh toán vốn đầu tư còn chậm, thủ tục rờm già, các đơn vị nhận thầu phải làm thủ tục quá nhiều để được cấp vốn. Hiện tượng này đã tạo khe hở cho những tiêu cực, gây ra thất thoát lãng phí.

     

    1.9. Thất thoát lãng phí trong khâu quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn

     

    thành

     

    Công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành là cửa cuối cùng trong dây chuyền quản lý vốn đầu tư. Nhiều dự án sau khi làm báo cáo quyết toán, thẩm tra báo cáo quyết toán trước khi phê duyệt quyết toán đã phát hiện một số khoản thanh toán sai định mức, đơn giá không phù hợp với chế độ nhà nước quy định… Cần phải thu hồi của các nhà thầu. Nên không thực hiện quyết toán hoặc chất lượng quyết toán thấp gây thất thoát lãng phí lớn vốn của nhà nước. Thực tế công tác này ở các cấp, ngành địa phương thực hiện chưa nghiêm, làm chậm.

     

    Các công trình thuộc dự án phát triển THCS của tỉnh Đồng Tháp là một trong những ví dụ điển hình. Giá trị chủ đầu tư đề nghị quyết toán so với giá trị hợp đồng xây lắp chênh nhau hơn một tỷ đồng. Công trình xây dựng trường cấp 2, cấp 3 tại huyện Bảo Lạc, Cao Bằng, dự toán thừa nhưng lại thiếu một số hạng mục; giám sát, tư vấn lỏng lẻo dẫn đến quyết toán sai hơn 165 triệu đồng.

     

    Qua kết quả tổng hợp tình hình thực hiện quyết toán vốn đầu tư trong cả nước trên đây có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá như sau:

     

    • Một trong những ý nghĩa quan trọng của công tác quyết toán vốn đầu tư là thông qua công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư để xác định được khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện hàng năm; đồng thời, xác định được năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do kết quả đầu tư mang lại để có kế hoạch huy động, sử dụng kịp thời và phát huy hiệu quả vốn đầu tư trong cả nước.
    • Giai đoạn từ năm 1994 đến hết năm 1999: bình quân mỗi năm thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư được khoảng 6.200 dự án; tương đương với số vốn đầu tư được quyết toán là 7.933 tỷ đồng; phát hiện được nhiều khoản chi không đúng qui định, mỗi năm tiết kiệm được trên 150 tỷ đồng (2% tổng số vốn đầu tư được quyết toán).
    • Số dự án hoàn thành chưa được thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư do tồn đọng luỹ kế từ trước đến nay vẫn còn khá nhiều. Tổng số dự án hoàn thành chưa phê duyệt quyết toán vốn đầu tư luỹ kế đến 31/12/2001 là: 13.364 dự án; với tổng số vốn là 35 nghìn tỷ đồng

    12         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    • Việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo tình hình thực hiện quyết toán vốn đầu tư (theo Chỉ thị 11/TTg của Thủ tướng Chính phủ) của nhiều đơn vị trong cả nước chưa nghiêm túc.

    Thực tế ở nước ta hiện nay còn có rất nhiều công trình xây dựng mà thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu không chỉ ở trong các dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ phát triển kinh tế mà ngay cả trong những dự án xây dựng trường học, bệnh viện, thể thao…Một ví dụ nhỏ về 1 vụ thất thoát trong xây dựng nhà thi đấu thể thao cũng đủ cho ta thấy tình trạng này d iễn ra nhức nhối đến thế nào. Thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu gây thiệt hại lớn đến nguồn ngân sách của nhà nước.

     

    Theo Thanh tra Nhà nước thành phố Hà Nội, Nhà thi đấu Gia Lâm – công trình phục vụ SEA Games 22 đã bị thất thoát hơn 2,2 tỷ đồng.

     

    Bị “rút ruột” nghiêm trọng:

     

    Nhà thi đấu Gia Lâm (Trâu Quỳ, Gia Lâm) được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước với 7 gói thầu, tổng số vốn đầu tư là hơn 37,6 tỷ đồng. Đây là công trình phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao của nhân dân trong huyện và đặc biệt là SEA Games 22. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn, công trình đã có biểu hiện xuống cấp.

     

    Ngay sau khi SEA Games 22 kết thúc, nhiều nguồn tin đã phản ánh, một số công trình phục vụ cho kỳ Đại hội Thể thao Đông Nam Á bị xuống cấp và có hiện tượng gian lận trong thi công. Chỉ sau một thời gian ngắn, Thanh tra Nhà nước thành phố đã làm rõ hàng loạt những sai phạm tại nhiều công trình, trong đó có công trình Nhà thi đấu Gia Lâm. Chỉ riêng ở công trình này, số tiền thất thoát đã lên đến hơn 2,232 tỷ đồng. Đáng chú ý là trong 7 gói thầu, chỉ duy nhất có gói thầu lắp đặt hệ thống PCCC là không có sai phạm.

     

    Sai phạm nhiều nhất ở công trình này là ở gói thầu số 2. Đơn vị được phép thi công là Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội với giá trúng thầu là 15,57 tỷ đồng, bao gồm: Thiết kế kỹ thuật, thi công nhà thi đấu, xây dựng tường rào, hạ tầng kỹ thuật, san nền…

     

    Ngay sau khi trúng thầu, Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội đã giao cho Cty Xây dựng số 9 đảm nhiệm thi công và Cty lại giao cho Xí nghiệp II (thuộc Cty) trực tiếp thi công. Theo quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội phải hoàn thành gói thầu trong thời gian là 305 ngày, chậm nhất đến tháng 7/2002 phải hoàn thành. Song, do sự lòng vòng chuyển giao các đơn vị thi công và có nhiều thay đổi, bổ sung trong quá trình thi công nên đến ngày 18/11/2003, gói thầu mới được nghiệm thu, bàn giao.

     

    Theo Thanh tra Nhà nước thành phố, trong số 17 hạng mục thanh toán (gói thầu số 2) thì hầu hết đã bị khai tăng số lượng, vật liệu thi công không đúng chủng loại, gây thất thoát lên đến 522 triệu đồng

     

    Về phía BQL dự án, hồ sơ mời thầu còn quá nhiều kẽ hở để các bên thi công lợi dụng “rút ruột” công trình. Cụ thể, một số nội dung chi tiết như khối lượng bê tông, khối lượng san nền đã không được tính toán cụ thể, thậm chí còn sót, chưa đưa vào dự toán như khối lượng xây thu hồi, khối lượng lan can, trần thép, thạch cao… và không nêu rõ quy cách, phẩm cấp vật tư thi công. Chính vì vậy đã xảy ra

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tình trạng, bên thi công không hề làm mà vẫn được thanh toán 4.280m3 cát san nền với số tiền là 129 triệu đồng.

    Đối với xi măng xây dựng, theo hợp đồng thì đơn vị thi công phải bảo đảm sử dụng xi măng Bỉm Sơn, nhưng trong thực tế, đã có một lượng lớn các loại xi măng có phẩm cấp thấp hơn, giá rẻ hơn được đưa vào sử dụng tại công trình. Thế mà toàn bộ các hạng mục trên đều được nghiệm thu, thanh toán.

     

    • gói thầu số 3, gói thầu về dàn mái không gian, đơn vị trúng thầu vẫn là TCty Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội, giá trúng thầu là hơn 4,2 tỉ đồng. Sau khi trúng thầu, đơn vị này cũng không trực tiếp thi công mà lại giao lại cho Cty Xây dựng số 9. Cty Xây dựng số 9 đã liên danh với Công ty cổ phần kết cấu không gian TADITS để thực hiện. Khi phát hiện TADITS không đủ năng lực thi công, Cty Xây dựng số 9 lại quay sang ký lại hợp đồng với Cty Cơ khí Đông Anh.

    Có được bản hợp đồng, Cty Cơ khí Đông Anh tiếp tục chuyển cho Xí nghiệp giao thông 8 thực hiện phần chế tạo, lắp dựng mái. Mặc dù các bản hợp đồng được chuyển qua nhiều “tay” nhưng theo kết luận thanh tra thì đơn vị nào cũng có “lãi”, chỉ có Nhà nước là “lỗ” trên 415 triệu đồng ở gói thầu này.

     

    Xuống cấp thảm hại:

     

    Chính vì những thất thoát trong mọi khâu, đến nay công trình Nhà thi đấu thể thao Gia Lâm đã xuống cấp rõ rệt. Cụ thể là sàn sảnh tầng 2-3 của khán đài B đã bị thấm dột, nước mưa không chảy vào phễu mà lại chảy ngược vào phía trong sàn thi đấu. Hệ thống van phao bể nước tầng trên cũng gần như bị “tê liệt”, không tự động đóng khi nước đầy; các vách kính tấm lớn yếu. Nguy hiểm hơn là hệ thống điện tầng áp mái được lắp đặt phức tạp, các ổ cắm điện không bảo đảm chất lượng và đã bị hư hỏng nhiều, có nhiều nguy cơ cháy, chập…

     

    Như vậy, với một công trình có vốn đầu tư trên 37 tỉ đồng đã thất thoát tới 8% tổng giá trị. Đây là một trong những công trình có tỉ lệ thất thoát cao ở Hà Nội và có những sai phạm nghiêm trọng ở nhiều khâu mà trước hết thuộc về chủ đầu tư. Điều này cũng thể hiện sự buông lỏng quản lý, yếu kém về năng lực trong thực hiện dự án, không chỉ riêng ở công trình Nhà thi đấu thể thao Gia Lâm.

     

    Trong thời gian gần đây dư luận cả nước đang xôn xao vì vụ 1 vụ tham nhũng lớn nổi tiếng được phanh phui vụ PMU18- gây thất thoát hàng ngàn tỉ đồng của nhà nước, đây đang là 1 vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm chú ý không chỉ có trong nước mà cả nước ngoài đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài tài trợ vốn ODA cho nước ta. Vụ tham nhũng này không chỉ làm TTLP vốn đầu tư mà còn làm dư luận hoang mang và ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của nước ta trước các nhà đầu tư.

     

    Ban quản lý các dự án 18 (PMU 18), trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, được thành lập theo quyết định ngày 23-8-1993 của Bộ Giao thông vận tải.

     

    Chức năng của PMU 18 là: thay mặt chủ đầu tư quản lý quá trình đầu tư và xây dựng các công trình giao thông do bộ giao; giao dịch, tiếp xúc với các tổ chức trong và ngoài nước để tìm nguồn vốn cho các dự án do ban quản lý. PMU 18 luôn được ưu ái giao cho quản lý hàng trăm triệu USD từ nguồn vốn ODA, vốn trái phiếu chính phủ… để đầu tư hạ tầng giao thông.

     

    Trong thời gian qua, PMU18 đã quản lý 20 dự án với số vốn lên gần 33.000 tỉ đồng.

     

    14         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    PMU 18 đang là chủ đầu tư của nhiều dự án lớn như QL18, QL10, QL2, cầu Đà Rằng, cầu Bãi Cháy (mức đầu tư 2.142 tỉ đồng)… PMU18 đang được tuyển chọn tư vấn cho dự án xây dựng đường cao tốc trên QL3 có vốn đầu tư 3.533,4 tỉ đồng

     

    Những dự án tai tiếng của PMU 18

     

    Trừ đi khoảng 13.000 tỷ đồng vốn sử dụng trong thời gian của vị tổng giám đốc tiền nhiệm và vốn do người khác quản lý, Dũng cũng quản lý các dự án với tổng vốn 20.000 tỷ đồng. Như vậy, giả định tỷ lệ hoa hồng cho mọi dự án ở mức 10%, số hoa hồng mà Dũng và PMU18 được hưởng phải là khoảng 2.000 tỷ đồng!

     

    Nhiều nguồn tin xác định rằng ông tổng giám đốc Ban Quản lý các dự án (PMU) 18 Bùi Tiến Dũng “cá độ” 1,8 triệu USD

     

    Chưa ai rõ tiền ở đâu mà ông chơi dữ thế. Trong khi đó, có những điều đã rõ là PMU 18 từng gây ra nhiều tai tiếng trong quá trình xây dựng các công trình giao thông lớn như cầu Hoàng Long (Thanh Hóa), phà Minh Châu, dự án giao thông nông thôn…

     

    Cầu Hoàng Long vốn tăng 2,7 lần nhưng sụt lún

     

    Công trình cầu Hoàng Long (Thanh Hóa) do PMU 18 làm chủ đầu tư đã thất thoát 4,5 tỉ đồng trong tổng kinh phí đầu tư 224 tỉ đồng.

     

    Dự án xây mới cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa (sau được đổi là cầu Hoàng Long) được Bộ GTVT phê duyệt tháng 10-1995 với tổng mức vốn đầu tư 83,5 tỉ đồng, cầu có chiều dài 240m, đường dẫn hai đầu cầu dài 3.158m, dự kiến triển khai vào tháng 10-1996.

     

    Tuy nhiên hai tháng trước khi khởi công, Bộ GTVT phê duyệt lại dự án, cầu được kéo dài thêm 140m kéo theo sự thay đổi hàng loạt hạng mục công trình làm tổng vốn đầu tư được điều chỉnh lên 224 tỉ đồng, gấp 2,7 lần dự kiến ban đầu.

     

    Thế nhưng chi phí đầu tư tăng lên 2,7 lần vẫn không đem lại chất lượng tốt cho công trình. Hàng loạt sự cố sụt, lún xảy ra trong quá trình thi công. Những sự cố này đã làm công trình liên tục phải thay đổi thiết kế làm tăng chi phí bổ sung lên tới 36 tỉ đồng, riêng số tiền để khắc phục 140m lún trượt của nền đường phía bắc cầu là 5,5 tỉ đồng.

     

    Tại công trình này, đoàn thanh tra của Thanh tra Nhà nước đã phát hiện các công ty thi công tìm cách rút tiền của dự án như dùng sai chủng loại cáp đồng, thanh toán vượt khối lượng… gây thất thoát lãng phí vốn dự án lên 4,5 tỉ đồng.

     

    Thanh tra Nhà nước đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo kiểm điểm Bộ GTVT (giai đoạn 1995-2002), giao bộ này kiểm điểm và có hình thức xử lý nghiêm tổng giám đốc PMU18, cục trưởng Cục Quản lý giám định chất lượng công trình giao thông, vụ trưởng Vụ Kế hoạch – đầu tư…

     

    Tuy vậy, đến chiều qua (18-1), trả lời Tuổi Trẻ, một số quan chức có trách nhiệm của Bộ GTVT vẫn không nắm được, không biết Bộ GTVT đã xử lý vụ việc này như thế nào…

     

    Phà Minh Châu vừa chạy đã hư

     

    Tháng 12-2003, Thanh tra Nhà nước cũng có kết luận về ba sai phạm lớn của Bộ GTVT và PMU 18 liên quan đến triển khai dự án giao thông nông thôn – WB2 (tổng vốn đầu tư 145,3 triệu USD, chủ yếu vay Ngân hàng Thế giới) và bến phà Minh Châu (Ba Vì, Hà Tây): năm tháng trước khi Bộ GTVT có quyết định cho

     

    15         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    phép tiến hành chuẩn bị đầu tư, lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án giao thông nông thôn – WB2 và giao PMU 18 làm chủ đầu tư, PMU18 đã ký hợp đồng thuê Công ty Tư vấn khảo sát thiết kế xây dựng (Bộ Quốc phòng) lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án này.

     

    Trong báo cáo nghiên cứu khả thi dự án được Bộ Kế hoạch – đầu tư thẩm định, không có nội dung nào về công trình bến phà Minh Châu nhưng trong kế hoạch xây lắp năm thứ nhất trình Bộ GTVT tháng 9-1999, PMU18 đã tự ý đưa công trình này vào (trị giá 64.000 USD).

     

    Việc Bộ GTVT phê duyệt kế hoạch này là không thực hiện đúng quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ; Ngoài ra, cơ quan thanh tra cũng chỉ rõ hàng loạt sai phạm của các cơ quan liên quan trong vụ phà Minh Châu trọng tải 15 tấn “vừa chạy đã hỏng”.

     

    Quốc lộ 2 xuống cấp sau ba tháng sử dụng

     

    Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 2 từ Đoan Hùng (Phú Thọ) tới Vị Xuyên (Hà Giang) có vốn đầu tư gần 500 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ do PMU 18 làm chủ đầu tư thông xe vào cuối tháng 3-2005 cũng để lại nhiều tai tiếng khi chỉ sau gần ba tháng sử dụng công trình đã có biểu hiện xuống cấp, sạt lở. Các đoạn quốc lộ qua Đoan Hùng, Tuyên Quang đều xuất hiện nhiều điểm rạn nứt, bong tróc lớp nhựa.

     

    Ngoài ra hầu hết các cầu trên quốc lộ này cũng xuất hiện hiện tượng sụt lún taluy đường đầu cầu, trong đó cầu Luống (km 182+ 663) bị sạt lở nghiêm trọng ở đường dẫn cả hai đầu cầu. Đến nay, trách nhiệm của PMU 18 và các đơn vị thi công cải tạo quốc lộ 2 vẫn còn bỏ ngỏ…

     

    1. Nhận diện thất thoát, lãng phí ở một số lĩnh vực khác

    2.1 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề nghiên cứu KHCN

     

    Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2001-2005 NSNN đầu tư cho KHCN

     

    chiếm gần 2% tổng chi ngân sách, chiếm hơn 0,5% GDP trong đó chi cho các viện nghiên cứu KH-CN cấp nhà nước chiếm 19.1%, các bộ, ngành hơn 30% hoạt đông KHCN cấp cho địa phương là 25%, số còn lại chi cho tăng cường cơ sở vật chầt trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu. Như vậy có thể thấy 2% tổng chi ngân sách không phải là ít vậy mà… số dự án không phát huy tác dụng, không ứng dụng thực tế còn nhiều, mới thấy được sự lãng phí quá lớn trong lĩnh vực này. Đã có hơn 40% các doanh nghiệp cũng tự thừa nhận là đã phí tiền vào các kế hoạch nâng cấp công nghệ nhưng không sử dụng đến gây ra thất thoát lớn cả về vốn, nhân lực và thời gian . Có tình trạng 80%-90% công nghệ tốt nhập khẩu từ nước ngoài nhưng chính sách phục vụ cho việc sử dụng lại chưa được nâng cấp tới mức cần thiết để tận dụng tốt những công nghệ này. Chưa kể đến bên cạnh đó còn rất nhiều công trình, dự án còn sử dụng bất hợp lý và hiệu quả ứng dụng công nghệ thấp cũng đã gây những lãng phí rất lớn cho nền kinh tế.

     

    2.2 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề sử dụng nguồn nhân lực

     

    Do các DNNN không tuyển được người có năng lực nên không có quỹ chất xám, không thu hút được đề tài. Trong lúc đó, nhóm người phải nhận do quan hệ thường có sự chi phối công việc quản lý công ty của giám đốc gây nên khó xử. Mối quan hệ giữa giám đốc và nhóm người này trở nên mù mờ, giám đốc thì

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    không thể mạnh tay trong điều hành làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của công ty lãng phí, tham nhũng từ mối quan hệ này mà ra.

    Mặt khác trong những năm qua, tình trạng lao động được đào tạo nhưng không được sủ dụng đúng mục đích diễn ra phổ biến, chiếm 6,5% số lao động được đào tạo. Tình trạng này diễn ra do lao động cử đi đào tạo không đủ trình độ tiếp thu chiếm khoảng 3%, do lao động cử đi đào tạo làm việc cho doanh nghiệp khác chiếm 1%, do chủ đầu tư thay đổi quy trình công nghệ hoặc công nghệ không phù hợp chiếm 2%…Ngoài ra tình trạng sử dụng nhiều lao động nước ngoài trong doanh nghiệp trong khi lao động trong nước cũng có đủ trình độ và năng lực đáp ứng công việc cũng gây ra thất thoát, lãng phí nguồn nhân lực ở nước ta. hiện nay số lao động nước ngoài được tuyển dụng ở nước ta thường chiếm trên 5% đặc biệt là trong các lĩnh vực đặc thù như công nghệ cao, giáo dục đào tạo…

     

    2.3 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề sử dụng đất

     

    Đất cho các dự án chiếm một chi phí rất lớn trong tổng vốn đầu tư của các dự án vậy mà hiện nay nhiều khu đất vẫn bị bỏ hoang,các tài sản nằm chờ không người sử dụng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi.

     

    Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội Vũ Đức Khiển cho biết: báo cáo gần đây nhất của Chính phủ về tình hình khiếu nại của công dân nêu rõ: tại 51 tỉnh, thành, có 252 dự án đầu tư xây dựng cơ bản huy động trên 27 000 hécta đất, nhưng chỉ có 1/3 diện tích này được duyệt sử dụng thực sự. Trong các khu công nghiệp và khu chế xuất, cao nhất chỉ có 50% diện tích đất được sử dụng, có khu chỉ lấp đầy 10% diện tích.Một ví dụ đơn giản nhưcông ty vật tư nhà nước Kiến An – Hải Phòng được định giá 850 triệu gồm 1 dãy nhà cấp 4 cũ nát và một xưởng cơ khí tan hoang lâu nay không hoạt động, tất cả các khu nhà toạ lạc trong một khuôn viên 1,6ha. Khi bán công ty này định giá công khai, kết quả thu 6,6tỷ. ở trường hợp này thực chất các nhà đầu tư chỉ nhìn vào giá trị của 1,6ha đất tại thĩ xã Kiến An – cái mà nhà nước không định giá. Trong khi đó người dân phố bán nhà ở với giá 500 nghìn đồng trên 1m2 đất mặt tiền. khu 1,6ha của công ty có khoảng 100m mặt tiền cũng chỉ thu được 8tỷ. Qua ví dụ trên thấy được giá trị to lớn của DNNN hiện nay có thể bán được và giá trị quyền sử dụng đất nhưng khi cổ phần hoá và bán doanh nghiệp trong suốt một thời gian dài chúng ta lại bỏ giá trị này không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp. Thật là lãng phí và vô lý.

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    II. Những mặt được và chưa được trong hoạt động quản lý của nhà nước

     

    1. Những mặt được trong hoạt động quản lý của nhà nước

     

    Có nhiều đổi mới trong cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, trong chỉ đạo

     

    điều hành của Chính Phủ.

     

    Cơ chế quản lý đầu tư được cải tiến một bước quan trọng theo hướng giảm đáng kể sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp

    Tăng cường vai trò trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc quyết định, tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả của công trình đầu tư.

     

    Quản lý nhà nước đầu tư và xây dựng đã được quy định tại các nghị định số 52/1999/NĐ-CP; số12/2000/NĐ-CP; số07/2003/NĐ-CP; số 88/1999/NĐ-CP; số 14/2000/NĐ-CP và số 66/2003/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản pháp quy liên quan; các Bộ ngành và địa phương phải nghiêm túc thực hiện, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư.

     

    Năm 2004 trong lĩnh vực đầu tư phát triển tiếp tục được phân cấp mạnh cho các Bộ, ngành, địa phương. Thủ tướng Chính phủ chỉ giao cho các Bộ, ngành, địa phương tổng mức vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước, danh mục và mức vốn đầu tư các dự án thuộc nhóm A; ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao kế hoạch vốn thiết kế quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, vốn đầu tư theo mục tiêu hỗ trợ của Trung ương (đối với các Bộ, ngành); đối với các tỉnh, thành phố chỉ giao vốn thiết kế quy hoạch, vốn chuẩn bị đầu tư, vốn bổ sung có mục tiêu cho đầu tư phát triển. Việc lựa chọn, bố trí danh mục và mức vốn cụ thể cho các dự án nhóm B và C (kể cả các dự án chuyển tiếp, khởi công, hoàn thành) do các Bộ trưởng, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định và tự chịu trách nhiệm.

     

    Cùng với việc phân cấp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế về quản lý đầu tư và xây dựng và Chỉ thị số 29/2003/CT-TTg ngày 23/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

     

    Trong hoạt động đầu tư, Nhà nước quản lý chặt chẽ đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và tạo khung pháp lý cùng các hỗ trợ cần thiết cho nhà đầu tư mà không trực tiếp quyết định đầu tư. Đồng thời, Nhà nước thực hiện cơ chế giám sát, kiểm tra, đánh giá, để thực hiện hiệu quả dự án đầu tư, giảm bớt sai sót, vi phạm, thất thoát. Trong quản lý đầu tư, đã tăng cường được vai trò của Hội đồng Nhân dân, coi trọng sự tham gia giám sát của cộng đồng và các tổ chức xã hội.

     

    Việc sửa đổi, bổ sung các quy chế về quản lý đầu tư, xây dựng, đấu thầu đã tạo khung pháp lý hoàn thiện hơn về đầu tư xây dựng cơ bản. Công tác chỉ đạo, điều hành, lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch được quan tâm. Cơ chế quản lý đầu tư được cải tiến một bước theo hướng tăng cường phân công, phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương. Tính công khai, minh bạch, công bằng, hợp lý trong việc phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo Luật Ngân sách nhà nước mới đã được quan tâm hơn.

     

    Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng của Chính phủ, công tác giám sát của các cơ quan dân cử đối với đầu tư xây dựng cơ bản bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phát hiện yếu kém, tiêu cực trong quản lý và thực hiện các dự án, công trình, góp phần hạn chế và khắc phục những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    2.Một số tồn tại trong hoạt động quản lý đầu tư gây thất thoát, lãng phí

     

    Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển

     

    Chất lượng các dự án quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều hạn chế, các dự án quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn, chưa có đủ các căn cứ vững chắc, nhất là các thông tin về dự báo, nhất là dự báo tác động của các yếu tố bên ngoài như thị trường thế giới, tiến bộ khoa học công nghệ, sự cạnh tranh của các

     

    quốc gia và doanh nghiệp…

    Quản lý nhà nước về quy hoạch còn nhiều yếu kém mà biểu hiện rõ nhất là phân công, phân cấp không rõ ràng, thiếu một khung pháp lý đầy đủ cho việc lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch, thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất về các vấn đề liên quan đến công tác quy hoạch trong phạm vi cả nước; thiếu kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch. Nhiều cơ quan nhà nước, nhiều cá nhân có trách nhiệm chưa quan tâm đúng mức và chưa nhận thức đúng đắn về công tác quy hoạch, trách nhiệm đối với công tác quy hoạch chưa đủ tầm… Quy trình kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân chưa được thể chế hoá; phương pháp lập quy hoạch chưa thống nhất; thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình lập các quy hoạch ngành, nên xảy ra tình trạng chồng chéo và không ăn khớp giữa quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh; thiếu quy chế phê duyệt thống nhất.

     

    Nhận thức về quy hoạch trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế còn nhiều điểm chưa thống nhất; việc phân định nội dung cũng như phạm vi giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội các vùng lãnh thổ, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng còn nhiều điểm chưa rõ.

     

    Các quy hoạch ngành, tuy đã xác định rõ hơn những ngành thuộc loại quy hoạch “mềm” và quy hoạch “cứng”, nhưng ngay đối với các ngành sản phẩm chủ lực cần được lập quy hoạch cũng chưa được xác định ở cấp nhà nước.

     

    Nguyên nhân của tình hình nêu trên có nhiều nhưng trước hết phải kể đến công tác điều tra cơ bản chưa đủ, thông tin phục vụ nghiên cứu quy hoạch thiếu, lực lượng nghiên cứu quy hoạch hạn chế; công tác dự báo và xử lý liên ngành, liên vùng yếu; công tác chỉ đạo quy hoạch chưa đúng mức.

     

    Quy hoạch ngành và quy hoạch vùng, quy hoạch của từng tỉnh ít gắn kết với nhau. Quy hoạch phát triển ngành chưa thể hiện cụ thể trên các địa bàn lãnh thổ của các tỉnh, thành phố. Mặt khác trong khi có một số quy hoạch ngành đã thể hiện trên lãnh thổ nhưng quy hoạch tỉnh, thành phố chưa căn cứ vào quy hoạch ngành bố trí trên lãnh thổ của mình. Trong quá trình thực hiện quy hoạch, một số ngành, một số địa phương còn tuỳ tiện thay đổi mục tiêu của quy hoạch sau khi đã được Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt.

     

    Nhiều quy hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã không kịp thời triển khai các quy hoạch cụ thể, quy hoạch chi tiết để tiến hành đầu tư, dẫn tới có tình trạng quy hoạch “treo”.

     

    Việc thẩm định, kiểm tra, giám sát quy hoạch còn yếu, có trường hợp quy hoạch có chất lượng thấp vẫn được thông qua.

     

    Về trách nhiệm của các cơ quan quản lý: còn buông lỏng trong công tác quản lý đầu tư và xây dựng. Việc phân cấp quản lý trong đầu tư và xây dựng cho các Bộ, ngành và địa phương đã thực hiện tương đối mạnh. Tuy nhiên, cơ chế quản

     

    19         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    lý đầu tư và xây dựng hiện tại thiếu các chế tài, những quy định cụ thể (kể cả biện pháp hành chính) nhằm kiểm soát và hạn chế được việc phê duyệt dự án đầu tư tràn lan, kém hiệu quả.

     

    Việc nhận thức công tác Đấu thầu còn nhiều hạn chế cả về nội dung đấu thầu, quy trình, trình tự và các quy định khác. Một số cán bộ thuộc đơn vị Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo đầy đủ, thiếu kinh nghiệm nên còn nhiều hạn chế trong triển khai công tác đấu thầu.

     

    Nhiều chủ dự án chưa chủ động, chỉ dựa vào ý kiến của tư vấn, không xem xét kỹ kết quả trước khi trình duyệt, dẫn đến những sai sót không đáng có trong quá trình thực hiện. Cấp có thẩm quyền chưa chỉ đạo sát sao, quản lý công tác đấu thầu chưa chặt chẽ.

     

    Công tác giám sát và đánh giá đầu tư chưa được tất cả các Bộ, ngành và địa phương quan tâm đúng mức và thực hiện nghiêm túc theo quy định; chỉ có khoảng 30% các đơn vị Bộ, ngành, 40% các tỉnh, thành phố có báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư. Đối với việc giám sát và đánh giá đầu tư của các chủ đầu tư còn rất hạn chế, chỉ có 30% các chủ dự án sử dụng vốn ngân sách có báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư. Chất lượng các báo cáo về đánh giá đầu tư còn sơ sài, chưa đủ các thông tin cần thiết để tổng hợp báo cáo.

     

    Công tác giám sát nói chung còn chưa thường xuyên, bị động và chủ yếu tổng hợp từ các báo cáo theo quy định, chưa có tác dụng phát hiện kịp thời và xử lý các vi phạm. Công tác giám sát cộng đồng chưa được chú trọng.

     

    Công tác giám sát, đánh giá đầu tư chưa đáp ứng được các yêu cầu theo quy định, một mặt do đội ngũ cán bộ chưa được chuẩn bị chu đáo, cán bộ nghiệp vụ còn thiếu kinh nghiệm, năng lực còn hạn chế, chưa có hệ thống thông tin phục vụ hoạt động giám sát. Mặt khác, lãnh đạo ở một số Bộ, ngành và địa phương cũng chưa nhận thức đầy đủ được vị trí, vai trò của công tác giám sát, đánh giá đầu tư trong quản lý đầu tư nói chung

     

    Các chủ đầu tư, nhất là chủ đầu tư, các ban quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước chưa khẩn trương cùng các nhà thầu hoàn tất các thủ tục nghiệm thu, thanh quyết toán. Nhiều công trình, dự án đã hoàn thành nghiệm thu, đưa vào sử dụng trong nhiều năm nhưng không quyết toán công trình.

     

    Chương III

    NHỮNG GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ CHỐNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ Ở VN

     

    Nạn thất thoát, lãng phí tiêu cực trong đầu tư xây dựng đã được đặt ra tại nhiều kỳ họp Quốc hội. Song tình hình dường như đâu lại vào đó, lại còn có xu hướng “phát triển” hơn. Tại sao lại như vậy? Theo các chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính của những hiện tượng này chủ yếu là do hành vi tiêu cực gây ra: tiêu cực trong khâu lập và duyệt quy hoạch thì có quy hoạch treo, hoặc chồng chéo; Tiêu cực trong khi lập dự án là do tổ chức, cá nhân tư vấn và chủ đầu tư móc nối với nhau; Tiêu cực trong thẩm định dự án để trình cấp quyết định đầu tư là sự “ăn dơ” giữa tư vấn, chủ đầu tư và cơ quan thẩm định. Tiêu cực trong thiết kế dự toán

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    là sự “rỉ tai” của tổ chức tư vấn và cơ quan thẩm định, cái “rỉ tai” này lại kéo sang tiêu cực về đấu thầu vì nhà thầu lại lo lót từ tổ chức tư vấn đến người duyệt thiết kế và chủ đầu tư.

     

    Còn tiêu cực trong giám sát thì sao? Ở khâu này có thể gây nên thất thoát về chấtlượng công trình không đảm bảo là do sự thông đồng giữa cơ quan tư vấn giám sát, hoặc cán bộ giám sát với bên thi công (nhà thầu). Ở khâu này các tổ chức tư vấn thiết kế có kiểm tra thì cũng hạn chế được một phần.

     

    Qua đó có thể nói được rằng mọi thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng là do hành vi tiêu cực gây nên của cán bộ viên chức và công chức. Vì vậy để ngăn chặn và hạn chế tình trạng hiên nay thì chính phủ cần phải đưa ra những biện pháp xử lý kiên quyết hơn nữa để hạn chế những tiêu cực này. Để làm được điều này thì ta cần phải kiện toàn các chính sách, luật quản lý đầu tư,phải có chính sách phân công, phân cấp rõ ràng, công khai, minh bạch, chặt chẽ trách để tình trạng sơ hở để các nhà thầu có cơ hội luồn lách rút ruột công trình. Thất thoát, lãng phí là vấn đề nan giải hiện nay không thể giải quyết trong ngày một ngày hai chính vì vậy để chống được “quốc nạn”đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp và cùng toàn thể xã hội tham gia từ chính phủ đến các cá nhân, nhà báo,các phưong tiện thông tin đại chúng….Cụ thể một số biện pháp xin được nêu sau

     

    1. Các giải pháp liên quan đến cá nhân:

    Công tác cán bộ là cốt lõi để giải quyết mọi vấn đề. Trong hoạt động đầu tư có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giám sát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản lý doanh nghiệp tư vấn, người có thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý dự án, quản lý thi công,… Mỗi chức danh phải có các nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liên đới trách nhiệm, không thể để tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất ít người chịu trách nhiệm cụ thể” và tình trạng “cha chung không ai khóc” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai dự án. Vì vậy để khắc phục các nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí nêu trên trước hết cần làm một số việc sau:

     

    • Phải có các quy định chặt chẽ ràng buộc trách nhiệm cá nhân với công việc được giao quản lý. Cần xác định rõ theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì người quyết định là người chiụ trách nhiệm chứ không phải là tập thể chịu trách nhiệm, không có tập thể quyết định chuyên môn. Ví dụ: Hàng loạt các dự án mà đầu tư không hiệu quả, dàn trải, thất thoát vốn lớn như mía đường, dầu khí… nhưng để truy cứu trách nhiệm người ra quyết định đầu tư rất khó khăn. Các dự án mía đường đến nay hậu quả ”sờ sờ” ra đấy, chưa biết đến bao giờ khắc phục xong. Nhưng người ra quyết định đầu tư, nay đã về hưu, ”hạ cánh an toàn”, hoặc chuyển làm công tác khác
    • Cần trả thù lao tương xứng với trách nhiệm.
    • Kiên quyết xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu. Không bao che, dung túng, nể nang, né tránh đối với bất kể cán bộ nào làm sai để giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
    • Những cán bộ có trách nhiệm trực tiếp quản lý dự án, trước khi được giao nhiệm vụ phải khai báo tài sản và thu nhập cá nhân.
    • Phải xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn hoá chức danh với các công việc quản lý dự án, tư vấn, quản lý kinh doanh tư vấn và xây dựng. Phải bố trí cán bộ có

    21         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    đủ trình độ và kinh nghiệm, đúng chuyên môn và có phẩm chất phù vợp với chức danh công việc được giao. Nghiêm cấm và xử phạt nghiêm mọi trường hợp mượn danh, mua danh để hành nghề.

     

    1. Các giải pháp liên quan đến xây dựng quy định quản lý:

    Các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu là cơ sở, là “cái gậy” của cán bộ quản lý. Nếu nghiên cứu chưa kỹ thì có nhiều sơ hở dẫn đến hay thay đổi và ban hành không đồng bộ thì dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý, bị kẻ xấu lợi dụng để trục lợi các nhân. Vì vậy để khắc phục các nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí nêu trên cần làm một số việc sau:

     

    • Cần rà soát các quy định hiện tại để sủa đổi, bổ sung mới từ đó hình thành một hệ thống các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu, minh bạch, đầy đủ, phù hợp với thực tế hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta và ban hành cách đồng bộ.
    • Cùng với xây dựng một hệ thống quy định trên phải xây dựng quy trình và biện pháp kiểm tra hữu hiệu để đảm bảo các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu phải được tuân thủ đúng, đủ và để phát hiện ngay được những sơ hở trong các quy định.
    • Có một tổ công tác gồm các nhà chuyên môn ở nhiều lĩnh vực, có nhiều kinh nghiệm thực tế trong quản lý dự án, có tâm huyết. Tổ công tác này hoạt động độc lập, chuyên trách giúp chính phủ nghiên cứu soạn thảo ra hệ thống các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu đạt được các yêu cầu trên. Việc soạn thảo, ban hành các quy định theo đúng quy trình.
    1. Các giải pháp liên quan đến công tác kiểm tra, thanh tra và điều tra:

    Có quy định mà không có sự giám sát, kiểm tra và thanh tra thì việc thực thi không nghiêm. Nhưng các sai phạm thường được che dấu bởi nhiều thủ đoạn tinh vi vì thế nếu không điều tra thì không thể phát hiện được. Cho nên có thể nói trong nguyên nhân: Công tác quản lý bị buông lỏng và có kẻ cố tình vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân là do công tác thanh tra, điều tra chưa làm mạnh, lực lượng thanh tra, điều tra còn yếu và thiếu lực. Do vậy những việc cần làm ngay là: Nâng cao năng lực, hiệu quả công tác của lực lượng này và đẩy mạnh công tác này để ngăn chặn và phát hiện những sai phạm; đưa ra ánh sáng nhưng kẻ cố ý làm trái quy định, pháp luật gây ra tình trạng thất thoát, lãng phí hiện nay; thu hồi tài sản bị thất thoát. Các biện pháp cụ thể là:

     

    • Bổ sung thêm nhiều cán bộ “có năng lực ,trình độ” vào lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Trang bị thêm trang thiết bị kỹ thuật và tăng kinh phí cho lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Mở rộng phạm vi quyền hạn cho lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Lực lượng thanh tra, điều tra phải độc lập để đảm bảo tính khách quan, công bằng, khắc phục ”quy trình khép kín”. Một điều dễ thấy là với các dự án của bộ, ngành, địa phương, tất các khâu đều do cơ quan, DN của bộ ngành, địa phương đó làm, khép kín từ quy hoạch, quyết định đầu tư, khảo sát thiết kế, đấu thầu, thi công, quyết toán… Chẳng hạn, khâu giám sát thi công thì vì ”anh em trong một nhà” nên dễ thông cảm với nhau! Nhiều dự án chỉ khi ”anh em” ăn chia không sòng
    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    phẳng, đấu đá, tranh chấp với nhau mới lộ ra ngoài, báo chí đưa, cơ quan điều tra vào vụ việc mới được phơi bày.

    • Có sự thưởng, phạt phân minh với những thành tích và khuyết điểm trong công tác.
    • Cần áp dụng “các giải pháp liên quan đến cá nhân” ở trên đối với lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Xác định rõ trách nhiệm của lực lượng này đối với sự gia tăng số vụ và mức độ thất thoát.
    • Đã có đơn tố giác, đã có biểu hiện, dư luận về sai phạm, thất thoát ở dự án nào thì lực lượng thanh tra, điều tra phải sớm xác định và làm rõ, phải làm cho đến nơi đến chốn để rõ trắng đen để đưa vụ việc ra ánh sáng, để có tác dụng dăn đe và quan trọng là thu hồi tài sản của đất nước bị thất thoát.
    • Nhà nước cần mở tài khoản kế toán riêng để theo dõi và quản lý tập trung tất cả tài sản bị thất thoát thu hồi qua kết quả kiểm tra, thanh tra và điều tra. Số tiền thất thoát là rất lớn vì vậy số tiền thu hồi sẽ rất lớn, Nhà nước có thể dùng một phần số tiền thu hồi để chi cho việc đầu tư nâng cao năng lực lực lượng thanh tra, điều tra, chi cho việc bảo vệ nhân chứng, bổ sung kinh phí cho hoạt động thanh tra, điều tra…vì vậy có thể sẽ phát hiện nhiều hơn những dự án có thất thoát và thu hồi được nhiều hơn số tiền bị thất thoát.
    • Tập trung giám sát đầu tư với tất cả các dự án đang ở giai đoạn chuẩn bị triển khai hoặc đã triển khai để đánh giá hiệu quả đầu tư, phát hiện những sai sót trong tính toán có thể dẫn đến lãng phí từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời làm giảm hoặc tránh xảy ra lãng phí.
    • Tập trung thanh tra tất cả các dự án đang và đã triển khai để phát hiện những sai phạm quy định, thủ tục triển khai, những sơ hở trong quản lý có thể dẫn đến lãng phí, thất thoát từ đó có biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời ngăn chặn hoặc tránh xảy ra lãng phí, thất thoát.
    1. Các giải pháp liên quan đến việc phát huy dân chủ

    Những vụ việc thất thoát mà thanh tra, điều tra phát hiện được là dựa vào đơn thư tố giác của dân. Thực tế tình hình thất thoát tiền đầu tư hiện nay là phổ biến, nhưng số vụ việc mà lực lượng thanh tra, điều tra đưa ra ánh sáng được còn rất ít, rất ít vì có ít đơn thư tố cáo, rất ít vì dân còn chưa giám nói, dân chưa giám nói vì tư tưởng “muốn yên thân”, vì “ngại va chạm”, vì sợ “đấu tranh – tránh đâu”, vì dân chưa tin vào quyết tâm chống thất thoát của lãnh đạo. Tài sản công là tài sản của dân, nghĩa là dân là “người chủ” nhưng tinh thần làm chủ của “người chủ” chưa được phát huy. Quyền làm chủ chưa được phát huy vì thiếu cơ chế thực hiện quyền làm chủ cụ thể trong xây dựng cơ bản, hoặc có mà chưa được coi trọng, hoặc vì “người chủ” thiếu thông tin. Do vậy những việc cần làm ngay là: phát huy tinh thần làm chủ của “người chủ ” trong phòng và chống thất thoát tiền đầu tư của “người chủ ”. Các biện pháp cụ thể như sau:

     

    • Xây dựng hoàn chỉnh cơ chế để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong quản lý dự án, có chế tài để đảm bảo cơ chế này được tôn trọng.
    • Có cơ chế đảm bảo sự công khai, minh bạch trong công tác đấu thầu, trong xây dựng, mua sắm, trong thanh, quyết toán để “ngừơi chủ” có thể giám sát quá trình đầu tư tốt hơn.

    23         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    • Phải có chính sách, biện pháp cụ thể bảo vệ có hiệu quả những cá nhân đứng ra tố giác những hành vi cố tình làm trái các quy định quản lý, pháp luật, tố giác những cán bộ tham ô, nhận và đưa hối lộ. Đồng thời kiên quyết xử lý theo đúng pháp luật mọi cá nhân cố tình vu khống, tố cáo sai sự thật để phục vụ mục đích xấu của họ.
    1. Các giải pháp liên quan đến việc phát huy vai trò của thông tin đại chúng

    Dư luận xã hội, ý kiến của các chuyên gia, của những người trong cuộc, của các đại biểu Quốc hội đánh giá tình trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là “kinh khủng”, là “rất phổ biến đối với đầu tư xây dựng của nhà nước ” …thế nhưng số những dự án được phát hiện có lãng phí, thất thoát; được xử lý và đưa ra công luận còn rất ít có thể đếm trên đầu ngón tay – vậy tại sao? Có ý kiến cho rằng đưa ra báo chí nhiều quá làm bôi đen xã hội ta, làm mất uy tín của cán bộ …Tôi cho rằng ngược lại. Tìm, kiên quyết xử lý nghiêm minh và đưa ra công luận nhiều hơn nữa những dự án đầu tư có thất thoát và lãng phí để thu hồi tiền bị thất thoát; để răn đe từ đó ngăn chặn sự phát triển của tình trạng lãng phí, thất thoát hiện nay; để chứng minh bằng hành động quyết tâm chống thất thoát, lãng phí của Chính phủ.

     

    Vừa qua, thông tin đại chúng mới phản ánh một số ít dự án thất thoát, lãng phí thôi nhưng đã có tác dụng rất lớn, hiệu quả cao ví dụ như­ vụ PMU 18… điều đó chứng tỏ vai trò to lớn của thông tin đại chúng. Vì vậy để chống thất thoát, lãng phí quyết liệt hơn, báo chí không chỉ đưa tin kết quả thanh tra, điều tra mà cần phải tham gia điều tra phát hiện.

     

    PHẦN KẾT LUẬN

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra ở hầu hết các khâu,

    từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệm thu, quyết toán công

    trình, diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng. Song kết quả phát hiện,

    điều tra, xử lý của các cơ quan chức năng còn thấp, tỷ lệ tội phạm ẩn còn cao. Hậu

    quả của tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng đã làm cho nhiều tỷ đồng tiền

    vốn của Nhà nước bị thất thoát, khó có khả năng thu hồi; nguồn vốn của Nhà nước

    trong đầu tư xây dựng bị phân tán; chất lượng công trình trước mắt cũng như lâu

    dài đều bị ảnh hưởng. Trong số những người vi phạm pháp luật, có nhiều người là

    cán bộ khoa học, cán bộ lãnh đạo, kỹ sư và công nhân có tay nghề cao.

    Tình hình  nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trước hết là do tác

    động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự yếu kém trong quản lý kinh tế, sự sơ

    hở và thiếu đồng bộ của hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý, kiểm tra, giám

    sát trong đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó là vai trò của cơ quan chủ quản trong việc

    tuân thủ pháp luật, và trách nhiệm cũng như đạo đức nghề nghiệp của những người

    làm công tác xây dựng. Về mặt chủ quan, công tác phối hợp phòng ngừa, đấu tranh

    chống tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng của lực lượng công an nói riêng

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

    và các cơ quan chức năng nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Chính vì vậy, Ðảng, Quốc hội cũng như Chính phủ đã có nhiều nghị quyết quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng thất thoát, tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Bộ Công an và các ngành chức năng cũng đã xác định đây là một trong những lĩnh vực trọng điểm cần bảo vệ.

     

    Nhân dân, các nhà khoa học, nhiều cán bộ hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp, quản lý kinh tế, xây dựng cơ bản… rất quan tâm vấn đề này và đã có nhiều công trình khoa học, bài viết về phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng. Năm 1998, Cục CSÐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đã tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh“. Năm 2003, Bộ Xây dựng và Tổng Hội xây dựng Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: “Chống thất thoát trong đầu tư xây dựng nhìn từ nhiều phía“; Năm 2004 -2005, Tổng Hội xây dựng Việt Nam nghiên cứu đề tài khoa học: “Xác định mức độ thất thoát trong đầu tư xây dựng” và đang triển khai nghiên cứu tiếp đề tài “Chống khép kín trong đầu tư xây dựng”.

     

    Tuy nhiên, do nhu cầu xây dựng ngày càng cao, phạm vi ngày càng mở rộng, cộng thêm năng lực quản lý yếu kém và việc chấp hành kỷ cương, pháp luật của Nhà nước chưa nghiêm đã dẫn đến thất thoát ở nhiều công trình, ảnh hưởng đến công tác xây dựng trên nhiều mặt. TTLP đã làm giảm đáng kể hiệu quả của đầu tư trong những năm qua, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn hiện nay nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước với mục tiêu phấn đấu là từ nay cho đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước CN hiện đại. Mục tiêu này có thực hiện đựơc không một phần phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của chúng ta.

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-PPP-t%E1%BA%A1i-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-qu%E1%BB%91c-gia-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

    Kiểm toán hoạt động dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

     

    Kiểm toán hoạt động dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) có nhiều điểm khác biệt so với kiểm toán các chương trình, dự án đầu tư công truyền thống, chẳng hạn, các bên liên quan thuộc đối tượng kiểm toán luôn nhiều hơn hoặc luôn tồn tại mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên. Mặt khác, các bên tham gia vào dự án PPP thường theo đuổi các mục tiêu và

     

    lợi ích khác nhau, ví dụ, nhà đầu tư có trách nhiệm cung cấp hàng hóa và dịch vụ công tới công chúng tại mức giá, phí hợp lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình, bên cung cấp vốn (tín dụng) có thể muốn dự án tối đa hóa dòng tiền vào, nhà thầu xây dựng muốn tối thiểu hóa chi phí xây dựng, phía Nhà nước muốn thu hút được nguồn lực từ bên ngoài chi cho đầu tư phát triển để giảm bớt gánh nặng về ngân sách đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư. Vì vậy, mục tiêu chính của kiểm toán hoạt động dự án PPP là cung cấp mức độ đảm bảo hợp lý tới tất cả các bên liên quan về sự công bằng, chính trực, kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong các thỏa thuận hợp tác theo hình thức PPP và đảm bảo rằng các đơn vị thuộc khu vực tư tham gia dự án phải đóng góp nâng cao hiệu quả dự án (CAGI 2009).

     

    Bài báo nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở khảo sát kinh nghiệm và các kết quả kiểm toán hoạt động dự án PPP trên cơ sở đọc và phân tích các báo cáo kiểm toán được công khai và các hướng dẫn kiểm toán hoạt động các dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới.

     

    Kết quả nghiên cứu đã tổng kết được một số kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện, lựa chọn thời điểm và phương pháp tiếp cận kiểm toán, đồng thời đúc kết được một số nguyên tắc cần thiết trong tiến hành kiểm toán hoạt động các dự án PPP.

     

    Từ khóa: Hiệu quả đầu tư, dự án PPP, kiểm toán hoạt động.

     

    The experience and results of PPP projects performance audits in a number of countries in the world

     

    The performance audit of PPP projects differs from the audit of traditional public investment programs and projects, for example, stakeholder groups. There are always more conflicts or conflicts of interest between the parties. On the other hand, parties involved in PPP projects often pursue different objectives and benefits, for example, the investor is responsible for providing goods and public services to the public at reasonable rates and fees. In order to maximize its profit, the capital provider (credit) may want the project to maximize the cash flow, the construction contractor wants to minimize the construction costs, the government wants to attract the source. External resources for development investment to reduce the burden on the budget while improving investment efficiency. The main objective of PPP project audits is therefore to provide reasonable assurance to all stakeholders on fairness, integrity, economy, efficiency and effectiveness in the agreements. PPP co-operation and ensure that the private sector participating in the project contributes to improving the effectiveness of the project (CAGI 2009).

     

    The research paper is based on the experience survey and the results of the PPP activity audit, based on the reading and analysis of publicly available audit reports and auditing guidelines for project activities of PPP projects in several countries around the world.

     

    The results of the study have summarized some experience in organizing the implementation, selection of auditing timing and approach and concluding some principles needed in conducting performance auditing of PPP projects.

     

    Keywords: Efficiency of investment, PPP project, performance audit.

     

    *Kiểm toán nhà nước Khu vực IV

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    1. Giới thiệu

     

    Kiểm toán hoạt động là hoạt động kiểm tra, đánh giá độc lập mức độ hiệu lực và hiệu quả đối với các hoạt động của các đơn vị, chương trình, tổ chức có chú ý thỏa đáng đến tính tiết kiệm (INTOSAI 2004). Đối với một dự án PPP cụ thể, mục tiêu căn bản nhất trong kiểm toán là nhằm đưa ra ý kiến đánh giá khách quan, trung lập liệu nguồn lực công được quản lý và sử dụng có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu định trước. Kiểm toán viên thông qua hoạt động kiểm toán, phải hỗ trợ được các cơ quan nhà nước đạt được trách nhiệm giải trình và tính đúng đắn cũng như cải thiện hiệu quả hoạt động và tạo sự tin tưởng giữa người dân và các bên liên quan đến dự án. Ngoài ra, theo CAGI (2009), cơ quan kiểm toán cần thực hiện vai trò hỗ trợ nhà nước trong việc giám sát, quản lý và dự báo việc đầu tư, vận hành và khai thác dự án PPP. Không như kiểm toán các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, kiểm toán tuân thủ hoặc kiểm toán báo cáo tài chính dự án PPP sẽ bị hạn chế bởi vì trọng tâm kiểm toán các dự án PPP chính là hợp đồng đầu tư dự án, giá trị của tổng mức đầu tư, tính kinh tế và hiệu quả hoạt động của các đơn vị liên

     

    quan dựa trên quan điểm của các bên tham gia và hầu hết trong các trường hợp nhằm đạt được mục tiêu chung của đối tác hơn là mục tiêu riêng lẻ của từng bên trong đối tác công – tư. Quan điểm cốt lõi này phải hình thành ý tưởng ngày trong giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán hoạt động PPP.

     

    Mặc dù không có khác biệt đáng kể giữa kiểm toán hoạt động dự án PPP với hình thức kiểm toán truyền thống, nhưng do đối tượng kiểm toán chính là hợp đồng đối tác được ký kết giữa các bên sau khi kết thúc giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh nên kiểm toán hoạt động dự án PPP trong trường hợp này sẽ không đặt trọng tâm nhiều vào việc xác nhận tính đúng đắn hợp pháp của các số liệu như tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư của dự án, giá trị quyết toán dự án hoàn thành, các nguồn thu, chi của dự án trong giai đoạn khai thác vận hành. Bởi vì, giá trị trúng thầu của nhà đầu tư trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh, minh bạch đã được xác định và cố định không thay đổi trong suốt quá trình đầu tư xây dựng dự án. Theo đó, rủi ro và trọng tâm kiểm toán sẽ thay đổi tập trung nhiều hơn đến trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  67

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

    quyền cùng với việc duy trì, đảm bảo việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm và phân bổ rủi ro tối ưu và hợp lý giữa các bên cũng như việc đạt được mục tiêu của dự án PPP.

     

    2. Kinh nghiệm kiểm toán hoạt động các dự án PPP tại một số quốc gia trên thế giới

     

    Qua tìm hiểu quy trình, hướng dẫn kiểm toán các dự án PPP của các quốc gia như Ấn Độ, Úc, Anh, Hoa Kỳ và chọn mẫu phân tích một số báo cáo kiểm toán hoạt động các dự án PPP đã được phát hành tại các quốc gia này, có thể khái quát thành một số nguyên tắc chung sau:

     

    Thứ nhất, hầu như không có khác biệt đáng kể giữa hình thức kiểm toán hoạt động các dự án PPP so với hình thức kiểm toán truyền thống dự án PPP (kết hợp cả kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán hoạt động). Điểm chung của cả hai loại hình kiểm toán này là đều tập trung vào các khía cạnh tính kinh tế, hiệu quả và tính bền vững của dự án PPP. Mặc dù một số quốc gia việc diễn giải tính bền vững hoặc tính khả thi có một chút khác biệt.

     

    Thứ hai, thời điểm lựa chọn kiểm toán hoạt động dự án PPP tùy thuộc vào khung chính sách quy định của từng quốc gia, thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) cũng như các vấn đề quy mô và rủi ro của dự án. Tuy nhiên, phần lớn các nước đều quy định hoặc luôn dành cơ hội để thực hiện kiểm toán dự án PPP trong suốt vòng đời dự án. Ví dụ như Ấn Độ chia dự án PPP thành 4 giai đoạn, trong khi đó Anh chia thành 06 giai đoạn. Thời điểm và tần suất lựa chọn kiểm toán hoạt động dự án PPP cao nhất thường vào giai đoạn chuẩn bị đầu tư (trước khi dự án được phê duyệt) và giai đoạn lựa chọn các nhà đầu tư (Bỉ, Ấn Độ, Hungary, Canada và Lithuania). Giai đoạn ký kết, thực hiện hợp đồng và giai đoạn vận hành, khai thác sử dụng cũng được lựa chọn kiểm toán hoạt động nhưng mức độ ít hơn. Sở dĩ kiểm toán hoạt động dự án PPP thường được thực hiện trước khi được phê duyệt hoặc trong giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư nhằm mục đích đánh giá liệu (i) dự án được đầu tư có thực sự cần thiết tương tự như các dự án đầu tư công truyền thống; (ii) giá trị lợi ích tăng thêm khi lựa chọn hình

    thức đầu tư PPP so với hình thức đầu tư công truyền thống là gì và (iii) liệu có lựa chọn được nhà đầu tư có đủ năng lực, kinh nghiệm trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh và minh bạch. Kết quả kiểm toán sẽ được cung cấp kịp thời và hữu ích cho Quốc hội trước khi chấp thuận thông qua dự án để giảm thiểu cũng như tránh việc lựa chọn dự án đề xuất từ các bộ, ngành, bang, địa phương mà gây xung đột và ảnh hưởng tới lợi ích chung của quốc gia cũng như giảm thiểu lãng phí trong hoạt động đầu tư (Bỉ, Ấn Độ, Hungary, Canada). Một số SAI như Ấn Độ, Úc, Anh cho rằng, kiểm toán tại giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư, thương thảo và ký hợp đồng dự án cũng quan trọng không kém giai đoạn trước khi dự án được phê duyệt. Theo quan điểm của các SAI này, hiệu quả dự án PPP đạt được phụ thuộc chính vào việc lựa chọn được nhà thầu có năng lực tốt, phù hợp thông qua hoạt động đấu thầu cạnh tranh và minh bạch. Vì vậy, các SAI thường đánh giá tính hiệu quả của dự án PPP nếu việc lựa chọn nhà đầu tư tuân thủ đúng theo các chính sách, quy định và quy trình lựa chọn nhà đầu tư đạt được các nguyên tắc cạnh tranh, công bằng và minh bạch. Kết quả kiểm toán trong giai đoạn này sẽ có tác động thực chất và khả thi hơn nếu các phát hiện kiểm toán được chỉ ra trước khi các bên thỏa thuận, ký kết hợp đồng dự án PPP. Bởi vì trong nhiều trường hợp, hợp đồng dự án PPP là không thể thay đổi, điều chỉnh trong suốt thời gian thực hiện. Các giai đoạn thực hiện hợp đồng, xây dựng và vận hành dự án cũng được một số SAI lựa chọn kiểm toán hoạt động nhưng với số lượng ít hơn.

     

    Thứ ba, về phương pháp tiếp cận kiểm toán: Do thời gian vận hành dự án PPP thường kéo dài từ 10-20 năm, do đó, các SAI có thể lựa chọn hình thức kiểm toán định kỳ hàng năm hoặc theo từng giai đoạn tùy thuộc vào quy mô, các loại rủi ro phát sinh liên quan đến dự án hoặc theo yêu cầu từ phía công chúng, Quốc hội hoặc từ phía Chính phủ. Có hai cách tiếp cận chính khi tiến hành kiểm toán hoạt động dự án PPP.

     

    Một là, tiếp cận theo quy trình, cuộc kiểm toán hoạt động sẽ được thực hiện trên cơ sở kiểm tra, rà soát việc triển khai và thực hiện dự án của nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án có đúng theo cam kết (công tác quản lý hợp đồng) liên quan đến các

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    khía cạnh chất lượng, tiến độ, chi phí và giá trị đầu tư xây dựng của dự án. Qua kiểm toán, nếu nhận thấy tồn tại, hạn chế trong việc quản lý và thực hiện hợp đồng dự án, kết quả kiểm toán sẽ chỉ ra những yếu kém, những nội dung và vấn đề cần điều chỉnh hoặc có những kiến nghị với các bên trong đối tác để có những thỏa thuận bổ sung phù hợp nhằm đảm bảo tính hiệu lực cũng như duy trì tính bền vững của dự án;

     

    Hai là, cách tiếp cận dựa trên đo lường kết quả đầu ra của dự án. Hiện nay, các SAI thường không trực tiếp hoặc tiến hành việc khảo sát, điều tra các nguồn thông số đầu vào và đầu ra của dự án PPP để so sánh kết quả đạt được của dự án với mục tiêu ban đầu. Bởi vì SAI không đủ nguồn lực, thời gian và kinh phí thực hiện nhiệm vụ này, trách nhiệm này thuộc về các cơ quan chuyên trách có thẩm quyền của Chính phủ. Theo quy định tại một số quốc gia, ví dụ như Anh, Úc, Ấn Độ, các dự án PPP phải được một cơ quan chuyên trách tổ chức theo dõi, đánh giá để chỉ ra những khác biệt, tác động tiêu cực để có ý kiến phản hồi kịp thời và phù hợp. Trong trường hợp này, nhiệm vụ của SAI chỉ tập trung kiểm tra tính tin cậy và hợp lý của các báo cáo đánh giá nhận được từ phía cơ quan chuyên trách. Việc xác nhận báo cáo này hoặc thông qua chọn mẫu để khảo sát, để kiểm chứng kết quả đánh giá của các cơ quan chuyên trách nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước đối với dự án PPP. Khi đó, mục đích mang lại từ cuộc kiểm toán hoạt động thường nghiêng về hướng nâng cao trách nhiệm giải trình nhiều hơn là giúp các bên liên quan dự án cải thiện hiệu quả quản lý, hiệu quả hoạt động của mình.

     

    3. Một số kết quả kiểm toán phổ biến trong kiểm toán hoạt động dự án PPP

     

    3.1. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư trước khi phê duyệt dự án

     

    Qua phân tích một số báo cáo kiểm toán của một số SAI tại một số quốc gia trên thế giới (Ấn Độ, Anh, Bỉ, Đức, Hà Lan, Hungary, Canada) đã chỉ ra một số phát hiện liên quan đến hiệu quả dự án PPP như sau:

     

    Thứ nhất, nhiều dự án PPP không được cơ quan

    nhà nước có thẩm quyền đánh giá hiệu quả về mặt định lượng thông qua việc so sánh lợi ích tăng thêm giữa hai hình thức đầu tư (hình thức PPP và đầu tư công truyền thống) trước khi phê duyệt (Bỉ, Ấn Độ, Hungary, Canada). Nguyên nhân chủ yếu do yêu cầu đảm bảo cân đối ngân sách, vì vậy, hình thức PPP hay tài trợ vốn từ khu vực tư trở thành điều kiện tiên quyết.

     

    Thứ hai, mặc dù tại một số quốc gia luôn có một cơ quan chuyên trách thực hiện đánh giá hiệu quả dự án PPP trên cơ sở một bộ tiêu chí phù hợp đã được phê chuẩn. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán vẫn chỉ ra một số tồn tại, hạn chế tiềm tàng trong việc vận dụng phương pháp đánh giá, công thức tính toán cũng như sử dụng các thông số đầu vào và đầu ra với một số giả định còn tùy ý và thiếu cơ sở khoa học. Ví dụ, tỷ lệ chiết khấu được sử dụng để quy đổi dòng tiền về thời điểm hiện tại (thời điểm so sánh) thường quá cao hoặc quá thấp. Các SAI cũng đã tổng kết rằng, nhà đầu tư thường ưa thích tỷ lệ chiết khấu cao đối với dự án đầu tư theo hình thức PPP nhưng lại lựa chọn tỷ suất chiết khấu thấp đối với hình thức đầu tư công truyền thống và ngược lại. Chẳng hạn, trong Báo cáo kiểm toán việc giám sát dự án hiện đại hóa Trung tâm Chăm sóc sức khỏe của Đại học Montreal gửi tới Quốc hội đã kết luận:

     

    Dự án PPP áp dụng tỷ lệ chiết khấu cao hơn khi xác định dòng tiền thuần bởi vì phương pháp hoàn vốn đầu tư của dự án PPP cho phép phân bổ chi phí trong thời gian dài hơn so với phương pháp truyền thống (Canada, Quebec 2009:16).

     

    Phát hiện này viện dẫn đến tình huống áp dụng tỷ lệ chiết khấu cao hơn mà không có cơ sở hợp lý và đã kiến nghị đơn vị được kiểm toán phải xác định lại tỷ lệ chiết khấu phù hợp (Canada, Quebec 2009:16).

     

    Thứ ba, một số báo cáo kiểm toán cũng chỉ ra việc lập phương án tài chính cũng như đánh giá hiệu quả dự án được thực hiện thiếu thận trọng. Hiệu quả dự án đầu tư bị thổi phồng để dự án PPP được thông qua mà thiếu cân nhắc tất cả các tình huống xấu và rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, trong Báo cáo kiểm toán hoạt động về xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc liên tỉnh, Tòa Thẩm kế Kiểm

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  69

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

     

    toán Hà Lan đã kiến nghị rằng, các Bộ trưởng đã có hành động quá vội vàng khi thu thập dữ liệu và trình bày lợi ích tăng thêm trong Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP khi trình Quốc hội và đã kết luận rằng, kết quả tính toán hiệu quả dự án (lợi ích tăng thêm) mà dự án mang lại trong báo cáo không chính xác, phải điều chỉnh lại (Netherland 2002).

     

    Thứ tư, việc đo lường giá trị tăng thêm thông qua so sánh giữa hai hình thức đầu tư có xu hướng bị thao túng và lạm dụng (UK 2009:20). Lỗi tính toán, thông số đầu vào không chính xác, thổi phồng hiệu quả đầu tư cũng như tô vẽ dự án theo cách thái quá (Ireland 2004:11-12). Nhiều SAI đã phát hiện, tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư của dự án thường được thổi phồng cao hơn thực tế (Canada, Ontario 2008:104-5). Ngoài ra, kết quả tính toán hiệu quả dự án đầu tư cho từng phương án đầu tư được thể hiện trong các báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án thường nhấn mạnh ưu điểm của một phương án cụ thể nào đó hơn nhiều so với các phương án khác mà thiếu cơ sở vững chắc (Belgium 2009, 34; Germany 2009, 41).

     

    Thứ năm, kết quả kiểm toán dự án PPP cũng đã chỉ ra được các nguyên nhân tồn tại và qua đó đã

     

     

    đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện đối với các đơn vị được kiểm toán:

     

    • Thiếu khung chính sách, quy định hoặc các tiêu chuẩn áp dụng đối với các thông số đầu vào của dự án trong từng lĩnh vực cụ thể. Văn phòng trách nhiệm giải trình Mỹ (GAO) đã từng lưu ý rằng “tỷ lệ chiết khấu được áp dụng trong báo cáo dự án để tính toán giá trị hiện tại thuần đối với thu nhập trong tương lai có thể được lựa chọn tùy ý bởi một cơ quan nhà nước đại diện” (USA 2008: 52);
    • Việc kiểm tra giá trị tăng thêm của dự án PPP so với hình thức đầu tư công truyền thống thường phải dựa trên một mô hình kinh tế. Tuy nhiên, các mô hình kinh tế khó có thể bao quát hết được ảnh hưởng từ các yếu tố định tính hoặc kế hoạch chiến lược. Tổng Kiểm toán Quebec (Canada) đã khẳng định rằng “các yếu tố khác, khó hoặc không thể định lượng được dựa trên phương diện tài chính. Chúng có thể có tác động đến giá trị của các lựa chọn và những ưu điểm và hạn chế này cần phải được rà soát” (Canada, Quebec 2009, 17);
    • Việc kiểm tra giá trị tăng thêm không phải là yếu tố đảm bảo duy nhất khi quyết định liệu rằng có nên áp dụng hình thức PPP hay không. Ngay
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    cả Văn phòng Kiểm toán Nhà nước Anh (NAO) cũng đã thừa nhận rằng: “Giống như bất kỳ mô hình (phương án) tài chính nào, chúng không thể dựa vào duy nhất một nguồn thông tin, số liệu đảm bảo. Các kế hoạch chiến lược có thể có ảnh hưởng lớn hơn so với việc xem xét phương án chi phí – hiệu quả thuần túy về mặt tài chính, nhưng sẽ không thuyết phục nếu chúng được lập sau khi hợp đồng được ký. Khi đánh giá năng lực tài chính của các nhà thầu tham gia dự án PPP, chúng ta kỳ vọng, cơ quan đại diện nhà nước ký hợp đồng phải xem xét hết sức thận trọng điểm mạnh và điểm yếu từ việc sử dụng nguồn vốn tài trợ từ khu vực tư chẳng hạn thỏa thuận cần phải quy định ngày cụ thể…” (UK 2009; 21).

    3.2. Trong giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư, thương thảo và ký kết hợp đồng

     

    Một số SAI đã từng thực hiện nhiều cuộc kiểm toán liên quan đến quy trình lựa chọn nhà đầu tư dự án PPP. NAO Anh đã từng báo cáo rằng “thủ tục lựa chọn nhà đầu tư hữu hiệu là một yếu tố sống còn, bởi vì các điều khoản hợp đồng thường được áp dụng đến cuối vòng đời dự án” (UK 2009, 52-3). Cơ quan này cho rằng, nguy cơ lớn nhất về tài chính nảy sinh trong giai đoạn cuối cùng là thương thảo hợp đồng và thỏa thuận về giá trị hợp đồng (UK 2009, 52-3). Mặc dù một số báo cáo kiểm toán kết luận rằng quá trình đấu thầu là công bằng và minh bạch (Belgium 2009, 14, 63–4; Canada, Alberta 2010: 13) nhưng vẫn còn những hạn chế, chẳng hạn, báo cáo không đầy đủ về tình hình thị trường (Belgium 2009: 13, 47) hoặc không đủ số lượng nhà đầu tư tham gia đấu thầu nhằm đảm bảo mức độ cạnh tranh để thực hiện hợp đồng (NetherLands 1993).

     

    3.3. Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư (Quản lý hợp đồng)

     

    Để đánh giá tính hiệu lực của dự án PPP, các SAI thường tập trung kiểm tra việc quản lý hợp đồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư. Theo Tổng Kiểm toán của New South Wales, Australia, có nhiều bằng chứng tăng lên chứng tỏ rằng, để tối đa hóa tính hiệu lực, các dự án PPP cần được quản lý tốt trong từng giai đoạn thực hiện dự

    án. Tuy nhiên, Báo cáo kiểm toán của NAO Anh cho rằng, quản lý hợp đồng tốt không phải là vấn đề ưu tiên hàng đầu (UK 2009: 9, 59). Bởi vì, quản lý hợp đồng tốt còn phụ thuộc vào các thỏa thuận giữa các bên đối tác tham gia dự án cũng như các yếu tố kỹ thuật, quy định pháp lý, thương mại nhằm đảm bảo các điều khoản thỏa thuận được ký kết là đúng (UK 2009: 9, 59). Tuy nhiên, hầu hết các SAI cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đều thừa nhận rằng quản lý hợp đồng là một vấn đề hệ trọng, cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, nhiều dự án trong thực tiễn đã buộc phải trì hoãn hoặc hủy bỏ khi không đáp ứng đúng các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan (India 2008a: 39; UK 2009: 10).

     

    Kết quả kiểm toán chính liên quan đến việc quản lý hợp đồng được chỉ ra trong một số báo cáo kiểm toán của một số SAI tập trung vào các nội dung sau:

     

    • Một số hợp đồng PPP không quy định việc theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện dự án cũng như trách nhiệm các bên liên quan. Một số khác có quy định nhưng sơ sài và không phù hợp, thậm chí khi hợp đồng đã có điều khoản quy định việc theo dõi, giám sát kết quả nhưng chúng được thiết kế không phù hợp (Hungary 2007: 2) hoặc chúng không hoạt động hữu hiệu trên thực tế (Ireland 2006: 95). Hậu quả là cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có đủ thông tin, cơ sở để đánh giá, xử lý việc không tuân thủ hợp đồng (Canada, Quebec 2010: 38).
    • Các điều khoản hợp đồng, quy trình, thủ tục quản lý nhằm đảm bảo việc chi trả dịch vụ là cần thiết, đúng đối tượng nhằm bảo vệ lợi ích của công chúng thường không đầy đủ, thiếu cơ sở. Vì vậy, báo cáo kiểm toán không thể đưa ra được ý kiến, kết luận liệu rằng việc tính toán hỗ trợ các khoản thanh toán có chính xác hoặc liệu rằng việc chi trả dịch vụ có đúng đối tượng (Canada, Nova Scotia 2010: 27).
    • Một phát hiện thú vị khác liên quan đến chủ đề này đó là việc Chính phủ có thể làm xói mòn sự thành công trong quản lý dự án từ việc họ tham gia quá sâu vào dự án. Ví dụ Văn phòng Kiểm toán

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  71

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

    Hungary đã phát hiện ra rằng, cơ quan địa phương đã tham gia quá sâu vào việc quản lý dự án dẫn tới khó khăn trong việc yêu cầu các đơn vị trong khu vực tư giải trình việc không tuân thủ luật và các quy định (Hungary 2009: 1–2).

     

    • Cơ chế đánh giá kết quả thực hiện thường phác thảo dịch vụ cung cấp và các biện pháp chế tài xử phạt vi phạm. Tuy nhiên, một số cơ quan kiểm toán đã nhận thấy rằng các cơ quan nhà nước đã thất bại trong việc xử phạt vi phạm theo quy định hoặc thỏa thuận trong hợp đồng (India 2008: 30; UK 2009: 28). Một trong những lý do giải thích ít có trường hợp phạt vi phạm là do nhà đầu tư không phải luôn bắt buộc tuân thủ hợp đồng. Thỉnh thoảng các khoản xử phạt được bù trừ với các dịch vụ khác hoặc công việc khác hoặc đối tác công lo ngại việc xử phạt sẽ kìm hãm hoặc làm rạn nứt mối quan hệ với các nhà thầu và dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả. NAO Anh không tin rằng các cơ quan nhà nước chỉ từ bỏ việc xử phạt khi kết quả đạt được sẽ mang lại lợi ích cao hơn xử phạt, sau khi xem xét thận trọng các nguyên tắc đạo đức… Lý do căn bản giải thích tại sao hiếm khi đối tác tư bị xử phạt là do các giám đốc dự án thường báo cáo đạt được kết quả (UK 2009: 56).
    • Một số SAI đã phát hiện việc thay đổi, điều chỉnh lại dự án khi hợp đồng đã được ký kết nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Trong nhiều trường hợp, có thể phát sinh thêm các chi phí do thay đổi, điều chỉnh dự án và phần lớn ảnh hưởng đến mục tiêu đạt được hiệu quả đầu tư. Điều này có thể là do hạn chế trong công tác lập kế hoạch. Trong các báo cáo của Văn phòng Tổng Kiểm toán Ontario của Canada “một phần chi phí phát sinh từ việc cài đặt thiết bị có thể tránh được nếu lập kế hoạc tốt hơn” (Canada, Ontario 2008: 105). Nhưng cùng lúc đó, việc vòng đời của dự án kéo dài dẫn đến việc thay đổi thường không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, rõ ràng từ báo cáo kiểm toán, Chính phủ không phải lúc nào cũng đạt được hiệu quả vốn đầu tư từ những thay đổi này. Ví dụ, khi Chính phủ quyết định sai không theo dõi các thủ tục lựa chọn thầu trong trường hợp có thay đổi lớn. Trong nhiều trường hợp đối tác tư bổ sung thêm phí quản lý là những khoản chi phí không cần thiết phải điều

    chỉnh (UK 2009: 56). Cuối cùng, rủi ro thường xuất hiện liên quan đến việc xác định và tính toán chính xác các khoản chi phí phát sinh.

     

    3.4. Phân bổ và quản lý rủi ro

     

    Về mặt kỹ thuật, việc phân bổ và đánh giá rủi ro gắn liền với các dự án PPP là vấn đề sống còn quyết định sự thành công (tính hiệu lực) cũng như giá trị tăng thêm (tính hiệu quả) của dự án PPP. Một số báo cáo kiểm toán dự án PPP đặt trọng tâm vào khía cạnh này. Một trong số ít Văn phòng Kiểm toán đưa ra quan điểm tích cực. Đó là Văn phòng Tổng Kiểm toán Alberta (Canada, Alberta 2010: 20).

     

    Các hệ thống, cơ chế đã chứng tỏ rằng rủi ro được chuyển giao hoặc được gắn với các bên theo cách quản lý hữu hiệu nhất về mặt chi phí và lợi ích. Rủi ro được phân bổ phù hợp giữa các bên (đơn vị công và các nhà thầu) (Canada, Alberta 2010)

     

    Hầu hết các báo cáo kiểm toán còn lại đều có ý kiến phê phán cách thức phân bổ và đánh giá rủi ro, cụ thể:

     

    • Các loại rủi ro không được định nghĩa rõ ràng: Tòa Thẩm kế Bỉ đã kết luận rằng, Chính phủ đã không thực hiện việc phân tích đầy đủ rủi ro liên quan đến hầu hết các dự án PPP. Với kết quả như vậy, Tòa Thẩm kế Bỉ tin rằng cơ quan nhà nước cũng sẽ không thiết lập được các thỏa thuận phù hợp trong hợp đồng nhất là khi xác định phương án tài chính (Belgium 2009: 13). Tổng Kiểm toán Quebec cũng đưa ra một kết luận tương tự (Canada, Quebec 2010: 4). Trong hai báo cáo thu phí đường hầm đầu năm 1990, Tòa Thẩm kế Kiểm toán Hà Lan đã kết luận rằng chỉ một số ít rủi ro liên quan được chuyển giao cho phía khu vực tư. Nhà nước vẫn phải gánh trách nhiệm đối với phần lớn rủi ro liên quan đến lưu lượng giao thông thấp hơn so với dự báo (The Netherlands 1990: 1993).
    • Rủi ro phụ thuộc vào các bên liên quan khác: Trong một báo cáo kiểm toán dự án đường sắt cao tốc, Tòa Thẩm kế Kiểm toán Hà Lan đã phát hiện ra rằng, mặc dù theo quy định Chính phủ chỉ chịu trách nhiệm đối với hai loại rủi ro chính (rủi ro khi lưu lượng giao thông thấp hơn kế hoạch và rủi ro khi thay đổi chế độ, chính sách), trong một chừng
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    mực nào đó, Chính phủ vẫn phải chi trả ngân sách cho một số khoản mục chi phí khi các bên trong khu vực tư không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình. Điều này bởi vì nhà đầu tư cũng phụ thuộc vào các nhà thầu khác (The Netherlands 2002: 71).

     

    • Rủi ro của các nhà thầu phụ chuyển giao cho Chính phủ: Trong một số trường hợp, các nhà thầu phụ lại chuyển giao rủi ro cho Chính phủ và thậm chí Chính phủ tiếp tục phải chi trả ngân sách cho các nghĩa vụ này của các nhà thầu phụ trong dự án. Điều này được chỉ ra trong cuộc kiểm toán việc thực hiện hợp đồng dịch vụ trường học của Tổng Kiểm toán Nova Scotia Canada (Canada, Nova Scotia 2010: 27).
    • Không thuận lợi khi so sánh với hợp đồng đầu tư công thuần túy: Tòa Thẩm kế Kiểm toán Bavaria của Đức đã phân tích cách thức rủi ro đã từng được đánh giá và quản lý trong dự án xây dựng đường cao tốc theo hình thức PPP. Đó là việc xác định và phân bổ rủi ro trên cơ sở định hướng các tình huống có thể xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, kết luận kiểm toán đã chỉ ra rằng, cách thức đánh giá và quản lý rủi ro không đề cập đến bất kỳ ưu điểm nào so với hợp đồng đầu tư công thuần túy mà còn phát sinh thêm các chi phí mới cho việc quản lý (Germany, Bavaria 2006: 7, 53, 61).

    4. Bài học kinh nghiệm khi thực hiện kiểm toán hoạt động dự án PPP ở Việt Nam

     

    Khác với hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới, nhà đầu tư được lựa chọn đều thông qua quy trình đấu thầu cạnh tranh, minh bạch. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà đầu tư được lựa chọn qua chỉ định thầu, vì vậy, kiểm toán dự án PPP thường đặt trọng tâm vào việc tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan đến việc xác định tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư, chi phí đầu tư, quyết toán vốn đầu tư, quyết toán chi phí đầu tư dự án, quyết toán chi phí khai thác, vận hành dự án, đơn giá thu phí… Tuy nhiên, khi nhà đầu tư được lựa chọn thông qua đấu thầu cạnh tranh, minh bạch thì việc xác nhận số liệu tổng vốn đầu tư, quyết toán vốn đầu tư, quyết toán dự án hoàn thành không còn nhiều ý nghĩa. Do đó, trọng tâm kiểm toán sẽ là việc đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực và tính bền vững của dự án trên

    cơ sở các nguyên tắc được tổng kết từ kinh nghiệm kiểm toán tại một số quốc gia trên thế giới như sau:

     

    • Có tương quan thuận giữa mức rủi ro được chuyển giao trong hợp đồng cho nhà đầu tư với tỷ lệ chiết khấu được áp dụng tại một số dự án được kiểm toán. Nghĩa là nếu nhà đầu tư cho rằng rủi ro đầu tư dự án cao, họ thường xây dựng phương án tài chính với một tỷ lệ chiết khấu cao hơn so với thực tế và kết quả là giá trị tăng thêm được xác định khi đầu tư dự án PPP cao hơn. Tòa Thẩm kế Kiểm toán Úc đã phát hiện trong Báo cáo đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án là giá trị rủi ro được chuyển giao cao hơn một quốc gia khác nhưng không được giải thích rõ ràng và có cơ sở hợp lý và kết quả là đưa ra lợi ích tăng thêm cao hơn so với thực tế (Austria 2010:33-7).
    • Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng phân tích hiệu quả vốn đầu tư (VFM) thường được áp dụng cao hơn đối với dự án PPP và thấp hơn đối với dự án đầu tư công thuần túy;
    • Các nhà đầu tư khi lập dự án thường có xu hướng thổi phồng tính hiệu quả của dự án về mặt kinh tế, xã hội mà thiếu căn cứ khoa học cũng như thực tế để dự án được thông qua với một mức chi phí đầu tư có thể cao hơn thực tế.
    • Quản lý dự án PPP nhất là quản lý hợp đồng là một công việc phức tạp, để dự án PPP đạt được hiệu lực trên thực tế, đòi hỏi phải có cơ chế theo dõi, giám sát kết quả đầy đủ và phải được quy định chi tiết và phù hợp trong hợp đồng. Để việc quản lý hợp đồng được thực hiện tốt, việc theo dõi phải được thực hiện thường xuyên và liên tục và được thực hiện bởi đội ngũ có đủ năng lực. Việc thay đổi, điều chỉnh dự án ảnh hưởng đến việc đạt được hiệu quả vốn đầu tư, vì vậy, cần thiết phải xác định rõ các điều kiện thay đổi và trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện cam kết theo hợp đồng. Báo cáo theo dõi, giám sát kết quả và đánh giá việc quản lý dự án PPP được thực hiện đầy đủ bởi khu vực công đối với các thông tin thích hợp là vấn đề cốt yếu đối với thành công của dự án PPP.
    • Cách thức trong một dự án PPP được tài trợ vốn, việc tính toán tổng vốn đầu tư, chi phí đầu tư,

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  73

     

    KINH NGHIEÄM NÖÔÙC NGOAØI

     

    rủi ro liên quan và việc phân bổ rủi ro giữa các bên thường là các nội dung trọng tâm đối với loại hình kiểm toán truyền thống như kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính. Trong một cuộc kiểm toán hoạt động, mặc dù ít đặt trọng tâm vào việc kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán chi tiết các chi phí đầu tư của dự án nhưng theo khuyến cáo của INTOSAI, để đánh giá được tính hiệu lực thông qua phân tích chi phí – lợi ích đạt được của dự án thì việc xác nhận tổng vốn đầu tư và chi phí đầu tư của dự án theo thực tế có thể cần thiết nếu kiểm toán viên nhận thấy rủi ro do sai sót của các khoản mục này là trọng yếu và có thể ảnh hưởng làm thay đổi kết quả phân tích.

     

    • Hầu hết các dự án PPP được chọn kiểm toán đều còn một số tồn tại liên quan đến việc xác định chi phí, Chính phủ vẫn phải gánh chịu rủi ro cao hơn và phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với những trường hợp dự án bị tạm dừng hoặc hủy bỏ từ phía khu vực tư.
    • Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của dự án đã được chỉ ra trong các báo cáo kiểm toán gồm (1) tính bất định của ngân sách trong dài hạn;
    • chi phí đảo nợ cao; (3) ảnh hưởng từ các khoản nợ xấu và (4) giá trị và quyền sở hữu tài sản nhận bàn giao lại từ phía nhà đầu tư.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. CAGI (2009), Public Private Parterships
      • in Infrastructure Projects, Public Auditing Guidelines, CAGI, 2009;

     

    1. Canada, Alberta (2010), Auditor General Alberta, Report of the Auditor General of Alberta, pp. 13 – 30, Alberta Schools Alternative Procurement, April 2010;
    2. Canada, Nova Scotia (2010), Office of the Auditor General, Report of the Auditor General, pp. 27 – 49. Chapter 3, Education: Contract Management of Public–Private Partnership Schools. February 2010;

     

    1. Canada, Ontario (2008), Office of the Auditor General of Ontario; 2008 Annual Report, pp.102–24. Chapter 3, Section 3.03. Brampton Civic Hospital Public- private Partnership Project, Fall 2008;

     

    1. Canada, Quebec (2009), Auditor General of Quebec, Report of the Auditor General of Quebec to the National Assembly for 2009–2010. Volume II. Highlights, pp. 15 – 18.
    1. Hungary (2007), Summary of the audit of the building and financial operation of the Palace of Arts, Report no. 0660, January 2007;

     

    1. Hungary (2009), Summary of the Audit on the Implementation of PPP Development Projects of Local Governments Supported in the Framework of the Sport XXI Facility Development Programme and on the Projects’ Impact on the Services Provided by Local Governments, Report no. 0919, July 2009;

     

    1. India (2008), Comptroller and Auditor General of India, Public Private Partnership in implementation of Road Project by National Highways Authority of India (PSU), Performance Audit – Report 16 of 2008;
    2. INTOSAI (2004), standard and guidelines for performance auditing base on INTOSAI’s Auditing standards and practical experience, INTOSAI 2004.

     

    1. Ireland (2004), Comptroller and Auditor General, Report on Value for Money Examination Department of Education and Science, The Grouped Schools Pilot Partnership Project , June 2004;
    2. Ireland (2006), Comptroller and Auditor General, Annual Report 2006. Presented pursuant to Section 3(11) of the Comptroller and Auditor, General (Amendment) Act, 1993

    – Dublin, The Public Private Partnership Pilot Schools Project – Follow Up, pp. 94 – 102;

     

    1. New South Wales Auditor-General (NSWAG) (2006a), Auditor-General’s Report: Performance Audit: The New Schools Privately Financed Project (March, Sydney, Australia: New South Wales Government)… Watch over the projects to modernize Montréal’s University Health Centers, November 2009 .

     

    1. TheNetherlands(1993),AlgemeneRekenkamer, Private Financiering Wijkertunnel, Tweede Kamer, vergaderjaar 1992–1993, 23205, nr. 1;

     

    1. United Kingdom (2009), National Audit Office, Private Finance Project, A paper for the Lords’ Economic Affairs Committee, October 2009;

     

    1. United Kingdom (2009), National Audit Office, Private Finance Project, A paper for the Lords’ Economic Affairs Committee, October 2009’.

     

    1. United States of America (2008), United States Government Accountability Office, Report to Congressional Requesters. Highway Public – Private Partnerships; More Rigorous Up-front Analysis Could Better Secure Potential Benefits and Protect the PublicInterest,GAO-08-44,February,2008.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-v%C3%A0-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-v%E1%BB%9Bi-hi%E1%BB%87u-su%E1%BA%A5t-b%E1%BB%87nh-vi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-v%C3%B9ng-T%C3%A2y-B%E1%BA%AFc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    Chiến lược và tài chính với hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc

    ThS. Vũ Thị Sen*

     

    Bài viết nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh tài chính của thẻ điểm cân bằng (BSC) đến hiệu suất của các bệnh viện công vùng Tây Bắc. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh tài chính có mối tương quan khá chặt chẽ và tác động tích cực đến hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng Tây Bắc. Kết quả này

     

    là cơ sở khoa học để các nhà quản lý bệnh viện tập trung giải pháp nào về kế hoạch chiến lược và tài chính nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công vùng Tây Bắc.

     

    Từ khóa: Kế hoạch chiến lược, Tài chính, Thẻ điểm cân bằng (BSC), Hiệu suất, Bệnh viện công. The impacts between strategic and financial plans with the northern hospitals’ performance

     

    The paper examines the relationship between the strategic plan and the financial aspect of the balanced scorecard (BSC) on the performance of public hospitals in the North West of Vietnam. The results show that the strategic planning and the financial aspect have a relatively close relationship and have a positive impact on the performance of public hospitals in the northwest region. This result is the scientific basis for hospital managers to focus on what strategies and financial plans to improve and enhance the performance of public hospitals in the area.

     

    Key words: Strategic Planning, Finance, Balanced Scorecard (BSC), Performance, Public Hospitals.

     

     

    1. Giới thiệu

     

    Vùng Tây Bắc là vùng có điều kiện kinh tế xã hội chậm phát triển nhất cả nước. Về kinh tế, đây là vùng có số hộ nghèo cao gấp 2.7 lần so với trung bình cả nước, về điều kiện tự nhiên là vùng núi có địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu. Về mặt xã hội, đây là vùng có nhiều dân tộc sinh sống nhất trong cả nước với hơn 20 dân tộc khác nhau; trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, sự phát triển của giáo dục, y tế so với cả nước còn ở mức thấp.

     

    Theo Báo cáo Tổng kết ngành Y tế giai đoạn 2011-2015 của vùng Tây Bắc cho thấy: Ngành Y tế trong vùng đã có những cải thiện đáng kể so với

    giai đoạn trước, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, kéo dài tuổi thọ, ngăn chặn dịch bệnh… Tuy nhiên, những hạn chế chủ yếu của các bệnh viện công trong vùng là chất lượng dịch vụ y tế cung cấp chưa đáp ứng mong đợi của người dân, hạn chế cả về số lượng và chất lượng nhân lực y tế, đặc biệt là cơ sở vật chất còn yếu và thiếu đội ngũ bác sĩ có tay nghề cao và chuyên sâu, mức độ tự chủ và hiệu quả tài chính còn ở mức rất thấp…

     

    Với quan điểm của Ngành Y tế trong chiến lược phát triển ngành và chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã đề ra “chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhằm đem lại phúc lợi cho

     

    *Khoa Kinh tế – Trường Đại học Tây Bắc

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    người dân” và làm thế nào khắc phục được những hạn chế cơ bản trên đây của các bệnh viện vùng Tây Bắc, hướng tới đạt mục tiêu chung của Ngành y tế Việt Nam là bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân theo Chiến lược của ngành giai đoạn 2011 – 2020 thì cần thiết những nghiên cứu đưa ra cơ sở khoa học giúp nhà quản lý đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế, đạt được mục tiêu của ngành đề ra.

     

    Cùng với kết quả phỏng vấn trực tiếp một số lãnh đạo bệnh viện trong vùng cho thấy khâu lập kế hoạch chiến lược tại các bệnh viện trong vùng còn yếu, chưa có chiến lược dài hạn mà mới chỉ có kế hoạch thực hiện ngắn hạn hàng năm. Vậy, vấn đề này có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất của các bệnh viện trong vùng hay không?

     

    Trong những vấn đề đặt ra trên đây, tác giả tập trung nghiên cứu chỉ ra sự tác động về kế hoạch chiến lược và tài chính đến hiệu suất bệnh viện công vùng Tây Bắc như thế nào để có cơ sở khoa học đối với các nhà quản lý bệnh viện trong nỗ lực cải thiện hiệu suất, nâng cao hiệu quả hoạt động chung của các bệnh viện trong vùng.

     

    2. Tổng quan nghiên cứu

     

    Lockett (1992) cho rằng: Hiệu suất là một cấu trúc đa chiều gồm các yếu tố phổ biến mà thường xuyên kết hợp với hiệu năng tổ chức, đáp ứng chất lượng, chi phí và hiệu quả tổng thể trong tổ chức.

     

    Hiệu suất trong bệnh viện là mức độ mà dịch vụ bệnh viện cung cấp góp phần vào việc cải thiện sức khỏe của bệnh nhân, nó phù hợp với mong đợi của bệnh nhân và đảm bảo công bằng trong việc cung cấp chăm sóc y tế, không phụ thuộc vào cách thức thanh toán và những đóng góp của xã hội (Theo Tổ chức Y tế Thế giới).

     

    Kế hoạch chiến lược là một quá trình quản lý tìm cách sắp xếp hành vi tổ chức với mong muốn của tổ chức và là công cụ quản lý chiến lược nhằm cung cấp hệ thống quy trình và tạo sự gắn kết với các hoạt động của tổ chức đã xác định trong tương lai (Poister & Streib, 2005). Lập kế hoạch chiến lược là một công cụ của quản lý chiến lược và thẻ điểm cân bằng (BSC) là công cụ để dịch chuyển kế hoạch

    chiến lược của tổ chức thành hành động bằng các giải pháp cụ thể. BSC là công cụ được phát triển bởi Kaplan và Norton (1992) như là phương tiện đánh giá hoạt động của tổ chức ngoài dựa trên biện pháp truyền thống là tài chính còn có các biện pháp phi tài chính.

     

    Theo Kaplan và Norton (2001) và Niven (2003, 2008), các khía cạnh của BSC trong tổ chức phi lợi nhuận gồm: Sứ mệnh; Khách hàng; Quy trình nội bộ; Đào tạo và phát triển nhân viên; Tài chính.

     

    Về khía cạnh Tài chính trong mô hình BSC: Kaplan và Norton (2001) xác định khía cạnh Tài chính như kết quả của hành vi tổ chức được thể hiện theo các chỉ tiêu tăng trưởng ngân sách mang tính bền vững. Trong tổ chức phi lợi nhuận khía cạnh Tài chính sẽ kiểm tra tính hiệu quả của sử dụng chi phí một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo lợi ích đối với khách hàng. Niven (2008) cũng cho rằng khía cạnh Tài chính trong tổ chức phi lợi nhuận là không thể thiếu vì thông qua khía cạnh này sẽ thu thập thông tin về việc sử dụng nguồn lực hạn chế và các nguồn tiền từ ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Tương tự như đơn vị phi lợi nhuận, thước đo tài chính trong các bệnh viện không tập trung đo lường về vấn đề lợi nhuận mà cần đo lường xem trong giới hạn nguồn lực tài chính của bệnh viện có đạt được mục tiêu hoạt động của bệnh viện đề ra hay không.

     

    Đã có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu để chứng minh mối quan hệ tích cực giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận. Trong nghiên cứu của Al.Shammari và Husein (2007) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng khảo sát đo lường chứng minh mối quan hệ giữa kế hoạch chiến lược với hiệu suất của tổ chức. Giffords và Dina (2004) cũng khẳng định mối liên hệ trên thông qua một nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu trường hợp. Các nghiên cứu của Cothran và Clouser (2006), Bush (1996) cũng chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của tổ chức. Linda W. Smith (2008), bằng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu các trường

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  53

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    hợp trong các tổ chức phi lợi nhuận cũng chỉ ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa kế hoạch chiến lược với hiệu suất của các tổ chức thông qua việc vận dụng mô hình khái niệm về BSC.

     

    Các nghiên cứu của Blackmon (2008) và Franklin (2011) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng theo thiết kế nghiên cứu hồi cứu cắt ngang bằng bảng hỏi khảo sát để kiểm tra mối liên hệ giữa kế hoạch chiến lược và hiệu suất của tổ chức thông qua các khía cạnh của BSC và kết quả nghiên cứu đã khẳng định giữa kế hoạch chiến lược, thành tựu sứ mệnh, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển nhân viên và tài chính là có ảnh hưởng đến hiệu suất đối với các tổ chức phi lợi nhuận.

     

    Nashwa Ghoneim và Laila El Baradei (2013), đã nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận của Ai Cập, kết quả nghiên cứu cho thấy có các nhân tố sau: kế hoạch chiến lược, sứ mệnh, quy trình nội bộ, khách hàng là tác động tới hiệu suất của tổ chức phi lợi nhuận. Còn các nhân tố đào tạo và phát triển nhân viên, tình nguyện viên không có ý nghĩa thống kê trong tác động ảnh hưởng đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận của Ai Cập.

     

    Weerasooriya và Ali Khatibi (2015), dựa trên BSC để nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu suất của các tổ chức giáo dục và phi Chính phủ tại Srilanka, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố sau có ý nghĩa thống kê tác động đến hiệu suất của các tổ chức phi lợi nhuận là: Kế hoạch chiến lược, Quy trình nội bộ, Khách hàng, Đào tạo và phát triển nhân viên. Hai nhân tố chưa có ý nghĩa thống kê tác động đến hiệu suất là Tài chính và nhân tố Tình nguyện viên.

     

    Kế thừa kết quả của các nghiên cứu trên đây, tác giả lựa chọn nghiên cứu về mối quan hệ tác động giữa kế hoạch chiến lược và khía cạnh Tài chính của BSC với hiệu suất của các bệnh viện công vùng Tây Bắc để thấy được mối tương quan và mức độ tác động giữa chúng trong nghiên cứu này.

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    3.1. Phương pháp thu thập số liệu

     

    Số liệu được thu thập từ các nhà quản lý cấp

    trưởng, phó phòng, trưởng, phó khoa và ban giám đốc 43 bệnh viện trên địa bàn 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu của vùng Tây Bắc bằng phương pháp bảng hỏi. Nghiên cứu sử dụng dạng câu trả lời “Có”, “Không” cho những câu hỏi về Kế hoạch chiến lược, sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 1 là rất không đồng ý, 2 là không đồng ý, 3 là trung lập, 4 là đồng ý và 5 là rất đồng ý để đo lường về các khía cạnh của BSC, trong đó có khía cạnh Tài chính. Để đo lường về Hiệu suất nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm: 1 là thay đổi rất bất lợi, 2 là thay đổi bất lợi, 3 là trung lập, 4 là thay đổi thuận lợi và 5 là thay đổi rất thuận lợi. Số lượng phiếu bảng hỏi hợp lệ sử dụng trong nghiên cứu là 428 phiếu. Thời gian thu thập bảng hỏi từ tháng 3/2017 – tháng 7/2017.

     

    3.2. Thang đo

     

    Về Kế hoạch chiến lược: Trong bảng hỏi gồm 7 biến quan sát (các thang đo này đã được Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Lee (2006)).

     

    Về Tài chính: Gồm 12 biến quan sát trong bảng hỏi, trong đó 1 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Perters và các cộng sự (2007), 2 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Walker, Kenton B và Dunn Laura M (2006), 4 biến quan sát được phát triển từ nghiên cứu định tính, 5 biến quan sát dựa trên nghiên cứu của Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Urrutia and Eriksen (2005), Yang và cộng sự (2005). Biến phụ thuộc Hiệu suất trong bảng hỏi khảo sát: Gồm 14 biến quan sát, trong đó có 13 biến dựa trên nghiên cứu của Blackmon (2008) tổng hợp từ nghiên cứu của Urrutia and Eriksen (2005), Yang và cộng sự (2005), 1 biến quan sát được phát triển từ kết quả nghiên cứu định tính.

     

    3.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

     

    Bảng hỏi khảo sát sau khi thu thập về được rà soát loại bỏ những bảng hỏi trả lời không hợp lệ, những bảng hỏi hợp lệ được cập nhật, mã hóa trên phần mềm SPSS 22 và được xử lý theo từng bước sau: Trước hết tác giả thực hiện kiểm định sự tin cậy của thang đo. Theo Hair và cộng sự (1998), chấp nhận những biến quan sát có hệ số tin cậy của Cronbach’s Alpha >0.6, đồng thời loại

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    bỏ những biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3. Những biến quan sát đảm bảo độ tin cậy được chuyển sang bước phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để rút ra những biến quan sát có ý nghĩa hội tụ và tách biệt với điều kiện hệ số tải >0.5 và 0.5<KOM<1, với kiểm định Bartlett có Sig<0.05 và Phương sai trích >50%. Dựa trên kết quả phân tích EFA, tác giả phân tích hồi quy giữa các nhân tố Kế hoạch chiến lược và nhân tố Tài chính với biến phụ thuộc Hiệu suất bệnh viện để chỉ ra mối tương quan và mức độ tác động. Đồng thời, căn cứ vào hệ số β có dấu dương thì ảnh hưởng thuận chiều (tác động tích cực) với biến phụ thuộc, β có dấu âm thì ảnh hưởng ngược lại.

     

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    Theo Hair và cộng sự (1998) cho thấy: Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha có độ tin cậy cao của thang đo, các biến quan sát có hệ số đạt từ 0.774 – 0.940. Dựa trên sự tin cậy của các thang đo như trên tác giả tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA để loại bỏ những biến quan sát có hệ số tải <0.5, kết quả thu được 13 nhân tố hội tụ

    và tách biệt với hệ số tải Loading từ 0.558- 0.868, hệ số KMO = 0.876 nên phân tích nhân tố là phù hợp. Với kiểm định Bartlett có Sig<0.000 và Phương sai trích Total Variance Explained là 71%>50%, điều này chứng tỏ 71% sự biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 13 nhân tố hội tụ, trong đó có các nhân tố về khía cạnh Kế hoạch chiến lược và Tài chính cụ thể như sau:

     

    • Về Kế hoạch chiến lược, có 2 nhân tố: Hoạt động lập Kế hoạch chiến lược (KHCL01); Nhân tố Biện pháp Kế hoạch chiến lược (KHCL02).
    • Khía cạnh Tài chính, có 2 nhân tố: Hiệu quả thực hiện các khoản thu, chi tài chính (TC01) gồm 8 biến quan sát; Nhân tố Hiệu quả quản lý tài chính chung bệnh viện (TC02) gồm 3 biến quan sát.

    Kết quả hội tụ của các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính dưới đây có hệ số tải của các biến quan sát đều >0.5, do đó sự hội tụ của các biến đạt

     

    • mức khá tốt trở lên. Độ tin cậy Cronbach’Alpha kiểm định lại sau khi hội tụ của các biến quan sát trong từng nhân tố từ 0.608 -0.899, cho thấy chất lượng của các thang đo đạt yêu cầu. Kết quả cụ thể được thể hiện theo bảng 1 dưới đây:

    Bảng 1: Hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tải của các nhân tố

     

    Tên biến quan sát

    Hệ số tải

    Cronbach’Alpha

     

    KHCL01  KHCL02  TC01  TC02

         

    Xây dựng tuyên bố về Tầm nhìn bệnh viện

    0.829

       

    Đánh giá môi trường hoạt động của bệnh

    0.758

       

    viện

       
     

    0.767

     

    Xây dựng tuyên bố về Sứ mệnh của bệnh

     

    0.724

       

    viện

       
         

    Xây dựng chiến lược bệnh viện

    0.709

       

    Biện pháp huy động nguồn kinh phí

    0.751

    0.608

     

    Biện pháp đối với nhân viên

    0.688

       

    Bệnh viện sử dụng chi phí hành chính hiệu

    0.792

       

    quả

       
         

    Bệnh viện phân bổ chi mua thuốc, vật tư y tế

    0.751

       

    so với tổng chi hợp lý

       
         

    Bệnh viện sử dụng tiết kiệm mọi khoản chi

    0.729

       
           

    Bệnh viện phân bổ mức chi cho lao động so

    0.727

       

    với tổng chi là hợp lý

       
         
           

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  55

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Bệnh viện sử dụng có hiệu quả chi phí

    0.702

     

    trong phạm vi dự toán

       

    Tổng số thu viện phí có xu hướng tăng

    0.666

     

    hàng năm

       

    Tổng thu viện phí/Tổng chi thường

    0.622

     

    xuyên tại bệnh viện có xu hướng tăng lên

       

    Bệnh viện làm việc tốt với các cơ quan

       

    có liên quan trong khả năng kinh phí của

    0.558

     

    mình

       

    Bệnh viện có đủ tiền để cung cấp cho các

    0.781

     

    lĩnh vực hoạt động dịch vụ của bệnh viện

       

    Bệnh viện thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài

    0.781

     

    chính

       

    Bệnh viện phân bổ hợp lý nguồn lực tài

    0.682

     

    chính cho các lĩnh vực

       

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

       

    0.899

     

     

    0.799

     

    Quá trình hội tụ từ 14 biến quan sát đo lường về Hiệu suất đã loại bỏ 1 biến do có hệ số tải thấp và thu được 13 biến quan sát có kết quả hội tụ vào biến phụ thuộc Hiệu suất với hệ số tải của các biến quan sát đều >0.6, do đó sự hội tụ của các biến

    quan sát đạt ở mức tốt. Độ tin cậy Cronbach’Alpha kiểm định lại sau khi hội tụ của các biến quan sát là 0.935 cho thấy chất lượng của các thang đo đạt ở mức rất tốt. Kết quả cụ thể được thể hiện theo bảng 2 dưới đây:

     

    Bảng 2: Hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tải của biến phụ thuộc hiệu suất

     

    Tên biến quan sát

    Hệ số tải

    Cronbach’

     

    Alpha

     
       

    1.Danh tiếng của bệnh viện

    0.801

       

    2.Bệnh nhân tiếp tục lựa chọn bệnh viện để khám và điều trị

    0.797

       

    3.Tỷ lệ hoàn thành khám và điều trị cho bệnh nhân

    0.786

       

    4.Hình ảnh của bệnh viện

    0.782

       

    5.Bệnh viện hiểu những gì là quan trọng đối với bệnh nhân

    0.774

       

    6.Được bệnh nhân giới thiệu về bệnh viện

    0.772

       

    7.Sự tin tưởng của cộng đồng địa phương đối với bệnh viện

    0.770

    0.935

     

    8.Hiểu biết về các biện pháp thực hiện của bệnh viện

    0.754

       

    9.Sự cống hiến của nhân viên đối với bệnh viện

    0.747

       

    10.Số bệnh nhân mới tham gia khám và điều trị

    0.730

       

    11.Những người tham gia vào chương trình (hoạt động) của bệnh viện

    0.729

       

    12.Được các tổ chức khác giới thiệu về bệnh viện

    0.683

       

    13.Quy trình làm việc của bệnh viện

    0.629

       

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

     

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Dựa trên kết quả phân tích EFA trên đây, tác giả hồi quy giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược

    và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện cho kết quả như sau:

     

    Bảng 3: Bảng tổng hợp mô hình

     

    Model Summaryb

     

    Model

    R

    R Square

    Adjusted R Square

    Std. Error of the Estimate

     

    Durbin-Watson

     
     

    1

    .585a

    .342

       

    .336

     

    .348

         

    1.809

     
     

    a. Biến độc lập: KHCL01, KHCL02, TC01, TC02

                 
     

    b. Biến phụ thuộc: Hiệu suất

                     
     

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

                       
     

    Bảng 3, Kết quả chạy mô hình hồi quy có R2 =

    có mức tương quan là 58.5%>50% và <70%, do đó

     

    0.342, tương đương với 34.2% sự thay đổi của biến

    mức tương quan này đạt ở mức khá chặt chẽ.

     

    phụ thuộc Hiệu suất được giải thích bởi bốn biến

    Hệ số Durbin-Watson = 1.809<3, cho thấy mô

     

    độc lập về Kế hoạch chiến lược và Tài chính trên.

    hình không có tự tương quan, do đó đánh giá chất

     

    Ngoài ra, hệ số R = 0.585, tức là giữa Kế hoạch

    chiến lược và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện

    lượng hồi quy tốt.

             
     

    Bảng 4: Hệ số phương sai

                       
               

    ANOVAa

               
     

    Model

     

    Sum of Squares

    df

    Mean Square

    F

       

    Sig.

     
     

    Regression

    25.207

     

    4

     

    6.302

    52.048

     

    .000b

     

    1

    Residual

    48.432

     

    400

     

    .121

             
     

    Total

     

    73.639

     

    404

                 
     

    a. Dependent Variable: Hiệu suất

                   
     

    b. Predictors: (Constant), KHCL01, KHCL02, TC01, TC02

               
     

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

                       
     

    Bảng 4, có F= 52.048, Sig = 0.000<0.05, do đó

    tính giữa biến phụ thuộc Hiệu suất với các các

     

    bác bỏ giả thiết: Toàn bộ hệ số hồi quy bằng 0,

    biến độc lập về Kế hoạch chiến lược và Tài chính

     

    chấp nhận giả thuyết: Tồn tại mối quan hệ tuyến

    trên đây.

             
     

    Bảng 5: Kết quả hồi quy

                       
               

    Coefficientsa

               
         

    Hệ số chưa chuẩn

    Hệ số chuẩn hóa

     

    Mức ý

     

    Thống kê cộng

     
         

    hóa (Unstandardized

    (Standardized

    Giá trị

    tuyến (Collinearity

     
     

    Model

     

    nghĩa

       

    Coefficients)

    Coefficients)

    (T)

     

    Statistics)

     
         

    (Sig.)

     
         

    B

    Std. Error

    Beta

         

    B

    VIF

     
                 
     

    (Constant)

    1.510

     

    .168

                   
     

    KH CL01

    .053

     

    .095

    .024

     

    .557

    .578

     

    .909

    1.101

     

    1

    KH CL02

    .234

     

    .091

    .110

     

    2.570

    .011

     

    .904

    1.106

     
     

    TC 01

    .496

     

    .046

    .515

     

    10.772

    .000

     

    .721

    1.388

     
     

    TC 02

    .047

     

    .034

    .066

     

    1.387

    .166

     

    .722

    1.386

     
    1. Biến phụ thuộc (Dependent Variable): Hiệu suất

    Nguồn: Tác giả nghiên cứu

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  57

     

    KINH TEÁ TAØI CHÍNH

     

    Hệ số VIP = 1.101 – 1.388<3, do đó giữa các biến độc lập không có hiện tượng đa cộng tuyến. Đây cũng là cơ sở đánh giá chất lượng hồi quy trong mô hình tốt.

     

    Phương trình hồi quy viết lại theo Bảng 5 như sau:

     

    Hiệu suất=1.510+0.024*KHCL01+0.110*KHC L02+0.515*TC01+ 0.066*TC02

     

    Hệ số β của các biến độc lập trong mô hình hồi quy trên đây >0, do đó có thể kết luận là: Có mối tương quan tích cực giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính với Hiệu suất bệnh viện công trong vùng Tây Bắc.

     

    Tuy nhiên, nhìn vào mức ý nghĩa thống kê trong bảng 5 cho thấy: Nhân tố Biện pháp Kế hoạch chiến lược (KHCL02) và nhân tố Hiệu quả thực hiện thu, chi tài chính (TC01) có hệ số Sig <0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Đây cũng là hai nhân tố có hệ số β lớn nhất trong phương trình hồi quy, do đó đây là những nhân tố có tác động lớn nhất đến Hiệu suất bệnh viện. Các nhân tố: Hoạt động lập Kế hoạch chiến lược (KHCL01) và Nhân tố Hiệu quả quản lý tài chính chung bệnh viện (TC02) có hệ số Sig>0.05, do đó những nhân tố này không có

     

    • nghĩa thống kê.
    1. Kết luận và một số hàm ý nghiên cứu

    Kết quả hồi quy bảng 5 cho thấy giữa Kế hoạch chiến lược và Tài chính có mối quan hệ tác động tích cực đến Hiệu suất bệnh viện công của vùng Tây Bắc. Mức độ tương quan giữa chúng có R=58.5% đạt ở mức tương quan khá chặt chẽ. Đồng thời, kết quả chỉ ra 34,2% sự thay đổi của Hiệu suất bệnh viện được giải thích bởi các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính. Tuy nhiên, trong đó chỉ có nhân tố Biện pháp kế hoạch chiến lược (KHCL02) và Hiệu quả thực hiện thu, chi tài chính (TC01) là có ý nghĩa thống kê, còn các nhân tố còn lại không có ý nghĩa thống kê nên chưa có cơ sở chỉ ra tác động đến Hiệu suất của bệnh viện.

     

    Mặt khác, tác giả thực hiện hồi quy giữa các nhân tố của Kế hoạch chiến lược với Hiệu suất có R2 = 0.048, tức là có 4,8% sự thay đổi của Hiệu suất được giải thích bởi các nhân tố của Kế hoạch chiến lược. Do đó, mức độ tác động này rất yếu, không đáng kể. Kết hợp kết quả hồi quy giữa các nhân tố về Kế hoạch chiến lược và Tài chính với Hiệu suất của bảng 5 có R2 = 34.2% cho thấy các nhân tố về

    Tài chính có tác động rất lớn đến hiệu suất trong mối tương quan này.

     

    Với kết quả nghiên cứu chỉ ra như trên, để cải thiện và tăng cường hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng Tây Bắc các nhà quản lý cần tập trung mạnh các giải pháp cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về Kế hoạch chiến lược:

     

    Đối với nhân tố KHCL01 vừa có hệ số β=0.024 là nhỏ nhất và không có ý nghĩa thống kê cho thấy hoạt động lập kế hoạch chiến lược tại các bệnh viện trong vùng chưa thể hiện được vai trò đóng góp vào Hiệu suất của các bệnh viện trong vùng. Đây là một khâu còn yếu đối với các bệnh viện của vùng, do đó Bộ Y tế và các nhà quản lý bệnh viện cần quan tâm đến vai trò của hoạt động này để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các bệnh viện công trong vùng.

     

    Đối với nhân tố KHCL02 về Biện pháp thực hiện kế hoạch chiến lược có hệ số β=0.110 là khá lớn trong các nhân tố, do đó có tác động cũng khá lớn đến hiệu suất bệnh viện của vùng, nhân tố này có Sig<0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Vì vậy, cần tăng cường tác động đến các biện pháp tăng cường nguồn lực tài chính của bệnh viện và các biện pháp nâng cao hiệu quả nhân viên, đặc biệt là đội ngũ y bác sĩ trong bệnh viện giúp cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cung cấp sẽ góp phần lớn vào hiệu suất, hiệu quả của các bệnh viện công trong vùng.

     

    Thứ hai, về Tài chính:

     

    Đối với nhân tố TC01, có hệ số β= 0.515 là hệ số lớn nhất trong các nhân tố trên nên đây là nhân tố có tác động lớn nhất đến hiệu suất của các bệnh viện công trong vùng hiện nay, nhân tố này có Sig<0.05 nên có ý nghĩa thống kê. Với kết quả này cho thấy, để cải thiện mạnh mẽ hiệu suất thì các bệnh viện trong vùng cần:

     

    • Cần tăng cường sử dụng kinh phí trong phạm
    • dự toán, sử dụng tiết kiệm các khoản chi trong đó lưu ý đến sử dụng tiết kiệm các khoản chi phí hành chính trong bệnh viện, tuân thủ các tiêu chuẩn định mức về chi phí hành chính, thực hiện chi đúng nội dung. Phân bổ chi phí tiền lương và các khoản thanh toán cho cán bộ, y bác sĩ hợp lý theo hướng tăng cường thu nhập, góp phần để cán bộ yên tâm chăm sóc người bệnh. Thực hiện phân bổ chi phí thuốc, vật tư y tế phù hợp đảm bảo nhu cầu thuốc và vật tư phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh, nhằm tăng cường chất lượng khám và điều trị bệnh.
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
    • Bệnh viện cần nâng cao chất lượng khám và điều trị, gia tăng sự hài lòng của người bệnh sẽ đẩy mạnh thu hút bệnh nhân khám và điều trị tại các bệnh viện trong vùng, giảm các trường hợp phải chuyển tuyến từ đó tăng nguồn thu từ viện phí và bảo hiểm y tế. Nguồn thu từ viện phí tăng sẽ giúp các bệnh viện trong vùng tăng khả năng tự chủ tài chính, trong đó tăng tỷ lệ đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo tinh thần của Nghị định số 16/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
    • Ngoài ra, tính hiệu quả trong sử chi phí còn thể hiện trong việc sắp xếp ưu tiên các khoản chi mang tính cấp thiết, ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám và điều trị của bệnh viện của vùng.

    Đối với nhân tố TC02 về Hiệu quả quản lý tài chính chung trong bệnh viện, nhân tố này mặc dù tác động tích cực đến hiệu suất bệnh viện nhưng với hệ số β= 0.066 là nhỏ so với các nhân tố TC01, KHCL02 nên mức độ tác động đến hiệu suất là không lớn. Đồng thời, nhân tố này có hệ số Sig>0.05 nên không có ý nghĩa thống kê. Đây cũng là một trong những khâu yếu của các bệnh viện công trong vùng hiện nay, do đó kết quả nghiên cứu chưa thể hiện được mức độ tác động rõ rệt đến hiệu suất bệnh viện. Vì vậy, để nhân tố này có tác động mạnh mẽ hơn đến hiệu suất bệnh viện thì cải thiện quản lý tài chính sao cho bệnh viện có đủ nguồn lực tài chính sử dụng cho các hoạt động, tăng cường sự tự chủ tài chính và phân bổ hợp lý nguồn lực tài chính của bệnh viện.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2016/ NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, do Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 2 năm 2015.
    2. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu (2016), Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2016 – 2020.

     

    1. Al-Shammari, H. A. and Hussein, R. T. (2007), Strategic planning-firm performance linkage: Empirical in vestigation from an emergent market perspective, Advances in Competitiveness Reseach.

     

    1. Andrews, R., Boyne, G. A., and Walker, R. M. (2006), Strategy content and organizational performance: an empirical analysis, Public Administration Review.
    2. Blackmon, V. Y. (2008), Strategic planning and organizational performance: an investigation using the balanced scorecard in nonprofit organizations. Ph.D.dissertation, Caplla University, United States, Retrieved August.
    1. Franklin, P. W. (2011), Relationship between Strategic Planning and Nonprofit Organizational Performance, Ph.D. Dissertation, Capella University, United States.
    2. Giffords, E. D., and Dina, R. P. (2004), Strategic planning in nonprofit organizations: Continuous quality performance improvement – a case study, International Journal of Organization Theory and Behavior.

     

    1. Kaplan, R., and Norton, D. (1992a), The Balanced scorecard: Measures That Drive Performance. (Cover story), Harvard Business Review.

     

    • Kaplan, R., and Norton, D. (2001), Transforming the Balanced scorecard from Performance Measurement to Strategic Management, Part II. Accounting Horizons.

     

    1. Lockett, J. (1992), Effective Performance Mnaagement: A Strategic Guide to Getting the Best from People, Kogan Page, London.
    2. Nagarajah Lee (2006), Measuring the performance of public sector organisations: a case study on public schools in Malaysia, Measuring business excellence.

     

    1. Nashwa Ghoneim và Laila El Baradei (2013), The Impact of Strategic Planning on Egyptian Non-profits’ Performance: An Assessment Using the Balanced Scorecard, Journal of US-China Public Administration.

     

    1. Niven, P. (2003), Adapting the Scorecard to fit public and non-profit organizations, In N. Paul, Balancedscorecard Step by Step Governments and Non-profits.

     

    1. Niven, P. R. (2008), Balanced scorecard step-by-step for government and nonprofit agencies (2nd ed).
    2. Peters and et (2007), A balanced scorecard for health services in Afghanistan, World Health Organization.
    3. Poister, T. H. & Streib, G. (2005), Elements of strategic planning and management in municipal government: status after two decades,Public Administration Review.

     

    1. Urrutia I, Eriksen SD (2005), Application of the balanced scorecard in Spanish private healthcare management, Measure Bus Excell.

     

    1. Voelker KE, Rakich JS, French GR (2001), The balanced scorecard in healthcare organizations: a performance measurement and strategic planning methodology, Hosp Top.
    2. Walker KB & Dunn LM (2006), Improving hospital performance and productivity with the balanced scorecard, Acad Health Care Manag.J.

     

    1. Weerasooriya và Ali Khatibi (2014), The impact of strategic planning for training and educational non government organizations Srilanka: An evaluation using the Balanced Scorecard, International Journal of Management Sciences and Business Research.

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  59


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/L%E1%BB%B1a-ch%E1%BB%8Dn-%C4%91%E1%BB%91i-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-c%E1%BB%A7a-ki%E1%BB%83m-to%C3%A1n-n%E1%BB%99i-b%E1%BB%99-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-r%E1%BB%A7i-ro-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    Lựa chọn đối tượng kiểm soát của kiểm toán nội bộ dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    ThS. Phan Thị Thùy Linh

     

    Trong mỗi tổ chức, nguồn lực kiểm toán nội bộ (KTNB) thường có sự hạn chế, “khan hiếm” một cách tương đối so với nhu cầu, do vậy, việc lựa chọn đối tượng kiểm toán hợp lý để đạt được mục tiêu kiểm toán và giảm thiểu rủi ro kiểm toán là vấn đề hàng đầu mà bộ phận KTNB quan

     

    tâm. Điều đó đòi hỏi KTNB cần có phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán một cách khoa học để phục vụ tốt nhất cho hoạt động kiểm toán và phục vụ cho hoạt động quản lý của tổ chức.

     

    Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, rủi ro kiểm soát, đối tượng kiểm toán

     

    Selection of audit subjects of internal audit based on control risk assessment

     

    In each organization, internal audit resources are often limited, “scarce” in a way relative to demand, so the selection of auditor objectively to achieve the Auditing objects and mitigating audit risks are top issues that Internal audit Depts concerned about. This requires Internal audit Depts to have a method of selecting audit subjects in a scientific way to best serve the audit activities and serve the management activities of the organization.

     

    Key words: Internal audit, control risk, audit objects

     

     

    Trong hoạt động kiểm toán hiện đại, các tổ chức kiểm toán (trong đó, gồm cả KTNB) thường thực hiện kiểm toán dựa trên phương pháp tiếp cận rủi ro. Một trong những vấn đề của KTNB là cần lựa chọn các đối tượng kiểm toán thích hợp với mục tiêu quản lý, phù hợp với năng lực kiểm toán (số lượng KTV và thời gian kiểm toán) và giảm thiểu rủi ro kiểm toán. Vấn đề đó có thể được giải quyết hợp lý thông qua việc ứng dụng đánh giá rủi ro kiểm soát để lựa chọn các đối tượng kiểm toán; đó là chủ đề mà Tác giả nghiên cứu trong bài viết này.

     

    1.   Kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát

     

    1.1. Mục tiêu và nội dung kiểm toán nội bộ

     

    Trong văn bản “Quy định về trách nhiệm KTNB” do IIA ban hành, xác định: “KTNB là một chức năng đánh giá độc lập được thiết kế trong một

    tổ chức để kiểm tra và đánh giá những hoạt động của tổ chức như là một hoạt động phục vụ cho tổ chức” [(1)].

     

    Từ định nghĩa trên, có thể xác định những mục tiêu của KTNB là: i) Giúp cho tổ chức hoàn thành trách nhiệm; ii) Thúc đẩy hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu; iii) Hoàn thành mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả thông qua việc KTNB thực hiện kiểm tra, phân tích, đánh giá, kiến nghị, tư vấn về các thông tin liên quan đến hoạt động được kiểm toán.

     

    Để thực hiện được những mục tiêu đó, KTNB cần thực hiện ba nội dung kiểm toán cơ bản, gồm:

     

    1. Kiểm toán thông tin hay kiểm toán báo cáo tài chính (đánh giá độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động của tổ chức); ii) Kiểm toán tuân thủ (đánh giá sự tuân thủ pháp luật và các quy định có tác động đến hoạt động của tổ chức) và iii) Kiểm

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  47

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

     

     

     

    toán hoạt động (đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong sử dụng các nguồn lực của tổ chức).

     

    1.2. Mục tiêu và nội dung kiểm soát nội bộ

     

    Để thực hiện được “sứ mệnh” trong dài hạn và các mục tiêu ngắn hạn của mình, mỗi tổ chức cần hoạch định chiến lược phát triển và các kế hoạch hành động. Mặt khác, để có thể duy trì được các hoạt động theo kế hoạch và đạt được các mục tiêu của tổ chức thì mỗi tổ chức đều cần sử dụng một công cụ, phương thức tác động đến toàn bộ hoạt động của tổ chức, đó là KSNB. KSNB có vị trí rất quan trọng, có tác động quyết định đến mức độ thực thi các mục tiêu và kế hoạch hoạt động của tổ chức.

     

    KSNB của một tổ chức là việc thiết kế và tổ chức thực hiện một hệ thống các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời những rủi ro xảy ra trong hoạt động để đảm bảo cho tổ chức quản lý và sử dụng tốt nhất các nguồn lực, thực hiện được các mục tiêu đề ra.

     

    Các mục tiêu chính của KSNB, gồm: “i) Đảm bảo độ tin cậy và tính trung thực của thông tin;

    1. Đảm bảo sự tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và quy định; iii) Đảm bảo về tài sản; iv) Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn

     

     

     

    lực; v)Hoàn thành các mục tiêu hoạt động”. (CM 300.05[2]).

     

    Nội dung của KSNB thể hiện ở 2 mặt cơ bản: i) Hệ thống KSNB (các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định nội bộ) được thiết kế phù hợp với yêu cầu của quản lý và mục tiêu của tổ chức; ii) Tổ chức thực hiện KSNB là việc áp dụng các quy định của KSNB trong quá trình tổ chức sử dụng các nguồn lực trong các hoạt động của tổ chức. Mặt tổ chức thực hiện là mặt quyết định vai trò, tác dụng của KSNB; tuy nhiên, mặt thiết kế hệ thống KSNB với mức độ chất lượng khác nhau sẽ là cơ sở và là điều kiện, tác động đến hiệu lực thực tiễn của hoạt động KSNB.

     

    1.3. Rủi ro kiểm soát

     

    Trong hoạt động KTNB, việc đánh giá rủi ro kiểm toán là cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kiểm toán một cách khoa học và hiệu quả: lựa chọn đối tượng kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán, chọn mẫu các nghiệp vụ trong kiểm toán; trong đó, dựa trên đánh giá rủi ro để chọn đối lượng kiểm toán trong KTNB là một ứng dụng quan trọng của việc đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Trong các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm toán (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện) thì rủi ro KSNB (thường gọi là rủi ro kiểm soát) là yếu tố trung tâm và cũng là yếu tố quan trọng nhất

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    để Kiểm toán viên (KTV) đánh giá rủi ro kiểm toán.

     

    Rủi ro KSNB (sau đây gọi là rủi ro kiểm soát) là khả năng mà hệ thống KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém trọng yếu tác động đến hoạt động của tổ chức. Như vây, khi xác định rủi ro kiểm soát trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV chưa xét đến hoạt động kiểm soát và hiệu lực thực tiễn của hệ thống KSNB.

     

    Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thống KSNB. Hệ thống KSNB bao gồm 3 nhóm yếu tố: i) Nhóm yếu tố môi trường kiểm soát (môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức; ii) Nhóm yếu tố tổ chức hệ thống thông tin và truyền thông (tổ chức thông tin kế toán, thống kê… và tổ chức giám sát, báo cáo);

    • Các thủ tục kiểm soát (hệ thống các quy định về chính sách, thủ tục, quy trình…). Nếu chưa xét đến hiệu lực thực tiễn của việc tổ chức thực hiện KSNB thì mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB sẽ tác động đến khả năng hoạt động KSNB không ngăn chặn được những sai phạm, yếu kém có thể xẩy ra trong hoạt động của tổ chức. Có thể hiểu: hệ thống KSNB (gồm các nhóm và các yếu tố của hệ thống KSNB) có khả năng (ở mức độ cụ thể khác nhau) tác động đến khả năng xẩy ra rủi ro kiểm soát.

    2. Quy trình và phương pháp lựa chọn đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát

    2.1. Đối tượng của kiểm toán nội bộ

     

    Đối tượng của KTNB gồm các hoạt động quản lý và sử dụng các nguồn lực hoặc tác động đến việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của tổ chức hoặc của các bộ phận của tổ chức phù hợp với mục tiêu, kế hoạch hoạt động của tổ chức. Các hoạt động chủ yếu được kiểm toán gồm:

     

    • Báo cáo tài chính của tổ chức và của các đơn vị trực thuộc;
    • Các chính sách, thủ tục, quy trình, quy định về quản lý và sử dụng các nguồn lực;
    • Các trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư;
    • Các số dư tài khoản, các nghiệp vụ tài chính;
    • Các hệ thống thông tin;
    • Các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức;
    • Các dự án, chương trình hoạt động;
    • Các bộ phận trong tổ chức hoặc các đơn vị trực thuộc tổ chức…

    Mỗi đối tượng kiểm toán trên có những đặc điểm trong hoạt động khác nhau và cũng tồn tại rủi ro kiểm soát. Rủi ro kiểm soát của mỗi hoạt động đó đều chịu sự tác động của các yếu tố của hệ thống KSNB.

     

    2.2. Quy trình lựa chọn đối tượng kiểm toán nội bộ

     

    Việc lựa chọn các đối tượng kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro kiểm soát, về tổng quan, gồm các bước công việc sau:

     

    • Tổng hợp, phân nhóm và lập danh sách các đối tượng kiểm toán. KTV phải tổng hợp danh sách của tất cả các đối tượng kiểm toán phù hợp với phạm vi và các tiêu chí phân nhóm các đối tượng kiểm toán. Việc sắp xếp các đối tượng kiểm toán vào một nhóm cần đảm bảo có sự tương đồng về tính chất hoạt động để phục vụ cho việc lựa chọn đối tượng kiểm toán và áp dụng các phương pháp kiểm toán thích hợp…
    • Đánh giá rủi ro kiểm soát, phân loại rủi ro kiểm soát và sắp xếp các đối tượng kiểm toán theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát và lập bản tổng hợp sắp xếp đối tượng kiểm toán của mỗi nhóm theo thứ tự về mức độ rủi ro kiểm toán (theo 2 tiêu chí là: theo tổng điểm rủi ro kiểm soát và theo điểm trung bình rủi ro kiểm soát).
    • Xác định đối tượng kiểm toán lựa chọn. KTV phải dựa trên mục tiêu kiểm toán để xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán. Trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại rủi ro kiểm soát và các nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán, KTV sẽ đưa ra quyết định về các đối tượng kiểm toán lựa chọn.

    2.3. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát và lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    2.3.1. Các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm soát

     

    Để đánh giá rủi ro kiểm soát, trước hết, cần

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  49

     

    TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN

     

    xác định các yếu tố cụ thể, chủ yếu tác động đến rủi ro kiểm soát (thực chất là các yếu tố của hệ thống KSNB). Vận dụng theo hướng dẫn của IIA tại Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán 520.04 [(2)], có thể xác định các yếu tố chủ yếu tác đọng đến rủi ro kiểm soát gồm:

     

    Các yếu tố môi trường kiểm soát:

     

    Môi trường bên ngoài:

     

    • Những thay đổi về pháp luật và các chính sách của Nhà nước;
    • Những biến động của nền kinh tế, ngành kinh tế;
    • Tác động của các đối thủ cạnh tranh;
    • Tác động của hoạt động ngoại kiểm (Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán độc lập, thanh tra …);

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Môi trường bên trong:

     

    • Tổ chức – nhân sự: những thay đổi về tổ chức – nhân sự; năng lực và đạo đức của nhà quản lý và nhân viên quản lý;
    • Kinh tế: tình trạng kinh tế, tài chính của tổ chức; quy mô tài sản hoặc vốn của hoạt động;
    • Tính chất phức tạp của nghiệp vụ hoặc sự phân tán trong hoạt động;
    • Những thay đổi về cơ chế quản lý, công nghệ;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về hệ thống thông tin, giám sát:

     

    • Tổ chức công tác kế toán, thống kê;
    • Tổ chức truyền thông (công khai, minh bạch, kịp thời…);
    • Các quy định về giám sát, ủy quyền;
    • Kết quả KTNB kỳ trước và khoảng các giữa 2 lần KTNB;

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    Các yếu tố về các thủ thục, quy trình kiểm soát:

    • Sự tuân thủ pháp luật và phù hợp với mục đích, mục tiêu của tổ chức và của hoạt động;
    • Sự đầy đủ, toàn diện của các quy định đối với các đối tượng kiểm soát;
    • Sự hữu hiệu: tính khả thi của các quy định trong thực hiện kiểm soát;
    • Sự thích ứng: khả năng thích ứng của các quy định đối với sự biến động từ môi trường kiểm soát.

    (KTV có thể phân chia thành nhiều yếu tố cụ thể hơn).

     

    2.3.2. Phương pháp đánh giá rủi ro kiểm soát

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát là một tiến trình có tính hệ thống để đánh giá và tổng hợp những xét đoán mang tính chuyên môn về tình trạng hoặc sự kiện có thể xảy ra, gây tác hại cho hoạt động của tổ chức.

     

    Việc đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện như sau:

     

    • Lựa chọn các yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát. Trong thực tế, KTV đánh giá rủi ro kiểm soát thường không dựa trên việc đánh giá đối với tất cả các yếu tố tác động (quá nhiều) mà dựa trên việc lựa chọn những yếu tố chủ yếu (có thể ở mỗi nhóm yếu tố của hệ thống KSNB lựa chọn 2 yếu tố để đánh giá hoặc nhiều hơn ở một nhóm nào đó, tùy theo nhận định của KTV). Việc chọn yếu tố để đánh giá rủi ro kiểm soát phải được thống nhất trong mỗi nhóm đối tượng kiểm toán; mặt khác, những yếu tố của hệ thống KSNB của một nhóm đối tượng kiểm toán mà được xét đoán là có sự tương đương về mức độ rủi ro kiểm soát thì có thể không đưa vào danh mục các yếu tố để đánh giá.
    • Lượng hóa rủi ro kiểm soát cho từng yếu tố. Dựa trên các thông tin thu thập được về đối tượng kiểm toán và nhận định của KTV về mức độ rủi ro kiểm soát do từng yếu tố của hệ thống KSNB tác động (đã được lựa chọn) để lượng hóa rủi ro kiểm soát theo 5 mức độ: rất cao (5 điểm); cao (4 điểm); trung bình (3 điểm); thấp (2 điểm); rất thấp (1 điểm).
    • Xác định trọng số cho rủi ro kiểm soát. Mặc dù là các yếu tố độc lập tương đối tác động đến rủi ro kiểm soát, song, giữa chúng cũng có mức độ
    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    “quan trọng” về mức độ tác động đến rủi ro kiểm soát khác nhau (ví dụ: i) Các quy định càng có tính trực tiếp đối với hoạt động KSNB thì có xu hướng tác động “quan trọng” càng lớn: các yếu tố về thủ tục, quy trình kiểm soát có tác động “quan trọng” lớn hơn các yếu tố về môi trường kiểm soát; ii) Các yếu tố có sự biến động lớn sẽ có tác động “quan trọng” hơn các yếu tố ít biến động …). Do vậy, dựa trên những đánh giá về mức độ tác động “quan trọng” của các yếu tố, KTV xác định “trọng số” tác động rủi ro kiểm soát. Có thể xác định ở 3 mức: yếu tố có mức độ tác động “quan trọng” lớn (trọng số 2); mức độ tác động “quan trọng” trung bình (trọng số 1,5); mức độ “quan trọng” thấp (trọng số 1).

     

    • Tổng hợp và phân loại rủi ro kiểm soát. Trên cơ sở xác định điểm rủi ro và trọng số rủi ro, KTV tính toán sự tác động của từng yếu tố đến rủi ro kiểm soát và tổng hợp rủi ro kiểm soát của các yếu tố (được lựa chọn) cho từng đối tượng kiểm toán trong cùng một nhóm đối tượng kiểm toán. Để tạo cơ sở cho lựa chọn đơn vị được kiểm toán cần phân loại rủi ro kiểm soát. Việc phân loại rủi ro kiểm soát được thực hiện theo phương pháp: i) Xếp loại rủi ro kiểm soát theo thứ tự từ rủi ro cao xuống thấp; ii) Xác định điểm rủi ro bình quân kiểm soát theo phương pháp tính bình quân gia quyền rủi ro của từng đối tượng kiểm toán; iii) Phân loại rủi ro kiểm soát cho từng đối tượng kiểm toán: dựa trên điểm rủi ro bình quân của từng đối tượng kiểm toán, thực hiện xếp loại: rủi ro rất cao (điểm từ trên 4 đến 5 điểm); rủi ro cao (điểm từ trên 3 đến 4 điểm); rủi ro trung bình (điểm từ trên 2 đến 3 điểm); rủi ro thấp (điểm từ 1 đến 2 điểm); rủi ro thấp (điểm từ trên 0 đến 1 điểm).

    2.3.3. Xác định nguyên tắc lựa chọn đối tượng kiểm toán

     

    Để lựa chon đối tượng kiểm toán cần xác định các nguyên tắc lựa chọn phù hợp với từng mục tiêu kiểm toán. Có 3 trường hợp lựa chọn như sau:

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán có mức rủi ro trên mức trung bình. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào các đối tượng có rủi ro kiểm soát cao. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (điểm rủi

    ro bình quân) để chọn tất cả các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát được xếp loại cao và rất cao.

     

    • Chọn đối tượng kiểm toán theo giới hạn khả năng kiểm toán. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc khai thác cao nhất khả năng kiểm toán. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát) để chọn các đối tượng kiểm toán có mức rủi ro kiểm soát từ cao xuống thấp cho đến khi số lượng phù hợp với dự kiến về khả năng kiểm toán.
    • Chọn đối tượng kiểm toán đại diện cho tổng thể. Nguyên tắc này thể hiện mục tiêu kiểm toán hướng vào việc kiểm toán toàn diện các đối tượng kiểm toán đại diện cho các mức rủi ro kiểm soát. Trong trường hợp này, KTV chỉ cần dựa trên bảng tổng hợp rủi ro kiểm soát (xếp theo thức tự rủi ro kiểm soát và theo phân loại rủi ro kiểm soát) để chọn tại mỗi mức rủi ro (5 mức) chọn theo một tỉ lệ (được xác định trước) các đối tượng kiểm toán; trong mỗi mức rủi ro kiểm soát có thể chọn đối tượng theo phương pháp từ trên xuống (theo tổng điểm rủi ro) hoặc theo lựa chọn ngẫu nhiên.

    Kết luận

     

    Đánh giá rủi ro kiểm soát dựa trên phương pháp lượng hóa làm cơ sở cho việc lựa chọn hợp lý các đối tượng kiểm toán trong hoạt động KTNB là một phương pháp mang tính khoa học và khả thi; việc áp dụng phương pháp đó trong thực tiễn KTNB (đặc biệt là tại các tổ chức có quy mô tương đối lớn) sẽ tạo cơ sở cho việc giảm thiểu rủi ro kiểm toán, nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán của KTNB.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Quy định về trách nhiệm của kiểm toán nội bộ của IIA, 1990.

     

    1. Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp Kiểm toán nội bộ của IIA, 1993.

     

    1. Kiểm toán nội bộ – khái niệm và quy trình, NXB Thống kê, 1999.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  Số 121 – tháng 11/2017  51


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Ảnh hưởng của dữ liệu lớn đến nghề nghiệp kế toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%E1%BA%A7n-s%E1%BB%9Bm-tri%E1%BB%83n-khai-khung-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%C3%B4ng-v%C3%A0o-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-c%C3%A1c-qu%E1%BB%B9-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

     

    PGS.TS. Đặng Văn Du* ThS. Đặng Văn Duy*

    Cần sớm triển khai khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công vào đánh giá quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

     

    Quá nhiều quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và quản lý các quỹ này còn bộc lộ quá nhiều hạn chế; đó là nhận định của hầu hết các nhà chính trị, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý về tài chính công ở nước ta. Thể hiện sự quyết tâm của “Chính phủ kiến tạo’’ đối với lĩnh vực này, ngày 01 tháng 03 năm 2017, Văn phòng Chính phủ đã ban hành

     

    Văn bản số 1861/VPCP-KTTH, về việc quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nhằm tiếp tục chỉ đạo tăng cường quản lý quỹ tài chính nhà nước (TCNN) ngoài ngân sách theo Chỉ thị 22/2015/CT-TTg.

     

    Bài viết này tập trung bàn về cách thức nghiên cứu triển khai nhằm sớm áp dụng “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’ vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Thông qua đó có thể đáp ứng phần lớn yêu cầu tăng cường quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách mà Chính phủ đã đề ra tại Văn bản 1861 nói trên. Hướng tới mục đích đó, kết cấu bài viết được trình bày theo hai phần: (i) Tổng quan về “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’; và (ii) Nghiên cứu triển khai nhằm sớm áp dụng “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’ vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Từ khóa: Quỹ TCNN ngoài ngân sách, khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công, đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Implementation of the perfromance evaluation framework for public financial management in assessment management of outside budget governmental financial funds

     

    Too many outside budget state financial funds and management of these funds reveal too many limitations; This is the opinion of most politicians, researchers, public finance managers in our country. Demonstrating the determination of the “Enabling Government” in this field, on March 1, 2017, the Office of the Government issued Document No. 1861 / VPCP-KTTH, to further direct the management of outside budget financial funds under the Directive 22/2015 / CT-TTg.

     

    This paper focuses on how to study and implement the “Performance Evaluation Framework for Public Financial Management” in the management of outside budget financial funds. Through which, it is possible to meet most of the requirements for strengthening the management ofoutside budget financial funds set by the Government in Document 1861 mentioned above. Toward that end, the text structure is presented in two parts: (i) Overview of the “Public Financial Management Performance Assessment Framework”; and (ii) Research and development for the early implementation of the “Public Financial Management Performance Evaluation Framework” in outside budget financial funds.

     

    Key words: Outside budget financial funds, the framework for assessing the effectiveness of public financial management, the evaluation of the management of outside budget financial funds.

    *Học viện Tài chính

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  33

     

     

    PI-13

    PI-14

    PI-15

    PI-16

    PI-17

     

    PI-12

     

    PI-11

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    1.   Tổng quan về “Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công’’

     

    Khung đánh giá hiệu quả thực hiện Quản lý tài chính công – Public Expenditure and Financial Accountability (PEFA) – là một khuôn khổ giám sát tổng hợp cho phép lượng hóa hiệu quả thực hiện Quản lý tài chính công (QLTCC) của quốc gia theo thời gian. Khung đánh giá này được xây dựng bởi nhóm đối tác PEFA, phối hợp với Tổ công tác về QLTCC của Ủy ban viện trợ phát triển (DAC) thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nhằm hình thành một công cụ cung cấp thông tin đáng tin cậy về hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thể chế QLTCC theo thời gian. PEFA cung cấp thông tin nhằm đóng góp cho tiến trình cải cách của Chính phủ qua việc xác định mức độ cải thiện về kết quả do thực hiện cải cách đem lại, cũng như tăng khả năng nắm bắt và học hỏi những thành công từ cải cách. PEFA cũng giúp hài hòa về mặt đối thoại giữa Chính phủ và

    các nhà tài trợ trên một khuôn khổ chung nhằm lượng hóa hiệu quả thực hiện QLTCC và qua đó góp phần giảm các chi phí giao dịch cho các Chính phủ đối tác.

     

    PEFA là một trong những nội dung của phương pháp tiếp cận tăng cường, nhằm hỗ trợ cải cách QLTCC. Nó được thiết kế để lượng hóa hiệu quả thực hiện QLTCC theo thời gian cho những quốc gia ở trình độ phát triển khác nhau. Khung đánh giá kết quả thực hiện bao gồm một bộ chỉ số tổng quan, nhằm lượng hóa và giám sát hiệu quả thực hiện của các hệ thống, quy trình, và thể chế QLTCC cùng một mẫu Báo cáo hiệu quả thực hiện QLTCC (PFM- PR), trong đó hướng dẫn về cách thức báo cáo hiệu quả thực hiện của QLTCC được đo lường bằng bộ chỉ số. Đây là phương pháp tiếp cận nhằm đưa vào hệ thống những thông lệ tốt hơn đã được một số quốc gia áp dụng [Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Phần Giới thiệu].

     

    1.1. Bộ chỉ số của PEFA, được trình bày như sau:

     

    1. Đầu ra QLTCC: Độ tin cậy của ngân sách

    PI-1

    Tổng chi thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-2

    Cơ cấu tổng chi thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-3

    Tổng thu thực tế so với ngân sách gốc được phê duyệt

    PI-4

    Kiểm kê và giám sát nợ quá hạn thanh toán từ nguồn chi

    B. CÁC VẤN ĐỀ ĐAN XEN: Tính toàn diện và minh bạch

    PI-5

    Phân loại ngân sách

    PI-6

    Tính toàn diện của thông tin trong tài liệu ngân sách

    PI-7

    Quy mô các hoạt động Chính phủ không được báo cáo

    PI-8

    Tính minh bạch của các mối quan hệ tài khóa liên Chính phủ

    PI-9

    Giám sát rủi ro tài khóa tổng thể xuất phát từ các thể nhân khác thuộc khu vực công

    PI-10

    Sự tiếp cận của công chúng đối với thông tin tài khóa chủ đạo

    1. CHU KỲ NGÂN SÁCH

    (i) Lập ngân sách trên cơ sở chính sách

     

    Tính kỷ luật và sự tham gia vào quy trình ngân sách hàng năm

     

    Triển vọng nhiều năm đối với công tác lập kế hoạch tài khóa, chính sách chi và lập ngân sách

     

    (ii) Tính dự báo trước và kiểm soát việc chấp hành ngân sách Tính minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế

     

    Tính hiệu quả của các biện pháp đăng ký đối tượng nộp thuế và khai thuế Tính hiệu quả của việc thu thuế

     

    Tính dự báo trước về quỹ có thể chi tiêu

     

    Ghi sổ và quản lý số dư tiền mặt, nợ và bảo lãnh

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    PI-18

    Tính hiệu quả của việc kiểm soát tiền lương

     

    PI-19

    Cạnh tranh, giá trị tiền tệ và kiểm soát việc mua sắm

     

    PI-20

    Tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ đối với chi phí ngoài lương

     

    PI-21

    Tính hiệu quả của kiểm toán nội bộ

     
     

    (iii) Kế toán, ghi sổ và báo cáo

     

    PI-22

    Tính kịp thời và thường xuyên của công tác đối chiếu số dư tài khoản

     

    PI-23

    Tính sẵn có của thông tin về nguồn mà các đơn vị cung cấp dịch vụ nhận được

     

    PI-24

    Chất lượng và tính kịp thời của báo cáo ngân sách trong năm

     

    PI-25

    Chất lượng và tính kịp thời của báo cáo tài khóa hàng năm

     
     

    (iv) Kiểm tra và kiểm toán bên ngoài

     

    PI-26

    Phạm vi, đặc điểm và thực hiện kiến nghị của kiểm toán bên ngoài

     

    PI-27

    Giám sát của Quốc hội về tính pháp lý của luật ngân sách hàng năm

     

    PI-28

    Giám sát của Quốc hội về tính pháp lý các báo cáo kiểm toán bên ngoài

     
       

    D. THỰC TIỄN TÀI TRỢ

     
         

    D-1

    Tính dự báo trước của các khoản hỗ trợ ngân sách trực tiếp

     

    D-2

    Thông tin tài khóa do nhà tài trợ cung cấp về ngân sách và báo cáo các khoản tài trợ

     

    cho dự án và chương trình

     
     

    D-3

    Tỷ trọng viện trợ được quản lý theo các thủ tục quốc gia

     

    Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Phụ lục 1

     

    28 chỉ số lựa chọn cho hệ thống QLTCC được sắp xếp theo 3 nhóm nội dung đánh giá như sau:

     

    Một là, kết quả thực hiện của hệ thống QLTCC/ đầu ra: Nhằm tìm hiểu kết quả trước mắt của hệ thống QLTCC, được thể hiện qua thực thu và thực chi so với ngân sách gốc được phê duyệt, cũng như mức độ và thay đổi về nợ đọng chi tiêu.

     

    Hai là, đặc điểm chung của hệ thống QLTCC: Nhằm tìm hiểu tính toàn diện và minh bạch của hệ thống QLTCC xuyên suốt toàn bộ chu kỳ ngân sách.

     

    Ba là, chu kỳ ngân sách: Nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thể chế chính trong chu kỳ ngân sách của Chính phủ cấp Trung ương.

     

    Ngoài các chỉ số về hiệu quả thực hiện QLTCC của quốc gia, PEFA còn bao gồm nội dung đánh giá về:

     

    Hoạt động của nhà tài trợ: Nhằm tìm hiểu các yếu tố về thực tiễn hoạt động của các nhà tài trợ có tác động đến hiệu quả hoạt động hệ thống QLTCC.

     

    1.2. Phương pháp thu thập thông tin của PEFA:

     

    Dựa trên các báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị được đánh giá, kết hợp với các hoạt động điều tra thống kê, phỏng vấn… để xác nhận tính đúng đắn của thông tin đã thu thập được.

     

    1.3. Phương pháp đánh giá của PEFA: Chấm điểm cho các chỉ số theo Phương pháp cho điểm 1 (M1), hoặc Phương pháp cho điểm 2 (M2); tổng hợp kết quả theo điểm để xếp mỗi chỉ số theo 04 mức (A, B, C, D); mỗi mức có 2 bậc (cộng (+) hoặc không cộng) nên thang điểm hình thành 08 bậc (A+, A, B+, B, C+, C, D+, D) nên tính chính xác, khách quan của các chỉ số PEFA tương đối cao, chủ thể được đánh giá dễ thừa nhận.

     

    1.4. Kết quả của PEFA: Bản báo cáo hiệu quả hoạt động QLTCC khoảng 30 – 35 trang, với 05 nội dung chủ yếu sau:

     

    • Phần đánh giá tổng quan (ở đầu báo cáo) sử dụng những phân tích dựa trên bộ chỉ số nhằm đưa ra nhận định tổng thể về hệ thống QLTCC của quốc gia theo sáu nội dung căn bản về hiệu quả thực hiện QLTCC cũng như nhận định về tác động

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  35

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    của những yếu kém được xác định với ba cấp độ về đầu ra điều hành ngân sách gồm kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược, và hiệu suất dịch vụ sự nghiệp.

     

    • Phần giới thiệu nhằm trình bày bối cảnh và quy trình lập báo cáo cũng như cụ thể hóa phạm vi chi tiêu công được phân tích trong báo cáo.
    • Phần thông tin liên quan đến quốc gia là nội dung cần thiết để có thể hiểu được kết quả đánh giá theo chỉ số và kết quả đánh giá tổng quan về hiệu quả thực hiện QLTCC. Phần này mô tả ngắn gọn về tình trạng kinh tế quốc gia, mô tả kết quả điều hành ngân sách qua các nội dung đánh giá về kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực chiến lược, và mô tả khuôn khổ pháp lý và thể chế QLTCC.
    • Phần nội dung chính của báo cáo trình bày đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các hệ thống, quy trình và thế chế QLTCC theo bộ chỉ số, và mô tả các biện pháp cải cách gần đây hoặc đang được triển khai của Chính phủ.
    • Phần về tiến trình cải cách của Chính phủ trình bày tóm lược những biện pháp cải cách gần đây hoặc đang được triển khai của Chính phủ và đưa ra đánh giá về các yếu tố thể chế có ảnh hưởng tới lập kế hoạch và triển khai cải cách trong tương lai. [Ngân hàng Thế giới (2005), PEFA- Mục 4]

    Với cách xác lập chỉ số, phương pháp, kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC như trên, PEFA đã được sử dụng như một công cụ quan trọng để đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC ở từng bộ phận, từng ngành, từng địa phương, và cấp quốc gia; đồng thời kết quả đánh giá hiệu quả thực hiện QLTCC cho mỗi chủ thể lại bổ sung nguồn thông tin chung cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về QLTCC và người dân mỗi khi cần thực hiện quyền và trách nhiệm đối với QLTCC.

     

    2.   Nghiên cứu triển khai nhằm áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách

     

    Những nghiên cứu về quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam trong thời gian qua

    đã chỉ ra hàng loạt nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong quản lý đối với các quỹ này, như: Rất nhiều quỹ nhưng không rõ ai quản lý, ai giám sát do thiếu căn cứ pháp lý hoặc bị chồng chéo về thẩm quyền khi chiểu theo các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau [Đặng Thị Hàn Ni (2013)]; Chưa có khung pháp luật quy định chế tài xử lý thống nhất đối với hoạt động của các quỹ TCNN ngoài ngân sách và không bị Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi [Đỗ Quang Minh (2017)]; Hình thành quá nhiều quỹ có nguy cơ dẫn đến phân tán, quản lý lỏng lẻo, tiêu cực, tham nhũng. Việc phát triển nhanh các quỹ, nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng lạm thu, vượt quá khả năng của doanh nghiệp và dân cư [Nguyễn Minh Tân (2013)]; Thiếu cơ chế quản lý đang gây ra khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các quỹ, làm hạn chế tính đầy đủ, chính xác, minh bạch [Cẩm Tú (2017)]… Nhưng các khuyến nghị lại chủ yếu tập trung đề xuất vào ban hành khung pháp lý chung, nên tính khả thi chưa cao. Đặc biệt, rất thiếu các ý kiến đề xuất có liên quan đến đánh giá trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu của các chủ thể có trách nhiệm quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, và các điều kiện để thu hút sự tham gia của công chúng vào quá trình quản lý của các quỹ này.

     

    Trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi cho rằng: Triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam là giải pháp cần ưu tiên thực hiện.

     

    2.1. Sự cần thiết phải triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách là cần thiết

     

    Đề xuất của chúng tôi về sớm ưu tiên nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách ở Việt Nam, do:

     

    Thứ nhất, xuất phát từ tầm quan trọng của các quỹ TCNN ngoài ngân sách là một trong 2 hợp phần quan trọng nhất của tài chính công – xét trên giác độ mục đích tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 đã ghi: “Quỹ tài chính nhà nước

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

     

     

     

    ngoài ngân sách là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.” [Điều 4, khoản 19]. Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13 đã quy định: “Tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước; dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; tài chính của các cơ quan nhà nước…” [Điều 3, khoản 10]. Như vậy, các quỹ TCNN ngoài ngân sách là một bộ phận của tài chính công đã được thống nhất cả trong nhận thức lý luận và cả trong quy định pháp lý dùng trong quản lý nhà nước.

     

    Thứ hai, PEFA là công cụ hữu hiệu để quản lý các quỹ. Khi triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách sẽ buộc các chủ thể được giao quản lý, sử dụng các quỹ này phải quan tâm đến sự kết hợp giữa các trụ cột của quản lý nhà nước tốt với các mục tiêu của QLTCC, như: Trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu, sự tham gia với kỷ luật tài khóa tổng thể, hiệu quả phân bổ, và hiệu quả hoạt động. Nhờ đó chất lượng thể chế trong QLTCC sẽ từng bước được nâng cao do sự bắt buộc phải vào cuộc thực hiện

     

     

     

     

    của từng chủ thể có liên quan đến quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    Thứ ba, Triển khai áp dụng PEFA khá dễ dàng, thuận lợi. PEFA được lượng hóa theo điểm nên dễ so sánh hiệu quả thực hiện hoạt động giữa các chủ thể có trách nhiệm quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách nên vừa giúp cơ quan nhà nước cấp trên dễ đánh giá phân loại kết quả hoạt động của các cơ quan cấp dưới được giao trách nhiệm quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, vừa giúp cho chính tổ chức được đánh giá tự nhìn nhận lại mình mà lựa chọn cách ứng xử cho phù hợp với yêu cầu quản lý.

     

    Thứ tư, PEFA có độ tin cậy cao các báo cáo của PEFA là bằng chứng xác thực để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các quyết định về việc hoàn thiện hệ thống tổ chức, bộ máy và phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn về quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách cho phù hợp.

     

    Thứ năm, PEFA phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam là bước cụ thể hóa quy định của Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 về yêu cầu đối với báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước; trong đó có yêu cầu đối với báo cáo quyết toán của

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  37

     

    NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI

     

    các quỹ TCNN ngoài ngân sách là: “Báo cáo quyết toán của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách phải kèm theo thuyết minh đánh giá kết quả, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của quỹ.” [Điều 65, khoản 7]

     

    2.2. Nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách

     

    Đây là hoạt động có khối lượng công việc rất đồ sộ, đòi hỏi phải tiêu tốn một lượng không nhỏ các nguồn lực đầu vào tương đương với đề tài cấp bộ trở lên. Trong khuôn khổ của mục này của bài báo, chúng tôi chỉ xin nêu ra một số gợi ý định hướng nghiên cứu triển khai như sau:

     

    Lựa chọn bộ chỉ số: Ưu tiên số 1

     

    Về nguyên tắc, các chỉ số của PEFA đều có thể được lựa chọn và sử dụng trong đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nhưng mỗi quỹ có đặc thù về mô hình tổ chức, về nguồn hình thành và sử dụng quỹ khác nhau; cơ chế quản lý khác nhau nên cần có sự phân loại quỹ TCNN ngoài ngân sách theo các nhóm để làm cơ sở cho xác lập các bộ chỉ số đánh giá quản lý cho phù hợp.

     

    Mặc dù vậy, có một số chỉ số vẫn có thể áp dụng chung cho mọi quỹ TCNN ngoài ngân sách, như:

     

    Các chỉ số PI-1 đến PI-4 thuộc mục A- Độ tin cậy của ngân sách; bởi đây là hoạt động bắt buộc phải có ở mỗi quỹ. Đồng thời thông qua các chỉ số này, người đánh giá có thể đưa ra các nhận xét về trách nhiệm giải trình, tính tiên liệu, tính tuân thủ của người đứng đầu cơ quan quản lý quỹ. Ví dụ, tổng thực chi so với ngân sách gốc được phê duyệt ở tổ chức được đánh giá có độ lệch lớn giữa thực hiện với dự toán, thì trước hết đánh giá về tính tiên liệu của người đứng đầu quỹ đó chỉ đạt mức điểm thấp, sau đó mới xem xét đến các vấn đề có liên quan.

     

    PI-6 cần phải được nghiên cứu áp dụng cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách để đảm bảo tính toàn diện, và là cơ sở cho cơ quan quyền lực nhà nước cân nhắc khoản chi cho quỹ TCNN ngoài ngân sách khi thảo luận và quyết định

    dự toán ngân sách hằng năm.

     

    PI-9 và PI-10 cần được áp dụng chung, do giám sát rủi ro tài chính của các quỹ TCNN ngoài ngân sách là trách nhiệm của các cơ quan quản lý cấp trên; đồng thời cũng là tự thân của nhu cầu kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, sự tham gia của công chúng là một trong 4 trụ cột của quản lý nhà nước tốt đối với quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    PI-12 cần phải được thực hiện do tầm nhìn trung hạn đã được coi là 1 trong 8 căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm [Điều 41, khoản 6].

     

    PI-18 phản ánh hiệu quả kiểm soát lương biên chế có thể vận dụng cho các tổ chức quản lý quỹ TCNN ngoài ngân sách, do đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong thường xuyên và có liên quan đến nhiều chính sách khác của Nhà nước ở tầm vĩ mô.

     

    PI-20 thu thập đánh giá về hiệu quả kiểm soát nội bộ với các khoản chi ngoài lương. Nhu cầu này có ở tất cả các tổ chức được giao quản lý, sử dụng quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nội dung chi này thường có các “con số không rõ ràng“ và là nội dung không hề dễ xử lý trong quá trình hoạt động của quỹ TCNN ngoài ngân sách.

     

    PI-21 phản ánh hiệu quả kiểm toán nội bộ. Đây là xu hướng tất yếu phải thực hiện đối với tất các đơn vị thuộc khu vực công khi quản trị nền hành chính nhà nước dần thay thế cho quản lý hành chính truyền thống.

     

    PI-22 phản ánh mức độ kịp thời và thường xuyên của việc đối chiếu tài khoản. Điều này đã được xác định trong Luật Kế toán và các luật chuyên ngành khác; trong đó kế toán các quỹ TCNN được xếp vào kế toán công nên càng cần phải làm tốt các yêu cầu của PI-22 này.

     

    PI-24 và PI-25 là yêu cầu của kế toán công khi thực hiện các thao tác nghiệp vụ nhằm tổng hợp và cung cấp thông tin cho quá trình quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách; đặc biệt là ở khâu lập dự toán và lập quyết toán.

     

    • Số 121 – tháng 11/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN

    Các chỉ số PI-26 đến PI-28 cần phải đươc thực hiện để đảm bảo có các đánh giá ngoài và hướng tới các tiêu chuẩn chung của tổ chức, và cung cấp các thông tin cần thiết cho cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện quyền giám sát của họ.

     

    Với các quỹ có quyền tự quyết cao cần sử dụng thêm chỉ số PI-19; bởi một phần quan trọng trong chi tiêu công được thực hiện qua hệ thống mua sắm đấu thầu. Hệ thống mua sắm đấu thầu vận hành tốt sẽ đảm bảo vốn được sử dụng đạt hiệu quả và hiệu suất. Cạnh tranh mở qua đấu thầu được coi là cơ sở để đạt hiệu suất cao nhất trong mua sắm đầu vào và đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn trong việc Chính phủ thực hiện các chương trình và các dịch vụ sự nghiệp. Chỉ số này tập trung đánh giá chất lượng và độ minh bạch của khuôn khổ pháp lý về mua sắm, đấu thầu qua việc xác định sử dụng cạnh tranh mở và công bằng là phương pháp mua sắm nên áp dụng, đồng thời xác định các phương pháp phù hợp khác với cạnh tranh mở nếu được biện minh theo hoàn cảnh cụ thể.

     

    Như vậy, có tới 18/28 chỉ số của PEFA có thể lựa chọn nghiên cứu triển khai áp dụng cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách (dưới góc nhìn của chúng tôi). Nếu Chính phủ chỉ đạo tổ chức nghiên cứu triển khai và đưa vào các quy định hướng dẫn quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách kịp thời, sẽ là bước đột phá cho cải cách quản lý đối với các quỹ này.

     

    Hoàn thiện Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách: Các việc cần phải giải quyết

     

    Sau khi đã thống nhất được bộ chỉ số cho đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách, các việc còn lại cần phải triển khai nghiên cứu là: Xác lập phương pháp thu thập thông tin; Lựa chọn phương pháp đánh giá; và Báo cáo kết quả. Đó là 3 nội dung còn lại thuộc Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách. Nội dung của 3 việc trên khá đồ sộ; tuy nhiên về cơ bản có thể dựa trên nền tảng đã có của PEFA mà triển khai và cụ thể hóa. Ví dụ, phương pháp đánh giá hoàn toàn

    có thể kế thừa 2 phương pháp cho điểm của PEFA (M1 và M2); hay mẫu báo cáo hiệu quả hoạt động quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách cũng có thể mô phỏng dựa theo mẫu của PEFA.

     

    Suy nghĩ của chúng tôi về nghiên cứu triển khai áp dụng PEFA vào đánh giá quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách dựa trên nền tảng pháp lý đã có

     

    • Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán, Luật Đầu tư công và cơ chế quản lý đã có cho mỗi quỹ TCNN ngoài ngân sách; nên không làm xáo trộn khung pháp lý, nhưng lại rất hữu ích cho cụ thể hóa các quy định đã có ở khung pháp lý và thiết thực góp phần tăng cường quản lý các quỹ TCNN ngoài ngân sách theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là những nhận định mang tính chủ quan, rất mong có nhiều ý kiến bàn thảo về chủ đề này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Ngân hàng Thế giới (2005), Khung đánh giá hiệu quả thực hiện quản lý tài chính công, tháng 6.

     

    1. Đỗ Quang Minh (2017), Pháp luật về quỹ tài chính công ngoài NSNN ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017.

     

    1. Đặng Thị Hàn Ni (2013), Quỹ tài chính nhà nước: Cần được luật hóa, Báo Sài Gòn giải phóng ngày 12/09/2013.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13.

     

    1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/ QH13.

     

    1. Nguyễn Minh Tân (2013), Quản lý và giám sát các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, Số 8 (586), tháng 8.
    2. Cẩm Tú (2017), Đề xuất cơ chế quản lý 70 quỹ tài chính ngoài ngân sách, VOV- Trung tâm thông tin, http://vov.vn/kinh-te/de-xu-at-co-che-quan-ly-70-quy-tai-chinh-ngoai-ngan-sach-589183.vov.

     

     

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 121 – tháng 11/2017  39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]