Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về thị trường bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Quy-tr%C3%ACnh-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-kinh-doanh-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Quy trình phát triển dự án kinh doanh bất động sản

    Quy trình phát triển dự án

    Kinh doanh bất động sản

    Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi (Luật kinh doanh bất động sản số 63/2006/QH11 ngày 29/06/2006). Dự án kinh doanh bất động sản được trong phân tích dưới đây được hiểu là hoạt động bỏ vốn đầu tư nhằm thiết lập mô hình kinh doanh trên một khu đất để cung cấp dịch vụ bất động sản, chúng bao gồm:

    – Dự án đầu tư kinh doanh cao ốc văn phòng;
    – Dự án căn hộ cho thuê;
    – Dự án trung tâm thương mại;
    – Dự án khách sạn, nhà hàng;
    – Dự án về dịch vụ nhà ở;
    – Dự án hạ tầng khu công nghiệp;
    – Dự án kết hợp cung cấp các loại hình dịch vụ trên;
    – Các loại mô hình khác (không thuộc các dự án đã kể trên).

    Trên một khu đất, nhà đầu đứng trước bài toán lựa chọn mô hình đầu tư tối ưu trong số các mô hình trên. Để thành công trong quyết định lựa chọn mô hình đầu tư và quản lý khai thác hiệu quả, nhà đầu tư cần phải thực hiện phân tích lựa chọn theo quy trình sau:

    Bước 1: Tìm kiếm đất và khẳng định đất phù hợp:

    Tìm kiếm khu đất để đầu tư là việc làm thường xuyên của nhà đầu tư bất động sản. Khu đất kinh doanh bất động sản có hai dạng: thứ nhất là đất thuê lại từ đối tác kinh doanh khác hoặc thuê đất thuộc quỹ quản lý của nhà nước; thứ hai là mua đất từ đối tác khác. Nhà đầu tư thường tính đến việc mua khu đất ở đâu, giá bao nhiêu, khi nào mua… dựa trên sự phù hợp của khu đất.

    Khu đất phụ hợp là khu đất tọa lạc tại những vị trí chiến lược có thể phát triển kinh doanh một hoặc nhiều hơn một loại hình dịch vụ nào đó (các loại hình dịch vụ như định nghĩa trên) và khả thi về mặt pháp lý. Một khu đất được xem là khả thi về mặt pháp lý nếu khu đất đó thuộc diện được phép đầu tư khai thác kinh doanh bởi chính quyền địa phương. Hơn nữa, bất kỳ một khu đất nào hiện nay trên Việt Nam đều thuộc diện khống chế quy hoạch để sử dụng vào mục đích nhất định nào đó (quy hoạch cho mục đích kinh doanh, hoăc quy hoạch cho mục đich công, hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật trong quy hoạch), vì thế đòi hỏi nhà đầu tư phải kiểm tra tính phù hợp của thông số quy hoạch với mục đích kinh doanh của họ (với những thông số quy hoạch đó có mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư hay không). Để biết được thông tin quy hoạch khu đất, nhà đầu tư có thể tìm đến cơ quan quản lý quy hoạch của tỉnh như sở quy hoạch xây dựng, sở tài nguyên & môi trường hoặc nhứng chuyên viên phụ trách quy hoạch của UBND tỉnh nới quản lý khu đất. Trong trường hợp khu đất chưa có ý đồ quy hoạch từ UBND tỉnh thì nhà đầu tư phải gửi công văn đề nghị xin chủ trương quy hoạch theo ý đồ của họ.

    Kết quả của bước tìm kiếm và khẳng định sự phù hợp của khu đất là nhà đầu tư phải ký được hợp đồng thuê, mua đất từ đối tác kinh doanh khác và chấp thuận chủ trương quy hoạch của UBND tỉnh nơi quản lý hành chính của khu đất hoặc hợp đồng thuê đất với UBND tỉnh (nếu thuộc khu đất do nhà nước quản lý).

    Bước 2: Ý tưởng kinh doanh

    Như trình bày ở bước 1, khu đất thông thường đều thuộc diện khống chế quy hoạch cho mục đích kinh tế hay mục địch xã hội. Nhà đầu tư chỉ quan tâm đến khu đất quy hoạch cho mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, câu hỏi cần trả lời ở đây là kinh doanh theo mô hình nào? Nhà đầu tư phải dựa vào kinh nghiệm và tầm nhìn của họ để đề xuất ý tưởng kinh doanh. Dù kinh nghiệm và tầm nhìn của những nhà đầu có sự khác nhau nhưng họ đều căn cứ trên một cơ sở chung là dựa vào thị trường. Khi đưa ra quyết định đầu tư trong điều kiện thiếu dữ liệu chắc chắn về thị trường đó ra quyết định trong môi trường có rủi ro. Nhà đầu tư thận trọng họ sẽ thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi đưa ra quyết định.

     

    Bước 3: Nghiên cứu thị trường

    Việc nghiên cứu thị trường để kiểm định lại ý tưởng kinh doanh là việc chuyển từ quyết định trong môi trường có rủi ro sang ra quyết định trong môi trường chắn chắn. Các loại thị trường cần nghiên cứu bao gồm các thị trường cao ốc văn phòng, căn hộ cho thuê, nhà hàng, khách sạn, trung tâm thương mại, hạ tầng công nghiệp, dịch vụ nhà ở…. Nghiên cứu thị trường phải dự báo được triển vọng và dung lượng của từng loại thị trường dịch vụ. Nghiên cứu thị trường sẽ kiểm định tính khả thi của ý tưởng kinh doanh và khuyến nghị các hướng phát triển dự án.

    Bước 4: Thiết kế ý tưởng

    Thiết kế ý tưởng dự án được căn cứ trên các tiêu chí sau:

    • Xác lập mô hình kinh doanh có hiệu quả;
    • Thiết kế ý tưởng kiến trúc có phong cách đặc trưng, ấn tượng, có tính hiệu dụng cao, có cảnh quan đẹp.
    • Chứng minh được hiệu quả đầu tư;
    • Đảm bảo chất lượng, tiến độ và ngân sách của quá trình xây dựng;
    • Đảm bảo nguồn thu và lợi nhuân.

    Dựa trên những tiêu chí trên, ý tưởng dự án phải thể hiện đầy đủ nội dung sau:

    • Mô hình kinh doanh cung cấp dịch vụ gì, tính vượt trội của các dịch vụ do dự án cung cấp so với các dịch vụ hiện hữu trên thị trường hiện nay;
    • Ý tưởng kiến trúc như thế nào, sự độc đáo của kiến trúc;
    • Các đặc điểm kỹ thuật;
    • Thị trường mục tiêu;
    • Quản lý đầu tư và khác thác như thế nào?

    Bước 5: Phân tích tài chính

    Phân tích tài chính nhằm xác định khả năng sinh lời của dự án, bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

    • Ước tính toàn bộ chi phí dự án
    • Dự kiến phương án hợp tác kinh doanh;
    • Ước tính nguồn vốn vay;
    • Thiết lập mô hình phân tích dựa trên những giả định cơ bản về dự án;
    • Phân tích dòng tiền cho toàn bộ dòng đời của dự án bao gồm chi phí đầu tư, nguồn vốn đầu tư, doanh thu, chi phí hoạt động, vốn vay, lợi nhuận, các chỉ số tài chính như NPV, IRR, thời gian hoàn vốn…
    • Phân tích độ nhạy với các biến thiên về suất đầu tư và giá thuê dự kiến.

    (Phân phân tích tài chính cho dự án kinh doanh bất động sản, tác giả sẽ trình bày một bài viết tiếp theo).

    Bước 6: Tìm nguồn tài chính tài trợ cho dự án và lập hồ sơ dự án, xin cấp phép, vay vốn và triển khai dự án.

    Theo thiết kế cơ cấu nguồn vốn dự án, chủ đầu tư cân đối nguồn vốn của mình và quyết định huy động vốn tài trợ cho dự án. Trên thị trường tài chính hiện nay đã mở ra nhiều cơ hội huy động vốn qua các kênh phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty hoặc vay. Tuy nhiên, với các kênh huy động đó chỉ khả thi khi dự án đã được cấp phép, phê duyệt hoặc đã chi tiết được các hạng mục đầu tư. Để đạt sự cấp phép chủ đầu tư phải chứng minh được năng lực tài chính nên dòi hỏi phải tiến hành huy động vốn trước. Việc huy động vốn trong giai đoạn này, chủ đầu tư tìm đối tác tham gia hợp tác đầu tư thông qua ký kết biên bản thỏa thuận (MOU) hợp tác đầu tư với các nội dung sau:

    • Thỏa thuận về chi phí;
    • Thỏa thuận về thời gian;
    • Thỏa thuận về nhân lực;
    • Thỏa thuận về cách làm;

    Sau khi các bên tham gia góp vốn ký kết văn bản hợp tác đầu tư (MOU), họ tiến hành lập hồ sơ dự án, bao gồm nội dung sau:

    • Các đánh giá rải rác;
    • Đánh giá tiền khả thi;
    • Các tài liệu, văn bản ghi nhận trao đổi nội bộ với đối tác;
    • Báo cáo khả thi xây dựng xác với dự án hoàn chỉnh.

    Nhà đầu sử dụng hồ sơ dự án để thực hiện các hoạt động xin phép đầu tư, thiết kế chi tiết, vay vốn để bắt đầu triển khai dự án.

    Bước 7: Triển khai dự án

    Triển khai dự án gồm các công việc sau:

    • Thiết kế chi tiết;
    • Đấu thầu và chọn thầu xây dựng;
    • Vay vốn và giải ngân vốn chủ sở hữu;
    • Phương án tổ chức giám sát, quản lý;

    Phương án tổ chức gám sát, quản lý và khai thác dự án có thể do chủ đầu tư tự thực hiện. Nếu dự án có tính phức tạp cao trong khi nhân lực của doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư không đủ khả năng quản lý thù sử dụng đến dich vụ tư vấn thực hiện các công việc sau:

    • Đại diện khách hàng (Lập kế hoạch xây dựng & quản lý chất lượng);
    • Bán & tiếp thị;
    • Tư vấn và quản lý tài sản.

    Trên đây quy trình phát triển một dự án kinh doanh bất động sản. Mỗi loại dự án đều có đặc thu riêng, không có gì áp dụng chung cho mọi trường hợp. Tất cả chỉ là phương pháp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Những lời khuyên đầu tư bất động sản thành công


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-T%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-v%C3%A0-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-s%C3%A0n-giao-d%E1%BB%8Bch-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Tổ chức và quản lý sàn giao dịch bất động sản

    CHUYÊN ĐỀ 1

    TỔ CHỨC QUẢN LÝ SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN

    1.     Giới thiệu sàn giao dịch bất động sản

    Thực ra khái niệm về sàn giao d ịch bất động sản mới được thừa nhận qua Luật kinh doanh bất động sản nă m 2006. Để hiểu được ý nghĩa, mục đích và vai trò của sàn giao dịch bất động, nhà nước đang xây dựng mô hình sàn giao dị ch chuẩn để từ đó đưa các ho ạt động giao dịch vào sàn nhằm mục đích phát triển và lành mạnh hoá thị trường bất động sản.

    Vậy có thể hiểu “Sàn giao dịch bất động s ản là nơi diễn ra các giao dịch bất động sản và cung cấp dịch vụ về bất động sản” Còn các tiêu chí hoạt động của sàn, qui chế của sàn, trách nhiệm và quyền hạn của sàn như thế nào thì theo qui định của nhà nước.

    Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản khi bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải thông qua sàn giao dịch bất động sản.

    Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản thực hiện giao dịch bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản để bảo đảm công khai, minh bạch và quyền lợi của các bên. (Điều 59 Luật KDBĐS).

    1.1 Tại sao cần sàn giao dịch BĐS.

    • Đáp ứng những nhu cầu ngày càng phức tạp trong các hoạt động giao dịch BĐS của thị trường.
    • Thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, khó tính của khách hàng, nhà đầu tư.
    • Khẳng định đẳng cấp, thương hiệu của chủ đẩu tư, đơn vị phân phối, tiếp thị dự án BĐS.
    • Minh bạch hoá thị trường BĐS.
    • Thống kê, báo cáo, tham mưu cho ban lãnh đạo doanh nghiệp các diễn biến của thị trường nhằm đưa ra các chiến lược và chính sách đầu tư phù hợp.
    • Sân chơi chung cho các lĩnh vực tài chính pháp lý, bảo hiểm tham gia thị trường BĐS.
      1  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nơi cung cấp Thông tin, tiếp thị, quảng bá các dự án, sản phẩm BĐS tập trung, hiệu quả.
    • Nơi cung cấp các dịch vụ để thuê chỗ giao dịch.

    1.2 Công cụ của sàn giao dịch BĐS.

    • Sàn giao dịch truyền thống
    • Hệ thống các giao diện bán hàng tại trụ sở, các văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện và văn phòng bán hàng tại dự án.
    • Các đối tượng tham gia giao dịch trực tiếp.
    • Sàn giao dịch điện tử.
    • Cung cấp thông tin sản phẩm, thị trường BĐS qua các phương tiện điện tử, internet, các thiết bị số tích hợp internet.
    • Sàn giao dịch này chỉ mang ý nghĩa trao đổi thông tin, mọi giao dịch cuối đều phải thông qua sàn giao dịch truyền thống.

    1.3 Cơ hội gì từ hoạt động sàn giao dịch BĐS.

    • Đối với đầu tư.
    • Cơ hội tiếp cận nguồn sản phẩm đầu tư đa dạng, phong phú
    • Cơ hội tiếp cận các chuyên viên tư vấn đông đảo, lành nghề, am hiểu thị trường, phục vụ chu đáo, tận tình chuyên nghiệp.
    • Cơ hội các dịch vụ đầu tư thuận lợi: Dịch vụ tài chính, dịch vụ pháp lý, thiết kế xây dựng.
    • Cơ hội mở rộng quan hệ đầu tư thông qua các hoạt động của sàn giao dịch.
    • Tạo ra bộ mặt chuyên nghiệp trước khách hàng, các nhà đầu tư.
    • Giới thiệu tư vấn sản phẩm tập trung phong phú cho khách hàng.
    • Sức mạnh tổng hợp từ các bộ phận hỗ trợ kinh doanh phục vụ cho các hoạt động giao dịch tại sàn giao dịch.
    • Đối với quảng cáo
    • Cơ hội tiếp cận nguồn thông tin khách hàng, nhà đầu tư đa dạng, phong phú, cập nhật.
      2  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xây dựng các chương trình bán hàng tập trung, hiệu quả.
    • Cộng hưởng các dự án tại sàn cho việc quảng cáo, tiếp thị các dự án mới.
    • Cơ hội triển khai các công cụ quảng cáo, tiếp thị hiện đại tại sàn: Film, video, internet…

    2.                 Vai trò của sàn giao dịch bất động sản trong thị trường bất động sản

    • Tất cả các giao dịch bất động sản qua sàn sẽ giúp cho nhà nước quản lý được các giao dịch bất động sản từ đó nhà nước có những chính sách kịp thời và chính xác để điều tiết thị trường.
    • Nhà nước hạn chế tối đa thất thu thuế do việc chuyển nhượng, mua bán ngầm bên ngoài.
    • Giảm đáng kể số lượng bất động sản và tần suất bất động sản tham gia giao dịch từ đó giá cả sẽ bình ổn hơn. Vì khi một bất động sản được giao dịch nhiều lần sẽ đẩy giá lên rất cao, người có tiền đầu tư nhiều sản phẩm nay sẽ hạn chế rất nhiều do giá cả bình ổn, họ thấy không có lời và sẽ không đầu tư trục lợi.
    • Giảm đáng kể số lượng người tham gia đầu tư với mục đích kiếm lợi làm khan hiếm thị trường tạo cơn sốt. Cơn sốt bất động sản làm cho mọi người dân phải tìm mọi cách để đầu tư kiếm lợi và làm cho thị trường càng sốt hơn, giá cả ngất ngưỡng. Một khi giao dịch được qua sàn người đầu tư chịu một khoản thuế chênh lệch giữa giá bán và giá mua lên tới 25%, phải chi phí khoản hoa hồng, chi phí chuyển nhượng, lãi xuất vay vv… và từ đó họ cảm thấy không có hiệu quả so với số vốn bỏ ra chưa kể rủi ro nên sẽ hạn chế tham gia và giá cả sẽ bình ổn với giá trị thực của thị trường.
    • Một khi giao dịch được qua sàn giá cả được công khai, nhiều loại sản phẩm được giới thiệu, thông tin đầy đủ sẽ tránh được rủi ro và thiệt hại cho các bên giao dịch từ đó làm lành mạnh hoá thị trường bất động sản.
    • Về vĩ mô sàn giao dịch bất động sản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển hoạt động bất động sản nói riêng. Vì nếu giá cả thị trường cao hơn giá trị thật của thị trường dẫn tới mọi người, mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh bất động sản kiếm lời và sao lãng hoạt động kinh doanh của mình làm ảnh hưởng tới phát triển sản xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội. Giá bất động sản cao dẫn tới chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ cao và giá thành tăng cao dẫn đến lạm phát tăng.
      3  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Giá b ất động sản cao làm mất lợi thế cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài giảm do giá bất động sản cao.

    • Vai trò của sàn giao dịch bất động sản cũng góp phần phát triển hoạt động của thị trường bất động sản thông qua việc các hoạt động dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp hơn tạo được giá trị gia tăng cho chủ đầu tư như nghiên cứu thị trường, tư vấn lập dự án, thiết kế sản phẩm, dịch vụ tiếp thị, chăm sóc khách hàng và quản lý bất động sản. Tạo ra nhiều loại hình dịch vụ bất động sản đang bỏ ngỏ chưa đưa vào hoạt động như đấu giá, quảng cáo, dịch vụ pháp lý, ngân hàng, bảo hiểm vv…Tất cả dịch vụ này sẽ đẩy mạnh hoạt động bất động sản tạo giá trị thặng dư cho xã hội và lợi ích cho chủ đầu tư và người đầu tư.

    Như vậy sàn giao dịch bất động sản có những vai trò cơ bản sau:

    • Cầu nối giữa người mua và người bán.
    • Minh bạch thông tin, tạo cơ hội tiếp cận hàng hoá bất động sản như nhau cho mọi người, góp phần lành mạnh thị trường bất động sản.
    • Chuyên nghiệp hoá giao dịch, Tránh được rủi ro và thiệt hại cho các bên tham gia giao dịch.
    • Hoàn thiện cơ cấu của thị trưòng và hỗ trợ thị trường phát triển.
    • Đầu mối nghiên cứu thị trường.
    • Hỗ trợ quản lý và thu ngân sách.

    3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Sàn giao dịch bất động sản

    1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản (BĐS) được thành lập Sàn giao dịch (SGD) BĐS hoặc thuê SGD BĐS của tổ chức, cá nhân khác để thực hiện cho hoạt động kinh doanh BĐS.
    1. Sàn giao dịch BĐS phải là pháp nhân. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS thành lập SGD BĐS thì sàn giao dịch đó phải có tư cách
      4  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    pháp nhân hoặc sử dụng tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS để hoạt động.

    1. Hoạt động của SGD BĐS phải công khai, minh bạch, và tuân thủ pháp luật.
    1. Sàn giao dịch BĐS, doanh nghịêp, hợp tác xã kinh doanh BĐS thành lập sàn giao dịch BĐS phải chịu trách nhiệm về hoạt động của sàn giao dịch BĐS.
    1. Sàn giao dịch BĐS phải có tên, địa chỉ, biển hiệu và phải thông báo về việc thành lập trên phương tiện thông tin đại chúng; trước khi hoạt động phải thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương.

    4.Điều kiện thành lập sàn giao dịch BĐS

    Theo quy định tại Điều 57 của Luật Kinh doanh bất động sản thì để thành lập sàn giao dịch bất động sản, các tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện:

    4.1. Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Kinh doanh bất động sản;

    • Sàn giao dịch bất động sản phải là pháp nhân có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    • Có quy chế hoạt động của sàn giao dịch bất động sản;

    4.2. Phải cơ sở vật chất, kỹ thuật phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch BĐS và có mặt bằng theo qui định tối thiểu của nhà nước về diện tích mặt bằng của sàn giao dịch bất động sản.

    4.3. Người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS phải đáp ứng các điều kiện của người lãnh đạo doanh nghiệp, phải có giấy chứng nhận đã hoàn thành khoá đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản.

      5  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    4.4. Cơ cấu tổ chức của sàn giao dịch bất động sản gồm giám đốc, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch. Giám đốc sàn giao dịch bất động sản phải có giấy chứng nhận đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản của đơn vị đào tạo được nhà nước công nhận. Sàn giao dịch bất động sản phải có tối thiểu

    • (hai) nhân viên làm công việc môi giới bất động sản có chứng chỉ môi giới bất động sản. Nếu có dịch vụ định giá bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc định giá bất động sản có chứng chỉ định giá bất động sản do cơ quan có thẩm quyền cấp.

    4.5. Như vậy sàn giao dịch bất động sản đáp ứng các yêu cầu:

    1. Phải là pháp nhân (khác văn phòng môi giới), phải có tên, biển hiệu và phải có địa chỉ giao dịch ổn định tối thiểu trong thời hạn 01 năm.
    1. Có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản.
    1. Phải có diện tích sử dụng để giao dịch tối thiểu 50m2 phục vụ cho hoạt động môi giới, giao dịch và thêm 20 m2 cho mỗi hoạt động dịch vụ bổ sung, đồng thời đảm bảo có trang thiết bị phù hợp với nội dung hoạt động.
    1. Có Quy chế hoạt động với nội dung theo quy định (nêu tại phần
    1. Có nhân sự phù hợp ( 2 chuyên gia môi giới có chứng chỉ, Giám đốc sàn qua đào tạo quản lý sàn)
    1. Báo cáo Sở Xây dựng trước khi hoạt động. Sở XD báo cáo Bộ XD, đưa lên Website Mạng các sàn giao dịch BĐS Việt Nam.

    (không đòi hỏi vốn pháp định, không cấp phép).

    4.6. Hồ sơ báo cáo sở Xây dựng gồm:

    1. Công văn
    1. Đăng ký kinh doanh (có chức năng kinh doanh dịch vụ BĐS)
    1. Quy chế hoạt động.
      6  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Hồ sơ chúng minh cơ sở vật chất phù hợp (50m2 + 20 m2…)
    1. Giấy chứng nhận đã qua đào tạo của Giám đốc sàn và chứng chỉ của 2 chuyên gia môi giới.

    5.Qui chÕ hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

    Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    Theo quy định của Thông tư 13/2008/TT-BXD, Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    1. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ phận của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về chế độ quản lý tài chính của sàn giao dịch bất động sản;
    1. Quy định về quan hệ với khách hàng trong khi giao dịch;
    1. Quy định về thông tin bất động sản đưa vào giao dịch; chế độ quản lý, cung cấp thông tin về bất động sản, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản.

    6.Mô hình tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch bất động sản

    6.1. Sàn giao dịch bất động sản phải là pháp nhân có chức năng kinh doanh dịch vụ bất động sản. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thành lập sàn giao dịch bất động sản thỡ sàn giao dịch đó phải có tư cách pháp nhân riêng hoặc sử dụng tư cách phỏp nhõn của doanh nghiệp đó để hoạt động.

    6.2. Sàn giao dịch bất động sản ngoài việc thực hiện các dịch vụ về giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua và môi giới bất động sản còn được phép thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ sau:

    6.2.1. Định giá bất động sản;

    6.2.2. Tư vấn bất động sản;

    6.2.3. Quảng cáo bất động sản;

    6.2.4. Đấu giá bất động sản;

      7  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    6.2.5. Quản lý bất động sản.

    6.3. Cơ cấu tổ chức của sàn giao dịch bất động sản gồm giám đốc, các phó giám đốc và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với nội dung hoạt động của sàn giao dịch.

    6.4. Người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản phải đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định 153/2007/NĐ-CP.

    6.5. Sàn giao dịch bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc môi giới bất động sản có chứng chỉ môi giới bất động sản. Nếu có dịch vụ định giá bất động sản phải có tối thiểu 02 (hai) nhân viên làm công việc định giá bất động sản có chứng chỉ định giá bất động sản do cơ quan có thẩm quyền cấp.

    6.6. Sàn giao dịch bất động sản phải có diện tích sử dụng để giao dịch tối thiểu 50m2 phục vụ cho hoạt động môi giới, giao dịch và thêm 20 m2 cho mỗi hoạt động dịch vụ bổ sung, đồng thời đảm bảo có trang thiết bị phù hợp với nội dung hoạt động.

    6.7. Sàn giao dịch bất động sản phải có tên, biển hiệu và phải có địa chỉ giao dịch ổn định tối thiểu trong thời hạn 01 năm (12 tháng). Nếu có sự thay đổi về địa điểm giao dịch phải thông báo tới cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và khách hàng đang giao dịch biết. Trước khi tiến hành hoạt động, sàn giao dịch bất động sản phải gửi hồ sơ bao gồm đăng ký kinh doanh và quy chế hoạt động về Sở Xây dựng địa phương. Sở Xây dựng địa phương có trách nhiệm báo cáo Bộ Xây dựng để thống nhất quản lý và đưa lên website của Mạng các sàn giao dịch bất động sản Việt Nam.

    6.8. Sàn giao dịch bất động sản phải có Quy chế hoạt động, gồm những nội dung cơ bản sau:

    6.8.1. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.2. Quy định về tổ chức bộ máy và hoạt động của các bộ phận của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.3. Quy định về chế độ quản lý tài chính của sàn giao dịch bất động sản;

    6.8.4. Quy định về quan hệ với khách hàng trong khi giao dịch;

    6.8.5. Quy định về thông tin bất động sản đưa vào giao dịch; chế độ quản lý, cung cấp thông tin về bất động sản, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản.

    6.9. Bất động sản khi đưa ra giới thiệu, giao dịch tại sàn giao dịch bất động sản phải đảm bảo các điều kiện quy định tại Điều 6, Điều 7 Luật Kinh doanh bất động sản và phải kê khai đầy đủ nội dung thông tin về bất động sản theo quy định tại Thông tư 13/2008/TT-BXD.

      8  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    6.10. Các hoạt động dịch vụ của sàn giao dịch bất động sản phải được thực hiện thông qua hợp đồng.

    6.11. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch bất động sản thực hiện theo quy định tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản.

    6.12. Cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập phải có chứng chỉ môi giới bất động sản và phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh.

    7. Thông tin về bất động sản

    Nội dung thông tin về hàng hoá bất động sản phải đầy đủ theo các nội dung quy định tại Khoản 3 Điều 11 Luật kinh doanh bất động sản gồm:

    7.1. Loại Bất động sản

    Phải ghi rõ loại hàng hoá bất động sản cụ thể:

    7.1.1. Đối với nhà ở phải nêu rõ là nhà ở riêng lẻ hay căn hộ chung cư. Nếu là nhà ở riêng lẻ thì nêu rõ là biệt thự, nhà liền kề hay nhà vườn..;

    7.1.2. Đối với bất động sản dịch vụ phải nêu rõ là văn phòng, cửa hàng, siêu thị, chợ, khách sạn, nhà nghỉ hay nhà trọ..;

    7.1.3. Đối với bất động sản công nghiệp phải nêu rõ là hạ tầng khu công nghiệp hay nhà xưởng, nhà máy, kho, bãi..;

    7.1.4. Đối với quyền sử dụng đất phải nêu rõ là loại đất phi nông nghiệp (đất ở, đất KCN, đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh…), loại đất nông nghiệp hay các loại đất khác (nếu có).

    7.2. Vị trí bất động sản

    7.2.1. Đối với bất động sản tại khu vực đô thị đã xác định được địa chỉ cụ thể, phải nêu rõ số nhà, ngách, ngõ (hẻm), đường phố, quận (huyện), thành phố (tỉnh). Đối với nhà chung cư thì nêu cụ thể số phòng, tầng, dãy (lô) chung cư. Đối với khu vực nông thôn nêu rõ địa chỉ của bất động sản theo tên xóm, thôn, xã, huyện, tỉnh;

    7.2.2. Đối với bất động sản chưa xác định được địa chỉ cụ thể (chưa thành lập được đơn vị hành chính) thì nêu tên dự án, ký hiệu lô đất (đối với các lô đất xây dựng nhà ở riêng lẻ hoặc công trình xây dựng khác), ký hiệu từng căn hộ (đối với nhà chung cư).

      9  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    7.2.3. Sơ đồ vị trí: vẽ vị trí bất động sản, khoảng cánh đến các công trình lân cận và lối đi tới đờng chính. Nếu sử dụng ảnh vệ tinh thì đánh dấu vị trí bất động sản và chỉ dẫn lối đi ra đường chính.

    7.3. Thông tin về quy hoạch có liên quan đến bất động sản

    Tại vị trí bất động sản hay lân cận đã có quy hoạch đựơc duyệt ảnh hưởng đến bất động sản như mở đường, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội, dự án sản xuất kinh doanh…

    7.4. Quy mô, diện tích bất động sản

    7.4.1. Đối với nhà ở: ghi diện tích đất, diện tích xây dựng, số tầng, tổng diện tích sàn, diện tích sàn từng tầng, số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, diện tích ban công, lô gia. Riêng nhà chung c ghi số phòng, diện tích sử dụng từng phòng, diện tích sử dụng chung.

    7.4.2. Đối với bất động sản khác: ghi diện tích đất, số tầng, số phòng, tổng diện tích sàn, diện tích sàn từng tầng, diện tích sử dụng chung, công suất (nếu có).

    7.4.3. Đối với hạ tầng khu công nghiệp: ghi diện tích đất, mật độ xây dựng, diện tích sử dụng chung.

    7.4.4. Bản vẽ tổng mặt bằng, mặt bằng các tầng, mặt cắt công trình. Đối với bất động sản có nhiều hạng mục thì mỗi hạng mục phải có đủ mặt bằng, mặt cắt.

    7.4.5. Ảnh chụp toàn cảnh công trình tại thời điểm giới thiệu.

    7.5. Thông tin về đặc điểm, tính chất, công năng sử dụng, chất lượng của bất động sản

    7.5.1. Về đặc điểm, tính chất nêu rõ kết cấu công trình, móng, khung, tường, sàn, mái;

    7.5.2. Công năng sử dụng bất động sản thông tin theo thiết kế ban đầu;

    7.5.3. Chất lượng bất động sản nêu cụ thể năm xây dựng, cấp, hạng công

    trình;

    7.5.4. Ảnh chụp toàn cảnh công trình tại thời điểm giới thiệu (nếu có).

    7.5.5. Thời điểm xây dựng, các sửa chữa lớn đã thực hiện và tình trạng kỹ thuật hiện tại.

      10  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    7.6. Thực trạng các công trình hạ tầng, các dịch vụ về kỹ thuật và xã hội có liên quan đến bất động sản

    7.6.1. Hạ tầng kỹ thuật về điện, cấp nước, thoát nước, nơi xả rác, nơi để xe, đường giao thông…

    7.6.2. Hạ tầng xã hội ghi các hạ tầng xã hội thiết yếu gần nhất như nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, siêu thị, bến xe, công viên, rạp chiếu phim, nhà hát…

    7.7. Tình trạng pháp lý của bất động sản

    Bao gồm hồ sơ, giấy tờ về quyền sở hữu, quiyền sử dụng và các giấy tờ có liên quan khác đến việc tạo lập bất động sản, lịch sử sở hữu bất động sản..

    7.8. Các hạn chế về quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản

     

    Phần sở hữu chung, phần sở hữu riêng. Phần sử dụng chung, phần sử dụng riêng..

    7.9. Giá bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản Giá có thể ghi theo đơn giá hoặc tổng giá.

    Gía ghi theo loại tiền đồng hoặc vàng hoặc loại tiền khác. Nếu ghi bằng loại tiền khác thì phải mở ngoặc ghi thêm quy đổi ra tiền đồng.

    Có thể ghi thời gian có hiệu lực của giá.

    7.10. Quyền và lợi ích của người thứ ba có liên quan

    Về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền hưởng lợi ích, tình trạng đang cho thuê, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ…(nếu có).

    7.11. Các thông tin khác

    Thông tin khác về bất động sản do các bên thoả thuận hoặc do chuyên gia khảo sát thu thập thông tin thực tế ghi để thấy rõ lợi ích hoặc các hạn chế khác của bất động sản.

    8.Điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản

    8. 1. Điều kiện của người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản

    Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh BĐS thì người quản lý,

      11  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    điều hành sàn giao dịch bất động sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây :

    • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không đang trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án phạt tù;
    • Có giấy chứng nhận đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản;
    • Không bị cấm hành nghề theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    8.2 Quyền của người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS

    1. Quản lý, điều hành hoạt động của sàn giao dịch BĐS.
    1. Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin có liên quan đến BĐS theo quy định của pháp luật.
    1. Yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu về BĐS được đưa lên sàn giao dịch BĐS.
    1. Bảo đảm BĐS được đưa lên sàn giao dịch phải có đủ điều kiện để đưa vào kinh doanh.
    1. Cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin, tài liệu liên quan đến BĐS và chịu trách nhiệm về thông tin, tài liệu do mình cung cấp.
    1. Cung cấp các dịch vụ về BĐS tai sàn giao dịch BĐS.
    1. Bảo đảm cơ sỏ vật chất, kỹ thuật và điều kiện hoạt động của sàn giao dịch

    BĐS

    8.3 Nghĩa vụ của người quản lý điều hành sàn giao dịch BĐS

    1. Bảo đảm để sàn giao dịch BĐS hoạt động đúng nội dung đã đăng ký, thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật và chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện các nghĩa vụ về thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
    1. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. . Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    9.Quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS.

     

    9.1. Quyền của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS

     

    1. Tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS có quyền sau đây.
      12  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến BĐS.
    1. Yêu cầu cung cấp các dịch vụ về BĐS.
    1. Yêu cầu sàn giao dịch BĐS bồi thường thiệt hại do lỗi của sàn giao dịch BĐS gây ra.
    1. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    9.2. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS

    1. Tổ chức, cá nhân tham gia sàn giao dịch BĐS có các nghĩa vụ sau đây:
    1. Thực hiện quy chế hoạt động của sàn giao dịch BĐS
    1. Trả tiền dịch vụ cho sàn giao dịch BĐS.
    1. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    10. Hướng dẫn về giao dịch bất động sản qua sàn

    Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải thực hiện việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản thông qua sàn giao dịch bất động sản (trừ các dự án nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở) theo quy định sau:

    1. Bất động sản phải đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới được đem bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua;
    1. Chủ đầu tư có thể tự thành lập sàn giao dịch hoặc lựa chọn sàn giao dịch bất động sản do đơn vị khác thành lập để giới thiệu bất động sản và thực hiện các giao dịch bất động sản;
    1. Sàn giao dịch bất động sản phải công khai các thông tin (theo quy định tại Điểm 2 phần IV của Thông tư này) về bất động sản cần bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua tại sàn giao dịch để khách hàng biết và đăng ký giao dịch. Thời gian thực hiện công khai tối thiểu 07 (bảy) ngày tại Sàn giao dịch. Trong thời hạn nêu trên, thông tin về tên dự án, loại, số lượng bất động sản, địa điểm và thời gian tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải được đăng tải tối thiểu 03 (ba) số liờn tiếp trên một tờ báo phát hành tại địa phương, tối thiểu 01 (một) lần trên đài truyền hình địa phương nơi có dự án và trên trang web (nếu có) của Sàn giao dịch bất động sản. Chi phí đăng tải thông tin do chủ đầu tư (hoặc chủ sở hữu) chi trả;
    1. Khi hết thời hạn công khai theo quy định tại Điểm 3 Phần này, chủ đầu tư (hoặc sàn giao dịch bất động sản được uỷ quyền) được tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản đã công khai. Trường hợp cùng một loại bất động sản có từ 2 (hai) khách hàng đăng ký trở lên hoặc số khách hàng đăng ký
      13  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    nhiều hơn số lượng bất động sản thì chủ đầu tư (hoặc sàn giao dịch bất động sản được uỷ quyền) phải thực hiện việc lựa chọn khách hàng theo phương thức bốc thăm hoặc đấu giá. Việc đặt cọc trước khi triển khai bốc thăm hoặc đấu giá bất động sản do các bên thoả thuận theo quy định của pháp luật;

    1. Việc đấu giá bất động sản tại sàn giao dịch thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản;
    1. Sàn giao dịch bất động sản có trách nhiệm xác nhận bất động sản của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản được giao dịch qua sàn (theo mẫu tại phụ lục 4) để xác nhận bất động sản đã được giao dịch theo đúng quy định của pháp luật;
    1. Đối với bất động sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản mà giao dịch qua Sàn giao dịch bất động sản thì không bắt buộc phải công khai thông tin theo quy định tại Điểm 3 của Phần này.

    11.Quy định về công khai, minh bạch thông tin trên thị trường bất động

    sản

     

    • Các thông tin về thị trường bất động sản phải đợc công khai tại trụ sở và

    trên Website của sở Xây dựng. Riêng thông tin về quy hoạch tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải được công khai tại trụ sở và trên Website của Sở Quy hoạch – Kiến trúc; thông tin về các dự án kêu gọi đầu tư và tình hình triển khai các dự án về phát triển nhà ở, khu đô thị mới, các dự án phát triển hạ tầng đô thị, cụm công nghiệp, khu công nghiệp phải được công khai tại trụ sở và trên Website của sở Kế hoạch và Đầu tư.

    11.2. Các chủ đầu tư có dự án đựơc duyệt phải công khai quy hoạch chi tiết 1/500 của dự án và phương án tiêu thụ sản phẩm tại trụ sở cấp xã nơi có dự án.

    11.3. Nội dung thông tin trên thị trường bất động sản phải đảm bảo đầy đủ, rõ ràng theo quy định sau:

    1. Thông tin về quy hoạch phát triển đô thị phải bao gồm các nội dung: bản vẽ quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết 1/2000, 1/500 (nếu có) và các chỉ số quy hoạch cơ bản;
    2. Thông tin kêu gọi đầu tư các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải bao gồm các nội dung: quy mô dự án, bản vẽ quy hoạch (nếu có), các điều kiện, các yêu cầu, thời gian, nội dung đăng ký, nơi nhận hồ sơ;
    3. Thông tin tình hình triển khai các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải bao
      14  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    gồm các nội dung: quy mô dự án, bản vẽ quy hoạch, chủ đầu tư, tiến độ thực hiện, kết quả thực hiện thực tế cập nhật theo quý, thời điểm dự kiến tiêu thụ sản phẩm.

    1. Thông tin về chuyển nhượng, bán, cho thuê hàng hoá bất động sản của các tổ chức cá nhân kinh doanh bất động sản phải gồm các nội dung theo quy định tại Mục 4 Phần 5;
    1. Thông tin về các cơ sở đào tạo chuyên gia môi giới, định giá và quản lý sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh gồm: tên công ty hoặc trung tâm, địa chỉ, lĩnh vực đào tạo, địa chỉ đào tạo, ngày đăng ký hoạt động, danh sách giảng viên. Đồng thời phải có thông tin về các trung tâm bị đình chỉ hoạt động xem chi tiết tại (phụ lục 18)
    2. Thông tin về chuyên gia môi giới, định giá đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh gồm họ và tên, năm sinh, nơi đào tạo, số chứng chỉ, ngày cấp, nơi cấp, ngày đăng ký hoạt động. Đồng thời phải có thông tin về việc thu hồi chứng chỉ hoặc thôi hoạt động của các chuyên gia môi giới, định giá xem chi tiết tại (phụ lục 19 ).
    3. Thông tin về các trung tâm, các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn bao gồm tên trung tâm, địa chỉ, các hoạt động dịch vụ, tên giám đốc, số điện tại liên lạc, website (nếu có) xem chi tiết tại (phụ lục 20 )
    4. . Thông tin về tình hình giao dịch tại các trung tâm, các sàn giao dịch trên địa bàn gồm các nội dung: Số lượng giao dịch, tổng giá trị giao dịch, giá cả giao dịch.

    11.4. Thời gian đưa thông tin trên thị trường bất động sản phải từ bắt đầu cho đến khi sự việc kết thúc theo quy định sau:

    1. Thông tin về quy hoạch phát triển đô thị phải được công bố từ khi quy hoạch được phê duyệt đến khi quy hoạch đó đã được thực thi hoàn chỉnh trên thực tế;
    2. Thông tin kêu gọi đầu tư các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải từ khi các dự án đó được phê duyệt đến khi dự án đã lựa chọn được chủ đầu tư thực hiện dự án;
    1. Thông tin tình hình triển khai các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng đô thị phải từ khi các dự án đó được phê duyệt đến khi dự án được hoàn thành đưa vào sử dụng hoàn toàn;
    2. Thông tin về chuyển nhượng, bán, cho thuê hàng hoá bất động sản phải duy trì từ lúc giới thiệu đến khi tổ chức giao dịch xong;
      15  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Thông tin về các cơ sở đào tạo chuyên gia môi giới, định giá và quản lý sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh; về chuyên gia môi giới, định giá đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh; về các trung tâm, các sàn giao dịch bất động sản trên địa bàn tỉnh phải liên tục và cập nhật;
    1. Thông tin về tình hình giao dịch tại các trung tâm, các sàn giao dịch trên địa bàn phải cập nhật hàng tháng, hàng quý và hàng năm.

    12.Tổ chức các dịch vụ tại sàn giao dịch bất động sản

    Sàn giao dịch bất động sản được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ bất động sản như :

    • Giao dịch mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản.
    • Môi giới bất động sản.
    • Định giá bất động sản.
    • Tư vấn bất động sản.
    • Quảng cáo bất động sản.
    • Đấu giá bất động sản.
    • Quản lý bất động sản.
    1. Tư vấn bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 63 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này.
    • Nội dung kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản bao gồm :
    • Tư vấn pháp lý về bất động sản;
    • Tư vấn về đầu tư tạo lập, kinh doanh bất động sản;
    • Tư vấn về tài chính bất động sản;
    • Tư vấn về giá bất động sản;
      16  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Tư vấn về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS;
    • Tư vấn về các nội dung khác liên quan đến bất động sản.
    • Nội dung, phạm vi tư vấn, quyền và nghĩa vụ của các bên, giá dịch vụ tư vấn bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tư vấn bất động sản phải chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn do mình cung cấp và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Đấu giá bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 64 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Đấu giá BĐS phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên;
    • Hình thức đấu giá bất động sản bao gồm :
    • Trực tiếp bằng lời nói
    • Bỏ phiếu
    • Hình thức khác do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản phải công bố công khai, đầy đủ, chính xác thông tin về bất động sản trong bản niêm yết đấu giá do tổ chức, cá nhân bán, chuyển nhượng bất động sản cung cấp.
    • Hình thức, nội dung đấu giá bất động sản, quyền và nghĩa vụ của các bên, giá dịch vụ đấu giá bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    1. Quảng cáo bất động sản
      17  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Theo quy định tại Điều 65 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ quảng cáo bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Quảng cáo BĐS được thực hiện thông qua sàn giao dịch BĐS, trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc các phương tiện khác;
    • Hình thức, nội dung quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của các bên và giá dịch vụ quảng cáo bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng;
    • Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo bất động sản chịu trách nhiệm thực hiện cam kết trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
    • Việc quảng cáo bất động sản phải theo quy định của Luật này và pháp luật về quảng cáo.
    1. Quản lý bất động sản
    • Theo quy định tại Điều 66 Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản phải có các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này;
    • Nội dung kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản bao gồm :
    • Bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản;
    • Cung cấp các dịch vụ bảo đảm duy trì hoạt động bình thường của bất động

    sản;

    • Thực hiện bảo trì, sửa chữa bất động sản;
    • Quản lý, giám sát việc khai thác, sử dụng bất động sản của khách hàng theo đúng công năng, thiết kế và hợp đồng;
    • Thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với khách hàng, với Nhà nước theo uỷ quyền của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản.
      18  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nội dung, phạm vi quản lý bất động sản, quyền và nghĩa vụ của các bên và giá dịch vụ quản lý bất động sản do các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Tổ chức, nhiệm quản lý bất gây ra.

    cá nhân kinh doanh dịch vụ quản lý bất động sản chịu trách động sản theo hợp đồng và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình

      19  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    CHUYÊN ĐỀ 2

    QUY TRÌNH VÀ KỸ NĂNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN

    1. Thu thập thông tin về cung cầu bất động sản

    1/Nguồn cung bất động sản

    • Các dạng cung:

    +Bán.

    • Cho thuê, cho thuê lại.
    • Đầu tư liên doanh liên kết.
    • Khai hoang, khai phá: bán đất chưa sử dụng thành sử dụng được
    • Thông tin nguồn cung
    • Văn phòng môi giới
    • Từ khách hàng.
    • Từ các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Các công ty đầu tư kinh doanh xây dựng, các dự án.
    • Các cơ quan đấu giá đất và bất động sản, nguồn hàng pháy mãi.
    • Các cơ quan quản lý: địa chính, tnmt. sở kiến trúc, sở quy hoạch.
    • Từ thực tế : những nhà bỏ trống, khu đất trống, những bất động sản mới phát triển, từ dân cư địa phương.

    +MLS: hệ thống niêm yết đa chiều.

    2Thông tin về bất động sản

    • Kinh tế kỹ thuật:
    • Vị trí: môi trường xung quanh.
    • Loại, kích thước, hình thể, không gian, hướng.
    • Trang thiết bị: cơ sở vật chất kỹ thuật
    • Tình trạng kỹ thuật: xem tổng thể nhue thế nào, chi tiết, chất liệu, thời gian sử dụng, kiến trúc, bảo dưỡng…
    • Hạ tầng kỹ thuật : đường, điện, nước,
      20  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giá cả toàn bộ và từng phần của bất động sản.
    • Pháp lý:
    • Giấy tờ xác nhận quyền năng đối với bất động sản: sổ đỏ, sổ hồng. quyết định giao đất, giấy phép xây dựng, phân chia tài sản,,,
    • Quy hoạch: sử dụng đất, không gian, các công trình liên quan khác.
    • Các giấy tờ liên quan đến tranh chấp: uỷ ban nhân dân.
    • Quyền năng và sự hạn chế về quyền năng: ví dụ: hạn chế độ cao…
    • Xã hội, lịch sử:
    • Thời gian sử dụng, người sử dụng, xây dựng và quá trình phát triển cảu bất động sản.
    • Môi trường xã hội, dân cư: có bị ô nhiễm không…
    • Phong thuỷ và các yếu tố đặc biệt khác: ví dụ trước đây có tai biến gì không….
    • Nguồn thông tin và phương pháp thu thập:
    • Tìm hiểu từ chủ sở hữu: giấy tờ pháp lý liên quan đến bất động sản, các loại hoá đơn.
    • Cơ quan quản lý nhà nước: phòng quản lý nhà đất, sở quy hoạch, nhà đất. Ví dụ : Sở quy hoạch: xem quy hoạch hiện tại và xu hướng trong tương lai.
    • Tổ dân phố và hàng xóm.
    • Tự điều tra và thăm dò.
    • Cơ sở dữ liệu cá nhân và kinh nghiệm kiến thức.
    • Bản đồ: ví dụ bản đồ quy hoạch đất đai, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, bản đồ điện tử.
    • Các đề tài nghiên cứu, hội thảo…. ví dụ: ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường đời sống dân cư.
    • Trao đổi kinh nghiệm: giữa các nhà môi giới -> rất quan trọng.

    3 Thông tin về cầu bất động sản

    3.1 Phân loại đối tượng cầu bất động sản

    – Người mua:

      21  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Để tiêu dùng: nhà ở, sản xuất nhà xưởng, kinh doanh dịch vụ.
    • Để đầu tư: những người kinh doanh bất động sản, đầu cơ tiền nhàn rỗi/
    • Để bảo toàn vốn.
    • Phân loại cầu bất động sản để biết mục tiêu của khách hàng -> đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.
    • Người thuê:
    • Văn phòng, chi nhánh, phòng giao dịch.
    • Để kinh doanh dịch vụ.
    • Để sản xuất kinh doanh thuê mặt bằng.
    • Nhà ở: đối với sinh viên, người ngoại tỉnh, người nước ngoài, nhà công

    vụ.

    • Tín dụng, thế chấp và bảo hiểm: cầu gián tiếp

    3.2 Phương pháp thu thập thông tin về cầu bất động sản

    • Chủ động:
    • Tìm kiếm qua các phương tiện thông tin đại chúng.
    • Gửi thư trực tiếp tới khách hàng: chủ yếu là khách hàng tiền năng (người thuê), khách hàng của các văn phòng môi giới khác, khách sạn, văn phòng, công sở, thương mại điện tử, sân bay, du lịch, cá nhân hoặc nhóm khách hàng mục tiêu.
    • Tiếp cận tận nơi: đón hoặc gọi điện
    • Khách hàng cũ: hồ sơ cũ, giới thiệu khách hàng, đón trước nhu cầu.
    • Thụ động:
    • Đón tại văn phòng.
    • Phụ thuộc quảng cáo
    • Thời gian đầu: chủ động, sau – thụ động.
    • Xác định đối tượng và các bên tham gia trong thương vụ môi giới

    a.Người cung:

    + Lí do nguyện vọng của họ ; nhanh hay chậm

      22  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nắm được thông tin về bất động sản như thế nào.
    • Các điều kiện kèm theo.
    • Khung gi¸ có phù hợp, các điều kiện về kinh tế ( thuế hoặc phí).
    • Năng lực bán của khách hàng: có đủ điều kiện pháp lý.
    • Người cho thuê:
    • Đầu tư.
    • Sinh lợi: để thu nhập hàng tháng không quan tâm giá bất động sản.
    • Trông coi: để bảo vệ.
    • Lí do: ví dụ: cho thuê để người đi thuê đàu tư trang thiết bị cho bất động

    sản.

    • Người bán:
    • Tự nguyện.
    • Bị ép buộc.

    b. Người cầu:

    • Người mua:
    • Quan tâm đến đặc tính của bất động sản.
    • Gía cả bất động sản: xác định khả năng tài chính.
    • Mục tiêu của người mua.
    • Các ràng buộc khác: ví dụ đối với người nước ngoài: vấn đề mua nhà…
    • Người thuê:
    • Cụ thể chính xác ngay ban đầu.
    • Rất nhanh gọn.
    • Chú ý tính ổn định bất động sản.
    • Chủ sở hữu quan tâm đến người thuê: quan tâm thu nhập người thuê, hoàn cảnh người thuê, độ ổn định…

    Xác định các bên tham gia thương vụ:

    • Phân loại khách hàng
    • Hiểu mục tiêu của việc mua bán phải rõ ràng.
    • Tìm hiểu độ tuổi của khách hàng: vì ảnh hưởng đến tâm sinh lý
      23  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Ví dụ: già – đắn đo; trung tuổi – táo bạo;

    • Nghề nghiệp.
    • Thu nhập: sở thích của họ, tiềm năng.
    • Xác định các bên tham gia:
    • Thông tin cá nhân, tổ chức đó.
    • Mục tiêu tham gia thương vụ.
    • Các kỳ vọng: mua để ở, để chờ tăng giá, gần trường…
    • Mức độ sãn sàng.
    • Điều kiện pháp lý.

    III. Lập hồ sơ thương vụ môi giới

    • Thông tin cá nhân.
    • Giấy tờ liên quan đến bất động sản.
    • Giấy tờ khác liên quan đến thương vụ như thoả thuận cọc, đăng ký bán, thuê, cho thuê, thuê mua vv…
    • Hợp đồng dịch vụ môi giới.
    • Những ghi chép về khách hàng: đưa ra nhận xét về khách hàng -> phục vụ tôt hơn.

    Chú ý: Không nhận bản gốc giấy tờ của khách hàng, chỉ dùng để photo. Trong suốt quá trình diễn ra thương vụ phải tiếp tục thu thập giấy tờ liên quan.

    • Dạng hồ sơ: văn bản, file văn bản
    1. Thời hạn và những bước thực hiện thương vụ môi giới

    Bước 1: Tìm thông tin chung

    • Thông tin mua, bán, cho thuê -> thông tinnguồn cung, cầu.
    • Phải xem xét bất động sản bán một cách tỉ mỷ, cẩn thận và đầy đủ.
    • Điếu tra phân tích môi trường, hạ tầng xung quanh, tình trạng kỹ thuật của bất động sản.
    • Tình trạng pháp lý của bất động sản.
      24  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Chia sẻ cung cấp cho chủ sở hữu những thông tin về giấy tờ cần thiết cho việc bán.
    • Tìm khách hàng mua.

    Bước 2: Xử lý thông tin

    • Xác định được giá của chủ sở hữu muốn bán: phải tư vấn cho khách hàng xem giá có hợp lý không. Phải biết khu vực đó giá bất động sản bao nhiêu, loại bất động sản đó giá bao nhiêu.
    • Phải tập trung ghi chép miêu tả bất động sản, chú ý đến đặc tính của bất động sản đó: bất động sản nằm trong khu vực đó, có bất động sản nổi trội hơn làm giảm giá bất động sản đó.
    • Soạn thảo thông tin để quảng cáo.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng cho bất động sản đó.
    • Phải thiết lập cơ sở dữ liệu riêng về khách hàng mua, bán
    • Tìm hiểu phân tích cụ thể, chính xác nhu cầu của khách hàng mua cũng như điều kiện liên quan đến thương vụ.
    • Tận dụng những thông tin phản hồi của người mua: động cơ họ mua hàng…
    • Chia sẻ và cung cấp cho các bên tham gia những thông tin cần thiết về khía cạnh pháp lý: thuế , phí…

    Bước 3: Giao dịch với khách hàng

    • Thoả thuận với chủ sở hữu những điều khoản về dịch vụ môi giới -> ký kết hợp đồng.
    • Lên kế hoạch hành động.
    • Giới thiệu cho khách hàng mua nbất động sản phù hợp với họ.
    • Giúp đỡ tạo điều kiện cho các bên trong quá trình đàm phán.
    • Dẫn dắt các bên ký kết hợp đồng khởi điểm.
    • Hỗ trợ các bên trong việc hoàn chỉnh hồ sơ và chuẩn bị ký kết hợp đồng chính thức.
    • Tham gia thực hiện các hoạt động thoả thuận trong hợp đồng khởi điểm.
    • Thực hiện các công việc liên quan đến thương vụ.
      25  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Tham gia vào quá trình thanh toán tổ chức các lần chi trả giao tiền.
    • Phải hỗ trợ cho các vấn đề liên quan: ví dụ

    Bước 4: Kết thúc thương vụ:

    • Giao nhận bất động sản: vì có thể có sự sai lệch lúc giao nhận
    • Kết thúc thương vụ và nhận tiền hoa hồng: ví dụ: ở nước ngoài khi đến một bước nào đấy của thương vụ, nhận 80 % hoa hồng. Kết thúc thì nhận phần còn lại.
    • Giải quyết các vấn đề sau thương vụ: Chuyển tiền sổ đỏ, ….. gửi thư cảm ơn đến khách hàng và đưa hồ sơ của họ vào hồ sơ khách hàng.
    • Họ tên, thường trú, hộ khẩu, cmt, ngày cấp, nơi cấp, tỉnh, tình trạng hôn nhân.
    • Địa điểm nơi thực hiện hợp đồng.
    • Gía bất động sản, lượng tiền đặt cọc, thông thường 10 % giá trị hợp đồng.
    • Miêu tả bất động sản.
    • Các quyền bất động sản: ví dụ: đất giãn dân, thổ cư, thừa kế.
    • Các trang thiết bị trong bất động sản mà chủ nhà để lại.
    • Những thoả thuận điều khoản chuẩn bị trong hopự đồng chính thức.
    • Xác định thời gian ký hợp đồng chính thức.
    • Ghi rõ giấy tờ nào còn đang thiếu cần bổ sung.
    • Ghi rõ bên nào trả loại tiền gì.
    • Phải cân nhắc về các mốc thời gian: giao nhận tiền (thường 3 đợt: thời gian giao nhận bất động sản, thời gian cắt hộ khẩu, thời gian di chuyển đồ đạc.).
    • Hình thức giao nhận tiền: tiềm mặt, chuyển khoản.
    • Hợp đồng chính thức
    • Gồm các giấy tờ cần thiết để ký kết hợp đồng công chứng.
    • Báo phí trả cho công chứng: ai trả, hình thức trả.
      26  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Kỹ năng môi giới bất động sản

    a. Môi giới mua.

     

    • Tạo sự hứng thú cho người mua.

    +    Kỹ năng gợi mở dịch vụ: Khi chưa biết có dịch vụ -> phải gợi mở

    .    Chìa khóa để tạo hứng thú cho người mua là giành được niềm tin của họ.

    Khi đó mọi sự tranh cãi và phản kháng sẽ biến mất.

    . Cố thuyết phục họ đến xem bất động sản: nhiều người có tiền nhưng chưa biết đầu tư vào đâu, vì thế khi họ xem họ sẽ xuất hiện nhu cầu mua.

    . Hiểu động lực của người mua: khi đó ta sẽ làm cho họ hào hứng với việc mua của họ.

    . Phảo trả lời được câu hỏi mà người mua cho là quan trọng. Điều này đòi hỏi phải hiểu biết rộng.

    . Đưa ra những lời khuyên hướng dẫn thích hợp với từng người mua để họ nhanh chóng quyết định mua.

    . Cung cấp bất động sản có chọn lọc: đỡ mất thời gian của hai bên và tránh làm rối trí khách hàng.

    • Giúp họ mặc cả giá ( trả giá bất động sản) với người bán.
    • Thích hợp nhất là tại văn phòng bất động sản: ngày nay thường họ uỷ quyền cho người Môi giới Có thể trả gía qua văn bản, qua thư…
    • Trả giá bằng văn bản cho người bán: người bán có thời gian suy nghĩ kỹ càng, khuyên người mua lên mang văn bản trả gía đó cho luật sư đề luật sư xem xét. Vì Môi giới không thể sâu rộng bằng luật sư. Luật sư có lời khuyên hữu ích.
    • Gía cả giao dịch vào khoảng 90 đến 93 % giá cả ban đầu (qua thống kê).
    • Trong tâm lý của người mua, người bán thường lấy mức trung bình của hai bên.
    • Dịch vụ hậu mãi,
    • Giúp khách hàng các thủ tục như điện thoại, nước, hộ khẩu…
      27  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp đỡ kỹ thuật: người mua thường thích thay đổi theo ý mình như thay

    đổi đồ đạc, nội thất

    • Giúp phát triển ý tưởng, tư vấn sử dụng; ví dụ nhà chật nên xin cấp phép mở rộng hay nên có thêm gác xép….
    • Quan tâm và tham hỏi đến khách hàng. Môi giới bán bất động sản.

    Bất động sản Nhà ở

    • Trước khi bán
    • Làm cho bất động sản tươi mới, ấm áp, gọi mời.
    • Tạo hình ảnh dễ nhận thấy, dễ nhớ.
    • Gửi trẻ nhỏ đi nơi khác.
    • Chuẩn bị giấy tờ pháp lý.
    • Cân nhắc những vấn đề sau:
    • Gía cả:
    • Thời gian: dự tính bán cho khách hàng.
    • Tình trạng kỹ thuật;
    • Sửa chữa: nhỏ hay lớn. khuyến cáo chủ sở hữu nên sửa chữa lớn hay nhỏ.
    • Đầu tư: nên đầu tư thêm cài gỉ?
    • Xem xét khu vực: khu vực tác động đến thay đổi bất động sản

    Dù đầu tư; thì giá bán tăng cao nhất từ 10 đêns 12 % giá ban đầu.

    • Chủ nhà tự sửa sang hay thuê thợ.
    • Những tính toán về kinh tế cho chủ sở hữu.
    • Giới thiệu căn nhà:
    • Nguyên tắc giới thiệu:

    . Nhấn mạnh mọi ưu điểm cña bÊt ®éng s¶n

    . Sắp xếp một chuyến du lịch nhỏ đi thăm că nhà như thế nào cho tiết kiệm thời gian.

    . Hãy để thời gian cho họ xem xét căn nhà.

      28  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    . Hãy hỏi họ về cảm giác nếu chưa vừa lòng thì taị sao? Không nên đưa quá nhiều câu hỏi.

    .    Không mặc cả ngôi nhà.

    .  Tỏ ra ngoan đạo thân thiện, đừng cố chấp hiếu thắng.

    .  Trả lời câu hỏi một cách chắc chắn để thấy am hiểu.

    .  Tỏ ra tôn trọng khách hàng.

    . Gợi mở ưu điểm của khuyết điêm khi khách hàng phát hiện ra nó.

    . Kiến thức: của khách hàng và kiễn thức của môi giới khác nhau -> giúp có hình ảnh đẹp trong mắt người mua.

    • Chỉ xem nhà sau khi đã hẹn rõ ràng. Để không bị động hi căn nhà chưa được chuẩn bị chu đáo.
    • Cất vật đắt tiền, vật nhọn vì nảy sinh phạm tội hay đề phòng tai nạn những

    vật sắt,      điện …

    • Phải có sự kiểm tra theo dõi họ một cách tế nhị nhưng đừng nôn nóng dục khách hàng mua.
    • Chỉ để một cửa ra vào để kiểm soát hành vi của khách hàng.
    • Phải cảnh gi¸c víi dụ: hỏi vấn đề bảo mật, lịch làm việc của chủ sở hữu -> không nên cho kh¸ch hàng biết nhiều hệ thống bảo mật, camera, b¸o động của

    căn nhà.

    • Mời kh¸ch hàng đến xem một lần nữ
    • Những đặc điểm cần chó ý khi tư vấn cho người bán.
    • Quan trọng nhất là sự gän ghÏ bỏ đi những thứ kh«ng cần thiết
    • Ấn tượng đầu tiªn rất quan trọng nhất là đối với nhà ở: nhiều người xem bên ngoài rồi mới vào bªn trong.
    • Sạch sẽ chỉnh trang
    • Nới rộng căn nhà: 2 yếu tố làm thước đo: thay đổi và diện tích sử dụng cho một căn nhà tăng diện tích bằng cách bỏ bớt đồ đạc, và dùng ánh sáng..
    • Sắp xếp đồ đạc lại
    • Bếp: gọn gàng, sach sẽ ,không có mùi…
      29  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nhà tắm, toa lét…..

    Bán nhà chung cư

    • Động cơ:

     

    • Cần tiền mặt, lợi nhuận, tình hình sức khoẻ, quan hệ đối tác, nhà quản lý, người chủ sở hữu di cư, chuyển đổi sang bất động sản khác, tuổi gìa, ly dị, do chết,
    • Quy trình phân tích
    • Phân tích đặc điểm của bất động sản: Vùng, tầng, …
    • Đánh giá mức giá có thể của căn hộ chung cư đó, chất lượng môi trường xung quanh, chất lượng của bất động sản có thể qua người thuê, người ở chung cư đó, -> khảo sát 3 đến 5 toà nhà xung quanh.
    • Xác định số lượng bất động sản trong tà nhà trong khu vực .
    • Xác định tuổi của bất động sản.
    • Xem xét bãi đỗ xe.
    • Kết cấu xây dựng: Nhà khung xây bằng vữa gạch hay bê tông.
    • Đặc điểm tiện nghi của căn hộ chung cư.
    • Chi phí để duy trì hoạt động của toà nhà.
    • Xác định thu nhập có thể của căn hộ

    Có thể đánh giá bằng hai cách:

    + Chấm điểm: Từ 1 đến 10

    +Theo 3 mức: Tốt, Trung bình, kém

    Bán bất động sản thương mại và công nghiệp

    • Đánh giá người mua: Xem xét tài chính, xem xét mục đích mua, tâm lý, xem xét yếu tố pháp lý:

    .Bất động sản đầu tư lớn

    • Sẽ tốn nhiều thời gian với các luật sư, kế toán, người quản lý bất động sản,…để giải quyết các sự kiện và con số

     

    • Người mua thường làm việc với các tư vấn chuyên nghiệp….
      30  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Phải xác định có những bất động sản, xảy ra tình trạng chuyên gia làm việc với chuyên gia.

     

    • Người mua thường là các tổ chức lớn, cá nhân giàu có -> tiếp cận người mua

     

    • các kênh khác.
    • Phải chuẩn bị một lượng tiền đáng kể vì chi phí bán cao.

     

    • Khi bán Bất động sản đầu tư lớn phải chú ý đến điều kiện kinh tế tổng hợp của địa phương, xác định thời điểm tối ưu để bán bất động sản. Vì có những Bất động sản chỉ nên bán theo mùa.

     

    Bất động sản chỉ dùng cho mục đích công nghiệp và thương mại

     

    • Phải tiến hành thanh tra Bất động sản.
    • Phải hoàn thành các mảng thông tin về Bất động sản, phải tiến hành chụp ảnh ở nhiều góc độ khác nhau.
    • Phải quảng cáo trên các tạp chí, vùng địa phương.
    • Thời gian, may mắn và lỗ lực makerting đúng hướng trong một giai đoạn dài sẽ mang nhiều thành công.

    Khu đất sử dụng cho mục đích thương mại và công nghiệp mà chưa có công trình

    • Cần khẳng định ngay những Bất động sản này chắc chắn sẽ bán.
    • Phải chú ý đến hạ tầng xung quanh.
    • Có thể yêu cầu chủ sở hữu cùng chịu chi phí trong việc bán với nhà mua

    giới.

    • Phải chú ý vẽ sơ đồ mảnh đất chụp ảnh không gian, địa hình, chi phí và thời gian lắp đặt tiện nghi.
    • Phải xem xét sử dụng trong quá khứ -> Để xác địng xem khả năng chất thải ra môi trường như thế nào?
    • Đặt ngay trên quảng cáo ở từng khu đất ngoài những cách quảng cáo khác.
    • Phải hướng đến nhóm đối tượng khách hàng có kinh phí quảng cáo trong thời gian dài.
      31  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định khách hàng là ai -> Quảng cáo trên tạp chí, truyền hình quốc gia chứ không chỉ trong tầm địa phương -> Chi phí cao, khả năng thu hút khách hàng lớn.

    Môi giới cho nhà đầu tư.

    • Hấp dẫn hơn Môi giới cho người sử dụng vì họ thoáng hơn và vòng quay nhanh: ngoài hoa hồng người Môi giới còn được % của lợi nhuận của nhà đầu tư vì Môi giới là người tư vấn cho họ sử dụng tiền mang lại lợi nhuận cho họ.
    • Nhưng đề Môi giới cho nhà đầu tư phải có mạng lưới khách hàng rộng, có độ tin cậy.

    Yêu cầu: Phải là người có kinh nghiệm lâu năm, có kiến thức sâu rộng và có uy tín.

    Có nhiều lợi ích khác nhau không thể hiện bằng tiền; giới thiệu khách hàng

    • Các dạng nhà đầu tư:
    • Để sử dụng: tránh lạm phát
    • Đầu tư ngắn hạn: thu nhập từ việc bán.
    • Đầu tư dài hạn: Tính mục tiêu đầu tư là có thu nhập thường xuyên làm vốn sống
    • Người cho vay để đầu tư bất động sản:
    • Môi giới cần :

     

    • Nhìn nhận khả năng tài chính của nhà đầu tư.
    • Dung hoà được mục đích của khách hàng với lợi thế của bất động sản.
    • Phải chuẩn bị rất kỹ để chuẩn bị giới thiệu cho khách hàng.
    • Phải chú trọng đến việc phân tích tài chính hơn là phân tích vật lý (khác người sử dụng).
    • Thu nhập ở các góc độ:
    • Thu nhập ròng trước khấu hao.
    • Thu nhập ròng sau khấu hao.
    • Thu nhập ròng trước thuế thu nhập.
    • Thu nhập ròng sau thuế thu nhập.
      32  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thu nhật ròng trước, sau lãi vay.
    • Thu nhập vốn tăng thêm.
    • Tiền: VĐT tự có, vốn đầu tư ban đầu, khoản vay thế chấp, vốn tăng thêm, giá cả thị trường của bất động sản.

    Vậy với tỷ suất lợi nhuận = TN/Vốn có thể nói lên nhiều vấn đề khác nhau

    trong góc độ thu nhập và vốn khác nhau.

    *) Tính quay vòng

    • Nhà Môi giới giup nhà tăng lên (kinh nghiệm kiến

    đầu tư trong tất cả các khâu này => Hiệu quả đầu tư thức và thông tin).

    1. Kỹ năng soạn thảo hợp đồng.
    2. Mục đích dịch vụ môi giới

     

    • Là hợp đồng giữa nhà môi giới với khách hàng nhằm cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong hợp đồng nêu rõ: quyền lợi của nhà môi giới với khách hàng.

    1.1 Kỹ năng và yêu cầu

    • Hợp đồng dịch vụ môi giới là bản quy định phạm vi, trách nhiệm của nhà môi giới và khách hàng. Là minh chứng cho vị trí thống nhất cảu hai hay nhiều bên trong đó có các quy định thống nhất giữa các bên.
    • Các dạng hợp đồng.
    • Tự soạn thảo.
    • Tình huống: mua- bán; thuê –cho thuê.
    • Độc quyền: việt nam không có: chỉ nhà môi giới ký hợp đồng khách hàng mới được bán bất động sản
    • Người bán ký hợp đồng độc quyền.
    • Ký với người có uy tín, năng lực,
    • Phải tin tưởng vào nhà môi giới.
    • Chỉ trả tiền môi giới cho nhà môi
    • Yêu cầu:
    • Xem bất động sản.

    quan hệ rộng.

    giới mà mình ký hợp đồng dịch vụ.

      33  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Ai là người ký trực tiếp hợp đồng môi giới đó.
    • Tuân thủ những điều khoản của hợp đồng.
    • Thiết lập dưới dạng văn bản.
    • Ghi số thẻ.
    • Tiêu chuẩn đạo đức: không được cài những khoản hợp đồng không được phép.
    • Bảo hiểm nghề nghiệp cho người môi giới.
    • Bảo đảm lợi ích của bản thân.
    • Thống nhất với khách hàng nguyên tắc làm việc.
    • Giúp khách hàng hiểu được các đièu khoản của bản hợp đồng.
    • Phạm vi hoạt động: không có giới hạn
    • Nhà môi giới có quyền lựa chọn ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân.
    • Điều khoản:
    • Xác định rõ các bên tham gia.
    • Xác định các điều khoản làm hợp đồng trên vô hiệu.
    • Bảo đảm lợi ích cho xã hội.
    • Xác định quan hệ của khách hàng voíư quyền bất động sản.
    • Ghi giá bất động sản vào hợp đồng, nếu có sự thay đổi giá phải sửa toàn

    bộ,

    • Soạn thảo nguyên tắc thu phí hoa hồng.
    • Thông báo cho khách hàng là có thể người môi giới cho bên thứ 2 (người mua).
    • Cam kết sử dụng thông tin cá nhân cảu khách hàng ở mực độ nào.

    Cân nhắc cẩn thận giai đọan mà nhà môi giới cho là quan trọng nhất . Soạn thảo hợp đồng sao cho tất cả các bên công nhận.

    Lưu ý: Cân nhắc cẩn thận các quy định mà môi giới cho là quan trọng.

    1.2 Hợp đồng giao dịch

    Hợp đồng giữa người mua – bán.

      34  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nguyên tắc cơ bản: Điều gì không có trong hợp đồng thì nó không tồn tại (để tránh tranh cãi).
    • Nhà môi giới phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản sau khi làm hợp đồng.
    • Xác định thời gian và giá cả.
    • Xác định người bán và người mua: đảm bảo 100% người bán là chủ sở hữu ( khẳng định quyền sở hữu của người bán từ khi nào).
    • Xác định bất động sản bán: xác định rõ người mua, họ mua cái gì?
    • Xác nhận của người bán: người bán phải xác nhận rõ bất động sản hoàn toàn sạch, không bị vướng vấn đề pháp lý, không có lỗi về vật lý, không bị vướng vào nợ nần…
    • Xác nhận của người mua: người mua có đủ khả năng tài chính.
    • Giấy tờ: phải tận mắt nhìn thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở….
    • Xác định các thời hạn: thời hạn ký hợp đồng chính thức, giao nhà, hộ khẩu..
    • Chi trả
    • Xác định tiền đặt cọc và tiền trả trước:
    • Đối với nhà hoặc căn hộ mới: phải có các điều khoản sau:
    • Xác nhận quyền sử dụng đất của chủ đất: chủ đất có được quyết định giao đất hay không (quyết định gíao đất của cơ quan nhà nước).
    • Bảo đảm không có khoản nợ nào: bản thân căn hộ không chịu khoản nợ

    nào : ví dụ: góp vốn, các khoản thuế, vay thế chấp.

    • Xác định vị trí toà nhà có căn hộ bán: địa chỉ hoặc trên bản đồ.
    • Vị trí căn hộ: gần cầu thàng, đầu hồi…

    +Gía bất động sản ghi chính xác: ( Hiện nay có 2 cách chi trả áp dụng: theo tiến độ xây dựng, theo trái phiếu bất động sản).

    • Xác định thời hạn kết thúc xây dựng: cần chính xác (Vì hiện nay hầu hết các công ty không đúng thời hạn cam kết.)
      35  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định điều khoản phạt tiền khi chậm tiến độ (%), do huỷ hợp đồng (thường 5% giá trị hợp đồng).
    • Xác định ngày chính thức sang tên hợp đồng cho người mua – hợp đồng kinh tế.

    Hợp đồng góp vốn đến hợp đồng kinh tế: tính chất pháp lý cao, ngân hàng chấp nhận thế chấp để cho vay dù nhà chưa xây xong. Vì khi có hợp đồng kinh tế thì chắc chắn vay được tiền.

    • Ví dụ: Công ty sẽ chuyển quyền sở hữu căn hộ sau 3 tháng ngay sau khi công ty nhận được giấy giao đất -> rất mập mờ -> phải xác định rõ cụ thể:

    d. Kỹ năng thu thập thông tin.

    1. Thu thập thông tin về bất động sản

     

    • Thông tin
    • Ngay từ khi có ý định.
    • Xếp theo danh mục: về đất, về dự án, chủng loại (biệt thự, nhà liền kề, thổ cư…).
    • Cuối mỗi ngày ghi lại thông tin thu thập được.
    • Điều tra thực địa hoặc các cuộc nghiên cứu: đến tận nơi -> mang lại khách hàng tiềm năng.
    • Phải mua thông tin, số liệu của các tổ chức khác (sự đầu tư): phải cân nhắc có nên mua hay không? Có mang lại hiệu quả không?
    • Tham gia hội thảo về bất động sản hoặc thị trường bất động sản.
    • Trực tiếp xem xét:
    • Ghi chép cảu bản thân bức tranh toàn cảnh cua thị trường bất động sản, đánh giá giá trị của bất động sản.
    • Xác định tính cách của chủ sở hữu.
    • Đưa ra những câu hỏi cụ thể về bất động sản, đồng thời xem giấy tờ liên

    quan.

    • Để không rơi vào thế bị động khi người mua hỏi đã xem bất động sản

    chưa?.

      36  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Yêu cầu:
    • Xây dựng phong cách tiếp cận và xử lý vấn đề riêng.
    • Nền tảng kiến thức về tâm lý, năng lực ứng xử và giao tiếp.
    • Nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin.
    • Khéo léo đối thoại hướng chủ đề cần tìm hiểu.
    • Chú ý trong khi nói chuyện với nhà môi giới.
    • Cách nhìn thẳng và sâu vào mắt người đối thoại. Vì đây là cánh nhìn nhận thông tin thật hay giả.
    • Chú ý:
    • Đôi khi phải nhờ sự giúp đỡ của luật sư, hoặc các nhà địa chất
    • Nhất thân nhì quen – quan trọng trong thu thập thông tin – Xây dựng mối quan hệ.
    • Tìm hiểu các thông tin mang tính tâm linh.: phong thuỷ -> tìm hiểu qua hàng xóm.
    1. Thu thập thông tin từ khách hàng. – Khách hàng cần.

     

    • Những thông tin cơ bản: họ và tên .., ngày… tháng…
    • Khả năng tài chính: khă năng thanh toán đến đâu? thanh toán như thế nào?,,…..
    • Thương vụ liên quan.
    • Gíơi hạn về thời gian.
    • Liên lạc, cách thức liên lạc.
    • Xem xét bất động sản.
    • Trong khi nói chuyện với khách hàng, có sổ khi ghi chép thông tin chú ý về khách hàng.
    • Phải cập nhật thông tin bất động sản bán chưa.
    • Thông tin phản hồi cần nhiều thời gian và chú ý thông tin phản hồi này để đáp ứng nhu cầu tốt hơn của khách hàng.
    • Kỹ năng lựa chọn khách hàng cầu.
      37  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Hỏi khách hàng nếu hôm nay tìm được khách hàng thích hợp : Ông đã sẵn sàng ký ngay hợp đồng chưa -> biết ý định của khách hàng, xác định mức giá max, giới hạn địa điểm.
    • Không bao giờ đưa ra cùng một lúc trên 6 bất động sản để khách hàng lựa chọn. Không bao giờ đưa ra cái tiếp theo khi chưa hiểu vì sao không chọn cái đó.
    • Đưa ra nhiều câu hỏi, dựa trên những câu hỏi trước đó để tiếp tục đưa ra các câu hỏi tiếp theo, phải xem xét thái độ của khách hàng -> ghi chép ý kiến của khách hàng.
    • Mọi người thường không biết mình muốn gì? hay không hiểu những cái họ muốn -> cho họ nắm tốt vùng địa phương và mức độ giá cả.
    • Người mua không hiểu rõ quá trình mua và các tình huống có thể xảy ra và quá trình khả năng của thương vụ -> người môi giới giúp họ hiểu được.
    • Người mua thường dựa và hình thức chứ không đánh giá tiềm năng -> môi giới tư vấn cho họ tiềm năng phát triển của bất động sản.
    • Người mua thường phản ứng khác nhau, đối lập nhau -> phải số hoá người

    mua.

    • Người mua có xu hướng đến thăm bất động sản không báo trước cho môi giới -> giải pháp
    • Người mua rất hay gặp khó khăn trong việc đọc các điều khoản của hợp đồng. Môi giới giúp khách hàng.

    +Chỉ giành cho khách hàng thời gian hợp lý.

    • Biết cách lọc khách hàng tránh mất thời gian.
    • Chuẩn bị tinh thần cho khách hàng.
    • Phải thuyết phục khách hàng lý do tại sao họ cần sự giúp đỡ nhà môi giới chuyên nghiệp.
    • Giúp đỡ khách hàng chuẩn bị về mặt tài chính, xác định mốc thời gian.
      38  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp đỡ khách hàng đưa ra các quyết định : nên mua bất động sản như thế nào ? sống ở vùng nào?
    • Giúp đỡ khách hàng phát triển ý tưởng về bất động sản: ví dụ gần chợ: mở cửa hàng.. dựa trên sự thích thú của khách hàng phát triển ý tưởng được uy tín.
    • Thời gian đầu rất dài nhưng sau sẽ ngắn.
    1. Kỹ năng quản lý và xử lý thông tin.

     

    • Dữ liệu thô -> phân tích -> dữ liệu được xử lý -> sự suy luận diến giải.-> thông tin.
    • Sử dụng triệt để lợi thế tuyệt đối về thông tin.
    • Thông tin là nền tảng của suy luận loại trừ.
    • Là kiến thức được nhận thức.
    • Phân loại thông tin:
    • Thông tin về bất động sản: dự án, theo vùng, dạng bất động sản, công năng, theo mức giá trị.
    • Thông tin về khách hàng: khách hàng quá khứ, hiện taị, tiềm năng.
    • MLS: hệ thống thông tin đa chiều.
    • Theo thị trường: trong nước và quốc tế.
    • Quản lý thông tin:
    • Nguyên tắc bảo mật: Không tiết lộ thông tin của khách hàng, không sư dụng thông tin đó để thu lợi cho bản thân hoặc cho bên thứ ba. Trừ trường hợp khách hàng đồng ý công khai thông tin.
    • Nhà môi giới phải sử dụng triệt để thông tin: đặt pass, lưu trữ thông tin, yêu cầu nhân viên cam kết không đẻ lộ thông tin ra ngoài…

    e. Kỹ năng giao dịch với khách hàng.

    1. Giao dịch trực tiếp: gặp mặt

     

    • Tầm quan trọng của việc giao dich trực tiếp: cảm nhận về con người sau 30 phút gặp mặt
    • Trong vòng 30 phút phải thể hiện ưu điểm lớn của bản thân: lời nói, thân thể, hành động…
      39  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Ngôn ngữ thân thể: tự tin, nhận biết các dạng người khác nhau. Môi giới phải giữ 70 % thời gian đối thoại, nhìn thẳng mặt bằng ngôn ngữ Gây thiện cảm…
    • Lời nói: ánh mắt, nội dung nói cần phải cân nhắc
    • Quy tắc nắm bắt thông tin tốt từ khách hàng.
    • Khảo tra: thông tin của môi giới và thông tin của khách hàng
    1. Kỹ năng thư thoại:

    Thường xuyên gửi email.

    • Muốn truyền đạt điều gì với xã hội.
    • Nhấn mạnh vấn đề cơ bản để tập trung sự chú ý của người nhận.
    • Sử dụng những câu ngắn gọn và đơn giản.
    • Viết những câu khả quan và lạc quan. “viết những câu tránh…”
    • Tránh dùng những từ ngữ đặc trưng mà chỉ ai chuyên môn mới hiểu.
    • Thể hiện thế chủ động chứ không bị động.
    • Ví dụ: Tôi sẽ cố gắng hết sức….. thay vì “Nếu tôi…”
    1. Nghệ thuật thu hút khách hàng.

     

    • Nguồn cung khách hàng:
    • Quan hệ:
    • Sự quen biết cá nhân mang đế 33% khách hàng.
    • Sự khác biệt của công ty mang đến 20% khách hàng.
    • Sự chợt nhớ đến: 12%
    • Vị trí của văn phòng: 5%
    • Phương tiện:
    • Biển quảng cáo: 15%
    • Sự tiện lợi, thuận lợi: 6%
    • quảng cáo trên internet & báo chí: 9%
    • Thuyết phục khách hàng cã nhu cÇu muèn b¸n
    • Việc bán rất mất thời gian ,nên sử dụng dịch vụ của v¨n phßng m«i giíi

    B§S

      40  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nếu tự bán thì sẽ gặp những khó khăn về tài chính. Vì họ không biết mặc cả, lập hợp đồng & lập các mốc thời gian thanh toán đúng thời hạn đầy đủ.
    • Gặp khó khăn về mặt pháp lý.
    • Không biết quy trình thực hiện của những kỹ năng như kỹ năng để thực hiện các bước đó như thế nào?
    • Thu hút khách hàng mua.
    • Làm chủ được quá trình và thấu hiểu khách hàng.
    • Phải tìm hiểu rõ ràng nhu cầu của họ là gì.

    . Nhu cầu về vật chất: cảm giác về sự thuận tiện, thoải mái an toàn, riêng tư, bảo vệ sức khoẻ.

    . Nhu cầu về xã hội: ngoài thuận tiện cho bản thân phải đảm bảo điều kiện sống cho gia đình, con cái…

    . Thoả mãn bản thân: nhu cầu được xã hội thừa nhận, khả năng năng lực.

    . Nhu cầu về tâm linh: được thể hiện rõ khi 3 nhu cầu trên được đáp ứng sẽ đến nhu cầu tâm linh và nhu cầu này khó xác định nhất. Cách tiếp cận khác:

    . Nhu cầu thực tế: không khí trong lành rộng rãi.

    . Nhu cầu đầy đủ và đa dạng: không cần biết như thế nào chỉ cần đầy đủ và đa dạng.

    . Nhu cầu phi thực tế:

    . Những thú vui nho nhỏ: thích được ở gần hồ…

    • Bất động sản đó đáp ứng được yêu cầu của họ ( Tạo khách hàng cảm giác họ mua đúng nguồn, đúng người ) Để họ đắn đo suy nghĩ.
    • Thuyết phục và giá cả phải chăng:
    • Tạo cảm giác thoải mái cho khách hàng.
    • Chuẩn bị cho khách hàng về mặt tinh thần: vì mua hay bán đều liên quan đến khoản tiền lớn đều gây cảm xúc khác nhau.
    • Giúp khách hàng chuẩn bị về mặt tài chính.
      41  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giúp xác định mốc thời gian.
    • Giúp đưa ra quyết định.
    • Giúp phát triển ý tưởng về nơi họ sống.
    • Giải quyết tốt vấn đề này sẽ mang lại uy tín cao..
    • Kết luận:
    • Ổn định mối quan hệ cá nhân là quan trọng nhất đối với nhà Môi giới, mang lại lợi ích rất lớn về sau.
    • Chìa khóa trong vấn đề thu hút khách hàng là sự đầu tư chuyên sâu phù hợp. Nhà Môi giới phải thuyết phục được khách hàng? Nên sử dụng dịch vụ của họ và họ mới là người phù hợp.
    • Khả năng gợi mở nhu cầu dịch vụ cho khách hàng -> giúp thu hút khách hàng.

    f.                   Xây dựng nhà Môi giới chuyên nghiệp

    1. Quản lý bản thân. a). Đặc tính công việc.

     

    • Không bị quản lý chặt về thời gian
    • Linh hoạt cao: xử lý nhanh.
    • Không có cấp trên.
    • Thời gian của nhà Môi giới giành cho việc trao đổi, nói chuyện với khách hàng tiềm năng.
    • Để chuẩn bị thời gian trao đổi với khách hàng, soạn thảo quảng cáo và hợp đồng.
    • Cho các hoạt động nghề nghiệp khác: ví dụ: thời gian đi đên điểm hẹn, thời gian để viết thư, tham gia các cuộc họp nghề nghiệp, chuẩn bị sắp xếp tào liệu.
    • Giành thời gian cho công việc những thể loại mà không liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp; đi thăm thú khu đất mới…
    • Thời gian để xem xét các khách hàng trong ngày.
    • Công việc văn phòng.
      42  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Đọc qua báo chí và những thông tin liên quan đến thị trường bất động sản.
    • Đọc internet và mail.
    • Liên lạc với Môi giới khác để trao đổi các mối khác.
    • Sắp xếp tài liệu quảng cáo khách hàng thuê, mua.
    • Kiểm tra danh sách các cuộc điện thoại cần gọi.
    • Xem xét hồ sơ tài liệu, công việc đang thực hiện.
    • Kiểm tra các công việc đang thực hiện.
    • Gọi điện đến khách hàng tiềm năng.
    • Kiểm tra tính thời sự của thông tin quảng cáo.

    b). Quản lý thời gian

    • Thực địa:
    • Kiểm tra tại hiện trường về nguồn quảng cáo.
    • Nhà Môi giới phải đi đến các cuộc hẹn.
    • Làm việc với cơ quan nhà nước, công chứng, lấy giấy chứng nhận.
    • Tham khảo thăm các văn phòng khác.
    • Thời gian rỗi:
    • Kiểm tra các dự án mới trong khu vực hoạt động của mình.
    • Tham quan các địa điểm mới của thị trường bất động sản.
    • Xem xét các văn bản pháp luật mới có liên quan đến thị trường bất động

    sản.

    • Gọi điện cho khách hàng để thông báo tiến trình thương vụ.
    • Chuẩn bị các công việc cho ngày hôm sau.
    • Tham quan những địa điểm tiềm năng chưa được khai thác của thị trường và cơ sở dữ liệu kinh doanh, tràn trí nội thất, côngty.
    • Thêm vào danh sách các công ty kinh doanh bất động sản mới.
    • Gửi lời chúc sức khoẻ và cảm ơn tới khách hàng và thương vụ đã hoàn thành.
    • Phương pháp thực hiện:
      43  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Xác định mục tiêu: là bước đầu tiên để quản lý thời gian một cách hiệu

    quả.

    • Nhà Môi giới phải có ý thức: kiểm soát từng phút trong ngày.
    • Lập thời gian biểu: là sức mạnh của nhà Môi giới phải có cách điều chỉnh thời gian biểu để hoạt động ngày hôm đó là nhanh nhất.
    • Phải liệt kê ra giấy: cần bao nhiêu thời gian cho việc cho việc tìm khách hàng mới?đi xem nhà?giải quyết hợp đồng ? đi công chứng?
    • Phải biết cách phân chia thời gian thích hợp: không phân chia theo kiểu phải tìm bằng được khách hàng mà instead “ ta có 4 tuần để tìm khách hàng”
    • Trả lời câu hỏi “người ta muốn gì?tại sao mua? Mua như thế nào? Đã có phương pháp làm việc tốt?.
    1. Chuyên nghiệp hoá công việc

     

    • Yêu cầu:
    • Để trở thành nhà Môi giới chuyên nghiệp đầu tiên phải có khả năng chịu đựng: sự ức chế, bức xúc… những việc này luôn luôn xảy ra khi tiếp xúc khách hàng phải biết chịu đựng, nhẫn nại. phải tìm được lối thoát khi xảy ra các tình trạng trên.
    • Phải biết cách đối xử, ứng xử với nhiều loại người khác nhau.
    • Phải rèn luyện tính kiên nhẫn, phải hoà đồng, đọc chính xác những tín hiệu của khách hàng, phải học cách chai lỳ trước những cái dễ làm tổn thương, phải học cách nhanh chóng đứng lên sau thất bại.

    +Phải có kỹ năng tạo bầu không khí thân thiện.

    • Liên tục rèn luyện thực hành tinh thần, khả năng nắm bắt tâm lý và rèn luyện thân thể.
    • Nguyên tắc: để cho các bên dễ đi đến thoả thuận.
    • Xác định thiện cảm ngay lần gặp đầu tiên.
    • Cố gắng thực hiện những lời đã hứa với khách hàng, thậm chí thực hiện nhiều hơn những lời đã hứa một cách tỉ mỉ và cẩn thận. Đồng thời thông báo thường xuyên tiến trình sự việc với khách hàng.
      44  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giải quyết các người Môi giới của fairplay”.

    công việc giữa các bên mua và bán theo hướng bạn là hai bên, cần xử công bằng với hai bên theo nguyên tắc “

    • Hình ảnh lý tưởng của nhà Môi giới chyên nghiệp.
    • Đi sâu vào nghiệp vụ chuyên môn: bắt buộc sự dấn thân của mình vào vòng quay của bất động sản là sự nghiệp chứ không phải là công việc để kiếm sống. Tính chuyên môn sâu và động lực nghề nghiệp sẽ liên hiệp các nhà Môi giới lại….
    • Sự kiên nhẫn: chân thành với khách hàng, biết lắng nghe kể cả không liên quan trực tiếp.
    • Trong quá trình giao tiếp quan hệ với khách hàng cần gây niềm hứng khởi cho khách hàng.
    • Tinh thần trách nhiệm:

    Nhận trách nhiệm về mình và có ý thức tỉnh táo thực hiện trách nhiệm đó. Nghề Môi giới không thích hợp với người thiếu năng lực, láu cá, không tôn

    trọng luật chơi

    • Tính chuyên nghiệp:
    • Chuyên môn nghề nghiệp cao; cần hiểu biết những ngõ ngách, vùng tối trong nghề nghiệp,biết cách xử lý những tình huống nhạy cảm.
    • Có khả năng soạn thảo hợp đồng khác nhau trên thị trường quốc gia và quốc tế
    • Đạo đức nghề nghiệp:
    • Người Môi giới làm việc dưới sức ép của dư luận xã hội, báo chí ->cần xác định.

    Không nên nghĩ rằng khách hàng biết tự bảo vệ mìh và pháp luật bảo vệ họ. Không nên nghĩ khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào Môi giới.

    • Phải tuyệt đối tuân theo đạo đức chung:
    • Độ tin cậy:
      45  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thông tin: việc trao đổi thông tin giữa các nhà Môi giới là vấn đề cơ bản nhất. Ở Việt Nam vẫn là vùng trắng, cần hỗ trợ các cơ quan điều tra cỏ bản cung cấp thông tin cơ bản về thị trường bất động sản.
    • Năng lực: Có thông tin đầy đủ lĩnh vực liên quan, khả năng vận dụng vào thực tế, biết cách tư vấn…
    • Phong cách: nhanh nhẹn, phong cách riêng.
    • Sự nhanh nhẹn: công việc luôn yêu cầu sự nhanh nhẹn. di chuyển tranh thủ thời gian. Nhanh nhẹn cả về vật lý và tâm lý.
    • Luôn sẵn sàng phục vụ: hoạt động trong mọi hoàn cảnh, thời gian không phải của chính họ mà phụ thuộc và khách hàng.bản thân và gia đình phải chấp nhận.
    • Óc quan sát: Kết nối sự việc, có trí nhớ tốt, cần nhớ mặt họ tên sở thích của khách hàng.
    • Văn hoá cá nhân: Cần chứng tỏ là người có văn hoá cá nhân cao, thể hiện trong quan hệ với khách hàng, văn hoá ứng xử trong công việc
    • Diện mạo bên ngoài:
    • Ấn tượng đầu tiên: Khách hàng ngay đầu tiên đã để ý đến nhà Môi giới , khoảng 30 đến 60 giây đầu tiên có thể nhận diện mức độ trung thực , trình độ văn hoá, tính cách, công việc của họ có thuận lợi hay không.
    • Hình thức quan trọng hơn nội dung: ấn tượng đầu tiên tạo nên bởi hình thức 50 %, 38 % ngôn ngữ cơ thể, nội dung câu chuyện 7 %. đầu tư cho hình thức bên ngoài có thể làm tăng thu nhập cho nhà Môi giới
    • Con người của thành đạt: hình thức cũng thể hiện con người thành đạt – phải chứng tỏ thành công đối với khách hàng ngay cả khi thực tế ngựơc lại.
    • Vệ sinh cá nhân: thường xuyên phải tiếp xúc khách hàng phải giữ gìn vệ sinh tốt và vệ sinh văn phòng Môi giới.
    • Tôn trọng thời gian của khách hàng.
    • Ý nghĩa của kỹ thuật mới: người già không thích hợp, người trẻ năng động

    tiếp cận kỹ thuật mới: vi tính…

      46  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Điện thoại di động:
    • Tránh ra ý nghĩa tiêu cực: tránh gây tâm lý thất bại trong môi trường..
    • Quyết đoán và trung thực: cần quyết đoán và hành động theo nhóm.
    • Sự hài lòng về tiền bạc: cảm giác tự hào tiền thù lao xứng đáng
    • Tính hiểu biết về chu kỳ: Kinh doanh bất động sản có tính chu kỳ, có những lúc đóng băng, lúc “nóng”, nhà Môi giới cần nghỉ ngơi làm việc đúng lúc, không nên làm việc liên tục dẫn đến căng thẳng kiệt sức.

    VI. MARKETING BẤT ĐỘNG SẢN

    1. Chiến lược sản phẩm và dịch vụ

    – Đa dạng hoá hàng hoá

    –  Khác biệt hoá

     

    –  Đổi mới thiết kế

     

    – Xây dựng thương hiệu – Dịch vụ sau bán hàng – Doanh số.

     

    3.                 Chiến lược giá cả Bất động sản.

    • Gía cả là số tiền khách hàng phải trả cho khi mua hoặc sử dụng dịch vụ bất động sản.
    • Nội dung:
    • Lựa chọn chính sách giá và định giá.
    • Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh để định giá.
    • Nghiên cứu giá cả sản phẩm, dịch vụ Bất động sản cùng loại trên thị trưòng.
    • Nghiên cứu cung cầu, sức mua, thị hiếu của khách hàng để có những quyết định về giá cả.
    • Chính sách bù lỗ hợp lý
      47  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường.

    3. Chiến lược phân phối

    – Là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ bằng hai dạng: phân phối trực tiếp và qua các kênh phân phối.

    –  Nội dung:

    • Thiết kế và lựa chọn kênh phân phối.
    • Thiết kế mạng lưới phân phối.
    • Xác định lượng dự trữ Bất động sản.
    • Tổ chức hoạt động bán hàng.
    • Các dịch vụ sau bán hàng: pháp lý, bảo dưỡng, bảo hành…
    • Trả lương cho nhân viên bán hàng.
    • Trưng bày giới thiệu hàng hoá.

    4. Yểm trợ bán hàng.

    • Là tập hợp những hoạt động mang tính thị trường nhằm gây ấn tượng đối với người mua.
    • Được thực hiện thông qua các hình thức: quảng cáo, chào hàng, triển lãm, tuyên truyền, cổ động, quan hệ quần chúng, khuyến mãi…

    4.                 Các nhân tố ảnh hưởng đến Marketing Bất động sản.

     

    1. Uy tín và thương hiệu
    1. Tình huống thị trường.
    1. Vòng đời sản phẩm
    1. Tính chất Bất động sản và dịch vụ.

    VII. Kü n¨ng giao tiÕp vμ ®μm ph¸n trong giao dÞch bÊt

    ®éng s¶n

    1. GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH.
    1. Khái niệm về giao tiếp trong kinh doanh

    –    Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người với người nhằm mục đích nào đó.

      48  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Giao tiếp trong kinh doanh là sự tiếp xúc giữa những người kinh doanh (lãnh đạo, cán bộ nhân viên…), đối tác với khách hàng, với những người liên quan

    nhằm phục vụ mục đích kinh doanh.

    1. Đặc điểm của giao tiếp trong kinh doanh.
    • Giao tiếp phản ánh mối quan hệ xã hội: quan hệ giữa người với người trong xã hội.
    • Giao tiếp nhằm thu thập, chuyển tải, trao đổi thông tin.
    • Giao tiếp là một quá trình bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và ý chí giữa các cá thể giao tiếp.
    • Mục đích của giao tiếp trong kinh doanh là nhằm phục vụ kinh doanh, nêu lý do quan trọng trong các thông tin giao tiếp.
    1. Các phương tịên giao tiếp Phương tiện phi ngôn ngữ

    –  Những tín hiệu phi ngôn ngữ

     

    • Giọng nói.
    • Nụ cười, khuôn mặt, ánh mắt.
    • Qua sự vận động của cơ thể.
    • Vận động của đầu.
    • Vận động của tay.
    • Tư thế.
    • Trang phục.
    • Không gian giao tiếp.

    Phương tiện ngôn ngữ

    • Lời nói.
    • Ngôn ngữ

    Trong giao tiếp cần chú ý kết hợp cả chức năng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.

      49  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    B.TỔNG QUAN VỀ ĐÀM PHÁN

    1. Bản chất
    • Là một hình thức giao tiếp để tạo ra thoả thuận giữa các bên về một vấn đề nào đó mà các bên quan tâm.
    • Đàm phán là một hành vi và qúa trình trong đó các bên trao đổi, thảo luận, 0có một mối quan tâm chung và có những điểm bất đồng. Qua trao đổi thoả thuận để đi đến thoả thuận thống nhất.
    • Đàm phán kinh doanh Bất động sản là sự thoả thuận giữa các bên nhằm tạo sự thống nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch kinh doanh.
    1. Các kiểu đàm phán.
    1. Dựa trên kết quả của đàm phán.
    • Nếu chỉ có hai bên các kết quả có thể đạt được (thành công). + Có người thắng, người thua.

    + Cả hai bên cùng thua. + Cả hai bên cùng thắng.

    Không phải mọi cuộc đàm phán là một cuộc chiến, do vậy mục tiêu các bên không phải là tiêu diệt đối tác.

    Dựa trên kết quả trên

    • Thắng – thua: nên đàm phán như một trận chiến, chỉ một bên thắng (đạt đựơc mục đích.
    • Thua – thua: Không đạt được kết quả cho cả hai bên, mà còn mất thời gian chi phí.
    • Thắng – thắng: Các bên cùng quan tâm lợi ích của nhau với tinh thấn hợp tác và đều thu được lợi ích. Đây là kiểu đaà phán thành công nhất.
    1. Theo phong cách và mô hình. Kiểu “ mặc cả lập trường”.

     

    – Đàm phán kiểu mềm: Tránh xung đột, dễ dàng nhượng bộ, coi trọng quan hệ, coi đối tác như là bạn bè.

      50  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Đàm phán kiểu cứng: Đối tác đưa ra lập trường cứng rắn, ép đối phương phải nhượng bộ.
      • Tuỳ theo đối tác và hoàn cảnh đàm phán mà áp dụng kiểu đàm phán.
    • Với những đối tác mạnh ta nên áp dụng kiểu đàm phán cứng.
    • Đàm phán kiểu nguyên tắc:
    • Nguyên tắc 1: Đừng bám vào lập trường mà hãy tìm hiểu lợi ích thực sự của nhau.
    • Nguyên tắc 2: Hãy đưa ra nhiều phương án thay thế khác nhau.
    • Nguyên tắc 3: Hãy cứng về lợi ích, mèm về quan hệ.
    • Nguyên tắc 4: Có TCKQ để chứng minh các yêu cầu.
    1. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN

     

    1. Chuẩn bị đàm phán

     

    1. Chuẩn bị ngôn ngữ đàm phán b. Chuẩn bị thông tin đàm phán

     

    –  Thông tin về hàng hoá dịch vụ giao dịch.

     

    – Thông tin thị trường: thông tin cung, cầu, giá cả của thị trường có liên quan đến loại hàng hoá đó để so sánh, nắm bắt xu hướng.

    – Thông tin về đối tác: tư cách pháp nhân, tiềm lực kinh tế, tài chính, uy tín, hệ thống bộ máy quản lý, người lãnh đạo…

     

    – Thông tin về đàm phán: sơ lược về tiểu sử: giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, quá khứ, hiện taị, gia đình, thu nhập, năng lực phẩm chất…

    1. Chuẩn bị năng lực đàm phán
    • Tổ chức đoàn đàm phán: thành phần, cơ cấu.
    • Lựa chọn chuyên gia, người trong đoàn đàm phán về tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất, kỹ năng đàm phán và các phương tịên kỹ thuật hỗ trợ.
    1. Chuẩn bị thời gian và địa điểm đàm phán.
    • Cần chú ý đến “điểm chết” – là thời hạn cuối cùng của để cuộc đàm phán đi đến kết quả.
      51  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Địa điểm tốt nhất là “sân nhà” – là nơi chuẩn bị được tài liệu và số liệu nhanh nhất. Nếu không chọn được sân nhà thì cuộc đàm phán nên chọn “sân trung gian”.
    • Vị trí đàm phán:
    1. Thiết lập mục tiêu đàm phán
    • Chỉ rõ mục tiêu cần đạt được: mục tiêu tối đa, mục tiêu tối thiểu cần hướng

    tới.

    • Xác định giới hạn của sự thoả thuận: giới hạn cuối cùng giải pháp tốt nhất của các bên khi không đạt được sự thoả thuận.
    1. Đánh giá lại đối tác và điểm mạnh điểm yếu của mình.
    1. Lập phương án kinh doanh.
    1. Xác định chiến lược đàm phán và đàm phán thử.
    1. Qúa trình đàm phán: Mở đầu đàm phán.

    –  Chào hỏi, giới thiệu các thành phần trong đoàn

    – Bên yêu cầu, đưa ra đề nghị đàm phánthì bên đó sẽ mở đầu cuộc đàm phán. – Có rất nhiều kỹ năng mở đầu

    +  Tạo tiếng cười vui vẻ.

    + Bằng một câu chuyện liên quan đến vấn đề dàm phán: Bằng một thí dụ, một đoạn sách báo có sẵn.

    + Bằng lời khen ngợi có thiện cảm -> cách này dễ bị người khác “nắn mình”, tuy nhiên nên chuẩn bị bằng lời không khen không chê.

    1. Lắng nghe

    –  Để lĩnh hội toàn bộ thông tin mà đối tác truyền đạt.

    – Là sự thể hiện tôn trọng đối phương, thoả mãn nhu cầu tự trọng của đối phương, để biết đối phương đã thực sự hiểu lời nói chủ đích của ta hay chưa, đồng thời biết được bối cảnh thời gian, quyền lợi và nhu cầu của đối phương để đưa ra những quyết định có lợi nhất.

      52  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Lắng nghe phải có chủ đích, tập trung vào những vấn đề trọng yếu nhất. Vừa nghe vừa tìm hiểu, thăm dò, quan sát… đối phương. -. Tích hội những thông điệp cần thiết nhất.
    1. Nghệ thuật đặt câu hỏi.
    • Câu hỏi đóng: Không cho người khác sang tạo thêm mà chỉ để cho họ lựa chọn phương án.
    • Câu hỏi mở: Cho phép người trả lời tự do theo suy nghĩ của họ.
    • Câu hỏi gián tiếp
    • Câu hỏi nhằm chuyển chủ đề.
    • Câu hỏi thăm dò ý kiến người khác.
    • Câu hỏi có định hướng: Đưa ra hướng trả lời câu hỏi cho đối tác.
    • Câu hỏi không định hướng: Để tìm ra những suy nghĩ mới của đối tác.
    • Câu hỏi trình bày thông tin.
    • Câu hỏi kết thúc suy nghĩ.
    • Câu hỏi khuyến khích được ra quyết định..
    • Câu hỏi mập mờ:
    • Câu hỏi dẫn dắt: mang tính định hướng.
    • Câu hỏi tu từ: Kỹ thuật vận dụng ngôn từ.
    • Câu hỏi thật: đi thẳng vào vấn đề.
    • Câu hỏi kết luận: Rút ngắn cuộc đàm phán.
    1. Trả lời câu hỏi:
    • Trong trường hợp bình thường: phải tuân thủ nguyên tắc: chính xác, đầy đủ kịp thời.
    • Cần chú ý: Không nên hấp tấp, vội vàng, để có thời gian suy nghĩ.
    • Khi chưa rõ câu hỏi phải yêu cầu đối tác nói rõ lại câu hỏi.
    • Hiểu câu hỏi nhưng chưa rõ câu trả lời, cần bình tĩnh kéo dài thời gian trả

    lời.

    • Chỉ trả lời những gì mà đối phương hỏi.
      53  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Âm lượng vừa nghe rõ rang, lưu loát, dứt khoát.
    • Những câu trả lời có kèm theo chứng cứ, số liệu thực tế thường có sức thuyết phục.
    • Trả lời câu hỏi khi bế tắc.

    . Kéo dài thời gian bằng việc không trả lời ngay, lái câu chuyện sang hướng khác hoặc trả lời vòng vo.

    .     Trả lời mập mờ, chung chung.

    .       Đặt lại câu hỏi đó với chính người trả lời.

    .     Có thể đánh trống lảng hoặc trả lời phần không quan trọng của câu hỏi.

    1. Đặt giá và trả giá. – Chú ý khi đặt giá

    + Nếu uy tín hàng hóa cao, khan hiếm trên thị trường lên đặt giá cao hơn giá thị trường 15 đến 20 %.

    + Nếu uy tín hàng hoá, khan hiếm không cao, nên đặt giá cao hơn khoảng từ 10 đến 15 %.

     

    +  Uy tín thấp, khan hiếm thấp, đặt giá cao 5 đến 10 %.

     

    + Không có uy tín, cung lớn hơn cầu -> Đặt đúng giá bán. – Phương pháp trả giá

    + Nếu người bán đặt giá cao, ta tìm cách trả thấp: tìm những điểm bắt bí buộc họ phải hạ giá.

     

    +  Nếu đối tác đặt sát giá -> Ta nên đặt sát giá.

     

    1. Khắc phục bế tắc trong đàm phán.
    • Khi đàm phán bị bế tắc cần tỉnh táo phân tích sự việc, nhìn lại mình và đối tác. Xem mục tiêu của các bên và tính hợp lý của chúng, xem quan điểm, lập trường, tình cảm, tình huống, ngoại cảnh… nó ảnh hưởng đến việc đàm phán bí tắc, từ đó tìm hướng giải quyết. Nếu vẫn bí tắc có thể sử dụng một trong các cách sau.

    + Thống nhất lại những vấn đề đã đạt được, gác lại hoặc gạt bỏ những vấn đề bất đồng.

      54  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Chọn giải pháp đường vòng: giải quyết những vấn đề có thể thống nhất được trước, sau đó còn lại mới vào vấn đề bế tắc
    • Tạm thời đình chỉ đàm phán để có thời gian cùng suy nghĩ, và dự kiến tái đàm phán vào dịp sau đó.
    1. Kết thúc đàm phán.

    – Thống nhất khẳng định những vấn đề đã thoả thuận. – Chuẩn bị sãn sang hợp đồng ký kết.

    D.MỘT SỐ LƯU Ý KHI ĐÀM PHÁN

    1. Kiểm soát tiến độ đàm phán.
    • Sử dụng thời gian, thời hạn đàm phán hợp lý, biết cách trì hoãn , gây trở ngại nếu nó có lợi cho mình.
    • Không để đối phương đưa cuộc đàm phán diễn ra quá nhanh hay điều khiển hoặc cuốn hút mình.
    • Nếu đối phương muốn chậm tiến độ, cần hiểu rõ nguyên nhân và gây sức ép.
    • Cách kiểm soát tốc độ:
    • Không nên chấp nhận một lời đề nghị nào đó ngay
    • Chưa nên quyết định ngay
    • Không đàm phán nhanh.
    1. Khai thác yếu tố con người.
    • Tranh thủ tối đa quan hệ tình cảm, tâm lý.
    • Luôn tỏ ra mình có ưu thế và đánh vào long tham, tính ích kỷ của đối phương.
    • Nên đưa ra nhiều tình huống quyết định. Do đó phải biết chia nhỏ mục tiêu.
    • Tạo vẻ chính thắng vớí chứng cứ (chứng cứ đôi khi có thể là giả).
    • Phải có mục đích cao và nhẫn nại.
    • Im lặng là vàng.
    • Ai cũng thích được tặng quà -> chú ý đến khuyến mại.
    • Nhớ một nguyên lý: “ông rút chân bà thò nậm rượu” -> Hai bên cùng có lợi.
      55  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Nên đưa ra phương án đơn giản để đối phương lựa chọn.
    1. Xây dựng các giải pháp linh hoạt và chủ động.
    • Xác định mục tiêu chính của đàm phán từ nhiều góc độ.
    • Biết cân nhắc lợi ích lâu dài với hạn chế trước mắt.
    • Phải linh hoạt với nhiều mức độ khác nhau.
    • Đôi lúc phải biết giả thua.
    • Phải phân biệt những vấn đề nhỏ với vấn đề lớn, sẵn sàng linh hoạt nhân nhượng vấn đề nhỏ, nhưng đòi hỏi đối phương nhân nhượng vấn đề lớn
    • Phải biết giả thua: đưa ra yêu cầu cao, đối phương đòi nhân nhượng. Ta giảm yêu cầu tuy nhiên vẫn là người đạt được mục tiêu.
    1. Chú ý tính kỹ thuật tính kế hoạch.
    • Lường trước những câu trả lời, vấn đề cơ bản cần phải phản ứng, và những phương án mang tính nhượng bộ cho đối phương.
    • Lường trước cách trình bày: đảm bảo tính thuyết phục và côn bằng, tài liệu và tư liệu là bí quyết để hỗ trợ cho đàm phán mang tính chính thống.
    • Quan tâm tới sổ đàm phán: sổ ghi chép những thông tin tình tiết, nhượng bộ trong đàm phán.
    • Chú ý chiến lược trong đàm phán.
    • Phải thể hiện mình là người có quyết tâm nhất, trả giá cao nhất.
    • Vừa đấm, vừa xoa.
    • Người nói nhiều, người nói ít phải phân định rõ ràng.
    1. Một số tình huống đặc biệt.
    1. Chiến thuật và biện pháp đàm phán.
    • Có thể doạ nạt, kích động để lọc ra những cơ hội mới.
    • Phải kiên nhẫn, không nên sớm nhượng bộ, cũng không nên căng thẳng quá.
    • Cố gắng chèo kéo thêm (tiểu xảo xin thêm).
    • Ngôn ngữ đàm phán cần để hướng mở cho lần sau.
    • Phải cộng lại chiến thuật: “ Chỉ có một sự lựa chọn”.
      56  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Đàm phán với người khó làm việc.
    • Với người thích doạ nạt: không cần căng thẳng, cần giữ vững lập trường không bị áp đảo trước lời doạ nạt của đối phương.

    +  Không nhất thiết phải đối đầu hãy mềm dẻo.

    +  Thận trọng để không bị sai lầm, tranh thủ sự mất cảnh giác của đối phương.

    1. Với những người huyênh hoang: Cần đến sự giúp đỡ của đối phương: để họ tự đánh giá.
    1. Những người thiếu quyết đoán: – Phải từ từ và nhẫn nại.

     

    – Hãy tâng bốc họ trước đồng nghiệp của họ -> làm họ mất cảnh giác. – Phải hạn chế nhượng bộ, phải quyết liệt.

     

    – Ví dụ: Nên hỏi: Trong bao phương án, tôi chọn phương án này ông có đồng ý không ? Không nên hỏi để họ lựa chọn.

    –   Cương quyết khi cần thiết: Khi cứng rắn cần chú ý:

     

    + Thể hiện rõ quan điểm, không giải thích, nhượng bộ phải chăng, đặt mục tiêu cao.

     

    + Những điều nên làm: Phải tin vào sự mach bảo của trực giác: khi tiếp xúc quan sát nảy sinh về độ tin cậy.

    +  Hãy thương lượng theo kiểu của mình.

     

    + Không để lộ điểm yếu, không để cố vấn nói nhiều, tỉnh táo trước những tình huống giả.

    MỘT SỐ TIỂU XẢO TRONG ĐÀM PHÁN

    1. Tiểu xảo chê bai: Bám vào cái hạn chế để chê bai.
    1. Tiểu xảo vờ bỏ đi: Vờ bỏ đi để khách hàng quay lại
    1. Tiểu xảo ăn vạ: Dựac vào một cớ nào đó để ăn vạ.
    1. Tiểu xảo cạnh tranh công kênh:Dùng giá của đối tác thứ 3, 4 nào đó để làm hạ giá đối phương, tạo cú huých
    2. Tiểu xảo “hỏi ý kiến cấp trên”
      57  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    1. Tiểu xảo xin thêm.
    1. Tiểu xảo cưa đôi chênh lệch
    1. Tiểu xảo siết ốc.
    1. Tiểu xảo liên tưởng
    1. Tiểu xảo đưa ra bằng chứng về số liệu thống kê.
    1. Tiểu xảo đưa ra các thông lệ.
    1. Tiểu xảo bắt chẹt
    1. Chiến lược chia cắt đối phương để chinh phục.
    1. Tiểu xảo “gây nóng giận”
    1. Tiểu xảo đẩy vấn đề vào việc đã rồi.
    1. Tiểu xảo “mời đối tác tham quan công ty cảu mình”.
    1. Tiểu xảo vừa đàm phán vừa đánh.
    1. Tiểu xảo đánh trống lảng khi bị chất vấn.
    1. Tiểu xảo bong bàn.
    1. Tiểu xảo câu giờ.

    VIII.  Tổ chức và quản lý văn phòng môi giới bất động sản

    1. Xác định chiến lược hoạt động. – Tìm hiểu khách hàng tiềm năng. – Đối thủ cạnh tranh.

    –  Gía cả

     

    – Xác định các hoạt động marketing: xác định phương pháp quảng cáo, xúc tiến bán hàng.

     

    –  Loại hình doanh nghiệp; kinh doanh cá thể, doanh nghiệp thương mại….

     

    • dựa trên khả năng tài chính.
    • Trình độ quản lý của người sáng lập.
    • Xác định được năng lực kiểm soát.
    • Trách nhiệm đối với tài sản.
      58  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    2/ ChuÈn bÞ cho v¨n phßng m«i giíi ra ®ời

    1. Hình thành văn phòng Môi giới.
    1. Chọn vị trí văn phòng Môi giới.
    1. Trang bị cho văn phòng; không cần đòi hỏi nhiều về trang bị.
    1. Thông tin quảng cáo cho văn phòng
    • Tên văn phòng.
    • Chương trình quảng cáo phù hợp. Vấn đề nhân sự: số lượng, cơ cấu.
    • Chọn nhân viên có năng lực để: tăng cao chất lượng cho khách hàng, tăng chất lượng sống cho người Môi giới.
    • Các dạng nhân viên

    . Điều phối viên và niêm yết (MLS)

    . Nhân viên về thế chấp.

    . Điều phối viên thực địa.

    . Nhân viên tìm kiếm khách hàng.

    • Cơ sở bố trí nhân viên và tìm kiếm nhân viên
    • Lên danh sách trách nhiệm của từng bộ phận. Liệt kê công việc của từng bộ phận phải làm.
    • Xác định cần bao nhiêu người trong từng bộ phận?có trình độ chuyên môn? Tính cách như thế nào?.
    • Xem xét trách nhiệm công việc của từng người để tìm ra mức hợp lý.
    • Khi chọn nhân sự cần chú ý:
    • Chọn đúng người và đặt đúng chỗ.
    • Gây dựng lòng tin.
    • Tạo được hình ảnh, sự kính trọng của nhân viên bằng sự chân thành dựa vào tài năng và đạp đức nghề nghiệp.
    • Phải công bằng khích lệ nhân viên -> tạo sức mạnh đoàn kết.
    • Dựa vào tài đức của nhân viên hơn là sự thân quen.
      59  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    3/ Quản lý văn phòng Môi giới.

    • Ba công việc mà nhà Môi giới phải đảm nhiệm:
    • Vạch mục tiêu và khách hàng kinh doanh.
    • Tổ chức và lãnh đạo thực hiện công việc.
    • Đánh giá và động viên nhân viên văn phòng.

    Lập kế hoạch hoạt động :

    • Xem xét một số vấn đề cơ bản sau:
    • Số lượng thương vụ bao nhiêu để đạt mức lợi nhuận mong muốn.
    • Xem chương trình quảng cáo như thế nào?
    • Cần làm gì để đạt mức bán theo yêu cầu đó.
    • Kế hoạch ngân sách hoạt động cho văn phòng gồm:
    • Quảng cáo.
    • Chi phí liên quan.
    • Chi phí bưu phẩm, điện thoại.
    • Tiền lương nhân viên.
    • Chi phí điện nước.
    • Chi phí bảo hiểm.
    • Khấu hao trang thiết bị văn phòng.
    • Tiền thuê văn phòng.
    • Thuế thu nhập.
    • Chi phí khác.

    -Quản trị tài chính.

    -Quản trị nhân sự.

    • Lập khách hàng nhân sự.
    • Tuyển nhân viên:
    • Xác định năng lực chuyên môn của nhân viên.
    • Động cơ của nhân viên: cách kiểm tra, trắc nghiệm, viết, phỏng vấn.
    • Hình thức đào tạo của nhân viên trước kia.
      60  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       
    • Thời gian thử việc của nhân viên.
    • Lựa chọn người quản lý văn phòng: có năng lực tổ chức…
    • Đào tạo nhân viên
    • Đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên.
    • Đưa ra mức lương thưởng hợp lý.
    • Trả lương dựa trên đóng góp cho doanh nghiệp.
    • Gĩư được tính cạnh tranh trên thị trường.
    • Đảm bảo sự công bằng trong đóng góp và hưởng thụ.
    • Mức lương đó phải động viên được nhân viên.
    • Phảo phù hợp với đièu kiện tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của văn phòng.
    • Chính sách trả lương theo phần cứng và phần mềm.
    • Lợi nhuận/tổng doanh thu : Mức độ lợi nhuận so với khách hàng từng giai đoạn để từ đó có biện pháp phù hợp.
    • Lợi nhuận/ lao động: cho phép ngừô quản lý đánh giá năng suất lao động của các nhân viên giữa các thời kỳ trong năm hoặc so sánh với cùng kỳ trước.
    • Lợi nhuận/ mỗi giao dịch: -> Tìm quy mô giao dịch -> Tìm kiếm các giao dịch lớn và bố trí giao nhiệm vụ cho từng nhân viên phù hợp với năng lực của từng nhân viên.
      61  
    Công ty c phần Đào tạo và Kinh doanh dịch vụ BĐS Gold Land
       

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Kh%C3%B3a-lu%E1%BA%ADn-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Nh%E1%BB%AFng-r%C3%A0o-c%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-Vi%E1%BB%87t-Nam-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Có thể nói rằng, mười năm trở lại đây là một khoảng thời gian đáng nhớ đối với Việt Nam. Chúng ta đã thực sự để lại những dấu ấn trên trường quốc tế qua một loạt các sự kiện kinh tế-xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển mọi mặt của quốc gia. Tiêu biểu phải nói đến là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tổ chức thành công tuần lễ cấp cao APEC và Hội nghị APEC CEO Summit năm 2006, là ứng cử viên duy nhất đại diện cho châu Á, hoàn thành tốt trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 và cương vị Chủ tịch Hội đồng bảo an LHQ tháng 7 và tháng 10 năm 2009. Những sự kiện lớn này là minh chứng xác đáng cho nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam hòa vào xu thế chung tất yếu của sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Hội nhập kinh tế thực sự đã mở ra cơ hội cho nước ta tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật mới và đáng kể nhất là thiết lập các mối quan hệ hợp tác đầu tư nước ngoài. Để thu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc xem xét và tạo dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn trong đó, hạn chế thấp nhất những rào cản gây e ngại cho các nhà đầu tư trở thành một yêu cầu bức thiết. Bên cạnh những rào cản lớn như sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật pháp còn nhiều hạn chế, v.v., vấn đề về khác biệt văn hóa cũng được xem là một trong những thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam. Thực tế cho thấy, đã có không ít dự án đầu tư thất bại với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về văn hóa. Hệ quả của nó không chỉ dừng lại ở những tổn thất cho bên nhận đầu tư là nước ta mà còn ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài, cản trở họ quay lại Việt Nam và khiến họ tìm đến những thị trường khác, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra mạnh mẽ ở các đang phát triển như hiện nay.

    Nhận thấy tính cấp bách của vấn đề, người viết chọn đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp “Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài” với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn cái nhìn về những rào cản văn hóa nhằm hạn chế tác động của nó đến việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    Mục đích nghiên cứu

    1

    Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là xây dựng một cách nhìn đầy đủ hơn về những rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị giải pháp hạn chế rào cản này, góp phần hoàn thiện hình ảnh một Việt Nam thân thiện và tiến bộ, trở thành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là những khó khăn mà các nhà đầu tư nước ngoài gặp phải do sự khác biệt về văn hóa. Phạm vi nghiên cứu là hoạt động đầu tư nước ngoài vì mục tiêu lợi nhuận, đang được tiến hành trên cả ba miền đất nước, trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây ở Việt Nam.

    Phương pháp nghiên cứu

    Để giải quyết các vấn đề đặt ra, người viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với kiến thức nền tảng rút ra từ những đường lối chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành trong những năm qua. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu còn được hỗ trợ bởi việc tiến hành phỏng vấn gián tiếp qua e-mail đối với một số nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhận đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên một số địa phương tiêu biểu đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Kết quả thu được từ phương pháp này là cơ sở cho những đánh giá được rút ra trong luận văn này.

    Bố cục đề tài

    Phù hợp với mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu trên, khóa luận ngoài Lời mở đầu gồm Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu còn có những chương sau:

    Chương I: Lí luận cơ bản về rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương II: Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương III: Một số giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    2

    Những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu là điều không thể tránh khỏi đối với một đề tài còn khá mới này. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô giáo và các bạn.

    3

    CHƢƠNG I

    LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN VĂN HÓA ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I.                   Lý luận về văn hóa

     

    1. Khái niệm văn hóa

    Nghị trưởng Pháp Edouard Herriot đã phát biểu rằng: Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên hết cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học đủ cả. Lời phát biểu trên đã phản ánh tính trừu tượng của khái niệm này. Nói cách khác, việc xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa có thể thay đổi theo thời gian và theo các tiêu chí lựa chọn khác nhau.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [ 5,431]. Như vậy, văn hóa là tất cả những yếu tố do con người tạo nên, văn hóa sinh ra từ con người và cho con người.

    Chính vì văn hóa phản ánh mọi phương diện làm nên “phần hồn của một quốc gia” nên nó được dùng làm thước đo giá trị của một dân tộc. Nói đến văn hóa của một cộng đồng cũng tức là đề cập đến tư tưởng, tình cảm, cách tư duy, ứng xử trong phạm vi cộng đồng ấy. Các đặc trưng và biểu hiện của văn hóa vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù. Tức là, chúng ta có thể chỉ ra điểm tương đồng của hai nền văn hóa nhưng cũng đồng thời xác định được những khác biệt, những nét riêng có của mỗi dân tộc. Cho nên, bất kì một sự tiếp xúc văn hóa nào cũng nảy sinh đồng thời hai khả năng: thông hiểu và bất đồng. Sự thông hiểu xuất phát từ cái phổ quát, sự bất đồng xuất phát từ những đặc thù.

    Xét trong lĩnh vực kinh tế, bất đồng văn hóa chính là cội nguồn của những rào cản lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài phải đối mặt khi đặt chân đến một thị trường hoàn toàn mới mẻ.

    4

    2. Các yếu tố văn hóa trong hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài

    Văn hóa là một phạm trù rộng lớn được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau. Sự tác động của từng yếu tố lên từng lĩnh vực trong đời sống xã hội thể hiện ở những mức độ đậm nhạt khác nhau. Xét riêng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ, nghệ thuật, phong tục – tập quán, giáo dục, tôn giáo, thái độ và các giá trị được đề cao là những yếu tố văn hóa có sự tác động đậm nét hơn cả.

    2.1. Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Bằng ngôn ngữ, con người có thể biểu đạt tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình với người khác. Đồng thời, ngôn ngữ là một phương tiện của tư duy. Những hình thức cơ bản của tư duy như khái niệm, phán đoán hay suy lí đều tồn tại dưới hình thức biểu đạt là ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp con người cố kết cộng đồng, liên kết cá nhân với cá nhân, thiết lập các mối quan hệ xã hội và là phương tiện để con người truyền đi những thông điệp đến các thế hệ tương lai.

    Ngôn ngữ, do đó, mang dấu ấn văn hóa của cộng đồng người bản ngữ. Đặc điểm này dẫn đến một hệ quả là, muốn giao tiếp thành công, người giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định về những dấu ấn văn hóa được thể hiện trong các phương tiện giao tiếp, bao gồm cả các yếu tố ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cử chỉ và các yếu tố kèm lời như tốc độ lời nói, các yếu tố xen âm v.v.).

    Sự hiểu lầm có thể xảy ra trong giao tiếp giữa những người đến từ các quốc gia khác nhau do giữa họ có sự khác biệt về phương pháp tư duy; quan niệm giá trị; óc thẩm mỹ; đặc trưng tâm lý; phong tục, tập quán. Cung cách chào hỏi, cách gợi mở vấn đề v.v. có thể chỉ là những thao tác, kĩ năng đơn giản nhưng trong kinh doanh, chúng có khả năng quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án. Riêng ở lĩnh vực này, có thể khẳng định rằng, hiểu một ngôn ngữ và các dấu ấn văn hóa được bảo lưu trong nó là tiền đề tạo nên thành công bước đầu cho cuộc thương lượng, đàm phán ở giai đoạn đầu của quá trình hợp tác.

    5

    2.2. Nghệ thuật

    Nghệ thuật là nơi hội tụ của cái đẹp từ tất cả các lĩnh vực: thơ văn, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, ẩm thực, điện ảnh v.v. và là nơi con người thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của mình. Tư tưởng thẩm mỹ chính là sự cảm nhận về Cái đẹp. Nhưng sự cảm nhận ấy hoàn toàn không giống nhau ở những nền văn hóa khác nhau; do đó, nghệ thuật có khả năng bộc lộ phong cách riêng của từng nghệ sĩ, nhưng đồng thời, thông qua những đặc trưng cá thể ấy, đặc trưng của một dân tộc được khẳng định.

    Ví dụ như khi nói đến ẩm thực của đất nước được coi là xứ sở của hoa anh đào, người ta nói đến “Bản hợp xướng của cả năm giác quan”, bởi ở đó mỗi món ăn được chế biến một cách tinh tế, với những hình dáng, màu sắc phong phú mà vẫn giữ được hương vị tự nhiên vốn có của nguyên liệu làm nên món ăn. Những chi tiết dù nhỏ cũng được trau chuốt cẩn thận và mang những ý nghĩa riêng của nó. Phải nói rằng, hiếm có một dân tộc nào coi trọng sự hoàn mỹ và chất lượng như Nhật Bản. Họ không chỉ làm việc với trách nhiệm mà còn bằng cả niềm đam mê. Do đó, khi cộng tác với người Nhật, nếu chúng ta thiếu một trong hai yếu tố ấy thì cũng đồng thời chúng ta đánh mất sự thừa nhận cũng như sự tin cẩn từ phía họ.

    Xét về không gian kiến trúc, có thể thấy sự cần thiết khi vận dụng các kiến thức về nghệ thuật bài trí để xây dựng một môi trường làm việc phù hợp với hoạt động kinh doanh, đặc biệt là ở cấp độ đa quốc gia. Môi trường được nói đến ở đây là không gian vật lí, nơi các đối tác đến từ các quốc gia khác nhau gặp gỡ, trao đổi và thậm chí là „không gian sống‟ của những người làm việc cả ngày trong đó. „Không gian sống‟ ấy có khả năng tạo nên sự hứng khởi, khơi gợi ý tưởng, giảm căng thẳng trong công việc nếu nó được bài trí phù hợp với óc thẩm mỹ của những thành viên làm việc bên trong nó. Chẳng hạn, người Châu Á yêu thích không gian có chiều sâu tạo cảm giác ấm áp, với nhiều đường nét uốn lượn, nhiều màu sắc; trong khi đó, người Châu Âu thích sự thanh nhã, đường nét đơn giản, rõ ràng, hướng đến sự khoáng đạt, thoải mái như chính tính cách của họ. Ý thức được điều

    6

    này để chủ động tạo một không gian làm việc phù hợp văn hóa sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.3. Phong tục tập quán

    1. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã đưa ra khái niệm về phong tục như sau: Phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng) [ 9,256]. Như vậy, phong tục tập quán là những hoạt động sống được hình thành từ lâu đời và trở thành nề nếp, thói quen được cộng đồng thừa nhận và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục tập quán thể hiện ngay trong những thể thức giao tiếp đời thường như cách chào hỏi, cách xưng hô v.v. đến cả những thể thức gói trọn cả vòng đời con người từ khi sinh ra, trưởng thành, cưới xin, cho đến mừng thọ, lên lão v.v. hay những thể thức mang tính cộng đồng như lễ, tết, hội.

    Có sự khác biệt lớn của những quy ước, những thể thức giữa các cộng đồng buộc những người tham gia giao tiếp phải đặc biệt chú trọng. Chỉ đơn giản, khi nói đến nghi thức chào hỏi, mỗi dân tộc có một quy ước riêng. Chẳng hạn, người Pháp và người Nga chấp nhận hành động bắt tay bất cứ lúc nào trong quá trình giao tiếp. Thế nhưng ở Anh và Mỹ, người ta chỉ bắt tay ở lần đầu gặp gỡ mà thôi. Hay, người Ba Lan và người Ý coi việc hôn tay phụ nữ là một cử chỉ chào hỏi rất lịch sự. Trong khi đó, ở một số nước Châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc, hành động bắt tay hay hôn tay đều không được sử dụng nhằm mục đích này. Thay vào đó, họ sẽ nghiêng mình cúi đầu chào nhau. Còn người Ấn Độ chào nhau bằng cách chắp hai tay vào nhau như cầu nguyện trong khi người Ả Rập và một số nước Hồi giáo thì dùng lòng bàn tay phải đặt lên tim rồi đưa ra ngoài để thể hiện hành vi chào hỏi.

    Quan niệm “nhập gia tùy tục” của người Việt Nam đã phản ánh „hiệu lực‟ của những phong tục tập quán trong mỗi cộng đồng người bản ngữ. Nó như những ràng buộc vô hình buộc con người, dù là người bản xứ hay người ngoại quốc, phải tôn trọng và hành xử theo đúng những giá trị được truyền từ đời này sang đời khác ấy. Chính vì thế, để có cách cư xử đúng đắn, được lòng người thì nhất thiết phải có những hiểu biết nhất định về phong tục tập quán của nơi ta đến.

    7

    2.4. Giáo dục

    Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng tầm tri thức và hoàn thiện nhân cách của các thành viên trong xã hội. Thông qua giáo dục, con người được tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng cần thiết, góp phần vào quá trình định hình thái độ, quan điểm sống cũng như nhân cách sống.

    Cách thức giáo dục của mỗi quốc gia quy định đặc trưng của nguồn lao động, nguồn nhân lực của chính quốc gia ấy. Chính vì vậy, có thể lấy sự khác biệt giữa các hệ thống giáo dục Châu Á và Châu Âu để lí giải cho sự khác biệt giữa lực lượng lao động từ các nước phương Tây với lực lượng lao động từ các nước phương Đông. Giáo dục phương Tây thường hướng đến mục tiêu thúc đẩy ở mỗi cá nhân khả năng bàn luận, phê phán và sáng tạo, từ đó phát hiện và khuyến khích người học nâng cao năng lực vốn có của mình. Chính vì vậy, trong quá trình làm việc, người phương Tây luôn thể hiện sự chủ động, sáng tạo trong việc xử lý các tình huống thực tế với ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao. Trong khi đó, do giáo dục phương Đông chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên những con người được đào tạo trong hệ thống giáo dục ấy nổi bật về đức tính cần cù, chịu khó và đối với họ, những kiến thức được truyền đạt từ người thầy luôn được đề cao, trân trọng (“nhất tự vi sư, bán tự vi sư”). Điều này giải thích tại sao lao động ở các nước phương Đông luôn được đánh giá cao ở khả năng đương đầu với những khó khăn trong công việc; khả năng thích nghi khi tiếp cận với những phương pháp làm việc mới; đặc biệt, họ rất phù hợp với những công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và tính công phu, tỉ mỉ.

    Có thể thấy, giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Hơn nữa, trình độ học vấn mà nền giáo dục mang lại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    2.5. Tôn giáo

    8

    Tôn giáo là nơi con người tìm đến để cứu rỗi linh hồn và xoa dịu những bất lực và bế tắc trong cuộc sống. Tìm đến tôn giáo đồng nghĩa với việc tìm đến một đức tin. Đức tin ấy có sức mạnh đặc biệt đến mức nó có khả năng chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người.

    Schaefer Richard T, trong cuốn Xã hội học đã nhận định: Tôn giáo, dẫu đó Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Do Thái giáo, cũng đều cung cấp cho con người ta ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ. Nó mang đến cho họ những giá trị tối hậu và những cùng đích nào đó để giữ họ chung lại với nhau [8]. Phát biểu trên cho thấy, mỗi tôn giáo có những đặc trưng riêng, do đó, tín đồ của các giáo phái khác nhau có những quan điểm sống và tuân theo những nghi lễ thờ cúng không giống nhau. Cho nên, đức tin là thứ tôn chỉ tối thượng, có giá trị như động lực của những hành động, suy nghĩ của các tín đồ.

    Tôn giáo ở Châu Âu như Đạo tin lành xem nhiệm vụ của giáo dân là làm rạng danh Chúa bằng cách làm việc chăm chỉ và cần kiệm. Vì thế họ không cho phép mình được lười biếng, coi thái độ làm việc như một phẩm chất đạo đức của con người. Tôn giáo Châu Á như Ấn Độ giáo chú trọng đến tinh thần “làm việc thiện” bởi sự chi phối của niềm tin về một cõi “vĩnh hằng” hay sự tồn tại của “quả báo”. Phật giáo luôn nhắc nhở chúng sinh không được “tham lam” mới có thể thoát khỏi “bể khổ cuộc đời”.

    Xét về hệ thống lễ nghi, nếu đạo Shinto ở Nhật Bản giản đơn về hệ thống giáo lí cũng như nghi lễ bao nhiêu thì Hồi giáo có những quy định phức tạp bấy nhiêu. Chẳng hạn, các tín đồ Hồi giáo phải cầu kinh ngày năm lần, hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng, theo đó các tín đồ không được ăn uống khi còn ánh sáng Mặt trời. Ngoài ra còn rất nhiều điều cấm kị. Nhiều nước ở Châu Phi và Mỹ Latin coi Đạo Tâm Linh là Tôn giáo chính. Người theo đạo này luôn tin vào sự tồn tại của người chết trên dương gian và họ cho rằng, những linh hồn này sẽ rất hài lòng nếu người sống làm theo tổ tiên mình. Vì vậy sự đổi mới là khó được chấp nhận đối với những công dân theo đạo này. Có thể nói, đối với sản xuất kinh doanh,

    9

    sự phức tạp về hệ thống lễ nghi, quan niệm có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ cũng như kế hoạch sản xuất. Nếu không cùng chia sẻ, tôn trọng các giá trị tinh thần ấy hay không có sự linh hoạt trong điều phối kinh doanh giữa các đối tác có tôn giáo khác nhau, những trở ngại trong hợp tác là điều khó tránh khỏi.

    2.6. Thái độ và giá trị

    Theo quan điểm của nhà Xã hội học Macionis và J. John, giá trị là thước đo, là thang đánh giá được các thành viên của một nền văn hóa sử dụng để phân biệt tốt/ xấu, đẹp/ xấu, đáng mong muốn/ không mong muốn v.v. nhằm xây dựng cho mình hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan phù hợp. Còn thái độ là sự phản ánh của những suy nghĩ, tình cảm biểu hiện qua sắc thái hay hành động trước một sự vật hay hiện tượng nào đó.

    Từ quan niệm trên, có thể thấy rõ mối quan hệ giữa giá trị và thái độ. Một khi một giá trị được hình thành, tức là hệ thống quan điểm của các thành viên trong một cộng đồng xã hội được xác lập thì cùng lúc đó, phản ứng tương ứng xuất phát từ quan điểm ấy được định hình. Nói cách khác, thái độ là hệ quả của giá trị. Chẳng hạn, có một thời gian, người Nhật Bản quan niệm việc tiêu dùng hàng ngoại là không yêu nước. Trong trường hợp này, tiêu chí để xác định giá trị của lòng yêu nước là không dùng hàng ngoại; cho nên, giá trị này đã gây ra một thái độ tương ứng ở những người ủng hộ cho quan điểm ấy là bài trừ toàn bộ hàng hóa có xuất xứ ngoại quốc trên thị trường Nhật Bản.

    Từ đây, có thể suy ra rằng, việc xây dựng hệ thống giá trị theo hướng có lợi cho hoạt động hợp tác – đầu tư để tạo ra những phản ứng tích cực giữa các đối tác có ý nghĩa như hộp cộng hưởng, góp phần thúc đẩy kinh doanh phát triển.

    1. Mô hình của Geert Hofstede

    Bất kì một sự so sánh nào cũng cần căn cứ vào một hệ thống các tiêu chí có giá trị xác lập ranh giói giữa các đối tượng được so sánh. Đối với một khái niệm trừu tượng như văn hóa, việc chỉ ra sự khác biệt của đối tượng này giữa các dân tộc càng đòi hỏi phải có những căn cứ xác đáng. Mô hình năm chiều văn hóa do giáo sư

    10

    Geert Hofstede nghiên cứu là công trình nổi tiếng đầu tiên trên thế giới tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh quốc tế. Đây được xem là những chiều văn hóa cơ bản, góp phần làm giảm sự cảm tính trong việc đánh giá những khác biệt giữa các nền văn hóa và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Năm chiều văn hóa ấy được xác định như sau:

    Khoảng cách quyền lực: Thước đo văn hóa này đánh giá mức độ bình đẳng giữa những người có địa vị khác nhau trong xã hội. Ở những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao thì sự bất bình đẳng này được chấp nhận và duy trì, biểu hiện cụ thể là dù đúng hay sai, cấp dưới phải luôn tuân lệnh cấp trên, con cái luôn vâng lời bố mẹ bởi họ coi đó là bổn phận, là điều đương nhiên. Ngược lại, trong xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, nhân viên có thể trao đổi ý kiến một cách bình thường với lãnh đạo, con cái được phép bày tỏ quan điểm của mình với bố mẹ; ở đây, bình đẳng được xem như mục đích chung của xã hội. Ví dụ: Úc, Bắc Âu, Mỹ, Anh, v.v. là các quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp; còn Malaysia, Slovakia, Việt Nam, v.v. là những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao.

    Chủ nghĩa cá nhân: Đây là tiêu chí có ý nghĩa xác định tính tập thể hay tính cá nhân mà xã hội hướng tới. Một quốc gia có điểm chủ nghĩa cá nhân cao có nghĩa là mỗi cá nhân và các quyền của họ được tôn trọng; họ có thể tham gia vào bất cứ cộng đồng nào và từ bỏ nếu cảm thấy không cần thiết và phù hợp nữa, họ cũng đồng thời không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ cộng đồng. Ngoài gia đình và người thân, mối quan hệ giữa các cá nhân khá lỏng lẻo, họ sống độc lập và luôn chủ động trong cuộc sống riêng của mình. Các nước có nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân cao nhất là Anh, Mỹ, Úc. Trái lại với những nền văn hóa này là những nền văn hóa mang tính tập thể với điểm chủ nghĩa cá nhân thấp. Ở đó, con người từ khi sinh ra đã phải hòa nhập vào một cộng đồng rộng lớn. Họ luôn đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết, trung thành với ý chí của cộng đồng và luôn gánh trên vai trách nhiệm đối với cộng đồng. Đổi lại, mỗi cá nhân sẽ nhận được sự hỗ trợ của tập thể khi họ gặp khó khăn. Châu Mỹ Latin là khu vực có tính tập thể mạnh nhất.

    11

    Tránh rủi ro: Thước đo này nói lên mức chấp nhận những thay đổi của một cộng đồng. Một quốc gia có điểm tránh rủi ro thấp sẽ sẵn sàng chấp nhận thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm. Họ thường không quan tâm nhiều đến những nguy cơ có thể xảy ra, tư tưởng đổi mới và sự tự tin vào cuộc sống khiến họ không ngại ngần tiếp nhận những điều mới lạ. Trong những xã hội như thế, các giá trị truyền thống có khuynh hướng thay đổi thường xuyên, con người không bị gò bó bởi những giá trị đã có trước đó. Còn ở những quốc gia có chỉ số này cao, các thành viên trong xã hội không sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi. Họ sống bằng truyền thống, kế thừa những tư tưởng của người xưa. Vì vậy các tư tưởng mới khó có thể xâm nhập vào xã hội này. Châu Mỹ Latin, đứng đầu là Hy Lạp, có điểm số tránh rủi ro cao nhất, tiếp theo là các nước Châu Á tiêu biểu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

    Nam tính: Chiều văn hóa này phản ánh mức độ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội. Một nước có điểm nam tính cao thì vai trò của người đàn ông là rất lớn, thể hiện ở chỗ, họ có xu hướng thống trị trong cấu trúc quyền lực gia đình cũng như xã hội. Còn trong môi trường nữ tính, tức là điểm nam tính thấp, người phụ nữ được đối xử bình đẳng trên mọi phương diện so với người đàn ông. Nước có điểm nam tính thấp nhất là Thụy Điển và Na Uy, các nước Châu Á có điểm số này rất khác nhau, cao nhất là Nhật Bản, đến Philippines, Hồng Kông.

    Định hướng dài hạn: Đây là thước đo được giáo sư Hofstede bổ sung thêm vào công trình của mình sau khi nghiên cứu công trình của Michael Harris Bond với nội dung tương tự được tiến hành sau đó. Thước đo này là thành quả của quá trình nghiên cứu về khác biệt văn hóa trên lập trường văn các nước Châu Á, thay vì dưới góc nhìn của văn hóa Châu Âu như công trình của Giáo sư. Ông nhận thấy đây là điểm giúp phân biệt sự khác nhau giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, cần được bổ sung để khắc phục những thiếu sót vốn tồn tại trong mô hình trước đó.

    Trong xã hội có điểm định hướng dài hạn cao, con người có xu hướng quý trọng sự bền bỉ, đánh giá cao sự tiết kiệm và luôn cố gắng sắp xếp các mối quan hệ theo thân phận hay đẳng cấp xã hội; đặc biệt, họ rất coi trọng danh dự. Nói cách khác, xã hội định hướng dài hạn luôn lo lắng về tương lai của mình về sau, trông

    12

    đợi vào thành quả tương lai từ sự kiên nhẫn, tiết kiệm của ngày hôm nay. Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Châu Á đạt điểm rất cao ở thước đo này. Ngược lại, xã hội định hướng dài hạn thấp thường thích hưởng thụ hơn là dành dụm. Họ nghĩ đến kết quả tức thời thay vì trông đợi vào sự dài lâu. Quan hệ xã hội vì thế mà mang tính sòng phẳng, ngang hàng, không phụ thuộc vào thân phận hay đẳng cấp. Mỹ và các nước Châu Âu là những nền văn hóa có điểm Định hướng dài hạn thấp nhất.

    Năm chiều văn hóa đưa ra trong mô hình của giáo sư Hofstede đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cho các nhà kinh doanh những khác biệt căn bản về văn hóa khi tiến hành xâm nhập vào một thị trường mới. Những hiểu biết này giúp họ đưa ra quyết định phù hợp để tránh những cản trở trong quá trình kinh doanh. Ví dụ: ở một nền văn hóa có khoảng cách quyền lực cao, thái độ trên dưới rõ ràng là điều hết sức quan trọng, hay trong nền văn hóa đề cao nam tính, việc đề bạt nữ giới lên quản lý là một điều không nên. Tương tự đối với quốc gia có tính rủi ro cao, cần cân nhắc kĩ lưỡng và có những lý do thuyết phục nếu muốn đưa những quy định hay cách thức kinh doanh mới mẻ. Tuy còn một số hạn chế, mô hình này vẫn được xem là bước khởi đầu cho các nhà kinh doanh quốc tế trong việc tìm hiểu văn hóa của thị trường mới mà họ quyết định đầu tư.

    II. Tổng quan về đầu tƣ nƣớc ngoài

     1. Khái niệm

     

    1.1. Đầu tƣ

    Hiện nay, đầu tư đã trở thành một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế của mọi quốc gia. PTS Vũ Chí Lộc đã định nghĩa khái niệm đầu tư như sau: Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội [4,5]. Như vậy, thông qua việc cung cấp các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư đã góp phần mang đến những lợi ích thiết thực cho bản thân và xã hội.

    13

    Tương tự với quan điểm này Giáo trình Đầu tư nước ngoài Trường Đại học Ngoại Thương có định nghĩa về đầu tư như sau: Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội [11]. Như vậy, không chỉ dừng lại ở mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, khái niệm này đã phát biểu một cách toàn diện hơn mục đích của hoạt động đầu tư đó là thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

    Nếu phân loại theo nguồn vốn thì đầu tư bao gồm hai bộ phận chính, đó là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng hai bộ phận này trong tổng giá trị đầu tư tùy thuộc vào mục tiêu, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.

    1.2. Đầu tƣ nƣớc ngoài

    Nếu nói thương mại quốc tế là một tất yếu khách quan của sự phát triển thì đầu tư nước ngoài là một yếu tố chính trong dòng chảy ấy. Sự khác biệt giữa các quốc gia về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn; mức độ phù hợp và tiềm năng thị trường; các lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như chính trị, xã hội là những điều kiện cần thiết, thúc đẩy việc tạo dựng cho đầu tư nước ngoài một vị trí trọng yếu trong định hướng phát triển của mỗi một nền kinh tế.

    Vậy đầu tư nước ngoài là gì?

    Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường Đại học Ngoại Thương đã chỉ rõ: Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội [11].

    Nói cách khác, đầu tư nước ngoài chính là quá trình trong đó nhà đầu tư tiến hành sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận trên đất nước khác bằng chính tài sản vốn có của mình. Từ đây, có thể suy ra rằng, về mặt bản chất, đầu tư nước ngoài là một hình thức xuất khẩu tư bản. Hình thức này, trong tương quan với hình thức xuất khẩu hàng hóa, đang không ngừng phát triển, chiếm ưu thế và ngày càng hỗ trợ mạnh mẽ hình thức xuất khẩu hàng hóa.

    14

    Thực tế cho thấy, việc tiến hành đầu tư sang một quốc gia khác diễn ra trong sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên – bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Trong bối cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế như hiện nay, có thể ví sự hợp tác này như „những đợt sóng ngầm‟ bởi bên trong nó luôn tiềm ẩn một sự cạnh tranh gay gắt. Thách thức này đòi hỏi hai bên phải biết cách dung hòa lợi ích để vừa đảm bảo lợi nhuận cho chủ đầu tư, vừa góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân nước nhận đầu tư.

    2.                 Đặc điểm đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Vốn đầu tƣ

    Vốn đầu tư bao gồm tiền, đất đai, máy móc, nhà xưởng, bằng phát minh sáng chế v.v. có thể được dùng để huy động và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự di chuyển nguồn vốn (hoặc vận hành trong nước, hoặc ra khỏi biên giới quốc gia) làm nên điểm khác biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Vận động này đồng thời mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ, trình độ quản lý cũng như cải thiện cơ sở vật chất của mình.

    2.2. Tính sinh lợi

    Đầu tư nước ngoài mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho nước nhận đầu tư. Đây chính là nguyên nhân sâu xa và là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư giữa các quốc gia.

    2.3. Tính mạo hiểm

    Cũng như các hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư nước ngoài chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư có thể khác so với dự tính ban đầu, lợi nhuận thu được có thể ít hơn chỉ tiêu đặt ra hoặc thậm chí là thua lỗ. Thậm chí, đầu tư nước ngoài còn chịu nhiều áp lực hơn so với đầu tư trong nước. Điều này có nghĩa là, các nhà đầu tư khi kinh doanh ngoài biên giới quốc gia phải đối mặt với những bất lợi không chỉ do khoảng cách địa lý, khác biệt về pháp luật v.v. mang lại mà thường trực hơn cả là do những bất đồng về văn hóa như ngôn ngữ, cách thức làm việc, thị hiếu tiêu dùng v.v. gây ra. Dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất

    15

    bại, do đó, trở thành một trong những “phẩm chất” của những nhà đầu tư ra nước ngoài.

    3. Phân loại đầu tƣ nƣớc ngoài

    Dựa trên tiêu chí phương thức sử dụng vốn, đầu tư nước ngoài được phân thành hai loại là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.

    3.1. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Theo điều 3 Luật đầu tư Việt Nam thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006, hoạt động Đầu tư gián tiếp được định nghĩa như sau: Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo cách hiểu này, hoạt động đầu tư gián tiếp do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện được tiến hành thông qua các hình thức sau:

    • Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của Chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính.
    • Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.

    Về cơ bản, có thể thấy, quan điểm trên rất gần với định nghĩa sau của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một Công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài.

    Từ đây, có thể khái quát về hai đặc trưng chính của FII như sau:

    • Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán.

    16

    • Nhà đầu tư không kèm cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài, FII là hoạt động tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.

    Những đặc trưng trên tạo nên các ưu điểm cho hình thức đầu tư gián tiếp như sau: tăng khả năng tự chủ về vốn kinh doanh cho bên tiếp nhận đầu tư và giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư khi kinh doanh gặp sự cố (vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu). Tuy nhiên, nhược điểm lớn của hình thức này là việc khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa của bên chủ đầu tư làm giảm khả năng thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ từ nước ngoài. Hơn nữa, hiệu quả sử dụng vốn theo hình thức này thường thấp do phía nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư.

    3.2. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI)

    FDI phân biệt với FII ở quyền kiểm soát đối với đối tượng mà nhà đầu tư bỏ vốn. Theo IMF, FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp . Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường đại học Ngoại Thương cũng thống nhất cách với hiểu này khi cho rằng: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn số vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Như vậy, với số vốn nhất định được bỏ ra, nhà đầu tư được quyền tự mình điều hành việc sản xuất kinh doanh và chấp nhận mọi rủi ro xảy ra trong quá trình điều hành ấy; nói cách khác, trong trường hợp này, quyền sở hữu vốn thống nhất với quyền sử dụng vốn. Từ đây, có thể khái quát một số đặc điểm của FDI như sau:

    Mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà đầu tư tiến hành đưa vốn sang một thị trường khác với mong muốn tận dụng được những lợi thế của nơi tiếp nhận vốn để nâng cao hiệu quả và tỉ suất lợi nhuận của khoản đầu tư. Nước tiếp nhận vốn FDI này cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh

    17

    để dung hòa lợi ích của cả hai bên, hướng FDI vào việc phát triển kinh tế, xã hội của nước mình.

    Để dành được quyền kiểm soát, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định pháp luật từng nước. Theo luật Mỹ, tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30% và trong những trường hợp đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%. Tỷ lệ vốn góp của chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ cũng như sự phân chia lợi nhuận của mỗi bên.

    Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh nên họ sẽ lựa chọn phương án có lợi nhất cho việc đầu tư, tạo cơ hội cho nước nhận đầu tư tiếp thu công nghệ, máy móc thiết bị, bí quyết kĩ thuật, trình độ quản lý v.v. do vậy mức độ khả thi của dự án là khá cao. Việc nắm quyền kiểm soát và tự chịu trách nhiệm lỗ lãi khiến dự án ít bị ràng buộc về chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.

    4. Vai trò của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với nền kinh tế quốc gia

    Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra trên cơ sở hợp tác giữa hai bên vì mục tiêu cùng có lợi, vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp đến cả nước nhận đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, hoạt động này không chỉ tác động đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính trị, xã hội của các bên.

    4.1. Từ góc độ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ

    Có thể nói rằng, dòng vốn đầu tư nước ngoài mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế cho quốc gia tiếp nhận.

    Đầu tiên phải nói đến là việc giải quyết vấn đề thiếu vốn đặc biệt ở các nước chậm phát triển. Với mức tích lũy nội bộ thấp, tình trạng thiếu vốn thường xuyên ở các nước này gây hạn chế quy mô đầu tư, giảm năng lực đổi mới kĩ thuật, mất cân bằng cán cân xuất nhập khẩu v.v. Do đó, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp cần thiết giúp các quốc gia này giải quyết những khó khăn trên.

    18

    Đầu tư nước ngoài mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của phía chủ đầu tư. ở các nước kém phát triển, phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được là kết quả của các kênh viện trợ, trao đổi công nghệ và đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Ngay cả một quốc gia giàu mạnh như Mỹ, việc thu hút đầu tư từ Nhật Bản và các nước tiên tiến khác nhằm mục đích chuyển giao công nghệ cũng rất được chú trọng.

    Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần mức đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào tổng giá trị nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo của quốc gia như công nghiệp điện, công nghiệp phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế tạo v.v. Đây là những ngành có quy mô lớn, đòi hỏi vốn và trình độ kĩ thuật cao, vì thế, nguồn lực huy động được từ nước ngoài là vô cùng cần thiết.

    Hơn nữa, sự có mặt của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa còn được coi là nguồn động lực thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương cải tiến mọi mặt để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

    Bên cạnh những tác động đến kinh tế, đầu tư nước ngoài cũng mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực về mặt xã hội.

    Như một điều tất yếu, khi nguồn vốn nước ngoài đổ vào nền kinh tế, các ngành sản xuất mà nó hướng tới sẽ có sự mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, kéo theo đó là sự gia tăng nhu cầu nhân lực, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp. Hơn nữa, nhờ sự tiếp xúc với trình độ kỹ thuật tiên tiến mà chủ đầu tư mang lại, lao động nước nhận đầu tư sẽ có cơ hội được đào tạo và nâng cao tay nghề, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng lao động.

    Thực tế cho thấy, người lao động làm việc cho các công ty, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường nhận được mức lương cao hơn, môi trường làm việc tốt hơn, các chế độ đãi ngộ cũng như phúc lợi xã hội cũng được quan tâm hơn so với các doanh nghiệp địa phương. Nhờ đó, chất lượng cuộc sống của người lao động

    19

    nhìn chung được nâng cao. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu lớn mà các quốc gia hướng tới khi tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    Không những thế, sự thừa hưởng các giá trị từ nền công nghệ tiên tiến và cách thức quản lý hiệu quả của các chủ đầu tư nước ngoài giúp cải thiện phần nào các vấn đề về môi trường ở nước tiếp nhận đầu tư. Cụ thể là, ở những nước chậm phát triển, tình trạng khai thác bất hợp lý và việc sử dụng kĩ thuật lạc hậu đã gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường. Chính sự tiếp thu công nghệ mới và việc vận dụng có hiệu quả cách thức quản lý đã tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững ở các quốc gia này.

    Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ ngoại giao, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế.

    Nhận thức được những lợi ích kinh tế, xã hội mà các dự án đầu tư mang lại, các quốc gia không ngừng tạo điều kiện để thu hút đầu tư. Đến lượt mình, các dự án đầu tư cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các nước; thúc đẩy hội nhập, tự do hóa toàn cầu. Thực tế cho thấy, ngày càng có nhiều khối nước, các tổ chức thế giới ra đời vì lợi ích chung và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Có thể coi đó là minh chứng của quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia.

    4.2. Từ góc độ nƣớc chủ đầu tƣ

    Kinh doanh ở nước ngoài tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, thế nhưng trên thực tế, trên thế giới, hình thức kinh doanh này đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Nguyên nhân chính là ở chỗ các nhà đầu tư tìm thấy ở những các thị trường nước ngoài tiềm năng lớn để kinh doanh, đó là những yếu tố về độ lớn thị trường, giá cả lao động, sự phong phú về tài nguyên, các chính sách ưu đãi của Nhà nước v.v. Những thuận lợi này khiến họ bất chấp khó khăn và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình.

    Phần lớn những nước đi đầu tư là những nước công nghiệp phát triển. Thông qua việc đầu tư, họ có thể giải quyết được tình trạng dư thừa tương đối của tư bản

    20

    trong nước, kéo dài vòng đời sản phẩm, từ đó tận dụng triệt để hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Họ có thể tìm thấy những thị trường ổn định để cung cấp nguyên vật liệu với giá cả có lợi; chẳng hạn, các nước chậm phát triển – nơi công nghệ còn lạc hậu, tích lũy thấp gây cản trở việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vốn có có thể trở thành thị trường tiềm năng của các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài giúp chủ đầu tư tăng cường sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín trên thị trường. Việc các doanh nghiệp xây dựng các nhà máy sản xuất ở nước ngoài trong hoạt động đầu tư có thể giúp họ vừa mở rộng được thị trường tiêu thụ, vừa tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước. Đối với những dự án cho vay vốn ở quy mô lớn với lãi suất ưu đãi, các chủ đầu tư có thể có những lợi ích nhất định về chính trị cũng như khả năng chi phối các nước nhận đầu tư.

    III. Lý luận về rào cản văn hóa

    1. Khái niệm rào cản và rào cản văn hóa

    Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: với tư cách là những động từ, rào có nghĩa là ngăn hẳn lối đi, thường là để bảo vệ một khu vực, không cho ra vào tự do [7,792]; còn cản ngăn giữ lại, không cho tiếp tục vận động hoặc hoạt động theo một hướng nào đó [7,105]. Hai thành tố trên kết hợp với nhau tạo ra từ ghép rào cản. Tuy từ ghép này không có mặt trong từ điển nhưng có thể hiểu nghĩa của đơn vị từ vựng này từ nghĩa hợp thành của hai thành tố trên, hoặc có thể thấy sự tương đương về mặt ý nghĩa của nó với từ cản trở, nghĩa là gây trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng [7,105], có thể dùng như một động từ hoặc một danh từ.

    Với tư cách là một thuật ngữ dùng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, rào cản được dùng để chỉ những trở ngại làm cho một hoạt động kinh doanh nào đó không được tiến hành một cách suôn sẻ, thuận lợi. Trở ngại này có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Nếu đặt hoạt động kinh doanh trong điều kiện giao lưu kinh tế sôi động như hiện nay, những trở ngại do sự khác biệt về văn hóa luôn đặt các nhà đầu tư trước những thách thức lớn. Vậy rào cản văn hóa là gì?

    21

    Trước hết, cần khẳng định rằng, rào cản văn hóa là những khó khăn, cản trở gây ra bởi sự khác biệt về văn hóa, nhất là khi có sự tiếp xúc, va chạm giữa những nền văn hóa khác nhau. Những khó khăn này nảy sinh từ sự bất đồng về cách tư duy, phong tục, tập quán, tín ngưỡng – tôn giáo, quan điểm thẩm mĩ, v.v. dẫn đến việc hiểu lầm hay không hiểu, làm đôi bên thấy bối rối, khó chịu, thậm chí còn thấy bị xúc phạm. Đây rõ ràng là những điều nằm ngoài ý muốn của các bên, có tác động tiêu cực đến việc xây dựng các mối quan hệ, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Tuy vậy, sự phong phú và phức tạp của phạm trù văn hóa giữa các quốc gia khiến cho những bất đồng này trở nên ngày càng phổ biến. Do đó, việc tìm hiểu văn hóa nước sở tại là điều nhà đầu tư không thể coi nhẹ khi thâm nhập vào một thị trường mới.

    2. Rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài thường gặp phải những rào cản văn hóa do khác biệt về các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, cách tư duy, thị hiếu thị trường, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Các rào cản này ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài trên hai khía cạnh:

    Về công tác quản lý: Bao gồm tất cả quá trình quản lý như cách thức tổ chức phân công trách nhiệm và giải quyết công việc, quá trình lên kế hoạch và chiến lược phát triển, quản lý nhân sự ở các khâu: tuyển dụng, chế độ lương thưởng và phúc lợi xã hội…

    Về hoạt động kinh doanh: Bao gồm tất cả quá trình từ lựa chọn thị trường, lựa chọn hình thức đầu tư, đàm phán kí kết hợp đồng, đưa dự án vào hoạt động, các chiến lược marketing…

    2.1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa những con người đến từ các nền văn hóa khác nhau. Là một phương tiện giao tiếp trọng yếu, ngôn ngữ luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên bởi các đối tác sử dụng các thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau. Thực tế đã ghi nhận không ít bất đồng xảy ra trong quá trình trao đổi, tiếp xúc khi

    22

    với cùng một lời nói hay cử chỉ nhưng ở các nước khác nhau người ta có những cách lý giải khác nhau.

    Hiện nay trên thế giới có đến hàng nghìn ngôn ngữ chính thức được sử dụng. Không chỉ ở các quốc gia khác nhau mà ngay cả trong cùng một quốc gia cũng tồn tại nhiều thứ tiếng khác nhau. Bất đồng ngôn ngữ này khiến cho việc truyền tải thông tin giữa các chủ thể bị cản trở đáng kể. Các quốc gia nói tiếng Anh có lợi thế lớn bởi gần 2 tỉ người trên Thế giới hiểu ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên, ngay cả người Anh và người Mỹ cũng không tránh khỏi những bất đồng dù cùng sử dụng một ngôn ngữ chung. Bên cạnh sự khác biệt về hệ thống từ ngữ do tiếng nói quy định, cách thức giao tiếp cũng là một vấn đề trong các cuộc giao tiếp xuyên văn hóa. Người Latin coi việc cắt ngang lời đối phương là một cách thể hiện sự thích thú của mình đối với những gì người kia đang nói, nhưng điều này lại bị coi là bất lịch sự đối với một số dân tộc. Tương tự, kiểu giao tiếp im lặng của người phương Đông thường khiến người phương Tây khó chịu, vì họ coi khoảnh khắc im lặng là một thất bại trong giao tiếp. Với ngữ điệu lên xuống, người Latin cảm thấy mình đang tỏ ra tâm huyết với vấn đề. Trong khi đó, xã hội phương Đông lại có xu hướng giữ nguyên âm điệu để kìm chế cảm xúc và thể hiện sự tôn trọng với người nghe.

    Chẳng hạn, cử chỉ giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện hay hành động trao, nhận danh thiếp được các cộng đồng ngôn ngữ quy ước theo những cách khác nhau. Nếu người Phần Lan và người Pháp coi việc nhìn thẳng vào mắt đối tác là biểu hiện của sự chân thật thì người Nhật và người Hàn Quốc lại cho đó là một cử chỉ suồng sã, bất lịch sự. Ở Châu Phi cũng như các nước Mỹ Latin, người có địa vị thấp hơn nhìn thẳng vào mắt của người có địa vị cao hơn sẽ bị cho là bất kính. Còn trong trường hợp trao và nhận danh thiếp, người Mỹ cho rằng, người tặng danh thiếp quan trọng hơn tấm danh thiếp, nên khi nhận, họ sẽ chỉ nhìn lướt qua danh thiếp được tặng hoặc thậm chí không nhìn trước khi cất đi hay bỏ vào túi. Tuy nhiên hành động này sẽ khiến người Nhật cho là thiếu tôn trọng bởi họ xem danh thiếp cũng giống như là sự hiện diện của bản thân, trao và nhận danh thiếp phải bằng hai tay, nhận rồi

    23

    thì phải đọc qua chứ không được cất ngay và hành động gấp lại hay làm nhàu tấm danh thiếp sẽ không khác gì một sự sỉ nhục.

    Tặng quà cũng là một thông điệp đặc biệt của ngôn ngữ. Tuy nhiên không phải món quà nào, thời điểm tặng nào cũng nhận được sự hoan nghênh. Ví dụ: ở Anh, người ta hiếm khi tặng quần áo vì họ cho rằng quần áo là một điều gì đó rất riêng tư; người Trung Quốc và Đài Loan lại ít tặng nhau đồng hồ báo thức vì đồng hồ phát ra âm giống như từ “chấm dứt” với ý nghĩa “kết thúc tất cả” hay “đi đến chỗ chết”. Còn ở Ý, Thái Lan hay Brazil, người ta không bao giờ tặng khăn mùi xoa vì theo họ, đó là vật lau nước mắt, việc tặng khăn là một điềm báo báo hiệu một thảm kịch nào đó sắp xảy ra với người nhận. Các nước Châu Âu thường tặng quà chỉ sau một vài lần hợp tác với nhau và chỉ khi mối quan hệ đã được phát triển. Trong khi đó, Nhật Bản lại chú trọng đến việc tặng quà ngay lần gặp đầu tiên. Ở những nước có nạn tham nhũng lớn như Malaysia và Paraguay, những món quà có thể bị hiểu nhầm là hối lộ.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đối với công tác quản lý: Rào cản do khác biệt ngôn ngữ làm giảm hiệu quả công tác quản lý. Cụ thể như sau:

    Ngôn ngữ là chiếc cầu nối để tiếp cận các nền văn hóa khác nhau. Một khi có sự bất đồng về ngôn ngữ thì khoảng cách do khác biệt văn hóa trở nên khó rút ngắn hơn. Điều này cản trở các nhà quản lý trong việc tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với các đồng nghiệp ngoại quốc của mình.

    Khi có sự bất đồng về ngôn ngữ, khả năng trao đổi thông tin giữa các bên trở nên hạn chế. Nhân viên không hiểu hết hoặc có thể hiểu nhầm mệnh lệnh của ông chủ, ngược lại, ông chủ không thể nắm bắt được vấn đề của nhân viên. Tình trạng này gây ra sự phối hợp thiếu ăn ý trong nội bộ doanh nghiệp, trầm trọng hơn có thể gây trì trệ hoạt động của doanh nghiệp đó.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đến hoạt động kinh doanh

    24

    Kinh doanh ở một môi trường khác biệt về ngôn ngữ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Sự khác biệt này có thể là rào cản đối với hầu hết các hoạt động kinh doanh, từ giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng, đến tiến hành hoạt động marketing cho sản phẩm.

    Quá trình đàm phán diễn ra thuận lợi hay không không chỉ phụ thuộc vào khả năng thuyết phục, thương lượng của người đàm phán mà còn tùy thuộc vào mức độ am hiểu ngôn ngữ đối phương. Trong đàm phán, dùng từ ngữ chính xác là điều rất quan trọng. Bất đồng ngôn ngữ dễ dẫn đến tình trạng dùng sai từ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả đàm phán. Việc hiểu sai hoặc không hiểu ngôn ngữ không lời của đối tác cũng dẫn đến những kết quả không mong đợi.

    Trong trường hợp bản hợp đồng được diễn giải bằng một ngôn ngữ chung cho hai bên thì cũng không thể chắc chắn đôi bên sẽ cùng chung một cách hiểu. Khác biệt ngôn ngữ có thể dẫn đến những cách lý giải khác nhau, là nguyên nhân của những tranh chấp sau này.

    Bất đồng ngôn ngữ gây khó khăn cho việc hoạch định chiến lược marketing ngay từ khâu điều tra thị trường. Nhà quản lý không chỉ khó khăn trong việc soạn thảo một bảng câu hỏi và dịch sang các thứ tiếng sao cho chuẩn xác, mà còn mất nhiều công sức để luận ý các câu trả lời. Tương tự, khâu quảng cáo giới thiệu về sản phẩm cũng gặp nhiều trở ngại vì những bất đồng ngôn ngữ. Cùng một cụm từ, nhưng mỗi nền văn hóa khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Về mặt lí thuyết, tư duy mang tính phổ quát cho toàn nhân loại. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhìn nhận tư duy ở sự khác biệt được thể hiện trong các nền văn hóa khác nhau. Sự khác biệt này thường tạo ra những bất đồng trong cách suy nghĩ và cách giải quyết vấn đề đặc trưng cho từng dân tộc ở hai nền văn hóa Đông, Tây.

    Tư duy phương Tây tuân thủ các nguyên tắc logic. Ví dụ: nếu ta có 2 nhóm A và B, thì chắc chắn, một vật sẽ không thể vừa thuộc nhóm A, vừa thuộc nhóm B vì như vậy là phản logic, không có ích lợi cho tư duy khoa học. Có thể nói, tư duy

    25

    phương Tây là tư duy kiểu “trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám” (Theo cuốn “The Geography of Thought” của giáo sư Richard Nisbet) [17]. Kiểu tư duy này khá cứng nhắc và dễ dẫn đến những hành động cực đoan bởi nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Điều này giải thích tại sao người phương Tây có xu hướng đi thẳng vào vấn đề khi đàm phán, sẵn sàng trả lời “không”, rất coi trọng giá trị của hợp đồng và không ngại kiện ra tòa nếu đối tác vi phạm. Trong khi đó, truyền thống tư duy của phương Đông lại cho rằng bản chất của thực tại là luôn thay đổi và mọi vật không tồn tại bất biến mà luôn trong quá trình chuyển hóa thành một trạng thái khác tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Do đó, người phương Đông có xu hướng tìm cách dung hòa xung đột, trong cách nói năng thường ít bộc lộ rõ ràng ý kiến. Với họ, bản hợp đồng không phải là duy nhất và hiển nhiên có thể thay đổi khi cần và sự can thiệp của pháp luật chỉ được tính đến khi mọi nỗ lực thương lượng không phát huy tác dụng.

    Cách tư duy về thời gian cũng rất khác biệt giữa các nền văn hóa. Một số nước như Mỹ, Thụy Điển, Hà Lan, thời gian được nhận thức là trôi qua theo một đường thẳng, một tiếp nối của những sự kiện riêng rẽ. Còn ở một số nền văn hóa khác thì thời gian giống như một vòng quay, quá khứ, hiện tại và tương lai có mối quan hệ chặt chẽ. Điều này tạo nên sự khác biệt đáng kể trong việc lên kế hoạch hay chiến lược đầu tư của từng nền văn hóa.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến công tác quản lý

    Bất đồng về cách tư duy dẫn đến những khác biệt về cách nói cũng như hành động, cản trở quá trình giao tiếp từ đó ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các cá nhân. Tư duy kiểu phương Tây quy định cách suy nghĩ đơn giản, rõ ràng, thẳng thắn, vì thế, cách nói của họ cũng mang nét đặc trưng này. Người Châu Á lại có lối tư duy mềm dẻo hơn nên họ tin rằng luôn có cách ổn thỏa để giải quyết vấn đề, trong giao tiếp họ giữ gìn hòa khí và đề cao sự ý tứ. Vì thế, lối nói của người phương Tây khiến họ thấy thiếu tế nhị, đôi khi quá thẳng thắn thành ra thô lỗ.

    26

    Cách tư duy khác nhau về thời gian tạo nên sự khác biệt trong việc lên kế hoạch dài hạn. Người Mỹ tư duy thời gian như một chuỗi các sự kiện liên tục, dài hạn đối với họ chỉ là mấy tháng, nhiều nhất là 2 năm. Trong khi đó, các quốc gia coi thời gian là một vòng luân hồi giữa quá khứ, hiện tại, tương lai thì lập kế hoạch cho 10,20, thậm chí hàng trăm năm.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến hoạt động kinh doanh

    Quá trình đàm phán, thương lượng diễn ra giữa đối tác người phương Tây và phương Đông chịu ảnh hưởng đáng kể do khác biệt tư duy. Người phương Tây sẽ gây khó chịu cho đối tác Châu Á nếu họ giữ thái độ tranh thủ thời gian mọi lúc mọi nơi để tiếp cận vấn đề, sẵn sàng nói “không” khi cảm thấy chưa thỏa mãn và không ngần ngại kiện ra tòa nếu bị xâm phạm quyền lợi. Người Châu Á thường bỏ qua vấn đề thời gian chỉ để tìm hiểu đối tác của mình. Nếu không đồng ý, họ thường diễn đạt vòng vo, rườm rà thay vì nói thẳng là “không”. Nếu có tranh chấp xảy ra, họ tìm cách để hòa giải, tòa án chỉ được lưu ý đến khi nỗ lực thương lượng không phát huy hiệu quả.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Một sản phẩm muốn được thị trường tiếp nhận thì nhất thiết phải thỏa mãn sở thích, phong cách hay mong muốn của người tiêu dùng ở thị trường đó. Nắm được các tiêu chí này cũng là một thách thức lớn đối với nhà sản xuất bởi thị hiếu tiêu dùng luôn biến đổi dưới sự chi phối của các nền văn hóa khác nhau. Nhà đầu tư không còn cách nào khác phải đa dạng hóa sản phẩm của mình sao cho phù hợp với mỗi thị trường đầu tư. Ví dụ như sản phẩm ô tô Nhật Bản. Theo đặc điểm văn hóa mỗi nước, các chức năng ban đầu của sản phẩm phải có những thay đổi cần thiết về màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng, bao bì.

    • Về màu sắc, màu đen là màu sang trọng ở nhiều nước Tây Âu, Bắc Mỹ nhưng lại là màu tang tóc ở Nhật Bản; màu xanh lá cây lại bị coi là màu ốm yếu ở Malaysia.

    27

    • Về kích cỡ, hãng Toyota năm 1991 đã phải tăng kích cỡ ô tô Camry của mình thêm 3 inch khi thâm nhập vào thị trường Mỹ để cạnh tranh với hãng Ford và General Motors hiện có ở đất nước này.
    • Về kiểu dáng, nhiều hãng ô tô Nhật Bản, Bắc Mỹ và Tây Âu đã phải chuyển đổi hệ thống tay lái từ bên phải sang bên trái khi thâm nhập vào Việt Nam và nhiều nước thuộc hệ thống chủ nghĩa xã hội (cũ).

    Sự thay đổi trên là một nỗ lực của hãng Toyota trong chiến lược toàn cầu hóa sản phẩm của mình. Nhà sản xuất phải bỏ ra không ít công sức, tiền của để tìm hiểu thị trường, thiết kế lại mẫu mã, thậm chí đầu tư thêm dây chuyền sản xuất để có được sự điều chỉnh đúng đắn đó.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt thị hiếu tiêu dùng đối với hoạt động kinh

    doanh

    Rào cản này ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những khác biệt về thị hiếu của người tiêu dùng ở các nền văn hóa khác nhau gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc nghiên cứu thị trường, xác định điều chỉnh sản phẩm sao cho phù hợp. Bởi công việc này đòi hỏi chi phí lớn về cả công sức, thời gian và tiền của.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của mình.

    Những khác biệt về văn hóa kinh doanh được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư đến từ các nền văn hóa khác nhau. Hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các thành viên tham gia phải làm việc trong những môi trường mới với vô số những khác biệt về cách thức kinh doanh, thái độ đối với việc phát triển quan hệ kinh doanh, quan niệm về giá trị nghề nghiệp, thái độ đối với sự đúng giờ giấc hay cách đàm phán, kể cả phong tục tặng quà, cách thức ăn mặc, ý

    28

    nghĩa về màu sắc và con số, quan niệm về tước hiệu, v.v. Tất cả những yếu tố này góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh đặc thù mà bản thân nhà quản lý cũng như nhân viên của họ vừa là những chủ thể quyết định cũng vừa là chủ thể bị chi phối.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt văn hóa kinh doanh đến công tác quản lý

    Khác biệt văn hóa kinh doanh gây khó khăn trong việc xây dựng một mô hình quản lý doanh nghiệp. Một nhà đầu tư đến từ Mỹ sẽ gặp rất nhiều cản trở khi làm việc ở một công ty Nhật. Bởi mô hình văn hóa kinh doanh của họ rất khác nhau. Người Mỹ có cách quản lý phân quyền rõ ràng, các cấp bậc cao thể hiện chức năng điều hành cấp bậc thấp hơn, nhân viên tuân lệnh ông chủ và mối quan hệ giữa họ chỉ dừng lại ở mức độ công việc. Người Nhật lại có cách quản lý công ty theo kiểu “gia đình”. Người lãnh đạo được xem như là người cha, nắm giữ quyền lực theo hướng ôn hòa, không có tính đe dọa. Các thành viên gắn bó thân thiết với nhau, sự hài lòng trong các mối quan hệ gia đình tạo ra động cơ làm việc, năng suất lao động cao và giải quyết các mâu thuẫn.

    Khác biệt văn hóa kinh doanh còn gây khó khăn cho nhà quản lý trong việc quản lý nhân sự. Đầu tiên là khâu tuyển dụng. Mô hình văn hóa theo hướng gia đình đặc biệt coi trọng mối quan hệ. Những cá nhân có quan hệ họ hàng hoặc gắn bó thân thiết với thành viên nào đó trong công ty sẽ được ưu tiên. Vấn đề năng lực không phải là quan trọng nhất như ở mô hình văn hóa kinh doanh phân bậc rõ ràng. Tiếp đến là việc khen thưởng, tăng lương cho nhân viên. Ở các nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, việc áp dụng phương pháp trả lương theo hiệu quả công việc có thể phát huy hiệu quả. Thế nhưng, phương pháp này lại không mang đến kết quả tương tự, thậm chí còn thất bại thảm hại ở các nền văn hóa giàu tính cộng đồng hơn.

    2.5. Rào cản do khác biệt văn hóa ngƣời lao động

    Văn hóa người lao động là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến cách thức làm việc, chất lượng công việc, mối quan hệ giữa người lao động với nhau và người lao động với người quản lý nói chung. Tổng thể ấy bao gồm trình độ, kỹ năng của

    29

    người lao động, hay là thói quen, quan niệm của họ đối với công việc cũng như thái độ đối với cấp trên và những người xung quanh.

    Mỗi nền văn hóa khác nhau tất yếu có những nét khác nhau về văn hóa người lao động và sự hòa hợp giữa những khác biệt này là điều rất cần thiết để duy trì một mối quan hệ tốt đẹp giữa những đồng nghiệp với nhau. Điều này sẽ quyết định sự thống nhất trong hoạt động của một tập thể bao gồm những cá nhân đến từ các nền văn hóa khác nhau với cùng mục đích là làm việc vì một sự thịnh vượng chung.

    Ảnh hưởng của rào cản đối với công tác quản lý

    Chênh lệch trình độ lao động là một cản trở đối với nhà đầu tư trong việc tuyển dụng nhân sự. Để tìm được một cá nhân đáp ứng được nhu cầu công việc, nhà quản lý phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ cho công tác tuyển dụng này. Ở các quốc gia nghèo, giáo dục chưa được đầu tư thích đáng, vấn đề về kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng của lao động là một thách thức đối với các nhà đầu tư.

    30

    CHƢƠNG II

    NHỮNG RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Tổng quan về hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Trong vòng hơn hai mươi năm trở lại đây, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những chuyển biến không ngừng. Trong khi FDI đã trải qua những mốc thăng trầm lịch sử thì FII vẫn còn khá mới mẻ đối với nước ta. Tuy nhiên, cả hai hoạt động đầu tư này đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước, hứa hẹn những bước tiến mới trong những năm tới khi mà vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đang ngày càng được khẳng định.

    1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

    1.1. Tình hình vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài từ năm 1988 đến nay

    (Theo số liệu của Tổng Cục thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Trong 3 năm 1988-1990: Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam mới được ban hành không lâu nên hiệu quả thu hút FDI chưa có gì đáng kể, con số dự án FDI vẫn còn rất khiêm tốn (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD).

    Thời kỳ 1991-1996: Đây được coi là thời kỳ bùng nổ FDI tại Việt Nam với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký 28.3 tỷ USD. Con số này chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh tại nước ta đã bắt đầu lôi cuốn nhà đầu tư bởi những điểm hấp dẫn như nhân lực dồi dào, giá rẻ, thị trường mới… Nguồn vốn FDI mang lại đã ảnh hưởng lan rộng đến các thành phần kinh tế, đóng góp đáng kể cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đất nước.

    Thời kỳ 1997-1999: Có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD. Như vậy FDI cũng trên đà tăng trưởng tuy các dự án này chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, vốn đăng ký năm sau ít hơn năm trước và cũng có nhiều dự án được cấp phép phải tạm dừng triển khai do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc và Hồng Kông).

    Thời kỳ 2000-2005: Nguồn vốn FDI thu được trong giai đoạn này là 20,8 tỷ USD, vượt 73% kế hoạch đưa ra tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001

    31

    của Chính phủ. Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2 lần năm 1990, GDP giai đoạn này đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7%).

    Thời kỳ 2006-2007: Dòng vốn FDI tiếp tục gia tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án có quy mô lớn, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao…) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch dịch vụ cao cấp…). Sự gia tăng này cũng góp phần làm tăng GDP các năm. Năm 2006, GDP đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,29%). Năm 2007, GDP đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,6%).

    Năm 2008: Nếu đến năm 2007, tổng vốn FDI đạt 21,3 tỷ USD đã được coi là đạt kỷ lục cho đến thời điểm đó thì năm 2008 có thể xem là điểm nhấn đánh dấu thành công lớn nhất của dòng FDI. Tính đến 19/12, tổng vốn đăng ký đã đạt hơn 64 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2007 và gấp 2 lần con số của hai năm 2006, 2007 cộng lại. Những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá, điển hình là dự án Khu liên hợp Thép Cà Ná tại Ninh Thuận với tổng vốn đăng kí đạt tới 20,3 tỷ USD. Theo quan điểm của ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì chỉ tiêu này chứng tỏ “sự nhìn nhận lạc quan của quốc tế đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam trong dài hạn”.

    Năm 2009 đến nay: Đặt trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế Thế giới và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế do các điểm yếu cố hữu của nền kinh tế Việt Nam, vốn đăng ký FDI năm 2009 chỉ đạt 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008. Tuy vậy, dòng vốn này có dấu hiệu phục hồi trong những tháng đầu năm

    1. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân 4 tháng đầu năm lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ 2009.

    1.2. Hình thức đầu tƣ

    32

    Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp FDI thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 6.685 dự án, tổng vốn đăng ký 21,2 tỷ USD. Tiếp theo là hình thức liên doanh với 1.619 dự án, tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD. Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD, số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. Tỷ trọng FDI theo hình thức đầu tư được thống kê như sau:

    FDI theo hình thức đầu tư 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    Hình thức đầu tƣ Số dự án Vốn đầu tƣ Vốn điều lệ   ĐT thực
      hiện
             
    100% vốn nước ngoài 77.65% 61.65% 59.84%   38.74%
               
    Liên doanh 18.89% 28.89% 25.89%   38.12%
               
    Hợp đồng hợp tác KD 2.60% 5.38% 11.50%   19.36%
               
    Hợp đồng BOT,BT,BTO 0.09% 2.01% 1.27%   2.49%
               
    Công ty cổ phần 0.76% 1.95% 1.26%   1.24%
               
    Công ty Mẹ – Con 0.01% 0.12% 0.23%   0.05%
               
    Tổng số 100.00% 100.00% 100.00%   100.00%
               
    Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư  

    1.3. Lĩnh vực đầu tƣ

    Đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất trên tổng các lĩnh vực đầu tư với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm tỉ lệ về số dự án, tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện lần lượt là 67,1%; 60,44%; 68,57%. Sang năm 2008, vốn FDI vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực này. Các dự án như thăm dò khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện tử và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may… đang giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ. Thông qua các dự án này, FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, đặc biệt

    33

    là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD cho dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech…)

    Không chỉ dừng lại ở đó, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1.982 tỷ USD năm 2008 và giá trị xuất khẩu đạt 24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, được xem là một kỷ lục của FDI. Sang năm 2009, lĩnh vực đầu tư có phần đổi mới. Dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài, tiếp đến là lĩnh vực bất động sản và sau đó là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.4. Địa bàn đầu tƣ

    Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nhất trong cả nước. Với môi trường kinh doanh năng động, hệ thống giao thông khá thuận lợi, trình độ lao động nhìn chung cao, thị trường rộng lớn, nhiều khu công nghiệp tập trung đã và đang được xây dựng… khiến cho FDI của Thành phố lớn mạnh không ngừng và đang thực sự trở thành nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển của cả nước. Tính đến hết năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 27,63% về số dự án, 21,71% về vốn thực hiện, tiếp đến là Hà Nội với 11,64% về số dự án và 12,28% về vốn thực hiện. Bình Dương cũng là một địa phương có mức FDI cao, chiếm 18,21% về số dự án và 7,11% về vốn thực hiện, sau đó là các địa bàn khác như Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Dương…

    FDI theo địa phương năm 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

            Đơnvị: tỷ USD
             
    Địa phương Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ Vốn thực hiện
             
    TP Hồ Chí Minh 2399 17,013 7,100 6,347
             
    Hà Nội 1011 12,664 5.661 3,589
             
    Đồng Nai 917 11,665 4,655 4,152
             
    Bình Dương 1581 8,516 3,452 2,078
             
    Hải Phòng 270 2,729 1,148 1,273
             

    34

    Bà Rịa-Vũng Tàu 159 6,111 2,397 1,267
             
    Hải Dương 278 1,830 0,703 0,439
             
    Vĩnh Phúc 151 2,034 0,647 0,438
             

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Năm 2009, Bà Rịa-Vũng Tàu lại là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô đăng ký vốn lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    1.5. Đối tác đầu tƣ

    Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong vòng 20 năm kể từ năm 1988 đến 2007, đã có 81 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, Châu Âu chiếm 24%, Châu Mỹ chiếm 5%. Các chủ đầu tư Châu Á vẫn giữ vị trí chủ đạo cho đến hết năm 2008. Trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, Malaysia đứng đầu bảng với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, chiếm 4,7% về số dự án và 24% về vốn đăng ký. Đài Loan đứng thứ 2, có 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD, Nhật Bản xếp thứ 3 với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 2009 bộ mặt các nhà đầu tư có phần thay đổi so với trước. Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ (tổng vốn đăng ký 9,8 tỷ USD chiếm 45,6%), Cayman Islands đứng thứ 2 (tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%), thứ 3 là Samoa (vốn đăng ký là 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%), Hàn Quốc đứng thứ 4 (vốn đăng ký là 1,66 tỷ USD, chiếm 7,7%).

    Nguồn vốn FDI không những đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn tạo nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới trong tổng số 1.615 triệu việc làm được tạo ra của cả nước, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1.467 triệu người. Tuy vậy, vẫn rất cần những chính sách hợp lý từ phía Nhà nước để hạn chế những bất cập của dòng vốn này như sự mất cân đối về ngành nghề và

    35

    địa bàn đầu tư, bất cập trong chuyển giao công nghệ không đạt tiêu chuẩn hay tranh chấp lao động phát sinh trong khu vực có vốn FDI…

    2. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một kênh dẫn vốn cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Các nhân tố chính tác động mạnh mẽ đến hoạt động này là: chất lượng các loại chứng khoán, sự vận hành của các định chế tài chính trung gian (Quỹ đầu tư, công ty đầu tư tài chính các loại), hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, việc gia tăng cổ phần hóa các doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả trong nước…Hơn 20 năm kể từ khi xuất hiện, dòng vốn FII Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Tuy những gì dòng vốn này mang lại còn khá khiêm tốn nhưng đã có những ảnh hưởng tích cực đến thị trường tài chính còn khá non trẻ của Việt Nam. Có thể nhìn nhận sự đổi thay của dòng vốn FII vào nước ta qua các giai đoạn như sau:

    Giai đoạn 1988-1997: Dòng vốn FII bắt đầu có những bước phát triển kể từ những chính sách đổi mới để thu hút đầu tư vào Việt Nam, kết quả sau mười năm là sự thành lập của 7 Quỹ đầu tư nước ngoài. Đây được xem là làn sóng FII thứ nhất vào Việt Nam.

    Giai đoạn 1998-2002: Thời kỳ này dòng vốn FII vào nước ta có sự suy giảm đáng kể, 5 quỹ đầu tư thành lập ở giai đoạn đầu rút lui,1 quỹ thu hẹp trên 90% quy mô, chỉ còn duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự giảm sút này, trong đó nổi trội nhất vẫn là do sự thiếu đồng bộ cũng như bất cập trong chính sách kinh tế đối ngoại nước ta, thêm vào đó là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á diễn ra năm 1997 làm cho dòng vốn đầu tư đổ vào Châu Á nói chung bị chững lại.

    Giai đoạn 2003-2005: Làn sóng thứ hai khởi động với sự xuất hiện của Mekong Enterprise Fund, ngay sau đó là VinaCapital và một số công ty quản lý khác với việc công bố thành lập các quỹ mới và hướng mục tiêu đầu tư vào nhiều

    36

    lĩnh vực đa dạng. Tuy vậy, hoạt động đầu tư của các quỹ này khá thầm lặng do tâm lý còn e ngại của các nhà đầu tư. Họ chỉ đưa vào thị trường những khoản đầu tư nhỏ với mục đích thăm dò là chính. Theo bài nghiên cứu tổng hợp về tình hình Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam đăng trên website Bộ Ngoại Giao ngày 06-03-2010 thì sau khủng hoảng 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam tăng lên nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ hạn chế. Một số quỹ hoạt động ở Việt Nam từ năm 2001 (quy mô vốn bình quân từ 5 triệu USD đến 20 triệu USD mỗi quỹ) chiếm 1,2% vốn FDI năm 2001, tăng lên 3,7% vốn FDI vào năm 2004, so với các nước trong khu vực thì tỷ lệ này còn quá thấp (FDI/FII trong khoảng 30-40%). Cho đến năm 2005, nguồn vốn này mới chỉ đạt khoảng 1% so với FDI.

    Giai đoạn 2006-2007: Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán năm 2006, làn sóng FII vào Việt Nam giai đoạn này được hình thành và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bộ Tài Chính cho biết, vốn FII được công bố qua các quỹ đầu tư chính thức vào khoảng 2 tỷ USD, cao điểm là vào giữa năm 2006 khi công ty quản lý quỹ VinaCapital khai trương quỹ bất động sản Vinaland với số tiền đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài lên tới 65 triệu USD, vượt qua mức dự kiến ban đầu là 15 triệu USD. Theo nhận định của nhiều quỹ đầu tư nước ngoài tại Hội nghị “Funds World Vietnam 2007” diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 4-5 tỷ USD vốn FII đang chờ để vào thị trường Việt Nam, phần lớn là đổ vào các đợt IPO của những doanh nghiệp lớn như: Vietcombank, BIDV, MHB, Incombank, MobiFone…Ngoài ra, các quỹ đầu tư vào địa ốc và thị trường chứng khoán cũng ngày càng gia tăng đưa số vốn FII lên tới 6,3 tỷ USD năm 2007 (Thông tin từ Thống đốc Ngân hàng nhà nước).

    Năm 2008 đến nay: Ngược lại với những thuận lợi trong năm 2007, năm 2008 chứng kiến sự sụt giảm đáng kể của dòng FII vào Việt Nam. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội đã nhận định con số giảm sút là 587 triệu USD. Tình hình cũng không mấy khả quan vào năm 2009 khi lượng vốn đầu tư gián tiếp này đã rút khoảng 500 triệu USD.

    37

    Có thể nói rằng, việc phát triển thị trường vốn FII vào Việt Nam sẽ mang lại cơ hội mới cho các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Tuy nhiên, mặt trái của hoạt động này là nguy cơ làm tăng mức nhạy cảm và bất ổn về kinh tế do nguồn vốn đầu tư được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy nên chủ đầu tư có thể dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn của mình về nước hay chuyển sang đầu tư ở lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, nguy cơ các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán bị mua lại, sát nhập, khống chế hay tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế cũng là một mối đe dọa thị trường Việt Nam. Như vậy, việc chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý kinh tế theo nguyên tắc thị trường của Chính phủ và các cơ quan Trung ương là hết sức cần thiết để vừa hạn chế những nguy cơ này, vừa đảm bảo thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn FII.

    II. Vài nét về văn hóa Việt Nam

    1. Lịch sử hình thành văn hóa Việt Nam

    Sự hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam gắn liền với lịch sử dân tộc trong suốt quá trình đấu tranh với thiên nhiên, chống xâm lược ngoại bang và xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập. Cùng với chiều dài lịch sử, nền văn hóa Việt đã chứng kiến không ít đổi thay và đang ngày càng trở nên đặc sắc, phong phú, mang đậm dấu ấn riêng của mình.

    Văn hóa thời Tiền sử: Là nền văn hóa đặc trưng cho thời đại đá cũ và hậu đá cũ thô sơ, thời kì nguyên đá mới và đá mới, thời kì hậu đá mới. Khởi đầu của thời kì này là những di vật tìm thấy cách đây hàng chục vạn năm của người nguyên thủy ở núi Đọ (Thanh Hóa), tiếp đến là nền văn hóa Sơn Vi (Vĩnh Phú) với những nhóm cư dân sinh sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Thời kỳ nguyên đá mới và đá mới cách đây trên dưới một vạn năm của nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn bắt đầu đánh dấu bước tiến quan trọng của con người với việc trồng trọt. Từ nền tảng này, nền văn minh lúa nước kết hợp với chăn nuôi và các nghề thủ công phát triển ở thời kỳ hậu đá mới (cách đây 4-5 nghìn năm) đã dần đưa cuộc sống con người vào giai đoạn ổn định hơn với những xóm làng định cư dựa trên quan hệ thị tộc mẫu hệ.

    38

    Văn hóa thời Sơ sử: Ba trung tâm lớn trên ba miền Bắc, Trung, Nam tương ứng với các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai.

    Nền văn hóa Đông Sơn khu vực sông Hồng, sông Cả, sông Mã gắn với việc tìm thấy vật liệu đồng thau đã tác động lớn lao đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Những dấu ấn sâu đậm thời kì này để lại là các sản phẩm tinh xảo đã trở thành biểu tượng văn hóa dân tộc như chiếc trống đồng Đông Sơn, ngoài ra còn nhiều loại nhạc cụ độc đáo, những huyền thoại, thần thoại mang tính sử thi…Người dân bấy giờ còn biết thờ thần Mặt trời nhằm cầu may cho mùa màng tốt tươi để đời sống được no ấm.

    Văn hóa Sa Huỳnh kéo dài từ Bình Trị Thiên đến lưu vực sông Đồng Nai lại không lấy đồng làm nguyên liệu chính như văn hóa Đông Sơn mà thay vào đó, họ lấy sắt làm nguyên liệu chủ yếu để phục vụ hiệu quả việc sản xuất nông nghiệp. Cư dân Sa Huỳnh còn biết dệt vải, đúc đồ gốm, làm trang sức bằng các vật liệu thiên nhiên, tạo ra một nền văn hóa tiến bộ.

    Văn hóa Đồng Nai đặc trưng cho cư dân vùng Nam Bộ vốn gắn với sông nước và những miệt vườn. Nền văn hóa này coi đá là nguyên liệu chính để chế tác ra những công cụ sản xuất và cả đồ trang sức. Đời sống tín ngưỡng tuy chỉ dừng lại ở cấp độ “Bái vật giáo”, nhưng người dân vẫn tin vào thế giới khác ngoài thế giới hiện thực của con người. Họ sống vô tư, phóng khoáng, thẳng thắn và ít suy tư như các vùng miền khác.

    Văn hóa Bắc thuộc: Sau 10 thế kỷ mất nước (179 trước CN-938), nhân dân ta dành lại độc lập mà vẫn không bị đồng hóa dân tộc. Thành công này có được là bởi sự cố kết cộng đồng bền chặt thành một thực thể quốc gia đạt đến trình độ văn minh, biết gìn giữ và phát huy vốn văn hóa cổ truyền đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa bên ngoài. Trong suốt thời kỳ này, Nho giáo, Đạo giáo, chữ Hán, nghề làm giấy, một số kỹ thuật nông nghiệp từ Trung Quốc cũng như Phật giáo và các kỹ thuật chế biến thủy tinh, hương liệu từ Ấn Độ đã truyền vào Việt Nam, góp phần đa dạng và phong phú hơn nền văn hóa dân tộc.

    39

    Văn hóa Thăng Long: Đất nước bắt đầu thời kỳ độc lập, phát triển, nền văn hóa dân tộc cũng bước vào thời kỳ phục hưng với những thành tựu rực rỡ. Trong giai đoạn này, các di sản văn hóa cổ truyền được kế thừa và nâng cao một cách sáng tạo, điển hình là những hoạt động văn hóa dân gian như múa rối, đua thuyền, chọi vật, hát tuồng, hát chèo… đều phát triển mạnh mẽ. Giáo dục được chú trọng hơn, đặc biệt là sự ra đời của chữ Nôm đã để lại nhiều tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhiều danh nhân văn hóa lớn của dân tộc.

    Thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX : Thời kỳ này Nho giáo vẫn được các vương triều coi là hệ tư tưởng chính thống nhưng Phật giáo cũng có phần phục hưng và Kito giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Nét đặc sắc văn hóa giai đoạn này là sự trỗi dậy của văn hóa dân gian trong văn học, nghệ thuật và sinh hoạt làng xã. Tranh dân gian được coi là một sáng tạo độc đáo và nghệ thuật kiến trúc tạo hình cũng đóng góp cho di sản văn hóa dân tộc nhiều công trình giá trị. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ.

    Thời kỳ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân: Nửa sau thế kỷ XIX, thực dân Pháp chính thức thống trị nước ta. Ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Tây đã khiến bản sắc văn hóa Việt Nam có phần phai nhạt, đặc biệt là ở khu vực thành thị.

    Năm 1945, cách mạng Tháng 8 thành công: Sự kiện này đã đánh dấu một mốc son vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước vào kỷ nguyên xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng đến năm 1955, đất nước bị chia cắt hai miền Nam- Bắc, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống lại Đế quốc Mỹ, văn hóa miền Nam chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi lối sống của văn hóa phương Tây.

    Năm 1975 đến nay: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và cùng phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước vẫn kiên định mục tiêu “Xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Xu hướng hội nhập toàn cầu ngày càng rõ nét

    40

    cùng với sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia đang đặt đất nước trước thách thức giữ gìn và tiếp thu có chọn lọc nền văn minh của các nước bạn [6].

    2.                 Đặc trƣng văn hóa Việt Nam

     

    1. Tín ngƣỡng – Tôn giáo

    Nói đến tín ngưỡng của người Việt Nam, đầu tiên phải kể đến đạo thờ cúng tổ tiên được hình thành từ rất lâu đời và càng thêm sâu sắc sau 1000 năm Bắc thuộc. Tuy vậy, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt không mang tính huyết thống như người Hán mà thể hiện việc ghi nhớ ơn nghĩa của người xưa, đúng như tinh thần của câu tục ngữ: “uống nước nhớ nguồn” từ bao đời nay ông cha vẫn thường nhắc nhở. Nét đặc biệt của tín ngưỡng này được thể hiện ở chỗ, mỗi làng Việt đều có đình Thờ Thành Hoàng để thờ các Thiên thần (các hiện tượng tự nhiên liên quan đến nông nghiệp như mây, mưa, đất nước…) và Nhân thần (những người anh hùng dân tộc, có công khai cơ lập ấp).

    Tôn giáo ở Việt Nam khá phong phú. Ngoài ba Tôn giáo chính là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, ở Việt Nam còn có một số giáo phái khác như Công giáo Rôma, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, Hồi giáo. Đặc điểm của Tôn giáo ở Việt Nam có khác so với ở các nước khác. Những vị Thần hay Phật mà người Việt thờ cúng không ở cao xa như một “lý trí tuyệt đối” siêu nhiên sinh ra loài người, cứu vớt loài người mà “sống” bên cạnh con người, làm nhiệm vụ “hộ quốc”, “bảo dân”. Người ta thờ Thần, thờ Phật trước hết vì cuộc sống trước mắt chứ không phải để cứu vớt linh hồn lên với chúa trời hay chính là vì hiện thế chứ không phải vì lai thế.

    Người Việt không cuồng tín Tôn giáo như ở các nước khác. Các lớp tôn giáo và tín ngưỡng của gia đình, dòng họ cũng như làng xã, quốc gia hòa hợp nhau. Trường hợp một người hay một gia đình thờ tổ tiên, Thành Hoàng, cả Phật, Khổng Tử là không hiếm. Đây là điểm thể hiện sự hòa nhập Tôn giáo và tính hiện thực của tín ngưỡng tôn giáo người Việt xưa và nay, là sắc thái riêng chứng tỏ sự tiếp thu có chọn lọc của văn hóa dân tộc dưới tác động của các nền văn hóa nước ngoài.

    2.2. Ngôn ngữ

    41

    Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp trọng yếu của người Việt kể từ thời kì dựng nước. Có thể nói, sự phát triển của tiếng Việt đã phản ánh một cách trung thực các thời kì lịch sử Việt Nam với những biến đổi về cả ba phương diện ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. Tiếng Việt ngày nay vẫn không ngừng biến đổi nhằm thích ứng với sự phát triển của thời đại mới. Có thể thấy rõ điều này qua ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Những thuật ngữ về khoa học – công nghệ ngày càng được sử dụng một cách phổ biến, phản ánh sự hòa nhịp của thế hệ trẻ với những đổi thay trong thời hiện đại.

    Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Trong mối quan hệ này, ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt, còn tư duy là cái được biểu đạt. Cho nên, trong giao tiếp với người Việt, nếu người ngoại quốc không hiểu văn hóa giao tiếp của người Việt (phản ánh tư duy của người Việt) thì chắc chắn sẽ gặp những khó khăn rất lớn để hiểu đúng và đầy đủ vấn đề nêu ra thông qua cái biểu đạt là tiếng Việt ấy. Văn hóa giao tiếp của người Việt có những đặc điểm sau:

    Người Việt thích giao tiếp và coi trọng việc giao tiếp: Đặc điểm này hình thành từ chính văn hóa nông nghiệp của nước ta. Cuộc sống phụ thuộc vào tự nhiên đã gắn bó các thành viên trong cộng đồng, khiến họ luôn có ý thức quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Họ hỏi han nhau khi gặp gỡ và lúc rảnh rỗi thì đến thăm nhau với sự đón tiếp nồng hậu, ấm áp nghĩa tình. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với người lạ, nhất là người nước ngoài, người Việt thường dè dặt, giữ kẽ hơn. Điều này có thể quy cho nếp sống khép kín trong cộng đồng, quen gắn bó với làng xã và những người thân quen từ xưa đến nay của người Việt.

    Người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Trong các mối quan hệ xã hội, người Việt Nam thường rất coi trọng hai chữ “tình nghĩa”, sống có trước có sau. Đối với người Việt, “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, cho nên, trong công việc, yếu tố tình cảm thường có khả năng chi phối mạnh mẽ. Đây là một điểm khó thích nghi đối với những đồng nghiệp người nước ngoài, đặc biệt là người phương Tây vì họ vốn quen sống tách bạch tình cảm và công việc.

    42

    Người Việt vốn trọng danh dự. Đối với người Việt, danh dự là kim chỉ nam của mọi hành động: “đói cho sạch, rách cho thơm”. Tuy nhiên, việc quá coi trọng danh dự có thể khiến người Việt trở nên “sĩ diện”, không dám thừa nhận sự thiếu sót của mình và đặc biệt, rất sợ dư luận xã hội. Vì thế, sự thẳng thắn của người phương Tây nhiều khi khiến người Việt cảm thấy không thoải mái, thậm chí còn bị coi như một sự xúc phạm nếu những góp ý thẳng thừng đe dọa thể diện của họ trước những người khác. Hơn nữa, người Việt vốn ý tứ và tế nhị trong giao tiếp, cộng thêm tâm lý ưa hòa thuận nên thường nhường nhịn, đôi khi vì thế mà thiếu tính quyết đoán.

    2.3. Nghệ thuật

    Người Việt Nam từ xưa đã quen với lối sống cộng đồng, gắn bó với thiên nhiên và luôn xem mình như một phần không thể tách rời của tự nhiên. Cách suy nghĩ này đã ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật Việt Nam, từ ẩm thực đến kiến trúc hay âm nhạc.

    Ẩm thực Việt Nam rất phong phú, không chỉ thay đổi theo mùa mà mỗi vùng cũng có những hương vị đặc trưng riêng. Nguyên liệu chế biến là các sản phẩm từ nông nghiệp trong đó rau quả chiếm vị trí ưu tiên nhất. Hương vị món ăn Việt khá hài hòa, không quá cay nóng như món ăn Thái, cũng không cầu kỳ như món ăn Trung Hoa. Việc phối hợp các loại gia vị và bố trí bữa ăn gia đình ấm cúng theo nguyên lý âm dương không chỉ tạo cảm giác ngon miệng mà còn ảnh hưởng tốt đến sức khỏe của mỗi người. Đây cũng là nét thú vị đối với người nước ngoài khi sang Việt Nam, tìm hiểu và thưởng thức những món ăn Việt với hương vị hòa quyện trong sự ấm áp của tình người.

    Các công trình kiến trúc Việt Nam từ vật liệu đến phong cách, đều thể hiện sự thống nhất về triết lý hòa hợp với thiên nhiên. Những vật liệu sẵn có của tự nhiên như mây, tre, nứa, gỗ, đá… đã làm nên những nếp nhà dân gian mộc mạc, những cung đình đẹp đẽ hay các công trình tín ngưỡng tâm linh. Kiến trúc Việt không đồ sộ, nguy nga như các công trình kiến trúc Trung Hoa, cũng không phải là kiểu kiến trúc đóng như ở các nước phương Tây mà khiêm tốn, chừng mực – lối kiến trúc mở,

    43

    ưa sự thông thoáng, hòa lẫn với cây xanh, mặt nước, hướng đến sự cân bằng sinh thái khoa học. Trong kiến trúc Việt Nam, phong thủy được đặc biệt coi trọng. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước, long mạch… Vì thế mà khi xây nhà ở, người Việt luôn chú ý về mặt địa lý, địa thế, thường chọn hướng nam thoáng mát, tránh hướng tây nóng, bắc lạnh. Các ngôi nhà thôn quê thường có vườn cây, ao nước hay hàng cau trước nhà. Các công trình lớn như đền, chùa, lăng tẩm…thì thường được đặt ở những nơi có đồi, núi, sông, hồ, cao trên thấp dưới, nhiều tầng sinh thái, là nơi hội tụ khí thiêng đất trời. Còn biểu trưng của làng quê Việt là những Đình làng thì bao giờ cũng được đặt ở những vị trí thoáng rộng, với cây đa, bến nước, sân đình, tiêu biểu cho lối sống cộng đồng hòa hợp thiên nhiên vốn đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam.

    2.4. Phong tục tập quán

    • dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam cấu thành nên một nền văn hóa đa dạng với những phong tục tập quán đặc sắc. Những phong tục tập quán này hiện diện ngay trong chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người, từ giao thiệp

    đến lễ tết, cưới hỏi, tang lễ, cúng giỗ…

    Người Việt rất coi trọng những phong tục tập quán của mình. Thái độ “kính trên nhường dưới” là một phép tắc lớn được chú trọng trong giao tiếp của người Việt. Các sự kiện lớn của đời người như cưới hỏi, ma chay luôn được tổ chức trang trọng theo những thể thức có từ ngàn xưa. Một thời điểm nữa rất quan trọng trong năm đó là Tết Nguyên Đán. Đây là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, là dịp để mọi người Việt Nam đoàn tụ gia đình, tri âm tổ tiên, thăm hỏi bạn bè khắp nơi để thắt chặt thêm tình cảm… Ngoài ra còn rất nhiều ngày lễ, hội khác làm nên sự phong phú trong đời sống tinh thần người Việt Nam.

    Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần hiểu nét phong tục này để có sự thông cảm và sắp xếp hợp lý, sao cho không ảnh hưởng đến công việc kinh doanh đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa Việt.

    2.5. Giáo dục

    44

    Một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và thịnh vượng của một quốc gia chính là ở tiềm lực con người mà yếu tố quyết định tiềm lực ấy chính là giáo dục – giáo dục của gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Việt Nam được nhiều người biết đến với một nguồn nhân lực dồi dào, có tinh thần ham học và tư chất thông minh. Điều đáng mừng là đa phần các bậc phụ huynh đều nhận thức được sự quan trọng của việc nâng cao kiến thức cho con em mình, họ luôn nỗ lực để đem đến cho con em mình những điều kiện học tập tốt nhất. Không ít học sinh, sinh viên Việt Nam đạt được những thành tích xuất sắc ở các trường trong nước cũng như ở nước ngoài. Đó là một thực tế đáng tự hào.

    Tuy vậy, những vấn đề bất cập trong giáo dục Việt Nam đang trở thành tâm điểm của xã hội những năm gần đây. Các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đã gặp không ít thách thức trong việc tìm kiếm những lao động có kiến thức và kĩ năng

    • đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc. Thực tế này khiến người ta không khỏi nghĩ đến phương pháp đào tạo của Giáo dục Việt Nam. Hiện nay, rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đang không tìm được việc làm. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân lực L&A cho biết: “Chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu sinh viên làm được việc”, theo ý kiến của bà Lệ, chương trình đào tạo không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay. Do vậy sinh viên mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt là các kỹ năng mềm như tư duy phân tích, tổng hợp, thuyết trình, giao tiếp hay làm việc nhóm…[19]. Điều này giải thích tại sao các nhà tuyển dụng ở Việt Nam phải bỏ ra không ít thời gian và công sức để tìm lao động thích hợp và đào tạo họ mọi mặt về chuyên môn.

    III. Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Nhìn nhận chung về ảnh hƣởng của văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Để có những kết luận chính xác về những ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cần nhìn nhận vấn đề này từ cả hai góc độ: các nhà đầu từ nước ngoài và những người Việt có kinh nghiệm làm việc với các nhà

    45

    đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Qua quá trình khảo sát, người viết đề xuất một số đánh giá chung về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài như sau:

    1.1. Từ góc độ nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều nhìn nhận rằng Việt Nam là một thị trường tiềm năng, hứa hẹn mang lại những cơ hội đầu tư lớn. Tuy vậy, họ cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều nhân tố gây cản trở quá trình đầu tư, trong đó những bất đồng về văn hóa là một rào cản đáng kể bên cạnh những khó khăn về cơ sở hạ tầng hay hệ thống pháp luật.

    Trong số những trở ngại về văn hóa thì ngôn ngữ được xem là yếu tố gây nhiều khó khăn nhất, đặc biệt là với những nhà đầu tư Châu Á như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Do người lao động Việt Nam chưa có trang bị tốt về tiếng Hàn cũng như tiếng Nhật, trong khi đó các nhà đầu tư đến từ các quốc gia này lại không thành thạo tiếng Anh và hầu như không biết tiếng Việt nên việc giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn. Tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ trung gian giữa người Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng do cả hai bên đều chưa “hoàn toàn làm chủ” ngôn ngữ thứ hai này nên những bất đồng, gây nên sự hiểu lầm hay không hiểu là điều khó tránh.

    Sau rào cản về ngôn ngữ là những cản trở đáng kể về khác biệt văn hóa doanh nghiệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và lối tư duy. Một số nhà đầu tư Hàn Quốc phàn nàn về thái độ làm việc thiếu nhiệt tình, thiếu nhất quán của lao động Việt, cũng có nhà đầu tư phương Tây gặp khó khăn vì lao động thiếu sự sáng tạo và khả năng làm việc độc lập, tính trọng mối quan hệ trong công việc cũng là một thách thức đối với họ.

    1.2. Từ góc độ ngƣời Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Người viết đã tiến hành điều tra ý kiến của 40 cá nhân có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài trên cả ba miền đất nước và nhận được 73% câu

    46

    trả lời xác nhận sự có mặt của rào cản này văn hóa trong số các rào cản thường gặp khác đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện đang làm việc tại Việt Nam. Tuy số lượng điều tra không nhiều, nhưng những thông tin thu thập được cũng phần nào khẳng định được tác động của những khác biệt văn hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế ở Việt Nam.[Phụ lục]

    Cũng từ khảo sát này, người viết thu được ý kiến đánh giá về các yếu tố rào cản văn hóa, trong đó yếu tố rào cản do khác biệt về tư duy được đề cập đến nhiều nhất, tiếp đến là rào cản do khác biệt về văn hóa doanh nghi

    ệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và ngôn ngữ.

    Møc ¶nh h-ëng cña mét sè rµo c¶n

    v¨n hãa ViÖt Nam

    90.00%

    80.00%

    70.00%

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    Rµo c¶n vÒ ng«n

    ng÷

    Rµo c¶n vÒ t- duy

    Rµo c¶n vÒ thÞ hiÕu Rµo c¶n vÒ v¨n hãa Rµo c¶n vÒ v¨n hãa

    tiªu dïng              doanh nghiÖp      ng-êi lao ®éng

    Trong những năm gần đây, các công ty Việt Nam thường đưa ra tiêu chí tuyển dụng khắt khe, yêu cầu ứng viên phải sử dụng tiếng Anh để viết đơn xin việc, thông tin bản thân và trả lời các cuộc phỏng vấn. Vì thế, người lao động ý thức cao hơn về vai trò của việc học ngoại ngữ, trình độ ngoại ngữ nhìn chung cũng được cải thiện. Điều này lý giải tại sao trên quan điểm người Việt Nam, rào cản ngôn ngữ không phải là cản trở lớn nhất. Theo điều tra này, cách tư duy mới là trở ngại đáng kể. Cách tư duy là yếu tố khó thay đổi và khác nhau sẽ dẫn đến những hành động khác nhau.

    Các đối tượng điều tra có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư đến từ Châu Á (chiếm đa số – 83.8%), Châu Âu (40.5%), Châu Mỹ (37.8%) và một số Châu lục

    47

    khác (2.7%). Một điều ngạc nhiên là đến 72.2% trong số đối tượng điều tra cho biết họ thực sự thích làm việc với các đối tác đến từ Châu Âu, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm 58.3% trong khi Châu Á chỉ chiếm 27.8%%. Phần lớn người được hỏi đều đưa ra lý do là những đối tác Châu Âu và Châu Mỹ thường cởi mở, lịch sự, môi trường làm việc thông thoáng, chuyên nghiệp và chế độ đãi ngộ tốt. Một số thích làm việc với người Châu Á vì sự cách biệt văn hóa có phần ít hơn, do đó, họ biết thông cảm hơn cho các đồng nghiệp của mình, nhất là những đồng nghiệp nữ.

    2.Một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Bất đồng ngôn ngữ lời nói

    Khó khăn trong sử dụng từ ngữ: Tiếng Anh là phương tiện chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp giữa người Việt Nam và các đối tác nước ngoài hiện nay.Bên cạnh đó, tiếng Nhật, Trung, Hàn cũng đang ngày càng phổ biến. Phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều gặp những khó khăn trong việc trao đổi thông tin với người Việt do không hiểu tiếng nói của nhau. Trong một cuộc hội đàm về chính sách giữa Bộ Thông Tin và Truyền thông với các doanh nghiệp Công nghệ thông tin hai nước Việt Nam – Nhật Bản diễn ra cuối năm 2007, đông đảo đại diện các doanh nghiệp nhận định tiềm năng hợp tác Công nghệ thông tin Việt – Nhật là rất lớn nhưng các doanh nghiệp lại đang trong tình trạng khan hiếm về nhân lực biết ngoại ngữ. Tổng Giám đốc công ty FCG Việt Nam cho rằng, có tới 80% nhân lực gia công phần mềm Nhật Bản là người Trung Quốc, ngay cả khi đang hoạt động tại Việt Nam [20].

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân đầu tiên là do trình độ tiếng Anh của lao động Việt Nam còn khá thấp. Trong khi đó, các quốc gia sử dụng tiếng Anh lại có xu hướng không học thêm một ngoại ngữ nào khác.

    Bên cạnh tiếng Anh, trình độ tiếng Nhật, Trung, Hàn và các thứ tiếng khác của lao động Việt Nam cũng chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Giao dịch bằng

    48

    tiếng Anh với nhà đầu tư Nhật Bản và Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn vì họ ít sử dụng tiếng Anh, thường đòi hỏi nhân viên phải biết sử dụng ngôn ngữ quốc gia mình.

    Khác biệt về phong cách giao tiếp: Không chỉ ngôn ngữ bất đồng vản trở giao tiếp mà những khác biệt về phong cách giao tiếp cũng gây ra những hiểu lầm. Người Việt thường cho rằng người phương Tây nói nhiều trong khi đó người phương Tây lại thấy người Việt quá kín đáo, như thể đang che dấu điều gì. Nhiều trường hợp người Việt làm họ ngạc nhiên và khó hiểu với kiểu nói một đường nhưng lại nghĩ hay làm một nẻo. Người phương Tây đưa ra một số lý giải từ kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt như sau: Khi người Việt Nam nói “Thật là một ý tưởng thú vị”, thì nên nghĩ câu này có nghĩa “Tôi không đồng tình lắm”/ “Chúng ta cần thảo luận thêm”/ “Bạn nhầm rồi”/ “Tôi không thích ý tưởng này lắm”. Hoặc khi nghe câu “Lời đề nghị này xứng đáng được xem xét kĩ hơn” thì phải hiểu là “Xin hãy đưa ra một đề nghị khác”/ “Tôi là một chuyên gia về lĩnh vực này nhưng vì lịch sự mà tôi không nói ra thôi” [16].

    Nguyên nhân:

    Việt Nam được xếp vào nhóm những nền văn hóa “Ngữ cảnh cao” [15], là nền văn hóa mà ở đó, con người thường chú ý đến ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm người đối diện hay hoàn cảnh diễn ra giao tiếp) hơn là những từ ngữ trực tiếp và rõ ràng để truyền đạt thông tin. Vì vậy phần lớn nội dung muốn diễn đạt thường ẩn sau lời nói và thái độ chứ không phải thuần túy ở từ ngữ như ở các nước phương Tây vốn thuộc nền văn hóa “Ngữ cảnh thấp”.

    Bất đồng trong cách thể hiện tình cảm và phép lịch sự: Người Việt thường tỏ ra nghi ngại sự thật lòng của người Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Úc bởi họ luôn sẵn sàng lời khen ngợi cũng như câu nói “xin lỗi” và “cảm ơn”, Trong khi đó, nhiều trường hợp người phương Tây đánh giá người Việt bất lịch sự vì hiếm khi họ khen ngợi điều gì hay nói lời “Cảm ơn” hay “Xin lỗi”.

    Nguyên nhân:

    49

    Lý do đầu tiên là người phương Tây được giáo dục từ nhỏ về cách thể hiện tình cảm và thái độ lịch sự qua lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”. Đối với họ, khen ngợi là một cách bày tỏ sự quan tâm của mình đến người được khen.

    Thứ hai, người Việt Nam coi trọng sự tế nhị trong giao tiếp và ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng. Thay vì nói lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”, họ biểu hiện bằng ngôn ngữ không lời như ánh mắt, nụ cười. Họ e dè khi khen ngợi để tránh trường hợp đối phương hiểu lầm ý tốt của mình.

    Khác biệt trong chào hỏi và đưa ra lời khuyên: Văn hóa mỗi vùng miền thể hiện trong từng cử chỉ giao tiếp hàng ngày, từ lời chào đến câu khuyên nhủ. Người Việt hay chào nhau bằng những câu như “Anh đi đâu đấy”, “Chị ăn cơm chưa”. Nếu mối quan hệ thân thiết họ thường dặn dò nhau “Nhớ ăn uống cẩn thận, đi chơi về sớm”, “Đừng…” hay “Nên…”. Trong khi đó, người phương Tây thường chào hỏi bằng những câu rất chung như “chào buổi sáng” “chúc ngủ ngon” và đưa ra lời khuyên trong sự giả định “Nếu là tôi thì tôi sẽ…”, “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu…”. Cách chào của người Việt khiến người phương Tây cảm thấy như đang bị xâm phạm đời tư và những lời khuyên có thể được hiểu thành sự ép buộc, tệ hơn có thể mang nghĩa “giáo huấn” hay “lên lớp”.

    Nguyên nhân:

    Người Việt Nam có nếp sống tập thể, gắn bó cộng đồng, vì vậy họ thường thể hiện sự quan tâm đến nhau bằng những câu hỏi hay dặn dò thân mật. Nhiều trường hợp câu hỏi chỉ đơn giản là một lời chào, không cần câu trả lời của đối phương.

    Trái lại, người phương Tây coi trọng chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề riêng tư của họ là bất khả xâm phạm. Những câu chào của người Việt chỉ thuần túy xã giao thế nhưng người phương Tây coi đó là những câu hỏi, vì thế họ rất không thoải mái khi phải trả lời.

    Bất đồng ngôn ngữ không lời

    Hệ thống các phương tiện phi ngôn ngữ của người Việt rất phong phú và ý nghĩa của nó thay đổi theo ngữ cảnh người thể hiện. Nhiều người nước ngoài đến

    50

    Việt Nam đã không thể lý giải nổi sự đa nghĩa của hệ thống ngôn ngữ đặc biệt này. Neil Jamieson trong cuốn “Understanding Vietnam” đã kể một câu chuyện như sau: Một nhà quản lý người Mỹ đang quát mắng một lao động Việt Nam vì anh ta đã gây ra một lỗi lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Người lao động này im lặng và lắng nghe một cách kiên nhẫn. Khi người quản lý kết thúc, anh ấy đã mỉm cười thật tươi. Hành động này khiến người quản lý hết sức sửng sốt. Ông ta mong đợi một lời thừa nhận lỗi lầm hoặc một sự phản kháng, bào chữa nào đó chứ không phải là sự im lặng tuyệt đối và nụ cười này. Ông không kìm được cơn giận và quay đi với suy nghĩ rằng người lao động kia đang chế giễu ông, coi thường ông [17,90].

    Nguyên nhân:

    • Việt Nam, một nụ cười có thể mang rất nhiều ý nghĩa. Nụ cười thể hiện sự đồng ý, đôi khi thay cho lời chào, câu xin lỗi hay lời cảm ơn, cũng có khi để che đậy sự

    bối rối, mất tự tin và cũng có trường hợp thể hiện sự không đồng tình hoặc nhằm dấu đi sự giận dữ… Trong khi đó, với đa số các nước phương Tây thì nó chỉ là cách thể hiện niềm vui, sự hài lòng, đôi khi là sự giễu cợt. Chính sự khác biệt này đã dẫn đến hiểu lầm trong câu truyện trên. Nụ cười của người lao động là nụ cười che dấu sự bối rối, biết lỗi, và chấp nhận sửa lỗi, hoàn toàn không có ý giễu cợt hay coi thường người quản lý.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Khác biệt trong cách giải quyết vấn đề: Cách suy nghĩ và hành động của mỗi người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lối tư duy. Nhiều người nước ngoài cho rằng, cách giải quyết vấn đề của người Việt nhiều khi rất phiến diện, chỉ dựa vào cảm giác hay đánh giá chủ quan cũng có thể đưa ra quyết định, dẫn đến không tránh khỏi sai lầm. Người Việt lại cho rằng cách ứng xử của người phương Tây quá cứng nhắc, nhiều khi không cân nhắc đến hoàn cảnh riêng của các đồng nghiệp Việt Nam.

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân lý giải sự khác biệt trong cách suy nghĩ, hành động này chính là lối tư duy. Tư duy phương Tây là lối tư duy logic, các đánh giá đều dựa trên số liệu

    51

    khách quan hoặc những nghiên cứu khoa học thực tiễn, ít khi cân nhắc đến tình cảm cá nhân.

    Ngược lại, tư duy truyền thống Việt Nam lại coi trọng tình cảm. Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động kinh doanh, chữ “tình” bao giờ cũng được đặt lên trên hết. Nếu như ở phương Tây, “tình” phải phục tùng “lý” hoặc ít nhất cũng không thể trái ngược với “lý”, thì đối với người Việt, đặc biệt trong mối quan hệ đối tác làm ăn với nhau, “lý” sẽ không đủ tin hay chẳng còn bao nhiêu ý nghĩa nữa nếu tiêu chuẩn “tình” không được đảm bảo.

    Bất đồng do lối tư duy nông nghiệp: Người Việt có tầm nhìn ngắn hạn, đôi khi chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không có những hoạch định lâu dài, thích ổn định và rất e ngại rủi ro. Điều này cũng được phản ánh qua chỉ số về tính cẩn trọng cao trong mô hình nghiên cứu của Hofstede. Đây là một trở ngại đáng kể trong việc lên những kế hoạch hoặc sách lược lâu dài cho một dự án kinh doanh.

    Nguyên nhân:

    Lối tư duy nông nghiệp này bắt nguồn từ truyền thống nông nghiệp từ lâu đời cùng với lối sống định canh định cư của người Việt Nam. Cuộc sống của họ phụ thuộc các mùa vụ, được sắp xếp theo trình tự thời gian. Nếu trời cho “mưa nắng thuận hòa” thì cuộc sống sẽ được no ấm. Chính bởi cuộc sống phụ thuộc vào thời tiết, mùa màng, nên người Việt có tâm lý “được đến đâu hay đến đấy”, ít khi có kế hoạch cho tương lai lâu dài. Lối sống định cư khiến người Việt quen với sự ổn định, rất e ngại thay đổi và sợ rủi ro.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Khó khăn do thị hiếu thị trương đa dạng: Sự phong phú về thị hiếu tiêu dùng giữa các bộ phận dân cư ở Việt Nam khiến cho các nhà đầu tư phải không ngừng cập nhật thị trường và điều chỉnh các chính sách sản phẩm sao cho phù hợp từng địa phương và từng thời kì để chinh phục thị trường đa dạng và dễ thay đổi về thị hiếu tiêu dùng này.

    52

    Công ty nghiên cứu thị trường Neilsen Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu sự khác biệt vùng miền của người tiêu dùng miền Bắc (tiêu điểm là Hà Nội) và người tiêu dùng miền Nam (tiêu điểm là Tp Hồ Chí Minh). Kết quả được đưa ra trong cuộc hội thảo diễn ra ngày 19-06-2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự có mặt của gần 350 đại diện các doanh nghiệp đã cho thấy rằng, văn hóa khác nhau cùng với một số yếu tố riêng về lịch sử và kinh tế đã gây ra sự khác biệt trong thái độ đối với thương hiệu, thói quen, phong cách và sự tự tin trong tiêu dùng của người dân ở hai miền, từ đó quyết định hành vi tiêu dùng của họ [23].

    Nghiên cứu của Nielsen thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 2009 ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam đã chỉ ra đặc tính chi phối thị hiếu tiêu dùng chủ yếu ở hai miền đó là Tính cá nhân – cái Tôi và Tính tập thể – chúng ta. Thiên hướng „Tôi” chiếm đa số ở Tp Hồ Chí Minh, thể hiện ở việc quyết định tiêu dùng dựa trên nhu cầu và mong muốn của bản thân và ít bị tác động bởi ý kiến của người khác, không chạy theo số đông. Ngược lại, xu hướng “chúng ta” lại chiếm đa số ở Hà Nội. Người tiêu dùng ở thị trường này thường lắng nghe ý kiến của bạn bè và những người xung quanh, định kiến xã hội cũng chi phối họ trong việc đưa ra quyết định tiêu dùng. Tuy vậy, họ lại là đối tượng khá phức tạp, vừa muốn gây sự chú ý và nổi bật giữa đám đông, vừa không muốn phá vỡ những quy tắc chuẩn mực xã hội. Một nét khác biệt đáng kể nữa là quan điểm đối với nguồn chi tiêu của người dân hai miền. Người tiêu dùng Tp Hồ Chí Minh có thể tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được, và để đắp bù cho khoản vượt trội này, họ sẵn sàng vay mượn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Họ là những người sống cho hiện tại và ít lo cho tương lai. Trong khi đó, 57% người Hà Nội cho biết họ sẽ không đi vay ở tổ chức tài chính nào cho mục đích chi tiêu của mình, đa số họ coi việc vay mượn tiền hay bị phụ thuộc tài chính là một sự “mất mặt”. Tuy nhiên, một điều gần như là trái ngược với tư tưởng tiết kiệm này là sở thích sắm hàng hiệu, hàng cao cấp chủ yếu là các mặt hàng như điện thoại di động hay mỹ phẩm. Phần đông người Hà Nội cho rằng những sản phẩm này sẽ có tính bền cao hơn chứ không chỉ để khẳng định đẳng cấp của người dùng. Điểm này lại khác với xu hướng “tiêu dùng nhanh” của người dân Tp Hồ Chí Minh, họ sẽ mua cái họ thấy cần lúc đó và dù họ vẫn thích hàng cao cấp

    53

    nhưng đến 48% cho rằng những thứ đó chỉ dành cho người thích khoe khoang và gây sự chú ý. Với họ, việc mua những thứ cần mới là điều quan trọng.

    Nguyên nhân:

    Với điều kiện kinh tế nghèo nàn trước đây, người dân Việt Nam rất đề cao lối sống tiết kiệm và tư tưởng “ăn chắc, mặc bền”, dẫn đến yêu cầu về mẫu mã hàng hóa đơn giản, chi tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu lớn nhất là ăn, tiếp đến mới là mặc và ở, việc đi lại và các nhu cầu khác hầu như không được chú ý tới. Thị trường Việt Nam thời gian này không phải là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhưng trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, điều kiện vật chất được cải thiện khiến cho nhu cầu cũng như thị hiếu tiêu dùng của người dân thay đổi đáng kể. Thêm vào đó là sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với xã hội bên ngoài đã hình thành những nét mới trong phong cách cũng như sở thích tiêu dùng của người dân.

    Người Việt lại có tâm lý cộng đồng, đa phần quyết định của họ bị chi phối bởi ý kiến của người xung quanh. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa hai thành phố lớn lại có nhiều điểm khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, địa lý…từ đó quy định những nét đặc trưng về con người mỗi địa phương.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Bất đồng về phong cách kinh doanh: Một trong những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh Việt Nam là sự coi trọng các mối quan hệ, đặc điểm này khá tương đồng với các nước Châu Á khác nhưng lại là một bất đồng đối với các nước phương Tây. Một cuộc điều tra về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh tiến hành trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ mã số B99-21 đã đưa ra số liệu thống kê như sau: có đến 53% doanh nghiệp chọn cách làm quen đối tác qua sự giới thiệu của bên thứ ba, 51,22% qua phòng Thương mại, sau đó là các hình thức khác như qua Hội chợ triển lãm, quảng cáo, thương vụ, internet. Nhưng thứ tự này ngược lại ở Mỹ, hình thức qua phòng Thương mại chiếm 76,19% còn qua người thứ ba chỉ chiếm 57,14% [1,122].

    Nguyên nhân:

    54

    Người Việt có lối sống cộng đồng, rất coi trọng mối quan hệ. Tâm lý này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách cư xử hàng ngày cũng như trong công việc của người Việt Nam. Nếu không có được sự tin tưởng lẫn nhau thì họ khó đi đến việc hợp tác làm ăn. Vì vậy,sự giới thiệu của một bên thứ ba nào đó sẽ giúp họ loại bỏ những lo ngại về đối tác.

    Rào cản văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công: Nhà đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục, xin giấy phép cho dự án do hệ thống thủ tục giấy tờ rườm rà, phức tạp, thêm vào đó là thái độ thiếu hợp tác của nhân viên.

    Báo Đại Đoàn kết số ra ngày 25-12-2009 đã trích lời ông Ichikawa Kazuya, Giám đốc công ty Chubu-Rika bức xúc: “Việc khai thuế hải quan mất nhiều thời gian, nhanh nhất là 2 ngày, nếu có sự cố gì thì hàng hóa của chúng tôi phải chôn chân hơn 1 tuần. So với chính sách thủ tục hải quan của Singapore thì Việt Nam cần phải đơn giản hóa thủ tục rất nhiều, vì Singapore làm thủ tục hải quan chỉ mất 10 phút”. Chỉ đơn cử là việc xin giấy phép, mỗi lĩnh vực có quy định những loại giấy phép riêng, có lĩnh vực phải xin 4 – 5 giấy phép khác nhau từ các cơ quan khác nhau, nhà đầu tư phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi. Nhiều dự án kinh doanh bị hủy bỏ vì vướng mắc trong khâu thủ tục này.

    Nguyên nhân:

    Có thể nói rằng, hệ thống thủ tục hành chính của Việt Nam còn quá rườm rà so với các nước trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung, nhiều địa phương tự đặt ra những loại giấy phép không thực sự cần thiết khiến cho quy trình hành chính trở nên phức tạp hơn.

    Bên cạnh đó, chất lượng nhân sự khu vực hành chính còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra thủ tục, cấp phép cũng chưa được quan tâm nhiều. Vì vậy, khâu xử lý còn chậm.

    Khác biệt về văn hóa đàm phán: Nhiều đối tác phương Tây cho rằng, trong đàm phán, người Việt Nam hay rườm rà, vòng vo, khó hiểu, ít đi thẳng vào vấn đề, chậm đưa ra quyết định và thường che dấu cảm xúc. Người Việt Nam thì nhận xét, các đối tác phương Tây đôi khi thiếu tế nhị, luôn muốn đi thẳng vào vấn đề và thường tỏ ra thiếu kiên nhẫn.

    55

    Người Việt Nam rất cẩn trọng khi nói “có” hoặc “không”. Một số người nước ngoài có kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt đã nhận định rằng: khi người Việt nói “vâng” thì chỉ nên hiểu là “vâng, tôi đang nghe”, đừng nhầm tưởng đó là sự đồng ý. Và họ hiếm khi nói “không” mà thay vào đó là các câu kiểu như “vấn đề này khá phức tạp” hay “việc này hơi khó”, “chúng tôi sẽ cân nhắc vấn đề này”. Một điểm khác biệt nữa là người Âu – Mỹ thường không ngại bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài trong khi người Việt có xu hướng kiềm chế cảm xúc, che dấu sự bối rối hay không hài lòng của mình bằng các cử chỉ im lặng hay cười. Một thương nhân Việt Nam có kinh nghiệm lâu năm trong đàm phán thương mại quốc tế đã đưa ra những đặc điểm khác biệt cơ bản trong đàm phán giữa người Việt Nam và người phương Tây như sau [17,118]:

    Người Việt Nam Người phương Tây
       
    Chú trọng mối quan hệ Chú trọng các quy tắc, điều luật
    Hợp đồng có thể thay đổi Hợp đồng có tính luật pháp bắt buộc
    Tin tưởng vào đối tác và mong đợi vào Tin tưởng vào hợp đồng hoặc lời nói
    sự thay đổi thỏa thuận khi cần của đối phương
    Có nhiều quan điểm trên một vấn đề Chỉ có một sự thật duy nhất
    Quyết định mang tính tập thể Quyết định mang tính cá nhân
    Đưa ra quyết định được đưa ra bởi tổ Quyết định được đưa ra ngay lập tức
    chức hay một người khác  
    Thành tích là của tập thể Thành tích là của cá nhân
    Các cá nhân không thể hiện suy nghĩ Các cá nhân bày tỏ suy nghĩ và cảm
    hay cảm xúc của mình xúc bằng ngôn ngữ lời hoặc không lời
    Chỉ thể hiện sự căng thẳng qua thái độ Dễ dàng tỏ ra căng thẳng
    một cách vô tình Những cuộc thảo luận sôi nổi hoặc
    Cảm xúc được kiềm chế nóng nảy là bình thường
    Xã hội ngữ cảnh cao Xã hội ngữ cảnh thấp
    Tính cẩn trọng cao Tính cẩn trọng thấp
    Hệ thống pháp luật thiếu ổn định, không Hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng
    rõ ràng  
       

    56

    Nguyên nhân:

    Người Việt coi trọng mối quan hệ, họ sẽ chỉ đi đến thỏa thuận khi có niềm tin vào đối tác. Trong khi đó đối tác phương Tây coi hiệu quả công việc mới là điều quan trọng. Tình cảm riêng tư không có chỗ trong công việc.

    Một lý do nữa đó là sự ưa chuộng hòa khí trong lối sống của người Việt. Họ luôn tránh nói những từ mang nghĩa phủ định hay từ chối thẳng thừng vì sợ làm đối phương mất mặt, cuộc tiếp xúc có thể trở nên căng thẳng. Do vậy, họ lựa chọn lối nói vòng vo và biểu hiện nhiều qua ngôn ngữ không lời. Trái lại, người phương Tây tư duy thẳng, nghĩ sao nói vậy, ít che đậy cảm xúc. Nhiều khi họ ít quan tâm đến thái độ người đối diện và gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa ngôn ngữ không lời đó.

    Đặc điểm về cách quản lý của người Việt cũng có nhiều khác biệt. Đại diện được cử đi đàm phán bên phía Việt Nam thường không nắm toàn quyền quyết định, vì thế, họ phải thông báo cho người quản lý để xin ý kiến cuối cùng. Ngược lại, phía đối tác nước ngoài một khi đã cử đại diện đàm phán thì họ cũng giao cho người đó toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan.

    Bất đồng trong quan niệm về giờ giấc: Người Việt Nam thường đến chậm trong các cuộc hẹn, giờ làm, và cả trong việc giao hàng. Trong khi đó, người nước ngoài thường đến đúng giờ.

    Nguyên nhân:

    Đầu tiên là do cách tư duy khác nhau: Người Việt coi giờ hẹn là giờ xuất phát còn người nước ngoài coi giờ hẹn là giờ đến nơi.

    Bên cạnh sự khác nhau về tư duy, tác phong làm việc của có nhiều điểm khác biệt: Người Việt có tác phong nông nghiệp còn người nước ngoài có tác phong công nghiệp.

    2.5. Rào cản do khác biệt về văn hóa ngƣời lao động

    57

    Khó khăn do trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn của người lao động Việt Nam hiện nay còn thấp so với các nước trong khu vực, khả năng sáng tạo và độc lập trong công việc cũng có nhiều hạn chế. Đặc biệt, các kỹ năng mềm như thuyết trình, làm việc nhóm của người lao động Việt Nam rất kém. Nhiều ý kiến cho rằng, người Việt làm việc một mình thì hiệu quả, hai người thì bắt đầu kém hiệu quả và ba người thì hỏng việc. Trong khi đó, nhiều công việc hiện nay yêu cầu sự hợp tác rất cao. Các cá nhân hoạt động riêng rẽ tốt nhưng hợp tác kém hiệu quả thì rất khó để hoàn thành tốt công việc.

    Nguyên nhân:

    Chương trình giáo dục Việt Nam hiện nay chưa thực sự chú trọng phát triển kỹ năng nghiệp vụ cho học viên. Số lượng các trường đại học được trang bị tốt về điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác giảng dạy còn rất ít ỏi.

    Thêm vào đó, mức sống của người dân trên cả nước đã được cải thiện nhưng chưa thật đồng đều. Một bộ phận lớn người dân còn nghèo, đã hạn chế cơ hội được học tập tốt của thế hệ trẻ trong những gia đình đó.

    Thái độ làm việc chưa đúng đắn: Tâm lý “nhảy việc” phổ biến trong lao động trẻ hiện nay đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài. Kết quả khảo sát của Báo Người Lao động triển khai từ tháng 4 năm 2008 với sự tham gia của 655 người đang đi tìm việc, trong đó có 445 ứng viên đã từng đi làm cho thấy, 35 % trong 445 ứng viên nghỉ việc chuyển đổi nơi làm chỉ sau dưới một năm, 39% nghỉ việc sau từ một đến hai năm và 26% sau ba năm.

    Nguyên nhân:

    Do môi trường làm việc của doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu người lao động (lương, thưởng, các chế độ phúc lợi xã hội) khiến cho họ có xu hướng đi tìm một việc làm mới sau một thời gian ngắn.

    Hơn nữa, khá nhiều người lao động trẻ hiện nay chưa có định hướng nghề nghiệp đúng đắn ngay từ đầu, chưa tìm thấy điểm mạnh của mình để phát huy, họ

    58

    muốn đi làm nhanh chóng để có thu nhập nên nhiều khi lựa chọn công việc không phù hợp.

    Một nguyên nhân sâu xa nữa là vấn đề nhận thức của người lao động. Họ vẫn chưa nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với công việc cũng như cộng đồng mà họ đang gắn bó. Tâm lý sẵn sàng đổi việc vì thế cũng rất phổ biến.

    Tình cảm chi phối công việc: Người lao động Việt Nam nhiều khi vì tình cảm mà họ che dấu sai phạm của nhau,“chín bỏ làm mười” và rất ít người có ý thức phê bình và tự phê bình. Ngay cả khi người quản lý khuyến khích phát biểu ý kiến thì cũng phần đông họ vẫn dấu những khúc mắc hay không đồng tình trong lòng, vì lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tình cảm nội bộ cũng như quyền lợi riêng tư. Vẫn còn nhiều trường hợp phân chia, phe cánh trong nội bộ nhân viên khiến cho sự phối hợp công việc gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn bị trì trệ.

    Nguyên nhân:

    Lối sống quá coi trọng tình cảm khiến cho họ e ngại nói ra những khiếm khuyết của đồng nghiệp. Và lòng tự trọng cao cũng hạn chế sự tự phê của mỗi người. Điều này giải thích vì sao người Việt ít hỏi, ngay cả khi không hiểu hoặc mơ hồ về một vấn đề nào đó.

    Phong cách làm việc chưa chuyên nghiệp cũng là một yếu tố chi phối hiệu quả công việc của lao động Việt Nam.

    IV. Một số trƣờng hợp khó khăn và thất bại của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam do rào cản văn hóa gây ra

    1. Bất đồng ngôn ngữ giữa quản lý ngƣời Hàn Quốc và công nhân Việt Nam

    Như đã phân tích ở trên, bất đồng ngôn ngữ là một rào cản lớn trong quá trình giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau. Người ta có thể khắc phục rào cản này bằng việc học ngoại ngữ hoặc sử dụng người phiên dịch. Ở các nhà máy xí nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, trình độ ngoại ngữ của công nhân còn rất hạn chế, các đốc công hay quản lý dây chuyền là người nước ngoài hầu như không thạo tiếng Việt và người phiên dịch thì lại không túc trực ở đó. Vì vậy, khi có vấn đề nảy sinh

    59

    giữa quản lý và công nhân thì rất khó để hai bên có thể trao đổi, bày tỏ ý kiến với nhau, dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc.

    Về vấn đề này, người viết đưa ra một sự việc có thật diễn ra ở nhà máy sửa chữa tàu biển Hyundai Vinashin (Khánh Hòa). Ông Choi Gyu Ha, người Hàn Quốc, giữ chức Phó phòng Tổng vụ, đã quyết định sa thải 2 công nhân vì lý do thiếu nghiêm túc trong quá trình làm việc. Thực tế sự việc này diễn ra như sau. Trong quá trình làm việc, nhận thấy máy bị hỏng, 4 công nhân phải ngưng làm và chờ sửa chữa. Trong thời gian này, họ đã trao đổi qua lại và cười với nhau. Người quản lý Hàn Quốc coi đó là hành động không nghiêm chỉnh trong giờ làm việc, kết hợp với việc 2 công nhân trong số đó đã từng bị khiển trách năm trước vì ngủ trưa dậy muộn

    • phút (dù sau đó họ đã rút kinh nghiệm và phấn đấu được loại A về kỉ luật làm việc) và đi đến quyết định sa thải 2 người này. Xét trong nền văn hóa Việt Nam thì việc nói, cười trong trường hợp này là hoàn toàn bình thường thế nhưng sẽ bị coi là không nghiêm túc đối với một nền văn hóa khá nghiêm khắc trong công việc như

    Hàn Quốc. Thêm vào đó, hai bên lại không hiểu tiếng nói nhau nên lại càng khoét sâu hơn sự bất đồng. Người công nhân không thể giải thích cho quản lý Hàn Quốc hiểu sự tình và người quản lý cũng không thể thông cảm được khi họ đứng trên quan điểm văn hóa nước họ. Quyết định này của người quản lý đã dẫn đến sự khiếu nại của công nhân.

    Từ ví dụ này có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến xung đột văn hóa có thể rất nhỏ nhưng hậu quả thì nhiều khi không thể lường được. Nếu người quản lý Hàn Quốc hiểu được văn hóa giao tiếp đơn giản này của người Việt thì ông sẽ không đưa ra hình thức phạt nặng như thế. Ngược lại, nếu người công nhân Việt Nam có chút hiểu biết về văn hóa làm việc cũng như ngôn ngữcủa người Hàn Quốc thì nhiều khả năng họ có thể giải thích cho người quản lý hiểu vấn đề và tránh được sự hiểu nhầm không đáng có này.

    2. Thất bại của sản phẩm dầu gội Feather thuộc Tập đoàn Kao

    Như một quy luật từ xưa đến nay, khi một sản phẩm mới ra mắt thị trường muốn chiếm được sự hưởng ứng của khách hàng thì phải có được những đặc tính

    60

    phù hợp với tâm lý thị trường đó. Đó có thể là thói quen tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng cũng như nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Thế giới đã ghi nhận không ít thất bại của nhà đầu tư do không nghiên cứu kĩ thị trường trước khi tung ra sản phẩm. Dầu gội Feather của tập đoàn Kao là một ví dụ.

    Nói đến tập đoàn Kao là nói đến một tập đoàn hóa mỹ phẩm Nhật Bản có danh tiếng ở Châu Á, bao phủ đến cả các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 2007, doanh thu của Kao trên toàn cầu lên đến 1,3 tỷ Yên cho dù phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của không ít hãng mỹ phẩm lớn khác trên thế giới như P&G và Unilever. Sản phẩm của Kao ở Việt Nam gắn liền với những nhãn hiệu nổi tiếng như mỹ phẩm Biore, Laurier… nhưng thành công đã không mỉm cười với dầu gội Feather. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của sản phẩm này ở Việt Nam, trong đó, việc không am hiểu thị trường đóng vai trò chủ yếu nhất. Điều này lý giải tại sao sản phẩm vẫn dành được thành công ở những thị trường khác.

    Năm 2004, nhãn hiệu dầu gội Feather được tung vào thị trường Việt Nam, với niềm tin gần như tuyệt đối của ban quản trị Tập đoàn về sự thành công của nó. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng sản phẩm đã không đánh trúng tâm lý người tiêu dùng để khẳng định vị trí của mình trên thị trường Việt Nam so với các dòng sản phẩm cùng loại của những “đại gia” khác như Sunsilk, Pantene hay Clear… Theo ý kiến của các chuyên gia marketing, nếu một thương hiệu muốn xâm nhập vào một thị trường thì phải tạo ra được những lý do thuyết phục người tiêu dùng chấp nhận nó – bao gồm cả lý do cảm tính và lý do lý tính. Nếu cả hai lý do này không cùng mạnh thì một trong hai phải đủ sức vượt lên nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của khách hàng. Feather đã không đáp ứng được cả hai lý do này. Feather được định vị là dầu gội chức năng với công dụng giúp tóc bóng mượt, trong khi đó trên thị trường đã có quá nhiều loại dầu gội cùng được định vị như thế. Vì vậy ấn tượng cảm tính mà sản phẩm mang lại hoàn toàn không có gì đặc biệt. Trong khi đó, đã có rất nhiều nhãn hiệu mang dấu ấn đậm nét trong lòng người tiêu dùng như Enchanteur được nhắc đến với mùi hương quyến rũ, Dove giúp dưỡng ẩm cho tóc hư tổn hay Sunsilk đặc tính trị gàu… Vậy lý do lý tính mà Feather mang lại có đủ

    61

    sức cứu vãn hình ảnh của nó ? Thông điệp mà Feather gửi đến khách hàng là: Nguyên liệu được chiết xuất từ nha đam và hoa đậu biếc. Có thể nói rằng với người tiêu dùng Việt Nam, khái niệm về hoa đậu biếc là hoàn toàn rất lạ lẫm, không mấy ai biết về loài cây này, còn Nha đam giúp tóc bóng mượt và khỏe cũng không đáng tin cậy. Từ xa xưa, người Việt đã biết về một loại cây có chức năng làm tóc khỏe và mượt đó là bồ kết. Đối thủ cạnh tranh của Feather là Sunsilk đã sử dụng hình ảnh loại cây này và hoàn toàn chiếm được sự tin tưởng của khách hàng. Còn Pantene thì đánh vào tâm lý dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến những người xung quanh của người Việt nên đã trưng ra bằng chứng có bao nhiêu người phụ nữ tin dùng sản phẩm của họ. Đây thực sự là những chiêu thức có tác dụng đối với tâm lý thị trường Việt Nam. Tuy vậy, vẫn chưa phải là hết phương cách để lấy lại sự quan tâm của người tiêu dùng đối với Feather. Ông Nguyễn Nam Trung – Chủ tịch công ty Stormeye nhận định rằng: “Khi lý do cảm tính và lý tính không đủ mạnh so với đối thủ, điều cuối cùng thương hiệu có thể cạnh tranh chính là giá”. Vậy nhưng đáng tiếc là Feather đã không chú ý đến phương cách này. Sản phẩm được định giá ngang ngửa so với hai thương hiệu Sunsilk và Pantene đã được thị trường chấp nhận trước đó, điều này không những khiến khách hàng khó lựa chọn và có xu hướng chọn sản phẩm quen thuộc do đặc điểm Tính cẩn trọng cao, mà còn bỏ qua tâm lý “tiền nào của nấy” của đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.

    Ví dụ trên đã cho thấy, khi nhà đầu tư không có những hiểu biết nhất định về thị trường hướng đến thì những khác biệt về thị hiếu tiêu dùng hay tập quán, thói quen của thị trường đó sẽ trở thành rào cản đối với nhà đầu tư. Họ sẽ gặp khó khăn và thậm chí là thất bại trong chiến lược mở rộng kinh doanh của mình.

    3. Khó khăn do bất đồng văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công

    Một rào cản đáng kể trong văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công của Việt Nam đó là sự rườm rà, chậm trễ, cứng nhắc về thủ tục và thái độ chưa đúng mực của nhân viên. Những câu chuyện liên quan đến vấn đề này có vô vàn, người viết xin đưa ra một số trường hợp gần đây nhất để phần nào hình dung được một trong những khó khăn lớn mà các nhà đầu tư vào Việt Nam đang gặp phải.

    62

    Đó là câu chuyện về công ty may mặc Two J Vina (Hàn Quốc), trụ sở tại Đồng Nai, được đăng trên báo TuoitreOnline số ra ngày 26-3-2009. Trong một cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo Tỉnh Đồng Nai với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra vào giữa tháng 3 năm 2009, phó Chủ tịch công ty là ông Dean Park đã phát biểu như kêu cứu rằng: “Xin cấp giấy phép kịp thời để chúng tôi không sa thải thêm công nhân”. Theo chia sẻ của ông Dean Park, công ty được cấp giấy phép thành lập năm 2006 tại xã Suối Tre, Long Khánh, Đồng Nai, chuyên may túi xách, balô để xuất khẩu. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm gần đây đã đặt công ty trước muôn vàn thách thức, có nguy cơ phải thu hẹp sản xuất và sa thải hàng trăm nhân công. Nhà máy có sức chứa trên 600 công nhân của công ty giờ trở nên trống vắng, hai dây chuyền may không có bóng một công nhân nào. Nhưng thật may mắn là công ty đã tìm được đối tác nhập khẩu mới ở Nhật Bản, đặt mua các loại mũ nón. Tuy nhiên, theo giấy phép cũ thì Two J Vina không có chức năng làm mũ nón xuất khẩu nên tháng 9-2008, công ty đã làm đơn xin tăng vốn đầu tư mở rộng thêm chức năng này với hy vọng sẽ cải thiện đáng kể tình hình khó khăn của công ty. Nhưng thật trớ trêu, Sở KH-ĐT Đồng Nai đã không chấp nhận đơn và đề nghị chờ hướng dẫn của Bộ KH-ĐT. Cho đến tận tháng 3 năm 2009, công ty vẫn không nhận được thông tin nào từ Sở, ông Dean Park không khỏi lo âu “Do thị trường túi xách suy giảm, hàng hóa không bán được, chúng tôi đã dự định sa thải công nhân nhưng nhờ hợp đồng mới, hơn 100 công nhân sẽ được chuyển sang dây chuyền sản xuất mũ nón nên chúng tôi phải nấn ná duy trì. Tuy nhiên, đợi giấy phép lâu quá đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty, chưa kể phía đối tác dọa bỏ hợp đồng”.

    Trao đổi với phóng viên báo Tuổi trẻ ngày 24-3 [24], bà Bồ Ngọc Thu – Giám đốc Sở KH-ĐT xác nhận lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã đồng ý chủ trương cho Two J Vina được bổ sung chức năng may mũ nón xuất khẩu: “Tỉnh vừa ký quyết định và công văn đang trên đường gửi tới doanh nghiệp” nhưng đại diện Công ty cho biết vẫn chưa nhận được quyết định bổ sung giấy phép. Bà Ngọc Thu không cho rằng Sở KH-ĐT Đồng Nai làm khó doanh nghiệp và giải thích: “Theo nghị định

    • năm 2006, tất cả những nhà đầu tư được cấp giấy phép theo Luật đầu tư nước ngoài cũ đều phải đăng ký lại hoạt động. Nếu không đăng ký lại sẽ không được bổ

    63

    sung chức năng mới. Two J Vina đã không đăng ký lại trước cuối tháng 6-2008 – thời điểm hết hạn đăng ký – nên việc xin bổ sung chức năng luật không cho phép”. Bà Thu còn cho rằng, việc Tỉnh giải quyết cho Two J Vina được bổ sung chức năng là cách làm linh động để giúp doanh nghiệp, giúp người lao động trong lúc khó khăn chung. Tuy nhiên, trường hợp công ty Two J Vina không phải là duy nhất, trên thực tế nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương đều từng vướng quy định này, một số nhà đầu tư đã mất cơ hội kinh doanh vì thời hạn đăng ký lại để mở rộng chức năng đã hết. Rõ ràng quy định này là quá cứng nhắc, bởi vì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể lường trước được sự thay đổi tình hình kinh doanh trong khoảng thời hạn đăng ký để kịp thời đăng ký. Ông Dean Park chia sẻ rằng, doanh nghiệp đã mải lo chuyện làm ăn nên không để ý đến thời điểm hết hạn. Mặt khác, thời điểm đó doanh nghiệp không có nhu cầu mở rộng thêm chức năng vì hoạt động xuất khẩu rất tốt. Đến 50% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn không đăng kí lại, và tính riêng Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp trên tổng hơn 6000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cấp phép thành lập trước năm 2007 tiến hành đăng ký lại (Thống kê của Cục đầu Tư nước ngoài Thành phố năm 2008). Ông Phạm Mạnh Dũng, vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ KH-ĐT đã thừa nhận sự bất cập này và cho biết “Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét sửa đổi cho phù hợp với thực tế, tức là bỏ quy định này không áp dụng nữa”. Nhưng thực sự từ đây cho đến lúc có quyết định, không biết còn bao nhiêu doanh nghiệp phải bỏ lỡ cơ hội đầu tư và đứng trước bờ vực phá sản vì điều kiện kinh tế khó khăn này.

    Cũng trong cuộc gặp gỡ cùng ngày giữa gần 100 doanh nghiệp trên địa bàn Cần Thơ, bà Nguyễn Mỹ Thuận – tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cần Thơ phản ánh về thái độ làm việc của nhân viên Nhà nước với nhiều bức xúc như sau. Hiện hầu hết các sở ngành ở Thành phố Cần Thơ đều có những website trên cổng thông tin điện tử Thành phố để hướng dẫn các thủ tục cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp khi làm đúng theo hướng dẫn thủ tục trên website nhưng khi nộp lên các sở thì các nhân viên thừa hành lại từ chối vì cho rằng doanh nghiệp

    64

    chưa thực hiện đủ bộ hồ sơ và chứng từ. Đến khi doanh nghiệp trưng ra các nội dung phổ biến có trên website và phản hồi lại thì họ lại nói là do website chưa được cập nhật. “Hệ quả của vấn đề trên làm cho doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian, chi phí và làm giảm sự hài lòng về cách đối xử của nhân viên nhà nước”. Đóng góp thêm vào vấn đề này là rất nhiều kiến nghị của các kiều bào Việt Nam ở nước ngoài

    • Rất nhiều người muốn về quê hương đầu tư nhưng gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác tìm hiểu về những thủ tục, chính sách, đến công sở hỏi thì không được hướng dẫn tận tình “Thay vì các viên chức hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thì ngược lại, họ lại làm cho doanh nghiệp mất nhiều thời gian, công sức hơn” – ý kiến của ông Nguyễn Đức Ấn, Giám đốc công ty Kim cương Kita tại Tp Hồ Chí Minh. Còn theo ông Hiroshi Hồ, ở nước ngoài, cơ quan hành chính là nơi cung cấp dịch vụ, chứ không phải là nơi để xin – cho. Tuy nhiên, tại Việt Nam nhiều công chức cho mình là “bề trên” và có quyền “ban phát” cho những người đến liên hệ. Họ làm rất mệnh lệnh, hành chính. Chính sách của Chính phủ thì rất tốt nhưng một số người thực hiện lại lệch lạc.

    Có thể thấy rằng, văn hóa kinh doanh ở bộ phận hành chính công của nước ta thực sự cần phải có những thay đổi. Tình trạng như trên đang diễn ra ngày càng phổ biến và gây nhiều bức xúc cho các doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước ở Việt Nam. Thủ tục rườm rà, thái độ nhân viên thiếu hợp tác đã làm trì hoãn biết bao dự án đầu tư, không những tiêu tốn thời gian, tiền của, công sức của nhà đầu tư mà còn hạn chế cơ hội tiếp nhận dự án đầu tư của đất nước.

    V. Đánh giá về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Qua quá trình phân tích những ảnh hưởng cũng như nguyên nhân của các rào cản văn hóa Việt Nam đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, người viết xin đưa ra một số ý kiến đánh giá như sau:

    Có thể nói rằng, ngôn ngữ chính là phương tiện, là chiếc cầu nối để rút ngắn khoảng cách giữa các nền văn hóa khác nhau. Bằng ngôn ngữ, con người tiến hành trao đổi thông tin, truyền đạt những ý tưởng hay tình cảm của mình, từ đó mối quan

    65

    hệ giữa người với người trở nên gần gũi hơn. Trong môi trường kinh doanh quốc tế, sự am hiểu ngôn ngữ địa phương sẽ là chất dầu bôi trơn những mắt xích của quá trình kinh doanh, khiến cho hoạt động kinh doanh trở nên thuận lợi, từ khâu quản lý đến khâu tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Nhận thức được vai trò quan trọng của ngôn ngữ, người viết cho rằng, bất đồng ngôn ngữ là rào cản lớn nhất trong các rào cản về văn hóa, cản trở sự thâm nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài. Khi không có những hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, các nhà đầu tư sẽ gặp một trở ngại đáng trong việc tìm hiểu đặc điểm thị trường. Hiếm có một tài nào về văn hóa địa phương toàn diện hơn tài liệu viết nên từ những con người thật, những câu chuyện thật được thu thập và lưu giữ bằng chính ngôn ngữ của địa phương đó. Nhà đầu tư hiểu được ngôn ngữ của thị trường mình hướng đến nghĩa là đã bước được một bước đến thành công.

    Ngôn ngữ là một yếu tố rất phức tạp nên những rào cản của nó đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng vô cùng phong phú. Trong giới hạn của khóa luận này, người viết chỉ đưa ra một số rào cản tiêu biểu thuộc rào cản ngôn ngữ, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý cũng như hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trong xu thế phát triển hiện nay, những rào cản về ngôn ngữ đang có xu hướng giảm dần thông qua việc toàn cầu hóa một số ngôn ngữ như tiếng Anh. Với chiếc cầu nối ngôn ngữ này, những người đến từ các nền văn hóa khác nhau sẽ có cơ hội hiểu biết nhau hơn, từ đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ bản địa cũng dễ dàng hơn. Các nhà đầu tư nước ngoài cần trau dồi vốn ngoại ngữ của mình để có nhiều cơ hội hơn khi thâm nhập một thị trường mới.

    Nếu như ngôn ngữ là sự biểu hiện bên ngoài của những suy nghĩ, hành động, thì tư duy chính là động cơ bên trong dẫn đến những suy nghĩ, hành động này. Tư duy là yếu tố tương đối tĩnh, khó thay đổi, nên một khi đã có sự khác biệt giữa cách tư duy của các nền văn hóa thì con người chỉ còn cách tìm hiểu và chấp nhận sự khác biệt đó mà thôi. Vì vậy, rào cản do khác biệt tư duy cũng ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động đầu tư quốc tế về phương diện quản lý cũng như kinh doanh.

    66

    Môi trường văn hóa kinh doanh là nơi nhà đầu tư có nhiều va chạm văn hóa, ảnh hưởng đến cách quản lý công việc kinh doanh của họ. Làm sao để có cách quản lý phù hợp là băn khoăn lớn của các nhà lãnh đạo trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay. Hiện nay, những bất cập trong khu vực hành chính công đang được Nhà nước phối hợp các ban ngành, đoàn thể, tiến hành rà soát và cắt giảm những thủ tục không cần thiết. Những kế hoạch cắt giảm này đang cho thấy những hiệu quả đáng khích lệ.

    Dù là công việc kinh doanh gì và trong hoàn cảnh nào thì nguồn nhân lực cũng luôn đóng một vai trò quan trọng. Chất lượng nhân lực sẽ quyết định đáng kể sự thành bại của một tổ chức kinh doanh. Do đó, khác biệt về văn hóa người lao động cũng là một thách thức không nhỏ đối với các nhà đầu tư.

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu thị trường sẽ hạn chế khả năng thích nghi của sản phẩm ở thị trường đó. Rào cản này bao gồm toàn bộ những yếu tố thuộc nhu cầu thị trường. Do đó, có một chiến lược sâu sát, kĩ lưỡng từ những nghiên cứu thị trường đáng tin cậy sẽ giúp nhà đầu tư vượt qua cản trở này.

    Tổng hợp những ảnh hưởng của các rào cản đã phân tích, người viết đưa ra bảng tổng kết tác động của các rào cản văn hóa đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

      Rào cản văn hóa Công tác quản lý Hoạt động kinh doanh
         
             
    Khác   Ngôn ngữ lời nói Phối hợp công việc thiếu Cản trở tìm hiểu thị
    biệt   (từ ngữ,cách nói,lịch ăn ý trường
    ngôn   sự, tình cảm) Hạn chế xây dựng mối Chi phối các chiến lược
    ngữ     quan hệ tốt đẹp với nhau sản phẩm
             
        Ngôn ngữ không lời Cản trở việc xây dựng Ít nhiÒu ¶nh h-ëng ®Õn
        (một cử chỉ có nhiều mối quan hệ tốt đẹp với chiÕn l-îc s¶n phÈm
        ý nghĩa) nhau  
             

    67

    Khác Cách giải quyết vấn Khó khăn để đưa ra cách Quảng cáo sản phẩm
    biệt tư đề (lí tính-cảm tính) quản lý mềm dẻo dựa vào tư duy cảm tính
    duy      
           
      Tư duy nông nghiệp Khó khăn trong việc
        hoạch định chiến lược dài
         
        hạn  
           
    Khác Thị hiếu thị trường Khó khăn trong việc
    biệt thị đa dạng   nắm bắt thị trường
    hiếu tiêu     Chi phí điều chỉnh sản
    dùng     phẩm cao
           
    Khác Bất đồng về phong Khó khăn để quản lý mềm
    biệt văn cách kinh doanh dẻo  
    hóa kinh (mối quan hệ-năng Quản lý nhân lực (tuyển  
    doanh lực) dụng, lương thưởng)  
           
      Rào cản văn hóa Khó khăn trong quá
      khu vực hành chính   trình làm thủ tục, giấy
      công   phép
           
      Khác biệt về văn hóa Hạn chế hiệu quả đảm
      đàm phán (mối quan   phán
      hệ-hiệu quả)    
           
      Bất đồng trong quan Ảnh h-ëng tiÕn tr×nh c«ng C¶n trë c«ng viÖc kinh
      niệm giờ giấc(giờ viÖc chung doanh do giao hµng
      xuất phát-giờ đến   muén
      nơi)    
           
    Khác Khó khăn do trình Khó khăn trong tuyển
    biệt văn độ chuyên môn dụng  
    hóa   Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶  
    người   c«ng viÖc  
           

    68

    lao động Thái độ làm việc Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      chưa đúng đắn (tâm c«ng viÖc  
      lý nhảy việc)    
           
      Tình cảm chi phối Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      công việc c«ng viÖc (thiÕu ý thøc  
        x©y dùng tËp thÓ, néi bé  
        bÊt hßa)  
           

    69

    CHƢƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Triển vọng đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam trong những năm tới

    1. Đánh giá triển vọng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam năm 2010

    Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và sự phát triển kinh tế toàn cầu nói chung. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia quốc tế thì kinh tế Thế giới đang dần hồi phục, kéo theo đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cho rằng, đầu tư quốc tế giai đoạn 2009-2011 sẽ được phục hồi với tốc độ chậm vào năm 2010 và sẽ tăng mạnh vào năm 2011. Cụ thể là ở mức 1200 tỷ USD năm 2009 lên 1400 tỷ USD năm 2010 và đạt mức 1800 tỷ USD năm 2011 ( theo “Triển vọng đầu tư toàn cầu 2009-2012” của WIPS). Tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào việc khôi phục sự tín nhiệm và ổn định hệ thống tài chính thông qua các giải pháp ứng phó với cuộc khủng hoảng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Các chuyên gia cũng nhìn nhận 4 nhân tố được xem là nền tảng cho cuộc khôi phục này đó là: Suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ chấm dứt vào năm 2010; Môi trường đầu tư toàn cầu sẽ được cải thiện dần qua các năm, biểu hiện qua sự tăng lên của mức tin tưởng vào đầu tư nước ngoài từ 22% (2009) lên 33% (2010) và 50% (2011); Hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ bị hạn chế do giá cổ phiếu giữ ở mức thấp; Xu hướng quốc tế hóa các công ty chỉ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn trung hạn về các mặt như số lượng sản xuất, số lượng việc làm, đầu tư và bán hàng ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia… Các nhân tố này được xem là chất xúc tác cho sự phục hồi hoàn toàn dòng vốn đầu tư nước ngoài vào năm 2011 [27].

    Trong xu hướng đi lên của Thế giới, Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực về môi trường đầu tư 2010, hứa hẹn nhiều bước tiến mới về mọi mặt của nền kinh tế. Một số tổ chức Quốc tế dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010 ở mức khá cao. Dự báo của IMF và ADB lần lượt là 6% và 6,5%. HSBC

    70

    cũng đưa ra dự báo khả quan với mức tăng trưởng 6,8%. Thậm chí, Goldmen Sachs còn cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng đến 8,2% năm 2010. Viện nghiên cứu kinh tế LG (LGERI) Hàn Quốc đã công bố bản báo cáo về triển vọng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam với nhận xét: “Việt Nam chắc chắn là mảnh đất nhiều cơ hội với tài nguyên thiên nhiên giàu có và tiềm năng phát triển lớn”. Những dấu hiệu tốt về kinh tế Việt Nam còn thể hiện khá rõ qua tâm lý người tiêu dùng. Theo khảo sát của Tập đoàn quốc tế MasterCard tiến hành tháng 10-11 năm 2009, trên 24 nền kinh tế toàn cầu (14 nước châu Á-Thái Bình Dương, 6 nước Trung Đông, 4 nước châu Phi) thì chỉ số niềm tin tiêu dùng (ICC) của Việt Nam dẫn đầu trong 24 quốc gia với mức 90%, bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. Cụ thể, ICC ở Hà Nội là 94,6% và Tp Hồ Chí Minh là 85,4%.Những đánh giá đầy lạc quan này đã chứng tỏ hình ảnh Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Khủng hoảng là một thách thức nhưng cũng là cơ hội cho Việt Nam tiến lên gặt hái những thành công.

    Các chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng có những nhìn nhận tốt về môi trường đầu tư Việt Nam thời gian sau khủng hoảng và dự báo phát triển những năm tới. Họ tin tưởng rằng, với những kinh nghiệm giải quyết hậu quả hai cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, đất nước đang kỳ vọng vào sự điều hành của Chính phủ năm 2010 sẽ có nhiều bước phát triển đầy khởi sắc. Những dự báo này dựa trên một số cơ sở là: Sự ổn định về chính trị – xã hội và triển vọng kinh tế tăng trưởng 6,5%; Chênh lệch giữa vốn cam kết và vốn thực hiện sẽ được rút ngắn, các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh thực hiện các dự án đã cam kết, đồng thời các doanh nghiệp FDI sẽ mở rộng hoạt động với nhiều dự án mới; Việc thực hiện cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, AFTA và hướng tới cộng đồng ASEAN vào năm 2015 cùng với quan hệ song phương với một số nước đã nâng tầm chiến lược, tạo ra thế và lực mới của đất nước trong khu vực và trên Thế giới [12]. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có những thuận lợi đang chờ đón Việt Nam mà cũng phải nhìn vào thực tế là quốc gia vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết, đòi hỏi sự phối hợp một cách chủ động và hiệu quả giữa các đoàn thể, tổ chức và cả cá nhân doanh nghiệp để không bỏ lỡ thời cơ đang đến này.

    71

    2. Mục tiêu và định hƣớng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài trong thời gian tới

    Căn cứ vào những số liệu về nền kinh tế năm 2008 và 2009 cũng như tình hình trong nước và Thế giới gần đây, Hội nghị ngành diễn ra vào tháng 11 năm 2009 đã đề ra những mục tiêu và định hướng kinh tế nói chung và lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài nói riên vào những năm tới như sau.

    Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2010:

    Với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5-7% năm 2010, huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 39,6% GDP. Chủ trương đối với khu vực Đầu tư nước ngoài là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết, có định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên. Dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu về Đầu tư nước ngoài như sau:

    Về thu hút vốn đầu tư vào (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) đạt từ 22-

    • tỷ USD, tăng 10% sơ với thực hiện năm 2009 với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Trong đó, vốn đăng ký mới dự kiến khoảng 19 tỷ USD và vốn tăng thêm dự kiến khoảng 3 tỷ USD.

    Về vốn thực hiện năm 2010 dự kiến sẽ tăng hơn năm 2009 do dòng vốn đăng ký của các năm trước đều ở mức cao và trong điều kiện nền kinh tế Thế giới có xu hướng phục hồi. Dự kiến vốn thực hiện sẽ đạt ở mức 10-11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009, trong đó, vốn của phía nước ngoài dự kiến là 8-9 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009.

    Định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới

    Định hướng ngành:

    Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đến năm 2010 và định hướng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành có tác động lớn trên các phương diện như: Thúc đẩy

    72

    chuyển giao công nghệ nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn; gia tăng xuất khẩu, tạo việc lam, phát triển công nghiệp phụ trợ, các dự án sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng. Cụ thể như sau:

    Ngành công nghiệp-xây dựng: Khuyến khích đầu tư về công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…Chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Công nghiệp phụ trợ cũng là lĩnh vực cần quan tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước.

    Ngành dịch vụ: Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác như dịch vụ ngân hàng, tài chính, vận tải, bưu chính-viễn thông, y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo…

    Ngành Nông-lâm-ngư nghiệp: Khuyến khích các dự án đầu tư về công nghệ sinh học tạo giống cây trồng, công nghệ chế biến thực phẩm, bảo quản sau thu hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật như các công trình thủy lợi, sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống giao thông nội đồng…

    Định hướng vùng:

    Trong những năm tới, dự báo vốn FDI vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Cần tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước. Tập trung thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt, góp phần đẩy nhanh thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

    Định hướng đối tác:

    Chú trọng thu hút FDI từ các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) theo hai hướng: Thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các Trung tâm nghiên cứu, phát triển, vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

    73

    Ba đối tác chính đó là Nhật Bản, Hoa Kỳ, các nước EU. Một số đối tác truyền thống là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore…

    II.               Giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Về phía Nhà nƣớc

    Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm thích đáng đến văn hóa dân tộc. Việc xây dựng một nền kinh tế tiên tiến, đậm đà bản sắc trở thành mục tiêu lớn mà đất nước theo đuổi bấy lâu. Tuy vậy, trong một nền văn hóa, không chỉ có những điều tốt đẹp có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế mà song song với những điều tốt đẹp ấy là cả những yếu tố tiêu cực, có thể trở thành rào cản đối với sự đi lên của quốc gia. Nhận thức được những yếu tố này và hạn chế nó là một điều không dễ dàng nhưng cũng không phải là không làm được nếu có sự chỉ đạo sáng suốt từ phía Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân. Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, đưa ra các chiến lược và chính sách phát triển cho cả đất nước theo từng thời kỳ cụ thể. Vì vậy, vai trò của Nhà nước phải được nhắc đến đầu tiên trong việc hạn chế các rào cản văn hóa đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.

    Thứ nhất, chú trọng công tác giới thiệu văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Qua quá trình phân tích một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, người viết nhận thấy rằng, những khó khăn mà nhà đầu tư gặp phải chủ yếu do họ chưa hiểu về Việt Nam, chưa có những kiến thức về văn hóa và con người Việt Nam. Chính vì vậy, điều quan trọng nhất là giới thiệu văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tư, để họ có thể ý thức được sự khác biệt và có cách để hòa hợp sự khác biệt ấy. Công tác giới thiệu này có thể tiến hành bằng cách:

    Xây dựng một số trung tâm trên các vùng miền, địa phương, chuyên nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ với hoạt động kinh doanh quốc tế. Đây sẽ là nơi thu thập, cập nhật và lưu giữ những tài liệu liên quan đến văn hóa, con

    74

    người, pháp luật, các chủ trương chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam được dịch sang nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc… Nhà đầu tư đến đây sẽ có cơ hội được tư vấn và hỗ trợ các thông tin liên quan đến môi trường cũng như cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Các trung tâm này có thể tồn tại độc lập hoặc trực thuộc các ban ngành liên quan.

    Khuyến khích ra đời các ấn phẩm giới thiệu về văn hóa Việt Nam trên mọi miền đất nước, được dịch sang các thứ tiếng thông dụng và quảng bá trên các trang website liên quan đến hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư không chỉ tìm hiểu thông tin trên các website này mà còn được đưa ý kiến đóng góp, thắc mắc về những điều chưa hiểu về văn hóa Việt Nam.

    Phối hợp với các địa phương tổ chức những buổi giao lưu, học hỏi giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp trên địa bàn, mở rộng cơ hội để họ tiếp xúc và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhau. Những thông tin chi tiết về các cuôc giao lưu này sẽ được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Thứ hai, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

    Hiện nay, Nhà nước đã có nhiều chương trình cải cách thủ tục hành chính trên khắp các địa phương và kết quả đạt được cũng rất khả quan. Những chương trình, kế hoạch tương tự cần được đẩy mạnh hơn nữa, triệt để hơn nữa để sớm cải thiện tình hình bất cập về thủ tục hành chính như hiện nay. Nhà nước cũng cần khuyến khích các địa phương độc lập trong quá trình cải cách thủ tục này bằng cách cho phép họ tự cắt bỏ những thủ tục họ cho là không cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh từng nơi.

    Công tác giám sát kết quả cuộc cải cách này cần được tiến hành minh bạch, thường xuyên, cho phép sự tham gia của giới truyền thông để hạn chế tối đa những bất cập có thể phát sinh như bệnh thành tích, hoặc việc gây khó dễ của cơ quan, cá nhân liên quan.

    75

    Thứ ba, đào tạo những cán bộ, lãnh đạo có khả năng tham gia vào các hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài

    Tăng cường tuyển chọn một cách lành mạnh những cá nhân có năng lực trong kinh doanh quốc tế nói riêng và kinh doanh nói chung để tham gia vào các cơ quan ban ngành liên quan.

    Đẩy mạnh đào tạo các khả năng mềm cho lãnh đạo cũng như nhân viên trong các cơ quan, ban ngành liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Các kỹ năng quan trọng về ngoại ngữ, tin học, đặc biệt là đàm phán, thương lượng.

    Thứ tư, quan tâm hơn đến công tác đào tạo kiến thức và kỹ năng mềm cho lớp trẻ để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay

    Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát hiện và định hướng điểm mạnh của những học viên. Từ đó đào tạo họ để những thế mạnh đó ngày càng phát huy. Muốn thực hiện được điều này, cần có sự cải cách về nội dung cũng như phương pháp dạy học. Mô hình học tín chỉ như hiện nay là một trong những cách làm thiết thực, nhưng cần nhân rộng mô hình này hơn nữa, để sinh viên có cơ hội phát hiện và bồi dưỡng năng lực bản thân mình

    Nhà nước cần đầu tư thích đáng hơn cho việc giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp học. Điều quan trọng là giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, sau đó là tạo điều kiện để các em có thể học tập tốt bằng việc đầu tư chất lượng giáo trình, giáo viên và phương tiện học tập.

    Các cấp học hiện nay cũng cần bắt đầu đưa vào nội dung giảng dạy các kỹ năng mềm, đặc biệt là cấp đại học. Sinh viên cần có những kiến thức về thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế… Đó là những kỹ năng đang thiếu hụt trầm trọng ở những người lao động Việt Nam hiện nay.

    Thứ năm, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

    Hiện nay công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưa thực sự gặt hái được hiệu quả. Bằng chứng là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự chú trọng giá trị hợp đồng được ký kết, tình trạng soạn thảo hợp đồng còn nhiều bất cập, nhiều vụ

    76

    kiện tụng xảy ra và người thua cuộc đa phần là phía Việt Nam. Việc tuyên truyền pháp luật có thể thực hiện bằng cách:

    Thông qua các kênh thông tin đại chúng như sách, tạp chí, báo chí, các kênh truyền hình để đưa dẫn chứng về những thiệt hại trong kinh doanh do không có kiến thức về pháp luật. Trích dẫn trực tiếp những điều luật thông dụng liên quan đến kinh doanh để người dân, đặc biệt là giới kinh doanh ý thức được tầm quan trọng của luật pháp và hiểu hơn về luật pháp.

    Đưa vào chương trình giảng dạy một cách bài bản hơn cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, có biện pháp để thúc đẩy ý thức tự tìm hiểu của sinh viên bằng cách đưa ra các tình huống bắt buộc học sinh phải tự tìm hiểu qua các tạp chí pháp luật và các địa chỉ cung cấp thông tin về pháp luật Việt Nam cũng như nước ngoài.

    Khuyến khích tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về luật pháp cho giới trẻ, nhằm tuyên truyền cũng như bổ sung kiến thức về luật pháp cho người tham gia.

    2. Về phía doanh nghiệp

    Giải pháp chung cho các doanh nghiệp trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài là phải ý thức về sự khác biệt văn hóa, tôn trọng sự khác biệt văn hóahòa hợp với sự khác biệt văn hóa đó.

    Bất đồng văn hóa là một thực tế khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc liên văn hóa. Vì vậy, ý thức tìm hiểu về những nét văn hóa đặc trưng của đối tác nước ngoài trước khi gặp gỡ là điều vô cùng quan trọng. Cũng cần nhận thức được rằng, những thông tin tìm được không phải là tất cả nên cần phải đặt mình trong tình trạng cảnh báo về những hành động khó hiểu có thể có ở đối phương, điều này cũng đồng nghĩa với việc chuẩn bị tâm lý trước cho đôi bên trong những tình huống không thể lường trước được. Sau khi ý thức được điều này, cần có thái độ tôn trọng thay vì cảm thấy khó chịu hay lảng tránh. Bởi nếu ở vị trí của đối tác thì những hành động của bản thân mình cũng có thể là điều kì lạ, cần chấp nhận thực tế rằng những nền văn hóa khác nhau sẽ có những cách suy nghĩ và hành động không giống nhau. Tinh thần học hỏi và tôn trọng là những bước cần thiết cho sự phát triển khả năng trau

    77

    dồi vốn văn hóa, vậy nhưng hai yếu tố này vẫn là chưa đủ, cần có sự hòa hợp những khác biệt văn hóa để giải quyết các tình huống khó xử của đôi bên. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phân tích xem trong tình huống đó, ở góc nhìn của nền văn hóa nước bạn thì hành động ấy có nghĩa là gì thay vì vội vàng đánh giá điều đó một cách tiêu cực theo quan điểm của cá nhân mình.

    2.1. Doanh nghiệp Việt Nam

    Thứ nhất, chú trọng việc đào tạo cho người lao động kiến thức về văn hóa kinh doanh các nước đối tác

    Tổ chức các buổi tìm hiểu về văn hóa kinh doanh các nước bạn hàng để có những điều chỉnh nhất định về cách thức kinh doanh với từng đối tượng sao cho thích hợp.Những hiểu về văn hóa con người và thị trường đối tác càng nhiều thì khả năng thành công càng nhân lên.

    Đặc biệt, trước những cuộc gặp gỡ đối tác nước ngoài, phải nghiên cứu kĩ về văn hóa của họ để có sự chuẩn bị về tinh thần cũng như vật chất cho cuộc gặp gỡ. Đó là những đặc điểm đặc trưng nhất về con người, cách suy nghĩ, cách ứng xử, những điều cấm kị, sở thích, thị hiếu, những mối quan tâm… Nếu không sử dụng tốt ngôn ngữ đối tác thì phải tìm một phiên dịch thích hợp, có sự am hiểu về văn hóa đôi bên, nên trao đổi trước với người này nội dung sắp tới để họ chuẩn bị vốn từ cũng như cách ứng xử phù hợp.

    Khuyến khích người lao động mở rộng kiến thức chuyên môn cũng như những hiểu biết văn hóa thông qua các chuyến công tác hay học tập ngắn ngày ở nước ngoài.

    Tích cực tham gia các cuộc gặp gỡ, giao lưu văn hóa do các cơ quan, đoàn thể tổ chức. Bản thân doanh nghiệp cũng có thể đứng ra tổ chức và kêu gọi sự tham gia của các doanh nghiệp khác trên địa bàn.

    Thứ hai, nâng cao kiến thức pháp luật, đặc biệt là pháp luật ở các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

    78

    Tổ chức những khóa học ngắn hạn trong nội bộ doanh nghiệp để người lao động ý thức được tầm quan trọng của việc nắm vững luật pháp, từ đó, chủ động củng cố kiến thức cho bản thân mình.

    Phổ biến những kiến thức pháp luật có được vào môi trường làm việc, để các cá nhân quen với phong cách làm việc theo pháp luật. Nhất là ở khâu soạn thảo hợp đồng, thực hiện hợp đồng, giải quyết những tranh chấp có thể phát sinh.

    Thứ ba, xây dựng văn hóa kinh doanh cho doanh nghiệp

    Không nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có được những quan điểm đúng đắn về văn hóa kinh doanh. Đa phần doanh nhân không ý thức được rằng, xây dựng cho mình một nét văn hóa riêng bền vững cũng đồng nghĩa với việc khẳng định vị trí của mình trên thương trường. Một nền văn hóa kinh doanh đặc thù, tiên tiến sẽ củng cố niềm tin cho đối tác và góp phần làm giảm những rào cản văn hóa khi có sự hợp tác với nước ngoài. Có thể xây dựng văn hóa kinh doanh bằng cách:

    Cá nhân người lãnh đạo phải xây dựng cho mình nét văn hóa riêng. Nét văn hóa này hội tụ tất cả các yếu tố thuộc năng lực, đạo đức kinh doanh, tư tưởng kinh doanh, phong cách quản lý, thái độ đối với đồng nghiệp, cách xây dựng mối quan hệ… Nét văn hóa này quyết định văn hóa chung của cả doanh nghiệp.

    Mỗi thành viên trong doanh nghiệp cần đoàn kết, tích cực hợp lực để xây dựng văn hóa riêng cho doanh nghiệp mình. Đầu tiên là phải trau dồi kiến thức cần thiết cho chuyên môn. Sau đó phải định hướng tư tưởng đúng đắn về công việc, xác định phong cách làm việc, cách trao đổi và xây dựng mối quan hệ với nhau. Doanh nghiệp cần chủ động đưa ra những chương trình, kế hoạch hoạt động chung trong đó ghi rõ vai trò, nhiệm vụ của các thành viên. Đặc biệt, định hướng quan điểm kinh doanh rõ ràng để cả tập thể cùng hướng tới.

    2.2. Doanh nghiệp nƣớc ngoài

    Thứ nhất, tìm hiểu về văn hóa Việt:

    Điều đầu tiên nhà đầu tư nước ngoài phải làm sau khi quyết định đầu tư sang Việt Nam là dành thời gian tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Đây là một việc rất cần

    79

    thiết, quyết định phần lớn công việc kinh doanh của họ ở nước ngoài. Họ có thể nghiên cứu về con người, những phong tục tập quán, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động hay những sở thích và cả những điều kiêng kị qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tạp chí, phim ảnh, website.

    Tham khảo ý kiến của những người có hiều biết về văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, nếu có những người bạn có kinh nghiệm sống và làm việc ở đây thì lời khuyên của họ là những điều thực sự quý giá. Bởi đó là những người đã trải qua thành công hay thất bại ở đất nước này, họ hiểu hơn ai hết nền văn hóa của họ và sự khác biệt giữa nền văn hóa đó với nền văn hóa của đất nước họ đang sống.

    Thứ hai, những lưu ý khi đàm phán với người Việt Nam

    Cũng như phía Việt Nam, nhà đầu tư cần chuẩn bị kĩ các kiến thức về văn hóa kinh doanh trong đàm phán của người Việt. Đó là cách họ đàm phán, ý nghĩa của những ngôn ngữ không lời, quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng. Những hiểu biết này sẽ giúp nhà đầu tư tránh được những bất đồng văn hóa có thể nảy sinh.

    Dù có kiến thức về ngôn ngữ Việt, nhà đầu tư vẫn nên tìm một người phiên dịch am hiểu cả ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam để đảm bảo sự chính xác trong quá trình phiên dịch.

    Thứ ba, học tiếng Việt hiểu biết hơn về văn hóa Việt Nam

    Dành thời gian tiếp xúc với người Việt và học cách họ nói với nhau từ những từ ngữ đơn giản nhất. Đôi khi, chỉ một chào bằng tiếng Việt cũng có thể khiến cho khoảng cách khác biệt văn hóa được rút ngắn.

    Kết bạn với những người Việt Nam là cơ hội nâng cao trình độ tiếng Việt cũng như những hiểu biết quý giá về văn hóa địa phương.

    3. Về phía ngƣời lao động

    Thứ nhất, sớm phát hiện năng lực của bản thân để có định hướng bồi dưỡng và phát huy năng lực đó ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Định hướng này giúp người lao động đưa ra quyết định đúng đắn cho công việc tương lai của mình,

    80

    mở rộng cơ hội thành công và hạn chế được phần nào tình trạng nhảy việc đang diễn ra phổ biến hiện nay.

    Thứ hai, nâng cao trình độ ngoại ngữ và những kỹ năng mềm

    Cần ý thức được vai trò của ngoại ngữ trong thời đại hiện nay để có những động cơ học tập đúng đắn, nghiêm túc, mang lại hiệu quả trong học tập.

    Chủ động tìm hiểu về văn hóa của quốc gia sử dụng ngoại ngữ đó để hiểu sâu hơn và sử dụng chính xác hơn ngôn ngữ đang học. Cần ý thức được rằng, ngôn ngữ là sự biểu hiện của văn hóa, văn hóa chi phối ngôn ngữ, học một ngôn ngữ đòi hỏi phải học cả văn hóa quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó.

    Rèn luyện những kỹ năng mềm cho bản thân như thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế, trên tinh thần tự giác, chủ động.

    Thứ ba, có thái độ đúng đắn đối với công việc

    Người lao động cần ý thức được vai trò của mình trong tập thể. Nếu cả công ty là một dây chuyền thì mỗi cá nhân là một mắt xích trong dây chuyền đó. Mỗi người đảm nhận một chức năng, nhiệm vụ riêng, có những đóng góp nhất định cho tập thể. Với vai trò này, họ phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tôn trọng công việc mình đang làm cũng như đóng góp của những người xung quanh.

    Người lao động cần phát huy cao tinh thần xây dựng đối với bản thân cũng như tập thể. Thẳng thắn nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, bền vững, từ đó bảo đảm được lợi ích cho từng cá nhân.

    81

    KẾT LUẬN

    Rào cản văn hóa là những cản trở khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc giữa những nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là trong thời kì hội nhập đang ngày càng mở rộng như hiện nay. Khắc phục những cản trở này không phải là chuyện một sớm một chiều, mà là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự chủ động hợp tác giữa cả hai phía – phía Việt Nam cũng như các đối tác đến từ quốc gia khác. Một khi cả hai bên đều xây dựng ý thức về những khác biệt này và có sự tôn trọng, hòa hợp sự khác biệt thì những bất đồng văn hóa sẽ giảm đi và việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác đôi bên không còn là vấn đề quá khó khăn nữa. Cũng phải thừa nhận rằng, đồng hành với việc hạn chế những rào cản về văn hóa này, Việt Nam đang tiếp thu những nét đẹp văn hóa của các nước bên ngoài và khắc phục dần những vấn đề chưa tốt của bản thân, các nước cũng nhìn nhận được những điểm đáng trân trọng của văn hóa, con người Việt Nam – những truyền thống tích cực đáng được gìn giữ và phát huy trong thời đại toàn cầu hóa này.

    82

    PHỤ LỤC

    PHIẾU ĐIỀU TRA

    Về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Dành cho người Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Phiếu điều tra này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong một công trình nghiên cứu của trường Đại học Ngoại Thương, ngoài ra không dùng cho bất cứ mục đích nào khác. Chúng tôi rất mong các bạn bớt chút thời gian để trả lời một số câu hỏi sau đây. Sự hợp tác của các bạn sẽ giúp chúng rồi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn.

    Họ và tên ngƣời trả lời:

    Nơi công tác hiện nay tại Việt Nam:

    Xin vui lòng chọn phương án mà bạn cho là thích hợp.

    Câu hỏi 1. Bạn có kinh nghiệm làm việc với các đối tác nƣớc ngoài trong thời gian:

    <= 1 năm                                        > 1 năm,< 2 năm                                      > 2 năm

    Câu hỏi 2. Đối tác của bạn phần lớn là ngƣời thuộc Châu lục:

     

    Châu Á

    Châu Âu

    Châu Mỹ

    Khác ( vui lòng ghi

    rõ)

    Câu hỏi 3. Bạn thực sự muốn làm việc với đối tác nƣớc ngoài đến từ Châu lục nào sau đây:

    Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Khác ( vui lòng ghi rõ )

    83

    Câu hỏi 4.Xin vui lòng cho biết lý do khiến bạn muốn làm việc với họ:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Câu hỏi 5. Theo bạn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sang Việt Nam thƣờng gặp những khó khăn do:

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Khác (xin vui lòng nêu rõ)

    Câu hỏi 6. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (xin vui lòng nêu rõ).

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Câu hỏi 7. Nếu xét riêng về rào cản văn hóa, theo bạn có thể có những yếu tố nào thuộc văn hóa có thể là rào cản khi đầu tƣ sang Việt Nam

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    84

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Câu hỏi 8. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Câu hỏi 9. Bạn có biết trƣờng hợp thất bại nào của nhà đầu tƣ khi đầu tƣ sang Việt Nam do rào cản văn hóa gây nên? Xin hãy chia sẻ với chúng tôi

    Không

    Có (xin vui lòng cho biết thông tin ngắn gọn về dự án đó)

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    Câu hỏi 10.Từ kinh nghiệm thực tiễn và bản thân, bạn có cách khắc phục nào để hạn chế tối đa sự ảnh hƣởng do rào cản văn hóa Việt Nam gây ra? Xin vui lòng ghi rõ

    ……………………………………………………………………………………….

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ……………………………………………………………………………………….

    85

    Xin chân thành cảm ơn bạn đã hợp tác với chúng tôi hoàn thành phiếu điều tra này

    Questionnaire on Vietnamese cultural barriers that impact on foreign investors (For Foreign investors in Vietnam)

    This questionnaire is part of research project monitored by the Hanoi Foreign Trade University. It is designed to investigate how aspects of Vietnamese culture impact on foreign investments in this country. I would be very grateful if you could spend some time to complete this questionnaire. Your cooperation is very much appreciated. All responses will remain confidential.

    Company’s Country of origin:

    Location in Vietnam:

    Kind of business:

    Please answer these questions and feel free to add any comments if appropriate.

    Q1. How long have you been doing business in Vietnam?

    <= 1 year                              > 1 year                             < 2 years                          > 2 years

    Q2. Apart from Vietnam, is your company represented in any other foreign country?

    Yes                                            No

    If yes, please specify:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q3. What do you believe were the main factors that attracted your company to Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    86

    87

    Q4. Please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult: (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3-sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Local administration

    Cultural differences

    Availability of suitable human resources

    Local infrastructure

    Local legal system

    Others (please give details)

    Q5. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q6. In terms of specific cultural differences, please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult:

    (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3- sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Language

    Dealing with problems

    Local consumer tastes

    Business culture

    Employees working culture

    Others (please give details)

    Q7. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    88

    Q8. Are you aware of any unsuccessful investments in Vietnam which could be directly attributed to problems of cross-cultural barriers?

    No

    Yes (Please share briefly some details about that project – no names necessary)

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q9. What would you suggest are the three most important things that foreign investors should be aware of before setting up business in Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Thank you

    89

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu tiếng Việt

    • Nguyễn Hoàng Ánh – Luận án tiến sĩ, 2004, Vai trò của văn hóa trong kinh doanh quốc tế và vẫn đề xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, Tr.120
    • PTS Ngô Xuân Dân, PTS Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Quan hệ kinh tế Quốc tế, NXB Hà Nội.
    • Fons Trompenaars with Charles Hampden-Tuner, 2009, Chinh phục các đợt sóng văn hóa, Công ty sách Anpha.
    • Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục.
    • Hồ Chí Minh, 1995, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
    • Trần Nhâm (chủ biên), 1995, Có một Việt Nam như thế – Such is Vietnam, NXB Chính trị Quốc gia (Việt Nam) – Công ty Truyền thông và xuất bản Ishou (Singapore).
    • Hoàng Phê (chủ biên), 1997, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
    • Schaefer Richard T, 2005, Xã hội học, NXB Thống kê.
    • Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, 1995, sở văn hóa Việt Nam, Trường ĐH TH TP Hồ Chí Minh.
    • Nguyễn Thị Ngọc Thủy, 2007, Những tác động của môi trường văn hóa đến Thương mại Quốc tế, Trường ĐH Ngoại Thương.
    • Giáo trình Đầu tư nước ngoài, 2006, Trường Đại học Ngoại Thương.
    • Vũ Quang Tuấn, Bộ KH-ĐT, 2010, Kỳ vọng đổi mới và những vấn đề cần lưu ý, Tạp chí Tài chính.
    • Trần Quốc Vượng,2008, sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục.

    Văn bản pháp luật

    • Luật Đầu tư nước ngoài năm 2005.
    • Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005.

    Tài liệu tiếng Anh

    90

    • Hall And Hall, 1996, Understanding Cultural Difference.
    • Ashwill with Thai Ngoc Diep, 2005, Vietnam Today – A Guide to a Nation at a Crossroads, A Nicholas Btraley Publishing Company.
    • The Peace Corps – Cross-Culture workbook, Culture Matters, US Government printing office, Tr. 242

    Websites

    [19]http://vietbao.vn/Giao-duc/37-sinh-vien-tot-nghiep-khong-tim-duoc-viec/10972914/202/

    [20]http://www.amnet.com.vn/tin-tuc/gia-cong/Gia-cong-phan-mem-tai-thi-truong-Nhat-Ban-Rao-can-lon-nhat-la-nhan-luc-ngon-ngu.aspx,

    [21]http://www.marketingchienluoc.com/index.php?option=com_content&task=vie w&id=1760

     

    [25]http://www.tinmoi.vn/DN-kieu-bao-lsquochun-tayrsquo-vi-thu-tuc-hanh-chinh-

    1177879.html

    [26]http://danluan.org/node/267

    [27]http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30066 &cn_id=393467#m3twggaZcDNM

    [29]http://fia.mpi.gov.vn/Default.aspx?ctl=Article2&TabID=4&mID=274&aID=84

    7

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-kinh-t%E1%BA%BF-c%C3%B3-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-nhi%E1%BB%81u-th%C3%A0nh-ph%E1%BA%A7n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    Lời nói đầu

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là điều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoài nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loại, những cống hiến và những phát minh vĩ đại của các bậc thế hệ đi trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đi trước. Khi đó đầu tư nước ngoài có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoài, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    em chọn đề tài: Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

    trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

    – – 1

    NôI dung

    I Một số vấn đề về cơ sở lí luận.

    1.                 Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai

    hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái tăng tính lệ thuộc với bên ngoài.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoài chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên

    – – 2

    doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3.Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    4.Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

     

     

     

    • – 3

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoài đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư

    phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoài góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp

    hoá – hiện đại hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoài tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.

    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng

    đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều

    – – 4

    kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    5.Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước

    – – 5

    ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI ở Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    – – 6

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    ở Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác

    – – 7

    trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực. Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh

    trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    1. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước. Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho

    CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng

    – – 8

    kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    II. Thực trạng và GiảI pháp

    1/ Thực trạng:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo

    nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ

    – – 9

    những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chính phủ quan tâm và chỉ đạo.

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu

    và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.

    1. Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công
    • -10

    nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để

    phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế

    – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát

    triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực
        TriệuUSD hiện
          Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
        – -11  
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức

    – -12

    100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai

    – -13

    thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng Tỷ lệ
    T   án số %vốn án số vốn %vốn
          vốn        
                   
    1 Công nghiệp chế biến 285 2328 39,6 1291 13008 40,5
                   
    2 Công nghiệp khai thác 25 1124 19,1 79 2184 6,8
                   
    3 Xây dựng 14 16 0,3 259 8228 25,6
                   
    4 Khách sạn và du lịch 86 1276 21,8 161 3650 11,4
                   
    5 Giao  thông  và  bưu 34 456 7,8 102 1465 4,6
      đIện            
                   
    6 Nông –lâm nghiệp 81 239 4,1 54 316 1,0
                   
    7 Ngư nghiệp 32 90 1,5 47 206 0,6
                   
    8 Các nghành khác 68 336 5,8 327 3045 9,5
                   
      Tông cộng 625 5865 100 2320 32102  
                   

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là

    – -14

    nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án   Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ       đầu tư (%) (%)
               
    Singapore 181   9,4 6447 20
               
    đàI loan 309   16 4268 13,3
               
    Hồng công 184   9,5 3734 11,6
               
    Nhật bản 213   11 3500 11,4
               
    Hàn quốc 191   9,9 3154 9,8
               
      -15    
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn

    1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3      Khó khăn và thách thức

    – -16

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu

    vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đại đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    – -17

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    2.                 giảI pháp cụ thể nhằm thu hút vốn đầu tư.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình

    – -18

    trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành: luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dài hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoài nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đại bàn, dài hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo điều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phải quản lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơi vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến

    – -19

    chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lại vốn vay nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    • Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất

    – -20

    lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển

    – -21

    những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    • -22

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    – -23

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)    Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    – -24

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoài

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi

    – -25

    của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    – -26

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với

    những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp

    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của

    bên Viêt Nam.

    – -27

    phần C: kết luận

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ điểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phải thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cải thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phải thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoài vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    – -28

    Đầu tư nước ngoài tự nó chưa phải là giải pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoại là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoài (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoài cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đi lại , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãi… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoài. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoài đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoại giao, kinh tế – kỉ thuật, điều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môi trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giải pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoài thông qua môi trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phải tập trung giải quyết các giải pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giải pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dài. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    – -29

    – -30

    TàI liệu tham khảo.

    • Những giải pháp chính trị- kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.(1996)
    1. Lê nin toàn tập : Tập 29- chượng II
    1. Những vấn đề về hội nhập kinh tế.
    1. Kinh tế châu á – Thái bình dương (số 1. 2-2002)
    1. Kinh tế và dự báo số (2/2003) số 3/2001,số 9/2003
    1. TàI chính số 8/2001
    1. Thương mạI số 40/2000
    1. Tạp chí xây dựng số 7/ 2001
    1. Kinh nghiệm huy động cho phát triển cao của Nhật Bản.
    1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: kết quả và giải pháp thúc đẩy( số 10-2000)

     

    1. Văn kiện Đại hội Đảng VII.VIII
    1. Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.
    1. Phát triển kinh tế.
    1. Nghiên cứu – lý luận số 4/ 1999.

    – -31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-Vi%E1%BB%87t-Nam-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-g%C3%B3c-%C4%91%E1%BB%99-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Đầu tư trực tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trong của nguồn vốn này hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giớ đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA. Tuy nhiên đây lại phụ thuộc vào chính sách phát triển và khả năng phát triển của mỗi nước. Đối với Việt Nam chúng ta cũng vậy, để hoàn thành sự nghiệp Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa của Đảng và nhà nước, nước ta đã chủ trương thực hiện chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức. Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã khẳng định vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những chủ trương hàng đầu, góp phần khai thác nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. tạo nên sức mạnh phục vụ cho Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa, phất triển đất nước.

    Để bắt kịp với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế nhằm cải thiện môi trường đầu tư cho Việt Nam, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm đã nghiên cứu chọn đề tài: “Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn 2013- 2014”

    Nội dung

     

    I.                   Tổng quan về môi trường đầu tư

    1.     Khái niệm môi trường đầu tư

    Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào quốc gia đó.

    2.     Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư

    • Các yếu tố kinh tế
      • Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình
      • Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán, thu chi ngân sách quốc gia
      • Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành, giảm thuế, trợ cấp…
      • Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư
    • Các yếu tố Thể Chế – Luật Pháp
      • Sự bình ổn: Xem xét sự bình ổn của các yếu tố chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Sự bình ổn cao sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh và ngược lại.
      • Chính sách thuế: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ, thuế thu nhập…
      • Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá…
      • Chính sách: Các chính sách thương mại, chinh sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chinh sách điều tiết cạnh tranh,bảo vệ người tiêu dùng.
    • Các yếu tố văn hóa xã hội

    Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển.Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dung tại các khu vực đó.

    Các yếu tố xã hội thì mang tính quyết định khi các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, bởi đây là yếu tố sẽ chia cộng đồng thành những nhóm khách hàng có đặc điểm, tâm lý,thu nhập khác nhau.

    • Yếu tố công nghệ
    • Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D: kết hợp giữa các doanh nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu đưa ra các công nghệ mới,vật liệu mới
    • Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu
    • Khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

    2.5      Yếu tố hội nhập

    • Chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ
    • Các rào cản thương mại mà các nhà đầu tư phải vượt qua khi muốn gia nhập thị trường
    • Mức độ tham gia vào các tổ chức quốc tế cũng như ký kết các hiệp ước quốc tế
    • Độ mở cửa của nền kinh tế, mức độ thu hút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài, cán cân thanh toán quốc tế…

    II.               Đánh giá tình hình môi trường quốc tế của Việt Nam hiện nay dưới góc độ của nhà đầu tư nước ngoài

    1.     Thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam năm 2013-2014

    Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch đầu tư) cho biết đến hết năm 2013, Việt Nam thu hút được gần 22 tỷ đôla vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gồm cả vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm. Dòng vốn FDI được đánh giá là thay đổi tích cực cả về chất và lượng, đặc biệt là giải tỏa bớt khó khăn cho nền kinh tế về mặt vốn đầu tư trong bối cảnh 2013 không phải là một năm khả quan.Theo số liệu thống kế, vốn FDI thực hiện trong năm 2013 đạt mức cao nhất kể từ năm 2008 và chất lượng vốn đầu tư cũng được xem là từng bước cải thiện, chẳng hạn, tỷ lệ đầu tư vào các dự án có quy mô lớn với hàm lượng công nghệ cao, công nghệ chế biến và chế tạo đều tăng.

    Theo báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 2/2014 mà Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư) vừa công bố, tính đến ngày 20/2/2014 cả nước có tổng cộng 122 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 830,87 triệu USD. Con số này chỉ bằng 80,7% so với cùng kỳ năm 2013.

    Với 41 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư, tổng vốn đăng ký tăng thêm ở mức 708,79 triệu USD, vỏn vẹn bằng 3% so với cùng kỳ năm 2013. Như vậy, tính chung trong 2 tháng đầu năm 2014, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm vào Việt Nam đạt mức 1,54 tỷ USD, giảm 62,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tuy vậy, vốn giải ngân ước đạt 1,12 tỷ USD, vẫn tăng 6,7% với cùng kỳ năm 2013.

    Báo cáo cũng cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2014, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 14 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất với 62 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm đạt 1,18 tỷ USD, chiếm 76,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 2 tháng.

    Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm ở mức 278,33 triệu USD, chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư. Và kế đến là vận tải kho bãi với 9 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 21,75 triệu USD.

    Trong tổng số 29 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Hàn Quốc đang chiếm vị trí dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 468,98 triệu USD, chiếm 30,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 264,55 triệu USD, chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư. Trong tháng 2/2014, Nhật Bản chỉ đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 263,36 triệu USD, chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư.

    Hiện tại, trong cán cân thương mại của Việt Nam, khu vực doanh nghiệp FDI vẫn chiếm vị trí “áp đảo” với con số 65,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước 2 tháng đầu năm. Xuất khẩu của khu vực này (kể cả dầu thô) dự kiến đạt 13,86 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2013. Nhập khẩu đạt 11,86 tỷ USD, tăng 17,1% so cùng kỳ và chiếm 56,48% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tính chung 2 tháng, khối doanh nghiệp này đã xuất siêu trên 2 tỷ USD.

    2.     Vị trí của Việt Nam trong các bảng xếp hạng môi trường đầu tư năm 2013

    • Bảng xếp hạng khu vực

    Dựa theo bản báo cáo “Asia Pacific Investment Climate Index 2013” của Vriens & Partners, chúng ta có các số liệu chính phân tích chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013.

     

     

     

     

     

     

    Chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013

    Thứ hạng

     

    tổng kết

    Quốc Gia Xếp hạng quy định pháp luật Xếp hạng mức độ mở cửa  KTQT Xếp hạng ổn định chính trị Xếp hạng mức  áp thuế Xếp hạng mức độ tham nhũng Xếp hạng quản trị tài chính tiền tệ Tổng điểm
    1 Singapore 2 2 2 2 2 1 89.8
    2 Hong Kong 4 1 5 1 4 3 87.0
    3 New Zeland 1 3 1 3 1 6 86.9
    4 Australia 3 4 4 10 3 4 81.1
    5 Brunei 8 10 3 4 7 2 73.8
    6 Đài Loan 6 5 7 7 6 7 73.0
    7 Nhật Bản 5 8 6 11 5 11 72.2
    8 Hàn Quốc 9 7 8 6 8 5 69.9
    9 Malaysia 7 6 9 5 9 9 66.8
    10 Thái Lan 10 9 12 9 10 10 57.9
    11 Trung Quốc 11 15 10 15 11 8 54.1
    12 Philippines 13 11 14 14 13 13 50.0
    13 Indonesia 16 12 18 12 16 12 47.7
    14 Campuchia 17 14 15 8 17 15 46.3
    15 Việt Nam 15 17 11 16 15 16 45.8
    16 Sri Lanka 14 13 16 19 12 19 45.1
    17 Ấn Độ 12 17 17 18 13 17 44.8
    18 Lào 18 20 13 17 19 14 40.8
    19 Myanmar 19 16 19 20 18 18 37.9
    20 Bangladesh 20 19 20 13 20 20 35.9

     

    So sánh chỉ số này giữa các năm:

    Nguồn:  Vriens & Partners

    Năm 2013, Việt Nam chỉ xếp hạng thứ 15 (tụt 3 hạng so với năm 2012) về tổng điểm đánh giá môi trường đầu tư trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Bảng phân tích này đưa ra xếp hạng về các chỉ số: quy định pháp luật, mức độ mở cửa kinh tế quốc tế, mức độ ổn định chính trị, mức áp thuế, mức độ tham nhũng và mức độ quản lý tài chính tiền tệ.

    Về tổng điểm,Việt Nam chỉ xếp trên các nước Sri Lanka, Ấn Độ, Lào, Myanmar và Bangladesh. Còn trong các chỉ số đầu tư, chỉ số được đánh giá cao nhất của Việt Nam là mức độ ổn định chính trị (hạng 11/20) và chỉ số bị đánh giá thấp nhất lại chính là mức độ mở cửa kinh tế quốc tế (hạng 17/20).

    • Bảng xếp hạng thế giới

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2012

    Nguồn:  A.T.Kearney Foreign Direct Investment Confidence Index 2012

    Theo nghiên cứu về chí số tin tưởng FDI năm 2012 của A.T.Kearney, Việt Nam đứng thứ 14/25 và mặc dù tuột 2 hạng so với năm 2010 thì Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường đầu tư quốc tế có mức tin tưởng cao, vượt trên cả các nước Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản ….

     

     

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2013

    Tuy nhiên tới năm 2013, chỉ có duy nhất Việt Nam đã tuột khỏi bảng xếp hạng này trong khi các quốc gia Châu Á khác vẫn trụ lại. Điều này chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam đang dần mất đi tính cạnh tranh và giảm mạnh sự thu hút đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

    Còn trong báo cáo về môi trường kinh doanh toàn cầu Best countries for business 2013 của Global Finance,Việt Nam xếp hạng thứ 99 về mức độ thuận lợi trong kinh doanh trên tổng số 185 nước nghiên cứu (tụt 1 hạng so với năm 2012) và chỉ xếp hạng thứ 108/ 185 (tụt 5 hạng so với năm 2012) về mức độ thuận lợi khi bắt đầu kinh doanh – bao gồm các yếu tố thủ tục, thời gian, chi phí để đăng ký kinh doanh.

    Nguồn: Global Finance

    Theo báo cáo thường niên về Môi trường Kinh doanh thế giới 2013 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 29/10/2013, đây là năm thứ 8 liên tiếp, Singapore giữ vị trí đầu bảng xếp hạng của WB. Góp mặt trong top 10 nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt nhất còn có sự hiện diện của Malaysia với vị trí thứ 6,Thái Lan vị trí thứ 18. Trái ngược với đà bứt phá mạnh mẽ của các nước láng giềng, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn bị đánh giá là chưa có biến chuyển tích cực nào.

    Điều đáng nói là trong số 10 chỉ tiêu đánh giá của WB, có tới 7 chỉ tiêu bị rớt điểm. Trong đó, riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138 trên 183 quốc gia, xuống vị trí 149 trên 189 quốc gia. Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu khác lại bị đánh giá ở mức cực kỳ thấp, thậm chí là gần như đội sổ toàn cầu. Ví dụ: tiêu chí xếp thành lập doanh nghiệp xếp hạng thứ 109/189, tiêu chí về cấp điện xếp hạng 156/189, tiêu chí về bảo vệ đầu tư đứng thứ 157/189, và tiêu chí xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đứng thứ 149/189… Chi tiết xếp hạng các chỉ số:

    Các tiêu chí đánh giá Năm 2013

     

    (trên 189 nước)

    Năm 2012

     

    (trên 183 nước)

    Mức độ thuận lợi kinh doanh 99 99
    1. Thành lập doanh nghiệp 109 108
    2. Cấp phép xây dựng 29 28
    3. Tiếp cận điện năng 156 155
    4. Đăng kí tài sản 51 48
    5. Vay vốn tín dụng 42 40
    6. Bảo vệ nhà đầu tư 157 169
    7. Nộp thuế 149 138
    8. Thương mại quốc tế 65 74
    9. Thực thi hợp đồng 46 44
    10. Xử lí doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 149 149

    Nguồn: World Bank

    2.     Thế mạnh của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về chính trị: Môi trường chính trị Việt Nam được đánh giá là tương đối ổn định. Theo báo cáo Chỉ số Hòa Bình toàn cầu năm 2013 của Viện Kinh tế và Hòa Bình, Việt Nam xếp hạng thứ 41/158 nước và vùng lãnh thổ và được đánh giá cao về ổn định chính trị.
    • Về pháp luật:
    • Bên cạnh việc ban hành những văn bản Luật doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật kế toán, kiểm toán, Luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn và đặc biệt xây dựng nhiều chương trình, đề án có mục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng môi trường. Mới đây, vào ngày 19/2/2014, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến về Luật Đầu tư sửa đổi nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, minh bạch để thu hút đầu tư; tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư; giải quyết những khó khăn trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp.
    • Các cổng thông tin và cổng đăng ký trực tuyến về đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp được phát triển giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian làm thủ tục hành chính và được cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch hơn.Ngày 14/3/2014, Bộ Ngoại giao, Bộ thông tin truyền thông phối hợp với Văn phòng đại diện Ngân hàng thế giới tại Việt Nam chính thức đưa vào sử dụng hệ thống quản lý cấp thị thực trực tuyến từ nguồn vốn ODA của World Bank.
    • Lộ trình điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 32% (1997) cho đến 25% (2009) và gần đây nhất là 22%(hiệu lực 01.01.2014), 20% (hiệu lực 01.01.2016) đã tạo một bước tiến lớn.
    • Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế giảm thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá…nhằm thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đến các lĩnh vực này.
    • Luật thuế XNK cho phép miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư… cùng với đó là sự ra đời những hiệp định về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu trong phạm vi các nước ASEAN, WTO đã giúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế.
    • Về văn hóa – xã hội: Theo nhìn nhận của một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Việt Nam là nước có lực lượng lao động dồi dào và ngày càng được nâng cao chuyên môn tay nghề. Hơn nữa, các nhà đầu tư Nhật Bản còn đánh giá, nhân lực Việt Nam không những dồi dào (63% dân số dưới tuổi 35), lương thuê công nhân rẻ (thu nhập bình quân 100 USD/tháng đối với lao động phổ thông, khoảng 210 USD/tháng với lao động có bằng cấp), giá nhân công Việt Nam đang thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực.và áp lực tăng lương không cao, bước đầu tạo thuận lợi cho những nhà đầu tư mới.
    • Về môi trường kinh tế:
    • Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ [1] , ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế[2]
    • Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa.
    • Lần đầu tiên, Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao nhất trong số các nước ứng cử; được đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) niên khóa 2013-2014, tiếp đó là được bầu vào Uỷ ban Di sản thế giới của tổ chức UNESCO nhiệm kỳ 2014-2017. Việt Nam sẽ tổ chức hội nghị Liên Nghị viện IPU vào năm 2015. Lần thứ hai trong APEC, Việt Nam đươc tín nhiệm giao đăng cai tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017, và hiện nay đang tích cực triển khai cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, ứng cử lần thứ hai vào Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, ứng cử vào Ủy ban Kinh tế – Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018).
    • Về khoa học – công nghệ
    • Hiên nay, Việt Nam đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học. thêm vào đó là khoảng hơn 2 triệu công nhân kĩ thuật, trong ssos có hơn 34 nghìn người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực Khoa học – công nhệ thuộc khu vực nhà nước.
    • Hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ được tạo lập và ngày càng hoàn thiện với 8 đạo luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, Nhà nước cũng ban hành 6 bộ luật về khoa học – công nghệ, trong đó có Luật Năng lượng nguyên tử và công nghệ cao được xem là đầu tiên trên thế giới.
    • Việt Nam xây dựng được một mạng lưới các tổ chức Khoa học – công nghệ với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức nước ngoài, 197 trường đại học và cao đẳng, hạ tầng của các Viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin Khoa học – công nghệ, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    3.     Các hạn chế của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về yếu tố kinh tế: Trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2013, Việt Nam được 31 điểm, và nằm trong số 69% các quốc gia có điểm số dưới 50. Điều này phản ánh tình trạng “tham nhũng nghiêm trọng” trong giới công chức.

    Bảng: Xếp hạng mức độ tự do kinh tế 2014

    • Về xếp hạng mức độ tự do kinh tế tính tới đầu năm 2014 của Quỹ Di Sản và nhật báo phố Wall, Việt Nam xếp thứ 147 trên tổng số 186 nước trên thế giới. Nhìn vào bảng xếp hạng dưới đây, với số điểm là 50,8 chứng tỏ mức độ tự do kinh tế ở Việt Nam còn thấp.
    • Các hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư, xúc tiến đầu tư tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu.Hệ thống các công ty tư vấn dịch vụ đầu tư chưa được kiện toàn tăng cường về tổ chức, cán bộ. Phần lớn các công ty này mới tập trung làm các dịch vụ đầu tư thông thường như tổ chức, hướng dẫn đoàn khảo sát, làm thị thực … chứ chưa đi sâu tư vấn dịch vụ các vấn đề kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng dự án và thực hiện dự án sau giấy phép.
    • Về Thể Chế – Luật Pháp:
    • Về việc chấp hành thủ tục hải quan ở Việt Nam vẫn còn chưa được rõ ràng, minh bạch. Nhiều thương vụ đã không tuân thủ làm đúng theo thủ tục của hải quan như trốn tránh làm thủ tục để lách thuế, xuất nhập khẩu các mặt hàng trái với quy định của pháp luật. các hàng hóa bị quốc cấm vẫn được xuất khẩu hay nhập khẩu vào Việt Nam. Về phía ngoài nước, làm giảm uy tín của Việt Nam trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. Bên trong không chỉ làm rối loạn sự kiểm soát nền kinh tế trong nước, làm mất cân bằng xuất nhập khẩu mà còn gây ra bao nhiêu tệ nạn xã hội.
    • Việc kiểm soát biên giới Việt Nam với các nước lân cận cũng chưa có hiệu quả. Nhất là phía bên biên giới giáp Trung Quốc còn nhiều sơ hở để các hàng hóa “lậu” phía bên trung quốc đẩy sang tràn ngập. Hàng hóa Trung Quốc đánh bật các hàng hóa trong nước. Khi các sản phẩm ấy vào trong nước nhiều quá thì nhu cầu về loại hàng hóa đó được đáp ứng tại Việt Nam, nhưng đồng thời nó lại làm mất đi tính năng thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài về các sản phẩm đó. Làm giảm thu chỉ số đầu tư nước ngoài ở trong nước.
    • Một số luật và quy định khác về kinh doanh liên quan nhiều đến đầu tư nước ngoài chưa được ban hành như luật lao động, kinh doanh bất động sản, khai mỏ… Một số chính sách chưa được xác định rõ nên chưa thể chế hoá hoặc đã có chính sách làm cơ sở nhưng văn bản pháp quy ban hành chậm; có tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn giữa một số văn bản.
    • Về văn hóa – xã hội: Đối với lực lượng lao động của Việt Nam hiện nay, tác phong làm việc vẫn là một vấn đề nan trải và cần được thay đôi trong nhận thức của từng cá nhân. Có nhiều ý kiến bên các công ty nước ngoài cho thấy, công nhân Việt Nam còn chưa có ý thức làm việc tốt, mặc dù có năng lực làm việc nhưng tinh thần kỷ luật lại chưa cao. Nhiều công ty nước ngoài tuyển lực lượng lao động Việt Nam nhưng không hài lòng về phong cách làm việc với hầu hết là các nguyên do:
    • Đi làm không đúng giờ
    • Không có ý thức bảo vệ tài sản hàng hóa của công ty
    • Thường xuyên làm những việc cản trở sự hoạt động của công ty như: bãi công, biểu tình.
    • Về khoa học – công nghệ:
      • Số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển của Việt Nam dù đã gia tăng nhưng còn rất khiêm tốn so với các nước như Hoa Kỳ (hơn 1,4 triệu người), Trung Quốc (1,2 triệu người), Nhật Bản (656 nghìn người), Nga (442 nghìn người), Đức (327 nghìn người), Hàn Quốc (264 nghìn người ), Pháp (234 nghìn người).
      • Về chỉ số cạnh tranh toàn cầu, năm 2013, Việt Nam xếp thứ 70/148 quốc gia; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 76/141 quốc gia. Trong khi Singapore ở tốp 3 thế giới và các nước Malaysia, Thái Lan đều đứng trên Việt Nam.
      • Tỷ lệ kết quả nghiên cứu trong nước được thương mại hóa và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rất thấp.

    III.            Các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư Việt Nam

    • Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch, có tính dự báo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

    Theo đó, nghiên cứu sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp bối cảnh mới; rà soát tổng thể hệ thống luật pháp hiện hành liên quan đến đầu tư, kinh doanh theo hướng đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Đầu tư; quy định rõ hơn những đặc thù về thủ tục và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài…

    • Điều chỉnh việc quản lý và phân cấp đầu tư theo hướng phát huy tính năng động, sáng tạo, chịu trách nhiệm của địa phương, đồng thời đảm bảo quản lý thống nhất của trung ương.

    Theo đó, cơ quan cấp GCNĐT chủ trì thẩm tra theo quy định hiện hành, trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo thẩm tra đồng thời gửi Bộ Kế hoạch – Đầu tư để thẩm định độc lập. Trên cơ sở hồ sơ và báo cáo thẩm tra, bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học… thẩm định dự án: ảnh hưởng, tác động của dự án đối với phát triển kinh tế – xã hội của vùng, quốc gia và các ngành; tính khả thi của các nguồn lực cho dự án (lao động, kết cấu hạ tầng, điện, nguyên liệu…); khả năng huy động vốn…

    • Khắc phục tình trạng chồng chéo, kém hiệu quả trong hoạt động xúc tiến đầu tư: Bộ Kế hoạch – Đầu tư cần hàng năm và từng thời kỳ dựa trên nhu cầu thực tế ban hành bộ tiêu chí hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư.

    Đặc biệt, coi trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ, tăng cường hỗ trợ các dự án đã được cấp GCNĐT để các dự án này triển khai hoạt động một cách thuận lợi, có hiệu quả, tăng cường đối thoại với các nhà đầu tư để giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp lý của doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

    • Về chính sách ưu đãi đầu tư, cần được sửa đổi bảo đảm tính hệ thống từ ưu đãi thuế, ưu đãi tài chính đến ưu đãi phi tài chính; thống nhất giữa chính sách thuế và chính sách đầu tư; thực hiện ưu đãi đầu tư có chọn lọc phù hợp với định hướng mới đối với thu hút FDI.

    Bổ sung ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp. Bỏ bớt các hạn chế không cần thiết và cho phép tham gia nhiều hơn vào các thị trường vốn, thị trường tài chính trên nguyên tắc hiệu quả nhưng chặt chẽ. Bổ sung tiêu chí để xét ưu đãi đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, dự án có giá trị gia tăng cao, dự án sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước và dự án cam kết chuyển giao công nghệ tiên tiến…

    • Về chính sách khuyến khích, Luật Công nghệ cao sửa đổi sẽ bổ sung quy định về tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế nước ta, có tính đến nhóm dự án có quy mô lớn, doanh thu hàng năm lớn, sử dụng nhiều lao động chất lượng cao…
    • Về đất đai, thu hẹp sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc tiếp cận đất đai; sửa đổi Nghị định 69/2009/NĐ-CP nhằm điều chỉnh giãn lộ trình tăng giá đất, quy định cụ thể hệ số hỗ trợ thu hồi đất; sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài và bổ sung quy định về hình thức góp vốn bằng quyền phát triển dự án.
    • Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI đào tạo nghề cho người lao động; tạo thuận lợi hơn đối với việc cấp phép cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn, trình độ, công nghệ cao mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đào tạo lao động trong nước thay thế đối với các vị trí nghề nghiệp này.
    • Đẩy mạnh đầu tư phát triển và nghiên cứu công nghệ bằng cách hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và có cơ chế đầu tư đặc biệt để triển khai một số dự án khoa học và công nghệ quy mô lớn. Đổi mới hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ theo hướng quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ và các trường đại học; xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc; nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong các trường đại học.

     

    Kết luận

    Có thể thấy rằng chúng ta thu hút đầu tư vào tất cả các lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến lĩnh vực giáo dục, công ngiệp, nông nghiệp, dịch vụ…và chúng ta gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể qua những con số về trình độ dân trí, về lượng FDI và ODA vào Việt Nam, về những công trình xây dựng đã và đang được đầu tư và phát triển., về những dự án đang được đầu tư tại Việt Nam…đó là kết quả của quá trình mở cửa, hội nhập, là kết quả của Việt Nam đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để cải thiện cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộ những hạn chế nhất định, trong đó có cả từ phía quản lý nhà nước. Theo đó, mặc dù có sự hoàn thiện dần về hành lang pháp lý đối với hoạt động đầu tư  nước ngoài, song thể chế chính sách chưa thực sự hoàn chỉnh, thường đi chậm so với thực tế, do đó chưa phát huy tác động một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động này. Việc quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn nhiều bất cập, từ khâu quản lý tiền đầu tư đến khâu hậu kiểm. Việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, trong khi đó, lại chưa có các chế tài xử lý việc nhà đầu tư không thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo.

    Hy vọng rằng với, những thay đổi đáng kể trong môi trường kinh doanh, Việt Nam sẽ sớm được công nhận là một đất nước có nền kinh tế thị trường hoàn toàn với môi trường đầy cạnh tranh và hấp dẫn.

    [1]  Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

    [2]   Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-h%E1%BB%99-c%C3%A1c-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    PHÁP LUẬT KINH TẾ

     

             —-***—-

     

    Đề tài:        Tại sao phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài? Theo em Nhà nước Việt Nam nên có những quy định như thế nào để vừa thui hút được vốn nước ngoài, vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo vốn cạnh tranh?

    Bài làm:

    Hiện nay, việc thu hút đầu tư nước ngoài đang trở thành bộ phận chủ yếu của quan hệ kinh tế thế giới. Nó là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia phát triển và là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng kinh tế, là một trong những chỉ số căn bản đánh giá khả năng phát triển. Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển ngoại thương, thực hiện tốt chương trình hàng xuất khẩu thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là những nhiệm vụ có tầm chiến lược quan trọng trước mắt, là lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.

    Trong điều kiện hiện nay, khi mà nguồn vốn đầu tư ngày càng khan hiếm, cuộc cạnh tranh để thu hút vốn ngày càng trở nên gay gắt, các nước đều nhận thức được vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và luôn có những quyết sách thích hợp để cải thiện môi trường đầu tư. Các biện pháp khuyến khích đầu tư ngày càng mở rộng phong phú hơn, cùng với nền tảng bảo hộ pháp chế chắc chắn tạo nên môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

    Việt Nam, sau hơn 10 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), đã có những đổi mới căn bản trong nhận thức và đường lối, chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài đã đạt được thành tựu đáng khích lệ, nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý đã bước đầu được thu hút, tốc độ tăng

    trưởng kinh tế được thúc đẩy theo hướng tích cực. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng chững lại, gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút đầu tư  nước ngoài vào Việt Nam cần có những biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sao cho thoáng hơn nữa nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để có thể cạnh tranh với các nhà đầu tư trên thế giới. Đặc biệt, đó là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    1. Lợi ích của việc thu hút vốn đầu tưu nước ngoài:

    Trước hết chúng ta phải khẳng định là: Đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam:
    1. Đem lại nguồn vốn để phát triển kinh tế:

    Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.Việt Nam là một trong những nước đang phát triển. Vì vậy mà chúng ta rất cần nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế,xây dựng đất nước. Nhưng  hiện tại đất nước rất thiếu vốn, đầu tư trong nước không đủ nên ta phải đi huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Việc huy động, thu hút vốn từ nước ngoài sẽ giúp nước ta có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, tận dụng và khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,…
    2 Khi thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta còn có thể thu hút được khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới.

    Điều đó góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế trong nước.. Thu hút được các chuyên gia nước ngoài vào làm việc, từ đó tạo điều kiện cho đội ngũ kỹ sư trong nước Có điều kiện học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm tiến tới làm chủ công nghệ.

    Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
    3. Tạo  công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các vùng kinh tế còn kém phát triển.

              Từ đó góp phần nâng cao mức sống của người dân, tránh lãng phí nguồn lực lao động(nước ta lại là nước có cơ cấu dân số trẻ có nguồn lực lao động dồi dào). Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

           Ở Việt Nam,  bình quân trong thời kỳ 2001 – 2006 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm thêm cho khoảng 11 vạn việc làm mỗi năm đưa tổng số lao động trực tiếp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2006 lên 1, 13 triệu người. Ngoài ra khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra khoảng vài triệu lao động gián tiếp trong 6 năm qua.
    4. Giúp tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước:

               Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006

    FDI cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam. FDI chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong may mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện. Đóng góp của FDI cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2005 là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005.
    5. Học tập được kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo điều hành doanh nghiệp công ty chuyên nghiệp của các nước tiên tiến hơn. Từ đó góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các nhà lãnh đạo trong nước.
    6. Tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

    Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    1. Tạo đà phát triển cho kinh tế trong nước.

    Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu, tham gia vào các thị trường quốc tế, ….FDI đã hỗ trợ Việt Nam một cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thường hoá quan hệ và thoả thuận thương mại song phương với Mỹ.

    Trong những năm gần đây, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã tăng lên đáng kể. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/8, tổng số dự án đăng ký cấp mới đã đạt con số 658 với trị giá 10,79 tỷ USD, giảm khoảng 10% về số dự án nhưng tăng 41% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2009.
    Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường vốn cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực, nhất là khi khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Việt Nam là chưa cao. FDI có nhiều tác động tích cực, nhưng tác động đó không tự nhiên xảy ra.

    Vì vậy, bên cạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhà nước ta cũng phải xem xét những chính sách bảo hộ cho nhà đầu tư trong nước, và điều chỉnh theo bối cảnh nền kinh tế.

    1. Những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất:

    Về ngắn hạn, các chính phủ cần khuyến khích các nhà đầu tư bằng những chính sách trợ cấp hoặc miễn thuế. Tuy nhiên về lâu dài, những chính sách như vậy lại có thể làm giảm năng suất của các khoản đầu tư.  

    Các mức thuế thấp hơn dẫn đến việc cắt giảm các dịch vụ công cộng (gồm giáo dục khoa học và kỹ thuật, cơ sở hạ tầng), khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và những mối lợi từ FDI sẽ giảm sút.

    Trong một báo cáo mới đây, tổ chức Conference Board của Canada chuyên nghiên cứu và phân tích xu hướng kinh tế thế giới đã đưa ra 10 kết luận về những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất.

    Báo cáo nêu rõ muốn thu hút các nhà đầu tư ở khắp nơi trên thế giới, quốc gia sở tại cần hội tụ các yếu tố cần như cơ sở hạ tầng vững mạnh, sự bảo vệ pháp lý đáng tin cậy, lực lượng lao động được đào tạo tốt, những chính sách hỗ trợ tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế thực.

    Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những lợi ích kinh tế ròng cho nước đầu tư lẫn nước nhận đầu tư.

    Qua nghiên cứu, tổ chức Conference Board đã tổng kết những thông lệ chính sách tốt nhất để thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Theo đó, các chính phủ trước hết cần khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm một chế độ pháp lý minh bạch và đáng tin cậy, có lực lượng lao động chuyên môn lành nghề, cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông tốt và một môi trường khuyến khích sáng tạo nhằm cải thiện sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc tập trung hoạt động kinh tế ở địa phương cũng có thể khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cần có chính sách hợp lý và cơ quan công quyền hiệu quả, đáng tin cậy. Đầu tư trực tiếp hướng ngoại cũng có thể làm lợi cho nước đi đầu tư vì nó giúp mang lại những kỹ năng và tri thức chuyên ngành từ các dự án đầu tư.

    Các cơ quan xúc tiến đầu tư nên tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài về những lợi thế của một địa phương và giảm bớt tệ quan liêu đang làm tăng chi phí cũng như rủi ro đối với các nhà đầu tư.

    Việc buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải mua nguyên vật liệu của các nhà cung cấp địa phương hoặc phải liên doanh với các đối tác địa phương không giúp tăng cường lợi ích từ các khoản đầu tư nước ngoài, thậm chí còn cản trở FDI.

    Như vậy, các thông lệ FDI tốt nhất bao gồm những chính sách khung, giúp tăng cường khả năng sản xuất của nền kinh tế quốc gia hay địa phương, cải thiện hiệu quả làm việc của chính quyền, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, cũng như tăng cường khả năng sáng tạo.

    III. Chính sách bảo hộ các nhà đầu tư  của Việt Nam:

    Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Nhà đầu tư được nhà nước Việt Nam đảm bảo các nội dung sau:

    1. Bảo đảm về vốn và tài sản

    – Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

    – Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng.

    Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.

    – Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài.

    – Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật.

    1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    1. Mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại

    Để phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài các quy định sau đây:

    – Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết;

    – Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

    + Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước;

    + Xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;

    + Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu;

    + Đạt được tỷ lệ nội địa hóa nhất định trong hàng hóa sản xuất;

    + Đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước;

    + Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài;

    + Đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể.

    1. Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài

    – Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:

    + Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;

    + Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;

    + Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;

    + Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

    + Các khoản tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.

    – Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.

    – Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn.

    –  Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

    1. Áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất

    Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát.

    1. Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực.

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:

    + Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;

    + Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;

    + Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;

    + Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    – Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư.

    1. Giải quyết tranh chấp

    – Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.

    – Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam.

    – Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:

    + Toà án Việt Nam;

    + Trọng tài Việt Nam;

    + Trọng tài nước ngoài;

    + Trọng tài quốc tế;

    + Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập.

    – Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    So với pháp Luật về bảo đảm đầu tư trước đây, Luật đầu tư quy định cụ thể hơn các nguyên tắc và nội dung bảo đảm đầu tư của Nhà nước. Đó là: Việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư được quyền chuyển ra nước ngoài; Khẳng định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của Pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của Pháp luật có liên quan; Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do nhà nước kiểm soát.

    Đặc biệt, trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, Luật quy định nhà đầu tư được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây: Tiếp tục được hưởng các quyền lợi, ưu đãi; Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án; được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    Ngoài ra Việt Nam cần có những quy định nhằm bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài có thể được xem xét ở một số khía cạnh nhất định. Các khía cạnh này bao gồm:

    – Quy định các lĩnh vực cấm đầu tư, hạn chế đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư hoặc quy định mức góp vốn trong các dự án quan trọng chỉ ở một tỷ lệ nhất định.

    – Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và thông thường phương châm được quán triệt là “Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng”.

    – Quy định cơ cấu nhân sự và nguyên tắc nhất trí của hội đồng quản trị. Nếu tổng giám đốc là người nước ngoài thì phó tổng giám đốc thứ nhất là người trong nước. Đây là việc quy định một cơ cấu điều hành và quyền lực lãnh đạo doanh nghiệp có sự chế ước song hoặc đa phương.

    – Quy định không quốc hữu hoá, trưng dụng, tịch thu hoặc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài để tránh tình trạng rút vốn ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài gây đổ bể dự án. Đồng thời, áp dụng nguyên tắc “không hồi tố” đối với trường hợp chính sách có sự thay đổi bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.

    – Quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài như tranh chấp được giải quyết công khai nếu các bên không tự giải quyết bằng thương lượng và hoà giải.

    – Các hiệp định song phương và đa phương được soạn thảo và ký kết về đầu tư nước ngoài để tạo ra sự bảo đảm quốc tế đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu những mâu thuẫn và xung đột về lợi ích của các bên đối tác trong các dự án phát sinh không giải quyết được, đòi hỏi sự tham gia của chính phủ các bên có liên quan.

    – Các cam kết về góp vốn bằng tài sản hữu hình và vô hình hoặc dịch vụ, quy định về thời hạn, quy định về việc tham gia các giao dịch trên thị trường chứng khoán… nhằm bảo đảm lợi ích thoả đáng cho các bên.

    – Các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở… là những địa điểm chịu sự chi phối rất lớn của nhà đầu tư nước ngoài.

    – Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể các thông tin kinh tế – xã hội cơ bản bị tiết lộ, nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng về thói quen, tập quán, nhận thức… Thậm chí có thể xuất hiện những vụ bạo động do các phần tử quá khích hoặc các thế lực phản động quốc tế lợi dụng việc nghiên cứu cơ hội đầu tư nước ngoài để thực hiện “diễn biến hoà bình”, các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia tham gia sâu hơn vào công việc nội bộ về kinh tế như chi phối thị trường, chi phối quá trình hoạch định chính sách, lũng đoạn thị trường…

    1. Các giải pháp bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và tự do hoá đầu tư đang gia tăng, chính sách đầu tư trong nước được coi trọng sửa đổi, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, nhiều cơ hội mở ra và đồng thời rất nhiều thách thức vừa ngấm ngầm, vừa lộ rõ đang ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh việc bảo đảm an ninh cho nhà đầu tư nước ngoài, việc coi trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, địa phương, doanh nghiệp, người lao động… cần được quan tâm hữu hiệu. Việt Nam là một nước chủ yếu coi trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc chú trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và người dân là hoàn toàn cần thiết.

    F Để bảo đảm anh ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài từ góc độ của nước tiếp nhận, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau:

    Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khác với quan niệm truyền thống, an ninh được hiểu là sự độc lập hoàn toàn trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài. An ninh quốc tế ngày nay cần được hiểu là sự chế ước lẫn nhau giữa các lực lượng trong nền kinh tế toàn cầu. An ninh kinh tế đang ngày càng giữ vị trí trung tâm trong hệ thống an ninh quốc tế khi xu hướng hợp tác, sự phụ thuộc lẫn nhau và toàn cầu hoá kinh tế ngày càng nổi trội. An ninh là một khái niệm đa nghĩa, một quan niệm có tính chất “động” và đang ngày càng phản ánh khả năng tăng ảnh hưởng lẫn nhau, tăng tính chất đối trọng trong việc ra quyết định giữa Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài trong các giao dịch đầu tư nước ngoài. Do đó, việc thực hiện theo chiều rộng và chiều sâu chính sách đối ngoại hợp tác, rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá sẽ tạo cơ hội cho việc khai thác tác động nhiều chiều của các lực lượng khác nhau trong nền kinh tế toàn cầu, hình thành thế trận an ninh theo cách tiếp cận mới đặc biệt là cách tiếp cận chi phí- lợi ích và cần quán triệt nguyên tắc đôi bên cũng có lợi, đôi bên cùng an toàn trong đầu tư .

    Thứ hai, cần có cơ chế theo dõi, giám sát hợp lý hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài để giảm thiểu những tác động bất lợi của hoạt động thu hút đầu tư đến an ninh quốc gia. Cơ chế giám sát này, cần bảo đảm nguyên tắc tôn trọng lợi ích và những quyền kinh doanh hợp pháp của nhà đầu tư, thiện chí hợp tác và làm ăn lâu dài và cần có chế độ cảnh báo sớm những thua thiệt về lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động trong thu hút đầu tư nước ngoài để có đối sách thích hợp. Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách đầu tư theo các cam kết của Việt Nam trong WTO cần cân nhắc các loại lợi ích của các đối tượng có liên quan, trong đó có khía cạnh về an ninh.

    Thứ ba, các chính sách, quy định ban hành trong thu hút đầu tư nước ngoài cần tính đến lợi ích về an ninh lâu dài của bên Việt Nam, tránh làm tổn hại về an ninh của quốc gia, ngành, doanh nghiệp, người lao động. Cách hiểu an ninh cần toàn diện và các biện pháp áp dụng càng mềm dẻo và sâu sắc hơn. Đặc biệt, cần có giải pháp thích hợp để bảo đảm an ninh cho doanh nghiệp và người lao động khi xuất hiện làn sóng sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam có khả năng bùng phát trong thời gian tới. Chính sách an sinh xã hội, cơ chế bảo hiểm đầu tư, chính sách trợ cấp việc làm, trợ cấp thất nghiệp… cần được hoàn thiện để phù hợp với những biến động mới của thị trường đầu tư nước ngoài.

    Thứ tư, cần đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm việc trực tiếp trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài để đội ngũ này trở thành những nơi quan sát hữu hiệu hoạt động nhà đầu tư nước ngoài, một mặt, học tập cách thức lãnh đạo, điều hành hoạt động doanh nghiệp; mặt khác, có những đối sách phù hợp để đấu tranh bảo vệ an ninh việc làm cho người lao động, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và phát triển quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững trong thu hút đầu tư nước ngoài. Nghĩa là cả các khía cạnh hợp tác và đấu tranh cần được hiểu biết sâu sắc và được “thẩm thấu” trong đội ngũ cán bộ và được khai thác một cách hợp lý nhất.

    Thứ năm, cần phát triển học thuyết về xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế làm sao cho mỗi người dân trở thành một chiến sỹ an ninh đáng tin cậy, mỗi doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế là một trụ cột về an ninh kinh tế… và gắn với các tác động quốc tế. Học thuyết này, cần lấy nền tảng là lực lượng quần chúng nhân dân gắn với việc xây dựng lực lượng an ninh tinh nhuệ và chuyên nghiệp, khai thác triệt để cơ hội và sự tương tác lẫn nhau giữa các lực lượng an ninh quốc tế và giảm thiểu tối đa những thách thức về an ninh trong đầu tư nước ngoài. Điều đó, đòi hỏi phải tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về chiến lược an ninh nhân dân cho mỗi người dân, từng người lao động làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các cán bộ quản lý nhà nước, các doanh nhân… Tạo được sự đồng thuận cao trong mọi tầng lớn nhân dân về ý thức bảo vệ an ninh, lợi ích đất nước, dân tộc, doanh nghiệp, tập đoàn, con người… trong điều kiện hội nhập và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Kết luận

    Như vậy, để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo có cạnh tranh thì Nhà nước ta cần: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, trong đó có các giải pháp: Rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường và các điều ước quốc tế; Hoàn thiện các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều chỉnh việc xây dựng quy hoạch, mở rộng lĩnh vực ưu đãi đầu tư; Hoàn thiện các ưu đãi về thuế; Hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai; Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại; Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hi vọng rằng, bằng những quy định sáng suốt và hợp lý nền kinh tế của Việt Nam sẽ từng bước phát triển hội nhập với nền kinh tế thế giới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NH%E1%BB%AENG-B%E1%BA%A4T-C%E1%BA%ACP-TRONG-THU-H%C3%9AT-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-GIA-NH%E1%BA%ACP-WTO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt nam đã va đang tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

    Do Việt nam là một quốc gia có tới hơn 80 triệu dân, có tiềm năng của một thị trường lớn nên nhiều nước quan tâm đến gói đàm phán gia nhập của nước này. Đầu năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Việc gia nhập WTO là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao đoọ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Hiện nay, Việt nam đang tích cực tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước để sớm gia nhập WTO trong một tương lai cận kề. Vì vậy, việc chuẩn bị các điều kiện tiếp theo để xúc tiến quá trình đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại khi gia nhập WTO là những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết.

    Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh thuận lợi, và nhờ dó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI) vào khu vực xuất khẩu và khu vực sản xuất cho thị trường nội địa. Nếu được điều tiết đúng đắn, FDI có thể góp phần to lớn vào việc phát triển bền vững của một quốc gia. Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiêus vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

    Trong phạm vi yêu cầu của bài tập, bài viết xin trình bày một số bất cập trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt nam trong quá trình gia nhập WTO.

    4

     

    CHƯƠNG 1

    SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

    1. Đầu tư nước ngoài và một số đặc điểm.

    1.1. Lợi ích và mục tiêu của đầu tư nước ngoài.

    Hoạt động cơ bản của hợp tác đầu tư nước ngoài là nhận các nguồn vốn, ngày nay thường được quy về các loại tư bản tài chính, tư bản tri thức, tư bản mạo hiểm, tư bản xã hội (hai yếu tố quan trọng nhất là hợp tác và lòng tin) cùng các loại tư bản khác trong các dạng tài sản hữu hình và tài sản vô hình từ nước ngoài hoặc đưa vốn ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh, dịch vụ…

    Đầu tư có 2 hình thức là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Xét về mọi mặt thì đầu tư trực tiếp có vai trò quan trọng đặc biệt, trước hết đó là những đóng góp to lớn và việc phát triển kinh tế, cung cấp cho nước chủ nhà vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại.

    Mục đích chính của các doanh nghiệp – nhà đầu tư thương là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Để hoàn thành mục đích này, họ luôn luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho hàng hóa của mình và làm giảm giá thành.

    1.2. Vốn và chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài.

    Nước chủ nhà cũng có nhiều lợi ích từ dòng vốn của nước ngoài vào. Một lợi ích quan trọng là đầu tư nước ngoài làm tăng việc làm và mức lương tại nước chủ nhà.

    Một nguồn lợi đáng kể khác là chuyển giao kỹ thuật, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với một doanh nghiệp Việt nam sản xuất các mặt hàng phát triển từ nước tiên tiến. Doanh nghiệp nước ngoài thông thường đào tạo các nhà quản lý và kỹ thuật cho địa phương. Ngoài ra cũng có sự chuyển giao kỹ thuật gián tiếp thông quan học hỏi bằng quan sát, qua giao tiếp, qua công việc cùng làm. Bằng cách theo dõi kỹ thuật quản lý của doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước có thể cải tiến tổ chức sản xuất và kiểm

    5

     

    soát từ bên trong. Chuyển giao công nghệ kỹ thuật thành công ở các nước áp dụng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động hội nhập trong hoạt động hợp tác quan hệ quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết, khuyến khích phát triển các sản phẩm hàng hóa dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Vốn từ nước ngoài sẽ tiếp tục chảy vào với điều kiện tỷ suất sinh lợi nước chủ nhà cao hơn tỷ suất sinh lợi của nước xuất phát đầu tư. Một phần của chi tiêu Chính phủ có thể khuyến khích dòng vào của vốn nước ngoài là dùng nhân lực để phát triển một hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả.

    2. Lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh và cá nhân từ nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại nước sở tại.

    FDI thường cung cấp vốn, công nghệ, năng lực quản lý (qua đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm) và các nước đầu tư thường hội đủ những điều kiện sau:

    • Về khuôn khổ thể chế:
    • Có nền kinh tế mở hướng về xuất khẩu
    • Đồng tiền có thể chuyển đổi được
    • Chu trình tư nhân hóa quy mô lớn
    • Tham gia các khối thương mại trong khu vực họ định đầu tư
    • Cơ sở hạ tầng vật chất tốt, dồi dào
    • Nước nhận đầu tư thường được hưởng các mối lợi sau:
    • Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý
    • Các nhà đầu tư nước ngoài gánh chịu rủi ro sản xuất kinh doanh
    • Tăng năng suất và thu nhập quốc dân
    • Cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn
    • Tiếp cận với thị trường nước ngoài
    • Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước

    6

     

    • Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế.

    FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là:

    • Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lơi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp

    ngyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.

    • Đối với các nước nhận đầu tư, hiện nay có 2 dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.
    • Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, lạm phát… FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và

    thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.

    + Đối với các nước đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước này khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài.

    • Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện:

    7

     

    • Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước.
    • Đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt

    nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động.

    • Tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học – kỹ thuật tiên tiến của thế giới,

    nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nước ta so với thế giới.

    • Nhờ có FDI, Việt nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ,

    khoáng sản,…

    3. Vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam

    3.1. Yêu cầu khách quan về nguồn vốn đầu tư.

    Yêu cầu phát triển nội tại và thực tiến khách quan trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đòi hỏi Việt nam cần tới một nguồn vốn đầu tư to lớn để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế – xã hội trên thế giới. Cụ thể là:

    • Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải ngoại lệ.
    • Tình hình cụ thể của Việt nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn,

    nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích lũy nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước nghèo.

    • Chúng ta có thể tranh thủ nguồn vốn từ các nước tư bản phát triển, mà chủ yếu là vốn của các nhà tư bản của các tập đoàn một quốc gia hay đa quốc gia, xuyên quốc gia.

    8

     

    • Vốn tư nhân vào Việt nam không thể bằng con đường viện trợ có hoàn lại

    hay bằng con đường cho vay. Hơn nữa, Chính phủ Việt nam hay bất kỳ một nước mới phát triển nào cũng không có đủ khả năng để đi vay hay sử dụng các nguồn vốn vay được trên mọi lĩnh vực. Do đó con đường chủ yếu để các nguồn tư bản nước ngoài chảy vào Việt nam là nhập khẩu vốn thông qua phương thức thu hút và nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

    3.2. Một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của

    nước ngoài.

    Đứng trên giác độ một quốc gia, việc tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau:

    • Xây dựng hệ quan điểm vè vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đối với

    phát triển kinh tế.

    • Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn: Đây là vấn đề có tính then chốt. Môi trường đàu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư; buộc các nhà đầu tư phải tự điều

    chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh.

    3.3. Một số nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam.

    Việt nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến 2 thập kỷ. Sau khi đường lối đổi mới được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt nam (1987), hoạt động đầu tư nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu. Qua hợp tác và đầu tư nước ngoài, chúng ta đã khai thác và nâng cao năng lực sản xuất của nhiều cơ sở cũ, đồng thời toạ ra năng lực sản xuất mới trong một số ngành công nghiệp dịch vụ. Vấn đề hiện đại hóa ở một số ngành (như viễn thông, bưu điện, công nghệ thông tin) được cải thiện rõ rệt.

    Thông qua đầu tư nước ngoài, đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới, phần lớn thiết bị đưa vào nước ta thuộc loại trung bình của thế giới, tiên tiến

    9

     

    hơn cái ta hiện có. Các đối tác Việt nam cũng tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ về tổ chức sản xuất kinh doanh và tiếp cận vơi tâm lý và phong cách của nhiều đối tượng khác nhau.

    Có thể nói, mặc dù kinh nghiệm của chúng ta còn hạn chế nhưng hoạt động trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã mang lại hiệu quả nhiều mặt.

    4. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài

    4.1. Khái quát về đầu tư gián tiếp.

    Đây là những khoản đầu tư được thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ nguồn vốn thương là của các Chính phủ các nước và của các tổ chức quốc tế. Đó là các khoản tài trợ phát triển chính thức (ODA) do các tổ chức thuộc Liên hợp quốc (UNDP, UNFPA, UNICEF, FAO, PAM,…) hoặc các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đóng góp vào các khoản cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB,… và các Chính phủ các nước.

    Đầu tư gián tiếp thường thúc đẩy tạo điều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các điều kiện ưu đãi cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng nguồn vốn này thực hiện các dự án có mức vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

    Đầu tư gián tiếp có lợi cho cả nước đầu tư (khả năng lợi nhuận cao hơn) và cho cả nước nhận đầu tư (có thêm vốn cổ phần). Đầu tư gián tiếp thường dùng các công cụ như đầu tư trái phiếu và đầu tư cổ phiếu (quỹ quốc gia thu từ tiền gửi đầu tư cổ phiếu trực tiếp). Kinh nghiệm hoạt động kinh tế thị trường ở tất cả các nước hiện nay cho thấy để phát huy tác dụng của công cụ quản lý kinh tế vĩ mô trong lĩnh vực điều hành tiền tệ, hay trong lĩnh vực thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoai, Chính phủ phải gia tăng các hoạt động nghiệp vụ trên thị trường mở trong việc điều hành tiền tệ. Giảm bớt các biện pháp quản lý bằng công cụ hành chính trên đối với loại thị trường này. Khuyến khích các nhà đầu tư tích cực tham gia vào thị trường tài chính – tiền tệ trong nước.

    10

     

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước để quản lý có hiệu quả, đó là các vấn đề:

    • Chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên
    • Lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán
    • Tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài
    • Giảm tính tự lực và tăng tham nhũng.

    4.4. Triển khai ODA tại Việt nam.

    Hiện nay Việt nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác, bao gồm:

    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB,…)
    • Các quỹ (IMF, OEPC,…)
    • Tổ chức liên Chính phủ (EU)
    • Các tổ chức của Liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi Chính phủ
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu Á (NICs).

    Theo kinh nghiệm của các nước đã sử dụng ODA của Mỹ, Nhật bản, WB, ADB, là dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế – xã hội là yếu tố cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng được 40%. Vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ.

    5. Kinh nghiệm một số nước trong khu vực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    5.1. Trung quốc.

    Về chính sách, Trung quốc huy động FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất liên doanh 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc biệt.

    11

     

    Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung quốc là chính sách thuế. Trung quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển. Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20 đến 40% và 10% cho địa phương.

    Về thuế nhập khẩu, Trung quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu cho bên nước ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ, đưa vào khu chế xuất 14 thành phố ven biển; các vật liệu bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu. Trung quốc cũng miến thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển.

    Về thủ tục hành chính, Trung quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ. Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điẻm. Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi.

    Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung quốc cho thời hạn hợp đồng kéo dài hơn,m có thể tới 50 năm.

    5.2. Indonexia

    Indonexia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, chế biến thành phẩm và bán thành phầm, chuyển giao công nghệ, sử dụng chuyên gia và lao động Indonexia. Ủy ban đầu tư quốc gia công bố từng thời gian khu vực nào cho phép nước ngoài kinh doanh, khu vực nào cấm kinh doanh.

    Về chính sách thuế, đối với thuế lợi tức, nếu công ty có mức lãi ròng 10 triệu rupi trở xuống đánh thuế 15%, trên 10 triệu đến 50 triệu rupi đánh thuế 25% và treen 50 triệu rupi đánh thuế 35%. Các khoản thu từ lãi suát cho vay, cho thuê, phí tài nguyên, phí kỹ thuật, phí quản lý bị đánh thuế 15% trên doanh thu. Ở Indonexia không có chế độ miễn giảm thuế doanh thu và thuế lợi tức.

    12

     

    Về thuế nhập khẩu, Indonexia có chính sách miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phụ tùng được ủy ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy định. Tuy nhiên những thứ nhập theo vốn đầu tư vào Indonexia đã sản xuất được thì không được miễn thuế nhập khẩu. Ngược lại, nước ngoài mua những hàng này của Indonexia thì được thoái lại thuế nhập khẩu đã đánh vào vật liệu, nguyên liệu sản xuất ra chúng.

    Đối với hàng xuất khẩu: lãi suất tín dụng phục vụ xuất khẩu thấp hơn nhiều so với lãi suất khác. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được nhập các mặt hàng sử dụng nếu hàng trong nước không đắt hơn. Được hoàn trả hoặc miễn thuế nhập khẩu các mặt hàng. Công ty sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ được phép xuất khẩu hàng của mình mà cả hàng của Công ty khác.

    Về chính sách thị trường, để tạo lập môi trường cạnh tranh thuận lợi, Indonexia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ và trong kho ngoại quan được tiếp cận tự do thị trường nội địa.

    Về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ra nước

    ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao TSCĐ …

    Ngoài ra Chính phủ Indonexia từng bước hạ thấp lãi suất tiền gửi ngân hàn trung

    ương làm cho tiền gửi ngân hàng và lãi suất cho vay giảm xuống. Điều đó khuyến

    khích các doanh nghiệp hăng hái dầu tư hơn….

    13

     

    CHƯƠNG 2

    NHŨNG BẤT CẬP TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG

    VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Khái quát về chính sách đầu tư nước ngoài

    Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và chính sách đối ngoại. Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó.

    Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân chia thành:

    • Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính.
    • Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu)
    • Chính sách thị trường
    • Chính sách lao động
    • Chính sách đất đai
    • Chính sách công nghệ…

    2.                 Những bất cập trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam

    2.1. Môi trường pháp lý

    2.1.1. Hạn chế về hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài.

    Xuất phát từ đường lối đổi mới kinh tế, mở cửa và hội nhập với bên ngoài, ngày 29/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam. kể từ đó đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài luôn được bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài tại Việt nam đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn tồn tại ít nhiều hạn chế.

    14

     

    Hiện nay, hai bộ luật khác biệt áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng song song tồn tại và đang tạo ra những khác biệt về môi trường đầu tư trong cùng một không gian kinh tế nhất là thủ tục, điều kiện đầu tư và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp… Điều này là không phù hợp với thông lệ quốc tế, gây cho các nhà đầu tư nước ngoài tậm lý thiếu an tâm.

    Hệ thống pháp luật chính sách chưa đồng bộ và ổn định, chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước. Tính ổn định của luật pháp, chính sách chưa cao, một số luật, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài thay đổi nhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của chủ đầu tư nên đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ. Nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định. Một số văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, đẻ thêm quy trình, dẫn đến tình trạng “trên thoáng, dưới chặt”. Một số chính sách mới của Chính phủ chậm đưa vào cuộc sống. Trong quá trình đầu tư tại Viẹt nam, các nhà đầu tư nước ngoài đều mong muốn được đảm bảo về sự ổn định và tính dự đoán trước được của pháp luật, chính sách để có thể lường trước và giảm thiểu được lợi ích và rủi ro đầu tư. Quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Nghị định 12/CP về những biện pháp thỏa đáng của Chính phủ khi có sự thay đổi của pháp luật gây thiệt hịa cho nhà đầu tư vẫn chưa thực sự làm họ yên tâm.

    Hệ thống văn bản hướng dẫn về đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn tập trung vào giai đoạn thẩm định và cấp giấy phép đầu tư, chưa chú ý tới việc quản lý và theo dõi các dự án từ khi triển khai thực hiện. Trong một số trường hợp, khi thẩm định cấp giấy phép đầu tư các dự án đều đưa các điều khoản có lợi thế để được hưởng tiêu chuẩn miễn giảm và thuế suất ưu đãi. Khi thực hiện lại khong đạt được các điều kiện đã cam kết nhưng vẫn được hưởng ưu đãi (vì thuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuế được ghi trong giấy phép đầu tư) nên đã gây thiết hại tới nguồn thu ngân sách quốc gia và tạo môi trường đầu tư, môi trường hoạt động không bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

    Về hình thức đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam vẫn chưa cho phép áp dụng một số hình thức đầu tư như Công ty đa mục tiêu, Công ty quản lý vốn,… Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức dưới nhiều loại hình, có thể chuyển đổi hình thưc đầu tư dễ dàng hơn, có điều kiện huy động vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, không phải chịu sự can thiệp quá sâu của Chính phủ nước sở tại.

    15

     

    2.1.2. Hạn chế về hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI.

    Hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI còn có những quy định chưa thực sự khuyến khích thu hút FDI và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách đất đai: Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt nam. Điểm đặc thù ở Việt nam là đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân nên các nhà đầu tư nước ngoài không có

     

    quyền sở hữu về đất đai. Cho đến nay đã có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn liền với Luật Đầu tư nước ngoài như: Nghị định 18/CP ngày 13/02/1995, Quyết định số 1477/TC/TCĐN ngày 31/12/1994 của Bộ Tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt biển áp dụng đối với các

    hình thức đầu tư nước ngoài… Tuy nhiên nhìn chung chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định.

    Giá thuê đất của Việt nam hiện nay đã được điều chỉnh thấp hơn nhiều nước trong khu vực (giá thuê đất của Việt nam là 2,62 USD/năm/m2 – khu công nghiệp Sài Đồng, thấp hơn nhiều so với Philippin: 85 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp., hay như Singapore: 6,9 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp). Tuy nhiên, thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà đầu tư. Việc giao đất nhất là các dự án có đền bù và giải tỏa kéo dài, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp phải mất hàng năm để thực hiện việc đền bù. Thậm chí một số khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, thu hút được nhiều nhà đầu tư nhưng vẫn chưa thực hiện xong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đây chính là yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt nam cũng như làm giảm tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, do thiếu quy hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI, một số địa phương tùy tiện xử lý vấn đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách thuế và các khuyến khích tài chính đã đạt được mục tiêu đặt ra trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế này đã hấp dẫn đối với

     

    đầu tư nước ngoài nhưng ở một khía cạnh nào đó lại ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Các văn bản về thuế được ban hành rất nhiều nhưng không có hệ thống và

    16

     

    luôn thay đổi. Vì lợi nhuận của nhà đầu tư có liên quan đến việc nộp thuế nên khi mức thuế thay đổi gây khó khăn cho họ trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Mức thuế suất lợi tức tỏ ra ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài gồm 4 mức: 25%, 20%, 15%, 10% nhưng đối với các nhà đầu tư trong nước có 3 mức: 25%, 35%, 45%. Việc quy định mức thuế như vậy cũng gây nên bất bình đẳng trong việc đóng thuế của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các loại thuế áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chồng chéo, nhà đầu tư nước ngoài phải đóng 10 loại thuế như các doanh nghiệp Việt nam và nhiều loại lệ phí khác.

    * Chính sách tỷ giá và chính sách ngoại hối của Việt nam đang bộc lộ một số tác động tiêu cực đối với thu hút FDI. Điều 75 Luật Đầu tư nước ngoài 1996 quy định “tỷ giá chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt nam và ngược lại áp dụng trong quá trình tiến hành đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam tại thời điểm chuyển đổi”, nhưng Luật năm 2000 không sửa đổi bổ sung điều này. Như vậy, do tỷ giá hối đoái đồng Việt nam được ấn định hàng ngày bởi Ngân hàng Nhà nước mà không phải là được ấn định bởi tỷ giá trên thị trường nên hầu hết tỷ giá của Ngân hàng thường cao hơn và việc này gây thiệt hại cho các doanh nghiệp do sự chênh lệch lớn này gây ra. Việc định giá đồng Việt nam quá cao đi đôi với việc kiểm soát quá nghiêm ngặt các khoản vay nước ngoài trên một năm của các doanh nghiệp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra có thể dẫn đến việc thiếu hoặc không có khả năng cung ứng ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Hiện nay, tỷ lệ kết hối quy định cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn cao (hiện nay là 50%)., ảnh hưởng tới việc chủ động sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    • Công tác quản lý về tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn do chưa ban hành được các chuẩn mực kế toán,

    kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế.

    • Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Việc thúc đẩy xuất khẩu mới chỉ dừng lại ở tình trạng bên nước ngoài, giá cả, tình hình lợi nhuận thu được

    từ xuất khẩu. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho Việt nam. Thêm vào đó tỷ lệ hàng xuất khẩu còn rất hạn chế trong các dự án FDI đang triển khai.

    17

     

    • Chính sách công nghệ: Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án

    phát huy tác dụng tốt trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, đạc biệt là lĩnh vực dầu khí, viễn thông, tin học, điện tử. Tuy nhiên công nghệ tiến tiến tiếp nhận chưa nhiều, mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Dây truyền công nghệ hiện đại nhập vào còn ít, phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Mặt khác, giá cả công nghệ được chuyển giao vào Việt nam chưa thật hợp lý. Nhiều công nghệ lạc hậu, công nghệ đã qua sử dụng nhưng giá tình vào góp vốn được các nhà đầu tư cố ý nâng cao hơn từ 10

    • 15% so với mặt bằng giá thế giới. Việc tăng giá công nghệ góp vốn vào dự án còn thông qua việc khai tăng chi phí đào tạo nhân công làm cho cơ quan quản lý

    Nhà nước khó thẩm định được chính xác giá công nghệ. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ còn kém.

    • Chính sách lao động: Về chế độ tuyển dụng lao động, Luật Đầu tư nước

    ngoài sửa đổi bổ sung năm 2000 đã có một vài thay đổi theo hướng nới lỏng hơn, chẳng ạn như các doanh nghiệp có quyền được trực tiếp tuyển lao động Việt nam sau 15 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu cung ứng lao động cho các tổ chức cung ứng lao động Việt nam (trước đây là 30 ngày); hay các doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt nam nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất. Tuy nhiên quy định thì như vậy nhưng thực tế các công ty nước ngoài rất khó tuyển dụng được lao động có chất lượng như mong muốn, ở địa phương hầu như chỉ có một tổ chức cung ứng lao động và do đó chiếm vị trí độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ này. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuy đã được đặt ra nhưng chưa giải quyết được nhiều hoặc có tính chất tạm thời.

    Nhìn chung, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam còn đơn giản, chung chung nhưng lại dẫn chiếu đến nhiều văn bản dưới luật quá phức tạp làm giảm giá trị pháp lý của Luật Đầu tư nước ngoài, làm cho pháp luật Việt nam về đầu tư nước ngoài thiếu tính đồng bộ, trong sáng và tính dự đoán được. Hơn nữa, trìnhđộ hiểu biết pháp luật của người dân nói chung còn kém, việc tuyên truyền pháp luật còn chưa đầy đủ dẫn đến việc thực hiện pháp luật còn tùy tiện. Chính những hạn chế kể trên đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài lúng túng, gây cho họ tâm lý không an tâm khi tiến hành đầu tư và kinh doanh tại Việt nam.

    18

     

    2.2. Cơ cấu FDI

    Cơ cấu FDI đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực qua các năm, tuy nhiên vẫn còn có một số bất hợp lý.

    Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế bộc lộ sự mất cấn đối. Đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, trong khi đó, trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định nhưng đầu tư nước ngoài còn quá thấp. Số dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này thành công không nhiều do gặp rủi ro, thiên tai, nguồn nguyên liệu không ổnđịnh, chưa xay dựng được quan hệ hợp đồng dài hạn chùng có lợi với nông dân… Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp liên tục giảm chiếm 4,13% tổng vốn đăng ký giai đoạn 1991 – 1995 và chỉ chiếm 2,2% trong lĩnh vực công nghiệp là tốt, tuy nhiên tỷ trọng đối với các dự án thay thế nhập khẩu hướng vào thị trường nội địa còn cao, nhất là các dự án của EU, Nhật, Mỹ. Trong lĩnh vực dịch vụ, tỷ trọng các dự án kinh doanh bất động sản còn lớn, thị trường về dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý còn chưa thực sự mở đối với đầu tư nước ngoài, tư vấn về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ còn hạn chế.

    Đầu tư nước ngoài tập trungchủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh Trung Tây Nguyên và đồngbằng sông Cửu Long. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn cũng cao hơn các địa bàn khác. Các khu công nghiệp cũng chủ yếu tập rung vào các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 34 khu, với tổng diện tích trên 8.000 ha, chiếm gần 68% tổng diện tích các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 10 khu với tổng diện tích 1.300 ha, chiếm 11% tổng diện tích các khu công nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ có 7 khu với tổng diện tích 890 ha, chiếm 7,5% tổng diện tích. Như vậy, cơ cấu FDI theo vùng, địa phương còn mất cân đối, chênh lệch trìnhđọ phát triển giữa các vùng trong cả nước còn khá lớn.

    Vốn đầu tư nước ngoài từ các nước châu Á chiếm tới hơn 66%, trong khi từ Tây, Bắc Âu, Bắc Mỹ cònthấp. Do vậy, đầu tư nước ngoài ở nước ta dễ bị ảnh hưởng khi các nước xung quanh lâm vào khủng hoảng hay gặp khó khăn về kinh tế… Chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế hợp tác đầu tư với nước

    19

     

    ngoài chưa được cụ thể hóa và thiếu các chính sách cần thiết (đất đai, vay vốn…) nên các thành phần kinh tế dân doanh còn rất ít dự án đầu tư nước ngoài. Thực tế và khả năng đâu tư nước ngoài của Việt kiều còn hạn chế.

    2.3. Cơ sở hạ tầng và vai trò của phía Việt nam

    Cơ sở hạ tầng còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hệ thống giao thông vận tải, điện, nước… của nước ta hiện nay còn yếu kém, mật đọ đường bộ 1,48 km/1000 dân, đường sắt là 0,04km/1000 dân, chất lượng đường xá kém…

    Hệ thống dịch vụ đầu tư nước ngoài còn yếu, giá chi phí dịch vụ ở Việt nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực: giá lắp đặt điện thoại tại Hà nội là 110,33 USD, thành phố Hồ Chí Minh là 124,12 USD; trong khi đó giá lắp đặt điện thoại tại Singapore là 28,79 USD, ở Thái lan là 48,26 USD. Giá điện sản xuất tại Việt nam là 0,07 USD/Kwh đối với các nhà máy nước ngoài; 0,11 USD/Kwh áp dụng cho các văn phòng nước ngoài, giá nước là 0,21 USD/m3 đối với các nhà máy sản xuất; 0,45 USD/m3 đối với các dịch vụ công nghiệp, cao hơn gấp 2 lần giá cả tương ứng của Thái lan. Hệ thống thị trường, nhất là thị trường vốn cho hoạt động đầu tư nước ngoài còn chưa phát triển; thị trườngchứng khoán mới bước đầu còn sơ khai.

    Chính những yếu kém của cơ sở hạ tầng đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn như các khu công nghiệp đã thành lập do thiếu kết cấu hạ tầng, kinh tế – xã hội chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư nên mới lấp kín được gần 30% đất công nghiệp có thể cho thuê. Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp còn chậm. Ngoài một số khu công nghiệp đã xây dựng xong hoặc cơ bản xong cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp Nomura – Hải phòng, khu chế xuất Tân Thuận và khu chế xuất Linh Trung ở thành phố Hồ Chí Minh…, các khu công nghiệp còn lại phần lớn đang trong quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng hoặc đang san lấp mặt bằng, chuẩn bị xây dựng các công trình hạ tầng.. Nhiều khu công nghiệp ở miền Bắc và miền Trung , chi phí san lấp mặt bằng cao, tỷ lệ cho thuê đất rất thấp. Giá phí sử dụng cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp cao đã triệt tiêu lợi thế về giá thuê đất rẻ trong các khu công nghiệp. Hơn nữa, đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cấp điện…

    và việc đấu nối với các công trình ngoài hàng rào đòi hỏi vốn đầu tư lớn, còn phải

    20

     

    giải quyết nhiều thủ tục có liên quan khá phức tạp và mất thời gian nên dẫn tới tình trạng ít có khu công nghiệp được xây dựng hoàn chỉnh. Điều đó dẫn đến hạn chế tính hấp dẫn của khu công nghiệp và nhiều khi bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư.

    • Vai trò của đối tác Việt nam trong liên doanh còn rất mờ nhạt: theo

    thống kê tỷ lệ góp vốn của bên Việt nam trong các liên doanh nước ngoài thường chỉ chiếm 25 – 30% và chủ yếu là bằng giá cả và quyền sử dụng đất, nhà xưởng cũ. Với tỷ lệ như thế chẳng những không thể đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động kinh doanh mà còn tăng sự phụ thuộc phía nước ngoài từ sản xuất kinh doanh, chia lợi nhuận, cũng như khó tránh khỏi việc “chia ngầm” với nhau làm thua thiệt quyền lợi của phía Việt nam cũng như của Nhà nước Việt nam.

    Cũng do vai trò quản lý của phía Việt nam mờ nhạt nên việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhất là ở những người lao động trực tiếp trong liên doanh chưa được quan tâm đúng mức. Khâu tuyển dụng, bố trí công việc, trả lương đều do phía nước ngoài đảm nhiệm hoặc chi phối, dễ tạo nên một số cán bộ người Việt nam vì lợi ích cá nhân đã không dám đấu tranh, thậm chí không làm hết trách nhiệm hoặc lại bảo vệ quyền lợi của đối tác nước ngoài. Trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, cường độ làm việc của người lao động thường cao hơn các khu vực kinh tế khác từ 1,2 đến 2 lần. Thời gian làm việc có thể kéi dài 12 giờ/ngày trong nhiều ngày liền mà không được trả thêm lương; công nhân bị xúc phạm nặng nề, sa thải vô lý đã là những nguyên nhân gây đình công, bãi công làm thiệt hại đến lợi ích cho cả liên doanh và người lao động.

    2.4. Hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

    Do những hạn chế nêu trên nên hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa cao.

    Thiết bị, máy móc nhập khẩu vào Việt nam đã có sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại ở một số ngành công nghiệp mũi nhọn và công nghệ sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, do việc kiểm tra giám sát nhập khẩu chưa nghiêm nên vẫn còn không ít thiết bị cũ, lạc hậu đã nhập khẩu vào Việt nam.Theo thống kế của Vụ Kỹ thuật – Bộ Công nghiệp, qua khảo sát 727 cơ sở có nhập máy móc thiết bị trong cả nước, thì có tới 76% thiêt bị mới nhầp về đã được sản xuất từ thời kỳ

    21

     

    1950 – 1960, trong đó có 2/3 số thiết bị đã được khấu hao hết, 50% thiết bị đã được tân trang lại, 20% thiết bị đã sử dụng trên 5 năm nhưng giá lại cao hơn giá trị thực 15 – 20%. Nhìn chung, vấn đề chuyển giao công nghệ chưa đạt được mục tiêu đề ra.

    Tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử, ô tô, xe máy, phát triển sản xuất linh kiện phụ tùng tại Việt nam còn thấp, chưa đạt như mong muốn. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI gia tăng nhanh nhưng mới đạt được trên 10% (thấp hơn một số nước trong khu vực). Hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, điện tử nên giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới còn hạn chế. Việc cung cấp các nguyên liệu, phụ tùng của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất thấp, hạn chế khả năng tham gia vào chương trình nội địa hóa sản phẩm và xuất khẩu qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa đủ hấp dẫn và mạnh để định hướng lại động cơ chính của nhà đầu tư nước ngoài là nhằm vào thị trường Việt nam.

    Hiệu quả kinh doanh của các hình thức đầu tư còn thấp, đặc biệt là đối với hình thức doanh nghiệp liên doanh. Xuất phát từ cách nhìn nhận khác nhau về các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt nam nên trong những năm đầu hợp tác đầu tư với nước ngoài, do quan niệm hình thức doanh nghiệp liên doanh có nhiều lợi thế hơn cho phía Việt nam, chúng ta chủ trương hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức này. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức này khá cao, chiếm 40% số dự án và 59% vốn đầu tư nhưng chính doanh nghiệp liên doanh có tỷ lệ lỗ vốn, giải thể nhiều nhất, mẫu thuẫn giữa các bên liên doanh khá phổ biến. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án liên doanh khá cao, khoảng 28% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn hiệu quả còn ít, bên Việt nam trong các liên doanh hầu hết là doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh); số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ không đáng kể. Việc góp vốn liên doanh của bên Việt nam chủ yếu bằng chuyển quyền sử dụng đất, Nhà nước cho doanh nghiệp Việt nam nhận nợ (trước đây) và ghi vốn (về sau), nhưng khi doanh nghiệp Việt nam được chia lãi hoặc liên doanh thua lỗ thì không có nguồn để hoàn trả cho ngân sách Nhà nước.

    Ngoài ra, với cơ chế hiện nay, doanh nghiệp nào có quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp đó có thể liên doanh với nước ngoài, thậm chí trong những ngành

    22

     

    nghề, chuyên môn không phù hợp với chức năng, sở trường kinh doanh của bên Việt nam. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên (chiếm hơn 55% số dự án, khoảng 30% vốn đầu tư, chiếm hơn 85% số dự án được cấp phép trong các khu công nghiệp). Nhìn chung tốc độ triển khai thực hiện dự án 100% vốn nước ngoài nhanh hơn các doanh nghiệp liên doanh, tuy nhiên tỷ lệ các dự án bị thất bại còn tương đối cao. Tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn chếm 7,1% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Đối với các dự án theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, tỷ lệ bị giải thể trước thời hạn cũng khá cao, chiếm 26,6% số dự án và 16,3% vốn đăng ký đã cấp phép.

    23

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG

    ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Các biện pháp vĩ mô.

    1.1. Tập trung vào những dự án sản xuất chế tạo, định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều nhân công (như điện tử, máy tính, thông tin liên lạc). Đây là những ngành mà Việt nam có thể phát huy được lợi thế tương đối.

    1.2. Tăng cường xã hội hóa một số ngành sản xuất, dịch vụ, chú ý hơn nữa phát triển khu vực tư nhân, cho phép các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước đóng vai trò lớn hơn theo khả năng của họ trong nền kinh tế cộng đồng.

    1.3. Cải thiện hệ thống ngân hàng và hệ thống pháp lý về ngân hàng.

    1.4. Xóa bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước mà dần tiến hànhcơ chế cạnh tranh, doanh nghiệp chứng minh được bằng khả năng thực tế – cụ thể trong thị trường, tuân thủ pháp luật, đều có cơ hội ngang nhau. (Dĩ nhiên Nhà nước vẫnl uon chú ý những doanh nghiệp có thương hiệu và thương phẩm nổi tiếng, đã chiếm lĩnh thị trường thế giới, có thể đại diện được cho thương hiệu “made in Vietnam”, và thực tế là nếu Nhà nước có ưu tiên bằng chính sách cho họ thì các doanh nghiệp khác đều công nhận, đồng thời vì quyền lợi quốc gia có thể tập trung sức lực, vốn, thông tin… để hỗ trợ thêm).

    1.5. Tiến hành cổ phần hóa mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là những doanh nghiệp thua lỗ.

    2 – Các biện pháp cụ thể, đồng bộ.

    2.1. Đơn giản hóa thủ tục phê duyệt các dự án FDI, làm giảm số ngày tối đa để cấp giấy phép đầu tư nước ngoài.

    24

     

    2.2. Nỗ lực để ngăn chặn buôn lậu.

    2.3. Bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong các thủ tục hải quan và luật thuế.

    2.4. Có biện pháp thật hiệu quả để ngăn chặn nạn tham nhũng.

    2.5. Giảm thuế thu nhập cá nhân cho cả người Việt nam và người nước ngoài, đồng thời xóa bỏ cơ chế hai giá.

    2.6. Giảm thuế chuyển lợi nhuận ra về nước.

    2.7. Giảm thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước hoặc có thể áp dụng mức thuế suất bằng 0.

    2.8. Giảm giá các dịch vụ tiện ích.

    2.9. Thực hiện nghiêm túc các nghị định và thông tư đã được ban hành nhằm tạo thông thoáng cho môi trường đầu tư.

    2.10. Xóa bỏ hạn chế đối với những đối tượng được phép làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Chống chảy máu chất xám bằng những biện pháp kinh tế – xã hội đồng bộ khác).

    2.11. Xóa bỏ:

    • Mức đầu tư tối thiểu.
    • Mức vốn pháp định tối thiểu trong tổng vốn đầu tư.
    • Lệ phí sử dụng đất quá cao.

    2.12. Cho phép thuê bất động sản với thời hạn dài hơn và cho phép được nhận thế chấp trong nước.

    2.13. Cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    2.14. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng kỹ năng công nghệ, máy móc, thiết bị và đất đai.

    25

     

    2.15. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng tên hiệu, nhãn mác, uy tín, hệ thống phân phố và những tài sản vô hình khác.

    2.16. Tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực: Nhà nước, tư nhân và nước ngoài.

    2.17. Chính thức cho phép các liên doanh được chuyển thành hoàn toàn sở hữu của nước ngoài hoặc sở hữu của Việt nam nếu họ đủ điều kiện và tuân thủ đúng pháp luật.

    26

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài

     

    • Việt nam.

    Chủ biên: PGS, PTS Mai Ngọc Cường

    NXB Chính trị quốc gia.

    1. Gia nhập WTO – Việt nam kiên định con đường đã chọn

     

    NXB Chính trị quốc gia.

     

     

    1. Giáo trình Kinh tế quốc tế – Trường ĐH Kinh tế quốc dân

     

     

    1. Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế

    Tài liệu bồi dưỡng của Bộ Thương mại

    Một số tài liệu và thông tin khác trên mạng Internet.

     

    27


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-%C4%91%E1%BA%B7c-%C4%91i%E1%BB%83m-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-c%E1%BB%A5-th%E1%BB%83.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Đề tài số 2 :

    Phân tích đặc điểm hoạt động của công ty bảo hiểm? Đi sâu phân tích cụ thể một công ty.

    I.  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1.1 Khái niệm và yêu cầu cần thiết của doanh nghiệp bảo hiểm

    1.1.1  Khái niệm

    Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.

    1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp bảo hiểm:

    ☺ Thứ nhất,doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh tài chính, chủ yếu thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm. Tính đặc thù của kinh doanh bảo hiểm được thể hiện:

    • Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan.
    • Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngược, tức là sản phẩm được bán ra trước, doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí.

    ☺ Thứ hai: doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức, thành lập và hoạt động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.

    ☺Thứ ba: doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính.

    Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định. Đây là đặc điềm giúp phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

    1.1.3 Yêu cầu cần thiết:

    – về mặt kỹ thuật

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt việc thống kê,lựa chọn rủi ro, tính phí bảo hiểm, giải quyết các khiếu nại khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm

    – về mặt pháp lý

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập và vận động đúng theo quy định của luật pháp địa phương hoặc quốc gia mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.

    – về mặt kinh doanh

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được tổ chức thành một bộ máy hoàn chỉnh để có thể vận hành, gồm các bộ phận chức năng như : quản lý, nghiệp vụ, kinh doanh, tài chính, kế toán, hành chính nhân sự…

    – về mặt tài chính

    Doanh nghiệp bảo hiểm tập trung huy động vốn từ số đông khách hàng nên phải có sự đảm bảo về mặt tài chính(ký quỹ, quỹ dự phòng, vốn chủ sở hữu, hiệu quả đầu tư…) để hoạt động và tạo sự tin tưởng đối với khách hàng. Những yêu cầu về tài chính phải được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước.

    1.2 Nội dung, nguyên tắc hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

    1.2.1. Nội dung:

    ☺Thứ nhất : kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm

    + Trong kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm dưới các hình thức sau: trực tiếp; thông qua các đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; thông qua đấu thầu; các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    + Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhượng chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm.

    ☺Thứ hai: quản lý quỹ và đầu tư vốn:

    + Quản lý quỹ:

    Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã đóng góp không thấp hơn mức vốn pháp định đã quy định.

    + Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.

    + Đầu tư vốn:

    Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm : vốn diều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại của doanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi  từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm được sử dụng để đầu tư:

    – Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế.

    – Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    – Kinh doanh bất dộng sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính-tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp.

    ☺Thứ ba : doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện các hoạt động khác như : đề phong, hạn chế rủi ro, tổn thât; giám định tổn thất; đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luât.

    1.2.2. Nguyên tắc hoạt động :

    – Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: chỉ bảo hiểm một sự rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra.

    – Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối.

    – Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan, gắn liền hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm.

    – Nguyên tắc bồi thường.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vi trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém.

    – Nguyên tắc thế quyền.

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ 3 trách nhiệm bồi thường cho mình.

    – Nguyên tắc lấy số đông bù số ít.

    Dựa trên cơ sở nghiên cứu về quy luật số lớn, người ta có thể xác định được mức độ thiệt hại bình quân cho những khoảng thời gian nhất định.

    Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì khả năng bù đắp rủi ro càng lớn, độ an toàn càng cao  và ngược lại.

    1.3 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

    Có nhiều tiêu chí để phân loại, mỗi cách phân loại có  ý nghĩa và mục đích riêng.

    ☺ Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao.

    – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần đóng góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trọng phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên.

    – Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

    Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

    + Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ sở góp vốn giữa một bên nước Việt Nam với một bên nước ngoài( tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn điều lệ)

    + Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt Nam.

    ☺ Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm

    –  nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ: là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ của con người. Dấu hiệu đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ như sau: bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù.

    – nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    II. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1. Đối tượng kinh doanh đa dạng.

    – Bảo hiểm tài sản: BH ô tô, xe máy, BH máy bay, BH tàu thủy, BH vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, BH đầu máy và toa xe, BH tài sản cá nhân và doanh nghiệp, BH tín dụng.

    – Bảo hiểm con người: BH nhân thọ, BH tai nạn lao động, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn học sinh, sinh viên…

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: BH trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự chủ tàu, BH trách nhiệm dân sự chủ hãng hàng không…

    2. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn.

    Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.

    3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng bảo   hiểm – là nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt qua trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án khôi phục. Nếu không khôi phục được khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

    4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

    Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc tế và tạo ra sự cạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm.

    Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác để đưa đến thống nhất và đòi hỏi canh tranh lành mạnh.

    5. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.

    Để các DN bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động bảo hiểm

     

    III. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

    3.1.Trước khi gia nhập WTO

    • Trước khi có nghị định 100/CP

    Ngày 17/12/1964 công ty bảo hiểm đầu tiên của VN được thành lập(Bảo Việt).

    Kể từ đó, đến tận năm 1994, ở Việt Nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được chính phủ thành lập. Ở giai đoạn này, lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam có thể coi như sự phát triển của Bảo Việt.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ khi hình thành đến trước khi có nghị định 100/CP là thị trường độc quyền, “sân chơi chỉ có 1 người” nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn cam go ác liệt của lịch sử.

    Sau khi có nghị định 100/CP,thực hiện chính sách mở cửa và cải cách kinh tế của đảng và nhà nước, ngày 18-6-1993, chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 100/CP của chính phủ ra đời khẳng định hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham gia, cụ thể:

    • Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước
    • Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần
    • Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ
    • Doanh nghiệp liên doanh bảo hiểm
    • Chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    3.2. Sau khi gia nhập WTO

    3.2.1 Những cơ hội của ngành bảo hiểm khi VN gia nhập WTO

    – Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, hàng hóa của VN sẽ có một thị trường rộng lớn hơn đó là các thành viên WTO, đồng thời hàng hóa nước họ sẽ được xâm nhập vào thị trường VN  tạo tiền đề cho các ngành nghề phát triển như: giao thông vận tải đường bộ, hàng không, xuất nhập khẩu làm tiền đề cho BH phát triển.

    – Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước phát triển nhanh chóng

    Đây cũng là cơ sở để ngành BH phát triển, đồng thời cũng đòi hỏi ngành BH phải có sản phẩm BH đáp ứng nhu cầu của tăng trưởng đầu tư nước ngoài và trong nước, nhất là những cơ sở đầu tư ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay…

    – Lộ trình cổ phần hóa chuẩn bị hoàn thành

    Chế độ sở hữu tư nhân buộc người điều hành DN muốn bảo toàn vốn và tài sản trước mọi rủi ro cần phải có BH làm tăng nhu cầu BH để ngành BH phát triển. Khi các chủ DN coi trọng BH là lá chắn trước mọi rủi ro, tai nạn bất ngờ thì thị trường BH sẽ có nhiều cơ hội phát triển lành mạnh

    – Sự trợ cấp của Nhà nước ở một số lĩnh vực sẽ giảm dần

    Cùng với sự xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao, y tế, văn hóa giáo dục đã kích thích nhu cầu tham gia BH. Sự trợ cấp của nhà nước càng giảm thì sự lo lắng thiên tai, tai nạn xảy ra bất ngờ dẫn đến người ta phải nghĩ tới BH.

    – Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang tính tương thích với nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng của DN ngày một tốt hơn làm phát sinh theo nhu cầu BH như: BH trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế…; BH tài sản; BH rủi ro tài chính; BH trách nhiệm sản phẩm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh; BH trách nhiệm dân sự của các chủ doanh nghiệp

    – Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo bao gồm giới chủ DN tư nhân, các chuyên gia giỏi trong DNVN và DN có vốn đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinh doanh, các chủ trang trại đều có nhu cầu BH Nhân thọ cho mình và người thân.

    – Nhận thức về nhu cầu, tác dụng của BH ngày một nâng cao thông qua công tác tuyên truyền của ngành BH,thông qua tập quán mua BH của giới chủ đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận thức của những khách hàng tiềm năng có nhu cầu dẫn tới quyết định tham gia BH ngày một đông đảo hơn.

    3.2.2  Những thách thức lớn đối với ngành bảo hiểm cần vượt qua

    – Số lượng các DNBH được cấp phép hoạt động ngày một gia tăng

    Các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước nếu đủ điều kiện thao luật định đều có quyền xin phép thành lập DNBH, trong đó có các DNBH nước ngoài theo đúng cam kết WTO. Tuy nhiên, việc có nhiều DNBH ra đời làm cho sự cạnh tranh vốn đã gay gắt này càng gay gắt hơn.

    – DNBH hoạt động ở nước ngoài được cung cấp một số sản phẩm BH qua biên giới

    Đây là điều đáng lo ngại trong cuộc cạnh tranh không cân sức đối với các DNBH đang hoạt động tại VN.Trước hết, họ không thể biết được thông tin về đối thủ cạnh tranh của họ. Thứ hai, vũ khí của đối thủ đang sử dụng là loại gì không được biết rõ.Thứ ba, DNBH đang hoạt động tại VN phải đóng thuế cho ngân sách nhà nước trong khi đó đối thủ không bị đóng góp các khoản thuế trên.

    – Kênh phân phối sản phẩm BH đã bộc lộ nhiều yếu kém

    BH phi nhân thọ vẫn giữ cung cách khai thác chủ yếu từ cán bộ BH, cạnh tranh về phí BH, tăng hoa hồng, tăng hỗ trợ cho đại lý, chưa xây dựng được đội ngũ đại lý BH phi nhân thọ mang tính chuyên nghiệp và các công ty môi giới cạnh tranh lẫn nhau, làm việc thiếu chuyên nghiệp, … gây bất lợi cho DNBH và thị trường BH.

    – Đầu tư công nghệ thiếu đồng bộ, kém hiệu quả

    Hệ thống công nghệ thông tin của các DNBH chưa cập nhật được từng hợp đồng BH phát sinh, chưa phân loại được khách hàng, rủi ro BH, chưa phân tích đánh giá được nguyên nhân, mức độ rủi ro tổn thất, còn nhiều lỗ hổng để trục lợi BH.

    – Cạnh tranh gay gắt chủ yếu bằng con đường hạ phí BH, không chú trọng nhiều đến dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Phí BH trên thị trường BHVN hiện nay được hình thành chủ yếu qua con đường cạnh tranh hạ phí phi kĩ thuật mà không quan tâm đến đối tượng BH như thế nào, mức độ rủi ro ra sao. Chính vì vậy, việc quan tâm chăm sóc khách hàng cung cấp dịch vụ gia tăng bổ sung cho khách hàng cũng bị hạn chế.

    – Việc giải quyết bồi thường còn nhiều vướng mắc

    Trước hết, tính công khai minh bạch về hồ sơ, thủ tục giải quyết bồi thường chưa được thực hiện.

    Thứ hai, việc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục bồi thường giảm phiền phức cho khách hàng chưa được cải thiện rõ rệt.

    Thứ ba, còn nhiều vướng mắc trong việc thu thập hồ sơ chứng từ để giải quyết bồi thường cho nạn nhân khi những hồ sơ chứng từ này buộc phải lấy từ cơ quan có thẩm quyền như công an, bệnh viện.

    Thứ tư, việc tự quyết, tự chịu trách nhiệm của DNBH trong việc giám định bồi thường tổn thất chưa được phát huy và hay bị hình sự hóa.

    Thứ năm, các DN hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám định và giải quyết bồi thường chưa hoạt động có hiệu quả và phán quyết của họ nhiều khi không được pháp luật công nhận.

    Cuối cùng là chưa có biện pháp xử phạt thích đáng DNBH trong việc chậm trễ bồi thường cũng như xử phạt thích đáng các hành vi trục lợi BH

    3.2.3 Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm VN sau WTO

    – Xây dựng một hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn thành lập DNBH và  hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    – Cần có sự biến đổi về chất của các DNBH nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng, phù hợp với mô hình phát triển DNBH theo chuẩn mực quốc tế.

    Trước hết, phải tập trung vào công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu quản lý BH từ khâu khai thác, theo dõi hợp đồng, khách hàng, tiếp nhận thông tin từ khách hàng, xử lý sự cố thiên tai, tai nạn, giám định bồi thường, tính phí, đánh giá rủi ro

    Thứ hai là tập trung cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ thống, bài bản với những nội dung, chương trình đào tạo chuẩn mực quốc tế thay cho lối đào tạo truyền bá kinh nghiệm, kiến thức của người đi trước dạy bảo người đi sau.

    Thứ ba là cần tạo ra thế mạnh hơn hẳn của để cạnh tranh với các DNBH nước ngoài không hoạt động tại VN.

    – Các DNBHVN cần có sự hợp tác hơn nữa

    Nói đến thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải là để chia rẽ, phân hóa các DNBH mà trong cạnh tranh sẽ tạo tiền đề để các DNBH tiến tới hợp tác song phương, đa phương thậm chí tiến tới việc mua bán, hợp nhất, sáp nhập DNBH để tạo nên một sức mạnh cạnh tranh tốt hơn. Ngoài ra, các DNBH càng cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý BH đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp thông tin về bồi thường, nguyên nhân tổn thất, phòng chống trục lợi BH.

    3.3. Các sản phẩm bảo hiểm mới trên thị trường Việt Nam

    + Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ:

    Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ vừa giới thiệu hai sản phẩm bảo hiểm bổ trợ mới là Bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật & điều trị ngoại khoa và Bảo hiểm trợ cấp nằm viện. Điểm khác biệt của hai sản phẩm bổ trợ này so với những sản phẩm cùng loại trên thị trường là việc mang lại quyền lợi cho cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm.

    – Korea Life với sản phẩm bảo hiểm: AN KHANG LINH HOẠT TRỌN ĐỜI

    Ngày 30/11/2009, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Korea Life đã chính thức giới thiệu ra thị trường sản phẩm An Khang Linh Hoạt Trọn Đời – một sản phẩm thuộc dòng Bảo hiểm Liên kết chung. Với ưu thế là sự linh hoạt tối đa trong tích lũy và bảo vệ, sản phẩm mới này hứa hẹn sẽ đáp ứng được mong đợi của nhiều khách hàng Việt Nam

    – 3 sản phẩm mới của Grest Eastern

    +Đại an khôi nguyên- lên kế hoạch cho con bạn từ hôm nay

    Với sản phẩm này, bạn có thể bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai giáo dục của con bạn ngay khi đứa con yêu quý của bạn mới chào đời.Với việc nộp phí bảo hiểm trong 8 năm, con bạn sẽ được bảo vệ tới 22 năm, sự hỗ trợ có đảm bảo về tài chính sẽ bằng 130% Số tiền Bảo hiểm ban đầu cộng với tất cả bảo tức tích lũy đi kèm.

    +Đại an định kỳ gia tăng- thắp sáng ước mơ của bạn

    Đại an định kỳ gia tăng của Great Eastern không những bảo vệ mà còn mang

    lại cho bạn một khoản tiết kiệm, nhờ vậy, bạn có thể tăng thêm của cải và có thêm tiền mặt trong tay để thực hiện các mục tiêu lâu dài trong cuộc đời của mình.

    +Đại an  minh tâm- lập kế hoạch cho việc mưu cầu hạnh phúc của bạn

    Đại an minh tâm là giải pháp tuyệt vời hỗ trợ bạn và những người thân yêu của bạn về mặt tài chính, và điều quan trọng nhất là giúp cho ước mơ và kế hoạch tài chính của bạn trở thành hiện thực.

    – Prudential Việt Nam với sản phẩm “3 trong 1”

    Mới đây nhất, bảo hiểm Prudential Việt Nam vừa giới thiệu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ “3 trong 1” dành cho những khách hàng đã có gia đình; sản phẩm này cho phép một hợp đồng của một thành viên trong gia đình có giá trị bảo hiểm cho cả gia đình 3 người.

    + Sản phẩm BH phi nhân thọ

    – BIC bảo hiểm cho các hộ chung cư

    Từ ngày 05/04/2010, BIC chính thức triển khai sản phẩm Bảo hiểm cho hộ gia đình sinh sống trong các khu chung cư.

    – CHILDREN CARE – Sản phẩm mới của PJICO

    PJICO quyết định thiết kế ra PJICO Children Care – một sản phẩm bảo hiểm hoàn toàn mới cho thiếu nhi với mức trách nhiệm cao, phạm vi bảo hiểm rộng và đặc biệt là người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao.Điều này đã hạn chế các yếu tố : mức trách nhiệm bảo hiểm thấp, quyền lợi bảo hiểm hạn chế, …

    – Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)

    Ngay sau khi Cục Cảnh sát giao thông đường bộ thông báo sẽ kiểm tra gắt gao việc mua bảo hiểm bắt buộc, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã nhanh chóng đưa ra thị trường sản phẩm “Phúc vạn dặm bảo hiểm vật chất cho xe ôtô”.

    – Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS)

    Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) thì cho ra mắt Bảo hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm cấu trúc ngôi nhà,tài sản bên trong ngôi nhà nếu bị cháy, nổ, sét đánh, động đất, trộm cướp, hành động cố ý phá hoại hay hành động ác ý đều được bồi thường.

    IV. CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO)

    Tìm hiểu tại: Văn phòng bảo hiểm khu vực II

    ĐC: 194 Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy-HN

    4.1 Quá trình hình thành và phát triển

    Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

    Tên giao dịch quốc tế : PETROLIMEX JOINT STOCK COMPANY

    Tên viết tắt                    :         PJICO

    Lôgô                     :

    Địa chỉ                  : Số 532 Đường Láng, Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại            : (04) 776 0865  – (04) 776 0926

    Fax                       : (04) 776 0868

    Thành lập                         : 15/6/1995

    Vốn điều lê:         –  6/1995 là 55 tỷ đồng

    –  4/2004 là 70 tỷ đồng

    –  31/3/2007 là 140 tỷ đồng

    2009 là      335,1 tỷ đồng

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập năm 1995 theo chính sách đổi mới phát triển kinh tế của Nhà nước, là sự tập hợp sức mạnh kinh tế và uy tín của các tổng công ty lớn của nhà nước như Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, Tổng Công ty thép Việt Nam, Tổng Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Công ty điện tử Hà Nội HANEL….. Sau 13 năm phát triển, PJICO được đánh giá là một trong những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thị trường và hiện tại PJICO là một trong 4 nhà bảo hiểm hàng đầu trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

    – Hiện nay PJCO có 49 chi nhánh hoạt động tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước với số lượng Đại lý là trên 4.500 đại lý. Tại thị trường quốc tế Công ty đã mở rộng và quan hệ với nhiều nhà Tái bảo hiểm quốc tế như Munich Re, Cologne Re, Hartford Re, Hannover Re, Willis Faber, LLoy’d …

    – Với những kết quả kinh doanh ấn tượng đã đạt được trong thời gian qua, PJICO đã vinh dự được nhận hàng loạt các giải thưởng, danh hiêu lớn: Huân chương lao động hạng III năm 2000, PJICO đã được bầu chọn Giải thưởng Sao đỏ năm 2003, Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2004, Giải “Thương Hiệu Mạnh Việt Nam 2009” Vào ngày 4/4/2010.

     

    4.2. Mô hình tổ chức

    4.3. Vị thế của Công ty trong ngành:

    Công ty đứng thứ tư trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp  hầu hết các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Lợi thế cạnh tranh của Công ty tập trung ở một số lĩnh vực bán lẻ như bảo hiểm ôtô, xe máy chiếm gần 50% tổng doanh số kinh doanh bảo hiểm hàng năm và một số lĩnh vực bảo hiểm khác như bảo hiểm con người, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xây dựng lắp đặt. Với các lĩnh vực bán lẻ, thương hiệu và uy tín của PJICO ngày càng cao, sau khi điểu chỉnh chiến lược kinh doanh, việc phục vụ khách hàng của PJICO ngày càng tốt hơn, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. PJICO đang ngày một khẳng định vị thế của mình trên thị trường.

    4.4. Các sản phẩm bảo hiểm:

    4.4.1    Bảo hiểm xe cơ giới:

    Bao gồm các loại hình:

    • Bảo hiểm bắt buộc TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm tự nguyện TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm TNDS của Chủ xe cơ giới đối với hàng hoá trên xe.
    • Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái, phụ xe.
    • Bảo hiểm vật chất xe.

    4.4.2   Bảo hiểm con người

    4.4.3   Bảo hiểm hàng hóa

    – Bảo hiểm hàng xuất nhập khẩu: Hàng hóa xuất nhập ra vào lãnh thổ Việt Nam

    – Bảo hiểm hàng vận chuyển trong nước: Hàng hóa vận chuyển nội địa bằng các loại phương tiện được phép tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam

    4.4.4  Bảo hiểm tàu thủy

    – Bảo hiểm thân, vỏ tàu: Các cấu trúc nổi có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển, sông hồ và các vùng nước có liên quan.

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: Là trách nhiệm dân sự của chủ tàu, người quản lý, người điều hành, người thuê tàu (không phải là người thuê tàu chuyến)… phải bồi thường theo luật định.

    4.4.5  Tài sản & Trách nhiệm

    –  Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản

    – Hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt

    – Gián đoạn kinh doanh

    – Trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm

    – Trách nhiệm nghề nghiệp

    – Bảo hiểm khác:

    • Bảo hiểm tiền (trong két và vận chuyển)
    • Bảo hiểm trộm cắp
    • Bảo hiểm lòng trung thành (của nhân viên, người làm thuê …)

    4.4.6 Bảo hiểm kỹ thuật

    – Bảo hiểm kỹ thuật

    • CAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
    • EAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
    • M          : Bảo hiểm máy móc
    • EE         : Bảo hiểm thiết bị điện tử
    • DOS      : Hàng trong kho lạnh
    • MLOP    : Mất tổn thất do thiệt hại đối với máy móc
    • CECR    :Bảo hiểm mọi rủi ro công trình kỹ thuật dân dụng đã hoàn thành

    – Bảo hiểm xây dựng:

    • Công việc xây dựng
    • Trang thiết bị xây dựng
    • Máy móc xây dựng
    • Chi phí dọn dẹp hiện trường
    • Trách nhiệm đối với bên thứ ba

    4.5. Hoạt động của công ty

    4.5.1. Huy động vốn:

    + Vốn từ các cổ đông:

    TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM :Petrolimex là cổ đông lớn nhất của Công ty PJICO với tỷ lệ góp vốn là: 51%.

    NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 10%

    TỔNG CÔNG TY CP TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM:Tỷ lệ vốn góp trong PJICO: 8%

    TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 6%.

    CÔNG TY VẬT TƯ VÀ THIẾT BỊ TOÀN BỘ :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 3%

    CÔNG TY ĐIỆN TỬ HANEL:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 2%.

    CÔNG TY THIẾT BỊ AN TOÀN :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 0,5%.

    + Vốn huy động từ phát hành cổ phiếu :

    Số vốn điều lệ đang lưu hành đầu năm 2007 của PJICO mới đạt 137,2 tỷ đồng là quá nhỏ so với quy mô và tầm hoạt động của chính PJICO và so với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường.  Do đó, công ty đã chào bán cổ phiếu vào cuối năm 2007 với  số lượng: 19.884.033 cổ phiếu

    Cuối năm 2009, sau khi được bộ tài chính và ủy ban chứng khoán chấp nhận, ĐHCĐ của CTCP Bảo hiểm Petrolimex thông qua phương án phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng. Cụ thể, PJICO phát hành 16.490.099 cổ phiếu với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá là 164,9 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Đại hội còn thông qua việc niêm yết toàn bộ 50 triệu cổ phiếu trên Sở GDCK TP. HCM (HOSE) và ủy quyền cho HĐQT thực hiện.

    4.5.2 Quản lý quỹ:

    Trích lập các Quỹ

    PJICO thực hiện trích lập và sử dụng các quỹ tại doanh nghiệp như sau:

    • Quỹ dự trữ bắt buộc được trích từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 5% cho tới khi bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp.
    • Quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 10 %.
    • Quỹ trợ cấp mất việc làm được trích theo quy định của pháp luật
    • Quỹ khen, thưởng phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế thông thường bằng 1 đến 1,5 tháng lương thực tế.

    Dự phòng nghiệp vụ.

    • Dự phòng phí chưa được hưởng: mức trích lập dự phòng phí đối với các loại hình bảo hiểm vận chuyển hàng hóa được tính bằng 25% mức phí giữ lại trong năm và bằng 50% mức phí giữ lại trong năm đối với các loại hình bảo hiểm khác.
    • Dự phòng dao động lớn: được áp dụng thống nhất đối với tất cả các loại hình nghiệp vụ là 5% phí giữ lại trong năm và được trích cho đến khi bằng 100% phí giữ lại.
    • Dự phòng bồi thường: được Công ty thực hiện trích lập theo phương pháp từng hồ sơ đối với các tổn thất thuộc phạm vị bảo hiểm khách hàng đã khiếu nại nhưng chưa giải quyết. Mức trích lập dựa trên ước tính tổn thất phát sinh và phần trách nhiệm giữ lại của Công ty.

    4.5.3 Hoạt động đầu tư:

    Không chỉ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, PJICO còn quan tâm tới nhiệm vụ quản lý rủi ro, bảo toàn đồng vốn thông qua việc quản lý đầu tư tài chính khoa học, sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi, huy động tối đa tiền vào đầu tư sinh lợi, đồng thời vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên của các đơn vị trong Công ty.

    PJICO đã triển khai đầu tư vào nhiều dự án có hiệu quả như đầu tư góp vốn vào Công ty cổ phần vận tải xăng dầu Vipco, góp vốn cổ phần vào Tổng công ty CP tái bảo hiểm Quốc Gia Việt Nam (Vinare), Công ty cổ phần Xây lắp I Petrolimex.; Công ty cổ phần Bất động sản Petrolimex (Pland), Công ty cổ phần Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco)….., ngoài ra PJICO còn thường xuyên theo dõi sự biến động của Thị trường chứng khoán để lựa chọn danh mục đầu tư cổ phiếu hợp lý.

    Bảng 1: Một số dự án đã góp vốn đầu tư tính đến thời điểm 31/12/2009

    Đơn vị tính: đồng

    STT Tên dự án Hình thức tham gia Tỷ lệ góp vốn Số tiền góp vốn  
     
    1 Công ty CP Vận tải Vipco Góp vốn cổ phần 6,94% 24.350.000.000  
    2 Tổng Công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam Góp vốn cổ phần 3,5% 12.005.000.000  
    3 Công ty CP Xây lắp I Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 1.000.000.000  
    4 Công ty CP Bất động sản Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 10.000.000.000  
    5 Công ty CP Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco) Góp vốn quỹ 7,57% 2.500.000.000  
    6 Công ty liên doanh kho xăng dầu Vân phong Góp vốn liên kết KD 15% 12.800.000.000  
               
      Tổng cộng     62.655.000.000  

    (Nguồn: Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex)

    4.5.4. Công tác dịch vụ khách hàng

    Với một mạng lưới dịch vụ trải dài rộng khắp, PJICO nhận bảo hiểm ở mọi nơi, mọi rủi ro trong cả nước. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ với tổng giá trị lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, trong đó có rất nhiều công trình mà giá trị bảo hiểm đã lên tới hàng trăm triệu Dollar Mỹ như toà nhà Daewoo, cao ốc Diamond Praha, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC, Cầu Bãi Cháy, Nhà máy Xi măng Hải Phòng….
    PJICO cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ, hàng triệu người lao động, học sinh,mang lại niềm tin trong sản xuất, lao động và học tập. Đó chính là mục tiêu, là mong muốn mà PJICO có được ở khách hàng. Để đạt được điều đó PJICO đã phải có những nỗ lực vượt bậc trong quá trình phát triển, lập ra một quỹ dự trữ bồi thường gắn với một chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện, đúng đủ.

    Sau những năm hoạt động, PJICO đã bồi thường, trợ giúp hàng trăm ngàn vụ tổn thất, điển hình:

    • Đợt bão số 5 mang tên Linđa tràn vào Nam Trung bộ và Nam bộ (1997) gây thiệt hại nghiêm trọng, PJICO đã bồi thường hàng tỷ đồng để ổn định cuộc sống người dân.
    • Vụ cháy kho xăng dầu K131 trị giá 22 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất tàu và hàng trong vụ đâm va 2 tàu dầu Petrolimex 01 và Formosa One tại Vũng Tàu năm 2001 với giá trị tổn thất là 18 tỷ đồng
    • Các tổn thất trên Đường Hồ Chí Minh trị giá 5,8 tỷ đồng, tổn thất Cầu Kỳ Lam, Cầu Đà Rằng-Sông Cái
    • Vụ tổn thất của Công ty Xi măng Hoàng Mai trị giá 5,79 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất toàn bộ 11.000 tấn phân lân do đắm tàu MaritmeFelelity tại Singapore trị giá 1.4 triệu USD.
    • Hàng loạt các tổn thất cầu, đường, kho, hàng, tàu thuyền sau trận lụt miền Trung tháng 10/1999
    • PJICO thực hiện chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp, chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện thể hiện rõ trong vụ lốc xoáy làm bung chân đế và đổ sập 3 cẩu rót than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông
    • PJICO chỉ cung cấp dịch vụ Bảo hiểm thân tàu và không phải chịu trách nhiệm đối với các thuyền viên bị nạn, nhưng Công ty vẫn trợ cấp thăm hỏi gia đình nạn nhân có người thiệt mạng sự cố chìm tàu Đức Trí ngày 03/03/2008 tại Bình Thuận mức 2 triệu đồng/người…

    Từ khi thành lập tới nay PJICO đã chi bồi thường hàng trăm tỷ đồng để khắc phục những rủi ro, thiệt hại đã xảy ra với khách hàng. Ngày nay, PJICO đã trở thành một địa chỉ đáng tin cậy, một sự lựa chọn tốt nhất của bạn cho bản thân, gia đình bạn gửi gắm niềm tin, sự an tâm trong cuộc sống.

    4.5.5. Hoạt động cộng đồng

    Sự kiện chìm đò trên sông Gianh ngày 25/01/2009 làm 42 người chết gây chấn động dư luận. Chia sẻ mất mát đau thương với người dân Quảng Bình và trách nhiệm đối với cộng đồng, ngày 04/02/2009 Công ty Bảo hiểm PJICO đã đến thăm hỏi và tặng quà hỗ trợ đến gia đình các nạn nhân tổng số tiền 21.000.000 đồng

    Đầu tháng 11 năm 2009, thay mặt toàn thể cán bộ nhân viên Công ty cổ phần Bảo hiểm PJICO, đoàn cán bộ PJICO đã đến Văn phòng Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tại số 82 – Nguyễn Du – Hà Nội để trao quà ủng hộ đồng bào Miền Trung – Tây Nguyên ( 20.000.000 VND tiền mặt và 100kg quần áo, 100 cuốn sách giáo khoa )

    Nhân ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân , 25/12/2009 công ty bảo hiểm PJICO đã tổ chức cho các cựu chiến binh hiện đang công tác tại văn phòng công ty và Hội sở PJICO Hà Nội chuyến đi du lịch về nguồn, thăm lại chiến khu xưa

    Công ty Bảo hiểm PJICO hân hạnh là Nhà Tài Trợ cho Giải Tennis Khối Doanh nghiệp TW lần I – 2010 do Đoàn khối Doanh nghiệp TW tổ chức nhằm thiết thực chào mừng 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và 79 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    Chào mừng Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng tỉnh Kon Tum(31/3/2010), PJICO hân hạnh là Nhà tài trợ Giải quần vợt tranh Cúp Bảo hiểm PJICO lần thứ nhất năm 2010 do Liên đoàn quần vợt tỉnh Kon Tum tổ chức

    4.6. Chiến lược kinh doanh trong thời gian sắp tới

    Trong mấy năm vừa qua, bảo hiểm Petrolimex có mức tăng trưởng cao nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Mạng lưới kinh doanh bảo hiểm của Petrolimex trải rộng trên toàn quốc và được bảo đảm tài chính bởi các nhà tái bảo hiểm chuyên nghiệp hàng đầu thế giới như: Munich Re, Swiss Re, Hannover Re, Harfort Re, Aon Re… Năm 2004 là năm đầu tiên Bảo hiểm Petrolimex hướng sự hoạt động ra thị trường quốc tế và đã thu được khoản lợi nhuận trên 1 triệu USD. Chiến lược của Bảo hiểm Petrolimex trong thời gian tới là phát triển thành tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Namvề chất lượng và hiệu quả , khẳng định thương hiệu “PJICO – Nhà bảo hiểm chuyên nghiệp”; , đồng thời mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.

    Để thực hiện mục tiêu phát triển này PJICO có những chiến lược :

    1. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm đồng bộ, đa dạng và có chất lượng cao định hướng vào khách hàng.

    –  Xây dựng hệ thống các chính sách để thực hiện tốt nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

    –  Tiếp tục hoàn thiện sản phẩm PJICO- Children-Care thiết kế dành riêng cho trẻ em lứa tuổi từ 1-16 tuổi, theo đó trẻ em được chăm sóc y tế chất lượng cao trong các trường hợp tai nạn, ốm đau, bệnh tật phải điều trị nội trú  Sản phẩm này bảo vệ cho trẻ em 24/24 trong thời gian ở trường , ở nhà và mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam

    1. Tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, năng động và thân thiện để nhân viên phát huy tài năng và sáng tạo.

    Với mục tiêu phát triển một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, luôn quan tâm sâu sắc tới lợi ích của khách hàng…nên bảo hiểm PJICO áp dụng quy trình chặt chẽ ngay từ đầu vào để tuyển dụng những người có tố chất này, và sau đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp họ phát triển sự nghiệp. Chính chất lượng và thái độ của đội ngũ nhân viên bảo hiểm sẽ tạo nên sự khác biệt của một công ty bảo hiểm.

    1. Hợp tác hiệu quả với các đối tác để cùng phát triển và đóng góp xây dựng cộng đồng

    – Liên kết với ngân hàng: phát triển cho tương lai

    Cùng với việc tập trung phát triển và xây dựng kênh bán hàng qua đại lý thật vững mạnh và hiệu quả tại Việt Nam, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng kinh doanh sản phẩm ban-cassurance trong những năm qua đã đem lại lợi ích đáng kể cho các bên. Chính vì thế, liên kết với ngân hàng đang được bảo hiểm PJICO tận dụng triệt để. Bảo hiểm PJICO đang bắt tay với một số ngân hàng trong và ngoài nước để bán sản phẩm bảo hiểm. Để chuẩn bị cho tương lai PJICO đang âm thầm tìm kiếm những ngân hàng uy tín để ‘bắt tay”

    • Ưu đãi tối đa cho hệ thống đại lý

    PJICO vẫn luôn coi trọng việc bán sản phẩm thông qua các đại diện kinh doanh. Để phát triển mạng lưới đại lý của mình PJICO áp nhiều chế độ đãi ngộ hợp lý . Ngoài lợi nhuận của công ty thì quyền lợi của khách hàng  được PJICO coi trọng hàng đầu

    1. Phát triển bền vững để gia tăng giá trị cho các cổ đông thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính.
    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Giáo trình nguyên lý bảo hiểm- NXB thống kê

    – Thị trường bảo hiểm Việt Nam –cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập   NXB lý luận chính trị

    – Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm – đại học kinh tế quốc dân

    Website :

    http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/08/27/3695/

    www.pjico.com.vn

    www.petrolimex.com.vn

    www.webbaohiem.net/


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công ty Prudential là một công ty đa quốc gia kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ. Công ty đã vào Việt Nam và cung cấp các sản phẩm của mình cho khách hàng là những người Việt Nam. Mặc dù mới thâm nhập vào thị trường Việt Nam nhưng với bề dày kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực Bảo Hiểm nhân thọ bước đầu công ty đã đạt được những thành công vượt trội và trở thành công ty thành công nhất tạI thị trường Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. đIều gì đem đến thành công cho công ty bí quyết dẫn đến thành công cho công ty là gì , trong những thuận lợi thì công ty còn gặp phảI những khó khăn gì. Công ty đã tận dụng hết được những lợi thế và cơ hội của mình hay chưa. Đây là những vấn đề mà các nhà quản trị của công ty đang quan tâm và tìm những giảI pháp để khắc phục những khó khăn và tận dụng những thơI cơ mà công ty có được. Trong những yếu tố dẫn đến thành công của công ty thì chiến lược sản phẩm của công ty chiếm vai trò rất lớn và quan trọng hay có thể nói rằng chiến lược về sản phẩm đã mang lạI thành công cho công ty

    . Công ty đã sử dụng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm cung cấp cho khách hàng một danh mục sản phẩm mà từ đó khách hàng có được sự lựa chọn phù hợp nhất với nhu cầu của mình. Mặc dù sản phẩm của công ty là đa dạng và phong phú so với các sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh trong bảo hiểm nhân thọ nhưng liệu những sản phẩm của công ty đã thoả mãn được tối đa nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ hay chưa ? Còn những nhu cầu gì của khách hàng mà công ty chưa nhìn thấy? Liệu công ty có nên mở rộng loạI hình sản phẩm của mình không? Chính những vấn đề này đã dẫn đến tầm quan trọng trong việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty đIều đó sẽ giúp cho công ty khắc phục điểm yếu trong sản phẩm của mình, đề ra những chiến lược về sản phẩm mới nhằm tăng khả năng cạnh tranh dựa trên sự thoả mãn một cách hoàn hảo nhu cầu của khách hàng và nổi trội hơn so với đối thủ cạnh tranh

    1

    PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ) TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    I) KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM.

     

    1 ) ĐỊNH NGHĨA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là mọi hàng động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.

     

    2 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ.

     

    Dịch vụ là một loại hàng hoá đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hoá hiện hữu không có. Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật đó là

     

    1. 1 ) Tính vô hình ( Tính không hiện hữu )

     

    Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vu. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta có thể xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hoá hiện hữu

    1. 2 ) Tính không tách rời được.

     

    Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời. ĐIều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. vì khách hàng cũng có mặt khi dịch vu được thực hiên, nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng và khách hgàng là một tính chất đặc biệt của dịch vụ.

     

    1. 3 ) Tính không ổn đinh.

     

    Các dịch vụ rất không ổn định, vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.

    2

    1. 4 ) Tính không lưu giữ được.

    Không thể lưu giữ dịch vụ được. Vì dịch vụ gắn liền với quá trình sử dụng khi quá trình sử dụng bị tạm dừng hoặc kết thúc thì dich vụ sẽ mất theo.

    3 ) ĐẶC TRƯNG CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM.

    Dịch vụ bảo hiểm là một dịch vụ có đặc trưng rất cao. Đây là một loại dịch vụ đặc biệt, để thoả mãn riêng một cấp độ nhu cầu của con người đó là nhu cầu về sự an toàn. Theo Abraham Moslow thì nhu cầu về sự an toàn là nhu cầu thứ hai sau nhu cầu sinh lý. Khi con người được thoả mãn nhu cầu về sự an toàn thì họ sẽ cảm thấy yên tâm và sẽ tập trung để theo đuổi thoả mãn những nhu cầu khác.

    Khi tham gia dịch vụ bảo hiểm mọi người phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm theo định kỳ. đổi lại họ sẽ nhận được những bù đắp về mặt kinh tế khi có rủi ro xảy ra và họ sẽ nhận được toàn bộ số tiền đã đóng từ trước tới nay, cộng thêm với khoản bảo tức khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc đáo hạn hợp đồng. Ta thấy rằng tham gia bảo hiểm vừa là một hình thức tiết kiệm vừa thoả mãn được nhu cầu về sự đảm bảo rủi ro.

    Sự bù đắp kinh tế cho những rủi ro được các nhà kinh doanh bảo hiểm cung cấp trên mọi mặt của mọi lĩnh vực. Hầu như những lĩnh vực nào có hoặc tiềm tàng sự rủi ro thì đều xuất hiện các loại hình tương ứng

    Không như những loại dịch vụ khác có thời gian tiếp xúc và sử dụng dịch vụ ngắn, thường thì khi kết thúc sử dụng cũng là lúc dịch vụ không còn sự tác động. Đối với dịch vụ bảo hiểm khi khách hàng tham gia nó họ sẽ phải gắn bó với nó mà thời gian đã được quy định sẵn trong hợp đồng. Đây cũng là một đặc điểm khác biệt của dịch vụ bảo hiểm so với các loại dịch vụ khác.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì sự xem xét của khách hàng về mặt lợi hay hạI được thực hiện một cách kỹ lưỡng và người ta thấy rằng việc tham gia bảo hiểm

    3

    là một hoạt động thoả mãn được nhu cầu về sự an toàn của khách hàng trong những hoạt động của mình mà không hề tốn kém.

    II ) NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM

    1 ) Nhu cầu của khách hàng.

    Trong marketing nhu cầu của khách hàng được xem là chìa khoá để dẫn đến thành công của mọi công ty. Người ta cần phải nhận biết được nhu cầu của khách hàng là gì và thứ gì sẽ đem lại giá trị để thoả mãn được nhu cầu đó. Một trong những nhu cầu quan trọng của con người đó là nhu cầu về sự an toàn và bảo hiểm là một trong những dịch vụ có thể thoả mãn được nhu cầu đó.

    Trong hoạt động hàng ngày diễn ra con người phải đối diện với rất nhiều những vấn đề và hầu như tất cả các vấn đề đều có nguy cơ sảy ra rủi ro và mỗi một sự rủi ro lại cần có một sự đảm bảo riêng lẻ tách rời. Chính điều này đã tạo nên nhiều loại hình (sản phẩm ) bảo hiểm khác nhau để thoả mãn từng nhu cầu riêng lẻ của khách hàng. Công ty prudential đã nghiên cứu và cơ bản nhận định được một số nhu cầu của khách hàng muốn tham gia bảo hiểm. Những nhu cầu đó là:

    • Được bảo vệ an toàn tài chính suốt cuộc đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. ( Phú- Trường An )
    • Thực hiện một kế hoạch tích luỹ tài chính hiệu quả nhất để chăm lo tương lai cho con em mình. (Phú _ Tương lai . Phú _ Tích luỹ dáo giuc )
    • Tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. (Phú bảo gia , Phú trường khang, Phú tích luỹ an khang )
    • Tích luỹ tài chính trong 15 năm cho những kế hoạch dài hạn, nhưng vẫn được hưởng quyên lợi trả định kỳ mỗi 03 năm để chi tiêu cho các kế hoạch ngắn hạn. ( Phú Thành đạt, Phú tích luỹ định kỳ )

    4

    • Luôn có được sự chăm sóc hoàn hảo về tài chính cho từng giai đoạn quan trọng khác nhau của cuộc đời và một sự bảo vệ toàn diện trước bất trắc của ngày mai. (Phú hoàn mỹ )
    • Được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. ( Phú Hoà nhân an )
    • Nhân viên luôn có được sự an tâm, đem hết nhiêt tình chung sức vào sự phát triển của tổ chức, công ty mình. ( Phú An nghiệp )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ tài an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong hoặc tàn tật. ( Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn )
    • Được tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính khi chẳng may gặp tai nạn dẫn đến tử vong . ( Bảo hiểm chết do tai nạn )
    • Được trợ giúp tài chính khi chẳng may mắc bệnh hiểm nghèo. ( Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, Bảo hiểm thu phí bệnh hiểm nghèo )
    • ) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty a ) Những căn cứ lựa chọn chiến lược của công ty.

     

    Như ta đã biết để đưa ra được một chiến lược đúng đắn các nhà hoạch định chiến lược của công ty phảI căn cứ vào những thông tin do những người làm công tác tiếp thị của công ty cung cấp. Mà công việc cụ thể họ phảI làm là đánh giá những sản phẩm nào cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch, và cần loạI bỏ…v..v..

     

    Những căn cứ để đưa ra chiến lược mà người làm tiếp thị cung cấp cho các nhà hoạch định chiến lược có thể là thông tin về thị trường, về nhu cầu khách hàng,

    về đối thủ cạnh tranh, về chu kỳ sống của sản phẩm …v..v . Một trong những căn cứ để lựa chọn danh mục sản phẩm hay chiến lược về sản phẩm đó là dựa vào nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể có nhiều nhu cầu về chủng loạI sản phẩm hay là nhu cầu về chuyên sâu trong một chủng loạI sản phẩm. Theo

    5

    những nghiên cứu của công ty thì nhu cầu của khách hàng là đa dạng, đòi hỏi phảI có những sản phẩm khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó.

    1. b) Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty Prudential

    theo những căn cứ như trên đã đưa ra các nhà hoạch định chiến lược của công ty Prudential đã quyết định chọn chiến lược đa dạng hoá sản phẩm đây là chiến lược đã làm cho công ty Prudential là công ty có số sản phẩm nhiều nhất và luôn có sản phẩm mới sớm nhất để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng trong số nhứng công ty cùng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam. Trong danh mục sản phẩm của công ty có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó khách hàng được tư vấn để có thể có được chọn lựa được những sản phẩm thích hợp nhất với nhu cầu của mình. Những sản phẩm của công ty không chỉ dừng lại ở những sản phẩm đã đưa ra mà nó luôn được bổ xung những sản phẩm mới làm cho danh mục sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú. Đây là hệ quả của việc nắm bắt tốt những nhu cầu của khách hàng và nhạy bén với những xu thế biến đổi nhu cầu đó.

    III) KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM DỊCH VỤ BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    Theo các nhà phân tích kinh tế thì Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Nam Á có sức thu hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó lĩnh vực Bảo Hiểm là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia. Vì sao lại như vậy? ở những nước tư bản thì Bảo Hiểm là một dịch vụ phổ biến và phát triển từ lâu, còn ở Việt Nam đây là một dịch vụ mặc dù đã xuất hiện khá lâu nhưng cho mãi đến những năm gần đây thì mới có sự đổi mới và phát triển. Người dân đã bắt đầu chú ý hơn đến những sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu về an toàn của mình. Những năm trước đây Việt

    6

    Nam vẫn còn là nước nghèo cuộc sống của người dân nói chung chỉ đủ ăn ngoàI ra còn rất nhìều nhu cầu khác cần phải được thoả mãn nhưng đều không có điều kiện kinh tế. Khi nền kinh tế thị trường phát triển cuộc sống của người dân được cảI thiện thu nhập tăng lên, từ đó người dân đã chú ý hơn đến việc thoả mãn những nhu cầu khác. Theo thang bậc nhu cầu thì sau nhu cầu về sinh lý được thoả mãn thì nhu cầu tiếp đến của con người là nhu câu về an toàn, chính đIều này đã tạo nên cho Việt Nam một tiềm năng lớn về các dịch vụ bảo hiểm. Vì thế trong những năm gần đây có rất nhiều công ty bảo hiểm nước ngoàI đầu tư ráo riết vào Việt Nam trong đó có Prudential và công ty này đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cho các khách hàng là người Việt Nam. Bên cạnh công ty Prudential còn có rất nhiều công ty khác tham gia trên thị trường cung cấp các sản phẩm bảo hiểm như AIA, Bảo Việt, Bảo Minh …v.. v. các công ty với những điểm mạnh của riêng mình cũng đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng sét chung thì chỉ có Prudential là thành công nhất trong bảo hiểm nhân thọ, Thị trường bảo hiểm hiện đang rất sôi động các sản phẩm cũng rất phong phú điều đó cho thấy là khách hàng đã tiếp thu rất tốt và có hiểu biết về Bảo hiểm. Sự thành công của Prudential là một điều đáng mừng cho thấy dấu hiệu đi lên và phát triển của nền kinh tế.

    PHẦN II. THỰC TRẠNG VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM (DỊCH VỤ ) CỦA CÔNG TY

    2.1) LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL.

    Công ty Prudential được thành lập năm 1848 tại Luân Đôn, Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất vương quốc Anh và cũng là một trong

    7

    ngững tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới. Quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ và có hơn 20 000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, hưu trí, quỹ tương hỗ, ngân hàng, quản lý đầu tư và bảo hiểm phi nhân thọ. Tập đoàn Prudential toàn cầu đã chính thức khai trương văn phòng đạI diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 va được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào thãng 10 năm 1999. Hiện nay, Prudential vinh dự được hơn 1 000 000 khách hàng Việt Nam giao phó trọng trách bảo vệ an toàn tài chính và tương lai cho gia đình mình.

    Vào tháng 6 năm 2001. Prudential Việt Nam đã tăng vốn đầu tư từ 15 triệu đô là lên 40 triệu đô là Mỹ. Tháng 10 năm 2002. Một lần nữa Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư từ 40 triệu lên 61 triệu đô là Mỹ. Với khả năng tài chính vững chắc, Pruential Việt Nam đang đầu tư ráo riết vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm phục vụ khách hàng ngày càng hoàn hảo hơn.

    Nhằm đáp ứng niềm tin to lớn của người dân Việt Nam với tinh thần trách nhiệm cao, Prudential cam kết chỉ tham gia đầu tư các hoạt động an toàn và hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế nước nhà.

    2 . 2 ) HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY PRUDENTIAL

    Prudential có nghĩa là “thận trọng”, người ta đã rất khôn ngoan khi chọn tên công ty là prudential vì chính cái tên có thể phần nào đã gợi lên sự tin tưởng cho khách hàng. Sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ ngoài ra công ty còn phát triển thêm nhiều sản phẩm kèm theo và sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Với hơn 80 năm kinh nghiệp tại Châu á, Prudential hiện đang hoạt động tại 12 trị trường đó là Malaysia, Singapore, Hồng Kông , Indonesia, Thai lan, Philippines, ấn độ, Trung Quốc, ĐàI Loan, Việt Nam, Nhật

    8

    Bản và Hàn Quốc. Chỉ riêng trong khu vực châu á TháI Bình Dương, Prudential đã đầu tư hơn 9 tỉ đôla. Trong đó Việt Nam chiếm 61 triệu Mỹ Kim.

    Qua những năm kinh doanh tạI thị trường Việt Nam công ty Prudential đã đạt

    được những thành tựu nhất định sau đây là kết quả kinh doanh của công ty.

    Năm 2002 nếu tính riêng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh thu của

    tập đoàn đạt 2,8 ty Bảng Anh (tương đương 21,1 tỷ USD ) tăng 12% so với năm

    1. Doanh thu phí bảo hiểm hàng năm của Prudential Châu Á tăng 18% . Với

    Công ty đầu tư M&G của Prudential – Công ty hàng đầu trong lĩnh vực quản lý

    đầu tư cá nhân, tổng thu nhập của quỹ đầu tư tại công ty này đạt 1 tỷ Bảng Anh

    ( Tương đương 1,6 Tỷ đô là USD ), tăng 11 % ( Thu nhập ròng của quỹ đầu tư

    tại M & G tăng 79 % )

    Cũng trong năm 2002 Prudential hiện đang có 511376 hợp đồng có hiệu lực tính đến cuối tháng 6 và 24169 đại lý từ khi hoạt động ở Việt Nam đến nay, Prudential đã giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 340 trường hợp với số tiền lên đén 20.4 tỷ đồng. Sau hơn hai năm hoạt động, Prudential có trên 900 000 khách hàng với 18 trung tâm phục vụ khách hàng trên khắp cả nước trong thời gian qua Prudential đã giải quyết hơn 500 trường hợp với số tiền đền bù lên dến 30 tỷ đồng.

    Ngày 17/11/2002, Prudential kỉ niệm 3 năm ngày có mặt ở thị trường Việt Nam. Với số vốn gần 1000 tỷ đồng công ty đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn cao nhất trong lĩnh vực bảo hiểm, Ngân hàng và dịch vụ tài chính.

    2.3) THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL.

    2.3 .1 ) Những sản phẩm của công ty

     

    với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình công ty đa có nhiều những sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu riêng biệt của khách hàng, công ty có những loạI sản phẩm sau

    9

    • ) Sản phẩm chính

     

    Sản phẩm chính là các sản phẩm có thể tham gia riêng lẻ mà không cần kèm

    theo bất kỳ một sản phẩm nào khác trong một hợp đồng bảo hiểm. Trong đó có cả sản phẩm tham gia chia lãi và cả sản phẩm không tham gia chia lãi. Những sản phẩm chính gồm:

    + Phú _ Trường an

    Đây là loại sản phẩm mà mục đích của nó là mang đến cho khách hàng sự an tâm vì đã được bảo vệ an toàn tài chính trong suốt cuộc đời và giúp khách hàng tích luỹ một tài sản cho con cháu sau này. Sản phẩm này nhằm thoả mãn cho nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính suốt đời nhưng vẫn tích luỹ được tài sản cho con cháu. Đặc điểm của sản phẩm này là

    • Thuộc các sản phẩm bảo hiểm chính
    • Có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại )
    • Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 55
    • Tuổi khi đáo hạn hợp đồng
    • Thời hạn hợp đồng từ 44 đến 99 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau:

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho hợp đồng bảo hiểm trẻ em dưới 15 tuổi + Phú _ Tích luỹ an khang

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là cùng khách hàng tạo dựng nguồn tài chính vững chắc, đảm bảo một tương lai tốt đẹp bằng chính những dành dụm

    10

    của ngày hôm nay. Đồng thời, mang đến cho khách hàng sự an tâm vì được bảo vệ an toàn tài chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro. Sản phẩm bảo hiểm này nhằm thoả mãn nhu cầu: tích luỹ tài chính để an tâm vui sống trong những năm tháng hưu trí. ở đây cần nói thêm rằng một nhu cầu có thể có rất nhiều sản phẩm để thoả mãn chứ không nhất thiết phải một sản phẩm thoả mãn một nhu cầu. Sản phẩm bảo hiểm này thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính, có tham gia chia lãI ( có bảo tức tích luỹ – có giá trị hoàn lại). Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 0 đến 65 tuổi, Tuổi tối đa khi đáo han hợp đồng là 75 tuổi. Thời hạn hợp đồng từ 10 đến 30 năm.

    Khi đã tham gia phú Tích luỹ _ An khang khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ nếu dưới đây nhằm mục đích tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tài chính cho bản thân và gia đình trong mọi hoàn cảnh.

    • Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo
    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn
    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí ( chỉ dành cho trẻ em dười 15 tuổi )

    + Phú _ Tích luỹ giáo dục

    Đây là loại bảo hiểm mà mục đích của nó là sat cánh cùng các bậc cha mẹ chuẩn bị nguồn tài chính vững chắc làm hành trang cho đứa con thân yêu vào đời. Sản phẩm này nhằm thoả mãn nhu cầu: Thực hiện một kế hoạch tích luỹ hiệu quả nhất để chăm lo cho con em mình. Sản phẩm này có một số đặc điểm đặc biệt. Khi tham gia phu_ tích luỹ giáo dục bằng hợp đồng dành cho trẻ em dưới 15 tuổi, khách hàng nên tham gia thêm sản phẩm bổ trợ “ Bảo hiểm từ bỏ thu phí” với các quyền lợi ưu tiên để có thể hoàn toàn yên tâm về tích luỹ tài

    11

    chính cho đứa con thân yêu của mình cho dù bất kỳ chuyện gì sản ra với mình đi chăng nữa.

    Với các hợp đồng “ Phú _ tích luy” dành cho người được bảo hiểm từ 15 tuổi trở lên, khách hàng có thể tham gia thêm các sản phẩm kèm theo và sản phẩm bổ trợ sau:

    • Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn
    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Tích luỹ định kỳ

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích giúp khách hàng tích luỹ tàI chính trong 15 năm cho các kế hoạch dàI hạn nhưng vẫn nhận được các khoản chi trả định kỳ ( mỗi 3 năm ) để chi trả cho những mục tiêu ngắn hạn khác. và tất nhiên, khách hàng sẽ hoàn toàn yên tâm vì đã được bảo vệ an toàn tàI chính nếu chẳng may sảy ra rủi ro.

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ kèm theo khác

    + Phú _ Hoà nhân an

    Đây là sản phẩm bảo hiểm với mục đích mang đến cho khách hàng và gia đình sự an tâm thanh thản vì đã được bảo vệ an toàn tài chính chỉ với một mức phí bảo hiểm vừa phải. Đặc điểm của loại sản phẩm này là để thoả mãn nhu cầu được bảo vệ an toàn tài chính nhưng vẫn được hoàn phí khi đáo hạn. Hầu hết khách hàng tham gia bảo hiểm này đều được bình an và không gặp phải rủi ro nào phải yêu cầu bảo hiểm, do đó sau khi đáo hạn hợp đồng khách hàng vẫn xem như đã tiết kiệm được một khoản tiền đãng kể.

    Một số thông tin về sản phẩm như sau

    Thuộc nhóm các sản phẩm bảo hiểm chính

    12

    Không tham gia chia lãI ( Không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại )

    Độ tuổi tham gia bảo hiểm từ 15 đến 60 tuổi. Tuỏi tối đa khi đáo hạn hợp đồng là 65

    Thời hạn hợp đồng 5 hoặc 8 năm

    Khi tham gia sản phẩm này khách hàng có thể tham gia các sản phẩm bổ trợ và sản phẩm kèm theo sau.

    • Bảo hiểm chết do tai nạn
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn b ) Sản phẩm bổ trợ kèm theo

    Đây là những sản phẩm bảo hiểm giúp khách hàng mở rộng thêm quyền lợi bảo hiểm với mức phí phải chăng . Tất cả các sản phẩm của nhóm này đều thuộc nhóm sản phẩm không tham gia chia lãi (không có bảo tức tích luỹ – không có giá trị hoàn lại)

    Khách hàng chỉ có thể tham gia sản phẩm này nếu đã tham gia một sản phẩm chính hoặc sản phẩm trọn gói của Prudential.

    Nhóm này gồm 6 sản phẩm :

    + Bảo hiểm bệnh hiểm nghèo

    Đây là sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm bổ trợ kèm theo và luôn kết hợp với bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo. Sản phẩm này có mục đích hầu gánh giúp khách hàng gánh những nỗi lo về tài chính để chữa trị chẳng may lâm trọng bệnh. Khi tham gia bảo hiểm khách hàng sẽ chăm lo về tài chính khi mắc những bệnh như: Tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, Ung thư, Suy thận, Lao màng não…

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo

    Đây là loạI bảo hiểm luôn kết hợp với “ bảo hiểm bệnh hiểm nghèo” hầu gánh giúp khách hàng những nỗi lo về tàI chính để yên tâm chữa trị khi chẳng may

    13

    lâm trọng bệnh. Khi tham gia sản phẩm này khách hàng được tham gia thêm các sản phẩm chính ở trên .

    + Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn

    Đây là loạI bảo hiểm nhằm mục đích mang đến cho khách hàng cơ hội tăng cường khả năng bảo vệ an toàn tàI chính cho bản thân và gia đình.khi tham gia sản phẩm này khách hàng cũng được tham gia thêm một số sản phẩm chính ở trên.

    + Bảo hiểm từ bỏ thu phí

    Sản phẩm này mang đến sự an tâm tuyệt đối cho các bậc cha mẹ về tích luỹ tàI chính cho đứa con thân yêu, cho dù có chuyện gì xảy ra với mình đI chăng nữa.

    + Bảo hiểm chết do tai nạn

    Sản phẩm này giúp khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính khi chẳng may gặp tai nạn.

    + Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Sản phẩm gíup khách hàng tăng cường khả năng bảo vệ tàI chính nếu chẳng may tử vong hoặc tàn tật do tai nạn.

    • ) Sản phẩm trọn gói

     

    Nhằm giúp khách hàng chon lựa được sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của

    mình Prudential đã nghiên cứu và đưa ra một số hợp đồng bảo hiểm trọn gói tiêu biểu. Những sản phẩm bảo hiểm trọn gói này là sự kết hợp giữa một sản phẩm chính và một hoặc nhiều sản phẩm bổ trợ kèm theo khác. Nhóm này sản phẩm gồm 6 sản phẩm trọn gói sau

    + Phú _ Tương lai

    Kết hợp giữa phú _ tích luỹ giáo dục và bảo hiểm từ bỏ thu phí

    + Phú _ Bảo gia

     

    14

    Gồm phú _ tích luỹ an khang kết hơp với bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Thành đạt

    Gôm Phú _ tích luỹ định kỳ kết hợp với Bảo hiểm Nhân Thọ có kỳ hạn và Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ Trường khang

    Gồm Phú _ tích luỹ an khang kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    + Phú _ An nghiệp

    Gồm Phú _ hoà nhân an kết hợp với Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn

    Đây là những sản phẩm kết hợp giữa những sản phẩm chính và sản phẩm bổ trợ kèm theo. Việc đưa ra sản phẩm trọn gói là một chiến lược của công ty Prudential. Khách hàng có thể tham gia riêng một phầm sản phẩm trọn gói, hoặc cũng có thể tham gia thêm các sản phẩm bổ trợ hoặc sản phẩm kèm theo khác theo hướng dẫn của công ty.

    • với danh mục sản phẩm như trên công ty đã thực hiện được mục tiêu của mình đó là đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Với sự đan xen giữa các sản phẩm bảo hiểm với nhau đã tạo ra vô số những sản phẩm mà khách hàng có thể lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của bản thân mình. Với chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của mình Prudential đã gặt hái được những thành công to lớn. Bên cạnh đó công ty không ngừng nghiên cứu và giới thiệu những sản phẩm mới. Nhân dịp 8/3/2003 Công ty đã cho ra mắt khách hàng một sản phẩm mới đó là “ Phú _ Hoàn mỹ “ đây là bảo hiểm dành cho phái nữ. Đây là sản phẩm trọn gói gồm “Phú _ Tích luỹ an khang” kết hơp với một số sản phẩm bổ trợ đặc thù dành riêng cho phụ nữ: Bảo hiểm cơ bản, bảo hiểm đặc biệt dành cho phụ nữ, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo và bảo hiểm từ bỏ thu phí bệnh hiểm nghèo, boả hiểm từ bỏ thu phí mở rộng.

    15

    Theo đại diện của Prudential, việc giới thiệu sản phẩm mới này nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của công ty với mục đích đáp ứng tốt nhất nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, nhất là nhu cầu được bảo vệ tối đa của ngưòi phụ nữ trong những tình huống không mong đợi.

    Đại diện của Prudential cho biết, khi tham gia Phu _ Hoàn mỹ, ngoài việc chủ động lựa chọn thời gian đáo hạn hợp đồng sao cho phù hợp với những kế hoạch tài chính trong tương lai, khách hàng còn nhận được những quyền lợi về tiền mặt khác thích ững với nhu cầu tài chính của từng giai đoạn quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ. Đó là quyền lợi tiền mặt khi sinh con và quyền lợi tiền mặt vào các ngày đáo niền thứ 5 và thứ 10 của hợp đồng.

    “ Chúng tôi đã đưa quyền lợi chăm sóc quả phụ vào phú hoàn mỹ để có thể trợ giúp khách hàng một khoản tiền mặt tương đưong với 10 % số tiền bảo hiểm, giúp phần nào vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của cuộc sống khi chẳng may người chồng qua đới do tai nạn. khách hàng có thể mua thêm sản phẩm bổ trợ tuỳ chọn “ Từ bỏ thu phí mở rộng “ để nếu chẳng may người chồng qua đời hay bị thương tật toàn bộ và vĩnh viễn thì họ sẽ được miễn toàn bộ phí phải đống con lại mà vẫn được hưởng mọi quyền lợi bảo hiểm trong xuốt thời hạn của hợp đồng” . Trên đây là những nét sơ qua về một sản phẩm nằm trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm mà công ty mới đưa ra vào ngày 8/3 của năm nay đây là kết quả của sự nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu khách hàng, công ty đã chọn khách hàng mục tiều của mình là phụ nữ đã có gia đình và chưa có gia đình đây quả thực là một sản phẩm có ý nghĩa có thể đáp ứng nhu cầu mà phụ nữ mong đợi bấy lâu nay. Với những chiến lược và sản phẩm hoàn hảo công ty Prudential sẽ ngày càng có được những thành công vượt trội trên con đường kinh doanh của mình.

    16

    2.3.3 ) Đánh giá khả năng thoả mãn nhu cầu khách hàng của những sản phẩm (dịch vụ ) ở công ty Prudential.

     

    • Những ưu thế trong sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh.

    Như ta đã thấy bên cạnh công ty là rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những tiềm lực không kém gì Prudential. Vấn đề là ở chỗ công ty đã vượt qua các đối thủ cạnh tranh để trở thành một tập đoàn lớn mạnh nhất thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, điều gì đã giúp công ty thành công đến như vậy. Một trong những lý do dẫn đến thành công của công ty đó chính là sự khác biệt và những ưu thế trong chiến lược sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh. để có được những sản phẩm có ưu thế và sự khác biệt so với đối thủ công ty đã nghiên cứu và nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác công ty luôn bám sát được nhu cầu của khách hàng. Vì vậy công ty đã hiểu được những gì mà khách hàng đang tìm kiềm và mong đợi. Phương châm phục vụ của Prudential là “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu” , lắng nghe và thấu hiểu chính nhờ điều này mà công ty luôn có sản phẩm ( dịch vụ ) có thể đáp ứng một cách nhanh nhất hoàn hảo nhất những nhu cầu của khách hàng. Những sản phẩm của công ty luôn coi trọng và đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu, khi tham gia bảo hiểm của công ty khách hàng cảm thấy yên tâm, cảm thấy mình có một cảm giác được bảo vệ thật sự. Một số công ty kinh doanh bảo hiểm khác khi khách hàng tham gia họ cảm thấy mình như bị lợi dụng và họ cho rằng bảo hiểm chỉ là hình thức, các công ty chỉ lợi dụng số tiền của họ. Đây

    17

    cũng chính là điểm khác biệt mà Prudential đã tạo được trong tâm trí khách hàng so với các hãng kinh doanh bảo hiểm khác.

    Có một điều hết sức đặc biệt trong các sản phẩm của công ty prudential. Như ta đã biết Prudential đưa ra 3 nhóm sản phẩm đó là sản phẩm chính , sản phẩm bổ trợ và sản phẩm trọn gói. Mỗi một sản phẩm trong nhóm này lại kết hợp với một hoặc nhiều sản phẩm của nhóm khác để tạo nên rất nhiều những loại sản phẩm mới nhờ thế mà danh mục sản phẩm của công ty trở nên đa dạng và phong phú. Nhờ đặc điểm này các sản phẩm của công ty đã thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, có thể đáp ững những nhu cầu khác nhau chỉ trong một sản phẩm kết hợp. đây là điều đặc biệt mà các đối thủ cạnh tranh khác không có hoặc không bằng. Bên cạnh đó công ty cúng tỏ ra rất nhanh nhậy trong việc đưa ra sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của khách hàng ví dụ: như trong dịp 8/3 công ty đã tung ra sản phẩm mới Phú _ Hoàn Mỹ để đáp ứng nhu cầu an toàn sắc đẹp cho phụ nữ và chỉ dành riêng cho giới nữ.

    Trong dịch vụ bảo hiểm thì những quyền lợi và đIều khoản trong hợp đồng là hết sức quan trọng đối với những sản phẩm phẩm của công ty Prudential thì những đIều khoản trong hợp đồng là hết sức chặt chẽ điều đó làm cho công ty có được sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, nhưng nó cũng làm cho khách hàng cảm thấy công ty quá chắc chắn làm cho họ phải suy nghĩ đến những quyền lợi của riêng mình nhận được khi tham gia bảo hiểm. Nhưng mặt khác khi khách hàng tham gia bảo hiểm của Prudential thì họ nhận được những lợi ích và các điều khoản rõ ràng trong hợp đồng đã tạo được sự tin cậy của khách hàng nhiều hơn so với các công ty khác.

    Công ty Prudential với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ khi tham gia thị trường Việt Nam đã được thừa hưởng những kinh nghiệm về bảo hiểm từ công ty mẹ ở Anh Quốc nên họ nhanh chóng tiếp cận được với thị

    18

    trường Việt Nam, cộng thêm với nguồn tài chính lớn mạnh nên có thể tổ chức nghiên cứu thị trường một cách nhanh chóng và kỹ lưỡng.

    Ngoài ra bên cạnh việc cung cấp sản phẩm công ty Prudential có rất nhiều những dịch vụ chăm sóc khách hàng kèm theo sản phẩm như sinh nhật hay các ngày lễ, khách hàng cảm thấy mình thực sự được quan tâm.

    Chính những điều trên đã dẫn đến những thành công vượt trội của công ty Prudential.

    • Những điểm hạn chế của sản phẩm của công ty so với đối thủ cạnh tranh

     

    • Trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng.

    Trên đời không có gì là hoàn hảo cả bất kể thứ gì có điểm mạnh tất sẽ có điểm yếu, Prudential cũng không nằm ngoài quy luật này. mặc dù sản phẩm và dịch vụ của Prudential khá đầy đủ nhưng vẫn chưa thoả mãn được triệt để nhu cầu của khách hàng. chiến lược sản phẩm của công ty tương đối độc đáo như khi khách hàng tham gia một sản phẩm chính thì có thể tham gia thêm một số sản phẩm kèm theo, điều này đã phần nào tạo nên một sự bù đắp cho những hạn chế của sản phẩm chính. Sự hạn chế của sản phẩm chính là sự thoả mãn chưa tối đa cho một nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó mức phí bảo hiểm của Prudential vẫn còn khá cao so với các công ty khác trên thị trường Việt Nam nên nó hạn chế trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng. NgoàI ra việc thu phí bảo hiểm khá cao ảnh hưởng lớn khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dân số Việt Nam đa phần là có thu nhập thấp dù có mong muốn tham gia bảo hiểm thì cũng khó có thể mà thực hiện được.

    Trong số các loại sản phẩm của công ty bao gồm những sản phẩm có bảo tức tích luỹ _ có giá trị hoàn lại và không có giá trị hoàn lại. Trong hai nhóm sản phẩm trên thì khách hàng chủ yếu là tham gia vào sản phẩm có giá trị hoàn lại và có bảo tức tích luỹ. Bởi vì khách hàng Việt Nam phần lớn là những người có thu nhập không phải là cao nên họ không muốn ném tiền

    19

    vào một sản phẩm mà khi không có sự kiện bảo hiểm thì họ không nhận được gì hết. Chính điều này đã làm cho những sản phẩm thuộc nhóm không có giá trị hoàn lại của công ty ít phát huy tác dụng.

    Một mặt hạn chế lớn nữa của sản phẩm của công ty đó là các sản phẩm của công ty chủ yếu tập trung vào bảo hiểm nhân thọ, trong khi đó các công ty khác họ tham gia rất nhiều các lĩnh vực cần bảo hiểm khác hoặc giả nếu có thì những sản phẩm của công ty không được hoàn hảo bằng đối thủ cạnh tranh.

    • Một số đánh giá cụ thể của khách hàng về khả năng đáp ứng nhu cầu của họ.

    Theo một số khách hàng thì các sản phẩm của Prudential đã thoả mãn được nhu cầu của khách hàng có rất nhiều người biết đến Prudential nhưng họ vẫn chưa có được khả năng tiếp cận với sản phẩm. Một số ngưòi khác muốn tham gia bảo hiểm của Prudential vì công ty này đã tỏ ra rất đáng tin cậy nhưng mức phí vẫn còn cao và thủ tục tham gia bảo hiểm cũng rất phức tạp mất thời gian. Gây tâm lý ngần ngại trong quá trình quyết định tham gia bảo hiểm.

     

    PHẦN III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PRUDENTIAL NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THOẢ MÃN NHU CẦU CỦA KHÁCH HÀNG

     

    I ) Định hướng phát triển của công ty.

     

    1 ) Mục tiêu và thị trường mục tiêu của công ty.

    Mục tiêu của công ty trước mắt là tích cực quảng bá sản phẩm để tăng thêm khả năng tiếp cận tìm hiểu của khách hàng nhằm tăng thị phần của công ty và cạnh tranh đối với các đối thủ khác. Tăng cường công tác nghiên cứu nhu cầu và su thế biến đổi nhu cầu của khách hàng để nhanh chóng có những chiến lược về sản phẩm để khắc phục thích ứng với những biến đổi trong nhu cầu đó. bên cạnh đó công ty còn trú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ đi kèm với sản phẩm cùng với quá trình marketing của công ty.

    20

    Về thị trường mục tiêu thì thị trường mục tiêu của Prudential có xu hướng ngày càng mở rộng thêm nhiều đối tượng. Mục đích của Prudential là mong muốn thoả mãn mọi khách hàng thuộc mọi tầng lớp có nhu cầu về sản phẩm bảo hiểm. Hiện nay sản phẩm của công ty đa số tập trung ở các thành phố lớn và những tỉnh có kinh tế khá, sản phẩm của công ty vẫn chưa được quảng bá một cách rộng rãi cho toàn bộ người dân và phí Bảo hiểm vẫn còn cao vì vậy công ty có gắng giảm phí bảo hiểm để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng . đây là điều mà trong tương lai công ty Prudential cố gắng thực hiện

    2 ) Định hướng phát triển.

    Trong những năm sắp tới công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và nâng cao hơn nữa khả năng phục vụ và chăm sóc khách hàng. với những chiến lược hoàn thiện sản phẩm ( dịch vụ ) và tung ra những sản phẩm mới để đãp ứng nhu cầu đa dạng và thay đổi nhanh chóng của khách hàng. Prudential luôn luôn giữ vững nguyên tắc trong kinh doanh của mình đó là : “Chính trực – Công bằng – Dịch vụ hoàn hảo” và phương châm phục vụ “ Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”.

    II ) Triển vọng thị trường sản phẩm của công ty.

    Với những gì mà Prudential đã làm trong những năm qua thì đó quả là một thành công và là một điều đáng mừng. Prudential đã không ngừng đầu tư vào Việt Nam điều đó chứng tỏ Prudential đã thành công ở Việt Nam và thị trường này tỏ ra ngày càng có nhiều triển vọng. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng đi lên đồng nghĩa với việc người dân hay khách hàng ngày càng có thu nhập cao hơn cuộc sống khá hơn họ sẽ có xu hướng tập trung vào thoả mãn những nhu cầu cao hơn trong đó có cả nhu cầu về các loại sản phẩm bảo hiểm. Vì vậy có thể nói thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho các nhà kinh doanh bảo hiểm, còn việc họ có kinh doanh thành công hay không thì lại tuỳ thuộc vào khả năng của chính họ. Theo nhận định thì thị trường về sản phẩm bảo hiểm ở

    21

    Việt Nam mới ở giai đoạn đầu trong chu kỳ sống của sản phẩm, vì vậy trên thị trường có rất nhiều hãng kinh doanh bảo hiểm nhầy vào cạnh tranh. Công việc đặt ra cho Prudential là luôn luôn có những sản phẩm và dịch vụ hoàn hảo để đáp ứng nhu cầu của khách tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Nếu trong tương lai mà Prudential vẫn duy trì và phát triển hơn nữa những chiến lược kinh doanh như hiện nay thì có lẽ Prudential sẽ vẫn là người thành công trên thương trường.

    III ) Hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty Prudential.

    Chiến lược sản phẩm mà công ty Prudential theo đuổi đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm. Chiến lược này bắt nguồn từ sự đa dạng trong nhu cầu về mặt hàng bảo hiểm của khách hàng. Hiện tại chiến lược này của công ty tỏ ra tương đối thành công , thực chất thì sản phẩm của công ty chưa phải là nhiều mặc dù công ty đã có những phương pháp như kết hợp các sản phẩm với nhau để tạo ra sản phẩm mới nhằm tăng sự đa dạng trong sản phẩm , nhưng thực ra thì các sản phẩm đó chỉ thoả mãn được một số nhu cầu nhất định. Còn rất nhiều những nhu cầu hiện tại và tiềm năng mà công ty chưa nhìn thấy chưa có sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đó.

    ta thấy rằng xuyên xuốt các sản phẩm của công ty thì hầu như sản phẩm của công ty đều liên quan đến bảo hiểm nhân thọ, còn rất nhiều các lĩnh vực khác cũng cần được bảo hiểm mà công ty chưa tham gia điều này có thể gây ra những thiệt hạI gián tiếp cho công ty. Ví dụ như các công ty khác như Bảo Việt

    • Bảo Minh còn tham gia các lĩnh vực bảo hiểm khác như tài chính, giao thông vận tảI ..v..v . khi tham gia vào các lĩnh vực bảo hiểm này thì cũng đồng nghĩa với việc danh tiếng của công ty tăng theo và thị phần của công ty cũng lớn mạnh nếu khi đó các công ty cạnh tranh có một chiến lược sản phẩm mới thì rất có thể công ty mất đi thị phần của mình và bị bật khỏi thị trường.

    Công ty có lẽ cần phải hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình nhằm chiếm toàn bộ thị phần về bảo hiểm nói chung và nhân thọ nói riêng.

    22

    Trước mắt công ty cần tập trung nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để có thể đưa ra được những sản phẩm mới ví dụ: Thời gian gần đây có xuất hiện một loại bệnh mới đó là bệnh viêm hô hấp cấp làm cho người dân rất lo lắng. Nói chung trên thế giới sẽ luôn xuất hiện những bệnh mới lợi dụng điều đó công ty có thể có một loại bảo hiểm về chuẩn đoán và chữa trị khi chẳng may mắc phải chứng bệnh mới này. Nói chung để có được một sản phẩm mới không phải là chuyện dễ dàng cần có thời gian nghiên cứu và hoàn thiện, trên đây chỉ là ý tưởng của em về một sản phẩm nhỏ có thể đưa ra.

    Công ty Prudential khi đã chiếm lĩnh được thị trường bảo hiểm rồi thì cũng có thể đưa ra những sản phẩm tương tự như sản phẩm của đối thủ cạnh tranh mục đích làm đa dạng hoá sản phẩm của mình và lợi dụng được ưu thế thị trường của mình.

    không chỉ trong bảo hiểm nhân thọ mà trong cả các lĩnh vực khác công ty cũng nên đưa ra những sản phẩm có thể đáp ứng những nhu cầu về bảo hiểm phi nhân thọ của khách hàng. mặt khác tăng cường các hoạt động truyền thông để cho khách hàng biết đến công ty đang có những thứ mà họ cần.

    Bên cạnh chiến lược chủ chốt đó là chiến lược đa dạng hoá sản phẩm công ty cũng cần phải có thêm chiến lược hỗ trợ cho chiến lược chính. Dù chú trọng vào việc tung ra sản phẩm mới để thoả mãn những nhu cầu mới nhưng công ty vẫn phải tiếp tục nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm hiện thời để phát hiện ra những mặt mạnh và mặt yếu của sản phẩm để từ đó đưa ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hơn nữa chiến lược sản phẩm của mình.

    23

    KẾT LUẬN.

    Công ty Prudential là một công ty thành công trong lĩnh vực Bảo hiểm tại thị trường Việt Nam với những chiến lược sản phẩm và dịch vụ đặc biệt. Công ty đã trở thành công ty dẫn đầu. Nhưng điều đó sẽ không có gì là chắc chắn trong thời buổi kinh tế hiện nay nếu chỉ cần lơi là tự đắc một chút thì ngay lập tức sẽ có kẻ khác đứng lên tiếm ngôi của mình. Mà trong thời buổi hiện nay thua kém có nghĩa là thất bại. Vì vậy công ty phải luôn luôn không ngừng “ Lắng nghe và Thấu hiểu”. Luôn luôn tiếp cận với khách hàng để cho khách hàng coi mình như là một người thân không thể thiếu, bên cạnh đó phải ra sức hoàn thiện chiên lược đa dạng hoá sản phẩm của mình nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của khách hàng, và luôn duy trì một dịch vụ chăm sóc khách hàng thật hoàn hảo. chỉ có như vậy thì công ty mới luôn thành công và tồn tại được.

    24

    MỤC LỤC

     

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu

    • chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

    PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH

    I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương

    trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    • Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường,

    mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    • Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).
    • Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.
    • Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.
    • Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
    • Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
    • Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
    • Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

     

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

     

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.
    • Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
    • Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
    • Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
    • Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.
    1. Tính chất của BHXH.
    • Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.
    • BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.
    • BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    • BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
    • Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
    • Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.
    • Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.
    • Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    • Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.
    • Ngành nghề công tác của người lao động
    • Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
    • Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
    • Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.
    • Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
    • Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ

    BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    • Người lao động đóng góp
    • Người sử dụng đóng góp
    • Nhà nước bù thiếu
    • Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    • Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
    • Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.
    • Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

     

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    • Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.
    • Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    1. Trợ cấp ốm đau
    1. Trợ cấp thất nghiệp
    1. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    1. Trợ cấp tuổi già
    1. Trợ cấp gia đình
    1. Trợ cấp sinh đẻ
    1. Trợ cấp khi tàn phế.
    1. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    • Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
    • Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.
    • Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.
    • Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
    • Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.
    • Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
    • Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
    • Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

    PHẦN II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    • Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ

    trang.

    • Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.
    • Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.
    • Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân

    xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    • Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.
    • Chính sách này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.
    • Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực

    tế.

    • Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

     

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    • Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao

    động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    • Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.
    • Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.
    • Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.
    • Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. THỰC TRẠNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

     

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm

    • chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà

    nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    • Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.
    • Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.
    • Nhà nước hỗ trợ thêm.
    • Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    • Chi quản lý hành chính sự nghiệp
    • Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    • BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.
    • Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.
    • Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ
            (NS/NT)
             
    1995 2.275.998   788.486  
             
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
             
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
             
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
             
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%
             

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    • Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)
    • Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.
    • Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.
    • Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    • Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.
    • Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
       
    1995 11,3
       
    1996 8,3
       
    1997 11,2
       
    1998 10,0
       
    1999 9,0
       

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như

    sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
         
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
         
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%
         

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    • Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.
    • Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.
    • Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.
    • Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.
    • Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
         
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
         
    CH Pháp 11,82 19,68
         
    Malayxia 9,5 12,75
         

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
               
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
               
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
               
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
               
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
               
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
               
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5
               

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới

    đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    • Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.
    • Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.
    • Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    • Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    • Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH
    • Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ, thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người

    lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    • Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.
    • Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc

    tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    • Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CÂN ĐỐI QUỸ BHXH VIỆT NAM.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.
    • Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.
    • Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.
    • Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ

    BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    • Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là 35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.
    1. Với các khoản thu khác.
    • Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.
    • Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.
    • Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.
    • Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    • Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.
    • Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.
    • Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện mới.
    • Ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)
    • Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)
    • Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn
    • Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000
    • Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993
    • Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995
    • Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]