Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Chiến lược phát triển cho ngành Logistics Việt Nam đến năm 2010

    I.                  Logistics Là Gì?

    I.1       Các Khái Niệm Về Logistics

    Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing” , từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữ khác. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó. Nhưng rất nhiều công ty giao nhận vận tải lại được đăng ký là ví dụ như AB Logistics như vậy vô tình công ty này có thể được hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics, mà không biết logistics là gì?

    Một số định nghĩa Logistics là hậu cần, số khác lại định nghĩa là nhà cung ứng các dịch vụ kho bãi và giao nhận hàng hoá vv …và chúng ta thấy rằng đây giống như là một cái áo thời trang mà công ty giao nhận vận tải hàng hóa nào cũng muốn có để tăng thêm sức mạnh cho mình. Vậy Logistics Là Gì?

    Có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ này :

     Logistics được hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sự lưu thông và tích trữ một cách hiệu qủa tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc nhằm mụch đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng.

     Logistics có thể được định nghĩa là việc quản lý giòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan…..từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo

    yêu cầu của khách hàng. Hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và xử lý rác thải (Nguồn : UNESCAP……………………..)

     Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin

    liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (World Marintime Unviersity‐ Đại học Hàng Hải Thế Giới, D. Lambert 1998).

     Thực ra Logistics được áp dụng rất rộng rãi trong nhiều ngành không chỉ trong Quân sự từ rất lâu, được hiểu là hậu cần, mà nó còn áp dụng trong sản xuất tiêu thụ, giao thông vận tải vv..

    Vì vậy trên cơ sở Logistics tổng thể (Global Logistic) người ta chia hoạt động logistics thành Supply Chain Managment Logistics –Logistics quản lý chuỗi cung ứng. Transportation Management Logistics‐ Logistics quản lý vận chuyển hàng hóa. Warhousing/ Inventery Management Logistics – Logistics về quản lý lưu kho, kiểm kê hàng hoá, kho bãi.

    Như vậy quản lý Logistics là sự điều chỉnh cả một tập hợp các hopạt động của nhiều ngành cùng một lúc và chỉ khi nào người làm giao nhận có khả năng làm tất cả các công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục hải quan, phân phối….mới được công nhận là

    nhà cung cấp dịch vụ logistics. Xét về điều kiện này thì hầu như chưa có công ty Việt Nam nào có thể làm được, chỉ một số rất it các công ty nước ngoài và cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay như: DHL Danzas, TNT Logistics……

    Vì lĩnh vực Logistics rất đa dạng, bao gồm nhiều quy trình và công đoạn khác nhau nên hiện nay người ta chia thành 4 phương thức khai thác hoạt động Logistic như sau:

    • Logistics tự cung cấp:

    Các công ty tư thực hiện các hoạt động logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Đây là những

     

    5

    tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạng lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa phương.

    • Second Party Logistics (2PL)

    Là việc quản lý các hoạt động logistics truyền thống như vận tải hay kho vận. Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài các dịch vụ cung cấp logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản. Lý do của phương thức này là để cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư.

    • Third Party Logistics (TPL) hay logistics theo hợp đồng.

    Phương thức này có nghĩa là sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động Logistics, cã thÓ lμ toμn bé qu¸ tr×nh qu¶n lý Logistics hoÆc chØ mét sè ho¹t ®éng cã chän läc. C¸ch gi¶i thÝch kh¸c cña TPL lμ c¸c ho¹t ®éng do mét c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics thùc hiÖn trªn danh nghÜa kh¸ch hμng cu¶ hä, tèi thiÓu bao gåm viÖc qu¶n lý vμ thùc hiÖn ho¹t ®éng vËn t¶i vμ kho vËn Ýt nhÈt 1 n¨m cã hoÆc kh«ng cã hîp ®ång hîp t¸c. §©y ®−îc coi nh− mét liªn minh chÆt chÏ giøa mét c«ng ty vμ nhμ cung cÊp dÞch vô Logistics, nã kh«ng chØ nh»m thùc hiÖn c¸c ho¹t ®éng Logistics mμ cßn chia sÎ th«ng tin, rñi ro vμ c¸c lîi Ých theo mét hîp ®ång dμi h¹n.

    • Fourth Party Logistics (FPL) hay Logistics chuçi ph©n phèi.

    FPL lμ mét kh¸I niÖm ph¸t triÓn trªn nÒn t¶ng cña TPL nh»m t¹o ra sù ®¸p øng dÞch vô, h−íng vÒ kh¸ch hμng vμ linh ho¹t h¬n. FPL qu¶n lý vμ thùc hiÖn c¸c ho¹t ®éng Logistics phøc hîp nh− qu¶n lý nguån lùc, trung t©m ®iÒu phèi kiÓm so¸t vμ c¸c chøc n¨ng kiÕn tróc vμ tÝch hîp c¸c ho¹t ®éng Logistics. FPL bao gåm lÜnh vùc réng h¬n gåm c¶ c¸c ho¹t ®éng cña TPL , c¸c dÞch vô c«ng nghÖ th«ng tin, vμ qu¶n lý c¸c tiÕn tr×nh kinh doanh. FPL ®−îc xem lμ mét ®iÓm liªn l¹c duy nhÊt , n¬i thùc hiÖn viÖc qu¶n lý, tæng hîp c¸c nguån lùc vμ gi¸m s¸t c¸c chøc n¨ng TPL trong suèt chuçi ph©n phèi nh»m v−¬n tíi thÞ tr−êng toμn cÇu, lîi thÕ chiÕn l−îc vμ c¸c mèi quan hÖ l©u bÒn.

    Trong mét sè nghiªn cøu ng−êi ta l¹i ph©n lo¹i c¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics theo c¸c nhãm nh− sau.

    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô VËn T¶i

    – C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô vËn t¶i ®¬n ph−¬ng thøc.

     

    6

    VD: C«ng ty cung cÊp dÞch vô vËn t¶i ®−êng bé, ®−êng s¾t, hμng kh«ng, ®−êng biÓn.

    • C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô vËn t¶i ®a ph−¬ng thøc
    • C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô khai th¸c c¶ng
    • C¸c c«ng ty m«i giíi vËn t¶i
    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô Ph©n Phèi -C«ng ty cung cÊp dÞch vô kho b·i

    -C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô ph©n phèi

    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô Hμng Ho¸ – C¸c c«ng ty m«i giíi khai thuª h¶i quan

    – C¸c c«ng ty giao nhËn, gom hμng lÎ

    – C¸c c«ng ty chuyªn ngμnh hμng nguy hiÓm – C¸c c«ng ty dÞch vô ®ãng gãi vËn chuyÓn

    • C¸c C«ng Ty Cung CÊp DÞch Vô Logistics Chuyªn Ngμnh
    • C¸c c«ng ty c«ng nghÖ th«ng tin
    • C¸c c«ng ty viÔn th«ng
    • C¸c c«ng ty cung cÊp gi¶i ph¸p tμi chÝnh, b¶o hiÓm
    • C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô gi¸o dôc vμ ®μo t¹o

    C¸c c«ng ty nμy l¹i cã thÓ ®−îc chia thμnh 2 lo¹i: C¸c c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics cã vμ kh«ng cã tμi s¶n.

    C¸c c«ng ty së h÷u tμi s¶n thùc sù cã riªng ®éi vËn t¶i , nhμ kho vv vμ sö dông chóng ®Ó qu¶n lý tÊt c¶ hay mét phÇn c¸c ho¹t ®éng Logistics cho kh¸ch hμng cña m×nh. C¸c c«ng ty Logistics kh«ng së h÷u tμi s¶n th× ho¹t ®éng nh− mét ng−êi hîp nhÊt c¸c dÞch vô Logistics vμ phÇn lín c¸c dÞch vô lμ ®i thuª ngoμi. Hä cã thÓ ph¶i ®i thuª ph−¬ng tiÖn vËn t¶i, nhμ kho, bÕn b·i ..ViÖc thuª ngoμi ®· nhanh chãng ph¸t triÓn trong vμi n¨m gÇn ®©y. Ngμy nay cã rÊt nhiÒu lo¹i h×nh dÞch vô Logistics nh»m ®¸p øng yªu cÇu ®a d¹ng kh¸c nhau cña c¸c ngμnh hμng kh¸c nhau. Kh¸c víi tr−íc ®©y, kh«ng chØ c¸c dÞch vô Logistics c¬ b¶n nh− vËn t¶i vμ kho vËn mμ c¸c lo¹i dÞch vô phøc t¹p vμ ®a d¹ng kh¸c còng ®· xuÊt hiÖn. ViÖc thuª ngoμi c¸c dÞch vô Logistics gäi theo thuËt ng÷ chuyªn ngμnh lμ Outsourcing.

     

    7

    I.2            Nh÷ng B−íc C¬ B¶n Cña Quy Tr×nh Logistics

    B−íc thùc hiÖn              Kh¸ch hμng              Chñ hμng            C«ng ty Logistics                H·ng tμu

    KiÓm tra sè PO

    vμ quyÕt ®Þnh

    Göi Booking cho c«ng ty

    Logistics

    X¸c nhËn Booking tõ

    c«ng ty Logistics, chuÈn

    bÞ giao hμng

    KiÓm tra sè PO trong hÖ

    thèng hoÆc xin ý kiÕn

    kh¸ch hμng

    NhËp chi tiÕt booking

    vμo hÖ thèng

    X¸c nhËn booking víi

    chñ tμu/lÞch tμu/thêi gian

    cut-off

     

    ChÊt hμng lªn xe t¶i

    Giao hμng t¹i kho cïng

    víi chøng tõ cÇn thiÕt

    NhËn copy FCR vμ kØÓm

    tra néi dung

    Book container víi h·ng

    tμu

    Dì hμng, kiÓm tra,

    barcode scanning

    KiÓm ho¸/ §ãng hμng lÎ

    vμo Container/ H¹ b·i

    CËp nhËt th«ng tin trong

    hÖ thèng

    Göi b¶n copy FCR cho

    chñ hμng/ X¸c nhËn chÝnh

    x¸c B/L, SWB

    NhËn B/L, SWB gèc,/ in

    FCR gèc

    Cung cÊp Booking container cho c«ng ty Logistics

    H¹ b·i

    Tμu ch¹y

    Lμm B/L, SWB, göi copy cho c«ng ty Logistics

     

    NhËn Shipping Advice

    Nép chøng tõ theo yªu cÇu /

    NhËn FCR gèc

    NhËn chøng tõ vμ khai b¸o

    h¶i quan

    Göi Shipping Advice cho

    kh¸ch hμng

    KiÓm tra chøng tõ

    Ph©n lo¹i chøng tõ vμ göi

    cho kh¸ch hμng

     

    Gi÷a ng−êi mua hμng vμ c«ng ty Logistics sau khi ®¹t ®−îc tho¶ thuËn vÒ dÞch vô ®−îc cung cÊp, bªn cung cÊp dÞch vô sÏ x©y sùng lªn quy tr×nh Logistics trong ®è thÓ hiÖn râ mäi yªu cÇu vÒ dÞch vô cña ng−êi mua hμng mμ theo ®ã c«ng ty Logistics cã

     

    8

    bæn phËn ph¶i thùc hiÖn ®óng. Quy trình này thường có tên là quy trình Logistics hiện hành hay quy trình khai thác tiêu chuẩn (Standard Operating Procedure). Quy trình Logistics bao gồm các bước sau:

    • Booking: Theo hợp đồng thương mại ký kết với khách hàng về

    một đơn hàng cụ thể, chủ hàng sẽ gửi chi tiết số đơn hàng (Purchasing Oder) theo mẫu booking quy định cho công ty Logistics bao gồm số PO, số loại hàng, số chiếc, số khối……….Những chi tiết yêu cầu này thay đổi tuỳ

    theo khách hàng, được quy định trong quy trình Logistics. Ngoài ra trong mẫu booking cần có những thông tin quan trọng khác như tên người gửi hàng, người nhận hàng, số L/C…Sau khi nhận được booking từ chủ hàng, người phụ trách khách hàng của công ty Logistics sẽ kiểm tra những chi tiết này trên hệ thống dữ liệu mà đã được khách hàng cập nhật. Ngoài ra quy trình cũng quy định thời gian chủ hàgn gửi booking cho công ty Logistics, chủ hàng không thể tuỳ tiện gửi booking theo tình hình hàng hóa.

    • Giao hàng: Hàng sau khi được Booking sẽ được xuất theo hai dạng là hàng lẻ hoặc container. Đối với hàng lẻ, chủ hàng phải giao hàng trước thời gian cut‐off time của công ty Logistics. Tại kho, mã số hàng hoá phải được quét mã vạch, việc quét mã vạch này được công ty Logistics thực hiện khi nhận hàng và đóng hàng vào container. Dữ liệu trên sẽ được cập nhật trên hệ thống của công ty Logistics. Một số trường hợp hàng hóa phải có thư cam kết (Letter of Guarantee) từ phía chủ hàng. Vd: Hàng nguy hiểm, hàng chất lỏng…Việc thực hiện thủ tục hải quan hàng xuất tại kho sẽ

    do chủ hàng thực hiện nhưng chủ yếu vẫn là các công ty Logistics làm thay cho chủ hàng, như vậy sẽ thuận tiện và nhanh chóng hơn. Khi nhận đủ hàng từ chủ hàng, công ty Logistics sẽ đóng hàng vào container theo kế hoạch đóng hàng và hạ bãi.

     

    9

    • Chứng từ: Sau khi giao hàng vào kho của công ty Logistics hoặc hạ bãi container chủ hàng sẽ cung cấp chi tiết lô hàng cho công ty Logistics để làm vận đơn đường biển (Bill of Lading‐B/L, Seaway Bill‐

    SWB hay House Bill) chứng nhận nhận hàng (Forwarder’s Cargo Receipt‐ FCR). Dựa trên chi tiết cung cấp kết hợp với chi tiết thực nhận trong kho, nhân viên chứng từ công ty Logistics sẽ cập nhật vào hệ thống và in ra chứng từ đã nêu cho chủ hàng. Hầu hết các công ty Logisticsđảm nhận luôn công việc phân loại, kiểm tra và gửi toàn bộ chứng từ của lô hàng cho khách hàng. Như vậy khi chủ hàng lấy B/L, SWB hay FCR gốc, chủ hàng cần phải nộp chứng từ gốc cần thiết cho công ty Logistics như (commercial invoice, packing list, certificate of origin…)

    Sau khi hoàn thành việc cập nhật chi tiết lô hàng vào hệ thống, công ty Logistics sẽ gửi thông báo hàng xuất cho khách hàng (Shipping Advice) bao gồm những thông tin cơ bản về lô hàng (PO, số container, ngày tàu chạy…..)

    Đa số những công ty cung cấp dịch vụ Logistics tại Việt nam đều hoạt động theo nội dung của quy trình Logistics đã nêu trên. Quy trình này bao hàm những dịch vụ được cung cấp như quản lý đơn hàng, gom hàng, quản lý chứng từ, dịch vụ tại kho…..Nhưng thực ra đây mới chỉ là những khâu

    cơ bản nhất trong chuỗi Logistics mà các công ty Việt nam đã và đang làm được.

    II       Giới Thiệu Các Tập Đoàn Logistics Thế Giới

    • ©y lμ nh÷ng tËp ®oμn kinh tÕ kh«ng lå, cã tèc ®é ph¸t triÓn nhanh, ®ang ho¹t ®éng trong nhiÒu ngμnh vËn t¶i kh¸c nhau vμ cã mÆt ë kh¾p n¬i trªn thÕ giíi. Nh÷ng tËp ®oμn nμy thèng trÞ vμ chi phèi toμn bé lÜnh vùc chuyÓn ph¸t nhanh toμn cÇu bao gåm TNT, DHL, Fedex, UPS.

     

    10

    Trong vËn t¶i ®−êng biÓn th× cã Maerks Logistics, Schenker Logistics, APL Logistics,

    Kuehne&Nagel, MOL Logistics, SDV Logistics, Yusen Global Logistics,

    Thomas Nation Wide Transport (TNT) ®−îc thμnh lËp t¹i Australia n¨m 1946 víi dÞch vô ban ®Çu chØ lμ ph¸t chuyÓn nhanh b−u kiÖn vμ th− tÝn. TNT hiÖn nay lμ sù hîp nhÊt cña TNT EXPRESS WORLDWIDE vμ TNT

    LOGISTICS vμ ROYAL TPG POST, mét h·ng b−u ®iÖn cña

    Hμ Lan ®ang ho¹t ®éng t¹i ch©u ¢u vμ toμn cÇu. TNT hiÖn ®ang

    sö dông h¬n 160.000 ng−êi trªn 200 n−íc toμn thÕ giíi.

    TNT EXPRESS WORLDWIDE ®−îc ®¸nh gi¸ lμ m¹ng

    l−íi ph¸t chuyÓn nhanh b»ng ®−êng bé vμ ®−êng hμng kh«ng lín nhÊt ch©u ¢u. Trong khi ®ã TNT Logistics lμ c«ng ty cung cÊp dÞch vô Logistics lín thø hai trªn thÕ giíi.

    TNT vào Việt nam năm 1995 bằng việc liên doanh với công ty Viettrans thuộc Bộ Thương Mại và ở

    Việt nam nó có tên là TNT‐Viettrans Express Worldwide Co Ltd.

     Welivetodeliver

    Federal Express khai tr−¬ng dÞch vô vËn chuyªn nhanh vμo n¨m 1973 t¹i Mü vμ b¾t ®Çu ph¸t triÓn sang khu vùc ch©u ¸ -Th¸i B×nh D−¬ng vμo ®Çu nh÷ng n¨m 1980. N¨m 1989, Fedex ®−îc phÐp thùc hiÖn c¸c chuyÕn bay ®Õn 21 quèc gia ch©u ¸ th«ng qua viÖc mua l¹i Flying Tiger, mét h·ng hμng kh«ng chuyªn vËn chuyÓn hμng ho¸.

    HiÖn nay Fedex cã ®éi ngò nh©n viªn kho¶ng 140.000 ng−êi vμ cung cÊp dÞch vô t¹i 378 s©n bay trªn toμn thÕ giíi. Fedex ®−îc xem lμ h·ng vËn chuyÓn tèc hμnh lín nhÊt thÕ giíi, mçi ngμy vËn chuyÓn h¬n 3.5 triÖu mãn hμng ®Õn 220 n−íc.

     

    11

    Fedex hiÖn cã 50.000 ®iÓm giao hμng, cã 671 m¸y bay vËn t¶i vμ 41000 xe vËn t¶i c¸c lo¹i ho¹t ®éng trªn m¹ng n−íi toμn cÇu.

    United Parcel Service được thành lập Mỹ năm 1907 với hoạt động chính là truyền tin. Ngày nay UPS đã trở thành một tập đoàn với trị

    giá tài sản 36 tỷ USD. UPS hiện đang sử dụng 317000 người tại Mỹ và 40000 nhân công tại nước ngoài. UPS được đánh giá là công ty phát chuyển bưu kiện lớn nhất thế giới, đồng thời là nhà cung cấp hàng đầu về dịch vụ Logisticstoàn cầu. UPS hiện là một thương hiệu rất nổi tiếng trên thế giới. Hàng ngày UPS quản lý dòng lưu chuyển hàng hóa, tiền vốn và thông tin đến hơn 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.

    DHL thμnh lËp vμo n¨m 1969 t¹i Sanransisco víi dÞch vô vËn chuyÓn tμi liÖu, giÊy tê hμng ho¸ cña tμu biÓn b»ng ®−êng hμng kh«ng. §iÒu nμy cho phÐp hä thùc hiÖn c¸c thñ tôc h¶i quan tr−íc khi tμu cËp c¶ng, qua ®ã gi¶m ®−îc thêi gian chê ®îi trong c¶ng. DHL ®−îc coi lμ c«ng ty s¸ng lËp dÞch vô chuyÓn ph¸t nhanh quèc tÕ b»ng ®−êng hμng kh«ng. B¾t ®Çu tõ 1979, DHL kh«ng chØ vËn chuyÓn tμi liÖu mμ cßn b¾t ®Çu vËn chuyÓn b−u kiÖn. §Õn 1988, DHL ®· cã mÆt ë 170 n−íc trªn thÕ giíi. Ngμy nay DHL cã tæng sè nh©n viªn trªn kh¾p thÕ giíi lμ 350.000 ng−êi, cung cÊp c¸c dÞch vô vËn chuyÓn vμ ph¸t chuyÓn nhanh th«ng qua c¸c ph−¬ng thøc ®−êng bé, ®−êng s¾t, ®−êng hμng kh«ng, ®−êng biÓn còng nh− dÞch vô kho b·i, giao nhËn vμ c¸c gi¶i ph¸p Logistics kh¸c.

    N¨m 2002, DHL thuéc quyÒn së h÷u 100% cña Deustche Post World Net, h·ng b−u ®iÖn lín nhÊt ch©u Âu.

     

    12

    N¨m 2003, tÊt c¶ c«ng ty con cña Deustche Post trong lÜnh vùc ph¸t chuyÓn nhanh vμ Logistics nh− Deutsche Post Euro Express vμ Danza ®−îc s¸p nhËp d−íi mét th−¬ng hiÖu chung lμ DHL

    13

    Maersk Headquater in Denmark

    Công ty A.P Moller‐Maersk được thành lập hơn 100 năm về trước vào 1904 tại Đan Mạch. Người sáng lập là thuyền trưởng A.P Moller và con trai ông Mærsk Mc‐Kinney Møller. Nguyên thuỷ công ty chỉ khai thác vận tải biển, nhưng hiện nay lĩnh vực kinh doanh bao gồm khai thác dầu khí, cung cấp tàu biển, dịch vụ Logistics đa dạng, hệ thống siêu thị Dans Supermarket, khai thác cầu cảng và có cả một hãng hàng không là Maersk Air, cung cấp dịc vụ hàng không tại thị trường châu Âu.

    Ba doanh nghiệp chính kinh doanh dịch vụ container là Maersk Sealand, Maersk Logistics và APM Terminal.

    Tập đoàn Maersk hiện có trên 60000 nhân viên toàn cầu và có văn phòng tại hơn 125 quốc gia trên thế giới. Maersk có mặt tại Việt nam năm 1991 với việc mở văn phòng đại diện của Maersk Line, sau đó đổi tên thành Maersk Sealand khi Maersk mua hãng Sealand năm 1999

    Năm 1995 Maersk Logistics mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm đa dạng hoá dịch vụ tại Việt nam bao gồm: Lưu giữ hàng hoá, hoàn tất chứng từ, khai thác vận tải đường bộ và đường không. Tại Việt Nam, A.P Moller Maersk có hơn 130 nhân viên tại thành phố Hồ Chí Minh,

    • nhân viên tại Hà nội và các văn phòng đại lý tại Hải Phòng, Đà nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang.

    14

    • −îc thμnh lËp bëi Gottfried Schenker c¸ch nay h¬n 130 n¨m. Lóc ®Çu Schenker Logistics lμ c«ng ty chuyªn vÒ vËn t¶i ®−êng bé vμ ®−êng s¾t trªn toμn ch©u ¢u víi h¬n 30 n−íc.

    Ngμy nay Schenker Logistics cung cÊp c¸c gi¶I ph¸p tÝch hîp ®èi víi c¶ vËn t¶I ®−êng biÓn vμ ®−êng hμng kh«ng ë quy m« toμn cÇu. C¸c trung t©m tÝch hîp Schenker Logistics trªn thÕ giíi t¹o ®iÒu kiÖn vËn chuyÓn hμng ho¸ mét c¸ch hiÖu qu¶ toμn cÇu vμ kÕt nèi c¸c nhμ vËn chuyÓn t¹o ra mét lo¹t c¸c dÞch vô trÞ gi¸ gia t¨ng. C¸c dÞch vô chuyªn nghiÖp cña Schenker cung cÊp c¸c gi¶I ph¸p toμn diÖn lu«n ®¸p øng ®−îc nhu cÇu cña kh¸ch hμng mét c¸ch ®¸ng tin cËy. Schenker cã gμn 35000 nh©n viªn trªn toμn cÇu vμ 1100 v¨n phßng trªn toμn thÕ giíi víi doanh thu 8 tû Euro mçi n¨m .

    N¨m 1990 Schenker më v¨n phßng ®¹i diÖn t¹i ViÖt nam vμ lμ mét trong nh÷ng c«ng ty ho¹t ®éng trong lÜnh vùc giao nhËn vËn t¶i vμ Logistics s¬m nhÊt. Ngμy nay Schenker ®· ph¸t triÓn rÊt nhanh vμ lμ mét trong nh÷ng c«ng ty Logistics hμng ®Çu t¹i thμnh phè Hå ChÝ Minh. Schenker ®· liªn doanh víi Gemadept vμ cung cÊp cÊp c¸c lo¹i dÞch vô vËn t¶i hμng kh«ng còng nh− ®−êng biÓn.

    Các Hãng Tàu Lớn Trên Thế Giới.

    Dưới đây là bảng số liệu tham khảo về 10 hãng tàu container lớn nhất thế giới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt nam, các hãng tàu này sớm muộn cũng đã có mặt và đóng góp thêm vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên chính sự xuất hiện của các hãng tàu này đã làm cho thị trường Logistics Việt nam cạnh tranh khốc liệt hơn và kẻ được lợi bao giờ cũng là những kẻ mạnh. Các hãng tàu này đã dành được những phần béo bở từ miếng bánh Logistics Việt nam, chỉ để lại cho các hãng tàu trong nước một phần nhỏ. Nói một cách khách quan và công bằng thì các hãng tàu Việt Nam không đủ lực để cạnh tranh với các đại gia trên thế giới.

     

    15

    10 Hãng Khai Thác Tàu Container Lớn Nhất Thế Giới.

    (Số liệu tính đển hết năm 2005‐Visaba Times số 79&80)

    Xếp Tên Hãng Tàu Đội Tàu Đang Khai Thác Đội Tàu Đang Đặt Đóng Mới
    Hạng Chiếc TEU Chiếc TEU
    1 Maersk Line 570 1.592.000 150 722.000
    2 MSC 264 713.000 41 306.000
    3 CMA/Delmas 242 484.000 80 377.000
    4 Evergreen 148 441.000 38 205.000
    5 Hapag‐Loyd 135 400.000 17 108.000
    6 APL 102 325.000 24 83.000
    7 China Shipping 116 317.000 24 166.000
    8 Hanjin 82 309.000 11 75.000
    9 Coscon 123 306.000 23 179.000
    10 NYK 116 299.000 27 158.000
    Đội Tàu thuộc T ổng công ty Hàng Hải Việt nam Số Lượng(Chiếc)
    Công ty Vận tải Biển Việt Nam VOSCO 25
    Công ty Vận tải và thuê tàu biển Việt Nam VITRANSCHART 14
    ‐ Công ty Vận tải biển III VINASHIP 15
    ‐ Công ty Vận tải Biển Bắc NOSCO 4
    ‐ Công ty Vận tải biển VINALINES 16
    ‐ Công ty Vận tải Dầu khí Việt Nam FALCON 8
    ‐ Công ty Hàng hải Đông Đô VISERITRANS 12
    ‐ Công ty Cổ phần Vận tải biển Hải Âu SESCO 3
    Inlaco HP 4
    Inlaco SG 3
    Tổng số 104 Tàu (www.visabatimes.com) ngày 28/7/2006

    16

    Các “Đại Gia” hàng đầu thế giới trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Logistics

    ( Nguồn: Viện nghiên cứu Logistics toàn cầu –Global Logistics Istitute)

    Xếp Hng Tên Công Ty Quc Gia Lĩnh Vc Hot Đng Tng Doanh Thu
    (Triu USD)
    1 USPS M Mail, Express 122.122
    2 DHL Đc Mail, Express, Logistics 76.411
    Finance
    3 UPS M Express, Logistics 48.875
    4 FedEx M Express 43.736
    5 Maersk Đan Mch Shipping, Logistics 39.368
    6 La Post Pháp Mail, Express 33.465
    7 Cosco Trung Quc Shipping 31.86
    8 Japan Post Nht Bn Mail 24.596
    9 TNT Hà Lan Mail, Express,Logistics 22.364
    10 Royal Mail Anh Mail, Express 22.033
    11 Nippon Express Nht Bn Freight Forwarding, 21.867
    Logistics
    12 Schenker Đc Rail freight, Logistics 20.477
    13 NYK Line Nht Bn Shipping, Logistics 18.325
    14 Union Pacific Corp M Rail freight, Logistics 17.661
    15 Mitsui OSK Line Nht Bn Shipping 17.092
    16 Burlington Northern Santa M Rail freight, Logistics 16.128
    17 Poste Italiane Italia Mail 15.157
    18 Exel Anh Freight Forwarding, 14.204
    Logistics
    19 Yamato Transport Nht Bn Logistics 13.245
    20 Kuehne& Nagel Thu S Freight Forwarding, 13.091
    Logistics
    21 Norfolk Sourthern Corp M Rail freight, Logistics 12.942
    22 CSX Corp M Rail freight, Logistics 11.79
    23 SNCF Pháp Rail freight, Logistics 11.316
    24 Panalpina Thu S Freight Forwarding, 10.832
    Logistics
    25 China Post Trung Quc Mail 10.089
    26 US Freightways M Trucking 9.848
    27 Yellow Inc Roadway M Trucking 9.724
    28 Canada Post Canada Mail 9.611
    29 Canadian National Railway Canada Rail freight, Logistics 9.482
    30 APL Singapore Shipping Logistics 9.388

     

    17

    II.               Cơ Sở Hạ Tầng Ở Việt Nam

    III.1 Cảng Biển Việt Nam

    Việt nam có hơn 80 cảng biển với hơn

    2.2 triệu mét vuông bến bãi và một

    triệu mét vuông bến cảng. Các cảng

    chính ở Việt nam do Cục Hàng Hải

    quản lý và bây giờ được chuyển giao

    cho Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam.

    Các cảng chính là cảng Hải Phòng,

    cảng Đà Nẵng và cảng Sài Gòn, nhưng

    đều là cảng ở cửa sông và cách biển

    khoảng 30 đến 90 km. Điều này rất

    bất lợi cho tàu lớn cập cảng. Công

    suất bốc dỡ hàng năm gia tăng một

    cách đáng kể, cứ khoảng 5 năm lại

    gấp đôi, từ 56 triệu tấn năm 1998 lên

    • triệu tấn năm 2003. Các cảng gần vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm gần hai phần ba tổng sản lượng cả nước.

     

    Đội tàu cũng phát triển từ 679 chiếc với công suất 1.6 triêu DWT năm 2000 lên 928 chiếc vói công suất 1.8 DWT năm 2003, tăng 12% số lượng tàu và 4% công suất tàu.Tuy công suất khai thác vẫn thấp hơn so với các cảng hiện đại trong khu vực nhưng, các cảng biển Việt nam làm ăn ngày càng hiệu quả với chi phí bến cảng, kho bãi thấp. So với chí phí kho bãi, bến cảng thì Việt nam vẫn rẻ hơn so với Trung Quốc và các cảng trong khu vực ASEAN.

    Các cảng chính ở Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

    • Tân Cảng Sài Gòn ( SaiGon New Port), Cảng Cát Lái, C ảng Thị Vải C ảng Cái Mép, Cảng Khánh Hội
    • Cảng VICT ( Vietnam International Container Terminal) gần khu chế xuất Tân Thuận.

    Đây là cảng container lớn nhất Việt nam và có thể sánh cùng với các cảng tầm cỡ của các nước trong khu vực. Vị trí cảng rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hoá từ thành phố Hồ Chí Minh đi khắp nơi trên thế giới và là nơi tiếp nhận container từ nước ngoài về. Các nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt nam đã rất để ý đến khu chế xuất Tân Thuận bởi vì một lý do hết sức quan trọng đó là việc vận chuyển hàng hoá thuận tiện thông qua cảng VICT.

    Cảng nước sâu Phú Mỹ ở Vũng Tàu. Các cảng Chùa Vẽ và cảng Đình Vũ

    Hải Phòng. Ở Quảng Ninh thì có cảng nước sâu Cái Lân, Cảng Chân Mây ở

    Huế. Theo ước t ính, Việt nam có khoảng trên dưới 50 cảng biển lớn nhỏ.

    19

    Các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam:

    1. Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vosco)
    2. Công ty Vận tải Dầu khí Việt Nam (Falcon)
    3. Cảng Hải Phòng (Haiphongport)
    4. Cảng Sài Gòn (Saigonport)
    5. Cảng Đà Nẵng (Danangport)
    6. Đại lý Hàng hải Việt Nam (Vosagroup)
    7. Cty Hợp tác Lđộng với nước ngoài phía Nam (Inlacosaigon)
    8. Công ty Dịch vụ Công nghiệp Hàng hải (Inseco)
    9. Công ty Liên doanh Vận tải biển Việt ‐ Pháp (Gemartrans)
    10. Cty LD Vận chuyển container VW‐Waterfront Việt Nam
    11. Công ty Tiếp vận Ahlers‐Vina
    12. Công ty CP Tin học & Công nghệ Hàng hải (Miteco)
    13. Công ty CP Hàng hải Hà Nội (Marina Hanoi)
    14. Công ty CP Đại lý Vận tải Safi
    15. Công ty Cổ phần Container Việt Nam (Viconship)
    16. Công ty CP Hàng hải Sài Gòn (SMC)

     

    H ệ Thống Đường Thuỷ:

     

    Với 41,000 km đường thuỷ trong đó 8000km có thể khai thác hiệu quả kinh tế. Có thể nói Việt nam là một nước có mạ ng lưới giao thông rẩt phong phú và dày đặc với mật độ cao. Mặc dù việc đầu tư phát triển hệ thống đường thuỷ chưa được quan tâm đúng mức nh ưng đây vẫn là hệ thống v ận tải hữu hiệu đối v ới các lo ại tàu thuyền cỡ nhỏ. Đặc biệt các loại hàng hoá trị giá thấp như : than đá, gạo, cát, đá và các loại vật liệu khác rất thuận tiện và hiêu qủa khi vận chuyển bằng đường thuỷ nội bộ với khối lượng lớn. Giao thông đường thuỷ vẫn chiếm vị trí khá quan trọng đối với hai vùng châu thổ đó là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    20

    III.2   Các Cảng Hàng Không

    Việt nam có tổng số 32 sân bay phục vụ cho mục đích dân sự, quân sự quốc phòng. Trong đó Cục Hàng Không Dân Dụng Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý 18 sân bay với các sân bay tầm cỡ quốc tế như:

    Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế Đà Nẵng. Các sân bay trong nước có mặt ở rất nhiều địa phương như: Hải Phòng, Nghệ An, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc, Điện Biên, Huế, Quy Nhơn.

    Lượng khách quốc tế năm 1998 là 2,3 triêu người và khách nội địa là 3,3 triệu người. Năm 2002, hai sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Nội Bài đã đạt tổng số 8 triệu khách thương mại trong đó 4,2 triệu là khách quốc tế và 3,8 triệu là khách nội địa. Lượng khách quốc tế đến Việt nam qua hai cảng hàng không ngày càng gia tăng và đã vượt mức 10 triệu tính đến năm 2007

    Năm 1998 khoảng 60000 tấn hàng được vận chuyển bằng đường hàng không quốc tế đến Việt nam và 46000 tấn vận chuyển nội địa. Năm 2002, 112000 ngàn tấn hàng vận chuyển quốc tế, trong đó thư tín là 2 tấn và 78000 tấn vận chuyển nội địa. Tổng số đạt 190000 tấn. Khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, các mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng thì nhu cầu vận tải bằng hàng không ngày càng gia tăng. Ước tính năm 2007 Việt Nam đạt khoảng 220000 tấn hàng vận tải bàng đường hàng không.

     

    IV.

    Và Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Nam

     

    IV.1

    Những Thách Thức Với Ngành Logistics Việt Nam.

     

    T¹i ViÖt nam thÞ tr−êng Logistics lμ mét m¶ng thÞ tr−êng kh¸ míi mÎ, mÆ dï Logistics ®· phæ biÕn trªn thÕ giíi hμng tr¨m n¨m nay . Theo tÝnh to¸n cho thÊy, chi tiªu hμng n¨m cña mét quèc gia cho m¶ng Logistics lμ rÊt lín. C¸c n−íc ch©u ¢u vμ Mü lμ nh÷g n−íc cã nhiÒu kinh nghiÖm vÒ chuçi qu¶n lý Logistics th× chi tiªu cho Logistics còng chiÕm gÇn 10% GDP, cßn c¸c n−íc ®ang ph¸t triÓn, nh− Trung Quèc ch¼ng h¹n, chi tiªu cho Logistics còng ®· chiÕm tíi 19%.

    21

    Ph¶i nãi th¼ng th¾n r»ng ë ViÖt nam, ngμnh Logistics ch−a ®−îc coi träng t−¬ng xøng víi sù ph¸t triÓn cña nÒn kinh tÕ. C¸c doanh nghiÖp vËn t¶i ViÖt nam th× chØ míi dõng l¹i ë mét trong rÊt nhiÒu chuçi Logistics lμ h×nh thøc giao nhËn vËn t¶i, cho thuª kho b·i vμ vËn chuyÓn néi ®Þa. TÇm cì cña c¸c c«ng ty ViÖt nam trong lÜnh vùc nμy lμ rÊt yÕu vμ thiÕu chuyªn nghiÖp. Nguyªn nh©n x©u xa cña nh÷ng vÊn ®Ò nμy lμ :

    • C¸c doanh nghiÖp ViÖt nam phÇn lín lμ c¸c doanh nghiÖp sinh sau ®Î muén so víi rÊt nhiÒu c«ng ty n−íc ngoμi vèn cã lÞc sö ph¸t triÓn kinh doanh tõ rÊt l©u ®êi nh− Schenker Logistics, Maersk Logistics vv
    • TÇm bao phñ ho¹t ®éng cña c¸c c«ng ty ViÖt nam chØ trong ph¹m vi néi ®Þa hoÆc mét vμi n−íc trong khu vùc, trong khi tÇm bao phñ cña c¸c c«ng ty n−íc ngoμi lμ cÊp ®é toμn cÇu. §©y lμ mét c¶n trë rÊt lín khi c¸c doanh nghiÖp cung cÊp c¸c dÞch vô trän gãi cho kh¸ch hμng v× ngμy nay, trong xu thÕ toμn cÇu hãa, c¸c c«ng ty lín th−êng cã xu h−íng sourcing (khai th¸c nguån hμng vμ dÞch vô) tõ nhiÒu quèc gia vμ

    l·nh thæ trªn thÕ giíi nh− : NIKE, Adidas, Nokia Chóng ta cã thÓ tÝnh ®Õn vai trß cña c¸c ®¹i lý mμ c¸c c«ng ty ViÖt nam thiÕt lËp ë c¸c quèc gia kh¸c, nh−ng quan hÖ nμy rÊt láng lÎo vμ kh«ng ®ång nhÊt.

    • PhÇn lín c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam chØ tËp trung vμo khai th¸c nh÷ng m¶ng nhá trong toμn bé chuçi cung øng mμ chóng ta thÊy phæ biÕn lμ h×nh thøc giao nhËn vËn t¶i (Freight Forwarding). §©y lμ h×nh thøc kh¸ ®¬n gi¶n, c¸c c«ng ty giao nhËn ®ãng vai trß lμ ng−êi bu«n c−íc sØ sau ®ã b¸n l¹i cho ng−êi mua lÎ. Th«ng qua c¸c h·ng vËn t¶I biÓn, còng nh− hμng kh«ng. Hμng sau khi ®−îc gom thμnh nh÷ng container ®Çy sÏ ®−îc vËn chuyÓn ®Õn quèc gia cña ng−êi nhËn. T¹i ®ã c¸c ®¹i lý mμ

    c¸c c«ng ty ViÖt nam cã ®èi t¸c sÏ lμm thñ tôc h¶I quan vμ giao hμng cho ng−êi nhËn t¹i kho. Nh− vËy h×nh thøc nμy chØ lμ mét phÇn nhá trong chuçi gi¸ trÞ gia t¨ng Logistics . Trong chuçi Logistics hiÖn ®¹i mμ c¸c c«ng ty Logistics lín ®ang cung cÊp cho kh¸ch hμng cña m×nh th× nã bao gåm rÊt nhiÒu dÞch vô ®a d¹ng víi trÞ gi¸ gia t¨ng cao mμ chóng ta cã thÓ liÖt kª:

    -DÞch vô giao tËn nhμ/ Door to Door

    -Gom hμng nhanh t¹i kho/ Consolidation Docking – Qu¶n lý ®¬n hμng/ PO Management

    22

    • DÞch vô kho b·i trÞ gi¸ gia t¨ng / Value Added Warehousing

     

    • Gom hμng tõ nhiÒu quèc gia ®Õn mét c¶ng trung chuyÓn th−êng lμ Singapore, Hong Kong, Kaoshiung-Cao Hïng /Multi-Country Consolidation.

    -DÞch vô kiÓm so¸t chÊt l−îng hμng ho¸/ QA-QI Program

     

    -DÞch vô container treo (dμnh cho hμng may mÆc)/ Hanger Pack Service.

     

    -Qu¶n lý d÷ liÖu vμ cung cÊp d÷ liÖu ®Çu cuèi cho kh¸ch hμng/ Data Management/ EDI clearing house.

     

    -DÞch vô quÐt vμ in m· v¹ch/ Barcode scanning and Label Production. -Dich vô x©y dùng bé tiªu chuÈn cho ho¹t ®éng Logistics

    -DÞch vô NVOCC / NVOCC Operation.

     

    -DÞch vô theo doi kiÓm hμng th«ng qua m¹ng Internet/ System Track and Trace /Web base Visisbility

     

    -DÞch vô nhμ cung cÊp Logistics thø t− (FPL). §©y lμ m« h×nh dÞch vô Logistics rÊt míi gióp cho c¸c h·ng Logistics gia t¨ng dÞch vô trÞ gi¸ gia t¨ng cho m×nh.

     

    • Chóng ta cã thÓ thÊy râ lμ trong quan hÖ th−¬ng m¹i quèc tÕ, phÇn lín c¸c nhμ xuÊt khÈu cña ViÖt nam chñ yÕu lμ xuÊt khÈu hμng theo ®iÒu kiÖn FOB, FCA nghÜa lμ chØ cÇn b¸n hμng qua lan can tÇu t¹i c¶ng bèc hμng theo quy ®Þnh lμ hÕt tr¸ch nhiÖm. Nh− vËy quyÒn ®Þnh ®o¹t vÒ vËn t¶I ®Òu do ng−êi mua chØ ®Þnh vμ dÜ nhiªn ng−êi mua sÏ chØ ®Þnh mét c«ng ty n−íc hä ®Ó thùc hiÖn ®iÒu nμy. Vμ c¸c c«ng ty Logistics ViÖt nam sÏ lμ ng−êi ngoμi cuéc. BÊt cËp nμy kh«ng ph¶I dÔ dμng gi¶I quyÕt v× phÇn lín c¸c nhμ xuÊt khÈu cña ViÖt nam ®Òu gia c«ng hoÆc xuÊt hμng cho nh÷ng kh¸ch hμng lín- ng−êi mμ ®· cã nh÷ng hîp ®ång dμi h¹n vμ toμn cÇu víi c¸c c«ng ty Logistics. VÝ dô nh− c«ng ty giμy NIKE, ®©y lμ c«ng ty cã rÊt nhiÒu hîp ®ång lμm ¨n víi c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam nh−ng riªng vÒ kh©u vËn t¶i vμ Logistics th× c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam kh«ng thÓ tham gia vμo qu¸ tr×nh th−¬ng th¶o. Râ rμng mét «ng lín nh− Nike th× viÖc ký ®−îc hîp ®ång gia c«ng víi hä ®· lμ qu¸ tèt víi c¸c doanh nghiÖp gia dμy cña ViÖt nam råi chø ®õng nãi ®Õn viÖc ®μm ph¸n vÒ vËn t¶i vμ

    Logistics. Trªn thùc tÕ hai c«ng ty ®ang cung cÊp dÞch vô Logistics cho Nike lμ Maersk Logistics vμ APL Logistics.

    Nh−ng ®èi víi c¸c nhμ nhËp khÈu ViÖt nam th× sao? NÕu nh×n vμo c¸n c©n th−¬ng m¹i quèc tÕ cña ViÖt nam th× chóng ta thÊy râ lμ ViÖt nam lu«n nhËp siªu. Vμ ®©y chÝnh lμ thÞ tr−êng kh¸ tèt cho c¸c c«ng ty Logistics ViÖt nam. Trªn thùc tÕ th× m¶ng nhËp khÈu còng lμ thÕ m¹nh cña c¸c c«ng ty ViÖt nam. NÕu nh− tr−íc ®©y c¸c nhμ nhËp

     

    23

    khÈu cña ViÖt nam chñ yÕu mua hμng theo ®iÒu kiÖn CIF, CIP th× nay c¸c doanh nghiÖp nhËp khÈu cña ViÖt nam ®ang chuyÓn dÇn sang h×nh thøc mua FOB, ®iÒu nμy t¹o ra c¬ héi cho c¸c doanh nghiÖp Logistics ViÖt nam khai th¸c. Tuy nhiªn mét phÇn kh¸ lín trong miÕng b¸nh nμy vÉn n»m trong tay c¸c h·ng Logistics n−íc ngoμi do cã nhiÒu c«ng ty n−íc ngoμi ®Çu t− trùc tiÕp t¹i ViÖt nam mμ còng chÝnh hä lμ ng−êi nhËp kh¼u hμng nhiÒu nhÊt. H¬n thÕ n÷a phÇn lín c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam vÉn cßn ch−a cã nhiÒu ý thøc trong viÖc ®Çu t− vμo qu¶n lý hiÖu qu¶ chuçi cung øng. §iÒu nay cho thÊy râ ë chç c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam hÇu hÕt kh«ng cã phßng qu¶n lý Logistics hoÆc chuçi cung øng mμ phßng nμy th−êng ®−îc hiÓu lμ phßng kinh doanh xuÊt nhËp khÈu. §iÒu nμy t¹o ra rμo c¶n ®èi víi c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam trong viÖc chμo c¸c dÞch vô Logistics gi¸ trÞ gia t¨ng.

    • Chóng ta ®ang ®èi mÆt hÖ thèng h¹ tÇng giao th«ng vËn t¶i cßn rÊt thiÕu vμ

    yÕu. §iÒu nμy lμm cho c¸c chi phÝ Logistics cña ViÖt nam cao h¬n h¼n c¸c n−íc kh¸c. B¶n th©n c¸c c«ng ty Logistics sÏ tèn nhiÒu chi phÝ ®Çu t−, lμm gi¶m lîi nhuËn cña hä còng nh− kh¶ n¨ng më réng dÞch vô.

    • VÒ h¹ tÇng th«ng tin, ®©y chÝnh lμ ®iÓm yÕu cña c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam. MÆc dï c¸c doanh nghiÖp Logistics ®· cã nhiÒu ý thøc trong viÖc ¸p dông c«ng nghÖ th«ng tin vμo ho¹t ®éng kinh doanh cña m×nh nh−ng nh÷ng ®iÒu nμy vÉn cßn kÐm xa so víi tr×nh ®é quèc tÕ. NÕu chØ xÐt vÒ khÝa c¹nh x©y dùng website th× phÇn lín website cña ViÖt nam chØ ®¬n thuÇn giíi thiÖu vÒ m×nh, vÒ dÞch vô cña m×nh mμ thiÕu h¼n c¸c tiÖn Ých mμ kh¸ch hμng cÇn nh− c«ng cô Track & Trace ( Theo dâi ®¬n hμng, theo dâi lÞch tr×nh tμu), booking, theo dâi chøng tõ. Chóng ta nªn biÕt kh¶ n¨ng nh×n thÊy vμ kiÓm so¸t ®¬n hμng lμ mét yÕu tè ®−îc c¸c chñ hμng ®¸nh gia rÊt cao khi hä lùa chän nhμ cung cÊp dÞch vô Logistics cho m×nh. §Ó lμm ®−îc ®iÒu nμy ®ßi hái ph¶I cã gi¶I ph¸p ®Çu t− tæng thÓ vμ chi tiÕt, cã ®Þnh h−íng dμi h¹n. H¬n thÕ n÷a viÖc ®Çu t− x©y dùng hÖ thèng IT còng gióp chÝnh c¸c doanh nghiÖp hiÖu qu¶ vμ n¨ng suÊt. Cô thÓ trong lÜnh vùc Logistics c¸c doanh nghiÖp cÇn ®Çu t− x©y dùng hÖ thèng phÇn mÒm WMS (Warehouse Management System) ®©y lμ hÖ thèng phÇn mÒm qu¶n lý kho gióp qu¶n lý mét c¸ch hiÖu qu¶, gi¶m chi phÝ, n©ng cao n¨ng suèt h¬n rÊt nhiÒu.
    • Cho ®Õn nay, tÝnh liªn kÕt cña c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam cßn rÊt yÕu, c¸c c«ng ty hÇu nh− ho¹t ®éng ®éc lËp. Trong su h−íng outsourcing, mçi doanh nghiÖp cÇn tËp trung vμo thÕ m¹nh cña m×nh vμ se thuª ngoμi c¸c dÞch vô kh«ng ph¶I lμ thÕ m¹nh, nh− vËy th× tÝnh liªn kÕt lμ cÇn thiÕt h¬n bao giê hÕt. §· ®Õn lóc chóng ta cÇn ngåi l¹i

    24

    vμ hîp t¸c ®Ó cã thÓ ®−a ra thÞ tr−êng mét chuçi c¸c dÞch vô Logistics tæng thÓ cho kh¸ch hμng. Mét c«ng ty giao nhËn cã thÓ liªn kÕt víi mét c«ng ty vÒ kho b·i, vÒ vËn t¶i, m«i giíi, hμng kh«ng t¹o thμnh mét chuçi liªn kÕt chÆt chÏ.

    • VÊn ®Ò th−¬ng hiÖu: HiÖn t¹i ViÖt nam vÉn ch−a cã ®−îc th−¬ng hiÖu m¹nh tÇm cì khu vùc chø ch−a nãi g× ®Õn tÇm cì thÕ giíi, vÒ vÊn ®Ò nμy cÇn cã sù hç trî chÆt chÏ vμ nhiÖt t×nh tõ phÝa nhμ n−íc th× míi cã thÓ lμm ®−îc. Chóng ta cÇn cã nh÷ng th−¬ng hiÖu ®Çu ngμnh lμm ®Çu kÐo cho ngμnh Logistics ph¸t triÓn ®óng h−íng.
    • Nh©n lùc: Chóng ta ®ang thiÕu mét ®éi ngò chuyªn viªn trong ngμnh Logistics chuyªn nghiÖp vμ ®−îc ®μo t¹o bμi b¶n. B¶n th©n c¸c tr−êng ®¹i häc lín còng ch−a hÒ cã khoa d¹y vÒ nghÒ nμy. H¬n bao giê hÕt sù thμnh c«ng b¾t ®Çu tõ con ng−êi.

    IV.2                 Chiến Lược Nào Cho Ngành Logistics Việt Nam

    Trên c¬ së ph©n tÝch ë trªn chóng ta cã thÓ rót ra mét sè bμi häc quý b¸u cho ViÖt nam trong viÖc øng dông vμ ph¸t triÓn ngμnh Logistics trong t−¬ng lai gÇn. §Ó lμm ®−îc viÖc nμy cÇn ph¶I cã sù phèi hîp chÆt chÏ gi÷a nhμ n−íc vμ c¸c c¬ quan, tæ chøc chuyªn ngμnh, c¸c hiÖp héi vËn t¶I ë ViÖt nam còng nh− sù phèi hîp chÆt chÏ gi÷a nhμ n−íc vμ c¸c ®Þa ph−¬ng.

    Thø nhÊt: X©y dùng vμ hiÖn ®¹i ho¸ c¬ së h¹ tÇng giao th«ng nãi chung, hÖ thèng cÇu c¶ng, bÕn b·i nãi riªng cho c¶ ngμnh hμng kh«ng vμ hμng h¶i vμ ®−êng s¨t.

    Sù thay ®æi t− t−ëng cña §¶ng vμ Nhμ n−íc trong viÖc ph¸t triÓn kinh tÕ thÓ hiÖn b»ng chÝnh s¸ch “§æi Míi” ®· t¹o mét b−íc ngoÆt lÞch sö, cã thÓ nãi lμ mét b−íc nh¶y tiÕn bé ®èi víi nÒn kinh tÕ ViÖt nam sau 20 n¨m tõ 1986 ®Õn nay. Tuy nhiªn ph¶i nh×n nhËn th¼ng th¾n r»ng c¬ së h¹ tÇng ë ViÖt nam vÉn cßn ch−a ph¸t triÓn kÞp cïng víi sù ph¸t triÓn cña nÒn kinh tÕ nÕu kh«ng muèn lμ l¹c hËu. ViÖc ph¸t triÓn tèt hÖ thèng giao th«ng sÏ t¹o ®iÒu kiÖn cho vËn t¶i ®a ph−¬ng thøc ph¸t triÓn. §ã lμ sù kÕt nèi hμi hoμ gi÷a vËn t¶i b»ng ®−êng bé-hμng kh«ng-®−êng s¾t vμ ®−êng biÓn. ViÖc hoμn tÊt dù ¸n n©ng cÊp vμ x©y míi nhμ ga quèc tÕ T©n S¬n NhÊt vμo cuèi n¨m nay 2007 sÏ tiªn ®o¸n mét sù ph¸t triÓn nh¶y vät trong lÜnh vùc vËn t¶i hμng kh«ng. L−îng hμng ho¸ xuÊt nhËp khÈu qua c¶ng hμng kh«ng T©n S¬n NhÊt sÏ t¨ng m¹nh, dù ®o¸n cã thÓ t¨ng gÊp r−ìi trong n¨m 2008.

    Còng nh− viÖc hiÖn ®¹i ho¸ c¬ së h¹ tÇng c¶ng hμng kh«ng quèc tÕ T©n S¬n NhÊt, chÝnh phñ nªn x©y dùng c¸c c¶ng biÓn tÇm cì quèc tÕ t¹i H¶I Phßng hoÆc Thμnh phè Hå ChÝ Minh. ViÖc nμy kh«ng khã, nÕu ViÖt nam kh«ng ®ñ tr×nh ®é ®Ó x©y dùng c¸c

     

    25

    c¶ng n−íc s©u vμ hiÖn ®¹i th× ta cã thÓ thùc hiÖn theo c¸ch liªn doanh víi c«ng ty n−íc ngoμi hoÆc ®Êu thÇu trùc tiÕp, mêi gäi c¸c nhμ thÇu n−íc ngoμi. Mét khi ®· x©y dùng ®−îc hÖ thèng c¶ng biÓn hiÖn ®¹i th× rÊt cã thÓ ViÖt nam sÏ lμ mét tr¹m trung chuyÕn lín (HUB) cña thÕ giãi.

    • èi víi ngμnh ®−êng s¾t ta còng nªn xo¸ bá thÕ ®éc quyÒn ®Ó t¹o ®iÒu kiÖn c¹nh tranh b×nh ®¼ng h¬n. Việt Nam cã h¬n 1700 km chiÒu dμi ®−êng s¾t, tõ L¹ng S¬n ®Õn Thμnh phè Hå ChÝ Minh, nh−ng cã thÓ nãi viÖc vËn t¶i b»ng ®−êng s¾t ch−a mang l¹i hiÖu qu¶ cao cho nÒn kinh tÕ. Chõng nμo ngμnh vËn t¶i ®−êng s¾t cßn ®éc quyÒn th× nã cßn chËm ph¸t triÓn. ë ViÖt nam, hiÕm cã doanh nghiÖp Logistics nμo cã lÜnh vùc kinh doanh lμ vËn t¶i ®−êng s¾t.

    Thø hai: X©y dùng mét tr−êng ®¹i häc nÕu cã thÓ hoÆc Ýt nhÊt x©y dùng mét khoa Logistics häc trong tr−êng §¹i häc Hμng H¶i hoÆc §¹i häc Kinh tÕ

    • ©y lμ mét viÖc hÕt søc cÇn thiÕt t¹o ®iÒu kiÖn nghiªn cøu vμ ph¸t triÓn ngμnh Logistics ë ViÖt nam ®· ®Õn lóc nã ph¶i ®−îc nghiªn cøu ®óng møc so víi tÇm quan träng cña nã.

    Thø ba: Thμnh lËp hiÖp héi Logistics ViÖt nam.

    C¸ch nay hμng chôc n¨m Singapore ®· x©y dùng hÖ thèng c¶ng biÓn, c«ng ty vËn t¶I biÓn, h·ng hμng kh«ng, c«ng ty Logistics thμnh mét chuçi dÞch vô thèng nhÊt theo m« h×nh One-Stop Shop (chØ dõng ch©n mét lÇn lμ cã thÓ mua ®−îc tÊt c¶). N−íc nμy còng ®· chuyÓn ®æi HiÖp Héi Giao NhËn thμnh HiÖp Héi Logistics, ®iÒu nμy thÓ hiÖn sù ph¸t triÓn v−ît bËc cña ngμnh Logistics Singapore. §èi víi ViÖt nam, tíi nay chóng ta míi chØ cã HiÖp Héi §¹i Lý Vμ M«i Giíi Hμng H¶i Việt Nam vμ HiÖp Héi Giao NhËn Kho VËn Việt Nam (VIFFAS). B¶n th©n tªn cña hiÖp héi nμy còng ®· qu¸ cò. §Ó n©ng cao nhËn thøc cña c¸c thμnh viªn trong héi, thóc ®Èy sù ph¸t triÓn cña ngμnh Logistics ViÖt nam vμ x©y dùng nh÷ng chiÕn l−îc tæng thÓ vμ dμi h¹n thiÕt nghÜ chóng ta nªn thμnh lËp hiÖp héi Logistics ViÖt nam trªn c¬ së kÕ thõa cña nh÷ng thμnh tùu ®· ®¹t ®−îc. Tuy muén nh−ng chóng ta nªn häc tËp theo kinh nghiÖm cña Singapore.

    Thø t−: Nªn thμnh lËp mét tæng c«ng ty vÒ lÜnh vùc Logistics ë ViÖt nam

    Chóng ta ®· cã c¸c tËp ®oμn lín nh− B−u ChÝnh ViÔn Th«ng, DÇu KhÝ, Hμng Kh«ng, §iÖn Lùc vv. ChÝnh v× sù lín m¹nh cña c¸c tËp ®oμn nμy mμ c¸c tËp ®oμn n−íc ngoμi cã Ýt c¬ héi thèng trÞ c¸c thÞ tr−êng, c¸c lÜnh vùc quan träng ë ViÖt nam. V× vËy nÕu ë ViÖt nam cã mét tËp ®oμn Logistics th× ch¾c ch¾n thÞ tr−êng Logistics néi ®Þa sÏ do

     

    26

    c¸c c«ng ty ViÖt nam kiÓm so¸t vμ c¸c tËp ®oμn n−íc ngoμi sÏ khã cã c¬ héi lμm chñ thÞ tr−êng Logistics ViÖt nam.

    ViÖc thμnh lËp tæng c«ng ty Logistics Việt Nam cã thÓ b»ng c¸ch s¸p nhËp nh÷ng c«ng ty giao nhËn vËn t¶i nhμ n−íc l¹i víi nhau hoÆc thμnh lËp d−íi sù gi¸m s¸t cña bé chñ qu¶n sau ®ã cæ phÇn ho¸. Muèn hy väng c¸c c«ng ty Logistics ViÖt nam cã thÓ v−¬n ra thÞ tr−êng quèc tÕ th× ®iÒu kiÖn tr−íc tiªn lμ ph¶I v÷ng m¹nh ë thÞ tr−êng s©n nhμ tr−íc.

    Suy cho cïng th× c¸c n−íc trong khu vùc §«ng Nam A còng cã t×nh tr¹ng t−¬ng tù nh− ViÖt nam lμ ®Ó c¸c tËp ®oμn Logistics lín trªn thÕ giíi chiÕm phÇn lín miÕng b¸nh Logistics ngay trªn s©n nhμ. ThËm chÝ ngay trªn s©n nhμ nh− ViÖt nam th× c¸c c«ng ty Logistics trong n−íc còng chØ ®−îc mét phÇn nhá cña miÕng b¸nh mμ th«i.

    Thø n¨m: X©y dùng c¬ së d÷ liÖu c«ng nghÖ th«ng tin phôc vô cho céng ®ång Logistics ViÖt nam vμ c¸c doanh nghiÖp xuÊt nhËp khÈu..

    Ph¶i nãi r»ng c¬ së d÷ liÖu hÖ thèng th«ng tin cña ViÖt nam nãi chung, ngμnh Logistics nãi riªng cßn nhiÒu bÊt cËp. C¸c trang web cña c¸c c¬ quan chuyªn ngμnh Logistics ch−a thùc sù m¹nh, ch−a thùc sù hç trî nhiÒu cho doanh nghiÖp, d÷ liÖu th«ng tin cßn ch−a phong phó, ch−a ®¸p øng tho¶ m·n nhu cÇu cña kh¸ch hμng. NhiÒu khi c¸c trang web ë n−íc ngoμi l¹i chøa ®ùng nhiÒu th«ng tin vÒ ViÖt nam h¬n h¼n nh÷ng website trong n−íc. §Æc biÖt c¸c c«ng ty trong n−íc th× chØ dõng l¹i ë viÖc giíi thiÖu vÒ c«ng ty m×nh, nh÷ng dÞch vô mμ m×nh cã. Nh÷ng tiÖn Ých dμnh cho kh¸ch hμng nh− hÖ thèng (Track and Trace) t×m kiÕm c¬ së d÷ liÖu cña l« hμng hÇu nh− kh«ng doanh nghiÖp nμo lμm ®−îc.

    Ph¶I x©y dùng hÖ thèng th«ng tin hiÖn ®¹i, c¬ së d÷ liÖu ph¶I m¹nh ®Ó nã thËt sù gióp Ých lμ cÇu nèi gi÷a céng ®ång Logistics ViÖt nam vμ c¸c doanh nghiÖp xuÊt nhËp khÈu.

    1. Kết Luận

    Sau hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt nam đã phát triển rõ rệt, có những bước tiến bộ đáng kể. Các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận thấy Việt nam là một điểm đến lý tưởng để đầu tư kinh doanh, sản xuất.

     

    27

    Việt nam có được lợi thế giá nhân công rẻ, chính trị ổn định, vị trị địa lý rất thuận lợi trong việc vận tải hàng hóa quốc tế vv.

    Tuy nhiên để ngành Logistics phát triển kịp với tốc độ phát triển kinh tế thì chúng ta còn rất nhiều điều phải làm. Chính phủ cần phải xây dựng một cơ sở hạ tầng hiện đại đủ thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, đường sắt cũng như đường hàng không. Khi làm được điều này thì chắc chắn Việt nam sẽ còn thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn nữa. Không phải ngẫu nhiên mà trong 10 năm trở lại đây lĩnh vực Logistics ở Việt nam lại phát triển mạnh đến như vậy. Đây là một điều tất yếu, theo quy luật cung‐cầu. Khi các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam xuất hàng đi thì việc đầu tiên là họ nghĩ đến một công ty Logistics có khả năng cung cấp cho họ những dịch vụ tốt nhất và các hãng tàu, các công ty Logistics Việt nam thì chưa đủ sức làm những việc này một cách bài bản. Miếng fomát Logistics ngon một lần nữa lại thuộc về các công ty nước ngoài.

    Do đó dù muộn còn hơn không, nhất định Việt nam phải giải quyết cho bằng được những ưu tiên cấp thiết để phát triển ngành Logistics. Về vị trí địa lý Việt nam là một quốc gia có đầy đủ các điều kiện thuân lợi để trở thành trung tâm (HUB) vận chuyển hàng hoá của khu vực cũng như quốc tế.

    Cơ sở hạ tầng của chúng ta chưa phát triển nên chi phí vận tải luôn cao hơn so với các nước trong khu vực, một lý do đơn giản là khi hàng hóa từ Việt nam xuất đi quốc tế phải qua cảng trung chuyển và sẽ bị mất thêm nhiều chi phí khác. Một khi chúng ta có hệ thống cầu cảng bến bãi hiện đại tầm cỡ trong khu vực thì chúng ta sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình và sẽ giảm bớt được thời gian và chi phí vận chuyển, mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành Logistics.

     

    28

    Tài Liêu Tham Khảo :

    Tạp chí Visaba Times‐Hiệp Hội Đại Lý Và Môi Giới Hàng Hải Việt Nam Năm 2006. (12 số)

    www.visabatimes.com.vn

    Tạp chí Chủ Hàng Việt Nam‐Vietnam Shipper. Năm 2006&2007 (12 số) www.vietnamshipper.com

    www.tnt.com

    www.dhl.com

    www.ups.com

    www.fedex.com

    www.mol‐logistics.co.jp

    www.schenker.com

    www.logisticsworld.com

    www.maerskline.com

    www.vietnamairlines.com

    29

    Logo một số công ty giao nhận ở Việt nam:

    30

  • Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người. Trước Các Mác, vấn đề bản chất con người chưa được giải đáp một cách khoa học. Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người. Bằng sự phát triển sự phát triển toàn diện thì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ.

    Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độ nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra tri thức mới, chứa dựng những tri thức mới.

    Ở nước ta, từ đại hội Đảng lần thứ III đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Muốn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân…thì không còn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa. Để làm được như vậy thì một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao kỹ thuật, công nghệ, và trong đó đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực.

    Đã có rất nhiều ngành, môn khoa học nghiên cứu về vấn đề con người đây được coi là vấn đề thiết thực nhất đòi hỏi sự phát triển toàn diện nhất trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này chúng ta chỉ đề cập tới một khía cạnh đó là: “Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    I. QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    1.1.  Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.

    Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.

    Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.

    Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.

    Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”.

    Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.

    Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.

    Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.

    Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.

    1..2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội

    Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đén cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.

    Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.

    Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.

    Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

    Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử – xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên. Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”.

    Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.

    Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.

    Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trung khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.

    Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.

    1.3 Sự phát triển xã hội loài người trong nền kinh tế tri thức

    Trong thời gian 150 năm, từ năm 1750 đến 1900 (thời kỳ của cách mạng công nghiệp), chủ nghĩa tư bản và công nghệ đã chinh phục toàn thế giới và tạo ra một nền văn minh thế giới mới. Nét mới quan trọng của tư bản và các phát triển công nghệ trong thời kỳ này là nhịp độ lan truyền và ảnh hưởng có tính toàn cầu của chúng đối với nhiều nền văn hóa, giai cấp và khu vực địa lý. Nhịp độ và phạm vi đó đã biến tư bản thành “chủ nghĩa tư bản”, và biến những tiến bộ về khoa học công nghệ thành cuộc “ Cách mạng công nghiệp”. Chủ nghĩa tư bản và Cách mạng công nghiệp – do nhịp độ và quy mô của chúng – đã tạo ra một nền văn minh thế giới mới.

    Sự chuyển đổi này đã được thúc đẩy bởi những thay đổi căn bản về ý nghĩa tri thức. ở cả phương Đông và phương Tây trước đây, tri thức được quan niệm là phục vụ cho chính nó. Nhưng sau một khoảng thời gian ngắn, tri thức đã được áp dụng vào tổ chức lao động, trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và trở thành một loại hàng hóa công cộng.

    Sự biến đổi ý nghĩa của tri thức trải qua 3 giai đoạn:

    Trong giai đoạn đầu (khoảng 100 năm), tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm. Điều này tạo ra cuộc Cách mạng công nghiệp đồng thời cũng tạo ra điều mà Marx gọi là các giai cấp mới, các cuộc đấu tranh giai cấp và gắn liền với chúng là Chủ nghĩa cộng sản.

    Trong giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ khoảng cuối thể kỷ 19 và kết thúc vào Chiến tranh thế giới thứ 2, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động. Giai đoạn này tạo ra cuộc Cách mạng năng suất trong 75 năm và chuyển những người vô sản trở thành tầng lớp trung lưu với thu nhập gần với tầng lớp thượng lưu.

    Giai đoạn cuối cùng thì tri thức đang được áp dụng cho chính bản thân tri thức. Đó là cuộc cách mạng quản lý. Tri thức trở thành một nhân tố sản xuất, làm giảm vai trò của cả vốn là lao động. Có thể là hấp tấp khi nói rằng chung ta hiện nay đang ở trong “xã hội tri thức”- hiện nay chúng ta mới chỉ có một nền kinh tế tri thức. Nhưng rõ ràng xã hội  của chúng ta hiện nay đã là “xã hội hậu tư bản”

    Các phát minh trong thời trước cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như kính mắt) cũng đã được lan truyền rất nhanh nhưng chúng ta chỉ gắn với một ngành, nghề thủ công hoặc một ứng dụng cụ thể nào đó. Những phát minh trong thời cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như động cơ hơi nước) nhanh chóng được ứng dụng trên diện rộng và tác động đến tất cả các ngành, nghề thủ công.

    Chúng ta hiểu rằng những sự kiện lịch sử trọng đại bắt nguồn không chỉ từ một nguyên nhân duy nhất và một cách giải thích duy nhất mà thường là kết quả hội tụ của nhiều tiến triển riêng rẽ và độc lập. Có thể lấy ví dụ về việc phát triển máy tính phải dựa vào rất nhiều phát minh khoa học trước đó.

    Tuy nhiên, có một nhân tố rất quan trọng mà không có nó thì tư bản và tiến bộ kỹ thuật có lẽ không thể có tác động  lan truyền mang tính xã hội và rộng khắp đến thế trên thế giới. Đó là sự thay đổi căn bản ý nghĩa của tri thức vào những năm 1700 và một thời gian ngắn sau đó.

    Vào thời kỳ Plato (những năm 400 trước công nguyên) có 2 học thuyết ở phương Đông và 2 học thuyết ở phương Tây về ý nghĩa và chức năng của tri thức. Nhà hiền triết Socrates, người phát ngôn của phái triết học Plato, cho rằng chức năng của tri thức là vì chính tri thức: sự phát triển tri thức, đạo đức và tinh thần của cá nhân. Địch thủ của ông ta, nhà triết học Protagoras lại cho rằng mục đích của tri thức là làm cho người có tri thức có thể hiểu được những gì cần phải nói và làm thế nào để nói chúng. Theo Protagoras, tri thức có nghĩa là logich, ngữ pháp và hừng biện (tu từ).

    Ở phương Đông cũng có hai học thuyết tương tự về tri thức. Đối với Khổng giáo, tri thức là biết được những gì cần nói và làm thế nào để nói chúng là con đường dẫn tới tiến bộ và thành công trên trần thế. Theo Đạo Lão và phái Thiền (Phật giáo) thì tri thức là vi tri thức, và là con đường đi đến sự thông thái và khôn ngoan.

    Khác với những người đương thời của mình của mình ở phương Đông, tức là những người theo Khổng giáo ở Trung Quốc, những người coi thường bất cứ những gì không thuộc nghiên cứu sách vở, cả Socrates lẫn Protagoras đều coi trọng kỹ thuật (techne) mặc dù cả hai ông này đều cho rằng kỹ thuật không phải là tri thức dù nó có đáng khâm phục đến đâu. Kỹ thuật gắn với một ứng dụng cụ thể và không có tính nguyên tắc để áp dụng cho tất cả các trường hợp.

    Nền tảng tạo ra 3 giai đoạn của tri thức – Cách mạng công nghiệp, Cách mạng năng suất, và Cách mạng quản lý – là sự thay đổi về căn bản ý nghĩa của tri thức. Chúng ta đã chuyển từ chỗ tri thức là số ít lên tri thức là số nhiều.

    Tri thức theo kiểu truyền thống là một thức chung chung. Còn tri thức bây giờ là những kiến thức cần thiết cực kỳ chuyên sâu.

    Khác với cách hiểu về tri thức trong thời kỳ Plato như đã nói ở trên, tri thức bây giờ được hiểu là tri thức thông minh cho chính nó trong hoạt động. Cái mà bây giờ chúng ta hiểu về tri thức chính là thông tin thực tế đối với hoạt động, thông tin nhấn mạnh đến kết quả. Những kết quả này nằm ngoài một cá nhân- nằm trong một xã hội và một cộng đồng.

    Để có thể thực hiện được công việc, tri thức phải có tính chuyên môn hóa cao. Đây chính là lý do giải thích tại sao trước đây người ta lại coi tri thức chuyên sâu có vị trí tầm thường như kỹ thuật và kỹ xảo. Nó không học được cũng không dạy được; nó cũng không có một nguyên tắc chung nào. Nhưng ngày nay, chúng ta không gọi những tri thức chuyên sâu này là “bí quyết”, chúng ta nói đó là “những môn học”. Đây chính là một sự thay đổi lớn hơn bất cứ sự thay đổi nào trong lịch sử tri thức.

    Mỗi môn học sẽ chuyển một “bí quyết” thành một phương pháp luận, sẽ chuyển từng kinh nghiệm riêng lẻ thành một hệ thống và chuyển giai thoại thành thông tin. Mỗi môn học sẽ chuyển các kỹ năng thành các thứ có thể dậy và học được.

    Bước chuyển từ đơn tri thức lên đa tri thức đã làm cho tri thức có sức mạnh tạo ra một xã hội mới. Nhưng xã hội này phải được xây dựng trên những tri thức có tính chuyên sâu, và những con người có tri thức như là một chuyên gia. Nó cũng đặt ra những câu hỏi cơ bản – về giá trị, về nhân sinh quan, về niềm tin, về tất cả mọi thứ làm cho xã hội gắn kết với nhau và làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa.

    II. NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

    2.1 Vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

    Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta  đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có những nguồn lực cần thiết như : nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý… Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ.

    Ngày nay, đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- công nghệ hiện đại  của các nước phát triển. Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người, còn nhớ rằng công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng. Đó là một điều rất đáng lưu ý.

    Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi những lí do sau:

    Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng, chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý thức của con người. Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và có ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác và gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình CNH-HĐH phát triển kinh tế. Các nguồn lực khác đều là khách thể chịu sự cải tạo và khai thác của con người, vì thế cho nên hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người nếu họ biết cách tác động và chi phối. Do đó trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại.

    –           Thứ hai,  các nguồn khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sinh sản về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lí. Đó là cơ sở làm làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực  tiễn của con người phát triển không ngừng, nhờ vậy con  người đã biết làm chủ  tự nhiên, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, phát minh ra nhiều công cụ sản xuất hiện đại hơn, đưa xã hội chuyển từ thấp đến cao.

    –  Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được  vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển như vũ bão của   cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghiệp hiện đại đang dẫn nền kinh  tế của các nước công nghiệp phát triển và vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Gìơ đây sức  mạnh của trí tuệ đã  đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “ bắt chước’’ hay “phỏng theo’’ những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi thần kỳ trước cả quá trình phát triển của mình.

    –    Thứ tư, kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của phát triển kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như cách tổ chức thực hiện của con người. Cơ cấu lao động cần cho quá trình phát triển kinh tế phải bao gồm : các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề…Nếu không có các nhà chính khách, các học giả thì khó có thể có được những chiến lược những chính sách phát triển đúng đắn. Nếu không có các nhà kinh doanh thì cũng sẽ không có những người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn nhân lực công nghệ. Sự thiếu vắng, kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên  sẽ có hại cho quá trình phát triển kinh tế đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên đây, ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con người có vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, muốn phát trriển kinh tế thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hóa, y tế, giáo dục ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và cũng được coi là  khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    2.2. Thực trạng của vấn đề đào tạo, sử dụng và phát triển con người ở Việt Nam.

    Xét về mặt tổng thể mà nói thì sau 10 năm thực hiện CNH-HĐH, chúng ta đã đi những bước vững chắc và quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình phát triển sau này. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn. Nhưng nhìn lại nguồn lực con người Việt Nam chúng ta không khỏi băn khơăn lực lượng lao động tuy dồi dào, cần cù, sáng tạo song chất lượng còn hạn chế, sự bất hợp lý về phân công lao động, khó khăn về phân bố dân cư. Theo thống kê năm 1989  cho thấy ; nguồn lao động phân bố không đồng đều giữa các ngành các vùng :80%ở nông thôn ,70%làm trong lĩnh vực nhà nước; 14% sống, làm việc trong khu vực nhà nhà nước ; 10% lao động tiểu thủ công nghiệp; 90% lao động thủ công.

    Do năng suất lao động thấp nên tình trạng thiếu việc làm vẫn diễn ra thường xuyên cả ở thành thị và nông thôn, cả số lao động trong khu vực nhà nước và quốc doanh.

    Theo một số nhận định thì trong những năm đầu của thế kỷ này tình trạng dư thừa lao động vẫn diễn ra. Lao động ở nước ta chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp công nhân phần biên chế… Song do nhu cầu CNH, HĐH yêu cầu con người lao động phải có tay nghề, có chuyên môn thì vấn đề việc làm một nan giải.

    Trong quá trình CNH, HĐH đất nước hiện nay đang cần nhiều lao động có trí tuệ, có thể coi đây là điều kiện để đảm bao cho sự phát triển bền vững, nhanh chóng nền kinh tế.

    Trong một số năm gần đây trí thức Việt Nam phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay cả nước có khoản trên 80 vạn trí thức đã đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng đất nước. Song so với yêu cầu thực tế của quá trình CNH, HĐH thì con số đó quả là khiêm tốn và chất lượng còn hạn chế.

    Không những thế, đội ngũ tri thức ở nước ta còn phân bố không đều phần lớn tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội… và một số trung tâm công nghiệp khác. Điều đó là do tác động của cơ chế thị trường đối với sự phân công lao động trong cả nước. Do chính sách đầu tư không đảm bảo cân đối giữa các ngành, giữa các vùng nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. ở những vùng này rất ít trí thức mà nếu có thì chất lượng rất hạn chế do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan do yếu tố tâm lý của người dân tộc nên việc bồi dưỡng, nâng cao việc giáo dục đào tạo lại chưa được chú ý một cách thoả đáng.

    Trong khi số người được đào tạo giảm thì số sinh viên tốt nghiệp, đại học, cao đẳng, không tìm được việc làm lại tăng lên theo thống kê chưa đầy đủ thì từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng ở khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% lên 35,38* đến nay khoảng 40%. Việc số sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm là do một số ngành đào tạo chưa được cơ chế thị trường châps nhận.

    2.2.1. Ưu điểm.

    Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức. Hội nghị Trung ương 6 khoá IX nhận định đội ngũ lao động của Việt Nam đang có bước phát triển mới: “lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng 17,2%/năm từ hơn 800.000 năm 1995 đến 1.300.000 năm 2000. Số lao động qua đào tạo chiếm gần 20% năm 2000”.

    Theo Bộ Lao động thương binh – xã hội thì số người trong độ tuổi lao động là 60-66% dân số (khoảng 48,5 triệu người). Có 40,7 triệu người  từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên (thành thị có 9,7 triệu người, nông thôn có 31 triệu người). Đặc biệt chúng ta có “mỗi năm ta có thêm 1,2 triệu việc làm mới”.

    Ngoài ra thì người lao động còn được các trung tâm xúc tiến và giới thiệu việc làm, trung tâm đào tạo và dạy nghề giúp mình tiếp cận việc làm hoặc tự tạo việc làm cho  mình.

    Không để sự hụt hẫng về thế hệ thì Nhà nước đã quan tâm đến vấn đề giáo dục các cấp, chúng ta đã có những thành công: “Hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập tiểu học trong cả nước, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng, một số thành phố, số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. “Năm học 1999 – 2000 so với năm 1994 – 1995 số học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần. Trung học cơ sở gấp 1,6 lần. Trung học phổ thông gấp 2,3 lần. Đào tạo đại học gấp 3 lần.Đào tạo nghề gấp 1,8 lần”. Ở bậc đào tạo đại học Nhà nước không chỉ quan tâm đến số lượng học sinh vào đại học mà còn quan tâm đến ngành nghề đào tạo để phục vụ cho nhu cầu của đất nước. “Đặc biệt chú trọng đào tạo chất lượng cao một số ngành công nghệ, kinh tế và quản lý Nhà nước để đáp ứng nhu cầu nhân lực và nhân tài của đất nước.

    Vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng được quan tâm điều này thể hiện qua kết quả. Một số bệnh viện được ânước ngoài cấp cải tạo và xây dựng mới. Trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng được hình thành. Nhiều nơi triển khai tốt chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo, gia đình có công với cách mạng.

    2.2.2. Hạn chế.

    Tuy đạt được một số thành công bước đầu nhưng chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế rằng đã có sự chênh lệch giữa lao động nông thôn và thành thị cả về số lượng và chất lượng. Số lao động ở nông thôn là 31 triệu người thì ở thành phố là 9,7 triệu người nhưng số lao động chưa biết chữ ở nông thôn cao gấp 6 lần ở thành thị. Số lao động qua đào tạo ở nông thôn là 11,98% còn ở thành thị là 44,6%

    Cũng như vậy, cơ cấu đào tạo đội ngũ lao động tính theo tỷ lệ giữa lao động có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1:1,75: 2,3 vẫn là cơ cấu bất hợp lý dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, kỹ sư phải đi làm việc của công nhân kỹ thuật

    Hiện nay chúng ta có hơn 1 triệu cán bộ các ngành có trình độ đại học với tỷ lệ sư phạm 33,3%; khoa học kỹ thuật 25,5%; nông nghiệp 8,1%; khoa học tự nhiên 6,8% ta thấy nước ta đang còn là một nước nông nghiệp mà chỉ có 8,1% cán bộ nông nghiệp được đào tạo qua đại học một con số quá ít chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá, bên cạnh đó còn phần lớn sinh viên sau khi ra trường không có việc làm, nếu có thì không đúng với chuyên ngành mà mình được đào tạo dẫn đến lãng phí trong đào tạo.

    Việc học tập ở mọi cấp bị chi phối bởi nhiều tâm lý lấy số lượng đào tạo, lấy bằng cấp. Chưa quan tâm đến chất lượng đào tạo tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan

    Công tác bồi đưỡng và sử dụng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức, chưa có những chính sách đối với những cán bộ khoa học và công nghệ. Cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ cao ở nước ta là rất ít. “Vào cuối năm 2002 chúng ta có 1032 giáo sư và 4563 phó giáo sư”. Trong khi đó các cán bộ này đã cao tuổi, ít có những cán bộ trẻ kế cận. Sự hụt hẫng về cán bộ khoa học nếu không được quan tâm thì sảy ra là điều tất yếu.

    Chế độ khen thưởng và tiền lương cho giáo dục đào tạo chưa hợp lý, còn tồn tại chế độ tiền lương của những giáo viên, giảng viên còn thấp so với người lao động bình thường.

    2.2.3. Nguyên nhân

    1. Về mặt ưu điểm

    Do Nhà nước đã quan tâm đến vấn  đề giáo dục, nhận thức được vấn đề con người và nguồn  nhân lực với sự phát triển của đất nước. Có mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ ngoài có trình độ khoa học, kinh tế, quản lý còn chú ý xây dựng tư tưởng cạnh tranh, tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình. Có lý tưởng XHCN tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học và chí tiến thủ.

    Do đặc điểm của lao động Việt Nam: số lượng lao động lớn đa số là lao động trẻ có thể lực, trí lực dồi dào. Các lao động của thế hệ trước thì cũng nhanh chóng thay đổi được nếp cũ chấp nhận sự năng động, chấp nhận đào tạo lại. Thế hệ trẻ thích nghi nhanh với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

    b.Về mặt nhược điểm

    Chưa có một cơ quan tổ chức cụ thể phát triển và đào tạo nguồn nhân lực. Buông lỏng quản lý cơ cấu đào tạo để phát triển tự phát theo nhu cầu của người dân, còn nặng tâm lý khoa cử chưa quan tâm đến thực nghiệm. Việc đào tạo chưa bám sát cơ cấu lao động, một bộ phận xã hội nhận thức chưa đúng với sứ mệnh đào tạo nghề của giáo dục đại học.

    Mặt khách quan: thị trường lao động chủ mới hình thành làm cho đào tạo của nước ta chưa bám sát vào cơ cấu lao động. Chưa có một chiến lược đào tạ và quản lý nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI Ở VIỆT NAM

    3.1. Đào tạo trước đòi hỏi của kinh tế tri thức

    Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại với đặc trưng là cách mạng tri thức, cách mạng thông tin phát triển như vũ bão, đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong mọi hoạt động của xã hội loài người, từ cách sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đến quan hệ xã hội, văn hóa, lối sống, làm thay đổi cả những khái niệm và phương pháp tư duy. Xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển, loài người đang bước vào nền văn minh trí tuệ. Con người phải có đủ năng lực để thích nghi và thúc đẩy xu thế phát triển đó. Nước nào không có nguồn nhân lực tài năng sẽ bị gạt ra ngoài lề. Trên phạm vi toàn thế giới đang diễn ra một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng để thích ứng với sự phát triển mới.

    Nhân tố cơ bản nhất để phát triển nền kinh tế tri thức là nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên nền giáo dục tiên tiến. Kinh tế tri thức có  nhiều khác biệt cơ bản so với kinh tế công nghiệp, do đó đòi hỏi phải đổi mới, cải cách nền giáo dục. Bởi vì, thứ nhất, trong nền kinh tế tri thức vốn tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên; giáo dục – đào tạo với chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức trở thành ngành sản xuất cơ bản nhất. Do đó, vị trí, vai trò của giáo dục thay đổi cơ bản. Thứ hai, sáng tạo đã trở thành động lực quan trọng nhất. Nếu như trong nền kinh tế công nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh và việc tạo ra giá trị mới chủ yếu là do hoàn thiện, tối ưu hóa cái đã có, thì trong nền kinh tế tri thức việc nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do sáng tạo ra cái mới. Cái có giá trị nhất là cái chưa biết, cái đã biết thì dần sẽ mất đi. Con người không có năng lực thì không có chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Thứ ba tốc độ đổi mới rất nhanh. Trong nền kinh tế công nghiệp, sản phẩm có thể tính bằng thập kỷ, con trong nền kinh tế tri thức, chu kỳ tính bằng năm, thậm chí bằng tháng. Sản phẩm mới tăng lên không ngừng, vòng đời công nghệ và sản phẩm rút ngắn, tốc độ đổi mới ngày càng tăng nhanh trong tất cả các ngành, các doanh nghiệp. Tốc độ trở thành cái trên hết, người ta làm việc theo tốc độ của tư duy. Các doanh nghiệp buộc phải đổi mới, doanh nghiệp nào không kịp thời đổi mới sẽ bị tiêu vong. Cứ mỗi sáng chế mới ra đời là xuất hiện một doanh nghiệp mới, đó là những doanh nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học.

    Hoạt động chính trong nền kinh tế tri thức là tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức. Tạo ra tri thức là mục đích của các hoạt động nghiên cứu sáng tạo do những người được đào tạo tốt tiến hành. Truyền bá tri thức tức là nhân lên vốn tri thức, làm cho vốn tri thức xã hội tăng lên nhanh chóng, đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục. Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức. Vì vậy, người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức. Sử dụng tri thức là quá trình đổi mới, biến tri thức thành giá trị, đưa tri thức vào trong hoạt động xã hội của con người. Đó cũng là nhiệm vụ của giáo dục đặc biệt là giáo dục thường xuyên. Trong thời đại cách mạng thông tin, cách mạng tri thức quá trình tạo ra tri thức, truyền bá tri thức và sử dụng tri thức không còn là quá trình kế tiếp nhau mà trở thành đan xen nhau, tương tác nhau; và cái quan trọng nhất là sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị. Giáo dục phải tạo ra con người có tri thức và biết sử dụng tri thức trong hoạt động thực tiễn để tạo ra nhiều giá trị mới.

    3.2. Cải cách giáo dục để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

    Đảng ta từ rất sớm đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục – đào tạo, coi giáo dục – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến nay đã có hơn 20% số người lao động qua đào tạo trong số đó có khoảng 1,5 triệu người tốt nghiệp đại học và cao đẳng: 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ. Trình độ học vấn của đội ngũ công nghiệp kỹ thuật được nâng cao khá nhanh. Nguồn nhân lực ấy đã góp phần lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa, yêu cầu “đi tắt đón đầu”, đẩy nhanh và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực hiện có của nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập. So với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực của nước ta còn thua kém về số lượng, cơ cấu cũng như về trình độ, năng lực.

    Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, trước hết Nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực (khoa học – công nghệ, quản lý kinh doanh, văn học – nghệ thuật, các nghệ nhân…). Thực hiện việc đánh giá đúng và trả thù lao xứng đáng với kết quả lao động sáng tạo của đội ngũ tri thức, không để lẫn lộn người có tài với kẻ bất tài; có chính sách tích cực để khuyến khích cán bộ khoa học tiến thân bằng những cống hiến do năng lực chuyên môn của mình. Xây dựng và thực hiện cơ chế đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, sàng lọc hợp lý; thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ trí thức. Có sử dụng tốt thì mới có giáo dục tốt. Có trọng dụng người tài thì mới có nhiều người tài.

    Nền giáo dục nước ta phải thực sự đổi mới để đảm bảo đào tạo được một thế hệ trẻ có đủ năng lực làm chủ đất nước. Không có nền giáo dục tốt thì không tạo dựng được nội sinh về khoa học – công nghệ để trụ vững trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay nhằm phát triển nhanh đất nước. Ai đó còn nghĩ rằng nếu có nhiều vốn thì có thể mua tri thức được tri thức, mua công nghệ của nước ngoài để phát triển, thì hãy nhìn lại bài học không thành công ở một số nước giàu tài nguyên mà không có năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ. Truy cập vào kho tri thức toàn cầu, mua công nghệ là việc nhất thiết phải làm đối với những nước đi sau, nhưng nếu không có đủ năng lực tri thức nội sinh thì chỉ có được tăng trưởng nhất thời, sau đó là sự tụt hậu và lệ thuộc.

    Nền giáo dục phải thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản.

    Một là, nâng cao mặt bằng dân trí, mỗi người dân đều có khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức mới cần thiết cho công việc của mình. Mặt bằng dân trí phải theo kịp mức các nước tiên tiến trong khu vực.

    Hai là, phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao thích nghi với sự đổi mới và phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa vào tri thức.

    Ba là, phải chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân tài. Nếu đến năm 2010 nước ta không có được ít nhất một vạn các chuyên giỏi, đầu đàn trong tất cả các lĩnh vực thì khó tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế theo hướng dựa vào tri thức.

    Đi đôi với việc nâng cao chất lượng giáo dục, cần phát triển nhanh quy mô giáo dục. Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào trước năm 2010, phổ cập giáo dục trung học vào năm 2015, nâng số năm đi học bình quân của người trong độ tuổi lao động lên 9 năm vào năm 2010, lên 12 năm vào năm 2020. Nâng tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân ngang với các nước xung quanh. Tuy số người đi học hiện nay so với số dân khá cao, số người đi học đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp tăng khá nhanh, nhưng so với yêu cầu hiện đại hóa dựa vào tri thức cũng như so với yêu cầu của các nước đang phát triển thì còn thấp. Xét về tỷ lệ đi học trong độ tuổiở bậc trung học, số sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân, nước ta kém xa Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a. Hiện nay, có hiện tượng sinh viên học xong ra trường không có việc làm, nhưng đó chỉ là tạm thời, do sản xuất, kinh doanh chưa bùng phát; và cũng do chất lượng đào tạo thấp nên nhiều người không tìm được việc làm bởi họ không đủ năng lực, tiêu chuẩn của nhà tuyển dụng yêu cầu. Nếu đào tạo tốt, người học ra trường có nhiều khả năng sáng tạo, biết tổ chức ra việc làm mới, thì các doanh nghiệp mới sẽ phát triển và thu hút nhiều việc làm. Các doanh nghiệp nếu biết đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm nhanh thì cũng sẽ thu hút đựơc nhiều lao động có tay nghề cao. Một trong những mục tiêu của giáo dục ở nhà trường là đào tạo cho các học sinh, sinh viên khả năng tự tạo việc làm. Như vậy chúng ta phải phát triển nhanh giáo dục phổ thông và giáo dục cho mọi người. Cần hết sức quan tâm giáo dục trẻ thơ vì đó là nền tảng cho cho phát triển nền giáo dục sau này. Đầu tư vào đây nhiều thì sẽ bớt được chi phí cho sự khắc phục những khiếm khuyết về chất lượng giáo dục trong tương lai.

    Phát triển hệ thống học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dưỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn dựa trên tri thức. Trong một nền kinh tế dựa vào tri thức thì mọi người đều phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để có thể thích nghi với sự phát triển và đổi mới nhanh của khoa học – công nghệ, sản xuất, kinh doanh. Xã hội học tập và xã hội thông tin là tiền đề cho nền kinh tế tri thức. Hệ thống giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện cho mọi người ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể tham gia học tập nâng cao trình độ để theo kịp sự phát triển của thời đại. Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục. Huy động sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức cá nhân tham gia phát triển giáo dục; đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước trong việc hình thành xã hội học tập và chế độ học tập suốt đời. Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân và nhân dân tham gia phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập; khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo ở nước ta. Đa dạng hóa phải đi đôi với chuẩn hóa. Coi trọng cả giáo dục cơ bản và giáo dục đại học; cả giáo dục cho mọi người và giáo dục tinh hoa. Nhiệm vụ cấp bách là phải tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong giáo dục, cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, hệ thống giáo dục và phương thức tổ chức quản lý giáo dục – đào tạo.

    Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người có đủ khả năng, bản lĩnh thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện: dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Học là để xây dựng nhân cách, xây dựng năng lực cho con người; học để có thể làm việc trong cộng đồng, cống hiến cho xã hội, để có thể tự khẳng định mình. Kiên quyết khắc phục tình trạng đi học chỉ để lấy bằng cấp, mà không quan tâm đến xây dựng năng lực. Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển.Kiên quyết khắc phục phương pháp giảng dạy cũ kỹ, lac hậu, thầy giảng trò ghi, thụ động một chiều. Nội dung chương trình phải hiện đại nhưng tinh giản. Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản nhất, và giúp người học biết nhân lên vốn tri thức của mình, hướng dẫn người học cách tiếp thu tri thức mới, bồi dưỡng cho họ những kỹ năng cần thiết, phương pháp tư duy, trí sáng tạo…, thông qua các trường hợp điển hình để bồi dưỡng phương pháp và năng lực giải quyết vấn đề. Tăng cường sự tương tác giữa thầy giáo và sinh viên, sử dụng công nghệ mới nhất là công nghệ thông tin trong giảng dạy. Tăng cường dạy công nghệ thông tin trong tất cả các bậc học. Giáo dục đại học đi theo xu thế đào tạo theo diện rộng; đào tạo chuyên ngành hẹp không cònphù hợp với sự thay đổi ngành nghề, thay đổi việc làm đang diễn ra ngày càng nhanh hiện nay.

    Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống – đào tạo kỹ năng để ra làm việc cho đến nghỉ hưu, sang mô hình giáo dục mới: học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa học tập, vừa làm việc suốt đời. Theo mô hình này, khi kết thúc mỗi bậc học, người học có hai khả năng lựa chọn: hoặc là học tiếp hoặc là ra trường vừa lao động vừa tiếp tục học tập.

    Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản lý giáo dục, tập trung vào vấn đề quản lý chất lượng. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, tăng cường thanh tra kiểm tra, thay đổi cách tổ chức thi cử, tuyển sinh, khắc phục tình trạng nặng về quản lý đầu vào, nhẹ quản lý đầu ra; kiên quyết chống bệnh thành tích. Tăng quyền chủ động cho các trường công lập cũng như các trường ngoài công lập. Bộ và các Sở Giáo dục – Đào tạo tăng cường chức năng quản lý Nhà nước, nhất là thanh tra chất lượng giáo dục đối với tất cả các trường, không làm thay các công việc của trường, xóa bỏ cơ chế xin – cho. Các trường chủ động thực hiện quá trình đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo. Trong nền kinh tế thị trường, có thị trường lao động, thì sản phẩm của giáo dục cũng là một thứ hàng hóa, là hàng hóa đặc biệt, là dịch vụ công, phải được thị trường đánh giá, lựa chọn, chấp nhận. Không cho phép thương mại hóa giáo dục, biến trường thành chợ, vì lợi nhuận tối đa; nhưng cần vận dụng cơ chế thị trường để huy động các nguồn lực và tạo thêm động lực cho phát triển giáo dục. Trong một xã hội có hệ thống đánh giá , sử dụng, đãi ngộ đúng đắn thì sự cạnh tranh giữa các trường sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà nước vừa chăm lo xây dựng một số trường trọng điểm chất lượng cao, ngang tầm quốc tế; vừa thực hiện chính sách công bằng xã hội, tạo điều kiện để những người nghèo, những đối tượng chính sách, có hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội học tập để phát huy hết khả năng của mình.

    Mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục – đào tạo với nước ngoài. Cần mở rộng giao lưu về giáo dục với các nước, tiếp cận với những mô hình giáo dục tiên tiến nhất, để vận dụng sáng tạo vào nước ta. Có chính sách tuyển cử đông đảo giáo viên, sinh viên đi học tập , nghiên cứu ở các nước phát triển và thu hút nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài vào nước ta giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm. Mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết các trường đại học ở nước ta với các trường đại học ở nước ngoài để đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các đại học quốc tế ở nước ta, được các trương uy tín trên thế giới cấp bằng.

    Cải cách giáo dục là cuộc cách mạng sâu sắc không chỉ trong ngành giáo dục mà còn trong cẩ xã hội, bắt nguồn từ sự đổi mới tư duy về giáo dục. Ngành giáo dục đã cố gắng xử lý rất nhiều vấn đề, nhưng hầu như mới chỉ là những vấn đề ngọn, cắt gọt được cái này thì phát sinh cái khác, đối phó, giải quyết từng vụ việc, chưa thay đổi tận gốc, có thể do còn vướng mắc trong tư duy. Nếu không có quyết tâm cao trong cải cách giáo dục, không có bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục thì sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước, trước hết là các nước ASEAN. Muốn chấn hưng đất nước cần phải cải cách giáo dục, nhanh chóng đưa nền giáo dục nước ta lên ngang mức tiên tiến các nước trong khu vực.

    KẾT LUẬN

    Trong các ký đại hội VI, VII, VIII của Đảng ta đã chủ trương xã hội nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt bởi chủ trương đó xuất phát từ trình độ và hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta về các mặt. Chúng ta, thực hiện quá trình CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đã khơi dậy năng lực sáng tạo, tính chủ động của con người phát triển. Do đó, mà nền kinh tế của chúng ta đã thực sự được đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn. Từ một nước nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về khoa học kỹ thuật, đói kém, thì nay ta đã đảm bảo cho dân được ăn no, và còn có sp dư thừa để xuất khẩu.

    Mặc dù vậy, chúng ta vẫn còn rất nhiều khó khăn ở phía trước đòi hỏi nhà nước phải có chính sách, biện pháp khắc phục để cho sự nghiệp CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đạt được kết quả.

    Hơn nữa, chúng ta phải đặt vấn đề nhân lực con người lên hàng đầu phát triển đồng bộ giữa các ngành, giữa các vùng, đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý đảm bảo công cuộc CNH, HĐH phát triển nhanh. Phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về kinh tế có trình độ, năng lực quản lý, có tư cách đạo đức tốt điều đó đòi hỏi ta phải có sự giáo dục đào tạo thế hệ trẻ ngay từ khi còn là học sinh, sinh viên đó là nguồn lực quý giá cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Triết học Mác_Lênin.
    2. Đảng CSVN – Cương lĩnh XH Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. NXB Sự thật, Hà Nội 1991
    3. Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII.
    4. Một số nhận thức mới về con đường XHCN của Việt Nam – Tg: PTS. Đào Duy Quát- Cao Thái- NXB Tư tưởng Văn hoá 1992
    5. Môi trường kinh doanh – Đạo đức kinh doanh – NXB-Hà Nội 1997
    6. Kinh tế tri thức- Xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI – NXB Chính trị quốc gia 2000.
  • Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    LỜI NÓI ĐẦU

     

     

    Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta. Bước vào thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Học tập, quán triệt những quan điểm cơ bản và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống xã hội toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là nhân tố quyết định thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

    Em chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội” để nghiên cứu. Lí do em chọn đề tài này là em nhận thấy trong di sản của Người tư tưởng về đạo đức chứa đựng những nét đặc sắc ngang tầm thời đại, là kim chỉ nam xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong giai đoạn đất nước ta đang đổi mới. Đặc biệt khi em đang là sinh viên đang học tập tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, em sẽ phải rèn luyện và tu dưỡng đạo đức rất nhiều.

    Trong quá trình làm tiểu luận có nhiều sai sót em kính mong sự góp ý và giúp đỡ của thầy cô giáo trong Khoa. Em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

     

    I.                   TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

     

    Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và xã hội.

    Hồ Chí Minh là lãnh tụ bàn nhiều nhất về đạo đức, nhưng Người thực hành về đạo đức nhiều hơn những điều Người đã nói và viết về đạo đức. Vì thế muốn nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh thì không thể chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói mà phải thâm nhập vào toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người và những tiếng nói tâm huyết của các học trò và bạn bè quốc tế về Người.

    1. Nguồn gốc đạo đức Hồ Chí Minh

    1.1. Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam

    Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã xây dựng được một hệ giá trị đạo đức độc đáo đặc sắc, đó là: Lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập tự do hạnh phúc. Thấy được sức mạnh của đoàn kết, lấy dân làm gốc, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo. Thủy chung gắn bó cá nhân, gia đình, làng xã, nếp sống nghĩa tình đạo đức, trung hiếu, cần kiệm liêm chính,….

    Từ hệ giá trị đạo đức dân tộc này Hồ Chí Minh tiếp thu, khai thác, và nâng cao những giá trị đó lên trình độ mới.

    1.2. Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị đạo đức nhân loại

    – Giá trị đạo đức phương đông, trước hết là nho giáo

    • Xuất thân từ gia đình tri thức uyên bác nho học, Người thấy những giá trị đạo đức của Nho giáo, coi Nho giáo như khoa học về tu thân dưỡng tính, khắc kỹ, phục lễ, vi nhân, kính trọng người lao động, dân là gốc của nước (dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi), tứ hải giai huynh đệ, nhân nghĩa, trung hiếu, cần kiệm, liêm chính.
    • Người viết: Đạo đức Khổng tử, học vấn của ông, những kiến thức của ông làm những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục… Chúng ta hãy tự hoàn thiện đạo đức của mình bằng cách đọc các tác phẩm của ông.
    • Người chỉ ra những hạn chế của Nho giáo: Tư tưởng đẳng cấp, coi khinh lao động chân tay, phụ nữ, KHKT, tài năng, dùng học thuyết chính danh quân tử, tiểu nhân để chuyên chế xã hội làm cho xã hội trì trệ, chậm phát triển.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị đạo đức của tôn giáo:

    Đó là tư tưởng từ bi, cứu nạn cứu khổ, thiện chí, bình đẳng, an lạc, hạnh phúc, sống hòa hợp với môi trường, tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức của Phật Giáo.

    Tư tưởng bao dung nhân ái, hy sinh cao cả của Thiên chúa.

    Tư tưởng tự do bình đẳng bác ái, coi trọng con người trong văn hóa phương Tây, trong tuyên ngôn độc lập Pháp, Mỹ.

    1.3. Đến với đạo đức Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức

    Đến với CN Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã khám phá ra kho tàng đạo đức MacXit, đó là thứ đạo đức đích thực, cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xã hội, mang lại tự do, ấm no, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho con người, vì sự tiến bộ, phát triển xã hội, đưa nhân loại từ chỗ bị tha hóa đến vương quốc tự do, vương quốc đích thực, chủ nghĩa nhân đạo đích thực.

    Hồ Chí Minh còn thấy được ở Mac, Aghen, LêNin là những tấm gương đạo đức sáng ngời, họ không chỉ là những lãnh tụ thiên tài về chính trị mà còn là những lãnh tụ giản dị, khiêm tốn, coi khinh xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng… là hiện thân của tình anh em bốn bể. Họ dạy chúng ta phải cần kiệm, liêm chính.

    Hồ Chí Minh chỉ rõ đạo đức cũ và đạo đức Mac-Lê Nin đối lập nhau. Đạo đức mới là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, dân tộc, nhân loại, nó đòi hỏi phải phá tan xiềng xích nô lệ, xây dựng xã hội mới bình đẳng tốt đẹp cho mọi người.

    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng vô sản, mang bản chất cách mạng và khoa học, đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp tinh hoa giữa nhân loại, là 1 hệ thống mở phát triển cùng với thực tiễn Việt Nam, góp phần tạo dựng bộ mặt văn hóa Việt Nam, là vũ khí tinh thần trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường XHCN.

    1. Những đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    2.1. Sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị

    Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, là đạo đức Vô sản, là đạo đức cách mạng nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người phục vụ tổ quốc, nhân dân, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Các quan điểm đạo đức của người luôn thấm nhuần những tư tưởng chính trị và ngược lại, nhiều quan điểm vừa là chính trị vừa là đạo đức (trung với nước hiếu với dân).

    2.2. Thống nhất giữa tư tưởng và hành vi, động cơ và hiệu quả, lý luận và thực tiễn

    Hồ Chí Minh nói, viết, giáo dục đạo đức luôn gắn với hành động thiết thực, thể hiện bằng kết quả công việc, lý luận đạo đức luôn gắn với đời sống. Mỗi hành vi của Người đều chứa đựng tư tưởng đạo đức cao thượng, đẹp đẽ.

    Người thường nhắc nhở: Nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả công việc để đo đạo đức, quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói mà phải thể hiện trong hành động, nói trung với nước hiếu với dân thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

    2.3. Thống nhất giữa đức và tài

    Đức và tài gắn chặt nhau, vì có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì vô dụng, thậm chí còn có hại.

    Giữa đức và tài thì đức là gốc, trong đức có tài và trong tài có đức, tài càng cao thì đức càng lớn, con người phải có tài và đức thì mới làm tròn nhiệm vụ.

    2.4. Thống nhất giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, giữa việc nhỏ và việc lớn

    Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức đời thuờng, trong đó phải đặt đạo đức cách mạng trên hết, hi sinh phấn đấu vì tổ quốc, vì nhân dân, không quên rèn luyện đạo đức trong những việc nhỏ.

    Rèn luyện đạo đức trong mọi môi trường, mọi phạm vi từ gia đình đến môi truờng đến xã hội, nơi sinh hoạt, công tác và cần phải có sự phối hợp giữa các môi trường để giáo dục đạo đức toàn diện cho con người, rèn luyện đạo đức trong mọi mối quan hệ

    2.5. Đạo đức cần cho mọi người nhất là cho những người cách mạng, cho cán bộ, đảng viên

    Bác không để lại 1 tác phẩm chuyên về đạo đức, nhưng đạo đức Người đề cập liên quan tới mọi tầng lớp nhân dân, lứa tuổi, ngành nghề.

    • Quân đội: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
    •   Công an: Đối với tự mình cần kiệm liêm chính, đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép, đối với công việc phải tận tụy, đối với kẻ địch phải kiên quyết và khôn khéo, đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.
    •  Thanh niên: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, có chí ắt làm nên.
    • Phụ nữ: Trung hậu, đảm đang.
    • Thiếu niên: Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt, giữ gìn vệ sinh thật tốt, khiêm tốn thật thà dũng cảm.

    Người luôn nhấn mạnh phải rèn luyện đạo đức trong điều kiện Đảng cầm quyền .

    Người cầm quyền có sức mạnh để bảo vệ thành quả của cách mạng. Nhưng nếu tha hóa đạo đức, người cầm quyền trở thành sâu mọt, tham quyền cố vị, đe dọa sự sống còn của Đảng.

    2.6. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò to lớn đối với dân tộc và nhân loại

    Những đức tính như khiêm tốn, độ lượng, giản dị, thật thà, tự nhiên, tình yêu nhân loại, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư đã để lại dấu ấn không phai mờ trong lòng dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại tiến bộ trên thế giới hôm nay và mai sau.

     

    1. Quan điểm về vai trò của đạo đức cách mạng

     

              Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu; phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.  Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên của Việt Nam từ những năm 1920 là bài giảng về “tư cách của một người cách mạng”. Đến khi viết Di chúc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về vấn đề đạo đức, yêu cầu mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, Đảng phải quan tâm chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.

    Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”1.

    Người so sánh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.

    Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải “viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

    Vai trò của đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng cao thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.

    Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải một chiều phụ thuộc vào tồn tại xã hội, vào những điều kiện vật chất kinh tế. Nó có khả năng tác động tích cực trở lại, cải biến tồn tại xã hội. Giá trị đạo đức tinh thần một khi được con người tiếp nhận sẽ biến thành một sức mạnh vật chất.

    Có  đạo  đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản…; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v..

    Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức – tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi.

    1. Nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng HCM

    4.1 Tu dưỡng đạo đức cách mạng bền bỉ suốt đời

    Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà củng cố và phát triển cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì thế phải gian nan rèn luyện mới thành công. Rèn luyện phải tự nguyện tự giác.

    4.2 Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm

    Nói nhưng không làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo là đặc trưng của giai cấp bốc lột. Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm, ở phương đông một tấm gương sống về đạo đức còn giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền.

    Trong rèn luyện thực hành đạo đức phải chú trọng đạo “làm gương”. Muốn hướng dẫn nhân dân thì mình phải mực thước, khiến cho người ta bắt chước. Hô hào tiết kiệm mình phải tiết kiệm trước làm trước, Đảng viên đi trước làng nước đi sau…

    4.3 Xây dựng đạo đức mới đi đôi với chống những hiện tượng phi đạo đức

    Chống cái xấu, sai, ác phải đi đôi với xây dựng cái tốt đẹp, cái thiện, trong đó xây là chính.

    Cách mạng là nhiệm vụ nặng nề, luôn có 3 kẻ thù chống phá là CNĐQ, chủ nghĩa cá nhân, những thói quen & tập quán lạc hậu. Đạo đức cách mạng vô luận là lúc nào cũng phải chống 3 kẻ thù trên.

    II.                VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

     

    1. Đặt vấn đề

    Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng người, một nước, một khu vực nhất định. Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn. Những qui tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ… Trong số đó, có những qui tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen. Đó là lối sống cá nhân. Có những qui tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó. Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên. Đó là lối sống cộng đồng. Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng. Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng. Lối sống là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một con người. Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mối quan hệ.

    1. Thực trạng

    Hiện nay, Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nước theo công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là một quá trình khó khăn, đầy thử thách mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta đã đạt được một số thành tựu khả quan: Tỷ lệ tăng trưởng GDP năm 2003 đạt mức cao nhất so với các năm trước – 7,24%, nạn thất nghiệp giảm bớt, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao cả về mặt chất cũng như mặt lượng. Và trong giai đoạn phát triển này thì không thể không kể đến vai trò của lớp trẻ mà cụ thể là Sinh viên – thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thì lối sống, cách nghĩ của sinh viên cũng biến chuyển theo: Có rất nhiều Sinh viên đã trưởng thành và phát huy mọi khả năng của mình để góp một phần sức lực trong việc đổi mới đất nước, cũng có nhiều sinh viên đã biết vượt qua số phận nghiệt ngã của chính mình để học tập. Đồng thời đó cũng không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt các tệ nạn như: đua xe, ma tuý, cờ bạc, rượu chè… ngày càng xâm nhập sâu vào giảng dường. Tất cả những điều đó trở thành điều nhức nhối cho toàn xã hội. Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”. Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.

    Đối với Sinh viên trường ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây.

    • Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. v… Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
    • Tính năng động: Nhiều Sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là Sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện). Nhiều Sinh viên cùng một lúc học hai trường.
    • Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: Sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân.
    • Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong Sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
    • Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là Sinh viên. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh vŕ quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận Sinh viên.

    Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.

    Em có đọc được bài viết này và nhận thấy rằng thực trạng đó rất giống với Sinh viên trường ta:

    “THẤY GÌ QUA LỐI SỐNG SINH VIÊN THỜI NAY
    Trương Hiệu
    Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay.

    60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội!
    Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ!
    Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này.

    10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!
    Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới…”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập…”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ…”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng “sành điệu”. Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến quên cả lối về!

    30% sinh viên say mê học tập?
    Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập.

    Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh.”

    (Nguồn: chungta.com)

    1. Giải pháp

    Dưới đây là ý kiến chủ quan của riêng em:

    * Ở nhà trường, cần dạy Sinh viên những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu lạc hậu không còn phù hợp, cần phải đưa Sinh viên vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Cần thay đổi cách đánh giá sinh viên thay cách đánh giá đơn thuần bằng điểm số. Nên có quy định khi đánh giá xếp loại hạnh kiểm sinh viên hàng năm, giáo viên phải ghi rõ những mặt mạnh, yếu, mặt nào cần rèn luyện, những biểu hiện sai lệch để học sinh cố gắng trong năm sau. Cần đưa ra những tiêu chí định hướng cho sinh viên rèn luyện cũng như những điều cần nhận xét như: năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sở trường, cá tính, ý thức tập thể, chuyên cần, thái độ với mọi người.

    * Ở gia đình, các bậc phụ huynh nên dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con lòng khoan dung, sự độ lượng vị tha và những chuẩn mực, giá trị đạo đức mà con người phải sống theo, dạy con điều hay lẽ phải. Nhưng để làm được điều đó, trước hết cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo. Trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thì những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm, nhưng nếu các bậc cha mẹ đã không đóng đúng vai trò của mình thì đừng đòi hỏi những đứa con ở nhà sẽ trở thành một công dân tốt. “Môi trường tạo nên tính cách”, vì thế nếu cha mẹ rượu chè, cờ bạc, vi phạm pháp luật thì hình ảnh của họ sẽ như thế nào trong mắt con cái ?

    * Ra ngoài xã hội, Sinh viên cần được quan tâm nhiều hơn nữa từ các ban ngành, đoàn thể mà cụ thể trước nhất là Đoàn thanh niên. Các tổ chức Đoàn hiện nay chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục đạo đức làm người cho thanh niên, cụ thể là trong những chương trình trọng điểm ở Đại hội Đoàn các cấp đưa ra chưa nhận thấy được diễn biến phức tạp trong tâm lý, đời sống lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay, không có nhiều chương trình & kế hoạch quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, không có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình & nhà trường trong việc quản lý, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Lẽ nào những hành vi, lối sống phi chuẩn của thanh niên trong thời gian qua chưa đủ để xã hội quan tâm ?

    Khi chúng ta mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ chắc chắn cũng sẽ tràn vào. Vấn đề ở đây là không phải và cũng không thể ngăn chặn các luồng văn hóa ấy, mà phải tạo cho từng thành viên trong xã hội, nhất là giới trẻ, sức đề kháng trước các luồng văn hóa, lối sống ấy. Đừng để giới trẻ hiện nay bị tha hóa về đạo đức. Muốn vậy hãy cùng chung tay tạo sức đề kháng cho thế hệ trẻ để tránh những cạm bẫy của xã hội, sống tốt hơn để góp sức mình trong công cuộc sây dựng đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với sinh viên- chúng em, những ngày ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát tốt, chúng em sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn.

    Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước, với một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nêu cao khẩu hiệu “Sinh viên Bách Khoa năng động, sáng tạo, kỷ luật và thanh lịch” – Tuổi trẻ Bách Khoa nguyện phát huy truyền thống anh hùng, chăm chỉ rèn đức luyện tài vì Thủ đô phát triển, vì đất nước phồn vinh, khẳng định vai trò, vị thế của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sinh viên Thủ đô ngàn năm văn hiến, tạo dựng hình ảnh người sinh viên Việt Nam trong thời đại mới có hoài bão, có lí tưởng và có trách nhiệm với xã hội và đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sự năng động của các bạn tình nguyện ĐH Bách Khoa Hà Nội

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tác giả: Nhiều Tác giả

    Nhà xuất bản: NXB Chính trị Quốc gia

    Ngày xuất bản: 06 – 2009.

    1. Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức

    Tác Giả: GS.TS Trần Văn Bính

    Năm xuất bản: 2010.

     

     

    1. Sách, báo, tạp chí và Internet.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

  • Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

    PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Trong sản xuất nông nghiệp đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Do vậy, lĩnh vực đánh giá tài nguyên đất rất được quan tâm nhằm đề ra các giải pháp sử dụng đất hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ nhất định.

    Cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào lớp đất trồng trọt để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu sản xuất công nghiệp phục vụ cho cuộc sống của mình. Tuy nhiên lớp đất có khả năng canh tác này lại luôn chịu những tác động mạnh mẽ của tự nhiên và các hoạt động canh tác do con người. Những tác động này có thể làm chúng bị thoái hóa và dần mất đi khả năng sản xuất, một trong những nguyên nhân làm cho đất bị thoái hóa mạnh nhất là do xói mòn. Hiện tượng mất đất do xói mòn mạnh hơn rất nhiều so với sự tạo thành đất trong quá trình tự nhiên, một vài cm đất có thể bị mất đi chỉ trong một vài trận mưa, giông hoặc gió lốc trong khi đó để có được vài cm đất đó cần phải có thời gian hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm mới tạo ra được. Trên thế giới hầu như không có quốc gia nào là không chịu ảnh hưởng của xói mòn, nhất là ảnh hưởng của xói mòn do nước và do gió[giáo trình thổ nhưỡng mới]

    Việt Nam là nước 3/4 diện tích đất ở vùng đồi núi, có độ dốc cao, lượng mưa lớn (1800 – 2000mm/năm) tập trung vào 4 – 5 tháng mùa mưa với lượng mưa chiếm tới 80% tổng lượng mưa, thì hiện tượng xói mòn đất luôn xảy ra và gây hậu quả nghiêm trọng. Chính vì những lí do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp

     

    PHẦN 2. NỘI DUNG TÌM HIỂU

    1. THOÁI HÓA ĐẤT VÀ CÁC NGUYỄN NHÂN DẪN TỚI THOÁI HÓA ĐẤT

    1.1. Đất bị thoái hóa:

    là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp

    Một loại đất bị thoái hóa nghĩa là bị suy giảm hoặc mất đi:

    – Độ phì đất: các chất dinh dưỡng; cấu trúc đất; màu sắc ban đầu của đất; tầng dày đất, thay đổi pH đất…

    – Khả năng sản xuất: các loaik cây trồng, các loại vật nuôi, các loại cây lâm nghiệp

    – Cảnh quan sinh thái: Rừng tự nhiên , rừng trồng, hệ thống cây trồng

    – Hệ sinh vật: cây – con

    – Môi trường sống của con người: cây xanh, nguồn nước, không khí trong lành, nhiệt độ ôn hòa, ổn định…

    Sự thoái hóa đất là hậu quả của các tác động khác nhau từ bên ngoài và bên trong của quá trình sử dụng đất:

    – Thiên tai: khô – hạn – bão – lũ lụt – nóng – rét – lốc xoáy

    – Hoạt động sản xuất không hợp lý của con người

    + Các hoạt động sản xuất và kinh tế khác nhau

    + Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp trực tiếp đến đất

    1.2. Nguyên nhân của sự thoái hóa đất

    * Do tự nhiên:

    – Vận động địa chất của trái đất: song thần, song suối thay đổi dòng chảy, núi lở…

    – Do thay đổi khí hậu, thời tiết: Mưa, nắng, nhiệt độ, gió, bão…

    * Do con người gây nên:

    – Chặt đốt rừng làm nương rẫy

    – Canh tác trên đất dốc lạc hậu: cạo sạch đồi, chọc lỗ bỏ hạt, không chống xói mòn, không luân canh…

    – Chế độ canh tác độc canh, bỏ hoang hóa, không bón phân, hoặc bón phân không hợp lý, không phun thuốc trừ sâu, trừ cỏ…

    Từ các nguyên nhân trên đã dẫn đến các kiểu thoái hóa đất

    – Chua hóa, nghèo kiệt dinh dưỡng trong đất

    – Kết von đá ong hóa – Xói mòn, rửa trôi
    – Bạc màu hóa – Sa mạc hóa/ khô hạn
    – Mặn hóa – Ô nhiễm đất bởi các chất thải gây độc

    Trong số các kiểu thoái hóa đất thì tại Việt Nam, xói mòn đất xảy ra liên tục và nghiêm trọng nhất. Vậy xói mòn đất là gì?, nó gây những hậu quả gì? và giải pháp khắc phục xói mòn đất như thế nào?

    2. XÓI MÒN ĐẤT, TÁC HẠI VÀ GIẢI PHÁP

    2.1. Xói mòn đất:

    là quá trình làm mất lớp đất trên mặt và phá hủy các tầng đất bên dưới do tác động của nước mưa, băng tuyết tan hoặc do gió. Đối với sản xuất nông nghiệp thì nước và gió là hai tác nhân quan trọng nhất gây ra xói mòn và các tác nhân này có mức độ ảnh hưởng tăng giảm khác nhau theo các hoạt động của con người đối với đất đai. Có hai kiểu xói mòn đất chủ yếu là:

    – Xói mòn do nước                            – Xói mòn do gió

    2.2. Tác hại của xói mòn

    2.2.1. Mất đất do xói mòn

    Lượng đất mất do xói mòn là rất lơn và phụ thuộc vào độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ trên mặt đất, dao động từ 100 đến 500 tấn đất/ha/năm.      Theo nghiên cứu về lượng xói mòn trên đất canh tác rẫy ở Tây Bắc của hội Khoa Học Đất Việt Nam:

    Vụ Độ dày tầng đất bị xói mòn (cm) Lượng đất mất (tấn/ha)
    Vụ 1 (1962) 0,79 119,2
    Vụ 2 (1963) 0,88 134,0
    Vụ 3 (1964) 0,77 115,5
    Cả 3 vụ gieo 2,44 366,7

    2.2.2. Mất dinh dưỡng

    đi Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp, đất đồi núi miền Bắc nước ta hàng năm mất khoảng 1cm tầng đất mặt (100m3/ha), trong đó có khoảng 6 tấn mùn (tương đương khoảng 100 tấn phân chuồng) và 300kg N (tương đương khoảng 1,5 tấn sunphat amon). Đặc biệt, có nơi như Tây Bắc mất đi khoảng 3cm đất mặt, tương đương 150 – 300 tấn đất/ha. Mỗi năm nước cuốn ra biển khoảng 250 triệu tấn phù sa màu mỡ, riêng song Hồng mất đi khoảng 80 triệu m3/năm. Xói mòn làm thay đổi tính chất hóa lí đất, số liệu thể hiện trong bảng sau:

    Chỉ tiêu qua sát Số lượng bị trôi (%)
    Cấp hạt lớn hơn 1mm 21,00
    Cấp hạt nhỏ hơn 1mm 79,00
    N % 0,48
    P2O5 % 0,23
    K2O % 5,80
    Mùn 11,00

    (Nguồn: “Thổ Nhưỡng học”, Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, 1979)

    Theo Trần Đức Toàn và cộng sự (1998) sau khi đo kết quả xói mòn trên các hệ thống canh tác tại huyện Tam Dương (cũ) – Vĩnh Phúc. Trong điều kiện lượng mưa/năm thay đổi từ 800 – 1890mm thì lượng đất mất và lượng dinh dưỡng mất trên đất đồi trọc khoảng 599,2kg chất hữu cơ, 52kg đạm, 26,2kg lân và 34,6kg kali trong 1 năm. Còn trên đất trồng sắn thì mất 295kg hữu cơ, 28,3kg đạm, 21,3kg lân và 22,4 kg kali trong 1 năm. cụ thể được thể hiện trong bảng sau:

    Hệ thống canh tác Dòng chảy mặt

    (m3/ha/năm)

    Đất mất (tấn/ha/năm) Dinh dưỡng mất

    (kg/ ha/năm)

    OC Đạm Lân Kali
    Đồi trọc 42520 37,2 599,2 52,0 26,6 34,6
    Sắn 32628 24,5 295,0 28,3 21,3 22,4
    Sắn + đỗ đen 30946 22,7 282,8 27,7 21,9 28,2
    Sắn + đỗ đen + băng cốt khí + dứa chắn xói mòn 29256 21,1 346,9 32,2 20,5 25,8
    Sắn + đỗ đen + băng cốt khí + keo tai tượng + dứa 27437 17,5 277,6 29,2 19,9 22,5

    2.2.3. Năng suất cây trồng: giảm nhanh, có khi không thu hoạch. Như ở Nông trường Mộc châu, Tây Bắc, năm 1959 mới khai phá, năng suất lúa 25 tạ/ha, đến năm 1960 chỉ còn 18 tạ/ha, năm 1961 còn 5 tạ/ha và năm 1962 gieo ngô cũng không thu hoạch được

    2.2.4. Tàn phá môi trường: do xói mòn đất, nương rẫy chỉ gieo trồng vài ba vụ rồi bỏ, lại phá rừng đốt rẫy. Lâm sản bị tiêu hao rất nhiều. Sau nhiều lần phá như vậy, cuối cùng chỉ còn đồi núi trọc, hậu quả là đất đai bị thoái hóa. Khi rừng cây bị phá sẽ kèm theo nạn lũ lụt, hạn hán và khí hậu khu vực thay đổi rõ rệt

    Dựa vào sơ đồ nhân quả của sự xói mòn đất mà có các giải pháp sau:

    2.3. Giải pháp hạn chế xói mòn đất

    2.3.1. Một số biện pháp công trình nhằm hạn chế xói mòn

    Trong các vùng nhiệt đới biện pháp công trình (thiết kế đồi ruộng, xây dựng ruộng bậc thang nắn dòng chảy…) là rất cần thiết trong việc canh tác và bảo vệ đất dốc. Chức năng chủ yếu của công trình là dẫn dòng, ngăn dòng làm cho chảy chậm lại, lưu chứa tạm thời hay bố trí dòng chảy an toàn đễn xói mòn là thấp nhất. Các biện pháp công trình bao gồm thiết kế lô thửa, xây dựng hệ thống ruộng bậc thang. Những biện pháp này có tác dụng bảo vệ đất  tốt nhất (đạt hiệu quả bảo vệ 80- 90%) nhưng cũng đòi hỏi việc đầu tư vốn lớn sau đây là một số biện pháp chính thường được áp dụng ở vùng đồi núi nước ta:

    a. Thềm bậc thang

    – Ðể xây dựng ruộng bậc thang đất đai phải có các điều kiện để sau đây:

    + Ðất phải có tầng dày tối thiểu từ 60 cm trở lên, đất càng dày làm ruộng bậc thang càng thuận lợi, bề rộng của mặt ruộng càng rộng.

    + Ðộ dốc có thể xây dựng ruộng bậc thang tốt nhất từ 5- 250, ở những nơi có độ dốc lớn hơn 250 vẫn có thể làm được ruộng bậc thang như ở vùng Sapa, tuy nhiên đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và rất tốn đất.

    + Những nơi làm ruộng bậc thang để trồng lúa nước đòi hỏi phải có nguồn nước hoặc có khả năng giải quyết được nước tưới.

    – Nguyên tắc thiết kế ruộng bậc thang:

    + Ruộng bậc thang phải thiết kế theo đường đồng mức

    + Ruộng bậc thang nhất thiết phải có bờ. Mặt ruộng rộng hay hẹp phụ thuộc vào độ dốc và tầng dày đất.

    + Ðất bị san làm tầng không vượt quá 2/3 độ dày tầng đất ban đầu, phải đảm bảo trả lại được lớp đất màu trên mặt, tỷ lệ sử dụng đất phải đạt 65- 70% so với diện tích ban đầu.

    1. Các công trình và thềm đơn giản

    Thềm cây ăn quả: là một dạng thềm canh tác không liên tục của dạng thềm bậc thang hẹp, dốc nghịch. Thềm cây ăn quả có thể làm trên sườn dốc > 30o (58%). Khoảng cách giữa hai hàng cây ăn quả được bảo vệ bằng những băng lớp phủ thực vật tự nhiên lâu năm hay các cây cỏ, cây họ đậu và các cây bảo vệ đất khác. Cây trồng chính được trồng theo các bồn riêng.

              Thềm sử dụng linh hoạt: là các dạng thềm nằm cách nhau khá xa, xen kẽ là các dải sườn đồi chưa được xử lý dùng để canh tác hỗn hợp. Thềm để trồng cây lương thực là chủ yếu, trong khi ở phần sườn dốc chưa xử lý ở giữa thì trồng cây dài ngày hay cây lấy gỗ.

    Thềm tự nhiên: thềm tự nhiên được hình thành sau khi tạo ra các bờ thấp (dải chắn) bằng đất hay đá có thể thu lượm tại chỗ, hay các dải cỏ dày theo đường đồng mức trên các sườn dốc thoải. Chúng được thiết kế và thi công sao cho đỉnh của đê chắn phía dưới cao ngang tâm điểm giữa đoạn sườn dốc tới đê kế tiếp ở phía trên. Sau vài năm canh tác thềm sẽ được hình thành do sự bồi đắp tự nhiên. Loại này thường chỉ áp dụng cho sườn dốc 7-12o.

    2.3.2. Biện pháp nông nghiệp

    Biện pháp bảo vệ bằng nông nghiệp thực chất là các kỹ thuật đã được áp dụng qua việc quản lý, sử dụng đất trồng, chúng liên quan chặt chẽ với các quy trình canh tác bình thường, nhưng được thiết kế hay lựa chọn một cách đặc biệt nhằm đem lại lợi ích cho công tác bảo vệ đất trồng, chi phí đòi hỏi không lớn và có thể áp dụng tương đối dễ dàng. Các biện pháp thường được áp dụng trong nông nghiệp như: canh tác theo đường đồng mức, cày bừa ngang dốc, bố trí đa canh, trồng cây thành dải, biện pháp phủ bổi, trồng cây bảo vệ đất, làm đất tối thiểu, trồng các dải cây chắn… Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ có thể áp dụng được trên những sườn đồi núi không dốc lắm (dưới 12o), ở những nơi có độ dốc cao hơn thì cần phải kết hợp giữa biện pháp nông nghiệp với các biện pháp công trình đơn giản ở trên.

    2.3.3. Biện pháp lâm nghiệp: trên các đỉnh đồi, núi, sườn dốc đứng và ở những vị trí hợp thủy không có điều kiện xây dựng đồi ruộng phải được trồng rừng hoặc bảo vệ rừng tái sinh. Các diện tích rừng bảo vệ này có tác dụng chống xói mòn, ngăn chặn dòng chảy và giữ ẩm cho đất đồng thời còn hạn chế cả xói mòn gây ra do gió.

    2.3.4. Biện pháp hóa học: một số nước tiên tiến trên thế giới người ta nghiên cứu các chất kết dính hóa học (phụ phẩm của ngành chế biến gỗ) đưa vào đất để tạo cho đất có thể liên kết chống xói mòn. Ngoài ra người ta còn dùng một số chất có khả năng giữ đất khác như thạch cao, sợi, thủy tinh tạo thành màng bảo vệ trên mặt đất.

    2.3.5. Biện pháp canh tác khống chế và giảm thiểu xói mòn

    Luôn duy trì độ ẩm cho đất, tránh để hiện tượng đất bị khô kiệt. Có thể thực hiện bằng các biện pháp xây dựng hồ chứa nước, hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, các giếng khoan.

    Thường xuyên che phủ cho đất bằng các đai rừng chắn gió, thảm thực vật tự nhiên (rừng đồng cỏ…) và các hệ thồng cây trồng thích hợp cho khu vực thông qua việc sử dụng các mô hình nông – lâm kết hợp các công thức luân canh và xen canh.

    – Trong hoạt động quản lý canh tác ở các vùng xói mòn do gió phải hết sức chú ý tới các đai rừng bảo vệ, không cày bừa hoặc lên luống theo hướng gió thổi thường xuyên mà phải cắt vuông góc với hướng gió, tạo cho mặt đất có độ gồ ghề bằng cách lên luống cao, không nên làm đất quá kỹ làm các hạt đất bị vỡ nhỏ hình thành nhiều các hạt mịn dễ bị gió cuốn đi.

    – Bón phân hoá học kết hợp hữu cơ và trả lại phụ phẩm cây trồng cải thiện độ phì nhiêu đất và giảm lượng xói mòn

     

    PHẦN 3. KẾT LUẬN

    1. Việt Nam là nước có 3/4 diện tích tự nhiên là đồi núi với khí hậu nhiệt đới (nóng ẩm, mưa nhiều). Thì xói mòn là nguyên nhân chủ yếu của thoái hóa đất và là tác nhân gây ra các hiện tượng mất đất, mất dinh dưỡng, giảm năng suất cây trồng và tàn phá môi trường.
    2. Để hạn chế các tác hại của thoái hóa đất do xói mòn thì nên sử dụng các biện pháp: công trình, nông nghiệp, lâm nghiệp, hóa học và các biện canh tác hợp lý

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bài giảng “Thoái hóa và phục hồi đất”, PGS.TS. Đào Châu Thu, 2006
    2. Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam”, Viện Thổ nhưỡng nông hóa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội – 1998
    3. Cẩm nang ngành Lâm nghiệp”, GS.TSKH. Đỗ Đình Sâm và cs, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác), năm 2006
    4. Bài giảng “Các trở ngại của đất trong sản xuất nông nghiệp”, TS. Võ Thị Gương – Trường Đại học Cần Thơ, 2001
    5. Đất Việt Nam”, Hội Khoa học đất Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2000
    6. Thổ nhưỡng học” Nguyễn Mười, Trần Văn Chính, Ðỗ Nguyên Hải, Hoàng Văn Mùa, Phạm Thanh Nga, Ðào Châu Thu. Nxb Nông nghiệp, 2000.
    7. Giáo trình Thổ nhưỡng học”, Bộ môn Khoa học đất – trường Đại học nông nghiệp 1 Hà Nội, Nxb Nông nghiệp – Hà Nội 2006
    8. Nông nghiệp vùng cao, thực trạng và giải pháp”, Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ, Hà Đình Tuấn (chủ biên), Nxb Nông nghiệp – Hà Nội 2003
    9. Đất và Phân Bón”, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005 (tập 3)
    10. www.uit.edu.vn/data/gtrinh/MT010/Htm/Chuong_05_07.htm – 42k
  • Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB

    Lời mở đầu

     

    Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực của xã hội. Trong thương mại quốc tế, mọi giao dịch đều đòi hỏi phải có tốc độ nhanh chóng, thanh toán bằng tiền mặt đã cho thấy những mặt hạn chế của nó. Do vậy vào những năm 50 của thế kỷ 20, một số ngân hàng trên thế giới đã giới thiệu thẻ thanh toán. Cho đến nay việc thanh toán bằng thẻ đã khẳng định được những tính năng ưu việt của nó so với các phương tiện thanh toán khác.

    Mặc dù thẻ thanh toán đã ra đời được hơn 50 năm nhưng nó mới  được biết đến ở Việt Nam khoảng 10 năm trước đây. Và đến năm 1996 chỉ có 2 ngân hàng thương mại Việt Nam là Ngân hàng Ngoại Thương và Ngân hàng cổ phần Á Châu (ACB) tham gia phát hành thẻ thanh toán. Trong những năm đầu phát hành, ACB đã từng bước khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam này. Tuy vậy, ACB vẫn còn gặp nhiều khó khăn để có thể mở rộng và không ngừng hoàn thiện dịch vụ thanh toán thẻ của mình.

    Nhận thức được tính cấp thiết phải mở rộng và hoàn thiện dịch vụ thanh toán thẻ ở Việt Nam nói chung và của Ngân hàng ACB nói riêng, em đã chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tai Ngân hàng TMCP Á Châu ACB” cho đề tài tiểu luận của mình. Mục đích nghiên cứu của đề tài : Thông qua việc nghiên cứu  cơ sở lí luận, tình hình thực tế phát hành và thanh toán thẻ tại ACB, các văn bản pháp quy liên quan…để thấy được những tồn tại trong phát hành và thanh toán thẻ , từ đó đưa ra một số ý kiến để mở rộng dịch vụ thẻ hiện nay và trong thời gian tới.

    Kết cấu khoá luận của em được chia làm 3 chương như sau:

    Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của NHTMCP Á Châu ACB

    Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTM Cổ phần Á Châu ACB

    Chương 1: Một số vấn đề  cơ bản về thẻ thanh toán:

     

    I.             Quá trình hình thành và phát triển của các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế hàng hoá:

    1.    Sự xuất hiện của tiền tệ với  chức năng phương tiện thanh toán:

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    2. Sự xuất hiện của hệ thống ngân hàng thương mại với chức năng làm trung gian thanh toán của nền kinh tế:

     

    Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay:
    Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
    Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ.
    Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.

    3. Sự xuất hiện của phương thức thanh toán phi tiền mặt và tính ưu việt của nó:

    Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hóa…, có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã, đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa, đặc biệt là giao dịch có giá trị và khối lượng lớn.

    Các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về khoảng cách. Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt, nhất là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn kém; Việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với khối lượng lớn dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc các chủ nợ; Vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền mặt luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm; Sử dụng nhiều tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia.

    Các bất lợi và rủi ro trên đây là vấn đề xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, song với các nước mà thanh toán bằng tiền mặt còn ở mức phổ biến trong xã hội, tình hình sẽ càng phức tạp và khó kiểm soát hơn.

    Hiện các hình thức thanh toán điện tử phổ biến gồm: Thanh toán thông qua thẻ (POS, ATM…), trên Internet thông qua tài khoản mở tại ngân hàng, thông qua điện thoại di động và thanh toán thông qua một mạng lưới mà các thành viên tham gia cùng chấp nhận một nguyên tắc chung như hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT, trong nước là hệ thống CITAD…

    Dựa vào chủ thể tham gia, có thể phân chia thương mại điện tử ra các loại hình sau:

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B (business to business).

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng – B2C (business to consumer).

    – Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước – B2G (business to government).

    – Giao dịch trực tiếp giữa các người tiêu dùng với nhau – C2C (consumer to consumer).

    – Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân – G2C (government to consumer).

    Điếm khác biệt lớn nhất giữa thanh toán điện tử và thanh toán truyền thống là thông qua các phương tiện điện tử, loại bỏ hầu hết việc giao nhận giấy tờ và việc ký truyền thống thay vào đó là các phương pháp xác thực mới.

    Dùng phương pháp mới để xác nhận đúng người có quyền ra lệnh thanh toán mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Lợi ích lớn nhất là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch. Các giao dịch qua kênh điện tử có chi phí vận hành rất thấp. Chi phí chủ yếu là đầu tư ban đầu, trong điều kiện công nghệ phát triển nhanh chi phí đầu tư cũng giảm đáng kể. Doanh nghiệp không cần phải đầu tư nhân sự, địa điểm và các chi phí lưu chuyển hồ sơ cho việc giao dịch.

    Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với phương pháp truyền thống. Thông thường giao dịch tại quầy cho một khách hàng chuyển tiền mất khoảng 15 phút, không kể thời gian đi lại và chờ đợi nhưng giao dịch trên Internet, Mobile hoặc qua hệ thống thẻ chỉ qua một vài thao tác đơn giản trong một vài phút.

    Với thanh toán điện tử, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, không bị giới hạn bởi không gian địa lý. Với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ nhanh chóng. Việc không phải mang theo nhiều tiền mặt, giảm thiểu rủi ro mất tiền, tiền giả, nhầm lẫn… sẽ giảm bớt được việc thiếu minh bạch so với giao dịch bằng tiền mặt.

    4. Các phương tiện thanh toán phi tiền mặt chủ yếu:

     

    • Thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS

     

    • Séc: là một trong những phương tiện thanh toán đã có lâu đời ở các nước phát triển, dựa trên Công ước thế giới về Séc năm 1933, các nước đều ban hành Luật Séc, hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Séc, để việc sử dụng séc được nhanh chóng, thuận tiện không chỉ trong cùng địa phương và cùng tổ chức phát hành séc, các nước đều có Trung tâm xử lý thanh toán bù trừ séc ngoài hệ thống và khác địa phương do Ngân hàng Trung ương hoặc Hiệp hội Ngân hàng quản lý, nhờ vậy, phương tiện thanh toán bằng séc được sử dụng phổ biến ở nhiều nước phát triển.

    Thương mại điện tử (TMĐT) : còn nhiều rào cản: theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Công thương, trong những năm gần đây, TMĐT đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng từ 31% năm 2005 lên 45% năm 2008, tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84% của năm trước. Hiện có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối internet. Tuy nhiên, do thói quen mua sắm của người tiêu dùng và khâu thanh toán khiến TMĐT Việt Nam chậm phát triển; người mua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng.

    II. Giới thiệu chung về thẻ thanh toán:

     

    1.Khái niệm về thẻ thanh toán:

    Đối với thẻ thanh toán có nhiều khái niệm để diễn đạt nó, mỗi một cách diễn đạt nhằm làm nổi bật một nội dung nào đó. Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán:

    • Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động.
    • Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi Ngân hàng, các Tổ chức tài chính hay các công ty.
    • Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
    • Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.

    Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động.

    2. Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán:

     

    – Năm 1990 hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa giữa ngân hàng Pháp BFCE và Ngân hàng Ngoại thương VN đã mở đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào VN. Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến VN ngày càng nhiều. Sau Ngân hàng Ngoại Thương, Sài Gòn Thương Tín cũng liên kết với trung tâm thanh toán thẻ Visa để làm đại lý thanh toán. Có lẽ chính sách mở cửa thông thoáng đã đem lại cho VN một bộ mặt kinh tế – xã hội nhiều triển vọng. Các dự án đầu tư nước ngoài tăng từ số lượng đến quy mô, các định chế tài chính lớn đã chú ý đến VN và đi theo những tập đoàn này là các dịch vụ song hành trong đó thẻ thanh toán là không thể thiếu được.

    – Năm 1995 cùng với Ngân hàng Ngoại thương TP.HCM, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Liên doanh First-Vina-Bank và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Eximbank được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN cho phép chính thức gia nhập tổ chức thẻ quốc tế Mastercard.

    – Năm 1996 Ngân hàng Ngoại thương chính thức là thành viên của tổ chức Visa International. Tiếp sau đó là Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Công thương VN cũng lần lượt là thành viên chính thức của tổ chức Visa Card, trong đó Ngân hàng Ngoại thương và Á Châu thực hiện thanh toán trực tiếp với tổ chức này. Cũng trong năm này Ngân hàng Ngoại thương VN (Vietcombank) phát hành thí điểm thẻ ngân hàng đầu tiên, đồng thời Hội các ngân hàng thanh toán thẻ VN cũng được thành lập với bốn thành viên sáng lập gồm Vietcombank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) và First Vinabank. Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ lúc ấy chỉ là quyết định số 74 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành ngày10/4/1993, qui định “thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ thanh toán”. Việc ứng dụng thẻ ở VN vào thời điểm đó còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật… Trên cơ sở thỏa thuận của Ngân hàng Nhà Nước, ngân hàng thương mại thí điểm phát hành thẻ tự xây dựng qui chế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tức tính pháp lý chỉ dừng ở mức điều chỉnh “nội bộ” giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ.

    – Thị trường thẻ năm 2006, 2007 trở lên sôi động vì VN đã bước vào sân chơi rộng là WTO, thị trường tài chính VN càng cạnh tranh quyết liệt hơn khi có thêm nhiều ngân hàng nước ngoài đầu tư vào đây và dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM là một loại “vũ khí” đắc lực để ngân hàng thâm nhập thị trường. Hàng loạt sản phẩm thẻ thanh toán ra đời, mở ra một cuộc “so tài” phát hành thẻ giữa các ngân hàng trong nước. Đầu tiên là Ngân hàng TMCP Kỹ thương VN – Techcombank, ngân hàng này đã tung ra hàng loạt thẻ thanh toán, nổi trội là thẻ Fastaccess. Tiếp theo đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank đã kết hợp cùng tổ chức Visa ra mắt thẻ thanh toán Quốc tế Sacom Visa Debit. Đây là phương tiện thanh toán năng động nhắm vào giới doanh nhân: chủ tài khoản có thể dùng thẻ để thanh toán trong và ngoài nước.

    3. Đặc điểm và phân loại thẻ thanh toán:

    Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ…

    3.1. Phân loại theo công nghệ sản xuất:

    Có 3 loại:

    1. Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo.
    2. Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin…
    3. Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính.

    3.2. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:

     

    1. Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay … chấp nhận loại thẻ này.

    Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả.

    1. Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn … đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn… Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.

    Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.

    Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:

    – Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.

    – Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.

    1. Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được.

    Thẻ rút tiền mặt có hai loại:

    Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành.

    Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ.

    3.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:

     

    – Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.

    – Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán.

    3.4. Phân loại theo chủ thể phát hành:

     

    – Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng.

    – Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn… phát hành như Diner’s Club, Amex…

    4. Vai trò, tiện ích và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:

     

    Vai trò, tiện ích:

    Với đặc tính chức năng của mình, thẻ tín dụng mang lại rất nhiều tiện ích cho người sử dụng.

    – Nếu sở hữu một thẻ tín dụng và thường xuyên mua sắm tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ: Siêu thị, cửa hàng, sân bay, thanh toán trực tuyến… thì lợi ích của việc này là được chậm trả những khoản tiền bạn dùng để mua sắm. Ngân hàng ứng trước một hạn mức cho thẻ tín dụng của bạn để thực hiện thanh toán trong một tháng, và sau đó bạn có tối đa 45 ngày để thanh toán những khoản tiền đã chi tiêu mà không bị tính lãi.

    – Ở các nước phát triển, khi mọi cửa hàng đều có thiết bị thanh toán cho các loại thẻ thì hầu hết người dân có thu nhập ổn định đều chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Sử dụng thẻ sẽ an toàn, thuận tiện hơn mang theo tiền mặt, giúp tiết kiệm thời gian.

    – Tại Việt Nam, giới văn phòng có mức thu nhập khá ở các thành phố, đặc biệt là những người hay đi công tác, thường xuyên có nhu cầu đặt phòng khách sạn, đặt vé máy bay… thì sử dụng thẻ tín dụng cũng là một giải pháp hay.

    – Những người hay ra nước ngoài thích hợp với các loại thẻ tín dụng quốc tế để có thể sử dụng ở hầu hết các điểm chấp nhận thẻ cả trong nước và ngoài nước. Thẻ quốc tế sẵn có tính năng thanh toán trực tuyến với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, bảo mật giúp chủ thẻ yên tâm khi sử dụng.

    – Các thẻ quốc tế thông dụng ở nước ta hiện có: Visa, Master, American Express, JCB, Dinner Club… do rất nhiều ngân hàng phát hành: Vietcombank, ACB, Eximbank, Sacombank, Incombank, VIBBank Techombank, Agribank…

    – Các ngân hàng cũng phát hành thẻ tín dụng nội địa của ngân hàng mình, với những tính năng riêng giúp gia tăng tiện ích cho chủ thẻ: Chức năng thanh toán trực tuyến, thanh toán qua thư, điện thoại, tự động thanh toán hóa đơn định kỳ, ưu đãi khi thanh toán tại các cửa hàng là đối tác của ngân hàng phát hành…

    Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:

    • Thứ nhất, đại đa số người dân Việt Nam có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán hàng ngày bởi họ cho rằng tiền mặt là phương tiện thanh toán này đơn giản và thuận tiện nhất.
    • Thứ hai, cổng thanh toán trực tuyến chỉ chấp nhận các loại thẻ thanh toán quốc tế như VISA card, Master Card… Trong khi đó, theo thống kê, trong số hơn 20 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam thì chỉ có 20% có thẻ ghi nợ và 1% có thẻ tín dụng tại các ngân hàng trong và ngoài nước.
    • Tâm lý sợ rủi ro :

    Chị Trần Minh Nguyệt, quận Cầu Giấy, Hà Nội mua chiếc máy tính xách tay hiệu Lenovo tại Công ty Thế giới gi động, với giá 7,2 triệu đồng. Vì mang thiếu một triệu đồng, sau một hồi thương lượng với công ty, chị Nguyệt đã thanh toán nốt số tiền còn thiếu thông qua chuyển khoản bằng internet banking.

    – Tuy nhiên, thương vụ đã không thành vì đang thực hiện giao dịch thì hệ thống internet bị treo. “Ngoài việc phải chạy tới chạy lui ngân hàng làm bản tường trình, xác minh lại số tiền trên, đến hơn một tháng sau tôi mới nhận được tiền bị ‘kẹt’ trong hệ thống,” chị Nguyệt bức xúc.

    – Chị Nguyễn Minh Trang, Giám đốc một doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội cũng cho biết, hầu hết trong các thương vụ của chị đều thực hiện theo phương châm “tiền trao, cháo múc” vì rất sợ xảy ra sự cố phát sinh khi chuyển tiền qua tài khoản.

    – Theo Vụ Thanh toán Ngân hàng Nhà nước, hiện nay đã thiết lập được hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, kết nối 63 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố. Cả nước hiện có trên 10.000 máy ATM, hơn 36.000 thiết bị chấp nhận thẻ được lắp đặt và 22 triệu thẻ ngân hàng được phát hành, đã hình thành một số công ty chuyển mạch của các liên minh thẻ, kết nối giao dịch thẻ giữa các ngân hàng thành viên như Banknet, Smartlink. Song trên thực tế, đa số người dân chỉ sử dụng thẻ ATM để… rút tiền.

    – Theo các chuyên gia của ngành ngân hàng, việc người tiêu dùng Việt đã quá quen và lệ thuộc vào tiền mặt, cũng như tâm lý “sờ tận tay, nhìn tận mắt” mới yên tâm đã khiến cho thanh toán phi tiền mặt gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng vào đời sống. Có một thực tế là dù nhiều công ty đã tiến hành trả lương cho công nhân, nhân viên qua ATM, nhưng chỉ vài phút sau khi có lương, các nhân viên đã ùa ra quầy ATM để rút sạch tiền, với lý do “để tiền trong tài khoản ngân hàng thì… không yên tâm.”

    • Còn quá ít dịch vụ

    – Ông Đào Minh Tuấn, Phó Tổng giám đốc phụ trách về công nghệ của Vietcombank thừa nhận, ngoài thói quen sử dụng tiền mặt của người dân còn quá lớn, người dân không thích sử dụng thanh toán qua ATM còn do các dịch vụ trên Internet Banking, Mobile Banking hiện vẫn chưa thực sự đa dạng, công tác quảng bá của nhà băng về dịch vụ lại khá ít nên không thu hút được sự quan tâm nhiều của khách hàng.

    • Đến nay, Vietcombank có hơn 4 triệu tài khoản thẻ nhưng chỉ có khoảng 1 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking, chủ yếu là để vấn tin nhanh. Còn chuyển khoản, thanh toán chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 10% (tương đương 100 nghìn người).
    • Ông Phạm Anh Tuấn – Phó Tổng giám đốc Vietinbank cũng cho biết, qua một số vụ việc mất an ninh, giao dịch lừa đảo, đã khiến cho niềm tin của người dân vào các dịch vụ như chuyển khoản qua SMS, Internet Banking hoặc Phone Banking… chưa cao.
    • Theo ông Phạm Anh Tuấn, trong thời gian vừa qua, nhiều ngân hàng đã làm mất uy tín đối với khách hàng khi thực hiện các giao dịch trực tuyến trên mạng, điều này gây ra tâm lý lo ngại cho người dân khi thực hiện thanh toán online. Thêm vào đó, khi sử dụng thanh toán thẻ, khách hàng sẽ phải trả một khoản phí cho nhà phát hành thẻ như Visa, Master Card, mà khoản phí này đối với Việt Nam vẫn còn quá cao. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp không mặn mà lắm với việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ, do đó họ hay viện cớ để yêu cầu khách hàng thanh toán bằng tiền mặt, hoặc khi thanh toán thì khách sẽ phải chịu phí.
    • Thẻ nhiều nhưng máy còn quá ít

     

    • Chị Nguyễn Hương Giang, nhân viên của một công ty truyền thông nước ngoài tại Việt Nam cho biết: “Tôi hiện đang sở hữu hai chiếc thẻ rút tiền phổ biến nhất của Vietcombank và BIDV. Thẻ ATM mang lại cho tôi rất nhiều tiện lợi khi cất giữ tiền bạc cũng như khi đi mua sắm. Tuy nhiên, không phải lúc nào tôi cũng có thể rút được tiền với những tấm thẻ đó trong tay. Khi mất điện hay có sự cố phần mềm tại cây ATM, hoặc vào những dịp lễ Tết có đông khách rút tiền, hai tấm thẻ ATM của tôi trở thành vô dụng. Hoặc những khi ra đến ngoại thành Hà Nội và đặc biệt khi đi công tác ở những tỉnh xa, tôi buộc phải cầm theo một xấp tiền vì ở đó không có máy ATM”.
    • Thật vậy, tương ứng với 2,1 triệu thẻ đã được các ngân hàng Việt Nam phát hành mới chỉ có 1.200 máy ATM được lắp đặt trên toàn quốc (tính tới thời điểm cuối năm 2005). Tính trung bình có tới 1.750 người chen chúc nhau sử dụng một chiếc máy ATM, một tỉ lệ quá nhỏ bé, chưa kể sự phân bố của hệ thống ATM là không đồng đều tại các địa phương cũng như tại các khu vực trong cùng một địa phương.

    Nhiều chuyên gia nhận xét rằng hiện nay các ngân hàng mới chỉ chạy theo bề nổi, tức số lượng thẻ phát hành ra, mà chưa chú ý tới chiều sâu, tức là sức sống của chiếc thẻ sau khi được đưa đến tay người sử dụng và những tiện ích đi kèm.

    Không chỉ có những bất tiện trong việc sử dụng thẻ ATM, người dùng Việt Nam còn đối mặt với hàng loạt những vấn đề khó chịu khác như hợp đồng dài dòng với những con chữ li ti hết sức khó đọc mà các nhân viên ngân hàng cũng chẳng mấy khi giải thích thấu đáo.

    • Thách thức bảo mật thẻ:

     

    Đặc biệt, khi một loạt các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực như Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… đang tích cực chuyển sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV có độ bảo an cao hơn, những kẻ tội phạm giả mạo thẻ đang có xu hướng chuyển hoạt động sang địa bàn Việt Nam, vì tuyệt đại đa số người Việt Nam đang sử dụng thẻ từ – loại thẻ dễ bị làm giả.

    Đứng trước nguy cơ này, nhiều ngân hàng Việt Nam dường như vẫn “bình chân như vại”. Cũng đã có một số trường hợp kiện cáo vì bị mất tiền từ thẻ ATM.

    Có thể trong một số trường hợp, lỗi thuộc về phía khách hàng nhưng cách giải quyết của nhiều ngân hàng nhiều khi chưa “thấu tình đạt lý”. Đa phần trong các vụ kiện này, người sử dụng bị thua kiện vì ngân hàng luôn “nắm đằng chuôi”.

    Công việc trang bị kiến thức bảo mật thẻ cho khách hàng dường như chỉ được thực hiện một cách qua loa và thiếu sự quan tâm đúng mức. Với những bất cập trong hệ thống thanh toán ATM của mình, đa phần các ngân hàng sử dụng biện pháp “mũ ni che tai”. Còn người sử dụng, nếu không may mắc phải, thì cũng đành than trời và dặn nhau “Thôi đành tự bảo trọng!”.

    Dù sao đi nữa, người tiêu dùng Việt Nam cũng đã quen dần với việc sử dụng một trong những phương thức thanh toán hiện đại, tiện dụng – thẻ ATM.

    Thực ra, bản thân công nghệ hiện đại phục vụ cuộc sống không bao giờ có lỗi. Có chăng thì đó là con người, nhân vật sáng tạo và sử dụng nó. Ông Nguyễn Trọng Khang – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty liên doanh Thẻ thông minh MK – cho biết: “Đứng trước cuộc cạnh tranh quyết liệt trên thị trưởng thẻ đầy tiềm năng như Việt Nam, các ngân hàng sẽ ngày càng chuyên nghiệp hóa hơn trong khâu phát hành thẻ cũng như thực hiện các dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng tốt hơn. Theo tôi, năm 2006 sẽ đánh dấu bước phát triển vượt bậc về chất của thị trường thẻ nước ta. Các ngân hàng sẽ chuyền dần sang loại thẻ thông minh theo chuẩn EMV an toàn hơn và có thể tích hợp được nhiều dịch vụ gia tăng trên một tấm thẻ hơn”.

    Chiếc thẻ nhựa xinh xắn như một tấm danh thiếp đã trở thành một phần “tất yếu” của cuộc sống của nhiều người tiêu dùng Việt Nam. Với việc dịch vụ thanh toán thẻ qua hệ thống ATM ngày càng mở rộng thêm nhiều tiện ích như: nộp phí bảo hiểm, tiền điện, nước, trả cước điện thoại… và Ngân hàng Nhà nước sắp đưa ra những quy định mới bảo vệ người sử dụng, hy vọng trong năm mới này chiếc thẻ sẽ trở thành sự lựa chọn của nhiều người tiêu dùng Việt Nam.

    5. Các chủ thể tham gia trong quan hệ phát hành và sử dụng thẻ thanh toán:

     

    Các thành phần tham gia hoạt động thẻ: Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ trong nước có sự tham gia của 4 thành phần cơ bản: Ngân hàng phát hành, Ngân hàng thanh toán thẻ. Chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối với thẻ tín dụng quốc tế còn có thêm một thành phần nữa là Tổ chức thẻ quốc tế.

    Tổ chức thẻ quốc tế: Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp. Các tổ chức thẻ quốc tế nổi tiếng như: Công ty thẻ American express, Tổ chức thẻ Visa, MasterCard…

    Ngân hàng phát hành: Là NH được tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của tổ chức và công ty này. Ngân hàng phát hành được quyền in tên NH mình trên thẻ thể hiện đó là sản phẩm của mình.

    Ngân hàng thanh toán: Là NH chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cùng cấp hàng hoá dịch vụ. NH sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hướng dẫn cách thức vận hành cũng như cách thức quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này.

    Chủ thẻ: Là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty uỷ quyền sử dụng), có tên được in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều kiện NH quy định.

    Đơn vị chấp nhận thẻ: Là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ ký hợp đồng với NH về việc chấp nhận thẻ thanh toán như một phương tiện thanh toán. Các đơn vị chấp nhận thẻ thường là các khách sạn, sân bay, siêu thị…

    6. Quy trình phát hành và sử dụng thẻ:

     

    • Phát hành:

      Applicant apply —–> Issuer Bank review base on income and credit worthiness approve/ of deny credit ——->
      1 —>deny issuer bank send letter to applicant
      2 ——> approved bank send applicant profile to credit card making company —-> after card is made —> send to applicant

      Puchase processing:

      Card holder purchase at merchant – merchant machine —-> data sent to ———>
      Central processing center (card services) —–>
      1 – To issuer bank —–> sent statement to card holder
      2 – Send money to merchant credit card service —–> merchant’s bank account

      Payment:

      Card holder sent payment ——>
      1 – issuer bank —–> central processing center ——> CPC sent money back to issuer bank ( minus royalty & servíce fees)
      2 – direct to central processing center—-> CPC sent money back to issuer bank ( minus royalty & servíce fees)

      Central Processing Center ( Phoenix, Arizona (Visa), Wellmington, DE, Sioux Fall, S D (Mastercard)

      Discover Card và American Express cũng tuơng tự nhưng họ có hệ thống riêng, chỉ xài chung Merchant card service

    • Qui trình thanh toán trực tuyến bằng thẻ tín dụng

    Khi bạn bán sản phẩm hoặc dịch vụ trên mạng Internet, bạn cần cung cấp cho người mua một phương án thanh toán trực tuyến trên mạng bên cạnh các phương án thanh toán khác. Cách phổ biến nhất trong thanh toán trực tuyến hiện nay là sử dụng thẻ tín dụng Credit card của các hãng Visa, Master, American Express, JBC…được các ngân hàng phát hành (Issuer).

    Trước hết, nếu bạn là người bán (merchant), bạn phải tạo lập một tài khoản bán hàng trên mạng (Internet merchant account). Tài khoản bán hàng này bạn có thể đăng ký với Ngân hàng của bạn nếu ngân hàng có dịch vụ này hoặc với các dịch vụ cung cấp phần mềm xử lý quá trình thanh toán trực tuyến như Cybercash, Paymentnet, Merchantwarehouse…

    Các ngân hàng hoặc nhà cung cấp dịch vụ khi cấp cho bạn Merchant account sẽ được gọi là Acquirer, chịu trách nhiệm xử lý thông tin thẻ trong quá trình thanh toán.

    Trên website bán hàng, người bán phải trang bị những tính năng sau:

    – Shopping cart (giỏ mua hàng): có thể do nhà cung cấp dịch vụ thiết kế website xây dựng hoặc phần mềm có sẵn bán trên mạng. Người mua hàng khi đang xem hàng trên website có thể chọn mua sản phẩm bằng cách nhấn nút “Buy”, mặt hàng sẽ được lưu lại trong giỏ hàng, người mua có thể chọn nhiều mặt hàng, khi quyết định mua hàng có thể xem giỏ hàng để xem lại các mặt hàng, thay đổi số lượng hàng, tính tiền. Để kết nối được với dịch vụ thanh toán qua mạng, shopping cart cần được xây dựng để đạt một số tiêu chuẩn tích hợp.

    – Payment gateway: là một phần mềm dùng để xử lý việc thanh toán của thẻ tín dụng bao gồm việc xác nhận thông tin của thẻ tín dụng là có thật và hợp lệ, thực hiện các lệnh chuyển tiền. (công nghệ tốt sẽ hạn chế rủi ro của thẻ tín dụng giả mạo)

    Quá trình thanh toán thẻ tín dụng

     

     

    Hai tính năng trên của website phải được thực hiện trên máy chủ an toàn (secure server) để đảm bảo tính bảo mật của các thông tin về thẻ tín dụng khi nhập trên website và trong quá trình thực hiện giao dịch.

    Qui trình thanh toán được thực hiện như sau:

    – Người mua có thẻ tín dụng (Cardholder) khi quyết định mua hàng sẽ nhập các thông tin về thẻ tín dụng của mình như: số thẻ, mã số an toàn, thời hạn của thẻ, họ và tên chủ sở hữu, địa chỉ thanh toán trên website, những thông tin này sẽ được chuyển đến cho ngân hàng hay nhà dịch vụ cung cấp payment gateway là các Acquirer. Acquirer sẽ gửi thông tin về thẻ tới dịch vụ cung cấp thẻ và ngân hàng phát hành thẻ để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ và kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ. Nếu mọi điều kiện đều phù hợp, ngân hàng phát hành thẻ sẽ gửi thông tin ngược trở về cho Acquirer, thông tin được giải mã gửi về cho người bán và việc thanh toán được thực hiện. Tiền sẽ được chuyển từ thẻ tín dụng của người mua tới tài khoản bán hàng merchant account trên Acquirer, sau đó sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của người bán.

    Phí cho việc thanh toán trực tuyến:

    – Thông thường việc mở Internet merchant account không tốn phí

    – Việc sử dụng phần mềm ứng dụng payment gateway thường có phí cài đặt ban đầu từ vài chục đến vài trăm đô la và phí duy trì hàng tháng khoảng vài chục đô la

    – Trong mỗi giao dịch thanh toán qua mạng, các acquirer sẽ thu phí khoảng từ 1.5% đến 4% giá trị giao dịch và khoảng từ 0.3$ cho tới 0.5$ phí xác nhận thông tin thẻ/lần giao dịch

    – Ngoài ra, nếu có sai sót trong quá trình thanh toán hoặc bị thẻ tín dụng giả, người bán phải chịu thêm chi phí chargeback khoảng vài chục đô la.

    Việc tiến hành thanh toán qua mạng có thể tiến hành đơn giản hơn bằng cách sử dụng dịch vụ của bên thứ ba (Third Party) chịu trách nhiệm mọi khâu thanh toán, người bán chỉ cần liên kết phần shopping cart của mình vào website của nhà cung cấp dịch vụ, mọi khâu từ việc nhập thông số thẻ, xử lý thanh toán đều thực hiện tại website của nhà cung cấp dịch vụ, người bán không cần mở merchant account, không cần sử dụng paymentgateway, giảm được các chi phí này nhưng chi phí trên mỗi giao dịch sẽ cao hơn.

    7. Rủi ro trong phát hành và sử dụng thẻ::

    • Rủi ro trong phát hành thẻ:

     

    Rủi ro trong tiếp nhận thẩm định hồ sơ

    – Chưa đầy đủ hồ sơ theo quy định của NHCTVN
    – Hồ sơ chưa đầy đủ thông tin khách hàng
    – Nội dung trong đơn xin phát hành thẻ có thông tin giả mạo
    – Đại lý phát hành thẻ giả mạo hồ sơ để phát hành thẻ phụ mà khách ko yêu cầu
    – Các giấy tờ của khách hàng không có bản gốc đối chiếu, chữ ký ko hợp lệ
    – Thẩm định không đúng quy trình, quy định của NHCT VN
    – Không thực hiện kiểm tra CMT gốc hoặc số CMT bị mờ không chính xác khi chấp nhận phát hành thẻ ATM cho khách hàng
    – Không thẩm định kỹ thông tin về khách hàng đăng ký làm đơn vị chấp nhận thẻ/ Điểm ứng tiền mặt
    – Không thẩm định kỹ tư cách chủ thẻ, khả năng thanh toán khi mở thẻ tín dụng quốc tế cho khách hàng

     Phát hành và gia hạn thẻ

    – Phát hành ATM tập thể: Doanh nghiệp cung cấp CMT bị mờ, không chính xác
    – Sai tên chủ thẻ, sai hạng thẻ, thiếu các thông tin khác
    – Giao phong bì thẻ ATM bị mất niêm phong cho khách hàng
    – Giao nhầm thẻ cho khách hàng
    – Giao thẻ có họ tên thẻ trùng nhau cho khách hàng mà không kiểm tra chứng minh thư để xác định chủ thẻ hoặc có kiểm tra CMT nhưng không kết nối được với máy trạm để kiểm tra
    – Giao nhận thẻ không đúng quy trình ( trao thẻ và PIN cho khách hàng mà không hướng dẫn khách hàng ký vào phiếu xác nhận đã nhận thẻ hoặc không ghi ngày giờ nhận )
    – Không kích hoạt thẻ mới phát hành
    – In thẻ làm chậm / PIN nhòe không rõ số
    – Hết phôi in thẻ không thông báo sớm để điều chỉnh ngày hẹn giao thẻ với khách hàng
    – Trung tâm thẻ gửi nhầm số PIN hoặc nhầm thẻ của chi nhánh này sang cho chi nhánh khác
    – Kế hoạch phát hành thẻ không sát với thực tế nhu cầu
    – Thẻ in chậm, không giao cho khách hàng đúng hẹn
    – Cung cấp sai số PIN/ số tài khoản cho khách hàng
    – Mất thẻ do trung tâm thẻ gửi bằng đường bưu điện
    – Không gia hạn thẻ cho khách hàng

    Bảo mật


    – Một cán bộ làm nhiều việc một lúc ( cán bộ vừa năm chìa khóa ATM, vừa có user chương trình quản lý thẻ MOSAIC, vừa đang giữ thẻ bị nuốt …)
    – Thành viên tiếp quỹ lộ mã khóa két khoang chứa tiền máy ATM
    – Lộ trình kế hoạch tiếp quỹ các ATM ngoài trụ sở bị lộ
    – Đặt lại PIN tại các máy trạm Mosaic không xác thực đúng chủ thẻ
    – CB cho mượn mã truy cập
    – CB để lộ mật khẩu ( Password) , mã truy cập
    – Số dư TK thẻ của khách hàng bị tiết lộ
    – Phân cấp, phân quyền trên trạm MOSAIC không đúng quy định

    Giao dịch chuyển tiền từ TK thẻ:


    – CB ngân hàng chuyển tiền vào thẻ ATM sai tài khoản/ sai số thẻ
    – KH chuyển nhầm tiền vào tài khoản người khác khi thực hiện chuyển khoản
    – Phong tỏa tài khoản thẻ do chuyển nhầm tài khoản
    – Nhập sai số tiền khách hàng nộp vào thẻ ATM

     Hạch toán kế toán:

    – Chi tiền cho khách hàng tại quầy quên ghi nợ tài khoản khách hàng hoặc ghi nợ chậm
    – Hạch toán kế toán nhầm người hưởng, nhầm tài khoản, nhầm số tiền, loại tiền
    – Nhầm lẫn trong bàn giao hồ sơ mở thẻ giữa phòng tổng hợp tiếp thị và kế toán
    – Thu phí thừa hoặc thiếu/ Quên không thu phí
    – Tiền tồn quỹ ATM có sai lệch giữa báo cáo ATM và thực tế
    – Thu nợ thẻ tín dụng quốc tế thừa/ thiếu

    Rủi ro trong xử lý sự cố:

    – Xử lý các giao dịch không thành công
    – Xử lý trường hợp máy ATM nuốt thẻ không kịp thời theo quy định
    – Thẻ hỏng, ngừng xử dụng chưa xóa khỏi hệ thống
    – Sự cố hết giấy, hết tiền tại máy ATM không xử lý kịp thời
    – Không phong tỏa tài khoản kịp thời khi chủ thể bị mất cắp, thất lạc
    – Rút tiền nhưng KH chưa nhận được tiền thì trên tài khoản đã bị trừ tiền
    – Giao dịch không thành công nhưng tài khoản khách hàng vẫn bị trừ tiền phí giao dịch
    – Đơn vị chấp nhận thẻ có những giao dịch nghi ngờ gian lận nhưng giao dịch viên vẫn báo có cho đơn vị chấp nhận thẻ
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ/ ứng tiền mặt in nhiều hóa đơn thanh toán cho 1 thẻ
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ không đối chiếu, kiểm tra chữ ký, hộ chiếu và đặc điểm an toàn thẻ khi chủ thẻ thực hiện giao dịch
    – Nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ thao tác sai, cà nhầm số tiền giao dịch
    – Đơn vị chấp nhận thẻ thực hiện tổng kết muộn quá thời gian quy định
    – Đơn vị chấp nhận thẻ/điểm ứng tiền mặt ko theo quy trình, nguyên tắc chấp nhận thanh toán thẻ

     Rủi ro trong kiểm tra, rà soát:

    – Các báo cáo ATM chưa được chấm đối chiếu hằng ngày
    – Không kiểm tra chặt chẽ khi thực hiện đổi mã PIN
    – Thực hiện chi tiền mặt tại quầy mà không vấn tin tài khoản trước khi chi trả/ không ghi nợ tài khoản khách hàng
    – Không chấm kịp thời sổ chi tiết ở TK TM 10105 ở các máy ATM
    – Không thường xuyên kiểm tra tình trạng ATM làm ảnh hưởng đến giao dịch của khách

     Máy thanh toán thẻ (EDC)

    – Máy EDC tại đơn vị chấp nhận thẻ không thanh toán được thẻ tín dụng quốc tế
    – Tổng kết giao dịch trên EDC muộn
    – Máy EDC hỏng không sửa chữa kịp thời
    – Máy EDC tại đơn vị chấp nhận thẻ vẫn thể hiện 16 số thẻ TDQT Visa ( không tuân thủ theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế VISA)
    – Kĩ thuật viên cài sai thông số cho các máy EDC ( nhầm ngoại tệ với nội tệ, nhầm thông số của các DVCNT khác)

     Nhập tiền vào máy ATM:

    – Kỹ thuật viên quên không đóng chu kỳ cũ và mở chu kỳ mới dẫn đến sai lệch số tiền tồn quỹ giữa hai chu kỳ
    – Kỹ thuật viên không khai báo số tiền mới nạp vào máy ATM dẫn đến kiểm quỹ chênh lệch giữa sổ kế toán và báo cáo tồn quỹ ATM
    – Tiền không đủ khay
    – Nhập tiền vào máy ATM không đủ thành phần
    – Đặt nhầm loại tiền vào hộc tiền

     Gian lận thẻ:


    – Lấy cắp thẻ của khách hàng
    – Trộm dữ liệu dưới nhiều hình thức khác nhau ( quay camera, qua vai..)
    – Cài đặt các thiết bị ăn cắp dữ liệu thẻ
    – Dùng điện thoại gắn camera để ghi hình chụp ảnh và sử dụng toàn bộ thông tin đó vào mục đích phạm pháp
    – Làm thẻ TDQT giả và rút tiền từ máy ATM ( truy cập Internet lấy trộm thông tin
    – Chủ thẻ thường xuyên dùng thẻ TDQT để rút tiền lớn vượt hạn mức rút tiền mặt từ các máy ATM
    – Chủ thẻ thường xuyên dùng thẻ TDQT để chi tiêu vượt hạn mức thẻ tín dụng quốc tế

    Rủi ro trong việc sử dụng thẻ:

    Hoạt động Thanh toán thẻ cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro, trong đó có sự tham gia của Ngân hàng, chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ và các thiết bị đầu cuối (ATM, POS…). Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động thanh toán thẻ bao gồm:

    • Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) giả mạo (Fraudulen Merchant)
    • ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ: đánh cắp dữ liệu thẻ sử dụng vào mục đích bất hợp pháp hoặc thông đồng với chủ thẻ chấp nhận thanh toán thẻ giả;
    • Thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ qua các phương tiện viễn thông qua thư, điện thoại, Internet: Thay đổi số tiền trên hóa đơn, đánh cắp tiền trong tài khoản
    • Nhân viên ĐVCNT in nhiều hoá đơn thanh toán của một thẻ (Multiple imprint)
    • Các ĐVCNT có tỷ lệ rủi ro cao (High Risk Merchant): Hàng hóa, dịch vụ có giá trị lớn, có tính chất dễ chuyển đổi sang tiền mặt;
    • ĐVCNT gian lận: Thực hiện giao dịch không đúng loại hình giao dịch đã đăng ký, sửa đổi số tiền giao dịch, không xin chuẩn chi theo thoả thuận qui định;
    • Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (fraudulent use of account): Sử dụng trong môi trường thanh toán không phải xuất trình thẻ (thanh toán qua thư/điện thoại hoặc thương mại điện tử);
    • Chủ thẻ để lộ số PIN
    • Thẻ bị mất/mất trộm (lost/stolen card)
    • Thẻ giả (counterfeit): thẻ thật đã bị thay đổi thông tin, thẻ chỉ giả mạo thông tin trên dải băng từ hoặc thẻ bị sao chép làm giả hoàn toàn.
    • Dữ liệu băng từ (skimming) hoặc dữ liệu trên đường truyền (tapping) bị đánh cắp.

    Rủi ro trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương

    Theo số liệu thống kê gần đây của Tổ chức Visa – khu vực, rủi ro đối với hoạt động thanh toán thẻ trong khu vực như sau:
    • Gần 50% là rủi ro thẻ giả (counterfeit). Đây là loại rủi ro phổ biến nhất với thẻ Tín dụng và là loại rủi ro chiếm tỷ trọng thứ hai với thẻ ghi nợ trong khu vực. Nó cũng là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn trong các rủi ro của hoạt động thanh toán thẻ. Loại rủi ro này đang gia tăng nhanh chóng, mối lo ngại ở các nước trong khu vực thông qua hình thức ăn cắp thông tin trên đường truyền.
    • 27% là sự lợi dụng tài khoản thẻ trong môi trường thanh toán không sử dụng thẻ. Đây là sự cảnh báo cho các loại giao dịch gián tiếp không dùng thẻ;
    • Hiện tượng gian lận thẻ đang chuyển hướng sang các nước: Đài Loan, Thái Lan. Các nước như Australia, Hồng Kông đã đầu tư cho việc phòng ngừa gian lận đã làm giảm tỷ lệ rủi ro trong lĩnh vực này.
    • Ở Việt Nam, thẻ giả mạo là loại hình rủi ro phổ biến nhất, chiếm 75% tổng các loại rủi ro trong Phát hành thẻ; Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng công tác phòng ngừa rủi ro với loại hình đang phát triển hiện nay là giả mạo thẻ bằng cách ăn cắp thông tin trên đường truyền.

     

    Chương II. Thực trạng phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

    I.             Giới thiệu chung về ACB:

     

    Tên gọi:      Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

    Tên giao dịch quốc tế:    ASIA COMMERCIAL BANK

    Tên viết tắt:          ACB

    Trụ sở chính:        442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh.

    Điện thoại:  (08) 929 0999.

    Website:      www.acb.com.vn

    Logo:

    Vốn điều lệ:          1.100.046.560.000 đồng.

    Giấy phép thành lập:     Số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/1993.

    Giấy phép hoạt động:    Số 0032/NH-GP do Thống đốc NHNN cấp ngày 24/4/1993.

    Giấy CNĐKKD:   Số 059067 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp cho đăng ký lần đầu ngày 19/5/1993, đăng ký thay đổi lần thứ chín ngày 23/2/2006.

    Mã số thuế: 0301452948.

    Ngành nghề kinh doanh:

    Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;

    Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định;

    Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;

    Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được NHNN cho phép;

    Hoạt động bao thanh toán.

    1. Cơ cấu tổ chức của ACB:

     

    • Bảy khối : Khách hàng cá nhân, Khách hàng doanh nghiệp, Ngân quỹ, Phát triển kinh doanh, Giám sát điều hành, Quản trị nguồn lực, Công nghệ thông tin;

    Bốn ban: Kiểm tra– Kiếm soát nội bộ, Chiến lược, Đảm bảo chất lượng, Chính sách và Quản lý tín dụng.

    • Hai phòng : Quan hệ Quốc tế, Thẩm định tài sản (trực thuộc Tổng giám đốc).

    Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của ACB:

    BỘ MÁY QUẢN TRỊ VÀ ĐIỀU HÀNH

     

    • Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Ngân hàng.

    Hội đồng quản trị: do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản trị Ngân hàng, có toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hàng năm; chỉ đạo và giám sát hoạt động của Ngân hàng thông qua Ban điều hành và các Hội đồng.

    • Ban kiểm soát: do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân hàng; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán; hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của Ngân hàng.
    • Các Hội đồng: Do HĐQT thành lập, làm tham mưu cho HĐQT trong việc quản trị ngân hàng, thực hiện chiến lược, kế hoạch kinh doanh; đảm bảo sự phát triển hiệu quả, an toàn và đúng mục tiêu đã đề ra. Hiện nay, Ngân hàng có bốn Hội đồng, bao gồm:
    • Hội đồng nhân sự: có chức năng tư vấn cho Ngân hàng các vấn đề về chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực để phát huy cao nhất sức mạnh của nguồn nhân lực, phục vụ hiệu quả cho nhu cầu phát triển của Ngân hàng.
    • Hội đồng ALCO: có chức năng quản lý cấu trúc bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng, xây dựng và giám sát các chỉ tiêu tài chính, tín dụng phù hợp với chiến lược kinh doanh của Ngân hàng.
    • Hội đồng đầu tư: có chức năng thẩm định các dự án đầu tư và đề xuất ý kiến cho cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư.
    • Hội đồng tín dụng: quyết định về chính sách tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên toàn hệ thống Ngân hàng, xét cấp tín dụng của Ngân hàng, phê duyệt hạn mức tiền gửi của Ngân hàng tại các tổ chức tín dụng khác, phê duyệt việc áp dụng biện pháp xử lý nợ và miễn giảm lãi theo Quy chế xét miễn giảm lãi.
    • Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước HĐQT, trước pháp luật về hoạt động hàng ngày của Ngân hàng. Giúp việc cho Tổng giám đốc là các Phó Tổng giám đốc, các Giám đốc khối, Giám đốc tài chính, Kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ.

    2. Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB:

     

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    TTS 15.419.534 24.272.864 38.177.588
    Tổng vốn huy động 14.353.766 22.341.236 31.670.517
    Tổng dư nợ 6.759.675 9.563.198 14.464.327
    Tổng thu nhập kinh doanh 475.638 687.654 787.943
    Thuế và các khoản phải nộp (**) 74.367 102.179 101.298
    Lợi nhuận trước thuế 282.148 391.550 457.684
    Lợi nhuận sau thuế 214.091 299.201 369.293
    Tỷ lệ chia cổ tức (%) 36,7 28 38 (*)
    Bằng tiền mặt (% trên mệnh giá ) 12 12 08 (*)
    Bằng cổ phiếu (% trên số lượng) 24,7 16 30 (*)

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Các chỉ tiêu khác.

    Thu nhập.

    ĐVT: triệu đồng

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Thu nhập tín dụng 350.295 73,65% 514.265 74,79% 576.092 73,11%
    Thu nhập phi tín dụng 125.343 26,35% 173.389 25,21% 211.851 26,89%
    Tổng thu nhập 475.638 100,00% 687.654 100,00% 787.943 100,00%

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Chi phí.

    ĐVT: triệu đồng

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Lương và chi phí liên quan 71.035 108.538 132.044
    Chi phí khấu hao 17.874 25.520 30.588
    Chi phí hoạt động khác 93.064 157.255 147.431
    Tổng chi phí kinh doanh 181.973 291.313 310.063

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Về tỷ lệ khấu hao TSCĐ.

    Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Tòa nhà 4,0% 4,0% 4,0%
    Thiết bị văn phòng 20,0% 33,0% 33,0%
    Xe cộ 10,0% 14,0% 14,0%
    Tài sản cố định khác 20,0% 20,0% 20,0%
    Phần mềm vi tính 12,5% 12,5% 12,5%

    Nguồn: ACB.

    Hoạt động đầu tư.

    ĐVT: triệu đồng

    STT Loại hình Số dư đầu tư 2004 Tỷ trọng Số dư đầu tư 2005 Tỷ trọng Số dư đầu tư 30/9/2006 Tỷ trọng
    1 Đầu tư trái phiếu 2.891.750 98,3% 4.823.767 97,2% 3.705.280 91,6%
    2 Góp vốn đầu tư 51.273 1,7% 136.716 2,8% 338.231 8,4%
    Tổng cộng 2.943.023 100% 4.960.483 100% 4.043.511 100%

    Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    Ghi chú:

    Đầu tư trái phiếu bao gồm:

    Sẵn sàng để bán và

    Giữ đến ngày đáo hạn.

    CHI TIẾT CÁC KHOẢN GÓP VỐN ĐẦU TƯ TÍNH ĐẾN THÁNG 09/2006

    ĐVT: triệu đồng

    STT Tên doanh nghiệp Vốn góp thực tế
    ACB
    1 Công ty CP Bảo hiểm Nhà Rồng(BẢO LONG) 15.400
    2 Công ty CP Sài Gòn- Phú Quốc 1.958
    3 Công ty CP Thương mại và Du lịch Sài Gòn (SP Co) 638
    4 Công ty CP Mắt kính Sài Gòn 1.076
    5 Công ty CP Thể Thao ACB 300
    6 Công ty CP TM DV Đông Anh 1.000
    7 Công ty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối 1.067
    8 Công ty CP địa ốc ACB 2.500
    9 Công ty CP dịch vụ bảo vệ Ngân hàng Á Châu 100
    10 Công ty CP Sài Gòn Kim Hoàn ACB – SJC 1.000
    11 Công ty CP Thủy Tạ 4.100
    12 Công ty CP Song Tân 16.000
    13 Công ty CP lương thực Bình Trị Thiên 2.654
    14 Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang 10.000
    15 Lợi nhuận đóng góp từ các công ty liên kết (ACBR, ACB-SJC, ACBD) 431
    Tổng cộng 58.224
    ACBS
    1 Nagarjuna Int’l Vietnam Ltd. 31.047
    2 Công ty CP Thủy Tạ 8.682
    3 Công ty may Phương đông 7.462
    4 Công ty CP Tơ tằm Á châu 1.000
    5 Eximbank 16.684
    6 Giadinh bank 1.000
    7 Công ty dược phẩm 3 tháng 2 3.710
    8 Viconship 2.527
    9 Saigon tourist 15.158
    10 Công ty Thủy sản Việt Long 9.188
    11 Công ty CP địa  ốc Gò Môn 1.583
    12 Ngân hàng Đại Á 37.400
    13 Công trái giáo dục 20.000
    14 Công ty TNHH đào tạo ngân hàng 310
    15 Công ty TNHH Tân Tạo 35.000
    16 Ngân hàng Việt Á 866
    17 Công ty CP Chuyển mạch tài chánh quốc gia 10.000
    18 Công ty CP ĐT PT Bình Thắng 3.643
    19 Golf Hoa Việt 436
    20 Golf sông Bé 492
    21 Công ty CP khu công nghiệp Đức Hoà 3 15.938
    22 Công ty CP Đại Cát Hoàng Long 476
    23 Công ty CP phát triển hạ tầng dệt may Phố Nối 4.162
    24 Công ty CP khu công nghiệp Sài Gòn – Bắc Giang 10.000
    25 Công ty CP địa ốc ACB 3.750
    26 Tổng cộng 240.513
    ACBA
    1 Công ty CP địa ốc ACB 6.000
    2 Công ty LT Bình Trị Thiên 6.758
    3 Công ty Khoan và dịch vụ Khoan dầu khí 17.680
    Tổng cộng 30.438
    Công ty CP Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn
    1 Các khoản đầu tư của công ty CP Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn 9.055
    Tổng cộng 338.231

    Nguồn: ACB.

    Các chỉ tiêu khác.

     Chỉ tiêu 2004 2005 30/9/2006
    Thu nhập ròng từ lãi/TTS bình quân 2,70% 2,60% 1,84%
    Thu nhập ngoài lãi/TTS bình quân 0,90% 0,80% 0,68%
    Chi phí hoạt động/TTS bình quân 1,30% 1,40% 0,99%
    Lợi nhuận trước thuế/TTS bình quân 2,10% 1,90% 1,47%
    Lợi nhuận ròng/TTS bình quân 1,60% 1,50% 1,18%
    Suất lợi nhuận/ Vốn tự có (ROE) 33,65% 30,02% 23,87%

    Nguồn: ACB

    Ghi chú: Số liệu tính toán dựa theo Báo cáo tài hợp nhất chính năm 2004, 2005 và 30/9/2006.

    II. Thực trạng phát hành thẻ thanh toán tại ACB:

    ACB là một trong các ngân hàng Việt Nam đi đầu trong việc giới thiệu các sản phẩm thẻ quốc tế tại Việt Nam. ACB chiếm thị phần cao về các loại thẻ tín dụng quốc tế như Visa và MasterCard. Trong năm 2003, ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam đưa ra thị trường thẻ thanh toán và rút tiền toàn cầu Visa Electron.

    • Năm 2004, ACB tiếp tục phát hành thẻ MasterCard Electronic. Trong năm 2005, ACB đã đưa ra sản phẩm thẻ MasterCard Dynamic là loại thẻ thanh toán quốc tế kết hợp những tính năng của thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ.
    • Ngoài ra, để đáp ứng các nhu cầu thanh toán nội địa, ACB đã phối hợp với các tổ chức như Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, hệ thống siêu thị Co-opmart, Maximark, Citimart để phát hành các loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu cho khách hàng nội địa. Thẻ ACB đã góp phần tạo nên thương hiệu ACB trên thị trường và tạo nguồn thu dịch vụ đáng kể.

    CÁC SỐ LIỆU VỀ THẺ NĂM 2004, 2005 VÀ ĐẾN 30/9/2006

    Nội dung Đơn vị tính Năm 2004 Năm 2005 30/9/2006
    Số lượng thẻ phát hành Thẻ 80.601 145.267 193.207
    Thẻ quốc tế Thẻ 62.767 123.063 170.270
    Thẻ nội địa Thẻ 17.834 22.204 22.937
    Số lượng đại lý Đại lý 4.790 5.584 5.972
    Doanh số giao dịch chủ thẻ Triệu đồng 841.516 1.265.800 1.261.164

    Nguồn: ACB.

     Các sản phẩm thẻ hiện có của ACB:

    Thẻ tín dụng quốc tế ACB Visa/MasterCard (24/05/10)

    Thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Electron/MasterCard Electronic (19/05/10)

    Thẻ thanh toán và rút tiền nội địa ACB E. Card (19/05/10)

    Thẻ ghi nợ nội địa 365 Styles (19/05/10)

    Thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Prepaid/MasterCard Dynamic (19/05/10)

    Thẻ tín dụng nội địa (04/12/09)

    Thẻ ATM2+ Năng động sánh bước cùng bạn. (14/10/09)

    ACB phát hành thẻ ATM2+

    Ngày 24/8, được sự chấp nhận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Chi nhánh TP.HCM), Ngân hàng ACB đã chính thức đưa thẻ ATM2+ và hệ thống gần 100 máy ATM hiện đại tham gia thị trường thẻ ngân hàng trên toàn quốc.

    ATM2+ là thẻ kết nối trực tiếp với tài khoản tiền gởi thanh toán, là sản phẩm thẻ kết hợp với thương hiệu VISA. Bên cạnh tiện ích được chấp nhận thanh toán tại hàng ngàn đại lý chấp nhận thanh toán thẻ VISA, chủ thẻ còn có thể dùng thẻ ATM2+ rút tiền tại tất cả các máy ATM của ACB và các máy ATM mang thương hiệu VISA tại Việt Nam.

    Dịch vụ này thích hợp cho khách hàng có tài khoản tiền gởi thanh toán và các doanh nghiệp có nhu cầu chi trả lương qua tài khoản tiền gởi thanh toán tại ACB, các cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ cho các hoạt động chuyển khoản, thanh toán, rút tiền… Từ ngày 24/8 – 31/12/2007, ACB sẽ miễn phí phát hành thẻ và phí thường niên năm đầu tiên cho khách hàng.

    TP.HCM ngày 7 tháng 10 năm 2008 Ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, và JCB International (JCBI), chi nhánh quốc tế của JCB, chính thức công bố: ACB bắt đầu triển khai mạng lưới chấp nhận thẻ và đang phát triển thêm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ JCB. ACB dự kiến hợp tác với khoảng 4.000 đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ JCB tính đến cuối tháng 1 năm 2009. Thỏa thuận này sẽ gia tăng đáng kể tiện ích cho các chủ thẻ JCB khi du lịch tới Việt Nam.

    5. Đánh giá về hoạt động phát hành, thanh toán thẻ của Ngân hàng ACB:

     

     

    Chương III. Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

    I. Định hướng phát triển Ngân hàng và thẻ thanh toán:

     

    1.Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của ACB:

     

    Cơ sở cho việc xây dựng chiến lược hoạt động qua các năm là:

    • Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu khách hàng và hướng tới khách hàng.
    • Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để đảm bảo cho sự tăng trưởng được bền vững.
    • Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn cao, tối ưu hóa việc sử dụng vốn cổ đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính vững mạnh, có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh doanh còn chưa hoàn hảo của ngành ngân hàng Việt Nam.
    • Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên chuyên nghiệp nhằm đảm bảo quá trình vận hành của hệ thống liên tục, thông suốt và hiệu quả. Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống một cách xuyên suốt. ACB đang từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa.
    • Chiến Lược Tăng Trưởng Ngang: Thể Hiện 3 Hình Thức:
      1. Tăng trưởng thông qua mở rộng hoạt động: hiện nay trên phạm vi toàn quốc, ACB đang tích cực phát triển mạng lưới kênh phân phối tại thị trường mục tiêu, khu vực thành thị Việt Nam, đồng thời nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới để cung cấp cho thị trường đang có và thị trường mới trong tình hình yêu cầu của khách hàng ngày càng tinh tế và phức tạp. Ngoài ra, khi điều kiện cho phép, ACB sẽ mở văn phòng đại diện tại Hoa Kỳ.
    1. Tăng trưởng thông qua hợp tác, liên minh với các đối tác chiến lược: hiện nay, ACB đã xây dựng được mối quan hệ với các định chế tài chính khác, ví dụ như các tổ chức thẻ quốc tế (Visa, Master Card), các công ty bảo hiểm (Prudential, AIA, Bảo Việt, Bảo Long), chuyển tiền Western Union, các ngân hàng bạn (Banknet), các đại lý chấp nhận thẻ, đại lý chi trả kiều hối, v.v… Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ACB đang quan hệ hợp tác với các định chế tài chính và doanh nghiệp khác để cùng nghiên cứu phát triển các sản phẩm tài chính mới và ưu việt cho khách hàng mục tiêu, mở rộng hệ thống kênh phân phối đa dạng. Đặc biệt, ACB đã có một đối tác chiến lược là Ngân hàng Standard Chartered, một ngân hàng nổi tiếng về các sản phẩm của ngân hàng bán lẻ. ACB đang nỗ lực tham khảo kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn cũng như công nghệ của các đối tác để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình cho quá trình hội nhập.
    1. Tăng trưởng thông qua hợp nhất và sáp nhập: ACB ý thức là cần phải xây dựng năng lực tiếp nhận đối với loại tăng trưởng không cơ học này và thực hiện chiến lược hợp nhất và sáp nhập khi điều kiện cho phép.
    • Chiến Lược Đa Dạng Hóa

    – Đa dạng hóa là một chiến lược tăng trưởng khác mà ACB quan tâm thực hiện, ACB đã có Công ty chứng khoán (ACBS), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (ACBA), đang chuẩn bị thành lập Công ty Cho thuê tài chính và Công ty Quản lý quỹ. Với vị thế cạnh tranh đã được thiết lập khá vững chắc trên thị trường, trong thời gian sắp tới, ACB có thể xem xét thực hiện chiến lược đa dạng hóa tập trung để từng bước trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính toàn diện thông qua các hoạt động sau đây:

    – Cung cấp và tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm để phối hợp cung cấp các giải pháp tài chính cho khách hàng.

    Nghiên cứu thành lập công ty thẻ (phát triển từ trung tâm thẻ hiện nay), công ty tài trợ mua xe

    – Nghiên cứu khả năng thực hiện hoạt động dịch vụ ngân hàng đầu tư.
    Tuy ACB đã khẳng định được mình nhưng luôn nhận thức rằng thách thức vẫn còn phía trước và phải nỗ lực rất nhiều, đẩy nhanh hơn nữa việc thực hiện các chương trình trợ giúp kỹ thuật, các dự án nâng cao năng lực hoạt động, hướng đến áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để có khả năng cạnh tranh và hội nhập khu vực thành công. Do vậy, từ năm 2005, ACB đã bắt đầu cùng các cổ đông chiến lược xây dựng lại chiến lược mới. Đó là chương trình Chiến lược 5 năm (2006-2011) và tầm nhìn 2015.

    2. Định hướng phát triển thanh toán thẻ của Ngân hàng TMCP Á Châu trong thời gian tới;

     

    • Phát triển thẻ thanh toán nội địa:

    Thẻ tín dụng nội địa cung cấp phương tiện thanh toán hiện đại, an toàn cho người tiêu dùng do không phải mang theo một lượng lớn tiền mặt khi đi muasắm, giải trí, du lịch, công tác… và đối phó với rủi ro bị mất tiền. Khi mất thẻ thì vẫn giữ được tiền nếu thông báo kịp thời cho Trung tâm thẻ ACB. Ngoài ra, trên thẻ còn có ảnh và chữ ký của chủ thẻ đề phòng khi mất thẻ người khác cũng không sử dụng được. Đồng thời đây cũng thực sự là phương tiện thanh toán đem lại hiệu quả kinh tế nhất định cho người tiêu dùng, do ngân hàng sẽ chi trả thay chủ thẻ ngay khi thực hiện giao dịch thanh toán tại các đạị lý bán hàng hóa, dịch vụ, sau đó hằng tháng chủ thẻ mới thanh toán lại cho ngân hàng các khoản chi tiêu của mình, như vậy mặc nhiên người sử dụng thẻ đã được ngân hàng cho vay miễn lãi một thời gian nhất định khoảng từ 16 đến 45 ngày tùy thời điểm thanh toán. Nếu đến hạn thanh toán, chủ thẻ vẫn chưa có điều kiện và nhu cầu thanh toán cho ngân hàng, các khoản chi tiêu đó sẽ chuyển thành khoản tín dụng với mức lãi suất 0,04%/ngày.

    Dự kiến trong đợt phát hành thẻ đầu tiên, Trung tâm thẻ sẽ phát hành khoảng 1.000 thẻ, chủ yếu là cho các chủ thẻ quốc tế hiện tại của Trung tâm thẻ và một số đối tượng khác. Sau đó, chơng trình sẽ được quảng bá rộng rãi đến các đối tượng được cấp thẻ tín chấp (miễn ký quỹ). Đó là các đối tượng: Lãnh đạo các cơ quan, công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp, các bác sĩ, giáo sư đại học, giáo viên cán bộ công nhân viên có thu nhập ổn định, có tài khoản lương tại ACB, các cá nhân đang có quan hệ tín dụng với ACB, có tài sản đảm bảo, các đối tượng đang được cho vay tín chấp theo chương trình cho vay tiêu dùng 10 triệu đồng tại ACB… Còn các đối tượng khác nếu có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng nội địa có thể mở sổ tiết kiệm hoặc tài khoản. Trong thời gian sử dụng thẻ, số dư sổ tiết kiệm hoặc tài khoản vẫn được hưởng lãi bình thường.

    • Tăng kênh tiêu thụ, phát triển thương hiệu:

    Ngân hàng Thương mại Á Châu (ACB) và Công ty Đông Hưng đã công bố chương trình hợp tác phát hành thẻ Visa Electron. Chương trình hợp tác này không chỉ mang lợi ích cho người sử dụng thẻ mua hàng, mà còn tạo ra hiệu quả kinh tế cho tổ chức tín dụng ACB và hệ thống bán lẻ Citimart của Công ty Đông Hưng. Với thẻ Visa Electron, người tiêu dùng mua hàng tại các siêu thị của Citimart sẽ được ACB thanh toán hộ (tất nhiên, người tiêu dùng phải đóng tiền trước để được cấp thẻ). Cái lợi của người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ này là mua hàng không cần mang theo tiền, thêm vào đó họ được giảm 3% trên tổng giá trị hóa đơn mua hàng. Còn đối với ACB và Citimart, thông qua chương trình hợp tác cùng nhau bán hàng, họ có thêm nhiều khách hàng mới.

    Liên kết tiêu thụ:

    ACB và Standard Chartered liên kết ATM, hợp tác phát hành thẻ tín dụng

    Khách hàng của hai ngân hàng này có thể sử dụng miễn phí hơn 270 máy ATM trong mạng lưới hợp tác, ACB cũng sẽ phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng của Standard Chartered.

    II. Những thuận lợi và khó khăn

     

     

    1.Thuận lợi:

    • Mạng lưới kênh phân phối: Gồm 80 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc.
    • Là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế: Visa, MasterCard.
    • Thẻ thanh toán đồng thương hiệu: Saigontourist; Saigon Co-op; Mai Linh Taxi; HSBC; Vera; VDC; Vietravel; Citimart.
    • Bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng: Prudential, AIA.
    • Xếp hạng Tín nhiệm Quốc tế:Bắt đầu từ năm 2001, Fitch (tổ chức đánh giá xếp hạng quốc tế) đã có đánh giá xếp hạng tín nhiệm ACB. Tháng 4/2004, Fitch đánh giá tiêu chí năng lực bản thân của ACB là D, và xếp hạng theo tiêu chí hỗ trợ từ bên ngoài là 5T.
    • Các giải thưởng quốc tế:Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2006; Ngân hàng bán lẻ xuất sắc nhất Việt Nam 2006; Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 2006; Sản phẩm dịch vụ xuất sắc lĩnh vực tài chính ngân hàng 2006; Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2005;..v.v

    2.Khó khăn:

    • Gánh nặng từ và chip:

    Các tổ chức phát hành thẻ thế giới như Master, Visa Card  đề nghị, bắt đầu năm  2006 các ngân hàng phải chuyển đổi hệ thống theo chuẩn EMV trên thẻ để đảm bảo tính bảo mật, tức phải chuyển thẻ từ sang thẻ chip. Các tổ chức này khuyến cáo, nếu sau giai đoạn này mà các ngân hàng không chuyển đổi xong, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm cho những rủi ro xảy ra đối với thẻ từ như bị hacker, điều mà trước đây họ phải gánh thay cho NH.

    Ông Lê Vũ Kỳ, Phó Tổng giám đốc ACB và là Giám đốc khối công nghệ thông tin ACB, cho rằng ngoài chi phí, thì công nghệ cũng là một trong những vấn đề của việc chuyển đổi. Việc tích hợp thông tin từ thẻ từ sang thẻ chip, lại phải đảm bảo tính kết nối của những ngân hàng liên kết với nhau, đòi hỏi giải pháp kỹ thuật cao và chi phí cho kỹ thuật này cũng không nhỏ.

    III. Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu:

     

    1. Giải pháp vĩ mô:

    1.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước:

    1. Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    2. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.
    3. Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
    4. Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
    5. Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    1.2. Đối với Ngân hàng ACB:

     

    Cần có một đội ngũ phát triển thẻ để thu thập thông tin thị trường, tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng để hoàn thiện sản phẩm hiện có, nghiên cứu phát triển thêm các sản phẩm mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu về tâm lí khách hàng, thu nhập, thói quen, sự ưu tiên trong tiêu dùng, dự báo những thay đổi trong nhu cầu theo sự thay đổi của thu nhập, tuổi, giới, địa vị… để phục vụ khách hàng tốt hơn. Nghiên cứu thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh nhằm đưa ra những chiến lược hợp lý.

    – Hoàn thiện quy định về quy trình nghiệp vụ, đạt tiêu chuẩn chất lượng.

    – Xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu càng ngày càng khắt khe của khách hàng

    – Tăng cường quảng bá sản phẩm, tiến hành các đợt giảm giá khuyến mãi thu hút các đối tượng sử dụng thẻ.

    – Ngân hàng cũng nên có chính sách khuyến mãi với những khách hàng thường xuyên giao dịch và có số dư bình quân trên tài khoản tiền gửi ổn định ở mức độ nhất định.

    – Củng cố hạ tầng kỹ thuật và công nghệ cung cấp dịch vụ ngân hàng

    – Chủ động tham gia hội nhập và thực thi những thông lệ khu vực và thế giới

    IV. Một số kiến nghị:

     

     

    1.    Đối với chính phủ:

     

    – Nhà nước cần áp dụng các biện pháp mạnh, có quy định cụ thể đối với tổ chức và cá nhân được phép thanh toán bằng tiền mặt với mức tiền cụ thể, phù hợp với tình hình phát triển chung của nền kinh tế. Ví dụ, hiện nay nên quy định đối với cá nhân, thanh toán dưới 5 triệu đồng, đối với tổ chức dưới 10 triệu đồng được sử dụng tiền mặt, trên mức đó phải thanh toán KDTM. Đồng thời phải xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

    – Nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.

    • Chính phủ nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.
    • Trước mắt phía tài chính nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.
    • Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.

    2.    Đối với Ngân hàng Nhà nước:

     

     

    • Ngân hàng Nhà nước nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    • Ngân hàng Nhà nước không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hình của Nhật Bản, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.
    • Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động thanh toán, ngay từ việc sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng để củng cố vị thế pháp lý của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt; đồng thời hoàn thiện các văn bản dưới Luật liên quan đến các phương tiện, hình thức thanh toán hiện đại để đảm bảo tính ổn định, an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và sự giám sát hợp lý của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tăng cường lòng tin của người sử dụng và giới doanh  nghiệp vào hệ thống thanh toán quốc gia.

    3. Đối với ACB:

    – Phát triển mạng lưới của mình,

    – Phát triển các dịch vụ mới dựa trên công nghệ.

    – Phát triển các nhánh dịch vụ, đặc biệt là các kênh phân phối

    – Chú trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh mạnh

    – Lựa chọn các sản phẩm “lõi” của mình

    – Đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể

    – Thị trường: Xác định thị trường tiềm năng là khối dân doanh – ngoài quốc doanh, trong đó tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (kể cả các công ty cổ phần, công ty TNHH).

    Ngoài ra, khách hàng cá nhân là khách hàng to lớn và lâu dài của thị trường thẻ. Chú ý tới khách hàng trẻ tiềm năng trong độ tuổi 21-29 (65% dân số Việt Nam có độ tuổi dưới 30) vì tính năng động trong tiếp cận sản phẩm và tính sẵn sàng sử dụng DVNH

    – Chú trọng đến vấn đề bảo mật và an toàn cho khách hàng sử dung thẻ.

     

    Kết luận:

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Việc phát

    triển  thanh  toán không dùng  tiền mặt nói chung, bằng  thẻ  thanh  toán nói riêng  là một bước quan trọng trong việc xây dựng một nền văn minh tiền tệ, phù hợp với xu hướng chung của  thế giới. Thẻ  thanh  toán có vai  trò quan  trọng và những  lợi  ích không  thể phủ nhận. Hiện nay, thẻ thanh toán vẫn còn tiềm năng phát triển rất lớn trong nước và trên thế giới. Việc phát triển dịch vụ thẻ có ý nghĩa ngày càng to lớn trong chiến lược phát  triển  thời  kỳ mới  của  các  ngân hàng Việt Nam nói chung  và ngân hàng TMCP Á Châu ACB nói riêng.

    Trên cơ sở mục đích, đối  tượng nghiên cứu đã được xác định, với nội dung “Giải

    pháp  phát  triển  thẻ  thanh  toán  tại Ngân Hàng TMCP Á Châu ACB”, tiểu luận đã tập trung giải quyết được những vấn đề cơ bản sau:

    1)  Tiêủ luận đã nghiên cứu  những  vấn  đề  lý  luận  c ơ  bản  về  thẻ  thanh  toán.

    Trong  đó, đề tài tiểu luận cũng  nêu  rõ  tầm  quan  trọng,  ý  nghĩa  thẻ  thanh  toán,

    những lợi  ích to lớn của việc sử dụng thẻ thanh toán đem lại không chỉ cho

    người sử dụng, cho ngân hàng mà cho cả nền kinh tế.

    2)  Bằng phương pháp  tiếp cận  thực  tế,  thu  thập  thông tin, phân tích, đánh giá,

    luận văn đã nêu rõ được thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng

    TMCP Á Châu ACB trong  những  năm  vừa  qua   có  những  bước phát triển mạnh mẽ với nhiều kết quả đáng khích lệ.

    3)  Tuy  nhiên,  bên  cạnh những  thành  tựu đạt được  thì quá  trình phát  triển  thẻ

    thanh  toán  tại ngân hàng TMCP Á Châu ACB còn bộc  lộ nhiều  khó khăn,

    tồn  tại  cần  khắc  phục  như  phạm  vi  sử  dụng  thẻ  c òn  hạn  chế,  tiện  ích  thẻ

    chưa nhiều…Từ đó luận văn cũng xác định rõ những nguyên nhân dẫn đến

    hạn chế trong việc phát triển thẻ thanh toán, gồm nguyên nhân xuất phát từ

    chính ngân hàng, nguyên nhân từ phía người sử dụng thẻ và các yếu tố pháp

    lý tác động.

    4)  Từ  những  kết  quả  phân  tích  về  mặt  lý  luận  ở  chương  1  và  thực  tiễn  ở

    chương 2,  luận văn đã đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những  tồn

    tại, cũng như đưa  ra các giải pháp phát  triển  thẻ  thanh  toán của ngân hàng

    TMCP Á Châu trong tương lai. Các giải pháp đưa ra hết sức cần thiết.

    (**) Bao gồm tất cả các khoản thuế phải nộp trong  kỳ báo cáo.

    (*) Dự kiến đến 31/12/2006.

  • Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quản trị thương hiệu Tái định vị thương hiệu sản phẩm Kotex Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Thương hiệu ngày càng có vai trò quan trọng trong xu thế cạnh tranh và phát triển định hướng hội nhập kinh tế thế giới. Thương hiệu dẫn dắt chiến lược tổ chức, là chất xúc tác quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu kinh doanh và là điểm trọng tâm kết nối mọi nguồn lực hay khía cạnh quản trị tổ chức, nhân viên, đối tác & khách hàng của bạn.Thương hiệu còn dẫn dắt nhận thức, thái độ và hành vi nhân viên trong công việc hàng ngày nếu tổ chức chú trọng đến việc truyền thông thương hiệu nội bộ trước khi truyền thông ra bên ngoài. Sở hữu thương hiệu mạnh thậm chí danh mục các thương hiệu mạnh là mơ ước của tất cả mọi lãnh đạo trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế…. Xây dựng thương hiệu đã khó thì phát triển và làm mới thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng càng khó hơn. Chính vì thế nhóm G7 đã chọn đề tài “ tái định vị thương hiệu ” để đi sâu vào phân tích lý thuyết tái định vị thương hiệu và đem áp dụng vào thực tế là dãy sản phẩm của Kotex Việt Nam.

    Chương I: Một số lý thuyết cơ bản về thương hiệu.

    1. Thương hiệu là gì?

    Hiện nay trong các văn bản pháp lý của Việt Nam không có định nghĩa về thương hiệu. Tuy nhiên, thương hiệu không phải là một đối tượng mới trong sở hữu trí tuệ, mà là một thuật ngữ phổ biến trong marketing thường được người ta sử dụng khi đề cập tới:

    1. Nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu sản phẩm):

    Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch  vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng màu sắc. (Điều 785 bộ luật dân sự quy định)

    1. Tên thương mại của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (thương hiệu doanh nghiệp) đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, có thể phát âm được.

    Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh. (Điều 14 Nghị định 54/2000/NĐ-CP).

    1. Các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa:

    “Tên gọi xuất xứ hàng hóa” là tên điạ lý của nước, của điạ phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mạt hàng này có các tính chất, chất lương đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả 2 yếu tố đó. (Điều 786 Bộ luật dân sự quy định)

    “Chỉ dẫn địa lý” là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa đáp ứng đủ các yêu cầu sau:

    _Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia

    _Thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.

    Theo hiệp hội Hoa Kỳ:

    Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ, hay tổng hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh.

    _Có thể nói thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài, tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong (cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp). Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin cảu người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. Giá trị của một thương hiệu là triền vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp.

    Thương hiệu quốc gia:

    Cần phân biệt thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu sản phẩm với thương hiệu quốc gia (hay còn gọi là nhãn sản phẩm quốc gia) là loại thương hiệu dùng cho sản phẩm của một nước, thường do tổ chức xúc tiến thương mại của nước đó chủ trì, phát hành, nhằm quảng bá hính ảnh quốc gia thông qua sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

    1.1. Một số tác dụng của thương hiệu trong cạnh tranh:

    Làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm.

    Tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, giúp bảo vệ người bán chống lại các đối thủ cạnh tranh, đồng thời giảm chi phí marketing.

    Dễ thu hút khách hàng mới.

    Giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn.

    Tạo thuận lợi hơn khi tìm thị trường mới.

    Nhãn hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty, thu hút vốn đầu tư, thu hút nhân tài.

    Giúp việc triển khai tiếp thị, khuếch trương nhãn hiệu dễ dàng hơn.

    Uy tín cao của nhãn hiệu sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có điều kiện “phòng thủ”, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá.

    Nhãn hiệu thương mại của người bán  khi đã đăng ký bao hàm sự bảo hộ của pháp luật đối với những tính chất độc đáo của những sản phẩm trước những sản phẩm bị đối thủ cạnh tranh “nhái” theo.

    1.2. Tái định vị thương hiệu:

    1.2.1. Khái niệm:

    Tái định vị thương hiệu là công việc làm mới hình ảnh của thương hiệu, tạo một sức sống mới cho thương hiệu nhằm đáp ứng được sự thay đổi của thị trường cũng như của người tiêu dùng hay một mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Tái định vị là một chiến lược thay đổi vị trí cảm nhận về thương hiệu trong tâm trí khách hàng mục tiêu.

    Tập trung vào:

    + Xác định cơ hội mới

    + Hướng vào yếu tố giá trị có tính xu hướng

    + Đưa ra đặc điểm mới nổi trội hơn, độc đáo hơn.

     

     

    Điều kiện tái định vị thương hiệu:

    + Có tiềm năng

    + Dựa trên các yếu tố đã có sẵn từ trước, vẫn giữ nguyên thương hiệu không được bỏ vì nếu bỏ tức là từ bỏ thương hiệu đã có.

    Tái định vị thương hiệu khi:

    Môi trường cạnh tranh thay đổi

    Doanh nghiệp không có sự cảm nhận tốt từ khách hàng

    Hình ảnh thương hiệu mờ nhạt, già nua, thiếu sức sống

    Muốn thay đổi nhóm khách hàng mục tiêu

    Doanh nghiệp muốn lột xác để bước sang một giai đoạn mới của quá trình cạnh tranh

    1.2.2. Tái định vị thương hiệu để làm gì ?

    Tái định vị để mạnh mẽ hơn:

    Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, phần lớn các doanh nghiệp đối diện với sự cạnh tranh, thất bại, thờ ơ và thất vọng của khách hàng. Để khẳng định mình và phát triển, nhà lãnh đạo sử dụng nhiều cách thức, trong đó phương pháp tái định vị là lựa chọn ưu tiên.Có thể lấy Sfone làm ví dụ. Khi thâm nhập thị trường Việt Nam với công nghệ CDMA hiện đại, các nhà quản trị Sfone tin vào sự thành công. Ban đầu Sfone xuất hiện với slogan: Nghe là thấy cùng màu xanh trên logo. Họ kỳ vọng hình ảnh thương hiệu cùng slogan trên sẽ phù hợp nhóm khách hàng trẻ. Nhưng kết quả ngược lại, khách hàng không đón nhận. Slogan khá khó hiểu với đa số khách hàng. Màu xanh cũng không làm Sfone nổi bật, khác biệt.Sfone đã xây dựng hình ảnh mới. Họ tung ra hệ thống nhận diện mới với màu cam khá lạ mắt. Về nguyên tắc, màu cam là màu nóng, mạnh, giúp liên tưởng đến nhiệt huyết, sự trẻ trung, năng động… Sfone còn tung ra các chiến dịch truyền thông nhắm vào đối tượng: người trẻ đang yêu, bạn bè. Những dịch vụ: Forever, nhạc chuông, tin nhắn, game… thể hiện điều đó.Sfone cố gắng đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Tỏ ra “biết mình, biết người”, họ nhắm vào đối tượng khách hàng trẻ. Thậm chí, họ chấp nhận bù lỗ với cước phí thấp, giá điện thoại rẻ để tạo ra xu hướng mới cho khách hàng tiềm năng.Còn quá sớm để nói rằng Sfone đã thành công từ việc tái định vị thương hiệu. Nhưng quá trình này tạo ra một Sfone khác biệt, ấn tượng… làm tiền đề cho sự bứt phá trong tương lai.Một ví dụ khác là Ngân hàng Công thương Việt Nam (vietinBank). Trước đây, khách hàng biết đến họ như là một trong những ngân hàng nhà nước với lối quản lý nặng nề, cũ kỹ. Đứng trước vận hội mới, các nhà quản trị VietinBank quyết định thay đổi hình ảnh, hệ thống nhận diện. Với ba màu xanh, trắng, đỏ và logo là hình ảnh đồng tiền cổ, VietinBank gửi gắm thông điệp: Tin cậy, hiệu quả và hiện đại… Họ kết hợp với slogan: Nâng giá trị cuộc sống.Bằng hình ảnh mới, VietinBank muốn khẳng định mình đi cùng khách hàng. Đồng tiền biểu tượng cho kinh doanh và là phương tiện giao dịch. Đây là hình ảnh cần thiết để VietinBank chuyển thành ngân hàng thương mại và hướng đến tập đoàn tài chính mạnh.

    Tái định vị phù hợp nhu cầu khách hàng:

    Đôi khi, một số thương hiệu phải thích ứng để phù hợp nhu cầu khách hàng. Đó là cà-phê Việt của Nestlé. Trên toàn cầu, Nestlé có nhãn cà-phê nổi tiếng Redcup. Đây là nhãn hiệu được đầu tư khá bài bản. Các nhà quản trị của Nestlé hy vọng chất lượng cà-phê tinh chất, sự bài bản về công nghệ chế biến sẽ giúp Redcup chinh phục người tiêu dùng Việt. Tuy nhiên, kỳ vọng này mang lại thất vọng, Redcup có thể phù hợp với thị trường khác nhưng tại Việt Nam, cái tên đó không chút ấn tượng.Mới đây, Nestlé tiến hành tái định vị Recup khi cho ra đời nhãn hiệu mới “Cà-phê Việt”.Với thành phần và công thức pha chế không khác biệt nhiều so với Redcup, nhưng khi khoác chiếc áo mới, Cà-phê Việt để lại ấn tượng. Với slogan Bạn đã đủ mạnh để thử? Cùng hình ảnh nhãn hiệu là chàng trai mạnh mẽ, hiện đại và sự xuất hiện đầy khiêu khích, Cà-phê Việt đã tạo dấu hiệu nhận biết tốt trong tâm trí khách hàng. Hơn thế, tên của nhãn hiệu được người tiêu dùng Việt chấp nhận dễ dàng.Rõ ràng, việc Nestlé thay đổi chiến lược chứng tỏ: Dù là nhãn hiệu hàng đầu, nhưng nếu nó xa lạ với người tiêu dùng địa phương thì cách tốt nhất là thay đổi.

    1.2.3. Các bước chuẩn bị để tái định vị thương hiệu.

    1/ Xác định rõ mục tiêu chiến lược của việc tái định vị.

    2/ Cần triển khai một cuộc nghiên cứu thị trường nghiêm túc trước khi quyết định thực hiện nhằm giảm thiểu rủi ro.

    3/ Cân nhắc giữa tái định vị thương hiệu hay chỉ làm mới hình ảnh cũ ?. Cái gì cần giữ lại để đảm bảo tính kế thừa, điểm gì cần cải thiện, giá trị nào cần thêm mới vào.

    4/ Tất cả mọi người trong doanh nghiệp cần chuẩn bị một tinh thần thay đổi, và sẵn sàn cho sự thay đổi, vì việc thay đổi hệ thống định vị sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các phòng ban chức năng. Người cần có nhận thức đầu tiên trong doanh nghiệp cho việc tái định vị phải là người đứng đầu doanh nghiệp.

    5/ Chụẩn bị tài chính cho việc tái định vị, nếu chúng ta tái định vị nửa vời, thiếi triệt để và không nhất quán sẽ để lại những hậu quả khó lường.

    6/ Kết hợp thật hiệu quả với các công cụ Marketing, PR, HR để việc triển khai thực hiện tái định vị được hiệu quả, giảm ngân sách đầu tư.

    7/ Cân nhắc giữa mục tiêu của tái định vị nhắm đến khách hàng mới, so với nhóm khách hàng hiện tại.

    8/ Làm những động tác cần thiết để người tiêu dùng hiểu và cảm nhận được thông điệp mới một cách chính xác bằng một chiến dịch truyền thông.

    1.2.4. CÁCH THỨC TÁI ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU:

    Tùy theo từng mục tiêu chiến lược của từng chương trình tái định vị mà chúng ta quyết định có phải thay đổi sản phẩm hay không.

    Doanh nghiệp có thể không thay đổi sản phẩm, nếu chiến lược của doanh nghiệp chỉ đơn giản là tạo một cảm xúc mới lạ thông qua thông điệp truyền thông bằng hình ảnh mới. Nhưng, nếu sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp chưa tốt, điều này được người tiêu dùng cảm nhận được thì dù hình ảnh thương hiệu có làm mới đẹp đến mấy thì cũng vô nghĩa. Việc doanh nghiệp tái định vị mà chỉ thực hiện bằng việc thay đổi thông điệp truyền thông, hệ thống nhận diện không thôi thì chỉ là một cách thể hiện lời hứa của Doanh Nghiệp. Còn khi người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của chúng ta họ có hài lòng hay không điều đó thể hiện là việc làm của chúng ta có đúng lời hứa hay không. Do vậy thông thường đi kèm với việc tái định vị thương hiệu thì ta còn phải xem xét tính năng, lợi ích của sản phẩm nhằm cải tiến để sản phẩm doanh nghiệp tốt hơn có nhiều giá trị tăng thêm cho khách hàng. Ngược lại cũng tương tự, khi doanh nghiệp có sản phẩm mới hoàn toàn, nếu đây là sản phẩm chính duy nhất và doanh nghiệp từ bỏ sản phẩm cũ thì việc tái định vị là cần thiết. Nhưng nếu doanh nghiệp có thêm một sản phẩm mới trong một chuỗi các sản phẩm có sẵn, sản phẩm này chỉ bổ sung một giá trị nào đó không lớn thì doanh nghiệp không nhất thiết phải tái định vị lại thương hiệu. Vì chúng ta đều hiểu rằng tái định vị thương hiệu có hai mặt của nó: có cả tích cực và không tích cực. Nói chung, phải xem lại mục tiêu của tái định vị, xác định nhu cầu mới của khách hàng sau khi tái định vị (khách hàng cũ và mới) để quyết định những vấn đề liên quan đến sản phẩm. Nếu doanh nghiệp có nghiên cứu chu đáo trong quá trình thực hiện tái định vị thì hiệu quả mang lại rất lớn. Doanh nghiệp sẽ làm hài lòng khách hàng về những hình ảnh cảm nhận. Khách hàng sẽ nghĩ rằng doanh nghiệp rất quan tâm đến họ. Đáp ứng được nhu cầu mong đợi của khách hàng. Doanh nghiệp sẽ có được một lượng khách hàng mới thông qua việc tái định vị thương hiệu: nhiều khách hàng trước đây chưa hiểu, chưa thích thì bây giờ lại thích thú khi doanh nghiệp tái định vị.

    Thực tế, tái định vị không hề đơn giản và không phải muốn là làm được. Sau đây là vài điều cần quan tâm trước và trong khi tái định vị:

    1/ Vị trí của thương hiệu trên thị trường:

    Không nên nghĩ khi đang dẫn đầu thị trường hoặc có thị phần tốt thì không cần đổi mới. Tái định vị có thể thực hiện khi có những sự kiện quan trọng liên quan đến thương hiệu hoặc ngành đã và sắp xảy ra. Khi trên thị trường liên tiếp có những mặt hàng sữa tươi được tung ra đa dạng về mẫu mã và chủng loại thì ViNaMilk đã thay đổi thông điệp quảng bá của mình là “100% sữa tươi nguyên chất” để duy trì vị thế của mình trên thị trường.

    2/ Vị trí của thương hiệu trong tâm trí của khách hàng:

    • Cần cân nhắc thái độ và cảm xúc của khách hàng mục tiêu với định vị hiện tại “Liệu khách hàng có phản ứng tích cực với định vị mới hay không?” là câu hỏi cần được trả lời xuyên suốt trong quá trình tái định vị.
    • Định vị mới cũng không được thay đổi tính cách đặc trưng của thương hiệu nếu tính cách này đã được chấp nhận.

    3/ Nắm rõ mục đích tái định vị:

    Tái định vị có hai mục đích chính là tạo thêm giá trị cho thương hiệu; thay đổi đối tượng khách hàng mục tiêu. Chỉ nên chọn một mục đích và làm thật tốt không nên nhắm đến cả hai mà làm nửa vời.

    4/ Thực hiện mạnh tay và phải đồng bộ:

    • Khi tái định vị, phải chấp nhận rằng tái định vì là một điều cần thiết và bắt buộc trong quá trình phát triển thương hiệu.
    • Tái định vị sẽ thay đổi nhận thức của khách hàng, vì thế nếu không mạnh tay thực hiện triệt để, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), quảng bá… thì hiệu quả sẽ không như mong muốn.
    • Nguy hiểm hơn khách hàng sẽ mơ hồ giữa định vị cũ và định vị mới của sản phẩm.
    • Phải thực hiện đồng bộ để khách hàng biết được việc tái định vị của thương hiệu. Đồng thời tranh thủ sự đồng tình của khách hàng với quá trình này, nhiều hoạt động phải được diễn ra liên tục đúng và sát với kế hoạch để phục vụ cho định vị mới của thương hiệu.

    Ta thấy rằng  tái định vị không chỉ đơn giản dừng lại ở việc thay đổi logo, mà còn là việc đầu tư cho công tác R&D để tung ra sản phẩm mới, quảng bá và tổ chức sự kiện…. Nếu việc định vị thực hiện tốt thì chúng ta sẽ có được trái tim khách hàng, ngăn ngừa việc thâm nhập vào tâm trí khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Thể hiện sức mạnh đổi mới và sức sống mãnh liệt của thương hiệu,…. Ngược lại, nếu làm không tốt thì có thể có nhiều rủi ro xảy ra: mất khách hàng trung thành, khách hàng cũ, chi phí tăng cao, hình ảnh không đồng bộ, thiếu sự kế thừa,… Nếu không đủ ngân sách cho định vị thay đổi sẽ rất nguy hiểm làm cho hình ảnh cũ và mới sẽ bị tranh chấp, không rõ ràng, thiếu nhất quán,…Thời điểm để tái định vị thương hiệu cũng là vấn đề cân nhắc, lựa chọn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương II: Các ứng dụng thực tế của tái định vị thương hiệu.

    2.1. Hậu quả của việc tái định vị sai lầm.

    Thất bại ngọt ngào của New Coke ở tuổi 25

    Với hơn 40 ngàn kết quả có được khi tìm kiếm trên mạng với từ “New Coke” và “sự sai lầm”, nó được xem như câu chuyện về bài học cảnh báo được đưa vào giảng dạy tại các trường kinh tế. Vậy mà trong những ngày đầu tháng Tư sôi động của năm 1985, Coke đã nghĩ rằng họ cầm chắc phần thắng trong tay.

    Điều này dễ dàng trách mắng Coke khi quyết định thay đổi sản phẩm, vì trước đó việc thay đổi này được đã được khuyên rằng là đi sai hướng. Tuy nhiên, nó có những lí do riêng của mình.

    Theo số liệu thống kê trong ngành giải khát năm 1985, bản khảo sát của Coca Cola đã chứng minh rằng 55% trong 200,000 thử nghiệm được khảo sát, đã trả lời là họ thích sản phẩm New Coke hơn, trong khi chỉ có 45% chọn sản phẩm thức uống nguyên thủy với công thức tồn tại 99 năm qua. Tuy nhiên, những mẫu được chọn để khảo sát được cho là không chất lượng khiến cho đa số mọi người đều nghi ngờ mức độ tin cậy của kết quả khảo sát này.

    Có thể New Coke có cơ hội, và kết quả từ Focus – group đã đúng. Vài tháng sau, New Coke đã có 1 sự tặng trưởng mạnh, tuy nhiên sau đó, lại bị tẩy chay và hoàn toàn không thể phục hồi.

    Các tờ nhật báo hàng ngày vốn đã có sự quan tâm ngay từ lúc CoCa Cola bắt đầu tung ra sản phẩm mới, thì lúc này họ càng quan tâm đến cuộc chiến trong ngành thức uống, và chiến lược media càng bùng phát dữ dội hơn sau đó với dự báo về thất bại của chiến dịch này. Và việc thất bại của New Coke đồng nghĩa với sự quay trở lại của thức uống Original Coke, điều này đã được tờ The Atlanta Jounal – Constitution minh họa và so sánh như 1 cuộc giải cứu Coke nguyên thủy được đăng và phát hành ngày 11/7:

    “Thứ năm, ngày 11 tháng 7 năm 1985, sau công nguyên, ngày này sẽ mãi mãi đổ chuông trong lịch sử của chúng ta như là ngày cuối cùng kết thúc cuộc khủng hoảng con tin. Nó không phải là sự giải cứu con tin ở sân bay, gây ra những cuộc hỗn chiến và bạo loạn. Mà nó là sự giải cứu thành công loại thức uống Coke nguyên thủy – original formula Coke – điều này được ví như những tia nắng mặt trời tỏa sáng đại dương được mang đến bởi bộ ba vị lãnh đạo trang trọng của Coca Cola lúc bấy giờ.”
    New Coke trở thành sai lầm đáng chế giễu nhất của công ty.
    Nhưng khi suy nghĩ kĩ thì nó ko phải là 1 tổn thất. Nó không gây ra thiệt hại về tài sản thế chấp cũng như gây ra sự sa thải sâu rộng. Nó chứng tỏ sức mạnh của người tiêu dùng trong mối quan hệ với thương hiệu. Đây không phải là một thất bại, mà là một thảm họa tốt. Vì sau đó Coca Cola đã phát triển vượt bậc.

    Tất cả ý nghĩa của bài học này là gì? Nếu bạn sẵn sàng thất bại, thất bại một cách ngớ ngẩn nhất, nhưng có thể hình ảnh đó cũng sẽ là ngoạn mục nhất. Dám thất bại hay về nhà? Một ngày nào đó, nước Mỹ sẽ yêu bạn vì điều đó, miễn là bạn thành công lần nữa.

    2.2. Kotex đã tái định vị thương hiệu như thế nào?

    Lịch sử hình thành:

    Kotex là thương hiệu của tập đoàn KIMBERLY CLARK.

    KIMBERLY CLARK được thành lập vào năm 1872 là một tập đoàn hàng đầu của Hoa Kỳ và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Mỗi ngày có hơn 1.3 tỷ người tin dung các sản phẩm của Kimberly Clark. Kimberly Clark luôn giữ vị trí số 1 hay số 2 về thị phần tại hơn 80 quốc qua trên thế giới. Các thương hiệu của KIMBERLY CLARK được bán rộng rãi trên hơn 150 quốc gia. Có trụ sở chính đặt tại Dallas, Texas, với gần 65.000 thành viên trên toàn thế giới và hoạt động tại 35 quốc gia. Tự hào được tạp chí Fortune liệt kê trong danh sách những tập đoàn “Được yêu thích nhất” kể từ năm 1983 đến nay. Công ty cùng nỗ lực trở thành một trong số những tập đoàn “Tốt nhất thế giới”. và sản phẩm tiêu dùng đầu tiên của công ty được sản xuất  ra nhằm phục vụ nhu cầu trong chiến tranh, khăn lót xen-lu-lô. Cellucotton, nhãn hiệu được đăng ký bởi KIMBERLY CLARK, được phát triển từ năm 1914 và trở thành vật dụng y khoa quan trọng trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ I.

    Cellucotton được dùng trong các bệnh viện thời chiến, các trạm sơ cứu, nơi thường phải giải phẩu, băng bó và bông cotton thì không phải dễ kiếm. Các cô y tá quân y cũng thường dùng những miếng khăn lót này để giải quyết vấn đề kinh nguyệt. Không lấu sau đó, năm 1920, KIMBERLY CLARK bắt đầu sản xuất Kotex-Băng vệ sinh dân sự. Sau đó, KIMBERLY CLARK mới bắt đầu phát triển thêm các sản phẩm Scott, Andrex, Huggies, Pull-Ups, Kleenex. Năm 2009 số tiền thu được từ hoạt động bán hàng của KIMBERLY CLARK là 19.100.000.000 $.

    Thâm nhập vào thị trường Việt Nam những năm 1995, Kotex đã không ngừng khẳng định vị trí của mình về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe giới tính, với các sản phẩm như:

    • Kotex® Style

    Kotex® Style – Mặt lưới khô thoáng:

    Kotex® Style Maxi Không Cánh

    Kotex® Style Maxi Cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng không cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng an toàn

    Kotex® Style Overnight

    Kotex® Style – Mặt bông mền mại

    Kotex® Style Maxi Không Cánh

    Kotex® Style Maxi Cánh

    Kotex® Style Siêu mỏng cánh

    • Kotex® Pro

    Kotex Pro Siêu Mỏng Cánh

    Kotex Pro Siêu Mỏng Không Cánh

    • Kotex® Freedom

    Kotex Freedom Bông Maxi

    Kotex Freedom Bông Maxi Cánh

    Kotex Freedom Lưới Maxi

    Kotex Freedom Lưới Maxi Cánh

    Kotex Freedom Lưới Siêu Mỏng Cánh

    • Kotex® Hằng ngày

    Kotex Hàng ngày Trà Xanh

    Kotex Hàng ngày hương Tự Nhiên

    Kotex Hàng ngày Siêu Bảo vệ

    • Kotex® Tampons

    Kotex White PRO Maxi Cánh

    Kotex White PRO Mỏng Không Cánh

    Kotex White PRO Mỏng Cánh

     

    Kotex tái định vị thương hiệu :

    Những chuyển động mạnh mẽ của nền kinh tế những năm 2000, nhu cầu xã hội ngày càng phát triển, giới trẻ ngày càng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe giới tính của bản thân. Điều này cho thấy một cơ hội kinh doanh lớn về lĩnh vực sức khỏe giới tính đang mở ra và Kotex đã nhanh chân triển khai các kế hoạch lớn nhằm nắm bắt lấy cơ hội đ ặc biệt này, trong khi các Công ty sản xuất sản phẩm cùng loại lại có vẻ chuyển mình chậm chạp.

    Kotex đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhiều mặt,  xác định được những mặt thiếu xót, phân tích rõ những ưu điểm và khuyết điểm của các đối thủ cạnh tranh, từ đó Kotex đã  có những chiến lược tái định vị thương hiệu một cách hiệu quả. Ra đời từ những năm 1980 đến năm 2005 Kotex đã chính thức ra mắt hệ thống nhận diện thương hiệu hoàn toàn mới và ấn tượng.

    Biểu tượng mới của Kotex có vẻ nhẹ nhàng và bay bổng hơn, với những nét cách điệu ở chữ K đầu gợi cho ta liên tưởng tới một cô gái thướt tha nhưng không kém phần năng động được thể hiện ở nét thẳng đứng, với khẩu hiệu “Tự tin là chính mình (2006-2009); Tôi tự tin. Tôi hiểu. Tôi chia sẽ (2009-2010)”.

    Kotex không chỉ đơn thuần thay đổi hệ thống nhận diện, triển khai những hình thức truyền thông, quảng bá mới, mà là một chiến lược thương hiệu mang tính thống nhất cao, có định vị thương hiệu theo phân khúc thị trường và mục tiêu phát triển lâu dài, có hệ thống cấu trúc thương hiệu bền vững.

    Hướng tới hình ảnh một nhãn hàng tận tăm, đồng hành và chăm sóc những vấn đề sức khỏe riêng tư cho các bạn nữ. Chiến lược định vị thương hiệu tác động đến mọi hoạt động của Kotex từ suy nghĩ của cán bộ công nhân viên, đến hành vi, thái độ ừng xử với khách hàng; quy trình làm việc, phục vụ các sản phẩm và dịch vụ cụ thể.

    Một thương hiệu muốn ăn sâu vào tâm trí khách hàng khi khách hàng đã được trải nghiệm, và Kotex đã nổ lực để khách hàng được trải nghiệm một cách tốt nhất về sản phẩm và dịch vụ của Công Ty.

    Kotex đã có 1 định hướng rõ ràng, thay vì hướng tới những khách hàng chung chung thì Kotex tập trung sản phẩm cho đối tượng là các bạn gái mới lớn, đây là khách hàng tiềm năng của Kotex trong tương lai.

    Ngoài những sản và dịch vụ cho khách hàng, Kotex cũng chú trọng đến việc quảng báo cho hình ảnh của mình bằng những hoạt động thiết thực như:

    • Quỹ học bổng KOTEX vì nữ sinh tài năng – nơi tiếp sức cho tài năng tỏa sáng

    Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam được thành lập từ 2003 dành cho các nữ sinh từ lớp 6 đến lớp 12 trên khắp cả nước đạt kết quả xuất sắc trong học tập và rèn luyện đạo đức, thể hiện tài năng xuất sắc trong mọi lĩnh vực văn hóa, thể thao, nghệ thuật, âm nhạc… và các bạn có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn đội, các hoạt động xã hội. Đây là một trong những hoạt động đóng góp cho xã hội, cho cộng đồng đầy ý nghĩa và thiết thực của công ty Kimberly Clark Việt Nam, nhằm đóng góp một phần kết quả kinh doanh của công ty để hỗ trợ cho cộng đồng phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là nữ sinh, những tài năng tương lai của đất nước. Chính vì vậy, Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ nhiều phía như nhà trường, thầy cô giáo, học sinh và các ban ngành có liên quan.

    Sau gần 7 năm hoạt động, Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam đã chứng tỏ đây thực sự là một hoạt động lâu dài và hiệu quả nhất từ trước đến nay dành cho nữ sinh nói riêng và vì sự phát triển tài năng của các bạn gái trẻ nói chung. Với nhiều hoạt động thiết thực như: trao tặng học bổng, tặng quà, giáo dục giới tính, Quỹ đã giúp hàng triệu nữ sinh thuộc các tỉnh thành trên toàn quốc nắm vững và nâng cao kiến thức về giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe vị thành niên.Với những đóng góp gần 7 năm qua cho sự nghiệp giáo dục, Kotex đã nhiều lần được Bộ Giáo Dục & Đào Tạo tôn vinh. Tiêu biểu như trong năm 2007 Kimberly Clark được tôn vinh vì những đóng góp cho ngành giáo dục với tấm bằng khen và kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”; tháng 9/2008, nhãn hàng Kotex S-tyle thuộc công ty Kimberly-Clark Việt Nam cũng đã được Sở Giáo dục & Đào tạo TP.HCM tặng bằng khen vì có nhiều thành tích đóng góp thực hiện thành công các chương trình văn hoá, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Chính sự ghi nhận và ủng hộ của các cơ quan chính quyền, của các thầy cô giáo và các em nữ sinh sẽ là những lời khích lệ, động viên quý báu để nhãn hàng Kotex cũng như Kimberly-Clark bước tiếp con đường gần 7 năm qua.

    Trong 7 năm, ngàn suất học bổng được trao tặng, ngàn nữ sinh cả nước được tôn vinh, hỗ trợ phát triển mọi mặt, Quỹ học bổng Kotex Vì nữ sinh tài năng VN đã chứng tỏ đây thực sự là Quỹ hoạt động thiết thực dành cho nữ sinh, vì sự phát triển của bạn gái trẻ.

    Trong tháng 10 và 11 năm 2009, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo cùng công ty Kimberly-Clark Việt Nam cũng sẽ lần lượt trao tặng 300 suất học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam năm học 2008 – 2009 cho các nữ sinh tài năng tại 20 tỉnh thành trên toàn quốc gồm: Hà Nội, Nam Định, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Phú Thọ, Hải Dương, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Gia Lai, Đaklak, Lâm Đồng, TP.Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Phước. 300 suất học bổng, mỗi suất trị giá một triệu đồng (1.000.000VND) là học bổng nằm trong khuôn khổ Quỹ học bổng Kotex Vì Nữ Sinh Tài Năng Việt Nam – một chương trình hợp tác giữa công ty Kimberly-Clark Việt Nam và Bộ Giáo Dục & Đào Tạo. Hoạt động của quỹ được tập trung vào 3 nội dung lớn là hỗ trợ phát triển tài năng của các nữ sinh, giáo dục giới tính và các hoạt động xây dựng khác cho cộng đồng.

    • Hoạt động cộng đồng:
      1. Chiến dịch 270gram” – Hành trình chinh phục “một nửa” của con gái hiện đại.
      2. Chiến dịch “Đồng hành cùng cô gái Origami” – Tôi tự tin. Tôi hiểu. Tôi chia sẻ.
      3. TVC (Quảng cáo truyền hình)

     Kotex: Quảng cáo “Tự tin là chính tôi” gây ấn tượng mạng với hình ảnh những cô gái hết sức cá tính, tự tin, cho thấy con gái có thể làm những việc được cho là “bât thường”, “khác thường”, đập tan quan niệm con gái “yếu đuối, ủy mị”.

    Hình ảnh cô gái với nụ cười tươi tắn, mặc bộ đồ công nhân màu cam trong garage sửa xe ô tô của Kotex đã được Tạp chí Marketing bình chọn là một trong những ảnh quảng cáo ấn tượng.

    BÀI HÁT  “Tự tin là chính tôi”(Ca sĩ – nhạc sĩ Phương Uyên sáng tác)

    Nội dung bài hát: gắn liền với thông điệp của chiến dịch, phù hợp với thị hiếu khách hàng mục tiêu.

    • Tài trợ cuộc thi:
      1. Cuộc thi Chinh phục thử thách PRO

    “Chinh phục Thử thách PRO” là cuộc thi dành cho sinh viên của các trường Đại học và Cao đẳng tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội do nhãn hàng Kotex PRO của Công ty Kimberly Clark tổ chức và phối hợp với Trung ương Hội Sinh Viên Việt Nam.

    Cuộc thi sẽ giúp trang bị và rèn luyện những kỹ năng như: quản lý thời gian, tư duy sáng tạo, tinh thần đồng đội, kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định… nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho các bạn sinh viên sắp ra trường khi phải đối mặt với những thử thách dù là trong công việc hay trong cuộc sống.

    1. Bước nhảy xì teen 2010:

    Sau 3 mùa hè khuấy đảo đời sống teen Việt, Bước nhảy Xì Tin season 4 (do nhãn Kotex Style – Công ty Kimberly Clark Việt Nam tổ chức) sẽ chính thức bùng nổ từ ngày 12/6 và kéo dài đến ngày 25/9/2010 với trận chung kết cuối cùng diễn ra tại Tp.Hồ Chí Minh. Bước Nhảy Xì Tin năm nay mở ra cơ hội lớn chưa từng có cho V-Teen. Năm nay, lần đầu tiên cuộc thi sẽ mở rộng ra đến… 21 tỉnh thành và đến 70 trường học.

    • TẶNG SẢN PHẨM MẪU VÀ KHUYẾN MẠI.
    • CÁC CHƯƠNG TRÌNH ROADSHOW
    • Ngoài ra, Kotex còn xây dựng một hệ thống website với diễn đàn riêng tư về sức khỏe giới tính, đặc biệt là mục tư vấn với sự góp mặt của tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn tại địa chỉ http://girlspace.com.vn or http://bandonghanh.com

    Với mục đích hàng đầu là đem lại cho giới trẻ Việt Nam một cái nhìn đúng đắn hơn về sức khỏe tình dục , sức khỏe sinh sản , kotex đã tạo ra một sân chơi lành mạnh cho giới trẻ Việt Nam , với các chuyên mục như : teen space18+ Space , Dr Huou các bạn gần như tìm được đầy đủ thông tin về sức khỏe sinh sản của bản thân, sau khi tự tìm tòi, học hỏi nếu chưa thấy tự tin với những kiến thức mình có được các bạn có thể làm bài trắc nghiệm tại mục Iknow :http://www.girlspace.com.vn/iknow , sau khi trắc nghiệm nếu thấy vẫn chưa ổn thì Dr Huou luôn sẵn sàng tư vấn tâm lý tại mục: http://www.girlspace.com.vn/tu-van.

    Ngoài ra để cho việc học tập thêm sôi động và thú vị , girlspace còn tổ chức hàng loạt các hoạt động ngoại khóa khác như :
    Date Khôi If you Can : các bạn sẽ có cơ hội được gặp gỡ , ăn tối, tung tăng dạo phố cùng anh Khôi:http://girlspace.com.vn/live/datekhoiifyoucan

    Vạch lá tìm HƯƠU – Trổ tài tư vấn, Giật giải cực Kul!!

    Trong ngày 20-10 và quốc tế phụ nữ 8-3 Kotex sẽ có hàng loạt các chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Thời điểm này là lúc Kotex có thể tập trung cho các mục tiêu mới làm nên tảng cho giai đoạn phát triển mới cao hơn, bền vững hơn.

    Nối tiếp thành công của các chương trình giáo dục giới tính những năm trước, bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11/2009, Công ty Kimberly Clark, nhãn hàng Kotex S-tyle khởi động hành trình giáo dục giới tính xuyên Việt với chủ đề “Mình tự tin vì mình hiểu, vì mình sẵn sàng chia sẻ”. Năm 2009 chương trình sẽ đến với 130 trường trung học cơ sở thuộc 18 tỉnh thành trong cả nước bao gồm: Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Đồng Nai, Bình Dương, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Định, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Tây.

    Chương trình giáo dục giới tính năm 2009 sẽ tập trung cung cấp cho các nữ sinh những hiểu biết đúng đắn về sự phát triển của cơ thể, giải mã những ngộ nhận, tưởng tượng trong các bạn gái trẻ về chính cơ thể mình để từ đó các bạn sẽ không còn hoang mang, lo lắng trước những biến đổi cơ thể trong giai đoạn dậy thì và tự tin hơn trong cuộc sống. Đặc biệt hơn, những kiến thức thường được xem là “rất nhạy cảm” này sẽ được truyền cho các em bằng một chương trình học thú vị, sinh động do các chuyên gia tâm lý giàu kinh nghiệm như Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, cô Lý Thị Mai… đảm nhiệm.

    Một điểm nổi bật và mang đậm tính nhân văn của chương “Mình tự tin – vì mình hiểu, vì mình sẵn sàng chia sẻ” năm nay chính là vai trò tích cực của các bạn nữ sinh khi chung tay cùng nhãn hàng Kotex để chia sẻ thông tin đúng đến các bạn nữ khác. Với hình thức mỗi nữ sinh khi tham gia chương trình sẽ gửi cho Kotex S-tyle một lời đề nghị, Kotex S-tyle sẽ chia sẻ những kiến thức đúng đến một người bạn nữ của họ. Bằng hình thức này, những thông điệp đúng sẽ ngày càng nhân rộng, những ngộ nhận, những thông tin sai lệch sẽ bị xóa bỏ dần để mỗi bạn gái trẻ hiểu biết đúng về bản thân mình hơn, từ đó sẽ chăm sóc mình tốt hơn và tự tin hơn trong cuộc sống.

    Điều đặc biệt hơn nữa của chương trình năm nay chính là sự tham gia chia sẻ kinh nghiệm thực tế của ca sĩ trẻ Thanh Ngọc, một thần tượng âm nhạc của teen và là đại sứ của chương trình giáo dục giới tính năm 2009.

    Thông tin thêm về chương trình giáo dục giới tính tuổi dậy thì: 12 đến 15 tuổi (tuổi dậy thì) là thời diểm xuất hiện hàng loạt những thay đổi và biến chuyển về cấu tạo cơ thể, tâm sinh lý đối với nữ sinh để các em từ một bé gái trở thành một thiếu nữ. Theo một khảo sát được thực hiện bởi Kotex trong tháng 4/2009 cho thấy rằng, trong giai đoạn này, các bạn gái trẻ có nhu cầu rất lớn về việc tìm hiểu về những thay đổi trong cơ thể mình, tuy nhiên, các bạn lại cảm thấy e ngại, không biết hỏi ai và đã có rất nhiều tưởng tượng, ngộ nhận sai lầm về sự phát triển của cơ thể. Và hậu quả là, không ít các bạn gái cảm thấy bối rối, mất tự tin, thậm chí là lo sợ trước những thay đổi của bản thân.

    Là một nhãn hàng luôn thấu hiểu và gắn bó với tuổi teen, Kotex S-tyle mong muốn giúp các bạn gái mới lớn có cách nhìn nhận và hiểu biết đúng đắn về cơ thể mình, để từ đó các bạn sẽ tự tin với chính mình và tự tin hơn khi chia sẻ thông tin đúng đắn cho các bạn khác. Do vậy, chương trình giáo dục giới tính 2009 với chủ đề: “Mình tự tin – vì mình hiểu, vì mình sẵn sàng chia sẻ” với sự thay đổi rất nhiều về nội dung và hình thức tổ chức, hứa hẹn sẽ là một chương trình bổ ích và lý thú cho các bạn tuổi mới lớn trên khắp cả nước.

    Song song với việc giáo dục, cung cấp những kiến thức và hiểu biết đúng đắn về những thay đổi ở lứa tuổi dậy thì, chương trình năm nay còn phát tặng và hướng dẫn sử dụng các sản phẩm Kotex S-tyle cho nữ sinh tại 390 trường trung học cơ sở với số lượng lên đến 210.000 mẫu.

    Kotex luôn phấn đấu trở thành công ty sáng tạo hàng đầu và mang lại cho khách hàng lợi ích cốt lõi. Tất cả các hoạt động trên chứng tỏ kotex đang dần làm mới thương hiệu của mình, thu hút được sự quan tâm của khách hàng và chủ yếu là giới trẻ.

    Chương III: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

    3.1. Một số kiến nghị.

    Doanh nghiệp có cần phải đổi mới sản phẩm khi đổi mới thương hiệu không? Và ngược lại, nếu chúng ta làm mới sản phẩm thì có nhất thiết phải đổi mới hình ảnh thương hiệu không?

    Tùy theo từng mục tiêu chiến lược của từng chương trình tái định vị mà chúng ta quyết định có phải thay đổi sản phẩm hay không.Chúng ta có thể không thay đổi sản phẩm, nếu chiến lược của chúng ta chỉ đơn giản là tạo một cảm xúc mới lạ thông qua thông điệp truyền thông bằng hình ảnh mới. Nhưng, nếu sản phẩm hiện tại của chúng ta không tốt, điều này được người tiêu dùng cảm nhận được thì dù hình ảnh thương hiệu có làm mới đẹp đến mấy thì cũng vô nghĩa. Việc chúng ta tái định vị mà chỉ thực hiện bằng việc thay đổi thông điệp truyền thông, hệ thống nhận diện không thôi thì chỉ là một cách thể hiện lời hứa của doanh nghiệp. Còn khi người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm. dịch vụ của chúng ta họ có hài lòng hay không điều đó thể hiện là việc làm của chúng ta có đúng lời hứa hay không.Do vậy thông thường đi kèm với việc tái định vị thương hiệu xem xét tính năng, lợi ích của sản phẩm nhằm cải tiến để sản phẩm doanh nghiệp tốt hơn có nhiều giá trị tăng thêm cho khách hàng. Ngược lại cũng tương tự, khi chúng ta có sản phẩm mới hoàn toàn, nếu đây là sản phẩm chính duy nhất và doanh nghiệp từ bỏ sản phẩm cũ thì việc tái định vị là cần thiết. Nhưng nếu chúng ta có thêm một sản phẩm mới trong một list các sản phẩm có sẵn, sản phẩm này chỉ bổ sung một giá trị nào đó không lớn thì chúng ta cũng không nhất thiết phải tái định vị lại thương hiệu. Vì chúng ta phải hiểu rằng tái định vị thương hiệu có hai mặt của nó: có cả tích cực và không tích cực.Tóm lại, phải xem lại mục tiêu của tái định vị, xác định nhu cầu mới của khách hàng sau khi tái định vị (khách hàng cũ và mới) để quyết định vnhững vấn đề liên quan đến sản phẩm.

    Những hiệu quả và những hiệu ứng mà việc tái định vị thương hiệu có thể đem lại

    Nếu doanh nghiệp có nghiên cứu chu đáo trong quá trình thực hiện tái định vị thì hiệu quả mang lại rất lớn. Doanh nghiệp sẽ làm hài lòng khách hàng về những hình ảnh cảm nhận. Khách hàng sẽ nghĩ rằng doanh nghiệp rất quan tâm đến họ. Đáp ứng được nhu cầu mong đợi của khách hàng. Doanh nghiệp sẽ có được một lượng khách hàng mới thông qua việc tái định vị thương hiệu: nhiều khách hàng trước đây chưa hiểu, chưa thích thì bây giờ lại thích thú khi doanh nghiệp tái định vị. à Thị phần có thể sẽ tăng lên. Ngăn ngừa việc thâm nhập vào tâm trí khách hàng của đối thủ cạnh tranh, nếu việc định vị thực hiện tốt thì chúng ta sẽ lấy được trái tim khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Thể hiện sức mạnh đổi mới và sức sống mãnh liệt của thương hiệu,….Tuy nhiên, việc tái định vị phải được cân nhắc thật kỹ lưỡng. Nếu chúng ta làm không tốt thì có thể có nhiều rủi ro xảy ra:

    (1) Mất khách hàng trung thành, khách hàng cũ.

    (2) Chi phí tăng cao. Nếu không đủ ngân sách cho vị thay đổi sẽ rất nguy hiểm làm cho hình ảnh cũ và mới sẽ bị tranh chấp, không rõ ràng, thiếu nhất quán,…

    Cần phải làm thế nào để thoát ra khỏi cái bóng của thương hiệu cũ khi chúng ta tái định vị thương hiệu, nhất là đối với những thương hiệu đã có một số khách hàng trung thành nhất định?

    Đây là vấn đề mà rất nhiều doanh nghiệp quan tâm, để thoát khỏi cái bóng cũ không tốt đè nặng thì yêu cầu doanh nghiệp không tái định vị nửa vời, nghĩa là:

    (1) Phải thực hiện tái định vị một cách triệt để. Thay đổi toàn bộ nhận diện cũ sang nhận diện mới. Việc này cần thực hiện nhanh chóng và hợp lý. Đương nhiên trong quá trình thực hiện phải xét đến yếu tố kế thừa của thương hiệu.

    (2) Bắt đầu bằng một hệ thống nhận diện thương hiệu mới được thiết kế kỹ lưỡng, công phu để thể hiện sự nhất quán mới.

    (3) Để trung hòa được khách hàng mới và cũ, đặc biệt là nhóm khách hàng trung thành thì trước khi thực hiện phân tích thật kỹ những giống và khác nhau giữa những nhóm khách hàng này để quyết định chi tiết cho chương trình tái định vị.

    3.2 Kết luận.

    Qua việc thực hiện đề tài nhóm G7 đã cố gắng hiểu và mang đến cho bạn đọc một cái nhìn chi tiết nhất về quản trị thương hiệu. Và đặc biệt là lý thuyết “tái định vị thương hiệu”, các bước để thực hiện tái định vị thương hiệu một cách tốt nhất. Đề tài do nhóm thực hiện ít nhiều có những thiếu xót, mong Thầy và các bạn đóng góp ý kiến để nhóm thực hiện hoàn thiện hơn.

  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-t%C4%83ng-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-KTVN-trong-nh%E1%BB%AFng-n%C4%83m-g%E1%BA%A7n-%C4%91%C3%A2y-2003-2008.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô: Thực trạng tăng trưởng KTVN trong những năm gần đây (2003 – 2008)

    • Năm 1986 ,đại hội Đảng đã chấp thuận chính sách đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường .Đến giữa thập niên 90 ,Việt Nam đã bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế ,cho tới nay nước ta đã có rất nhiều các hoạt động mang tầm chiến lược phát triển quốc gia như: 1995 gia nhập ASEAN , hiện nay là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc ,Cộng đồng Pháp ngữ ,APEC, ngày 11-1-2007 chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thê giới .Nhiệm kỳ 2008-2009 Việt Nam được bầu làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc
    • Với những cố gắng và nỗ lực hểt mình nhằm cải cách chính sách để hội nhập nền kinh tế thế giới ,nền kinh tế nước nhà đã có những cơ hội phát triển trông thấy ,biểu hiện là sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế đã có tốc độ tăng trưởng tăng dần qua từng thời kỳ ,lạm phát được đẩy lùi xuống dưới hai con số ,cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể .Qua đó từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội ,đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo ,đời sống nhân dân được cải thiện và ngày càng được nâng cao
    • Để nghiên cứu chi tiêt về thực trạng tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây ,để từ đó có thể đưa ra được các giải pháp để phát huy tối đã những nguồn lực cà thuận lợi trong và ngoài nước ,đồng thời có các biện pháp khắc phục các yếu kém còn tồn đọng trong nền kinh tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta phát triển lên một tầm cao mới .Tôi quyết đinh nghiên cứu bức tranh kinh tế nước ta trong vòng 5 năm gần đây nhất 2004-2008
    • Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biết của t«i còn hạn chế,bài tiểu luận khó tránh khỏi những sai sót.Mong thầy và các bạn thông cảm.Rất mong nhận được ý kiến đóng góp để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn!

    I-t¨ng tr­ëng kinh tÕ

    1-Định nghĩa

    Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

    Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

    Một trong những thành quả nổi bật của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khá ổn định. Thời kỳ từ năm 1986 tới nay là thời kỳ đæi mới, tốc độc tăng trưởng bình quân 1986-1990 là 4,5%, thời kỳ 1991-1995 là 8,2%, thời kỳ 1996-2000 là 7% và từ 2001-2007 là 7,6%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngang bằng Hàn Quốc và chỉ đứng sau Trung Quốc. Bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua, đã có những chuyển dịch tích cực. Xem xét cơ cấu kinh tế theo ba ngành (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) thì thấy rằng tỉ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm và tỉ trọng công nghiệp đã tăng lên tương ứng, nếu như năm 1995 tỷ trọng nông nghiệp là 27,18% thì năm 2006 xuống còn 20,36% trong khi đó công nghiệp đã tăng từ 28,76% lên 41,56%. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cũng có những chuyển biến tích cực, tỷ trọng của khu vực nhà nước có xu hướng giảm, tỷ trọng của khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học công nghệ còn hạn chế nên tăng trưởng kinh tế ở nước ta vẫn chủ yếu dựa vào tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên do đó sự tăng trưởng này chưa thực sự vững chắc.

    BiÓu ®å t¨ng tr­ëng vµ thÊt nghiÖp trong c¸c chu kú kinh tÕ

    2-Tình hinh thực tế

    2.1-năm 2004

    2.1.1-Tình hình chung

    Mặc dù gặp khó khăn nhiều mặt: thiên tai, dịch cúm gia cầm và biến động bất lợi của thị trường thế giới, nhưng năm 2004, kinh tế – xã hội của nước ta vẫn phát triển toàn diện và tăngtrưởngkhá.

    Năm 2004 tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 361,4 tỷ đồng (giá 1994) ước tính tăng 7,6% so với năm 2003 (kế hoạch đề ra từ 7,5-8%) trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản  tăng 3,3%.khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,3%, dịch vụ tăng 7,3%, xu hướng tăng trưởng khá ổn định ;quý sau tăng cao hơn quý trước

    Do kinh tế tăng trưởng khá, cho nên thu ngân sách cả năm vượt dự toán 11,8% và tăng 17% so với năm 2003. Có 33 trong 64 địa phương đạt số thu thuế hơn 500 tỷ đồng. Chi ngân sách vượt dự toán 9,8% và tăng 16,7% so với năm 2003. Bội chi ngân sách bằng 4,9% GDP, thấp hơn mức Quốc hội cho phÐp
    Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷ đồng (giá năm 1994), tăng 16% so với năm 2003, trong đó khu vực Nhà nước tăng 11,4%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 22,8% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 15,7%. Nguyên nhân chính là do nhu cầu sản phẩm công nghiệp của thị trường trong nước và xuất khẩu tăng; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm công nghiệp như thủy sản chế biến, sản phẩm gỗ chế biến, dệt may, giày dép,… có nhiều tiến bộ.

    Vượt qua những khó khăn về thiên tai cà dịch bệnh ,nông nghiệp vẫn được mùa ,thủy sản tăng trưởng khá. Sản lượng lương thực ước đạt 39,1 triệu tấn ,mức cao nhất từ trước tới nay ,tăng 4,2% so với năm 2003 .Chăn nuôi chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa rõ hơn ,cơ cấu cà tốc độ tăng trưởng đàn gia súc , gia cầm có nhiều thay đổi .Sản lượng thủy sản cả năm đạt 3.890.000 tấn  ,tăng 8,2% so với năm 2003

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng trở lại sau nhiều năm tăng chậm ,tính chung cho cả năm đã thu hút 4,1 tỷ USD ,trong đó : 2,3 tỷ USD vốn đăng ký mới và 1,8 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung, đạt mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Các dự án tập trung vào ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 60,5% số vốn đăng ký, các tỉnh, thành phố phía nam chiếm 64,6%, các tỉnh, thành phố phía bắc chiếm 35,4% số vốn đăng ký. Đáng chú ý là, bên cạnh nguồn vốn đầu tư của các dự án mới, năm 2004 còn thu hút thêm vốn đầu tư bổ sung của các dự án cũ, đạt mức cao nhất trong những năm qua. Đó là dấu hiệu tốt lành chứng minh môi trường đầu tư ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể và hiệu quả của các dự án đầu tư đang được nâng lên .Lượng  khách du lịch đến Việt Nam đạt kỷ lục mới hơn 2,9 triệu lượt người ,lượng kiều hối tăng nhanh đạt trên 3 tỷ USD ,chủ yếu gửi về nước dưới dạng đầu tư

    Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tính chung năm 2004 tăng 18,7% so năm 2003. Về giá hàng hóa và dịch vụ chung cả năm tăng 9,4% so tháng 12-2003. Dù chưa đạt chỉ tiêu đề ra nhưng tốc độ tăng giá đã được khống chế dưới hai con số. Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 26 tỷ USD, tăng 30% so năm 2003, bình quân một tháng đạt 2,16 tỷ USD. Hầu hết các mặt hàng chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu tăng so với năm 2003. Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2 tỷ USD có tốc độ tăng cao trong năm nay là: dầu thô tăng 53%, hàng dệt may tăng 19,6%, giày dép tăng 17,3%. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực tăng khá, trong đó cà-phê tăng 33,4%, cao-su tăng 35%, chè tăng 57%, hạt tiêu tăng 40%, hạt điều tăng 48%, thủy sản tăng 7%.

    Tổng kim ngạch xuất khẩu qua các năm. Đơn vị tính: tỷ USD

    2.1.2.Những tồn tại
    Bên cạnh những thành tựu to lớn và cơ bản đã đạt được, tình hình kinh tế – xã hội nước ta năm 2004 vẫn còn những yếu kém. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung còn ở mức thấp so với kế hoạch. Chất lượng tăng trưởng, tính bền vững và độ đồng đều chưa cao. Điều này được thể hiện trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Trong công nghiệp, giá trị sản xuất tăng 16% nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 0,7%. Tốc độ tăng trưởng của một số sản phẩm công nghiệp khai thác còn phụ thuộc vào thị trường thế giới. Giá hàng hóa, dịch vụ trong nước tăng cao. Mục tiêu giảm tỷ lệ sinh 0,04% không đạt kế hoạch đề ra. Tỷ lệ sinh con thứ ba tăng so với các năm trước đang tiềm ẩn khả năng bùng nổ dân số.
    2.1.3 Giải pháp khắc phục và phương hướng

    -Để gi¶i quyÕt  nhøng tån t¹i trªn cÇn cã c¸c  giải pháp tích cực, đồng bộ, với sự chỉ đạo sát sao và tổ chức thực hiện nghiêm túc của các ngành, địa phương, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước.

    -Tập trung nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất công, nông nghiệp, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải và chống thất thoát trong xây dựng cơ bản.

    -Tạm ngừng các công trình chưa cần thiết. Giảm chi phí trung gian trong các ngành sản xuất, nhất là trong công nghiệp để tăng tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành này.

    -Phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ, nhất là dịch vụ ngân hàng, tài chính, viễn thông, du lịch… Giải ngân nguồn vốn của các nhà tài trợ 3,4 tỷ USD để tăng nhanh vốn đầu tư phát triển và nâng cấp cơ sở hạ tầng

    -Thu hút mạnh các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ để khai thác cao nhất tiềm năng và lợi thế hiện có. Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hành tiết kiệm, tạo động lực tinh thần, khơi dậy tiềm năng sức lực và trí tuệ của cả dân tộc

    2.2.Năm 2005

    2.2.1-Tình hình chung

    Năm 2005 là năm hoàn thành kế hoạch năm 5 lần thứ tư (2001-2005) của nước ta. Đây cũng là năm đánh dấu mốc tăng trưởng cao nhất từ năm 1997  đến nay.Với tốc độ tăng trưởng 8,4% đã giúp cho tốc độ tăng trưởng trung bình  5 năm đat mức 7,5%

    BiÓu ®å t¨ng tr­ëng kinh tÕ tõ 1998-2005

    trong ®ã

      2001 2002 2003 2004     2005 2001-2005
    Tốc độ tăng (%)
    GDP 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
    Nông-lâm-thủy sản 2,98 4,17 3,62 4,36 4,04 3,84
    Công nghiệp-xây dựng 10,39 9,48 10,48 10,22 10,65 10,24
    Dịch vụ 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 6,97
    Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm phần trăm
    GDP 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 7,51
    Nông-lâm-thủy sản 0,69 0,93 0,79 0,92 0,82 0,83
    Công nghiệp-xây dựng 3,68 3,47 3,92 3,93 4,19 3,84
    Dịch vụ 2,52 2,68 2,63 2,94 3,42 2,84
    GDP 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
    Nông-lâm-thủy sản 10,07 13,20 10,76 11,80 9,78 11,12
    Công nghiệp-xây dựng 53,39 48,95 53,37 50,48 49,71 51,18
    Dịch vụ 36,54 37,85 35,86 37,72 40,52 37,70
                             

    Bảng 1: Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo ngành, 2001-2005

     

    Do chiếm tỷ trọng lớn trong GDP và có tốc độ tăng giá trị tăng thêm cao nhất (10,6%), nên năm 2005 công nghiệp và xây dựng vẫn là khu vực có đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trưởng chung, chiếm tới 49,7% .giá trị sản xuất công nghiệp toàn nghành ước đạt 416,863 tỷ đồng ,tăng 17,2% so năm 2004. Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng từ 40,1% năm 2004 lên 40,8% năm 2005 . Khu vực nông – lâm – thủy sản chịu nhiều tác động bất lợi của thời tiết, dịch cúm gia cầm và biến động của thị trường; tốc độ tăng trưởng của khu vực nông-lâm-thủy sản ước đạt 4,0%, đóng góp 9,8% . Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ ước tăng 8,5%. Năm 2005 là năm khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1997 và lần đầu tiên cao hơn mức tăng trưởng GDP của tòan bộ nền kinh tế. Kết quả là khu vực dịch vụ đóng góp tới 40,5%  một mức đóng góp lớn nhất trong 5 năm qua.Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 38,1% năm 2004 lên 38,5% năm 2005 Chuyển dịch cơ cấu ngành đã có sự biến đổi nhưng chưa nhiều và mạnh

    Thực hiện vốn đầu tư xã hội năm 2005 theo giá thực tế ước đạt 326 nghìn tỷ VNĐ, tương đương với 38,9% GDP. Theo giá so sánh, vốn đầu tư xã hội năm 2005 chỉ tăng khoảng 10,5% và mức tăng này vẫn thấp hơn mức 11,6% của năm 2004. Trong ba thành phần kinh tế, vốn đầu tư của khu vực FDI tăng nhanh nhất, khoảng 16,4%, cao gấp gần 2,8 lần mức tăng của vốn nhà nước. Khu vực ngoài quốc doanh cũng có mức tăng trưởng rất cao, gần bằng khu vực có vốn ĐTNN (15,7%). Vốn đầu tư nhà nước chỉ tăng 5,9%, do đó, tỷ trọng của khu vực này giảm nhanh hơn so với năm 2004.

    Năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng rất mạnh, ước đạt tới 32,2 tỷ USD,2 tăng 21,6% so với năm 2004 .Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2005 ước đạt 36,98 tỷ USD, tăng 4,93 tỷ USD hay 15,4% so với năm 2004. Tuy nhiên, đây là năm có tốc độ tăng nhập khẩu hàng hóa thấp nhất kể từ n¨m 2002

    Thương mại nội địa năm 2005 tiếp tục khởi sắc. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội (TMBLHH&DTDVXH) ước đạt khoảng 475,4 nghìn tỷ VNĐ. Nếu loại trừ yếu tố lạm phát thì TMBLHH&DTDVXH thực tăng 12,1%. Đây là năm TMBLHH&DTDVXH đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 5 năm lại đây.

    2.2.2.Những khó khăn và thách thức

    Tuy nhiên cùng với sự tăng trưởng này nền kinh tế nước ta đã phải chịu mức lạm phát cao ở mức 8,4%( mức cao thứ 3 kể từ năm 1998 ) vượt xa chỉ tiêu 6,5% Chính Phủ đề ra. Giá tăng gây lo lắng trong dân chúng vì tiền lương và các khoản  hưu trí chưa kịp điều chỉnh hợp lý để đuổi kịp giá cả đang tăng cao

    Mức đầu tư cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp sẽ hạn chế khả năng tăng trưởng của Việt Nam trong dài hạn.

    -Dịch cúm gia cầm đang tạm lắng xuống, nhưng nguy cơ tái bùng phát khi thời tiết lạnh hơn vào tháng 2 và tháng 3 còn rất cao.

    -Xuất khẩu các mặt hàng truyền thống có tính cạnh tranh thấp và tăng chủ yếu trong năm 2005 do yếu tố giá tăng, không mang tính bền vững và lành mạnh.

    -Các doanh nghiệp quốc doanh tiếp tục hoạt động trì trệ hơn các thành phần khác, và cần được cải tổ dứt khoát hơn.

    -Bất đồng giữa người lao động và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về vấn đề lương bổng và điều kiện làm việc có dấu hiệu gia tăng.

    -Vì nhiều lĩnh vực kinh tế sẽ được mở rộng hơn nữa trong năm tới, nên cạnh tranh nước ngoài sẽ trở thành một trong những thử thách lớn nhất mà các nhà sản xuất trong nước phải đối mặt trong năm 2006.

    2.2.3.Giải pháp

    -Đề ra chỉ tiêu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ năm 2006-2010 một cách toàn diện và sát thực, chú trọng đến vấn đề lạm phát đang còn tồn tại

    -Cải cách luật pháp sao cho gon nhẹ nhưng phải cứng rắn ,chính sách thông thoáng nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực thế mạnh của nước nhà

    -Cải tạo hệ thống giao thông vận tải ,thủy lợi là vấn đề cấp thiết đối với phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập.

    2.3-Năm 2006

    Nền kinh tế nước ta năm 2006 vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu do Quốc hội đề ra đều đạt và vượt kế hoạch. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng gần 8,2% (kế hoạch 8%), trong đó khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,23% (kế hoạch 3,8%), khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,46% (kế hoạch 10,2%), riêng công nghiệp tăng 10,28% và khu vực dịch vụ tăng 8,26%, kế hoạch tăng 8%). Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước

    Thu chi ng©n s¸ch : Do kinh tế tăng trưởng khá nên tình hình tài chính lành mạnh. Tổng thu ngân sách năm 2006 ước đạt trên 261,1 nghìn tỉ đồng vượt dự toán 9,8% (dự toán là 237,9 nghìn tỉ đồng), tăng 20,3% so năm 2005. Các khoản thu lớn trong nước đều tăng khá và đạt kế hoạch đề ra. Tổng chi ngân sách ước đạt trên 315 nghìn tỉ đồng, vượt dự toán (dự toán 294,4 nghìn tỉ đồng) và tăng 20% so với năm 2005. Các khoản chi lớn như: đầu tư phát triển, lương và bảo hiểm xã hội, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục, điều chỉnh lương tối thiểu, chi đột xuất hỗ trợ vùng bị thiên tai, phòng chống dịch bệnh, sâu bệnh… đều được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng

    N«ng l©m thñy s¶n : Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản vẫn tăng trưởng. Giá trị sản xuất khu vực này năm 2006 ước tăng 4,15% so năm 2005, trong đó nông nghiệp tăng 3,1%, lâm nghiệp, tăng 1,0%, thủy sản tăng 8,5%. Dù bị thiên tai, sâu bệnh phá hoại nặng nề nhưng sản xuất lương thực vẫn phát triển. Diện tích lúa cả năm 2006 đạt 7,32 triệu héc ta, xấp xỉ năm 2005, năng suất đạt 48,9 tạ/ha, tăng 0,1% và sản lượng đạt 35,83 triệu tấn, bằng năm 2005. Sản xuất lâm nghiệp tuy có khó khăn về nguồn vốn, nhưng diện tích rừng trồng tập trung năm 2006 vẫn tăng 2,9% so năm 2005.

    Chăn nuôi tiếp tục phát triển và một số đàn tăng trưởng khá: đàn bò đạt 6,5 triệu con tăng 17,5%, chủ yếu tăng đàn bò thịt… Đàn lợn đạt 26,9 triệu con, tăng khoảng 3%. Đàn gia cầm đã khôi phục sau dịch cúm, đạt 214,5 triệu con xấp xỉ cùng kỳ năm 2005. Sản lượng thịt hơi các loại tăng đạt 3,1 triệu tấn, tăng 9,3%. Thủy sản vẫn tăng khá, nhất là nuôi trồng thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản năm 2006 ước đạt trên 3,68 triệu tấn tăng khoảng 8% so với năm 2005.Trong ®ã sản lượng thủy sản khai thác ước đạt khoảng 2 triệu tấn, tăng 1% so năm 2005. Đối với khai thác nội địa, năm nay lũ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long lớn hơn so với năm trước nên tôm cá về nhiều, người dân được mùa khai thác.

    Sản xuất công nghiệp tăng khá, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 ước tăng 17% so với năm 2005, trong đó khu vực nhà nước tăng 9,4%, khu vực ngoài nhà nước tăng 22,4% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 19,5%.

    Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao, trong đó: than ước tăng 20,8%, sản xuất thực phẩm và đồ uống tỷ trọng 21,5%, trong đó giá trị xuất khẩu thủy sản chế biến tăng 24,6%; sản xuất các sản phẩm từ da giày tỷ trọng 4,7% tăng 18,4%; sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tỷ trọng 2%, tăng 23,15 (trong đó giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tăng 24,6%); sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tỷ trọng 5,25, tăng 26,8% (trong đó giá trị xuất khẩu các sản phẩm nhựa tăng 38%);  sản xuất các phương tiện vận tải khác (chủ yếu là đóng mới và sửa chữa tàu thuyền) tỷ trọng 4,3% và tăng 22,8%; quần áo may sẵn tăng 18,5%, Nét mới của công nghiệp năm 2006 là một số sản phẩm đã đạt chất lượng cao đứng vững trên thị trường trong nước và xuất khẩu, trong đó đáng chú ý là công nghiệp đóng tàu xuất sang EU với công suất lớn, đi biển dài ngày, sản xuất phân hóa học, sản xuất và lắp ráp điện tử, tin học, sản phẩm đồ gỗ…

    Đầu tư xây dựng có tiến bộ, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 ước đạt khoảng 41% GDP, là mức cao nhất trong nhiều năm qua (vốn của các doanh nghiệp dân doanh chiếm tỷ trọng gần 33%). Đây là sự cố gắng lớn trong việc huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển và là yếu tố thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài là điểm sáng nổi bật nhất trong bức tranh kinh tế Việt Nam. Năm 2006, tổng số vốn FDI đăng ký mới và đầu tư bổ sung đạt trên 10,2 tỉ USD, mức cao nhất kể từ năm 1988 (8,6 tỉ USD năm 1995). Vốn bình quân 1 dự án 8,4 triệu USD, tăng 1,2 triệu USD năm 2005. Chỉ trong 1 ngày trong tháng 11-2006, Việt Nam đã thu hút 2 tỉ USD vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, đạt mức kỷ lục so với các năm trước.

    Nét nổi bật trong thương mại năm 2006 có 3 sự kiện lớn: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam và xuất khẩu đạt 39,6 tỉ USD vượt xa kế hoạch đầu năm, tăng 22,1% so với năm trước. Ba sự kiện đó đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

    Thị trường trong nước vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ toàn xã hội năm 2006 ước tăng 20,4%, nếu loại trừ tốc độ trượt giá cũng tăng 11%; doanh thu du lịch tăng 28,5%.

    Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 40 tỉ USD, tăng 24% so năm 2005. Điều đáng chú ý là hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng trưởng cao và đạt kim ngạch cao. Đã có 9 mặt hàng có giá trị xuất khẩu đạt trên 1 tỉ USD là gạo, cao su, dầu thô, hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, thủy sản, điện tử, máy tính, hàng hóa khác…

    Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2006 ước đạt 44 tỉ USD tăng 20% so năm trước. Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, phụ liệu dệt may. Hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng nhỏ. Nhập siêu năm 2006 ước đạt 4,4 tỉ USD, bằng 10,4% kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn năm 2005.

    Hoạt động du lịch tuy chưa đều nhưng lượng khách quốc tế đến Việt Nam cả năm đạt khoảng trên 3,56 triệu lượt người, tăng gần 3,7% so năm 2005. Khách đến từ các nước ASEAN, châu Á và châu Âu tăng mạnh, trong đó từ Xin-ga-po tăng 24,3%, từ Ma-lai-xi-a tăng 23,4%, từ Hàn Quốc tăng 29,3%, từ Thái Lan tăng 38%, từ Na Uy tăng 24,8%; từ Đan Mạch tăng 21%…

    2.3.2-những yếu kém còn tồn tại

    Bên cạnh thành tựu và tiến bộ, tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam năm 2006 vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập. Tốc độ tăng GDP chưa vững, chưa đều và còn thấp so với tiềm năng. Chất lượng của sự tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và không đều. Tình trạng thất thoát nguồn lực tài chính, tài nguyên thiên nhiên và lao động còn lớn. Tham nhũng, lãng phí tài sản nhà nước, ngân sách quốc gia vẫn còn nghiêm trọng. Công tác cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chậm và không đạt kế hoạch. Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế – tài chính chưa vững chắc. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém, nhất là vùng nông thôn, miền núi. Một số vấn đề về phát triển kinh tế bền vững… còn nhiều hạn chế. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO và có PNTR còn nhiều bất cập. Nợ nước ngoài đã chạm ngưỡng khung an toàn… Những hạn chế và bất cập đó thể hiện rõ trong từng ngành và lĩnh vực kinh tế.

    2.3.3-nguyên nhân

    -Trong nông nghiệp chỉ đạo chưa kiên quyết ,sát sao trong khi dịch bệnh bùng phát trên diện rộng và có vẫn có nguy cơ bùng phát lại

    -Trong chăn nuôi :dịch cúm gia cầm đã được khống chế nhưng công tác kiểm dịch chưa nghiêm, tình trạng giết mổ gia cầm phân tán còn phổ biến >>nguy cơ tái dịch khó lường có thể xảy ra

    -Thủy lợi chưa đảm bảo ,đến khi có lũ lụt xảy ra thì thiệt hại vô cùng nặng nề

    -Trong công nghiệp :chất lượng và sức cạnh tranh của một số sản phẩm trong công nghiệp khu vực nhà nước còn hạn chế ,cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm ,cơ sở hạ tầng yếu kém ,luật kinh tế chưa đồng bộ ,công tác quản lý va trình đọ kỹ thuật của cán bộ và công nhân chưa theo kịp yêu cầu chất lượng

    -Nhiều quy hoạch chưa hoàn thiện,vốn giải phóng mặt bằng ,giá cả vật tư ,nhiên liệu tăng nhanh và không ổn đinh .Vấn đề thu hút vốn FDI lại quá tập trung vào công nghiệp và dịch vụ ,ít quan tâm đến nông nghiệp trong khi nông nghiệp lại là ngành thế mạnh của nước ta

    -Tốc độ xuất khẩu cao nhưng chưa vững…

    2.3.4-gi¶i ph¸p

    -Cải cách hành chính và pháp luật để chuẩn bị gia nhập WTO, chuẩn bị cả tinh thần và trí lực để hội nhập nền kinh tế thế giới .Chúng ta đã có luật Đầu tư và Doanh nghiệp năm 2005 nên cần cụ thể hóa và tiến hành rà soát lại các thủ tục cần thiết ,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư

    -Trong nông lâm thủy sản cần có những biện pháp chỉ đạo sát sao ,kịp thời không để dịch bệnh lây lan ,có các biện pháp phòng tránh kịp thời khi có thiên tai bão lũ xảy ra ,han chế tối đa thiệt hại

    -Rà soát lại toàn bộ các quy hoạch để xóa các quy hoạch treo ,vì quy hoạch có đóng góp rất lớn trong nền kinh tế đang phát triển như nước ta

    -Tiếp tục khắc phục các điểm yếu về cơ sở hạ tầng  ,nhà nước cần tính toán ,thống nhất lại quy hoạch để xây dựng những cơ sở hạ tầng quan trọng có tác động lớn tới phát triển kinh tế .Tìm kiếm và đề xuất nguồn lực để trong những năm tới có sự chuyển biến về hạ tầng

    2.4-Năm 2007

    2.4.1 – Bối cảnh chung

    Trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi, song dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, sự điều hành sát sao của Chính phủ, các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp và hàng chục triệu hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong cả nước đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi để phát triển sản xuất, mở rộng kinh doanh dịch vụ. Nhờ đó kinh tế cả nước trong năm 2007 tiếp tục phát triển toàn diện và hầu hết các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.

    Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ là thành tựu nổi bật nhất, cơ bản nhất của nền kinh tế Việt Nam năm 2007. Tổng sản phẩm trong nước ước tăng 8,44%, đạt kế hoạch đề ra (8,0 – 8,5%), cao hơn năm 2006 (8,17%) và là mức cao nhất trong vòng 11 năm gần đây. Với tốc độ này, Việt Nam đứng vị trí thứ 3 về tốc độ tăng GDP năm 2007 của các nước châu Á sau Trung Quốc (11,3%) và Ấn Độ (khoảng 9%) và cao nhất trong các nước ASEAN (6,1%). Tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 khu vực kinh tế chủ yếu đều đạt mức khá

    Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá cao. Tính chung năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994) ước tăng 17,0% so với năm 2006, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 10,4% (trung ương quản lý tăng 13,4%; địa phương quản lý tăng 3,5%); khu vực ngoài nhà nước tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,0% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,37%, các ngành khác tăng 23,1%).

    Nếu không có thiên tai, dịch bệnh lớn như vừa trải qua, tốc độ tăng GDP chắc chắn còn cao hơn 8,5%. Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế chuyển dich theo hướng tích cực. Tỷ trọng GDP khu vực nông – lâm nghiệp – thủy sản giảm còn dưới 20,0%/ so với 20,81% năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm trên 41,7% so với 41.56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08% trong 2 năm tương ứng. Nét mới trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao và tốc độ tăng khá ổn định, quý sau cao hơn quý trước, trong điều kiện có khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng trong bối cảnh hội nhập WTO

    Bảng  – Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 – 2007 (%)

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
    GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,44
    NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
    CNXD 12,62 8,33 7,68 10,07 10,39 9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,4
    DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5

    (Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, tr 69)

    Thu chi chÝnh phñ: Do kinh tế tăng trưởng cao nên tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép. Theo Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt 287.900 tỉ đồng, vượt dự toán cả năm (dự toán 281.900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với năm 2006. Tổng số chi ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt dự toán năm. Bội chi ngân sách cả năm ước đạt 5% GDP.

    Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt mức kỷ lục: Ước tính vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm của các dự án cũ bổ sung cả năm 2007 đạt trên 20,3 tỉ USD, tăng 8,3 tỉ USD, so năm 2006 (12 tỉ USD), vượt kế hoạch 7 tỉ USD và là mức cao nhất từ trước đến nay. Tổng số vốn FDI năm 2007 đạt mức gần bằng vốn đầu tư của 5 năm 1991 – 1995 là 17 tỉ USD và vượt qua năm cao nhất 1996 là 10,1 tỉ USD. Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào dịch vụ 63,7% và công nghiệp 35,0%, ngành nông – lâm nghiệp thủy sản 1,3%Vốn đầu tư thực hiện năm 2007 ước đạt 5,1 tỉ USD, tăng 1,2 tỉ USD (30,7%) so năm 2006 (39,56 tỉ USD).

    Cùng với tăng vốn FDI, lượng kiều hối đổ về Việt Nam tiếp tục tăng cao. Dự kiến cả năm 2007, lượng kiều hối của người Việt Nam ở nước ngoài gửi về qua kênh chính thức đạt 5,5 tỉ USD so với mức 4,7 tỉ USD năm 2006 và gấp 157 lần năm 2001. Tốc độ tăng bình quân 37%/năm đưa lượng kiều hối gửi qua kênh chính thức được thực hiện từ năm 1991 đến 2007 lên con số 29,4 tỉ USD, chiếm 70% vốn FDI, tính từ năm 1998 và cao gấp rưỡi vốn ODA được giải ngân kể từ 1993. Nguồn vốn kiều hối năm 2007 chủ yếu là giúp người thân trong nước đầu tư chứng khoán, kinh doanh địa ốc, một phần mua sắm tài sản, hàng hóa, lễ hội vào dịp cuối năm.

    Xuất khẩu đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao: Ước tính cả năm kim ngạch xuất khẩu đạt 47,7 tỉ USD, tăng 21% so năm 2006 (7,9 tỉ USD) và vượt 15,5% so kế hoạch. Trong đó khu vực kinh tế trong nước chiếm 42% và tăng 22,3%; khu vực FDI chiếm 58% và tăng 18,4%, (kể cả dầu thô) nếu không có dầu thô, tăng 30,4% so với năm 2006). Có 10 mặt hàng đạt trên 1 tỉ USD. Hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất là: dệt may đạt 7,8 tỉ USD, tăng 31% vượt qua dầu thô; dầu thô giảm bằng 97,7%, giày dép tăng 9,5%; thủy sản, tăng 11,9%; sản phẩm gỗ tăng 23,7%; điện tử, máy tính tăng 24,6%. Gạo xuất khẩu đạt 4,5 triệu tấn giảm 3, 4% nhưng kim ngạch là 1,5 tỉ USD tăng 14 % do giá xuất khẩu thế giới tăng. Cà phê tăng 52,3%, cao su tăng 5,3% so với năm 2006.

    Du lịch khởi sắc: Năm 2007 cả nước đã đón trên 4,3 triệu lượt khách quốc tế, tăng 19% so cùng kỳ 2006, là mức cao nhất từ trước đến nay. Khách đến với mục đích du lịch tăng cao 25,4%, khách đến vì công việc tăng 13,7%; khách đến thăm thân nhân tăng 7,3%. Lượng khách đến du lịch Việt Nam tăng nhanh trong năm 2007 là Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po. Pháp, I-ta-li-a, Nga, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ, LB. Đức. Hoạt động du lịch nội địa khởi sắc, chất lượng du lịch đã được cải thiện đáng kể so năm 2006.

    Những thành tựu trên đây đã nâng vị thế của Việt Nam lên tầm cao mới. Quy mô nền kinh tế đã lớn mạnh hơn so năm 2006. Thu nhập quốc dân theo GDP năm 2007 tính bình quân đầu người đạt 835 USD, tăng 15 USD so kế hoạch. Dự trữ ngoại tệ đạt 20 tỉ USD, là mức cao so với các năm trước. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh của năm 2007, những kết quả đạt được về kinh tế như trên là những thành tựu to lớn, cơ bản và rất đáng tự hào. Nguyên nhân của những thành tựu đó có nhiều, trong đó đường lối đổi mới của Đảng và các chính sách kinh tế tài chính có tác dụng kích thích sản xuất, mở rộng dịch vụ của Nhà nước và sự điều hành của Chính phủ có vai trò quyết định.

    2.4.2-nh÷ng tån t¹i

    -Sau 1 năm gia nhập WTO nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tưu đáng kể,song cũng còn không ít những bất cập còn tồn tại trong nền kinh tế

    -Sự tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào chiều rộng. Kinh tế tăng trưởng, nhưng tính chất của nền kinh tế gia công và khai khoáng chưa thay đổi nhiều

    -Hiện tượng lạm phát chưa kiểm soát được;  bong bóng của thị trường bất động sản căng phồng và đang như “con ngựa bất kham” trước Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ…

    -Những điểm yếu  của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạ tầng yếu kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tai năm 2007… không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độ cao. Do vậy khả năng phòng chống thiên tai, dịch bệnh hạn chế, thiệt hại gây ra rất nặng nề, hậu quả để lại là rất nghiêm trọng và lâu dài.Cụ thể là vụ  sập nhịp cầu Cần Thơ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. …

    -Sự phát triển thị trường lao động không gắn liền với chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nên dẫn đến tình trạng vừa thừa và thiếu trong quan hệ cung – cầu. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nghịch lý: Thừa vốn, thiếu lao động (lao động có kỹ năng, được đào tạo), mà đúng ra phải là ngược lại. và khai khoáng hoàn toàn chưa thay đổi

    2.4.3-gi¶i ph¸p

    -Cần đặc biệt tập trung vào những vấn đề quan trọng, bức thiết nhằm mục tiêu ưu tiên hàng đầu hiện nay là kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, quan tâm vấn đề an sinh xã hội, hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý để bảo đảm cho sự phát triển cao, bền vững ở những năm sau

    -Chú trọng nâng cao cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

    -Tập trung vào công tác đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng ,có phẩm chất đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp đang đầu tư vào nước ta trong những  năm tới

    2.5-năm 2008

    2.5.1-tình hình chung

    Năm 2008, kinh tế nước ta phát triển trong bối cảnh khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng. Nhiều nền kinh tế lớn đang vật lộn với khủng hoảng tài chính nặng nề. ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, nhất là đợt rét đậm lịch sử đầu năm, 10 cơn bão kéo theo lũ lụt lịch sử kéo dài từ giữa năm đến cuối năm, trên diện rộng, từ Bắc vào Nam. Mưa lớn gây ngập úng ở thủ đô Hà Nội, gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất, kinh doanh và đời sống dân cư, kết cấu hạ tầng… Thuận lợi tuy có, nhưng không nhiều: năm thứ 2 gia nhập WTO, nên thị trường xuất khẩu được mở rộng, nguồn lực các năm trước, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2007 chuyển sang khá lớn; thành quả và kinh nghiệm tích lũy trong hơn 20 năm đổi mới…

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ trong việc tổ chức thực hiện 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nên tình hình kinh tế cả nước năm 2008 vẫn phát triển toàn diện và có mức tăng trưởng khá.

    Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%.
    Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2008 tính theo giá so sánh 1994 ước tăng 5,6% so với năm 2007, bao gồm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,4%; lâm nghiệp tăng 2,2%; thủy sản tùng 6,7%.
    Tuy gặp nhiều khó khăn do giá cả đầu vào tăng nhanh, đặc biệt giá dầu không ổn định nhưng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính vẫn tăng 14,6% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế nhà nước tăng 4%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 18,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%, trong đó dầu khí giảm 4,3%.
    Hoạt động dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế năm 2008 ước tính tăng 31% so với năm 2007, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 20,4%; kinh tế cá thể tăng 32,2%, kinh tế tư nhân tăng 34,3%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,9%. Xét theo ngành kinh doanh, thương nghiệp tăng 31,5%; khách sạn, nhà hàng tăng 26,2%; dịch vụ tăng 31,3% và du lịch tăng 41,8%Hoạt động bưu chính – viễn thông tiếp tục phát triển, nhất là dịch vụ viễn thông. Tổng số điện thoại cố định của cả nước tính đến hết tháng 12-2008 là 13,1 triệu thuê bao, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường internet tiếp tục phát triển.
    Số khách quốc tế đến nước ta năm 2008 ước tính đạt 4,3 triệu lượt người, tăng 0,6% so với năm trước, trong đó khách đến với du lịch, nghỉ dưỡng là 2,6 triệu lượt người, tăng 1%; đến vì công việc là 844,8 nghìn lượt người, tăng 25,4%.
    Kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô  Nhờ xác định rõ các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng lạm phát liên tục tăng cao trong năm 2008, Đảng và Chính phủ đã điều chỉnh và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như thắt chặt tiền tệ, tín dụng, điều chỉnh cơ chế lãi suất, tỷ giá; tiết kiệm chi tiêu ngân sách, sắp xếp lại kế hoạch đầu tư, cắt giảm các dự án đầu tư kém hiệu quả; điều chỉnh thuế quan, khuyến khích xuất khẩu và tăng cường quản lý nhập khẩu, giảm nhập siêu; chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp giảm chi phí sản xuất, chống đầu cơ, tăng cường quản lý thị trường giá cả; tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, cân đối cung – cầu…Nhờ vậy, tình hình thị trường đang từng bước ổn định trở lại.
    Tốc độ tăng giá tiêu dùng so với tháng trước của những tháng đầu năm liên tục tăng 2-3%, nhưng đến tháng 7-2008 chỉ còn tăng 1,13% và đến tháng 12-2008 đã giảm được 0,68%. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8% dự toan nùm. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9 % dự toán năm.
    Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao. Tính đến ngày 19-12-2008, cả nước đã thu hút được 64 tỉ USD vốn đăng ký, gấp gần 3 lần năm 2007. Thu hút vốn ODA có nhiều chuyển biến tích cực. Tại Hội nghị tổ chức tại Hà Nội đầu tháng 12-2008, các nhà tài trợ quốc tế cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trên 5 tỉ USD.
    Cán cân thương mại được cải thiện vào những tháng cuối năm. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2008 ước tính đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007. Tám nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỉ USD là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, sản phẩm gỗ, điện tử máy tính và cà phê. Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam năm 2008 là Mỹ, ASEAN, EU, Nhật Bản.
    Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2008 ước đạt 80,4 tó USD, tăng 28,3% so với năm 2007. Nhập siêu hàng hóa đã được kiềm chế và giảm dần từ mức gần 2,2 tỷ USD (tháng 1-2008), xuống còn 500 triệu USD vào tháng 12-2008. Tổng nhập siêu năm 2008 ước tính là 17,5 tỉ USD, bằng 27,8% trị giá xuất khẩu.

    Các cam kết hội nhập vẫn được Việt Nam tôn trọng nghiêm túc. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang có những dấu hiệu rất tốt, đặc biệt kết quả thu hút FDI đạt mức kỷ lục với vốn đăng ký khoảng 65 tỷ USD. Vốn cam kết ODA của các nhà tài trợ trong năm 2008 đạt tới 5,43 tỷ USD. Đầu tư gián tiếp nước ngoài có dấu hiệu tăng trở lại, với 46 quỹ ĐTNN chuyên đầu tư vào Việt Nam, chủ yếu nhằm vào thị trường BĐS và tài chính ngân hàng. Tỷ trọng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đang tăng dần và hiện chiếm trên 20% thị phần TTCK Việt Nam…

    Tổ chức Tư vấn và Kiểm toán thế giới PriceWaterHouseCoopers xếp Việt Nam thứ nhất trong số 20 nền kinh tế đang lên và có sức hấp dẫn cao với các nhà đầu tư vào ngành sản xuất, trong đó có công nghiệp phụ trợ.

    II-Đánh giá chung

    Sau hơn 20 năm cải cách nền kinh tế nước ta đã có được những thành tích đáng ghi nhận :nền kinh tế ngày càng ổn định và phát triển,lạm phát  được đẩy lùi , đời sống dân cư được nâng cao ,cơ cấu kinh tế đã và đang có sự chuyển đổi theo hướng tích cực…được quốc tế đánh giá là một nền kinh tế có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong khu vực, những thành quả đạt được đã đưa nước ta lên một tầm cao mới trên trường quốc tế ,ngày càng được các nước trên thế giới biết đến và công nhận

    Nguyên nhân mà nền kinh tế nước ta đạt được những thành tựu như trong những năm gần đây là Nước ta có đủ các điều kiện về cả tài nguyên thiên nhiên ,lao động ,sức hút đầu tư ,khoa học kỹ thuật để phát triển một nền kinh tế toàn diện và năng động

    • Nước ta nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo ,mưa nhiều .Mặt khác có một bờ biển dài và hệ thống sông ngòi chằng chịt rất thuận lợi cho giao thông và phát triển nông lâm ngư nghiệp
    • Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú ,với những khoáng sản có trữ lượng lớn ,là nguồn nguyên liệu và nguồn xuất khẩu rất lớn .Một mặt thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp trong nước ,mặt khác cũng là một nguồn thu lớn cho chính phủ
    • Với nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc ,những nét văn hoá đặc sắc,những khu du lịch nổi tiếng đã được xếp hạng trên thế giới là một thế mạnh du lịch của nước ta ,Hàng năm thu hút hàng chục triệu lượt khách du lịch, đó là một nguồn thu không nhỏ của nhà nước
    • Dân số nước ta được xếp vào nước có dân số trẻ ,số người trong độ tuổi lao động khá lớn ,với sự chăm chỉ ,càn  cù  và  khả năng  tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh ,giá lao động khá rẻ  là một lợi thế để phát triển nền kinh tế trong nước đang trong thời kỳ phát triển và thu hút đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam
    • Cơ sở vật chất ,hạ tầng ngày càng được cải thiện ,tuy chưa đáp ứng được sự tăng trưởng bền vững của kinh tế những cũng đã phần nào tạo đà để nền kinh tế tiếp tục  phát triển
    • Khoa học kỹ thuật được áp dụng vào hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế từ nông ,công nghiệp cũng như các ngành khác , đem lại năng suất lao động cao ,giảm công lao động đồng nghĩa với hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
    • Đặc biệt những chính sách , đường lối đúng đắn, kiên quyết của Đảng và Nhà nước đã mở ra rất nhiều cơ hội mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài nhằm thu hút đầu tư ,giao thương buôn bán ,chuyển giao công nghệ ,giao lưu văn hoá

    Thành tựu đạt được thì không thể phủ nhận song bên cạnh đó nền kinh tế nước ta cũng còn rất nhiều những khó khăn và hạn chế nhất định như

    • Thiên tai và dịch bệnh xảy ra thường xuyên gây ra những thiệt hại vô cùng nặng nề đã chứng tỏ khả năng phòng chống của chúng ta chưa thực sự tốt,mặt khác cũng cho thấy cơ sở hạ tầng của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu
    • Chúng ta là một nước giàu tài nguyên và khoáng sản xong quản lý và khai thác chưa có hiệu quả cao, gây thất thoát lớn và ô nhiễm môi trường
    • lực lượng lao động có tay nghề và trình độ cao còn thiếu nhiều,chưa đáp ứng được với yêu cầu của các doanh nghiệp
    • Nhập siêu và lạm phát còn ở mức khá cao;thất nghiệp chưa thể giải quyết
    • Thu hút đầu tư còn quá chú trọng vào hai nhóm ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ,trong khi ít quan tâm đến ngành nông nghiệp là thế mạnh của nước ta
    • Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ đang ngày càng được cải thiện song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế
    • một số chính sách kinh tế còn rờm rà ,thiếu tính khách quan ,còn gây cản trở cho các doanh nghiêp
    • Tuy đã hội nhập WTO nhưng một số cán bộ,công nhân còn chưa nắm rõ được tầm quan trọng và thách thức khi chúng ta hội nhập đã gây ra yếu kém trong khâu quản lý một phần nhất định

    …..

    Để có thể tận dụng một cách tối đa những thuận lợi và khắc phục triệt để những khó khăn và yếu kém còn tồn tại, chúng ta cần có các giải pháp ,phương hướng để đưa nền kinh tế phát triển ổn đinh ,toàn diện hơn nữa. Đó là:

    Trong tình hình kinh tế đang suy thoái chúng ta cần phải cố gắng giữ vững tinh thần để  đưa ra những quyết sách và đối sách hợp lý. Tiếp tục tập trung tổ chức tốt bộ máy lãnh đạo ,chỉnh sửa các thủ tục pháp lý và hàng rào thuế quan để tạo điều kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

    • Kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần là một muc tiêu rất quan trọng ,ngoài ra cần ổn định kinh tế vĩ mô ,trước hêt là chính sách tài chính và tiền tệ
    • Đẩy mạnh phát triển sản xuất và kinh doanh, giúp hàng hóa trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài
    • Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng về chiều sâu, nhằm đáp ứng nhu cầu về lao động của các doanh nghiêp
    • Tiếp thu khoa học kỹ thuật sản xuất mới, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng
    • Thay đổi cơ cấu kinh tế ,giảm tỷ trọng nông nghiệp ,tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ .Đặc biêt cần có những biện pháp để tăng tỷ trọng ngành dịch vụ bởi nước ta có những địa điểm du lịch rất nổi tiếng hàng năm thu hút hàng chục triệu lượt khách tham quan du lịch, là một nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước ,tạo công ăn việc làm cho nhiều người
    • Chú ý phân bố dân cư và đầu tư kinh doanh hiệu quả cho các vùng kinh tế ,quan tâm nhiều hơn đến các vùng kinh tế khó khăn và kỹ thuật lạc hậu.Tập trung phát triển thế mạnh của từng vùng ,xây dựng các ngành và các khu công nghiệp trọng điểm để phát triển kinh tế của toàn bộ vùng đó
    • Nâng cao chất lượng giáo dục , đào tạo ,y tế ,văn hóa ,giáo dục .Tiếp tục cải thiện tiền lương , đồng thời với việc triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ cho người nghèo ,người có thu nhập thấp …

    III-kết luận

    Sau khi đã phân tích chi tiết về tình hình tăng trưởng kinh tế của nước ta trong 5 năm gần đây, chúng ta đã thấy được những thành quả mà nhà nước ta đã đạt được , đồng thời cũng thấy được rằng nền kinh tế của nước nhà còn rất nhiều khó khăn ,hạn chế và yếu kém. Vì vậy trong những năm tới đây chúng ta cần nỗ lực cao hơn nữa để có thể bắt kịp với các nền kinh tế trên thế giới

    the end

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-t%E1%BA%ADp-%C4%91o%C3%A0n-Mai-Linh-MLG-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2010-2020.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quản trị chiến lược Xây dựng chiến lược kinh doanh công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh (MLG) giai đoạn 2010-2020

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng copy những thành tựu của bạn về chất lượng hiệu quả nhưng không nên và không thể copy những định vị về chiến lược – điều phân biệt của công ty bạn với các đối thủ khác1. Như vậy có thể nói, chiến lược là duy nhất và là điểm khác biệt lớn nhất giữa công ty này và công ty khác. Các công ty khác nhau cùng kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ như nhau nhưng chỉ có một thiểu số rất ít các công ty thành công. Nguyên nhân có phải là do họ quản trị sản xuất tốt? Nhân lực của họ được đào tạo bài bản? Tài chính công ty họ mạnh? Marketing của họ chuyên nghiệp? Câu trả lời cho các vấn đề này có thể là “có”, mà cũng có thể là “không”. “Một công ty có vượt qua được các đối thủ cạnh tranh khi và chỉ khi nó có thể tạo ra những khác biệt mà nó có thể gìn giữ (“A company can outperform rivals only if it can establish a difference that it can preserve”2). Rõ ràng chính chiến lược kinh doanh sẽ quyết công ty hướng đi như thế nào, tuyển dụng nhân sự ra sao, sản xuất tập trung vào sản phẩm nào, tìm hiểu những phân khúc khách hàng nào,… Chiến lược bao trùm toàn bộ các hoạt động khác của công ty. Một chiến lược đúng sẽ giúp chúng ta đi đúng hướng, tiết kiệm tối đa các chi phí, tối đa hóa lợi nhuận. Đây là lý do đầu tiên chúng tôi chọn bộ môn “Quản trị chiến lược” làm cơ sở nghiên cứu chính của đề tài này.

    Theo số liệu của Sở giao thông vận tải, riêng tại thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 12,550 xe. Trong thời gian qua, đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào ngành vận tải taxi. Nhưng không phải ai cũng thành công trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt: nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, xóa sổ, hoặc tìm đường liên doanh, hoặc chuyển hướng sang lĩnh vực khác… Trong khi đó thì cung vẫn không đủ cầu. Hiện nay các doanh nghiệp vận tải đều đang tập trung làm thương hiệu. “Mai Linh chúng tôi xây dựng và phát triển thương hiệu trên một bề dày kinh nghiệm 14 năm. Chúng tôi xác định, trước hết phải tạo ra sự khác biệt đối với khách hàng và muốn khẳng định thương hiệu của mình thì phải tạo ra một sức mạnh cạnh tranh. Bên cạnh đó, sự khác biệt của Mai Linh ở đây là sự có mặt của

    • Michael M.Porter (1996), What is Strategy, Havard Business Review.

     

    • Michael M.Porter (1996), What is Strategy, Havard Business Review.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 6

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Mai Linh ở 52 tỉnh thành từ Bắc đến Nam. Chúng tôi có một bản sắc văn hóa riêng mà không phải doanh nghiệp nào cũng có được. Bản sắc văn hóa Mai Linh không phải tạo ra trong một hai ngày mà ngay trong những ngày đầu thành lập chúng tôi đã có ý tưởng phải tạo cho mình một nét riêng trong ngành kinh doanh vận tải, cụ thể là thể hiện qua màu xanh3.

    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam không được nhà nước bảo hộ nữa, thay vào đó, các doanh nghiệp phải đối mặt với những vấn đề của cạnh tranh, của nguy cơ khi mở cửa. Xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với đặc điểm và nguồn lực của công ty nhằm tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt trở thành nhu cầu cấp thiết đối với bản thân công ty.

    Những năm gần đây kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, thu nhập người dân ngày càng cao. Chính vì thế đòi hỏi của người dân đối với nhu cầu đi lại ngày càng cao. Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh (MLG) là doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ vận tải, taxi. Trong hoàn cảnh nhu cầu của người dân ngày càng cao, và ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này, Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh cần có định hướng kinh doanh chiến lược nhằm giữ vững vị trí hàng đầu và tiếp tục phát triển bền vững trong tương lai.

    Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, nhóm chúng tôi xin lựa chọn đề tài “Xây dựng chiến lược kinh doanh Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010-2020”.

    1. Mục tiêu nghiên cứu

    Dựa trên cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh, nhóm tác giả đã nghiên cứu thực trạng và xu hướng phát triển của ngành vận tải tại Việt Nam, đi sâu vào phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh để xác định những mặt mạnh – mặt yếu, xác định được những cơ hội – mối đe dọa đối với sự phát triển của công ty; từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh và các giải pháp thực hiện của công ty trong giai đoạn 2010-2020.

    • Theo ông Trương Quang Mẫn, Phó chủ tịch hội đồng quản trị Mai Linh Group
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 7

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1. Phạm vi nghiên cứu

    Đề tài này chỉ được nghiên cứu trong phạm vi của một doanh nghiệp. Cụ thể là nghiên cứu trên cơ sở số liệu, tình hình thực tiễn của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh. Do đó, các kết quả giải pháp đưa ra trong đề tài này chỉ là đề cập cho Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh. Đề tài cũng chỉ phân tích những vấn đề tổng quát, trong mối quan hệ tương hỗ với chiến lược phát triển của ngành vận tài, phục vụ cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010-2020, không đi sâu vào phân tích những vấn đề mang tính chuyên môn cao.

    1. Phƣơng pháp nghiên cứu

    Đề tài nghiên cứu dựa trên việc phân tích những yếu tố ảnh hưởng, những thế mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức đối với hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh, để từ đó xác định chuỗi giá trị của công ty, những tiềm lực cạnh tranh làm cơ sở xây dựng các chiến lược kinh doanh của công ty giai đoạn 2010-2020

    1. Kết cấu đề tài

    Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm 3 chương chính sau:

    • Chương 1: Cơ sở lý luận cho việc xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp
    • Chương 2: Phân tích thực trạng Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh
    • Chương 3: Chiến lược kinh doanh và các giải pháp phát triển cho Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010-2020

    Do lần đầu tiên áp dụng lý thuyết chiến lược kinh doanh vào việc xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty CP Tập đoàn Mai Linh; do thời gian nghiên cứu có hạn và những hạn chế về mặt kiến thức, đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót; rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của giảng viên hướng dẫn – TS. Hoàng Lâm Tịnh, để đề tài có thể được hoàn thiện hơn và cũng góp phần bổ túc cho phần kiến thức đang khiếm khuyết của nhóm.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 8

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CHƢƠNG I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC XÂY DỰNG

    CHIẾN LƢỢC CHO DOANH NGHIỆP

    1. Khái niệm chiến lƣợc và quản trị chiến lƣợc

    1.1. Khái niệm chiến lƣợc

    Thuật ngữ “chiến lược” được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, sau đó được ứng dụng trong linh vực kinh doanh. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược.

    Theo cách tiếp cận của giáo sư đại học Havard, Alfred Chandler thì “chiến lược là tiến trình xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, xác định các hành động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó”.

    Theo Fred R. David, tác giả cuốn sách Concepts of Strategic Management thì “chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn

    Hoặc theo quan điểm của phương pháp C3 thì “chiến lược thực chất là một giải pháp mang tính chất lâu dài nhằm củng cố vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

    Từ các cách tiếp cận trên chúng ta có thể có khái niệm:

    Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát: xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và các chính sách điều hành việc thu nhập, sử dụng và bố trí các nguồn lực, để đạt được mục tiêu cụ thể, làm tăng sức mạnh một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững đối với các đối thủ cạnh tranh khác. Chiến lược là phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.

    1.2.     Quản trị chiến lƣợc

    Có rất nhiều những khái niệm khác nhau về quản trị chiến lược, tuy nhiên có thể tập hợp các khái niệm ấy theo ba cách tiếp cận phổ biến sau:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 9

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Cách tiếp cận về môi trƣờng: “Quản trị chiến lược là một quá trình quyết định nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và đe dọa của môi trường bên ngoài”. Đặc điểm của cách tiếp cận này là làm cho công ty định hướng theo môi trường, khai

    thác cơ hội và tránh né rủi ro.

    • Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: “Quản trị chiến lược là một hệ thống những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn của một công ty”.

    Cách tiếp cận này cho phép các nhà quản trị xác định chính xác hơn mục tiêu của tổ chức, đó là nền tảng của quản trị đồng thời cũng cho phép quản trị sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của tổ chức.

    • Cách tiếp cận các hành động: “Quản trị chiến lược là tiến hành xem xét môi

    trường hiện tại và tương lai, tạo ra những mục tiêu của tổ chức, ra quyết định, thực thi những quyết định và kiểm soát việc thực hiện quyết định nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai”.

    1. Vai trò của quản trị chiến lƣợc đối với doanh nghiệp

    Không thể tìm được mối liên hệ trực tiếp của quản trị chiến lược với sự gia tăng lợi nhuận của công ty vì trong môi trường có rất nhiều biến số tác động và rất phức tạp, do đó việc cô lập sự tác động của một mình nhân tố quản trị chiến lược đến lợi nhuận của công ty là không thể được. Tuy nhiên không thể phủ nhận những đóng góp gián tiếp vào lợi nhuận của quản trị chiến lược thông qua việc khai thác cơ hội và giành ưu thế trong cạnh tranh.

    2.1.        Lợi ích của quản trị chiến lƣợc

    • Thứ nhất, quá trình quản trị chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của mình.
    • Thứ hai, điều kiện môi trường mà các tổ chức gặp phải luôn biến đổi. Những biến

    đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và các nguy cơ bất ngờ. Dùng quản trị chiến lược giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai. Nhờ thấy rõ điều kiện môi trường tương lai mà nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng hết các cơ hội đó và giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 10

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Thứ ba, nhờ có quá trình quản trị chiến lược, doanh nghiệp sẽ gắn liền các quyết

    định đề ra với các điều kiện môi trường liên quan.

    • Thứ tư, phần lớn các công trình nghiên cứu cho thấy các công ty nào vận dụng quản trị chiến lược thì đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với kết quả mà họ đạt được trước đó

    và các kết quả của các công ty không vận dụng quản trị chiến lược.

    2.2.        Một số nhƣợc điểm của quản trị chiến lƣợc

    Mặc dù các ưu điểm nêu trên là rất quan trọng, quản trị chiến lược vẫn có một số nhược điểm.

    • Thứ nhất, quản trị chiến lược cần nhiều thời gian và nổ lực.
    • Thứ hai, là các kế hoạch chiến lược có thể bị coi tựa như chúng được lập ra một cách cứng nhắc khi đã được ấn định thành văn bản. Đây là sai lầm nghiêm trọng của việc vận dụng không đúng đắn môn quản trị chiến lược..
    • Thứ ba, sai sót trong việc dự báo môi trường dài hạn có thể lớn.
    • Thứ tư, một số hãng dường như vẫn ở giai đoạn kế hoạch hóa và chú ý quá ít đến vấn đề thực hiện. Hiện tượng này khiến một số nhà quản trị nghi ngờ về tính hữu ích của quá trình quản trị chiến lược.
    1. Các giai đoạn của quản trị chiến lƣợc

     

    Một chiến lược khi được hoạch định có hai nhiệm vụ quan trọng và hai nhiệm vụ đó

    quan hệ mật thiết với nhau là việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược. Hai nhiệm vụ này được cụ thể hóa qua ba giai đoạn tao thành một chu trình khép kín

    Ø Giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lƣợc: là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp

    Ø Giai đoạn triển khai chiến lƣợc: là quá trình triển khai những mục tiêu chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp. Đây là giai đoạn phức tạp và khó khăn, đòi hỏi một nghệ thuật quản trị cao

    Ø Giai đoạn kiểm tra – điều chỉnh – thích nghi với chiến lƣợc: là quá trình đánh giá và kiểm soát kết quả, tìm các giải pháp để thích nghi chiến lược với hoàn cảnh môi trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 11

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    XÂY DỰNG & PHÂN

    TÍCH CHIẾN LƯỢC

    TRIỂN KHAI

    CHIẾN LƯỢC

    KIỂM TRA – ĐIỀU

    CHỈNH – THÍCH NGHI

    Hình 1: Các giai đoạn của quá trình quản trị chiến lược

    Ba giai đoạn trên phản ánh chu trình Plan Do – Check trong quản trị học hiện đại, được áp dụng rộng rãi trong công tác quản lý doanh nghiệp hiện nay.

    Các giai đoạn và các hoạt động trong quá trình quản trị chiến lược được minh họa bằng sơ đồ sau

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 12

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    GIAI ĐOẠN   HOẠT ĐỘNG    
    Hình thành        
      Thực hiện Hợp nhất trực Đưa ra quyết  
    chiến lược định  
    nghiên cứu giác và phân tích
         
    Thực thi Thiết lập mục Đề ra các Phân  phối
     
      tiêu ngắn hạn chính sách các nguồn lực

    chiến lược

    Đánh giá

    chiến lược Xem xét lại các So sánh kết quả Thực hiện  
    yếu tố bên trong với tiêu chuẩn
    điều chỉnh  
      và bên ngoài  
           

    Hình 2: Sơ đồ các hoạt động trong quản trị chiến lược

    Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ tập trung đi sâu vào giai đoạn hoạch định chiến lược. Theo sơ đồ trên, giai đoạn này gồm:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 13

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

      Thực hiện   Hợp nhất phân tích và trực     Lựa chọn    
      nghiên cứu   giá để xây dựng chiến lược     chiến lược    
                     
                     

    P.tích bên ngoài

    x.định các cơ X.định hội/nguy cơ

    nhiệm vụ

    KD và

    Đ.chỉnh

    CL h.tại

    nhiệm vụ

    KD của

    DN

    P.tích b.trong

    x.định điểm

    mạnh/ đ.yếu

    Xây dựng các

    mục tiêu dài

    hạn

    L.chọn các

    chiến lược

    theo đuổi

    Xây dựng các

    mục tiêu hằng

    năm

    Phân bổ

    nguồn

    lực

    Xây dựng các

    chính sách

    Đo

    lường,Đ.

    giá kết

    quả

    Hoạch định     Thực thi   Đánh giá
       
    chiến lược           chiến lược
        chiến lược  
                 

    Hình 3: Quy trình xây dựng chiến lược

    3.1.        Phân tích môi trƣờng bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp

    Người ta thường cho rằng: Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố, các điều kiện

    có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Xét

    theo cấp độ tác động đến quản trị doanh nghiệp thì môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    có 3 cấp độ chính, được thể hiện qua sơ đồ sau:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 14

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Môi trường kinh kế vĩ mô

    Môi trường tác nghiệp

    Hoàn cảnh nội

    bộ của DN

    Hình 4: Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    3.1.1.    Môi trường kinh tế vĩ mô

    Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm 5 nhóm yếu tố về kinh tế, chính trị – pháp luật, văn hóa – xã hội, yếu tố tự nhiên, yếu tố công nghệ.

    3.1.2.    Môi trường tác nghiệp

    Môi trường tác nghiệp hay còn được gọi là môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp. Nó quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó. Trong phân tích môi trường vi mô chú ý mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E.Porter

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 15

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Các đối thủ mới

    dạng tiềm ẩn

    Nguy cơ có các đối thủ

    cạnh tranh mới

          Các đối thủ cạnh tranh Khả năng ép  
          giá của người  
    Ngƣờ i     trong ngành  
        mua Ngƣời
    cung cấp Khả năng ép      
            mua
             
      giá của người          
               
      cung cấp Sự cạnh tranh của các DN    
           
          hiện có trong ngành    
                 
          Nguy cơ do các sản  
          phẩm và dịch vụ mới  
            thay thế  
          Hàng thay thế  
               
                 

    Hình 5: Mô hình cạnh tranh 5 áp lực của Michael E.Porter

    Nguồn: Michael E.Porter (1985)

    Để đề ra một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố này để doanh nghiệp thấy được mặt mạnh, mặt yếu, nguy cơ, cơ hội mà ngành kinh doanh đó gặp phải.

    3.1.3.    Phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp

    Phân tích môi trường nội bộ là nhằm tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, qua đó xác định các năng lực phân biệt và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc phân tích môi trường nội bộ cơ bản bao gồm

    3.1.3.1. Dây chuyền giá trị của doanh nghiệp

    Là tổng hợp các hoạt động có liên quan của doanh nghiệp làm tăng giá trị cho khách hàng. Việc thực hiện hiệu quả dây chuyền giá trị sẽ quyết định hiệu quả hoạt động chung và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các hoạt động của doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm: nhóm hoạt động chủ yếu: gồm những hoạt động được gắn trực tiếp với các sản

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 16

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó là: hoạt động đầu vào, vận hành, các hoạt động đầu ra, marketing và bán hàng và dịch vụ; và nhóm hoạt động hổ trợ: quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, thu mua và cấu trúc hạ tầng của công ty.

    Hình 6: Sơ đồ chuỗi giá trị của của công ty

    Nguồn: Michael E.Porter. “Competitive Advantage”. NewYork: Free Press, 1985

    3.1.3.2. Các vấn đề khác trong phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp

    Để có một cách đánh giá hoàn hảo về môi trường nội bộ của tổ chức chúng ta cần xem xét thêm các nhân tố sau: phân tích tài chính – nhằm đánh giá vị trí tài chính của công ty, văn hoá và tổ chức lãnh đạo – yếu tố này cho thấy cách thức công ty tiến hành hoạt động kinh doanh, có ảnh hưởng quan trọng đến các mục tiêu chiến lược và các chính sách, tính hợp pháp và danh tiếng của công ty.

    3.2.        Công cụ xây dựng chiến lƣợc – Ma trận SWOT

    Kỹ thuật phân tích SWOT (Strengths-Weaknesses-Opportunities-Threats) là công cụ giúp cho các nhà quản trị trong việc tổng hợp kết quả nghiên cứu môi trường và đề ra chiến lược một cách khoa học. Sau đây là một số khía cạnh quan trọng của kỹ thuật phân tích SWOT.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 17

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    3.2.1.    Xác định những cơ hội, nguy cơ, điểm yếu, điểm mạnh then chốt

    • Những cơ hội và nguy cơ chủ yếu: Các nhà quản trị cần phải xác định các cơ

    hội và nguy cơ chủ yếu mà doanh nghiệp cần phải quan tâm trong quá trình hình thành chiến lược.

    • Các cơ hội chủ yếu: là những cơ hội mà tích số giữa các mức độ tác động đối với doanh nghiệp khi nó được tận dụng và xác suất mà doanh nghiệp có thể tranh thủ được cơ

    hội đó đạt giá trị lớn nhất.

    • Nguy cơ chủ yếu: là những nguy cơ mà tích số giữa mức tác động khi nguy cơ xảy ra đối với doanh nghiệp và xác suất nguy cơ xảy ra đó đạt giá trị lớn nhất.

    Những điểm mạnh và điểm yếu cốt lõi:

    Việc phân tích đánh giá môi trường bên trong của doanh nghiệp có thể rút ra những nhân tố cốt lõi có thể ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh và việc thực hiện những mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.

    3.2.2.    Liên kết các yếu tố bên trong và điều kiện bên ngoài

    Sau khi liên kết các yếu tố cơ bản của các điều kiện bên trong và bên ngoài, các nhà quản trị cần tiến hành phân tích và đề xuất các chiến lược về môi trường theo bảng tóm tắt ở dưới.

    NHỮNG ĐIỂM MẠNH – S NHỮNG ĐIỂM YẾU – W
    1. 1.
    2. 2.
    3. Liệt kê những điểm mạnh 3. Liệt kê những điểm yếu
    4. 4.
    ….. …….
    CÁC CƠ HỘI – O CÁC CHIẾN LƢỢC SO CÁC CHIẾN LƢỢC WO
    1. Sử  dụng  các  điểm  mạnh  đểKết  hợp  khắc  phục  điểm
    2. tận dụng cơ hội. yếu để tận dụng cơ hội
    3. Liệt kê các cơ hội 1. 1.
    4. 2. 2.
    3. 3.
      4. 4.
      ……. …….
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 18

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CÁC MỐI ĐE DOẠ – CÁC CHIẾN LƢỢC ST CÁC CHIẾN LƢỢC WT  
    T Sử   dụng   các   điểm   mạnh Khắc  phục  điểm  yếu  để  
    1. để ứng phó đe doạ ứng phó đe doạ.  
    1.  
    2 1.
    2.  
    3.  Liệt  kê  các  mối  đe 2.
    3.  
    doạ 3.
    4.  
    4. 4.
    …….  
    …… …….
       

    Hình 7 : Mô hình ma trận SWOT

    3.2.3.    Tổng hợp xem xét lại các chiến lược

    Bước cuối cùng trong quy trình phân tích SWOT là tổng hợp xem xét lại các chiến lược bằng cách:

    • Phân nhóm chiến lược.

     

    • Phối hợp các chiến lược thành một hệ thống có tính hỗ trợ nhau và loại bỏ bớt các chiến lược lượt nào không đảm bảo tính hệ thống.

    3.3.        Lựa chọn chiến lƣợc

    Qua quá trình phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, xác định được những nguy cơ, thách thức, điểm yếy, điểm mạnh, căn cứ vào tình hình thực tế, doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược kinh doanh cho mình

    3.3.1.    Các chiến lược tăng trưởng tập trung

    • Chiến lược thâm nhập thị trường: mục đích là tăng thị phần hiện tại của doanh

    nghiệp

    • Chiến lược phát triển thị trường: mục đích mở rộng thêm các thị trường mới nhằm tối đa hóa số bán các sản phẩm hiện tại

     

    • Chiến lược phát triển sản phẩm: nhằm cải tiến sản phẩm hoặc đưa sản phẩm mới

     

    ra thị trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 19

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    3.3.2.    Chiến lược hội nhập về phía trước

    Là chiến lược tăng trưởng các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua sự kiểm soát đối với các nhà tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp như hệ thống bán hàng và phân phối hàng.

    3.3.3.    Chiến lược tăng trưởng đa đạng hóa

    • Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: tăng trưởng bằng cách hướng vào thị trường mới với sản phẩm mới

     

    • Chiến lược đa dạng hóa hàng ngang: thêm vào những sản phẩm mới với những công nghệ mới.

    Kết luận

    Việc nghiên cứu môi trường là phân tích sự kết hợp bên trong và bên ngoài nhằm tận dụng điểm mạnh của tổ chức để tiến hành khai thác cơ hội và nhận rõ điểm yếu của mình mục đích né tránh các mối đe dọa của môi trường. Đồng thời, phân tích và xác định được chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược cũng góp phần to lớn cho việc xác định hướng đi chính yếu của doanh nghiệp, xác định được các tác nhân ảnh hưởng đến chiến lược. Đây chính là các dữ liệu quan trọng làm cơ sở cho việc thực hiện các chức năng trong quản trị chiến lược, bắt đầu từ giai đoạn hoạch định đến khả năng tổ chức và kiểm soát quá trình rồi tiếp tục chương trình này.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 20

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CHƢƠNG II

    PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

    1. Giới thiệu về Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh

     

    • Lịch sử hình thành và phát triển

    Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh, tiền thân là Công ty TNHH Du lịch Thương mại Vận tải Hành khách Mai Linh, được thành lập vào ngày 12/07/1993, với 100% vốn trong nước. Dưới sự điều hành của Ông Hồ Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc và là người sáng lập, Công ty đã liên tục gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Với vốn thành lập ban đầu chỉ là 300 triệu đồng, 2 chiếc xe du lịch 4 chỗ và 25 nhân viên, đến nay Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai linh (Mai Linh Group – MLG) đã tạo được những bước đi vững chắc, liên tiếp gặt hái thành công trên nhiều lĩnh vực: Từ 01/07/2002 chuyển đổi thành công ty cổ phần theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103001038 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) cấp, ngày 01/11/2007 Công ty Cổ phần Mai Linh đổi tên thành Công ty Cổ phần tập đoàn Mai Linh.

    • Ngành nghề kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Dịch vụ du lịch lữ hành nội địa, quốc tế. Kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định, bằng xe buýt, bằng taxi, theo hợp đồng, kinh doanh vận tải hàng; Vận tải khách đường thuỷ nội địa theo tuyến cố định và không theo tuyến cố định; vận tải hành khách đường thuỷ nội địa ngang sông, qua biên giới Việt Nam; kinh doanh xếp dỡ tại cảng, bến thuỷ nội địa; bảo dưỡng, sửa chữa xe ô tô, máy kéo, phương tiện xây dựng, phương tiện vận tải; sửa chữa, đóng mới trang thiết bị, phương tiện vận tải thuỷ bộ; Gia công cơ khí, phụ tùng ô tô; Mua bán xe có động cơ , phương tiện vận tải, phụ tùng và bộ phận phụ trợ của xe có động cơ, nhớt, xăng, dầu, gas; Đào tạo dạy nghề; Môi giới bất động sản; Dịch vụ nhà đất; Quản lý bất động sản; Xây dựng và kinh doanh dịch vụ bãi đỗ xe; Đại lý vận tải, dịch vụ cho thuê văn phòng; Dịch vụ bán vé máy bay, tàu thuỷ, tàu lửa; Dịch vụ bến xe, bãi đỗ xe; Sản xuất
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 21

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    quần áo may sẵn, bảo hộ lao động, caravat, mũ, các đồ phụ trợ quần áo, valy, túi xách, yên đệm xe. Mua bán máy đếm cây số và phụ kiện; Dịch vụ nhận, chi trả ngoại tệ; Đại lý đổi ngoại tệ, mua bán chế tác, gia công đá quý, vàng bạc, đồ trang sức; Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá; Mua bán đồ điện gia dụng, hàng gia dụng. hàng trang trí nội thất, vật liệu trải sàn, rèm, mành treo, giường, tủ, bàn ghế; Tư vấn du học, dịch vụ cho thuê kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu; dịch vụ chuyển giao công nghệ; mua bán thiết bị y tế, điện, điện tử, viễn thông, điện thoại cố định, di động, bộ đàm; Bảo trì, lắp đặt, sửa chữa điện thoại; Bán sim, thẻ cào điện thoại di động, Dịch vụ thu hộ các chi phí tiêu dùng: điện thoại; đại lý ký gửi hàng hoá; đại lý dịch vụ viễn thông; Dịch vụ giới thiệu việc làm, kinh doanh dược; Mua bán mỹ phẩm, thực phẩm thiết bị y tế; Dịch vụ săn sóc da mặt (trừ kinh doanh các hoạt động dịch vụ gây chảy máu); trồng rừng, đầu tư xây dựng thuỷ điện; cho thuê nhà ở, văn phòng; cho thuê nhà phục vụ các mục đích kinh doanh (kiốt, trung tâm thương mại); Đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng; Đào tạo ngoại ngữ; Đại lý bảo hiểm; Hoạt động nhà bảo tàng (không kinh doanh các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng); đào tạo lái xe cơ giới đường bộ…

    • Trụ sở chính của Công ty: số 64-68 Hai Bà Trưng, Phường Bến Nghé, Quận 1, TPHCM.

    Điện thoại: 08.38298888, Fax: 38225999.

    Công ty Cổ phần (CP) Tập đoàn Mai Linh là một trong những doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách, lữ hành…Trong đó, mảng kinh doanh chính là dịch vụ taxi. Tập đoàn bao gồm công ty mẹ – Công ty CP Tập đoàn Mai Linh (MLG) và hơn 70 công ty con. Trong đó có 13 công ty con do MLG nắm giữ trực tiếp và các công ty con của các công ty con này.

    Công ty CP Tập đoàn Mai Linh đã trải qua quá trình hình thành và phát triển sau:

    Hiện nay, Mai Linh đã mở rộng hoạt động kinh doanh tại 52 tỉnh thành trong cả nước với trên 100 công ty thành viên thuộc 8 lĩnh vực ngành nghề, Mai Linh đã thu hút được trên 15 000 cán bộ nhân viên làm việc tại 6 khu vực trong cả nước và nước ngoài.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 22

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.2.        Sơ đồ tổ chức

    Hình 8 : Sơ đồ tổ chức Mai Linh Group

    1.3.     Lĩnh vực hoạt động

    Mai Linh Group tập trung hoạt động trong các lĩnh vực chính sau

    1.3.1.    Vận tải

    Là lĩnh vực chủ lực trong 8 ngành nghề kinh doanh của Tập đoàn Mai Linh (MLG) gồm Du lịch, Đào tạo, Thương mại, Tài chính, Xây dựng, Vệ sỹ, Công nghệ Thông tin, kinh doanh vận tải của MLG không chỉ khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành vận tải của Việt Nam mà còn là ước mơ vươn xa ra thị trường quốc tế.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 23

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Kinh doanh vận tải của Mai Linh hiện có 3 phương thức chủ yếu: taxi, tốc hành đường dài (MaiLinh Express) và xe cho thuê. Trong đó taxi là trọng điểm của kinh doanh vận tải với số lượng trên 5.000 xe, trải dài trên 52 tỉnh thành trong cả nước. Hệ thống MaiLinh Express trên 500 xe từ 16 đến 45 chỗ với 48 tuyến nội địa và một tuyến liên vận quốc tế TP.HCM – Phnompenh – TP.HCM, khởi hành 16 chuyến mỗi ngày đi và về. Xe cho thuê cũng là thế mạnh của Mai Linh với gần 300 xe đời mới phục vụ cho khách du lịch, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam… Toàn bộ xe của Mai Linh đều là dòng xe chất lượng cao như Mercedes, Lexux, BMW, Toyota Camry, Toyota Landcruise, Ford, Huyndai….

    Vị thế dẫn đầu luôn là mục tiêu mà MLG hướng tới trong hoạt động kinh doanh vận tải. Trong định hướng phát triển đến năm 2012, Mai Linh không chỉ dừng ở quy mô là doanh nghiệp có số lượng xe taxi nhiều nhất Việt Nam như hiện nay mà tiếp tục phát triển hệ thống taxi của mình lên đến con số 10.000 xe. Mai Linh sẽ liên tục thay mới dòng xe cũng như đầu tư tập trung hơn vào những dòng xe có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như Toyota, Mitsubish, Mercedes, Ford, Huyndai…. Cũng trong định hướng phát triển này, đến năm 2010

    dịch vụ taxi của Mai Linh sẽ phủ kín 64 tỉnh thành trong cả nước. Mai Linh đang đưa vào sử dụng dịch vụ Taxi Mai Linh Việt Nam với số điện thoại 1900 8989 sử dụng chung trên toàn quốc, khách hàng dù đứng nơi đâu cũng chỉ cần bấm gọi một số điện thoại này để được phục vụ. Cùng với taxi, vận tải tốc hành đường dài cũng sẽ mở rộng đến tất cả các nơi trong nước, khách hàng muốn đặt vé, giữ chỗ chỉ cần gọi 1900 8686. Đây là chương trình hành động của ngành vận tải Mai Linh, nối tất cả mạng lưới xe liên tỉnh lại với nhau tạo nên hình ảnh Mai Linh có mặt trên toàn quốc.

    Các tuyến liên vận quốc tế là mục tiêu trong chặng đường phát triển sắp tới của Mai Linh. Ngày 25-3 vừa qua, Tập đoàn Mai Linh đã được lãnh đạo thành phố Xiêm Riệp (Campuchia) trao giấy phép đầu tư vận chuyển hành khách bằng taxi. Như vậy, ngoài MaiLinh Express đã và đang hoạt động tuyến Xiêm Riệp – Phnompenh – TP.HCM và ngược lại, việc MLG được cấp giấy phép đầu tư kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe taxi tại Xiêm Riệp một lần nữa đánh dấu sự vươn xa của Tập đoàn Mai Linh. Không chỉ dừng lại ở đó, Mai Linh còn dự định sẽ tiếp tục mở các tuyến liên vận quốc tế qua Lào, Trung Quốc, vươn tới các thị trường khác trong khu vực Châu Á, mang thương hiệu Mai Linh cũng như niềm tự hào của Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 24

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.3.2.     Hoạt động Du lịch

    Với một đội ngũ nhân viên đông đảo, chuyên nghiệp và nhiệt tình, Mailinhtourism không ngừng phát triển, luôn đổi mới nhằm khẳng định năng lực, đa dạng các chương trình du lịch, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn trong lĩnh vực du lịch trong nước và du lịch nước ngoài. Ngoài ra, Mailinhtourism còn thiết kế và tổ chức chương trình du lịch theo nhu cầu của Quý khách, nhằm tạo nên sự hài lòng tốt nhất nơi Quý khách.

    Mailinhtourism là thành viên của Hiệp hội du lịch quốc tế PATA, JATA, được bạn đọc Tạp chí Du Lịch TP.HCM bình chọn là 1 trong 10 đơn vị lữ hành tốt nhất năm 2007

    Mailinhtourism tập trung kinh doanh các tour nội địa, tour outbound và inbound, phát triển đa dạng nhiều sản phẩm mới, hiện đại, chuyên nghiệp như TRANS INDOCHINA TOURS; YOUTHACTION – Adventure & Teambuilding; Du lịch dành cho cựu chiến binh; Du lịch về nguồn; Du lịch dã ngoại…v..v… Đồng thời, Mailinhtourism cũng kinh doanh nhiều dịch vụ phục vụ khách hàng khác như Đặt vé máy bay; Đặt khách sạn toàn quốc; Dịch vụ visa và Cho thuê xe du lịch.

    1.3.3.     Hoạt động đào tạo

    Trường trung học Dân lập kỹ thuật nghiệp vụ Mai Linh: Được thành lập theo Công văn số 4560/TCCB của Bộ Giáo dục & Đào tạo ngày 6 tháng 6 năm 2005 và Quyết định thành lập số 3403/QĐ-UB ngày 8 tháng 7 năm 2005 của UBND Tp. Hồ Chí Minh. Là một thành viên trực thuộc Công ty CP Mai Linh với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có trình độ quốc tế cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung và phục vụ nhu cầu nguồn nhân lực cho tất cả các công ty thành viên của Mai Linh tại các tỉnh thành trên cả nước.

    Trung Tâm Tư Vấn Du Học & Giới Thiệu Việc Làm Mai Linh (Mai Linh OSCC) ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của con em CB-NV hệ thống Mai Linh và xã hội, làm cầu nối giữa người lao động Việt Nam và các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài.

    Ngoài ra MLG còn thành lập trung tâm dạy nghề, trung tâm ngoại ngữ và tin học

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 25

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.3.4.    Đánh giá về tình hình tài chính của công ty

    1.3.4.1. Phân tích chi tiết bảng cân đối kế toán: (xem chi tiết bảng cân đối kế toán ở phần phụ lục 1)

    • Tổng Tài sản:

     

    • Tổng Tài sản của công ty tại thời điểm 31/12/2009 đạt 5.072.298.159,096 đồng, tăng 19% so với năm 2008 và 64% so với năm 2007.
    • Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp năm 2009: tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng 22%, tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng 78%. Cơ cấu này là hợp lý, phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty, tài sản cố định chiếm tỷ lệ cao (chiếm 83%/ tài sản dài hạn, 65% /tổng tài sản).
    • Vốn bằng tiền:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008 đạt 49.751.106.768 đồng, chiếm tỷ lệ 5% trong tài sản ngắn hạn của công ty;
    • Tại thời điểm 31/12/2009 đạt 61.695.297.485 đồng, chiếm tỷ lệ 6% trong tài sản ngắn hạn của công ty
    • Đối với các khoản phải thu:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008: Các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đạt 537.739.636.646 đồng, chiếm tỷ lệ 54% trong tài sản ngắn hạn của công ty, tập trung vào các khoản phải thu khác và phải thu của khách hàng.
    • Tại thời điểm 31/12/2009: Các khoản phải thu ngắn hạn của công ty đạt 654.100.648.948 đồng, chiếm tỷ lệ 58% trong tài sản ngắn hạn của công ty, tập trung vào các khoản phải thu khác và phải thu của khách hàng.
    • Phân tích hàng tồn kho:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008: Hàng tồn kho của công ty đạt 45.040.749.758 đồng, chiếm tỷ lệ 5% trong tài sản ngắn hạn của công ty.
    • Tại thời điểm 31/12/2009: Hàng tồn kho của công ty đạt 68.528.023.273 đồng, chiếm tỷ lệ 6% trong tài sản ngắn hạn của công ty, tăng không đáng kể so với thời

    điểm 31/12/2008.

    • Tỷ lệ hàng tồn kho không lớn, chứng tỏ công ty lưu chuyển hàng hóa tốt.
    • Phân tích tài sản cố định:

     

    • Tài sản dài hạn của công ty tại thời điểm 31/12/2008 trị giá 3.285.790.880.674 đồng chiếm 77% trong tổng tài sản của công ty, chủ yếu là tài sản cố định….
    • Tại thời điểm 31/12/2009, tài sản dài hạn của công ty đạt 3,952,091,865,386 đồng chiếm 78% trong tổng tài sản của công ty, tăng so với năm 2008 do công ty đầu tư mua thêm xe, máy móc, thiết bị…
    • Nợ phải trả:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008 chiếm 72% tổng nguồn vốn, trong đó chiếm tỷ lệ cao theo thứ tự giảm dần là vay và nợ ngắn hạn, các khoản phải trả,phải nộp ngắn hạn khác và phải trả người bán.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 26

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Tại thời điểm 31/12/2009: chiếm 78% tổng nguồn vốn, tăng so với thời điểm

    31/12/2008, đặc biệt khoản vay và nợ ngắn hạn tăng cao (tăng 44% so với cuối năm 2008).

    • Tỷ lệ này phù hợp với mô hình công ty kinh doanh vận tải, vì chi phí đầu tư ban đầu lớn, cần vốn vay nhiều và chứng tỏ công ty có khả năng chiếm dụng khoản phải trả cao. Tuy nhiên tỷ lệ nợ phải trả cao cũng đi kèm với rủi ro mất khả năng thanh khoản cao.
    • Vốn chủ sở hữu:

     

    • Tại thời điểm 31/12/2008 đạt 1.175.508.181.329 đồng, chiếm tỷ lệ 28% tổng nguồn vốn của công ty.
    • Tại thời điểm 31/12/2009 đạt 1.119.945.117.032 đồng, chiếm tỷ lệ 22% tổng nguồn vốn của công ty, giảm so với năm 2008 chủ yếu do cổ phiếu quỹ và thặng dư vốn cổ phần giảm nhiều.
    • Điểm đáng chú ý là cổ phiếu quỹ và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Tuy nhiên có bổ sung của phần vốn khác của chủ sở hữu, điều này thể hiện quyết tâm tránh lệ thuộc vào nguồn vốn ngoài công ty và giúp cho công ty tiết giảm đáng kể chi phí sử dụng vốn
    • Nhận xét: Nhìn chung, Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh là một công ty có quy mô lớn, có nhiều công ty con và hệ thống trải rộng trên nhiều tỉnh thành. Cơ cấu nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn hợp lý . Cụ thể năm 2008 công ty đã sử dụng nguồn vốn dài hạn (chủ yếu là nợ phải trả 5.072.298.159.096 đồng, không có nợ dài hạn) để tài trợ tài sản dài hạn (3.952.091.865.386 đồng), phần còn lại (1.120.206.293.710 đồng) công ty để tài trợ tài sản ngắn hạn, cơ cấu nguồn vốn, tài sản công ty không mất cân đối, nhưng tỷ lệ nợ vay khá cao, nên sẽ dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao, ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận công ty. Về cơ bản công ty đã tạo được chỗ đứng trên thị trường, tuy nhiên kết quả kiểm toán thì lợi nhuận kinh doanh của công ty đang âm.
            Đơn vị tính: đồng
                   
                   
      Cân đối nguồn vốn – sử dụng vốn 2007 2008 2009      
                   
      Mức độ đảm bảo vốn cố định            
                   
      Nguồn vốn dài hạn 2,503,387,536,201 3,043,003,698,678 3,349,359,866,235  
               
      Vốn chủ sở hữu (vốn góp) 1,149,536,265,231 1,175,508,181,329 1,119,945,117,032  
                   
      Nợ dài hạn, KQ dài hạn, nợ dài hạn            
      đến hạn trả 1,353,851,270,970 1,867,495,517,349 2,229,414,749,203  
               
      Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 1,881,227,485,111 3,285,790,880,674 3,952,091,865,386  
                   
                   
                   
      HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 27

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Chênh  lệch  (-,  mất  cân  đối  tài          
    chính) 622,160,051,090 (242,787,181,996) (602,731,999,151)
               
    Mức độ đảm bảo vốn lƣu động          
               
    Nguồn vốn ngắn hạn 1,334,664,518,925 1,270,743,573,097 1,331,699,726,598
           
    Vốn CSH hình thành TSLĐ 622,160,051,090 (242,787,181,996) (602,731,999,151)
           
    Nợ ngắn hạn 712,504,467,835 1,513,530,755,093 1,934,431,725,749
           
    Tài sản lưu động 1,209,758,548,146 987,208,385,569 1,120,206,293,710
               
    Chênh  lệch  (-,  mất  cân  đối  tài          
    chính) 124,905,970,779 283,535,187,528 211,493,432,888
               
               

    1.3.4.2. Phân tích cáo cáo kết quả kinh doanh: (xem chi tiết bảng báo cáo kết quả hoạt động kinnh doanh ở phần phụ lục 2)

    • Phân tích tăng trưởng về mặt doanh thu:

     

    • Doanh thu năm 2008 đạt 2.089.643.095.436 đồng, tăng 73% so với năm 2007.

    Tổng doanh thu của năm 2008 chiếm 132,67% của tổng giá vốn hàng bán của năm 2008 (1.537.299.421.674đồng) và hàng tồn kho năm 2007 (37,821,334,299 đồng).

    Điều này chứng tỏ công ty có khả năng bán được sản phẩm của mình có lợi nhuận so với giá vốn

    • Doanh thu năm 2009 đạt 2.428.984.904.341 đồng, tăng 16,24% so với năm 2008.

    Tổng doanh thu của năm 2009 chiếm 130,94% của tổng giá vốn hàng bán của năm 2009 (1.809.938.946.427 đồng) và hàng tồn kho năm 2008 (45.040.749.758 đồng), tỷ lệ này giảm so với năm 2008.

    • Phân tích cơ cấu giá vốn:

     

    • Năm 2008, giá vốn hàng bán chiếm 53% doanh thu của năm 2008;
    • Năm 2009, giá vốn hàng bán chiếm 75% doanh thu của năm 2008, tăng cao so với tỷ lệ năm 2008, chứng tỏ công ty đang có khó khăn về đầu ra, hiệu quả bán hàng giảm so với năm 2008.
    • Phân tích cơ cấu chi phí hoạt động: Phần chi phí hoạt động và chi phí bán hàng chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 15% doanh thu ở cả năm 2008 và năm 2009). Tỷ lệ này khá

     

    ổn định qua 2 năm 2008 và 2009 .

    Nhận xét: Tổng lợi tức sau thuế cả 03 năm (2007, 2008, 2009) theo kết quả kiểm toán đều âm, có thể khiến công ty gặp khó khăn về nguồn vốn. Theo giải trình từ phía Ban Giám Đốc trong Đại Hội Cổ Đông thì nguyên nhân chủ yếu là do công ty đầu tư mua thêm nhiều phương tiện và đầu tư vào nhiều công trình đang dở dang chưa thu hồi vốn.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 28

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Khả năng thanh toán:
             
      Khả năng thanh toán 2007 2008 2009
             
      Chỉ tiêu      
             
      Khả năng thanh toán ngắn hạn 1.70 0.65 0.58
             
      Khả năng thanh toán nhanh 1.22 0.39 0.37
             
      Khả năng thanh toán bằng tiền 0.22 0.03 0.03
             
             
    • Khả năng thanh toán ngắn hạn (khả năng thanh toán hiện hành) của công ty ở hai năm 2008 và 2009 đều nhỏ hơn 1 rất nhiều: công ty mất khả năng thanh toán nợ đến hạn trong ngắn hạn;
    • Khả năng thanh toán nhanh ở hai năm 2008 và 2009 đều nhỏ hơn 0,5: công ty khôngcó khả năng chuyển hóa một số khoản mục thành tiền nhanh để thanh toán nợ ngắn hạn.
    • Khả năng thanh toán bằng tiền (khả năng thanh toán tức thời) ở hai năm 2008 và 2009 đều là 0,03: rất thấp, chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty rất kém.
    • Hệ số nợ:
           
    Nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ 2007 2008 2009
           
    Hệ số đòn bẩy 1.7 2.64 3.53
           
    Hệ số nợ 0.63 0.72 0.78
           
           
    • Hệ số đòn bẩy năm 2009 là 3,53 > 3: chứng tỏ mức độ sử dụng nợ trên vốn chủ sở hữu khá cao, vượt tỷ lệ có thể chấp nhận (≤ 3).
    • Hệ số nợ năm 2009 là 0,78 > 0,75: chứng tỏ mức độ sử dụng nợ trên tổng tài sản khá cao, vượt tỷ lệ có thể chấp nhận (≤ 0,75)
    • Theo giải trình từ Ban Giám Đốc trong Hội nghị Cổ Đông vừa qua thì các hệ số này gia tăng do việc gia tăng tài sản bằng nguồn vốn vay.
    • Vòng quay vốn:
                 
        Vòng quay vốn 2007 2008 2009  
                 
        Chu kỳ sản xuất kinh doanh        
                 
        Vòng quay các khoản phải thu 13.94 10.66 7.49  
                 
                 
                 
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19   29

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

      Số ngày phải thu bình quân 26 34 49
             
      Vòng quay hàng tồn kho 53 37 26
             
      Số ngày dự trữ hàng tồn kho bình quân 7 10 14
             
      Vòng quay các khoản phải trả 64 54 32
             
      Số ngày phải trả bình quân 6 7 11
             
      Vòng quay vốn lưu động 2.00 1.90 2.17
             
      Số ngày hoàn thành 1 chu kỳ SXKD 182 192 168
             
             
    • Số ngày dự trữ hàng tồn kho lớn hơn số ngày phải trả bình quân là không hợp lý.
    • Vòng quay các khoản phải thu thấp hơn nhiều so vòng quay các khoản phải trả, chứng tỏ khả năng chiếm dụng khoản phải trả của công ty khá thấp.
    • Vòng quay vốn lưu động nhỏ (từ 1,90 đến 2,17), không phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty.
    • Khả năng sinh lời:
      Khả năng sinh lời 2007 2008 2009
             
      Chỉ tiêu      
             
      Tốc độ tăng trưởng doanh thu   73% 16%
             
      Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận   83% -90%
             
      Lợi nhuận ST / Doanh thu (ROS) -5.19% -5.51% -0.47%
             
      Lợi nhuận ST / Vốn chủ sở hữu (ROE) -5% -10% -1%
             
      Lợi nhuận ST/ Tổng tài sản (ROA) -2.03% -2.69% -0.23%
             
      Giá vốn hàng bán / doanh thu 83.00% 73.57% 74.51%
             
      Tỷ lệ lợi nhuận gộp / doanh thu 17.00% 26.43% 25.49%
             
      Chi phí bán hàng và quản lý / doanh thu 15.27% 15.24% 15.35%
             
             
    • ROS, ROE, ROA đều âm qua 03 năm liên tiếp, chứng tỏ tình hình hoạt động của công ty đang gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên năm 2009 có nhiều cải thiện so với năm 2008.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 30

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    2.                 Phân tích môi trƣờng kinh doanh bên ngoài Công ty CP Tập Đoàn Mai Linh

     

    2.1.    Môi trƣờng vĩ mô

    2.1.1.    Môi trường kinh tế

    Là một quốc gia vừa hội nhập WTO, có nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài nên Việt Nam đã và đang chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, xuất khẩu gặp khó khăn, nhập siêu tăng đột biến, các cam kết đầu tư trực tiếp bị hoãn hoặc ngưng, hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nước bị thu hẹp đáng kể, thị trường bất động sản bị đóng băng, thị trường chứng khoán tuột dốc, thị trường tiền tệ biến động ngoài dự đoán… Những điều này gây ảnh hưởng rõ nét tới hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế từ các doanh nghiệp đến người lao động và gia đình của họ.

    Thêm vào đó, việc chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng cao trong ba quý đầu năm 2008 và việc suy giảm tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm khiến thu nhập thực tế giảm đáng kể, người tiêu dùng và các doanh nghiệp Việt Nam đã phản hứng bằng cách thắt chặt chi tiêu (tỷ lệ tăng trưởng tiêu dùng năm 2008 chỉ là 3,9% so với mức 9,6% của năm 2007 và tỷ lệ này tiếp tục suy giảm trong năm 2009).

    Trong bối cảnh thắt chặt chi tiêu, giao thông vận tải và vận chuyển hành khách công cộng trong năm 2008 bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Cụ thể như: Giá xăng dầu đã liên tục biến động đến 11 lần lên cao điểm là 19.000 đồng/lít; Tỷ giá hối đoái có thời điểm biến động khá đáng kể, tác động không nhỏ đến giá phương tiện và các trang thiết bị , phụ tùng sửa chữa, bảo dưỡng; Thị trường ôtô thiếu nguồn cung nghiêm trọng, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư, thanh lý, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các đơn vị…

    Hình 9: Biểu đồ diễn biến cước taxi, giá nhiên liệu trong nước và giá dầu thô thế giới

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 31

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Tiếp đó, năm 2009 cũng là năm có nhiều biến động, tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn biến hết sức phức tạp và khó lường. Dư chấn của cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối năm 2008 vẫn ảnh hưởng nặng nề trong năm 2009 đối với hầu hết các quốc gia.Đồng thời giá vàng, giá USD và đặc biệt là giá dầu thô thế giới biến động liên tục, làm cho giá cả xăng dầu trong nước năm 2009 cũng thay đổi đến 7 lần cũng đã gây nhiều trở ngại cho các đơn vị kinh doanh vận tải.

    Bên cạnh đó, hạ tầng giao thông đô thị ngày càng hạn chế với các cung đoạn sửa chữa và các điểm kẹt xe, ngâp lụt ngày càng nhiều dẫn đến tiêu hao nhiên liệu cao hơn, sửa chữa nhiều hơn và giảm thời gian hoạt động hiệu quả một cách đáng kể…

    2.1.2.    Môi trường chính trị, pháp luật

    Năm 2008, lãi suất ngân hàng tăng đột biến từ 14%/năm lên 21%/năm (tương đương lãi suất cơ bản 14%), lệ phí trước bạ ôtô được điều chỉnh từ 2% lên 10% vào tháng 10/2008 (gấp 5 lần), bảo hiểm thân vỏ xe tăng lên đến 3,9%/năm (gấp 3 lần), chi phí hoa hồng bến bãi ngày càng cao, các trạm thu phí cầu đường ngày càng nhiều cũng tạo áp lực không nhỏ cho các doanh nghiệp.

    Tiếp theo, có thể kể đến chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ để chống lạm phát vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009. Với chính sách này thì việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng, phục vụ cho đầu tư đổi mới phương tiện của các doanh nghiệp nói chung và tập đoàn Mai Linh nói riêng khó khăn hơn nhiều so với những năm trước.

    Bên cạnh những khó khăn cơ bản, thì đối với ngành kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách công cộng nói chung và dịch vụ taxi nói riêng sang cuối năm 2009 và đầu năm 2010 có đan xen một số điều kiện thuận lợi. Đó là chính sách kích cầu của chính phủ với việc tung ra gói kích cầu số 1 với sự hỗ trợ 4% lãi suất. Với chính sách này thì việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng đối với các doanh nghiệp đã thuận lợi hơn đồng thời làm tăng mức tiêu dùng của xã hội. Và chính sách giảm 50% lệ phí trước bạ xe ôtô cũng là một thuận lợi cho kinh doanh vận tải trong năm 2009.

    Đồng thời, theo Quyết định số 62/2009/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ miễn tiền thuê đất để xây dựng trạm bảo dưỡng, sửa chữa, bãi đỗ xe của doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách công cộng bắt đầu từ ngày 15/6/2009.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 32

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Ngoài ra, Sở Giao thông Vận tải thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) vừa giao Trung tâm Quản lý điều hành vận tải hành khách công cộng tạm thời “chốt” số lượng xe taxi đang hoạt động của từng doanh nghiệp. Hạn chót hoàn thành công tác này là ngày 31/05/2010. Từ ngày 01/06/2010 chỉ cho phép các doanh nghiệp thay thế 1 xe cũ bằng 1 xe mới cho đến khi có quyết định mới của UBND TPHCM. Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải TPHCM nêu trên, trong giai đoạn 2010-2015 TPHCM sẽ có khoảng 9.500 xe taxi. Tuy nhiên số lượng xe taxi hiện nay đã hơn 12.550 xe, vượt hơn 3.000 xe so với dự kiến. Sở Giao thông Vận tải dự định “chốt” số lượng taxi theo số lượng phù hiệu taxi dán trên mỗi xe do Trung tâm Quản lý điều hành vận tải hành khách công cộng phát hành. Hiệp hội Taxi đề nghị bổ sung thêm phương thức: thống kê số lượng taxi bằng danh sách xe taxi đăng ký tại cơ quan công an hoặc bằng số lượng metter taxi các doanh nghiệp taxi đưa đi kiểm định ở cơ quan chức năng. Tạm ngưng phát triển taxi để chấn chỉnh, rà soát, rất cần thiết trong bối cảnh trật tự an toàn giao thông TPHCM đang diễn biến phức tạp. Thế nhưng, ở góc độ khác, cũng có nghĩa là đang… bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh taxi. Hành khách không có thêm nhiều taxi mới để lựa chọn, các doanh nghiệp kinh doanh taxi hiện hữu càng “có giá”. Hiện nay, về nguyên tắc, Nhà nước không quản lý giá cước vận tải nói chung và giá cước taxi nói riêng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi người dân, hành khách đi taxi, TPHCM cần sớm nghiên cứu ban hành các quy chế quản lý mới phù hợp trong điều kiện này nhằm vừa chấn chỉnh trật tự an toàn giao thông vừa không để quyền lợi chính đáng của hành khách bị xâm phạm.

    2.1.3.    Môi trường văn hóa, xã hội

    Một khó khăn rất đặc thù của Việt Nam đó là việc mua xe ôtô – phương tiện chủ yếu của kinh doanh vận tải trong năm 2009 – cũng gặp khó khăn do lượng cung không đủ cầu, mặc dù giá cả xe cao hơn so với năm 2008.

    Năm 2009, Miền Trung còn phải gánh chịu hai cơn bão số 9 và số 11 đã gây thiệt hại rất lớn về tài sản của nhà nước và nhân dân các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, trái với dự báo năm 2009, lượng khách du lịch nội địa về Miền Trung tăng đột biến làm tăng nhu cầu đi lại bằng taxi ở các thành phố du lịch như Huế, Hội An, Đà Nẵng…

    Tất cả các yếu tố liên quan đến chi phí đầu vào và vận hành đều tăng rất cao nên giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách tăng mạnh, trong khí đó giá cước đầu ra, do ảnh

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 33

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    hưởng tổng cầu giảm mạnh, mật độ cạnh tranh tăng và cũng để hưởng ứng kêu gọi cùng chính phủ giảm lạm phát (do giá thành vận tải ảnh hưởng rất mạnh đến giá thành các sản phẩm khác) nên tăng không đáng kể. Điều này làm cho tình hình hoạt động của ngành vận tải hành khách công cộng và việc đảm bảo đời sống người lao động ngày càng khó khăn hơn.

    2.1.4.    Môi trường dân số

    Thị trường taxi tập trung vào 3 thị trường là TPHCM, Bình Dương và Đồng Nai, 3 tỉnh và thành phố này chiếm khoản 40% tổng GDP của cả nước và là khu vực có tốc độ và mức độ phát triển kinh tế cao nhất Việt Nam. Hiện tại, khu vực này có dân số 12 triệu người và khoảng 12.000 chiếc taxi đang hoạt động, tương đương cứ 1 chiếc taxi trên 1.000 người, thấp hơn nhiều so với mức 1 chiếc taxi trên 300-350 người tại Thái Lan và 200 người tại Singapo. Tỷ lệ thâm nhập của dịch vụ taxi vẫn còn khá thấp.

    Trong 5 năm qua, GDP của TPHCM tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân là 12,1%/năm và số lượng khách đi xe taxi (tính bằng tổng số chuyến taxi) tăng với tốc độ tăng bình quân là 23,9%/năm. Quy mô của thị trường taxi tính theo doanh thu tăng gần gấp 2 lần tốc độ tăng GDP.

    Với mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước từ 7-8% trong 5 năm tới (2010-2015), GDP của TPHCM có thể tăng trưởng với tốc độ xấp xỉ 11%/năm, đạt mức cao nhất cả nước. Dự báo doanh thu taxi có thể tăng trưởng với tốc độ gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP.

    Mục tiêu tăng trưởng GDP theo giá so sánh của tỉnh Đồng Nai ở mức 8,5%/năm trong giai đoạn 2010-2015, và Bình Dương là 13%/năm. Dựa trên tốc độ tăng trưởng GDP nói trên, dự báo doanh thu của thị trường dịch vụ taxi của Đồng Nai và Bình Dương sẽ tăng trưởng lần lượt là 15% và 25%.

    Dự tính sơ bộ mức tăng trưởng doanh thu bình quân cho ngành dịch vụ taxi là 20% cho khu vực TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương. Trong khu vực 3 thị trường nói trên, có khoảng 12.000 xe taxi hoạt động tính cho tới cuối năm 2009. Dự báo doanh thu của thị trường dịch vụ taxi sẽ tăng với tốc độ gộp bình quân là 20%/năm trong 5 năm tới và sẽ đạt quy mô 9.809 tỷ đồng vào năm 2014.

    Theo Ủy ban nhân dân TPHCM, năng lực chuyên chở của các phương tiện vận tải hành khách công cộng bao gồm taxi và xe bus mới chỉ đáp ứng 6,2% nhu cầu đi lại của người

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 34

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    dân. Hầu hết người dân đi làm bằng xe gắn máy hoặc xe đạp. Mặc dù tỷ lệ sở hữu ô tô riêng đang tăng nhanh nhưng vẫn còn ở mức thấp thì dự báo tổng nhu cầu đối với dịch vụ taxi sẽ tăng cùng với xu hướng tăng của quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số đang diễn ra tại tất cả các thành phố lớn tại Việt Nam.

    Đặc biệt xét về việc đi lại trong nội bộ các thành phố và giữa các tỉnh, người dân sẽ ngày càng sử dụng nhiều dịch vụ taxi do tính tiện lợi, thoải mái và do thiếu phương tiên giao thông công cộng có thể thay thế taxi tại TPHCM.

    Đối tượng sử dụng dịch vụ taxi chủ yếu là người sống và/hoặc làm việc và đi lại giữa nơi ở và nơi làm việc hoặc đi đến những điểm vui chơi giải trí. Khách du lịch và người đi công tác cũng đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho ngành kinh doanh dịch vụ taxi. Do đó, doanh thu taxi (và nhu cầu đi lại) liên hệ mật thiết với mức sống và tần suất của các hoạt động kinh doanh, du lịch và vui chơi

    Trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ taxi ở một mức độ nào đó có tính chu kỳ, thì trong từ 5 đến 10 năm nữa nhu cầu này sẽ tăng trưởng mạnh. Mặt khác, vì không có sự kiểm soát giá cước hay những hạn chế về số lượng giấy phép lái xe taxi được cấp như hiện nay hay trong tương lai gần, thì thị trường taxi sẽ tăng trưởng ngang bằng với tăng trưởng của nhu cầu.

    Thị trường taxi tại TPHCM có mức độ tập trung cao với 3 hãng taxi đứng đầu chiếm 56% thị phần. Có khoảng hơn 40 hãng taxi trên thị trường này với hầu hết các hãng có đội xe dưới 50 chiếc. Tuy nhiên, trong năm ngoái, thị trường này đã bắt đầu hợp nhất lại.

    Trên thực tế, năm 2008 là năm chuyển giao của thị trường taxi TPHCM. Trong năm 2008, Vinasun mở rộng đội xe của mình thêm 1,052 chiếc mặc dù kinh tế gặp khủng hoảng. Bước đi ngược với hoàn cảnh kinh tế khi đó đã tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trên thị trường taxi và quá trình hợp nhất của ngành kinh doanh taxi bắt đầu.

    Trong mô hình dự báo của mình, HSC đã giả định rằng số lượng xe taxi trong khu vực

    • thị trường TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương (TPHCM được lấy làm đại diện) sẽ tăng với tốc độ gộp bình quân là 12%/năm trong 5 năm tới và đây là con số tăng trưởng được đưa ra

    một cách thận trọng. Trên thực tế, chỉ đơn giản để theo kịp mức độ tăng trưởng của dân số thì số lượng xe taxi sẽ phải tăng 3,5%/năm. Tốc độ tăng trưởng 15% cũng thấp hơn một chút so với dự báo mục tiêu tăng trưởng GDP đầu người hàng năm.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 35

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    2.2.     Môi trƣờng vi mô

    Hình 10: Mô hình cạnh tranh 5 áp lực của ngành vận chuyển hành khách

    2.2.1.    Đối thủ cạnh tranh

    Hiện tại, có hơn khoảng 40 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh dịch vụ taxi ở các tỉnh phía Nam như Mai Linh, Vinasun (VNS), Hoàng Long (HLG), Future, Happy, Taxi gas Saigon Petrolimex (PGT) và một bộ phận của PV Trans (PVT)… trong đó, Mai Linh và Vinasun chiếm hơn 80% thị phần.

    So sánh hoạt động kinh doanh năm 2009

    Nguồn: HSC (01/04/2010)

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 36

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Hiện Taxi Mai Linh đang có thị phần lớn nhất ở phía Nam, nhưng trong phạm vi TPHCM thì Vinasun là công ty đứng đầu trong mảng dịch vụ taxi xét về quy mô đội xe và doanh thu từ kinh doanh dịch vụ taxi. Vinasun có đội xe tổng cộng là 2.846 chiếc, trong đó 86% hoạt động tại khu vực TPHCM và 7% hoạt động tại 2 tỉnh lớn của khu vực phía Nam là Bình Dương và Đồng Nai. Không những thế, doanh thu ngày bình quân của Vinasun hiện tại cao hơn 25% so với Mai Linh tại thị trường quan trọng nhất là TPHCM. VNS có đội xe taxi chất lượng tốt với tuổi xe bình quân là khoản 2,1 năm. Đội xe chủ yếu gồm xe Innova được trang bị TV và tạo cảm giác dễ chịu cho hành khách khi đi xe.

    Vào cuối 2009, TPHCM có số lượng xe taxi tổng cộng lên đến 10.710 chiếc. Nếu theo quy mô đội xe, thì hiện tại Vinasun chiếm 23% thị phần tại thị trường TPHCM. Vinasun gần đây đã trở thành hãng taxi đứng đầu tại thị trường TPHCM, là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của công ty Mai Linh.

    Có thể khẳng định, Vinasun là đối thủ lớn nhất của Mai Linh tại các thị trường Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương. Tại các thị trường này, Vinasun đều là doanh nghiệp có thị phần lớn nhất.

    Bảng dưới đây so sánh một số chỉ tiêu tài chính năm 2009 giữa MLG và VNS

    Một số chỉ tiêu tài chính của MLG và VNS năm 2009

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 37

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    (Nguồn: BCTC hợp nhất kiểm toán)

    Hiện tại, Vinasun và Mai Linh đang có đội xe với quy mô lớn với thương hiệu được khách hàng nhận dạng. Đây là lợi thế tuyệt đối đối với các hãng taxi trong bối cảnh hiện tại có rất nhiều hãng taxi kinh doanh tại thị trường TPHCM.

    Công ty Mai Linh hoạt động dàn trải khắp đất nước và doanh thu của Mai Linh tại thị trường TPHCM chỉ đạt 678 tỷ đồng, tương đương 19% thị phần trong năm 2009. 54% thị phần còn lại tại thị trường TPHCM do 38 hãng taxi nắm giữ, tương đương mỗi hàng bình quân nắm giữ 1,4% thị phần.

    2.2.2.    Khách hàng tiềm năng

    2.2.2.1. Cơ cấu khách hàng của Mai Linh

    Theo báo cáo thường niên 2009 thì cơ cấu khách hàng của Mai Linh như sau

    • Khách hàng MCC: chiếm 9,32%
    • Khách hàng cứng của lái xe (liên lạc trực tiếp với lái xe): chiếm 3%
    • Khách hàng từ các điểm tiếp thị: chiếm 20%
    • Khách hàng vãng lai, dân cư: chiếm 367,68%

    Hình 11: Cơ cấu khách hàng Mai Linh

    2.2.2.2. Các khách hàng kiêm đối tác chiến lược

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 38

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Đối với các điểm tiếp thị: nhóm khách hàng chủ lực của Mai Linh bao gồm: Nhà ga, sân bay, bệnh viện, các resort, khách sạn lớn… và phần nhiều trong số đó ký hợp tác độc quyền với Mai Linh.

    Ngày 15/09/2009, Tập đoàn Mai Linh ký kết hợp tác chiến lược đặc biệt trong lĩnh vực quản trị tài chính với Tập đoàn Golden Bridge (Hàn Quốc). Theo đó, Tập đoàn Golden Bridge hợp tác với Tập đoàn Mai Linh trong việc tăng cường hiệu quả hoạt động cũng như tư vấn cấu trúc tài chính của Tập đoàn Mai Linh; phát triển bất động sản do Mai Linh hoặc các công ty con làm chủ sở hữu; tư vấn trong trường hợp cổ phiếu của Mai Linh được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài; giới thiệu và tiến cử các đối tác chiến lược từ nước ngoài để hợp tác với Tập đoàn Mai Linh khi Mai Linh mở rộng quy mô hoạt động hoặc phát triển ngành nghề tại nước ngoài.

    Ngày 19/09/2009, Tập đoàn Mai Linh đã ký kết “biên bản ghi nhớ” giữa Tập đoàn Mai Linh và Công ty Du lịch Quốc tế Century Holiday (Thẩm Quyến – Trung Quốc) về nội dung hợp tác phát triển du lịch. Hai bên sẽ trao đổi các kinh nghiệm về quản lý và điều hành hoạt động du lịch lữ hành; hợp tác trong việc khai thác – kinh doanh – điều hành đối với khách du lịch từ Trung Quốc sang Việt Nam và ngược lại; bố trí trao đổi phối hợp nhân sự hợp tác làm việc trong quá trình kinh doanh, khai thác những thị trường chung

    2.2.3.    Nhà cung cấp

    Tháng 07/2009, Tập đoàn Mai Linh đã ký kết với Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam (CHLB Đức) biên bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực bảo trì, sửa chữa ô tô với tập đoàn Mai Linh tại TPHCM. Theo đó, Công ty TNHH Robert Bosch Việt Nam và tập đoàn Mai Linh sẽ triển khai mô hình nhà xưởng Bosch Car Service ủy quyền trên cả nước để bảo dưỡng và sửa chữa các loại xe động cơ xăng và xe động cơ dầu. Trên cơ sở các nhà xưởng hiện tại của Mai Linh và các trạm dừng nghỉ của Mai Linh đang và sẽ xây dựng trong tương lai, Bosch sẽ đánh giá và tư vấn xây dựng cho phù hợp với tiêu chuẩn của mô hình Bosch Car Service (Đức). Khi hoàn thành các xưởng Bosch Car Service, Robert Bosch Việt Nam sẽ cung cấp phụ tùng cho khoảng 6.000 xe taxi và gần 500 xe tuyến cố định đường dài và 400 xe cho thuê của tập đoàn Mai Linh.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 39

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Ngày 23/07/2009, Công ty cổ phần Xăng dầu An Pha đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên lần thứ nhất với đại diện các cổ đông tham dự. Công ty cổ phần Xăng dầu An Pha có vốn điều lệ 100 tỷ đồng, trong đó có Công ty cổ phẩn Tập đoàn Mai Linh và ông Hồ Huy – Chủ tịch HĐQT góp 25% số vốn điều lệ. Ngay sau chương trình đại hội, đã diễn ra buổi lễ ký kết “Hợp đồng nguyên tắc kinh doanh xăng dầu” giữa Công ty cổ phần Xăng dầu An Pha và Tập đoàn Mai Linh. Theo đó, với thời hạn hợp đồng 15 năm, An Pha được độc quyền kinh doanh xăng, dầu, gas trên toàn hệ thống Mai Linh bao gồm các trạm dừng nghỉ, phương tiện vận chuyển, nhà máy, xí nghiệp… với hàng đúng chủng loại, đảm bảo số lượng và chất lượng, giá cả cạnh tranh.

    Ngày 26/10/2009, Tập đoàn Mai Linh đã ký kết hợp đồng ghi nhớ với Công ty cổ phần Đầu tư phát triển Gas đô thị (Gas City). Theo đó, Gas City sẽ là nguồn cung cấp gas cho các tòa nhà do Mai Linh đầu tư xây dựng trên cả nước, bên cạnh sẽ cung cấp nhiên liệu năng lượng sạch cho các dòng xe taxi Mai Linh hiện đại sau này chạy bằng khí hóa lỏng LPG, góp phần giảm bớt lượng chất thải CO2 vào không khí và cải thiện không khí, môi trường sống tốt hơn. Điều này còn cho thấy bên cạnh việc tập trung vào hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế, Tập đoàn Mai Linh còn luôn quan tâm đến trách nhiệm xã hội và chấp hành các quy định về an toàn lao động, môi trường sống và làm việc. Đó cũng là một trong những công việc Tập đoàn Mai Linh quan tâm hàng đầu.

    2.2.4.    Môi trường nội bộ ngành (rào cản xâm nhập)

    Ngành kinh doanh taxi tại TPHCM và các tỉnh lân cận có đặc điểm là mức độ cạnh tranh về giá tương đối thấp. Tất cả các hãng taxi đều có mức cước tương tự nhau bất chấp việc chất lượng và loại xe cũng như dịch vụ cung cấp khác nhau. Và đến một mức độ nào đó thì các hãng taxi nhỏ lẻ thậm chí còn lấy cước cao bất hợp lý. Tuy nhiên các hãng taxi này sẽ không tồn tại được lâu dài.

    Trong vài năm tới, những lái xe tự do và những công ty taxi nhỏ với số lượng xe dưới

    • chiếc sẽ bị đào thải và 5 công ty taxi lớn nhất trong ngành sẽ giành thị phần từ các công ty nhỏ và lái xe tự do bị đào thải này. Với áp lực cạnh tranh, Vinasun, Mai Linh và các hãng taxi lớn khác cũng đang hiện đại hóa đội xe của mình.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 40

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Nhân tố chính tạo ra lợi thế cạnh tranh trong ngành kinh doanh taxi sẽ là dịch vụ tốt thay vì là giá cả. Việc đưa ra dịch vụ đồng nhất trên toàn bộ đội xe là điểm chính phân biệt các đối thủ cạnh tranh. Bất kỳ công ty taxi nào có đội xe hiện đại, đời mới cũng sẽ tạo ra được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Các hãng taxi lớn đã dần đẩy các hãng taxi nhỏ ra khỏi ngành kinh doanh này.

    Dự báo sẽ không có thêm công ty mới gia nhập ngành. Trên thực tế, rào cản gia nhập ngành đã tăng mạnh trong những năm gần đây do (1) chi phí đầu tư đội xe mới (2) chi phí bảo hiểm (3) chi phí nhiên liệu.

    Việc trang bị một đội xe hiện đại có thể cần chi phí xấp xỉ 34,000 USD/xe vào thời điểm hiện tại, cao gấp 2 lần so với 3 năm trước đây và quá khả năng của hầu hết các công ty taxi nhỏ. Và khả năng tiếp cận với nhiều hình thức huy động vốn, thì những công ty có số lượng xe lớn như Vinasun và Mai Linh có lợi thế hơn hẳn so với các công ty taxi nhỏ.

    Với chi phí nhiên liệu và chi phí bảo hiểm xe dự kiến tăng với tốc độ bình quân gộp 10% và 20%/năm trong vài năm tới, thì các công ty taxi nhỏ sẽ ngày gặp phải bất lợi trong cạnh tranh. Với lợi thế kinh tế theo quy mô; một đội xe hiện đại và việc cung cấp dịch vụ đồng nhất và có chất lượng cao, các công ty taxi lớn sẽ dành thị phần từ tay các các công ty taxi nhỏ.

    1. Phân tích môi trƣờng bên trong của Công ty CP Mai Linh

     

    • Tình hình hoạt động hiện tại

    Trải qua hơn 16 năm hoạt động, với tiêu chí phục vụ “An toàn – Chất lượng – Mọi lúc

    • Mọi nơi”, Công ty Cổ phần Tập Đoàn Mai Linh (MLG) đã gặt hái được nhiều thành công

    trên 8 lĩnh vực kinh doanh, với mạng lưới thông tin rộng khắp 50 tỉnh thành tại Việt Nam và dự kiến đến năm 2007 sẽ phủ kín 64 tỉnh thành và các nước lân cận: Trung Quốc, Lào, Campuchia,…giải quyết công việc cho hơn 10.000 người. Có văn phòng đại diện kinh doanh tại: Mỹ, Campuchia, Nga và đang xúc tiến tại các nước Anh, Pháp, Nhật, Singapore, Thái Lan,…

    Trong các ngành hoạt động, Vận tải được xem là nồng cốt, chủ lực cho sự phát triển lâu dài với những dự án đầu tư lớn: 1.000 xe bus chất lượng cao phục vụ tuyến cố định liên

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 41

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tỉnh và quốc tế 5.000 xe taxi và cho thuê, 50 trạm dừng chân ở các tuyến trục lộ xuyên Á, xuyên Việt, hệ thống định vị bằng vệ tinh,…

    Bên cạnh đó, các ngành nghề khác cũng tăng cường đầu tư: dự án Thủy điện LaLa, dự án du lịch “Con đường di sản Văn hóa Miền Trung”, dự án đầu tư khách sạn 5 sao tại Tp.HCM và Hà Nội…

    Trong năm 2009, công ty đã đầu tư được 241 xe và là năm thành công nhất về công tác đầu tư phương tiện kể từ khi thành lập , nâng tổng số đầu xe lên 704 xe, chiếm 50% số đầu xe phương tiện taxi trên địa bàn từ Quảng Ngãi đến Quảng Bình

    3.2.        Marketing

    3.2.1.    Biểu tượng công ty

    Ngày nay, tập đoàn Mai Linh được mọi người biết đến không còn đơn thuần là tên của một công ty, mà nó đã là tên của một thương hiệu nổi tiếng trên đất nước Việt Nam. Về ý nghĩa của thương hiệu Mai Linh, thì từ “Mai” nói lên hình ảnh của hoa mai trong ngày tết cổ truyền, của sự may mắn và niềm hạnh phúc đầu Xuân, đồng thời cũng là một từ dùng để chỉ về tương lai, về một ngày mai tốt đẹp. Còn từ “Linh” là mang ý nghĩa của từ tinh nhanh, sự linh hoạt, linh động trong giải quyết công việc. Và tô điểm cho thương hiệu của mình, ông Hồ Huy – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ (người sáng lập MLG) – đã chọn màu xanh lá cây vì rằng đó là màu của hy vọng, màu của mùa xuân trên đất nước, màu của môi trường tươi đẹp. Đến với Mai Linh, Khách hàng có thể cảm nhận được một thiên nhiên tươi đẹp, một giá trị nhân nghĩa đích thực mà Mai Linh tâm niệm và xây dựng thành một logo làm biểu trưng cho thương hiệu của mình. Đó là hình ảnh của những ngọn núi hùng vĩ được tạo nên bởi 2 chữ ML cách điệu, là một dòng sông hiền hòa được tạo thành từ 3 nét vẽ nằm ngang và cũng là ý nghĩa của sự hòa hợp giữa Thiên, Địa, Nhân. Phía trên là hình ảnh của chim hạc, là nơi “Đất lành chim đậu”, nơi an lành hạnh phúc của mọi người.

    Kết hợp tất cả các hình ảnh, màu sắc và ý nghĩa trên lại với nhau, Mai Linh muốn hướng đến một ý nghĩa sâu sắc: Mai Linh – Màu xanh cuộc sống. Tất cả vì ngày mai tươi đẹp của con em chúng ta, vì sự phát triển vững bền và lợi ích của ba bên – Công ty, Khách hàng và Xã hội

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 42

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    3.2.2.    Giá trị cốt lõi

    • Tầm nhìn: “Trở thành nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất nơi chúng tôi có mặt!” (“To be the best service provider wherever we are!”).
    • Sứ mạng: “Mang sự hài lòng đến cho mỗi người, vì cuộc sống tốt đẹp hơn!”

    (“Provide better satisfaction for better life!”)

    • Giá trị cốt lõi : Hiệu quả – Làm chủ – Dẫn đầu – Chuyên nghiệp – Chung sức, chung long (Effectiveness – Ownership – Leadership – Proffesionalism – Teamwork).

    3.2.3.     Các hoạt động quảng cáo, từ thiện

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh luôn luôn ý thức thực hiện trách nhiệm tri ân của mình đối với xã hội. Mỗi cán bộ, nhân viên công ty luôn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội.

    Công ty thường xuyên tự tổ chức các phong trào nhân các ngày lễ lớn, hoặc phong trào do các tổ chức, ban ngành đoàn thể phát động, chẳng hạn như:

    • Hiến máu nhân đạo
    • Lá lành đ m lá rách: nạn nhân thiên tai, học bổng cho học sinh nghèo, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa: 119 triệu đồng (năm 2000), 85 triệu đồng (năm 2001), 371 triệu đồng (năm 2002), 474 triệu đồng (năm 2003), 1 tỷ 750 triệu đồng năm 2004 trong chương trình “Thăm lại chiến trường xưa” và riêng chương trình “Vang mãi khúc quân hành” nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 04/2005 là 6 tỷ đồng.
    • ng hộ, gây qu giúp đ nạn nhân chất độc da cam: Mai Linh tổ chức thu thập hơn 100.000 chữ ký đòi công lý, 4000 người tham gia diễu hành , tổ chức chương trình ca nhạc “Thắp lên niềm hy vọng” với số tiền quyên góp của các tổ chức, cá nhân là hơn tỉ đồng, riêng Mai Linh là 400 triệu đồng
    • Chương trình Lửa ấm về các miền quê: Trao tặng trâu và áo ấm trị giá 4,5 tỉ đồng cho bà con các tỉnh phía Bắc chịu ảnh hưởng của đợt rét đậm, rết hại năm 2008

    3.2.4.    Các danh hiệu đã được trao

    Tập Đoàn Mai Linh vinh dự được các tổ chức xét thưởng uy tín trao nhiều cúp, giải thưởng: Sao vàng đất Việt, Thương hiệu mạnh, Giải thưởng chất lượng Việt Nam,…và nhận nhiều bằng khen, giấy khen của các Bộ, Ngành, đặc biệt Bằng khen của Thủ tướng chính phủ

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 43

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    và Huy chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước cho hoạt động kinh doanh năm 2006, công ty cung cấp dịch vụ taxi đầu tiên của Việt Nam đạt được giấy chứng nhận Hệ thống Quản lý Chất lượng phù hợp tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2000, một trong số các thương hiệu đầu tiên nhận được giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2003-2005…

    Tháng 08/2008, Tập đoàn Mai Linh Đông Bắc Bộ đã vinh dự nhận được “Cúp vàng Văn hoá Doanh nghiệp” khẳng định cho quá trình nỗ lực của tập thể CBNV xây dựng một môi trường văn hóa kinh doanh trên nền tảng bản sắc văn hoá dân tộc.

    Ngày 28/04/2009, Taxi Mai Linh đạt danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất 2009” do Báo Sài Gòn Tiếp Thị bình chọn.

    Tập đoàn Mai Linh vừa được đánh giá nằm trong danh sách Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009 (VNR500). Danh sách này được Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) công bố

    3.3.        Quản lý nguồn nhân lực

    Trong kinh doanh vận tải, mặc dù chất lượng xe rất quan trọng, nhưng con người mới là yếu tố chính để hoạt động kinh doanh trở thành chuyên nghiệp. Trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hiện nay giữa các tập đoàn vận tải, hầu như không khó để các tập đoàn trang bị những chiếc xe hiện đại nhất để cạnh tranh, vì vậy cái khác biệt để thể hiện tính chuyên nghiệp và làm khách hàng hài lòng chính là đội ngũ nhân viên phục vụ. Nâng cao chất lượng dịch vụ về con người là mục tiêu lâu dài của công ty.

    Chính vì vậy, đội ngũ lái xe của Mai Linh được tuyển chọn rất cẩn thận và chặt chẽ với các tiêu chí về tay nghề, thể chất và cả ngoại hình. Sau khi tuyển dụng, các lái xe được qua lớp đào tạo khoảng 2 tháng về tay nghề, kiến thức kinh doanh, văn hóa để phục vụ khách hàng, tạo cho khách sự an tâm nhất khi sử dụng dịch vụ vận tải của Mai Linh. Cam kết của MaiLinh Express với khách hàng sử dụng là: chạy đúng giờ, đến đúng giờ, đúng tuyến, đúng lộ trình và không đón khách dọc đường. Từ khi đưa vào hoạt động, Mai Linh luôn thực hiện đúng cam kết khiến khách hàng rất vừa lòng. Mai Linh đang cố gắng phục vụ với cung cách tốt nhất để khách hàng cảm thấy hài lòng, thỏai mái và an tâm khi sử dụng dịch vụ vận tải của Mai Linh.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 44

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Trong năm 2009, công ty đã làm tốt công tác nâng cao chất lượng dịch vụ bằng các công việc cụ thể là đào tạo và đào tạo lại đội ngũ nhân sự lái xe và cán bộ quản lý.

    Trong khủng hoảng, hàng loạt doanh nghiệp phải tìm cách cắt giảm chi phí sản xuất và đội ngũ nhân sự nhưng, công ty Mai Linh đã thực hành tiết kiệm tối đa và tái cấu trúc theo tiêu chí luôn lấy con người làm trọng tâm, mở rộng thị trường tuyển dụng thêm hàng ngàn cán bộ, nhân viên.

    Công ty liên tục tổ chức và duy trì các lớp đào tạo nâng cao cho cán bộ nhân viên và khóa huấn luyện nghiệp vụ cho nhân viên lái xe về kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, ngoại ngữ và đạo đức nghề nghiệp… Thành quả của công tác này là nhân viên lái xe phục vụ khách hàng ngày càng chuyên nghiệp. Rất nhiều lần lái xe taxi của công ty đã trả lại tài sản quý giá của khách hàng để quên, dũng cảm ngăn chặn và bắt cướp, giúp đỡ khách hàng, đỡ đẻ cho sản phụ; tiêu biểu là tấm gương của lái xe Nguyễn Trung Dũng – Mai Linh Quảng Ninh đã trả lại tài sản cho khách trị giá 700 triệu đồng.

    Chính phong cách phục vụ chuyên nghiệp, lịch sự, tận tụy, trung thực của hơn 2000 cán bộ nhân viên đã làm khách hàng hài lòng và tín nhiệm sử dụng dịch vụ taxi và các dịch vụ khác của tập đoàn.

    3.4.        Hệ thống thông tin

    Công ty đã chủ động ứng dụng phần mềm quản lý ôtô thông qua hệ thống định vị vệ tinh (GPS) đã giảm thiểu đáng kể số lượng va quẹt, đảm bảo an toàn giao thông.

    Năm 2009, công ty đã triển khai nâng cấp hệ thống tổng đài điều hành taxi bằng việc cài đặt phần mềm tổng đài và huấn luyện đội ngũ nhân viên tổng đài. Do vậy mà công tác điều hành taxi qua tổng đài đã có nhiều tiến bộ. Hiện nay đã triển khai xong tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Huế. Các công ty còn lại sẽ triển khai trong 2010.

    Mai Linh là một trong những đơn vị đi đầu trong ứng dụng GIS (Geographic Information System – hệ thống thông tin địa lý) vào quản lý, điều hành hệ thống vận tải. Với công cụ điều hành này, dù các xe đang hoạt động tại nơi đâu, chỉ cần nhìn vào hệ thống định vị thì người quản lý ngồi tại văn phòng vẫn biết xe chạy với vận tốc bao nhiêu, đang ở vị trí nào, dừng ở đâu…. để điều chỉnh, hướng dẫn. Cũng nhờ quản lý sát sao bằng phương tiện tiên

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 45

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tiến nên Mai Linh là một trong những thương hiệu xe chạy an toàn nhất. Để quản lý bằng GIS, mỗi xe được đầu tư khoảng 1.000USD và hiện đã có gần 100 xe đường dài của công ty được trang bị GIS.

    Các dịch vụ khép kín của Mai Linh cũng là một trong những điều làm khách hàng vừa lòng. Cùng với sự ra đời của MaiLinh Express là các trạm dừng chân được xây dựng dọc theo quốc lộ. Các trạm dừng chân này được xây dựng theo mô hình khép kín với các kho xăng dầu, nhà hàng khách sạn, khu thương mại dịch vụ để khách hàng mua sắm và giải lao trong lúc dừng xe…. Từ khi có dự án trạm dừng chân của Mai Linh, khách đi xe tránh được tình trạng cơm tù chặt chém, được nghỉ ngơi trong không gian thoáng mát dễ chịu, giá cả phải chăng.

    Tính chuyên nghiệp của Mai Linh còn được thể hiện rõ ở việc kinh doanh và điều hành kinh doanh hiệu quả. Trong điều kiện nguyên liệu chính cho vận tải là xăng dầu liên tục biến động giá theo chiều hướng tăng nhưng với một ngành đang cạnh tranh khốc liệt như vận tải thì không thể dễ dàng tăng giá để bảo đảm lợi nhuận. Cũng vì vậy mà Mai Linh đã phải tìm ra một phương thức để bảo đảm hiệu quả kinh doanh mà vẫn không đổ hết mọi thiệt thòi cho người sử dụng dịch vụ. Để làm điều này, Mai Linh đã nghiên cứu phương thức hoạt động và thực hành tiết kiệm. Taxi của Mai Linh vừa được hợp nhất thành một tổng đài chung với số gọi ở Hà Nội là (04)8 22 25 55 và TP.HCM là (08) 8 26 26 26 để công tác điều hành được nhịp nhàng và hiệu quả, tránh tình trạng xe chạy không khách, giảm được rất nhiều nhiên liệu. Mặc khác, công ty cũng sẽ tiếp tục gắn định vị vệ tinh cho hệ thống xe taxi để điều phối xe hoạt động hiệu quả hơn.

    3.5.        Xác định chuỗi giá trị của công ty:

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 46

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Hình 12: Chuỗi giá trị Công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh

    3.5.1.    Các hoạt động cung ứng đầu vào

    • Trong tình hình kinh tế khó khăn, giá xăng dầu đã liên tục biến động đến 11 lần lên cao điểm là 19.000 đồng/lít; Tỷ giá hối đoái có thời điểm biến động khá đáng kể, tác động không nhỏ đến giá phương tiện và các trang thiết bị, phụ tùng sửa chữa, bảo dưỡng; Thị trường ôtô thiếu nguồn cung nghiêm trọng, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư, thanh lý, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các đơn vị… Thế nhưng MLG vẫn đang là người dẫn đầu với số lượng xe nhiều nhất.

    Chính sách thắt chặt số lượng xe là một thuận lợi lớn cho Mai Linh, với số lượng xe hiện tại đang vượt mức, MLG không sợ thiếu nguồn cung ứng vì cứ 1 xe cũ đổi 1 xe mới.

    • Bên cạnh việc mua sắm các phương tiện vận tải để phục vụ cho quá trình cung ứng dích vụ, tài xế lái xe cũng được xem là một trong những đầu vào của Mai Linh. Vì thế, Mai Linh luôn có những tiêu chuẩn khá khắt khe với nguồn nhân lực của mình.

    Tiêu chuẩn tuyển tài xế lái xe: Ứng viên có bằng lái xe dấu B2, tuổi từ 21 trở lên, có hộ

    khẩu lý lịch rõ ràng, ký quỹ 3,5 triệu đồng. Ứng viên là bộ đội xuất ngũ, người có hoàn cảnh khó khăn chỉ đóng tiền ký quỹ là 1,5 triệu đồng, phần còn lại công ty cho trả dần. Riêng lái xe

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 47

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    cao cấp, ứng viên phải có hai năm kinh nghiệm, chứng chỉ A Anh văn, nhân dáng thuyết phục.

    -Đánh giá: kém

    3.5.2.    Hoạt động vận hành

    • Với sự thành công của xe taxi và xe tốc hành Mai Linh Express, MLG còn phát triển thêm tuyến xe buýt trợ giá và được sự tín nhiệm khá cao của khách hàng. Với tiêu chí luôn

    hướng đến khách hàng, tiêu chí hoạt động hàng đầu của vận tải Mai Linh là “an toàn”. Đây là cách mà doanh nghiệp xây dựng uy tín thương hiệu cho mình.

    – Với phần mềm quản lý ôtô thông qua hệ thống định vị vệ tinh (GPS) đã giảm thiểu đáng kể số lượng va quẹt, đảm bảo an toàn giao thông. Đồng thời, công ty đã triển khai nâng cấp hệ thống tổng đài điều hành taxi bằng việc cài đặt phần mềm tổng đài và huấn luyện đội ngũ nhân viên tổng đài. Do vậy mà công tác điều hành taxi qua tổng đài đã có nhiều tiến bộ.

    -Đánh giá: tốt

    3.5.3.    Hoạt động cung ứng đầu ra

    • Tập đoàn Mai Linh là một trong những doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách, lữ hành…Trong đó, mảng kinh doanh chính là dịch vụ taxi Trụ sở chính đặt tại số 64-68 Hai Bà Trưng, Phường Bến Nghé, Quận 1, TPHCM nhưng Mai Linh đã phủ màu xanh của mình lên khắp các tỉnh thành trên cả nước.
    • Sự ra đời của Công Ty cổ phần sữa chữa ôtô Mai Linh là hệ quả tất yếu của sự phát

    triển của MAILINHCORPORATION theo định hướng phát triển trở thành một tập đoàn khép kín và vững mạnh có 3 chi nhánh đầu tiên tại TP. Hồ Chí minh . Còn ở phía Bắc , Công Ty Mai Linh thăng Long đảm nhận nhiệm vụ này. Riêng mỗi đơn vị thành viên đều có xưởng bảo trì và bảo dưỡng hằng ngày nhằm đảm bảo việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng là tốt nhất.

    -Đánh giá: trung bình

    3.5.4.    Marketing

    – Hiện Mai Linh có 6 đơn vị xe: Xe cao cấp cho thuê, Taxi Deluxe, Saigon Taxi, ML Taxi, Gia Định Taxi, Chợ Lớn Taxi. Với những danh hiệu như Sao vàng đất Việt, Thương hiệu mạnh, Giải thưởng chất lượng Việt Nam,…và nhận nhiều bằng khen, giấy khen của các Bộ, Ngành, đặc biệt Bằng khen của Thủ tướng chính phủ và Huy chương lao động hạng 3 của

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 48

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Chủ tịch nước cho hoạt động kinh doanh năm 2006, công ty cung cấp dịch vụ taxi đầu tiên của Việt Nam đạt được giấy chứng nhận Hệ thống Quản lý Chất lượng phù hợp tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2000, một trong số các thương hiệu đầu tiên nhận được giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2003-2005… Mai Linh đã có được sự tín nhiệm của khách hàng khá cao.

    • Đánh giá: tốt

    3.5.5.    Dịch vụ khách hàng.

    Trung tâm dịch vụ khách hàng của Mai Linh được thành lập nhằm:

    • Giải quyết các khiếu nại của khách hàng về dịch vụ của Mai Linh.
    • Hỗ trợ và cung cấp thông tin cho khách hàng.
    • Cung cấp dịch vụ cho thuê xe ô tô điện, xe ô tô từ 4 chỗ đến 45 chỗ các loại.
    • Đặt phòng khách sạn.
    • Đại lý bán vé máy bay, tàu lửa, xe tuyến cố định Mai Linh chất lượng cao.
    • Đại lý cung cấp nước khoáng Mai Linh.
    • Điểm bán vé Tour du lịch và các sản phẩm của Mai Linh Tourism.
    • Điểm bán vé tàu du lịch Mai Linh đi tham quan các tuyến đảo Nha Trang.
    • Điểm bán vé tuyến Liên vận quốc tế Nha Trang – Gia Lai – Chămpasak (Lào).
    • Đại lý chuyển phát nhanh thư từ cho Mailinh, Viettel, Saigon post,…..
    • Dịch vụ thu đổi ngoại tệ, kiều hối.
    • Đại lý cung cấp văn phòng phẩm…

    Bên cạnh đó, tài xế Mai Linh luôn có thái độ phục vụ rất tốt. Mai Linh không thiếu những tấm gương sang về tính thật thà, dũng cảm, nghĩa hiệp của các bác tài. Những điều đó giúp Mai Linh đạt được danh hiệu “dịch vụ được hài lòng nhất 2009”.

    • Đánh giá: tốt
    • Nhận xét: mặc dù ở hoạt động Cung ứng đầu vào, công ty có gặp một vài khó khăn, nhất là việc biến động tỷ giá ảnh hưởng đến nguồn cung phương tiện vận tải và chi phí xăng; nhưng nhờ quá trình vận hành tốt và dịch vụ khách hàng chu đáo, Mai Linh đã xây dựng được một giá trị thương hiệu vô cùng quý báu.

     

    1. Xác định lợi thế cạnh tranh
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 49

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    4.1.        Dự báo nhu cầu giao thông vận tải đƣờng bộ đến năm 2020

    4.1.1.    Tình hình gia tăng phương tiện vận tải đường bộ

    Năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân của phương tiện đường bộ trên toàn quốc là 13-17%/năm, trong đó xe con dưới 9 chỗ là 13-18%/năm, xe khách trên 10 chỗ là 16-22%/năm và xe tải là 12-14%/năm. Từ năm 2011-2020, tốc độ tăng trưởng bình quân của phương tiện đường bộ trên toàn quốc là 7-12%/năm, trong đó xe con dưới 9 chỗ là 5-14%/năm, xe khách trên 10 chỗ là 6-12%/năm và xe tải là 8-10%/năm. Dự kiến, đến năm 2020, toàn quốc có khoảng 2,8 ÷ 3 triệu xe ô tô các loại, trong đó xe ô tô con 1,5 triệu chiếc, xe ô tô khách 0,5 triệu chiếc, xe ô tô tải 0,8 triệu chiếc.Với tình hình này, cần hạn chế tốc độ tăng trưởng xe máy và kiểm soát sự gia tăng xe con cá nhân, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Trong năm 2010 khống chế tăng trưởng xe máy dưới 7%/năm (theo hướng giảm dần) và xe con 10-15%/năm; từ năm 2010 trở đi, tại các đô thị lớn, không phát triển xe máy mà phát triển mạnh vận tải công cộng. Tại Tp.HCM, từ 01/06/2010 chính thức hạn chế việc phát triển taxi, chỉ cho phép các doanh nghiệp thay thế 1 xe cũ bằng 1 xe mới. Bởi với đà tăng trưởng trên thì đến cuối tháng 6/2010, lượng taxi trên địa bàn TPHCM có khả năng lên đến con số 15.000 chiếc, vượt xa quy hoạch phát triển taxi đến năm 2020 của TP (12.700 xe).

    4.1.2.     Hệ thống cơ sở hạ tầng phương tiện đường bộ

    Hệ thống đường bộ Việt Nam dài hơn 200.000 km, trong đó mới có khoảng 19% đường được trải nhựa, đây hiện là kênh vận chuyển chính ở trong nước nhờ giá thành rẻ và tiện dụng. Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2000 – 2006 của lĩnh vực này là 7,3% sản lượng hàng hóa và 9.7% số hành khách vận chuyển và có xu hướng tăng mạnh.

    Nếu so sánh về năng lực cạnh tranh theo thang điểm từ thấp đến cao là 1 – 7 thì ngành đường bộ Việt Nam hiện nay mới đạt 2.98 điểm, đứng sau tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á được xếp hạng như Thái Lan, Malaysia, Philippines…

    Định hướng của ngành GTVT là phải phát triển trên phạm vi toàn quốc một mạng lưới đường bộ cao tốc ít nhất 22 tuyến với tổng chiều dài 5.873km trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và các năm tiếp theo. Trong số này, khu vực phía Bắc có 7 tuyến hướng tâm dài

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 50

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    1.099km kết nối với thủ đô Hà Nội, khu vực phía Nam được hoạch định 6 tuyến dài gần

    1.000km; Khu vực miền Trung và Tây Nguyên gồm 3 tuyến dài 264km. Riêng thủ đô Hà Nội và TPHCM còn có thêm hệ thống đường vành đai cao tốc dài hơn 260km. Bên cạnh hệ thống đường cao tốc là mạng lưới quốc lộ dàn trải đều khắp. Tại miền Trung, ngoài các trục dọc Bắc-Nam còn chú ý hệ thống các đường ngang nối liền vùng đồng bằng ven biển miền Trung với khu vực Tây nguyên, hoặc nối các cảng biển tới cửa khẩu quốc tế qua Lào và Campuchia. Các đường ngang phải đạt chuẩn cấp III, cấp IV, phục vụ 2 làn xe.

    4.1.3.     Nhu cầu giao thông đường bộ trong tương lai

    Với việc phát triển hệ thống các đường cao tốc và nâng cấp các tuyến quốc lộ trên cả nước tạo điều kiện cho ngành giao thông vận tải đường bộ phát triển trong những năm tới, giảm được tình trạng quá tải trong các dịp lễ, tết. Sự phát triển kinh tế trong giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng 2008 dẫn đến nhu cầu về vận chuyển hàng hóa sẽ tăng với tốc độ tương tự. Ngoài ra, khi thu nhập được cải thiện (tăng 7.8%/năm) thì nhu cầu giao thương, du lịch của người dân cũng sẽ tăng mạnh.

    Song song với việc phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là các phương thức vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đảm bảo tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách công cộng ở các thành phố lớn đạt 25-30% trong năm 2010 và 50-60% vào năm 2020. Theo Quy hoạch đã được phê duyệt, phấn đấu đến năm 2020, vận chuyển 5,5 tỷ hành khách với 165,5 tỷ hành khách luân chuyển, tăng bình quân 11,2%/năm về hành khách luân chuyển; khối lượng hàng hóa vận chuyển là 760 triệu tấn với 35 tỷ tấn hàng hóa luân chuyển, tăng bình quân 7,5%/năm về tấn luân chuyển.

    Theo tính toán dựa trên số liệu dự báo của dự án Nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững hệ thống Giao thông vận tải Việt Nam (VITRANSS2), nhu cầu GTVT của Việt Nam từ nay đến giai đoạn 2030 sẽ tăng rất mạnh. Cụ thể, về lượt hành khách và tấn hàng hóa sẽ tăng 300% – 400% so với năm 2008. Về hành khách/km và tấn/km sẽ tăng trên 700% – 800% so với năm 2008. Đến năm 2030, nhu cầu hành khách trên hành lang vận tải Bắc – Nam sẽ là 534.000 hành khách/ngày, tương đương 195 triệu hành khách/năm (chỉ tính những chuyến đi liên tỉnh) trong đó năng lực của các loại phương thức vận tải trên hành lang vận tải

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 51

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Bắc – Nam gồm đường ô tô cao tốc 4 làn xe đạt khoảng 88 triệu hành khách/năm, tuyến đường Quốc lộ 1 nâng cấp chủ yếu phục vụ vận tải nội vùng.

    Định hướng đến năm 2030 thoả mãn được nhu cầu vận tải và dịch vụ vận tải của xã hội với chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhanh chóng, êm thuận, an toàn; kết nối được với các phương thức vận tải khác, nhất là các điểm chuyển tải hành khách đường dài với vận tải hành khách đô thị.

    4.2.        Khả năng và cơ hội của công ty trong tƣơng lai

    4.2.1.    Khả năng của công ty trong tương lai

    Hiện nay thương hiệu Mai Linh đã được biết đến khắp các tỉnh thành trong cả nước, là doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng đầu ở Việt Nam, có số lượng xe kinh doanh vận tải lớn nhất Việt Nam. ML phấn đấu đến cuối năm 2010 sẽ có mặt khắp 63 tỉnh thành, mở rộng các tuyến nối liền tất cả các huyện thị Việt Nam.

    Tận dụng cơ hội Việt Nam gia nhập WTO, ML đã mạnh dạn mở rộng thị trường kinh doanh vận tải ra nước ngoài là Lào và Campuchia.

    Tiềm lực tài chính vững mạnh với số vốn 700 tỷ đồng, 11 công ty con trực tiếp và 51 công ty con gián tiếp phủ khắp các tỉnh thành Việt Nam cộng với bề dày kinh nghiệm, Mai Linh có khả năng giữ vững vị trí ngọn cờ đầu trong lĩnh vực kinh doanh vận tải ở Việt Nam trong tương lai.

    4.2.2.    Cơ hội của công ty trong tương lai

    Với chính sách phát triển vận tải của Chính phủ Số 35/2009/QĐ-TTg ngày 03/03/2009 về việc phê duyệt điều chỉnh chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

    – Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải; thành lập tập đoàn vận tải có vốn của Nhà nước để phục vụ các tuyến có nhu cầu vận tải lớn như tuyến Bắc – Nam, vận tải hành khách công cộng đô thị, vận tải phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo và các nhiệm vụ đột xuất khác khi cần thiết.

    – Hỗ trợ cho các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng và vận tải phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn với nhiều hình thức như: ưu đãi tín dụng, ưu đãi sau đầu

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 52

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tư mua sắm phương tiện hoặc trợ giá. Khuyến khích sử dụng phương tiện lắp ráp trong nước để vận chuyển hành khách công cộng bằng các hình thức như bán trả chậm, bán trả góp, có chính sách ưu đãi trong việc nhập khẩu phụ tùng, thiết bị mà trong nước chưa sản xuất được…

    • Phát triển đa dạng các loại hình vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đảm bảo chất lượng, nhanh chóng, an toàn, tiện lợi, tiết kiệm chi phí xã hội. Phát triển mạnh vận tải đa phương

    thức và dịch vụ logistics trong vận tải hàng hóa.

    Bên cạnh đó là chính sách đơn giản hóa các thủ tục trong kinh doanh vận tải đường bộ bao gồm: rút gọn thành phần hồ sơ, giảm thời gian thực hiện, bỏ những yêu cầu không cần thiết… Đặc biệt, chi phí tuân thủ sáu thủ tục có thể cắt giảm đến 93% với khoản tiền tiết kiệm được 75 tỉ đồng mỗi năm cho cộng đồng doanh nghiệp (DN), giảm được gánh nặng trên vai DN, tiết kiệm thời gian và chi phí.

    Với sự khuyến khích và hỗ trợ của Chính phủ cho các DN vận tải đường bộ, đồng thời với việc nâng cao hệ thống vận tải đường bộ mở ra cơ hội phát triển của ngành giao thông vận tải đường bộ nói chung và của công ty Mai Linh nói riêng.

    1. Phân tích ma trận SWOT: Điểm mạnh – điểm yếu – cơ hội – thách thức
        ĐIỂM MẠNH – S     ĐIỂM YẾU – W
        S1: mạng lưới thông tin – W1: lỗ ròng 224 tỷ đồng
        và văn phòng rộng khắp Việt từ  2007-2009,  vay  nợ  tăng
        Nam và các nước lân cận   làm tăng áp lực trả nợ
        S2:   thương hiệu nổi – W2: chi phí không hợp lý,
        tiếng được nhiều người  ưa
        phát sinh nhiều công ty con
        thích, đạt top  500  DN lớn
        hoạt động không hiệu quả.
        nhất Việt Nam (2009)  
           
        S3: đội ngũ lãnh đạo có  
        tầm, có tâm; nhân viên nhiệt  
        tình            
        S4:  nguồn  vốn  đầu  
        lớn, số  lượng  phương  tiện  
        vận tải nhiều.      
                     
                     
                     
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 53

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CƠ HỘI – O CÁC CHIẾN LƢỢC SO CÁC CHIẾN LƢỢC WO  
    O1: trung bình 1000 -S1,4+O1,2,3: Mạng lưới phủ – W2  + O1,2: tập trung mũi  
    người/xe,  tiềm  lực  thị rộng  và  tài chính  mạnh  + nhọn   vào   lĩnh vực   vận  
    trường lớn tiềm  lực  và   nhu  cầu  thị chuyển.    
      – W1+O3:  hạn chế  không  
    O2: đời sống xã hội trường lớn à mở rộng thêm
        đầu  tư  vào  những  ngành  
    du  lịch  phát  triển, các  thị  trường  mới  để  gia
    không có sự hỗ trợ hoặc vốn  
    nhu cầu đi lại càng cao tăng thị phần    
        đầu tư quá lớn.    
    O3: sự khuyến khích            
                 
    sử dụng phương tiện đi              
    lại công cộng của chính              
    phủ                
    THÁCH THỨC – T CÁC CHIẾN LƢỢC ST CÁC CHIẾN LƢỢC WT
    –  T1:   kinh   tế   thị – S2,3+T2: đào tạo và huấn – W1+T 1:  cần  quản  lý  có
    trường chưa ổn định ảnh luyện nhân viên về trình độ hiệu quả việc sử dụng và bảo
    hưởng đến nguồn cung ô chuyên môn và phong cách dưỡng phương tiện vận tải.
    phục vụ.  
     
    – S4+T2:  tối thiểu  hóa  chi  
    –  T2:  cạnh  tranh  về  
    phí để có mức giá cạnh tranh  
    giá và chất lượng phục  
    tốt nhất.  
    vụ ngày càng gay gắt  
       
    1. Định hƣớng phát triển công ty đến năm 2020

    6.1.        Sứ mạng

    • Thỏa mãn nhu cầu ngày càng gia tăng và tạo niềm tin của khách hàng thông qua việc cung cấp một cách tối ưu những sản phẩm chất lượng cao và ổn định.

     

    • Phấn đấu chiếm lĩnh vị thế cạnh tranh trên tất cả các thị trường thông qua hoạt

    động sản xuất, phân phối, và bán hàng có hiệu quả.

    • Phát triển nguồn nhân lực toàn diện và chế độ đãi ngộ công bằng.

     

    • Vun đắp cho văn hóa công ty mang bản sắc riêng biệt – quan hệ hợp tác chân thành và cởi mở.

    6.2.        Mục tiêu phát triển của công ty đến năm 2020

    6.2.1.    Mục tiêu dài hạn:

    • Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu là 15% vào năm 2015 và 20% vào năm 2020.
    • Phấn đấu đến năm 2020, thị phần ngành du lịch là 30%.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 54

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Xây dựng Mai Linh thành thương hiệu mạnh nhất, nổi tiếng nhất trong lĩnh vực giao thông vận tải.
    • Nâng doanh thu đến năm 2020 đạt trên 60.000 tỉ đồng.

    6.2.2.    Mục tiêu ngắn hạn:

    • Gia tăng thị phần qua mỗi năm về số tuyệt đối và tương đối
    • Đảm bảo 100% tài xế đầu được huấn luyện chuyên nghiệp

    6.2.3.    Mục tiêu chiến lược:

    • Đẩy mạnh thâm nhập thị trường giao thông vận tải ở Lào và Campuchia.
    • Trở thành một trường dạy nghề hàng đầu tại Việt Nam.
    • Nhân rộng mạng lưới taxi ở tất cả các tỉnh thành trong nước.
    • Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và quản lý tốt

    6.2.4.    Tiêu chuẩn của mục tiêu chiến lược:

    1. Thâm nhập thị trường nước ngoài: Hiện tại Mai Linh đã có văn phòng đại diện kinh doanh tại: Mỹ, Campuchia, Nga và đang xúc tiến tại các nước Anh, Pháp, Nhật, Singapore, Thái Lan,… Mai Linh cần đẩy mạnh chất lượng dịch vụ ở những nước đã có nền móng của mình trước tiên là 2 nước lân cận.
    1. Doanh thu phải tiếp tục tăng qua các năm, trung bình 15-20% cả về số tuyệt đối lẫn tương đối.Theo số liệu thống kê tình hình tăng doanh thu qua các năm như sau.

    Hình 13: Biểu đồ Doanh thu của Công ty CP Tập đoàn Mai Linh qua các năm

    1. Biểu đồ Tình hình tăng trưởng phương tiện qua các năm
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 55

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Hình 14: Biểu đồ Tình hình tăng trưởng phương tiện công ty CP Tập đoàn Mai Linh qua các năm

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 56

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    CHƢƠNG III

    CHIẾN LƢỢC KINH DOANH VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH GIAI ĐOẠN 2010-2020

    1. Phƣơng án chiến lƣợc cấp công ty:

     

    • Mục đích

    Mai Linh là một tập đoàn lớn với hơn 70 công ty con kinh doanh đa ngành nghề. Một số công ty con hoạt động không hiệu quả đã dẫn đến lỗ ròng.. Để khắc phục tình trạng đó, MLG cần xác định chiến lược phù hợp trong giai đoạn tới. tập trung vào những ngành ưu thế hoặc những ngành có khả năng sinh lời cao. Như thế mới tập trung được nguồn lực để cạnh tranh với các đối thủ trong môi trường khốc liệt hiện nay. Vạch chiến lược là để trả lời câu hỏi con đường nào để đạt được mục tiêu.

    1.2.        Ma trận thị phần tăng trƣởng BCG

    Lựa chọn phương án chiến lược bằng ma trận BCG ta dựa vào 2 yếu tố là tỷ lệ tăng trưởng của thị trường và thị phần tương đối của MLG so với đối thủ cạnh tranh.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 57

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Cao

    20%

    Tỷ

    Lệ

    tăng                       Trung bình

    trưởng                                   10%

    của

    thị                                           Thấp

    trường

    0%

    10                                                5                                                       0

    Thị phần tương đối

    Hình 15: Ma trận BCG của MLG

    • SBU1: dịch vụ taxi
    • Tăng trưởng thị trường: 16,2%
    • Thị phần tương đối: 2,2
    • Thời kỳ Chưa Ổn Định

    Đối với dịch vụ Taxi: tuy tỷ lệ tăng trưởng của thị trường cao, nhưng thị phần tương đối còn thấp. Hiện nay, ở ba thị trường TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai Vinasun hiện đang chiếm thị phần cao hơn Mai Linh. Vì vậy, Mai Linh cần đẩy mạnh nâng cao chất lượng dịch vụ với mức giá hợp lý nhất để giữ được một thị phần như monh muốn.

    • SBU2: dịch vụ xe khách
    • Tăng trưởng thị trường: 17,8%
    • Thị phần tương đối: 6,4
    • Thời kỳ Hoàng Kim

    Đối với dịch vụ xe khách đường dài: có thể nói đó là một thành công lớn của Mai Linh. Là hãng taxi đầu tiên chạy thử nghiệm “những chuyến xe không khói thuốc” từ TP.HCM đi khắp mọi miền. Tuy nhiên, trong lĩnh vực xe khách đường dài, Mai Linh phải đối

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 58

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    mặt với một bộ phận không nhỏ các nhà xe tư nhân. Vì thế, muốn giúp khách hàng phân biệt được Mai Linh, ngoài Logo và thương hiệu, ta còn có thể giúp khách hàng nhận biết Mai Linh qua phong cách phục vụ chu đáo. Đó cũng là một thế mạnh của Mai Linh.

    1.3.        Cơ sở thực hiện chiến lƣợc

    Dựa trên những lợi thế sẵn có của doanh nghiệp và những cơ hội do môi trường mang đến cho doanh nghiệp. Ta có thể tin vào những ưu thế như sau:

    • Theo quyết định của Sở, ngày 31/5/2010 là hạn chót cho các hang taxi nộp hồ sơ chốt số lượng xe của hãng, đồng thời từ ngày 1/6/2010 chỉ cho phép các doanh nghiệp thay thế 1 xe cũ bằng 1 xe mới. Việc khống chế số lượng xe cũng giúp bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh taxi. Hành khách không có thêm nhiều taxi mới để lựa chọn, các doanh nghiệp kinh doanh taxi hiện hữu càng “có giá”, “Không có thêm đối thủ mới trong cạnh tranh, các hãng taxi chỉ có lợi”.
    • Thêm vào đó, hiện nay Nhà nước cũng không quản lý giá cước vận tải nói chung và giá cước taxi nói riêng. Đó là một thuận lợi cho các hang taxi lớn và có số lượng xe nhiều như Mai Linh.
    • Với những sự kiện về các tài xế dũng cảm, tên tuổi của Mai Linh thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, đó là một ưu thế rất lớn của Mai Linh trong vấn đề mở rộng quy mô hoạt động.
    1. Chiến lƣợc kinh doanh trên thị trƣờng quốc tế:

    2.1.        Các yếu tố chính tạo ra ƣu thế cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế

    –     Trải qua hơn 16 năm hoạt động, với tiêu chí phục vụ “An toàn – Chất lượng – Mọi lúc – Mọi nơi”, Công ty Cổ phần Tập Đoàn Mai Linh (MLG) đã gặt hái được nhiều thành công trên 8 lĩnh vực kinh doanh, với mạng lưới đã phủ ra các nước lân cận: Trung Quốc, Lào, Campuchia,… Có văn phòng đại diện kinh doanh tại: Mỹ, Campuchia, Nga và đang xúc tiến tại các nước Anh, Pháp, Nhật, Singapore, Thái Lan,…

    • Trong các ngành hoạt động, Vận tải được xem là nồng cốt, chủ lực cho sự phát triển lâu dài với những dự án đầu tư lớn: 1.000 xe bus chất lượng cao phục vụ tuyến cố định liên
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 59

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    tỉnh và quốc tế 5.000 xe taxi và cho thuê, 50 trạm dừng chân ở các tuyến trục lộ xuyên Á, xuyên Việt, hệ thống định vị bằng vệ tinh,…

    • Ngoài ra, giá thành sản phẩm dịch vụ của Mai Linh khi chuyển sang ngoại tệ rẻ hơn các nước. Đồng thời, khi kinh doanh tại nước ngoài, Mai Linh có thể mua được phương tiện vận tải với giá rẻ hơn trong nước do miễn được vài loại thuế. Đó là những ưu thế về chi phí thấp.

    2.2.        Các phƣơng án chiến lƣợc chính vƣơn ra thị trƣờng quốc tế

    • Vận tải là ngành mũi nhọn của MLG, vì vậy, khi nguồn lực chưa đủ lớn và trong giai đoạn

    đầu xâm nhập thị trường thế giới, ta nên lựa chọn chiến lược “ tiêu điểm toàn cầu”.

    • Khi mới bắt đầu gia nhập thị trường toàn cầu này, nên lựa chọn những nước có nền văn hóa, điều kiện sống tương đồng với Việt Nam. Do đó, những nước lân cận trong khu vực được xếp đầu danh sách đầu tư.

    2.3.     Các bƣớc xâm nhập thị trƣờng Quốc tế của Mai Linh:

    • Chọn quốc gia: Thái Lan. Lào và Campuchia là 2 nước làng giềng, và MLG đã có được vị trí ở 2 nước này. Bước tiếp theo MLG nên chọn Thái Lan vì Thái Lan cũng có những điều kiện tương đồng với 2 quốc gia trên. Ngoài ra, Thái Lan còn có ưu thế là du lịch phát triển khá mạnh, đó là sự thuận lợi lớn cho ngành taxi.
    • Chọn thời điểm thâm nhập: vì là công ty khá lớn tại Việt Nam, nên thời điểm xâm nhập vào thị trường Thái Lan hơi chậm hơn so với những công ty nhỏ. Sau khi đã khá vững vàng tại thị trường nội địa, MLG mới xâm nhập vào thị trường Thái Lan. Xét về thời gian, thì hơi muộn, nhưng xét về cách làm, thì đây là phương thức mang lại hiệu quả cao hơn, hạn chế được những rủi ro do không tìm hiểu và xâm nhập trước vào thị trường mới.
    • Tốc độ xâm nhập: nên thực hiện chiến lược xâm nhập tập trung với một tốc độ vừa phải. Không nên xâm nhập cùng lúc nhiều thị trường, tránh tình trạng phân tán quá tầm kiểm soát như trường hợp đối với những công ty con của MLG vừa qua.
    • Các dạng sở hữu xâm nhập: mặc dù có đủ nguồn lực để tự doanh trên thị trường mới nhưng chiến lược tốt nhất vẫn là lien doanh với những đơn vị sở tại. Điều đó sẽ giúp cho MLG hạn chế được những rủi ro và giảm bớt chi phí xâm nhập thị trường. Các đại gia như
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 60

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Coca và Pepsi đã rất thành công khi gia nhập vào thị trường Việt Nam dưới hình thức liên doanh.

    3.                 Chiến lƣợc các đơn vị cơ sở và các chiến lƣợc chức năng

    3.1.     Chiến lƣợc về tài chính

    • Cần có phương án khắc phục lỗ khả thi (lỗ luỹ kế 31/12/2009 là 277 tỷ đồng), đồng thời

    tìm kiếm ký hợp tác với các ngân hàng thương mại lớn có chi phí vay vốn rẻ nhằm giảm áp lực về trả lãi vay ngân hàng (hiện nay các ngân hàng TM lớn như VCB, BIDV có lãi suất vay vốn thấp hơn so với các ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh). Phương án khắc phục lỗ có thể tập trung vào thanh lý, chuyển nhượng các dự án đầu tư kém hiệu quả, tập trung đầu tư vào những ngành nghề công ty có thế mạnh và đang có thương hiệu như vân tải, taxi, du lịch…

    • Loại bớt những công ty con làm ăn kém hiệu quả, cắt giảm những ngành nghề kinh doanh không liên quan đến hoạt động chính, nghiên cứu chuyển nhượng những dự án bất động sản không phục vụ sản xuất kinh doanh để thu hồi vốn, trả nợ vay và đầu tư vào ngành nghề khác. Cụ thể, Mai Linh sẽ bán dự án y tế gồm các nhà thuốc, phòng khám; bán Công ty Tư vấn đào tạo Tân Hương, Công ty cung cấp mực in Việt Hồ, Công ty in ấn Năng Động…
    • Tiếp tục tái cơ cấu tổ chức, tinh gọn bộ máy quản lý, không đầu tư dàn trải mà tập trung vào 3 nhóm ngành nghề kinh doanh chính là vận tải, du lịch, sản xuất – thương mại. Trong đó, vận tải là lĩnh vực nòng cốt với ít nhất 70% vốn đầu tư, bảo đảm duy trì hình ảnh là đơn vị số một trong ngành vận tải và các dịch vụ cho ngành vận tải như trạm dừng nghỉ, bến xe, trạm xăng dầu.
    • Cũng như năm 2008 (lỗ gần 118 tỉ đồng), nguyên nhân thua lỗ của Mai Linh trong năm

    2009 là do chi phí lãi vay cao (164 tỉ đồng), chiếm 28,7% tổng doanh thu (năm 2008, số lãi phải trả của Mai Linh là 336 tỉ đồng). Mặt khác, việc đầu tư mở rộng địa bàn mới, đầu tư vào các ngành nghề, dự án mới chưa đạt kết quả như mong muốn. Chi phí đầu tư vào và vận hành như mua phương tiện, các loại phí, bảo hiểm, lương, nhiên liệu… tăng nhanh hơn nhiều so với mức độ tăng doanh thu.

    • Đưa kế hoạch đầu tư mới nhằm nâng cao năng lực kinh doanh như đầu tư thêm xe ô tô các loại để hoạt động taxi, vận tải và du lịch.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 61

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    • Nghiên cứu kế hoạch huy động vốn qua thị trường chứng khoán, liên doanh, liên kết, nhằm huy động được nguồn vốn để bổ sung cho việc vay vốn tại các ngân hàng thương mại. Có phương án tăng vốn điều lệ khả thi: Tăng vốn điều lệ nhằm giảm hệ số nợ của Công ty (nợ phải trả /vốn chủ sở hữu 31/12/2009 là rất cao: 3,4 lần), giảm gánh nặng chi phí tài chính.
    • Trong lĩnh vực kinh doanh taxi: Mai linh cần tăng cường công tác Marketing với các doanh nghiệp, thương gia tại các khu vực thành phố, khu công nghiệp để cung cấp thẻ quẹt thanh toán cước taxi cho các khách hàng này.
    • Luôn luôn ổn định giá, ổn định chi phí nhân công đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng.

    3.2.     Chiến lƣợc về nguồn nhân lực

    • Mở rộng các hình thức đào tạo, đào tạo lại; xã hội hóa công tác đào tạo để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, công chức, viên chức và người lao động; áp dụng chế độ tuyển dụng công khai thông qua thi tuyển, thử việc.
    • Có chính sách tiền lương và các chế độ ưu đãi đối với người lao động trong điều kiện lao

    động đặc thù của ngành giao thông vận tải, đặc biệt là công tác bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông ở các vùng sâu, vùng xa, lao động nặng nhọc, nguy hiểm…

    • Cần có sự đầu tư tập trung nâng cao năng lực và trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo, huấn luyện để nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Tăng cường sự phối hợp và gắn kết giữa các công ty sử dụng nguồn nhân lực với các cơ sở đào tạo, huấn luyện để đảm bảo đáp ứng nhu cầu thực tế và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo.

    3.3.     Chiến lƣợc về công nghệ

    • Triển khai và phát triển hệ thống POS (công nghệ thanh toán online) nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ thẻ taxi hiện nay.
    • Xây dựng và triển khai phương thức thanh toán hiện đại, sử dụng công nghệ thẻ chip, khách hàng có thể dùng thẻ ATM, Visa, Master, American Express, …thay thế MCC.
    • Hiện đại hóa phương tiện vận tải, thiết bị xếp dỡ; áp dụng các công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics.
    • Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, điều hành và khai thác.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 62

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    KẾT LUẬN

    Quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp linh hoạt các chiến lược, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm nhân lực, lãnh đạo, kỹ thuật và cả phương pháp xử lý. Sự kết hợp có hiệu quả của những nhân tố này sẽ trợ giúp cho phương hướng chiến lược và cung cấp dịch vụ hoàn hảo. Đây là một hoạt động liên tục để xác lập và duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của một tổ chức; quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết những tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh.

    Sở hữu thương hiệu Mai Linh với màu xanh lá nổi tiếng nên Công ty Cổ phần Mai Linh thường được các nhà đầu tư cá nhân, khách hàng biết đến với cái tên Công ty taxi Mai Linh. Nhưng đây là tập đoàn với gần 100 công ty thành viên trải rộng khắp cả nước, kinh doanh đa ngành nghề, trong đó vận tải là ngành kinh doanh chủ lực để phát triển các lĩnh vực khác như thương mại, du lịch, công nghệ thông tin và viễn thông, xây dựng, tư vấn quản lý.

    Bất cứ một doanh nghiệp nào khi bắt tay vào thành lập cũng phải nghĩ ngay đến việc xây dựng thương hiệu cho mình. Nhưng thương hiệu không chỉ đơn giản là logo hay một sản phẩm. Thương hiệu của một doanh nghiệp phải là tổng thể hài hòa giữa cảm xúc và trí tuệ mà doanh nghiệp ấy tạo nên ấn tượng mạnh mẽ cho mọi người khi họ nghe, nhìn, biết và nghĩ về doanh nghiệp ấy. Và đó chính là sức mạnh giúp doanh nghiệp khẳng định vị thế của mình trên thương trường.

    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 63

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    PHỤ LỤC

    Phụ lục 1: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

                        đơn vị : Đồng   đơn vị : Đồng             đơn vị : Đồng            
                                                                 
                Chỉ tiêu   2007   2008           2009            
                                                               
                                    Tỉ   Tăng         Tỉ   Tăng
                        Giá Trị   Giá Trị   trọng   trưởng   Giá Trị   trọng   trưởng
                                                               
                TÀI SẢN       3,090,986,033,257     4,272,999,266,243     100%     38%     5,072,298,159,096     100%     19%  
                                               
                                                           
                                               
                                                               
                                                     
        A     A. TÀI SẢN NGẮN HẠN       1,209,758,548,146     987,208,385,569     23%     -18%     1,120,206,293,710     22%     13%  
                                                       
                                                 
                                                               
                I – Tiền và các khoản tƣơng                   5%     -68%           6%     24%  
                                                     
          I     đƣơng tiền       155,642,359,392     49,751,106,768             61,695,297,485          
                                                       
                                                     
                                                                 
      1     1. Tiền mặt   155,642,359,392   49,751,106,768               60,695,297,485                
                                               
                                                               
      2     2. Các khoản tương đương tiền               1,000,000,000                
                                           
                                                               
                II – Các khoản đầu tƣ tài                   1%     -95%           0%     -69%  
                                                     
        II     chính ngắn hạn       183,187,926,410     8,773,231,548             2,739,436,875          
                                                     
                                                   
                                                                 
      1     1. Đầu tư ngắn hạn   183,187,926,410   11,258,231,548               3,138,436,875                
                                               
                                                               
                2. Dự phòng giảm giá ĐTNH                                              
      2   (*)     2,485,000,000               399,000,000                
                                                       
                                                       
        III     III – Các khoản phải thu       526,880,672,171     537,739,636,646     54%     2%     654,100,648,948     58%     22%  
                                                       
                                                 
                                                               
      1     1. Phải thu của khách hàng   173,592,395,913   218,324,859,596               324,201,834,083                
                                               
                                                               
      2     2. Trả trước cho người bán   64,794,850,263   62,162,240,286               61,358,774,587                
                                               
                                                               
      3     3. Phải thu nội bộ ngắn hạn                            
                                         
                                                               
                4. Phải thu theo tiến độ kế                                              
      4     hoạch hợp đồng xây dựng                            
                                                               
      5     5. Các khoản phải thu khác   288,928,906,195   259,341,932,168               272,321,495,456                
                                               
                                                               
                6. Dự phòng phải thu ngắn hạn                                              
      6     khó đòi (*)   435,480,200   2,089,395,404               3,781,455,178                
                                                       
                                                                 
                IV – Hàng tồn kho                   5%     19%           6%     52%  
                                             
        IV             37,821,334,299     45,040,749,758                 68,528,023,273                
                                                 
                                                             
                                                                 
                                                             
          HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19                   64    

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

      1       1. Hàng tồn kho 37,821,334,299   46,837,183,160               69,257,762,695                
                                               
                                                               
                2. Dự phòng giảm giá hàng tồn                                            
      2       kho (*) 1,796,433,402               729,739,422                
                                                             
        V     V – Tài sản ngắn hạn khác     306,226,255,874     345,903,660,849     35%     13%     333,142,887,129     30%     -4%  
                                         
                                                       
                                           
                                                               
      1     1. Chi phí trả trước ngắn hạn 217,506,006,523   222,232,173,974               228,546,924,564                
                                               
                                                             
      2     2. Thuế GTGT được khấu trừ 52,537,063,434   69,005,897,825               56,807,459,959                
                                               
                                                             
                3. Thuế và các khoản khác phải                                            
      3       thu Nhà nước 1,234,814,703   2,825,494,809               5,424,426,457                
                                                               
      5       5. Tài sản ngắn hạn khác 34,948,371,214   51,840,094,241               42,364,076,149                
                                               
                                                   
                                                   
        B       B. TÀI SẢN DÀI HẠN     1,881,227,485,111     3,285,790,880,674     77%     75%     3,952,091,865,386     78%     20%  
                                                       
                                                 
                                                             
                I – Các khoản phải thu dài                 0%     -6%           0%     1112%  
                                                   
          I       hạn     909,519,319     858,109,708             10,402,505,821          
                                                       
                                                     
                                                               
                1. Phải thu dài hạn của khách                                            
      1       hàng                          
                                                             
                2. Vốn kinh doanh ở đơn vị trực                                            
      2       thuộc                          
                                                               
      3       3. Phải thu dài hạn nội bộ                          
                                         
                                                               
      4       4. Phải thu dài hạn khác 909,519,319   858,109,708               10,402,505,821                
                                               
                                                             
                5. Dự phòng phải thu dài hạn                                            
      5       khó đòi                          
                                                   
                                                   
        II       II – Tài sản cố định     1,417,409,679,930     2,800,723,688,371     85%     98%     3,289,091,182,770     83%     17%  
                                                       
                                                 
                                                             
                                                             
      1     1. Tài sản cố định hữu hình     920,708,072,355     1,835,947,224,497                 2,288,677,495,375                
                                                     
                                               
                                                                 
          – Nguyên giá 1,048,348,654,133   2,155,874,474,974               2,821,469,680,672                
                                             
                                                           
      Giá trị hao mòn lũy kế (*) 127,640,581,778   319,927,250,477               532,792,185,297                
                                             
                                                             
                                                             
      2     2. Tài sản cố định thuê tài chính     287,139,719,260     341,828,015,880                 286,368,203,644                
                                                     
                                               
                                                               
          – Nguyên giá 374,807,865,625   468,409,267,663               385,625,245,486                
                                             
                                                               
          – Khấu hao (*) 87,668,146,365   126,581,251,783               99,257,041,842                
                                             
                                                               
                                                               
      3       3. Tài sản cố định vô hình     114,490,845,078     286,808,157,554                 335,466,881,685                
                                                     
                                               
                                                               
          – Nguyên giá 115,097,345,025   287,955,956,292               337,232,492,615                
                                             
                                                               
                                                                 
                                                               
          HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19                   65    

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

          – Khấu hao (*) 606,499,947   1,147,798,738               1,765,610,930        
                                     
                                                       
                4. Chi phí xây dựng cơ bản dở                                      
                                                     
      4       dang     95,071,043,237     336,140,290,440                 378,578,602,066        
                                     
                                                         
                  III – Bất động sản đầu tƣ                 1%                  
                                               
        III           157,692,000,000     37,168,000,000         0.7643     37,168,000,000        
                                             
                                   
                                                       
                  – Nguyên giá 157,692,000,000   37,168,000,000               37,168,000,000        
                                             
                                                   
              Giá trị hao mòn lũy kế (*)                        
                                             
                                       
                                               
        IV       IV – Bất động sản đầu tƣ     161,838,019,261     208,939,896,720     6%     29%     298,984,865,255   8% 43%
                                               
                                         
                                                       
      1       1. Đầu tư vào công ty con                  
                                 
                                                     
                2. Đầu tư vào công ty liên kết,                                    
      2       liên doanh 87,083,280,348   25,920,718,782               68,169,257,022        
                                                       
      3       3. Đầu tư dài hạn khác 74,754,738,913   183,019,177,938               230,815,608,233        
                                       
                                                     
                4. Dự phòng giảm giá đầu tư dài                                    
      4       hạn (*)                  
                                       
                                               
        V       V – Tài sản dài hạn khác     143,378,266,601     238,101,185,875     7%     66%     316,445,311,540   8% 33%
                                               
                                         
                                                       
      1       1. Chi phí trả trước dài hạn 85,869,258,191   102,593,386,932               185,790,422,070        
                                       
                                                     
                2. Tài sản thuế thu nhập hõan                                    
      2       lại 11,201,253,174   25,265,081,920               22,410,329,944        
                                                       
      3       3. Tài sản dài hạn khác 46,307,755,236   110,242,717,023               108,244,559,526        
                                       
                                       
                                               
                                               
                  NGUỒN VỐN     3,090,986,033,257     4,272,999,266,243     100%     38%     5,072,298,159,096   100% 19%
                                                   
                                             
                                               
                                               
        A       A – NỢ PHẢI TRẢ     1,941,449,768,026     3,097,491,084,914     72%     60%     3,952,353,042,064   78% 28%
                                               
                                         
                                               
                                               
          I       I. Nợ ngắn hạn     712,504,467,835     1,513,530,755,093     49%     112%     1,934,431,725,749   49% 28%
                                                 
                                           
                                                       
      1       1. Vay và nợ ngắn hạn 280,567,395,572   748,213,520,819               1,078,206,723,660        
                                       
                                                       
      2       2. Phải trả người bán 124,905,970,779   283,535,187,528               211,493,432,888        
                                       
                                                     
      3     3. Người mua trả tiền trước 31,219,291,117   25,790,642,903               55,718,359,918        
                                       
                                                     
                4. Thuế và các khoản phải nộp                                    
      4       nhà nước 28,616,141,047   29,825,440,977               53,092,281,309        
                                                       
      5       5. Phải trả người lao động 32,239,941,683   54,545,553,493               69,977,633,460        
                                       
                                                   
      6       6. Chi phí phải trả                                    
                                                       
                                                         
                                                       
          HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19               66  

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

                6,123,659,292   17,215,346,958               13,650,609,376                  
                                                             
    7     7. Phải trả nội bộ                            
                                       
                                                             
            8. Phải trả theo tiến độ kế hoạch                                              
    8     HĐXD                                  
                                                             
            9. Các khoản phải trả,phải nộp                                              
    9     ngắn hạn khác 208,832,068,345   354,405,062,415               452,292,685,138                  
                                                             
    10   10. Dự phòng phải trả ngắn hạn                            
                                     
                                                             
      II     II. Nợ dài hạn     1,228,945,300,191     1,583,960,329,821       51%   29%     2,017,921,316,315     51%       27%    
                                           
                                                     
                                       
                                                             
    1     1. Phải trả dài hạn người bán 5,968,417,399                              
                                         
                                                           
    2     2. Phải trả dài hạn nội bộ                            
                                       
                                                           
    3     3. Phải trả dài hạn khác 17,149,877,196   31,711,620,911               56,466,126,052                  
                                             
                                                           
    4     4. Vay và nợ dài hạn 1,211,770,065,966   1,546,131,890,447               1,954,442,589,888                  
                                             
                                                           
            5. Thuế thu nhập hoãn lại phải                                              
    5     trả 4,453,395   4,889,440               6,785,489,015                  
                                                           
            6. Dự phòng trợ cấp mất việc                                              
    6     làm 20,903,634   143,511,624               227,111,360                  
                                                           
    7     7. Dự phòng phải trả dài hạn                                  
                                             
                                   
                                                   
      B     B. VỐN CHỦ SỞ HỮU     1,149,536,265,231     1,175,508,181,329       28%   2%     1,119,945,117,032     22%       -5%    
                                                     
                                               
                                                   
      I     I. Vốn chủ sở hữu     805,949,673,756     712,210,071,760       61%   -12%     655,232,892,272     59%       -8%    
                                           
                                                     
                                               
                                                           
    1     1. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 707,164,270,000   707,164,270,000               875,901,380,000                  
                                             
                                                           
    2     2. Thặng dư vốn cổ phần 214,290,002,903   225,200,535,598               52,771,431,252                  
                                             
                                                           
    3     3. Vốn khác của chủ sở hữu             420,000,000                  
                                         
                                                           
    4     4. Cổ phiếu quỹ (420,400,000)             (1,448,300,269)                
                                       
                                                           
    5     5. Chênh lệch đánh giá lại TS                            
                                       
                                                           
    6     6. Chênh lệch tỷ giá hối đoái 4,393,358                              
                                         
                                                           
    7     7. Quỹ đầu tư phát triển 1,248,422,060   1,514,820,326               2,349,525,569                  
                                             
                                                           
    8     8. Quỹ dự phòng tài chính 1,439,490,600   2,052,239,047               2,364,098,338                  
                                             
    • Quỹ khác thuộc vốn chủ sở
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 67

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

            hữu                              
                                                         
            10. Lợi nhuận sau thuế chưa                                          
    10   phân phối (118,196,905,165) (223,301,393,211)             (277,125,242,618)            
                                                         
    11   11. Nguồn vốn đầu tư XDCB                        
                                 
                                                         
            II. Nguồn kinh phí và quỹ                 39%     35%           41%     0%  
                                               
      II     khác     343,586,591,475     463,298,109,569             464,712,224,760          
                                               
                                           
                                                         
    1     1. Quỹ khen thưởng, phúc lợi 1,911,962,831   1,310,973,362               998,069,827              
                                         
                                                       
    2     2. Nguồn kinh phí                              
                                         
                                                       
            3. Nguồn kinh phí hình thành                                          
    3     TSCĐ 341,674,628,644   461,987,136,207               463,714,154,933              
                                                         
                                                         
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 68

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Phụ lục 2: BẢNG TỔNG KẾT KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

    Đơn vị tính: đồng

    S   Chỉ tiêu       2008         2009        
    TT   2007                  
                                               
                                                     
              Giá trị         Tỉ   Tăng         Tỉ   Tăng
                Giá Trị   trọng   trưởng   Giá trị   trọng   trưởng
                             
                                                     
    1   Tổng doanh thu     1,210,152,205,184     2,089,643,095,436     100%     73%     2,428,984,904,341     100%     16.24%  
                                   
                                                     
        Các khoản giảm trừ                                          
                                                 
    2   không tính thuế 9,896,688,305   14,225,503,393             14,100,150,131         -0.88%  
                                 
    3   Doanh thu thuần 1,210,152,205,184   2,089,643,095,436   100% 73% 2,428,984,904,341   100%    
              16.24%  
                                 
    4   Giá vốn hàng bán 1,004,408,735,576   1,537,299,421,674   74% 53% 1,809,938,946,427   75%    
              17.73%  
                                   
                                   
    5   Lợi tức gộp     205,743,469,608     552,343,673,762     26%     168%     619,045,957,914     25%     12.08%  
                                   
                                                     
    6   Chi phí bán hàng 23,077,696,664   60,349,115,465 3%       79,436,950,400 3%   31.63%  
                                 
    7   Chi phí qlý DN 161,758,517,758   258,180,931,119 12%       293,438,744,622 12%    
                13.66%  
                                                   
        Lợi tức thuần từ                                            
                                     
    8   HĐKD     20,907,255,186     233,813,627,178     11.2%     1018%     246,170,262,892     10.1%     5.28%  
                                   
                                                     
        Lợi tức từ HĐ tài                                          
                                                 
    9   chính (87,309,351,888) -344,484,317,849               -281,673,832,891           -18.23%  
                                         
    10   Lợi tức bất thường 11,705,008,786   21,545,940,691             54,204,757,669         151.58%  
                                                   
        Tổng lợi tức trƣớc                                          
                                       
                                       
    11   thuế     (54,697,087,916)     -89,124,749,980     -4.3%     63%     18,701,187,670     0.8%     120.98%  
                                                     
        Thuế lợi tức phải                                          
    12   nộp 8,108,947,814   26,007,043,709             30,225,974,658 1%   16.22%  
                                                   
        Tổng lợi tức sau                                          
    13   thuế (62,806,035,730) -115,131,793,689 -5.5%   83%   -11,524,786,988 -0.5%     -89.99%  
                                                     
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 69

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    Phụ lục 3: CHỈ SỐ TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH

             
    Khả năng sinh lời 2007 2008 2009  
             
    Chỉ tiêu        
             
    Tốc độ tăng trưởng doanh thu   73% 16%  
             
    Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận   83% -90%  
             
    Lợi nhuận ST / Doanh thu (ROS) -5.19% -5.51% -0.47%  
             
    Lợi nhuận ST / Vốn chủ sở hữu (ROE) -5% -10% -1%  
             
    Lợi nhuận ST/ Tổng tài sản (ROA) -2.03% -2.69% -0.23%  
             
    Giá vốn hàng bán / doanh thu 83.00% 73.57% 74.51%  
             
    Tỷ lệ lợi nhuận gộp / doanh thu 17.00% 26.43% 25.49%  
             
    Chi phí bán hàng và quản lý / doanh        
    thu 15.27% 15.24% 15.35%  
             
             
                               
        Khả năng thanh toán   2007   2008     2009  
                               
        Chỉ tiêu                  
                               
        Khả năng thanh toán ngắn hạn       1.70   0.65   0.58  
                               
        Khả năng thanh toán nhanh       1.22   0.39   0.37  
                               
        Khả năng thanh toán bằng tiền       0.22   0.03   0.03  
                               
                               
                               
        Cân đối nguồn vốn – sử                    
        dụng vốn   2007   2008   2009  
                               
        Mức độ độc lập tài chính                      
                         
        Hệ số đòn bẩy   1.7   2.64   3.53  
                       
        Hệ số nợ   0.63   0.72   0.78  
                             
        Mức độ đảm bảo vốn cố                      
        định                      
                             
                         
        Nguồn vốn dài hạn   2,503,387,536,201   3,043,003,698,678   3,349,359,866,235  
                         
        Vốn chủ sở hữu (vốn góp)   1,149,536,265,231         1,119,945,117,032  
                               
                               
                               
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19   70

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

                    1,175,508,181,329          
                                   
      Nợ dài hạn, KQ dài hạn,                          
      nợ dài hạn đến hạn trả   1,353,851,270,970   1,867,495,517,349     2,229,414,749,203
                                   
      Tài sản cố định và đầu tư                          
      dài hạn   1,881,227,485,111   3,285,790,880,674     3,952,091,865,386
                                   
      Chênh lệch (-, mất cân đối                          
      tài chính)   622,160,051,090   (242,787,181,996)   (602,731,999,151)
                                   
      Mức độ đảm bảo vốn lƣu                            
      động                            
                                 
                                   
      Nguồn vốn ngắn hạn   1,334,664,518,925   1,270,743,573,097   1,331,699,726,598
                                 
      Vốn   CSH   hình   thành                          
      TSLĐ   622,160,051,090   (242,787,181,996)   (602,731,999,151)
                                 
      Nợ ngắn hạn   712,504,467,835   1,513,530,755,093     1,934,431,725,749
                                 
      Tài sản lưu động   1,209,758,548,146   987,208,385,569     1,120,206,293,710
                                 
      Chênh lệch (-, mất cân                          
      đối tài chính)   124,905,970,779   283,535,187,528     211,493,432,888
                                   
                                   
                             
      Vòng quay vốn     2007     2008         2009
                     
      Chu kỳ sản xuất kinh doanh                        
      Vòng quay các khoản phải thu         13.94 10.66   7.49
      Số ngày phải thu bình quân         26 34   49
      Vòng quay hàng tồn kho         53 37   26
      Số  ngày  dự  trữ  hàng  tồn  kho  bình                      
      quân         7 10   14
      Vòng quay các khoản phải trả         64 54   32
      Số ngày phải trả bình quân         6 7   11
      Vòng quay vốn lưu động         2.00 1.90   2.17
      Số ngày hoàn thành 1 chu kỳ SXKD       182 192   168
                                   
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 71

    Đề tài: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần Tập đoàn Mai Linh giai đoạn 2010–2020

    GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    TIẾNG VIỆT:

    1. Công ty cổ phần chứng khoán TPHCM – HSC (17/11/2009), Báo cáo cập nhật công ty cổ phần Ánh Dương Việt Nam, http://stox.vn/stox/download.asp?id=2092 .
    1. Công ty cổ phần chứng khoán TPHCM – HSC (01/04/2010), Công ty Cổ Phần Ánh

    Dương Việt Nam (VNS – HoSE) – Nhận định đầu tư và khuyến nghị mua, http://www.stox.vn/stox/download.asp?id=2412 .

    1. Dương Ngọc Dũng (2008), Chiến Lược Cạnh Tranh Theo Lý Thuyết Của Michael Porter, Nhà Xuất Bản Tổng Hợp, TPHCM.
    1. Hoàng Lâm Tịnh (2009), Đề cương môn học quản trị chiến lược,
    1. Michael E.Porter, dịch giả Nguyễn Ngọc Toàn (2009), bản dịch Chiến Lược Cạnh Tranh – Những K Thuật Phân Tích Ngành Công Nghiệp Và Đối Thủ Cạnh Tranh, Nhà Xuất Bản Trẻ TPHCM.
    1. Michael E.Porter, bản gốc The Competitive Advantage of Nations, dịch giả Nguyễn Ngọc Toàn (2008), bản dịch Lợi Thế Cạnh Tranh Quốc Gia, Nhà Xuất Bản Trẻ

    TPHCM

    1. Trang web: http://www.mailinh.vn/

    TIẾNG ANH:

    1. Michael E.Porter (1996), What is Strategy, Havard Business Review.
    1. Michael E.Porter (1985), Competitive Advantage, Free Press, NewYork.
    HVTH: Nhóm 18 – Quản trị kinh doanh đêm 1 & 2 – K19 72

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Chứng minh văn học là nghệ thuật ngôn từ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-k%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-cho-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-may-Vi%E1%BB%87t-Ti%E1%BA%BFn-tr%C3%AAn-khu-v%E1%BB%B1c-Xu%C3%A2n-Th%E1%BB%A7y-C%E1%BA%A7u-gi%E1%BA%A5y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Một doanh nghiệp muốn kinh doanh thành công thì phải thực hiện tốt quá trình quản trị bán hàng. Xây dựng kế hoạch bán hàng là một trong ba nội dung cơ bản của quản trị bán hàng. Xây dựng kế hoạch bán hàng là công việc quan trọng hàng đầu của các nhà quản trị. Để khỏi lạc hậu so với đối thủ cạnh tranh và đảm bảo tầm nhìn xa trông rộng phải xây dựng kế hoạch bán hàng. Kế hoạch bán hàng là sản phẩm của quá trình lập kế hoạch bán hàng. Kế hoạch bán hàng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc lập kế hoạch bán hàng chi tiết cho phép doanh nghiệp hiểu và khai thác tốt các cơ hội thị trường, hình thành được khung công việc rõ ràng nhằm phối hợp tốt và tối ưu nguồn lực trong quá trình bán hàng, cũng như làm cơ sở để đánh giá kết quả và thành tích bán hàng.

    Để biết cụ thể quy trình xây dựng một kế hoạch bán hàng là như thế nào, nhóm chúng em đã thực hiện “Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy”. Đó chính là đề tài mà chúng em thực hiện dưới đây.

    Đề tài bao gồm 2 chương:

    Chương 1, Lý luận chung về kế hoạch bán hàng.

    Chương 2, Nội dung kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy.

    CHƯƠNG I

    XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

     

    1.1, Kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp thương mại.

    1.1.1, Khái niệm kế hoạch bán hàng

    Kế hoạch bán hàng là sản phẩm của quá trình lập kế hoạch bán hàng. Kế hoạch bán hàng bao gồm các mục tiêu bán hàng, các chương trình và hoạt động bán hàng, ngân sách bán hàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

    Một bản kế hoạch bán hàng được đánh giá trên hai phương diện:

    Về hình thức: Kế hoạch bán hàng là tập văn bản được trình bày rõ ràng, sạch sẽ, logic, có tính thuyết phục và hướng dẫn cao với người sử dụng.

    Về nội dung: Kế hoạch bán hàng phải đảm bảo cung cấp đủ thông tin cho người sử dụng từ bối cảnh thị trường, mục tiêu cần đạt được, cũng như các hoạt động, các chương trình cần làm, tiến trình triển khai, trách nhiệm của từng bộ phận và cá nhân, cũng như dự trù ngân sách để triển khai kế hoạch.

    1.1.2, Nội dung của kế hoạch bán hàng

    Nội dung cơ bản của kế hoạch bán hàng bao gồm:

    – Kết quả dự báo bán hàng

    – Mục tiêu bán hàng

    – Các chương trình và hoạt động bán hàng

    – Ngân sách bán hàng

    1.1.3, Các loại kế hoạch bán hàng.

    Trong doanh nghiệp có rất nhiều loại kế hoạch bán hàng. Cụ thể phân loại kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp thành các loại chính sau:

    – Phân loại theo cấp quản lý

    + Kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp.

    + Kế hoạch bán hàng của bộ phận.

    + Kế hoạch bán hàng của cá nhân.

    – Phân loại theo sản phẩm hàng hóa

    – Phân loại theo khu vực thị trường

    + Kế hoạch xuất khẩu

    + Kế hoạch bán hàng nội địa

    + Kế hoạch bán hàng theo vùng địa lý

    + Kế hoạch bán hàng ở từng thị trường của doanh nghiệp.

    – Phân Phân loại theo thời gian: Kế hoạch bán hàng ngày, tuần, tháng, quý, năm.

    – Phân loại theo phương thức bán hàng: Phân loại này sẽ có nhiều loại kế hoạch bán hàng khác nhau theo các kênh bán hàng của doanh nghiệp.

     

     

     

    1.2, Quy trình xây dựng kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp thương mại

     
       

    Sơ đồ 1, Quy trình xây dựng kế hoạch bán hàng

     

    1.2.1, Dự báo bán hàng

    1. Khái niệm:

    Dự báo bán hàng là quá trình xác định các chỉ tiêu bán hàng trong tương lai và triển vọng đạt được các chỉ tiêu đó.

    1. Vai trò:

    – Dự báo bán hàng giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động bán hàng.

    – Dự báo bán hàng chỉ ra cho doanh nghiệp những hướng đi trong tương lai.

    – Dự báo bán hàng giúp doanh nghiệp chủ động đón nhận cơ hội, tránh được các rủi ro, thất thoát trong hoạt động bán hàng.

    c, Kết quả dự báo bán hàng

    Kết quả dự báo bán hàng được thể hiện thông qua hai chỉ tiêu:

    – Chỉ tiêu định lượng: Quy mô thị trường, sức mua, thị phần, tốc độ tăng trưởng thị trường…

    – Chỉ tiêu định tính: Dự báo yếu tố thời vụ, yếu tố thói quen, yếu tố cạnh tranh… dựa trên cảm nhận, giác quan để có kết quả dự báo nhất định.

    Kết quả dự báo bán hàng phải đảm bảo chứa đựng thông tin về bốn yếu tố chính sau:

    – Năng lực cạnh tranh. Đây là dự báo khối lượng hàng bán cao nhất có thể của một sản phẩm, dịch vụ trên thị trường của tất cả các đối thủ cạnh tranh, trong một giai đoạn nhất định.

    – Doanh số của ngành hàng. Đây là khối lượng hàng bán thực sự của một ngành nhất định ở thị trường cụ thể trong một giai đoạn nhất định.

    Năng lực bán hàng của doanh nghiệp. Đây là số lượng cao nhất của năng lực thị trường mà một doanh nghiệp có thể hy vọng nhận được từ các nguồn va khả năng sẵn có của nó một cách đáng tin cậy.

    – Dự báo bán hàng của doanh nghiệp. Đó là đánh giá số lượng bán bằng tiền hoặc theo đơn vị sản phẩm (dịch vụ) trong tương lai của doanh nghiệp đối với từng mặt hàng ở một thời gian nhất định trên tất cả các thị trường mà doanh nghiệp tham gia cạnh tranh.

    d, Các căn cứ dự báo bán hàng

    Thông thường khi tiến hàng dự báo bán hàng, nhà quản trị căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

    – Số dân cư, cơ cấu dân cư cho biết dung lượng thị trường và một số đặc điểm trong thói quen, tập quán mua sắm… Mật độ dân cư là chỉ số quan trọng để dự báo doanh số và phân bổ chỉ tiêu bán hàng theo khu vực thị trường.

    – GDP/ người, thu nhập, khả năng thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép dự báo khả năng thanh toán, dự báo số lượng hàng tiêu thụ, cho phép đưa ra được những chương trình bán hàng phù hợp…

    – Số lượng điểm bán cho phép xác định mục tiêu bao phủ thị trường, cũng như dự báo rất tốt doanh số theo từng kênh bán hàng của doanh nghiệp.

    – Số lượng khách hàng. Nắm được số lượng khách hàng giúp nhà quản trị bán hàng dự tính được doanh số, hoạch định phương thức và chính sách bán hàng cho từng nhóm khách hàng, phân bổ hạn ngạch…

    – Sản lượng của ngành . Nắm được sản lượng của ngành, đi đôi với dự báo nhu cầu cho phép xác định tương quan thị phần và mục tiêu doanh số của doanh nghiệp.

    – Thị phần tương đối trong ngành làm cơ sở cho nhà quản trị bán hàng dự báo doanh số cho từng thời kỳ theo phương pháp thống kê kinh nghiệm.

    – Kim ngạch xuất nhập khẩu cho biết dung lượng thị trường và tình hình cạnh tranh.

    e, Phương pháp dự báo bán hàng

    Để dự báo bán hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một số phương pháp chủ yếu bao gồm:

    – Phương pháp chuyên gia. Nhà quản trị bán hàng dựa trên kết quả đánh giá của nhân viên bán hàng hoặc cán bộ quản lý bán hàng để tổng hợp, phân tích, xác định chỉ tiêu kế hoạch bán hàng. Theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ tổng hợp ý kiến và dự báo kết quả bán hàng từ các cấp bán hàng trong doanh nghiệp, sau đó tổng hợp và xử lý. Phương pháp này có ưu điểm dễ làm, nhanh và chi phí thấp. Tuy nhiên tiếp cận mới dừng ở định tính và kết quả dự báo có thể có sai lệch lớn.

    – Phương pháp điều tra khảo sát. Nhà quản trị bán hàng tiến hành điều tra thực tế nhằm có được các kết quả về hành vi khách hàng và khách hàng tiềm năng, mhu cầu mua sắm và khả năng thành toán, xu hướng phát triển tiêu dùng, tình hình kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh… Kết quả phân tích điều tra giúp nhà quản trị phân tích tổng hợp các thông tin thị trường và khả năng của daonh nghiệp để các định chỉ tiêu bán hàng. Phương pháp này đòi hỏi nhiều công sức, tiền bạc và thời gian. Hơn nữa, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực nghiên cứu thị trường tốt.

    Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể sử dụng phương pháp dự báo theo nguyên nhân dẫn đến khả năng thay đổi kết quả bán hàng và phương pháp thống kê kinh nghiệm.

    Tùy theo quy mô của doanh nghiệp, các điều kiện kinh doanh và trình độ của người làm dự báo để doanh nghiệp lựa chọn phương pháp dự báo bán hàng hiệu quả và phù hợp.

    f, Quy trình dự báo bán hàng

    Doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều quy trình dự báo bán hàng khác nhau. Về phương diện tổ chức có 3 quy trình dự báo bán hàng cơ bản là từ trên xuống, từ dưới lên và hỗn hợp.

    – Quy trình từ trên xuống: Dự báo bán hàng được thực hiện ở mức độ kinh doanh chung hoặc cấp doanh nghiệp. Sau đó trên cơ sở các tiêu chuẩn như lượng bán kỳ trước và các mức độ về nguồn tiền dự báo bán được chia nhỏ dần theo các đơn vị tổ chức, kết thúc ở dự báo bán sản phẩm cho các khu vực bán hàng.

    – Quy trình từ dưới lên: Quy trình này bắt đầu với các dự báo bán hàng tương lai về từng sản phẩm từ những nhân viên bán hàng, từ các đơn vị thị trường cấp thấp. Các dự báo theo sản phẩm sau đó được tổng hợp theo tất cả sản phẩm và đơn vị để lập 1 dự báo bán hàng của công ty. Tiếp theo dự báo này có thể được xác định bởi bộ phận phân tích để tính đến các điều kiện kinh tế, khả năng tiếp thị và các sản phẩm mới.

    – Quy trình hỗn hợp: Quy trình này được thực hiện với sự tham gia cùng lúc của cả cấp công ty lẫn các cấp tác nghiệp cơ sở. Quy trình này thường áp dụng tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.

    1.2.2, Xây dựng mục tiêu bán hàng

    a, Các loại mục tiêu bán hàng

    Mục tiêu bán hàng là kết quả bán hàng đạt được trong một thời gian nhất định nào đó. Mục tiêu bán hàng phải phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn.

    Các mục tiêu bán hàng thường chia thành hai nhóm: nhóm mục tiêu nền tảng bán hàng và nhóm mục tiêu kết quả bán hàng.

    Nhóm mục tiêu kết quả bán hàng: Phản ánh kết quả bán hàng thực tế mà doanh nghiệp đạt được thể hiện bằng các con số. Nhóm mục tiêu này bao gồm:

    Doanh số:  là mục tiêu kết quả quan trọng nhất trong bán hàng.

    Lãi gộp: là mục tiêu quan trọng nhất trong bán hàng. Mục tiêu tổng lãi gộp đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Lãi gộp được tính bằng doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng hóa.

    Chi phí bán hàng: Mục tiêu này là mục tiêu phổ biến áp dụng trong bán hàng. Lực lượng bán hàng được giao mục tiêu theo định mức chi phí.

    Lợi nhuận bán hàng: Mục tiêu là mục tiêu bao trùm trong kinh doanh. Mục tiêu lợi nhuận thường được xác lập cho các cấp quản trị bán hàng trung cấp và cao cấp. Mục tiêu lợi nhuận bán hàng được đặt ra ở cấp công ty và cấp bộ phận. Mục tiêu lợi nhuận được thể hiện trên cơ sở lợi nhuận ròng, tỷ lệ doanh lợi trên tài sản.

    Vòng quay của vốn hàng hóa: Mục tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động. Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của công tác quản trị mua hàng, bán hàng và dự trữ của doanh nghiệp.

    Nhóm mục tiêu nền tảng bán hàng: Đây là mục tiêu cơ sở để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.  Nhóm mục tiêu này bao gồm:

    Mức độ hài lòng của khách hàng: Mục tiêu này thể hiện ở những phản ánh của khách hàng, thông qua thời hạn thanh toán nhanh hay chậm của khách hàng, thông qua số lần mua của khách hàng… Mục tiêu nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đảm bảo hoạt động bán hàng thành công.

    Phát triển thị trường: Mục tiêu này được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng doanh số, số lượng khách hàng mới, số lượng điểm bán mới, mức độ phủ sóng địa lý thị trường…

    Số lượng đại lý và điểm bán: Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển thị trường. Doanh nghiệp sẽ đặt mục tiêu số lượng điểm bán có bán hàng của doanh nghiệp, để từ đó tập trung nỗ lực của lực lượng bán hàng vào phát triển thị trường.

    –  Số lần thăm viếng khách hàng của nhân viên bán hàng sẽ chi phối doanh số đạt được. Doanh nghiệp sẽ quy định cụ thể một nhân viên bán hàng sẽ tham viếng bao nhiêu đại lý, khách hàng hàng ngày, hàng tuần. Hoặc quy định số lần tối thiểu phải thăm viếng một đại lý, một khách hàng trong khoảng thời gian quy định.

    Số cuộc điện thoại giao dịch với khách hàng: Quy định mục tiêu cần hoàn thành của từng nhân viên bán hàng phải điện thoại giao dịch hàng ngày, hàng tuần với bao nhiêu khách hàng.

    Số hồ sơ khách hàng: Nhân viên bán hàng được giao chỉ tiêu hoàn thành số hồ sơ chi tiết về khách hàng trong khoảng thời gian nhất định.

    Số khách hàng ghé thăm: Chỉ tiêu này rất hữu dụng với các loại hình bán lẻ, các chương trình bán hàng theo sự kiện.

    Mục tiêu phát triển lực lượng bán hàng: Mục tiêu này thể hiện qua số lượng và chất lượng của lực lượng bán hàng. Mục tiêu này cụ thể được đo lường thông qua chỉ tiêu số người được huấn luyện, số khóa học tổ chức, số nhân viên hoàn thành kế hoạch bán hàng, số người được thăng tiến, đề bạt…

    b, Xây dựng và lựa chọn mục tiêu bán hàng

    Mục tiêu bán hàng được xây dựng căn cứ trên kết quả dự báo bán hàng.

    Mục tiêu bán hàng có thể được xác định theo thời gian, theo thị trường, theo khách hàng, theo điểm bán hàng, theo nhân viên bán hàng, theo kênh phân phối, theo sản phẩm ngành hàng,…

    Mục tiêu bán hàng được xây dựng theo 2 quy trình:

    Quy trình từ trên xuống: Mục tiêu được xác định ở cấp cao hơn, sau đó được phân bổ xuống cho các cấp bán hàng cơ sở. Theo quy trình này, mục tiêu bán hàng có tính áp đặt và có nguy cơ làm giảm sự chủ động, sáng tạo của các cấp bán hàng cơ sở. Doanh nghiệp có thể áp dụng quy trình này cho các sản phẩm và thị trường truyền thống, có doanh số khá ổn định và ít có biến động thị trường.

    Quy trình quản trị theo mục tiêu MBO: Mỗi bộ phận, cấp bán hàng trực tiếp xác định mụ tiêu bán hàng cho mình và lập kế hoạch triển khai mục tiêu đó. Mục tiêu bán hàng của cấp cao hơn được tổng hợp từ các mục tiêu bên dưới. Quy trình giúp gia tăng tính chủ động và sáng tạo của các cấp bán hàng.

    Các mục tiêu bán hàng luôn phải đáp ứng tiêu chuẩn SMART

    S (specific) – Tính cụ thể : Một mục tiêu bán hàng phải cụ thể, không quá chung chung.

    M (measurable) – Đo lường được: Một mục tiêu phải được thể hiện thông qua các con số dù nó là mục tiêu định tính hay định lượng.

    A (achievable) – Có thể đạt được: Mục tiêu đặt ra không được quá dễ, nhưng cũng không thể quá khó tới mực không thể thực hiện được.

    R (realistic) – Tính thực tế: Mục tiêu không thể là giấc mơ, doanh nghiệp cần phải có khả năng đạt được mục tiêu. Mục tiêu hiện thực là phải xây dựng những mục tiêu nền tảng, chi tiết để đạt được những mục tiêu lớn hơn.

    T (timely) – Giới hạn thời gian: Cần phải lên kế hoạch thời gian hoàn thành mục tiêu. Mục tiêu gắn chặt với các mốc thời gian theo ngày,tuần, tháng, quý, năm,…

    1.2.3, Xây dựng các hoạt động và chương trình bán hàng

    * Các hoạt động bán hàng được chia làm nhiều nhóm khác nhau:

    – Các hoạt động chuẩn bị bán: thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, chuẩn bị hàng hóa, chuẩn bị phương án tiếp cận khách hàng,…

    – Các hoạt động phát triển mạng lưới bán hàng: Tìm, lựa chọn và ký kết hợp đồng với các nhà phân phối, các đại lý, các điểm bán.

    – Các hoạt động tuyển dụng, huấn luyện và tạo động lực cho lực lượng bán hàng.

    – Các hoạt động liên quan đến kho bãi, vận chuyển và bảo quản hàng hóa.

    – Các hoạt động liên quan đến dịch vụ sau bán.

    – Các hoạt động về kế toán tài chính.…

    * Một số chương trình bán hàng chính hay được áp dụng bao gồm: Chương trình giảm giá, chương trình chiết khấu mạnh cho các đại lý, khách hàng, chương trình khuyến mại, tặng quà, chương trình tư vấn miễn phí, sử dụng thử sản phẩm…

    1.2.4, Xây dựng ngân sách bán hàng

    a, Khái niệm ngân sách bán hàng

    Ngân sách bán hàng được hiểu là một kế hoạch toàn diện và phối hợp, thể hiện các mối quan hệ tài chính cho các hoạt động và nguồn lực của doanh nghiệp trong một thời gian cụ thể trong tương lai nhằm đạt được các mục tiêu bán hàng đề ra. Ngân sách BH cụ thể hóa các hoạt động bán hàng của doanh nghiệp thông qua ngôn ngữ tiền tệ. Ngân sách BH thực chất là bản kế hoạch tài chính của các hoạt động bán hàng được xác định cho một khoảng thời gian hoặc cho một chương trình, chiến dịch bán hàng.

    b, Vai trò của ngân sách bán hàng

    – Lập ngân sách bán hàng tạo đường hướng chỉ đạo cho hoạt động của các cá nhân và bộ phận bán hàng của doanh nghiệp.

    – Ngân sách bán hàng cho phép phối hợp đồng bộ các cấp, các bộ phận trong doanh nghiệp triển khai thực hiện mục tiêu bán hàng.

    – Ngân sách bán hàng giúp doanh nghiệp tăng cường công tác kiểm soát hoạt động bán hàng thông qua các chỉ tiêu tài chính.

    c, Phương pháp xác định ngân sách bán hàng.

    * Phương pháp dựa trên các chỉ tiêu chi phí và kết quả của các kỳ trước: Nhà quản trị bán hàng căn cứ vào các định mức chi phí và kết quả bán hàng của các kỳ trước, kết hợp với mục tiêu bán hàng của kỳ kế hoạch để dự trù các khoản thu chi.

    * Phương pháp theo đối thủ cạnh tranh: Một số ngân sách bán hàng phải được hoạch định dựa trên cơ sở chi phí và kết quả của các đối thủ cạnh tranh nhằm giữ vững vị trí của doanh nghiệp trên thị trường ( Ngân sách quảng cáo, hoa hồng cho đại lý, khuyến mại…)

    * Phương pháp khả thi: Ngân sách bán hàng được xác định dựa trên cơ sở tính toán các khoản cần phải chi đáp ứng yêu cầu của hoạt động bán hàng.

    * Phương pháp hạn ngạch: Doanh nghiệp lên các phương án về thu, chi, lợi nhuận sau đó giao cho các đơn vị tự chủ động triển khai lập ngân sách trong giới hạn ngạch được giao.

    * Phương pháp tăng từng bước: Ngân sách bán hàng sẽ được phê duyệt theo nguyên lý gia tăng dần dần theo thời gian với lý do mức độ cạnh tranh trong bán hàng ngày càng gia tăng và doanh nghiệp phải chấp nhận giảm dần tỷ lệ lợi nhuận của mình.

    d, Nội dung ngân sách bán hàng

    * Ngân sách chi phí bán hàng

    Theo cách tiếp cận chi phí cố định và chi phí biến đổi, Ngân sách chi phí bán hàng bao gồm:

    Ngân sách chi phí cố định: Chi phí cố định là những khoản chi không biến đổi hoặc ít biến đổi theo doanh số bà sản lượng bán hàng.

    + Chi phí cố định bao gồm: Khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê địa điểm, văn phòng, kho bãi, quỹ lương cơ bản và bảo hiểm xã hội, chi phí lãi vay, chi phí nghiên cứu phát triển, nghiên cứu thị trường, phí và lệ phí cố định hàng năm,…

    Ngân sách chi phí biến đổi: Chi phí biến đổi là những khoản chi phí thay đổi theo doanh số và sản lượng bán.

    + Chi phí biến đổi bao gồm: Chi phí quảng cáo, chi phí khuyến mại, chi phí tiền lương theo năng suất và tiền thường, các khoản hoa hồng trả cho đại lý, chi phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí bảo hiểm hàng hóa, kho bãi, chi phí bảo quản hàng hóa,…

    * Ngân sách kết quả bán hàng

    TT Chỉ tiêu Ý nghĩa Cách tính
    1 Doanh số BH Phản ánh kết quả bán hàng Doanh số BH = số lượng hàng bán x giá bán
    2 Doanh số thuần Doanh số thực thu về của DN Doanh số thuần = Doanh số bán hàng – các khoản giảm trừ (chiết khấu, thuế GTGT…)
    3 Giá vốn hàng bán (doanh số nhập kho) Giá mua vào của hàng hóa bán ra Giá vốn hàng bán = số lượng hàng bán x giá mua vào + các khoản chi phí mua hàng
    4 Lãi gộp Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng Lãi gộp = doanh số thuần – giá vốn hàng bán
    5 Tỷ lệ lãi gộp Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng Tỷ lệ lãi gộp = lãi gộp/doanh số thuần
    6 Lợi nhuận trước thuế Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng LNTT = lãi gộp – chi phí hoạt động của DN (bao gồm cả chi phí bán hàng)
    7 Lợi nhuận sau thuế Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng LNST = LNTT – thuế thu nhập DN
    8 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động Tốc độ luân chuyển vốn lưu động = vốn lưu động bình quân/doanh số thuần

    1.2.5, Hoàn chỉnh kế hoạch bán hàng

    Hoàn chỉnh kế hoạch bán hàng bao gồm hai công việc cơ bản:

    Một là, tập hợp, hoàn chỉnh kế hoạch về hình thức và nội dung.

    Hai là, phê duyệt và công bố kế hoạch bán hàng.

    Quá trình phê duyệt thông qua kế hoạch bán hàng thực chất đã được tiến hành ngay trong quá trình xây dựng. Tuy nhiên, bộ phận và cán bộ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch có trách nhiệm hoàn chỉnh kế hoạch thành văn bản với đầy đủ nội dung và xin nhận xét và phê duyệt của các cấp có thẩm quyền. Kế hoạch bán hàng được phê duyệt được chuyển cho các bộ phận liên quan để triển khai và theo dõi.

     

    CHƯƠNG II

    NỘI DUNG KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CHO SẢN PHẨM VIỆT TIẾN TRÊN KHU VỰC XUÂN THỦY – CẦU GIẤY

     

    2.1, Giới thiệu về công ty Việt Tiến và sản phẩm Việt Tiến

    2.1.1, Tổng công ty cổ phần may Việt Tiến

    – Tên tiếng Việt : Tổng công ty Cổ Phần May Việt Tiến;

    – Tên giao dịch quốc tế: VIETTIEN GARMENT CORPORATION;

    – Tên viết tắt : VTEC .

    – Địa chỉ : 07 Lê Minh Xuân, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

    – Điện thoại : 84-8-38640800 (22 lines)

    – Fax : 84-8-38645085-38654867

    – Email : [email protected]

    – Website: http://www.viettien.com.vn

    Tiền thân của Việt Tiến là một xí nghiệp may tư nhân có tên gọi là “Thái Bình Dương kĩ nghệ Công ty” (Pacific Enterprise), với 8 cổ đông góp vốn, do ông Sâm Bảo Tài, một doanh nhân người Hoa, làm giám đốc. Khi đó xí nghiệp chỉ có 65 máy may và khoảng 100 công nhân. Sau năm 1975, xí nghiệp được quốc hữu hóa và giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ Công nghiệp) quản lí. Tháng 5/1977, xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp may Việt Tiến. Cùng với sự phát triển chung của cả nước và ngành dệt may, Xí nghiệp được đổi thành Công ty rồi Tổng Công ty nhưng cái tên Việt Tiến với hàm ý “Việt Nam tiến lên” vẫn được giữ lại theo tâm nguyện của cả tập thể những người lao động nơi đây.

    Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, dưới sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn thể CBCNV, Tổng công ty may Việt Tiến hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, bao gồm 06 xí nghiệp, 22 công ty con và công ty liên kết, với tổng số CBCNV là 22.000 người. Tổng công  ty cổ phần may  Việt  Tiến  đã trở thành doanh nghiệp tiêu biểu  nhất của ngành dệt may Việt Nam. Doanh số ngà càng tăng, thị phần ngày cang được mở rộng. Uy tín của thương hiệu Việt Tiến được  khách hàng trong và ngoài  nước tín nhiệm. Tại thị trường nội địa: Việt Tiến  hiện có trên 1380 cửa hàng, đại lý phân bổ đều  khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tại thị trường xuất khẩu: Việt  Tiến  hiện  đang  giao  dịch  với trên 50 khách hàng thuộc các  nước  trên thế  giới  như: Mỹ, Canada, Châu Âu (Anh, Pháp, Đức,  Bồ Đào Nha,  Tây Ban Nha….), Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông,  Singapore, Malaysia, Indone- sia…), Châu Úc…vv.  Cơ cấu thị trường như  sau: Nhật Bản: 31 %, EU: 27%, Mỹ: 27% và các nước khác: 15%. Với ưu thế nổi bật về kinh nghiệm thiết  kế, sản xuất các sản phẩm thời  trang & vị thế dẫn  đầu ngành hàng thời  trang công  sở tại Việt  Nam từ hơn  30 năm qua,  Việt  Tiến  kết hợp  thế  mạnh về năng lực thiết  kế và bí quyết  gia công  các sản phẩm cao cấp quốc  tế cùng  với trình độ công  nghệ  hiện  đại bậc nhất Việt Nam và ngang tầm  với khu  vực để định hướng phát triển nhiều thương hiệu  phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác  nhau. Hiện tại Việt Tiến  có 6 thương hiệu,  được đầu tư xây dựng chuyên nghiệp, cụ thể:

    + Thương hiệu  Viettien: Là thời  trang nam công  sở, lịch sự, nghiêm túc, chỉnh chu.  Đối tượng sử dụng chính là nam giới, tuổi  từ 25 đến  55. Sản phẩm chính của thương hiệu  này bao gồm:  Áo sơ mi, quần tây, quần kaki, caravatte…

    + Thương hiệu  Manhattan: là thương hiệu  thời  trang nam cao  cấp  phong cách  Mỹ  dành cho doanh nhân, nhà  quản lý, nhà  lãnh  đạo,  những người  thành đạt,  sành  điệu  … dòng sản  phẩm bao gồm:  Sơmi,  quần âu, veston, caravatte,  áo thun. Đây là thương hiệu  được  Việt  Tiến  mua bản quyền của tập đoàn Perry Ellis International – Mỹ để sản xuất và tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.

    + Thương hiệu San Sciaro: Là thương hiệu thời trang nam cao cấp mang phong cách Ý. Đối tượng sử dụng là những người thành đạt, có địa vị xã hội là doanh nhân, nhà  quản lý. Sản phẩm thương hiệu này bao gồm: Áo sơ mi, quần tây, veston, áo thun …., với nguyên liệu đặc biệt cao cấp, được nhập từ các nước có nền công nghiệp dệt tiên tiến như: Nhật, Ý, Đức, Ấn Độ…

    + Thương hiệu  T_up: là thương hiệu thời trang nữ lịch sự, hiện  đại và tinh tế. Đối tượng sử dụng là nữ giới tuổi từ 27 đến 45, sử dụng trong môi trường công sở, dạo phố, mua sắm, dạ hội…  Dòng sản phẩm bao gồm: Đầm, váy, veston, quần áo thời  trang các loại …

    + Thương hiệu  Việt  Long Là thương hiệu  thời  trang nam dành cho những người  lao động bình dân  ở 2 khu  vực thành thị và nông thôn. Dòng sản phẩm bao gồm: Sơ mi, quần kaki, quần jeans,  áo thun, quần thể thao, jacket  …

    + Viettien Smart Casual: thừa hưởng thuộc tính lịch lãm, chỉnh chu của Viettien nhưng bổ sung thêm thuộc tính thoải mái & tiện dụng cho người mặc, dễ hòa nhập mọi hoàn cảnh & giao tiếp xã hội. Thương hiệu thời trang tiên phong khơi dậy sức sống mới cho giới làm việc văn phòng với một phong cách riêng: chững chạc, nhưng phóng khoáng, thoải mái. Dòng sản phẩm bao gồm: Áo sơ mi, áo chui lỗ, quần dài/sọt, quần áo thể thao/giải trí, bộ sưu tập theo mùa hay sự kiện…

    Năm 2010, doanh thu của Việt Tiến đạt 4.500 tỉ đồng (tăng 15% so với 2009), góp phần tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động. Với sự  nỗ lực phấn đấu  của toàn thể cán bộ công  nhân viên Tổng công  ty trong hơn  30 năm qua,  Tổng công  ty cổ phần may  Việt  Tiến  đã vinh  dự được  Đảng và Nhà  nước  Việt  Nam trao  tặng nhiều danh hiệu  cao  quý:  Tập  thể  Anh  Hùng Lao Động, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Nhì, Huân chương Độc  Lập hạng Ba…., đạt  danh hiệu”  Doanh Nghiệp Tiêu  Biểu Nhất Ngành Dệt  May Việt Nam” 6 năm liền, được người  tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam Chất Lượng  Cao” 13 năm liền, danh hiệu  “Sao Vàng  Đất Việt” 6 năm liền, là 1 trong 30 doanh nghiệp nằm trong chương trình thương hiệu  quốc  gia 2008,  đạt  danh hiệu  doanh nghiệp văn  hóa  UNESCO…cùng rất  nhiều giải thưởng cao quý khác. Đó là những phần thưởng cao quý cho một  DN  đã chủ động tích cực vươn  lên dẫn  đầu ngành dệt may Việt Nam và hội nhập quốc  tế.

    2.1.2, Thương hiệu  Viettien

    – Thương hiệu Viettien với 2 nhóm sản phẩm:

    + Việt Tiến thường: (có màu nâu).

    + Việt Tiến cao cấp: (có màu xanh đậm).

    – Ý nghĩa thương hiệu: Việt là Việt Nam, Tiến là tiến lên – công ty may Việt Tiến sẽ cùng đất nước Việt Nam tiến lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    – Gồm các sản phẩm: Áo sơ mi, quần tây, veston, cravat, jacket, phụ trang. Sản phẩm có kích thước, màu sắc, phong phú, giúp cho lựa chọn của khách hàng dễ dàng. Đối tượng sử dụng chính là những người có thu nhập ổn định, nghiêm túc, ít thay đổi, đa số có độ tuổi từ 28 trở lên.

    – Giá của sản phẩm Việt Tiến cũng rất đa dạng:

    + Sơ mi thường có giá từ 100.000 đồng đến dưới 200.000 đồng

    + Sơ mi cao cấp có giá từ  200.000 đồng đến 500.000 đồng

    + Quần tây giá từ 175.000 đồng đến 375.000 đồng

    + Veston từ 1.100.000 đồng đến 1.200.000 đồng

    + Caravat từ 90.000 đồng đến 275.000 đồng

    + Jacket từ 79.000 đồng đến 179.000 đồng

    + Mũ 40.000 đồng

    2.2, Kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy.

    2.2.1, Dự báo bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy

    2.2.1.1, Phân tích thị trường

    a, Nghiên cứu số liệu sơ cấp

    Sau khi tiến hành phát 60 phiếu điều tra các khách hàng đã đang mua và sử dụng sản phẩm may Việt Tiến trên địa bàn Xuân Thủy – Cầu Giấy, chúng tôi đã thu được các kết quả như sau:

    – Thời gian khách hàng sử dụng sản phẩm may Việt Tiến đến nay:

    + Dưới 1 năm: 25%       + 1 đến 2 năm: 27%                    + Trên 2 năm: 48%

    → Thời gian khách hàng sử dụng sản phẩm của Việt Tiến chủ yếu là trên 2 năm. Khi đã sử dụng sản phẩm của Việt Tiến khách hàng khá là trung thành.

    – Sản phẩm may Việt Tiến mà hiện tại khách hàng và gia đình của họ đang sử dụng:

    + Áo sơ mi: 53%           + Quần tây: 14,5%                  + Vest: 15,7%

    + Cravat: 9,6%              + Jacket: 1,2%                         + Phụ trang: 6%

    → Khách hàng chủ yếu sử dụng sản phẩm áo sơ mi Việt Tiến.

    – Nhận xét của khách hàng về chất lượng sản phẩm may Việt Tiến:

    +Rất tốt: 14,6%         +Tốt: 73%         +Khá: 8,3%            +Trung bình: 4,1%

    → Khách hàng đánh giá tương đối cao về chất lượng sản phẩm của Việt Tiến.

    – Nhận xét của khách hàng về mẫu mã các sản phẩm may Việt Tiến:

    + Rất đa dạng: 16,7%                                   + Đa dạng: 68,7%

    + Trung bình: 12,5%                                     + Không đa dạng: 2,1%

    → Phần lớn khách hàng đánh giá mẫu mã sản phẩm may Việt Tiến đa dạng.

    – Khách hàng thường mua sản phẩm may Việt tiến dùng để:

    + Dùng: 60%                               + Biếu: 8,5%                           + Tặng: 31,5%

    – Ý kiến  của khách hàng về giá các sản phẩm may Việt Tiến đang áp dụng:

    + Rẻ: 2%           + Vừa phải   : 64,5%          + Đắt: 31,5%             + Rất đắt: 2%

    → Phần lớn khách hàng thấy giá các sản phẩm của Việt Tiến là vừa phải, hợp túi tiền.

    – Địa điểm khách hàng thường mua sản phẩm may Việt Tiến ở:

    + Siêu thị: 10%       + Đại lý của Việt Tiến: 64%        + Cửa hàng bán lẻ: 8%

    + Trung tâm thương mại: 18%                    + Chợ và các nơi khác: 0%

    – Ý kiến của khách hàng về thái độ phục vụ của nhân viên trong hệ thống đại lý của Việt Tiến hiện nay:

    + Rất hài lòng: 14,5%                                      + Hài lòng: 64,5%

    + Bình thường: 21%                                        + Không hài lòng: 0%

    → Khách hàng khá hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên bán hàng trong hệ thống đại lý của Việt Tiến.

    – Ý kiến của khách hàng về số lượng cửa hàng phân phối sản phẩm may Việt Tiến tại khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy và các vùng lân cận:

    + Rất nhiều: 4%         + Nhiều: 33%         + Vừa đủ: 42%         + Còn ít: 21%

    – Khách hàng đánh giá về sản phẩm may Việt Tiến  so với các nhãn hiệu may mặc khác trên khu vực:

    + Chất lượng tốt hơn: 36,5%

    + Sản phẩm đa dạng hơn: 17,5%

    + Kiểu dáng lịch sự, đẹp, trang nhã hơn:17,5%

    + Thương hiệu lớn, uy tín hơn: 12,5%

    + Kiểu dáng chưa được trẻ, phong phú: 8%

    + Chất lượng kém hơn: 3%

    + Giá đắt hơn: 3,5 %

    + Sản phẩm chưa phong phú đa dạng: 1,5%

    b, Nghiên cứu số liệu thứ cấp

    – Đặc điểm về dân cư: Theo thống kê, hiện nay, thành phố Hà Nội có 6.561.900 người, mật độ dân số là 1.962 người trên một km2. Đây là một con số lớn, đặc biệt khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy và các vùng lân cận nằm trong nội thành thì mật độ dân số còn tập trung cao hơn rất nhiều.

    – Đặc điểm vể kinh tế: Năm 2010, tăng trường GDP của thủ đô ước đạt 11%, thu nhập bình quân đạt khoảng 37 triệu đồng (tương đương 1.900 USD), kinh tế thủ đô năm 2010 đã phục hồi và tăng trưởng khá, tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu đề ra và gấp 1,64 lần mức tăng chung của cả nước. Theo dự đoán đến năm 2015, tăng trưởng GDP của thủ đô đạt 13%, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 80.000 triệu đồng (4.100 -4.300 USD/năm).

    – Số lượng điểm bán hiện tại của Việt Tiến tại tuyến đường Xuân Thủy – Cầu giấy hiện nay của sản phẩm may Việt Tiến là 4 đại lý cụ thể:

    + 346 Cầu Giấy                                      + 331 Cầu Giấy

    + 216 Cầu Giấy                                      + 87 Cầu Giấy

    – Năng lực sản xuất của may Việt Tiến hiện nay đạt:

    + Áo sơ mi: 8.013.000 sản phẩm /năm

    + Quần tây: 5.123.700/ năm

    + Vest: 300.000 sản phẩm/ năm

    + Mặt hàng khác: 6.000.000 sản phẩm/ năm

    – Doanh thu của Việt Tiến từ việc bán sản phẩm trên thị trường nội địa năm 2010 đạt 741.592 triệu đồng, chiếm 39,79%, tăng 40% so với năm 2009.

    – Đối tượng mà sản phẩm Việt Tiến cung cấp đó là khách hàng từ 25 tuổi đến 55 tuổi, có thu nhâp trung bình và khá. Trên khu vực tập trung rất đông lượng khách hàng có độ tuổi này, họ đa số là nhân viên công sở, họ có thanh toán và tự quyết định được hành vi mua của mình.

    2.2.1.2, Kết quả dự báo trong vòng 3 tháng tới

    Sau khi nghiên cứu các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, chúng tôi nhận thấy, số lượng khách hàng có thời gian sử dụng sản phẩm trên 2 năm chiếm 48%, đây là con số khá lớn, chứng tỏ sản phẩm được khách hàng biết đến khá lâu. Nhận xét về các yếu tố như: chất lượng 73% là tốt, 14,6 là rất tốt; mẫu mã: rất đa dạng: 16,7%, đa dạng: 68,7%; giá cả có 64,5% khách hàng đánh giá là vừa phải; về thái độ phục vụ của nhân viên rất hài lòng 14,5% và 64,5% là hài lòng, chúng ta có thể thấy rằng sản phẩm may Việt Tiến được khách hàng yêu thích và cũng đã làm hài lòng khách hàng. Bên cạnh đó, chúng ta thấy tiềm năng thị trường là rất lớn, số thu nhập của người dân ngày càng tăng cao, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thẩm mỹ làm đẹp cũng tăng, dẫn đến các sản phẩm có chất lượng, mẫu mã, có uy tín ngày càng được ưa chuộng. Trên khu vực tập trung khá đông các khu vực công sở, các trường đại học lớn, vậy đối tượng mà may Việt Tiến hướng đến là rất nhiều. Đặc biệt trong khoảng thời gian tới lượng vest được tiêu thụ sẽ tăng lên đáng kể. Từ các phân tích trên, chúng tôi đưa ra một số kết quả dự báo trong vòng 3 tháng tới ( tháng 11, tháng 12 năm 2011 và tháng 1 năm 2012) như sau:

    – Năng lực thị trường, dự báo năng lực của các đối thủ cạnh tranh cung cấp sản phẩm dành cho nam như của Việt Tến, đó là May 10, May Nhà Bè… trong vòng 3 tháng tới: 10.826 sản phẩm.

    – Doanh số của ngành may: 5.309.150.000 đồng

    – Năng lực bán hàng của may Việt Tiến: 7.846 sản phẩm

    – Dự báo bán hàng của May Việt Tiến: 6.288 sản phẩm

    2.2.2, Xây dựng mục tiêu bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Qua việc phân tích thị trường và các kết quả dự báo bán hàng, chúng tôi xây dựng các mục tiêu bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên thị trường Xuân Thủy – Cầu Giấy trong 3 tháng tới như sau:

    2.2.2.1, Nhóm mục tiêu kết quả bán hàng

    – Doanh số bán hàng: 2.515.200.000 đồng, trong đó:

    + Vest: 1.188.000.000 đồng

    + Áo sơ mi: 756.000.000 đồng

    + Quần tây: 388.800.000 đồng

    + Caravat: 162.000.000 đồng

    + Jacket và phụ trang: 20.400.000 đồng

    – Lãi gộp: 952.080.000 đồng

    – Lợi nhuận bán hàng: 143.832.000 đồng đồng

    2.2.2.2, Nhóm mục tiêu nền tảng bán hàng

    – Mức độ hài lòng của khách hàng:

    + Số lượng khách hàng quay lại: 100%

    + Số lần mua của 1 khách trong vòng 3 tháng: 3 lần

    – Phát triển thị trường:

    + Tốc độ tăng trưởng doanh số là: 42%

    + Số lượng khách hàng mới: 5 khách hàng/ 1 ngày/ 1 cửa hàng

    – Số lượng đại lý và điểm bán: Giữ vững số lượng đại lý – 4 đại lý

    – Số cuộc điện thoại giao dịch với khách hàng: Mỗi nhân viên bán hàng phải điện thoại giao dịch mỗi tuần là 5 khách hàng.

    – Số khách hàng ghé thăm: trung bình 20 khách hàng/ 1 ngày/ 1 cửa hàng

    – Mục tiêu phát triển lực lượng bán hàng:

    + 100% nhân viên được đào tạo về kỹ năng bán hàng bằng lớp học của công ty.

    + Tối thiểu là 1 khóa học trên 1 năm cho nhân viên

    + Số nhân viên hoàn thành kế hoạch bán hàng: 40% số lượng nhân viên.

    2.2.3, Xây dựng các hoạt động, chương trình bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    a, Các chương trình

    Trong vòng 3 tháng tới chúng tôi sẽ tổ chức 2 chương trình bán hàng lớn, đó là: “ Tri ân nhà giáo ” và “ Cùng Việt Tiến đón Tết ”

    * Chương trình “ Tri ân nhà giáo ”

    Chào mừng Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, công ty may Việt Tiến thực hiện chương trình quà tặng khuyến mãi trong thời gian từ 1/11 đến hết 20/11/2011.

    – Khách hàng sẽ được tặng quà trị giá 5% trên tổng giá trị mua hàng.

    – Quý khách hàng sẽ được tặng những phần quà có giá trị thiết thực: bút bi Việt Tiến, mũ bảo hiểm Việt Tiến, ví da, móc đeo chìa khóa… tại tất cả các cửa hàng, đại lý Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy, căn cứ vào giá trị sản phẩm khi mua:

    + Hóa đơn từ 200.000 – 500.000 tặng 1 bút bi Việt Tiến

    + Hóa đơn từ 500.000 – 1.000.000 tặng 1 móc đeo chìa khóa

    + Hóa đơn từ 1.000.000 trở lên tặng 1 mũ bảo hiểm hoặc 1 ví da Việt Tiến.

    – Gói quà miễn phí: Khách hàng mua các sản phẩm có yêu cầu gói quà sẽ được đóng gói vào hộp quà được thiết kế riêng của Việt Tiến nhân ngày 20/11.

    * Chương trình “ Cùng Việt Tiến đón Tết ”

    Nhân dịp Tết Nguyên đán 2012, Việt Tiến tổ chức chương trình “ Cùng Việt Tiến đón Tết ” nhằm tri ân khách hàng. Trong thời gian từ ngày 25/12/11 đến ngày 23/1/12 khách hàng mua sản phẩm của Việt Tiến với trị giá từ 500.000 đồng trở lên sẽ được tặng các phiếu mua hàng với các mức giá như:

    + Nếu khách mua hàng có giá trị thanh toán từ 2.000.000 đồng trở lên thì được tặng 01 phiếu quà tặng trị giá 150.000 đồng.

    + Sơ mi giảm giá 5 đến 10% tùy theo sản phẩm.

    + Tặng thêm 1 caravat khi mua 1 bộ Vest.

    + Chiết khấu cho các đại lí: đại lí mua hàng từ 100 triệu – 200 triệu đồng trong 1 tháng được hưởng thêm 1% chiết khấu trên tổng giá trị đơn hàng trong tháng. Đại lí mua hàng từ 200 triệu – 500 triệu đồng trong 1 tháng được hưởng thêm 2% chiết khấu trên tổng giá trị đơn hàng trong tháng. Đại lí mua hàng từ 500 triệu đồng trở lên trong 1 tháng được hưởng thêm 3% chiết khấu trên tổng giá trị đơn hàng trong tháng

    b, Các hoạt động

    Để chuẩn bị cho chương trình, chúng tôi thực hiện các hoạt động:

    – Hoạt động chuẩn bị bán:

    + In pano quảng cáo và treo tại 4 đại lý: in 4 pano cho chương trình “ Tri ân nhà giáo”, 4 pano cho chương trình “ Cùng Việt Tiến đớn Tết”.

    + Chuẩn bị quà khuyến mại: 600 bút bi, 250 móc đeo chìa khóa, 120 mũ bảo hiểm, ví da và khoảng 1400 hộp quà, phiếu tặng quà…

    – Các hoạt động tuyển dụng, huấn luyện và tạo động lực cho lực lượng bán hàng: thông báo cho nhân viên nội dung của chương trình khuyến mãi, các chính sách tặng quà…

    + Nhân viên bộ phận marketing chuẩn bị pano, giới thiệu, quảng bá rộng rãi chương trình đến khách hàng trên khu vực và các vùng phụ cận. Liên hệ với nhà cung cấp hàng khuyến mại.

    + Nhân viên bộ phận kho và bảo quản hàng hóa: chuẩn bị kho và sắp xếp hàng hợp lý…

    + Nhân viên bộ phận tài chính thống kê số vốn cần cho chương trình, liên hệ với các ngân hàng nếu thiếu vốn.

    + Bộ phận bảo vệ chuẩn bị và bố trí nhân sự hợp lý, trông coi hàng hóa cũng như đồ đặc, xe của khách.

    + Bộ phận bán hàng, chuẩn bị nhân sự, đào tạo nội dung cho nhân viên có đầy đủ kỹ năng: giao tiếp, giới thiệu sản phẩm, gói quà… để giúp khách chọn sản phẩm phù hợp làm tăng sự hài lòng khách hàng.

    + Bộ phận nhân sự tổ chức và triển khai kế hoạch đào tạo nhân lực cho chương trình, xây dựng chính sách đánh giá chính xác nhân viên và khen thưởng, tuyên dương cho nhân viên đạt kết quả tốt.

    2.2.4, Xây dựng ngân sách bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy.

    Tiến hành kế hoạch bán hàng, chúng tôi xây dựng ngân sách bán hàng:

    * Ngân sách chi phí bán hàng:

    Chi phí Số lượng Đơn vị Chi tiết
    I, Chi phí biến đổi 172,304 Triệu đồng  
    1 Chi phí quảng cáo 6 Triệu đồng 8 pano cho 2 đợt khuyến mại
    2 Chi phí khuyến mại 56 Triệu đồng Chi phí đặt hàng khuyến mai:bút bi, ví da, mũ bảo hiểm, hộp quà…
    3 Chi phí chiết khấu 50,304 Triệu đồng 2 % Doanh thu
    4 Chi phí vận chuyển 54 Triệu đồng Mỗi tháng 3 đợt nhập hàng, mỗi đợt nhập 1,5 triệu đồng
    5 Chi phí đào tạo nhân viên 10 Triệu đồng Mở 1 khóa đào tạo nhân viên, gồm: chi phí cho giáo viên, địa điểm
    6 Chí phí thưởng nhân viên 2 Triệu đồng Mỗi nhân viên vượt kế hoạch sẽ được thưởng
    II, Chi phí cố định 588 Triệu đồng  
    1 Chi phí thuê địa điểm 240 Triệu đồng 4 ngôi nhà 2 tầng trong 3 tháng. Mỗi ngoi nhà 20 triệu đồng/1 tháng
    2 Chi phí nhân viên bán hàng 90 Triệu đồng Lương nhân 12 nhân viên cho 3 tháng. Mỗi cửa hàng 3 nhân viên, 2,5 triệu đồng /1 nhân viên/1 tháng
    3 Chi phí lương nhân viên hành chính 84 Triệu đồng 2 nhân viên cho cả khu vực cho 3 tháng
      Chi phí lương nhân viên quản lý 15 Triệu đồng 1 quản lý chung cho 3 tháng
    4 Chi phí đầu tư trang thiết bị 36 Triệu đồng Gồm: 1 máy tính, 1biển hiệu, 4 giá treo quần áo, 1 gương lớn, 1 điều hòa cho mỗi cửa hàng. ( Tính phần khấu hao trong 3 tháng )
    6 Chi phí nghiên cứu thị trường 15 Triệu đồng Cho nhân viên nghiên cứu và chi phí liên qua: tờ rơi, điện thoại
    7 Chi phí lương tạp vụ và bảo vệ 48 Triệu đồng Mỗi cửa hàng 1 bảo vệ và 1 tạp vụ  cho 3 tháng
    8 Chí phí khác 60 Triệu đồng Chi phí điện, nước, internet… cho 3 tháng

    Tổng chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi

    = 172.304.000 + 588.000.000 = 760.304.000 đồng

    * Ngân sách kết quả bán hàng

    TT Chỉ tiêu Ý nghĩa Cách tính
    1 Doanh thu Doanh số thực thu về của DN 6288  x 400.000 VND = 2.515.200.000 VND
    2 Giá vốn hàng bán Giá mua vào của hàng hóa bán ra 6288 x 240.000 + 54.000 = 1.563.120.000 VND
    4 Lãi gộp Phản ánh hiệu quả của HĐBH 2.515.200.000 -1.563.120.000=952.080.000 VND
    5 Tỷ lệ lãi gộp Phản ánh hiệu quả của HĐBH 952.080.000 / 2.515.200.000 = 37,85 %
    6 Lợi nhuận trước thuế Phản ánh hiệu quả của HĐBH 952.080.000 – 760.304.000 = 191.776.000 VND
    7 Lợi nhuận sau thuế Phản ánh hiệu quả của HĐBH 191.776.000( 1 – 0,25) = 143.832.000 VND

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Việc xây dựng kế hoạch bán hàng là hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Để bán hàng thành công và đạt hiệu quả mang lại doanh thu và lợi nhuận cao cho doanh nghiệp thì phải xây dựng một kế hoạch bán hàng cụ thể. Chính vì điều đó, các nhà quản trị phải hết sức quan tâm tới việc xây dựng kế hoạch bán hàng cho doanh nghiệp. Kế hoạch bán hàng phải dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tế để xây dựng mới có hiệu quả. Đó là yếu tố mang lại thành công cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%C3%A2u-thu%E1%BA%ABn-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-v%C3%A0-bi%E1%BB%83u-hi%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3-trong-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trong hoạt động kinh tế, mặt trận cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung – cầu, tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xi nghiệp, từng công ty và tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hàng hoá … Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi một sự vật mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành…

    Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã dành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những chuyển biến đó đã đạt được nhiều thành công to lớn nhưng trong những thnàh công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới. Đòi hỏi phải được giải quyết và nếu được giải quyết sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của nền kinh tế.

    Với mong muốn tìm hiểu thêm những vẫn đề của nền kinh tế, quan điểm lý luận cũng như những vướng mắc trong giải pháp, quy trình xử lý các vấn đề chính trị – xã hội có liên quan đến quá trình tiến hành cải cách trong việc chuyển nền kinh tế tôi chọn Mâu thuẫn biện chứng và biểu

    hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    làm đề tài cho tiểu luận môn triết học Mác- Lê nin.

    Em xin chân thành cảm ơn thày !

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG:

    Mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều là một thể thống nhất được cấu thành bởi các mặt, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau….. ở đây chúng ta chia làm hai phần.

    1.Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất:

    Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó. Do đó, cân phải phân biệt rằng bất kỳ hi mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bời vì trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại hai mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật hiện tượng có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập. Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (Sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật) thì có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn. “Thống nhất” của hai mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đững cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại. Nếu thiêu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật. Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào.

    • Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật

    tạo nên.

    Ví dụ: Trong nền kinh tê tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trường là điều kiện cho sự tồn tại của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, hai nền kinh tế khác nhau hoàn toàn về bản chất và những biểu hiện của nó nhưng nó lại hết sực quan trọng. Vì nó có sự thống nhất này nên nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể tồn tại với ý nghĩa là chính nó.

    Ví dụ: Lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển thì cùng với nmó quan hệ sản xuất cũng phát triển. Hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của phương thức sản xuất. Nhưng trong quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:

    • Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khai quát từ các mặt

    phù hợp khác nhau phản ánh được banr chất của sự phù hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    • Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của quan hệ sản

    xuất và lực lượng sản xuất.

    • Thứ ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ý nghĩa

    nhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được coi là thoả đáng phái có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượng sản xuất.

    Tuy nhiên, khái niệm thống nhất này chỉ mang tính tương đối. Bản thân nội dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: Thống nhất của cái đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập.

    Đấu tranh các mặt đối lập.

    Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của

    4

    bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuât lạc hậu kìm hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản.

    Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ây mới hình thành bước đầu cuả một mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành độc lập. Sự vật cu mất đi, sự vật mới hình thành. Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn. mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới xuất hiện. Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên cao. Chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đôi lập”.

    Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đáa tranh của các mặt đối lập, Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa là chính nó – nhừ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: “sự thống nhất (phù

    5

    hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mtặ đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua trong tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lậpbài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động tuyệt đối”.

    1. Chuyển hoá của các mặt đối lập:

    Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phất triển đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện càn thiết mới dẫn đến chuyển hoá, bài trừ và phủ định nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người.

    Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy moc. Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:

    + Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.

    Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.

    + Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.

    Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn được

    6

    giải quyết, sự vật cũng mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới.

    Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quá phát triển.

    II.                TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DƯỢNG NỀN KINH TẾ

    THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM :

    1.     Kinh tế thị truờng và những đặc điểm :

    Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử. Nó nhằm dẫn đến những mục tiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng. Nó thay cũ đôi mới hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn, cả về kinh tế và chu trình xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.

    Như chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng, tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung, cơ chế vận hành và quảnlý kinh tế này được duy trì trong một thời gian khá dài và xem như là một đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa xã hội, là cái đổi lập với cơ chế thị trường của CNTB. Sự thực thì không phải hoàn toàn như vậy, nền kinh tế tập trung không chỉ là sản phẩm riêng biệt của CNXH, cũng như nên kinh tế thị trường không phải duy nhất được thiết lập trong CNTB. Nền kinh tế tập trung đã được các nước tư bản áp dụng từ trước nhiều nước nước xác lập chế độ XHCN. Nhưng các nước TBCN đã xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sau khi chiến tranh kết thúc và đã đạt được những thành tựu lớn về kinh tế, xã hội. Nhưng công bằng mà nói, nền kinh tế thị trường cũng chưa phải là cái duy nhất bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển của xã hội.

    Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thị trường – bước phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá – là lẽ đương nhiên. Như vậy, có thể nói rằng nền kinh tế thị trường cũng như

    nền kinh tế tạp trung không phải là thuộc tính đặc thù, cố hữu riêng của một chế độ xã hội nào vấn đề áp dụng mỗi nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn cảnh lịch sử nào cho phù hợp để danh hiệu quả cao nhất. Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên CNXH, bởi thế việc phát triển nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan. Mới chỉ có hơn chục năm đổi mới vữa qua, Việt Nam đã cho nhân dân thế giới ngỡ ngàng. Từ chỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã hội nhập được với các nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Tất cả những thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt được khi chuyển sang nên kinh tế thị trường đã nói lên công cuộc đổi mới ở nước ta là một cuộc cách mạng thực sự.

    Ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không kém phần quan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.

    Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta một lần nữa khẳng định những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

    1. Chuyển sang nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan trong

    quá trình phát triển nền kinh tế đất nước :

    Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo hướng thị trường có sự diều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.

    • nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phương

    thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH.

    Nền kinh tế nước ta hiện nay chỉ có thể nói đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh

    8

    tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo đinh hướng XHCN. Do vậy, những đặc điểm của gia đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề rất có ý nghĩa, rất cần được nghiên cứu, xem xét. Nhận thức được nhứng đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối những đặc điểm đó, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.

    Như chúng ta đã biết, trong nên kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng kinh tế – xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của Nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối… khá nặng nề. ở nước ta trước đây, chế độ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.

    Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta dã từng bước chuyển sang nên kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa. Và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, những thành tự cho phép chúng ta “điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa hcọ và thực tiễn”. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp khả năng của kinh tế thị trường trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nước.

    Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết, là một kiểu quan hệ kinh tế – xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với thị trường, tức là gắn chặt với quân hệ hàng hoá – tiền tệ. với quan hệ cung – cầu …

    Trong nền kinh tế thị trường, nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xa hội quan hệ hàng hoá.

    9

    Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất với hai thành phần tập thể và quốc doanh, thì hiện nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sử hữu đó, trong thực tế vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau, đối khi chúng còn có mâu thuẫn với nhau. Song về tổng htể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh té thị trường.

    Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức, trên thực tếđã đem lại những kêt quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện nhận thức.

    Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, hiện đã dược chúng ta hiểu là không đối lập với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thnàh phần ở nước ta, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với thị trường, một mặt làm cho nền kinh tế nước ta thực sự trở thành một thị trường thống nhất- thống nhất trong cả nước và thống nhất với thị trường thế giới- mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế phải tự khẳng định khả năng và vai trò của mình trong thị trường.

    Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội; nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội.

    10

    Do vậy, những quan niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng CNXH với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    11

    III.             MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG

    NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM :

    1.     Thực chất nền kinh tế thị trường ở Việt Nam :

    1.1. Khái niệm kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó, sản xuất xã hội gắn chặt với thị trường, tức là gắn chặt chẽ với quan hệ hàng hoá

    • tiền tệ, với quan hệ cung cầu… Trong nền kinh tế thị trường nét biểu hiện

    có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá, hay ít nhất thì cũng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá như mắt khâu trung gian.

    1.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

    Thành tựu của 10 năm đổi mới vừa qua ở nước ta đã có tác dụng làm cho nước ta quen dần với các quan hệ hàng hoá. Hàm lượng kinh tế trong các hoạt động xã hội ngày càng được chú ý. Những kế hoạch những hoạt động xã hội bất chấp kinh tế hoặc phi kinh tế đã giảm đáng kể. Bước chuyển sang kinh tế thị trường này đương nhiên không tránh khỏi có những mặt tiêu cực của nó, nhưng dẫu sao nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của những quan hệ thị trường “ở Việt Nam, dù nền kinh tế thị trường mới chỉ đang hình thành, còn đang trong những bước chập chững ban đầu và được điều tiết một cách có ý thức theo định hướng XHCN, song cũng tác động khá rõ đến mọi mặt của đời sống xã hội và để lại đó những dấu ấn của mình…” Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu thuần nhất với hai thành phần kinh tế tập thể và quốc doanh, thì hiện nay cùng với thành phần sở hữu chủ đạo chủ đạo là sở hữu nhà nước thì còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác, về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thị trường.

    12

    Trên con đường CNH – HĐH, việc chúng ta bắt đầu sử dụng thị trường như một công cụ,một phương thức để đảm bảo tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, đã đem lại những kết quả tích cực về cả phương diện, thực tiễn lẫn phương diện nhận thức.

    Một hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới cho chúng ta là, sản xuất hàng hoá cùng với “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường” hiện nay đã được chúng ta hiểu là không mâu thuẫn với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài. Kinh tế thị trường rõ ràng là khách quan là tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH.

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với thị trường, một mặt là nền kinh tế nước ta thực sự trở thành một thị trường thống nhất – thống nhất trong cả nước và thống nhất với thị trường thế giới, mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế buộc phải tự khẳng định mình – vai trò của mình trong thị trường.

    2.     Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta :

     

    +) một số vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin về

    qua hệ giữa kinh tế và chính trị :

    Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì kinh tế quyết định chính trị: “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Trong lịch sử phát triển xã hội loại người không phải báo về cũng có vấn đề chính trị. Xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội xuất hiện giai cấp và Nhà nước thì vấn đề chính trị mới hình thành. Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trung tâm của vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp , các lực lượng xã hội nhằm giành và giữ chình quyền nhà nước và sử dụng chính quyền đó làm công cụ dể xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. Bản thân vấn đềm chính trị ra đời hoàn toàn lad do kinh

    13

    tế quyết định. Chính trị không phải là mục đích, mà chỉ là phưưong tiện để thực hiện mục đích kinh tế. Khi phê phán quan niệm của Đuyrich cho rằng bạo lực chính trị quyết định kinh tế, F.Engen đã khẳng định”bạo lực chỉ là phương tiện, còn lợi ích kinh tế là mục đích”. Trong tác phẩm “Lútvích Phoiơbăc và sự cáo chung của triết học cổ điểnĐức”, F.Engen đã chỉ rõ” để thoả thuận những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng là một phương tiện đơn thuần.

    Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế đọ xã hội. Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho giai cấp đó thực hiện được sự thống trị về kinh tế. Đấu tranh giai cấp, về thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh, được thực hiện thông qua đấu tranh chính trị. Theo F.Engen, “bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh chính trị, xét đến cùng, đều xoay quoanh vấn đề giải phóng về kinh tế”. Để nhấn mạnh vai trò của chính trị V.I.Lenin đã khẳng định” chính trị không thể chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế”Khẳng định đó của Lenin không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò quyết định của kinh tế đối voứi chính trị, mà muôns nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó được xem xét giải quết theo một lập trường chinhs trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền cũng hướng kinh tế phát triển theo lập trường chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Và lập trường chính trị đúng hay sai sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. V.I>Lenin còn khẳng định “không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ vững đuực sự thống trị của mình và do đó cúng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vục sản xuất “. Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêu câùphát triển kinh tế thì kinh tế tất yếu sẽ mở đường đi. Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế là điều kiện quyết định để thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị là thống nhất và biện chứng với nhau trên nền tảng quyết

    14

    định là kinh tế. Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhận thức công cuộc đổi mới ở Việt Nam nói riêng.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991). Đảng ta đã khẳng định:

    “Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cuả CNXH, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mởi trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến tất cả các mối quan hệ đặc biệt nhạy cảm và phức tạp trong xã hội, nên việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn. Nhưng không vì thế mà tiến hành chậm chễ đổi mới chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các bộ, các mối quan hệ giữ Đảng và Nhà nước và cá đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế , xã hội và thực hiện dân chủ.” Điều đó cho thấy Đảng ta đã không tách rời đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đảng ta khẳng định răng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế và đồng thời với đổi mới kinh tế phải tiền hành từng bước đổi mới chính trị, nhưng phải thận trọng không gây mất ổn định về chính trị.

    Tư tưởng trên đã được tiếp tục phát triển một cáh rõ ràng hơn ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7 năm 1996) của Đảng ta. Khi tổng kết các bài học của 10 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế vưới đổi mới chính trị. Đây là một bài học khái quát mới, hoàn toàn khoa học. Nó vừa phù hợp với lý luận của chú nghĩa Mác – Lênin vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta.

    15

    Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn định chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tưởng như một ngịch lý nhưng hoàn toàn có lý và khoa học.

    Ổn định về chính trị, nói một cách khái quát là giai cấp cầm quyền phải tăng cường quyền lực chính trị của mình; Nhà nước của giai cấp đó phải mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh; chế độ xã hội đã xác lập phải được giữ vững. Đối với nước ta hiện nay, ổn định về chính trị thực chất là giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường vai trò của Nhà nước XHCN, bảo vệ và xây dựng thành công CNXH.

    Thực tiẽn trên thế giới chó thây, ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơ bản để phát triển kinh tế. Nó tạo ra môi trường để thu hút nguồn đầu tư trong nước và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh. Những thành tựu trong 10 năm đổi mới vừa qua ở nước ta cũng khẳng định điều đó. Những thành từu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ được ổn định về chính trị.

    Ổn định về chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhưng đổi mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để giữ vững ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cương vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN. Đổi mới chính trị phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có thể tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN, và nhừ đó mới giữ vững ổn định về chịnh trị. Song đổi mới về kinh tế cũng không phải đổi mới một cách tuỳ tiện mà theo một định hướng nhất định. Đó là chuyển từ nền kinh tế kấ hoạch hoá tập trung sang “nền kinh tế nhiều thành phàn, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” hay nói ngăn gọn là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là nhằm thực hiện mục tiêu “dân

    16

    giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, và đó cũng là cơ sở để giứ vững ổn định về chính trị.

    Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đổi lập nhưng thống nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới đổi mới, và đổi mới là điều kiện để ổn định, Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế.

    Như vậy, chúng ta thấy trong quá trình đổi mới ở nước ta, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng bước phù hợp với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế.

    Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm của 10 năm đổi mới vừa qua là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủa nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở Viêt Nam. Khía quát đó hoàn toàn khoa học và có giá trị định hướng cho giai đoạn phát triển tiếp theo – giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    +) Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quân hệ sản xuất:

    Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, mâu thuẫn giữa hai lực lượng này và những biểu hiện của nó xét trên phương diện triết học Mác – Lênin, theo đó lực lượng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình đọ

    17

    phst triển của lực lượng sản xuất. Chính quan hệ sản xuất tự phát triển để phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đó là quy luật kinh tế chung cho sự phát triển xã hội.

    Quá trình mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hế sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt, quyết liệt và cần được giải quyết. Nhưng giải quyết nó bằng cách nào? đó chính là các cuộc cách mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta là một ví dụ. Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện tích chất cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nước ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

    Công nghiệp hiện đại hoá đất nước là chủ trương, biện pháp vừa mang tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nói đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là nói đến nền sản xuất tiên tiến và đó chính là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói đến khoa học, đến sự anh minh, trí tuệ, là nói đến một phương thức tối ưu để thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, nhằm tạo điều kiện và cơ sở vật chất cho CNXH được xây dựng và phát triển. Không thể ăn đói, mặc rách với cái cuốc trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết CNXH, chuyển sang nền kinh tế thị trường. Khẳng định cái mới, đúng đắn tự bản thân nó đã bao gồm cả ý nghĩa phủ định gạt bỏ cả quan niệm cũ sai lầm về điieù kiện và cách thức xây dựng chủ nghĩa xa hội ở nước ta. Trước đây chúng ta thiếu quan tâm đúng mức đến vai trò của trí tuệ; khoa học, đến việc tạo lập cơ sở kinh tế vật chất của CNXH. Bằng chứng là một thời chúng ta đã coi trọng không đúng mức tầng lớp trí thức và khoa học trong môi trường tương quan với đội ngũ những nguời lao động khác. Do thế, hậu quả tất yếu đã xảy ra là khoa học ở nước ta chậm hoặc ít có điều kiện môi trường phát triển, đất nước không thoát khỏi nền sản xuất nhỏ,

    18

    nông nghịp lạc hậu và cũng không thể nói dến công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    +) Mâu thuẫn giữa các hình thái sở hữu trước đây và trong kinh tế thị trường:

    Trước đây người ta quan niệm những hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội là : sở hữu XHCN tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi những điều kiện lịch sử khi tiến hành cách mạng CNXH và XDCNXH quyết định. Sau khi giành được chíh quyền giai cấp công nhân đứng trước hai hình thức sở hữu tư nhân khác nhau. Sở hữu tư nhân tư bản chủ nghiõa và sở hữ tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân phải có thái độ và phát triển giải quyết khác nhau. Đối với hình thức sở hữu tư nhân tư bản chue nghĩa bằng cách tước đoạt hoặc chuộc lại để chuyển thẳng lên sở hữu toàn dân, còn đói với hình thức sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ thì không thể dùng những biện pháp như trên, mà phải kiên trì giáo dục, thuyết phục tổ chức họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng con đường hợp tác hoá hai hình thức. Sở hữu đó là hai con đường đặc thù tiến lên CNCS của giai cấp công nhân và nông dân tập thể.

    Các hình thức sở hữu trước đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.

    Hơn mưòi năm đổi mới đát nước theo định hướng Xhcn ở nước ta đã chúng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xướngvà lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực tiến đã cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu, chứ không phải chỉ có hai thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể như quan niệm trước đây…

    Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm nhiều hình thức sở hữu như sở hữu toàn dân, sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở

    19

    hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này khái quát lại chỉ có hai hình thức sở hữu cơ bản là công hữ và tư hữu, còn các hình thức khác chỉ là hình thức trung gian, quá đọ hoặc hỗn hợp. ở đây , mỗi hình thức lại có nhiều phương thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau. Chúng được hình thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực quản lý.

    Về sở hữu toàn dân : trước đây nguời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng với sở hữu Nhà nước.

    Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần thì đương nhiên là nó bao gồm nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh. Nhà nước quản lý kinh tế với tư cách là cơ quan có quyền lực đại diện cho lợi ích của nhân dân và là đại diện đối với tài sản sở hữu của toàn dân.

    Ở nước ta hiện nay, như hiến pháp và luật đất đai đã quy định rõ :” đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Xét về mặt kinh tế đất đai là phương tiện tồn tại cơ bản của cả một cộng đồng xã hội. Xét về mạt xã hội đất đai là lãnh thổ nơi cư trú của cả một cộng đồng. Thế nhưng khi xét trên cả hai phương diện có thể nói rằng đất đai không thể là đối tượng sở hữu của riêng ai. Tuy nhiên, suy cho cùng, đất đai cũng là tư liệu sản xuất, hay nói chính xác hơn, đó là một bộ phận quan trọng của tư liệu sản xuất. Bởi thế , dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hoá, nó vẫn phải vận động theo quy luật của thị trường và chịu sự điều tiết của quy luật đó. Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện sở hữu và quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân , kể cả quyền chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đai nếu biết giải quyết cụ thể các vấn đề sở hữu , biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng. Chẳng hạn như ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân song nguời nông dân có quyền sử dụng ổn định lâu dàithì có thể đem lại một sức bật cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và

    20

    sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Văn kiện Đại hội VII của Đảng ta đã chỉ rõ:”trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất đuợc giao cho nguời nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề về thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất….” (Đảng cộng sản Việt Nam

    văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII – Nhà xuất bản sự thật- Hà nội năm1991). Như vậy hình thức sở hữu toàn dân ở nước ta hiện nay đã được xác định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế.

    Về sở hữu nhà nước

    Trong thời kỳ bao cấp trước đây không chỉ có nước ta mà còn có những nước khác trong hệ thống các nước xã hội chủ nghiã thưòng đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy mà trong một thời gia khá lâu , ngường ta thường bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước chỉ quan tâm đặc biệt đến sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưói hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết vơí sự phát triển của khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta ra sức quốcdoanh hó nền kinh tế với niềm tin cho rằng chỉ như vậy mới có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàn dân đã trở thành sở hữu không phải của một chủ thể cụ thể nào cả.

    Trong xã hội mà Nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều kiện vận động trrên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nước xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên trong của sở hữu nhà nước ở nước ta có lẽ chủ yếu thể hiện

    • quyền sở hữu đó ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp nhà nước.

    Về sở hữu tập thể:

    Ở nước ta trước đây sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức HTX ( gồm cả HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Vì vậy với hình thức sở hữu này, quyền mua bán hoặc chuyển

    21

    nhượng tư liệu sản xuất, trong thực tế sản xuất và lưu thông hàng hó ở nước ta dễn ra hết sức phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường rất hạn chế, song đôi khi lại có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân trá hình cũng là hiện tượng phổ biến. Để thoát khỏi tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị truờng hiện nay cần phải xác định rõ quyền mua bán và chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất kinh doanh. Chỉ có như vậy thì sở hữu tập thể mới có thể trở thành hình thức sở hữu có hiệu qủa.

    Chúng ta đã biết, HTX không phải là hình thức riêng có, đặc trưng cho CNXH, nhưng nó là một hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chúng ta duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi xây dựng chủ nghĩa xã hội như V.I Lenin đã khẳng định,” chế độ của người xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”.

    HTX là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá. Khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏ phát triển tới một trình độ nhất địng, nó sèt húc đẩy quá trình hợp tác. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá, các nhu cầu về vốn, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm .. đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển. Chính nhu cầu đó đã liên kết những nguời lao động lại với nhau làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta hiện nay đã có những hình thức HTX kiểu mới ra đời do nhu cầu tồn tại và phát triển cuả cơ chế thị trường” HTX đã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao độngvà theo cổ phần, mỗi xã viên cóquyền như nhau đối với công việc chung”(Đảng cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội- 1996 ). Điều này cho thấy kết cấu bên trong của sở hữu tập thể đã thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn ở đất nước ta hiện nay.

    22

    +) Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN

    Chủ tịch Hồ Chí MInh cho rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người XHCH. Yếu tố con người giứ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng , bởi vì con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá. Con nguời phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH . Chúng ta phải bắt đầu từ con người làm điểm xuất phát.

    Kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con nguời với con nguời được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ trên thị trường,.Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với nguời sản xuất và người tiêu dùng. Do nẩy sinh và hoạt động một cách khách quan trong điều kiện lịch sử nhất định Kinh tế thị trường phản ánh đầy đủ trình độ văn minh và phát triển xã hội là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật như sự cạnh tranh lạnh lùng , tính tự phát mù quáng dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ.

    Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nước ta hiện nay , không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị trường. Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển , của cơ chế tập trung quan liêu bao câp,..nền kinh tế nước ta đa xtụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, kinh tế thị trường là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng và phát triển , phục hồi sản xuất, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại. Trên cơ sở đó , đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, những nhu cầu sinh hoạt vật chất cơ bản ngày càng được đápứng một cách đầy đủ và nhanh chóng. Con nguời không

    23

    thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các điều kiện y tế hiện đại để chăm sóc giữ gìn sức khoẻ. Con nguời không thể có trí tuệ minh mẫn, phát triểnnếu các điều kiện vật chất tiến hành các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học không được đáp ứng. Việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN cũng đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển con người cho thế kỷ XXI.

    Trong những năm qua, kinh tế thị trường ở nước ta đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng sáng tạo, làm cho nền kinh tế sống động hơn, bộ mặt thị trường được thay đổi và sôi động hơn. Đây là những kết quả đáng mừng, đáng được phát huy. Nó thể hiện sự phát hiện và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của xã hội. Quá trình biện chứng đi lên CNXH từ khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.

    Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến : kinh tế thị truờng ở nước ta hiện nay không chỉ tạo điều kiện vật chất để xây dựng, phát huy nguồn lực con người mà còn tạo ra môi trường thích hợp cho con người phát triển hoàn toàn, toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều đó buộc con người phải năng động sáng tạo , linh hoạt , có tác phong nhanh nhạy, có đầu óc quan sát , phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả . Từ đó, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con nguời góp phần làm giảm đi sự chậm chạp và trì trệ vốn có của người lao động trong nền kinh tế lạc hậu từ ngần đời con người Việt Nam. Kinh tế thị trường tạo ra những điều kiện thích hợp cho con người mở rộng các quan hệ buôn bán giao lưu, từ đó hình thành các chuẩn mực văn hoá đạo đức theo tiêu trí thị trường như chữ tín trong chất lượng và giao dịch…. Đây cũng là một hướng tốt đẹp bù đắp những thiếu hụt trong hệ giải trí của con người Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế thị trường là những phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con người . Có

    24

    những lúc, những nơi, kinh tế thị trường không những không làm cho người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn, mà ngược lại , còn làm tha hoá bản chất con người, biến con người thành gã nô lệ sùng bái đồng tiền hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích cá nhân , sẵn sàng trà đạp lên nhân phẩm, văn hoá, đạo đức, luân lý… Bên cạnh những tác động tích cực , kinh tế thị trường cũng có nhiều khuyết tật, hạn chế gây ra những tác động xấu. Đơn giản ví dụ như: tệ nạ thương mại hoá trường học, xem nhẹ truyền thống tôn sư trọng đạo. Quan hệ hàng hóa- tiền tệ làm sôi động thị trường nhưng cũng làm sói mòn nhân cách và phẩm chất con người. Ngoài ra, đi kèm với kinh tế thị trường là hàng loạt các tệ nạn xã hội đễ đưa đến rối loạn, khủng hoảng cho gia đình, hạt nhân – tế bào của xã hội . Nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma tuý, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng… là những căn bệnh trầm kha không dễ bề khắc phục trong kinh tế thị trường. Thật không sai khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu.dùng không cẩn thận sẽ bị đứt tay.

    Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường là mục tiêu xây dựng con người XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây chính là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh. Kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng, phát huy những nguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố huỷ hoại đầu độc con nguời. Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không hề đơn giản. Đối với nước ta mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, bằng sự quản lý của Nhà nước theo định hướng CNXH. Đảng ta xác định “sản xuất hàng hoá không đối lập với CHXH mà là thành tựu phát triển nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng XHCN và cả khi CNXH đã được xây dựng”Như vậy Đảng ta vạch rõ sự thống nhất giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa . Việc áp dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm

    25

    vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác nhận đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt các vấn đề này sẽ phát huy được những tác động tích cực to lớn cũng như ngăn ngừa hạn chế khắc phục những tiêu cực, khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vụ công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động văn hoá giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý coi thường các giá trị nhân văn, phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần nhân đạo, thẩm mỹ, các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc như nôị dung của Nghị quyết TW 5 đã nêu. Đây chính là công cụ, là phương tiện quan trọng để tác động, góp phần giải quyết mâu thuẫn đã nêu trên.

    26

    KẾT LUẬN

    Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan phổ biến hình thành từ nhữnh cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự vật, hiện tượng trong bản thân thế giới khách quan… do đó trong hoạt động thực tiễn phân tích từng mặt độc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức được bản chất khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật hiện tượng.

    Cần nắm vững nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ những cái cũ để thiết lập cái mới tiến bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu ttranh cần được coi là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.

    Trong thời kỳ chuyền nền kinh tế ở Việt Nam từ kế hoạch tập chung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướnh Xã Hội Chủ Nghĩa. Chủ chương lãnh đạo của Đảng là rất đúng đắn tuy nhiên trong thực hiện còn nhiều thiếu sót, mâu thuẩn giữa các vấn đề nẩy sinh, nhưng những mâu thuẫn đó lại đòi hỏi chúng ta phải giải quyết có như thế nền kinh tế mới phát triển theo đúng nghĩa đổi mới của nó.

    27

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ————–

    1. Tài liệu hướng dẫn
    1. Giáo trình triết học Mác Lênin tập 2 ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia).
    1. Tạp chí triết học số 1(101) tháng 2 năm 1998.
    1. Tạp chí triết học số 1(107) tháng 2 năm 1999.
    1. Tạp chí triết học số 3(103) tháng 6 năm 1998.
    1. Việt nam chuyển sang nền kinh tế thị trường ( Học viện chính trị quốc gia).
    1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII.

    8 . Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII.

    1. Báo nhân dân ngày 8 tháng 1 năm 1999.

    28


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]