Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Hoán đổi ngoại tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-g%C3%B3p-ph%E1%BA%A7n-th%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A9y-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-C%C3%B4ng-th%C6%B0%C6%A1ng-%C4%90%E1%BB%91ng-%C4%90a.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    LỜI CẢM ƠN

     

     

    Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Ninh, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bản chuyên đề này. Xin cám ơn các anh chị đã giúp đỡ em trong đợt thực tập tại ngân hàng Công thương Đống Đa. Xin cám ơn tất cả các bạn những người đã động viên, khuyến khích và đóng góp ý kiến cho bản chuyên đề của tôi được đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn.

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thực hiện chính sách mở cửa, với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, hoạt động kinh doanh  đối ngoại này được mở rộng, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh trong đó có sự đóng góp tích cực của hệ thống ngân hàng thương nmại. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động của các ngân hàng thương mại đã đang dạng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, nền kinh tế quốc dân trong đó có nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ngày càng mở rộng  và phát triển

    Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại  Ngân hàng công thương Đống Đa trong thời gian qua đã  phần nào đáp ứng được nhu cầu nào trong kinh doanh. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có những vấn đề nổi lên cần phải xử lý tiếp như quan hệ mua bán giữa các loại ngoại tệ, giữa ngoại tệ và nội tệ, giữa huy động và sử dụng,.. Do đó đòi hỏi phải tìm kiếm các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ .

    Với ý nghĩa đó thông qua hoạt động thực tế tại ngân hàng Công thương Đống Đa, em xin được chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa“, mong được góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc của thực tiễn và có ý nghĩa lâu dài.

     

    MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    Bản chuyên đề được nghiên cứu một cách tổng hợp những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.

    Từ những  nghiên cứu cơ bản đó, đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động tại ngân hàng Công thương Đống Đa từ đó đánh giá kết quả, những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này, phân tích những nguyên nhân của hạn chế đó và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị của tác giả nhằm tháo gỡ những hạn chế trên và thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng.

    1/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    + Đối tượng nghiên cứu là mảng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng Thương mại cùng các hình thức giao dịch của nó cũng như các điều kiện để thực hiện các hình thức này.

    + Phạm vi nghiên cứu là chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa

    2/ Kết cấu:

    Tên đề tài nghiên cứu”Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa”

    3/ Bố cục

    Lời mở đầu

    Chương I: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương Đống Đa

    Chương III: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công thương khu vực Đống Đa.

    Lời kết

    Hà nôi, ngày    tháng    năm 2001

    Sinh viên

    Nguyễn Mạnh Thắng

     

    CHƯƠNG I

    NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

     

    1. NGHIỆP VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối

    Thế  nào là thị trường ngoại hối. Sự ra đời và phát triển của thị trường ngoại hối gắn liền với sự phát triển của ngoại thương. Các giao dịch trong ngoại thương liên quan đến nhiềuloại đồng tiền của nhiều quốc gia khác nhau. Chẳng hạn chúng ta không thể thu mua nông sản bằng USD để xuất khẩu và cũng không thể nhập phân bón từ nước ngoài bằng VND. Do đó cần có sự chuyển đổi USD và VND khi xuất nhập khẩu. Đó chính là thị trường ngoại hối.

    Như vậy, thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch trao đổi các ngoại tệ. Thị trường này bắt nguồn từ sự hình thành và phát triển của ngoại thương, do đó sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của ngoại thương. Có rất nhiều các trung tâm giao dịch ngoại hối lớn trên thế giới như London, Newyork, Tokyo., Frankfurk… điều hành và phát triển thịnh vượng gắn liền với sự phát triển của các trung tâm thương mại sầm uất với đầy đủ các giao dịch buôn bán trong và ngoại nước.

    1.1.1 Đặc điểm của thị trường ngoại hối

    Vì là thị trường mua bán các loại hàng hoá đặc biệt – đồng tiền của các nước – nên thị trường ngoại hối có đặc điểm riêng sau:

    – Thị trường ngoại hối là thị trường mang tính quốc tế, phạm vi hoạt động không chỉ trong một quốc gia mà trên khắp toàn cầu để phục vụ cho nhu cầu giao dịch ngoại tệ.

    – Thị trường ngoại hối là thị trường hoạt động liên tục trong một ngày. đặc điểm này xuất phát từ sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực địa lý khác nhau khiến cho thị trường ngoại hối quốc tế nói chung luôn mở cửa, các giao dịch được thực hiện nhờ vào các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: Điện thoại, FAX, hệ thống giao dịch và thông tin tài chính, ngân hàng quốc tế khiến cho các giao dịch luôn được thực hiện.

    – Các hoạt động giao dịch trên thị trường ngoại hối chủ yếu là các loại ngoại tệ mạnh, có khả năng chuyển đôỉ cao: USD, DEM,JPY,GBP,… Các thị trường ngoại hối quốc tế giao dịch chủ yếu là USD và thường dùng nó làm dự trữ ngoại tệ của nước mình. Do đó thông thường giá trị của các đồng tiền khác được biểu hiện thông qua USD.

    – Thị trường ngoại hối là thị trường vô hình nhưng hoạt động rất sôi động các đồng  tiền không phải được mua bán tại các sàn giao dịch mà được tổ chức thành thị trường qua tay, tại đó hàng năm các nhà kinh doanh ngoại hối chủ yếu là các ngân hàng sẵn sàng mua và bán các loại tiền gửi ghi bằng ngoại tệ. Thị trường ngoại hối mang tính chất cạnh tranh  cao và việc mua bán giữa các Công ty, ngân hàng, chính phủ, thườngdiễn ra thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại.

    1.1.2 Cấu trúc thị trường ngoại hối

    Về cấu trúc thị trường ngoại hối không phức tạp lắm. Nếu căn cứ vào hình thức tổ chức, thị trường gồm hai loại: thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức, có thể mô tả bằng sơ đồ sau:

    Nếu căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh, thị trường ngoại hối có thể bao gồm nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao ngay. Thị trường có kỳ hạn, thị trường giao sau, thị trường quyền chọn và thị trường hoán đổi ngoại tệ.

    Sơ đồ:

    Cơ cấu của thị trường ngoại hối

    Các bên tham gia  thị trường ngoại hối được xác định bằng luật lệ của nhiều quốc gia khác nhau. Tại phần lớn các nước luật lệ này được các  chủ thể thực hiện các giao dịch thông qua các trung gian được uỷ quyền có hay không có trách nhiệm kiểm soát và là những thành viên chính tham gia thị trường ngoại hối, đó là các NHTM và NHTW, các nhà môi giới, các Công ty xuất nhập khẩu. Chúng ta xem xét vai trò của các thành viên trên thị trường ngoại hối

    NHTM và ngân hàng đầu tư.

    Nhóm này bao gồm tất cả các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư tham gia  mua bán ngoại tệ cho chính họ khi thực hiện mục tiêu kinh doanh hay mua bán thay cho khách hàng khi thực hiện vai  trò môi giới. Ngày nay, thị phần ngoại tệ liên ngân hàng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động trên cơ sở hoạt động khách  hàng. Theo thống kê, hoạt động ngoại tệ liên ngân hàng chiếm từ 70- 90% tổng doanh số hoạt động kinh doanh đối ngoại.

    Hoạt động trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng: Các ngân hàng thương mại đảm nhận hầu hết các hoạt động chuyển hoá trên thị trường ngoại hối với tư cách là người bán hoặc mua. Những ngân hàng lớn có nhiều khách hàng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, họ thương xuyên có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh tóan tiền hàng nhập khẩu hoặc có nhu cầu bán ngoại tệ để lấy nôị tệ chi tiêu trong nước, lúc này NHTM sẽ tham gia vào thị trường ngoại hối với tư  cách là trung gian thay mặt cho khách hàng của mình để thực hiên các giao dịch. Khi thực hiện các hợp đồng thanh toán bằng ngoại tệ trước hoặc sau các NHTM đều phải thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Bên cạnh những giao dịch phục vụ thanh toán, hầu hết các ngân hàng còn hoạt động kinh doanh ngoại tệ theo hình thức liên ngân hàng, có nghĩa các ngân hàng trực tiếp mua bán với nhau bằng chính số dư tài khoản ngoại tệ của mình.

    Ngân hàng Trung ương

    Ở hầu hết các nước NHTW là người đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và ổn định sự hoạt động của thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá hối đoái. Ngân hàng trung ương có 2 chức năng trên thị trường ngoại hối  đó là một mặt phục vụ khách hàng của mình ( chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước, các ngân hàng thương mại nước ngoài, các tổ chức tiền tệ quốc tế,. Mặt khác trung ương giám sát các hoạt động của thị trường, theo dõi, tỷ giá và trong trường hợp cần can thiệp thì có thể một mình hoặc cùng các ngân hàng trung ương khác để tác động tới một đồng tiền này hay một đồng tiền khác. Sự can thiệp của ngân hàng thương mại nhằm cân bằng nhu cầu ngoại tệ để giữ cho tỷ giá hối đoái tránh được những biến động. Khi can thiệp trên thị trường ngoại hối, ngân hàng trung ưong thường sử dụng quý dự trữ bình ổn tỷ giá và thực hiện chính sách hoạt động công khai. Ngân hàng trung ương dùng nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều chỉnh cung cầu thị trường. Trong trường hợp cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, ngân hàng trung ương buộc phải mua ngoại tệ bằng đồng bản tệ và bán ngoại tệ trong trường hợp ngược lại với giá cả do ngân hàng thương mại quy định trong trường hợp ngược lại với giá cả ngân hàng trung ương. Thông qua nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là những biện pháp rất quan trọng của nhà nước để ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá. Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương cũng thường ký thoả thuận vay dự trữ và thoả thuận này cho phép các ngân hàng trung ương vay dự trữ ngoại tệ trong thời gian ngắn để bình ổn tỷ giá.

    Là những người tham gia trên thị trường với tư cách là trung tâm trong giao dịch mua bán hoặc mua bán thay cho người khác nhằm thu hoa hồng trong  từng chuyến giao dịch. Họ có thể là trung gian giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau để tạo điều kiện cho cung cầu ngoại tệ.

    Cơ sở hoạt động của các nhà mối giới là việc tổ chức bằng điện thoại hoặc mạng vi tính với các ngân hàng, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhiệm vụ của người môi giới là tìm ra một tỷ giá có lợi nhất cho khách hàng của mình thông qua việc sử dụng hệ thống thông tin. Các nhà môi giới luôn có các hợp đồng mua bán ngoại tệ với ngân hàng cộng tác với họ, các họp đồng này thường xuyên ấn định mức chính từ các hợp đồng, tất nhên tuỳ từng ngân hàng tuỳ từng hợp đồng đã thoả thuận trước giá mua tối đa và giá bán tối thiểu, đã tạo cho các nhà môi giới những cơ hội lớn để tìm đến đối tác có nhu cầu.

    Từ đó tỷ giá hối đoái của thị trường được các nhà môi giới xác định trên cơ sở tham gia cung cầu thị trường

    Các Công ty

    Việc tham gia vào thị trường ngoại hối  của Công ty bắt nguồn từ thị trường quốc tế đầu tư trực tiếp. Thương maị quốc tế gắn liền với việc thanh toán bằng ngoại tệ, do vậy việc mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối của các Công ty, trước hết để thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, sau nữa nhằm tự bảo hiểm đối với các rủi ro do những biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái gây ra

    Các giao dịch mua bán ngoại tệ  giưã các Công ty và ngân hàng chỉ chiêm một tỷ lệ nhỏ trong các giao dịch trên thị trường ngoại hối. Tuy nhiên hiện nay vai trò của các Công ty lớn, đặc biệt là các Công ty quốc gia ngày càng phát triển trên thị trường ngoại hối.  Nguyên nhân  do các Công ty đa quốc gia thi hành chính sách mở cửa rộng các nguồn dự trữ ngoại tệ, giảm bớt nguy cơ thiệt hại do sự mất giá của các nguồn vốn tính bằng tiền không ổn định, đồng thời tích cực chạy đua vì lợi nhuận trên cơ sở thu chênh lệch giá. Nếu như tỷ giá của  một đồng tiền nào đó có xu hướng giảm thì các Công ty sẽ chuyển nguồn vốn của mình  sang đồng tiền ổn định hơn.

    Tuy nhiên, các Công ty có nhu cầu về mua bán ngoại tệ  đều tiến hành giao dịch với các ngân hàng và không chỉ căn cứ vào giá mua bán do ngân hàng chào mà còn dựa vào khả năng cung cấp, việc đánh giá các thông tin về kinh tế ở các nước mà họ đang hoạt động, khả năng đưa ra dự báo tỷ giá trong tương lai.

    Qua phân tích cơ cấu tổ chức của thị trường ngoại hối, chúng ta thấy các ngân hàng thương mại là những thành viên chính tham gia thị trường ngoại hối, sau đây chúng ta xem xét họ sẽ thực hiện các nghiệp vụ gì trên thị trường này.

    1.2 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của NHTM

    Thực tế cho thấy, bất kỳ loại hình kinh doanh nào mang lại lợi nhuận lớn thì rủi ro mà nó đem lại cũng không phải là nhỏ và kinh doanh ngoại tệ cũng không nằm ngoài quy luật đó.  Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối:

    + Rủi ro tỷ giá hối đoái

    + Rủi ro trạng thái ngoại hối

    + Rủi ro tỷ lệ SWAP ( tỷ lệ chuyển đổi)

    + Rủi ro thực hiện

    + Rủi ro chuyển đổi và kinh doanh

    Để hạn chế các rủi ro người ta áp dụng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái.

    Tuy nhiên, các nghiệp vụ này không chỉ đơn thuần là hạn chế phòng ngừa rủi ro mà trong quá trình thực hiện, nó còn mang lại một phần lợi nhuận đáng kể trong tổng lợi nhuận. Do đó, nó cũng là các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trong chính sách đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh cuả ngân hàng. Mục đích kinh doanh của ngân hàng là: phòng ngừa rủi ro, kinh doanh kiếm lời và kinh doanh mang tính chất dịch vụ để thu phí.

    1.2.1.Nghiệp vụ hối đoái giao ngay

    Thị trường hối đoái giao ngay là một bộ phận của thị trường hối đoái, doanh số hoạt động của nó  chiếm khoảng 58 % tổng số doanh số thương mại ngoại hối, trong khi thị trường kỳ hạn và thị trường theo quyền chọn chỉ chiếm tương ứng là 40% và 20%.

    Nghiệp vụ hối đoái giao ngay được thực hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay trong đó việc cung ứng các đồng tiền  chuyển đổi được thực hiện chậm nhất là hai ngày làm việc kể từ khi hợp đồng được ký kết.

    Tỷ giá thanh toán ngay (sau hai ngày làm việc) trong thương mại quốc tế gọi là SPORT-RATE, nếu một nhà kinh doanh ngoại tệ muốn thay đổi thời hạn thực hiện hai ngày thành ba ngày thì có thể đề nghị bạn hàng của mình thực hiện tỷ giá SPORT-NEXT, nếu muốn đổi thời hạn thực  hiện từ hai ngày thành một ngày thì đề nghị tỷ giá TOMOROW-NEXT,

    Kỹ thuật giao dịch có thể thực hiện bằng điện thoại, hệ thống màn hình ( Computer), bằng điện báo và trên các sở giao dịch chứng khoán. Thực hiện bằng kỹ thuật màn hình  thực chất là thực hiện qua hệ thống thông tin điện tử, tức là việc thoả thuận hay các hợp đồng được thực hiện thông qua hệ thống “ Money dealing”. Thông qua hệ thống này,  các ngân hàng có thể trực tiếp liên hệ với nhau và thoả thuận các hợp đồng thương mại. Việc chuyển thông tin được thực hiện bằng bàn phím với những ký tự điện tử và thông tin sẽ xuất hiện trên màn hình, đồng thời một máy in được nối mạng với hệ thống sẽ in lại thành biên bản thông tin được chuyển đi. Hệ thống này có ưu điểm so với hình thức điện thoại là việc ghi nhận các thoả thuận bằng văn bản, khắc phục các lỗi nhầm thường gặp trong giao dịch điện thoại như nghe nhầm, viết nhầm, vì thế hệ thống “ Money dealing” được sử dụng rộng rãi.

    Tỷ giá giao ngay (SPORT-RATE) được niêm yết trên các báo kinh tế hàng ngày ở các quốc gia. Thực tế hiện nay, tỷ giá của hầu hết các loại ngoại tệ được trao đổi đều được tính toán so với USD  mà không được tính toán trực tiếp với nhau nữa. Đồng USD được sử dụng như một  loại ngoại tệ trung chuyển ( transport), đồng thời tỷ giá giữa hai đồng tiền không thông dụng, người ta sử dụng tỷ giá tính chéo sau:

    Tỷ gía giao ngay: USD/FRF: 4.8240-60

    Tỷ gía giao ngay: USD/JPY: 125.25-36

    Tỷ gía giao ngay: USD/JPY được tính như sau:

    * Tỷ giá mua:

    + Bán 1 FRF thu được 1/4.8240 USD

    + Bán 1/4.8240 USD thu được 1/4.8240×125.25 JPY, tức là  thu được 25.9639 JPY.

    Vậy tỷ giá mua FRF là 25.9639

    * Tỷ giá bán

    + Mua 1 FRF cần có 1/4.8260 USD

    + Muốn có số USD trên cần có 125.35×1/4.8260 JPY, tức là cần có 25.9739 JPY.

    Vậy tỷ giá bán FRF là 25.9739

    Ta có tỷ giá tính chéo là: 25.9639  –  25.9739

    Điều kiện thực hiện nghiệp vụ hối đoái giao ngay là:

    + Trước hết, phải có nhu cầu của khách hàng, thông thường nghiệp vụ giao ngay phát sinh khi có nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ này để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    + Nghiệp vụ giao ngay còn được thực hiện trong hoạt động đầu cơ của ngân hàng, dự toán tỷ giá của một đồng tiền trong thời gian tới, ngân hàng sẽ mua đồng tiền đó theo hợp đồng giao ngay với ngân hàng khác. Khi tỷ giá thay đổi theo đúng dự toán, ngân hàng có thể bán trao ngay số tiền đầu cơ đó và thu chênh lệch. Ngoài ra, nghiệp vụ trao ngay được sử dụng kết hợp với các nghiệp vụ khác trong các đầu cơ chênh lệch lãi suất.

              1.2.2 Nghiệp vụ ARBITRAGE:

    Nghiệp vụ ARBITRAGE là nghiệp vụ kinh doanh của bản thân ngân hàng, theo ý nghĩa nguyên thuỷ cuả nó, nghiệp vụ này là việc lợi dụng sự chênh lệch về tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lời thông qua hoạt động mua và bán. Do đó, nó còn có tên gọi là nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá hay kinh doanh giao ngay. Đó là việc tiến hành mua bán ngoại tệ đồng thời trên các thị trường hối đoái theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt. Nghĩa là mua với tỷ giá thấp và bán với tỷ giá cao.

    Nghiệp vụ này được thể hiện dưới hai dạng: kinh doanh giản đơn và kinh doanh phức tạp. Kinh doanh giản đơn là việc mua bán ngoại tệ được thực hiện ở hai thị trường khác nhau trong cùng một thời điểm. Kinh doanh phức tạp là việc mua bán ngoại tệ thông qua nhiều thị trường, từ 3 thị trường trở lên. Dù là giản đơn hay phức tạp, nghiệp vụ này chỉ áp dụng giao dịch giữa ngân hàng với ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của các nhà kinh tế có thu chi ngoại tệ vẫn diễn ra thường xuyên, để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng các loại ngoại tệ, họ đã yêu cầu ngân hàng sử dụng kỹ thuật ARBITRAGE để dịch vụ cho họ. Khi đó,ngân hàng với tư cách là người phục vụ khách hàng và thu phí.

    Khi thực hiện nghiệp vụ này, người ta áp dụng tỷ giá giao ngay, là tỷ giá áp dụng tại thời điểm giao dịch (J) nhưng ngày giá trị của nó là sau hai ngày việc (J+2). Trong trường hợp khách hàng cần giao dịch với hai đồng ngoại tệ thì ngân hàng phải xác định tỷ giá chéo của hai loại đồng tiền thông qua đồng tiền trung gian thứ ba.

    Để thấy được lợi ích cuả nghiệp vụ này, ta xét ví dụ sau:

    Ngày 4/7/1998, Công ty XNK Việt nam nhận được 100.000 DEM từ lô hàng xuất khẩu sang Đức, đồng thời lại phải thanh toán cho lô hàng nhập khẩu từ  Pháp là : 500.000 FRF, tỷ giá trên các thị trường:

    USD/DEM = 2.1525/40

    USD/FRF   = 5.6410/30

    USD/VND  = 12960 – 980

    Nếu thực hiện nhiệm ARBITRAGE : Ngân hàng sẽ phục vụ cho khách hàng bằng cách bán DEM lấy FRF, số FRF còn thiếu sẽ được mua bằng VND.

    Vì đây là giao dịch giữa hai đồng ngoại tệ nên ta phải xác định tỷ giá chéo. Theo ví dụ: số DEM của khách hàng không đủ để mua số FRF nên chiều yết giá sẽ là DEM/FRF.

    + Xác định tỷ giá bán: DEM/FRF

    Bán DEM theo tỷ giá 1 USD = 2,1540 DEM

    Mua FRF theo tỷ giá  1 USD = 5,6410 FRF

    Tỷ giá cần tìm là DEM/FRF, do DEM là đồng tiền yết giá và FRF là đồng định giá. Vậy ta có: 1 DEM = 5,6410/2,1540 = 2,6188 FRF

    + Số FRF mua được từ 100.000 Dem:

    100.000 x 2,6188 = 261.880 FRF

    + Số FRF còn thiếu: 500.000 – 261880 = 238.120 FRF

    * Mua số FRF còn thiếu bằng VND:

    + Tỷ giá mua FRF/VND

    Mua FRF theo tỷ giá 1 USD = 5,6410 FRF

    Bán VND theo tỷ giá 1 USD = 1.0980 VND

    Vậy 1 FRF =  12980/5,6410 = 2301 VND

    + Số VND dùng để mua 238.120 FRF:

    23812         0 x 2301 = 547.914.120 VND

    Nếu thực hiện nghiệp vụ ARBITRAGE:

    Công ty sẽ bán toàn bộ số DEM lấy VND, sau đó dùng VND để mua 500.000 FRF:

    + Bán DEM lấy VND: Tỷ giá bán DEM/VND:

    Bán theo tỷ giá: 1 USD = 2,1540 DEM

    Mua VND theo tỷ giá: 1 USD = 12960 VND

    Vậy 1 DEM = 12960/2,1540 = 6016,71 VND

    + Số VND thu được do bán DEM:

    100000 x 6016,71 = 601671000 VND

    + Mua 500000 FRF bằng VND: 500000 x 2301 = 1150500000 VND

    Số VND công ty phải bỏ ra để thực hiện thanh toán:

    1.150.500.000 – 601.671.000 = 548.829.000 VND

    Như vậy, so sánh hai kết quả trong hai trường hợp trên ta thấy rằng:

    Thông qua hai dịch vụ ARBITRAGE của ngân hàng, công ty sẽ tiết kiệm được số tiền là:

    548.829.000 – 547.914.120 = 914.880 VND

    Nếu là giao dịch với khối lượng ngoại tệ lớn sẽ tạo ra một khoản chênh lệch đáng kể cho khách hàng. Sở dĩ có khoản chênh lệch này là do có sự chênh lệch khác nhau giữa rty giá mua và tỷ giá bán của các đồng tiền. Trước đây,nghiệp vụ này rất phát triển chiếm tới đến 40 % lợi nhuận kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng nhưng ngày nay, trên cơ sở những thông tin hiện đại, các thị trường ngoại hối trở nên thông suất nhiệp vụ ARBITRAGE trê không cón ý nghĩa lới trong kinh doanh ngoại hối.

    Khái niệm nghiệp vụ ARBTRAGE ngày nay được hiểu là việc mua bán ngoại tệ để nhằm thu lợi nhuận tư sự chênh lệch tỷ giá mua tỷ giá bán, nhưng hai hoạt động đối ứng này không phát sinh cùng một thời điểm mà thông thường liên quan tơí những phát sinh  khi cân đối ngoại tệ.

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ ARBITRAGE  là :

    Trước hết, Ngân hàng phải là thành viên của hện thống thông tin điện tử, ở đó Ngân hàng có thể thường xuyên theo dõi biến động tỷ giá các thị trường khác nhau trên thế giới, đồng thời có thể đưa ra tỷ giá chào mua, chào bán của mình.

    Thứ hai, cán bộ kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng cần có trình độ, phản ứng linh hoạt với thị trường. Anh tay phải biết thông thi kinh tế chính trị, xã hội phải dự đoán được phản ứng của thi trường trước những thông tin đó, đưa ra được mức tỷ giá thực tế luôn biến động ( ví dụ : Khi nhận được thông báo thu từ nước ngoài vào Pháp giảm nhẹ trong tháng qua, dự đoán xuất khẩu giảm sẽ dẫn tới giảm cung USD trong tương lai, lập tức cán bộ ngân hàng Pháp ấn định tỷ giá của mình tăng cao một chút để tránh những thiệt hại xẩy ra. Một ngân hàng Đức có 3 triệu USD chưa cân đối được sau một hợp đồng bán FRF với khách hàng, nhận thấy cố thể thu lợi từ tỷ giá chào mua vừa tăng của ngân hàng Pháp, lập tức bán 3 triệu USD này cho ngân hàng Pháp.

    Như vậy, các ngân hàng liên tục thay đổi tỷ giá, liên tục giao dịch ngoại tệ trong ngày nhằm tránh rủi ro trước những biến động tỷ giá và thu lơị nhuận ARBITRGE. Lợi nhuận này có thể thấp hơn lợi nhuận tính theo khoảng cách giữa tỷ giá mua vào và bán ra của ngân hàng.

              1.2.3. Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn (FORWARD): 

    Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn được thực hiện bằng hợp đồng mua bán bằng ngoại tệ kỳ hạn, trong đó việc hoàn tất nghiệp vụ này được thực hiện vào một thời điểm nhất định sau đó, vơéi tỷ giá nhất định đã được quy định trong hợp đồng tại thời điểm ký kết.

    Khác với nghiệp vụ mua bán giao ngay là kinh doanh chênh lệch giá kiếm lời, nghiệp vụ mua bán kỳ hạn chủ yếu là phòng ngừa rủi ro do biến động của tỷ giá tại thời điểm chuyển đổi quyền sở hữu về tài sản hữu hình của các chủ thể kinh tế trong nước và nước ngoài với tỷ giá tại thời điểm thanh toán các giao dịch trong tương lai.

    Đối với ccác nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, họ luôn có nguồn thu chi về ngoại tệ trong nước cũng như nứoc ngoài và họ không thể tránh khỏi rủi ro do các đồng ngoại tệ đem lại , vì nó luôn biến động theo chiều hướng tăng hoặc giảm. Chính vì vậy các nhà xuất nhập khẩu, thực hiện hợp đồng với nước ngoài về xuất khẩu một loại hàng hoá nào nhưng việc thanh toán không xẩy ra ngay sau khi giao hàng mà nó xảy ra vào một ngày ấn định trong tương lai. Trong khi đó tỷ giá các đồng ngoại tệ có thể thay đổi theo chiều hướng giảm , nghĩa là đồng ngoại tệ bị mất giá và đến ngày thanh toán nhà xuất khẩu nhận được số tiền bản tệ “ít hơn” so với lúc giao hàng. Vì vậy, để giảm bớt rủi ro, Anh ta ký với ngân hàng một hợp đồng gọi là hợp đồng có kỳ hạn với đúng bằng thời hạn thanh toán của người nứơc ngoài. Ngược lại các nhà nhập khẩu, để tránh khỏi rủi ro khi tỷ giấ tăng họ cũng có thể ký hợp đồng mua với ngân hàng.

    “Hợp đồng mua bán kỳ hạn” là một hợp đồng trao đổi một đồng tiền này với một đồng tiền khác, tỷ giá trao đổi trong tuơng lai được ấn định ngày ký hợp đồng (J), việc giao vốn đựoc thực hiện ở một ngày xác định trong tương lai (J+N)

    Thị trường hối đoái giao ngay và thị trường hối đoái kỳ hạn có những đắc điểm chung về phạm vi nhân sự tham đự và tổ chức thị trường, kỹ thuật ký kết hợp đồng, ưu thế giao dịch của đồng USD. Điểm khác lớn nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ : Trên thị trường kỳ hạn , tỷ giá giao dich ít phụ  thuộc vào mức độccung cầu thời hạn mà phụ thuộc lớn vào mức chênh lệch lãi suất giữa haiđồng tiền giao dịch .

    Cách xác định tỷ giá kỳ han :

    * Cách xác định hướng giao dịch :

    Ngân hàng luôn là người mua rẻ , bán đắt và khách  hàng là người mua đắt bán rẻ . Khi ngân hàng mua bán trên thi trường với ngân háng khác thì cũng có thể với tư cách là khác hàng chịu thiệt thòi về tỷ giá ( Nếu ngân hàng là người hỏi gía)

    * Cách xác điịnh tỷ giá kỳ hạn :

    Tỷ giá ky hạn của gân hàng là tỷ giá kỳ hạn của khách hàng và ngược lại . Ngân hàng khi xác định tỷ giá mua bán kỳ hạn thì ngân hàng đứng ra với tư cách là khách hàng mua bán hoặc vay, cho vay với ngân hàng khác.

    *Cách xác điịnh tỷ giá mua kỳ hạn của ngân hàng :

    Bước 1: Xác điịnh tỷ giá bán giao ngay đồng yết giá đối khoản là đồng định giá (C), bao giờ cũng là giá thấp, vì trên thi trương ngân hàng đang đóng vai trò là khách hàng.

    Bước 2: Cho vay đồng định giá với lãi suất thấp(t2)

    Bước 3: Đi vay đồng yết giá với lãi suất cao(t+1)

    Bước 4: Xác định chênh lệch lãi suất :

    Nếu t2>t1 thì At là điểm gia tăng

    Nếu t2<t1 thì At là điểm khấu trừ.

    Bước 5: Xác định tỷ giá kỳ hạn ;

    Nếu t2>t1 : Tỷ giá kỳ hạn =C+At

    Nếu t2 < t1: Tỷ gía kỳ hạn =C+At

    *Cách xác định tỷ giá bán kỳ hạn của ngân hàng :

     Bước 1: Xác định tỷ giá mua giao ngay đồng yết giá với đối khoản là đồng định giá, tỷ giá cao (C).

    Bước 2: Cho vay đồng yết giá với lãi suất thấp (t1)

    Bước 3: Đi vay đồng định giá với lãi suất cao (t2)

    Bước 4: Xác định chênh lệch lãi suất :

    Bước 5 : Xác định tỷ giá kỳ hạn (CAT)

    Nếu t2>t1 :CAT=C+At

    Nếu t2< t1: CAT=C+At

    *Ví dụ : Một nhà kinh doanh XNK của Pháp có nguồn thu ngoại tệ do XK  hàng hoá là 1000000 USD với thời hạn 3 tháng . Để phòng ngừa rủi ro , nhà kinh doanh này kỳ kết hợp đồng bán kỳ hạn với ngân hàng .

    Tỷ giá bán giao ngay : USD/FRF=5,1420/60

    Lãi suất USD (Thời hạn 3 tháng ) : 7%-8%

    Lãi suất FRF (thời hạn 3 tháng ) 6% -6,5%

    *Xác định tỷ giá mua kỳ hạn của ngân hàng :

    + Tỷ giá bán giao ngay :USD / FRF=5,1420

    + Để có bán, giao ngay, ngân hàng sẽ phải thực hiện :

    Cho vay đồng FRF với lãi suất thấp 6%, đi vay đồng USD với lãi suất cao 8%, lúc đó ngân hàng sẽ lỗ2%.

    Cêch lệch trên thị trường tiền tệ sẽ bù lại cên lệch tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn trên thi trường hối đoái.

    + Vậy tỷ giá kỳ hạn của USD / FRF 3 tháng là :

    CAT=5,1420 – 0,0257=5,1163

    Sau 3 tháng nhà XNK Pháp bán cho ngân hàng với tỷ giá :

    USD/FRF = 5,1163, nhà XK đã hạn chế được rủi ro.

    * Giả sử sau ba tháng tỷ giá bán trên thi trường là 5,1110. Nếu xét ở góc độ là nhà XNK không ban kỳ hạn cho ngân hàng tớc là chỉ chờ cho hợp đồng thanh toans của nước ngoài đến hạn. Số ngoại tệ thu về, nhà XNK bán ngay cho ngân hàng với giá thi trường thì lúc đó nhà XNKbị mất mồi . USD là 0,005 FRF so với tỷ giá kỳ hạn (Nếu như bán kỳ hạn cho ngân hàng ). Tuy nhiên, xét ở mức độ sâu xa hơn thì nhà XNK còn mất nhiều hơn nếu ta đem so sánh tỷ giá lúc giao hàng với tỷ già tại thời điểm được thanh toán.

    Với ví dụ kể trên, nhà XNK mất mồi USDlà 0,035(tức là 5,1460 – 5,1110).

    Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ kỳ hạn là:

    + Các quy định của pháp luật phải cho phép, tạo điều kiện cho các ngân hàng qua các quy định về xác định tỷ giá kỳ hạn, phí hợp đồng…

    + Khách hàng biết đến nghiệp vụ này của ngân hàng và có yêu cầu thực hiện nó nhằm tránh nhưỡng biến động tỷ giá ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động kinh doanh của khách hàng.

    + Khả năng của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Nếu ngân hàng chỉ thực hiện một nghiệp vụ kỳ hạn đơn lẻ, ngân hàng có thể phải gánh chịu một rủi ro hối đoái thay cho khách hàng của mình. Vậy khả năng, mối quan hệ của ngân hàng với khách hàng khác, với các ngân hàng bạn trong nước và thế giới là yếu tố quan trọng để ngân hàng thực hiện được các nghiệp vụ đối ứng, loại trừ rủi ro trên. Hơn nữa, ngân hàng còn có khả năng đưa ra mức tỷ giá kỳ hạn hấp dẫn với khách hàng hơn các ngân hàng khác.

    1.2.4.Nghiệp vụ hồi đoái tương lai (FUTURE):

    Đây là một nghiệp vụ hối đoái mới, đưa vào các giao dịch ngoại tệ từ đầu những năm 80. Nghiệp vụ này cũng được thực hiện theo hợp đồng kỳ hạn,trong đó quy định tránh nhiệm mua hoặc bán một khối lượng ngoại tệ nhất định vào thời điểm ấn định và theo tỷ giá thoả thuận từ trước. Điểm khác biệt giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hoá, cụ thể như sau:

    * Số đồng tiền giao dịch chỉ giới hạn ở một số ít đồng tiền cò lưu lượng giao dịch lớn.

    * Quy mô của từng giao dịch :Được quy định là bội chuẩn theo từng loại đồng tiền giao dịch.

    * Thời điểm tất toán : Được quy định là một số thời điểm nhất định trong năm, bất kể hợp đồng được ký kết vào các thời gian khác nhau.

    *Phương thức đánh dấu thị trường :Các loại động trên thị trường hối đoái tương lai không tất toán trực tiếp giữa người bán và người mua.Việc ký kết mỗi một hoạt động là việc ký kết với quỹ cân đối :(clreaing house). Các hợp đồng dược đảm bảo thực hiện bằng giá trị nguồn đảm bảo tại quỹ cân đối, quỹ này sau mỗi ngày làm việc có trách nhiệm đánh giá lại các hợp đồng giao dịch cuối ngày. Nếu có sự thay đổi về giá so với hợp đồng đã ký kết,quỹ cân đối sẽ thực hiện ba hoạt động đó là; Chuyển tiền từ nguồn đảm bảo của bên bị thiệt hại sang bên được lợi, huỷ bỏ hợp đồng cũ và ký kết hợp đồng mới.

    * Khác với các giao dịch hối đoái kỳ hạn, các giao dịch hối đoái tương lai rất ít được duy trì cho tới thời điểm tất toán. Trong khi tỷ lệ hợp đồng kỳ hạn được thực hiện là 90% thì với giao dịch hối đoái chỉ khoảng 10%. Thông thường ở giao dịch tương lai, chỉ có các nghiệp vụ thanh toán chênh lệch tại thời điểm tất toán.

     

     

              1.2.5. Nghiệp vụ hoàn đổi ngoại tệ.

    Trong nghiệp vụ kinh doanh kỳ hạn, một ngân hàng chỉ hoạt động một giá để phục vụ khách hàng của mình, nghĩa là ngân hàng mua hoặc bán ngoại tệ theo tỷ giá kỳ hạn mà không đồng thời thoả thuận với khách hàng một nghiệp vụ đối ứng bán hoặc mua lại. Những nghiệp vụ như vậy được gọi là nghiệp vụ có kỳ hạn đơn phương pháp (SOLO) hoặc nghiệp vụ outright chỉ được các ngân hàng thực hiện với khách hàng hoặc theo sự uỷ nhiệm của khách hàng. Ngược lại, giữa các ngân hàng người ta sử dụng phổ biến nghiệp vụ SWAP,đó là nghiệp vụ mà cùng ví một bạn hàng, Ngân hàng đồng thời mua và bán hai loại ngoại tệ khác nhau theo tỷ giá giao ngay và theo tỷ giá kỳ hạn.

    * Nghiệp vụ SWAP thông thường:

    Nếu tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch có kỳ hạn nhằm hạn chế rủi ro do những biến động lớn về tỷ giá thì nghiệp vụ SWAP là nghiệ vụ được thực hiện nhằm giải quyết những nhu cầu tạm thời. Ví dụ : Mua đồng GBP bằng đồng USD theo thời hạn 3 tháng, đồng thời giao bàn ngay đồng GBP lấy USD thanh toán ngay sau 2 ngáy làm việc. Trạng thái ngoại hối trong giao dịch SWAP không thay đổi vì số lượng mua bán bằng nhau. Với nghiệp vụ này hai bên giao kỳ hanj và tỷ giá giao ngay gọi là điểm SWAP.

    công thức tính điểm SWAP:

    Nếu quy định hiện tại ta có công thức :

    Tỷ giá kỳ hạn tính căn cứ vào tỷ giá giao ngay và điểm SWAP (At):

    + Nếu >0 thì tỷ gía kỳ hạn = C+At

    + Nếu < 0 thì tỷ giá kỳ hạn =C+At

    Giao dịch này được áp dụng phổ biến trong giao dịch liên hàng, bởi vì nó suất phát từ mối quan hệ chăt chẽ giữa thị trường tiền gửi và hị trường giao ngay. Bất kỳ người nào có nhu cầu vay tiền hoặc cho vay tiền đều có thể thực hiện bằng ngoại tệ hoặc nội tệ. Nhưng thông thường thi trường ngoại tệ luôn chào đón với lãi suất ưu đãi hơn, chẳng hạn như lãi suất USD là 15%/năm, khi đó lãi suất bản tệ chỉ 9%/năm. Như vậy, nhà đầu tư có tiền gửi bản tệ sẽ mang USD đầu tư vào thi trường ngoại tệ USD với lãi suất 15% /năm.Một điều mạo hiểm với anh ta là nếu tỷ giá ở thời điểm anh ta đổi lại có biến động bất lợi so với tỷ giá lúc đổi đi, khi đó anh ta chỉ còn cách bù lỗ thông qualãi suất thu được. Tuy nhiên, để khác phụ rủi ro này, anh ta thực hiện giao dịch SWAP như sau:

    + Mua giao ngay USD đối khoan lá nội tệ.

    + Bán kỳ hạn USD đổi khoản là nội tệ với thời hạn bằng thời gian đầu tư trên thi trường tiền gửi.

    Như thế, anh ta đi đi vay nội tệ với lãi suất t2, cho vay ngoại tệ với lãi suất t1, thu được một khoản lãi mà không phải chịu rủi ro. Đay là ưu điểm cơ bản của nghiệp vụ SWAP.

    Ví dụ : Do dự thừa FRF, ngân hàng thoả thuận một giao dịch SWAP 500000 USD đối khoản FRF sau 3 tháng trên thi trường tỷ giá như sau:

    Lãi suất USD :USD= 6% – 6,125%/năm

    Lãi suất FRF : FRF=7,125 – 7,25%/năm

    Ngân hàng A này thực hiện các hợp đồng cùng một lúc như sau:

    + Mua USD/FRF trên thi trường giao ngay tỷ giá là 6,6540

    + Bán kỳ hạn USD/FRF sau 3 thàng như ngân hàn B.

    Muốn thực hiện giao ngay , giả sử ngân hang A không thừa FRF anh ta sẽ:

    + Vay FRF với lãi suất 7,25%/năm

    + Cho vay USD với lãi suất 6%/năm

    + Thời hạn n=3 tháng

    Điểm gia tăng :

    (Quy về hiện tại: At=0.0212/1+(6*92/36000)=0,0208 tỷ giá SWAP= 0,0208)

    Tỷ giá giao dịch kỳ hạn SWAP là : CAT = 6,7540 + 0,0208=6,6748.

    Như vậy, ngày ký hợp đồng (J) ngân hàng A sẽ nhận được 500.000USD đổi lấy :

    500.000USD x 6,6540 = 3.327.000FRF.

    Vào ngày giá trị ngân hàng sẽ nhận được số FRF là :

    500.000 USD x 6,6748 = 3.337.405FRF.

    Ngân hàng sẽ giao cho ngân hàng B 500.000USD, như vậy qua giao dịch này, ngân hàng A sẽ có một khoản lãi là :

    3.337.405 – 3.327.000 = 10.405FRF.

    * Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ SWAP cũng tương tự như với nghiệp vụ kỳ hạn, tuy nhiên SWAPcó những ưu điểm hơn so với kỳ hạn đối với một số đối tượng sau :

    + Một doanh nghiệp lớn vừa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu. Doanh nghiệp này vừa nhận được khoản thu ngoại tệ về xuất khẩu, anh ta muốn đổi nội tệ để sử dụng chi trả trong nước. Tuy nhiên, anh ta lại có nhu cầu ngoại tệ trong tháng tới để trả tiền hàng nhập khẩu. Thay vì ký kết hợp đồng bán ngoại tệ giao ngay và hợp đồng mua ngoại tệ kỳ hạn, doanh nhiệp này sẽ sử dụng SWAP. Như vậy doanh nghiệp vừa đảm bảo tránh được rủi ro hối đoái vừa giảm được chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ ký kết SWAP, chứ không phải hai hợp đồng riêng biệt.

    + Đối với ngân hàng thương mại, SAP là công cụ hữu hiệu tạo ra trạng thái vốn của hai đồng tiền mà không làm ảnh hưởng tới trạng thái ngoại hối. Vì vậy, giao dịch này trong thực tế thường được các ngân hàng thợc hiện với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng một đồng tiền nhất định mà không phải đi vay trên thị trường. Nhiệp vụ SWAP còn giúp các ngân hàng cân bằng được sự mất cân đối về hối đoái trong các nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay.

              1.2.6. Nghiệp vụ hối đoái theo quền chọn (OPTION) :

    Nghiệp vụ hối đoái theo quyền chọn là một sự thoả thuận bằng hựp đồng giữa người mua và người bán về quyền chọn mua (call-option) hoặc quyền chọn bán (put-option), một loại ngoại tệ nhất định, với số lượng cụ thể theo tỷ giá cố định và vào thời điểm cụ thể.

    Trong hợp đồng này, người mua quyền lựa chọn phải trả cho người bán một khoản tiền đảm bảo. Thông qua đó, người mua dành được quyền mua hoặc bán một loại ngoại tệ nào đó. Mặt khác, anh ta có thể từ chối bỏ quyền lựa chọn của mình khi thấy bất lợi. Rủi ro của người mua quyền lựa chọn chỉ giứi hạn ở số tiền phải trả cho quyền đó (option money). Ngược lại, người bán quyền chọn thu được một khoản tiền từ việc bán quyền nhưng trở thành đối tác thụ động, chịu rủi ro không hạn mức khi tỷ giá biến động không thuận lợi vớ anh ta. Như vậy, hợp đồng quyền chọn là một công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh XNK, các nhà đầu tư tham gia vào thi trường quyền chọn, ngoài các ngân hàng các nhà XNK còn có các tổ chức kinh tế có ngoại tệ trên tài khoản, muốn tăng thu nhập bằng việc thu các lệ phí quyền và chấp nhận làm đối tác thụ động, hay các hãng đầu cơ tham dự với mục đích thu lợi nhuận chênh lệch.

    Nghiệp vụ này có ưu điểm hơn nghiệp vụ kỳ hạn là bên cạnh việc khắc phục rủi ro về tỷ giá bất lợi của nó còn tạo khả năng kiếm lời cho người muaquyền lựa chọn, khi tỷ giá biến động có lợi. Tuy nhiên, để có quyền lựa chọn các nhà kinh doanh hối đoái phải trả môt khoản phí đảm bảo quyền lựa chọn mua bán, phí này phụ thuộc vào các yếu tố sau :

    * Sự ổn định của tỷ giá các đồng giao dịch:Đây là yêú tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến mức phí, đối với đồng tiền có khẩ năng biến động giá mạnh thì mức phí cao và ngược lại những đồng tiền tương đối ổn định thì mức phí thấp.

    Miền hoạt động của các đồng tiền giao dịch: Với những đồng tiền của các quốc gia phát triển như  USD, FRF, GBP … có doanh số giao dịch lớn, có khả năng chyển đổi mạnh thì mức phí thấp và ngược lại những đồng tiền của những nước kém phát triển khó chuyển đổi và ngoại tệ mạnh thí mức phí cao.

    * Thời hạn hiệu lực của hợp đồng mua bán quyền lựa chọn : Thời hạn càng dài thì khẳ năng kiếm lời của nhà kinh doanh mua quyền chọn càng cao và tất nhiên với đối tác thụ động thì rủi ro càng nhiều. Vì vậy, phí cho thời hạn dài thường lớn hơn phí trong mua bán quyền lựa chọn với thời hạn ngắn rất nhiều.

    Mức lãi suất của đồng tiền dùng thanh toán phí mua bán quyền lựa chọn:Đối với đối tác thụ động coi đây là khoản phí tiền gửi không có lãi, do vậy lãi suất đồng tiền này cao thì phí càng cao và ngược lại.

    Thông thường, các ngân hàng là người bán các hợp đồng quyền lựa chọn cho khách hàng XNK của mình. Vì phải ngánh chịu rủi ro nên việc xác định mức tiền đảm bảo cho hợp đồng lựa chọn rất quan trọng. Có thể nói, khoản tiền đảm bảo là giá các của nghiệp vụ quyền chọn. Theo lý thuyết, gía cả của quyền lựa chọn được xác định theo công thức sau :

    Mức tiền đảm bảo của quyền mua ngoại tệ:

    Mức tiền đảm bảo quyền chọn bán ngoại tệ :

    Trong đó

    +^ : Tỷ giá lãi suất của hai đồng tiền dùng tính tiền đảm bảo ( theo thời hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng …)

    + T :Thời hạn hợp đồng ( trong vòng 1 năm)

    + F :Tỷ giá ngoại tệ có kỳ hạn theo hợp đồng

    + X : Giá cơ sở ( giá thoả thuận giữa hai bên quyết định )

    + @ : Độn lệch tiêu chuẩn.

    Công thức tính chỉ  có giá trị tham khảo về tham khảo về mặt lý thuyết. Trong thực tế, công thức tính mức tiền đảm bảo đã được chuyên gia điện toán lập thành chương trình máy tính điện tử.  Các ngân hàng có thể mua chương trình này để sử dụng được.

    1.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    1.3.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại các mục sau.

    Đây là một hoạt động dịch vụ để đảm bảo chắc chắn việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng giữa các nước một cách trôi chảy.

    Thực hiện phiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ cho các khách hàng tại ngân hàng trong nước.

    Tạo cho các ngân hàng khả năng tránh rủi ro do biến động tỷ giá.

    Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lẹch tỷ giá, lãi suất giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để thu lợi nhuận.

    Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước ngoài, khai thác các nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng, tổ chức tài chính bằng ngoại tệ tại ngân hàng trong nước.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ được hiểu trên các khía cạnh sau

    Về mặt định hướng: Trên thị trường hối đoái giao ngay thường diễn ra quan hệ mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng. Các ngân hàng thường không thu phí giao dịch hay hoa hồng mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải chi phí, kể cả bù đắp rủi ro và thu lợi nhuận thoả đáng. Chênh lệch giá mua và giá bán của một ngoại tệ cao hay thấp tuỳ thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị cuả ngoại tệ đó trên thị trường.

    Các loại ngoại tệ có thị trường giao dịch tương đối rộng như USD, GBP, DEM, JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1%đến 0,5% trong khi các ngoại tệ mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá bán và mua vào rất thấp đối với USD trong khi lớn hơn nhiều đối với các ngoại tệ khác.

    Khả năng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng tại ngân hàng đó.

    Tuy nhiên, một khách hang đến giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng không phải chỉ vì giá ngoại tệ ở đó rẻ hơn ngân hàng khác mà còn xem ngân hàng đó có đáp ứng được mọi nhu cầu hợp lý của mình hay không. Nhu cầu đó bao gồm việc gửi vốn, vay trả nợ thuận tiện, việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, các thông tin mà ngân hàng đó mang lại. Vậy trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ ngân hàng sẽ mua hết và khi có nhu cầu mua hợp lý thì ngân hàng sẽ bán đủ, từ đó nhà kinh doanh sẽ có được loại ngoại tệ mà mình mong muốn.

    Sử dụng phương tiện phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái.

    Qua giao dịch mua bán ngoại tệ với ngân hàng sẽ phòng ngừa được rủi ro về tỷ giá, sẽ có được thông tin hưũ ích cho hoạt động kinh doanh của mình. Trong một môi trường kinh tế không ổn định, tỷ giá thương xuyên biến động thì khách hàng luôn luôn chịu ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá. Đương nhiên là không và tốt hơn là nhà kinh doanh tập trung vào công việc thương mại của mình. Từ đó dẫn đến đòi hỏi của khách hàng và ngân hàng đối với ngân hàng là ngân hàng phải có nghiệp vụ nào đó để hạn chế bớt rủi ro về tỷ giá. Đây là một đòi hỏi cần thiết, hợp lý của khách hàng và ngân hàng khó có thể từ chối. Do ngại biến động tỷ giá các nhà xuất khẩu có nhu cầu bán ngoại tệ trong khi các nhà nhập khẩu có nhu cầu mua. Đây chính là cơ hội cho các ngân hàng thương mại sẽ đứng ra mua ngoại tệ có kỳ hạn từ nhà xuất khẩu cho nhà nhập khẩu và kiếm lợi nhuận và chênh lệch giữa giá bán và giá mu. Cơ hội kinh doanh này càng tốt khi tỷ giá biến động mạnh trên thị trường.

    Vậy kinh doanh ngoại tệ không chỉ giúp cho khách hàng phòng chống rủi ro về tỷ giá mà còn giúp cho chính bản thân ngân hàng.

    Để phòng chống rủi ro ngân hàng có thể sử dụng các phương pháp sau:

    Sử dụng hợp đồng có kỳ hạn: Nguyên tắc chung khi sử dụng hợp đồng có kỳ hạn để phòng ngừa rủi ro tỷ giá là thông qua hợp đôngf mua bán ngoại tệ có kỳ hạn các đơn vị cố định tỷ giá mua hay tỷ giá bán ngoại tệ với ngân hàng, từ đó cố định các khoản phải thu hay khoản phải chi bằng nội tệ. Tuy nhiên hợp đồng có kỳ hạn chưa phải là cách phòng chống rủi ro hối đoái tốt nhất mặc dù các hợp đồng có kỳ hạn cố định trước các khoản thu nhập hay chi trả bất luận sự biến động của tỷ giá trên thị trường nhằm giúp công ty có thể xác định chắc chắn hiệu quả kinh doanh nhưng nó chưa hoàn toàn thuận lợi cho công ty nếu tỷ giá biến động ngược lại với dự kiến.

    Sử dụng hợp đồng quyền chọn: Phương pháp phòng chống rủi ro bằng hợp đồng có kỳ hạn trên đồng thời đánh mất cơ hôi kinh doanh kiếm lơị nhuận từ sự biến động tỷ giá. Hơn nữa chúng ta chỉ áp dụng được khi nào công ty chắc chắn mình chiếm được hợp đồng mua bán và trong kinh doanh đôi khi công ty không chắc chắn rằng minh có thể giành được hợp đồng hay không. Trong trường hợp này nên sử dụng hợp đồng quyền chọn bởi hợp đồng quyền chọn công ty có quyền, nhưng không bắt buộc, mua bán một só lượng ngoại tệ.

    Sử dụng hợp đồng hoán đổi ngoại tệ: Thông qua hợp đồng này, một mặt chúng ta có thể thoả mãn nhu cầu tiền tệ hiện tại của mình, mặt khác chúng ta có được sự cam kết của ngân hàng về số ngoại tệ sẽ nhân lại trong tương lai theo một tỷ giá biết trước.

    Như vậy ngân hàng luôn tìm mọi cách để hạn chế các rủi ro về tỷ giá hối đoái đến mức thấp nhất thông qua nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Các phương pháp phòng ngừa rủi ro hối đoái chỉ thực hiện được khi nào có một thị trường tiền tệ phát triển và ngân hàng thương mại sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hay các hợp đồng vay và cho vay trên thị trường tiền tệ. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một thị trường tiền tệ phát triển nên các ngân hàng thương mại chưa thể cung cấp hợp đồng quyền chọn.

    Sự đa dạng hoá các loại ngoại tệ kinh doanh

    Ngoài việc sử dụng các phương pháp trên, việc mua bán nhiều loại ngoại tệ như USD, FTF, JPY, DEM đã tạo điều kiẹn cho ngân hàng dự trữ  nhiều loại ngoại tệ. Từ đó phân tán đều rủi ro, tránh gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng khi tỷ giá một loại ngoại tệ nào đó đột nhiên biến đôngj mạnh. Với việc đa dạng hoá các loại ngoại tệ mạnh một cách chủ động trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng và phát triển thêm các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ khác nhau như quy đổi, điều chuyển vốn giữa các ngoại tệ với nhau trên các tài khoản tiền gửi ngân hàng tài các ngân hàng nước ngoài nhằm đảm bảo thanh toán xuất nhập khẩu, hưởng chênh lệch tỷ giá và lãi suất.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua hoạt động cho vay bằng ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Ví dụ một ngân hàng thương mại có vay của các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng thương mại  nào đó bằng một loại ngoại tệ này, nhưng khi cho các doanh nghiệp vay lại bằng một ngoại tệ khác, hoặc khi cho các doanh nghiệp vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, thiết bí nhưng khi thu tiền bán hàng lại bằng nội tệ, để có ngoại tệ trả nợ vay ngân hàng hầu hết các doanh nghiệp đều phải mua của các ngân hàng thương mại mà rất ít khi thu được qua hoạt đông xuất khẩu. Vậy hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua việc cho vay, thu nợ bằng ngoại tệ một cách thuận lợi, đúng thời hạn qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vu cho vay.

    Hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ còn được đánh giá qua việc nó thúc đẩy công tác thanh toán quốc tế.

    Nhờ hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà công tác thanh toán quốc tế được thuận lợi, trơn tru. Qua đó giúp khách hàng thực hiện nhanh chóng các thanh toán với nước ngoài, giúp khách hàng thực hiện nhanh chóng các thanh toán với nước ngoài, giúp ngân hàng tăng thu dịch vụ phí chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng. Bởi vì thanh toán quốc tế luôn đi liền với nghiệp vụ kinh doanh ngoại tê, để có đủ các loại ngoại tệ (kể cả số lượng và chủng loại) trong thanh toán với khách hàng nước ngoài đúng thời hạn quy định thì không có con đường nào khách là pải có kinh doanh ngoại tệ.

    Tăng cường mở rộng quan hệ với các ngân hàng đại lý và với khách hàng.

    Hơn nữa qua kinh doanh ngoại tệ các ngân hàng thương mại còn có điều kiện mở mang quan hệ với các ngân hàng thương mại, tăng cường mối quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với các ngân hàng trên toàn thế giới.

    Vậy hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ không chỉ được đánh giá qua chỉ tiêu lãi do hoạt động này mang lại mà còn đánh giá qua các nghiệp vụ phòng chống rủi ro về tỷ gía hối đoái và trong mối quan hệ tổng thể với các mặt nghiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tê, là các quan hệ khác với các ngân hàng, khách hàng.

    Tóm lại hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi nhuận cho chính bản thân ngân hàng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội đặc biệt về kinh tế đối ngoại, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.

    1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại phức tạp và gắn chặt chẽ với nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân vì thế nó chịu tác động của nhiều nhân tố như:

    1. Sự phát triển của nền kinh tế

    Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín với thị trường quốc tế và chia cắt giữa các địa phương trong nước. Quan điểm xây dựng một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh đã dẫn đến thừa thì bán, mà thiếu thì mua, trong quan hệ với thị trường nước ngoài. Cơ chế hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời kỳ này là cơ chế cứng nhắc theo Nghị định thư và Nhà nước độc quyền về ngoại thương. Buôn bán chủ yếu diễn ra với các nước xã hội chủ nghĩa, kim ngạch xuất khẩu thấp, đầu tư nước ngoài bị hạn chế. Đồng thời, trong điều tiết lợi ích, nhà nước thu bù chênh lệch ngoại thương nên tỷ giá hối đoái được ấn định trong một thời gian dài, nếu chi phí thực tế cao hơn hoặc thấp hơn tỷ giá thì ngân sách nhà nước sẽ cấp bù hoặc thu về. Tất cả những nhân tố trên có tác động tiêu cực đến kinh tế đối ngoại của Việt Nam, chẳng những kìm hãm tốc độ phát triển mà còn làm giảm sút hiệu quả của việc buôn bán và hợp tác quốc tế. Trong điều kiện như vậy, mọi yếu tố như cung cầu ngoại tê, các yếu tố tác động đến tỷ giá, sự biến động của tỷ giá và sự tồn tại của thị trường hối đoại là không cần thiết đối với các doanh nghiệp trong nưóc cũng như trong quan hệ kinh tế với nước ngoài. Và vì vậy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại không có môi trường, điều kiện để phát triển mở rộng cũng như nâng cao hiệu quả.

    Trong quá trình đổi mới hiện nay, việc phát triển nền kinh tế thị trường, đổi mới các chính sách kinh tế ngoại thương, ngoại hối, từ bỏ chế độ tỷ giá cố định là xu thế tất yếu khi nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ từ đó nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ này trong các ngân hàng thương mại. Tóm lại, qua phân tích trên cho thấy: Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nền kinh doanh đối ngoại nói riêng là một ỵếu tố vĩ mô, có tác động chiến lược tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.

    1. Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia.

    Chính sách quản lý ngoại hối là những quy định pháp lý, những thể lệ của Nhà nước trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng bạc đá quý và các chứng từ có giá trị ngoại tệ cũng như đối với việc trao đổi sử dụng mua bán trên thị trường nội địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nước ngoài.

    Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng vận động ngoại hối từ nước ngoài vào và trong nước ta, có liên quan đến quan hệ ngoại thương cũng như các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ. Đồng thời, chính sách quản lý ngoại hối cũng quản lý và kiểm soát sự lưu thông ngoại hối (chủ yếu là vàng bạc, đá quý và đặc biệt là ngoại tệ) trong phạm vi mỗi quốc gia. Với việc thực hiện nội dung này, chính sách quản lý ngoại hối không những góp phần phát triển cán cân thanh toán quốc tế mà còn có vai trò quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền tệ ràng buộc được pháp luật thừa nhận. Đặc biệt một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia trong mỗi thời kỳ sẽ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thương hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài qua đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    1. Sự biến động của tỷ giá hối đoái.

    Tỷ giá hối đoái mặc dù đã có lịch sử lâu dài trong các giai đoạn phát triển của nhân loại, nhưng cho đến nay vẫn còn là vấn đề hết sức phức tạp. Sự phức tạp của vấn đề tỷ giá thể hiện trên hai phương kiện: Một ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (tình hình kinh tế, thị trường tài chính quốc tế và chính sách can thiệp của các nước) các yếu tố này không nằm trong tầm khoong chế của một quốc gia. Hai là sự tương tác nhiều chiều của quá trình chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ ở mỗi nước. Hình thức biều hiện tổng hợp về sự tương tác từ hai phương diện trên chính là quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Nói chung có rất nhiều yếu tố tác động lên tỷ giá hối đoái, một số yếu tố cơ bản là.

    – Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước hữu quan.

    – Trạng thái cán cân thanh toán quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu ngoại tệ thông qua đó tác động lên tỷ giá.

    – Chênh lệch lãi suất giữa các nước, giữa thị trường tín dụn nội địa và quốc tế.

    – Một số các nhân tố tác động lên cung cầu ngoại tệ qua đó ảnh hưởng đến tỷ giá như các cú sốc chính trị, thói quen tâm lý, các nhân tố xã hội.

    Bên cạnh đó bất kỳ một biến động nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng tác động tới rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, tình hình lạm phát. Tất cả các nhân tố nàu lại ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại nói riêng và thị trường ngoại hối nói chung. Do đó có thể nói biến động của tỷ giá có tác độn sâu, nhiều chiều, phức tạp tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    1. Các nghiệp vụ khác của ngân hàng thương mại có liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Các ngân hàng thương mại ngoài những nghiệp vụ có liên quan đến VNĐ còn có các hoạt động liên quan đến ngoại tệ như: Huy động vốn bằng ngoại tệ kinh doanh ngoại tệ. Có thể thấy rằng toàn bộ các nghiệp vụ này có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau, phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện mở rộng và ơphát triển các nghiệp vụ khác. Trong đó hoạt động thanh toán và nhiều đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    Cho vay ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ hay sản xuất thu hàng xuất khẩu thì cuối cùng cũng phát sinh nghiệp vụ mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, hoặc bán ngoại tệ lấy VNĐ. Vì vậy khi mở rộng cho vay thanh toán hàng xuất khẩu sẽ có điều kiện để phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiệp vụ này.

    Thanh toán quốc tế là việc thực hiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều bằng ngoại tệ. Vì vậy đều phải liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    Tóm lại hai mặt nghiệp vụ này có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, các hoạt động này thường có tốc độ phát triển gần ngang nhau, theo chiều hướng tỷ lệ thuận.

    1.3.2.5 Một số nhân tố khác.

    Bên cạnh các yếu tố cơ bản kể trên, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay còn chịu tác động của một số nhân tố quốc tế như:

    Sự ra đời của các liên minh tín dụng, liên minh tiền tệ, như liên minh tiền tệ Châu âu (EMU)

    Sự xuất hiện của các đồng tiền tiêu chuẩn quốc tế khác bên cạnh các ngoại tệ khác như đồng EURO.

    Trên đây là một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương maị. Nhìn chung các nhân tố trên có quan hệ đan xen nhau, tác động tổng thể nhiều chiều tới cụ diện kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Do đó cần tiến hành phân tích tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng trên cũng như phải biết vận dụng cơ chế của nhà nước, chủ động nắm bắt sự biến động của cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, nghiên cứu thực trạng hoạt động của thị trường tài chính, ngoại hối trước khi quyết định thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh để vừa phục vụ được khách hàng, vừa đảm bảo có lãi trong kinh doanh ngoại tệ.

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ

    TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA

    1.1  Sự ra đời và phát triển của chi nhánh NHCT  Đống Đa

    Thực hiện nghị định số 53/HĐBT ngày 16/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng, hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp sang hai cấp trong đó phân định  rõ chức năng quản lý nhà nước của ngân hàng nhà nước và chức năng kinh doanh của hệ thống NHTM. Trong bối cảnh lịch sử đó, cùng với sự ra đời của NHCT Việt Nam ngày 1/7/1988 ,chi nhánh NHCT Đống Đa được thành lập

    Là chi nhánh trực thuộc của NHCT Nà Nội từ năm 1988 đến 1990 là thời kỳ chuyển đổi khó khăn của hệ thống ngân hàng nói chung và NHCT Đống Đa nói riêng cũng là thời kỳ hệ thống ngân hàng bắt đầu được chuyển sang cơ chế thị trường. Giai đoạn này có rất nhiều quỹ tín dụng kinh doanh không có hiệu quả, còn các ngân hàng thì nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng lên mức kỷ lục. Sự kiện này không phải do bản thân hoạt động của ngân hàng tạo ra mà chính là do vòng xoáy của qúa trình chuyển đổi nền kinh tế mà ngân hàng là tấm gương phản chiếu toàn bộ nền kinh tế. nguyên nhân chính là do sự yếu kém của cơ chế tập trung bao cấp nhưng vẫn có hoạt động kinh doanh.

    Qua nhiều năm phát triển, từ một ngân hàng với cơ sở vật chất lạc hậu, gặp nhiều khó kăn về nguồn nhân lực ,về địa điểm giao dịch , với sự tiến bộ của toàn thể cán bộ công nhân viên ngân hàng, đồng thời được sự lãnh đạo cuả Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa , và NHCT Việt Nam, NHCT Đống Đa đã từng bước trưởng thành và đạt được các kết quả đáng khích lệ. NHCT Đống Đa đã tự đổi mới để tồn tại và phát triển, đứng vững trong cơ chế thị trường với địa thế nằm trên địa bàn rộng lớn, tập trung nhiều loại hình kinh tế nên khách hàng của ngân hàng rất phong phú và đa dạng. Mặt khác, ngân hàng cồn là một trong những đơn vị có đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực , năng động trong điều hành hoạt động kinh doanh, nội bộ đoàn kết thống nhất đã tạo điều kiện cho NHCT Đống Đa mở rộng qui mô, kinh  doanh trên lĩnh vực tiền tệ ,  tín dụng , thanh toán. Ngoài việc tích cực huy động tiền gửi trong dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế ,ngân hàng đã mở rộng các hình thức huy động khác như huy động tiền gửi ngoại tệ từ dân cư, huy động vốn ngoại tệ từ các tổ chức quốc tế và thực hiện một số công tác thanh toán qua ngân hàng cho các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn quận. Nguồn vốn kinh doanh mạnh đã giúp NHCT Đống Đa tự lực được vốn trong kinh doanh, đồng thời thường xuyên có lượng vốn thừa khá lớn điều hoà trong toàn nghành.

    Nguyên tắc hoạt động của NHCT Đống Đa là tự huy động vốn, tự bù đắp chi phí trang trải vốn và làm nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước . Nhờ có nguồn thu vốn lớn và ổn định, NHCT Đống Đa đã mở rộng đầu tư tín dụngcho các thành phần kinh tế trên địa bàn. NHCT Đống Đa cũng đa dạng hoá các nghiệp vụ cho vay nhằm nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng như: Cho vay ngoại tệ phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu , cho vay cầm cố , cho vay tiêu dùng , chiết khấu chứng từ có giá, cho vay theo các chương trình được tài trợ của các tổ chức quốc tế…

    Phục vụ sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, NHCT Đống Đa đã chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thường xuyên tăng cường cả nguồn vốn lẫn sử dụng vốn. Ngân hàng cũng rất chú trọng nâng cao trình độ cán bộ cả về chuyên môn lẫn ngoại ngữ. Cơ sở vật chất ngân hàng được hiện đại hoá, đặc biệt là công nghệ tin học, phù hợp với xu hướng hiện đại hoá ngân hàng nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh ngày một tốt hơn . Trong nhiều năm liên tục , ngân hàng đều kinh doanh có lãi, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, ổn định và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, kết quả kinh doanh năm sau cao hơn năm trước, đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng lớn, tạo được uy tín với khách hàng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau đây:

    • Huy động vốn
    • Hoạt động tín dụng
    • Thanh toán quốc tế
    • Kinh doanh ngoạI tệ
    • Các hoạt động dịch vụ khác

    1.2. Các hoạt động chính của NHCT Đống Đa

    1.2.1. Huy động vốn

    NHCT Đống Đa luôn chú trọng công tác huy động vốn bởi vì có nguồn vốn ổn định, mạnh mẽ sẽ giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh , với chính sách lãi suất, thời hạn linh hoạt, phù hợp với sự biến động của thị trường, NHCT Đống Đa đã thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguồn vốn nàyluôn tăng tưởng trong các năm:

                      Bảng 1: Nguồn vốn huy động qua các năm của NHCT Đống Đa

                                                                                                                 (Đơn vị :tỉ đồng)

    Năm 31/12/1998 31/12/1999 31/12/2000
    Chỉ tiêu Số tiền %(98/97) Số tiền %(99/98) Số tiền %(00/99)
    Tổng huy động vốn 1295,282 108,94% 1518,146 117,2% 1847 125%
    1.Có kỳ hạn 1036,225 80% 1211,898 80% 1421,654 86%
    2.Không kỳ hạn 259,056 2% 306,255 2% 359,128 2%
    3. Tiền gửi khác 295,713 22,83% 346,586 22,83% 325,412 23,51%
    4.Kỳ phiếu,trái phiếu 984,414 76% 1152,067 76% 1257,021 79%

                           (Số liệu : Báo cáo tổng kết của NHCT Đống Đa qua các năm 1998-2000)

    Ngân hàng căn cứ vào chiến phát triển kinh tế quốc dân trên phạm vi toàn quốc và trên địa bàn quận Đống Đa, đồng thời căn cứ vào nhịp độ phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn để xây dựng cho mình một cơ chế huy động vốn có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động huy động vốn làm cơ sở cho hoạt động cho vay phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, ngân hàng phải đánh giá cho đúng điểm mạnh, điểm còn hạn chế của từng loại vốn huy động, tập trung cao độ  nhất , nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất, an toàn nhất trong công tác huy động của mình. Ngày nay , đất nước ta đang còn trong thời kỳ đổi mới với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá . Nhu cầu vốn cho chiến lược này là vô cùng lớn. Tuy vậy, khi độ hội nhập của đất nước ra bên ngoài với cường độ ngày càng cao, quan hệ thương mại quốc tế, ngoại thương không ngừng tăng trưởng. Chúng ta phải nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ cho sản xuất kinh doanh để tránh lạc hậu so với thế giới. Hầu hết các chủ kinh tế, các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại  và thanh toán quốc tế đều có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng. Bản thân xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của các đơn vị kinh tế trong nước, khi kết thúc hoạt động xuất khẩu, họ lại gửi ngoại tệ vào tài khoảncủa mình ở ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu nhập  khẩu có thể phát  sinh hoặc bán lại một phần hay toàn bộ ngoại tệ để trang trải chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh như: nguyên liệu , tiền công… Mặt khác, phục vụ cho khách hàng của mình trong nhu cầu nhập khẩu máy móc , công nghệ , trang thiết bị với lượng ngoại tệ mà ngân hàng huy động

    1.2.2. Hoạt động tín dụng

    Nhờ có nguồn vốn tăng trưởng ổn định, NHCT Đống Đa đã tích cực mở rộng đầu tư, đáp ứng mọi nhu cầu tín dụng  hợp lý của khách hàng . Tổng dư nợ của ngân hàng nói chung tăng đều. Đây là một kết quả khả quan của NHCT Đống Đa so với các ngân hàng khác trong bối cảnh kinh tế nước ta đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.

    Bảng 2: Tổng dư nợ tín dụng giai đoạn1997-2000

                                                                                                           Đơn vị :tỷ đồng

    Năm
    Chỉ tiêu
    1997 1998 1999 2000
    Tổng dư nợ: 541 603,96 711,677 1.001
    Ngắn hạn 474 529,6 572,807 579
    Trung hạn và dài hạn 67 6774,535 121,628 422

    Như vậy tín dụng ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ tín dụng của ngân hàng . Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, NHCT Đống Đa đã thu hút được số khách hàng đến giao dịch với ngân hàng ngày càng tăng

                1.2.3. Thanh toán quốc tế

    Đây là nghiệp vụ mới của ngân hàng , do phòng thanh toán quốc tế đảm nhiệm, được thành lập tháng 7 năm 1997. Tuy vậy , doanh số của hoạt động này ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ và cho vay ngoại tệ , đồng thời góp một phần  vào lợi nhuận hàng năm của ngân hàng

    Bảng 3: Doanh số thanh toán quốc tế  qua NHCT Đống Đa

    Năm
    Chỉ tiêu
    1997 1998 1999 2000
    1.Hàng nhập khẩu 25.028.178 18.983.589 20.700.000 22.042.000
    2.Hàng xuất khẩu 805.423 2.759.953 380.000 313.000
    3.Phí dịch vụ 1.242.379 5/191/027 9/084/297 9.841.297

              1.2.4. Kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHCT Đống Đa được thực hiện từ năm 1988. Tuy nhiên , nghiệp vụ này chỉ thực sự phát triển khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, trực tiếp cho vay ngoại tệ

    Bảng 4: Doanh số bán ngoại tệ từ năm 1997-2000

    Đơn vị : Quy đổi USD

    Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000
    1.Doanh số mua vào 27.166.850 17.542.742 29.694.710 28.200.000
    2.Doanh số bán ra 27.162.996 15.390.722 29.690.124 23.500.000

    ( Báo cáo kinh doanh ngoạI tệ từ năm 1997-2000)

    •  

    1.2.5. Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng

    – Công tác thanh toán:

    Ngân hàng luôn chú trọng đến việc thanh toán của khách hàng , đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại. Hiện nay, các hoạt động thanh toán , chuyển tiền của khách hàng cả trong và ngoài nước đều được thực hiện nhanh, chính xác , đảm bảo lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng

    – Công tác ngân quĩ

    Công tác này được nhanh chóng đổi mới và duy trì cùng công tác thnah toán, tiến hành thu đủ, nhanh , chính xác cho khách hàng . Ngoài ra, ngân hàng còn có dịch vụ thu tiền tại chỗ cho tất cả các doanh nghiệp có nguồn thu lớn và ổn định

    – Ngoài ra, ngân hàng còn mở rộng cịch vụ cầm đồ , với đối tượng chủ yếu là các kỳ phiếu, trái phiếu… do các ngân hàng thương mại quốc doanh, kho bạc Nhà nước phát hành , Dịch vụ này vừa đảm bảo cung ứng vốn cho khách hàng nhanh chóng, vừa đơn giản, vừa đảm bảo an toàn và hiệu quả cho kinh doanh ngân hàng

    2. BỐI CẢNH CHUNG TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHCT  ĐỐNG ĐA

    Trong giai đoạn đầu mở cửa của nền kinh tế nước ta, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại là một trong những lĩnh vực hoạt động chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Vì hoạt động này rất “nhạy cảm”với hàng loạt chỉ số quan trọng của nền kinh tế như tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất… từ đó ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân GDP, thu nhập quốc dân theo đầu người,…Mặt khác, khi mà hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM Việt nam chủ yếu xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu khách hàng , thì kim nghạch xuất khẩu hàng năm , lực lượng đầu tư nước ngoài vào Việt nam cũng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới hoạt động này. Bối cảnh chung của nền kinh tế xã hội với tác động của nó tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của hệ thống NHTM Việt nam được xem xét trên các mặt sau:

              2.1 Những thành tựu của nền kinh tế sau hơn 10 năm đổi mới

    Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt nam được coi như một điểm mốc đánh dấu một giai đoạn phát triển mới cho nền kinh tế Việt nam . Từ đó cơ chế quản lý tập trung, quan liêu , bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, có sự đIều tiết, quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN , với chính sách mở cửa nền kinh tế , từng bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ và thực sự đạt được những thành tựu đáng kể

              a, Kim nghạch xuất khẩu tăng trưởng

    Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế , tận dụng những lợi thế so sánh của quốc gia trong xuất khẩu và khai thác những ưu thế từ bên trong nhập khẩu để phát triển kinh tế xã hội , kim nghạch xuất khẩu của Việt nam đã tăng nhanh qua các năm. Trong giai đoạn 1990-1999 , kim nghạch xuất khẩu tăng trung bình trên 20% /năm, nhu cầu nhập khẩu cũng tăng rất nhanh , có thời kỳ việc đáp ứng ngoại tệ cho thanh toán nhập khẩu khiến cho một số ngân hàng gặp nhiều khó khăn.

    Từ tháng 7/1997, khi cuộc khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan toả sang các nước trong khu vực thì tại Việt nam, đồng USD có chiều hướng tăng giá do dân chúng bắt đầu có xu hướng chuyển dịch từ đồng Việt nam sang đồng USD trong việc ký thác tiền gửi tại các NHTM . Mục đích của sự chuyển dịch này là để đề phòng sự mất giá của nội tệ và sự tăng giá của đồng USD như các nước khác trong khu vực . Hệ quả là mức cầu USD tăng nhanh trên thị trường và do đó giá USD sẽ tăng theo qui luật cung cầu. Nhất là khi ngân hàng Nhà nước có quyết định tăng biên độ mua bán ngoại tệ so  với tỷ giá chính thức (ngày 18/10/1997) thì đồng USD càng khan hiếm và tăng giá nhiều hơn

    Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới, năm 1998 và có thể trong một vài năm tới, kim nghạch xuất khẩu của Việt nam tăng trưởng chậm lại.Trong tình hình hiện nay, nếu chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu là đẩy tỷ giá lên cao sẽ gây những tác hại rất lớn. Chỉ cần nâng tỷ giá lên 10% thì tiềm lực tài  chính quốc gia sẽ bỗng chốc mất đi một khoản khổng lồ:12 tỷ USD nợ nước ngoài, cán cân nhập siêu năm 1997 = 2,2 tỷ USD , giá trị vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt nam 35,5 tỷ USD đều được tính tăng lên 10% , như vậy chúng ta tự nhiên mất đi một khoản tiền lớn 5 tỷ USD.

    Việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu không đơn thuần chỉ là việc hạ giá bán , mà giá hiện nay của ta cũng không cao so với các nước trong khu vực. Vấn đề cốt lõi là phải đổi mới công nghệ sản xuất, và gia công chế biến hàng xuất khẩu để chất lượng và giá cả hàng hoá của ta có sức hấp dẫn hơn. Mặt khác, thuế xuất nhập khẩu hiện nay tất yếu phải giãm xuống khi nước ta tham gia vào các tổ chức thương mại khu vực và thế giới và điều này sẽ làm cho giá hàng xuất khẩu của ta giảm xuống. Song ,với chủ trương của nhà nước ta  khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu  ,.cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, cải cách hệ thống xuất nhập khẩu,…cùng với xu hướng hội nhập, kinh tế Việt nam trong khu vực và thế giới, chắc chắn mọi hoạt động xuất nhập khẩu của ta sẽ có những chuyển hoá tích cực và tăng trưởng mạnh trở lậi

    Bảng 5:Tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt nam trong giai đoạn 90 – 99

                                                                                            Đơn vị tính:1.000.000 USD

                       Năm

     

    Chỉ tiêu

    1990 1992 1994 1996 1997 1998 1999
    1.Xuất khẩu 2404,0 2580,7 4054 7256 9000,0 9360 9820
    2.Nhập khẩu 2752,4 2540,8 5826 11144 11200 11390 12160

    b, Đầu tư nước ngoài

    Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987, tạo ra những cơ sở pháp lý cơ bản đầu tiên cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại  Việt nam. Từ đó đến nay, Việt nam luôn được coi là một trong những nước có điều kiện khá thuận lợi cho đầu tư nước ngoài: Nguyên liệu và công nhân tại chỗ, giá rẻ càng với những nỗ lực của Chính phủ Việt nam trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài như: giảm giá thuê đất đai, cho phép chuyển lợi nhuận về nước, tổ chức các buổi gặp gỡ kiến nghị giữa chính phủ và các nhà đầu tư…

    Đầu tư nước ngoài vào Việt nam đã tích cực gia tăng, số dự án và số vốn dăng ký tăng nhanh qua các năm, tính đến năm 1999 , số dự án nước ngoài là 2198 dự án với số vốn đăng ký đạt 43 tỷ USD.

    Bảng 6: Đầu tư nước ngoài tại Việt nam giai đoạn 1988-1999

     

    Năm
    Chỉ tiêu
    1988 1990 1992 1994 1996 1997 1998
    1.Số dự án 37 108 197 343 325 336 295
    2.Tổng vốn đăng ký 372 839 2165 3766 8497 5609 4828
    3.Vốn pháp định 288 407 1418 1730 2941 3250 1900

    Như vậy, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài gia tăng tại Việt nam đã và đang tạo ra những điều kiện thuận lợi, dồng thời là những thách thức cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở các NHTM . Nhu cầu ngoại tệ ngày càng lớn của khách hàng làm cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng phát triển tương đương cả về quy mô và chất lượng. Tại một thời đIểm nhất định, khi nhu cầu ngoại tệ gia tăng( do cần đáp ứng nhu cẩu trả nợ  khi đến kỳ hạn , nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ , nhu cầu nhập khẩu, những cơn sốt hang ngoại nhập…) làm gia tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ và ngược lại. Bằng việc mua bán dự trữ ngoại tệ của mình trên thị trường ngoại hối trong nước , chính phủ có thể lập tức đIều tiết tỷ giá hối đoái như mong muốn. Song không phải ngân hàng nào cũng có thể thoả mãn nhu cầu phát triển cả về quy mô và chất lượng , bởi vì hoạt động này đòi hỏi một sự đầu tư rất lớn cả về công nghệ và nhân lực. Nó thách thức các ngân hàng thương mạI Việt nam trong cạnh tranh thu hút khách hàng và tăng cao lợi nhuận cho ngân hàng

                c, Những thành công trong quan hệ đối ngoai

    Ba sự kiện nổi bật về lĩnh vực đối ngoại đánh dấu những thành công ngoại giao đầu tiên của nước ta(năm 1996) . Thứ nhất, nước Việt nam đã bình thường hoá quan hệ với Hoa kỳ, sự kiện này chấm dứt những năm tháng Việt nam bị bao vây , cô lập một cách phi lý, tạo ra những đIều kiện cho đầu tư nước ngoài vào Việt nam và thương mại quốc tế của Việt nam phát triển. Thứ hai,nước ta ký kết hiệp định khung hợp tác với liên minh Châu âu, mở ra thị trường mới với nhiều đối tác mới cho các doanh nghiệp Việt nam trong kinh doanh . Thứ ba, đó là sự kiện Việt nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, ASEAN là một khu vực kinh tế năng động, có nhịp độ tăng trưởng cao trên thế giới. Cùng với việc gia nhập ASEAN, Việt nam cùng tham gia khối mậu dịch tự do của ASEAN là AFTA và ký kết hiệp định ưu đãi thuế quan CEPT ( Common effective preferential tarriffs). AFTA với mục tiêu tự do hoá thương mại trong ASEAN bằng việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và rào phi thuế quan sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trong khu vực, đồng thời bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất , ASEAN sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực . Đó chính là những cơ hội mới cho Việt nam trong phát triển thương mại quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài.

          2.2 Cải cách cơ cấu tổ chức, đổi mới quản ký trong hệ thống ngân hàng  Việt nam

    1. Cải cách cơ cấu tổ chức và quản lý:

    Trong thời kỳ đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt nam đã có những chuyển biến sâu sắc cả về tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động. Nghị định 53/HĐTB ngày 23/3/1988 và pháp lệnh ngân hàng ra đời bước đầu đã quán triệt các nguyên tắc kinh tế thị trường trong tổ chức vận hành hệ thống ngân hàng . Cụ thể , thiết lập một hệ thống ngân hàng theo mô hình hai cấp: Tách chức năng kinh doanh của ngân hàng thương mại với chức năng quản ký vĩ mô trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng  và ngân hàng của ngân hàng nhà nước. ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng của ngân hàng Trung Ương chấm dứt các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ. Các ngân hàng thương mại đóng vai trò các doanh nghiệp, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình. hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thực sự đã chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

    Hệ thống những văn bản pháp quy đã nêu ( NĐ161/HĐBT) ban hành “ đIều lệ quản lý ngoại hối” của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Ngày 15/3/1989 ngân hàng Nhà nước có thông tư số 33/NH – tiền tệ “Hướng dẫn thi hành đIều lệ quản lý ngoại  hối…”) , chứng tỏ rằng công tác quản lý ngoại hối đã được nhà nước ta thường xuyên quan tâm chỉ đạo. Vì vậy, so với trước khi có nghị định 161/HĐBT  những năm qua, việc quản lý ngoại hốỉ nước ta có những tiến bộ đáng kể. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nghành ngân hàng đã đổi mới từng bước công nghệ ngân hàng cả về kỹ thuật (phần cứng) và trình độ kiến thức của cán bộ. Các định chế, qui chế, hệ thống luật mới được ban hành để đIều chỉnh hoạt động của ngân hàng trong những điều kiện mới. Trong đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ tuy còn là nghiệp vụ mới mẻ đối với nhiều NHTM Việt nam, nhưng trước việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và xu thế hội nhập kinh tế tiI chính trên thế giới đã hình thnàh phát triển trở thành một hoạt động không thể thiếu  của các ngân hàng thương mại . Vì vậy, các ngân hàng thương mại phải đổi mới cơ cấu tổ chức ngân hàng , đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ ngân hàng . Điều này tạo ra sức ép rất lớn về vốn đối với đại bộ phận ngân hàng hiện nay.

                  c, Đổi mới quản lý vĩ mô, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý ngoại hối và kinh doanh ngoại tệ :

                 –  Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái

    Tỷ giá hối đoái thể hiện mối tương quan giá trị (sức mua) giữa các đồng tiền khác nhau nên nó được coi là “tâm” của mọi hoạt động kinh doanh ngoại tệ . Vì vậy cơ chế đIều hành tỷ giá là một trong tác động tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM . Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái và việc quản lý ngoại hối được xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thương mại quốc tế trên cơ sở sản xuất , trao đổi vvà sử dụng những lợi thế so sánh của các nước khác nhau trong phân công lao động quốc tế ở nước ta, khi đề ra chính sách biện pháp quản lý thị trường ngoại tệ và tỷ giá hối đoái, chúng ta luôn có sự đánh giá phân tích một cách khoa học  về các yếu tố khách  quan  và chủ quan ảnh hưởng đến thị trường hàng hoá, tiền tệ…Nhờ có những quyết sách đúng đắn, kịp nthời chúng ta đã hạn chế bớt những ảnh hưởng tiêu cực kìm hãm quả trình  đầu tư trong nước, hạn chế thâm hụt cán cân thanh   toán vãng lai về giá trị tương đối lẫn giá trị tuyệt đối , từng bước đẩy lùi tình trạng đôla hoá trong lưu thông, tiến tới làm cho đồng tiền Việt nam có giá trị chuyển đổi đầy đủ. Kể từ năm 1986 , cơ chế đIều hành tỷ giá hối đoái của nhà nước ta đã có những “thay đổi căn bản” , có thể chia thành mấy giai đoạn cụ thể sau:

                      Giai đoạI 1980-1988: Nước ta thi hành chế độ đa tỷ giá , mang nặng tính quan liêu bao cấp, tỷ giá hối đoái do nhà nước trực tiếp xác định mà không tính đến cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng  thời mang tính chất cố định giữa đồng Việt nam và các loại ngoại tệ theo 3 tỷ giá khác nhau: tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch, tỷ giá kết toán nội bộ

    Cung cầu ngoại tệ đóng vai trò quyết định tới biến động của tỷ giá hối đoái, đặc biệt là đối với moọt nước có nền kinh tế nhỏ bé như Việt nam, một đồng tiền không có giá trị chuyển đổi cả trên thị trường trong nước cũng như thị trường ngoài nước. Định hướng đIều chỉnh  tỷ giá cần bám sát cung cầu ngoại tệ (chủ yếu là USD) để sử dụng khoản dự trữ ngoại tệ như một cái neo an toàn , hay một vũ khí hiệu quả nhất.

                  Giai đoạn 1989-1998: Trước tình hình trên , ngày 3/3/1989 , Chủ tịch HĐBT ra Chỉ thị  số 43 đã xoá bỏ chế độ đa tỷ giá, duy trì chế độ một tỷ giá giữa đồng Việt nam và các ngoại tệ       khác, áp dụng cho mọi hình thức thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng , tỷ giá náy sẽ được điều chỉnh thường xuyên theo những biến động trên thị trường. Đến ngày20/9/1994, Quyết định số 205/QQĐ – NH7 củaThống đốc ngân hàng nhà nước quy định việc điều tiết tỷ giá như sau: ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày tỷ giá chính thức của đồng Việt nam so với một số ngoại tệ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tỷ giá này được các tổ chức tín dụng có giấy phép kinh doanh ngoại tệ dùng làm cơ sở xác định tỷ giá giao dịch trong một biên độ nhất định. Biên độ này được ngân hàng Nhà nước điều chỉnh qua các thời kỳ, phù hợp với chính sách tỷ giá hối đoái của ngân hàng Nhà nước. Từ đầu năm 1998 đến nay ngân hàng Nhà nước đã hai lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái VND/USD. Ngày  16/2 mức tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ 11.175đ/USD lên 11.800đ/USD (giá USD so với VND tăng 5,6%, đồng thời tăng biên dộ giao động , giới hạn chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán so với tỷ giá chính thức do ngân hàng Nhà nước công bố) từ =(-) 5% lên +(-) 10%. Mới đây, ngày 7/8 tỷ giá hối đoái chính thức VND/USD lại được ngân hàng nhà nước điều chỉnh từ 11.815đ/USD lên 12.998 (tăng 10%). Trong lần điều chỉnh thứ hai này, mức độ điều chỉnh tỷ giá tuy lớn hơn lần trước nhưng biên độ giao động tỷ giá mua, bán lại thu hẹp từ +(-)10% xuống +(-)7% và thay đổi cách thức công bố tỷ giá chính thức “lấy tỷ giá thực tế đang giao dịch trên thị trường liên ngân hàng làm tỷ giá cho ngày hôm sau”.

    Việc ngân hàng Nhà nước lấy mức tỷ giá hình thành trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng làm tỷ giá chính thức cho ngày giao dịch hôm sau là một thay đổi quan  trọng trong phương pháp điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng giảm sự áp đặt từ phía Nhà nước. Chủ trương này sẽ tạo điều kiện cho tỷ giá vận động theo sát biến động của cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Đương nhiên, điều này không hạn chế sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường ngoại tệ thông qua việc mua bán ngoại tệ nhằm có được mức tỷ giá mong muốn trong các phiên giao dịch . Nhưng sự can thiệp như vậy hoàn toàn mang nội dung kinh tế và phù hợp quy luật cũng như đúng với luật về các ngân hàng mới được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực trong thời gian tới.

    Như vậy bằng việc điều chỉnh một cách linh động biên độ giao dịch Ngân hàng Nhà nước có thể điều tiết tỷ giá linh hoạt, thực hiện mục tiêu ổn định đồng tiền Việt Nam, ổn định môi trường kinh tế xã hội. Điều chỉnh tỷ giá sẽ làm tăng thu nhập xuất khẩu, giảm chi tiêu cho nhập khẩu và cải thiện cân đối ngân sách Nhà nước.

    Tuy nhiên Ngân hàng Nhà nước không thể thay đổi biên độ giao động tỷ giá cho phép hàng được, trong khi việc thực thi chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái đòi hỏi phải điều hành hằng ngày. Hơn nữa tỷ giá chính thức trong giai đoạn này đã thể hiện rõ tính hành chính của nó. Tỷ giá giao dịch ngoại tệ thực tế trên thị trường có tổ chức hầu như tách rời tỷ giá chính thức ỏ mức độ tối đa cho phép, tất cả các đợt điều chỉnh tăng biên độ hay tỷ giá chính thức đều có chung một xu thế là sự giảm đến mức tối đa cho phép của tỷ giá đồng Việt Nam.

    Giai đoạn từ 25/2/1999 đến nay: Quyết định số 64/NĐ-NHNN được ban hành đã đánh dấu một sự thay đổi về chất trong cơ chế điều hành tỷ giá của nước ta, điều tiết trên cơ sở thị trường. Theo Quyết định này, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân hằng ngày trên cơ sở giá thực tế bình quân hình thành ở thị trường liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất. Cơ chế này không có nghĩa là tỷ giá hoàn toàn thả nổi. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ giá giao dịch trên thị trường có tổ chức hằng ngày bị khống chế trong biên độ 0,1% so với tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước công bố.

    Như vậy cơ chế điều tiết tỷ giá mới đã thể hiện đúng nguyên tắc: điều tiết theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tỷ giá công bố đã phản ánh trung thực tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ có tổ chức (chiếm tới 90%  doanh số hoạt động ngoại tệ trong nền kinh tế). Việc khống chế biên độ của tỷ giá sẽ giúp đồng Việt Nam tránh được những biến động đột xuất có thể xẩy ra và tâm lý sùng bái ngoại tệ còn cao của nền kinh tế nước ta hiện nay. Với chính sách điều hành tỷ giá mới này, sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ, xác định được tỷ giá mua, bán ngoại tệ sát với cung cầu thị trường, có sự chủ động trong hoạt động kinh doanh, từ đó điều hành được nó theo đúng nghĩa. Thực tế sau một tháng áp dụng quyết định mới, việc mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại, giữa các ngân hàng với khách hàng được thực hiện thuận lợi, tỷ giá ngoại tệ giữa thị trường tự do và Ngân hàng Nhà nước công bố đã ít chênh lệch. Việc công bố một tỷ giá này là phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với chế độ hạch toán kinh tế của nước ta hiện nay. Nó sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng và làm cho các hoạt động này “ xích lại” gần hơn với trình độ của khu vực và của thế giới.

    1. Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước:

    Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước theo tinh thần đổi mới được thiết lập bằng “Điều lệ quản lý ngoại hối của nước CHXHCN Việt Nam” ban hành kèm theo Nghị định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng. Văn bản này được xem như một văn bản pháp quy về quản lý ngoại hối đầu tiên của nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước, mục đích bảo vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ, thống nhất quản lý kinh doanh ngoại hối, góp phần củng cố và mở rộng các quan hệ kinh tế, chính trị văn hoá với nước ngoài. Từ đó đến nay liên tục đã có những văn bản mới điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam. Nghị định số 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 17/8/1998 và sẽ có hiệu lực ngày 2/9/1998. Đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm qua, một văn bản pháp quy với những quy định  đầy đủ và thống nhất về quản lý ngoại hối được ban hành thay thế Điều lệ quản lý ngoại hối (ban hành ngày 18/10/1988) và hàng loạt các văn bản khác về lĩnh vực này, giải quyết những vướng mắc trong việc quản lý  và sử dụng ngoại hối. Nghị định về quản lý ngoại hối được ban hành với mục đích tạo chuyển biến mới trong việc biến VND thành đồng tiền chuyển đổi trong các giao dịch vãng lai, đồng thời giảm bớt sự tác động của tình trạng USD hoá đối với nền kinh tế Việt Nam, tăng cường sử dụng VND trong việc giao dịch buôn bán trên lãnh thổ Việt Nam.

    Cơ chế quản lý ngoại hối từng bước được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn kinh tế, chính sách quản lý ngoại hối cần được thiết kế trên  một số cơ sở như: đồng Việt Nam chưa chuyển đổi trên thị trường hối đoái quốc tế, thị trường tiền tệ và thị trường vốn chưa phát triển, tính hiệu quả tiền tệ (high yield of currency) của bản tệ đang suy giảm, chu chuyển trên tài khoản vốn thiếu vững chắc. Nhận thức được các đặc trưng nói trên để góp phần xây dựng một chính sách quản lý ngoại hối phù hợp với thực tiễn của Việt Nam là một việc làm rất có ý nghĩa. Hiện nay, Việt Nam thi hành chế độ quản lý chặt chẽ với những nội dung chính sau:

    – Quy định về mua bán và gửi ngoại tệ tại ngân hàng, mọi nguồn thu ngoại tệ của các tổ chức, đơn vị kinh tế đều phải gửi vào một tài khoản ngoại tệ mở tại ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ tại Việt Nam, được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản (theo quy định hiện nay là 20% nguồn thu vãng lai), còn lại toàn bộ phải bán cho ngân hàng. Khi đơn vị có nhu cầu, ngân hàng có trách nhiệm bán lại cho đơn vị tối thiểu bằng số ngoại tệ đã mua của đơn vị, mọi giao dịch mua bán vay mượn ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam nhất thiết phải có sự tham gia cuả ngân hàng với tư cách là người mua, người bán hoặc  người tài trợ.

    – Quy định về mở tài khoản tại nước ngoài: người cư trú là các tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tín  dụng tại Việt Nam được cấp giấy phép mở và sử dụng tài khoản ở nước ngoài nếu là hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực: hoạt động kinh doanh quốc tế thuộc các ngành hàng không, hàng hải , bưu điện, bảo hiểm, du lịch, xuất khẩu lao động, nhận thầu các công trình ở nước ngoài, thực hiện vay và trả nợ nước ngoài, được cơ quan có thẩm quyền cho phép mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở nước ngoài, được phép hoạt động ngoại hối ở nước ngoài , các trường hợp khác được Chính phủ cho phép.

    – Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý và kinh doanh ngoại hối thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực này là các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ.

    Ngoài các ngân hàng này còn có một số ít các cá nhân, đơn vị được thu ngoại tệ do đặc điểm kinh doanh riêng, nhưng phải có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước, Nhà nước nghiêm cấm việc lưu thông ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.

    1. Hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng:

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập theo “ Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH” ban hành kèm theo Quyết định số 203/NĐ-NH13 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 20/9/1994. TTNTLNH do ngân hàng tổ chức và điều hành đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/10/1994 cho tới nay. Mục đích của việc thành lập TTNTLNH là nhằm hình thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức, làm cơ sở cho việc triển khai thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam.

    Tính hữu hiệu của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: thị trường này được thiết lập với mục đích chính là hướng hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng và trong tương lai với khách hàng vào quy củ với sự kiểm soát của Nhà nước. Qua các giao dịch tại đây, ngân hàng nhà nước sẽ có những điều chỉnh về chính sách tỷ giá cho ơhù hợp với thực tiễn và tình trạng ngoại hối của ngân hàng Việt Nam . cũng như sự phục vụ cho mục đích thanh toán đối nội và đối ngoại.

    Hiện nay, lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường  ngoại tệ liên ngân hàng đã chiếm tới 90% tổng  số giao dịch của cả nước, đạt tới 6 triệu USD/ngày, giữa ngân hàng với khách hàng đạt 47 triệu USD/ngay. Thị trường này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ giá thị trường giữa các NHTM. Qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, các NHTM đã đáp ứng được nhu cầu mua bán ngoại tệ của mình, từ đó đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại và thanh toán quốc tế. Khi mới thành lập chỉ có 23 thành viên tham gia thị trường, đến hết năm 1997 đã có tới 60  thành viên khiến cho hoạt động của thị trường sôi động lên nhiều, nhất là có sự tham gia của nhiều ngân hàng lớn như  Citibank, Standard Chartered…

    Gần đây với quy chế mới “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng” ban hành kèm theo quyết định số101/1999/QĐ-NHNN 13 ngày 16/31999 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước, đã có quy định rộng hơn về điều kiện thành viên tham gia thị trường về loại đồng tiền trong giao dịch, về các loại hình giao dịch… Đây chính là điều kiện thuận lợi cho nhiều chi nhánh ngân hàng lớn như NHCT Đống Đa mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mình trên thị trường này.

    3. THỰC TRẠNG HOẠT  ĐỘNG  KINH DOANH NGOẠI  TỆ  TẠI CHI NHÁNH  NHCT ĐỐNG ĐA

    3.1. Các hoạt động chủ yếu liên quan tới kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh NHCT Đống đa

    Mọi hoạt động của ngân hàng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau , chúng được coi như từng bộ phận của cỗ máy hoàn chỉnh, mà nó chỉ hoạt động tốt  khi các bộ phận đều hoạt động tốt. Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, có 3 lĩnh vực hoạt động liên quan mật thiết với nó là: huy động vốn, sử dụng vốn và trung gian thanh toán. Hoạt động của NHCT Đống đa được thể hiện trên 3 lĩnh vực sau:

    3.1.1. Huy động vốn

    Huy động vốn là một trong những khâu quan trọng nhất để duy trì sự ổn địnhvà phát triển của chính bản thân ngân hàng, ngân hàng phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế quốc dân trên phạm vi toàn quốc và trên địa bàn quận Đống Đa đồng thời căn cứ vào nhịp độ phát triển kinh tế qua từng thời kỳ, giai đoạn để xây dựng cho mình một cơ chế huy động vốn có hiệu quả. Các nguồn huy động và khai thông các nguồn đối với một chi nhánh  ngân hàng thương mại nói chung và chi nhánh ngân hàng công thương Đống đa nói riêng xuất phát từ:

    –  Các tài khoản tiền gửi của các chủ thể kinh tế tại ngân hàng đảm bảo công tác thanh toán, chi trả trong các hoạt động nội thương và ngoại thương

    –  Các tài khoản tiết kiệm của dân, của các tổ chức kinh tế , họ tin tưởng ngân hàng nên mang vốn đang trong giai đoạn “nhàn rỗi” của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất.

    –  Là trung gian tiếp nhận các khonả vốn đầu tư của nước ngoài…

    Để đạt được hiệu quả  kinh tế cao trong hoạt động huy động vốn làm cơ sở cho hoạt động cho vay, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước và quận Đống Đa, ngân hàng phải đánh giá cho đúng điểm mạnh , điểm yếu hạn chế của từng loại vốn huy động, tập trung cao độ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất và an toàn nhất trong công tác huy động của mình

                3.1.2. Sử dụng vốn

    – Cho các đơn vị kinh tế vay

    – Cho các ngân hàng khác vay để đảm  bảo khả năng thanh toán của họ hay đảm bảo giải quyết tình thế cấp bách

    – Đem đầu tư, góp vốn  liên doanh

    Cho vay ngoại tệ dể nhập khẩu hàng hoá hay để sản xuất, thu gom hàng xuất khẩu thì cuối cùng đều phát sinh nghiệp vụ mua bán ngoại tệ. Ngân hàng cần  mua ngoại tệ để thanh toán L/C đến hạn , khách hàng khi đến hạn phải mua ngoại tệ để trả nợ tiền vay, doanh nghiệp xuất khẩu cần bán ngoại tệ lấy VND để tiêu dùng trong nước . Cho vay ngoại tệ được triển khai ở ngân hàng công thương Đống đa từ năm 1988, tuy nhiên lúc đó ngân hàng không cho vay trực tiếp mà chỉ thẩm định dự án xin vay để trình  Ngân hàng Công thương Việt Nam quyết định. Doanh số cho vay trong thời kỳ này còn thấp, từ năm 1988 Ngân hàng Công thương Đống Đa thực hiện cho vay ngoại tệ trực tiếpđối với các doanh nghiệp, doanh số cho vay ngoại tệ ngày càng tăng, đến nay dư nợ ngoại tệ đã chiếm tỷ trọng hơn 20% tổng dư nợ của ngân hàng.

    Hoạt động cho vay ngoại tệ của NHCT Đống đa được thực hiện theo quyết định số17/QĐ-NHNN ngày 10/1/1998 của Hội đồng quản trị ngân hàng Công thương Việt nam, trong đó quy định rõ:

    – Đối tượng cho vay: Ngân hàng công thương cho khách hàng vay bằng ngoại tệ để thanh tiền nhập khẩu vật tư , hàng hoá, máy móc thiết bị và dịch vụ cho nước ngoài phục vụ hoạt động kinh doanh của khách hàng

    – Cách phát tiền vay: Ngoại tệ cho vay sử dụng để chuyển trả cho nước ngoài theo các phương thức thnah toán quốc tế và chế độ quản lý ngoại hối quy định: không cho vay chuyển vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ của khách hàng, không cho vay bằng ngoại tệ tiền mặt.

    – Trả nợ gốc và lãi:Vay bằng ngoại tệ nào thì trả bằng ngoại tệ đó, trưòng hợp khách hàng đề nghị trả nợ bằng ngoại tệ khác với ngoại tệ đã vay hoặc bằng VND thì phải được giám đốc  chi nhánh cho vay xem xét  , đồng ý và thoả thuận với khách hàng tỷ giá quy đổi theo đúng quy định hiện hành. Như vậy, ngân hàng không được phép cho vay bằng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp để: trả nợ ngân hàng khác (đảo nợ), trả nợ tiền vay, thanh toán tiền hàng cho các doanh nghiệp khác trong nước, đem bán lại cho ngân hàng thương mại, NHNN hoặc các doanh nghiệp khác…

    Hiện nay, NHCT Đống đa đã cho vay ngoại tệ chủ yếu là ngắn hạn để  nhập khẩu vật tư hàng hoá phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: Sắt, thép xây dựng , nhựa , giấy…Khi một chủ thể kinh tế nhập khẩu máy móc, thiết bị, họ có thể dùng tài khoản ngoại tệ của mình tại ngân hàng để thanh toán cho đối tác nước ngoài , tuy nhiên nếu không có thì họ   vay ngoại tệ hoặc mua ngoại tệ của ngân hàng để đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra tốt đẹp

    Ngoài cho vay ngắn hạn, ngân hàng cũng đầu tư trung hạn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các đơn vị, giúp đỡ đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả kinh tế. Tuy vậy, cho vay trung hạn mới chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong dư nợ ngoại tệ.

    Việc thu nợ của ngan hàng đối với các doanh nghiệpchủ yếu từ doanh thu bán hàng, dịch vụ trong nước tính bằng VND. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải mua ngoại tệ để trả nợ cho ngân hàng , NHCT Đống Đa đảm nhận việc cung cấp số ngoại tệ này trong khả năng của ngân hàng theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm thu nợ. Chính vì vậy, ngân hàng phải chủ động khai thácnguồn ngoại tệ để phục vụ khách hàng. Doanh số cho vay ngoại tệ tăng nhanh hàng năm đã thúc đẩy rất nhiều quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ của ngân hàng

    Bảng 7: Tình hình cho vay ngoại tệ của NHCT Đống đa

    Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000
    I,Doanh số cho vay cả năm 1087 968 1132,567 1842
    Tỷ trọng so với tổng cho vay 22,63% 36% 47,2% 48,2%
    II,Doanh số thu nợ cả năm 948,3 986,24 1025,690 1346,702
    Lãi thu từ cho vay ngoại tệ 59,6 61,984 64,463 71,013
    III,Dư nợ ngoại tệ đến 31/12 113 99,881 116,861 360
    Trong đó:Ngắn hạn 1,033 15,208 27,043 29,421
    Tỷ trọngNQH/Tổng dư nợ 1,3% 1,7% 3,8% 3,9%

    (Báo cáo kết quả kinh doanh ngoại tệ từ 1997-2000)

    Những kết quả đạt được trong hoạt động cho vay ngoại tệ

    • Doanh số cho vay ngoại tệ tăng nhanh qua các năm, tỷ trọng của nó trong tổng cho vay của ngân hàng ngày càng cao chứng tỏ vai trò của tín dụng ngoại tệ đang ngày càng quan trọng trong tổng thể hoạt động của ngân hàng
    • Lãi thu từ cho vay ngoại tệ tăng nhanh qua các năm đã góp phần đáng kể vào thu nhập của ngân hàng , riêng năm 1997 doanh số thu nơj có giảm là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nên ngân hàng có gia hạn nợ ,đã trả được nợ cho ngân hàng, làm cho doanh số thu nợ và lãi thu ngày càng tăng rất cao, tạo nguồn thu nhập tốt cho ngân hàng và thúc đẩy mạnh mẽ quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ trong năm
    • Tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ đã giảm và ở mức tương đối thấp so với các ngân hàng thương mại khác trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay đang còn có dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực (năm 1997). Tuy nhiên , trong hoạt động cho vay vẫn còn có một số hạn chế
    • Cho vay ngoại tệ mới chỉ tập trung vào ngắn hạn , cho vay trung hạn và dài hạn còn ít. Nguyên nhân là do nguồn ngoại tệ huy động chủ yếu là ngắn hạn, lại phải chịu rủi ro hối đoái lớn do thời hạn tương đối dài đối với cả khách hàng và ngân hàng
    • Nợ quá hạn tại ngân hàng cần giảm đi , nếu không có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động tín dụng ngoại tệ trong các năm

    3.1.3. Trung gian thanh toán

    Như đã nói và phân tích, các ngân hàng này luôn có lợi thế về trang thiết bị liên lạc, điện tử , điều này thể hiện rất rõ khi các ngân hàng ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới vào hoạt động của mình. Các trang thiết bị như điện thoại, TELEX, màn hình coputer hay cao hơn nữa là hệ thống truyền tin một cách nhanh chóng và chính xác, đạt hiệu quả kinh tế cao. Chính nhờ các thế mạnh về ứng dụng công nghệ hiện đại này mà vai trò trung gian thanh toán của ngân hàng ngày càng được nâng cao, cả về thanh toán trong nước cũng như nước ngoài.

    Công tác thanh toán quốc tế trong ngoại thương luôn được ngân hàng chú trọng với các hình thức chuyển tiền từ trong nước ra nước ngoài hay tiếp nhận từ nước ngoài vào trong nướcđều diễn ra hết sức nhịp nhàng. Khi phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu giữa một đơn vị kinh tế ở Việt nam với bên ngoài, không phải đơn vị kinh tế này chuẩn bị sẵn các “bao tiền” rồi đến điểm hẹn trao cho người xuất khẩu mà họ đến ngân hàng viết lệnh chi trả, kỳ phiếu thương mại  đề nghị ngân hàng có mối quan hệ làm ăn với ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu . Bằng việc truyền tin thông qua hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT, việc chi trả    trở nên vô cùng đơn giản nhưng lại rất chính xác, đem lại sự thoả mãn cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu, bởi vì xuất khẩu thì có tiền, nhập khẩu thì có hàng nhanh chóng

    Hiện nay, việc thanh toán tiền hàng nhập khẩu được NHCT Đống đa thực hiện trực tiếp  cho nước ngoài thông qua sở kinh doanh hối đoái, nơi quản lý nguồn ngoại tệ  của toàn hệ thống ngân hàng công thương. Thực chất, việc thanh toán của NHCT Đống  đa cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài vẫn có tính chất trực tiếp , nội dung của nghiệp vụ thanh toán vẫn thuọc trách nhiệm của NHCT Đống Đa

    Qua đáp  ứng nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu,, mua ngoại tệ để trả nợ ngân hàng bán ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu, quy mô hoạt động mua bán ngoại tệ đã tăng liên tục cùng với sự gia tăng doanh số quốc tế hàng năm qua  ngân hàng. Đến đây chúng ta đã thấy được ý nghĩa quan trọng của vị trí trung gian thanh toán khi hàng ngày, hàng giờ có hàng ngàn , hàng triệu quan hệ giao dịch thương mại quốc tế đều được tiến hành một cách suôn sẻ

    Bảng 8: Kim ngạch xuất nhập khẩu thanh toán qua NHCT Đống Đa

     

    Chỉ tiêu 1998 1999 2000
    Số món Trị giá Số món Trị giá 99/98 Số món Trị giá 00/99
    1.Hàng nhập khẩu bình quân

     

    một lần nhập

    332 18.983.589 390     286 22.024.000  
    2. Hàng xuất khẩu bình quân một lần xuất 35 2.759.953 25     20 313.000  
    3 Phí dịch vụ 1461 10.374.757 1476 10.478.504   1258 10.762.102  

            (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT Đống đa từ 1998-2000)

    Qua số liệu trên, có thể đưa ra những nhận xét sau:

    Doanh số thanh toán quốc tế  qua ngân hàng hàng năm nhìn chung đều tăng. Số món thanh toán tăng nhanh từ năm 1998 đến 1999 đặc biệt là hàng nhập khẩu nhưng chỉ riêng năm 2000 thì có giảm hơn so với các năm trước . Điều này , do ảnh hưởng của chính sách Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu là  tăng cường xuất nhập khẩu những mặt hàng, trang thiết bị , công nghệ đang sản xuất và hạn chế xuất nhập khẩu đối với những mặt hàng đã sản xuất hoặc sản xuất lại cho nên lượng thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng có giảm trong năm. Tuy vậy, hoạt động ngân hàng vẫn đảm bảo có lãi, kim nghạch thanh toán quốc tế qua ngân hàng vẫn tăng.Đặc biệt, ngân hàng tích cực thu hút khách hàng xuất khẩu , tạo một  phần thuận lợi cho huy động  nguồn ngoại tệ của ngân hàng

    Một điều còn hạn chế của ngân hàng trong khai thác nguồn ngoại trực tiếp từ các   nhà xuất khẩu với tỷ giá thấp hơn so với mua lại từ các ngân hàng bạn bởi qua số liệu ta thấy doanh số hàng xuất khẩu ít hơn nhiều so với doanh số  hàng nhập khẩu

    3.2. Tình hình hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ

              3.2.1. Hiện nay, hoạt động mua bán ngoại tệ tại NHCT Đống Đa được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các văn bản pháp lý sau:

    – Quyết định 64/1999/QĐ-NHNN7 của thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc công bố tỷ giá   hối đoái của đồng Việt Nam với các ngoại tệ

    – Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dungj được phép kinh doanh ngoại tệ

    – Quyết định số 18/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/1/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về trạng thái ngoại tệ đối với các tổ chức được phép kinh doanh ngoại tệ

    – Nghị định 63/1998/ NĐ-CP về quản lý ngoại hối được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17/8/1998

    – Quyết định số: 173/1998/QĐ-TTg ngày 12/9/1998 của Thủ ướng Chính phủ về  nghĩa vụ mua bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức

    – Quyết định số 232/1998/QĐ-TTg ngày 1/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam sửa đổi khoản 1 và 2 điều 1 quyết định số 173/QĐ-TT

               3.2.2. Quy trình giao dịch tại NHCT Đống đa

    Hàng ngày, căn cứ vào trạng thái ngoại hối, vào nhu cầu thanh toán trong ngày, nhân viên giao dịch xác định nhu cầu mua bán trong ngày. Nhu cầu thanh toán được phòng thanh toán quốc tế lập và gửi cho cán bộ kinh doanh ngoại tệ trước một tuần, để cân đối ngoại tệ cho đơn vị  vào ngày phải thanh toán. Sau khi xác định được nhu cầu mua bán trong ngày, nhân viên giao dịchgọi điện đến các ngân hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên để chào mua hoặc chào bán. Nếu chấp nhận về giá chào mua , bán và thoả thuận về khối lượng giao dịch, thời hạn, địa điểm chuyển tiền , hai bên nhận lại với nhau bằng FAX và thực hiện chuyển tiền vào thời hạn đã thoả thuận. Đối với giao dịch giao ngay, việc chuyển tiền thường được tiến hành ngay trong ngày làm việc.

    Các giao dịch doanh nghiệp thường được tiến hành bằng điện thoại, nếu thoả thuận được tỷ giá , khối lượng, hai bên sẽ ký kết hợp đồng mua bán ngoại tệ và thực hiện chuyển tiền. Tỷ giá mua bán ngoại tệ của ngân hàng được công bố hàng ngày và  dược coi là tỷ giá  cam kết  mua ,bán của ngân hàng đối với khách hàng khi phát sinh giao dịch. Hàng ngày, vào đầu giờ làm việc phòng kinh doanh đối ngoại nhận được tỷ giá từ NHCT Việt Nam qua mạng vi tính, tiến hành niêm yết giá và tiến hành giao dịch ngoại tệ với các tổ chức , cá nhân có nhu cầu. Các ngoại tệ giao dịch tại ngân hàng bao gồm:USD,FRF,DEM,JPY,… trong đó, đồng USD và DEM là chủ yếu . Khi có nhu cầu mua bán các loại ngoại tệ khác, NHCT Đống đa sẽ các định tỷ giá đó và Việt nam  đồng theo  tỷ giá giữa công bố của Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, là ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn ( 70%) trong tổng giao dịch hối đoái ở  Việt nam và có mạng thông tin với thế giới

               3.2.3. Nguồn thu ngoại tệ của NHCT  Đống Đa

    Ngân hàng Công thương Đống Đa mua ngoại tệ từ các nguồn sau

    – Mua của trung tâm giao dịch ngoại tệ

    – Mua trong hệ thống Ngân hàng công thương

    – Mua ngoài hệ thống Ngân hàng công thương

    – Mua của các đơn vị, tổ chức kinh tế

    – Mua của các thành phần kinh tế khác

    – Mua do chi trả kiều hối

    Trong đó, lượng ngoại tệ mua của hệ thống Ngân hàng công thương Việt nam

    bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất theo các năm và tháng. Năm 1999, mua trong hệ thống Ngân hàng công thương đối với các loại ngoại tệ:

    – DEM : 54,5%

    – USD : 47,6%

    – FRF :   87.2%

    – JPY : 56,6%

    Mua từ Ngân hàng công thương Việt nam: Đây là nguồn mua lớn của NHCT Đống đa, với tỷ giá thường thấp hơn so với tỷ giá trên thị trường ngoại tệ chính thức ( chênh lệch không đáng kể) . Tuy vậy , Ngân hàng công thương Việt nam cho NHCT Đống đa vào một số thời điểm nhất định và chỉ cung cấp thanh toán cho một số mặt hàng nhất  định mà  Chính phủ quy định. Còn lại, chỉ vào những thời điểm gay go , khan hiếm ngoại tệ , NHCT Đống đa mới mua được ngoại tệ từ Ngân hàng công thương Việt nam và chỉ thanh toán một số mặt hàng theo quy

    định.

    Mua từ các ngân hàng thương mại khác: Đây là nguồn chủ yếu của NHCT Đống đa, trong đó một phần quan trọng là  mua từ các ngân hàng chi nhánh của NHCT  Việt nam, nơi có nguồn thu ngoại tệ lớn. Còn lại, NHCT Đống đã mua của các ngân hàng thương mại khác hệ thống. Tuy vậy, chỉ những ngân hàng nào cân đối thừa ngoại tệ mới bán, và các ngân hàng này thường bán với giá kịch trần do Ngân hàng Nhà nước quy định . Vì vậy, NHCT Đống đa chỉ đóng vai trò trung gian mua hộ ngoại tệ cho khách hàng mà không hề được hưởng lãi qua giao dịch này, thậm chí có lúc còn chịu lỗ do phải chịu chi phí giao dịch của nhiều giao dịch mới mua đủ số ngoại tệ cần thiết cho khách hàng

    Mua từ các khách hàng xuất khẩu: Lượng ngoại tệ mua được từ các khách hàng xuất khẩucủa NHCT Đống đa rất ít ỏi, lý lo chủ yếu là trên địa bàn quận, thành phố, số doanh nghiệp xuất khẩu còn ít, doanh số còn rất thấp.

               3.2.4 Nguồn bán ngoại tệ của Ngân hàng Công thương Đống đa

    Đối tượng mà Ngân hàng Công thương Đống đa bán ngoại tệ là:

    – Bán trong hệ thống Ngân hàng Công thương

    – Bán ngoài hệ thống Ngân hàng Công thương

    – Bán cho các đơn vị kinh tế và các thành phần kinh tế khác

    Chủ yếu NHCT Đống đa bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hoá, thiết bị,.. để thanh toán cho nước ngoài. Trước kia, khi tình hình  ngoại tệ chưa khan hiếm, NHCT Đống đa cũng thực hiện bán ngoại tệ cho các ngân hàng bạn, tuy nhiên số lượng không nhiều. Hiện nay, nguồn mua vào ngoại tệ của NHCT Đống đa còn hạn chế nên ngân hàng chỉ bán ngoại tệ phục vụ cho khách hàng nhập khẩu

    Năm 1999, tỷ lệ ngoại tệ bán cho các đơn vị kinh tế là

    • USD :98,6%
    • DEM :88,2%
    • FRF : 100%
    • JPY :  93,7%

    Các nguồn bán trong và ngoài hệ thống Ngân hàng Công thương hiện nay được thực hiện rất ít. Như vậy, cơ cấu mua , bán ngoại tệ chi nhánh là không cân đối, thực chất trong kinh doanh ngoại tệ, NHCT Đống đa mới chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, còn các nghiệp vụ kinh doanh thuần tuý nhằm thu lợi nhuận cho ngân hàng chưa được thực hiện mạnh.

    3.2.5. Loại ngoại tệ và hình thức giao dịch ngoại tệ:

    Hiện nay, NHCT Đống đa chỉ mua bán chủ yếu là đồng USD và DEM , doanh số bán USD, DEM so với các ngoại tệ khác chiếm tỷ trọng khá cao so với tổng doanh số mua bán ngoại tệ .

    Chi nhánh NHCT Đống đa áp dụng hai nghiệp vụ mua bán ngoại tệ. Đó là: mua bán theo tỷ giá giao ngay (SPOT) và giao dịch kỳ hạn(FORWARD)

    • Hình thức giao dịch giao ngay: Là phổ biến , được thực hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ trao ngay

    Mua bán giao ngay là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi thoả thuận hợp đồng mua bán. Hình thức này phát sinh trên cơ sở nhu cầu hợp lý về ngoại tệ của khách hàng trong thanh toán quốc tế ( có hợp đồng ngoại tệ và chứng từ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước) , và của các Ngân hàng thương mại khác cũng như của NHCT Đống đa trong mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng

         Ví dụ: Ngày 14/3/1999, Công ty Cơ điện Trần Phú xin mua của Ngân hàng Đống đa 35000USD để trả nợ vay ngắn hạn

    Tỷ giá giao ngay USD/VND =14525-14530

    Trình tự giải quyết như sau:

    • Công ty viết giấy xin mua ngoại tệ
    • Chi nhánh ngân hàng đồng ý bán sẽ ghi số tiền vào phần xác nhận bán và tính toán dựa trên tỷ giá bán mà NHCT Việt nam công bố. Ngân hàng xác nhận bán cho công ty 35000USD theo tỷ giá bán là 14530VND/USD

    Số tiền mà Công ty phải trả để mua USD là:

    14530 x 35000= 508.550.000 VND

    Mức phí Công ty phải trả cho giao dịch là:

    0,05% x 35000 x 14530=244.275 VND

    Chênh lệch tỷ giá mua bán :

    14530-14525=5

    Số tiền thu được từ chênh lệch giá mua bán :

    35000 x 5= 175.000 VND

    Vậy qua nghiệp vụ SPOT chi nhánh sẽ thu được :

    175.000+243.075=418.075 VND

    • Hình thức giao dịch kỳ hạn (FORWARD):

    Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà tại thời điểm chuyển giao ngoại tệ sẽ ddược thực hiện sau một thời gian nhất định kể  từ khi thoả thuận hợp đồng

    Hiện nay, tỷ giá giao dịch hối đoái kỳ hạn được ấn định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và không vượt quá giới  hạn tối đa của tỷ giá giao ngay, tại thời điểm giao dịch cộng từng mức tỷ lệ % cụ thể so với mức giới hạn tối đa của tỷ giá giao ngay.

    Ví dụ : Ngày 3/3/2000, NHCT Đống đa ký thoả thuận mua bán ngoại tệ kỳ hạn với Công ty cơ khí Hà nội , thoả thuận như sau:

    • Bên mua là Công ty cơ khí Hà nội
    • Bên bán là Ngân hàng Công thương Đống đa
    • Số lượng ngoại tệ : 100.650,66 USD
    • Tỷ giá kỳ hạn thoả thuận giữa hai bên là 14.023 / VND/USD
    • Giá trị hợp đồng là :1.411.424.205 VND
    • Kỳ hạn : 33 ngày( từ ngày 13/3/00 đến 15/4/00)
    • Công ty cơ khí Hà nội vay để trả nợ ngân hàng
    • Đến thời hạn thanh toán (15/4/2000), Công ty cơ khí Hà nội sẽ chuyển VND cho chi nhánh NHCT Đống đa. Ngay sau khi nhận đủ số tiền VND như đã thoả thuận , NHCT Đống đa sẽ thanh toán số ngoại tệ tương ứng cho Công ty cơ khí Hà nội.

    Bảng 9. Tình hình mua bán ngoại tệ tại chi nhánh NHCT Đống Đa năm 1998-2000

                                                                                                       Đơn vị :1000đồng

    Chỉ tiêu 1998 1999 2000
    I.Doanh số mua vào

     

    –         USD

    –         DEM

    –         FRF

    –         JPY

    –         EUR

    18.656

     

    548

    165

    11.548

    _

    5.508

     

    45

    67

    8.548

    126

    27.400

     

    2.837

    981

    22.000

    105

    II.Doanh số bán ra

     

    –         USD

    –         DEM

    –         FRF

    –         JPY

    –         EUR

    17.694

     

    546

    166

    11.548

    _

    5.608

     

    40

    72

    7.947

    123

    22.000

     

    3.300

    918

    22.000

    105

    Bảng 10: Tình hình mua bán ngoại tệ phân theo đối tượng mua bán tại chi nhánh NHCT Đống Đa năm 2000.

                                                                                                             Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Mua vào Bán ra
    –         Trong hệ thống NHCT

     

    –         Ngoài hệ thống NHCT

    –         Các đơn vị kinh tế

    –         Các thành phần kinh tế

    –         Chi trả kiều hối

    19.500

     

    2000

    4.800

    770

    280

    _

     

    _

    21.000

    1000

    205

    Bảng 11 : Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa năm 1996

    Đơn vị :1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1996
      USD FRF JPY DEM
    Tồn 18.853     453
    * Mua vào

     

    +Mua TTGDNT

    +Muảtong hẹ thống NHCT

    +Mua ngoài hệ thống

    +Mua các đơn vị kinh tế

    +Mua từ các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

      474

     

    467

    7

    9.624

     

    9628

    2.397

     

    745

    110

    1.543

    * Bán ra

     

    +Bán cho TTGDNT

    + Bán cho NHNN

    + Bán trong hệ thống

    + Bán ngoài hệ thống

    +Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT khác

    36.128

     

    0,7

    35.460

    0,22

    467

     

    467

    9.628 2379

     

    1427

    0,9

    9628

    Ngoại tệ mua chưa bán 1.185 0,7   1,8

    Tổng lãi năm 1996:  298 triệu USD

                               (Báo cáo kết quả hoạt động ngân hàng năm 1996)

    Bảng 12: Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa 1997

     Đơn vị : 1000đ

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1997
    USD FRF JPY DEM
    * Mua vào

     

    + Mua của TTGDNT

    + Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của cccs đơn vị kinh tế

    + Mua từ các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

    27.166

     

    12.059

    11.459

    2.872

    752

    23

    1.722

     

    1.501

    17

    152

    9

    40

    4.805

     

    2.720

    2

    080

    4

    2.512

     

    1.319

    250

    55

    50

    835

    * Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    + Bán cho NHNN

    + Bán trong hệ thống NHCT

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT khác

    27.162

     

    370

    26.783

    9

    1.728

     

    1.728

    4.650

     

    287

    4.317

    3.527

     

    287

    0,1

    2.229

    0,8

    * Ngoại tệ mua chưa bán 1189   199 3

                                                            Tổng lãi :493 triệu

                ( Báo cáo kết quả kinh doanh của NHCT Đống Đa năm 1997)

    * Nhận xét : Mặc dù doanh số mua bán ngoại tệ giảm qua các năm, song chi nhánh NHCT Đống Đa vẫn kinh doanh có lãi, đáp ứng đủ nhu công cầu ngoại tệ của khách hàng, đảm bảo việc thanh toán hàng nhập khẩu của khách hàng thông qua các L/C mở tại chi nhánh. Nguồn ngoại tệ của chi nhánh chủ yếu là mua trng hệ thống ngân hàng và các NHTM khác, nguồn từ các đơn vị kinh tế khác …  Như vậy quy mô kinh doanh ngoại tệ tăng nhanh, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đang ngày càng được mở rộng. Nguồn ngoại tệ của chi nhánh là khá ổn định, song điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu của ngân hàng. Phần bán ra của ngân hàng chủ yếu là cho các đơn vị kinh tế để thanh toá L/C trả nợ, trong khi mua bán trực tiếp thì cũng còn hạn chế.

    * Năm 1996 và đầu năm 1997, tỷ giá giữa VND và USD tương đối ổn định, lãi suất vay USD lại thấp hơn lãi suất vây VND. Vì vậy, các đoanh nghiệp có xu hướng sử dụng  vay ngoại tệ  trong thanh toán hàng nhaapj khẩu. NHư vậy trong năm 1996 việc kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa tương đối ổn định, hầu hết các tháng trong năm đều đạt lãi cao thì năm 1997 doanh số mua bán các ngoại tệ đều giảm so với năm 1997.

    Sở dĩ có tình trạng này là do giữa năm 1997 xảy ra tình trạng khủng hoảng tiền tệ khu vựcở các nước đong Nam á làm cho VND hai lần sụt giá so với USD trên 10%, tỷ giá giữa USD /VND tăng mạnh từ 11.156 lên 12.293 ( vào cuối năm 1997 ) Những khách hàng nhập khẩu mở tài khoản và vay vốn tại ngân hàng bị thiệt hại do biến động tỷ giá lên đến hàng trăm tỷ đồng. Dân cư rút tiền gửi, mua ngoại tệ gửi ngân hàng vì lo sợ USD bị giảm giá. Những ảnh hưởng này gây nên tâm lý hoang mang và xuất hiện hiện tượng đầu cơ trong dân chúng cũng như các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho ngoại tệ trên thị trường khan hiếm hơn và khó mua. Ngân hàng cũng không thể bán ra ngoại tệ huy động vài phải bảo toàn vốn USD cho khách hàng và chấp nhận quy chế về trạng thái ngoại hối do NHNN quy định. Trong khi đó, số L/C thanh toán cho nước ngoài trong năm là26.273.298 USD. Thêm vào đó một số dơn vị mở L/C tại các ngân hàngkhác nhưng lại có tài khoản tiền gửi  tại chi nhánh đến mua ngoại tệ trước khi đến hạn thanh toán để hạn chế rủi ro, tỷ giá tăng đã tạo nên cầu về ngoại tệ tăng, gây sức ép với chi nhánh. Ngoài hình thức thanh toán bằng L/C, các đơn vị còn thanh thông qua hình thức chuyển tiền TTR. Do vậy, muốn giữ khách hàng truyền thống phải đáp ứng đa dạng hoá phương thức thanh toán của khách hàng.

    Việc chi trả kiều hối vẫn được đẩy mạnh. Năm 1998, chi nhánh trả 23751.33 USD và 9576 DEM, tăng 12% so với năm 1996. Tuy nhiên, một số khách hàng nhận kiều hối không muốn bán ngoại tệ cho chi nhánh như trước mà rút về cất trữ chờ tỷ giá tăng, do đó nguồn mua ngoại tệ từ kiều hối tương đối thấ, chỉ chiếm 0,3% doanh số mua vào.

    Đứng trước những khó khăn về nguồn mua ngoại tệ, chi nhánh đã chủ động đến các đơn vị có hàng xuất khẩu đóng trên địa bàn thành phố để liên hệ thanh toán L/C xuất, rồi quan hệ với các đơn vị khác ngoài địa bàn. Do vậy, chi nhánh đã khai thác được nguồn ngoại tệ đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán L/C mở cho khách hàng tại chi nhánh. Doanh số mua từ các khách hàng này chiếm 485 trong tổng doanh số mua vào, mua từ NHCT Việt Nam chiếm 45%. Điều này chứng tỏ chi nhánh đã cvó nỗ lực trong việc thu hút khách hàngtìm kiếm được nguồn ngoại tệ có giá trị hợp lý, lãi kinh doanh của ngân hàng & đạt 493 triệu VND, tăng 35% soa với năm 1996, lãi thu được từ hoạt động mua bán ngoại tệ cũng góp phần chung và thu nhập của ngân hàng. Điều quan trọng hơn la hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã ddaps ứng được nhu cầu ngoại tệ của khách hàng xuất nhậpkhẩu từ đó đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ của ngân hàng, tạo nên sự hài hoà thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển giữa các hoạt động  ngân hàng.

    Năm 1998, thực hiệnchủ trường văn bản quản lý ngoại hối theo quết định 37/QĐ – TTg ngày 14/2/1998 của thủ tướng chính phủ về duy trì khoản ngoại tệ cho các doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ ddã tác động phần nào đến việc ổn định tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do. Mặt khác, các quyết định 173/1998/QĐ – NHNN7 , 418/1998 /QĐ của thống đốc NHNN Việt Nam về việc quy định các doanh nghiệp phải bán 80% lượng ngoại tệ thu về cho ngân hàng. Trong năm 1998, tỷ giá VND/USD có hai lần được điều chỉnh bởi NHNN Việt Nam làm chio tỷ giá biến động và luôn có xu hướng tăng. Lần điều chỉnh thứ nhất là ngày 16/2/1998 , tỷ giá công bố chính thức của NHNN từ 11.175VND/USD lên tới 11.800 VND/USD, với biên độ giao động cho phép là +(-) 10% . Lần điều chỉnh thứ hai là ngày 7/8/1998, tỷ giá chính thức đươc điều chỉnh đúng bằng thị trường liên ngân hàng là 11.998VND/USD, với biên độ giao động là +(-) 7%. Cả hai lần điều chỉnh đều dẫn đến sự  giảm tối đa mức cho phép của VND.

    Cơ chế chính sách tỷ giá được cải thiện theo quyết định số 17/1998/QĐ- NHNN7 của NHNN Việt Nam về việc ban hành quy chế  hoạt động giao dich hối đoái đã làm cơ sở để chi nhánh giao dịch với các ngân hàng và các khách hàng được thuận lợi. Việc quy định những tỷ giá cụ thể đối với từng kỳ hạn trong bối cảnh tỷ gía biến động như hiên này đã tạo cho khách hàng yên tâm hơn trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng cách ký hợp đồng kỳ hạn với ngân hàng để thanh toán L/C nhập. Từ đó chi nhánh cững có cơ sở để cân đối, điều chỉnh nguồn ngoại tệ, tạo thế chủ động trong kinh doanh.

    Bảng 13 Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa năm 1999

    Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 1999
    USD FRF JPY DEM
    1 Tồn 1189 911 19 30
    2 Mua vào

     

    + Mua của TTGDNT

    Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của các hệ thống đơn vị kinh tế

    + Mua của các TPKT khác

    + Mua do chi trả kiều hối

    18656

     

    7315

    8649

    2319

    314

    58

    165

     

    120

    4

    8

    31

    1154

     

    7

    1054

    3

    4

    548

     

    162

    0,35

    56

    295

    3 Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    +Bán cho NHNN

    + Bán cho các đơn vị kinh té

    + Bán trong hệ thống

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các  TPKT  khác

    17694

     

    17648

    30

    195

    166

     

    132

    30

    3

    1174

     

    7

    1154

    204

    3

    506

     

    307

    193

    5

    4 Ngoại tệ mua chưa bán 2125     44

                                                        Tổng lãi : 396 tiệu VND

    ( Báo cáo kết quả hoạt động của NHCT Đống Đa năm 1999)

    * Nhận xét : Doanh số mua bán USD trong năm 1999 giảm 52% so với năm 1997, 1998. Doanh số DEM cũng giảm 40%, doanh số bán cũng trong tình trạng giảm xuỗng, nhìn chung chi nhánh vẫn đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ của khách hàng trong năm, kinh doanh ngoại tệ vẫn lãi 396 triệu VND ( 75% so với năm 1997,1998 )

    Về chi trả kiều hối, chi nhánh đã trả 58 .754 USD và 3676 DEM tăng 50% so với nam 1998. Hầu hết số kiều hối này khách hàng đều bán lại cho ngân hàng . thông qua nghiệp vụ này chi nhánh vừa có cơ hội mua được ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán, vừa thu được chi phí, góp phần làm tăng lợi nhuận kinh doanh của toàn chi nhánh. Doanh số  mua vào thường lớn hơn doanh số bán ra. Điều này chi nhánh luôn  có trạng thái ngoại tệ dương . Trong xu thế đồng USD lên giá như hiện nay thì tình  trạng này luôn có lợi nhuận cho nhân hàng.

    Bảng 14 : Tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đóng Đa năm 2000

    Đơn vị : 1000

    Chỉ tiêu Doanh số phát sinh năm 2000
    USD FRF JPY DEM
    1 Mua vào

     

    + Mua trong hệ thống NHCT

    + Mua ngoài hệ thống

    + Mua của các đơn vị kinh tế

    + Mua các TPKT

    + Mua do chi trả kiều hối

           
    2. Bán ra

     

    + Bán cho TTGDNT

    + Bán trong hệ thống NHCT

    + Bán ngoài hệ thống

    + Bán cho các đơn vị kinh tế

    + Bán cho các TPKT

    22.000

     

    21.000

    1000

    918

     

    3300

    588

    22.000

     

    22.000

    3.300

     

    3.200

    100

                                               Tổng lãi : 496 triệu VND

                ( Báo cáo kết quả hoat động của NHCT Đống Đa năm 2000)

    * Nhận xét :Ta thấy rằng tình hình kinh doanh ngoại tệ của NHCT Đống Đa là tương đối phát triển, doanh số mua bánUSD tăng 47% so với năm 1999, doanh số mua bán DEM cũng tăng 39%. Đặc biệt, doanh số cuả hai loại ngoại tệ FRF và JPY tăng rất mạnh so với năm trước, đáp ứng đủ nhu cầu đa dạng ngoại tệ của khách hàng tạo cho ngâqn hàng có nguồn thu lãi 496 triệu VND ( 78% so với năm 1999)

    Về chi trả kiều hối, chi nhánh thực hiện rất tốt,tăng 53% so với năm 1999. Ngân hàng đã thu hút lượng ngoại tệ khá lớntừ nguồn kiều hối này cho nên ngân hàng có điều kiện thuận lợi kinh doanh cho toàn chi nhánh, thúc đẩy hoạt động này ngày càng hoàn thiện hơn.  Qua bảng ta thấy doanh số mua vào và bán ra có sự chênh lệch nhau không nhiều lắm cho nên điều này không dẫn đến số lượng ngoại tệ chưa bán còn tồn đọng, gây cho ngân hàng những trở ngại bất cập trong kinh doanh.

    4. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA :

    4.1. Kết quả đạt được :

    Tuy là một nghiệp vụ mới mẻ với ngân hàng Công thương Đống Đa nhưng kinh doanh ngoại tệ đã có được những kết quả khả quan sau :

    * Trong thời gian qua, ngoại tệ khan hiếm, chi nhánh tích cực khai thác bằng nhiều luồng để tăng khả năng thanh toán bằng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập vật tư, hàng hoá của các doanh nghiệp, cũng như nhu cầu thanh toán kiều hối cho dân cư.

    Doanh số mua bán ngoại tệ tăng nhanh qua các năm, quy mô hoạt động được mở rộng, lãi thu từ kinh doanh ngoại tệ đã góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập hàng năm của ngân hàng. Hiện nay, ngoài mua bán USD và DEM là chủ yếu, ngân hàng còn kinh doanh các đồng tiền khác như JPY, SGD, FRF, … theo nhu cầu của khách hàng, mặc dù doanh số giao dịch này chưa lớn.

    * Kinh doanh ngoại tệ góp phần quan trọng mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế và cho vay ngoại tệ của ngân hàng, bởi vì hai hoạt động này gắn liền với nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán nhập khẩu và mua ngoại tệ trả nợ ngân hàng cũng như nhu cầu về bán ngoại tệ từ thu xuất khẩu… Nhờ chủ động ngoại tệ ngân hàng luôn thanh toán cho khách hàng đúng hạn, đảm bảo uy tín của ngân hàng đồng thời bảo vệ được lợi ích của khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần mở rộng quan hệ của ngân hàng Đống Đa với các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng thương mại khác trong cả nước. Chi nhánh đã sử dụng quỹ ngoại tệ từ quỹ điều hoà của Trung ương cho vay có hiệu quả, tăng vòng quay vốn ngoại tệ, tạo môi trường giúp các nhà doanh nghiệp nhập nguyên liệu, máy móc thiết bị phát triển sản xuất kinh doanh.

    4.2. Nguyên nhân và hạn chế trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ hiện nay tại NHCT Đống Đa.

              4.2.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng mới chỉ dừng lại ở đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng xuất nhập khẩu, tức là hoạt động mua bán ngoại tệ chủ yếu trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng. Ngân hàng chưa thực hiện các nghiệp vụ liên ngân hàng, thực hiện kinh doanh thu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch tỷ giá thuần tuý.

    Nguyên nhân của hạn chế này :

    + Nguồn vốn ngoại tệ của ngân hàng còn nhỏ bé. Vì vậy, ngân hàng khó có thể chủ động trong các nghiệp vụ liên ngân hàng như đầu cơ, thực hiện nghiệp vụ AEBITRAGE, cơ cấu hợp lý cac ngoại tệ trong tổng nguồn…

    + Chính sách điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước ổn định và thống nhất, các ngân hàng thương mại chưa chủ động hoàn toàn xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ. Chính vì vậy, việc ban hành các quyết định về kinh doanh ngoại hối của nhà nước là hết sức hợp lý và kịp thời, góp phần cho ngân hàng nhà nước có một công cụ hữu hiệu để khống chế và xử lý linh hoạt chính sách tỷ giá trong bối cảnh thị trường hối đoái trong nước và trên thế giới đang có nhiều biến động.

    + Để thực hiện nghiệp vụ liên ngân hàng, ngân hàng cần phải trang bị những thiết bị hiện đại cho bộ phận kinh doanh ngoại tệ (hệ thống máy computer nối mạng với Internet, dịch vụ của hãng tin Reuter…) để theo dõi sự biến động tỷ giá thường xuyên trên thị trường hối đoái. Nhưng ở NHCT Đống Đa, hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn mang tính chất bán thủ công, chủ yếu thực hiện bằng điện thoại, ngân hàng chưa sử dụng nhiều các dịch vụ của hãng Reuters.

              4.2.2. Các nghiệp vụ hối đoái còn sử dụng đơn điều,  chủ yếu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ giao ngay và nghiệp vụ kỳ hạn, còn nghiệp vụ hối đoái ngoại tệ thì đã được thực hiện nhưng rất ít.

    Quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường hối đoái luôn biến động, kéo theo tỷ giá của các đồng tiền cũng biến động, trong khi chúng ta vẫn áp dụng chế độ 6 trần tỷ giá kỳ hạn (từ 30 ngày đến 180 ngày, trong 15 ngày có một tỷ giá…) Nó giống như chỉ tiêu khống chế trong việc tính toán xác định tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch, vì vậy bên cạnh những lợi ích mà các quyết định đó đem lại, cho đến nay cũng đã bộc lộ những nhược điểm không phù hợp và gây ra không ít khó khăn đối với các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong quá trình vận dụng và thực hiện.

    – Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu của khách hàng về sử dụng loại hợp đồng kỳ hạn và hoán đổi chưa cao. Thực hiện quyết định số 16/1998/QĐ-NHNN7 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giới hạn biên độ tỷ giá kỳ hạn và hoán đổi, các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp còn nhiều vướng mắc trong việc tính toán tỷ giá mua bán kỳ hạn. Các doanh nghiệp xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ trong tươnglai cũng không muốn bán kỳ hạn cho ngân hàng vì kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng. Các doanh nghiệp nhập khẩu thì chấp nhận mua ngoại tệ với tỷ giá tại thời điểm phải thanh toán.

    – Theo điều 1 của quyết định này, cách xác định mức trần tỷ giá kỳ hạn dựa vào các yếu tố sau:

    + Dựa vào tỷ giá chính thức do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm giao dịch.

    + Dựa vào biên độ của tỷ giá chính thức để xác định tỷ giá mua bán giao ngay của Ngân hàng thương mại.

    + Dựa vào tỷ lệ % theo các kỳ hạn khác nhau cộng vào tỷ giá giao ngay của các Ngân hàng thương mại.

    Đây là cơ sở cho việc xác định tỷ giá giao dịch của các Ngân hàng. Nhưng trong quá trình tính toán và đưa ra tỷ giá giao dịch với khách hàng thì không phải NHTM naò cũng thực hiện đúng quy định vì nó có nhiều điểm bất hợp lý, không phù hợp với thực trạng kinh doanh, để thấy rõ điều này chúng ta xét ví dụ sau:

    Xác định mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng vào ngày 5/8/1998, tỷ giá chính thức do NHNN công bố là 1USD = 11.816VNĐ. Khi đó, mức quy định của tỷ giá giao ngay tối đa với Ngân hàng thương mại sẽ là:

    1 USD = 11816 x (1 + 10%) = 12997,6 VNĐ

    Mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng sẽ là:

    1 USD = 12997,6 x (1 + 3,5%) = 13452,5 VNĐ

    Vậy theo điểm 1 (điều 11) của quyết định số 17/1998, đối với một giao dịch kỳ hạn là 6 tháng thì NHTM được Ngân hàng Nhà nước cho phép giao dịch kỳ hạn phải chấp hành chào giá cho khách hàng của mình không vượt quá 13452,5 VNĐ/USD. Khi bán ra và mua vào không vượt quá 13452,5 x (100% – 0,1%) = 13439 VNĐ/USD (mua bán chuyển khoản).

    Thế nhưng, điều gì xảy ra đối với một ngân hàng kinh doanh trong khi

    + Lãi suất USD 6 tháng là 5% – 8,5%

    + Lãi suất USD 6 tháng là 9% – 14,4%.

    + Tỷ giá giao ngay USD/VNĐ là 12997,6.

    Kết quả của ngân hàng:

    + Tỷ giá mua vào của ngân hàng:

    12977,6 + 12997,6 (9% – 8,5%) x 180 = 13028
    36000 + (8,5% x 180)  

    + Tỷ giá bán của ngân hàng:

    12997,6 + 12997,6 (14,4% – 5%) x 180 = 13028
    36000 + (5% x 180)  

    Với tỷ giá kỳ hạn của ngân hàng thương mại tính theo phương pháp lãi suất là : USD/VND = 13028 – 13593.

    Từ kết quả tính trên về mức trần tỷ giá kỳ hạn 6 tháng tại thời điểm giao dịch ngày 5/8/1998 đã xuất hiện mẫu thuẫn trong cách xử lý cũng như vận dụng vào thực tiễn :

    + Nếu ngân hàng thương mại vẫn thực hiện tốt việc chấp hành mức trần tỷ giá kỳ hạn nghĩa là ngân hàng chỉ đưa ra tỷ giá mua bán cho khách hàng xoay quanh mức trần tỷ giá, trong đó tỷ giá bán 1USD= 13452,5VND và tỷ giá mua trừ lùi đi 0.1% (áp dụng mua bán chuyển khoản). Như vậy, NHTM sẽ không chấp nhận bởi vì trong mua bán kỳ hạn, bản thân các NHTM đã không được gì và tất nhiên cũng không mất ở tỷ giá mà họ đã cung cấp cho khách hàng. Tỷ giá cân bằng là khi họ mua vào, bán ra với tỷ giá USD/VND = 13028 – 13593.

    + Nếi ngân hàng Thương mại hướng các hoạt động mua bán kỳ hạn của mình để không bị lỗ thì buộc phải bỏ qua yếu tố trần tỷ giá kỳ hạn. Đây là điều trăn trở đối với các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Trên thực tế, mỗi ngân hàng đưa ra tỷ giá khác nhau, ngân hàng nào vì chiến lược khách hàng sẽ đưa ra tỷ giá thấp, do đó không có lãi thậm chí còn có nguy cơ lỗ, còn ngân hàng nào có thế lực sẽ đưa ra một tỷ giá cao hơn. Do vậy, gây nên tình trạng không phản ánh đúng cung cầu, gây khó khăn đối với một số ngân hàng trong khi giao dịch với khách hàng và đã có nhiều thắc mắc về tỷ giá từ phía khách hàng. Nhiều khi chính vì kháng hàng, chi nhánh NHCT Đống Đa phải giảm cho khách hàng từ hai đến ba giá, như ngân hàng Ngoại thương vẫn ưu tiên cho khách hàng của họ.

    Qua phân tích trên, NHCT Đống Đa nên có cách tính tỷ giá kỳ hạn phù hợp hơn để đẩy mạnh các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa ngân hàng và khách hàng. Hiện nay, đồng USD vẫn là đồng tiền được sử dụng chủ yếu trong thanh toán quốc tế, vì vậy ngân hàng chỉ kinh doanh mua bán, dự trữ phần lớn USD, DEM. Ngân hàng chưa có chính sách về một cơ cấu ngoại tệ hợp lý, tránh quá phụ thuộc vào USD. Đó là vì : quỹ ngoại tệ của ngân hàng còn nhỏ, hơn nữa để làm được điều đó đòi hỏi trình độ cán bộ kinh doanh ngoại tệ cao và nhiều kinh nghiệm, phải theo dõi, nắm chắc thường xuyên biến động tỷ giá và trạng thái từng ngoại tệ của ngân hàng cũng như dự toán một cách nhanh nhạy hơn với thị trường.

              4.2.3 Nguồn mua ngoại tệ của NHCT Đống đa từ các khách hàng xuất khẩu rất hạn chế. Vì vậy, ngân hàng thường phải mua lại ngoại tệ từ các NHTM khác với tỷ giá khá cao, nên ngân hàng hoặc đóng vai trò mua hộ ngoại tệ cho khách hàng (không thu lãi), điều này sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh ngoại tệ, hoặc bán với tỷ giá cao hơn một chút thì có thể gây ấn tượng không tốt với khách hàng và có khả năng mất khách hàng cho các NHTM khác.

    Nguyên nhân của hạn chế này là do số lượng khách hàng xuất khẩu đến với ngân hàng rất ít. Tuy nhiên, đây cũng là tình hình chung đối với nhiều NHTM khác trên địa bàn, vì nước ta chủ yếu xuất khẩu nông lâm hải sản và đều tập trung ở phía nam. Còn các Tổng công ty 90 và 91 đặc biệt là các đơn vị xuất khẩu trước đây có duy trì tài khoản taị ngân hàng công thương nay đều tất toán rút về mở tại Ngân hàng Ngoại thương nên nguồn mua ngoại tệ của NHCT giảm đáng kể. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ thanh toán L/C của khách hàng ngày một gia tăng. Sự mở rộng khoảng cách giữa cung cầu ngoại tệ đã làm cho ngân hàng Công thương Việt Nam mất chủ động trong cân đối ngoại tệ. Hơn nữa, mặc dù đã đóng tài khoản tiền gửi ngoại tệ nhưng họ vẫn duy trì tài khoản tiền gửi VNĐ và hoạt động vay trả với ngân hàng công thương Việt Nam vì ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu của họ. Sự bất cập này tạo nên lợi thế cho ngân hàng Ngoại thương và bất lợi cho ngân hàng Công thương, một số khách hàng lớn có giao dịch với NHCT Đống Đa nay cũng phải tập trung về một tài khoản. Thực tế này đã làm cho nguồn ngoại tệ của chi nhánh giảm dẫn đến kinh doanh ngoại tệ gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, việc giảm tỷ trọng mua ngoại tệ từ ngân hàng công thương Việt Nam đối với chi nhánh lại càng khó khăn hơn.

              4.2.4 Ngân hàng Công thương Đống Đa ít nhận được đầy đủ thông tin và những dự báo về biến động trên thị trường ngoại tệ, về biến động tỷ giá. Về thế khi tỷ giá lên xuống đột ngột đã xảy ra trong năm 1998, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng đã bị ảnh hưởng lớn.

    Nhìn chung, thực trạng kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa trong những năm qua được đánh giá là có hiệu quả và khá thành công. Để đạt được những thành tựu đó, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao của cán bộ công nhân viên trong ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Muốn hoạt động kinh doanh  ngoại tệ của Ngân hàng phát triển, có vị trí và tầm quan trọng xứng đáng trong tổng thể hoạt động của một ngân hàng thương mại hiện đại trong thế kỷ 21, tất cả những hạn chế trên trong hoạt động này của NHCT Đống Đa đòi hỏi cần phải giải quyết, khắc phục bởi chính ngân hàng cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Chương III của luận văn này sẽ nêu ra một số ý kiến của tác giả về những vấn đề trên.

     

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI  CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐỐI NGOẠI CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2001

    Như chúng ta đã biết, NHCT khu vực Đống Đa được tách từ NHNN ngày 1/7/1988, kể từ ngày đó ngâ hàng thực hiện chế độ hoạch toán kinh doanh XHCN

    Theo cơ chế thị trrường. NHCT Đống Đa là một chi nhánh thực thuộc NHCT Việt Nam. Vì vậy, mọi định hướng hoạt động của NHCT Việt Nam đều có tác động tầm vĩ mô tới hoạt động của NHCT Đống Đa.

    Một trong những cơ sở quan trọng để đưa ra giải pháp và kién nghị nhằm thúc đảy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại NHCT Đống Đa, dó là định hướng hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHCT Việt Nam  đến năm 2001.

    * Tăng cường khai thác các nguồn vốn vay nước ngoài cho các dự án trung và dài hạn của các doanh nghiệp dưới mọi hình thức như định chế tàI chính, uỷ thác vay vố từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân nước ngoài , thực hiện tốt các dự án vay dài hạn của các tổ chức quốc  tế như : Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á …

    *Chấp hành nghiêm chỉnh quy định của NHNN và yêu cầu của tổ chức cấp vốn vay.

    * Khai thác triệt để mọi khoản tàI trợ của tổ chức nước ngoàI, giúp đỡ về mặt kỹ thuật nhằm đổi mới công nghệ ngân hàng và đào tạo cán bộ.

    * Định hướng chiến lược Marketing ngân hàng nhằm mở rộng thị trường hoạt động, nâng cao uy tín của NHCT Việt Nam trên thương trường khu vực và quốc tế, tranh thủ mọi thuận  lợi đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro trong kinh doanh hối đoái và quan hệ đối tác với nước ngoài.

    * Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh đối ngoạI bao gồm: Thanh toán quốc tế, thanh toán biên giới, cho vay ngoại tệ và nhất là hoạt động mua bán ngoại tệ.

    * Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại bao gồm : Thanh toán quốc tế, mở rộng mạng lưới ngoại tệ cũng như thu đổi ngoạI tệ nhằm thu hút ngoại tệ trên thị trường vào ngân hàng.

     2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI CHI NHÁNH NHCT ĐỐNG ĐA.

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động tinh vi phức tạp và phải chịu nhiều ảnh hưởng của các biến cố kinh tế, chính trị, văn hoá… Chính vì vậy, nó đòi hỏi tất cả các ngân hàng thương mại, với chức năng tài chính, hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế nói  chung và lĩnh vực kinh doanh đối ngoại nói riêng phảI cóa những chiến lược kinh doanh hợp lý thích hợp với từng thời kỳ mang lạI những thành công tốt đẹp hiệu quả kinh tế cao, các giải pháp cụ thể là:

              2.1. Đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh ngoại tệ sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô kinh doanh, tạo sự tăng trưởng về lượng và chất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, đồng thời góp phần vào sự phát triển tổng thể các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

     2.1.1.  Đối với nghiệp vụ ngoại hối giao ngay: Ngân hàng cần tiếp tục mở rộng quy mô các loại hình nghiệp vụ này, với các biện pháp sau :

    1. Mở rộng quan hệ với các NHTM khác, các ngan hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài, luôn giữ uy tín trong quan hệ giao dịch thương mại.
    2. Thu hút số lượng khách hàng giao dịch ngoại tệ cới ngân hàng:

    – Hiện nay, ngân hàng đang quy định phí giao dịc là 0,05 % là mức tối đa cho phép của NHNN. Vì vậy, NHCT Đống Đa có thể hạ thấp các mức phí trong đIều kiện cho phép.

    – Luôn vì lợi ích của khách hàng thanh toán đúng hạn, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng, giữ uy tín với khách hàng .

    – Mở rộng giao dịch với các loại ngoại tệ khác như: SGD,CHF, FRF, JPY…

    1. NHCT cần phải chủ động nguồn vốn ngoại tệ để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng cũng như mọi nhu cầu phát sinh khác xẩy ra một cách kịp thời nhanh chóng.

               2.1.2. Đối với nghiệp vụ SWAP.

    1. Trước hết cần phải làm cho khách hàng hiểu rõ về nghiệp vụ này và lợi ích của chúng. Hiện nay nói chung những hiểu biết về giao dịch hối đoái nhằm phòng tránh rủi ro trên ở các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao. Vì vậy, nhu cầu sử dụng các giao dịch còn hạn chế. NHCT Đống Đa có vai trò quan trọng là hướng dẫn, giới thiệu về các nghiệp vụ cho khách hàng để họ có thể sử dụng chúng hiệu quả trong kinh doanh.
    2. Các cán bộ kinh doanh ngoại tệ cần được đào tạo một cách cơ bản và thường xuyên. Hơn nữa họ không chỉ giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước, nhằm tránh rủi ro cho ngân hàng và thu lợi nhuận nhiều nhất có thể cho ngân hàng.

    2.2  Chủ động trong khai thác các nguồn ngoại tệ .

    2.2.1. Tăng cương hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để chủ đôngj nhiều hơn trong khai thác nguồn ngoại tệ với quy mô lớn hơn, chi phí thấp và ngân hàng sẽ có điều kiện để phát triển nghiệp vụ liên ngân hàng của mình.

               2.2.2.  Chủ động thu hút nguồn ngoại tệ trên thị trường.

    1. Mở rộng và thu hút nguồn ngoại tệ tiền gửi của dân cư.
    2. Thu hút ngoại tệ từ nguồn kiều hối gửi về trong nước: Hiện nay nguồn kiều hối gửi về qua NHCT Đống Đa không nhiều, song với chính sách tỷ giá hiện hành, tỷ giá mua bán trên thị trường tự do đã chênh lệch không nhiều. Vì vậy, ngân hàng cần tạo sự tiện íc cho khách hàng để khách hàng có đIều kiện trực tiếp tiếp cận với ngân hàng hoặc bán cho ngân hàng nếu cần.

    2.3. Thúc đẩy hoạt động có liên quan tới kinh doanh ngoạI tệ của ngân hàng.

               2.3.1. Cho vay ngoại tệ.

    Hiện nay ngân hàng cho vay ngoại tệ chủ yếu với khách hàng nhập khẩu thời gian ngắn. Ngân hàng cần mở rộng hoạt động này với các biện pháp sau:

    1. Tiếp tục thực hiện chính sách khách hàng, tạo sự tin cậy với số lượng khách hàng quen thuộc có uy tín, có lãi suất ưu đãi.

    b Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thẩm đinh tín dụng để họ không chỉ xem xét khả năng trả nợ cho khách hàng mà còn tư vấn cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của họ, ngân hàng cần phải phân công từng nhóm cán bộ  phụ trách từng bộ phận nhất định , ngoài ra, NHCT Đống Đa cũng thực hiệncho vay tài trợ xuất khẩu bằng cách chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. Đây là hình thức tài trợ của ngân hàng đối với khách hàng xuất khẩu sau khi họ đã xuất được hàng.

    Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên phàn thực trạng lượng khách hàng xuất khẩu qua ngân hàng rất ít (20% ) nên ngân hàng khôngcó được nguồn ngoại tệ trực tiếp này. Vì vậy, để thu hút khách hàng xuất khẩu ngân hàng cần tài trợ từ giai đoạn sản xuất hoặc thu gom hàng xuất khẩu. Với hình thức này, ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, nên ngân hàng cần áp dụng một số bắt buộc đối với doanh nghiệp như: Cán bộ ngân hàng thường xuyên đến cơ sở để kiểm tiến độ sản xuất, mở tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng thanh toán hàng xuất nhập khẩu qua ngân hàng.

              2.3.2. Thanh toán quốc tế.

    Để hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng mở rộng, NHCT Đống Đa cần được có ccs biện pháp như sau :

    1. Có chính sách thu hút khách hàng xuất nhập khẩu giao dịch qua ngân hàng : Ngoài các biện pháp tài trợ xuất nhập khẩu ở trên ,ngân hàng cần phát huy hơn một số biện pháp như : giảm chi phí giao dịch cho khách hàng quen, có uy tín tư vấn cho khách hàng về thanh toán quốc tế phương thức thanh toán có lợi nhất cho khách hàng tổ chức thực hiện nghiệp vụ theo khoa học hợp lý, phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng một cách nhanh chóng.
    2. Mở rộng quan hệ đối ngoại với các ngân hàng khác, nhất là các ngân hàng nước ngoài để trợ giúp đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn và khai thác các thông tin kinh tế.

     2.4. Đầu tư trang thiết bị phục vụ cho việc kinh doanh ngoại tệ và chính sách phát triển nhân lực .

    Trong điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công nghẹ ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của toàn ngành ngân hàng. việc máy tính hoá các nghiệp vụ ngân hàng là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

    Thực trạng tại phòng kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh NHCT Đống Đa cho thấy hệ thống mạng mà phòng đang sử dụng đã khá cũ, không thuận tiện cho việc nắm bắt và xử lý thông tin ngày nay. Chính vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng cập nhật thông tin.

     2.4.1. NHCT Đống Đa cần trang bị những thiết bị, hệ thống thông tin hiện đại hơn, phục vụ cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Trong thời gian trước mắt, ngân hàng cần đầu tư để có sự liên kết mạng hệ thống thông tin với các ngân hàng khác trên trên TTNTLNH và NHNN một cách linh hoạt, nhánh chóng để hoạt động có hiệu quả trên thị trường này.

    2.4.2. Chính sách phát triển nhân lực trên hai hướng chính sau.

    1. Chính sách đào tạo: Kinh doanh ngoại tệ là một lĩnh vực mới , nhạy cảm và sẽ là một hoạt động ngày càng phát triển trong mô hình hiện đại. Vì vậy, NHCT Đống Đa cần có chính sách đầu tư thích đáng, tài trợ cho các ccán bộ chuyên môn đi học tập, nâng cao trình độ trong và ngoài nước, đào tạo đIều kiện khuyến khích các cán bộ đhược học trong khả năng, có chính sách đái ngộ xứng đáng với các cán bộ có năng lực.
    2. Chính sách tuyển dụng : Ngân hàng cần có chế độ tuyển dụng một cách khắt khe hơn, sắp xếp sử dụng cán bộ chuyên môn để tạo hiệu cao nhất trong công việc, một phong cách văn hoá giao tiếp cởi mở, văn minh lịch sử, thái độ phong cách giao tiếp chính là nghệ thuật giữ khách hàng có hiệu quả cao nhất trong Marketing ngân hàng hiên nay , các ngân hàng thường chú trọng về chính sách quảng cáo, khuyếch trương tạo sự tín nhiệm… giúp khách hàng hiểu biết về ngân hàng do quảng cáo không mang tính chất bền vững mà chính là do các hoạt động giao tiếp hàng ngày của ngân hàng. Bởi vậy, phong cách giao tiếp sẽ tạo tâm lý hài lòng thoả mái với khách hàng- người đến giao dịch với ngân hàng ngất là trong xu thế cạnh tranh thu hút khách hàng hiện nay cuả các ngân hàng.

    Trong thời gian tới NHCT Đống Đa cần chú trọng những vấn đề sau:

    +  Tổ chức hội nghị khách hàng thông qua giới thiệu cho họ về chính sách của nhà nước, các loại hình nghiệp vụ mới như mua bán kỳ hạn, hoán đổi và những lợi ích của chũng nhằm giúp họ nhận thức đúng đắn về các nghiệp vụ đó, một mặt hạn chế được rủi ro trong kinh doanh mặt khác phối hợp với ngân hàng thực hiên chính sách của nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

    + Điều trăn trở của các cánbộ nhân viên phòng kinh doanh đối ngoại tại NHCT Đống Đa là các anh chị nhận thức những thông tin và những dự báo về thị trường kinh doanh ngoại tệ trong nước và trên thế giới để có thể đIều chỉnh tham khảo trong kinh doanh ngoại tệ. Về vấn đề này phòng thanh toán quốc tế xin kiến nghị với hiệp hội ngân hàng và NHCT Việt Nam cần thường xuyên có các buổi hội thảo chuyên đề kinh doanh ngoạI tệ, các buổi nói chuyện về tình hình kinh tế chính trị của các nước trên thế giới, trong đó cung cấp những thông tin cần thiết và đáp ứng những thắc mắc của chi nhánh NHCT Đống Đa.

     3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     3.1. Kiến nghị với NHCT Việt Nam.

    * Ngân hàng công thương Việt Nam nên cho phép các chi nhánh được mua bán ngoại tệ với nhau.

    * Tổ chức khai thác và cung cấp một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác cho toàn bộ hệ thống các tin kinh tế trong nước và ngoài nước, các tin về khách hàng nước ngoài … có liên quan đến nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ.

    * Tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn nghiệp vụ về thanh toán quốc tế và các hội thảo giải đáp những vương mắc trong thanh toán quốc tế của chi nhánh.

    * NHCT Việt Nam cần có biện pháp cải tiến thông tin để thời gian chuyển bức điện từ chi nhánh sang nước ngoài được nhanh hơn.

    * Hàng năm NHCT Việt Nam cần tổ chức hội nghị tổng kết về hoạt động kinh doanh đối ngoại nhằm tạo đIều kiện cho các chi nhánh trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    3.2. Kiến nghị với NHNN

    3.2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái.

    Với ba quyết định số : 64/1999/ QĐ/NHNN7 về việc công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam so với các loạIingoại tệ, quyết định số 65/1999/QĐ/NHNN7 về quy định tỷ giá mua bán ngoạI tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ và quyết định 298/2000/QĐ/NHNN, cơ chế tỷ giá và đièu hành tỷ giá của nước ta được thay đổi cơ bản, tỷ giá công bố đã công bố phản ánh  một cách khách quan thị trường và quan hệ cung cầu trên thị trường, đồng thời NHNN vẫn thể hiện được vai trò nhất định trong điều kiện thị trường hối đoái nước ta chưa hoàn thiện. Thực tế cho thấy sự thay đổi này đã tạo thuận lợi hơn nhiều cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng.

    Tuy nhiên, để cơ chế trên phát huy có hiệu quả, NHNN cần tập trung hoàn thiện ccác vấn đề có tính chất then chốt sau đây:

    1. củng cố và phát triển TTNTLNH một cách căn bản để phát triển thị trường ngoại hối ở nước ta. TTNTLNH phải hoạt động thông suốt, liên tục, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian, số thành viên tham gia thị trường lớn tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh và sôi động trên thị trường.
    2. Củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động của nó.
    3. NHNN cần nâng cao dự trữ ngoại tệ tương xứng với nhịp độ tăng trưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu, từ đó NHNN đảm bảo được vai trò là người mua người bán cuối cùng trên TTNTLNH, đủ sức can thiệp vào thị trường khi tỷ giá thị trường có sự biến động ảnh hưởng tới nền kinh tế, cơ cấu đự trữ ngoại tệ cũng được tính toán hợp lý, giảm thiểu sự phụ thuộc vào đồng USD.

    3.2.2. Chính sách ngoại hối.

    1. NHNN cần xây đựng quy chế thông tin, thống kê hệ thống hoá kịp thời số liệu nguồn ngoại tệ ra vào trong nước từ đó có dự báo về quan hệ cung cầu trên thị trường làm căn cứ điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối kịp thời.
    2. Các quy định về quản lý ngoại hối hiện hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh, có cơ sở nghiêm minh mọi nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế đều phảI được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng . NHNN tạo đIều kiện cho các loại ngoại tệ tự do song hành với thị trường chính thức, gây ra những bất ổn mà NHNN không kiểm soát được.

              3.2.3. Đầu tư hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

    Để có cơ hội  theo kịp các nước trong khu vực và thế giới, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam cần đảm bảo tương đối tốt vai trò mở đường và thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Muốn vây, nhu cầu cần thiết trước mắt phải là thường xuyên đầu tư, nâng cấp công nghệ ngân hàng. Chi phí thực hiện rất cao, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, NHNN cần kêu gọi sự đầu tư, giúp đỡ của các tổ chức tài chính quốc tế, ciùng với sự nỗ lực của mỗi ngân hàng Việt Nam. Để nâng cao công nghệ hoạt động ngân hàng tránh sự tụt hậu đối với thế giới.

    3.2.4. Một số văn bản liên quan đến kinh doanh ngoại tệ của các NHTM. 

    1. Về kỳ hạn của hợp đồng giao dịch SWAP.

    Trong giao dịch SWAP ngoại tệ có hình thức giao dịch trong đó hai bên ngoài việc trao đổi tiền vốn gốc vào thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm kết thúc hợp đồng, hai bên còn trao đổi với nhau lãi suất của đồng tiền mình vay vào thời điểm thời hạn, trong khi SWAP còn có hiệu lực. Với các loại lãi suất thay đổi hay cố định được trao đổi theo SWAP, NHTM có thể thực hiện sử dụng hình thức này nhằm phòng tránh rủi ro về lãi suất có hiệu quả. Vậy NHNN nên quy định hình thức này vào ” Quy chế giao dịch hối đoái ” đồng thời  không nên quy định thời hạn tối đa của SWAP vì với SWAP có lãi suất cố định thì cần thời hạn tương đối dài.

    1. Về hình thức cho vay bằng ngoại tệ tài trợ xuất nhập khẩu : Hiện nay, NHNN không cho phép vay xuất khẩu bằng ngoại tệ. Tuy nhiên, hình thức này rất có lợi dựa vào các lý do sau:

    + Xét về khả năng thu hồi nợ khá đảm bảo nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu (trong khi cho vay để thanh toán L/C rất khó để tạo nguồn trả nợ lại bằng USD)

    + Hình thức cho này tạo cho khách hàng xuất khẩu có trạng thái ngoại tệ đóng tránh được rủi ro hối đoái. Bởi vì, ngoài USD, khách hàng còn vay ngoại tệ khác như : DEM, JPY, FRF …

    + Nhà xuất khẩu không chỉ sử dụng nhân công và nhiên liệu trong nước mà có khi phải nhập khẩu một số vật tư, thiết bị từ bên ngoài.

    1. Quy định tỷ giá kỳ hạn :

    NHNN hiện nay đang quy định cách tính tỷ giá kỳ hạn bằng cách khống chế mức tối đa được phép dựa trên tỷ giá giao ngay, được phép cộng với tỷ lệ % nào đó tuỳ theo từng kỳ hạn. Với quy định này, NHNN có thể kiểm soát chiều mất giá đồng Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ giá kỳ hạn thực chất được tính toán dựa trên cơ sở chênh lệch lãI suất giữa hai đồng tiền và stỷ giá giữa chúng tạI thời đIểm ký hợp đồng. Nếu một trong hai bên không tham gia sẽ bị thiệt hại, ĐIều mà không bên nào muốn. Vì vậy, để tiến dtới hoàn thiện thị trườnghối đoáI ở Việt Nam. NHNN nên quy định cách tính tỷ giá kỳ hạn một cách tổng quát dựa trên chênh lệch lãI suất thay vì cách tính có tính hành chính hiện nay.

    1. Ngoài ra, NHNN cần nghiên cứu đưa ra những quy định cụ thể hơn về chế độ hoạch toán kế toán mới. Một số nghiệp vụ khác như: Giao dịch tương lai, giao dịch lựa chọn … cũng cần được phát triển ngày càng hoàn thiện thị trường hối đoái ở Việt Nam.

    Trong nền kinh tế mở các hoạt  động liên quan đến một lượng ngoại tệ lớn và nhu càu mua bán trao đổi ngoại tệ của họ trên thị trường rất đa dạng. Trong khi đó, sự hiểu biết về thực chất cũng như lợi ích của các doanh nghiệp mua bán kỳ hạn hoán đổi còn thấp. Do vậy họ chỉ mua bán ngoại tệ với các NHTM dưới hình thức giao ngay hoặc chuyển khoỉan. Đây là điều khó khăn đối với ngân hàng trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ.

    3.3. Một số kiến nghị khác.

    3.3.1. Việc niêm yết tỷ giá của NHCT Vệt Nam hiện nay đang gây trở ngại đối với khu vực Đống Đa nói riêng trong giao dịch với khách hàng. Nhiều khi khách hàng đến giao dịch với chi nhánh vì chưa có tỷ gía nên họ phải chờ đợi, điều này không những tạo tâm lý không tốt cho họ mà còn ảnh hưởng tới công viêc kinh doanh của họ. Chính sự hạn chế này đã đẩy họ đế quyết định không giao dịch với ngân hàng mà giao dịch trên thị trường tự do. Bên cạnh đó, sự giới hạn này đã hạn chế việc nhận thức và tính nhạy bén của chi nhánh đối với việc tỷ giá lên xuống hàng ngày. Trên thị trường giá USD và các loại ngoại tệ khác thay đổi thường xuyên nếu như không nắm bắt được thực trạng biến động của thị trường thì việc đưa ra quyết định là rất khó khăn. Do đó, đề nghị NHCT Việt Nam xem xét vấn đề này nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh trong việc thanh toán, phân tích và có quyết định đúng đắn. Từ đó góp phần vào thực hện mục tiêu chung của toàn hệ thống và các chi nhánh NHCT.

              3.3.2. Kiểm soát trạng thái ngoại tệ kinh doanh.

    Tuy NHCT Đống Đa không thuộc đối tượng báo cáo theo quyết định số 18/QĐ- NHNN7 nhưng việc kiểm soát trạng thái ngoại tệ đối với chi nhánh không phải là không quan trọng. Trong những năm qua, chi nhánh đã cố gắng thực hiện mục tiêu mua vào bao nhiêu bán hết bấy nhiêu để tránh xuất hiện trạng tháI ngoạI tệ. Vì vậy, để tiếp tục thực hiện mục tiêu này trong năm thán cuối cùng của năm 2000 và những năm tiếp theo chi nhánh cần có kế hoạch mua bán sát với nhu cầu để hạn chế trạng thái ngoại tệ tránh tình trạng hình thành trạng thái ngoại tệ theo xu thế dương. chỉ gồm các ngoại tệ xuống giá và trạng thái âm chỉ toàn những ngoại tệ đang lên giá.

    KẾT LUẬN

    Cùng với xu thế phát triển và hội nhập của nước ta hiện nay, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ đang trở thành bức thiết đối với các NHTM Việt Nam. Tiến tới mô hình ngân hàng hiện đại trong thế kỷ mới, đáp ứng được vai trò tiên phong cho các hoạt động kinh tế. Là một lĩnh vực còn rất mới mẻ, kinh doanh ngoại tệ không chỉ đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải đầu tư lớn về các thiết bị công nghệ hiện đại mà còn phải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có năng lực, trình độ cao, hiểu biết sâu sắc và tổng hợp về tài chính và tiền tệ. Vì vậy, những nghiên cứu và lý luận về hoạt động này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay

    Với  mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào các nghiên cứu đó, bản chuyên đề được hoàn thành với các nội dung cơ bản sau

    + Tổng những kiến thức cơ bản về kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, nhất là nghiệp vụ kinh doanh thực hiện và đIều kiện thực hiện chúng .

    + Phân tích thực trạng hoạt động này tại NHCT Đống Đa. Qua đó, đánh giá những kết quả và hạn chế còn tồn tại ở ngân hàng, phân tích những nguyên nhân của nó.

    + Đưa ra các giải pháp kiến nghị với NHCT Đống Đa để góp phần tháo gỡ những hạn chế, khó khăn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng, đồng thời có những kiến nghị với NHCT Việt Nam, NHNN để hỗ trợ cho việc thực hiện trên tại NHCT Đống Đa

    Với những hiểu biết còn hạn chế, em mong được nhiều ý kiến đóng quý báu của các thầy cô và độc giả để chuyên đề có điều kiện bổ sung và hoàn thiện hơn sau này.

    Một lần nữa em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn TS: Nguyễn Quang Ninh, người đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết báo cáo thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp. Xin cảm ơn các anh chị đã giúp đỡ em trong đợt thực tập tại Ngân Hàng Công Thương Đống Đa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. “Ngân hàng Thương mại” (Edward W. Reed, Ph.D và Edward.K.Gill Ph.D)

    Nhà xuất bản TP.Hồ Chí Minh (1993)

    1. “Thương mại và việc xác định tỷ giá trên thị trường hối đoái” (Peter Fischer)

    Văn phòng dự án Đức – Viện Ngân hàng 1993

    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Fredenc S. Miskin)
    2. Các văn bản pháp luật ngân hàng từ năm 1990 – 2001.
    3. Tạp chí Ngân hàng năm 1996 -> 2001
    4. Các báo : Thời báo kinh tế Việt Nam, báo Đầu tư năm 1998 -> 2001.
    5. Quyết định 196 / QĐ – NH14 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam
    6. Quyết định 173 /QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 12/9/1998
    7. Báo cáo kinh doanh đối ngoại của ngân hàng Công thương Việt Nam 1995 – 2000
    8. Báo cáo thường niên của ngân hàng Công thương Đống Đa 1996 – 2000
    9. Tiền và hoạt động ngân hàng. Lê Vinh Danh (Nhà xuất bản chính trị quốc gia)

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Sau khi có cái nhìn tổng quan về quyền chọn và thị trường quyền chọn, câu hỏi đặt ra là: Ở Việt Nam hiện nay, thị trường quyền chọn đã phát triển như thế nào? Bất kỳ thị trường nào muốn đi vào vận hành thị cũng cần có một hệ thống cơ sở pháp lý để chi phối, điều chỉnh và kiểm soát. Vậy hệ thống cơ sở pháp lý cho thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán đã phát triển như thế nào? Đã bao quát thị trường hết chưa hay vẫn còn thiếu hụt trầm trọng?

    1.Cơ sở pháp lý

     

     

    a. Đối với quyền chọn ngoại tệ

     

     

    • Cơ sở pháp lý liên quan chính sách quản lý ngoại hối

    Trong thời gian qua, thị trường ngoại hối phát triển với nhiều nghị định, quyết định, văn bản hướng dẫn… Trong đó, Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 về quản lý ngoại hối, quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, NHNN nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho

    các NHTM và TCTD, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.

    Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể. Vào tháng 5/2004,

    NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi

    suất. Tháng 7/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch đô la Mỹ tiền mặt, cho Eximbank

    thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận.

    Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, và gần đây nhất đã được nâng lên +/-3%. Việc nới lỏng biên độ tỷ giá góp phần phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.

    Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ

    Ngày 10/01/1998, trên cơ sở nhận thức sự cần thiết thúc đẩy giao dịch ngoại hối phát triển, thống đốc NHNN đã ký quyết định 17/1998/QĐ_NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái (quyết định 17). Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại

    hối. Tuy nhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay kỳ hạn và hoán đổi.

    Ngày 12/02/2003, công văn số 135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ, trước tiên là quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ chính thức ra đời. Eximbank là NHTM đầu tiên thực hiện thí điểm nghiệp vụ này. Trong đó, công văn này đã quy định cụ thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…

    Sau 7 năm đi vào hoạt động, đến cuối năm 2004, quyết định 17/1998/QĐ-NHNN

    (quyết định 17) đã phát sinh những hạn chế. Vì vậy, ngày 10/11/2004, thống đốc

    NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các

    TCTD để thay thế quyết định 17 và khắc phục những hạn chế này. Quyết định này

    có những điểm mới như chính thức cho phép tất cả các TCTD được phép thực

    hiện các giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại

    tệ mà không cần phải xin phép NHNN. Qua đó, thời điểm này NHNN đã chấm dứt

    thời gian thí điểm nghiệp vụ này. Đồng thời, quy định kỳ hạn của giao dịch quyền

    chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự

    thỏa thuận. Quy định này là một sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý các

    hoạt động giao dịch ngoại hối giúp thị trường quyền chọn nước ta ngày càng đa

    dạng hơn. Bên cạnh đó, quyết định này cho phép các cá nhân được phép tham gia

    ngoài các TCTD, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và NHNN. Đây thực sự là một cơ

    hội cho các nhà đầu tư cá nhân có thêm một sân chơi mới trên thị trường tiền tệ.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ

    Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN_QLNH cho phép ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn

    này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các NHTM khác dưới sự cho phép của NHNN.

    Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.

    b. Đối với quyền chọn chứng khoán (Cụ thể là quyền chọn cổ phiếu)

    Từ khi thị trường chứng khoán ra đời ngày 20-7-2000, các văn bản pháp lý để tạo lập, vận hành và quản lý thị trường được các cơ quan nhà nước ban hành khá nhiều. Nhưng nhìn chung, những thiếu sót, bất cập vẩn còn rất lớn, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, đang trên con đường phát triển và trưởng thành. Ngày 29-6-2006, luật chứng khoán chính thức được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1-1-2007, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo một đường băng cất cánh cho thị trường.

    Đáng chú ý nhất là trong giai đoạn thị trường suy giảm mạnh từ khoảng cuối quí I đến thời gian gần đây, UBCK nhà nước đã lần lượt giảm biện độ dao động giá cổ phiếu, chứng chỉ quĩ xuống còn +/-1% đối với HOSE và +/-2% đối với HASTC.

    Sau một thời gian ngắn thị trường phục hồi nhẹ, UBCK đã cho phép nâng biên độ lên +/-2% đối HOSE và +/-3% đối với HASTC, sau đó lại tiếp tục được nâng lên +/-3% đối với HOSE và +/-4% đối với HASTC.

    Gần đây nhất, ngày 14/8/2008, UBCK nhà nước ban hành công văn số 1650/UBCK-PTTT về việc điều chỉnh biên độ giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ. Theo đó, biên độ giao dịch giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là +/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC, điều này sẽ làm cho giá cả chứng khoán giao động mạnh hơn, phản ánh đúng cung cầu hơn, nhưng rủi ro cho các nhà đầu tư sẽ nhiều hơn, mở ra cơ hội cho việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như quyền chọn cổ phiếu để bảo hiểm cho các nhà đầu tư.

    Thế nhưng, cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý chính thức nào qui định, hướng dẫn hay cho phép thực hiện về quyền chọn cổ phiếu tất cả chỉ mới ở giai đoạn dự thảo, ngoại trừ một số công văn cho phép một số tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như VCBS…

    c. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý

    Như vậy, có thể thấy, các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành là khá nhiều nhưng chúng vẫn chưa quy định cụ thể và thúc đẩy được các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, nó chỉ mang tính tức thời bổ sung cho thị trường ngoại hối, cũng giống như chúng ta chỉ ban hành văn bản luật khi thị trường cần thực hiện các giao dịch này trong ngắn hạn, chứ chưa đưa ra các bộ luật chuẩn quy định cụ thể, thống nhất như luật công cụ bảo hiểm phái sinh chẳng hạn. Như vậy, sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư… trong việc hoạch định các chiến lược dài hạn để kinh doanh trên thị trường.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu chúng ta dường như chưa có văn bản pháp luật nào quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện giao dịch quyền chọn trên thị trường chứng khoán, ngoại trừ một số công văn cho phép vài tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS)… Với yêu cầu cấp

    thiết hiện nay, những lúc thị trường chứng khoán giảm sâu, các nhà đầu tư hoang mang, bán đổ bán tháo cổ phiếu vì họ chưa thể áp dụng các công cụ để bảo vệ mình. Như vậy, việc ban hành các văn bản luật liên quan đến quyền chọn cổ phiếu và thành lập thị trường của chúng hiện nay đang là nhu cầu cấp thiết đòi hỏi các cơ quan chức năng sớm thực hiện .

    Nói tóm lại , cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các giao dịch quyền chọn ngoai tệ cũng như các quyền chọn cổ phiếu có một lỗ hổng lớn so với nhu cầu thực tế, mà không thể một sớm một chiều có thể khỏa lấp được. Các cơ quan chức năng cần tập trung nghiên cứu, tham khảo nhằm ban hành các văn bản pháp luật liên quan để dần xóa bỏ lỗ hổng pháp lý lớn này, đưa thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu vào đường băng của sự phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-5.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

     

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Với những thực trạng hiện tại thì quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (cổ phiếu) sẽ phát triển ra sao trong tương lai? Vậy thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, hạn chế cho sự phát triển của các thị trường như thế nào? (Bài viết thuộc loạt bài:”Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển trong tương lai”).

    3. Đánh giá triển vọng thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam

    a. Những thuận lợi của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam

    Đối với quyền chọn ngoại tệ

    Về phía ngân hàng

    Theo kết quả khảo sát của NHNN Việt Nam – chi nhánh TP HCM năm 2006 thì 100% các ngân hàng đều thừa nhận rằng hiện tại họ rất quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá. Qua cuộc khảo sát này chúng ta nhận thấy rằng các ngân hàng ngày càng chú trọng đến sự phát triển cung cấp các giao dịch ngoại hối mặc dù NHNN vẫn can thiệp và giữ tỷ giá tương đối ổn định. Việc phát triển các nghiệp vụ này ngoài mục đích giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn đồng thời áp dụng các công cụ options để quản lý rủi ro, đây còn là cơ hội cạnh tranh cho các NHTM đa dạng hóa

    sản phẩm cung cấp, đồng thời đón trước được nhu cầu cấp thiết trong việc sử dụng các công cụ này trong thời gian tới của doanh nghiệp.

    Về phía doanh nghiệp

    Theo kết quả của công trình nghiên cứu khoa học tháng 12/2006 của sở khoa học

    và công nghệ TPHCM kết hợp trường ĐH Kinh Tế TPHCM với đề tài “ Hoàn

    thiện các giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế khu

    vực và thế giới” đã cho thấy: Trong số các doanh nghiệp khảo sát, có khoảng 5,3%

    doanh nghiệp chưa hề biết đến và chưa nhận thức đầy đủ về rủi ro tỷ giá, khoảng

    24% có nghe và biết đến nhưng hầu như không quan tâm, gần 30% chưa nhận

    thức được tầm quan trọng của rủi ro tỷ giá, 70% có nhận thức được vấn đề rủi ro

    tỷ giá nhưng trong đó chỉ có khoảng 30% là thực sự lo lắng về rủi ro tỷ giá.

    Kết quả này đã phản ánh thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian trước đây, còn ỷ lại vào sự che chở của cơ quan nhà nước, do vậy các doanh nghiệp đã không quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá đúng mức, nhưng trong thời gian hiện tại với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và những rủi ro trong quá trình hội nhập đã buộc các doanh nghiệp phải chú trọng quan tâm đến các công cụ phòng ngừa rủi ro như options để tự bảo vệ mình.

    Báo cáo tại hội thảo khoa học 2007 về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam (bảng 2.1)” cũng đã chỉ ra rằng: Có đến gần 80% doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ chưa hoặc ít tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ. Tỷ lệ doanh nghiệp có biết đến và sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ thường xuyên cũng vào khoảng 21%. Qua các con sổ trên, phần nào đã phản ánh chính xác về thực trạng sử dụng các giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam. Song song đó, điều này đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp bước đầu đã thấy được sự cần thiết trong việc áp dụng công cụ này.

    Bảng 2.1: Kết quả khảo sát về việc sử dụng công cụ options ngoại tệ

                 
      Doanh nghiệp   Doanh nghiệp ít Doanh nghiệp thường   Tổng
      chưa biết   sử dụng xuyên sử dụng   cộng
                 
               
    Quyền chọn 21%   58% 21%   100%
    ngoại tệ    
               
                 
                 

    Qua các khảo sát, có thể thấy rằng: Các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá và có nhu cầu sử dụng các sản phẩm phái sinh như quyền chọn ngoại tệ để bảo vệ chính mình. Bên cạnh đó, các NHTM cũng đang chuẩn bị mọi thứ có thể và sẵn sàng cạnh tranh đáp ứng nhu cầu sử dụng các cung cụ phái sinh của khách hàng, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn của nghiệp vụ này trong tương lai khi vấn đề tỷ giá ngày càng được tự do hóa.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu

    Quyền chọn cổ phiếu hiện vẫn chưa được phép áp dụng chính thức ở Việt Nam, UBCK chỉ cho phép thí điểm ở một vài tổ chức như VCBS…Nhưng trong bối cảnh TTCK suy giảm mạnh mẽ như thời gian qua, khi mà các nhà đầu tư đòi hỏi một sự ổn định, giảm thiểu rủi ro cho thị trường chứng khoán, bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ban hành quyết định số 745 về chương trình hành động thực hiện mục tiêu ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát năm 2008. Trong đó, Bộ Tài Chính cũng đã đưa 5 kế hoạch trọng tâm nhằm ổn định thị trường chứng khoán:

    Một là, thực thi các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán có tổ chức đồng thời với việc hạn chế rủi ro của thị trường tự do. Nghiên cứu ban hành quy định về phát hành chứng khoán riêng lẻ.

    Hai là, nghiên cứu để sửa đổi các quy định theo hướng nâng cao tiêu chuẩn đối với phát hành chào bán chứng khoán, cấp phép thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.

    Ba là, sửa đổi hoặc bổ sung các quy định liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, quy chế hoạt động và cung cấp dịch vụ; thành lập công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài, các biện pháp kiểm soát dòng vốn đầu tư nước ngoài.

    Bốn là, xây dựng đề án giải pháp, phòng ngừa rủi ro và xử lý khủng hoảng trên thị trường chứng khoán.

    Năm là, đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, cơ chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh để báo cáo và đề xuất với thủ tướng chính phủ các biện pháp tăng cường quản lý và hướng dẫn hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế.

    Rõ ràng, qua nỗ lực nhằm vực dậy TTCK, chúng ta thấy rằng UBCK nhà nước và các cơ quan chính phủ đang có xu hướng quan tâm đến việc xây dựng đề án giải pháp phòng ngừa rủi ro và xử lý khủng hoảng trên thị trường chứng khoán, và phương án thành lập thị trường phái sinh chứng khoán. Đặc biệt, việc thành lập thị trường quyền chọn cổ phiếu trong giai đoạn hiện nay đang là một giải pháp khả thi. Hiện nay, các thị trường toàn cầu nói chung và thị trường Việt Nam nói riêng, mọi người đều lo ngại về vấn đề quản lý rủi ro, và đây cũng là thời điểm tốt để một thị trường chứng khoán non trẻ, với nhiều biến động về giá trong thời gian qua như Việt Nam có thể xem xét đến việc áp dụng những hình thức giao dịch

    quyền chọn này. Việc triển khai quyền chọn cổ phiếu sẽ tạo cơ hội cho TTCK vực dậy trong những giai đoạn khó khăn như thời gian vừa qua.

    Hơn nữa, TTCK Việt Nam đã phát triển đủ lớn và đáp ứng những yêu cầu cơ bản cho việc áp dụng quyền chọn cổ phiếu: Đó là tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán ngày càng cao; hàng hóa tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng; đã xuất hiện nhiều công ty cổ phần đại chúng lớn, sắp tới đây sẽ tiến hành cổ phần hóa gắn kết niêm yết trên thị trường chứng khoán các công ty hàng đầu, các tổng công ty lớn như: các ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, Incombank…), tổng công ty bưu chính viễn thông (Vinaphone, Mobifone), tập đoàn dầu khí Petrolimex; biên độ giá đã được mở rộng trở lại (+/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC), thị trường OTC dần được tập trung hóa, các dự thảo về việc “Cho phép một nhà đầu tư mở nhiều tài khoản giao dịch”, “Được mua bán nhiều lần một mã chứng khoán trong cùng một phiên”… đang được soạn thảo. Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm và tham gia giao dịch rất lớn của các nhà đầu tư, các tổ chức lớn nước ngoài…

    Thiết nghĩ, đây là thời điểm chín muồi để triển khai quyền chọn cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam, là cơ hội tốt để áp dụng và phát triển thị trường này với sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước và các bộ ngành có liên quan. Việc áp dụng này rất phù hợp với xu thế chung của thế giới, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán nói riêng và TTTC Việt Nam nói chung.

    Có thể thấy, các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối cũng như thị trường chứng khoán đã ngày càng nhận thức rõ hơn về lợi ích của các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và sẵn sàng đón nhận đón nhận sự ra đời của một thị trường options hỗ trợ cho việc kinh doanh cũng như đầu tư của riêng mình. Thêm vào đó là sự quan tâm, hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước ngày càng cao đối với thị trường quyền chọn. Đây có thể xem như là thuận lợi lớn nhất cho sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu trong tương lai.

    b. Những cơ hội của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ

    phiếu ở Việt Nam

    Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế đã có nhiều bước chuyển biến tích cực hơn, tiềm năng phát triển của nền kinh tế còn rất lớn. Để khai thác tiềm năng này, các yêu cầu về minh bạch, cơ chế, chính sách thông thoáng… ngày càng được chú trọng và thực hiện quyết liệt hơn.

    Các yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin

    Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường options nói chung và thị trường options ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng, công ty chứng khoán…

    Cơ chế, chính sách thông thoáng hơn khi Việt Nam đã tham gia vào WTO

    • Việt Nam, do chưa từng phải chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Do chính sách quản lý các giao dịch vốn những năm trước đây còn chủ yếu

    dựa vào cơ chế hành chính, tự phong toả là chính, mức độ tự do hoá rất hạn chế…, nên việc áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu còn chưa trở thành nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, đang có rất nhiều thay đổi về mặt chính sách.

    Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hoá tài chính đã đi qua rất nhiều bước và

    trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường options ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cả trong hiện

    tại và tương lai

    Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư, đặc biệt là trong trong giai đoạn 2007-2008. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ options ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển thị trường option ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam.

    Tương tự, đối với thị trường chứng khoán, việc có một công cụ phòng ngừa rủi ro khi thị trường chứng khoán tăng giảm đột ngột sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài mạnh dạn hơn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Qua đó, việc hình thành và phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu sẽ thúc đẩy dòng vốn đầu tư gián tiếp

    nước ngoài chảy vào Việt Nam nhanh và mạnh hơn thông qua kênh chứng khoán, khi mà các nguồn vốn FII này đã và đang khởi động để tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

    Ngay NHNN Việt Nam cũng thường xuyên có một quĩ dự trữ ngoại hối khá lớn chưa được sử dụng hết, tăng trưởng tự nhiên và chủ yếu là dự trữ đồng USD đang yếu đi khá mạnh theo thời gian, nhưng chưa có một cơ chế đủ rõ ràng để trao quyền phán quyết cho nhà quản lý sử dụng thích ứng các công cụ options với các đối tác trong nước và nước ngoài trong quá trình quản lý và phát triển quĩ. Do đó, thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu sẽ là kênh đầu tư mới, tạo nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà đầu tư, ngay cả các cơ quan quản lý quỹ ngoại hối nhà nước.

    Tóm lại, Việt Nam đã tham gia vào sân chơi toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam ngày càng lớn, các yêu cầu, tiêu chuẩn về phát triển kinh tế ngày càng được đòi hỏi cao hơn, tự do hóa, sự công khai, minh bạch hóa ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu. Khi đó, yêu cầu đặt ra là phải cần những công cụ thị trường để thực hiện hóa, đẩy nhanh tiến trình theo yêu cầu từ bên ngoài và chính nội tại bên trong của nền kinh tế cũng như để ổn định hóa thị trường, nền kinh tế. Thị trường options, đặc biệt là options ngoại tệ và options cổ phiếu có lẻ là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện, đón đầu các cơ hội này.

    c. Những khó khăn, hạn chế của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay

    Đối với tầm quản lý vĩ mô

    Khó khăn trong việc điều chỉnh cũng như ban hành văn bản pháp luật phù hợp thị trường.

    Đối với cơ quan cấp vĩ mô nhà nước việc ban hành một văn bản pháp luật phù hợp và tạo tính thuận lợi dễ dàng khi thực hiện trong thực tế, để tạo sự yên tâm giao

    dịch cho các nhà đầu tư không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Song trong thời gian qua, chúng ta đã có thời gian thí điểm chuẩn bị, chúng ta biết chúng ta đang đứng ở đâu, và chúng ta đang gặp thách thức, khó khăn nào, vậy tại sao chúng ta lại không bắt tay vào khắc phục những nhược điểm trên.

    Khó khăn bước đầu của UBCK nhà nước và các cơ quan quản lý là việc nắm bắt và đưa ra các luật lệ phù hợp để phát triển thị trường options. Hiện nay chúng ta chỉ mới có luật chứng khoán và một số văn bản quyết định việc thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, hoán đổi lãi suất, quyền chọn ngoại tệ… Các văn bản pháp luật này vẫn còn chưa đủ sức để quy định rõ và hướng dẫn các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư thực hiện các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu.

    Đối với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán…)

    Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ

    Trong thời gian qua, vấn đề công nghệ áp dụng tại các công ty chứng khoán rất khác nhau, chúng ta chưa có sự đồng bộ về công nghệ. Ví dụ như việc UBCK nhà nước quy định các công ty chứng khoán phải liên kết với các ngân hàng để quản lý tiền của nhà đầu tư, việc thực hiện này cũng tương đối chậm, vì việc trang bị hệ thống công nghệ rất tốn kém và qui định mới cũng gây ra một số khó khăn trong công tác quản lý tài khoản khách hàng. Đối với nghiệp vụ options, việc trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ càng phức tạp và tốn kém hơn, đặc biệt là khi muốn kết nối với sàn giao dịch quyền chọn tập trung sau này, nếu doanh nghiệp không tính toán kỹ, có thể gây ra thua lỗ lớn.

    Tương tự đối với các NHTM, việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị

    được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

    Khó khăn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực

    Thị trường options Việt Nam hiện nay chưa phát triển, chúng ta chỉ đang cho phép áp dụng một số công cụ tài chính phái sinh như các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ tại ACB, Vietcombank, Sacombank…và quyền chọn vàng tại ACB. Vì vậy, nguồn nhân lực Việt Nam chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức và khả năng chuyên môn. Hầu hết các ngân hàng, công ty chứng khoán… chưa có đội ngũ nhân lực vững chuyên môn và kiến thức để phổ biến công cụ options đến các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Họ hầu như chỉ được thuyên chuyển qua từ các bộ phận khác.

    Hiện nay, số người biết, hiểu và sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và các nhà đầu tư chứng khoán áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    Đối với tâm lý của các doanh nghiệp Việt Nam

    Về phía các doanh nghiệp sử dụng quyền chọn, có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta. Ví dụ, một doanh nghiệp thậm chí biết rõ là sẽ có rủi ro khi tỉ giá có thể tăng mạnh do lạm phát tăng cao và biết rõ nếu ký mua một hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ sẽ đỡ thiệt hơn nhiều. Nhưng chỉ vì tư duy và cách làm ăn truyền thống, các doanh nghiệp sợ rằng nếu đưa ra quyết định này, nhưng chẳng may có một điều kiện khách quan nào đó làm cho tỉ giá thị trường giảm xuống trái với xu hướng ban đầu, gây thiệt hại một khoản phí quyền chọn ban đầu, không những uy tín, mà địa vị của người ra quyết định đó cũng bị lung lay. Còn nếu mọi dự báo đúng như thực tế thì bản thân người quyết định đó cũng không được lợi lộc gì. Đa

    số các doanh nghiệp Việt Nam hiện không qui định rõ ràng trách nhiệm, quyền lợi của lãnh đạo và nhân viên trong đơn vị. Trong khi trên thế giới, các công ty có chính sách quản lý rủi ro rất cụ thể, họ luôn qui định quyền phán quyết mức rủi ro tài chính rõ ràng với từng vị trí lãnh đạo và từng khu vực hay từng quốc gia nếu đó là công ty xuyên quốc gia. Chính điều này đã làm cho các giao dịch quyền chọn nói chung và các quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng còn rất hạn chế trong thực tế.

    Đối với các nhà đầu tư

    Là những rủi ro phải đối mặt trong việc dự đoán tỷ giá, giá cả chứng khoán và xu hướng thị trường. Các công cụ tài chính đều có hai mặt, một mặt các nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro, mặt khác đi kèm với nó là rủi ro.

    Ví dụ như mua một hợp đồng options ngoại tệ để bảo vệ đồng tiền thanh toán, hay mua quyền chọn một cổ phiếu, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không biết dự đoán tỷ giá, giá cổ phiếu đúng theo xu hướng thị trường. Thị trường chứng khoán vốn chẳng bao giờ dễ dự đoán, điều đó càng đúng với một thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn như hiện nay.

    Việc thiếu hiểu biết về quyền chọn và khả năng phân tích sẽ gây ra rất nhiều khó

    khăn và rủi ro khi sử dụng của các nhà đầu tư, khi nhiều nhà đẩu tư gặp rủi ro thì

    có thể gây ra những bất ổn cho thị trường. Đây cũng là một trong những trở ngại

    lớn làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ

    phiếu ở Việt Nam, khi trình độ cũng như khả năng phân tích của các nhà đầu tư và

    doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

    4.Nguyên nhân của những hạn chế

     

    a. Nguyên nhân từ thị trường

     

    Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối, chứng khoán…của nước ta còn thấp, đôi khi nó nằm ngoài các rủi ro từ tầm tác động của các “cơn gió lớn”, “cơn bão” tài chính quốc tế. Cùng với đó là tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến. Trong thực tế, những biến động về tỷ giá, giá chứng khoán được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các đối tượng có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như tỷ giá, giá cả cổ phiếu.

    Việt Nam chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa trở thành nhu cầu bức xúc. Tuy nhiên, nền kinh tế đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, mở cửa thị trường, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất được tự do hoá, các luồng vốn được tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam… các nhà lập chính sách về TTTC Việt Nam cần sớm bày tỏ quan điểm để xây dựng và đề xuất hệ thống chính sách khuyến khích phát triển thị trường các công cụ tài chính phái sinh “ăn theo” như quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu bên cạnh thị trường chính thức như thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán…

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    b. Nguyên nhân từ sự điều tiết tỉ giá USD/VNĐ

    Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía NHNN khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do

    đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán

    quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn

    khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua

    quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía

    ngân hàng.

    c. Nguyên nhân từ biên độ giao dịch USD, cổ phiếu

    Đối với các giao dịch mua bán USD, do chính sách neo VNĐ vào đồng USD nên biên độ giao động giá của USD được NHNN qui định là +/-0.5%. Ngày 20-3-2008, biên độ giao động giá của USD đã được NHNN cho phép nâng lên là +/-1%, và gần đây nâng lên +/-2%.

    Tương tự, đối với thị trường chứng khoán, chính sách quản lý có xu hướng tránh biến động mạnh của TTCK. Do đó, trên các sàn giao dịch chứng khoán tập trung, biên độ dao động của giá cổ phiếu được giới hạn ở một mức cố định. Cụ thể, các cổ phiếu niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) có biên độ được qui định là +/-5% và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) là +/-7%. Biên độ này đôi khi còn được điều chỉnh thấp hơn khi thị trường suy giảm mạnh.

    Biên độ dao động như vậy đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá và giá cổ phiếu giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    d. Nguyên nhân từ vấn đề hạch toán kế toán

    Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

    Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, cũng như quyền chọn, không chỉ xét từ góc độ từ các NHTM hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của NHNN trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.

    e. Nguyên nhân từ cách tính phí quyền chọn

    Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau:

    Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng options ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng.

    Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.

    f.Nguyên nhân từ trình độ nhận thức của nhà đầu tư

    Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế.

    Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng, công ty chứng khoán vẫn còn yếu trong tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Lãnh đạo của một ngân hàng quốc doanh cho biết: “lý do một phần vì doanh thu của các sản phẩm quyền chọn ngoại tệ vẫn còn hạn chế nên các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới việc quảng bá sản phẩm.”

    Tham gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường options còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường chứng khoán Việt Nam nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường options.

    Bản thân các khách hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ options. Như ví dụ từ Ngân hàng HSBC mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã hơn 6 năm với trên 1.000 doanh nghiệp là khách hàng “ruột”, nhưng sau 2 năm được phép sử dụng các công cụ options, mới chỉ có một vài doanh nghiệp trong số hàng ngàn doanh nghiệp khách hàng đó dám ứng dụng nghiệp vụ

    này. Chỉ riêng việc thực hiện một giao dịch hoán đổi giữa hai đồng tiền, ngân hàng này cũng mất tới nửa năm để giải thích, thoả thuận. Các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ cũng thường phải mất một vài tháng mới được ký kết.

    Theo HSBC, việc xúc tiến các dịch vụ phái sinh quản lý rủi ro cho khách hàng là doanh nghiêp vẫn đang được ngân hàng này tích cực khuyến khích. Với Techcombank, các nghiệp vụ options vẫn còn ít được khách hàng áp dụng, thậm chí có công cụ chưa có khách hàng nào giao dịch.

    Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch options trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

    KẾT LUẬN:

    Thị trường quyền chọn ở Việt Nam mới chỉ ở điểm khới đầu của sự phát triển. Quyền chọn ngoại tệ dù đã ra đời gần 8 năm nhưng phát triển rất chậm. Hoạt động cung cấp dịch vụ quyền chọn của các TCTC vẫn còn nhỏ bé, chưa được sự quan tâm đúng mức. Quyền chọn cổ phiếu thì đến giờ vẫn chỉ nằm trên giấy.

    Dù nền kinh tế đã phát triển đến mức độ phù hợp cho sự ra đời của thị trường quyền chọn, nhưng cơ sở pháp lý cho thị trường còn nhiều lỗ hổng, khiếm khuyết, hạ tầng công nghệ vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển, nguồn nhân lực cho thị trường thì thiếu và yếu… Tuy nhiên, những thuận lợi cho việc phát triển thị trường này ở Việt Nam là rất lớn, khi nó nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các TCTC cũng như là của các ban ngành Trung Ương.

    Các cơ hội cũng ngày càng mở ra khi các cam kết về gia nhập WTO, hội nhập kinh tế thế giới đang dần được thực thi, tiềm năng phát triển kinh tế và TTTC vẫn

    rất lớn. Mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế từ chính sách, pháp luật nhà nước cũng như sự yếu kém của các đối tượng cung cấp và sử dụng quyền chọn, nhưng với những chính sách và giải pháp phù hợp, thị trường quyền chọn nói chung và quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh và vững chắc trong tương lai.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    • Tính cấp thiết của đề tài

    Hiện nay, Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế một cách sâu sắc về các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng… Trong quá trình hội nhập, Việt Nam thu được những lợi ích to lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức gay gắt từ các đối tác nước ngoài.

    Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) đến nay đã được 4 năm, thị trường tài chính được mở cửa, theo đó ngân hàng nước ngoài được hoạt động bình đẳng với các ngân hàng trong nước… Các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế vượt trội của so với các ngân hàng trong nước về vốn, kinh nghiệm, công nghệ, đặc biệt là chất lượng và chủng loại về các dịch vụ. Nhằm rút ngắn khoảng cách, tiến tới hội nhập với thế giới, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã từng bước đổi mới, mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là phát triển các nghiệp vụ hiện đại như thẻ tín dụng, kinh doanh ngoại hối, hoán đổi lãi suất, internet banking…

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những Ngân hàng đầu tiên được Ngân hàng nhà nước cấp phép kinh doanh ngoại hối. Đến nay, hoạt động kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu từ dịch vụ ròng của BIDV. Tuy nhiên, mặc dù đã chính thức triển khai cung cấp nhiều sản phẩm kinh doanh ngoại hối đa dạng cho khách hàng nhưng trên thực tế hoạt động, phần lớn doanh số mua bán ngoại tệ vẫn chủ yếu là các nghiệp vụ giản đơn, hiệu quả kinh doanh chưa thực sự cao. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các NHTM trong nước và đặc biệt là các Ngân hàng nước ngoài buộc Ngân hàng phải tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng.

    Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là nội dung nghiên cứu của luận văn.

    • Tình hình nghiên cứu

    Cho đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Một số đề tài tìm giải pháp chung để phát triển

    2

    hoạt động KDNT của các NHTM tại Việt Nam, một số tác giả tìm giải pháp phát triển hoạt động KDNT tại ngân hàng của mình.

    Tuy nhiên, mỗi ngân hàng có đặc thù riêng, có chiến lược phát triển riêng cho hoạt động KDNT của mình. Tại BIDV, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Cụ thể, luận văn thạc sỹ kinh tế: “Rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Thắng (2003) đã đề cập đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV nhưng lại nghiên cứu sâu về rủi ro và đưa ra các giải pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động KDNT của Ngân hàng.

    • Mục đích nghiên cứu của đề tài

    Với mong muốn tìm hiểu thực tế các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, góp phần cung cấp một số thông tin hữu ích cho các nhà quản lý của BIDV và những ai quan tâm đến vấn đề này, đề tài tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    • Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

     

    • Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kinh doanh ngoại tệ
    • Phạm vi nghiên cứu:
    • Tại Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam.
    • Thời gian từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2010. Các giải pháp đề xuất đến năm 2015.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu

    Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

    • Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
    • Tìm hiểu thực trạng về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010.
    • Hệ thống hóa và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    3

    • Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

    Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

    • Nhóm phương pháp thực tiễn gồm: Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm.
    • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết.
    • Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp phụ trợ như phương pháp toán thống kê, phương pháp so sánh…
    • Kết cấu đề tài

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, và các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương sau đây:

    Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chƣơng II: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

    Chƣơng III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

    Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết các vấn đề của đề tài còn hạn chế vì vậy luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy (Cô) và những ai quan tâm tới đề tài luận văn. Tác giả xin cảm ơn PGS,TS Đặng Thị Nhàn, các Thầy (Cô) Trường Đại học ngoại thương và đồng nghiệp đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức để tác giả hoàn thành khoá học Cao học tại Trường Đại học Ngoại thương và hoàn thành luận văn này.

    Tác giả

    Nguyễn Thị Tuyết Mai

     

    4

    CHƢƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I.                   HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHTM

    1.     Một số khái niệm liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    1.1    Ngoại hối và ngoại tệ

    Khái niệm ngoại hối được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập trong khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội:

    Ngoại hối bao gồm:

    • Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
    • Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác.
    • Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
    • Vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
    • Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

    Như vậy, ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trong thực tế, người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ.

    5

    • Khái niệm ngoại tệ được đề cập tại điểm a khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội, theo đó ngoại tệ là “đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đông tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực”.

    Như vậy, ngoại tệ là một loại ngoại hối và có thể hiểu ngoại tệ là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR). Ngoại tệ có thể là tiền kim loại, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền.

    1.2    Thị trường ngoại hối

    1.2.1    Khái niệm thị trường ngoại hối

    Trong hoạt động ngoại thương quốc tế, thanh toán là khâu cuối cùng của giao dịch. Việc thanh toán thường liên quan đến 2 loại tiền, một của bên bán và một của bên mua với tên gọi và trị giá khác nhau. Các thương gia phải tính toán để chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền mà bên đối tác yêu cầu thanh toán. Thị trường ngoại hối chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các đồng tiền khác nhau phục vụ cho nhu cầu này của các thương gia.

    Như vậy, một cách tổng quát “thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau“. (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

    Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch), nên theo nghĩa hẹp thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, tức là thị trường Interbank.

    Như vậy, thị trường ngoại hối là nơi thực hiện các giao dịch mua, bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ và phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ trong đó giá cả mỗi đồng được quyết định bởi nhiều yếu tố. Có sự tồn tại của thị trường ngoại hối là do các quốc gia độc lập đều muốn giữ chủ quyền trong việc sử dụng và kiểm soát đồng tiền của mình. Một khi các quốc gia còn muốn duy trì độc lập về kinh tế của mình thì thị trường hối đoái còn tồn tại và phát triển. Nếu trên toàn thế giới chỉ sử dụng một đồng tiền chung thì hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau sẽ bị triệt tiêu và theo đó, thị trường ngoại hối sẽ không tồn tại.

    6

    1.2.2    Chức năng của thị trường ngoại hối

    • Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là cung cấp dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.
    • Thị trường ngoại hối giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như giao lưu giữa các quốc gia.
    • Thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối, sức mua đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu thị trường.
    • Thị trường ngoại hối là nơi kinh doanh và cũng cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai.

    Thị trường ngoại hối là nơi NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1.3    Tỷ giá

    1.3.1    Khái niệm

    Các doanh nghiệp tham gia thương mại, đầu tư quốc tế… phải thanh toán với nhau bằng việc phải mua bán các đồng tiền khác nhau, đổi đồng tiền này để lấy đồng tiền khác. Hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất định được gọi là tỷ giá. Như vậy, có thể định nghĩa tỷ giá như sau:

    Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác. Ví dụ 1 USD = 19.500 VND.

    Trong tỷ giá có 2 đồng tiền, một đồng tiền có số đơn vị cố định bằng 1 gọi là đồng tiền yết giá, đồng tiền còn lại có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu thị trường là đồng tiền định giá. (Nguyễn Văn Tiến 2010)

    1.3.2    Phân loại tỷ giá

    • Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá bao gồm các loại:
    • Tỷ giá mua vào (Bid Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.
    • Tỷ giá bán ra (Ask Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.

    7

    • Tỷ giá giao ngay (Spot Rate): Là tỷ giá được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu thị trường, luôn có sẵn, được thỏa thuận ngày hôm nay, việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.
    • Tỷ giá phái sinh: Gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn.
    • Tỷ giá chéo: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba.

    Ngoài ra còn có các tỷ giá mở cửa, tỷ giá đóng cửa, tỷ giá tiền mặt, tỷ giá chuyển khoản…

    • Căc cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, bao gồm:
    • Tỷ giá chính thức: Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Ở Việt Nam là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
    • Tỷ giá chợ đen: Là tỷ giá hình hành ngoài hệ thống ngân hàng.
    • Tỷ giá cố định: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ

    dao động hẹp

    • Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan

    hệ cung cầu thị trường, NHTW không can thiệp vào thị trường.

    • Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1.3.3    Các phương pháp yết tỷ giá

    Trên thị trường có hai cách để yết tỷ giá đó là:

    • Yết tỷ giá trực tiếp
    • Yết tỷ giá gián tiếp

    Yết tỷ giá trực tiếp

    Yết tỷ giá trực tiếp là phương pháp thể hiện tỷ giá cuả một đơn vị ngoại tệ bằng một số lượng tiền tệ trong nước.

    VD:  ngày  19/09/2008  tỷ  giá      của  Vietcombank  được  niêm  yết  như  sau:

    E(VND/USD) = 16,665 ó 1 USD = 16,665 VND

    8

    Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường bằng 1. Nội tệ là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

    Tại Việt Nam, tất cả các NHTM đều áp dụng phương pháp yết tỷ giá này đối với việc niêm yết tỷ giá hàng ngày tại ngân hàng.

    Yết tỷ giá gián tiếp

    Yết tỷ giá gián tiếp là phương pháp thể hiện tỷ giá của một đơn vị trong nước bằng một số ngoại tệ. Cách niêm yết này thường dùng ở một số ít nước có đồng nội tệ manh như Mỹ, Anh, Canada…

    VD: E(USD/VND) = 0.00006.

    Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường bằng 1 (hoặc có thể bằng 100, 1000).

    Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

    1.4    Các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối

    1.4.1    Các Ngân hàng thương mại

    NHTM tham gia vào thị trường ngoại hối với 2 tư cách:

    • Thứ nhất: thực hiện các nghiệp vụ KDNT theo yêu cầu của khách hàng.
    • Thứ hai: thực hiện các nghiệp vụ KDNT cho chính ngân hàng nhằm đảm bảo ổn định số dư ngoại tệ trên tài khoản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong kinh doanh.

    Để thực hiện các nghiệp vụ này đòi hỏi các ngân hàng phải có Phòng Kinh doanh Ngoại tệ được trang bị các phương tiện và thiết bị chuyên dùng hiện đại cùng với đội ngũ chuyên viên am hiểu thị trường và có khả năng nắm bắt, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá và dự đoán tỷ giá trong tương lai.

    1.4.2    Các nhà môi giới

    Nhà môi giới (Broker) là những người được pháp luật quy định kinh doanh hợp pháp thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch ngoại tệ giữa các đối tượng tham gia trên thị trường ngoại hối mà chủ yếu là ngân hàng, doanh nghiệp, công chúng với

    9

    nhau, bản thân ngân hàng cũng là nhà môi giới.

    Các nhà môi giới tạo điều kiện cho cung cầu tiếp cận nhau, đóng góp tích cực cho hoạt động thị trường ngoại hối như cung cấp thông tin thị trường, khả năng tìm bạn hàng nhanh chóng, đảm bảo sự vận hành tốt của thị trường thông qua liên lạc giữa người mua, người bán cho đến khi thỏa thuận được giao dịch. Các nhà môi giới được trả công cho từng giao dịch được gọi là phí hoa hồng môi giới.

    1.4.3    Ngân hàng Trung ương

    Ngân hàng Trung ương (Centre Bank) tham gia vào thị trường hối đoái với tư cách là cơ quan quản lý của Nhà nước nhằm giám sát và điều tiết thị trường trong khuôn khổ pháp luật quy định.Theo dõi sự biến động tỷ giá, khi cần thiết Ngân hàng Trung ương sẽ can thiệp vào thị trường để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng ổn định nền kinh tế.

    NHTW mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm đảm bảo an toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia.

    Ngoài ra, NHTW còn là đại lý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính

    phủ.

    1.4.4    Nhóm khách hàng mua bán lẻ

    Các khách hàng mua bán lẻ gồm các công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích:

    • Thứ nhất, chuyển đổi tiền tệ
    • Thứ hai, phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    Theo đó, nhóm khách hàng mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho mục đích hoạt động của chính mình chứ không nhằm mục đích kinh doanh ngoại hối. Thông thường, nhóm khách hàng mua bán lẻ không giao dịch trực tiếp với nhau mà thường mua bán thông qua các Ngân hàng Thương mại.

    (GS. TS Lê Văn Tư 2003)

    1.5    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM ra đời từ sự phát triển quan hệ thương mại giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các quốc gia. Trong từng lãnh thổ, từng quốc gia lưu hành một loại đồng tiền riêng đã gây trở ngại khó khăn cho việc mua bán,

    10

    thanh toán, đồng thời rất phức tạp trong việc chuyển đổi tiền tệ. Quá trình đó thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức chuyên đảm nhiệm các chức năng riêng biệt thực hiện nhận đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh toán.

    Chính từ đó mới phát sinh những vụ mua bán ngoại tệ kiếm lời, còn gọi là KDNT hay đầu cơ ngoại tệ. Trước những năm 1980, thị trường hối đoái chủ yếu phục vụ các nhà xuất nhập khẩu. Từ những năm 1980 trở về sau, các giao dịch trên thị trường hối đoái ngoài việc phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu còn phục vụ cho mục đích đầu cơ và mục đích khác.

    Nói tóm lại, hầu hết các hoạt động buôn bán quốc tế đều kéo theo các giao dịch ngoại tệ và ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến ngoại tệ đều có tác động đến ngoại thương. Các giao dịch ngoại tệ quốc tế được thực hiện thông qua ngân hàng vì thế nghiệp vụ KDNT của ngân hàng chính là chất xúc tác, là điều kiện đảm bảo an toàn cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tài trợ cho họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Hoạt động KDNT theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động mua bán ngoại tệ, đầu tư, đi vay, cho vay, bảo lãnh và các giao dịch khác liên quan đến ngoại tệ.

    Theo nghĩa hẹp, người ta hiểu khái niệm hoạt động KDNT đơn thuần là việc mua bán số dư ngoại tệ trên tài khoản. (PGS. TS Nguyễn Văn Tiến, 2010)

    Cùng với sự phát triển của ngoại thương và nhu cầu phòng tránh rủi ro tỷ giá trong thanh toán quốc tế, nghiệp vụ KDNT cũng không ngừng được hoàn thiện. Từ nghiệp vụ ban đầu là mua bán giao ngay (Spot), đến nay các nghiệp vụ KDNT đã phát triển đa dạng, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng như thanh toán, bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đầu cơ.

    2.     Chức năng và vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    2.1        Chức năng của hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động KDNT có các chức năng sau:

    • Đảm bảo việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng của ngân hàng giữa các quốc gia với nhau.
    • Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng hay tài trợ của Ngân hàng nước ngoài.
    • Thực hiện nghiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ của khách hàng tại ngân hàng

    trong nước.

    • Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lêch tỷ giá giữa các

    11

    thị trường ngoại hối khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận.

    • Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính toán hiệu quả kinh tế trong hoạt động ngoại thương thông qua đồng nội tệ.

    2.2    Vai trò của hoạt động kinh doanh tiền tệ

    Hoạt động KDNT có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với cả khách hàng bởi các mục đích sau:

    • Thanh toán các hợp đồng ngoại thương.
    • Điều chỉnh trạng thái ngoại hối.
    • Hạn chế rủi ro trong thanh toán bằng ngoại tệ.
    • Kinh doanh kiếm lời.

    Ngoài ra, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ KDNT nhằm mục đích đa dạng các sản phẩm phục vụ khách hàng, thu hút khách hàng thông qua các tiện ích ngân hàng từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    3.     Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thƣơng mại

    Các nghiệp vụ KDNT trên thị trường hối đoái ngày càng đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tham gia trên thị trường. Hiện nay, trên thị trường hối đoái có 5 nghiệp vụ KDNT phổ biến là nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ kỳ hạn, nghiệp vụ tương lai, nghiệp vụ hoán đổi và nghiệp vụ quyền chọn. Trong đó, nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ cơ sở bởi tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng giao ngay được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường, 4 nghiệp vụ còn lại được gọi là các nghiệp vụ KDNT phái sinh bởi tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng này không hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường mà hình thành từ tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết về từng nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    3.1    Nghiệp vụ giao ngay (Spot)

    3.1.1     Khái niệm

    Nghiệp vụ KDNT giao ngay là nghiệp vụ trong đó việc thực hiện mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 (hai) ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua, bán. Đây chính là điểm đặc trưng để phân biệt giữa thị trường giao ngay và các

    12

    thị trường khác.

    Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do NHTM niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thoả thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định của NHNN công bố trong từng thời kỳ (nếu có).

    3.1.2    Đặc điểm

    Theo nghĩa rộng, thị trường giao ngay bao gồm thị trường bán buôn (Interbank) và thị trường bán lẻ (mua bán giữa ngân hàng và khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp…). Tuy nhiên, doanh số giao dịch trên interbank là chủ yếu nên theo nghĩa hẹp có thể coi thị trường giao ngay chính là thị trường liên ngân hàng.

    Thị trường giao ngay là thị trường tài chính lớn nhất toàn cầu. Thuật ngữ “Spot” phát xuất từ các giao dịch được thực hiện ngay. nhưng thực tế việc chuyển giao ngoại tệ cho phép diễn ra sau đó hai ngày làm việc theo thông lệ quốc tế (đây là thời gian cần thiết để các ngân hàng thực hiện bút toán chuyển tiền). Ví dụ: Việc mua bán ngoại tệ được cam kết tại thời điểm giao dịch (trade date) nhưng việc chuyển giao ngoại tệ được phép tiến hành sau đó 2 ngày làm việc tiếp theo (Banking day). Ngày mà hai đồng tiền được trao đổi gọi là ngày thanh toán hay ngày giá trị (Value date). Cho đến nay, mặc dù hệ thống thanh toán rất tiến bộ nhưng phần lớn việc chuyển giao ngoại tệ giao ngay vẫn được thực hiện sau 2 ngày kể từ ngày giao dịch.

    Thị trường ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung (không giao dịch trên sở giao dịch), các thành viên bao gồm các NHTM, các công ty tài chính lớn, những nhà môi giới ngoại hối và cả NHTW, trong đó cá NHTM đóng vai trò chủ chốt. Các thành viên tham gia trên thị trường liên hệ với nhau bằng điện thoại, telex, mạng vi tính và hệ thống SWIFT.

    Thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao. Nghiệp vụ giao ngay có tác dụng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng khi cần mua hoặc cần bán ngoại tệ đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc di chuyển vốn giữa các quốc gia với nhau.

    Nghiệp vụ giao ngay không chỉ tạo điều kiện cho ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán (chênh lệch này được gọi là spread) mà còn đáp ứng kịp thời giao dịch trên thị trường để cân đối ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu

    13

    ngoại tệ trong thanh toán, đảm bảo kiểm soát được trạng thái ngoại hối theo quy định của NHNN.

    3.1.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ giao ngay đối với các NHTM

    Thứ nhất, chênh lệch tỷ giá mua, bán rất hẹp thông thường nhỏ hơn 0,1% nên thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao, khối lượng mua bán lớn. Do đó, các NHTM có thể thu được lợi nhuận lớn từ việc tăng doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay.

    Thứ hai, do tốc độ truyền tin nhanh chóng cho nên những thay đổi của thị trường ảnh hưởng tức thời lên tỷ giá tức là tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn biến động để phản ánh những thay đổi của thị trường.

    Thứ ba, đây là thị trường có tính thanh khoản rất cao vì:

    • Luôn sẵn có số tiền cần thiết.
    • Tại địa điểm cần có.
    • Tại thời điểm có nhu cầu.
    • Bằng đồng tiền cần có.
    • Với giá cả hợp lý.

    Những nhà kinh doanh không thể bỏ qua những thay đổi có tính đột biến trên một thị trường rất sôi động và có tính toàn cầu như thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối giao ngay có hai cấp, đó là: thị trường liên ngân hàng trực tiếp và thị trường kiên ngân hàng gián tiếp thông qua môi giới.

    Trên thị trường liên ngân hàng trực tiếp, các ngân hàng giao dịch trực tiếp với nhau không thông qua nhà môi giới. Tất cả các ngân hàng tham gia thị trường đều là nhà tạo lập thị trường. Ngân hàng này yết giá mua vào và bán ra cho ngân hàng kia và ngược lại. Vì giao dịch giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng không diễn ra trên sở giao dịch và các giao dịch được thực hiện một cách liên tục nên thị trường này được biết đến như là thị trường: Phi tập trung, liên tục, đấu giá mở cửa và giao dịch hai chiều.

    Trên thị trường liên ngân hàng gián tiếp, các ngân hàng đặt các lệnh giới hạn một chiều cho các nhà môi giới. Nhà môi giới ghi lệnh này vào sổ và tìm cách đối chiếu lệnh mua với các lệnh bán đồng tiền đó từ các ngân hàng khác. Trong khi các

    14

    ngân hàng tiến hành các giao dịch, một mặt cho chính mình, mặt khác cho khách hàng, thì những nhà môi giới chỉ giao dịch duy nhất cho khách hàng. Trong giao dịch nhà môi giới sẽ đưa ra tỷ giá tốt nhất cho khách hàng. Tỷ giá này gọi là tỷ giá tay trong. Thông qua hoạt động môi giới, nhà môi giới sẽ thu hoa hồng từ ngân hàng mua và ngân hàng bán. Do tính chất hoạt động thị trường ngoại hối thông qua nhà môi giới được biết đến như là thị trường: Bán tập trung, liên tục, đặt lệnh có giới hạn và thông qua phương thức đấu giá một chiều.

    Nghiệp vụ Spot có tác dụng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng khi cần mua hoặc cần bán ngoại tệ đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc di chuyển vốn giữa các quốc gia với nhau.

    Nghiệp vụ Spot không chỉ tạo điều kiện cho ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá mà còn đáp ứng kịp thời giao dịch trên thị trường để cân đối ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong thanh toán, đảm bảo kiểm soát được trạng thái ngoại hối theo quy định của NHNN.

    3.2    Nghiệp vụ kỳ hạn

    Khi thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, kim nghạch XNK các nước đều tăng lên đáng kể, nhu cầu mua bán ngoại tệ đáp ứng các hợp đồng thanh toán xuất nhập khẩu do đó cũng phát triển mạnh mẽ. Trong khi đó, thị trường tài chính ngày càng biến động, làm phát sinh rủi ro tỷ giá đối với các nhà kinh doanh XNK bởi thông thường, trong ngoại thương, giữa thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm thanh toán có độ lệch về thời gian. Đối với nhà nhập khẩu, chi phí nhập khẩu tính bằng nội tệ sẽ tăng nếu giá ngoại tệ tăng.

    Đáp ứng nhu cầu của các nhà kinh doanh XNK, các NHTM đã cung cấp các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh bao gồm kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn. Trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu về nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ kỳ hạn.

    3.2.1    Khái niệm

    • Giao dịch kỳ hạn là một giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ trao đổi một số lượng ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm được thỏa thuận trong tương lai (sau ngày giá trị giao ngay).

    Như vậy, có thể định nghĩa “những giao dịch có ngày giá trị xa hơn ngày giá

     

    15

    trị giao ngay gọi là giao dịch ngoại hối kỳ hạn”.1

    • Tỷ giá kỳ hạn: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay.
    • Điểm kỳ hạn: là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay

    (Forward points).

    Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn được tiến hành tại một thời điểm theo tỷ giá xác định do hai bên thỏa thuận, nhưng việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện trong tương lai. Điều này có nghĩa hợp đồng có kỳ hạn được ký vào ngày J là ngày giao dịch (trade date) và ngày đến hạn là ngày J + n (maturity date) theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký hợp đồng (tỷ giá kỳ hạn) nhưng thực tế việc giao ngoại tệ có thể là ngày J + n + 2 (ngày giá trị của giao dịch kỳ hạn – Value date).

    3.2.2    Đặc điểm

    • Giá trị một hợp đồng không được tiêu chuẩn hóa và là một giá trị tùy ý phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người mua và người bán.
    • Mua bán tất cả các đồng tiền.
    • Hàng ngày giá cả biến động theo cung cầu thị trường, không có giới hạn, trừ khi có can thiệp của Ngân hàng Trung ương.
    • Ngày đến hạn phụ thuộc vào thỏa thuận của người mua và người bán.
    • Không hạn chế về thời hạn tối đa của hợp đồng.
    • Rủi ro tín dụng phụ thuộc vào bên đối tác. Rủi ro được phòng ngừa bằng các hạn mức tín dụng và ký quỹ.
    • Luồng tiền không phát sinh cho đến khi hợp đồng hết hạn.
    • Giao dịch 24h/ngày.
    • Không hạn chế tư cách thành viên.

    3.2.3    Tỷ giá kỳ hạn

    Xác định tỷ giá kỳ hạn thực chất là xác định giá trị của ngoại tệ trong tương lai, hai đồng tiền trong quan hệ tỷ giá có thể đầu tư (với lãi suất của mỗi đồng tiền) trong

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh, trang 130-131, nhà xuất bản Thống kê

    16

    cùng một thời gian như nhau.

    Ta ký hiệu:

    FVT: Giá trị tương lai của đồng tiền định giá

    FVC : Giá trị tương lai của đồng tiền yết giá

    S: Tỷ giá giao ngay, F: Tỷ giá kỳ hạn

    RT: Lãi suất/năm của đồng tiền định giá

    RC: Lãi suất/năm của đồng tiền yết giá

    t: Thời hạn hợp đồng, tính theo năm

    Trong quan hệ đầu tư, 2 đồng tiền phải có tỷ suất đầu tư ngang nhau. Giả sử đầu tư 1 C, tương đương với đầu tư S đồng T, ta có:

    F * FVC  = FVT

    F * (1 + RC * t )= S * (1+RT * t)

    F = S * (1.1)
    F = S *

    Thông thường, thời hạn của các hợp đồng ngoại hối là tương đối ngắn so với 1 năm và các mức lãi suất %/năm của các đồng tiền là các số nhỏ so với 1 đơn vị. Do đó mẫu số của công thức (1.1) xấp xỉ 1, do đó chúng ta có thể viết lại công thức trên như sau:

          (1.2)
      F = S + S* (RT – R C) * t  
           

    Công thức (1.1) và (1.2) là các công thức tổng quát để tính tỷ giá kỳ hạn. Tuy nhiên, trên thực tế khi ký kết hợp đồng kỳ hạn, các NHTM cần phải xác định tỷ giá kỳ hạn mua vào và bán ra.

    Trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, lãi suất của mỗi đồng tiền và mỗi tỷ giá đều được niêm yết theo hai chiều như sau:

    • Đối với lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
    • Đối với tỷ giá có tỷ giá mua và tỷ giá bán.

    Theo đó, tỷ giá mua kỳ hạn và tỷ giá bán kỳ hạn được tính theo công thức sau:

    Tỷ giá mua kỳ hạn:

    F = S + S* (RT Tg – RC Cv) (1.3)
       

    Trong đó:

    17

    RT Tg là lãi suất tiền gửi của đồng tiền định giá, RC Cv là lãi suất cho vay của đồng tiền yết giá.

    Tỷ giá bán kỳ hạn:

    F = S + S* (RT Cv – RC Tg) (1.4)
     
       

    Trong đó:

    RT Cv là lãi suất cho vay của đồng tiền định giá, RC Tg là lãi suất tiền gửi của đồng tiền yết giá.

    3.2.4    Ý nghĩa của nghiệp vụ kỳ hạn đối với các NHTM

    Mặt tích cực:

    • Giao dịch hối đoái kỳ hạn là một trong những công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá cho những đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái.
    • Cho phép các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư dự đoán tỷ giá ngoại tệ tăng hay giảm trong tương lai thì quyết định nên mua kỳ hạn hoặc bán kỳ hạn để ngăn chặn sự thiệt hại về thu nhập và tài sản khi tỷ giá biến động.
    • Cho phép những người tham gia mua bán ngoại tệ có thể xác định được thu nhập, chi phí cũng như lợi nhuận trước khi lựa chọn quyết định kinh doanh của

    mình.

    Mặt hạn chế:

    • Khách hàng phải ký quỹ khi ký hợp đồng kỳ hạn.
    • Hợp đồng kỳ hạn không thể bị huỷ bỏ đơn phương mà không có sự thoả thuận của hai đối tác.
    • Nghĩa vụ của hai bên không thể chuyển giao cho bên thứ ba nên hợp đồng kỳ hạn có tính thanh khoản không cao.

    3.3    Nghiệp vụ tương lai (Future)

    3.3.1    Khái niệm giao dịch ngoại tệ tương lai

    Giao dịch ngoại tệ tương lai (giao dịch giao sau) là một thoả thuận mua bán số lượng ngoại tệ theo tỷ giá được xác định do hai bên thỏa thuận tại thời điểm hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày xác định trong tương lai thông qua Sở giao dịch hối đoái.

    18

    Giao dịch ngoại tệ tương lai được sử dụng để phòng tránh rủi ro tỷ giá tương tự như giao dịch kỳ hạn. Giao dịch tương lai lần đầu tiên được giới thiệu trên thị trường tiền tệ quốc tế (IMM – International Monetary Market) vào năm 1972 tại Chicago (Chicago Mercantile Exchange), cho đến nay nghiệp vụ Future đều có mặt trên các thị trường tài chính nổi tiếng trên thế giới.

    3.3.2    Đặc điểm

    • Các hợp đồng giao dịch tiền tệ tương lai là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được thực hiện trên sàn giao dịch của Sở giao dịch tiền tệ tương lai.
    • Các công ty, cá nhân và các ngân hàng gửi các lệnh đặt mua hay đặt bán một số lượng cố định ngoại hối cho các nhà môi giới hay các thành viên của Sở giao dịch. Trên cơ sở đó, các lệnh đặt mua được đối chiếu với các lệnh bán và một công ty thanh toán bù trừ của Sở giao dịch đảm bảo cho cả hai bên mua và bán sau khi đã được đối chiếu và khớp với nhau chắc chắn sẽ được thực hiện.
    • Cung cầu về các hợp đồng tương lai được thể hiện thông qua việc các đối tác sẵn sàng mua hay bán các hợp đồng, làm cho giá cả các hợp đồng biến động theo giá của các lệnh đặt mua hay đặt bán.
    • Trên thị trường tương lai chỉ tồn tại một số ít ngày giá trị nhất định. VD tại Sở giao dịch Chicago, chỉ có 4 ngày giá trị là thứ 4 của tuần thứ 3 trong các tháng ba, sáu, chín và mười hai.
    • Các hợp đồng tương lai chỉ thực hiện với 6 loại ngoại tệ theo quy định số lượng từng loại ngoại tệ cho mỗi giao dịch trên thị trường như sau:

    19

    Bảng 1.1 Đơn vị giao dịch của các đồng tiền trên

    sở giao dịch tiền tệ tƣơng lai

    Giao dịch tƣơng lai đối với USD Mỗi đơn vị giao dịch
       
    Pound Sterling GBP 62.500
       
    Canada Dollar CAD 100.000
       
    Japanese Yen JPY 12.500.000
       
    Swiss Franc CHF 125.000
       
    Euro EUR 125.000
       
    Autralian Dollar AUD 100.000
       
    • Khi bắt đầu tham gia nghiệp vụ này, khách hàng phải thực hiện ký quỹ ban đầu (Initial Margin) được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hợp đồng tại Phòng thanh toán bù trừ (Clearing House). Số tiền ký quỹ này sẽ được tính toán và điều

    chỉnh hàng ngày để thực hiện thanh toán giữa một bên lời và lỗ nếu có chênh lệch tỷ giá thị trường với tỷ giá thỏa thuận khi ký hợp đồng tương lai.

    • Hợp đồng tương lai có tính thanh khoản khá cao, bởi khi tham gia vào hợp đồng kỳ hạn khách hàng bắt buộc phải thực hiện hợp đồng còn đối với hợp đồng tương lai các bên có quyền đảo hợp đồng khi một bên yêu cầu (thường khi tỷ giá diễn biến bất lợi) bằng cách Phòng giao dịch sẽ thực hiện một giao dịch ngược trên cùng với một số lượng ngoại tệ như nhau. Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xoá bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng. Chính vì có khả năng đảo hợp đồng mà chỉ không quá 2% số lượng hợp đồng tương lai được thực hiện khi đáo hạn, còn lại đa số hợp đồng được tất toán với hình thức đảo hợp đồng. Các hợp đồng được duy trì đến ngày đáo hạn sẽ được thanh toán giống như các hợp đồng kỳ hạn.

    Nghiệp vụ KDNT tương lai chưa được áp dụng tại Việt Nam do một số nguyên nhân về nhận thức giao dịch, mức độ hiệu quả của thị trường và cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ giao dịch chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

    20

    3.3.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ tương lai đối với các NHTM

    Hợp đồng tương lai cho phép giao dịch ngoại tệ có giá trị nhỏ nên dễ dàng và thuận lợi trong giao dịch.

    Hợp đồng tương lai cung cấp cho những nhà đầu cơ một phương tiện kinh doanh và cho những người ngại rủi ro một công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá tốt.

    Tuy nhiên hợp đồng tương lai có những hạn chế là chỉ giao dịch giới hạn trong một số ngoại tệ nhất định, việc chuyển giao ngoại tệ chỉ thực hiện ở một số ngày trong năm và đây là loại hợp đồng không cho khách hàng quyền chọn như trong hợp đồng quyền chọn.

    3.4    Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (Swap)

    Để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hợp đồng kỳ hạn được sử dụng rất phổ biến trong hoạt động kinh doanh XNK. Tuy nhiên, trên thực tế, thời điểm mà nhà XNK phát sinh nhu cầu thu chi ngoại tệ lại có thể xảy ra trước hoặc sau thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn. Để khắc phục nhược điểm này của hợp đồng kỳ hạn, các NHTM đã cung cấp các hợp đồng hoán đổi cho phép các nhà kinh doanh XNK kéo dài hay rút ngắn thời hạn hợp đồng kỳ hạn cho phù hợp với nhu cầu thu chi ngoại tệ thực tế.

    3.4.1     Khái niệm

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    3.4.2    Đặc điểm

    • Một hợp đồng hoán đổi hối đoái gồm hai vế là mua vào và bán ra, cùng được ký kết vào ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trị khác nhau.
    • Nếu không có thỏa thuận khác thì khi nói mua đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá, và bán ra một đồng tiền nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tiền yết giá.
    • Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền yết giá là bằng nhau trong cả hai vế của hợp đồng hoán đổi.
    • Căn cứ đặc điểm ngày giá trị, giao dịch hoán đổi gồm hai loại:
    • Spot – Forward Swap: Bao gồm 1 vế giao ngay và một vế kỳ hạn

    21

    • Forward – Forward Swap: Bao gồm cả 2 vế đều là kỳ hạn với ngày giá trị

    khác nhau.

    Trên thực tế, giao dịch hoán đổi dạng Forward – Forward ít được sử dụng và các hợp đồng hoán đổi chủ yếu là Spot – Forward Swap.

    3.4.3    Xác định tỷ giá trong giao dịch hoán đổi

    Trong nghiệp vụ hoán đổi thường công bố điểm hoán đổi (swap point).

    Điểm swap được tính toán như sau:

    Swap point  =  Forward rate   –      Spot rate

    (1.5)

    Swap point = S *

    Trong đó: S là tỷ giá giao ngay, RT là lãi suất đồng tiền định, RC là lãi suất đồng tiền yết giá, t là thời gian (tính theo ngày).

    Ví dụ giao dịch hoán đổi tiền tệ tại BIDV:

    Khách hàng là Công ty A muốn bán giao ngay USD và mua kỳ hạn 3 tháng

    USD.

    Ngày 15/11/2010, tỷ giá giao ngay và lãi suất kỳ hạn 3 tháng tại BIDV như

    sau:

    • Tỷ giá USD/VND: 19.495 – 19.500
    • Lãi suất USD (%/năm) : 3 – 6
    • Lãi suất VND (%/năm): 12 – 14

    Ta có điểm Swap 3 tháng của USD/VND áp dụng đối với công ty A là:

    SWP3 = 19.500 x (14 – 6) x 92/(100 x 360) = 399 điểm

    Như vậy, giao dịch Swap USD/VND 3 tháng sẽ được thực hiện như sau:

    Vào ngày 15/11/2010, BIDV sẽ mua USD/VND với tỷ giá giao ngay USD/VND là 19.495 đồng thời cam kết bán lại số USD đó để lấy VND sau 3 tháng

    22

    với tỷ giá USD/VND là 19.500 + 399 =19.899 (đây chính là tỷ giá bán Forward 3 tháng).

    3.4.4    Ý nghĩa của nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ đối với các NHTM

    Giao dịch hoán đổi ngoại tệ được phổ biến trên thị trường hối đoái với mục đích là phòng tránh rủi ro tỷ giá hoặc đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn. Khối lượng giao dịch này vượt hẳn khối lượng giao dịch giao ngay hoặc kỳ hạn một chiều. Giao dịch hoán đổi ngoại tệ được tiến hành với cùng một khách hàng.

    Giao dịch Swap giúp các ngân hàng cân bằng trạng thái vốn giữa hai thời điểm khác nhau, giải quyết nhu cầu ngoại tệ, vốn trong kinh doanh và nâng cao thu nhập cho ngân hàng.

    Các NHTM có thể kết hợp nghiệp vụ Swap ngoại tệ với Swap lãi suất như sau:

    • Swap lãi suất:

    Là nghiệp vụ tìm những vốn nguồn vốn với lãi suất cố định, phí tổn thấp hơn. Người đi vay có thể so sánh lãi suất trên các thị trường khác nhau để có những quyết định phù hợp với mục đích giao dịch.

    • Swap lãi suất hai ngoại tệ: cam kết của hai bên giao dịch vào một ngày nhất định đổi một lượng cố định ngoại tệ này để nhận một lượng biến đổi ngoại tệ khác với thời hạn xác định khi đến hạn. Phí tổn của giao dịch phụ thuộc vào chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền tính theo số ngày trên cơ sở tỷ giá giao ngay (điểm Swap). Trên cơ sở điểm Swap được các ngân hàng thông báo khách hàng sẽ lựa chọn giữa đi vay ngoại tệ hay giao dịch Swap thông qua vay ngoại tệ đối ứng.
    • Swap lãi suất đối với một đồng tiền: ứng dụng hoán đổi lãi suất để tìm lãi suất rẻ khi đổi lãi cố định với lãi thả nổi. Đó là các giao dịch chuyển đổi nghĩa vụ trả lãi suất theo các hình thức khác nhau như lãi suất cố định với lãi suất biến đổi dựa trên cùng một loại tiền tệ. Trong một hợp đồng hoán đổi lãi suất một bên trả lãi suất cố định từ thời điểm giao dịch, trong khi bên kia trả lãi suất thả nổi theo thỏa thuận trong suốt thời gian của hợp đồng Swap lãi suất cho hai bên.ngân hàng sẽ đứng trung gian thực hiện hợp đồng Swap cho hai bên.
    • Ứng dụng Swap xác định lãi suất đồng tiền chào trên thị trường

    Thông qua các điểm kỳ hạn của các đồng tiền được báo trên thị trường, các nhà

    23

    kinh doanh ngoại hối luôn tìm cách phát hiện những chênh lệch về lãi suất giữa lời chào của ngân hàng thể hiện bằng điểm kỳ hạn với lãi suất trên thị trường để tìm kiếm những đồng tiền cần thiết có lợi nhất, khi biết trước lãi suất của đồng tiền này từ đó tính ra lãi suất được chào của đồng tiền kia. Người ta áp dụng hình thức tính toán theo điểm kỳ hạn hay còn gọi là thị trường Swap.Trong chừng mực nào đó, chênh lệch lãi suất nẩy sinh giữa các điều kiện của Swap với lãi suất thị trường có thể được coi như là giá phải trả khi người giao dịch muốn có được đồng tiền cần thiết mà không phải đi vay.

    3.5    Nghiệp vụ quyền chọn (Option)

    Quyền chọn là một công cụ của các thị trường giao dịch trên thế giới. Quyền chọn được áp dụng trong các giao dịch ngoại hối, lãi suất, chứng khoán, hàng hoá… Mặc dù vào thế kỷ 19 khái niệm về quyền chọn đã được hình thành tại London, tuy nhiên do đặc tính của quyền chọn nên chưa được hình thành trong giai đoạn này. Mãi đến năm 1973 nghiệp vụ quyền chọn mới được giao dịch mạnh mẽ tại thị trường hàng hoá Chicago (Chicago Board Options Exchange – CBOE) và chỉ một thời gian ngắn quyền chọn được phép giao dịch trên tất cả các thị trường lớn như American Stock Exchange, Philadelphia Stock Exchange, Monep…

    3.5.1    Khái niệm quyền chọn

    Các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và tương lai luôn phải được thanh lý có thể trước hoặc sau hay tại thời điểm hợp đồng đến hạn. Không giống như các hợp đồng này, hợp đồng quyền chọn tiền tệ cho phép người mua trong tương lai có quyền mua hoặc bán (không phải nghĩa vụ) một đồng tiền nhất định tại một mức tỷ giá cố định được thỏa thuận trước.

    Như vậy, có thể định nghĩa về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ như sau:

    Quyền chọn ngoại tệ (quyền chọn mua hoặc bán ngoại tệ) là một hợp đồng giữa người mua và người bán, theo đó người bán trao cho người mua quyền chứ không phải nghĩa vụ mua (call) hoặc bán (put) một số lượng nhất định ngoại tệ trong một khoảng thời gian được xác định với tỷ giá nhất định (tỷ giá thực hiện). Đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí (gọi là phí Option). Người bán quyền chọn được hưởng khoản phí đó cho dù người mua có thực hiện hay không thực hiện quyền chọn của mình.

    24

    3.5.2    Đặc điểm quyền chọn tiền tệ

    • Quyền chọn mua và quyền chọn bán tiền tệ:

    Hợp đồng quyền chọn cho phép người mua hợp đồng quyền: hoặc là thực hiện quyền chọn (mua hoặc bán) theo tỷ giá đã thỏa thuận cố định từ trước, hoặc là mặc nhiên để hợp đồng tự động hết hạn mà không tiến hành bất cứ một giao dịch nào. Đối với người bán quyền chọn không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch khi người mua thực hiện quyền chọn.

    Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp đồng trong đó người mua hợp đồng có quyền mua một đồng tiền nhất định. Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp đồng trong đó người mua hợp đồng có quyền bán một đồng tiền nhất định. Trong mỗi giao dịch quyền chọn bao gồm cả quyền chọn mua và quyền chọn bán.

    Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ bao hàm nội dung: mua đồng tiền yết giá tức bán đồng tiền định giá. Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ bao hàm nội dung bán đồng tiền yết giá tức mua đồng tiền định giá.

    • Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ:

    Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ: gồm người bán hợp đồng và người mua hợp đồng. Mua một hợp đồng quyền chọn có thể là mua quyền chọn bán hoặc mua quyền chọn mua. Người mua hợp đồng sau khi đã trả phí có quyền tiến hành quyền chọn nếu thấy có lợi hoặc là không tiến hành quyền chọn nếu thấy bất lợi. Người bán hợp đồng quyền chọn có thể là bán quyền chọn bán hoặc bán quyền chọn mua. Người bán hợp đồng sau khi đã thu phí có nghĩa vụ sẵn sàng giao dịch tại mức tỷ giá đã thỏa thuận nếu người mua thực hiện quyền chọn của mình.

    • Thực hiện quyền chọn:

    Người mua hợp đồng quyền chọn có quyền quyết định thực hiện hay không thực hiện quyền chọn tiền tệ. Một hợp đồng quyền chọn được tiến hành giao dịch có nghĩa là có sự thanh toán thực sự giữa người mua và người bán và các luồng tiền trao đổi xảy ra thực sự.

    Thời điểm các bên đối tác ký kết hợp đồng gọi là thời điểm ký kết hợp đồng.

    Thời điểm tiến hành thanh toán gọi là thời điểm thực hiện quyền chọn.

    25

    • Tỷ giá quyền chọn:

    Tỷ giá áp dụng trong giao dịch quyền chọn gọi là tỷ giá quyền chọn. Tỷ giá quyền chọn ngoài yếu tố cung cầu còn phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp do đó tỷ giá quyền chọn có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với tỷ giá giao ngay, giao kỳ hạn hay giao tương lai. Nghĩa là tỷ giá quyền chọn có thể bất cứ như thế nào miễn sao người mua chấp nhận, bởi vì giữa tỷ giá quyền chọn và phí mua quyền chọn luôn có mối quan hệ với nhau, do đó người bán thường sẵn sàng chấp nhận mọi tỷ giá quyền chọn mà người mua đề nghị nhưng áp dụng mức phí quyền chọn hợp lý để có lãi.

    • Giá hợp đồng quyền chọn

    Giá hợp đồng quyền chọn hay phí quyền chọn là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn. Giá hợp đồng quyền chọn phải là lượng tiền hợp lý sao cho đủ để bù đắp rủi ro xét từ góc độ của người bán và không bị quá đắt xét từ góc độ người mua. Phí quyền chọn là khoản tiền không truy đòi và thông thường được thanh toán một lần tại thời điểm ký kết hợp đồng. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì việc thanh toán có thể xảy ra tại thời điểm hợp đồng đến hạn nếu như người bán có thiện chí cấp tín dụng cho người mua.

    • Các nhân tố ảnh hưởng đến phí quyền chọn
    • Tỷ giá giao ngay: tại mỗi mức tỷ giá giao dịch nếu tỷ giá giao ngay càng cao thì xác suất xảy ra thực hiện quyền chọn mua càng lớn do đó phí quyền chọn càng cao.
    • Tỷ giá quyền chọn: Tại mỗi mức tỷ giá giao ngay, nếu tỷ giá quyền chọn của hợp đồng quyền chọn mua càng cao thì xác suất xảy ra thực hiện quyền chọn càng thấp do đó phí quyền chọn mua càng thấp.
    • Thời gian đến hạn: thời gian đến hạn của hợp đồng quyền chọn càng dài thì càng có nhiều khả năng tỷ giá thị trường biến động trên mức tỷ giá quyền chọn mua; do đó phí quyền chọn mua càng cao.
    • Sự biến động của tỷ giá: Tỷ giá trên thị trường biến động càng mạnh thì xác suất tỷ giá giao ngay vượt tỷ giá quyền chọn tại thời điểm hợp đồng đến hạn càng lớn do đó phí quyền chọn càng cao.

    26

    • Lãi suất của đồng tiền yết giá: nếu lãi suất của đồng tiền yết giá tăng làm cho giá trị hiện tại của đồng tiền này giảm, dẫn đến các hợp đồng quyền chọn mua trở nên kém hấp dẫn do đó làm cho phí quyền chọn mua giảm xuống.
    • Lãi suất của đồng tiền định giá: lãi suất đồng tiền định giá tăng làm cho giá trị hiện tại của đông tiền này giảm, dẫn đến các hợp đồng quyền chọn mua trở nên hấp dẫn, làm cho phí quyền chọn mua tăng lên.
    • Giá trị hiện tại và giá trị thời gian:

    Phí quyền chọn bao gồm hai phần thành phần: giá trị nội tại và giá trị thời gian. Giá trị nội tại là khoản lãi có thể thu được nếu thực hiện quyền chọn ngay lập tức tại một thời điểm nhất định.

    • Đối với hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ:

    Giá trị nội tại = Tỷ giá giao ngay – Tỷ giá quyền chọn

    • Đối với hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ:

    Giá trị nội tại = Tỷ giá quyền chọn – Tỷ giá giao ngay

    Nếu giá trị nội tại > 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là được giá quyền chọn.

    Nếu giá trị nội tại < 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là giảm giá quyền chọn.

    Nếu giá trị nội tại = 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là ngang giá quyền chọn.

    Giá trị thời gian của hợp đồng quyền chọn là hiệu số giữa phí quyền chọn và giá trị nội tại. Nó phản ánh một hợp đồng quyền chọn có thể có giá trị lớn hơn giá trị nội tại. Nghĩa là, do sự biến động của tỷ giá giao ngay trong tương lai làm cho giá trị của hợp đồng quyền chọn thay đổi tức có giá trị thời gian.

    3.5.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ quyền chọn đối với các NHTM

    Quyền chọn được sử dụng như là công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá hiệu quả đồng thời là công cụ được sử dụng để đầu cơ mạnh mẽ trên thị trường hối đoái quốc tế.

    Đối với các NHTM, quyền chọn không chỉ được sử dụng để đầu cơ, kiếm lợi nhuận trên thị trường liên ngân hàng mà còn giúp các NHTM thu được khoản phí đáng kể khi cung cấp quyền chọn cho khách hàng của mình.

    27

    3.6    Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage)

    3.6.1    Khái niệm

    Arbitrage là nghiệp vụ kết hợp việc mua (bán) ngoại tệ và thực hiện bán (mua) ngoại tệ lại nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường.

    Nguyên tắc

    • Arbitrage áp dụng nguyên tắc mua ngoại tệ ở nơi tỷ giá thấp và bán ngoại tệ ở nơi tỷ giá cao.
    • Giao dịch mua và bán ngoại tệ đều được thanh toán qua hệ thống ngânhàng nên phát sinh chi phí môi giới, chuyển tiền, điện phí… Các nhà đầu tư so sánh lợi nhuận thu được do chênh lệch tỷ giá phải bù đắp được chi phí phát sinh và đảm bảo có lời thì nghiệp vụ Arbitrage mới được thực hiện.

    3.6.2    Đặc điểm và ý nghĩa của nghiệp vụ Arbitrage đối với các NHTM

    • Lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch giá tuy không lớn nhưng kiếm được trong thời gian ngắn và hầu như không có rủi ro nên rất hấp dẫn. Cơ hội kinh doanh chênh lệch giá là rất ngắn vì khi có nhiều người tham gia sẽ nhường cho sự bình quân tỷ giá giữa các khu vực.
    • Với nghiệp vụ Arbitrage, ngân hàng hoàn toàn chủ động mua/bán ngoại tệ nhằm kiếm chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường. Chính đặc điểm của Arbitrage là cơ hội kinh doanh ngắn đòi hỏi ngân hàng phải có chương trình hỗ trợ tính thu nhập khi thực hiện giao dịch thì mới có thể đáp ứng nhu cầu ra quyết định trong thời gian rất ngắn. Hiện tại, BIDV không giao dịch Arbitrage.

    II.               CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƢỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

     

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mỗi ngân hàng là khác nhau, phụ

    thuộc vào quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ, lĩnh vực hoạt động chính, khả năng tài chính của ngân hàng …Qua nghiên cứu, tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của BIDV và một số NHTM, để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM, tác giả xin trình bày một số tiêu chí như sau:

    28

    1.     Doanh số mua bán ngoại tệ

    Doanh số mua bán ngoại tệ của một Ngân hàng thương mại trong một thời kỳ được tính bằng tổng doanh số ngoại tệ mua vào và bán ra với khách hàng trong thời kỳ đó.

    Doanh số MBNT = Doanh số mua + doanh số bán (ngoại tệ)

    Hiện nay, khi thị trường ngoại hối phát triển, đồng nghĩa với việc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, nếu ngân hàng mở rộng chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán (spread) thì sẽ không hấp dẫn khách hàng, dẫn đến doanh số mua bán ngoại tệ thấp. Do đó, một ngân hàng muốn tăng lợi nhuận thì trong cạnh tranh các ngân hàng thường có xu hướng thu hẹp spread nhằm tăng doanh số mua bán ngoại tệ của mình.

    Như vậy, spread là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số mua bán ngoại tệ của một ngân hàng. Một ngân hàng muốn tăng doanh số giao dịch thì cần thu hẹp spread và ngược lại muốn giảm doanh số giao dịch thì mở rộng spread.

    Để đánh giá hoạt động kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng có chuyên nghiệp và hiệu quả hay không, cần xem xét một số yếu tố sau:

    • Tương quan giữa doanh số mua bán ngoại tệ của ngân hàng và tổng

    doanh số XNK của các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đó. T = doanh số mua bán ngoại tệ/tổng doanh số xuất nhập khẩu

    • Tương quan giữa doanh số mua vào của ngân hàng và các khoản thu từ

    hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp XNK.

    Tm = doanh số mua ngoại tệ/doanh số xuất khẩu của Doanh nghiệp

    – Tương quan giữa doanh số bán ra của ngân hàng và các khoản chi cho Tb = doanh số bán ngoại tệ/doanh số nhập khẩu của Doanh nghiệp

    hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    2.     Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ bao gồm:

    29

    • Lãi thu được do chênh lệch giữa giá bán và giá mua ngoại tệ.Trên thị trường ngoại hối có ba phương pháp cơ bản để thu lãi. Ví dụ, trên thị trường giao

    ngay, đó là:

    Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối: Nhà kinh doanh có thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.

    Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá trị cao hơn để ăn chênh lệch tỷ giá.

    Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Ta có công thức tính như sau:

    Lãi KDNT = Doanh số MBNT * spread

    Trong đó: Spread = Tỷ giá bán – tỷ giá mua

    • Phí thu được từ các giao dịch ngoại tệ (Phí từ cung cấp các sản phẩm ngoại hối phái sinh).

    Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng thương mại.

    3.     Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên tổng thu nhập

    Thu nhập hay lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một yếu tố rất quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ của một NHTM. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ cần dựa vào chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại trên tổng thu nhập của NHTM đó. Một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ thấp hơn nhưng sẽ được đánh giá hiệu quả cao hơn nếu thu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại trên tổng thu nhập cao.

    Đối với các ngân hàng lớn (đặc biệt là các ngân hàng nước ngoài) đều có xu hướng giảm dần các nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, trong dó trong cơ cấu lợi nhuận của các ngân hàng này, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ chiếm tỷ trọng rất lớn, thường trên 40%.

    30

    4.     Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Ngày nay hoạt động KDNT của NHTM ngày càng đa dạng, phong phú đi kèm với nó là các rủi ro, trong hoạt động KDNT có các loại rủi ro sau:

    • Các rủi ro cơ bản: Rủi do tỉ giá, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán.
    • Rủi ro trong hồ sơ mua bán ngoại tệ: Hồ sơ mua bán ngoại tệ chưa rõ ràng, hợp pháp, hợp lệ, đầy đủ. Thông tin khách hàng không chính xác, rõ ràng, Không cập nhật thông tin khách hàng kịp thời khi có thay đổi…,
    • Rủi ro trong hợp đồng mua bán ngoại tệ: Hợp đồng không đầy đủ, ko chặt chẽ hoặc không đúng với các quy định về quản lý ngoại hối, thanh toán và pháp luật, không thực hiện đúng các điều khoản cam kết, không thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro biến động tỉ giá với các hợp đồng kỳ hạn mua bán ngoại tệ, thu phí qua hợp đồng dịch vụ (hoa hồng, chi phí tiền mặt) làm tăng tỉ giá thực tế vượ trần quy định;
    • Rủi ro khi hạch toán: Hạch toán sai số tiền, loại tiền, tỷ giá, nhầm đối tác

    giao dịch…

    Sau đây chúng ta đi sâu vào xem xét 1 số rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    4.1    Rủi ro tỷ giá

    4.1.1    Khái niệm rủi ro tỷ giá

    Về bản chất kinh doanh ngoại hối tự bản thân nó chứa đựng rủi ro rất cao. Ngoài các rủi ro thông thường mà các hoạt động khác phải đối mặt như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỹ thuật…thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một rủi ro đặc biệt đó là rủi ro tỷ giá. Do tỷ giá biến động thường nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi ro thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại.

    Rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng mua vào một lượng ngoại tệ mà đồng tiền đó đang bị mất giá (giá hiện nay thấp hơn giá mua vào) hoặc bán ra ngoại tệ mà đồng tiền đã bán đang tăng giá.

    Đối với khách hàng, rủi ro tỷ giá xuất hiện khi các doanh nghiệp đã ký hợp đồng ngoại thương theo đó họ sẽ phải thanh toán một số lượng ngoại tệ nhất định trong tương lai khi đối tác giao hàng. Từ khi ký kết hợp đồng đến khi thanh toán là một

    31

    khoảng thời gian khá dài cho sự biến động của tỷ giá, nếu chúng ta biết rằng tỷ giá luôn biến động hàng ngày, hàng giờ và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chính trị, kinh tế của đất nước.

    Mỗi ngân hàng tham gia hoạt động KDNT đều quan tâm đến rủi ro tỷ giá và một trong những cách quản lý rủi ro tỷ giá có hiệu quả là quản lý trạng thái ngoại hối.

    4.1.2    Nguồn phát sinh rủi ro tỷ giá

    Như phân tích tại mục 2, có ba phương pháp cơ bản để thu lãi. Ví dụ, trên thị trường giao ngay, đó là:

    Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối: Nhà kinh doanh có thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.

    Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá trị cao hơn để ăn chênh lệch tỷ giá. Vì hành vi mua bán diễn ra tại cùng một thời điểm với số lượng bằng nhau, nên kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu rủi ro tỷ giá (vì không tạo ra trạng thái) và không phải bỏ vốn

    Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Về thực chất, trong giao dịch này, ngân hàng đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ cho khách hàng nên không chịu rủi ro tỷ giá và không cần bỏ vốn.

    Từ trên chúng ta có thể thấy, nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu rủi ro tỷ giá khi duy trì trạng thái ngoại hối mở. Trạng thái ngoại hối mở của ngoại hối mở của một ngoại tệ là chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ của một ngoại tệ tại một thời điểm. Tất cả các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ (hiện tại và tương lai) đều tạo ra trạng thái ngoại tệ trong đó thông qua giao dịch mua bán là chủ yếu. Chính vì vậy, trong thực tế chỉ cần quản lý tốt trạng thái mua bán ngoại tệ cũng đủ ngăn ngừa rủi ro tỷ giá phát sinh.

    Đối với mỗi ngoại tệ, tại một thời điểm nếu tổng tài sản có lớn hơn tổng tài sản nợ thì ngoại tệ đó trạng thái trường. Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối và ngược lại khi đồng tiền này giảm giá sẽ làm phát sinh lỗ ngoại hối. nếu tổng tài

    32

    sản có nhỏ hơn tổng tài sản nợ thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản. khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lỗ ngoại hối và ngược lại khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lãi ngoại hối.

    Nếu không duy trì trạng thái ngoại hối mở thì nhà kinh doanh không chịu rủi ro tỷ giá hoặc duy trì trạng thái ngoại hối mở nhưng không biến động thì rủi ro tỷ giá cũng không phát sinh. Tuy nhiên là nhà kinh doanh ngoại hối thì động cơ chủ yếu là thông qua việc tạo trạng thái và tỷ giá biến động càng nhanh, càng mạnh, càng khó dự đoán thì cơ hội kiếm lãi dành cho họ càng nhiều. (Nguyễn Văn Tiến, 2005)

    4.1.3    Đo lường  rủi ro tỷ giá

    Như trên đã trình bày, rủi ro tỷ giá của một loại ngoại tệ phụ thuộc vào việc duy trì trạng thái ròng ngoại tệ và mức độ biến động của tỷ giá:

    Lãi/lỗ đối với ngoại tệ I = trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ I x mức độ biến động tỷ giá ngoại tệ I

    Đối với một danh mục ngoại tệ kinh doanh:

    Nếu việc phân tích rủi ro ngoại hối chỉ được tiến hành đối với từng ngoại tệ riêng biệt, tức là tiến hành xem trạng thái ngoại hối mở của từng loại ngoại tệ độc lập thì tổng rủi ro ngoại hối đối với ngân hàng sẽ bị cường điệu lên rất nhiều. Nhìn chung, rủi ro ngoại hối của một danh mục ngoại tệ nhỏ hơn tổng các rủi ro của từng loại ngoại tệ riêng biệt vì sự thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền này với nhau có mối tương quan nghịch nên lợi nhuận thu được từ duy trì trạng thái ngoại hối đối với đồng tiền này có thể bù đắp cho sự thua lỗ do duy trì trạng thái ngoại hối đối với ngoại tệ khác.

    Trên thế giới có rất nhiều chỉ tiêu đo lường rủi ro trong hoạt động KDNT đối với một danh mục ngoại tệ kinh doanh. Trong phần này, tác giả xin trình bày hai chỉ số đo lường rủi ro của một danh mục ngoại tệ , đó là độ lệch chuẩn và chỉ số VaR (Value at Risk).

    • Phương pháp tính độ lệch chuẩn của danh mục ngoại tệ σ2 =

    33

    Trong đó: i ≠ j

    σ: Độ lệch chuẩn của danh mục ngoại tệ kinh doanh. σ càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn.

    Xi : Trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ i

    Độ lệch chuẩn của tỷ giá giữa ngoại tệ i và VND

    Ρij: Hệ số tương quan giữa tỷ giá của ngoại tệ i và j với VND (PGS.TS Nguyễn Văn Tiến 2005)

    • VaR và phương pháp tính VaR ( Value at Risk)

    Khi đầu tư, các nhà đầu tư phải tính toán suất sinh lợi kỳ vọng (expectation), mức rủi ro cao nhất của mỗi tài sản/danh mục đầu tư của mình. Có một cách cơ bản và được sử dụng phổ biến để ước tính trường hợp xấu nhất đối với danh mục tài sản của mình – thua lỗ lớn nhất trong một thời gian nhất định, đó là Value at Risk, hay còn gọi là VaR.

    Value at Risk là số tiền tối đa mà một tài sản hay một danh mục đầu tư có thể mất với một xác suất nào đó trong một đơn vị thời gian. Mục đích của phân tích VaR là để trả lời câu hỏi: Với độ tin cậy là 95% (hoặc 99%) thì trong tháng tới (quý tới/năm tới), khả năng thua lỗ lớn nhất của danh mục là bao nhiêu % (tương ứng với bao nhiêu VND trên khoản đầu tư ban đầu vào danh mục ).

    Phương pháp tính VaR:

    Sau đây, tác giả xin trình bày 2 phương pháp thông dụng nhất để tính VaR:

    • Phân tích quá khứ (historical method)

    Theo phương pháp này, VaR được xác định như sau:

    1. Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư
    1. Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng hệ số rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, vv).
    1. Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất.
    1. tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ.

    34

    • Phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)

    Theo phương pháp này, VaR được tính cụ thể như sau:

    1. Tính giá trị hiện tại V0 của danh mục đầutư
    1. Từ những dữ liệu quá khứ, tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng m và độ lệch chuẩn suất sinh lợi σ của danh mục đầu tư
    1. VaR được xác định theo biểu thức sau đây:

    VaR = V0×(−m + zqσ)

    4.2    Rủi ro thanh toán

    Rủi ro này phát sinh khi việc thanh toán không đúng hạn như đã thỏa thuận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro về thanh toán, thường do cân đối nguồn tiền vào và ra không khớp trong khi dự trữ ngoại tệ của NHTM không đủ nên không thể chuyển tiền như cam kết.

    Rủi ro về thanh toán còn xuất hiện khi ngân hàng đã thanh toán nhưng khách hàng không chuyển tiền đối ứng.

    Việc thanh toán chậm sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng và lợi nhuận sẽ giảm do phải chịu lãi phạt. Về lâu dài, việc thanh toán chậm sẽ đặt ngân hàng vào thế yếu trong những giao dịch sau này.

    4.3    Rủi ro  tín dụng

    Rủi ro này liên quan tới tình hình tài chính của đối tác như mất khả năng chi trả do thua lỗ, phá sản, bị kiện cáo khiến đối tác không thể thanh toán như đã thỏa thuận. Hậu quả của nó rất nghiêm trọng trên thị trường hối đoái nơi mà các giao dịch mang tính dây chuyền vì một khi giao dịch ngoại tệ được thực hiện sẽ phát sinh một loạt các giao dịch với các đối tác.

    Ngoài ra, hoạt động KDNT còn có các rủi ro khác như rủi ro hệ thống (Telex, điện thoại, hệ thống thanh toán, hệ thống bù trừ), rủi ro lãi suất (đối với các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi…), rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý…

    35

    Chính vì hoạt động KDNT mang tính rủi ro cao nên các nước thường đưa ra các quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn, ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng. Công cụ để quản lý rủi ro ngoại tệ là việc giới hạn trạng thái ngoại tệ. Với công cụ này, các ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro ngoại tệ, đồng thời kiểm soát hiệu quả các hoạt động đầu cơ ngoại tệ, đảm bảo cung cầu ngoại tệ được phản ánh chính xác, bình ổn tỷ giá và góp phần làm lành mạnh thị trường hối đoái.

    Một ngân hàng được đánh giá là hoạt động hiệu quả trong kinh doanh ngoại tệ là ngân hàng phát triển tốt các nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá, đồng thời có biện pháp kiểm soát tốt trạng thái ngoại tệ.

    4.                 Khả năng hỗ trợ của nghiệp vụ KDNT tới các nghiệp vụ khác của ngân hàng

    Ta có thể thấy chức năng đầu tiên của hoạt động KDNT là mua bán ngoại tệ phục vụ nhu cầu XNK. Thương mại quốc tế phát triển là tiền đề và động lực thúc đẩy sự phát triển của hoạt động KDNT. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh ngoại tệ không chỉ thể hiện từ nội tại hoạt động đó mà còn thể hiện ở việc hoạt động này hỗ trợ ra sao đối với các hoạt động thanh toán, tài trợ thương mại…

    36

    CHƢƠNG II

    THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ

    HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI

    NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

     

    I. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1 Quá trình hình thành và phát triển

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những ngân hàng đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, có thể tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng qua các thời kỳ như sau:

    Thời kỳ từ 1957- 1980

    Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng ĐT&PTVN – được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ trực thuộc Bộ Tài Chính với qui mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

    Thời kỳ 1981- 1989

    Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước.

    Thời kỳ 1990 – nay

    Từ năm 1990 đến 1994: Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước; Huy động các nguồn vốn trung dài hạn để

    37

    cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển

    Từ năm 1995 đến 1996: Đây là mốc đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản của BIDV: Được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước.

    Từ năm 1996 đến nay: Đây là thời kỳ được ghi nhận là thời kỳ “chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất nước”; chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự “cất cánh” của BIDV.

    Ghi nhận những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng I, Huân chương Lao động hạng I, Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh,…

    38

    • Cơ cấu tổ chức

    Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống BIDV

    NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

     

    KHỐI

    CÔNG TY

    CÔNG TY

    CHO THUÊ

    TÀI CHÍNH

    CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II

    CÔNG TY

    CHỨNG

    KHOÁN

    CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN

    CÔNG TY BẢO

    HIỂM BIDV

    KHỐI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN

    TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

    TRUNG TÂM

    ĐÀO TẠO

    VĂN PHÕNG ĐẠI

    DIỆN MIỀN TRUNG

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN MIỀN NAM

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN TẠI CAMBODIA

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN TẠI MYANMAR

    KHỐI

    NGÂN HÀNG

    SỞ GIAO DỊCH,

    CHI NHÁNH

    SỞ GIAO DỊCH

    III

    107 CHI NHÁNH

    KHỐI LIÊN DOANH GÓP VỐN CỔ PHẦN

    NGÂN HÀNG

    LIÊN DOANH

    VID-PUBLIC

    NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO-VIỆT

    NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT – NGA

    CTY LIÊN DOANH QUẢN LÝ ĐẦU TƢ

    CTY LIÊN DOANH THÁP BIDV

    CÁC ĐƠN VỊ CÓ VỐN GÓP CỔ PHẦN CỦA BIDV(*)

     

    39

    (*): Các công ty do BIDV là cổ đông sáng lập hoặc nắm cổ phần chi phối như:

    • Công ty CP cho thuê máy bay (VALC)
    • Công ty Đầu tư Phát triển Campuchia (DCC)
    • Ngân hàng Đầu tư Phát triển (BIDC)
    • Công ty bảo hiểm (CVI)
    • Công ty CP phát triển đường cao tốc BIDV (BEDC)
    • Công ty Đầu tư tài chính (BFI)

    Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Hội Sở Chính

    BAN KIỂM SOÁT

    HỘI ĐỒNG

    QUẢN TRỊ

    HỘI ĐỒNG

    QUẢN TRỊ

    BAN TỔNG

    GIÁM ĐỐC

    CÁC ỦY BAN

    HỘI ĐỒNG

    TRỰC THUỘC

    HỘI ĐỒNG

    TÍN DỤNG

     

    HỘI ĐỒNG ALCO

    CÁC ỦY BAN,

    CÁC ỦY BAN,

    HỘI ĐỒNG

    THEO YÊU CẦU

    QUẢN TRỊ

    QUẢN TRỊ

                                           
                                           
                                        KHỐI HỖ
    KHỐI NGÂN     KHỐI VỐN     KHỐI TÁC      
    HÀNG BÁN     VÀ KINH       NGHIỆP       TRỢ
      BUÔN     DOANH VỐN                      
                               
                                           
                                           
                                           
    KHỐI BÁN KHỐI QUẢN LÝ KHỐI TÀI
    LẺ VÀ RỦI RO CHÍNH KẾ
    Ghi chú: MẠNG LƢỚI   TOÁN
    • Khối bán buôn gồm các ban:

    40

    • Ban Quan hệ khách hàng doanh nghiệp

     

    • Ban Đầu tư

     

    • Ban Định chế tài chính

     

    • Ban Phát triển sản phẩm và Tài trợ thương mại

     

    • Khối bán lẻ và mạng lưới bao gồm:
      • Ban phát triển sản phẩm bán lẻ và Marketing

     

    • Ban Quản lý chi nhánh

     

    • Trung tâm thẻ

     

    • Khối vốn và kinh doanh vốn gồm Ban Vốn và kinh doanh vốn
    • Khối quản lý rủi ro gồm:
      • Ban Quản lý rủi ro tín dụng

     

    • Ban Quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp

     

    • Ban Quản lý tín dụng

     

    • Khối tác nghiệp gồm:
      • Trung tâm thanh toán

     

    • Trung tâm dịch vụ khách hàng

     

    • Trung tâm tác nghiệp và tài trợ thương mại

     

    • Khối tài chính kế toán gồm:
      • Ban Kế toán

     

    • Ban Tài chính

     

    • Ban thông tin quản lý và hỗ trợ Alco

     

    • Khối hỗ trợ gồm:
      • Văn phòng

     

    • Ban tổ chức cán bộ

     

    • Ban kế hoạch phát triển

     

    • Ban pháp chế

     

    • Ban kiểm tra nội bộ

     

    • Ban quản lý tài sản nội ngành

     

    • Ban Quản lý công trình

     

    • Ban công nghệ

     

    • Ban thương hiệu và quan hệ công chúng

     

    • Văn phòng công đoàn

     

    • Văn phòng đảng ủy

     

    • Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh

     

    • Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng

     

    41

    • Ban quản lý Dự án cổ phần hóa

    3.                 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV

    Hoạt động của BIDV có đầy đủ chức năng của một ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý, phục vụ các dự án từ các nguồn vốn, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. BIDV đặc biệt cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực đầu tư các dự án trọng yếu của Nhà nước. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV cụ thể bao gồm:

    • Sản phẩm tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức
    • Sản phẩm tín dụng bao gồm cho vay cá nhân (cho vay lương đối với cán bộ công nhân viên, vay thấu chi, cho vay tiêu dùng…); cho vay các tổ chức kinh tế (cho vay theo món, cho vay vốn lưu động theo hạn mức tín dụng, cho vay tài trợ xuất khẩu, cho vay tài trợ dự án, cho vay thi công xây lắp…)
    • Sản phẩm và dịch vụ kinh doanh tiền tệ gồm:

    Nghiệp vụ giao ngay

    • Mô tả:

    Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch hai bên thực hiện mua, bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 02 (hai) ngày làm việc tiếp theo. Tuy nhiên, tại BIDV khi khách hàng có nhu cầu thanh toán ngay trong ngày thì BIDV sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng vì đây cũng là tập quán ở thị trường Việt Nam. Khi thực hiện giao dịch giao ngay, khách hàng sẽ không phải trả phí giao dịch

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng:
    • Lợi nhuận kỳ vọng lớn
    • Giao dịch đơn giản

    Nghiệp vụ kỳ hạn

    • Mô tả:

    42

    Giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại ngày giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai. Khách hàng có nhu cầu giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thì có thể liên hệ với các chi nhánh của BIDV để được tư vấn và có thể thỏa thuận tỷ giá, kỳ hạn, số lượng, ngày thanh toán, phương thức thanh toán, ký quỹ đảm bảo thực hiện hợp đồng và ký hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn. Mức ký quỹ hiện nay phụ thuộc vào từng đối tượng khách hàng. Khách hàng không phải trả phí đối với giao dịch kỳ hạn

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng
    • Cố định giá ngay từ thời điểm giao dịch để bảo hiểm rủi ro tỷ giá
    • Thấy trước lợi nhuận của phương án kinh doanh.

    Nghiệp vụ quyền chọn

    • Mô tả

    Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước. Nếu bên mua quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước.

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng
    • Chọn giá theo nhu cầu
    • Rủi ro hạn chế, chi phí biết trước
    • Không hạn chế tiềm năng thu lợi
    • Đặc biệt phù hợp cho các luồng tiền chưa rõ ràng

    43

    • Quyền chọn tiền tệ cho phép khách hàng chủ động lựa chọn phương án mua bán có lợi nhất cho mình: hoặc lựa chọn thực hiện quyền nếu tỷ giá trên thị trường biến động bất lợi, hoặc không thực hiện quyền và thực hiện mua bán theo tỷ giá thị trường nếu tỷ giá thị trường tốt hơn tỷ giá thực hiện trong hợp đồng Quyền chọn.

    Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ

    • Mô tả

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ là giao dịch đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Giao dịch hoán đổi có thể là:

    • 1 giao dịch giao ngay + 1 giao dịch kỳ hạn
    • 1 giao dịch kỳ hạn + 1 giao dịch kỳ hạn
    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng:
    • Công cụ phòng chống rủi ro hiệu quả
    • Linh hoạt hóa nguồn vốn, giúp cho khách hàng chuyển đổi nguồn vốn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác
    • Tận dụng cơ hội kinh doanh chênh lệch lãi suất, sử dụng dòng tiền của khách hàng một cách hiệu quả nhất.
    • Sản phẩm tài trợ thương mại: gồm dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu, dịch vụ bảo lãnh…

    44

    • Dịch vụ chuyển tiền: Gồm các dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước cho cá nhân và doanh nghiệp
    • Dịch vụ ngân hàng điện tử gồm: Dịch vụ BIDV Directbanking, dịch vụ gửi tin nhắn ngân hàng qua điện thoại di động (BSMS), dịch vụ nạp tiền qua điện thoại di động…
    • Dịch vụ ngân quỹ
    • Các dịch vụ khác: Dịch vụ trả lương tự động dành cho doanh nghiệp, dịch vụ thu tiền đại lý, dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ tư vấn bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, dịch vụ đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm…

    III.            THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

    1.     Cơ sở pháp lý cho hoạt động KDNT tại BIDV

    1.1    Cơ sở pháp lý chung (của NHNN)

    Thị trường ngoại hối Việt Nam có thể nói được ra đời vào năm 1991, đánh dấu bằng việc Thống đốc NHNN ra quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16/8/1991 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT). Trên cơ cở Quy chế này, hai Trung tâm giao dịch Ngoại tệ tại TP.HCM và Hà Nội lần lượt ra đời vào tháng 8 và 11 năm 1991. Theo đó các NHTM, các tổ chức XNK kinh doanh trực tiếp với nước ngoài, NHTW có thể mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của mình. Các giao dịch được đấu giá vào 14h thứ ba và thứ sáu hàng tuần. Việc các NHTM và các tổ chức kinh tế có hoạt động ngoại tệ lớn giao dịch tại hai Trung tâm là bước tập dượt đầu tiên trong giao dịch mua bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường.

    1.1.1    Quy định chung về hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam

    Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quản lý ngoại hối tại Việt Nam là điều lệ quản lý ngoại hối ban hành theo Nghị định số 102-CP ngày 6/7/1963 của Hội đồng Chính phủ.

    Cho đến nay, để phù hợp với tình hình thực tế, chính phủ đã liên tục có những quy định thay thế quy định cũ nhằm mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và văn hoá với nước ngoài, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện Cán cân

    45

    thanh toán quốc tế, từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong các Hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam. Ngày 18/10/1988, nghị định 161/1988/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số 102-CP ngày 6/7/1963. Ngày 02/09/1998, Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ra đời thay thế nghị định 161/1988/NĐ-CP ngày 18/10/1988.

    Trước nhu cầu cấp thiết của việc thực hiện các cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 13/12/2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, gồm 10 chương, 46 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2006.

    Ngày 28 tháng 12 năm 2006 Chính phủ ban hành nghị định số 160/2006/NĐ CP qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối. Theo đó, việc quản lý ngoại hối theo hướng từng bước hạn chế đô la hóa, tiến tới thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam, nghiêm cấm triệt để các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ giữa các tổ chức, cá nhân. Hạn chế đến chấm dứt việc các tổ chức được bán hàng, cung cấp dịch vụ thu ngoại tệ…Tất cả các giao dịch thanh toán và chuyển tiền đối với giao dịch vãng lai giữa người cư trú và không cư trú được tự do thực hiện…

    Ngoài quy định được mang ngoại tệ trị giá 7.000 USD khi xuất cảnh không phải khai báo còn được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để chi phí cho việc học hành, chữa bệnh, du lịch…theo yêu cầu…

    Người cư trú được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu hợp pháp. Pháp lệnh còn quy định rõ ngoại tệ của người cư trú là cá nhân ở VN thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều được sử dụng cho mục đích cất giữ, mang theo người, gửi vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng hoặc bán cho tổ chức tín dụng được phép. Trường hợp là công dân VN thì được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép…

    1.1.2    Quy định về hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

    Tháng 10 năm 1994, trước nhu cầu bức thiết trong quan hệ giao dịch, thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể, nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hệ thống NHTM đã phát triển cao về số lượng cũng như chất lượng, các điều kiện về kỹ thuật, trang thiết bị cho phép trình độ giao dịch của các ngân hàng được

    46

    nâng cao, đặc biệt nguồn ngoại tệ của nền kinh tế dồi dào, thúc đẩy sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam. Trước tình hình đó, Thống đốc NHNN ban hành quy định số 203/QĐ-NH ngày 20/10/1994 thành lập Thị Trường ngoại tệ liên ngân hàng và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế.

    Kể từ khi TTNTLNH được thành lập, NHNN là người mua bán cuối cùng khi cung cầu ngoại tệ mất cân đối lớn, NHNN chỉ mua bán với các NHTM và các NHTM mua bán trực tiếp với khách hàng. Nếu để TTGD tồn tại song song với TTNTLNH thì việc thực hiện chính sách tỷ giá sẽ không đồng bộ giữa Trung tâm và TTNTLNH. Do đó, ngày 01/12/1994, Thống đốc NHNN đã quyết định chấm dứt hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và TP.HCM.

    Sau một thời gian hoạt động của TTNTLNH, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường này ở trình độ cao hơn, chặt chẽ hơn, ngày 26/03/1999, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13 về Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH thay thế cho Quyết định số 203/QĐ-NH13 ngày 20/09/1994.

    Ngày, 11/7/2000 NHNN ra Quyết định số 206/2000/QĐ-NHNN13 sửa đổi khoản 2 điều 9 “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” ban hành kèm theo QĐ số 101/1999/QĐ-NHNN ngày 26/3/1999.

    1.1.3    Quy định về quy chế  hoạt động KDNT của NHTM

    Sau khi Nghị định 161 ngày 18/10/1988 ban hành, NHNN đã cấp giấy phép hoạt động ngoại hối cho hầu hết các NHTM. Đối với các NHTM, nghiệp vụ KDNT được xem là sản phẩm mới, do đó bước đầu còn hạn chế, các NHTM chỉ đơn thuần cung cấp các dịch vụ mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng để hưởng phí, chưa triển khai các nghiệp vụ kinh doanh để thu lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá.

    Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, thống đốc NHNN đã ra quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998 ban hành quy chế hoạt động giao dịch hối đoái. Đây là một quyết định quan trọng, tạo nền tảng pháp lý để các NHTM thực hiện kinh doanh ngoại tệ, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại hối.

    Ngày 8/12/2004, Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN

    47

    điều chỉnh giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối đã chính thức có hiệu lực thi hành và thay thế Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 về Quy chế giao dịch hối đoái năm 1998.

    So với quy định cũ, đây là một quyết định hết sức táo bạo của NHNN nhằm mở rộng đối tượng khách hàng của các tổ chức tính dụng, tăng cường năng lực và phạm vi hoạt động cho các thành viên trên thị trường ngoại hối, cung cấp thêm cho các đối tượng này công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, thông qua đó khuyến khích khách hàng bán ngoại tệ cho ngân hàng với mức tỷ giá kỳ hạn linh hoạt hơn. Theo quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN, mọi tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối theo giấy phép của NHNN đều được phép thực hiện mọi loại hình giao dịch hối đoái hiện có trên thị trường, bao gồm giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền lựa chọn, chứ không cần phải xin các giấy phép cho từng loại hình giao dịch cụ thể như trước đây.

    Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN không chỉ nới lỏng những quy định về kiểm soát trên thị trường mà còn cung cấp cho thị trường thêm một công cụ phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất mới, hứa hẹn có hiệu quả thiết thực cao, đó là Quyền lựa chọn tiền tệ (Option).

    Để tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại triển khai áp dụng nghiệp vụ mới nhằm đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng và phù hợp với nhu cầu hội nhập của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chấp thuận cho một số Ngân hàng thương mại được thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng. Thông qua việc thực hiện thí điểm nghiệp vụ này của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước tiến hành tổng hợp tình hình và có những đánh giá cả mặt được, mặt chưa được, những thuận lợi và vướng mắc, khó khăn, từ đó nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy chế áp dụng đối với nghiệp vụ này để các ngân hàng thương mại triển khai, thực hiện.

    Theo văn bản vừa ban hành, hiện Ngân hàng Nhà nước đã dự thảo Thông tư về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối hướng dẫn Nghị định 160/2006/NĐ-CP và thay thế Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái.

    Do đó, Ngày 18/03/2009, NHNN ra công văn số 1820/NHNN-QLNH về dừng

    thí điểm nghiệp vụ option tiền đồng yêu cầu các Ngân hàng thương mại đã được

    Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa đồng

    48

    Việt Nam và ngoại tệ chấm dứt việc thực hiện nghiệp vụ này kể từ ngày 23/3/2009.

    Các hợp đồng quyền chọn giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ đã ký trước ngày 23/3/2009 vẫn được thực hiện như đã ký kết.

    1.1.4    Quy định về cơ chế tỷ giá

    NHNN cũng không ngừng đổi mới điều hành tỷ giá theo hướng tăng tính thị trường của tỷ giá, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ. Ngày 26/02/1999 được coi là ngày quan trọng trong điều hành chính sách tỷ giá, thời điểm NHNN thay đổi cách xác định tỷ giá hối đoái chính thức USD/VND.

    Nếu trước ngày 26/02/1999 cơ chế điều hành tỷ giá là hàng ngày NHNN công bố tỷ giá chính thức USD/VND, trên cơ sở đó các NHTM được chủ động quy định tỷ giá mua bán ngoại tệ của mình trong biên độ nhất định thì ngày 26/02/1999 với Quyết định 65/1999/QĐ-NHNN7, NHNN đã bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức nói trên và thay vào đó là công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, các NHTM căn cứ vào đó được phép xác định tỷ giá mua vào và bán ra đối với USD không được vượt quá biên độ do NHNN công bố từng thời kỳ. Có thể nói đây là một bước đổi mới rất quan trọng, không những trong quan niệm, trong tư duy mà cả trong thực tiễn quản lý, với cơ chế này làm cho tỷ giá trên thị trường vận động một cách khách quan, phản ánh đúng hơn các quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường đồng thời cũng phù hợp với cơ chế điều hành tỷ giá của nhiều nước trên thế giới.

    Biên độ tỷ giá các NHTM được phép cộng/trừ khi thương lượng với khách hàng cũng không ngừng đổi mới. Nếu như trong giai đoạn đầu thực hiện cơ chế này, NHNN còn quy định quá chi tiết các mức biên độ và biên độ quá hẹp, được coi là vẫn can thiệp quá sâu vào công việc kinh doanh của NHTM thì nó cũng dần được chỉnh sửa theo hướng nới rộng hơn (hiện nay biên độ tỷ giá USD/VND được phép thoả thuận là +-3% theo Quyết định 2666/QĐ-NHNN ngày 25/11/2009, riêng các loại ngoại tệ khác USD do Tổng Giám Đốc ngân hàng quyết định).

    1.2    Các văn bản quy định của BIDV

    Trên cơ sở các quy định của NHNN, BIDV cụ thể hóa bằng văn bản cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng mình.

    49

    Một số văn bản quy định về hoạt động KDNT bao gồm:

    • Công văn số 7565/CV-KDV2 ngày 31/12/2009 quy định về mua bán ngoại tệ tại chi nhánh.
    • Quyết định số 780/QĐ-NVKD3 ngày 21/03/2003 Quyết định giao trạng thái ngoại tệ trong ngày cho các chi nhánh.
    • Quyết định số 4414/QĐ-NVKD3 ngày 18/8/2005 Quy định về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ.
    • Công văn số 0515/QĐ-NVKD3 ngày 10/02/2006 Quy định về giao dịch mua bán ngoại tệ trực tuyến.

    2.     Giới thiệu về bộ phận kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập từ rất sớm, tuy nhiên, đến năm 1996 BIDV mới được NHNN cấp phép hoạt động kinh doanh đa năng với tư cách là một NHTM, trong đó có hoạt động kinh doanh ngoại hối.

    Bộ phận KDNT tại BIDV thuộc ban Vốn và Kinh doanh vốn (gồm 4 phòng). Trong đó, có 3 nhóm thuộc 3 phòng khác nhau thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ, bao gồm:

    • Nhóm kinh doanh ngoại tệ (thuộc phòng phục vụ khách hàng): gồm 7 cán bộ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ phục vụ khách hàng của toàn hệ thống thông qua việc mua bán ngoại tệ với các chi nhánh và qua thị trường liên ngân hàng. Nhóm kinh doanh ngoại tệ chủ yếu chỉ thực hiện kinh doanh ngoại tệ giao ngay.
    • Nhóm phái sinh tài chính: gồm 4 cán bộ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển các sản phẩm phái sinh để hướng dẫn, đào tạo các chi nhánh. Đồng thời giới thiệu và marketing khách hàng tiềm năng sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

    Đối với các khách hàng có nhu cầu mua bán ngoại tệ phái sinh, nhóm phái sinh tài chính sẽ hỗ trợ một chi nhánh đầu mối thực hiện hợp đồng với khách hàng, đồng thời giữa chi nhánh đó và hội sở chính sẽ ký một hợp đồng phái sinh đối ứng.

    • Nhóm kinh doanh ngoại tệ tự doanh: gồm 3 cán bộ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận của BIDV.

    3.     Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    Về lợi thế, BIDV có được nguồn ngoại tệ dồi dào từ các nguồn ODA thực hiện giải ngân từ ngân hàng, chính vì vậy, trong giai đoạn 2006-2010, doanh số mua bán ngoại tệ của BIDV tăng rất nhanh, cụ thể như sau:

    50

    Bảng 2.1 Doanh số mua bán ngoại tệ tại BIDV

    Đơn vị: Triệu USD

      Chỉ tiêu     Năm     Năm     Năm     Năm     9 tháng đầu  
            2006     2007     2008     2009     năm 2010  
                             
                                       
      Tổng doanh số mua bán   19.586   22.969   85.746   74.223   65.139  
                             
      Doanh số mua   9.799   11.493   42.882   37.117   32.575  
                             
      Doanh số bán   9.787   11.476   42.864   37.106   32.564  
                                       
      Doanh số mua bán với khách   15.864   17.686   54.877   51.213   42.340  
      hàng            
                                     
                                       
      Doanh  số  mua  bán  trên   3.722   5.283   30.869   23.010   22.799  
      TTLNH            
                                     
                             
      Doanhsố MBNT phái sinh   979   2.985   23.151   15.587   14.331  
                             
      Doanh số MBNT giao ngay   18.607   19.984   62.595   58.636   50.808  
                                       

    (Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009 và báo cáo tài chính BIDV quý III năm 2010)

    Qua bảng trên có thể thấy doanh số mua bán ngoại tệ trong giai đoạn 2006-2009 tăng lên rất nhanh (cụ thể, sau 3 năm, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 3,8 lần). Năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ chỉ tăng 17% so với nhăm 2006. Tuy nhiên, đến năm 2008, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 3,7 lần so với năm 2007, và đến năm 2009, doanh số mua bán ngoại tệ tuy có giảm so với năm 2008 nhưng so với năm 2007, con số này đã tăng 3,2 lần. Năm 2009 và 2010, tốc độ tăng trưởng của doanh số mua bán ngoại tệ thấp hơn các năm trước do tình hình cung cầu trên thị trường biến động, hoạt động KDNT của các NHTM nói chung và của BIDV nói riêng đều gặp khó khăn. Cụ thể, năm 2009, doanh số mua bán ngoại tệ của BIDV giảm 13% so với năm 2008, và 9 tháng đầu năm 2010, doanh số MBNT của BIDV chỉ tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009.

    KDNT vừa là thế mạnh, vừa là nghiệp vụ truyền thống của BIDV.Thông qua nghiệp vụ này, BIDV đã phát triển mạnh các nghiệp vụ khác như thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán phi mậu dịch, kiều hối nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến

    51

    giao dịch với BIDV. Doanh số mua bán ngoại tệ tăng phần lớn là nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế và một phần là nhờ vào vai trò là ngân hàng đại lý và ủy thác cho các nguồn vốn ODA. Nhờ vào hoạt động này mà BIDV có được nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ việc chuyển đổi ngoại tệ để phục vụ các nhu cầu chi tiêu của các Ban quản lý dự án ODA.

    Biểu 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ chia theo thị trường

    60000

    50000

    40000

    30000

                                                              Doanh số mua
                                                             
    20000                                                         bán với KH
                                                           
    10000                                                         Doanh số mua
                                                           
                                                           
                                                           
                                                             
                                                             
    0                                                         bán trên TT
                                                           
        Năm 2006   Năm 2007   Năm 2008   Năm 2009   9 tháng đầu liên NH
           
                                                năm 2010  

    Tương ứng với tổng doanh số mua bán ngoại tệ, doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng, với các ngân hàng khác cũng tăng lên đáng kể, cụ thể giai đoạn 2006-2009, doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng tăng 3,2 lần, doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng tăng tới 6,2 lần.

    Nếu chia theo các nghiệp vụ KDNT thì doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay và doanh số mua bán ngoại tệ phái sinh cũng đều có bước tăng trưởng vượt bậc. Cụ thể:

    Biểu 2.3 Doanh số mua bán ngoại tệ chia theo nghiệp vụ

     

    52

    70000

    60000

    50000

    40000

    30000

    20000

    10000

    0

    Năm            Năm             Năm            Năm          9 T đầu

    2006            2007            2008            2009             năm

    2010

    Doanh số mua bán giao ngay

    Doanh số mua bán ngoại tệ phái sinh

    Bên cạnh sự tăng trưởng vượt bậc của doanh số mua bán ngoại tệ thì thu nhập từ hoạt động KDNT cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cụ thể chúng ta xem xét bảng thu nhập sau:

    Bảng 2.4 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ 2

            Đơn vị: Tỷ VND
               
    Chỉ tiêu Năm Năm Năm Năm 9 tháng đầu
      2006 2007 2008 2009 năm 2010
               
    Thu nhập KDNT 91,8 112,3 790,8 752,6 620,9
               
    Tổng thu nhập 650 2.103 2.142 3.196 2822
               

    Biểu đồ 2.5 Thu nhập KDNT trên tổng thu nhập

    2 Báo cáo tài chính BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009

    53

    Thu nhập KDNT/Tổng thu nhập

    0.4

    0.35

    0.3

    0.25

    0.2

    0.15

    0.1

    0.05

    0

    Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

    Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ giai đoạn 2006-2009 tăng 6,7 lần và đạt mức cao nhất vào năm 2008 (790,8 tỷ VND). Cũng trong năm 2008, tỷ trọng thu nhập KDNT trong tổng thu nhập là khoảng 36% (gần bằng với mức tỷ trọng của các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam). Năm 2009, chỉ tiêu thu nhập KDNT/ tổng thu nhập giảm xuống còn 23% và 9 tháng đầu năm 2010 còn 22% do tình hình thị trường biến động, hoạt động KDNT gặp khó khăn nên thu nhập tự hoạt động KDNT cũng giảm sút.

    Biểu đồ 2.6 Thu nhập KDNT theo nghiệp vụ

     

            54      
    700            
                   
    600            
    500            
    400            
    300           Thu nhập
              KDNT giao
             
             
                  ngay
    200           Thu nhập
                  KDNT phái
    100           sinh
    0            
      Năm Năm Năm Năm 9 T đầu
    2006 2007 2008 2009 năm 2010

    Trên đây là tình hình kinh doanh ngoại tệ tại BIDV giai đoạn 2006-2010. Sau đây chúng ta sẽ phân tích hiệu quả về hoạt động KDNT tại BIDV để tìm ra các kết quả đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này.

    4.     Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    4.1    Về hiệu quả kinh doanh ngoại tệ

    Qua các số liệu tại mục 2, chúng ta có thể thấy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV đã đạt được kết quả rất tốt về cả doanh số và lợi nhuận.

    Năm 2006 là một năm BIDV có bước đột phá trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ cả về doanh số giao dịch và thu ròng, là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay. Hoạt động mua bán ngoại tệ luôn đáp ứng kịp thời, đầy đủ với giá cạnh tranh và phương thức giao dịrch linh hoạt như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn cho toàn bộ nhu cầu giao dịch của khách hàng trên toàn hệ thống BIDV, hỗ trợ tích cực cho các hoạt động nghiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tế, hoạt động tiền gửi USD. Nhờ đó, doanh số mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng của BIDV đứng thứ hai trên thị trường Việt Nam.

    55

    Đến năm 2007, BIDV là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên thực hiện giao dịch Hoán đổi tiền tệ chéo – một loại hình của Hoán đổi lãi suất – với ngân hàng đối tác Standard Chartered Bank tại London cho cặp tiền EUR/USD.

    Cũng trong năm 2007, lần đầu tiên BIDV được bình chọn là Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ FX tốt nhất năm 2007 – do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney.

    Năm 2008 là năm BIDV có bước đột phá về tăng trưởng doanh số cũng như lợi nhuận từ KDNT, cả 2 con số này đều đạt mức cao nhất từ trước tới nay(doanh số MBNT tăng 3,7 lần và lợi nhuận thu được từ KDNT tăng tới hơn 7 lần). Về sản phẩm phái sinh, lãi thuần từ hoạt động phái sinh năm 2008 cũng đạt mức cao nhất từ trước tới nay với kết quả là 237,03 tỷ đồng, cao gấp 26 lần so với năn 2007.

    Năm 2008, BIDV được tạp chí AsiaMoney trao tặng giải ngân hàng cung ứng dịch vụ FX tốt nhất.

    Năm 2009, tuy doanh thu và lợi nhuận về KDNT của BIDV có giảm đôi chút so với năm 2008 do thị trường ngoại tệ biến động khó khăn. Nhưng với nỗ lực của mình trong việc hướng tới khách hàng, BIDV lần thứ 3 liên tiếp được nhận giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (FX) tốt nhất năm 2009” do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney. Kết quả này thể hiện sự đánh giá cao của các định chế tài chính trong và ngoài nước đối với quá trình thay đổi của BIDV để tiếp cận với chuẩn mực quốc tế và mô hình tổ chức, trình đội quản lý và đặc biệt là hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ của BIDV.

    Để có được những thành quả như vậy, BIDV có được một số lợi thế sau:

    Ban lãnh đạo BIDV luôn nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động KDNT đối với hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Do đó, Hoạt động KDNT của BIDV luôn nhận được sự quan tâm của Ban Lãnh đạo BIDV và NHNN. BIDV bổ nhiệm một Phó Tổng Giám Đốc chuyên quản lý hoạt động KDNT tại ngân hàng. BIDV luôn chú trọng áp dụng các sản phẩm KDNT mới kết hợp với các dịch vụ kèm theo như dịch vụ tư vấn tiền tệ.

    Hiện tại, ngoại trừ giao dịch Arbitrage và Future (chưa được phép thực hiện),

    56

    BIDV đã thực hiện tất cả các nghiệp vụ KDNT bao gồm Spot, Forward, Swap, Option. Với các nghiệp vụ này, khách hàng của BIDV có nhiều công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.

    BIDV cũng luôn nhận được sự quan tâm và tin tưởng của NHNN, thể hiện ở việc BIDV là ngân hàng được NHNN cho phép thí điểm một số nghiệp vụ như Option, mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thoả thuận.

    Nghiệp vụ quyền chọn tại BIDV được NHNN cho phép triển khai thí điểm lần đầu trong khối các ngân hàng TMCP Việt Nam vào năm 2006. Nghiệp vụ quyền chọn giúp các nhà đầu tư giải quyết mâu thuẫn giữa lợi nhuận và rủi ro và khách hàng có thể biết trước được mức rủi ro tối đa (lỗ) có thể phải gánh chịu, đó chỉ là phần phí quyền chọn mà khách hàng trả cho BIDV khi mua hợp đồng quyền chọn.

    Nghiệp vụ quyền chọn đã mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp nhờ việc hạn chế rủi ro tỷ giá, nhất là đối với một số ngoại tệ có diễn biến phức tạp và có mức độ biến động lớn. Với các nghiệp vụ đang thực hiện, BIDV là ngân hàng có các hoạt động KDNT mạnh và đầy đủ các nghiệp vụ phục vụ khách hàng.

    Ngoài ra, công tác tư vấn tài chính luôn được chú trọng. Từ cuối năm 2005 khi hoạt động KDNT tại BIDV nói riêng cũng như tại Việt Nam nói chung diễn ra ngày một sôi động, bản tin tư vấn đầu tiên của BIDV đã ra đời cùng với dịch vụ «Tư vấn đầu tư Tài chính – tiền tệ ». Dịch vụ tư vấn tài chính của BIDV chủ yếu hướng tới phục vụ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, những cá nhân có nhu cầu mua bán ngoại tệ giúp họ nắm bắt thông tin và phòng tránh rủi ro tỷ giá, đảm bảo lợi nhuận thông qua các công cụ phòng tránh rủi ro mà BIDV có thể cung cấp như Forward, Swap, Option. Ngoài ra thông tin tư vấn của BIDV giờ đây cũng trở thành nguồn tin tham khảo đáng tin cậy của một số đơn vị thông tin đại chúng khi nghiên cứu về biến động tỷ giá ngoại tệ. Ban Lãnh đạo BIDV vẫn coi trọng duy trì bản tin cũng như không ngừng mở rộng dịch vụ tư vấn tài chính nhờ đó bản tin tư vấn cũng không ngừng được cải tiến cả về nội dung và hình thức với mục đích không gì khác là hướng tới phục vụ tốt nhất cho khách hàng của BIDV. Dịch vụ tư vấn đã góp phần đưa số khách hàng giao dịch với BIDV tăng lên, đồng thời giúp duy trì thế mạnh của BIDV trong hoạt động KDNT và

    57

    thanh toán quốc tế.

    BIDV đã có mối quan hệ quốc tế rộng lớn với các ngân hàng, đại lý ngân hàng trên thế giới, BIDV nhận được hạn mức KDNT khá thuận lợi từ nhiều ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, BIDV đã thiết lập quy trình KDNT và xây dựng hệ thống quản lý hoạt động KDNT bằng công nghệ vào giao dịch và các dịch vụ kèm theo của Reuters, quản lý rủi ro thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các trạng thái ngoại tệ và thực hiện báo cáo kinh doanh hàng ngày.

    Cuối năm 2009 BIDV đã tiến hành các bước chuẩn bị để triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của mình.

    Ngày 7/1/2010, Thomson Reuters đã ra thông báo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam đã lựa chọn và triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử của Thomson Reuters trên nền Internet để tự động hoá các giao dịch Ngoại tệ tức thời giữa Hội sở với hơn 100 chi nhánh của Ngân hàng BIDV trên lãnh thổ Việt nam.

    Hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử – RET được xây dựng trên công nghệ hiện đại tiêu chuẩn quốc tế đã được kiểm chứng, được triển khai và áp dụng cho nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ tại hơn 120 ngân hàng, thể chế tài chính tại 48 quốc gia trên thế giới, sử dụng 15 loại ngôn ngữ khác nhau.

    Với số lượng giao dịch ngoại tệ ngày càng tăng cùng áp lực lợi nhuận, giao dịch điện tử là một lựa chọn ít tốn kém đối với các ngân hàng. BIDV là ngân hàng tiên phong trong việc cải tiến hiệu quả hoạt động của bộ phận kinh doanh vốn và tiền tệ.

    Việc tự động hoá số lượng lớn giao dịch ngoại hối hàng ngày, hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Tự động RET sẽ giúp giải phóng thời gian cho các giao dịch viên ngoại hối tại BIDV, giúp họ tập trung ưu tiên chăm sóc và phục vụ khách hàng, phát triển các sản phẩm mới cũng như giảm thiểu các sai sót và thời gian xử lý giao dịch.

    Hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Tự động – RET cũng hỗ trợ Qui trình xử lý và hạnh toán tự động kết nối với hệ thống thanh toán của ngân hàng để quản lý rủi ro và kiểm soát trạng thái ngoại hối tức thì.

    58

    4.2    Đánh giá về hiệu quả phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    tại BIDV

    Như phân tích tại chương I, NHTM kinh doanh trên thị trường ngoại hối sẽ gặp phải một số rủi ro như Rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng….Trong đó rủi

    ro tỷ giá là rủi ro cơ bản nhất và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng.

    Rủi ro tỷ giá là rủi ro mà giá trị của các công cụ tài chính bị thay đổi xuất phát từ những thay đổi về tỷ giá. Trong năm vừa qua, tỷ giá giữa VND và USD có dao động trong biên độ hẹp. Các khoản cho vay và ứng trước khách hàng của ngân hàng chủ yếu bằng VND, một phần bằng USD.

    Một số tài sản khác của ngân hàng lại bằng các đồng tiền khác ngoài VND và USD (như EUR, JPY…) nhưng số lượng không lớn. Như vậy, sự biến động tỷ giá không gây ra ảnh hưởng bất lợi nhiều cho hoạt động ngân hàng.

    Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động cho hệ thống, BIDV đã chính thức hoàn thành nghiệm thu và đi vào vận hành Chương trình Quản lý giá trị chịu rủi ro ngoại hối (VAR) từ tháng 1/2007.

    Chương trình quản lý giá trị chịu rủi ro ngoại hối tại BIDV tính toán VaR dựa trên các dữ liệu đầu vào lịch sử của từng loại ngoại tệ (chủ yếu là USD, EUR và JPY) theo phương pháp phân tích quá khứ.

    Ban Quản lý rủi ro trong ngân hàng đã đề xuất hạn mức VaR ngoại hối cho 3 đồng tiền chủ yếu trong báo cáo đánh giá rủi ro thị trường ngày 08/1/2007, cụ thể: VaR USD là 2.245 triệu VND, VaR EUR là 1.453 triệu VND và VaR JPY là 148 triệu VND. Tuy nhiên, do chưa được ALCO phê duyệt nên đây là những hạn mức tạm thời để quản lý VaR ngoại hối trong 9 tháng đầu năm.

    Ngày 02/10/2007 hội đồng ALCO đã ra nghị quyết phê duyệt hạn mức VaR áp dụng cho 3tháng cuối năm là: VaR USD 2.800 triệu VND, VaR EUR 1.000 triệu VND và VaR JPY 148 triệu VND. Trạng thái đồng tiền được quản lý trên cơ sở hàng ngày và chiếnlược phòng ngừa rủi ro được ngân hàng sử dụng để đảm bảo rằng trạng thái của các đồng tiền được duy trì trong hạn mức đã thiết lập.

    59

    Giá trị chịu rủi ro ngoại hối của từng đồng tiền trong năm 2007:

    Theo số liệu thống kê giá trị chịu rủi ro hàng ngày đối với từng loại ngoại tệ năm 2007, với trạng thái nắm giữ tại thời điểm nghiên cứu trong điều kiện biến động tỷ giá của 250 ngày trước đó và độ tin cậy 99% thì dự đoán khả năng tổn thất cụ thể như sau:

    Giá trị chịu rủi ro đối với USD

    Cùng với sự biến động của USD trong năm 2007 thì VaR USD cũng có sự biến động tương đối lớn. Mức tổn thất dự tính trong kinh doanh USD năm 2007 cao nhất là 3.342 triệu VND (ngày 1/10/2007), thấp nhất là 18 triệu VND (ngày 28/12/2007), trung bình là 2.153 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro đối với EUR

    Mức độ tổn thất dự tính từ việc kinh doanh EUR của BIDV là tương đối thấp, VaR EUR luôn nhỏ hơn hạn mức VaR đã được phê duyệt. Tổn thất thực tế có thể xảy ra trong kinh doanh EUR tại BIDV trong năm 2007 cao nhất là 762 triệu VND (ngày 21/06/2007), thấp nhất là 8,9 triệu VND (ngày 3/1/2007) bình quân là 161,2 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro đối với JPY

    Trong tháng 3 và tháng 5 có một số thời điểm VaR JPY vượt hạn mức đã đề ra.

    Tuy nhiên, giá trị VaR thực tế của JPY chưa lớn (cao nhất là ngày 14/5: 795 triệu

    VND, trung bình là 60,6 triệu VND).

    Trong năm 2007, thông qua việc tính toán, theo dõi giá trị chịu rủi ro ngoại hối thực tế cho cả giỏ ngoại tệ (EUR, USD, JPY), mức tổn thất cao nhất dự tính cho cả giỏ ngoại tệ là 3.346 triệu VND vào ngày 1/10/2007, thấp nhất là 98,2 triệu VND vào ngày 29/12/2007. Mức tổn thất dự tính bình quân cho cả giỏ ngoại tệ là 2.187 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro ngoại hối của giỏ tiền tệ trong năm 2008,2009:

    Năm 2008 và 2009 tỷ giá trên thị trường có những biến động tương đối mạnh, BIDV đã chủ động xây dựng và giám sát hạn mức VAR ngoại hối nhằm hạn chế tối đa tổn thất trong kinh doanh.

    Hội đồng ALCO phê duyệt giá trị chịu rủi ro ngoại hối (VAR) đối với 3 đồng tiền chủ yếu là USD, EUR và JPY, đồng thời cũng theo dõi VAR cho cả giỏ ngoại tệ gồm 3 loại đồng tiền này.

    Trong năm 2008, thông qua việc tính toán, giá trị chịu rủi ro ngoại hối thực tế cho cả giỏ ngoại tệ (gồm 3 ngoại tệ BIDV nắm giữ nhiều nhất là USD, EUR; JPY) cho

    60

    thấy: Mức tổn thất dự tính (có khả năng xảy ra) trong 1 ngày cho cả giỏ ngoại tệ cao nhất là 18.199 triệu đồng vào ngày 24/10/2008, thấp nhất là 56,8 triệu đồng vào ngày04/04/2008. Mức tổn thất dự tính bình quân trong 1 ngày cho cả giỏ ngoại tệ là 2.912 triệu đồng.

    Về cơ bản, hạn mức VAR đã được BIDV tuân thủ, một số ngày vượt hạn mức do sự biến động lớn về tỷ giá ngoại hối trên thị trường tiền tệ và biến động về trạng thái (âm ở mức cao) đều được ALCO phê duyệt.

    Như vậy, đối với rủi ro tỷ giá, BIDV đã có một công cụ chuyên nghiệp và hiệu quả để kiểm soát, hạn chế tối đa được những tổn thất phát sinh do thị trường ngoại hối biến động mạnh

    4.3    Đánh giá về khả năng hỗ trợ của hoạt động KDNT tới một số hoạt động kinh doanh khác tại BIDV

    Hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại.

    Với thế mạnh về công nghệ, BIDV luôn đẩy mạnh hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại, coi đây là một trong những dịch vụ then chốt của ngân hàng.

    Bên cạnh đó, nhờ có nguồn cung ngoại tệ khá lớn từ việc chuyển đổi ngoại tệ phục vụ nhu cầu của các Ban quản lý dự án ODA nên trước tình hình thị trường ngoại tệ căng thẳng trong năm 2008-2009, BIDV có lợi thế hơn so với các ngân hàng khác trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Chính vì vậy, thông qua sự hỗ trợ từ hoạt động mua bán ngoại tệ, BIDV không ngừng tăng trưởng về doanh số cũng như thu phí trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại.

    Năm 2007, doanh số chuyển tiền thanh toán trong nước và doanh số chuyển tiền quốc tế đều tăng so với năm 2006; hoạt động tài trợ thương mại cũng có những bước phát triển tích cực với việc ký kết các thoả thuận hợp tác, triển khai nhiều giao dịch tài trợ thương mại với các ngân hàng đại lý, cùng với việc chú trọng cung cấp các dịch vụ cho các định chế tài chính. Tổng doanh số xuất nhập khẩu trong năm đạt 5,15 tỷ USD, tăng trưởng 61% so với năm 2006.

    Thu dịch vụ ròng từ hoạt động thanh toán đến 31/12/2007 đạt 301 tỷ VND, tăng trưởng 40,6% so với năm 2006, chiếm tỷ trọng 48,2% trong tổng thu dịch vụ ròng của khối ngân hàng.

    Năm 2008, Hoạt động chuyển tiền quốc tế: tăng trưởng tương đối tốt cả về doanh số chuyển tiền đi và chuyển tiền đến. Hiện tại BIDV đang thực hiện giao dịch

    61

    chuyển tiền quốc tế thông qua hệ thống Swift, dịch vụ Western Union, thanh toán séc quốc tế, phát hành Bank draft. Các hợp đồng kiều hối được triển khai từ năm 2007 cũng có sự tăng trưởng tốt. Cụ thể:

    –   Chuyển tiền quốc tế đi: đạt 199.143 tỷ đồng, tăng trưởng 200% so với

    năm 2007.

    • Chuyển tiền quốc tế đến: đạt 186.975 tỷ đồng, tăng trưởng 156% so với

    năm 2007.

    • Dịch vụ chuyển tiền ngan tỷ đồng (quy đổi), tăng trưởng 87% so với năm 2008.Trong đo, riêng dịch vụ Western Union: Giao dịch nhận tiền tăng trưởng 59% về doanh số và 48% về thu phí dịch vụ. Giao dịch gửi tiền tăng 110% về doanh số, 116% về phí thu dịch vụ.
    • Dịch vụ kiều hối khác: Bên cạnh các giao dịch kiều hối vãng lai, BIDV đã triển khai dịch vụ kiếu hối thông qua các hợp đồng với các đối tác như Metrobank (Đài Loan), Korean Exchange Bank, VID Public Bank, Hanabank.
    • Dịch vụ séc quốc tế và Bankdraft: Doanh số thanh toán séc năm 2008 đạt 17.892 tỷ đồng. Hoạt động mua séc du lịch có dấu hiệu giảm sút (-10,8) do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế dẫn tới sự giảm lượng khách du lịch đến Việt Nam.

    Năm 2009, doanh số chuyển tiền quốc tế tiếp tục tăng trưởng mạnh đạt gần 450 ngan tỷ đồng (quy đổi), tăng trưởng 87% so với năm 2008.Trong đo, riêng dịch vụ Western Union co doanh số chuyển tiền đạt 70 triệu USD, tăng trưởng 13% so với năm 2008.

    Đối với hoạt động tài trợ thương mại: doanh số tài trợ xuất khẩu đạt khoảng 1.200 triệu USD, doanh số tai trợ nhập khẩu đạt khoảng 5.100 triệu USD. Thu ròng từ hoạt động nay đạt hơn 230 tỷ đồng, tăng trưởng 51% so với năm 2008.

    Hoạt động tín dụng

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ không chỉ hỗ trợ hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại mà còn hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động tín dụng tại BIDV. Đối với các khách hàng vay vốn tại BIDV, BIDV nghiên cứu, triển khai các sản phẩm hoán đổi tiền tệ chéo, hoán đổi lãi suất phù hợp với nhu cầu riêng của từng khách hàng giúp khách hàng phòng ngừa rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất vay vốn.

    Ví dụ về một trường hợp cụ thể:

    62

    Khách hàng là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có khoản vay bằng đồng tiền VND nhưng lại có nguồn thu ngoại tệ (USD) trong tương lai (giả sử sau 3 tháng). Lãi suất vay vốn VND hiện tại là 17%/năm, lãi suất vay vốn USD là 6%/năm.

    Phương án dành cho khách hàng như sau:

    Tiền gốc USD                                                       Tiền gốc USD

    CN trả lãi suất

      USD     KH trả lãi suất    
             
    BIDV H.O Chi nhánh   USD   Khách hàng
         
               
      CN nhận lãi suất   KH nhận lãi suất VND
      VND          
      Tiền gốc VND     Tiền gốc VND  

    Như vậy trong trường hợp này, khách hàng sẽ ký với một chi nhánh của BIDV một hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo theo sơ đồ trên, đồng thời ký một hợp đồng mua bán ngoại tệ để bán lại USD cho chi nhánh BID (tỷ giá bằng tỷ giá thực hiện hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo) sau khi thực hiện trao đổi số tiền gốc của hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo. Theo đó, khách hàng sẽ được nhận lại số tiền VND để thực hiện các mục đích vay vốn như trong hợp đồng tín dụng. Đồng thời, sau 3 tháng khi có nguồn thu bằng USD, khách hàng và chi nhánh BIDV thực hiện tất toán hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo.

    Khi khách hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền USD và VND với chi nhánh BIDV khách hàng sẽ được nhận lãi suất VND cố định là 17%/năm và trả lãi suất USD cố định là 6%/năm. Luồng tiền gốc, tiền lãi của giao dịch hoán đổi sẽ được thiết kế phù hợp với luồng tiền của Hợp đồng tín dụng tương ứng.

    Như vậy, lợi ích của khách hàng thu được là nhờ ký hợp đồng hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền nên khách hàng vẫn có vốn VND thực hiện mục đích chi tiêu trong nước nhưng chỉ phải trả lãi suất USD thấp hơn nhiều so với lãi suất vay VND, nhờ đó khách hàng có thể giảm được chi phí vốn.

    63

    Qua phân tích, chúng ta có thể thấy, giai đoạn 2006-2009, hoạt động KDNT của BIDV đã đạt được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên hiệu quả KDNT vẫn chưa đạt được những mục tiêu đề ra. Sau đây, chúng ta phân tích các hạn chế để tìm ra nguyên nhân dẫn đến hoạt động KDNT chưa đạt được hiệu quả cao.

    4.4    Một số chỉ tiêu chưa hiệu quả trong hoạt động KDNT tại BIDV và nguyên

    nhân

    4.4.1    Về cơ cấu doanh thu trong hoạt động KDNT tại BIDV

    Trước hết chúng ta sẽ xem xét cơ cấu doanh số MBNT chia theo thị trường qua các năm:

    Bảng 2.7 Cơ cấu doanh thu KDNT tại BIDV

      Chỉ tiêu   Năm   Năm   Năm   Năm   9 T năm  
                             
          2006   2007   2008   2009   2010  
                             
                             
      Tỷ lệ doanh số MBNT   81%   77%   64%   69%   65%  
      với khách hàng            
                           
                             
      Tỷ lệ doanh số MBNT   19%   23%   36%   31%   35%  
      trên TTLNH            
                           
                   
          (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)

    Qua bảng trên, chúng ta thấy, doanh số giao dịch trên TTLNH của BIDV thấp hơn nhiều so với doanh số giao dịch với khách hàng (trong khi trên thế giới, mức doanh số bình quân các NHTM giao dịch trên TTLNH là trên 85%). Điều đó có nghĩa là hoạt động MBNT của BIDV chủ yếu là “ tự cung tự cấp”, số ngoại tệ mua được của khách hàng trước hết để bán lại cho khách hàng của BIDV.

    Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên là do trong những thời điểm thị trường ngoại tệ căng thẳng, rất khó có thể mua được ngoại tệ trên TTLNH để phục vụ nhu cầu thanh toán XNK của khách hàng. Chính vì thế, không chỉ BIDV mà hầu hết các Ngân hàng thương mại đều có xu hướng tích trữ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng của mình.

    Thứ hai, chúng ta xem xét cơ cấu doanh số MBNT của BIDV chia theo nghiệp

    vụ:

    Bảng 2.8 Tỷ trọng doanh thu MBNT chia theo nghiệp vụ

     

    64

      Chỉ tiêu   Năm   Năm   Năm   Năm   9Tnăm  
          2006   2007   2008   2009   2010  
      Tỷ  lệ  doanh  số MBNT 95%   87%   73%   79%   78%  
      giao ngay            
                           
                             
      Tỷ  lệ  doanh  số MBNT 5%   13%   27%   21%   22%  
      phái sinh            
                           
                   
          (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)

    Qua bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 2006-2010, BIDV đã có bước thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động KDNT, trọng doanh số MBNT phái sinh đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên vẫn còn rất thấp so với doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay.

    Một số nguyên nhân có thể kể đến đó là:

    • Thứ nhất từ phía khách hàng:

    Nhằm tránh rủi ro tỷ giá, việc cần làm của các doanh nghiệp là tự bảo vệ mình bằng công cụ bảo hiểm tỷ giá (trong đó Option vốn được coi là chìa khóa vàng của các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia) nhưng tại Việt Nam các doanh nghiệp lại ít sử dụng các nghiệp vụ phái sinh này mặc dù các nghiệp vụ này ra đời đã lâu.

    Sự tăng hay giảm tỷ giá ngoại tệ đều ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Trong thời gian qua, giá trị USD trên thị trường thế giới liên tục giảm, làm cho các ngoại tệ mạnh khác như Euro, Bảng Anh, Yên Nhật… tăng giá. Điều này làm cho những doanh nghiệp mua vật tư, thiết bị trả chậm bằng các ngoại tệ mạnh khác ngoài USD bị thiệt hại. Muốn giảm thiểu rủi ro tỷ giá, chỉ có thực hiện các nghiệp vụ phái sinh. Thế nhưng hầu hết Khách hàng tìm hiểu chứ không mua.

    Đối với nghiệp vụ Swap:

    Các khách hàng vẫn thích vay USD hơn sau đó bán lại cho ngân hàng USD

    đó khi thu được ngoại tệ từ xuất khẩu để trả nợ ngân hàng. Với đặc điểm này thì

    nghiệp vụ Swap với khách hàng tại BIDV đạt được chưa cao.

    Đối với nghiệp vụ option:

    Để có quyền chọn ngoại tệ, doanh nghiệp phải trả một mức phí nhất định. Mức phí này phụ thuộc vào từng thời kỳ, xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ, thời gian thực hiện hợp đồng. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường không muốn bị mất

    65

    phí trong các giao dịch ngay khi ký hợp đồng nên khách hàng thường đắn đo trước khi thực hiện giao dịch.

    Mặt khác, kỳ hạn của hợp đồng option theo quy định còn hạn chế, ngắn hơn nhiều so với thời hạn doanh nghiệp có nhu cầu.

    Bên cạnh đó, chế độ tài chính chưa quy định hạch toán phí option, do đó doanh nghiệp không biết hạch toán phí option vào đâu.

    Vì những lý do đó nên số lượng khách hàng đến mua quyền chọn ngoại tệ tại BIDV còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của nghiệp vụ này.

    • Thứ hai, về phía BIDV:

    Trong hoạt động KDNT, BIDV chưa mạnh trong phân tích biến động tỷ giá. Không chỉ các khách hàng của BIDV (các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu) mà cả chính BIDV thường chú ý nhiều đến việc mua bán ngoại tệ vì mục đích thanh toán mà quên đi yếu tố bảo hiểm tỷ giá nên hầu như các nghiệp vụ KDNT chủ yếu đóng vai trò trung gian giao dịch hơn là những nhà tạo lập thị trường. Đó cũng là lý do tại sao BIDV không mạnh về hoạt động đầu cơ mà chủ yếu là kinh doanh cho khách hàng.

    Về mạng lưới chi nhánh của BIDV, hiện tại, mạng lưới giao dịch của BIDV gồm Hội sở, hơn 120 chi nhánh/phòng giao dịch. Các chi nhánh thực hiện mua bán ngoại tệ chủ yếu là nghiệp vụ Spot để phục vụ khách hàng khi có yêu cầu hoặc mua bán với Hội sở. Bên cạnh đó, các chi nhánh chưa được trang bị thiết bị và cán bộ đủ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ KDNT (một số chi nhánh nhân viên giao dịch ngoại tệ kiêm kế toán viên, một số chi nhánh mới thành lập chưa có bộ phận KDNT).

    • Thứ ba, về các quy định của NHNN:

    Mặc dù NHNN cho phép các NHTM được phép cộng/trừ biên độ tỷ giá USD/VND khi giao dịch với khách hàng là 3% so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng nhưng tỷ giá này vẫn chưa tỏ ra hoàn toàn hợp lý đối với các NHTM. Lý do là hiện nay, NHNN công bố tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng trong suốt một thời gian dài không thay đổi. Khi thị trường ngoại tệ căng thẳng, các NHTM cũng liên tục niêm yết tỷ giá ở mức kịch trần và trong suốt thời gian đó, giá mua niêm yết bằng hoặc chỉ thấp hơn 2 điểm so với giá bán niêm yết. Trong trường

    66

    hợp này, tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu thị trường và làm hạn chế hoạt động KDNT của các NHTM. Thị trường hối đoái là thị trường có tính chất động, luôn thay đổi, giới hạn như vậy tuy có được nới rộng hơn trước nhưng vẫn là tương đối chặt đối với hoạt động KDNT.

    Chính vì hoạt động KDNT của các ngân hàng TMCP bị hạn chế do những hạn chế từ phía tỷ giá nên tình trạng mua bán ngầm diễn ra ở mức độ lớn, nhiều doanh nghiệp XNK không thể mua được ngoại tệ ở ngân hàng nên đã phải mua ngoại tệ trên thị trường tự do để đáp ứng nhu cầu thanh toán của mình. Như vậy, một lượng đáng kể ngoại tệ vẫn lưu thông và sử dụng trong thanh thanh toán ngoài tầm kiểm soát của hệ thống ngân hàng nên có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động KDNT của các NHTM.

    Các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động KDNT của NHNN có thay đổi thường xuyên nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường. Vì vậy, đôi khi trở thành rào cản đối với sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và hoạt động KDNT của BIDV nói riêng.

    Các quy định của NHNN về một số nghiệp vụ còn quá chặt chẽ nên ảnh hưởng đến hoạt động KDNT của BIDV và giao dịch của khách hàng với BIDV. Ví dụ hiện nay để thực hiện nghiệp vụ Swap với NHNN, NHTM phải giải trình nhu cầu vốn cho NHNN, tuy nhiên thực hiện Swap với NHNNg thì không cần phải giải trình nhu cầu vốn, điều đó lý giải tại sao nghiệp vụ Swap tại BIDV chủ yếu thực hiện với NHNNg.

    Đối với nghiệp vụ Option, năm 2006, BIDV là một trong số các ngân hàng được NHNN cho phép thí điểm nghiệp vụ option giữa VND và ngoại tệ, theo đó khách hàng của BIDV có thêm một công cụ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Đây là sản phẩm có tính hiệu quả và khả năng áp dụng cao đối với các doanh nghiệp XNK, tuy nhiên, đến năm 2009 NHNN đã ra quyết định số 1820/NHNN-QLNH quy định về việc dừng thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng của các Ngân hàng Thương mại.

    Như vậy, đối với nghiệp vụ Option, các NHTM hiện tại chỉ được thực hiện mua bán option giữa các ngoại tệ, sản phẩm này rất khó áp dụng đối với các doanh nghiệp XNK tại Việt Nam.

    67

    4.4.2     Lợi nhuận trong hoạt động KDNT tại BIDV

    • Cơ cấu lợi nhuận:

    Cũng giống như cơ cấu trong doanh thu mua bán ngoại tệ, lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV chủ yếu từ hoạt động KDNT giao ngay (lãi từ chênh lệch tỷ giá mua vào và bán ra), phí thu được từ các giao dịch MBNT phái sinh còn rất hạn chế, cụ thể như sau:

    Bảng 2.9 Cơ cấu thu nhập KDNT chia theo nghiệp vụ

      Chỉ tiêu     Năm     Năm     Năm     Năm     9 tháng  
                           
            2006     2007     2008     2009     năm 2010  
                                       
      Tỷ lệ lợi nhuận MBNT   93%   92.1%   69.9%   89.2%   87%  
      giao ngay                                
                             
      Tỷ lệ lợi nhuận MBNT   7%   7.9%   30.1%   10.8%   13%  
      phái sinh                                
                       
            (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)  

    Nguyên nhân có sự chênh lệch trên cũng xuất phát từ những hạn chế từ phía khách hàng, ngân hàng và những quy định của NHNN như đã trình bày tại mục 3.2.1.

    • Về thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập của BIDV

    Trong năm 2009, cùng với việc mở rộng mạng lưới , các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa , đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận , họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa vớ i các ngân hàng cổ phần.

    Năm 2009, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) TPHCM, các ngân hàng nước ngoài có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với

    năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008). Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉcó 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

    Các ngân hàng cổ phần liên tục nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm 2009 tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần tăng lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng . Còn các ngân hàng nước ngoài dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay . Kết quả là

    68

    tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm – 0,66%. Vậy điều gìđã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài ? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn , trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái p hiếu; thu phíthanh toán xuất nhập khẩu và các phíkhác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại . Ở một số ngân hàng nước ngoài khác , lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

    Đối với BIDV, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập giai đoạn 2006-2010 đạt mức trung bình là 20,4%/năm, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các ngân hàng nước ngoài và mục tiêu đặt ra của BIDV (30%).

    Như vậy, trong giai đoạn 2006-2010, BIDV đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ trong hoạt động KDNT về cả doanh thu và lợi nhuận nhờ áp dụng công nghệ hiện đại và có các biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hoạt động KDNT của BIDV vẫn còn hạn chế và gặp khó khăn. Đây chính là cơ sở để tác giả đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV trong chương III.

    69

    CHƢƠNG III

    GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

    PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

    Chương II chúng ta đã phân tích thực trạng hoạt động KDNT tại BIDV, phân tích đánh giá hiệu quả KDNT của BIDV qua một số chỉ tiêu để thấy được những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này. Sau đây, để tài sẽ xem xét các mục tiêu, phương hướng cho hoạt động KDNT của BIDV trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV như sau:

    I.                   MỤC TIÊU VÀ PHƢƠNG HƢỚNG CHO HOẠT ĐỘNG KDNT TẠI

    BIDV TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào yêu cầu của thị trường, sự phát triển của nghiệp vụ KDNT và điều kiện cụ thể của BIDV mà đề ra mục tiêu và phương hướng phát triển nghiệp vụ KDNT trong thời gian tới như sau:

    • Nâng cao năng lực hoạt động KDNT và khả năng cạnh tranh trên thị trường hối đoái quốc tế.
    • Đảm bảo đủ nguồn ngoại tệ phục vụ nhu cầu của khách hàng đến giao dịch với BIDV.
    • Nâng cao hơn nữa doanh số mua bán ngoại tệ, lợi nhuận hoạt động KDNT, tăng tỷ trọng thu về hoạt động KDNT trên tổng thu nhập của BIDV, sao cho tỷ trọng này đạt từ 35-40%.
    • Thúc đẩy mạnh các nghiệp vụ KDNT phái sinh, khi có điều kiện thì triển khai, áp dụng các nghiệp vụ mới như Future, option bên cạnh việc duy trì và phát triển nghiệp vụ KDNT truyền thống.
    • Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế à tranh thủ sự giúp đỡ của NHNNg qua đó mở rộng phạm vi giao dịch trên thị trường ngoại hối quốc tế.
    • Phát triển hơn nữa công tác quản trị rủi ro trong hoạt động KDNT

    II.               ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KDNT TẠI BIDV

    Trên cơ sở phân tích thực trạng hoa động KDNT tại BIDV, trong đó xác định các nguyên nhân tác động đến hiệu quả hoạt động KDNT và dựa vào các mục tiêu, phương hướng phát triển nghiệp vụ KDNT, để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT, xin đề xuất một số giải pháp sau:

    70

    1.     Hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

    Đa dạng hoá các nghiệp vụ KDNT sẽ giúp BIDV mở rộng quy mô kinh doanh, tạo sự tăng trưởng cả về lượng và chất trong hoạt động KDNT, đồng thời hỗ trợ các nghiệp vụ khác, góp phần vào sự phát triển chung của BIDV.

    Không chỉ riêng các NHTM mà các doanh nghiệp cũng còn rất bỡ ngỡ bởi chưa được sử dụng rộng rãi, tập quán trong giao dịch của các doanh nghiệp với các NHTM vẫn còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

    Vì vậy, các BIDV cần kết hợp triển khai các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ và từng bước tư vấn cho các doanh nghiệp nếu cần thiết để giúp họ bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong giao dịch và cũng tạo niềm tin cũng như phát triển các công cụ phái sinh tiền tệ trong hệ thống NHTM tại Việt Nam.

    Qua phân tích thực trạng hoạt động KDNT tại BIDV, ta thấy nhìn chung tại BIDV các nghiệp vụ Spot, Forward, Swap và nghiệp vụ Option thường được thực hiện

    • Hội sở. Đối với các chi nhánh trong hệ thống BIDV chưa thực hiện nhiều nghiệp vụ KDNT phái sinh, chủ yếu vẫn là mua bán giao ngay phục vụ nhu cầu của khách hàng, ngoại trừ một số chi nhánh lớn như Sở giao dịch I, II, III.

    Để thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT thông qua giải pháp đa dạng hóa và hoàn thiện các nghiệp vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, BIDV cần thực hiện tốt các công việc sau:

    1.1    Tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tăng cường marketing khách hàng sử dụng các

    nghiệp vụ KDNT phái sinh

    Như chúng ta đã thấy, mặc dù BIDV đã triển khai các nghiệp vụ KDNT phái sinh từ nhiều năm nay, tuy nhiên doanh số cũng như thu nhập từ các sản phẩm này còn rất khiêm tốn so với tiềm năng thị trường ngoại tệ của Việt Nam. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tăng cường marketing khách hàng sử dụng các nghiệp vụ KDNT phái sinh là việc làm cần thiết và cần được tiến hành ngay, đồng bộ.

    Tại BIDV, rất ít DN xuất nhập khẩu chủ động tìm hiểu, nghiên cứu những dịch vụ, sản phẩm mới để xem xét nên sử dụng dịch vụ nào và vận dụng như thế nào cho nhu cầu mới phát sinh của mình. Vì vậy, khi triển khai đưa ra thị trường sản phẩm KDNT mới, ngoài việc chuẩn bị đầy đủ về vật chất, kỹ thuật và nhân lực, BIDV cần

    71

    tuyên truyền, quảng cáo và tổ chức các hội thảo với khách hàng để giới thiệu nghiệp vụ mới và các tiện ích kèm theo. Những buổi hội thảo sẽ đóng vai trò xúc tiến bước đầu để khách hàng biết được BIDV và khách hàng cần làm gì để phối hợp với nhau trong việc thực hiện nghiệp vụ đó cũng như giảm thiểu những rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải. Cũng qua buổi hội thảo khách hàng có dịp trình bày những vướng mắc haynhu cầu mới của mình phát sinh trong quá trình giao dịch với BIDV, qua đó BIDV nắm bắt được những nhu cầu của khách hàng và có giải pháp hỗ trợ cụ thể.

    Tuy nhiên, các buổi hội thảo bị hạn chế nhiều ở khâu tổ chức và thời gian tiến hành. Để đảm bảo kế hoạch được thực hiện tốt và có hiệu quả, bộ phận KDNT cần phối hợp với bộ phận Marketing. Tiếp thị và chăm sóc khách hàng được xem là khâu trọng yếu nhất trong công tác Marketing. Một, hai ngày hội thảo nghiệp vụ KDNT mới chỉ tạo cho khách hàng khái niệm ban đầu về sản phẩm mới, còn việc thực hiện các nghiệp vụ như thế nào, chi tiết ra sao phải thông qua khâu tư vấn và tiếp thị. Tiếp thị giúp khách hàng cập nhật thông tin mới nhất về sản phẩm, xu hướng thị trường và cách thực hiện nghiệp vụ mới … cũng như nắm bắt kịp thời nhu cầu, nguyện vọng hay vướng mắc của khách hàng.

    Trong tình hình tỷ giá hối đoái ngoại tệ biến động như hiện nay, rủi ro trong giao dịch bằng đồng ngoại tệ có chiều hướng tăng đặc biệt trong những hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    Vì vậy vai trò của các NHTM nói chung và BIDV nói riêng là rất quan trọng trong việc kết hợp triển khai các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ và từng bước tư vấn, hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong việc đầu tư của mình.

    Xét về mặt khách quan thì về phía ngân hàng có lợi, mặt khác lại bảo vệ được rủi ro cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Tuy nhiên, trong thị trường giao dịch hiện nay, việc ứng dụng các công cụ phái sinh vẫn còn rất mới, chưa được sử dụng rộng rãi bởi tập quán trong giao dịch của các doanh nghiệp với các NHTM vẫn còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

    Hiểu được, ứng dụng được các công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các NHTM thì việc mang những dịch vụ này đến các doanh nghiệp cần một chặng đường khá dài trong việc tiếp cận các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến

    72

    giao dịch ngoại hối, các NHTM cần tổ chức những buổi hội thảo để giới thiệu và tư vấn loại hình dịch vụ mới này nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho các doanh nghiệp hiểu biết và quen dần về các công cụ phái sinh ngoại hối.

    Cũng như đối với các doanh nghiệp, những quyền lợi và tính ưu việt trong việc lựa chọn các loại hình giao dịch hối đoái trong giao dịch kinh doanh và sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn về tỷ giá mong muốn sẽ thu hút được sự quan tâm từ các doanh nghiệp hơn.

    Mặt khác, BIDV cũng cần có chính sách đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh ngoại hối nói riêng, vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng.

    Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ quốc tế, kỹ năng phân tích kỹ thuật nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất.

    Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho các doanh nghiệp hiểu biết hơn về thị trường ngoại hối, cán bộ giao dịch phải có khả năng vận dụng linh hoạt các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá đối với danh mục đầu tư bằng ngoại tệ của bản thân ngân hàng. Ngoài ra họ còn phải có khả năng phát triển (hay bán) các sản phẩm phái sinh tới các doanh nghiệp có hoạt động thương mại quốc tế.

    Bên cạnh điều kiện về trình độ cán bộ thì vấn đề công nghệ ngân hàng cũng là điều kiện cần thiết để ứng dụng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. Vì các công cụ phái sinh nói chung và công cụ phái sinh ngoại hối nói riêng được xây dựng trên cơ sở sử dụng các thuật toán phức tạp để dự đoán về các khả năng biến động của tỷ giá hối đoái trong tương lai.

    1.2    Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các nghiệp vụ KDNT mới

    Hiện nay, đối với hoạt động KDNT, BIDV mới thực hiện 4 nghiệp vụ là Spot, Forward, Swap, Option. Nghiệp vụ Future đã triển khai nhưng mới thực hiện đối với

    73

    mặt hàng café. Do đó, BIDV phải luôn nghiên cứu và tìm hiểu các nghiệp vụ mới, đưa ra quy trình triển khai cụ thể để khi có nhu cầu thì triển khai thực hiện hiệu quả.

    Riêng nghiệp vụ Future, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế phát triển như hiện nay thì nghiệp vụ Future có thể được áp dụng trong thời gian tới. Do đó, BIDV phải chuẩn bị nhân lực đủ trình độ, kỹ năng và điều kiện cần thiết để triển khai các nghiệp vụ này khi NHNN cho phép.

    Ngoài ra, nghiên cứu và phát triển dịch vụ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận công nghệ mới, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế., mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc tế để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về tài chính và kỹ thuật để hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.

    BIDV cũng cần nhận thức được rằng thách thức trong quá trình hội nhập là rất lớn và ngày càng phức tạp nhưng nếu đẩy nhanh việc ứng dụng các công cụ phái sinh tiền tệ sẽ giúp ngành ngân hàng phòng ngừa rủi ro về tỷ giá và tận dụng được cơ hội để phát triển, qua đó nâng cao vị thế, sức cạnh tranh của ngân hàng và của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Như vậy, lợi ích nổi bật của các công cụ phái sinh là phòng ngừa hiệu quả các rủi ro về tỷ giá cũng như lãi suất cho các NHTM, ngoài ra những công cụ tài chính hiện đại này còn giúp doanh nghiệp cân đối luồng tiền, cơ cấu lại tài sản nợ và giảm bớt các chi phí trên cơ sở nhận định đúng diễn biến thị trường.

    Bên cạnh đó, với tính đa dạng vốn có, chúng cũng có thể được ứng dụng phù hợp với nhu cầu và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, việc sử dụng và phát triển các sản phẩm mới này trên thị trường vẫn còn nhiều hạn chế cả về phía các doanh nghiệp và NHTM, thể hiện ở doanh số giao dịch rất thấp.

    Vì vậy, Lãnh đạo ngành Ngân hàng cần tìm hiểu những điều kiện cần và đủ để xây dựng phát triển một thị trường công cụ phái sinh, áp dụng và phương hướng phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối ở Việt Nam trong thời gian tới và phát huy những ưu điểm để ứng dụng các công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá một cách an toàn, hiệu quả.

    74

    • Cung cấp miễn phí các dịch vụ kèm theo trong hoạt động KDNT

    Ngân hàng có thể cung cấp một số các dịch vụ kèm theo như tư vấn tài chính – tiền tệ, tỷ giá, phương thức thanh toán, áp dụng chính sách tỷ giá, phí mang tính cạnh tranh cao.

    Đối với nghiệp vụ Swap: Hiện nay, BIDV chủ yếu thực hiện nghiệp vụ Swap với NHNNg để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, riêng các doanh nghiệp vẫn có xu hướng thích vay USD sau đó doanh nghiệp bán lại USD cho chính ngân hàng khi có nguồn thu USD từ xuất khẩu. Đây là đặc điểm BIDV cần có giải pháp để khuyến khích khách hàng thực hiện Swap với BIDV thông qua công tác tư vấn cho khách hàng, chính sách ưu đãi về tỷ giá.

    Trong quá trình thực hiện giao dịch, có thể phát sinh những nhu cầu mà do hạn chế, một nghiệp vụ KDNT không thể đáp ứng được, khi đó cần phải kết hợp các nghiệp vụ khác nhằm đưa đến cho khách hàng những lựa chọn tốt nhất.

    Ví dụ để hạn chế rủi ro tỷ giá, ngay khi ký hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể tiến hành ký hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn với BIDV. Thực tế có nhiều tình huống xảy ra, trường hợp ký hợp đồng bán USD lấy VND kỳ hạn 3 tháng nhưng sau 2 tháng DN đã thu được ngoại tệ do giao hàng sớm và doanh nghiệp cần tiền đồng để trả lương cho người lao động. Khi đó DN có thể thực hiện nghiệp vụ Swap 1 tháng với BIDV với hình thức bán USD giao ngay cho BIDV và mua lại USD này kỳ hạn 1 tháng. Như vậy, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, BIDV cần thực hiện 2 nghiệp vụ là Forward và Swap.

    Bên cạnh đó, vấn đề lựa chọn tỷ giá để thanh toán cần sự tư vấn của BIDV do Doanh nghiệp không thể tự nắm được xu hướng biến động của mỗi loại tỷ giá vì doanh nghiệp không chuyên về KDNT và không đủ phương tiện, thông tin cần thiết. BIDV cần xác định vai trò then chốt và không thể thiếu công tác tư vấn cho khách hàng nhằm giúp khách hàng nắm vững phương thức thực hiện, xu hướng biến động tỷ giá … sao cho tất cả những thông tin này trở thành yếu tố hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương. Mục đích cuối cùng của giải pháp này là làm cho khách hàng cảm thấy không thể thiếu những thông tin tư vấn hữu ích từ BIDV trong hoạt động kinh doanh của mình, qua đó khách hàng sẽ ngày càng gắn bó hơn với ngân hàng.

    75

    2.     Mở rộng hoạt động KDNT trên thị trƣờng liên ngân hàng và thị trƣờng quốc tế

    Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ quốc tế, BIDV mới chỉ thực hiện các giao dịch ngoại tệ khi có nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá hoặc khi có nhu cầu thực hiện đối ứng khi mua hoặc bán ngoại tệ cho khách hàng mà ít có nghiệp vụ kinh doanh thực sự.

    Trong hoạt động KDNT, BIDV cần triển khai mở rộng hoạt động này trên thị trường liên ngân hàng và thị trường quốc tế. Đây là thị trường có tiềm năng rất lớn không chỉ về khối lượng giao dịch và còn về sự đa dạng trong sản phẩm.

    Tuy nhiên, việc tham gia vào thị trường này còn phụ thuộc vào cơ chế, quy định của NHNN và năng lực của BIDV.

    Tham gia trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường quốc tế có một số đặc điểm:

    • Sự biến động tỷ giá nhanh.
    • Doanh số giao dịch lớn.
    • Đối tác trên thị trường là các ngân hàng đủ điều kiện, có uy tín.
    • Các loại hình nghiệp vụ phong phú, đa dạng.

    Với các đặc điểm đó, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường quốc tế là nơi mà BIDV đầu tư kiếm lời trên sự biến động tỷ giá. BIDV cần hiện đại hoá công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị chuyên dùng, bên cạnh đó cần tiến hành thu thập, phân tích và đưa ra dự báo để có những quyết định chính xác thì mới biến những cơ hội biến động tỷ giá thành lời.

    Đối với hoạt động KDNT với ngân hàng nước ngoài: Cần tăng cường nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt thông tin về tình hình tài chính tiền tệ thế giới, xu thế mới về thị trường hối đoái quốc tế để đưa ra các quyết định phù hợp.

    Để thực hiện giải pháp này cần tiến hành làm các công việc như sau:

    • Thông qua quan hệ với các Ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế để tranh thủ được kinh nghiệm quản lý, kỹ năng giao dịch

    NHNNg là nơi BIDV có thể thực hiện các giao dịch phòng tránh rủi ro tỷ giá, VD nghiệp vụ Option, khi BIDV ký hợp đồng với khách hàng thì đồng thời sẽ ký hợp

    76

    đồng với NHNNg nhưng với chiều ngược lại để tránh rủi ro tỷ giá (thay vì tự chịu rủi ro tỷ giá nếu không giao dịch với NHNNg).

    Đây là cầu nối để BIDV vươn hoạt động KDNT ra thị trường hối đoái quốc tế, vừa là người ủy thác, đại lý, vừa là người nhận ủy thác của các NHNNg.

    Do BIDV có mạng lưới các ngân hàng đại lý rộng khắp thế giới nên BIDV sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về dịch vụ ngân hàng trên phạm vi toàn cầu. BIDV phải có chiến lược mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường quốc tế với nhiều hình thức.

    • Triển khai các nghiệp vụ KDNT cho các chi nhánh BIDV

    Phòng Kinh doanh Ngoại tệ tại các chi nhánh cần được bổ sung nhân sự bộ phận KDNT cho chi nhánh. Phòng Kinh doanh Ngoại tệ phải được trang bị cơ sở vật chất thỏa mãn một số yêu cầu về cung cấp thông tin lãi suất, tỷ giá …,có các máy tính giao dịch nối mạng, lắp đặt phần mềm tính toán thống kê, dự báo tỷ giá các giao dịch, hệ thống thiết bị thông tin cần thiết khác như điện thoại, fax, telex, … để có thể liên lạc trực tiếp với các ngân hàng trong cùng hệ thống.

    Mở rộng mạng lưới chi nhánh là yếu tố rất quan trọng đối với mọi hoạt động KDNT. Nhờ có mạng lưới rộng khắp, các chi nhánh sẽ cung cấp sản phẩm, dịch vụ của BIDV cho khách hàng một cách thuận lợi nhất để thu hút nguồn ngoại tệ vào BIDV.

    3.     Tăng cƣờng công tác quản trị trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Quản trị hoạt động KDNT có vai trò quan trọng nhằm sắp xếp một cách khoa học giữa các bộ phận, công việc trong ngân hàng, đồng thời là sự phối hợp, giúp đỡ và kiểm tra giữa các bộ phận nhằm tăng hiệu quả công việc và hạn chế rủi ro nghiệp vụ. Việc tăng cường công tác quản trị hoạt động KDNT được thực hiện qua các giải pháp:

    • Xây dựng quy chế phối hợp giữa các Phòng/Ban liên quan đến hoạt động KDNT nhằm phục vụ nhanh chóng, hiệu quả các giao dịch với khách hàng đồngthời nắm bắt kịp thời nhu cầu cũng như phản ánh từ phía khách hàng.

    Thực tế hoạt động KDNT có liên quan đến nhiều Phòng/Ban như Trung tâm thanh toán, Ban tác nghiệp và tài trợ thương mại, Ban Tín dụng, Ban Kế toán, Phòng Ngân quỹ…

    77

    • Xây dựng hệ thống thu nhập, xử lý thông tin có hiệu quả, kịp thời để phục vụ cho việc ra quyết định có độ chính xác cao.
    • Xây dựng chế độ khen thưởng hợp lý và kịp thời đối với giao dịch viên nhằm khuyến khích tinh thần làm việc và gắn bó trách nhiệm của họ với công việc.

    KDNT trên thị trường quốc tế diễn ra 24/24h hàng ngày, giá cả biến động liên tục và rất phức tạp cho nên cần khuyến khích giao dịch viên sao cho họ quan tâm tới hiệu quả công việc, bám sát thị trường.

    • Quy định cụ thể, rõ ràng về quy trình giao dịch, về phương tiện và cách thức sử dụng các phương tiện trong giao dịch ngoại tệ.
    • Thiết lập chế độ kiểm tra chéo giữa bộ phận Back-office và Front-office. Đảm bảo việc hạch toán chính xác các giao dịch đã thực hiện, giúp Ban Lãnh đạo nắm bắt và có hướng xử lý các giao dịch bất thường

    4.     Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho hoạt động KDNT

    Nguồn nhân lực được xác định là khâu then chốt, quyết định sự thành công của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu con người có những quyết định đúng đắn, phù hợp với từng hoàn cảnh thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

    KDNT là một lĩnh vực đòi hỏi phải có nguồn nhân lực trình độ cao. Giao dịch viên phải có khả năng phân tích tổng hợp, phản xạ nhạy bén với mọi tình huống và sự kiện xảy ra trên thị trường, đặc biệt là thị trường ngoại hối quốc tế. Với đòi hỏi như trên, BIDV phải đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này, các biện pháp cụ thể cần thực hiện như sau:

    Chú trọng công tác tuyển chọn nhân sự đầu vào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản là:

    • Có khả năng nhận biết, phân tích và đánh giá tình hình kinh tế, chính trị xã hội có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động KDNT như thế nào, từ đó có thể đề xuất các giải pháp cho tình huống cụ thể.
    • Có kiến thức về lĩnh vực tài chính, ngân hàng đặc biệt là vững vàng về hoạt động KDNT.
    • Có trình độ ngoại ngữ tốt đủ khả năng giao dịch với nước ngoài.
    • Chú trọng công tác đào tạo, tự đào tạo và huấn luyện thường xuyên

    78

    nghiệp vụ nhất là đối với nhân viên giao dịch trên thị trường ngoại hối quốc tế. Cách thức làm là mời các chuyên gia hoặc đối tác nước ngoài sang huấn luyện tại chỗ hay cửcán bộ có liên quan trực tiếp tham dự hội thảo do NHNN, NHNNg tổ chức để nắm bắt kịp thời các nghiệp vụ KDNT trên thị trường quốc tế và tích luỹ thêm kinh nghiệm thực tế.

    • Có chính sách thu hút và giữ nhân sự có chuyên môn cao thông qua các chế độ như lương, thưởng, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến trong công việc.

    Hiện tại, công tác tuyển chọn và đào tạo nhân lực cho bộ phận KDNT của Hội sở chính đã được quan tâm tốt, tuy nhiên tại các chi nhánh của BIDV, cán bộ KDNT thường kiêm một số công tác khác và chưa được trang bị đầy đủ kiến thức nghiệp vụ chuyên môn để có thể đảm nhiệm công tác KDNT. Vì vậy, để hoạt động KDNT đạt được hiệu quả cao, không chỉ Hội sở chính, mà các chi nhánh cần phải chú trọng công tác tuyển chọn nhân sự đầu vào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản, có chính sách đào tạo, chính sách thu hút và giữ nhân sự như được nêu trên đây.

    5.     Phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động KDNT tại BIDV

    Như đã trình bày tại chương II, hoạt động KDNT tiềm ẩn rủi ro cao, nhất là kinh doanh trên thị trường ngoại hối quốc tế. Chính vì vậy việc giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động KDNT có ý nghĩa quan trọng. Để giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động KDNT, BIDV cần thực hiện các giải pháp sau:

    Đối với rủi ro tỷ giá:

    Đây là loại rủi ro đặc trưng của hoạt động KDNT. Các rủi ro ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do biến động kinh tế, chính trị của một đất nước. Việc ngân hàng nắm giữ một loại ngoại tệ nào đó quá nhiều sẽ là mạo hiểm khi tỷ giá biến động bất lợi. Do đó, BIDV cần phải tuân thủ nghiêm ngặt công cụ phòng tránh rủi ro tỷ giá là hệ thống hạn mức (Position limits), bao gồm:

    • Hạn mức trạng thái tiền tệ (hạn mức qua đêm và hạn mức giao dịch trong ngày): là giới hạn trạng thái ngoại tệ tối đa mà BIDV được để qua đêm (đối với hạn mức qua đêm) hoặc giao dịch trong ngày nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng khi thị trường biến động quá nhanh khiến nhân viên KDNT không phản ứng kịp. Tùy theo khối lượng giao dịch, tính thanh khoản cao hay thấp, biến động tỷ giá nhiều hay ít, các

    79

    quy định của NHNN và kinh nghiệm, trình độ, mục tiêu kinh doanh, năng lực tài chính của BIDV mà Ban Lãnh đạo thiết lập hạn mức trên.

    • Hạn mức dừng lỗ: Là mức lỗ tối đa cho một giao dịch và mức lỗ tối đa trong ngày, mục đích của hạn mức này là nhằm khống chế mức lỗ của BIDV trong một giới hạn có thể chấp nhận được.

    Trong hoạt động KDNT, rủi ro về tỷ giá có nguyên nhân từ trạng thái ngoại hối. Khi ngoại tệ lên giá thì trạng thái ngoại tệ dương sẽ có lợi, còn trạng thái âm sẽ bị lỗ.

    Trong quá trình mua bán hàng ngày, trạng thái ngoại tệ luôn thay đổi nên BIDV luôn có khả năng gặp rủi ro tỷ giá. Nhưng BIDV cũng cần linh hoạt điều chỉnh trạng thái ngoại tệ vì ở thời điểm cân bằng trạng thái, có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh khi không có ngoại tệ cho nhu cầu đột xuất của khách hàng.

    Việc giảm thiểu rủi ro tỷ giá được thực hiện thông qua quản lý trạng thái ngoại hối và BIDV phải xây dựng một hệ thống kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đối với trạng thái ngoại hối.

    Đối với rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng:

    BIDV, đặc biệt là các chi nhánh của BIDV giao dịch trực tiếp với các khách hàng cần tiến hành phân loại, đánh giá khách hàng theo các mức cụ thể để đưa ra hạn mức giao dịch cho từng khách hàng cho phù hợp.

    BIDV nên áp dụng hạn mức khách hàng như sau:

    Quy định hạn mức cho từng khách hàng tuỳ theo tình hình tài chính của khách hàng đó, bao gồm:

    • Hạn mức thanh toán (quy định số tiền tối đa mà ngân hàng thanh toán cho một khách hàng trong một ngày)
    • Hạn mức kỳ hạn (tổng giá trị các hợp đồng kỳ hạn đang còn hiệu lực không được vượt quá).

    III.            Một số kiến nghị

    Có môi trường kinh doanh thuận lợi cùng với sự nỗ lực của BIDV thì hoạt động

    80

    KDNT sẽ ngày càng mở rộng và hiệu quả. Để có được một môi trường kinh doanh thuận lợi thì phải có những giải pháp và sự phối hợp thực hiện của cơ quan quản lý nhà nước – mà ở đây là NHNN.

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại các ngân hàng nói chung và BIDV nói riêng thì kiến nghị NHNN cần có những thay đổi sau:

    1.     Đối với Ngân hàng nhà nƣớc

    1.1       NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt

    Cơ chế điều hành tỷ giá cần kết hợp với các giải pháp nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân, nhằm hình thành một thị trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ phù hợp với thị trường giao dịch.

    Những quy định về biên độ được phép cộng/trừ thêm vào tỷ giá USD/VND do NHNN công bố (hiện nay là +-3%) đã làm cho các NHTM gặp khó khăn trong việc thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ vì tỷ giá giao dịch thực tế thường vượt quá trần tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng do NHNN quy định. Vì vậy, để hoạt động KDNT của các NHTM được chủ động, NHNN nên nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Có như vậy, các NHTM mới có cơ hội cạnh tranh, cũng như đưa ra mức tỷ giá phù hợp phản ánh cung cầu thị trường trong từng thời điểm, đảm bảo hoạt động KDNT có lãi. Khi thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển mạnh, dự trữ quốc gia đủ mạnh, NHNN nên xoá bỏ quy định giới hạn tỷ giá giao ngay giữa USD/VND NHNN do NHNN công bố.

    Khi đó, NHNN nên cho các NHTM áp dụng cơ chế thoả thuận tỷ giá bởi việc thực hiện cơ chế thoả thuận tỷ giá giúp BIDV linh hoạt hơn khi chào giá cho khách và điều chỉnh kịp thời khi nhu cầu của thị trường thay đổi. Vì vậy, NHNN cần chính thức cho phép áp dụng cơ chế tỷ giá thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong mua bán ngoại tệ mặt, đồng thời tiến tới cho thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ chuyển khoản theo tỷ giá thoả thuận.

    Việc xoá bỏ biên độ và áp dụng cơ chế tỷ giá thoả thuận sẽ giúp các ngân hàng thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ theo sát tỷ giá thị trường hơn.

    Như vậy, NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, kết hợp với các giải pháp nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân, nhằm hình thành một thị

    81

    trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ phù hợp với thị trường giao dịch.

    NHNN cũng cần tăng cường vai trò trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN tổ chức, giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các tổ chức tín dụng là thành viên thị trường.

    Quan trọng hơn, NHNN cần nghiên cứu ban hành những quy tắc cơ bản nhất trong giao dịch phái sinh, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thị trường của Việt Nam hiện nay, để có hành lang pháp lý chung cho hoạt động của các NHTM. Tránh để các NHTM thực hiện nghiệp vụ mới một cách riêng lẻ, dẫn đến tình trạng không thống nhất, dễ gây ra tranh chấp khi có sự cố xảy ra, cũng như hạn chế những rủi ro có thể cho các NHTM và cho cả doanh nghiệp.

    Hoàn thiện quy định về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ

    Theo đánh giá của các chuyên gia tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới, trong các nghiệp vụ phái sinh, đứng cả về phía khách hàng cũng như ngân hàng, nghiệp vụ quyền chọn là có nhiều hấp dẫn hơn cả. Về nghiệp vụ quyền chọn, BIDV cũng gặp một số khó khăn xuất phát từ những quy định của NHNN.

    Trong thời gian qua, BIDV với tư cách là người phát hành các hợp đồng quyền chọn, nguồn thu từ nghiệp vụ này rất ít vì phí quyền chọn phải đóng cho đối

    tác nước ngoài nhận “tái bảo hiểm” các hợp đồng quyền chọn này. BIDV phải ký lại các hợp đồng quyền chọn với đối tác nước ngoài dưới dạng tái bảo hiểm vì hiện nay số lượng ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn chưa nhiều nên BIDV không thể làm trung gian cân đối hay điều hòa rủi ro giữa những người ký hợp đồng quyền chọn với ngân hàng cũng như không có nhiều cơ hội giao dịch, ký kết hoán đổi các hợp đồng quyền chọn với các ngân hàng khác trong nước.

    Tuy nhiên, trên thị trường ngoại hối quốc tế nhất là ở các nước phát triển, nghiệp vụ quyền chọn không những được sử dụng để bảo hiểm rủi ro tỷ giá mà còn là cơ sở để các ngân hàng hình thành nên các chiến lược quyền chọn nhằm mục đích kiếm lời theo những dự đoán riêng của mình về sự biến động của tỷ giá trong tương lai.

    Để có thể sử dụng được chiến lược này, ngoài khả năng của BIDV, cần phải có một thị trường quyền chọn phát triển với đầy đủ các yếu tố của thị trường như tỷ giá

    82

    phải được xác định bởi cung cầu của thị trường, chính sách quản lý ngoại hối phải tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động KDNT và khung pháp luật đảm bảo quyền lợi của nhà kinh doanh.

    Đối với các NHTM tại Việt Nam, việc triển khai và áp dụng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và VND sẽ thu hút khách hàng hơn một số sản phẩm phái sinh khác. Vì vậy, NHNN nên cho các NHTM tiếp tục triển khai sản phẩm này.

    1.2    Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

    Hiện nay, hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn hạn chế như tính linh hoạt chưa cao, các ngân hàng còn hoạt động kinh doanh chủ yếu theo phương thức “tự cấp, tự túc”, thị trường hoạt động theo xu hướng một chiều (mua vào không đủ đáp ứng nhu cầu bán ra), các công cụ đơn điệu, chủ yếu là các giao dịch giao ngay Spot.

    Để đảm bảo cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động có hiệu quả và ngày càng giữ vai trò trung tâm quan trọng của thị trường ngoại hối Việt Nam, trong thời gian tới NHNN cần phải hoàn thiện hơn nữa các vấn đề như sau:

    • NHNN phải thực hiện đúng chức năng là người mua bán cuối cùng trên thị trường. Chính do đặc điểm của thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian qua có giai đoạn các ngân hàng đều đặt lệnh mua ngoại tệ nhưng không được thỏa mãn do đó mất niềm tin vào thị trường. Để có thể khắc phục tình trạng này, NHNN cần phải thỏa mãn các nhu cầu mua/bán ngoại tệ hợp lý của thị trường và kịp thời can thiệp một cách hữu hiệu vào tỷ giá.
    • NHNN phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, các mặt hàng xuất khẩu chiến lược của quốc gia.
    • Thiết lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới, đồng thời hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang bị công nghệ tiên tiến cho hoạt động thanh toán bù trừ của NHNN.
    • Mặt khác, NHNN cần kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường ngoại tệ tự do vì hoạt động của thị trường này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Về lâu dài cần phải có biện pháp, chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ

    83

    liên ngân hàng, tiến tới xoá bỏ thị trường ngoại tệ tự do.

    1.3    Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối

    Nhìn chung cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam đã thông thoáng hơn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện như cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái trong dài hạn, lộ trình và phương thức điều chỉnh tỷ giá… Cơ chế quản lý tỷ giá phải thực hiện được 2 mục tiêu chính: tiến tới lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam;

    Nới lỏng kiểm soát đối với các giao dịch vãng lai để đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi nhằm chống lại hiện tượng Đôla hoá. Trên cơ sở đó, NHNN có thể kiểm soát hiệu quả các luồng chu chuyển ngoại tệ, thu hút ngoại tệ để tăng nguồn dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá và tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia.

    Để phát triển thị trường ngoại hối, tăng khả năng tự bảo hiểm của doanh nghiệp thông qua các công cụ của thị trường, các quy định về quản lý ngoại hối cần phải thỏa mãn các nhu cầu mua/bán ngoại tệ hợp lý của thị trường và kịp thời can

    thiệp một cách hữu hiệu vào tỷ giá.

    NHNN phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả

    nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, các mặt hàng xuất khẩu chiến lược của quốc gia.

    Thiết lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới, đồng thời hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang bị công nghệ tiên tiến cho hoạt động thanh toán bù trừ của NHNN.

    Mặt khác, NHNN cần kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường ngoại tệ tự do vì hoạt động của thị trường này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Về lâu dài cần phải có biện pháp, chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tiến tới xoá bỏ thị trường ngoại tệ tự do.

    Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc triển khai áp dụng vào thực tế một số công cụ ngoại hối bảo hiểm rủi ro như hoán đổi giá cả hàng hoá (Commodity Price

    84

    Swap), mua bán tương lai hàng hoá (Commodity Future), hoán đổi lãi suất (Interest Swap)… tất nhiên điều kiện đảm bảo và phát triển thị trường vẫn là chính sách tỷ giá thích hợp, gắn thị trường và các điều kiện giao dịch thuận lợi.

    1.4      Kiến nghị khác

    NHNN cũng cần ban hành những quy chế hợp lý hơn như việc xác lập tỷ giá hoán đổi, phí hoán đổi tiền tệ hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường.

    Hiện nay NHNN đã cho phép cá nhân, NHTM thực hiện Option ngoại tệ với ngoại tệ mà không cần phải chứng minh mục đích sử dụng vốn, điều này cho thấy NHNN cho phép cá nhân, NHTM được đầu cơ ngoại tệ. Qua thực tế tại Phòng kinh

    doanh Tiền tệ thì nghiệp vụ trên tuy phù hợp với khẩu vị thích rủi ro của nhà đầu tư nhưng chưa được thực hiện nhiều do quy định về số lượng ngoại tệ tối thiểu trong mỗi giao dịch. NHNN cần xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu này để khách hàng có thể thực hiện giao dịch theo nhu cầu.

    2.     Một số kiến nghị với khách hàng

    Việc phân tích và dự đoán biến động tỷ giá ngoại tệ không phải là chuyên môn của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng.

    Do đó, để tránh rủi ro tỷ giá, các doanh nghiệp nên tham khảo ý kiến tư vấn của ngân hàng trước và sau khi ký hợp đồng để chọn những biện pháp phòng tránh rủi ro tỷ giá thích hợp đồng thời tạo thói quen sử dụng các công cụ phái sinh ngoại tệ tron g môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.

    Trong quá trình lựa chọn đối tác, ký hợp đồng, các doanh nghiệp phải lựa chọn đối tác có tiềm năng và có uy tín đồng thời phải tìm hiểu kỹ các phương thức thanh toán, đồng tiền giao dịch để có kế hoạch nguồn vốn cho phù hợp.

    Phải tìm hiểu kỹ các tiện ích ngân hàng dành cho doanh nghiệp, trường hợp không thu xếp kịp các nguồn tiền vào, ra thì có thể sử dụng các nguồn vốn như vay, ký hợp đồng hoán đổi, kỳ hạn … để thanh toán đúng thời gian đã ký kết với đối tác. Việc lựa chọn loại ngoại tệ nào trong thanh toán ngoại thương cũng là vấn đề mà DN cần quan tâm. Các DN xuất nhập khẩu vẫn có thói quen sử dụng đồng USD trong thanh

    85

    toán cho dù đối tác ở bất kỳ đâu trên thế giới, điều này có 2 lý do: một là DN Việt Nam không có quyền quyết định đồng tiền thanh toán; hai là, đối với nhiều nước, đồng USD vẫn có vị thế riêng. Thực tế nhiều DN bỏ qua cơ hội làm tăng lợi nhuận cho mình khi chỉ sử dụng đồng USD trong thanh toán trong khi sử dụng các đồng tiền khác thì DN có thể làm tăng lợi nhuận khi tỷ giá biến động có lợi. Thậm chí có DN phải dừng dự án cũng như gánh thêm các khoản nợ khổng lồ do việc biến động liên tục của đồng USD. Đối với loại ngoại tệ khác (EUR chẳng hạn), việc sử dụng để thanh toán được cho là phương thức thuận lợi, giúp giảm thời gian giao dịch, chi phí giao dịch, chi phí chuyển đổi tiền tệ và không lo xảy ra khan hiếm ngoại tệ như đồng USD và dịp cuối năm, mặc dù nguy cơ biến động tỷ giá này không loại trừ nhưng với tính ổn định của mình, nếu DN cân đối việc sử dụng ngoại tệ chắc chắn sẽ có lợi nhưng dường như điều này chưa được nhiều DN quan tâm.

    Việc lựa chọn bất kỳ loại ngoại tệ mạnh nào để thanh toán có thể thực hiện được do các đồng tiền này có khả năng chuyển đổi cao, giúp DN và đối tác yên tâm chấp nhận thanh toán bằng đồng tiền của chính nước đó.

    Thị trường xuất khẩu Việt Nam ngày càng đa dạng, việc giao dịch bằng ngoại tệ là tất yếu và đòi hỏi DN Việt Nam phải rèn cho mình kỹ năng trong việc vận dụng ngoại tệ một cách cân bằng, kỹ năng phòng tránh rủi ro tỷ giá nhằm giảm thiểu rủi ro tiền tệ và nếu có thể sẽ đưa lại những lợi ích nhất định.

    86

    KẾT LUẬN

    Sau khi nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

    1. Về mặt lý luận hoạt động kinh doanh ngoại tệ liên quan đến các vấn đề về ngoại hối, ngoại tệ, thị trường ngoại hối, tỷ giá, các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối. Trong đó các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chính của ngân hàng thương mại bao gồm: Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn.
    1. Để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của các ngân hàng thương mại có thể dựa trên nhiều tiêu chí. Trong đó có một số tiêu chí cơ bản như doanh thu MBNT, thu

    nhập từ hoạt động KDNT, thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập, rủi ro trong hoạt động KDNT và khả năng hỗ trợ của hoạt động KDNT tới sự phát triển của các hoạt động khác.

    1. Hoạt động KDNT tại BIDV được đánh giá dựa trên số liệu từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2010. Đây là giai đoạn thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển mạnh mẽ và thường xuyên biến động. BIDV đã không ngừng hoàn thiện và phát triển các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu khách hàng, đồng thời liên tục đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động KDNT để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Nhờ đó, trong giai đoạn 2006-2010, hoạt động KDNT đã có những bước tăng trưởng vượt bậc về cả doanh số và thu nhập. BIDV đã được khách hàng ghi nhận những nỗ lực không ngừng của mình với giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (FX) tốt nhất năm” do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney trong 3 năm liên tiếp từ năm 2007 đến năm 2009.

    Tuy nhiên, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hoạt động KDNT của BIDV vẫn còn một số hạn chế và chưa đạt được kết quả như mục tiêu mà BIDV đặt ra: doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng chiếm tỷ trọng cao thể hiện hoạt động KDNT của BIDV vẫn chủ yếu là “tự cung, tự cấp”, hoạt động KDNT trên thị trường liên ngân hàng chưa được chú trọng; KDNT chủ yếu thực hiện nghiệp vụ giao ngay, các nghiệp vụ KDNT phái sinh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có; tại các chi nhánh của BIDV, hoạt động KDNT vẫn chưa được chú trọng, chưa có các cán bộ có đầy đủ nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh này…

    87

    1. Từ những nguyên nhân được đề cập, các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV có thể kể đến là: Hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, trong đó cần tập trung marketing, giới thiệu khách hàng sử dụng các sản phẩm ngoại hối phái sinh tại ngân hàng; mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng và thị trường quốc tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực….Ngoài ra luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị đối với NHNN và các

    doanh nghiệp XNK nhằm mở rộng môi trường kinh doanh và tiềm năng hoạt động KDNT cho các NHTM nói chung và BIDV nói riêng.

    Hoạt động KDNT rất đa dạng và phong phú nên còn nhiều vấn đề cần phải đề cập và nghiên cứu nhưng do khuôn khổ của đề tài có giới hạn vì vậy chắc chắn đề tài không thể trình bày trọn vẹn về lĩnh vực này. Một lần nữa Tác giả mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của các thầy cô và những ai quan tâm đến vấn đề được đề cập trong luận văn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.

    88

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • TS Lê Văn Tư, Thị trường hối đoái, NXB Thống kê, 2003.
    • TS Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB

    Thống kê, 2005.

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê, 2006
    • TS Nguyễn Văn Tiến, Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh,

    NXB Thống kê, 2010

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Tài chính quốc tế, NXB Thống kê, 2009
    • Simon Benninga and Zvi Wiener, value at risk, Mathematica in Education and Research, 1998.
    • Pháp lệnh ngoại hối 2005  do ủy ban thường vụ quốc  hội ban  hành ngày

    13/12/2005

    • Nghị định 160/2006/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối
    • Thông tư 03/2008/77-NHNN do ngân hàng nhà nước ban hành ngày 11/04/2008 về hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ của TCTD
    • Quyết định 101/1999/QĐ-NHNN do ngân hàng nhà nước ban hành ngày 26/03/1999 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
    • Quyết định số 206/2000/QĐ-NHNN13 của NHNN ngày 11/07/2000 sửa đổi khoản 2 điều 9 “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” ban hành kèm theo QĐ số 101/1999/QĐ-NHNN ngày 26/3/1999
    • Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN của NHNN ngày 10/11/2004 về các giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối
    • Công văn 1820/NHNN-QLNH của NHNN ngày 18/03/2009 về dừng thí điểm nghiệp vụ option tiền đồng

    89

    • Quyết định 2666/QĐ-NHNN của NHNN ngày 25/11/2009 về biên độ tỷ giá
    • Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN của NHNN ngày 07/10/2002 về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng đuợc phép hoạt động ngoại hối
    • Báo cáo thường niên BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009
    • Peter S.Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính
    • bidv.com.vn, lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức BIDV, BIDV triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử.
    • vneconomy.vn, Lợi nhuận ngân hàng không nhìn từ tín dụng; Các ngân

    hàng Hà Nội đẩy mạnh kinh doanh ngoại hối.

    • sbv.gov.vn, Khánh Hưng, Ngân hàng thương mại dừng thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Mẫu Nhật ký thi công xây dựng công trình


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-g%C3%B3p-ph%E1%BA%A7n-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A2n-s%E1%BB%B1-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-Ty-C%E1%BB%95-Ph%E1%BA%A7n-T%C6%B0-V%E1%BA%A5n-v%C3%A0-X%C3%A2y-D%E1%BB%B1ng-C%C3%B4ng-Tr%C3%ACnh-Nam-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    LỜI CẢM ƠN

    Trong thời gian  2 tháng (8 tuần) thực tập tại Công ty CPTV & XD Công Trình Nam Long  em đã nhân được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuân lợi  của Giám Đốc Công ty và đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình của các anh, các chị trong phòng Quản Trị Nhân Sự và phòng Kế Toán Tài Chính. Chính sự giúp đỡ và chỉ bảo đó đã giúp em nắm bắt được những kiến thức thực và kỹ năng phân tích,đánh giá công tác tuyển dụng nhân sự của Công ty. Những kiến thức thực tế này sẽ là hành trang ban đầu giúp ích cho em trong quá trình ra công tác xin việc  sau này rất nhiều.

    Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Công ty CP Nam Long, tới toàn thể cán bộ nhân viên trong Công ty về sự giúp đỡ của các cô, các chú, các anh chị trong thời gian thực tập(8 tuần) vừa qua. Em cũng xin kính chúc Công ty CP Nam Long  ngày càng phát triển lớn mạnh và đươc nhiều Công ty khác trong ngành biết đến,kính chúc các cô, các chú và các anh chị luôn thành đạt trên cương vị công tác của mình. Và em kính chúc các cô, các chú và các anh chị luôn khỏe mạnh và vui vẻ để hoàn thành tốt công việc của mình.

    Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn những tình cảm và sự truyền thụ kiến thức của Ths.Thái Vĩnh Ngân trong suốt quá trình em học tập và nghiên cứu. Em cảm ơn sự nhiệt tình và tâm huyết của thầy đã giúp em hoàn thành tốt báo cáo thực tập tốt nghiệp này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

     

     

     

     

    LỜI CAM KẾT

     

    Trong thời gian thực hiện đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp ,tôi xin cam đoan rằng tôi đã hoàn thành đúng quy định và thời gian mà nhà trường dề ra.Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong báo cáo là trung thực do cơ quan nơi tôi thực tập cung cấp cho và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ bài bào cáo nào trước đây.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                        CỘNG HÒA – XÃ HỘI – CHỦ NGHĨA – VIỆT NAM

    ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

    ——-o ——-

    XÁC NHẬN , ĐÁNH GIÁ CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP

    Công ty : …………………………………………có trụ sở tại : ……………………………………..

    Số : ………………………Đường : …………………………………Phường : …………………………

    Quận (thị xã ,TP) : …………………………………………………Số Fax : ……………………………

    Trang web : …………………………………………………………………………………………………

    Địa chỉ e-mail : ……………………………………………………………………………………………..

                                                                          XÁC NHẬN

    Anh (chị) : ………………………………………………………Sinh ngày : …………………………….

    Là sinh viên lớp : …………………………………………………………………………………………..

    Có thực tập tại công ty trong khoảng thời gian từ ngày …………….đến ngày …………………

    Đơn vị nhận xét về SV trong thời gian thực tập ở đơn vị :

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    Ngày ……..tháng ………năm 2011

                        Xác nhận của công ty                         

     

     

     

    NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1.Lý do chọn đề tài

    • Tuyển dụng nhân sự là khâu đầu tiên và là khâu quan trọng của họat động quản trị nhân lực. Tuyển dụng nhân sự không chỉ thu hút người lao động, người sử dụng lao động mà còn cả các cấp, các ngành và các tổ chức cùng quan tâm. Bởi chất lượng lao động quyết định sự thành bại của một tổ chức. Trong một tổ chức thì dù có cơ sở vật chất hiện đại, nguồn tài chính dồi dào mà chất lượng lao động kém thì sản xuất kinh doanh cũng sẽ không hiệu quả.
    • Hiện nay thị trường lao động thể hiện ở cung lao động và cầu lao động luôn biến đổi không ngừng và đang diễn ra hết sức sôi nổi mỗi ngày, mỗi giờ, khiến nhiều người lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm, người sử dụng lao động có nhu cầu tìm được nhân viên có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu công việc và còn có cả sự tham gia tác động vào sự biến động lao động của các đơn vị, các tổ chức trung gian.
    • Là sinh viên sắp ra trường nên có nhu cầu về việc làm cho bản thân, qua việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề của đề tài thực tập nhằm có được sự định hướng cho bản thân và củng cố kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết để có thể chủ động và vững vàng bước vào thị trường lao động việc làm sau khi tốt nghiệp và có một thời gian được đào tạo tại trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành.
    • Qua thời gian thực tập tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long _TP: Vũng Tàu với mong muốn tìm hiểu vấn đề công tác tuyển dụng nhân sự, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long“.

         2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • Bài viết tập trung vào các vấn đề nhân sự và đặc biệt là công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty thời kỳ trước, hiện tại và kế hoạch tương lai.
    • Tuyển dụng nhân sự nhìn từ góc độ nhà quản trị của công ty và từ góc độ người có nhu cầu tuyển dụng.
    • Bao gồm những đối tượng có nhu cầu về việc làm.

     

    3.Mục đích nghiên cứu

    • Qua quá trình thực tập, tìm hiểu và phân tích thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty bài viết đưa ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác tuyển dụng nhân sự trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị nhằm khắc phục những khó khăn phát huy thế mạnh của Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    4.Phương pháp nghiên cứu

    • Bài viết sử dụng phương pháp thống kê các số liệu thu thập được từ tài liệu sơ cấp và thứ cấp của Công ty Nam Long. Phỏng vấn các cán bộ trực tiếp tham gia công tác tuyển dụng lao động gia sư thuộc Phòng tổ chức hành chính và các nhân viên trong Hội đồng tuyển dụng. Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá dựa trên các nguồn số liệu trên sách báo và số liệu thực tế đã thu thập được tại Công ty.

    5.Kết cấu nội dung  của đề tài gồm:

    Phần mở đầu:

    1.Lý do chọn đề tài

    2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    3.Mục đích nghiên cứu

    4.Phương pháp nghiên cứu.

    Phần nội dung:

    • Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân sự.
    • Chương 2 : Thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.
    • Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    Phần kết luận và kiến nghị:

    I.Kết luận

    II.Kiến nghị

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

    Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân sự.

    I.Khái niệm về tuyển dụng nhân sự:

    1.Định nghĩa:

    • Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau những nhân viên đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển.
    • Tuyển dụng nhân sự không chỉ là nhiệm vụ của phòng tổ chức nhân sự, và cũng không chỉ là công việc đơn giản bổ sung người lao động cho doanh nghiệp, mà đó thực sự là quá trình tìm kiếm và lựa chọn cẩn thận. Nó đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau, phải có sự định hướng rõ ràng, phù hợp của lãnh đạo doanh nghiệp.
    • Tuyển dụng nhân sự là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Mọi tổ chức đều phải có đầy đủ khả năng để thu hút đủ số lượng và chất lượng lao động để nhằm đạt được các mục tiêu của mình. Quá trình tuyển dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình tuyển chọn. trong thực tế sẽ có người lao động có trình độ cao nhưng họ không được tuyển chọn vì họ không được biết các thông tin tuyển dụng, hoặc không có cơ hội nộp đơn xin việc.
    • Chất lượng của quá trình lựa chọn sẽ không đạt được nhưng yêu cầu mong muốn hay hiệu quả thấp nếu số lượng nộp đơn xin việc bằng hoặc ít hơn số nhu cầu cần tuyển chọn. Công tác tuyển dụng nhân sự có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Tuyển dụng không chỉ ảnh hưởng tới việc tuyển chọn, mà còn ảnh hưởng tới các chức năng khác của quản trị nguồn nhân lực như: Đánh giá thực hiện công việc, thù lao lao động, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các mối quan hệ lao động …
    • Tuyển dụng nhân sự là quá trình kiểm tra ,trắc nghiệm phỏng vấn và quyết định tuyển 1 người vào làm việc theo đúng yêu cầu của tổ chức đã đề ra,các tiêu chuẩn tuyển chọn bao gồm:
    • Kỹ năng(skill)
    • Nhân cách(personality)
    • Kinh nghiệm(experience)
    • Kiến thức(back ground)

     

    2.Trình tự tuyển dụng

    • Chuẩn bị tuyển chọn
    • Thông báo tuyển chọn
    • Phỏng vấn sơ bộ
    • Kiểm tra trắc nghiệm
    • Phỏng vấn lần 2
    • Xác minh điều tra
    • Khám sức khỏe
    • Thử việc
    • Ra quyết định bố trí công việc

    II.Nhiệm vụ và chức năng cùa tuyển dụng nhân sự:

    1.Chức năng:

    • Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.
    • Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.
    • Tổ chưc việc quản lý nhân sự toàn công ty.
    • Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thức người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.
    • Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc .
    • Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.
    • Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.
    • Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.
    • Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh-Nhân sự.
    • Hỗ trợ Bộ phận khác trong việc quản lý nhân sự và làcầu nối giửa BGĐ và Người lao động trong Công ty.

    2.Nhiệm vụ:

    –         Thực hiện chức năng 1.1

    • Lập kế hoạch tuyển dụng hàng năm, hàng tháng theo yêu cầu của công ty và các bộ phận liên quan.
    • Lên chương trình tuyển dụng cho mỗi đợt tuyển dụng và tổ chức thực hiện.
    • Tổ chức tuyển dụng theo chương trình đã được phê duyệt.
    • Tổ chức ký hợp đồng lao động thử việc cho người lao động.
    • Quản lý hồ sơ, lý lịch của CNV toàn Công ty.
    • Thực hiện công tác tuyển dụng, điều động nhân sự, theo dõi số lượng CNV Công ty nghỉ việc.
    • Đánh giá, phân tích tình hình chất lượng, số lương đội ngũ CNV lập các báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu cụ thể của Ban Giám đốc.
    • Làm cầu nối giữa Lãnh đạo Công ty và tập thể người lao động.

    –         Thực hiện chức năng 1.2

    • Lập chương trình đào tạo định kỳ tháng, năm.
    • Tổ chức thực hiện việc đào tạo trong công ty.
    • Đánh giá kết quả đào tạo.
    • Trực tiếp tổ chức, tham gia việc huấn luyện cho người lao động mới vào công ty về lịch sử hình thành, chính sách, nội quy lao động…
    • Xây dựng chương trình phát triển nghề nghiệp cho CNV công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.3

    • Điều động nhận sự theo yêu cầu sản xuất kinh doanh.
    • Lập quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm cán bộ quản lý điều hành.
    • Quản lý nghỉ việc riêng, nghỉ phép, nghỉ việc của CNV
    • Xây dựng chính sách thăng tiến và thay thế nhân sự.
    • Lập ngân sách nhân sự
    • Hoạch định nguồn nhân lực nhằm phục vụ tốt cho sản xuất kinh doanh và chiến lược của công ty.
    • Giải quyết khiếu nại kỷ luật của CNV Công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.4

    • Bảo vệ lợi ích hợp pháp của Công ty và của người lao động.
    • Xây dựng và thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động.
    • Thực hiện việc kiểm tra xếp bậc lương, điều chỉnh mức lương theo đúng qui định của công ty.
    • Tham gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện phương pháp hình thức trả lương, thưởng, phụ cấp làm việc tại Công ty.
    • Theo dõi thực hiện các chế độ cho người lao động theo qui định của Công ty.
    • Tổ chức theo dõi, lập danh sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cho người lao động theo chỉ đạo của BGĐ.
    • Lập danh sách lao động định kỳ theo qui định của cơ quan nhà nước.
    • Theo dõi việc nghỉ phép, nghỉ việc riêng để thực hiện chế độ phép năm cho người lao động.
    • Tổ chức, trình kế hoạch và thực hiện đối với các chế độ lễ tết.
    • Giao dịch với các cơ quan nhà nước để thực hiện chế độ cho người lao động.
    • Đánh giá thực hiện công việc.

    –         Thực hiện chức năng 1.5

    • Lập phương án, tổ chức thực hiện các Quyết định, Quy định của BGĐ.
    • Giám sát việc thực hiện theo các phương án đã được duyệt, báo cáo đầy đủ, kịp thời và trung thực tình hình diễn biến và kết quả công việc khi thực hiện nhiệm vụ BGĐ giao.

    –         Thực hiện chức năng 1.6

    • Đề xuất cơ cấu tổ chức, bộ máy điều hành của Công ty.
    • Xây dựng hệ thống các qui chế, qui trình, qui định cho Công ty và giám sát việc chấp hành các nội qui đó.

    –         Thực hiện chức năng 1.7

    • Xây dựng, tổ chức và quản lý hệ thống thông tin.
    • Nghiên cứu và nắm vững qui định pháùp luật liên quan đến hoạt động của Công ty, đảm bảo cho hoạt động của Công ty luôn phù hợp pháp luật.
    • Phục vụ hành chánh, phục vụ một số mặt hậu cần cho sản xuất kinh doanh.
    • Xây dựng, gìn giử và phát triễn mối quan hệ tốt với cộng đồng xã hội xung quanh.
    • Tổ chức cuộc họp theo yêu cầu của Côngty.
    • Tổ chức lể tân, tiếp khách hàng, đối tác trong, ngoài nước. Xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, từng bước xây dựng văn hóa riêng của Công ty tạo điều kiện phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
    • Tổ chức thu thập, phân tích, xử lý, lưu trử và phổ biến các thông tin kinh tế, xã hội, thương mại, pháp luật, công nghệ và kịp thời báo cáo BGĐ để có quyết định kịp thời.
    • Phục vụ tốt nhất các điều kiện pháp lý hành chánh, hậu cần, an sinh để sản xuất thông suốt.
    • Lưu giữ, bảo mật tài liệu, bảo vệ tài sản Công ty.
    • Thực hiện các công tác pháp lý, bảo vệ lợi ích pháp lý cho Công ty, giữ các hồ sơ pháp lý của Công ty.
    • Phối hợp với các đơn vị khác bảo vệ bản quyền nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, xuất xứ, phát minh, sáng chế… của Công ty.
    • Tiếp nhận các loại công văn vào sổ công văn đi và đến.
    • Phân loại và phân phối công văn cho các bộ phận, tra cứu, cung cấp tài liệu hồ sơ theo yêu cầu.
    • Chuyển giao công văn tài liệu, báo chí, báo cáo đến các bộ phận liên quan.
    • Đánh máy, photocopy các văn bản, công văn giấy tờ thuộc phần việc được giao.
    • Sắp xếp hồ sơ, tài liệu để lưu trữ vào sổ sách, theo dõi luân chuyển hồ sơ.
    • Giữ bí mật nội dung các công văn giấy tờ, tài liệu…
    • Quản lý tổng đài, máy fax theo qui định của Công ty.

    Giao nhận hàng hoá, công văn tài liệu đến các bộ phận liên quan.

    –         Thực hiện chức năng 1.8

    • Quản lý hồ sơ các loại tài sản của công ty.
    • Theo dõi, giám sát, kiểm tra việc quản lý và sử dụng các loại tài sản công ty của các bộ phận.
    • Phối hợp nhà cung cấp tổ chức việc lắp đặt tài sản.
    • Phối hợp đơn vị bảo trì thực hiện việc bảo trì thường xuyên và bảo trì đột xuất.
    • Xử lý kịp thời những công việc liên quan đến công tác bảo vệ.
    • Thực hiện công tac an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.
    • Kiểm tra giấy tờ, hướng dẫn người, phương tiện ra vào cổng, trông giữ xe cho khách đến liên hệ công tác, CBCNV Công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.9

    • Tham mưu cho BGĐ về việc xây dựng cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty.
    • Tham mưu cho BGĐ về công tác đào tạo tuyển dụng trong công ty.
    • Tham mưu cho BGĐ về xây dựng các phương án về lương bổng, khen thưởng các chế độ phúc lợi cho người lao động.
    • Tham mưu cho BGĐ về công tác hành chánh của công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.10

    • Hỗ trợ cho các bộ phận liên quan về công tác đào tạo nhân viên,cách thưc tuyển dụng nhân sự…
    • Hỗ trợ các bộ phận liên quan về công tác hành chánh.

    III.Các phương thức tìm kiếm ứng cử viên:

    1. Các mối quan hệ quen biết
    • Tìm kiếm ứng cử viên thông qua những người đã biết:

    –  Nhân viên công ty

    –  Người quen

    –  Khách hàng

    –  Đối thủ cạnh tranh

    • Ưu điểm:

    – Tiết kiệm chi phí: không mất phí quảng cáo, chi phí cho công ty tư vấn tuyển dụng

    –  Tiết kiệm thời gian: dễ dàng kiểm tra, chọn lọc ứng cử viên

    –  Nâng chất lượng ứng cử viên: do uy tín của người giới thiệu

    –  Tăng khả năng lưu giữ nhân viên; ứng cử viên được đề cử sẽ có kiến thức sâu về công ty

    • Hạn chế:

    – Người giới thiệu mong muốn có sự đối xử đặc biệt với người được đề cử

    – Thường tạo thành một nhóm những người giống nhau trong doanh nghiệp

    1. Nội bộ công ty

    Tuyển dụng từ bên trong doanh nghiệp của bạn đòi hỏi sự quan tâm tới chi tiết           và tính nhất quán giống như việc tuyển dụng từ các nơi khác.

    • Ưu điểm:

    –    Khuyến khích nhân viên vì họ thấy rằng có nhiều cơ hội tốt hơn trong doanh nghiệp để họ cần cố gắng vươn lên.

    –    Doanh nghiệp có thể đánh giá năng lực từ quá trình thực hiện công việc trước đó

    –   Tuyển dụng từ nội bộ ít tốn kém hơn

    • Hạn chế:

    –  Cần đưa ra những tiêu chí thông báo rõ ràng. Các ứng viên không thành công sẽ có cơ hội thảo luận lý do tại sao họ không được chọn và họ có thể làm gì để trúng tuyển vào lần sau.

    –  Cần bàn bạc với phụ trách và các bên liên quan của ứng cử viên nội bộ.

    3.Trung tâm giới thiệu việc làm và hội chợ việc làm

    • Ưu điểm:

    -Trung tâm giới thiệu viêc làm và hội chợ việc làm thường có rất nhiều ứng viên đến nộp hồ sơ.

    – Phù hợp với nhu cầu tuyển dụng nhân viên không đòi hỏi chất lượng quá cao, những công việc phổ thông, đơn giản.

    • Hạn chế

    – Ở Việt Nam hiện nay, chất lượng ứng cử của các trung tâm giới thiệu việc làm và hội chợ việc làm không đồng đều, số ứng viên có chất lượng cao rất ít

    4.Công ty tư vấn tuyển dụng

    Hiện nay, các công ty này chuyên cung cấp các dịch vụ tìm kiếm các vị trí quản lý cao cấp, khó tìm người (dịch vụ headhuntes).

    • Ưu thế:

    – Dịch vụ chuyên nghiệp, nhanh, thuận tiện

    – Có ngân hàng ứng viên ở nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau và có chất lượng

    –  Doanh nghiệp có thể tìm được những nhân viên cao cấp phù hợp

    • Hạn chế:

    –  Chi phí thường rất cao

    –  Đôi khi đòi hỏi phải có thời gian

    –  Dễ bị chính các công ty này lấy mất nhân sự cấp cao khi có một nhà tuyển dụng khác chào với những ưu đãi hấp dẫn hơn.

    1. Quảng cáo

    Quảng cáo trên qua các phương tiện truyền thông truyền thống như: báo chí, truyền thanh, truyền hình…

    • Ưu điểm:

    – Thu hút số lượng lớn ứng cử viên

    • Hạn chế:

    – Chất lượng ứng viên không đồng đều

    –  Mất thời gian để sơ tuyển, phân loại ứng viên

    –  Phải nghiên cứu thị trường để lựa chọn phương tiện truyền thông quảng cáo có hiệu quả nhất

    –  Lời lẽ quảng cáo phải làm nổi bật được tiêu chí của doanh nghiệp

    – Phải sử dụng lời lẽ quảng cáo có tính cổ động và ấn tượng sâu sắc

    – Chi phí có thể lên cao.

    6.Internet

    Phương thức này ngày càng trở nên phổ biến vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều công ty kinh doanh dịch vụ tuyển dụng trực tuyến có uy tín

    • Ưu điểm:

    –  Nhanh chóng, dễ dàng tiếp cận với một số lượng lớn các ứng cử viên

    –    Chi phí thấp

    –   Phân loại nhanh chóng các ứng cử viên

    –  Các ứng cử viên hầu hết có khả năng sử dụng các công cụ làm việc tiên tiến trong thời đại công nghệ mới hiện nay: khả năng sử dụng máy vi tính cũng như các tiện ích kèm theo, khả năng tìm kiếm khai thác dữ liệu qua Internet, …

    –    Đây được đánh giá là phương thức hữu hiệu nhất trong các phương thức tìm kiếm nguồn ứng cử viên hiện nay.

    • Hạn chế:

    –    Có nhiều hơ sơ gửi tới

    –   Có thể bỏ qua những ứng cử viên thích hợp không có điều kiện tiếp cận Internet.

    7.Trường học

    Trường học ở đây cụ thể là các trường cao đẳng, đạo học, các trường dạy nghề…Đây là một phương thức tìm nguồn tuyển dụng truyền thống, hàng năm theo định kỳ một số doanh nghiệp tới các cơ sở trên để tuyên truyền việc tìm kiếm nhân viên, tiến hành phỏng vấn đối với các sinh viên mới tốt nghiệp. Một số doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ lâu dài với các cơ sở này như tài trợ học bổng cho sinh viên, tạo điều kiện để sinh viên thực tập, lấy số liệu, học nghề…để thu hút họ tới làm việc tại doanh nghiệp mình.

    • Ưu điểm:

    –     Đây là nguồn ứng viên có chất lượng tương đối cao, trẻ trung, năng động, có tiềm năng

    –    Có thể gắn bó lâu dài và cho kết quả công việc tốt

    • Hạn chế:

    Tốn nhiều thời gian và cần phải đào tạo.

    Chương 2 : Thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    I.Tổng quan về công ty CPTV và XD Công Trình Nam Long

    1.Quá trình hình thành và phát triển công ty Nam Long

    1.1. Giới thiệu Công ty :

    • Tên giao dịch:Nam Long Construction and Consultant Joint – Stock
    • Tên viết tắt:Công ty Cổ Phần Nam Long
    • Địa chỉ công ty:Lô G3, Khu dân cư Bình Minh, phường 8,Tp.VT,Tỉnh:BRVT
    • Điện thoại:(0643)521416 – 521417
    • Fax:0643-521417
    • Email:[email protected]
    • Công ty được thành lập vào Ngày 08 tháng 03 năm 2006.
    • Vốn diều lệ:12.000.000 đồng (Mười hai tỷ đồng)

    1.2.Danh sách cổ đông sáng lập Công ty:

    Tên cổ

     

    đông

    Hộ khẩu

     

    thường trú

    Loại cổ

     

    phần

    Số cổ

     

    phần

    Giá trị

     

    cổ phần

    (triệu đồng)

    Tỉ lệ góp vốn(%) Số

     

    CMND

    Lê Xuân

     

    Tình

    17/7 Nguyễn Bỉnh Khiêm, p3,TPVT Phổ

     

    thông

    96.000 9.6 80 273360739
    Đỗ Thanh

     

    Quang

    3/85 Bạch Đằng , p TRần

     

    Hưng Đạo,TP Hải Dương

    Phổ

     

    thông

    12.000 1.2 10 142021997
    Lê Xuân

     

    Hữu

    Thôn 3 xã Định Công,

     

    Huyện Yên Định,Tỉnh Thanh Hóa

    Phổ

     

    thông

    12.000 1.2 10 173393256

    (Nguồn:Phòng Quản Trị Nhân sự – 2008)

    1.3. Các nghành nghề kinh doanh

    • Thiết kế xây dựng công trình giao thông.
    • Thiết kế xây dựng công trình dân dụng và công ngiệp đến cấp III
    • Thiết kế xây dựng công trình cấp thoát nước , vệ sinh môi trường , công trình xử lí chất thải chất rắn .
    • Giám sát thi công xây dựng công trình giao thông , hạ tầng, công nghiệp , dân dụng
    • Tư vấn  đầu tư , tư vấn lập hồ sơ mời thầu .
    • Lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình , dư án đầu tư xây dựng công trình, lập báo cáo kinh tế – kĩ thuật xây dựng công trình và dự toán công trình
    • Khảo sát , lập dự án , thiết kế kĩ thuật – dự toán công trình đo đạc và bản đồ
    • Quản lý dự án đầu tư .
    • Xây dựng công trình kĩ thuật : xây dựng công trình dân dụng , công nghiệp , giao thông (cầu , đường, cống…) thủy lợi , đường ống cấp thoát nước, trạm bơm…
    • Xây dựng công trình điện đến 35KW.
    • Tạo mặt bằng xây dựng, dọn dẹp,san lấp mặt bằng.
    • Mua bán máy móc, thiết bị khai thác khí đốt,lọc dầu,khai thác dầu,giàn khoan,thiết bị khoan dầu mỏ.
    • Mua bán vật liệu xây dựng,dồ ngũ kim,thiết bị cấp nước trong nhà,thiết bị nhiệt và các phụ tùng thay thế.
    • Mô giới thương mại.
    • Tư vấn về quản lý kinh doanh.
    • Đầu tư tạo lập nhà công trình để bán,cho thuê,mua.
    • Thuê vá cho thuê cơ sở hạ tầng viễn thông ,tin học,các công trình điện,điện tử tin học,giao thông thủy lợi.
    • Sản xuất,mua bán,lắp đặt,bảo dưỡng các loại máy móc,thiết bị,vật tư phục vụ ngành điện,điện tử tin học,viễn thông,công nghệ thông tin,công nghiệp,giao thông thủy lợi .
    • Sản xuất mua ban máy móc,thiết bị phục vụ cho việc báo cháy,chữa cháy,phòng cháy nổ,chống sét,phòng chóng đột nhập.
    • Dịch vụ lắp dặt bảo dưỡng,sửa chữa hệ thống báo cháy,chữa cháy,phòng chống cháy nổ,chống sét.
    • Đại lý kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông.

     

    1. Cơ cấu tổ chức nhân sự của Công ty

    2.1. Giám dốc và bộ máy điều hành

    • Giám đốc Công ty : Ông Lê Xuân Hữu
    • Phó giám đốc : Ông Đỗ Thanh Quang
    • Trưởng phòng Tài Chính – Hành Chính : Ông Trần Quốc Toàn
    • Trưởng phòng Kế Hoạch-Kĩ Thuật : Ông Đỗ Lê Cường
    • Trưởng phòng Tư Vấn Thiết Kế – Giám Sát thi công: Ông Phạm Tiến Minh
    • Tổng số cán bộ công nhân viên : 30 người

    Trong đó :

    Kỹ sư các người        :15 người

    Cử nhân                     : 03 người

    Trung cấp                  : 02 người

    Công nhân kĩ thuật   : 07 người

    Lái xe                         : 03 người

    2.2.Sơ đồ tổ chức của Công ty:

        

     
       

     

     

     

     

                                                                                           

           
         
       
     

     

     

                                       

    (Nguồn:Phòng Tổ Chức Hành Chính – 2008)

    2.3. Danh sách các cán bộ chủ chốt

    STT Họ và Tên Trình Độ Chức Vụ CC

     

    Hành Nghề

    1 Lê Xuân Hữu  Kỹ sư Xây Dựng Giám Đốc  
    2 Đỗ Thanh Quang Cử nhân Kinh Tế P. Giám Đốc  
    3 Trần Quốc Toàn Kỹ sư Xây Dựng Trưởng Phòng TC-HC
    4 Đỗ Lê Cường Kỹ sư Xây Dựng Trưởng Phòng Giám sát
    5 Phạm Tiến Minh Kỹ sư Xây Dựng Trưởng Phòng CC TK
    6 Nguyễn Quảng Bình Kỹ sư điện tử

     

    viễn thông

    Đội Trưởng CC TK
    7 Trịnh Đăng Ninh Kỹ sư Xây Dựng Đội Trưởng CC Giám Sát
    8 Nguyễn Huấn Kỹ sư Xây Dựng Đội Trưởng CC Giám Sát
    9 Nguyễn Cao Thượng Kiến Trúc Sư Nhân Viên CC TK
    10 Trần Thế Dũng Kỹ sư Giao Thông Nhân Viên CC Giám Sát
    11 Tô Văn Sự Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    12 Đỗ Xuân Hợp Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    13 Nguyễn Thanh Nam Kiến Trúc Sư Nhân Viên CC TK , CC

     

    Giám Sát

    14 Nguyễn Cảnh Toàn Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    15 Nguyễn Hữu Vinh Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    16 Lê Văn Tuấn Kiến Trúc Sư Nhân Viên CC TK,CC

     

    Giám Sát

    17 Đinh Công Tâm Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    18 Lê Quốc Huy Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát

    (Nguồn:Phòng Quản Trị Nhân sự – 2008)

     

    3.Kết quả hoạt dộng kinh doanh:

    Các công trình đã và đang thi công từ năm 2007-2009:

    STT Tên công trình Tổng giá trị

     

    HĐ (VNĐ)

    Khởi công Tên đơn vị

     

    kí hợp đồng

    1 Thi công XD công trình

     

    “Đường dây trung thế, hạ thế

    và trạm biến áp tuyến nhánh

    tổ 4,5,6 và 7 ấp 3 xã Hắc Dịch,

    huyện Tân Thành”

    422.500.000 30/7/2007 Ban QLDA

     

    huyện Tân

    Thành

    2 Thi công xây lắp và cung cấp

     

    lắp đặt thiết bị công trình”XD

    đường ống cấp nước cầu cảng”

    791.800.000 05/04/2007 Cty TNHH

     

    Cảng Dịch Vụ

    Dầu Khí-PTSC

    3 Thi công “sửa chữa dường

     

    xưởng khu vực cơ khí xí nghiệp khoan”

    326.300.000 02/8/2007 Cty TNHH

     

    Cảng Dịch Vụ

    Dầu Khí -PTSC

    4 Thi công XDCT “Kho chứa

     

    hóa chất  Cty Trường Sơn JOC”

    22.300.000 01/8/2007 Cty TNHH

     

    Cảng Dịch Vụ

    Dầu Khí -PTSC

    5 Thi công XDCT “trạm BTS cho trung tâm IV Mobifone thuê

     

    tại Vĩnh Long”

    8.850.000.000 20/8/2008 Chi nhánh phía

     

    Nam Cty CPTV

    và ĐT phát triển

    Công nghệ

    6 Thi công XDCT”trạm BTS tại

     

    Đồng Nai và Vũng Tàu đợt 1”

    2.930.000.000 15/5/2008 Cty CPTV và

     

    Đt phát triển

    Công nghệ

    7 Thi công XDCT”trạm BTS tại

     

    Đồng Nai và Vũng Tàu đợt 2”

    3.451.000.000 19/6/2008 Cty CPTV và

     

    Đt phát triển

    Công nghệ

    8 Hợp Đồng thuê cơ sở hạ tầng

     

    09 trạm BTS ở tt Huế

    96.326256

     

    /Tháng

    15/7/2009 TTDĐ Khu vực

     

    III

    9 Hợp Đồng thuê cơ sở hạ tầng

     

    10 trạm BTS ở tt Huế

    99.247.805

     

    /Tháng

    15/10/2009 TTDĐ Khu vực

     

    III

    10 Sản Xuất và Lắp Dựng Cột

     

    Angten 3 Móng Neo –cao 42m tại Cần Thơ

    1.472.980.000 10/7/2009 Chi nhánh phía

     

    Nam Cty CPTV

    và ĐT phát triển

    Công nghệ

    11 Sản Xuất và Lắp Dựng Cột

     

    Angten 3 Móng Neo –cao 42m tại Củ Chi

    1.841.225.000 10/11/2009 Chi nhánh phía

     

    Nam Cty CPTV

    và ĐT phát triển

    Công nghệ

    (Nguồn:phòng Kế Toán Tài Chính – 2008)

    II.Phân tích thực trạng công tác tuyển dụng tại Công ty

    1.Thực trạng công tác tuyển dụng tại Công ty

    • Do đặc thù của Công ty là cổ phần quy mô vừa và nhỏ và hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nên công tác tuyển dụng được tiến hành tương đối đơn giản, tiêu chuẩn công việc không đòi hỏi quá cao. Công tác tuyển dụng do phòng tổ chức hành chính của Công ty phụ trách.
    • Khi Công ty xuất hiện nhu cầu và kế hoạch nhân sự trong từng giai đoạn, Công ty có kế hoạch tuyển dụng và hoàn thiện công tác tuyển dụng nhằm nâng cao chất lượng lao động trong doanh nghiệp.
    • Công tác tuyển dụng được giao cho các bộ phận tự đề xuất nhu cầu và tiêu chuẩn công việc lên phòng Tổ chức hành chính xem xét và đề nghị lên lãnh đạo Công ty. Công tác tuyển dụng của Công ty được phân thành hai cấp:
    • Hội đồng quản trị tuyển dụng những lao động do chính mình trực tiếp quản lý. Đó là giám đốc công ty, các phó giám đốc, các trưởng và phó phòng ban, trên cơ sở đề nghị của Hội đồng cơ sở và Giám đốc Công ty. Quyết định tuyển dụng sẽ do Hội đồng quản trị ra quyết định.
    • Giám đốc Công ty tuyển các đối tượng còn lại. Giám đốc Công ty có thể uỷ quyền cho các Giám đốc Kỹ sư, Trưởng các phòng ban tiến hành tuyển dụng. Những đối tượng này sau khi được tuyển dụng sẽ được Giám đốc Công ty ký quyết định tuyển dụng.
    • Hợp đồng được sử dụng tại Công ty bao gồm:

    – Hợp đồng thời vụ dưới một năm

    – Hợp đồng có thời hạn từ một đến ba năm

    – Hợp đồng không xác định thời hạn.

    • Điều kiện để ký hợp đồng:

    – Có trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng đảm bảo hoàn thành định mức lao động và khối lượng công việc được giao.

    – ý thức tổ chức kỷ luật tốt, không vi phạm các nội quy, qui chế, các qui định của Công ty.

    Có sức khoẻ tốt.

    • Quy trình bổ sung và tiếp nhận lao động trong Công ty:

    – Đối với tổ xây dựng, Công trường: Công ty định biên mỗi tổ xây dựng hiện nay khi đủ công nhân là từ 20 lao động trở lên có mặt thường xuyên (kể cả ban quản lý ,giám sát,công nhân..). Căn cứ vào kế hoạch xây dựng và tình hình trang thiết bị hiện có, thực trạng của tổ nếu thấy thiếu lao động thì các tổ xin bổ sung lao động theo trình tự sau:

    + Tổ trưởng xây dựng, giám sát công trường lập phiếu xin bổ sung lao động, nói rõ lý do, yêu cầu về số lượng lao động, khả năng chuyên môn cần bổ sung.

    + Trường hợp có nguồn lao động các tổ sản xuất chưa đủ định biên lao động thì phòng tổ chức hành chính cân đối và bố trí lao động về công trường, giám sát công trường  sẽ bố trí về các tổ sản xuất.

    – Đối với phòng chuyên môn: Căn cứ vào yêu cầu công việc và tình hình lao động hiện có của đơn vị để lập phiếu xin bổ sung lao động, cần nói rõ lý do, yêu cầu bổ sung về số lượng lao động, chất lượng lao động cũng như thời gian cần bổ sung lao động.

    – Đối với lao động phòng tổ chức hành chính:

    + Nhận phiếu yêu cầu bổ sung của các bộ phận

    + Tổng hợp nhu cầu lao động của các bộ phận

    + Kiểm tra và cân đối nguồn lực lao động trong công ty, cụ thể cần tiến hành các công việc sau:

    • Lập danh sách dự kiến người lao động nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hàng năm ( lập ngay từ đầu năm)
    • Lập danh sách theo dõi lao động nữ thực hiện chế độ thai sản, nghỉ đẻ (06 tháng một lần), nghỉ cho con bú, nghỉ dưỡng thai (định kỳ hàng tháng và thông báo cho các bộ phận có liên quan).
    • Lập danh sách theo dõi nghỉ việc riêng không lương dài hạn (theo quý), ngắn hạn (theo tháng khi kết thúc tháng làm việc)

    + Đề xuất phương án bổ sung, điều động và báo cáo lãnh đạo Công ty quyết định.

    + Sau khi thống nhất, làm thủ tục điều động và ký hợp đồng lao động cho người lao động hoặc cho thực tập tại phân xưởng.

    • Nguyên tắc tuyển dụng

    – Xuất phát từ lợi ích chung của Công ty.

    – Căn cứ vào khối lượng công việc và yêu cầu cụ thể của công việc qua từng giai đoạn, thời kỳ của Công ty.

    – Căn cứ vào phẩm chất và năng lực cá nhân nhân viên.

    Khi một bộ phận nào đó trong Công ty có nhu cầu về nhân lực ở một vị trí nào đó thì trưởng phòng hoặc Giám sát công trường sẽ xem xét, lựa chọn trong số các nhân viên của mình ai có đủ khả năng và phù hợp với công việc thì sẽ báo cáo với phòng tổ chức hành chính và giám đốc Công ty. Trong trường hợp ở bộ phận đó không có ai có thể đảm nhận được vị trí đó thì trưởng phòng hoặc giám sát sẽ gửi phiếu yêu cầu lên phòng tổ chức hành chính, phòng tổ chức hành chính sẽ căn cứ vào phiếu yêu cầu đó để xem xét thực tế nhu cầu có đúng và cần thiết không. Khi xác nhận rằng yêu cầu đó chưa cần thiết phải thay đổi hay không phù hợp hoặc không đúng thì phòng tổ chức hành chính sẽ có giải thích cho bộ phận đó lý do tại sao lại không thể đáp ứng yêu cầu đó. Khi xác định yêu cầu nhân lực đó là cần thiết thì trưởng phòng tổ chức hành chính sẽ báo cáo với Giám đốc Công ty về nhu cầu nhân sự tại bộ phận đó cùng phương án bố trí, sắp xếp nhân sự cho bộ phận đó. Phòng tổ chức hành chính sẽ thông báo với các công trình, bộ phận, phòng ban xem xét những cá nhân có khả năng để lập danh sách ứng cử viên để có thể lựa chọn người phù hợp nhất với vị trí công việc đang yêu cầu.

    • Nhận xét: Từ tất cảc các hoạt động quản trị nhân sự ta đều thấy gắn với mục tiêu làm cho tổ chức có được hệ thống nhân sự đảm bảo chất lượng và số lượng. Qua những thông tin về chính sách hoặch định nhân sự cùng với kế hoạch sản xuất kinh doanh, qua những đánh giá về tình hình thực hiện công việc… Sẽ giúp cho đơn vị đưa ra được kế hoạch tuyển dụng nhân sự, tuyển chọn cụ thể và hợp lý nhất.

    2.Phân tích quá trình tuyển dụng nhân sự tại Công ty:

    2.1.Khái quát quá trình tuyển dụng tại Công ty:

    Các hoạt động tuyển dụng của Công ty chịu tác động của nhiều yếu tố. Bao gồm:

    • Các yêu tố thuộc về tổ chức

    – Uy tín của Công ty.

    Quảng cáo và các mối quan hệ xã hội.

    Các quan hệ với công đoàn, các chính sách nhân sự và bầu

    không khí tâm lý trong tập thể lao động.

    Chi phí.

    • Các yếu tố thuộc về môi trường

    Các điều kiện về thị trường lao động (cung, cầu lao động).

    Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác.

    Các xu hướng kinh tế.

    Thái độ của xã hội đối với một số nghề nhất định.

    Để đạt được thắng lợi, quá trình tuyển mộ cần được tiến hành có kế

    hoạch và mang tính chiến lược rõ ràng.

    2.2.Quy trình tuyển dụng tại Công ty:gồm 9 bước

    • Bước 1: Tiếp đón ban đầu và phỏng vấn sơ bộ

    _ Đây là bước đầu tiên trong quá trình tuyển chọn, là buổi gặp gỡ đầu tiên giữa các nhà tuyển chọn với các ứng viên. Bước này nhằm xác lập mối quan hệ giữa người xin việc và người sử dụng lao động, đồng thời bước này cũng xác định được những cá nhân có những tố chất và những khả năng phù hợp với công việc hay không để từ đó ra những quyết định có tiếp tục mối quan hệ với các ứng viên đó hay không. Quá trình phỏng vấn ở bước này nếu phát hiện được những cá nhân không có khả năng phù hợp với công việc cần tuyển thì loại bỏ ngay, tuy nhiên để đưa ra được quyết định này thi các tiêu chuẩn cần phải đưa ra một cách kỹ lưỡng. _ Bởi vì khi phỏng vấn thì ý chủ quan của người phỏng vấn là có tính chất quyết định nhất do đó các tiêu chuẩn có tính độc đoán thì không nên dùng nó để loại người xin việc. Đặc biệt không dùng ác yếu tố về tuổi, giới, chủng tộc, tôn giáo, đan tộc, và các khuyết tật bẩm sinh để loại bỏ những người nộp hồ sơ xin việc.

    _ Nhũng lý do chính đẻ loại bỏ các ứng viên ở bước đầu tiên là họ chưa đáp ứng được các yêu cầu về giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm cần thiết để thực hiện công việc nhưng không có các kỹ năng như đã thông báo, trái nghề, không đầy đủ các văn bằng chứng chỉ, kết quả phỏng vấn cho thấy quá yếu về nghiệp vụ, nhận thức nghề nghiệp chưa đạt yêu cầu …

    • Bước 2: Sàng lọc qua đơn xin việc

    _ Trong các tổ chức, các ứng viên muốn có việc làm thì đều phải nộp đơn xin việc. Đơn xin việc la nội dung quan trọng trong quá trình tuyển chọn

    _ Đơn xin việc thường được các tổ chức thiết kế theo mẫu, người xin việc có trách nhiệm điền vào đơn xin việc theo yêu cầu mà các nhà sử dụng lao động đề ra. Các mẫu đơn xin việc được thiết kế một cách khoa học hợp lý có thể coi là một công cụ quan trọng để tuyển chọn một cách chính xác người xin việc, vì đơn xin việc giúp cho ta các thông tin đáng tin cậy về các hành vi hoạt động trong quá khứ cũng như các kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức hiện tại, các đặc điểm về tâm lý cá nhân, các kỳ vọng, ước muốn và khả năng đặc biệt khác. Đơn xin việc là cơ sở cho các phương pháp tuyển chọn khác như phương pháp phỏng vấn, đơn xin việc cung cấp tên, nơi làm việc, các hố sơ nhân sự khác.

    _ Khi thiết kế các mẫu đơn xin việc ta nên cân nhắc kỹ lưỡng các thông tin cần phải có , nội dung các thông tin cần thu thập đảm bảo được tính toàn diện, tính chính xác và làm sao cho người xin việc trả lời được đúng các yêu cầu đề ra.

    Ví dụ: Trong đơn xin việc thường bao gồm 4 loại thông tin điển hình

    Các thông tin thiết yếu như họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ nơi ở, hộ khẩu…

    Các thông tin về quá trình học tập, đào tạo, các văn bằng chứng chỉ đã đạt được, trình độ học vấn khác

    Lích sử quá trình làm việc (5 năm hoặc 10 năm) những công việc đã làm, tiền lương và thu nhập, lý do bỏ việc hoặc chưa có việc làm

    Các thông tin về kinh nghiệm đã có, các thói quen sở thích, các đặc điểm tâm lý cá nhân, các vấn đè thuộc công dân và các vấn đề xã hội khác

    _ Ngoài ra các mẫu đơn xin việc còn có các câu hỏi mở, xét mẫu chữ viết …Mẫu đơn xin việc mặc dù có nhiều ưu điểm song cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Đơn xin việc là thủ tục khách quan nó không thể thay thế cho việc gặp gỡ trực tiếp giữa người xin việc và người đại diện cho công ty, mặt khác đơn xin việc chỉ hỏi được hạn chế một số vấn đề do vậy nó mất đi tính đa dạng và phong phú của quá trình làm việc, kinh nghiệm của người xin việc, họ không thể lý giải được kỹ lưỡng những vấn đề mà họ đã làm trong quá khứ. Trong đơn, người xin việc chỉ luôn nói tốt về mình, chỉ nói cái lợi cho bản thân họ. Trong đơn xin việc chỉ cho chúng ta thấy hiện trạng theo kiểu mô tả mà nó chưa cho chúng ta biết được “như thé nào” hoặc “tại sao” … thông qua nội dung của mẫu đơn xin việc các nhà tuyển chọn sẽ có chứng cớ của mình để tuyển chọn tiếp các bước sau hay chấm dứt quá trình tuyển chọn.

    • Bước 3: Các trắc nghiệm nhân sự trong tuyển chọn

    _ Để giúp các nhà tuyển chọn nắm được các tố chất tâm lý, những khả năng, kỹ năng và các khả năng đặc biệt khác của các ứng viên khi mà các thông tin về nhân sự khác không cho ta biết được một cách chính xác và đầy đủ. Các trắc nghiệm nhân sự mang lại cho ta những kết quả khách quan về các đặc trưng tâm lý của con người như khả năng bẩm sinh, sở thích, cá tính của cá nhân này so với cá nhân khác . Các trắc nghiệm giúp cho việc tìm hiểu được các đặc trưng đặc biệt trong thực hiện công việc của từng cá nhân, các công việc có tính đặc thù.

    _  Khi dùng phương pháp trắc nghiệm để tuyển chọn ta cũng nên chọn các phương pháp thích hợp thì mới dự đoán được các thành tích thực hiện công việc. Muốn thế thì khi xây dựng các bài trắc nghiệm cần phải có những người am hiểu về công việc hoặc đã nghiên cứu kỹ về công việc nhất là bản mô tả công việc, bản yêu cầu của công việc đói với người thực hiện. Hiện nay trong thực tế có rất nhiều loại trắc nghiệm do đó việc lựa chọn để sử dụng loại trắc nghiệm nào là một vấn đề khó khăn. Để đánh giá các khía cạnh của các ứng viên người ta dùng các bài trắc nghiệm bằng chính công việc mà sau này các ứng viên phải làm, hoặc là bài trắc nghiệm mẫu

    _ Trong trắc nghiệm nhân sự có nhiều loại trắc nghiệm và có nhiều cách trắc nghiệm và có nhiều cách phân loại khác nhau. Người ta có thể phân loại theo nhóm hay cá nhân, dựa vào cơ cấu, hay dựa vào kết quả đánh giá phân loại. Thông thường người ta chia trắc nghiệm nhân sự ra nhiều loại trắc nghiệm sau đây:

    Trắc nghiệm thành tích

    _ Trắc nghiệm về thành tích là loại trắc nghiệm được áp dụng rông rãi trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, thực hiện công việc …, đánh giá xem các cá nhân nắm vững nghề nghiệp, hiểu biết nghề đến mức nào, thành tích họ đạt cao hay thấp như thời gian hoan thành công việc, điểm bài thi, bài kiểm tra … Tuỳ theo từng nghề và từng công việc mà xây dựng các bài trắc nghiệm cho phù hợp

    Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng

    _ Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng được dùng chủ yếu để chỉ ra xem cá nhân nào đã học tốt trong đào tạo, sẽ thực hiện tốt công việc trong tương lai, tiếp thu tốt các kiến thức mới. Loại trắc nghiệm này được nhóm thành 3 loại là khả năng thần kinh, khả năng thuộc bản năng, khả năng vận động tâm lý

    _  Khả năng thần kinh là trắc nghiệm về trí thông minh nó được thể hiện thông qua sự tranh luận bằng lời, sự nói năng lưu loát, tốc độ nhận biết và một số đặc trưng khác

    _ Khả năng bản năng là trắc nghiệm liên quan đến khả năng nhận biết của cá nhân liên quan đến sự nhận biết các mối quan hệ thuộc bản năng

    _ Khả năng vận động tâm lý là trắc nghiệm liên quan đến các kỹ năng cá nhân trong việc thực hiện các hoạt động khác nhau của cơ thể con người như kiểm soát sự chính xác, điều phối các cảm nhận thời gian của các phản ứn, tốc độ các hoạt động của tay, sự khéo léo của tay

    _Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng thường được kết hợp thành một loạt các trắc nghiệm và sau đó được sử dụng để dự đoán các công việc trong tổ chức

             Trắc nghiệm về tính cách và sở thích

    _ Đây là loại trắc nghiệm nhằm phát hiện ra các đắc điểm tâm lý cá nhân người lao động như các loại khí chất, những ước mơ, nguyện vọng của các ứng viên, những ước muốn đề nghị … Trong thực tế có nhiều loại người có khí chất khác nhau như: Khí chất sôi nổi, khí chất linh hoạt, khí chất ưu tư, khí chất điềm tĩnh, tương ứng với các khí chất này sẽ có các thuộc tính tâm lý khác nhau như tốc độ của phản ứng, tính kích thích, tính thăng bằng, tính xúc cảm, tính cứng rắn, tính kiên trì, quá trình hưng phấn hay ức chế. Đây là nhưng tính cách cần thiết cho mỗi công việc, do đó phương pháp trắc nghiệm này sẽ cho chúng ta có thể nắm rõ được trạng thái tâm sinh lý của từng người để sử dụng vào công việc cho hợp lý.

    Trắc nghiệm về tính trung thực

    _ Tính trung thực là rất cần thiểt trong việc sử dụng lao động và trong tất cả các công việc của công tác nhân sự. Người ta thường dùng các trắc nghiệm tâm lý để đánh giá tính trung thực. Những trắc nghiệm này thường gồm những câu hỏi đề cập đến nhiều khía cạnh như là việc chấp hành kỷ luật lao động khi không có sự giám sát của các nhà quản trị, thái độ của cá nhân đối với các vấn đề ăn cắp, sự tham ô tiền bạc, sự không thật thà trong công việc … Tất cả các trắc nghiệm này giúp ta dự đoán được các hành vi không trung thực trong tương lai của người dự tuyển.

    Trắc nghiệm y học

    _ Trong một số trường hợp đặc biệt để đánh giá các phẩm chất sinh lý của các ứng viên chúng ta có thể dùng các trắc nghiệm y học để phát hiện các bệnh xã hội như HIV … Hiện nay các trắc nghiệm này thường sử dụng phân tích mẫu nước tiểu, phân tích mẫu máu.

    • Bước 4: Phỏng vấn tuyển chọn:

    _ Phỏng vấn tuyển chọn là quá trình giao tiếp bằng lời (thông qua các câu hỏi và các câu trả lời) giữa những người tuyển chọn và người xin việc, đay là một trong những phương pháp thu nhập thông tin cho việc ra quyết định tuyển chọn. Phương pháp phỏng vấn trong quá trình tuyển chpnjgiúp ta khắc phục được nhược điểm mà quá trình nghiên cứu đơn xin việc không nắm được, hoặc các văn bằng chứng chỉ không nêu hết được

    Mục tiêu của các cuộc phỏng vấn trong tuyển chọn

    Để thu thập thông tin về người xin việc . Bởi vì các thông tin thu thập được từ các công cụ tuyển chọn khác có thể chưa đủ, chưa rõ ràng, quá trình phỏng vấn tạo cơ hội cho thông tin được rõ ràng hơn, được giải thích cặn kỹ hơn

    –  Đề cao công ty – Qua phỏng ván giúp cho các nhà tuyển chọn giới thiệu về công ty của mình, làm cho người xin việc hiểu rõ về những mặt mạnh, ưu thế của công ty. Đây là hình thức quảng cáo tốt nhất.

    – Để cung cấp các thông tin về tổ chức cho người xin việc trong khi phỏng vấn nên giải thích cho các ứng viên biết rõ về tình hình công ty như mục tiêu của công ty, cơ cấu bộ mát quản lý, các chính sách về nhân sự, các cơ hội thăng tiến, việc làm…

    Thiết lập quan hệ bạn bè, tăng cường khả năng giao tiếp

    Các loại phỏng vấn. Hiện nay người ta thường áp dụng nhiều loại phỏng vấn để thu thập thông tin

    • Phỏng vấn theo mẫu

    Phỏng vấn theo mẫu là hình thức phỏng vấn mà các câu hỏi được thiết kế sẵn từ trước theo yêu cầu của công việc, phỏng vấn theo mẫu là hình thức các câu hỏi được chuẩn bị kỹ để người đi phỏng vấn hỏi và các câu trả lời của người xin việc. Quá trình phỏng vấn: Người phỏng vấn đọc to các câu hỏi và các câu trả lời để người xin việc lựa chọn và xác định câu trả lời đúng nhất của mình

    Phỏng vấn theo mẫu có ưu điểm là xác định được các nội dung chủ yếu các thông tin cần nắm nhưng nhược điểm của nó là tính phong phú của thông tin bị hạn chế. Khi người hỏi cần biết thêm chi tiết hoặc người trả lời muốn hỏi thêm đều bị giới hạn do vậy phỏng vấn theo mẫu giống như các cuộc nói truyện với máy ghi âm hay trả lời theo phiếu hỏi

    • Phỏng vấn theo tình huống:

    _Là quá trình người hỏi yêu cầu các ứng viên phải trả lời về ứng xử hay cách thực hiện, xử lý các công việc theo các tình huống giả định hoặc các tình huống có thật trên thực tế mà những người phỏng vấn đặt ra

    _Đối với phương pháp này thì vấn đề quan trọng là đưa ra được các tình huống đại diện và điển hình, các tình huống này phải dựa trên cơ sở phân tích công việc một cách chi tiết để xác định các đặc trưng cơ bản và các kỹ năng chủ yếu khi thực hiện công việc

    • Phỏng vấn theo mục tiêu:

    _Phỏng vấn theo loại này là cuộc phỏng vấn dựa vào công việc cụ thể mà yêu cầu các ứng viên phải trả lời theo những mục tiêu xác định từ trước. Các câu hỏi cũng dựa vào sự phân tích công việc một cách kỹ lưỡng để xác định các mục tiêu cho vị trí làm việc. Phương pháp phỏng vấn theo mục tiêu là phương pháp cho ta độ tin cậy cao và đúng dắn nhất

    • Phỏng vấn không có hướng dẫn:

    _Phỏng vấn không có hướng dẫn là cuộc phỏng vấn mà người đi phỏng vấn không chuẩn bị trước nội dung các câu hỏi, mà để cho các ứng viên trao đổi một cách thoải mái xung quanh công việc, người hỏi chỉ có định hướng cho cuộc thảo luận

    _Hình thức phỏng vấn này giúp cho việc thu thập thông tin đa dạng, và ở nhiều lĩnh vực, xong muốn cho đạt hiệu quả cao thì cần phải chú ý môt số vấn đề sau đây:

    – Người đi phỏng vấn phải là người nắm chắc và hiểu công việc của các vị trí cần tuyển người một cách chi tiết

    – Người đi phỏng vấn phải là người nắm chắc kỹ thuật phỏng vấn

    Quá trình phỏng vấn nên chú ý nghe, không được cắt ngang câu trả lời, không thay đổi chủ đè một cách đột ngột, không đi vào lĩnh vực quá xa vời của công việc cần tuyển

    • Phỏng vấn căng thẳng:

    _Phỏng vấn căng thẳng là hình thức phỏng vấn mà trong đó người phỏng vấn đưa ra các câu hỏi có tính chất nặng nề, mang nhiều nét của sự cật vấn, hoặc cường độ hỏi dồn dập, cách phỏng vấn này mong tìm kiếm ở các ứng viên lòng vị tha, sự ứng xử công việc trong thời gian eo hẹp, Nó giúp chúng tìm ra được những người bố trí vào những công việc căng thẳng

    • Phỏng vấn theo nhóm:

    _Phỏng vấn theo nhóm là hình thức phỏng vấn mà một người hỏi cùng lúc đối với nhiều người. Loại phỏng vấn này giúp ta có thể thu thập được nhiều thông tin hay tránh được các thông tin trùng lặp mà các ứng viên đều có, ma không cần hỏi riêng từng người một

    • Phỏng vấn hội đồng:

    _Là hình thức phỏng vấn của nhiều người đối với một ứng viên. Loại phỏng vấn này thích hợp trong trường hợp bố trí các ứng viên vào các vị trí quan trọng mà cần nhiều người tán đồng. Nó tránh được tính chủ quan khi chỉ có một người phỏng vấn và nó tạo ra tính linh hoạt và khả năng phản ứng đồng thời của các ứng viên

    • Bước 5: Khám sức khỏe và đánh giá thể lực của các ứng viên

    _ Để đảm bảo cho các ứng viên có sức làm việc lâu dài trong các tổ chức và tránh được những đòi hỏi không chính đáng của những người được tuyển về đảm bảo sức khỏe thì bước quan trọng tiếp theo là tiến hành khám sức khỏe và đánh giá thể lực của các ứng viên . Bước này do các chuyên gia y tế đảm nhận, phòng nguồn nhân lực cung cấp các tiêu chuẩn về thể lực cho các vị trí làm việc để các chuyên gia y tế dựa váo đó để tuyển chọn. Bước này cần phải được xem xét và đánh giá một cách khách quan, tránh hình thức, qua loa

    • Bước 6: Phỏng vấn bởi người lãnh đạo trực tiếp

    _ Để đảm bảo sự thống nhất từ hội đồng tuyển chọn đén người phụ trách trực tiếp và sử dụng lao động thì cần phải có sự phỏng vấn trực tiếp của người phụ trách để có được đánh giá cụ thể hơn về các ứng viên, đây là một bước nhằm xác định vai trò của các cấp cơ sở. Nó giúp ta khắc phục được sự không đồng nhất giữa bộ phận tuyển chọn và nơi sử dụng lao động

    • Bước 7: Thẩm tra các thông tin thu được trong quá trình tuyển chọn

    _ Để xác định độ tin cậy của các thông tin thu được qua các bước tuyển chọn ta phải thực hiện bước thẩm tra lại xem mức độ chính xác của các thông tin. Có nhiều cách để thẩm tra các thông tin như trao đổi với các tổ chức cũ mà người lao động đã làm việc, đã khai trong đơn xin việc, hoặc là nơi đã cấp các văn băng chứng chỉ… Các thông tin thẩm tra lại là những căn cứ chính xác để các nhà tuyển dụng ra quyết định cuối cùng

    • Bước 8: Tham quan công việc

    _Những người xin việc luôn có kỳ vọng về sự thỏa mán do đó nếu ta tạo ra sự thất vọng đối với công việc do không có đầy đủ các thông tin thì sẽ gây rất nhiều bất lợi cho người mới đến nhận công việc. Do đó để tạo điều kiện cho những người xin việc đưa ra quyết đinh cuối cùng về việc làm thì tổ chức có thể cho những ứng viên tham quan hoặc nghe giải thích đầy đủ về các công việc mà sau khi tuyenr dụng họ sẽ phải làm. Điều này giúp cho người lao dộng biết được 1 cách khá chi tiết về công việc như: mức độ phức tạp của công việc, tình hình thu nhập … Qua đó người tham gia dự tuyển sẽ nắm được những gì họ phải thực hiện trong tương lai đẻ khỏi phải ngỡ ngàng khi gặp những điều không phù hợp với suy nghĩ của họ

    • Bước 9: Ra quyết định tuyển chọn (tuyển dụng):

    ­_ Sau khi đã thực hiện đầy đủ các bước trên đây và các thông tin  tuyển dụng đã đảm bảo theo đúng yêu cầu tuyển chọn đề ra thì hội đồng tuyển chọn sẽ ra quyết định tuyển dụng đối với người xin việc. Cơ sở của việc ra quyết định này là dựa vào phương pháp đánh giá chủ quan theo thủ tục loại trừ dần và theo kết quả đánh giá của phỏng vấn và trắc nghiệm. Khi đã có quyết định tuyển dụng thì người sử dụng lao động và người lao động cần tiến hành ký kết hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động. Những cơ sở pháp lý của hợp đồng lao động là Bộ luật lao động mà nhà nước ban hành. Trong hợp đồng lao động nên chú ý một số điều khoản sau đây: thời gian thử việc, tiền công, thời gian làm thêm…

    2.3. Phân tích quá trình tuyển dụng nhân sự tại Công ty:

    Hiện tại Công ty đang áp dụng quy trình dưới đây để tuyển dụng nhân sự cho Công ty:

    STT Các bước Nội dung
    1 Lập kế hoạch

     

    tuyển dụng

    Doanh nghiệp cần xác định: số lượng nhân viên cần tuyển,

     

    các vị trí cần tuyển và các tiêu chuẩn đặt ra đối với ứng viên

    2 Xác định phương

     

    pháp và các

    nguồn tuyển dụng

    Doanh nghiệp cần xác định vị trí nào nên tuyển người ở

     

    trong, và vị trí nào nên tuyển người ở ngoài doanh nghiệp.

    Các hình thức tuyển dụng sẽ được áp dụng là gì

    3 Xác định địa điểm,

     

    thời gian tuyển

    dụng

    Doanh nghiệp cần xác định được những địa điểm cung cấp

     

    nguồn lao động thích hợp cho mình. Chẳng hạn lao động

    phổ thông, tập trung ở các vùng nông thông, còn lao động

    đòi hỏi tay nghề, chuyên môn sẽ tập trung trong các trường

    đại học, dạy nghề… Doanh nghiệp cũng phải lên được thời

    gian tuyển dụng dài hạn, ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu

    4 Tìm kiếm, lựa

     

    chọn ứng viên

    Dùng nhiều hình thức đa dạng để thu hút các ứng viên, đặc

     

    biệt là phải xây dựng được hình ảnh tốt đẹp, và đúng với

    thực tế của doanh nghiệp. Tổ chức các vòng tuyển chọn và

    các buổi gặp gỡ, phỏng vấn cởi mở với các ứng viên. Công

    việc này liên quan trực itếto tới cán bộ tuyển dụng, vì vậy

    cán bộ tuyển dụng đòi hỏi phải là người có chuyên môn tốt

    5 Đánh giá quá trình tuyển dụng Doanh nghiệp cần phải đánh giá xem quá trình tuyển dụng

     

    có gì sai sót không và kết quả tuyển dụng có đáp ứng được

    nhu cầu nhân sự của doanh nghiệp hay không. Phải xem

    xét các chi phí cho quá trình tuyển dụng, tiêu chuẩn,

    phương pháp và các nguồn tuyển dụng…có hợp lý không.

    6 Hướng dẫn nhân

     

    viên mới hòa

    nhập

    Để giúp nhân viên mới nhanh chóng nắm bắt được công

     

    việc, hòa nhập với môi trường của doanh nghiệp, bạn cần

    áp dụng những chương trình đào tạo, huấn luyện đối với

    nhân viên mới.

    • Xây dựng chiến lược tuyển dụng nhân sự:

     

    Tuyển dụng nhân sự là chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực. Phòng nguồn nhân lực có chức năng quảng cáo và thông báo tuyển người, sàng lọc người xin việc. Phòng nguồn nhân lực là cơ quan tham mưu cho các cấp lãnh do trong tổ chức (Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Giám đốc công ty,Tổng công ty . . . ) về việc hoạch định các chính sách tuyển dụng nhân sự như:

    Xác định nhu cầu tuyển dụng nhân sự xác định địa chỉ tuyển dụng nhân sự, kinh phí tuyển dụng nhân sự, các mục tiêu tuyển dụng nhân sự cụ thể. Phòng nhân lực chịu trách nhiệm hầu hết các hoạt động tuyển dụng nhân sự của tổ chức, khuyến nghị các chính sách lên các cấp lãnh đạo và quản lý các cấp về xây dựng chiến lược và các quy trình quảng cáo tìm người xin việc, thu thập các thông tin từ người xin việc, lựa chọn và sàng lọc các thông tin này, để đưa ra được những người có đủ các phẩm chất đáp ứng được các yêu cầu do công việc đòi hỏi, để có khả năng được lựa chọn. Phòng nhân lực cũng chịu trách nhiệm việc đánh giá quá trình tuyển dụng nhân sự, nghiên cứu để đưa ra được những qui trình tuyển dụng nhân sự có hiệu quả nhất.

    Các “Bản mô tả công việc” và “Bản xác định yêu cầu của công việc đối với người thực hiện” có vai trò rất quan trọng trong quá trình tuyển dụng nhân sự. Phòng Nhân lực phải lấy “Bản mô tả công việc” và “Bản yêu cầu công việc với người thực hiện” làm căn cứ để quảng cáo, thông báo tuyển dụng nhân sự, để xác định các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết mà người xin việc cần phải có nếu như họ muốn làm việc tại các vị trí cần tuyển dụng nhân sự. “Bản xác định yêu cầu của công việc đối với người thực hiện” giúp cho những người xin việc quyết định xem họ có nên nộp đơn hay không.

    • Nội dung của chiến lược tuyển dụng nhân sự bao gồm:

    a, Lập kê hoạch tuyển dụng nhân sự

     

    Trong hoạt động tuyển dụng nhân sự, một tổ chức cần xác định xem cần tuyển dụng nhân sự bao nhiêu người cho từng vị trí cần tuyển. Do có một số người nộp đơn không đủ điều kiện hoặc một số người khác không chấp nhận các điều kiện về công việc nên tổ chức cần tuyển dụng nhân sự , số người nộp đơn nhiều hơn số người họ cần thuê mướn. Các tỷ lệ sàng lọc giúp cho các tổ chức quyết định được bao nhiêu người cần tuyển dụng nhân sự cho từng vị trí cần tuyển. Các tỷ lệ sang lọc thể hiện mối quan hệ về số lượng các ứng viên còn lại ở từng bước trong quá trình tuyển chọn và số người sẽ được chấp nhận vào bước tiếp theo.

    Trong kế hoạch tuyển dụng nhân sự, chúng ta phải xác định được các tỷ lệ sàng lọc chính xác và hợp lý.

    Tỷ lệ sàng lọc có ảnh hưởng tới chi phí tài chính, tâm lý của người dự 1 tuyển và kỳ vọng của người xin việc. Tỷ lệ sàng lọc ở các tổ chức của nước ta hiện nay được xấp định tuỳ theo ý định chủ quan của người lãnh đạo mà chưa có những căn cứ xác đáng trên cơ sở khoa học. Các tỷ lệ sàng lọc phần lớn do tính đặc thù của công việc, tâm lý xã hội của người xin việc quyết định trong đó yếu tố thu nhập có ý nghĩa quan trọng nhất. Do đó khi xác định tỷ lệ sàng lọc ta cần phải căn cứ vào các yếu tố như:

    Căn cứ vào thị trường lao động (cung – cầu lao động);

    Căn cứ vào chất lượng của nguồn lao động;

    Căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc;

    Căn cứ tâm lý chọn nghề của tập thể người lao động;

    Kinh nghiệm của tổ chức trong công tác tuyển dụng nhân sự

    • Chúng ta có thể tham khảo ví dụ sau:

    Tỷ lệ sàng lọc ở Công ty Da giày X:

    Tỷ lệ giữa số người được phỏng vấn và số người được mời đến ở vòng tiếp theo là 6/1 .

    Tỷ lệ số người được mời đến và số người được đề xuất tuyển là 5/1.

    Tỷ lệ giữa số người được đề xuất và số người được chấp nhận là

    Như vậy tỷ lệ chung cho cả quá trình tuyển dụng nhân sự là 60/1, điều này có nghĩa là cứ 60 người được mời đến phỏng vấn thì có 1 người được chấp nhận vào làm việc.

    Khi lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự cần phải chú ý tới cơ hội có việc làm công bằng cho người lao động, không nên có các biểu hiện thiên vị, định kiến khi tuyển . Khi đã xác định được số lượng người cụ thể cần tuyển dụng nhân sự thì vấn đề còn lại là phải xác định được các nguồn tuyển dụng nhân sự, thời gian và phương pháp tuyển dụng nhân sự

    b, Xác định nguồn và phương pháp tuyển dụng nhân sự

     

    Để tuyển dụng nhân sự được đủ số lượng và chất lượng người lao động vào các vị

    trí việc làm còn thiếu người, tổ chức cần cân nhắc, lựa chọn xem ở vị trí công việc nào nên lấy người từ bên trong tổ chức và vị trí nào nên lấy người từ bên ngoài tổ chức và đi kèm với nó là phương pháp tuyển phù hợp. Tuyển dụng nhân sự từ bên ngoài hay đề bạt người lao động từ vị trí công việc thấp hơn lên vị trí công việc cao hơn là một vấn đề phải xem xét kỹ vì các lýdo sau:

    Nguồn nhân lực bên trong tổ chức, bao gồm những người đang làm việc cho tổ chức đó.

    Đối với những người đang làm việc trong tổ chức, khi ta tuyển dụng nhân sự những người này vào làm tại các vị trí cao hơn vị trí mà họ đang đảm nhận là ta đã tạo ra được động cơ tết cho tất cả những người làm việc trong tổ chức.

    Vì khi họ biết sẽ có cơ hội được đề bạt họ sẽ làm việc với động lực mới và họ sẽ thúc đẩy quá trình làm việc tết hơn, sẽ làm tăng sự thoả mãn đối với công việc, sẽ tăng được tình cảm, sự trung thành của mọi người đối với tổ chức.

    • Ưu điểm của nguồn này là:

    Đây là những người đã quen với công việc trong tổ chức, họ đã qua thử            thách về lòng trung thành. Cái được lớn nhất khi đề bạt nguồn này là tiết kiệm được thời gian làm quen với công việc, quá trình thực hiện công việc diễn ra liên tục không bị gián đoạn, hạn chế được một cách tối đa ra các quyết định sai trong đề bạt và thuyên chuyển lao động.

     

     

    • Nhược điểm của nguồn này là:

    Khi đề bạt những người đang làm việc trong tổ chức chúng ta phải đề phòng sự hình thành nhóm “ứng cử viên không thành công”

    (đây là những người không được bổ nhiệm) nhóm này thường có biểu hiện như không phục lãnh đạo, không hợp tác với lãnh đạo v.v.

    Những nhược điểm này thường tạo ra những xung đột về tâm lý như chia bè phái, gây mâu thuẫn nội bộ.

    – Đối với các tổ chức có quy mô vừa và nhỏ, nếu chúng ta chỉ sử dụng nguồn trong nội bộ thì sẽ không thay đổi được chất lượng laođộng.

    Khi xây dựng chính sách đề bạt trong tổ chức cần phải có một chương trình phát triển lâu dài với cách nhìn tổng quát hơn, toàn diện hơn và phải có quy hoạch rõ ràng.

    Đối với nguồn tuyển dụng nhân sự từ bên ngoài tổ chức, đây là những người mới đến xin việc, những người này bao gồm:Những sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề (Bao gồm cả những người được đào tạo trong nước và ở nước ngoài); Những người đang trong thời gian thất nghiệp, bỏ việc cũ;

    Những người đang làm việc tại các tổ chức khác.

    • ưu điểm của nguồn này là:

     Đây là những người được trang bị những kiến thức tiên tiến và có hệ thống;

    Những người này thường có cách nhìn mới đối với tổ chức;

     Họ có khả năng làm thay đổi cách làm cũ của tổ chức mà không sợ những người trong tổ chức phản ứng;

    • Nhược điểm của nguồn này là:

    Tuyển người ở ngoài tổ chức chúng ta sẽ phải mất thời gian để  hướng dẫn họ làm quen voi công việc.

     Nếu chúng ta thường xuyên tuyển người ở bên ngoài tổ chức (nhất là trong việc đề bạt, thăng chức) thì sẽ gây tâm lý thất vọng cho những người trong tổ chức vì họ nghĩ rằng họ sẽ không có cơ hội được thăng tiến, và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp khi thực hiện các mục tiêu của tổ chức.

    Nếu chúng ta tuyển mộ những người đã làm việc ở các đối thủ cạnh tranh thì phải chú ý tới các điều bí mật của đối thủ cạnh tranh, nếu không họ sẽ kiện. Vì xưa nay còn tồn tại ý kiến cho rằng người lao động khi chạy sang với chủ mới thường hay lộ bí mật về cácthông tin kinh doanh của họ.

    Khi tuyển nguồn từ bên ngoài tổ chức chúng ta cần chú ý tới một số rủi ro có thể xảy ra bởi vì những kỹ năng của các ứng viên này mới chỉ dừng ở dạng tiềm năng nó chưa được thể hiện trực tiếp ra bên ngoài do đó người được tuyển mộ sẽ không đáp ứng được ngay cho công việc.

    Phòng Nguồn nhân lực cũng cần quyết định xem sẽ sử dựng những phương pháp nào để có thể tìm được những người nộp đơn xin việc. Các trung tâm giới thiệu việc làm, các áp phích, quảng cáo trên báo chí là những phương pháp hay được sử dụng nhất để thu hút người xin việc.

    c Xác định nơi tuyển dụng nhân sự và thời gian tuyển dụng nhân sự

    Các tổ chức cần phải lựa chọn các vùng để tuyển dụng nhân sự, vì đây là những yếu tố quyết định sự thành công của quá trình tuyển. ở nước ta hiện nay thị trường lao động nông nghiệp là nơi tập trung chủ yếu lao động có chất lượng rất thấp, do vậy khi tuyển dụng nhân sự lao động phổ thông với số lượng lớn thì ta chú ý vào thị trường này. Đối với các loại lao động cần chất lượng cao thì chúng ta tập trung vào các địa chỉ sau:

    Thị trường lao động đô thị nơi tập trung hầu hết các loại lao động có chất lượng cao của tất cả các ngành nghề như kỹ thuật, kinh tế quản lý và nhất là các nghề đặc biệt.

    Các trường đại học, cao đẳng, trung học, dạy nghề.

    Các trung tâm công nghiệp và dịch vụ, các khu chế xuất và có vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi xác định các địa chỉ tuyển dụng nhân sự chúng ta cần phải chú ý tới một số vấn đề sau đây:

         Các tổ chức cần xác định rõ thị trường lao động quan trọng nhất của mình, mà ở đó có nhiều đối tượng thích hợp nhất cho công việc trong tương lai.

    Phân tích lực lượng lao động hiện có để từ đó xác định nguồn gốc của những người lao động tết nhất. Ví dụ, cùng đào tạo trong khối ngành kinh tế, nhưng sẽ có một số trường đại học cho ta những sinh viên thích ứng được với mọi công việc và luôn đạt được hiệu

    quả cao.

    Nhưng nếu ta lạm dụng quá nhiều vào một nguồn cụ thể khi tuyển dụng nhân sự thì sẽ làm tăng khả năng phân biệt đối xử, làm mất đi tính đa dạng, phong phú của nguồn tuyển dụng nhân sự.

    Khi các địa chỉ tuyển dụng nhân sự đã được khẳng định thì vấn đề tiếp theo của các tổ chức là xác định thời gian và thời điểm tuyển dụng nhân sự. Để xác định thời gian và thời điểm trong chiến lược tuyển dụng nhân sự ta cần lập kế hoạch cho thời gian trước mắt và lâu dài (< 1 năm, 3 năm, 5 năm). Kế hoạch thời gian tuyển mộ phải căn cứ vào mục tiêu của các tổ chức đã xây dựng tương ứng (qui mô kinh doanh, tốc độ tăng trưởng, tính chất công nghệ).

     

    • Tìm kiêm người xin việc

    Khi đã xây dựng xong chiến lược tuyển dụng nhân sự và đã lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự  thì các hoạt động tuyển dụng nhân sự được tiến hành. Quá trình tìm kiếm người xin việc có vị trí quan trọng, nó được quyết định bởi các phương pháp thu hút người xin việc.. ở nước ta hiện nay có nhiều phương pháp thu hút người xin việc, các phương pháp này phụ thuộc vào các nguồn tuyển dụng nhân sự mà tổ chức dự định sẽ thu hút.

    Trong quá trình tuyển dụng nhân sự các tổ chức sẽ gặp khó khăn khi thu hút những người lao động có trình độ cao trong những thị trường cạnh tranh gay gắt. Trong các điều kiện như thế thì các tổ chức phải đưa ra được các hình thức kích thích hấp dẫn để tuyển được những người phù hợp với yêu cầu của công việc với mục tiêu là tuyển được người tài và đảm bảo họ sẽ làm việc lâu dài trong tổ chức.

    Hình thức gây sự chú ý đầu tiên đối với người lao động là hình ảnh về tổ chức. Để có một ấn tượng mạnh về tổ chức ta nên truyền tải các hình ảnh đẹp có lợi cho tổ chức và phải vẽ ra được những viễn cảnh tương lai của tổ chức. Tuy vậy, khi giải quyết vấn đề này các nhà tuyển dụng nhân sự thường có tâm lý sợ rằng nếu nói sự thật thì các ứng viên sẽ không nộp đơn còn quá tô hồng sẽ gây những cú sốc cho những người được nhận vào làm việc, sẽ làm cho họ vỡ mộng, thiếu tin tưởng và các cảm giác khác khi chưa được chuẩn bị kỹ về trạng thái tâm lý. Kinh nghiệm thực tế đã cho chúng ta thấy rằng:

    Khi người lao động được cung cấp các thông tin đúng với thực tế của công việc thì số người nộp đơn xin việc không giảm và tỷ lệ người bỏ việc giảm rõ rệt so với việc cung cấp thông tin tô hồng.

    Khi các tổ chức cung cấp cho người xin việc các thông tin trung thực thì sẽ ngăn chặn được các cú sốc do kỳ vọng của người lao động tạo nên bởi họ đã nắm được các thông tin chính xác tại nơi làm việc nên họ sẵn sàng đón nhận các tình huống được coi là xấu nhất.

    Trong chiến lược thu hút nguồn nhân lực của mình các tổ chức cần phải cân nhắc các hình thức kích thích để đưa ra khi công bố trên các phương tiện quảng cáo. Trong thực tế những người nộp đơn xin việc thường bị thu hút bởi mức lương và mức tiền thưởng cao. Đây là hình thức hấp dẫn nhất, còn trong trường hợp những người này từ chối tiền lương cao thì tổ chức phải xem xét đưa ra các hình thức thích hợp nhất.

    Vấn đề tiếp theo là xác định các cán bộ tuyển mộ có hiệu quả bởi vì năng lực của người tuyển dụng nhân sự có tính chất quyết định nhất đến chất lượng của tuyển dụng nhân sự Trong quá trình tuyển dụng nhân sự những nhân viên và các cán bộ tuyển dụng nhân sự là người đại diện duy nhất cho tổ chức, vì vậy những người xin việc coi những người này là hình mẫu của họ, do đó cán bộ tuyển mộ cần như đảm bảo các yêu cầu sau: xin việc, các phương pháp này phụ thuộc vào các nguồn tuyển mộ mà tổ chức dự định sẽ thu hút.

    Trong quá trình tuyển dụng nhân sự các tổ chức sẽ gặp khó khăn khi thu hút những người lao động có trình độ cao trong những thị trường cạnh tranh gay gắt. Trong các điều kiện như thế thì các tổ chức phải đưa ra được các hình thức kích thích hấp dẫn để tuyển được những người phù hợp với yêu cầu của công việc với mục tiêu là tuyển được người tài và đảm bảo họ sẽ làm việc lâu dài trong tổ chức.

    Hình thức gây sự chú ý đầu tiên đối với người lao động là hình ảnh về tổ chức. Để có một ấn tượng mạnh về tổ chức ta nên truyền tải các hình ảnh đẹp có lợi cho tổ chức và phải vẽ ra được những viễn cảnh tương lai của tổ chức. Tuy vậy, khi giải quyết vấn đề này các nhà tuyển mộ thường có tâm lý sợ rằng nếu nói sự thật thì các ứng viên sẽ không nộp đơn còn quá tô hồng sẽ gây những cú sốc cho những người được nhận vào làm việc, sẽ làm cho họ vỡ mộng, thiếu tin tưởng và các cảm giác khác khi chưa được chuẩn bị kỹ về trạng thái tâm lý. Kinh nghiệm thực tế đã cho chúng ta thấy rằng:

    Khi người lao động được cung cấp các thông tin đúng với thực tế của công việc thì số người nộp đơn xin việc không giảm và tỷ lệ người bỏ việc giảm rõ rệt so với việc cung cấp thông tin tô hồng.

    Khi các tổ chức cung cấp cho người xin việc các thông tin trung thực thì sẽ ngăn chặn được các cú sốc do kỳ vọng của người lao động tạo nên bởi họ đã nắm được các thông tin chính xác tại nơi làm việc nên họ sẵn sàng đón nhận các tình huống được coi là xấu nhất.

    Trong chiến lược thu hút nguồn nhân lực của mình các tổ chức cần phải cân nhắc các hình thức kích thích để đưa ra khi công bố trên các phương tiện quảng cáo. Trong thực tế những người nộp đơn xin việc thường bị thu hút bởi mức lương và mức tiền thưởng cao. Đây là hình thức hấp dẫn nhất, còn trong trường hợp những người này từ chối tiền lương cao thì tổ chức phải xem xét đưa ra các hình thức thích hợp nhất.

    Vấn đề tiếp theo là xác định các cán bộ tuyển dụng nhân sự có hiệu quả bởi vì năng lực của người tuyển dụng nhân sự có tính chất quyết định nhất đến chất lượng của tuyển dụng nhân sự. Trong quá trình tuyển dụng nhân sự những nhân viên và các cán bộ tuyển dụng nhân sự là người đại diện duy nhất cho tổ chức, vì vậy những người xin việc coi những người này là hình mẫu của họ

     

    3. Đánh giá thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty trong thời gian qua:

              3.1. Ưu điểm:

    Công tác tuyển chọn nhân sự đã thực sự là điểm mạnh của Ccông ty trong những năm hoạt động vừa qua. Công ty đã có một qui trình tuyển chọn nhân viên bài bản, khoa học và chặt chẽ; giúp cho công ty luôn chọn lọc các nhân viên có trình độ cao, phù hợp với yêu cầu của công việc và nhờ quá trình tuyển dụng tốt mà trong những năm qua, lúc nào nguồn nhân lực trong công ty cũng đảm bảo nhờ đó mà mọi công việc của Công ty không bị gián đoạn và đem lại hiệu quả cao trong công việc, cho các dự án lớn

    Xác định nhu cầu tuyển chọn, Công ty luôn căn cứ vào bản mô tả chi tiết công việc, xác định những công việc thừa người, thiếu người, thông qua trưởng bộ phận để xác định về số lượng , tiêu chuẩn cần tuyển … do vậy luôn có những tác động nhanh chóng, kịp thời với thực tế, đảm bảo mọi công việc của công ty được thông suốt.

    Để giúp cho công tác tuyển dụng tuyển chọn được những nhân viên tốt nhất, phù hợp với công việc nhất, ngay từ khi tiép nhận và nghiên cứu hồ sơ, công ty đã tiến hành một cách khoa học, có trình tự để có thể loại đi những hồ sơ không đúng yêu cầu, loại những hồ sơ còn thiếu kinh nghiệm, thiếu thủ tục và nhập nhằng khó hiểu. Công tác tuyển dụng của công ty đã được giao toàn bộ cho bộ phận Tổ chức – Hành chính đảm đương cho thấy sự chú trọng đến công tác này của công ty.

    Để có được những nhân viên đầy đủ năng lực, đạo đức nhất, phù hợp với yêu cầu công việc công ty đã lựa chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Để quá trình này diễn ra có khoa học, có quy củ công ty đã lập ra Hội đồng phỏng vấn bao gồm  những người có thẩm quyền lớn bao gồm như Giám đốc công ty, trưởng bộ phận đề nghị tăng nhân sự, trưởng bộ phận Tổ chức – Hành chính (tuỳ từng chức vụ mà có Hội đồng phỏng vấn khác nhau). Và tién hành phỏng vấn một cách chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng thông qua quá trình phỏng vấn có quy mô; tiến hành phỏng vấn sơ bộ rồi phỏng vấn chuyên môn trước khi phỏng vấn về đạo đức, tác phong của nhân viên đề tập hợp, đánh giá và có thể ra quyết định lựa chọn một cách chính xác nhất.

    Hội đồng phỏng vấn tiến hành chấm điểm cho từng cử chỉ, tác phong , từng cách ứng sử trong mỗi vòng phỏng vấn để có thể nhận được những thông tin chi tiết, chính xác nhất về ứng viên giúp cho việc lựa chọn có nhiều cơ sở hơn.

    Ngoài ra trong công tác đánh giá và thử việc, công ty đã thực hiện tương đối tốt việc đánh giá ứng viên công ty đã căn cứ vào phiếu điểm được chấm cho mỗi ứng viên để lựa chọn được những ứng viên tốt nhát cho bước đầu tuyển chọn ứng viên làm nhân viên.

       3.2. Nhược điểm:

    Khi đăng thông tin tuyển dụng,Công ty mới chỉ dừng lại ở báo chí và các Công ty giới thiệu việc làm chưa đăng tin thông báo lên đài, ti vi do vậy nguồn ứng viên đến nộp đơn tuyển chọn cũn bị hạn chế.

    Công ty chưa quan tâm nhiều đến một số nguồn như nhân viên cũ hay nhân viên tại các trường đại học, cao đẳng do vậy nguồn tuyển chọn cũn bị hạn chế

    Trong công tác tuyển chọn công ty chưa áp dụng công tác trắc nghiệm vào làm cho hiệu quả của tuyển chọn chưa được cao.

    Công ty còn có điểm hạn chế khi chưa quan tâm đúng mức tới nhân viên thử việc, thường những người được bố trí kèm , chỉ bảo nhân viên mới lại rất bận với công việc nên chưa nhiệt tình chỉ bảo cho họ dẫn đến tình trạng hay làm hỏng việc của các nhân viên mới dẫn đến tình trạng chán nản và không thực hiện tốt công việc mà công ty giao cho

    4.Đánh giá hiệu quả hoạt dộng tuyển dụng tại công ty:

    • Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động:

     

    • Số người nộp đơn xin việc(càng cao càng tốt)
    • Số người được tuyển dụng trên tổng số người nộp đơn xin việc
    • Năng suất lao động chung của công ty, sau khi tuyển dụng
    • Số người thành đạt sau 5 năm tuyển dung (càng cao càng tốt)
    • Chi phí tuyển dụng trên 1 đầu người (càng thấp càng tốt)
    • Thời gian tuyển dụng (càng rút ngắn càng tốt)
    • Số lượng và chất lượng của hồ sơ xin tuyển dụng
    • Tỷ lệ giữa nhân viên dược tuyển với số lượng dự định tuyển dụng
    • Kết quả thực hiện công việc của nhân viên mới
    • Số lượng nhân viên mới bỏ việc
    • Số lần tổ chức tuyển dụng trong năm của công ty
    • Chi phí tuyển dụng cho 1 lần tổ chức
    • Ý kiến của nhân viên về tổ chức tuyển dụng của công ty
    • Thời gian tuyển dụng
    • Số lượng ứng viên chấp nhận và từ chối nhận công việc ở mức lương nhất định

     

    • Trong quá trình tuyển dụng có 4 khả năng có thể xảy ra cho mỗi ứng viên:

     

    Năng lực hoàn thành

     

    Công việc của ứng viên

    Quyết định tuyển chọn
               Loại bỏ        Tuyển dụng
    Tốt                 (2)

     

    sai lầm

    (Đánh giá quá thấp)

                   (1)

     

    chính xác

    Không tốt                 (3)

     

    chính xác

                   (4)

     

    sai lầm

    (Đánh giá quá thấp)

    Ô (1) và ô (3) chỉ ra các quyết định tuyển dụng chính xác : tuyển ứng viên có khả năng thực hiện tốt công viêc và loại bỏ những ứng viên không có khả năng thực hiện tốt công việc .

    Trong ô (2) nhà quản trị đã đánh giá ứng viên thấp hơn thực tế có thể vì 1 số sơ xuất nào đó của nhà quản trị không hài lòng và ứng viên bị loại. Nhìn chung trong thực tế sai lầm này ít khi được phát hiện và cũng rất khó đo lường được sự thiệt hại của doanh nghiệp do để mất ứng viên giỏi nêu sau này ứng viên đó nổi tiếng .

    Ngược lại trong ô (4) nhà quàn trị đã đánh giá nhân viên quá cao thu nhận vào tổ chức doanh nghiệp những ứng viên không phù hợp , thực hiện công việc ở mức yếu kém . Điều này thường xảy ra khi thái độ tác phong diện mạo sở thích hoặc 1 yếu tố nào đó đã gây ấn tượng tốt cho nhà quản trị .

    • .Ưu điểm:

    Bộ máy quản trị nhân sự của công ty nhỏ gọn nhưng có sự phân công và hiệp tác lao động chặt chẽ nên hoạt động hiệu quả. Công tác phân tích công việc được đầu tư đáng kể và đã đạt được nhiều kết quả.Vấn đề bảo hộ lao động rất được quan tâm và đầu tư nên hiếm khi xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Việc phổ biến luật lao động được thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật đang ngày càng nâng cao hiểu biết của người lao động về quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình.

    • Nhược điểm:

    Công tác phân tích công việc, “xương sống của hoạt động quản trị nhân lực” mặc dù đã được đầu tư đạt nhiều kết quả song vẫn còn hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện để đưa ra các bản tiêu chuẩn đánh giá công việc 1 cách chính xác. Công tác tuyển dụng nhiều khi không tuân theo quy trình chuẩn. Công tác đánh giá thực hiện công việc còn nhiều điểm chưa phù hợp, không thu hút được người lao động tham gia, kết quả đánh giá chưa được sử dụng vào các quyết định nhân sự

     

     

     

     

    Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    I.Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tuyển dụng tại Công ty

    Chìa khóa giúp xây dựng thành công một chương trình tuyển dụng là tuân thủ một quy trình đã được công nhận cho từng vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển dụng. Thông thường, một trình tự tuyển dụng có hiệu quả phải bao gồm những bước sau:

    1.Xây dựng các bản mô tả công việc rõ ràng.

    Các bản mô tả công việc phải có những nhiệm vụ đặt ra cho từng vị trí, kỹ năng chuyên môn mà ứng viên phải có, cá tính, phẩm chất quan trọng ứng viên cần có để hoàn thành nhiệm vụ và những kinh nghiệm riêng có của một ứng viên so với các ứng viên khác.

    2.Soạn ra một mẫu hồ sơ thành công điển hình.

    Ngoài việc xây dựng các bản mô tả công việc, doanh nghiệp phải soạn ra một mẫu hồ sơ của một nhân viên thành công điển hình cho các vị trí chủ chốt – những vị trí vốn có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp bạn hiện có 20 nhân viên bán hàng. Trong số này, 4 người (20%) có thành tích tốt nhất, 12 có thành tích trung bình, còn lại là không có thành tích gì nổi bật. Nếu số nhân viên có thành tích nổi bật có thể tăng từ 20% lên 33% thì rất có ý nghĩa đối với kết quả hoạt động kinh doanh.

    Để đạt được mục tiêu nói trên, bạn cần phải lập hồ sơ của tất cả các nhân viên trong phòng kinh doanh để xác định xem những người thuộc hàng “top” khác với các nhân viên bình thường ở những điểm nào. Với những thông tin này, bạn có thể xây dựng được một hồ sơ mẫu thành công điển hình để tuyển dụng những người có khả năng thành công cao nhất ở một vị trí nào đó.

    3.Phác thảo quảng cáo tuyển dụng, mô tả vị trí cần tuyển dụng và các yêu cầu đặt ra cho ứng viên.

    Mặc dù trên thực tế có nhiều ứng viên bỏ qua những thông tin này, cứ “tự nhiên” nộp đơn xin việc không cần suy nghĩ, thì việc mô tả công việc và yêu cầu đặt ra cho ứng viên trên quảng cáo tuyển dụng sẽ giúp giảm bớt số hồ sơ xin việc không đặt yêu cầu gửi đến doanh nghiệp.

    4.Đăng quảng cáo tuyển dụng trên các phương tiện có khả năng tiếp cận với các ứng viên tiềm năng nhiều nhất.

    Theo khuynh hướng hiện nay, Internet đang trở thành công cụ mạnh nhất cho các quảng cáo tuyển dụng. Tuy nhiên, quảng cáo trên các ấn bản chuyên ngành và các tờ báo địa phương đôi khi cũng có tác dụng rất tốt.

    5.Xây dựng những câu hỏi sơ tuyển qua điện thoại.

    Việc soạn ra những câu hỏi sơ tuyển qua điện thoại giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định được các ứng viên đạt yêu cầu và loại bỏ những ứng viên không đạt yêu cầu.

    6.Xem xét các lý lịch (resume, C.V)

    Ứng viên và xác định các ứng viên tốt nhất. Số hồ sơ xin việc nhận được đôi khi vượt qua ước tính của doanh nghiệp. Trong quá trình xem xét các hồ sơ này, hãy xác định đâu là những điểm doanh nghiệp cần tìm xét về kinh nghiệm, trình độ học vấn, kỹ năng làm việc. Việc làm này sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định được các ứng viên tiềm năng.

    7.Sơ vấn các ứng viên qua điện thoại.

    Sau khi đã rút ngắn danh sách những ứng viên tiềm năng thông qua việc xem xét hồ sơ, việc làm tiếp theo là bạn nên gọi điện thoại để sơ vấn các ứng viên này nhằm rút ngắn hơn nữa số ứng viên đã đạt yêu cầu qua việc xem xét hồ sơ. Các bảng câu hỏi cần phải nhất quán, kể cả trong giai đoạn này lẫn giai đoạn phỏng vấn trực tiếp, nhằm bảo đảm tính công bằng trong cách đánh giá ứng viên.

    8.Chọn ứng viên để đánh giá.

    Dựa trên các câu trả lời của ứng viên thông qua các cuộc sơ vấn bằng điện thoại, doanh nghiệp có thể chọn ra những ứng viên đạt yêu cầu tốt nhất cho bước tiếp theo của quá trình tuyển dụng.

    9.Đánh giá kỹ năng và phẩm chất của các ứng viên tiềm năng

    Thông qua các công cụ đánh giá đã được công nhận. Ở các bước trên, doanh nghiệp chưa thể hiểu nhiều về ứng viên. Vì vậy, cần phải có một công cụ đánh giá đáng tin cậy nhằm phân tích những điểm mạnh thuộc về tư duy và cách ứng xử của ứng viên.

    Chẳng hạn, thông qua một bài kiểm tra, doanh nghiệp có thể biết được ứng viên là người cẩn thận hay cẩu thả, hướng nội hay hướng ngoại, dễ chịu hay khó nhượng bộ, cởi mở với các ý tưởng mới hay là người bảo thủ… Thông qua hồ sơ mẫu thành công điển hình, doanh nghiệp có thể xác định những phẩm chất nào là quan trọng đối với một vị trí nào đó. Những bài kiểm tra có thể được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua Internet. Kết quả của các bài kiểm tra này sẽ là căn cứ mời các ứng viên đạt yêu cầu tham dự phỏng vấn.

    10.Lên các cuộc hẹn phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn.

    Trong bước này, doanh nghiệp nên dựa trên một bảng câu hỏi gồm từ 10-12 câu hỏi thống nhất làm cơ sở để đánh giá các ứng viên.

    11.Lựa chọn ứng viên.

    Việc chọn lựa thường được dựa trên các hồ sơ mẫu của các cá nhân thành công điển hình.

    12.Thực hiện kiểm tra quá trình làm việc hoặc học tập trước đây của ứng viên

    Nhằm phát hiện ra những vấn đề mà ứng viên chưa bộc lộ ra trong các cuộc phỏng vấn và thi tuyển.

    13.Gửi thư chào việc (offer) cho ứng viên.

    Những thông tin thu thập được trong quá trình phỏng vấn sẽ giúp doanh nghiệp có những cơ sở để xác định mức lương bổng cũng như các chương trình đào tạo cần thiết cho ứng viên được tuyển dụng.

    II.Giải pháp hoàn thiện hiệu quả hoạt động tuyển dụng tại Công ty

    Công ty Cổ phần xây dựng Nam Long là Công ty chuyên nhận thiết kế,lắp đặt xây dựng công trình xây dựng, vì vậy nhu cầu về số lượng cán bộ quản lý rất ít, chủ yếu là nhu cầu tuyển dụng lao động xây dựng trực tiếp. Do quá trình tuyển dụng công nhân lao dộng không phức tạp và yêu cầu, đòi hỏi đối với đối tượng này không cao nên công tác tuyển dụng tương đối đơn giản.

    Trong thời gian qua, Công ty đã tiến hành công tác tuyển dụng khá hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nhân lực để thực hiện tốt hoạt động  phù hợp với tình hình thực tế của Công ty. Công ty đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác tuyển dụng đối, do đó công tác tuyển dụng luôn được Công ty quan tâm và thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ. Phòng tổ chức hành chính tiến hành theo dõi danh sách công nhân viên thực hiện chế độ hưu trí, đặc biệt là danh sách lao động thực hiện chế độ thai sản do phần lớn lao động trong Công ty là lao động nữ để lập kế hoạch nhân sự một cách kịp thời và chính xác, kế hoạch về nhân lực cũng được lập dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh trong năm của Công ty.

    Mặc dù kết quả công tác tuyển dụng của Công ty hoàn toàn đáng ghi nhận  và công tác này đã thực sự được Công ty xác định đúng đắn vai trò của nó, thực hiện tương đối hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả của Công ty trong thời gian qua. Nhưng bên cạnh những điểm mạnh đó, công tác tuyển dụng của Công ty vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác tuyển dụng và hoàn thiện công tác này tại Công ty Cổ phần Xây Dựng Nam Long, dưới đây, tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện công tác tuyển dụng tại Công ty:

    1. Thiết lập bộ phận tuyển dụng nhân sự độc lập để tập trung mọi nỗ lực vào công tác quản trị nhân sự nói chung và công tác tuyển dụng nói riêng:

    Do hiện nay, Công ty chưa có phòng nhân sự  phụ trách toàn bộ hoạt động quản trị nhân sự mà do phòng tổ chức hành chính kiêm tất cả công việc. Với sự phát triển của nền kinh tế, sức cạnh tranh khốc liệt của thị trường kéo theo sự biến động phức tạp trong công tác quản lý và sử dụng nguồn lực. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ, thống nhất, linh hoạt trong mọi hoạt động của tổ chức. Sự ra đời của bộ phận chuyên môn phụ trách lĩnh vực quản trị nhân sự sẽ giải quyết được các vấn đề đó không những với riêng công tác tuyển dụng hay hoạt động quản trị nhân sự nói chung mà là với toàn bộ hoạt động của Công ty. Công tác tuyển dụng từ đây cũng thu được hiệu quả tối đa với chi phí thấp nhấp.

    Phòng nhân sự bao gồm: Trưởng phòng nhân sự có thể là cán bộ trực tuyến chuyển từ một lĩnh vực khác của Công ty cũng có thể là người được tuyển từ bên ngoài. Người đó phải có kiến thức rộng và được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ. Các nhân viên chuyên môn phòng nhân sự là những người chuyên nghiệp, có kinh nghiệm trong lĩnh vực may mặc, phải nắm được các phương tiện, kỹ thuật quản lý hiện đại, năng động trong công việc. Nhân viên trợ giúp như tiếp tân, đánh máy, thư ký quản lý hồ sơ, thu thập và báo cáo dữ liệu.

    Sự tách ra độc lập của phòng nhân sự sẽ giảm bớt gánh nặng cho phòng tổ chức hành chính cũ, cán bộ quản lý cũng được giảm thiểu số lượng công việc vừa tăng nỗ lực tập trung vào công việc của họ vừa phát huy đựơc hiêu quả trong quản lý nguồn nhân sự của Công ty. Đồng thời, các nội dung của hoạt động quản trị nhân sự cũng được thực hiện một cách đầy đủ hơn và hiệu quả, khoa học hơn.

    1. Xây dựng kế hoạch nhân sự linh hoạt, khoa học cụ thể cho từng giai đoạn, từng thời kỳ biến công tác tuyển dụng từ thế bị động sang thế chủ động.

    Hoạch định nhu cầu nhân sự là quá trình là xác định một cách có hiệu quả những yêu cầu về số lượng, chất lượng lao động theo cơ cấu ngành nghề đáp ứng nhu cầu của các tổ chức trong doanh nghiệp ở mỗi thời kỳ.

    Kế hoạch nhân sự phải dựa căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của Công ty, định mức gia công xây dựng công trình theo kế hoạch được duyệt và định hướng chiến lược của Công ty trong từng thời kỳ kinh doanh. Kế hoạch nhân sự cũng phải căn cứ vào dự báo về tình hình tăng trưởng phát triển của ngành Xây dựng qua từng thời kỳ và vào dự báo biến động nhân sự trong nội bộ Công ty, trên thị trường lao động nói chung. Việc xác định được đúng căn cứ lập kế hoạch sẽ giúp cho kế hoạch mà Công ty lập khoa học và hiệu quả hơn đồng thời linh hoạt đáp ứng được sự thay đổi trong tuyển dụng nhân sự. Khi có xây dựng.

    Hoạch định nhân sự phải bao gồm các bước:

    • Xác định nhu cầu và khả năng nhân sự
    • Cân đối nhu cầu và khả năng nhân sự
    • Đề ra chính sách và kế hoạch thực hiện
    • Kiểm soát và đánh giá

    Kế hoạch nhân sự đảm bảo trên các căn cứ và thực hiện theo quy trình giúp Công ty có được một kế hoạch nhân sự khoa học, linh hoạt. Khi đó Công ty không phải ở thế bị động vì chỉ khi có nhu cầu nhân sự mới có kế hoạch tuyển dụng mà chuyển sang thế chủ động. Từ nghiên cứu tình hình biến động thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh cùng các căn cứ kế hoạch từ đó kế hoạch nhân sự được đưa ra có yếu tố dự phòng biến động bên ngoài giúp Công ty chủ động trong công tác tuyển dụng. Công tác tuyển dụng không những ở thế chủ động, tăng hiệu quả tuyển dụng mà còn giúp Công ty giảm thiểu chi phí tuyển dụng, như vậy hiệu quả hoạt động của Công ty được nâng cao và chi phí hoạt động của Công ty được hạn chế một cách tốt nhất.

    1. Nâng cao trình độ chuyên môn, phát triển toàn diện vai trò của cán bộ làm công tác tuyển dụng nói riêng, công tác quản trị nhân sự nói chung.

    Chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công tác tuyển dụng phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác tuyển dụng cũng như trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản trị nhân sự. Khi cán bộ quản trị có trình độ chuyên môn kịp thời nắm bắt được nhu cầu nhân sự từ đó có kế hoạch tuyển dụng cụ thể cho từng thời kỳ. Năng lực của cán bộ chuyên môn tốt vừa tiết kiệm thời gian và chi phí cho công tác tuyển dụng, công tác quản trị nhân sự vừa góp phần tạo ra hiệu quả sản xuất kinh doanh cao.

    Một đội ngũ cán bộ tuyển dụng làm việc hiệu quả, đội ngũ cán bộ phòng nhân sự phải hiểu rõ được tầm quan trọng của công việc lập kế hoạch tuyển dụng trong hoạt động quản trị nhân sự, thành thạo trong công việc lập kế hoạch và vận dụng nó một cách linh hoạt.

    Là người đại diện cho Công ty quản lý về mặt nhân sự, cán bộ quản trị nhân sự phải là người hiểu rõ và nắm bắt được định hướng phát triển của Công ty qua các thời kỳ đồng thời cũng là người đại diện cho người lao động nói lên nhu cầu cá nhân như nhu cầu được thăng tiến, được đào tạo và phát triển, nhu cầu về an toàn lao động, thù lao lao động và quan hệ, môi trường lao động. Người cán bộ nhân sự phải hiểu được đặc điểm của cá nhân trong Công ty mình, năng động và sáng tạo trong công việc. Sự phát triển toàn diện của đội ngũ cán bộ quản lý nhân sự, tính chuyên nghiệp của đội ngũ này sẽ là hình ảnh của Công ty với chính những người lao động bên trong và bên ngoài Cty.

    1. Đa dạng nguồn tuyển dụng và phương pháp tuyển dụng:

    Nguồn tuyển dụng bên trong và bên ngoài đều có những điểm mạnh và điểm hạn chế riêng, thực tế áp dụng không thể thiên vào nguồn tuyển dụng nhân sự nào mà phải căn cứ vào tính chất đặc điểm của công việc lúc bấy giờ để có xác nhận nguồn lao động cụ thể là nguồn nào hay kết hợp cả hai nguồn này khi tuyển dụng. Khi xác định được nguồn tuyển dụng có thể đáp ứng công việc đề ra từ đó có lựa chọn phương pháp tuyển dụng thích hợp.

    Công ty nên mở rộng nguồn tuyển dụng, phương pháp tuyển dụng như: các nhân viên cũ của Công ty, các trường đào tạo – dạy nghề . Hiện nay có rất nhiều trường dạy nghề trong đó có chứng chỉ nghề để có thể tuyển dụng được những người có tay nghề cao có thể đáp ứng được yêu cầu công việc mà không phải tốn thêm chi phí cho việc quảng cáo, thông báo tuyển dụng. Công ty cũng có thể sử dụng một số phương pháp, cách thức khác để tuyển dụng như: Công ty có thể liên hệ trực tiếp với uỷ ban nhan dân các xã, phương trong địa bàn trong việc tìm kiếm và thu hút lao động, Công ty cũng có thể thuê mướn lao động của các Cty Xây Dựng khác khi Công ty có nhu cầu trong ngắn hạn với điều kiện trong thời gian đó các doanh nghiệp khác có thể cho công ty thuê lao động.

    Đối với công tác điều động nội bộ, khi có một vị trí nào đó còn trống cần bổ nhiệm, Công ty nên tiến hành thông báo rộng rãi tới toàn bộ công nhân viên trong Công ty để họ được biết như vậy những người nào có khả năng sẽ tự ứng cử. Điều này sẽ tạo ra sự công bằng trong việc bổ nhiệm, tạo ra tâm lý thoải mái cho cán bộ công nhân viên trong công ty, từ đó kích thích họ nhiệt tình, sáng tạo và có trách nhiệm hơn trong công việc, làm tăng năng suất lao động của Công ty.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN KẾT LUẬN

    I.Kiến nghị

    v Các kiến nghị đối với Công ty:

    Công ty cần phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của bộ máy quản trị nhân lực, đào tạo nâng cao trình độ của người lao động. Công tác bảo hộ lao động cũng cần được duy trì và phát huy nhằm hạn chế tối đa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đây là những điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty và uy tín của mình trên thị trường, góp phần tích cực vào sự phát triển của Công ty.

    Theo em để nâng cao hiệu quả hoạt dộng tuyển dụng trong công ty thì 1 quy trình tuyển dụng phải đáp ứng đầy đủ các công tác dưới đây:

    • Quy trình phỏng vấn

    Có 2 quy trình phỏng vấn dành cho 2 nhóm ứng viên: ứng viên ở cấp nhân viên (junior) và ứng viên cấp quản lý (senior).

    Ứng viên cấp nhân viên sẽ trải qua 2 vòng tuyển dụng:

    1. Kiểm tra trắc nghiệm khả năng (Ability test)
    2. Phỏng vấn với đại diện phòng Nhân sự và người quản lý trực tiếp (line manager).

    ¢Ứng viên sẽ làm bài trắc nghiệm khả năng trong khoảng một tiếng rưỡi, bằng các bài trắc nghiệm kỹ năng lập luận lôgic (numerical reasoning and verbal reasoning skills).

    Quy trình tuyển dụng dành cho ứng viên cấp quản lý – manager sẽ gồm nhiều bước hơn:

    1. Phỏng vấn với phòng HR, (human resources)
    2. Phỏng vấn với quản lý trực tiếp (line manager),
    3. Đánh giá năng lực của ứng viên (Accessment Center, thường kéo dài khoảng nửa ngày), Kiểm tra trắc nghiệm khả năng của ứng viên (Ability test).

    ¢Dĩ nhiên, trong cả 2 quy trình phỏng vấn trên, các bước chính có thể linh động thay đổi cho nhau, không nhất thiết bước này có trước bước kia, nghĩa là bạn có thể làm trắc nghiệm khả năng trước khi dự phỏng vấn với phòng HR.

    v Các kiến nghị đối với nhà nước:

    Nhà nước Việt nam là một Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, một Nhà nước bảo vệ quyền công dân, bảo vệ những người lao động. Tuy nhiên trên thực tế kinh doanh, mối quan hệ giữa người lao động và người chủ lao động rất phức tạp và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích của hai bên. Do vậy, Quốc hội và Nhà Nước nên lắng nghe ý kiến của những người lao động và những người sử dụng lao động để tiến hành sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn luật lao động để đảm bảo công bằng hơn nữa. Quốc hội và Nhà Nước hoàn thiện hơn các chính sách về lương bổng, thuế thu nhập để đảm bảo công bằng hơn.

    Quốc hội và Nhà Nước cũng nên hoàn thiện hơn nữa về hệ thống Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao dân trí, nâng cao hơn nữa về ý thức xã hội, đảm bảo những người được đào tạo cả về chuyên môn lẫn kiến thức, cho học sinh, sinh viên đi nhiều vào thực tế đời sống, thực tế kinh doanh để đảm bảo hoàn thiện cả về lý thuyết lẫn thực hành để khi đi vào thực tế công việc, họ không còn quá bỡ ngỡ và tiếp thu công việc dễ dàng hơn.

    Các tổ chức thi hành pháp luật cũng nên tạo điều kiện về các thủ tục giấy tờ, hướng về đích “một cửa một dấu” để các doanh nghiệp, các công ty hoạt động thuận tiện hơn, tránh việc bỏ lỡ thời cơ, cơ hội.

    Quốc hội và Nhà Nước cũng nên hoàn thiện hơn bộ luật Thương mại để cho các doanh nghiệp yên tâm hoạt động kinh doanh trên thị trường cạnh tranh lành mạnh, ít những kẻ phá hoại để đạt được những kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

     

     

    II.Kết luận

    Tuyển dụng nhân sự là hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động của các Công ty ở mỗi một Công ty khác nhau sự vận dụng các nội dung của hoạt động tuyển dụng nhân sự có sự khác nhau phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của từng Công ty cũng khác nhau. Việc thực hiện các nội dung của công tác tuyển dụng nhân sự hoặc do khách quan hoặc do chủ quan mà vẫn chưa đúng và chưa mang lại hiệu quả thực sự trong khi thực hiện của các Công ty. Vì vậy, nâng cao hiệu quả các công tác thuộc hoạt động tuyển dụng để hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân sự là việc vô cùng có ý nghĩa đối với các Công ty.

    Mỗi Công ty, tuỳ thuộc vào điều kiện tình hình thực tế cũng như đặc thù riêng của mình để tổ chức công tác tuyển dụng lao động một các phù hợp nhưng tựu chung lại đều nhằm tuyển dụng được những nhân viên tốt nhất, thích hợp với công việc nhất để có thể tiến hành thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất. Nói như vậy không có nghĩa là để tuyển dụng hiệu quả chỉ cần làm tốt công tác tuyển dụng mà cần phải phối kết hợp công tác tuyển dụng với các công tác khác trong Công ty như phân tích công việc, đánh giá thực hiện công việc, kế hoạch hoá nguồn nhân lực…Bởi vì trong Công ty, các hoạt động có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Ngoài ra, Công ty cần phải không ngừng nghiên cứu, cải tiến công tác tuyển dụng tuỳ theo từng thời điểm, từng hoản cảnh cụ thể của doanh nghiệp, có như vậy thì công tác tuyển dụng lao động nói riêng và công tác quản trị nhân lực nói chung mới đảm bảo hiệu quả, góp phần vào hiệu quả công việc chung của Công ty.

    Các Công ty hoạt động Xây Dựng  trong nền kinh tế thị trường đang phát triển luôn luôn phải đối mặt với rất nhiều những thách thức cũng như những khó khăn khi sự cạnh tranh đang ngày một gay gắt và khốc liệt. Nhân sự – luôn là yếu tố quan trọng, sống còn của một Công ty. Công ty muốn tồn tại được thì Công ty đó phải có một đội ngũ nhân sự có chất lượng, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao. Như vậy công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp là rất cần thiết, là rất quan trọng vì nó là “nền tảng” cho các hoạt động khác. Công tác tuyển dụng nhân  sự chính là “đầu vào”, là nền tảng nhằm cung cấp một đội ngũ nhân sự đủ về số lượng, tốt về chất lượng cho công tác quản trị nhân sự trong Công ty. Tuy nhiên, không phải bất cứ một Công ty nào cũng có thể làm tốt công tác tuyển dụng nhân sự và nguồn lực con người chưa phát huy hết được khả năng vốn có của nó. Do vậy, Công ty phải có những giải pháp để nâng cao chất lương công tác tuyển dụng nhằm có được nguồn lực đó và sử dụng có hiệu quả nhất.

    Trong đề tài này, em đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề tuyển dụng nhân sự tại Công ty Cổ Phần Nam Long để thấy được những ưu điểm, cũng như những tồn tại trong quá trình tuyển dụng và sử dụng nhân sự tại đây và trên cơ sở đó đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa chất lượng công tác tuyển dụng nhằm nâng cao chất lượng lao động cũng như định hướng mới trong tương lai.

    Công tác tuyển dụng là một hoạt động quan trọng của quản trị nhân lực, có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với chất lượng và số lượng người lao động của một doanh nghiệp hay một tổ chức. Trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay, công tác tuyển dụng sẽ đảm bảo tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Nguyên tắc chung quản lý công trình xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/N%E1%BB%99i-dung-l%E1%BA%ADp-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-c%C3%B4ng-tr%C3%ACnh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Nội dung lập dự án đầu tư xây dựng công trình

    NỘI DUNG LẬP DỰ ÁN ĐTXD CÔNG TRÌNH

    I  –  Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư

    II –  Lựa chọn hình thức đầu tư.

    III            –  Địa điểm xây dựng.

    IV           –  Phương án giải phóng mặt bằng

    V            –  Phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng

    VI           –  Nguồn vốn và tổng mức đầu tư

    VII          –  Hiệu quả đầu tư

    VIII         –  Kế hoạch thực hiện

    IX           –  Hình thức quản lý thực hiện dự án

    X            –  Xác định chủ đầu tư

    XI           –  Mối quan hệ và trách nhiệm các cơ quan có liên quan

    XII          –  Kết luận và kiến nghị

    DỰ ÁN ĐẦU TƯ

    XÂY DỰNG MỚI VÀ CẢI TẠO

    KHU LÀM VIỆC TỈNH ỦY TỈNH VĨNH PHÚC

    I- Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư

    1. Những căn cứ pháp lý:

    – Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ.

    – Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP.

    – Căn cứ Quyết định số 147/1999/ QĐ-TTg ngày 5 tháng 7 năm 1999 của thủ tướng Chính phủ quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

    – Căn cứ công văn số 1598/BHK – CSHT ngày 16 tháng 3 năm 1999 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư  hướng dẫn thêm về việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc.

    – Căn cứ vào thông báo số 288-KL/ Tu ngày 26/08/2002 của thường vụ Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc về việc chuẩn bị đầu tư xây dựng khu làm việc Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc.

    – Căn cứ vào  yêu cầu  nhiệm vụ   thiết kế   khu làm việc  Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc do Văn phòng Tỉnh uỷ lập ngày ….. tháng….. năm 2002.

    – Căn cứ vào  bản tổng hợp  về  biên chế , số lượng  và  dự kiến biên chế  thời gian tới của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ lập ngày 3 tháng 9 năm 2002.

    – Căn cứ vào báo cáo chi tiết tài sản cố định của đv hành chính sự nghiệp do các Ban Đảng và Văn phòng Tỉnh uỷ lập năm 2000.

    – Căn cứ vào bản đồ đo đạc hiện trạng tỷ lệ 1/500 khu làm việc Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc do Công ty tư vấn thiết kế đầu tư và thiết kế xây dựng lập.

    – Căn cứ vào  Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc được UBND tỉnh Vĩnh Phúc duyệt ngày…..  tháng ….. năm 2002

    – Căn cứ vào báo cáo địa chất khu làm việc Tỉnh uỷ Tỉnh Vĩnh Phúc do Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng – Tổng Công ty xây dựng Hà Nội lập tháng 10 năm 2002.

    – Căn cứ tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4601-1988 và các quy chuẩn, quy phạm về xây dựng cơ bản của Nhà nước hiện hành.

    2. Sự cần thiết phải đầu tư:

    Thực hiện  Nghị quyết  kỳ họp thứ IX Quốc hội khoá IX  Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai Tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.

    Tỉnh Vĩnh Phúc  là  tỉnh nằm trong  vùng  Châu thổ  sông Hồng  thuộc  miền Bắc Việt Nam. Tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Yên, cách trung tâm Hà Nội 50km và sân bay quốc tế Nội Bài 30 km về phía Tây Bắc. Vĩnh Phúc là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, là khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng sông Hồng với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Tỉnh có 3 vùng sinh thái: Đồng bằng, trung du và miền núi, diện tích tự nhiên là 1.370 km2. Dân số 1,12 triệu người, trong đó 22,5% dân số cư trú ở miền núi, mật độ dân số trung bình trên 800 người/ km2, một số huyện bình quân 1.250 người/km2, bình quân đất canh tác 400m2 /người, vùng đồng bằng chiếm 34,4% còn lại trung du và miền núi. Vĩnh Phúc có 7 huyện thị, 150 xã, phường, thị trấn, trong đó có một huyện và 39 xã miền núi, gần 90% dân số sống bằng nghề nông, là một tỉnh mới tái lập cho nên hạ tầng kinh tế xã hội nhiều mặt thấp kém.

    Tỉnh Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sắt và đường sông. Hệ thỗng đường bộ đến tất cả các vùng kinh tế trọng điểm và các xã trong tỉnh, quốc lộ 2 từ 5 tỉnh miền núi phía Bắc chạy dọc qua sân bay quốc tế Nội Bài về Hà Nội nối với quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (Quảng Ninh). Đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc) chạy dọc tỉnh, nối đường sắt Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn, Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống  đường sông từ các cảng Chu Phan, Vĩnh Thịnh bên sông Hồng,  đảm bảo cho các tàu có trọng tải từ 500 đến 1000 tấn  đi Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.

    Đảng bộ Vĩnh Phúc có 510 tổ chức cơ sở Đảng với tổng số trên 41 ngàn Đảng viên, Nhân dân có truyền thống cách mạng, với nguồn lao động dồi dào, cần cù, sáng tạo, thích ứng với cơ chế thị trường. Trong những năm qua từ ngày tái lập tỉnh đến nay, dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, các cấp uỷ Đảng, kinh tế của tỉnh đạt được nhịp độ tăng trưởng cao, nhất là công nghiệp xây dựng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp tăng mạnh, đã chuyển nền kinh tế từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ và công nghiệp. Năm 2001 là năm đầu tiên thực hiện nghị quiyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, trong điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhưng các chỉ tiêu của Tỉnh vẫn đạt được và vượt các mục tiêu đề ra. Tổng sản phẩm nội Tỉnh (GDP) tăng 11,36%, tổng giá trị sản xuất ( GO ) tính theo giá cố định năm 1994 đạt 9.364 tỷ đồng gấp 4 lần so với trước khi tái lập tỉnh, đặc biệt là công nghiệp xây dựng đạt 6.536 tỷ đồng, xếp thứ 7 trong cả nước và gấp 11,4 lần năm 1996, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch nhanh và đúng hướng, đã hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp . Năm 1996 công nghiệp xây dựng chiếm 12,9%, dịch vụ chiếm 34% và nông nghiệp chiếm 52,5%, năm 2001 công nghiệp xây dựng chiếm chiếm 40,7%, dịch vụ chiếm 32,4% và nông nghiệp chiếm 26,9%. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng khá năm 2001 đạt 26,8 triệu USD tăng 23,2% so với năm 2000 và gấp 6 lần năm 1996. Thu ngân sách trên địa bàn năm 2001 đạt 856,2 tỷ đồng, vượt dự toán, tăng gần 24% so với năm 2000 và gấp 8 lần so với năm tái lập tỉnh. Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn, đa dạng (hồ Đại Lải, núi Tam Đảo, các di túch danh lam thắng cảnh), thu hút được nhiều khách du lịch trong và0 ngoài nước tạo nên thị trường hấp dẫn và có điều kiện xuất khẩu tại chỗ, với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, nếu được khai thác tốt sẽ có khả năng thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế của tỉnh nhà.  Tạo ra  vành đai  cung cấp lương thực, thực phẩm và các dịch vụ khác cho thành phố Hà Nội, xã hội văn minh tiến bộ, quốc phòng an ninh vững chắc sẽ là môi trường thuận lợi để bảo vệ an ninh quốc phòng của Thủ đô.

    Sau ngày tái lập tỉnh Vĩnh Phúc, Trụ sở chính quyền các cơ quan ban ngành của tỉnh cơ bản được xây dựng mới, hoàn thiện và đi vào sử dụng, trong khi đó, Tỉnh uỷ tiếp nhận lại khu điều dưỡng cán bộ cách mạng lão thành Trung ương làm trụ sở của tỉnh uỷ, các nhà làm việc chủ yếu là nhà cấp 4 được xây dựng từ năm 1960 đã hết niên hạn sử dụng. Trải qua hơn 40 năm sử dụng, qua các tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phú nay là tỉnh Vĩnh Phúc, do ảnh hưởng của chiến tranh, thời tiết và khí hậu nên côgn trình đã xuống cấp nghiêm trọng như nhà bị lún, tường nứt, lớp trát bị bong bật, mái bị dột. Hệ thống kỹ thuật như điện nước đã bị hư hỏng, xuống cấp không phù hợp với điều kiện sử dụng hiện tại. Mặt khác, các công trình làm việc trong khu tỉnh uỷ không tập trung, nhà làm việc của các ban Đảng như: Ban tổ chức, Ban tuyên giáo, Ban dân vận. Khối văn phòng nằm xa nhau, do đó vấn đề liên hệ giữa các ban Đảng gặp nhiều khó khăn. Phòng làm việc cho các cán bộ công nhân viên trong các cơ quan Đảng, Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng họp tỉnh uỷ bị thiếu diện tích không phù hợp với tiêu chuẩn hiện tại, trong khi đó nhu cầu trang thiết bị phục vụ nhu cầu làm việc ngày càng hiện đại đòi hỏi diện tích để thiết bị. Mặc dù đã qua nhiều lần cải tạo nhưng vẫn mang tính chắp vá, không đồng bộ, hiệu suất sử dụng thấp, nhìn tổng thể các công trình trên không tương xứng và đáp ứng được yêu cầu sử dụng của một trụ sở Tỉnh uỷ.

    Hiện tại, nhu cầu xây dựng trụ sở của các cơ quan ban ngành của các tỉnh đặc biệt các tỉnh mới tái, thành lập là rất cần thiết. Chính phủ đã  có chủ trương kết hợp cả nguồn vốn ngân sách và nếu thiếu sử dụng thêm vốn vay ngân hàng, đầu tư hoàn thành việc xây dựng trụ sở vào năm 2003. Trong thời gian từ năm 1996 đến nay nhiều tỉnh mới tái như: Bắc Ninh, Nam Hà, Ninh Bình, Nam Định…đã được Nhà nước đầu tư xây dựng trụ sở HĐND – UBND, trụ sở Tỉnh uỷ mới khang trang đáp ứng yêu cầu làm việc của cơ quan lãnh đạo trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và hội  nhập quốc tế, đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ của tỉnh nhà.

    Do đó việc đầu tư xây dựng trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là cần thiết, phù hợp với  định hướng  cải cách  hành chính.  Đảm bảo  điều kiện  làm việc  an toàn   ổn định, lâu dài của cơ quan lãnh đạo Tỉnh.

     

    II- Lựa chọn hình thức đầu tư:

    Căn cứ vào yêu cầu nhiệm  vụ thiết kế, quy mô đầu tư, tính chất công năng sử dụng và quy hoạch chi tiết được duyệt, căn cứ vào báo cáo chi tiết tài sản cố định của Ban tổ chức Tỉnh uỷ, hiện trạng các công trình trong khu làm việc của Tỉnh uỷ, quy hoạch khu làm việc tỉnh uỷ bao gồm 3 khu chức năng chính: khu vực nhà khách, nhà ăn, sân thẻ thao. Trong đó trụ sở chính phải đáp ứng được quy mô và yêu cầu là một trụ sở cơ quan lãnh đạo Tỉnh Vĩnh Phúc, các hạng mục: Nhà công vụ, nhà ăn, nhà khách, sân thể thao được đầu tư xây dựng sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng cần thiết của tỉnh uỷ. Các công trình trên phải thể hiện được sự trang nghiêm, đạt được tính thẩm mỹ cao, có kiến trúc phù hợp với cảnh quan xung quanh. Khu vực nhà lưu niệm là nơi trưng bày truyền thống cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, hiện tại là nhà làm việc và phòng họp của thường vụ, nơi đây đã vinh dự đón Bác Hồ về thăm, công trình nằm trên đồi cao có nhiều cây cổ thụ với kiến trúc cổ phù hợp với công trình lưu niệm, do đó nên giữ lại và cải tạo làm nhà lưu niệm của khu tỉnh uỷ. Như vậy hình thức đầu tư được lựa chọn là đầu tư xây dựng mới Trụ sở làm viẹc. Nhà khách, nhà công vụ kết hợp với cải tạo một số công trình cũ thành khu làm việc của Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là hình thức đầu tư hợp lý nhất, đáp ứng các vấn đề đặt ra.

     

    III- Địa điểm xây dựng:

    1. Vị trí địa lý của công trình:

    Việc lựa chọn địa điểm xây dựng khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là rất quan trọng, địa điểm được chọn phải đáp ứng với yêu cầu về giao thông, môi trường, cảnh quan và phù hợp với quy hoạch chung của khu vực. Sau khi có chủ trương đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của tỉnh uỷ, thường vụ tỉnh uỷ đã lập Ba chỉ đạo xây dựng và tổ tư vấn để phối hợp với các cơ quan có liên quan tiến hành khảo sát quỹ đất có khả năng xây dựng công trình thuộc thị xã Vĩnh Yên. Các vị trí đã được xem xét cụ thể nhưng có nhiều yếu tố bất lợi như: giải quyết công tác đền bù, giải phóng mặt bằng khó khăn chi phí lớn và mất nhiều thời gian, căn cứ vào quy mô xây dựng công trình và cân nhắc các yếu tố nêu trên. Ngày 22/8/2002 Ban thường vụ tỉnh uỷ là khu đang làm việc hiện nay (Toàn bộ diện tích khoảng trên 5ha). Trong quy hoạch thiết kế bảo đảm tính bền vững, đẹp nhưng tiện lợi, xây dựng cơ bản giữ được địa hình, hiện trạng, mặt bằng hạn chế đến mức thấp nhất san lấp, cải tạo mặt bằng, đường, giao thông, bảo vệ cây xanh, giữ được cảnh quan môi trường.

    Vị trí khu đất được chọn tại phường Ngô Quyền – thị xã Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.

    + Phía Đông Bắc giáp: Quốc lộ 2

    + Phía Đông Nam giáp: Đường nhánh khu vực

    + Cá phía còn lại giáp: Đầm Vạc.

    2. Đặc điểm tự nhiên:

    Vị trí khu đất thuộc phường Ngô Quyền, thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đặc điểm địa hình tự nhiên là khu vực trung du có độ dốc trung bình xen kẽ gò đồi thấp có cao độ trung bình + 15m so với mực nước biển, trong đó chỗ thấo nhất + 5.3 (dải biên giáp đầm Vạc) và chỗ cao nhất + 25.2 (khu vực đỉnh đồi). Toàn bộ khu đất được bao phủ bởi hệ thống xây xanh lâu năm tương đối dày đặc, các công trình hiện có trên đó hầu hết là các nhà cấp 4 được xây dựng từ những năm 1960 và một số công trình 2 đến 3 tầng đã quá niên hạn sử dụng, phân bố rải rác trong toàn bộ khu vực. Hệ thống sân đường cơ bản đã được láng xi măng, rải nhựa và có độ dốc thay đổi theo địa hình, một số khu vực không có sự liên kết trực tiếp bằng giao thông cơ giới mà phải sử dụng hệ thống bậc tam cấp xây gạch.

    3. Đặc điểm khí  hậu:

    Nằm trong vùng khí hậu chung của vùng trung du Bắc Bộ với khí  hậu nhiệt đới, nóng ẩm gió mùa.

    Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20C, số giờ nắng 1340 – 1800 giờ/năm.

    Độ ẩm không khí trung bình năm là 54 – 85%.

    4. Đặc điểm địa chất, thuỷ văn:

    Là khu vực có nền đất được cấu tạo chủ yêuí bằng các lớp nghèo nước ngầm, trữ lượng không lớn với thành phần không đồng nhất bao gồm các lớp đất đá lấp, cát sét pha và các lớp đá phong hoá có độ lèn chạt đến rất chặt, khả năng chịu tải từ 1,65 đến 2,2kg/cm2. Mực nước ngầm nằm khá nông và ổn định có độ sâu từ 1,9 đến 2,1m.

    Cấu tạo các lớp địa chất như sau:

    Lớp 1: Là lớp đất đắp, thành phần không đồng nhất gồm: đát đá lấp, cát pha, sét pha, dăm sạn, gạch vỡ vụn màu nâu, nâu xám, vàng sẫm, rời.

    Lớp 2: Là lớp sét pha lẫn dăm sạn, màu hồng, nâu hồng, vàng sẫm, xám vàng, xám xanh, nâu đỏ, đỏ, loang lổ. Trạng thái nửa cứng đến cứng, áp lực tính toán quy ước RO = 1.65kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 83.5 kg/cm2.

    Lớp 3: Là lớp sét pha lẫn ít sạn, màu hồng, nâu hồng, vàng sẫm, xám vàng, xám xanh, nâu đỏ, loang lổ, xen kẹp các lớp  màu hồng. Trạng thái nửa cứng đến cứng, áp lực tính toán quy ước K0 = 2.26kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 83.5kg/cm2.

    Lớp 4: Là lớp sét cứng pha lẫn ít dăm sạn, màu vàng, nâu vàng, nâu gụ, xám trắng, xám chì, xám xanh, loang lổ. Trạng thái cứng, áp lực tính toán quyước R­­0 = 2.02kg/cm2. Mô đun tổng biến dạng E0 = 204.0kg/cm2.

    Lớp 5: Là lớp đá phong hoá thành sỏi sạn lẫn cát màu xám xanh, xám đen, xám trắng, xen kẹp các lớp đá phong hoá màu vàng sẫm. Trạng thái chặt đến rất chặt.

    5. Đặc điểm hiện trạng các công trình:

    Hiện trạng khu Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc có 21 công trình nhà làm việc, chủ yếu là nhà cấp 4 được xây dựng từ năm1960, đã hết niên hạn sử dụng cụ thể như sau:

    – 01 nhà làm việc của Ban tổ chức có diện tích 1430m2, 3 tầng khung, sàn  BTCT.

    – 01 nhà để xe ô tô có diện tích 400m2, nhà cấp 4, mái lợp Pro xi măng.

    – 02 nhà ở tập thể có diện tích 275m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lớp pro xi măng.

    – 01 nhà ở tập thể có diện tích 380m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp ngói.

    – 01 nhà bếp ăn, có diện tích 200m2, nhà cấp 3, khung, sàn BTCT 2 tầng.

    – 01 ga ra xe đạp, xe máy có diện tích 100m2, với kết cấu thép chịu lực, mái lập tôn.

    – 01 nhà làm việc của Chánh văn phòng, có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.

    – 01 nhà làm việc của Văn phòng, có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.

    – 01 nhà làm việc của Kế toán, tài chính có diện tích 170m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.

    – 01 nhà ngân sách, có diện tích 195m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.

    – 01 Nhà làm việc của Ban thường vụ có diện tích 390m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp ngói.

    – 01 nhà họp của ban ban tổ chức có diện tích 180m2 nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập ngói.

    – 01 Nhà làm việc của Ban dân vận có diện tích 120m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập tôn.

    – 01 Nhà làm việc của Bí thư có diện tích 105m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lập ngói.

    – 01 nhà canh vệ có diện tích 190m2, nhà cấp 4, tường xây gạch dày 220, mái lợp tôn.

    – 01 nhà nội chính có diện tích 230m2, nhà 2 tầng, khung, sàn BTCT, mái lợp tôn.

    – 01 nhà làm việc Ban tuyên giáo, Ban kiểm tra có diện tích 1150m2, nhà 2 tầng, khung, sàn BTCT, mái đổ BTCT.

    – 01 ga ra – 01 ga ra có diện tích 70m2, nhà cấp 4, tường gạch dày 220, mái đổ BTCT.

    – 01 nhà chơi bóng bàn có diện tích 52m2, nhà cấp 4, kết cấu thép chịu lực, mái lợp tôn.

    Các công trình trên hiện tại đã bị xuống cấp nghiêm trọng, tường nhà bị nứt, gây ra hiện tượng thấm, các lớp trát bị bong rộp, các nhà mái lợp bằng ngói hoặc tôn bị dột, hệ thống trần không sử dụng được. Hệ thống cung cấp điện và thiết bị điện trong các công trình lạc hậu, không đảm bảo an toàn khi sử dụng. Hệ thống cấp, thoát nước được thiết kế đơn giản không đáp ứng yêu cầu sử dụng, các đường ống thoát nước thải đổ trực tiếp ra Đầm vạc mà không qua sử lý. Thiết bị vệ sinh lạc hậu, hư hỏng nhiều.

    1. Hiện trạng phần cấp,thoát nước:

    Phần cấp nước:

    Khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đang dùng nguồn nước của thị xã Vĩnh Yên. Trong khu vực hiện đã có một số tuyến ống D400 cấp nước cho khu vực này. Hình thức nước bằng hệ thống bể ngầm, trạm bơm, đài nước tăng áp nước cho toàn khu, với hệ thống này, giải pháp vận hàng cung cấp nước tương đối phức tạp.

    Phần thoát nước:

    Hệ thống thoát nước bẩn của khu vực nghiên cứu mang tính chất bột phát, chưa có quy hoạch cụ thể cho phù hợp với quy hoạch mới của khu làm việc Tỉnh uỷ cũng như quy hoạch về thoát nước cho toàn thị xã.

    1. Hiện trạng phần cấp điện:

    Toàn bộ hệ thống điệncủa các hạng mục trong khu làm việc Tỉnh uỷ được cung cấp bằng trạm biến áp với công suất máy biến thế 1000KVA, điện áp 22 – 10/0,4KV, nguồn cao thế cấp điện cho trạm biến thế được lấy từ lưới điện quốc gia 35KV. Hệ thống cáp điện dùng cho khu làm việc tỉnh uỷ được thiết kế đi nổi, đường dây đã bị xuống cấp, độ an toàn không cao.

     

    IV- Phương án giải phóng mặt bằng:

    Địa điểm đã chọn để xây dựng mới trụ sở Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc là tại khu đất do Tỉnh uỷ đang quản lý và các cơ quan Đảng vẫn đang làm việc. Căn cứ vào quy hoạch chi tiết khu làm việc của tỉnh uỷ và việc phân chia giai đoạn thực hiện, kế hoạch giải phóng mặt bằng xây dựng được thực hiện làm 2 đợt.

    Đợt 1: Thực hiện giải phóng  mặt  bằng trong khu vực xây dựng trụ sở chính của tỉnh uỷ.

    Đợt 2: Thực hiện giải phóng mặt bằng trong khu vực xây dựng nhà khách. ăn, nhà công vụ, khu vực thể thao.

    Theo bản đồ hiện trạng khu đất do Sở Xây dựng Vĩnh Phúc lập và bản đồ quy hoạch chi tiết khu làm việc tỉnh uỷ,trong đợt 1 cần phải phá dỡ các công trình sau: Nhà làm việc của Ban tổ chức, nhà tập thể, nhà để xe ô tô. Để đảm bảo cho ban tổ chức vẫn làm việc bình thường, văn phòng tỉnh uỷ đã có kế hoạch mượn tạm khu nhà 19/5 của Sở Văn hoá Vĩnh Phúc, cải tạo lại để giao cho Ban tổ chức làm trụ sở. Sau khi hoàn thiện trụ sở chính của tỉnh uỷ, các cơ quan ban đảng sẽ chuyển về làm việc tại trụ sở chính. Công việc giải phóng mặt bằng trong khu vực xây dựng nhà khách, ăn nhà công vụ, khu vực thể thao sẽ được tioến hành với việc phá dỡ các công trình sau: nhà làm việc của ban tuyên giáo và Ban kiểm tra, nhà làm việc của khối văn phòng.

    V- Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng:

    1. Nguyên tắc thiết kế:

    – Đảm bảo tính bền vững, tính thẩm mỹ và thích dụng, tận dụng được địa hình hiện trạng khu vực và hệ thống giao thông, cây xanh hiện có.

    – Đảm bảo tính hoà nhập cho không gian kiến trúc, đóng góp vào cảnh quan đô thị chung trong khu vực.

    – Hình khối kiến trúc công trình hoành tráng và đảm bảo sự trang nghiêm yên tĩnh cần thiết cho thể loại công trình của Đảng.

    2. Các phương án kiến trúc:

    – Căn cứ kết luận của Ban thường vụ tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ngày 22/8/2002 về phương án quy hoạch chi tiéet khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, trụ sở làm việc và các hạng mục công trình khác.

    – Căn cứ thuyết minh tóm tắt quy hoạch chi tiết khu làm việc tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã được phê duyệt do Công ty Tư vấn và thiết kế xây dựng Tổng côgn ty xây dựng Hà Nội lập tháng 10/2002.

    – Dựa trên quy hoạch phân khu chức năng và các hạng mục công trình theo phương án đã được phê duyệt trên khu đất hiện đang là địa điểm làm việc của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, các giải pháp thiết kế cho các hạng mục công trình như sau:

    Hạng mục công trình:

    µ Khu vực trụ sở:

    1. Trụ sở làm việc chính:

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Công trình trụ sở tỉnh uỷ cao 5 tầng có hìng khối kiến trúc hoành tráng mang phong cách cổ điển kết hợp hiện đại với các đường nét kiến trúc nhẹ nhàng mà chắc chắn, các chi tiết kiến trúc cách tân cổ điển rạo ra cho công trình vẻ bề thế trang nghiêm nhưng vẫn gần gũi và thân thiện.

    Bố cục bằng công trình như sau:

    Toàn bộ mặt bằng công trình được bố cục hình chữ H cao 5 tầng và nối dài khối giữa về phía sau bằng khối 2 tầng với chiều cao tầng lớn (hình chuôi vồ). Khối giữa được dành cho hệ giao thông đứng và các chức năng công cộng và lễ ghi.

    Các diện tích công trình được áp dụng bởi Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCVN 4601 – 1988 và quyết định 147/QĐ – TTg về tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích trong trụ sở làm việc kết hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của chủ đầu tư, các chức năng sử dụng đặc biệt của công trình và hình khối kiến trúc đảm bảo được tính bền vững về công năng và thẩm mỹ đáp ứng cho thể loại công trình có tuổi thọ cao (cấp I: trên 75 năm) hệ số sử dụng diện tích K>0,6.

    Bố cục hình khối công trình bao gồm ba phần:

    Phần chân đế công trình cao tầng được bố cụ bởi hệ vòm cuốn lớn chắc chắn và được ốp bằng vật liệu sẫm màu tạo sự vững chãi cho công trình.

    Phần thân công trình cao 4 tầng được phânvị bằng các hệ cột đứng ốp mặt tường ngoài và các ô cửa với hệ gờ phào và màu sắc nhẹ nhàng tạo sự hoành tráng cho công trình.

    Phần mái công trình được thể hiện bằng mái Ac – đoa dùng vật liệu sẫm màu cùng với các cửa mái mang phong cách tân cổ điển tạo phần kếtmái rõ ràng, mạch lạc.

    Với hình thức kiến trúc này, công trình đảm bảo được tính thẩm mỹ bền vững theo thời gian.

    Chiều cao tầng bao gồm:

    – Tầng 1 cao 4,5m

    – Tầng 2 cao 3,6m

    – Tầng 3 cao 3,6m

    – Tầng 4 cao 3,6m

    – Tầng 5 cap 4,5m

    Cốt ± 0.000 xác định cho cao độ Đại sảng chính của công trình cao hơn cốt khu vực trước sảnh 1,35m (+ 11.800 trong quy hoạch tổng thể)

    * Quy mô thiết kế phân khu chức năng:

    Tầng hầm:

    – Ga ra chỗ để xe                       :         324,7 m2

    – Phòng máy phát dự phòng      :           27.8 m2

    – Ga ra, chỗ để xe                      :           19,4 m2

    – Ga ra, chỗ để xe                      :           10.7 m2

    Cộng diện tích sử dụng            :        382.6 m2

    Diện tích sàn                                      :        409,5 m2

    Tầng 1:

    Khu chức năng chung:

    – Tiền cảnh                                                             :           85.7 m2

    – Đại sảnh (bao gồm thang máy, thang bộ)   :         220.7 m2

    – Phòng khánh tiết                                                  :         211.1 m2

    – Hành lang                                                            :           85.3 m2

    – Phòng phục vụ                                                     :           10.2 m2

    – Phòng phụ trợ                                                      :           10.2 m2

    Khối văn phòng (phòng quản trị + Nghiên cứu tổng hợp).

    – Phòng tiếp dân                                                     :           34.5 m2

    – Trưởng phòng quản trị                                         :           19.4 m2

    – Phòng chuyên viên (phòng Quản trị)                   :         128.6 m2

    – Hành lang                                                            :           71.6 m2

    – Kho                                                                      :           13.5 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5 m2

    – Sảnh bên                                                              :           42.4 m2

    – Trưởng phòng nghiên cứu tổng hợp           :           19.4 m2

    – Phòng chuyên viên (phòng N/c tổng hợp)  :           71.9 m2

    – Phòng nghỉ đội xe                                                          :           33.0 m2

    – Hành lang + cầu thang                                         :     1073.6 m2

    Ban kiểm tra (bao gồm tầng 1-2)

    – Tiền sảnh (chung cho các Ban Đảng)                   :           28.6 m2

    – Sảnh bên                                                              :           42.4 m2

    – Phòng họp                                                           :           54.6 m2

    – Phòng tiếp dân                                                     :           16.5 m2

    – Trưởng ban                                                          :           34.5 m2

    – Phó trưởng ban                                                    :           41.0 m2

    – Trưởng phòng: 21,6+19,4+ (16,5×2) =                :           74.0 m2

    – Phó trưởng phòng                                                          :           49.5 m2

    – Các phòng chuyên viên : 21,6+19,4           :           41.0 m2

    – Hành lang + cầu thang                                         :         179.2 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5 m2

    – Kho                                                                      :           13.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :    1.766.9 m2

    Diện tích sàn                                                                   :    1.971.4 m2

    Tầng 2:

    Khu chức năng chung:

    – Sảnh chính (thang máy, thang bộ, hành.lang hội trường)        :         247.4 m2

    – Hội trường                                                                                        :         207.9 m2

    – Phòng phục vụ                                                                                  :           12.7 m2

    – Phòng phụ trợ                                                                                   :           12.7 m2

    Khối văn phòng (phòng hành chính).

    – Phòng hội thảo nhỏ                                                                          :           67.5 m2

    – Phó văn phòng                                                                                 :           34.5 m2

    – Hành lang                                                                                         :           63.1 m2

    – Kho                                                                                                   :           13.5 m2

    – Khu vệ sinh                                                                                                :         13.55 m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                                                       :           66.3 m2

    – Phó Bí thư                                                                                        :           54.6 m2

    – Phòng khách + chờ                                                                           :           16.5 m2

    – Trưởng phòng hành chính                                                                :           19.4 m2

    – Phó trưởng phòng hành chính                                                 :           19.4 m2

    – Các phòng chuyên viên                                                                     :           99.0 m2

    – Hành lang                                                                                         :           42.8 m2

     Ban kiểm tra (tiếp tầng 1)

    – Trưởng phòng                                                                                   :           16.5 m2

    – Phó trưởng phòng                                                                                      :           16.5 m2

    – Các phòng chuyên viên                                                                     :           71.8 m2

    Ban tổ chức (tầng 2-3)

    – Sảnh bên                                                                                           :           66.3 m2

    – Phòng họp                                                                                        :           54.6 m2

    – Trưởng ban                                                                                       :           34.5 m2

    – Phó trưởng ban                                                                                 :           41.0 m2

    – Các trưởng phòng : 21,6+16,5                                                          :           38.1 m2

    – Phó trưởng phòng: 16,5+19,5                                                 :           36.0 m2

    – Phòng chuyên viên                                                                            :           21.6 m2

    – Hành lang                                                                                         :         105.9 m2

    – Khu vệ sinh                                                                                                :           13.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng                                                                     :    1.507.1m2

    Diện tích sàn                                                                                                :   1.679.2 m2

    Tầng 3:
    Khu chức năng chung

    – Sảnh chính tầng (thang máy, thang bộ)               :         159.4 m2

    – Phòng khách                                                                  :         190.1 m2

    Khối văn phòng (nội chính)

    – Phòng họp thường vụ                                          :           67.5 m2

    – Phó văn phòng                                                     :           34.5 m2

    – Hành lang                                                            :           63.1 m2

    – Kho + lễ tân                                                                   :           19.5 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :         135.0 m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                           :         106.7 m2

    – Phòng Bí thư                                                                 :           54.6 m2

    – Phòng khách (Bí thư)                                           :           34.3 m2

    – Phòng Thư ký                                                      :           19.4 m2

    – Chánh văn phòng                                                :           54.6 m2

    – Các phòng chuyên viên                                        :           52.4 m2

    – Hành lang                                                            :           42.8 m2

    Ban tổ chức (tiếp tầng 2)

    – Sảnh bên                                                              :           69.9 m2

    – Các trưởng phòng                                                          :           57.5 m2

    – Các phó trưởng phòng                                         :           54.6 m2

    – Các phòng chuyên viên                                        :         234.8 m2

    – Hành lang                                                            :         105.9 m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :    1.448.6 m2

    Diện tích sàn                                                                   :    1.511.7 m2

    Tầng 4:

    Khu chức năng chung:

    – Sảnh chính tầng (thang máy, thang bộ)               :         159.4 m2

    – Phòng họp                                                           :         190.1 m2

    Khối văn phòng (Lưu trữ)

    – Phòng Hội thảo nhỏ                                             :           67.5 m2

    – Trung tâm điều hành CB                                     :           44.5 m2

    – Hành lang                                                            :           63.1 m2

    – Kho + phục vụ                                                     :           13.5m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                           :           69.9m2

    – Trưởng phòng lưu trữ                                          :           16.5m2

    – Phòng chuyên viên                                               :           19.5m2

    – Phòng chỉnh lý                                                     :           34.1m2

    – Phòng khai thác                                                   :           19.4m2

    – Phòng đọc                                                            :           35.0m2

    – Các kho lưu trữ                                                    :         163.7m2

    – Hành lang                                                            :           42.8m2

    Ban tuyên giáo

    – Sảnh bên                                                              :           69.9m2

    – Phòng họp                                                           :           54.6m2

    – Trưởng ban                                                          :           34.5m2

    – Các phó trưởng ban                                             :           41.0m2

    – Các trưởng phòng                                                          :           54.6m2

    – Các phó trưởng phòng                                         :           52.5m2

    –  Các phòng chuyên viên                             :         128.4m2

    – Hành lang                                                            :         105.9m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :     1507.4m2

    Diện tích sàn                                                                   :     1511.7m2

    – Sảnh chính tầng (thang máy, thang bộ)               :         159.4m2

    Khối văn phòng (lưu trữ)       

    – Phòng Hội thảo nhỏ                                             :           57.4m2

    – Đào tạo                                                                          :           45.5m2

    – Hành lang                                                            :           63.1m2

    – Kho + phục vụ                                                     :           13.5m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    – Sảnh bên + cầu thang                                           :         106.7m2

    – Phòng chuyên viên (lưu trữ)                                 :         121.3m2

    – Trưởng phòng  máy tính                                      :           19.4m2

    – Phòng máy tính + cơ yếu                                     :           52.4m2

    – Phòng máy chủ                                                    :           34.1m2

    – Hành lang                                                            :           42.8m2

    Ban dân vận

    – Sảnh bên                                                              :           69.9m2

    – Phòng tiếp dân                                                     :           35.0m2

    – Phòng họp                                                           :           54.6m2

    – Trưởng ban                                                          :           34.5m2

    – Các phó trưởng ban                                             :           41.0m2

    – Các trưởng phòng                                                          :           54.6m2

    – Các phó trưởng phòng                                         :           52.5m2

    – Các phòng chuyên viên                                        :           80.5m2

    – Hành lang                                                            :         105.9m2

    – Khu vệ sinh                                                                   :           13.5m2

    Cộng diện tích sử dụng                                         :     1270.1m2

    Diện tích sàn                                                                   :     1419.0m2

     
       

     

    Cộng diện tích sử dụng                                         :     7882.7m2

    Diện tích sàn                                                                   :     8502.5m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         cấp 1

    – Bậc chịu lửa                   :         cấp 1

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là công trình cấp I. Tính chất sử dụng đặc biệt của cơ quan lãnh đạo cao nhất của tỉnh vì vậy việc lựa chọn các vật liệu hoàn thiện được đặc biệt quan tâm. Đảm bảo cho nhu cầu sử dụng hợp lý và thuận tiện. Vì vậy các loại vật liệu hoàn thiện được sử dụng bằng các loại cao cấp trong và ngoài nước.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    Mặt ngoài công trình:

    – Chân tường và tầng 1 bằng đá Granit tự nhiên sẫm màu

    –  Tầng 25 lăn sơn loại tốt (liên doanh)

    – Mái kiểu Ac – đoa dán giả ngói bằng gạch Granit TBC (hoặc ngói gốm Quảng ninh – lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình) màu đỏ sẫm.

    Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm đáp cầu.

    Bên trong công trình:

    – Các sàn đại sảnh và sảnh tầnh chính, phòng Khánh tiết và các phòng họp chính (Hội trường, phòng họp thường vụ) bằng đá Granit tự nhiên.

    – Các sàn phòng họp và các phòng công cộng khác (phòng khách…) bằng gạch Granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng và khu vực được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Ga ra ô tô để xe (số lượng 2):

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Bao gồm hai khối nhà 1 tầng khung sàn mái BTCT lợp tôn chống nóng, tường xây gạch chỉ trát vữa XM 50# lăn sơn loại tốt (liên doanh) nền nhà BT đá dăm

    Lát gạch chống trơn TBC, cửa đi nhôm cuốn, cửa sổ khung nhôm kính 5mm, hoa sắt sơn tĩnh điện.

    Quy mô diện tích:

    Nhà ga ra để xe số 1

    – Diện tích sử dụng           :         102.8 m2

    – Diện tích sàn                           :         113.3 m2

     

    Nhà ga ra để xe số 1

    – Diện tích sử dụng           :           61.2 m2

    – Diện tích sàn                           :           68.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng    :         164.0 m2

    Diện tích sàn                    :         181.8 m2

     

    µ Khu vực lưu niệm.

    1. Nhà lưu niệm:

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Công trình nhà 1 tầng sẵn có (được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX), tường gạch chịu lực, có chức năng là nhà làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (nơi đây Bác Hồ đã từng về thăm và nói chuyện với lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong cơ quan Tỉnh uỷ). Vì vậy công trình sẽ được cải tạo lại làm nhà lưu niệm, truyền thống của cơ quan Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc. Các phương án và chi tiết cải tạo được thể hiện trong thuyết minh chi tiết cải tạo công trình này.

    1. Các nhà công cụ (số lượng: 2).

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Là công trình 2 tầng khung cột BTCT theo thể loại biệt thự được phân bố men triền đồi về phía Tây – bắc khu đất với hệ thống sân đường riêng biệt phục vụ chức năng làm việc, đón tiếp và nghỉ ngơi cho lãnh đạo Tỉnh uỷ. Hình thức công trình trang nhã theo phong cách cách tân cổ điển ẩn hiện sau những tán cây rậm rạp phía sau khu đồi tạo sự yên tĩnh, phù hợp cho chức năng sử dụng của công trình.

    Quy mô diện tích:

    Tầng 1:

    – Sảnh chính + cầu thang :         50.4 m2

    – Phòng làm việc + họp    :         76.7 m2

    – Phòng văn + bếp nấu     :         32.7 m2

    – Phòng phục vụ + kho    :         12.6 m2

    – Khu vệ sinh                             :         13.0 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        185.4 m2

    Diện tích sàn                             :        196.7 m2

    Tầng 2:

    – Phòng ngủ chính            :         23.7 m2

    – Phòng ngủ (nghỉ) phụ    :         30.2 m2

    – Phục vụ + kho               :         6.8 m2

    – Hành lang+ ban công     :         43.5 m2

    – Khu vệ sinh                             :         11.0 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        115.2 m2

    Diện tích sàn                             :        123.3 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        300.6 m2

    Diện tích sàn                             :        320.0 m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         Cấp II

    – Bậc chịu lửa                   :         Bậc II

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình là nơi làm việc và nghỉ ngơi cho lãnh đạo Tỉnh uỷ, vì vậy nhu cầu sử dụng cần được hoàn thiện bằng các loại vật liệu phù hợp.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    • Mặt ngoài công trình:

    – Các mặt tường lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – Mái BTCT dán giả ngói bằng gạch Granite Thạch Bàn (hoặc ngói gốm Quảng Ninh).

    – Lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình) màu đỏ sẫm.

    – Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm Đáp Cầu.

    • Bên trong công trình:

    – Các khu vực sảnh và phòng khách bằng gạch granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Các nhà biệt thự (số lượng 2).

    Bố cục và hình khối kiến trúc.

    Là công trình 2 tầng khung cột BTCT được phân bố men triền triền đồi về phía Tây – Bắc khu đất đối xứng với các nhà công vụ qua hệ trục chính của khu lưu niệm cùng với hệ thống sân đường riêng biệt phục vụ chức năng làm việc và nghỉ cho các cán bộ cao cấp của Trung ương và các tỉnh khác đến công tác tại Tỉnh uỷ với hình thức công trình tương xứng và đồng nhất với các nhà Công vụ, vị trí công trình tạo sự yên tĩnh, phù hợp với tính chất sử dụng của công trình.

    Quy mô diện tích

    Tầng 1

    – Sảnh chính + cầu thang :         50.4 m2

    – Phòng làm việc + họp    :         78.7 m2

    – Phòng văn + bếp nấu     :         32.7 m2

    – Phòng phục vụ + kho    :           9.4 m2

    – Khu vệ sinh                             :         13.0 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        184.2 m2

    Diện tích sàn                             :        196.7 m2

    Tầng 2:

    – Phòng ngủ chính            :         23.7 m2

    – Phòng ngủ (nghỉ) phụ    :         15.1 m2

    – Phòng khách                           :         61.2 m2

    – Hành lang+ ban công     :         18 m2

    – Khu vệ sinh                             :         12.8 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        130.8 m2

    Diện tích sàn                             :        143.3 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        315.0 m2

    Diện tích sàn                             :        340.0 m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         Cấp II

    – Bậc chịu lửa                   :         Bậc II

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình là nơi làm việc và nghỉ ngơi cho các cán bộ cáo cấp của Trung ương và các tỉnh khác đến công tác và làm việc tại Tỉnh uỷ, vì vậy nhu cầu sử dụng cần được hoàn thiện bằng các loại vật liệu phù hợp.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    • Mặt ngoài công trình:

    – Các mặt tường lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – Mái BTCT dán giả ngói bằng gạch Granit TBC (hoặc ngói gốm Quảng Ninh).

    – Lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình màu đỏ sẫm.

    Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm Đáp Cầu.

    • Bên trong công trình:

    – Các khu vực sảnh và phòng khách bằng gạch Granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Nhà bóng bàn:

    Bố cục và hình khối kiến trúc:

    Nhà 1 tầng khung sàn mái BTCT lợp tôn chống nóng, tường xây gạch chỉ trát vữa XM 50# lăn sơn loại tốt (liên doanh), nền nhà BT đá dăm lát gạch chống trơn TBC, cửa đi nhôm cuốn, cửa sổ khung nhôm kính 5mm, hoa sắt sơn tĩnh điện.

    Quy mô diện tích:

    – Diện tích sử dụng :         262.5 m2

    – Diện tích sàn                  :         277.6 m2

     

    µ Khu vực nhà khách, nhà ăn:

    a- Nhà khách – nhà ăn.

    Bố cục và hình khối kiến trúc.

    – Công trình được thiết kế với hình thức mềm mại, là sự kết hợp giữa 2 chức năng khu nhà khách đón tiếp các cán bộ tới làm việc qua ngày tại Tỉnh uỷ.

    – Khu nhà ăn phục vụ chung cho cả CBCNV trong cơ quan và khách tới làm việc.

    Khối nhà ăn có chiều cao 2 tầng với mặt bằng hình cánh cung tạo cho không gian đón tiếp thoáng đãng mà vẫn giữ được sự yên tĩnh cần thiết.

    Khối nhà khách cao 3 tầng trải dài theo địa thế khu đất bằng hình khối cách tân nhẹ nhàng tạo cảm giác thoải mái cho khách nghỉ.

    Quy mô thiết kế:

    Tầng 1.

    Khối nhà ăn

    – Sảnh chính + cầu thang           :         105.3 m2

    – Phòng ăn lớn                                     :         225.0 m2

    – Khu bếp nấu + gia công :         105.0 m2

    – Phòng nghỉ nhân viên              :           25.6 m2

    – Phòng phục vụ + kho              :           25.0 m2

    – Khu vệ sinh                                      :           17.5 m2

    Khối nhà khách:

    – Sảnh chính + cầu thang           :           83.5 m2

    – Phòng lê tân + dịch vụ VP + lưu niệm        :         180 m2

    – Các phòng ngủ                        :         148.4 m2

    – Phục vụ + Kho                        :           13.5 m2

    – Khu vệ sinh                                      :           17.5 m2

    Cộng diện tích sử dụng            :        946.3 m2

    Diện tích sàn                                      :     1971.4 m2

    Tầng 2:

    Khối nhà ăn

    – Các phòng ăn nhỏ                             :         220.0 m2

    – Khu bếp phụ + chia soạn        :           70.2 m2

    – Sảnh tầng + hành lang            :         156.5 m2

    – Phòng phục vụ + kho              :           10.3 m2

    – Khu vệ sinh                                      :           17.5 m2

    Khối nhà khách.

    – Sảnh chính + cầu thang           :         101.5 m2

    – Các phòng ngủ                        :         148.4 m2

    – Nhân viên phục vụ + kho        :           25.6 m2

    Cộng diện tích sử dụng            :        750.0 m2

    Diện tích sàn                                      :     1971.4 m2

    Tầng 3:

    Khối nhà khách

    – Sảnh tầng + cầu thang   :         101.5 m2

    – Các phòng ngủ              :         148.4 m2

    Cộng diện tích sử dụng  :        249.9 m2

    Diện tích sàn                             :     1971.4 m2

     

    Cộng diện tích sử dụng  :     1946.2 m2

    Diện tích sàn                             :     2474.0 m2

    • Cấp công trình:

    – Cấp công trình     :         Cấp II

    – Bậc chịu lửa                   :         Bậc II

    • Giải pháp hoàn thiện:

    Công trình có tính chất sử dụng cho chức năng đón tiếp và phục vụ cho toàn khu làm việc Tỉnh uỷ, cần đảm bảo cho nhu cầu sử dụng hợp lý và thuận tiện. Vì vậy các loại vật liệu hoàn thiện được sử dụng bằng các loại tốt trong và ngoài nước.

    Các loại vật liệu ốp lát bao gồm:

    • Mặt ngoài công trình:

    –  Chân tường và tầng 1 bằng đá Granitô tự nhiên sẫm màu.

    – Các tầng còn lại lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – Mái kiểu Ac-đoa dán giả ngói bằng gạch Granit TBC (hoặc ngói gốm Quảng Ninh – lựa chọn sự phù hợp về chất lượng và thẩm mỹ đảm bảo cho hình thức chung toàn công trình) màu dỏ sẫm.

    – Cửa đi, cửa sổ khung và khuôn gỗ lim, kính 5mm Đáp Cầu

    • Bên trong công trình:

    – Các sảnh chính và các khu vực đón tiếp, công cộng bằng gạch Granit TBC.

    – Các phần sàn còn lại bằng gạch Ceramic TBC.

    – Toàn bộ tường, trần (trừ các phòng và khu vực được thiết kế nội thất riêng) lăn sơn loại tốt (liên doanh).

    – ốp chân tường bằng vật liệu cùng loại với vật liệu sàn.

    1. Các sân thể thao.

    Bao gồm 2 sân tenis và 2 sân cầu lông được phân bố cuối khu đất theo bố cục vừa vặn với địa thế hiện trạng khu đất tạo thành khuôn viên gọn gàng phù hợp cho chức năng nghỉ ngơi thư giãn và các hoạt động thể dục thể thao trong khu làm việc.

    Các kỹ thuật hoàn thiện các sân thể thao theo các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Hệ thống diện tích các sân thể thao bao gồm:

    Sân tenis                          :         24 x 11 x 2 =         528 m2

    Tính cả phần biên  :         36 x 18 x 2 =       1296 m2

    Sân cầu lông           :         13.4 x 6.1 x 2       =         163 m2

    Tính cả phần biên  :         15.4 x 8.1 x 2       =         249 m2

    1. Căng tin phục vụ:

    Bao gồm các ki ốt nhỏ (diện tích 9 ¸ 12m2) xây gạch lợp mái tôn, tường trát vữa XM và lăn sơn loại tốt, cửa kính khung nhôm Singapore phân bố xen kẽ trong khu thể thao.

    * Các hạng mục kỹ thuật hạ tầng.

    Bao gồm các hệ thống sân đường, cổng, thường trực bảo vệ và các hệ thống kỹ thuật khác (trạm biến thế điện, khuôn viên, bồn hoa cây cảnh, đèn cao áp, đèn vườn, tượng đài, tiểu cảnh…) được thiết kế đồng bộ, có phong cách thống nhất phù hợp với tính chất của công trình và cảnh quan kiến trúc toàn khu.

    1. Cổng chính (số lượng 2).

    Hình thức kiến trúc mang phong cách tương xứng với công trình bao gồm hai phần chính.

    Phần chính giữa rộng 6,00m với 4 cánh mở và các phụ hai bên rộng 3,00m bằng hàng rào hoa sắt.

    Trụ chính xây gạch chỉ lõi thép đắp gờ phào, các trụ phụ hai bên bằng sắt với hoa văn cổ sơn xanh sẫm, cánh cổng khung sắt hộp hoa sắt sơn xanh sẫm.

    1. Cổng phụ (số lượng 4).

    Chia 2 phần.

    Phần chính dành cho ô tô rộng 4,50m bao gồm 4 cánh mở

    Phần phụ dành cho xe đạp, xe máy với 1 cánh mở.

    Các phần được ngăn cách bởi các trụ sắt hoa văn.

    1. Hàng rào (tổng chiều dài: 920m).

    Sử dụng loại hàng rào hoa sắt với hình thức cách tân cổ điển, chân rào xây gạch chỉ dày 220 cao 450.

    1. Hệ thống sân:

    Bao gồm các sân cho các khu vực tập trung của các khu chức năng, kết cấu sân BT đá dăm lát gạch chống trơn hoặc kết cấu sân gạch Block tuỳ theo mỗi sân.

    Tổng diện tích đường.

    1. Hệ thống đường.

    Bao gồm các tuyến đường nội bộ sẵn có được cải tạo, mở rộng và các tuyến đường mới theo quy hoạch chi tiết đã được duyệt. Hệ thống đường có các kết cấu:

    – Đường chính BT atphan.

    – Đường phụ, đường nhánh BT đá dăm.

    – Đường dạo lát gạch và đá xếp.

    Tổng diện tích đường.

    3. Các giải pháp xây dựng:

    1. Mô tả, đánh giá điều kiện địa chất thuỷ văn công trình:

    Địa điểm địa chất công trình: Căn cứ kết quả khảo sát địa chất công trình do Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng lập tháng 10/2002.

    • Địa điểm địa chất thuỷ văn.

    Nước dưới đất chủ yếu chứa trong lớp số 2 trữ lượng không lớn do nguồn cung cấp là nước mặn. Mặt khác, độ sâu gặp mực nước xiên dao động theo mùa, hiện trung bình khoảng 4.5m so với mặt đất tự nhiên nên không ảnh hưởng lớn đến thi công nếu đào móng nông.

    • Đánh giá đặc điểm địa chất công trình.

    Địa chất công trình mang đặc trưng rõ nét của đại chất vùng đồi trung du, có cấu tạo địa tầng tương đối phức tạp gồm nhiều lớp, ranh giới giữa các lớp đất biến thiên mạnh.

    Qua trạng thái và chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất nằm trong cấu tạo địa tầng cho thấy ngoại trừ lớp đất (lớp số 1), các lớp đất còn lại có chỉ tiêu cơ lý tương đối tốt, khả năng chịu tải của nền đất tăng theo độ sâu. Tuy nhiên ranh giới giữa các lớp đất biến thiên mạnh tạo thành các mái dốc. Đặc biệt là khu vực sát hồ nước. Do đó cần lưu ý hiện tượng mất ổn định do trượt theo mái dốc.

    1. Giải pháp thiết kế sơ bộ kết cấu – nền móng công trình.
    • Căn cứ lập thiết kế sơ bộ.

    – Phương án thiết kế kiến trúc trình bày trong báo cáo nghiên cứu khả thi đã được cấp thoả thuận về kiến trúc quy hoạch.

    – Các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng áp dụng.

    + Quy chuẩn xây dựng Việt Nam.

    + Tải trọng và tác động – tiêu chuẩn thiết kế: TCVN 2737: 1995.

    + Kết cấu BTCT – Tiêu chuẩn thiết kế TCVN 5575: 1991.

    + Móng cọc – Tiêu chuẩn thiết kế: TCXD 205: 1998.

    – Báo cáo khảo sát địa chất công trình do Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng thực hiện tháng 10/2002.

    1. Giải pháp thiết kế:

    * Trụ sở chính:

    • Giải pháp kết cấu chịu lực chính:

    – Kết cấu chịu lực chính của khối công trình này được lựa chọn là hệ khung chịu lực BTCT.

    – Kết cấu sàn được lựa chọn là hệ bản sàn BTCT thi công toàn khối cùng với hệ khung chịu lực. Chiều dày bản sàn sơ bộ xác định dày 12cm.

    • Giải pháp xử lý nền và kết cấu móng:

    – Đối với các đơn nguyên nhà từ trục 1-20 sử dụng giải phóng móng băng giao nhau BTCT đặc trực tiếp trên nền đất tự nhiên tại cốt cao độ +9.750.

    – Đối với đơn nguyên nhà từ trục 21 ¸ 25 do công trình nằm khá gần hồ (K/C gần nhất = 8m) để đề phòng trượt đất theo mái dốc áp dụng giải pháp xử lý nền bằng cọc BTCT tiết diện 250x250mm. Hạ bằng phương pháp đóng. Chiều dài cọc dự kiến 18m độ sâu mũi cọc dự kiến ở cao độ – 7.70.

    • Khối hội trường lớn:
    • Giải pháp kết cấu chịu lực chín.

    – Đây là khối công trình 1 tầng nhưng có chiều cao tầng và không gian lớn do vậy kết cấu được lựa chọn như sau: Cột BTCT chịu lực kết hợp hệ dầm giằng BTCT tạo hệ khung không gian.

    – Kết cấu mái: Nhịp lớn sử dụng hệ vì kèo với bước gian 3.6m. Mái lợp tôn có lớp cách nhiệt, cách âm.

    • Giải pháp xử lý nền và kết cấu móng.

    – Do khối công trình này có kết cấu nhịp lớn, mặt khác tải trọng chân cột khá nhỏ nên sử dụng giải pháp móng cột độc lập, để móng đặt trên nền tự nhiên nằm cùng cao độ với móng bằng khối làm việc 6 tầng.

    – Bố trí hệ giằng móng BTCT nối giữa các móng cột tạo nên độ cứng không gian cho toàn khối Công ty.

    * Khối nhà ăn – nhà khách.

    • Giải pháp kết cấu chịu lực chính:

    Hạng mục này gồm 2 khối nhà: Nhà ăn 2 tầng và nhà khách 3 tầng. Về tổng thể do tổng chiều dài công trình lớn (> 8m) nên đề xuất tách rời hệ kết cấu – nền móng giữa 2 khối nhà này thông qua khe lún từ móng đến mái. Giải pháp này cho phép hạn chế lún lệch và phù hợp với quy định và khe co dãn theo quy phạm.

    – Giải pháp kết cấu chịu lực chung cho cả 2 khối nhà này được lựa chọn là hệ khung chịu lực BTCT. Kết cấu sàn sử dụng giải pháp sàn BTCT toàn khối cùng hệ khung chịu lực.

    • Giải pháp xử lý nền và kết cấu móng.

    – Giải pháp móng cho 2 khối công trình này được lựa chọn là móng băng BTCT theo một phương, phương còn lại bố trí hệ giằng BTCT để tăng cường độ cứng không gian và ổn định của kết cấu móng.

    – Đáy móng được đặt trên nền đất tự nhiên trong lớp số (2) theo báo cáo khảo sát địa chất.

    * Các nhà nghỉ, công cụ:

    – Các công trình này mang tính chất biệt thự ở kết cấu khung sàn BTCT toàn khối.

    – Giải pháp móng các công trình này là móng bằng BTCT đặt trên nền đất tự nhiên.

    4. Giải pháp thiết kế cấp điện cho các hạng mục.

    Cơ sở thiết kế:

    Quy phạm trang bị điện 11 TCN-18-84, 11 TCN-19-84, 11 TCN-20-84,  11 TCN-2-91.

    Tiêu chuẩn ngành đặt đường dây điện trong nhà ở và công trình công cộng 250TCN-25-84.

    Tiêu chuẩn ngành – chiếu sáng nhân tạo trong công trình dân dụng 20TCN-16-86.

    Chiếu sáng nhân tạo bên ngoài công trình xây dựng dân dụng 20TCN95-83.

    Phần nguồn điện.

    Công trình được cấp điện từ 1 nguồn điện riêng đặt bên trong phạm vi khu tỉnh uỷ lấy điện từ lưới điện quốc gia 35KV. Nguồn điện có trạm biến áp hạ áp và nguồn máy phát điện dự phòng Điesel.

    Nguồn cung cấp điện:

    Nguồn điện sử dụng của công trình là nguồn điện xoay chiều 3 pha 4 dây 380/220V, 50Hz, trung tính phía thứ cấp máy biến áp trực tiếp nối đất.

    Phụ tải điện:

    Xác định công suất phụ tải tính toán cho từng hạng mục công trình và lựa chọn công suất máy biến áp.

    Trụ sở làm việc Tỉnh uỷ.

    Trụ sở làm việc gồm 5 tầng, trong đó chủ yếu là văn phòng làm việc, chọn suất phụ tải tính toán P0 = 0,12 KW/m2/sử dụng.

    Công suất phụ tải tính toán toàn toà nhà: P1 = 570 KW.

    Khu nhà ở bí thư, phó bí thư, khu nhà khách cao cấp và nhà đón tiếp:

    Chọn suất phụ tải, phụ tải tính toán P0 = 0,15 KW/m2/sử dụng.

    Tính toán sơ bộ công suất phụ tải tính toán là: P1 = 132 KW.

    Khu nhà bóng bàn và nhà lưu niệm.

    Khu nhà chủ yếu dùng điện chiếu sáng, chọn suất phụ tải tính toán là:

    P0 = 16 W/m2/ sử dụng.

    Công suất phụ tải tính toán toàn khu nhà: P3 = 12KW

    Khu nhà ăn:

    Chọn suất phụ tải tính toán: P0 = 30W/m2/sử dụng.

    Công suất phụ tải tính toán toàn khu nhà: P4 = 24KW

    Khu nhà khách:

    Chọn suất phụ tải tính toán: P0 = 0,12 KW/m2/ sử dụng

    Công suất phụ tải tính toán toàn khu nhà: P5 = 44 KW

    Chiếu sáng công cộng và nhà bảo vệ.

    Chọn suất phụ tải tính toán: P0 = 8KW/m2/ sử dụng.

    Chọn sơ bộ công suất phụ tải tính toán: P6 = 50 KW.

    Tổng công suất phụ tải cấp cho các hạng mục là:

    Ptt = P1 + P2 + P3 + P4 + P5 + P6 = 832 KW

    Chọn cos j = 0,85; Stt =  = 978.8 KVA; chọn máy biến áp 1000KVA

    Phương thức cấp điện:

    Trên cơ sở mặt bằng và số liệu công suất cần cấp cho các hạng mục công trình, đề ra phương án cấp điện như sau:

    Đặt riêng cho khu Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc một máy biến áp 1000KVA – 35/0,4KV.

    Để đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện liên tục, đặt 1 máy phát điện dự phòng công suất 400KVA cung cấp 50% công suất của công trình khi có sự cố nguồn máy biến áp (lúc đó cắt toàn bộ công suất máy điều hoà), máy phát điện dự phòng cần được khởi động kiểm tra thường xuyên.

    Tủ điện tổng được đặt tại trạm biến áp, đầu ra của tủ điện tổng hạ áp chia làm 9 lộ, cấp điện cho các hộ tiêu thụ bằng cáp được đặt trong hố kỹ thuật dễ dàng cho việc sửa chữa, thay thế.

    Lộ 1, 2 cấp cho trụ sở làm việc bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×240+1×150 mm2.

    Lộ 3, 4, 5, 6, 7 cấp cho nhà ở Bí thư, Phó bí thư, nhà đón tiếp và 2 khu nhà khách cao cấp bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×25+1x16mm2.

    Lộ 8 cấp cho nhà lưu niệm bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×10+1x6mm2.

    Lộ 9 cấp cho khu nhà ăn và nhà khách bằng cáp XLPE/DSTA/PVC 3×70+1x35mm2.

    Tất cả các lộ ra đều có áp tô mát bảo vệ.

    Tại mỗi khu nhà đặt một tủ điện cung cấp điện cho toàn bộ khu nhà, mỗi tủ điện chia làm 2 lộ cấp điện chiếu sáng và động lực.

    Điện động lực.

    – Điều hoà cục bộ: Được đặt tỏng một số phòng nhất định, còn lại chỉ tính công suất và đặt dây chờ khi có điều kiện kinh tế sẽ lắp đặt sau.

    – Điều kiện thông gió và làm mát bằng quạt trần hoặc quạt cây.

    Các loại quạt thông gió lấy điện từ các tủ điện tầng.

    Điện chiếu sáng.

    – Sử dụng các loại đèn hiện có trên thị trường, gồm các loại:

    + Đèn ống dài 1,2m, loại đèn 1 bóng, 2 bóng, 3 bóng có chụp tán quang.

    + Đèn gắn tường bóng nung sáng.

    + Đèn chiếu dùng đèn thuỷ ngân cao áp, các loại đèn sân vườn.

    – Hình thức chiếu sáng chủ yếu là chung đều. Đèn lắp nổi treo trần, độ rọi tối thiểu phòng làm việc Emin = 250lux, hành lang Emin = 50lux.

    – Đèn chiếu sáng sự cố và thoát hiểm sử dụng loại đèn có ác quy tự nạp, có bộ lưu điện trong thời gian 3 giờ kể từ khi mất điện.

    – Điện chiếu sáng bên ngoài dùng đèn thuỷ ngân cao áp công suất bóng 250W, độ chói Ltb = 0,7 cd/m2 lắp trên cột thép tròn cao 10m. Cáp cấp điện tới các cửa cột đèn dùng loại XLPE/DSTA/PVC 4×6. Cáp từ cửa cột lên đèn dùng loại XLPE/DSTA/PVC 2×2,5.

    Thiết bị điều khiển và bảo vệ:

    Thiết bị đóng, cắt mạch điện và bảo vệ cho mạch điện sử dụng aptômát loại 4 cực, 2 cực, 1 cực. Các áp tô mát đều đặt trong tủ điện.

    Các phụ tải đặt trong hành lang, các khu vực riêng biệt được đóng cắt bằng các loại công tắc (công tắc sử dụng loại 1, 2, 3 phím bật, riêng ở hành lang dùng loại công tác đảo chiều), ổ cắm loại 3 tiếp điểm, có tiếp điểm nối với hệ thống an toàn.

    Lưới điện:

    Trong nhà:

    Mạng điện hạ thế cung cấp cho công trình được thiết kế ở cấp điện áp 380/220V, 3 pha, 4 pha và 1 dây tiếp đất, f = 50Hz, điện xoay chiều.

    Hệ thống dây dẫn, dây cáp là loại lõi đồng có cách điện XLPE. Cáp nguồn đi trong ống thép đặt trong rãnh cáp. Từ tủ điện phân phối, cáp và dây dẫn đi trong ống nhựa đặt ngầm trong tường, trong trần, hoặc dưới sàn các ống này được cố định bằng colie hoặc vít nở.

    Ngoài nhà:

    Tự nguồn điện, dây cáp cấp điện cho công trình là loại lõi đồng, vỏ bọc XLPE/DSTA/PVC đi trong ống thép ngầm trong rãnh cáp không đặc trực tiếp trong đất.

    Tiết diện dây:

    Dây dẫn từ tủ điện ra đèn dùng loại lõi đồng bọc PVC tiết diện từ 1,5 đến 2,5mm2 luồn trong ống PVC F20 đặt ngầm trong trần cố định chắc chắn. Dây điện cho các ổ cắm có tiết diện từ 2,5mm2 (cho phòng riêng) và 4mm2 cho dây ổ cắm công cộng, dây đi trong ống PVC đặt ngầm trong tường hoặc cột.

    Dây cấp điện cho ổ cắm và phụ tải 1 pha và 1 pha 3 dây.

    Dây cấp điện cho động lực 3 pha là 3 pha 5 dây, tiết diện dây tối thiểu là 2,5mm2.

    Dây dẫn có tiết diện là 6mm2 và lớn hơn dùng dây lõi đồng nhiều sợi bệt.

    ống luồn dây:

    Dùng loại cứng ở những nơi đất hở, ẩm ướt hoặc những nơi có yêu cầu đặc biệt theo quy phạm, ống luồn dây bằng thép được cùng ở những nơi cần đi ngầm trong bê tông. Các ống luồn dây kim loại dùng ở những nơi kín đáo hoặc trên trần giả. Các ống mềm dùng ở các điểm cuối để nối vào các đèn lắp ngầm trần, thiết bị điều khiển động cơ hoặc các thiết bị có dao động rung.

    Chống sét công trình:

    Để bảo vệ công trình sử dụng biện pháp chống sét đánh thẳng, chống cảm ứng tĩnh điện và cảm ứng điện từ, hệ thống thu sét đặt ngay trên bề mặt mái công trình kết hợp kim thu sét và hệ thống tiếp điện. Để đảm bảo độ an toàn kim thu sét sử dụng loại kim thu sét chủ động phóng tia tiên đạo với sung điện áp cao hiện có trên thị trường. Ưu điểm của phương pháp này là công trình được bảo vệ sét đánh với bán kính lớn có thể lên đến 60m. Hệ thống dây thu sét và hệ thống tiếp đất chống sét hoàn toàn bằng đồng để đảm bảo độ thoát sét nhanh nhất. Thanh đồng nối liên hệ giữa phần kim thu sét với hệ thống tiếp đất được đặt ngầm trong tường, cột bên ngoài lớp bê tông thô của tường hoặc cột.

    Hệ thống nối dất là các cọc đồng 20mm x 1.8mm tạo thành một mạch vòng chạy vòng quanh công trình.

    Công trình đặt một hệ thống tiếp đất an toàn độc lập với hệ thống tiếp đất chống sét, thanh tiếp đất sử dụng thanh thép tròn F16 đặt sâu 1m so với cốt sân vườn. Cọc tiếp đất dùng thép L63x63x63m. Từ hệ thống tiếp đất an toàn dùng một thanh thép F16 đưa đến các tủ điện tầng, các phụ tải, vỏ tủ điện, máy điều hoà, bình đun nước nóng, máy bơm nước, máng đèn… đều phải nối đất an toàn.

    5. Các giải pháp thiết kế cấp nước cho các hạng mục:

    Cơ sở thiết kế:

    Hồ sơ thiết kế trên cơ sở:

    Bản vẽ quy hoạch cấp nước tỷ lệ 1:500 khu tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc – thị xã Vĩnh Yên.

    – Cấp nước bên trong tiêu chuẩn thiết kế TCVN4513 -1988 nhóm H.

    – Hồ sơ thiết kế kiến trúc khu nhà ở tỉnh Vĩnh Phúc.

    Các số liệu và chỉ tiêu tính toán:

    Các số liệu tính toán:

    – Số người sử dụng:

    + Khối cơ quan                          :         180 người

    + Khối khách và phục vụ          :           60 người

    + Khối biệt thự và công vụ        :           30 người

    Xác định thành phần sử dụng:         

    + Nước cấp cho trụ sở chính.

    + Nước cấp cho khối khách và nhà ăn.

    + Nước cấp cho khối biệt tự và công vụ.

    + Nước cấp cho tưới cây, rửa đường.

    + Nước cấp cho cứu hoả.

    + Nước cấp cho dự phòng.

    Các chỉ tiêu tính toán:

    Các chỉ tiêu sử dụng theo tiêu chuẩn cấp nước TCXD 33-1985

    + Mạng lưới bên ngoài và công trình  :

    + Nước cấp cho trụ sở chính                                  :         30 lít/người/ngày.

    + Nước cấp sinh hoạt cho nhà khách            :         150 lít/người/ngày.

    + Nước cấp sinh hoạt cho biệt thự và công vụ       :         200 lít/người/ngày.

    + Nước cấp cho tưới cây, rửa đường             :           15m3/ha/ngày.

    + Nước cấp cho cứu hoả                                         :           15 lít/giây.

    + Nước cấp cho dự phòng                                      :         28%tổnglượngnước/ngày

    Giải pháp thiết kế nước:

    Xác định nguồn nước

    Nguồn nước cho khu tỉnh uỷ sẽ lấy nguồn nước sẵn có của thị xã chạy qua khu vực này.

    Do nguồn hiện có sử dụng lại sẽ kém hiệu quả, vì vậy nguồn nước cấp cho quy hoạch mới  sẽ lấy từ các trục chính dẫn vào khu vực hiện có tại 3 vị trí phù hợp với từng khu quy hoạch chức năng.

    Giải pháp cấp nước:

    Mạng cấp truyền dẫn: hiện đã có 3 tuyến ống D100 cấp từ mạng cấp nước chung của thị xã vào khu vực công trình nghiên cứu.

    Mạng ống phân phối: trong đồ án thiết kế mạng ống phân phối có đường kính D50 – D100 vật liệu bằng thép tráng kẽm loại ống này áp dụng phổ biến trong các công trình hiện nay.

    Vấn đề tạo áp lực nước: để tạo được áp lực nước bố trí bể chứa ngầm và trạm bơm tăng áp cục bộ cho từng hạng mục của công trình, dùng hệ thống bơm tự động điện khu vận hành đơn giản cho việc sử dụng.

    Mạng cấp nước chữa cháy cho khu vực được kết hợp với mạng cấp nước sinh hoạt chung, đó là mạng cấp nước chữa cháy có áp lực thấp, có họng cứu hoả có áp lực tối thiểu là 10m và được áp dụng xây dựng cho thành phố trong những năm qua. Ngoài ra cần xây dựng bể chứa nước chữa cháy cho mạng cấp nước chữa cháy trong nhà chính. Vị trí các họng cứu hoả cũng như hệ thống cấp nước chữa cháy trong các toà nhà chính cụthể cần được sự thoả thuận của cơ quan phòng cháy và chữa cháy thị xã.

    Các số liệu tính toán nhu cầu sử dụng:

    – Khối lượng nước sử dụng/ngày (bình quân):

    + Cấp nước cho trụ sở chính:

    Qcq = 30 lít/người/ngày x 180 = 5.4m3

    + Cấp nước cho nhà khác:

    Qcq = 150 lít/người/ngày x 100 = 15m3

    + Cấp nước cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    Qcq = 200 lít/người/ngày x 25 = 5.0m3

    + Cấp nước cho tưới cây, rửa đường:

    Qđg = 15m3/ha/ngày x 1.71 = 25,7m3

    + Cấp nước dự phòng:

    Qdp = 28% x (5.4 + 15 + 5 + 25,7) = 14.5m3

    + Tổng lượng nước trung bình cần dùng trong 1 ngày:

    Qtb = 50.1 + 14.5 = 64.6m3

    + Lượng nước yêu cầu cao nhất trong 1 ngày:

    Các hệ số dùng nước không điều hoà:

    Kngày = Kgiờ = 1.3 riêng nước dự phòng K = 1.

    Qmax = 50.1 x 1.3 + 14.5       = 79.5m3

    + Cấp nước cho cứu hoả (tính cho 3 giờ cháy):

    Qcc = 15 x 3 x 3600      = 162m3

    Tính toán các công trình phụ trợ:

    1. Bể nước ngầm cho cấp nước sinh hoạt:

    V = 4 x Q (m3)

    Trong đó:      V: thể tích bể chứa nước (m3)

    Q: lưu lượng nước sử dụng trong ngày

    + Bể nước ngầm sinh hoạt cấp nước cho trụ sở chính:

    V = 4 x 5.4 = 21.6 (m3)

    + Bể nước ngầm sinh hoạt cấp cho nhà khách:

    V = 4 x 15 = 60 (m3)

    + Bể nước ngầm sinh hoạt cấp cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 4 x 5 = 20 (m3)

    1. Bể nước ngầm cho cấp nước chữa cháy:

    V = n x Qcc x 3 x 3600 (m3)

    Trong đó       V: thể tích bể chứa nước (m3)

    Qcc: lưu lượng nước cho một cột chữa cháy

    n: số cột chữa cháy

    + Bể nước ngầm chữa cháy cấp cho trụ sở chính

    V = 4 x 2.5 x 3 x 3600 = 108 (m3)

    + Bể nước ngầm chữa cháy cấp cho nhà khách:

    V = 1 x 2.5 x 3 x 3600 = 27 (m3)

    + Bể nước ngầm chữa cháy cấp cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 1 x 2.5 x 3 x 3600 = 27 (m3)

    1. Bể nước trên mái:

    V = 2 x Q (m3)

    Trong đó:      V: thể tích bể chứa nước (m3)

    Q: lưu lượng nước sử dụng trong ngày

    + Bể nước trên mái sinh hoạt cấp cho trụ sở chính:

    V = 2 x 5.4 = 10.8 (m3)

    + Bể nước trên mái sinh hoạt cấp cho nhà khách:

    V = 2 x 15 = 30 (m3)

    + Bể nước trên máu sinh hoạt cấp cho nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 2 x 5 = 10 (m3)

    6. Giải pháp thiết kế thoát nước cho các hạng mục:

    1. Các chỉ tiêu tính toán:

    Các chỉ tiêu thoát nướcthải lấy phù hợp với tiêu chuẩn cấp nước

    1. Giải pháp thiết kế:
    2. Mô tổ phương án thoát nước:

    Hệ thống thoát nước bẩn là hệ thống cống riêng giữa nước mưa và nước bẩn. Nước bẩn thải từ các công trình được xử lý bằng trạm sử lý nước thải cho toàn khu vực trước khi thoát vào hệ thống cống thoát nước bẩn bên ngoài. Toàn bộ hệ thống cống thoát nước bẩn của công trình tập trung theo tuyến cống chính dọc theo sườn đồi phía Đầm Vạc và đổ vào hệ thống thoát nước bẩn chung của k hu vực trong thị xã.

    1. Hệ thống cống thoát nước bẩn:

    Hệ thống cống thoát nước bẩn trong khu vực là cống bê tông cốt thép chịu lực trên mạng lưới sẽ bố trí các ga chuyển hướng và ga thăm.

    Tiể diện cống được dựa trên cơ sở:

    * Xác định lưu lượng nước thải:

    Qtb = nxq/1000m3/ngày

    Trong đó:      n: số người dùng nước

    q: tiêu chuẩn dùng nước cho 1 ngày đêm

    Ta có:

    Lưu lượng nước thải của trụ sở chính:

    QTb­ = 180 x 30/1000 = 5.4m3/ngày

    Lưu lượng nước thải của nhà khách:

    QTb = 100 x 150/1000 = 15m3/ngày

    Lưu lượng nước thải của nhà biệt thự, nhà công vụ:

    QTb = 25 x 200/1000 = 5m3/ngày

    Lưu lượng nước thải cho các công trình:

    Qt = 5.4 + 15 + 5 = 25.4m3/ngày.

    1. Tính toán các công trình phụ trợ:

    Thể tích bể tự hoại được xác định theo công thức:

    V = 0.3 x n (m3)

    Trong đó n: Số người sử dụng nước trong công trình.

    Thể tích bể tự  hoại của trụ sở chính:

    V = 0.3 x 180 = 5.4m3/ngày.

    Thể tích bể tự hoại của nhà khách:

    V = 0.3 x 100 = 30m3/ngày.

    Thể tích bể tựk hoại của nhà biệt thự và nhà công vụ:

    V = 0.3 x 25 = 7.5m3/ngày.

    1. Các yêu cầu kỹ thuật về hệ thống cống và đường ống:

    Tiết diện cống được đặt theo lưu lượng tính toán, nếu lưu lượng nhỏ đặt theo cấu tạo với đường kính D = 300 độ dốc dọc nhỏ hơn bằng 1/D. Độ sâu chôn cống ban đầu từ đỉnh cống đến mặt nền thiết kế > 0.5m.

    Công trình sử dụng các loại ống có sẵn trên thị trường như ống nhựa dùng ống của Công ty nhựa Tiền Phong cho hệ thống thoát trong nhà, ống BTCT đúc sẵn cho hệ thống thoát nước ngoài nhà.

    7. Giải pháp thiết kế hệ thống thông tin liên lạc:

    – Các ban Đảng và văn phòng làm việc trong trụ sở chính đều được lắp đặt máy điện thoại, các máy điện thoại được kết nối thông qua một tổng đài nội bộ,, với số máy là 30 máy. Các phòng bí thư, phòng phó bí thư, chánh, phó văn phòng, các phòng trưởng, phó Ban Đảng, phòng trưởng phòng được lắp máy điện thoại thuê bao riêng, tổng số 20 máy.

    – Khu nhà khách được lắp đặt một tổng đài nội bộ phục vụ cho các phòng nghỉ, có 32 máy. Ngoài ra, có 2 máy điện thoại phục vụ cho khối nhà ăn.

    – Khu nhà công vụ và nhà biệt thự được lắp đặt mỗi nhà một máy điện thoại.

    8. Giải pháp thiết kế mạng thông tin:

    – Theo yêu cầu của Văn phòng và các Ban Đảng, tại trụ sở làm việc của Tỉnh uỷ các phòng máy tính được thiết kế bao gồm: 1 phòng máy chủ, 1 phòng lớn dùng để máy vi tính, ngoài ra tại các nơi làm việc của các Ban Đảng có bố trí thêm một phòng máy vi tính.

    – Dự án về cung cấp lắp đặt mạng công nghệ thông tin trong khu làm việc của Tỉnh uỷ là một dự án riêng cho văn phòng Tỉnh uỷ lập, trong dự án này không đề cập đến.

    9. Giải pháp thiết kế hệ thống PCCC:

    Do tính chất quan trọng của trình, cho nên khu làm việc của Tỉnh uỷ được thiết kế một hệ thống PCCC hiện đại đảm bảo đáp ứng được yêu cầu PCCC khi có sự cố xảy ra. Các công trình phải đảm bảo các yếu tố sau:

    Tuân thủ theo đúng quy định về PCCC của Bộ Công an.

    Giao thông nội bộ đảm bảo thoát nạn khi có sự cố xảy ra.

    Nguồn nước, bể chứa nước cứu hoả luôn đảm bảo dung lượng nước.

    Trang bị đầy đủ các phương tiện chữa cháy cầm tay, các họng nước cứu hoả được bố trí đầy đủ, hợp lý.

    Có hệ thống báo cháy tự động, đầu báo khói, báo nhiệt, đèn tín hiệu với trung tâm điều khiển.

    Có nội quy phòng cháy chữa cháy.

    10. Giải pháp thiết kế nội thất:

    Trụ sở chính:

    Công trình trụ sở chính là nơi làm việc của cơ quan lãnh đạo cao nhất của tỉnh, nơi đây thường xuyên giao dịch, tiếp khách và làm việc với các đoàn khách trong và ngoài nước, cho nên việc thiết kế và thi công nội thất một số phòng c hính của trụ sở là cần thiết.

    Nguyên tắc thiết kế phải đạt được những yếu tố sau:

    – Hình thức nội dung mang đầy đủ tính chất là công trình làm việc của cơ quan lãnh đạo cao nhất tỉnh.

    – Kết hợp được tính hiện đại và tính dân tộc.

    – Có khả năng sử dụng lâu dài, không bị lạc hậu trong nhiều thập kỷ.

    – Sử dụng vật liệu hợp lý, đảm bảo tính kỹ mỹ thuật, trang trọng.

    – Chi phí đầu tư  hợp lý.

    Công suất thiết kế và quy mô trang trí nội thất như sau:

    • Sảnh chính: Lắp phào hoa văn thạch cao, trần sợi tổng hợp, phù điêu hoa văn, nên lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Sảnh và hành lang các tầng: Lắp đặt tấm trần sợi tổng hợp, phào hoa văn thạch cao, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng khánh tiết: Trần thạch cao kết hợp với gỗ Pơmu, phào ốp trần góc tường bằng gỗ, tranh sơn mài treo tường, chân tường ốp gỗ ván tếch cáo 1,2m, tường ốp gỗ Pơmu, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, sàn trải thảm màu đỏ sẩm, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng họp: Trần thạch cao kết hợp với gỗ Pơmu, phào ốp trần góc tường bằng gỗ, chân tường ốp gỗ ván tếch cao 1,2m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng bí thư Tỉnh uỷ: Trần gỗ Pơmu, phào ốp trần góc tường bằng gỗ, chân tường ốp gỗ ván tếch cao 0,8m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng phó bí thư Tỉnh uỷ: Trần Thạch Cao, phào ốp trần góc tường bằng thạch cao, chân tường ốp gỗ ván tếch cao 0,8m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    • Phòng chánh, phó văn phòng, trưởng, phó ban Đảng: Trần thạch cao, phào ốp trần góc tường bằng thạch cao, chân tường ốp gỗ ván tếch cáo 0,2m, lắp đặt hệ thống rèm cửa, nền lát gạch Thạch Bàn, đèn chiếu sáng và trang trí.
    1. Giải pháp chống mối, mọt và bảo quản công trình:

    Công trình được thực hiện theo đúng quy định ban hành.

     

    VI- Nguồn vốn và tổng mức đầu tư:

    1. Nguồn vốn:

    Nguồn vốn xây dựng khu làm việc Tỉnh uỷ là vốn ngân sách, bố trí vốn trong 3 năm (từ năm 2002 đến năm 2005).

    2. Tổng mức đầu tư:

    + Cơ sở lập khái toán và vốn đầu tư:

    – Căn cứ vào đơn giá XDCB ban hành theo quyết định số 997/1999/QĐ-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

    – Căn cứ mẫu lập tổng dự toán theo thông tư 09/2000/TT-BXD của Bộ xây dựng ra ngày 17/7/2000 về việc hướng dẫn lập dự toán xây lắp các hạng mục công trình.

    – Căn cứ quyết định 15/2001/QĐ-BXD ra ngày 20/7/2001 của Bộ xây dựng ban hành định mức chi phí tư vấn đầu tư và xây dựng.

    – Căn cứ quyết định 12/2001/QĐ-BXD ra ngày 20/7/2001 của Bộ xây dựng ban hành định mức chi phí thiết kế công trình xây dựng.

    – Căn cứ thông tư 04/2002/QĐ-UB ra ngày  27/6/2002 về việc điều chỉnh hệ số nhân công và máy thi công.

    + Giá trị xây lắp:

    TT Tên hạng mục Đơn vị Khối lượng Đơn giá Thành tiền
    A Khu nhà chính        
    1 Khu nhà làm việc tỉnh uỷ 5 tầng M2 8.503 2.000.000 17.006.000.000
    2 Nhà ở biệt thự (2 nhà) M2 680 1.700.000 1.156.000.000
    3 Nhà khách cao cấp (2 nhà) M2 640 1.700.000 1.088.000.000
    4 Nhà khách 2 tầng M2 2.500 1.500.000 3.750.000.000
    5 Trang trí nội thất nhà làm việc       2.500.000.000
    6 Trang trí nội thất nhà biệt thự Nhà 2 150.000.000 300.000.000
    7 Trang trí nội thất nhà khách 1 tầng Nhà 2 150.000.000 300.000.000
    8 Trang trí nội thất nhà khách 2 tầng Nhà 1 500.000.000 500.000.000
     

    Cộng XL 1

          26.600.000
    B Khu phụ trợ        
    1 Nhà thường trực (2 nhà) M2 20 1.200.000 24.000.000
    2 Nhà bóng bàn 1 tầng M2 278 1.200.000 333.600.000
    3 Ga ra ô tô M2 250 1.000.000 250.000.000
    4 San nền       300.000.000
    5 Kè đá M 620 500.000 310.000.000
    6 Hàng rào M 920 400.000 368.000.000
    7 Cổng chính Cái 2 20.000.000 40.000.000
    8 Cổng phụ Cái 4 10.000.000 40.000.000
    9 Sân nội bộ lát gạch M2 12.500 120.000 1.500.000.000
    10 Đường giao thông BT át phan        
     

    Phần cải tạo

    M2 1.500 150.000 225.000.000
      Phần làm mới M2   250.000 1.000.000.000
    11 Đường dạo BT cấp phối M2   120.000 258.000.000
    12 Vườn hoa cây cảnh M2   20.000 282.000.000
    13 Cấp thoát nước ngoài nhà       200.000.000
    14 Điện chiếu sáng sân vườn ngoài nhà       500.000.000
    * Hệ thống cáp ngầm ngoài nhà       400.000.000
    15 Trạm xử lý nước thải Trạm   1.000.000.000 1.000.000.000
    16 Cụm nhà nổi mặt hồ M2   1.000.000 400.000.000
    17 Bể cứu hoả M3   1.000.000 160.000.000
    18 Bể chứa nước ngầm M3   1.000.000 100.000.000
     

    Cộng XL2

          7.690.600.000
      Phần cải tạo        
    1 Nhà lưu niệm 1 tầng       656.604.000
    2 Nhà đón tiếp 1 tầng M2 200 1.000.000 200.000.000
     

    Cộng XL3

          856.604.000
      Cộng GTXL       35.147.204.000
      Thuế VAT: 5%       1.757.360.200
      Giá trị xây lắp sau thuế       36.904.564.200
     

    Làm tròn

          36.904.564.000

     

    + Chi phí thiết bị:

    TT Tên thiết bị Đ.vị Khối lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Điều hoà gắn tường 2 cục 1 chiều 18000 BTU cái 210 12.000.000 2.520.000.000
    2 Hệ điều hoà trung tâm 140000 BTU (8 miệng thổi trần) Hệ 1 1.000.000.000 1.000.000.000
    3 Trạm biến áp 1.000 KVA-35/0,4KV + máy phát điện Trạm 1 700.000.000 700.000.000
    4 Thang máy 5 điểm dừng Cái 2 700.000.000 1.400.000.000
    5 Hệ thống thông tin liên lạc       300.000.000
    6 Hệ thống PCCC       500.000.000
      Cộng thiết bị       6.420.000.000
      Thuế VAT: 10%       642.000.000
     
    Giá trị sau thuế
          7.062.000.000

    + Chi phí khác:

    TT Nội dung
    Cơ sở tính
    Tỷ  lệ Thành tiền
    I Giai đoạn chuẩn bị đầu tư      
    1 Đo đạc mặt bằng

     

    5,2ha x 5.000.000đ

        26.000.000
    2 Khảo sát địa chất lập dự án và TKKT     150.000.000
    3 Thiết kế quy hoạch tổng mặt bằng: 5,2ha x 11.000.000đ     57.200.000
    4 Làm mô hình     30.000.000
    5 Lập báo cáo nghiên cứu khả thi 41.567.204.000 0,30% 124.701.612
    6 Thẩm định dự án 41.567.204.000 0,0260% 10.807.473
     

    Cộng

        398.709.085
    II Giai đoạn thực hiện đầu tư      
    1 Thiết kế phí      

    Nhà làm việc 5 tầng

    17.006.000.000 2,3000% 391.138.000
    Nhà ở biệt thự (2 nhà) 1.156.000.000 2,8500% 32.946.000
    Nhà khách cao cấp (2 nhà) 1.088.000.000 2,8500% 31.008.000
    Nhà khách 2 tầng 3.750.000.000 2,7000% 101.250.000

    Trang trí nội thất

    3.600.000.000 2,9800% 107.280.000
    Cải tạo: nhà lưu niệm + đón tiếp 856.604.000 3,2% x 1,2 32.893.594
    Công trình phụ trợ 7.690.600.000 2,1000% 161.502.600
    Thiết kế hệ thống PCCC 500.000.000 3,2900% 16.450.000
    Thiết kế hệ thống điện thoại 300.000.000 3,3700% 10.110.000
    Thiết kế hệ thống lắp đặt điều hoà 500.000.000 3,2900% 16.450.000
    2 Thẩm định thiết kế 35.147.204.000 0,0826% 29.031.591
    3 Thẩm định dự toán 35.147.204.000 0,0744% 26.149.520
    4 Lập hồ sơ mời thầu xây lắp 35.147.204.000 0,1380% 48.503.142
    5 Lập hồ sơ mời thầu thiết bị 6.420.000.000 0,1680% 10.785.600
    6 Giám sát thi công xây dựng 35.147.204.000 0,9770% 343.388.183
    7 Giám sát mua sắm thiết bị 6.420.000.000 0,3180% 20.415.600
    8 Chi phí Ban quản lý xây lắp 35.147.204.000 1,0500% 369.045.642
    9 Chi phí Ban quản lý thiết bị 6.420.000.000 0,4800% 30.816.000
    10 Chi phí bảo hiểm 410567.204.000 0,2000% 83.134.408
    11 Chi phí chống mối     200.000.000
    12 Chi phí thí nghiệm sức chịu tải của cọc:

     

    4 cọc x 5.00.000đ

        20.000.000
    13 Di chuyển mặt bằng     350.000.000
    14 Rà phá bom mìn     100.000.000
    15 Phá dỡ công trình cũ 6.127 30.000 183.810.000
      Cộng     2.716.107.878
    III Giai đoạn kết thúc đầu tư      
    1 Hoàn công, quyết toán, kiểm toán 901.028.194 TKP x10% 90.102.819
     

    Cộng I+ II + III

        3.204.919.783
      Thuế VAT: 10%     320.491.978
      Giá trị sau thuế     3.525.411.761
      Làm tròn     3.525.412.000

    Tổng mức đầu tư    :         52.241.174.000đ

    Gồm có

    Giá trị xây lắp                 :         36.904.564.000đ

    Chi phí thiết bị                 :           7.062.000.000đ

    Chi phí khác           :           3.525.412.000đ

    Chi phí dự phòng   :         1% (XL + TB + CPK)    :         4.749.198.000đ

    Bằng chữ: Năm mươi hai tỷ hai trăm bốn mươi  mốt triệu một trăm bảy mươi tư ngàn đồng.

    VII- Hiệu quả đầu tư

    Khu làm việc Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc được quy hoạch, xây dựng, cải tạo sẽ mang lại diện mạo mới cho Tỉnh uỷ, phù hợp với định hướng cải cách hành chính, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, ổn định lâu dài của cơ quan lãnh đạo của Tỉnh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Tỉnh nhà trong sự phát triển chung của đất nước mà Đảng và Nhà nước đề ra.

    Mặt khác Công trình tạo ra một tổng thể kiến trúc hài hoà, phù hợp vpú cảnh quan kiến trúc chung của khu vực đồng thời cũng sẽ là điểm nhấn cho cụm kiến trúc Đô thị trong khu vực.

    VIII- Các mốc thời gian thực hiện đầu tư

    1. Giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư:

    – Khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi: Tháng 10 năm 2002

    – Thẩm định dự án: Tháng 11 năm 2002

    2. Giai đoạn thực hiện đầu tư:

    1. Giai đoạn 1:

    – Thiết kế kỹ thuật trụ sở chính, cải tạo nhà lưu niệm Bác Hồ với Nhân dân Vĩnh Phúc: Tháng 1 năm 2003

    – Thẩm định thiết kế kỹ thuật trụ sở chính, nhà Lưu niệm Bác Hồ với nhân dân Vĩnh Phúc: Tháng 2 năm 2003.

    – Giải phóng mặt bằng, thi công san nền giai đoạn I: Tháng 2 năm 2003.

    – Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp, khởi công xây dựng trụ sở chính: tháng 2 năm 2003.

    – Bàn giao và đưa vào sử dụng: Quý I năm 2005.

    1. Giai đoạn II:

    – Thiết kế kỹ thuật nhà ăn, khách, nhà công vụ, nhà biệt thự: tháng 4 năm 2003.

    – Thẩm định Hồ sơ thiết kế kỹ thuật: tháng 5 năm 2003.

    – Giải phóng mặt bằng, thi công san nền giai đoạn II: tháng 12 năm 2004.

    – Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp, khởi công xây dựng trụ sở chính: tháng 01 năm 2005.

    – Bàn giao và đưa vào sử dụng : Quý IV năm 2005.

    IX- Hình thức quản lý thực hiện dự án

    Căn cứ nghị định số 52/1999/NĐ – CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ ban hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng, căn cứ quy mô tính chất của dự án: Chon hình thức quản lý thực hiện dự án là chủ đầu tư Văn phòng Tỉnh uỷ trực tiếp quản lý thực hiện dự án. Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án ký hợp đồng với một cơ quan tư vấn làm nhiệm vụ giám sát quản lý kỹ thuật, chất lượng xây dựng.

    Sau khi trình duyệt hồ sơ thiết kế và tổng dự toán và đã được phê duyệt, Ban quản lý lập kế hoạch đấu thầu trình chủ dự án duyệt để có kế hoạch tổ chức mời thầu, đấu thầu và tiến hành thi công, nghiệm thu bàn giao theo trình tự xây dựng cơ bản của quy chế quản lý và xây dựng ban hành theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ.

    X- xác định chủ đầu tư:

    Để dự án xây dựng trụ sở Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc triển khai thực hiện đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao, Văn phòng Tỉnh uỷ là Chủ đầu tư được giao trách nhiệm quả lý và sử dụng vốn thông qua ban quản lý dự án để thực hiện dự án theo đúng quy định.

    XI- Mối quan hệ, trách nhiệm các cơ quan có liên quan:

    1. Trách nhiệm của chủ đầu tư:

    Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng. Trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư được quy định như sau:

    – Thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành của Nhà nước về lập, thẩm định và trình duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật.

    – Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung cấp vật liệu thiết bị xây lắp có tư cách pháp nhân và đủ năng lực phù hợp để đảm nhận các công việc chuẩn bị đầu tư, thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp và giám sát chất lượng công trình.

    – Kiểm tra chất lượng các loại vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt.

    – Được quyền yêu cầu các tổ chức tư vấn, cung ứng, tổ chức nhận thầu xây lắp giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị và các công việc do các tổ chức này thực hiện. Đối nới những công việc chất lượng theo quy định của thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật thì chủ đầu tư có quyền yêu cầu thực hiện sửa chữa, thay đổi đối với những công việc này hoặc từ chối nghiệm thu.

    2. Trách nhiệm của tổ chức tư vấn xây dựng:

    Tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư, trước pháp luật và thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng, về chất lượng sản phẩm tư vấn của mình chịu sự kiển tra thường xuyên của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng.

    3. Trách nhiệm của nhà thầu:

    Chỉ được phép nhận thầu thi công những công trình thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng. Phù hợp với năng lực của mình, thi công đúng thiết kế được duyệt áp dụng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã quy định và chịu sự giám sát, kiểm tra thường xuyên về chất lượng công trình của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế của cơ quan giám định nhà nước theo phân cấp quản lý công trình xây dựng.

    Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về chất lượng thi công xây lắp công trình kể cả những việc do nhà thầu phụ thực hiện theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu xây lắp.

    Vật liệu cấu kiện xây dựng vào công trình phải có chứng nhận về chất lượng gởi cho chủ đầu tư để kiểm soát trước khi sử dụng theo quy định.

    Tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng công trình để quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trong quá trình thi công.

    4. Trách  nhiệm của các cơ quan nhà nước:

    – Bộ xây dựng thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trong cả nước có trách nhiệm:

    – Các cơ quan chức năng: Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, có trách nhiệm thực hiện các công việc theo phân cấp quản lý để thúc đẩy dự án  thực hiện đúng tiến độ.

     

    XII- Kết luận và kiến nghị:

    Kết luận:

    Các hạng mục công trình khu làm việc Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc là một dự án có quy mô lớn với nhiều hạng mục công trình mang tính đặc thù của chức năng riêng và cần có sự đầu tư lớn, vì vậy dự án cần được sự quan tâm tích cực của các Ban, Ngành chức năng liên quan để dự án được tiến hành một cách thuận lợi và sớm được triển khai xây dựng.

    Kiến nghị:

    Công ty tư vấn đầu tư và thiết kế xây dựng kính đề nghị văn phòng Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc và các cấp có thẩm quyền xem xét quyết định phê duyệt dự án và tạo mọi điều kiện để dự án trở thành hiện thực.

    Hà Nội, tháng 10 năm 2002


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Báo cáo tốt nghiệp Kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại công ty công trình Đường Thủy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/GI%C3%81M-S%C3%81T-THI-C%C3%94NG-V%C3%80-NGHI%E1%BB%86M-THU-C%C3%94NG-T%C3%81C-HO%C3%80N-THI%E1%BB%86N-C%C3%94NG-TR%C3%8CNH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    BỘ XÂY DỰNG

    CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG KỸ SƯ

    TƯ VẤN GIÁM SÁT XÂY DỰNG

    BÀI GIẢNG

    Môn Học

    GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU

    CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Người soạn :

    PGs LÊ KIỀU

    Trường Đại học Kiến trúc Hà nội

    HÀ NỘI, 12-2002

     

     

     

                          GIÁM SÁT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU

                      CÁC CÔNG TÁC HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH

    Người soạn bài giảng và trình bày:

    PGs Lê Kiều

    Chủ nhiệm Bộ môn

    Công nghệ Xây dựng

                                                                            Trường Đại học Kiến trúc Hà nội

     

    I. Phần mở đầu

    1.1.  Nhiệm vụ chung của giám sát thi công và nghiệm thu các công tác hoàn thiện công trình

    Hoàn thiện công trình là công tác phải tiến hành nhằm tạo cho công trình đáp ứng được các mục tiêu sử dụng tiện nghi, mỹ quan.

    Hoàn thiện công trình bao gồm nhiều công tác khác nhau như trát hoặc bả bề mặt phủ ngoài kết cấu, láng hoặc lát mặt nền , ốp tường, sơn hoặc quét vôi lên tường, trần nhà, cắt và lắp kính, đánh bóng đồ gỗ và kim loại, chèn kẽ các khe , mạch, trải các lớp phủ thảm . . .  Hoàn thiện công trình là khâu cuối cùng của các công tác xây lắp nên chất lượng mỹ quan cũng như tiện nghi cuả công trình sẽ do chất lượng công tác hoàn thiện quyết định khá nhiều.

    Cũng như qui trình giám sát và nghiệm thu các công tác xây lắp khác, giám sát và nghiệm thu công tác hoàn thiện cần được giám sát như là một khâu trong tổng thể quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng. Không thể tách rời riêng một khâu hoàn thiện mà cần thiết gắn kết khâu hoàn thiện với mọi khâu trong quá trình tạo sản phẩm xây dựng.

    Quá trình giám sát cần chú ý vào  các bước sau đây:

    • Kiểm tra vật liệu sử dụng trong từng công tác hoàn thiện, đối chiếu giữa các yêu cầu kỹ thuật trong hồ sơ mời thầu với catalogues của vật liệu được cung ứng, đối chiếu giữa vật liệu được giới thiệu trong catalogues với hiện vật sẽ sử dụng. Nếu thấy khác biệt hay có điều gì nghi ngờ về chất lượng cần có giải trình của nhà thầu xây lắp và người cung ứng vật tư.
    • Vật tư sẽ sử dụng trong khâu hoàn thiện cần có nguồn gốc rõ ràng về nhà sản xuất, người bán hàng và các chỉ tiêu kỹ thuật ghi rõ trong catalogues. Chất lượng vật liệu phải phù hợp với catalogues và catalogues phải phù hợp với các yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu.
    • Vật tư sử dụng cho hoàn thiện cần được vận chuyển từ nguồn cung cấp đến công trình theo đúng chỉ dẫn về vận chuyển và bốc rỡ. Quá trình vận chuyển vật tư không được làm cho sản phẩm bị biến đổi tính chất , thay đổi hình dạng, kích thước hình học cũng như các tác động khác làm biến đổi chất lượng của sản phẩm. Khi bốc xếp phải đảm bảo nhẹ nhàng, vật tư không bị các tác động va đập cơ học, các thay đổi tính chất hoá học, sinh học so với các tiêu chí chất lượng đã thoả thuận khi thương lượng hợp đồng mua bán.
    • Vật tư cần lưu giữ, cất chứa thì nơi cất chứa, lưu giữ phải phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật nêu trong hồ sơ mời thầu , các qui định về cất chứa trong catalogues. Không để lẫn lộn vật tư gây ra những thay đổi về tính chất của vật tư trong quá trình bảo quản và lưu giữ.
    • Cần kiểm tra chất lượng các khâu công tác tạo ra kết cấu nền trước khi hoàn thiện. Chuẩn bị đầy đủ điều kiện mặt bằng để tiếp nhận các khâu hoàn thiện. Mặt tiếp nhận các công tác hoàn thiện phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của công tác hoàn thiện đề ra như mặt dán phải đủ nhám để bám chất dính kết, đảm bảo phẳng, không có gồ ghề làm giảm chất lượng bề mặt lớp hoàn thiện chẳng hạn.
    • Các công việc phải tiến hành trước khi hoàn thiện phải được làm xong để sau khi tiếp nhận công tác hoàn thiện không được đục, phá làm hỏng các lớp hoàn thiện. Những việc này rất đa dạng và dễ quên nên người kỹ sư tư vấn giám sát chất lượng cần yêu cầu nhà thầu lập biện pháp thi công hoàn thiện trong đó chú ý đến việc chuẩn bị cho khâu hoàn thiện , qui trình hoàn thiện, các tiêu chí phải đạt, phương pháp kiểm tra để nhận biết chất lượng hoàn thiện , công cụ kiểm tra cũng như qui trình kiểm tra.

    Những khâu cần lưu ý cơ bản có thể được gợi ý trước khi thi công hoàn thiện :

    * Chèn kín những khe do phần thiết kế kiến trúc tạo nên trong các kết cấu bằng vật liệu thích hợp và các yêu cầu về độ kín khít, độ chặt của vật liệu nhồi, vật liệu gắn kết.

    * Khe kẽ giữa những cấu kiện như khe giữa kết cấu nhà và khuôn cửa, sự chống ẩm, chống gỉ, chống mục, mọt của các loại vật liệu kim loại, gỗ, nhựa, độ gắn chắc của khuôn với công trình…

    * Kiểm tra các lớp chống thấm trước khi lát, ốp hay tạo các lớp phủ.

    * Kiểm tra sự hoàn chỉnh các đường ống phải đặt ngầm như ống dẫn dây điện, ống nước, ống chứa dây dẫn chuyên dùng, các hốc cần chừa cho công tác sau, các chi tiết đặt sẵn cho dạng công tác về sau…

    • Cần lưu ý đến các yêu cầu về an toàn lao động trong công tác hoàn thiện như biện pháp dàn giáo, sàn công tác, biện pháp chống cháy nổ, biện pháp chống độc, chống tác hại của hoá chất …
    • Trước khi tiến hành từng khâu hoàn thiện nhà thầu cũng phải lập biện pháp thi công và tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh chủ đầu tư phải xem xét kỹ và trình cho chủ nhiệm dự án duyệt trước khi thi công. Không tiến hành hoàn thiện khi chưa duyệt biện pháp thi công hoàn thiện.

    Công tác hoàn thiện cần gắn kết với đảm bảo an toàn lao động, phòng chống cháy và các qui định khác của Nhà nước như bảo vệ môi trường, hài hoà về màu sắc cũng như các yếu tố khác về truyền thống văn hoá, tính dân tộc. Quá trình thi công không gây phiền phức, mất an toàn cho nhà lân cận cũng như bảo đảm không toả hơi khó chịu, khói , bụi, nước bẩn cho môi trường và khu vực xây dựng.

    Sự tuân thủ các qui định của bộ hồ sơ mời thầu và các tiêu chuẩn thi công hoàn thiện đồng thời phải tuân thủ các tiêu chuẩn khác liên quan đến việc xây dựng và hoàn thiện công trình.

    1.2  Công việc của cán bộ tư vấn giám sát đảm bảo chất lượng của một đơn vị xây dựng

    1.2.1  Nhiệm vụ của giám sát bảo đảm chất lượng nói chung :

    Tư vấn giám sát xây dựng được chủ đầu tư giao cho , thông qua hợp đồng kinh tế , thay mặt chủ đầu tư chịu trách nhiệm về chất lượng công trình. Nhiệm vụ của giám sát thi công của chủ đầu tư :

    (1) Về công tác giám sát thi công phải chấp hành các qui định của thiết kế công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt , các tiêu chuẩn kỹ thuật , các cam kết về chất lượng theo hợp đồng giao nhận thầu. Nếu các cơ quan tư vấn và thiết kế làm tốt khâu hồ sơ mời thầu thì các điều kiện kỹ thuật trong bộ hồ sơ mời thầu là cơ sở để giám sát kỹ thuật.

    (2) Trong giai đoạn chuẩn bị thi công : các bộ tư vấn giám sát phải kiểm tra vật tư , vật liệu đem về công trường . Mọi vật tư , vật liệu không đúng tính năng sử dụng , phải đưa khỏi phạm vi công trường mà không được phép lưu giữ trên công trường . Những thiết bị không phù hợp với công nghệ và chưa qua kiểm định không được đưa vào sử dụng hay lắp đặt. Khi thấy cần thiết , có thể yêu cầu lấy mẫu kiểm tra lại chất lượng vật liệu , cấu kiện và chế phẩm xây dựng .

    (3) Trong giai đoạn xây lắp : theo dõi , giám sát thường xuyên công tác thi công xây lắp và lắp đặt thiết bị . Kiểm tra hệ thống đảm bảo chất lượng , kế hoạch chất lượng của nhà thầu nhằm đảm bảo việc thi công xây lắp theo đúng hồ sơ thiết kế đã được duyệt.

    Kiểm tra biện pháp thi công , tiến độ thi công , biện pháp an toàn lao động mà nhà thầu đề xuất . Kiểm tra xác nhận khối lượng hoàn thành , chất lượng công tác đạt được và tiến độ thực hiện các công tác . Lập báo cáo tình hình chất lượng và tiến độ phục vụ giao ban thường kỳ của chủ đầu tư . Phối hợp các bên thi công và các bên liên quan giải quyết những phát sinh trong quá trình thi công . Thực hiện nghiệm thu các công tác xây lắp . Lập biên bản nghiệm thu theo bảng biểu qui định .

    Những hạng mục , bộ phận công trình mà khi thi công có những dấu hiệu chất lượng không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đã định trong tiêu chí chất lượng của bộ hồ sơ mời thầu hoặc những tiêu chí mới phát sinh ngoài dự kiến như độ lún quá qui định , trước khi nghiệm thu phải lập văn bản đánh giá tổng thể về sự cố đề xuất của đơn vị thiết kế và của các cơ quan chuyên môn được phép .

    (4) Giai đoạn hoàn thành xây dựng công trình : Tổ chức giám sát của chủ đầu tư phải kiểm tra , tập hợp toàn bộ hồ sơ pháp lý và tài liệu về quản lý chất lượng . Lập danh mục hồ sơ , tài liệu hoàn thành công trình xây dựng. Khi kiểm tra thấy công trình hoàn thành đảm bảo chất lượng , phù hợp với yêu cầu của thiết kế và tiêu chuẩn về nghiệm thu công trình , chủ đầu tư tổ chức tổng nghiệm thu lập thành biên bản . Biên bản tổng nghiệm thu là cơ sở pháp lý để làm bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng và là cơ sở để quyết toán công trình.

    1.2.2. Nhiệm vụ của giám sát bảo đảm chất lượng trong công tác hoàn thiện công trình  và an toàn :

    • Quan hệ giữa các bên trong công trường : Giám sát bảo đảm chất lượng trong công tác hoàn thiện và an toàn cho công trình nằm trong nhiệm vụ chung của giám sát bảo đảm chất lượng công trình là nhiệm vụ của bên chủ đầu tư. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chủ nhiệm dự án đại diện cho chủ đầu tư có các cán bộ giám sát bảo đảm chất lượng công trình . Những người này là cán bộ của Công ty Tư vấn và Thiết kế ký hợp đồng với chủ đầu tư , giúp chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ này. Thông thường chỉ có người chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng xây lắp nói chung , còn khi cần đến chuyên môn nào thì Công ty tư vấn điều động người có chuyên môn theo ngành hẹp đến tham gia hỗ trợ cho người chịu trách nhiệm chung.

    SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUAN HỆ ĐIỂN HÌNH MỘT CÔNG TRƯỜNG

           
       
     
         
    Đội

     

    thi công

    Đội

     

    thi công

    Đội

     

    thi công

    * * * * * * *

    (ii) Phối hợp tiến độ là nhiệm vụ trước hết của chủ nhiệm dự án mà người đề xuất chính là giám sát bảo đảm chất lượng . Trước khi bắt đầu tiến hành các công tác xây lắp cần lập tổng tiến độ . Tổng tiến độ chỉ cần vạch ra những việc thuộc bên thi công nào vào thời điểm nào mà mức chi tiết có thể tính theo tầng nhà . Tổng tiến độ cho biết vào thời gian nào công tác nào phải bắt đầu để các thành viên tham gia xây dựng toàn bộ công trình biết và phối hợp . Từ tổng tiến độ mà các thành viên tham gia xây lắp và cung ứng lập ra bảng tiến độ thi công cho đơn vị mình trong đó hết sức chú ý đến sự phối hợp đồng bộ tạo diện thi công cho đơn vị bạn .

    (iii) Chủ trì thông qua biện pháp thi côngbiện pháp đảm bảo chất lượng.

    Trước khi khởi công , Chủ nhiệm dự án và tư vấn đảm bảo chất lượng cần thông qua biện pháp xây dựng tổng thể của công trình  như phương pháp đào đất nói chung , phương pháp xây dựng phần thân nói chung , giải pháp chung về vận chuyển theo phương đứng , giải pháp an toàn lao động chung, biện pháp thi công các công tác hoàn thiện, công tác lắp đặt trang thiết bị,   các yêu cầu phối hợp và điều kiện phối hợp chung . Nếu đơn vị thi công thực hiện công tác theo ISO 9000 thì cán bộ tư vấn sẽ giúp Chủ nhiệm dự án tham gia xét duyệt chính sách đảm bảo chất lượng của Nhà thầu và duyệt sổ tay chất lượng của Nhà thầu và của các đợn vị thi công cấp đội .

    (iv) Chủ trì kiểm tra chất lượng , xem xét các công việc xây lắp làm từng ngày . Trước khi thi công bất kỳ công tác nào , nhà thầu cần thông báo để tư vấn đảm bảo chất lượng kiểm tra việc chuẩn bị . Quá trình thi công phải có sự chứng kiến của tư vấn đảm bảo chất lượng . Khi thi công xong cần tiến hành nghiệm thu chất lượng và số lượng công tác xây lắp đã hoàn thành.

    1.3.  Phương pháp kiểm tra chất lượng trên công trường :

    Thực chất thì người tư vấn kiểm tra chất lượng là người thay mặt chủ đầu tư chấp nhận hay không chấp nhận sản phẩm xây lắp thực hiện trên công trường mà kiểm tra chất lượng là một biện pháp giúp cho sự khẳng định chấp nhận hay từ chối .

    Một quan điểm hết sức cần lưu tâm trong kinh tế thị trường là : người có tiền bỏ ra mua sản phẩm phải mua được chính phẩm , được sản phẩm đáp ứng yêu cầu của mình. Do tính chất của công tác xây dựng khó khăn , phức tạp nên chủ đầu tư phải thuê tư vấn đảm báo chất lượng.

    Cơ sở để nhận biết và kiểm tra chất  lượng sản phẩm là sự đáp ứng các Yêu cầu chất lượng ghi trong bộ Hồ sơ mời thầu . Hiện nay chúng ta viết các yêu cầu chất lượng trong bộ Hồ sơ mời thầu còn chung chung vì các cơ quan tư vấn chưa quen với cách làm mới này của kinh tế thị trường .

    Những phương pháp chủ yếu của kiểm tra chất lượng trên công trường là :

    1.3.1. Người cung ứng hàng hoá là người phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm trước hết .

    Đây là điều kiện được ghi trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và nhà thầu . Từ điều này mà mọi hàng hoá cung ứng đưa vào công trình phải có các chỉ tiêu chất lượng đáp ứng với yêu cầu của công tác. Trước khi đưa vật tư , thiết bị vào tạo nên sản phẩm xây dựng nhà thầu phải đưa mẫu và các chỉ tiêu cho Chủ nhiệm dự án duyệt và mẫu cũng như các chỉ tiêu phải lưu trữ tại nơi làm việc của Chủ đầu tư ở công trường. Chỉ tiêu kỹ thuật   (tính năng ) cần được in thành văn bản như là chứng chỉ  xuất xưởng của nhà cung ứng và thường yêu cầu là bản in chính thức của nhà cung ứng . Khi dùng bản sao thì đại diện nhà cung ứng phải ký xác nhận và có dấu đóng xác nhận màu đỏ và có sự chấp thuận của Chủ đầu tư bằng văn bản. Mọi sự thay đổi trong quá trình thi công cần được Chủ đầu tư duyệt lại trên cơ sở xem xét của tư vấn bảo đảm chất lượng nghiên cứu đề xuất đồng ý. Nhà cung ứng và nhà thầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự tương thích của hàng hoá mà mình cung cấp với các chỉ tiêu yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và sự phù hợp của sản phẩm này.

    Cán bộ tư vấn đảm bảo chất lượng là người có trách nhiệm duy nhất giúp Chủ nhiệm dự án kết luận rằng sản phẩm do nhà thầu cung ứng là phù hợp với các chỉ tiêu chất lượng của công trình . Cán bộ tư vấn giám sát bảo đảm chất lượng được Chủ đầu tư uỷ nhiệm cho nhiệm vụ đảm bảo chất lượng công trình và thay mặt Chủ đầu tư trong việc đề xuất chấp nhận này .

    1.3.2. Kiểm tra của tư vấn kỹ thuật chủ yếu bằng mắt và dụng cụ đơn giản có ngay tại hiện trường :

    Một phương pháp luận hiện đại là mỗi công tác được tiến hành thì ứng với nó có một ( hay nhiều ) phương pháp kiểm tra tương ứng. Nhà thầu tiến hành thực hiện một công tác thì yêu cầu giải trình đồng thời là dùng phương pháp nào để biết được chỉ tiêu chất lượng đạt bao nhiêu và dùng dụng cụ hay phương tiện gì cho biết chỉ tiêu ấy . Biện pháp thi công cũng như biện pháp kiểm tra chất lượng ấy được tư vấn trình Chủ nhiệm dự án duyệt trước khi thi công . Quá trình thi công , kỹ sư của nhà thầu phải kiểm tra chất lượng của sản phẩm mà công nhân làm ra . Vậy trên công trường phải có các dụng cụ kiểm tra để biết các chỉ tiêu đã thực hiện. Thí dụ : người cung cấp bê tông hoặc vữa  thương phẩm phải chịu trách nhiệm kiểm tra cường độ chịu nén mẫu khi mẫu đạt 7 ngày tuổi . Nếu kết quả bình thường thì nhà thầu kiểm tra nén mẫu 28 ngày . Nếu kết quả của 7 ngày có nghi vấn thì nhà thầu phải thử cường độ nén ở 14 ngày và 28 ngày để xác định chất lượng bê tông . Nếu ba loại mẫu 7 , 14 , 28 có kết quả gây ra nghi vấn thì tư vấn kiểm tra yêu cầu làm các thí nghiệm bổ sung để khẳng định chất lượng cuối cùng. Khi thi công cọc nhồi, nhất thiết tại nơi làm việc phải có tỷ trọng kế để biết dung trọng của bentonite , phải có phễu March và đồng hồ bấm giây để kiểm tra độ nhớt của dung dịch khoan , phải có ống nghiệm để đo tốc độ phân tách nước của dung dịch . . .

    Nói chung thì tư vấn đảm bảo chất lượng phải chứng kiến quá trình thi công và quá trình kiểm tra của người thi công và nhận định qua hiểu biết của mình thông qua quan sát bằng mắt với sản phẩm làm ra . Khi nào qui trình bắt buộc hay có nghi ngờ thì tư vấn yêu cầu nhà thầu thuê phòng thí nghiệm kiểm tra và phòng thí nghiệm có nghĩa vụ báo số liệu đạt được qua kiểm tra cho tư vấn để tư vấn kết luận việc đạt hay không đạt yêu cầu chất lượng. Để tránh tranh chấp , tư vấn không nên trực tiếp kiểm tra mà chỉ nên chứng kiến sự kiểm tra của nhà thầu và tiếp nhận số liệu để quyết định chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm . Khi có nghi ngờ , tư vấn sẽ chỉ định người kiểm tra và nhà thầu phải thực hiện yêu cầu này .

    1.3.3. Kiểm tra bằng dụng cụ tại chỗ :

    Trong quá trình thi công , cán bộ , kỹ sư của nhà thầu phải thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm của công nhân làm ra sau mỗi công đoạn hay giữa công đoạn khi thấy cần thiết . Những lần kiểm tra này cần có sự chứng kiến của tư vấn đảm bảo chất lượng. Mọi việc kiểm tra và thi công không có sự báo trước và yêu cầu tư vấn đảm bảo chất lượng chứng kiến , người tư vấn có quyền từ chối việc thanh toán khối lượng đã hoàn thành này . Kiểm tra kích thước công trình thường dùng các loại thước như thước tầm , thước cuộn 5 mét và thước cuộn dài hơn . Kiểm tra độ cao , độ thẳng đứng thường sử dụng máy đo đạc như máy thuỷ bình , máy kinh vĩ .

    Ngoài ra , trên công trường còn nên có súng bật nảy để kiểm tra sơ bộ cường độ bê tông .  Những dụng cụ như quả dọi chuẩn , dọi laze , ống nghiệm , tỷ trọng kế , cân tiểu ly , lò xấy , viên bi thép , . . . cần được trang bị . Nói chung trên công trường phải có đầy đủ các dụng cụ kiểm tra các việc thông thường .

    Những dụng cụ kiểm tra trên công trường phải được kiểm chuẩn theo đúng định kỳ . Việc kiểm chuẩn định kỳ là cách làm tiên tiến để tránh những sai số và nghi ngờ xảy ra qua quá trình đánh giá chất lượng.

    Trong việc kiểm tra thì nội bộ nhà thầu kiểm tra là chính và tư vấn bảo đảm chất lượng chỉ chứng kiến những phép kiểm tra của nhà thầu . Khi nào nghi ngờ kết quả kiểm tra thì nhà thầu có quyền yêu cầu nhà thầu thuê đơn vị kiểm tra khác . Khi thật cần thiết , tư vấn bảo đảm chất lượng có quyền chỉ định đơn vị kiểm tra và nhà thầu phải đáp ứng yêu cầu này .

    1.3.4.  Kiểm tra nhờ các phòng thí nghiệm :

    Việc thuê các phòng thí nghiệm để tiến hành kiểm tra một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trên công trường được thực hiện theo qui định của tiêu chuẩn kỹ thuật và khi tại công trường có sự không nhất trí về sự đánh giá chỉ tiêu chất lượng mà bản thân nhà thầu tiến hành .

    Nói chung việc lựa chọn đơn vị thí nghiệm , nhà thầu chỉ cần đảm bảo rằng đơn vị thí nghiệm ấy có tư cách pháp nhân để tiến hành thử các chỉ tiêu cụ thể được chỉ định. Còn khi nghi ngờ hay cần đảm bảo độ tin cậy cần thiết thì tư vấn đảm bảo chất lượng dành quyền chỉ định đơn vị thí nghiệm .

    Nhà thầu là bên đặt ra các yêu cầu thí nghiệm và những yêu cầu này phải được Chủ nhiệm dự án dựa vào tham mưu của tư vấn đảm bảo chất lượng kiểm tra và đề nghị thông qua bằng văn bản . Đơn vị thí nghiệm phải đảm bảo tính bí mật của các số liệu thí nghiệm và người công bố chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm làm ra phải là chủ nhiệm dự án qua tham mưu của tư vấn đảm bảo chất lượng .

    Cần lưu ý về tư cách pháp nhân của đơn vị thí nghiệm và tính hợp pháp của công cụ thí nghiệm . Để tránh sự cung cấp số liệu sai lệch do dụng cụ thí nghiệm chưa được kiểm chuẩn , yêu cầu mọi công cụ thí nghiệm sử dụng phải nằm trong phạm vi cho phép của văn bản xác nhận đã kiểm chuẩn .

    Đơn vị thí nghiệm chỉ có nhiệm vụ cung cấp số liệu của các chỉ tiêu được yêu cầu kiểm định còn việc những chỉ tiêu ấy có đạt yêu cầu hay có phù hợp với chất lượng sản phẩm yêu cầu phải do tư vấn đảm bảo chất lượng phát biểu và ghi thành văn bản trong tờ nghiệm thu khối lượng và chất lượng hoàn thành.

    1.3.5. Kết luận và lập hồ sơ chất lượng

    (i) Nhiệm vụ của tư vấn đảm bảo chất lượng là phải kết luận từng công tác , từng kết cấu , từng bộ phận hoàn thành được thực hiện là có chất lượng phù hợp với yêu cầu hay chưa phù hợp với yêu cầu .

    Đính kèm với văn bản kết luận cuối cùng về chất lượng sản phẩm cho từng kết cấu , từng tầng nhà , từng hạng mục là các văn bản xác nhận từng chi tiết , từng vật liệu cấu thành sản phẩm và hồ sơ kiểm tra chất lượng các quá trình thi công. Lâu nay các văn bản xác nhận chất lượng vật liệu , chất lượng thi công ghi rất chung chung . Cần lưu ý rằng mỗi bản xác nhận phải có địa chỉ kết cấu sử dụng , không thể ghi chất lượng đảm bảo chung chung.

    Tất cả những hồ sơ này đóng thành tập theo trình tự thi công để khi tra cứu thuận tiện.

    (ii) Đi đôi với các văn bản nghiệm thu , văn bản chấp nhận chất lượng kết cấu là nhật ký thi công . Nhật ký thi công ghi chép những dữ kiện cơ bản xảy ra trong từng ngày như thời tiết , diễn biến công tác ở từng vị trí, nhận xét qua sự chứng kiến công tác về tính hình chất lượng công trình.

    Ý  kiến của những người liên quan đến công tác thi công khi họ chứng kiến việc thi công , những ý kiến đề nghị , đề xuất qua quá trình thi công và ý kiến giải quyết của tư vấn đảm bảo chất lượng và ý kiến của giám sát của nhà thầu . . .

    (iii) Bản vẽ hoàn công cho từng kết cấu và bộ phận công trình được lập theo đúng qui định.

    Tất cả những hồ sơ này dùng làm cơ sở cho việc thanh toán khối lượng hoàn thành và cơ sở để lập biên bản tổng nghiệm thu , bàn giao công trình cho sử dụng.

    1.3.6. Phối hợp trình tự thi công các công tác hoàn thiện:

    Công tác hoàn thiện là công tác cuối cùng của một công đoạn, một khu vực thi công của ngôi nhà nên trình tự thi công công tác hoàn thiện cần cân nhắc, tính toán sao cho quá trình thi công toàn nhà, không còn bất kỳ công tác nào khác gây ra sự hư hỏng nơi đã được hoàn thiện. Quá trình thực hiện các công tác thi công thường đan xen nên xảy ra hiện tượng việc sau làm hư hỏng hoặc cản trở lẫn nhau nên người tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh chủ đầu tư là người phải tổ chức phối hợp các thành viên tham gia thi công cho nhịp nhàng, ăn ý, không để đục đẽo, làm ảnh hưởng công việc của nhau trong những đơn vị phải  thi công trên một mặt bằng. Muốn đạt được sự ăn ý, nhịp nhàng trong quá trình thi công hoàn thiện, người tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh chủ đầu tư phải đưa ra phương án phối hợp trong tiến độ phối hợp ( master schedule ) và bàn bạc với các bên hữu quan để cùng thực hiện, tránh kéo dài thời gian thi công, lãng phí công đục đẽo cũng như làm đi, làm lại do sự thiếu phối hợp gây ra.

    Một số qui trình khá kinh điển có thể tham khảo như sau:

    • Nhà có số tầng dưới 6 , thi công phần thô nên tiến hành từ tầng dưới lên tầng trên mà thi công hoàn thiện lại nên làm từ tầng trên xuống thấp với lý do là khi đã hoàn thiện thì không phải đi qua lại nơi đã làm hoàn thiện rồi.
    • Đối với nhà nhiều tầng thì trình tự sẽ được cân nhắc cẩn trọng hơn, có thể phân một số tầng, có thể là ba hay bốn tầng thành một phân đoạn để thi công hoàn thiện. Có thể tiến hành hoàn thiện từ dưới lên vì thi công nhà cao tầng, việc di chuyển cao thường dùng thang máy ngoài trời, không phải thường xuyên qua lại các tầng từ dưới lên.
    • Cần kiểm tra các điều kiện để bắt đầu tiến hành được công tác hoàn thiện. Sự nóng vội hay sự thiếu thận trọng là nguyên nhân gây ra lãng phí trong quá trình phối hợp trình tự thi công hoàn thiện. Các khâu chuẩn bị cho công tác hoàn thiện như vạch tim, trục, vạch dấu cao độ phải tiến hành xong, việc tạo độ phẳng của các lớp nền cho trát, bả, láng, lát, ốp cũng như chuẩn bị cho mặt để quét vôi, lắp kính, sơn phủ phải được kiểm tra trước khi cho phép tiến hành hoàn thiện.
    • Trên một mặt bằng thi công chỉ được tiến hành một công tác hoàn thiện, tránh chồng chéo công việc lên nhau gây lộn xộn và mất an toàn lao động. Theo phương thẳng đứng không tiến hành nhiều công tác hoàn thiện, tránh tai nạn do người thi công bên trên gây ra cho người thi công dưới thấp .
    • Thi công hoàn thiện với những việc phát toả ra hơi khí khó chịu như mùi sơn , mùi các dung môi của sơn, của nhựa , hơi cacbua hydro nồng độ vượt qui định, công nhân phải được trang bị khẩu trang, đôi khi cần thiết , công nhân cần được trang bị mặt nạ phòng độc có bộ phận lọc khí.
    • Quá trình thi công có hiệu ứng toả nhiệt hay thu nhiệt làm cho môi trường lao động có nhiệt độ không thích nghi cho người lao động, công nhân cần được trang bị quần áo thích hợp với điều kiện lao động.

    Nếu cần thiết đảm bảo môi trường lao động thích hợp, phải tổ chức thông gió, điều hoà không khí.

    II. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác trát, bả và láng :

    2.1 Khái niệm :

    (i) Thuật ngữ :

    Lớp trát, lớp bả, lớp láng bao phủ bên ngoài kết cấu, bảo vệ cho kết cấu nhằm chống các tác động của sự va đập cơ học, sự ăn mòn hoá học và sinh học, làm chậm tác hại của nhiệt độ cao do ngọn lửa  cháy  đồng thời tạo ra vẻ đẹp  cho công trình.

    Lớp trát là lớp phủ kết cấu nằm trên độ cao nền nhà hoặc nền buồng như lớp trát tường, trát cột, trát dầm, trát trần nhà.

    Trát có bề mặt phẳng, nhưng cũng có bề mặt trên đó gắn những gờ chỉ theo mỹ quan tạo ra phân vị khi nhìn. Có nhiều mặt trát trên đó gắn  những đường gờ, đường viền hoặc hoa văn hoặc hình phù điêu, nhất là các lớp trát trần của các gian buồng.

    Lớp bả là lớp phủ bên ngoài lớp trát hoặc ngay chính kết cấu cần bảo vệ và có độ dày nhỏ hơn chiều dày lớp trát khá nhiều.

    Lớp láng là lớp phủ nằm trên mặt phẳng nằm ngang, đó chính là lớp mặt trên của kết cấu nền nhà, nền lối đi lại. Lớp láng thường nằm ở chân của tư thế đứng của người ta.

    Trát, bả, láng là các công tác được thi công theo quá trình ướt . Sau khi thi công cần có thời gian để vật liệu đóng rắn , đạt độ cứng và sự ổn định theo yêu cầu.

    Tuỳ thuộc vào vật liệu tạo nên lớp trát, bả, láng và biện pháp thi công mà những lớp này có tên gọi:

    Lớp trát vữa vôi, trát vữa xi măng cát, trát thạch cao.

    Lớp trát granito còn gọi là trát đá mài, trát đá rửa hay còn gọi là trát lộ đá, trát granitine còn gọi là trát đá mài hạt nhỏ mịn, trát đá băm.

    Bả lớp vữa hạt mịn.

    Láng nền nhà, láng lối đi, láng lòng rãnh . . .

    Tuỳ thuộc vào vị trí và hình dạng của lớp trát mà lớp trát có tên : trát tường, trát trần, trát phào, trát gờ chỉ.

    • Các tiêu chuẩn liên quan đến công tác hoàn thiện :

    TCVN 1450 : 1986 “Gạch rỗng đất sét nung”

    TCVN 1451 : 1986 “Gạch đặc đất sét nung”

    TCVN 6065 : 1995 “Gạch xi măng lát nền”

    TCVN 6074 : 1995 “Gạch lát granito”

    TCVN 6414 : 1998 “Gạch gốm ốp lát – Yêu cầu kỹ thuật”

    TCVN 6476 : 1999 “Gạch bê tông tự chèn”

    TCXD 85 : 1981 “Gạch lát lá dừa”

    TCXD 90 : 1981 “Gạch lát đất sét nung”

    TCVN 4340 : 1994 “Ván sàn bằng gỗ”

    TCVN 4314 : 1986 “Vữa xây dựng. Yêu cầu kỹ thuật”

    (ii) Vật liệu làm lớp trát:

    Vật liệu chứa trong vữa dùng để trát có :

    Vữa vôi, cát : trong thành phần vữa chỉ có cát và vôi

    Vữa tam hợp : có cát , vôi, xi măng

    Vữa xi măng cát: có cát và xi măng

    Vữa thạch cao có thạch cao, bột đá hoặc chỉ đơn thuần thạch cao.

    Vữa để bả : xi măng trắng, bột đá hạt mịn và chất tạo màu

    Vữa granito, vữa trát đá rửa, vữa trát đá băm, vữa trát granitine : xi măng trắng, bột đá, đá hạt và chất tạo màu.

    Vữa trát chống phóng xạ : xi măng, bột ôxyt bôric và cát thạch anh.

    Vữa trát chịu lửa : xi măng, bột chịu lửa như bột samốt, bột ôxyt manhê . . .

    Vữa trát chịu axit : thuỷ tinh lỏng, chất đóng rắn cho thuỷ tinh lỏng, cát thạch anh.

    Vữa thường được chế tạo tại chỗ. Trên thị trường hiện nay đã có các loại vữa trộn sẵn, khi dùng chỉ thêm lượng nước theo hướng dẫn.

    Vật liệu để bả có tên gọi là mát tít nhưng nhiều người vẫn gọi chung là vữa để trát bả.

    2.2. Các yêu cầu kỹ thuật của lớp trát, bả, láng :

     

    Lớp che phủ trát, bả, láng phải gắn chặt với lớp nằm dưới được gọi là lớp nền. Từ yêu cầu này, lớp nền phải sạch sẽ để có thể bám dính với vật liệu dán lớp trát, bả , láng .

    Mặt hoàn thiện của các lớp che phủ kết cấu phải phẳng. Nếu có độ dốc thì mặt hoàn thiện phải đổ dốc đúng theo yêu cầu. Từ yêu cầu này mà lớp nền phải được chuẩn bị trước khi tiến hành công việc chính là trát, bả hay láng. Cần tạo cho lớp nền đủ phẳng hoặc đạt độ dốc theo yêu cầu bằng cách phụ thêm vữa xi măng cát có thành phần 1:3 vào những chỗ bị thấp , lõm hơn mặt nền chung. Khi những chỗ vữa phụ  thêm này đủ cứng mới thi công lớp hoàn thiện bên ngoài. Nếu lớp nền bị cao quá để lớp vữa hoặc keo gắn kết lớp hoàn thiện bị quá mỏng, phải tẩy bỏ chiều dày của lớp nền đảm bảo cho lớp vữa hoặc keo dán, dính kết đủ chiều dày quy định.

    Mặt hoàn thiện của lớp che phủ phải đạt các yêu cầu mỹ quan như mạch nối, gờ chỉ phải thẳng, đều đặn,  vuông vức hoặc được vê tròn theo yêu cầu thiết kế, có độ rộng khe mạch hoặc đường gờ như thiết kế quy định, màu sắc hài hoà đúng như bản vẽ hoàn thiện đã ghi.

    2.3. Kiểm tra khâu chuẩn bị thi công:

    • Chuẩn bị lớp nền :
    • Kiểm tra độ sạch sẽ của lớp nền. Phải lấy bỏ hết vật liệu hữu cơ như vải, gỗ, phoi bào, vết dầu, mỡ.
    • Mặt nền đủ nhám để đạt độ gắn kết tốt với các lớp trên.
    • Kiểm tra vật chôn ngầm như đường điện, ống nối, hộp nối, ổ vít, ống dẫn nước đặt chìm, …đặt dưới lớp hoàn thiện về vị trí , số lượng và chất lượng mà vật chôn ngầm sẽ bị lớp hoàn thiện trát, bả, láng che khuất khi thi công xong.
    • Kiểm tra các công việc đã làm trước có liên quan đến chất lượng lớp trát, bả, láng làm về sau thí dụ như việc chèn khuôn cửa, việc gắn bật, gắn bản lề chờ, lớp chống thấm, khe chèn chỗ nối của các đường ống sẽ nằm trong lớp che phủ này.
    • Kiểm tra độ cứng của lớp nền.
    • Kiểm tra cao trình , sự vạch mốc tim, trục cho lớp hoàn thiện.
    • Khi nền có chỗ lõm quá 20 mm phải bù lấp bằng vật liệu tương ứng trước khi thi công lớp phủ ngoài.
    • Khi sử dụng lớp gắn kết nền có xi măng, nên tưới ẩm mặt nền trước khi thi công để lớp nền không hút nhanh nước của lớp vữa có xi măng.
    • Ký biên bản cho phép tiến hành công tác hoàn thiện cho khu vực yêu cầu thi công.
    • Kiểm tra vật liệu sắp thi công:
    • Kiểm tra chất lượng các vật liệu thành phần như cát, vôi, đá hạt, bột đá và nước. Với các vật liệu hạt cần chú ý đến thành phần hạt, các tiêu chí thạch học. Nếu thi công ở vùng ven biển, cần chú ý đến độ nhiễm muối của cát. Với các loại chất dính kết, cần chú ý đến điều kiện bảo trì. Hạt cát trát không nên quá to, cũng không nên quá mịn. Kích thước hạt cát trát nên từ 0,3 ~ 1,2 mm. Cần có kết quả thí nghiệm chất lượng xi măng.
    • Kiểm tra mặt bằng nơi chế trộn vữa. Yêu cầu không được trộn vữa ngay trên mặt bằng sắp láng mà phải trộn tại vị trí bằng phẳng khác rồi chuyển vữa đền nơi thi công.
    • Nền để trộn vữa phải phẳng , không hút nước khi nhào trộn vữa. Nên được lát dưới là tấm tôn phẳng.
    • Vữa phải được trộn thật đều.Trộn các vật liệu khô trước, khi thật đều mới cho nước để trộn. Tại nhiều thành phố lớn hiện nay đang bán loại vữa đã trộn khô và đóng bao. Các bao vữa trộn khô phải chứa trong vỏ bao chống ẩm giống như bao xi măng, phải được bảo quản theo chế độ chống ẩm . Thời hạn sử dụng trên bao còn có giá trị. Lưu ý là xi măng giảm chất lượng theo thời gian và điều kiện lưu giữ .
    • Vật liệu sử dụng phải phù hợp với thiết kế và được chủ đầu tư thông qua trước khi thi công. Mẫu của vật liệu sử dụng vào công trình phải được lưu giữ tại phòng kỹ thuật thi công của nhà thầu. Nếu là vật liệu có màu phải có mẫu màu được tạo khi khô và khi nền chứa các độ ẩm khác nhau để khi cần thiết, có thể đối chứng với vật liệu tại hiện trường vào bất kỳ thời gian nào.
    • Nước dùng cho thi công phải sạch, không nhiễm mặn. Nhiều nơi tại vùng ven biển nước ta, nếu nước thi công bị nhiễm mặn , không được dùng.
    • Cần có phương tiện kiểm tra chất lượng vật liệu và chất lượng thi công để tại phòng kỹ thuật thi công của nhà thầu . Việc kiểm tra vật liệu được tiến hành tại chỗ khi có nghi ngờ về chất lượng. Nếu nhà thầu không có phòng thí nghiệm nhỏ bên cạnh phòng kỹ thuật thi công thì phải có những dụng cụ kiểm tra giản đơn để tại phòng kỹ thuật. Không có dụng cụ phục vụ công tác kiểm tra vật liệu và thi công phổ biến, không được bắt đầu công tác thi công.

    2.4. Kiểm tra quá trình thi công:

    Người công nhân phải thường xuyên kiểm tra chất lượng công việc đã làm trong xuốt quá trình thi công. Phải tạo dựng cữ, mốc, dây lèo làm chuẩn mực cho công tác. Cần kiểm tra chính ngay cữ, mốc, dây lèo định kỳ không ít hơn vài ba lần trong một buổi thi công.

    Người tổ trưởng, đội trưởng, kỹ sư giám sát của nhà thầu phải thường xuyên theo dõi chất lượng thi công của công nhân dưới quyền và uốn chỉnh, rút kinh nghiệm thường xuyên về chất lượng trong quá trình thi công. Không để quá lâu mới kiểm tra hoặc để đến khi xong công tác mới kiểm tra. Nếu chất lượng sản phẩm, bán thành phẩm làm ra chưa đạt yêu cầu, phải phá bỏ và làm lại. Vật liệu đã dùng tại những nơi  phải phá do công tác chưa đạt yêu cầu không được dùng lại. Những vật liệu này phải dọn sạch sẽ ngay và chuyển khỏi khu vực thi công.

    Công nhân tiến hành từng công tác trên từng công đoạn phải được phổ biến các yêu cầu kỹ thuật cần tuân thủ, qui trình thi công và kiểm tra chất lượng trong quá trình thi công cũng như khi hoàn thành.

    Bản thân người công nhân thi công phải kiểm tra chất lượng lớp nền trát, bả, láng về các yêu cầu độ phẳng, độ cứng và độ bám dính. Với mặt nhẵn phải có giải pháp tạo nhám và làm nhám trước khi trát, láng, bả. Khi cần thiết, phải trát, láng thử để kiểm tra độ bám của vữa lên mặt trát, bả, láng.

    Tại những vị trí tiếp giáp giữa hai kết cấu nền cho trát, bả, láng bằng vật liệu khác nhau cần đặt một băng lưới thép nối khe mạch nền trong lớp vữa để tránh vết nứt khi vữa đã khô và nền biến dạng do sự hấp phụ nhiệt khác nhau của nền. Sợi tạo lưới này thường là 1 mm, đan mắt lưới không quá 40~50 mm. Bề rộng băng lưới này phủ về mỗi bên của khe là 150~200 mm.

    Nên dùng loại lưới mắt cáo dùng phổ biến bán ở thị trường để làm rào ngăn trong nơi nuôi gia cầm, nuôi chim cảnh.

    Lớp vữa trát, láng thi công trong một lần không nên dày quá 12 mm. Nếu cần trát hay láng lớp vữa trên 12 mm cần chia việc thi công thành hai hay nhiều lớp mà mỗi lớp khoảng 8 ~ 12 mm. Từng lớp này đã se mặt , lấy mũi bay vạch thành các ô trám tạo bám dính cho lớp sau rồi mới trát tiếp cho đủ chiều dày qui định. Lý do là để lớp nằm dưới đã bay bớt nước, tránh cho lớp vữa bị co, gây hiện tượng nứt nẻ bề mặt lớp trát, láng và hiện tượng lớp vữa trát, láng bị bong khi khô dần.

    Trát vữa xi măng lớp trát mỗi lớp cần mỏng hơn 8 mm vì vữa xi măng mau bị khô hơn vữa có vôi nên co nhanh hơn. Trát vữa có đá như trát granito , mỗi lớp trát có thể đến 12 mm như thông thường.

    Trát vảy là biện pháp thi công trát, lấy tay cầm bay hắt vữa cho bám vào mặt tường. Lớp vữa vảy lên mặt tường cần đều và có độ dày theo qui định. Lớp vảy lót se mặt mới trát lớp mạng cán phẳng.

    Trát đá rửa hay lộ sỏi chú ý thời gian rửa không sớm hơn 4 giờ từ khi cho nước vào xi măng của vữa. Chổi rửa phải có lông mềm, mịn tránh làm bong hạt đá. Nếu trời ẩm và nhiệt độ không khí dưới 25oC, thời gian được rửa phải trên 5 giờ từ khi cho nước vào trộn vữa.

    Trát mài ( granito ) theo trình tự : trát lót bằng vữa xi măng cát tạo độ bám và độ phẳng theo yêu cầu. Trát lớp vữa có đá hạt, bột đá , xi măng và chất tạo màu. Khi trát phải miết mạnh bằng bàn xoa sắt và vỗ nhẹ cho lớp vữa dàn đều và bám vào mặt lớp nền. Nên làm cữ độ dày bằng các thanh nẹp có chiều dày theo qui định.

    Phải mài tối thiểu hai lần : lần mài thô và lần mài tinh. Mài thô sau khi trát mạng đựoc 24 giờ. Nếu chậm hơn 24 giờ sẽ khó mài vì xi măng đã quá cứng.

    Mài tinh tiến hành 5~6 ngày sau khi mài thô. Trước khi mài tinh phải lấy bột đá trộn xi măng trắng và chất tạo màu xoa đều mặt đã mài tinh để lấp những chỗ bị khuyết do động tác mài thô gây ra. Khi trộn vữa có hạt để làm lớp mạng nên bớt lại một số bột đá trộn xi măng và chất tạo màu dùng xoa mặt sau mài thô thì những nốt được lấp khuyết sau mài thô sẽ có màu sắc đồng đều với lớp trát chung.

    Trong khi mài thô cũng như mài tinh phải dùng nước sạch xối nhẹ lên mặt mài để rửa trôi bột đá do mài chỗ vừa mài thải ra.

    Sau khi mài tinh, đợi mặt trát khô , lấy miếng dạ hay nỉ xốp mài kỹ tạo độ bóng. Dùng xi không màu xoa xát để cho xi thấm sâu trong lớp ngoài, nhằm giữ bóng và chống nước xâm nhập, duy trì vẻ đẹp cho mặt trát.

    Trát rửa cần lưu ý chọn thời gian bắt đầu rửa thích hợp. Nên làm thí điểm để xác định thời gian bắt đầu rửa. Thông thường thời gian này là từ 2 giờ đến 4 giờ, tuỳ theo độ ẩm và nhiệt độ môi trường. Rửa muộn thì độ lộ đá kém, rửa sớm đá lại bị trôi.

    Lớp bả có chiều dày từ 1mm đến 3 mm. Vật liệu bả thường là loại vữa, mát tít có hạt nhỏ như xi măng, bột đá, không có cát. Vữa để bả dẻo nhưng không nhão. Dụng cụ để bả là dao bả có lưỡi rộng 8 ~ 12 mm. Dao bả nên làm bằng thép cứng có đàn tính cao hoặc làm bằng thép silic. Khi bả phải miết đủ mạnh để tạo độ bám và độ phẳng. Khi miết phải chọn chiều miết thích hợp và các vết miết theo cùng một chiều, tránh bị gợn. Miết đều tay trong lúc vữa còn dẻo. Khi vữa bị khô mà vẫn miết, mặt bả sẽ vết đen nhạt do dao bị mòn vạch nên.

    Các thao tác láng và lát cần dùng thước tầm cán và ướm độ phẳng thường xuyên. Khi xoa tạo độ phẳng và độ nhẵn cho mặt trát, mặt láng phải xoa nhẹ tay và đều . Mặt vữa đã quá khô phải dùng chổi mềm bổ sung nước để xoa. Xoa khi mặt vữa khô, cát bong ra gọi là mặt trát bị cháy, cần tránh.

    Láng trên mặt đường, trên diện dài cần ngắt lớp láng bằng các mạch co dãn nhiệt. Chiều rộng của mạch co dãn nhỏ nhất là 20 mm rộng nhất là 30 mm. Theo chiều dài lớp láng, cứ 4 mét ~ 5 mét lại chia thành khe co dãn. Nếu lớp láng phơi trực tiếp dưới mặt trời thì khoảng cách giữa khe co dãn nên ngắn lại, nhưng không ngắn quá 3 mét. Khi vữa láng đủ cứng, trong khe co dãn nên lấp đầy bằng bitum nấu chảy trộn sợi đay ngắn để nhồi lấp kín.

    Láng đánh màu là sử dụng xi măng nguyên chất rắc trên mặt láng rồi xoa tạo độ nhẵn mặt láng. Nên rắc xi măng nguyên chất khô lên mặt vữa láng khi mặt vữa còn ướt nhưng không sũng nước rồi dùng bay miết nhẹ. Mặt hoàn thiện của lớp trát khô quá dễ bị xước do bay quệt tạo nên, không đạt yêu cầu. Xoa mặt khi lớp xi măng trên mặt sũng nước , mặt hoàn thiện sẽ có vết bay, cũng không đạt yêu cầu. Tránh đánh màu khi mặt vữa đã cứng vì lớp màu sẽ bị bong. Việc kẻ vạch tạo ô trên mặt láng tiến hành ngay sau khi đánh màu.

    2.5. Nghiệm thu công tác trát, bả, láng:

    –  Mặt trát, bả, láng không được có vết nứt nhỏ do hiện tượng co ngót vữa sinh ra .

    –  Gõ nhẹ lên mặt trát, bả, láng không được có tiếng bộp chứng tỏ lớp vữa bị bong, không bám dính mặt nền. Chỗ bộp phải cậy bỏ.

    –  Mặt trát phải phẳng, nhẵn. Không có vết lồi, lõm cục bộ.

    –  Gờ chỉ, cạnh phải đều về chiều dày, thẳng hàng liền dãy, sắc nét.

    – Mặt láng phải đảm bảo độ dốc theo yêu cầu thiết kế. Nếu thiết kế không chỉ rõ thì độ dốc phải đổ ra lối thoát, để trường hợp có nước thì nước không chảy vào trong buồng hoặc gây đọng ứ .

    Cần dùng mắt thường kiểm tra tổng thể. Khi có nghi ngờ, dùng dụng cụ như thước tầm, dây căng, quả dọi, máy kinh vĩ, máy thuỷ bình để kiểm tra lại. Kiểm tra hướng dốc có thể dùng viên bi sắt.

    Độ lệch so với các yêu cầu theo bảng sau:

                     Bảng cho độ sai lệch được phép của mặt trát, bả, láng

                                          ( trích TCVN 5674 : 1992 )

    Tên mặt trát hay các    chi tiết Trị số sai lệch mặt trát ( mm )
    Trát đơn giản Trát kĩ Trát chất lượng cao
    Độ không bằng phẳng kiểm tra bằng thước dài 2 mét Số chỗ lồi lõm không quá 3, độ sâu vết lồi lõm < 5 Số chỗ lồi lõm không quá 2, độ sâu vết lồi lõm < 3 Số chỗ lồi lõm không quá 2, độ sâu vết lồi lõm < 2
    Độ sai lệch theo phương thẳng đứng của mặt tường và trần nhà < 15 suốt chiều dài hay chiều rộng phòng < 2 trên 1 mét dài chiều cao và chiều rộng và 10 mm trên toàn chiều cao và chiều rộng phòng < 1 chiều cao hay chiều dàI và < 5 trên suốt chiều cao hay chiều dài  phòng
    Đường nghiêng của đường gờ , mép tường cột < 10 trên suốt chiều cao kết cấu < 2 trên 1 mét chiều cao và 5 mm trên toàn bộ chiều cao kết cấu < 1 trên 1 mét chiều cao và 3 mm trên toàn bộ chiều cao kết cấu
    Độ sai lệch bán kính của các phòng lượn cong 10 7 5

    Theo yêu cầu của TCXDVN 303:2004 yêu cầu dung sai mặt láng là :

    Loại vật liệu láng Khe hở với thước 3m Dung sai cao độ Dung sai độ dốc
    Tất cả các vật liệu láng 3mm 1cm 0,3%

    III. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác đắp nổi :

    3.1. Khái niệm :

    Đắp nổi tạo cho mặt tường hay mặt trần những hình trang trí như dây nho, cành lá, hoa văn mỹ thuật, hình mặt trời, ngũ phúc , đám mây…

    Trong nghề điêu khắc gọi là tạc phù điêu.

    Công tác đắp nổi có thể làm tại chỗ nhờ những khuôn đúc hay cắt gọt tại chỗ nhưng phương pháp này chậm mà độ đều đặn không đảm bảo, ít được sử dụng. Những người thi công tại chỗ phải có trình độ tay nghề cao của người chuyên làm tượng và đắp phù điêu.

    Biện pháp hiện sử dụng nhiều là dùng các thanh hoặc tấm đắp nổi đúc sẵn bằng thạch cao, vữa xi măng rồi gắn lên mặt tường, mặt trần.

    3.2  Kiểm tra vật liệu dùng trong công tác đắp nổi :

    Sản phẩm và chi tiết để tạo hình đắp nổi được nhà sản xuất chế tạo và bán như sản phẩm hàng hoá. Hàng hoá giao đến công trường phải đúng hoa văn, đúng vật liệu sử dụng và có catalogues ghi rõ hình dạng các chi tiết, số lượng, các tính năng kỹ thuật, phụ kiện kèm theo và chỉ dẫn thi công.

    Những dạng thanh, tấm sản phẩm và chi tiết đắp nổi thường dùng vật liệu chính là vữa xi măng, thạch cao hoặc bột giấy nghiền. Loại chế tạo bằng vữa thạch cao hay bột giấy dùng trang trí bên trong nhà. Những nơi bị ướt khi mưa không dùng những loại này mà chỉ nên dùng thanh, tấm chế tạo từ tấm bằng vữa xi măng.

    Thanh, tấm đắp nổi chuyển đến nơi thi công phải ở trạng thái hoàn chỉnh, không cần gia công thêm.

    Sản phẩm và chi tiết chuyển đến công trường phải được bao gói cẩn thận, chống va đập khi vận chuyển, chống các tác động nước mưa, hoá chất và nhiệt độ làm hư hỏng.

    Nếu phải cất chứa, lưu giữ , phải bảo quản cẩn thận chống mọi nguyên nhân làm hư hỏng, mất mát.

    Vữa xi măng hay vữa thạch cao để gắn được chuẩn bị ở dạng vữa khô chứa trong bao gói chống ẩm  cũng như các phụ tùng gắn như đinh vít, bu lông, móc, vít nở , cần được nhà cung ứng sản phẩm giao cùng với sản phẩm cho đồng bộ. Tránh hết sức sự chế tạo tại chỗ do đơn vị thi công của nhà thầu tiến hành, vì như thế sẽ thiếu đồng bộ.

    Những thanh, tấm trang trí đắp nổi hư hỏng hay không đạt yêu cầu phải đưa khỏi nơi thi công.

    3.3  Kiểm tra công tác chuẩn bị và nền gắn tấm đắp nổi:

    Mặt tường, mặt trần gắn tấm đắp nổi phải thi công trát , bả xong và đã cứng.

    Vạch dấu vị trí sẽ gắn thanh, tấm bằng phấn hay bút chì màu để dễ nhận biết.

    Khoan lỗ bắt vít nở để gắn giữ thanh hoặc tấm. Số lượng và vị trí các vít gắn phải đủ giữ chắc chắn được thanh tấm do thiết kế chỉ định. Khi khoan bắt vít nở phải đặt thanh, tấm đúng vị trí để cùng khoan cho khớp lỗ đinh sau này.

    Khi đã khẳng định vị trí lắp thanh, tấm, chuẩn bị xong lỗ bắt vít nở, nồi chân vít vào lỗ khoan mới trộn vữa gắn.

    Thời gian sử dụng vữa gắn cần trước khi vữa bắt đầu đông cứng.

    Chuẩn bị tốt khâu đà giáo và dụng cụ, trang bị bảo hộ lao động để có thể thi công an toàn.

    3.4. Kiểm tra quá trình thi công:

    Cần ướm, khớp chính xác vị trí mới được gắn đinh giữ. Phải có người phụ giúp, nâng và giữ đúng vị trí trong khi người thợ chính gắn kết.

    Phải đảm bảo độ dày giữa hai đoạn nối bằng nhau, không tạo ra chênh lệch bề mặt.

    Khe nối phải thật khít, không để hình thành vết nối.

    Sử dụng vữa gắn cần trải cho lớp vữa đảm bảo chiều dày và gắn kết tốt.

    Khi thi công phải cẩn thận, không để vữa gắn làm bẩn mặt tường, mặt trần những chỗ không có thanh, tấm phủ kín.

    Lỗ đinh vít nở sau khi bắt đinh được che lấp bằng mát tít và gọt sửa cho không có vết để nhận biết được vị trí.

    Việc gắn thanh và tấm trang trí thường tiến hành ở vị trí cao nên hết sức chú ý đến các điều kiện an toàn lao động như kiểm tra độ chắc chắn của đà giáo, sàn đứng công tác, tránh rơi vật liệu và dụng cụ trên cao xuống dưới.

    Công nhân di chuyển phải chú ý, tránh bước hụt hoặc lùi ra ngoài sàn đứng.

    Công nhân phải buộc dây an toàn và đầu dây không buộc vào người phải cố định vào vị trí chắc chắn và thích hợp, sao cho công nhân được treo mà không bị va đập nếu xảy ra rơi.

    Không gian dưới phạm vi thi công đắp nổi không được có người làm việc hay đi lại.

    3.5 Nghiệm thu công tác đắp nổi:

    • Độ lệch vị trí không quá 1 mm so với vị trí thiết ké.
    • Sai lệch vị trí trục các chi tiết đứng riêng biệt không quá 10 mm.
    • Những chi tiết của một hình phải cùng nằm trên một mặt phẳng. Những hình cùng tạo nên mặt phẳng nhiều hình phải nằm trong cùng một mặt phẳng. Sai lệch độ cao giữa các hình trong một bộ nhiều hình không quá 0,5 mm.
    • Mạch ghép phải kín khít để không thể nhận biết được vị trí đã ghép.
    • Hoa văn đúng theo thiết kế.
    • Hình hoa văn không được sứt, mẻ, gãy. Thanh hoặc tấm bị sứt, mẻ, gãy phải thay thế. Không được gắn sửa bằng mát tít.
    • Việc tạo màu sau tiến hành bằng chổi sơn mềm hoặc phun màu. Màu sắc phải đúng thiết kế và đồng đều theo qui định.

    IV. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác lát, ốp :

     

    4.1. Khái niệm :

    (i) Thuật ngữ :

     

    Công tác lát là sự tạo ra lớp che phủ cho kết cấu trong mặt phẳng nằm ngang bằng gạch lát và tấm lát.

    Công tác ốp là sự tạo ra lớp che phủ cho kết cấu nằm trong mặt phẳng đứng  bằng gạch lát và tấm lát.

    Nếu lát sử dụng gạch lát và tấm lát thì không cần đề cập đến khái niệm trải phủ và dán nữa. Nếu lát sử dụng nghĩa hẹp chỉ nói về sự gắn các viên gạch lát để tạo thành lớp che phủ bề mặt kết cấu nằm ngang thì phải đưa thêm hai khái niệm là trải hoặc phủ và dán để dùng cho khi tạo ra lớp phủ bằng tấm lát.

    Phân biệt tấm lát hay tấm ốp khác với dạng viên vì tấm lát, tấm ốp có kích thước rộng dạng tấm hoặc có khi ở dạng cuộn như thảm cao su, thảm nhựa, thảm len, dạ.

    Các dạng lát, ốp :  gạch viên ,  sàn gỗ păckê, thanh , tấm gỗ mỏng , viên đá, các dạng tấm trải hữu cơ hoặc kim loại.

    4.2 Kiểm tra khâu chuẩn bị:

    (i)  Chuẩn bị lớp nền :

    Lớp nền cho công tác ốp được chuẩn bị như công tác trát, bả, láng đã nêu trên.

    Cần lưu tâm kiểm tra các chi tiết cần đặt dưới lớp lát , ốp, tránh phải đục, rỡ mặt lát khi đã lát, ốp xong.

    Kiểm tra độ vuông vức của phòng được lát bằng cách so sánh giữa độ dài hai đường chéo của phòng. Nếu phòng có kích thước bình hành hay hình thang, lựa chọn giải pháp khắc phục bằng cách giữ cho hai trục song song với cạnh tường vuông góc ở tâm phòng, thừa thiếu dồn vào mép.

    Công tác lát, ốp chỉ tiến hành khi mọi việc thuộc phần trát tường, trát trần, lắp cửa, sơn cửa, quét vôi đã xong.

    (ii) Kiểm tra vật liệu lát, ốp:

    • Gạch và tấm dùng lát, ốp phải theo đúng chủng loại, số lượng và chất lượng theo đúng các yêu cầu của bộ hồ sơ mời thầu và văn bản duyệt , chấp nhận cho sử dụng của chủ nhiệm dự án .
    • Vật liệu phải có catalogues giao kèm với hàng hoá. Trong catalogues phải có các tính năng kỹ thuật và hướng dẫn sử dụng.
    • Vật liệu phải được cất chứa theo đúng yêu cầu về độ cao chất hàng, độ chống thấm, chống nước, bao bì . Những hộp chứa gạch lát, gỗ lát hay bao ngoài cuộn thảm phải phù hợp với vật liệu chứa bên trong. Đặc biệt những bao chứa vữa khô, bột đá, cần bảo quản chống ẩm theo chế độ bảo quản xi măng.
    • Vật liệu không phù hợp, không được lưu giữ ở nơi thi công.
    • Quá trình vận chuyển từ kho ra nơi thi công cần hết sức cẩn thận, tránh va đập hoặc bị ướt.
    • Cần kiểm tra hoa văn và màu sắc các viên lát cho cả gian phòng hay khu vực lát ốp cho phù hợp trước khi tiến hành công tác.
    • Phần chuẩn bị vật liệu hồ, vữa giống như chuẩn bị cho công tác trát, láng, đã nói trên và cũng được tuân thủ nghiêm ngặt.
    • Các vật liệu nhựa, keo dán cần đựng trong những hộp, chai, lọ kín để không bị biến tính khi bảo quản. Lọ keo, nhựa hoặc có các chất bay hơi đã mở , sau khi lấy ra, phải đóng lại cho chặt trong quá trình sử dụng, tránh bị bay hơi, thay đổi chất lượng.
    • Những vật liệu dễ cháy như nhựa dán, xăng và các dung môi tẩy rửa như diluăng, axêtôn cũng như vật liệu thảm len, dạ , gỗ cần chú ý chống gần ngọn lửa ( nhất là khi hút thuốc lá, thuốc lào ) .

    4.3.  Các yêu cầu kỹ thuật của công tác lát, ốp:

    • Mặt lát, ốp phải phẳng. Kiểm tra bằng thước tầm 2 mét, khe hở giữa mặt lát và cạnh thước không quá 3 mm.
    • Mặt lát có thể ngang bằng thuỷ chuẩn nhưng khi thiết kế yêu cầu phải tạo độ dốc theo yêu cầu.
    • Vữa lót dưới viên gạch lát , ốp bằng vữa phải đầy kín mặt dưới của viên gạch.
    • Mạch lát phải theo đúng yêu cầu thiết kế về đường mạch, hình dáng , chiều rộng khe.
    • Sau khi lát, ốp, mạch giữa viên gạch phải được lấp đầy bằng xi măng nguyên chất trộn nước đủ dẻo thành dạng hồ.
    • Mạch dán các loại tấm phải theo đúng các yêu cầu của thiết kế. Nếu thiết kế không có yêu cầu cụ thể thì mạch dán thảm phải thật khít , không có gờ, không nổi cộm.
    • Mạch lát đá phải khít, màu sắc hai viên đá liền nhau hài hoà về vân đá cũng như màu sắc.
    • Hoa văn trong lát, ốp, phải đúng theo thiết kế về ghép hình kỷ hà hoặc màu sắc.
    • Mặt lát, ốp phải liên kết chặt với lớp nền. Phải tạo độ bám dính giữa nền và lớp lát, ốp. Lớp lát, ốp, không được bong, rộp.
    • Mặt lát , ốp phải sạch sẽ, không bị dây bẩn xi măng hay các chất làm bẩn khác.
    • Mặt lát, ốp phải được bảo dưỡng , bảo quản ngay sau khi thi công xong để đạt chất lượng yêu cầu.

    4.4  Kiểm tra trong quá trình thi công:

    Kiểm tra tình trạng mặt nền để lát, ốp. Cần tưới nước để mặt nền đủ ẩm với các lớp lát dùng vữa có xi măng, để nền không hút nhanh nước trong vữa lót.  Kiểm tra độ bằng phẳng của nền.

    Kiểm tra cao trình lớp nền và vạch cữ để kiểm tra cao trình hoàn chỉnh. Cữ này vạch trên cao trình hoàn chỉnh khoảng 20 cm để khi lát , cữ, mốc này không bị che khuất.

    Với nền lát thảm, lát tấm lớn, cần tạo nhám bằng cách băm những lỗ nhỏ.

    Làm sạch bằng cách quét bằng chổi quét mềm. Mặt lát các loại tấm cần khô ráo, sạch sẽ giúp cho nhựa dán bám chắc.

    Mặt nền không được dây dầu mỡ, cát, bụi.

    Không được trộn vữa ngay trên nền sắp lát.

    Xếp thử gạch để chọn hoa văn và áng chừng cách lát hoa văn, nhất là khi có đường hoa văn viền.

    Lát trước những viên góc đường viền làm cữ khống chế chiều rộng của  mạch. Không lát những viên cữ, mạch sẽ đuổi nhau và sẽ có hiện tượng nhai mạch ( mạch của hai hàng lát liền nhau không thẳng hàng).

    Tạo độ bắt dính cho lớp ốp cũng bằng cách băm mặt nền hình thành những lỗ nhỏ lấm tấm do đánh búa. Khi ốp trên nền gỗ phải đóng đinh bằng đồng tạo độ bám cho vữa. Đinh cách nhau không quá 50 mm. Nếu cần thiết, dùng dây đồng đường kính 1,5 mm buộc nối các dầu đinh để giữ vữa. Chiều cao đầu đinh bằng 2/3 chiều dày lớp vữa ốp.

    Khi ốp đá cần xếp các viên đá để lựa chọn cho khớp màu sắc, khe mạch. Lát những viên đá có kích thước lớn và nặng trên 5 kg, viên đá cần gắn vào mặt nền bằng móc kim loại hoặc hệ đinh vít, bulông. Khoảng trống giữa mặt sau viên lát và mặt nền phải nhồi đầy vữa xi măng cát. Mạch cũng phải nhồi lấp kín bằng hồ xi măng nguyên chất.

    Chiều dày vữa lót dưới viên gạch lát, ốp không quá mỏng nhưng cũng không được quá dày. Chiều dày vữa lát nên là 15 mm, chiều dày lớp ốp nên là 10 mm. Mạch lát và ốp phải nhồi đầy hồ xi măng nguyên chất và khi nhồi xong, phải dùng vải mềm lau sạch ngay mặt gạch, tránh để mặt gạch bị bẩn, có màu như mốc do xi măng bám tạo nên.

    Lát tấm có kích thước lớn, chú ý để lớp keo đủ dính theo yêu cầu của thiết kế và đáp ứng các yêu cầu ghi trong bộ hồ sơ mời thầu.

    Phải bảo quản bề mặt vừa lát , ốp xong cho đến khi lấp kín mạch bằng vữa xi măng. Không va chạm mạnh lên mặt lát, ốp trong những ngày vừa hoàn thành công tác lát ốp để xi măng đóng rắn , đủ sức chịu lực.

    4.5 Nghiệm thu công tác lát, ốp:

    Tổng thể nhìn bằng mắt không phát hiện được khuyết tật về hình dạng, khe, mạch, hoa văn, màu sắc.

    Mạch gạch đầy vữa nhưng không để ố bề mặt.

    Gõ nhẹ bằng búa nhỏ 100 gam lên mặt gạch, tiếng kêu phải chắc, không có tiếng bộp, rỗng bên dưới viên gạch. Nếu bị rỗng, phải cậy viên lát lên và lát viên khác thay thế.

    Mặt lát có độ dốc, kiểm tra độ dốc bằng cách đặt ngang thước tầm theo ni vô và đo độ cao chênh giữa mặt lát và cạnh dưới của thước tầm.

    Mặt lát không có độ dốc, để viên bi sắt giữa viên gạch, viên bi không được lăn.

    Ôp thước tầm lên mặt lát, khe giữa mặt lát và cạnh thước tầm phải đáp ứng bảng qui định về chất lượng trong tiêu chuẩn TCVN 5674 – 1992.

                       Sai số cho phép của mặt phẳng ốp ( Trích TCVN 5674-1992)

     

     

     

    Tên bề mặt ốp và phạm vi tính sai số

         Mặt ốp ngoài công trình      Mặt ốp trong công trình
    Vật liệu đá

     

    tự nhiên

     

     

    Vật liệu gốm sứ

    Vật liệu đá

     

    tự nhiên

     

     

    Vật liệu gốm sứ

     

     

    Tấm nhựa tổng hợp

     

     

    Phẳng nhẵn

    Lượn cong cục bộ Mảng hình khối  

     

    Phẳng nhẵn

    Lượn cong cục bộ
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
    Sai lệch mặt ốp theo phương thẳng đứng trên 1 mét 2 3   2 2 3 1,5 1
    Sai lệch mặt ốp trên 1 tầng nhà 5 10   5 4 8 4 1
    Sai lệch vị trí  mặt ốp theo phương ngang và phương thẳng đứng 1,5 3 3 3 1,5 3 1,5 2
    Sai lệch vị trí  mặt ốp theo phương ngang và phương thẳng đứng trên suốt chiều dài của mạch ốp trong giới hạn phân đoạn kiến trúc 3 5 10 4 3 5 3  
    Độ không trùng khít của mạch nối ghép kiến trúc và chi tiết trang trí 0,5 1 2 1 0,5 0,5 0,5  
    Độ không bằng phẳng theo hai phương 2 4   3 2 4 2  
    Độ dày mạch ốp 1,5±0,5 33±1 10±2 25±0,5 1,5±0,5 2,5±0,5 2±0,5  

    Theo quy định của Tiêu chuẩn hoàn thiện TCXDVN 303: 2004 , yêu cầu về dung sai mặt lát như sau :

    Loại vật liệu lát Khe hở với thước 3m Dung sai cao độ Dung sai độ dốc
    Gạch xây đất sét nung 5mm 2cm 0,5%
    Gạch lát đất sét nung 4mm 2cm 0,5%
    Đá tự nhiên không mài mặt 3mm 2cm 0,5%
    Gạch lát xi măng, granito, ceramic, granite, đá nhân tạo 3mm 1cm 0,3%
    Các loại tấm lát định hình 3mm 1cm 0,3%

    Chênh lệch độ cao giữa hai mép vật liệu lát

    Loại vật liệu lát Chênh lệch độ cao
    Gạch xây đất sét nung 3mm
    Gạch lát đất sét nung 3mm
    Đá tự nhiên không mài mặt 3mm
    Gạch lát xi măng, granito, ceramic, granite, đá nhân tạo 0,5mm
    Các loại tấm lát định hình 0,5mm

    V.      Giám sát thi công và nghiệm thu công tác lắp kính:

    5.1. Kiểm tra công tác chuẩn bị lắp kính:

    • Kiểm tra công tác chuẩn bị :

    Khung cửa sổ, cửa đi và các vị trí gắn kính khác phải sơn lót xong và lớp sơn này phải đã khô.

    Mọi khuyết tật của khung đỡ kính phải khắc phục xong như là đã trám bả mát tít những lỗ mọt gỗ, vết nứt nhỏ, những lồi lõm cục bộ đã sử lý xong.

    Đường xoi rãnh để lắp kính cần đánh cho sạch sơn và đã sấy khô.

    Những chi tiết cần gắn, lắp vào khung đỡ kính cần thi công xong như bản lề, phụ tùng cửa như clê-môn, ke, chốt phải đã gắn xong.

    • Kiểm tra vật liệu:

    Loại kính sử dụng, các phụ kiện như nẹp kính, đinh nhỏ, mát tít phải phù hợp với các yêu cầu trong bộ hồ sơ mời thầu hoặc nếu hồ sơ mời thầu không qui định thì bên thiết kế phải qui định. Cần đối chiếu với catalogues giao hàng để kiểm tra vật liệu cho công tác lắp kính về số lượng, chất lượng.

    Những chi tiết bằng thép phải sơn chống rỉ. Những chi tiết bắt vào khung lắp kính như bản lề, chốt, then không được tỳ lên kính và lên kết cấu khung lắp kính.

    Mát tít phải đủ dẻo. Độ dẻo của mát tít được kiểm tra bằng cách miết một lớp mát tít dày 0,5 mm dàn trên miếng sắt tây, miếng mát tít được liền và phải dài trên 20 mm.  Các sợi thanh nẹp kính phải nguyên lành, không bị sứt , rách.

    Mát tít bị khô, có thể cho thêm dầu để trộn, đánh cho đều và dẻo lại. Loại dầu sử dụng cần phù hợp với mát tít. Khi cần thiết phải kiểm tra trong phòng thí nghiệm.

    Mát tít phải bao gói cẩn thận trong gói kín, chống bốc hơi, chống các chất bên ngoài xâm nhập.

    Kính phải được cắt ở nơi gia công chuyên môn. Khi đã đưa đến công trường để lắp phải đúng kích thước theo yêu cầu đặt hàng hoặc theo chỉ định của thiết kế.

    Kèm với kính phải có đầy đủ nẹp, đệm và đinh định vị, mát tít đầy đủ.

    Có thể bơm nhựa dẻo silicon vào khe giữa lớp kính với khuôn cửa để ngăn không cho nước mưa chảy từ bên ngoài vào trong nhà.

    Dụng cụ bơm silicon như sau:

    Ống bơm silicon đầu có vòi để bơm vào khe kẽ giữa tấm kính và khuôn cửa.

    5.2.  Kiểm tra quá trình lắp đặt kính:

    Khung cửa gắn kính bằng gỗ, kính được định vị bằng ghim. Khoảng cách giữa hai đinh ghim cách nhau không quá 300 mm. Trên mỗi cạnh của tấm kính phải ghim ít nhất 2 đinh. Nếu gắn kính trên khung gỗ nhưng dùng nẹp thép, giữa kính và nẹp phải có nẹp đệm bằng cao su và dùng đinh định vị với góc xiên 45o so với mặt phẳng kính.

    Khung kim loại như khung thép hay khung hợp kim nhôm, kính được định vị bằng nẹp đệm cao su có tạo cứng bằng nẹp thép mạ kẽm .   Liên kết giữa nẹp và khung nhờ bắt định vít vào lỗ đã gia công trước.

    Khung bằng nhựa dẻo sử dụng nẹp cũng bằng chất dẻo và liên kết nhờ vít. Cần gắn mát tít ở hai phía của tấm kính để làm kín khe kẽ.

    Khung gắn kính bằng bê tông cốt thép thì kính được định vị nhờ các chi tiết gờ thép chôn ngàm trong bê tông và nẹp thép bắt liền với nẹp đệm cao su.

    Không lắp hai miếng kính ghép nhau trong cùng một khuôn khung. Khi thiết kế cho phép mới được lắp hai miếng kính trong cùng khung của khuôn nhưng hai miếng kính phải chập chồng lên nhau, đoạn chấp không ít hơn 20 mm.

    Khi lắp kính phải đảm bảo nước hắt từ bên ngoài vào nhà phải trôi đi, không chảy ngược vào trong nhà.

    Các chi tiết kim loại sau khi gắn cố định phải được sơn phủ bảo vệ, chống phong hoá.

    Khung kính phơi ra môi trường nhiệt độ thay đổi nhiều trong ngày phải gắn nẹp sao để miếng kính có thể co và dãn tự do mà không ảnh hưởng đến sự gắn kết giữa kính và khuôn.

    Cạnh , mép kính và góc tấm kính rất sắc, dễ va quệt làm rách da, rách quần áo. Ngay sau khi cắt một nhát kính, cần dùng đá mài vuốt cho cạnh mép kính không còn những nét sắc gây rách da, rách quần áo trong quá trình thi công.

    Tránh đè mạnh lên mặt kính làm vỡ kính và gây tai nạn.

    Không dùng tay trần, không đi găng vuốt trên mặt kính hay vuốt gờ, cạnh, mép tấm kính.

    Khi cần chỉnh đường cắt kính dùng kìm bóp vụ kính, chỗ bóp vụn phải dùng đá mài mài phẳng không để có nét sắc gây đứt tay, rách da hay quần áo.

    Công nhân phải mang kính bảo hộ mắt, găng tay, đội mũ và mặc quần áo bảo hộ, đi giày trong quá trình lắp kính.

    5.3. Nghiệm thu công tác lắp kính:

     

    Nhìn bằng mắt quanh mép ô kính để có thể nhận biết được kích thước rãnh lắp kính đã thi công đúng thiết kế. Kính phải được đặt êm trong rãnh, khít, chặt, có nẹp, đệm ngay ngắn. Lấy tay ấn nhẹ những chỗ nghi ngờ để kiểm tra độ chặt, độ khít.

    Chất lượng mạch gắn mát tít phẳng, nhẵn, mịn mặt, không cớ vết nứt, vết rịa, vết long khỏi kính và không có khe hở. Mạch gắn mát tít phải đặc, không có khuyết tật.

    Đường viền xáp của mạch mát tít tiếp giáp với kính phải phẳng,song song với gờ rãnh. Trên mặt kính giáp mạch gắn không có phoi mát tít vụn long lở.

    Mũ đinh vít, đinh ghim đóng sát mặt kính và được mát tít che phủ kín, không nhô ra ngoài mạch mát tít. Đinh vít phải được bắt chặt, không chấp nhận ren neo giữ bị cháy. Nẹp cao su hay chất dẻo phải bép sát với kính và liên kết chặt vào gờ của khung cửa.

    Mặt kính phải nguyên lành, không có vết rạn, vết nứt, vảy trai hay các khuyết tật khác.

    Trên kết cấu cũng như trên mặt kính sau khi làm sạch không có vết dính sơn, vôi, vữa, bùn, bẩn hay vết dầu mỡ.

    VI.    Giám sát thi công và nghiệm thu công tác sơn, vôi, véc ni:

    6.1 Khái niệm và yêu cầu chất lượng:

    Công tác sơn, quét vôi hay véc ni là sự phủ lên mặt kết cấu , lên chi tiết xây dựng  lớp màng để che kết cấu hoặc chi tiết.

    Lớp màng này bảo vệ kết cấu bên trong chống lại các tác động tiêu cực của môi trường đồng thời có màu sắc tạo vẻ mỹ quan cũng như là tín hiệu để phân biệt vật được che phủ.

    Lớp sơn, vôi hay véc ni cần :

    Bám chắc vào mặt kết cấu, mặt chi tiết được bảo vệ.

    Bề mặt phải tạo được vẻ mỹ quan.

    Màu sắc theo đúng chỉ dẫn và yêu cầu của bên thiết kế hoặc của các yêu cầu ghi trong bộ hồ sơ mời thầu.

    Không biến màu theo thời gian.

    Không bị bong, phồng rộp, gợn hay biến đổi hình dạng trong quá trình sử dụng công trình.

    Chịu được mọi tác động của thời tiết và các điều kiện phơi lộ của môi trường.

    Những dạng công tác sơn vôi chính được đề cập trong nội dung này:

    Công tác quét vôi

    Công tác sơn

    Công tác véc ni

    6.2. Chuẩn bị thi công :

    • Chuẩn bị lớp nền để sơn, vôi, vécvi :

    Mặt nền sẽ phủ lớp vôi quét, lớp sơn hay véc ni cần sạch, không có vết bẩn, không có vết dầu, mỡ.

    Mặt lớp nền phẳng, không bị gồ ghề hay bị những vật không mong muốn như  cục vữa bám. Những chỗ lõm do khuyết tật phải bù đắp và xoa , trét cho phẳng với mặt chung.

    Nếu nền là vữa trát, khi quét vôi cần khô. Nền ẩm sẽ có vết ố, loang lổ khi quét vôi.

    Nền là mặt gỗ cần đánh giấy nhám cho nhẵn, bả mát tít lấp những khe, lỗ mọt rồi lại xoa giấy nhám . Nếu nền là mặt bả lớp mát tít mỏng phải đánh giấy nhám cho nhẵn.

    • Chuẩn bị vật liệu :

    Tạo sữa vôi để quét mặt tường :

    Vôi cần dùng là loại vôi tốt, 1 kg vôi có thể tôi được 2,2 lít vôi nhuyễn. Nếu dùng vôi chỉ tôi được dưới 2 lít vôi nhuyễn thì hạt vôi tôi không mịn.

    Vôi nhuyễn hoà trộn với nước xong phải lọc qua sàng , hoặc giá vo gạo để không có hạt lớn trên 0,1 mm.

    Trộn màu xong phải quét một mảng không nhỏ hơn 1/2 m2 lên tường bên cạnh mẫu, để khô, so sánh với mẫu để quyết định lượng màu trộn.

    Lượng vôi hoà trộn tính cho đủ quét lên cả mảng tường có đường biên rõ rệt. Tránh khi đang quét vôi trên một mảng tường mà thiếu vôi. Sự pha hai lần vôi cho một mảng tường thường ít khi đồng màu.

    Trong sữa vôi cần cho thêm chất tạo màng, chống hiện tượng lớp vôi bị thôi, dính bám vào các vật chạm phải mặt tường. Chất tạo màng thường dùng là phèn chua.

    Phèn chua đâm nhỏ, hoà cho tan vào nước rồi đổ vào thùng hoà vôi, khuấy đều. Liều lượng do định mức qui định.

    Các loại sơn :

    Có hai loại sơn phổ biến là sơn dầu và sơn nước. Sơn nước là nhũ tương sơn trong môi trường nước.

    Loại sơn sử dụng phải phù hợp với yêu cầu ghi trong bộ hồ sơ mời thầu hoặc do thiết kế chỉ định.

    Sơn dầu chỉ được sơn lên mặt nền thật khô ráo. Sơn nước có thể sơn lên mặt nền ẩm nhưng càng khô, càng tốt.

    Màu sắc của sơn do thiết kế lựa chọn hoặc chọn theo mẫu do hồ sơ mời thầu qui định trước. Cần sơn thử lên mẫu thử để quyết định màu cuối cùng.

    Dung môi để tan sơn hoặc pha loãng sơn khi cần thiết phải được chuẩn bị trước khi tiến hành sơn. Dung môi tan sơn thường là axêtôn, diluăng , benzen, xăng công nghiệp rất dễ bay hơi và dễ cháy nên hết sức lưu ý về an toàn lao động và phòng cháy. Mùi dung môi tan sơn có thể làm cho công nhân bị nhiễm độc nên cần bảo quản kín và khu vực thi công cần thông thoáng.

    Véc ni:

    Véc ni được ngâm từ nhựa cánh kiến sạch với cồn công nghiệp cho tan đều. Sự cho thêm phụ gia ( axit sulphuric ) để tan hết cánh kiến do người bán thực hiện và được sự chấp thuận về tỷ lệ. Véc ni phải trong suốt màu hổ phách, không có vết gợn bẩn hay ngả màu nâu.  Cồn công nghiệp phải đạt ít nhất là 85o.

    6.3. Kiểm tra quá trình thi công sơn, vôi, vécni :

    Việc quét vôi hay sơn đều phải tuân theo số lớp sơn hoặc quét vôi qui định trong hồ sơ mời thầu hay chỉ dẫn của thiết kế.

    Thông thường phải sơn hay quét vôi làm ba lớp. Lớp đầu là lớp để lót và hai lớp sau ngoài nhiệm vụ bảo vệ công trình còn tạo màu cho công trình hoặc kết cấu.

    Thời gian gián cách giữa lúc sơn hoặc quét vôi các lớp phải đủ cho lớp dưới phải khô mới thi công đè lớp trên. Nếu yêu cầu cao, sau mỗi lớp sơn lại lấy giấy nhám đánh cho mặt lớp sơn nhẵn mới sơn tiếp lớp sau.

    Vết chổi sơn lớp trước được vạch thẳng, vết chổi sau phải đè lên một phần của vết chổi trước cho kín mặt sơn, vôi. Đến lớp sau, vết chổi lại quét vuông góc với lớp đã sơn hoặc quét vôi để các lớp sơn, vôi phủ kín khắp mặt tường hay mặt gỗ, mặt kim loại cần phủ.

    Nếu đánh véc ni, thường xoa (đánh) trên ba lớp. Cách đưa véc ni lên mặt gỗ là thấm véc ni vào một bùi nhùi bằng giẻ mềm và bôi theo vòng xoắn lò xo di chuyển. Sau mỗi lần bôi véc ni lại phải dùng bông hay bùi nhùi giẻ thấm cồn xoa ( đánh ) kỹ nhiều lần để véc ni tan và thấm sâu xuống gỗ. Bùi nhùi giẻ phải có độ cồn đủ ẩm, nếu khô vết xoa sẽ vạch trên mặt gỗ tạo thành gợn và mặt hoàn thiện không bóng. Nếu bùi nhùi quá xũng cồn khi xoa ( đánh ) trên mặt gỗ cũng tạo thành vết gợn. Xoa nhẹ tay theo vòng xoắn lò xo đủ cho cồn thấm đều khắp mặt gỗ.

    Nếu thấy trên mặt gỗ còn lỗ bọt nước hay khe nứt, sau khi bôi véc ni phải đập bột đá ngay cho bột đá bám vào véc ni lấp đầy khe hoặc lỗ. Trước khi xoa cồn phải dùng giấy nhám hạt mịn xoa lại mặt cho mất các bột đá bám nổi trên mặt gỗ, chỉ còn bột đá trong các khe và lỗ. Nếu khe hoặc lỗ khá lớn phải dùng mát tít trám kín, sau đó đánh giấy nhám cho phẳng mặt mới bôi véc ni.

    6.4. Nghiệm thu công tác sơn , vôi , véc ni :

    Bề mặt lớp sơn, vôi và véc ni phải đồng màu, không có vết ố, vết loang lổ, vết chổi sơn.

    Bề mặt phải phẳng, nhẵn, không bị nứt hay cộm sơn hoặc vết cháy véc ni. Mặt lớp sơn và véc ni phải bóng. Lớp vécni phải ngấm sâu trong gỗ tối thiểu là 0,5 mm. Muốn kiểm tra, lấy miếng gỗ mẫu để kèm nơi thi công vécni. Cứ mỗi lần đánh vécni lên mặt gỗ chính thức lại phủ vécni vào miếng gỗ mẫu. Khi xong vécni, chẻ miếng gỗ mẫu xem vécni thấm với độ dày bao nhiêu. Gỗ để làm tấm mẫu phải cùng loại gỗ với cửa hoặc mặt gỗ của kết cấu trong nhà.

    Không để lộ màu của lớp sơn, vôi, véc ni nằm dưới lớp phủ trên cùng.

    Bề mặt lớp sơn không được có bọt bong bóng khí. Không được có hạt bột sơn vón cục. Không được có vết rạn nứt bề mặt lớp sơn.

    Nếu mặt sơn có hoa văn, hoa văn phải theo đúng thiết kế về hình dạng, kích thước, độ đồng đều và nhất là màu sắc.

    q    q


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I.                   ĐẶT VẤN ĐỀ

    Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhất là đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam thì ngành Nông nghiệp lại càng có vị trí quan trọng hơn nữa. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp, bảo vệ môi trường… và quan trọng hơn là tạo việc làm cho hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và làm nông nghiệp ở nước ta.

    Trong ngành nông nghiệp thì trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng chiếm vị trí rất quan trọng. Để trồng lúa đạt năng suất cao thì một trong các yếu tố quan trọng là có nguồn phân bón tốt, nhất là phân NPK, là loại phân được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng phân NPK của các hộ lại không giống nhau, phụ thuộc vào thu nhập của hộ, giá phân, diện tích trồng lúa.

    Vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố thu nhập của hộ nông dân, giá phân NPK, diện tích trồng lúa đến cầu của phân NPK.

    II.               PHƯƠNG PHÁP

    1.1. Phương pháp thu thập số liệu

    – Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá phân NPK cho lúa, thu nhập hộ nông dân, diện tích trồng lúa của hộ điều tra.

    • Chọn hộ điều tra:

    Trong xã có tỷ lệ hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá- giàu như sau: hộ nghèo: 16.2 %, hộ trung bình: 52.1 %, hộ khá – giàu: 31.7 % nên tôi chọn số hộ điều tra là 25 hộ, gồm 4 hộ nghèo, 13 hộ trung bình, 8 hộ khá- giàu.

    1.2. Phương pháp phân tích:

    Tôi sử dụng mô hình hồi quy để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố trên đến cầu phân NPK.

    Gọi:      Yi là cầu về phân NPK của các hộ điều tra ( kg)

    X1 là thu nhập của hộ điều tra ( triệu đồng / năm)

    X2 là giá phân NPK ( nghìn đồng / kg)

    X3 là diện tích trồng lúa của hộ điều tra ( sào)

    Ta có mô hình tổng quát:

    Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.            KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    1.1.          Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    1.2.          Kết quả và giải thích mô hình

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT Yi X1 X2 X3
    1 9.4 4.3 4.7 4.2
    2 9.7 5.2 4.5 4.6
    3 10.3 5.6 4.6 5.2
    4 10.5 4.9 4.4 5.5
    5 10.9 6.4 4.3 5.8
    6 11.7 6.8 4 6
    7 12.1 6.5 4.1 6.2
    8 12.4 7 4.2 6.3
    9 12.2 7.2 3.9 6.1
    10 12.9 7.5 3.6 6.4
    11 13.4 7.8 3.8 6.9
    12 13.7 7.6 3.7 7
    13 13.9 8.1 3.5 7.2
    14 14.9 8.3 3.4 7.6
    15 14.2 8.6 3.3 7.4
    16 15.3 8.9 3.1 7.9
    17 15.8 9.3 3.2 8.2
    18 16.3 9.7 2.9 8.6
    19 17.5 9.5 3 9.1
    20 16.9 9.8 2.8 8.9
    21 18.7 10.2 2.3 9.5
    22 18.1 10.5 2.6 9.1
    23 18.6 10.8 2.5 9.4
    24 18.9 11.2 2.7 9.8
    25 19.7 11.6 2.4 10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      
      Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0%
    Intercept 6.9449215 2.711499803 2.561284161 0.0181912 1.306048988 12.58379401 1.306048988 12.58379401
    X1 0.0532633 0.187956968 0.283380083 0.7796603 -0.33761465 0.444141173 -0.33761465 0.444141173
    X2 -0.9242324 0.413411223 -2.23562481 0.0363651 -1.783968087 -0.064496687 -1.78396809 -0.06449669
    X3 1.3895078 0.229648716 6.050579381 5.272E-06 0.911927138 1.867088432 0.911927138 1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

    Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

    Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

    Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

    IV.             KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hoa

    Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hoa

    Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hóa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài Tập Lớn Môn Nhập môn Cơ sở dữ liệu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-c%E1%BB%ADa-h%C3%A0ng-hoa.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Phân tích thiết kế hệ thống quản lý cửa hàng hóa

    CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ CỬA HÀNG HOA

    114 Quang Trung _ Hồng Bàng _Hải Phòng

    ĐT: 013.838053 – Fax: 031.838845 – Mobile: 0913.245390

     

     

    I.GIỚI  THIỆU

       Cửa hàng hoa Anh Phong đặt tại :144 Quang Trung _ Q. Hồng Bàng _TP. Hải Phòng chuyên kinh doanh các loại mặt hàng hoa lụa , cây cảnh nội thất cao cấp . Cửa hàng nhận bán buôn , bán lẻ với chế độ ưu đãi cho những khách hành mua hàng với số lượng lớn và dịch vụ hàng theo yêu cầu khách  hàng .

    II.KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THU THẬP THÔNG TIN

    1.     Khảo sát hiện trạng

    Cửa hàng hoa Anh Phong là một doanh nghiệp mới thành lập . Các mặt hàng kinh doanh chủ yếu của cửa hàng bao gồm : hoa lụa , cây cảnh và các vật dụng phục vụ trang trí nội thất và nhu cầu giải trí . Là một doanh nghiệp mới thành lập nên hoạt động chủ yếu vẫn mang tính thủ công, dựa vào kinh nghiệm của hệ thống nhân viên . Do đặc điểm lượng hàng hoá nhập xuất ngày càng lớn nên công tác quản lí , mua bán rất mất nhiều thời gian , công sức mà độ chính xác không cao , điều này nhiều khi gây thiệt hại cho công ty. Ngày nay cửa hàng đang từng bước hiện đại hoá hệ thống các máy tính và đưa hệ thống phần mềm vào sử dụng để dần thay thế công tác quản lí thủ công trong công ty.

    Hoạt động quản lí hàng hoá và mua bán hàng của cửa hàng hoàn toàn thủ công nên bộc lộ những hạn chế sau :

    • Tra cứu thông tin về hàng hoá , khách hàng , lượng hàng tồn … nhiều khi rất mất nhiều thời gian , thiếu chính xác .
    • Việc lưu trữ các thông tin về hàng hoá , khách hàng , nhà cung cấp, tài chính … phải sử dụng nhiều loại giấy tờ , sổ sách nên rất cồng kềnh cho lưu trữ .
    • Tốn nhiều thời gian tổng hợp, báo cáo , thống kê.
    • Không đáp ứng được nhu cầu thông tin phục vụ hàng ngày và mở rộng cửa hàng trong tương lai.                                                                                                                            Trước tình hình đó , vấn đề đặt ra cần phải có một hệ thống mới đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau :
    • Giảm khối lượng ghi chép , đảm bảo truy vấn nhanh , lưu trữ và cập nhật kịp thời , thuận tiên.
    • Lập báo cáo định kì , đột xuất nhanh chóng , chính xác .
    • Có thể thống kê được từng loại hàng , mặt hàng hoặc lượng hàng dự chữ trong kho một cách nhanh chóng và chính xác .
    • Tự động in các hóa đơn , phiếu nhập xuất kho và khách hàng.
    • Có khả năng lưu trữ thông tin lâu dài .

     

    II.MÔ TẢ HỆ THỐNG

    Hoạt động kinh doanh của cửa hàng hoa chủ yếu diễn ra 2 quá trình :

              1) Quá trình nhập hàng

    Cửa hàng được cung cấp hàng từ nhiều nhà cung cấp (NCC)  với các mặt hàng , chủng loại hàng  khác nhau: hoa lụa, cây cảnh ,….Khi cửa hàng có nhu cầu cung cấp hàng thì cửa hàng sẽ liên hệ với NCC và yêu cầu NCC gửi thông tin chi tiết về các mặt hàng : Báo giá ……Sau khi thoả thuận cửa hàng sẽ  tiến hành ký hợp đồng mua hàng với NCC . Quá trình giao hàng sẽ được thực hiện theo thời gian đã thoả thuận giữa cửa hàng và NCC .

    Khi nhận hàng, bộ phận quản lý kho kiểm tra hàng,nếu khớp với hợp đồng mua hàng thì lập hoá đơn mua hàng đồng thời chuyển cho kế toán viết phiếu chi  để thanh toán tiền với NCC, ngược lại thì sẽ có thông tin phản hồi với NCC.

    Sau khi nhận hàng bộ phận quản lý kho sẽ kiểm hàng và nhận hàng đồng thời  lập chứng từ nhập khocập nhật danh mục hàng  vào sổ nhập kho.

              2) Quá trình bán hàng

              Khi cửa hàng nhận được yêu cầu cung cấp hàng của khách hàng, nhân viên sẽ gửi báo giá các mặt hàng cho khách hàng .Sau khi thống nhất , nếu đồng ý khách hàng sẽ gửi yêu cầu mua hàng thông qua đơn đặt hàng ,Fax, telephole…. Bộ phận bán hàng sẽ tiếp nhận đơn đặt hàng, xác nhận và cập nhật vào sổ khách hàng sau đó chuyển cho bộ phận quản lí kho , đồng thời cập nhật danh sách khách hàng vào sổ khách hàng . Dựa trên các thông tin trong đơn đặt hàng, thủ kho sẽ kiểm tra số lượng hàng trong kho, nếu đáp ứng đủ yêu cầu của khách hàng thi lập chứng từ xuất kho và cập nhật danh mục hàng xuất vào sổ xuất kho , sau đó chuyển hàng cho bộ phận bán hàng để tiến hành giao hàng cho khách . Ngược lại thì trình lãnh đạo để có kế hoạch nhập hàng về .

    Bộ phận bán hàng, khi nhận được hàng từ kho sẽ kiểm tra hàng và lập hoá đơn bán hàng  đồng thời thực hiện giao hàng đến tận nơi cho khách hàng nếu khách hàng có yêu cầu .

    Bộ phận kế toán khi nhận được yêu cầu thanh toán sẽ lập phiếu thu  để thực hiện thanh toán với khách hàng .

              3) Giải quyết sự cố

     

     

    III. MÔ HÌNH NGHIỆP VỤ

    1. Biểu đồ ngữ cảnh

     

     

           
       
     
       

    H1. Biểu đồ ngữ cảnh

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     
     
     
     
     

     

     

    2. Biểu đồ phân rã chức năng

    2.1).Biểu đồ phân rã chức năng

     

           
       
     
       

    H2. Biểu đồ phân rã chức năng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.2).Miêu tả chi tiết chức năng lá

    2.2.1)_Yêu cầu thông tin hàng hoá  : Khi cửa hàng có nhu cầu cung cấp hàng từ NCC thì nhân viên cửa hàng sẽ  yêu cầu nhà cung cấp gửi danh sách  các  thông tin chi tiết về các loại mặt hàng, chủng loại hàng , giá cả của từng mặt hàng ……  để cửa hàng lên kế hoạch nhập hàng về .

    2.2.2)_Lập hợp đồng mua hàng : Sau khi thoả thuận, chủ cửa hàng sẽ tiến hành kí hợp đồng mua hàng với nhà cung cấp, trong hợp đồng thống nhất về số lượng, giá cả , chủng loại hàng, phương thức thanh toán , thời gian giao hàng ……và các yêu cầu chất lượng của hàng hoá .

    2.2.3)_Kiểm tra hàng : Khi nhà cung cấp giao hàng , bộ phân quản lí kho có trách nhiệm kiểm tra hàng , đối chiếu hàng nhận về với hợp đồng mua hàng , xác nhận hàng về mặt chất lượng , số lượng , chủng loại hàng……

    2.2.4)_Lập hoá đơn mua hàng :Sau khi bộ phận quản lí kho kiểm tra hàng , so sánh với hợp đồng mua hàng , nếu khớp thì xác nhận và lập hoá đơn mua hàng và chuyển cho bộ phận kế toán để làm thủ tục thanh toán với nhà cung cấp .

    2.2.5)_Lập phiếu chi : Khi nhận được yêu cầu thanh toán , thủ quỹ sẽ xác nhận sau đó lập phiếu chi để thực hiện thanh toán với NCC .

    2.2.6)_Lập chứng từ nhập kho :Sau khi kiểm tra hàng ,bộ phận quản lí kho sẽ  lập chứng từ nhập kho để làm thủ tục nhập hàng vào kho.

    2.2.7)_Cập nhật vào sổ nhập kho : Khi nhập hàng vào kho thì đồng thơi bộ phận quản lí kho sẽ  cập nhật danh mục hàng hoá vào sổ nhập kho .

    2.2.8)_Tiếp nhận đơn đặt : Khách hàng có yêu cầu mua hàng, khách hàng sẽ tham khoả đơn giá, đơn mua  hàng từ  cửa hàng .Sau đó sẽ gửi yêu cầu mua hàng cho cửa hàng thông qua đơn đặt hàng . Nhân viên cửa hàng sẽ  có trách nhiệm tiếp nhận  yêu cầu đặt hàng của khách hàng , giải thích các thắc mắc hoặc phản hồi từ khách hàng .

    2.2.9)_ Vào sổ khách hàng : Sau khi tiếp nhận đơn đặt hàng , nhân viên cửa  hàng sẽ cập nhật đơn đặt hàng , thông tin khách  hàng vào sổ khách hàng . Để cửa hàng có phương án cung cấp hàng cho khách hàng .

    2.2.10)_Kiểm tra kho : Thông qua sổ khách hàng , bộ phận quản lí kho phải thường xuyên kiểm tra , theo dõi và lắm các thông tin về các mặt hàng trong kho để có kế hoạch cung cấp đủ hàng cho khách hàng hoặc lên  kế hoạch gửi lãnh đạo để nhập hàng về .

    2.2.11)_ Lập chứng từ xuất kho : Sau khi kiểm tra hàng , nếu thấy đủ hàng , bộ phận quản lí kho sẽ kiểm hàng và lập chứng từ xuất kho để bàn giao hàng cho bộ phận bán hàng.

    2.2.12)_Vào sổ xuất kho :  Sau khi xuất hàng , bộ phận quản lí kho phải cập nhật danh mục hàng xuất vào sổ  xuất kho .

    2.2.13)_Lập hoá đơn bán hàng : Bộ phận phận  bán hàng , khi nhân được hàng từ kho sẽ đối chiếu hàng với đơn đặt hàng của khách hàng, nếu thấy khớp thì viết hoá đơn bán hàng và giao hàng cho khách hàng .

    2.2.14)_Lập phiếu thu : Bộ phận kế toán sau khi nhận được hoá đơn bán hàng từ khách hàng sẽ có nhiệm vụ thanh toán tiền với khách hàng sau đó viết phiếu thu và gửi lại cho khách hàng .

    2.2.15)_Kiểm tra sự cố : Quá trình mua bán hàng diễn ra hàng loạt các công việc , các sự cố xảy ra là điều không thể tránh khỏi .Khi xảy ra sự cố , nhân viên cửa hàng sẽ kiểm tra sự cố , xem xét mức độ sự cố để đưa ra các giải pháp xử lí thích hợp.

    2.2.16)_Lập biên bản sự cố : Sau khi kiểm sự cố , nhân viên cửa sẽ lập biên bản sự cố . Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế mà có các mức độ bồi thường hoặc bắt bồi thường cụ thể .

    2.2.17)_Thanh toán : Để giải quyết sự cố , bộ phận kế toán sẽ tuỳ thuộc vào biên bản sự cố mà tiến hành thanh toán tiền với khách hàng . Bồi thường tiền hoặc yêu cầu khách hàng phải bồi thường tiền cho cửa hàng.

    2.2.18 )_Lập báo cáo : Lập báo cáo là công việc diễn  ra định kì theo tuần hoặc theo thàng , khi có nhu cầu của lãnh đạo công ty , nhân viên cửa hàng phải đưa ra được các báo cáo theo yêu cầu của lãnh đạo một cách nhanh nhất , đảm bảo chính xác .

    3.Bảng phân tích xác định các chức năng , tác nhân và hồ sơ

     

    Động từ  + bổ ngữ Danh từ Nhận xét
    Yêu cầu  thông tin hàng hoá

     

    Lập hợp đồng mua hàng

    Kiểm tra hàng

    Lập hoá đơn mua hàng

    Viết phiếu chi

    Lập chứng từ nhập kho

    Vào sổ nhập kho

    Gửi báo giá

    Tiếp nhận đơn đặt hàng

    Vào sổ khách hàng

    Kiểm tra kho hàng

    Lập chứng từ xuất kho

    Vào sổ xuất kho

    Lập hoá đơn bán hàng

    Viết phiếu thu

    Kiểm tra sự cố

    Lập biên bản sự cố

    Thanh toán

    Lập báo cáo

    Nhà cung cấp

     

    Báo giá của

    Nhà cung cấp

    Hợp đồng mua hàng

    Bộ phận quản lý kho

    Nhà cung cấp

    Hợp đồng mua hàng

    Bộ phận quản lý kho

    Hoá đơn mua hàng

    Bộ phận kế toán

    Phiếu chi

    Sổ thu chi

    Chứng từ nhập kho

    Bộ phận quản lí kho

    Bộ phận quản lý kho

    Sổ nhập kho

    Khách hàng

    Bộ phận bán hàng

    Đơn giá

    Bộ phận bán hàng

    Khách hàng

    Bộ phận bán hàng

    Sổ khách hàng

    Đơn đặt hàng

    Bộ phận quản lý kho

    Bộ phận quản lý kho

    Chứng từ xuất kho

    Bộ phận bán hàng

    Sổ xuất kho

    Bộ phận quản lý kho

    Bộ phận bán hàng

    Hoá đơn bán hàng

    Khách hàng

    Bộ phận kế toán

    Phiếu thu

    Sổ thu chi

    Nhân viên

    Khách hàng

    Nhân viên

    Khách hàng

    Khách hàng

    Bộ phận kế toán

    Quản lý cửa hàng

    Tác nhân

     

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Hồ sơ dữ liệu

    Hồ sơ dữ liệu

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    Tác nhân

    H3 : Bảng phân tích , xác định các tác nhân , hồ sơ

     

     

    4.Các hồ sơ dữ liệu

    A) Các hồ sơ dữ  liệu

    D.1) Bảng báo giá

    D.2) Hợp đồng mua hàng

    D.3) Hoá  đơn mua hàng

    D.4) Phiếu chi

    D.5) Chứng từ nhập kho

    D.6) Sổ nhập kho

    D.7) Đơn giá

    D.8) Đơn đặt hàng

    D.9) Sổ khách hàng

    D.10) Chứng từ xuất kho

    D.11) Sổ xuất kho

    D.12) Hoá đơn bán hàng

    D.13) Phiếu thu

    D.14) Sổ thu chi

    D.15) Biên bản sự cố

    1. B) Các tác nhân

      B1) Tác nhân ngoài

    1) Khách hàng

    2) Nhà cung cấp

    3) Quản lí nhà hàng

      B2)  Tác nhân trong

    • Bộ phận quản lí kho
    • Bộ phận kế toán
    • Bộ phận bán hàng

    5.Ma trận thực thể chức năng

     

     

     

     

     

     

    Các thực thể
     
    D1.Bảng báo giá
       
    D2.Hợp đồng mua hàng      
    D3.Hoá đơn mua  hàng        
    D4.Phiếu chi
             
    D5.Chứng từ nhập kho            
    D6.Sổ nhập kho              
    D7. Đơn giá                
    D8.Đơn đặt hàng                  
    D9. Sổ khách hàng                  
    D10.Chứng từ xuất kho.                    
    D11.Sổ xuất kho                      
    D12.Hoá đơn bán hàng                        
    D13.Phiếu thu                          
    D14.Sổ thu chi                            
    D15.Biên bản sự cố                            
    Các chức năng D1 D2 D3 D4 D5 D6 D7 D8 D9 D10 D11 D12 D13 D14   D15
    1.1 Y/c thông tin hàng hoá C                          
    1.2 Lập hợp đồng mua hàng R C                        
    1.3 Kiểm tra hàng   R                        
    1.4 Lập hoá đơn mua hàng   R C                      
    1.5 Lập phiếu chi     R C                   U
    1.6 Lập chứng từ nhập kho         C                  
    1.7 Vào sổ nhập kho           U                
    1 .Cung cấp hàng U U U C C U               U
    2.1 Tiếp nhận đơn đặt hàng               C            
    2.2 Vào sổ khách hàng                 U          
    2.3 Kiểm tra kho           R   R     R      
    2.4 Lập chứng từ xuất kho               R   C        
    2.5 Vào sổ xuất kho                     U      
    2.6 Lập hoá đơn bán hàng               R       C    
    2.7 Lập phiếu thu             R         R C U
    2 .Bán hàng           R R U U C U U C U
    3.1 Kiểm tra sự cố   R R R       R R     R R  
    3.2 Lập biên bản                                    C
    3.3 Thanh toán       C                 C U
    3 .Giải  quyết sự cố       C         R       C U       C       
    4.1 Lập báo cáo           R         R     R

     

    H4 . Ma trận thực thể chức năng

     

     

     

    V. BIỂU ĐỒ LUỒNG DỮ LIỆU

    1)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 0

           
       
     
       

    H5 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 0

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 1.0 _ Nhập hàng

     

     

     

               
       
         
     
     
       

    H5 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 1.0

     

    3)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 2.0 _ Bán hàng

           
       
     
       

    H6 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 2.0

     

     

     

     

    4)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 3.0 _ Giải quyết sự cố với nhà cung cấp

    5)Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 3.0 _ Giải quyết sự cố với khách hàng

     

    H8 . Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 4.0

    5) Biểu đồ luồng dữ liệu mức 1 khi phân rã tiến trình 4.0 _ Lập báo cáo .

    VI .THIẾT KẾ CÁC GIAO DIỆN

    1.Giao diện cập nhật hợp đồng mua hàng:

     

     

     

    2.Giao diện cập nhật  đơn đặt hàng:

        

    3.Giao diện cập nhật  hoá đơn nhập kho :

     

    4.Giao diện cập nhật hoá đơn xuất kho :

     

    5.Giao diện cập nhật hoá đơn mua hàng :

     

     

    6.Giao diện cập nhật hoá đơn bán hàng :

     

    7.Giao diện cập nhật  phiếu thu :

     

    8.Giao diện cập nhật phiếu chi :

     

    9.Giao diện cập nhật  kho hàng :

     

    10.Giao diệncập nhật danh sách  mặt hàng :

     

    11.Giao diện cập nhật danh sách  nhóm hàng :

     

     

     

    12.Giao diện cập nhật danh sách nhân viên :

     

     

    13.Giao diện cập nhật danh sách khách hàng :

     

    14.Giao diện cập nhật danh sách nhà cung cấp :

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

    Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

    Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Văn mẫu Vẻ đẹp ngôn từ trong truyện kiều


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Kinh-t%E1%BA%BF-vi-m%C3%B4-c%E1%BA%A7n-cho-sinh-vi%C3%AAn-kinh-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Kinh tế vi mô cần cho sinh viên kinh tế

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Kinh tế học vi mô là một phân ngành chủ của kinh tế học chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân (gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất hay một ngành kinh tế nào đó), là một môn khoa học kinh tế về sự lựa chọn tối ưu các vần đề kinh tế cơ bản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

    Kinh tế học vi mô là nền tảng cho nhiều chuyên ngành của kinh tế học như kinh tế công cộng, kinh tế phúc lợi, thương mại Quốc tế, lý thuyết tổ chức ngành, địa lý kinh tế, …

    Một trong những mục tiêu nghiên cứu của Kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng, dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích tổng quát.

    Chính vì thế Kinh tế học vi mô là một môn học vô cùng quan trọng với sinh viên nhóm ngành kinh tế. Việc học và nghiên cứu môn học này sẽ giúp bạn yêu thích môn học cũng như hiểu rõ hơn vể ngành nghề mà mình đã lựa chọn.

    Bài tập lớn là một loại bài tập tổng hợp bao gồm nhiều ý nhỏ nhằm giải quyết nhiều mặt của một vấn đề. Bài tập lớn Kinh tế vi mô gồm có 2 phần là:

    • Phần lý thuyết, sẽ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về môn học kinh tế vi mô, củng cố, nâng cao những nhận thức về lý luận, phương pháp luận, nắm bắt được các quy luật như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sự lựa chọn tối ưu… để vận dụng và giải quyết những vấn đề cụ thể trong hoạt động Kinh tế vi mô nói chung và hoạt động của một doanh nghiệp nói riêng.
    • Phần bài tập, sẽ giúp sinh viên giải thích, phân tính và chứng minh các tình huống xảy ra trong hoạt động vi mô của doanh nghiệp cũng như việc xử lý các tình huống đó một cách tối ưu trong những điều kiện cho phép.

    Hy vọng rằng sau khi làm xong bài tập lớn kinh tế vi mô này các bạn sẽ rút ra được những điều bổ ích để có thể áp dụng cho thực tế sau này.

     

     

     

    PHẦN I: LÝ THUYẾT

     

     

    1. Giới thiệu chung về môn học vi mô

    a. Đối tượng và nội dung cơ bản của Kinh tế học vi mô

    Kinh tế học vi mô là một nhánh của kinh tế học đi sâu nghiên cứu hành vi của các chủ thể, các bộ phận kinh tế riêng biệt các thị trường, các hộ gia đình và các hãng kinh doanh. Kinh tế vi mô cũng quan tâm đến tác động qua lại giữa hành vi của người tiêu dùng và các hãng để hình thành thị trường và các ngành để quá trình phân tích được đơn giản.

    Kinh tế vĩ mô là một nhánh của kinh tế học tập trung nghiên cứu các hoạt động của nền kinh tế dưới góc độ tổng thể. Nó đề cập tới các tiêu chí tổng thể như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, thu nhập quốc dân…

    Þ Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy khác nhau nhưng đều là những nội dung quan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt nhau, mà bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thức kinh tế thị trường có sự điêù tiết của nhà nước. Vì vậy kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo đIều kiện cho kinh tế vi mô phát triển. Trong thực tiễn kinh tế và quản lý kinh tế nếu chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế vi mô, quản lý kinh tế vi mô hay quản lý sản xuất kinh doanh, mà không có sự đIều chỉnh cần thiết của kinh tế vĩ mô, quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước về kinh tế thì rất khó có thể nắm bắt và điều chỉnh được nền kinh tế.

     b. Đối tượng và nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô

    Kinh tế vi mô là một môn khoa học kinh tế, một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh nghiệp trong ngành kinh tế quốc dân. Nó là khoa học về sự lựa chọn hoạt động kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó kinh tế vi mô là sự lựa chọn để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, một tế bào kinh tế: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Để giải quyết được những yêu cầu trên kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan trọng nhất như vấn đề kinh tế cơ bản: cung và cầu, cạnh tranh và độc quyền, cầu về hành hoá: cung và cầu về lao động, sản xuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp; hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ; doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá.

    Kinh tế vi mô bao gồm những phần dưới đây:

    • Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp; việc lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần; quy luật chi phí tương đối ngày càng tăng; hiệu quả kinh tế.
    • Cung và cầu: Nghiên cứu nội dung của cung và cầu, sự thay đổi cung cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và sự thay đổi giá cả trên thị trường làm thay đổi quan hệ cung cầu và lợi nhuận.
    • Lý thuyết người tiêu dùng: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung của nhu cầu và tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu, hàm cầu và hàm tiêu dùng, tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu, lợi ích cận biên và sự co dãn của cầu.
    • Thị trường các yếu tố sản xuất: Nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn, đất đai.
    • Sản xuất chi phí và lợi nhuận: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung sản xuất và chi phí, các yếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí: lợi nhuận doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần, tối đa hoá lợi nhuận, quyết định sản xuất và đầu tư, quyết định đóng cửa doanh nghiệp.
    • Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: Nghiên cứu về thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền: quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền, quan hệ giữa sản lượng, giá cả và lợi nhuận.
    • Vai trò của chính phủ: Nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động kinh tế vi mô và vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
    • Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng và dịch vụ và sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau. Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thị trường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết cho việc cạnh tranh hoàn hảo. Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích cân bằng tổng quát.

    c. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

    • Nghiên cứu những vấn đề kinh tế lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô. Vì vậy cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động hình thành kinh tế vi mô, quan trọng nhất là phải rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó.
    • Cần gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và thực hành trong quá trình học tập.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp ở Việt Nam và ở các nước.
    • Cần hết sức coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến của Việt Nam và của các nước trên thế giới. Nhờ đó chúng ta mới có thể làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những nhận thức lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô.
    • Ngoài ra còn có những phương riêng được áp dụng các phương pháp riêng như:
      • Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận, xem xét từng đơn vị vi mô, không xét sự tác động đến các vấn đề khác; xem xét một yếu tố thay đổi, tác động trong các điều kiện các yếu tố khác không đổi.

    Trong kinh tế vi mô cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình vi phân để lượng hoá các quan hệ kinh tế.

     

    2. Giới thiệu chung về lý thuyết cung – cầu

    a. Cầu

    • Khái niệm:
    • Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhật định.
    • Lượng cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua sẵn sáng hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.
    • Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng sẵng sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.
    • Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá. Một điểm chung của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới về phía phải.
    • Luật cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm xuống.

     

    • Các yếu tố xác định cầu và hàm số của cầu:
    • Thu nhập người tiêu dùng (I):

    Thu nhập là một yếu tố quan trọng trong xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng.

    • Những hàng hóa có cầu tăng lên khi thu nhập tăng lên được gọi là các hàng hóa thông thường.
    • Các hàng hóa mà cầu giảm đi khi thu nhập tăng lên được gọi là hàng thứ cấp.
    • Giá cả của các loại hàng hóa liên quan (Py):

    Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hoá. Nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá liên quan. Các hàng hoá liên quan này chia làm hai loại:

    • Hàng hoá thay thế.
    • Hàng hoá bổ sung.
    • Số lượng người tiêu dùng (dân số) (N):

    Khi số lượng người tiêu dùng càng tăng thì cầu về hàng hoá cũng tăng.

    • Thị hiếu người tiêu dùng (T):

    Thị hiếu có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá hoặc dịch vụ.

    • Các kì vọng (E):

    Cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng. Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hoá nào đó sẽ giảm xuống trong tương lai, thì cầu hiện tại đối với hàng hoá của họ sẽ giảm xuống và ngược lại.

    è Tóm lại:

    Khi có sự thay đổi của các yếu tố trên thì sẽ làm cho lượng cầu thay đổi ở mọi mức giá. Chúng tạo lên hàm cầu được thể hiện dưới dạng phương trình sau:

    Q­XDt = f(Px , I , Py , N , T , E)

    Trong đó :

    Q­XDt  : Lượng cầu đối với hàng hoá trong thời gian t.
    Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t.
    Py : Giá hàng hoá có liên quan trong thời gian t.
    I : Thu nhập người tiêu dùng.
    N : Dân số (người tiêu dùng).
    T : Thị hiếu (sở thích) của người tiêu dùng.
    E : Các kỳ vọng.
    • Sự dịch chuyển đường cầu:

    Lượng cầu tại một mức giá đã cho được biểu thị bằng một điểm trên đường cầu. Còn toàn bộ đường cầu phản ánh cầu đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó. Do vậy sự thay đổi của cầu là sự dịch chuyển của toàn bộ đường cầu sang bên trái hoặc bên phải, còn sự thay đổi của lượng cầu là sự vận động dọc theo đường cầu.

    Hình vẽ sau đây minh hoạ sự phân biệt đó.

    Sự thay đổi của cầu và lượng cầu

    Tăng

     

     cầu

    Giảm

     

     cầu

    Q
    Tăng lượng cầu
    Giảm lượng cầu
    P
    D2
    D0
    D1

     

    b. Cung

    • Khái niệm:
      • Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khac nhau trong một thời gian nhất định.
      • Lượng cung là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵng sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định.
      • Biểu cung là một bảng miêu tả số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
      • Đường cung là đường biểu diễn mối quan hệt giữa đường cung và giá trên đồ thị. Một nét chung của đường cung là có độ nghiêng lên trên về phía phải phản ánh quy luật cung.
      • Luật cung là số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên. Vì vậy theo luật cung, giá và số lượng tỉ lệ thuận với nhau.

     

    • Các yếu tố xác định cung và hàm cung:
      • Công nghệ (Te):

    Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất, giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên.

    • Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào (Pi):

    Giá của các yếu tố sản xuất có ảnh hưởng đến khả năng cung sản phẩm. Nếu giá của các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận sẽ cao lên, do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên.

    • Chính sách thuế (t):
      • Khi thuế tăng thì cung giảm.
      • Khi thuế giảm thì cung tăng.
        • Số lượng người sản xuất (N):

    Số lượng người càng nhiều thì lượng cung càng lớn.

    • Các kỳ vọng (E):

    Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa, giá của các yếu tố sản xuất, chính sách thuế… đều có ảnh hưởng đến cung hàng hóa và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng  và ngược lại.

    è Tóm lại:

    Từ các yếu tố trên ta xác định được hàm cung theo phương trình sau:

    Q­Sx,t = f(Px , Pi , Te , t , N , E)

    Trong đó :

    Q­Sx.t  : Lượng cung đối với hàng hoá x trong thời gian t.
    Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t.
    Pi : Giá của các yếu tố đầu vào.
    Te : Công nghệ.
    N : Số người sản xuất.
    E : Các kỳ vọng.

     

    • Sự dịch chuyển đường cung:

    Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung. Sự thay đổi lượng cung là sự vận động dọc theo đường cung.

    Hình sau đây mô tả sự khác biệt đó:

    Sự thay đổI của cung và lượng cung

     

    c. Cân bằng cung cầu

    • Dựa trên việc phân tích cả cung và cầu ta thấy rằng cùng một thời điểm nhất định ta xác định được giao điểm của đường cung và đường cầu. Tại đó lượng cung bằng lượng cầu (QD = QS) nghĩa là người bán muốn bán một lượng sản phẩm là QS và người mua muốn mua một lượng sản phẩm là QD thì ta gọi đó là điểm cân bằng của thị trường.
      • Khi P* < P1 Þ QS > QD Þ Dư thừa sản lượng.
      • Khi P* > P1 Þ QS < QD Þ Thiếu hụt sản lượng.
        • Kiểm soát giá:
          • Giá trần:
            • Là một mức giá tối đa mang tính pháp lý bắt buộc người bán ra không được đòi hỏi giá cao hơn.
            • Giá trần thường được áp dụng khi có sự thiếu hụt thất thường về các hàng hóa quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức. Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng.

    è Bảo vệ lợi ích nười tiêu dùng.

    • Giá sàn:
    • Chính phủ thường đặt ra mức giá tối thiểu đối với hàng hóa. Mức giá này thường áp dụng cho hiện tượng dư thừa sản lượng.
    • Mục tiêu đặt giá sàn nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất và cung ứng phục vụ.

    è Bảo vệ lợi ích người sản xuất.

    Sự thừa và thiếu trên thị trường

     

    d. Các phương pháp ước lượng cầu

    • Điều tra và nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng bằng cách quan sát:

    Quan sát hành vi của người tiêu dùng là cách thu thập thông tin về sở thích của người tiêu dùng, thông qua việc quan sát hành vi mua sắm và sử dụng sản phảm của họ.

    • Phương pháp thử nghiệm:

    Phương pháp thử nghiệm là phương pháp điều tra cầu của người tiêu dùng trong phòng thí nghiệm, nghĩa là người tiêu dùng được cho một số tiền và được yêu cầu chỉ tiêu trong một cửa hàng.

    Phương pháp này phản ánh tính hiện thực hơn là phương pháp điều tra người tiêu dùng. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có các hạn chế nhất định như không đảm bảo độ chính xác cho việc suy đoán của toàn bộ thị trường.

    • Phương pháp thí nghiệm trên thị trường.
    • Phương pháp phân tích hồi quy.

    3. Giới thiệu chung hành vi của doanh nghiệp

    a. Doanh nghiệp

    Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất. Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu qủa là doanh nghiệp thoả mãn được nhu cầu tối đa của thị trường và xã hội về hàng hoá, dịch vụ trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất.

    Qúa trình kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội của từng loại doanh nghiệp. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

    • Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ để quyết định xem sản xuất cái gì
    • Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất như: lao động, đất đai, thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ….
    • Tổ chức tốt quá trình kết hợp chặt chẽ, khéo léo giữa các yếu tố cơ bản của đầu vào để tạo ra hàng hoá và dịch vụ, trong đó lao động là yếu tố quyết định.
    • Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, bán hàng hóa thu tiền về.

    Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của kinh doanh là rút ngắn chu kỳ kinh doanh. Chu kỳ kinh doanh chính là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá, dịch vụ, đến lúc bán xong hàng hóa và thu tiền về.

    b. Lý thuyết về sản xuất

    • Công nghệ
      • Sản xuất là các loại hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả lĩnh vực lưu thông và dịch vụ.
      • Các doanh nghiệp chuyển hoá các đầu vào (còn gọi là các yếu tố sản xuất) thành đầu ra (còn gọi là sản phẩm).
      • Các yếu tố sản xuất được chia thành 2 loại:

    + Lao động (L)

    + Vốn (K) bao gồm: các nguyên nhiên vật liệu, tài sản cố định, máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng…

    • Các yếu tố được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất kinh đoanh để tạo ra sản phẩm đầu ra (Q). Sản phẩm đầu ra có thể là sản phẩm hữu hình hoặc sản phẩm vô hình.
    • Hàm sản xuất
      • Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện bằng hàm sản xuất

    + Hàm sản xuất chỉ rõ mối quan hệ giữa sản lượng tối đa có thể thu được từ các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào với một trình độ công nghệ nhất định.

    + Hàm sản xuất biểu diễn phương pháp sản xuất có hiệu quả về mặt kỹ thuật khi kết hợp giữa các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra.

    • Một doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao khi doanh nghiệp đó có chi phí cơ hội đầu vào là nhỏ nhất.
    • Một hàm sản xuất thường dùng là hàm Cobb Douglas:

    Y = A. Ka.La                      ( b=1-a )

    Trong đó:

    Y : là sản lượng đầu ra

    L : là vốn

    K : là lao động

    a, b : là những hằng số cho biết tầm quan trọng tương đối của vốn và lao động trong quá trình sản xuất.

    • Sản xuất với một đầu vào biến đổi
      • Năng suất lao động bình quân ( APL )
    APL = Số đầu ra = Q
    Số lượng lao động L
    • Năng suất lao động cận biên ( MPL )
    MPL = Sự thay đổi đầu ra = Q
    Sự thay đổi lượng lao động L

    MPL  = Qn – Qn-1

    Hình vẽ:

    Nếu MPL > APL Þ APL  tăng dần

    MP< APL Þ APL giảm dần

    MPL  = APL Þ APL max

    • Quy luật MPL giảm dần

    Dựa vào hình vẽ ta thấy năng suất cận biên của bất kỳ yếu tố sản xuất nào cũng sẽ bắt đầu giảm dần tại một thời điểm nào đó khi càng có nhiều yếu tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất. Điều này cho thấy khi tăng thêm lao động thì mỗi lao động chỉ có ít vốn và diện tích để làm việc. Thời gian nhàn rỗi nhiều hơn nên năng suất lao động giảm dần. Vì vậy quy luật năng suất cận biên giảm dần có ý nghĩa với cả lao động và vốn. Nó liên quan đến hành vi và quyết định sản xuất kinh doanh trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất, giảm chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.

    • Sản xuất với hai đầu vào biến đổi

    Đường động lượng :

    • Là đường biểu thị tất cả sự kết hợp của các yếu tố đầu vào khác nhau để sản xuất ra một lượng đầu ra nhất định.
    • Các đường động lượng cho thấy sự linh hoạt mà các doanh nghiệp có được khi ra quyết định sản xuất trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể đạt được một đầu ra lựa chọn bằng cách sử dụng các cách kết hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào để được một lượng đầu ra mong muốn với mục đích tối thiểu hoá chi phí tối đa hoá lợi nhuận.

    Hình vẽ:

    Sự thay thế các đầu vào, tỷ suất thay thế, kỹ thuật cận biên (MRTS)

    • Độ nghiêng của đường cong lượng cho thấy có thể dùng 1 số lượng đầu vào này thay thế cho 1 số lượng đầu vào khác nhưng phải đảm bảo đầu ra không đổi. Độ nghiêng đó được gọi là tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) nghĩa là muốn giảm đi một đơn vị lao động thì cần có bao nhiêu đơn vị vốn với điều kiện Q không đổi và ngược lại.
    • Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên (MRTS) có liên quan chặt chẽ với năng suất cận biên của lao động và vốn và luôn được đo lường như 1 đại lượng dương cho nên số đầu ra tăng thêm lao động sẽ là:

    DQL = DL . MPL > 0

    Và số đầu ra giảm đi do giảm sử dụng vốn sẽ là:

    D QK = D K . MPK < 0

    Trong đó:  DK    : chênh lệch về vốn

    MPK  : năng suất lao động cận biên theo vốn

    DQ + DL = 0

    • DL . MPL + DK . MPK = 0

    Tỉ suất thay thế kỹ thuật cận biên

    MRTS = -DK = MPL
    DL MPK
    • Hai trường hợp đặc biệt

    TH1: Các yếu tố đầu vào có thể thay thế hoàn toàn cho nhau và MRTS không đổi trên một đường đồng lượng có dạng một đường thẳng có nghĩa là cùng một đầu ra có thể chỉ được sản xuất bằng lao động và vốn hoặc bằng sự kết hợp giữa lao độngvà vốn

    TH2: Các yếu tố đầu vào không thể thay thế cho nhau, mỗi mức đầu vào đòi hỏi có sự kết hợp riêng. Mỗi mức đầu ra đòi hỏi một sự kết hợp giữa lao động và vốn. Khi đó đường động lượng có dạng L.

    • Lý thuyết về chi phí sản xuất
    • Ý nghĩa và khái niệm
      • Trong kinh tế vi mô chi phí sản xuất giữ mộtvị trí quan trọng và có quan hệ tới nhiều vấn đề khác của doanh nghiệp như: quan hệ với người tiêu dùng, xã hội….Trong đó:

    + Chi phí tính toán (chi phí kế toán) là tất cả những khoản chi nhưng không tính đến chi phí cơ hội.

    + Chi phí kinh tế (chi phí tài chính) là tất cả các khoản chi bao gồm cả chi phí cơ hội.

    Þ Chi phí kinh tế thường lớn hơn chi phí tính toán 1 lượng bằng chi phí cơ hội.

    • Chi phí ngắn hạn là những chi phí của thời kỳ mà trong đó số lượng và chất lượng của đầu vào là không đổi.
    • Tổng chi phí (TC) là toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định sản xuất ra sản phẩm.
    • Chi phí cố định (FC) là khoản chi phí không biến đổi khi sản lượng tăng hoặc giảm hoặc bằng 0.
    • Chi phí biến đổi (VC) là khoản chi phí biến đổi theo từng mức đầu ra

    TC = FC + VC

    • Chi phí bình quân (ATC) là tổng chi phí cho 1 đơn vị sản phẩm:
    • Chi phí cố định bình quân là chi phí cố định cho 1 đơn vị sản phẩm
    • Chi phí biến đổi bình quân là chi phí biến đổi cho 1 đơn vị sản phẩm

    Þ ATC = AVC + AFC

    • Chi phí cận biên (MC)

    MC = TCn – TCn-1

    Mối quan hệ giữa MC và ATC

    Hình vẽ:

    MC > ATC Þ ATC tăng dần

    MC < ATC Þ ATC giảm dần

    MC = ATC Þ ATC min

    • Chi phí dài hạn

    Trong dài hạn doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các đầu vào của nó. Vấn đề đặt ra là lựa chọn các đầu vào như thế nào để sản xuất 1 đầu ra nhất định với chi phí tối thiểu

    Gọi LTC là tổng chi phí sản xuất trong dài hạn.

    LAC là chi phí bình quân dài hạn (chi phí trung bình dài hạn).

    LMC là chi phí cận biên dài hạn.

    Þ

    LMC = LTCn – LTCn-1

    Chú ý:

    • Trong trường hợp ngắn hạn nếu doanh nghiệp đạt mức giá
      • P = ATCmin Þ doanh nghiệp sẽ đạt hòa vốn.
      • P £ AVCmin Þ doanh nghiệp có thể phải đóng cửa sản xuất.
      • AVCmin < P < ATCmin Þ doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.
      • P > ATCmin Þ doanh nghiệp có lãi.
    • Trong trường hợp dài hạn nếu:
      • P = LACmin Þ doanh nghiệp đạt hòa vốn dài hạn.
      • P < LACmin Þ doanh ngiệp rời bỏ thị trường.
    • Đường đồng phí

    Là đường bao gồm tất cả các tập hợp có thể có của lao động và vốn mà người ta có thể mua với một tổng chi phí nhất định.

    Gọi TC là tổng chi phí.

    W là chi phí cho 1 đợn vị lao động (lương).

    R là chi phí cho 1 đơn vị vốn.

    TC = w.L + rK

    C2
    C1
    L
    K
    1. d. Lý thuyết về lợi nhuận và quyết định cung cấp
    • Lợi nhuận và tối đa lợi nhuận
      • Khái niệm lợi nhuận
    • Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
    • Do vậy lợi nhuận thường được xác định như sau:

    ∏ = TR – TC

    Trong đó:

    TR = P.Q (giá .  số lượng)

    MR = TRn – TRn-1

     

    Chú ý:

    Đối với doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo lợi nhuận đạt tối đa tại mức sản lượng Q* khi P = MC

    max tại Q* khi P = MC

    Đối với doanh nghiệp kinh doanh trong thị trường độc quyền và bán cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa tại mức sản lượng Q* khi MR = MC

    Để đạt TRmax khi MR = 0

    • Các loại lợi nhuận
      • Lợi nhuận tính toán: được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí tính toán. Đó là khoản chi phí không tính đến những chi phí tiềm ẩn hay chi phí cơ hội.
      • Lợi nhuận bình quân: được hình thành do tác động của quy luật cung cầu vốn trong nền kinh tế thị trường. Nó được biểu hiện cụ thể bằng tỷ suất lãi trên vốn.
      • Lợi nhuận bình thường: là mức lợi nhuận chỉ vừa đủ để giữ cho các nhà kinh doanh tiếp tục công việc của mình và tồn tại với tư cách là một bộ phận của tổng chi phí.
      • Lợi nhuận siêu ngạch.
      • Lợi nhuận dị thường.
      • Lợi nhuận độc quyền.
    • Tối đa hóa lợi nhuận
      • Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.
      • Doanh thu cận biên (MR)là mức thay đổi tổng doanh thu do tiêu thụ thêm một đơn vị sản lượng:
     

     

    Quy tắc : tối đa lợi nhuận

    Tăng sản lượng chừng nào doanh thu cận biên còn vượt quá chi phí cận biên (MR > MC) cho đến khi có MR = MC thì dừng lại. Đây chính là mức sản lượng tối ưu (Q*) để tối đa hóa lợi nhuận.

    • Tối đa hóa lợi nhuận trong sản xuất ngắn hạn.

    Doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng mà ở đó doanh thu cận biên bằng với chi phí cận biên (MR=MC).

    • Tối đa hó lợi nhuận tron sản xuất dài hạn.

    Như ta đã biết trong sản xuất dài hạn không còn chi phí cố định, doanh nghiệp có quyền quyết định nên xây dựng một năng lực sản xuất đến mức nào là tối ưu, tức là xác định lượng chi phí cố định tối ưu.

    Để tối đa hóa lợi nhuận, chúng ta có thể sử dụng phương pháp trình bày ở trên nhưng loại trừ chi phí cố định, có nghĩa là mọi chi phí đều biến đổi như phương pháp ngắn hạn, doanh nghiệp coi giá cả thị trường là cho trước và là doanh thu cận biên của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ tăng sản lương khi nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cận biên.

    Doanh nghiệp sẽ giảm sản lượng khi chi phí cận biên vượt doanh thu cận biên (MC > MR).

    Doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa bằng việc cân bằng doanh thu cận biên và chi phí cận biên.

    4. Giới thiệu chung về hành vi của doanh nghiệp độc quyền

    a. Độc quyền bán

    • Khái niệm :

    Độc quyền bán là một thị trường, trong đó chỉ có một người bán, nhưng có nhiều người mua.

    • Nguyên nhân :

    Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ một số nguyên nhân cơ bản sau :

    • Đạt được tính kinh tế quy mô, yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc thị trường là sản lượng ở mức quy mô tối thiểu có hiệu quả so với cầu của thị trường. Quy mô tối thiểu có hiệu quả là sản lượng mà tại đó, đường chi phí bình quân dài hạn của một doanh nghiệp ngừng đi xuống. Như vậy, nếu một doanh nghiệp đạt được tính kinh tế của quy mô, thì việc mởi rộng sản lượng của nó sẽ loại bỏ được các đối thủ và cuối cùng sẽ là người bán duy nhất trên thị trường, nếu mức sản lượng có chi phí bình quân dài hạn tối thiểu của nó là đủ lớn để đáp ứng cầu thị trường.
    • Bằng phát minh sáng chế (bản quyền). Luật về bằng phá minh sáng chế (bản quyền) cho phép các nhà sản xuất có được vị trí độc quyền về bán một sản phẩm hoặc một quy trình công nghệ mới trong một khoảng thời gian nhất định.

    Kiểm soát  các yếu tố (đầu vào) sản xuất. Một doanh nghiệp có thể chiếm được vị trí độc quyền bán nhờ quyền sở hữu một loại đầu vào (nguyên liệu) để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó.

    Quy định của chính phủ. Một doanh nghiệp có thể trở thành độc quyền hợp pháp nếu nó là người duy nhất được cấp giấy phép sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vũ nào đó. Chẳng hạn đường sắt Việt Nam, bưu điện Việt Nam…

    • Đặc điểm :
      • Một người bán, nhiều người mua.
      • Sản phẩm đọc nhất không có hàng hóa thay thế gần gũi.
      • Có sức mạnh thị trường (có quyền định giá sản phẩm và sản lượng bán, việc gia nhập thị trường là rất khó khăn, nhiều trở ngại).
      • Cùng tiến hành quảng cáo để thu hút thêm khách hàng.
    • Đường cầu và đường doanh thu cận biên :

    Là người sản xuất duy nhất đối với một loại sản phẩm, nhà độc quyền bán có vị trí độc nhất trên thị trường. Nhà độc quyền bán có sự kiểm soát toàn diện đối với số lượng sản phẩm đưa ra bán. Nhưng điều này không có nghĩa là nó đặt giá cao bao nhiêu cũng được, vì mục đích của nó là tối đa hóa lợi nhuận. Đặt giá cao sẽ có ít người mua và lợi nhuận thu được sẽ ít hơn.

    Vì là người duy nhất bán một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể trên thị trường, nhà độc quyền bán đứng trước cầu thị trường – một đương cầu dốc xuống dưới về phí phải. Đường cầu thị trường chính là đường doanh thu bình quân (AR) của doanh nghiệp. Khi đường cầu dốc xuống thì giá và doanh thu bình quân luôn lớn hơn doanh thu cận biên, vì tất cả các đơn vụ đều được bán ở cùng một giá. Tăng lượng bán thêm một đơn vị thì giá bán phải giảm xuống, như vậy tất cả các đơn vị bán ra đều phải giảm giá chứ không phải chỉ một đơn vị bán thêm. Đường doanh thu cận biên vì thế luôn nằm dưới đường cầu, trừ điểm đầu tiên.

    • Quyết định cung cấp của doanh nghiệp độc quyền :

    Một doanh nghiệp để tối đa hóa lợi nhuận phải sản xuất ở mức sản lượng sao cho doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên tại mức Q* (MR = MC).

    CM : Q* là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.

    Giả sử  Q* à Q1  thì tương ứng  P* à P1  khi đó  MR > MC

    Q* à Q2  thì tương ứng  P* à P2  khi đó  MR < MC

    • Q1, Q2 không phải là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận.
    • Sức mạnh độc quyền.

    Sự khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo và doanh nghiệp độc quyền bán là : doanh ngiệp nghiệp độc quyền bán có sức mạnh thị trường. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải đặt giá bằng chi phí cận biên, còn doanh nghiệp độc quyền bán đặt giá cao hơn chi phí cận biên. Vì thế sức mạnh độc quyền bán được đó bằng chỉ số Lerner, gọi là mức độ sức mạnh độc quyền của Lerner.

    • Mất không từ sức mạnh độc quyền.

    Do sức mạnh độc quyền tạo ra giá cao hơn và sản lượng sản xuất ra thấp hơn so với cạnh tranh hoàn hảo, nên ta dễ thấy người tiêu dùng bị thiệt hại, còn người sản xuất thì được lợi.

    Theo hình vẽ ta thấy nếu thị trường là cạnh tranh hoàn hảo thì giá và sản lượng sẽ là Pc và Qc. Nếu thị trường là độc quyền bán thì giá và sản lượng là Pm và Qm. Như vậy so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thì thị trường độc quyền bán tạo ra phúc lợi ít hơn, một phần thặng dư tiêu dùng (diện tích A) và thặng dư sản xuất (diện tích B) bị mất do chỉ sản xuất ở mức sản lượng Qm. Phần phúc lợi bị mất gọi là mất không và được tính bằng S∆ABC.

    PHẦN II: TÍNH TOÁN

     

     

    I. Các thông tin

    Một doanh nghiệp độc quyền kinh doanh một loại sản phẩm đặc biệt gặp đường cầu :

    • P = 11 – Q
    • P = 100 – 3Q .

    Trong đó :

    P là giá tính bằng USD (đô-la) trên một đơn vị sản phẩm.

    Q là sản phẩm lượng tính bằng ngàn đơn vị sản phẩm.

    Nhà độc quyền có chi phí bình quân để sản xuất ra một sản phẩm là:

     

     

     

    II. Bài làm

     

    Câu 1:

    Khi tính bằng ngàn đô-la trên một ngàn đơn vị sản phẩm thì :

    P = 11000 – 1000Q1          (D1)

    P = 100000 – 3000Q2        (D2)

    Ta có :

    Q1 = 11 –

    Q2 =

    Đường cầu của doanh nghiệp được xác định như sau :

    Q = Q1 + Q2 = 11 –

    Vậy phương trình đường cầu có thể viết :

    P = 33250 – 750Q            (D)

    Þ  Ta có phương trình doanh thu là :

    TR1 = P.Q = 11000Q – 1000Q2
    TR   = P.Q = 33250Q – 750Q2

    Phương trình doanh thu cận biên là :

    MR1 =  = (TR1)’ = 11000 – 2000Q

    MR  =  = (TR2)’ = 33250 – 1500Q

    Phương trình chi phí cận biên :

    MC  =  = (TC)’ = 4Q + 3000

     

     

    Câu 2:

    Mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền xuất hiện khi doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên.

    • MR1 = MC
      • 11000 – 2000Q = 4Q + 3000
      • Q       =       4   (loại)
    • MR = MC
      • 33250 – 1500Q = 4Q + 3000
      • Q = 20,11          (ngàn sản phẩm)

     

    KL: Vậy mức sản lượng tối ưu của nhà độc quyền là :

    Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

    P = 33250 – 750.20,11 = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Nhà độc quyền sẽ đặt giá P = 18,1675 (USD / sản phẩm)

    • Tổng doanh thu là :

    TR = P.Q = 18167,5 . 20,11 = 365348.425 (USD)

    • Tổng chi phí là :

    TC = 500 + 2Q2 + 3000Q

    = 500 + 2(20,11)2 + 3000(20,11)

    = 61638,82 (USD)

    • Lợi nhuận cực đại nhà độc quyền có thể thu được là :

    max = TR – TC = 365348,425 – 61638,82

    = 303709,61 (USD)

     

    Câu 3:

    Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp này có quyền định giá và sản lượng bán của sản phẩm.

    Ở đây :

    P = 18167,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Q = 20,11 (ngàn sản phẩm)

    Þ  MC = 4Q + 3000

    = 4 . 20,11 + 3000

    = 3080,44

    Sức mạnh của nhà độc quyền là :

    Vì  0 ≤ L ≤ 1

    Þ  Nên có thể thấy sức mạnh độc quyền của doanh nghiệp này rất lớn.

     

     

    Câu 4:

    Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội của hãng này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu (tại điểm B trên hình vẽ)

    P = MC

    Û  33250 – 750Q = 4Q + 3000

    Û           Q = 40,12        (ngàn sản phẩm)

    Þ Giá   P = 33250 – 750Q

    = 33250 – 750 . 40,12

    = 3160 (USD / ngàn sản phẩm)

    Giá 1 sản phẩm là:  P = 3,16 (USD / sản phẩm)

    Để tối đa hóa lợi nhuận nhà độc quyền đã hạn chế sản lượng thấy hơn sản lượng tối ưu cho xã hội và gây ra mất không.

    Lượng mất không chính là: diện tích tam giác ABC.

    DWL = S∆ABC =

    = 150946 (USD)

     

    Câu 5:

    Khi chính phủ đặt giá bản của nhà độc quyền là P = 180 (USD / đơn vị sản phẩm) thì giá của 1000 sản phẩm là:

    P   = 180000 (USD / ngàn sản phẩm)

    TR = 180000 Q

    MR = 180000

    Để đạt được lợi nhuận cao nhất phải thỏa mãn:

    MR = MC

    Û  180000 = 4Q + 3000

    Û         Q = 44250        (ngàn sản phẩm)

    TR = 5 . 310 . 106 (USD)

    Ta có: TC = 600 + 2Q2 + 3000Q

    = 4048875500 (USD)

    Lợi nhuận cực đại là :

    max = TR – TC = 1261124500 (USD)

    Câu 6:

    Nếu doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh thu thì phải thỏa mãn: MR = 0

    • MR1 = 0
      • 11000 – 2000Q = 0
      • Q  = 5,5  (loại – vì TR1 = 30250)
        • MR = 0
      • 33250 – 1500Q = 0
      • Q  = 22,167 (ngàn sản phẩm)

    P  = 16624,75 (USD / ngàn sản phẩm)

    hay                P  = 16,62475 (USD / sản phẩm)

    Vậy để tối đa hóa doanh thu thì doanh nghiệp sẽ bán ra

    Q = 22,167 (ngàn sản phẩm)

    Với giá

    P = 16,62475 (USD / sản phẩm)

    Câu 7:

    Để không bị lỗ, doanh nghiệp phải thỏa mãn: d = ATCmin

    Hay               MC = ATC

    • 4Q + 3000 = + 2Q + 3000
    • 2Q2  = 500

    Þ  Q =  = 15,81

    Để không bị lỗ doanh nghiệp phải sản xuất

    Q = 15,81 ( ngàn sản phẩm)

    Với giá

    P = 21392,5 (USD / ngàn sản phẩm)

    Hay

    P = 21,3925 (USD / sản phẩm)

    Câu 8:

    Thặng dư sản xuất của doanh nghiệp khi đạt mức lợi nhuận tối đa chính là phần diện tích đa giác ACDE trên đồ thị

    PS = 0,5 [(18167,5 – 3000) + (18167,5 – 3080,44)] . 20,11

    = 304209 (USD)

    Câu 9:

    Thặng dư tiêu dùng chính là diện tích tam giá AEF

    PS = 0,5 (33250 – 18167,5) . 20,11

    = 151654 (USD)

    Lợi ích ròng của xã hội khi đó

    NSB = PS + CS = 304209 + 151654

    = 455863 (USD)

    Câu 10:

     

     

    PHẦN III: KẾT LUẬN

    Qua bài tập lớn ở trên chúng ta có thể rút ra một số điều như sau:

    1. Sức mạnh của nhà độc quyền được thể hiện bằng việc doanh nghiệp đó có quyền quyết định giá và sản lượng bán. Từ đó có thể tính được mức độ sức mạnh của nhà độc quyền đó bằng việc dùng hàm Lerner.
    2. Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ phải phải là gì? ở đây muốn tối đa hóa lợi nhuận thì chi phí cận biên phải bằng với doanh thu cận biên. Từ đó ta có thể tính được lợi nhuận cực đại mà doanh nghiệp có thể thu được và sản lượng tối đa mà doanh nghiệp sẽ sản xuất ra để đem lại lợi nhuận cực đại đó.
    3. Mức giá và sản lượng tối ưu cho xã hội đối với hãng độc quyền này xảy ra khi đường chi phí cận biên gặp đường cầu.
    4. Nếu doanh nghiệp muốn tối đa hóa doanh thu thì hành vi thì phải thỏa mãn doanh thu cận biên bằng 0.
    5. Để không bị lỗ hay phá sản thì doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Ở đây để không phá sản thì P = ATCmin khi và chỉ khi MC = ATC.
    6. Qua đó ta có thể tính được thặng dư sản xuất mà doanh nghiệp có được khi đạt mức lợi nhuận tối đa và tính được thặng dư tiêu dùng và lợi ích ròng của xã hội mà khi nhà độc quyền này đạt lợi nhuận cực đại.

    Þ Vì vậy chúng ta cần:

    • Cần nắm vững khái niệm, định nghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động kinh tế vi mô, quan trọng hơn là rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó. Chẳng hạn, phải hiểu tại sao lại đề ra các mức giá mua và giá bán, các sự lựa chọn phương pháp tăng lợi nhuận…
    • Cần phải sử dụng những lý luận, phương pháp luận có tính quy luật chung đó để làm cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn và trên cơ sở đó xây dựng các dự đoán, đề ra các phương hướng, biện pháp phù hợp, nhằm phát triển có hiệu quả hơn các hoạt động kinh tế vi mô.

    Þ Bài tập lớn giúp ta hiểu hơn về môn học, đặc biệt là về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó sẽ phải có những biện pháp để khắc phục những sai lầm, của doanh nghiệp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn và có những hướng đi riêng để doanh nghiệp phát triển mạnh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]