Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập trắc nghiệm về từ loại trong tiếng Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-%C4%90I%E1%BB%80U-TI%E1%BA%BET-D%C3%92NG-CH%E1%BA%A2Y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT DÒNG CHẢY

    BÀI TẬP LỚN MÔN ĐIỀU TIẾT  DÒNG CHẢY.

    Tính Toán Điều Tiết Năm

    ĐỀ SỐ 3

    Tại tuyến A trên sông M dự định xây dựng một hồ chứa lấy nước tưới ruộng các tài liệu cơ bản ban đầu tính toán như sau:

    1, Quá trình dòng chảy năm ứng với tần suất thiết kế P = 75%: Q(m3/s).

    Bảng số liệu:

    2, Yêu cầu dùng nước: q(m3/s).

    Bẳng số liệu:

    tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
    tổ3 1.27 1.36 1.48 2.45 1.21 2.88 5.82 2.6 1.66 0.21 0.29 0.7

     

    3, Phân phối chênh lệch bốc hơi Z(mm)

    4, Quan hệ địa hình lòng hồ

    Z

     

    (mm)

    0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 26 28 30
    F

     

    (km2)

    0.18 0.36 0.57 1.12 1.71 2.75 4 5.33 6.65 8 9.44 11.05 12.65 14.4 16.1 17.8
    V*10^6

     

    (m3)

    0 0.46 1.31 2.94 5.7 10 16 27 38.1 52.8 70 90.06 114 142 172 206

    5,Với dung tích chết đã được xac định Vc=11.5(106m3). Tổn thất thấm lấy bằng  1.5% dung tích hồ.

    Biểu đồ quan hệ giữa lượng nước đến và lượng nước dùng(Q~q)

    Q(m3/s) q(m3/s)
    0.68 1.27
    0.78 1.36
    0.64 1.48
    0.57 2.45
    0.74 1.21
    0.54 2.88
    0.22 5.82
    3.53 2.6
    7.4 1.66
    21.5 0.21
    6.74 0.29
    2.02 0.7

    Qua đồ thị ta nhận thấy lưu lượng đến vào VIII, XI,X, XI, XII lớn hơn lưu lượng nước dung do vậy năm thủy lợi bắt đầu từ tháng VIII – XII lượng nước lớn cần phải trữ nước vào hồ.Còn tháng từ I – VII năm sau có lượng nước ít .

    Tháng t Q(m3/s) Q(m3/s)  
     
    1 2 3 4  
    VIII 31 3.53 2.6  
    IX 30 7.4 1.66  
    X 31 21.5 0.21  
    XI 30 6.74 0.29  
    XII 31 2.02 0.7  
    I 31 0.68 1.27  
    II 28 0.78 1.36  
    III 31 0.64 1.48  
    IV 30 0.57 2.45  
    V 31 0.74 1.21  
    VI 30 0.54 2.88  
    VII 31 0.22 5.82  

    Khi đó bảng 1:    tính toán điều tiết bỏ qua tổn thất

    Tháng t Q q WQ

     

    =t(s)*Q*10^6

    Wq

     

    =t(s)*q*10^6

    V(106m3/s) Vt

     

    (106m3/s)

    Vx

     

    (106m3/s)

    V+ V
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
                    11.5  
    VIII 31 3.53 2.6 9.45 6.96 2.49   13.99  
    IX 30 7.4 1.66 19.18 4.30 14.88   28.87  
    X 31 21.5 0.21 57.59 0.56 57.02   43.93 41.963
    XI 30 6.74 0.29 17.47 0.75 16.72   43.93 58.682
    XII 31 2.02 0.7 5.41 1.87 3.54   43.93  
    I 31 0.68 1.27 1.82 3.40   1.58 42.35  
    II 28 0.78 1.36 1.89 3.29   1.40 40.95  
    III 31 0.64 1.48 1.71 3.96   2.25 38.70  
    IV 30 0.57 2.45 1.48 6.35   4.87 33.82  
    V 31 0.74 1.21 1.98 3.24   1.26 32.56  
    VI 30 0.54 2.88 1.40 7.46   6.07 26.50  
    VII 31 0.22 5.82 0.59 15.59   15.00 11.50  
    Cộng           94.65 32.43    

    Từ bảng trên ta có :

    Vhi = = 32.43 (106m3/s)

    Vh = Vhi+Vc11.5 + 32.43= 43.93 (106m3/s)

    V(106m3) Z(m) F(Km2)
    0 0 0.18
    0.46 2 0.36
    1.31 4 0.57
    2.94 6 1.12
    5.7 8 1.71
    10.1 10 2.75
    16.39 12 4
    27.26 14 5.33
    38.12 16 6.65
    52.8 18 8
    70.19 20 9.44
    90.06 22 11.05
    114.4 24 12.65
    141.5 26 14.35
    171.9 28 16.1
    205.9 30 17.83

    Biểu đồ quan hệ địa hình lòng hồ

    1, Quan hệ giữa V~Z

     
     
    V(106m3) Z(m)
    0 0
    0.46 2
    1.31 4
    2.94 6
    5.7 8
    10.1 10
    16.39 12
    27.26 14
    38.12 16
    52.8 18
    70.19 20
    90.06 22
    114.4 24
    141.5 26
    171.9 28
    205.9 30

    2, Quan hệ (F~Z)

     
     
    Z(m) F(km2)
    0 0.18
    2 0.36
    4 0.57
    6 1.12
    8 1.71
    10 2.75
    12 4
    14 5.33
    16 6.65
    18 8
    20 9.44
    22 11.05
    24 12.65
    26 14.35
    28 16.1
    30 17.83

    Bảng 2 : Bảng tính toán điều tiết theo phương án trữ sớm không kể tổn thất

     

    tháng t Vt*

     

    10^6m3

    Vtb

     

    (*103)m3

    Ftb

     

    (km2)

    Z(mm) Wb(*103)m3

     

    =Ftb*Z

    Wt

     

    =Vtb*D(103)

    Wtt(106)
    (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)
        11.5            
    VIII 31 13.99 12.75 2.29 12.90 29.49 209.86 0.24
    IX 30 28.87 21.43 3.23 9.80 31.70 433.03 0.46
    X 31 85.89 57.38 7.55 10.30 77.73 1288.38 1.37
    XI 30 102.61 94.25 11.67 14.70 171.50 1539.16 1.71
    XII 30 32.43 67.52 8.76 27.00 236.47 486.45 0.72
    I 30 30.85 31.64 4.42 34.40 152.06 462.74 0.61
    II 28 29.45 30.15 4.24 41.60 176.53 441.69 0.62
    III 31 27.20 28.32 4.03 30.80 124.08 407.94 0.53
    IV 30 22.32 24.76 3.61 17.90 64.70 334.85 0.40
    V 31 21.06 21.69 3.26 16.50 53.86 315.96 0.37
    VI 30 15.00 18.03 2.86 14.50 41.41 224.99 0.27
    VII 31 11.50 13.25 1.75 13.70 23.96 172.50 0.20

    Bảng 3: Bảng tính toán điều tiết có kể đến tổn thất

     

    Tháng t WQ(10^6) Wq(10^6) Wq'(10^6) V Vt(10^6)m3 Vx
    V+ V
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
                  11.5  
    VIII 31 9.455 6.964 7.185 2.270   13.770  
    IX 30 19.181 4.303 4.656 14.525   28.295  
    X 31 57.586 0.562 1.501 56.085   47.084 37.280
    XI 30 17.470 0.752 2.337 15.133   47.084 63.929
    XII 30 5.410 1.875 3.124 2.286   47.084  
    I 30 1.821 3.402 4.028 90.299 2.207 47.100  
    II 28 1.887 3.290 3.919   2.032 44.893  
    III 31 1.714 3.964 4.513   2.799 42.861  
    IV 30 1.477 6.350 6.786   5.309 40.062  
    V 31 1.982 3.241 3.620   1.638 34.753  
    VI 30 1.400 7.465 7.777   6.377 33.115  
    VII 31 0.589 15.588 15.811   15.222 0.000  
              90.30     35.584    

    Có Vhi = V= 35.584 (106m3)

    Vh*= Vhi+Vc=  35.584 + 11.5= 47.084 (106m3)

    Khi đó

    Khi đó =  7 % > 5%

    Với kết quả tính =  7 %> 5% chưa đạt yêu cầu do vậy ta cần tính lại bảng tính lại như 4 duwois đây

    Bảng 4 : Bảng tính toán điều tiết theo phương án trữ sớm không kể tổn thất

     

    tháng t Vt*

     

    10^6m3

    Vtb

     

    (*10^6)m3

    Ftb

     

    (km2)

    Z(mm) Wb(*10^3)m3

     

    =Ftb*$Z

    Wt

     

    =Vtb*D(10^3)

    Wtt(10^6)
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
        11.5            
    VIII 31 13.99 12.75 2.29 12.90 29.49 191.18 0.22
    IX 30 28.87 21.43 3.23 9.80 31.70 321.45 0.35
    X 31 85.89 57.38 7.55 10.30 77.73 860.71 0.94
    XI 30 102.61 94.25 11.67 14.70 171.50 1413.77 1.59
    XII 30 32.43 67.52 8.76 27.00 236.47 1012.80 1.25
    I 30 30.85 31.64 4.42 34.40 152.06 474.59 0.63
    II 28 29.45 30.15 4.24 41.60 176.53 452.21 0.63
    III 31 27.20 28.32 4.03 30.80 124.08 424.82 0.55
    IV 30 22.32 24.76 3.61 17.90 64.70 371.39 0.44
    V 31 21.06 21.69 3.26 16.50 53.86 325.41 0.38
    VI 30 15.00 18.03 2.86 14.50 41.41 270.48 0.31
    VII 31 11.50 13.25 2.34 13.70 32.05 198.74 0.23

    Các cột trong bảng giống như bảng 2 ở trên

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 5: Bảng tính toán điều tiết có kể đến tổn thất

    Tháng t WQ

     

    (10^6)

    Wq

     

    (10^6)

    Wq

     

    ‘(10^6)

    V Vt(10^6)m3 Vx
    V+ V
    1 2 3 4 5 6 7 8 9
                  11.5  
    VIII 31 9.45 6.96 7.32 2.14   13.64  
    IX 30 19.18 4.30 5.24 13.94   27.58  
    X 31 57.59 0.56 2.15 55.44   46.47 36.55
    XI 30 17.47 0.75 2.00 15.47   46.47 52.01
    XII 30 5.41 1.87 2.50 2.91   46.47  
    I 30 1.82 3.40 4.03   2.21 44.26  
    II 28 1.89 3.29 3.84   1.95 42.31  
    III 31 1.71 3.96 4.40   2.69 39.62  
    IV 30 1.48 6.35 6.73   5.25 34.37  
    V 31 1.98 3.24 3.55   1.57 32.80  
    VI 30 1.40 7.46 7.70   6.30 26.50  
    VII 31 0.59 15.59 15.59   15.00 11.50  
                34.97    

    Vh**= Vhi+Vc=  34.97 + 11.5= 46.47 (106m3)

    Khi đó

    Khi đó =  1.3 % > 5%

    Khi đó Vh cần tìm là :

    Vh = 46.47 (106m3)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-Th%E1%BB%9Di-c%C6%A1-trong-CMT8-1945-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-v%C3%A0-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối

    Đề tài: Bài học thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay. Liên hệ vai trò của sinh viên trong việc vận dụng bài học này đối với quá trình đổi mới và hội nhập.

    Lời mở đầu

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và việc khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Đây là kết hợp của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật  chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán và có hiệu quả. Thắng lợi này đã để lại những bài học to lớn trong nghệ thuật tạo và chớp  thời cơ không chỉ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước mà còn trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng ta ko thể phủ nhận vai trò của SV_1 tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ đã có nhg đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước.

    I.          Bài học thời cơ trong CMT8/1945.

    1. Thời cơ trong CMT8/1945.

    2.1.       Hoàn cảnh

    Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan) mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi.

    Trong nước: Một là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3-1945 của dân tộc Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ chưa từng có.

    Hai là, Đội tiền phong lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản thống nhất về ý chí và hành động, phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, chủ động đưa phong trào quần chúng đi tới cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ba là, kẻ thù chính của cách mạng là quân Nhật và chính quyền phong kiến tay sai đã suy yếu và hoang mang cực điểm.

    Quốc tế: Phe Phát- xít có nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II. Nhật gặp phải những cuộc tấn công ko ngừng của quân Đồng Minh.

    2.2.       Nghệ thuật tạo thời cơ trong CMT8/1945.

    Chuẩn bị để đón thời cơ: từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng, chuẩn bị, chờ thời cơ để làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

    Để chuẩn bị về nhân lực, vật lực cho khởi nghĩa, các chiến khu được xây dựng ở các địa bàn hiểm trở, có lợi thế về phòng thủ và phát triển lực lượng, cơ sở vật chất, trong đó nổi bật nhất là hai chiến khu Cao-Bắc-Lạng và Thái-Hà-Tuyên.

    Về chính trị – tư tưởng: lấy nền tảng là CN M-LN, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập với tinh thần: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, phát huy cao độ tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng.

    Về tổ chức: Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng họp vào tháng 5 – 1941 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên: “Việt Nam độc lập đồng minh” (Gọi tắt là Việt Minh) và các tổ chức tập thể cứu quốc trên cả nước.

    Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12-3-1945). Bản chị thị xác định kẻ thù mới của ta là phát xít Nhật, chuẩn bị cho toàn Đảng, toàn dân tộc tâm thế và tư thế để chủ động và sáng tạo

    2.3.       Nghệ thuật chớp thời cơ trong CMT8/1945.

    Về đoán định thời cơ: Ngay từ năm 1940, khi mà chủ nghĩa phát xít đang thắng thế cả ở châu Âu lẫn châu Á. Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn của thời đại đã nhận định: Liên Xô và Đồng minh sẽ thắng; Nhật – Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau; Việt Nam lúc đó sẽ có thời cơ để giành lại độc lập. dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật;  hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

    Tận dụng triệt để thời cơ: trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

    Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh nạn đói ở nước ta – hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo của Nhật, Pháp – đang diễn ra trầm trọng. Đảng đã kịp thời nêu chủ trương phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo, tạo nên một sinh lực mới cho phong trào.

    2.4.       Kết quả

    Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc.

    Đó là sự vùng dậy của cả một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta được sự dẫn dắt của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong tổ chức Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân. Đó là kết quả của tinh thần năng động, sáng tạo của hệ thống tổ chức đảng và Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở trên tất cả các địa bàn của cả nước. Đó là sự chủ động chuẩn bị và phát triển thực lực cách mạng, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi.

    2. Bài học về thời cơ trong CMT8/1945.

    Bài học về nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý.

    Thứ hai, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển phù hợp.

    Thứ ba, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”,

    Thứ tư là thu phục lòng dân từ chính những quyết sách, định hướng phát triển đúng đắn, hợp lý đã được đề ra

    II.        Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    1.            Bối cảnh hội nhập quốc tế.

    • Thuận lợi:
    • Trong nước: Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. TNTN đa dạng, phong phú; cơ cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào
    • Quốc tế: Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khu vực năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất hiện nay.thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
    • Khó khăn:
    • Trong nước: Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới, nền kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. thế lực phản động ko ngừng tác động nhằm lật đổ chế độ chính trị còn non trẻ của ta…
    • Quốc tế: tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của Việt Nam.

    2.            Thời cơ cho sự phát triển của VN hnay.

    2.1.    Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 để tạo và chớp thời cơ trong hoàn cảnh hnay.

    Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.

    Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Vận dụng “bất biến” tức là không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ của tổ chức, cá nhân nào đó mà bất chấp nguyên tắc, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tập thể. Phải tuyệt đối đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của chủ nghĩa xã hội lên trên hết. Thực hiện phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế cũng phải luôn “ứng vạn biến”, biết phân tích, dự đoán và mau lẹ chớp lấy thời cơ, nắm chắc và tận dụng có hiệu quả thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là thước đo bản lĩnh cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.

    Chúng ta đã và còn phải chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các yếu tố, những điều kiện để tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức. Cụ thể là:

    – Về nhận thức và tư tưởng: Phát huy lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự trọng của dân tộc để không cam chịu đói nghèo và lạc hậu, để đem sức ta mà xóa nghèo đi lên giàu mạnh – không ai làm thay và cũng chẳng có ai làm thay cho chúng ta cả

    – Về tổ chức, con người và nguồn lực:

    Tất cả các yếu tố cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, nhất quán và được tập hợp trong một “thế trận” thống nhất hướng vào mục tiêu chung: Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    – Chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

    Phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng là đòi hỏi tất yếu để quá trình chuẩn bị cho việc tận dụng thời cơ cũng là quá trình hành động để biến thời cơ thành hiện thực.

    Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thể hiện trong trình độ tư duy lý luận, vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan để đề ra Cương lĩnh, đường lối thích hợp, tăng cường sức mạnh tổ chức, kỷ luật và năng lực tổ chức thực tiễn

    2.2.    Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    Chưa bao giờ thế và lực của đất nước lớn mạnh và có điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Là kết quả của sự phát triển qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới đã tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Chế độ chính trị, xã hội ổn định, sức mạnh quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7.3%,  GDP liên tục tăng( năm 2011 khoảng 100 tỷ $) Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt trên 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lạm phát được kiểm soát và đẩy lùi . Xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là 13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%.

    Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Những bước tiến thần kỳ của đất nước thời kỳ đổi mới có một phần là do Đảng ta nắm vững và vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    3.            Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt.

    Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu mới trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới những năm vừa qua nhưng chúng ta vẫn đang phải  đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,tình trạng mất công bằng xã hội,lạm phát, thất nghiệp gia tăng, ô  nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng…  nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ngày đêm ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta.

    Vì vậy, đòi hỏi cao nhất đối với Đảng, Nhà nước ta, đối với mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là tích cực nghiên cứu, vận dụng tốt những bài học lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nam từ 1986 đến nay.

    III.       Liên hệ vai trò của sinh viên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

    Hiện nay tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, kém phát triển, kinh tế, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục đói nghèo, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội đang là mục tiêu cháy bỏng của nhân dân ta. Vì thế, nếu như các thế hệ cha anh trước đây đã rửa được cái nhục mất nước, thì thanh niên hiện tại phải rửa được cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Tổ quốc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

    Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, tri thức trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất, là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất. Việc học tập trở thành vấn đề xã hội hoá, hình thành nên một “xã hội học tập”. Thế hệ trẻ muốn khỏi lạc hậu với khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, và bất cứ lúc nào cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học. Tất cả chúng ta đều biết một câu nói bất hủ của V. I. Lenin “Học, học nữa, học mãi”. Nếu phân tích bản chất của câu nói thì ý Lênin không phải là học nữa, học mãi ở trường, ở lớp mà là sau khi đã nắm bắt được một lượng kiến thức cơ bản ở trường thì học sinh, sinh viên phải đem kiến thức đó phục vụ cho cuộc sống, và trong lúc làm việc, chúng ta phải tranh thủ thời gian để đọc thêm sách báo, xem thêm phim ảnh có ích và bổ sung những kiến thức trên trường đời.

    Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới. Để có thể đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình hội nhập và quá trình toàn cầu hoá thì mỗi thanh niên có trách nhiệm trang bị cho mình phương tiện không thể thiếu là ngoại ngữ. Phải thành thạo bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) ít nhất là một ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… Nhờ vậy, chúng ta mới có khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu nước ngoài và có thể giao tiếp, học tập với nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa hầu hết các công việc đều ít nhiều gắn với ngoại ngữ. Thị trường lao động sẽ cần đến những người vừa tài về chuyên môn, vừa giỏi về ngoại ngữ. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải có khả năng làm chủ công nghệ thông tin. Có trình độ tin học nhất định thì máy vi tính sẽ giúp chúng ta tự học tốt, giảm thời gian tra cứu tài liệu, thu thập thông tin cập nhật để xử lý công việc một cách nhanh chóng có hiệu quả. Thanh niên phải là lực lượng xung kích phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà, có khả năng chuyển giao, sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến và cũng là lực lượng truyền bá phổ biến khoa học công nghệ trong cộng đồng. Có làm được những điều này, tuổi trẻ chúng ta mới xứng đáng là những chủ nhân hôm nay và tương lai của đất nước. Đúng như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định trong buổi lễ phát động Năm Thanh niên 2000: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tự hào về các bạn, về thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên hôm nay. Với lực lượng xung kích ấy và những lực lượng xung kích kế tiếp, cha truyền con nối, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tổ quốc Việt Nam sẽ được bảo vệ vững chắc, dân tộc Việt Nam trường tồn, chủ nghĩa xã hội được xây dựng thắng lợi”.

    IV.       Kết luận.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel

    Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel

    Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn chi tiết máy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-%E1%BB%A9ng-d%E1%BB%A5ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-l%E1%BB%8Dc-canny-%C4%91%E1%BB%83-ph%C3%A1t-hi%E1%BB%87n-v%C3%A0-t%C3%A1ch-bi%C3%AAn-c%E1%BA%A1nh%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-c%E1%BB%A7a-l%E1%BB%8Dc-canny-so-v%E1%BB%9Bi-l%E1%BB%8Dc-sobel.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel

    Lời Nói Đầu

    Một trong những vấn  đề trọng tâm nghiên cứu của lĩnh vực thị giác

    máy là biên và các thao tác trên nó vì các kỹ thuật phân đoạn ảnh chủ yếu

    dựa vào biên. Nhìn chung về mặt toán học, người ta coi điểm biên của ảnh là điểm có sự thay đổi đột ngột về độ xám. Tập hợp các điểm biên tạo thành biên hay đường bao của ảnh. Ví dụ, trong một ảnh nhị phân, một điểm có thể gọi là biên nếu đó là điểm đen và có ít nhất một điểm trắng bên cạnh. Việc nhận dạng đối tượng phụ thuộc nhiều vào các đặc trưng trích chọn và các đặc trưng này chủ yếu được trích chọn từ biên. Đây là một đề tài vẫn đang được quan tâm và phát triển. Nhất là, ở Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề nhận dạng các đối tượng ảnh, mặc dù những ứng dụng thực tế đang đòi hỏi có những cách giải quyết cụ thể, chẳng hạn như phần mềm nhận dạng các đối tượng địa lý, các biểu tượng trên bản đồ, phần mềm phát hiện và đếm các đối tượng chuyển động.Trong các phương pháp phát hiện biên hiện nay thì phương pháp Canny là phương pháp rất hiệu quả  và đã được xây dựng thành công nghệ gồm quy trình 4 bước.Báo cáo này làm rõ và so sánh phương pháp Canny với phương pháp Sobel và chỉ ra những ưu điểm của phương pháp Canny trong từng lọa Ảnh.

    Hà Nội,Tháng 11/2011.

        Phần I:Các Bước Tách Biên Bằng Phương Pháp Canny

          1)Các vấn đề cơ bản về phát hiện biên,lọc canny

    Biên là vấn đề quan trọng trong trích chọn đặc điểm nhằm tiến tới hiểu ảnh. Cho đến nay chưa có định nghĩa chính xác về biên, trong mỗi ứng dụng người ta đưa ra các độ đo khác nhau về biên, một trong các độ đo đó là độ đo về sự thay đổi đột ngột về cấp xám. Ví dụ: Đối với ảnh đen trắng, một điểm được gọi là điểm biên nếu nó là điểm đen có ít nhất một điểm trắng bên cạnh. Tập hợp các điểm biên tạo nên biên hay đường bao của đối tượng.người ta chia làm hai phương pháp phát hiện biên cơ bản:

    1.Phát hiện biên trực tiếp:là các phương pháp phát hiện biên dựa vào sự thay đổi mức xám sủ dụng các kỹ thuật thay đổi theo hướng

    1. Phát hiện biên gián tiếp

    Kỹ thuật phát hiện biên bằng phương pháp canny là phương pháp dò biên trực tiếp rất hiệu quả áp dụng cho loại ảnh nhiễu.Phương pháp này do John Canny ở phòng thí nghiệm MIT khởi xướng năm 1986. Bộ tách biên Canny là bộ tách biên mạnh nhất cung cấp bởi hàm edge. Canny xây dựng phuỷong pháp dựa theo ba ràng buộc:

    – Mức lỗi: có ý nghĩa là một phương pháp phát hiện biên chỉ và phải tìm tất cả các biên, không biên nào được tìm bị lỗi.

    – Định vị: Điều này nói đến độ chênh lệch cấp xám giữa các điểm trên cùng một biên phải càng nhỏ càng tốt.

    – Hiệu suất: là làm sao cho khi tách biên không được nhận ra nhiều biên trong khi chỉ có một biên tồn tại.

    Canny đã giả thiết rằng nhiễu trong ảnh tuân theo phân bố Gauss và đồng thời ông cũng cho rằng một phương pháp phát hiện biên thực chất là một bộ lọc nhân chập có khả năng làm mịn nhiễu và định vị được cạnh.Vấn đề là làm sao để có một bộ lọc tối ưu nhất. Ba rang buộc được cụ thể hóa thành lý thuyết toán học:

    Trong đó  hàm SNR nhằm tím 1 hàm sao cho tỉ số giữa tín hiệu và nhiễu là cực đại,Localization đặc trưng cho nghịch đảo tỉ lệ chênh lệch mức xám  giữa các điểm biên,giá trị này càng lớn càng tốt.Canny tìm kiếm một bộ lọc f sao cho giá trị SNR * Localization  là cực đại nhưng cuối cùng ông phát hiện ra rằng giá trị này xấp xỉ đạo hàm bậc nhất của hàm Gauss.Khi đó G có đạo hàm theo cả hai hướng x và y. Sự xấp xỉ với bộ lọc tối ưu của thuật toán phát hiện biên Canny chính là G’ và do vậy, bằng phép nhân chập ảnh vào với G’ ta thu được ảnh E đã được tách biên ngay cả trong trường hợp ảnh có nhiều nhiễu. Phép nhân xoắn thực hiện một cách dễ dàng trong khi việc tính toán khá phức tạp, đặc biệt là nhân xoắn với mảng hai chiều. Tuy nhiên một phép nhân xoắn với mảng hai chiều Gauss có thể được chia thành hai phép nhân xoắn với mặt nạ Gauss  một chiều. Việc vi phân cũng có thể được thực hiện bằng phép nhân xoắn ở mảng một chiều tạo nên hai ảnh: ảnh một là việc nhân xoắn thành phần của x với mảng một chiều, ảnh hai là việc nhân xoắn thành phần của y.

    2)Các bước tiến hành phương pháp canny

    Bước 1:Làm trơn ảnh bằng cách nhân chập với bộ lọc Gauss.Sau khi tiến hành nhân chập chúng ta có đầu ra là dữ liệu ảnh S đã được nhân chập.

    Bước2: Lấy đạo hàm bậc nhất của kết qả ở bước1 .

    Tac có: ∇S = ∇(g * I) = (∇g ) * I

    Như vậy, kết quả ảnh bước hai chính là sự tổng hợp của đạo hàm của Gauss theo hướng x nhân với ảnh I và đạo hàm của Gauss theo hướng y nhân với ảnh I.Nghĩa là ta có thể đạo hàm hàm Gauss theo hai hướng rồi mới tiến hành nhân xoắn với ảnh thay vì nhân xoắn ảnh với hàm Gauss rồi mới đạo hàm.Có thể minh hoạ như sau đạo hàm hàm Gauss theo hai hướng x và y như sau:

    Như vậy cách thức thực hiện bước thứ hai như sau:

    Sau khi tiến hành nhân xoắn ảnh I với bộ lọc Gauss ở bước 1 ta có một ảnh mới S được làm trơn. Tiến hành thực hiện bước hai bằng cách lấy đạo hàm ảnh mới đó theo hai hướng x và y rồi tổng hợp kết quả lại Như đã biết, phương pháp Gradient là phương pháp dò biên cục bộ dựa vào cực đại của đạo hàm, đó chính là phương pháp đạo hàm bậc nhất. Chính vì vậy ta có thể thực hiện việc đạo hàm ở bước 2 bằng cách nhân ảnh kết quả S ở bước 1 với các mặt nạ trong phương pháp Gradient dựa theo các toán tử như Sobel, Pixel ,Difference. Ở đây ta tiến hành nhân xoắn ảnh S với hai mặt nạ của phương pháp Sobel theo hai hướng x và y như sau:

    Sau khi tiến hành nhân xoắn ảnh theo hai hướng x và y ta được hai ảnh theo hai hướng là Sx và Sy, ta tiến hành tổng hợp hai kết quả đó để cho ra kết quả cuối cùng S’:

    Với θ là hướng của đường biên.

    Bước 3: loại bỏ một số điểm dư thừa:

     Đối với mỗi điểm ảnh trên ảnh S’ ta tiến hành so sánh giá trị của điểm đó với giá trị của hai điểm lân cận điểm đó. Hai điểm lân cận này là hai điểm nằm trên đường thẳng chứa hướng của đường biên θ.Công thức tính hướng của đường biên θ nằm ở bước .Giả sử ta có điểm biên đang xét là tại vị trí (x,y), ta có 8 điểm biên lân cận điểm biên này như hình dưới:

    Tại điểm biên đó ta tiến hành tính giá trị góc của hướng đường biên θ. Nếu hướng của đường biên θ≤ 22.50 hoặc θ > 157.50 thì đặt giá trị của θ= 00 và khi đó hai điểm biên lân cận điểm biên này tại vị trí (x-1, y) và (x+1, y)

    Tại mỗi điểm ảnh ta tiến hành tính toán hướng của đường biên, sau đó so sánh kết quả đó tìm ra hai điểm biên lân cận.

    – So sánh giá trị điểm ảnh đang xét với hai điểm biên trên:Nếu điểm ảnh này là lớn nhất thì giữ lại điểm biên này (đánh dấu điểm biên này), ngược lại nếu nó nhỏ hơn một trong hai điểm biên lân cận thì điểm biên này bị loại đi (cho giá trị điểm biên này bằng 0).

    Ta được kết quả ảnh sau khi đã loại đi một số điểm biên không phù hợp, Lúc này số lượng biên trên ảnh nhìn thấy sẽ ít đi. Điều này đặc biệt có giá trị tốt để loại bỏ một số biên dư thừa đặc biệt với ảnh có nhiều nhiễu.

    Bước 4:Áp dụng ngưỡng

    Sau khi tiến hành bước 3 ta tiến hành áp dụng ngưỡng: sử dụng hai ngưỡng,ngưỡng cao Th và ngưỡng thấp Tl .Những điểm biên được đánh dấu (không bị loại) ta tiếp tục tiến hành áp dụngngưỡng cao và ngưỡng thấp:

    -Xét điểm ảnh I tại vị trí (x,y)

    -So sánh I(x,y) với hai ngưỡng Th và Tl

    + Nếu I(x,y) ≥ Th: đánh dấu và giữ lại điểm biên này (đặt giá trị bằng 1)

    + Nếu I(x,y) < Tl: Loại bỏ điểm biên này (đặt giá trị bằng 0)

    + Nếu Tl ≤ I(x,y) < Th: ta tiến hành so sánh giá trị I(x,y) với giá trị của các

    của 8 điểm lân cận :Nếu một trong 8 điểm lân cận có giá trị > Th: Tiến hành đánh dấu và giữ lại điểm biên này.Ngược lại: Loại bỏ điểm biên này (đặt giá trị bằng 0).Kết quả khi sử dụng phương pháp Canny:

    Ảnh gốc.

    Sauk hi thực hiện bốn bước:

    Như vậy ta thấy với những ảnh có đường biên mảnh thì phương pháp canny cho biên khá sắc.

    II: Đánh giá thực nghiệm,so sánh phương pháp lọc Canny so với phương pháp lọc Sobel

    1)Đánh giá thực nghiệm phương pháp Canny

    Phương pháp Canny được sử dụng rất nhiều trong các ứng dụng của xử lý ảnh do đây là phương pháp có khả năng lọc nhiễu rất tốt.Ở đây ta đánh giá phương pháp Canny với độ lệch tiêu chuẩn σ khác nhau và các ngưỡng khác nhau:

    • Ban đầu ta thử tiến hành thay đổi độ lệch chuẩn σ và giữ nguyên Th và Tl với Th=100 và Tl =30 ta có:

    Như ta quan sát thêys Ảnh này rất nhiễu với những đốm nhiễu khá nhiều. Ta tiến hành thay đỏi σ với các giá trị lần lượt là 0.8;1;1,4. Kết quả như sau:

     

    Quan sát những so sánh trên ta nhận tháy khi tang σ thì số lượng điểm biên giảm,điều đó đồng nghĩa với việc với ảnh nhiều nhiễu thì độ lệch chuẩn càng cao thì biên càng rõ nét.

    • Bây giờ ta xét ảnh khi thay đổi các giá trị ngưỡng và giữ nguyên độ lệch chuẩn bằng 1.

    Khi thay đổi ngưỡng thấp và ngưỡng cao thì số lượng biên được phát hiện cũng thay đổi. Do các điểm ảnh có giá trị nhỏ hơn ngưỡng thấp thì loại điểm đó và lớn hơn ngưỡng cao thì xác định đó là điểm biên (giữa hai ngưỡng thì còn tuỳ thuộc vào các điểm biên lân cận). Nên ta thấy:

    – Khi ngưỡng thấp và ngưỡng cao đều thấp thì số lượng biên phát hiện ra rất nhiều .

    – Khi cả hai ngưỡng đều cao thì số lượng điểm biên được phát hiện là rất ít, chỉn hững điểm có mức xám cao mới có thể thành biên.

    Khi ngưỡng rất thấp và ngưỡng rất cao, tức là khoảng cách giữa hai ngưỡng là lớn thì điểm biên phụ thuộc vào các điểm lân cận.

    Tuỳ từng ảnh cụ thể và tuỳ từng cách lấy ngưỡng khác nhau mà ta có các kết quả khác nhau.

    2)So sánh Canny và Sobel

    * Đối với ảnh không nhiễu: Cả hai phương pháp đều cho kết quả tốt. Song phương pháp phát hiện biên Sobel cho biên rõ nét nhưng lớn.Phương pháp Canny do quá trình làm trơn ảnh nên từ một ảnh không nhiễu, các biên mờ bớt đi và to ra. Do vậy biên ảnh trong phương pháp Canny lớn nhưng lại không đầy đủ. Đối với loại ảnh này khi tìm biên không nên áp dụng phương pháp Canny

    Canny

    Sobel

    * Đối với ảnh có nhiều cạnh:

    Khi phát hiện biên, các cạnh không quan trọng nên được loại bỏ.Ở đây, phương pháp Sobel vẫn phát hiện được biên nhưng các biên mờ, không được rõ nét, do trong ảnh có những vùng có mức xám thấp, sự thay đổi giữa các mức xám nhỏ . Chính vì vậy mà ảnh qua phương pháp Laplace cho kết quả rõ nét hơn (do phương pháp này sử dụng phương pháp đạo hàm bậc hai, các điểm biên là các điểm cắt không). Tuy vậy do ảnh có rất nhiều điểm biên nhỏ nên các biên ảnh ở trên qua phương pháp này rất nhiều và rối, chúng ta nên loại bỏ các điểm biên thừa.Còn đối với phương pháp Canny, do quá trình “Non-maximum Suppression” và do quá trình áp dụng ngưỡng mà các điểm biên phụ bị loại bớt đi, các biên chính được giữ lại nên biên rõ nét hơn.Đối với ảnh có nhiều có mức xám nhỏ, sự biến thiên các mức xám là thấp ta nên sử dụng phương pháp Laplace, song nếu ảnh đó có quá nhiều biên thì ta nên sử dụng phương pháp Canny để loại bỏ bớt các cạnh không cần quan tâm đi.

    * Đối với ảnh có nhiều nhiễu:

    Phương pháp đạo hàm bậc nhất cho biên ảnh với nhiều điểm biên phụ. Còn phương pháp Laplace thì tạo biên kép nên hoàn toàn không xác định được biên. Còn đối với phương pháp Canny thì do quá trình làm trơn ảnh cho bớt nhiễu và quá trình “Non-maximum Suppression” để giảm bớt các biên phụ nên ảnh kết quả của phương pháp này rất rõ nét.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn chi tiết máy

    Bài tập lớn chi tiết máy

    Bài tập lớn chi tiết máy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-chi-ti%E1%BA%BFt-m%C3%A1y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn chi tiết máy

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 1

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG XÍCH TẢI

    Z

    Trục dẫn của xích tải

    Hệ thống dẫn động xích tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Bộ truyền đai thang; 3- Hộp giảm tốc bánh răng trụ;

    4- Nối trục đàn hồi; 5- Bộ phận công tác – Xích tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên xích tải, F (N) : …………………

    Vận tốc xích tải, v (m/s) :………………………

    Số răng đĩa xích tải dẫn, Z (răng) :……………

    Bước xích tải, p (mm) : ………………………..

    Thời gian phục vụ, L (năm):…………………….

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ.

    (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:     T1 = …….. ; t1=…………..; T2 =…………. ; t2 =…………….

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền đai thang.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 1

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 3,65 3,0 3,25 2,75 3,25 2,25 2,35 3,25  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 4 4 5 5 4 4 5 5  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,5T 0,4T 0,6T   0,7T 0,3T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 2,45 3,75 3,25 2,75 3,0 2,55 2,85 2,25  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 5 5 4 4 4 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,4T 0,6T   0,8T   0,5T 0,3T 0,6T   0,4T 0,2T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 2

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG BĂNG TẢI

    D

    v

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Nối trục đàn hồi; 3- Hộp giảm tốc bánh răng trụ; 4- Bộ truyền xích ống con lăn; 5- Bộ phận công tác – Băng tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên băng tải, F(N): …………………

    Vận tốc băng tải, v(m/s): ………………………

    Đường kính tang dẫn của băng tải, D (mm): ………………..

    Thời gian phục vụ, L(năm): …………………..

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:

    T1= …………… ; T2 =……………

    t1= …………… ; t2 = ……………

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền xích ống con lăn.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 2

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 3.75 3.65 3.55 3.45 3.35 3.25 3.15 3.05  
    D, mm 400 400 500 315 315 500 500 400  
    L, năm 4 4 4 4 4 4 4 4  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,6T 0,6T 0,6T   0,7T 0,7T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 2.95 2.85 2.75 2.65 2.55 2.45 2.35 2.25  
    D, mm 315 400 500 400 315 500 315 400  
    L, năm 5 5 5 5 5 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,7T 0,6T   0,8T   0,6T 0,7T 0,6T   0,6T 0,7T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 3

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG THÙNG TRỘN

    n (v/ph)

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Nối trục đàn hồi; 3- Hộp giảm tốc bánh răng nón; 4- Bộ truyền xích ống con lăn; 5- Bộ phận công tác – Thùng trộn .

    Số liệu thiết kế:

    Công suất trên trục thùng trộn, P(KW) : …………………….

    Số vòng quay trên trục thùng trộn, n(v/p) : …………………

    Thời gian phục vụ, L(năm) : ………………………………

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ.

    (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền xích ống con lăn.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng nón.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 3

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8
    P, kW 2,5 3,5 4,5 5,5 6,5 7,5 8,5 9,5
    n, vg/ph 80 90 100 110 120 130 140 150
    L, năm 9 9 8 8 7 7 9 8
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    P, kW 10 9 8 7 5 6 5 4  
    n, vg/ph 155 145 135 125 115 105 95 85  
    L, năm 9 9   8 8 7   7 9 8  
                                           

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 4

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG THÙNG TRỘN

    n (v/ph)

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- B ộ truyền đai dẹt; 3- Hộp giảm tốc bánh răng nón; 4- Nối trục đàn hồi; 5- Bộ phận công tác – Thùng trộn .

    Số liệu thiết kế:

    Công suất trên trục thùng trộn, P(KW) : …………………….

    Số vòng quay trên trục thùng trộn, n(v/p) : …………………

    Thời gian phục vụ, L(năm) : ………………………………

    Quay moät chieàu, laøm vieäc hai ca, taûi va ñaäp nheï (1 naêm laøm vieäc 300 ngaøy, 1 ca laøm vieäc 8 giôø)

    Cheá ñoä taûi:

    T1= ………….

    t1= ………….

    ; T2 = ………………..

    ; t2 =    ………………..

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền đai dẹt.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền bánh răng nón.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 4

    Phöông aùn 1 2 3 4 5 6 7 8  
    P, kW 10 9 8 7 5 6 5 4  
    n, vg/ph 84 90 100 104 110 120 126 80  
    L, naêm 5 5 5 5 5 5 5 5  
    t1, giaây 45 60 15 30 45 60 36 48  
    t2, giaây 44 12 36 48 44 12 30 15  
    T1 T T   T T T   T T T
    T2 0,6T 0,7T   0,8T 0,6T 0,8T   0,7T 0,6T 0,7T
    Phöông aùn 9 10 11 12 13 14 15 16  
    P, kW 2,5 3,5 4,5 5,5 6,5 7,5 8,5 9,5  
    n, vg/ph 126 110 120 104 90 100 84 100  
    L, naêm 6 6 6 6 6 6 6 6  
    t1, giaây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    t2, giaây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    T1 T T   T T T   T T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T 0,6T 0,7T   0,8T 0,6T 0,8T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 5

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG XÍCH TẢI

    Z

    Hệ thống dẫn động xích tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- B ộ truyền đai thang; 3- Hộp giảm tốc trục vít trụ; 4- Nối trục đàn hồi; 5- Bộ phận công tác – Xích tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên xích tải, F(N) : …………………

    Vận tốc xích tải, v(m/s) :………………………

    Số răng đĩa xích tải dẫn, Z (răng) :……………

    Bước xích tải, p(mm) : ………………………..

    Thời gian phục vụ L, năm:…………………….

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ.

    (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:     T1 = …….. ; t1=…………..; T2 =…………. ; t2 =…………….

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền đai thang.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền trục vít trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 5

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 1.3 1.2 1.1 1 0,9 0.8 0.7 0.6  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 4 4 5 5 4 4 5 5  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,5T 0,4T 0,6T   0,7T 0,3T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 0.65 0.6 0.55 0.5 0.45 0.4 0.35 0.3  
    z, răng 11 9 11 9 11 9 11 9  
    p, mm 110 110 110 110 110 110 110 110  
    L, năm 5 5 4 4 4 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,4T 0,6T   0,8T   0,5T 0,3T 0,6T   0,4T 0,2T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HCM

    KHOA CƠ KHÍ

    BỘ MÔN THIẾT KẾ MÁY

    BÀI TẬP LỚN

    CHI TIẾT MÁY

    ĐỀ SỐ 6

    THIẾT KẾ HỆ THỐNG DẪN ĐỘNG BĂNG TẢI

    D

    Hệ thống dẫn động băng tải gồm:

    1- Động cơ điện; 2- Nối trục đàn hồi; 3- Hộp giảm tốc trục vít trụ; 4- Bộ truyền xích ống con lăn; 5- Bộ phận công tác – Băng tải .

    Số liệu thiết kế:

    Lực vòng trên băng tải, F(N): …………………

    Vận tốc băng tải, v(m/s): ………………………

    Đường kính tang dẫn, D (mm): ………………..

    Thời gian phục vụ, L(năm): …………………..

    Quay một chiều, làm việc hai ca, tải va đập nhẹ (1 năm làm việc 300 ngày, 1 ca làm việc 8 giờ)

    Chế độ tải:

    T1                               2

    t1= …………… ; t2 = ……………

    Sai số vòng quay trục máy công tác so với yêu cầu ≤ ± 5 %

    YÊU CẦU

    • Bài tập lớn số 1: Chọn động cơ điện, phân phối tỉ số truyền.
    • Bài tập lớn số 2: Thiết kế bộ truyền xích ống con lăn.
    • Bài tập lớn số 3: Thiết kế bộ truyền trục vít trụ.
    • Bài tập lớn số 4: Thiết kế 2 trục trong hộp giảm tốc.
    • Bài tập lớn số 5: Thiết kế 2 cặp ổ lăn trong hộp giảm tốc

    Bảng số liệu Đề 6

    Phương án 1 2 3 4 5 6 7 8  
    F, N 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000 5500  
    v, m/s 1.5 1.4 1.3 1.2 1.1 1.0 0.9 0.8  
    D, mm 400 400 500 315 315 500 500 400  
    L, năm 4 4 4 4 4 4 4 4  
    t1, giây 60 45 30 15 36 48 44 12  
    t2, giây 12 24 36 48 15 30 45 60  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,6T 0,8T   0,7T   0,6T 0,6T 0,6T   0,7T 0,7T
    Phương án 9 10 11 12 13 14 15 16  
    F, N 6000 6500 7000 7500 8000 8500 9000 9500  
    v, m/s 0.7 0.6 0.5 0.4 0.35 0.3 0.4 0.35  
    D, mm 315 400 500 400 315 500 315 400  
    L, năm 5 5 5 5 5 5 5 5  
    t1, giây 15 30 45 60 12 24 36 48  
    t2, giây 36 48 44 12 36 48 15 30  
    T1 T T   T   T T T   T T
    T2 0,7T 0,6T   0,8T   0,6T 0,7T 0,6T   0,6T 0,7T  

    GV: TS Phan Tấn Tùng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Hệ điều hành Window Server 2003


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-C%E1%BA%A4P-THO%C3%81T-N%C6%AF%E1%BB%9AC-%C4%90%C3%94-TH%E1%BB%8A.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    BÀI TẬP LỚN

    QUY HOẠCH CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ

    Đề bài:

    Cho khu dân cƣ có mặt bằng cấp nƣớc nhƣ hình vẽ. Dân số N theo giả thiết trong bản vẽ, tiêu chuẩn cấp nƣớc q = 150 (l/ngƣời.ngđ); lƣu lƣợng tập trung từ trƣờng mầm mon là 5%Qng.đ; từ khu chợ là 8%Qng.đ

    1. Xác định lƣu lƣợng nƣớc cấp cho toàn khu quy hoạch, lập bảng tiêu thụ nƣớc từng giờ trong ngày và vẽ biểu đồ tiêu thụ nƣớc.
    1. Xác định lƣu lƣợng cấp nƣớc tính toán các đoạn ống của mạng lƣới
    1. Xác định đƣờng kính, vận tốc, tổn thất áp lực qua các đoạn ống cho mạng lƣới.

    Xác định số liệu, đề bài:

    Đề số: 08

    Dân số: 3000 + 0218 = 3218 ngƣời

    Diện tích cây xanh: 4470 m2

    Diện tích toàn khu dân cƣ: 61534 m2

    Kngày = 1,2;

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 2
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    1.XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG NƯỚC CẤP CHO TOÀN KHU QUY HOẠCH

    1.1 Lưu lượng nước sinh hoạt:

    Lƣu lƣợng nƣớc sinh hoạt ngày trung bình:

    Lƣu lƣợng nƣớc sinh hoạt ngày lớn nhất:

    1.2 Lưu lượng nước tưới:

    1.3 Lưu lượng nước cấp cho công trình công cộng:

    1.2.1  Lƣu lƣợng nƣớc cho Trƣờng mần non

    1.2.2  Lƣu lƣợng nƣớc cho Chợ

    Tổng lưu lượng nước cấp cho công trình công cộng:

    1.4 Lưu lượng nước rò rĩ

    Tổng lưu lượng nước cấp cho khu quy hoạch

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 3
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

                                                 
      Nƣớc SH   Nƣớc tƣới     Công trình công cộng Nƣớc rò rỉ   Tổng
    Giờ                          
                                               
        Tƣới cây Rửa đƣờng Trƣờng học   Chợ                
                           
      % m3 % m3 % m3 % m3 % m3 % m3 %   m3
    0-1 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    1-2 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    2-3 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    3-4 0.2 1.16 0 0 0 0 0   0 0   0 4.16   4.728 0.76   5.89
    4-5 2.8 16.22 20 3.576 0 0 0   0 6.66   2.57183 4.17   4.739 3.48   27.11
    5-6 5.9 34.18 20 3.576 0 0 0   0 6.66   2.57183 4.17   4.739 5.79   45.06
    6-7 7 40.55 0 0 0 0 5   1.20675 6.67   2.57569 4.17   4.739 6.3   49.07
    7-8 5.5 31.86 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.34   41.59
    8-9 4.5 26.07 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 4.6   35.79
    9-10 5.1 29.54 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.04   39.27
    10-11 6.2 35.91 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.86   45.64
    11-12 6.9 39.97 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 6.38   49.70
    12-13 3.2 18.54 0 0 0 0 5   1.20675 6.67   2.57569 4.17   4.739 3.47   27.06
    13-14 3 17.38 0 0 0 0 5   1.20675 6.67   2.57569 4.17   4.739 3.33   25.90
    14-15 3.5 20.27 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 3.85   30.00
    15-16 5.6 32.44 0 0 0 0 10   2.4135 6.67   2.57569 4.17   4.739 5.42   42.17
    16-17 6.5 37.65 0 0 0 0 10   2.4135 6.66   2.57183 4.17   4.739 6.09   47.38
    17-18 7.5 43.44 20 3.576 0 0 5   1.20675 6.66   2.57183 4.17   4.739 7.13   55.54
    18-19 7.3 42.28 20 3.576 0 0 0   0 6.66   2.57183 4.17   4.739 6.83   53.17
    19-20 7.2 41.71 20 3.576 0 0 0   0 0   0 4.17   4.739 6.42   50.02
    20-21 5.9 34.18 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 5.16   40.13
    21-22 4.4 25.49 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 4.04   31.44
    22-23 0.9 5.21 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 1.44   11.17
    23-24 0.3 1.74 0 0 25 1.23 0   0 0   0 4.16   4.728 0.99   7.70
    Tổng 100 579.24 100 17.88 100 4.92 100   24.135 100   38.616 100   113.65 100   778.44
                                                 
    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2                         4          
                                     
                                                 

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    8

        %Q       7.13
               
    7           6.83
        6.3 6.38   6.42
           
              6.09
               
    6   5.79   5.86    
        5.34   5.42
             
              5.16
            5.04  
               
    5            
          4.6    
               
                4.04
    4           3.85
      3.48     3.47 3.33
           

    3

    2

    1.44

    0.99

    1        0.76    0.76   0.76   0.76

    0

      Biểu đồ phân bố lƣu lƣợng nƣớc theo giờ
    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2     5  
         
             

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    2.LƯU LƯỢNG CẤP NƯỚC TÍNH TOÁN CÁC ĐOẠN ỐNG CỦA MẠNG LƯỚI.

    2.1 Bảng kê chiều dài thực từng đoạn ống:

    ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU
    ỐNG DÀI ỐNG DÀI ỐNG DÀI
    AB 25 m FG 34 m OP 40 m
    BC 42 m GH 38 m PQ 66 m
    BL 94 m IK 36 m RS 36 m
    CD 76 m LN 36 m RT 10 m
    CE 10 m LM 10 m TX 148 m
    EF 40 m MO 40 m TW 40 m
    EI 92 m MR 128 m XY 34 m
    WZ 124 m        

    Tổng chiều dài đƣờng ống cấp nƣớc một bên là 1144 m

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 6
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    2.2Bảng kê chiều dài tính toán từng đoạn ống:

    Do tất cả các đoạn ồng đều cấp nƣớc một bên, ta có bảng kê chiều dài tính toán các đoạn ống cấp nƣớc:

    ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU ĐOẠN CHIỀU
    ỐNG DÀI ỐNG DÀI ỐNG DÀI
    AB 0 m FG 17 m OP 20 m
    BC 21 m GH 19 m PQ 33 m
    BL 47 m IK 18 m RS 18 m
    CD 38 m LN 18 m RT 0 m
    CE 0 m LM 0 m TX 74 m
    EF 20 m MO 20 m TW 20 m
    EI 46 m MR 64 m XY 17 m
    WZ 62 m        

    2.3Tính toán lƣu lƣợng nƣớc dọc đƣờng cho từng đoạn ống:

    • Đoạn ống BC:
    + Các đoạn ống còn lại tính toán tƣơng tự theo công thức   ta có bảng:
        CHIỀU LƢU   CHIỀU LƢU
      ĐOẠN LƢỢNG ĐOẠN LƢỢNG
      DÀI TÍNH DÀI TÍNH
      ỐNG DỌC ỐNG DỌC
      TOÁN (m) TOÁN (m)
        ĐƢỜNG (l/s)   ĐƢỜNG (l/s)
             
      AB 0 0 LM 0 0
      BC 21 0.5166 MO 20 0.492
      BL 47 1.1562 MR 64 1.5744
      CD 38 0.9348 OP 20 0.492
      CE 0 0 PQ 33 0.8118
      EF 20 0.492 RS 18 0.4428
      EI 46 1.1316 RT 0 0
      FG 17 0.4182 TX 74 1.8204
      GH 19 0.4674 TW 20 0.492
      IK 18 0.4428 XY 17 0.4182
      LN 18 0.4428 WZ 62 1.5252

    Các đoạn ống AB, CE, LM và RT không có lƣu lƣợng nƣớc dọc đƣờng do các đoạn ống này chỉ là ống dẫn, không cấp nƣớc bên nào.

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 7
       
                    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ        
                           
                                       
        Chiều Lƣu             Lưu lượng nút            
        dài                        
        lƣợng             (l/s)            
    Đoạn tính                        
    dọc                            
                               
    ống toán                            
    đƣờng A B   C D E F G H I K L M  
        Ltt    
        qdd (l/s)    
        (m)                            
                                     
    AB 0 0                            
    BC 21 0.5166   0.2583   0.2583                    
    BL 47 1.1562   0.5781                   0.5781    
    CD 38 0.9348       0.4674 0.4674                  
    CE 0 0                            
    EF 20 0.4920           0.2460 0.2460              
    EI 46 1.1316           0.5658       0.5658        
    FG 17 0.4182             0.2091 0.2091            
    GH 19 0.4674               0.2337 0.2337          
    IK 18 0.4428                   0.2214 0.2214      
    LN 18 0.4428                       0.2214    
    LM 0 0                            
    MO 20 0.4920                         0.2460  
    MR 64 1.5744                         0.7872  
    OP 20 0.4920                            
    PQ 33 0.8118                            
    RS 18 0.4428                            
    RT 0 0                            
    TX 74 1.8204                            
    TW 20 0.4920                            
    XY 17 0.4182                            
    WZ 62 1.5252                            
    Tổng     0 0.8364   0.7257 0.4674 0.8118 0.4551 0.4428 0.2337 0.7872 0.2214 0.7995 1.0332  

    Bảng phân bố lưu lượng nước tại từng nút ( phần 1 )

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 8
       
                    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ        
                           
                                     
        Chiều Lƣu           Lưu lượng nút          
        dài                    
        lƣợng             (l/s)            
    Đoạn tính                        
    dọc                          
                             
    ống toán                          
    đƣờng N O P Q R S T X Y W Z  
        Ltt  
        qdd (l/s)  
        (m)                          
                                   
    AB 0 0                          
    BC 21 0.5166                          
    BL 47 1.1562                          
    CD 38 0.9348                          
    CE 0 0                          
    EF 20 0.492                          
    EI 46 1.1316                          
    FG 17 0.4182                          
    GH 19 0.4674                          
    IK 18 0.4428                          
    LN 18 0.4428 0.2214                        
    LM 0 0                          
    MO 20 0.492   0.2460                    
    MR 64 1.5744           0.7872              
    OP 20 0.492   0.2460 0.2460                  
    PQ 33 0.8118       0.4059 0.4059                
    RS 18 0.4428           0.2214 0.2214            
    RT 0 0                          
    TX 74 1.8204               0.9102 0.9102        
    TW 20 0.492               0.2460     0.2460    
    XY 17 0.4182                 0.2091 0.2091      
    WZ 62 1.5252                     0.7626 0.7626  
    Tổng     0.2214 0.4920 0.6519 0.4059 1.0086 0.2214 1.1562 1.1193 0.2091 1.0086 0.7626  

    Bảng phân bố lưu lượng nước tại từng nút ( phần 2 )

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 9
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Lƣu lƣợng nƣớc tại các nút ( l/s ):

    Tên nút A B C D E F G H
    Lƣu lƣợng 0.0000 0.8364 0.7257 0.4674 0.8118 0.4551 0.4428 0.2337
    Tên nút I K L M N O P Q
    Lƣu lƣợng 0.7872 0.2214 0.7995 1.0332 0.2214 0.4920 0.6519 0.4059
    Tên nút R S T X Y W Z  
    Lƣu lƣợng 1.0086 0.2214 1.1562 1.1193 0.2091 1.0086 0.7626  

    Xác định lƣu lƣợng tính toán cho từng đoạn ống:

    Tính tƣơng tự cho các đoạn ống còn lại ta đƣợc bảng xác định lƣu lƣợng tính toán cho từng đoạn ống sau:

        Nút Lƣu lƣợng Lƣu lƣợng tính
    Đoạn ống Tên nút   Lƣu lƣợng chuyển qua toán
        ( l/s ) ( l/s ) ( l/s )
         
    WZ Z   0,7626 0,0000 0,7626
    TW W   1,0086 0,7626 1,7712
    XY Y   0,2091 0,0000 0,2091
    TX X   1,1193 0,2091 1,3284
    RT T   1,1562 3,0996 4,2558
    RS S   0,2214 0,0000 0,2214
    MR R   1,0086 4,4772 5,4858
    PQ Q   0,4059 0,0000 0,4059
    OP P   0,6519 0,4059 1,7722
    MO O   0,4920 1,7722 2,2642
    LN N   0,2214 0,0000 0,2214
    LM M   1,0332 7,7500 8,7832
    BL L   0,7995 9,0046 9,8041
    IK K   0,2214 0,0000 0,2214
    EI I   0,7872 0,2214 1,0086
    GH H   0,2337 0,0000 0,2337
    FG G   0,4428 0,2337 1,3469
    EF F   0,4551 1,3469 1,8020
    CE E   0,8118 2,8106 3,6224
    CD D   0,4674 0,0000 0,4674
    BC C   0,7257 4,0898 4,8155
    AB B   0,8364 14,6196 15,456
    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 10
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Riêng các đoạn ống OP và FG ta phải cộng thêm lƣu lƣợng tập trung của Chợ và trƣờng Mầm non.

    ƣờ

    1. Đường kính, vận tốc, tổn thất áp lực của các đoạn ống trong mạng lưới : Tổn thất áp lực :
      Chiều dài Lƣu lƣợng Đƣờng Vận tốc Độ dốc Tổn thức  
    Đoạn ống tính toán kính ống thủy lực áp lực  
    ( m ) (m/s)
      (l/s) (mm) (%) ( m)  
         
    AB 25 15.456 200 0.48 1.05 0.0263  
    BC 42 4.8155 100 0.60 3.50 0.1470  
    BL 94 9.8041 150 0.53 1.75 0.1645  
    CD 76 0.4674 100 0.21 0.49 0.0372  
    CE 10 3.6224 100 0.45 2.08 0.0208  
    EF 40 1.8020 100 0.22 0.55 0.0220  
    EI 92 1.0086 100 0.21 0.49 0.0451  
    FG 34 1.3469 100 0.21 0.49 0.0167  
    GH 38 0.2337 100 0.21 0.49 0.0186  
    IK 36 0.2214 100 0.21 0.49 0.0176  
    LM 10 8.7832 150 0.47 1.41 0.0141  
    LN 36 0.2214 100 0.21 0.49 0.0176  
    MO 40 2.2642 100 0.28 0.86 0.0344  
    MR 128 5.4858 150 0.30 0.59 0.0755  
    OP 40 1.7722 100 0.22 0.55 0.0220  
    PQ 66 0.4059 100 0.21 0.49 0.0323  
    RS 36 0.2214 100 0.21 0.49 0.0176  
    RT 10 4.2558 100 0.52 2.75 0.0275  
    TW 40 1.7712 100 0.22 0.55 0.0220  
    TX 148 1.3284 100 0.21 0.49 0.0725  
    WZ 124 0.7626 100 0.21 0.49 0.0608  
    XY 34 0.2091 100 0.21 0.49 0.0167  

    BẢNG TÍNH TOÁN THỦY LỰC CHO CÁC ĐOẠN ỐNG

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2 11
       

    BÀI TẬP LỚN CẤP THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ

    Dƣơng Chí Dũng – XD08A2   10  
       
           

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Hệ điều hành Window Server 2003

    Bài tập lớn Hệ điều hành Window Server 2003

    Bài tập lớn Hệ điều hành Window Server 2003

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiếng Anh lớp 9: Bài tập điền từ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-H%E1%BB%87-%C4%91i%E1%BB%81u-h%C3%A0nh-Window-Server-2003.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Hệ điều hành Window Server 2003

    Nội dung thục hành:

    1. Cài Hệ điều hành Window Server 2003
    2. Nâng cấp Active Directory
    3. Dịch vụ DNS
    4. Dịch vụ FTP
    5. Dịch vụ IIS
    6. Dịch vụ DHCP

    1.1.    Cài Hệ điều hành Window Server 2003

    Cho đĩa Window Server 2003 vao ổ đĩa rồi khởi động lại máy tính

    Màn hình xuất hiện một thông báo “Press any key to continue…” yêu cầu nhấn một phím bất kỳ để bắt đầu quá trình cài đặt.

    Trình cài đặt tiến hành chép các tập tin và driver cần thiết cho quá trình cài đặt.

    Nhấn Enter để bắt đầu cài đặt.

    Nhấn phím F8 để chấp nhận thỏa thuận bản quyền và tiếp tục quá trình cài đặt.

    Nếu nhấn ESC, thì chương trình cài đặt kết.

    Chọn một vùng trống trên ổ đĩa và nhấn phím C để tạo một Partition mới chứa hệ điều hành.

    Chọn Partition vừa tạo và nhấn Enter để tiếp tục

    Chọn kiểu hệ thống tập tin (FAT hay NTFS) để định dạng cho partition. Nhấn Enter để tiếp tục

    Trình cài đặt sẽ chép các tập tin của hệ điều hành vào partition đã chọn.

    Khởi động lại hệ thống để bắt đầu giai đoạn Graphical Based. Trong khi khởi động, không nhấn bất kỳ phím nào khi hệ thống yêu cầu “Press any key to continue…”

    Bắt đầu giai đoạn Graphical, trình cài đặt sẽ cài driver cho các thiết bị mà nó tìm thấy trong hệ thống.

    Cài đặt ngày và mũi giờ cho máy

    Nhập tên Server

    Nhập Key, xong nhấn Enter

    Tại hộp thoại Computer Name and Administrator Password, điền vào Password của người quản trị(Administrator), nhấn Next

    Tại hộp thoại Date and Time Settings, thay đổi ngày, tháng, và múi giờ (Time zone) cho thích

    Tại hộp thoại Networking Settings, chọn Custom settings để thay đổi các thông số giao thức TCP/IP. Các thông số này có thể thay đổi lại sau khi quá trình cài đặt hoàn tất.

    Tại hộp thoại Workgroup or Computer Domain, tùy chọn gia nhập Server vào một Workgroup hay một Domain có sẵn. Nếu muốn gia nhập vào Domain thì đánh vào tên Domain vào ô bên dưới.

    Đợi máy tính copy các file và cài đặt trong vong 20 phút,

    2.1 Nâng cấp Active Directory

    • Đầu tiên vào Start Ø Run gõ dcpromo

    Xuấi hiện hộp thoạ Welcome to the Active Directory chọn Next

    Trong hộp thoại Operating System Compatibiliy chọn Next

    Trong hộp thoại tiếp chọn Domai contrller for a new domain, chọn Next

    Trong hộp thoại tiếp chọn Domain in a new forest, nhấn Next

    Trong hộp thoại New Domain Name, ta viết tên Domain, chon Next

    Trong hộp thoại NetBIOS Domain Name tiếp theo tao chom Next

    Tiếp theo ta chọn Next

    Chọn Next

    Trong hộp thoại DNS Registration Diagnostic, và ta chọn Install and configure the DNS server on this computer, and set this computer to use this DNS server as its prefrred DNS server, chọn Next

    Hộp thoại tiếp theo ta chọn Permissions compatibale only Windows 2000 or Windows Server 2003 operating systems và chọn Next

    Tiếp theo ta viết mật khẩu, chon Next

    Hộp thoại Summary hiển thị tất cả những cái gì mà mình đã chọn và ta chọn Next

    Chúng ta chờ vài phút để máy tính nâng cấp

    Cuối cùng ta chọn Finish

    Máy tính hỏi bạn Restart máy, ta chọn Restart Now

    Gời ta Join tất cả các máy client vào Domain ta vừa tạo

    Trong máy client xp ta click phải chuột vào My Coputer chọn Properties

    Chọn vào thẻ Coputer Name chọn vào Domain viết tên Domain vừa tạo vào

    (ví du: duongduy)  chon OK

    Viết tên và mật khẩu của may Server vào chọn OK

    Xuất hiện hộp thoạ chào mừng bạn đã ra nhập Domain

    3. Cài đặt và cấu hình DNS

    3.1 Cài đặt DNS

    Start Ø Control Panel Ø Add or Remove Programs

    Chọn Add/Remove Windows Componts

    Chọn vào Networking Services, va nhấn Details

    Chọn vào Donmain Name System (DNS), chọn OK và chọn Next đợi máy tự cài đặt trong ít phút

    Nhấn Finish để kết thúc cài đặt

    3.2 Cấu hình DNS

    Chọn Start Ø Administrative Tools Ø DNS

    Trong hộp thoại DNS chọn Revers Lookup Zones, chuột phải vào Revers Lookup Zones chọn New Zone…

    Xuất hiện hộp thoại Welcome to the New Zone Wizard ta chọn Next

    Hộp thoại Zone Type ta chọn Primary zone và chọn Next

    Hộp thoại tiếp theo ta chọn To all domain controllers in the Active Directory domain duongduy.com.vn chon Next

    Trong hộp thoại Revers Lookup Zones Name trong mục Network ID ta nhập địa chỉ IP của máy chủ Server 2003, chọn Next

    Hộp thoại Dynamic Update chọn Allow only secure dynamic update (recommended for Active Directory) This option is available only for Active Directory-integrated zones. Và chọn Next

    Cuối cùng ta chọn Finish

    Click phải chuột vào máy chủ chọn Properties

    Chọn thẻ Forwarders

    Nhập địa chỉ IP của máy chủ vào và nhấn OK

    Tiếp theo ta chon vào Forward lookup Zones Ø New Zone…

    Chọn Next

    Hộp thoại Zone type chon Primary zone, chọn Next

    Tiếp theo ta chọn To all domain controllers in the Active Directory domain duongduy.com.vn, chọn Next

    Trong hộp thoại Zone Name ta nhập tên Zone, chon Next

    Tiếp theo chọn Next

    Hộp thoại tiếp chọn Next

    Tiếp theo chọn Finish

    Zone ta vừa tạo ra, click chuột phải vào và chọn New host(A)…

    Viết địa chỉ www, và IP của máy Server vào chọn Add Host

    Nhấn OK

    Chuột phải vào IP mà ta vừa tạo ở Reverse Lookup Zones chọn New Pointer (PRT)…

    Nhập IP cuối của Server vào

    Nhập địa chỉ mà ta cần chỏ vào và chọn OK

    Chuột phải vào IP mà ta vừa tạo ở Reverse Lookup Zones chọn Properties

    Chọn thẻ Name Servers, chọn Edit

    Nhập địa chỉ IP của máy Server, nhấp Add

    Nhấp Apply

    4. Cài đặt và Cấu hình dịch vụ FTP

    4.1 Cài đặt dịch vụ FTP

     

    Start Ø Control Panel Ø Add or Remove Programs

    Chọn Add/Remove Windows Componts

    Chọn Application Server

    Chọn Details…

    Tiếp theo chọn Internet Ioformation Services (IIS), chọn Details…

    Chọn File Transfer Protocol (FTP) Service, chọn OK

    Chọn Next

    Chờ cho cài đặt trong ít phút

    Chọn Finish

    4.2 Cấu hình FTP

     

    Start ØAdministrative Tools Ø Internet Ioformation Services (IIS) Manager

    Chuột phải vào FTP Ø New Ø FTP Site…

    Chọn Next

    Trong hộp thoại FTP Site Description, viết tiêu đề cần chia sẻ, chọn Next

    Chọn Next

    Trong hộp thoại tiếp ta chọn FTP User Isolation chọn Isolate users (Users must be assigned an FTP home directory within the root of this FTP site)

    Chọn Browse…

    Chọn đến thư mục cần chia sẻ, nhấn OK

    Chọn Next

    Chọn Finish

    Thư mục ta vùa tạo ra, click phải chuột chọn New Ø Virtual Directory…

    Xuất hiện hộp thoại Welcom to the Virtual Directory Creation Wizard, chọn Next

    Tiếp theo viết tiêu đề file cần chia sẻ, chọn Next

    Chọn đường dẫn đến thư mục cần chia sẻ

    Nhấp OK

    Chọn Next

    Chọn Next

    Nhấn Finish để hoàn thành việc chia ser file

    Vào máy client xp, vào Start Ø Run, gõ địa chỉ IP của máy Server <\\IP>, và nhấp OK

    Xuất hiện file cần chia sẻ

    5. Cài đặt và Cấu hình Web (IIS)

    5.1 Cài đặt

     

    Start Ø Control Panel Ø Add or Remove Programs

    Chọn Add/Remove Windows Componts

    Chọn Application Server

    Chọn Details…

    Tiếp theo chọn Internet Ioformation Services (IIS), chọn Details

    Nhấn OK

    Chờ cho cài đặt trong ít phút

    Chọn Finish

    5.2 Cấu hình

     

     

    Start ØAdministrative Tools Ø Internet Ioformation Services (IIS) Manager

    Chuột phải vào Web Sites Ø New Ø Web Site…

    Chọn Next

    Viết địa chỉ Web cấn tạo

    Nhập địa chỉ IP và địa chỉ Web cần tạo, chọn Next

    Chọn đương dẫn đến trang Web mà mình tạo ra.

    Nhấn OK

    Chọn Next

    Chọn Next

    Nhấn Finish

    Chuột phải địa chỉ vừa tạo chọn Properties

    Chọn thẻ Home Directory, chọn đương dẫn đến chỗ lưu trang Web

    Nhấn OK

    Chọn thẻ Documents

    Chọn Add

    Viết index.html, chon OK

    Xong chuyển lên đầu tiên

    Nhấn OK

    6.  Cài đặt và Cấu hình DHCP

    6.1. Cài đặt DHCP

     

    Start Ø Control Panel Ø Add or Remove Programs

    Chọn Add/Remove Windows Componts

    Chọn vào Networdking Servies, chọn Details…

    Chọn mục Dynamic Host Configuration Protocol (DHCP) và nhấn OK.

                 

    Trở lại hộp thoại Network Server chọn Next để tiếp tục.

    Đợi cho máy cài đặt một lúc

    Nhấn Finish

    6.2. Cấu hình DHCP

       Start/ Administrator tool / DHCP. Cửa sổ DHCP xuất hiện.

                 

                   

     
       

    Chọn Next để tiếp tục.

                 

    Nhấn phải chuột vào DHCP chọn Manege authorized servers…

    Chọn Authorize…

    Nhập tên địa chỉ

    Nhập địa chỉ IP của máy Server vào và nhấn OK

    Chọn phải chuột vào tên mà ta vừa chọn, chọn New Scope…

    Hộp thoại tiếp theo nhấn Next

    Trong hộp thoại IP Address Range, ta nhập địa chỉ IP đầu và cuối cần cấp phát, chọn Next

    Hộp thoại Add Exclusions, viết địa chỉ IP mà ta không muốn cấp phát và Add

    Tiếp theo nhấn Next

    Hộp thoại Leas Duration thời gian cấp IP cho máy clien, chọn Next

    Trong hộp thoại Configure DHCP Options chọn Yes. I want to configure these options now, và nhấn Next

    Nhập địa chỉ Default Gateway, nhấn Add

    Nhấn Next

    Trong hộp thoạ Domain Name and DNS Servers, ta viết địa chỉ IP của máy Server

    nhấn Add và nhấn Next

    Trong hôp thoại Activate Scope chọn Yes, I want to activate this scope now, chọn Next

    Nhấn Finish để hoàn thành cài đặt


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NG%C3%82N-H%C3%80NG-%C4%90I%E1%BB%86N-T%E1%BB%AC-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-V%C3%80-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Lời nói đầu

     

    Trong những thập niên gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ mà đặc biệt là công nghệ thông tin và khoa học viễn thông đã làm một cuộc cách mạng trong thương mại. Các phương pháp kinh doanh truyền thống đã và đang dần dần được thay thế bằng một phương pháp mới. Đó chính là thương mại điện tử mà “xương sống” của nó là công nghệ thông tin và Internet.

    Thương mại điện tử đã đưa ra một giải pháp hữu hiệu, một hướng đi trực tiếp trong việc trao đổi thông tin , hàng hoá, dịch vụ và mở rộng quy mô thị trường, thị trường không biên giới. Chính cuộc cách mạng về quy mô thị trường này đã trở thành động lực cho một cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng hướng tới một hệ thống thanh toán phù hợp với yêu cầu của thị trường thương mại điện tử. Điều này đã tạo ra một dịch vụ ngân hàng mới, dịch vụ ngân hàng điện tử.

    Để hội nhập với các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC chuẩn bị cho tiến trình ra nhập WTO, việc tìm kiếm một giải pháp toàn diện chuyên nghiệp nhằm tiến hành thương mại điện tử, hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu là một điều hết sức bức thiết đối với đất nước ta. Đi đôi với xu hướng chiến lược toàn cầu của quốc gia, ngành ngân hàng Việt Nam  cũng đã có những bước đi đáng kể. Đầu tiên phải kể đến là sự xoá bỏ độc quyền nhà nước trong hệ thống ngân hàng. Tiếp đến là công cuộc đổi mới cải tiến hệ thống ngân hàng. Bên cạnh dịch vụ tín dụng truyền thống, dịch vụ ngân hàng tiêu dùng đã xuất hiện và đạt được những thành công đáng kể. Dịch vụ tài chính cho cá nhân này rất đa dạng, bao gồm  rút tiền tự động, chuyển tiền, thanh toán thẻ, thanh toán qua mạng…Đó chính là bằng chứng của sự hình thành và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Trong bài khoá luận này, tôi xin trình bày một số khái niệm cơ bản về dịch vụ ngân hàng điện tử, hoạt động dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của cô giáo Lê Thị Thanh trong thời gian tôi thực hiện khoá luận.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương I: Tổng quan về ngân hàng điện tử

     

    I.         Sơ lược về ngân hàng điện tử

     

    1.         Sự thay đổi cơ bản trong ngành ngân hàng và khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử

     

    Công nghệ ngân hàng ngày nay đã và đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Rất nhiều nhân tố dẫn tới sự thay đổi này được đưa ra trong quá trình nghiên cứu thị trường ngân hàng thế giới.

    Ngày nay, một sợi cáp quang mảnh bằng sợi tóc trong một giây có thể truyền một lượng thông tin chứa đựng trong 90 nghìn cuốn từ điển bách khoa. Ngành công nghệ thông tin ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế các quốc gia. Riêng về máy tính điện tử, cứ 18 tháng tổng công suất tính toán của các máy lại tăng gấp đôi. Ước tính toàn thế giới có khoảng 1 tỷ đường dây thuê bao điện thoại, 340 triệu người sử dụng điện thoại di động. Ở Mỹ hiện nay, 90% dân số sử dụng Internet.

    Nhân loại đang sống trong thời kỳ “tin học xã hội hoá”. Sự phát triển công nghệ thông tin đã gây một ảnh hưởng vô cùng lớn tới hệ thống ngân hàng, nhân viên ngân hàng và người sử dụng dịch vụ ngân hàng. Internet và máy tính đã mở ra cho chúng ta một hệ thống thanh toán rộng khắp toàn thế giới, tiến tới một thế giới thanh toán không dùng tiền mặt, nhanh gọn, an toàn và chính xác.

    Thuật ngữ “Ngân hàng điện tử” đối với nhiều người có vẻ khó hiểu và xa lạ. Thực ra rất nhiều ứng dụng của “Ngân hàng điện tử” đang phục vụ cho bạn. Bạn rút tiền từ một máy rút tiền tự động, trả tiền cho hàng hoá và dịch vụ bằng thẻ tín dụng, kiểm tra số dư tài khoản qua mạng hay điện thoại, công ty của bạn giao dịch với các đối tác qua thư điện tử, điện tín, fax, điện thoại…, tất cả những hoạt động tương tự như vậy đều có thể gọi là dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

    Càng ngày, các ngân hàng và các tổ chức tài chính trên thế giới càng nhận thấy tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ “Ngân hàng điện tử” để củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường.

    Vậy “Ngân hàng điện tử” là gì và vì sao nó lại có tầm  quan trọng và được ứng dụng rộng khắp thế ?

    “Ngân hàng điện tử” tiếng Anh là Electronic Banking, viết tắt là E- Banking. Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về “Ngân hàng điện tử”, song nhìn chung “Ngân hàng điện tử” được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng. Nói ngắn gọn, “Ngân hàng điện tử” là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử.

    Các nghiên cứu về thị trường ngân hàng còn cho thấy rằng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng truyền thống đang nhanh chóng được thay thế bởi một thế hệ khách hàng mới, có trình độ học vấn cao, và đòi hỏi cao về các dịch vụ tài chính ngân hàng.

    Bạn rất bận rộn với công việc kinh doanh của mình. Trong đó , phần lớn thời gian là để dành cho các công việc giao dịch và quản lý tài chính. Bạn rất ngại trước việc hoàn tất một lô giấy tờ thủ tục khi giao dịch với ngân hàng. Bao nhiêu rủi ro khi đi giao dịch với một số lượng lớn tiền mặt… Còn các ngân hàng thương mại trong quá trình cạnh tranh và mở rộng mạng lưới của họ thì phải đối mặt với vấn đề thuê văn phòng làm việc, thuê thêm nhiều nhân viên để làm các công việc đơn giản tẻ nhạt như đếm tiền hay trực điện thoại.

    “Ngân hàng điện tử” sẽ mang lại cho một hướng giải quyết hiệu quả cho cả người cung cấp lẫn người sử dụng dịch vụ ngân hàng.

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT CỦA GIAO DỊCH “NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ”

     

    2.         Các phương tiện kỹ thuật của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”

    Ngân hàng điện tử là một ngành dịch vụ đòi hỏi một cơ sở công nghệ kỹ thuật cao, vốn lớn. Ngành dịch vụ này thường đi đôi với một nền kinh tế phát triển trình độ dân trí phát triển ở một mức độ nhất định.

     

    2.1     Điện thoại, điện thoại di động

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại nói chung và ngân hàng nói riêng. Trong sự gia tăng của số lượng thuê bao điện thoại và điện thoại di động, ngân hàng thương mại  với trang thiết bị ” hộp thư trả lời tự động” kết nối với máy chủ ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng qua điện thoại như cung cấp số dư tài khoản, báo mất thẻ tín dụng…Với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên rộng rãi hơn. Tuy nhiên, công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, kết thúc giao dịch vẫn phải dùng nhiều giấy tờ. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại, nhất là điện thoại đường dài, quốc tế vẫn còn cao.

    Điện báo, Fax có thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh, lời văn. Nhưng chúng cũng có một số mặt hạn chế như không thể truyền tải được hình ảnh động, hình ảnh ba chiều và các hình ảnh phức tạp.

    2.2     Thiết bị thanh toán điện tử

    Một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta cũng như trên thế giới là nền kinh tế với hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt.

    Một thiết bị điện tử có đầu đọc dải điện tử được kết nối với mạng ngân hàng, mạng liên ngân hàng cho phép truyền tải, kiểm  tra các thông tin từ tấm thẻ nhựa của người mua hàng từ các địa điểm bán hàng, nơi lắp đặt máy, về các ngân hàng của chủ thẻ đó và thực hiện các giao dịch thanh toán. Với tấm thẻ nhựa (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thông minh…) bạn có thể mua hàng hoặc dịch vụ mà không cần tiền mặt. Ngân hàng sẽ thay mặt bạn thanh toán với nơi bán hàng.

    Một thiết bị điện tử quan trọng khác đó là máy rút tiền tự động. Nó cho phép bạn gửi tiền vào tài khoản, chuyển tiền và rút tiền tự động.

    2.3     Máy tính, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, mạng liên ngân hàng

    Mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một ngân hàng và các liên lạc mọi kiểu giữa các máy tính trong ngân hàng đó. Đó có thể gọi là mạng kết nối các máy tính gần nhau (mạng cục bộ – LAN) hoặc kết nối các máy tính trong khu vực diện rộng (mạnng miền rộng – WAN).

    Các ngân hàng và tổ chức tài chính liên hệ với nhau bằng mạng liên ngân hàng (Interbank, SWIFT…)

    2.4     Internet và Web

    Một cách tổng quát, Internet là một mạng diện rộng. Là tập hợp hàng ngàn các mạng máy tính trải khắp thế giới. Internet giúp cho hàng triệu người dùng trên trái đất có thể thông tin liên lạc với nhau. Nó là nguồn tài nguyên thông tin vô giá. Sự phát triển nhanh chóng của nó đã khiến cho nó có thêm một cái tên mới là “Siêu lộ thông tin”.

    Lịch sử ra đời của Internet có thể xem như được bắt đầu từ năm 1969 với dự án ARPANET của Bộ quốc phòng Mỹ. Mô hình này nhanh chóng được người Mỹ nhân rộng ra các lĩnh vực khác với quy mô ngày càng lớn. Và khi có sự liên kết các mạng máy tính thuộc các lĩnh vực khác nhau, khu vực và các quốc gia khác nhau thì mạng Internet  toàn cầu ra đời.

    Sự bùng nổ trong sử dụng Internet có lẽ nhờ một phần của cái gọi là dịch vụ tra cứu văn bản, dịch vụ thông tin toàn cầu goi là Web. Web được Tim Berners Lee triển khai lần đầu tiên vào năm 1989 tại phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân Châu Âu (CERN) ỏ Geneva, Thuỵ sĩ. Các nhà phát triển tại CERN đã làm cho Web bao trùm hầu hết các hệ thống mạng trước đó. Cho đến 1993 Web mới bắt đầu được chấp nhận rộng rãi.

    Thương mại thế giới nói chung và “Ngân hàng điện tử”  nói riêng đang trong tiến trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá. Internet và Web là các phương tiện đã đạt được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao.

     

    3.         Những tiến bộ do dịch vụ Ngân hàng điện tử mang lại

    Sự ra đời và phát triển của dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là một xu hướng tất yếu phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội.  Vậy chúng ta hãy xem xét những tiến bộ do ngành dịch vụ này mang lại.

     

    3.1     Lợi ích cho ngân hàng

    Các tiến bộ của công nghệ thông tin đã nhanh chóng được áp dụng trong ngành ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngân hàng.

     

    3.1.1  Giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh

     

    “Ngân hàng điện tử” giúp giảm chi phí trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng ít giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều. Mạng, máy chủ và các máy tính cá nhân giúp rút ngắn thời gian cho công việc làm thủ tục, tìm kiếm và chuyển giao tài liệu. Tiếp đến là chi phí nhân viên. Một máy rút tiền tự động có thể làm việc 24 trên 24 giờ và thay cho rất nhiều nhân viên.

    Bằng phương tiện Internet/Web Ngân hàng và khách hàng có thể tìm hiểu thông tin, giao dịch thường xuyên hơn, cập nhật hơn. mà do vậy làm giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.

    Bảng 1: Tốc độ và chi phí truyền gửi

     (Dành cho một đơn vị bộ tài liệu 40 trang, khoảng 100g)

    ĐƯỜNG TRUYỀN THỜI GIAN CHI PHÍ (USD)
    New York đi Tokyo    
    Qua bưu điện thông thường 5 ngày 7,40
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 26,25
    Fax 31 phút 28,83
    Internet 2 phút 0,10
    New York đi Los Angeles    
    Qua bưu điện thông thường 2-3 ngày 3,00
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 15,50
    Fax 31 phút 9,36
    Internet 2 phút 0,10

    (Nguồn: Ban thương mại điện tử, Bộ Thương Mại)

    Hệ thống mạng phá bỏ sự ràng buộc về không gian và thời gian. Các ngân hàng có thể mở nhiều chi nhánh ở các nước khác nhau mà không gặp khó khăn gì trong việc theo dõi quản lý tình hình hoạt động của các chi nhánh.

    3.1.2. Đa dạng hoá dịch vụ và sản phẩm

    Nói đến dịch vụ ngân hàng, người ta nghĩ ngay đến việc vay, cho vay, gửi tiền và các dịch vụ bán buôn khác như thanh toán xuất nhập khẩu và mua bán ngoại tệ. Do vậy mà sự khác biệt giữa dịch vụ ngân hàng này với ngân hàng khác là rất ít.

    Ngày nay, dịch vụ ngân hàng đang vươn tới từng người dân. Đó là dịch vụ ngân hàng tiêu dùng và bán lẻ. Rõ ràng, lợi nhuận thu được từ dịch vụ bán lẻ không thể bằng bán buôn. Hơn thế nữa, chi phí cho việc cung cấp một dịch vụ tài khoản của một cá nhân cũng chẳng nhỏ hơn cho một công ty là bao. “Ngân hàng điện tử”, với sự trợ giúp của công nghệ thông tin cho phép tiến hành các giao dịch bán lẻ với tốc độc cao và liên tục. Nếu như trước kia các ngân hàng chỉ phục vụ một số lượng nhất định các công ty, thì nay, một thị trường hàng tỷ dân đang mở ra trước mắt họ. Và thế là các ngân hàng đua nhau hiện đại hoá hệ thống tin học của họ, tung ra thị trường một loạt các dịch vụ mới như “phone banking”; “Internet banking”, chuyển và rút tiền tự động…làm  cho dịch vụ ngân hàng trở nên phong phú và phổ biến rộng rãi.

    3.1.3. Cạnh tranh và tồn tại

     

    “Ngân hàng điện tử” giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách hàng rộng rãi và bền vững. Bạn sẽ sẵn sàng từ bỏ một ngân hàng mà nơi đó bạn phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền để đi tới một máy rút tiền tự động của một ngân hàng khác và thực hiện nhiệm vụ này trong vài phút. Bạn sẽ tới một ngân hàng mà nơi đó sẵn sàng giúp bạn thực hiện các giao dịch với đối tác nhanh gọn và chính xác.

    3.2.    Lợi ích cho khách hàng

    Có thể nói hầu hết tất cả những gì tiến bộ hơn mà dịch vụ “Ngân hàng điện tử” mang lại chính là lợi ích cho khách hàng.

    “Ngân hàng điện tử” với công cụ chủ yếu là Internet/Web và các thiết bị điện tử, đem lại sự hiện diện toàn cầu cho người cung cấp và sự lựa chọn toàn cầu cho người tiêu dùng, bỏ qua khoảng cách địa lý giữa các quốc gia. Một ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ cho nhiều người ở bất cứ nơi nào trên thế giới tại bất cứ thời điểm nào. Một khách hàng có thể kiểm tra và quản lý tài chính của mình vào bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên chi phí cho dịch vụ này rất rẻ, không chỉ vì số tiền hợp lý phải trả cho dịch vụ mà còn vì tiết kiệm thời gian đi lại và hoàn tất các thủ tục giấy tờ mà các giao dịch vẫn được thực hiện an toàn và chính xác.

    Tuy nhiên những lợi ích này có lợi chủ yếu là đối với các nước phát triển. Đối với các nước đang và kém phát triển, giá dịch vụ “Ngân hàng điện tử” có khi rất đắt so với thu nhập bình quân người tiêu dùng. Nguyên nhân là do vốn đầu tư lớn vào các trang thiết bị và công nghệ thông tin dẫn tới giá thành sản phẩm cao. Trong khi đó mức sống người dân các nước này lại rất thấp.

    3.3.    Lợi ích đối với toàn thể nền kinh tế

    Ngoài những lợi ích chính đối với các bên tham  gia “Ngân hàng điện tử” nói trên, “Ngân hàng điện tử” còn đem lại những lợi ích to lớn tiềm tàng đối với toàn thể nền kinh tế.

    Việc tiêu dùng chủ yếu bằng tiền mặt có rất nhiều điều hạn chế. Nhà nước phải bỏ ra một chi phí nhất định hàng năm trong việc in và quản lý số lượng tiền in ra cho thị trường. Việc khó xác định chính xác lượng tiền lưu hành trong dân khiến cho nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra các chính sách tài khoá nhằm đảm bảo một thị trường tài chính ổn định. “Ngân hàng điện tử” với sự phổ biến sử dụng tài khoản cá nhân và tiền điện tử sẽ góp phần không nhỏ trong việc tháo gỡ khó khăn này. Chính tiền điện tử và giao dịch tài khoản làm cải thiện khả năng thanh toán trong thị trường tài chính.

    “Ngân hàng điện tử” giúp cho nhà nước có thông tin đầy đủ về việc thực hiện thu nộp thuế một cách nhanh chóng và cập nhật.

    Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển rộng khắp trên toàn thế giới của thương mại điện tử, “Ngân hàng điện tử” chính là chiếc cầu nối cho sự hội nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế mà không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực của chính phủ.

    II.        Đối tượng và những điều kiện tiên quyết tham gia dịch vụ

    ngân hàng điện tử

    Qua các phương tiện kỹ thuật của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”  đã được giới thiệu ở trên, chúng ta sẽ xem xét đặc điểm và điều kiện của các bên tham gia dịch vụ này.

    Tham gia dịch vụ “Ngân hàng điện tử” có ba thành phần chính. Đó là hệ thống ngân hàng thương mại, người tiêu dùng và các quy định của nhà nước.

    1          Các ngân hàng thương mại

    1.1.    Vai trò của các ngân hàng thương mại

    Hệ thống ngân hàng thương mại là người cung cấp dịch vụ “Ngân hàng điện tử”. Do vậy họ giữ vai trò chính.

    Các nhà kinh tế đã coi dịch vụ “Ngân hàng điện tử” như là một cuộc cải cách tài chính do các ngân hàng tiến hành. Nó đã mang lại nhiều dịch vụ có khả năng sinh lời lớn.

    Rất nhiều các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã nhận ra rằng phương thức cũ mà họ đang sử dụng trong kinh doanh không còn có khả năng mang lại lợi nhuận cao. Các dịch vụ tài chính mà họ bán ra trên thị trường không còn hấp dẫn người tiêu dùng. Thêm vào đó, các quy định về thủ tục tài chính đã trở nên nặng nề. Để tồn tại trong môi trường tài chính mới, các ngân hàng đã phải tìm kiếm và phát triển những sản phẩm dịch vụ mới. Cải cách trong ngân hàng là tất yếu nhằm đáp lại sự thay đổi của nhu cầu khách hàng.

    Trong khi đó, sự phát triển công nghệ thông tin đang mang lại cho thương mại nói chung và ngành ngân hàng nói riêng những cơ hội lớn lao. Mạng và hệ thống máy tính không những giúp cho ngân hàng giảm chi phí giao dịch mà còn  tạo điều kiện cho họ có khả năng đưa ra những dịch vụ mới. Do vậy, cải cách ngân hàng cũng là sự đáp lại sự thay đổi của cung.

     

    1.2.    Điều kiện tiên quyết để tham gia hệ thống dịch vụ “Ngân hàng điện tử” của các ngân hàng thương mại

    Một trong những yếu tố dẫn đến thành công của “Ngân hàng điện tử” là phải xây dựng một cơ sở hạ tầng hiện đại ở  một mức nhất định. Cơ sở này dựa trên tiến bộ của công nghệ máy tính, công nghệ thông tin viễn thông. Điều này đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà không phải ngân hàng nào cũng có khả năng đáp ứng. Dưới đây một số yêu cầu tối thiểu cho dịch vụ “Ngân hàng điện tử”:

     

    1.2.1  Hạ tầng cơ sở công nghệ

     

    “Ngân hàng điện tử” phát triển trên cơ sở kỹ thuật số hoá, công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành “Ngân hàng điện tử” hiệu quả khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc.

    Nó bao gồm hệ thống điện thoại, máy tính, máy chủ, modem, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, thiết bị thanh toán điện tử (POS, ATM, CDM), vv… và các dịch vụ truyền thông (thuê bao điện thoại, phí nối mạng, truy cập mạng).

    Chi phí phần cứng cho một hệ thống máy tính văn phòng, máy chủ, mạng nội bộ khoảng USD 100,000. Một máy đọc thẻ thanh toán đặt tại các điểm bán hàng giá khoảng USD50 một chiếc. Một máy rút tiền tự động giá khoảng USD40,000 một chiếc. Chi phí phần mềm cho hệ thống này khoảng USD 200,000 tới USD 300,000. Còn phải kể đến chi phí tham gia các tổ chức thanh toán quốc tế, chi phí bảo dưõng, nâng cấp  hệ thống. Ước tính tổng vốn đầu tư có thể lên tới USD 10 triệu cho một ngân hàng.

    Ngoài ra, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin này chỉ có thể có và hoạt động tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng, bưu chính viễn thông đảm bảo cung cấp điện năng, thông tin liên lạc đầy đủ, ổn định với mức giá hợp lý. Thiết lập một nền công nghiệp như vậy năm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng. Nó đòi hỏi sự đầu tư cả về vốn lẫn thời gian của nhà nước. Điều này đặc biệt khó khăn với các nước đang và kém phát triển.

    1.2.2  Vấn đề an toàn và bảo mật

    Giao dịch bằng phương tiện điện tử đặt ra đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là hoạt động qua mạng. Nhiều người sợ không dám mua bán qua mạng, thanh toán bằng thẻ qua máy điện tử, máy rút tiền. Người mua thì lo các chi tiết của thẻ tín dụng của mình bị lộ, và kẻ xấu sẻ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua không thanh toán cho các hợp đồng hay giao dịch đã được “ký kết theo kiểu điện tử”.

    Điều lo sợ ấy là có căn cứ, vì số vụ tấn công vào Internet hay các vụ làm và sử dụng thẻ giả ngày càng gia tăng. “Giặc máy tính” dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu, tạo vi rút máy tính, giả mạo địa chỉ Internet, dập thẻ giả, móc nối với người bán hàng tao ra các giao dịch “ảo”…

    Kỹ thuật mã hoá hiện đại, với khoá dài tối thiểu 1024 bit thậm chí 2048 bit cộng với các công nghệ SSL (Secure Socket Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này. Các ngân hàng phát hành thẻ đang khuyến khích phát hành và sử dụng thẻ có các “chip” điện tử thay thế cho các dải từ. Một chiến lược về mã hoá và giải mã kèm theo các chương trình bảo vệ an toàn thông tin cho ngân hàng và khách hàng phải luôn được đặt ra và cập nhật.

    1.2.3  Hệ thống tuyên truyền giáo dục khách hàng

    Một nhân tố quan trọng khác dẫn đến thành công trong “Ngân hàng điện tử” hệ thống phân phối sản phẩm, tuyên truyền và giáo dục khách hàng.

    Điều này đòi hỏi một đội ngũ nhân viên tiếp thị chuyên nghiệp trang bị với các kiến thức nhất định về tin học.

    Với mục tiêu “giành lấy lòng tin của khách hàng”, các ngân hàng phải đặt ra một chiến lược tuyên truyền, quảng cáo, thực hiện, từng bước thuyết phục khách hàng về tính an toàn và tiện lợi của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

     

    2.         Khách hàng

     

    2.1.    Đặc điểm chung hiện nay của người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử

    “Ngân hàng điện tử” chủ yếu phục vụ cho hệ thống khách hàng cá nhân hay nói cách khác nó là hệ thống dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

    Những khảo sát gần đây cho thấy điển hình của khách hàng sử dụng dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là những người có trình độ học vấn cao, trẻ và có thu nhập tương đối cao.  Với kiến thức tin học cao, khả năng tiếp thu nhanh những vấn đề tiến bộ, họ là những người tham gia dịch vụ “Ngân hàng điện tử” đầu tiên. Đa phần trong số họ thuộc thành phần trí thức tự do, những người thành đạt trong sự nghiệp, những doanh nhân, tầng lớp trung lưu trong xã hội.

    Giao dịch với họ thường có giá trị tương đối cao, rủi ro ít vì họ có học và có thu nhập cao. Thứ nữa là cơ hội cung cấp dịch vụ trong một thời gian dài vì họ là những người trẻ tuổi. Cuối cùng là họ là những người năng động, giao dịch nhiều, cơ hội đi lại qua các quốc gia, nên ở điểm này, “Ngân hàng điện tử” có thể chứng minh tính ưu việt của nó đó là cung cấp dịch vụ liên tục và toàn cầu.

    2.2.    Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của người tiêu dùng

    Việc đưa vào thị trường một sản phẩm hay dịch vụ mới đòi hỏi nghiên cứu hành vi ứng xử người tiêu dùng. Người tiêu dùng phải trải qua các giai đoạn từ chỗ nhận thức sự sẵn có của sản phẩm, dịch vụ tới việc sử dụng thử và cuối cùng là chấp nhận sản phẩm và dịch vụ đó.

    Do tính chất cách mạng, “Ngân hàng điện tử” là một khái niệm rất mới đối với đại bộ phận người tiêu dùng. Không phải ai cũng có cái nhìn đầy đủ về “Ngân hàng điện tử”. Một trong những trở ngại lớn nhất của “Ngân hàng điện tử”  là thái độ hoài nghi, lưỡng lự khi chuyển đổi từ hình thức giao dịch cũ truyền thống sang hình thức mới. Chính vì vậy  việc quảng cáo, tuyên truyền và giáo dục khách hàng về dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là một thách thức lớn đối với các ngân hàng thương mại.

    Xây dựng hệ thống khách hàng đã khó, duy trì nó còn khó hơn. Khách hàng sau khi đã nhận thức được “Ngân hàng điện tử” họ sẵn lòng dùng thử. Song, sẽ trở nên khó khăn cho họ khi hệ thống thanh toán “Ngân hàng điện tử” không ổn định và sẵn có. Một khách hàng sau khi mua thẻ tín dụng sẽ thấy nghi ngờ dịch vụ “Ngân hàng điện tử” nếu thẻ của họ thường xuyên bị từ chối vì lý do trục trặc kỹ thuật của thiết bị thanh toán điện tử hay chán nản vì không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị chấp nhận thẻ tín dụng. Bạn sẽ rất bực mình khi kiểm tra số dư tài khoản qua điện thoại mà điện thoại ngân hàng bị hỏng. Bạn sẽ vô cùng hoang mang số thẻ tín dụng của mình bị đánh cắp sau một lần mua hàng qua Internet.

    Đây là những vấn đề đặt ra cho các ngân hàng, đòi hỏi tính sẵn có của hệ thống thanh toán điện tử và các dịch vụ sau bán hàng như xử lý tranh chấp, bảo vệ khách hàng…

    3.         Các quy định của Nhà nước

    Nhà nước đóng vai trò thiết lập “luật chơi”. Do vậy, việc tạo ra một môi trường canh tranh lành mạnh, một hàng lang pháp lý và các quy định khung có ảnh hưởng lớn tới các thành viên tham gia dịch vụ này, từ đó quyết định sự phát triển nhanh và đúng hướng của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

    “Ngân hàng điện tử” chỉ có thể thành công rực rỡ khi giới cần quyền ở tất cả các quốc gia đồng ý cho phép tạo điều kiện và bảo vệ loại hình dịch vụ này

    Trước hết chính phủ phải quyết định xem  xét thương mại điện tử nói chung và “Ngân hàng điện tử” nói riêng là cơ hội hay hiểm họa. Điều đó không dễ vì không phải quốc gia nào cũng đồng ý với ý tưởng ” toàn cầu hoá”. Ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới năm 97-98 mới quyết định tuyên bố Internet  là một cơ hội.

    Còn ở Việt Nam, do một số lý do  chính trị mà nền kinh tế nước ta chưa thực sự “mở”. Để bảo  hộ nền công nghiệp còn quá non trẻ trước sự cạnh tranh khốc liệt, để duy trì một môi trường tài chính ổn định, Chính phủ nước ta đã phải đưa ra các quy định về quản lý ngoại hối. Mà các quy định này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới “Ngân hàng điện tử” nơi diễn ra các hoạt động tài chính qua biên giới.

    Việc đầu tiên phải làm của Chính phủ đối với “Ngân hàng điện tử” là:

    • Thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch “Ngân hàng điện tử”

    –        Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (tức chữ ký dưới dạng số đặt vào một thông điệp dữ liệu), chữ ký số hoá ( tức biện pháp biến đổi nội dung một thông điệp dữ liệu, khi dùng mã khoá để giải mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu)  và có các thiết chế pháp lý, cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá.

    –        Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả pháp chế hoá các tổ chức phát hành và chấp nhận các loại thẻ thanh toán).

    –        Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm, chống gian lận.

    Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành phát triển “Ngân hàng điện tử”, tiếp đó là các chính sách, đạo luật và các quy định cụ thể tương ứng được phản ảnh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống luật.

     

    III.      Xu hướng và kinh nghiệm phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử trên thế giới

    1.         “Ngân hàng điện tử ” trên thế giới

    Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và khoa học viễn thông cùng với tiến trình toàn cầu hoá đã gây một ảnh hưởng lớn trong ngành tài chính ngân hàng. Ngành ngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cho ra đời một loạt các dịch vụ sản phẩm mới như tiền điện tử, “ví điện tử”. Đến lượt “Ngân hàng điện tử” lại giúp cho ngành ngân hàng vượt qua những hạn chế mà hình thức dịch vụ ngân hàng truyền thống không thể làm được. “Ngân hàng điện tử” là một xu hướng tất yếu nhằm tạo ra cho các ngân hàng một sức cạnh tranh trong kỷ nguyên bùng nổ công nghệ thông tin này. “Ngân hàng điện tử” chính là cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng.

    “Ngân hàng điện tử”, đặc biệt là Internet banking, sản phẩm mới nhất gần đây được tung ra sẽ gây một ảnh hưởng đáng kể trong thị trường tài chính ngân hàng.

    Internet là  một công nghệ phát triển nhanh. Nó làm thay đổi hoàn toàn Cách sống và làm việc của tất cả mọi người.  Năm 1991 mới có 31 nước nối mạng Internet, tới năm 1997 đã có 171 nước; số trang Web vào giữa năm 1993 là 130, tới cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu; giữa năm 1996 có 12,9 triệu địa chỉ Internet với khoảng 67,5 triệu người sử dụng, giữa năm 1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng. Theo dự báo , số người sử dụng Internet trên toàn thế giới năm 2005 sẽ lên tới 1 tỷ người. Dịch vụ ngân hàng qua Internet bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 90. Tới nay, chủ yếu các giao dịch ngân hàng là qua Internet.

    “Ngân hàng điện tử” đã tìm ra thị trường đầy tiềm năng và tương lai rực rỡ của nó.  Dĩ nhiên là bởi những tiến bộ của nó mang lại. Ngày nay, mỗi người mua hàng hoá hay dịch vụ, nhận tiền lương thưởng chỉ cần ghi lại trong tài khoản của họ. Đồng tiền ngày nay đơn giản chỉ là những thông tin được truyền tự động. Sự thống trị của đồng tiền điện tử  trên thị trường thương mại điện tử thế giới chính là bằng chứng của sự phát triển “Ngân hàng điện tử”.

    Theo thống kê của International Data Corp (IDC), có tới 10 triệu người sử dụng “Ngân hàng điện tử”. Con số này dự tính lên tới 30 triệu người trong vòng vài năm tới. Doanh số trung bình dịch vụ “Ngân hàng điện tử” vào năm 1997 là USD 8 tỷ, 1998 là USD 14 tỷ, 1999 là USD 31 tỷ và tới 2002 là USD 90 tỷ.

    Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù về chính trị xã hội, một số nước vẫn còn có các hoạt động kiểm soát Internet. Do vậy làm hạn chế sự phát triển của “Ngân hàng điện tử”.

     

    2.         Dịch vụ “Ngân hàng điện tử” ở một số nước

     

    2.1     Trung Quốc

    Nỗ lực của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho công nghệ thông tin. Công suất sản xuất máy tính điện tử cá nhân năm 1998 đạt tới 8,5 triệu cái/năm. 4 công ty máy tính điện tử hàng đầu của Trung Quốc đều có sức cạnh tranh với IBM, COMPAQ, HP,  trên thị trường nội địa. Công nghệ phần cứng đạt tốc độ tăng khoảng 45%/năm. Công nghệ phần mềm tăng 20%/năm.

    Tuy vậy, Trung Quốc bước vào “Ngân hàng điện tử” rất chậm. Cuối năm 1997 mới chính thức ra nhập Internet. Trung Quốc đòi hỏi người sử dụng Internet phải đăng ký với công an.

     

    Do chính sách bảo hộ công nghiệp và kiểm soát ngoại tệ, các dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ ở Trung Quốc cũn bị hạn chế. Tỷ lệ thanh toán thẻ tăng 7,8%/năm.

    2.2     Các nước ASEAN

    “Ngân hàng điện tử” ở các nước A SEAN phát triển hơn.

    2.2.1. Singapore

    Singapore, là một trong những nước áp dụng thanh toán điện tử đầu tiên trên thế giới. Tháng 12/1996, nhân phiên họp khai mạc cấp bộ trưởng WTO tổ chức ở Singapore, Singapore đã chính thức khai trương việc ứng dụng toàn diện các loại thẻ, thẻ ghi nợ, thẻ tiền mặt internet, thẻ thông minh, thẻ mua hàng diện tử, túi tiền  điện tử. Hệ thống giao dịch điện tử an toàn manh tính quốc tế (Network for Electronic Transfers) thành lập tháng 4/1997 đã được đưa  vào sử dụng toàn diện cuối năm 1998. Singapore đã đưa lên internet 30 chương trình phần mềm ứng dụng chuyên phục vụ thương mại điện tử.

    Có tới hơn 10,000 điểm bán hàng trên hòn đảo này được lắp đặt thiết bị thanh toán thẻ ghi nợ.

    Tuy nhiên, phát hành thẻ tín dụng lại hạn chế. Chính sách quản lý tiền tệ ở Singapore quy định cá nhân từ 21 tuổi trở lên và có thu nhập SGD 30,000 /năm mới được mua thẻ tín dụng. Hạn mức tín dụng tối đa là 2 tháng lương. Cho tới năm 2000, số lượng thẻ tín dụng phát hành là 2,5 triệu thẻ. Ngoài ra còn có các thẻ khác như thẻ thông minh, thẻ mua hàng…Thanh toán điện tử là một phần nằm trong “kế hoạch tổng thể về thương mại điện tử ở Singapore. Một loạt các văn kiện quan trọng có liên quan đã ra đời nhằm điều chỉnh hoạt động này như “Luật giao dịch điện tử, “luật chống lạm dụng máy tính điện tử… Luật bản quyền cũng được sửa đổi lại.

    2.2.2. Malaysia

    Thanh toán điện tử ở nước này rất phát triển. Đặc biệt là thanh toán thẻ. 3,5 triệu thẻ tín dụng dược phát hành. Ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55% thị phần. Nhưng hệ thống dày đặc máy rút tiền tự động là của các ngân hàng trong nước.

    Tuy nhiên, tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ ở nước này được xếp vào lại cao trong khu vực Asia Pacific.

    2.2.3. Philippin

     

    Internet thâm nhập vào Philippin khá sớm: năm 1996, ở Philippin có 53,000 người sử dụng Internet, năm 1997 đã lên tới 85,000 người và 2001 có tới 0,7 triệu người sử dụng Internet.

    Các phương tiện truyền thông khác cũng phát triển.Ví dụ 1996 toàn quốc có 1,35 triệu thuê bao điện thoại, năm 1998 đã lên tới 5,49 triệu. Tỷ trọng người mua hàng bán lẻ qua Internet chiếm 1,8% với tổng giá  trị USD 151 triệu. 17 triệu thẻ được phát hành bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ…Hệ thống ATM và thiết bị chấp nhận thẻ rất phổ biến. Tuy nhiên hệ thống luật và một chiến lược đặc thù về ngân hàng điện tử thì chưa có một cách rõ ràng.

    “Ngân hàng điện tử” ở các nước ASEAN bắt đầu xuất hiện. Nhưng chỉ phát triển mạnh ở một số nước và chủ yếu vẫn còn trong lĩnh vực nội địa. Nhìn chung các nước thành viên còn đang đứng trước tìng trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở hạ tầng pháp lý tài chính. “Ngân hàng điện tử” của ASEAN đang còn trong giai đoạn “nghiên cứu” để tìm đường phối hợp chuyển giao công nghệ và hợp tác kỹ thuật với nhau, thực sự tham  gia thanh toán điện tử với nhau và với các nước khác.

     

    Chương II:        Năng lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

     

    I.         Sơ lược hệ thống các ngân hàng Việt Nam

     

    1.         Cơ cấu và tổ chức của các ngân hàng Việt Nam

    Vào cuối những năm  80, trước khi có các chính sách “đổi mới”, ngân hàng nhà nước chiếm vai trò chủ đạo. Mọi giao dịch tài chính ngân hàng đều thực hiện bởi ngân hàng nhà nước. Qua quá trình “đổi mới”, nhằm thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã dần dần phát triển đi đôi với việc hình thành các quy định khung về tài chính ngân hàng.

    Năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam chia thành hai cấp: Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng thương mại. Năm 1990, Chính phủ đã tiến hành nhiều các chính sách cải cách ngân hàng nhằm mở rộng cơ cấu hệ thống và nâng cao hoạt động hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Cho tới nay, đã có 4 ngân hàng thương mại  quốc doanh, 43 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 53 văn phòng đại diện các ngân hàng nước ngoài và 153 quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động.

    Bốn ngân hàng quốc doanh đúng vai trò chủ đạo trong ngành ngân hàng, chiếm 74 % thị trường cho vay ( chủ yếu là cho các doanh nghiệp nhà nước vay). Các ngân hàng cổ phần, sau 3 năm hợp lý hoá theo hướng của ngân hàng nhà nước chiếm 15% thị trường cho vay ( chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân). Các ngân hàng khác và quỹ tín dụng nhân dân chỉ chiếm một thị phần nhỏ.

    Hệ thống ngân hàng quốc doanh chiếm ưu thế trên thị trường không chỉ bởi quy mô lớn mà còn bởi họ có những đặc quyền do chính phủ phân định. Họ được hưởng nhiều các chính sách ưu đãi, được sự đầu tư hỗ trợ của chính phủ. Điều này dẫn đến cơ cấu hiện nay là họ nắm giữ phần lớn  vốn đầu tư và các khoản tiền gửi lớn của doanh ngiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân.

    Năm 1992, Các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh hoạt động tại Việt Nam. Mặc dù vậy, sự tham  gia của ngân hàng nước ngoài vào thị trường tài chính Việt Nam còn bị hạn chế rất nhiều do các chính sách bảo hộ ngân hàng trong nước của chính phủ Việt Nam. Phần lớn các khoản vay đều dành cho các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thời hạn đăng ký hoạt động tại Việt Nam  của các ngân hàng nước ngoài là 20 năm, của các ngân hàng liên doanh (vốn đầu tư nước ngoài chiếm tối đa là 50%) là 30 năm. Việc gia hạn giấy phép hoạt động kinh doanh sẽ do chính phủ xét duyệt trong từng trường hợp. Hiện nay, các chi nhánh ngân hàng nước ngòai không được phép huy động tiền gửi ngoại tệ từ cá nhân người Việt Nam. Kể từ tháng 11 năm 2001, các ngân hàng liên doanh được phép huy động tiền gửi ngoại tệ cá nhân người Việt Nam song không quá 50% vốn.

    Các ngân hàng thương mại cổ phần đang trong quá trình cơ cấu lại nhằm giải quyết một số vấn đề về tài chính như đọng vốn, nợ khó đòi…Một số các ngân hàng nhỏ được sáp nhập lại thành ngân hàng lớn hơn nhằm  nâng cao hiệu quả hoạt động. Trong những năm qua, 8 ngân hàng thương mại cổ phần đã được sáp nhập làm tổng số ngân hàng cổ phần giảm từ 51 ngân hàng còn 43 ngân hàng. Chính phủ cũng đã tiến hành cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng cổ phần. Ngoài các ngân hàng có số vốn từ 200 đến 300 tỷ đồng, Vốn trung bình của các ngân hàng ở thành thị là 100 tỷ đồng và các ngân hàng ở nông thôn là 5 tỷ đồng. Theo Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, số lượng các ngân hàng cổ phần trong những năm tới chỉ còn từ 25 đến 30 ngân hàng.          Việc này khuyến khích các ngân hàng nhỏ sáp nhập lại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

    Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng Việt Nam đang là một vấn đề hết sức bức thiết. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đòi hỏi một sự hỗ trợ tạo ra một lực mới nhằm đáp ứng những thách thức mới trong quá trình tự do hoá thương mại.

    2.         Sơ  lược hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

    Hoạt động hệ thống ngân hàng Việt Nam không lấy gì sáng sủa. Theo lời mời của chính phủ nước ta, phái đoàn FITCH đã đến thăm Việt Nam vào tháng 4 năm  2002. Theo đánh giá của FITCH, rất nhiều ngân hàng Việt Nam rơi vào loại yếu kém.

    Xếp loại E là ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển (BIDV)  và ngân hàng Công Thương Việt Nam (VIETINCOMBANK). Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) xếp loại D. Nghĩa là cao hơn hai ngân hàng kia một chút cả về năng lực tài chính lẫn quản lý. Loại D cũng đánh giá cho ngân hàng Sai Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và VID Public bank. Ngân Hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không được đưa ra xếp loại vì nó chưa hoàn toàn tách khỏi ngân hàng dành cho người nghèo.

    Theo FITCH, loại A cho ngân hàng rất mạnh, loại B cho Ngân hàng mạnh, loại C cho ngân hàng trung bình, loại D cho ngân hàng yếu kém và loại E cho ngân hàng thực sự có những vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi sự giúp đỡ hỗ trợ.

    Nguyên nhân của tình trạng hoạt động yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là do khả năng quản lý kém, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, bộ máy hành chính cồng kềnh, hệ thống quản lý thông tin yếu kém, quy định lỏng lẻo.

    Trong nhiều năm gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp đổi mới. Một trong những vấn đề được đặt ra là thiếu vốn pháp định. Điều này gây cản trở rất nhiều cho các các ngân hàng trong việc cho vay các dự án lớn. Tổng vốn pháp định của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (chiếm 74 % thị truờng cho vay) là 3.300 tỷ đồng. Trong khi đó, quy định hiện hành chỉ cho  phép vay không quá 15% vốn pháp định. Rất nhiều các dự án cần vốn vay lớn như giao thông, bưu chính viễn thông, điện, xăng dầu và thép.

    Một vấn đề khác đó là vốn đầu tư thấp. Đặc biệt là đối với các ngân hàng cổ phần. Điều này không cho phép họ đầu tư vào các công nghệ hiện đại nhằm giảm chi phí và đa dạng hoá sản phẩm. Ví dụ như giá một chiếc máy rút tiền tự động là USD 30.000 (450 triệu đồng). Một ngân hàng với vốn pháp định 65 tỷ đồng thì không thể đầu tư cho một hệ thống ATM. Tuy nhiên tình hình này có phần được cải thiện từ sau khi nhà nước quyết định cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng cổ phần.

    Mối lo ngại lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam bây giờ là hoạt động cho vay kém hiệu quả. Hầu hết các khoản vay là của 4 ngân hàng quốc doanh. Những khoản vay này đều là cho các doanh nghiệp nhà nước và thường chẳng mang lại chút lợi nhuận nào. Một nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi là cơ cấu quản lý chồng chéo. Giám đốc ngân hàng thương mại không những chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương mà còn bị ảnh hưởng bởi chính quyền địa phương các cấp.

    Do vậy hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đôi khi đi theo hướng kinh tế địa phương. Còn các ngân hàng cổ phần thì vẫn tiếp tục bị áp đặt nhiều chính sách quản lý của ngân hàng nhà nước.

    Do chính sách hạn chế, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh chỉ chiếm 10,6% tổng số tiền gửi và 9% thị trường cho vay. Ấy vậy mà lợi nhuận nhóm này thu được lại gấp đôi các ngân hàng trong nước.

    Thêm vào đó, Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Rất nhiều các tổ chức khác như bảo hiểm , bưu điện cũng tham gia vào việc huy động vốn. Rất nhiều tổ chức tín dụng sử dụng vốn đầu tư vào bất động sản, nguy cơ “đóng băng về vốn” là rất cao.

    Nhằm quản lý chặt chẽ toàn bộ ngành ngân hàng, Ngân Hàng Nhà Nước đang xét lại toàn bộ hệ thống báo cáo bắt buộc. Các báo cáo thường niên  phải được xuất trình Ngân Hàng Nhà Nước kể từ khi kết thúc năm tài khoá (31 tháng 12) trong vòng 90 ngày đối với ngân hàng trong nước và 180 ngày đối với ngân hàng nước ngoài. Thanh tra nội bộ và thanh tra chéo là bắt buộc.  Việc lựa chọn cơ quan kiểm toán là do Ngân Hàng Nhà Nước xét duyệt. Đi đôi với các hoạt động kiểm soát, Ngân Hàng Nhà Nước cho phép ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần đăng ký và đưa vào sử dụng một số dịch vụ mới nhằm nâng cao nhận thức về dịch vụ ngân hàng trong dân.

    Như trên đã đề cập, hệ thống ngân hàng trung ương và thương mại Việt Nam mới thực sự hoạt động từ năm 1988. Cho tới nay, đó chỉ là một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với lịch sử phát triển ngành ngân hàng trên thế giới. Theo ông Nguyễn Thanh Toại, giám đốc ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu, một ngân hàng phát triển trên thế giới có thể cung cấp khoảng 6000 loại hình dịch vụ và sản phẩm. Trong khi đó hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chỉ cung cấp khoảng 200 sản phẩm và dịch vụ. Trong thời gian tới, hi vọng bằng các chính sách cứng rắn và linh hoạt của Chinh phủ và Ngân Hàng Nhà Nước, hẹ thống ngân hàng Việt Nam  sẽ từng bước được cải thiện và hoạt động có hiệu quả.

    II.        Thực trạng triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam

    1.         Quá trình phát triển hệ thống thanh toán của ngân hàng ở Việt Nam

    Thanh toán tài chính trực tuyến qua mạng (On-line) cho các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam còn vô cùng non trẻ. Đại bộ phận nhân viên ngân hàng trong những năm đầu thập niên 90 còn vô cùng bỡ ngỡ trước hệ thống mỏy tính điện tử. Cả người cung cấp và người sử dụng dịch vụ ngân hàng khó có thể bỏ qua một loạt giấy tờ để thay thế đó bằng một chiếc máy tính. Chữ ký điện tử là điều vô cùng xa lạ. Việc rút tiền từ một chiếc máy tự động mà không có sự chứng kiến của nhân viên ngân hàng thì cũng thấy khó yên tâm.

    Công nghệ tin học thông tin phát triển như một cơn bão làm thay đổi tất cả, và thanh toán trong hệ thống ngân hàng không nằm ngoài sự phát triển đó.

    Năm 1992:

     

    *        Giao dịch thanh toán qua máy tính điện tử đầu tiên ở Việt Nam là ở Ngân hàng Công Thương (Incombank)

    *        Tiếp theo là Vietcombank, các ngân hàng khác và Ngân Hàng Nhà Nước.

    *        Chính sách “mở cửa” làm xuất hiện chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng này mang theo một loạt công nghệ ngân hàng hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam. Trước nhu cầu đổi tiền và mua hàng hoá dịch vụ bằng thẻ tín dụng, các ngân hàng nước ngoài đã đi tiên phong trong lĩnh vực này. Kế đến là Vietcombank. Một loạt các đại lý ngân hàng chấp nhận thẻ tín dụng nhằm phục vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn, bán vé máy bay, quầy thu đổi ngoại tệ xuất hiện.

    Năm 1995:

    Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (Vietcombank, Incombank, BIDV và VBARD) và 2 ngân hàng cổ phần tham gia vào hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc tế – SWIFT. Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng và tín dụng thư trong thanh toán quốc tế được cải thiện đáng kể (giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian và chính xác).

    Năm 1996:

    *        Vietcombank phát hành tấm thẻ nhựa đầu tiên

    *        Ngân Hàng Hồng Kông và Thượng hải (HSBC) đưa vào sử dụng chiếc mát rút tiền tự động (ATM) đầu tiên tại Việt Nam

    Năm 1997:

     

    *        Vietcombank phát hành thẻ tín dụng

    *        Ban hành quy chế phát hành sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng

     

    Năm 2002:

    *        Ngân Hàng Cổ Phần Á Châu (ACB) giới thiệu về dịch vụ ngân hàng qua Internet

    *        Dự thảo Luật Thương Mại Điện Tử Việt Nam

    *        Quyết định 44 của Chính phủ công nhận chữ ký điện tử trong chuyển tiền điện tử

    *        Thị trường liên ngân hàng điện tử trung ương đi vào hoạt động

     

    2.         Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử:

    Trong vòng một thời gian ngắn, từ 1992 đến nay, một loạt dịch vụ mới gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử đã rađời.

     
       

    2.1     Thanh toán thẻ

     
       

    Dịch vụ chấp nhận thẻ bắt đầu xuất hiện từ năm 1992. Xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch tới Việt Nam. Họ mang theo thẻ tín dụng quốc tế: Visa, Mastercard, Amex, JCB, Diner Club…Các ngân hàng cung cấp dịch vụ rút tiền bằng thẻ tín dụng đầu tiên là Vietcombank, Incombank.

    Tiếp theo là sự xuất hiện các đại lý ngân hàng thanh toán thẻ. Là những địa điểm có liên quan tới  dịch vụ du lịch như sân bay, phòng vé máy bay, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng bán đồ lưu niệm. Ngân hàng ký một hợp đồng thanh toán thẻ với các doanh nghiệp này. Ngân hàng tiến hành lắp đặt tại các đại lý thiết bị điện tử chấp nhận thanh toán thẻ. Nhờ vậy khách du lịch nước ngoài  có thể trả cho hàng hoá hoặc dịch vụ bằng thẻ tín dụng.

    Máy thanh toán thẻ điện tử là một thiết bị đọc từ được kết nối với mạng ngân hàng chấp nhận thẻ và các ngân hàng phát hành thẻ trên thế giới. Nó cho phép đọc và truyền các thông tin của chủ sở hữu thẻ về tới các ngân hàng phát hành thẻ. Các giao dịch tài chính nhờ vậy mà được thực hiện và ghi lại trên tài khoản chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ.

    Dưới đây là sơ đồ một giao dịch bằng thẻ:

     
       

    Toàn Việt Nam hiện có khoảng 7000 đại lý thanh toán thẻ với tổng doanh số bán hàng bằng thẻ là USD 90 triệu/năm. Trong đó 48% là đại lý cho Vietcombank, 20% là đại lý cho ngân hàng ANZ, 15% cho ngân hàng United Over Sea Singapore (UOB), 10% cho ngân hàng Á châu (ACB) và 7% là của các ngân hàng khác.

    Bảng 2: Sơ đồ thị phần thanh toán thẻ

     
       

    Các đại lý thanh toán thẻ chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành Phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vũng Tàu.

    Vietcombank chiếm ưu thế cả về số lượng đại lý và doanh thu bán hàng. ACB là ngân hàng cổ phần Việt Nam duy nhất tham  gia vào thị trường này, mặc dù chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn. So với Việtcombank và một số ngân hàng khác được sự đầu tư rất lớn về trang thiết bị thanh toán thẻ, ACB quả là một ngân hàng hoạt động tương đối hiệu quả bằng chính sự nỗ lực của mình.

    Bảng 3: Số lượng đại lí

      3/98 3/99 3/00 3/01 3/02 Tỷ lệ tăng trưởng
    Việt Nam 4,391 4,673 5,530 6,538 7,756 18,6%
    Khu Vực AP 5,855,840 6,419,088 7,600,832 9,414,793 12,271,272 30,3%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Bảng 4 : Doanh số chấp nhận thẻ (Triệu USD)

      3/98 3/99 3/00 3/01 3/02 Tỷ lệ tăng trưởng
    Việt Nam 133 130 155 160 192 32%
    Khu Vực AP 148,200 155,030 212,030 256,605 301,360 29%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Do bị hạn chế hơn về số lượng chi nhánh, các ngân hàng nước ngoài chủ yếu tập trung khai thác những đại lý có doanh thu lớn. Ví dụ như UOB chỉ ký kết đại lý với các khách sạn 4-5 sao hoặc các địa điểm có doanh thu bán hàng bằng thẻ trên USD 10.000/tháng.

    Do không phải đầu tư lớn ban đầu về công nghệ, với kinh nghiệm  nhiều năm của ngân hàng nước ngoài cộng thêm đội ngũ nhân viên trẻ năng động nhiệt tình, các ngân hàng nước ngoài vẫn hoạt động hiệu quả hơn ngân hàng trong nước. Số lượng đại lí ít, chi phí thấp nhưng doanh số cao và do vậy tỷ suất lợi nhuận vẫn cao hơn.

    Dịch vụ chấp nhận thẻ là dịch vụ bán lẻ, lợi nhuận không cao bằng dịch vụ tín dụng, song tỷ lệ rủi ro rất thấp. Dưới đây là tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ ở Việt Nam , khu vực và trên thế giới.

    Bảng 5: Tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ

      1999 2000 2001 2002
    Việt Nam 0,03% 0,05% 0,01% 0,02%
    Khu vực Châu Á Thái Bình Dương 0,12% 0,13% 0,08% 0,10%
    Thế giới 0,12% 0,14% 0,10% 0,11%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Với lượng khách du lịch tới Việt Nam ngày càng tăng, đây vẫn đang là loại hình dịch vụ đáng để các ngân hàng khai thác.

     

    2.2     Dịch vụ phát hành thẻ

     
       

    Vietcombank vẫn là ngân hàng dẫn đầu trong lĩnh vực này. Cho tới nay, các loại hình thẻ do Vietcombank phát hành bao gồm thẻ Visa, thẻ MasterCard, thẻ thông minh, thẻ ghi nợ. Thẻ ghi nợ nội địa của Vietcombank có tên là VCB-ATM với cách sử dụng đơn giản và giá rất cạnh tranh.

    Bạn muốn mua một thẻ tín dụng quốc tế của Vietcombank ? Chỉ cần mở một tài khoản với số dư tối thiểu là 500.000 đồng và trả một tiền phí phát hành là 100.000 đồng. Thẻ này cho phép bạn rút tiền bằng hệ thống máy ATM của Vietcombank trên toàn quốc. Cho tới cuối năm 2002, Vietcombank đã phát hành 20,000 thẻ VCB-ATM.

    Thẻ tín dụng của Vietcombank cũng chiếm  lĩnh thị trường trong nước. Các tổ chức  và cá nhân thường mua loại thẻ này khi đi công tác nước ngoài. Theo ông Vũ Viết Ngoạn, Tổng giám đốc Vietcombank, thì tổng giao dịch bằng thẻ tín dụng Vietcombank năm 2001 đạt USD 86,5 triệu tăng 22% so với năm trước. Số lượng thẻ tín dụng phát hành, tính đến hết 2000 là 3.060 thẻ tăng 130% so với năm trước.

    Một ngân hàng phát hành thẻ đáng nói đến, đó là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu (ACB).

    Bên cạnh hai loại thẻ tín dụng là Visa và MasterCard, ACB còn phát hành một số thẻ nội địa như thẻ SaiGon Tourist- thẻ thanh toán cho các hoạt động du lịch, thẻ Saigon Co-op – thẻ dùng để mua hàng hoá tại các siêu thị, thẻ Mai Linh – thẻ trả tiền taxi, thẻ Phước Lộc Thọ.

    Đặc biệt là từ tháng 6 năm 2002, ACB cho ra đời một loại thẻ mới có tên gọi ACB e-card. Loại này tương tự như VCB-ATM. Người mua loại thẻ này phải mở một tài khoản với số dư tối thiểu là 1 triệu đồng và phải trả phí thường niên là 100,000 đồng. Tuy nhiên chủ thẻ sẽ được trả tỷ lệ lãi là 0,2% trên số dư tiền gửi mà họ không sử dụng đến. Chủ thẻ được cú thể cho thêm tiền gửi vào tài khoản của họ vào bất cứ lúc nào họ muốn. Loại thẻ này cho phép chủ thẻ mua hàng hoá hoặc rút tiền mà không mất phí.

    Cho đến cuối năm  2002, ACB đã phát hành 10.000 ACB  e- card. Nếu so sánh với các ngân hàng Việt Nam  khác, ACB vượt trội hơn hẳn về chất lượng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ sau bán hàng. Tháng 6 năm 2002, ACB mở hai quầy hoạt động ngoài giờ nhằm cung cấp dịch vụ trợ giúp và thông tin cho các khách hàng mua thẻ Visa, thẻ MasterCard và các loại thẻ khác của ACB.

    Tham gia vào thị trường phát hành thẻ còn có các ngân hàng khác như EXIMBANK, Sacombank, ANZ và Ngân Hàng Đông Á.

    Ngân Hàng Đông Á mới khai trương trung tâm thẻ vào tháng 7 năm 2002. Nhưng theo Bà Lý Thị Ngọc, Giám Đốc trung tâm thẻ, Ngân Hàng Đông Á dự tính sẽ phát hành 1000 thẻ vào cuối năm 2002. Điều này hoàn toàn dựa trên cơ sở hệ thống khách hàng mở tài khoản giao dịch và tài khoản tiết kiệm sẵn có của ngân hàng. Ngân Hàng Đông Á còn có một hệ thống chấp nhận thẻ tại 5 chi nhánh ngân hàng và 20 siêu thị trên toàn quốc.

    Là một ngân hàng 100% vốn nước ngoài, với rất nhiều kinh nghiệm trong thanh toán và phát hành thẻ, cộng thêm công nghệ ngân hàng hiện đại sẵn có, song ANZ chỉ tham gia phát hành thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế.

    Thẻ ghi nợ là loại thẻ cho phép chủ thẻ trả tiền hoặc rút tiền từ tài khoản tiết kiệm hoặc vãng lai của mình. Còn thẻ tín dụng có thể nói là loại thẻ tiêu trước trả sau. Người mua thẻ tín dụng sẽ được ngân hàng phát hành thẻ cấp cho một hạn mức tín dụng nhất định. Chủ thẻ tín dụng sẽ được tiêu dùng trong phạm vi hạn mức tín  dụng đó. Nếu vượt quá hạn mức này, chủ thẻ phải xin cấp phép của ngân hàng phát hành. Chủ thẻ phải thanh toán trả lại cho ngân hàng phát hành số dư có trong tài khoản thẻ vào một thời gian nhất định nào đó, tuỳ theo quy định của ngân hàng.

    Thẻ ghi nợ ít rủi ro hơn cho cả ngân hàng lẫn chủ thẻ. Song hạn chế của nó là; Nó chỉ có thể chấp nhận bởi các thiết bị thanh toán thẻ của chính ngân hàng phát hành hoặc một số rất hạn chế các ngân hàng khác. Trong khi đó thẻ tín dụng được chấp nhận phổ biến trên toàn thế giới.

    Cho tới nay ANZ đã phát hành khoảng 10.000 thẻ ghi nợ, cho phép mua hàng hoán tại các siêu thị và rút tiền ở các máy ATM trong và ngoài nước. ANZ đang có kế hoạch liên kết với một số các ngân hàng cổ phần Việt Nam trong việc giúp đỡ họ tham gia vào thị trường thanh toán và phát hành thẻ.

    Việc Đầu tư cho một hệ thống thanh toán thẻ đối với các ngân hàng cổ phần là rất khó khăn, thời gian thu hồi vốn lâu. Do vậy, đây chính là cơ hội của các ngân hàng cổ phần để tham gia vào “sân chơi chung” này.

    Nhìn chung việc sử dụng “tiền nhựa” ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Trong một thị trường với gần 80 triệu dân thì con số thẻ phát hành còn quá nhỏ bé. Việt Nam đang hướng tới thưong mại điện tử  và việc sử dụng thẻ sẽ trở nên phổ cập trong đại bộ phận dân chúng.

    Bảng 6: Số lượng thẻ phát hành và trị giá giao dịch

      12/1999 6/2000 12/2000 6/2001
    Số lượng thẻ phát hành (nghìn) 3 5 7 9
    Số lượng giao dịch (nghìn) 14 18 28 38
    Trị giá giao dịch (Triệu USD) 2 2 4 5

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    2.3     ATM và dịch vụ rút tiền tự động

     

      Chiếc máy ATM đầu tiên được lắp đặt bởi ngân hành Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Từ đó đến nay số lượng máy ATM tham gia vào thị trường tăng lên nhanh chóng.

    Sau năm 1996, trên thị trường chỉ hai ngân hàng có máy ATM. Đó là ANZ và HSBC. Ngân Hàng Citibank sau đó cũng lắp đặt ATM nhưng chỉ đọc được thẻ do Citibank phát hành. Do vậy có thể nói ANZ và HSBC là hai ngân hàng dẫn đầu trong mảng dịch vụ này. Tuy nhiên, do chính sách bảo hộ ngân hàng trong nước của Chính phủ, mà hai ngân hàng này không thể phát triển số lượng máy ATM lắp đặt của mình.

    ANZ chỉ có 2 máy lắp tại hai chi nhánh Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. HSBC cũng chỉ có hai máy tại thành phố Hồ Chí Minh.

    ATM thực chất chỉ là một công cụ rút tiền. Nó được kết nối mạng với các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân hàng trên thế giới, cho phép đọc và chuyển tải thông tin của chủ thẻ tới ngân hàng phát hành thẻ. Nhờ vậy mà chủ thẻ có thể rút tiền từ tài khoản tín dụng, vãng lai hay tiết kiệm của họ vào bất cứ lúc nào họ muốn.

    Với số luợng khách du lịch nước ngoài ngày càng tăng. Mặt bằng giá hàng hoá và dịch vụ ở Việt Nam tương đối rẻ so với khách nước ngoài. Mà không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị thanh toán thẻ cộng thêm thói quen bán hàng bằng tiền mặt của người Việt Nam. Do vậy khách nước ngoài thực sự có nhu cầu sử dụng tiền mặt. Các quầy thu đổi ngoại tệ không mở cửa 24/24. Đối với các ngân hàng nước ngoài, chi phí cho một nhân viên ngân hàng phục vụ khách rút/đổi tiền là không nhỏ. ATM chính là biện pháp hữu hiệu nhất.

    Tuy nhiên chi phí cho việc lắp đặt vận hành một hệ thống ATM là rất tốn kém mà không phải bất cứ ngân hàng Việt Nam nào cũng có khả năng đầu tư.

    Do vậy mà mãi đến tháng 5 năm 2002, cùng với việc ra mắt chính thức hệ thống nối mạng Vietcombank toàn quốc (Vietcombank – Online), Vietcombank cũng tung ra thị trường hệ thống ATM của mình. Cho tới cuối năm 2002, Vietcombank đã lắp đặt và đưa vào  sử dụng 70 máy ATM trên toàn quốc. Dự tính con số này sẽ lên tới 100 đến 150 máy nhằm phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng tiêu dùng nói riêng và dịch vụ ngân  hàng điện tử nói chung của Vietcombank.

    Các ngân hàng khác cũng tiến hành triển khai kế hoạch ATM của mình, nhưng rất khác nhau cả về phương hướng lẫn kết quả.

    BIDV chính thức khai trương hệ thống ATM vào tháng 6 năm 2002.  6 Máy ATM đầu tiên của BIDV được lắp đặt tại các chi nhánh ngân hàng ở Hà nội, 1 máy ở Đà Nẵng, 4 máy ở thành phố Hồ Chí Minh, 1 máy ở Bình Dương. BIDV đang tiến hành hoàn tất hệ thống nối mạng dự kiến cho đến hết 2003. Hiện nay ATM của BIDV mới chỉ dùng để nhân viên ngân hàng rút tiền lương bằng thẻ do BIDV phát hành.

    Tháng 10 năm 2001, Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (Vietincombank) công bố đưa vào hoạt động hệ thống ATM. 30 máy ATM loại hiện đại nhất được lắp đặt tại tất cả chi nhánh ngân hàng này trên toàn quốc. Kế hoạch của Vietincombank là sẽ đưa con số này lên đến 100 vào cuối năm 2003.  Vietincombank đồng thời phát hành thẻ nội địa với giá cả hết sức hấp đẫn. Thẻ này cho phép rút tiền tại, xem số dư tài khoản, chuyển tiền từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản vãng lai tại các máy ATM của Vietincombank. Tuy nhiên kế hoạch này dường như không kết qủa cho lắm. Cho đến nay, số lượng thẻ phát hành vẫn rất khiêm tốn. Khách hàng trong nước thì vẫn đến xếp hàng gửi và rút tiền tại quầy. Khách nước ngoài thì chưa thể rút tiền từ ATM Vietincombank vì nó chưa được nối mạng quốc tế. Thế là các ATM Vietincombank hiện đang trong tình trạng “thất nghiệp”.

    Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn (VBARD) cũng có kế hoạch đầu tư vào hệ thống ATM. Máy thì mua rồi, song lắp đặt và kết nối mạng vẫn đang nằm trong kế hoạch. Việc triển khai hệ thống ATM của VBARD còn cần rất nhiều thời gian và sức lực.

    Các ngân hàng cổ phần, vốn ít, cơ sở kỹ thuật công nghệ kém nên chưa thể tham gia vào lĩnh vực này. Sacombank lại có cách đi của riêng mình. Đó là liên kết với ngân hàng ANZ. Cho tới nay, Sacombank đã phát hành thẻ nội địa và đưa vào hoạt động 3 máy ATM tại các chi nhánh. Con số này còn quá khiêm tốn. Song qua đó Sacombank có cơ hội để học tập và phát triển hệ thống ATM của mình mà không phải dò dẫm và đầu tư quá lớn.

     

    2.4     Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại và Internet

     
       

    Internet thâm nhập vào Việt Nam từ cuối năm 1997. Và đến năm 2000, Internet trở nên phổ biến. Phần lớn các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam đều có các trang Web. Mục đích chủ yếu của các trang Web là giới thiệu và cung cấp thông tin về các sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng. Trong năm 2000, chưa có một giao dịch tài chính nào được thực hiện qua mạng.

    Tháng 10 năm 2000, Incombank, là ngân hàng đầu tiên giới thiệu dịch vụ tài chính qua internet đồng thời cung cấp dịch vụ hỏi đáp qua mạng cho khách hàng. Incombank là ngân hàng đầu tiên và duy nhất tham gia vào thanh toán qua mạng, nằm trong dự án Thương Mại Điện Tử Việt Nam do Bộ Thương Mại chủ trì.

    Bộ Thương Mại đánh giá rất cao những gì đạt được trong dự án này. Nó đóng vai trò nền tảng cho Internet-banking hay e-banking.

    Tháng 11 năm 2002, Incombank khai trương dịch vụ ngân hàng qua Internet hay còn gọi là Internet – banking. Dịch vụ này cho phép khách hàng tra soát, chuyển tiền, trả tiền dịch vụ qua trang chủ của Incombank vào bất cứ lúc nào.

    Năm 2001, lần lượt các ngân hàng tung ra thị trường dịch vụ Internet -banking. Đó là ACB, Vietcombank, Techcombank, BIDV.

    Cho tới nay Internet -banking của Vietcombank đã tiến vượt trội hơn hẳn các ngân hàng khác.

    ACB tiến hành dịch vụ ngân hàng qua điện thoại gọi là -phone-banking, cho phép khách hàng dùng điện thoại di động kết nối với hệ thống ngân hàng để nghe các thông tin về tài khoản như số dư, liệt kê giao dịch, hay các thông tin chứng khoán của công ty chứng khoán ACB.

    Tháng 9 năm  2002, Techcombank tiến hành dịch vụ phone-banking.

    Hiện đại hoá dịch vụ ngân hàng và hệ thống thanh toán đang từng bước cải thiện dịch vụ ngân hàng truyền thống, mang lại lợi ích không nhỏ cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.

    Dưới đây là một số địa chỉ trang chủ của các ngân hàng:

    –        http://www.icb.com.vn

    –        http://www.vietcombank.com.vn

    –        http://www.bidv.com.vn

    –        http://www.acbbank.com.vn

    –        http://www.techcombank.com.vn

    –        http://www.sacombank.com.vn

    –        http://www.icb.com.vn

    –        http://www.anz.com.vn

    –        http://www.vpbank.com.vn

     

    Trang chủ Ngân hàng Vietcombank:

     

     
       

     

     
       

    Trang chủ của ngân hàng ACB

    Tuy nhiên trang chủ của các ngân hàng Việt Nam còn rất nghèo nàn cả về hình thức lẫn nội dung. Chủ yếu giống như một tờ quảng cáo và các thông tin về ngân hàng thì rất chung chung.

    Trang chủ của các ngân hàng liên doanh và nước ngoài vẫn hấp dẫn hơn. Một số ngân hàng như ANZ, HSBC, Citibank, Deutsche bank cung cấp dịch vụ tỷ giá hối đoái trực tuyến hay kết nối trang chủ của họ với các trang thông tin nổi tiếng như Yahoo nhằm thu hút khách hàng.

    Do ảnh hưởng của một số ngành có liên quan như, bưu chính viễn thông, điện: cước phí internet, điện thoại cao, nguồn điện không ổn định…Internet -banking hay phone -banking còn chưa phổ biến.

    2.5     Thị trường điện tử liên ngân hàng

    2.5.1  Hệ thống  liên ngân hàng trung ương – Interbank

     

    Trong một nỗ lực cải thiện hệ thống thanh toán, tháng 5 năm 2002, ngân hàng trung ương đã đưa vào hoạt động hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đó là hệ thống máy tính nằm trong dự án trị giá USD 13,1 triệu do Ngân Hàng Thế Giới tài trợ nhằm giúp Việt Nam hiện đại hoá hệ thống thanh toán thông tin ngân hàng.

    Một hệ thống thanh toán nối mạng trên toàn quốc mà trung tâm là Ngân Hàng Nhà Nước được lắp đặt. Nó cho phép kết nối 100 chi nhánh các ngân hàng trong cả nước. Hệ thống này có rất nhiều điểm tiến bộ so với hệ thống bù trừ giấy tờ trì trệ và cồng kềnh… Tốc độ giao dịch nhanh hơn, an toàn và thuận tiện hơn. Với hệ thống này, thời gian thực hiện cho một giao dịch rút ngắn chỉ còn 10 giây.

    Tuy nhiên còn nhiều khó khăn đặt ra. Đó là vẫn chưa có một quy định vận hành, nhằm đảm bảo cho hệ thống này hoạt động hoàn hảo. Hơn thế nữa, vấn đề thiếu nhân viên chuyên nghiệp vận hành hệ thống đang được đặt ra.

    2.5.2. Hệ thống  liên ngân hàng cục bộ – Intrabank

    Song song với hệ thống liên ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại cũng tiến hành cải tổ hệ thống liên ngân hàng cục bộ.

    BIDV tiến hành mở rộng hệ thống thanh toán của mình bao trùm  tất cả các chi nhánh ngân hàng này trên toàn quốc.

    VBARD tiến hành dự án trị giá USD 94 triệu do ngân hàng thế giới tài trợ. Trong đó có hạng mục hiện đại hoá hệ thống thanh toán trị giá USD 13,17 triệu.

    Vietcombank đã có Vietcombank – Online, cho phép khách hàng kiểm tra, thanh toán trên tài khoản của họ qua các chi nhánh Vietcombank khác nhau.

    2.5.3. Hệ thống liên ngân hàng quốc tế -S.W.I.F.T

    Đây là hệ thống, nơi diễn ra hàng ngàn trao đổi thông tin, hoạt động có liên quan đến chuyển tiền qua các quốc gia, mở thư tín dụng cho xuất nhập khẩu hàng hoá. Hiện tại có 36 ngân hàng (bao gồm 151 chi nhánh) tham gia S.W.I.F.T, trong đó có 15 ngân hàng Việt Nam và 21 ngân hàng nước ngoài.

    Bằng việc nâng các cấp hệ thống liên ngân hàng trong nước và quốc tế, thanh toán của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã, đang và sẽ được cải thiện theo chiếu hướng nhanh, gọn và hiệu quả hơn.

     

    III.      Đánh giá tiềm năng thị trường dịch vụ ngân hàng điện tử

    Căn cứ tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chỉ số tăng trưởng kinh tế qua các năm gần đây, và đặc biệt là tiến bộ đạt được trong lĩnh vực cải cách ngân hàng, có thể nói thị trường Việt Nam , thị trường của gần 80 triệu dân là một thị trường tiềm  năng cho dịch vụ ngân hàng điện tử. Vấn đề là tiềm năng đó như thế nào, khai thác nó ra sao. Trong khoá luận này tôi xin trình bày một số số liệu khảo sát có liên quan tới thị trường dịch vụ này. Qua đó có thể giúp chúng ta xem xét đánh giá thị trường

     

    1.         Khảo sát thị trường

    Chi tiết kết quả khảo sát bao gồm các mục sau:

     

    1.1     Độ tuổi

    Nhìn chung dân số Việt Nam là dân số trẻ trên thế giới. Việt Nam là nước đông dân thứ hai ở Nam Á và đứng thứ 14 trên toàn thế giới (80 triệu dân). Trong đó Phụ nữ chiếm 50,8 % và nam là 49,2%. Tỷ lệ sinh sản tăng 1,36% /năm. 32 % là từ 0 đến 14 tuổi, 62 % từ 15 đến 64 tuổi và 6% là lớn hơn 65 tuổi.

    Bảng 7: Độ tuổi

     

     

     

     

    1.2.    Trình độ học vấn

     

    Bảng 8: Trình độ học vấn

    Trình độ học vấn %
    Sau đại học 4%
    Đại học 34%
    Cao đẳng, trung cấp 10,5%
    Học nghề 16%
    Phổ thông trung học 23%
    Phổ thông trung học cơ sở 12,5%

    Nhìn chung trình độ học vấn của Việt Nam vào loại cao so với khu vực. Đây là một thế mạnh để Việt Nam tham gia tiếp thu và áp dụng kiến thức mới, công nghệ mới.

    1.3.    Nghề nghiệp

     

    Bảng 9: Nghề nghiệp

    Nghề nghiệp %
    Kinh doanh tự do 26%
    Nhân viên 20%
    Cán bộ 18%
    Chủ doanh nghiệp 11%
    Giao sư 8%
    Buôn bán nhỏ 8%
    Cán bộ chính phủ 4%
    Giảng viên/giáo viên 3%
    Nghệ sĩ 1%
    Nghệ nhân 1%

    Chiếm một tỷ lệ lớn – 26% là người kinh doanh tự do, 20% là nhân viên, 18% là cán bộ cấp trung và cao 11% là chủ doanh nghiệp, số còn lại là lao động kỹ năng cao như giáo sư, nghệ sĩ.

    Việc kiểm soát thu nhập người kinh doanh tự do là rất khó. Chưa kể đến các vấn đề bức bối khác như buôn lậu, trốn thuế.  Chính vì vậy tỷ lệ thanh toán tiền mặt khá cao.

     

    1.4     Tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, thói quen tiêu dùng và tiết kiệm

    Bảng 10: Mức tăng trưởng GDP

    GDP tính theo đầu người mỗi năm:

    Hà Nội:                                    USD 720/người/năm

    Đà Nẵng:                                 USD 530/người/năm

    Thành phố Hồ Chí Minh:                 USD 1460/người/năm

    Cần Thơ:                                 USD 353/người/năm

    Cơ cấu  GDP năm 2001:

    –        Nông, lâm, ngư nghiệp:  38,95%

    –        Công nghiệp:                 37,75%

    –        Dịch vụ:                         23,3%

    So với các năm trước, cơ cấu này đã thay đổi theo chiều hướng tiến bộ rất nhiều. Song tỷ lệ dịch vụ vẫn còn quá nhỏ cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng.

    Đại bộ phận dân số chiếm 75% có thu nhập bình quân USD35-USD 50/tháng, 13% có thu nhập USD 70/tháng, 10% có thu nhập USD100-USD200/tháng, 5% có thu nhập USD 300-USD500 và 2% có thu nhập trên USD600/tháng.

    Thu nhập bình quân đầu người thấp. Dẫn đến chỉ số tiêu dùng và dịch vụ thấp. Nói đến ngân hàng, thường người ta nghĩ ngay đến việc gửi tiền tiết kiệm và không nghĩ đến việc trả tiền cho các dịch vụ ngân hàng. Tiết kiệm chiếm 31% tổng thu nhập cá nhân.

    1.5.    Nhận thức về dịch vụ tài chính ngân hàng

    95% số người được hỏi trả lời là nhận tiền lương hay thu nhập bằng tiền mặt. Số còn lại nhận bằng chuyển khoản và séc. Sau đó 98% chi tiêu của họ được thanh toán bằng tiền. Điều này chứng tỏ sự “thống trị ” của tiền mặt trong hệ thống thanh toán.

    Thói quen dùng tiền mặt còn được phản ánh qua cách tiết kiệm. 64% người được hỏi nói rằng họ đâu có kế hoạch tiết kiệm. Chẳng qua là không tiêu tiền hoặc nghĩ rằng tiêu như thế là đủ rồi. 45% dân có thói quen giữ tiền mặt hoặc mua vàng hay ngoại tệ mạnh và cất đi một chỗ. Chỉ có 34% gửi tiền vào ngân hàng.

    Thói quen này là do mối quan hệ giữa các cá nhân người tiêu dùng và ngân hàng không tốt hoặc không có. Có người nghĩ ngân hàng là một nơi xa lạ, lạnh lùng rất khó tiếp xúc. Có người cho rằng gửi tiền ngân hàng không an toàn và mất thì giờ cho các thủ tục giấy tờ. Trong 10 năm trở lại đây, tình hình này có phần được cải thiện. Ngân hàng tự tìm đến với khách hàng bằng quảng cáo, nhân viên tiếp thị và nhiều hình thức khác.

    2.         Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng điện tử

    Trên đây là nhận thức nói chung trong dân về dịch vụ ngân hàng. Còn đối với người đã từng sử dụng dịch vụ ngân hàng thì sao. Yêu cầu của họ về dịch vụ này như thế nào?

     

    2.1     Nhu cầu thiết yếu:

    Trong số những người gửi tiền ngân hàng: 50% vì muốn giữ tiền ở một nơi an toàn, 31 % vì muốn có lãi, 29% vì mục đích tiết kiệm.

    Trong số những người không gửi tiền ngân hàng: 65 % vì không có tiền hay có nhưng cần tiền mặt cho mục đích khác, 15% vì không tin tưởng ngân hàng và số còn lại là chưa hiểu về dịch vụ ngân hàng.

    Nhìn chung, nhận thức về sử dụng dịch vụ ngân hàng trong giao dịch là rất nhỏ.

    Bảng 11: Các loại hình giao dịch bán lẻ

    Loại hình dịch vụ Mô tả (%) Nhận thức về dịch vụ (%) Có hiểu biết tốt về dịch vụ (%) Tham gia sử dụng Tần số sử dụng
    Vay Vay để kinh doanh, mua nhà, mua xe 80% 20% 10% Hàng năm
    Giao dịch qua quầy Rút tiền, chyển tiền, đổi tiền, séc 65% 30% 20% Hàng tháng, hàng năm
    Giao dịch bằng thiết bị điện tử Internet, điện thoại, thẻ tín dụng, ATM 35% 15% 4%  

    Bảng 11 cho thấy phần đông dân, (80%) cho rằng ngân hàng liên quan đến việc vay và cho vay. Trong số biết đến dịch vụ vay, thì chỉ có 20% có kiến thức tương đối tốt về vay. Và trong số hiểu biết về vay cũng chỉ có 10% đi vay ngân hàng. Tần số giao dịch là năm/lần.

    Các dịch vụ qua quầy và dịch vụ điện tử được biết đến ít hơn. 70% dân biết đến dịch vụ ngân hàng qua quầy, nhưng gần một nửa trong số đó mơ hồ về thủ tục và quy định về chuyển tiền, rút tiền, mua , bán ngoại tệ. Tần số giao dịch là 3 hay 6 tháng/lần. Công nghệ hiện đại ngày càng trở nên phổ biến. Nhưng cũng chỉ có 15% dân tham gia các dịch vụ ngân hàng điện tử. Các ngân hàng Việt Nam đã sao lãng trong việc tiếp cận và giáo dục khách hàng cá nhân. Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc các dịch vụ  ngân hàng tiêu dùng không tồn tại ở Việt Nam.

    Khi được hỏi về chất luợng dịch vụ của ngân hàng trong nước và nước ngoài, người tiêu dùng đánh giá như sau:

    Bảng 12: Đánh giá về chất lượng dịch vụ ngân hàng

    Nhu cầu thiết yếu

     

     

    Ngân hàng

     

     nước ngoài

    Ngân hàng

     

    trong nước

    An toàn và bảo vệ khách hàng 8,85 8,60
    Độ tin cậy 8,49 8,46
    Bảo vệ thông tin cá nhân 8,91 8,43
    Tốc độ phục vụ 8,76 8,06
    Thủ tục 8,58 7,93
    Thái độ phục vụ 8,73 7,5
    Có kiến thức hiểu biết tốt 8,77 7,5

    Khách hàng yêu cầu cao nhất ở ngân hàng là sự an toàn và độ tin cậy. Nhìn chung chất lượng phục vụ các ngân hàng nước ngoài vẫn tốt hơn (8/10 điểm). Nhưng khoảng cách giữa ngân hàng nước ngoài và trong nước không quá lớn. Đó chính là dấu hiệu rất tốt cho các ngân hàng Việt Nam.

     

    2.2.    Nhu cầu thứ yếu

    Phát triển xã hội ngày một đi lên. Nhu cầu khách hàng ngày càng cao. Nhất là khi xuất hiện một số dịch vụ mới và sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài.

    Đánh giá về việc đáp ứng nhu cầu khách hàng còn được thể hiện như sau:

    Bảng 12: Đánh giá về chất lượng đáp ứng nhu cầu thứ yếu dịch vụ ngân hàng

    Nhu cầu thứ yếu

     

     

    Ngân hàng

     

    nước ngoài

    Ngân hàng

     

    trong nước

    Lãi suất tiền gửi cao 7,99 7,69
    Thời gian mở cửa 8,10 7,70
    Công nghệ hiện đại 8,80 7,71
    Thủ tục, điều kiện linh hoạt 8,26 7,69
    Lãi suất cho vay thấp 7,78 7,68
    Nhiều chi nhánh 7,66 8,08
    Dịch vụ 24/24 – ATM 8,47 6,85
    Phí ngân hàng thấp 7,59 7,82

    Công nghệ của các ngân hàng nước ngoài  cao hơn. Nhưng điểm mạnh của ngân hàng trong nước là có nhiều chi nhánh hơn, phí ngân hàng thấp hơn.

    3.         Đánh giá chung tình hình hiện tại của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

    3.1     Nhu cầu thị trường

    Kể từ năm 1996, có thể coi việc chiếc máy ATM đầu tiên do HSBC được lắp đặt là bằng chứng xuất hiện của dịch vụ ngân hàng điện tử. Cho tới nay, với số lượng máy ATM trên thị trường, số lượng thẻ phát hành, số lượng địa điểm chấp nhận thẻ, sự xuất hiện của các dịch vụ mới như phone-banking, internet-banking, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại và phát triển bước đầu của ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Rõ ràng nhu cầu cho ngân hàng điện tử là có và có tăng. Song, đại bộ phận nhu cầu đều tập trung ở các thành phố lớn, nơi có thu nhập tương đối cao và ổn định.

    Nhu cầu này cũng rất khác nhau và chưa thực sự chín muồi. Điều này thách thức các ngân hàng nỗ lực tuyên truyền giáo dục khách hàng.

    Chi phí cho loại hình dịch vụ này còn cao so với mặt bằng thu nhập. Đó chính là giải thích cho việc tuy nhận thức về ngân hàng điện tử tương đối tốt nhưng tỷ lệ tham gia thực sự không nhiều. Và nếu không tham gia dịch vụ này thì hiểu biết tường tận về dịch vụ này cũng không thể nâng cao.

    Thói quen tiêu tiền mặt, cộng thêm  tính sẵn có của dịch vụ ngân hàng điện tử chưa cao cũng là nguyên nhân dẫn đến việc dịch vụ này chưa phổ biến. Không phải bất cứ địa điểm nào cũng có mặt loại hình dịch vụ này.  Các ngân hàng đang sẵn sàng cho việc phát triển dịch vụ này. Nghĩa là cung đã có. Vậy việc khai thác và tăng cầu cho dịch vụ ngân hàng điện tử là một điều hết sức bức thiết.

    3.2     Kinh tế pháp lý và chính trị xã hội

    Tuy nhiên việc tăng cầu trong dân cho ngân hàng điện tử không chỉ cần nỗ lực của các ngân hàng mà còn đòi hỏi các chính sách vĩ mô của nhà nước.

    Cơ cấu kinh tế nước ta chưa thoát khỏi kinh tế nông ngiệp. Cơ cấu dịch vụ quá thấp chưa cho phép ngân hàng điện tử, một loại hình dịch vụ cao cấp của một nền kinh tế tương đối phát triển.

    Điều kiện chính trị hiện nay chưa cho phép nền kinh tế nước ta “mở” hoàn toàn. Do vậy cũng còn nhiều hạn chế đối với việc nhận thức của dân về các vấn đề tiến bộ, hạn chế phát triển một số ngành như thông tin viễn thông, điện, điện tử.

    Quá trình “đổi mới” mới diễn ra trong 10 năm  gần đây. Đó là một quãng thời gian quá ngắn, chưa đủ để làm thay đổi thói quen sống và làm việc của đại bộ phận dân chúng. Về mặt xã hội, cũng phải lưu ý tới nhận xét của nhiều học giả rằng, do lịch sử hàng nghìn năm sống trong nền “văn minh làng xã” đông đảo dân chúng Việt Nam chưa xây dựng được một tác phong “làm việc đồng đội” ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế, cũng như chưa có được lối sống theo pháp luật chặt chẽ, theo kỷ luật lao động công nghiệp tiêu chuẩn hoá, đều là những yếu tố mà thương mại điện tử nói chung hay ngân hàng điện tử nói riêng đòi hỏi một cách nghiêm ngặt.

    Hệ thống pháp lý liên quan đến thương mại điện tử và ngân hàng điện tử mới hình thành, chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ. Các quy định về tài chính nói riêng và các quy định chung khác có liên quan thay đổi trong một thời gian khá ngắn. Điều này khiến cho hoạt động của các ngân hàng còn dè dặt, lòng tin của dân đối với ngân hàng chưa cao.

    3.3.    Công nghệ và nhân lực

    Như trên đã trình bày, công nghệ thông tin và tin học phát triển chính là một trong những động lực chính tạo ra ngân hàng điện tử. Sự phát triển công nghệ thông tin là một điều không thể phủ nhận. Và càng không thể phủ nhận nỗ lực của các ngân hàng trong việc áp dụng công nghệ hiện đại.

    Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách kịp thời để khuyến khích sự  phát triển này:

    –        Thu thuế thấp nhất đối với hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin

    –        Đầu tư ngân sách nhà nước (hơn 5%) cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển công nghệ thông tin.

    –        Sửa đổi luật ngân hàng

    –        Chi 1 tỷ đồng cho dự án phát triển thương mại đIện tử. Gồm 14 tiểu dự án về hạ tầng cơ sở pháp lý.

    Đội ngũ nhân lực tin học và ngân hàng có thể nói khá mạnh: trẻ, thông minh, sánh tạo. Song, lực lượng này hiện nay chưa được tập hợp một cách có hệ thống và chưa được khai thác một cách đúng mức và có hiệu quả. Đa phần trong số họ làm việc cho các công ty nước ngoài. Trong khi các công ty trong nước thiếu một lực lượng chuyên nghiệp thực sự đủ năng lực để xử lý các hệ thống và phần mềm ứng dụng toàn quy mô lớn.

    Nhìn chung, trong vòng một thời gian ngắn, ngân hàng điện tử đã đi lên

    những thành công hôm nay từ con số không. Nó chứng tỏ sự phát triển tất yếu của ngành ngân hàng nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, để duy trì những thành công bước đầu và phát triển như mong đợi, dịch vụ ngân hàng điện tử còn đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam, các ngành có liên quan và Chính phủ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương III:       Giải pháp nhằm thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    I.         Xu hướng phát triển ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    1.         Xu hướng trước mắt

    Theo báo cáo của ASEAN tháng 10 năm 2001, Việt Nam đã được xếp vào một trong số những quốc gia sẵn sàng cho thương mại điện tử.

    Bảng 13: Tình hình phát triển E – BANKING ở ASEAN

                       
       
     
       
    Việt Nam

     

    Cambodia

    Myanmar

    Lào

     
    Thailand

     

    Philippines

    Brunei

    Indonesia

     
    Malaysia
     
    Singapore

    Điều này có nghĩa là Việt Nam mới bắt đầu nhận ra sự tồn tại tất yếu của thương mại điện tử và có kế hoạch chuẩn bị cho việc tiến hành. Chính phủ Việt Nam đã có những cam  kết về thương mại điện tử trong lộ trình gia nhập AFTA, APEC và tiến tới là WTO. Bằng chứng là trong 5 năm  qua thương mại điện tử Việt Nam hay cụ thể là ngân hàng điện tử Việt Nam đã bước đi những bước đáng kể.

    Như đã phân tích ở trên, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn xa mới theo kịp các nước trong khu vực. Singapore có ATM từ năm 1979, Malaisia có ATM vào năm 1981, còn chúng ta, mới chỉ bắt đầu từ 1996.

    Kể từ cuối năm 2001, hệ thống ATM phát triển bùng nổ ở Việt Nam. Các ngân hàng đang trong một cuộc chạy đua về ATM. Xu thế này sẽ vẫn tiếp tục phát triển trong một vài năm tới. Bởi vì các ATM hiện nay mới chỉ tập trung nhiều ỏ Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả các ngân hàng đều có mong muốn hệ thống ATM của mình có mặt tại các tỉnh thành trong cả nước.

    Đi đôi với ATM là dịch vụ thẻ, bao gồm cả phát hành và chấp nhận thanh toán.

    Thẻ và ATM là mục tiêu trước mắt của các ngân hàng. Chủ trương phát triển dịch vụ ngân hàng tiêu dùng, ngân hàng bán lẻ buộc các ngân hàng phải nhanh chóng mở rộng hệ thống khách hàng cá nhân. Nhưng những ràng buộc như hạn chế về số lượng chi nhánh, số lượng nhân viên, thời gian phục vụ tại quầy đã khiến cho việc phục vụ một số lượng lớn khách hàng là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy, thẻ và ATM là dịch vụ lợi thế nhất mang lại hiệu quả cho cả khách hàng và ngân hàng.

    Tuy nhiên việc lắp đặt chồng chéo ATM của các ngân hàng là không thể tránh khỏi. Chi phí quá lớn cho việc đầu tư lắp đặt hệ thống này có thể phải xem lại đối với một số ngân hàng vốn nhỏ. Tránh tình trạng đầu tư mua máy mà chưa đưa vào sử dụng trong thời gian dài, gây đọng vốn quá lâu.

    Dịch vụ phone-banking và internet-banking trong thời gian tới mới chỉ bước đầu đưa vào hoạt động hoặc thử nghiệm hoạt động. Nguyên nhân là các dịch vụ này đòi hỏi một cơ sở hạ tầng công nghệ cao. Cần có thời gian cho các ngân hàng thiết lập và nâng cấp hệ thống kỹ thuật cũng như cho người tiêu dùng nâng cao nhận thức và có một hiểu biết tương đối về dịch vụ có tính chất cách mạng trong lĩnh vực tài chính này.

     

    2          Xu hướng lâu dài

    Nền tảng của thương mại điện tử và ngân hàng điện tử  là Internet. Internet đang phát triển rất nhanh cả về phạm vi bao phủ, phạm vi ứng dụng và chất lượng vận hành. Hiện nay, có khoảng 100 triệu người đang sử dụng Internet. Theo dự báo số người sử dụng Internet trên toàn thế giới năm 2005 sẽ lên tới 1 tỷ người.

    Tính đến cuối năm 2000, số thuê bao Internet ở Việt Nam là 113.000 và chưa đầy 1000 doanh nghiệp có trang chủ riêng. Tuy nhiên phải tính đến việc chúng ta mới chỉ ra nhập Internet từ cuối năm 1997.

    Không nằm ngoài xu hướng phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới, Internet cũng sẽ bùng nổ ở Việt Nam trong những năm tới. Đó chính là cơ sở để phát triển ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Hiện nay Chính phủ đang xem  xét để thông qua kế hoạch tổng thể nằm thực hiện nghiêm túc chỉ thị 58/CT-TW  chỉ đạo về công nghệ thông tin trong tình hình mới.

    Đào tạo nguồn nhân lực để phát triển công nghệ thông tin. Trong mọi lĩnh vực, nguồn nhân lực là hết sức quan trọng. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin nước ta mới đang ở dạng tiềm năng chứ chưa phải ở dạng khả năng khai thác. Mục tiêu của chúng ta là khuyến khích nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, có những chính sách nhằm thu hút tài năng tin học, có những sản phẩm phần mềm thay thế được nhập khẩu.

    Ứng dụng công nghệ thông tin ở tất cả các hoạt động kinh tế xã hội. Điều này không những xây dựng một nền kinh tế mới mà còn nâng  cao nền kinh tế tri thức, làm nền tảng cho sự phát triển của các loại hình dịch vụ cao cấp.

    Xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet ở Việt Nam. Với quyết tâm cao của ngành bưu chính viễn thông, của đông đảo cộng đồng khoa học công nghệ, hạ tầng cơ sở viễn thông giai đoạn tới phải được nâng lên ngang bằng với khu vực. Mục tiêu là tạo ra sự bùng nổ đột biến Internet ở Việt Nam. Và chỉ có cách đó chúng ta mới hoà nhập, sử dụng thương mại điện tử, Chính Phủ điện tử như Chính phủ nước ta đã cam kết với chính phủ các nước Đông nam Á.

    Kế hoạch đồng bộ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Hoàn thiện nâng cấp kỹ thuật hệ thống mạng thông tin ngân hàng rộng khắp từ Trung ương đến tất cả các chi nhánh. Xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành, phục vụ công tác quản lý của Ngân Hàng Nhà Nước. Ưu tiên phát triển hệ thống thanh toán Quốc gia. Phổ cập dịch vụ ngân hàng tiêu dùng trong dân. Hoàn thiện  hệ thống các văn bản pháp lý trong các nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới công nghệ ngân hàng hiện đại.

    II.        Một số kiến nghị giải pháp cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    Trong quá trình đương đầu với những thách thức mới trên thị trường, ngành ngân hàng thế giới  luôn theo đuổi hai mục tiêu chiến lược. Đó là cạnh tranh toàn cầu và không ngừng phát triển khoa học công nghệ. Ngành ngân hàng ngày nay đang dần thay thay thế phương thức hoạt động truyền thống bằng phương thức mới. Đó chính là ngân hàng điện tử. Khái niệm ngân hàng điện tử tuy còn mới mẻ đối với Việt Nam. Song, để phát triển thương mại điện tử thì việc tiến hàng ngân hàng điện tử là điều thiết yếu, giúp nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu. Vấn đề chỉ còn là thời gian và những biện pháp cả ở tầm vĩ mô và vi mô để tạo ra một môi trường tốt cho ngân hàng điện tử phát triển.

    1.         Kiến nghị giải pháp vĩ mô

    Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng để thực hiện ngân hàng điện tử thông qua việc đưa ra các định hướng, xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý, triển khai cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như ban hành các chính sách phát triển một cách hợp lý. Chính phủ cần thể hiện rõ là người dẫn đầu cuộc chơi trong việc đem lại lợi ích quốc gia. Cụ thể có những việc cần làm  như sau:

    1.1.    Cải cách nâng cao hệ thống quản lý ngân hàng

    Một hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động hiệu quả là một trong số điều kiện tiên quyết sự ổn định và phát triển một nền kinh tế, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Ngành ngân hàng Việt Nam mới chỉ chuyển đổi cơ cấu trong một thời gian ngắn. Khoảng thời gian này chưa để đủ tạo ra một hệ thống ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Quá trình đổi mới vẫn còn đang tiếp diễn. Ngoài những bước đi ban đầu, ngành ngân hàng Việt Nam  cần được củng cố thêm rất nhiều tạo cơ sở để phát triển ngân hàng điện tử.

    *        Hiện đại hoá tổ chức và hoạt động hành chính của các ngân hàng thương mại

    –        Cải thiện và củng cố lại các quy tắc quản lý kế toán của các ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn quốc tế

    –        Nâng cao năng lực quản lý trong ngành ngân hàng. Giảm bớt hệ thống quản lý, nhân viên cồng kềnh. Giảm bớt số lượng ngân hàng nhỏ, không hiệu qủa.

    –        Tiến hành kế hoạch tập trung xúc tiến và trao đổi các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng điện tử một cách nghiên túc.

    –        Tạo điều kiện đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

    –        Thông tin kịp thời về những tiến bộ công nghệ tới các cán bộ ngân hàng. Đầu tư thoả đáng cho việc xây dựng một nguồn nhân lực chuyên nghiệp.

    *        Tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng Việt Nam giao lưu với ngân hàng trong khu vực và trên thế giới

    Do chức năng và tính chất của hoạt động, hệ thống ngân hàng một nước luôn đòi hỏi một mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng thế giới.

    Chính  phủ cần:

    –        Dần dần dỡ bỏ chính sách quản lý và bảo hộ quá chặt chẽ đối với hệ thống ngân hàng bằng cách để các ngân hàng Việt Nam tham gia vào các tổ chức tài chính khu vực và thế giới, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực tài chính.

    –        Đưa các chương trình hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư thương mại điện tử vào kế hoạch phát triển hàng năm.

    –        Hợp tác triển khai các dự án thương mại điện tử có quy mô quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế.

     

    1.2     Xây dựng và cải thiện hành lang pháp lý và các quy định khung cho ngân hàng điện tử

    *        Xây dựng hệ thống luật, các quy định khung cho ngân hàng điện tử

    Hệ thống luật pháp liên quan tới ngân hàng điện tử hiện nay được tạo ra bởi rất nhiều cấp độ khác nhau như Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, các Bộ, Ngân Hàng Nhà Nước, Uỷ ban nhân dân thành phố. Tất nhiên các văn bản phát hành cấp Quốc hội vẫn có hiệu lực cao nhất. Nhưng điều này tạo ra sự chồng chéo về quy định mà vẫn không đầy đủ, rất khó áp dụng.

    Hơn thế nữa, việc thi hành chậm trễ các văn bản luật và dưới luật diễn ra rất phổ biến. Ví dụ như trường hợp quyết định 44/2002QĐ-TTg về vấn đề sử dụng hoá đơn điện tử trong thanh toán các dịch vụ do chính phủ ban hành ngày 21/3/2002. Nhưng đến ngày 8/10/2002, Ngân Hàng Nhà Nước mới ban hành thông tư 1092/2002/QĐ-NHNN  hướng dẫn thực hiện quyết định này cho các ngân hàng thương mại.

    Cần có thêm các thông tư hướng dẫn thi hành các vấn đề như thanh toán điện tử, tiền điện tử, vấn đề an toàn và bảo mật…Tham khảo luật và các tiền lệ khu vực và thế giới để có chung “một tiếng nói” với các quốc gia khác.

    Việc ban hành và sửa đổi các quy chế ngân hàng phải căn cứ và xuất phát từ những hoạt động thương mại và công nghệ hiện đại.

    *        Ban hành các quy chế nhằm tạo ra hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt

    Hạn chế thanh toán tiền mặt, trước tiên là trong hệ thống ngân hàng. Tiến hành thanh toán qua tài khoản cho việc trả lương, thanh toán giữa các ngân hàng. Khuyến khích mở tài khoản cá nhân.

    1.3.    Đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin

    Nền tảng của ngân hàng điện tử là công nghệ thông tin, cần có sự đầu tư thoả đáng không chỉ từ các ngân hàng mà còn từ phía Chính phủ.

    *        Thiết lập một hệ thống thanh toán tiêu chuẩn

    Hệ thống thanh toán ở Việt Nam còn nhiều điều bất cập, chưa hoàn thiện, chưa nối mạng quốc tế và bị lấn át bởi hệ thống thanh toán bằng tiền mặt. Việc cải tổ lại hệ thống thanh toán không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn mang lại lợi ích quốc gia.

    Hệ thống liên ngân hàng điện tử mới đưa vào hoạt động gần đây như là một bước tiến căn bản tạo nền móng vững chắc cho hệ thống ngân hàng trên toàn quốc. Hệ thống này cần được duy trì và khai thác một cách có hiệu quả hơn.

    Ngân Hàng Nhà Nước cần có các chính sách hỗ trợ khuyến khích các ngân hàng thương mại tự đầu tư cho hạ tầng cơ sở thanh toán điện tử. Xoá bỏ một số quy định cản trở các ngân hàng thương mại trong việc thiết lập kế hoạch chiến lược lâu dài đầu tư hiên đại hoá cơ sở hạ tầng.

    *        Xúc tiến ngành công nghệ tin học ngân hàng

    Công nghệ tin học ngân hàng đang phải đối mặt với rất nhiều rào cản như trình độ quản lý kỹ thuật yếu kém, phát triển không đồng đều, thiếu vốn… Chính phủ có thể cho phép các công ty tài chính nước ngoài đầu tư một phần trong lĩnh vực thông tin viễn thông nhưng không cho họ liên quan tới các hoạt động điều hành nhằm thu hút vốn và kinh nghiệm kỹ thuật của họ mà vẫn kiểm soát được lĩnh vực này.

    *        Phổ cập công nghệ thông tin trong dân, xây dựng nguồn nhân lực tin học chuyên nghiệp

    Với cơ sở vật chất thiếu thốn như hiện nay, chúng ta không có hi vọng

    làm cho cả gần 80 triệu dân Việt Nam hiểu đầy đủ về Internet, song ít nhất chúng ta có thể đưa tin học tới mọi nơi có thể đến được. Đó là các công sở đã có hệ thống máy tính nối mạng Internet, là việc giảng dạy ở các cấp trường học, là việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Cần đưa báo chí, trung tâm thông tin lên mạng. Bằng cách tra cứu này, biến internet thành thứ công cụ gần gũi phổ biến cho các công ty và cá nhân.

    Cần đẩy mạnh kinh doanh thông tin trên internet nhằm lôi kéo các doanh nghiệp nối mạng. Các nội dung thông tin phải cập nhật, chính xác và bao trùm cả nước. Hoàn thiện các kỹ năng nghiệp vụ sử dụng internet.

    Phát triển internet là trước hết phải phát triển các nhà cung cấp dịch vụ internet. Bằng cách này mới mong tăng số lượng thuê bao internet.

    Các cơ quan quản lý nhà nước tích cực tham gia nối mạng để cung cấp các thông tin về chế độ chính sách, luật pháp, từ đó tạo thói quen dùng internet trong đời thường. Lựa chọn các doanh nghiệp để tham gia vào mạng.

    Khuyến khích tổ chức các hoạt động nghiên cứu sáng tạo tin học như cuộc thi “Trang Web ấn tượng năm 2000” do tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam  tổ chức.

    Chúng ta đang thiếu một nguồn  nhân lực công nghệ thông tin chuyên nghiệp. Việc sử dụng máy tính ngày càng phổ biến nhưng ít nhiều vẫn mang tính tự phát. Đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm. Chúng ta chưa có một lực lượng chuyên gia lập trình có khả năng xử lý ứng dụng hệ thống tầm cỡ quốc gia. Đây là vấn đề đặt ra cho Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường và Bộ Lao động Thương binh Xã hội.

    Điều đáng nói tới là phương pháp đào tạo giáo dục. Hiện nay, nhiều sinh viên tin học tài năng lại không được hoặc không thể sử dụng trong các lĩnh vực ngân hàng. Nguyên nhân là họ không có chút kiến thức tối thiểu về ngành tài chính ngân hàng. Việc khuyến khích các sinh viên tin học tham gia sáng tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng còn rất ít.

    II.        Kiến nghị giải pháp vi mô

    Sau đây là một số giải pháp từ phía các ngân hàng thương mại, bộ phận đóng vai trò chính trong việc tiến hành và phát triển ngân hàng điện tử.

    1.         Chiến lược phát triển và quản lý hệ thống khách hàng

    Dịch vụ ngân hàng tiêu dùng ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu xuất hiện. Nhìn ở tầm dân chúng rộng rãi, nhận thức và hiểu biết về ngân hàng chưa rõ ràng và đầy đủ. Về phía các ngân hàng, phần lớn các ngân hàng cho tới nay vẫn còn sao lãng việc phát triển hệ thống khách hàng cá nhân.

    Các ngân hàng thương mại quốc doanh dựa dẫm vào nhà nước mà bỏ qua sự cần thiết trong việc tìm đến với khách hàng. Còn các ngân hàng cổ phần thì còn quá nhỏ và thiếu kinh nghiệm. Trong nền kinh tế thị trường, việc xây dựng hệ thống khách hàng là vô cùng quan trọng. Khách hàng chính là sự tồn tại của doanh nghiệp. Phương thức cung cấp dịch vụ truyền thống của các ngân hàng Việt Nam không còn có đủ khả năng tồn tại trước thách thức của cơ cấu kinh tế thị trường.

    Trong xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển công nghệ thông tin cho phép các đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường không chỉ trong phạm vị một nước mà là trên toàn thế giới. Nó tạo ra cho các ngân hàng có chiến lược marketing mạnh nhiều cơ hội và thách thức những ngân hàng có quy mô khách hàng nhỏ. Hơn bao giờ hết, đẩy mạnh marketing phát triển hệ thống khách hàng là nhiệm vụ đầu tiên của các ngân hàng.

    Ngày nay, sự khác biệt của các dịch vụ tài chính giữa các ngân hàng không còn là bao. Ngân hàng nào cũng có các dịch vụ như nhau Rất khó khăn để trở nên nổi trội trên thị trường. Do vậy cần phải duy trì một mối quan hệ tốt đối với khách hàng. Duy trì chất lượng dịch vụ, xây dựng kế hoạnh giữ vững thị phần và quy mô khách hàng. Nghiên cứu tìm hiểu kể cả nhu cầu nhỏ của khách hàng nhằm mang lại cho khách hàng dịch vụ cần thiết đúng lúc. Phưong châm là “đúng người, đúng sản phẩm, đúng lúc” Một số yêu cầu cụ thể đối với ngân hàng:

    *        Hiểu khách hàng

    Xây dựng cơ sở dữ liệu về khách hàng, các sở thích, nhu cầu thiết yếu, thứ yếu. Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua việc phát triển dịch vụ, sản phẩm và xây dựng giá cho mỗi loại khách hàng

    *        Luồng phân phối sản phẩm

    Các luồng sản phẩm  mới phải thường xuyên đuợc tung ra xen kẽ luồng sản phẩm cũ. Giúp khách hàng luôn có nhiều sự lựa chọn. Đi đôi với việc này là các chiến dịch quảng bá khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm mới. Từ đó dần thay thế sản phẩm cũ đã hết tuổi thọ trên thị truờng.

    *        Tạo ra khách hàng

    Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên marketing chuyên nghiệp, chủ động biến nhu cầu tiềm  năng của khách hành thành nhu cầu thực sự, xoá bỏ định kiến của khách hàng, tăng cuờng dịch vụ sau bán hàng để nhanh chóng lấp đầy các “khe hở” hiểu biết chưa đầy đủ về dịch vụ của khách.

    2.         Xây dựng chiến lược đầu tư thực hiện ngân hàng điện tử

    Mỗi ngân hàng cần phải xây dựng một chiến lược công nghệ thông tin cho ngân hàng mình nhằm thực hiện chiến lược tổng thể của ngân hàng, có tính đến nội lực. Tránh tình trạng đầu tư tràn lan, mất cân đối, thời gian hoàn thiện kéo dài. Với 15% trong số các ngân hàng thể hiện quan tâm đối với ngân hàng điện tử hiện nay thì qủa là đáng ngại. Thực tế, đầu tư cho ngân hàng điện tử yêu cầu một lượng vốn quá cao mà không phải ngân hàng nào cũng đáp ứng nổi.

    Lãnh đạo các ngân hàng phải có sự quan tâm chỉ đạo sát sao. Với tầm nhìn của mình, lãnh đạo ngân hàng có thể thấy một bức tranh toàn cảnh, từ đó mà cân đối giữa ngân hàng điện tử và các phần dich vụ khác.

    Các ngân hàng đã tham gia thực hiện ngân hàng điện tử cần thực hiện triệt để hệ thống ngân hàng điện tử đã xây dựng, tránh tình trạng lãng phí về người và của.

    Cuối cùng, các ngân hàng không quên phối kết với các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô, các ngành có liên quan để có thể từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách nhất là cơ sở hạ tầng truyền thông, chi phí giao dịch điện tử.

     

    3.         Vấn đề an toàn và bảo mật

    Vấn đề an toàn và bảo mật là vấn đề quan trọng đối với ngân hàng đặc biệt là ngân hàng điện tử. Để dẫn tới thành công trong phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng mới này, điều đầu tiên là ngân hàng phải chiếm được lòng tin của khách hàng.

    *        Áp dụng các biện pháp an toàn cần thiết

    Về mặt kỹ thuật, hiện nay một số các ngân hàng các hê thống an toàn như Secure Sockets Layer (SSL) hay Secure Electronic Transaction (SET). Ngoài ra các ngân hàng cần thiết lập một chính sách quản lý rủi ro nội bộ. Cuốn “Nguyên tắc quản lý rủi ro cho các hoạt động ngân hàng điện tử” do BASEL phát hành là một tài liệu tham khảo rất tốt.

    *        Giáo dục khách hàng

    Thực tế, những sơ xuất của khách hàng do thiếu hiểu biết đã dẫn đến những rủi ro đáng tiếc. Khách hàng dường như phó mặc cho ngân hàng và không nghĩ rằng mình cũng phải có trách nhiệm tự bảo vệ.

    Ví dụ như một người để cho người thân của mình biết mã số bí mật và sử dụng thẻ tín dụng của mình một vài lần. Điều này rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa ông ta với ngân hàng. Ông ta có thể từ chối các giao dịch xảy ra tại các địa điểm mà ông ta chứng minh là mình không thể có mặt ở đó.

    Ngân hàng có thể giáo dục hoặc cảnh báo nguy cơ cho khách hàng bằng các thông báo in trên bản sao kê tài khoản, thư, đơn đăng ký dịch vụ. Và luôn nhắc nhở khách hàng tuân theo các quy dịnh đảm  bảo an toàn.

    4.         Thiết kế trang chủ và tận dụng tiến bộ của trang chủ

     

    Trang chủ, tiếng Anh là Web site có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Đối với ngân hàng thì nó là một thị trường thông tin trên mạng. Nó cho phép xúc tiến các hoạt động quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Trang chủ là cở sở của Internet-banking.

    Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần lưu tâm hơn dến vấn đề thiết kế trang chủ, sao cho dẹp mắt, hấp dẫn hơn, thông tin cập nhật, phong phú hơn nhằm thu hút chú ý của khách hàng.

    Các ngân hàng cần cân nhắc đến việc tổ chức nhiều các giao dịch thực sự trên các trang chủ hơn nhằm  chiếm lòng tin khách hàng, xoá bỏ mối e ngại ban đầu của khách hàng về Internet-banking, làm Internet-banking trở nên phổ biến.

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận

    Ngân hàng điện tử là một phương thức mới của các hoạt động tài chính ngân hàng. Sự ảnh hưởng lớn lao của nó không chỉ ở những gì mà người ta dễ nhận ra như tăng số lượng khách hàng và dịch vụ ngân hàng, giảm bớt chi phí, giảm bớt khâu trung gian, tào điều kiện thuận lợi cho khách hàng…mà còn ở những điều khó nhận thấy hơn như mô hình thanh toán, hiệu quả hoạt động tài chính, cấu trúc thị trường, luật pháp, chính sách,.., từ đó ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế xã hội của các nước và trên toàn thế giới.

    Ngân hàng điện tử là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nó không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho ngành tài chính ngân hàng mà còn cho  các ngành khác như công nghệ thông tin, du lịch, sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng… Ngân hàng điện tử là một phần của thương mại điện tử và tiến trình “toàn cầu hoá”.

    Trong vòng 10 năm, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đưa ngân hàng điện tử Việt Nam  đi lên từ con số không và đạt được những thành tích đáng kể. Ngân hàng điện tử mang tính chất xúc tác thúc đẩy nhanh chóng quá trình cải tổ làm thay đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung, góp phần thực hiện các cam kết của nước ta trên lộ trình gia nhập ASEAN, AFTA, APEC và tương lai là WTO.

    Tuy còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu và hoàn thiện trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, pháp luật và xã hội để có thể thúc đẩy ngân hàng điện tử phát triển ở Việt Nam, nhưng nhìn vào xu hướng phát triển ngân hàng điện tử trên thế giới và bước đi ban đầu của Việt Nam trong lĩnh vực này, ta có thể khẳng định rằng Việt Nam tất yếu sẽ triển khai thành công ngân hàng điện tử.

    Vì thời gian hạn chế nên bài khóa luận này không tránh khỏi có những thiếu sót về nội dung cũng như hình thức. Rất mong sự góp ý của các thầy cô để tôi có thể hoàn thiện thêm.

    Xin chân thành cảm ơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

    Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

    Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-v%E1%BB%81-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-E-Banking.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

     

    Đề tài: Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng  điện tử (E-banking ) tại Techcombank ( hoặc NHTMCP Kỹ thương Việt Nam)

    Nội dung chính:

    phần 1.

    1. Một số vấn đề chung về E-banking.
    2. Đánh giá chung về E-banking trên thế giới

    phần 2.

    1. E- banking tai VN
    2. E – banking tại Techcombank
      • Techcombank với chiến lược và sản phẩm E-banking
      • Sản phẩm Home-banking của Techcombank.
      • thiets lập các điều kiện để mở rộng e – banking tại Tech

    phần 3. ưu điểm và nhược điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử tại VN

    BẢN NHÁP.

    Phần 1:

    1. Kn:

    Nghiệp vụ ( dịch vụ ) Ngân hàng điện tử được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh mới như Internet, điện thoại, mạng không dây… Hiện nay, dịch vụ  ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này.

    2 . Mục đích / lợi ích

    -Hướng đến người tiêu dùng

    -Tiết kiệm chi phí đầu tư và vận hành

    -Xây dựng hệ thống có thể tạo ra các sản phẩm mới 1 cách dễ dàng

    -Xây dựng hệ thống có thể đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của khách hàng

    -Tích hợp với các kênh phân phối sẵn có

    -Hoạt động liên tục 365 X 24.

    1. Các hình thức của dịch vụ ngân hàng điện tử.

    Ngân hàng điện tử được định nghĩa như là một phương thức cung cấp các sản phẩm mới và sản phẩm truyền thống đến người  tiêu dùng thông qua con đường điện tử và các kênh truyền thông tương tác

    Dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) gồm:

    • Internet banking (or online banking)
    • Telephone banking
    • TV-based banking
    • Mobile phone banking
    • PC banking (or offline banking)
    • ATM (Automated Teller Machine) channel

    4 . Đánh giá chung v ề E-banking tại 1 số nước trên thế giới

    4.1. Tại Philippines.

    Một quan chức cao cấp của Ngân hàng United Coconut Planters Bank (UCPB) ở Philippines cho biết giá trị và số lượng các giao dịch ngân hàng điện tử (e-banking) ở nước này đã gia tăng đều đặn trong vòng ba năm qua, mặc dù vẫn còn nhiều quan ngại về vấn đề an ninh và truy cập của phương thức giao dịch này.

    Về phía các ngân hàng, e-banking mang lại cho họ hiệu quả phục vụ cao hơn và tăng trưởng mạnh hơn nhờ giảm được chi phí thông tin và chi phí giao dịch.

    Phó tổng giám đốc UCPB Margarita Lopez nhận định sự tăng trưởng này chứng tỏ khách hàng ngày càng chấp nhận e-banking như là một kênh giao dịch an toàn, đáng tin cậy và tiện lợi.

    Theo số liệu thống kê của Ngân hàng trung ương Bangko Sentral ng Pilipinas (BSP), trong quý đầu năm 2004, đã có 42 ngân hàng sử dụng hệ thống e-banking, tăng 40% so với năm trước. Trong số này có 27 ngân hàng cung cấp các dịch vụ qua Internet, bao gồm 24 ngân hàng thương mại và quốc tế và ba ngân hàng tiết kiệm.

    Tổng giá trị giao dịch qua e-banking trong chín tháng đầu năm 2004 tăng 66% so với năm 2003, đạt 5,32 tỷ peso (khoảng 95 triệu đô la Mỹ).

    Telebanking, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại của UCPB, đã đạt mức kỷ lục trong chín tháng đầu năm 2004 với 1,1 triệu giao dịch trị giá hơn 73 triệu đô la Mỹ.

    Tương tự, điện thoại di động cũng đang trở thành một công cụ chi trả cạnh tranh với thẻ tín dụng và thẻ rút tiền. Những cuộc điều tra gần đây của Hãng ACNielsen cũng cho thấy rằng, trong số một triệu người sử dụng Internet thường xuyên tại Philippines, có 23% hiện đang thực hiện các giao dịch ngân hàng qua e-banking.

    Giám đốc thông tin Elena “Bing” Van Tooren của ACNielsen ở Philippines nói : “Một khi người ta cảm thấy thuận lợi trong giao dịch ngân hàng trực tuyến, các hoạt động Internet khác như mua hàng trên mạng sẽ mau chóng phát triển

    4.2. Tại Mỹ

     

    Theo một nghiên cứu của Stegman chi phí trung bình cho việc thực hiện một giao dịch ngân hàng bất kỳ theo kênh truyền thống qua quầy giao dịch tại Mỹ là 1.07 USD.  Với việc áp dụng công nghệ, chi phí của một giao dịch tương tự thực hiện qua các kênh ngân hàng tự động động khác nhau lần lượt là: 0.04 USD đối với một giao dịch thực hiện qua trung tâm liên lạc khách hàng (call/contact center); 0.27 USD qua ATM; và 0.01 USD thông qua dịch vụ Internet Banking thực hiện trên một máy tính cá nhân bình thường. Điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng các giao dịch dựa trên công nghệ Internet đã trở nên kinh tế và hiệu quả cho ngành ngân hàng Mỹ trong việc giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ cho các khách hàng hiện tại và tiềm năng của ngân hàng ở phạm vi toàn cầu.

    • Internet Banking tại Anh và các nước châu Âu khác

    Phần lớn khách hàng tại Anh và châu Âu sử dụng Internet Banking để xem số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, kiểm tra giao dịch hàng ngày, đối chiếu số dư. Sử dụng dịch vụ Internet Banking giúp các ngân hàng giảm chi phí hoạt động và thời gian làm việc của nhân viên tại các trung tâm liên lạc khách hàng (call center), các chi nhánh để trả lời khách hàng và thực hiện các giao dịch lặp đi lặp lại. Khách hàng cũng được hưởng lợi nhờ dịch vụ nhanh, chính xác, đảm bảo sự riêng tư, tiết kiệm thời gian đi lại…

     

    4.4. Internet Banking tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

    Tại khu vực này, Internet Banking đã được triển khai tại nhiều nước như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và Thái Lan. Tại Trung Quốc, Ngân hàng Trung Ương đã khuyến khích các dịch vụ Internet Banking từ năm 2000. Tại Hong Kong, ngân hàng HSBC bắt đầu cung cấp dịch vụ Internet Banking vào 1/8/2000. Với dịch vụ Internet Banking của HSBC, khách hàng có thể gửi tiết kiệm, đầu tư chứng khoán, thanh toán hoá đơn dịch vụ và giao dịch ngoại hối. Tại Singapore, dịch vụ Internet Banking đầu tiên đã xuất hiện từ năm 1997. Hiện tại các ngân hàng lớn tại Singapore đều cung cấp dịch vụ này như Oversea Union Bank (OUB), DBS Bank, Citibank, Hong Kong’s Bank of East Asia, Oversea-Chinese Banking Corp. (OCBC). Tại Thái Lan, dịch vụ Internet Banking được cung cấp từ năm 1995. Đặc biệt sau cuộc khủng khoảng tài chính năm 1997, các ngân hàng Thái chịu sức ép phải cắt giảm chi phí đã chuyển hướng sang đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ Internet Banking, coi đây là một giải pháp để giảm chi phí nhân công và tăng độ thoả mãn của khách hàng.

    E-Banking toàn cầu – Xu thế hiện nay

     

    • Xu thế chung trong ngành ngân hàng là sự hội tụ về mọi mặt, bao gồm: kênh phân phối, văn hoá bán hàng, các quy trình Back-office và cơ sở hạ tầng quản lý tri thức đều được tích hợp thông qua môi trường điện tử.
    • Sự tích hợp thành công giúp ngân hàng phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm liền mạch trong suốt đối với khách hàng.
    • Ngân hàng dịch chuyển sự tập trung: từ chú trọng sản phẩm thành chú trọng khách hàng.
    • Kết nối khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức tài chính kích thích/ thúc đẩy sự tin cậy của khách hàng, và đóng vai trò trung gian đảm bảo nhà cung cấp được thanh toán đầy đủ và khách hàng thoả mãn với dịch vụ.

    Kết quả cuối cùng: Phát triển, duy trì khách hàng với quy mô lớn, tiết kiệm chi phí và gia tăng lợi nhuận

    Phần 2.

    1. E-Banking tại VN.

    1.1. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, ngân hàng điện tử tại Việt Nam cũng đã có được những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, do tính chất còn quá mới mẻ và do khách hàng cũng chưa thực sự quan tâm lắm tới những dịch vụ này, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn đang thận trọng và dè dặt khi tung ra những sản phẩm dịch vụ mới. Cụ thể, đối với dịch vụ PC-banking, trên thị trường mới chỉ có vài ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ ngân hàng tại nhà “home-banking” (Vietcombank, Incombank, ACB, Eximbank …) và 2 ngân hàng nước ngoài là ANZ và Citibank cung cấp. Dịch vụ Phone-banking, có các ngân hàng cung cấp là VCB, ACB, Techcombank, HSBC, ANZ và Citibank… Dịch vụ Mobile-banking thì có ngân hàng Incombank, ACB và Techcombank…, ngoài ra, các ngân hàng khác chỉ mới dừng lại ở việc thiết lập các trang web chủ yếu để giới thiệu ngân hàng và cung cấp thông tin dịch vụ. Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và PTNTVN đang triển khai thử nghiệm dự án E-banking.

     

    -Các ngân hàng áp dụng dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử (Truy vấn) :  TECHCOMBANK, VCB, và một số ngân hàng khác

    -Các kênh giao dịch phi truyền thông như ATM, POS cũng được các ngân hàng đầu tư và khách hàng sử dụng ngày càng phổ biến

    -Một số ngân hàng NN tại việt Nam cung cấp dịch vụ NHĐT thực thụ: Citibanking (Citibank), Hexagon (HSBC), DB-Direct (Deutsch Bank), ANZ-link (ANZ bank). Tuy nhiên mới dừng lại ở việc cung cấp cho KH là doanh nghiệp

    -Techcombank là ngân hàng TMCP đầu tiên được NHNN cấp phép cho cung cấp dịch vụ E-banking thực thụ theo các tiêu chuẩn quốc tế ra thị trường và đặc biệt là khách hàng bán lẻ.

    1.2.  E-Banking tại Việt Nam-Cơ sở pháp lý  và kỹ thuật

     

    Việc cung cấp các dịch vụ giao dịch điện tử trong đó có Internet Banking được thực hiện trên cơ sở Luật Giao dịch Điện tử của Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 51/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005. Đây là cơ sở pháp lý mới nhất để thực hiện các giao dịch điện tử. Luật này đã được hướng dẫn cụ thể bằng nghị định của Chính phủ số 57/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2006 về Thương mại Điện tử.

    Một số văn bản luật khác như:

    -Quyết định số 04/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng.

    -Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy định về các nguyên tắc  quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử.

    -Quyết định số 376/2003/QĐ-NHNN Quy định về bảo quản, lưu trữ chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

    -Quyết định của 308-QĐ/NH2 ban hành Quy chế về lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý, bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử của các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng.

    -Hệ thống thanh toán điện tử bắt đầu có sự tham gia của hệ thống SWIFT (Tháng 3 năm 1995)

    -Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (T5/2002) cho phép phát triển ngân hàng bán lẻ và bán buôn

    1. Techcombank với dịch vụ E-banking.
    • Mục tiêu.

    -Trở thành Ngân hàng hàng đầu VN trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử và thương mại điện tử

    -Chiến lược ngân hàng điện tử được phát triển thông qua chiến lược kênh phân phối điện tử nhằm thu hút và duy trì số lượng khách hàng có hiểu biết ngày càng tăng thông qua việc cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng, thân thiện dễ sử dụng tiết kiệm thời gian và chi phí.

    -Định hướng các kênh phân phối điện tử sẽ mang đến các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng ngay được nhu cầu khách hàng ngay từ sự tiếp cận ban đầu.

    -Duy trì và phát triển các kênh phân phối điện tử đảm bảo không còn là dịch vụ không sinh lời.

    -Tích hợp và hỗ trợ các hoạt động ngân hàng truyền thống.

    -Tập trung vào khách hàng nội địa với sự thu hút trên phạm vi rộng

    -Chuyển hướng từ định hướng sản phẩm sang định hướng khách hàng.

    -Đầu tư theo lộ trình từng bước thích hợp vào hệ thống ngân hàng điện tử tích hợp hoàn chỉnh và có tính tiêu chuẩn quốc tế.

    -Quảng bá và truyền thông các kênh phân phối điện tử thông qua hợp tác với một số các cung cấp dịch vụ, các hãng bán lẻ , bán buôn lớn có uy tín trên thị trường.

    -Hợp tác, liên kết với các tổ chức: bán chéo sản phẩm, tăng độ tin cậy và lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng

    • Các sản phẩm:

    Sản phẩm Home Banking, F@st I-Bank, F@st MobiPay

    E-Banking cho khách hàng cá nhân

    -Quản lý tài khoản

    -Thanh toán hoá đơn

    -Mở tài khoản mới

    -Chuyển tiền điện tử

    -Dịch vụ đầu tư, môi giới

    -Xin cấp/phê duyệt khoản vay

    -Quản lý tổng hợp tình trạng tài chính cá nhân

    -Khả năng tự thiết kế theo nhu cầu

    -Môi trường sử dụng: Internet, Mobile, Phone, Email

    Sản phẩm TeleB@nk, F@st I-Bank

    E-Banking cho doanh nghiệp

     

    Quản lý tài khoản

    Quản lý quỹ tiền mặt

    Hồ sơ xin vay, phê duyệt, ứng trước cho doanh nghiệp quy mô nhỏ

    Chuyển tiền điện tử.

    Các dịch vụ thanh toán quốc tế

    Thanh toán giữa các doanh nghiệp

    Quản trị thu nhập/ lương hưu nhân viên

    Khả năng tự thiết kế theo nhu cầu

    Môi trường sử dụng: Internet, PC

    Sản phẩm F@st PayGate, F@st MobiPay

    Giải pháp, dịch vụ cổng thanh toán điện tử cho nhà cung ứng dịch vụ và bán hàng 

     

    -Cổng thanh toán điện tử PayGate là giải pháp và dịch vụ thanh toán bảo mật cao được cung cấp cho các tổ chức bán hàng hoá dịch vụ (Merchant) để giúp cho người mua hàng có thể thanh toán cho người bán hàng nhằm hoàn tất một giao dịch mua bán và giao nhận hàng hoá dịch vụ thông qua môi trường thương mại điện tử E-commerce.

    – Dịch vụ tích hợp, đa dạng: Đa kênh thanh toán, Đa tiền tệ, Đa ngôn ngữ, Đa kênh giao tiếp…

    -Chấp nhận các loại tài khoản, thẻ quốc tế phổ biến

    +VISA/MasterCard (bao gồm cả thể Credit & Debit)

    + Amex, JCB, Diner Club, CUP, Domestic Debit

    -Môi trường sử dụng: Internet, Mobile

    2.3. Sản phẩm Home-banking của Techcombank.

    • Tính năng và lợi ích:

    – Dù ở bất kỳ đâu, Quý khách cũng có thể cập nhật thông tin về tài khoản ngay khi có giao dịch mới phát sinh thông qua các phương tiện truy vấn: thư điện tử, điện thoại di động hay điện thoại cố định.
    – Ngoài các thông tin do Ngân hàng cung cấp tự động cho khách hàng qua tin nhắn di động và e-mail, Quý khách có thể chủ động cập nhật các thông tin Ngân hàng về lãi suất, tỷ giá …nhanh chóng, chính xác bằng cách nhắn tin hoặc gọi điện thoại đến số 19001590.
    – Các thông tin cung cấp qua HomeBanking có độ chính xác, an toàn, bảo mật cao.
    – Với bất kỳ loại tài khoản nào (tài khoản cá nhân, tài khoản tiết kiệm…) mở tại Techcombank, Quý khách cũng có thể đăng ký sử dụng dịch vụ Homebanking để truy vấn các giao dịch và số dư tài khoản.

    2.3.2. Các dịch vụ của Techcombank Homebanking

    – Techcombank Mail Access
    Chỉ cần có địa chỉ e-mail và đăng ký sử dụng dịch vụ với Ngân hàng. Qúy khách sẽ nhận được thông tin về tài khoản của mình qua e-mail mỗi khi tài khoản của Quý khách phát sinh giao dịch.
    – Techcombank Mobile Access
    Hệ thống cung cấp thông tin số dư và giao dịch của tài khoản khách hàng (hai chiều: tự động hoặc theo yêu cầu) vào điện thoại di động của Quý khách bằng tin nhắn SMS.
    Tự động: Khi tài khoản của Quý khách phát sinh giao dịch, hệ thống sẽ tự động gửi tin nhắn về giao dịch phát sinh và số dư hiện tại vào điện thoại di động của Quý khách.
    Theo yêu cầu: Quý khách cũng có thể chủ động gửi tin nhắn SMS tới hệ thống Techcombank để được nhận tin nhắn phản hồi về số dư tài khoản của mình, tỷ giá, lãi suất…
    – Techcombank Voice Access (gọi tắt là Vocaly)
    Mọi thông tin về số dư và hai giao dịch tài khoản gần nhất của Quý khách, thông tin về tỷ giá, lãi suất …sẽ được cung cấp qua Tổng đài tự động khi bạn quay số 19001590.

    2.3.3. Điều kiện sử dụng dịch vụ:

    *  Techcombank Mail Access:
    – Có địa chỉ email.
    – Đăng ký sử dụng vụ Techcombank Mail Access.
    *  Techcombank Mobile Access:
    – Có điện thoại di động.
    – Đăng ký sử dụng dịch vụ Techcombank Mobile Access.
    *  Techcombank Voice Access:
    – Có điện thoại cố định.
    – Đăng ký sử dụng dịch vụ Voice Access.

    2.3.4. Thẻ FastAccess.

    FastAccess cho phép thanh toán và rút tiền, chi vượt số tiền trong tài khoản thẻ, đăng ký tự động chuyển một số tiền nhất định trên tài khoản thẻ vào tài khoản tiết kiệm, truy vấn thông tin tài khoản… FastAccess-i là thẻ ghi nợ nội địa phát hành ngay, khách hàng nhận thẻ ngay khi đăng ký. Dịch vụ trả lương qua tài khoản cho phép các doanh nghiệp trả lương cho cán bộ, nhân viên có tài khoản tại Techcombank. Gói dịch vụ ngân hàng toàn diện của Techcombank còn có module “Nhà mới & ô tô xịn” giúp khách hàng mua nhà và ô tô trong lúc chưa đủ tiền chi cho việc đó.

    Khi có giao dịch bằng thẻ FastAccess khách hàng sẽ nhận đc thông báo của ngân hàng qua email, điện thoại:

    Ví dụ qua email:

    THÔNG BÁO GIAO DỊCH QUA TÀI KHOẢN

    Kính gửi ông/bà:            TRINH THI LUYEN

    Số tài khoản:                  10821026004014

    Loại tiền:                        VIETNAM DONG

    Chúng tôi xin trân trọng thông báo tới ông/bà số dư tài khoản hiện thời và các giao dịch phát sinh đến ngày 20/02/2009:

    Ngày

     

    giao dịch

    Phát sinh nợ (VIETNAM DONG) Phát sinh có (VIETNAM DONG) Diễn giải
    20/02/2009 50,000.00   Muc dich
    20/02/2009 50,000.00   Aa
    Tổng cộng 100,000.00    

       Số dư cuối kỳ (20h30′ ngày 20/02/2009):   160,154.00   VIETNAM DONG

    Xin cám ơn Quý khách đã sử dụng dịch vụ !

     – Sáng tạo giá trị, Chia sẻ thành công !

     

    • Thiết lập các điều kiện để mở rộng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Techcombank.

     

    • Tăng cường sự thuận tiện: cần mở rộng liên kết để có sự tương thích về công nghệ để gia tăng yếu tố thuận tiện cho khách hàng; chuyển giao công nghệ bắt kịp với hệ thống e-banking trên thế giới; xây dựng hệ thống dự phòng, nâng cao hiệu suất khai thác công nghệ. Đồng thời có biện pháp bảo mật, dự phòng, kiện toàn cơ sở hạ tầng, kiểm soát hội nhập.
    • Cần có hỗ trợ từ phía chính phủ và các tổ chức liên quan nhằm khuyến khích người dân học tin học, ngoại ngữ…; tổ chức diễn đàn, hội thảo, báo chí… tăng nhận thức của người dân về tiện ích của dịch vụ ngân hàng điện tử.
    • Chính phủ cũng cần hỗ trợ trong hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng trung tâm quản lý dữ liệu trung ương…
    • Lập giao diện tiếng Việt, bộ phận tư vấn hỗ trợ cho người sử dụng cảm thấy thuận tiện và thân thiện giữ vai trò hết sức quan trọng.
    • Đẩy mạnh marketing về ngân hàng điện tử, đào tạo nhân viên chuyên nghiệp, nghiên cứu phát triển trung tâm khách hàng.
    • Tạo nhu cầu thanh toán điện tử, tin học hóa các tổ chức, nâng cao tốc độ đường truyền internet, giảm thiểu các cước phí…

     

     

    Phần 3: Ưu điểm và nhược điểm của e-banking tại VN.

     

    1. Ưu điểm :- Về phía khách hàng: Ưu điểm lớn nhất của dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng chính là sự tiện nghi và luôn sẵn sàng của dịch vụ ngân hàng. Bây giờ, khách hàng chỉ cần gửi một tin nhắn lúc nửa đêm thay vì phải xin phép sếp ra ngoài trong giờ làm việc chỉ để đóng tiền điện thoại cho vợ là một ưu thế rõ rệt nhất của ngân hàng điện tử. Khách hàng có thể tiếp cận với ngân hàng điện tử mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh đó, dịch vụ ngân hàng điện tử với công nghệ hiện đại đã tiết kiệm được thời gian và giảm chi phí dịch vụ cho khách hàng. Ngoài ra, khách hàng được ngân hàng phục vụ tận nơi với những thông tin nóng hổi nhất như biến động tỷ giá, tra cứu thông tin tài chính của đối tác … Và hơn nữa, với những tiêu chuẩn chuẩn hoá, khách hàng được phục vụ tận tuỵ và chính xác thay vì phải tuỳ thuộc vào thái độ phục vụ khác nhau của các nhân viên ngân hàng.- Về phía ngân hàng : Các giao dịch ngân hàng được tự động hoá không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho ngân hàng. Thông qua những dịch vụ mới, những kênh phân phối mới, ngân hàng có thể mở rộng đối tượng khách hàng, phát triển thị phần, giảm chi phí, thu hút nguồn vốn huy động từ tiền gởi thanh toán của khách hàng, tăng thêm lợi nhuận … bên cạnh đó, ứng dụng và phát triển những công nghệ ngân hàng hiện đại cũng giúp cho các ngân hàng luôn tự đổi mới, hoà nhập và phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng tới thị trường nước ngoài.

      2. Nhược điểm :

      Tại Việt Nam, tiến trình phát triển ngân hàng điện tử đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế như:

      – Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử còn chưa thoả mãn khách hàng ở những cấp độ cao hơn như việc gửi tiền mặt vào tài khoản, việc đăng ký sử dụng dịch vụ… còn phải tới trực tiếp giao dịch tại chi nhánh ngân hàng, hoặc các dịch vụ ngân hàng điện tử chất lượng cao hơn còn chưa được phát triển như dịch vụ quản lý quỹ đầu tư, dịch vụ địa ốc, cho thuê tài chính…

      – Cơ sở hạ tầng còn yếu kém như chất lượng mạng, tốc độ đường truyền, lỗi kỹ thuật hoặc thiết bị đầu cuối không đảm bảo chất lượng dẫn tới chất lượng dịch vụ chưa cao. Bên cạnh đó, các hệ thống ngân hàng điện tử của các ngân hàng còn phát triển tương đối độc lập, chưa có sự phối hợp, liên thông cần thiết nhằm phát huy cao nhất hiệu quả của dịch vụ mới này.

      – Giao dịch ngân hàng điện tử còn phụ thuộc nhiều vào chứng từ lưu trữ truyền thống, chưa thể điện tử hoá mọi chứng từ giao dịch. Ngoài ra, việc sử dụng chữ ký điện tử, chứng nhận điện tử chưa được phổ biến rộng rãi và chưa thể hiện được ưu thế so với chữ ký thông thường.

      – Bên cạnh đó, những rủi ro mới như hacker (tin tặc), virus máy tính có thể có những tác hại rất lớn không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với khách hàng, gây mất lòng tin của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng.

      – Một lý do quan trọng nữa đó là quy mô và chất lượng của TMĐT còn rất thấp và phát triển chậm, cần có một hệ thống TMĐT đủ mạnh để cung cấp tất cả hàng hoá dịch vụ trên mạng, tạo tiền đề cho dịch vụ ngân hàng điện tử phát triển.

      Trong tương lai, với trình độ và tốc độ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng như hiện nay, các ngân hàng Việt Nam đang nỗ lực ứng dụng công nghệ mới, phát triển dịch vụ mới để tăng sức cạnh tranh, nhanh chóng hoà nhập với khu vực và thế giới. Từ những webpage giới thiệu dịch vụ ngân hàng (Giai đoạn Brochure-ware), tới website cung cấp dịch vụ ngân hàng (Giai đoạn E-commerce), các ngân hàng Việt Nam đang hướng tới việc cung cấp những dịch vụ ở cấp độ cao hơn, tăng sự chia sẻ thông tin giữa các ngân hàng, đối tác (Giai đoạn E-business) và tiến tới xây dựng mô hình ngân hàng điện tử (E-bank hay E-enterprise) thực sự , tận dụng được sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu và cá nhân hoá dịch vụ ngân hàng cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập Điện tử công suất (có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-phun-x%C4%83ng-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-EFI.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI

    GiỚi thiỆu hỆ thỐng phun xĂng ĐiỆn tỬ cỦa toyota

    1. Giới thiệu hệ thống điện điều khiển động cơ, hệ thống phun xăng điện tử EFI
      – Trên thế giới hệ thống phun xăng điện tử trên xe hơi đã được sử dụng hết sức phổ biến kể từ những năm cuối thập niên 1980. Qua các thời kỳ hệ thống phun xăng điện tử đã được phát triển và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn
      – Vào thế kỷ 19, một kỹ sư người Pháp ông Stevan đã nghĩ ra cách phun nhiên liệu cho một máy nén khí. Sau đó một thời gian, một người Đức đã cho phun nhiên liệu vào buồng cháy nhưng không mang lại hiệu quả nên không thực hiện. Đầu thế kỷ 20, người Đức áp dụng hệ thống phun nhiên liệu trong động cơ xăng 4 thì tĩnh tại (nhiên liệu dùng trên động cơ này là dầu hoả nên hay bị kích nỗ và hiệu suất rất thấp). Tuy nhiên sau đó sáng kiến này đã được ứng dụng thành công trong việc chế tạo hệ thống cung cấp nhiên liệu cho máy bay Đức. Đến năm 1966, hãng BOSCH đã thành công trong viêc chế tạo hệ thống phun xăng kiểu cơ khí. Trong hệ thống phun xăng này, nhiên liệu được phun liên tục vào trước supap hút nên có tên gọi là K-Jetronic.(K – Konstant-liên tục, Jetronic-phun). K-Jetronic được đưa vào sản xuất và ứng dụng trên các xe của hãng Mercedes và một số xe khác, là nền tảng cho việc phát triển hệ thống phun xăng thế hệ sau như: KE – Jetronic, Mono – Jectronic, L- Jectronic, Motronic,…
      – Tên tiếng anh của K – Jectronic là CIS ( Continuous Injection System) đặc trưng cho các hãng xe châu âu có 4 loại cơ bản cho CIS là: K – Jectronic, K – Jectronic với cảm biến ôxy và KE-Jectronic (có kết hợp điều khiển điện tử) hoặc KE – Motronic (kèm điều khiển góc đánh lửa sớm). Do hệ thống phun cơ khí có nhiều nhược điểm nên đầu những năm 80, BOSCH đã cho ra đời hệ thống phun sử dụng kim phun điều khiển bằng điện. Có hai loại hệ thống L-Jectronic (lượng nhiên liệu được xác định nhờ cảm biến đo lưu lượng khí nạp) và D-Jectronic (lượng nhiên liệu được xác định dựa vào áp xuất trên đường ống nạp).
      – Đến năm 1984 người Nhật (mua bản quyền của BOSCH) đã ứng dụng hệ thống phunh xăng L- Jectronic và D – Jectronic trên các xe của hãng Toyota (dùng với động cơ 4A – ELU). Đến năm 1987 hãng Nissan dùng L-Jetrronic thay cho bộ chế hoà khí của Nissan Sunny.
      Song song với sự phát triển của hệ thống phun xăng, hệ thống điều khiển đánh lửa theo chương trình (ESA – Electronic Spark Advance) cũng được đưa vào sử dụng vào những năm đầu thập niên 80. Sau đó vao đầu những năm 90, hệ thống đánh lửa trực tiếp (DIS-Direct Ignition System) ra đời, cho phép không sử dụng Delco và hệ thống này đã có mặt trên hầu hết các xe thế hệ mới.
      – Ngày nay, gần như tất cả các ôtô đều được trang bị hệ thống điều khiển động cơ cả xăng và Diesel theo lập trình, chúng giúp động cơ đáp ứng các yêu cầu gắt gao về khí xả và tính tiết kiệm nhiên liệu. Thêm vào đó, công suất động cơ cũng được cải thiện rõ rệt.
      – Những năm gần đây, một thế hệ mới của động cơ phun xăng đã ra đời. Đó là động cơ phun trục tiếp: GDI (Gasoline Direct Injection), trong tương lai gần, chắc chắc GDI sẽ được sử dụng rộng rãi.
      Ưu điểm của hệ thống phun xăng:
      – Có thể cấp hỗn hợp khí – nhiên liệu đồng đều đến từng xylanh.
      – Có thể đạt tỷ lệ khí – nhiên liệu chính xác với tất cả các dải tốc độ động cơ.
      – Đáp ứng kiệp thời sự thay đổi góc mở bướm ga.
      – Khả năng hiệu chỉnh hỗn hợp – khí nhiên liệu dễ dàng: có thể làm đậm hỗn hợp khi nhiệt độ thấp hoặc cắt nhiên liệu khi giảm tốc .
      – Hiệu suất nạp hỗn hợp không khí – nhiên liệu cao.
      – Do kim phun bố trí gần supap hút nên dòng khí nạp trên ống góp hút có khối lượng thấp (chưa chộn với nhiên liệu) sẽ đạt tốc độ xoáy lốc cao, nhờ vậy, nhiên liệu sẽ không còn thất thoát trên đường ống nạp và hoà khí sẽ được trộn tốt hơn.
      – Như chúng ta đã biết , hiện nay phần lớn các ôtô sử dụng ở Việt Nam và trên thế giới đều được trang bị hệ thống điều khiển điện tử, để điều khiển các hoạt động của ôtô như: điều khiển phun xăng, điều khiển đánh lửa, điều khiển hệ thống phanh ABS, điều khiển hộp số, điều khiển hệ thống treo…nhằn mục đích thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng, cũng như các tiêu chuẩn về môi trường. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng của ôtô đã nảy sinh vấn đề mới đối với ôtô sử dụng hệ thống phun xăng điện tử ở nứơc ta:
      – Hệ thống phun xăng điện tử còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nên khi sử dụng xe có trang bị hệ thống điều khiển phun xăng điện tử, người sử dụng và thợ sửa xe thường gặp khó khăn trong sửa chửa và thay thế các bộ phận của hệ thống nhiên liệu.
      – Hệ thống phun xăng điện tử chưa được đào tạo rộng rãi và chuyên sâu tại các trường học và trung tâm dạy nghề do thiếu trang thiết bị, mô hình day học và hạng chế trong việc nắm bắt lý thuyết hệ thống phun xăng điện tử của giáo viên.
      – Các ôtô sau một thời gian sử dụng có thể bị hư hỏng hộp điều khiển điện tử ECU hay đều bị dư xăng hoặc thiếu xăng do các nguyên nhân gây ra trong ECU ( nếu tháy mới giá thành rất đắt, trong khi ở Việt Nam chưa chế tạo được hộp điều khiển điện tử ECU). Dẫn đến tình trạng động cơ không hoạt động được hoặc làm giảm tính kinh tế nhiên liệu và làm ô nhiễm môi trường xung quanh.
      – Giá thành phụ tùng thay thế, đặc biệt là hộp ECU khá đắt.
      II.Trình bày nguyên lý cấu tạo và hoạt động của hệ thống phun xăng điện tử EFI, hệ thống điều khiển và các bộ phận liên quan.
      II.1. Trình bày nguyên lý cấu tạo và hoạt động của hệ thống phun xăng điện tử EFI
      Hệ thống EFI sử dụng các cảm biến khác nhau để phát hiện tình trạng của động cơ và điều kiện chạy của xe. Và ECU động cơ tính toán lượng phun nhiên liệu tối ưu và làm cho các vòi phun phun nhiên liệu.

       

      Hình 1:Kết cấu cơ bản của EFI
      – ECU động cơ: ECU này tính thời gian phun nhiên liệu tối ưu dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến.
      – Cảm biến lưu lượng khí nạp hoặc cảm biến áp suất đường ống nạp: Cảm biến này phát hiện khối lượng không khí nạp hoặc áp suất của ống nạp.
      – Cảm biến vị trí trục khuỷu: Cảm biến này phát hiện góc quay trục khuỷu và tốc độ của động cơ.
      Cảm biến vị trí trục cam: Cảm biến này phát hiện góc quay chuẩn và thời điểm của trục cam.
      – Cảm biến nhiệt độ nước: Cảm biến này phát hiện nhiệt độ của nước làm mát.
      – Cảm biến vị trí bướm ga: Cảm biến này phát hiện góc mở của bướm ga.
      – Cảm biến oxy: Cảm biến này phát hiện nồng độ của oxy trong khí xả.
      II.1.1. Các loại EFI: ( hình 2 )
      Có hai loại hệ thống EFI được phân loại theo phương pháp phát hiện lượng không khí nạp.
      a. L – EFI (Loại điều khiển lưu lượng không khí)
      Loại này sử dụng một cảm biến lưu lượng khí nạp để phát hiện lượng không khí chạy vào đường ống nạp.
      Có hai phương pháp phát hiện: Một loại trực tiếp đo khối không khí nạp, và một loại thực hiện các hiệu chỉnh dựa vào thể tích không khí.
      b. D – EFI (Loại điều khiển áp suất đường ống nạp)
      Loại này đo áp suất trong đường ống nạp để phát hiện lượng không khí nạp theo tỷ trọng của không khí nạp.

      Hình 2:các loại EFI
      II.1.2. Hệ thống nhiên liệu:
      II.1.2.1. Mô tả:
      Nhiên liệu được lấy từ bình nhiên liệu bằng bơm nhiên liệu và được phun dưới áp suất bởi vòi phun.
      Áp suất nhiên liệu trong đường ống nhiên liệu phải được điều chỉnh để duy trì việc phun nhiên liệu ổn định bằng bộ điều áp và bộ giảm rung động.
      Các bộ phận chính: ( hình 3 )
      – Bình nhiên liệu.
      – Cụm bơm nhiên liệu.
      – Bơm nhiên liệu .
      – Lưới lọc của bơm nhiên liệu.
      – Bộ lọc nhiên liệu.
      – Bộ điều áp.
      – Ống phân phối.
      – Vòi phun.
      – Bộ giảm rung động.

      Hình 3: các bộ phận chính của hệ thống nhiên liệu.
      a. Bơm nhiên liệu:
      Bơm nhiên liệu được lắp trong bình nhiên liệu và được kết hợp với bộ lọc nhiên liệu, bộ điều áp, bộ đo nhiên liệu, v.v…
      Cánh bơm được mô tơ quay để nén nhiên liệu.
      Van một chiều đóng lại khi bơm nhiên liệu dừng để duy trì áp suất trong đường ống nhiên liệu và làm cho việc khởi động động cơ dễ dàng hơn.
      Nếu không có áp suất dư, dễ xảy ra hiện tượng khoá hơi ở nhiệt độ cao, làm cho việc khởi động lại khó khăn.
      Van an toàn mở ra khi áp suất ở phía cửa ra trở nên quá cao, nhằm ngăn chặn áp suất nhiên liệu trở nên quá cao này.

      Hình 4: Bơm nhiên liệu.
      b. Bộ điều áp:
      Bộ điều áp này điều chỉnh áp suất nhiên liệu vào vòi phun ở 324 kPa (3.3 kgf/cm2). (Các giá trị này có thể thay đổi tuỳ theo kiểu của động cơ)
      Ngoài ra, bộ điều áp còn duy trì áp suất dư trong đường ống nhiên liệu cũng như cách thức duy trì ở van một chiều của bơm nhiên liệu.
      Có hai loại phương pháp điều chỉnh nhiên liệu.
      Loại 1 ( hình 5)
      Loại này điều chỉnh áp suất nhiên liệu ở một áp suất không thay đổi.
      Khi áp suất nhiên liệu vượt quá lực ép của lò xo trong bộ điều áp, van này mở ra để trả nhiên liệu trở về bình nhiên liệu và điều chỉnh áp suất.

      Hình 6
      – Loại 2 ( hình 7)
      Loại này có ống phân phối liên tục điều chỉnh áp suất nhiên liệu để giữ cho áp suất nhiên liệu cao hơn áp suất được xác định từ áp suất đường ống nạp.
      Hoạt động cơ bản cũng giống như loại 1, nhưng độ chân không của đường ống nạp được đặt vào buồng trên của màng chắn, áp suất nhiên liệu được điều chỉnh bằng cách thay đổi áp suất nhiên liệu khi van mở ra theo độ chân không của đường ống nạp.
      Nhiên liệu được trả về bình nhiên liệu qua ống hồi nhiên liệu.

      Hình 7
      c. Bộ giảm rung độnghình 18)
      Bộ giảm rung này dùng một màng ngăn để hấp thụ một lượng nhỏ xung của áp suất nhiên liệu sinh ra bởi việc phun nhiên liệu và độ nén của bơm nhiên liệu

      Hình 8 Bộ giảm rung động.
      d. Vòi phun: ( hình 9)
      Vòi phun phun nhiên liệu vào các cửa nạp của các xi lanh theo tín hiệu từ ECU động cơ.
      Các tín hiệu từ ECU động cơ làm cho dòng điện chạy vào cuộn dây điện từ, làm cho píttông bơm bị kéo, mở van để phun nhiên liệu.
      Vì hành trình của pít tông bơm không thay đổi, lượng phun nhiên liệu được điều chỉnh tại thời điểm dòng điện chạy vào cuộn điện từ này.

      Hình 9 Vòi phun.
      e. Bộ lọc nhiên liệu và lưới lọc của bơm nhiên liệu: ( hình 10 )
      – Bộ lọc nhiên liệu
      Bộ lọc nhiên liệu khử bụi bẩn và các tạp chất trong nhiên liệu được bơm lên bởi bơm nhiên liệu.
      – Lưới lọc của bơm nhiên liệu
      Lưới lọc của bơm nhiên liệu khử bụi bẩn và các tạp chất ra khỏi nhiên liệu trước khi đi vào bơm nhiên liệu.

      Hình 10: Bộ lọc nhiên liệu và lưới lọc.

      II.1.2.2. Điều khiển bơm nhiên liệu:
      a. Hoạt động cơ bản:
      Bơm nhiên liệu chỉ hoạt động khi động cơ đang nổ máy.
      Thậm chí khi khoá điện được bật đến vị trí ON, nếu động cơ chưa nổ máy, thì bơm nhiên liệu sẽ không làm việc.

      Hình 11: sơ đồ mạch điện điều khiển bơm nhiên liệu.
      b. Điều khiển tốc độ của bơm nhiên liệu
      ( hình 12)
      Việc điều khiển này làm giảm tốc độ của bơm nhiên liệu để giảm độ mòn của bơm và điện năng khi không cần nhiều nhiên liệu, như khi động cơ đang chạy ở tốc độ thấp.
      Khi dòng điện chạy vào bơm nhiên liệu qua tiếp điểm B của rơle điều khiển bơm và điện trở, bơm nhiên liệu sẽ làm việc ở tốc độ thấp.
      Khi động cơ đang quay khởi động, khi động cơ đang chạy ở tốc độ cao, hoặc ở tải trọng lớn, ECU động cơ chuyển mạch tiếp điểm của rơle điều khiển bơm nhiên liệu sang A để điều khiển bơm nhiên liệu ở tốc độ cao.

      Hình 12: điều khiển tốc độ bơm nhiên liệu
      c. Hệ thống ngắt bơm nhiên liệu:
      Ở một số xe có một cơ cấu để điều khiển làm ngừng hoạt động của bơm nhiên liệu trong các điều kiện sau đây để duy trì an toàn.
      – Khi túi khí nổ:
      Khi túi khí SRS của lái xe, của hành khách phía trước phồng lên, việc điều khiển ngắt nhiên liệu làm bơm nhiên liệu không hoạt động. ( hình 13 ).
      Khi ECU động cơ phát hiện một tín hiệu phồng lên của túi khí từ cụm cảm biến túi khí trung tâm, ECU động cơ sẽ ngắt rơle mở mạch để ngừng hoạt động của bơm nhiên liệu.
      Sau khi điều khiển ngắt bơm nhiên liệu, việc điều khiển này sẽ được loại bỏ bằng cách tắt khoá điện về vị trí OFF, làm cho bơm nhiên liệu làm việc trở lại.

      Hình 13
      – Khi xe bị đâm hoặc bị lật
      ( hình 14 ).
      Khi xe bị đâm, công tắc quán tính của bơm nhiên liệu sẽ ngắt bơm nhiên liệu để giảm thiểu sự rò rỉ nhiên liệu.
      Công tắc quán tính của bơm nhiên liệu được đặt giữa ECU bơm nhiên liệu và ECU động cơ.
      Khi viên bi trong công tắc này dịch chuyển vì có va đập, công tắc này bị tách khỏi tiếp điểm để xoay nó về vị trí OFF và ngừng hoạt động của bơm nhiên liệu.
      Sau khi cắt nhiên liệu, đẩy công tắc về vị trí ban đầu để ngừng việc điều khiển cắt nhiên liệu, làm cho bơm nhiên liệu hoạt động trở lại.

      Hình 14

      II.2. Trình bày nguyên lý cấu tạo và hoạt động của hệ thống điều khiển và các bộ phân liên quan.
      II.2.1.Mô tả:
      Hệ thống điều khiển động cơ gồm có ba nhóm các cảm biến (và các tín hiệu đầu ra của cảm biến), ECU động cơ, và các bộ chấp hành. Chương này giải thích các cảm biến (các tín hiệu), sơ đồ mạch điện và sơ đồ nối mát, và các điện áp cực của cảm biến. ( hình 15 )
      Các chức năng của ECU động cơ được chia thành điều khiển EFI, điều khiển ESA, điều khiển ISC, chức năng chẩn đoán, các chức năng an toàn và dự phòng, và các chức năng khác. Các chức năng này và các chức năng của bộ chấp hành được giải thích ở các chương riêng.

      Hình 15
      II.2.1.1. Mạch nguồn
      Mạch nguồn là các mạch điện cung cấp điện cho ECU của động cơ. Các mạch điện này bao gồm khoá điện, rơle chính EFI, v.v.
      Mạch nguồn được xe ô tô sử dụng thực sự gồm có 2 loại sau đây.
      – Loại điều khiển bằng khoá điện
      – Loại điều khiển bằng ECU động cơ
      a. Loại điều khiển bằng khoá điện ( hình 16)
      Như trình bày ở hình minh họa này, sơ đồ chỉ ra loại trong đó rơle chính EFI được điều khiển trực tiếp từ khoá điện.
      Khi bật khoá điện ON, dòng điện chạy vào cuộn dây của rơle chính EFI, làm cho tiếp điểm đóng lại. Việc này cung cấp điện cho các cực + B và + B1 của ECU động cơ.
      Điện áp của ắc quy luôn luôn cung cấp cho cực BATT của ECU động cơ để tránh cho các mã chẩn đoán và các dữ liệu khác trong bộ nhớ của nó không bị xóa khi tắt khoá điện OFF.

      Hình 16: Mạch nguồn loại điều khiển bằng khóa điện.
      b. Loại điều khiển bằng ECU:
      Mạch nguồn trong hình minh họa là loại trong đó hoạt động của rơle chính EFI được điều khiển bởi ECU động cơ.
      Loại này yêu cầu cung cấp điện cho ECU động cơ trong vài giây sau sau khi tắt khoá điện OFF. Do đó việc đóng hoặc ngắt của rơle chính EFI được ECU động cơ điều khiển.
      Khi bật khóa điện ON, điện áp của ắc quy được cấp đến cực IGSW của ECU động cơ và mạch điều khiển rơle chính EFI trong ECU động cơ truyền một tín hiệu đến cực M-REL của ECU động cơ, bật mở rơle chính EFI. Tín hiệu này làm cho dòng điện chạy vào cuộn dây, đóng tiếp điểm của rơle chính EFI và cấp điện cho cực +B của ECU động cơ.
      Điện áp của ắc quy luôn luôn cung cấp cho cực BATT có lí do giống như cho loại điều khiển bằng khoá điện.
      Ngoài ra một số kiểu xe có một rơle đặc biệt cho mạch sấy nóng cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu, yêu cầu một lượng dòng điện lớn.

      Hình 17: Sơ đồ mạch nguồn điều khiển bằng ECU.
      II.2.1.2.Mạch nối mát
      ECU động cơ có 3 mạch nối mát cơ bản sau đây.
      – Nối mát để điều khiển ECU động cơ (E1)
      Cực E1 này là cực tiếp mát của ECU động cơ và thường được nối với buồng nạp khí của động cơ.
      – Nối mát cho cảm biến (E2, E21)
      Các cực E2 và E21 là các cực tiếp mát của cảm biến, và chúng được nối với cực E1 trong ECU động cơ.
      Chúng tránh cho các cảm biến không bị phát hiện các trị số điện áp lỗi bằng cách duy trì điện thế tiếp mát của cảm biến và điện thế tiếp mát của ECU động cơ ở cùng một mức.
      – Nối mát để điều khiển bộ chấp hành (E01, E02)
      Các cực E01 và E02 là các cực tiếp mát cho bộ chấp hành, như cho các bộ chấp hành, van ISC và bộ sấy cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu. Cũng giống như cực E1, E01 và E02 được nối gần buồng nạp khí của động cơ.

      Hình 18: Sơ đồ mạch nối mát của ECU.

      II.2.2. Các cảm biến và tín hiệu.
      II.2.2.1. Cảm biến lưu lượng khí nạp:
      Cảm biến lưu lượng khí nạp là một trong những cảm biến quan trọng nhất vì nó được sử dụng trong EFI kiểu L để phát hiện khối lượng hoặc thể tích không khí nạp.
      Tín hiệu của khối lượng hoặc thể tích của không khí nạp được dùng để tính thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa sớm cơ bản.
      Cảm biến lưu lượng khí nạp chủ yếu được chia thành 2 loại, các cảm biến để phát hiện khối lượng không khí nạp, và cảm biến đo thể tích không khí nạp, cảm biến đo khối lượng và cảm biến đo lưu lượng không khí nạp có các loại như sau.
      Cảm biến đo khối lượng khí nạp:
      – Kiểu dây sấy
      Cảm biến đo lưu lượng khí nạp:
      – Kiểu cánh.
      – Kiểu gió xoáy quang học Karman
      Hiện nay hầu hết các xe sử dụng cảm biến lưu lượng khí nạp khí kiểu dây nóng vì nó đo chính xác hơn, trọng lượng nhẹ hơn và độ bền cao hơn.
      Cảm biến đo khối lượng khí nạp kiểu dây sấy:
      – Cấu tạo :
      Như trình bày ở hình minh họa, cấu tạo của cảm biến lưu lượng khí nạp kiểu dây nóng rất đơn giản.
      Cảm biến lưu lượng khí nạp gọn và nhẹ như được thể hiện trong hình minh họa ở bên trái là loại cắm phích được đặt vào đường không khí, và làm cho phần không khí nạp chạy qua khu vực phát hiện. Như trình bày trong hình minh họa, một dây nóng và nhiệt điện trở, được sử dụng như một cảm biến, được lắp vào khu vực phát hiện. Bằng cách trực tiếp đo khối lượng không khí nạp, độ chính xác phát hiện được tăng lên và hầu như không có sức cản của không khí nạp. Ngoài ra, vì không có các cơ cấu đặc biệt, dụng cụ này có độ bền tuyệt hảo.
      Cảm biến lưu lượng khí nạp được thể hiện trong hình minh hoạ cũng có một cảm biến nhiệt độ không khí nạp gắn vào.

      Hình 19:Cảm biến lưu lượng khí nạp loại dây sấy
      – Hoạt động và chức năng:
      Như thể hiện trong hình minh họa, dòng điện chạy vào dây sấy (bộ sấy) làm cho nó nóng lên. Khi không khí chạy quanh dây này, dây sấy được làm nguội tương ứng với khối không khí nạp. Bằng cách điều chỉnh dòng điện chạy vào dây sấy này để giữ cho nhiệt độ của dây sấy không đổi, dòng điện đó sẽ tỷ lệ thuận với khối không khí nạp. Sau đó có thể đo khối lượng không khí nạp bằng cách phát hiện dòng điện đó. Trong trường hợp của cảm biến lưu lượng khí nạp kiểu dây sấy, dòng điện này được biến đổi thành một điện áp, sau đó được truyền đến ECU động cơ từ cực VG.

      Hình 20
      – Mạch điện bên trong: ( hình 21)
      Trong cảm biến lưu lượng khí nạp thực tế, như trình bày ở hình minh họa, một dây sấy được ghép vào mạch cầu. Mạch cầu này có đặc tính là các điện thế tại điểm A và B bằng nhau khi tích của điện trở theo đường chéo bằng nhau ([Ra+R3]*R1=Rh*R2).
      Khi dây sấy này (Rh) được làm mát bằng không khí nạp, điện trở tăng lên dẫn đến sự hình thành độ chênh giữa các điện thế của các điểm A và B. Một bộ khuyếch đại xử lý phát hiện chênh lệch này và làm tăng điện áp đặt vào mạch này (làm tăng dòng điện chạy qua dây sấy (Rh)). Khi thực hiện việc này, nhiệt độ của dây sấy (Rh) lại tăng lên dẫn đến việc tăng tương ứng trong điện trở cho đến khi điện thế của các điểm A và B trở nên bằng nhau (các điện áp của các điểm A và B trở nên cao hơn).
      Bằng cách sử dụng các đặc tính của loại mạch cầu này, cảm bíên lưu lượng khí nạp có thể đo được khối lượng không khí nạp bằng cách phát hiện điện áp ở điểm B.
      Trong hệ thống này, nhiệt độ của dây sấy (Rh) được duy trì liên tục ở nhiệt độ không đổi cao hơn nhiệt độ của không khí nạp, bằng cách sử dụng nhiệt điện trở (Ra). Do đó, vì có thể đo được khối lượng khí nạp một cách chính xác mặc dù nhiệt độ khí nạp thay đổi, ECU của động cơ không cần phải hiệu chỉnh thời gian phun nhiên liệu đối với nhiệt độ không khí nạp.
      Ngoài ra, khi mật độ không khí giảm đi ở các độ cao lớn, khả năng làm nguội của không khí giảm xuống so với cùng thể tích khí nạp ở mức nước biển. Do đó mức làm nguội cho dây sấy này giảm xuống. Vì khối khí nạp được phát hiện cũng sẽ giảm xuống, nên không cần phải hiệu chỉnh mức bù cho độ cao lớn.

      Hình 21
      II.2.2.2. Cảm biến áp suất đường ống nạp ( Cảm biến chân không ).
      Cảm biến áp suất đường ống nạp được dùng cho hệ thống EFI kiểu D để cảm nhận áp suất đường ống nạp. Đây là một trong những cảm biến quan trọng nhất trong EFI kiểu D.
      Bằng cách gắn một IC vào cảm biến này, cảm biến áp suất đường ống nạp cảm nhận được áp suất đường ống nạp như một tín hiệu PIM. Sau đó ECU động cơ xác định được thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa sớm cơ bản trên cơ sở của tín hiệu PIM này.
      Như trình bày ở hình minh họa, một chíp silic kết hợp với một buồng chân không được duy trì ở độ chân không định trước, được gắn vào bộ cảm biến này. Một phía của chip này được lộ ra với áp suất của đường ống nạp và phía bên kia thông với buồng chân không bên trong. Vì vậy, không cần phải hiệu chỉnh mức bù cho độ cao lớn vì áp suất của đường ống nạp có thể đo được chính xác ngay cả khi độ cao này thay đổi.
      Một thay đổi về áp suất của đường ống nạp sẽ làm cho hình dạng của chip silic này thay đổi, và trị số điện trở của chíp này dao động theo mức biến dạng này.
      Tín hiệu điện áp, mà IC biến đổi từ sư dao động của giá trị điện trở này gọi là tín hiệu PIM.

      Hình 22
      II.2.2.3. Cảm biến vị trí bướm ga:
      Cảm biến vị trí bướm ga được lắp trên cổ họng gió. Cảm biến này biến đổi góc mở bướm ga thành điện áp, được truyền đến ECU động cơ như tín hiệu mở bướm ga (VTA). Ngoài ra, một số thiết bị truyền một tín hiệu IDL riêng biệt. Các bộ phận khác xác định nó lúc tại thời điểm chạy không tải khi điện áp VTA này ở dưới giá trị chuẩn.
      Hiện nay, có 2 loại, loại tuyến tính và loại có phần tử Hall được sử dụng. Ngoài ra, đầu ra 2 hệ thống được sử dụng để tăng độ tin cậy.

      Hình 23
      a.Loại tiếp điểm:
      Loại cảm biến vị trí bướm ga này dùng tiếp điểm không tải (IDL) và tiếp điểm trợ tải (PSW) để phát hiện xem động cơ đang chạy không tải hoặc đang chạy dưới tải trọng lớn.
      Khi bướm ga được đóng hoàn toàn, tiếp điểm IDL đóng ON và tiếp điểm PSW ngắt OFF.
      ECU động cơ xác định rằng động cơ đang chạy không tải. Khi đạp bàn đạp ga, tiếp điểm IDL sẽ bị ngắt OFF, và khi bướm ga mở quá một điểm xác định, tiếp điểm PSW sẽ đóng ON, tại thời điểm này ECU động cơ xácđịnh rằng động cơ đang chạy dưới tải nặng.

      Hình 24
      b.Loại tuyến tính:
      Như trình bày trong hình minh họa, cảm biến này gồm có 2 con trượt và một điện trở, và các tiếp điểm cho các tín hiệu IDL và VTA được cung cấp ở các đầu của mỗi tiếp điểm.
      Khi tiếp điểm này trượt dọc theo điện trở đồng thời với góc mở bướm ga, điện áp này được đặt vào cực VTA theo tỷ lệ thuận với góc mở của bướm ga.
      Khi bướm ga được đóng lại hoàn toàn, tiếp điểm của tín hiệu IDL được nối với các cực IDL và E2.
      Một số kiểu sử dụng tín hiệu ra hai hệ thống (VTA1, VTA2) để tăng độ tin cậy

      Hình 25
      c. Loại phần tử Hall:
      Cảm biến vị trí bướm ga loại phần tử Hall gồm có các mạch IC Hall làm bằng các phần tử Hall và các nam châm quay quanh chúng. Các nam châm được lắp ở trên trục bướm ga và quay cùng với bướm ga.
      Khi bướm ga mở, các nam châm quay cùng một lúc, và các nam châm này thay đổi vị trí của chúng. Vào lúc đó, IC Hall phát hiện sự thay đổi từ thông gây ra bởi sự thay đổi của vị trí nam châm và tạo ra điện áp ra của hiệu ứng Hall từ các cực VTA1 và VTA2 theo mức thay đổi này. Tín hiệu này được truyền đến ECU động cơ như tín hiệu mở bướm ga.
      Cảm biến này không chỉ phát hiện chính xác độ mở của bướm ga, mà còn sử dụng phương pháp không tiếp điểm và có cấu tạo đơn giản, vì thế nó không dễ bị hỏng. Ngoài ra, để duy trì độ tin cậy của cảm biến này, nó phát ra các tín hiệu từ hai hệ thống có các tính chất khác nhau.

      Hình 26
      II.2.2.4. Cảm biến vị trí bàn đạp ga:
      Cảm biến vị trí của bàn đạp ga biến đổi mức đạp xuống của bàn đạp ga (góc) thành một tín hiệu điện được chuyển đến ECU động cơ. Ngoài ra, để đảm bảo độ tin cậy, cảm biến này truyền các tín hiệu từ hai hệ thống có các đặc điểm đầu ra khác nhau. Có hai loại cảm biến vị trí bàn đạp ga, loại tu?yến tính và loại phần tử Hall.
      a.Loại tuyến tính:
      Cấu tạo và hoạt động của cảm biến này cơ bản giống như cảm biến vị trí bướm ga loại tuyền tính.
      Trong các tín hiệu từ hai hệ thống này, một là tín hiệu VPA truyền điện áp theo đường thẳng trong toàn bộ phạm vi bàn đạp ga. Tín hiệu khác là tín hiệu VPA2, truyền điện áp bù từ tín hiệu VPA.

      Hình 27
      b.Loại phần tử Hall
      Cấu tạo và hoạt động của cảm biến này cơ bản giống như cảm biến vị trí bướm galoại phần tử Hall.
      Để đảm bảo độ tin cậy cao hơn, phải cung cấp một mạch điện độc lập cho từng hệ thống một.

      Hình 28
      II.2.2.5. Cảm biến nhiệt độ nước và cảm biến nhiệt độ khí nạp ( hình 29 )
      Cảm biến nhiệt độ nước và cảm biến nhiệt độ khí nạp đã được gắn các nhiệt điện trở bên trong, mà nhiệt độ càng thấp, trị số điện trở càng lớn, ngược lại, nhiệt độ càng cao, trị số điện càng thấp. Và sự thay đổi về giá trị điện trở của nhiệt điện trở này được sử dụng để phát hiện các thay đổi về nhiệt độ của nước làm mát và không khí nạp.
      Như được thể hiện trong hình minh họa, điện trở được gắn trong ECU động cơ và nhiệt điện trở trong cảm biến này được mắc nối tiếp trong mạch điện sao cho điện áp của tín hiệu được phát hiện bởi ECU động cơ sẽ thay đổi theo các thay đổi của nhiệt điện trở này. Khi nhiệt độ của nước làm mát hoặc khí nạp thấp, điện trở của nhiệt điện trở sẽ lớn, tạo nên một điện áp cao

      Hình 30: cảm biến nhiệt độ nước làm mát và cảm nhiệt nước làm mát

      a.Cảm nhiệt độ nước làm mát:
      Cảm biến nhiệt độ nước đo nhiệt độ của nước làm mát động cơ. Khi nhiệt độ của nước làm mát động cơ thấp, phải tăng tốc độ chạy không tải, tăng thời gian phun, góc đánh lửa sớm, v.v… nhằm cải thiện khả năng làm việc và để hâm nóng. Vì vậy, cảm biến nhiệt độ nước không thể thiếu được đối với hệ thống điều khiển động cơ.
      b.Cảm biến nhiệt độ khí nạp:
      Cảm biến nhiệt độ khí nạp này đo nhiệt độ của không khí nạp. Lượng và mật độ không khí sẽ thay đổi theo nhiệt độ của không khí. Vì vậy cho dù lượng không khí được cảm biến lưu lượng khí nạp phát hiện là không thay đổi, lượng nhiên liệu phun phải được hiệu chỉnh. Tuy nhiên cảm biến lưu lượng khí nạp kiểu dây sấy trực tiếp đo khối lượng không khí. Vì vậy không cần phải hiệu chỉnh.
      II.2.2.6. Cảm biến ôxy ( cảm biến O2 ) ( hình 31 )
      Đối với chức năng làm sạch khí xả tối đa của động cơ có TWC (bộ trung hoà khí xả 3 thành phần) phải duy trì tỷ lệ không khí-nhiên liệu trong một giới hạn hẹp xoay quanh tỷ lệ không khí-nhiên liệu lý thuyết. Cảm biến oxy phát hiện xem nồng độ ôxy trong khí xả là giàu hơn hoặc nghèo hơn tỷ lệ không khí – nhiên liệu lý thuyết. Cảm biến này chủ yếu được lắp trong đường ống xả, nhưng vị trí lắp và số lượng khác nhau tuỳ theo kiểu động cơ.
      Cảm biến oxy có một phần tử làm bằng ziconi ôxit (ZrO2), đây là một loại gốm. Bên trong và bên ngoài của phần tử này được bọc bằng một lớp platin mỏng. Không khí chung quanh được dẫn vào bên trong của cảm biến này, và phía ngoài của cảm biến lộ ra phía khí thải.
      Ở nhiệt độ cao (400°C [752°F] hay cao hơn), phần tử zirconi tạo ra một điện áp như là do sự chênh lệch lớn giữa các nồng độ của ôxy ở phía trong và phía ngoài của phần tử zirconi này.
      Ngoài ra, platin tác động như một chất xúc tác để gây ra phản ứng hóa học giữa oxy và cácbon monoxit (CO) trong khí xả. Vì vậy, điều này sẽ làm giảm lượng oxy và tăng tính nhạy cảm của cảm biến.
      Khi hỗn hợp không khí – nhiên liệu nghèo, phải có oxy trong khí xả sao cho chỉ có một chênh lệch nhỏ về nồng độ của oxy giữa bên trong và bên ngoài của phần tử zirconi. Do đó, phần tử zirconi sẽ chỉ tạo ra một điện áp thấp (gần 0V). Ngược lại, khi hỗn hợp không khí – nhiên liệu giàu, hầu như không có oxy trong khí xả. Vì vậy, có sự khác biệt lớn về nồng độ oxy giữa bên trong và bên ngoài của cảm biến này để phần từ zirconi tạo ra một điện áp tương đối lớn (xấp xỉ 1 V).
      Căn cứ vào tín hiệu OX do cảm biến này truyền đến, ECU động cơ sẽ tăng hoặc giảm lượng phun nhiên liệu để duy trì tỷ lệ không khí – nhiên liệu trung bình ở tỷ lệ không khí – nhiên liệu lý thuyết.
      Một số cảm biến oxy zirconi có các bộ sấy để sấy nóng phần từ zirconi. Bộ sấy này cũng được ECU động cơ điều khiển. Khi lượng không khí nạp thấp (nói khác đi, khi nhiệt độ khí xả thấp), dòng điện được truyền đến bộ sấy để làm nóng cảm biến này.

      Hình 31: Cảm biến ôxy
      II.2.2.7.Các bộ tạo tín hiệu G và NE
      Tín hiệu G và NE được tạo ra bởi cuộn nhận tính hiệu, bao gồm một cảm biến vị trí trục cam hoặc cảm biến vị trí trục khuỷu, và đĩa tín hiệu hoặc rôto tín hiệu. Thông tin từ hai tín hiệu này được kết hợp bởi ECU động cơ để phát hiện đầy đủ góc của trục khuỷu và tốc độ động cơ.
      Hai tín hiệu này không chỉ rất quan trọng đối với các hệ thống EFI mà còn quan trọng đối với cả hệ thống ESA.
      a. Cảm biến vị trí trục cam (bộ tạo tín hiệu G) ( hình 32 )
      Trên trục cam đối diện với cảm biến vị trí trục cam là đĩa tín hiệu G có các răng. Số răng là 1, 3 hoặc một số khác tuỳ theo kiểu động cơ. (Trong hình vẽ có 3 răng). Khi trục cam quay, khe hở không khí giữa các vấu nhô ra trên trục cam và cảm biến này sẽ thay đổi. Sự thay đổi khe hở tạo ra một điện áp trong cuộn nhận tín hiệu được gắn vào cảm biến này, sinh ra tín hiệu G. Tín hiệu G này được chuyển đi như một thông tin về góc chuẩn của trục khuỷu đến ECU động cơ, kết hợp nó với tín hiệu NE từ cảm biến vị trí của trục khuỷu để xác định TDC (điểm chết trên) kỳ nén của mỗi xi lanh để đánh lửa và phát hiện góc quay của trục khuỷu. ECU động cơ dùng thông tin này để xác định thời gian phun và thời điểm đánh lửa.

      Hình 32: Cảm biến vị trí trục cam.

      b. Cảm biến vị trí của trục khuỷu (bộ tạo tín hiệu NE). ( hình 33 )
      Tín hiệu NE được ECU động cơ sử dụng để phát hiện góc của trục khuỷu và tốc độ của động cơ. ECU động cơ dùng tín hiệu NE và tín hiệu G để tính toán thời gian phun cơ bản và góc đánh lửa sớm cơ bản.
      Đối với tín hiệu G, tín hiệu NE được tạo ra bởi khe không khí giữa cảm biến vị trí trục khuỷu và các răng trên chu vi của rôto tín hiệu NE được lắp trên trục khuỷu.
      Hình minh họa trình bày một bộ tạo tín hiệu có 34 răng ở chu vi của rôto tín hiệu NE và một khu vực có 2 răng khuyết. Khu vực có 2 răng khuyết này có thể được sử dụng để phát hiện góc của trục khuỷu, nhưng nó không thể xác định xem đó là TDC của chu kỳ nén hoặc TDC của kỳ xả. ECU động cơ kết hợp tín hiệu NE và tín hiệu G để xác định đầy đủ và chính xác góc của trục khuỷu. Ngoài loại này, một số bộ phát tín hiệu có 12, 24 hoặc một răng khác, nhưng độ chính xác của việc phát hiện góc của trục khuỷu sẽ thay đổi theo số răng. Ví dụ, Loại có 12 răng có độ chính xác về phát hiện góc của trục khuỷu là 30°CA.

      Hình 33: Cảm biến vị trí trục khuỷu

      II.2.2.8.Cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu (A/F)
      Giống như cảm biến oxy, cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu phát hiện nồng độ oxy trong khí xả. Các cảm biến oxy thông thường phải làm sao cho điện áp đầu ra có xu hướng thay đổi mạnh tại giới hạn của tỷ lệ không khí – nhiên liệu lý thuyết. Khi so sánh, cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu đặt một điện áp không thay đổi để nhận được một điện áp gần như tỷ lệ thuận với nồng độ của oxy. Điều này làm tăng độ chính xác của việc phát hiện tỷ lệ không khí-nhiên liệu.
      Hình minh họa trình bày một cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu được hiển thị trong máy chẩn đoán cầm tay. Một mạch duy trì điện áp không đổi ở các cực AF+ và AF- của ECU động cơ gắn trong đó. Vì vậy, vôn kế không thể phát hiện tình trạng đầu ra của cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu. Hãy sử dụng máy chẩn đoán này.
      Các đặc điểm đầu ra của cảm biến tỷ lệ không khí-nhiên liệu làm nó có thể hiệu chỉnh ngay khi có sự thay đổi về tỷ lệ không khí-nhiên liệu, làm cho việc hiệu chỉnh tín hiệu phản hồi tỷ lệ không khí-nhiên liệu nhanh hơn và chính xác hơn.

      Hình 34: cảm biến A/F

      Giống như cảm biến oxy, cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu cũng có một bộ sấy để duy trì hiệu suất phát hiện khi nhiệt độ khí xả thấp. Tuy nhiên bộ sấy của cảm biến tỷ lệ không khí – nhiên liệu cần nhiều điện hơn các bộ sấy trong các cảm biến oxy.

    Sơ lược về phun dầu điện tử

    Sơ lược về phun dầu điện tử
    1- 1. Sô löôïc veà heä thoáng
    Heä thoáng ñieàu khieån ñoäng cô diesel baèng ñieän töû trong moät thôøi gian daøi chaäm phaùt trieån so vôùi ñoäng cô xaêng. Sôû dó nhö vaäy laø vì baûn thaân ñoäng cô diesel thaûi ra ít chaát ñoäc hôn neân aùp löïc veà vaán ñeà moâi tröôøng leân caùc nhaø saûn xuaát oâ toâ khoâng lôùn. Hôn nöõa, do ñoä eâm dòu khoâng cao neân diesel ít ñöôïc söû duïng treân xe du lòch. Trong thôøi gian ñaàu, caùc haõng chuû yeáu söû duïng heä thoáng ñieàu khieån bôm cao aùp baèng ñieän trong caùc heä thoáng EDC (electronic diesel control). Heä thoáng EDC vaãn söû duïng bôm cao aùp kieåu cuõ nhöng coù theâm moät soá caûm bieán vaø cô caáu chaáp haønh, chuû yeáu ñeå choáng oâ nhieãm vaø ñieàu toác baèng ñieän töû. Trong nhöõng naêm gaàn ñaây, heä thoáng ñieàu khieån môùi – heä thoáng VE baèng ñieän vôùi vieäc ñieàu khieån kim phun baèng ñieän ñaõ ñöôïc phaùt trieån vaø öùng duïng roäng raõi.
    1- 2. Lónh vöïc aùp duïng
    – Phaïm vi öùng duïng roäng raõi (cho xe du lòch vaø xe taûi nhoû coù coâng suaát ñaït ñeán 30 kW/xylanh, cuõng nhö xe taûi naëng, xe löûa, vaø taøu thuyû coù coâng suaát ñaït ñeán 200 kW/xylanh.
    – AÙp suaát phun ñaït ñeán khoaûng 1400 bar.
    – Coù theå thay ñoåi thôøi ñieåm phun nhieân lieäu.
    – Coù theå phun laøm 3 giai ñoaïn: phun sô khôûi (pilot injection), phun chính (main injection), phun keát thuùc (post injection).
    – Thay ñoåi aùp suaát phun tuøy theo cheá ñoä hoaït ñoäng cuûa ñoäng cô.
    1- 3. Hoaït ñoäng vaø chöùc naêng
    Trong bôm cao aùp VE thì nguyeân taéc cuûa daàu thuûy löïc, boä phaän daãn ñoäng. . .hoaøn toaøn gioáng bôm VE thöôøng, noù chæ khaùc nhau cô cheá ñònh löôïng, caùch ghi nhaän vaø phaûn hoài thoâng tin ôû boä ECU
    Vì nhieân lieäu phaûi phun vaøo ñoäng cô ôû aùp suaát cao neân daàu thuûy löïc, bôm cao aùp vaø caùc boä phaän daãn ñoäng ñöôïc duy trì thaønh moät heä thoáng döôùi söï kieåm soaùt cuûa boä ñieàu khieån baèng ñieän töû. Boä daãn ñoäng baèng ñieän töû seõ ñieàu chænh vò trí van ñònh löôïng, nghóa laø ñieàu chænh haønh trình cung caáp nhieân lieäu bôm. Vieäc phun sôùm ñöôïc daãn ñoäng nhôø aùp löïc nhieân lieäutrong bôm qua vieäc ñieàu khieån cuûa moät van ñieän töø.
    Vieäc taïo ra aùp suaát vaø vieäc phun nhieân lieäu hoaøn toaøn taùch bieät vôùi nhau trong heä thoáng VE ñieàu khieån baèng ñieän. AÙp suaát phun ñöôïc taïo ra ñoäc laäp vôùi toác ñoä ñoäng cô vaø löôïng nhieân lieäu phun ra. Nhieân lieäu ñöôïc tröõ vôùi aùp suaát cao trong boä tích aùp aùp suaát cao (high-pressure accumulator) vaø saün saøng ñeå phun. Löôïng nhieân lieäu phun ra ñöôïc quyeát
    ñònh bôûi taøi xeá, vaø thôøi ñieåm phun cuõng nhö aùp löïc phun ñöôïc tính toaùn baèng ECU döïa treân caùc bieåu ñoà ñaõ löu trong boä nhôù cuûa noù. Sau ñoù, ECU seõ ñieàu khieån caùc kim phun taïi moãi xylanh ñoäng cô ñeå phun nhieân lieäu. Moät heä thoáng diesel baèng ñieän töû coù tyû soá neùn (CR) bao goàm:
    – ECU
    – Kim phun (injector)
    – Caûm bieán toác ñoä truïc khuyûu (crankshaft speed sensor)
    – Caûm bieán toác ñoä truïc cam (camshaft speed sensor)
    – Caûm bieán baøn ñaïp ga (accelerator pedal sensor)
    – Caûm bieán aùp suaát taêng aùp (boost pressure sensor)
    – Caûm bieán aùp suaát nhieân lieäu trong oáng (rail pressure sensor)
    – Caûm bieán nhieät ñoä nöôùc laøm maùt (coolant sensor)
    – Caûm bieán ño gioù (air mass sensor)


    Daàu coù aùp töø thanh tích aùp ñöôïc daãn tôùi caùc kim phun baèng caùc oáng daãn cao aùp. Boä tín hieäu trung taâm ñöôïc truyeàn tín hieäu ñeán maïch ñieàu khieån cuûa boä khuyeách ñaïi töø. Luùc naøy maïch khuyeách ñaïi ñieän töø taïo ra tín hieäu cao aùp laøm naâng ñoùt kim cuûa voøi phun, daàu coù aùp ñöôïc phun ra töø caùc loå tia phun vaøo buoàn chaùy. Löôïng phun vaø thôøi ñieåm phun ñöôïc ñieàu chænh baèng thôøi ñieåm nhaác kim phun vaø thôøi gian choát kim phun

    1- 4. Cơ cấu điều khiển.
    Cơ cấu điều khiển trong hệ thống phun dầu điện tử được trình bày như hình 6.42 Có nhiệm vụ nhận tín hiều từ các cảm biến đầu vào
    -Cảm biến tốc đô động cơ
    -Cảm biến nhiệt đô làm mát
    -Cảm biến vị trí bướm ga
    -Cảm biến bàn đạp ga
    -Cảm biến lưu lượng khí nạp
    -Cảm biến áp suất nhiên liệu…vv
    Sau đó, xử lý số liệu và chuyển tín hiệu điều khiển tới cơ cấu chấp hành gọi là tín hiệu ra
    -Tín hiệu nhấc kim phun
    -Tín hiệu áp suất nhiên liệu
    -Tín hiệu sấy nóng không khí nạp
    -Tín hiệu hạn chế tốc độ
    -Tín hiệu hạn chế đường khí nạp…vv
    Các tín hiệu vào và ra bộ xử lý trung tâm phải đồng bộ và linh hoat mới có khả năng đáp ứng được các chế độ hoạt động khắc nghiệt của động cơ diesel. Các động cơ diesel đời mới với xu hướng giảm ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nhiên liệu à độ ồn thấp thì các tín hiệu và cơ cấu chấp hành đồng ra ngoài các yếu tố đồng bộ và linh hoạt thì các cấu chấp hành còn có moat yêu cầu khác là độ nhạy phải cao. Ngoài các yếu tố trên để đáp ưng đầy đủ các yêu cầu điều khiển thì bộ điều khiển trung tâm còn có bộ nhớ lớn mới có đủ khả năng lưu giữ chương trình trinh khiển các chế độ cao động cơ.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập Kinh tế tài nguyên môi trường (Có đáp án)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-C%C3%81C-LO%E1%BA%A0I-%C3%94-NHI%E1%BB%84M-M%C3%94I-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-NGUY%C3%8AN-NH%C3%82N-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-KH%E1%BA%AEC-PH%E1%BB%A4C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    CÁC LOẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – NGUYÊN NHÂN & BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

    Hiện trạng:

    Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng “nhà kính”, mưa axít và suy giảm tầng ôzôn),… Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng.

    Nguyên nhân:

    – Ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp tai các nhà máy, làng nghề,…

    – Ô nhiễm do phương tiện giao thông.

    – Ô nhiễm từ đun nấu tại các gia đình.

    – Ô nhiễm do các hiện tượng tự nhiên: như núi lừa, cháy rừng,…

    Núi lửa Merapi ở Inđônêxia

    Núi lửa Eyjafjallajokull ở Iceland đột ngột “tỉnh giấc” sau 200 năm ngủ yên. Sự phun trào dữ dội của nó đã tạo nên một cột tro bụi bốc cao 11km.

    Một lượng lớn khói bụi thải ra ngoài không khí.

    Cháy rừng tại Nga vào ngày 06/08/2010

    Biện pháp:

    1./ Hạn chế sự gia tăng phương tiện vận chuyển một cách tự phát, tiến tới xây dựng các phương tiện vận tải công cộng hiện đại như xe bus,tàu điện ngầm, tàu điện trên cao…
       2./
    Sử dụng nhiên liệu sạchnhư điện, ga, Hydro, năng lượng mặt trời…   3./ Cải thiện kỹ thuật xe máy nhằm giảm bớt sự phát thải  khí ô nhiễm từ xe cộ và sử dụng các biện pháp đơn giản để giảm sự bay hơi nhiên liệu.    4./ Tăng cường kiểm soát sự phát thải kiểm định kỹ thuật máy móc.
    5./ Biện pháp giáo dục cộng đồng.

    6./ Trồng nhiều cây xanh

     

     

     

    Sử dụng các loại xe “sạch” với mội trường

    Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN

    Hiện trạng:

    Cùng với sự tăng thêm các cơ sở sản xuất, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn, những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng… tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người và môi trường sống.

    Nguyên nhân:

    – Do chất thải từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu là rác thải hữu cơ như thực phẩm hư hỏng..
    – Do chất thải từ hoạt động xây dựng gồm đất đá..
    –  Do khai thác khoáng sản bừa bãi.
    – Do gia đình thải ra nhiều loại rác.

    Đồ nhựa, cao su, giấy, thủy tinh,…thải ra từ các nhà máy , công trường.

    – Xác sinh vật, phân thải ra từ nhà máy sản xuất nông nghiệp.

    – Rác thải từ các bệnh viện.

    – Giấy giói, túi nilon…thải ra từ sinh hoạt ở mỗi gia đình….

    Hoạt động khai thác khoáng sản.

    Biện pháp:

    – Chôn lấp và đốt cháy rác một cách khoa học.- Xây dựng thêm nhà máy tái chế chất thải

    – Tuyên truyền mọi người cùng nhau giữ gìn vệ sinh chung

    – Thực hiện đúng các luật giữ gìn môi trường

    Nhà máy xử lí rác thải Vietstar

    Tuyên truyền, kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường.

    Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC

    Hiện trạng:

    Ô nhiễm nguồn nước lên đến mức báo động, hạn chế nguồn nước sạch cung cấp cho sinh hoạt đời sống.

    Nguyên nhân:

    – Sự xả thải vô ý thức các loại rác thải của người dân vào nguồn nước

     

    – Sử dụng giếng khoan không xử lý đúng phương pháp làm cho nước thải dễ dàng ngấm trực tiếp đến các túi nước ngầm trong đất, làm cho tình trạng nhiễm độc nước trầm trọng và lây lan diện rộng.- Môi trường không khí ô nhiễm ( chứa các chất như: SO; NO2..,) các chất này kết hợp với nước mưa, tạo ra mưa axit, gây ô nhiễm nguồn nước khi rơi xuống ao hồ, sông suối.- Các bãi rác khi rác bị phân hủy sẽ tạo ra 1 lượng nước (nước rỉ rác) thấm vào đất theo các mạch nước ngầm dần đến các nguồn nước làm ô nhiễm nặng- Quản lí nhà nước ( địa phuơng) chưa chặt chẽ, dẫn đến việc lén lút xả nước thải chưa xử lý của các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà máy ra môi trường nước.

    Hiện tượng thủy triều đỏ, làm chết nhiều loài sinh vật biển.

    Ống cống xả nước thải ra sông Dương Đông của Công ty Cổ phần Masan Phú Quốc.

    Biện pháp:

    – Xây dựng nhà máy xử lí nước thải

    – Nâng cao nhận thức con người

    – Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các
    chương trình chống ô nhiễm môi trường nước

    – Thiết kế hệ thống cấp nước, tiêu nước cho các khu nuôi thuỷ sản

    – Tổ chức quản lý và kiểm soát chất lượng nguồn nước

     

    Nhà máy xử lí nước thải quy mô lớn tại TP.HCM

    Hưởng ứng Ngày Nước Thế giới

     

    Ô NHIỄM HÓA CHẤT ĐỘC

     

    Hiện trạng:

     

    Khi xã hội phát triển với nhu cầu xây dựng nhiều nhà máy sản xuất phục vụ đời sống thì các hóa chất độc cũng được thải ra càng nhiều từ trưc tiếp các nhà máy, hay qua các sản phẩm hóa chất ấy…chúng ngày càng ảnh hưởng xấu đến môi trường (đất, nước, không khí…) và cuộc sống con người…

     

    Nguyên nhân:

    – Hóa chất độc hại thải ra từ các nhà máy

    -Thuốc trừ sâu dư thừa trong quá trình sản xuất nông nghiệp thấm sâu vào đất.

     

     

     

    Thuốc trừ sâu bị vứt bừa bãi trên đất hay gần nguồn nước sinh hoạt.

     

    Biện pháp:

    -Kêu gọi ý thức mọi người.

    -Bỏ xác thuốc trừ sâu vào nơi tái chế xác thải, tránh vứt bừa bãi ra môi trường.

    -Các nhà máy cần có hệ thống xử lí hóa chất thải.

     

     

    Ô NHIỄM DO SINH VẬT GÂY BỆNH

     

    Sinh vật truyền bệnh cho người và sinh vậy khác như muỗi, ruồi, giun, sán,…

     

     

     

     

     

    Biện pháp:

    – Giữ vệ sinh thân thể.

    – Vệ sinh nhà cửa, phát quang xung quanh.

    – Vệ sinh an toàn thực phẩm.

    – Dùng thuốc sỗ giun theo thời gian hướng dẫn của bác sĩ….

     

     

    Tổng cộng : lần thực hiện


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]