Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-y%E1%BA%BFu-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-T%E1%BB%95ng-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-qu%E1%BB%91c-n%E1%BB%99i-GDP-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-1995-2011.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011

    Chương 1: TỔNG QUAN

    1. Lý do chọn đề tài:

    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiêu có tính cơ sở phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế và sự thay đổi mức giá cả của một quốc gia. Bởi vậy, GDP là một công cụ quan trọng, thích hợp được dùng phổ biến trên thế giới để khảo sát sự phát triển và sự thay đổi trong nền kinh tế quốc dân. Nhận thức chính xác và sử dụng hợp lý chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát và đánh giá tình trạng phát triển bền vững, nhịp nhàng, toàn diện nền kinh tế. Bất cứ một gia quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể cho những nổ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, các yếu tố ảnh hưởng đến GDP giúp chính phủ có thể thay đổi các chính sách để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây là những vấn đề vĩ mô mà ai hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đều quan tâm. Đó là lý do nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011”

    2. Mục tiêu nghiên cứu:

    Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố: Đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    3. Phạm vi nghiên cứu:

    Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.

    4. Kết cấu của bài tiểu luận:

     

    Chương 1: Tổng quan

     

    Chương 2: Cơ sở lý luận

     

    Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu.

     

    Chương 4: Kết quả nghiên cứu

     

    Chương 5: Kết luận

    Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    • hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều không phân biệt khuynh hướng chính trị, mổi quốc gia đều tự xác định riêng cho mình một chiến lược riêng để phát triển kinh tế – xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến

    bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Không riêng một đất nước nào cả, ở Việt Nam cũng vậy luôn xem việc phát triển kinh tế là một nhiệm vụ rất bức thiết. Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, đã có những bước phát triển đáng kể, đất nước ta từ nền kinh tế thời bao cấp trì trệ đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Tổng thu nhập quốc dân hằng năm đã tăng lên. Hơn thế nữa đất nước chúng ta hiện nay gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu WTO, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một bước tiến rất quan trọng và mở ra cho nền kinh tế nước nhà nhiều hứa hẹn. Tăng trưởng kinh tế diễn ra nó biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP ngày càng cao và ổn định trong thời gian dài, nền kinh tế sẽ có nhiều thành tựu to lớn. Như vậy thu nhập và mức sống của người dân càng ổn định thì đất nước càng phát triển. Chính vì vậy mà việc tăng trưởng kinh tế được xem như là vấn đề hấp dẫn trong nghiên cứu kinh tế, nó chính là tiêu điểm để phản ánh sự thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc gia. Để đánh giá nền kinh tế của một quốc gia, các nhà kinh tế đánh giá qua tổng sản phẩm quốc nội GDP.

    2.1.  Khái niệm:

    Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia.

    Đầu tư: trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.

    Xuất khẩu: là những hàng hoá được sản xuất ra ở trong nước được bán ra nước ngoài (lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài – làm tăng GDP).

    Nhập khẩu: là những hàng được sản xuất ra ở nước ngoài, nhưng được mua để phục vụ nhu cầu nội địa (lượng tiền trả cho nước ngoài do mua hàng hóa và dịch vụ – làm giảm GDP)

    2.2. Nguồn gốc của mô hình từ lý thuyết:

    Có phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP): có 3 phương pháp

    2.2.1. Phương pháp tính theo luồng sản phẩm:

    Hàng năm dân cư của mỗi nước tiêu thụ rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng như: gạo, thịt, cam, táo, xoài…;c hăm sóc y tế, thương mại và du lịch… những hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua và sử dụng. Toàn bộ các khoản chi tiêu tính bằng tiền để mua các sản phẩm cuối cùng, sẽ có được toàn bộ GDP của nền kinh tế hàng hóa đơn giản này.

    Như vậy, trong nền kinh tế giản đơn, ta có thể dể dàng tính được thu nhập hay sản phẩm quốc dân bao gồm tổng số hàng hóa cuối cùng cộng với dịch vụ.

    Vậy, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của luồng sản phẩm cuối cùng mà một quốc gia tạo ra. GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong thời gian một năm. Được thể hiện như sau:

    GDP = C + I + X – Z – Te = C + I + G +NX – Te Trong đó: GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

    C: Tiêu dùng của hộ gia đình

    I: Đầu tư của các nhà sản xuất

    • Xuất khẩu
    • Nhập khẩu

    Te: Thuế gián thu

    NX: Xuất khẩu ròng

    • Chi tiêu của Chính phủ

    2.2.2. Phương pháp tính theo tiền thu nhập hoặc chi phí:

    Đây là phương pháp thứ hai tương tự để tính GDP trong một nền kinh tế giản đơn. Các ngành kinh doanh thanh toán tiền công, tiền lãi, tiền thuê nhà và lợi nhuận. Đó là các khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật dùng để sản xuất ra luồng sản phẩm.

    GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất. GDP cũng bao gồm nhiều thuế gián thu và khấu hao mà chúng không phải là thu nhập của các yếu tố. Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất bao gồm:

    • Tiền lương và các khoản tiền thưởng mà người lao động được hưởng: (W)
    • Thu nhập của người cho vay: Tiền lãi (i)
    • Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác: Tiền thuê (R)
    • Thu nhập của các doanh nghiệp: Lợi nhuận (r)
    • Thuế gián thu (Te)

    Trang 3

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Khấu hao (De)

    Như vậy, Tổng sản phẩm quốc nội cũng có nghĩa là tổng tiền thu nhập về các yếu tố sản xuất (lương, tiền lãi cho vay, thuê nhà và lợi nhuận), dùng làm chi phí sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng của xã hội. GDP theo tiền thu nhập được thể hiện như sau:

    GDP = W + i + R + r + Te + De

    Tóm lại, việc tính toán bằng nhiều phương pháp đều cho những kết quả giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế có những chênh lệch nhất định do những sai sót từ những con số, thống kê hoặc tính toán.

    Trang 4

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.2.3. Mô hình nghiên cứu :

    Thiết bị

    Cơ sở hạ tầng

    Công nghệ

    Trình độ

    Nguồn lao động

    Xuất khẩu

    Giới tính

    Vốn chủ sở hữu

    Vốn

    Vốn vay

    Giá

    Nhu cầu tiêu dùng

    Thu nhập cá nhân

    GDP   Nhập khẩu

    Chính sách nhà nước

       

    Tín dụng

         
         

    Kinh tế nhà nước

     

    Tài khóa

         
         
       

    Tiền tệ

         

    Thu nhập dân cư

    Đầu tư

    Kinh tế ngoài nhà nước                 Lạm phát

    Tỷ giá

    K.Vực có vốn đầu tư

    nước ngoài

    Trang 5

    GVHD : Trương Bích Phương

    2.3. Lý thuyết đưa các biến phụ thuộc vào mô hình:

    Theo PGS – TS Nguyễn Văn Công, GDP chính là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nước trong thời kỳ nhất định. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP gồm các nhân tố chủ chốt sau:

    Thứ nhất, nguồn nhân lực. Một số quan điểm cho rằng con người là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế. Con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có nhiệt huyết, động lực, nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Thứ hai, vốn đầu tư. Để sản xuất hàng hóa, để mua máy móc thiết bị, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, chúng ta cần có vốn đầu tư. Harod Domar đã nêu lên mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế với công thức ICOR, đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP. Thứ ba, tài nguyên thiên nhiên. Các nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Không những có thể khai thác đưa vào sản xuất mà còn có thể phục vụ xuất khẩu, mua về những hàng hóa cần thiết.

    Thứ tư, tri thức công nghệ. Khoa học kỹ thuật luôn là chìa khóa thần kỳ mở cánh cổng bước vào tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất và hiệu suất sản xuất, có thể khiến sản lượng tăng đột biến.

    Thứ năm, đó là xuất khẩu ròng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính.Chúng ta xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ nhất trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí. Khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu là xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế, vì nó là một phần của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra. Xuất khẩu ròng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất sản phẩm nhiều hơn.

    Tuy nhiên, trong tất cả các yếu tố trên, được quan tâm nhắc đến nhiều nhất, vẫn là vốn đầu tư và xuất khẩu ròng (xuất khẩu và nhập khẩu). Vì hai yếu tố trên chịu ảnh hưởng tác động nhiều nhất của các chính sách kinh tế, và cũng do hai nhân tố trên dễ thống kê với số liệu chính xác hơn nên thường xảy ra bàn cải xoay quanh các chính sách về hai nhân tố này. Do tính thời sự của hai nhân tố này, chúng tôi quyết định đưa đầu tư, xuất khẩu và nhập khẩu vào mô hình, nghiên cứu mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của nhóm. Qua đó sẽ thấy được mối tương quan, độ ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố này tăng trưởng kinh tế.

    Trang 6

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 3: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng

    Mô hình gồm 4 biến:

    • Biến phụ thuộc : Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Đơn vị tính: tỷ đồng )
    • Biến độc lập :
    • Đầu tư I (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Xuất khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng)
    • Nhập khẩu NX (Đơn vị tính : tỷ đồng )

    GDP = β1 + β2 I +β3XK + β4NK + V

    3.2. Dự đoán kỳ vọng giữa các biến:

    • β2 dương : Khi Đầu tư tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β3 dương : Khi giá trị xuất khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.
    • β4 âm : Khi giá trị nhập khẩu tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP giảm.

    3.3. Mô tả số liệu

    • Số liệu bao gồm: Tổng giá trị vốn đầu tư (I), Tổng giá trị Xuất khẩu, Tổng giá trị nhập khẩu và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2011.
    • Số liệu tìm được từ tổng cục thống kê Việt Nam.
    • Bảng số liệu :

    STT

    Năm

    GDP

    Đầu tư I

    Xuất khẩu NX

    Nhập khẩu NX

               

    1

    1995

    228677

    72447.0

    5448.9

    8155.4

               

    2

    1996

    269654

    87394.0

    7255.9

    11143.6

               

    3

    1997

    308600

    108370.0

    9185.0

    11592.3

               

    4

    1998

    352836

    117134.0

    9360.3

    11499.6

               

    5

    1999

    392693

    131171.0

    11541.4

    11742.1

               

    6

    2000

    435319

    151183.0

    14482.7

    15636.5

               

    7

    2001

    474855

    170496.0

    15029.2

    16218.0

               

    8

    2002

    527056

    200145.0

    16706.1

    19745.6

               

    Trang 7

    GVHD : Trương Bích Phương

    9

    2003

    603688

    239246.0

    20149.3

    25255.8

               

    10

    2004

    701906

    290927.0

    26485.0

    31968.8

               

    11

    2005

    822432

    343135.0

    32447.1

    36761.1

               

    12

    2006

    951456

    404712.0

    39826.2

    44891.1

               

    13

    2007

    1108752

    532093.0

    48561.4

    62764.7

               

    14

    2008

    1436955

    616735.0

    62685.1

    80713.8

               

    15

    2009

    1580461

    708826.0

    57096.3

    69948.8

               

    16

    2010

    1898664

    830278.0

    72236.7

    84838.6

               

    17

    Sơ bộ 2011

    2415204

    877850.0

    96905.7

    106749.9

     
               

    (Đơn vị tính : tỷ đồng)

    3.4. Mô hình hồi quy

    • Mô hình hồi quy tổng thể :

    (PRF)    GDP =      1+  2 I+  3 XK+ β4NK +Vi

    • Mô hình hồi quy mẫu:

    (SRF) GDP =     1  +     2  I+ ˆ 3 XK +       4 NK+ ei  ( ei là ước lượng của Vi)

    Trang 8

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    4.1. Xác định mô hình hồi quy và đọc ý nghĩa các hệ số :

    • Kết quả chạy mô hình từ phần mềm Eviews
    • Từ kết quả trên ta có mô hình hồi quy như sau:

    (SRF)  GDP = 80485,27 + 1,147315I + 31,03140XK – 16,21289NK + ei

    • Ý nghĩa của các hệ số hồi quy:

    Đối với  1 = 80485,27 có ý nghĩa là tổng giá trị Đầu tư, Xuất khẩu, Nhập khẩu đồng thời

    bằng 0 thì GDP đạt giá trị trung bình là 80485,27 tỷ đồng/ năm.

    Đối với  2 = 1,147315 có ý nghĩa là khi Xuất khẩu, Nhập khẩu NX không đổi, tổng giá trị

    Đầu tư tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 1,147315 tỷ đồng /năm.

    Đối với 3 = 31,03140 có ý nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Nhập khẩu không đổi và nếu Xuất khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP tăng (giảm) 31,03140 tỷ đồng /năm.

           Đối với 4 = 16,21289 có nghĩa là khi tổng giá trị Đầu tư , Xuất khẩu không đổi, Nhập khẩu tăng (giảm) 1 tỷ đồng /năm thì GDP giảm (tăng) 16,21289 tỷ đồng /năm.

    Trang 9

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.2. Kiểm định giả thiết và đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

    4.2.1. Hệ số thu được từ hàm hồi quy có phù hợp với lý thuyết kinh tế không ?

    – Kiểm định giả thiết :

    H

    0

    :

    1

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    1    0

    Ta thấy β1 có giá trị kiểm định t = 4,01689 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0015< α=0,05

    • Bác bỏ H01 ≠ 0 Khi I=XK=NK=0 thì GDP ≠ 0 .

    – Kiểm định giả thiết:

    H

    0

    :

    2

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    2

    0

    Ta thấy β2 có giá trị kiểm định t = 4,029686 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0014< α=0,05

    • Bác bỏ H02 ≠ 0 Đầu tư ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý

    thuyết kinh tế.

             

    – Kiểm định giả thiết:

    H

    0

    :

    3

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    3

    0

    Ta thấy β3 có giá trị kiểm định t = 6,911423 có mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0000< α=0,05

    • Bác bỏ H03 ≠ 0 Xuất khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP   Phù hợp với lý

    thuyết kinh tế

             

    – Kiểm định giả thiết

    H

    0

    :

    4

    0

       

    với mức ý nghĩa α=0,05

     

    H1

    4

    0

    Ta thấy β4 có giá trị kiểm định t = -3,806839 mức xác suất tương ứng là Pvalue= 0,0022< α=0,05

    à Bác bỏ H0 4 ≠ 0 Nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng thu nhập GDP Phù hợp với lý thuyết kinh tế

    4.2.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình

    – Kiểm định giả thiết :

     

    H 0

    : R

    2

    0

    với mức ý nghĩa α=0,05

     
       
     

    H1

    : R2

    0

     

    ( H0 : Mô hình không phù hợp ; H1 : Mô hình phù hợp )

    Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,995305 có xác suất Pvalue = 0,000000 < α=0,05

    Trang 10

    GVHD : Trương Bích Phương

    Bác bỏ H0 , tức là mô hình hồi quy là phù hợp

    4.3. Kiểm định và khắc phục các hiện tượng trong mô hình hồi quy

    4.3.1. Kiểm định sự tồn tại của đa cộng tuyến:

    4.3.1.1. Nhận biết đa cộng tuyến

    1. Xét hệ số tương quan giữa các biến I, XK, NK: với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên cho thấy:

    • Hệ số tương quan giữa I và XK là 0,984396 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa I và NK là 0,987254 > 0,8
    • Hệ số tương quan giữa XK và NK là 0,994846 > 0,8
    • Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
    1. Hồi quy phụ I theo XK và NK:

    Mô hình hồi quy phụ:

    Ii =     1 +      2 XKi3NKi+Vi

    – Kiểm định giả thiết: Ho: R2 = 0

    H1: R2 ≠ 0, với mức ý nghĩa α=0,05

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 11

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Từ kết quả trên ta thấy F= 274,74 có xác suất Pvalue= 0,000000 nên ta bác bỏ giả thiết Ho:

    R2 = 0. Tức mô hình hồi quy phụ phù hợp. Vậy mô hình GDP theo I, XK, NK có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

    4.3.1.2. Biện pháp khắc phục:

    1. Sử dụng sai phân cấp 1:
    • Hồi quy D(GDP) theo D(I), D(NK) và D(XK), ta được kết quả như sau:
    • Từ kết quả trên ta thấy R2= 0,916563, các Pvalue ứng với các hệ số hồi quy của 3 biến D(I), D(XK), D(NK) rất thấp (<0,05). Do đó, cách khắc phục này là hợp lý.
    1. Loại bỏ biến I hoặc XK hoặc NK khỏi mô hình ban đầu.

    Hồi quy lại mô hình trong đó loại bỏ biến I:

    Trang 12

    GVHD : Trương Bích Phương

    Mô hình hồi quy đã loại bỏ XK :

    Mô hình hồi quy đã loại NK :

    • So sánh R2 ở 3 mô hình hồi quy lại ta thấy R2loại XK < R2loại I < R2loại NK. Vậy ta có thể loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.

    4.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi: (Dùng kiểm định White)

    Kiểm định giả thiết: Ho: Phương sai không thay đổi, với mức ý nghĩa α=0,05.

    4.3.2.1. Kiểm định phương sai thay đổi mô hình ban đầu:

    Ta được kết quả như sau:

    Trang 13

    GVHD : Trương Bích Phương

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 12,13429 có xác suất Pvalue= 0,2058 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng hương sai thay đổi.

    Trang 14

    GVHD : Trương Bích Phương

    4.3.2.2 Kiểm định phương sai thay đổi mô hình sau khi đã loại bỏ biến

    Ta được kết quả như sau:

    Từ kết quả trên ta thấy nR2 = 10,13299 có xác suất Pvalue= 0,0716 > 0,05 nên ta chấp nhận giả thiết Ho: Phương sai không thay đổi. Tức mô hình hồi quy của GDP theo I, XK, NK không xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

    Trang 15

    GVHD : Trương Bích Phương

    Chương 5: KẾT LUẬN

    5.1. Kết luận:

    • Tổng giá trị vốn đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011.
    • Mô hình lựa chọn phù hợp với lý thuyết kinh tế
    • I, XK, NK giải thích được 99,5 % sự biến động của GDP, còn 0,5% là các yếu tố khác chưa biết, chưa đưa vào mô hình.
    • Mô hình ban đầu có hiện tượng đa cộng tuyến và đó là hiện tượng đa cộng tuyến không hoàn hảo, khắc phục bằng cách loại bỏ biến NK ra khỏi mô hình.
    • Mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi
    • Có thể bỏ biến NK ra khỏi mô hình trong trường hợp cần thiết.

    5.2. Kiến nghị:

    • Để tăng GDP trong một nước thì phải tăng cường thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư, tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
    • Chú trọng thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các dự án lớn, công nghệ cao, kết cấu hạ tầng, tạo bước chuyển biến trong tái cơ cấu, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện cho DN trong nước phát triển.
    • Để tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu:
    • Ở cấp độ nhà nước đó là sự ổn định về chính trị- xã hội, quan hệ quốc tế tốt đẹp, hành lang pháp lý hoàn chỉnh rõ ràng, minh bạch và theo phương hướng ổn định; bộ máy điều hành nhanh nhậy, cơ chế chính sách, các công cụ điều hành vĩ mô hợp lý, trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
    • Nâng cao khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là khả năng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhanh nhậy nắm bắt tình hình cung – cầu (cả lượng lẫn chất) trên thị trường thế giới cả sản xuất và kinh doanh. Các mặt hàng và loại hình dịch vụ thì khả năng cạnh tranh được thể hiện trước hết ở giá thành hạ, chất lượng cao, mẫu mã, bao bì phù

    hợp với thị hiếu của người tiêu dùng được tiếp thị rộng rãi.

    5.3. Hạn chế của bài

    • Có thể đưa thêm một số biến nữa vào mô hình để độ phù hợp của mô hình tăng lên, tuy nhiên làm như vậy mô hình sẽ phức tạp hơn, có thể sẽ có nhiều khuyết tật hơn gây khó khăn trong việc kiểm định .

    Trang 16

    GVHD : Trương Bích Phương

    • Do năng lực bản thân của mỗi thành viên trong nhóm còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm rất mong nhận được những đóng góp ý kiến và phê bình của thầy cô và các bạn để chúng tôi kịp thời nắm bắt và củng cố kiến thức.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-KINH-T%E1%BA%BE-L%C6%AF%E1%BB%A2NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

    BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ LƯỢNG

     

    Đề bài

    Cho các biến K,L FDI,GDP

    Xây dựng mô hình    GDP=A. . . . (1)

    Đơn vị:+GDP,A,K là tỷ USD

      +L là triệu người

    Từ mô hình (1) ta chuyển đổi về dạng đơn giản hơn như sau:

    lnGDP=lnA+ .lnK+ .lnL+ .lnFDI+Ui (2)

    Yêu cầu

    1. Chạy phần mềm eview để đưa ra mô hình hồi quy mẫu của (1) và (2). Nêu ý nghĩa của các hệ số.
    2. Mô hình (2) có đa cộng tuyến hay không?
    3. Mô hình (2) có phương sai sai số không?
    4. Mô hình (2) có tự tương quan hay không?
    5. Mô hình (2) có thiếu biến hay thừa biến không?

    Bảng số liệu như sau:

    K

    L

    FDI

    GDP

    12.68300

    11.85000

    1.169000

    57.65000

    24.99720

    2.230000

    63.12000

    112.6000

    47.46720

    2.900000

    138.4000

    204.6000

    54.33880

    2.670000

    189.7000

    222.7000

    71.63640

    50.13000

    31.66000

    294.8000

    72.29580

    10.91000

    77.70000

    357.9000

    85.09000

    12.50000

    45.40000

    335.0000

    86.82240

    4.940000

    41.32000

    326.4000

    89.00000

    45.73000

    29.23000

    222.5000

    94.15420

    22.49000

    37.66000

    431.9000

    98.19600

    20.49000

    90.40000

    467.6000

    115.2140

    16.10000

    60.04000

    523.7000

    127.1411

    7.500000

    450.9000

    638.9000

    142.4500

    37.12000

    69.06000

    519.9000

    199.5616

    108.0000

    21.91000

    845.6000

    211.6368

    10.90000

    246.2000

    766.8000

    280.2800

    17.90000

    398.4000

    1274.000

    290.8950

    45.38000

    236.2000

    1353.000

    329.0020

    99.47000

    214.3000

    1838.000

    335.2680

    23.99000

    133.0000

    1206.000

    370.8000

    24.86000

    294.8000

    1800.000

    392.9010

    30.71000

    1135.000

    2147.000

    402.7440

    75.10000

    271.6000

    2076.000

    419.4960

    22.01000

    439.4000

    1362.000

    427.8690

    27.76000

    697.4000

    2067.000

    521.2720

    43.63000

    763.9000

    2833.000

    942.8700

    516.4000

    67.72000

    2965.000

    1064.497

    66.70000

    88.62000

    4417.000

    2162.160

    146.1000

    1818.000

    13860.00

    2972.146

    803.3000

    758.9000

    7043.000

    BÀI LÀM

     

    1.Xét hàm hồi quy mẫu

    i= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi

    Với 1=lnA

          2=

          3=

        4=

    Bước 1 Nhập số liệu vào eview.

    Bước 2 Tại ô gõ câu lệnh LS log(GDP) C log(K) log(L) log(FDI)

    Sau đó ta có kết quả bảng eview:

    Suy ra MHHQ mẫu:

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Suy ra mô hình (2) :

    • lnGDP =1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi +Ui

    Từ kết quả trên ta được lnA=1,479245 => A= =4.38963

    =0,908368

    =0,008015

    =0,087486

    Suy ra mô hình (1):

    GDP=4.38963. . . .

    * Ý nghĩa của các hệ số

    – 2: khi vốn tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không thay đổi thì GDP tăng lên 0,908368 tỷ USD.

    3: khi số lượng lao động tăng lên 1 triệu người,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,008015 tỷ USD.

    4: khi vốn đầu từ trực tiếp từ nước ngoài tăng lên 1 tỷ USD,các yếu tố khác không đổi thì GDP tăng lên 0,087486 USD.

    2.Phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến

    a.Phương pháp R2 cao và ttn thấp

    Từ kết quả mô hình hồi quy thu được ở trên khi chạy eview ta thấy như sau:

    R2=0,973080>0,8àR2 cao

    Các ttn lần lượt là 9.095672 ;0.122274 và 1.615056 đem so sánh với  = =2.056 à Các ttn không đồng thời nhỏ hơn  nên chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    b.Phương pháp hệ số tương quan cặp cao

    Từ cửa sổ chính eview chọn quick/group statistics/correlations. Cửa sổ series list xuất hiện sau đó đưa vào danh sách các biến của ma trận tương quan.

    Ta có kết qủa hiển thị ma trận tương quan như sau:

    Nếu hệ số tương quan cặp giữa các biến giải thích cao ( >0.8) thì có khả năng tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.

    Nhìn vào bảng trên thì ta thấy  nhưng lại <0.8.Suy ra chưa thể kết luận được mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay không.

    c.Phương pháp hồi quy phụ:

    Hồi quy lần lượt các biến giải thích theo các biến giải thích còn lại.

    Giả sử hồi quy biến FDI theo biến K và L.

    Suy ra mô hình hồi quy lnFDIi= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+vi

    Chạy kết quả eview bằng cách viết công thức vào màn hinh chính

    Ls log(FDI) C log(K) log(L)

    Mô hình hồi quy:

    lnFDIi= + .lnKi .lnLi thu được R2=0.753507.

    Có =0.05 cần kiểm định giả thiết  Ho: R2=0

                                                              H1: R2  0

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F=

    Nếu Ho đúng thì F F(k-1,n-k)

    Ta thấy P-value của thống kê F =0<  .Vậy nên bác bỏ giả thiết cho rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến.

    Kết luận:Với mức ý nghĩa   =5% có thể nói rằng  mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.

    3.Phát hiện hiện tượng phương sai sai số

    a.Phương pháp dựa trên biến phụ thuộc

    Bước 1: Ước lượng mô hình ban đầu

    i=1,479245+0,908368lnKi+0,008015lnLi+0,087486lnFDIi

    Bước 2: Ước lượng mô hình = 1+ 2ln i2+vi

    Tạo biến , ta được bảng kết quả

    Sử dụng phần mềm tạo lnGDP: vào forecast -> tích vào log(GDP) và điền YF vào forecast name.

    Chạy eview:

    Tại cửa sổ chính vào Quick -> estimate equation -> hiện bảng nhập Ei2 c yf

    Kiểm định giả thuyết:    Ho: R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

                                           H1: R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: F= 2 .Nếu H0 đúng thì F F(1,n-2)

    Nhìn vào bảng eview thấy p-value của ftn=0.038260<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1

    Kết luận với =0.05 thì mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    1. Kiểm định park

    -Hồi quy mô hình gốc thu được phần dư ei.

    + Ước lượng mô hình hồ quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Ki)+vi

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

     Log(Ei^2) C Log(log(K))àOK

    Chạy eview ta thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Ki)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.2293>0.05àchấp nhận Ho, bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(Li)+vi

    Tương tự

    Từ cửa sổ chính Eviews, chọn Quick/ Estimate Equation

    Tại cửa sổ Equation Specification nhập tên các biến của mô hình như sau:

     Log(Ei^2) C Log(log(L))àOK

    Suy ra mô hình hồi quy: Lnei2= + .ln(ln(Li)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.1903>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 có thể nói mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    + Ước lượng mô hình hồi quy Lnei2= 1+ 2.ln(ln(FDIi)+vi

    Tương tự chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình hồi quy:Ln ei2= -0.239734.ln(ln(FDIi)+vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                            H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Nhìn vào bảng ta thấy p-value=0.6867>0.05àchấp nhận Ho,bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    => Kết luận chung Với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuật hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    1. Kiểm định glejser

    Ta đã tạo được phần dư e ở trên nên chỉ phải ước lượng mô hình

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Ki)+ vi để ước lượng

    Tại vị trí gõ lệnh, ta gõ cú pháp sau: ABS(Ei) C log(K)

     Chạy eview thu được bảng

    Suy ra mô hình hồi quy:|ei| = -0.059054 + 0.040758ln(Ki)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.0292<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(Li)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.007808 + 0.045048ln(Li)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value= 0.0059<0.05 nên suy ra bác bỏ H0 chấp nhận H1.

    Vậy với mức ý nghĩa mô hình có xuất hiện phương sai sai số thay đổi.

    • Chọn mô hình : |ei| = β1 + β2ln(FDIi)+ vi để ước lượng

    Chạy eview ta thu được:

    Suy ra mô hình hồi quy: |ei| = 0.098770 + 0.011792ln(FDIi)+ vi

    Kiểm định giả thiết        Ho: 2=0(không có phương sai thay đổi)

                                          H1: 2≠0(có phương sai thay đổi)

    Ta có tiêu chuẩn kiểm định: T=      Nếu  đúng thì T

    Từ bảng thấy P-value=0.465119>0.05 suy ra chấp nhận H0 bác bỏ H1.

    Vậy với mức ý nghĩa =0.05 mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    àKết luận chung:Với mức ý nghĩa 0.05 thì chúng ta chưa thể kết luận mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không.

    1. Kiểm định White:

    Ước lượng mô hình hồi quy:ei2= 1+  2ln(K) +  3ln(L) +  4ln(FDI) +  5ln2(K) +  6ln2(L) +  7ln2(FDI) +  8ln(K).ln(L) +  9ln(L).ln(FDI) +  10ln(K).ln(FDI) + ui

     

    Chạy eview thu được kết quả:

    Suy ra mô hình: ei2=0.448595 -0.240865 ln(K) + 0.088626ln(L) + 0.005712ln(FDI) + 0.024483ln2(K) + 0.031051ln2(L) -0.019771ln2(FDI) -0.056395ln(K).ln(L) + 0.003875ln(L).ln(FDI) + 0.034515ln(K).ln(FDI) + ui

    Kiểm định giả thiết:   Ho:R2=0(không có phương sai sai số thay đổi)

                                        H1:R2  0(có phương sai sai số thay đổi)

    Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định:

    Nếu  đúng thì 

    Nhìn vào bảng ta thấy P-value=0.0485<0.05 suy ra bác bỏ H0,chấp nhận H1.

    Kết luận với mức ý nghĩa =0.05 thì mô hình có xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

    4.Phát hiện hiện tượng tự tương quan

    1. Kiểm định d.Durbin – Watson

    Bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, ta có bảng kết quả sau:

     

    Mô hình hồi quy gốc

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Bài toán kiểm định:

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Thay số suy ra:

    Với

    Ta có các khoảng sau:

                0     (1)      dL       (2)        dU       (3)    4-dU       (4)     4-dL         (5)               4

               0                                                2.35                   2.786                    4

    Từ bảng Eview, ta có  nên mô hình không có tự tương quan.

    b.Kiểm định Breush – Godfrey (BG)

    Kiểm định tự tương quan bậc 1

    Từ bảng kết quả eview ta suy ra mô hình hồi quy gốc từ ý 1:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Giả sử có hiện tượng

    Ước lượng mô hình sau đây bằng phương pháp OLS:

    Chạy lại eview bằng cách:

    Từ cửa sổ equation,chọn views/residual test/serial correlation LM test

    Cửa sổ Lag specificationànhập số thời kì p cho biến trễ .kết quả xuất hiện bảng như sau:

    Bài toán kiểm định

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Nhìn vào bảng eview có P-value=0.1361>0.05àchấp nhận H0.

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 1.

    -Kiểm định tự tương quan bậc 2.

    Làm tương tự như trên ta có kết quả eview

    Mô hình hồi quy gốc:

    t=1,479245+0,908368lnKt+ 0,008015lnLt+0,087486lnFDIt

    Ước lượng mô hình

    Suy ra

    Bài toán kiểm định 

    Tiêu chuẩn kiểm định

    Nếu

    Từ bảng kết quả Eview, ta thấy  nên chấp nhận H0,  bác bỏ H1

    Vậy mô hình không có tự tương quan bậc 2.

    1. Mô hình thừa biến hay thiếu biến

    a.Kiểm định sự thừa biến

    Bước 1: Ước lượng mô hình (2)

    Log(GDP) C Log(K) Log(L) Log(FDI)

    Từ bảng kết quả ta có mô hình hồi quy

    LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • Kiểm định thừa biến Ln(K)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(K) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết               Ho: 2=0 (biến Log(K) là không cần thiết)

                                 H1: 2≠0 (biến Log(K) là cần thiết)

    Ta thấy Prob(F-Statistic ) = 0 <α = 0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận biến log(K) là biến cần thiết trong mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(L)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(L) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 3=0 (biến Log(L) là không cần thiết)

                             H1: 3≠0 (biến Log(L) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(L) là cần thiết cho mô hình

    • Kiểm định thừa biến Ln(FDI)

    + Chọn View/Coeficient Tests/Redundant Variables – Likelihood Ratio

    + Gõ tên biến cần kiểm tra Log(FDI) vào hộp Omitted- Redundant Variable Tests ta được kết quả

    Giả thiết           Ho: 4=0 (biến Log(FDI) là không cần thiết)

                             H1: 4≠0 (biến Log(FDI) là cần thiết)

    Ta thấy Prob( F-Statistic)= 0 < α =0.05 nên bác bỏ Ho

    Kết luận Biến Log(FDI) là cần thiết cho mô hình

    Kết luận chung: Với α= 0.05 mô hình (2) không thừa biến

    1. Mô hình thiếu biến

    –  Bước 1 Sử dụng phần mềm Eviews ta được bảng kết quả

    Hồi quy mô hình(2) ta được mô hình sau:

     LnGDP = 1.479245 + 0.908368  + 0.008015 + 0.087486

    • = 0.973080
    • Bước 2 Hồi quy mô hình

    LnGDP= 1+ 2.lnKi+ 3.lnLi+ 4.lnFDIi +  + Vi

    Từ cửa sổ equation => stability test => Ramsey reset test

    Ta được bảng kết quả

    Từ bảng kết quả ta thu được mô hinh

    LnGDP=1.528175+).882845.lnKi+0.007223.lnLi+0.085943.lnFDIi +  

    • = 0.973091
    •  

    Tiêu chuẩn kiểm định

    F= .

    Từ bảng kết quả ta có

    Prob(F-Statistic)=0<  =0.05 nên bác bỏ Ho

    • Chấp nhận Ho, bác bỏ H1
    • Kết luận Với α=0.05 mô hình không thiếu biến

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các  đề cương đại học  hiện có của  Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan : Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I. Đặt Vấn Đề:

    Mạnh mẽ là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của họ. Một phần của chúng tôi, một trong những tài sản của chúng tôi sức mạnh và làm việc ở nước ta

    Trong trọng lượng của chúng tôi, bạn có thể quan tâm và quan trọng. Tối nay, bạn có thể sử dụng NPK, là một trong những vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, nhu cầu, sức khỏe, sức mạnh, sức mạnh, sức mạnh, sức mạnh

    Mạnh mẽ, bạn có thể sử dụng NPK.

    II. PHƯƠNG PHÁP

    2.1. Phương pháp

    – trên mạng

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá rẻ NPK cho lúa, thu thập, chăn nuôi, chăn nuôi.

    • Đẹp

    Trong lòng có một phần của họ, phần còn lại, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng, phần thưởng của bạn 4 4, một phần lớn

    2.2. Phương pháp văn hóa

    Tôi nhận được một số thứ khác nhau.

    Voi: Y i là cầu hôn NPK của nam tính (kg)

                        X 1 là thu khách và thú tính (triệu đồng / năm)

                        X 2 là NPK (giá đồng / kg)

                        X 3 là tích phục

    Ta có mô hình tổng hợp:

                                              Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.           KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    3.1.         Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    3.2.         Kết quả và giải thích mô hình   

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT

    Yi

    X1

    X2

    X3

    1

    9.4

    4.3

    4.7

    4.2

    2

    9.7

    5.2

    4.5

    4.6

    3

    10.3

    5.6

    4.6

    5.2

    4

    10.5

    4.9

    4.4

    5.5

    5

    10.9

    6.4

    4.3

    5.8

    6

    11.7

    6.8

    4

    6

    7

    12.1

    6.5

    4.1

    6.2

    8

    12.4

    7

    4.2

    6.3

    9

    12.2

    7.2

    3.9

    6.1

    10

    12.9

    7.5

    3.6

    6.4

    11

    13.4

    7.8

    3.8

    6.9

    12

    13.7

    7.6

    3.7

    7

    13

    13.9

    8.1

    3.5

    7.2

    14

    14.9

    8.3

    3.4

    7.6

    15

    14.2

    8.6

    3.3

    7.4

    16

    15.3

    8.9

    3.1

    7.9

    17

    15.8

    9.3

    3.2

    8.2

    18

    16.3

    9.7

    2.9

    8.6

    19

    17.5

    9.5

    3

    9.1

    20

    16.9

    9.8

    2.8

    8.9

    21

    18.7

    10.2

    2.3

    9.5

    22

    18.1

    10.5

    2.6

    9.1

    23

    18.6

    10.8

    2.5

    9.4

    24

    18.9

    11.2

    2.7

    9.8

    25

    19.7

    11.6

    2.4

    10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

     

    Regression Statistics

    Multiple R

    0.9957504

    R Square

    0.9915188

    Adjusted R Square

    0.9903072

    Standard Error

    0.3095768

    Observations

    25

    ANOVA

     

    df

    SS

    MS

    F

    Significance F

    Regression

    3

    235.2874062

    78.4291354

    818.35283

    6.68667E-22

    Residual

    21

    2.012593808

    0.0958378

       

    Total

    24

    237.3

         

     

    Coefficients

    Standard Error

    t Stat

    P-value

    Lower 95%

    Upper 95%

    Lower 95.0%

    Upper 95.0%

    Intercept

    6.9449215

    2.711499803

    2.561284161

    0.0181912

    1.306048988

    12.58379401

    1.306048988

    12.58379401

    X1

    0.0532633

    0.187956968

    0.283380083

    0.7796603

    -0.33761465

    0.444141173

    -0.33761465

    0.444141173

    X2

    -0.9242324

    0.413411223

    -2.23562481

    0.0363651

    -1.783968087

    -0.064496687

    -1.78396809

    -0.06449669

    X3

    1.3895078

    0.229648716

    6.050579381

    5.272E-06

    0.911927138

    1.867088432

    0.911927138

    1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

     

    Regression Statistics

    Multiple R

    0.9957504

    R Square

    0.9915188

    Adjusted R Square

    0.9903072

    Standard Error

    0.3095768

    Observations

    25

    ANOVA

     

     

    df

    SS

    MS

    F

    Significance F

    Regression

    3

    235.2874062

    78.4291354

    818.35283

    6.68667E-22

    Residual

    21

    2.012593808

    0.0958378

       

    Total

    24

    237.3

         

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

                 Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

                Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

                Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

                Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

                Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

     

    IV.            KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề cương ôn tập môn khai thác tàu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-%C4%90%E1%BA%A7u-T%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Đầu Tư

    LỜI MỞ ĐẦU

     

     

    Đầu tư có vai trò quan trọng, là nhân tố tế quốc dân của mỗi nước, thúc đẩy sự tăng nước.

    quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh trưởng và phát triển nền kinh tế đất

     

    Thực hiện đường lối đổi mới về phát triển kinh tế, trong những năm qua Chính phủ đã đầu tư vốn cho xây dựng cơ bản chiếm khoảng 30 – 35% GDP. Trong năm năm 2001 – 2005, vốn đầu tư xây dựng trong toàn xã hội đạt khoảng 50 tỷ USD, trong đó riêng vốn ngân sách Nhà nước đầu tư khoảng 35 tỷ USD. Hàng chục công trình trọng điểm của Nhà nước đã được đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng, cải tạo, như quốc lộ 1A; đường Hồ Chí Minh; Thủy điện Sơn La; Khu lọc dầu Dung Quất; Khu công nghiệp khí, điện, đạm Cà Mau; các công trình phục vụ SEA Games 22…

     

    Những công trình nói trên cùng với hàng trăm công trình khác đã làm thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội của đất nước, góp phần quan trọng bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế đất nước đạt bình quân 7,5 %/năm và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của toàn xã hội.

     

    Thực tế tình hình đầu tư của nước ta trong những năm vừa qua đặc biệt là từ năm 2001 – 2006 tăng khá mạnh, song bên cạnh đó chúng ta còn thấy nhiều mặt trái trong hoạt động đầu tư trong đó nổi lên là tình trạng thất thoát, lãng phí. Trong hai năm 2002 – 2003, thanh tra chuyên ngành xây dựng đã tổ chức thanh tra 31 dự án xây dựng với tổng vốn đầu tư là 17.300 tỷ đồng, thì cả 31 dự án đều có sai phạm với số tiền thất thoát, lãng phí lên đến 2.070 tỷ đồng.Thất thoát, lãng phí trong đầu tư đã làm giảm đáng kể hiệu quả của hoạt động đầu tư. TTLP như là căn bệnh truyền nhiễm lan tràn trên tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội:lãng phí tài nguyên, nguồn nhân lực, chất xám,tài sản,…lãng phí trong nông nghiệp, công nghiệp…và đặc biệt là trong ĐTXDCB đây là một trong vấn đề nhức nhối nhất mà các ngành, các cấp và toàn xã hội đang quan tâm nó kéo dài nhiều năm với mức độ ngày càng trầm trọng. Theo đánh giá chung tỉ lệ thất thoát trong ĐTXDCB chiếm tới hơn 30% tổng số vốn đầu tư tương đương với 20-25 ngàn tỉ mỗi năm. Vậy mà đến nay mặc dù đã có nhiều cải cách nhưng vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để hạn chế.

     

    Vậy những nguyên nhân nào gây ra thất thoát, lãng phí? biểu hiện của nó ra sao? thực trạng ở nước ta thời gian qua thế nào? Do giới hạn về hiểu biết và thời gian trong bài viết này chúng em xin được chỉ nêu những nội dung chung nhất về TTLP nói chung và chỉ đi sâu vào thất thoát, lãng phí trong ĐTXDCB

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

     

    Chương I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ

    TRONG ĐẦU TƯ

     

    I.                   Khái niệm về thất thoát, lãng phí

     

    Theo pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí ngày 26/2/1998 thì “Lãng phí là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định. Thất thoát là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ sở vật chất tăng thêm năng lực cho xã hội”.

     

    Qua phân tích những dự án có thất thoát đã được đưa ra ánh sáng, phân tích quy trình đầu tư nhận thấy tiền đầu tư bị thất thoát ở mọi giai đoạn đầu tư và diễn ra nổi lên theo một số dạng sau đây: Nâng giá; Khai khống khối lượng; Bớt vật tư, tráo vật tư…

     

    Cả ba dạng trên, để được thanh toán dĩ nhiên phải có hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ và để tránh bị phát hiện. Do vậy chúng phải hợp pháp hoá, hợp lý hoá hồ sơ, chứng từ ngay từ khâu đầu đến khâu cuối (dự toán, đấu thầu, hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán, giải ngân, kiểm toán). Chúng phải sử dụng nhiều thủ đoạn gian dối, tinh vi, tạm kể ở đây một số thủ đoạn thông thường sau: hối lộ quan chức, cán bộ, thậm chí bằng cả cách của “maphia”; lợi dụng những sơ hở trong các quy định quản lý; mua bán hoá đơn chứng từ, lập hoá đơn chứng từ giả; tráo đổi vật tư, thiết bị đưa vào công trình; lập các công ty “ma”; liên kết giữa các nhà thầu; làm rối các thủ tục, quy trình triển khai quản lý; thiếu minh bạch, dân chủ trong quản lý dự án; phối hợp chặt chẽ, thông đồng giữa những kẻ có liên quan.

     

    Vì những thủ đoạn gian dối, tinh vi trên nên trong thực tế không dễ gì phát hiện những khoản tiền đầu tư bị thất thoát.

     

    Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí.

     

    Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tư khi chưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, công suất không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm và thời điểm không hợp lý; Thiết bị và công trình của dư án có chất lượng thấp làm giảm tuổi thọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung, chi phí khác, chi phí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một số khoản chi phí trong dự án được chi chưa tiết kiệm.

     

    TTLP là hai căn bệnh kinh niên trong đầu tư nói chung và đặc biệt là trong xây dựng cơ bản . Trong sự lãng phí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất thoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    không cần thiết hoặc làm giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư

    II.                Nội dung thất thoát, lãng phí trong đầu tư

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

    Có thể hiểu việc thất thoát trong lĩnh vực xây dựng cơ bản là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản không đúng mục đích không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành nhưng không sử dụng được, bỏ phí, không mang lại hiệu quả hoặc đạt hiệu quả nhưng chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn định mức của nhà nước.

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư.

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu chuẩn bị đầu tư (quy hoạch, quyết định quy hoạch), thiếu lồng ghép giữa các loại quy hoạch, tình hình đầu tư không gắn với quy hoach vùng, địa phương, quyết định đầu tư sai, chất lượng báo cáo nghiên cứu khả thi kém…

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu thực hiện đầu tư : như là khảo sát không đạt yêu cầu dẫn đến thiết kế sai làm chất lượng công trình không đảm bảo phải khắc phục sửa chữa, nhiều trường hợp buộc phải huỷ vì không thể khắc phục được; công tác thiết kế sơ sài, giải pháp thiết kế chưa hợp lý, chậm giải phóng mặt bằng…

     

    Ngoài ra còn có trong các khâu đấu thầu, trong ký kết hợp đồng, trong thi công, quyết toán, nghiệm thu…

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong sử dụng nguồn nhân lực, chất xám

    Các doanh nghiệp nhà nước lâu nay vẫn được coi là sân sau của bộ máy công quyền trực tiếp liên quan đến doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Con cháu cán bộ lãnh đạo thường được gửi gắm vào những vị trí then chốt trong các công ty nhà nước. Điều này tạo thực tế ở DNNN thừa người không biết làm việc nhưng thiếu người có năng lực. Bên cạnh đó còn vấn đề đạo tạo cán bộ chuyên môn cũng gây ra nhiều bức xúc cho xã hội. Tình trạng đào tạo theo phong trào tràn lan nhưng đào tạo không hợp lý, chất lượng đào tạo thấp nên mặc dù hàng năm chính phủ đã tốn rất nhiều chi phí nhưng nguồn lực này không đáp ứng được nhu cầu cho xã hội

     

    1. Thất thoát, lãng phí trong việc sử dụng đất, công nghệ,chi tiêu, chi phí trong công tác nghiên cứu lập dự án.

    Đất do DNNN sử dụng đều là những mảnh đất “đắc địa” có giá trị rất lớn nhưng khi tính toán hiệu quả kinh doanh của DNNN người ta lại không tính toán giá trị sử dụng đất vào giá trị DNNN. Điều này làm cho hiệu quả kinh doanh của DNNN được tính không đúng. Nếu tính cả giá trị, giá trị sử dụng đất vào giá trị của DNNN có lẽ nhiều DNNN làm ăn không có lãi.

     

    Thực tế cho thấy có nhiều dự án được cấp đất nhưng vẫn bỏ không do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như chậm giải phóng mặt bằng rồi thiếu vồn…cũng đă gây thất thoát, lãng phí hàng chục tỷ đồng của nhà nứơc trong khi đó giá thuê đất ở Việt Nam vẫn được đánh giá là rất cao trong khu vực và trên thế giới còn người dân thì không có đất canh tác sản xuất.

     

    Thất thoát, lãng phí trong nghiên cứu và sử dụng công nghệ.

     

    \

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    Lâu nay người ta vẫn thường kháo nhau rằng: lãng phí trong các đề tài nghiên cứư khoa học rất nhiều nhưng mà… khó nói. Bởi lẽ lãng phí ấy chẳng rõ ràng, cụ thể và cũng chẳng chết ai. Những đề tài nghiên cứu xong chỉ cần qua một vài cuộc bảo vệ, đề tài được nghiệm thu thế là hoàn tất. Còn việc có đi vào cuộc sống hay không thì không cần biết. Thực tế cho thấy nhiều công trình nghiên cứu xong không được sử dụng, chất lượng công trình không cao, không đạt hiệu quả tối ưu,nhiều dự án nghiên cứu xong thì đắp chiếu bỏ đấy không sử dụng nhưng vốn rót vào đầu tư nghiên cứu thì không phải là nhỏ. Hàng năm NSNN phải tốn rất nhiều cho hoạt động này

     

    Trong việc sử dụng công nghệ cũng TTLP đáng kể. Các công nghệ được nhập về hoặc là không được sử dụng hoặc là sử dụng không hợp lý. Tình trạng này một mặt là do ta còn thiều cán bộ KHCN trình độ, kĩ năng chuyên môn thấp nên không tiếp cận được sự phát triển như vũ bão của công nghệ thế giới nên đã cản trở việc ứng dụng CN hiện đại vào sản xuất.

     

    III.             Tác hại của thất thoát và lãng phí trong đầu tư

     

    Thất thoát, lãng phí làm giảm đáng kể hiệu quả của đầu tư. Theo số liệu điều tra của Thanh tra Nhà nước 100% các công trình xây dựng cơ bản đều thất thoát 1052 tỷ đồng sai phạm kinh tế trong 995 dự án được thanh tra trên toàn quốc do thanh tra nhà nước, thanh tra của các địa phương, các Bộ ngành. Khoản thu tăng thêm cho ngân sách nhà nước (NSNN) là lấy từ phần GDP tăng thêm hằng năm. Trong khi đó để có được 1 đồng tăng thêm cho NSNN xã hội phải tốn kém một khoản tiền đầu tư nhiều gấp gần 5 lần. Sự yếu kém trong quản lý đầu tư, dàn trải thất thoát trong xây dựng cơ bản làm mỗi năm cả nước mất đi từ 1-2% tăng trưởng GDP. Vì vậy thất thoát và lãng phí mất mát trên thực tế còn lớn hơn nhiều những cái mà chúng ta đo đếm được.Thất thoát lãng phí đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước giảm uy tín cùa Việt Nam trước cộng đồng quốc tế nhất là trước các nhà đầu tư, tài trợ. Chỉ tiêu thất thoát, lãng phí của Việt Nam xếp thứ 97 trên hơn 100 nước làm các nhà đầu tư ngần ngại khi rót vốn vào nước ta.

     

    IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát, lãng phí trong đầu tư

     

    1. Nhân tố khách quan
    1. Do đặc điểm của hoạt động đầu tư

    Sản phẩm xây dựng có tính chất cố định, nơi hoạt động gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thuỷ văn, khí hậu nên nếu công tác khảo sát, thăm dò các điều kiện tự nhiên không chính xác sẽ dẫn đến lãng phí nghiêm trọng vì kết cấu kỹ thuật không phù hợp và chất lượng công trình kém.

    Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, có kết cấu phức tạp dẫn đến chu kỳ sản xuất dài. Do đó vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí hoặc nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn kéo dài thời gian xây dựng, công trình bị bỏ hoang làm gia tăng thất thoát, lãng phí.

     

    Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, tuổi thọ cao nên sai lầm trong xây dựng sẽ gây tổn thất lớn cả về giá trị ( chi phí xây dựng dự án) và chất lượng dự án.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    1. Do cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu, đường sá giao thông, điện nước còn hạn chế nên dẫn đến không đảm bảo tiến độ thi công, cản trở công tác thực hiện đầu tư.
    1. Vấn đề giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập dẫn đến chậm bàn giao mặt bằng làm tiến độ thi công dự án chậm chạp gây thất thoát, lãng phí.
    1. Nhân tố chủ quan

    Các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu nhiều nhưng vẫn còn nhiều sơ hở, không là một hệ thống ban hành đồng bộ và thường xuyên thay đổi; chủ quan duy ý chí trong đầu tư tạo ra kẻ hở cho người thi hành vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân.

     

    Do sự vận hành chính sách cơ chế quản lý của Nhà nước gây ra, Nhà nước đã ban hành Bộ luật Xây dựng nhưng cũng chưa quy định rõ nguyên tắc đầu tư dẫn đến tình trạng phổ biến là tất cả các khâu tham gia trong một công trình đều thuộc một cơ quan theo dõi và quản lý, việc tổ chức thực hiện thường theo một chu trình khép kín từ khâu thiết kế thi công, đến giám sát đấu thầu, nghiệm thu đều do một bộ hoặc một cơ quan, một tổ chức đảm nhiệm, trọng tài là người cùng đơn vị, hiện tượng vừa “đá bóng, vừa thổi còi” thì làm sao đảm bảo tính khách quan, trung thực được? Vì vậy, vai trò của giám sát tư vấn coi như bị xoá sổ. Nghị định về quy chế đấu thầu mới trong xây dựng cơ bản cũng chưa có quy định rõ ràng, rành mạch, dẫn đến tình trạng ở nước ta, ai cũng có thể trở thành chủ đầu tư, hay trưởng ban quản lý dự án, bất kể là họ có chuyên môn về lĩnh vực xây dựng cơ bản hay không?

     

    Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp nhiều chồng chéo, không quy rõ trách nhiệm, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị và khép kín. Chính sách về tài chính thiếu ổn định, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư không thống nhất và thiếu nhất quán.

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư nguyên nhân chủ yếu là do con người. Nói về nguyên nhân chủ yếu của lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng,

    nhiều nhà quản lý thường đổ lỗi là do “cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư xây dựng chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; do sự bất cập giữa thể chế nhà nước với quy luật của thị trường và xã hội; do thể chế tổ chức và quản lý doanh nghiệp chưa theo kịp các cải cách về luật lệ và chính sách kinh tế…”. Điều đó cần phải được nhìn nhận lại.

     

    Có đúng là tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua do nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế, chính sách hay không? Chúng ta hãy quay lại thời kỳ bao cấp cách đây hơn chục năm, lúc ấy làm gì có đầy đủ các văn bản pháp luật như bây giờ. Các công trình xây dựng từ ngân sách nhà nước, nếu để xảy ra lãng phí vài khối bêtông, vài tấc gỗ, công nhân lấy vài “cặp lồng” ximăng, vài thanh sắt, đã bị lên án, bị kỷ luật rất nặng chứ đâu có chuyện thất thoát, lãng phí lớn và nghiêm trọng như hiện nay. Phải chăng nếu những người có chức, có quyền trong quản lý đầu tư xây dựng có tâm trong sáng, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, không tiêu cực, tham nhũng chắc chắn sẽ không xảy ra lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng như những năm vừa qua.

     

    Mỗi dự án đầu tư đều được những nhà chuyên môn tư vấn nghiên cứu tính toán kỹ qua nhiều bước, được nhiều cấp thẩm định, xét duyệt, được bàn kỹ trong

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tập thể lãnh đạo trước khi quyết định và quyết định rồi mới đến đấu thầu rồi triển khai thực hiện. Song song với các quá trình đó đều có sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan chức năng theo từng lĩnh vực quản lý. Chúng ta cũng có hệ thống định mức, dự toán XDCB, có hệ thống các tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật tương đối đầy đủ để làm căn cứ tính toán và xem xét. Thế nhưng tình trạng lãng phí vẫn diễn ra ở nhiều dự án với mức độ được công luận đánh giá là “thật kinh khủng”. Vậy tại sao?

     

    Câu trả lời tại sao thất thoát, lãng phí trước hết là do chủ quan của các đối tượng tham gia có ý đồ trục lợi,cố tình vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân; nếu không chỉ có thể là: buông lỏng quản lý; quản lý chưa khoa học; năng lực của tổ chức tư vấn, của nhà thầu xây dựng và của cán bộ quản lý dự án còn hạn chế dẫn đến tính toán đầu tư, xây dựng chưa hợp lý.

     

    Những dự án nào có thất thoát, lãng phí thì chắc chắn ở đó công tác quản lý bị buông lỏng, quản lý chưa khoa học và gần chắc chắn có những sai phạm về trình tự thủ tục, sai phạm về quy chế đấu thầu; sai phạm kỹ thuật thiết kế và thi công; vi phạm về nghiệm thu; vi phạm thanh quyết toán và có tiêu cực xảy ra ở phía chủ đầu tư, cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công và cả phía nhà cung cấp. Ngược lại có vi phạm và tiêu cực thì có thất thoát, lãng phí, và buông lỏng quản lý.

     

    Báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về số liệu thất thoát, lãng phí còn ở mức độ rất hạn chế, chủ yếu căn cứ vào công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Trên thực tế, khó định lượng một cách chính xác số liệu về thất thoát, lãng phí. Tỉ lệ lãng phí, thất thoát 20%-30% mà dư luận xã hội hoặc một số chuyên gia đưa ra chưa đủ để khẳng định nhưng cũng đủ để thấy tính chất rất nghiêm trọng của tình hình. Một số dự án, công trình bị thất thoát lớn do tham nhũng. Tình trạng lãng phí, thất thoát do vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều lĩnh vực, địa phương. Đó là hiện tượng “thông đồng”, “móc ngoặc”, “chạy thầu”, “vây thầu”, “quân xanh, quân đỏ”… để được trúng thầu. Trong số các dự án đã thanh tra, các sai phạm trong quá trình đấu thầu thường là hưởng chênh lệch do bán thầu, nhượng thầu, thu phí nhà thầu sai chế độ, điều chỉnh giá trúng thầu sai quy định, bỏ thầu quá thấp, sau đó tạo cớ điều chỉnh, bổ sung, kéo dài thời gian thi công… Tình trạng này còn xảy ra trong các dự án thuộc nguồn vốn của doanh nghiệp Nhà nước, như đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm thiết bị, ô tô không đúng quy định, không tương ứng với kết quả sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư làm thất thoát lớn như trong các tổng công ty dầu khí, bưu chính viễn thông, thủy sản.

     

    Các cơ quan chức năng rất coi nhẹ việc cần làm rõ trách nhiệm của các đơn vị thiết kế thi công và tư vấn giám sát các công trình, thường thì chỉ khi nào báo chí vào cuộc, nêu cụ thể thì họ mới bắt tay tiến hành điều tra, khảo sát, thiết kế.

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

     

    I. Nhận diện thất thoát, lãng phí ở một số lĩnh vực

     

    1. Nhận diện thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

    Thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có thể hiểu là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành nhưng không sử dụng được, bỏ phí không mang lại hiệu quả hoặc đạt hiệu quả nhưng chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết cho dự án được xác định theo các tiêu chuẩn, định mức quy định của nhà nước.

     

    Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xảy ra ở tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư.

     

    Theo báo cáo của Ðoàn giám sát Quốc hội trong những năm 2001 – 2005, trong số 1.505 dự án về xây dựng được kiểm tra, có 176 dự án vi phạm quy định về thẩm định dự án; 198 dự án, công trình vi phạm quy chế đấu thầu; 802 dự án, công trình thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng, về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình; 415 dự án, công trình vi phạm về thiết kế, khảo sát; 720 dự án, công trình vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác, sử dụng.

     

    Báo cáo của Tổng hội Xây dựng Việt Nam về 59 công trình xây dựng có biểu hiện lãng phí, thất thoát cho thấy, có 27% các công trình do chất lượng kém, phải bổ sung kinh phí mới sử dụng được; 36% các công trình không sử dụng được do chọn địa điểm xây dựng không thích hợp, chất lượng kém (đặc biệt là các công trình của chương trình 135); 25% các công trình do quyết toán khống làm thất thoát gần 300 tỷ đồng, riêng Công trình đường Thạch Yên – Công Sự của tỉnh Kiên Giang thất thoát tới 58,6% vốn đầu tư…

     

    Nhiều dự án do không làm tốt công tác điều tra, khảo sát các báo cáo tiền khả thi báo cáo, khả thi sơ sài, không chính xác, công tác thẩm định yếu kém, chiều theo ý người quyết định đầu tư, dẫn đến lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp: Chợ không có người họp, cảng không có tàu cập bến hoặc công suất sử dụng thấp, nhà máy không có nguyên liệu phải sản xuất cầm chừng hoặc phải di dời…Theo số liệu quan sát đầu tư 9 tháng đầu năm 2005 của hơn 5000 dự án thuộc các bộ, ngành của hơn 10 địa phương thì có tới hơn 15% dự án đang thi công thì phải điều chỉnh mức đầu tư.Nhiều dự án kéo dài thời gian thực hiện quá lâu như theo số liệu thống kê năm 2005 có tới hơn 960 dự án nh óm B &C bố trí quá thời hạn qui định trong đó 230 dự án nhóm B bố trí kéo dài quá 4 năm, 730 dự án nhóm C kéo dài hơn 2 năm chưa đ ược khắc phục.

     

    Tình hình cụ thể ở các khâu như sau:

     

    1.1 Thất thoát, lãng phí do đầu tư không có quy hoạch hoặc chất lượng quy hoạch thấp

     

    Quy hoạch là sự sắp xếp, bố trí hợp lý giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất xã hội phải phân công lại lao động xã hội hợp lý trên các vùng lãnh thổ đất nước. Do vậy quy hoạch phải đi trước một bước. Trong nhiều năm qua, tuy công

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tác quy hoạch đã được chú ý, hàng năm Chính Phủ đều bố trí vốn đầu tư cho công tác quy hoạch, song thực tế quy hoạch chưa thực sự đi trước một bước để làm căn cứ xác định địa điểm xây dựng cho dự án đầu tư nên không ít dự án lớn, quan trọng của nhà nước khi ra quyết định về chủ trương đầu tư đã thoát ly quy hoạch nên thiếu chính xác. Vì thế trong thực tế có không ít dự án khi xây dựng không có quy hoạch tổng thể được phê duyệt nên trong quá trình triển khai thực hiện dự án phải rời đi rời lại gây tổn thất lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp. Qui hoạch chưa sát thực tế, còn chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú trọng thỏa đáng yếu tố môi trường xã hội.

     

    Việc bố trí nhiều sân bay, bến cảng gần nhau mà chưa tính hết sự gắn kết trong việc khai thác hiệu quả tổng hợp, kết cấu hạ tầng hiện có chưa phù hợp với khả năng phát triển kinh tế và nguồn vốn đầu tư dẫn đến nhiều đoạn đường, cảng biển, cảng sông, cảng sân bay khai thác hiệu quả thấp.

     

    Quy hoạch phát triển ngành giao thông đến năm 2010 cần đến 300.000 tỷ đồng thiếu tính khả thi, không phù hợp với nhu cầu khai thác và huy động vốn. Vì vậy 5 năm qua mới huy động khoảng 60.000 tỷ đồng ( 20%).

     

    Trong công nghiệp, qui hoạch ngành chưa thống nhất qui hoạch vùng, địa phương. Một số dự án không nằm trong qui hoạch vẫn được các điạ phương phê duyệt, triển khai.

    – Một số địa phương quyết định đầu tư dự án sản xuất thép có công suất thấp không theo qui hoạch, vùng Bắc Giang qui hoạch nhà máy bột giấy 200 ngàn tấn/năm, ván nhân tạo 300 ngàn tấn/năm trong khi trước đó 3 năm đã có qui hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vùng cung cấp gỗ mỏ 255 ngàn m3/năm. Dự án nhà máy bột giấy Kon Tum công suất 130 ngàn tấn/năm (giai đoạn I), 260 ngàn tấn/năm (giai đoạn II) được phê duyệt trước khi phê duyệt vùng nguyên liệu giấy nay phải ngừng triển khai theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

     

    – Qui hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp ở các địa phương còn tràn lan, chưa cân đối, chưa có sự phối hợp tốt với các Bộ, ngành trong việc xây dựng qui hoạch tổng thể, giữa khu công nghiệp với khu ngoài hàng rào khu công nghiệp về giao thông, nhà ở công nhân, tập trung quá gần khu đô thị … ở nhiều địa phương nhiều dự án chưa quan tâm đến việc xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường.

     

    Trong nông nghiệp nhiều trường hợp qui hoạch đầu tư nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm, rau quả chưa gắn kết hoặc không phù hợp với vùng nguyên liệu và thị trường, điển hình là các nhà máy đường xây dựng xong không đủ nguyên liệu bị thua lỗ hoặc phải di chuyển đi nơi khác. Nhiều dự án đầu tư nhà máy chế biến rau quả, hải sản công suất khai thác rất thấp hoạt động không có hiệu quả.

     

    Qui hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng cơ sở ở các địa phương thiếu đồng bộ, chưa có sự phối hợp giữa các ngành giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, cấp thoát nước… làm cho hạ tầng giao thông thường xuyên bị đào bới, hư hại gây lãng phí lớn.

     

    Hệ thống bệnh viện Trung ương tại các thành phố lớn quá tải, các địa phương đều đầu tư xây dựng đài phát thanh truyền hình nhưng thời lượng sử dụng và chương trình nội dung rất hạn chế.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, qui hoạch phát triển và đầu tư chưa được chú trọng thỏa đáng, qui hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch triển khai chậm, vốn đầu tư còn thấp, còn vướng mắc với qui hoạch khác vì vậy đã hạn chế khai thác lợi thế và chương trình quốc gia về du lịch…

     

    1.2 Thất thoát, lãng phí trong khâu xác định chủ trương đầu tư

     

    Sai lầm trong chủ trương đầu tư, bắt nguồn từ qui hoạch sai hay không có qui hoạch, chất lượng báo cáo tiền khả thi thấp, thường “bỏ qua điều tra xã hội học, môi trường, các công trình hạ tầng hoặc điều tra không kỹ thị trường tiêu thụ và các yếu tố cho sản xuất kinh doanh”.

     

    Sai lầm trong quyết định đầu tư bắt nguồn từ chủ trương đầu tư sai: đầu tư theo “phong trào”, theo ý muốn chủ quan, chạy theo thành tích, và còn do sai lầm trong lập và thẩm định báo cáo khả thi dẫn đến sai lầm trong việc chọn địa điểm đầu tư, xác định qui mô đầu tư không phù hợp, không đồng bộ, lựa chọn công nghệ sản xuất không phù hợp hoặc lạc hậu.

     

    Các sai lầm thiếu sót trong quyết định đầu tư dẫn đến hậu quả:

     

    – Công trình xây dựng xong đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế xã hội, thậm chí không có hiệu quả (nhà máy không có đủ nguyên liệu, chợ không có người họp, cảng không khai thác hết công suất,…)

     

    – Công trình xây dựng với chi phí quá cao dẫn đến giá thành sản phẩm cao, không đủ sức cạnh tranh hoạt động cầm chừng càng sản xuất càng lỗ.

     

    Định hướng đầu tư, xác định khả năng hiệu quả đầu tư, tính khả thi của dự án xây dựng, đây là công đoạn ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả đầu tư. Chủ trương đầu tư sai chiếm tới 60 đến 70% số thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản. Có thể mất trắng toàn bộ vốn và gây hậu quả lâu dài cho khu vực và xã hội có thể lớn hơn rất nhiều lần so với vốn trực tiếp đầu tư cho công trình ban đầu. Ví dụ:Chi phí ước tính cho sân bay Long Thành – Đồng Nai là 8tỷ USD.

     

    Việc đầu tư theo phong trào dẫn đến hiệu ứng xi măng và các nhà máy đường mọc lên ở khắp mọi nơi tuy nhiên một số nhà máy khi xây dựng không tính toán hết các điều kiện và nguyên liệu để hoạt động. Chẳng hạn: nhà máy đường Quảng Bình đến hết năm 2002 lỗ khoảng 136 tỷ đồng chưa kể khoản vay khó trả để xây dựng nhà máy là trên 170 tỷ đồng.

     

    Thất thoát, lãng phí trong khâu quyết định đầu tư thường bắt nguồn từ việc xác định mục tiêu đầu tư dự án do không được chủ đầu tư cân nhắc, tính toán trước khi xây dựng nên khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng chủ đầu tư mới nhận thấy công trình phát huy không hiệu quả.

     

    Ví dụ: tại một số địa phương đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để cải thiện và xây dựng mới một loạt chợ như chợ đầu mối Đền Lừ với số vốn đầu tư hơn 10 tỷ đồng, chợ đầu mối Hải Bá (Đông Anh) đầu tư 13 tỷ đồng…

     

    1.3. Thất thoát, lãng phí trong khâu thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán

     

    Tình trạng phê duyệt lại nhiều lần là khá phổ biến hiện nay, thậm chí một số dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất là hợp pháp hoá các thủ tục thanh quyết toán khối lượng phát sinh, điều chỉnh. Chẳng hạn tổng mức đầu tư của dự án cầu Sông Danh phải điều chỉnh 3 lần trong quá trình thực hiện (năm 1995 là 186 tỷ đồng, năm 1998 là 239 tỷ đồng và năm

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    2000 là 257 tỷ đồng); hay gần đây nhất là dự án đầu tư xây dựng TTGD – LĐXH Hải Phòng qua 3 lần điều chỉnh dự án đã bổ sung, điều chỉnh cả về quy mô và tổng mức đầu tư, tăng 49 tỷ 210 triệu đồng, đưa tổng mức đầu tư từ 72tỷ 482triệu đồng lên 121tỷ 692 triệu đồng (tăng 67,8%). 3 lần điều chỉnh dự án đều là do công tác khảo sát lập dự án không đến nơi đến chốn.

     

    Chất lượng công tác thẩm định thiết kế, dự toán có nhiều sai sót, dẫn đến ở một vài dự án có giá trị trúng thầu cao hơn có giá trị thực tế do tính toán sai khối lượng.

     

    1.4 Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư trong khâu kế hoạch hoá đầu tư Trong những năm qua mặc dù đã có một số tiến bộ nhưng tình trạng đầu tư

    dàn trải trong bố trí kế hoạch của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố vẫn chưa được khắc phục triệt để. Tình trạng này được tích tụ nhiều năm gây thất thoát, lãng phí lớn. Chẳng hạn, tổng dự toán của các công trình giao thông được đưa vào kế hoạch năm 2004 gấp hơn 10 lần số vốn bố trí trong kế hoạch do đó chỉ có một số công trình được tập trung vốn để hoàn thành sớm còn lại là kéo dài.

     

    Việc bố trí danh mục các dự án còn quá phân tán, hàng năm số dự án đưa vào kế hoạch đầu tư quá lớn. Theo số liệu Bộ tài chính công bố, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2005 có 19 dự án với tổng vốn là 125 tỷ đồng chưa có quyết định đầu tư mà đã được ghi vào danh mục đầu tư. Có 336 dự án với tổng vốn là trên 1000tỷ chưa phê duyệt tổng dự toán nhưng cũng được ghi vào.

     

    Bố trí kế hoạch không đồng bộ,còn mang tính “xin cho”, cũng theo số liệu trên, 16 dự án nhóm C đã thực hiện quá 2 năm (quy định không được quá 2 năm), 30 dự án nhóm B quá 4 năm (quy định không được quá 4 năm) cũng được ghi vào kế hoạch đầu tư.

     

    1.5 Thất thoát, lãng phí trong đấu thầu xây dựng

    Đấu thầu có thể được hiểu là một cách thức mua sắm (hàng hoá, công trình, dịch vụ) mà trong đó người mua tiến hành lựa chọn người bán theo một quy trình nhất định, quy trình này được áp dụng cho tất cả các hoạt động mua bán của người mua trong một thời gian dài. Đây là một phương thức tiến bộ tuy nhiên trong thực tế ở nước ta hiện nay, đất thầu đã và đang bộc lộ nhiều tiêu cực. Công tác đấu thầu, chỉ định thầu vi phạm các quy định hiện hành. Hạ giá thầu thấp không có căn cứ để trúng thầu hoặc trúng thầu với giá rất thấp nhưng vẫn làm được, chứng tỏ khâu lập thiết kế dự toán không đúng; Hiện tượng thông thầu, tiêu cực, tham nhũng để chọn nhà thầu sai dẫn đến những hiện tượng rất nghiêm trọng như vụ Thuỷ cung Thăng Long, một số vụ của Tổng Công ty Dầu khí…

     

    Tình trạng không tuân thủ quy chế đấu thầu như dự án mở rộng cảng Cái Lân(Quảng Ninh), cơ quan chức năng đã phát hiện tổng số sai phạm lên đến 36,7 tỉ đồng. Trách nhiệm chính thuộc về Bộ GTVT, Cục Hàng hải VN. Trong đó, nguyên thứ trưởng thường trực Bộ GTVT Nguyễn Việt Tiến (bị can trong vụ án PMU18) phải chịu trách nhiệm về 6 tỉ đồng thất thoát.

     

    Tại gói thầu số 1 có tổng vốn đầu tư theo giá trúng thầu 510,1 tỉ đồng nhưng qua thanh tra đã phát hiện 26,1 tỉ đồng sai phạm ở các khâu thuộc quá trình đấu thầu. Cụ thể, chủ đầu tư đã đưa các nhà thầu không đủ tiêu chuẩn vào giai đoạn 2 nhưng không báo cáo Bộ GTVT. Kết quả là nhà thầu Penta Ocean dù không đủ tiêu chuẩn vẫn trúng thầu. Sau khi trúng thầu, nhà thầu này ký với 36 nhà thầu phụ

     

    10         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tham gia dự án trong khi hồ sơ mời thầu qui định chỉ được phép ký với một nhà thầu phụ VN.

    Trong việc mời thầu hợp đồng tư vấn của dự án với tổng giá trị 98,4 tỉ đồng, chủ đầu tư đã chấm cho Công ty tư vấn Nippon Koei trúng thầu mà không cần đấu thầu.

    Có sự móc ngoặc giữa hai bên A và B để tính phát sinh khối lượng, rút tiền của dự án. Tiêu biểu là vụ tiêu cực ở Vietsovpetro đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu do những cán bộ có chức vụ quyền hạn thuộc xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt-Xô và công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) thuộc tổng công ty dầu khí Việt Nam thực hiện. Cụ thể như sau: đầu tháng 11/1999 biết tin liên danh PTSC/Corall trúng thầu nhưng chưa công bố chính thức, Dương Quốc Hà (phó tổng giám đốc Vietsovpetro) là phó hội đồng xét thầu đã gặp Nguyễn Quang Thường (phó tổng giám đốc tổng công ty dầu khí Việt Nam) thống nhất nâng giá bỏ thầu từ 15,5 triệu USD lên 16,9 triệu USD để rút tiền vênh hơn 1,2 triệu USD chia nhau.

     

    1.6 .Thất thoát, lãng phí trong công tác chuẩn bị xây dựng

     

    Công tác đền bù giải phóng mặt bằng chưa chấp hành đúng các quy định của nhà nước ở một số dự án như dự án khôi phục và phát triển hệ thống thuỷ lợi khu vực miền trung và thành phố Hồ Chí Minh, các hồ sơ đền bù thiếu và không đảm bảo so với quy định nhưng đã chi phí đền bù 39 tỷ đồng. Ban quản lý cho tiến hành xây dựng trong khi công tác đền bù cũng chưa hoàn thành nên khi dân khiếu kiện phải dừng thi công gây thiệt hại gần 400 triệu đồng.

     

    Theo các chi cục thuế, đến thời điểm thanh tra 10/2004 nhiều đơn vị còn nợ tiền sử dụng đất như công ty đầu tư và xây dựng TNXP Cinco nợ hơn 60 tỷ đồng công ty xây dựng và kinh doanh nhà Phú nhuận nợ trên 26 tỷ đồng.

     

    Lại có những dự án sau khi giải phóng mặt bằng xong lại bỏ không, không đầu tư xây dựng. Chẳng hạn dự án đầu tư cụm khách sạn 5 sao – trung tâm hội nghị quốc tế và cao cố văn phòng ở đường Lý thường kiệt tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là dự án được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế thu hồi đất cấp cho công ty bất động sản Sông Đà để đầu tư xây dựng. Sau khi được giao đất công ty này đã san lấp mặt bằng và rào chắn bằng một hệ thông tôn bao che. Tuy nhiên tiến độ xây dựng công trình thì được triển khai một cách chậm chạp và đến nay thì dừng hẳn.

     

    1.7. Thất thoát và lãng phí trong khâu tổ chức thực hiện

     

    Thất thoát và lãng phí ở khâu này được coi là rất nghiêm trọng.Việc bớt liệu trong quá trình xây dựng làm cho các công trình không đảm bảo chất lượng khi đưa vào sử dụng. Nhà thi đấu Gia Lâm (Trâu Quỳ, Gia Lâm) được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước với 7 gói thầu, tổng số vốn đầu tư là hơn 37,6 tỷ đồng. Đây là công trình phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao của nhân dân trong huyện và đặc biệt là SEA Games 22. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn, công trình đã có biểu hiện xuống cấp. Theo Thanh tra Nhà nước thành phố, trong số 17 hạng mục thanh toán (gói thầu số 2) thì hầu hết đã bị khai tăng số lượng, vật liệu thi công không đúng chủng loại, gây thất thoát lên đến 522 triệu đồng.

     

    Tiến độ xây dựng công trình chậm diễn ra phổ biến nhiều dự án đã làm tăng chi phí lên nhiều tỷ đồng. Theo thanh tra nhà nước thì có tới nửa các dự án thanh

     

    11         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tra kiểm tra chậm tiến độ. Chỉ riêng dự án đường vành đai 3 ở Hà nội, việc chậm tiến độ đã làm phát sinh thêm khoảng trên 1000 tỷ đồng đầu tư. Hay là dự án xây dựng quốc lộ 5 sử dụng vốn JBIC Nhật Bản do bàn giao mặt bằng chậm nên nhà nước đã phải bồi thường cho nhà thầu hơn 570 triệu yên Nhật.

     

    1.8. Thất thoát và lãng phí trong khâu nghiệm thu thanh toán

     

    Công tác nghiệm thu thanh toán thường căn cứ theo thiết kế dự toán được duyệt. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp tình trạng nghiệm thu thanh toán không đúng khối lượng thực tế, không đúng chế độ, đơn giá thực tế và chủng loại vật tư. Việc làm này đã làm tăng giá trị công trình không đúng chế độ, thoát ly thực tế, gây ra thất thoát và lãng phí vốn. Như dự án trung tâm triển lãm văn hoá nghệ thuật Việt Nam thất thoát và lãng phí gần 450 triệu đồng, dự án trung tâm sách VN gần 311 triệu đồng, dự án nhà hát lớn Hà Nội khoảng 12.418 triệu đồng…

     

    Công tác thanh toán vốn đầu tư còn chậm, thủ tục rờm già, các đơn vị nhận thầu phải làm thủ tục quá nhiều để được cấp vốn. Hiện tượng này đã tạo khe hở cho những tiêu cực, gây ra thất thoát lãng phí.

     

    1.9. Thất thoát lãng phí trong khâu quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn

     

    thành

     

    Công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành là cửa cuối cùng trong dây chuyền quản lý vốn đầu tư. Nhiều dự án sau khi làm báo cáo quyết toán, thẩm tra báo cáo quyết toán trước khi phê duyệt quyết toán đã phát hiện một số khoản thanh toán sai định mức, đơn giá không phù hợp với chế độ nhà nước quy định… Cần phải thu hồi của các nhà thầu. Nên không thực hiện quyết toán hoặc chất lượng quyết toán thấp gây thất thoát lãng phí lớn vốn của nhà nước. Thực tế công tác này ở các cấp, ngành địa phương thực hiện chưa nghiêm, làm chậm.

     

    Các công trình thuộc dự án phát triển THCS của tỉnh Đồng Tháp là một trong những ví dụ điển hình. Giá trị chủ đầu tư đề nghị quyết toán so với giá trị hợp đồng xây lắp chênh nhau hơn một tỷ đồng. Công trình xây dựng trường cấp 2, cấp 3 tại huyện Bảo Lạc, Cao Bằng, dự toán thừa nhưng lại thiếu một số hạng mục; giám sát, tư vấn lỏng lẻo dẫn đến quyết toán sai hơn 165 triệu đồng.

     

    Qua kết quả tổng hợp tình hình thực hiện quyết toán vốn đầu tư trong cả nước trên đây có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá như sau:

     

    • Một trong những ý nghĩa quan trọng của công tác quyết toán vốn đầu tư là thông qua công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư để xác định được khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện hàng năm; đồng thời, xác định được năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do kết quả đầu tư mang lại để có kế hoạch huy động, sử dụng kịp thời và phát huy hiệu quả vốn đầu tư trong cả nước.
    • Giai đoạn từ năm 1994 đến hết năm 1999: bình quân mỗi năm thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư được khoảng 6.200 dự án; tương đương với số vốn đầu tư được quyết toán là 7.933 tỷ đồng; phát hiện được nhiều khoản chi không đúng qui định, mỗi năm tiết kiệm được trên 150 tỷ đồng (2% tổng số vốn đầu tư được quyết toán).
    • Số dự án hoàn thành chưa được thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư do tồn đọng luỹ kế từ trước đến nay vẫn còn khá nhiều. Tổng số dự án hoàn thành chưa phê duyệt quyết toán vốn đầu tư luỹ kế đến 31/12/2001 là: 13.364 dự án; với tổng số vốn là 35 nghìn tỷ đồng

    12         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    • Việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo tình hình thực hiện quyết toán vốn đầu tư (theo Chỉ thị 11/TTg của Thủ tướng Chính phủ) của nhiều đơn vị trong cả nước chưa nghiêm túc.

    Thực tế ở nước ta hiện nay còn có rất nhiều công trình xây dựng mà thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu không chỉ ở trong các dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ phát triển kinh tế mà ngay cả trong những dự án xây dựng trường học, bệnh viện, thể thao…Một ví dụ nhỏ về 1 vụ thất thoát trong xây dựng nhà thi đấu thể thao cũng đủ cho ta thấy tình trạng này d iễn ra nhức nhối đến thế nào. Thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu gây thiệt hại lớn đến nguồn ngân sách của nhà nước.

     

    Theo Thanh tra Nhà nước thành phố Hà Nội, Nhà thi đấu Gia Lâm – công trình phục vụ SEA Games 22 đã bị thất thoát hơn 2,2 tỷ đồng.

     

    Bị “rút ruột” nghiêm trọng:

     

    Nhà thi đấu Gia Lâm (Trâu Quỳ, Gia Lâm) được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước với 7 gói thầu, tổng số vốn đầu tư là hơn 37,6 tỷ đồng. Đây là công trình phục vụ nhu cầu luyện tập thể thao của nhân dân trong huyện và đặc biệt là SEA Games 22. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn, công trình đã có biểu hiện xuống cấp.

     

    Ngay sau khi SEA Games 22 kết thúc, nhiều nguồn tin đã phản ánh, một số công trình phục vụ cho kỳ Đại hội Thể thao Đông Nam Á bị xuống cấp và có hiện tượng gian lận trong thi công. Chỉ sau một thời gian ngắn, Thanh tra Nhà nước thành phố đã làm rõ hàng loạt những sai phạm tại nhiều công trình, trong đó có công trình Nhà thi đấu Gia Lâm. Chỉ riêng ở công trình này, số tiền thất thoát đã lên đến hơn 2,232 tỷ đồng. Đáng chú ý là trong 7 gói thầu, chỉ duy nhất có gói thầu lắp đặt hệ thống PCCC là không có sai phạm.

     

    Sai phạm nhiều nhất ở công trình này là ở gói thầu số 2. Đơn vị được phép thi công là Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội với giá trúng thầu là 15,57 tỷ đồng, bao gồm: Thiết kế kỹ thuật, thi công nhà thi đấu, xây dựng tường rào, hạ tầng kỹ thuật, san nền…

     

    Ngay sau khi trúng thầu, Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội đã giao cho Cty Xây dựng số 9 đảm nhiệm thi công và Cty lại giao cho Xí nghiệp II (thuộc Cty) trực tiếp thi công. Theo quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Tổng Cty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội phải hoàn thành gói thầu trong thời gian là 305 ngày, chậm nhất đến tháng 7/2002 phải hoàn thành. Song, do sự lòng vòng chuyển giao các đơn vị thi công và có nhiều thay đổi, bổ sung trong quá trình thi công nên đến ngày 18/11/2003, gói thầu mới được nghiệm thu, bàn giao.

     

    Theo Thanh tra Nhà nước thành phố, trong số 17 hạng mục thanh toán (gói thầu số 2) thì hầu hết đã bị khai tăng số lượng, vật liệu thi công không đúng chủng loại, gây thất thoát lên đến 522 triệu đồng

     

    Về phía BQL dự án, hồ sơ mời thầu còn quá nhiều kẽ hở để các bên thi công lợi dụng “rút ruột” công trình. Cụ thể, một số nội dung chi tiết như khối lượng bê tông, khối lượng san nền đã không được tính toán cụ thể, thậm chí còn sót, chưa đưa vào dự toán như khối lượng xây thu hồi, khối lượng lan can, trần thép, thạch cao… và không nêu rõ quy cách, phẩm cấp vật tư thi công. Chính vì vậy đã xảy ra

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    tình trạng, bên thi công không hề làm mà vẫn được thanh toán 4.280m3 cát san nền với số tiền là 129 triệu đồng.

    Đối với xi măng xây dựng, theo hợp đồng thì đơn vị thi công phải bảo đảm sử dụng xi măng Bỉm Sơn, nhưng trong thực tế, đã có một lượng lớn các loại xi măng có phẩm cấp thấp hơn, giá rẻ hơn được đưa vào sử dụng tại công trình. Thế mà toàn bộ các hạng mục trên đều được nghiệm thu, thanh toán.

     

    • gói thầu số 3, gói thầu về dàn mái không gian, đơn vị trúng thầu vẫn là TCty Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội, giá trúng thầu là hơn 4,2 tỉ đồng. Sau khi trúng thầu, đơn vị này cũng không trực tiếp thi công mà lại giao lại cho Cty Xây dựng số 9. Cty Xây dựng số 9 đã liên danh với Công ty cổ phần kết cấu không gian TADITS để thực hiện. Khi phát hiện TADITS không đủ năng lực thi công, Cty Xây dựng số 9 lại quay sang ký lại hợp đồng với Cty Cơ khí Đông Anh.

    Có được bản hợp đồng, Cty Cơ khí Đông Anh tiếp tục chuyển cho Xí nghiệp giao thông 8 thực hiện phần chế tạo, lắp dựng mái. Mặc dù các bản hợp đồng được chuyển qua nhiều “tay” nhưng theo kết luận thanh tra thì đơn vị nào cũng có “lãi”, chỉ có Nhà nước là “lỗ” trên 415 triệu đồng ở gói thầu này.

     

    Xuống cấp thảm hại:

     

    Chính vì những thất thoát trong mọi khâu, đến nay công trình Nhà thi đấu thể thao Gia Lâm đã xuống cấp rõ rệt. Cụ thể là sàn sảnh tầng 2-3 của khán đài B đã bị thấm dột, nước mưa không chảy vào phễu mà lại chảy ngược vào phía trong sàn thi đấu. Hệ thống van phao bể nước tầng trên cũng gần như bị “tê liệt”, không tự động đóng khi nước đầy; các vách kính tấm lớn yếu. Nguy hiểm hơn là hệ thống điện tầng áp mái được lắp đặt phức tạp, các ổ cắm điện không bảo đảm chất lượng và đã bị hư hỏng nhiều, có nhiều nguy cơ cháy, chập…

     

    Như vậy, với một công trình có vốn đầu tư trên 37 tỉ đồng đã thất thoát tới 8% tổng giá trị. Đây là một trong những công trình có tỉ lệ thất thoát cao ở Hà Nội và có những sai phạm nghiêm trọng ở nhiều khâu mà trước hết thuộc về chủ đầu tư. Điều này cũng thể hiện sự buông lỏng quản lý, yếu kém về năng lực trong thực hiện dự án, không chỉ riêng ở công trình Nhà thi đấu thể thao Gia Lâm.

     

    Trong thời gian gần đây dư luận cả nước đang xôn xao vì vụ 1 vụ tham nhũng lớn nổi tiếng được phanh phui vụ PMU18- gây thất thoát hàng ngàn tỉ đồng của nhà nước, đây đang là 1 vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm chú ý không chỉ có trong nước mà cả nước ngoài đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài tài trợ vốn ODA cho nước ta. Vụ tham nhũng này không chỉ làm TTLP vốn đầu tư mà còn làm dư luận hoang mang và ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của nước ta trước các nhà đầu tư.

     

    Ban quản lý các dự án 18 (PMU 18), trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, được thành lập theo quyết định ngày 23-8-1993 của Bộ Giao thông vận tải.

     

    Chức năng của PMU 18 là: thay mặt chủ đầu tư quản lý quá trình đầu tư và xây dựng các công trình giao thông do bộ giao; giao dịch, tiếp xúc với các tổ chức trong và ngoài nước để tìm nguồn vốn cho các dự án do ban quản lý. PMU 18 luôn được ưu ái giao cho quản lý hàng trăm triệu USD từ nguồn vốn ODA, vốn trái phiếu chính phủ… để đầu tư hạ tầng giao thông.

     

    Trong thời gian qua, PMU18 đã quản lý 20 dự án với số vốn lên gần 33.000 tỉ đồng.

     

    14         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    PMU 18 đang là chủ đầu tư của nhiều dự án lớn như QL18, QL10, QL2, cầu Đà Rằng, cầu Bãi Cháy (mức đầu tư 2.142 tỉ đồng)… PMU18 đang được tuyển chọn tư vấn cho dự án xây dựng đường cao tốc trên QL3 có vốn đầu tư 3.533,4 tỉ đồng

     

    Những dự án tai tiếng của PMU 18

     

    Trừ đi khoảng 13.000 tỷ đồng vốn sử dụng trong thời gian của vị tổng giám đốc tiền nhiệm và vốn do người khác quản lý, Dũng cũng quản lý các dự án với tổng vốn 20.000 tỷ đồng. Như vậy, giả định tỷ lệ hoa hồng cho mọi dự án ở mức 10%, số hoa hồng mà Dũng và PMU18 được hưởng phải là khoảng 2.000 tỷ đồng!

     

    Nhiều nguồn tin xác định rằng ông tổng giám đốc Ban Quản lý các dự án (PMU) 18 Bùi Tiến Dũng “cá độ” 1,8 triệu USD

     

    Chưa ai rõ tiền ở đâu mà ông chơi dữ thế. Trong khi đó, có những điều đã rõ là PMU 18 từng gây ra nhiều tai tiếng trong quá trình xây dựng các công trình giao thông lớn như cầu Hoàng Long (Thanh Hóa), phà Minh Châu, dự án giao thông nông thôn…

     

    Cầu Hoàng Long vốn tăng 2,7 lần nhưng sụt lún

     

    Công trình cầu Hoàng Long (Thanh Hóa) do PMU 18 làm chủ đầu tư đã thất thoát 4,5 tỉ đồng trong tổng kinh phí đầu tư 224 tỉ đồng.

     

    Dự án xây mới cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa (sau được đổi là cầu Hoàng Long) được Bộ GTVT phê duyệt tháng 10-1995 với tổng mức vốn đầu tư 83,5 tỉ đồng, cầu có chiều dài 240m, đường dẫn hai đầu cầu dài 3.158m, dự kiến triển khai vào tháng 10-1996.

     

    Tuy nhiên hai tháng trước khi khởi công, Bộ GTVT phê duyệt lại dự án, cầu được kéo dài thêm 140m kéo theo sự thay đổi hàng loạt hạng mục công trình làm tổng vốn đầu tư được điều chỉnh lên 224 tỉ đồng, gấp 2,7 lần dự kiến ban đầu.

     

    Thế nhưng chi phí đầu tư tăng lên 2,7 lần vẫn không đem lại chất lượng tốt cho công trình. Hàng loạt sự cố sụt, lún xảy ra trong quá trình thi công. Những sự cố này đã làm công trình liên tục phải thay đổi thiết kế làm tăng chi phí bổ sung lên tới 36 tỉ đồng, riêng số tiền để khắc phục 140m lún trượt của nền đường phía bắc cầu là 5,5 tỉ đồng.

     

    Tại công trình này, đoàn thanh tra của Thanh tra Nhà nước đã phát hiện các công ty thi công tìm cách rút tiền của dự án như dùng sai chủng loại cáp đồng, thanh toán vượt khối lượng… gây thất thoát lãng phí vốn dự án lên 4,5 tỉ đồng.

     

    Thanh tra Nhà nước đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo kiểm điểm Bộ GTVT (giai đoạn 1995-2002), giao bộ này kiểm điểm và có hình thức xử lý nghiêm tổng giám đốc PMU18, cục trưởng Cục Quản lý giám định chất lượng công trình giao thông, vụ trưởng Vụ Kế hoạch – đầu tư…

     

    Tuy vậy, đến chiều qua (18-1), trả lời Tuổi Trẻ, một số quan chức có trách nhiệm của Bộ GTVT vẫn không nắm được, không biết Bộ GTVT đã xử lý vụ việc này như thế nào…

     

    Phà Minh Châu vừa chạy đã hư

     

    Tháng 12-2003, Thanh tra Nhà nước cũng có kết luận về ba sai phạm lớn của Bộ GTVT và PMU 18 liên quan đến triển khai dự án giao thông nông thôn – WB2 (tổng vốn đầu tư 145,3 triệu USD, chủ yếu vay Ngân hàng Thế giới) và bến phà Minh Châu (Ba Vì, Hà Tây): năm tháng trước khi Bộ GTVT có quyết định cho

     

    15         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    phép tiến hành chuẩn bị đầu tư, lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án giao thông nông thôn – WB2 và giao PMU 18 làm chủ đầu tư, PMU18 đã ký hợp đồng thuê Công ty Tư vấn khảo sát thiết kế xây dựng (Bộ Quốc phòng) lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án này.

     

    Trong báo cáo nghiên cứu khả thi dự án được Bộ Kế hoạch – đầu tư thẩm định, không có nội dung nào về công trình bến phà Minh Châu nhưng trong kế hoạch xây lắp năm thứ nhất trình Bộ GTVT tháng 9-1999, PMU18 đã tự ý đưa công trình này vào (trị giá 64.000 USD).

     

    Việc Bộ GTVT phê duyệt kế hoạch này là không thực hiện đúng quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ; Ngoài ra, cơ quan thanh tra cũng chỉ rõ hàng loạt sai phạm của các cơ quan liên quan trong vụ phà Minh Châu trọng tải 15 tấn “vừa chạy đã hỏng”.

     

    Quốc lộ 2 xuống cấp sau ba tháng sử dụng

     

    Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 2 từ Đoan Hùng (Phú Thọ) tới Vị Xuyên (Hà Giang) có vốn đầu tư gần 500 tỉ đồng từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ do PMU 18 làm chủ đầu tư thông xe vào cuối tháng 3-2005 cũng để lại nhiều tai tiếng khi chỉ sau gần ba tháng sử dụng công trình đã có biểu hiện xuống cấp, sạt lở. Các đoạn quốc lộ qua Đoan Hùng, Tuyên Quang đều xuất hiện nhiều điểm rạn nứt, bong tróc lớp nhựa.

     

    Ngoài ra hầu hết các cầu trên quốc lộ này cũng xuất hiện hiện tượng sụt lún taluy đường đầu cầu, trong đó cầu Luống (km 182+ 663) bị sạt lở nghiêm trọng ở đường dẫn cả hai đầu cầu. Đến nay, trách nhiệm của PMU 18 và các đơn vị thi công cải tạo quốc lộ 2 vẫn còn bỏ ngỏ…

     

    1. Nhận diện thất thoát, lãng phí ở một số lĩnh vực khác

    2.1 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề nghiên cứu KHCN

     

    Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2001-2005 NSNN đầu tư cho KHCN

     

    chiếm gần 2% tổng chi ngân sách, chiếm hơn 0,5% GDP trong đó chi cho các viện nghiên cứu KH-CN cấp nhà nước chiếm 19.1%, các bộ, ngành hơn 30% hoạt đông KHCN cấp cho địa phương là 25%, số còn lại chi cho tăng cường cơ sở vật chầt trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu. Như vậy có thể thấy 2% tổng chi ngân sách không phải là ít vậy mà… số dự án không phát huy tác dụng, không ứng dụng thực tế còn nhiều, mới thấy được sự lãng phí quá lớn trong lĩnh vực này. Đã có hơn 40% các doanh nghiệp cũng tự thừa nhận là đã phí tiền vào các kế hoạch nâng cấp công nghệ nhưng không sử dụng đến gây ra thất thoát lớn cả về vốn, nhân lực và thời gian . Có tình trạng 80%-90% công nghệ tốt nhập khẩu từ nước ngoài nhưng chính sách phục vụ cho việc sử dụng lại chưa được nâng cấp tới mức cần thiết để tận dụng tốt những công nghệ này. Chưa kể đến bên cạnh đó còn rất nhiều công trình, dự án còn sử dụng bất hợp lý và hiệu quả ứng dụng công nghệ thấp cũng đã gây những lãng phí rất lớn cho nền kinh tế.

     

    2.2 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề sử dụng nguồn nhân lực

     

    Do các DNNN không tuyển được người có năng lực nên không có quỹ chất xám, không thu hút được đề tài. Trong lúc đó, nhóm người phải nhận do quan hệ thường có sự chi phối công việc quản lý công ty của giám đốc gây nên khó xử. Mối quan hệ giữa giám đốc và nhóm người này trở nên mù mờ, giám đốc thì

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    không thể mạnh tay trong điều hành làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của công ty lãng phí, tham nhũng từ mối quan hệ này mà ra.

    Mặt khác trong những năm qua, tình trạng lao động được đào tạo nhưng không được sủ dụng đúng mục đích diễn ra phổ biến, chiếm 6,5% số lao động được đào tạo. Tình trạng này diễn ra do lao động cử đi đào tạo không đủ trình độ tiếp thu chiếm khoảng 3%, do lao động cử đi đào tạo làm việc cho doanh nghiệp khác chiếm 1%, do chủ đầu tư thay đổi quy trình công nghệ hoặc công nghệ không phù hợp chiếm 2%…Ngoài ra tình trạng sử dụng nhiều lao động nước ngoài trong doanh nghiệp trong khi lao động trong nước cũng có đủ trình độ và năng lực đáp ứng công việc cũng gây ra thất thoát, lãng phí nguồn nhân lực ở nước ta. hiện nay số lao động nước ngoài được tuyển dụng ở nước ta thường chiếm trên 5% đặc biệt là trong các lĩnh vực đặc thù như công nghệ cao, giáo dục đào tạo…

     

    2.3 Thất thoát, lãng phí trong vấn đề sử dụng đất

     

    Đất cho các dự án chiếm một chi phí rất lớn trong tổng vốn đầu tư của các dự án vậy mà hiện nay nhiều khu đất vẫn bị bỏ hoang,các tài sản nằm chờ không người sử dụng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi.

     

    Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội Vũ Đức Khiển cho biết: báo cáo gần đây nhất của Chính phủ về tình hình khiếu nại của công dân nêu rõ: tại 51 tỉnh, thành, có 252 dự án đầu tư xây dựng cơ bản huy động trên 27 000 hécta đất, nhưng chỉ có 1/3 diện tích này được duyệt sử dụng thực sự. Trong các khu công nghiệp và khu chế xuất, cao nhất chỉ có 50% diện tích đất được sử dụng, có khu chỉ lấp đầy 10% diện tích.Một ví dụ đơn giản nhưcông ty vật tư nhà nước Kiến An – Hải Phòng được định giá 850 triệu gồm 1 dãy nhà cấp 4 cũ nát và một xưởng cơ khí tan hoang lâu nay không hoạt động, tất cả các khu nhà toạ lạc trong một khuôn viên 1,6ha. Khi bán công ty này định giá công khai, kết quả thu 6,6tỷ. ở trường hợp này thực chất các nhà đầu tư chỉ nhìn vào giá trị của 1,6ha đất tại thĩ xã Kiến An – cái mà nhà nước không định giá. Trong khi đó người dân phố bán nhà ở với giá 500 nghìn đồng trên 1m2 đất mặt tiền. khu 1,6ha của công ty có khoảng 100m mặt tiền cũng chỉ thu được 8tỷ. Qua ví dụ trên thấy được giá trị to lớn của DNNN hiện nay có thể bán được và giá trị quyền sử dụng đất nhưng khi cổ phần hoá và bán doanh nghiệp trong suốt một thời gian dài chúng ta lại bỏ giá trị này không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp. Thật là lãng phí và vô lý.

     

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    II. Những mặt được và chưa được trong hoạt động quản lý của nhà nước

     

    1. Những mặt được trong hoạt động quản lý của nhà nước

     

    Có nhiều đổi mới trong cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, trong chỉ đạo

     

    điều hành của Chính Phủ.

     

    Cơ chế quản lý đầu tư được cải tiến một bước quan trọng theo hướng giảm đáng kể sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp

    Tăng cường vai trò trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc quyết định, tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả của công trình đầu tư.

     

    Quản lý nhà nước đầu tư và xây dựng đã được quy định tại các nghị định số 52/1999/NĐ-CP; số12/2000/NĐ-CP; số07/2003/NĐ-CP; số 88/1999/NĐ-CP; số 14/2000/NĐ-CP và số 66/2003/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản pháp quy liên quan; các Bộ ngành và địa phương phải nghiêm túc thực hiện, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư.

     

    Năm 2004 trong lĩnh vực đầu tư phát triển tiếp tục được phân cấp mạnh cho các Bộ, ngành, địa phương. Thủ tướng Chính phủ chỉ giao cho các Bộ, ngành, địa phương tổng mức vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước, danh mục và mức vốn đầu tư các dự án thuộc nhóm A; ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao kế hoạch vốn thiết kế quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, vốn đầu tư theo mục tiêu hỗ trợ của Trung ương (đối với các Bộ, ngành); đối với các tỉnh, thành phố chỉ giao vốn thiết kế quy hoạch, vốn chuẩn bị đầu tư, vốn bổ sung có mục tiêu cho đầu tư phát triển. Việc lựa chọn, bố trí danh mục và mức vốn cụ thể cho các dự án nhóm B và C (kể cả các dự án chuyển tiếp, khởi công, hoàn thành) do các Bộ trưởng, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định và tự chịu trách nhiệm.

     

    Cùng với việc phân cấp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế về quản lý đầu tư và xây dựng và Chỉ thị số 29/2003/CT-TTg ngày 23/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

     

    Trong hoạt động đầu tư, Nhà nước quản lý chặt chẽ đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và tạo khung pháp lý cùng các hỗ trợ cần thiết cho nhà đầu tư mà không trực tiếp quyết định đầu tư. Đồng thời, Nhà nước thực hiện cơ chế giám sát, kiểm tra, đánh giá, để thực hiện hiệu quả dự án đầu tư, giảm bớt sai sót, vi phạm, thất thoát. Trong quản lý đầu tư, đã tăng cường được vai trò của Hội đồng Nhân dân, coi trọng sự tham gia giám sát của cộng đồng và các tổ chức xã hội.

     

    Việc sửa đổi, bổ sung các quy chế về quản lý đầu tư, xây dựng, đấu thầu đã tạo khung pháp lý hoàn thiện hơn về đầu tư xây dựng cơ bản. Công tác chỉ đạo, điều hành, lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch được quan tâm. Cơ chế quản lý đầu tư được cải tiến một bước theo hướng tăng cường phân công, phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương. Tính công khai, minh bạch, công bằng, hợp lý trong việc phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo Luật Ngân sách nhà nước mới đã được quan tâm hơn.

     

    Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng của Chính phủ, công tác giám sát của các cơ quan dân cử đối với đầu tư xây dựng cơ bản bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phát hiện yếu kém, tiêu cực trong quản lý và thực hiện các dự án, công trình, góp phần hạn chế và khắc phục những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    2.Một số tồn tại trong hoạt động quản lý đầu tư gây thất thoát, lãng phí

     

    Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển

     

    Chất lượng các dự án quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều hạn chế, các dự án quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn, chưa có đủ các căn cứ vững chắc, nhất là các thông tin về dự báo, nhất là dự báo tác động của các yếu tố bên ngoài như thị trường thế giới, tiến bộ khoa học công nghệ, sự cạnh tranh của các

     

    quốc gia và doanh nghiệp…

    Quản lý nhà nước về quy hoạch còn nhiều yếu kém mà biểu hiện rõ nhất là phân công, phân cấp không rõ ràng, thiếu một khung pháp lý đầy đủ cho việc lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch, thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất về các vấn đề liên quan đến công tác quy hoạch trong phạm vi cả nước; thiếu kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch. Nhiều cơ quan nhà nước, nhiều cá nhân có trách nhiệm chưa quan tâm đúng mức và chưa nhận thức đúng đắn về công tác quy hoạch, trách nhiệm đối với công tác quy hoạch chưa đủ tầm… Quy trình kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân chưa được thể chế hoá; phương pháp lập quy hoạch chưa thống nhất; thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình lập các quy hoạch ngành, nên xảy ra tình trạng chồng chéo và không ăn khớp giữa quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh; thiếu quy chế phê duyệt thống nhất.

     

    Nhận thức về quy hoạch trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế còn nhiều điểm chưa thống nhất; việc phân định nội dung cũng như phạm vi giữa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội các vùng lãnh thổ, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng còn nhiều điểm chưa rõ.

     

    Các quy hoạch ngành, tuy đã xác định rõ hơn những ngành thuộc loại quy hoạch “mềm” và quy hoạch “cứng”, nhưng ngay đối với các ngành sản phẩm chủ lực cần được lập quy hoạch cũng chưa được xác định ở cấp nhà nước.

     

    Nguyên nhân của tình hình nêu trên có nhiều nhưng trước hết phải kể đến công tác điều tra cơ bản chưa đủ, thông tin phục vụ nghiên cứu quy hoạch thiếu, lực lượng nghiên cứu quy hoạch hạn chế; công tác dự báo và xử lý liên ngành, liên vùng yếu; công tác chỉ đạo quy hoạch chưa đúng mức.

     

    Quy hoạch ngành và quy hoạch vùng, quy hoạch của từng tỉnh ít gắn kết với nhau. Quy hoạch phát triển ngành chưa thể hiện cụ thể trên các địa bàn lãnh thổ của các tỉnh, thành phố. Mặt khác trong khi có một số quy hoạch ngành đã thể hiện trên lãnh thổ nhưng quy hoạch tỉnh, thành phố chưa căn cứ vào quy hoạch ngành bố trí trên lãnh thổ của mình. Trong quá trình thực hiện quy hoạch, một số ngành, một số địa phương còn tuỳ tiện thay đổi mục tiêu của quy hoạch sau khi đã được Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt.

     

    Nhiều quy hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã không kịp thời triển khai các quy hoạch cụ thể, quy hoạch chi tiết để tiến hành đầu tư, dẫn tới có tình trạng quy hoạch “treo”.

     

    Việc thẩm định, kiểm tra, giám sát quy hoạch còn yếu, có trường hợp quy hoạch có chất lượng thấp vẫn được thông qua.

     

    Về trách nhiệm của các cơ quan quản lý: còn buông lỏng trong công tác quản lý đầu tư và xây dựng. Việc phân cấp quản lý trong đầu tư và xây dựng cho các Bộ, ngành và địa phương đã thực hiện tương đối mạnh. Tuy nhiên, cơ chế quản

     

    19         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    lý đầu tư và xây dựng hiện tại thiếu các chế tài, những quy định cụ thể (kể cả biện pháp hành chính) nhằm kiểm soát và hạn chế được việc phê duyệt dự án đầu tư tràn lan, kém hiệu quả.

     

    Việc nhận thức công tác Đấu thầu còn nhiều hạn chế cả về nội dung đấu thầu, quy trình, trình tự và các quy định khác. Một số cán bộ thuộc đơn vị Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo đầy đủ, thiếu kinh nghiệm nên còn nhiều hạn chế trong triển khai công tác đấu thầu.

     

    Nhiều chủ dự án chưa chủ động, chỉ dựa vào ý kiến của tư vấn, không xem xét kỹ kết quả trước khi trình duyệt, dẫn đến những sai sót không đáng có trong quá trình thực hiện. Cấp có thẩm quyền chưa chỉ đạo sát sao, quản lý công tác đấu thầu chưa chặt chẽ.

     

    Công tác giám sát và đánh giá đầu tư chưa được tất cả các Bộ, ngành và địa phương quan tâm đúng mức và thực hiện nghiêm túc theo quy định; chỉ có khoảng 30% các đơn vị Bộ, ngành, 40% các tỉnh, thành phố có báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư. Đối với việc giám sát và đánh giá đầu tư của các chủ đầu tư còn rất hạn chế, chỉ có 30% các chủ dự án sử dụng vốn ngân sách có báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư. Chất lượng các báo cáo về đánh giá đầu tư còn sơ sài, chưa đủ các thông tin cần thiết để tổng hợp báo cáo.

     

    Công tác giám sát nói chung còn chưa thường xuyên, bị động và chủ yếu tổng hợp từ các báo cáo theo quy định, chưa có tác dụng phát hiện kịp thời và xử lý các vi phạm. Công tác giám sát cộng đồng chưa được chú trọng.

     

    Công tác giám sát, đánh giá đầu tư chưa đáp ứng được các yêu cầu theo quy định, một mặt do đội ngũ cán bộ chưa được chuẩn bị chu đáo, cán bộ nghiệp vụ còn thiếu kinh nghiệm, năng lực còn hạn chế, chưa có hệ thống thông tin phục vụ hoạt động giám sát. Mặt khác, lãnh đạo ở một số Bộ, ngành và địa phương cũng chưa nhận thức đầy đủ được vị trí, vai trò của công tác giám sát, đánh giá đầu tư trong quản lý đầu tư nói chung

     

    Các chủ đầu tư, nhất là chủ đầu tư, các ban quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước chưa khẩn trương cùng các nhà thầu hoàn tất các thủ tục nghiệm thu, thanh quyết toán. Nhiều công trình, dự án đã hoàn thành nghiệm thu, đưa vào sử dụng trong nhiều năm nhưng không quyết toán công trình.

     

    Chương III

    NHỮNG GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ CHỐNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ Ở VN

     

    Nạn thất thoát, lãng phí tiêu cực trong đầu tư xây dựng đã được đặt ra tại nhiều kỳ họp Quốc hội. Song tình hình dường như đâu lại vào đó, lại còn có xu hướng “phát triển” hơn. Tại sao lại như vậy? Theo các chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính của những hiện tượng này chủ yếu là do hành vi tiêu cực gây ra: tiêu cực trong khâu lập và duyệt quy hoạch thì có quy hoạch treo, hoặc chồng chéo; Tiêu cực trong khi lập dự án là do tổ chức, cá nhân tư vấn và chủ đầu tư móc nối với nhau; Tiêu cực trong thẩm định dự án để trình cấp quyết định đầu tư là sự “ăn dơ” giữa tư vấn, chủ đầu tư và cơ quan thẩm định. Tiêu cực trong thiết kế dự toán

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    là sự “rỉ tai” của tổ chức tư vấn và cơ quan thẩm định, cái “rỉ tai” này lại kéo sang tiêu cực về đấu thầu vì nhà thầu lại lo lót từ tổ chức tư vấn đến người duyệt thiết kế và chủ đầu tư.

     

    Còn tiêu cực trong giám sát thì sao? Ở khâu này có thể gây nên thất thoát về chấtlượng công trình không đảm bảo là do sự thông đồng giữa cơ quan tư vấn giám sát, hoặc cán bộ giám sát với bên thi công (nhà thầu). Ở khâu này các tổ chức tư vấn thiết kế có kiểm tra thì cũng hạn chế được một phần.

     

    Qua đó có thể nói được rằng mọi thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng là do hành vi tiêu cực gây nên của cán bộ viên chức và công chức. Vì vậy để ngăn chặn và hạn chế tình trạng hiên nay thì chính phủ cần phải đưa ra những biện pháp xử lý kiên quyết hơn nữa để hạn chế những tiêu cực này. Để làm được điều này thì ta cần phải kiện toàn các chính sách, luật quản lý đầu tư,phải có chính sách phân công, phân cấp rõ ràng, công khai, minh bạch, chặt chẽ trách để tình trạng sơ hở để các nhà thầu có cơ hội luồn lách rút ruột công trình. Thất thoát, lãng phí là vấn đề nan giải hiện nay không thể giải quyết trong ngày một ngày hai chính vì vậy để chống được “quốc nạn”đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp và cùng toàn thể xã hội tham gia từ chính phủ đến các cá nhân, nhà báo,các phưong tiện thông tin đại chúng….Cụ thể một số biện pháp xin được nêu sau

     

    1. Các giải pháp liên quan đến cá nhân:

    Công tác cán bộ là cốt lõi để giải quyết mọi vấn đề. Trong hoạt động đầu tư có nhiều chức danh cán bộ như: khảo sát, tư vấn, thiết kế, soát, kiểm tra, giám sát, thẩm định, kiểm định, phản biện, quản lý doanh nghiệp tư vấn, người có thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quản lý dự án, quản lý thi công,… Mỗi chức danh phải có các nhân nào chịu trách nhiệm chính, cá nhân nào liên đới trách nhiệm, không thể để tình trạng “rất nhiều người có quyền, song rất ít người chịu trách nhiệm cụ thể” và tình trạng “cha chung không ai khóc” tồn tại trong quản lý điều hành và triển khai dự án. Vì vậy để khắc phục các nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí nêu trên trước hết cần làm một số việc sau:

     

    • Phải có các quy định chặt chẽ ràng buộc trách nhiệm cá nhân với công việc được giao quản lý. Cần xác định rõ theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì người quyết định là người chiụ trách nhiệm chứ không phải là tập thể chịu trách nhiệm, không có tập thể quyết định chuyên môn. Ví dụ: Hàng loạt các dự án mà đầu tư không hiệu quả, dàn trải, thất thoát vốn lớn như mía đường, dầu khí… nhưng để truy cứu trách nhiệm người ra quyết định đầu tư rất khó khăn. Các dự án mía đường đến nay hậu quả ”sờ sờ” ra đấy, chưa biết đến bao giờ khắc phục xong. Nhưng người ra quyết định đầu tư, nay đã về hưu, ”hạ cánh an toàn”, hoặc chuyển làm công tác khác
    • Cần trả thù lao tương xứng với trách nhiệm.
    • Kiên quyết xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu. Không bao che, dung túng, nể nang, né tránh đối với bất kể cán bộ nào làm sai để giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
    • Những cán bộ có trách nhiệm trực tiếp quản lý dự án, trước khi được giao nhiệm vụ phải khai báo tài sản và thu nhập cá nhân.
    • Phải xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn hoá chức danh với các công việc quản lý dự án, tư vấn, quản lý kinh doanh tư vấn và xây dựng. Phải bố trí cán bộ có

    21         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    đủ trình độ và kinh nghiệm, đúng chuyên môn và có phẩm chất phù vợp với chức danh công việc được giao. Nghiêm cấm và xử phạt nghiêm mọi trường hợp mượn danh, mua danh để hành nghề.

     

    1. Các giải pháp liên quan đến xây dựng quy định quản lý:

    Các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu là cơ sở, là “cái gậy” của cán bộ quản lý. Nếu nghiên cứu chưa kỹ thì có nhiều sơ hở dẫn đến hay thay đổi và ban hành không đồng bộ thì dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý, bị kẻ xấu lợi dụng để trục lợi các nhân. Vì vậy để khắc phục các nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí nêu trên cần làm một số việc sau:

     

    • Cần rà soát các quy định hiện tại để sủa đổi, bổ sung mới từ đó hình thành một hệ thống các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu, minh bạch, đầy đủ, phù hợp với thực tế hoạt động đầu tư xây dựng ở nước ta và ban hành cách đồng bộ.
    • Cùng với xây dựng một hệ thống quy định trên phải xây dựng quy trình và biện pháp kiểm tra hữu hiệu để đảm bảo các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu phải được tuân thủ đúng, đủ và để phát hiện ngay được những sơ hở trong các quy định.
    • Có một tổ công tác gồm các nhà chuyên môn ở nhiều lĩnh vực, có nhiều kinh nghiệm thực tế trong quản lý dự án, có tâm huyết. Tổ công tác này hoạt động độc lập, chuyên trách giúp chính phủ nghiên cứu soạn thảo ra hệ thống các quy định quản lý đầu tư, xây dựng và chi tiêu đạt được các yêu cầu trên. Việc soạn thảo, ban hành các quy định theo đúng quy trình.
    1. Các giải pháp liên quan đến công tác kiểm tra, thanh tra và điều tra:

    Có quy định mà không có sự giám sát, kiểm tra và thanh tra thì việc thực thi không nghiêm. Nhưng các sai phạm thường được che dấu bởi nhiều thủ đoạn tinh vi vì thế nếu không điều tra thì không thể phát hiện được. Cho nên có thể nói trong nguyên nhân: Công tác quản lý bị buông lỏng và có kẻ cố tình vi phạm định chế quản lý vì lợi ích cá nhân là do công tác thanh tra, điều tra chưa làm mạnh, lực lượng thanh tra, điều tra còn yếu và thiếu lực. Do vậy những việc cần làm ngay là: Nâng cao năng lực, hiệu quả công tác của lực lượng này và đẩy mạnh công tác này để ngăn chặn và phát hiện những sai phạm; đưa ra ánh sáng nhưng kẻ cố ý làm trái quy định, pháp luật gây ra tình trạng thất thoát, lãng phí hiện nay; thu hồi tài sản bị thất thoát. Các biện pháp cụ thể là:

     

    • Bổ sung thêm nhiều cán bộ “có năng lực ,trình độ” vào lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Trang bị thêm trang thiết bị kỹ thuật và tăng kinh phí cho lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Mở rộng phạm vi quyền hạn cho lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Lực lượng thanh tra, điều tra phải độc lập để đảm bảo tính khách quan, công bằng, khắc phục ”quy trình khép kín”. Một điều dễ thấy là với các dự án của bộ, ngành, địa phương, tất các khâu đều do cơ quan, DN của bộ ngành, địa phương đó làm, khép kín từ quy hoạch, quyết định đầu tư, khảo sát thiết kế, đấu thầu, thi công, quyết toán… Chẳng hạn, khâu giám sát thi công thì vì ”anh em trong một nhà” nên dễ thông cảm với nhau! Nhiều dự án chỉ khi ”anh em” ăn chia không sòng
    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    phẳng, đấu đá, tranh chấp với nhau mới lộ ra ngoài, báo chí đưa, cơ quan điều tra vào vụ việc mới được phơi bày.

    • Có sự thưởng, phạt phân minh với những thành tích và khuyết điểm trong công tác.
    • Cần áp dụng “các giải pháp liên quan đến cá nhân” ở trên đối với lực lượng thanh tra, điều tra.
    • Xác định rõ trách nhiệm của lực lượng này đối với sự gia tăng số vụ và mức độ thất thoát.
    • Đã có đơn tố giác, đã có biểu hiện, dư luận về sai phạm, thất thoát ở dự án nào thì lực lượng thanh tra, điều tra phải sớm xác định và làm rõ, phải làm cho đến nơi đến chốn để rõ trắng đen để đưa vụ việc ra ánh sáng, để có tác dụng dăn đe và quan trọng là thu hồi tài sản của đất nước bị thất thoát.
    • Nhà nước cần mở tài khoản kế toán riêng để theo dõi và quản lý tập trung tất cả tài sản bị thất thoát thu hồi qua kết quả kiểm tra, thanh tra và điều tra. Số tiền thất thoát là rất lớn vì vậy số tiền thu hồi sẽ rất lớn, Nhà nước có thể dùng một phần số tiền thu hồi để chi cho việc đầu tư nâng cao năng lực lực lượng thanh tra, điều tra, chi cho việc bảo vệ nhân chứng, bổ sung kinh phí cho hoạt động thanh tra, điều tra…vì vậy có thể sẽ phát hiện nhiều hơn những dự án có thất thoát và thu hồi được nhiều hơn số tiền bị thất thoát.
    • Tập trung giám sát đầu tư với tất cả các dự án đang ở giai đoạn chuẩn bị triển khai hoặc đã triển khai để đánh giá hiệu quả đầu tư, phát hiện những sai sót trong tính toán có thể dẫn đến lãng phí từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời làm giảm hoặc tránh xảy ra lãng phí.
    • Tập trung thanh tra tất cả các dự án đang và đã triển khai để phát hiện những sai phạm quy định, thủ tục triển khai, những sơ hở trong quản lý có thể dẫn đến lãng phí, thất thoát từ đó có biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời ngăn chặn hoặc tránh xảy ra lãng phí, thất thoát.
    1. Các giải pháp liên quan đến việc phát huy dân chủ

    Những vụ việc thất thoát mà thanh tra, điều tra phát hiện được là dựa vào đơn thư tố giác của dân. Thực tế tình hình thất thoát tiền đầu tư hiện nay là phổ biến, nhưng số vụ việc mà lực lượng thanh tra, điều tra đưa ra ánh sáng được còn rất ít, rất ít vì có ít đơn thư tố cáo, rất ít vì dân còn chưa giám nói, dân chưa giám nói vì tư tưởng “muốn yên thân”, vì “ngại va chạm”, vì sợ “đấu tranh – tránh đâu”, vì dân chưa tin vào quyết tâm chống thất thoát của lãnh đạo. Tài sản công là tài sản của dân, nghĩa là dân là “người chủ” nhưng tinh thần làm chủ của “người chủ” chưa được phát huy. Quyền làm chủ chưa được phát huy vì thiếu cơ chế thực hiện quyền làm chủ cụ thể trong xây dựng cơ bản, hoặc có mà chưa được coi trọng, hoặc vì “người chủ” thiếu thông tin. Do vậy những việc cần làm ngay là: phát huy tinh thần làm chủ của “người chủ ” trong phòng và chống thất thoát tiền đầu tư của “người chủ ”. Các biện pháp cụ thể như sau:

     

    • Xây dựng hoàn chỉnh cơ chế để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong quản lý dự án, có chế tài để đảm bảo cơ chế này được tôn trọng.
    • Có cơ chế đảm bảo sự công khai, minh bạch trong công tác đấu thầu, trong xây dựng, mua sắm, trong thanh, quyết toán để “ngừơi chủ” có thể giám sát quá trình đầu tư tốt hơn.

    23         Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

     

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

     

    • Phải có chính sách, biện pháp cụ thể bảo vệ có hiệu quả những cá nhân đứng ra tố giác những hành vi cố tình làm trái các quy định quản lý, pháp luật, tố giác những cán bộ tham ô, nhận và đưa hối lộ. Đồng thời kiên quyết xử lý theo đúng pháp luật mọi cá nhân cố tình vu khống, tố cáo sai sự thật để phục vụ mục đích xấu của họ.
    1. Các giải pháp liên quan đến việc phát huy vai trò của thông tin đại chúng

    Dư luận xã hội, ý kiến của các chuyên gia, của những người trong cuộc, của các đại biểu Quốc hội đánh giá tình trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là “kinh khủng”, là “rất phổ biến đối với đầu tư xây dựng của nhà nước ” …thế nhưng số những dự án được phát hiện có lãng phí, thất thoát; được xử lý và đưa ra công luận còn rất ít có thể đếm trên đầu ngón tay – vậy tại sao? Có ý kiến cho rằng đưa ra báo chí nhiều quá làm bôi đen xã hội ta, làm mất uy tín của cán bộ …Tôi cho rằng ngược lại. Tìm, kiên quyết xử lý nghiêm minh và đưa ra công luận nhiều hơn nữa những dự án đầu tư có thất thoát và lãng phí để thu hồi tiền bị thất thoát; để răn đe từ đó ngăn chặn sự phát triển của tình trạng lãng phí, thất thoát hiện nay; để chứng minh bằng hành động quyết tâm chống thất thoát, lãng phí của Chính phủ.

     

    Vừa qua, thông tin đại chúng mới phản ánh một số ít dự án thất thoát, lãng phí thôi nhưng đã có tác dụng rất lớn, hiệu quả cao ví dụ như­ vụ PMU 18… điều đó chứng tỏ vai trò to lớn của thông tin đại chúng. Vì vậy để chống thất thoát, lãng phí quyết liệt hơn, báo chí không chỉ đưa tin kết quả thanh tra, điều tra mà cần phải tham gia điều tra phát hiện.

     

    PHẦN KẾT LUẬN

     

    Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra ở hầu hết các khâu,

    từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệm thu, quyết toán công

    trình, diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng. Song kết quả phát hiện,

    điều tra, xử lý của các cơ quan chức năng còn thấp, tỷ lệ tội phạm ẩn còn cao. Hậu

    quả của tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng đã làm cho nhiều tỷ đồng tiền

    vốn của Nhà nước bị thất thoát, khó có khả năng thu hồi; nguồn vốn của Nhà nước

    trong đầu tư xây dựng bị phân tán; chất lượng công trình trước mắt cũng như lâu

    dài đều bị ảnh hưởng. Trong số những người vi phạm pháp luật, có nhiều người là

    cán bộ khoa học, cán bộ lãnh đạo, kỹ sư và công nhân có tay nghề cao.

    Tình hình  nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trước hết là do tác

    động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự yếu kém trong quản lý kinh tế, sự sơ

    hở và thiếu đồng bộ của hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý, kiểm tra, giám

    sát trong đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó là vai trò của cơ quan chủ quản trong việc

    tuân thủ pháp luật, và trách nhiệm cũng như đạo đức nghề nghiệp của những người

    làm công tác xây dựng. Về mặt chủ quan, công tác phối hợp phòng ngừa, đấu tranh

    chống tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng của lực lượng công an nói riêng

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

    và các cơ quan chức năng nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Chính vì vậy, Ðảng, Quốc hội cũng như Chính phủ đã có nhiều nghị quyết quan trọng nhằm ngăn chặn tình trạng thất thoát, tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Bộ Công an và các ngành chức năng cũng đã xác định đây là một trong những lĩnh vực trọng điểm cần bảo vệ.

     

    Nhân dân, các nhà khoa học, nhiều cán bộ hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp, quản lý kinh tế, xây dựng cơ bản… rất quan tâm vấn đề này và đã có nhiều công trình khoa học, bài viết về phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng. Năm 1998, Cục CSÐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đã tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh“. Năm 2003, Bộ Xây dựng và Tổng Hội xây dựng Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học: “Chống thất thoát trong đầu tư xây dựng nhìn từ nhiều phía“; Năm 2004 -2005, Tổng Hội xây dựng Việt Nam nghiên cứu đề tài khoa học: “Xác định mức độ thất thoát trong đầu tư xây dựng” và đang triển khai nghiên cứu tiếp đề tài “Chống khép kín trong đầu tư xây dựng”.

     

    Tuy nhiên, do nhu cầu xây dựng ngày càng cao, phạm vi ngày càng mở rộng, cộng thêm năng lực quản lý yếu kém và việc chấp hành kỷ cương, pháp luật của Nhà nước chưa nghiêm đã dẫn đến thất thoát ở nhiều công trình, ảnh hưởng đến công tác xây dựng trên nhiều mặt. TTLP đã làm giảm đáng kể hiệu quả của đầu tư trong những năm qua, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn hiện nay nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước với mục tiêu phấn đấu là từ nay cho đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước CN hiện đại. Mục tiêu này có thực hiện đựơc không một phần phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của chúng ta.

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Bài tập lớn Kinh Tế Đầu Tư

    • Nhóm Sv thực hiện: Nhóm 7

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Cuộc thi ý tưởng khoa học và công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một sân chơi mới, tạo cơ hội phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động tại địa phương

    Cuộc thi ý tưởng khoa học và công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một sân chơi mới, tạo cơ hội phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động tại địa phương

    Cuộc thi ý tưởng khoa học và công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một sân chơi mới, tạo cơ hội phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động tại địa phương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Cu%E1%BB%99c-thi-%C3%BD-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-khoa-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-t%E1%BB%89nh-B%C3%A0-R%E1%BB%8Ba-V%C5%A9ng-T%C3%A0u-m%E1%BB%99t-s%C3%A2n-ch%C6%A1i-m%E1%BB%9Bi-t%E1%BA%A1o-c%C6%A1-h%E1%BB%99i-ph%C3%A1t-huy-s%E1%BB%A9c-s%C3%A1ng-t%E1%BA%A1o-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-t%E1%BA%A7ng-l%E1%BB%9Bp-nh%C3%A2n-d%C3%A2n-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%8Ba-ph%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cuộc thi ý tưởng khoa học và công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu một sân chơi mới, tạo cơ hội phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động tại địa phương

    NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI <<

    CUỘC THI Ý TƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU MỘT SÂN CHƠI MỚI, TẠO CƠ HỘI PHÁT HUY SỨC SÁNG TẠO CỦA

     

    CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TẠI ĐỊA PHƯƠNG

     

    Để phát huy tiềm năng sáng tạo trong mọi đội ngũ cán bộ công chức viên chức tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng và mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh nói chung, năm 2014 Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã thí điểm tổ chức cuộc thi “Ý tưởng KH&CN” tại 2 đơn vị là Sở KH&CN và Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở 2 cuộc thi thí điểm trên, năm 2015 Sở KH&CN đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức triển khai rộng rãi trên phạm vi toàn tỉnh, sau đây là một số kết quả của quá trình tổ chức triển khai thí điểm trong năm 2014 và phương hướng triển khai Cuộc thi này trong thời gian tới

    || TS. Nguyễn Vân Anh

    Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

    cũng góp phần đưa Luật KH&CN vào cuộc sống tại địa phương. Vì Ý tưởng KH&CN cũng được đề

    cập tại Điều 29 Nghị định 08/2014/

    NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014

    của Chính phủ quy định chi tiết và

    I. GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ Ý TƯỞNG KH&CN

    Hiện nay, có một số cuộc thi trong lĩnh vực KH&CN được triển khai tại các địa phương và trên quy mô toàn quốc, trong đó có tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ví dụ như Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu do Sở KH&CN phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật, Liên đoàn lao động tỉnh tổ chức định kỳ 2 năm/1 lần; Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật toàn Quốc do Quỹ VIFOTEC phối hợp với Bộ KH&CN, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức định kỳ hàng năm,… Tuy nhiên, các Cuộc thi này chỉ quy định cho các giải pháp thuộc lĩnh vực kỹ thuật, nên nhiều tổ chức và cá nhân đặc biệt là cán bộ công chức, viên chức làm công tác quản lý và các hoạt động chuyên môn khác không liên quan đến các lĩnh vực kỹ thuật trên địa bàn tỉnh hầu như không có cơ hội tham gia. Trong khi đó, như ông cha ta thường nói “Một người biết lo bằng một

    kho người biết làm”, công tác quản lý và một số hoạt động chuyên môn khác không phải là các giải pháp kỹ thuật, nhưng đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước nói chung và từng đơn vị nói riêng. Mỗi sáng tạo trong công tác quản lý sẽ có tác động thúc đẩy mạnh mẽ kết quả hoạt động tại các cơ quan, đơn vị. Nhận thức được điều này, Sở KH&CN đã đề xuất tổ chức cuộc thi “Ý tưởng KH&CN” tại Sở KH&CN và Đại học Bà Rịa

    • Vũng Tàu. Kết quả đã phát hiện được nhiều giải pháp có ý nghĩa tích cực đối với công tác quản lý, công tác chuyên môn trong lĩnh vực KH&CN cũng như công tác giảng dạy và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ thành công của Cuộc thi, Sở KH&CN đã báo cáo và được UBND chấp thuận cho phép triển khai nhân rộng trên quy mô toàn tỉnh nhằm phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân lao động trên địa bàn tỉnh. Việc tổ chức Cuộc thi này, đồng thời,

    hướng dẫn thi hành một số điều của

    Luật KH&CN, trong đó quy định:

    “Khuyến khích tổ chức, cá nhân

    tổ chức hội thi tìm kiếm ý tưởng

    khoa học”; “Ý tưởng KH&CN trở

    thành nhiệm vụ KH&CN được phê

    duyệt, người đề xuất ý tưởng được

    ưu tiên giao làm chủ nhiệm nhiệm

    vụ hoặc tham gia thực hiện nhiệm

    vụ và được khen thưởng theo quy

    định của pháp luật”. Hiện nay, các

    thủ tục liên quan đến Cuộc thi trong

    phạm vi cấp tỉnh đang dần được

    hoàn thiện, dự kiến sẽ tổ chức phát

    động Cuộc thi này vào đầu tháng

    5/2015.

    Khái niệm ý tưởng KH&CN chưa

    được cụ thể hóa trong các văn bản

    quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, để

    tạo điều kiện cho các tác giả tham

    gia Cuộc thi, Ý tưởng KH&CN

    được xác định trong Cuộc thi này

    là: đề xuất có tính mới, tính khả thi

    và có khả năng mang lại lợi ích; Ý

    tưởng là kết quả sáng tạo của tác

    giả có thể là giải pháp hoàn thiện

    (có khả năng ứng dụng được ngay)

    ĐẶC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ < 25

     

    • NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

    hoặc chưa hoàn thiện (cần tiếp tục nghiên cứu để mở rộng phạm vi và khả năng ứng dụng), nhưng không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác. Trong đó, Ý tưởng có thể là đề xuất mới hoặc đã triển khai áp dụng, nhưng tại thời điểm tổ chức Cuộc thi, ý tưởng đó không trùng với nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ, sáng kiến, giải pháp dự thi trong lĩnh vực KH&CN đã được cấp có thẩm quyền đánh giá, công nhận, phê duyệt.

    1. MỘT SỐ  KẾT  QUẢ  TỪ

    QUÁ TRÌNH THÍ ĐIỂM TỔ

    CHỨC CUỘC THI “Ý TƯỞNG

    KH&CN”

    2.1. Công tác tổ chức cuộc thi

    Với 2 Cuộc thi đã được tổ chức

    trong năm 2014, Sở KH&CN đã

    thành lập Ban Tổ chức để điều hành

    Cuộc thi; ban hành Thể lệ quy định

    cụ thể về đối tượng dự thi, các tiêu

    chí đánh giá Ý tưởng KH&CN, lĩnh

    vực dự thi, hồ sơ dự thi, thời gian

    và địa chỉ nhận hồ sơ dự thi, cơ cấu

    giải thưởng; ban hành quy chế hoạt

    động của Hội đồng giám khảo đánh

    giá ý tưởng KH&CN dự thi; tổ chức

    tuyên truyền cho Cuộc thi. Trong

    đó:

    – Cuộc thi tại Sở KH&CN: Tổ

    chức, phát động từ tháng 2/2014;

    hoàn thiện, tổ chức chấm thi và tổng

    kết trong tháng 5/2014.

    – Cuộc thi tại Trường Đại học Bà

    Rịa – Vũng Tàu: Tổ chức, phát động

    từ tháng 4/2014; hoàn thiện hồ sơ,

    tổ chức chấm thi trong tháng 8/2014

    và tổng kết trong tháng 9/2014.

    – Tổ chức phổ biến rộng rãi thông

    qua các cuộc họp cơ quan, đơn vị;

    riêng tại Trường Đại học Bà Rịa

    – Vũng Tàu đã in ấn các áp phích

    Rịa – Vũng Tàu tham gia. Kết quả sau 2 Cuộc thi thí điểm, đã nhận được tổng số 165 hồ sơ tham gia dự thi, trong đó 41 hồ sơ tham gia Cuộc thi tại Sở KH&CN, 123 hồ sơ tại Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu (68 giải pháp của giảng viên, cán bộ; 55 giải pháp của sinh viên).

    Để đánh giá trung thực, khách quan Ý tưởng tham gia Cuộc thi, Ban Tổ chức Cuộc thi đã thành lập Hội đồng chấm thi gồm các nhà khoa học, nhà quản lý có chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ cao có uy tín trong và ngoài tỉnh tham gia. Quá trình chấm thi, Hội đồng giám khảo đã chọn được tổng số 32 giải pháp có tính mới, khả năng áp dụng và hiệu quả tốt nhất của từng đợt thi thí điểm làm cơ sở cho Ban Tổ chức xem xét trao giải, cụ thể như sau:

    (Bả̉ng 1)

    2.3. Đánh giá kết quả thực hiện

    2.3.1. Ưu điểm

    Cuộc thi có ý nghĩa thiết thực, nhằm tạo điều kiện khuyến khích, động viên công chức, viên chức, người lao động tại Sở KH&CN cũng như các giảng viên, cán bộ, sinh viên của Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia đề xuất Ý tưởng sáng tạo trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước, giảng dạy và học tập để ứng dụng vào thực tiễn.

    Các ý tưởng KH&CN đoạt giải đều ít nhiều thể hiện tính mới, khả năng triển khai ứng dụng và tính hiệu quả cao; đáp ứng được mục tiêu, tiêu chí của từng Cuộc thi đề ra.

    1. Một số́ ý tưởng KH&CN điể̉n hình trong Cuộc thi tạ̣i Sở KH&CN – Giải pháp “Nghiên cứu xây dựng chương trình quan trắc diễn

    biến động lực học biển và ven bờ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” đoạt giải nhất Cuộc thi. Ý tưởng là cẩm nang hướng dẫn thực hiện công tác quan trắc hàng năm về diễn biến động lực học biển và ven bờ tại tỉnh; thiết lập cơ sở dữ liệu về diễn biến không gian vùng bờ, về động lực học biển và ven bờ, về địa hình, địa mạo đáy biển ven bờ…. sử dụng

    cho việc nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật thích hợp bảo vệ đường bờ trở nên hiệu quả.

    • Giải pháp “Mã hóa sản phẩm nông nghiệp – Tiêu xuất khẩu” – Xây dựng phần mềm mã hóa – lưu trữ thông tin sản phẩm hồ tiêu xuất khẩu” đoạt giải nhì Cuộc thi. Ý tưởng xây dựng phần mềm lưu trữ thông tin sản phẩm từ giai đoạn chọn giống, xuất giống… đến phát triển, thu hoạch từ đó mã hóa thông tin, đưa vào mã vạch sản phẩm. Phần mềm giúp cho việc kiểm soát nguồn hồ tiêu của tỉnh dễ dàng hơn, sản phẩm được minh bạch về nguồn gốc cũng như quá trình sản xuất.
    • Giải pháp “Xây dựng mô hình quản lý, khai thác thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Sở KH&CN”, giải pháp đoạt giải ba, là một giải pháp mới được đề xuất trên cơ sở vận dụng sáng tạo mô hình quản lý, khai thác thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của một số nước phát triển (Nhật, Mỹ, Hàn Quốc), nhằm khai thác, mở rộng kết quả nghiên cứu, được hình thành từ ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Giải pháp được triển khai sẽ chấm dứt tình trạng các kết quả nghiên cứu bị “xếp trong ngăn kéo” trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, giải pháp là cách thức tổ chức

    tuyên truyền và lắp đặt pano tại 02

    cơ sở của trường.

    2.2. Kết quả thực hiện

    Hai Cuộc thi đã thu hút đông đảo

    các cán bộ công chức, viên chức,

    người lao động của Sở KH&CN,

    cũng như các giảng viên, nhân viên,

    sinh viên của Trường Đại học Bà

    Bảng 1: Kết quả giải thưởng Cuộc thi Ý tưởng KH&CN

    tại Sở KH&CN và tại Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2014

    Giải thưởng

    Số giải

    Tổng giải

    Tại Sở KH&CN

    Trường Đại học BR-VT

    Giải nhất

    2

    1

    1

    Giải nhì

    3

    1

    2

    Giải ba

    5

    2

    3

    Giải khuyến khích

    22

    8

    14

    Tổng

    32

    12

    20

     

    26 > ĐẶC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

     

    NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI <<

    và quản lý hữu hiệu để thực hiện Thông tư số 15/2014/TT-BKHCN ngày 13 tháng 6 năm 2014 của Bộ KH&CN quy định trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, thúc đẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào cuộc sống.

    1. Một số́ ý tưởng KH&CN điể̉n hình trong Cuộc thi tạ̣i Trường Đạ̣i họ̣c Bà̀ Rị̣a – Vũng Tà̀u

     

    – Giải pháp “Dùng phần mềm điều khiển trong công nghiệp để mô phỏng thay thế 04 phòng thực hành điểu khiển và tự động hóa” đoạt giải nhất Cuộc thi. Giải pháp giúp cho sinh viên ngành điện, điện tử được thực hành, làm quen trên hệ thống phần mềm điều khiển của hệ thống sản xuất công nghiệp, giúp sinh viên khi ra trường sẽ tiếp cận ngay được với thực tế ngành sản xuất công nghiệp, có trình độ công nghệ tự động hóa cao. Giải pháp này mang lại lợi ích kinh tế do thay đổi mô phỏng cho việc mua bốn phòng thí nghiệm thực hành.

     

    – Giải pháp “Tăng cường tuyển sinh trực tuyến để mở rộng quy mô tuyển sinh cho trường đại học Bà Rịa – Vũng Tàu” đoạt giải nhì Cuộc thi được thiết lập trên cơ sở tối ưu hóa nội dung của nội dung website bvu.edu.vn với các từ khóa về tuyển sinh nhằm đưa trang tuyển sinh của Trường vào một trong những tốp đứng đầu kết quả hiển thị trong google với các từ khóa về tuyển sinh nhằm tăng lượng truy cập vào lượng người có nhu cầu tìm hiểu thông tin về tuyển sinh trong những thời gian cao điểm. Từ đó cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu, thu hút đối tượng quan tâm nhằm tăng khả năng mở rộng quy mô tuyển sinh của nhà trường.

    Cuộc thi tại Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, một số Ý tưởng KH&CN đoạt giải, không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi phục vụ trong đào tạo, quản lý trong các trường

    đại học, mà còn có tính mới, tính thực tiễn cao trong phạm vi toàn quốc. Ví dụ, giải pháp “Ứng dụng Lysozyme kết hợp với Nisin và Edta làm màng bao kháng khuẩn để bảo quản thực phẩm” đoạt giải nhì Cuộc thi, đã đưa ra giải pháp bảo quản thực phẩm như thịt và các sản phẩm từ thịt an toàn, rẻ tiền, dễ áp dụng. Hay giải pháp “Phân lập, xây dựng quy trình sản xuất và sử dụng sinh khối Trichoderma trong việc phòng trừ một số nấm bệnh gây hại trên cây tiêu” đoạt giải ba Cuộc thi, được hình thành trên cơ sở sử dụng giải pháp sinh học dùng sinh khối nấm Trichoderma nhằm phòng trừ một số bệnh hại trên cây trồng, đặc biệt là cây tiêu. Giải pháp giúp cho người nông dân phòng trừ bệnh cây tiêu thao tác đơn giản, chi phí đầu tư thấp, không gây độc hại, ô nhiễm môi trường phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn hiện nay.

    Bên cạnh những giải pháp của các cán bộ, giảng viên, một số giải pháp của các em sinh viên đoạt giải cũng đã mang một hàm lượng KH&CN tương đối cao. Cuộc thi từng bước giúp các em tiếp cận với phong trào nghiên cứu khoa học, củng cố lý thuyết gắn liền với thực tiễn. Giải pháp “Thiết bị cắt vỏ ca cao” của nhóm tác giả sinh viên Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu đã sáng tạo ra thiết bị cắt vỏ cacao cho năng suất ổn định, kích thước xác định và hạn chế được lượng nhầy trong sản phẩm sau cắt, dễ dàng tháo lắp, vệ sinh. Giải pháp không những nâng cao năng suất, chất lượng trong quá trình chế biến sản phẩm cacao mà còn giúp tận dụng được nguồn nguyên liệu, bảo vệ môi trường trong quá trình chế biến.

    2.3.2. Nhược điểm và hạn chế Bên cạnh những thành công đã nói ở trên, do đang trong quá trình thử nghiệm, kết quả 02 Cuộc thi cũng bộc lộ nhiều điểm còn hạn

    chế. Cụ thể là:

    – Cách trình bày Ý tưởng KH&CN

    trong hồ sơ tham gia dự thi nhìn chung còn sơ sài, hàm lượng khoa học nhìn chung của nhiều Ý tưởng KH&CN dự thi chưa cao. Đặc biệt là đối với các hồ sơ tham gia của các em sinh viên.

    • Do kinh phí cho Cuộc thi hạn chế, nên khâu tổ chức đánh giá ý tưởng dự thi chưa tổ chức các Hội đồng giám khảo đánh giá có tính chuyên môn sâu hơn, tạo cơ hội cho các tác giả trình bày, làm rõ ý tưởng KH&CN dự thi để có thể nhận dạng, đánh giá chính xác hơn các ý tưởng tham gia Cuộc thi.
    • Công tác tuyên truyền chưa thật sâu sát, chưa tạo cơ hội để các tác giả được giải đáp thỏa mãn các vướng mắc liên quan đến Cuộc thi
    • tưởng KH&CN còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam.

    3. Phương hướng triển khai trong thời gian tới

    Từ những thành công của 02 Cuộc thi, thấy rằng, đây là hình thức thi tương đối mới, nhưng có ý nghĩa thực tiễn cao, tạo cơ sở để tìm ra những Ý tưởng KH&CN mới mẻ, góp phần hình thành nên những nhiệm vụ KH&CN cho các tổ chức KH&CN, cơ quan quản lý KH&CN đầu tư nhằm hoàn thiện, mở rộng phạm vi và khả năng ứng dụng trong phạm vi cấp tỉnh và toàn quốc. Đây là những cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất cho Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức với quy mô toàn tỉnh trong năm 2015.

    Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ thực tiễn tổ chức Cuộc thi, để tổ chức tốt Cuộc thi Ý tưởng KH&CN trên phạm vi toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thấy rằng: cần thiết phải rà soát lại quy trình tổ chức Cuộc thi nhằm kịp thời tham mưu cho UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy định liên quan đến Cuộc thi, cách thức phổ biến, tuyên truyền Cuộc thi,… để nâng cao hơn chất lượng Cuộc thi Ý tưởng KH&CN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    N.V.A

     

    ĐẶC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ < 27

     

    • NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

    Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ thực tiễn tổ chức Cuộc thi, để tổ chức tốt Cuộc thi Ý tưởng KH&CN trên phạm vi toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thấy rằng: cần thiết phải rà soát

    lại quy trình tổ chức Cuộc thi nhằm kịp thời tham mưu cho UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy định liên quan đến Cuộc thi, cách thức phổ biến, tuyên truyền Cuộc

    thi,… để nâng cao hơn chất lượng Cuộc thi Ý tưởng KH&CN trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.N.V.A

     

    NHỮNG Ý KIẾN PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI BIỂU TRÍ THỨC TẠI BUỔI HỌP MẶT XUÂN ẤT MÙI – 2015

     

    Tại buổi họp mặt Xuân Ất Mùi – 2015 giữa lãnh đạo tỉnh với đại biểu trí thức tại Hội trường Trung tâm Hành chính – Chính trị tỉnh sáng ngày 24/3/2015; có 09 ý kiến phát biểu của đại biểu trí thức và của các đơn vị: Hội Khoa học Lịch sử, Hội Luật gia, Hội Cơ khí, Trường Đại học BR-VT, Trường Cao đẳng Nghề Du lịch, Công ty Thoát nước và Phát triển Đô thị và đại diện trí thức Việt kiều. Các ý kiến tập trung vào bốn vấn đề chính sau đây

    • Nguyễn Ngọc Nguyện

     

    • Thái Quốc Việt

    Liên Hiệp các Hội KHKT tỉnh BR-VT

    Côn Đảo, Mô Xoài, trận địa pháo Cổ Đá… Và, một số di tích cấp tỉnh như địa đạo Hắc Dịch…

    VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: VỀ TƯ VẤN VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

    • tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, lực lượng trí thức khá lớn, tiềm năng không nhỏ, nếu biết phát huy vấn đề này sẽ có ý nghĩa, tác dụng rất nhiều cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Vì vậy, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành chức năng căn cứ vào năng lực, sở trường thực tế để giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật (KHKT) và các hội thành viên được thực hiện tư vấn, phản biện các công trình, dự án, quy hoạch…

    theo như Quyết định số 16/2013/ QĐ-UBND ngày 20/3/2013 của UBND tỉnh Quy định “về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, thì sự đóng góp của đội ngũ trí thức sẽ thiết thực và hiệu quả hơn.

    Mặt khác, bên cạnh tổ chức Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội khác khi thực hiện chức năng phản biện xã hội, các tổ chức này cần hình thành nhóm cố vấn hay

    chuyên gia tham vấn những vấn đề được phản biện theo chuyên môn của họ.

    VẤN ĐỀ THỨ HAI: KIÊN QUYẾT XỬ LÝ GIỮA KINH DOANH VÌ LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ VIỆC BẢO VỆ DI TÍCH VĂN HÓA, LỊCH SỬ TRONG BỐI CẢNH CHÚNG TA ĐANG MỞ CỬA, HỘI NHẬP

    Hiện nay, chúng ta đang đứng trước một hiện trạng đáng báo động về việc cảnh quan môi trường thiên nhiên và di tích lịch sử bị xâm phạm nghiêm trọng trước các hoạt động kinh doanh. Nhiều di tích lịch sử (kể cả di tích đã được nhà nước xếp hạng) đã bị xâm phạm. Ở tỉnh ta có một số di tích, công trình văn hóa, lịch sử lâu đời hoặc bị lãng quên hoặc chưa được chú ý đúng mức tới vấn đề bảo tồn, trùng tu… hiện đang xuống cấp. Nghiêm trọng hơn là có công trình đã trùng tu, lại sử dụng kinh doanh, xâm phạm di tích đã được xếp hạng quốc gia như:

    Nếu những di sản Văn hóa này được bảo vệ, trùng tu giữ nguyên hiện trạng gốc, nó sẽ là những địa chỉ du lịch sáng giá, địa điểm tâm linh hội tụ tâm hồn người dân Việt yêu nước.

    VẤN ĐỀ THỨ BA: QUAN TÂM XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀY CÀNG SÂU RỘNG

    Năm 2015 một loạt hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký với các nước, các tổ chức quốc tế có hiệu lực. Đây là bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện nền kinh tế Đông Nam Á, 10 nước Asean là một thị trường, trong đó sẽ có sự luân chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn, lao động có tay nghề. Điều đáng lưu ý là có 8 nghề được di chuyển tự do gồm: kế toán, kiến trúc, kỹ sư, nha sỹ, bác sỹ, y tá, điều tra viên và nhân lực du lịch. Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ cho Việt Nam trong đó có tỉnh BR-VT của chúng ta.

    28 > ĐẶC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

     

    NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI <<

    Ông Nguyễn Tuấn Minh, Bí Thư TU và ông Lê Thanh Dũng, PCT UBND tỉnh trao quà của UBND tỉnh cho tri thức tiêu biểu. Ảnh TL

    CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ngày nay, Logistics đã được xem

    như là một phần trong hoạt động của chuỗi cung ứng. Chức năng của ngành Logistics không chỉ là giao nhận, vận tải mà còn bao gồm các hoạt động khác như kho bãi, lưu trữ hàng hóa, bao bì, đóng gói, luân chuyển hàng hóa, xử lý hàng hư hỏng… Nếu làm tốt về Logistics, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh và tăng lợi nhuận cho công ty. Ngành Logistics có thể được xem là ngành “hái ra tiền”. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp về lĩnh vực này quá ít so với yêu cầu phát triển

    Có thể lấy ngành du lịch, một trong những ngành thế mạnh của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm thí dụ: Theo báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nguồn nhân lực làm việc trong ngành du lịch của tỉnh năm 2013 là 16.140 người (chiếm 1,5% dân số toàn tỉnh). Mặc dù số lượng nhân lực du lịch hàng năm đều tăng (2007: 7.232 người; 2013: 16.140 người; 2014: 16.520 người) nhưng với một tỉnh có tiềm năng lớn về du lịch như Bà Rịa – Vũng Tàu thì đây là con số khá khiêm tốn. Về chất lượng: Trong số 16.140 người (năm 2013) tham gia vào hoạt động du lịch thì số nhân lực có trình độ, tay nghề cao chưa nhiều, kiến thức hội nhập, ngoại ngữ, tin học còn yếu. Hơn nữa, đối với những lao động đã qua đào tạo thì đa phần là đào tạo ở trình độ trung cấp hoặc sơ cấp. Điều này đã gây ra những hạn chế nhất định trong quá trình hội nhập quốc tế về du lịch.

    Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong những năm qua đã quan tâm đến việc xây dựng, đào tạo, thu hút nhân tài. Nhưng kết quả còn hạn chế. Số cán bộ được đào tạo hiện sử dụng ra sao,

    trong tương lai làm thế nào để phát huy và phát triển? Đó là vấn đề rất lớn và cấp bách mà Tỉnh ủy, UBND tỉnh, ngành giáo dục – đào tạo, các cơ quan ban, ngành trong tỉnh nên có kế hoạch gấp rút để đáp ứng kịp thời sự hội nhập quốc tế sâu rộng trước ngưỡng cửa của năm 2015. Tuy nhiên, để có thể phát triển một cách ổn định và bền vững, chúng ta cần có một đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, trong đó năng lực nắm vững tiếng Anh chính là chiếc chìa khóa mở cửa bước vào con đường hội nhập. Đề nghị UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tăng cường hơn nữa việc đào tạo tiếng Anh cho cán bộ hành chính các cấp. Cần xây dựng chiến lược phát triển du lịch theo hướng xây dựng các gói sản phẩm du lịch một cách bài bản để một mặt lưu giữ khách trong mỗi tour, phát triển bền vững văn hóa và môi trường sinh thái.

    VẤN ĐỀ THỨ TƯ: CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN LOGISTICS TRONG VẬN HÀNH CẢNG BIỂN, ĐẨY MẠNH GẮN KẾT CÁC DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ VÀ PHÁT TRIỂN CHUỖI

    của ngành dịch vụ Logistics. Vì thế kiến nghị tỉnh cần quan tâm đầu tư hai yếu tố: đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại cho hệ thống cảng biển và đào tạo nhân lực đủ mạnh cho Logistics. Công nghiệp phụ trợ là một chiến lược tỉnh đặt ra nhưng đang lúng túng. Chúng ta đang có một lực lượng cơ khí mạnh với các ngành đóng giàn khoan dầu khí, đóng tàu và nhiều sản phẩm cho ngành công nghiệp phụ trợ. Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần quan tâm và tạo điều kiện, có chính sách phát triển chuỗi công nghiệp phụ trợ, giảm nhập khẩu vật tư, thiết bị để liên kết các doanh nghiệp cơ khí trong tỉnh phát huy thế mạnh trên địa bàn tỉnh.

    Đây là những ý kiến rất tâm huyết và trí tuệ, để lãnh đạo tỉnh nghiên cứu, tiếp thu đưa vào chương trình nghị sự, để chỉ đạo thực hiện. Đồng thời Liên hiệp các Hội KHKT tỉnh với chức năng là cầu nối, tập hợp và đại diện của đội ngũ trí thức, cần tham mưu cho lãnh đạo tỉnh về cơ chế, chính sách, giải pháp phát huy trí tuệ năng lực của đội ngũ trí thức đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

    N.N.N, T.Q.V

     

    ĐẶC SAN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ < 29


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-Y%C3%8AU-C%E1%BA%A6U-%C4%90%E1%BA%B6T-RA-%C4%90%E1%BB%90I-V%E1%BB%9AI-GI%E1%BA%A2NG-D%E1%BA%A0Y-B%E1%BA%ACC-%C4%90%E1%BA%A0I-H%E1%BB%8CC-THEO-%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-GI%E1%BA%A2NG-D%E1%BA%A0Y-PH%C3%81T-TRI%E1%BB%82N-K%C4%A8-N%C4%82NG.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    • NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

    MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIẢNG DẠY PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG

    HOÀNG VĂN TIẾN

    Học viện Khoa học Quân sự

    TÓM TẮT

    Đường hướng giảng dạy phát triển kỹ năng ra đời đáp ứng yêu cầu khắt khe và luôn biến động của thị trường lao động, đòi hỏi giáo dục đại học phải luôn đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy để tạo ra các sản phẩm người học được trang bị đủ tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết khi ra trường.

    Từ khóa: chương trình đào tạo, đào tạo bậc đại học, giảng dạy theo kỹ năng, kỹ năng, phương pháp giảng dạy tích cực

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong xã hội Việt Nam luôn biến động, dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, sự điều chỉnh, thay đổi các chương trình đào tạo đại học; khả năng người học đáp ứng các yêu cầu của thị trường lao động được xem như là kim chỉ nam cho những người có trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo và cũng là mục tiêu quan trọng cho sự phát triển cũng như khả năng hoà nhập thị trường lao động của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, các tổ chức luôn thay đổi phương thức quản lí cũng như các tiêu chí tuyển dụng đối với người lao động theo biến động của môi trường kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp. Khả năng “có thể sử dụng được” của các sinh viên sau khi ra trường đang đặt ra yêu cầu giải quyết mâu thuẫn

    giữa năng lực chuyên môn của sinh viên và yêu cầu của các nhà tuyển dụng. Ngoài ra, các chương trình đào tạo đại học ngày nay không còn được xem như là sự đảm bảo chắc chắn cho việc lĩnh hội thành công các năng lực, kỹ năng thực hành chuyên môn cần thiết ở người học cho hoạt động nghề nghiệp sau này. Do đó, nhà tuyển dụng luôn trông chờ ở giảng dạy đại học có thể trang bị cho người học các kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp cần thiết. Vấn đề phát triển các kĩ năng nghề nghiệp trong các chương trình đào tạo đại học được đặt ra như yêu cầu cấp thiết. Đã đến lúc phải xem xét lại các chương trình đào đạo của các trường đại học để đánh giá khả năng trang bị các năng lực nghề nghiệp cần thiết cho người học sau khi ra trường dưới góc nhìn của đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng.

    70

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 3 – 9/2016

       

    2. NỘI DUNG

    2.1. Đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng

    Khái niệm kĩ năng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học quản lí, khoa học giáo dục, tâm lí học, kinh tế học và trở thành thước đo trình độ trong nhiều lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp. Việc phát triển và đánh giá các kĩ năng nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng yếu được xã hội giao cho ngành giáo dục-đào tạo, đặc biệt là đào tạo ở bậc đại học.

    Trước hết, thế nào là một kĩ năng? Kĩ năng là “khả năng áp dụng một tập hợp có tổ chức các tri thức, hành động và thái độ cho phép hoàn thành một số nhiệm vụ nào đó. Nó không quay lưng lại với tri thức, văn hóa hay tư duy; trái lại, nó phát triển các tri thức sống, các phương tiện tư duy và hành động trong quá trình đào tạo cũng như trong môi trường xã hội” (Romainville M., 2012). Như vậy, kĩ năng là khả năng kiểm soát hành động một cách hiệu quả trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhờ có những tri thức cần thiết và khả năng vận dụng sáng tạo, kịp thời các tri thức này để nhận diện, giải quyết hiệu quả vấn đề gặp phải. Dưới góc độ sư phạm, kĩ năng là khả năng thực thi các nhiệm vụ hay giải quyết một vấn đề thông qua việc tiến hành theo đúng trình tự các bước và huy động các kiến thức và năng lực phù hợp của bản thân trong một tình huống cụ thể.

    Đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng ra đời trước tiên nhằm “đáp ứng yêu cầu của đào tạo nghề, với mục tiêu là hoàn thiện các kĩ năng nghề cho đội ngũ nhân viên và tăng năng suất lao động. Đây là phương pháp sư phạm có tính mục đích cao bằng cách xác định rõ các kĩ năng cần đạt được khi kết thúc quá trình đào tạo cho một vị trí công việc cụ thể” (Tazek Ghazel, 2012) . Đường hướng này chủ yếu quan tâm đến đào tạo các kĩ năng hoạt động nghề nghiệp của người học. Việc lựa chọn giảng dạy một nội dung nào đó đều phải nhằm đến mục tiêu cao nhất là hình thành và phát triển các kĩ năng ở người được đào tạo. Trong quá trình học, “người học luôn được đặt vào các tình huống có vấn đề cần giải quyết liên quan đến một lĩnh vực hoạt động gần gũi và họ phải vận dụng trong vô số các kiến thức lĩnh hội được những tri thức và hành động thích hợp nhất để tìm ra giải pháp; qua đó các kĩ năng nghề nghiệp được phát triển” (Romainville M. 2012).

    NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI v

    Trong điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội có nhiều thay đổi của Việt Nam với sự xuất hiện những nhu cầu mới của thị trường lao động đối với đào tạo đại học, nhiệm vụ điều chỉnh các chương trình đào tạo ở bậc đại học cho phù hợp với yêu cầu xã hội về các kĩ năng nghề nghiệp cần thiết ở người lao động là rất cấp bách. Những giải pháp cho nhiệm vụ đó nằm ở nhiều cấp độ khác nhau trong quy trình đào tạo đại học như quá trình xây dựng các chương trình đào tạo, việc thực hiện đưa vào giảng dạy các chương trình đào tạo đó, trong đó có hoạt động kiểm tra đánh, giá chất lượng đào tạo. Và như vậy, những người tham gia xây dựng, quản lý và thực hiện các chương trình đào tạo nói chung, ở bậc đại học nói riêng phải hợp tác chặt chẽ, thống nhất để xây dựng một nền giáo dục đại học hiện đại, hướng về thị trường lao động, thực hiện thành công sứ mệnh, nhiệm vụ chuẩn bị chu đáo cho các sinh viên bước vào thị trường lao động thông qua việc trang bị các kĩ năng nghề nghiệp phù hợp cho họ.

    Theo các phương pháp giảng dạy truyền thống, quá trình giảng dạy chủ yếu tập trung vào truyền đạt nội dung kiến thức cho người học; các kĩ năng thực hành chỉ được xem nhẹ và không được phát triển một cách hệ thống. Người ta chỉ quan tâm đến lượng kiến thức đã được giảng dạy trong một chương trình đào tạo mà không quan tâm nhiều đến việc người học có khả năng làm được gì sau khi hoàn thành khoá học. Chẳng hạn như trong giảng dạy tiếng Pháp theo phương pháp này, trong các giáo trình dạy tiếng Pháp và trong các giờ lên lớp, người ta chú trọng đến việc dạy các nội dung kiến thức ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và văn học-đất nước học, và đương nhiên khi kiểm tra-đánh giá, họ cũng chỉ quan tâm xem người học có nắm được những kiến thức đó không, còn khả năng thực hành, sử dụng các kiến thức đó vào trong thực tế giao tiếp xã hội thì gần như bị bỏ qua. Và hậu quả là các kĩ năng giao tiếp tiếng Pháp của sinh viên không được chú trọng phát triển trong suốt quá trình đào tạo.

    Còn về đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng, một số người chỉ trích đường hướng này coi nhẹ các nội dung giảng dạy mà chỉ chú trọng vào các năng lực mang nặng tính kĩ thuật, thao tác. Như chúng ta đã đề cập bên trên, đường hướng này ưu tiên việc phát triển các kĩ năng cần thiết ở người học theo yêu cầu của định hướng nghề nghiệp mà người học

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    71

    Số 3 – 9/2016

    • NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

    đang theo học. Do đó, theo chúng tôi, việc giảng dạy theo đường hướng phát triển kĩ năng không chỉ giới hạn trong việc phát triển các kĩ năng đơn thuần bởi vì để có thể hình thành và phát triển các kĩ năng giải quyết các vấn đề phải có các kiến thức tích luỹ trong quá trình học tập. Hơn nữa, đường hướng này cũng mang tính xã hội cao bởi nó định hướng việc giảng dạy theo các nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động. Thực sự đường hướng phát triển kĩ năng đã đặt ra những vấn đề lớn của giáo dục đại học hiện nay. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến sự thay đổi vai trò của người dạy và của người học trong lớp học tiếng Pháp, việc thiết kế và lập kế hoạch các chương trình đào tạo cũng như áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, đổi mới công tác kiểm tra-đánh giá hướng vào đo mức độ thành thục các kỹ năng nghề nghiệp của người học.

    2.2. Thay đổi vai trò của người dạy và người học trong quá trình dạy và học

    Theo các phương pháp giáo dục hiện đại lấy người học làm trung tâm, vai trò của người dạy và người học trên lớp thay đổi rất nhiều. Ngày nay, ít có giảng viên nào còn quan niệm người học như là những “bể chứa thụ động” và phải “lấp đầy chúng bằng các kiến thức”. Giảng viên nhận thức được rằng, họ không còn là “người nắm giữ tri thức duy nhất” dưới con mắt người học (Trần Bá Hành, 2003). Trong thực tế, phần lớn các phương pháp giảng dạy hiện đại, trong đó có phương pháp giảng dạy theo kĩ năng là kết quả của các nghiên cứu thực tiễn quá trình dạy và học của các nhà sư phạm, nhà giáo dục để tìm ra một phương pháp giáo dục tích cực. Giảng dạy theo các kĩ năng đưa ra một cái nhìn tổng thể, thống nhất và hợp lí về quá trình giảng dạy; từ đó xác định lại vai trò của người dạy và người học trong quá trình học tập trên lớp.

    Các phương pháp truyền thống tập trung vào việc dạy kiến thức với mô hình quen thuộc là thầy đọc và trò chép. Người học chỉ có nhiệm vụ nghe, cố gắng hiểu, làm bài tập và áp dụng các kiến thức tiếp thu để làm các bài kiểm tra kiến thức và được chấm điểm theo kết quả các bài kiểm tra đó. Người học thực hiện một cách bị động các yêu cầu của người dạy. Người dạy có quyền quyết định hay áp đặt mọi thứ đối với người học.

    Theo phương pháp sư phạm giải quyết tình huống như đường hướng dạy theo kĩ năng, người học tham gia vào thực hiện các nhiệm vụ chung của nhóm, thông qua đó hình thành và phát triển các kĩ năng của bản thân. Người học có quyền được thử nghiệm, được quyền mắc sai lầm vì các sai lầm của người học có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức cũng như các kĩ năng nghề nghiệp của bản thân. Họ thường xuyên được khuyến khích nói ra những mong muốn ở khoá học, hoài nghi của bản thân, cách thức tư duy cũng như phương pháp học tập của họ. Trong quá trình học tập, người học trở thành một dạng nhà thực hành linh hoạt. Còn người dạy đóng vai trò là người tổ chức và hướng dẫn người học trong suốt quá trình đào tạo: giúp người học hiểu nhiệm vụ cần thực hiện, biết huy động những tri thức cần thiết, biết thực hiện đúng quy trình công việc cần làm (Nguyễn Kỳ, 1996). Nhưng chú ý rằng, quyền quyết định luôn thuộc về người học (Romainville M., 2012). Trong mối quan hệ như vậy, cần phải xây dựng chương trình đào tạo đại học thống nhất, liên thông giữa các môn học và liên tục bổ sung, chỉnh sửa các nội dung chương trình cũng như các mục tiêu đào tạo cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.

    2.3. Thiết kế chương trình và lập kế hoạch đào tạo

    Để thiết kế chương trình và lập kế hoạch đào tạo, phải tiến hành theo các bước sau:

    2.3.1. Xác định các mục tiêu tổng quan và chuyên biệt của chương trình đào tạo

    Giai đoạn đầu tiên cần xác định các mục tiêu tổng quan của chương trình đào tạo. Những mục tiêu này được xác định trên cở sở phân tích các nhu cầu xã hội (của người học, của thị trường lao động) đối với một chương trình đào tạo (Nguyễn Đức Chính, 2008). Tiếp theo, các mục tiêu chuyên biệt gắn với từng môn học cấu thành chương trình đào tạo, cho phép thiết kế các chương trình đào tạo đa dạng phù hợp với nhiều đối tượng người học dù cùng thuộc một lĩnh vực hoạt động. Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Pháp bậc đại học, cần xác định các nhu cầu của xã hội và của người học đối với ngôn ngữ này (trong trao đổi khu vực và quốc tế, tuyển dụng hay trong giao tiếp hàng ngày, tiếng Pháp chuyên ngành sư phạm hay biên-phiên dịch…), từ đó xây dựng các mục tiêu tổng quan và chuyên biệt cho mỗi môn học hay cả một khoá đào

    72

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 3 – 9/2016

       

    tạo tiếng Pháp. Đây là những định hướng lớn để xác định các nội dung kiến thức, phương pháp tiến hành (tiếng Pháp thương mại, tiếng Pháp du lịch và nhà hàng, tiếng Pháp luật, tiếng Pháp tài chính-kế toán…) phục vụ hình thành và phát triển các kĩ năng nghề nghiệp ở người học. Trong nội dung chương trình đào tạo, luôn có những nội dung mở, thường xuyên được cập nhật và bổ sung theo sự phát triển của xã hội, của thị trường lao động trong quá trình chuẩn bị bài giảng và lên lớp của giảng viên.

    Trong đường hướng giảng dạy phát triển kĩ năng, người học phải xác định được trước các mục tiêu đào tạo. Do đó, sẽ là hợp lí nhất khi người học được tham dự vào quá trình xây dựng mục tiêu đào tạo của khoá học trong giai đoạn phân tích các nhu cầu của người học và nhà tuyển dụng đối với chương trình đào tạo. Các mục tiêu, nội dung, chương trình đã xây dựng được cụ thể hóa trong hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy và các phương pháp giảng dạy phù hợp trên lớp cho các đối tượng người học (các môn và phân môn, ứng với các học phần tính theo các đơn vị tín chỉ).

    Những mục tiêu đào tạo này sẽ giúp người xây dựng chương trình xác định được nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy và cách thức tiến hành kiểm tra-đánh giá trong và cuối quá trình đào tạo gắn với chuẩn đầu ra và quy định về nội dung kiến thức chuyên môn, kĩ năng thực hành, khả năng nhận thức và giải quyết vấn đề, công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp (Bộ Giáo dục-Đào tạo, 2010).

    2.3.2. Xây dựng thời gian biểu đào tạo

    Việc phân tích các mục tiêu tổng quan và chuyên biệt của một chương trình đào tạo sẽ cho phép chúng ta xác định các chủ điểm nội dung kiến thức và kĩ năng mà người học cần phải lĩnh hội trong khoá học. Vậy nếu khoá học nhằm phát triển nhiều kĩ năng thì nó cũng phải bao gồm nhiều hoạt động học tập, thực hành khác nhau. Việc tổ chức của khoá học phải được thực hiện thành nhiều giai đoạn nối tiếp, thường được chia thành các học phần khác nhau (chương trình đào tạo theo tín chỉ). Cần đảm bảo tính logic của chương trình môn học, kết thúc của học phần này là cơ sở cho phép người học bắt đầu một nội dung học tập tiếp theo. Trong cùng một giai đoạn đào tạo, các kiến thức và các kĩ năng cần lĩnh hội cũng phải

    NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI v

    đảm bảo tính liên tục, phát triển và có sự tương hỗ lẫn nhau.

    Cần phải nói thêm rằng, trong một chương trình đào tạo theo đường hướng phát triển kĩ năng, người ta phải dành nhiều thời gian cho phần thực hành, rèn kỹ năng hơn là giảng dạy lí thuyết. Nhìn chung, người ta chỉ dành khoảng 30% thời gian cho dạy lí thuyết và 70% cho phần thực hành, rèn và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho người học.

    2.3.3. Xác định mục tiêu đào tạo cho từng giai đoạn cụ thể

    Trong quá trình lập kế hoạch một khoá đào tạo, người xây dựng chương trình phải xác định rõ các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn đào tạo trong tổng thể khóa học. Chẳng hạn như Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, ở trình độ Bậc 3 xác định người học “…Có thể viết đoạn văn đơn giản liên quan đến các chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân quan tâm”. Mục tiêu đó được cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể trong phần dạy kĩ năng viết thư như khả năng nhận biết những nét khác biệt giữa các thể loại văn bản đơn giản (thư tín, bài thơ, bài báo, quảng cáo…) hay giữa một bức thư gửi bạn bè và một bức thư hành chính; sau đó có khả năng viết được một bức thư theo đúng hình thức và phong cách văn bản. Ứng với mỗi đơn vị học tập đều phải có ít nhất một mục tiêu cụ thể.

    Việc xác định được các mục tiêu chuyên biệt ở từng giai đoạn cho phép định hướng công tác kiểm tra-đánh giá vào đo chính xác mức độ thành thạo các kỹ năng thực hành giao tiếp ở người học.

    2.4. Áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực

    Chìa khoá thành công của phương pháp giảng dạy theo các kĩ năng là sự tham gia tích cực của người học. Để làm được điều đó, giảng viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực dựa trên hoạt động thực hành thao tác nhằm hình thành và phát triển kỹ năng thay vì những giờ dạy/học nặng tính lí thuyết (Trần Bá Hành, 2003). Giảng viên phải nắm vững các nguyên tắc và phương pháp giảng dạy để phát triển các kĩ năng ở người học thông qua việc huy động họ tham gia tích cực vào quá trình học tập. Như vậy, vai trò chính của người dạy là người thiết kế, tổ chức, hỗ trợ người học tiếp thu và làm chủ các kĩ năng nghề nghiệp.

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    73

    Số 3 – 9/2016

    • NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

    Các phương pháp giảng dạy rất đa dạng tuỳ theo các hoạt động nhằm phát triển một kĩ năng cụ thể nào đó. Đường hướng phát triển theo các kĩ năng ngôn ngữ cũng không loại trừ việc sử dụng các phương pháp truyền thống như học thuộc, làm bài tập viết tại lớp. Tuy nhiên, việc phát triển các kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ sẽ hiệu quả hơn nhiều nếu được thực hiên trên cơ sở thực hành giao tiếp trong các tình huống gần gũi với đời sống sinh hoạt và làm việc của người học cũng như thực tế xã hội. Và người dạy phải biết lựa chọn và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau theo dạng kĩ năng cần giảng dạy. Các phương pháp đó giúp người học vừa tiếp thu kiến thức, phát triển các kĩ năng mới, vừa củng cố kiến thức và kĩ năng đã học trước đó.

    Một phương pháp được khuyến khích theo đường hướng này là phân chia người học thành các nhóm kĩ năng hay còn gọi là nhóm hoạt động ngôn ngữ. Việc phân chia nhóm không dựa theo tiêu chí thời điểm bắt đầu học ngoại ngữ mà theo nhu cầu của họ đối với các kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ đó (Nghe, Đọc, Nói, Viết). Cách sắp xếp này đã tính đến sự khác biệt về trình độ ngôn ngữ nên cho phép người học có thể phát triển các kĩ năng giao tiếp cần tăng cường, hoàn thiện hơn. Đương nhiên, người học hoàn toàn có thể chuyển từ một nhóm kĩ năng này sang một nhóm khác tuỳ thuộc vào những tiến bộ cũng như nhu cầu của bản thân. Đây chính là bước đột phá của phương pháp giảng dạy theo các kĩ năng vì nó cho phép phân chia người học một cách hợp lí nhất theo bốn kĩ năng giao tiếp cơ bản. Như vậy, mỗi nhóm đều mang những nét đặc thù nên các hoạt động giao tiếp ngôn ngữ cho từng nhóm cũng phải mang tính chuyên biệt cao.

    2.5. Kiểm tra-đánh giá hướng vào kỹ năng

    Theo quan điểm giáo học pháp hiện đại như các tác giả Tardif (2006), Bourguignon (2007), công tác kiểm tra-đánh giá là một bộ phận không thể tách rời quá trình đào tạo. Mục tiêu của công tác này là đo được mức độ đạt được so với các mục tiêu đề ra đối với một học phần/khóa học. Hoạt động kiểm tra-đánh giá diễn ra từ trước (test diagnostique: kiểm tra chẩn đoán), trong (évaluation formative: đánh giá quá trình) và vào cuối quá trình đào tạo (évaluation normative: đánh giá tổng kết). Một bài kiểm tra-đánh giá được coi là “tốt”, “chuẩn” khi đáp ứng được các

    tiêu chí: khách quan, hiệu lực và tin cậy cao (Nguyễn Quang Thuấn, 2011).

    Trong giảng dạy ngoại ngữ cần tập trung đánh giá trình độ kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ của người học trong các hoàn cảnh giao tiếp đa dạng. Đây là những hoạt động ngôn ngữ có thể quan sát, đánh giá bằng những tiêu chí cụ thể trong thực tế giao tiếp (nội dung, logic, ngữ âm, ngữ điệu, từ vựng, ngữ pháp, chiến lược giao tiếp…). Có rất nhiều công cụ kiểm tra-đánh giá khác nhau phù hợp với từng kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết), cần lựa chọn, kết hợp linh hoạt các công cụ kiểm tra-đánh giá của người dạy.

    Phương pháp kiểm tra-đánh giá này đòi hỏi người học sử dụng tổng hợp, linh hoạt và sáng tạo các kiến thức đã học về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, khả năng tương tác bằng ngoại ngữ, kỹ năng ứng xử phù hợp với văn hóa đích… để thực hiện thành công một tình huống giao tiếp cụ thể bằng ngoại ngữ (đọc hiểu, nghe hiểu, diễn đạt viết hay nói, dịch viết, dịch nói…).

    Để đánh giá hiệu quả của một chương trình đào tạo, người ta chắc chắn cần phải đưa nó vào dạy thử nghiệm, phân tích các thông tin phản hồi từ các bên có liên quan (nhà tuyển dụng, người học, người dạy,…) (Scallon G., 2005). Ngoài ra, người ta cũng cần phải tính đến các điều kiện cho phép thực thi việc giảng dạy như đội ngũ giảng viên, giáo trình, trang thiết bị dạy học đi kèm… Một chương trình đào tạo được xây dựng trên những căn cứ khoa học như đã trình bày trên sẽ đáp ứng tốt các mục tiêu đào tạo đề ra và cho phép phát triển các kĩ năng nghề nghiệp ở người được đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

    3. KẾT LUẬN

    Đào tạo đại học chuẩn bị cho người học bước vào thị trường lao động bằng cách trang bị cho họ những kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp cần thiết liên quan đến các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp sau này. Đường hướng phát triển theo kĩ năng ra đời đáp ứng đòi hỏi về đổi mới phương pháp giảng dạy và thực hiện chức năng của đào tạo đại học nói chung. Để thích ứng với những yêu cầu đó, giảng dạy đại học đã, đang và tiếp tục có nhiều thay đổi về nội dung, chương trình, về vai trò của người dạy và người học trong lớp, về phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của CNTT, đổi mới công tác kiểm tra-đánh giá hướng vào các kỹ năng… Tất cả những thay đổi đó đều nhằm

    74

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 3 – 9/2016

       

    NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI v

    đến một mục tiêu là hình thành, phát triển các kĩ năng nghề nghiệp cần thiết cho người học, hành trang không thể thiếu để chinh phục thị trường lao động sau khi ra trường./.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Bộ Giáo dục-Đào tạo (2010), Hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo, Hà Nội.
    1. Nguyễn Đức Chính (2008), Thiết kế và đánh giá chương trình giáo dục, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
    1. Trần Bá Hành (2003), “Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực”, Tạp chí Giáo dục, Số 32.
    1. Nguyễn Kỳ (1996), Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, Trường Cán bộ quản lý giáo dục-đào tạo I.
    1. Scallon G. (2005), Approche par compétences et Évaluation, Montréal.
    1. Nguyễn Thanh Sơn (2014), “ Phát triển chương trình đào tạo đại học theo định hướng chuẩn đầu ra”, Bản tin Khoa học và Giáo dục.
    1. Nguyễn Quang Thuấn (2011), “Chuẩn đánh giá trong dạy và học ngoại ngữ”, Tạp chí Khoa học (2), Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.115-123.
    1. Romainville M. (2012), Approche par compétences à l’université, Cours de formation initiale à l’Université Saint-Joseph, Beyrouth.
    1. Tazek Ghazel (2012), Approche par compétences: définition et principes, In Tazek Ghazel.

    REQUIREMENTS FOR THE UNDERGRADUATE TEACHING

    UNDER THE SKILLS DEVELOPMENT APPROACH

    HOANG VAN TIEN

    Abstract: The skills development approach is born to meet rigorous and unstable requirements of the labor market. The undergraduate teaching has to renovate permanently content, programs and teaching methods to make students who have enought knowledge and professional skills when they have graduated.

    Keywords: programs, undergraduate teaching, skills development approach, skills, active teaching methods

    Ngày nhận: 05/9/2016

    Ngày phản biện: 08/9/2016

    Ngày duyệt đăng: 14/9/2016

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    75

    Số 3 – 9/2016


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

    Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

    Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/R%C3%A8n-luy%E1%BB%87n-k%E1%BB%B9-n%C4%83ng-l%C3%A0m-vi%E1%BB%87c-nh%C3%B3m-th%C3%B4ng-qua-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-thuy%E1%BA%BFt-tr%C3%ACnh-trong-gi%E1%BB%9D-h%E1%BB%8Dc-ngo%E1%BA%A1i-ng%E1%BB%AF-cho-h%E1%BB%8Dc-vi%C3%AAn-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-s%C4%A9-quan-c%E1%BA%A5p-ph%C3%A2n-%C4%91%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

    • PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

    RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG THUYẾT TRÌNH

     

    TRONG GIỜ HỌC NGOẠI NGỮ CHO HỌC VIÊN

     

    ĐÀO TẠO SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI

    Trung tá, TS. TRẦN THỊ MINH THỤC1

    Ngày nhận: 26/10/2016; Ngày hoàn thiện: 19/11/2016; Ngày duyệt đăng: 30/11/2016

    Phản biện khoa học: ThS. TRỊNH THỊ XOAN, ThS. BÙI PHƯƠNG LAN

    TÓM TẮT

    Kỹ năng làm việc nhóm là một trong những kỹ năng mềm cơ bản mà mỗi học viên trong các học viện, nhà trường quân đội cần được trang bị. Trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ, chúng tôi nhận thấy nhiều học viên chưa nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của kỹ năng làm việc nhóm trong học tập cũng như trong công tác sau này. Bài viết tập trung làm rõ những yêu cầu đối với học viên khi tham gia thực hiện bài tập nhóm dưới dạng bài thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ và đề xuất một số biện pháp giảng dạy và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm.

    Từ khoá: đánh giá, hoạt động thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, ngoại ngữ, nội dung biện pháp, yêu cầu.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Thuyết trình là ”trình bày bằng lời trước nhiều người về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe” (Dương

    Thị Liễu, 2011, tr.7). Đó là một trong những kỹ năng mềm cơ bản và quan trọng không thể thiếu đối với mỗi học viên, sinh viên trong các trường đại học. Có được bài thuyết trình thành công trước lớp sẽ giúp người học rèn luyện được khả năng trình bày trước đông người và phát triển được kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên, một điều tra của chúng tôi về việc rèn luyện kỹ năng mềm cho học viên tại một số học viện, nhà trường trong Quân đội đã cho thấy nhiều học viên

    còn thiếu và yếu các kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng thuyết trình.

    Trong giờ học ngoại ngữ, hoạt động thuyết trình là hoạt động do giáo viên tổ chức nhằm yêu cầu người học sử dụng khả năng giao tiếp để trình bày một vấn đề nào đó bằng tiếng nước ngoài trước lớp. Hoạt động thuyết trình có thể được tổ chức dưới dạng bài tập nhóm hay cá nhân, tuy nhiên hình thức nhóm được giảng viên ưu tiên sử dụng trong quá trình dạy học.

    Theo nghiên cứu của các nhà giáo học pháp, thực hiện một bài thuyết trình bằng ngoại ngữ có thể giúp học viên rèn luyện được các kỹ năng mềm khác, đặc biệt là các kỹ năng sau: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm

    16

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 4 – 11/2016

    việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin. Và ở mỗi kỹ năng đó lại có thể rèn được các kỹ năng mềm khác, do mỗi một kỹ năng không thể tồn tại độc lập mà có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu và đưa ra một vài biện pháp rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ ngoại ngữ cho học viên đào tạo sỹ quan cấp phân đội trong các học viện, nhà trường Quân đội.

    Như chúng ta đã biết, làm việc theo nhóm là phương pháp học tập, trong đó các thành viên cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để giải quyết một nội dung học tập cụ thể nhằm hướng đến một mục tiêu chung; sản phẩm của nhóm là sản phẩm trí tuệ tập thể.

    Trong bài viết của mình, Susan Verner (2015) cho rằng: ”Group work is just a natural part of language class. But group work is more than just a convenient activity for a language classroom. In fact, students receive many benefits from working in groups and pursue language fluency. Group work aids their language learning in many ways even when they may not realize what is happening” (Làm việc theo nhóm chỉ là một phần tự nhiên của lớp học ngoại ngữ. Nhưng làm việc theo nhóm không chỉ là một hoạt động thuận tiện cho lớp học ngoại ngữ. Thực ra, người học nhận được nhiều lợi ích từ việc làm việc theo nhóm và tăng cường sử dụng thành thạo thứ tiếng đó. Làm việc theo nhóm hỗ trợ việc học ngoại ngữ bằng nhiều cách mà thậm chí người học còn không nhận ra những cách đó).

    Học tập theo nhóm không những đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp học tập mà còn rất có ý nghĩa đối với việc tự học của từng học viên. Barbara Gross (1993, tr.147) cho rằng: ”Regardless of the subject matter, students working in small groups tend to learn more of what is taught and retain it longer than when the same content is presented in other instructional formats.” (Cho dù nội dung môn học như thế nào thì sinh viên làm việc theo từng nhóm nhỏ cũng có khuynh hướng học được nhiều hơn và nhớ lâu hơn so với các hình thức dạy học khác).

    2. VAI TRÒ CỦA KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM

    Các nhà giáo học pháp đều thống nhất rằng bài tập nhóm dưới dạng bài thuyết trình bằng ngoại ngữ

    PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v

    sẽ đem lại rất nhiều lợi ích nếu được tổ chức và điều khiển một cách hợp lý, khoa học. Cụ thể :

    • Tăng cường, củng cố và phát triển khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ do có sự trao đổi với các thành viên trong nhóm.
    • Góp phần xây dựng tinh thần đồng đội, mối quan hệ tương hỗ giữa các thành viên trong nhóm đồng thời tạo nên sự gắn kết trong nhóm nhằm hướng đến một mục tiêu chung. Trong quá trình làm việc nhóm, các mâu thuẫn sẽ nảy sinh đòi hỏi sự cố gắng của mỗi cá nhân cùng trí tuệ tập thể để giải quyết vấn đề.
    • Đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân, phù hợp với phương pháp giảng dạy hướng tới người học; khuyến khích tính độc lập tự chủ trong học tập. Ở giai đoạn chuẩn bị, nếu bài thuyết trình cá nhân mang đến rất ít cơ hội cho người học trao đổi với nhau thì bài thuyết trình theo nhóm mọi thành viên được tự do trình bày quan điểm của mình về chủ đề thảo luận, từ đó phát triển tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm.
    • Luôn có sự bàn bạc, tranh luận để tìm ra nội dung chính của bài dựa trên những nguồn thông tin mà mọi thành viên trong nhóm tìm hiểu. Vì vậy sản phẩm của nhóm là sản phẩm của trí tuệ tập thể, tập hợp sự sáng tạo của nhiều người nên rất phong phú, đa dạng và giàu tính sáng tạo. Từ đó giúp các thành viên hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn.
    • Tăng khả năng hòa nhập, có thêm tinh thần học hỏi, biết lắng nghe người khác cũng như khả năng phản biện thông qua phần trình bày của mình và sự phản hồi của những người xung quanh.
    • Tạo cơ hội cho mọi thành viên rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức, kỹ năng giải quyết vấn đề… Đây là những kỹ năng rất quan trọng, là tiền đề để học viên biết cách làm việc trong môi trường tập thể.

    Tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp học tập theo nhóm không đúng cách, không phù hợp với nội dung và thiếu kỹ năng thực hiện thì có thể chỉ mang tính hình thức, gây mất nhiều thời gian, sản phẩm không mang tính tập thể, các cá nhân thiếu tích cực sẽ ỷ lại, trông chờ vào những người năng nổ, nhiệt tình…

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    17

    Số 4 – 11/2016

    • PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

     

    3. YÊU CẦU CỦA KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM

    Đối với học viên, để đem lại hiệu quả cao cho bài tập nhóm dưới dạng bài tập thuyết trình, mỗi thành viên phải đảm bảo được các yêu cầu sau :

    • Tạo sự đồng thuận: Các buổi họp nhóm là cách thức hiệu quả để xây dựng tinh thần đồng đội và thói quen làm việc theo nhóm ngay từ lúc đầu mới lập nhóm. Để tạo sự đồng thuận, các vấn đề liên quan đến bài thuyết trình cần đem ra bàn bạc và đi đến thống nhất dựa trên sự nhất trí của các thành viên.
    • Chia sẻ và hợp tác với tinh thần đồng đội: Đây là một nguyên tắc quan trọng trong học tập nhóm. Vì học tập theo nhóm là sự tham gia của nhiều thành viên nhằm hướng tới mục tiêu chung trong học tập nên sự hợp tác và chia sẻ là không thể thiếu. Hơn nữa nếu làm việc đơn lẻ sẽ khó thực hiện tốt nhiệm vụ chung vì mỗi người chỉ mạnh về một khía cạnh nào đó của công việc chung. Vì thế hợp tác và chung sức sẽ tạo ra sức mạnh tập thể.
    • Tôn trọng: Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong học tập nhóm. Bởi vì nhóm là một tập thể và tập thể đó chỉ có thể tồn tại khi có sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên, tôn trọng nội quy của nhóm, từ đó xây dựng một bầu không khí cởi mở, thân thiện trong nhóm. Sự tôn trọng thể hiện ở sự chấp hành nội quy nhóm, chú ý lắng nghe khi người khác phát biểu ý kiến, tạo cơ hội và khuyến khích mọi người chia sẻ, ghi nhận, đánh giá đúng sự đóng góp của các thành viên.
    • Phát huy tốt vai trò của trưởng nhóm: Mỗi nhóm đều cần một nhóm trưởng giữ vai trò là người tổ chức và điều hành hoạt động của nhóm, là “cầu nối” giữa nhóm và phần còn lại của tổ chức, là người phát ngôn cho nhóm. Trưởng nhóm là người duy trì sự thực hiện mục tiêu và giữ cho mọi người đi đúng hướng, đem nguồn lực về cho nhóm khi cần thiết, khuyến khích mọi người và gỡ rối cho nhóm khi gặp vấn đề nan giải.
    • Phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý: Phân công nhiệm vụ là một việc làm không thể thiếu khi học tập theo nhóm. Khi phân công phải chú trọng phân công phù hợp với năng lực của từng thành viên vì mỗi cá nhân sẽ cống hiến hết mình nếu họ được đánh giá đúng năng lực, sử dụng đúng và được tin tưởng. Sự phân công rõ ràng trách nhiệm của từng thành viên sẽ là yếu tố quan trọng tạo nên thành công cho nhóm.

    Theo Aude Lauriaux, để phát huy được hiệu quả của bài thuyết trình bằng ngoại ngữ và đảm bảo mỗi học viên đều được trình bày trước lớp, giáo viên nên để học viên tự chọn thành viên cho nhóm của mình và mỗi nhóm không nên quá 4 người.

    Như chúng tôi đã phân tích ở trên, thực hiện bài tập nhóm dưới dạng bài thuyết trình bằng ngoại ngữ, ngoài việc nâng cao khả năng thực hành tiếng, học viên có thể được rèn luyện nhiều kỹ năng mềm khác và giúp học viên mạnh dạn, tự tin, có trách nhiệm hơn; tăng cường sự gắn kết các thành viên trong lớp, giúp học viên thu nhận và nắm vững kiến thức nhiều hơn so với làm bài thuyết trình cá nhân trong giờ ngoại ngữ. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy khá nhiều học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội không nhận thức được vai trò và ý nghĩa của phương pháp làm việc theo nhóm trong các giờ học ngoại ngữ nói chung và cho các bài thuyết trình nói riêng. Thực tế cho thấy, hiệu quả của hoạt động nhóm trong các bài thuyết trình bằng ngoại ngữ chưa cao, phần lớn hoạt động còn mang tính hình thức, chú trọng đến việc có sản phẩm để nộp cho giáo viên mà ít chú trọng đến quá trình hợp tác để tạo ra một bài thuyết trình hoàn hảo. Nhiều học viên còn thiếu kỹ năng làm việc nhóm và ý thức tham gia đóng góp ý kiến cho nội dung bài thuyết trình chưa cao, một số học viên còn mang tâm lý trông chờ, ỷ lại vào các bạn khá, giỏi của nhóm. Nhiều nhóm trưởng chưa phát huy hết vai trò của mình, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành và quản lý hoạt động của nhóm…

    4. BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM

    Để khắc phục tình trạng như hiện nay, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện các bài tập nhóm dưới dạng bài thuyết trình bằng ngoại ngữ theo nhóm của học viên đào tạo sỹ quan cấp phân đội Học viện, Nhà trường Quân đội :

    4.1. Đối với giảng viên

    Thường xuyên tự trau dồi kiến thức chuyên môn và kiến thức liên quan đến làm việc nhóm để đáp ứng nhu nhiều hơn cầu học tập ngày càng cao của học viên.

    Xây dựng các bài tập thuyết trình bằng ngoại ngữ theo nhóm phong phú và đa dạng với chủ đề phù

    18

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 4 – 11/2016

    hợp với lứa tuổi và trình độ của học viên để tạo hứng thú cho học viên làm bài tập.

    Tạo cho học viên cơ hội cộng tác và làm việc theo nhóm, giúp họ làm quen với việc hợp tác, việc tôn trọng quan điểm của nhau, biết cách thoả thuận để đạt được mục đích chung của bài thuyết trình bằng ngoại ngữ. Khi thuyết trình đảm bảo mỗi thành viên đều được trình bày phần của mình trước lớp.

    Trước khi giao bài thuyết trình cho học viên, giảng viên hướng dẫn các nguyên tắc làm việc theo nhóm cho học viên: Chia sẻ thông tin và tài liệu; thống nhất về phương thức thực hiện; tôn trọng và khích lệ nhau; cộng tác chứ không cạnh tranh.

    Giảng viên phổ biến cho trưởng các nhóm về nhiệm vụ và cách thức để thực hiện công việc trong từng giai đoạn của bài thuyết trình.

    Giảng viên phổ biến cách thức và nội dung sinh hoạt nhóm cho học viên. Trong mỗi buổi sinh hoạt nhóm, phân công công việc cụ thể cho từng thành viên của nhóm theo từng giai đoạn, đánh giá công việc của giai đoạn trước, những việc đã làm được và những việc chưa làm được; xác định, nội dung công việc cho giai đoạn sau; phân công người kiểm soát tiến trình thực hiện; xây dựng được cách thức phối hợp giữa các học viên.

    4.2. Đối với học viên

    4.2.1. Nâng cao nhận thức về làm việc nhóm cho học viên thông qua các bài thuyết trình bằng ngoại ngữ theo nhóm

    Thông qua bài thuyết trình bằng ngoại ngữ theo nhóm, giảng viên cung cấp cho học viên cơ sở lý luận về cách làm việc nhóm. Từ đó học viên có những hiểu biết đúng đắn và toàn diện về học nhóm. Điều này sẽ định hướng tốt cho những hoạt động học tập của học viên.

    Việc nâng cao nhận thức về làm việc nhóm cho học viên cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau: vai trò, ý nghĩa của việc làm bài thuyết trình theo nhóm; đặc điểm của việc học nhóm trong bài thuyết trình; nguyên tắc của học nhóm; các kỹ năng cần thiết trong làm việc nhóm và phương pháp tiến hành làm việc nhóm.

    PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v

    Các biện pháp nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng học tập theo nhóm cho học viên:

    • Ngoài việc tìm hiểu các thông tin liên quan đến chủ đề thuyết trình, học viên tích cực, chủ động tìm hiểu, trang bị các kiến thức về làm việc nhóm qua sách, báo, internet và các công trình nghiên cứu khoa học về học tập theo nhóm. Các công trình nghiên cứu khoa học là cung cấp từ cơ sở lý luận đến các giải pháp, biện pháp mang tính ứng dụng cao. Nếu học viên tiếp cận được với các sản phẩm nghiên cứu này có thể rút ngắn thời gian tìm kiếm và có thể tìm được những phương pháp làm việc phù hợp với bản thân và với nhóm của mình.
    • Học viên thường xuyên chủ động trao đổi với giáo viên về các vấn đề liên quan đến làm việc theo nhóm.
    • Mỗi tháng hoặc mỗi quý lớp học có thể tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về các chủ đề của bài thuyết trình bằng ngoại ngữ liên quan đến học tập nhóm có sự tham dự của giáo viên. Đây là cơ hội tốt để học viên thể hiện được những suy nghĩ, những hiểu biết, những quan điểm, những cách tiếp cận vấn đề và chia sẻ kinh nghiệm của bản thân giúp cho mỗi học viên có thể làm sáng rõ nhiều vấn đề, mở rộng tầm hiểu biết và học hỏi được nhiều kinh nghiệm. Giáo viên có thể can thiệp khi có những tranh luận giữa các học viên hoặc trả lời các câu hỏi, các thắc mắc của học viên liên quan đến thuyết trình theo nhóm mà tự các học viên không thể giải quyết được.
    • Tích cực tham gia các câu lạc bộ ngoại ngữ của học viện, nhà trường. Điều này giúp học viên vừa nâng cao trình độ ngoại ngữ vừa cải thiện được kỹ năng làm việc.

    4.2.2. Tăng cường rèn luyện các kỹ năng học tập theo nhóm thông qua hoạt động thuyết trình

    Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy nhiều học viên trong các học viện, nhà trường trong Quân đội còn thiếu và yếu về các kỹ năng học tập theo nhóm. Chính vì lý do này mà chúng tôi nhận thấy cần thiết phải xây dựng quy trình thực hiện các kỹ năng làm việc nhóm cho một bài thuyết trình bằng ngoại ngữ một cách cụ thể, khoa học và logic nhằm giúp cho học viên có định hướng rèn luyện các kỹ năng. Điều này sẽ giúp học viên tiết kiệm được thời gian, công sức và nâng cao chất lượng hiệu quả của bài

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    19

    Số 4 – 11/2016

    • PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

    thuyết trình nói chung và hiệu quả của việc học tập nhóm nói riêng.

    Để thực hiện tốt bài tập nhóm dưới dạng bài tập thuyết trình bằng ngoại ngữ, học viên cần xây dựng quy trình thực hiện các kỹ năng sau:

    • Lập kế hoạch hoạt động nhóm: Các thành viên của nhóm phải xác định được mục tiêu, nhiệm vụ các công việc cần thực hiện đối với bài thuyết trình bằng ngoại ngữ và yêu cầu cần đạt được của mỗi công việc; xác định quỹ thời gian mà nhóm có được dựa trên quy định của giảng viên; phân phối thời gian cho mỗi công việc và sắp xếp thứ tự thực hiện và kiểm tra lại mức độ khả thi của kế hoạch.
    • Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm: Việc phân công nhiệm vụ phải rõ ràng, hợp lý và cần đảm bảo các yêu cầu sau: phân chia công việc của nhóm thành từng phần việc nhỏ, xác định yêu cầu đối với từng phần việc; giao việc cho từng thành viên trong nhóm dựa trên tinh thần tự giác, tự nguyện kết hợp với sự phân công, chỉ định của nhóm trưởng theo năng lực, sở trường của từng thành viên; các thành viên cam kết thực hiện nhiệm vụ.
    • Thảo luận, trao đổi: Trong quá trình hoạt động nhóm, bao giờ cũng cần có sự trao đổi, bàn bạc, thảo luận. Tuy nhiên không phải học viên nào, nhóm học tập nào cũng thực hiện tốt kỹ năng này. Để việc thảo luận, trao đổi cho bài thuyết trình đạt hiệu quả, trước khi thảo luận, nhóm trưởng và các thành viên phải chuẩn bị kỹ nội dung thảo luận và phần việc đã được giao. Bắt đầu cuộc thảo luận, các thành viên cần ghi lại khái quát các vấn đề cần thảo luận. Trong khi thảo luận, các thành viên cần phải bám sát trọng tâm vấn đề đang cần bàn bạc, thảo luận; trình bày ý kiến rõ ràng, ngắn gọn. Đồng thời, mỗi người cần biết lắng nghe, nhận xét, bổ sung ý kiến cho các thành viên khác, đặt lại câu hỏi nếu thấy chưa rõ hoặc cần đi sâu thêm. Các cá nhân phải biết đưa ra những lý lẽ có căn cứ khoa học, xác đáng để bảo vệ ý kiến của mình; khuyến khích các bạn khác tranh luận, chỉnh sửa sản phẩm của mình. Người nhóm trưởng cần tóm tắt ý kiến thảo luận của nhóm để đi đến kết luận chung cần thiết.
    • Chia sẻ trách nhiệm: Mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm với kết quả chung của nhóm, không chỉ đặt lên vai một người (nhóm trưởng, hoặc chỉ

    một vài bạn có năng lực tốt ở trong nhóm). Điều này được biểu hiện bằng những hành động như: san sẻ công việc, tự nhận một phần công việc của nhóm và cố gắng hoàn thành tốt; tích cực trao đổi, thảo luận, nghiên cứu nhằm đưa đến một sản phẩm cuối cùng tốt nhất có thể của cả nhóm.

    • Chia sẻ thông tin: đây là một kỹ năng cần thiết, có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của học tập theo nhóm, bởi đã là một nhóm học tập thì các thành viên trong nhóm sẽ phụ thuộc vào thông tin của nhau để thực hiện phần việc của mình cũng như hoàn thành mục tiêu chung của nhóm. Vì vậy, khi có bất cứ một thông tin, một ý tưởng gì, mỗi thành viên đều cần chia sẻ với các thành viên khác. Việc chia sẻ thông tin có thể được thực hiện bằng các cách: trực tiếp trao đổi, chia sẻ phần tài liệu sưu tầm được hoặc phần ghi chép của cá nhân.
    • Giải quyết xung đột: Khi có xung đột xảy ra, các thành viên trong nhóm cần phải lắng nghe, tìm ra nguyên nhân của xung đột và giải quyết một cách triệt để. Trong khi giải quyết xung đột cần tuân thủ theo các nguyên tắc: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”; Không cằn nhằn, nói dài và cố chấp; Không hung dữ, áp chế hoặc làm mất mặt người khác; Không cố dành phần thắng; Cố gắng hiểu quan điểm của người khác; Không nhắc lại chuyện cũ, chỉ giải quyết xung đột hiện tại; Lắng nghe người khác; Cố gắng bình tĩnh, kiềm chế cảm xúc.

    4.2.3. Phát huy vai trò của cán bộ lớp và trưởng nhóm thuyết trình

    Phát huy vai trò của cán bộ lớp và nhóm trưởng nhằm giúp cho việc thiết kế nhóm, quản lý điều hành hoạt động nhóm khoa học, hiệu quả.

    • Phát huy vai trò của cán bộ lớp: Khi giao bài tập nhóm cho học viên, giáo viên dựa vào ý kiến tham mưu của cán bộ lớp để điều chỉnh thành viên của nhóm trên cơ sở nhóm do học viên tự lựa chọn, tham gia tự quản các buổi họp nhóm trên lớp. Vì vậy, cán bộ lớp cần phát huy hết vai trò của mình trong việc tham gia điều chỉnh nhóm học tập và hỗ trợ các nhóm trong thực hiện bài thuyết trình nhóm khi cần thiết.
    • Phát huy vai trò của nhóm trưởng: Để nhóm hoạt động có hiệu quả, trước tiên phải bầu nhóm trưởng, nên chọn một học viên có năng lực, năng động, linh

    20

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 4 – 11/2016

    hoạt. Nhóm trưởng cần ý thức rõ vai trò, quyền hạn và nhiệm vụ của mình, có tinh thần trách nhiệm với công việc, với nhóm của mình và thường xuyên tự trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng học tập theo nhóm cho bản thân. Để định hướng cho nhóm hoạt động và đảm bảo sự chủ động cho nhóm cũng như của các thành viên trong nhóm, nhóm trưởng phải lên kế hoạch hoạt động cụ thể cho nhóm và thông qua kế hoạch trong nhóm để tất cả mọi thành viên có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch. Nhóm trưởng không nên ôm đồm công việc, tạo tâm lý ỷ lại, dựa dẫm của các thành viên. Nhóm trưởng phải thường xuyên kiểm tra tiến độ thực hiện bài thuyết trình của các thành viên trong nhóm, hỗ trợ các thành viên khi cần thiết. Đồng thời nhóm trưởng cũng là người chịu trách nhiệm liên kết các thành viên trong nhóm, tạo bầu không khí làm việc nhóm đoàn kết, hợp tác và thân thiện.

    5. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM

    Để việc đánh giá kết quả hoạt động của nhóm được chính xác, công bằng và minh bạch, cần thực hiện đánh giá qua nhiều khâu, nhiều phần. Ngoài phần đánh giá của giảng viên nên có cả phần tự đánh giá của từng thành viên trong nhóm.

    5.1. Đánh giá của giảng viên

    Trong phần đánh giá bài thuyết trình, giảng viên cần có phần đánh giá kết quả hoạt động nhóm một cách rõ ràng, chính xác, công khai. Giảng viên cần tiến hành đánh giá bài thuyết trình nhóm khi học viên hoàn thành việc trình bày trước lớp và đánh giá cụ thể từng ưu – nhược điểm của từng nhóm rồi đưa ra kết luận chung về bài tập thuyết trình theo nhóm để học viên lĩnh hội. Đồng thời giảng viên cũng cần đánh giá hiệu quả của từng thành viên trong quá trình triển khai bài thuyết trình bằng ngoại ngữ. Điều này giúp học viên nắm vững hơn kiến thức đồng thời biết được ưu, nhược điểm của mình, tạo động lực để tất cả các thành viên đều phải thực hiện nhiệm vụ đã được phân công. Chúng tôi đề xuất cách tính điểm cho hoạt động nhóm của bài thuyết trình như sau:

    Cách 1: Giảng viên cho điểm từng học viên, căn cứ vào thái độ và kết quả công việc được giao và bảng đánh giá công việc của từng thành viên trong nhóm (đã được nhóm trưởng thông qua trong nhóm).

    PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v

    Cách 2: Học viên tự đánh giá và xác định điểm của từng thành viên. Để có điểm của cá nhân, mỗi thành viên trong nhóm sẽ tự đánh giá cho điểm bản thân và các thành viên trong nhóm. Căn cứ trên tổng số điểm của các thành viên, nhóm trưởng sẽ đưa ra kết quả cuối cùng của từng thành viên. Điểm cuối cùng của từng cá nhân là điểm trung bình cộng của điểm cá nhân và điểm của giáo viên đã được nhân đôi.

    Cách 3: Học viên tự đánh giá và xác định điểm cá nhân (như cách 2). Giảng viên lấy đó làm căn cứ tham khảo để chấm điểm cho từng thành viên của nhóm.

    5.2. Học viên tự đánh giá kết quả làm việc nhóm

    Tự kiểm tra, đánh giá hoạt động nhóm: được thể hiện thành các bước cơ bản như: Xác định các tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động của nhóm. Chẳng hạn: có chuẩn bị tài liệu cần thiết trước các buổi họp nhóm, phát biểu ý kiến thảo luận, chia sẻ, đóng góp, bổ sung cho các thành viên khác, chấp hành nghiêm túc nội quy của nhóm… ; Tiến hành đánh giá: nhóm trưởng cũng như các thành viên khác trong nhóm cần ngồi lại với nhau để tổng kết xem nhóm cũng như từng thành viên trong nhóm đã tiến hành hoạt động nhóm như thế nào, tiến độ thực hiện các công việc ra sao, ý thức tham gia của các thành viên cũng như việc chấp hành nội quy của nhóm như thế nào…; Đánh giá kết quả thu được so với tiêu chuẩn đã được đưa ra. Đối chiếu kết quả thu được so với chuẩn để xem cả nhóm cũng như từng thành viên trong khi hoạt động nhóm mạnh ở điểm gì (chẳng hạn như các thành viên đều tích cực phát biểu ý kiến, trao đổi, thảo luận…), còn hạn chế

    • điểm gì (chẳng hạn như một số thành viên còn vi phạm nội quy của nhóm, muộn giờ họp…), xác định xem những gì đã thực hiện tốt, chưa tốt, không tốt, không phù hợp; Điều chỉnh: bao gồm các hình thức: khuyến khích, phát huy những mặt tốt, uốn nắn, sửa chữa những mặt chưa tốt, còn thiếu sót, và xử lý những vi phạm. Hoạt động đánh giá này cần được diễn ra thường xuyên, có sự tham gia của tất cả các thành viên, đặc biệt là người trưởng nhóm, kết quả cuối cùng phải được thông báo với tất cả các thành viên trong nhóm. Nhóm trưởng tổng hợp nhận xét đánh giá của từng thành viên và nộp cho giáo viên. Nếu có yêu cầu của giáo viên, nhóm sẽ phải tự chấm điểm cá nhân cho mỗi thành viên (theo hướng dẫn của giáo viên).

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    21

    Số 4 – 11/2016

    • PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

    6. KẾT LUẬN

    Trên đây là một số yêu cầu và nội dung biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua hoạt động thuyết trình trong giờ học ngoại ngữ mà chúng tôi đã áp dụng cho học viên đào tạo sỹ quan cấp phân đội tại Học viện Khoa học Quân sự và bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ. Hy vọng, đây là sẽ là những gợi ý cho giáo viên và học viên trong việc giảng dạy và rèn luyện các kỹ năng mềm cơ bản đặc biệt là kỹ năng làm việc nhóm tại các học viện, nhà trường trong Quân đội./.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Trần Văn Ba và cộng sự (2011), Học tập theo nhóm trong sinh viên khoa Quản lý, Học viện Quản lý giáo dục: thực trạng và giải pháp, Đề tài NCKH cấp trường, Học viện Quản lý Giáo dục.
    1. Dương Thị Liễu (2011), Kỹ năng thuyết trình, NXB ĐH Kinh tế quốc dân.
    1. Aude Lauriaux (2016), Comment bien travailler en groupe dans une classe de langue, Le français dans le monde, No 384/2015, P57- 63.
    1. Barbara Gross Davis (1993), Tools for Teaching, Handbook, United States, tr147.
    1. Jenifer Gibb (2004), Generic skills in vocational education and training, National Centre for Vocation Education Rechearch Lt.
    1. Susan Verner (2015), Top 10 bennefits of group work for ESL class, Busy teacher, No 12/2015, P34 – 40.

    DEVELOPING TEAMWORK SKILLS FOR MILITARY CADETS THROUGH PRESENTATION ACTIVITIES DURING FOREIGN LANGUAGE LESSONS

    TRAN THI MINH THUC

    Abstract: Teamwork skill is one of important soft skills which need to be equipped to each student in the military institutes and universities. In foreign language teaching, we recognized that many students have been not aware of role and importance of teamwork skill in learning as well as in working in the future. This article focuses on requirements with students when doing a group presentation in the foreign language session. Meanwhile, the article also recommends several methods of teaching and training teamwork skill.

    Keywords: assessment, presentation activity, teamwork skill, foreign language, method contents, requirement.

     

    22

    KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ

    Số 4 – 11/2016


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

    THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

    THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-K%E1%BB%B8-N%C4%82NG-L%C3%80M-VI%E1%BB%86C-NH%C3%93M-TRONG-H%E1%BB%8CC-T%E1%BA%ACP-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-N%C4%82M-TH%E1%BB%A8-NH%E1%BA%A4T-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-%C4%90%E1%BA%A0I-H%E1%BB%8CC-H%E1%BB%92NG-%C4%90%E1%BB%A8C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    THỰC TRẠNG KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

    ThS. Nguyễn Thị Minh Hiền1

    TÓM TẮT

    Trường đại học Hồng Đức là một trường đại học đa ngành đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo thì mỗi giờ lên lớp của giảng viên phải là những giờ học có hiệu quả. Hình thức làm việc nhóm đang được các giảng viên vận dụng trong mỗi tiết dạy của mình. Với một hình thức học tập mang tính tập thể và tính hợp tác cao, mỗi sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết để có thể lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc. Tuy nhiên, trên thực tế sinh viên của trường Đại học Hồng Đức đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất còn lúng túng và chưa được trang bị các kỹ năng làm việc nhóm cần thiết.

    Từ khoá: Kỹ năng, rèn luyện kỹ năng, làm việc nhóm.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Hoạt động làm việc nhóm đang là xu thế chung của con nguời: từ hoạt động nhóm trong học tập đến nhóm nghiên cứu khoa học, nhóm kinh doanh, nhóm lao động. Để huy động đƣợc tối đa tiềm năng của nhóm, một trong những cách thức quản lý nhóm là nâng cao sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nhóm sinh viên, bởi ý nghĩa kép của nó. Tổ chức UNESCO đã nêu ra 3 nhóm tiềm năng mà nhà trƣờng cần phải tạo ra cho sinh viên sau khi tốt nghiệp trong thế kỷ XXI là: các tiềm năng để học tập – nghiên cứu, các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội, các kỹ năng làm việc nhóm. Trƣờng Đại học Hồng Đức là một trƣờng đại học đa ngành, đào tạo theo học chế tín chỉ. Chính vì vậy, để nâng cao chất lƣợng đào tạo thì mỗi giờ lên lớp của giảng viên phải là những giờ học có hiệu quả. Hình thức làm việc nhóm đang đƣợc các giảng viên vận dụng trong mỗi tiết dạy của mình. Với một hình thức học tập mang tính tập thể và tính hợp tác cao, mỗi sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết để có thể lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc. Tuy nhiên, trên thực tế sinh viên của trƣờng Đại học Hồng Đức đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất còn lúng túng và chƣa đƣợc trang bị những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết. Chính vì vậy việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên năm thứ nhất

    • trƣờng Đại học Hồng Đức là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lƣợng dạy học ở bậc học này.

    2.           KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên năm thứ nhất trƣờng ĐH Hồng Đức nhằm ba mục đích:

    • Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

    18

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    • Đánh giá nhận thức, thái độ của GV về kỹ năng làm việc nhóm, mức độ mà họ sử dụng nó trong thực tiễn.
    • Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hƣởng đến hiệu quả của các kỹ năng làm việc nhóm.
    • Các kết quả khảo sát sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên.

    Để thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp dự giờ quan sát hoạt động của GV và sinh viên của năm khoa: khoa Kinh tế quản trị kinh doanh, khoa Tâm lý – giáo dục, khoa Sƣ phạm mầm non, khoa Khoa học tự nhiên và khoa Khoa học xã hội. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi, tổng kết kinh nghiệm giáo dục. Số lƣợng điều tra cụ thể nhƣ sau:

    • Giảng viên : 56
    • Sinh viên: 140

    Qua xử lý phiếu điều tra đã cho thấy kết quả nhƣ sau:

    2.1. Nhận thức và thái độ của giảng viên về bản chất của quá trình làm việc nhóm

    Ý kiến của các GV về vấn đề này đƣợc thể hiện ở Bảng 1

    Bảng 1: Nhận thức của GV về bản chất của quá trình làm việc nhóm

    TT

    Nội dung của học tập theo nhóm

    SL

    Tỉ lệ (%)

    1

    Xếp chỗ ngồi cho SV cùng bàn để SV làm việc độc lập

    0

    0

    2

    Một SV học khá sau khi đã đƣợc GV hƣớng dẫn có nhiệm

    2

    3,6

    vụ giúp đỡ các SV khác.

    3

    SV trao đổi, thảo luận, giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm

    47

    83,9

    vụ học tập

    4

    SV liên kết và phối hợp hoạt động với nhau để thực hiện

    7

    12,5

    nhiệm vụ học tập chung của nhóm.

    Số liệu ở Bảng 1 cho thấy giảng viên đã có nhận thức tƣơng đối đúng về bản chất của quá trình làm việc nhóm trong học tập. Một số ít giảng viên quan niệm đơn giản là làm việc nhóm là xếp cho sinh viên ngồi cạnh nhau trong một không gian, hoặc một sinh viên khá sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ có trách nhiệm giúp đỡ sinh viên khác ít và hầu nhƣ không có. Tuy nhiên, đa phần GV chỉ dừng lại ở quan điểm truyền thống: Làm việc nhóm là quá trình SV trao đổi, thảo luận và giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Điều này là đúng nhƣng chƣa đủ. Theo quan điểm dạy học hiện đại thì làm việc nhóm phải tạo ra sự phụ thuộc tích cực buộc SV phải có sự liên kết và phối hợp hoạt động với nhau để thực hiện nhiệm vụ học tập chung trên cơ sở có sự tích cực,

    19

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    chủ động của mỗi thành viên. Số GV có quan niệm nhƣ vậy còn tƣơng đối ít. Thực trạng này cho thấy để đƣa hình thức làm việc nhóm vào dạy học và phát huy hết tác dụng của nó cần nâng cao hiểu biết của GV về bản chất của quá trình làm việc nhóm.

    * Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm.

    Đánh giá về hiệu quả mà các kỹ năng làm vệc nhóm mang lại, các GV ở trƣờng ĐH Hồng Đức cho rằng, các kỹ năng làm việc nhóm sẽ tạo điều kiện để hình thành các phẩm chất và năng lực sau đây cho sinh viên:

    Bảng 2: Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm

    TT

    Tầm quan trọng của việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm

    SL

    Tỉ lệ (%)

    1

    Làm tăng hiệu quả lĩnh hội kiến thức

    122

    87,54

    2

    Làm cho năng lực của SV bộc lộ và phát triển

    102

    72,35

    3

    Làm tăng động cơ học tập của mỗi cá nhân

    120

    86,23

    4

    Phát triển kỹ năng phân tích, tổng hợp

    87

    62,12

    5

    Phát triển kỹ năng sáng tạo

    94

    67,58

    6

    Phát triển kỹ năng giao tiếp

    125

    89,63

    7

    Phát triển tính chủ động, tự tin

    113

    81,27

    8

    Phát triển tinh thần trách nhiệm của cá nhân đối với tập thể

    104

    74,43

    9

    Học cách đƣơng đầu với nhƣng khó khăn để  thực hiện

    109

    78,36

    nhiệm vụ chung

    Ngoài ra một số GV còn cho rằng, kỹ năng làm việc nhóm sẽ góp phần nâng cao năng lực tự học, giúp cho SV hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức. Nhƣ vậy, nhìn chung GV đều đánh giá cao hiệu quả của các kỹ năng làm việc nhóm. Đây là điều kiện thuận lợi để rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho SV hiệu quả hơn.

    Bảng 3: Thái độ của GV đối với các kỹ năng làm việc nhóm cho SV

    Do nhận thức tƣơng đối đúng đắn và đầy đủ về nội dung, ý nghĩa của kỹ năng làm việc nhóm trong thực tiễn nên các GV rất ủng hộ cho việc trang bị các kỹ năng này trong quá trình thực tiễn dạy học trên lớp của SV.

    Mức độ

    Rất cần thiết

    Cần thiết

    Bình thƣờng

    Không cần thiết

    Số lƣợng

    127

    13

    0

    0

    Tỉ lệ (%)

    91

    9

    0

    0

    Các số liệu trên cho thấy, các GV rất nhiệt tình và tích cực hƣởng ứng việc trang bị và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho các em SV năm thứ nhất.

    2.2. Đánh giá thực trạng kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trƣờng ĐH Hồng Đức.

    20

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Sử dụng câu hỏi 4 trong phiếu điều tra. Cho điểm 1, 2, 3, 4, 5 là các mức độ đánh giá của GV về SV và SV cũng tự đánh giá kỹ năng hiện có của mình.

    (Mức độ 1: Thể hiện kém, mức độ 2: Thể hiện mức TB, mức độ 3: Thể hiện mức

    khá, mức độ 4: Thể hiện tốt, mức độ 5: Thể hiện rất tốt).

    Bảng 4: GV đánh giá kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của SV

    STT

    Mức độ

    1

    2

    3

    4

    5

    X

    TB

     

    Các KN

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    Kỹ năng diễn đạt,

     

    1

    trình bày một vấn

    6

    10,71

    9

    16,07

    26

    46,43

    8

    14,29

    7

    12,5

    3,02

    2

     

    đề

     

    Kỹ

    năng

    lắng

     

    2

    nghe,

    tiếp

    nhận

    5

    8,93

    9

    16,07

    22

    39,29

    11

    19,64

    9

    16,07

    3,18

    1

     

    thông tin

     

    3

    Kỹ năng phản hồi

    9

    16,07

    9

    16,07

    23

    42,7

    7

    12,5

    8

    14,29

    2,93

    5

     

    tích cực

     

    4

    Kỹ

    năng

    đánh

    8

    14,29

    7

    12,5

    24

    42,86

    9

    16,07

    8

    14,29

    3,04

    4

     

    giá, tự đánh giá

     

    5

    Kỹ năng làm việc

    4

    7,14

    13

    23,21

    22

    39,29

    9

    16,07

    8

    14,29

    3,07

    3

     

    độc lập

     

    6

    Kỹ năng sáng tạo

    6

    10,71

    7

    12,5

    29

    51,79

    6

    10,71

    8

    14,29

    3,05

    4

     

    Kỹ năng liên kết,

     

    7

    phối

    hợp

    các

    8

    14,29

    13

    23,21

    20

    35,71

    8

    14,29

    7

    12,5

    2,88

    6

     

    thành

    viên

    trong

     

    nhóm

     

    8

    Kỹ năng ra quyết

    6

    10,71

    8

    14,29

    26

    46,43

    7

    12,5

    9

    16,07

    3,09

    2

     

    định

     

    Bảng 5: SV tự đánh giá kỹ năng làm việc nhóm của chính bản thân mình

     

    STT

    Mức độ

    1

    2

    3

    4

    5

    X

    TB

    Các KN

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    1

    Kỹ  năng  diễn  đạt,

    21

    14,62

    45

    32,31

    44

    31,54

    21

    15,38

    9

    6,15

    2,66

    3

    trình bày một vấn đề

    2

    Kỹ năng lắng nghe,

    13

    9,23

    45

    32,31

    52

    36,92

    19

    13,85

    11

    7,69

    2,78

    2

    tiếp nhận thông tin

    3

    Kỹ năng phản  hồi

    27

    19,23

    52

    36,92

    40

    28,46

    13

    9,23

    8

    6,15

    2,46

    5

    tích cực

    21

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    4

    Kỹ năng đánh giá,

    22

    15,38

    48

    34,62

    47

    33,85

    13

    9,23

    10

    6,92

    2,58

    4

    tự đánh giá

    5

    Kỹ  năng  làm  việc

    10

    6,92

    45

    32,31

    48

    34,62

    25

    17,69

    12

    8,46

    2,88

    1

    độc lập

    6

    Kỹ năng sáng tạo

    27

    19,23

    52

    36,92

    41

    29,23

    12

    8,46

    8

    6,15

    2,45

    4

    Kỹ  năng  liên  kết,

    7

    phối hợp các thành

    34

    24,62

    55

    39,23

    34

    24,62

    10

    6,92

    7

    4,62

    2,28

    7

    viên trong nhóm

    8

    Kỹ  năng  ra  quyết

    19

    13,85

    48

    34,62

    40

    30,77

    18

    12,85

    12

    8,57

    2,42

    6

    định

    Ý kiến đánh giá của GV

    Kết quả điều tra ở Bảng 4 và qua trò chuyện với một số GV dạy các khoa ở các học phần và quan sát biểu hiện của SV trong quá trình làm việc nhóm trong các giờ học cho thấy:

    Chủ yếu SV thể hiện kỹ năng làm việc nhóm ở mức độ khá, tỉ lệ GV đánh giá là hơn 40% . Tỉ lệ đánh giá cao nhất ở mức độ khá là 51,79% ở kỹ năng sáng tạo và thấp nhất là kỹ năng liên kết, phối hợp các thành viên trong nhóm ở mức độ khá là 35,71% đƣợc GV đánh giá.

    SV thể hiện kỹ năng làm việc nhóm ở mức độ tốt và rất tốt đạt đƣợc ở tất cả các kỹ năng nhƣng chiếm tỉ lệ không cao.

    Vẫn còn một số sinh viên có kỹ năng làm việc nhóm ở mức độ kém. Thấp nhất là kỹ năng phản hồi tích cực có 16,07% GV đánh giá, kỹ năng tổ chức, phối hợp các thành viên trong nhóm ở mức thể hiện kém có 14,29 % GV đánh giá.

    Ý kiến đánh giá của SV

    Kết quả ở Bảng 5 cho thấy, SV tự đánh giá các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của mình ở mức độ khác nhau. Vì là sinh viên năm thứ nhất nên SV đánh giá kỹ năng ở mức cao nhất với điểm trung bình là 2,88 (chƣa đạt đến mức độ khá) là kỹ năng làm việc độc lập với mức thể hiện tốt và rất tốt là 37 SV. Tỉ lệ SV biểu hiện trung bình là 32,31%, kém là 6,92 %. Tiếp đó, là kỹ năng lắng nghe, tiếp nhận thông tin với điểm trung bình là 2,46 và tỉ lệ SV trung bình là 32,31%, kém là 9,23%.

    Kỹ năng phản hồi tích cực với điểm trung bình là 2,46. Thấp nhất là kỹ năng tổ chức, phối hợp các thành viên trong nhóm với điểm trung bình là 2,28.

    22

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    2.3. Các nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm

    Để tìm hiểu nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm, chúng tôi đã sử dụng phƣơng pháp điều tra và phỏng vấn trực tiếp các GV. Kết quả đƣợc thể hiện ở Bảng 6.

    Bảng 6: Các nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm của SV

    TT

    Nguyên nhân

    SL

    Tỉ lệ (%)

    1

    Do cơ sở vật chất không đầy đủ

    45

    80,4

    2

    Số lƣợng SV trong lớp quá đông

    50

    89,3

    3

    Nội dung học phần khó có thể tổ chức giờ thảo luận nhóm.

    32

    57,1

    4

    Năng lực sƣ phạm của GV còn yếu

    25

    44,6

    5

    SV chƣa có kỹ năng làm việc nhóm

    51

    91,1

    6

    Chƣa có 1 quy trình tổ chức làm việc nhóm hợp lý

    52

    92,9

    7

    Không đủ thời gian cho phép

    12

    21,4

    8

    Các nguyên nhân khác

    5

    8,9

    Chúng tôi chia ra hai nhóm nguyên nhân chủ yếu

    • Nguyên nhân chủ quan

    Số liệu ở Bảng 6 cho thấy, nguyên nhân cơ bản nhất ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm trong học tập của SV là do năng lực sƣ phạm của GV còn non yếu chiếm 44,6%. Đây chính là một sự thật khách quan mà GV cần nhìn vào để khắc phục hạn chế. Phải chăng GV cũng đang còn cảm thấy chƣa hài lòng, chƣa tự tin khi tổ chức mỗi giờ làm việc nhóm cho SV mà khiến cho SV cảm thấy thực sự hứng thú và bổ ích. Một số GV chƣa biết cách hƣớng dẫn và điều khiển cho SV làm việc nhóm có hiệu quả trong các tiết dạy. Một số GV sau khi giao nhiệm vụ cho SV thì phó mặc cho họ tự làm việc nhóm và nhƣ vậy giờ học trôi qua một cách lãng phí và SV cũng chẳng thu đƣợc mấy kiến thức trong giờ làm việc nhóm này.

    Nguyên nhân chủ quan thứ hai thuộc về SV. Tỉ lệ đánh giá của GV đối với nguyên nhân này là cao nhất chiếm 91,1%. Lao động tập thể đòi hỏi SV phải biết cách phối hợp và liên kết hoạt động với nhau, hay nói cách khác SV phải có kỹ năng làm việc nhóm. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy kỹ năng này đƣợc thể hiện chƣa tốt. SV lúng túng khi phân chia các công việc cho từng thành viên, SV chƣa có khả năng điều phối quá trình làm việc nhóm có hiệu quả. Một bộ phận không nhỏ SV ỉ lại, thu động, không tự tin nên dẫn đến quá trình làm việc nhóm chỉ tập trung ở một số SV khá, giỏi. Kết quả là không khách quan khi cho điểm từng nhóm. Đây cũng chính là hạn chế của hình thức làm việc nhóm ở trƣờng đại học.

    23

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    • Nguyên nhân khách quan

    Chiếm vị trí đầu tiên trong nguyên nhân khách quan đó là do chƣa có một quy trình rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm hợp lý. Nguyên nhân này đứng đầu tiên với tỉ lệ là 92,9%. Đây là điều dễ hiểu vì sao chất lƣợng các giờ làm việc nhóm chƣa cao, sinh viên còn lúng túng về các kỹ năng làm việc nhóm. Tiếp đến là nguyên nhân là do số lƣợng sinh viên trong lớp học quá đông, tỉ lệ này chiếm 89,3%. Đây chính là hạn chế thƣờng thấy của một giờ thảo luận. Thông thƣờng, để thảo luận hiệu quả GV có thể chia thành các nhóm nhỏ từ 6 – 8 SV một nhóm. Nhƣng do số lƣợng sinh viên quá đông nên GV phải chia thành các nhóm lớn từ 10 -12 em SV trên một nhóm. Bên cạnh đó phòng học cũng nhỏ hẹp nên việc kê bàn ghế, xếp chỗ ngồi cho sinh viên thảo luận “mặt đối mặt” cũng là vấn đề mà nhiều GV quan tâm và chia sẻ. Tiếp theo là do nội dung môn học khó có thể tổ chức giờ thảo luận. Không phải môn học nào, chƣơng bài nào cũng có thể tổ chức tốt giờ làm việc nhóm. Có những môn học mà GV cho rằng, rất khó để xây dựng giờ làm việc nhóm hiệu quả cho các em.

    Tóm lại, có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả của quá trình rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của SV. Để khắc phục những nguyên nhân này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và toàn diện.

    Từ sự phân tích những kết quả điều tra, khảo sát chúng tôi rút ra một số kết luận về chƣơng 1 nhƣ sau:

    • Đa số giảng viên đã có nhận thức tƣơng đối chính xác về bản chất cũng nhƣ ý nghĩa, sự cần thiết của việc trang bị các kỹ năng làm việc nhóm trong học tập cho sinh viên năm thứ nhất.
    • Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hƣởng đến quá trình làm việc nhóm, tuy nhiên nguyên nhân cơ bản nhất theo chúng tôi là chƣa có một quy trình hợp lý để tổ chức cho sinh viên làm việc nhóm. Đây là vấn đề cơ bản cần giải quyết trong đề tài.

     

    3. KẾT LUẬN

    Để trang bị các kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên trong học tập đòi hỏi mỗi giảng viên phải có nhận thức đúng đắn về học tập theo nhóm, vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên. Dạy các kỹ năng làm việc nhóm trở thành điều kiện tiên quyết đối với hoạt động lĩnh hội tri thức. Khi sinh viên biết phối hợp hoạt động với ngƣời khác một cách có hiệu quả thì kết quả lĩnh hội tri thức của các em sẽ đƣợc nâng lên rõ rệt. Từ đó mỗi giáo viên phải có những biện pháp cụ thể, tạo môi trƣờng học tập thuận lợi cho sinh viên rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm. Và một điều quan trọng là mỗi giảng viên phải xác định đây là nhiệm vụ quan trọng cần đạt đƣợc trong quá trình dạy học ở nhà trƣờng đại học.

    24

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức (2000), Hoạt động dạy học ở trƣờng THCS- NXB Giáo dục. Hà Nội.
    1. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê (1996), Giáo dục học, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
    1. Nguyễn Kì (1996), Phƣơng pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm, NXB Giáo dục.
    1. A. Leccne (1987), Dạy học nêu vấn đề. NXB Giáo dục Hà Nội.

    REALITY OF TRAINING TEAMWORK SKILLS FOR FIRST-YEAR STUDENTS AT HONG DUC UNIVERSITY

    Nguyen Thi Minh Hien

    ABSTRACT

    Hong Duc University is a multidisciplinary institution with semester-based Credit Training System. In order to improve the training quality, each lesson in class must be effective one. Teamwork activities are widely and frequently used by teachers at Hong Duc University. Taking part in an activity requiring high cooperation, students need to equip themselves with necessary teamwork skills. However, in fact, students of Hong Duc University, especially 1st –year students, have not had such necessary skills in doing teamwork activities.

    Keywords: skills, skill development, groupwork.

    Ngƣời phản biện: PGS.TS. Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 12/5/2013; Ngày

    thông qua phản biện: 12/6/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 8 CÁCH QUẢN LÍ NHÂN VIÊN HIỆU QUẢ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-GI%C3%81O-D%E1%BB%A4C-H%C3%80NH-VI-V%C4%82N-H%C3%93A-TRONG-GIAO-TI%E1%BA%BEP-%E1%BB%A8NG-X%E1%BB%AC-CHO-TR%E1%BA%BA-6-11-tu%E1%BB%95i-TRONG-GIA-%C4%90%C3%8CNH-HI%E1%BB%86N-NAY.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    ThS. NguyÔn Ph-¬ng Lan1

    TÓM TẮT

    Giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ 6 – 11 tuổi là vô cùng quan trọng và cần thiết vì đây là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành phát triển toàn diện và bền vững nhân cách của mỗi cá nhân. Cùng với nhà trường và xã hội, gia đình cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ để giúp nhân cách các em phát triển. Thường xuyên tổ chức các hoạt động, rèn luyện hành vi và thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình trẻ sẽ lĩnh hội được các chuẩn mực hành vi và có thói quen hành vi đúng đắn.

    Từ khóa: Biện pháp, trẻ, giáo dục, hành vi văn hoá, thói quen hành vi văn hóa.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Lứa tuổi tiểu học là giai đoạn đầu của tuổi học sinh, là thời kỳ thuận lợi nhất cho việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, bởi lẽ các phẩm chất nhân cách của cá nhân đều đƣợc hình thành từ khi còn nhỏ và đây chính là cơ sở đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành phát triển toàn diện và bền vững nhân cách của mỗi cá nhân. Cùng với nhà trƣờng và xã hội, gia đình có trách nhiệm chăm lo tới giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Tuy nhiên, trong thực tiễn việc hình thành thói quen nề nếp, lối sống có văn hoá cho trẻ không phải lúc nào cũng đạt đƣợc nhƣ mong muốn của nhà giáo dục. Vì nƣớc ta đang đổi mới từng ngày dƣới tác động của nền kinh tế thị trƣờng, hàng loạt các chính sách mở của đang đƣợc thực hiện với mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh nhƣ vậy, chúng ta chịu sự tác động của thời đại trong sự hòa nhập với nền văn minh nhân loại, nó sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến các định hƣớng giá trị của chúng ta. Do đó, quan tâm đến việc vun đắp, giáo dục hành vi văn hóa trong giao tiếp ứng xử cho trẻ nhất là ở lứa tuổi tiểu học ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng, đây là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.

    2. THỰC TRẠNG

    Để xác định các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình, chúng tôi đã tiến hành điều tra 88 phụ huynh (44 nam và 44 nữ) trên địa bàn thành phố Thanh Hoá.

    Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về giáo dục HVVH trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình.

    • Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

    26

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Giới tính

    Tổng

    TT

    Mức độ cần thiết

    Nam

    Nữ

    SLYK

    ( %)

    SLYK

    (%)

    SLYK

    (%)

    1

    Rất cần thiết

    23

    52

    24

    54,5

    47

    53,4

    2

    Cần thiết

    18

    41

    19

    43,2

    37

    42,1

    3

    Bình thƣờng

    3

    7

    1

    2,3

    4

    4,5

    4

    Không cần thiết

    0

    0

    0

    0

    0

    Qua bảng số liệu cho thấy: Số lƣợng ý kiến của các bậc cha mẹ cho rằng việc giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình là “rất cần thiết” chiếm tỉ lệ cao nhất (53,4% tổng số ý kiến trả lời), số ý kiến trả lời “cần thiết” chiếm 42,1% và số ý kiến cho rằng công việc này bình thƣờng chiếm tỉ lệ rất ít 4,5% và không có ý kiến nào cho rằng, công việc này là không cần thiết. Nhƣ vậy, hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hình thành thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử văn hoá cho con trong độ tuổi này. Một số ít cha mẹ trả lời bình thƣờng là do họ chƣa thực sự quan tâm đến việc giáo dục, uốn nắn con cái trong độ tuổi này và họ quá đề cao đời sống vật chất, ít chú ý tới đời sống tinh thần của trẻ.

    Để hiểu rõ hơn sự quan tâm của các bậc cha mẹ đối việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hƣởng, thời gian cha mẹ dành cho con cái…

    Bảng 2: Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục trong gia đình của các bậc cha mẹ.

    Giới tính

    Tổng

     

    TT

    Biện pháp giáo dục

    Nam

    Nữ

     
     

    ĐTB

    ĐTB

    ĐTB

     
     

    2.1

    Khuyên bảo, giảng giải, nhắc nhở

    2,80

    2,85

    2,82

     
     

    2.2

    Khen thƣởng, động viên, khích lệ

    2,86

    2,85

    2,85

     
     

    2.3

    Nghiêm khắc, trách phạt, kỷ luật

    2,59

    2,48

    2,54

     
     

    2.4

    Nói qua loa

    1,24

    1,28

    1,26

     
     

    2.5

    Mắng chửi thậm tệ

    1,19

    1,20

    1,20

     
     

    2.6

    Tổ chức các cuộc thảo luận trong gia đình

    2,55

    2,39

    2,47

     
     

    2.7

    Giúp các con biết cách xử lí các tình huống

    2,6

    2,39

    2,5

     

    ứng xử với bản thân và mọi ngƣời

     
     

    2.8

    Cha mẹ làm gƣơng cho con

    2,82

    2,85

    2,83

     
     

    2.9

    Giao công việc và kiểm tra hàng ngày

    2,6

    2,71

    2,65

     
     

    2.10

    Tuỳ theo sở thích của trẻ để trẻ tự do

    1,42

    1,51

    1,46

     
     

    27

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Qua kết quả ở Bảng 2, chúng tôi có một số nhận xét sau: Các biện pháp: 2.1; 2.2; 2.3; 2.4; 2.5; 2.6; 2.7; 2.8; 2.9 có ĐTB từ 2,21 đến 2,86 chứng tỏ cha mẹ đã chú ý sử dụng ở mức độ thƣờng xuyên.

    Biện pháp mà các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhất là biện pháp “Khen thƣởng, động viên, khích lệ” và biện pháp “Cha mẹ làm gƣơng cho con” có ĐTB đạt 2,85. Trong độ tuổi này trẻ chƣa có khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá các hành động, hành vi của bản thân và ngƣời lớn, trẻ thiên về bắt chƣớc và làm theo. Do đó, cha mẹ luôn uốn nắn mình, làm gƣơng cho con cái là rất cần thiết. Việc cha mẹ sử dụng các biện pháp này thƣờng xuyên chứng tỏ họ đã ý thức đƣợc tính chất giáo dục bằng sự làm gƣơng trong gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đến trẻ và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. Khen thƣởng, động viên khuyến khích là biện pháp uốn nắn hành vi của trẻ, giúp trẻ phân biệt cái tốt, cái xấu, cái đƣợc phép và không đƣợc phép rất hiệu quả. Còn biện pháp “mắng chửi thậm tệ” các bậc cha mẹ không hoặc rất ít sử dụng. ĐTB chỉ 1.20 thấp nhất chứng tỏ các bậc cha mẹ không sử dụng hoặc rất ít khi sử dụng. Các bậc cha mẹ nhận thức rất rõ nếu thƣờng xuyên chửi mắng con sẽ làm trẻ bị tổn thƣơng về mặt tinh thần và làm cho trẻ trở nên bƣớng bỉnh hơn, chống đối, cãi lại cha mẹ và ảnh hƣởng đến cách cƣ xử của trẻ với mọi ngƣời…

    Từ kết quả điều tra thực trạng cùng với quan sát cuộc sống của một số gia đình, phỏng vấn cha mẹ có con trong độ tuổi, nghiên cứu, trao đổi với các chuyên gia về giáo dục gia đình, các giảng viên ở trƣờng ĐH… Chúng tôi rút ra một số nhận xét về về hành vi văn hoá của trẻ 6-11 tuổi trong gia đình nhƣ sau:

    Phần lớn trẻ đã bắt đầu nhận thức đƣợc những yêu cầu cần phải thực hiện theo đúng chuẩn mực, nhƣng đó chỉ là những hành vi đơn giản và mang tính bắt buộc cao. Các bậc cha mẹ đã nhận thức đƣợc sự cần thiết phải hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp tốt trong gia đình. Họ đã tích cực tổ chức cuộc sống nề nếp ngăn nắp và tạo cho các em những mối quan hệ trong gia đình theo yêu cầu chuẩn mực văn hoá, đạo đức xã hội. Nhiều bậc bậc cha mẹ ý thức rất rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Họ đã áp dụng tốt những mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em độ tuổi tiểu học… Nhƣng nhìn chung, các bậc cha mẹ tập chung đầu tƣ nhiều cho con học tốt các môn văn hoá, mong muốn con đỗ đạt cao còn vấn đề giáo dục đạo đức lối sống, quan hệ ứng xử hàng ngày cho trẻ còn coi nhẹ và còn lúng túng trong việc xử dụng các biện pháp giáo dục con trong gia đình.

    Một trong những vấn đề mà các bậc cha mẹ còn hạn chế trong giáo dục trẻ hiện nay là:

    • Họ tạo mọi điều kiện vật chất tốt nhất cho cuộc sống, sinh hoạt của con nhƣng chƣa có sự theo dõi, kiểm soát chặt chẽ. Hình thức này thƣờng gặp ở các gia đình kinh doanh, buôn bán hoặc ở những gia đình bố mẹ làm ở các công ty lớn yêu cầu công việc cao.

    28

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    • Nhiều cha mẹ giáo dục con theo kiểu hình thức, tự nhiên, khi con bắt đầu có những biểu hiện hành vi sai lệch mới vội vàng tìm cách ngăn ngừa.
    • Một bộ phận cha mẹ quá đề cao giáo dục nhà trƣờng, gần nhƣ khoán trắng con cho nhà trƣờng còn sự theo dõi của gia đình chỉ là thứ yếu…

    Sở dĩ các bậc cha mẹ còn tồn tại những vấn đề trên là do ảnh hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng, chính sách mở cửa giao lƣu kinh tế, văn hoá trong giai đoạn hiện nay đã có những tác động đến nhận thức và hành vi của trẻ, cũng nhƣ của cha mẹ học sinh. Thời gian dành cho trẻ quá ít nên việc rèn luyện, hƣớng dẫn cho con không thƣờng xuyên trong khi đó hàng ngày, hàng giờ có nhiều hành vi, lối sống từ bên ngoài tác động vào trẻ làm cho các em bắt chƣớc và thay đổi hành vi của mình. Phần lớn các cha mẹ kiến thức hiểu biết về tâm sinh lí của con chƣa đầy đủ nên cách giáo dục con còn áp đặt, phiến diện một chiều, nhiều cha mẹ đặt lợi ích của bản thân nhiều hơn là mong muốn phát triển con cái theo đúng nhu cầu và sự phát triển của trẻ. Trong khi đó, sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và các tổ chức xã hội chƣa thực sự có sự thống nhất chặt chẽ.

    3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HOÁ CHO TRẺ TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

    Để xác định biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, chúng tôi dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục, xuất phát từ cơ sở lí luận tâm lí, ý thức, nhân cách đƣợc hình thành và phát triển thông qua hoạt động, từ kết quả thực tiễn nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp nhƣ sau:

    3.1. Xây dựng ý thức hành vi văn hoá cho trẻ thông qua việc bồi dưỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình nói chung và nâng cao nhận thức cho cha mẹ về nhiệm vụ, vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Bồi dƣỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình cho các bậc cha mẹ để họ nắm đƣợc một số kiến thức cơ bản nhất trong giáo dục con cái. Biết cách xây dựng chƣơng trình, kế hoạch và nội dung giáo dục con cái phù hợp với từng độ tuổi.

    Yêu cầu

    Các kiến thức đƣa ra, cha mẹ có thể hiểu và áp dụng trong giáo dục con cái mọi nơi, mọi tình huống ở gia đình. Các bậc cha mẹ nhận thức đúng đắn trách nhiệm của mình trong giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Nhận thức đƣợc sự cần thiết, cũng nhƣ tầm quan trọng của việc dạy dỗ, giáo dục con cái…

    Mục tiêu nội dung giáo dục phù hợp với sự phát triển chung của lứa tuổi, mục tiêu của giáo dục tiểu học.

    29

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Cách thức tổ chức

    Các kiến thức về giáo dục trẻ em trong gia đình có thể chuyển tải đến cha mẹ dƣới các hình thức: Tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện, trao đổi và phổ biến các kinh nghiệm giáo dục gia đình cho các bậc cha mẹ. Các đối tƣợng tham gia tuyên truyền và tổ chức có: Nhà trƣờng, Hội phụ nữ xã, phƣờng, thành phố, các tổ chức xã hội khác…

    Các buổi hội thảo, tuyên truyền, tập huấn, tập trung vào các nội dung:

    • Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giáo dục gia đình, các điều kiện cần thiết cho giáo dục gia đình, những nội dung cơ bản của giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, một số phƣơng pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình.
    • Giáo dục cho trẻ biết cách quan tâm đến mọi ngƣời, phát triển tính độc lập, tự chủ và kỹ năng khắc phục khó khăn để vƣơn lên hoàn thiện nhân cách.
    • Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ vì cái đẹp tồn tại trong hành vi văn hoá của con ngƣời…
    • Cung cấp một số kiến thức về sự phát triển tâm sinh lí trẻ em ở từng độ tuổi để cha mẹ thực sự hiểu trẻ.
    • Các kiến thức về khoa học giáo dục con cái có thể cung cấp đến cha mẹ thông qua các kênh thông tin: Truyền hình, internet, sách, báo… Xây dựng giáo trình, tài liệu về giáo dục gia đình có thể cung cấp cho các bậc cha mẹ tham khảo và vận dụng.
    • Cung cấp cho các gia đình nội dung giáo dục hành vi văn hoá, những chuẩn mực hành vi chung.

    Công tác tuyên truyền giáo dục này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, định kỳ theo quy định của xã, phƣờng nhân ngày 8/3; ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm.

    3.2. Cha mẹ tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình, để giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn mực hành vi văn hoá theo yêu cầu.

    Hoạt động, giao lƣu là con đƣờng cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời. Qua hoạt động, giao lƣu trẻ biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của bản thân và phát triển năng lực tinh thần và biểu hiện các hành vi ra bên ngoài.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Qua tổ chức các hoạt động cho trẻ, giúp các em biết xác định mục tiêu, kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập và rèn luyện mà gia đình đã vạch ra.

    Cha mẹ cần bám sát cuộc sống của trẻ để phát hiện ra những hành động, thói quen sinh hoạt của trẻ, trên cơ sở đó thiết kế và tổ chức lại các hoạt động của trẻ cho phù hợp với chuẩn mực hành vi văn hoá.

    Trẻ tích cực tham gia, thực hiện tốt các loại hình hoạt động giúp trẻ có đƣợc những tri thức về kỹ năng, thao tác thực hành. Đồng thời giúp trẻ hiểu thêm các chuẩn mực hành vi văn hoá, hình thành năng lực định hƣớng giá trị trong cuộc sống, biết phân biệt cái đúng –

    30

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    cái sai, cái thiện – cái ác… bồi dƣỡng cho trẻ những cảm xúc, tình cảm tích cực. Xây dựng những nề nếp, thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi trong sinh hoạt hàng ngày.

    Yêu cầu

    Các hoạt động phải tạo đƣợc hứng thú, hấp dẫn và cha mẹ cần phải tổ chức phối

    kết hợp nhiều loại hình hoạt động nhƣ giải trí, lao động, học tập…

    Các hoạt động phải mang tính sáng tạo, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí lứa

    tuổi các em…

    Cách thức tổ chức

    Khi tổ chức thực hiện các hoạt động cho con cái trong gia đình đạt kết quả cao, cha mẹ cần nắm rõ quy trình giáo dục HVVH cho trẻ:

    • Cha mẹ cung cấp cho trẻ những biểu tƣợng về HVVH bằng cách sử dụng hình thức kể chuyện, hƣớng dẫn, quan sát và tổ chức đàm thoại trong gia đình

    Biểu diễn HVVH mẫu và tổ chức cho trẻ làm theo mẫu hành vi.

    Ví dụ: Chuẩn mực HVVH thể hiện sự chăm sóc ông bà, cha mẹ bao gồm những việc cụ thể:

    • Hàng ngày làm vui lòng ông bà, cha mẹ bằng việc đi xin phép, về chào hỏi, lễ phép, vâng lời, lấy tăm, rót nƣớc mời ông bà…
    • Sẵn sàng giúp đỡ ông bà, cha mẹ làm những việc phù hợp
    • Tổ chức cho trẻ thực hiện hành vi văn hoá trong đời sống hàng ngày
    • Lặp lại những hành vi đã trải nghiệm có ý nghĩa để trở thành nề nếp, thói quen trong cuộc sống và quan hệ hàng ngày.

    Tổ chức các hoạt động sao cho cân bằng, trong giáo dục trí tuệ, đức, thể, mỹ…

    trong cuộc sống gia đình.

    3.3. Cha mẹ thường xuyên rèn luyện thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho con

    Thói quen hành vi văn hoá bao gồm sự lễ phép với mọi ngƣời, thái độ ân cần tôn trọng ngƣời lớn tuổi, ngôn ngữ đúng đắn, dáng điệu nghiêm chỉnh… mỗi nét tính cách bền vững đều đƣợc biểu hiện trong những thói quen tƣơng ứng. Song thói quen sẽ yếu đi và mất đi khi điều kiện thay đổi. Do đó, cần phải giáo dục thói quen, HVVH một cách liên tục, thƣờng xuyên.

    Mục tiêu, ý nghĩa

    Tất cả những thói quen, HVVH, từ cử chỉ, hành động ổn định trở thành nhu cầu của con ngƣời, nếu nhu cầu đƣợc thoả mãn, con ngƣời cảm thấy vui vẻ, dần dần sẽ mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Để đạt đƣợc sự ổn định, bền vững cần tập luyện thƣờng xuyên, liên tục, trong đó cha mẹ cần:

    31

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    • Tổ chức cho con lặp đi, lặp lại thƣờng xuyên những hành động, cử chỉ, hành vi phù hợp với chuẩn mực.
    • Cha mẹ giúp con hình dung đƣợc những thao tác cụ thể và tiến hành thao tác đó một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
    • Tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện và thƣờng xuyên giúp đỡ trẻ trong quá trình luyện tập.

    Yêu cầu

    Luyện tập thói quen hành vi văn hoá càng phong phú, đa dạng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khác nhau thì giá trị giáo dục càng cao. Không nên gò ép, trẻ, mà nên tạo ra nhiều tình huống phong phú, cho trẻ cơ hội tiếp xúc, bộc lộ càng tốt. Cha mẹ cần theo dõi, kiểm tra nhắc nhở trẻ kịp thời sửa lỗi.

    Luyện tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với sự vận động, phát triển tâm sinh lí lứa tuổi. Cha mẹ cần kiên trì, không nóng vội, phải làm đi làm lại nhiều lần để củng cố hoàn thiện trở thành thói quen hành vi.

    Cách thức tổ chức

    Giáo dục thói quen hành vi cho trẻ, cha mẹ cần đi từ các bƣớc sau:

    • Bƣớc thứ nhất: Tập làm, nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng cụ thể để thực hiện các thói quen đạo đức, thói quen văn hoá.
    • Làm mẫu
    • Kèm cặp
    • Chỉ dẫn
    • Bƣớc thứ hai: Khích lệ, động viên thƣờng xuyên để tạo hứng thú, xây dựng tính tự giác, tích cực cho trẻ thực hiện HVVH . Ở bƣớc này cha mẹ có thể:
    • Nêu gƣơng
    • Nhắc nhở
    • Quan sát
    • Bƣớc ba: Rèn luyện, ôn tập: Để hình thành thói quen, HVVH một cách bền vững, chắc chắn.
    • Đúng tình huống
    • Nhận xét

    4. KẾT LUẬN

    Giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ là một quá trình lân dài, bền bỉ không thể nóng vội vì hành vi của trẻ chƣa mang tính ổn định cao mà phải tạo điều kiện cho trẻ tham gia rèn luyện củng cố thƣờng xuyên trong một thời gian nhất định thì mới có hiệu quả.

    32

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

    Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế việc sử dụng biện pháp giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình cho thấy: Các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ nhƣng vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc sử dụng các biện pháp giáo dục, việc dành thời gian cho trẻ, phƣơng pháp giáo dục của các bậc cha mẹ đều xuất phát từ những kinh nghiệm rời rạc. Vì vậy hiệu quả chƣa cao, để giúp các bậc cha mẹ có đƣợc các biện pháp giáo dục thích hợp, góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng đắn vai trò trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái trƣởng thành và việc làm đầu tiên đối với mỗi ngƣời làm cha, mẹ là nâng cao hiểu biết về giáo dục gia đình nói chung và những kiến thức về giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Giáo dục con cái cần xuất phát từ lợi ích và quy luật phát triển tự nhiên về tâm sinh lí của trẻ, cũng nhƣ xuất phát từ thực tế cuộc sống, hoàn cảnh hiện tại của gia đình để rèn luyện những thói quen, hành vi văn hoá cho con theo chuẩn mực.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phạm Khắc Chƣơng, Nguyễn Thị Bích Hồng. Giáo dục gia đình, NXBGD 1999.
    1. Trần Tuyết Oanh. Giáo dục học, tập 2, NBĐHSP, 2008).
    1. Nguyễn Thanh Bình. Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con cái ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay. NXBĐHQG, 2001.
    1. Một số biện pháp giúp cha mẹ giáo dục hành vi đạo đức cho con cái trong gia đình theo chương trình lớp 1, 2 bậc tiểu học. Luận án thạc sĩ GDH, 2003.

    MEASURES IN EDUCATINY CULTURAL BECHAVIOURS IN COMMUNICATION FOR 6 – 11 YEAR OLD CHILDREN

    Nguyen Thi Phuong Lan

    ABSTRACT

    The cultural behavior education for 6-11 year old children is necessary and crucial as this is the first foundation for the for mativi, and comprehensive and sustainable development of each individuals. The parents need to determine their responsibilities and roles to cooperate with schools and society to educate the cultural behaviors for their children during this developement stage. To orgauize activities and pratise habits and cultural behaviours in communication more regularly for children in cach family that cluldren can perceive standardized habits and cultural behaviours.

    Keywords: measures, chilren, edcation, cultural behaviours, culturally habitual behaviours.

    Ngƣời phản biện: PGS.TS. Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 02/11/2013; Ngày

    thông qua phản biện: 29/11/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

    33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: QUY ĐỊNH ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC NHÂN VIÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-k%E1%BB%B9-n%C4%83ng-thuy%E1%BA%BFt-tr%C3%ACnh-c%E1%BB%A7a-sinh-vi%C3%AAn-s%C6%B0-ph%E1%BA%A1m-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-%C4%90%E1%BB%93ng-Nai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦA

    SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI

    Nguyễn Thị Thu Trang1

    TÓM TẮT

    Kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng cần thiết của sinh viên nói chung và đối với sinh viên sư phạm nói riêng. Theo kết quả điều tra 200 sinh viên K42 của khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non trường Đại học Đồng Nai cho thấy kỹ năng thuyết trình của sinh viên ở mức độ trung bình và yếu. Nguyên nhân chủ yếu là do bản thân sinh viên chưa tích cực, chủ động trong việc rèn luyện kỹ năng này.

    Từ khóa: Sinh viên, thuyết trình,  kỹ năng thuyết trình, rèn luyện kỹ năng

     

    thuyết trình

    1. Đặt vấn đề

    Kỹ năng thuyết trình là một trong những kỹ năng rất cần thiết để đem lại sự thành công cho mỗi người trong công việc học tập, nghiên cứu cũng như các hoạt động, giao tiếp xã hội. “Kỹ năng thuyết trình gây được sự chú ý trong giáo dục đại học và kinh doanh, vì nó chính là một trong các năng lực cốt lõi của một chuyên gia” [1].

    Công trình của Lytaeva, M. A., và Talalakina, E. V. [2] đã chỉ ra rằng kỹ năng thuyết trình cần có sự kết hợp việc đọc, viết và trình bày một cách khoa học. Trước tiên, sinh viên cần phải có kỹ năng đọc như lựa chọn thông tin và giải thích thông tin một cách tường minh. Tiếp theo, khi viết, sinh viên có kỹ năng xử lý thông tin, ghi chép, tổng hợp và khái quát. Sau khi làm chủ được hai giai đoạn đầu tiên, sinh viên có thể học cách trình bày kết quả bài viết của mình bằng miệng. Kỹ năng thuyết trình là sự kết hợp của kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng lập luận và kỹ năng trình bày. Do đó, qua việc rèn luyện kỹ năng này sinh viên sẽ có khả năng tư duy logic, lập

    luận chặt chẽ, tổng hợp, khái quát vấn đề và sáng tạo. Rèn cho sinh viên có khả năng nói lưu loát, thuyết phục và tự tin. Công trình của De Grez, L., Valcke, M., và Roozen, I. [3] nghiên cứu các cách thức và phương pháp giảng dạy nhằm phát triển kỹ năng thuyết trình cho sinh viên bằng cách phát triển các kỹ năng phản xạ trong môi trường học tập trực tuyến, thiết kế và phát triển các bài giảng đa phương tiện chuẩn, các hoạt động thực tế và các phản hồi của sinh viên.

    Nghiên cứu của Hu nh Văn Sơn (2012) [4] đã đề cập đến thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên đại học sư phạm. Nghiên cứu đã chỉ ra 20 kỹ năng mềm, như: kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng hoạch định mục tiêu cuộc đời, kỹ năng thuyết trình… Kết quả cho thấy sinh viên khá thuần thục ở một vài kỹ năng nhưng đa phần sinh viên còn khó khăn, lúng túng khi thực hành các kỹ năng mềm. Nghiên cứu đã chỉ ra kỹ năng cần thiết trong quá trình thuyết trình đó là kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tổ chức: n m rõ cấu trúc của một bài

    1Trường Đại học Đồng Nai

    Email: [email protected]

    9

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    thuyết trình để tổ chức s p xếp một bài thuyết trình logic, rõ ràng và mang tính thuyết phục cao; tư duy phản biện, khả năng thiết kế và sử dụng những dụng cụ trực quan hỗ trợ cho bài thuyết trình; khả năng sử dụng ngôn ngữ hình thể trong khi thuyết trình. Đặc biệt nghiên cứu đã chỉ ra những lỗi mà sinh viên thường m c phải khi thuyết trình đó là: tổ chức một bài thuyết trình; thiết kế và sử dụng dụng cụ trực quan hỗ trợ cho bài thuyết trình và khả năng sử dụng ngôn ngữ hình thể còn rất hạn chế.

    Như vậy, các nghiên cứu trên đã đề cập đến kỹ năng thuyết trình nhưng chưa đưa ra được những tiêu chí cụ thể để đánh giá. Trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình và mức độ đạt được các tiêu chí đó ở sinh viên. Mẫu nghiên cứu là 200 sinh viên K42 của khoa Sư

    phạm Tiểu học – Mầm non trường Đại học Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ đạt được các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai còn yếu. Đa phần sinh viên chưa tự tin khi thuyết trình. Ngôn ngữ trình bày không có điểm nhấn, thiếu tính thuyết phục. Trên cơ sở những hạn chế trên, chúng tôi đưa ra những biện pháp hợp lý và khả thi giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng thuyết trình một cách tốt nhất.

    2. Nội dung

    2.1. Nhận thức của sinh viên về vai trò của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình

    Với nội dung này, sinh viên đã nhận thức được ý nghĩa quan trọng và cần thiết của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.

    Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về vai trò của việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình

    STT

    Nhận thức của sinh viên về vai

    Tổng số

    trò của kỹ năng thuyết trình

    Số lượng

    %

    1

    Rất cần thiết

    160

    80

    2

    Cần thiết

    40

    20

    3

    Ít cần thiết

    0

    0

    4

    Không cần thiết

    0

    0

    Qua kết quả ở bảng trên cho thấy:

    ngùng,  xấu  hổ  nữa”.  Còn  sinh  viên

    Tất cả sinh viên đều nhận thức được sự

    Nguyễn Thu L. cho rằng: “Sau này trở

    cần  thiết  của  kỹ  năng  thuyết  trình.

    thành  một  giáo  viên,  kỹ  năng  thuyết

    Trong đó có 80% sinh viên cho rằng là

    trình sẽ giúp cho người giáo viên giảng

    rất cần thiết, còn lại là 20% sinh viên

    bài hay hơn và hấp dẫn hơn”. Như vậy

    cho rằng cần thiết. Qua trao đổi, sinh

    sự cần thiết của kỹ năng thuyết trình mà

    viên Nguyễn Văn Q. cho biết: “Kỹ năng

    sinh  viên  đưa  ra  không  chỉ  giúp  cho

    này rất cần thiết với em, vì nếu em có

    hoạt động giao tiếp mà còn giúp cho

    được kỹ năng này thì em sẽ tự tin đứng

    hoạt động giảng dạy sau này.

    trước bạn  bè  để nói,  không còn ngại

    10

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    2.2. Mức độ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trước khi rèn luyện

    • nội dung này, chúng tôi cho sinh viên tự đánh giá mức độ về kỹ năng

    thuyết trình của bản thân. Ngoài sự tự đánh giá của sinh viên, giáo viên đánh giá kỹ năng thuyết trình qua sản phẩm của sinh viên với các tiêu chí ở bảng 2.

    Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá sản phẩm thuyết trình

    STT

    Nội dung, tiêu chí đánh giá sản phẩm

    Điểm tối

    Điểm

    đa

    thực tế

    1

    Giới thiệu bản thân (họ tên, khóa/đơn vị) và chủ đề bài

    10

    thi nói/thuyết trình

    2

    Nội dung bài thi nói/thuyết trình (có tính khoa học, giáo

    25

    dục, cấu trúc logic, lập luận chặt chẽ…)

    3

    Ngôn ngữ nói/thuyết trình (âm lượng, kiểm soát tốc độ,

    30

    điểm nhấn, phát âm chuẩn…)

    4

    Trang phục và ngôn ngữ cơ thể (ánh m t, cử chỉ, biểu lộ

    25

    cảm xúc, sự di chuyển…)

    5

    Phương pháp thuyết trình (kết hợp sử dụng phương tiện,

    10

    hình ảnh…)

    Tổng điểm (tính theo thang điểm 100, lấy tổng số điểm chia

    100

    cho các nội dung và làm tròn đến hai số thập phân)

    Kết quả tự đánh giá của sinh viên và đánh giá của giáo viên về kỹ năng thuyết trình được thể hiện ở bảng 3.

    Bảng 3: Mức độ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trước khi rèn luyện

    STT

    Mức độ kỹ năng thuyết trình

    Sinh viên tự

    Đánh giá của giáo

    của sinh viên trước khi rèn

    đánh giá

    viên

    luyện

    SL

    %

    SL

    %

    1

    Rất tốt

    2

    1,0

    0

    0,0

    2

    Tốt

    4

    2,0

    0

    0,0

    3

    Khá

    42

    21,0

    35

    17,5

    4

    Trung bình

    57

    28,5

    43

    21,5

    5

    Yếu

    95

    47,5

    122

    61,0

    Kết quả bảng 3 cho thấy, kỹ năng

    giáo viên đánh giá là 0%; sinh viên tự

    thuyết trình của sinh viên là chưa tốt.

    đánh giá ở mức Tốt là 2,0%, còn giáo

    Tuy nhiên đánh giá về kỹ năng thuyết

    viên đánh giá là 0%; mức độ Khá sinh

    trình của sinh viên cao hơn so với đánh

    viên tự đánh giá là 21%, trong khi đó

    giá của giáo viên. Cụ thể: sinh viên tự

    giáo viên đánh giá các em đạt ở mức

    đánh giá ở mức Rất tốt là 1,0%, còn

    này là 17,5%; đánh giá ở  mức độ Trung

    11

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    bình thì sinh viên tự đánh giá là 28,5%,

    cho biết: “Em chưa bao giờ đứng lên

    giáo viên đánh giá là 21,5%; và ở mức

    trước lớp để thuyết trình nên em run

    độ  Yếu  thì  sinh  viên  tự  đánh  giá  là

    l m, không biết phải thể hiện như thế

    47,5%, trong khi đó con số này ở giáo

    nào nữa”. Qua đây cho thấy, kỹ năng

    viên là khá cao 61,0%. Qua quan sát các

    này của các em còn rất hạn chế.

    em thuyết trình, chúng tôi nhận thấy đa

    2.3. Mức độ biểu hiện các kỹ năng

    phần các em còn yếu kỹ năng này. Nội

    thuyết trình của sinh viên

    dung  thuyết  trình  thiếu  sâu  s c,  khả

    2.3.1. Mức độ đạt được các tiêu chí

    năng lập luận chưa chặt chẽ và không

    trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    gây ấn tượng, bài viết lan man, không

    Ở nội dung này, chúng tôi đánh giá

    có trọng tâm. Phong cách trình bày thì

    kỹ năng thuyết trình của sinh viên theo

    lúng túng, cứng nh c, thiếu tự tin. Ngôn

    những  tiêu  chí  như:  nội  dung  thuyết

    ngữ chưa lưu loát, thiếu ngữ điệu, giọng

    trình,  ngôn  ngữ  khi  thuyết  trình  và

    đều đều, không có điểm nhấn. Thậm chí

    phong cách  khi  thuyết  trình.  Kết  quả

    có em khi đứng lên thuyết trình chỉ đọc.

    được thể hiện ở bảng 4.

    Qua trao đổi, sinh viên Trần Ngọc H.

    Bảng 4: Mức độ đạt được các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    STT

    Các tiêu chí

    Mức độ

    Trung bình

    Thứ bậc

    1

    Nội dung bài thuyết trình

    2,61

    2

    2

    Ngôn ngữ thuyết trình

    2,83

    1

    3

    Ngôn ngữ cơ thể

    2,42

    3

    4

    Phương  pháp  và  phương  tiện

    2,38

    4

    thuyết trình

    Kết quả bảng 4 cho thấy, mức độ

    vậy, với mức độ các tiêu chí của kỹ

    đạt  được  các  tiêu  chí  trong  kỹ  năng

    năng thuyết trình ở trên sinh viên cần

    thuyết trình của sinh  viên  chỉ  ở mức

    phải tích cực rèn luyện mới có thể viết

    trung bình, xếp vị trí thứ 1 là Ngôn ngữ

    tốt và nói thuyết phục được.

    thuyết trình là cao hơn cả (ĐTB = 2,83),

    2.3.2. Mức độ biểu hiện các tiêu chí

    tiếp đó đến tiêu chí Nội dung bài thuyết

    trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    trình với ĐTB = 2,61, xếp ở vị trí thứ 3

    Ở nội dung này, chúng tôi đánh giá

    là Ngôn ngữ cơ thể với điểm TB = 2,42

    các mức độ biểu hiện về kỹ năng thuyết

    và cuối cùng là Phương pháp và phương

    trình trong từng tiêu chí. Kết quả được

    tiện thuyết trình với ĐTB = 2,38. Như

    thể hiện ở bảng 5.

    12

    Về nội dung thuyết trình, kết quả ở bảng 5 cho thấy: Thứ nhất, việc chọn chủ đề thuyết trình đối với sinh viên là không khó (ĐTB = 3,0), đa phần sinh viên lựa chọn những vấn đề mang tính thời sự, nóng hổi hoặc những chủ đề

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    Bảng 5: Mức độ biểu hiện các tiêu chí trong kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    Mức độ

    Mức độ

    Tổng

    Trung

    Thứ

    Các biểu hiện

    điểm

    bình

    bậc

    1. Nội dung bài thuyết trình

    1.1.

    Chủ đề phù hợp, mang tính thực tiễn cao

    300

    3,00

    1

    1.2.

    Đặt vấn đề hay, hấp dẫn, gây ấn tượng

    232

    2,32

    16

    1.3.

    Lập luận chặt chẽ, logic

    251

    2,51

    9

    1.4.

    Phong phú, sáng tạo

    252

    2,52

    8

    1.5.

    Thể hiện tính giáo dục

    258

    2,58

    5

    1.6.

    Đưa ra được nhiều minh hoạ thuyết phục

    293

    2,93

    2

    1.7.

    Đưa ra được thông điệp của chủ đề

    255

    2,55

    6

    2. Ngôn ngữ thuyết trình

    2.1.

    Phát âm chuẩn

    347

    3,47

    11

    2.2.

    Rõ ràng, lưu loát

    348

    3,48

    10

    2.3.

    Ngữ điệu trầm bổng theo nội dung thuyết trình

    232

    2,32

    16

    2.4.

    Biết nhấn mạnh những điểm quan trọng

    240

    2,40

    15

    2.5.

    Âm lượng phù hợp với nội dung thuyết trình

    269

    2,69

    3

    2.6.

    Tốc độ nói phù hợp

    341

    3,41

    15

    3. Ngôn ngữ cơ thể

    3.1.

    Ánh m t bao quát khán giả tốt

    253

    2,53

    7

    3.2.

    Sử dụng cử chỉ tay, chân hợp lý

    252

    2,52

    8

    3.3.

    Sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp

    244

    2,44

    12

    3.4.

    Khuôn mặt tươi t n khi thuyết trình

    236

    2,36

    13

    3.5.

    Cảm xúc phù hợp với nội dung thuyết trình

    241

    2,41

    14

    3.6.

    Linh hoạt di chuyển khi thuyết trình

    224

    2,24

    18

    1. Phương pháp và phương tiện thuyết trình

    4.1.

    Tự tin khi thuyết trình

    236

    2,36

    13

    4.2.

    Phối hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ nói và phi ngôn ngữ

    228

    2,28

    17

    4.3.

    Biết tương tác với người nghe bằng những câu hỏi

    261

    2,61

    4

    4.4.

    Phối hợp linh hoạt các phương pháp và phương tiện

    228

    2,28

    17

    g n liền với niềm đam mê, yêu thích của các em như: Bạo lực học đường, tình yêu tuổi học trò, bệnh vô cảm…

    Thứ hai, khả năng đặt vấn đề của sinh viên không tốt, không gây được ấn tượng, không gây được sự chú ý của

    13

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    người nghe (ĐTB=2,33). Có những sinh viên lúng túng không biết đặt vấn đề như thế nào, chỉ viết đúng được một câu về chủ đề cần trình bày, mở bài chưa thâu tóm được nội dung bài.

    Thứ ba, khả năng lập luận, giải quyết vấn đề thiếu tính logic, chặt chẽ (ĐTB=2,51). Qua quá trình quan sát, chúng tôi nhận thấy sinh viên nghĩ được câu gì thì viết câu đó, chưa biết cách viết và giải quyết một vấn đề như thế nào cho phù hợp. Nội dung bài thuyết trình thường thiếu tính chặt chẽ và thuyết phục. Sinh viên thường không biết viết ý khái quát, mổ xẻ những ý nhỏ và phân tích sâu s c vấn đề.

    Thứ tư, yêu cầu về sự phong phú, sáng tạo của nội dung (ĐTB=,93). Một bài viết vừa ng n gọn, vừa đầy đủ về nội dung lại còn phải sáng tạo thì điều này rất khó đối với sinh viên, chính vì yêu cầu như vậy nên đa phần sinh viên không đáp ứng được yêu cầu này.

    Phần kết cũng có tầm quan trọng không kém, một bài thuyết trình hay và hấp dẫn được thể hiện từ lúc mở đầu cho đến kết luận. Dù nội dung hay đến đâu mà phần kết không gây được ấn tượng thì toàn bộ bài viết sẽ trở nên vô nghĩa. Chúng tôi thường yêu cầu các em đưa ra thông điệp cuối cùng cho chủ đề, tuy nhiên hầu hết sinh viên chưa làm được, các em chỉ viết được một vài câu kết luận. Như vậy, có thể thấy rằng khả năng viết của sinh viên còn rất hạn chế. Qua quan sát quá trình rèn kỹ năng thuyết trình cho sinh viên, qua những

    nội dung mà các em đã viết, chúng tôi nhận thấy rằng hiểu biết về xã hội của các em còn rất nhiều hạn chế.

    Về ngôn ngữ trình bày, kết quả ở bảng 5 cho thấy, ngoài việc phát âm chuẩn, âm lượng đạt ở mức độ trên trung bình, còn lại các biểu hiện khác đều ở mức độ thấp. Cụ thể như sau:

    Phát âm chuẩn (ĐTB = 3,47), ở biểu hiện này thì đa phần sinh viên phát âm đúng, tuy nhiên vẫn có một số em nói ngọng đặc biệt là ngọng giữa “n” và “l”, một số em phát âm theo vùng, miền nên đôi khi tiếng không tròn, không rõ.

    Âm lượng phù hợp (ĐTB= 2,69), hơn một nửa sinh viên được điều tra đã đạt được mức độ phù hợp, không to quá mà cũng không nhỏ quá. Số sinh viên còn lại thì thuyết trình với giọng nói nhỏ. Qua quan sát và rèn luyện cho sinh viên, chúng tôi thấy có những em nói nhỏ, giáo viên thường xuyên phải nh c là cần phải nói to lên. Qua giọng nói cũng biết được mức độ tự tin của các em. Những em nói nhỏ là những em thiếu tự tin vào chính bản thân mình, vào bài thuyết trình của mình.

    Tốc độ nói phù hợp (ĐTB= 3,41). Đa phần sinh viên thực hiện tốc độ nói phù hợp, số sinh viên còn lại thường nói chậm, giống như giảng bài. Mặc dù vậy sinh viên chưa biết tốc độ chuẩn khi thuyết trình là như thế nào. Các em thường thuyết trình theo thói quen của bản thân, nói như thế nào thì thuyết trình như vậy.

    14

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    Ngữ điệu trầm bổng (ĐTB=2,32), thể hiện sự lên cao hay xuống thấp của giọng nói. Khi sinh viên đứng lên thuyết trình, đa phần các em đọc hoặc học thuộc nội dung đã viết để trình bày lại nội dung đã nhớ được chứ không phải là thuyết trình. Giọng đều đều, những nội dung vui hoặc buồn hoặc thể hiện sự cấp thiết thì các em không thể hiện được thông qua giọng nói.

    Biết nhấn mạnh những điểm quan trọng (ĐTB=2,40). Như đã phân tích ở trên, sinh viên thể hiện bài thuyết trình với giọng đều đều, những nội dung nổi bật hoặc quan trọng thì sinh viên không diễn đạt được bằng ngôn ngữ của mình để người nghe thấy được tầm quan trọng của vấn đề.

    Thực trạng trên cho thấy sinh viên khi thuyết trình thiếu cảm xúc, do vậy không đem lại cảm hứng cho người nghe. Như vậy, ngôn ngữ nói có vai trò cực k quan trọng, là công cụ truyển tải thông tin, đồng thời là công cụ biểu cảm, gợi cảm. Sau này, các sinh viên sư phạm sẽ trở thành giáo viên, nếu sử dụng ngôn ngữ nói có hồn thì sẽ đem lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy.

    Về ngôn ngữ cử chỉ, hành vi, kết quả ở bảng 5 cho thấy, khả năng thể hiện cử chỉ phi ngôn ngữ của sinh viên còn rất hạn chế. Khả năng thể hiện cảm xúc, thái độ, phong thái khi thuyết trình còn ở mức độ thấp. Cụ thể:

    Ánh m t bao quát khán giả ở mức độ trung bình (ĐTB=2,53). Qua quan sát cho thấy, đa phần sinh viên khi đứng

    lên thuyết trình đều nhìn vào một điểm, ít có sự di chuyển ánh m t từ chỗ này sang chỗ khác. Có sinh viên khi thuyết trình thì cứ nhìn ra ngoài cửa sổ, do vậy không làm cho người nghe hứng thú.

    Sử dụng cử chỉ tay, chân (ĐTB=2,52) cũng ở mức độ trung bình. Khi thuyết trình, sinh viên đứng im một chỗ, từ lúc

    • t đầu cho đến khi kết thúc bài thuyết trình, tay buông thõng, hoặc lúng túng, không biểu đạt được nội dung thuyết trình. Sinh viên không biểu đạt được khi nào cần đưa tay lên cao hoặc hạ tay xuống hoặc di chuyển bước chân từ trái sang phải như thế nào cho hợp lý. Điều này cho thấy dù bài thuyết trình có hay đến mấy mà không thể hiện được qua ngôn ngữ cử chi thì cũng không hấp dẫn người nghe.

    Bên cạnh đó, s c thái khuôn mặt cũng rất quan trọng. Khi thuyết trình phải thể hiện được sự tươi t n trên khuôn mặt. Thể hiện được sự tự tin, bộc lộ được cảm xúc thông qua từng nội dung của bài thuyết trình. Tuy nhiên trong quá trình quan sát, chúng tôi nhận thấy sinh viên rất căng thẳng khi thuyết trình, vẻ mặt lo l ng, lúng túng. Khuôn mặt của sinh viên thể hiện sự căng thẳng, do vậy các em không thể hiện được những cảm xúc vui, buồn trong nội dung bài nói, bài thuyết trình thiếu sự sống động.

    Về phương pháp và phương tiện khi thuyết trình, sự thể hiện của sinh viên cũng chỉ ở mức độ thấp hoặc trung bình. Cụ thể:

    15

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    Sự phối hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ nói và phi ngôn ngữ (ĐTB=2,28), đạt ở mức thấp. Ngôn ngữ cử chỉ của sinh viên chưa tốt nên sự phối hợp giữa lời nói và cử chỉ còn vụng về.

    Khả năng tương tác với người nghe bằng những câu hỏi (ĐTB=2,61) ở mức trung bình. Sinh viên đã biết đưa ra một số câu hỏi để thu hút sự chú ý của người nghe, tuy nhiên khi sinh viên đặt câu hỏi lại thường gọi nhiều người lên trả lời vì vậy sẽ gây mất thời gian. Bên cạnh đó, cách thức đặt câu hỏi chưa gây được sự chú ý: không lên giọng hoặc xuống giọng khi hỏi, không dừng lại trước khi hỏi, do đó câu hỏi chỉ là một thông tin đưa ra cho người nghe.

    Phối hợp linh hoạt các phương pháp và phương tiện ở mức độ thấp (ĐTB=2,28). Điều này được thể hiện khi thuyết trình sinh viên chỉ đứng nói, đọc mà không dùng phấn, bảng hoặc các công cụ khác. Bởi lẽ trong bài thuyết trình có những vấn đề có thể minh họa bằng hình ảnh hoặc con số thống kê, sơ đồ, bảng biểu, hay sử dụng phấn, bảng hoặc các phương tiện hỗ trợ khác để bài thuyết trình sinh động, người nghe sẽ ghi nhớ được lâu hơn.

    Như vậy, có thể thấy rằng, khả năng thuyết trình của sinh viên sư phạm còn hạn chế, thông qua những bài thuyết trình cũng nhận thấy khả năng viết, khả năng lập luận vấn đề cũng như sự hiểu biết xã hội của các em cũng còn kém.

    Vì vậy, sinh viên cần phải rèn luyện và học hỏi nhiều mới có thể có được những kiến thức sâu s c cho bản thân, tạo tiền đề cho sự thành công trong công việc.

    2.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên như: nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình; ý thức rèn luyện kỹ năng thuyết trình; tính tích cực rèn luyện kỹ năng thuyết trình.

    Một số em tuy biết được tầm quan trọng của kỹ năng thuyết trình nhưng chưa có ý thức và tích cực trong quá trình rèn luyện. Mặc dù có cơ hội được rèn luyện nhưng các em thiếu sự chủ động trong hoạt động của mình. Nhiều em thường đánh giá kỹ năng thuyết trình là đơn giản. Nhưng khi b t đầu vào thực hiện mới thấy được sự khó khăn của kỹ năng này. Nhiều em cũng tham gia luyện tập nhưng chưa thực sự cố g ng. Các em luyện tập cho xong mà không có sự cầu thị.

    Bên cạnh những yếu tố chủ quan thì có những yếu tố khách quan như: Yêu cầu của giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng thuyết trình cho sinh viên thông qua dạy học các môn học và các hoạt động của nhà trường để sinh viên có cơ hội tham gia rèn kỹ năng này. Kết quả được biểu hiện trong bảng 6.

    16

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019

    ISSN 2354-1482

    Bảng 6: Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    STT

    Những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng

    Mức độ

    Tổng

    Trung

    Thứ

    thuyết trình

    điểm

    bình

    bậc

    1

    Nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng

    386

    3.86

    4

    thuyết trình

    3

    Tính tích cực rèn luyện kỹ năng thuyết trình

    405

    4,05

    1

    4

    Yêu cầu của giáo viên về việc rèn luyện kỹ

    400

    4,00

    2

    năng thuyết trình cho sinh viên trong dạy học

    5

    Các hoạt động của nhà trường trong việc rèn

    337

    3,37

    3

    luyện kỹ năng thuyết trình cho sinh viên

    2.3.4. Kết quả kỹ năng thuyết trình

    việc rèn luyện trên lớp cùng với yêu cầu

    sau khi được rèn luyện

    về  nhà  luyện  tập  thì  kỹ  năng  thuyết

    Với các buổi rèn luyện, mỗi buổi 5

    trình của sinh viên tăng lên đáng kể.

    tiết, sinh viên được giáo viên hướng dẫn

    Sau mỗi đợt rèn luyện, sinh viên sẽ phải

    rèn luyện từng bước của kỹ năng thuyết

    tự quay một video bài thuyết trình nộp

    trình. Giáo viên rèn cho sinh viên cách

    cho giáo viên.

    viết nội dung bài thuyết trình sao cho

    Qua kết quả quan sát và đánh giá

    khoa học, logic. Sau khi nội dung bài

    quá trình rèn luyện của sinh viên và

    tương đối tốt thì yêu cầu từng sinh viên

    thông qua những sản phẩm thuyết trình

    đứng lên trước lớp thuyết trình bài của

    mà  sinh  viên  nộp  cho  giáo  viên  cho

    mình.  Thông  qua  đó  giáo  viên  l ng

    thấy kỹ năng thuyết trình của sinh viên

    nghe, quan sát và sửa từng cử chỉ, hành

    đã tăng lên rõ rệt. Kết quả thể hiện ở

    vi, ngôn ngữ cho sinh viên. Bên cạnh

    bảng 7.

    Bảng 7: Kỹ năng thuyết trình của sinh viên sau khi được rèn luyện

    STT

    Mức độ

    Tự đánh giá của sinh

    Đánh giá của giáo viên sau

    viên sau khi được rèn

    khi được rèn luyện

    luyện

    Số lượng

    %

    Số lượng

    %

    1

    Rất tốt

    43

    21,5

    22

    11,0

    2

    Tốt

    67

    33,5

    35

    17,5

    3

    Khá

    82

    41,0

    56

    28,0

    4

    Trung bình

    6

    3,0

    69

    34,5

    5

    Yếu

    2

    1,0

    18

    9,0

    Qua bảng 7 cho thấy, mức độ kỹ

    khi được rèn luyện tỷ lệ này tăng lên

    năng thuyết trình của sinh viên đã tăng

    đáng  kể.  Tuy nhiên,  tự  đánh  giá  của

    lên đáng kể so với lúc ban đầu. Biểu

    sinh viên vẫn cao hơn so với đánh giá

    hiện ở chỗ lúc đầu không có sinh viên

    của giáo viên. Cụ thể: Ở mức độ Rất tốt

    nào đạt loại Rất tốt và Tốt, nhưng sau

    tự đánh giá của sinh viên là 21,5%, giáo

    17

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    viên đánh giá là 11%; Mức độ Tốt sinh              như mong muốn. Kết quả nghiên cứu

    viên tự đánh giá là 33,5%, giáo viên                    cho thấy, sinh viên sư phạm còn yếu về

    đánh giá là 17,5%; Mức độ Khá sinh                  kỹ năng thuyết trình. Các yêu cầu của

    viên tự đánh giá là 41,0%, giáo viên                    kỹ năng này đều ở mức độ dưới trung

    đánh  giá  là  28,0%;  Mức  Trung  bình             bình. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ

    sinh viên tự đánh giá là 3,0%, đánh giá              năng   thuyết   trình   của   sinh   viên    sư

    của giáo viên là 34,5%; và ở mức độ                   phạm, trong đó chủ yếu là do ý thức rèn

    Yếu sinh viên chỉ đánh giá có  1,0%,                  luyện   kỹ    năng   chưa   cao.   Sinh   viên

    giáo viên đánh giá với tỉ lệ là 9,0%.                     muốn có được kỹ năng thuyết trình cần

    Qua  quá  trình  quan  sát  và  chấm            phải tích cực, chủ động trong hoạt động

    điểm các bài thuyết trình của sinh viên,             rèn luyện của mình. Giáo viên cũng cần

    chung  tôi   nhận   thấy:   Nội    dung  bài           sát sao, chỉ bảo tận tình, khoa học trong

    thuyết trình logic, khoa học và chặt chẽ            việc rèn luyện kỹ năng này đối với từng

    hơn, sâu s c hơn, thậm chí có những bài           sinh viên trong từng tiết học. Bên cạnh

    viết đã đưa ra được những thông điệp                đó, nhà trường cũng cần tạo điều kiện,

    cho chủ đề bài viết rất ấn tượng. Ngôn              tổ chức các sân chơi để sinh viên có cơ

    ngữ lưu loát, có điểm nhấn, sinh viên sử           hội để rèn luyện và thể hiện bản thân

    dụng ngữ điệu phù hợp hơn và đặc biệt            trong các hoạt động đó. Qua đây cũng

    là phong cách của các em đã thể hiện sự           có thể khẳng định, hoạt động rèn luyện

    tự tin, đĩnh đạc và thuyết phục được                  những môn nghiệp vụ sư phạm, trong

    người nghe.                                                                      đó có kỹ năng thuyết trình rất có ích và

    1. Kết luận cần thiết đối với sinh viên; thông qua

    Kỹ năng thuyết trình là một trong               những buổi rèn luyện, các kỹ năng của

    những kỹ năng tương đối khó, vì vậy                 sinh viên trong đó có kỹ năng thuyết

    đòi  hỏi  sinh  viên  cần  phải  rèn  luyện            trình tăng lên đáng kể.

    thường xuyên mới đạt được hiệu quả

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Natalia   Smirnova;  Irina  V.  Nuzha  (2013),  “Improving  Undergraduate

    Sociology Students’ Presentation Skills through Reflective Learning in an Online Learning Environment”, Journal of Online Learning and Teaching, Vol. 9(9), No. 3

    1. Lytaeva, M. A., & Talalakina, E. V. (2011), “Academic skills: Susnost’, model’, praktika [Academic skills: Nature, model, experience]”, Journal of Educational Studies, 4, 178-201
    1. De Grez, L., Valcke, M., & Roozen, I. (2009), “The impact of an innovative instructional intervention on the acquisition of oral presentation skills in higher education”, Computers & Education, 53(1), tr. 112-120
    1. Hu nh Văn Sơn (2012),” Thực trạng một số kỹ năng mềm của sinh viên đại học Sư phạm”, Tạp chí khoa học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, số 39, tr. 22-28

    18

    TẠP CHÍ KHOA HỌC – ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 – 2019                   ISSN 2354-1482

    THE REALITY OF PRESENTATION SKILLS OF

    PEDAGOGIC STUDENTS AT DONGNAI UNIVERSITY

    ABSTRACT

    Presentation skill is one of the most important skills for university students in general and for pedagogic students in particular. According to the research on 200 students in K42 studying in the Pedagogy Preschool and Primary faculty at Dong Nai University, it indicates that the students’ presentation skill is at the average or below average level. The main reason is that the students themselves lack their initiatives and activeness in improving these skills.

    Key words: Student, presentation, presentation skills, presentation skill practice

    (Received: 11/9/2018, Revised: 11/10/2018, Accepted for publication: 7/5/2019)

    19


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]